Dictionary Search

Diệu pháp

(s: saddharma, 妙法): âm dịch là Tát Đạt Ma (薩達磨), Tát Đạt Thích Ma (薩達刺摩); nghĩa là pháp tối thắng đệ nhất, vi diệu, không thể nghĩ bàn. Như trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa (妙法蓮華經玄義, Taishō Vol. 33, No. 1716) quyển 1, phần Tư Tự Vương (私序王), giải thích rằng: “Sở ngôn diệu giả, bao mỹ bất khả tư nghì chi pháp dã (所言妙者、褒美不可思議之法也, cái gọi là diệu, là khen ngợi pháp không thể nghĩ bàn vậy).” Hay trong Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 19, phần Nội Điển Tự (內典序) có câu: “Diệu pháp luân chuyển, Cam Lộ khải phi (妙法輪轉、甘露啟霏, pháp mầu xoay chuyển, Cam Lộ rưới khắp).” Hoặc trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475), Phẩm Phật Quốc (佛國品), cũng có đoạn: “Dĩ tư diệu pháp tế quần sinh, nhất thọ bất thối thường tịch nhiên, độ lão bệnh tử đại y vương, đương lễ pháp hải đức vô biên (以斯妙法濟群生、一受不退常寂然、度老病死大醫王、當禮法海德無邊, lấy pháp mầu này cứu quần sinh, thọ nhận không thối thường lặng yên, độ già bệnh chết vua thuốc lớn, nên lễ biển pháp đức vô biên).”

diệu pháp

Saddharma (S), Saddhamma (P), Wonderful dharmaXem Chánh pháp Xem Thời kỳ chánh pháp ; Saddharma (S). The fine dharma, the true law. ; Saddharma (skt)—Pháp thù thắng đệ nhất không thể nghĩ bàn—The wonderful law or truth (Lotus sutra)—The Wonderful Dharma—Wonderful Law which is beyond thought or discussion.

diệu pháp cung

Cung Diệu Pháp, nơi Đức Phật thường trụ—The palace of the wonderful law in which the Buddha ever dwells.

diệu pháp hoa

See Diệu Pháp Liên Hoa.

Diệu Pháp Hoa Tự

(妙法華寺, Myōhokke-ji): ngôi chùa của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại số 1 Tamazawa (玉澤), Mishima-shi (三島市), Shizuoka-ken (靜岡縣), hiệu là Kinh Vương Sơn (經王山), người đời thường gọi là Ngọc Trạch Tự (玉澤寺). Chùa này do Nhật Chiêu (日昭), người đứng đầu trong 6 Lão Tăng đệ tử của Nhật Liên, khai sáng vào năm 1284 (Hoằng An [弘安] 7) nơi vùng đất Ngọc Trạch (玉澤, Tamazawa), Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Đến năm 1538 (Thiên Văn [天文] 7), trong cuộc đấu tranh giữa Bắc Điều Thị Khang (北條氏康) với Thượng Sam Hiến Thị (上杉憲氏), do vì vị Tổ đời thứ 12 của chùa là Nhật Hoằng (日弘), vốn xuất thân dòng họ Thượng Sam, nên chùa bị đốt cháy tan tành. Từ đó về sau, chùa suy tàn mãi trong vòng 50 năm trường; còn Nhật Hoằng thì chạy đến lánh nạn ở Diệu Pháp Tự (妙法寺) vùng Việt Hậu (越後, Echigo). Sau đó, chùa được tạm thời xây dựng lại ở vùng Y Đậu (伊豆, Izu), rồi đến thời vị Tổ đời thứ 15 của chùa là Nhật Sản (日産), vào năm 1621 (Nguyên Hòa [元和] 7), chùa được dời về vị trí hiện tại và tái kiến như xưa. Chùa là nơi sản sinh ra nhiều học Tăng qua các thời đại, nên thế gian vẫn thường gọi nơi đây là Ngọc Trạch Đạo Tràng (玉澤道塲), Ngọc Trạch Học Phái (玉澤學派). Tượng thờ chính của chùa là bức đồ hình Mạn Trà La của Nhật Liên. Bảo vật của chùa có bức đồ hình Mạn Trà La vẽ cảnh thuyết pháp của vị Tông Tổ Nhật Liên, bản Truyền Pháp Đại Bổn Tôn Chú Pháp Hoa Kinh Soạn Thời Sao (傳法大本尊註法華經撰時抄) do chính tay Nhật Liên viết, v.v.

diệu pháp liên hoa

Diệu Pháp được Phật thuyết giảng trong kinh Pháp Hoa, được xem như là một đại luân, được giải thích như là nhân của “Nhất Thừa,” bao gồm toàn bộ chân lý Phật pháp, so với phần giáo hay phương tiện thuyết mà Đức Phật đã nói trước; tuy nhiên cả hai đều bao gồm trong trong “Toàn Chân Giáo” của Đức Phật—Wonderful Law Lotus Flower Sutra—The Sutra of the Lotus Flower of the Wonderful Law—The Lotus of the True Law, or the Budha's doctrine regarded as a great cakra or wheel—The wonderful truth as found in the Lotus Sutra, the One Vehicle Sutra, which is said to contain Buddha's complete truth as compared with his previous partial, or expedient teaching, but both are included in this perfect truth. ** For more information, please see Kinh Diệu Pháp Liên Hoa and Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Phổ Môn in Appendix A (3).

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

(s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, j: Myōhōrengekyō, t: Dam-pahi-chos-pad-ma-dkar-po shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi-mdo, c: Miao-fa-lien-hua-ching, 妙法蓮華經): còn gọi là Pháp Hoa Kinh (法華經), Tân Pháp Hoa Kinh (新法華經), 7 quyển (8 quyển), hiện còn, Taishō 9, 1, No. 262. Diêu Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập (Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch vào năm 406 (niên hiệu Hoằng Thỉ [弘始] thứ 8) đời Diêu Tần.

Diệu pháp liên hoa kinh

妙法蓮華經; S: saddharmapuṇḍarīka-sūtra; cũng được gọi ngắn là kinh Pháp hoa;|Một trong những bộ kinh Ðại thừa quan trọng nhất, được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng và Việt Nam. Tông Thiên Thai lấy kinh này làm căn bản giáo pháp. Nội dung kinh này chứa đựng quan điểm chủ yếu của Ðại thừa, đó là giáo pháp về sự chuyển hoá của Phật tính và khả năng giải thoát. Kinh này do đức Phật giảng trong cuối đời Ngài, được kết tập trong khoảng năm 200 (Tây lịch). |Kinh này do Phật giảng trên đỉnh Linh Thứu cho vô số người nghe gồm có nhiều loài khác nhau. Trong kinh này, Phật chỉ rõ, tuy có nhiều cách để giác ngộ, nhưng chúng chỉ là phương tiện nhất thời và thật tế chúng chỉ là một. Các phương tiện khác nhau như Thanh văn thừa, Ðộc giác thừa hay Bồ Tát thừa thật ra chỉ khác nhau vì phải cần phù hợp vào căn cơ của hành giả. Phật chỉ tuỳ cơ duyên, sử dụng các Phương tiện (s: upāya) mà nói Ba thừa nhưng thật chất chỉ có Phật thừa (s: buddhayāna) – nó dẫn đến Giác ngộ và bao trùm cả Ðại thừa lẫn Tiểu thừa. Quan điểm này được làm sáng tỏ bằng ẩn dụ, trong đó một người cha muốn cứu những đứa con ra khỏi một cái nhà đang cháy. Vì những đứa trẻ không chịu nghe lời chạy ra khỏi nhà, người cha đành phải hứa với mỗi đứa cho một món quà tuỳ theo ý thích của chúng, đứa thì được con nai, con dê, xe trâu… để chúng chịu ra ngoài.|Kinh này còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Tín tâm (s: śraddhā) trên bước đường giải thoát. Sau khi Phật giảng tới đó thì các vị Phật và Bồ Tát tuyên bố hỗ trợ kẻ tu hành để tăng phần tín tâm. Một phẩm quan trọng của kinh này với tên Phổ môn (普門品) được dành cho Quán Thế Âm, trong đó vị Bồ Tát này nói rất rõ sự hộ trì của mình đối với người tu học kinh Pháp hoa. Phẩm Phổ môn này được Phật tử Trung Quốc và Việt Nam đặc biệt ưa thích và tụng đọc.|Trong kinh này, đức Phật không còn được xem là vị Phật lịch sử nữa mà Ngài là dạng xuất hiện của Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân), là thể tính đích thật của muôn loài. Mỗi chúng sinh đều xuất phát từ dạng chuyển hoá này của Phật tính và vì vậy đều có thể trở về với chân tính của mình, trở thành một vị Phật.

diệu pháp liên hoa kinh

2847梵名 Saddharma-puṇḍarīka sūtra。凡七卷,或八卷。後秦鳩摩羅什譯。略稱法華經、妙法華經。今收於大正藏第九冊。為大乘佛教要典之一。共有二十八品。妙法,意為所說教法微妙無上;蓮華經,比喻經典之潔白完美。據推測,其原典之成立可溯自紀元前後。該經主旨,認為小乘佛教各派過分重視形式,遠離教義真意,故為把握佛陀之真精神,乃採用詩、譬喻、象徵等文學手法,以讚歎永恆之佛陀(久遠實成之佛)。稱釋迦成佛以來,壽命無限,現各種化身,以種種方便說微妙法;重點在弘揚「三乘歸一」,即聲聞、緣覺、菩薩之三乘歸於一佛乘,調和大小乘之各種說法,以為一切眾生皆能成佛。其表現雖為文學性,然主旨則契入佛陀教說之真思想。各品成立之年代雖互異,然自整體觀之,仍不失渾然統一,在佛教思想史、佛教文學史上具有不朽之價值。 漢譯妙法蓮華經有六種,現存者有如下三種:竺法護譯正法華經十卷二十七品(286)、鳩摩羅什譯妙法蓮華經八卷(406)、闍那崛多與達磨笈多譯添品妙法蓮華經七卷二十七品(601)。其中以正法華最詳密;妙法華最簡約,然流傳亦最廣,一般所誦者即為此本。印度早有世親為作略解,稱妙法蓮華經憂波提舍二卷(菩提流支、曇林等譯)。我國自鳩摩羅什後,注釋者亦屢有所出,初有南朝宋代竺道生之法華經疏二卷,繼之有光宅寺法雲之義記八卷、智顗之法華三大部、吉藏之義疏十二卷與玄論十卷、窺基之玄贊二十卷等;其中,智顗且基於本經創立天台宗。日本聖德太子注義疏以後,此經成為日本鎮護國家的三部經之一,古來即受到尊信。最澄於日本開天台宗後,該經更成為佛教教學之中心、新佛教之主幹,而支配日本佛教界。本經之梵文本近時於新疆之喀什噶爾(Kashgar)等地發現,於一八五二年,法國學者布諾夫(Eugⅳne Burnouf)自梵文譯成法文本出版。其後復有英譯本、日譯本(梵和對照)。 本經為古來流布最廣之經,於大般泥洹經、大般涅槃經、優婆塞戒經、觀普賢菩薩行法經、大乘本生心地觀經、大佛頂首楞嚴經等諸經,及大智度論、中論、究竟一乘寶性論、攝大乘論、佛性論、入大乘論等諸論中皆嘗舉出本經經名並援引經中文義。於道教典籍中,亦屢盜用本經經文與經說,然每加糅合竄改。此外,敦煌出土本中,有妙法蓮華經度量天地品第二十九、馬明菩薩品第三十,皆收於大正藏第八十五冊。書寫法華經之風氣自古興盛,最早書寫本經而有文字可稽者為西涼建初七年(411),即鳩摩羅什譯出本經六年之後。〔法華文句卷八下、歷代三寶紀卷八、出三藏記集卷四、卷八、開元釋教錄卷十一、卷十四、至元法寶勘同總錄卷二、閱藏知津卷二十四〕(參閱「正法華經」1994) ; Hokke-kyō (J)Tên một bộ kinh. ; Saddharma-pundarika-sùtra (S). Lotus sutra. ; Saddharmapundarika (skt)—Bồ Vân Phân Đà Lợi Kinh—See Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. ; (妙法蓮華經) Phạm: Saddharma-puṇḍarīka sūtra. Gồm 7 quyển hoặc 8 quyển, ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, gọi tắt: Pháp hoa kinh, Diệu pháp hoa kinh, thu vào Đại chính tạng tập 9. Là một trong những bộ kinh chủ yếu của Phật giáo Đại thừa, gồm 28 phẩm. Diệu pháp hàm ý là giáo pháp nói trong bộ kinh mầu nhiệm không gì hơn; Liên hoa kinh ví dụ kinh điển thanh khiết hoàn mĩ. Cứ theo sự suy đoán thì nguyên điển kinh này có lẽ đã được thành lập vào khoảng trước hoặc sau kỉ nguyên Tây lịch. Chủ ý của kinh này cho rằng, các phái Phật giáo Tiểu thừa đã quá coi trọng hình thức mà xa rời ý nghĩa đích thực của giáo pháp, vì thế, để nắm bắt được cái chân tinh thần của đức Phật, mới dùng thể tài văn học, thi ca, thí dụ, tượng trưng v.v... tán thán đức Phật vĩnh hằng (Phật đã thành từ lâu xa) và thọ mệnh của Ngài vô hạn; Ngài hiện các loại hóa thân, dùng mọi phương tiện mà nói pháp vi diệu. Tâm điểm của kinh này là ba thừa về một, tức là đưa ba thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát về một Phật thừa, điều hòa các loại giáo thuyết của Đại thừa, Tiểu thừa mà chủ trương hết thảy chúng sinh đều có thể thành Phật. Về mặt biểu hiện của bộ kinh tuy có tính văn học, nhưng chủ ý vẫn khế hợp với tư tưởng chân thực của giáo pháp đức Phật. Niên đại thành lập các phẩm tuy có khác nhau, nhưng nhận xét theo phương diện chỉnh thể thì vẫn không mất tính thống nhất hồn nhiên. Đối với tư tưởng sử và văn học sử Phật giáo, kinh Pháp hoa đã có một giá trị bất hủ. Về Hán dịch thì có sáu loại bản dịch, nhưng hiện còn có ba: kinh Chính pháp hoa 10 quyển 27 phẩm, do ngài Trúc pháp hộ dịch năm 286 đời Tây Tấn, kinh Diệu pháp liên hoa 8 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch năm 406 đời Diêu Tần, kinh Thiêm phẩm diệu pháp liên hoa 8 quyển 27 phẩm, do các ngài Xà na quật đa và Đạt ma cấp đa dịch năm 601 đời Tùy. Trong các bản dịch trên đây thì Chính pháp hoa rất tỉ mỉ rõ ràng, Diệu pháp hoa thì ngắn gọn nhất, nhưng lại được lưu truyền rất rộng và được tụng đọc nhiều nhất. Về các bản chú thích kinh này, thì ở Ấn độ ngài Thế thân là người đầu tiên đã soạn Diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá 2 quyển, do các ngài Bồ đề lưu chi và Đàm lâm dịch vào đời Hậu Ngụy. Còn ở Trung quốc thì từ sau ngài Cưu ma la thập, người ta đã thấy xuất hiện các bản chú thích đầu tiên là: Pháp hoa kinh sớ 2 quyển do ngài Trúc đạo sinh soạn vào đời Tống thuộc Nam triều, kế đến là: Pháp hoa nghĩa kí 8 quyển của ngài Pháp vân ở chùa Quang trạch; rồi lần lượt đến Pháp hoa tam đại bộ của ngài Trí khải, Pháp hoa nghĩa sớ 12 quyển và Pháp hoa huyền luận 10 quyển của ngài Cát tạng, Pháp hoa huyền tán 20 quyển của ngài Khuy cơ v.v... riêng ngài Trí khải đã căn cứ vào kinh này mà sáng lập tông Thiên thai. Đến Nhật bản, sau khi Thái tử Thánh đức chú giải kinh Pháp hoa thì kinh này trở thành một trong ba bộ kinh hộ quốc của Nhật bản, xưa nay rất được kính tín tôn sùng. Sau khi ngài Tối trừng khai sáng tông Thiên thai ở Nhật bản, kinh này lại trở thành trung tâm giáo học của Phật giáo Nhật bản, là kinh nòng cốt của nền Phật giáo mới chi phối giới Phật giáo Nhật bản. Bản tiếng Phạm của kinh này thời gần đây đã được tìm thấy ở Khách thập cát nhĩ (Kashgar) thuộc Tân cương và được học giả người Pháp là Eugène Burnouf dịch ra Pháp văn và xuất bản vào năm 1852. Về sau lại có các bản dịch tiếng Anh, tiếng Nhật (Phạm, Nhật đối chiếu). Kinh Pháp hoa là bộ kinh được truyền bá rộng nhất từ xưa đến nay. Các kinh như: Đại bát nê hoàn, Đại bát niết bàn, Ưu bà tắc giới, Quán phổ hiền bồ tát hành pháp, Đại thừa bản sinh tâm địa quán, Đại Phật đính thủ lăng nghiêm v.v... và các bộ luận như: Đại trí độ, Trung quán, Cứu kính nhất thừa bảo tính, Nhiếp đại thừa, Phật tính, Nhập đại thừa v.v... đều có nêu tên kinh này và trích dẫn nhiều đoạn văn nghĩa trong đó. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Phạm viết tay thường trộm dùng lời văn và giáo nghĩa của kinh này, nhưng thêm bớt lộn xộn. Ngoài ra, trong các bản đào được ở Đôn hoàng thấy có các phẩm: Đạc lượng thiên địa thứ 29, Bồ tát Mã minh thứ 30 của kinh Diệu pháp liên hoa, và đều được thu vào Đại chính tạng tập 85. Phong tục sao chép kinh Pháp hoa từ xưa đã rất thịnh, bản kinh sao chép sớm nhất mà văn tự có thể khảo xét được là bản kinh chép vào năm Kiến sơ thứ 7 (411) đời Tây Lương, tức là sau bản dịch của ngài Cưu ma la thập sáu năm. [X. Pháp hoa văn cú Q.8 phần dưới; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Xuất tam tạng kí tập Q.4, Q.8; Khai nguyên thích giáo lục Q.11, Q.14; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.2; Duyệt tạng tri tân Q.24]. (xt. Chính Pháp Hoa Kinh).

diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa

See Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú.

diệu pháp liên hoa kinh luận

Saddharma-puṇḍarīka śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.

Diệu pháp liên hoa kinh luận ưu-ba-đề-xá 妙法蓮華經論憂波提舎

[ja] ミョウホウレンゲキョウロンウバダイシャ Myōhō rengekyōron yūbadaisha ||| Miao-fa-lien-hua ching lun yu-po-ti-she; 1 fasc., by Vasubandhu 世親, trans. Ratnamati 勒那摩, Senglang 僧朗 et.al. T 1520.26.10-20. => (c: Miao-fa-lien-hua ching lun yu-po-ti-she); 1 quyển; của Thế Thân ( c: Vasubandhu 世親), Lặc-na-ma (s: Ratnamati 勒那摩), Tăng Lãng (c: Senglang 僧朗) và nhiều người khác dịch.

diệu pháp liên hoa kinh văn cú

Ngài Trí Giả đời Tùy giải thích chính văn của Kinh Liên Hoa—The commentaries and treatises on the Suddharmapundarika Sutra, which composed and explained by master T'ien-T'ai Chih-I.

diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá

2847請參閱法華文句 或法華文句記 請參閱法華文句記 請參閱法華文句記 請參閱法華玄義 請參閱法華玄贊 請參閱法華義疏 請參閱法華經義記 請參閱法華經義記 梵名 Saddharma-puṇḍarīka-śāstra, Saddharma-puṇḍarīka-upadeśa,凡二卷。印度大乘佛教論師世親著,後魏菩提流支、曇林等合譯。本書為法華經之注釋書。又作妙法蓮華經論、法華經論、法華論。收於大正藏第二十六冊。本書依據引之法華經梵本與鳩摩羅什譯本不符,而類似現存之尼泊爾梵本。別譯有元魏勒那摩提、僧朗等之妙法蓮華經論優波提舍一卷,其譯語雖與本論相同,然缺歸敬頌,並有字句之差異及詳略等不同。現今發現之敦煌出土本中,有類似高麗藏本勒那摩提譯之論本。注疏有隋代吉藏之疏三卷、唐代義寂、義一合著之述記二卷等。〔大智度論疏卷二十四、歷代三寶紀卷九、開元釋教錄卷六、卷十二、彥琮錄卷一、至元法寶勘同總錄卷八〕 ; Saddharma-puṇḍarīka-sŪtra-śāstropadesa (S)Do ngài Thế Thân biên soạn. ; (妙法蓮華經憂波提舍) Phạm: Saddharmapundarīka-sūtra-upadeśa, gồm 2 quyển. Bồ tát Thế thân soạn, các ngài Bồ đề lưu chi và Đàm lâm dịch chung vào đời Hậu Ngụy. Đây là sách chú thích kinh Pháp hoa. Cũng gọi Diệu pháp liên hoa kinh luận, Pháp hoa kinh luận, Pháp hoa luận. Thu vào Đại chính tạng tập 26. Kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm mà bộ sách này y cứ để dẫn giải không ăn khớp với bản dịch của ngài Cưu ma la thập mà lại tương tự như bản tiếng Phạm ở Népal hiện còn. Cũng có bản dịch khác của sách này là: Diệu pháp liên hoa kinh luận ưu ba đề xá 1 quyển, do các ngài Lặc na ma đề và Tăng lãng dịch vào thời Nguyên Ngụy. Lời dịch của bản Nguyên Ngụy này tuy giống với bản của các ngài Bồ đề lưu chi và Đàm lâm, nhưng thiếu bài tụng Qui kính và có khác nhau về câu, chữ, phần nói rộng, phần giản lược. Hiện nay, trong những bản đào được ở Đôn hoàng, có bản luận tương tự như bản của tạng Cao li do ngài Lặc na ma đề dịch. Về sách chú sớ của luận này thì có: Sớ 3 quyển của ngài Cát tạng đời Tùy, Thuật kí 2 quyển do các ngài Nghĩa tịch và Nghĩa nhất soạn chung vào đời Đường. [X. Đại trí độ luận sớ Q.24; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.6, Q.12; Ngạn tông lục Q.1; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.8].

Diệu pháp liên hoa kinh ưu-ba-đề-xá 妙法蓮華經憂波提舎

[ja] ミョウホウレンゲキョウウバダイシャ Myōhō renge kyō ubadaisha ||| Miaofa lianhua jing youpotishe (Skt. Saddharmapundarīka-sūtra-upadeśa). T 26, no. 1519-1520. Two fascicles, translated by Bodhiruci 菩提流支 and Danlin 曇林. Usually abbreviated as 法華論. A short commentary on the Lotus Sutra 法華經. => (c: Miaofa lianhua jing youpotishe; Skt. Saddharmapundarīka-sūtra-upadeśa). 2 quyển; Bồ-đề Lưu-chi (s: Bodhiruci 菩提流支) và Đàm Lâm (c: Danlin 曇林) dịch. Thường viết tắt là Pháp Hoa luận. Là luận giải vắn tắt về kinh Pháp Hoa.

Diệu pháp liên hoa kinh 妙法蓮華經

[ja] ミョウホウレンゲキョウ Myōhō renge kyō ||| Miaofa lianhua jing (Saddharmapundarīka-sūtra); "Sutra of the Lotus of the Wonderful Dharma "; 7 fascicles, tr. by Kumārajīva 鳩摩羅什 in 406 CE (The Lotus Sutra, translated into English by Leon Hurvitz and Burton Watson) T 262.9.1c-62b. One of the most popular and influential Mahāyāna sutras in East Asia; the basis on which the Tiantai 天台 and Nichiren 日蓮 sects were established. Its title is usually abbreviated to Fahua jing 法華經. This sutra is well-known for its extensive instruction on the concept and usage of expedient means 方便, mostly in the form of parables. => (c: Miaofa lianhua jing ; s: Saddharmapundarīka-sūtra; e: Sutra of the Lotus of the Wonderful Dharma); 7 quyển; Cưu-ma-la-thập (s:Kumārajīva 鳩摩羅什) dịch năm 406. Được Leon Hurvitz và Burton Watson dịch sang tiếng Anh với tên Lotus Sutra. Là 1 trong những bộ kinh Đại thừa thông dụng và có ảnh hưởng nhất ở Đông Á; là bộ kinh căn bản của tông Thiên Thai và Nhật Liên tông. Kinh nầy nổi tiếng do những lời dạy sâu mầu về khái niệm và cách vận dụng các phương tiện, trong kinh văn đa phần dùng thể loại dụ ngôn.

diệu pháp liên hoa tam muội bí mật tam ma da kinh

2847請參閱妙法蓮華經 請參閱 法華經疏 請參閱 法華義疏全一卷。唐代不空譯。又作大蓮華三昧祕密三摩耶經、無障礙經、蓮華三昧經。收於卍續藏第三冊。本經係以密教觀點來解說妙法蓮華經,全經以金剛薩埵之請問及大日如來之答說形式所成。其內容,初舉「歸命本覺心法身」等二頌八句之本覺讚;此讚偈頗為著名,被視為古來三世諸佛隨身之偈,又為一切眾生成佛之文。次述法華經二十八品中之前十四品以文殊為本尊,後十四品以普賢為本尊之義,並闡說五重、九重之普賢。其後又於方便祕密三摩耶品、見寶塔祕密三摩耶品等諸品之中,分別宣說「十如是」與「八葉九尊」之配當方法、寶塔與法華經根本一字阿字之深旨、提婆達多之本源、龍女及草木成佛之密咒、久遠實成如來之尊形、心真言、住所,與常不輕菩薩禮拜之意義等。 ; (妙法蓮華三昧秘密三摩耶經) Có 1 quyển, ngài Bất không dịch vào đời Đường. Cũng gọi Đại liên hoa tam muội bí mật tam ma da kinh, Vô chướng ngại kinh, Liên hoa tam muội kinh, thu vào Vạn tục tạng tập 3. Kinh này đứng trên quan điểm của Mật giáo để giải thuyết kinh Diệu pháp liên hoa. Toàn kinh được cấu thành bởi những câu thỉnh vấn của ngài Kim cương tát đỏa và lời giải đáp của đức Đại nhật Như lai. Về nội dung thì trước hết nêu hai bài tụng gồm tám câu khen ngợi bản giác; hai bài tụng này rất nổi tiếng; được xem như kệ tùy thân của chư Phật ba đời và là căn cứ của tất cả chúng sinh thành Phật. Kế đến, trình bày ý nghĩa trong 28 phẩm kinh Pháp hoa thì 14 phẩm đầu lấy Văn thù làm bản tôn, 14 phẩm sau lấy Phổ hiền làm bản tôn.Sau đó, trong phẩm Phương tiện bí mật tam ma da và phẩm Kiến bảo tháp bí mật tam ma da lại nói rõ phương pháp phối hợp giữa Thập như thị và Bát diệp cửu tôn, ý chỉ sâu xa giữa Bảo tháp và chữ (a) căn bản của kinh Pháp hoa, nguồn gốc của Đề bà đạt đa, mật chú của Long nữ và cỏ cây thành Phật, ý nghĩa việc đức Như lai đã thành Phật từ lâu xa, tâm chân ngôn, trụ xứ và sự lễ bái của bồ tát Thường bất khinh v.v...

diệu pháp liên hoa ưu bà đề xá kinh

Saddharma-puṇḍarīkam-upadesa sŪtra (S)Tên một bộ kinh.

diệu pháp luân

Bánh xe Diệu Pháp, hay giáo pháp do Phật khởi chuyển được xem như là một đại luân kỳ diệu không thể nghĩ bàn—The wheel of the wonderful law, Buddha's doctrine regarded as a great cakra or wheel, which is beyond thought and discussion.

diệu pháp nhứt thừa

Một thừa duy nhứt của Diệu Pháp hay Toàn Giáo Đại Thừa—The one vehicle of the Wonderful dharma, or perfect Mahayana.

diệu pháp thuyền

Thuyền Diệu pháp, có khả năng chuyển người vượt qua biển đời sanh tử để đi đến Niết bàn—The bark or boat of wonderful dharma, capable of transporting men over the sea of life into nirvana.

diệu pháp tạng

The treasury of the wonderful law.

diệu pháp đăng

Ánh sáng Diệu Pháp soi rọi bóng tối vô minh—The lamp of the wonderful law shinning into the darkness of ignorance.

diệu pháp đường

Diệu Thiện Pháp Đường, tọa lạc tại góc tây nam trên cung Trới Đao Lợi (ba mươi ba tầng Trời), nơi ba mươi ba vị Trời họp bàn xem việc nào là chánh pháp, việc nào không phải là chánh pháp—The hall of wonderful dharma, situated in the south-west corner of Trayastrimsas heaven, where the thirty-three devas discuss whether affairs are according to law or truth or the contrary.

Diệu pháp 妙法

[ja] ミョウホウ myōhō ||| (1) The wonderful law; the true principle; the sublime dharma. (2) The correct teaching, correct dharma (saddharma). => 1. Giáo pháp vi diệu; pháp chân thật, giáo pháp tối thượng. 2. Giáo pháp đung đắn. Chính pháp (s: saddharma).

diệu quan

2857請參閱 丹霞子淳禪師語錄 或投子義青禪師語錄 <一>相對別教「隔歷三觀」而言,天台宗以圓教之「圓融三觀」為妙觀。即於空、假、中三諦之中,觀空諦即為三諦,則觀假、中二諦亦各皆為三諦,稱為即一而三;反之,觀三諦俱為空諦,則觀三諦亦皆各為假、中二諦,稱為即三而一。如是即一而三,即三而一,圓妙融通而一無隔障,是為妙觀。〔金光明經文句記卷三上、祕藏記〕 <二>日本淨土宗僧。為陸奧如來寺之開山。磐城國石川郡和泉人,俗姓源。號高蓮社良山。初學密教,後歸淨土,師事良慶明心,稟承名越流奧旨。著有初學題額集六卷、略論安樂淨土義裏書一卷、阿彌陀佛十劫成佛事等書。其年壽不詳。 ; (妙觀) Tông Thiên thai lấy Ba quán viên dung của Viên giáo làm Diệu quán, đối lại với Ba quán thứ tự của Biệt giáo. Trong ba đế Không, Giả, Trung, nếu quán Không đế tức là ba đế, thì quán hai đế Giả, Trung mỗi đế cũng đều là ba đế, gọi là Tức nhất nhi tam (tức một mà ba). Ngược lại, nếu quán ba đế đều là Không đế, thì quán ba đế mỗi đế cũng đều là Giả, Trung, gọi là Tức tam nhi nhất (tức ba mà một). Như vậy, tức nhất nhi tam, tức tam nhi nhất dung thông viên diệu không ngăn trở nhau: đó là Diệu quán. [X. Kim quang minh kinh văn cú kí Q.3 phần trên; Bí tạng kí].

Diệu quan sát trí

妙觀察智; S: pratyavekṣaṇa-jñāna;|Năm trí

diệu quan sát trí

2858梵語 pratyavekṣaṇā-jñāna。為顯教四智之一,密教五智之一。即巧妙觀察諸法而自在說法之智,乃轉第六意識所得者。配於密教五部中之蓮華部,以彌陀如來為主。又若配以五大,以此智明辨邪正,故應配於水大。〔成唯識論卷十、菩提心論、祕藏記〕(參閱「五智」1161、「四智心品」1771) ; Pratyavekṣana-jāna (S). ; (妙觀察智) Phạm: Pratyavekwanà-jĩàna. Một trong bốn trí của Hiển giáo, một trong năm trí của Mật giáo. Tức là trí khéo léo xem xét các pháp rồi diễn nói một cách tự tại. Trí này do chuyển thức thứ sáu mà thành và được phối với Liên hoa bộ trong năm bộ của Mật giáo. Trí này lấy Di đà Như lai làm vị tôn chủ. Lại vì trí này biện biệt rõ tà chính, cho nên, nếu phối hợp với năm đại, thì phải phối với Thủy đại. [X. luận Thành duy thức Q.10; luận Bồ đề tâm; Bí tạng kí]. (xt. Ngũ Trí, Tứ Trí Tâm Phẩm).

diệu quan sát trí ấn

2858又稱彌陀定印。為密教蓮華部之印相。即阿彌陀佛所結之印相,二手之拇指、食指相捻,兩手外縛,仰置臍下。〔仁王護國般若波羅蜜多經道場念誦儀軌卷上、成就妙法蓮華經王瑜伽觀智儀軌〕(參閱「九品印」136、「定印」3176) ; (妙觀察智印) Cũng gọi Di đà định ấn. Ấn tướng của Liên hoa bộ Mật giáo. Hai tay đan ở ngoài, ngón cái và ngón trỏ của hai tay bấm vào nhau, đặt ở phía dưới rốn. Là ấn tướng do đức Phật A di đà kết. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ Q.thượng; Thành tựu diệu pháp liên hoa kinh vương du già quán trí nghi quĩ]. (xt. Cửu Phẩm Ấn, Định Ấn).

diệu quang

Varapabhā (P)Diệu Quang Bồ tátTên một vị Bồ tát. ; Varaprabha (S). Wonderful Light, an ancient incarnation of Manjusri.Diệu quang Phật, Sùryarasmi, the 930th Buddha ođ the present kalpa. ; Varaprabha (skt). 1) Ánh sáng kỳ diệu: Wonderful Light. 2) Một kiếp tái sanh hồi xa xưa của Ngài Văn Thù: An ancient incarnation of Manjusri.

diệu quang phật

Vị Phật thứ 930 trong một ngàn vị Phật hiện kiếp—Suryarasmi, the 930th Buddha of the present kalpa.

diệu quyến thuộc

2853即指密教法身如來說法會座中集會聽法之聽聞眾。於顯教中,宣說大法之教主與聽聞教法之聽聞眾,以因果之位而言,各自殊異,唯教主為果位之人,其餘之聽聞眾皆為因位之人;然於密教中,聽聞眾乃從法身如來之自身所流出者,係如來之自性所成之眷屬諸尊,稱為「自眷屬」,一一之眷屬皆分掌如來之德,可領解佛境界之法門,故與說法之教主共為主伴,均為如來自性會場之果位人。故若以密教之觀點而分粗妙劣勝,則顯教之聽聞眾為「粗眷屬」,密教之聽聞眾稱為「妙眷屬」。〔大日經疏卷一〕 ; (妙眷屬) Chỉ cho thính chúng nhóm họp tại hội tòa để nghe Pháp thân Như lai của Mật giáo nói pháp. Trong Hiển giáo, nếu nói theo Nhân vị và Quả vị, thì giữa bậc Giáo chủ nói pháp và thính chúng nghe pháp có khác nhau: Chỉ có bậc giáo chủ đã đạt đến Quả vị, còn thính chúng nghe pháp đều thuộc Nhân vị. Nhưng trong Mật giáo thì thính chúng nghe pháp là từ tự thân Pháp thân Như lai mà sinh ra, là chư tôn quyến thuộc do tự tính của Như lai thành tựu, gọi là Tự quyến thuộc, mỗi mỗi quyến thuộc đều chia nhau nắm giữ đức của Như lai, đều có thể lãnh hội được pháp môn thuộc cảnh giới của Phật, cho nên cùng với Giáo chủ thuyết pháp cùng là chủ bạn và đều thuộc quả vị trong hội trường Như lai tự tính. Bởi vậy, nếu đứng trên quan điểm của Mật giáo mà phân biệt thô diệu, liệt thắng, thì thính chúng nghe pháp của Hiển giáo là Thô quyến thuộc, còn thính chúng nghe pháp của Mật giáo là Diệu quyến thuộc. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].

diệu quán

Sự quán chiếu kỳ diệu (tam quán viên dung của Viên Giáo)—The wonderful contemplation, the wonderful system of the three T'ien-T'ai meditations—See Tam Quán.

Diệu quán sát trí 妙觀察智

[ja] ミョウカンザッチ myōkanzacchi ||| 'wondrous observing wisdom,' or 'wisdom of unerring cognition.' One of the 'four wisdoms' in Consciousness-only theory. The wisdom that is gained through transformation of the defiled sixth consciousness. The wisdom that operates freely, without restriction. The wisdom that fully observes the object (pratyavekṣa-jñāna). (2) One of the five wisdoms of Dainichi tathāgata. The wisdom that correctly pursues all things. (3) The wisdom of turning the wheel of the dharma, explaining the Buddha's teachings to beings without hindrance. => 1. Một trong bốn trí theo giáo lý Duy thức tông. Là trí đạt được do chuyển hoá nhiễm ô từ thức thứ sáu. Trí huệ khai mở tự tại, không chướng ngại. Trí quán sát thông suốt mọi đối tượng (s: pratyavekṣa-jñāna). 2. Một trong ngũ trí của Đại nhật Như lai (s: Dainichi tathāgata); trí tuệ biết rõ tường tận các pháp. 3. Trí tuệ để chuyển pháp luân, giảng giải Phật pháp không ngăn ngại.

diệu quả

2846(1884~1963)臺灣桃園人,俗姓葉。十八歲皈依於大溪齋明寺,投覺力上人披剃出家。於民國元年(1912),受具足戒於福建鼓山湧泉寺。後創建苗栗大湖觀音山法雲禪寺、中壢月眉山圓光禪寺,均為僧眾修習之道場。自此法譽日隆,日本曹洞宗大本山曾委之為臺灣布教師。民國三十七年創辦臺灣佛學院,禮請弘法南洋之慈航法師出任院長。大陸淪陷時,大批僧伽逃至臺灣,師曾不遺餘力為彼等籌置棲身之所。師熟諳禪宗公案,潛究維摩經。民國五十二年入寂,世壽八十。有語錄及經義講註等遺世。 ; Kết quả kỳ diệu, như Bồ Đề và Niết Bàn—Wonderful fruit, i.e bodhi, or enlightenment, or nirvana.

Diệu quả 妙果

[ja] ミョウカ myōka ||| The marvelous fruits of practice: bodhi, enlightenment, nirvana. => Kết quả vi diệu của sự tu tập: giác ngộ, giải thoát, niết-bàn.

diệu quảng

2856(1902~ )臺灣臺中人,俗姓羅。別號定道。圓光佛學院畢業。承七塔寺法派,為臨濟宗第四十二世之法嗣。民國二十一年(1932)禮大湖法雲寺覺力和尚為師。四十四年於臺北之十普寺受具足戒。此後致力於講經說法,建設道場,促進佛教團體之文化交流,不遺餘力。五十九年應聘為馬來西亞佛學院董事,並出席世界佛教弘法大會。曾數度訪問東南亞,了解各國佛教之發展狀況。七十年創設中國佛教臺北慧燈講堂。現住持臺北湧泉寺、東方寺、豐原妙音寺、彰化花壇常覺寺、高雄法音寺等寺,並任臺北市佛教分會理事、臺中縣佛教支會理事長、中印緬錫佛教友誼會監事、中印佛教摩訶菩提大覺會主任委員等職。

Diệu Quốc Tự

(妙國寺, Myōkoku-ji): ngôi chùa của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại số 1-4 Zaimokuchōhigashi (材木町東), Sakai-ku (堺區), Sakai-shi (堺市), Ōsaka-fu (大阪府); hiệu là Quảng Phổ Sơn (廣普山), người đời thường gọi là Tô Thiết Tự (蘇鐵寺). Phát xuất từ việc Trưởng Quan Kami của vùng Tam Quốc (三國, Mikuni), Nhiếp Hà Tuyền (攝河泉) là Tam Hảo Chi Khang (三好之康, tức Tam Hảo Nghĩa Hiền [三好義賢, Miyoshi Yoshikata]) bị chiến tử vào năm 1562 (Vĩnh Lộc [永祿] 5), em ông là Nghĩa Trường (義長) bèn phát tâm cúng dường toàn bộ biệt trang của Chi Khang để xây chùa với mục đích hồi hướng công đức cầu nguyện cho anh ông được siêu độ. Nhân đó, một thương gia giàu có trong vùng là Du Ốc Thường Ngôn (油屋常言) cúng dường xây dựng các ngôi đường xá; và Phật Tâm Viện Nhật Quang (佛心院日珖), con trai của Thường Ngôn, trở thành Tổ khai sơn của chùa này. Đến năm 1594 (Văn Lộc [文祿] 3), nhân khi Nhật Quang kế thừa ngôi vị trú trì của Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama), Hạ Tổng (下總, Shimōsa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), ngôi chùa này được liệt ngang hàng với Đảnh Diệu Tự (頂妙寺) và Bổn Pháp Tự (本法寺) ở kinh đô Kyoto. Vâng mệnh của Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu), vị trú trì đời thứ 2 của chùa là Nhật Thống (日統) cùng với Nhật Thiệu (日紹) đã luận tranh Tông nghĩa với Nhật Áo (日奥) ở Thành Đại Phản (大阪城), và luận thắng chủ trương Không Nhận Không Cho của Nhật Áo. Chùa hiện còn một số kiến trúc chính như Chánh Điện, Tháp Ba Tầng, Phương Trượng, Khách Điện, Nhà Kho, v.v. Trong khuôn viên chùa còn có cây Tô Thiết (蘇鐵) rất lớn, tương truyền được đem từ vương quốc Cao Lệ (Triều Tiên) sang trồng. Người ta bảo rằng Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) có lần đã đem cây này trồng trong Thành An Thổ (安土城, Azuchi-jō), nhưng đêm về lại nghe tiếng yêu quái vang rền, nên ông đem trả cây lại cho chùa.

diệu suý điểu

Xem Ca lâu la.

Diệu sí điểu 妙翅鳥

[ja] ミョウジチョウ myōjichō ||| A translation of the Sanskrit garuḍa. See 迦樓羅. => Hán dịch từ chữ garuḍa từ tiếng Sanskrit. Xem Ca-lâu-la 迦樓羅.

diệu sắc

Surùpa (S). The wonderful form or body, i.e. of a Buddha's sambhogakàyaand his Buddha-land. Diệu sắc thân Như lai, Surùpakàya Tathàgata,(Aksobhya, the Buddha of the East), who is just addressed whenofferings are made to the hungry spirits. ; Surupa—Tô Lâu Ba—Sắc tướng báo thân báo độ của Phật là tuyệt diệu không thể nghĩ bàn—The wonderful form or body (Buddha's sambhogakaya and his Buddha-land).

diệu sắc thân như lai

2845請參閱 蘇悉地經 請參閱蘇悉地經 妙色身,梵名 Surūpa,音譯素嚕波。為密教施餓鬼法時所供奉五如來之一,係與東方阿閦佛同體。妙色之「色」,乃現象、形、形態等義,而非色彩之色。蓋此尊係東方金剛部大曼荼羅身,故能破餓鬼之醜陋形,而以諸根具足、相好圓滿為其本誓。(參閱「五如來」1075、「阿閦佛」3668) ; SurŪpakāya-Tathāgata (S), SurŪpa (S)Tên một vị Phật hay Như Lai. Xem Phật A súc bệ. ; Surupakaya Tathagata (skt)—Đức Phật A Súc ở phương Đông đuợc kể đến khi làm phép bố thí cho ngạ quỷ—Aksobhya, the Buddha of the East, who is thus addressed when offerings are made to the hungry ghosts. ; (妙色身如來) Diệu sắc thân, Phạm:Surùpa, âm Hán: Tố rô ba. Một trong năm đức Như lai được thờ cúng khi cử hành pháp Thí ngã quỉ (cho quỉ đói ăn) trong Mật giáo, Ngài là cùng thể với Phật A súc phương đông. Chữ Sắc trong Diệu sắc có nghĩa là hiện tượng, hình, hình thái, chứ không phải sắc của màu sắc. Bởi vì vị tôn này là thân Đại mạn đồ la thuộc Kim cương bộ ở phương đông, bản thệ của ngài là khiến cho các căn đầy đủ, tướng hảo tròn đầy, cho nên có thể phá hình tướng xấu xí của quỉ đói.(xt. Ngũ Như Lai, A Súc Phật).

Diệu sắc đà-la-ni kinh 妙色陀羅尼經

[ja] ミョウシキダラニキョウ Myōshiki daranikyō ||| The Miaose tuoluonijing; Skt. Surūpa-dhāraṇī; Tib. su rū pa shes bya ba'i gzungs [To.540/1078, P.352/699]; (Dhāraṇī of the Well-Formed One). 1 fasc. (T 1386.21.905-906), trans. Faxian 法賢. Explains how to relieve the sufferings of pretas 餓鬼. BGBT4/75. => (c: Miaose tuoluonijing; Skt. Surūpa-dhāraṇī; Tib. su rū pa shes bya ba'i gzungs; e: Dhāraṇī of the Well-Formed One). 1 quyển. Pháp Hiền (c: Faxian 法賢) dịch.

Diệu sắc 妙色

[ja] ミョウシキ myōshiki ||| (1) Subtle form, marvelous form, etc. (2) Superb form, said of the existence in the eighth bhūmi and above. => 1. Sắc thân vi diệu, sắc tướng tuyệt hảo.v.v... 2. Diệu sắc, đề cập đến cảnh giới đệ bát địa trở lên.

diệu thanh

2852高麗仁宗朝(1123 ~ 1146)之僧。生年、籍貫均不詳。據東國通鑑卷二十二之十年壬子條所載,妙清自稱自禪師道詵經康靖和而傳承「太一玉帳之步法」。所謂太一玉帳之步法,乃高麗朝所盛行的風水圖讖法之一。妙清與其法弟白壽翰曉知陰陽之術,而以詭誕不經之說惑眾。其法有如宋朝林靈素之左道。當時高麗仁宗惑於妙清之言,曾兩度為之設立道場,即阿咤波拘神道場、無能勝道場。妙清又曾建議遷都至西京(平壤),後因朝臣力反而未果。仁宗十三年(1135),妙清與趙匡等人於西京舉兵叛亂,國號大為,改元天開,自稱「天遣忠義軍」,仁宗命金富軾等人討伐,未久亂平,妙清與趙匡諸人皆伏誅。〔高麗史卷十六、歷代朝鮮史略卷二、朝鮮史略卷三、東亞佛教史(金山正好)〕

diệu thiện công chúa

Công Chúa Diệu Thiện, con gái thứ ba của vua Trang Nghiêm, là hiện thân của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát—The princess of wonderful goodness, name of Kuan-Yin as third daughter of King Chuang-Yen. ; (妙善公主) Ở thời xa xưa, bồ tát Quan âm từng có lần là công chúa Diệu thiện. Cứ theo Biên niên thông luận quyển 10 chép, thì khi Luật sư Nam sơn Đạo tuyên hỏi về nguồn gốc của Quan âm đại sĩ, Thiên thần đã trả lời rằng: Ở một kiếp quá khứ xa xưa có vua Trang nghiêm, phu nhân tên là Bảo ứng, sinh được ba con gái, cô lớn nhất tên Diệu nhan, cô thứ hai tên Diệu âm và cô thứ ba tên Diệu thiện, sau Diệu thiện đi tu và đắc đạo thành bồ tát Quan âm có nghìn tay nghìn mắt. [X. Thung dung lục tắc 54].

diệu thiện công chủ

2853觀音菩薩往昔嘗為妙善公主。據編年通論卷十載,天神答南山道宣律師所問觀音大士緣起時,謂往昔過去劫有莊嚴王,夫人名寶應,生三女,長女名妙顏,次女名妙音,三女即名妙善,現千手千眼聖像。〔從容錄第五十四則〕

diệu thiện pháp đường

See Diệu Pháp Đường.

diệu thiện thế giới

1) Thế giới thâm hỷ: The realm of profound joy. 2) Xứ sở của Ngài Duy Ma Cật, người mà người ta tin là đồng thời với Đức Phật: The country of Vimalakirti, who has stated to have been a contemporary of sakyamuni.

diệu thiện túc thiên

Cung Trời Đâu Suất, nơi có đầy niềm vui kỳ diệu—Tushita, the heaven full of wonderful joy

Diệu Thành Tự

(妙成寺, Myōjō-ji): ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại Takiya-chō (瀧谷町), Hakui-shi (羽咋市), Ishikawa-ken (石川縣); hiệu là Kim Vinh Sơn (金榮山), thường được gọi là Lang Cốc Tự (瀧谷寺) hay Lang Cốc Diệu Thành Tự (瀧谷妙成寺). Vào năm 1293 (Vĩnh Nhân [永仁] nguyên niên), tại vùng đất này đã có một ngôi chùa của Chơn Ngôn Tông là Thiên Bình Tự (天平寺) và Mãn Tạng Pháp Ấn (滿藏法印) trú trì tại đó; nhưng sau khi luận tranh tông nghĩa với Nhật Tượng (日像), ông chuyển sang Nhật Liên Tông, đổi tên thành Nhật Thừa (日乘) và sáng lập ra ngôi chùa này. Lại có thuyết cho rằng ngôi Mãn Nguyệt Tự (滿月寺) của Chơn Ngôn Tông được chuyển giao cho Nhật Tượng và ông đổi tên thành chùa hiện tại. Quần thể kiến trúc của chùa thuộc dưới thời đại Giang Hộ, ban đầu do vị Phiên Chủ vùng Gia Hạ (加賀, Kaga) là Tiền Điền Lợi Thường (前田利常, Maeda Toshitsune) xây dựng lên để cầu nguyện siêu độ cho thân mẫu ông là Thọ Phước Viện (壽福院). Các ngôi đường tháp, già lam của chùa là những kiến trúc vẫn còn giữ lại nét ban sơ khi mới dựng lên; đặc biệt ngôi tháp 5 tầng tuyệt mỹ vẫn hiện sừng sững giữa đất trời. Nơi Kinh Đường có tàng trữ nhiều văn bản kinh, đặc biệt là bản khắc gỗ Kinh Pháp Hoa, được khai bản trong khoảng thời gian niên hiệu Ứng Vĩnh (應永, 1394-1428). Bảo vật của chùa có những di phẩm của dòng họ Tiền Điền (前田, Maeda) ở vùng Gia Hạ và nhiều thứ khác nữa. Chùa có 10 kiến trúc cổ được công nhận là tài sản văn hóa quan trọng, gồm Chánh Điện, Tháp Năm Tầng, Tổ Sư Đường, Kinh Đường, Thư Viện, Lầu Chuông, Tam Quang Đường, Tam Thập Phiên Thần Đường, Nhị Vương Môn và Nhà Kho.

diệu thú

Cõi thú kỳ diệu, như được sanh ra làm người và được tu theo giáo lý Đại Thừa—The wonderful destiny or metempsychosis, i.e. that of Mahayana.

Diệu Thật

(妙實, Myōjitsu, 1297-1364): vị tăng của Nhật Liên Tông Nhật Bản, sống vào khoảng dưới thời đại Nam Bắc Triều, húy là Diệu Thật (妙實), tên lúc nhỏ là Nguyệt Quang Hoàn (月光丸), La Hầu La Hoàn (羅睺羅丸); thông xưng là Đại Giác Đại Tăng Chánh (大覺大僧正); hiệu Đại Giác (大覺); xuất thân kinh đô Kyoto. Trước kia ông vốn là vị tăng của Chơn Ngôn Tông ở Đại Giác Tự (大覺寺, Daikaku-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro); nhưng vào năm 1313, ông cảm đắc được lời thuyết giảng của Nhật Tượng (日像) ở Diệu Hiển Tự (妙顯寺, Myōken-ji), nên theo làm đệ tử của vị này và được đặt tên là Diệu Thật. Ông đã từng đi tuần hóa các địa phương Bị Tiền (僃前, Bizen), Bị Trung (僃中, Bicchū), Bị Hậu (僃後, Bingo), rồi được sự hỗ trợ dắc lực của dòng họ Tùng Điền (松田) và thiết lập cơ sở Pháp Hoa ở vùng Bị Tiền. Vào năm 1342, ông kế thừa Nhật Tượng làm vị Tổ đời thứ 2 của Diệu Hiển Tự. Đến năm 1358, nhờ lễ cầu mưa của ông được ứng nghiệm, nên Nhật Liên được ban cho hiệu Bồ Tát; rồi tiếp theo Nhật Lãng (日朗), Nhật Tượng cũng được ban danh hiệu này; còn Diệu Thật thì được bổ nhiệm làm Đại Tăng Chánh. Nhờ sự bảo trợ của hàng công khanh, ông đã cống hiến nhiều trong việc phát triển Nhật Liên Tông.

Diệu thể

(妙體): thể tánh nhiệm mầu, vi diệu. Như trong Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474) có đoạn: “Giá Na diệu thể, biến pháp giới dĩ vi thân, Hoa Tạng trang nghiêm, đẳng thái hư nhi vi lượng (遮那妙體、遍法界以爲身、華藏莊嚴、等太虛而爲量, thể mầu của đức Giá Na, khắp pháp giới lấy làm thân; cõi Hoa Tạng trang nghiêm, cùng hư không mà tính lường).” Hay trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 3 lại có đoạn rằng: “Trang nghiêm diệu thể chứng Như Lai, khổ hải mang mang thật khả ai, ngã dục pháp thuyền giai độ khứ, thử thân vĩnh bất hứa Đông lai (莊嚴妙體證如來、苦海茫茫實可哀、我欲法船皆度去、此身永不許東來, trang nghiêm thể mầu chứng Như Lai, biển khổ mênh mang đáng thương thay, con muốn thuyền pháp đều độ thảy, về Đông chẳng hứa với thân này).”

diệu thủ bồ tát

Xem Văn thù sư lợi Bồ tát.

diệu thủ vô đa tử

2843禪林用語。妙手,即絕妙之手段、方法;無多子,即無特別之意。意謂雖為妙手,卻無任何特別之處。碧巖錄第七十一則(大四八‧二○○上):「龍蛇陣上看謀略,令人長憶李將軍。(妙手無多子,匹馬單鎗,千里萬里,千人萬人)」 ; (妙手無多子) Tay khéo không nhiều con. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Diệu thủ nghĩa là thủ đoạn, phương pháp tuyệt khéo; vô đa tử nghĩa đen là không nhiều con, ở đây hàm ý chẳng có gì đặc biệt cả. Ý nói tuy có ngón khéo, nhưng không có gì đáng kể. Bích nham lục tắc 71 (Đại 48, 200 thượng), nói: Xem mưu lược trong trận rồng rắn, khiến người nhớ mãi Lí tướng quân. (Diệu thủ vô đa tử, một ngựa một gươm, nghìn dặm muôn dặm, nghìn người muôn người).

diệu thừa

The Wonderful Yana—See Đại Thừa.

diệu trang nghiêm vương

2853梵名 Śubhavyūha-rāja。又作嚴淨王。據法華經卷七莊嚴王本事品載,過去無量無邊不可思議阿僧祇劫前有佛,名雲雷音宿王華智佛,國名光明莊嚴,劫名喜見。彼佛之教法中有王,名妙莊嚴,其夫人名淨德(梵 Vimaladatta,又作離垢施),有二子,一名淨藏(梵 Vimalagarbha,又作離垢藏),一名淨眼(梵 Vimalanetra,又作離垢眼),二王子善神通,修菩薩行,勸原信婆羅門之王歸佛,王終以其國付弟而出家。蓋此王即後之蓮華德菩薩(梵 Padmaśrī),后即光照莊嚴相菩薩,二王子即藥王菩薩(梵 Bhaiṣajya-rāja)、藥上菩薩(梵 Bhaiṣajya-samudgata)。〔法華經藥王菩薩本事品、觀藥王藥上二菩薩經〕 ; ŚubhavyŪharāja (S). ; Subhavyuha (skt)—Diệu Trang Vương, người nổi tiếng vì là cha của Quán Âm (Trung Quốc), người đã giết Quán Âm Diệu Thiện, nhưng lưỡi kiếm của đao phủ bị gẫy nên không làm tổn hại được nàng. Hồn nàng Diệu Thiện đi xuống địa phủ, nhưng địa phủ lập tức biến thành thiên đường. Để cứu vãn địa ngục của ông ta, Diêm Vương đưa nàng trở lại trần thế trên một hoa sen—Who is reputed to be the father of Kuan-yin (China), who had killed her by “stifling” because the sword of the executioner broke without hurting her. Her spirit went to hell, but hell changed to paradise. Yama sent her back to life to save his hell, when she was miraculously transported on a Lotus flower to the island of P'u-T'o. ; (妙莊嚴王) Phạm: Zubhavyùha-ràja. Cũng gọi Nghiêm tịnh vương. Cứ theo phẩm Trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa quyển 7 chép, thì trong vô lượng vô biên bất khả tư nghị a tăng kì kiếp quá khứ, có đức Phật hiệu là Vân lôi âm tú vương hoa trí, tên nước là Quang minh trang nghiêm, kiếp tên là Hỉ kiến. Trong pháp hội của đức Phật ấy có một vị vua tên Diệu trang nghiêm, phu nhân tên là Tịnh đức (Phạm: Vimaladatta, cũng gọi Li cấu thí); vua có hai người con tên là Tịnh tạng (Phạm: Vimalagarbha, cũng gọi Li cấu tạng) và Tịnh nhãn (Phạm: Vimalanetra, cũng gọi Li cấu nhãn). Cả hai vương tử đều giỏi về thần thông, tu hạnh Bồ tát, khuyên vua cha vốn tin Bà la môn quy y theo Phật. Vua nghe lời và đem nước giao cho người em rồi xuất gia. Vị vua này về sau chính là bồ tát Liên hoa đức (Phạm: Padmazrì), Hoàng hậu là bồ tát Quang chiếu trang nghiêm tướng, còn hai vương tử thì chính là bồ tát Dược vương (Phạm: Bhaiwajya-ràja) và bồ tát Dược thượng (Phạm: Bhaiwajya-samudgata). [X. kinh Pháp hoa phẩm Dược vương bản sự; kinh Quán dược vương dược thượng nhị bồ tát].

diệu trang nghiêm vương bản sự phẩm

Subhavyuha Sutra (skt)—Tên phẩm thứ 27 trong 28 phẩm kinh Pháp Hoa, nói về Vua Diệu Trang Nghiêm—The king who is the subject and title of the twenty-seventh chapter in the 29 chapters of the Lotus Sutra. ** For more information, please see Diệu Trang Nghiêm Vương.

Diệu Trang Nghiêm vương 妙莊嚴王

[ja] ミョウショウゴンオウ myōshōgon ō ||| The king Marvelous Adornment (Śubha-vyūha-rāja), a bodhisattva who appears in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.59c13〕 => Vua Diệu Trang Nghiêm (s: Śubha-vyūha-rāja; e: Marvelous Adornment), một vị Bồ-tát xuất hiện trong kinh Pháp Hoa.

diệu trung

Viên Giáo Diệu Trung hay chân như diễn tả sự hợp nhất của vạn vật, để phân biệt với “Diệu Trung” của Thiên Thai Biệt Giáo, nhấn mạnh đến tánh “không” và “giả hợp” của vạn vật—The profound medium (madhya); the universal life essence, the absolute, the bhutatathata which expresses the unity of all things, i.e. the doctrine held by T'ien-T'ai as distinguished from the Differentiated Teaching which holds the madhya dotrine but emphasizes the dichotomy of the transcendental (không) and phenomenal (giả).

diệu tràng trướng tam muội

Dvadjagrakiyura (S)Thắng Tràng Tý Ấn Đà la ni kinh. Thắng Tràng Ấn kinhMột trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.

diệu tràng tướng tam muội

2855為法華經妙音菩薩品所說最上最高之定。三昧,為梵語 samādhi 之音譯,意譯為定,即心住於一境而不妄動之狀態。幢,原為大將軍用以表示威嚴之旌旗,故以妙幢相三昧喻為各種三昧中最上最高之三昧。據法華義疏卷十二載,所謂得妙幢相三昧,即入於諸種三昧中之最尊最上者,猶如得將軍之幢,表示其威嚴之大相。 ; Dhavadja-grakeyura-samādhi (S).

diệu trí

The wonderful Buddha wisdom. ; Diệu trí của chư Phật—The wonderful Buddha-wisdom.

Diệu trí 妙智

[ja] ミョウチ myōchi ||| (1) Excellent wisdom, subtle wisdom, sublime wisdom. 〔瑜伽論T 1579.30.619b21〕(2) The unfathomable wisdom of the Buddha. => 1. Trí tuệ siêu việt, trí tuệ vi diệu, trí tuệ siêu phàm. 2. Trí tuệ bất khả tư nghì cuae Đức Phật.

diệu tuyệt

Excellent—Admirable.

diệu tàng

Bodhisattva Ruciraketu (skt)—Tên của một vị Bồ Tát—Name of a Bodhisattva.

diệu tàng tướng tam muội

Dhvajagrakeyura (skt)—The ring on the top of a standard—A degree of ecstatic meditation (mentioned in Lotus sutra).

diệu tánh thanh tịnh

Kuśaka karma (S).

diệu tát đỏa thượng thủ bồ tát

Xem Kim Cang Hỷ Bồ tát.

diệu tâm

2842心體不可思議,故稱妙心。依天台宗之判教,別教係以如來之真心為妙心,圓教則直以凡夫之妄心為妙心。〔圓覺經、天台四教儀、五燈會元卷一〕 ; Xem Diệu Tâm tự. ; The mind or heart wonderful and profound beyond human thought. ; Diệu tâm là tâm thể tuyệt diệu không thể nghĩ bàn, nó vượt ra ngoài sự suy tưởng của nhân thiên, không còn vướng mắc bởi có không, trong đó tất cả những ảo tưởng tà vạy đều bị loại bỏ. Theo Thiên Thai Biệt Giáo, thì đây chỉ giới hạn vào tâm Phật, trong khi Thiên Thai Viên Giáo lại cho rằng đây là tâm của ngay cả những người chưa giác ngộ—The wonderful and profound mind or heart which is beyond human thought. The mind which clings to neither to nothingness nor to actuality—The mind in which all erronuous imaginings have been removed. According to to the Differentiated Teaching of the T'ien-T'ai school, limited this to the mind of the Buddha, while the Perfect teaching universalized it to include the unenlightened heart of all men. ; (妙心) Thể tính của tâm sâu xa vi diệu, không thể nghĩ bàn, không thể biết được, cho nên gọi là Diệu tâm. Theo sự phán giáo của tông Thiên thai, Biệt giáo lấy chân tâm của Như lai làm diệu tâm, còn Viên giáo thì lấy ngay vọng tâm của phàm phu làm diệu tâm. [X. kinh Viên giác; Thiên thai tứ giáo nghi; Ngũ đăng hội nguyên Q.1].

Diệu Tâm Tự

(妙心寺, Myōshin-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Diệu Tâm Tự thuộc Lâm Tế Tông, hiệu là Chánh Pháp Sơn (正法山), hiện tọa lạc tại Hanazonomyōshinji-chō (花園妙心寺町), Sakyō-ku (左京區), Tokyo-shi (東京市). Tượng thờ chính là Thích Ca Như Lai. Vào năm 1342 (Lịch Ứng [曆應] 5), Hoa Viên Thượng Hoàng (花園上皇) đến tham Thiền với Đại Đăng Quốc Sư (大燈國師, tức Tông Phong Diệu Siêu [宗峰妙超]), Tổ khai sơn Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), rồi lấy Ly Cung của mình mà xây dựng nên ngồi Thiền tự này. Đây chính là nguồn gốc của ngôi chùa này, và người khai sơn là Quan Sơn Huệ Huyền (關山慧玄), cao đệ của Đại Đăng Quốc Sư. Đại Sư Quan Sơn Vô Tướng là người đúng như tên gọi, không chấp trước vào ngôn từ chữ nghĩa, cũng chẳng để lại ngữ lục gì cả, không tu tạo đường vũ già lam, mà chỉ chuyên tào tạo nhân tài, và đã tạo thành cơ sở phát triển cho Lâm Tế Tông hiện tại. Trong vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂), chùa bị đốt cháy tan tành, nhưng rồi lại được vị Tổ đời thứ 6 của chùa là Tuyết Giang Tông Thâm (雪江宗深) tái kiến lại. Bốn vị đệ tử nổi tiếng của Tuyết Giang là Cảnh Giang (景江), Ngộ Khê (悟溪), Đặc Phương (特芳), Đông Dương (東陽), mỗi người lập thành một phái khác, thành 4 phái là Long Tuyền (龍泉), Đông Hải (東海), Linh Vân (靈雲) và Thánh Trạch (聖澤). Từ đó, họ mở rộng phái của mình đi khắp toàn quốc. Đến năm 1509 (Vĩnh Chánh [永正] 6), nhờ sự ngoại hộ của vị Ni Lợi Trinh (利貞), phu nhân của Tề Đằng Lợi Quốc (齊藤利國) ở Mỹ Nùng (美濃, Mino), nên khuôn viên chùa được mở rộng trên phạm vị rộng lớn. Hiện chùa có đến 57 ngôi viện, tất cả đều là nơi cầu nguyện của hai dòng họ Phong Thần (豐臣, Toyotomi) và Đức Xuyên (德川, Tokugawa) xưa kia, chùa trực thuộc có đến 3.500 ngôi, khoảng 10.000 vị tăng. Sắc Sứ Môn, Sơn Môn, Đại Phương Trượng, Nhà Kho, Khai Sơn Đường, đều là những kiến trúc được xếp vào hạng tài sản văn hóa quan trọng của nhà nước. Nổi tiếng nhất là đại hồng chung, được xem như là tối cổ và được xếp vào hạng quốc bảo. Ngoài ra còn có 2 bức thủ bút của Đại Đăng Quốc Sư, rồi trên trần nhà của Pháp Đường có bức tranh hoành tráng, nổi tiếng của nhà danh họa Thú Dã Thám U (狩野探幽).

Diệu Tâm tự

妙心寺; J: myōshin-ji;|Một ngôi chùa danh tiếng, thuộc tông Lâm Tế tại Kinh Ðô (j: kyōto), Nhật Bản, được Thiền sư Quan Sơn Huệ Huyền (j: kanzan egen, 1277-1360) khai sáng.|Chùa này được Thiền sư Huệ Huyền – vì vâng lệnh Hoa Viên Thiên hoàng – sửa đổi từ li cung của ông mà thành. Ban đầu, chùa này chỉ là một ngôi nhà nhỏ, sụp nát, mưa chảy cả vào trong. Nơi đây, Thiền sư Huệ Huyền dẫn dắt môn đệ rất kĩ lưỡng, nghiêm khắc. Một lần nọ, Quốc sư Mộng Song Sơ Thạch (j: musō sōseki) đến viếng thăm và khi trở về, sư bảo các vị đệ tử của mình rằng »tương lai của Thiền Lâm Tế nằm tại Diệu Tâm tự.«|Dòng Lâm Tế sau chủ yếu lấy chùa này làm trung tâm mà phát triển. Ðến pháp tôn đời thứ sáu là Tuyết Giang Tông Thâm (sekkō sáshin, 1408-1486) thì chia thành 4 phái và trở thành chủ lực lớn nhất của Thiền tông Nhật Bản.

diệu tâm tự

2843日本臨濟宗妙心寺派之大本山。號正法山。住於京都市右京區花園妙心寺町。本為花園天皇(1308~1318 在位)之離宮,天皇退位後,歸依禪宗,招請關山慧玄(1277~1360)為開山祖師,而建妙心寺。天皇則自住於玉鳳院。至第三世無因宗因之時,伽藍始逐漸完備,並成為足利義滿之祈願所。但於大內義弘之亂中,寺領皆被義滿掠奪侵佔,一時併於南禪寺而告廢絕。直至七世日峰宗舜始又復興,但於應仁之亂中又告絕亡。至九世雪江宗深時,再度興起,因受豐臣秀吉之外護,而恢復舊觀。江戶時代,與大德寺並峙為兩大寺。 本寺主要建築有敕使門、山門、佛殿、法堂、寢室、大方丈、小方丈、庫裡、浴室、鐘樓、經藏等,多仿唐代建築。佛殿供奉釋迦三尊像,大方丈則安置彌陀三尊像。寺域廣大,有甚多勝景、塔頭。文物有日本最古老之銅鐘、海北派之水墨畫等,俱為國寶。〔妙心寺文書、妙心寺史、日本佛教史之研究、花園妙心寺略誌〕 ; Myoshin-ji (J)Chùa lớn nhất Tokyo do Tông Lâm tế xây dựng.

diệu tâm tự phái

Myōshinji-ha (J).

Diệu Tâm tự 妙心寺

[ja] ミョウシンジ Myōshinji ||| Myōshinji; the head temple of the Myōshinji branch of Japanese Rinzai 臨濟宗, located in Kyoto. It was originally a villa owned by the ex-emperor Hanazono 華園, which was remodeled into a temple in 1337. Among the most famous abbots of this temple was Hakuin 白隱. => Chùa Diệu Tâm, toạ lạc tại Kyoto, trung tâm của phái thiền Lâm Tế Nhật Bản. Vốn là một biệt thự của phó vương Hoa Viên (j: Hanazono 華園), được tu sửa thành chùa năm 1337. Vị trú trì nổi tiếng nhất của ngôi chùa nầy là Bạch Ẩn (j: Hakuin 白隱).

diệu tí bồ tát

Subaku-kumara (skt)—Tô Bà Hô Đồng Tử—Vị Bồ Tát có cánh tay kỳ diệu—The Bodhisattva of the wonderful arm.

diệu tí bồ tát kinh

Subahku-kumara Sutra (skt)—Kinh nói về Tô Bà Hô Đồng Tử—The sutra mentioned about Subaku Bodhisattva.

diệu tông

Tông phái huyền diệu thậm thâm, ý nói Liên Hoa Tông—Profound principles (The Lotus sect).

diệu tú

Chòm sao thất hùng—These seven and the constellations, the celestial orbs.

Diệu Túc

xem cõi trời Đâu-suất.

diệu túc

Xem Đâu suất thiên cung.

diệu tý bồ tát

Subahu (S)Tô bà hô đồng tử, Tu bà hầu(1) Tên một vị Bồ tát. (2) Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.

Diệu tý Bồ-tát vấn kinh 妙臂菩薩問經

[ja] ミョウビボサツモンキョウ Myōbi bosatsu mon kyō ||| The Miaobi pusa wen jing; see Supohutongziqingwenjing 蘇婆呼童子請問經 => (c: The Miaobi pusa wen jing); Xem Tô-bà-hô đồng tử thỉnh vấn kinh (c: Supohutongziqingwenjing 蘇婆呼童子請問經 )

diệu tướng

Excellent appearance.

Diệu tướng 妙相

[ja] ミョウソウ myōsō ||| Marvelous attributes, such as one of the thirty-two marks of the Buddha. => Tướng tốt đẹp vi diệu, như một trong 32 tướng tốt của Đức Phật.

diệu tịnh minh tâm

2852指自性清淨心。妙,即無上、最上之意;淨,清淨之意。明,即遠離無明而達於徹悟之境地。 ; (妙淨明心) Chỉ cho tâm tự tính thanh tịnh. Diệu nghĩa là vô thượng, tối thượng; Tịnh nghĩa là trong sạch; Minh là cảnh giới đã xa lìa vô minh mà đạt tới triệt ngộ.

diệu tổng

2857(?~1163)宋代比丘尼。丹徒(江蘇鎮江)人,俗姓蘇。婚適毘陵許壽源,壽源仕於嘉興時,逢當代臨濟宗高僧大慧宗杲說法,妙總參與盛會,會中宗杲大罵諸方,眾人皆驚,惟妙總獨喜。說法畢,妙總叩請道號,宗杲予「無著」之號,並示偈云:「盡道山僧愛罵人,只有無著罵不動。」一日,正危坐間,忽大悟,宗杲為之印可,於是名聞四方。紹興(1131~1162)年間出家。隆興元年示寂,世壽不詳。 ; Miao tsung (C).

diệu viên

2855即殊妙圓滿之意;亦即真實絕對之相。景德傳燈錄卷三菩提達磨章(大五一‧二一九上):「帝曰:『如何是真功德?』答曰:『淨智妙圓,體自空寂,如是功德,不以世求。』」準此,禪林中形容圓滿微妙之機要語句,亦稱為「妙圓樞口」。樞,原指開閉門扉之軸處;引申為機要之意。從容錄第三則(大四八‧二二九中):「英雄力破重圍,妙圓樞口轉靈機。」 ; Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa được xây vào thế kỷ thứ 18, tọa lạc ở phía đông kinh thành Huế, dựa lưng vào dãy núi Ngũ Phong. Năm 1926, phòng họp được xây thêm. Năm 1963, chùa lại được trùng tu và xây thêm tiền đường, thiền đường và hậu liêu—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple was built in the eighteenth century, located on Mount Ngũ Phong, east of Huế Citadel. In 1926, a tiled roof was built instead of a thatched one. In 1953, the temple was rebuilt, ameeting house was added. In 1963, the temple was rebuilt again and added with an antechambre, a meditation hall and a back house. ; (妙圓) Mầu nhiệm tròn đầy. Là tướng chân thực tuyệt đối. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 Bồ đề đạt ma chương (Đại 51, 219), chép: Nhà vua hỏi: Công đức chân thực là thế nào?. Sư đáp: Tịnh trí diệu viên thể tự rỗng lặng, công đức như thế đời không cầu được. Theo đó, Thiền lâm hình dung những câu nói cơ duyên viên mãn vi diệu cũng gọi là Diệu viên xu khẩu (câu nói then chốt mầu nhiệm tròn đầy). Xu vốn là cái then cài cửa, ở đây dùng với ý là chủ yếu, then chốt. Thung dung lục tắc 3 (Đại 48, 229 trung) nói:Sức anh hùng phá vỡ trùng vây Diệu viên xu khẩu chuyển cơ mầu

diệu viên đan phức

2855係指圓覺經中辯音菩薩所修二十五殊妙之定輪法;意謂殊妙之圓修、殊妙之單修、殊妙之複修。此三觀均為殊妙之修法,故並稱為妙圓單複;又以此修行乃泯絕言語思慮,故稱為妙。蓋二十五定輪之修法可大別為殊妙之圓修一輪、殊妙之複修二十一輪、殊妙之單修三輪,合計為二十五定輪。若將二十五定輪法回互、轉換而修,則得以自由無礙,故稱妙修。〔宏智禪師廣錄卷八〕 ; (妙圓單複) Diệu viên đơn kép. Chỉ cho 25 pháp tu định luân vi diệu của bồ tát Biện âm trong kinh Viên giác. Ý nói Viên tu vi diệu, Đơn tu vi diệu, Phức tu vi diệu. Tu ba pháp quán này phải dứt hết nói năng suy nghĩ cho nên gọi là diệu. Hai mươi lăm pháp tu định luân có thể chia ra: Viên tu vi diệu 1 luân, Phức tu vi diệu 21 luân, Đơn tu vi diệu 3 luân, tổng cộng là 25 định luân. Nếu đem 25 pháp định luân đắp đổi mà tu thì sẽ được tự tại vô ngại nên gọi là diệu tu. [X. Hoành trí thiền sư quảng lục Q.8]

diệu vân tập

2855凡二十四冊。印順著。臺北慧日講堂流通。為作者自訂之著作集。分上中下三篇。上篇為經論講記,包含金剛經、心經、中論、攝大乘論等七篇講經記錄。中篇為專著,包含佛法概論、中觀今論等六部著作。下篇為文集,包含佛在人間等十一冊。唯妙雲集並非作者之全集,作者另有原始佛教聖典之集成、中國禪宗史、初期大乘佛教之起源與開展等書,皆未收在此集內。 ; (妙雲集) Gồm 24 tập, tác phẩm của ngài Ấn thuận, Giảng đường Tuệ nhật ở Đài bắc phổ biến. Tập tác phẩm do chính tác giả sửa lại và chia làm ba thiên thượng, trung, hạ.Thiên thượng là kinh luận giảng kí, gồm kinh Kim cương, kinh Tâm, luận Trung quán, luận Nhiếp đại thừa v.v... Thiên trung là tác phẩm chuyên đề như: Phật pháp khái luận, Trung quán kim luận v.v... tất cả sáu tác phẩm. Thiên hạ là tập văn, gồm Phật tại nhân gian v.v... tất cả 11 tập. Tuy nhiên, ngài Ấn thuận còn có những tác phẩm nổi tiếng như: Nguyên thủy Phật giáo Thánh điển chi tập thành, Trung quốc Thiền tông sử, Sơ kì Đại thừa Phật giáo chi khởi nguyên dữ phát triển v.v... đều chưa được đưa vào Diệu vân tập.

diệu vân tự tại vương như lai

2854相傳為龍樹菩薩於過去世成佛之名。又作妙雲如來、妙雲相如來、妙雲相佛。遼代非濁之三寶感應要略錄卷下馬鳴龍樹師弟感應條(大五一‧八五六上):「金剛正智經中,馬鳴過去成佛,號大光明佛,龍樹名妙雲相佛。大莊嚴三昧經中,馬鳴過去成佛,號日月星明佛,龍樹名妙雲自在王如來云云。」此如來之名散見於疑偽經論,為唐宋時代所流行者。〔釋摩訶衍論序、釋摩訶衍論記(聖法)、菩提心論見聞卷一〕 ; (妙雲自在王如來) Tương truyền là tên của bồ tát Long thụ đã thành Phật ở đời quá khứ. Cũng gọi Diệu vân Như lai, Diệu vân tướng Như lai, Diệu vân tướng Phật. Mục Mã minh Long thụ sư đệ cảm ứng trong Tam bảo cảm ứng yếu lược lục quyển hạ của ngài Phi trược đời Liêu (Đại 51, 856 thượng), chép: Kinh Kim cương chính trí nói: Mã minh, Long thụ đã thành Phật ở quá khứ, Mã minh hiệu là Đại quang minh Phật, Long thụ là Diệu vân tướng Phật. Kinh Đại trang nghiêm tam muội cũng nói: Mã minh, Long thụ đã thành Phật ở quá khứ, Mã minh hiệu là Nhật nguyệt tinh minh Phật, Long thụ là Diệu vân tự tại vương Như lai .v... Tên của các vị Như lai này thấy rải rác trong các kinh luận bị ngờ là ngụy tác, được lưu hành ở cuối đời Đường. [X. Thích ma ha diễn luận tự; Thích ma ha diễn luận kí (Thánh pháp); Bồ đề tâm luận kiến văn Q.1].

diệu vô

Asat (skt)—Sự kỳ diệu của sự “không hiện hữu.”—The mystery of non-existence.

diệu vợi

1) Far away. 2) Difficult—Complicated.

diệu xa

Cỗ xe kỳ diệu, được Phật nói đến trong Kinh Pháp Hoa—The wonderful vehicles (in Lotus Sutra).

diệu xa ma tha

2854即最高之禪定。妙,即不可思議、絕對、無比之意。奢摩他,為梵語 śamatha 之音譯,意譯止、寂靜、能滅,為禪定七名之一,乃攝心而不被外境所動,遠離並止息一切之散亂,使心寂靜。首楞嚴經卷一(大一九‧一○六下):「殷勤啟請十方如來得成菩提,妙奢摩他三摩禪那最初方便。」 ; (妙奢摩他) Thiền định cao nhất. Diệu nghĩa là tuyệt đối, không thể nghĩ bàn, không gì so sánh được. Xa ma tha, Phạm: zamatha, nghĩa là ngưng chỉ, tĩnh lặng, hay diệt, một trong bảy tên của Thiền định, là thu nhiếp tâm không để ngoại cảnh làm lay động, xa lìa và ngưng chỉ tất cả sự tán loạn khiến cho tâm tĩnh lặng. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 hạ), nói: A nan chí thành cầu xin đức Thế tôn mở bày phương tiện đầu tiên: Diệu xa ma tha, Tam ma, Thiền na, nhờ đó, mười phương Như lai đã tu thành bồ đề.

diệu âm

2849梵名 Ghoṣa,巴利名 Ghosa。又作瞿沙、懼沙、巨沙。為印度佛教說一切有部四大論師之一。北印度都貨邏國(梵 Tukhāra)人,與婆須蜜(即世友)曾至阿守磨波浪多(梵 Aśmāparānta),受闍提長者(梵 Jāti)之供養。師由相之差異而立三世之別,以此稱名於世。古來由此而尊之為婆沙會四大論師之一。著有阿毘曇甘露味論二卷,該書有漢譯本,譯者佚名,收於大正藏第二十八冊。據大毘婆沙論卷一五四載,師主張色界無想天之眾生僅於結生與命終之二剎那有心念作用,其餘時刻均無起心動念之作用。所謂結生之心,乃「等無間緣」及「四緣」所生起的命終之心。由於此類見解,遂有評其說為不應正理者,而斥為異端,謂其為說一切有部之異師,而非婆沙之正統派。〔大毘婆沙論卷一、卷七十七、俱舍論光記卷二十、出三藏記集卷四、開元釋教錄卷十三〕 ; Wonderful sound. ; Âm thanh thù diệu—Wonderful sound. ; (妙音) Phạm: Ghowa, Pàli: Ghosa. Cũng gọi Cù sa, Cụ sa, Cự sa. Một trong bốn vị Đại luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, người nước Đô hóa la (Phạm: Tukhàra) bắc Ấn độ, ngài cùng với ngài Bà tu mật (tức Thế hữu) từng đến A thủ ma ba lãng đa (Phạm: Azmàparànta) nhận sự cúng dường của trưởng giả Xà đề (Phạm:Jàti). Do sự sai khác của tướng mà ngài đề xướng thuyết ba thời riêng biệt, nổi tiếng thời bấy giờ. Chính nhờ thuyết này mà ngài được tôn làm một trong bốn Đại luận sư của hội Bà sa. Ngài có soạn luận A tì đạt ma cam lộ 2 quyển, có bản Hán dịch, nhưng mất tên dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 28. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 154 chép, thì ngài Diệu âm cho rằng chúng sinh ở tầng trời Vô tưởng thuộc cõi Sắc chỉ có hai sát na giữa khoảng kết sinh (sống) và mệnh chung (chết) là có tác dụng của tâm niệm, còn ngoài ra đều không có tác dụng khởi tâm động niệm. Tâm kết sinh chính là tâm mệnh chung dấy sinh từ đẳng vô gián duyên và bốn duyên. Do kiến giải này mà thuyết của ngài bị phê bình là không hợp với chính lí, bị chê là dị đoan và ngài bị coi là dị sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, chứ không phải phái chính thống của Bà sa. [X. luận Đại tì bà sa Q.1, Q.77; Câu xá luận quang kí Q.20; Xuất tam tạng kí tập Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.13].

diệu âm biến mãn

Manjna-sabdabhigarjita (skt). 1) Âm thanh thù diệu tỏa khắp nơi nơi: Universal wonderful sound. 2) Thời kỳ mà Đức A Nan thành Phật với danh hiệu Diệu Âm Biến Mãn Như Lai—The kalpa of Ananda as a Buddha with the title Manojna-Sabdabhigarjita Buddha.

diệu âm biến mãn phật

Manodja-sabda-bhigardjitta (S)Diệu Âm biến mãn kỳ kiếpTên một Kỳ Kiếp của đức Phật Sơn hải huệ Tự Tại Thông vương (của ngài A nan đà). Đức Thích Ca có thọ ký cho ngài A Nan về vị lai sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, cõi của ngài là Thường lập Thắng Phan, kỳ kiếp là Diệu âm biến mãn.

Diệu Âm Bồ Tát

(s: Mañjughoṣa, 妙音菩薩): âm dịch là Mạn Thù Cù Sa (曼殊瞿沙) là vị Bồ Tát được nêu lên trong phẩm Diệu Âm Bồ Tát của kinh Pháp Hoa. Phẩm kinh này trình bày về công đức của vị Bồ Tát đó. Tuy nhiên, trong Mật Giáo, vị Bồ Tát này được xem như ngài Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利): ý dịch là Diệu Kiết Tường) thể hiện về công đức thuyết pháp của ngài Văn Thù. Căn cứ vào quyển I của Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) cho biết rằng Diệu Kiết Tường Bồ Tát còn được gọi là Diệu Đức, Diệu Âm, bởi vì vị này có lòng từ bi khai diễn pháp âm vi diệu, mầu nhiệm, khiến cho tất cả chúng sanh đều được nghe. Trong Hiện Đồ Hình Mạn Trà La của Thai Tạng Giới, vị Bồ Tát này được xếp hàng thứ 5 về phương bắc ở ngay chính giữa Văn Thù Viện. Hai Nghi Quỷ (nghi thức hành trì của Mật Giáo) Huyền Pháp và Thanh Long được gọi là Ngũ Kế Văn Thù thể hiện 5 loại trí tuệ của Như Lai. Còn trong hiện đồ hình Mạn Trà La, vị Bồ Tát này có hình tượng là đồng tử, có 3 búi tóc thân hình toả ra ánh sáng màu vàng, tay phải đưa lên cao để giữa ngực cầm hoa sen xanh, tay trái hướng lên phía trên, tay cầm cái hộp nhỏ, ngồi kiết già trên hoa sen đó. Chủng tử và hình Tam Muội Da của vị Bồ Tát này đều giống như hình tướng của Bồ Tát Văn Thù.

diệu âm bồ tát

2850妙音,梵名 Mañju-ghoṣa。音譯曼殊瞿沙菩薩。在法華經妙音菩薩品中,載有此菩薩之功德。然在密教中,此尊與文殊師利(梵 Mañjuśrī,意譯妙吉祥)同尊,表文殊說法之德。據大日經疏卷一載,妙吉祥菩薩又稱妙德、妙音;以其大慈悲力之故,開演妙法音,令一切眾生得聞。在胎藏界現圖曼荼羅中,此尊位於文殊院中央之北方第五位。玄法、青龍二儀軌謂之為五髻文殊,表如來之五智。在現圖曼荼羅中,其形像為童子形,有三髻,身呈黃色,右拳豎起,置於胸前,持青蓮花,左掌向上仰,橫持梵篋,跏趺坐於赤蓮花上。其種子與三昧耶形等均與文殊菩薩相同。(參閱「文殊菩薩」1426) ; Gadgadasvara (S), Manughosa (S), Gadgadasvara Bodhisattva (S)Diệu Âm Đại sĩ, Diệu Âm Bồ tátTên một vị Bồ tát. Một vị Bồ tát theo hầu Phật Tịnh Hoa túc vương trí ở cõi Tịnh quang trang nghiêm Xem Ngũ tự Văn thù Bồ tát. ; Gadgadasvara (S). A Bodhisattva, master ơođ seventeen degrees of samàdhi, whose name heads cap 24 of the Lotus Sùtra. ; 1) Diệu Âm Đại Sĩ—Vị Đại Sĩ, trụ trên cõi Đông Độ của Đức Tỳ Lô Giá Na, đã chứng được mười bảy sắc thân tam muội (Ngài cũng vì nhiều nhân duyên ở cõi Ta Bà này thường thị hiện thành Đế Thích, Phạm Vương, Tự Tại Thiên hay Tỳ Sa Môn, Tỳ Kheo để hóa độ chúng sanh)—A Bodhisattva, master of seventeen degrees of samadhi, residing Vairocana-rasmi-pratimandita. 2) Thủy Thiên Đức Phật: Vị Phật thứ 743 trong hiện kiếp, người cai quản hết thảy nước trong vũ trụ—A Buddha like Varuna controlling the waters, the 743rd Buddha of the present kalpa. 3) Sughosa, một người em gái của Quán Âm Đại Sĩ: Sughosa, a sister of Kuan-Yin Bodhisattva. 4) Ghosa, vị A La Hán, nổi tiếng vì khả năng biện biệt giải thích. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, chính Ghosa đã phục hồi thị giác cho Dharmavivardhana bằng cách rửa mắt với nước mắt của những người đã từng cảm động vì tài hùng biện của Ngài—Ghosa, according to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, an arhat, famous for exegesis, who restored the eyesight of Dharmavivardhana by washing his eyes with the tears of people who were moved by his eloquence. ; (妙音菩薩) Diệu âm, Phạm: Maĩju-ghowa. Âm Hán: Mạn thù cù sa bồ tát. Trong phẩm Diệu âm bồ tát của kinh Pháp hoa có ghi chép công đức của vị Bồ tát này. Nhưng trong Mật giáo thì vị Bồ tát này và ngài Văn thù sư lợi (Phạm:Maĩjuzrì, Hán dịch: Diệu cát tường) là cùng một tôn vị, biểu trưng đức nói pháp của ngài Văn thù. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 1 chép, thì bồ tát Diệu cát tường cũng gọi là Diệu đức, Diệu âm; bởi vì ngài dùng sức đại từ bi khai diễn pháp âm vi diệu để cho tất cả chúng sinh đều được nghe. Trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, vị tôn này ngồi ở vị trí thứ 5 về phía bắc của trung ương viện Văn thù. Hai bộ nghi quĩ Huyền pháp và Thanh long gọi ngài là Ngũ kế Văn thù (Văn thù năm búi tóc), tượng trưng năm trí của Như lai. Trong hiện đồ mạn đồ la, hình tượng Ngài là một đồng tử, có ba búi tóc, mình màu vàng, tay phải cầm hoa sen xanh để ở trước ngực, tay trái ngửa hướng lên, cầm quyển kinh bằng lá bối để ngang, ngồi xếp bằng trên hoa sen đỏ. Chủng tử và hình tam muội da của Ngài đều giống như chủng tử và hình tam muội da của bồ tát Văn thù. (xt. Văn Thù Bồ Tát).

diệu âm la hán

Ghoṣa (S), Ghosha (S)Diệu Âm Luận sưTên một vị La hán thế kỷ thú ba trước tây lịch.

diệu âm nhạc thiên nữ

Sarasvati (skt)—Diệu Âm Nhạc Thiên Nữ hay Biện Tài Thiên Nữ—The goddess of music and poetry or goddess of eloquence. The goddess of speech and learning; also called the goddess of rhetoric. She is represented in two forms: 1) Vị có hai tay và một ống sáo: One with two arms and a lute. 2) Vị có tám tay: One with eight arms.

diệu âm phật

Wonderful Sound Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai. ; Wonderful sound Buddha.

diệu âm phật mẫu

See Diệu Âm Nhạc Thiên.

diệu âm thiên

Xem Biện Tài thiên. ; Sarasvati (skt)—See Diệu Âm Nhạc Thiên.

diệu âm điểu

Xem Ca lăng tần già. ; Ca Lăng Tần Già, chim Diệu Âm, là loại chim quý ở Ấn Độ, có tiếng kêu êm ái thanh nhã (người ta ví giọng nói của Đức Phật như tiếng chim nầy)—The wonderful-voice bird, the Kalavinka.

diệu âm đại sĩ

Xem Diệu Âm Bồ tát. ; See Diệu Âm Bồ Tát.

diệu ý bồ tát

Pramati (S)Tên một vị Bồ tátXem Thiện ý Bồ tát. ; Manavaka—Tiền kiếp Phật Thích Ca, đệ tử của Ngài Nhiên Đăng Cổ Phật—Sakyamuni in a previous incarnation as disciple of Dipankara –Nhiên Đăng Phật.

diệu điển

Kinh điển nói về pháp huyền vi mầu nhiệm (Đại Thừa)—The classics of the wonderful dharma (Mahayana).

Diệu đạo

(妙道): đạo mầu nhiệm, đạo tối thượng, đạo vô thượng; là từ thay thế cho giáo pháp của đức Phật. Như trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 17, phần Độc Nghệ Sư Tạo Tĩnh Thất Sớ (獨詣師造靜室疏), có đoạn: “Nguyên phù, vô động vô tĩnh giả, diệu đạo chi thể; hữu động hữu tĩnh giả, diệu đạo chi dụng (原夫、無動無靜者、妙道之體、有動有靜者、妙道之用, nguyên lai cái không động không tĩnh là thể của đạo mầu; cái có động có tĩnh là dụng của đạo mầu).” Hay trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 3, phần Tùy Châu Đại Hồng Pháp Vi Thiền Sư (隨州大洪法爲禪師), lại có đoạn: “Pháp Thân vô tướng, bất khả dĩ âm thanh cầu; diệu đạo vong ngôn, khởi khả dĩ văn tự hội (法身無相、不可以音聲求、妙道亡言、豈可以文字會, Pháp Thân không tướng, chẳng thể lấy âm thanh mà tìm; đạo mầu quên lời, liệu có thể lấy chữ nghĩa hiểu được chăng ?).” Hoặc trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 3, phần Tiến Điệu Môn (薦悼門), có câu: “Lễ Thập Hiệu chi từ tôn, ngộ Nhất Thừa chi diệu đạo (禮十號之慈尊、悟一乘之妙道, lạy Mười Hiệu đấng từ tôn, ngộ Một Thừa ấy đạo mầu).”

diệu đạo

2855<一>即最上道、無上道。通常亦為佛道、佛陀教法等語之代稱。  <二>(1257~1345)元代臨濟宗僧。台州寧海(位於浙江)人,俗姓陳。號竺元、竺原。依杭州(浙江杭縣)六和寺正嚴禪師出家,參謁育王山橫川如珙(1222~1289)而嗣其法。至元二年(1336)入居台州慈源寺,後住台州紫籜山,又奉仁宗之敕命,居黃巖之鴻福寺,帝並賜以「定慧圓明禪師」之號。其後又住蘇州之諸山、崑山之薦嚴寺等。最後歸隱紫籜山,居十四年,自稱東海暮翁。至正五年一月示寂,世壽八十九。〔金華集卷四十二塔銘、增續傳燈錄卷五、五燈嚴統卷二十一〕 ; (妙道) Cũng gọi Kê thê, Thần môn, Hành môn, Bất tập ngự môn, Hoa biểu, Kì viên. Tấm bảng ở trên cổng các thần miếu và chùa Phật tại Nhật bản. Bảng được gác lên 2 cái xà ngang nâng đỡ bởi 2 cây cột tròn. Về nguồn gốc của Điểu cư, có mấy cách giải thích. Hoặc cho là Đinh lệnh uy, người Trung quốc, học tu tiên, sau hóa làm chim hạc, đậu trên Hoa biểu ở cửa thành, vì thế Hoa biểu được gọi là Điểu cư(chỗ chim ở). Hoặc cho thuyết trên đây không đúng và chủ trương rằng nguồn gốc của Hoa biểu Trung quốc và Điểu cư của Nhật bản khác nhau.

diệu đế

Ārya-sacca (P, S), Noble truth Aryasatyani (S)Xem Aryasatyani Xem Thánh đế. ; Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Sau khi lên ngôi, vua Thiệu Trị cho xây dựng chùa Diệu Đế vào năm 1844 ngay trên nền nhà cũ của mình. Qui mô của chùa ban đầu rất đồ sộ, nhưng đến năm 1953, chùa được trùng tu lại với qui mô thu gọn như hiện nay—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. After he assumed the throne, in 1844 king Thiệu Trị had Diệu Đế temple built on the ground of his old living place. The temple in the early time had an immense structure, but in 1953, the temple was rebuilt in the shape as it has nowadays.

diệu độ

Quốc độ vi diệu, báo độ của Đức Phật hay là Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà—The wonderful land—A Buddha's reward land, especialy the Western Paradise of Amitabha.

diệu đức

1) Diệu Đức là nghĩa của thành Ca Tỳ La Vệ: The meaning of Kapilavastu. 2) Diệu Đức còn có nghĩa là tên của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi—Wonderful virtue (title of Manjusri). 3) Tên của một ngôi chùa ở Huế, Trung Việt. Chùa được xây vào năm 1932 với một qui mô khiêm tốn, gồm hai ngôi ni xá bằng tranh và một nhà giảng tạm. Năm 1936, chùa mới xây chánh điện, đúc chuông, tượng. Năm 1948 xây hậu liêu. Năm 1971 dựng cổng tam quan—Name of a temple in Huế, Central Vietnam. The temple was built in 1932 in a small structure with two thatched staff houses and a temporary auditorium. It was not until 1936 that the main hall was built and bells and statues founded. In 1948, the back house was added. In 1971, the three-entrance gate was erected.

diệu đức bồ tát

Xem Văn thù sư lợi Bồ tát.

diệu ấn

2844<一>即甚深微妙之心印。又形容透過不可思議而絕對之感受,經由身與心之全面來實證之境界,稱為妙印當風;蓋以此一境界乃自在無礙之境界,故稱之為「當風」。〔洞上古轍卷上〕 <二>(1187~1255)宋代臨濟宗楊岐派僧。豫章進賢(位於江西)人,俗姓萬。號竹巖。依紹曇禪師出家,歷參江浙名德。後又參謁癡鈍智穎、浙翁如琰(1151~1225),入蘇州(江蘇吳縣)萬壽寺月林師觀之室。得法後,先後住持諸山名剎,特別闡揚潭州(湖南長沙)石霜山之道風。晚年住紫霞庵,曾與丞相趙葵論道。南宋理宗寶祐三年八月示寂,世壽六十九。道燦禪師(?~1271)為之撰塔銘。〔續傳燈錄卷三十五、增續傳燈錄卷二、五燈嚴統卷二十二〕 ; (妙印) Diệu ấn là tâm ấn sâu xa mầu nhiệm. Cũng hình dung cảnh giới tuyệt đối không thể nghĩ bàn do thân tâm thực chứng, gọi là Diệu ấn đương phong. Vì cảnh giới này tự tại vô ngại, như luồng gió thổi nên gọi đương phong. [X. Động thượng cổ triệt Q.thượng].

diệu ứng

2856指佛、菩薩不可思議之應現。應現,又作應化,即諸佛、菩薩因應各種機宜而化現種種身相威儀;其隨緣之化現,不可思議,可於一佛土中,身不動搖而遍滿十方,作種種應化,故稱為妙應。法華玄義卷六上(大三三‧七四九下):「如一月不降,百水不升,而隨河短長,任器規矩,無前無後,一時普現,此是不思議妙應也。」〔菩薩瓔珞本業經卷下、往生論註卷下、法華經論卷下〕 ; The miraculous response, or self manifestation of Buddha and bodhisattva. ; Sự đáp ứng kỳ diệu hay sự thị hiện của chư Phật và chư Bồ Tát—The miraculous response—Self-manifestation of Buddhas or bodhisattvas. ; (妙應) Chỉ cho sự ứng hiện bất khả tư nghị của chư Phật và Bồ tát. Ứng hiện cũng gọi ứng hóa, tức là chư Phật và Bồ tát tùy theo căn cơ chúng sanh mà hóa hiện nhiều loại thân tướng uy nghi. Sự hóa hiện tùy duyên của các Ngài không thể nghĩ bàn, ở trong một cõi Phật, thân không lay động mà có thể ứng hiện các loại thân ở khắp 10 phương, vì thế gọi là Diệu ứng. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 phần trên (Đại 33, 749 hạ), nói: Cũng như vừng trăng giữa hư không, nước trăm sông phẳng lặng, tùy sông dài ngắn, rộng hẹp, không trước không sau, mà cùng một lúc đều hiện bóng khắp nơi: đó là sự diệu ứng chẳng thể nghĩ bàn. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; Vãng sanh luận chú Q.hạ; Pháp hoa kinh luận Q.hạ].

diệu ứng tự

2857位於北平阜成門內阜成門大街。北平名剎之一。建於遼壽昌二年(1096)。元至元八年(1271)重修,改名「聖壽萬安寺」。明代重建,改名妙應寺,俗稱白塔寺。寺由四層殿堂與塔院組成,規模宏大。寺後白塔為喇嘛塔,與北海公園之白塔遙遙相對。塔高五十點九公尺,形如葫蘆,底部直徑三十餘公尺。塔基為三層方形折角之須彌座。上半部呈圓錐形,分成十三級。頂為圓形華蓋,上覆四十塊放射狀銅板瓦,周圍懸有風鈴與流蘇,華蓋上鑄有一小銅塔,此係遼代遺留群塔中之最完整者。內部佈置精巧,殊為罕見,其所藏之經典亦極豐碩。

Diệu 妙

[ja] ミョウ myō ||| (1) Beautiful, marvelous, wonderful, subtle, sublime. Exquisite, excellent, fine. (2) Strange, mysterious, miraculous. Subtle, sublime, inconceivable (mañju, sat, su, nipuna, mādhurya, śobhana). (3) Pure, immaculate, beautiful (pranīta). (4) Mysterious, hidden, profound. [Dictionary References ] Naka1301c Iwa769 [Credit] cmuller(entry) cwittern(py) => 1. Đẹp, kỳ lạ, phi thường, tinh tế, tuyệt vời. Thanh tú, xuất sắc, rực rỡ. 2. Kỳ lạ, huyền diệu, phi thường. Timh tế, siêu phàm, không thể tưởng tượng được (s: mañju, sat, su, nipuna, mādhurya, śobhana). 3. Tinh khiết, trong trắng, tốt đẹp (pranīta). 4. Huyền bí, ẩn mật, thâm thuý.

do

1) Con cù lần: A kind of monkey. 2) Do bởi: From—By. 3) Do dự: Doubtful. 4) Nguyên Do: A cause—A motive.

do bởi

Affected by.

do càn đà sơn vương

Yugaṃdhara(-girirāja) (S)Trì Song Sơn vươngTên một vị thiên.

do dự

To hesitate—To be reclutant.

do dự bất thành quá loại

5147因明用語。猶豫不成,梵語 saṃdigdhāsiddha,又作猶預不成。因明三十三過中,因十四過之一,四不成過之一。與兩俱不成、隨一不成、所依不成共稱四不成過。即於因明對論中,若提出一論式,立論者在心懷疑惑、猶豫時提出未能確定虛實之因(理由)所招致之過失。 因明入正理論(大三二‧一一下):「於霧等性起疑惑時,為成大種和合火有而有所說,猶豫不成。」蓋印度為熱濕之地,多草叢蚊蟲,煙霧亦多。今立論者見遠處朦朧有物,依依直上,似煙似霧,不能辨其體是煙是霧。若於此時提出「彼處有火(宗,命題),有煙故(因)」之論式,對方遂問「果是煙否?」立論者於此即無從作答。此即由於論據猶豫不確定而招致「不成」之過失。 因明之目的,在於開悟他人,令其發起確然不疑之正智,今立論者卻欲以猶豫之因來證成猶豫之宗,其所啟發者亦將成為猶豫不定之智,未能符合因明本旨,故因明列之為過失。此過又可大別為二:若所提出之「因」為立(立論者)、敵(問難者)所共疑,則造成兩俱猶豫不成過;若於立、敵雙方之中,僅有一方懷疑,則造成隨一猶豫不成過。於因明入正理論疏卷中末復將此二類細分為六:(一)兩俱全分猶豫不成過,(二)兩俱一分猶豫不成過,(三)隨他一全分猶豫不成過,(四)隨自一全分猶豫不成過,(五)隨他一一分猶豫不成過,(六)隨自一一分猶豫不成過。〔因明論疏明燈抄卷四末、因明論疏瑞源記卷五、因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕(參閱「四不成過」1661) ; (猶豫不成過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Do dự bất thành, Phạm: Saôdighàsiddha. Một trong bốn lỗi bất thành, một trong 10 lỗi của Nhân, một trong 33 lỗi của Nhân minh. Cùng với Lưỡng câu bất thành, Tùy nhất bất thành, Sở y bất thành gọi chung là bốn lỗi bất thành. Là lỗi vì người lập luận trong đối luận Nhân minh đã nêu ra Nhân (lí do) mà lòng còn ngờ vực, do dự, chưa thể xác định là đúng hay sai. Luận Nhân minh nhập chính lí (Đại 32, 11 hạ), nói: Đối với tính chất của sương mù sinh tâm ngờ vực, lại đoán là khói, rồi bảo nơi ấy có lửa, đó là lỗi do dự bất thành. Nghĩa là khi người lập luận nhìn ở đàng xa, thấy chỗ cây cỏ um tùm, mờ mờ như khói như sương, không phân biệt được. Nếu lúc ấy người lập luận đưa ra luận thức: Tông: Ở đằng kia có lửa. Nhân: Vì có khói. Thì người vấn nạn liền hỏi: Có thật là khói không? Người lập luận không trả lời được. Đây là vì luận cứ còn do dự không xác định được nên đã mắc phải lỗi bất thành. Mục đích của Nhân minh là giúp người ta phát khởi chính trí để hiểu rõ chân lí một cách xác thực hiển nhiên, nay người lập luận lại dùng Nhân do dự để chứng minh Tông do dự, thì trí hiểu biết của đối phương cũng thành do dự bất định: điều này trái với bản ý của Nhân minh, cho nên là lỗi. Lỗi này có thể chia làm hai loại: Nếu Nhân (lí do) được nêu ra bị cả đôi bên (người lập luận và người vấn nạn) cùng ngờ vực thì mắc lỗi Lưỡng câu do dự bất thành (đôi bên do dự không thành). Nếu trong đôi bên chỉ có một bên hoài nghi, thì phạm lỗi Tùy nhất do dự bất thành (một bên do dự không thành). Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển trung phần cuối lại chia hai loại này thành sáu loại nhỏ: 1. Lưỡng câu toàn phần do dự bất thành quá. 2. Lưỡng câu nhất phần do dự bất thành quá. 3. Tùy tha nhất toàn phần do dự bất thành quá. 4. Tùy tự nhất toàn phần do dự bất thành quá. 5. Tùy tha nhất nhất phần do dự bất thành quá. 6. Tùy tự nhất nhất phần do dự bất thành quá. [X. Nhân minh luận sơ minh đăng sao Q.4 phần cuối; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.5; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Tứ Bất Thành Quá).

do dự tương tự quá loại

5148因明用語。為古因明之祖足目所立因明「似能破」十四過類之第六。於因明對論中,敵者(問難者)對立者(立論者)所立之量(論式),強為分別宗(命題)及因(理由)之別異,並謂對方所舉之因猶豫不定,不得證成所立之宗,於正確之論式強附過失,而自招之過誤。例如佛弟子立「聲是無常(宗),勤勇無間所發性故(因),譬加瓶等(喻)」之論式。敵者非難之,謂:「汝謂聲是無常,勤勇無間所發性故,然此無常有二,汝之無常指生起無常?或指壞滅無常?又勤勇之因有生、顯二種:生者,此法本來無而今有,可成立無常。如瓶為人工所造,為生起之因,終必歸於壞滅。顯者,本來即有,由今而顯,可成立常住,譬如鑿井,水本來即有,僅以人工顯之,故為常有。今汝勤勇之因指生?或指顯?如是汝所立之宗遂成猶豫不定。此雖雙標二義,然既在因上出過,復何能以此因證成聲是無常?」 於上述之對論中,立者所舉「聲」之宗係就壞滅無常之義而言,非指生起之義,然敵者畫蛇添足,妄加「生起」之說。又立者所舉「勤勇」之因係針對「生起」之義而立「無常」之說,敵者卻又妄分生、顯之別,徒使所諍之因愈形混亂;且敵者以鑿井而謂顯因為常住,亦為似是而非之說,蓋井水雖因人工鑿出而顯,終歸消滅,亦為無常,不得依顯隱與否而妄別常與無常,是故知立者所舉因之「勤勇」,無論其為生、為顯,皆為無常,並無「不定」之過嫌,然敵者強加非難,即自招此一猶豫相似之過。又此過相當於世親如實論道理難品中之「疑難」。〔因明正理門論本、因明論疏瑞源記卷八、因明十四相似過類略釋(惟賢,現代佛教學術叢刊(21))〕(參閱「十四過類」415、「因明」2276) ; (猶豫相似過類) Lỗi do dự tương tự. Lỗi thứ sáu trong 14 lỗi Tự năng phá của Nhân minh cũ do ngài Túc mục đặt ra. Lỗi này do người vấn nạn cố tình phân biệt Tông và Nhân của người lập luận thành những nghĩa khác nhau, rồi cho rằng Nhân của người lập luận nêu ra là do dự bất định, không chứng minh được Tông, không thể lập thành luận thức chính xác, nhưng chính người vấn nạn lại tự chuốc lấy lỗi. Chẳng hạn như đệ tử của Phật lập luận thức:Tông: Tiếng nói là vô thường. Nhân: Vì sự nỗ lực không ngừng tạo ra. Dụ: Như cái bình. Người vấn nạn bắt bẻ hỏi rằng: Ông cho tiếng nói là vô thường do sự nỗ lực không ngừng tạo ra, nhưng vô thường này có hai, vậy vô thường ông chủ trương là chỉ cho sinh khởi vô thường hay hoại diệt vô thường? Còn Nhân của sự nỗ lực không ngừng cũng có hai thứ là Sinh và Hiển. Sinh, pháp này xưa không mà nay có, có thể thành lập vô thường. Như cái bình là do sức người làm ra, là nhân sinh khởi, cuối cùng trở về hoại diệt. Còn Hiển thì trước kia vốn có, nay được hiển bày, có thể thành lập thường trụ, ví như đào giếng, nước vốn có sẵn nay chỉ do công nhân đào là nước chảy ra, cho nên thường có. Vậy, Nhân nỗ lực của ông ở đây là chỉ cho sinh hay chỉ cho hiển? Như thế là Tông do ông lập trở thành do dự bất định. Ở đây tuy nêu cả hai nghĩa, nhưng Nhân đã mắc lỗi, thì làm sao có thể dùng Nhân này để chứng thành Tiếng nói là vô thường?. Trong đối luận Nhân minh trình bày ở trên, người lập luận đề xuất Tông Tiếng nói là theo nghĩa hoại diệt vô thường, chứ không phải nói về nghĩa sinh khởi; thế nhưng người vấn nạn lại vẽ rắn thêm chân bằng cách nêu ra nghĩa sinh khởi. Còn Nhân của sự nỗ lực do người lập luận chủ trương là đối với nghĩa sinh khởi mà lập nghĩa vô thường, nhưng người vấn nạn lại chia ra sinh và hiển khác nhau, hòng làm cho Nhân tranh luận càng rối rắm thêm. Hơn nữa, người vấn nạn dùng việc đào giếng mà cho rằng Nhân của hiển là thường trụ, cũng là lối nói tựa hồ như đúng, nhưng thực ra là sai; bởi vì nước giếng tuy do người đào mà chảy ra, nhưng cuối cùng sẽ tiêu diệt, cũng là vô thường, không thể dựa vào hiển, ẩn hay không mà chia bậy làm thường và vô thường. Do đó biết Nhân của sự nỗ lực mà người lập luận nêu ra, bất luận là sinh hay hiển đều là vô thường, và hoàn toàn không mắc lỗi bất định, nhưng người vấn nạn cố tình bắt bẻ để rồi tự chuốc lấy lỗi do dự tương tự. Ngoài ra lỗi này tương đương với Nghi nan trong phẩm Đạo lí nan trong luận Như thực của ngài Thế thân. [X. Nhân minh chính lí môn luận bản; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại thiển thích]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).

do lợi nghi mục

2075(1822~1899)日本臨濟宗天龍寺僧。又作由理宜牧。字滴水,號無異室,晚年號雲母。初師事龍勝寺大法和尚,十九歲後立志苦修實參,投儀山善來座下。嘗究白隱慧鶴(1685~1768)之宗旨,輔佐聵翁和尚弘法,隨侍義堂十餘年,深研蘊奧。元治元年(1864),天龍寺為兵火燒毀,師自背負臨川寺之祖像隱遁。明治元年(1868)義堂遷化後,始出山為眾說法。十二年二月,與高足龍淵發起再建天龍寺之大業,歷經艱辛始告完成。十七年,與山岡鐵舟居士等協力請求追諡白隱為「正宗國師」。先後任天龍寺派管長、補大教正,並任禪宗三派管長。三十二年於林丘寺雲母庵入寂,享年七十八,天龍寺派追尊為中興之祖。一生教化甚廣,門下及著作甚多。〔滴水禪師年譜、愚庵全集〕

do người khác trình bày

Shown by others.

do nơi

To be due to.

do thái

Israel.

do thái giáo

Judaism.

do tuần

2075梵語 yojana 之音譯,巴利語同。意譯合、和合、應、限量、一程、驛等。又作踰闍那、 踰繕那、瑜膳那、俞旬、由延。為印度計算里程之單位。蓋梵語 yojana 乃「附軛」之義,由語根 yuj 而來的名詞;即指公牛掛軛行走一日之旅程。另據大唐西域記卷二載,一由旬指帝王一日行軍之路程。 有關由旬之計數有各種不同說法:(一)就由旬換算拘盧舍而言:印度之國俗係採取四拘盧舍為一由旬。於佛典中,亦有以四拘盧舍為一由旬者,如方廣大莊嚴經卷四現藝品、摩登迦經卷下明時分別品等為其例;然佛典大多以八拘盧舍為一由旬,如有部毘奈耶卷二十一、大毘婆沙論卷一三六、俱舍論卷十二等所載皆是。(二)若配合我國之里數亦有異說:據大唐西域記卷二載,舊傳之一由旬可換算為四十里,印度之國俗為三十里,佛教為十六里;慧苑音義卷下載為十六或十七餘里。另據義淨之有部百一羯磨卷三之夾注載,印度之國俗為三十二里,佛教為十二里。 此外,近代學者富烈特(J. Flect)與弗斯特(Major Vost)二人,分別基於印度之一肘(梵 hasta)為半碼或少於半碼來換算為英哩,故若依富烈特之說,並換算為公里,則舊傳之一由旬為十九點五公里,印度之國俗為十四點六公里,佛教為七點三公里;若依弗斯特之說,則舊傳為二十二點八公里,印度國俗為十七公里,佛教為八點五公里。〔摩訶僧祇律卷九、翻梵語卷十、注維摩詰經卷六、玄應音義卷二、卷三、慧琳音義卷一、卷二十七、J. Flect: Yojana andli (J.R.A.S. 1906)〕 ; Yojana (S)Đơn vị đo lường thời xưa. Theo thuyết J. Fleet, một do tuần xưa dài 19.5 km, căn cứ vào quốc tục Ện dài 14.6km, theo Phật giáo thì dài 7.3km. Theo thuyết của Major Vost, một do tuần xưa dài 22.8 km, căn cứ vào quốc tục Ện dài 17km, theo Phật giáo thì dài 8.5km. Theo Đại đường Tây vực ký, một do tuần xưa dài 20 km, căn cứ vào quốc tục Ện dài 15km, theo Phật giáo thì dài 8km. ; Yojana (S). A linear measure corresponding a walking day; about 10km ; Yojana (skt). 1) Ngày tuần hành của binh lính vương triều thời xưa: Described as anciently a royal day's march for the army. 2) Du Thiện Na: Du Xả Na—Du Diên Na—Du Kiện Đà La—Đơn vị đo lường thời cổ tương đương với 8 câu xá lư (tương đương với 18 dậm Anh hay 60 dậm Tàu)—An ancient measurement unit which equal to 8 krosas (which is equivalent to 18 English miles, or 60 Chinese miles). • Một do tuần thời cổ tương đương với 40 dậm: Ancient Yojana is equal to 40 miles. • Do tuần của Ấn Độ tương đương với 30 dậm: An Indian Yojana is equivalent with 30 miles. • Theo Thánh Điển thì một do tuần tương đương với 16 dậm: According to the scriptures, a yojana is equivalen to 16 miles. ; (由旬) Phạm, Pàli: Yojana. Hán âm: Du xà na, Du thiện na, Du tuần, Do diên. Dịch ý: hợp, hòa hợp, ưng, hạn lượng, nhất trình, dịch v.v... Đơn vị đo đường dài ở Ấn độ. Tiếng Phạm yojana có nghĩa là mang ách (cái vạy) do chữ gốc yuj chỉ quãng đường con bò mang ách (kéo xe) đi một ngày. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2 chép, thì một do tuần là chỉ cho lộ trình hành quân một ngày của nhà vua. Về cách tính do tuần còn có nhiều thuyết khác nhau. 1. Do tuần được đổi ra tính theo câu lô xá: Theo quốc tục Ấn độ thì bốn câu lô xá là một do tuần. Trong kinh điển Phật cũng có chỗ lấy bốn câu lô xá là một do tuần, như phẩm Hiện nghệ trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4, phẩm Minh thời phân biệt trong kinh Ma đăng ca quyển hạ v.v... Nhưng kinh Phật phần nhiều lấy tám câu lô xá là một do tuần, như Hữu bộ tì nại da quyển 21, luận Đại tì bà sa quyển 136, luận Câu xá quyển 12 v.v...2. Do tuần đổi ra tính theo dặm của Trung quốc cũng có nhiều thuyết khác nhau: Theo Đại đường tây vực kí quyển 2 thì ngày xưa một do tuần được tính là 40 dặm, theo quốc tục Ấn độ tính là 30 dặm, Phật giáo tính 16 dặm; Tuệ uyển ân nghĩa quyển hạ chép là hơn 16 hoặc 17 dặm. Còn chú thích trong Hữu bộ bách nhất yết ma quyển 3 của ngài Nghĩa tịnh nói, theo quốc tục Ấn độ là 32 dặm, Phật giáo là 12 dặm.Ngoài ra, theo thuyết của các học giả cận đại như ông J. Flect đổi do tuần tính theo cây số ngàn (kilometre) thì một do tuần xưa bằng 19,5 km; theo quốc tục Ấn độ là 14,6 km, Phật giáo là 7,3 km; nếu theo thuyết của ông Major Vost thì một do tuần xưa bằng 22,8 km, quốc tục Ấn độ là 17 km, Phật giáo là 8,5 km. [X. luật Ma ha tăng kì Q.9; Phiên Phạm ngữ Q.10; Chú duy ma cật kinh Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.2, Q.3; Tuệ lâm âm nghĩa Q.1, Q.27; J. Flect; Yojana andli (J.R.A.S. 1906].

do vị định

Vẫn chưa định tĩnh—Still unsettled—Uncertain.

Do 猶

[ja] ユ yu ||| (1) Yet, like, similar to; as if; as. Still, even. Especially. A disjunctive conjunction. (2) To scheme, to plan. => 1. Hãy còn, như. giống như; như thể; dường như. Vẫn còn, ngay cả, Đặc biệt. Một liên từ phân biệt. 2. Kế hoạch, giản đồ.

Do 由

[ja] ユ yu ||| (1) Through, using, by means of. (2) As, still, even. (3) From; an indication of the ablative case. To depend upon; to come from; according to. (4) That which, whereby. (5) For that reason, therefore. (6) Since. (7) Reason, cause, ground, basis; depending on... means, instrument, source, motive. (8) To follow, permit, allow. (9) At ease; self-possessed. (10) Relationship. => 1. Đi qua, dùng, bằng cách. 2. Do, vẫn, bởi. 3. Từ; cách công cụ (ngôn ngữ). Tùy thuộc vào, đến từ, tuỳ theo. 4. Do đó, bằng cách đó. 5. Vì lý do đó, do vậy. 6. Bởi vì. 7. Lí do, nguyên nhân, nguyên cớ, cơ sở; tuỳ thuộc vào, phương tiện, nguồn gốc, động cơ. 8. Theo, cho phép, được phép. 9. Thoải mái, bình thản. 10. Mối liên hệ.

do-diên

hay du-thiện-na, thường gọi là do-tuần, phiên âm từ Phạn ngữ là yojana, tương đương khoảng 9.216 mét. Tuy nhiên, trong kinh điển thường dùng đơn vị này với ý nghĩa tượng trưng hơn là đo lường một cách chính xác. Theo một số tài liệu cổ thì do-diên chỉ chỉ quãng đường trung bình một vị vua có thể dẫn quân đi qua trong một ngày. Còn theo các nhà nghiên cứu cận đại như J. Flect và Major Vost thì một do-diên có chiều dài khoảng từ 7.300 đến 8.500 mét.

Do-tuần

由旬; S: yojana;|Ðôn vị chiều dài của Ấn Ðộ thời xưa hay được dùng trong kinh sách đạo Phật. Ðó là khoảng cách binh sĩ đi một ngày đường, khoảng 15-20 km.

do-tuần

xem do-diên.

Do-tuần 由旬

[ja] ユジュン yujun ||| A transliteration of the Sanskrit yojana, an Indian measure of distance. Depending upon the source, either seven or nine miles, the distance appropriate for one day's travel for an emperor. According to A.L. Basham, in his The Wonder that was India: "The commonest table [of measurements], omitting microscopic measurements was: 8 yava (barleycorns) = 1 angula (finger's breadth, 3/4 of an inch) 12 angulas = 1 vitasti (span, 9 inches) 2 vitastis = 1 hasta or aratni (cubit, 18 inches) 4 hastas = 1 da.n.da (rod) or dhanus (bow, 6 feet) 2,000 dhanus = 1 kro'sa (cry) or goruta (cow-call, 2 1/4 miles) 4 kro'sas = 1 yojana (stage, 9 miles approximately) "Though most sources give the krośa (in modern Indian languages kos) as of 2,000 daṇḍas the Arthaśāstra gives it as only 1,000, the yojana, which was the commonest measure of long distances in ancient India, being thus of only 4 1/2 miles. It is therefore clear that there were at least two yojanas, and distances as given in texts are thus very unreliable. It would seem that for practical purposes the shorter yojana was more often used than the longer, especially in earlier times." [from an e-mail post on Buddha-L by Joseph Crea] => Phiên âm chữ yojana từ tiếng Sanskrit, đơn vị đo khoảng cách của Ấn Độ. Tuỳ theo từng xuất xứ, một Do-tuần bằng 7 hoặc 9 dặm (miles), là quãng đường hành quân một ngày của nhà vua. Theo A.L. Basham, trong tác phẩm The Wonder that was India của ông thì: “Biểu [đo lường] thông dụng nhất, đơn vị đo lường nhỏ nhất dễ bỏ sót là: 8 yava (hạt lúa mạch) = 1 angula (bề ngang ngón tay, tương đương 3/4 của 1 inch) 12 angulas = 1 vitasti (gang tay, tương đương 9 inches) 2 vitastis = 1 hasta hoặc aratni (đơn vị đo chiều dài ngày xưa = 45cm72, tương đương 18 inches) 4 hastas = 1 daṇḍa (con sào=5,5 yard=5m03) hay dhanus (cung, tương đương 6 feet) 2,000 dhanus = 1 kro'sa (tiếng thét) hay goruta (tiếng bò rống, tương đương 2 1/4 miles) 4 kro'sas = 1 yojana (một quãng đường, tương đương 9 miles). Mặc dù hầu hết các xuất xứ đều ghi Câu-lư-xá (s: krośa, ngôn ngữ Ấn Độ hiện đại ghi là kos) là bằng 2,000 daṇḍas, nhưng luận Arthaśāstra thì chỉ ghi 1,000 daṇḍas; còn Do-tuần (yojana) là đơn vị đo chiều dài thông dụng nhất vào thời cổ đại Ấn Độ, như vậy chỉ bằng 4 1/2 miles. Thế nên rõ ràng lẽ ra 1 Câu-lư-xá ít nhất phải bằng 2 Do-tuần, nên khoảng cách do luận nầy đưa ra không được xác đáng. Dường như trên thực tế, đơn vị Do tuần ngắn thường được sử dụng hơn là đơn vị dài, đặc biệt là trong thời cổ đại.

doanh diệu

6666(1891~1973)福建金門人,俗姓林。法號悟心。民國十八年(1929),依臺北圓覺寺覺淨法師出家,翌年任住持。二十七年變賣私產,購地建寺,取名慈善堂,三十四年改名為安國寺。於四十五年赴臺北觀音山凌雲禪寺受具足戒。生前示相平凡,淡泊名利,篤尚誠修。六十二年示寂,世壽八十三。為臺灣第三位肉身菩薩。 ; (瀛妙) (1891 - 1973) Người Kim môn, Phúc kiến, họ Lâm, pháp hiệu Ngộ tâm. Năm Dân quốc 18 (1929), sư y vào ngài Giác tịnh ở chùa Viên giác tại Đài bắc xuất gia, năm sau sư làm trụ trì. Năm Dân quốc 27 (1938), sư bán hết tài sản riêng, mua đất làm chùa, đặt tên là Từ thiện đường, năm Dân quốc 37 (1945) đổi tên là chùa An quốc. Năm Dân quốc 45 (1956), sư đến chùa Lăng vân thiền ở núi Quan âm Đài bắc thụ giới Cụ túc. Lúc sanh tiền, sư hiện tướng phàm phu bình thường, thờ ơ với danh lợi, dốc một lòng tu niệm. Năm Dân quốc 62, sư thị tịch, thọ 83 tuổi, là vị Nhục thân bồ tát thứ ba ở Đài loan.

doãn kham

1231(?~1061)宋代律學名僧。浙江錢塘人。少從慧思出家,博通內外典,後從仁和擇悟習南山律,深得奧義,先後於杭州大昭慶寺、蘇州開元寺、秀州精嚴寺等名剎建立戒壇,宣揚南山律宗。曾注釋並發揮南山律師道宣之戒律學十書,而成會正記、發揮記、正源記等十二部,世稱十本記主。其於律學上之論說有關遶佛方向之左右、衣制之長短等見解,異於當時靈芝寺元照律師所著四分律行事鈔資持記之義;時人乃稱允堪為會正宗,元照則被稱為資持家。後於宋嘉祐六年十一月入寂,年壽不詳。諡號「真悟智圓律師」。〔佛祖統紀卷四十五、釋氏稽古略卷四、昭慶寺志卷八〕 ; Một Danh Tăng đời Tống—A famous monk of the Sung dynasty. ; (允堪) (? - 1061) Vị danh tăng ở đời Tống, người Tiền đường Chiết giang. Thuở nhỏ sư theo ngài Tuệ tư xuất gia, thông suốt nội ngoại điển, sau sư theo ngài Nhân hòa Trạch ngộ học luận Nam sơn, hiểu thấu nghĩa sâu kín và trở thành nhà Luật học nổi tiếng. Sư từng kiến lập đàn giới tại các chùa danh tiếng như: Chùa Đại chiêu khánh ở Hàng châu, chùa Khai nguyên ở Tô châu, chùa Tinh nghiêm ở Tú châu v.v... tuyên dương Luật tông Nam sơn. Sư chú thích và phát huy 10 tác phẩm Giới luật học của Luật sư Đạo tuyên (ở núi Chung nam) thành 12 bộ: Hội chính kí, Phát huy kí, Chính nguyên kí v.v... vì thế nên người đời gọi sư là Thập bản kí chủ.Luận thuyết về Luật học của sư, đối với các qui định như đi nhiễu Phật bên trái hay bên phải, khổ áo dài hay ngắn v.v... Ý kiến của sư có khác với nghĩa trong Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí do Luật sư Nguyên chiếu ở chùa Linh chi soạn. Người đương thời gọi sư là Hội chính tông, và gọi sư Nguyên chiếu là Tư trì gia. Sự tịch vào tháng 11 năm Gia hựu thứ 6, không rõ tuổi thọ. Thụy hiệu Chân ngộ Trí viên Luật sư. [X. Phật tổ thống kỉ Q.45; Thích thị kê cổ lược Q.4; Chiêu khánh tự chí Q.8].

doãn nhã

1231(1280~1359)元代僧。紹興相里(浙江紹興)人。字季蘅。號浮休,又號若耶。十五歲出家,後從上竺湛堂性澄受天台教典,服膺法智之說。英宗時,賜「慈光圓照」之號。歷主淨聖、興化、圓通、上竺諸剎,晚年退居雲門寺。能詩,世推為雲門三高之一。元至正(1341~1367)年間,天下大亂,干戈紛擾,至正十九年為亂賊所害,世壽八十。師生平風範淡遠,不苟言笑,待人接物,從不伏就,趙子蓣譽為僧中御史。得法弟子有集慶友奎、演福良謹、隆德法讓、淨聖圓證等人。著有內外集行世。〔大明高僧傳卷一、續釋氏稽古略卷一、宋學士集卷五、宋學士全集補遺卷七〕

doãn nhược

Một Danh Tăng đời nhà Nguyên—A famous monk of the Yuan dynasty.

doãn văn

1231(805~882)唐代僧。秀州嘉禾(浙江嘉興)人,俗姓朱。字執經。自少入道,及長,精通相部律及中觀論。唐開成元年(836),止於越州嘉祥寺,敷闡毘尼。後移居靜林寺講涅槃,學眾踰千。會昌法難之後,住越之開元寺,宣講律乘。中和二年六月入寂,世壽七十八。師素通儒典,善為文,嘗自撰墓誌,詳述志業,時人稱奇。〔宋高僧傳卷十六〕

Drug-pa Kun-leg

T: drugpa kunleg ['brug-pa kun-legs], 1455-1570, nghĩa là »Con rồng tốt bụng«; |Một trong những »Cuồng Thánh« nổi tiếng nhất Tây Tạng. Sư trước học theo dòng Drug-pa trong tông Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa), sau đó lại thích du phương tuỳ duyên giáo hoá.|Sư được xem là hiện thân của hai vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) Sa-ra-ha và Sa-va-ri-pa (s: śa-varipa). Sư có công lớn trong việc truyền Phật pháp đến nước Bhutan và nổi danh trong quần chúng vì sự »mê« gái và rượu bia. Sư để lại nhiều bài hát thổ lộ điều nhận thức chân lí trực tiếp của mình, có thể so sánh được với những bài kệ của những vị Thiền sư Trung Quốc – ví như:|Tên ta là rồng điên, Drug-pa Kun-leg|Ta không phải du tăng xin ăn, xin áo|Ta đã xuất gia hành hương|Một cuộc hành hương bất tận.|Sư là biểu tượng đặc sắc nhất của những vị Ma-ha Tất-đạt với nhiều gương mặt khác nhau, nếu không nói là nghịch nhau. Mặt nạ cuồng điên tạo điều kiện sinh sống, hoằng hoá tự do tự tại, vượt qua tất cả những luân lí trói buộc của thế gian. Và chính vì những hành động điên rồ này mà Sư đã chinh phục được nhiều người ở những tầng cấp xã hội khác, những người không thể thuyết phục được bằng những lời thuyết pháp bình thường. Sư tự hát:|Vũ sư trong dòng ảo ảnh bất diệt|Người có uy quyền, … Vị anh hùng… |Du-già sư nhỏ bé… Tiên tri|Du-già sư, người đã nếm Nhất vị|Ðó chỉ là một vài mặt nạ ta mang.|Câu chuyện sau thường được nhắc lại và qua đó người ta có thể lường được phong cách »cuồng« nhưng siêu việt của Sư:|Một ngày nọ, có một bà cụ già tay cầm một bức Thăng-ka vào một tu viện cầu mong vị viện chủ ban phép lành cho bức ảnh này – một tục lệ phổ biến tại Tây Tạng, gần giống như việc Khai nhãn một tượng Phật hoặc Bồ Tát tại Ðông, Ðông nam á. Bức tranh của bà lão trình bày vị Hộ Thần Hê-ru-ka và được cuốn tròn để dễ cầm tay. Vừa đi đến tu viện – vốn nằm trên một ngọn đồi – bà lão tự nghĩ »Viện chủ là một người tài cao đức rộng, nhưng sư đệ của ông lại là một người phiêu bồng, không bằng một phần của viện chủ.« Vừa mới phát ý nghĩ này thì Drug-pa Kun-leg xuất hiện trước mặt bà như một bóng ma, hỏi bà muốn gì và bảo rằng: »Sư huynh của ta ngồi như một lĩnh chúa với đám tuỳ tòng, ngoài sự việc này ra thì chẳng có gì đáng xem trên ấy cả.« Chần chừ giây lâu, bà lão đành phải trình bày nguyện vọng của mình và mở bức tranh cho Sư xem. Sư hỏi với một giọng ngớ ngẩn: »Bức tranh này mà Bà muốn ban phép à?« Bà thưa: »Tất nhiên là con muốn« nhưng chưa kịp nói thêm thì Sư đã vạch quần, tiểu tiện vào bức tranh và bảo: »Những người như ta thì ban phép lành cho mọi thứ tranh ảnh thế này đây.« Nói xong, Sư biến mất một cách đột ngột như lúc xuất hiện. Gặp viện chủ, bà lão trình lại sự việc trên và chỉ nhận được một tràng cười to. Viện chủ bảo bà cứ mở bức tranh ra xem và lạ thay, bức tranh lúc này đã được phủ một lớp bụi vàng óng ánh. Viện chủ tươi cười bảo: »Hê-ru-ka đã tự mình ban phép cho bức tranh, bà không cần tôi nữa đâu.«

du

Xem thâu. ; Remiss, to steal, stealthy. ; 1) Bơi lội: To swim. 2) Dẫn tới—To draw out. 3) Du lịch: Bhramyati (skt)—To travel. 4) Leo vuợt qua: To pass over—To go beyond—To exceed. 5) Ngọc lóng lánh: Lustre of gems—A beautiful stone.

du chỉ kinh

5533請參閱 瑜伽師地論釋 請參閱 金剛頂瑜伽中發阿耨多羅三藐三菩提心論 梵名 Vajraśekhara-vimāna-sarva-yogayogi-sūtra。全一卷。金剛峰樓閣一切瑜伽瑜祇經之略稱。又稱瑜伽瑜祇經。唐代金剛智譯。收於大正藏第十八冊。爲密教五部祕經之一,自古與理趣經並稱爲祕經中之祕經。全經共有十二品。據胎藏界之蘇悉地經載,本經爲金剛界之蘇悉地,內容闡說成就一切世間、出世間作業之妙法。〔諸儀軌傳受目錄、至元法寶勘同目錄卷六、英譯大明三藏聖教目錄〕 ; (瑜只經) Phạm: Vajrazekhara-vimàna-sarvayogayogi-sùtra. Có 1 quyển. Tên tắt của kinh Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì. Cũng gọi Du già du kì kinh. Do ngài Kim cương trí dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 18. Một trong năm bộ bí kinh của Mật giáo. Xưa nay cùng với kinh Lí thú được gọi chung là bí kinh trong các bộ kinh bí mật. Có 12 phẩm. Cứ theo kinh Tô tất địa của Thai tạng giới nói, thì kinh này là Tô tất địa của Kim cương giới. Nội dung nói rõ diệu pháp thành tựu tác nghiệp của tất cả thế gian và xuất thế gian. [X. Chư quĩ truyền thụ mục lục; Chí nguyên pháp bảo khám đồng mục lục Q.6; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục (bản dịch tiếng Anh)].

du chỉ quán đỉnh

5533原指瑜伽行者之灌頂。今指密教金剛乘(最上)瑜伽法中,傳授瑜祇經的大事印言之灌頂作法。此修法係據瑜祇經之金剛薩埵菩提心內作業灌頂悉地品與序品之說,爲一極深祕之法,約當於五種三昧耶之第五三昧耶,亦同於大日經所說之以心灌頂。於密教事相上,諸流派之作法互異,而以日本台密特重視此作法。(參閱「灌頂」6853) ; (瑜只灌頂) Vốn chỉ sự quán đính (rưới nước thơm lên đỉnh đầu) của hành giả Du già. Nay chỉ cho tác pháp quán đính truyền trao ấn ngôn (khế ấn và chân ngôn) của kinh Du kì, một việc trọng đại trong pháp Du già thuộc Kim cương giới (Tối thượng) Mật giáo.Pháp tu này căn cứ vào thuyết trong phẩm Kim cương tát đỏa bồ đề tâm nội tác nghiệp quán đính tất địa và phẩm Tựa của kinh Du kì mà thực hành, là pháp rất bí mật sâu xa, tương đương với tam muội da thứ 5 trong 5 thứ tam muội da và cũng giống với Dĩ tâm quán đính nói trong kinh Đại nhật. Đứng về phương diện sự tướng của Mật giáo mà nói, thì các dòng phái có các cách tác pháp khác nhau, nhưng Thai mật (Mật giáo của tông Thiên thai) ở Nhât bản đặc biệt coi trọng cách tác pháp này. (xt. Quán Đính).

du càn đà la

Xem Song Trì.

Du Già

(s, p: yoga, 瑜伽): ý dịch là tương ứng, tương ưng; nương vào phương pháp điều tức (hô hấp), v.v., tập trung tâm niệm ở một điểm; tu chủ yếu pháp Chỉ Quán (止觀), cùng nhất trí với lý tương ưng. Đối với Mật Giáo, rất thịnh hành thuyết gọi là Tam Mật Du Già Tương Ưng (三密瑜伽相應), hay Tam Mật Tương Ưng (三密相應). Hành giả thực hành pháp quán hạnh Du Già này, được gọi là Du Già sư (瑜伽師). Bộ Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論) thuyết về 17 cảnh địa, từ Ngũ Thức Thân Tương Ưng Địa (五識身相應地) cho đến Vô Dư Y Địa (無餘依地). Học phái hành trì theo luận thư này được gọi là Du Già Phái (瑜伽派). Riêng về phía ngoại đạo, cũng có những nhà ngoại đạo Du Già. Tam Muội (s, p: samādhi, 三昧), Thiền Định (s: dhyāna, p: jhāna, 禪定) là những pháp thực hành Du Già. Theo Thành Duy Thức Luận Thuật Ký (成唯識論述記, Taishō Vol. 43, No. 1830) quyển 2, nghĩa của tương ưng có 5: (1) Tương ưng với cảnh, nghĩa là tự tánh không sai tất cả pháp. (2) Tương ưng với hành, nghĩa là tương ưng với định, tuệ, v.v. (3) Tương ưng với lý, là lý của Nhị Đế (二諦) về an lập hay không an lập, v.v. (4) Tương ưng với quả, nghĩa là có thể chứng đắc quả vô thượng Bồ Đề. (5) Tương ưng với cơ, nghĩa là đã được quả tròn đầy, lợi sanh cứu vật, tùy cơ duyên mà cảm ứng, thuốc và bệnh tương ứng với nhau. Trong 5 nghĩa nêu trên, Hiển Giáo phần nhiều lấy nghĩa tương ưng với lý. Trong bản Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修設瑜伽集要施食壇儀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1081) có định nghĩa rõ rằng: “Phạn ngữ Du Già, Hoa ngôn tương ưng, vị Tam Nghiệp đồng thời, nhi bất tiên hậu, cọng duyên nhất cảnh dã; thủ kết ấn thời, khẩu tất tụng chú, ý tất tác quán, Tam Nghiệp tề thí, vô hữu tham sai, thỉ danh tương ưng (梵語瑜伽、華言相應、謂三業同時、而不先後、共緣一境也、手結印時、口必誦咒、意必作觀、三業齊施、無有參差、始名相應, tiếng Phạn Du Già, Tàu gọi là tương ưng, tức Ba Nghiệp đồng thời, mà không trước sau, duyên chung vào một cảnh vậy; khi tay bắt ấn, miệng phải tụng chú, ý phải quán tưởng; Ba Nghiệp cùng thí, không có sai khác, mới gọi là tương ưng).” Bên cạnh đó, trong lời tựa đầu của Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ (瑜伽集要施食儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1080) có giải thích rằng: “Du Già pháp môn, giai tùng Phạn thư tự chủng khởi quán, xuất sanh nhất thiết quảng đại thần biến, phổ lợi hữu tình (瑜伽法門、皆從梵書字種起觀、出生一切廣大神變、普利有情, pháp môn Du Già, đều từ sách loại chữ Phạn mà bắt đầu quán, sinh ra hết thảy thần biến to lớn, lợi khắp chúng hữu tình).” Cũng điển tịch này có đoạn rằng: “Cẩn y Du Già giáo, kiến trí khải pháp diên, phổ thí chư hữu tình, giai cộng thành Phật đạo (謹依瑜伽敎、建置啟法筵、普施諸有情、皆共成佛道, kính theo Du Già giáo, thiết lập bày pháp diên, thí khắp các hữu tình, đều cọng thành Phật đạo).” Hiện tại trong hầu hết các tự viện Phật Giáo Việt Nam đều dùng nghi thức Du Già Thí Thực để tiến cúng các âm linh cô hồn thông qua Đàn Tràng Chẩn Tế hay Thủy Lục Pháp Hội. Nghi thức này được thâu lục rất đầy đủ trong bộ Trung Khoa Du Già Tập Yếu (中科瑜伽集要) hay Đại Khoa Du Già Tập Yếu (大科瑜伽集要). Tất cả những bản này đều dựa theo bản Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ do Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615), Tổ thứ 8 của Tịnh Độ Tông Trung Quốc soạn; bản lời tựa ghi dòng chữ: “Thời Vạn Lịch tam thập tứ niên, tuế thứ Bính Ngọ trọng Hạ vọng nhật Vân Thê Châu Hoằng cẩn chí (時萬歷三十四年、歲次丙午仲夏望日雲棲袾宏謹識, lúc bấy giờ niên hiệu Vạn Lịch thứ 34 [1606], ngày rằm tháng 5 năm Bính Ngọ, Vân Thê Châu Hoằng kính ghi).” Bản hiện hành thông dụng nhất tại Huế là Chánh Khắc Trung Khoa Du Già Tập Yếu (正刻中科瑜伽集要), tàng bản tại Sắc Tứ Báo Quốc Tự (勅賜報國寺), được khắc vào mùa Đông năm Mậu Tý (1888) thời vua Đồng Khánh (同慶, tại vị 1885-1889), do Đại Lão Hòa Thượng Hải Thuận Lương Duyên (海順良緣, 1806-1892), Tăng Cang Chùa Diệu Đế (妙諦寺), chứng minh.

du già

5528梵語 yoga 之音譯,巴利語同。意譯作相應。依調息(調呼吸)等方法,集中心念於一點,修止觀(奢摩他與毘鉢舍那)爲主之觀行,而與正理相應冥合一致。於密教,盛行三密瑜伽相應之說(又作三密相應說)。行此等瑜伽觀行者,稱爲瑜伽師。依瑜伽師而行之境界,稱作瑜伽師地。瑜伽師地論一書即從五識身相應地說至無餘依地之十七地。奉持該論之學派,稱爲瑜伽派(外道中,另有所謂瑜伽外道者)。此外,瑜祇(梵 yogin,巴同)即「有瑜伽者」之意,係指行瑜伽觀行之人。三昧(梵 samādhi,巴同)、禪定(梵 dhyāna,巴 jhāna)即行瑜伽法之一。 據成唯識論述記卷二本之說,相應之義有五:(一)與境相應,謂不違一切法之自性。(二)與行相應,謂與定慧等行相應。(三)與理相應,謂安立非安立等二諦之理。(四)與果相應,謂能得無上之菩提果。(五)與機相應,謂既得圓果,利生救物,赴機應感,藥病相應。於上記五義之中,顯教多取與理相應之義,如瑜伽唯識之瑜伽;密教多取與行相應之義,如瑜伽三密之瑜伽。〔解深密經卷三分別瑜伽品、瑜伽師地論卷二十四、解深密經疏卷六、大日經疏卷三〕 ; Yoga (S). ; See Yoga in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (瑜伽) Phạm, Pàli: Yoga. Dịch ý: tương ứng. Loại quán hạnh lấy pháp tu chỉ quán (Phạm:Zamathavàvipasyanà) làm chủ yếu, áp dụng phương pháp điều hòa hơi thở, tập trung tâm niệm ở một điểm để ngầm tương ứng và hợp nhất với chính lí. Trong Mật giáo có thuyết Tam mật du già tương ứng (cũng gọi thuyết Tam mật tương ứng). Những người tu quán hạnh du già này gọi là Du già sư. Cảnh giới nương theo Du già sư mà tu gọi là Du già sư địa. Luận Du già sư địa có nêu 17 địa từ Ngũ thức thân tương ứng địa đến Vô dư y địa. Học phái tu trì theo luận này gọi là Du già phái (trong ngoại đạo, cũng có phái gọi là Du già ngoại đạo). Ngoài ra, người tu quán hạnh Du già gọi là Du kì (Phạm,Pàli: yogin) hàm ý là người có Du già. Tam muội (Phạm, Pàli: samàdhi), Thiền định (Phạm: dhyàna, Pàli: jĩàna) là một trong những pháp tu Du già. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 2 phần đầu nói, thì tương ứng có năm nghĩa: 1. Tương ứng với cảnh: Không trái với tự tính của tất cả pháp. 2. Tương ứng với hạnh: Tương ứng với các hạnh định, tuệ v.v... 3. Tương ứng với lí: Lí hai đế: an lập, phi an lập. 4. Tương ứng với quả: Có thể chứng được quả bồ đề cùng tột. 5. Tương ứng với cơ: Đã được quả viên mãn, cứu sinh lợi vật, cảm ứng theo cơ, tùy bệnh cho thuốc. Trong năm nghĩa nói trên, Hiển giáo phần nhiều theo nghĩa tương ứng với lí, như Du già của Duy thức du già; Mật giáo thì thường theo nghĩa tương ứng với hạnh, như Du già của Tam mật du già. [X. kinh Giải thâm mật Q.3 phẩm Phân biệt du già; luận Du già sư địa Q.24; Giải thâm mật kinh sớ Q.6; Đại nhật kinh sớ Q.3].

du già (yoga)

Dịch nghĩa là tương ưng, tức là tương ưng với cơ, cảnh, tướng, lý, nhân, quả… Mật tông cũng gọi là Du Già tông, Duy Thức tông ở Ấn Độ cũng gọi là Du Già tông.

du già a xà lê

Yogacara (skt)—Vị thầy dạy giáo thuyết của trường phái Du Già (của cải của một vị sư Du Già gồm một cây gậy linh, một bầu nước, một mảnh da để trải ngồi và nằm. Luôn giữ tịnh giới, tuyệt không dâm dục, chỉ ăn lúc mặt trời lặn, và chỉ ăn phần ăn vừa để trọn trong lòng bàn tay, mỗi tháng cạo râu tóc một lần, sống bằng cách khất thực. Sư Du Già coi mọi chúng sanh như nhau, xa lánh thế sự, gìn giữ giác quan, diệt tận sân hận, tham lam và dâm dục, dứt bỏ mọi phiền não)—A teacher, or master of, or of Vijnanavada Sect.

du già bảo man

Yogāratnamala (S).

du già chi la

Ukkacela (skt)—Một nơi không ai biết—A place unknown.

du già chấn linh

5532即修瑜伽行之振鈴。瑜伽,意譯爲相應,意謂集中精神,與本尊融會。密教稱爲三密瑜伽之行,而加以實修。修此法之規模爲四度加行法,即依一定之行規供養禮拜諸尊,並體驗各本尊證悟之境地,以達即身成佛之道。修法中用振鈴之作法,即爲招請本尊聖眾安座於眼前之道場,而以振鈴奏樂,表示歡待之意。所振之鈴,有五股鈴、三股鈴、獨股鈴、九股鈴等多種,因股杵形之異而用各種名稱。振鈴之方法在密教之事相上,因各派之異而有諸流之作法。一般謂其意義在於驚覺、供養、歡喜、說法、奉送等;在世間法表示供養或歡喜之意,出世法即作爲佛說法之音聲。以其能驚醒眾生之長眠迷惑,令彼等悉入佛道,故又解作驚覺之義。〔金剛童子持念經、攝真實經卷下〕 ; (瑜伽振鈴) Rung chuông trong khi tu du già. Du già nghĩa là tương ứng, ý nói tập trung tinh thần dung hợp với bản tôn (vị tôn chính), đây là một pháp thực tu của Mật giáo, cũng gọi là Hành tam mật du già. Phép tắc tu theo pháp này là phép Tứ độ gia hạnh, tức là y theo một hành nghi nhất định là cúng dường lễ bái chư tôn và thể nghiệm cảnh địa chứng ngộ của các bản tôn để đạt đến đạo Tức thân thành Phật. Dùng phép rung chuông trong lúc tu pháp là để triệu thỉnh Bản tôn thánh chúng an tọa nơi đạo tràng trước mặt hành giả, rồi tiếp tục rung chuông tấu nhạc biểu thị ý hoan hỉ đón rước. Chuông có nhiều loại, do hình cái chuôi có khác nên tên gọi không giống nhau như: chuông năm chĩa, chuông ba chĩa, chuông một chĩa, chuông chín chĩa. Phương pháp rung chuông thuộc sự tướng trong Mật giáo, nên tùy theo mỗi phái mà có cách tác pháp khác nhau. Nhưng tựu trung đều bày tỏ ý nghĩa cảnh giác, cúng dường, hoan hỉ, thuyết pháp, phụng tống v.v... Theo pháp thế gian thì rung chuông là bày tỏ ý cúng dường, hoan hỉ, còn đối với pháp xuất thế gian thì rung chuông biểu thị âm thanh Phật thuyết pháp. Vì tiếng chuông có công năng đánh thức chúng sinh trong cơn mê mộng, khiến họ tỉnh ngộ mà vào Phật đạo, nên cũng có nghĩa là cảnh giác. [X. kinh Kim cương đồng tử trì niệm; kinh Nhiếp chân thực Q.hạ].

du già chỉ

Yogin (skt)—See Du Già Kỳ.

du già du kỳ kinh

Xem Kim Cang Phong Lâu Các Nhất thiết Du già Du kỳ kinh.

du già giác giả

Yogeshvara (C)Từ dùng chỉ bậc đã hoà nhập với Thượng đế, hoặc đã đạt giáxc ngộ, hoặc đã nắm được toàn bộ yếu quyết của du già.

du già hạnh

Yogācaryā (S).

du già học phái

Yoga (S)Một trong 6 giáo phái Phệ đà ra đời khoảng thế kỳ thứ nhất, chủ trương tu Du già để giải thoát, khai tổ là ngài Patanjali (Ba đan xà lê), kinh căn bản là kinh Du già. Dịch nghĩa là tương ưng, nghĩa là tương ưng với cơ, cảnh, tướng, lý, nhân quả v.v...Mật tông cũng gọi là Du-Già-Tông, Duy-thức-Tông ở Ấn Đ cũng gọi là Du-Già-Tông.

du già kinh

5532請參閱 瑜祇經 [1]梵名 Yoga-sūtra。爲印度六派哲學中瑜伽學派(梵 Yoga)之根本經典。相傳此經係巴丹闍梨(梵 Patañjali)於西元前一五○年間所編,然現存之經典則成書於西元四○○年至四五○年頃,屬婆羅奈斯梵語叢書第七十五號(Benares Sanskrit Series, No.75),共計四章一九四經。內容包括:(一)三昧,由修習與離欲以控制量、顛倒、分別、睡眠、記憶等五心之作用,而達三昧之境地。(二)八種實修法,即:(1)制戒(梵 yama),持守不殺生、真實、不盜、不婬、無所有等五戒。(2)內制(梵 niyama),包含清淨、滿足、苦行、修學、歸依最高神等。(3)坐法(梵 āsana),用以保持身體之安定、快適。(4)調息(梵 prāṇāyāna),即調理呼吸。(5)制感(梵 pratyāhāra),遠離感官與對象。(6)執持(梵 dhāraṇa),將心定於一處。(7)靜慮(梵 dhyāna),定心之後,致力於觀念之集中。(8)三昧(梵 samādhi)之境。(三)經由實際修行,可獲得種種超人之知識、能力,如了知過去現在未來三世、他心知、隱遁身形等。(四)由修行而脫離自性(梵 prakṛti),得以獨存(梵 kaivalya),乃至完成解脫。〔ョ|ガ‧ス|トラの成立と佛教との關係(金倉圓照)、宗教神祕主義(岸本英夫)〕 ; Yogā-sŪtra (P)Du già đại giáo vương kinhTên một bộ kinh. ; (瑜伽經) Phạm: Yoga-sùtra. Là kinh điển căn bản của học phái Du già (Phạm: Yoga) trong sáu phái triết học của Ấn độ. Tương truyền kinh này do Ba đan xà lê (Phạm: Pataĩjali) biên soạn vào khoảng năm 150 trước Tây lịch, nhưng bản kinh hiện còn thì được soạn vào khoảng từ 400 đến 450 Tây lịch, thuộc Ba la nại tư Phạm ngữ tùng thư số 75 (Benares Sanskrit Series, No. 75), tất cả có 4 chương 194 kinh. Nội dung gồm: I. Tam muội: Do tu tập và xa lìa tham muốn để khống chế sự hoạt động của năm tâm: tính lường, điên đảo, phân biệt, ngủ mê và ghi nhớ mà đạt đến cảnh địa tam muội (chính định). II. Tám pháp thực tu: 1. Chế giới (Phạm:Yama): Giữ năm giới không giết hại, không nói dối, không trộm cắp, không dâm dục, không có của riêng. 2. Nội chế (Phạm: Niyama): Bao gồm thanh tịnh, mãn túc, khổ hạnh, tu học, qui y vị thần tối cao. 3. Tọa pháp (Phạm: Àsana): Ngồi đúng phép để giữ gìn cho thân thể được yên định, thoải mái. 4. Điều tức (Phạm:Pràịàyàna): Điều hòa hơi thở. 5. Chế cảm (Phạm:Pratyàhàra): Xa lìa cảm quan và đối tượng. 6. Chấp trì (Phạm:Dhàraịa): Định tâm ở một chỗ. 7. Tĩnh lự (Phạm: Dhyàna): Sau khi định tâm, tập trung quán niệm. 8. Tam muội (Phạm: Samàdhi): Cảnh chính định. III. Nhờ sự tu hành thực tế, có thể đạt được tri thức, năng lực hơn người, như: biết rõ ba đời quá khứ, hiện tại vị lai, biết tâm người khác và tàng hình v.v... IV. Nhờ tu hành mà thoát li tự tính (Phạm:prakfti), được tồn tại độc lập (Phạm: kaivalya) cho đến hoàn thành sự giải thoát. [X. Tông giáo thần bí chủ nghĩa (Ngạn bản Anh phu)].

du già kỳ

Yogin (skt)—Hành giả tu theo pháp Du Già—One who practises yoga.

du già luận

Yogā-sarya-bhŪmi śāstra (S), Yogā śāstra Du già sư địa luậnVào thế kỷ thứ 5, ngài Di Lặc truyền cho Ngài Vô Trước 5 bộ Luận gồm 100 quyển: - Du già sư địa luận - Phân biệt du già luận - Đại thừa trang nghiêm luận - Biện trung biện luận - Kim Cang bát nhã luận Xem Yoga-sarya-bhumi SastraXem Du già Sư địa luận.

du già luận kí

5533請參閱 瑜伽師地論 [1]凡二十四卷。唐代遁倫集撰。又稱瑜伽師地論記。收於大正藏第四十二冊。乃糅錄諸師有關瑜伽師地論之釋文。主要依據窺基之瑜伽師地論略纂一書,列舉所爲、所因、宗要、藏攝、解題、釋文等六門,前五門中多抄錄窺基之文,次於釋文中先列出略纂之注解,後舉出順憬、文備、玄範、神泰、惠景、圓測、元曉、神廓、僧玄等諸家之說。然瑜伽師地論於六十六卷以下缺略纂之釋文,故遁倫多援引神泰、惠景二師之說,而鮮有自說。〔新編諸宗教藏總錄卷一、卷二〕 ; (瑜伽論記) Gồm 24 quyển, do ngài Độn luân soạn vào đời Đường. Cũng gọi Du già sư địa luận kí, thu vào Đại chính tạng tập 42. Nội dung sách này ghi chép những văn giải thích về luận Du già sư địa của các sư, chủ yếu là dựa vào bộ Du già sư địa luận lược toản của ngài Khuy cơ mà chia ra sáu môn: Sở vi, Sở nhân, Tông yếu, Tạng nhiếp, Giải đề và Thích văn. Trong năm môn trước phần nhiều sao chép văn của ngài Khuy cơ. Trong môn Thích văn thì trước hết nêu ra lời chú giải của bộ lược toản, kế đến, đề cập đến thuyết của các ngài Thuận cảnh, Văn bị, Huyền phạm, Thần thái, Huệ cảnh, Viên trắc, Nguyên hiểu, Thần huếch, Tăng huyền v.v... Nhưng luận Du già sư địa từ quyển 66 trở xuống thiếu văn giải thích của bộ lược toản, nên Độn luân thường trích dẫn thuyết của các ngài Thần thái, Huệ cảnh chứ ít đưa ra lời thuyết minh của mình. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1, Q.2].

du già phái

5529請參閱 示所犯者瑜伽法鏡經<一>奉行瑜伽師地論等教說之宗派。又作瑜伽宗、瑜伽行派。即行於印度,與中觀派對立之大乘佛教教派。初祖爲四、五世紀之彌勒論師,以宣說瑜伽師地論、辯中邊論頌、大乘莊嚴論等而奠定開宗之基。其後,無著稟其教旨,著攝大乘論、顯揚聖教論等。未久,世親繼之,撰十地經論、唯識三十論頌等以光顯教說。世親之弟子陳那亦作觀所緣緣論、入瑜伽等論著以宣揚瑜伽思想,復著因明正理門論而定因明之論式。同時復有親勝、火辨二大論師注釋世親之唯識三十論頌。相繼而起者另有德慧、安慧、護法、難陀、清辨、戒賢、淨月、勝友、最勝子、智月、法藏、智光、無性、親光、德光等諸師,相繼發揮三性中道之旨,提倡觀行萬法唯識之理,以悟入真如之性。 瑜伽派本與中觀派世代對立,彼此論難。然八世紀初,寂護及弟子蓮華戒融合中觀自立派(梵 Mādhyamika-svātantrika)與瑜伽派之思想,成立瑜伽中觀自立派(梵 Yogācāra-mādhyamika-svātantrika)。此派思想,有關勝義諦者乃採用中觀自立派之論點,有關世俗諦者則依據瑜伽唯識之立場。八世紀後,印度佛教傳入西藏,西藏佛教改革者宗喀巴以甚深觀、廣大行,意圖綜合般若中觀與瑜伽唯識兩派。八、九世紀以後,瑜伽派爲中觀派綜合攝取,獨立學派不復存在。 在我國,以北涼曇無讖所譯之菩薩地持經(即瑜伽師地論菩薩地)、劉宋求那跋摩之菩薩善戒經,及北魏菩提留支、勒那摩提等之唯識二十論、十地經論等爲瑜伽派經論之最早譯介。其後,我國之瑜伽派漸分爲地論宗與攝論宗;前者係以十地經論爲主,後者則以攝大乘論爲主。兩宗雖同立「八識緣起」之說,然地論宗以阿賴耶識與如來藏心同視爲真識,攝論宗則視阿賴耶識爲妄識,故別立第九阿摩羅識,此爲兩宗論點最大之歧異。直至唐代,玄奘譯出瑜伽師地、顯揚聖教、辯中邊等諸論,又糅譯十大論師之唯識三十頌釋論,編成「成唯識論」等書,方乃展開法相宗之教說,而盛行於我國與日本。〔大唐西域記卷九、卷十、南海寄歸內法傳卷一、印度哲學研究卷五(宇井伯壽)〕(參閱「中觀派」1037、「空有論爭」3473) <二>爲印度六派哲學之一。通常又被稱爲瑜伽外道、相應外道。主張瑜伽修行,能達到解脫之境界。其哲學係根據數論學派而立論,所異者,持神我(梵 puruṣa)爲最高神之有神論立場。相傳西元五世紀頃巴丹闍梨(梵 Patañjali)出世,蒐集當時有關瑜伽諸說,撰成瑜伽經(梵 Yoga-sūtra),始確立該派學說(一說巴丹闍梨編於西元前一五○年間)。由於受到無神論之數論學說影響,其神僅止於冥想之方法與對象。認爲世界之所以苦乃源自無明,此即爲神我與自性(梵 prakṛti)之結合;當無明被明知(梵 viveka)消除時,神我即從物質之束縛中解放獨存,由此解脫達到完全圓滿之狀態。爲得此明知,對於實踐方法舉說瑜伽八支(守戒、自我道德培養、養成良好坐姿、控制呼吸、控制感官、集中注意力、冥思、禪定),從有想三昧而入無想三昧之無心狀態即是解脫。又爲達到此一境界,遂完成修行法之組織,此乃瑜伽派之特質。毘阿沙(梵 Vyāsa, 450~500?)曾對瑜伽經作完整之注釋,其後第九世紀瓦卡帕提米拉(梵 Vācaspatimiśra, 800~880?)更加以複注,廣爲一般採用。然此學派勢力今已殆然無存。〔十住毘婆沙論卷三、大毘婆沙論卷八十一、瑜伽師地論卷二十八、印度六派哲學綱要(李世傑)〕 ; (瑜伽派) I. Du già phái. Cũng gọi Du già tông, Du già hành phái. Giáo phái Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ, lấy học thuyết của luận Du già sư địa làm tông chỉ, đối lập với phái Trung quán. Sơ tổ là luận sư Di lặc ở khoảng thế kỉ thứ IV, thứ V Tây lịch, lấy việc tuyên giảng các bộ luận Du già sư địa, Biện trung biên luận tụng, Đại thừa trang nghiêm v.v... làm nền tảng để mở tông. Về sau, ngài Vô trước vâng theo giáo chỉ của luận sư Di lặc mà soạn các bộ luận Nhiếp đại thừa, Hiển dương thánh giáo v.v... Ít lâu sau, ngài Thế thân nối tiếp, soạn Thập địa kinh luận, Duy thức tam thập tụng luận v.v... để làm sáng tỏ giáo thuyết Du già. Đệ tử của ngài Thế thân là Trần na cũng soạn các luận: Quán sở duyên duyên, Nhập du già v.v... để phát huy tư tưởng Du già, ngài cũng soạn luận Nhân minh chính lí môn để qui định thể thức biện luận Nhân minh. Đồng thời, lại có hai vị đại luận sư là Thân thắng và Hỏa biện chú thích tác phẩm Duy thức tam thập luận tụng của ngài Thế thân. Về sau, còn có các luận sư: Đức tuệ, An tuệ, Hộ pháp, Nan đà, Thanh biện, Giới hiền, Tịnh nguyệt, Thắng hữu, Tối thắng tử, Trí nguyệt, Pháp tạng, Trí quang, Vô tính, Thân quang, Đức quang v.v... nối tiếp nhau phát huy ý chỉ tam tính trung đạo, đề xướng quán hành lí vạn pháp duy thức để ngộ nhập tính chân như.Phái Du già vốn đối lập với Phái Trung quán từ lâu, hai phái thường chỉ trích luận điểm của nhau. Nhưng đến đầu thế kỷ thứ VIII, thì ngài Tịch hộ và đệ tử là Liên hoa giới dung hợp tư tưởng của phái Trung quán tự lập (Phạm: Màdhyamika-svàtantrika) với tư tưởng của phái Du già mà thành lập phái Du già Trung quán tự lập (Phạm: Yogàcàra-màdhyamika-svàtantrika). Tư tưởng của phái này, về Thắng nghĩa đế thì dùng luận điểm của phái Trung quán tự lập, còn về Thế tục đế thì y cứ vào lập trường của phái Du già duy thức. Sau khi Phật giáo Ấn độ được truyền vào Tây tạng, nhà canh tân Phật giáo Tây tạng là Tông khách ba dùng Thậm thâm quán, Quảng đại hành với ý đồ tông hợp hai phái Bát nhã trung quán và Du già duy thức. Từ thế kỉ VIII, IX trở về sau, phái Du già đã bị phái Trung quán thu hút, học phái độc lập không tồn tại nữa. Tại Trung quốc, kinh Bồ tát địa trì (tức là Bồ tát địa của luận Du già sư địa) do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương, kinh Bồ tát thiện giới do ngài Cầu na bạt ma dịch vào đời Lưu Tống, và Duy thức nhị thập luận, Thập địa kinh luận do các ngài Bồ đề lưu chi, Lặc na ma đề dịch vào đời Bắc Ngụy v.v... là những kinh luận của phái Du già được phiên dịch sớm nhất. Về sau, phái Du già ở Trung quốc dần dần chia thành tông Địa luận và tông Nhiếp luận. Tông Địa luận lấy Thập địa kinh luận làm nòng cốt, còn tông Nhiếp luận thì lấy luận Nhiếp đại thừa làm chủ đạo. Cả hai tông tuy cùng lập thuyết Bát thức duyên khởi, nhưng tông Địa luận cho thức A lại da và Tâm Như lai tạng đều là chân thức, còn tông Nhiếp luận thì coi thức A lại là vọng thức nên mới lập riêng thức A ma la thứ chín: đây là luận điểm bất đồng lớn nhất giữa hai tông. Mãi đến đời Đường, khi ngài Huyền trang dịch xong các bộ luận Du già sư địa, Hiển dương thánh giáo, Biện trung biên v.v... rồi lại dịch một cách tổng hợp các bộ luận của 10 vị đại luận sư giải thích về Duy thức tam thập tụng mà biên soạn thành bộ luận Thành duy thức thì giáo thuyết của tông Pháp tướng mới được triển khai mà thịnh hành ở Trung quốc và Nhật bản. [X. Đại đường tây vực kí Q.9, Q.10; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.5 (Vũ tỉnh Bá thọ)]. (xt. Trung Quán Phái, Không Hữu Luận Tranh). II. Du già phái. Một trong sáu phái triết học của Ấn độ. Thông thường còn được gọi là Du già ngoại đạo, Tương ứng ngoại đạo. Phái này cho rằng tu hành theo Du già có thể đạt đến cảnh giới giải thoát. Triết học của phái này căn cứ vào học phái Số luận mà lập luận, chỉ khác nhau ở lập trường Hữu thần luận chủ trương Thần ngã (Phạm:Puruwa) là vị thần tối cao. Tương truyền phái này do Ba đan xà lê (Phạm:Pataĩjali) sáng lập vào khoảng thế kỉ V Tây lịch, lấy kinh Du già (Phạm: Yogasùtra) do Ba đan xà lê soạn làm nòng cốt. (Có thuyết nói Ba đan xà lê đã biên soạn kinh này vào khoảng năm 150 trước Tây lịch).Phái này cho rằng nguồn gốc của khổ đau là vô minh, tức là thần ngã bị kết hợp với tự tính (Phạm: Prakfti); khi vô minh bị minh tri (Phạm:Viveka, sự sáng suốt) tiêu diệt, thì thần ngã thoát khỏi sự trói buộc của vật chất mà tồn tại độc lập, nhờ đó sự giải thoát đạt đến trạng thái hoàn toàn viên mãn. Để có được sáng suốt (minh tri), người ta phải thực hành tám phương pháp nói trong kinh Du già, đó là: Giữ giới, bồi dưỡng đạo đức tự ngã, dưỡng thành tư thế ngồi tốt lành, điều hòa hơi thở, khống chế cảm quan, tập trung tâm niệm, minh tưởng và Thiền định. Tu tập tám phương pháp này, khi nào từ tam muội hữu tưởng mà vào được trạng thái vô tâm của tam muội vô tưởng là được giải thoát. Đây là đặc chất của phái Du già. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.3; luận Đại tì bà sa Q.81; luận Du già sư địa Q.28; Ấn độ lục phái triết học cương yếu (Lí thế kiệt)].

du già pháp thuỷ

5529即密教三密瑜伽教法之傳承。所謂瑜伽,在密教一般稱爲三密瑜伽;此因真言行者之瑜伽終歸於身、語、意三密之行。大日經卷一住心品謂,毘盧遮那佛之身、語、意爲三密;或以「一切身業、一切語業、一切意業」爲三密,即佛教通常所稱之三業。所謂法水,係指爲傳法所舉行之密教最高儀式(即傳法灌頂)中,以大壇五瓶中之加持香水灌於受者之頂,洗浴弟子之心品,其後傳以最究極之法而言。準此,爲參加灌頂之儀式而入壇受法,即稱爲「浴(沐)瑜伽法水」或「汲瑜伽法水」。〔金剛頂經瑜伽十八會指歸、大日經疏卷三〕 ; (瑜伽法水) Sự truyền thừa giáo pháp Tam mật du già trong Mật giáo. Thông thường trong Mật giáo, Du già được gọi là Tam mật du già, bởi vì Du già của hành giả chân ngôn chung qui chỉ là tu ba hạnh bí mật: Thân mật, Ngữ mật và Ý mật. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 nói, Thân mật, Ngữ mật, Ý mật của đức Phật Tì lô giá na lấy tất cả thân nghiệp, tất cả ngữ nghiệp, tất cả ý nghiệp làm ba mật, tức thông thường trong Phật giáo gọi là ba nghiệp. Pháp thủy (nước phép) là khi truyền pháp Quán đính, lấy nước thơm gia trì trong năm cái bình của Đại đàn rưới lên đỉnh đầu của người thụ pháp để rửa sạch tâm của người ấy, rồi sau mới truyền pháp. Theo đó, sự tham gia nghi thức quán đính để vào đàn thụ pháp, gọi là Dục du già pháp thủy hoặc Cấp du già pháp thủy. [X. Kim cương đính kinh Du già thập bát hội chỉ qui; Đại nhật kinh sớ Q.3].

du già sư

GurŪ-yogā (S), lamay naljor (T), Yogācāca (P)Du già tôngMột phái của Duy Thức chuyên tu Thiền quán. ; See Du Già A Xà Lê.

Du Già Sư Địa Luận

(瑜伽師地論, Taishō Vol. 30, No. 1579) quyển 29 giải thích rằng Thắng Đạo Sa Môn là bậc Thiện Thệ (s: sugata, 善逝, đấng thật sự qua bờ bên kia mà không còn trở lui biển sanh tử nữa), Thuyết Đạo Sa Môn là người tuyên thuyết các chánh pháp, Hoạt Đạo Sa Môn là người tu các thiện pháp, và Hoại Đạo Sa Môn là thực hành các việc làm sai trái. Ngoài ra, Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 112 có nêu 4 loại Sa Môn khác là (1) Hình Phục Sa Môn (形服沙門, Sa Môn bên ngoài mặc sắc phục tu sĩ), (2) Uy Nghi Khi Cuống Sa Môn (威儀欺誑沙門, Sa Môn khinh thường oai nghi tế hạnh), (3) Tham Cầu Danh Văn Sa Môn (貪求名聞沙門, Sa Môn tham cầu tiếng tăm) và (4) Thật Hành Sa Môn (實行沙門, Sa Môn tinh tấn thực hành chánh pháp). Trong Hương Tổ Bút Ký (香祖筆記) quyển 8 của Vương Sĩ Chân (王士禛, 1634-1711) nhà Thanh có câu: “Sa Môn dĩ Hòa Thượng vi tôn quý chi xưng (沙門以和尚爲尊貴之稱, Sa Môn lấy Hòa Thượng làm từ xưng hô tôn quý).” Hay trong Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (貞元新定釋敎目錄, Taishō Vol. 55, No. 2157) quyển 22 có câu: “Tây Kinh Tây Minh Tự Sa Môn Viên Chiếu soạn (西京西明寺沙門圓照撰, Sa Môn Viên Chiếu ở Tây Minh Tự, Tây Kinh soạn).”

du già sư địa luận

5530梵名 Yogacārabhūmi。彌勒講述,無著記。略稱瑜伽論。收於大正藏第三十冊。係瑜伽行學派之基本論書,亦爲法相宗最重要之典籍,更爲我國佛教史上之重要論書。內容記錄作者聞彌勒自兜率天降至中天竺阿踰陀國之講堂說法之經過,其中詳述瑜伽行(梵 yogacāra)觀法,主張客觀對象乃人類根本心識之阿賴耶識(梵 ālayavijñāna)所假現之現象,須遠離有與無、存在與非存在等對立之觀念,始能悟入中道,爲研究小乘與大乘佛教思想之一大寶庫。由於本論廣釋瑜伽師所依所行之十七地,故又稱十七地論。又十七地之中,尤以「菩薩地」爲重要。 本書之漢譯本有數種,以玄奘所譯之瑜伽論一百卷爲最著。全書分爲五分:(一)本地分,廣說瑜伽禪觀境界十七地之義,爲百卷中之前五十卷,乃本論之主體。(二)攝決擇分,顯揚十七地之深義,爲其次之三十卷。(三)攝釋分,解釋諸經之儀則,爲卷八十一、卷八十二。(四)攝異門分,闡釋經中所有諸法之名義差別,爲卷八十三、卷八十四。(五)攝事分,明釋三藏之要義,爲最後之十六卷。 除玄奘所譯之外,本論之異譯本有北涼曇無讖之菩薩地持經(十卷)、劉宋求那跋摩之菩薩善戒經(九卷)、梁真諦之決定藏論(三卷),三本均爲節譯本。漢譯本外,另有藏譯本。本論之注疏極多,較重要者有論釋一卷(最勝子等)、略纂十六卷(窺基)、疏十卷(神泰)、記二十四卷(遁倫)。〔大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷八、卷十四、新編諸宗教藏總錄卷三〕 ; Yogācaryā-bhŪmi śāstra (S)Du già luậnMột trong 5 bộ luận mà Bồ tát Di Lặc từ cõi trời Đâu suất giáng xuống giảng cho ngài Bồ tát Vô Trước Xem Du già luận. ; Yogacaryabhumi-sastra (skt)—Người ta nói Bồ Tát Di Lặc đã đọc cho ngài Vô Trước chép lại trên cõi trời Đâu Suất, ngài Huyền Trang đã dịch sang Hoa Ngữ. Đây là giáo thuyết của trường phái Du Già (giáo thuyết chính của Du Già cho rằng đối tượng khách quan chỉ là hiện tượng giả hiện của thức A Lại Da là tâm thức căn bản của con người. Cần phải xa lìa quan niệm đối lập hữu vô, tồn tại và phi tồn tại, thì mới có thể ngộ nhập được trung đạo)—The work of Asanga, said to have been dictated to him in or from the Tusita heaven by Maitreya, translated by Hsuan-Tsang, is the foundation text of this school. ; (瑜伽師地論) Phạm:Yogacàrabhùmi. Bồ tát Di lặc giảng, ngài Vô trước ghi, gọi tắt: Du già luận, thu vào Đại chính tạng tập 30. Đây là bộ luận cơ bản của học phái Du già hành, là bộ luận quan trọng của tông Pháp tướng và cũng là bộ luận trọng yếu trong lịch sử Phật giáo Trung quốc. Nội dung ghi chép quá trình ngài Vô trước nghe bồ tát Di lặc từ trời Đâu suất giáng xuống nhà giảng ở nước A du xà thuộc Trung thiên trúc nói pháp, trong đó tường thuật phép quán Du già hành (Phạm: yogacàra), cho rằng đối tượng khách quan là hiện tượng do thức A lại da (Phạm: àlayavijĩàna) - tâm thức căn bản của con người - giả hiện, cho nênphải xa lìa quan niệm đối lập có và không, tồn tại và phi tồn tại, mới có thể ngộ vào trung đạo. Bộ luận này là một kho báu lớn đối với việc nghiên cứu tư tưởng của Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa. Vì luận này giải thích rộng về 17 địa sở y sở hành của người tu Du già nên cũng gọi là Thập thất địa luận. Lại nữa, trong 17 địa thì Bồ tát địa là đặc biệt quan trọng. Trong các bản Hán dịch của bộ luận này, bản luận Du già 100 quyển của ngài Huyền trang dịch là nổi tiếng hơn cả. Toàn bộ chia làm năm phần: 1. Bản địa phần: Phần chủ thể của luận này gồm 50 quyển đầu nói rộng về ý nghĩa 17 địa trong cảnh giới Thiền quán của Du già. 2. Nhiếp quyết trạch phần: Gồm 30 quyển kế tiếp nêu rõ ý nghĩa sâu xa của 17 địa. 3. Nhiếp thích phần: Gồm 2 quyển 81, 82 giải thích nghi tắc của các kinh. 4. Nhiếp dị môn phần: Gồm 2 quyển 83, 84 giải thích rõ sự sai biệt về danh nghĩa của các pháp được nói trong các kinh. 5. Nhiếp sự phần: Gồm 16 quyển cuối cùng giải thích rõ về các nghĩa trọng yếu của ba tạng. Ngoài bản dịch của ngài Huyền trang, còn có những bản dịch khác như: Kinh Bồ tát địa trì 10 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương, kinh Bồ tát thiện giới 9 quyển, do ngài Cầu na bạt ma dịch vào đời Lưu Tống, luận Quyết định tạng 3 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Lương. Cả ba bản trên đều là các bản lược dịch. Ngoài các bản Hán dịch, còn có bản dịch Tây tạng. Về các bản chú sớ thì có: Du già sư địa luận thích 1 quyển của ngài Tối thắng tử, Du già sư địa luận lược toản của ngài Khuy cơ, Du già sư địa luận sớ 10 quyển của ngài Thần thái, Du già luận kí 24 quyển của ngài Độn luân v.v... [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8, Q.14; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3].

du già sư địa luận lược toản

5531 請參閱 瑜伽論記凡十六卷。唐代窺基撰。收於大正藏第四十三冊。又作瑜伽師地論略纂疏、瑜伽論略纂、瑜伽鈔。本書係法相宗主要經典瑜伽師地論之注疏。內容初依最勝子等之瑜伽師地論釋載七言七行之歸敬頌,次立所爲、所因、宗緒、藏攝、釋題、釋文等六門,爲研究瑜伽論者必讀之指南。撰者窺基爲玄奘之高足,法相宗之初祖。〔至元法寶勘同總錄卷十、新編諸宗教藏總錄卷二〕 ; (瑜伽師地論略纂) Gồm 16 quyển. Ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 43. Cũng gọi Du già sư địa luận lược toản sớ, Du già luận lược toản, Du già sao. Sách này chú giải luận Du già sư địa, là sách quan trọng của tông Pháp tướng. Nội dung, trước hết,chép bài kệ Qui kính thể bảy chữ bảy hàng trong Du già sư địa luận thích của ngài Tối thắng tử, kế đến, lập sáu môn: Sở vi, Sở nhân, Tông tự, Tạng nhiếp, Thích đề, Thích văn v.v... Bộ chú sớ này là kim chỉ nam cho việc nghiên cứu luận Du già. Soạn giả Khuy cơ là vị đệ tử cao túc của ngài Huyền trang, là Sơ tổ của tông Pháp tướng.[X. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.10; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.2].

du già sư địa luận thích

5532全一卷。最勝子等諸菩薩造,玄奘譯。又稱瑜伽論釋。收於大正藏第三十冊。爲瑜伽師地論最古之注疏。最勝子(梵 Jinaputra,音譯作辰那弗多羅),係佛陀入滅後一千一百年之北印度鉢伐多國人,投於護法之門下,爲唯識十大論師之一。本書闡釋瑜伽論之大綱,初明造論緣起,次釋瑜伽師地與本地分十七地之名義。全書共分所爲、所因、名義、宗要、藏攝、釋文等六門,爲歷來法相宗學者必習之書。 ; Bộ sách giải thích và phê bình bộ Du Già Sư Địa Luận, do ngài Tối Thắng Tử Bồ Tát soạn, ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ—A commentary on the Yogacaryabhmi-sastra, composed by Jinaputra, translated into Chinese by Hsuan-Tsang. ; (瑜伽師地論釋) Có 1 quyển. Do các bồ tát Tối thắng tử soạn, ngài Huyền trang dịch. Cũng gọi Du già luận thích. Thu vào Đại chính tạng tập 30. Đây là sách chú giải luận Du già sư địa xưa nhất. Ngài Tối thắng tử (Phạm: Jinaputra, âm Hán: Thìn na phất đa la) là người nước Bát phạt đa bắc Ấn độ, ra đời khoảng 1100 năm sau đức Phật nhập diệt, đệ tử của ngài Hộ pháp, là một trong 10 vị Đại luận sư Duy thức. Bộ sách này giải thích rõ đại cương của luận Du già. Trước hết, nói về lí do soạn sách này, sau đó, giải thích về danh nghĩa Du già sư địa và 17 địa của phần Bản địa. Toàn bộ chia làm sáu môn: Sở vi, Sở nhân, Danh nghĩa, Tông yếu, Tạng nhiếp và Thích văn, là điển tịch quan trọng của tông Pháp tướng.

du già tam mật

Ba phương cách tu trì của phái Du Già. Du Già nghĩa là tương ứng, tam mật là ba nghiệp thân, khẩu, ý. Tay kết ấn, miệng đọc thần chú chân ngôn, ý tưởng niệm bổn tôn Đức Đại Nhật Như Lai—The three esoteric means of Yoga. The older practice of meditation as a means obtaining spiritual or magical power as distorted in Tantrism to exorcism, sorcery, and juggling in general. These are mutual relations of hand, mouth, and mind referring to manifestation, incantation, and mental operation thinking of the original Vairocana Buddha.

du già thượng thừa

5529又作瑜伽最上乘。真言密乘之美稱。密教係以瑜伽爲宗之教,自稱爲諸教中之最上者,故稱爲瑜伽上乘。 ; (瑜伽上乘) Cũng gọi Du già tối thượng thừa. Tiếng tôn xưng Chân ngôn mật thừa. Mật giáo lấy Du già làm tông chỉ, tự cho là tối thượng trong các giáo khác nên gọi là Du già thượng thừa.

du già trung quán tự lập

Yogācāca-Madhyamika-Svatanttrika (S)Phái dung hoà quan điểm giữa Du già phái và Trung quán tự lập phái.

du già tông

5529又作瑜伽派。<一>法相宗在印度稱爲瑜伽宗,係奉持瑜伽師地論之學派。於印度大乘佛教中,與「中觀派」相對。此宗派以彌勒爲初祖,無著繼之,其後有世親、陳那、親勝、火辨、安慧、戒賢、智光等,相繼發揮三性中道之旨,提倡觀行萬法唯識之理,以悟入真如之性。其後此教派傳入我國,漸分爲地論宗、攝論宗、法相宗,而以法相宗爲盛行。義淨之南海寄歸內法傳卷一(大五四‧二○五下):「所云大乘,無過二種,一則中觀,二則瑜伽。」(參閱「瑜伽派」5530) <二>密教(真言宗)之異名。有時別指胎藏界之宗義(稱大日宗),而相對於金剛界之宗義(稱金剛頂宗)。 ; Yogāyāna (S), Yogācāra School, Xem Chơn ngôn thừa. ; Yoga sect. Esoteric sect. ; Yogacara or Vijnanavada (skt). (A) Lịch sử thành lập Du Già tông—The history of formation of the Yogacara school: Trường phái Duy Thứ Du Già là một nhánh quan trọng khác của phái Đại Thừa. Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, còn gọi là Du Già phái, tên gọi chung của Mật giáo. Giáo thuyết Du Già do ngài Pantajali sáng lập vào thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch, sau đó được ngài Vô trước thành lập tông phái Du Già vào thế kỷ thứ tư sau Tây Lịch. Ngài Huyền Trang là một đệ tử và một người bênh vực triệt để cho tông phái nầy (ông đã dịch bộ Du Già Sư Địa Luận của ngài Tối Thắng Tử Bồ Tát). Nhưng theo Giáo sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, Du Già tông được ngài Maitreya hay Maitreyanatha sáng lập vào thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch—The Yogacara school is another important branch of the Mahayana. According to Keith in the Chinese-English Buddhist Terms, tantric or esoteric sect, the principles of Yoga are accredited to Pantajali in second century B.C., later founded as a school in Buddhism by Asanga in the fourth century A.D. Hsuan-Tsang became a disciple and advocate of this school. However, according to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, the Yogacara school was founded by Maitreya or Maitreyanatha in the third century A.D. (B) Giáo thuyết và thực hành của Du Già tông—Theory and practice of the Yogacara school: a) Phái Duy Thức Du Già thừa nhận ba cấp độ kiến thức—The Yogacara recognizes three degrees of knowledge—See Ba Cấp Độ Kiến Thức. b) Trường phái nầy có tên là Duy Thức Du Già (Yogacara) vì chú trọng vào việc luyện tập thiền làm phương pháp hữu hiệu nhất để đạt đến chân lý tối cao (bodhi). Phải đi qua 'Thập Địa' của quả vị Bồ Tát mới đạt đến Bồ Đề: The Yogacara was so called because it emphasized the practice of meditation (yoga) as the most effective method for the attainment of the highest truth or bodhi. All the ten stages of spiritual progress (dasa bhumi) of Bodhisatvahod had to be passed through before bodhi could be attained. c) Trường phái nầy còn có tên là Duy Thức vì chủ trương rằng không có gì ngoài ý thức và ý thức là thực tại cuối cùng. Tóm lại, trường phái nầy dạy cho người ta chủ nghĩa duy tâm chủ quan, nghĩa là chỉ có ý tưởng là có thật: The school is also known as the Vijnanavada on account of the fact that it holds nothing but consciousness (vijnaptimatra) to be the ultimate reality. In short, it teaches subjective idealism, or that thought alone is real. d) Tên Du Già (Yogacara) cho thấy rõ khía cạnh thực hành của triết lý nầy, còn tên Duy Thức (Vijnanavada) làm nổi bậc các đặc điểm lý thuyết kinh Lăng Già (Lankavatara Sutra), một cuốn sách quan trọng của trường phái nầy, cho rằng chỉ có tâm ý (cittamatra) là có thực, còn những vật thể bên ngoài thì không. Những vật thể nầy không có thực, chúng như là mộng mơ ảo ảnh. Tâm ý ở đây khác với A Lại Da thức, vốn chỉ là kho chứa đựng ý thức, tạo đối tượng cho sự đối ngẫu chủ thể và đối tượng: The Yogacara brings out the practical side of philosophy, while the Vijnanavada brings out its speculative features. The Lankavatara Sutra, an important work of this school, maintains that only the mind (cittamatra) is real, while external objects are not. They are unreal like dreams, mirages and 'sky-flowers.' Cittamatra, in this case, is different from alayavijnana which is the repository of consciousness underlying the subject-object duality. e) Cuốn Duy Thức Học của ngài Thế Thân là cuốn sách cơ bản của hệ tư tưởng nầy. Sách bác bỏ mọi sự tin tưởng vào thực tại của thế giới khách quan, cho rằng chỉ có tâm (citta) hay thức (vijnana) mới là thực tại duy nhất, còn trong thức a-lại-da thì có chứa mầm mống các hiện tượng, cả chủ quan và khách quan. Giống như một dòng nước chảy, thức a-lại-da là một dòng ý thức luôn biến động. Khi đã chứng đắc Phật quả thì dòng chảy kia sẽ ngưng lại. Theo Sthiramati, nhà bình giải các tác phẩm của Thế Thân, thì a-lại-da chứa đựng chủng tử của vạn pháp, bao gồm cả các pháp tạo ra bất tịnh. Nói cách khác, vạn pháp hiện hữu trong a-lại-da thức dưới trạng thái tiềm tàng. Các nhà Duy Thức Du Già còn nói rằng người tinh thông tất sẽ hiểu được sự 'không hiện hữu của ngã thể' (pudgala-nairatmya) và sự 'không hiện hữu của vạn vật thế gian' (dharma-nairatmya). Sự không hiện hữu của ngã thể sẽ được thực hiện qua sự xóa bỏ ham muốn (klesavarana), và sự không hiện hữu của vạn vật thế gian sẽ được thực hiện qua sự cắt bỏ bức màn che phủ chân kiến thức (jneyavarana). Cả hai kiểu không thực tại nầy (Nairatmya) đều rất cần thiết để đi đến giải thoát: Vasubandhu's Vijnaptimatrata-siddhi is the basic work of this system. It repudiates all belief in the reality of the objective world, maintaining that citta or vijnana is the only reality, while the alyavijnana contains the seeds of phenomena, both subjective and objective. Like flowing water, alayavijnana is a constantly changing stream of consciousness. With the realization of Buddhahood, its course stops at once. According to Sthiramati, the commentator on Vasubandhu's works, alya contains the seeds of all dharmas including those which produce impurities. In other words, all dharma exist in alayavijnana in a potential state. The Yogacarins further state that an adept should comprehend the non-existence of self (pudgala-nairatmya), and the non-existence of things of the world (dharma-nairatmya). The former is realized through the removal of passions (klesavarana), and the latter by the removal of the veil that covers the true knowledge (jneyavarana). Both these nairatmyas are necessary for the attainment of emancipation. (C) Sự phát triển của Du Già tông—The development of the Yogacara school: Các luận sư nổi tiếng của trường phái nầy là Vô Trước là Vô Trước và Thế Thân vào thế kỷ thứ tư, An Huệ và Trần Na vào thế kỷ thứ năm, Pháp trì và Pháp Xứng vào thế kỷ thứ bảy, Tịch Hộ và Liên Hoa Giới vào thế kỷ thứ tám, vân vân tiếp tục sự nghiệp của người sáng lập bằng những tách phẩm của họ và đã đưa trường phái nầy đến một trình độ caoTrường phái nầy đạt đến đỉnh cao ảnh hưởng trong thời kỳ của Vô Trước và Thế Thân. Tên gọi Du Già Hành Tông là do Vô Trước đặt, còn tên Duy Thức thì được Thế Thân xử dụng—Noted teachers in the school such as Asanga and Vasubandhu in the fourth century, Sthiramti and Dinnaga in the fifth century, Dharmapala and Dharmakirti in the seventh century, Santaraksita and Kamalasila in the eighth century, etc. These famous monks continued the work of the founder by their writings and raised the school to a high level. The school reached its summit of its power and influence in the days of Asanga and Vasubandhu. The appellation Yogacara was given by Asanga, while the term Vijnanavada was used by Vasubandhu. ; (瑜伽宗) Cũng gọi Du già phái. I. Du già tông. Tại Ấn độ, tông Duy thức được gọi là tông Du già, là học phái theo giáo thuyết của luận Du già sư địa. Trong Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ, phái này đối lại với phái Trung quán, tôn bồ tát Di lặc làm vị Sơ tổ, ngài Vô trước thừa kế. Về sau, có các ngài Thế thân, Trần na, Thân thắng, Hỏa biện, An tuệ, Giới hiền, Trí quang v.v... nối nhau phát huy ý chỉ Tam tính trung đạo, đề xướng quán hành lí Vạn pháp duy thức để ngộ nhập tính chân như. Về sau, khi được truyền vào Trung quốc, tông này dần dần chia thành ba tông: Địa luận, Nhiếp luận và Pháp tướng. Trong đó, tông Pháp tướng thịnh hành hơn cả. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 của ngài Nghĩa tịnh (Đại 54, 205 hạ) chép: Nói về Đại thừa, thì không ngoài hai phái Trung quán và Du già. (xt. Du Già Phái). II. Du già tông. Tên gọi khác của Mật giáo (tông Chân ngôn). Đôi khi chỉ riêng cho tông nghĩa của Thai tạng giới (gọi là tông Đại nhật), để đối lại với tông nghĩa của Kim cương giới (gọi là tông Kim cương đính).

du già yết ma

5532梵語 yogakarman。授戒之作法,稱爲羯磨。瑜伽羯磨,指瑜伽師地論所說之授戒作法,乃法相三乘家所相承。 ; Yogā-karman (S). ; (瑜伽羯磨) Phạm:Yogakarman. Tác pháp thụ giới gọi là yết ma. Du già yết ma chỉ cho tác pháp thụ giới (làm phép trao giới) nói trong luận Du già sư địa được các nhà Pháp tướng ba thừa trao truyền cho nhau.

du già đại giáo vương kinh

Xem Du già kinh.

du hoá

5618遊方行化。謂遊行各處而教化之。增一阿含經卷三十六(大二‧七四八下):「一時,佛在毘舍離㮈祇園中,與大比丘眾五百人俱,漸漸復在人中遊化。」(參閱「遊戲神通」5619) ; (游化) Du phương hành hóa. Nghĩa là đi các nơi để nói pháp giáo hóa. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 36 (Đại 2, 748 hạ), chép: Có một thời, đức Phật ở trong vườn Nại kì gần thành Tì xá li cùng với 500 vị Đại tỉ khưu lần lần đi du hóa trong nhân gian. (xt. Du Hí Thần Thông).

du hành

5618即遍歷修行。巡行各地參禪聞法,或說法教化之謂。又作飛錫、遊方,禪宗稱爲行腳。一般遊行之僧侶,稱爲行腳僧。有部毘奈耶出家事卷三謂,已度五夏(安居)以上之比丘,熟知有犯無犯、重罪輕罪,復能持守鉢喇底木叉而宣說者,得遊行人間,隨處受學;若未滿五夏者,縱嫺三藏,不得遊行受學。另據增一阿含經卷二十五所載,長遊行之人有五種艱難:(一)不誦法教,(二)忘失所誦之教,(三)不得定意,(四)已得三昧復忘失,(五)聞法不能持。〔中阿含卷五師子吼經、長阿含卷一大本經、釋氏要覽卷下〕(參閱「行腳」2562) ; To roam, wander, travel. Cuộc du hành, journey, trip, tour, voyage. ; To travel—To roam—To wander. ; (游行) Nghĩa là đi khắp các nơi để tham thiền nghe pháp, hoặc nói pháp giáo hóa. Cũng gọi Phi tích, Du phương, Thiền tông gọi là Hành cước. Tăng sĩ du hành với mục đích như trên gọi chung là Tăng hành cước. Hữu bộ tì nại da Xuất gia sự quyển 3 nói: Tỉ khưu từ năm hạ (an cư) trở lên đã biết rõ thế nào là phạm, không phạm, thế nào là tội nặng, tội nhẹ, lại có thể giữ gìn Bát lạt để mộc xoa và tuyên giảng thì được phép du hành trong nhân gian, tùy nơi tham học. Nhưng, nếu chưa đủ năm hạ, thì dù có am hiểu Tam tạng đi nữa cũng không được phép du hành. Còn kinh Tăng nhất a hàm quyển 25 thì nói: Người trường kì du hành có năm điều bất lợi: 1. Không tụng được giáo pháp. 2. Quên mất giáo pháp đã tụng. 3. Ý không định được. 4. Tam muội đã được lại quên mất. 5. Nghe pháp mà không giữ được. [X. Trung a hàm Q.5 kinh Sư tử hống; Trường a hàm Q.1 kinh Đại bản; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. (xt. Hành Cước).

du hành thượng nhân

5619日本佛教用語。遊行即指遊歷四方說法行化;日本時宗之開祖一遍上人遊行諸國,念佛行化,時人特稱爲遊行上人。其後,時宗總本山之歷代住持倣效其例以爲宗風,故彼等亦稱遊行上人。 ; (游行上人) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Du hành là đi khắp bốn phương để truyền pháp giáo hóa. Tổ khai sáng Thời tông của Nhật bản là ngài Nhất biến đi các nước, niệm Phật giáo hóa, người đương thời gọi ngài là Du hành thượng nhân. Về sau, các vị trụ trì Tổng bản sơn (chùa Trung tâm) của thời Tông cũng bắt chước ngài Nhất biến và lấy việc du hành làm tông phong. Bởi vậy, những vị trụ trì ấy cũng được gọi là Du hành thượng nhân.

du hí quan âm

5619三十三觀音之一。以此尊遊戲自在,無滯無礙,故有此稱。相當於法華經卷七觀世音菩薩普門品(大九‧五七下)「或被惡人逐,墮落金剛山;念彼觀音力,不能損一毛」之觀音化身。其形像以右手支軀,坐飛雲上。〔佛像圖彙卷二〕 ; (游戲觀音) Một trong 33 vị hóa thân Quan âm, có thể du hí tự tại, không bị trở ngại, tương đương với hóa thân bồ tát Quan thế âm trong phẩm Phổ môn của kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 57 hạ): Hoặc bị người ác đuổi, rơi xuống núi Kim cương, nhờ sức niệm Quan âm, không mảy may thương tổn. Hình tượng ngài ngồi trên áng mây bay, tay phải chống đỡ, tay trái đặt trên đầu gối.

du hí tam muội

5619又作游戲三昧。三昧乃三摩地之意,爲禪定之異稱,即將心專注於一境。遊戲三昧者,猶如無心之遊戲,心無牽掛,任運自如,得法自在。亦即言獲得空無所得者,進退自由自在,毫無拘束。六祖壇經第八頓漸品(大四八‧三五八下):「見性之人,立亦得,不立亦得,去來自由,無滯無礙,應用隨作,應語隨答,普見化身,不離自性,即得自在神通游戲三昧,是名見性。」 ; (游戲三昧) Tam muội là tam ma địa, tên khác của Thiền định, tức là tâm chuyên chú vào một cảnh. Du hí tam muội cũng như đùa giỡn một cách vô tâm, nghĩa là tâm không dính mắc, không bị lôi kéo, nhậm vận tự như, được tự tại đối với các pháp. Cũng tức là đạt được không, vô sở đắc, tiến lui tự do tự tại, không một mảy may vướng mắc. Lục tổ đàn kinh phẩm Đốn tiệm (Đại 48, 358 hạ) nói: Người đã thấy tính thì có lập cũng được, không lập cũng được, đi lại tự do, không động không ngại, tùy thời ứng dụng, tùy hỏi mà đáp, hóa thân khắp nơi, không lìa tự tính, tức là được tam muội du hí thần thông tự tại, ấy gọi là thấy tính.

du hí thần thông

5619佛菩薩藉神通力,以度化眾生而自娛之謂。戲,意謂自在、無礙,含遊化、遊行之意。大智度論卷七(大二五‧一一○下):「戲名自在,如師子在鹿中自在無畏,故名爲戲。」注維摩詰經卷五(大三八‧三七一上):「什曰:『(中略)神通雖大,能者易之,於我無難,猶如戲也。』(中略)肇曰:『遊通化人,以之自娛。』」蓋佛菩薩於神通中歷涉爲遊,出入無礙,如戲相似,故稱爲戲。其如外道、二乘亦有通力,然其神通即有礙,不稱遊戲。唐譯華嚴經卷五十六舉出菩薩有十種遊戲。此外,禪籍中常用遊化、遊戲神通、遊行等語。 ; (游戲神通) Nghĩa là Phật và Bồ tát dùng sức thần thông hóa độ chúng sinh mà tự vui. Hí là tự tại, vô ngại, hàm ý du hóa, du hành. Luận Đại trí độ quyển 7 (Đại 25, 110 hạ), nói: Hí là tự tại, như sư tử chơi giỡn giữa bầy hươu nai một cách tự tại không sợ, cho nên gọi là hí. Chú duy ma cật kinh quyển 5 (Đại 38, 371 thượng), chép: Thập nói (...) thần thông tuy lớn, người có thần thông thì cho là dễ, đối với ta không khó, cũng như chơi giỡn (hí) vậy (...) Triệu nói: Thần thông du hí giáo hóa người, lấy đó tự vui. Phật và Bồ tát ở trong thần thông đi lại tự tại, vào ra không ngại, cũng như chơi giỡn, cho nên gọi là hí. Ngoại đạo và Nhị thừa cũng có thần thông, nhưng còn bị ngăn ngại nên không gọi là du hí. Kinh Hoa nghiêm quyển 56 (bản dịch đời Đường) có nêu 10 thứ du hí của Bồ tát. Ngoài ra, trong các sách Thiền thường dùng các từ ngữ du hóa, du hí thần thông, du hành v.v...

du hóa

To go about preaching and converting men. ; Du hành khắp chốn để giáo hóa chúng sanh—To go about teaching and converting sentient beings.

du hý

Vikrìdita (S). To roam for pleasure; to play, sport, amuse, enjoy. ; Vikridita (skt)—Nguyên nghĩa là đi tìm niềm vui. Đây là một khái niệm quan trọng miêu tả cuộc sống của một vị Bồ Tát thoát khỏi mọi hình thức câu thúc và cưỡng ép. Nó giống như đời sống của loài thiên nga trên không trung và của loài hoa huệ ngoài đồng. Tuy vật, ngài lại có một tấm lòng từ bi rộng lớn luôn vận hành một cách tự tại và viên mãn—Literally means sportive (to entertain play, or sport, to amuse, or to roam for pleasure). This is an important conception describing the life of a Bodhisattva, which is free from every form of constraint and restraint. It is like that of the swans in the air and the lilies of the field. And yet there is in him a great compassionate heart functioning all the time freely and self-sufficiently.

du hý nhân gian

To enjoy life.

du hý tam muội

Chuyên tâm của chư Phật và chư Bồ Tát là cứu độ chúng anh thoát khổ—The resolve of Buddhas and Bodhisattvas is to save sentient beings.

du hý thần thông

The supernatural powers in which Buddhas and bodhisattvas indulge, or take their pleasure. ; Chư Phật và chư Bồ Tát dùng thần thông giáo hóa chúng sanh thoát khổ—The supernatural powers in which Buddhas and Bodhisattvas indulge, or take their pleasure.

du hư không thiên

To roam in space, as do the devas of the sun, moon etc. ; 1) Du hành trong hư không, như các Nhật Thần, Nguyệt Thần, hay Tinh Tú Thần: To roam in space, as do the devas of the sun, moon, stars, etc. 2) Tứ Thiền Thiên: The four upper devalokas.

du khách

Tourist.

du kiện đà la

Yugandhara (skt)—See Du Kiện Đạt La.

du kiện đạt la

Yugandhara (skt)—Du Xà Na. 1) See Do Tuần in Vietnamese-English Section, and Yojana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Tên một ngọn núi ở bắc Thiên Trúc (trên đỉnh có hai mô tròn giống như hai vết bánh xe nên có tên như vậy): Name of a mountain in north India. 3) Vòng núi đầu tiên trong bảy vòng núi bao quanh núi Tu Di: The first of the seven concentric circles around Meru.

du kiện đạt la sơn

6315梵名 Yugaṃdhara。七金山之一。又作由乾陀羅山、遊犍陀羅山、踰乾陀羅山、樹巨陀羅山、喻漢多山。略稱乾陀山。以山峰上有二隴道,猶如車跡,故意譯持雙。係黃金造成,高四萬由旬,為位於須彌山與鐵圍山間七金山中最內之山,與須彌山相距八萬由旬。〔俱舍論卷十一、慧苑音義卷上〕(參閱「七金山」100) ; (逾健達羅山) Phạm:Yugaôdhara. Một trong bảy núi vàng. Cũng gọi Do càn đà la sơn, Du kiền đà la sơn, Thụ cự đà la sơn, Dụ hán đa sơn. Gọi tắt: Kiền đà sơn. Vì trên đỉnh núi có hai đường rãnh giống như dấu bánh xe nên còn được dịch là Trì song. Núi này được cấu tạo bằng vàng ròng, ở trong cùng của bảy núi vàng, ở giữa khoảng núi Tu di và núi Thiết vi, cách núi Tu di tám vạn do tuần. [X. luận Câu xá Q.11; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Thất Kim Sơn).

du kỳ kinh

Vajrasekharavimāna-sarva-yogayogi-śŪtra (S)Kim Cang Phong Lâu Các Nhất thiết Du già Du kỳ kinh Xem Kinh Kim Cang Phong lâu cát nhất thiết Du già kỳ Tên một bộ kinh

Du kỳ kinh 瑜祇經

[ja] ユギキョウ Yugi kyō ||| ; see Jingangfeng louge yiqie yuqie yuqi jing 金剛峯樓閣一切瑜伽瑜祇經 (T 867.18.253-269). => Xem Kim cương phong lâu các nhất thiết du-già du kỳ kinh (c: Jingangfeng louge yiqie yuqie yuqi jing 金剛峯樓閣一切瑜伽瑜祇經).

du la ấn

6316輸羅,梵語 śūla。即兵器中之戟。輸羅印,即戟形之印相。〔大日經義釋演密鈔卷九〕

du lan già tội

Aniyada (S).

du lâm quật

5494位於甘肅安西縣西南七十五公里,榆林河兩岸之崖壁上。俗稱萬佛峽,爲敦煌莫高窟藝術之分支,現存石窟四十一,分佈於東(三十窟)、西(十一窟)兩崖上。開鑿年代晚於莫高窟,約當北朝之際。現存以五代及宋初石窟爲最多,約佔一半以上。石窟內之遺物以壁畫爲主,第二十五號窟之西方淨土變相及彌勒變相尤爲精美。 ; (榆林窟) Hang đá trên vách núi ở hai bờ sông Du lâm cách huyện An tây tỉnh Cam túc 75 cây số về phía tây nam, tục gọi là Vạn Phật hạp (hạp.. : hai bên là núi, ở giữa là sông), một chi nhánh nghệ thuật hang đá Mạc cao ở Đôn hoàng. Hiện nay ở đây còn 41 hang đá, rải rác trên hai sườn núi, phía đông 30 hang, phía tây 11 hang. Niên đại đục mở những hang này ước vào khoảng thời Bắc triều, muộn hơn hang đá Mạc cao. Những hang hiện còn đến nay, phần nhiều được mở vào thời Ngũ đại và đầu đời Tống, số này chiếm đến quá nửa. Về những di vật trong quần thể nghệ thuật hang đá này thì chủ yếu là những bức tranh vẽ trên vách, trong đó, đẹp nhất là hai bức biến tướng Tây phương tịnh độ và biến tướng Di lặc trong hang số 25.

du mục

Normadic life.

du na thế giới quốc

3940梵名 Yavana-loka。乃巴利語 yona-loka 與希臘語 Ionia 之轉訛。又作餘尼國、喻尼國、渝匿國、夜婆那國、夜摩那國、耶槃那國。位於印度西北之古國名。即西元前第四世紀,亞歷山大東征以後,由其將領塞流卡斯(Seluckos)所轄之大夏(Bactria)。善見律毘婆沙卷二(大二四‧六八五下):「大德摩訶勒棄多往臾那世界國,到已,爲說迦羅羅摩經,說已,臾那世界國七萬三千人得道果,千人出家。臾那世界佛法通流。」〔雜阿含經卷二十五、中阿含經卷三十七、阿毘曇毘婆沙論卷四十一〕 ; (臾那世界國) Phạm: Yavana-loka. Danh từ chuyển lầm từ tiếngPàli: Yona-loka và tiếng Hi lạp: Ionia. Cũng gọi Dư ni quốc, Dụ ni quốc Du nặc quốc, Dạ bà na quốc, Dạ ma na quốc, Da bàn na quốc. Tên một nước xưa ở mạn Tây bắc Ấn độ, tức là nước Đại hạ (Bactria). Vào thế kỷ thứ IV trước Tây lịch, từ khi đại đế Á lịch sơn (Alexander) đông chinh về sau, nước này do vị tướng lãnh của ông tên là Tắc lưu ca tư (Seluckos) quản trị. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 (Đại 24, 685 hạ), nói: Đại đức Ma ha lặc khí đa đến nước Du na thế giới giảng kinh Ca la la ma. Giảng xong trong, nước có bảy vạn ba nghìn người đạt đạo quả, một nghìn người xuất gia, nhân đó, ở Du na thế giới Phật pháp được lưu thông. [X. kinh Tạp a hàm Q.25; kinh Trung a hàm Q.37; luận A tì đàm tì bà sa Q.41].

du ngoạn

To make an excursion.

du nhập

To import.

du phương

To wander from place to place. ; Đi từ nơi nầy đến nơi khác (để hoằng hóa), chứ không dừng trụ lại nơi nào—To wander from place to place.

du phương tăng

5618指雲遊四方之僧人。又作行腳僧、遊方頭陀、游方僧、雲水僧。亦即步行參禪求道之僧人。據釋氏要覽卷下引毘奈耶律載,世尊嘗言,若已五法成就,且已滿五次夏安居,則得以離其所依止之處而遊行人間。〔祖庭事苑卷八〕(參閱「行腳」2562) ; Itinerant bonze. ; (游方僧) Vị tăng vân du bốn phương để tham thiền cầu đạo. Cũng gọi Hành cước tăng, Du phương đầu đà, Vân thủy tăng. Thích thị yếu lãm quyển hạ dẫn luật Tì nại da chép, đức Thế tôn thường nói nếu tỉ khưu đã thành tựu năm pháp và đủ năm lần kết hạ an cư thì được phép rời chỗ mình nương tựa để du hành trong nhân gian. [X. Tổ đình sự uyển Q.8]. (xt. Hành Cước).

du quy giáo thụ

5619(1908~ )日本佛教學者。福井縣人。專攻倫理學。昭和十一年(1936),畢業於龍谷大學研究科,並曾任該校講師、教授、代理校長等職。著有親鸞と倫理、幸福論、佛教倫理の研究等書。

du sơn

To go from monastery to monastery; ramble about the hills. ; Du hành từ tự viện nầy sang tự viện khác, chứ không trụ trì một chỗ cố định—To go from monastery to monastery; ramble about the hills.

du thuyết

To go about to talk or to preach a doctrine.

du thạch

6526係銅與爐甘石鍊成之合金,可用以造立佛像、佛具。「梵語雜名」列出鮱石之梵語為 rīti,音譯里底,翻譯名義大集列出之梵語則為 rācakaḥ。慧琳音義卷八十一,謂鮱石次於金,而為白金。鮱石佛像之造立,見於大唐西域記卷五羯若鞠闍國條所載,該國有鮱石佛像。同書卷七婆羅痆斯國條亦載,位於婆羅痆河東北十餘里之鹿野伽藍,有鮱石佛像。又出三藏記集卷十二法苑雜緣原始集目錄亦出現(大五五‧九二中)「林邑國獻無量壽鮱石像記」一項。 ; (俞石) Một loại hợp kim do đồng và lô cam thạch luyện thành, có thể dùng để làm tượng Phật hay các đồ thờ Phật. Phạm ngữ tạp danh nêu tiếng Phạm của du thạch làRìti, âm Hán là Lí để. Phiên dịch danh nghĩa đại tập thì nêu tiếng Phạm của du thạch là Ràcakah. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 81 nói rằng du thạch là loại bạch kim đứng sau vàng. Đại đường tây vực kí quyển 5 mục Yết nhã cúc xà quốc chép, nước Yết nhã cúc xà có tượng Phật bằng du thạch. Cũng sách đã dẫn quyển 7 mục Bà la ni tư quốc nói, ở chùa Lộc dã cách sông Bà la ni hơn 10 dặm về phía đông bắc có tượng Phật bằng du thạch. Ngoài ra, Xuất tam tạng kí tập quyển 12 Pháp uyển tạp duyên nguyên thủy tập cũng ghi (Đại 55, 92 trung): Nước Lâm ấp dâng tượng Phật Vô lượng thọ bằng du thạch.

du thời

Vượt quá mức thời gian ấn định—To exceed the time.

du tiên

To pass away, to go to heaven.

du tiên tự

5057位於山西高平縣城南十公里游仙山麓。寺因山得名。四周環境幽雅,山門壯麗,有前殿、中殿及七佛殿,兩廂有配殿、廂房。始建於北宋淳化年間(990~994),金、元、明、清各代屢有增修。現存前殿仍為北宋遺物,中殿建於金代,乃宋、金木構建築中之佳作。寺外東山坡上有八角七級磚塔一座,乃元代至元七年(1270)所建。

du tuần

Yojana (skt)—See Do Tuần.

du tâm

Intention to steal.

du tâm an lạc đạo

5618全一卷。新羅僧元曉撰。收於大正藏第四十七冊及淨土宗全書第六卷。內容闡明淨土之安樂及往生淨土之因緣等。共分七門:(一)述教起之宗致,(二)定彼土之所在,(三)明疑惑患難,(四)明往生之因緣,(五)出往生之品數,(六)論往生之難易,(七)作疑復除疑。本書古來於淨土諸家間頗盛行。 ; (游心安樂道) Có 1 quyển, do ngài Nguyên hiểu của Tân la (nay là nước Triều tiên) soạn, thu vào Đại chính tạng tập 47 và quyển thứ 6 trong Tịnh độ tông toàn thư. Nội dung nói rõ sự yên vui ở Tịnh độ và nhân duyên vãng sinh. Tất cả chia làm bảy môn: 1. Trình bày về tôn chỉ lập tông. 2. Xác định sự tồn tại của nước kia (tức là có cõi Tịnh độ). 3. Nói rõ các chướng nạn vì mang lòng nghi ngờ. 4. Nói rõ nhân duyên được sinh về Tịnh độ cực lạc. 5. Nêu ra những phẩm số vãng sinh. 6. Bàn về vãng sinh khó hay dễ. 7. Khởi ngờ vực và trừ hoài nghi. Sách này xưa nay rất thịnh hành trong giới người tu Tịnh độ.

du tâm pháp giới

A mind free to wander in the realm of all things. ; Để cho tâm tự tại chu du trong pháp giới như trong hư không mà không bị vướng mắc, để thấy rõ thiên sai vạn biệt, ấy là tâm giải thoát—A mind free to wander in the realm of all things; that realm as the realm of liberated mind.

du tăng địa ngục

5619據俱舍論卷十一載,於贍部洲之下有八大熱地獄,每一地獄各有四面門,四門之外各有爐煨增(梵 Kukūla)、屍糞增(梵 Kunapa)、鋒刃增(梵 Asidhārā)、烈河增(梵 Kṣāra-madī)等四地獄,合爲十六遊增地獄,計八大熱地獄總合爲一二八遊增地獄。以有罪業之眾生遊於此處,倍增苦惱,故稱遊增地獄。 ; 5058又作遊增地獄。即附屬於八熱地獄之小地獄。八熱地獄為大地獄,每一大地獄各有十六小地獄。即於各大地獄獄城之四面門外,各有煻煨增、屍糞增、鋒刃增、烈河增四處,共計十六處,稱為十六遊增地獄。八大熱地獄合為一百二十八遊增地獄。有罪業者遊此地獄,倍增苦惱,故名遊增。俱舍論卷十一(大二九‧五八中):「十六增者,八捺落伽四面門外各有四所,(中略)四面各四增,故言皆十六。此是增上被刑害所,故說名增。本地獄中適被害已,重遭害故。有說有情從地獄出,更遭此苦,故說為增。」(參閱「地獄」2311) ; The sixteen subsidiary hells of each of the eight hot hells. ; Mười sáu địa ngục phụ của mỗi Bát Nhiệt Địa Ngục (trong Bát Nhiệt Địa Ngục, thì từng địa ngục lớn lại có 16 địa ngục nhỏ. Ngoài mỗi bên thành địa ngục nóng lớn có bốn nơi gọi là lô ổi tăng, thi phẩn tăng, phong nhận tăng, và liệt hà tăng, như vậy bốn bên có 16, và tổng cộng tám địa ngục lớn có 128 “du tăng địa ngục.” Sở dĩ gọi là “du tăng” vì đi từ nơi nầy qua nơi kế tiếp thì hình phạt ngày càng tăng)—The sixteen subsidiary hells of each of the eight hot hells. ; (游增地獄) Cứ theo luận Câu xá quyển 11 chép, thì ở phía dưới châu Nam thiệm bộ có tám địa ngục nóng rất lớn. Bốn mặt của mỗi địa ngục có bốn cửa, bên ngoài bốn cửa đều có bốn địa ngục: Lô ổi tăng (Phạm: Kukùla, thêm lò nướng), Thi phẩn tăng (Phạm: Kunapa, thêm xác chết và phân), Phong nhận tăng (Phạm: Asidhàrà, thêm mũi nhọn), Liệt hà tăng (Phạm: Kwàra-madi, thêm sông nóng). Như vậy, tám địa ngục nóng có 16 địa ngục Du tăng, tổng cộng 128 Du tăng địa ngục. Vì những chúng sinh có tội bị rơi (đi chơi = du) vào những địa ngục này thì sự khổ não tăng lên gấp bội, cho nên gọi là Du tăng địa ngục.

du tường châu

5057(1947~ )臺灣宜蘭人。出生於佛化家庭,自幼即皈依,法名行如,號天駿。先後研學於國立臺灣大學哲學研究所、中國文化大學哲學研究所。嘗親近方東美教授等人,並以「十八空之研究」一文獲得博士學位。長於般若、中觀學系之研究。近年來多次在國內外講述大智度論。著有先有雞或先有蛋、論龍樹與僧肇二大士對般若經假名觀的闡揚 峔銌{代意義等論文多篇,發表於國內各佛教刊物與學報。曾任教於臺大哲學系、佛光山中國佛教研究院、中國文化大學。並當選世界佛教青年會(World Fellowship of Buddhist Youth)副會長,兼任教育文化藝術委員會主席。於七十四年(1985)榮獲中央黨部華夏二等勳章。

du việt

Vượt qua—To pass over.

du đa la tăng già

Uttarasanga (skt)—See U Đa La Tăng Già.

du đạo, thu đạo

Steal, rob; one of the ten sins.

Du-già

瑜伽; S, P: yoga; nguyên nghĩa »tự đặt mình dưới cái ách«;|Có nghĩa là phương pháp để đạt tiếp cận, thống nhất với »Tuyệt đối«, »Thượng Ðế« Vì có nhiều cách tiếp cận nên Du-già là một khái niệm rất rộng.|Ngay trong Ấn Ðộ giáo, người ta đã kể nhiều cách khác nhau phù hợp với căn cơ của mỗi hành giả. Các quan niệm đạo lí tại phương Tây, nhất là sự tiếp cận với Thượng Ðế cũng chính là Du-già, đó là Hành động vị tha du-già (karmayoga), Thương yêu (Thượng Ðế) du-già (bhaktiyoga), Trí huệ du-già (jñāna-yoga)|Tại phương Tây, ngày nay nói đến Du-già là người ta nghĩ đến Ha-ṭha du-già (tập luyện thân thể), phối hợp với phép niệm hơi thở. Phương pháp Du-già thân thể này, đối với Ấn Ðộ, chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho một Du-già thuộc về tâm thức sau này, đó là các phép thiền quán khác nhau.|Du-già không phải phương pháp riêng tư của tư tưởng Ấn Ðộ. Tất cả mọi hoạt động, từ những phép tu huyền hoặc tại châu Á đến các buổi cầu nguyện trong nhà thờ Thiên chúa giáo đều có thể gọi là Du-già. Trong đạo Phật, thiền và các phép tu theo Tan-tra cũng được gọi là Du-già và các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) như Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) là Du-già sư (s: yogin).

Du-già hành phái 瑜伽行派

[ja] ユガギョウハ Yugagyō ha ||| The Yogācāra ("yoga practice") school of Indian Buddhism. The founders of this school, Maitreyanātha 彌勒, Asaṅga 無著, and Vasubandhu 世親, explained a course of practice wherein hindrances were removed according to a sequence of stages, from which it gets its name. Yogācāra becomes much better known, however, not for its practices, but for its rich development in metaphysical and psychological theory. The Yogācāra thinkers took the theories of the body-mind aggregate of sentient beings that had been under development in earlier Indian schools such as the Sarvāstivāda 有部, and worked them into a more fully articulated scheme of eight consciousnesses 八識, the most important of which was the eighth, or ālaya (store) consciousness 阿頼耶識. The store consciousness was explained as the container for the karmic impressions (called "seeds" 種子), received and created by sentient beings in the course of their existence. These seeds, maturing in the course of future circumstances, show much parallel to modern understandings of genes. Thus, the thinkers of this school attempted to explain in detail how karma actually operates on a concrete, personal level. Included in this development of consciousness theory, is the notion of conscious construction--that phenomena that are supposedly external to us cannot exist but in association with consciousness itself. This notion is commonly referred to as "consciousness-only" 唯識. The Yogācāra school is also known for the development of other key concepts that would hold great influence not only within their system, but within all forms of later Mahāyāna. These include the theory of the three natures 三性 of the completely real, dependently originated, and imaginary, which are understood as a Yogācāra response to the Mādhyamika 中觀派 two truths 二諦. Yogācāra is also the original source for the theory of the three bodies 三身 of the Buddha, and depending on precedents in Abhidharma literature, also helped to greatly develop the notions of categories of elemental constructs 百法, path theory 五位, and the two hindrances to liberation 二障. The most fundamental early canonical texts that explain Yogācāra doctrine are scriptures such as the Śrīmālā-sūtra 勝鬘經, the Saṃdhinirmocana-sūtra 解深密經, and treatises such as the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽論, and Prakaranāryavāca-śāstra 顯揚論. Yogācāra was transmitted to East Asia, where it received the somewhat pejorative appellation of "Dharma-characteristic 法相 school." => Là một tông phái Phật giáo Ấn Độ. Những vị sáng lập tông nầy là Di-lặc (Maitreyanātha 彌勒), Vô Trước (Asaṅga 無著) và Thế Thân (Vasubandhu 世親), giảng giải pháp tu tập trong đó các chướng ngại được chuyển hoá theo từng giai vị, từ đó, tông nầy được mang tên như vậy. Du-già hành phái trở nên nổi tiếng không phải do phương pháp thực hành mà do lý thuyết về siêu hình học và tâm lý học phát triển của nó. Các nhà tư tưởng thuộc Du-già hành phái nhận giáo lý về hợp thể thân tâm của con người đã được phát triển ảt thơid cổ đại Ấn Độ như Hữu bộ (s: Sarvāstivāda 有部) và khai thác chúng thành một hệ thống hoàn chỉnh của tám thức (八識), quan trọng nhất là thức thứ 8, hay A-lại-da thức. Thức được giải thích như là nơi chứa đựng các hạt giống nghiệp (gọi là chủng tử種子), được thụ nhận và tạo tác bởi chúng sinh trong quá trình hiện hữu của họ. Những hạt giồng nầy, chín nuồi trong quá trình biễn biến tương lai, biểu hiện có nhiều điểm tương đồng với nhânh thức về 'gen' trong thời hiện đại. Như vậy, các nhà tư tưởng thuộc Du-già hành phái đã cố gắng giải thích chi tiết làm thế nào mà nghiệp vận hành thực tế bằng cách rất cụ thể và trực tiếp. Bao gồm theo sự phát triển giáo lý về các thức nầy, là ý niệm về cấu trúc của thức­–các hiện tượng được coi là bên ngoài chúng ta không thực sự hiện hữu, mà chỉ là sự liên tưởng từ chính cơ cấu của thức. Ý niệm nầy thường được gọi là Duy thức 唯識. Du-già hành phái còn được biết nhờ sự phát triển từ những ý niệm then chốt khác vốn đã giữ ảnh hưởng quan trọng không chỉ riêng trong hệ thống Duy thức, mà trong mọi hệ thống Đại thừa sau nầy. Gồm giáo lý Tam tính 三性, Viên thành thật, Y tha khởi, và biến kế sở chấp, được hiểu đó là sự đáp lại của Du-già hành phái đối với Nhị đế của Trung quán phái. Du-già hành phái cũng là nguồn gốc xuất phát của giáo lý Tam thân Phật, dựa vào tiền đề trong văn học A-tỳ-đạt-ma, và còn được sự hỗ trợ lớn từ sự phát triển các ý niệm về Bách pháp, Ngũ vị và Nhị chướng. Những kinh văn sớm nhất giải thích giáo lý Du-già hành phái là kinh Thắng Man(s: Śrīmālā-sūtra 勝鬘經), kinh Giải thâm mật (k: Saṃdhinirmocana-sūtra 解深密經), Nhiếp Đại thừa luận (s: Mahāyāna-saṃgraha 攝大乘論) và Hiển dương luận (s: Prakaranāryavāca-śāstra 顯揚論). Du-già hành phái được truyền sang Á Đông, nơi đó, nó nhận được danh xưng có chút miệt thị là Pháp tướng tông.

Du-già hành tông

瑜伽行宗; S: yogācāra;|Một tên khác của Duy thức tông. Danh từ này được Vô Trước (s: asaṅga) sử dụng trong các tác phẩm của mình vì có lẽ Sư đặc biệt chú trọng đến việc thực hành Du-già. Danh từ Duy thức (s: vijñāptimātratā) hoặc Thức học (s: vijñānavāda) thường được Thế Thân (s: vasubandhu) sử dụng.

Du-già luận ký 瑜伽論記

[ja] ユガロンキ Yugaron ki ||| Yuqielun ji; 48 fasc. by Dunlun 遁倫. T 1828.42.311a-868b. => (c: Yuqielun ji); 48 quyển, của Độn Luân (c: Dunlun 遁倫).

Du-già luận thích 瑜伽論釋

[ja] ユガロンシャク Yugaron shaku ||| The Yuqielun shi Abbreviated title for the 瑜伽師地論釋. => (c: Yuqielun shi). Viết tắt của Du-già sư địa luận thích 瑜伽師地論釋.

Du-già luận 瑜伽論

[ja] ユガロン Yugaron ||| The Yuqie lun An abbreviation of 瑜伽師地論T 1579.30.279-882. => Viết tắt của Du-già sư địa luận 瑜伽師地論.

Du-già sư

瑜伽師; S: yogi, yogin, sādhaka, tantrika; hoặc Du-già tăng;|Chỉ người tu tập Du-già (s: yoga), đặc biệt là những người tu tập theo các Tan-tra, danh từ dùng cho nữ giới là Du-già ni (s: yoginī).|Thật sự thì không có sự khác biệt nào giữa một Du-già sư và một Tỉ-khâu về mặt tu tập thực hiện thiền định, nhưng danh từ Du-già sư thường được dùng để chỉ những người tu tập »tự do« hơn, không Thụ giới tỉ-khâu và cũng không sống cố định trong một Tinh xá.

Du-già sư địa luận

瑜伽師地論; S: yogācārabhūmi-śāstra;|Tác phẩm cơ bản của Duy thức và Pháp tướng tông, tương truyền do Vô Trước (s: asaṅga) viết theo lời giáo hoá của Bồ Tát Di-lặc (s: maitreya), đức Phật tương lai. Có người cho rằng tác phẩm này của Mai-tre-ya-na-tha (s: maitreyanātha), một ứng thân của Di-lặc trong thế kỉ thứ 5. Ðây là một bộ luận tầm cỡ nhất của đạo Phật, trình bày toàn bộ giáo lí của Duy thức tông.|Ngày nay nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) chỉ còn một phần, nhưng toàn bộ bằng chữ Hán và chữ Tây Tạng vẫn còn được lưu giữ. Nổi danh nhất là bản dịch của Huyền Trang, bao gồm 100 quyển.|Tác phẩm này được viết bằng văn vần và chia làm 5 phần: 1. Bản địa phần (s: yogācarābhūmi): bao gồm 17 »địa«, tức là những cảnh giới thiền quán Du-già cấp bậc tu tập của một Bồ Tát (xem Thập địa) để tiến đến giác ngộ, là phần chính của luận; 2. Nhiếp quyết trạch phần (s: nirṇayasaṃgrahavini-ścayasaṃgrahaṇī): luận giải sâu xa về các địa; 3. Nhiếp thích phần (s: vivaraṇasaṃgraha), giải thích các bộ kinh làm căn bản cho luận này; 4. Nhiếp dị môn phần (s: paryāyasaṃgraha), giải thích sự sai biệt về danh nghĩa của các pháp được nêu trong các kinh đó; 5. Nhiếp sự phần (s: vastusaṃgraha), luận giải về Tam tạng.

Du-già sư địa luận thích 瑜伽師地論釋

[ja] ユガシジロンシャク Yugashijiron shaku ||| The Yuqieshidilun shi Yogācārabhūmi-śāstra-kārikā (Explanation of the Stages of Yoga Practice Treatise). One fascicle, T 1580.30.883-887. By Jinaputra 最勝子, translation by Xuanzang 玄奘. A commentary on the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽論. There is a Sanskrit edition, translated into French by Sylvain Ly, 2 vols., Paris, 1911. => (c: Yuqieshidilun shi Yogācārabhūmi-śāstra-kārikā; e: Explanation of the Stages of Yoga Practice Treatise). 1 quyển, của Tối Thắng Tử (k: Jinaputra 最勝子); Huyền Trang dịch. Là giải thích về Du-già sư địa luận. Có bản tiếng Sanskrit, Sylvain Ly dịch sang tiếng Pháp gồm 2 quyển, Paris, 1911.

Du-già sư địa luận 瑜伽師地論

[ja] ユガシジロン Yuga shiji ron ||| The Yuqie shidi lun; commonly abbreviated as Yuqielun 瑜伽論. The Yogācāra-bhūmi-śāstra. The "Discourse on the Stages of Concentration Practice." The definitive text of the Yogācāra 瑜伽行派 school of Buddhism. One hundred fascicles, composed in India between 300 and 350 CE; translated into Chinese by Xuanzang 玄奘 between 646-648 at Hongfu and Dacien Monasteries. In East Asia authorship is attributed to Maitreya 彌勒, but Tibetan tradition considers it to have been composed by Asaṅga 無著. Sanskrit and Tibetan version of this text are extant. In the process of explaining the spiritual states, practices and fruits incurred in the course of the seventeen stages leading to Buddhahood, the text delves deeply into discussions of fundamental Yogācāra concepts such as the ālayavijñāna 阿頼耶識, three natures 三性 and three non-natures 三無性, seeds 種子, perfumation 薫, the two hindrances 二障 and mind only 唯識. The text has five major divisions: the first division, which comprises about half the treatise is called the "main stages division" 本地分 and contains seventeen sections which explain three vehicle theory. These are: (1) The stage of the association of the five consciousness and the body 五識身相應地. (2) The stage of the mental consciousness 意地. (3) The stage of investigation and analysis 有尋有伺. (4) The stage of analysis without investigation 無尋唯伺地. (5) The stage of neither investigation nor analysis 無尋無伺地. (6) The stage of samāhita 三摩呬多地. (7) The stage of non-samāhita 非三摩呬多地. (8) The stage of mind 心地. (9) The stage of no-mind 無心地. (10) The stage of completion of that which is heard 聞所成地. (11) The stage of completion of that which is thought 思所成地. (12) The state of completion of that which is practiced 修所成地. (13) The stage of the śrāvaka 聲聞地. (14) The stage of the pratyekabuddha 獨覺地. (15) The stage of bodhisattva 菩薩地. (16) The stage of (nirvana with) remainder 有餘衣. (17) The stage of (nirvana with) no remainder 無餘衣地. The second division of the text 攝決擇分, comprising fascicles 51-80, is a discussion of the problematic points of the seventeen stages discussed in the prior section. The third division 攝釋分 (fasc. 81-82) discusses the positions of the various sutras on these points. The fourth division 攝異門分 (fasc. 82-84) explains the name and meaning of all the dharmas explained in the sutras. The fifth and final section 攝事分 addresses the key points of the Buddhist teaching as found in the Tripitaka. The section on śrāvakabhūmi has been translated from a Sanskrit ms. into English by Wayman; other partial English translations, from the Tibetan version, include Tatz and Willis.T 1579.30.279-882. => (c: Yuqie shidi lun); thường được gọi tắt là Du-già luận (c: Yuqielun 瑜伽論). Là luận văn quan trọng của Du-già hành phái Phật giáo. Gồm 100 quyển, được soạn ở Ấn Độ vào khoảng giữa năm 300 và 350 CE; do Huyền Trang dịch sang tiếng Hán vào giữa năm 646-648 tại chùa Hoằng Phứơc và chùa Từ Ân. Ở Á Đông, tác giả bộ luận nầy được gán cho Ngài Di-lặc (Maitreya 彌勒), nhưng ở Tây Tạng lại cho ngài Vô Trước đã tạo luận ấy. Bản tiếng Sanskrit và tiếng Tây Tạng đều đang còn. Trong tiến trính giải thích các trạng thái tinh thần, sự tu tập và các quả vị diễn ra trong 17 giai đoạn dẫn đến Phật quả, luận văn đã nghiên cứu sâu vào việc thảo luận những khái niệm căn bản của Du-già hành phái như A-lại-da thức, Tam tính, Tam vô tính, Chủng tử, Huân, Nhị chướng, và Duy thức. Luận văn có 5 phần chính: phần đầu bao gồm một nửa chuyên luận được gọi là 'Bổn địa phần', chứa đựng 17 chương giải thích giáo lý tam thừa. Đó là: 1. Ngũ thức thân tương ưng địa. 2. Ý địa. 3. Hữu tầm hữu tư. 4. Vô tầm duy tư địa. 5. Vô tầm vô tư địa. 6. Tam ma tư đa địa. 7. Phi tam ma tư đa địa. 8. Tâm địa. 9. Vô tâm địa. 10. Văn sở thành địa. 11. Tư sở thành địa. 12. Tu sở thành địa. 13. Thanh văn địa. 14. Độc giác địa. 15. Bồ-tát địa. 16. Hữu dư y. 17. Vô dư y địa. Phần 2 của luận là Nhiếp quyết trạch phần 攝決擇分, từ quyển 51-80, là phần thảo luận về những đề tài khó hiểu của 17 địa được ghi trong phần đầu. Phần thứ 3 là Nhiếp trạch phần (quyển 81-82), thảo luận về những luận điểm của các kinh văn về nội dung nầy. Phần thứ tư Nhiếp dị môn phần攝異門分 (quyển 82-84) giải thích danh và nghĩa của các pháp được giảng giải trong các kinh. Phần thứ 5 là phần cuối Nhiếp sự phần攝事分, trình bày những điểm then chốt của Phật pháp trong Tam tạng. Chương Thanh văn địa (s: śrāvakabhūmi) đã được Wayman dịch sang tiếng Anh từ bản tiếng Sanskrit . Tatz và Willis đã dịch từng phần khác sang tiếng Anh từ bản tiếng Tây Tạng.

Du-già tập yếu diệm khẩu phóng thực nghi quỹ 瑜伽集要焰口施食儀軌

[ja] ユカシュウヨウエンクセシキギキ Yugashū yō enku sejiki giki ||| The Yuqie jiyao yankō shi shi yi (Ritual Procedures from the Yoga Collection for Feeding the Searing Mouths). 1 fasc. (T 1320.21.473-484), attributed to Amoghavajra 不空. Ritual text based on the Dhāraṇī for Extinguishing the Flaming Pretan Mouths 救拔焰口餓鬼陀羅尼經 (T 1313). => (c: Yuqie jiyao yankō shi shi yi ; e: Ritual Procedures from the Yoga Collection for Feeding the Searing Mouths). 1 quyển, được xem là của Bất Không (Amoghavajra 不空). Nghi quỹ dựa vào cuốn Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ đà-la-ni kinh救拔焰口餓鬼陀羅尼經.

Du-già 瑜伽

[ja] ユガ yuga ||| (1) A transliteration of the Sanskrit term yoga, indicating a condition of stilling of the mind and accordance with the principle of reality. (2) The Yogācāra school 瑜伽行派, Indian forerunner of the Chinese Faxiang 法相 school of Buddhism. => Phiên âm chữ yoga từ tiếng Sanskrit, chỉ cho trạng thái tâm yên tĩnh khế hợp với bản thể chân như. Du-già hành phái (瑜伽行派e: Yogācāra school), tiền thân của Pháp tướng tông trong Phật giáo Trung Hoa. Du-già đại giáo vương kinh 瑜伽大教王經 ja] ユカダイキョウオウキョウ Yuga daikyōō kyō ||| The Yujia dajiaowang jing; see Wuer pingdeng zuishang yuqie dajiaowang jing 無二平等最上瑜伽大教王經 => (c: Yujia dajiaowang jing); xem Vô nhị bình đẳng tối thượng Du-già đại giáo vương kinh (c: Wuer pingdeng zuishang yuqie dajiaowang jing 無二平等最上瑜伽大教王經).

Du-lan-già

(Sthltyayas), cũng đọc là Thâu-lan-già, dịch nghĩa là Tác đại chướng thiện đạo (作大障善道), chỉ những tội được xếp dưới bốn tội Ba-la-di và 13 tội Tăng-tàn.

du-thiện-na

xem do-diên.

Du-đầu-đàn

(輸頭檀): phiên âm từ tiếng Phạn là Suddhodana, tức là vua Tịnh Phạn.

dua nịnh

To flatter

dung

1) Dung chứa: To conain—To bear. 2) Dung dị: Dễ dàng—Easy. 3) Dung mạo: Looks—Appearance. 4) Dung túng: To allow. 5) Nấu cho tan chảy ra—Melting—Blending—Combining.

dung bản mạt

6287「分諸乘」之對稱。為華嚴宗判教之用語。華嚴宗將如來一代之聖教大別為三乘與一乘兩種,更於一乘之中分判同別二教,而以法華經「會三歸一」之旨判為「同教一乘」。華嚴宗三祖法藏復於華嚴五教章卷一解釋同教一乘,設立分諸乘、融本末二門,以分諸乘彰顯同教一乘之法體,而以融本末闡釋同教一乘之名義。所謂融本末,即同教之名義以一乘為本,以三乘為末,而融合三乘與一乘本末二者。其下復開二門:(一)泯權歸實門,泯權歸實即一乘,為向上門,由「機」而趣向「法」界。(二)攬實成權門,攬實成權即三乘,為向下門,由「法」逐「機」而下。泯權而不壞權之故,三乘即一乘,而不礙三乘;攬實之權而不異於實之故,一乘即三乘,然不礙一乘。如是一乘與三乘融攝,其體無二,此即同教之義。同教一乘之融本末與別教一乘賅攝門之差別,前者承認三乘一乘之本末差別而融合之,後者則不承認三乘一乘之本末差別,而視一切三乘等法本來皆為一乘法。〔華嚴經孔目章卷四、華嚴經搜玄記卷一上、華嚴經探玄記卷一〕(參閱「同別二教」2244) ; (融本末) Dung hợp gốc ngọn. Đối lại với Phân chư thừa .(chia các thừa). Tiếng dùng trong phán giáo của tông Hoa nghiêm. Tông Hoa nghiêm chia giáo pháp một đời của đức Phật làm hai loại: Tam thừa và Nhất thừa. Nhất thừa lại chia ra Đồng giáo và Biệt giáo, lấy ý chỉ chủ yếu của kinh Pháp hoa là Hội tam qui nhất (họp ba về một), làm Đồng giáo nhất thừa. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, khi giải thích về Đồng giáo nhất thừa, ngài Pháp tạng - Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm - lại thiết lập hai môn: Phân chư thừa và Dung bản mạt. Lấy Phân chư thừa để nói rõ pháp thể của Đồng giáo nhất thừa và lấy Dung bản mạt để làm sáng tỏ danh nghĩa của Đồng giáo nhất thừa. Dung bản mạt tức là danh nghĩa của Đồng giáo lấy Nhất thừa làm gốc (bản), lấy Tam thừa làm ngọn (mạt), rồi dung hợp Tam thừa với Nhất thừa. Sau đó lại mở ra hai môn: 1. Dẫn quyền qui thực môn.......... (môn đưa tạm thời về chân thực), tức là đưa Tam thừa về Nhất thừa, là môn hướng thượng, nghĩa là từ Cơ hướng tới Pháp. 2. Lãm thực thành quyền môn (môn chuyển chân thực thành tạm thời) tức là chuyển Nhất thừa thành Tam thừa, là môn hướng hạ, nghĩa là từ Pháp hướng xuống Cơ. Đưa Quyền về Thực mà không phá hoại Quyền, bởi thế, Tam thừa tức là Nhất thừa, mà không trở ngại Tam thừa. Chuyển Thực thành Quyền mà không khác với Thực, cho nên Nhất thừa tức là Tam thừa, nhưng không ngăn ngại Nhất thừa. Như vậy, Nhất thừa và Tam thừa dung hợp, thể của chúng không hai, đây là nghĩa của Đồng giáo. Sự khác nhau giữa Dung bản mạt của Đồng giáo nhất thừa và Cai nhiếp môn của Biệt giáo nhất thừa là ở chỗ: Dung bản mạt của Đồng giáo nhất thừa thừa nhận bản mạt của Tam thừa và Nhất thừa tuy khác nhau, nhưng vẫn dung hợp. Còn Cai nhiếp môn của Biệt giáo nhất thừa thì không thừa nhận bản mạt của Tam thừa và Nhất thừa có khác nhau, mà coi tất cả pháp Tam thừa xưa nay vốn đều là pháp Nhất thừa. [X. Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.1 phần trên; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt. Đồng Biệt Nhị Giáo).

dung bản ứng thân

6288日本佛教用語。指應身之釋迦佛融攝於本佛彌陀之威德而現之相。亦即無量壽經之教主。此係日本淨土真宗論究所依止之無量壽經、觀無量壽經、阿彌陀經等三經,與法身、報身、應身等三身之關係時所常用論題之一。 ; (融本應身) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho tướng ứng thân của Phật Thích ca dung hợp với uy đức của Phật A di đà mà hiện. Cũng chính là vị giáo chủ của kinh Vô lượng thọ. Đây là luận đề mà Tịnh độ chân tông của Nhật bản thường dùng khi bàn xét về ba bộ kinh: Vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ, A di đà và mối quan hệ giữa ba thân: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân v.v..

dung dị

Easy.

Dung dị 容易

[ja] ヨウ yōi ||| Easy, simple, light. => Dễ dàng, đơn giản, nhẹ nhàng.

dung dịch

Solution.

dung hi

6289(1888~1959)廣東番禺人(原籍浙江),俗姓湯。字雪筠。又號九指頭陀。畢業於廣東高等師範學校,以能文善辯著稱。未出家前,曾任番禺小學校長、教育廳視學官、中央法幣基金委員會要職、西南政府政務委員會高等顧問、廣東省銀行祕書處秘書等職。又組織廣州佛教閱經社、六一佛學研究會,創立圓音月刊社,並致力於習禪探義、護法及保護廟產等。 民國十三年(1924)師病瀕死,其母代為許願出家三載,病果癒,故信佛益堅。三十六年,於粵北南華寺親炙虛雲和尚,皈依為門下弟子,法號寬筠。其後,突受不識之瘋漢棒擊其踣,昏厥間恍見觀音救之,醒來竟無毫髮受損,遂詣荃灣竹林禪院依融秋法師剃度,號融熙。翌年,依大嶼山靈隱寺靈溪法師受具足戒。後因虛雲和尚手書「佛道移南」以示之,遂於四十三年自港赴新加坡,常往返新加坡與吉隆坡間弘法,並於吉隆坡創辦馬來西亞佛學研究社。四十八年示寂於吉隆坡,世壽七十二。著有佛教與禪宗、葛藤集、無相頌講話、百喻經選講等行世。 ; (融熙) (1888 - 1959) Người huyện Phiên ngung tỉnh Quảng đông (gốc quê Chiết giang), họ Thang, tự Tuyết quân, hiệu Cửu chỉ đầu đà. Sư tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Quảng đông, nổi tiếng về văn chương và biện luận. Trước khi xuất gia, sư từng giữ các chức vụ như: Hiệu trưởng trường Tiểu học Phiên ngung, Giám đốc sở Giáo dục, Ủy viên hội quĩ tiền tệ Trung ương, Cố vấn ủy viên hội Chính vụ chính phủ Tây nam, Quyền Bí thư xử lí thường vụ ngân hàng tỉnh Quảng đông v.v... Sư còn tổ chức Hội xem kinh Phật giáo Quảng châu, Hội nghiên cứu Phật học Lục nhất, sáng lập Nguỵệt san Viên âm, đồng thời, sư ra sức tìm hiểu ý nghĩa và luyện tập Thiền, hết lòng hộ pháp và bảo vệ tài sản của các chùa viện. Năm Dân quốc 13 (1924), sư lâm bệnh nặng. Năm Dân quốc 36, sư qui y làm đệ tử Hòa thượng Hư vân ở chùa Nam hoa, Việt châu, được đặt pháp hiệu Khoan quân. Về sau, sư đến Thuyên loan Trúc lâm Thiền viện xin y vào pháp sư Dung thu xuất gia, pháp hiệu Dung hi. Năm sau, sư y vào pháp sư Kinh khê ở chùa Linh ẩn, núi Đại tự thụ giới cụ túc. Sau vì Hòa thượng Hư vân viết thư dạy sư là Đạo Phật dời về Nam nên năm Dân quốc 43 (1954) sư từ Hương cảng đến Tân gia ba. Sư thường qua lại Tân gia ba và Cát long pha (Kuala Lumpur) để hoằng pháp và sáng lập Hội nghiên cứu Phật học Mã lai á. Năm Dân quốc 48 (1959), sư tịch ở Cát long pha, thọ 72 tuổi. Sư có các trứ tác: Phật giáo và Thiền tông, Cát đằng tập, Vô tướng tụng giảng thoại, Bách dụ kinh tuyển giảng v.v...

dung hòa

To harmonize.

dung hứa

To allow—To permit.

dung hữu thích

4086解釋經論時,除正義外,容認傍義,稱為容有之說,亦稱容有之釋。 ; Giải thích kinh điển, dù không phải là nghĩa trực tiếp nhưng có thể chấp nhận được vì chứa đựng chánh nghĩa của kinh điển—An admissable though indirect interpretation; containing that meaning. ; (容有釋) Tức là thừa nhận nghĩa phụ bên cạnh nghĩa chính trong khi giải thích kinh luận. Cũng gọi Dung hữu thuyết.

dung lượng

Content—Capacity.

dung mạo

Countenance—Figure--Face.

Dung Nguyên

(融源, Yūgen, 1147-?): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Bình An, húy là Dung Nguyên (融源), hiệu Ngũ Trí Phòng (五智房), xuất thân vùng Phì Tiền (肥前, Hizen, thuộc Saga-ken [佐賀縣]), họ Bình (平). Ông xuất gia và thọ giới tại Cao Dã Sơn, rồi theo hầu Giác Noan (覺鑁) ở Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院), học về áo nghĩa của Mật Giáo. Ông có học thức rất sâu rộng và được chúng tăng kính trọng. Ông chán ghét cảnh trần tục nên vào trong núi chuyên tâm tu hành, tương truyền khi khai đàn quán đảnh thì có linh nghiệm. Vào năm 1169, khi Hậu Bạch Hà Thượng Hoàng (後白河法皇) lên tham bái Cao Dã Sơn, Thượng Hoàng có mời ông đến nhưng ông từ chối và tương truyền rằng sau đó đích thân Thượng Hoàng đã đến tận am của ông.

dung ngôn

Trivial words.

dung nhan

Appearance—Countenance.

dung nạp

To accept—To admit.

Dung quang

(融光): hào quang sáng tỏ, ánh sáng rực rỡ. Như trong bài Tương Trung Oán Giải (湘中怨解) của Thẩm Á Chi (沉亞之, 781-832) nhà Đường có câu: “Túy dung quang hề diểu mi, mê thiên lí hề hàm ế mi (醉融光兮渺瀰、迷千里兮涵洇湄, say hào quang chừ xa tít, mê ngàn dặm chừ nước đọng bờ).” Hay trong bài Hòa Tạ Hy Thâm Hội Thánh Cung (和謝希深會聖宮) của Mai Nghiêu Thần (梅堯臣, 1002-1060) nhà Tống cũng có câu: “Nhật nguyệt dung quang thạnh, sơn hà vương khí tăng (日月融光盛、山河王氣增, trời trăng sáng rực rỡ, núi sông vượng khí tăng).”

dung sự tướng nhập duy thức

6288華嚴宗所立十重唯識之一。依事事無礙之相所成立。即理性圓融無礙,故依理所成之事,事法相入,事相別體,顯了分明而互不障礙。〔華嚴經探玄記卷十三〕(參閱「十重唯識」461) ; (融事相入唯識) Là một trong 10 lớp Duy thức do tông Thiên thai thành lập. Nghĩa là do bản thể viên dung vô ngại nên muôn vàn hiện tượng dung hợp vào nhau (tương nhập) mà mỗi hiện tượng vẫn giữ thể tính riêng biệt, rõ ràng phân minh, nhưng không ngăn ngại lẫn nhau. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.13] (xt.Thập Trùng Duy Thức).

dung tam thế gian thập thân

6287華嚴宗二種十身之一。又作融三世間十佛。華嚴宗謂圓教之菩薩以真實之智解照見法界時,所觸目者,無論萬有萬法,皆視為佛身,簡約其類別,分為十種,總稱為融三世間十身。即:(一)眾生身,指六道之眾生。(二)國土身,六道眾生之依處。(三)業報身,招感生於眾生身或國土身之業因。(四)聲聞身,觀四諦而求涅槃者。(五)獨覺身,觀十二因緣而求涅槃者。(六)菩薩身,修行六度而求菩提者。(七)如來身,於「因位」修行圓滿之佛身。(八)智身,佛身所具能證之實智。(九)法身,佛身所具證得之真理。(十)虛空身,即周遍法界、普覆群機之實體。 此十身之前三身屬染分;四至九身屬淨分;第十之虛空身則離染、淨、有、無諸相,而為染淨二分所依。又十身中第二之國土身,即國土(器)世間;第一之眾生身及第三至六等五身,為眾生世間;第七至十之四身,為智正覺世間。此十身融攝三世間之諸法而為毘盧正覺之體,故稱融三世間十身。復以此十身為解知毘盧遮那佛覺體所知之境,又稱解境十身。〔舊華嚴經卷二十七、十地經論卷十、華嚴經探玄記卷十四、華嚴五教章卷二、華嚴玄談卷三十〕 ; (融三世間十身) Cũng gọi Dung tam thế gian thập Phật. Theo tông Hoa nghiêm, khi bồ tát Viên giáo dùng trí hiểu biết chân thực quan sát toàn pháp giới, Bồ tát thấy muôn tượng muôn vật đều là thân Phật cả. Thân Phật ở đây được chia làm 10 thứ gọi chung là Dung tam thế gian thập thân, là một trong hai loại Thập thân của tông Hoa nghiêm. Mười thân là: 1. Chúng sinh thân: chỉ cho chúng sinh trong sáu đường. 2. Quốc độ thân: nơi cư trú của chúng sinh trong sáu đường. 3. Nghiệp báo thân: nghiệp nhân cảm quả sinh ra thân chúng sinh hoặc thân quốc độ. 4. Thanh văn thân: người tu quán bốn đế cầu Niết bàn. 5. Độc giác thân: người tu quán 12 nhân duyên cầu Niết bàn. 6. Bồ tát thân: người tu sáu độ cầu chính giác. 7. Như lai thân: thân Phật tròn đầy tu hành ở nhân vị. 8. Trí thân: thân Phật có đủ thực trí năng chứng. 9. Pháp thân: thân Phật có đủ chân lí sở chứng. 10. Hư không thân: thực thể bao trùm pháp giới, che khắp chúng sinh. Ba thân trước trong 10 thân trên đây thuộc phần nhiễm (nhơ nhớp), thân thứ 4 đến thứ 9 thuộc phần tịnh (trong sạch); thân Hư không thứ 10 thì lìa các tướng nhiễm, tịnh, hữu, vô, và là chỗ nương của hai phần nhiễm, tịnh. Lại nữa, thân Quốc độ trong 10 thân tức là Quốc độ (khí) thế gian; thân chúng sinh thứ nhất và thân thứ 3 đến thứ 6, là Chúng sinh thế gian; thân thứ 7 đến thứ 10 là Trí chính giác thế gian. Mười thân này dung nhiếp các pháp của ba thế gian mà là thể của Tì lô chính giác, nên gọi là Dung tam thế thập thân. Ngoài ra, nhờ 10 thân này mà hiểu biết được cảnh sở tri của giác thể Phật tì lô giá na, nên cũng gọi là Giải cảnh thập thân. [X. kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.27; thập địa kinh luận Q.10; Hoa nghiêm kinh Thám huyền kí Q.14; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Hoa nghiêm huyền đàm Q.30].

dung thân

To take refuge in—Dung thân nơi cửa Phật: To take refuge in the temple.

dung thông

6288融會通達而了無滯礙。與相即相入同義。圜悟佛果禪師語錄卷十四(大四七‧七七五下):「德山棒、臨濟喝,皆徹證無生,透頂透底,融通自在。」〔摩訶止觀卷七〕 ; Trộn cái này với cái kia cho hòa hợp nhau không còn sai biệt—To blend—To combine—To mix—To assemble—To unite. ; (融通) Dung hợp thông suốt hoàn toàn không trở ngại. Cùng nghĩa với tương tức tương nhập. Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục quyển 14 (Đại 47, 775 hạ), nói: Đức sơn đánh, Lâm tế hét đều đưa đến triệt ngộ vô sinh, thấu suốt ngọn nguồn, dung thông tự tại. [X. Ma ha chỉ quán Q.7].

dung thông niệm phật duyên khởi

6288凡二卷。日本南北朝時良鎮撰。又作融通緣起、融通大念佛緣起。主要敘述融通念佛宗宗祖良忍之傳記及宗義要領,兼有圖繪。乃該宗布教所用。現存之模本有二種:(一)嵯峨清涼寺本,傳說係自應永二十一年(1414)起三十年間所製作,詞為後小松天皇、足利義持等公卿、將軍所作,圖畫成於行廣、行秀、光國、寂濟、永春等人之筆。(二)禪林寺本,寬正四年(1463)土佐光信依清涼寺本所畫,詞為後花園天皇以下諸將軍所作。〔日本印書考卷二、日本國寶全集第三十二輯〕 ; (融通念佛緣起) Gồm 2 quyển, do ngài Lương trấn, người Nhật bản, soạn. Cũng gọi Dung thông duyên khởi, Dung thông đại niệm Phật duyên khởi. Nội dung chủ yếu trình bày tông nghĩa của tông Dung thông niệm Phật và tiểu sử của ngài Lương nhẫn, vị tổ khai sáng của tông này, có phụ thêm tranh vẽ. Sách này hiện còn hai loại bản: 1. Bản của chùa Thanh lương ở Tha nga, tương truyền bắt đầu được soạn từ năm Ứng vĩnh 21 (1414) cho đến 30 năm sau mới xong, lời văn của Thiên hoàng Hậu tiểu tùng và các công khanh, tướng quân như Túc lợi nghĩa trì v.v... còn tranh do các ông Hạnh quảng, Hạnh tú, Quang quốc, Tịch tế, Vĩnh xuân v.v... vẽ. 2. Bản của chùa Thiền lâm, tranh do Thổ tá Quang tín dựa theo bản của chùa Thanh lương mà vẽ vào năm Khoan chính thứ 4 (1463), còn lời văn thì do Thiên hoàng Hậu hoa viên và các Tướng quân soạn. [X. Nhật bản ấn thư khảo Q.2; Nhật bản quốc bảo toàn tập tập 32].

Dung Thông Niệm Phật Tông

(融通念佛宗, Yūzūnembutsushū): một trong 13 tông phái lớn của Nhật Bản, còn gọi là Đại Niệm Phật Tông (大念佛宗). Vị Tông Tổ sáng lập ra tông phái này Thánh Ứng Đại Sư Lương Nhẫn (聖應大師良忍). Năm 1117, ông cảm đắc được câu kệ của A Di Đà Như Lai là “nhất nhân nhất thiết nhân, nhất thiết nhân nhất nhân, nhất hạnh nhất thiết hạnh, nhất thiết hạnh nhất hạnh, thị danh tha lực vãng sanh, Thập Giới nhất niệm, dung thông niệm Phật, ức bách vạn biến, công đức viên mãn (一人一切人、一切人一人、一行一切行、一切行一行、是名他力徃生、十界一念、融通念佛、億百萬遍、功德圓滿, một người hết thảy mọi người, hết thảy mọi người một người, một hạnh hết thảy mọi hạnh, hết thảy mọi hạnh một hạnh, ấy tên tha lực vãng sanh, mười cõi một niệm, dung thông niệm Phật. trăm vạn ức biến, công đức tròn đầy)”, rồi lấy câu kệ này làm tư tưởng căn bản; và nhân lúc đó làm năm khai sáng Tông này. Khi ấy, ông lấy bức tranh vẽ tượng Phật ở giữa và có 10 vị Thánh cung quanh làm tượng thờ chính, và ngôi chùa trung tâm của Tông này là Đại Niệm Phật Tự (大念佛寺, Dainembutsu-ji), hiện tọa lạc tại Hirano-ku (平野區), Ōsaka-shi (大阪市). Vị Tông Tổ Lương Nhẫn sinh ra ở vùng Phú Đa (富多), Quận Tri Đa (知多郡, Chita-gun), Vĩ Châu (尾州, Bishū, thuộc Aichi-ken [愛知縣]). Năm lên 12 tuổi, ông lên xuất gia trên Duệ Sơn, làm vị tăng Hành Đường ở Đông Tháp. Nơi đây ông thường tham gia tu pháp môn niệm Phật không gián đoạn, nên đã tạo cơ hội bồi dưỡng thêm cho thiên tài về âm nhạc của Lương Nhẫn. Về sau, ông đến ẩn cư ở vùng Đại Nguyên (大原, Ōhara), hoàn thành phần Thanh Minh do Viên Nhân (圓仁, Ennin) truyền lại, và khai xướng ra pháp môn Dung Thông Niệm Phật với khúc hợp xướng mang tính âm nhạc. Sau ông lại được cảm đắc về giáo lý Tự Tha Dung Thông (自他融通) từ đức Di Đà Như Lai, và khai sáng ra Dung Thông Niệm Phật Tông. Từ đó tiếng tăm ông vang khắp, chúng đạo tục khắp các nơi tập trung theo ông rất đông. Pháp môn Dung Thông Niệm Phật của Lương Nhẫn được tổ chức theo cách ghi tên vào sổ danh bạ, nên mọi người được gọi là Đồng Chí. Còn xướng niệm Phật thì chủ trương có công đức dung thông với nhau, cả đời này và đời sau đều được lợi ích to lớn. Sau khi Lương Nhẫn qua đời, có Nghiêm Hiền (嚴賢, tức Lương Huệ [良惠]), Minh Ứng (明應), Quán Tây (觀西), Tôn Vĩnh (尊永), Lương Trấn (良鎭) kế thừa ông; nhưng đến thời Pháp Minh (法明, tức Lương Tôn [良尊]) tiếp nối Lương Trấn, thì ngọn pháp đăng bị tuyệt diệt trong khoảng thời gian 140 năm trường. Tuy nhiên, chính trong khoảng thời gian này, Dung Thông Niệm Phật Tông lại được truyền bá đến các địa phương khác nhờ các vị Thánh Niệm Phật (念佛聖) và Thánh Khuyến Tấn (勸進聖). Trong số đó có Đạo Ngự (道御, tức Viên Giác Thập Vạn Thượng Nhân [圓覺十萬上人]) đã khởi xướng ra Dung Thông Đại Niệm Phật Cuồng Ngôn (融通大念佛狂言, ngày nay gọi là Nhâm Sanh Cuồng Ngôn [壬生狂言]) ở Địa Tạng Viện (地藏院) thuộc vùng Nhâm Sanh (壬生) vào năm 1257, rồi Dung Thông Đại Niệm Phật Hội (融通大念佛會) ở Pháp Kim Cang Viện (法金剛院) vào năm 1276, cũng như tại Thanh Lương Tự (清涼寺) vào năm 1279. Thêm vào đó, vị Tổ sư của Thời Tông (時宗, Jishū) là Nhất Biến (一遍, Ippen) cũng được gọi là “vị Thánh khuyên người Niệm Phật Dung Thông”. Nguyên lai, Dung Thông Niệm Phật của Lương Nhẫn là hình thức niệm Phật hợp xướng với số đông người, từ việc thể nghiệm sự cảm đắc mang tính huyễn mộng bằng cảm giác thông qua âm điệu phong phú, và cuối cùng trở thành Đại Niệm Phật. Hơn nữa, vì pháp môn này phù hợp với hoạt động quyên góp tiền để xây dựng chùa chiền, nên Tông này đã vượt qua các tông phái khác để lan truyền rộng rãi khắp toàn quốc nước Nhật; từ đó tập đoàn Dung Thông Niệm Phật cũng được hình thành ở các địa phương. Thư tịch hiện tồn nói lên sự hoạt động hưng thạnh rực rõ của tông phái này là Dung Thông Niệm Phật Duyên Khởi Hội Quyển (融通念佛緣起繪巻). Người có công lao to lớn trong việc lưu truyền di phẩm này là Lương Trấn. Kể từ năm 1382 cho đến 1423, trong vòng 42 năm trường, ở mỗi tiểu quốc trong nước Nhật đều được phân bố 1 hay 2 bản này. Những vị Thánh Khuyến Tấn tập trung theo Lương Trấn thì vẽ các bức tranh giải thích rõ về tác phẩm này, rồi khuyên mọi người tham gia vào Dung Thông Niệm Phật Tông; ghi tên những ai kết duyên với tông phái vào sổ danh bạ, và đem nạp vào Lưu Ly Đường (瑠璃堂) của Đương Ma Tự (當麻寺, Taima-ji) ở tiểu quốc Đại Hòa (大和, Yamato). Những hành sự đáng lưu ý nhất hiện tại vẫn còn được tiến hành trong Dung Thông Niệm Phật Tông là Ngự Hồi Tại (御回在), Truyền Pháp (傳法). Về lễ Ngự Hồi Tại, hằng năm người ta thường lấy tượng thời chính của Tông này đem đi vòng quanh các nhà tín đồ để cầu nguyện cũng như cúng dường cho tổ tiên. Còn lễ Truyền Pháp thì chỉ giới hạn trong 2 ngày mồng 5 và mồng 7 hằng tháng. Khi ấy, các tự viện trở thành đạo tràng nghiêm tịnh, các tín đồ đệ tử tập trung về tham bái, lễ sám, dội nước lên mình, nghe pháp tu hành, thọ giới Viên Đốn, và được truyền trao cho pháp an tâm của Tông môn. Hiện tại, tông này có khoảng 357 ngôi chùa khắp nơi trong nước như Ōsaka-fu (大阪府), Kyoto-fu (京都府), Nara-ken (奈良縣), Mie-ken (三重縣), Hyōgo-ken (兵庫縣).

dung thông niệm phật tông

6288為日本十三宗之一。全稱融通大念佛宗。略稱大念佛宗。宗祖為聖應大師良忍。良忍於永久五年(1117),倡十界一念、自他融通之念佛。謂一人念佛之功德,融通於一切人,一切人念佛之功德,亦融通於一人。且念佛一行通於一切萬行,一切萬行具於念佛一行,故一切功德,於此圓滿,得往生淨土。明治七年(1874),公布宗名,以大阪市之大念佛寺為總本山。〔本朝高僧傳卷五十一〕 ; (融通念佛宗) Một trong 13 tông của Phật giáo Nhật bản. Gọi đủ: Dung thông đại niệm Phật tông, gọi tắt: Đại niệm Phật tông. Do Đại sư Thánh ứng Lương nhẫn sáng lập.Vào năm Vĩnh cửu thứ 5(1117), ngài Lương nhẫn đề xướng thuyết niệm Phật: Thập giới nhất niệm, tự tha dung thông (Mười cõi một niệm, mình người dung thông). Nghĩa là công đức niệm Phật của một người dung thông với tất cả mọi người, cũng thế, công đức niệm Phật của tất cả mọi người dung thông với một người. Hơn nữa, một hạnh niệm Phật thông với muôn hạnh, muôn hạnh đầy đủ trong một hạnh niệm Phật, cho nên tất cả công đức đều viên mãn, được vãng sinh Tịnh độ. Năm Minh trị thứ 7 (1874), tông này chính thức công bố tên tông và lấy chùa Đại niệm Phật ở thành phố Đại phản làm Tổng bản sơn. [X. Bản triều cao tăng truyện Q.51].

dung thông viên môn chương

6289全一卷。日本融通念佛宗第四十六代大通融觀著。收於大正藏第八十四冊。敘述宗祖良忍開創融通念佛之因緣,並解釋宗名,闡述宗義,為該宗之根本聖典。 ; (融通圓門章) Có 1 quyển, do ngài Đại thông Dung quán đời thứ 46 của tông Dung thông niệm Phật ở Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập 84. Nội dung trình bày nhân duyên tổ Lương nhẫn sáng lập tông Dung thông niệm Phật, giải thích tên tông và nói rõ tông nghĩa. Đây là Thánh điển căn bản của tông này.

dung thông vọng tưởng

6288即想陰、想蘊。為五妄想之一。眾生之色身為實質,念慮為虛情,虛實迥異,而能相使相應,係由想融合之故。又心生虛想,形取實物,其心、形異用而能相應者,係由想互通之故。此心、境相隨而無間斷,皆屬妄想,故謂為融通妄想。(參閱「五妄想」1075) ; (融通妄想) Tức là tưởng ấm, tưởng uẩn, một trong năm thứ vọng tưởng. Sắc thân của chúng sinh là thực chất, suy nghĩ là tình giả, thực và giả khác nhau xa, nhưng lại hay tương ứng với nhau, là bởi vọng tưởng dung hợp. Lại nữa, tâm sinh tưởng giả, hình là vật thực, tâm và hình khác nhau, nhưng có thể tương ứng nhau là nhờ tưởng dung thông. Tâm, cảnh theo nhau không gián đoạn, đều là vọng tưởng, nên gọi là Dung thông vọng tưởng. (xt. Ngũ Vọng Tưởng).

Dung thọ 容受

[ja] ヨウジュ yōju ||| To contain, tolerate, put up with. => Kiềm chế, tha thứ, kiên nhẫn chịu đựng.

dung thứ

To forgive—To pardon—To excuse.

dung thức

6289指通達事理之人。成唯識論述記卷一本(大四三‧二二九上):「誕茲融識,秀迹傳燈。」 ; (融識) Chỉ cho người thông suốt sự lí. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu (Đại 43, 229 thượng), nói: Sinh dung thức ấy, đẹp dấu truyền đăng. (Bậc thông suốt sự lí sinh ra đời này là cái dấu tích tốt đẹp cho sự truyền nối ngọn đèn chính pháp).

dung túng

To tolerate evil doings.

Dung 容

[ja] ヨウ yō ||| (1) To put in; to put. (2) Allow, grant, permit, accept. (3) Contents, interior. (4) Form, looks, appearance, shape. (5) Receptive, receptivity. (6) Function, use. (7) Container, capacity. => 1. Đặt vào, đặt để. 2. Cho phép, tha thứ, thừa nhận, chấp thuận. 3. Nội dung, phần trong. 4.Hình dáng, dáng vẻ, hình dung, hình thù. 5. Dể lĩnh hội, khả năng tiếp thu. 6. Dụng, cách dùng. 7. Sức chứa, dung tích.

durannaya

Durannaya (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.

dusum khyenpa

Dusum Khyenpa (T)Tên một vị sư.

duy

4420梵語 mātratā。音譯摩怛剌多。<一>此字含有三義:(一)簡別,即簡別此法異於他法。(二)決定,即決定有此法。(三)顯勝,即顯示此法之殊勝。〔大乘法苑義林章卷一末、成唯識論述記卷一本〕 <二>數論學派以「唯」表示極微細元素之意。金七十論卷上(大五四‧一二五○下):「五唯生五大,聲唯生空大,(中略)香唯生地大。」 ; Mātratā (S). ; Eva (S). Affirmative, yes; to answer, respond. Also used for only, alone, but. ; 1) Cột lại với nhau: To tie or hold together. 2) Duy chỉ: But—Only. 3) Duy nhất: Chỉ có một mình—Sole—Only. 4) Khẳng định: Eva (skt)—Yes—Affirmative. 5) Liên hệ: To connect. 6) Lưới: A net. 7) Phương hướng: Cardinal points. 8) Tư duy: To reflect on. ; (唯) Phạm: Màtratà. Âm Hán: Ma đát lạt đa. I. Duy. Chữ này gồm có ba nghĩa: 1. Giản biệt: Phân biệt pháp này khác với pháp khác. 2. Quyết định: Quyết định có pháp này. 3. Hiển thắng: Hiển bày sự thù thắng của pháp này. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu]. II. Duy. Học phái Số luận dùng Duy để biểu thị ý nghĩa nguyên tố cực vi. Luận kim thất thập quyển thượng (Đại 54, 1250 hạ) nói: Năm duy sinh năm đại, thanh duy sinh không đại (...) hương duy sinh địa đại.

duy bạch

4575北宋末雲門宗僧。靜江(廣西桂林)人,俗姓冉。生卒年不詳。敕諡「佛國禪師」。為法雲寺法秀之法嗣。住汴京法雲寺。該寺與慧林寺、智海寺共為當時汴京之三大禪宗叢林。由於此三大叢林之提倡,禪宗宗風乃大盛於世。師在當時常入皇宮宣揚禪法,甚受哲宗與徽宗之推崇。建中靖國元年(1101)八月,撰建中靖國續燈錄三十卷進呈皇帝,帝為之撰序文,並敕許入藏。晚年移居明州(浙江鄞縣東)天童寺,示寂於該寺。著作除續燈錄之外,另有大藏經綱目指要錄八卷。〔嘉泰普燈錄卷五、佛祖歷代通載卷十九、釋氏稽古略卷四〕 ; (惟白) Vị tăng tông Vân môn ở cuối đời Bắc Tống, người Tĩnh giang (Quế lâm, Quảng tây), họ Nhiễm, năm sinh năm mất không rõ. Vua ban thụy là Phật quốc thiền sư, nối pháp ngài Pháp tú ở chùa Pháp vân tại Biện kinh. Về sau, sư cũng trụ trì chùa này. Chùa Pháp vân, chùa Tuệ lâm và chùa Trí hải là ba tùng lâm lớn của Thiền tông tại Biện kinh thời bấy giờ. Nhờ ba tùng lâm này mà tông phong của Thiền tông được phát triển và thịnh hành. Thời ấy, sư thường được thỉnh vào Hoàng cung để giảng pháp thiền,vua Triết tông và Huy tông rất cung kính.Tháng 8 niên hiệu Kiến trung tĩnh quốc năm đầu (1101), sư đưa bộ Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục 30 quyển do sư soạn cho vua xem, vua viết bài tựa rồi cho đưa vào tạng.Lúc tuổi già, sư dời về ở chùa Thiên đồng tại Minh châu (phía đông huyện Ngân tỉnh Chiết giang) và tịch ở đó. Trứ tác: Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục 30 quyển, Đại tạng kinh cương mục chỉ yếu lục 8 quyển.[X. Gia thái phổ đăng lục Q.5; Phật tổ lịch đại thông tải Q.19; Thích thị kê cổ lược Q.14].

duy chiếu bảo phong

Thiền Sư Duy Chiếu Bảo Phong quê ở Giản Châu (bây giờ là Giản Dương thuộc tỉnh Tứ Xuyên)—Zen master Wei-Zhao-Bao-Feng's home town was in ancient Jian-Chou (now is Jian-Yang in Si-Chuan province). • Một hôm đọc sách, ông giật mình với câu, “Tánh tương cận dã, tập tương viễn dã.” Sư nói: “Phàm Thánh vốn một thể, do tập nên sai khác, tôi biết đó rồi.” Liền đó sư đến Thành Đô làm đệ tử Sư Thanh Thới ở Lộc Uyển. Sư thọ cụ túc giới năm mười chín tuổi—One day while reading a book, he was startled by the phrase, “One's self-nature is near, but realizing it is remote.” He then said: “The mundane and the sacred are of one body, but because of habit and circumstances they are differentiated. I know this to be true.” He then hastened to the city of Cheng-Tu and studied under the teacher Shing-T'ai in Lu-Yuan, receiving full ordaination at the age of nineteen. • Một hôm sư thượng đường thuyết pháp: “Phật xưa nói, 'Khi ta mới thành Chánh Giác chính thấy chúng sanh trên đại địa thảy đều thành Chánh Giác.' Sau Ngài lại nói, 'Sâu thẳm xa xôi không người biết nổi.' Kẻ không kiến thức, khéo đầu rồng đuôi rắn.” Sư liền xuống tòa—One day Bao-feng entered the hall and addressed the monks, saying: "A“ ancient Buddha said, 'W'en I first gained complete awakening I personally saw that all beings of the great earth are each fully endowed with complete and perfect enlightenment.' And later he said, 'It's a great mystery. No one can fathom it.' I don't see anyone who understands this. Just some blowhards.” He then got down from the seat. • Sư thượng đường thuyết pháp: “Chư Phật quá khứ đã nhập Niết Bàn rồi, cả thảy các ngươi không nên quá tưởng nhớ; chư Phật vị lai chưa ra đời, cả thảy các ngươi không nên vọng tưởng; chính hiện ngày nay ngươi là người gì? Hãy tự xét lấy!.”—Bao-Feng entered the hall and addressed the monks, saying: “All the Buddhas of bygone have already entered nirvana. You people! Don't be nostalgic about them. The Buddhas of the future have not yet appeared in the world. All of you, don't be deluded! On this very day who are you? Study this! • Một lần khác sư thượng đường thuyết pháp: “Xưa tự chẳng sanh, nay cũng chẳng diệt, là chết chẳng được mẫu mực. Nơi đây xuất sanh chốn nầy diệt hết, là hàm sanh chịu quy củ. Bậc đại trượng phu cần phải ở trong dòng sanh tử, nằm trong rừng gai gốc, cúi ngước co duỗi tùy cơ lập bày, hay như thế đó là dùng vô lượng phương tiện trang nghiêm tam muội, cửa đại giải thoát liền mở rộng thênh thang. Nếu chưa như thế, vô lượng phiền não tất cả trần lao đứng sựng trước mặt bít lấp đường xưa.”—Another time, Bao-Feng entered the hall addressed the monks, saying: “The fundamental self is unborn, nor is it annihilated in the present. It is undying. But to be born in a certain place, and to die someplace else, is the rule of being born in a life. Great persons must position themselves in this flow of life and death. They must lie down in the thorny forest. They must be pliable and able to act according to circumstances. If they are thus, then immeasurable expedients, grand samadhis, and great liberation gates are instantly opened. But if they are not yet this way, then defilements, all toilsome dust, and mountains loom before them and block the ancient road.” • Thiền Sư Duy Chiếu Bảo Phong thị tịch năm 1128. Xá lợi của sư lóng lánh như bảo châu ngọc bích. Lưỡi và răng của sư không bị lửa đốt cháy. Tháp thờ xá lợi của sư hiện vẫn còn, bên đỉnh phía tây của tự viện—Zen master Wei-Zhao-Bao-Feng died in 1128. His cremated remains were like jewels and blue pearls. His tongue and teeth were undamaged by the flames. His stupa was placed on the western peak near the temple.

duy chính triển khai lưỡng thủ

4577禪宗公案名。又作百丈開田。此為唐代禪師百丈惟政(涅槃和尚)以動作代替語言之示眾機法。五燈會元卷四百丈涅槃章(卍續一三八‧六四上):「百丈山涅槃和尚一日謂眾曰:『汝等與我開田,我與汝說大義。』眾開田了歸,請說大義,師乃展兩手,眾罔措。」惟政展開兩手,乃表示田地之開墾即為佛法大義。〔景德傳燈錄卷六〕 ; (惟政展開兩手) Duy chính dang rộng hai tay. Tên công án trong Thiền tông. Cũng gọi Bách trượng khai điền (Bách trượng mở ruộng). Là cơ pháp dùng động tác thay cho lời nói để dạy chúng tăng của Thiền sư Bách trượng Duy chính (Hòa thượng Niết bàn) ở đời Đường. Chương Bách trượng Niết bàn trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 4 (Vạn tục 138, 64 thượng), nói: Một hôm, Hòa thượng Bách trượng Niết bàn nói với chúng tăng rằng, các ông và ta đi cày ruộng, ta sẽ nói đại nghĩa cho các ngươi nghe. Khi cày ruộng xong, về chùa, chúng tăng xin sư nói đại nghĩa (nghĩa rốt ráo cùng tột), sư dang rộng hai tay, chúng chẳng hiểu gì. [X. Cảnh đức tuyền đăng lục Q.6].

Duy Chính 惟政

[ja] イセイ Isei ||| Yujŏng (1544-1610) a Sŏn master of the later Chosŏn period, one of the four leading disciples of Hyujŏng 休靜. => k: Yujŏng (1544-1610); thiền sư Triều Tiên thời cận đại, một trong bốn đệ tử lớn của Hưu Tịnh (k: Hyujŏng 休靜)

duy chỉ nan

5891梵名 Vighna。三國吳僧。天竺人。生卒年不詳。家世奉拜火教,師亦以火祀爲最上之法,後受一沙門之影響,乃捨所學而歸依佛,深究三藏,尤精通四阿含。三國吳黃武三年(224),師偕竺律炎(竺將炎)同來武昌,譯出法句經二卷、阿差末菩薩經四卷,唯二僧不善漢文,所譯經之文辭頗有不盡義之處。晉惠帝(290~306 在位)末年,沙門法立、法炬又將法句經改譯爲五卷。〔梁高僧傳卷一、佛祖通載卷五、六學僧傳卷一〕 ; (維只難) Phạm:Vighna. Vị tăng thời Tam quốc, người Thiên trúc, năm sinh năm mất không rõ. Gia đình theo đạo thờ lửa, sư cũng cho sự tế lửa là trên hết. Về sau, do chịu ảnh hưởng của một vị sa môn nên sư bỏ cái học của mình mà qui y theo Phật, nghiên cứu ba tạng; đặc biệt tinh thông bốn bộ A hàm. Năm Hoàng vũ thứ 3 (224) thời Tam quốc Ngô, sư cùng Trúc luật viêm (Trúc tương viêm) đến Vũ xương dịch kinh Pháp cú 2 quyển, kinh A sai mạt bồ tát 4 quyển, nhưng vì các vị không thạo Hán văn nên kinh các vị dịch có rất nhiều chỗ không rõ nghĩa. Vào những năm cuối thời vua Huệ đế (ở ngôi 290 - 306) nhà Tấn, sa môn Pháp lập và Pháp cự dịch lại kinh Pháp cú làm 5 quyển. [X. Lương cao tăng truyện Q.1; Phật tổ thông tải Q.5; Lục học tăng truyện Q.1].

duy cảm chủ nghĩa

Sensualism.

duy cảnh vô thức

4423為「唯識無境」之對稱。係承認外境為實存之主張。有宗護法論師主張唯識無境說,謂一切諸法皆唯心所現,唯有內在心識,而無外在境界;對此,印度中觀派空宗清辨論師則認為於真諦中,心、境共為真空;於俗諦中則立唯境無識之義,即色與心識並存,因內識有境有心,心必依境而起。另亦指順世外道(印度唯物論者)所主張之地、水、火、風四大之極微為常實,四大極微之外,無有他物。大乘法苑義林章卷一(大四五‧二六○中):「順世外道及清辨等成立境唯,為簡於彼言識之唯。」(參閱「唯識無境」4428) ; Duy vật thuận thế ngoại đạo cho rằng tứ đại là cực vi tế, thường chân thực và lập ra nghĩa “Duy Cảnh Vô Thức”, để đối lại với cái nghĩa “duy thức vô cảnh”—Realism, as opposed to Idealism (Duy thức vô cảnh—Implying that the four elements are real and permanent). ; (唯境無識) Chỉ có cảnh không có thức. Đối lại với Duy thức vô cảnh. Duy cảnh vô thức là chủ trương thừa nhận cảnh bên ngoài là có thật. Luận sư Hộ pháp của Hữu tông chủ trương thuyết Duy thức vô cảnh (chỉ có thức không có cảnh), cho rằng tất cả các pháp đều do tâm biến hiện, chỉ có tâm thức bên trong chứ không có cảnh giới bên ngoài. Đối lại, luận sư Thanh biện của Không tông thuộc phái Trung quán Ấn độ thì cho rằng ở trong Chân đế thì tâm và cảnh đều là chân không, ở trong Tục đế thì lập nghĩa duy cảnh vô thức, tức sắc và tâm thức đều tồn tại, vì thức bên trong có cảnh có tâm, tâm phải nương cảnh mà khởi. Ngoài ra, Duy cảnh vô thức cũng chỉ cho Thuận thế ngoại đạo (nhà Duy vật luận của Ấn độ) chủ trương cực vi của bốn đại đất, nước, lửa, gió là thường còn, là thực có, ngoài bốn đại cực vi ra không có vật gì khác. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 (Đại 45, 260 trung), nói: Ngoại đạo Thuận thế và luận sư Thanh biện lập nghĩa Duy cảnh để phân biệt với nghĩa Duy thức do luận sư Hộ pháp chủ trương. (xt. Duy Thức Vô Cảnh).

duy cẩn

4577唐代僧。住慧日寺,文宗太和八年(834),從青龍寺東塔院法潤阿闍梨受密教胎藏法。撰有大隨求即得大陀羅尼明王懺悔法一卷、大毘盧遮那經阿闍梨真實智品中阿闍梨住阿字觀門一卷,署名淨影寺比綺院五部持念僧惟謹。〔廣大儀軌跋文、大日經傳法次第記〕 ; (惟謹) Vị tăng đời Đường ở chùa Tuệ nhật. Năm Thái hòa thứ 8 (834) đời vua Văn tông, sư theo A xà lê Pháp nhuận ở viện Đông tháp chùa Thanh long thụ pháp Thai tạng của Mật giáo. Trứ tác của sư: Đại tùy cầu tức đắc đại đà la ni minh vương sám hối pháp 1 quyển, Đại tì lô giá na kinh a xà lê chân thực trí phẩm trung a xà lê trụ A tự quán môn 1 quyển. [X. Quảng đại nghi quĩ bạt văn; Đại nhật kinh truyền pháp thứ tự kí].

duy da ly

Xem Quảng nghiêm thành. ; See Vaisali in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

duy danh

Name only. ; Namamatra (skt)—Name only.

duy danh luận

Nominalism.

duy giác

4578(1922~ )臺灣嘉義人,俗姓黃。名開通。號獨峰。幼年隨嘉義縣清華山德源禪寺永錫法師出家,民國四十五年(1956)於屏東東山寺受具足戒。曾負笈日本九年,入京都宗玄禪門高等學院,並參學於東京平林禪堂、岐平正眼禪堂。於臨濟宗禪學造詣精深。六十三年創辦清華山德源禪學院,培植禪宗人材,且於德源禪寺之重建頗多建樹。師曾任臺南縣學甲法源禪寺住持,現任清華山德源禪寺住持,以及嘉義佛教支會理事長。著有臨濟禪師語錄講話、廓庵禪師十牛圖講話。

duy giả thiết danh

Prajnaptinamamatreyam (skt)—Theo suy nghĩ thông thường thì có một ngã thể; tuy nhiên, đối với giáo lý nhà Phật nó chỉ là giả danh chứ không hiện hữu—In accordance with to the thinking of ordinary people or worldly way of thiniking, there is an ego-substance, which, however, to Buddhist theory, it is only an artificial name, not a real existence.

duy hiềm giản trạch

4423出自禪宗三祖僧璨之信心銘,其中「至道無難,唯嫌揀擇」一句,謂佛祖之大道,本來平等、無階級無差別、自由自在,唯因眾生之揀擇、憎愛而生難易之別。若無取捨憎愛,則十方通暢、八面玲瓏。 ; (唯嫌揀擇) Chỉ vì phân biệt lựa chọn. Lời nói này có xuất xứ từ bài Tín tâm minh của ngài Tăng xán, Tổ thứ ba của Thiền tông. Trong bài Minh này có câu Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch (Đạo tột bậc không khó, chỉ vì chúng sinh hay phân biệt lựa chọn), nghĩa là đại đạo của Phật, Tổ xưa nay vốn bình đẳng, không cấp bậc, không sai khác, tự do tự tại, chỉ vì tâm chúng sinh phân biệt lựa chọn, ưa, ghét nên mới sinh ra khó, dễ khác nhau. Nếu không lấy, bỏ, ghét, ưa thì mười phương thông suốt, bốn hướng lung linh.

duy hĩnh

4576五代禪僧。福建永泰人。生卒年不詳。出家後,參謁雪峰義存,並為其法嗣。其後參訪諸方,住江西南嶽之般舟道場,楚王欽迎,敕住報慈東藏,賜紫衣及「寶文(聞)大師」之號。後梁開平年間(907~911)編集續寶林傳四卷、南嶽高僧傳,並著有鏡燈頌、漩澓頌,防邪論、釋贊、象骨偈、勁和尚覺地頌等。〔祖堂集卷十一、宋高僧傳卷十七、景德傳燈錄卷十九〕

duy hữu nhất thừa pháp vô nhị diệc vô tam

4422係出自法華經方便品之語。其原文為(大九‧八上):「十方佛土中,唯有一乘法,無二亦無三,除佛方便說。」佛之教法,唯有法華經所說之一佛乘為真實之教法,而二乘(小乘、大乘)或三乘(聲聞乘、緣覺乘、菩薩乘)之說,則僅為誘引眾生之方便說。 ; (唯有一乘法無二亦無三) Chỉ có pháp Nhất thừa, không hai cũng không ba. Lời nói này có xuất xứ từ phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa. Nguyên văn như sau (Đại 9, 8 thượng): Thập phương Phật độ trung Duy hữu Nhất thừa pháp Vô nhị diệc vô tam Trừ Phật phương tiện thuyết (Trong cõi Phật mười phương Chỉ có pháp Nhất thừa Không hai cũng không ba Trừ Phật phương tiện nói) Giáo pháp của Phật chỉ có một Phật thừa nói trong kinh Pháp hoa là chân thực, còn nói hai thừa (Tiểu thừa, Đại thừa) hoặc ba thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) thì chỉ là nói phương tiện để dìu dắt chúng sinh.

duy khẩu thực

5889爲四種邪命之一。又作維邪食。維,指四維,乃堪輿家所用二十四方位中之四隅。比丘學種種咒術,卜算吉凶,以如是之不淨方式求衣食而活命,稱維口食。〔雜阿含經卷十八、法苑珠林卷九十〕(參閱「四種邪命」1803) ; Một trong bốn tà mệnh thực, chỉ việc Tỳ Kheo học các loại chú thuật bói toán để kiếm sống—Improper means of existence by spells, fortune-telling, etc. One of the four cardinal improper ways of earning a livelihood. ** For more information, please see Tứ Chủng Tà Mệnh in Vietnamese-English Section. ; (維口食) Cũng gọi Duy tà thực. Duy chỉ cho bốn phương. Tỉ khưu học các nghề chú thuật, bói toán để đoán lành dữ làm kế mưu sinh, gọi là Duy khẩu thực. Đây là một trong bốn tà mệnh mà đức Phật cấm các tỉ khưu không được làm. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; Pháp uyển châu lâm Q.90]. (xt. Tứ Chủng Tà Mệnh).

duy kính

(惟勁) Vị Tăng thời Ngũ đại. Người huyện Vĩnh thái tỉnh Phúc kiến, năm sinh năm mất không rõ. Sau khi xuất gia, sư tham học ngài Tuyết phong Nghĩa tồn và rồi nối pháp của ngài. Sau, sư lại đi học hỏi các nơi, ở tại đạo tràng Bát chu ở Nam nhạc tỉnh Giang tây, được vua Sở kính trọng, thỉnh sư về ở Báo từ đông tạng, ban cho sư áo đỏ và hiệu Bảo văn đại sư.Khoảng năm Khai bình (907 - 911) đời Hậu Lương, sư biên tập Tục bảo lâm truyện 4 quyển, Nam nhạc cao tăng truyện, và soạn: Kính đăng tụng, Tuyền phục tụng, Phòng tà luận, Thích tán, Tượng cốt kệ, Kính hòa thượng giác địa tụng v.v... [X. Tổ đường tập Q.11; Tống cao tăng truyện Q.17; Cảnh đức truyền đăng lục Q.19].

duy kỷ

Duy ngã—Egoism—Selfish.

duy linh học

Xem duy tâm luận.

duy linh luận

Spiritualism.

duy lý luận

rationalism.

duy ma

5891梵名 Vimalakīrti。音譯毘摩羅詰利帝。又作毘摩羅詰、維摩詰、無垢稱、淨名、滅垢鳴。爲佛陀之在家弟子,乃中印度毘舍離城(梵 Vaiśālī)之長者。雖在俗塵,然精通大乘佛教教義,其修爲高遠,雖出家弟子猶有不能及者。據維摩經載,彼嘗稱病,但云其病是「以眾生病,是故我病」,待佛陀令文殊菩薩等前往探病,彼即以種種問答,揭示空、無相等大乘深義。我國關於維摩與文殊問答情狀之雕畫頗多,如唐段成式之寺塔記、長安平康坊菩薩寺佛殿之維摩變壁畫皆是。又維摩之居室方廣一丈,故稱維摩方丈、淨名居士方丈。〔維摩經義疏卷一、注維摩詰經卷一、維摩義記卷一本、維摩經玄疏卷二、玄應音義卷八、居士分燈錄卷上〕 ; Xem Duy ma Cật. ; See Vimalakirti, and Vimalakirti Sutra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (維摩) Phạm: Vimalakìrti. Âm Hán: Tì ma la cật lợi đế. Cũng gọi Tì ma la cật, Duy ma cật, Vô cấu xưng, Tịnh danh, Diệt cấu minh. Đệ tử tại gia của đức Phật và là Trưởng giả ở thành Tì xá li (Phạm:Vaizàlì) trung Ấn độ. Tuy là tại gia, nhưng cư sĩ Duy ma rất inh thông giáo nghĩa của Phật giáo Đại thừa, chỗ tu chứng của ngài cũng cao xa, nên dù là đệ tử xuất gia cũng có người không sánh kịp.Cứ theo kinh Duy ma chép, có lần cư sĩ thị hiện bị bệnh và nói: Vì chúng sinh bệnh nên tôi bệnh. Đức Phật sai bồ tát Văn thù và các đệ tử khác đến thăm ngài, nhân dịp ấy, ngài d u n g những lời hỏi và đáp để diễn bày ý nghĩa sâu kín của Đại thừa như: Không, vô tướng v.v... Tại Trung quốc, có rất nhiều những bức điêu khắc và hội họa miêu tả cuộc vấn đáp giữa cư sĩ Duy ma và bồ tát Văn thù, như vào đời Đường có: Tự tháp kí của Đoàn thành thức, tranh biến tướng Duy ma vẽ trên vách trong Chính điện của chùa Bồ tát ở phường Bình khang tại Trường an v.v...Còn nhà ở của ngài Duy ma vuông vức mỗi bề một trượng nên gọi Duy ma phương trượng, Tịnh danh cư sĩ phương trượng. [X. Duy ma kinh nghĩa sớ Q.1; Chú duy ma cật kinh Q.1; Duy ma nghĩa kí Q.1 phần đầu, Duy ma kinh huyền sớ Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.8; Cư sĩ phần đăng lục Q.thượng].

duy ma cật

Vimalakīrti (S)Duy ma la cật, Duy ma cư sĩ, Vô cấu xưng, Duy ma, Tịnh Danh.(Vimala= vô cấu, tịnh; Kirti: danh, xưng). Tên một trưởng giả thành Tỳ xá ly, đệ tử tại gia của Phật, giàu có, đa văn, quảng kiến, thông đạo lý, biện tài hơn hẳn các hàng Thanh văn, Bồ tát. Ngài là một vị cổ pPhật hiệu là Kim Túc Như lai, hiện thân cõi ta bà để ủng hộ Phật Thích ca hoằng dương Phật pháp.

Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh

(s: Vimalakīrti-nideśa, t: Ḥphags-pa dri-ma med-par grags-pas bstan-pa shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi-mdo, c: Wei-mo-ch'i-so-shuo-ching, j: Yuimakitsushosetsukyō, 維摩詰所說經): còn gọi là Duy Ma Cật Kinh (維摩詰經), Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát Kinh (不可思議解脫經), Duy Ma Kinh (維摩經), 3 quyển, hiện còn, Taishō 14, 537, No. 475. Diêu Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập (Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch vào năm 406 (niên hiệu Hoằng Thỉ [弘始] thứ 8) đời Diêu Tần.

duy ma cật sở thuyết kinh

Wei-mo-chieh so-shuo ching (C)Tên một bộ kinh Xem Kinh Duy ma cật.

duy ma cật tử sở vấn kinh

Đại Thừa Đảnh Vương Kinh—Vimalakirti-Nirdesa-Sutra.

duy ma cật, tì ma la cật, tịnh danh

Vimalakirti (S). Kinh Duy ma cật, Vimalakirti nirdesa- sùtra.

duy ma kinh

5892請參閱 維摩經疏梵名 Vimalakīrti-nirdeśa。凡三卷,計十四品。姚秦鳩摩羅什譯。收於大正藏第十四冊。又稱維摩詰所說經、維摩詰經。本經旨在闡說維摩所證之不可思議解脫法門,故又稱不可思議解脫經。 本經之中心人物維摩居士爲佛陀住世時印度毘舍離城長者;昔時佛陀在毘舍離城,五百長者之子往詣佛所,請佛爲之說法。維摩稱病,欲令佛遣諸比丘菩薩問其病,藉此機會與佛派來問病之文殊師利等,反覆論說佛法,因成此經。 本經係基於般若空之思想,以闡揚大乘菩薩之實踐道,說明在家信徒應行之宗教德目。全經以在家居士維摩爲中心人物,透過其與文殊師利等共論佛法之方式,以宣揚大乘佛教真理。本經約成立於西元一世紀頃,爲繼般若經後,初期大乘經典之一。在印度即已盛行,且大智度論等諸論典皆常引用之。於我國更是廣被傳譯、誦持。 據歷代之經錄記載,維摩經之漢譯有七本,現存有三。除鳩摩羅什之譯本外,另有:(一)維摩詰經。凡二卷或三卷。三國時代,吳之支謙譯。又稱維摩詰所說不思議法門經、普入道門經、佛法普入道門經、佛法普入道門三昧經、維摩經。收於大正藏第十四冊。爲現存最古之漢譯本。(二)無垢稱經。凡六卷。唐代玄奘譯。又稱說無垢稱經。收於大正藏第十四冊。 現存三種譯本,其經文結構及文理大致相同,然亦略有出入,例如第一品之讚佛偈,支謙譯本爲十頌,羅什譯本爲十八頌,玄奘譯本爲十九頌半。若論翻譯之精確程度,則以玄奘本爲冠。若論譯文之巧緻,則屬羅什本;其譯筆流麗,被推爲古來佛典文學中之優秀藝術作品。而諸譯本中又以羅什所譯流通最廣。本經亦有西藏譯本,收於西藏大藏經佛說部之經集中,另有以西藏譯本爲底本之滿蒙語譯本。本經之主要注疏有慧遠之維摩義記、智顗之維摩經玄疏、吉藏之維摩經義疏、維摩經玄論等。〔貞元新定釋教目錄卷六、古今譯經圖紀卷三、開元釋教錄卷四、新編諸宗教藏總錄卷一〕 ; (維摩經) Tranh Duy Ma Biến Tướng Phạm: Vimalakìrti-nirdeza. Gồm 3 quyển, 14 phẩm, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, đưa vào Đại chính tạng tập 14. Cũng gọi Duy ma cật sở thuyết kinh, Duy ma cật kinh. Mục đích kinh này là nói rõ pháp môn giải thoát bất khả tư nghị mà ngài Duy ma đã chứng được, cho nên còn gọi là kinh Bất khả tư nghị giải thoát. Nhân vật chính trong kinh này là cư sĩ Duy ma, một trưởng giả ở thành Tì xá li trung Ấn độ ở thời đại đức Phật. Thuở ấy, đức Phật đang ở thành Tì xá li, các con của 500 Trưởng giả đến chỗ đức Phật, xin ngài nói pháp. Lúc đó, cư sĩ Duy ma bị bệnh, đức Phật sai các vị tỉ khưu và Bồ tát đến thăm bệnh, nhân dịp này, cư sĩ Duy ma bàn luận sâu rộng về Phật pháp với Bồ tát Văn thù và các vị cùng đi, nhân đó mà thành kinh này. Kinh Duy ma được đặt trên nền tảng tư tưởng không của Bát nhã, xiển dương đạo thực tiễn của Bồ tát Đại thừa, nói rõ các đức mục tôn giáo mà các tín đồ tại gia phải tu hành. Toàn bộ kinh lấy cư sĩ Duy ma làm nhân vật trung tâm, xuyên qua phương thức bàn luận về Phật pháp giữa ngài và Bồ tát Văn thù để tuyên dương chân lí của Phật giáo Đại thừa. Kinh này được thành lập vào khoảng thế kỉ thứ nhất Tây lịch, sau kinh Bát nhã, là một trong những kinh điển Đại thừa ở thời kì đầu. Ở Ấn độ, kinh này rất thịnh hành và thường được trích dẫn trong các bộ luận như: Đại trí độ v.v... Tại Trung quốc kinh này còn được truyền dịch, tụng trì rộng rãi hơn. Cứ theo các bản ghi chép về kinh điển qua các thời đại, thì kinh Duy ma có tất cả bảy bản Hán dịch, hiện chỉ còn ba bản.Ngoại trừ bản dịch của ngài Cưu ma la thập còn có: 1. Kinh Duy ma cật, gồm 2 quyển hoặc 3 quyển, do ngài Chi khiêm dịch ở nước Ngô vào thời Tam quốc (Ngụy, Thục, Ngô). Cũng gọi: Kinh Duy ma cật sở thuyết bất khả tư nghị pháp môn, kinh Phổ nhập đạo môn, kinh Phật pháp phổ nhập đạo môn, kinh Phật pháp phổ nhập đạo môn tam muội, kinh Duy ma. Thu vào Đại chính tạng tập 14, là bản Hán dịch xưa nhất hiện còn.2. Kinh Vô cấu xưng, gồm 6 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. Cũng gọi kinh Thuyết vô cấu xưng, thu vào Đại chính tạng tập 14. Trong ba bản dịch hiện còn, về cách kết cấu văn kinh và nghĩa lý đại khái giống nhau, nhưng cũng có một vài chỗ sai khác: Chẳng hạn như bài kệ tán Phật trong phẩm thứ nhất, bản dịch của ngài Chi khiêm là 10 bài tụng, bản của ngài La thập là 18 bài, bản của ngài Huyền trang là 19 bài rưỡi. Nếu bàn về mức độ phiên dịch chính xác thì bản của ngài Huyền trang phải được đặt lên hàng đầu; còn nếu nói về văn dịch khéo léo, nhuần nhuyễn thì phải nhường cho bản của ngài La thập, ngòi bút dịch của ngài rất lưu loát đẹp đẽ, xưa nay được coi là tác phẩm nghệ thuật ưu tú trong văn học kinh Phật và được lưu thông rất rộng rãi. Kinh này còn có bản dịch Tây tạng được đưa vào trong kinh tập Phật thuyết bộ của Đại tạng kinh Tây tạng. Ngoài ra, có bản dịch tiếng Mãn châu và tiếng Mông cổ dịch theo bản dịch Tây tạng. Những bản chú thích trọng yếu của kinh này có: Duy ma nghĩa kí của ngài Tuệ viễn (đời Tùy), Duy ma kinh huyền sớ của ngài Trí khải, Duy ma kinh nghĩa sớ của ngài Cát tạng, Duy ma kinh huyền luận cũng của ngài Cát tạng. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục, Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].

duy ma kinh huyền sớ

5892請參閱 維摩經疏 [1]請參閱 維摩經疏 凡六卷。隋代智顗撰。收於大正藏第三十八冊。又稱維摩經略玄、維摩經玄義、淨名玄義、淨名玄疏、淨名玄。本疏係以天台宗釋經之定規「五重玄義」來注釋鳩摩羅什所譯維摩經之玄旨,可視爲維摩經概論之作。全書援引經論頗多,有華嚴、法華、涅槃、摩訶般若、地持、清淨法行等經,及大智度論、十地經論、攝大乘論等。係智顗大師於隋開皇十五年(595)受晉王廣之請,撰述於金陵。本書與同爲智顗所著之維摩經文疏共稱天台宗維摩經注疏之雙璧。〔諸宗章疏錄卷一〕 ; (維摩經玄疏) Gồm 6 quyển, do ngài Trí khải đời Tùy soạn, thu vào Đại chính tạng tập 38. Cũng gọi Duy ma kinh luợc huyền, Duy ma kinh huyền nghĩa, Tịnh danh huyền nghĩa, Tịnh danh huyền sớ, Tịnh danh huyền. Bản sớ này dùng ngũ trùng huyền nghĩa, phương pháp giải thích kinh của tông Thiên thai, để chú giải ý chỉ sâu kín của kinh Duy ma theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập, có thể được xem là tác phẩm khái luận về kinh Duy ma. Toàn sách viện dẫn rất nhiều kinh luận như: Hoa nghiêm, Pháp hoa, Niết bàn, Ma ha bát nhã, Địa trì, Thanh tịnh pháp hành và luận Đại trí độ, Thập địa kinh luận, Nhiếp đại thừa v.v... Sách này được soạn tại Kim lăng vào năm Khai hoàng 15 (595) đời Tùy. Bộ sớ này và tác phẩm Duy ma kinh văn sớ cũng do ngài Trí khải soạn được coi là hai viên ngọc trong các chú sớ kinh Duy ma của tông Thiên thai. [X. Chư tông chương sớ Q.1].

duy ma kinh lược sớ

5893 【維摩經玄義→】請參閱 維摩經玄疏請參閱 維摩經玄疏<一>凡五卷。隋代吉藏(549~623)撰。又稱維摩詰所說經疏、不可思議解脫經疏、淨名經略疏、維摩經疏。收於卍續藏第二十九冊。本書爲維摩經之注釋書。書名「略疏」,係相對於吉藏之另一著作六卷本維摩經義疏而稱,因義疏又作廣疏,故本疏乃有此稱。二疏皆爲維摩經之注疏,然各異其趣。義疏係逐次注釋經文之語句,本書則闡釋經文之含意。故若欲知吉藏對於維摩經之瞭解,則二書參照可得相輔相成之效。 <二>凡十卷。隋代天台大師智顗(538~597)說,唐代湛然(711~782)整理。又稱維摩略疏。收於大正藏第三十八冊。本書將智顗之維摩經文疏二十八卷刪略成十卷,而二書並行於唐末五代。〔新編諸宗教藏總錄卷一〕(參閱「維摩經疏」5894) ; (維摩經略疏) I. Duy ma kinh lược sớ. Gồm 5 quyển, do ngài Cát tạng (549 - 623) soạn vào đời Tùy. Cũng gọi Duy ma cật sở thuyết kinh sớ, Bất khả tư nghị giải thoát kinh sớ, Tịnh danh kinh lược sớ, Duy ma kinh sớ, thu vào Vạn tục tạng tập 29. Ngài Cát tạng còn soạn một bộ sớ nữa là: Duy ma kinh nghĩa sớ gồm 6 quyển, cũng gọi Quảng sớ, cho nên, để đối lại, sách này được gọi là lược sớ. Hai bộ sớ này đều là sách chú thích kinh Duy ma, nhưng ý thú khác nhau. Nghĩa sớ thì chú thích những câu văn trong kinh, còn sách này (lược sớ) thì giải rõ ý nghĩa bao hàm trong kinh. Cho nên, nếu muốn biết sự liễu giải của ngài Cát tạng đối với kinh Duy ma thì phải tham khảo cả hai bộ sớ này mới thấy rõ được. II. Duy ma kinh lược sớ. Gồm 10 quyển, Đại sư Trí khải (538 - 597) giảng vào đời Tùy, ngài Trạm nhiên (711 - 782) đời Đường sửa lại. Cũng gọi Duy ma lược sớ, thu vào Đại chính tạng tập 38. Bộ sớ này lược bớt bộ Duy ma kinh văn sớ 28 quyển của ngài Trí khải thành 10 quyển, cả hai bộ đều lưu hành ở cuối đời Đường và đầu đời Ngũ đại. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1]. (xt. Duy Ma Kinh Sớ).

duy ma kinh nghĩa kí

5894凡四卷或八卷。隋代慧遠(523~592)撰。又稱維摩義記、維摩詰所說經注、維摩義疏。收於大正藏第三十八冊。本書係對於維摩經之文義作解釋。初闡明聲聞、菩薩二藏,並舉出漸、頓二教之別,而判維摩經爲菩薩藏頓教之法輪;次釋維摩經之經題,以下次第闡釋文義。 本書字句精練,而釋義高妙,頗能發揮維摩經之奧旨。因著者屬地論宗,故書中處處顯現該宗「阿賴耶真識說」之特色。又書中遇有須詳釋之處,屢出現「義如別章」之詞;「別章」乃指大乘義章,故知此書撰於大乘義章之後。〔續高僧傳卷八、新編諸宗教藏總錄卷一〕 ; (維摩經義記) Gồm 4 quyển hoặc 8 quyển. Do ngài Tuệ viễn (523 - 592) soạn vào đời Tùy. Cũng gọi Duy ma nghĩa kí, Duy ma cật sở thuyết kinh chú, Duy ma nghĩa sớ, thu vào Đại chính tạng tập 38. Sách này giải thích văn nghĩa kinh Duy ma. Trước hết, nói rõ về hai tạng Thanh văn và Bồ tát, đồng thời, chỉ ra sự khác nhau giữa Tiệm giáo và Đốn giáo và phán kinh Duy ma thuộc Bồ tát tạng Đốn giáo, kế đến giải thích đề kinh Duy ma, sau hết, phần còn lại lần lượt giải thích văn nghĩa của kinh. Câu văn sách này điêu luyện, giải nghĩa cao siêu mầu nhiệm, phát huy được ý chỉ sâu kín của kinh Duy ma. Vì tác giả bộ sách này thuộc tông Địa luận, nên trong sách có nhiều chỗ hiển bày đặc sắc của tông này về thuyết A lại da chân thức. Lại nữa, trong sách, gặp chỗ cần phải giải thích rõ thêm thì thường thấy xuất hiện từ ngữ Nghĩa như biệt chương. Biệt chương ở đây là chỉ cho Đại thừa nghĩa chương, vì thế biết sách này được soạn sau sách Đại thừa nghĩa chương. [X. Tục cao tăng truyện Q.8; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].

duy ma kinh nghĩa sớ

5894<一>凡六卷。隋代吉藏(549~623)撰。又稱維摩經疏、維摩經廣疏、淨名經廣疏、維摩廣疏。收於大正藏第三十八冊。本書係立於三論宗之立場以注釋維摩經。初論「玄義」,其次逐一注釋維摩經十四品之文句。該「玄義」部分可視爲維摩經概論,亦可視爲本書之序論,後已別出一書成爲「維摩經遊意」一卷。除「玄義」之外,本書注釋各品,首皆解釋品名,次概說該品大意,復逐次注釋經文;於注釋之中屢屢引用鳩摩羅什、僧肇、興皇等之說。 <二>凡五卷(或三卷)。日本聖德太子撰。收於大正藏第五十六冊。闡釋維摩經之文義。初釋經名,以維摩詰爲已登正覺之大聖,次將經文分爲三部分,佛國品至菩薩品爲序說,文殊師利問疾品至見阿閦佛品前半爲正說,見阿閦佛品後半至囑累品爲流通說。本書多參酌僧肇之注維摩詰經等,並援引僧肇、道生之說,此外亦列舉己說。與法華、勝鬘二疏合稱「太子三經疏」。 ; (維摩經義疏) I. Duy ma kinh nghĩa sớ. Gồm 6 quyển, do ngài Cát tạng (549 - 623) soạn vào đời Tùy. Cũng gọi Duy ma kinh sớ, Duy ma kinh quảng sớ, Tịnh danh kinh quảng sớ, Duy ma quảng sớ, thu vào Đại chính tạng tập 38. Tác giả bộ sớ này đứng trên lập trường của tông Tam luận để giải thích kinh Duy ma. Trước hết bàn về huyền nghĩa, kế đến chú thích bản văn trong 14 phẩm của kinh Duy ma. Phần huyền nghĩa có thể được coi là khái luận về kinh Duy ma, cũng có thể được xem là lời tựa của sách này. Sau, phần huyền nghĩa này được lấy riêng ra mà thành Duy ma kinh du ý 1 quyển. Về phần chú thích, trước hết giải thích tên phẩm, kế đến nói đại ý của phẩm ấy, sau cùng lần lượt giải thích văn kinh. Trong quá trình chú thích, soạn giả thường trích dẫn lời của các ngài Cưu ma la thập, Tăng triệu và Hưng hoàng v.v... II. Duy ma kinh nghĩa sớ. Gồm 5 quyển (hoặc 3 quyển). Do Thái tử Thánh đức của Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập 56.Sách này giải thích rõ văn nghĩa kinh Duy ma. Trước hết giải thích tên kinh, cho Duy ma cật là bậc Đại thánh đã lên ngôi vị chính giác, kế đến chia văn kinh ra làm ba phần: 1. Tự thuyết: Từ phẩm Phật quốc đến phẩm Bồ tát. 2. Chính thuyết: Từ phẩm Văn thù sư lợi vấn tật đến nửa trước của phẩm Kiến a súc Phật. 3. Lưu thông thuyết: Từ nửa sau của phẩm Kiến a súc Phật đến phẩm Chúc lụy. Sách này phần nhiều tham khảo Chú duy ma cật kinh của ngài Tăng triệu và trích dẫn lời của Tăng triệu, Đạo sinh v.v... nhưng cũng có nêu những ý kiến riêng của tác giả. Sách này cùng với Pháp hoa sớ, Thắng man sớ được gọi chung là Thái tử tam kinh sớ (Ba bộ kinh sớ do Thái tử soạn).

duy ma kinh sớ

5893凡二十八卷。隋代天台大師智顗撰。又稱淨名廣疏、維摩經大疏、維摩經文疏、維摩經廣疏、維摩疏、維摩羅詰經文疏。收於卍續藏第二十七、二十八冊。本書係鳩摩羅什所譯維摩經之注釋書。智顗應隋煬帝之請,口授其腹案,由門下筆錄,至二十七卷佛道品,其餘則由弟子灌頂(561~632)補作完成。本書對於維摩經三卷凡十四品之注釋,首皆敘明該品之由來,及各品間之關係,其次詳細解說品題,並對品文加以適度分科,復予縱橫無礙之注釋。本書內容賅博,立論適切,基於天台宗之立場,闡釋淨佛國土之真義,論釋甚爲精闢。由本書及智顗之另一著作維摩經玄疏,可窺得天台宗之維摩經觀。 又唐代湛然(711~782)刪略本書,作維摩經略疏十卷。此廣、略二本並行於唐末五代。湛然復注釋本書,作維摩經疏記三卷(或六卷)。至宋代,智圓(976~1022)更就略疏作維摩經略疏垂裕記十卷,以宣揚天台宗之旨意。(參閱「維摩經玄疏」5893) ; (維摩經疏) Gồm 28 quyển, do Đại sư Thiên thai Trí khải soạn vào đời Tùy. Cũng gọi Tịnh danh quảng sớ, Duy ma kinh đại sớ, Duy ma kinh văn sớ, Duy ma kinh quảng sớ, Duy ma sớ, Duy ma la cật kinh văn sớ, thu vào Vạn tục tạng tập 27, 28. Sách này chú thích kinh Duy ma theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập. Đáp lời thỉnh cầu của Tùy Dạng đế, ngài Trí khải giảng, đệ tử ghi chép đến phẩm Phật đạo quyển 27, phần còn lại do đệ tử ngài là Quán đính (561 - 632) thêm vào mà hoàn thành. Sách này chú thích 14 phẩm của kinh Duy ma, trước hết, nói rõ về nguyên nhân của mỗi phẩm và mối quan hệ giữa các phẩm, kế đến giải thích tường tận về tên phẩm. Nội dung bao quát, lập luận chặt chẽ, đứng trên lập trường tông Thiên thai, giải thích rõ nghĩa chân thực về nước Phật thanh tịnh, luận giải rất sâu sắc thấu đáo. Qua sách này và Duy ma kinh huyền nghĩa, người ta có thể thấy được quan điểm của tông Thiên thai đối với kinh Duy ma. Ngoài ra, ngài Trạm nhiên (711 - 782) đời Đường, rút bớt sách này thành Duy ma kinh lược sớ 10 quyển, rồi lại chú thích 10 quyển này mà thành Duy ma kinh sớ kí 3 quyển (hoặc 6 quyển). Đến đời Tống, ngài Trí viên (976 - 1022) lại chú thích Duy ma kinh lược sớ 10 quyển mà thành là Duy ma kinh lược sớ thùy dụ kí 10 quyển để phát huy ý chỉ của tông Thiên thai. (xt. Duy Ma Kinh Huyền Sớ).

duy ma la cật

Xem Duy ma Cật.

duy mỹ chủ nghĩa

Aestheticism.

Duy Na

(維那, Ino): còn gọi là Kỷ Cương (紀綱). Trong tòng lâm, vị này đốc thúc, giám thị sự tu hành của chúng tăng và xem xét toàn bộ công việc trong tự viện. Khi đại chúng tụng kinh, vị này có trách nhiệm hướng dẫn và thủ xướng cho mọi người, cho nên được gọi là Duyệt Chúng (悅眾). Duy (維) nghĩa là bao trùm như mạng lưới, cho nên nó có nghĩa là quản lý tăng chúng; Na (那) là từ được lấy từ âm đọc Yết Ma Đà Na (s: karmadāna, 羯磨陀那); cho nên từ Duy Na bao hàm chung nghĩa của tiếng Hán và Phạn. Nguồn gốc của nó vốn là tên gọi chức vị được đặt ra trong nội bộ tăng đoàn ở Ấn Độ. Trong phần Bát Pháp Trung Ngọa Cụ Pháp (八法中臥具法) 7 của Thập Tụng Luật (十頌律) 23 có đoạn rằng: “Phật tại Xá Vệ Quốc, nhĩ thời Kỳ Đà lâm trung tăng phường trung, vô Tỳ Kheo tri thời hạn xướng thời, vô nhân đả kiền trĩ, vô nhân tảo sái đồ trị giảng đường thực xứ, vô nhân thứ đệ tương tục phu sàng tháp, vô nhân giáo tịnh quả thái, vô nhân khán khổ tửu trung trùng, ẩm thực thời vô nhân hành thủy, chúng tán loạn ngữ thời, vô nhân đàn chỉ, thị sự bạch Phật, Phật ngôn, ưng lập Duy Na (佛在舍衛國、爾時祇陀林中僧坊中、無比丘知時限唱時、無人打揵稚、無人掃灑塗治講堂食處、無人次第相續敷床榻、無人敎淨果菜、無人看苦酒中蟲、飲食時無人行水、眾散亂語時、無人彈指、是事白佛、佛言、應立維那, Khi đức Phật tại nước Xá Vệ, lúc bấy giờ trong chúng tăng tại rừng Kỳ Đà không có vị Tỳ Kheo báo cho biết thời khắc, không có người đánh kiền chùy, không người quét dọn, lau chùi giảng đuờng và nơi ăn uống, không người lần lượt thay nhau sắp dọn giường nằm, không người chỉ bảo rửa sạch rau quả, không người nhìn thấy con trùng trong rượu đắng, khi ăn uống không có người đem nước đến, khi chúng tăng nói chuyện tán loạn lại không có người khảy móng tay giữ im lặng; cho nên việc này được trình lên đức Phật. Phật dạy rằng nên lập ra chức Duy Na).” Vì vậy, đức Phật đã chế ra chức vụ này để chỉnh lý và quản chưởng những công việc lặt vặt của chúng tăng. Tại Trung Quốc, chức này được thiết lập như chức Tăng Quan và trong chế độ Tăng Quan trung ương dưới thời Diêu Tần (姚秦), có chức Duyệt Chúng. Tăng Thiên (僧遷) là người đầu tiên được bổ nhiệm chức vụ này. Vào thời Bắc Ngụy, tên trung ương có đặt Chiêu Huyền Tào (昭玄曹) làm chức Sa Môn Thống (沙門統) với tư cách là Trưởng Quan để thống lãnh Phật Giáo toàn quốc. Còn vị Phó Quan quản lý sự việc của các ban liên quan đến Phật Giáo chính là [Đô] Duy Na ([都]維那) của trung ương và Duy Na ở các địa phương. Trong Thiền Tông, đây là chức vụ vô cùng quan trọng chịu trách nhiệm quản chưởng hết thảy hành động, oai nghi tế hạnh, lui tới của chúng tăng. Nó được liệt vào một trong Lục Tri Sự (六知事, sáu vị Tri Sự). Đối với các tông phái khác, chức Duy Na có bổn phận dẫn dắt đại chúng khi hành lễ pháp sự, xướng hô hồi hướng, v.v. Phòng ở của vị Duy Na được gọi là Duy Na Liêu (維那寮) hay Kỷ Cương Liêu (紀綱寮).

duy na

5890維那二字,係梵漢兼舉之詞;維,綱維,統理之義;那,爲梵語 karma-dāna(音譯羯磨陀那)之略譯,意譯授事,即以諸雜事指授於人。維那,又作都維那,舊稱悅眾、寺護。爲寺中統理僧眾雜事之職僧。據十誦律卷三十四載,昔時佛陀於舍衛國,爲使僧眾中雜事皆有序,因令設維那。四分律刪繁補闕行事鈔卷上一(大四○‧六中):「十誦中,時僧坊中無人知時限、唱時至及打揵稚,又無人灑掃塗治講堂食處,無人相續鋪床及教人淨果菜食中蟲,飲食時無人行水,眾亂語時無人彈指等,佛令立維那。聲論翻爲次第也,謂知事之次第,相傳云悅眾也。」故知維那源於佛制,爲掌管僧眾雜事之職。古來大寺院皆設三綱,即上座、寺主、維那,由維那統御住僧。我國律宗、禪宗等皆置此職。於禪宗,維那爲六知事之一,爲掌理眾僧進退威儀之重要職稱。於其他宗派,維那則爲勤行法要之先導,掌理舉唱回向等。勅修百丈清規卷四定其職掌(大四八‧一一三二中):「維那,綱維眾僧,曲盡調攝;堂僧掛搭,辨度牒真偽;眾有爭競遺失,爲辨析和會;戒臘資次、床曆圖帳,凡僧事內外無不掌之。舉唱回向以聲音爲佛事,病僧、亡僧尤當究心;(中略)或有他緣,或暫假出入,將戒臘簿、假簿、堂司須知簿,親送過客司,令攝之。」 我國僧官制中設維那,始於姚秦時中央僧官制中所設悅眾。北魏亦設僧官以統理全國有關佛教之諸般事物,於中央設昭玄曹,以沙門統爲最高僧官,維那爲副官;在地方設僧曹,以僧統爲長官,亦立維那爲副官。〔梁高僧傳卷六、南海寄歸內法傳卷四、禪林象器箋職位門〕 ; Xem Yết ma. ; Karmadàna (S). The person in charge of the pagoda. ; Karmadana (skt)—Vị sư phân phối và giám sát công việc trong tự viện. Một trong sáu vị sư chính trong tự viện—The duty-distributor, or arranger of duties, a supervisor of monks in a monastery. One of the six main monks. ** For more information, please see Tam Cương (B) (3). ; (維那) Hai chữ Duy na là từ gồm cả Phạm và Hán. Duy là cương duy, nghĩa là quản lí mọi việc. Na là gọi tắt của tiếng Phạmkarmadàna (âm Hán: yết ma đà na), dịch ý là thụ sự......nghĩa là đem công việc trong chùa trao cho một người nào đó chịu trách nhiệm. Duy na, cũng gọi là Đô duy na, xưa dịch là Duyệt chúng (làm đẹp lòng mọi người), Hộ tự (trông nom gìn giữ chùa viện). Tức là chức vụ trông coi quản lý công việc của chúng tăng ở trong chùa. Cứ theo luật Thập tụng quyển 34, thì thuở xưa đức Phật ở nước Xá vệ, Ngài muốn mọi việc trong chúng tăng được sắp xếp có trật tự nên mới đặt chức Duy na. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 1 (Đại 40, 6 trung) chép: Theo luận Thập tụng, bấy giờ trong Tăng phường không có người báo giờ giấc, đánh kiền chùy, không có người quét dọn, sửa sang giảng đường, nhà ăn uống, không có người sắp xếp giường chiếu và chỉ bảo người nhặt sạch sâu trùng trong rau, trái và thực phẩm, khi ăn xong không có người lấy nước, lúc mọi người nói to ồn ào, không có ai ra hiệu nhắc nhở v.v... vì thế mà đức Phật đặt ra chức Duy na. Căn cứ vào đoạn văn trên đây thì biết, chức Duy na đã do chính đức Phật chế định. Từ xưa đến nay, trong các chùa viện lớn đều có đặt Tam cương: Thượng tọa, Tự chủ (trụ trì) và Duy na, trong đó, vị Duy na thống lãnh toàn thể chư tăng trong trụ xứ. Tại Trung quốc, Luật tông, Thiền tông v.v... đều lập chức Duy na. Trong Thiền tông, Duy na là một trong sáu vị Tri sự, là chức vụ trọng yếu kiểm điểm uy nghi của chư tăng. Trong các tông phái khác, thì Duy na là người hướng dẫn trong các cuộc hành lễ, cầm hiệu lệnh, tuyên sớ, đọc văn hồi hướng v.v... Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 4 có qui định rõ quyền hạn và trách nhiệm của chức Duy na (Đại 48, 1132 trung): Duy na giữ giềng mối trong chúng tăng, điều hòa thu nhiếp tất cả, khi có khách tăng đến lưu trú, kiểm tra xem độ điệp thật hay giả; chúng có tranh cãi thì phân trần hòa giải; xem xét thứ tự giới lạp (tuổi hạ), giường chiếu mùng mền, tất cả việc tăng trong ngoài, lớn nhỏ đều phải lo liệu. Đọc văn hồi hướng, dùng thanh âm làm Phật sự, đặc biệt quan tâm đến các vị tăng đau ốm hoặc qua đời; (...) nếu có việc khẩn cấp hoặc được nghỉ phép mà rời khỏi tùng lâm, thì phải mang sổ giới lạp, sổ nghỉ phép, sổ mà vị Đường tư phải biết, giao hết cho vị Tri khách nhờ giữ giùm. Trong chế độ Tăng quan ở Trung quốc, chức Duy na bắt đầu được lập ra từ đời Diêu Tần. Đời Bắc Ngụy cũng đặt Tăng quan để trông nom các việc trong cả nước có liên quan đến Phật giáo. Ở trung ương lập Chiêu huyền tào, lấy Sa môn thống làm vị tăng quan tối cao và đặt Duy na làm phó quan. Ở các địa phương thiết lập Tăng tào, lấy vị Tăng thống làm Trưởng quan, cũng đặt Duy na làm phó quan. [X. Lương cao tăng truyện Q.6; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên Chức vị môn].

duy na sư kiết ma

Xem Yết ma.

duy na yết ma

Xem Yết ma.

Duy Nghiễm

惟儼|Dược Sơn Duy Nghiễm

duy nghiễm bất vi

4578禪宗公案名。即唐代僧藥山惟儼自謂其坐禪乃無所為之坐禪。亦即表示其坐禪乃超越思量分別,以達到絕對真理之坐禪。景德傳燈錄卷十四(大五一‧三一一中):「一日師坐次,石頭睹之問曰:『汝在遮裏作麼?』曰:『一切不為。』石頭曰:『恁麼即閑坐也。』曰:『若閑坐即為也。』石頭曰:『汝道不為,且不為箇什麼?』曰:『千聖亦不識。』」〔禪苑蒙求卷下,五燈會元卷五〕 ; (惟儼不爲) Duy nghiễm không làm gì. Tên công án trong Thiền tông. Ngài Dược sơn Duy nghiễm ở đời Đường tự nói sự ngồi thiền của sư chẳng để làm gì cả. Tức sự ngồi thiền của sư đã siêu việt tư duy phân biệt, đã đạt đến chân lí tuyệt đối. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 311 trung), chép: Một hôm sư ngồi thiền, Thạch đầu thấy hỏi: Ông ngồi đây làm gì? Sư đáp: Chẳng làm gì cả? Thạch đầu nói: Vậy là ngồi không đấy à? Sư đáp: Ngồi không cũng là làm. Thạch đầu hỏi: Ông vừa nói chẳng làm gì cả, vậy là chẳng làm cái gì? Sư đáp: Nghìn Thánh cũng không biết!. [X. Thiền uyển mông cầu Q.hạ; Ngũ đăng hội nguyên Q.5].

duy nghiễm dược sơn

Wei-Yen-Yueh-Shan—See Dược Sơn Duy Nghiễm.

duy nguyện biệt thời ý

4430請參閱 成唯識論述記 請參閱 成唯識論掌中樞要 請參閱 成唯識論掌中樞要 請參閱 成唯識寶生論 指唯有願而無行,是為別時意。為攝論家批評觀無量壽經所說下下品往生而提出之論點。又作唯願無行別時意。別時意,係佛設方便以鼓勵眾生,令不生懈怠,於說將來之果時,隱去修行過程中之行業,而說即可得果。即如觀無量壽經雖謂往生淨土者須願行具足,然亦說唯有願亦得往生。攝論家就此說而解之,謂唯願實為往生之遠因,故於未來之他時方得往生之果。對此,善導於觀經玄義分別時意會通章,主張觀無量壽經之念佛,即為願行具足,非為別時意。〔梁譯攝大乘論卷中〕(參閱「願行」6728) ; (唯願別時意) Chỉ có nguyện mà không có hành là biệt thời ý. Đây là luận điểm của các nhà Nhiếp luận đề ra để phê bình thuyết Hạ hạ phẩm vãng sinh nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Cũng gọi Duy nguyện vô hành biệt thời ý. Biệt thời ý, là Phật đặt phương tiện để khuyến khích chúng sinh khiến không biếng nhác, nên khi nói về quả tương lai. Ngài tạm giấu hạnh nghiệp trong quá trình tu hành mà bảo có thể được quả. Tức như kinh Quán vô lượng thọ tuy nói người vãng sinh Tịnh độ phải đầy đủ cả nguyện và hành, nhưng cũng nói chỉ có nguyện không thôi cũng vãng sinh. Các nhà Nhiếp luận căn cứ vào thuyết này mà giải thích rằng nguyện chỉ là cái nhân xa của sự vãng sinh, cho nên phải ở thời gian khác (biệt thời) trong vị lai mới được quả vãng sinh. Trái lại trong chương Biệt thời ý hội thông của Quán kinh huyền nghĩa phần, ngài Thiện đạo cho rằng sự niệm Phật nói trong kinh Quán vô lượng thọ chính là nguyện hành đầy đủ, chứ không phải biệt thời ý. [X. Nhiếp đại thừa luận (bản dịch đời Lương) Q.trung]. (xt. Nguyện Hành).

duy ngã

I alone.

duy ngã độc tôn

4422又作惟我獨尊。謂世界之中唯我最尊最上。據長阿含卷一大本經記載,世尊由其母摩耶夫人之右脅下出生,墮地之後,獨行七步,遍觀四方,舉手言(大一‧四下):「天上天下,唯我為尊。」據釋門歸敬儀卷上載,因印度當時民情風俗所重之九十六種外道皆自號為大聖人、天人師,世尊為絕邪歸正,故示現此相,表示三界之中,唯佛獨尊,當救度天上天下,為天人尊,斷生死苦,使一切眾生得大安樂;而其餘皆邪道,非眾生所能依怙,故有「天上天下,唯我獨尊」之語。後世乃套用佛典中「唯我獨尊」一語,轉而形容一個人自尊自大,含有責其驕妄之意;或用以推崇某人於某方面之成就無人能及,而加以讚許。〔過去現在因果經卷一、方廣大莊嚴經卷三、有部毘奈耶雜事卷二十、大唐西域記卷六〕 ; Trên trời, dưới trời, chỉ có ta là đáng kính trọng—Above Heaven and under Heaven I am alone and worthy of honor (Sakyamuni). ; (唯我獨尊) Chỉ có ta là tôn quí hơn hết. Cứ theo kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1 chép, đức Thế tôn sinh ra từ hông bên phải của mẫu hậu Ma da phu nhân, sau khi xuống mặt đất, Ngài đi bảy bước, nhìn khắp bốn phương, giơ một tay lên nói (Đại 1, 4 hạ): Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn (Trên trời dưới trời, chỉ có ta là tôn quí). Thích môn qui kính nghi quyển thượng nói, vì ở Ấn độ thời bấy giờ có 96 thứ ngoại đạo đều tự gọi là Đại thánh, là thầy trời và người, vì muốn khiến tà về chính nên đức Thế tôn thị hiện tướng đi bảy bước, giơ tay lên trời, nói: Duy ngã độc tôn để biểu thị trong ba cõi chỉ có Phật là tôn quí, sẽ cứu độ tất cả trời, người dứt khổ sống chết, khiến hết thảy chúng sinh đều được yên vui. Còn các tà đạo khác chẳng phải là chỗ để chúng sinh nương cậy, vì thế mà nói Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.3; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.20; Đại đường tây vực kí Q.6].

duy ngộ

4577(1898~1969)四川重慶人,俗姓劉。年十九,由父母送入佛寺出家,旋受戒於安徽九華山。民國十六年(1927),入常熟華嚴學校,親近持松法師。畢業後,行腳大江南北,遍訪善知識,後住杭州靈隱寺,親近慧明法師,慧明示寂後,師乃漫遊南洋、印度、緬甸,錫蘭、泰國等地。民國二十五年,轉道法師創辦佛學院於新加坡,師任該院教授,並助編佛教與佛學月刊。後赴印尼,於棉蘭市成立蘇島佛學社,從此駐錫該社,樹立法幢,演講佛學,印尼佛教漸盛。第二次世界大戰期間,師應社眾恭請,主持佛學社,利用定期講經、報章雜誌弘揚淨土法門,歸依者千餘人。師生性剛正,有俠士風,反共愛國,旅居印尼主持佛學社三十餘年,弘法甚力。其反共論文除披露於當地華文報紙外,多在臺灣各佛教刊物發表。

duy nhất

4575(1202~1281)<一>宋代臨濟宗楊岐派僧。資州(位於四川)墨池人,俗姓賈。號環溪。幼參謁同村梵業寺之覺開,十二歲與張享泉問答,受其認可。二十歲,受敕牒剃髮,二十二歲於成都甘露寺受具足戒。其後參訪諸方,於育王山參謁無準師範為侍香,後隨無準遷至徑山,任知藏之職。二年後嗣其法並為首座。淳祐六年(1246),於浙江瑞巖寺弘法,歷住江西寶峰、惠力、資聖、報恩光孝、太平興國、福建崇聖、浙江景德諸寺。至元十八年示寂,世壽八十,法臘六十。有環溪惟一禪師語錄二卷行世,收於卍續藏一二二冊。〔增續傳燈錄卷四〕 <二>宋代僧。越州(浙江紹興)人。生平不詳。又稱惟一西堂。日本曹洞宗之祖道元來宋,於天童山修行時,師曾向道元示以「法眼下之嗣書」,道元感銘萬分。 ; (惟一) (1202 - 1281) Vị tăng phái Dương kì tông Lâm tế đời Tống, người Mặc trì, Tư châu (tỉnh Tứ xuyên), họ Giả, hiệu là Hoàn khê. Lúc nhỏ, sư theo học ngài Giác khai ở chùa Phạm nghiệp cùng thôn, 12 tuổi được Trương hưởng tuyền ấn khả sau một cuộc vấn đáp. Năm 20 tuổi sư xuất gia và thụ giới cụ túc ở chùa Cam lộ tại Thành đô năm 22 tuổi. Sau đó, sư đi hỏi đạo các nơi, tham yết ngài Vô chuẩn Sư phạm ở núi Dục vương và được làm thị giả. Về sau, sư theo ngài Vô chuẩn Sư phạm đến Kính sơn giữ chức Tri tạng. Hai năm sau, sư nối pháp thầy làm Thủ tọa. Năm Thuần hựu thứ 6 (1246), sư hoằng pháp ở chùa Thụy nham tỉnh Chiết giang, rồi lần lượt giảng pháp tại các chùa Bảo phong, Huệ lực, Tư thánh, Báo ân quang hiếu ở tỉnh Giang tây, chùa Sùng thánh ở tỉnh Phúc kiến và chùa Cảnh đức ở tỉnh Chiết giang v.v... Sư tịch vào năm Chí nguyên 18, thọ 80 tuổi. Trứ tác: Hoàn khê Duy nhất thiền sư ngữ lục 2 quyển, thu vào Vạn tục tạng tập 122. [X. Tăng tục truyền đăng lục Q.4].

duy nhất thần đạo

4420日本神道之一派。又作吉田神道、卜部神道、元本宗源神道。卜部兼俱創唱於室町時代中葉。謂神道為根本,儒教為枝葉,佛教為華實。並立顯密二義,密義,即神為本地,佛為垂迹。係一以大元尊神為唯一絕對神之神道信仰,惟亦兼採儒、佛之說。該教之重要典籍有唯一神道名法要集、神道大意等。

duy nhất thừa

Buddhism has only one vehicle; Buddha vehicle.

duy nhứt

Only—Sole—Unique.

Duy Phật dữ Phật

唯佛與佛; C: wéifóyŭfó; J: yuibutsuyobutsu;|Không ai ngoài chư Phật. Cảnh giới giác ngộ tối hậu theo giáo lí Đại thừa, chỉ có chư Phật mới chứng biết được. Hàng Tiểu thừa và phàm phu không thể nào biết đến cảnh giới nầy được.

duy phật dữ phật tri kiến

4422即唯佛與佛能互知之智。與「唯佛與佛乃能究盡」一語同義。其義有二:(一)謂佛之悟境唯佛知之,因位菩薩等不可得知。(二)唯獨果佛(覺佛果之佛)與因佛(即將悟究竟之菩薩)能知,而二乘與凡夫俱不知其意。妙法蓮華經卷一(大九‧五下):「佛所成就第一希有難解之法,唯佛與佛乃能究盡諸法實相。所謂諸法,如是相、如是性、如是體、如是力、如是作、如是因、如是緣、如是果、如是報、如是本末究竟等。」即是其義。 又「唯佛與佛」一語,亦被唐代善無畏口說之大日經疏所轉用。於法華經中「唯佛」指釋迦如來,「與佛」指其他佛;然於大日經疏中,唯佛指大日如來,與佛指十九執金剛等曼荼羅諸尊。即指於說法之會座中,主伴對望;又十九執金剛亦為如來差別身,非未悟之眾生,故稱為唯佛與佛。〔無量義經、法華經卷一方便品〕 ; (唯佛與佛知見) Sự thấy biết giữa Phật với Phật. Nghĩa là Trí của Phật thì chỉ có Phật với Phật mới biết được, chứ chúng sinh không thể hiểu được. Đồng nghĩa với câu Duy Phật dữ Phật nãi năng cứu tận (Chỉ có Phật với Phật mới biết suốt hết được). Có hai nghĩa: 1. Cảnh giới giác ngộ của Phật chỉ có chư Phật biết với nhau, còn các Bồ tát ở Nhân vị (giai vị tu nhân) không thể biết được. 2. Chỉ có quả Phật (Phật đã chứng ngộ quả Phật) và Nhân Phật (Bồ tát sẽ chứng quả rốt ráo) mới biết được, còn Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) và phàm phu đều không biết được. Kinh Diệu pháp liên hoa quyển 1 (Đại 9, 5 hạ), nói: Pháp hiếm có khó hiểu bậc nhất mà Phật đã thành tựu được thì chỉ có Phật với Phật mới biết cùng suốt được thực tướng của pháp ấy. Theo kinh Pháp hoa thì Duy Phật là chỉ cho đức Thích ca Như lai, còn dữ Phật là chỉ cho các đức Phật khác. Nhưng, theo Đại nhật kinh sớ thì Duy Phật là chỉ cho đức Đại nhật Như lai (chủ), còn dữ Phật thì chỉ cho 19 vị Chấp kim cương trong mạn đồ la (bạn). Mười chín vị Kim cương cũng là thân sai biệt của Như lai, chứ không phải chúng sinh chưa giác ngộ, cho nên nói là chỉ có Phật với Phật. [X. kinh Vô lượng nghĩa; Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1].

Duy Phật dữ Phật 唯佛與佛

[ja] ユイブツヨブツ yuibutsuyobutsu ||| Nobody but the buddhas. The final enlightenment of the Mahāyāna path is experienced by, and known by only buddhas. Lesser vehicle practitioners and worldings have no knowledge of this state. 〔法華經 T 262.9.5c11〕 => Không ai ngoài chư Phật. Cảnh giới giác ngộ tối hậu theo giáo lý Đại thừa, chỉ có chư Phật mới chứng biết được. Hàng Tiểu thừa và phàm phu không thể nào biết đến cảnh giới nầy được.

duy sắc

Sắc tâm không hai, do vậy vạn pháp duy tâm cũng lại là duy sắc (dựa vào duy thức vô cảnh do ngài Hộ Pháp lập ra, và duy cảnh vô thức do ngài Thanh Biện lập ra)—All things are matter because mind and matter are identical, for matter is mind.

duy tha chủ nghĩa

Altruism.

duy thượng

4576唐代僧。又稱惟上、成都惟尚、劍南惟尚。從青龍寺惠果和尚傳受密教金剛、胎藏兩部大法。為青龍門下六傑(辨弘、惠日、空海、惟尚、義圓、義明)之一。〔付法傳卷二、海雲及造玄血脈〕

Duy thức

唯識; C: wéishì; J: yuishiki; S: vijñāptimātratā; E: mind only; đồng nghĩa với danh từ Duy tâm (唯心; s: cittamātra);|Nghĩa là chỉ có thức, các pháp đều từ Thức mà sinh ra, không có gì nằm ngoài thức; danh từ này đồng nghĩa với Duy tâm (cittamātra, cittamātratā). Giáo lí chủ trương tất cả mọi sự hiện hữu đều do tâm, và do vậy, không một hiện tượng nào tồn tại ngoài tâm. Duy thức là một tư tưởng chủ đạo của Du-già hành phái (瑜伽行派, s: yogācāra). Các học giả Duy thức giải thích quy luật và sự liên kết của các giác quan nhờ vào thức ẩn tàng A-lại-da (阿頼耶識, s: ālaya-vijñāna) và từ tập hợp của năm giác quan trước (tiền ngũ thức). Chúng hoạt động, tạo nên chủng tử (種子) tương ưng với chúng, theo quy luật thông thường như hạt giống phát triển thành cây. Mỗi chúng sinh đều có chỗ chứa những cảm nhận và những chúng sinh giống nhau sẽ tạo ra những nghiệp thức giống nhau phát xuất từ tàng thức vào cùng một thời gian như nhau. Giáo lí Duy thức quy gọn các hiện tượng trong 100 pháp (法; s: dharma) thành 5 nhóm: sắc pháp, tâm pháp, tâm sở pháp, tâm bất tương ưng hành pháp và vô vi pháp. Theo tông Duy thức, thế giới bên ngoài sẽ tạo nên khi tàng thức huân tập bởi »chủng tử«, hay là kết quả của các việc làm tốt xấu trong quá khứ. Một đóng góp quan trọng khác của các nhà tư tưởng Duy thức là ba tính chất ảo, giả tạm, và hiện thực của các hiện tượng. Xem chi tiết ở Tam tính (三性).|Nền tảng của giáo lí Duy thức được phát triển bởi Di-lặc (彌勒) và hai anh em Thế Thân Vô Trước, trong những luận giải như Câu-xá luận (倶舎論, s: abhidharma-kośa-bhāṣya), Duy thức tam thập tụng (唯識三十頌, s: triṃśikā vijñaptimātratāsiddhiḥ), Nhiếp đại thừa luận (攝大乘論, s: mahāyā-nasaṃgraha), Du-già sư địa luận (瑜伽師地論, s: yogācārabhūmi-śāstra). Giáo lí Duy thức cũng được trình bày rõ trong kinh Giải thâm mật (s: saṃdhinirmocana-sūtra) và kinh Thắng Man (s: śrīmālā-sūtra). Nhiếp đại thừa luận ghi: »Các (đối tượng của) thức ấy đều do (ý) thức tạo nên vì vốn (ngoài tâm) không có cảnh trần nào cả. Chúng chỉ như mộng«. (如此衆識唯識以無塵等故譬如夢等).

duy thức

4424梵語 vijñapti-mātratā。音譯毘若底摩呾喇多。識,即心之本體,離識變現之外無任何實在,稱為唯識。即認為吾人自己心外之物心諸現象皆由八識自體所變現之主觀(見分)與客觀(相分),又將所認識對象之相似形狀視為心內之影像所映現而認為實在實有,且作為認識對象之物境自體(本質)亦從阿賴耶識中之種子變生,故唯識以外無其他實在,稱為唯識無境,或據萬有從識所變之意義,而稱為唯識所變。此理論見於成唯識論卷二。可分為:(一)因能變,又作因變、生變;所有之存在皆從阿賴耶識中之種子變生。(二)果能變,又作果變、緣變;其結果在八識上起主觀與客觀之區別,而向對象作用。觀心覺夢鈔卷下分為以下二種道理說明:(一)熏習道理,即生變之義,種子係由自心之作用深植於識中。(二)轉變道理,即緣變之義,由識變現見、相二分。 法相宗之根本教義,說唯識之相,以五位百法不離識者,即為總門唯識或不離門唯識;五位之中,心王是識之自相,心所為相應於心王作用之心理活動,色法為識所變現,不相應法為以上三位之分位假立者,無為法為以上四位之實性,依此等理由顯示唯識者,稱為別門唯識。別門唯識之說係為愚者分別能所而說明,故又稱虛妄唯識、不淨品唯識、方便唯識。初地以上之菩薩能了悟唯識之理,證得唯識無塵智,而存有真識者,稱為真實唯識、淨品唯識或正觀唯識。成唯識論卷九列舉對唯識教理九種疑難(唯識九難)之答釋。唯識九難即:唯識所因難、世事乖宗難、聖教相違難、唯識成空難、色相非心難、現量為宗難、夢覺相違難、外取他心難、異境非唯難。 此外,大乘法苑義林章卷一末分類諸經論之唯識說為五種唯識,即:境唯識、教唯識、理唯識、行唯識、果唯識。又該宗之修行有所謂五重唯識觀。 華嚴宗稱三界皆是一心所作,列舉十重唯識等說明,即:(一)相見俱存唯識,(二)攝相歸見唯識,(三)攝數歸王唯識,(四)以末歸本唯識,(五)攝相歸性唯識,(六)轉真成事唯識,(七)理事俱融唯識,(八)融事相入唯識,(九)全事相即唯識,(十)帝網無礙唯識。若究其極如帝釋宮之網珠(因陀羅網),一中含有一切,一切中各具一切,重重無盡,事事無礙。如以十重唯識配當於五教,則初三為始教說,次四為終教及頓教說,後三為圓教之說。但華嚴經大疏鈔卷三十七,將假說之唯識列為小乘之說。〔梁譯攝大乘論釋卷五、華嚴經探玄記卷十三、成唯識論述記卷七末〕 ; Mattrata (S), Vijāptimātratā (S), Prajāptimātra (S), Cittamātra (S), Yuishiki (J), Sems tsam pa (T), Consciousness-only, Mind-onlyDuy tâm, Ma đát lạt đa. ; Vijnànavàda, Yogàcàra (S). Consciousness only. ; Vijnanamatra or Vada or Cittamatra (skt)—See Duy tâm. ; (唯識) Phạm:Vijĩapti-màtratà. Âm Hán: Tì nhã để ma đát lạt đa. Thức là bản thể của tâm, ngoài sự biến hiện của thức, không có bất cứ vật gì thực sự tồn tại nên gọi là Duy thức. Nghĩa là các hiện tượng tâm, vật bên ngoài đều do Kiến phần (chủ quan) và Tướng phần (khách quan) của tự thể tám thức biến hiện ra. Vả lại, những hình dạng tương tự của các đối tượng nhận thức chỉ là bóng dáng từ trong tâm ánh hiện ra mà cho là có thật, rồi đến bản chất của các cảnh vật được xem là đối tượng nhận thức cũng từ những hạt giống trong thức A lại da biến sinh ra, cho nên ngoài duy thức không có thực tại nào khác, gọi là Duy thức vô cảnh (chỉ có thức không có đối tượng), hoặc căn cứ theo nghĩa từ thức biến ra mà gọi là Duy thức sở biến. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2 thì sự biến hiện của thức có thể được chia làm hai: 1. Nhân năng biến, cũng gọi Nhân biến, Sinh biến. Tất cả sự tồn tại (các pháp) đều từ hạt giống trong thức A lại da biến ra. 2. Quả năng biến, cũng gọi Quả biến, Duyên biến. Kết quả của Nhân biến là do sự phân biệt chủ quan, khách quan của tám thức nhắm vào tác dụng đối tượng. Quán tâm giác mộng sao quyển hạ chia làm hai thứ đạo lí để thuyết minh sự biến hiện của thức: 1. Huân tập đạo lí: Tức là nghĩa sinh biến, hạt giống là do tác dụng của tự tâm gieo sâu trong thức. 2. Chuyển biến đạo lí: Tức là nghĩa duyên biến, do thức biến hiện kiến phần và tướng phần. Giáo nghĩa căn bản của tông Pháp tướng là nói về tướng của Duy thức, cho rằng năm vị trăm pháp không ngoài thức, đó là Tổng môn duy thức hoặc Bất li môn duy thức. Trong năm vị, Tâm vương là tự tướng của thức, Tâm sở là những hoạt động tâm lí tương ứng với Tâm vương, Sắc pháp do thức biến hiện, Bất tương ứng hành pháp là phần vị giả lập của ba vị trên (Tâm vương, Tâm sở, Sắc pháp), Vô vi pháp là thực tính của bốn vị trên (Tâm vương, Tâm sở, Sắc pháp, Bất tương ứng hành pháp), y cứ vào các lí do trên đây để hiển bày duy thức, gọi là Biệt môn duy thức. Biệt môn duy thức là vì những người độn căn mà phân biệt Năng, Sở để thuyết minh nên cũng gọi là Hư vọng duy thức, Bất tịnh phẩm duy thức, Phương tiện duy thức.Bồ tát từ Sơ địa trở lên có thể liễu ngộ lí duy thức, chứng được trí duy thức không trần cảnh, chỉ còn lại chân thức, gọi là Chân thực duy thức, Tịnh phẩm duy thức hoặc Chính quán duy thức. Luận Thành duy thức quyển 9, đối với giáo lý Duy thức, nêu ra chín nạn (Duy thức cửu nạn) để giải đáp. Đó là: Duy thức sở nhân nạn, Thế sự quai tông nạn, Thánh giáo tương vi nạn, Duy thức thành không nạn, Sắc tuớng phi tâm nạn, Hiện lượng vi tông nạn, Mộng giác tương vi nạn, Ngoại thủ tha tâm nạn và Dị cảnh phi duy nạn. Ngoài ra, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 phần cuối chia thuyết Duy thức trong các kinh luận thành năm loại Duy thức: Cảnh duy thức, Giáo duy thức, Lí duy thức, Hành duy thức và Quả duy thức. Còn về sự tu hành của tông Duy thức thì có Ngũ trùng duy thức quán (quán năm lớp duy thức). Tông Hoa nghiêm cho ba cõi đều do một tâm tạo tác và nêu ra mười lớp Duy thức để thuyết minh: 1. Tướng kiến câu tồn duy thức. 2. Nhiếp tướng qui kiến duy thức. 3. Nhiếp số qui vương duy thức. 4. Dĩ mạt qui bản duy thức. 5. Nhiếp tướng qui tính duy thức. 6. Chuyển chân thành sự duy thức. 7. Lí sự câu dung duy thức. 8. Dung sự tương nhập duy thức. 9. Toàn sự tương tức duy thức. 10. Đế võng vô ngại duy thức. Nếu suy cứu đến cùng tột thì 10 lớp duy thức trên đây cũng giống như tấm lưới bằng châu ngọc của cung điện Đế thích (Nhân đà la võng), trong một bao hàm tất cả, trong tất cả đều đủ mỗi một, trùng trùng vô tận, sự sự vô ngại. Nếu đem 10 lớp duy thức phối hợp với năm giáo, thì 1, 2, 3 là Thủy giáo, 4, 5, 6, 7 là Chung giáo và Đốn giáo, 8, 9, 10 là Viên giáo.Nhưng Hoa nghiêm kinh đại sớ sao quyển 37 thì xếp Duy thức vào thuyết Tiểu thừa. [X. Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) Q.5; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.13; Thành duy thức luận thuật kí Q.7 phần cuối].

Duy thức bách pháp

唯識百法; C: wéishì băifă; J: yuishikihyaku-hō;|Một trăm pháp chính do tông Duy thức đề xướng.

Duy thức bách pháp 唯識百法

[ja] ユイシキヒャクホウ yuishikihyakuhō ||| The one hundred elements (dharmas) outlined by the Consciousness-only school. => Một trăm pháp chính do tông Duy thức đề xướng.

duy thức chân như

Vijāpti-tathatā (S)Liễu biệt chân như, Duy thức nhưChỉ quán trió của Vô lậu duy thức.

duy thức cửu nan

4424對諸法唯識之教理所提出之九種疑難。成唯識論卷九予以答釋:(一)唯識所因難,此乃據何教理而立論唯識之問難。對此問難,舉華嚴、解深密、楞伽、維摩、阿毘達磨等經論之諸法唯識說而立證,就心內之境不離識,更以四比量論證。(二)世事乖宗難,見世間之事實,時處一定,多有情同緣,如是境中有實之作用,豈非心外有實境佐證之問難。對此問難,答以若定有實境,何以緣同一物,而自他所見不同、感受不同。(三)聖教相違難,若心外無色等實境,佛何以於經中說有色等十二處之問難。釋此疑難,謂有十二處,非謂心外有實色等,乃為令了知心外無有實色等諸法。(四)唯識成空難,若云為令了知法空而說唯識,其識亦應畢竟空無之問難。對此問難,答說破遣心外實有之遍計所執,故說法空無我,非謂根本、後得二智境之依他、圓成之事理亦為空無,故說唯識無偏空之失。(五)色相非心難,色乃有形有質礙,何以謂之唯識之問難。對此問難,謂眾生無始以來執著色相有形而受薰習,依其妄分別之薰習力,遂生起似色相之境,此非心外實有之境。(六)現量為宗難,色等外境為現量智之所緣,若無外境,何以現量得知色等之問難。釋之,謂緣前五識之現量者乃心內之相分,以此為心外之色等係意識之妄分別,並非現量之故。(七)夢覺相違難,夢中之境醒後知其為妄境,醒時之境卻無此事,不以之為例之問難。對之,謂雖夢境,其夢不醒時自不知妄境,知乃在醒後,故醒時之境亦爾,至廓然大悟,始知其妄。(八)外取他心難,他人心識在自心之外,如以他心智緣(知)他心,是否緣心外之境之問難。對之,謂雖以他心智緣他人之心識,乃在自心之中緣現他人之影像,非親緣他心,故無緣心外之境之失。(九)異境非唯難,續前問,雖非親緣,而自心之外有他心之異境,則是否應稱唯識之問難。對之,謂唯識非唯一人之識,十方世界有無量之凡聖,一切諸法乃此等凡聖之各自唯識所變,所謂唯識乃遮遣以凡情執著心外有實法之失,成立唯識所變,非謂唯一人之識所變。(參閱「唯識」4424) ; (唯識九難) Chín vấn đề khó giải đáp được đặt ra cho các nhà Duy thức học. Luận Thành duy thức quyển 9 đã nêu ra và giải đáp chín vấn nạn ấy như sau: 1. Duy thức sở nhân nạn. Căn cứ thành lập Duy thức. Hỏi: Căn cứ vào giáo lí nào mà lập luận Duy thức? Đáp: Căn cứ vào thuyết Chư pháp duy thức trong các kinh luận như: Hoa nghiêm, Giải thâm mật, Lăng già, Duy ma, A tì đạt ma v.v... mà lập luận cảnh trong tâm không lìa thức và dùng bốn tỉ lượng để luận chứng. 2. Thế sự quai tông nạn. Trái với việc đời.Hỏi: Các việc ở đời có nơi chốn thời gian nhất định, có tác dụng thực sự rõ ràng, tại sao lại cho là cảnh không thật? Đáp: Nếu nhất dịnh cho là có cảnh thật thì tại sao cùng duyên theo một vật mà mình và người lại thấy khác nhau, cảm nhận cũng khác nhau? 3. Thánh giáo tương vi nạn. Trái với giáo pháp của Phật. Hỏi: Nếu ngoài tâm không có cảnh thật như sắc v.v... thì tại sao trong kinh Phật lại nói có 12 xứ như sắc v.v...? Đáp: Nói có 12 xứ không phải cho rằng ngoài tâm có sắc thật, mà để biết rõ là ngoài tâm không có sắc thật. 4. Duy thức thành không nạn. Thức cũng là không. Hỏi: Nếu bảo rằng vì muốn chúng sinh biết rõ các pháp là không mà nói duy thức, thì thức ấy rốt cuộc cũng phải là không? Đáp: Vì phá trừ biến kế sở chấp (vọng chấp ngoài tâm thật có pháp), nên nói pháp không, vô ngã, chứ chẳng phải nói cảnh của trí căn bản, trí hậu đắc và lí sự của Y tha, Viên thành cũng là không, cho nên duy thức không mắc lỗi thiên không (chỉ chấp không). 5. Sắc tướng phi tâm nạn. Sắc (vật chất) chẳng phải tâm thức.Hỏi: Sắc có hình, có chất ngại, tại sao lại bảo sắc là duy thức? Đáp: Chúng sinh từ vô thủy đến nay bám dính vào sắc tướng mà bị huân tập (hun ướp thành thói quen), nương vào sức huân tập khởi ra hiện hành, rồi vọng phân biệt mà chấp có cảnh sắc tướng tương tự, chứ chẳng phải có cảnh thật ngoài tâm. 6. Hiện lượng vi tông nạn. Trái với hiện lượng (trực giác). Hỏi: Ngoại cảnh như sắc v.v... là những đối tượng mà trí hiện lượng duyên theo, vậy, nếu không có ngoại cảnh thì làm thế nào mà trí hiện lượng biết được sắc v.v..? Đáp: Đối tượng (cảnh) mà hiện lượng của năm thức trước (mắt tai mũi lưỡi thân) duyên theo chính là tướng phần trong tâm chứ chẳng phải sắc ngoài tâm. Còn khi phân biệt cho đó là sắc v.v... ở ngoài tâm thì là vọng phân biệt của ý thức chứ không phải hiện lượng. 7. Mộng giác tương vi nạn. Mộng và tỉnh trái nhau. Hỏi: Cảnh trong chiêm bao khi tỉnh dậy biết đó là cảnh giả, còn cảnh khi thức thì làm thế nào để biết là không thật? Đáp: Tuy là cảnh chiêm bao nhưng khi đang còn trong chiêm bao thì không tự biết đó là cảnh giả, đến khi tỉnh dậy mới biết; còn cảnh lúc thức cũng thế, khi bất thình lình đại ngộ mới biết là giả. 8. Ngoại thủ tha tâm nạn. Duyên theo tâm người khác. Hỏi: Tâm thức của người khác ở ngoài tâm mình, vậy khi dùng Tha tâm trí (Tha tâm thông: Khả năng đọc được ý nghĩ của người khác) để duyên theo (biết) tâm người khác thì như thế có phải là duyên cảnh ở ngoài tâm hay không? Đáp: Tuy dùng tha tâm trí để duyên theo tâm thức của người khác, nhưng đó chỉ là duyên theo bóng dáng của người ấy ở trong tâm mình, chứ chẳng phải chính mình duyên theo tâm người ấy, cho nên không có lỗi duyên theo cảnh ngoài tâm. 9. Dị cảnh phi duy nạn. Cảnh khác chẳng phải duy thức. Hỏi: Tuy chẳng phải chính mình duyên theo, nhưng ngoài tâm mình có cái cảnh khác của tâm người thì như thế có được gọi là duy thức hay không? Đáp: Duy thức chẳng phải là thức của một người duy nhất, thế giới trong 10 phương có vô lượng phàm thánh, tất cả các pháp là do duy thức của mỗi vị phàm thánh này biến hiện. Cái gọi là Duy thức là để trừ diệt lỗi chấp trước của phàm tình cho rằng ngoài tâm có pháp thật, thành lập duy thức sở biến chẳng phải chủ trương thức sở biến của một người. (xt. Duy Thức).

duy thức gia

See Duy Thức Tông.

duy thức học

Giáo điển dạy Tâm Lý Học, về tám thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, Mạt na và A Lại Da). Những thức nầy giúp chúng sanh phân biệt phải trái—The doctrine which teaches the psychology of the eight consciousnesses (sight, hearing, smell, taste, touch, mind, Mana and Alaya). These consciousnesses enable sentient beings to discriminate between right and wrong of all dahrmas (thoughts, feelings, physical things, etc).

duy thức học cương yếu

General Teaching of Consciousness—The finer point of the Teaching of Consciousness—See Duy Thức Học.

duy thức khai mông

4428凡二卷。元代雲峰集。全稱唯識開蒙問答。收於卍續藏第九十八冊。唯識學之研究於唐末以後中斷,至元明時,再起研究之風,注釋紛出,本書即於此時完成。然本書非注釋書,係摘出唯識教學之重點,撮為一百五十個標題,設為問答,以暢其旨。本書為研究元明唯識教學之重要資料。 ; (唯識開蒙) Gồm 2 quyển, do ngài Vân phong biên tập vào đời Nguyên, thu vào Vạn tục tạng tập 98. Tên đầy đủ: Duy thức khai mông vấn đáp. Từ cuối đời Đường trở về sau, sự nghiên cứu Duy thức học bị gián đoạn, cho đến thời Nguyên, Minh mới bắt đầu lại và có rất nhiều sách chú thích về Duy thức xuất hiện, bộ sách này chính đã được hoàn thành vào thời ấy. Nhưng đây không phải là sách chú thích, mà là trích ra những điểm quan trọng trong Duy thức học đặt thành 150 tiêu đề rồi dùng thể vấn đáp để trình bày yếu chỉ Duy thức. Bộ sách này là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu giáo học Duy thức trong thời Nguyên, Minh.

Duy thức luận

唯識論; C: wéishì lùn; J:;|1. Tên gọi tác phẩm của Bát-nhã Lưu-chi (般若流支) dịch Duy thức nhị thập luận của Thế Thân, 1 quyển, Duy thức nhị thập luận (唯識二十論); 2. Chỉ Thành Duy thức luận (成唯識論).

duy thức luận

4429請參閱 法苑義林章<一>為成唯識論之異稱。凡十卷。收於大正藏第三十一冊。護法等菩薩造,唐玄奘譯。本論乃於注解世親菩薩之唯識三十頌的十大論師著作中,以護法之釋為主,取捨其他九論師之釋,糅合而編纂成一新論著。(參閱「成唯識論」2925) <二>指與唯識二十論同本異譯之大乘楞伽經唯識論及大乘唯識論。本論為世親菩薩所造,共三譯本。前者全一卷,北魏菩提流支(一作瞿曇般若流支)譯,收於大正藏第三十一冊,又稱楞伽經唯識論、楞伽唯識論、破色心論、唯識無境論、唯識無境界論、大乘唯識論。後者亦為一卷,陳代真諦譯,收於大正藏第三十一冊,又稱唯識無境界論。本論乃說明三界唯識、心外無境之義,係世親特為破斥外道之說而作之論。(參閱「唯識二十論」4426) ; Vidyāmatra-siddhi-śāstra-kārikā (S)Bộ Luận cho cái thức là đáng kễ. Bộ này do Ngài Thiên Thân Bồ tát được ngài Di Lặc Bồ tát hợ trợ soạn nên vào thế kỷ thứ 5. Thế kỷ thứ 7, ngài Huyền Trang dịch ra chữ Hán. ; Vijnaptimatrasiddhi-sastra. ; (唯識論) I. Duy thức luận. Tên khác của luận Thành duy thức, 10 quyển, ngài Hộ pháp soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 31. Bộ Duy thức tam thập tụng của bồ tát Thế thân được 10 vị đại luận sư chú giải, trong đó, ngài Huyền trang lấy chú giải của ngài Hộ pháp làm chính và lựa chọn những chú giải của chín luận sư còn lại, tổng hợp mà biên soạn thành một bộ luận mới này. (xt. Thành Duy Thức Luận). II. Duy thức luận. Chỉ cho hai bản dịch khác của bộ Duy thức nhị thập luận do bồ tát Thế thân soạn. Đó là : 1. Đại thừa lăng già kinh duy thức luận, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chi (có thuyết nói ngài Cù đàm bát nhã lưu chi) dịch vào thời Bắc Ngụy, thu vào Đại chính tạng tập 31. Cũng gọi Lăng già kinh duy thức luận, Lăng già duy thức luận, Phá sắc tâm luận, Duy thức vô cảnh luận, Duy thức vô cảnh giới luận, Đại thừa duy thức luận. 2. Đại thừa duy thức luận, 1 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, thu vào Đại chính tạng tập 31. Cũng gọi Duy thức vô cảnh giới luận. Nội dung nói rõ nghĩa ba cõi duy thức, ngoài tâm không có cảnh. Ngài Thế thân soạn bộ luận này nhằm phá các thuyết của ngoại đạo. (xt. Duy Thức Nhị Thập Luận)

Duy thức luận 唯識論

[ja] ユイシキロン Yuishiki ron ||| (1) Prajñāruci's 般若流支 translation of Vasubandhu's Viṃśatikā vijñapti-mātratā-siddhiḥ. One fascicle, T 1588.31.63-70. See 唯識二十論. (2) A reference to the 成唯識論. => 1. Tên gọi tác phẩm của Bát-nhã Lưu-chi dịch Duy thức nhị thập lụân của Thế Thân.1 quyển. Xem Duy thức nhị thập luận. 2. Đề cập đến Thành Duy thức luận.

duy thức mạn đồ la

4428即法相宗之祖師曼荼羅。中央畫彌勒菩薩,其旁配以無著、世親、唯識十大論師、玄奘、窺基、惠沼等法相宗之祖師。 ; (唯識曼荼羅) Mạn đồ la của các vị Tổ sư tông Pháp tướng. Ở chính giữa vẽ bồ tát Di lặc, bên cạnh là các vị : Vô trước, Thế thân, 10 Đại luận sư Duy thức: Huyền trang, Khuy cơ, Huệ chiểu v.v...

Duy thức ngũ trùng

唯識五重; C: wéishì wŭzhòng; J: yuishiki gojū;|Ngũ trùng Duy thức (五重唯識).

Duy thức ngũ trùng 唯識五重

[ja] ユイシキゴジュウ Yuishiki gojū ||| See 五重唯識. => Xem Ngũ trùngDuy thức 五重唯識.

duy thức như

Xem Duy thức chân như.

Duy thức nhị thập luận

唯識二十論; C: wéishì èrshí lùn; J:;|Của Thế Thân, Huyền Trang dịch năm 661. Cũng có bản dịch của Bát-nhã Lưu-chi (s: prajñāruci) với tên Duy thức luận (唯識論) và bản dịch của Chân Đế (s: paramārtha) với nhan đề Đại thừa Duy thức luận (大乘唯識論). Đây là một tác phẩm Duy thức quan trọng mang tính triết học nhất của Thế Thân, nhằm bác bỏ thuyết thực hữu của ngoại đạo và của các trường phái Tiền-Đại thừa. Hamilton đã dịch luận giải của Huyền Trang và luận giải (Thuật kí 述記) của Khuy Cơ. Những bản dịch khác không dựa vào tiếng Hán còn có bản của Anacker (1984) and Kochumuttom (1982).

duy thức nhị thập luận

4425梵名 Viṃśatikā vijñapti-mātratā-siddhiḥ。全一卷。世親菩薩造,唐玄奘譯。又作二十唯識論、摧破邪山論。收於大正藏第三十一冊。引用十地經中三界唯心之句,論證外境為內識顯現,闡述唯識無境之義,以破斥小乘、外道之偏執。係法相宗所依十一論之一,瑜伽十支論之一。書中總舉五言二十一行之頌,就之而詮解其義,本文首先宣說「三界唯識」之旨,其次就小乘、外道所問難之四種問題,加以解釋,以成立萬法唯識之理。最後一頌闡明宗義,依偈頌之數而題名二十論。 異譯本有二:南朝陳之真諦所譯大乘唯識論一卷、北魏菩提流支之大乘楞伽經唯識論一卷(又稱破色心論)。此三譯本中,菩提流支所譯本,文多頌少,由二十三頌所成;真諦所譯本,文少頌多,有二十四頌;玄奘所譯本,文頌分配均等,由二十一頌所成。本書之注釋書極多,於印度,以世親弟子瞿波論師為首,共有十多家注釋,其中護法所造成唯識寶生論五卷較為重要;另有我國唐代窺基所撰二十唯識論述記二卷、新羅圓測之唯識二十論疏二卷等。〔成唯識論了義燈卷一本、歷代三寶紀卷九、開元釋教錄卷六至卷九〕 ; Vidyāmātra-vīmśātī-śāstra (S)Do ngài Thế Thân biên soạn. ; (唯識二十論) Phạm : Viôzatikà-vijĩapti-màtratàsiddhi#. Có 1 quyển do bồ tát Thế thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. Cũng gọi Nhị thập duy thức luận, Tồi phá tà sơn luận, thu vào Đại chính tạng tập 31. Luận này dẫn dụng câu Tam giới duy tâm (ba cõi chỉ do tâm) trong kinh Thập địa để luận chứng cảnh ở ngoài do thức hiển hiện, nói rõ nghĩa chỉ do thức không có cảnh để bác bỏ sự thiên chấp của Tiểu thừa và ngoại đạo. Đây là một trong 11 bộ luận của tông Pháp tướng, một trong 10 chi luận của Du già.Nội dung sách này gồm có 21 bài tụng thể năm chữ, dựa vào đó mà giải thích ý nghĩa rõ ràng. Trước hết, nói về yếu chỉ Tam giới duy thức, kế đó, giải thích bốn vấn nạn do Tiểu thừa và ngoại đạo đặt ra để thành lập lí Vạn pháp duy thức. Bài tụng cuối cùng nói về tông nghĩa, dựa theo con số kệ tụng mà lấy tên là Nhị thập luận. Ngoài bản dịch của ngài Huyền trang, luận này còn có hai bản dịch khác nữa, đó là : 1. Đại thừa duy thức luận 1 quyển, ngài Chân đế dịch vào đời Trần thuộc Nam triều. 2. Đại thừa lăng già kinh duy thức luận 1 quyển (cũng gọi Phá sắc tâm luận), do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào thời Bắc Ngụy. Trong ba bản dịch này, bản của ngài Bồ đề lưu chi văn xuôi nhiều, kệ tụng ít, tất cả có 23 bài tụng; bản của ngài Chân đế văn xuôi ít, kệ tụng nhiều, có 24 bài tụng; bản của ngài Huyền trang văn xuôi, văn kệ bằng nhau, có 21 bài tụng. Luận này có rất nhiều sách chú thích. Ở Ấn độ, bắt đầu là luận sư Cù ba - đệ tử của bồ tát Thế thân - có hơn 10 nhà chú thích, trong đó, Thành duy thức bảo sinh luận 5 quyển của ngài Hộ pháp là quan trọng hơn cả. Tại Trung quốc thì có: Nhị thập duy thức luận thuật kí 2 quyển do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường; Duy thức nhị thập luận sớ 2 quyển do ngài Viên trắc người Tân la soạn. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1 phần đầu; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.6 đến Q.9].

Duy thức nhị thập luận thuật kí

唯識二十論述記; C: wéishì èrshílùn shùjì; J: yuishiki nijūron jukki;|Tác phẩm của Khuy Cơ, 2 quyển. Luận giải về Duy thức nhị thập luận (唯識二十論) của Huyền Trang.

duy thức nhị thập luận thuật kí

4426凡二卷。唐代窺基(632~682)述。又作二十論述記、二十唯識述記、二十唯識論述記、二十唯識論疏。收於大正藏第四十三冊。本書為世親所著唯識二十論(玄奘譯)之注釋書。內容首敘唯識二十論之著作緣起,其次分三門闡釋安立大乘三界唯識之義,並解釋非一切種撥有性等問題。又唯識二十論及成唯識論乃法相宗之根本要典,故本書與成唯識論述記乃成為有關唯識學之基本入門書。 ; (唯識二十論述記) Gồm 2 quyển, do ngài Khuy cơ (632- 682) soạn vào đời Đường. Cũng gọi là Nhị thập luận thuật kí, Nhị thập duy thức thuật kí, Nhị thập duy thức luận thuật kí, Nhị thập duy thức luận sớ. Thu vào Đại chính tạng tập 43. Là sách chú thích luận Duy thức nhị thập của ngài Thế thân (bản dịch của ngài Huyền trang). Nội dung sách này, trước hết nói về lí do soạn luận, kế đến chia làm ba môn để giải thích rõ nghĩa an lập Đại thừa tam giới duy thức và giải thích các vấn đề như : Phi nhất thiết chủng bát hữu tính ........ v.v... Luận Duy thức nhị thập và luận Thành duy thức là những bộ sách căn bản của tông Pháp tướng, bởi thế, Duy thức nhị thập luận thuật kí và Thành duy thức luận thuật kí trở thành sách nhập môn cơ bản của Duy thức học.

Duy thức nhị thập luận thuật ký 唯識二十論述記

[ja] ユイシキニジュウロンジュッキ Yuishiki nijūron jukki ||| The Weishi ershilun shuji; 2 fascicles, T 1834.43.978-end, by Kuiji 窺基. A commentary on Xuanzang's 唯識二十論. => Của Khuy Cơ, 2 quyển. Luận giải về Duy thức nhị thập luận của Huyền Trang.

duy thức nhị thập luận tụng duy thức nhị thập luận tụng

Vimśātīkā-kārikā (S)Tên một bộ luận kinh.

Duy thức nhị thập luận 唯識二十論

[ja] ユイシキニジュウロン Yuishiki nijū ron ||| The Weishi ershi lun; Viṃśatikā vijñapti-mātratā-siddhiḥ, Vimsatikā-vṛtti (Twenty Verses on Consciousness-only). T 1590.31.74-77. By Vasubandhu 世親, translated in 661 by Xuanzang 玄奘. There are also translations by Prajñāruci (唯識論) and Paramārtha (大乘唯識論). This was one of Vasubandhu's most philosophically important Yogācāra works, which refutes the realism of the non-Buddhist and pre-Mahāyāna schools. Hamilton translated Xuanzang's version and Kuiji's commentary (述記). Translations not from Chinese include Anacker (1984) and Kochumuttom (1982). => Của Thế Thân, Huyền Trang dịch năm 661. cũng có bản dịch của Bát-nhã Lưu-chi (s: Prajñāruci) với tên Duy thức luận (唯識論) và bản dịch của Chân Đế (s: Paramārtha) với nhan đề Đại thừa Duy thức luận (大乘唯識論). Đây là một tác phẩm Duy thức quan trọng mang tính triết học nhất của Thế Thân, nhằm bác bỏ thuyết thực hữu cũa ngoại đạo và của các trường phái tiền Đại thừa. Hamilton đã dịch luận giải của Huyền Trang và luận giải (Thuật ký 述記). của Khuy Cơ. Những bản dịch khác không dựa vào tiếng Hán còn có bản của Anacker (1984) and Kochumuttom (1982).

duy thức nhị thập tụng

Viṃśikā-vijāptimātrata-siddhi-kārikā (S)Tên một bộ luận kinh.

Duy thức phái

唯識派; C: wéishìpài; J: yuishikiha;|Duy thức tông.

Duy thức phái 唯識派

[ja] ユイシキハ yuishikiha ||| The Consciousness-only school of thought, which took as its major tenet the concept that the experienced world is nothing other than the manifestation of our own consciousness. This basic view of the world formed the cornerstone of the doctrines of the Yogācāra school 瑜伽行派 in India as well as the "Dharma-characteristic" sects 法相宗 of East Asia, and therefore the term "School of Consciousness-only" is regularly used to refer to either one of these sects. The Yogācāra 瑜伽行派 school of Indian Buddhism, which together with the Middle Way (Mādhyamika; 中觀派) school, represented one of the two main branches of Mahāyāna philosophy. Its great teachers in India were Asaṅga (fourth century CE) 無著・無着 and his brother Vasubandhu 世親. When Asaṅga's works were first translated into Chinese in the sixth century CE, the school was known as Shelun 攝論宗, but eventually it was absorbed into the school of the great Chinese translator-monk Hsüan-tsang 玄奘 (596-664). Hsüan-tsang's school was known as the Fa-hsiang ['dharma-characteristic'] school, after this main feature of its teachings. => Trường phái tư tưởng Duy thức, nhận nguyên lý chủ yếu ý niệm về thế giới thường nghiệm không gì khác hơn là sự biểu hiện của chính tâm thức mình. Quan điểm cơ bản về thế giới nầy đặt nền tảng trên giáo lý của Du-già hành phái Ấn Độ và cũng là Pháp tướng tông của Đông á, bởi vậy nên “Duy thức tông” thường được dùng để gọi cả hai tông nầy. Du-già hành phái Ấn Độ cùng với Trung đạo phái (s: Mādhyamika,c: 中觀派), đại diện cho một trong hai nhánh chính của triết học Đại thừa Phật giáo. Vị thầy vĩ đại của tông phái nầy ở Ấn Độ là Vô Trước và người anh là Thế Thân. Khi các tác phẩm của Thế Thân lần đầu tiên được dịch sang tiếng Hán vào thế kỷ thứ 6, tông nầy được gọi là Nhiếp luận tông, nhưng cuối cùng nó bị thu hút bởi đại dịch giả Pháp sư Huyền Trang, Hsüan-tsang 玄奘 (596-664). Tông phái ngài Huyền Trang sáng lập được gọi là Pháp tướng tông, nhờ vào đặc điểm nổi bật của giáo lý ấy.

duy thức pháp thân quán

4427指理法身之觀,即觀佛與自心為一體。所謂唯識,離如來藏心無餘法之意,亦即如來藏心雖為煩惱所纏縛,然除此無餘法。依之,可謂既已為唯識,則諸佛之法身與在纏如來藏心同為一體,亦即離唯識無法身,故得以觀佛與自己心性為一體。善導之觀無量壽佛經疏(定善義)就「是心作佛、是心是佛」之解釋,舉出當時之異解,謂(大三七‧二六七中):「或有行者將此一門之義,作唯識法身之觀,或作自性清淨佛性觀者。」自性清淨佛性觀以佛乃自己心性所顯,唯識法身觀則觀佛之法身為與己同體之法身,故名異而實同。又善導所謂之「行者」,蓋指慧遠、智顗、吉藏等。 ; (唯識法身觀) Chỉ cho pháp quán về lí pháp thân, tức quán Phật với tâm mình là một thể. Cái gọi là duy thức, hàm ý là ngoài tâm Như lai tạng ra không có pháp nào khác. Tâm Như lai tạng tuy bị phiền não trói buộc, nhưng là nguồn gốc của tất cả các pháp. Theo đó, có thể nói, đã là duy thức thì pháp thân của chư Phật và tâm Như lai tạng còn trong phiền não là cùng một thể, cũng tức là ngoài duy thức không có pháp thân, cho nên, có thể quán Phật và tâm tính của mình là nhất thể. Trong Quán vô lượng thọ kinh sớ (Định thiện nghĩa), khi giải thích câu Tâm này làm Phật, tâm này là Phật, ngài Thiện đạo đã nêu ra những kiến giải khác nhau ở đương thời, rồi nói (Đại 37, 267 trung) : Hoặc có hành giả lấy nghĩa của môn này làm pháp quán Duy thức pháp thân, hoặc làm pháp quán Tự tính thanh tịnh Phật tính. Pháp quán Tự tính thanh tịnh Phật tính là quán Phật từ trong tâm tính mình hiển hiện, còn pháp quán Duy thức pháp thân thì quán pháp thân của Phật là cùng thể với pháp thân của mình, cho nên, tên gọi thì khác mà thể thực thì đồng. Hai chữ hành giả trong đoạn trích ở trên là ngài Thiện đạo ám chỉ các ngài Tuệ viễn, Trí khải, Cát tạng v.v...

duy thức quán

Ba đối tượng trong Duy Thức quán—The three subjects of idealistic reflection: 1) Biến Kế Sở Chấp Tính: Quán thật tánh của ngã và chư pháp—Ego and things are realities. 2) Y Tha Khởi Tính: Quán chư pháp được sanh ra bởi nhân duyên—Things are produced by caused and circumstance. 3) Viên Thành Thực Tính: Quán chỉ có Chân như là hiện thực—Bhutatathata is the only reality.

Duy thức tam thập luận

唯識三十論; C: wéishì sānshí lùn; J: yuishiki sanjū ron; |Của Thế Thân. Huyền Trang dịch năm 648 tại chùa Hoằng Phúc. Đây là văn bản gốc để viết luận giải Thành duy thức luận (成唯識論). Nhan đề bằng tiếng Hán được dịch sang tiếng Phạn là Triṃśikā-vijñaptimātra-śāstra. Đây là một tác phẩm căn bản của tông Duy thức vùng Đông nam á, vì nó khế hợp chính xác với hầu hết giáo lí cơ bản như sự trình bày về hữu vi pháp từ quan niệm a-lại-da thức, và giảng giải vọng tưởng được trừ diệt như thế nào khi giác ngộ. Lusthaus phiên dịch (2000). Các bản dịch khác có thể đọc qua tác phẩm của Anacker (1984) và Kochumuttom (1982).

Duy thức tam thập luận tụng

唯識三十論頌; C: wéishì sānshí lùnsòng; J: yuishiki sanjū ronshō; S: triṃśikā yijñapti-mātratāsiddhiḥ|1 quyển, Huyền Trang dịch. Là tác phẩm tiêu biểu của Thế Thân, luận giải quan trọng nhất để lập thành giáo lí của Du-già hành tông, từ đó những nguyên tắc quan trọng từ trước đến nay đã được giải thích bởi Di-lặc và Vô Trước được giải thích lại tinh tế theo lập trường của thức chuyển biến (識轉變; s: vijñāna-pariñāma) trong 30 bài kệ ngắn. Do Thế Thân viên tịch mà không trứ tác luận giải về các bài kệ nầy, hàng môn đệ học giả kế tục bận rộn với việc tranh luận với nhau về luận giải nầy đến mức làm phát sinh nhiều trường phái Duy thức. Trong số các luận giải nầy, tác phẩm của Hộ Pháp được xem là chính thống. Luận giải nầy cấu thành nội dung chính của Thành duy thức luận, được Huyền Trang dích sang tiếng Hán nhan đề Thành Duy thức luận (成唯識論), trở nên một bản văn chủ yếu lập thành Pháp tướng tông Trung Hoa.

duy thức tam thập luận tụng

4427請參閱 唯識三十論頌 請參閱 唯識三十頌釋 請參閱 唯識三十論頌 梵名 Triṃśikā-vijñapti-mātratā-siddhi。全一卷。世親菩薩造,唐代玄奘譯。又作唯識三十頌、唯識三十論、三十唯識論、高建法幢論。收於大正藏第三十一冊。以三十偈頌詮釋唯識教義(前二十四行頌明唯識之相,後一行頌明唯識之性,最後五行頌明唯識之行位)。乃瑜伽十支論之一。世親臨終之際,以三十頌六百言闡述大乘法相之妙趣。其後,護法、安慧等諸論師各為三十頌作注,並加序分、流通二頌。高宗顯慶四年(659),玄奘以護法學說為主,合糅諸論師之作,而譯成「成唯識論」十卷。每一偈均先立萬法乃唯識所變現,分能變之識為異熟(第八識)、思量(第七識)、了別境(前六識)等三種,次辨唯識之理,最後揭示唯識三性及修行階位。注疏有成唯識論十卷、略釋一卷(窺基)、唯識三十論約意一卷(明昱)、唯識三十論直解一卷(智旭)、唯識三十頌錦花一卷(真敬)、唯識三十頌略釋四卷(圓明)等。又南朝真諦所譯之轉識論為本書之異譯。(參閱「成唯識論」2925) ; Triṃśikākārikā (S), Vijāptimātratā-siddhi-triṃśika-śāstra-kārikā (S), Vidyāmātrā siddhi tridaśa śāstra kārikā (S), Vijāna matra siddhi trimśātī śāstra kārikā (S), Triṃśikā vijaptimātratā kārikā (S)Tam thập duy thức, Thành duy thức luậnSách ghi 30 bài tụng luận về duy thức. Trong ấy 24 bài nói về tướng duy thức, 1 nói về tánh duy thức, 5 nói về vị duy thức. Sách do Ngài Thiên Thân soạn, ngài Huyền Trang dịch ra chữ Hán. ; (唯識三十論頌) Phạm :Triôzikà-vijĩapti-màtratàsiddhi. Có 1 quyển, ngài Thế thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. Cũng gọi Duy thức tam thập tụng, Duy thức tam thập luận, Tam thập duy thức luận, Cao kiến pháp chàng luận. Thu vào Đại chính tạng tập 31. Luận này dùng 30 bài kệ tụng để giải thích rõ nghĩa Duy thức (24 bài đầu nói rõ về tướng của Duy thức, một bài kế tiếp nói về tính Duy thức, năm bài cuối cùng nói về hành vị của Duy thức). Sách này là một trong 10 chi luận của Du già. Lúc lâm chung, ngài Thế thân dùng 30 bài tụng, gồm 100 lời để trình bày chỉ thú của pháp tướng Đại thừa. Về sau, các vị luận sư như: ngài Hộ pháp, An tuệ v.v... đều có chú thích và soạn thêm 2 bài tụng làm phần tựa, phần lưu thông. Năm Hiển khánh thứ 4 (659) đời vua Cao tông nhà Đường, ngài Huyền trang lấy học thuyết của ngài Hộ pháp làm chính, rồi tông hợp các chú thích của các vị luận sư khác mà biên dịch thành bộ luận Thành duy thức 10 quyển. Như đã nói ở trên, nội dung luận này gồm 30 bài kệ tụng giải thích giáo nghĩa Duy thức. Mỗi bài kệ đều trước hết lập luận vạn pháp là do duy thức biến hiện, chia thức năng biến làm ba loại: Dị thục (thức thứ 8), Tư lượng (thức thứ 7), Liễu biệt cảnh (6 thức trước), kế đến nói về lí duy thức, cuối cùng nêu rõ ba tính duy thức và thứ bậc tu hành. Về chú sớ có: Luận Thành duy thức 10 quyển; Lược thích 1 quyển (Khuy cơ), Duy thức tam thập luận ước ý 1 quyển (Minh dục); Duy thức tam thập luận trực giải 1 quyển (Trí húc), Duy thức tam thập tụng cẩm hoa 1 quyển (Chân kính), Duy thức tam thập tụng lược sớ 4 quyển (Viên minh) v.v... Còn luận Chuyển thức do ngài Chân đế dịch vào thời Nam triều là bản dịch khác của sách này. (xt. Luận Thành Duy Thức). DUY THỨC TAM THẬP TỤNG THÍCH Phạm: Triôzikà-vijĩapti-bhàwya. Cũng gọi Tam thập liễu biệt thích, Duy thức tam thập tụng thích luận, do ngài An tuệ người Ấn độ soạn, giải thích bộ Duy thức tam thập luận tụng của ngài Thế thân. Phần nội dung thì trước hết trình bày lí do tạo luận, kế đó, nói rõ thứ tự các bài tụng và ý nghĩa câu văn, đồng thời, viện dẫn kinh A tì đạt ma, Nhập vô phân biệt đà la ni (Phạm: Nirvikalpa-pravezadhàraịì) và các kệ tụng khác để chứng minh cho thuyết của tác giả. Bộ sớ này hiện có bản dịch tiếng Pháp và tiếng Nhật.

Duy thức tam thập luận tụng 唯識三十論 頌

[ja] ユイシキサンジュウロンショウ Yuishiki sanjū ronshō ||| Wei-shih san-shih lun sung; the Triṃśikā Vijñaptimātratāsiddhiḥ (Thirty Verses on Consciousness-only; 1 fasc., by Vasubandhu 世親, trans. Xuanzang 玄奘. A representative work by Vasubandhu which is one of the most important texts for the establishment of Yogācāra doctrine, wherein the most important principles heretofore explained by Maitreya 彌勒 and Asaṅga 無著 are skillfully and economically re-explained from the standpoint of the transformation of consciousness (識轉變, vijñāna-pariñāma) in a short thirty verses. Since Vasubandhu passed away without having ever written explanatory commentary on these verses, succeeding generations of scholars engaged in extensive debate over their interpretation, to the extent that various schools of Yogācāra developed. Among these interpretations, it was that by Dharmapāla 護法 which came to be taken as orthodox. This commentary by Dharmapāla formed the major content of the Vijñaptimātratāsiddhi-śāstra, which was translated into Chinese by Xuanzang 玄奘 as the Cheng weishi lun 成唯識論, in turn an important text in the formation of the Chinese Faxiang school 法相宗. T 1586.31.60a-61b. => Của Thế Thân, 1quyển, Huyền Trang dịch. Là tác phẩm tiêu biểu của Thế Thân, luận giải quan trọng nhất để lập thành giáo lý của Du-già hành tông, từ đó những nguyên tắc quan trọng từ trước đến nay đã được giải thích bởi Di-lặc và Vô Trước được giải thích lại tinh tế theo lập trường của thức chuyển biến (c: 識轉變; s: vijñāna-pariñāma) trong 30 bài kệ ngắn. Do Thế Thân viên tịch mà không trứ tác luận giải về các bài kệ nầy, hàng môn đệ học giả kế tục bận rộn với việc tranh luận với nhau về luận giải nầy đến mức làm phát sinh nhiều trường phái Duy thức. Trong số các luận giải nầy, tác phẩm của Hộ Pháp được xem là chính thống. Luận giải nầy cấu thành nội dung chính của Thành Duy thức luận, được Huyền Trang dích sang tiếng Hán nhan đề Thành Duy thức luận (Cheng weishi lun 成唯識論),trở nên một bản văn chủ yếu để lập thành Pháp tướng tông Trung Hoa.

Duy thức tam thập luận 唯識三十論

[ja] ユイシキサンジュウロン Yuishiki sanjū ron ||| The Weishi sanshi lun; Triṃsikā (Thirty Verses on Vijñapti-mātra Treatise) Vasubandhu 世親1586 Translated by Xuanzang 玄奘 in 648 at Hongfu Monastery. This is the root text on which the Cheng weishi lun 成唯識論 expounds. The Chinese title would literally translate into Sanskrit as Triṃsikā-vijñapti-mātra śāstra. This is a basic work for East Asian Yogācāra, as it articulates the most basic doctrines such as the production of conditioned phenomena 有爲法 from the ālayavijñāna 阿頼耶識, and teaches how illusion is eliminated in the attainment of enlightenment. Translated in Lusthaus (2000). Other translations, from Sanskrit, found in Anacker (1984) and Kochumuttom (1982). => Của Thế Thân. Huyền Trang dịch năm 648 tại chùa Hoằng Phước. Đây là văn bản gốc để viết luận giải Thành duy thức luận (c: Cheng weishi lun; 成唯識論). Nhan đề bằng tiếng Hán được dịch sang tiếng Sanskrit là Triṃsikā-vijñapti-mātra śāstra. Đây là một tác phẩm căn bản của tông Duy thức vùng Đông nam á, vì nó khế hợp chính xác với hầu hết giáo lý cơ bản như sự trình bày về hữu vi pháp từ quan niệm a-lại-da thức, và giảng giải vọng tưởng được trừ diệt như thế nào khi giác ngộ. Lusthaus phiên dịch (2000). Các bản dịch khác có thể đọc qua tác phẩm của Anacker (1984) và Kochumuttom (1982).

Duy thức tam thập tụng

唯識三十頌; C: wéishì sānshí sòng; J: yuishiki sanjū shō;|Duy thức tam thập luận tụng (唯識三十論頌).

duy thức tam thập tụng

Vijnaptimatrata-trimsika (skt)—See Tam Thập Tụng Duy Thức.

duy thức tam thập tụng thích

4427梵名 Triṃśikā-vijñapti-bhāṣya。意譯三十了別釋。又稱唯識三十頌釋論。印度安慧造。解釋世親所著之唯識三十論頌。先敘造論之旨趣,次詮明各頌次第及字句意義。並援引阿毘達磨經、入無分別陀羅尼(梵 Nirvikalpa-praveśa-dhāraṇī) 及其他偈頌以廣證其說。本書現有法譯本及日譯本。 ; Triṃśikā-bhāṣya (S), Trimśatikā (S)Tên một bộ luận kinh.

Duy thức tam thập tụng 唯識三十 頌

[ja] ユイシキサンジュウショウ Yuishiki sanjū shō ||| See 唯識三十論頌. T 1586.31.60a-61b. => Xem Duy thức tam thập luận tụng 唯識三十論 頌.

duy thức tam tính quán

4427即就遍計所執性、依他起性、圓成實性等三性行唯識之觀。又作三性觀行、唯識觀、唯識心定。為顯唯識之實性,成唯識論卷九遂就三性立真妄、真俗之二種相對;即遍計為虛妄之唯識性,依他為世俗之唯識性,圓成為真實之唯識性。即如唯識二十論述記卷上所釋,遍計所執性為虛妄之唯識;依他起性為非有似有,乃因緣所生,故為因緣之唯識,即識之相;圓成實性為真實之唯識,即識之性。所觀之境的三性既通三種唯識性,故稱唯識三性觀。修此唯識三性觀,自淺至深有五重,稱為五重唯識觀,即:(一)遣虛存實識,即觀虛妄遣去所執,存留依他、圓成二性之實,此乃虛實相對之觀法。(二)捨濫留純識,乃心境相對之觀法。(三)攝末歸本識,乃體用相對之觀法。(四)隱劣顯勝識,乃心心所相對之觀法。(五)遣相證性識,乃事理相對,唯識觀之至極。(參閱「三性」563、「五重唯識」1123) ; See Duy Thức Quán. ; (唯識三性觀) Tức là pháp quán ba tính: Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thực tính của Duy thức. Cũng gọi Tam tính quán hạnh, Duy thức quán, Duy thức tâm định. Để hiển bày thực tính của Duy thức, luận Thành duy thức quyển 9 căn cứ vào ba tính mà lập hai thứ tương đối là Chân vọng và Chân tục, tức: Biến kế là tính duy thức hư vọng, Y tha là tính duy thức thế tục, Viên thành là tính duy thức chân thực. Như Duy thức nhị thập luận thuật kí quyển thượng giải thích: Tính Biến kế sở chấp là thức hư vọng; tính Y tha khởi thì chẳng phải có mà dường như có, là do nhân duyên sinh, cho nên là thức của nhân duyên, tức là tướng của thức; tính Viên thành thực là thức chân thực, tức là tính của thức. Ba tính của cảnh sở quán thông với ba tính duy thức, vì thế gọi là Duy thức tam tính quán. Tu pháp Duy thức tam tính quán này, từ cạn đến sâu có năm lớp: 1. Khiển hư tồn thực thức (bỏ thức hư giả, giữ lại thức chân thực): Quán hư vọng để trừ bỏ sở chấp, giữ lại cái thực của hai tính Y tha, Viên thành : Đây là pháp quán hư thực đối nhau. 2. Xả lạm lưu thuần thức (Bỏ thức tạp nhạp, giữ lại thức tinh thuần), tức là pháp quán tâm, cảnh đối nhau. 3. Nhiếp mạt qui bản thức (đưa thức ngọn về thức gốc), tức là pháp quán thể, dụng đối nhau. 4. Ẩn liệt hiển thắng thức (ẩn kín thức kém, hiển bày thức hơn) tức là pháp quán tâm, tâm sở đối nhau. 5. Khiển tướng chứng tính thức (bỏ tướng mà chứng tính của thức), là sự, lí đối nhau, đến đây là tột bậc của pháp quán Duy thức. (xt. Tam Tính, Ngũ Trùng Duy Thức).

duy thức thập nhị luận

Vimśātīkā-vijapti-matrata-siddhi (S)Tên một bộ luận kinh.

duy thức trung đạo

Theo Pháp Tướng Tông thì chư pháp duy tâm tạo, chứ không thật mà cũng không giả—The madhya, or medial doctrine of idealism as held by the Dharmalaksana school (Pháp Tướng Tông), that all things are of mind-evolution, and are neither in themselves real or unreal.

Duy thức tu đạo ngũ vị

唯識修道五位|Ngũ đạo

duy thức tu đạo ngũ vị

See Ngũ Vị (C).

duy thức tâm định

See Duy Thức Quán.

Duy thức tông

唯識宗; S: vijñaptimātravāda, yogācāra, citta-mātravāda;|Tên gọi tại Ðông, Ðông Nam Á của một trường phái Phật giáo. Tại Ấn Ðộ và Tây Tạng, tông này được gọi là Thức tông, Thức học (vijñānavāda), hoặc Du-già hành tông (s: yogācāra), tại Tây Tạng, người ta cũng gọi là Duy tâm tông (唯心宗; s: cittamā-trin). Ðây là một trong hai trường phái chính của Phật giáo Ðại thừa do hai Ðại sư Vô Trước (無著; s: asaṅga) và người em là Thế Thân (世親; s: vasubandhu) sáng lập. Tương truyền rằng, chính Ứng thân (Ba thân) Bồ Tát Di-lặc (彌勒; s: maitreya) khởi xướng trường phái này ở thế kỉ thứ 4 sau Công nguyên.|Quan điểm trung tâm của trường phái này là – như tên đã nói – tất cả mọi hiện tượng con người cảm nhận được đều là »duy thức« (vi-jñāptimātratā), chỉ là thức (tâm); mọi hiện tượng đều là cảm nhận của thức, không có đối tượng độc lập, ngoài thức đang cảm nhận thì không có gì có thật. Như thế, »thế giới« bên ngoài thuần tuý chỉ là thức vì khách quan không có thật và chủ quan cũng không có thật nốt. Sự cảm nhận chỉ là quá trình của một tưởng tượng, một ảnh ảo của một khách quan bị tưởng lầm là có thật. Quá trình này được giải thích bằng khái niệm A-lại-da thức (阿賴耶識; s: ālayavijñāna). Ngoài những quan điểm trên, khái niệm Ba thân Phật (三身; s: trikāya) cũng được Duy thức tông giải thích trọn vẹn. Ðại diện xuất sắc của Duy thức tông, ngoài các nhà sáng lập nói trên, là An Huệ (安慧; s: sthiramati), Hộ Pháp (護法; s: dharmapāla) – hai luận sư đã tạo thêm hai nhánh khác nhau trong Duy thức tông – và Trần-na (陳那; s: dignā-ga), Pháp Xứng (法稱; s: dharmakīrti, xem Mười đại luận sư).|Tên Phạn ngữ (sanskrit) khác của Duy thức tông là Du-già hành tông (yogācāra), vì lí do là đệ tử phái này rất chú trọng việc hành trì Du-già (s: yoga), quán tưởng thiền định để phát huy hạnh nguyện của một Bồ Tát.|Thế giới bên ngoài được Duy thức tông giải thích như sau: A-lại-da thức, vốn chứa tất cả các chủng tử của quá khứ, mang sẵn những mầm, chủng tử (s: bīja) và các mầm đó sản sinh các hiện tượng tâm thức. Các chủng tử đó chín muồi theo tác động của Nghiệp (s: karma), chúng tác động qua lại lẫn nhau làm con người thấy một ảnh ảo mà cho nó là có thật. A-lại-da thức được so sánh với một dòng nước chảy, luôn luôn mới mẻ và liên tục, tiếp tục sinh hoạt động sau khi chết và sự liên tục của nó chính là cơ sở của sự tái sinh. Những cảm nhận của con người, vì bị »ô nhiễm« nên chúng sinh ra một ấn tượng về cái »ta«. Ấn tượng về cái »ta« là sai lầm, vì thật ra chỉ có »sự cảm nhận« chứ không có »người cảm nhận«. Và cũng vì vô minh mà cho rằng có tự ngã nên con người bám víu vào đó để chịu Khổ. Duy thức tông dựa vào thuyết dưới đây – được gọi là thuyết Tam tự tính (s: trisvabhāva) – để giải thích sự cảm nhận, nhận thức ngoại cảnh.|Tam tự tính là:|1. Biến kế sở chấp tính (遍計所執性; s: pari-kalpita-svabhāva), còn được gọi là huyễn giác (幻覺) hay thác giác (錯覺): Tất cả những hiện hữu đều là kết quả của trí tưởng tượng (huyễn giác), do chấp trước, cho rằng sự vật trước mắt là có thật, là độc lập;|2. Y tha khởi tính (依他起性; s: paratantra-sva-bhāva), nghĩa là dựa vào cái khác mà sinh ra: Tất cả pháp hữu vi đều do Nhân duyên mà phát sinh, lệ thuộc vào nhau, không có tự tính (s: asva-bhāva);|3. Viên thành thật tính (圓成實性; s: pariniṣpan-na): Tâm vốn thanh tịnh, là Chân như (s: tathatā), Như Lai tạng (s: tathāgata-garbha), là tính Không (s: śūnyatā).|Phương cách giải thoát của Duy thức tông dựa vào con đường của Phật giáo nguyên thuỷ, gồm có bốn mức độ (hoặc năm, trong hệ thống năm cấp thì 1 và 2 bằng cấp 1 ở đây, xem thêm Ngũ đạo), đòi hỏi hành giả hành trì các Ba-la-mật-đa (s: pāramitā; Lục độ) và Ðịnh (s: samādhi):|1. Gia hạnh (s: prayoga): Hành giả (Bồ Tát) nhận ra rằng không có gì ngoài Tâm;|2. Kiến (s: darśana): Hành giả dựa trên giáo pháp đích thật, đạt Như thật tri kiến, bước vào Thập địa (s: bhmi). Hành giả thống nhất khách quan chủ quan là một. Trong giai đoạn này, hành giả loại trừ Phiền não (s: kleśa).|3. Tu tập (s: bhāvanā): Hành giả tu tập và vượt qua Bồ Tát thập địa;|4. Thánh quả: Hành giả diệt tận phiền não, chấm dứt Luân hồi. Vị Bồ Tát đã chứng đạt Pháp thân (s: dharmakāya).|Duy thức tông phát triển mạnh nhất trong thế kỉ thứ 6 sau Công nguyên. Một trong những trung tâm quan trọng của Duy thức tông là Ðại học Na-lan-đà (s: nālandā) ở Bắc Ấn Ðộ. Nơi đó, Hộ Pháp đã chủ trương một quan điểm duy thức tuyệt đối. Song song với Na-lan-đà cũng có một trung tâm khác không kém quan trọng tại Va-la-bi (valabhī), được một Ðại luận sư khác của Duy thức tông là Ðức Huệ (s: guṇamati) sáng lập. Ðại diện xuất sắc nhất của trường phái Duy thức này là An Huệ (s: sthiramati), một môn đệ của Ðức Huệ. Khác với Hộ Pháp, An Huệ có cái nhìn tương đối hơn về duy thức, bắt cầu nối giữa quan điểm »Thật tướng« của Long Thụ (s: nāgārjuna) và quan niệm »Nhất thiết duy tâm tạo.« Sư dung hoà triết lí của Duy thức tông và tư tưởng thật tính của Trung quán tông. Trần-na (s: dignāga) và Pháp Xứng (s: dhar-makīrti) kết hợp quan điểm Duy thức và Kinh lượng bộ (s: sautrāntika) để sinh ra một nhánh của Duy thức là Nhân minh học (因明學; s: hetuvi-dyā), cách tranh luận bằng logic.|Duy thức tông bị Trung quán tông (s: mādhya-mika) phản bác mãnh liệt. Họ cho rằng Duy thức tông đã đưa vai trò của Thức lên quá cao, cho nó một tính chất trường tồn, đứng sau mọi hiện tượng (xem thêm Pháp tướng tông).|Sáu bộ kinh căn bản của Duy thức tông: 1. Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm (buddhā-vataṃsaka-mahāvaipulya-sūtra); 2. Giải thâm mật (saṅdhinirmocana-sūtra); 3. Như Lai xuất hiện công đức, không có bản Hán văn; 4. Ðại thừa a-tì-đạt-ma (mahāyānābhidharma-sūtra), được nhắc đến trong Nhiếp đại thừa luận, Du-già sư địa luận nhưng không có bản Hán văn, có lẽ đã thất truyền; 5. Nhập Lăng-già (laṅkāvatāra-sūtra); 6. Hậu nghiêm kinh (ghaṇavyūha), chưa được dịch ra Hán văn;|Mười một bộ luận: 1. Du-già sư địa luận (yogācā-rabhūmi-śāstra), Vô Trước soạn, Huyền Trang dịch ra Hán ngữ, 100 quyển. Ðây là bộ luận chính của Duy thức học; 2. Ðại thừa bách pháp minh môn luận (mahāyānaśatadharma-vidyādvāra-śāstra), Thế Thân soạn, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 3. Ðại thừa ngũ uẩn luận (skandhaka-prakaraṇa), Thế Thân soạn, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 4. Hiển dương thánh giáo luận (ārya-śāsana-prakaraṇa-śāstra), Vô Trước soạn, Huyền Trang dịch, 20 quyển; 5. Nhiếp đại thừa luận (mahāyāna-saṃ-graha), có ba bản Hán dịch: 1. Phật-đà Phiến-đa (buddhaśānta) dịch, 2 quyển; 2. Chân Ðế (pa-ramārtha) dịch, 3 quyển; 3. Huyền Trang dịch, 3 quyển; 6. Ðại thừa a-tì-đạt-ma (tạp) tập luận (abhi-dharma-samuccaya), Vô Trước soạn, Sư Tử Giác (siṃhabodhi) thích, An Huệ (sthiramati) tập, Huyền Trang dịch, 16 quyển; 7. Biện trung biên luận (ma-dhyāntavibhāga-śāstra), Di-lặc thuyết, Huyền Trang dịch, 3 quyển; 8. Nhị thập duy thức tụng (viṃśika-vijñāptimātratā-kārikā), có ba bản dịch: 1. Duy thức luận, Bát-nhã Lưu-chi (prajñāruci) dịch, 1 quyển; 2. Ðại thừa duy thức luận, Chân Ðế dịch, 1 quyển; 3. Duy thức nhị thập tụng, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 9. Duy thức tam thập tụng (s: triṃśatika-vijñāptimātratā-kārikā), Thế Thân soạn, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 10. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận (mahāyānasūtralaṅkāra-śāstra), Vô Trước soạn, Ba-la-phả Mật-đa (prabhākāramitra) dịch, 13 quyển; 11. Phân biệt du-già luận (?), Di-lặc thuyết, chưa có bản Hán văn;

duy thức tông

Vijānavāda (P), Viāṇavāda (P), School of Consciousness-Only, Mind-Only school, Cittamatra school Xem Pháp tướng tông ; Vijnànavàda sect, Dharmalaksana sect (Pháp tướng tông) Own-mind-seen-only. Chỉ thấy được bằng chính tâm mình. ; Vijnanavada (skt)—Còn gọi là Duy Thức Gia hay Pháp Tướng tông. Học thuyết của Duy Thức tông chú trọng đến tướng của tất cả các pháp; dựa trên đó, luận thuyết về Duy Thức Học được lập nên để minh giải rằng ly thức vô biệt pháp hay không có pháp nào tách biệt khỏi thức được. Mặc dù tông nầy thường được biểu lộ bằng cách nói rằng tất cả các pháp đều chỉ là thức, hay rằng không có gì ngoài thức; thực ra ý nghĩa chân chính của nó lại khác biệt. Nói duy thức, chỉ vì tất cả các pháp bằng cách nầy hay cách khác luôn luôn liên hệ với thức. Thuyết nầy dựa vào những lời dạy của Đức Phật trong Kinh Hoa Nghiêm, theo đó tam giới chỉ hiện hữu trong thức. Theo đó thế giới ngoại tại không hiện hữu, nhưng nội thức phát hiện giả tướng của nó như là thế giới ngoại tại. Toàn thể thế giới do đó là tạo nên do ảo tưởng hay do nhân duyên, và không có thực tại thường tồn nào cả. Tại Ấn Độ, tông phái nầy chuyên chú vào việc nghiên cứu Duy Thức Luận và các kinh sách cùng loại, nên có tên là Duy Thức Tướng Giáo. Tác giả các bộ sách nầy là Vô Trước và Thiện Thân, họ từng có một đệ tử xuất sắc là Giới Hiền, một người Ấn Độ, sống trong tu viện Na Lan Đà. Giới Hiền là người đã lập ra Duy Thức Tông tại Ấn Độ và có nhiều công lao trong việc sắp xếp các kinh điển Phật Giáo. Tại Trung Quốc, sau khi Huyền Trang được Giới Hiền trao cho bộ luận, đã lập nên tông phái nầy. Về sau, tông nầy cũng có tên là Pháp Tướng Tông và do một đồ đề của Huyền Trang là Khuy Cơ dẫn dắt—Dharmalaksana sect, which holds that all is mind in its ultimate nature. The doctrine of Idealism School concerns chiefly with the facts or specific characters (lakshana) of all elements on which the theory of idealism was built in order to elucidate that no element is separate from ideation. Although it is usually expressed by saying that all dharmas are mere ideation or that there is nothing but ideation, the real sense is quite different. It is idealistic because all elements are in some way or other always connected with ideation. This doctrine was based on the teaching of the Buddha in the Avatamsaka Sutra, that the three worlds exist only in ideation. According to Ideation Theory, the outer world does not exist but the internal ideation presents appearance as if it were an outer world. The whole world is therefore of either illusory or causal nature and no permanent reality can be found. In India, two famous monks named Wu-Ch'o and T'ien-Ts'in wrote some sastras on Vijnana. They had an outstanding disciple named Chieh-Hsien, an Indian monk living at Nalanda monastery. Later, Chieh-Hsien established the Vijnanavada school and contributed much to the arrangement of the Buddhist canons. In China, Hsuan-Tsang, to whom Chieh-Hsien handed over the sastra, founded this school in his native land. Later, the school was also called Dharmalaksana (Fa-Tsiang-Tsung) and was led by Kwei-Chi, a great disciple of Hsuan-Tsang.

Duy thức tông 唯識宗

[ja] ユイシキシュウ yuishikishū ||| (Vijñānavādin). The Consciousness-only (Weishi zong, Yusik chong)sect of Buddhism, which holds to the belief that all things exist as nothing but consciousness. See 唯識派. => Một tông phái Phật giáo, chủ trương tất cả mọi sự hiện hữu đều là tâm.ãem Duy thức phái 唯識派.

duy thức tục thuyên

4428 請參閱 成唯識論述記 凡十卷。明代明昱述。全稱成唯識論俗詮。又作唯識論俗詮。收於卍續藏第八十一冊。係明昱應王肯堂之請,將講解、詮釋成唯識論集錄而成者。題名為俗詮,意為文詞多蹇澀、見解凡俗。然顧起元之序則評賞謂,批卻導窾,曲暢旁通,開卷粲然,了無疑滯。本書敘述體裁,初置諸師序、跋,次詳細圖示,後即解釋論文。於各種注釋成唯識論之書中,本書並不依慈恩之「述記」,而屬於直接解釋本文之一類。 ; (唯識俗詮) Gồm 10 quyển, do ngài Minh dục soạn thuật vào đời Minh. Gọi đủ: Thành duy thức luận tục thuyên. Cũng gọi Duy thức luận tục thuyên, thu vào Vạn tục tạng tập 81. Ngài Minh dục nhận lời thỉnh cầu của Vương khẳng đường, giảng giải và chú thích luận Thành duy thức mà thành bộ sách này. Tên sách là Tục thuyên hàm ý lời văn rườm rà thô kịch, kiến giải phàm tục. Về hình thức trình bày, trước hết là các bài tựa, bạt của các sư, kế đến là biểu đồ rõ ràng tỉ mỉ, cuối cùng là giải thích văn luận. Trong các loại sách chú thích luận Thành duy thức thì sách này hoàn toàn không dựa theo loại thuật kí của ngài Từ ân mà trực tiếp giải thích bản văn.

duy thức viên giáo

Một trong ba giáo do ngài Đạo Tuyên Nam Sơn lập ra, là thâm giáo của Phật giáo Đại thừa—The perfect doctrine of idealism, the third of the three main divisions of the Buddha's teaching defined by T'ao-Hsuan of Nan-Shan, the perfect doctrine of idealism—See Tam Giáo (B).

duy thức vô cảnh

4428指萬法唯識所現,識外無真實之境。唯識,梵語 vijñapti-mātratā,音譯作毘若底摩呾喇多;無境,梵語 an-artha,又作無外境。意謂唯有識而無外在之對象,係唯識學派之根本學說。vijñapti 為由 vi-jñā(知)之「催起相」語基 vijñapaya 衍生之語,係唯識學派之術語,指識之顯現。唯識二十論記以「唯」即是否定外境,故「唯識」一語意謂無境。蓋識之顯現乃阿賴耶識由無始以來分別薰習所致,由此顯現所取之外境與能取之我,故大乘莊嚴經論求法品述及唯心者有二種顯現,即所取與能取之顯現。又攝大乘論本所知相分說依他起相為十一識,然皆不過是阿賴耶識所顯現,並無實在之外境與認識外境之主觀。是故,三界諸法皆唯識,離識並無實在之外境。即世界一切現象皆為內心所變現,心外無獨立之客觀存在。成唯識論卷一載,外境隨緣而施設,故非有如識,內識必依因緣生,故非無如境,即指諸法隨人之情識設置而非實有,所緣之境,唯識所現,諸法皆不離心。 自唯識現觀之次第而言,首於煖、頂之位了知唯有識而無外境;其次,於世第一法位亦了斷識之判別作用,於見道通達無所判別會得之法界。又由攝大乘論本卷中論述四種理由,可了解一切識為無境之理:(一)成就相違識相智,如餓鬼、傍生及諸天、人同於一事,所見有種種差別故。(二)成就無所緣識現可得智,如於過去、未來、夢、影像有所得故。(三)成就應離功用無顛倒智,若有境,於其中能緣義,識無顛倒,不由用功即得真實智故。(四)成就三種勝智隨轉妙智,此三種即:(1)得心自在一切菩薩、得靜慮者,隨勝解力諸境顯現。(2)得奢摩他、修法觀者,唯作意諸境顯現。(3)已得無分別智者,無分別智現前時,一切諸境皆不顯現。 此外,唯識學派歸納「有外境論」為三種,而加以批判,據玄奘譯之觀所緣緣論載,第一宗說諸極微為境;對此,極微為實體,故為生識之因,然識無極微之形相,故極微非境。第二宗說諸極微之和合為境;對此,識上雖有極微和合之形相,然和合者並無實體,不能成為識之生因,因此和合為境不成立。第三宗說諸極微之和集為實體且有麤(粗)大相,可成為識之境;對此,若和集有實體,則一一析除其構成部分,應現同一相狀,但如瓶則非然,故和集非實體。以上批判三宗,否定有外境論,而確立唯識無境之理。〔攝大乘論、成唯識論、辯中邊論、唯識二十論、唯識三十論頌、印度哲學研究卷六(宇井伯壽)、中邊分別論釋疏譯註(山口益)〕 ; Idealism—See Duy Cảnh Vô Thức. ; (唯識無境) Duy có thức không có cảnh. Muôn pháp do thức biến hiện, không có cảnh chân thực ngoài thức. Duy thức, Phạm:Vijĩapati-màtratà, âm Hán: Tì nhã để ma đát lạt đa. Vô cảnh, Phạm:An-artha, cũng gọi Vô ngoại cảnh. Ý nói duy có thức chứ không có đối tượng ở ngoài: đây là lí thuyết căn bản của học phái Duy thức. Vijĩapti là từvi-jĩà(biết) của tiếng gốc vijĩapaya mà ra, là thuật ngữ của học phái Duy thức, chỉ cho sự hiển hiện của thức. Duy thức nhị thập luận kí cho duy nghĩa là phủ định ngoại cảnh, bởi vậy, danh từ duy thức hàm ý là không có cảnh (vô cảnh). Bởi vì sự hiển hiện của thức là do sự huân tập phân biệt trong thức A lại da từ vô thủy đến nay, do sự huân tập ấy mà hiển hiện cảnh sở thủ (đối tượng bị nhận biết) bên ngoài và cái ta năng thủ (người nhận biết) bên trong. Cho nên, phẩm Cầu pháp trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận mới nói sự hiển hiện của thức có hai thứ là năng thủ và sở thủ. Sở tri tướng phần trong Nhiếp đại thừa luận bản cho rằng tướng Y tha khởi là 11 thức, nhưng không ngoài sự hiển hiện của thức A lại da, đồng thời, cho rằng không có ngoại cảnh và người nhận thức ngoại cảnh. Cho nên, các pháp trong ba cõi đều do duy thức, ngoài thức không có thực tại. Tức là hết thảy hiện tượng trong thế giới đều do thức biến hiện, ngoài thức không có khách quan tồn tại một cách độc lập. Luận Thành duy thức quyển 1 nói, ngoại cảnh theo duyên mà được bày đặt, chẳng phải là thức, thức nương nhân duyên mà sinh, chẳng phải là cảnh, tức các pháp do tình thức của con người bày đặt ra chứ không phải có thật. Cảnh sở duyên do duy thức hiển hiện. Nói theo thứ lớp của pháp quán Duy thức thì: Trước hết, ở giai vị Noãn, Đính biết rõ chỉ có thức chứ không có ngoại cảnh; kế đến, ở giai vị Thế đệ nhất pháp lại hoàn toàn chấm dứt mọi tác dụng phân biệt của thức; đến giai vị Kiến đạo thì thông suốt mà thể hội pháp giới không còn phân biệt. Nhiếp đại thừa luận bản quyển trung nêu ra bốn lí do qua đó có thể hiểu rõ lí tất cả thức là vô cảnh. Bốn lí do ấy là: 1. Thành tựu tương vi thức tướng trí : Cùng là một vật mà chỗ thấy của quỉ đói, súc sanh và trời, người có khác nhau. 2. Thành tựu vô sở duyên thức hiện khả đắc trí : Mặc dù không có cảnh sở duyên, nhưng thức vẫn có thể hiển hiện, như trong quá khứ, vị lai, chiêm bao, bóng dáng v.v... 3. Thành tựu ưng li công dụng vô điên đảo trí : Nếu có cảnh, theo nghĩa năng duyên, thức không điên đảo, vì không cầu công dụng mà được trí chân thực. 4. Thành tựu tam chủng thắng trí tùy chuyển diệu trì : a. Đối với tất cả pháp, Bồ tát được tâm tự tại, được chính định thì tùy theo sức thắng giải mà các cảnh hiển hiện. b. Được Xa ma tha, người tu pháp quán chỉ cần tác ý là các cảnh hiển hiện. c. Người đã được trí không phân biệt, khi trí này không hiện tiền thì tất cả các cảnh đều không hiển hiện. Ngoài ra, học phái Duy thức chia Hữu ngoại cảnh luận (Luận thuyết chủ trương có cảnh bên ngoài) làm ba loại để phê phán: 1. Chủ trương các cực vi là cảnh: Phái này cho cực vi là thực thể, bởi thế nó là nhân sinh ra thức. Nhưng thức không có hình tướng cực vi, cho nên cực vi chẳng phải là cảnh. 2. Chủ trương các cực vi hòa hợp là cảnh: Cực vi tuy có hình tướng hòa hợp, nhưng sự hòa hợp ấy hoàn toàn không có thực thể, không thể làm nhân sinh ra thức, do đó không thể thành lập hòa hợp làm cảnh. 3. Chủ trương các cực vi hòa hợp làm thực thể và có tướng thô to, có thể làm cảnh của thức. Nếu hòa hợp có thực thể thì khi tách rời mỗi bộ phận hòa hợp ấy ra, nó cũng phải hiện một tướng trạng đồng nhất, nhưng, như cái bình thì không như thế, cho nên biết hòa hợp không phải là thực thể. Trên đây là bác bỏ chủ trương có ngoại cảnh để xác lập lí Duy thức vô cảnh. [X. luận Nhiếp đại thừa; luận Thành duy thức; luận Biện trung biên; luận Duy thức nhị thập; Duy thức tam thập luận tụng; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.6 (Vũ tỉnh Bá thọ); Trung biên phân biệt luận thích sớ dịch chú (Sơn khẩu ích)].

Duy thức 唯識

[ja] ユイシキ yuishiki ||| (citta-mātra). "Consciousness-only (vijñapti-mātratā)." The theory that all existence is nothing but consciousness, and therefore there is nothing that lies outside of the mind. Consciousness-only was a major component of the thought of the school of Yogācāra 瑜伽行派. The Vijñānavādins explained the regularity and coherence of sense impressions as due to an underlying store of perceptions (ālaya-vijñāna) 阿頼耶識 evolving from the accumulation of traces of earlier sense perceptions. These are active, and produce impressions 種子 similar to themselves, according to a regular pattern, as seeds produce plants. Each being possesses a store of perceptions and beings which are generically alike will produce similar perceptions from their stores at the same time. Its doctrine reduces all existence to one hundred elements (法 dharmas) into five divisions, namely, mind, mental function, material, not concomitant with mind and unconditioned, dharmas. According to this school, the external world is created when the ālaya (storehouse) consciousness is influenced ('perfumated') 薫 by "seeds" or effects of good and evil deeds. Another important contribution of the Consciousness-only thinkers was that of the three natures of imaginary, provisional and real. See sanxing 三性 for details. The major framework of Consciousness-only theory was developed by Maitreya 彌勒 and the two brothers Vasubandhu 世親 and Asaṅga 無著 in such treatises as the Abdhidharma-kośa-bhāsya 倶舎論, the Triṃśikā Vijñaptimātratāsiddhiḥ (Thirty Verses on Consciousness-only) 唯識三十頌, Mahāyāna-saṃgraha 攝大乘論, and the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽師地論. Consciousness-only doctrine was also defined in sutras such as the Saṃdhinirmocana-sūtra and Śrīmālā-sūtra 勝鬘經. The Mahāyāna-saṃgraha, for example, says "All conscious objects are only constructs of consciousness because there are no external objects. They are like a dream" (如此衆識唯識 以無塵等故 譬如夢等) 〔攝大乘論 T 1593.31.118b12〕(Keenan 1992: 40). (s: citta-mātra; vijñapti-mātratā). => Giáo lý chủ trương tất cả mọi sự hiện hữu đều do tâm, do vậy, không một hiện tượng nào ngoài tâm mà tồn tại. Duy thức là một tư tưởng chủ đạo của Du-già hành phái (s:Yogācāra; c: 瑜伽行派). Các học giả Duy thức giải thích quy luật và sự liên kết của các giác quan nhờ vào thức ẩn tàng (a-lại-da thức; s: ālaya-vijñāna;) 阿頼耶識) và từ tập hợp của năm giác quan trước (tiền ngũ thức). Đó là sự tạo tác, và tạo nên chủng tử (種子) tương ưng với việc mình đã làm, theo quy luật thông thường, hạt giống sẽ kết thành cây trái. Mỗi chúng sinh đều có tàng thức và những chúng sinh tương tự như nhau sẽ tạo ra những nghiệp thức giống nhau phát xuất từ tàng thức vào cùng một thời gian như nhau. Giáo lý Duy thức quy gọn các hiện tượng trong 100 pháp (c: 法; s: dharmas) thành 5 nhóm: sắc pháp, tâm pháp, tâm sở pháp, tâm bất tương ưng hành pháp và vô vi pháp. Theo tông Duy thức, thế giới bên ngoài sẽ tạo nên khi tàng thức huân tập bởi “chủng tử”, hay là kết quả của các việc làm tốt xấu trong quá khứ. Một đóng góp quan trọng khác của các nhà tư tưởng Duy thức là ba tính chất ảo, giả tạm, và hiện thực của các hiện tượng. Xem chi tiết về Tam tính 三性. Nền tảng của giáo lý Duy thức được phát triển bởi Di-lặc và hai anh em Thế Thân, Vô Trước, trong những luận giải như Câu-xá luận, Duy thức tam thập tụng, Nhiếp đại thừa luận, Du-già sư địa luận. Giáo lý Duy thức cũng được trình bày rõ trong kinh Giải thâm mật và kinh Thắng Man. Như trong Nhiếp đại thừa luận có nói: “Các (đối tượng của) thức ấy đều do (ý) thức tạo nên, vì vốn (ngoài tâm) không có cảnh trần nào cả, chúng chỉ như mộng”(如此衆識唯識 以無塵等故 譬如夢等).

duy tiệm vô đốn

4424漸,指歷經多種階段,漸次而上;頓,指立即、馬上。謂修行證悟雖有漸次、頓即之差異,然頓悟之情形係因多生之薰習而現發者,若遠推宿世,則唯有漸次之修而無頓即之悟可言。據禪源諸詮集都序卷下一及文中之註解所載,諸家就修行與得悟之關係而將「悟」分為兩種:(一)證悟,即經由修行而得悟。例如:(1)因漸修功成而豁然頓悟,猶如伐木,片片漸斫,一時頓倒。又如遠詣都城,步步漸行,一日頓到。(2)因頓修而漸悟,如人學射,「頓」者如箭箭直注,意在射中鵠的,「漸」者則漸嫺熟漸近於鵠的。(3)因漸修而漸悟,如登九層之臺,足履漸高,所見漸遠。(二)解悟,即先得悟而後修行。例如:(1)先頓悟而漸修,如日之頓出,而後霜露始漸消散。又如嬰兒之初生即頓具四肢六根,漸長則漸成志氣功業。(2)上上根之頓悟頓修,此等之人,以根性殊勝之故,一聞即可千悟而得大總持,復能一念不生,前後際斷。斷障之時,猶如斬一綟絲而萬條頓斷;修德之時,猶如染一綟絲而萬條頓具其色。 上記頓漸之差別,皆只就今生而論,若遠推宿世,則唯有漸而無頓,一切解證之開悟,均係歷經多生之漸次薰習而現發者,故稱為唯漸無頓。 ; (唯漸無頓) Chỉ có tiệm (dần dần) chứ không có đốn (ngay tức khắc). Tiệm, trải qua nhiều giai đoạn, theo thứ lớp dần dần tiến lên. Đốn, lập tức, ngay tức khắc. Nghĩa là sự tu hành chứng ngộ tuy có tiệm, đốn khác nhau, nhưng sự đốn ngộ là do nhiều kiếp huân tập mà hiện phát. Cho nên, nếu suy tính xa về các đời trước thì chỉ có tu hành dần dần chứ không có sự chứng ngộ tức khắc. Cứ theo Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển hạ phần 1 và phần chú thích trong đó nói, thì các vị tổ sư căn cứ vào sự quan hệ giữa tu hành và đắc ngộ mà chia ngộ làm hai loại: 1. Chứng ngộ, tức là nhờ sự tu hành mà được ngộ. Chẳng hạn: a. Nhờ công đức tiệm tu mà thình lình chứng ngộ, giống như đốn cây, chặt dần từng nhát, một lúc nào đó cây sẽ ngã. Cũng như đi đến một đô thành ở xa, đi dần dần từng bước, một ngày nào đó sẽ đến. b. Nhờ đốn tu mà tiệm ngộ, như người tập bắn, nhắm thẳng và bắn trúng con chim là đốn, dần dần thành thạo tiến đến gần con chim là tiệm. c. Do tiệm tu mà tiệm ngộ, như đi lên một lâu đài chín tầng, chân bước dần dần lên cao, chỗ thấy cũng dần dần xa hơn. 2. Giải ngộ, tức ngộ trước rồi sau mới tu. Chẳng hạn như : a. Trước đốn ngộ rồi mới tiệm tu, như mặt trời mọc rồi sau sương móc mới tan dần. Cũng như đứa trẻ mới sinh liền đủ bốn chi sáu căn, dần dần lớn lên và có chí khí mạnh mẽ. b. Đốn ngộ đốn tu của bậc Thượng thượng căn, những bậc này nhờ có căn tính thù thắng nên một khi nghe liền ngộ mà được Đại tổng trì, một niệm chẳng sinh, quá khứ vị lai đều bặt. Lúc đoạn chướng, giống như chặt một cuộn chỉ thì muôn sợi chỉ đều dứt. Lúc tu đức cũng như nhuộm một cuộn chỉ thì muôn sợi chỉ đều có cùng một mầu sắc. Sự sai khác giữa đốn và tiệm như đã nói ở trên đều chỉ nói về đời hiện tại, còn nếu suy ngược về các đời quá khứ xa xưa, thì chỉ có tiệm chứ không có đốn, bởi vì sự chứng ngộ là nhờ đã trải qua nhiều kiếp huân tập dần dần mà bùng nổ, nên nói là chỉ có tiệm chứ không có đốn.

duy trung

4576(705~782)唐代僧。四川成都人,俗姓童。幼從大光山之道願修業。後遊嵩山(位於河南),從學於荷澤神會,並嗣其法。其時黃龍山多毒蛇,山民頻遭侵擾;師遂入山營茅舍、修禪定。此後毒蛇不再加害山民,故時人改稱山名為伏龍山。建中三年示寂,世壽七十八。又淨眾寺神會之弟子益州南印亦被稱為荊南惟忠,可能係荷澤神會與淨眾寺神會被混淆之故。

duy trì

To maintain—To remain.

duy trì giác ngộ

To remain awakened.

Duy tâm

唯心; S: cittamātra; T: sems tsam; |Duy thức

duy tâm

4420梵語 citta-mātra。宇宙所有存在皆由心變現,心外無任何實法存在。亦即心為萬有之本體,唯一之真實,華嚴一乘十玄門之(大四五‧五一八中)「三界虛妄,唯一心作」即此義。蓋有情生存之迷界(三界),悉是一心所變現,謂心外有實在之某物,乃純屬妄想所致,故言三界唯一心、心外無別法(亦即三界唯心)。一心,法相宗解為阿賴耶識,有萬法唯識之意;華嚴宗則解為如來藏自性清淨心,有真如隨緣作諸法之意。依澄觀之華嚴經疏卷四十載,就三界唯心而言,二乘之人認為心外之境為實有,係以由心轉變之意來解之;大乘亦將心分為賴耶(阿賴耶識)與如來藏二類,且廣立十門加以詳說,如知禮之十不二門指要鈔卷上以唯心、由心之語來區別大乘與小乘之緣起說。六十華嚴經卷十夜摩天宮菩薩說偈品如來林菩薩之偈(大九‧四六五下):「心如工畫師,畫種種五陰,一切世界中,無法而不造。如心佛亦爾,如佛眾生然,心佛及眾生,是三無差別。」即是說明心、佛、眾生乃三無差別(亦即三法無差)。於此,華嚴宗稱心為能造(造者),佛與眾生為所造(被造者),悟如來藏者為佛,迷者為眾生。緣起有染淨之別,但心之自體皆同,故說三法無差。對此,天台宗山家派稱佛、心、眾生三法為同一之三千法,故非僅心是能造、能具(具有者),佛、眾生亦是能造、能具;非唯佛、眾生是所造、所具(被具有者),心亦是所造、所具。而天台宗山外派則主張心為能造,佛與眾生為所造之異說。至於法相宗,則解此唯識無境,真言宗則謂佛與眾生三密平等。〔六十華嚴經卷二十五「十地品」、十地經論卷八、成唯識論卷二、成唯識論述記卷二末、華嚴經探玄記〕(參閱「山家山外」949、「唯識」4424) ; Xem Duy thức. ; Idealism; mind only, the theory that the only reality is mental, that of the mind. ; Cittamatra (skt)—Mind-only or mind itself—Hết thảy chư pháp đều ở bên trong cái tâm, không có pháp nào ở ngoài tâm (tâm có nghĩa là nhóm khởi lên các pháp; thức có nghĩa là phân biệt các pháp). Giống như ý niệm Duy Thức trong Kinh Lăng Già—Idealism—Mind only—The theory that the only reality is mental, that of the mind—Nothing exists apart from mind. Similar to “Only Mind,” or “Only Consciousness” in the Lamkavatara Sutra. ; (唯心) Phạm: Citta-màtra. Tất cả sự tồn tại trong vũ trụ đều do tâm biến hiện, ngoài tâm không có pháp nào tồn tại. Tâm là bản thể chân thực duy nhất của vạn hữu. Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn (Đại 45, 518 trung), nói: Ba cõi hư vọng, chỉ do tâm tạo. Tông Pháp tướng giải thích tâm là thức A lại da và nói vạn pháp duy thức; tông Hoa nghiêm thì giải thích là tâm Như lai tạng tự tính thanh tịnh, hàm ý là chân như theo duyên sinh ra các pháp. Trong Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển thượng, ngài Tri lễ dùng hai từ duy tâm và do tâm để phân biệt thuyết Duyên khởi của Đại thừa và Tiểu thừa. Kệ của Bồ tát Như lai lâm trong phẩm Dạ ma thiên cung Bồ tát thuyết kệ trong kinh Hoa nghiêm (60 quyển) quyển 10 (Đại 9, 465 hạ), nói: Tâm như thợ vẽ giỏi Vẽ các thân năm ấm Tất cả trong thế giới Không pháp nào chẳng tạo Tâm Phật cũng như vậy Phật chúng sinh cũng thế Tâm, Phật và chúng sinh Cả ba không sai khác Ở đây, theo tông Hoa nghiêm, tâm là năng tạo (người tạo tác). Phật và chúng sinh là sở tạo (những thứ được tạo ra), người ngộ Như lai tạng là Phật, người mê Như lai tạng là chúng sinh. Duyên khởi có dơ có sạch khác nhau, nhưng tự thể của tâm thì giống nhau, cho nên tâm, Phật và chúng sinh không sai khác. Trái lại, phái Sơn gia trong tông Thiên thai cho Phật, tâm và chúng sinh cùng là pháp tam thiên, cho nên không những chỉ tâm là năng tạo, mà Phật và chúng sinh cũng là năng tạo. Cũng thế, chẳng phải chỉ Phật và chúng sinh là sở tạo, mà tâm cũng là sở tạo. Còn tông Pháp tướng giải thích nghĩa này là chỉ có thức không có cảnh, tông Chân ngôn thì bảo ba mật (thân, ngữ, ý) của Phật và của chúng sinh là bình đẳng. [X. Phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm (60 quyển) Q.25; Thập địa kinh luận Q.8; luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí].(xt. Sơn Gia, Sơn Ngoại; Duy Thức).

duy tâm do tâm

4420為區別大、小二乘緣起說之語。依知禮之十不二門指要鈔卷上載,大乘唯心,小乘由心。即大乘之緣起說,以森羅萬象之萬法並非實存於心外,而說一心之變現;如新華嚴經卷十九(大一○‧一○二中)「應觀法界性,一切唯心造」、十地經論卷八(大二六‧一六九上)「一切三界,唯心轉故」等即是。就此「一心」而論,法相宗、法性宗之解釋不同,前者以生滅之第八阿賴耶識為緣起之根本,故唯心即唯識,亦即由第八阿賴耶識之熏習、轉變等道理談萬法唯識;後者則就一心真如之本體立緣起說,由其不變隨緣之德而主張一切唯心造。 雖有如是差別,但對小乘,二者仍齊標唯心之語。小乘之緣起說則主張三世實有、法體恆有,與唯心相對而稱為由心,並認為諸法之體性各別,而依惑業力造作,分為能造及所造,此由心未能顯諸法歸攝於一心。此外,天台宗學者依指要鈔之文而解說大乘唯心相當於別、圓二教,小乘由心相當於藏、通二教。 ; (唯心由心) Từ ngữ phân biệt thuyết Duyên khởi giữa Đại thừa và Tiểu thừa. Theo Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển thượng của ngài Tri lễ thì Đại thừa duy tâm, Tiểu thừa do tâm. Tức thuyết Duyên khởi của Đại thừa cho rằng muôn tượng la liệt trong vũ trụ đều không tồn tại ngoài tâm, nên chủ trương duy tâm biến hiện, như kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 19 (Đại 10, 102 trung), nói: Nên quán tính pháp giới, tất cả duy tâm tạo. Thập địa kinh luận quyển 8 (Đại 26, 169 thượng), nói: Hết thảy ba cõi, duy tâm chuyển biến. Khi bàn về duy tâm này, tông Pháp tướng và tông Pháp tính giải thích không giống nhau. Tông pháp tướng cho thức A lại da là gốc của duyên khởi, cho nên duy tâm tức là duy thức, cũng tức là do sự huân tập, chuyển biến của thức A lại da thứ 8 mà nói muôn pháp duy thức. Tông Pháp tính thì căn cứ vào bản thể của nhất tâm chân như mà lập thuyết duyên khởi, do tính chất bất biến của tâm chân như mà chủ trương tất cả duy tâm tạo. Tuy có sự sai khác như thế, nhưng cả hai tông này đều nói là duy tâm. Thuyết duyên khởi của Tiểu thừa thì chủ trương ba đời thực có, pháp thể hằng có, đối lại với duy tâm mà gọi là do tâm và cho thể tính của các pháp mỗi thứ đều khác nhau, nên nương theo sức tạo tác của hoặc và nghiệp mà chia ra năng tạo và sở tạo. Chủ trương do tâm này chưa làm sáng tỏ được lí các pháp thu nhiếp về một tâm. Ngoài ra, các học giả tông Thiên thai y cứ vào Thập bất nhị môn chỉ yếu sao mà giải thích Đại thừa duy tâm tương đương với Biệt giáo và Viên giáo, còn Tiểu thừa do tâm thì tương đương với Tạng giáo và Thông giáo.

duy tâm duyên khởi

4422謂諸法係依一心(如來藏心)之緣而生起。與「一心緣起」同義。含有法界緣起、如來藏緣起等緣起之意,乃用於示明華嚴教義之基本學說。緣起,即要素、條件、關係等諸緣相依而諸法生起之意。(參閱「唯心」4420、「唯識」4424) ; (唯心緣起) Nghĩa là các pháp đều nương vào một tâm (Như lai tạng) mà sinh khởi. Đồng nghĩa với Nhất tâm duyên khởi. Đây là giáo nghĩa cơ bản của tông Hoa nghiêm nói rõ ý nghĩa của các loại duyên khởi, như: Pháp giới duyên khởi, Như lai tạng duyên khởi v.v... Duyên khởi, có nghĩa là các yếu tố điều kiện quan hệ với nhau, nương vào nhau mà khiến các pháp sinh khởi. (xt. Duy Tâm, Duy Thức).

duy tâm hồi chuyển thiện thành môn

4421華嚴宗古十玄門之一。係就心而闡明緣起之根本,亦即一切諸法皆依如來藏自性清淨心建立,若善若惡,隨心所轉,故稱為唯心迴轉。如以金獅子為例,金為本體,獅子喻現象,則金與獅子,或隱或顯,或一或多,各無自性,由心迴轉,說事說理,有成有立,此即唯心迴轉善成門。又法藏以唯心迴轉善成門一詞,僅表示諸法無礙之理由,而未能表示無礙之相,故於華嚴經探玄記卷一中,將之改為主伴圓明具德門。〔華嚴五教章卷四、華嚴經隨疏演義鈔卷十〕(參閱「十玄門」416) ; (唯心回轉善成門) Một trong 10 huyền môn cũ của tông Hoa nghiêm. Đây là căn cứ vào tâm mà nói rõ cái căn bản của duyên khởi, cũng chính là tất cả các pháp đều nương vào tâm Như lai tạng tự tính thanh tịnh mà được thành lập, thiện hay ác đều do tâm chuyển, cho nên gọi là Duy tâm hồi chuyển (duy tâm xoay chuyển). Như dùng sư tử vàng làm ví dụ, thì vàng là bản thể, sư tử dụ cho hiện tượng, vàng và sư tử hoặc ẩn hoặc hiện, hoặc một hoặc nhiều, đều không có tự tính, do tâm xoay chuyển, nói sự nói lí có thành có lập : đó là Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn Ngài Pháp tạng cho rằng Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn, mới chỉ biểu thị lí do các pháp vô ngại, chứ chưa thể biểu thị tướng vô ngại, cho nên, trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1, ngài đổi thành Chủ bạn viên minh cụ đức môn. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).

duy tâm kệ

Bài kệ tám câu tóm lược cái ý nghĩa về thực tướng đầy đủ và viên dung với nhau (trong Cựu Kinh Hoa Nghiêm, tâm như ông thợ vẽ, tạo vô số ngũ ấm. Tất thảy trong thế gian, không pháp nào không tạo. Cả tâm Phật cũng vậy, như Phật và chúng sanh. Tâm Phật và chúng sanh, là ba không sai biệt)—The eight-line verse of the older sutra, which summarizes the idealistic idea.

duy tâm luận

Spiritualism Duy linh học.

Duy tâm quyết

唯心訣; C: wéixīn jué; J: yuishin ketsu; |Vĩnh Minh Trí giác Thiền sư duy tâm quyết (永明智覺禪師唯心訣).

Duy tâm quyết 唯心訣

[ja] ユイシンケツ Yuishin ketsu ||| Weixin jue; See Yung-ming chih-chiao ch'an-shih wei-hsin chüeh 永明智覺禪師唯心訣. => Xem Vĩnh Minh Trí giác Thiền sư duy tâm quyết 永明智覺禪師唯心訣.

duy tâm sở kiến

Cittamatradrisya (skt)—Cái được nhìn thấy từ tâm—There is only what is seen of the Mind—Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Những ai bị ràng buộc vào ý niệm nhị biên, có đối tượng và chủ thể, sẽ không bao giờ hiểu được rằng chỉ có cái được nhìn thấy do từ tâm.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “Those who are attached to the notion of duality, object and subject, fail to understand that there is only what is seen of the Mind.”

duy tâm sở niệm

Manifestation of the mind itself.

duy tâm tịnh độ

4421淨土乃唯心所變,存於眾生心內。依唯識之理,淨土為佛、凡夫各各心之所變。若就如來所變之土而言,如來心無漏,故土亦無漏;若就凡夫所變之土而言,凡夫心未得無漏,故土為有漏。又所觀之佛亦為自心變現之相,心外不能見佛之真相。故佛、淨土皆非心外之法,皆唯心所變。天台宗基於摩訶止觀之說,而謂陰妄介爾之一念心具足十界三千性相,佛界乃至地獄界之依止皆本具於此一念心中,故淨土非存在於心外。此與唯識所言相分變似之理,意旨不同。又禪宗以維摩經之心淨土淨說為根據,謂直了心性,即心即佛,自心明白之處,即是淨土,稱為唯心淨土己心彌陀。〔六祖大師法寶壇經疑問品、釋淨土群疑論(懷感)卷一、卷六、往生淨土決疑行願二門(遵式)、觀無量壽佛經疏妙宗鈔(知禮)卷一、觀無量壽佛經義疏(元照)卷上、萬善同歸集卷二、樂邦文類卷四〕(參閱「己心彌陀」956) ; The Pure Land is in your mind, or the Pureland within the Mind. (A) Có người hỏi Diên Thọ Đại Sư rằng cảnh “Duy Tâm Tịnh Độ” đầy khắp cả mười phương sao không hướng nhập mà lại khởi lòng thủ xả cầu về Cực Lạc, để tọa trên liên đài, như vậy đâu có khế hợp với lý vô sanh. Đã có tâm chán uế ưa tịnh như vậy thì đâu thành bình đẳng?: Someone asked Great Master Dien-Shu that if the realm of “Pureland within the Mind” is ubiquitous throughout the ten directions, why not try to penetrate it instead of wanting the Pureland and abandoning the Impure Land praying to gain rebirth to the Ultimate Bliss World and sit on the lotus throne. Doing so not seem to be consistent with the theory of “No Birth.” If one has the mind of being tired of impurity but is fond of purity then that is not the mind of equality and non-discrimination? (B) Đại Sư đáp—The Great Master replied: a) Sanh “Duy Tâm Tịnh Độ” là phần của các bậc đã liễu ngộ tự tâm, đã chứng được pháp thân vô tướng. Tuy nhiên, theo kinh Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới, thì những bậc Bồ Tát chứng được Sơ Địa hay Hoan Hỷ Địa vào Duy Tâm Độ cũng nguyện xả thân để mau sanh về Cực Lạc. Vì thế phải biết rằng “Ngoài Tâm Không Pháp.” Vậy thì cảnh Cực Lạc đâu thể ở ngoài tâm: Pureland within the Mind is a state achieved only by those who have seen and penetrated the true nature and have attained the Non-Form Dharma Body. Despite this, according to the Buddha's Inconceivable (Unimaginable) World Sutra, those Bodhisattvas who have attained the First Ground Maha-Bodhisattva or Rejoicing Ground to enter the world of “Everything within the Mind,” still vow to abandon their bodies to be born quickly to the Ultimate Bliss World. Thus, it is necessary to understand”No Dharma exists outside the Mind.” If this is the case, then the Ultimate Bliss World is not outside the realm of the Mind. b) Về phần lý Vô Sanh và Tâm Bình Đẳng, dĩ nhiên lý thuyết là như vậy. Tuy nhiên, những kẻ đạo lực chưa đủ, trí cạn, tâm thô, tạp nhiễm nặng, lại gặp các cảnh ngũ dục cùng trần duyên lôi cuốn mạnh mẽ, dễ gì chứng nhập vào được. Cho nên những kẻ ấy cần phải cầu sanh Cực Lạc, để nhờ vào nơi cảnh duyên thắng diệu ở đó, mới mau chứng vào cảnh “Tịnh Độ Duy Tâm” và thực hành Bồ Tát đạo được: As for the theory of no-birth and the mind of equality and non-discrimination, of course, in theory this is true. However, for those who still do not have enough spiritual power, have shallow wisdom, impure minds, are bound by heavy karma and afflictions; moreover when tempted with the five desires and the forces of life, how many actually will be able to attain and penetrate this theory. Therefore, these people, most sentient beings of this Dharma Ending Age, need to pray to gain rebirth to the Ultimate Bliss World so they can rely on the extraordinary and favorable conditions of that world in order to be able to enter quickly the realm of Pureland within the Mind and to practice the Bodhisattva's Conducts. c) Hơn nữa, Thập Nghi Luận có dạy—Moreover, the book of commentary “Ten Doubts of Pureland Buddhism” taught: • Bậc trí tuy đã liễu đạt được Duy Tâm song vẫn hăng hái cầu về Tịnh Độ, vì thấu suốt sanh thể như huyễn không thể cầu tìm được. Đó mới gọi là chân thật vô sanh: Those who have wisdom and have already attained the theory of “Everything is within the Mind,” yet are still motivated to pray for rebirth to the Pureland because they have penetrated completely the true nature of non-birth is illusory. Only then can it be called the “true nature of non-birth.” • Còn các kẻ ngu si, người vô trí, không hiểu được lý đó, cho nên bị cái nghĩa “Sanh” ràng buộc, vì vậy khi nghe nói “Sanh” thì nghĩ rằng thật có cái tướng “Sanh.” Khi nghe nói “Vô Sanh” thì lại lầm hiểu là không sanh về đâu cả. Bởi vậy cho nên mới khởi sanh ra các niệm thị phi, chê bai, phỉ báng lẫn nhau, gây ra những nghiệp tà kiến, báng pháp. Những người như vậy, thật đáng nên thương xót!—As for the ignorant, those who lack wisdom and are incapable of comprehending such a theory; therefore, they are trapped by the meaning of the world “Birth.” Thus, when they hear of birth, they automatically think and conceptualize the form characteristics of birth actually exist, when in fact nothing exists because everything is an illusion. When they hear “Non-Birth,” they then mistakenly think of “Nothing being born anywhere!” Given this misconception, they begin to generate a mixture of gossip, criticism, and mockery; thus create various false views and then degrade the Dharma. Such people truly deserve much pity! ; (唯心淨土) Tịnh độ duy tâm biến hiện, tồn tại trong tâm chúng sinh. Theo lí duy thức thì Tịnh độ là do tâm Phật cũng như tâm phàm phu biến hiện ra. Nếu nói về cõi nước do Như lai biến hiện, thì vì tâm Như lai vô lậu nên cõi nước cũng vô lậu. Còn nói theo cõi nước do phàm phu biến hiện, thì vì tâm phàm phu chưa được vô lậu nên cõi nước là hữu lậu.Lại nữa Phật cũng do tâm mình biến hiện, ngoài tâm không thể thấy Phật. Bởi vậy, Phật và Tịnh độ chẳng phải là pháp ngoài tâm, đều duy tâm biến hiện. Căn cứ vào thuyết trong Ma ha chỉ quán, tông Thiên thai cho rằng, vọng tâm khởi lên trong một sát na có đầy đủ ba nghìn tính tướng của 10 giới, từ Phật giới đến địa ngục giới, cho nên Tịnh độ chẳng phải tồn tại ngoài tâm. Nghĩa này khác với lí tướng phần của Duy thức. Thiền tông lấy thuyết Tâm tịnh Phật độ tịnh của kinh Duy ma làm căn cứ, cho rằng nếu thấy rõ tâm tính thì tức tâm tức Phật, chỗ sáng suốt của tâm mình tức là Tịnh độ, gọi là Duy tâm tịnh độ. [X. Lục tổ đại sư Pháp bảo đàn kinh phẩm Nghi vấn; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.1 (Hoài cảm);Vãng sinh tịnh độ quyết nghi nguyện hành nhị môn (Tuân thức); Quán vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao Q.1 (Trí lễ). Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Nguyên chiếu); Vạn thiện đồng quy tập Q.2; Lạc bang văn loại Q.4]. (xt. Kỉ Tâm Di Đà).

duy tân

To reform.

duy tín sao

4423全一卷。日本聖覺(1167~1235)撰。收於大正藏第八十三冊。記述念佛往生之要義。聖覺以源空滅後,一念多念,異義繁興,乃錄師承之實義,排除諸家之偏執,著成是書,以期能導入正信。註疏有唯信鈔文意一卷、唯信鈔儀一卷、唯信鈔註解七卷等。 ; (唯信鈔) Có 1 quyển, do ngài Thánh giác (1167- 1235) của Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập 83. Nội dung trình bày ý nghĩa trọng yếu của sự niệm Phật cầu vãng sinh. Sau khi tổ Nguyên không tịch, đối với giáo nghĩa Tịnh độ có rất nhiều quan điểm khác nhau, như một niệm vãng sinh, nhiều niệm vãng sinh v.v.., nên ngài Thánh giác mới chép lại nghĩa chân thực của Thầy truyền lại để bài trừ những thiên chấp đó mà soạn thành sách này, mong có thể dẫn mọi người vào chính tín. Về các bản chú thích sách này thì có : - Duy tín sao văn ý 1 quyển. - Duy tín sao nghi 1 quyển. - Duy tín sao chú giải 7 quyển.

duy tín viện

Yeshin in (C)Tên một ngôi chùa.

duy tắc

4576<一>(751~830)唐代牛頭宗禪僧。又稱遺則。長安人,俗姓長孫。初隨慧忠禪師,得悟玄旨,遂南遊天台,入天台山佛窟巖開精舍,為佛窟學始祖。唐太和四年(830)示寂,世壽八十。有融祖師文三卷序集、寶誌釋題、南遊傅大士序、無生等義諸著作行世。〔宋高僧傳卷十、景德傳燈錄卷四、釋氏疑年錄卷五〕 <二>(?~1354)元代臨濟宗禪僧。又稱維則。吉安永村(江西吉安)人,俗姓譚。號天如。幼於禾山剃髮,後遊天目山,得法於中峰明本禪師,為其法嗣。元順帝至正元年(1341)住蘇州師子林。翌年,門人等合力斥資,建造菩提正宗寺,請師登堂說法,大宏臨濟宗風。敕賜「佛心普濟文慧大辯禪師」及金襴衣。注楞嚴集唐宋之九解,附以補注,此即楞嚴經會解二十卷。又造楞嚴經圓通疏十卷。復窮究天台永明之教旨,兼弘淨土教,著淨土或問,破除淨土教之疑惑,策進修行。此外,有禪宗語錄、十方界圖說等著述。至正十四年示寂,世壽不詳。〔續釋氏稽古略卷一、五燈會元續略卷六、五燈嚴統卷二十三、淨土聖賢錄卷四、釋氏疑年錄卷九〕 <三>(1303~1373)元代臨濟宗楊岐派禪僧。浙江杭州人,俗姓費。字天真,號冰檗老人。歷參十八位尊宿,後參謁匡廬之無極源,並嗣其法。住嘉興海門,大振禪風,洪武六年示寂,世壽七十一。〔五燈會元續略卷六、五燈全書卷五十一、續燈正統卷二十五、釋氏疑年錄卷十〕 ; (惟則) I. Duy tắc (751 - 830). Vị thiền tăng thuộc tông Ngưu đầu ở đời Đường. Cũng gọi Di tắc. Người Trường an, họ Trường tôn. Lúc đầu, sư theo ngài Tuệ trung, sau khi ngộ được ý chỉ sâu kín, sư liền đi về phương nam, đến núi Thiên thai vào hang Phật quật mở tinh xá, và làm Sơ tổ của học phái Phật quật. Năm Thái hòa thứ 4 (830) đời Đường sư thị tịch, thọ 80 tuổi. Các trứ tác của sư gồm: Dung tổ sư văn 3 quyển Tự tập; Bảo chí thích đề, Nam du Phó đại sĩ tự, Vô sinh đẳng nghĩa. [X. Tống cao tăng truyện Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Thích thị nghi niên lục Q.5] II. Duy tắc (? - 1354). Vị tăng tông Lâm tế đời Nguyên. Người thôn Vĩnh, huyện Cát an, tỉnh Giang tây, họ Đàm, hiệu Thiên như. Lúc nhỏ sư xuất gia nơi ngài Hòa sơn, sau du phương đến núi Thiên mục, được pháp nơi Thiền sư Trung phong Minh bản và nối pháp ngài. Niên hiệu Chí chính năm đầu (1341) đời Thuận đế nhà Nguyên, sư đến ở rừng Sư tử tại Tô châu. Năm sau, các học trò hợp lực kiến tạo chùa Bồ đề chính tông, thỉnh sư thuyết pháp, mở rộng tông phong Lâm tế. Sư được vua ban áo kim lan và hiệu Phật tâm phổ tế văn tuệ đại biện thiền sư.Sư còn nghiên cứu giáo chỉ của ngài Vĩnh minh tông Thiên thai, hoằng dương Tịnh độ giáo, viết Tịnh độ hoặc vấn để phá trừ ngờ vực và sách tiến tu hành Tịnh độ. Sư tịch vào năm Chí chính 14 (1354), không rõ tuổi thọ. Sư có các trứ tác: Lăng nghiêm kinh hội giải 20 quyển, Lăng nghiêm kinh viên thông sớ 10 quyển, Tịnh độ hoặc vấn, Thiền tông ngữ lục, Thập phương giới đồ thuyết. [X. Tục Thích thị kê cổ lược Q.1; Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.6; Ngũ đăng nghiêm thống Q.23; Tịnh độ thánh hiền lục Q.4; Thích thị nghi niên lục Q.9].

duy tịnh

4577北宋譯經三藏。金陵(江蘇江寧縣南)人,俗姓李,南唐後主(李後主)李煜之甥。生卒年不詳。七歲出家,十一歲誦法華經。太平興國八年(983),朝廷為續譯經之業,選拔五十名童子,師入選,專研梵章及梵經義理。歲餘受度為僧,通達瑜伽祕密教、梵字本母、天竺音義、真言祕印,深究維摩、般若心經、因明論之精要。後任梵學筆受,賜紫衣及「光梵大師」之號。大中祥符二年(1009)賜朝散大夫試光祿卿,遂專事譯經,並於次年至天禧二年(1018),與施護、法護共譯經十九部七十六卷;天禧三年至景祐四年(1037)與法護合譯八部九十六卷。天聖三年(1025)與夏竦等撰新譯經音義七十卷,五年(1027)與惠方等編天聖釋教總錄三卷。景祐二年(1035)與法護等共撰景祐天竺字源七卷。據傳,於慶曆三年(1043)曾奏請廢止譯經職,後不知所終。依成尋之參天台山記卷四熙寧五年十月條,可推知熙寧五年以前示寂,追諡為「明教三藏」。〔佛祖統紀卷四十三、卷四十四、卷四十五、宋會要稿卷二○○、釋門正統卷四、補續高僧傳卷一、至元法寶勘同總錄卷一〕 ; (惟淨) Vị Tam tạng dịch kinh ở đời Bắc Tống. Người Kim lăng (phía nam huyện Giang ninh tỉnh Giang tô), họ Lí, cháu của Nam Đường Hậu Chủ (Lí hậu chủ) Lí dục, năm sinh năm mất không được rõ. Sư xuất gia năm bảy tuổi, 11 tuổi tụng kinh Pháp hoa. Vì sự nghiệp tiếp tục phiên dịch kinh điển, năm Thái bình hưng quốc thứ 8 (983), sư là một trong 50 đồng tử được triều đình tuyển chọn để học tiếng Phạm và nghiên cứu nghĩa lí trong kinh điển bằng tiếng Phạm. Khi đủ tuổi (20) sư được thụ giới cụ túc, thông suốt Du già mật giáo, mẫu tự chữ Phạm, âm nghĩa Thiên trúc, Chân ngôn bí ấn, nghiên cứu sâu các kinh Duy ma, Bát nhã tâm và luận Nhân minh đến chỗ tinh yếu. Sau, sư giữ chức Bút thụ Phạm học và được vua ban áo đỏ với danh hiệu Quang Phạm Đại Sư. Năm Đại trung tường phù thứ 2 (1009), sư lại được ban chức Triều tán đại phu thí quang lộc khanh chuyên việc dịch kinh. Rồi từ năm Đại trung tường phù thứ 3 (1010), đến năm Thiên hi thứ 2 (1018), sư cùng với các ngài Thí hộ, Pháp hộ dịch chung được 19 bộ kinh gồm 76 quyển. Từ năm Thiên hi thức 3 đến năm Cảnh hựu thứ 4 (1037), sư và ngài Pháp hộ dịch chung được 8 bộ 96 quyển. Năm Thiên thánh thứ 3 (1025) sư cùng với nhóm các vị Hạ tủng soạn Tân dịch kinh âm nghĩa 70 quyển. Năm Thiên thánh thứ 5 (1027) sư cùng với nhóm các vị Huệ phương biên soạn Thiên thánh thích giáo tổng lục 3 quyển. Rồi vào năm Cảnh hựu thứ 2 (1035) sư cùng với ngài Pháp hộ soạn chung Cảnh hựu thiên trúc tự nguyên 7 quyển v.v... Căn cứ vào điều Hi ninh ngũ niên thập nguyệt trong Tham Thiên thai sơn kí của sư Thành tầm người Nhật mà suy thì có thể biết sư Duy tịnh tịch trước năm Hi ninh thứ 5, được truy tặng thụy hiệu là Minh Giáo Tam Tạng. [X. Phật tổ thống kỉ Q.43, Q.44, Q.45; Tống hội yếu cảo Q.200; Thích môn chính thống Q.4; Bổ tục cao tăng truyện Q.1; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.1].

duy từ

4423江蘇泰縣人。早歲肄業於杭州武林佛學院,來臺後親近慈航法師,住彌勒內院、靜修院多年,又至新竹福嚴精舍親炙印順法師。後受聘赴菲,任菲律賓普賢學校校長。師研究俱舍頗有心得。

duy tự tâm sở hiện

Svacittadrisyamatra (skt)—Tất cả chẳng gì khác hơn là sự biểu hiện của chính tâm mình—All is no other than the manifestation of one's own mind—See Tam Giới Duy Nhất Tâm.

duy tự tâm sỡ hiện

Svacittadṣśyamātram (S).

duy uy sá nan đạt

5890(1862~1902)梵名 Svāmī Vivekānanda。意譯辨喜。本名挪倫特拉那特達德(Narendranāth Dutt)。近代印度宗教改革者、哲學家。以法號行世。生於加爾各答,屬剎帝利種姓。畢業於加爾各答大學西洋文化研究所。一八八一年,遇印度宗教改革者羅摩克利須那(Rāmakṛṣṇa Paramahaṃsa, 1834~1886),始肯定其宗教信仰,其後,且爲羅摩克利須那之繼承者。氏胸懷博大,以爲一切宗教皆具真、善之至理,且強調諸宗教須合作協力。其中心思想謂宗教非思辨與認知之對象,乃爲超理知、超道德之神,此即世界諸現象之具體化,又認爲人類靈魂本即清淨無邪,故強烈否定罪業觀念。曾非難印度教改革者之趨向歐美化,故一再鼓舞印度民族精神。 一八九三年於芝加哥世界宗教會議中,主張以博愛主義與普遍主義爲根據之新印度教(Hinduism)。次年於美國發表數十次宗教及學術講演,頗見重於美國知識界,受聘爲哈佛大學及哥倫比亞大學教授。一八九五年,成立吠檀多協會於紐約,宣揚吠檀多哲學所說不二一元論(advaita)之理想。一八九七年返國從事印度教之改革,並成立羅摩克利須那傳道會(The Ramakrishna Mission),一八九九年於喜馬拉雅山麓,創立旨在研究與宣揚印度古典哲學與宗教之吠檀多不二論書院,對印度教之吠檀多進行改革,被稱爲「新吠檀多派」之首倡者。認爲世界上最高之本質爲梵,現實之物質社會僅是到達梵之階梯,然此二者亦不能斷然分離,時間、空間與因果皆有其客觀之實在性。其社會思想要求建立民族工業,改善群眾生活,提高婦女權利,發揚民族文化,打破宗教對立與種姓藩籬,使印度各種力量於印度精神之基礎上統一起來,又本其「諸宗教和合」之理想,超越宗派、信條、社會階級之區別,而奔走於難民救濟、社會福利。逝世後,其教團仍興盛不衰,於世界各地設醫院、教會、學校、孤兒院、保育院,災害救濟等活動亦積極參與。 主要著作有東方與西方、現代印度、吠檀多哲學、理性和宗教、智瑜伽(Jnana-Yoga)、王瑜伽(Raja-Yoga)、業瑜伽(Karma-Yoga)等。 ; (維威卡難達) (1862-1902) Phạm : Svàmì Vivekànanda. Dịch ý : Biện hỉ. Vốn tên là Na luân đặc lạp na đặc đạt đức (Narendranàth Dutt). Nhà cải cách tôn giáo, nhà triết học của Ấn độ cận đại. Ông sinh ở Calcutta thuộc dòng Sát đế lợi, tốt nghiệp Sở nghiên cứu văn hóa Tây phương thuộc Đại học Calcutta. Năm 1881, ông gặp Ma la khắc lợi tu na (Ràmakfwịa Paramahaôsa, 1834- 1886) nhà cải cách tôn giáo, mới khẳng định tín ngưỡng tôn giáo của mình; về sau, ông kế thừa La ma khắc lợi tu na. Ông có hoài bão rộng lớn, cho rằng tất cả tôn giáo đều có lí tột cùng về chân, thiện và chủ trương các tôn giáo cần hợp lực làm việc với nhau. Tư tưởng chính của ông là tôn giáo chẳng phải là đối tượng của tư duy và nhận biết, mà là siêu việt lí trí và đạo đức, đây là cụ thể hóa các hiện tượng trong vũ trụ. Ông lại cho rằng linh hồn của con người vốn trong sạch không tà bậy, cho nên mạnh mẽ phủ định quan niệm về tội nghiệp. Ông thường chê trách xu hướng Âu Mĩ hóa của các nhà cải cách Ấn độ giáo và cổ vũ tinh thần dân tộc Ấn độ. Năm 1893 trong Hội nghị tôn giáo thế giới ở Chicago tại Hoa kì, ông chủ trương Tân Ấn độ giáo (Hinduism) lấy chủ nghĩa bác ái và chủ nghĩa phổ biến làm cơ sở. Năm 1894, ông giảng diễn nhiều lần về tôn giáo và học thuật tại Hoa kì, giới trí thức Mĩ quốc rất trọng nể và ông được mời giảng dạy tại các Đại học Harvard và Columbia. Năm 1895, ông thành lập Hiệp hội Phệ đàn đa ở Nữu ước, tuyên dương lí tưởng Bất nhị nhất nguyên luận (advaita). Năm 1897 ông trở về Ấn độ thực hiện việc cải cách Ấn độ giáo và thành lập Hội truyền đạo Ma la khắc lợi tu na (The Ramakrishna Mission). Năm 1899 ông sáng lập thư viện ở chân núi Hi mã lạp sơn để nghiên cứu và tuyên dương tôn giáo Phệ đàn đa và triết học cổ điển Ấn độ. Đối với công cuộc cải cách Phệ đàn đa ở Ấn độ, ông được mệnh danh là người sáng lập phái Tân phệ đàn đa. Ông cho rằng bản chất tối cao của thế giới là Phạm, xã hội vật chất hiện thực chỉ là đạt đến bậc thềm của Phạm, tuy nhiên, Phạm và xã hội hiện thực không thể dứt khoát chia lìa được; thời gian, không gian và nhân quả đều có tính thực tại khách quan của chúng. Về mặt xã hội, ông chủ trương công nghiệp hóa đất nước, cải thiện đời sống nhân dân, đề cao quyền lợi phụ nữ, phát triển văn hóa dân tộc, đả phá sự đối lập tôn giáo, phân biệt chủng tính, muốn tất cả lực lượng tinh thần của Ấn độ thống nhất trên một nền tảng vững chắc, phá bỏ sự phân chia các tông phái, tín điều, giai cấp xã hội để thực hiện lí tưởng hòa hợp các tôn giáo, mở các cơ sở cứu tế nạn dân, phúc lợi xã hội v.v... Sau khi ông qua đời, giáo đoàn của ông vẫn hưng thịnh và tích cực tham gia các hoạt động từ thiện xã hội như thiết lập y viện, lập các giáo hội, mở các trường học, cô nhi viện, dục anh viện, dưỡng lão viện và các cơ sở cứu tế nạn dân, v.v... Ông viết rất nhiều, các tác phẩm chủ yếu thì có: Đông phương và Tây phương, Ấn độ hiện đại, Triết học Phệ đàn đa, Lí tính và tôn giáo, Trí du già (Jnana-Yoga), Vương du già (Raja-Yoga). Nghiệp du già (Karma-Yoga) v.v...

duy uẩn vô ngã tâm

4430真言宗所立十住心之第四。為聲聞乘修四諦觀法,了悟唯有五蘊之法而無人我實體之住心。依空海之十住心論卷四謂,佛為求聲聞者而宣說人空法有之理,所謂人即指人我等,法則為五蘊等法,「唯蘊無我」一句盡攝一切小乘法。〔大日經卷一住心品、大日經疏卷二〕(參閱「十住心」431) ; (唯蘊無我心) Trụ tâm thứ 4 trong 10 Trụ tâm do tông Chân ngôn lập. Là Trụ tâm của Thanh văn thừa tu pháp quán bốn đế liễu ngộ chỉ có pháp năm uẩn chứ không có thực thể nhân ngã. Theo luận Thập trụ tâm quyển 4 của ngài Không hải thì đức Phật vì hóa độ hàng Thanh văn mà tuyên nói lí nhân không pháp hữu, nhân chỉ cho nhân ngã, pháp là pháp năm uẩn v.v... Câu Duy uẩn vô ngã bao hàm tất cả pháp Tiểu thừa. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1, Đại nhật kinh sớ Q.2]. (xt. Thập Trụ Tâm).

duy việt

Xem Bất thoái chuyển chính đạo Xem Bất thoái chuyển. ; Avaivartika (skt)—See A Bệ Bạt Trí in Vietnamese-English Section.

duy vật

Materialism.

duy vật luận

4423為「唯心論」、「觀念論」之對稱。在佛教諸宗派中,華嚴宗主張「三界唯一心,心外無別法」,唯識法相宗亦有「唯識無境」等說,故一般評為唯心論。對此,天台宗則強調破除執著於唯識之觀點,而稱離物質(色)則無心,離心則無色,亦即主張色心不二、色心雙具、唯心即唯物、唯心唯色;並謂若就究極真諦上而言,色與心本皆是空、無自性,故亦無色、心之異同可言。〔止觀義例卷上〕(參閱「觀念論」6960)

duy để nan

Vighna (S)Việt Nan1- Một vị Sa môn theo ngoại đạo, sau qui y Phật, đời Tam quốc sang Trung hoa dịch kinh tại thành Kiến nghiệp. Năm 224, ngài dịch xong bộ Pháp cú và Udanavarga. 2- Việt Nan: tên một người nhà giàu có tánh bỏn sẻn tại thành Ba la nại.

duy định giác ý

Xem Định giác chi.

duy độc tự minh liêu

4424指佛祖之大道,唯有修行而開悟者,方能知之,非他人所可窺測。法華經卷六法師功德品(大九‧一八四上):「菩薩於淨身,皆見世所有,唯獨自明了,餘人所不見。」 ; (唯獨自明瞭) Chỉ một mình biết rõ. Đại đạo của Phật Tổ chỉ có người tu hành giác ngộ mới biết rõ, ngoài ra không ai thấy được. Phẩm Công đức trong kinh Pháp hoa quyển 6 (Đại 9, 184 thượng), nói: Bồ tát thân trong sạch Thấy suốt cõi thế gian Chỉ một mình mình rõ Người khác không biết được

Duy-ma-cật

維摩詰; S: vimalakīrti; tên gọi đầy đủ là Duy-ma-la-cật, dịch nghĩa là Vô Cấu Xứng (無垢稱; cựu dịch là Tịnh Danh; 淨名);|Nhân vật chính trong Duy-ma-cật sở thuyết kinh.

Duy-ma-cật sở thuyết kinh

維摩詰所說經; S: vimalakīrtinirdeśa-sūtra; thường được gọi tắt là Duy-ma-cật kinh hoặc Duy-ma kinh.|Một tác phẩm quan trọng của Ðại thừa, có ảnh hưởng lớn đến nền Phật giáo tại Trung Quốc, Việt Nam và Nhật Bản.|Kinh này xuất hiện khoảng thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên. Ngày nay người ta không còn nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) mà chỉ còn bản chữ Hán và Tạng. Có nhiều bản dịch mà trong đó ba bản thường được nhắc đến nhiều nhất: 1. Phật thuyết Duy-ma-cật kinh (佛說維摩詰經) của Chi Khiêm thời Tam quốc dịch (223-253), 2 quyển; 2. Duy-ma-cật sở thuyết kinh, bản dịch quan trọng nhất ra chữ Hán của Cưu-ma-la-thập (406), 3 quyển; 3. Thuyết Vô Cấu Xứng kinh (說無垢稱經) của Huyền Trang (650), 6 quyển. Ngoài ra còn có bản Tạng ngữ dưới tên ḥphas-pa dri-ma-med-par-grags-pas bstan-pa shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi mdo, dịch trở ngược sang Phạn ngữ là ārya-vimalakīrti-nirdeśa-nāma-mahāyāna-sūtra, có thể dịch là Ðại thừa thánh vô cấu xứng sở thuyết kinh. Bản này được xem là giống nguyên bản Phạn ngữ thất truyền nhất.|Kinh này mang tên của Duy-ma-cật (s: vima-lakīrti), một Cư sĩ giàu có, sống cuộc đời thế tục nhưng vẫn đi trên con đường Bồ Tát. Nhờ kinh này mà người ta có thể xem cư sĩ và tăng sĩ có một mục đích như nhau trên đường tiến đến giác ngộ. Quan niệm trọng yếu của kinh này là tính Không (s: śūnyatā) của tất cả các pháp. Trong tính Không này thì cả Hữu lẫn Vô đều được hợp nhất. Bất nhị (不二) là nền tảng của giáo lí trong kinh này thế nhưng – Bất nhị rất khó diễn bày. Ba mươi hai vị Bồ Tát (phẩm thứ 9) đều không trình bày nổi. Ngay cả Văn-thù Sư-lị (s: mañjuśrī) – hiện thân của trí huệ siêu việt – cũng không giải thích nổi bởi vì ngôn ngữ không thể diễn bày Pháp môn bất nhị này. Chỉ có Duy-ma-cật giải bày bằng sự im lặng – một sự im lặng sấm sét (默如雷; mặc như lôi). Im lặng ở đây không phải là không hiểu, không diễn bày mà chính là ngôn ngữ tuyệt đỉnh, ngôn ngữ duy nhất có thể trình bày cái Bất khả tư nghị. Hành động của các Thánh nhân đền xuất phát từ pháp môn bất nhị này.|Kinh này minh hoạ cách sống của người Phật tử để nhắm đến giải thoát và cách áp dụng tri kiến về tính không trong cuộc sống hàng ngày, rất được hâm mộ trong Thiền tông.|Khung cảnh của kinh này thuật lại chuyện của Duy-ma-cật, một trưởng giả giàu có đang mắc bệnh tại nhà. Bệnh của ông được hiểu như một thiện xảo Phương tiện (善巧方便; s: upāyakauśalya) để dạy người. Phật cử nhiều đại đệ tử đi đến nhà ông hỏi thăm nhưng tất cả đều cáo từ. Cách hiểu sai lầm của họ về giáo lí đã được Duy-ma-cật chỉnh lại và vì thế họ hỗ thẹn, không dám thay mặt Phật đến hỏi thăm. Giáo lí của kinh này được trình bày rõ nhất trong phẩm thứ ba. Bài dạy cho Xá-lị-phất ngay đầu phẩm đã đưa ngay lập trường của Thiền Ðại thừa, đặc biệt là Thiền như Thiền tông chủ trương. Trong kinh, Tôn giả Xá-lị-phất thưa với Phật: |»Bạch đức Thế tôn, con không đủ sức thăm bệnh trưởng giả ấy. Tại sao? Vì con nhớ ngày trước con ngồi yên trong rừng, dưới gốc cây. Khi ấy trưởng giả Duy-ma-cật đến thưa rằng: ›Dạ, kính bạch Tôn giả Xá-lị-phất, bất tất ngồi như vầy mới là ngồi yên. Ngồi yên là ở trong ba cõi (Ba thế giới) mà vẫn không hiện hành thân ý mới là ngồi yên, không xuất Diệt tận định mà vẫn hiện hành những cử động khuôn phép mới là ngồi yên, không bỏ Phật pháp mà vẫn hiện hành mọi sự của người thường mới là ngồi yên, tâm không hướng nội cũng không hướng ngoại mới là ngồi yên, không động mọi thứ kiến chấp mà vẫn tu hành ba mươi bảy giác phần (Bồ-đề phần) mới là ngồi yên, không dứt phiền não mà vẫn vẫn nhập Niết-bàn mới là ngồi yên. Ngồi được như vậy thì Phật Ấn khả…« (bản dịch của Thích Trí Quang).|Trong phẩm thứ năm, khi được Văn-thù hỏi thăm vì sao bệnh và thế nào thì hết được, Duy-ma-cật nhân đây giảng rõ về đạo hạnh của một vị Bồ Tát cho tất cả cùng nghe: »Từ Si mà có Ái nên bệnh tôi sinh ra. Chúng sinh bệnh nên tôi bệnh. Chúng sinh hết bệnh thì bệnh tôi cũng hết. Tại sao? Bởi vì Bồ Tát vì chúng sinh mà vào sinh tử, có sinh tử là có bệnh. Nếu chúng sinh hết bệnh thì Bồ Tát không còn bệnh nữa. Như vị trưởng giả chỉ có đứa con một, đứa con bệnh thì cha mẹ bệnh theo, đứa con lành thì cha mẹ cũng lành. Bồ Tát cũng vậy, thương chúng sinh như con nên chúng sinh bệnh thì Bồ Tát bệnh, chúng sinh lành thì Bồ Tát lành. Ngài hỏi bệnh tôi do đâu thì thưa Ngài, bệnh Bồ Tát là do đại bi mà có.‹«|Kinh này được Phật tử tại Ðông, Ðông nam Á rất ưa chuộng và tụng đọc. Rất nhiều bài luận chú được viết về kinh này và nổi tiếng nhất là: Chú Duy-ma (注維摩) của Tăng Triệu, 10 quyển; Duy-ma kinh huyền sớ (維摩經玄疏) của Trí Khải, 6 quyển; Duy-ma kinh nghĩa sớ (維摩經義疏) của Cát Tạng.|Tại Nhật, Thánh Ðức Thái tử (聖德太子; j: shōtoku taishi, 574-662) đã viết một bài luận quan trọng về kinh này dưới tên Duy-ma kinh nghĩa sớ (維摩經義疏). Ông dùng bản dịch của Cưu-ma-la-thập và có lẽ vì vậy, bản dịch này được sử dụng nhiều hơn hết mặc dù bản chính xác nhất là của Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang.

Duyên

(s: pratyaya, p: paccaya, j: en, 緣): đối với nhân (s, p: hetu, 因) hay quán nhân (觀因) là nguyên nhân trực tiếp, còn duyên hay trợ duyên là nguyên nhân gián tiếp. Cũng có khi cả hai từ được gộp lại chung và có nghĩa là duyên. Có nhiều loại duyên như Tứ Duyên (四緣, Bốn Duyên), Thập Duyên (十緣, Mười Duyên), Thập Nhị Nhân Duyên (十二因緣, Mười Hai Nhân Duyên), v.v. Từ đó, chữ này được dùng rất phổ biến với ý nghĩa là duyên cố, sự quan hệ, v.v.

duyên

6123梵語 pratyaya,巴利語 paccaya。<一>狹義而言,乃指引起結果之直接原因(內因)外之間接原因(外緣)。廣義而言,係合因、緣兩者之稱。可分為四類:(一)因緣,「因」亦為「緣」之意,指產生果報之直接內在原因,即狹義之因,亦相當於能作因(六因之一)外之其他五因。(二)等無間緣,指心、心所之相續中,由前一剎那引導後一剎那生起之原因。(三)所緣緣(緣緣),所緣指外境,心緣外境時,必藉外境以為助緣。依唯識宗之說,又可分為疏、親二種。(四)增上緣。泛指不對某一法產生障礙之一切法。與六因中之「能作因」相同。依淨土宗說,阿彌陀佛四十八願即為凡夫往生淨土之增上緣。〔大乘入楞伽經卷二、俱舍論卷七、大乘義章卷三、成唯識論述記卷二末〕(參閱「四緣」1832) <二>作動詞用,攀緣、緣慮之義。謂人之心識攀緣於一切境界而膠著不捨。如眼識攀緣色境而見,乃至身識攀緣觸境而覺,故心識稱為「能緣」,其境界稱為「所緣」。〔大毘婆沙論卷十六、成唯識論卷一〕 ; Condition. ; Pratyaya (S). Circumstancial, conditioning, or secondary cause, incontrast with nhân hetu, the direct or fundamental cause. ; Pratyaya (skt). 1) Có duyên: Charm—Grace—Charming—Graceful. 2) Có điều kiện: Conditioned. 3) Phan duyên: A co-operating cause, the concurrent occasion of an event as distinguished from its proximate cause. 4) Nhân phụ, hoàn cảnh hay điều kiện bên ngoài, đối lại với nhân chính hay chủng tử. Nhân (Hetu) là hạt, trong khi duyên (Pratyaya) là đất, mưa, nắng, vân vân : The circumstantial, conditioning, or secondary cause, in contrast with the Hetu, the direct or fundamental cause. Hetu is the seed, Pratyaya is the soil, rain, sunshine, etc. 5) Năng Duyên: Tâm có thể lý luận—The mind can reason. 6) Sở Duyên: Đối tượng của lý luận là sở duyên—The objective. 7) Năng Duyên Sở Duyên: Duyên là tác dụng của Tâm với Cảnh (Tâm và đối tượng tiếp xúc với nhau tạo ra tiến trình lý luận hay “Duyên.”)—When the mind is in contact with the objective we have the reasoning process. ; (緣) Phạm: Pratyaya, Pàli: paccaya. I. Duyên. Nói theo nghĩa hẹp, duyên là nguyên nhân gián tiếp đưa đến kết quả; nói theo nghĩa rộng, duyên là tên gọi cả hai nhân và duyên hợp lại. Duyên được chia làm bốn loại: 1. Nhân duyên: Nhân cũng là duyên, chỉ cho nguyên nhân ở trong trực tiếp sinh ra quả báo, nhân này nói theo nghĩa hẹp, tức tương đương với năm nhân (Câu hữu nhân, Đồng loại nhân, Tương ứng nhân, Biến hành nhân, Dị thục nhân) ngoài Năng tác nhân. 2. Đẳng vô gián duyên: Chỉ cho nguyên nhân từ một sát na trước dẫn đường cho một sát na sau trong sự tương tục của tâm và tâm sở. 3. Sở duyên duyên (duyên duyên): Sở duyên chỉ cho cảnh ở ngoài, lúc tâm duyên theo cảnh ngoài thì phải nhờ cảnh ngoài làm trợ duyên. Theo thuyết của tông Duy thức thì Sở duyên duyên có thể được chia làm Sơ duyên và Thân duyên. 4. Tăng thượng duyên: Chỉ chung tất cả pháp không sinh ra sự chướng ngại đối với một pháp nào. Giống như Năng tác nhân trong sáu nhân. Theo thuyết của tông Tịnh độ thì 48 nguyện của đức Phật A di đà là Tăng thượng duyên của phàm phu vãng sinh Tịnh độ. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; luận Câu xá Q.7; Đại thừa nghĩa chương Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối]. (xt. Tứ Duyên). II. Duyên. Dùng làm động từ, nghĩa là phan duyên, duyên lự. Tâm thức con người duyên theo tất cả cảnh giới, bám dính vào đó không chịu buông bỏ. Như thức mắt duyên theo sắc cảnh mà thấy, cho đến thức thân duyên theo xúc cảnh mà biết, vì thế tâm thức được gọi là Năng duyên, còn cảnh giới mà tâm thức duyên theo thì được gọi là Sở duyên. [X. luận Đại tì bà sa Q.16; luận Thành duy thức Q.1].

duyên biến

6134為「生變」之對稱。唯識家就諸識之變諸法,分別為因能變(生變)和果能變(緣變)兩種。果能變之變,為變現之義,非生而現,係諸識於自體分上,變現見分(能緣)、相分(所緣),而成為緣慮作用,故稱緣變。成唯識論述記卷三(大四三‧三一七上):「緣名變,即變現義,是果能變,且第八識唯變種子及有根身等,眼等轉識變色等是,此中但言緣,故名變。」 ; (緣變) Đối lại với Sinh biến. Các nhà Duy thức chia các pháp do các thức biến ra làm hai loại: Nhân năng biến (sinh biến) và Quả năng biến (duyên biến). Sự biến của Quả năng biến là nghĩa biến hiện, chứ không phải do sinh mà hiện ra. Đây là do Tự thể phần của các thức biến hiện ra Kiến phần (năng duyên) và Tướng phần (sở duyên) mà thành là tác dụng duyên lự, vì thế gọi là Duyên biến. Thành duy thức luận thuật kí quyển 3 (Đại 43, 317 thượng), nói : Duyên gọi là biến, tức là nghĩa biến hiện, đó là quả năng biến; vả lại, thức thứ 8 chỉ biến chủng tử và Hữu căn thân, còn các chuyển thức như thức mắt v.v... thì biến ra sắc v.v.., trong đây chỉ nói duyên, nên gọi là biến.

duyên chân như thiền

Tathatalambanam (skt)—Đây là thiền định dựa vào như như, thiền định thứ ba trong tứ thiền định được mô tả trong Kinh Lăng Già. Đối tượng của sự tu tập là thể chứng cái như như của chân lý bằng cách giữ các tư tưởng vượt lên trên cái nhị biên của hữu và phi hữu, và cũng vượt lên trên hai ý niệm về vô ngã—This is the dhyana depending upon suchness. This is the third of the four Dhyanas described in The Lankavatara Sura. The object of the discipline is to realize the suchness of truth by keeping thoughts above the dualism of being and non-being and also aboe the twofold notion of egolessness.

duyên chính

a) Chính Nhân Phật Tánh: Fundamental Buddha-nature or Bhutatathata. b) Duyên Nhân Phật Tánh: Những điều kiện hay hoàn cảnh bên ngoài giúp Phật tánh trải qua các thời kỳ phát triển—Conditioned Buddha-nature in all undergoing development.

duyên cơ

Nhân và duyên đưa đến Phật quả—Conditions opportune—Favourable circumstances—Cause and conditions cooperating for achieving Buddhahood.

duyên cớ

Cause—Reason.

duyên do

See Duyên cớ.

duyên duyên

The reasoning mind, or the mind reasoning, intelligence in contact withits object; later termed sở duyên duyên i.e. sở duyên being the objectand duyên or năng duyên the mind; the relationship being like that ofform or colour to the eye. ; Adhipati-pratyaya (skt)—Sở Duyên Duyên—Cái duyên của sở duyên hay tâm thức đối với cảnh giới như mắt đối với sắc (tâm thức gọi là năng duyên, cảnh giới gọi là sở duyên)—Conditioned condition—The reasoning mind, or the mind reasoning—Intelligence in contact with its object—The relationship being like that of form or colour to the eye. The influence of one factor in causing others. • Sở Duyên: The object. • Duyên: Mind.

duyên dáng

Charm—Grace—Charming—Cute.

duyên dĩ sinh

6123指由緣所生之果分,即緣生法。為「緣起」之對稱。狹義之說,緣起指因法而言,緣生指果法而言,實則,緣生、緣起同義。就十二因緣言,以「無明」為緣而生之「行」為緣已生;以此「行」為緣所生之「識」,亦為緣已生。乃至以「生」為緣所生相續不斷之「老死」,皆為緣已生。據大毘婆沙論卷二十三載,尊者望滿對緣起與緣已生有四句分別:(一)是緣起而非緣已生之法,即未來法。(二)是緣已生而非緣起之法,即過去、現在阿羅漢之最後五蘊。(三)是緣起亦是緣已生之法,即除過去、現在阿羅漢之最後五蘊外,其餘之過去、現在之法。(四)非緣起亦非緣已生之法,即指無為法。(參閱「緣起」6126) ; (緣已生) Duyên đã sinh. Quả phần do duyên sinh ra, tức là pháp duyên sinh. Đối lại với Duyên khởi. Nói theo nghĩa hẹp thì Duyên khởi là chỉ cho pháp Nhân, còn Duyên sinh là chỉ cho pháp Quả, nhưng thực ra thì Duyên sinh hay Duyên khởi đều là cùng nghĩa. Đứng về phương diện 12 nhân duyên mà nói thì Vô minh làm duyên sinh ra Hành, Hành là duyên dĩ sinh (duyên đã sinh), lấy Hành làm duyên sinh ra Thức, cũng là duyên dĩ sinh; cho đến lấy Sinh làm duyên sinh ra Lão tử nối nhau không dứt, tất cả đều là duyên dĩ sinh. Luận Đại tì bà sa quyển 23 chép, Tôn giả Vọng mãn phân biệt Duyên khởi và Duyên dĩ sinh làm bốn: 1. Là pháp Duyên khởi chứ không phải pháp Duyên dĩ sinh, tức là pháp vị lai. 2. Là pháp Duyên dĩ sinh chứ không phải pháp Duyên khởi, tức là năm uẩn sau cùng của bậc A la hán ở quá khứ, hiện tại. 3. Vừa là pháp Duyên khởi vừa là pháp Duyên dĩ sinh, tức là các pháp quá khứ, hiện tại khác ngoài năm uẩn sau cùng của bậc A la hán ở quá khứ, hiện tại. 4. Chẳng phải pháp Duyên khởi cũng chẳng phải pháp Duyên dĩ sinh, tức là pháp Vô vi. (xt. Duyên Khởi).

Duyên Giác

(s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺): âm dịch là Bích Chi Phật (辟支佛), Bích Chi Ca Phật (辟支迦佛); ý dịch ngày xưa là Duyên Nhất Giác (緣一覺), ý dịch ngày nay là Độc Giác (獨覺). Duyên Giác cùng với Thanh Văn (s: śrāvaka, 聲聞) hình thành Nhị Thừa, và thêm quả vị Phật vào là Tam Thừa. Nhị Thừa được xem là Tiểu Thừa, còn Phật Thừa là Đại Thừa. Duyên Giác là người không ý cứ vào lời dạy của người khác, tự mình quán pháp Duyên Khởi (s: pratītya-samutpāda, p: paticca-samppāda, 緣起) mà khai ngộ. Đối xứng với hàng Thanh Văn thì nghe pháp Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦) mà khai ngộ; trong khi đó, hàng Duyên Giác lại quán Thập Nhị Nhân Duyên (s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣) mà chứng ngộ. Duyên Giác có hai loại: loại độc hành như con Tê Giác, và loại tập trung thành nhóm tu tập.

Duyên giác

xem Phật Bích-chi

duyên giác

6132梵語 pratyeka-buddha,巴利語 pacceka-buddha。音譯鉢剌醫迦佛陀、畢勒支底迦佛、辟支迦佛、貝支迦佛、辟支佛。又作獨覺、緣一覺、因緣覺。為二乘之一,三乘之一。指獨自悟道之修行者。即於現在身中,不稟佛教,無師獨悟,性樂寂靜而不事說法教化之聖者。聲聞與緣覺,稱為二乘;若共菩薩,則為三乘。 獨覺之種類,依大毘婆沙、俱舍、瑜伽師地諸論,有部行獨覺、麟角喻獨覺二種。依俱舍論卷十二載,部行獨覺指聲聞時已證不還果,而欲達阿羅漢果時,離佛自修自悟者;麟角喻獨覺指獨居修行一百大劫,而積足善根功德之覺者。關於部行獨覺,有一說認為原即指須陀洹等之聲聞;另一說則謂彼等先為異生,曾修聲聞之順決擇分,後自證道,由是而得獨勝之名,此係基於本事經中苦行外仙傚仿獼猴之威儀而獨證之說,即闡明部行獨覺乃異生凡夫之意。此中,部行獨覺之得名,係由其在聲聞修行之際,多居僧團中生活;麟角喻獨覺則係獨自於山間、林下修行,不結伴侶,故以麟角為喻。 另依大智度論卷十八之意,辟支佛有二類:(一)獨覺辟支佛,亦有二種:(1)小辟支迦佛,本是「學人」(即指「有學」,係相對於「無學」而言),在受生七次須陀洹之後來生於人間,而於無佛之世自證成道。(2)大辟支迦佛,即於百劫中增長福慧,而得三十一相、三十相、二十九相乃至一相之聖者。蓋前者即相當於部行獨覺中之得果聲聞,後者相當於麟角喻獨覺。(二)因緣覺辟支佛,係由先世福德願行之果報,而不必從他人聞法即能自出智慧,藉飛花落葉等之小因緣而覺悟,相當於部行獨覺中之異生凡夫。 又瑜伽師地論卷三十四明揭三種獨覺之道,其第一種即相當於今所說之大辟支迦佛,第二種相當於因緣覺,第三種相當於小辟支迦佛。四教義卷三引用大智度論之文,謂猶如獨覺有大小二種,因緣覺亦有大小二種,其說恐非允當。 華嚴經行願品疏鈔卷四亦舉出緣覺有三種之別:(一)緣覺之緣覺,此與「因果俱」相同。(二)聲聞之緣覺,其中「因」係指聲聞,「果」成緣覺。(三)菩薩之緣覺,其中「因」係指菩薩,「果」成緣覺。 大乘義章卷十七對聲聞、緣覺有四句分別:(一)是聲聞而非緣覺,即聲聞人。(二)是緣覺而非聲聞,即麟角喻人。(三)是聲聞亦是緣覺,即為部行。(四)是緣覺亦是聲聞,即因緣覺。又聲聞、緣覺相較,則有五同六異之說,五同即:(一)見理同,同見生空之理。(二)斷障同,同斷四住之煩惱。(三)修行同,同修三十七道品法。(四)得果同,同得盡智、無生智果。(五)證滅同,同證有餘、無餘涅槃。六異指:(一)根異,聲聞為鈍根,緣覺為利根。(二)所依異,聲聞依師,緣覺不依師。(三)藉緣異,聲聞藉教法為緣而得悟道,緣覺藉事相之現緣而悟道。(四)所觀異,聲聞觀察四真諦法,緣覺觀察十二因緣法。(五)向果異,聲聞人中四向四果,緣覺人中一向一果。(六)通用異,聲聞之人二千國土為通境界,緣覺之人三千國土為通境界。 緣覺若與菩薩相較,則有一同十異,一同即入於聖位而永不退轉,十異即:(一)因異,緣覺之宿善狹小,菩薩廣大。(二)根異,緣覺為鈍根,菩薩為利根。(三)心異,緣覺畏苦,菩薩不畏。(四)所解異,緣覺觀十二因緣而悟解生空之理,菩薩觀一切法而解二空。(五)起行異,緣覺修自利行,菩薩修自他二利行。(六)斷障異,緣覺斷煩惱障,菩薩能斷煩惱、所知二障。(七)得果異,緣覺得小涅槃,菩薩得大涅槃。(八)起化異,緣覺僅現神通而不說法,菩薩能現神通,亦能宣說。(九)通用異,緣覺同於聲聞僅一心一作,不能眾心眾作,而諸佛菩薩能於一時化現十方世界之一切色相、五趣之身等而施化用。(十)體義異,緣覺所有之身智功德悉皆無常、苦、無我、不淨,菩薩之涅槃則常、樂、我、淨。以上之比較係大乘家之說,小乘家則認為不論聲聞、緣覺、菩薩等,最後均歸於「灰身滅智」之狀態。 緣覺人唯有自利行,而無利他心,故不起大悲心救度眾生,遂難登佛果位。此即緣覺之捨悲障。若自聲聞而言,則緣覺為利根;若自菩薩而言,則緣覺為鈍根。故舊華嚴經卷六等,相對於聲聞之稱為小乘,菩薩之稱為大乘,遂將緣覺稱為中乘;另於大品十地之中,稱緣覺為「支佛地」,置之於「已辨地」之上,「菩薩地」之下。亦即通教十地中之第八地。以支佛地而言,本身便有十地之分類。〔增一阿含經卷三十二、賢愚經卷五、大毘婆沙論卷七、卷一八○、大智度論卷十九、卷二十八、瑜伽師地論卷三十二、辟支佛因緣論卷一、出三藏記集卷一、瑜伽論略纂卷九、俱舍論光記卷二十三、慧苑音義卷上、玄應音義卷三、翻譯名義集卷二〕 ; Do quán thập nhị nhân duyên mà giác ng đạo trung-thừa, gọi là duyên giác. ; Pratyeka-Buddha (S). Enlightened through reasoning on the riddleoflife, especially as defined in the twelve nidànas; Độc giác Phật,individual enlightenment, solitary enlightened One. ; Do quán Thập nhị nhân duyên mà giác ngộ đạo Trung thừa, gọi là Duyên giác. ; Pratyeka-buddha (skt). 1) Pratyeka nghĩa là riêng tư, cá biêt, đơn độc. Chữ Pratyeka-buddha dùng để chỉ một cá nhân đơn độc, không có bất kỳ sự giúp đở nào của ngoại tại nhưng có thể đạt đến cảnh giới A La hán—The word 'Pratyeka' means 'private,' 'individual,' 'single,' or 'solitary.' Pratyeka-buddha is one who is in 'solitary singleness,' in independence of all external support, attains Arhatship. 2) Nhân Duyên Giác: Bích Chi Phật—Nhờ thiền quán theo pháp nhân duyên (pháp quán mười hai nhân duyên để đạt được giác ngộ của Phật giáo) mà giác ngộ thành Phật Bích Chi. Không như Phật toàn giác, Thanh văn Duyên giác chỉ tự giác chứ không giác tha. Bậc Độc Giác không chia xẻ với kẻ khác sự hiểu biết mà mình đã gia công tìm kiếm về những phương tiện để đạt tới Niết Bàn. Bậc Độc Giác tin rằng, những người khác, khi bị thực tế khắc nghiệt của những khổ đau trên trần thế thúc đẩy, cũng sẽ đi vào con đường thánh thiện, nhưng Duyên Giác không bận tâm tới việc dạy bảo hoặc giác ngộ chúng sanh. Các bậc nầy cho rằng sự giác ngộ là một thành tựu về phương diện cá nhân chứ không phải về phương diện xã hội hay vũ trụ—Pratyeka Buddhas (skt)—Who become fully enlightened by meditating on the principle of causality (the Buddhist enlightenment arises from pondering over the twelve nidanas). Unlike the Perfect Buddhas, however, they do not exert themselves to teach and help others. Pratyekabuddha does not share with others his hard-won knowledge of the means for the attainment of Nirvana. He believes that others too, driven by the stern reality of the miseries of life, may some day take to the holy path, but does not bother to teach or enlighten them. They consider enlightenment as an individual not a social or cosmic achievement. 3) Bích Chi Ca La Phật hay Độc Giác Phật: Còn gọi là Bích Chi, Bích Chi Ca Phật, Duyên Giác, hay Độc Giác, là người tự tu tự giác ngộ và nhập Niết bàn trong thời không có bậc Chánh Đẳng Chánh giác, cũng giúp người giác ngộ, nhưng chỉ trong giới hạn nào mà thôi. Duyên Giác chẳng có khả năng nói rõ về chân lý cho người khác như Phật Toàn Giác—Those enlightened to conditions—A person who realizes Nirvana by himself or herself at a time when there is no Samyaksambuddha in the world. He or she also renders services to others, but in a limited way. He or she is not capable of revealing the Truth to others as a Samyak-sambuddha, a fully enlightened does. 4) Độc Giác Phật hay Bát Lạt Ê Già Phật Đà: Người tự tu tự ngộ hay những người sống tu cách biệt khỏi nhân quần xã hội và tự đạt được giác ngộ, đối lại với nguyên tắc vị tha của Bồ Tát—Individual enlightenment—One who lives apart from others and attains enlightenment alone, or for himselfcontrast with the alturism of the bodhisattva principle. 5) Danh từ Duyên Giác không hạn chế trong Phật giáo, nhưng nó bao hàm những vị sống đời cách biệt, tự mình quán sát về ý nghĩa của cuộc đời, nhìn hoa rơi lá rụng mà giác ngộ—The term Pratyeka-buddha is not limited to the Buddhists, but is a general term for those who attain enlightenment by living in isolation (recluses), pondering alone over the meaning of life, observing the “flying flowers and falling leaves.” ; (緣覺) Phạm: Pratyeka-buddha, Pàli: pacceka-buddha. Dịch âm : Bát lạt y ca phật đà, Tất lặc chi để ca phật, Bích chi ca phật, Bối chi ca phật, Bích chi phật. Cũng gọi Độc giác, Duyên nhất giác, Nhân duyên giác. Là một trong hai thừa, một trong ba thừa.Chỉ cho người tu hành ngộ đạo một mình. Tức là bậc Thánh ở đời không có Phật, không thầy chỉ dạy, một mình ngộ đạo, ưa sự vắng lặng, không thích thuyết pháp giáo hóa. Thanh văn và Duyên giác gọi là Nhị thừa, nếu cộng thêm Bồ tát nữa thì là Tam thừa.Theo các luận Đại tì bà sa, Câu xá và Du già sư địa thì có hai loại Độc giác là Bộ hành độc giác. và Lân giác dụ độc giác . Theo luận Câu xá quyển 12 thì Bộ hành độc giác là chỉ cho vị Thanh văn đã chứng quả Bất hoàn, khi muốn đạt đến quả A la hán thì không nương nhờ Phật mà tự tu tự ngộ. Còn Lân giác dụ độc giác thì chỉ cho những vị tự tu hành một trăm đại kiếp tích chứa đầy đủ thiện căn công đức mà đạt được giác ngộ. Có thuyết cho rằng Bộ hành độc giác vốn chỉ cho các bậc Thanh văn Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm và A la hán. Nhưng có thuyết lại nói các Bộ hành độc giác trước là dị sinh (phàm phu), từng tu Thuận quyết trạch phần của Thanh văn, sau tự ngộ đạo, do đó mà có tên là Độc thắng. Đây là căn cứ vào thuyết vị tiên tu khổ hạnh bắt chước cử chỉ của loài khỉ mà tự chứng ngộ ghi chép trong kinh Bản sự, tức ý muốn nói rõ Bộ hành độc giác là dị sinh phàm phu. Bộ hành độc giác tu hành phần nhiều sống trong Tăng đoàn, còn Lân giác dụ độc giác thì thường tu một mình trong rừng núi không ưa kết bạn, cho nên ví dụ là Lân giác (sừng con kì lân: vật hiếm thấy). Cứ theo luận Đại trí độ quyển 18 thì Bích chi phật có hai loại là Độc giác bích chi phật và Nhân duyên giác bích chi phật. 1. Độc giác bích chi phật lại có hai hạng: a. Tiểu bích chi ca phật: Vốn là hạng Hữu học, chứng quả Tu đà hoàn sau bảy lần thụ sinh, trở lại nhân gian nhằm đời không có Phật mà tự ngộ thành đạo, tương đương với hàng Thanh văn đắc quả trong Bộ hành độc giác. b. Đại bích chi ca phật: Tức là người ở trong trăm kiếp tu hành tăng trưởng phúc tuệ mà thành bậc Thánh có được 31 tướng, 30 tướng, 29 tướng cho đến một tướng, tương đương với Lân giác dụ độc giác. 2. Nhân duyên giác bích chi phật: Do quả báo của phúc đức hạnh nguyện đời trước, nên đời này không cần phải theo người khác nghe pháp mà tự mình có khả năng phát ra trí tuệ và chỉ nhờ nhân duyên nhỏ như thấy hoa bay lá rụng mà giác ngộ. Bậc này tương đương với dị sinh phàm phu trong Bộ hành độc giác. Luận Du già sư địa quyển 34 cũng nêu rõ ba loại Độc giác: Loại thứ nhất tương đương với Đại bích chi ca phật, loại thứ hai tương đương với Nhân duyên giác, loại thứ ba tương đương với Tiểu bích chi ca phật. Tứ giáo nghi quyển 3 dẫn văn của luận Đại trí độ, nói rằng, Độc giác có hai loại lớn nhỏ, Nhân duyên giác cũng có hai loại lớn nhỏ. Nhưng thuyết này e không đúng. Hoa nghiêm hành nguyện phẩm sớ sao quyển 4 cũng nêu ra ba loại Duyên giác: 1. Duyên giác của Duyên giác, loại này đồng với Nhân quả câu. 2. Duyên giác của Thanh văn, trong đây, nhân là chỉ cho Thanh văn, quả chỉ cho Duyên giác. 3. Duyên giác của Bồ tát, trong đây, nhân là chỉ cho Bồ tát, quả chỉ Duyên giác. Đại thừa nghĩa chương quyển 17 nêu bốn cách phân biệt Thanh văn, Duyên giác: 1. Thanh văn chứ không phải Duyên giác, tức là hạng Thanh văn. 2. Duyên giác chứ không phải Thanh văn, tức là hạng Lân dác dụ. 3. Vừa là Thanh văn vừa là Duyên giác, tức là Bộ hành. 4. Vừa là Duyên giác vừa là Thanh văn, tức là Nhân duyên giác. Lại đem so sánh Thanh văn và Duyên giác thì có năm điểm giống nhau và sáu điểm khác nhau. Năm điểm giống nhau: 1. Cùng thấy chân lí, cùng thấy lí sinh không. 2. Cùng dứt chướng, cùng đoạn phiền não của bốn trụ. 3. Tu hành giống nhau: cùng tu 37 phẩm trợ đạo. 4. Được quả giống nhau: Cùng được quả tận trí và vô sinh trí. 5. Chứng diệt giống nhau: Cùng chứng Niết bàn hữu dư, vô dư. Sáu điểm khác nhau: 1. Căn tính khác nhau: Thanh văn căn tính chậm lụt, Duyên giác căn tính nhạy bén. 2. Chỗ nương khác nhau: Thanh văn nương vào thầy, Duyên giác không nương vào ai. 3. Nhờ duyên khác nhau: Thanh văn nhờ duyên giáo pháp mà được ngộ đạo, Duyên giác nhờ duyên sự tướng hiện tiền mà ngộ đạo. 4. Chỗ quán xét khác nhau: Thanh văn quán xét bốn chân đế, Duyên giác quán xét 12 nhân duyên. 5. Hướng và quả khác nhau: Thanh văn có bốn hướng bốn quả, Duyên giác có một hướng một quả. 6. Sự thông dụng khác nhau: Thanh văn dùng 2.000 quốc độ làm cảnh giới chung, Duyên giác dùng 3.000 quốc độ làm cảnh giới chung. So sánh giữa Duyên giác và Bồ tát thì có một điểm giống nhau và 10 điểm khác nhau. Một điểm giống nhau là đã vào trong Thánh vị rồi thì không bao giờ trở lui. Còn mười điểm khác nhau: 1. Nhân khác nhau: Phúc thiện đời trước của Duyên giác nhỏ hẹp còn phúc thiện của Bồ tát thì rộng lớn. 2. Căn tính khác nhau: Duyên giác căn tính chậm lụt, Bồ tát căn tính nhạy bén. 3. Tâm lí khác nhau: Duyên giác sợ khổ, Bồ tát không sợ. 4. Chỗ tỏ ngộ khác nhau: Duyên giác quán 12 nhân duyên mà tỏ ngộ lí sinh không, còn Bồ tát quán tất cả pháp mà tỏ ngộ Nhị không (Nhân không, pháp không). 5. Khởi hạnh khác nhau: Duyên giác tu hạnh lợi mình, Bồ tát tu hạnh lợi mình và lợi người. 6. Dứt chướng khác nhau: Duyên giác dứt phiền não chướng, Bồ tát đoạn phiền não chướng và sở tri chướng. 7. Được quả khác nhau: Duyên giác được Tiểu niết bàn, Bồ tát được Đại niết bàn. 8. Hiện thần thông giáo hóa khác nhau: Duyên giác chỉ hiện thần thông chứ không nói pháp, Bồ tát thì vừa hiện thần thông lại vừa nói pháp. 9. Sự thông dụng khác nhau: Duyên giác và Thanh văn chỉ có một tâm một tác dụng, không thể có nhiều tâm nhiều tác dụng; còn chư Phật và Bồ tát có thể cùng một lúc hóa hiện tất cả sắc tướng trong 10 phương thế giới và các loại thân trong năm đường để độ chúng sinh. 10. Thể nghĩa khác nhau: Thân trí công đức của Duyên giác đều là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, còn Niết bàn của Bồ tát thì thường, lạc, ngã, tịnh. Sự so sánh trên đây là thuyết của Đại thừa, còn Tiểu thừa thì cho rằng bất luận là Thanh văn, Duyên giác hay Bồ tát, cuối cùng đều qui về trạng thái khôi thân diệt trí (thân ra tro trí diệt mất). Hàng Duyên giác chỉ có hạnh lợi mình chứ không có tâm lợi người, cho nên không khởi được tâm đại bi cứu độ chúng sinh, vì thế khó chứng được quả vị Phật. Nếu so với Thanh văn thì Duyên giác là hàng lợi căn, nhưng so với Bồ tát thì Duyên giác lại là hàng độn căn. Bởi thế, kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 6, gọi Thanh văn là Tiểu thừa, gọi Bồ tát là Đại thừa, và gọi Duyên giác là Trung thừa. Còn Đại phẩm thập địa thì gọi Duyên giác là Chi phật địa (Bích chi phật) ở trên Dĩ biện địa và dưới Bồ tát địa, tức là địa thứ 8 trong 10 địa của Thông giáo. Chính Chi phật địa cũng có phần trong Thập địa. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.32, kinh Hiền ngu Q.5; luận Đại tì bà sa Q.7, Q.180; luận Đại trí độ Q.19, Q.28; luận Du già sư địa Q.32; luận Bích chi phật nhân duyên Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.1; Du già luận lược toản Q.9; Câu xá luận quang kí Q.23; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng; Huyền ứng âm nghĩa Q.3; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2].

duyên giác bồ đề

Một trong ba loại Bồ Đề, bậc tu theo Duyên Giác phát tâm Bồ Đề nhưng không giáo hóa cho chúng sanh khác mà chỉ muốn một mình giải thoát—The pratyeka-buddha form of enlightenment or enlightenment for self, not revealing the truth to others. This is one of the three form of enlightenment (Sravakas, Pratyeka-buddhas, Bodhisattvas).

duyên giác pháp giới

Một trong những pháp giới mà tông Thiên Thai đã đặt ra về bản thể của chúng sanh và chư Phật—The pratyeka-buddha realm, one of the T'ien-T'ai categories of intelligent beings.

Duyên Giác Phật

緣覺佛|Ðộc Giác Phật

duyên giác phật

Nidāna-buddha (S), Prattyeka-buddha (S), Pacceka-buddha (P), Pratyeka-budddha (S)Bích Chi PhậtXem Độc giác Phật. ; Pratyeka-buddha (skt)—See Duyên Giác in Vietnamese-English Section.

duyên giác thân

The pratyeka-buddha or personal appearing of the Buddha.

Duyên giác thừa

xem Ba thừa.

duyên giác thừa

6132梵語 pratyekabuddha-yāna。指到達緣覺果之法門,亦即指十二因緣之法。由此義,亦將緣覺之機類直接稱為緣覺乘。又作辟支佛乘、獨覺乘。為二乘之一,三乘之一,五乘之一。即觀察十二因緣之理,以期於一向一果中入於涅槃者。(參閱「二乘」206) ; Pratyeka(-buddha)-yāna (S), Paccekayāna (P)Độc giác thừa. ; 1) Giai đoạn của trung thừa được biểu thị là Duyên Giác, là bậc giác nhờ quán sát pháp nhân duyên. Duyên Giác Thừa được coi như sự tiến bộ cao trong phái Tiểu Thừa, nhưng vẫn chưa đạt được tiêu chuẩn vị tha của Bồ Tát trong Đại Thừa—The “middle conveyance” period, characterized as that of the pratyeka-buddha, who is enlightened by the twelve nidanas. It is consider as an advance on the Hinayana, but not yet the standard of the altruistic bodhisatva-vehicle or the Mahayana. 2) Một trong ba thừa trong Phật Giáo—One of the three vehicles in Buddhism: a) Thanh Văn Thừa: Sravaka-Vehicle. b) Duyên Giác Thừa: Pratyeka-buddha-Vehicle. c) Bồ Tát Thừa: Bodhisattva-Vehicle. ; (緣覺乘) Phạm : Pratyekabuddha-yàna. Pháp môn tu để đạt đến quả Duyên giác, cũng chính là 12 nhân duyên. Do nghĩa này mà hàng Duyên giác được gọi là Duyên giác thừa. Cũng gọi Bích chi phật thừa, Độc giác thừa, là một trong hai thừa, một trong ba thừa, một trong năm thừa. Người quán 12 nhân duyên mà ngộ đạo. (xt. Nhị Thừa).

duyên giác trí

Pratyeka-budhi (S).

duyên hóa

Biến cải những người chịu ảnh hưởng của mình—To convert or instruct those under influence.

duyên hội tông

6131魏晉時代般若學六家七宗之一。緣會義乃于法蘭之弟子于道邃所立。吉藏中觀論疏卷二末(大四二‧二九中):「第七于道邃明緣會故有,名為世諦;緣散即無,稱第一義諦。」此宗主張一切諸法皆由因緣會合而有,猶如房屋,由土木會合而成,僅有假名,均無實體。于道邃偏重緣會,後人解為分析空,然書卷失載,未詳其旨。〔中觀論疏記卷三末、漢魏兩晉南北朝佛教史(湯錫予)〕 ; (緣會宗) Một trong sáu nhà bảy tông của Bát nhã học thời Ngụy Tấn. Nghĩa duyên hội là do sư Vu đạo thúy đệ tử của ngài Vu pháp lan lập ra. Trung quán luận sớ quyển 2 phần cuối của ngài Cát tạng (Đại 42, 29 trung), nói: Tông thứ bảy, Vu đạo thúy giải thích rõ: duyên hội hợp nên có, gọi là Thế đế; duyên tan ra thì không, gọi là Đệ nhất nghĩa đế. Tông này chủ trương tất cả các pháp đều do nhân duyên hội hợp mà có, giống như ngôi nhà do đất và gỗ hội hợp mà thành, chỉ có tên giả chứ không có thể thực. Vu đạo thúy thiên về duyên hội, người đời sau giải thích chủ trương của sư là Phân tích không, nhưng vì sách của sư đã thất lạc, nên không biết rõ tông chỉ của sư. [X. Trung quán luận sớ kí Q.3 phần cuối; Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử (Thang tích dư)].

duyên khuyết bất sinh

(緣闕不生) Thiếu duyên chẳng sinh. Nghĩa là các pháp sinh khởi đều do nhân duyên hòa hợp, nếu thiếu các duyên cần thiết thì pháp không thể sinh được. Nếu trường hợp thiếu duyên xảy ra, thì liền được Phi trạch diệt vô vi. Câu xá luận tụng sớ quyển 1 giải thích về Phi trạch diệt (Đại 41, 818 hạ): Nói đương sinh, nghĩa là pháp sẽ sinh; pháp sẽ sinh này nếu gặp đủ duyên thì sinh, thiếu duyên thì không sinh; trong trường hợp không sinh thì được Phi trạch diệt.

Duyên khởi

xem Mười hai nhân duyên. ; 緣起; S: pratītyasamutpāda; P: paṭiccasamup-pāda;|Mười hai nhân duyên

duyên khởi

6126<一>梵語 pratītya-samutpāda,巴利語 paticca-samuppāda 之意譯。音譯鉢剌底帝夜參牟播頭。一切諸法(有為法),皆因種種條件(即因緣)和合而成立,此理稱為緣起。即任何事物皆因各種條件之互相依存而有變化(無常),為佛陀對於現象界各種生起消滅之原因、條件,所證悟之法則,如阿含經典多處所闡明之十二支緣起,謂「無明」為「行」之緣,「行」為「識」之緣,乃至「生」為「老死」之緣,「此有故彼有,此起故彼起」,以明示生死相續之理,同時亦由「此無則彼無,此滅則彼滅」之理,斷除無明,以證涅槃。此緣起之理乃佛陀成道之證悟,為佛教之基本原理。蓋佛陀對印度諸外道所主張「個我」及諸法具有實在之自性等論點,均予否定之,而謂萬有皆係相互依存,非有獨立之自性,以此解釋世界、社會、人生及各種精神現象產生之根源,建立特殊之人生觀與世界觀,成為佛教異於其他宗教、哲學、思想之最大特徵。 據大毘婆沙論卷二十四載,佛陀為攝受眾機,所施設之緣起法有一緣起、二緣起、三緣起、四緣起,乃至十一緣起、十二緣起等數種之多。其中,一緣起係指一切之有為法總名為緣起者;二緣起指因與果;三緣起指三世之別,或指煩惱、業、事等三者;四緣起指無明、行、生、老死等。如上所述,各種由因緣所成立之有為法,皆可稱為緣起、緣生、緣生法、緣已生法。然據俱舍論卷九及尊者望滿(梵 Pūrṇāśa)之說,「緣起」與「緣生」之法,兩者互有所別,即若就其「因」而立名者,即為「緣起」;若就其所能生起之「果」而立名者,則為「緣生」。 自教理史觀之,無論任何時代、任何地域之佛教宗派,莫不以緣起思想為其根本教理,於原始佛教,以阿含經之十二緣起說(十二因緣)為始;於大眾部、化地部中,緣起法列為九無為法之一;繼有大乘唯識、瑜伽師地論之賴耶緣起說,楞伽、勝鬘、大乘起信論等之如來藏緣起說(真如緣起說),華嚴宗之法界緣起說,以及密宗之六大緣起說等,形成一貫之佛教歷史思想,而與中論、天台等之「實相論」共為佛教教學之兩大系統。〔雜阿含經卷十二、中阿含卷四十七多界經、大毘婆沙論卷二十三、品類足論卷六〕(參閱「緣已生」6123、「緣起論」6129) <二>梵語 nidāna。音譯為尼陀那。意譯為緣起、因緣。與上述<一>中之「緣起」語意相同,而使用於不同之情形,指十二部經(原始佛教經典)之因緣部。即說明佛陀或歷來祖師為應眾生之機,而宣說或撰述經、律、論三藏之緣由(理由、由來),如華嚴宗教義中「緣起因分」之緣起即屬此義。此外,後世創立寺剎佛堂、刻造佛像,或記載高僧大德靈驗行狀之各種來由因緣,亦稱為緣起。 <三>據華嚴宗之說,當宇宙諸法現起時,由「佛因位」之立場言,稱為緣起,即「因緣生起」之意;若由「佛果位」而言,以其由悟界之本性產生,則稱性起。華嚴宗又結合判教,分緣起為四種:(一)小乘之業感緣起,(二)大乘始教之阿賴耶緣起,(三)大乘終教之如來藏緣起(真如緣起),(四)華嚴經圓教之法界緣起。(參閱「四種緣起」1821、「因分果分」2274) <四>六世紀之印度僧。曾赴朝鮮,於新羅真興王五年(544)創建智異山華嚴寺,時人尊稱為「緣起祖師」。除華嚴寺外,師另又創建泉隱寺、燕谷寺。〔華嚴寺事蹟、東國輿地勝覽〕 ; Pratityasamutpada (S), ten drel (T), Dependent origination ; The conditionality of all physical and psychical phenomena. Arisingfrom conditional causation; everything arises from conditions, and notbeing spontaneous and self-contained has no seperate and independantnature. It is a fundamental doctrine of the Hoa Nghiêm school, whichdefines four principal uses of the term: 1-Nghiệp cảm duyên khởi, thatof the Hinayàna, i.e. under the influence of karma the conditions ofreincarnation arise; 2-A lại da duyên khởi, that of the primitiveMahàyàna school, i.e. that all things arise from the Alaya; 3-Như laitạng duyên khởi, that of the advancing Mahàyàna, that all things arisefrom Tathàgata-garba, or bhùtatàthatà; 4-Pháp giới duyên khởi, that ofcomplete Mahàyàna, in which one is all and all are one, each being auniversal cause. ; Pratityasamutpada (skt)—The theory of causation. (I) Ý nghĩa của Duyên Khởi—The meanings of Causation: (A) Những định nghĩa nầy căn cứ trên sự giải thích về Duyên Khởi của Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—These definitions are based on the interpretation of Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy. 1) Sự vật chờ duyên mà nẩy sinh, đối lại với tánh giác hay chân như—Conditioned arising—Arising from the secondary causes, in contrast with arising from the primal nature or bhutatatha (Tánh giác). 2) Vạn sự vạn vật hay các pháp hữu vi đều từ duyên mà khởi lên, chứ không có tự tánh—Everything arises from conditions and not being spontaneous and self-contained has no separate and independent nature. 3) Phật giáo không coi trọng ý niệm về nguyên lý căn nhân hay nguyên nhân đệ nhất như ta thường thấy trong các hệ thống triết học khác; và cũng không bàn đến ý niệm về vũ trụ luận. Tất nhiên, triết học về Thần học không thể nào phát triển trong Phật giáo. Đừng ai mong có cuộc thảo luận về Thần học nơi một triết gia Phật giáo. Đối với vấn đề sáng thế, đạo Phật có thể chấp nhận bất cứ học thuyết nào mà khoa học có thể tiến hành, vì đạo Phật không thừa nhận có một xung đột nào giữa tôn giáo và khoa học: Buddhism does not give importance to the idea of the Root-Principle or the First Cause as other systems of philosophy often do; nor does it discuss the idea of cosmology . Naturally such a branch of philosophy as theology did not have grounds to develop in Buddhism. One should not expect any discussion of theology from a Buddhist philosopher. As for the problem of creation, Budhism is ready to accept any theory that science may advance, for Buddhism does not recognize any conflict between religion and science. 4) Theo đạo Phật, nhân loại và các loài hữu tình đều tự tạo, hoặc chủ động hoặc thụ động. Vũ trụ không phải là quy tâm độc nhất; nó là môi trường cọng sinh của vạn hữu. Phật giáo không tin rằng vạn hữu đến từ một nguyên nhân độc nhất, nhưng cho rằng mọi vật nhất định phải được tạo thành ít nhất là hai nguyên nhân. Những sáng hóa hay biến thành của các nguyên nhân đi trước nối tiếp trong liên tục thời gian, quá khứ, hiện tại và vị lai, như một chuỗi dây xích. Chuỗi xích nầy được chia thành 12 bộ phận, gọi là 12 khoen nhân duyên vì mỗi bộ phận liên quan nhau với công thức như sau “Cái nầy có nên cái kia có; cái nầy sinh nên cái kia sinh. Cái nầy không nên cái kia không; cái nầy diệt nên cái kia diệt.”—According to Buddhism, human beings and all living things are self-created or self-creating. The universe is not homocentric; it is a co-creation of all beings. Buddhism does not believe that all things came from one cause, but holds that everything is inevitably created out of more than two causes. The creations or becomings of the antecedent causes continue in time-series, past, present and future, like a chain. This chain is divided into twelve divisions and is called the Twelve Divisioned Cycle of Causation and Becomings. Since these divisions are interdependent, the process is called Dependent Production or Chain of causation. The formula of this theory is as follows: From the existence of this, that becomes; from the happening of this, that happens. From the non-existence of this, that does not become; from the non-happening of this, that does not happen. (B) Theo Triết Học Trung Quán, thuyết Duyên Khởi là một học thuyết vô cùng trọng yếu trong Phật Giáo. Nó là luật nhân quả của vũ trụ và mỗi một sinh mạng của cá nhân. Nó quan trọng vì hai điểm. Thứ nhất, nó đưa ra một khái niệm rất rõ ràng về bản chất vô thường và hữu hạn của mọi hiện tượng. Thứ hai, nó cho thấy sanh, lão, bệnh, tử và tất cả những thống khổ của hiện tượng sinh tồn tùy thuộc vào những điều kiện như thế nào và tất cả những thống khổ nầy sẽ chấm dứt như thế nào khi vắng mặt các điều kiện đó. Trung Quán lấy sự sanh và diệt của các thành tố của sự tồn tại để giải thích duyên khởi là điều kiện không chính xác. Theo Trung Quán, duyên khởi không có nghĩa là nguyên lý của một tiến trình ngắn ngủi, mà là nguyên lý về sự lệ thuộc vào nhau một cách thiết yếu của các sự vật. Nói gọn, duyên khởi là nguyên lý của tương đối tánh. Tương đối tánh là một khám phá vô cùng quan trọng của khoa học hiện đại. Những gì mà ngày nay khoa học khám phá thì Đức Phật đã phát hiện từ hơn hai ngàn năm trăm năm về trước. Khi giải thích duyên khởi như là sự lệ thuộc lẫn nhau một cách thiết yếu hoặc là tánh tương đối của mọi sự vật, phái Trung Quán đã bác bỏ một tín điều khác của Phật giáo Nguyên Thủy. Phật giáo Nguyên Thủy đã phân tích mọi hiện tượng thành những thành tố, và cho rằng những thành tố nầy đều có một thực tại riêng biệt. Trung Quán cho rằng chính thuyết Duyên Khởi đã tuyên bố rõ là tất cả các pháp đều tương đối, chúng không có cái gọi là 'thực tánh' riêng biệt của chính mình. Vô tự tánh hay tương đối tánh đồng nghĩa với 'Không Tánh,' nghĩa là không có sự tồn tại đích thực và độc lập. Các hiện tượng không có thực tại độc lập. Sự quan trọng hàng đầu của Duyên Khởi là vạch ra rằng sự tồn tại của tất cả mọi hiện tượng và của tất cả thực thể trên thế gian nầy đều hữu hạn, chúng không có sự tồn tại đích thực độc lập. Tất cả đều tùy thuộc vào tác động hỗ tương của vô số duyên hay điều kiện hạn định. Ngài Long Thọ đã sơ lược về Duyên Khởi như sau: “Bởi vì không có yếu tố nào của sự sinh tồn được thể hiện mà không có các điều kiện, cho nên không có pháp nào là chẳng 'Không,' nghĩa là không có sự tồn tại độc lập đích thực.”—According to the Madhyamaka philosophy, the doctrine of causal law (Pratityasamutpada) is exceedingly important in Buddhism. It is the causal law both of the universe and the lives of individuals. It is important from two points of view. Firstly, it gives a very clear idea of the impermanent and conditioned nature of all phenomena. Secondly, it shows how birth, old age, death and all the miseries of phenomenal existence arise in dependence upon conditions, and how all the miseries cease in the absence of these conditions. The rise and subsidence of the elements of existence is not the correct interpretation of the causal law. According to the Madhyamaka philosophy, the causal law (pratityasamutpada) does not mean the principle of temporal sequence, but the principle of essential dependence of things on each other. In one word, it is the principle of relativity. Relativity is the most important discovery of modern science. What science has discovered today, the Buddha had discovered more than two thousand five hundred years before. In interpreting the causal law as essential dependence of things on each other or relativity of things, the Madhyamaka means to controvert another doctrine of the Hinayanists. The Hinayanists had analyzed all phenomena into elements (dharmas) and believed that these elements had a separate reality of their own. The Madhyamika says that the very doctrine of the causal law declares that all the dharmas are relative, they have no separate reality of their own. Without a separate reality is synonymous with devoid of real (sunyata), or independent existence. Phenomena are devoid of independent reality. The most importance of the causal law lies in its teaching that all phenomenal existence, all entities in the world are conditioned, are devoid of real (sunya), independent existence (svabhava). There is no real, dependent existence of entities. All the concrete content belongs to the interplay of countless conditions. Nagarjuna sums up his teaching about the causal law in the following words: “Since there is no elements of existence (dharma) which comes into manifestation without conditions, therefore there is no dharma which is not 'sunya,' or devoid of real independent existence.” (II) Phân loại Duyên Khởi—Categories of Causation: 1) Nghiệp Cảm Duyên Khởi—Causation by Action-influence: Nghiệp cảm duyên khởi được dùng để miêu tả bánh xe sinh hóa—Causation by action-influence is depicted in the Wheel of Life. a) Trong sự tiến hành của nhân và quả, phải có định luật và trật tự. Đó là lý thuyết về nghiệp cảm. Trong 12 chi duyên khởi, không thể nêu ra một chi nào để nói là nguyên nhân tối sơ. Bởi vì, cả 12 chi tạo thành một vòng tròn liên tục mà người ta gọi là “Bánh Xe Sinh Hóa,” hay bánh xe luân hồi (see Thập Nhị Nhân Duyên)—There is law and order in the progress of cause and effect. This is the theory of causal Sequence. In the Twelve Divisioned Cycle of Causations and Becomings, it is impossible to point out which one is the first cause, because the twelve make a continuous circle which is called the Wheel of Life (see Thập Nhị Nhân Duyên). b) Người ta có thói quen coi sự tiến hành của thời gian như một đường thẳng từ quá khứ vô cùng ngang qua hiện tại đến vị lai vô tận. Thế nhưng đạo Phật lại coi thời gian như là một vòng tròn không có khởi đầu, không có chấm dứt. Thời gian tương đối: People are accustomed to regard time as progressing in a straight line from the infinite past through present to infinite future. Budhism, however, regards time as a circle with no beginning or end. Time is relative. c) Một sinh vật chết đi không là chấm dứt; ngay đó, một đời sống khác bắt đầu trải qua một quá trình sống chết tương tự, và cứ lập lại như vậy thành một vòng tròn sinh hóa bất tận. Theo đó một sinh vật khi được nhìn trong liên hệ thời gian, nó tạo thành một dòng tương tục không gián đoạn. Không thể xác định sinh vật đó là thứ gì, vì nó luôn luôn biến đổi và tiến hóa qua 12 giai đoạn của đời sống. Phải đặt toàn bộ các giai đoạn nầy trong toàn thể của chúng coi như là đang biểu hiện cho một sinh thể cá biệt. Cũng vậy, khi một sinh vật được nhìn trong tương quan không gian, nó tạo thành một tập hợp phức tạp gồm năm yếu tố hay ngũ uẩn. Bánh xe sinh hóa là lối trình bày khá sáng sủa của quan điểm Phật giáo và một sinh vật trong liên hệ với thời gian và không gian: The death of a living being is not the end; at once another life begins to go through a similar process of birth and death, and thus repeats the round of life over and over again. In this way a living being, when considered in relation to time, forms an endless continuum. It is impossible to define what a living being is, for it is always changing and progressing through the Divisions or Stages of Life. The whole series of stages must be taken in their entirety as representing the one individual being. Thus, a living being, when regarded in relation to space, forms a complex of five elements. The Wheel of Life is a clever representation of the Buddhis conception of a living being in relation to both space and time. D) Bánh xe sinh hóa là một vòng tròn không khởi điểm, nhưng thông thường người ta trình bày nó bắt đầu từ vô minh, một trạng thái vô ý thức, mù quáng. Kỳ thật, vô minh chỉ là một tiếp diễn của sự chết. Lúc chết, thân thể bị hủy hoại nhưng vô minh vẫn tồn tại như là kết tinh các hiệu quả của các hành động được tạo ra trong suốt cuộc sống. Đừng nên coi vô minh như là phản nghĩa của tri kiến; phải biết nó bao gồm cả tri, sự mù quáng hay tâm trí u tối, vô ý thức: The Wheel of Life is a circle with no beginning, but it is customary to begin its exposition at Blindness (unconscious state). Blindness is only a continuation of Death. At death the body is abandoned, but Blindness remains as the crystalization of the effects of the actions performed during life. This Blidness is often termed Ignorance; but this ignorance should not be thought of as the antonym of knowing; it must include in its meaning both knowing and not knowing, blindness or blind mind, unconsciousness. e) Vô minh dẫn tới hành động u tối, mù quáng. Hành, năng lực, hay kết quả của hành vi mù quáng đó, là giai đoạn kế tiếp. Nó là động lực, hay ý chí muốn sống. Ý chí muốn sống không phải là loại ý chí mà ta thường dùng trong ý nghĩa như “tự do ý chí;” thực sự, nó là một động lực mù quáng hướng tới sự sống hay khát vọng mù quáng muốn sống. Vô Minh và Hành được coi là hai nhân duyên thuộc quá khứ. Chúng là những nguyên nhân khi nhìn chủ quan từ hiện tại; nhưng khi nhìn khách quan đời sống trong quá khứ là một đời sống toàn diện giống hệt như đời sống hiện tại: Blindness leads to blind activity. The energy or the effect of this blind activity is the next stage, Motive or Will to Live. This Will to Live is not the kind of will which is used in the term “free will;” it is rather a blind motive toward life or the blind desire to live. Blindness and Will to Live are called the Two Causes of the pst. They are causes when regarded subjectively from the present; but objectively regarded, the life in the past is a whole life just as much as is the life of the present. 2) A Lại Da Duyên Khởi: Alaya-vijnana (skt)—Causation by the Ideation-Store: A Lại Da Duyên Khởi để giải thích căn nguyên của nghiệp—Causation by the Ideation-store is used to explain the origin of action. a) Nghiệp được chia thành ba nhóm, chẳng hạn như nghiệp nơi thân, nơi khẩu và nơi ý. Nếu khởi tâm tạo tác, phải chịu trách nhiệm việc làm đó và sẽ chịu báo ứng, bởi vì ý lực là một hành động của tâm ngay dù nó không phát biểu ra lời nói hay bộc lộ trong hành động của thân. Nhưng tâm là cứ điểm căn để nhất của tất cả mọi hành động luật duyên sinh phải được đặt vào kho tàng tâm ý, tức Tàng Thức hay A Lại Da thứ (Alaya-vijnana): Actions or karma are divided into three groups, i.e., those by the body, those by speech and those by volition. When one makes up one's mind to do something, one is responsible for it and is liable to retribution, because volition is a mind-action even if it is not expressed in speech or manifested in physical action. But the mind being the inmost recess of all actions, the causation ought to be attributed to the mind-store or Ideation-store. b) Lý thuyết ý thể của đạo Phật, tức học thuyết Duy Thức, chia thức thành tám công năng, như nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, và a lại da thức. Trong tám thức nầy, thức thứ bảy và thứ tám cần phải giải thích: The Buddhist ideation theory divides the mind into eight faculties, i.e., the eye-sense, the ear-sense, the nose-sense, the tongue-sense, the body-sense, the co-ordinating sense-center or the sixth mano-vijnana, the individualizing thought-center of egotism or the seventh manas-vijnana, and the storing-center of ideation or the eighth alaya-vjnana, or Ideation-store. Of these eight faculties, the seventh and the eighth require explanation. • Thức thứ bảy là trung tâm cá biệt hóa của ngã tính, là trung tâm hiện khởi của các ý tưởng vị ngã, ích kỹ, kiêu mạn, tự ái, ảo tưởng và mê hoặc—The seventh, the Individualizing Center of Egotism is the center where all the selfish ideas, egotistic, opinions, arrogance, self-love, illusions, and delusions arise. • Thức thứ tám là trung tâm tích tập của ý thể, là nơi chứa nhóm các 'hạt giống' hay chủng tử của tất cả mọi hiện khởi và chúng được bộc lộ trong các hiện khởi đó. Đạo Phật chủ trương rằng nguyên khởi của vạn hữu và vạn tượng là hiệu quả của ý thể. Mỗi chủng tử tồn tại trong tàng thức và khi nó trào vọt vào thế giới khách quan, nó sẽ được phản ảnh để trở thành một hạt giống mới. Nghĩa là tâm vươn ra thế giới ngoại tại và khi tiếp nhận các đối tượng nó đặt những ý tưởng mới vào trong tàng thức. Lại nữa, hạt giống mới đó sẽ trào vọt để phản ảnh trở lại thành một hạt giống mới mẻ khác nữa. Như thế, các hạt giớng hay các chủng tử tụ tập lại và tất cả được chứa nhóm ở đây. Khi chúng tiềm ẩn, chúng ta gọi chúng là những chủng tử. Nhưng khi chúng hoạt động, chúng ta gọi chúng là những hiện hành. Những chủng tử cố hữu, những hiện hành, và những chủng tử mới hỗ tương phụ thuộc lẫn nhau tạo thành một vòng tròn mãi mãi tái diễn tiến trình trước sau như nhất. Đây gọi là A Lại Da Duyên Khởi: The eighth, the Storing Center of Ideation, is where the 'seeds' of all manifestations are deposited and later expressed in manifestations. Buddhism holds that the origin of all things and events is the effect of ideation. Every seed lies in the Storing Center and when it sprouts out into the object-world a reflection returns as a new seed. That is, the mind reahces out into the outer world and, perceiving objects, puts new ideas into the mind-store. Again, this new seed sprouts out to reflect back a still newer seed. Thus the seeds accumulate and all are stored there together. When they are latent, we call them seeds, but when active we call them manifestations. The old seeds, the manifestations and the new seeds are mutually dependent upon each other, forming a cycle which forever repeats the same process. This is called the Chain of Causation by Ideation. c) Cái làm cho chủng tử hay vô thức tâm phát khởi thành hiện hành, nghĩa là động lực tạo ra dòng vận động của duyên khởi, chính là ý thể, nghĩa là thức. Có thể thấy một cách dễ dàng, theo thuyết A Lại Da Duyên Khởi nầy, rằng Hoặc, Nghiệp và Khổ khởi nguyên từ nghiệp thức, hay ý thể. Tàng thức lưu chuyển tái sinh để quyết định một hình thái của đời sống kế tiếp. Có thể coi tàng thức giống như một linh hồn trong các tôn giáo khác. Tuy nhiên, theo học thuyết của đạo Phật, cái tái sanh không phải là linh hồn, mà là kết quả của các hành động được thi hành trong đời sống trước. Trong đạo Phật, người ta không nhận có hiện hữu của linh hồn: That which makes the seed or subconscious thought sprout out into actual manifestation, that is, the motive force which makes the chain of causation move, is nothing but ideation. It is easy to see from this theory of Causation by Ideation that Delusion, Action and Suffering originate from mind-action, or ideation. The Storing Center of Ideation is carried across rebirth to determine what the next form of life will be. This Storing Center might be regarded as similar to the soul in other forms of religion. According to the Buddhist doctrine, however, what is reborn is not the soul, but is the result of the actions performed in the preceding life. In Buddhism the existence of the soul is denied. 3) Chân Như Duyên Khởi—Causation By Thusness: Chân Như Duyên Khởi, để giải thích căn nguyên của tàng thức. Tàng thức của một người được quy định bởi bản tính của người đó và bản tánh nầy là hình thái động của chân như. Không nên hỏi chân như hay Như Lai tạng khởi lên từ đâu, bởi vì nó là thể tánh, là chân như cứu cánh không thể diễn đạt—Causation by Thusness is used to explain the origin of theideation-store. The ideation-store of a human being is determined by his nature as a human being and this nature is a particular dynamic form of Thusness. One should not ask where Thusness or Matrix of Thus-come originates, because it is the noumenon, the ultimate indescribable Thusness. a) Chân như là từ ngữ duy nhất có thể dùng để diễn tả thực tại cứu cánh vượt ngoài định danh và định nghĩa. Còn được gọi là Như Lai Tạng. Như Lai Tạng là Phật tánh ẩn tàng trong bản tánh của phàm phu. Như Lai là một biểu hiệu được Phật tự dùng để thay cho các danh xưng như “Tôi” hay “Chúng ta,” nhưng không phải là không có một ý nghĩa đặc biệt. Sau khi Ngài thành đạo, Đức Phật gặp năm anh em Kiều Trần Như hay năm nhà khổ hạnh mà trước kia đã từng sống chung với Ngài trong đời sống khổ hạnh trong rừng. Năm nhà khổ hạnh nầy gọi Ngài là “Bạn Gotama.” Phật khiển trách họ, bảo rằng, đừng gọi Như Lai như là bạn và ngang hàng với mình, bởi vì Ngài bấy giờ đã là Đấng Giác Ngộ, Đấng Tối Thắng, Đấng Nhất Thiết Trí. Khi Ngài “đến như vậy” trong tư thế hiện tại của Ngài với tư cách là vị đạo sư của trời và người, họ phải coi Ngài là Đấng Trọn Lành chứ không phải là một nguời bạn cố tri: Thusness or suchness, is the only term which can be used to express the ultimate indefinable reality. It is otherwise called the Matrix of Thus-come. Thus-come is Buddha-nature hidden in ordinary human nature. “Thus-come” is a designation of the Buddha employed by himself instead of “I”or “we,” but not without special meaning. After he had attained Enlightenment, he met the five ascetics with whom he had formerly shared his forest life. These five ascetics addressed him saying “Friend Gotama.” The Buddha admonished them, sayingthat they ought not treat the Thus-come (thus enlightened I come) as their friend and their equal, because he was now the Enlightened One, the Victorious, All-wise One. When he had 'thus come' in his present position as the instructor of all men and even of devas, they should treat him as the Blesed One and not as an old friend. b) Lại nữa, khi Đức Phật trở về thành Ca Tỳ La Vệ, quê cũ của Ngài, Ngài không đi đến cung điện của phụ vương mà lại ở trong khu vườn xoài ở ngoại thành, và theo thường lệ là đi khất thực mỗi ngày. Vua Tịnh Phạn, phụ vương cuả Ngài, không thể chấp nhận con mình, một hoàng tử , lại đi xin ăn trên các đường phố thành Ca Tỳ La Vệ. Lúc đó, vua đến viếng Đức Phật tại khu vườn, và thỉnh cầu Ngài trở về cung điện. Phật trả lời vua bằng những lời lẽ như sau: “Nếu tôi vẫn còn là người thừa kế của Ngài, tôi phải trở về cung điện để cùng chung lạc thú với Ngài, nhưng gia tộc của tôi đã đổi. Bây giờ tôi là một người thừa kế các Đức Phật trong quá khứ, các ngài đã “đến như vậy” như tôi đang đến như vậy ngày nay, cùng sống trong các khu rừng, và cùng khất thực. Vậy Bệ Hạ hãy bỏ qua những gì mà ngài đã nói.” Đức vua hiểu rõ những lời đó, và tức thì trở thành một người đệ tử của Đức Phật: Again, when the Buddha went back to Kapilavastu, his former home, he did not go to the palace of his father, but lived in the banyan grove outside the town, and as usual went out to beg daily. Suddhodana, his king-father, could not bear the idea of his own son, the prince, begging on the streets of Kapilavastu. At once, the king visited the Buddha in the grove and entreated him to return to the palace. The Buddha answered him in the following words: “If I were still your heir, I should return to the palace to share the comfort with you, but my lineage has changed. I am now a successor to the Buddhas of the past, all of whom have 'thus gone' (Tathagata) as I am doing at present, living in the woods and begging. So your Majesty must excuse me.” The king understood the words perfectly and became a pupil of the Buddha at once. c) Như Lai, đến như vậy hay đi như vậy, trên thực tế, cùng có ý nghĩa như nhau. Phật dùng cả hai và thường dùng chúng trong hình thức số nhiều. Đôi khi các chữ đó được dùng cho một chúng sinh đã đến như vậy, nghĩa là, đến trong con đường thế gian. Đến như vậy và đi như vậy do đó có thể được dùng với hai nghĩa: “Vị đã giác ngộ nhưng đến trong con đường thế gian,” hay “vị đến trong con đường thế gian một cách đơn giản.”—Thus come and thus gone have practically the same meaning. The Buddha used them both and usually in their plural forms. Sometimes the words were used for a sentient being who thus come, i.e., comes in the contrary way. Thus-come and Thus-gone can therefore be used in two senses: 'The one who is enlightened but comes in an ordinary way' or 'The one who comes in an ordinary way simply.' D) Bấy giờ, Chân như hay Như Lai tạng chỉ cho trạng thái chân thật của vạn hữu trong vũ trụ, cội nguồn của một đấng giác ngộ. Khi tĩnh, nó là tự thân của Giác Ngộ, không liên hệ gì đến thời gian và không gian; nhưng khi động, nó xuất hiện trong hình thức loài người chấp nhận một đường lối thế gian và sắc thái của đời sống. Trên thực tế, Chân như hay Như Lai tạng là một, và như nhau: chân lý cứu cánh. Trong Đại Thừa, chân lý cứu cánh được gọi là Chân như hay Như thực: Now, Thusness or the Matrix of Thus-come or Thus-gone means the true state of all things in the universe, the source of an Enlightened One, the basis of enlightenment. When static, it is Enlightenment itself, with no relation to time or space; but, when dynamic, it is in human form assuming an ordinary way and feature of life. Thusness and the Matrix of Thus-come are practically one and the same, the ultimate truth. In Mahayana the ultimate truth is called Suchness or Thusness. e) Chân như trong ý nghĩa tĩnh của nó thì phi thời gian, bình đẳng, vô thủy vô chung, vô tướng, không sắc, bởi vì bản thân sự vật mà không có sự biểu lộ của nó thì không thể có ý nghĩa và không bộc lộ. Chân như trong ý nghĩa động của nó có thể xuất hiện dưới bất cứ hình thức nào. Khi được điều động bởi một nguyên nhân thuần tịnh, nó mang hình thức thanh thoát; khi được điều động bởi một nguyên nhân ô nhiễm, nó mang hình thức hủ bại. Do đó chân như có hai trạng thái: tự thân chân như, và những biểu lộ của nó trong vòng sống và chết: We are now in a position to explain the Theory of Causation by Thusness. Thusness in its static sense is spaceless, timeless, all-equal, without beginning or end, formless, colorless, because the thing itself without its manifestation cannot be sensed or described. Thusness in its dynamic sense can assume any form ; when driven by a pure cause it takes a lofty form; when driven by a tainted cause it takes a depraved form. Thusness, therefore, is of two states. The one is the Thusness itself; the other is its manifestation, its state of life and death. 4) Pháp Giới Duyên Khởi—Causation by the Universal Principle: a) Pháp giới (Dharmadhatu) có nghĩa là những yếu tố của nguyên lý và có hai sắc thái—Dharmadhatu means the elements of the principle and has two aspects: • Trạng thái chân như hay thể tánh: The state of Thusness or noumenon. • Thế giới hiện tượng: The world of phenomenal manifestation. b) Tuy nhiên trong Pháp Giới Duyên Khởi, người ta thường dùng theo nghĩa thứ hai, nhưng khi nói về thế giới lý tưởng sở chứng, người ta thường dùng nghĩa thứ nhất: In this causation theory it is usually used in the latter sense, but in speaking of the odeal world as realized, the former sense is to be applied. c) Đạo Phật chủ trương rằng không có cái được tạo độc nhất và riêng rẻ. Vạn hữu trong vũ trụ, tâm và vật, khởi lên đồng thời; vạn hữu trong vũ trụ nương tựa lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, và do đó tạo ra một bản đại hòa tấu vũ trụ của toàn thể điệu. Nếu thiếu một, vũ trụ sẽ không toàn vẹn; nếu không có tất cả, cái một cũng không. Khi toàn thể vũ trụ tiến tới một bản hòa âm toàn hảo, nó được gọi là nhất chân pháp giới, vũ trụ của cái “Một” hay cái “Thực,” hay “Liên Hoa Tạng.” Trong vũ trụ lý tưởng đó, vạn hữu sẽ tồn tại trong hòa điệu toàn diện, mỗi hữu không chướng ngại hiện hữu và hoạt động của các hữu khác: Buddhism holds that nothing was created singly or individually. All things in the universe, matter and mind, arose simultaneously, all things in it depending upon one another, the influence of each mutually permeating and thereby making a universal symphony of harmonious totality. If one item were lacking, the universe would not be complete; without the rest, one item cannot be. When the whole cosmos arrives at a harmony of perfection, it is called the 'Universe One and True,' or the 'Lotus Store.' In this ideal universe all beings will be in perfect harmony, each finding no obstruction in the existence and activity of another. D) Mặc dù quan niệm viên dung và đồng khởi là vũ trụ, nó là một thuyết Pháp Giới Duyên Khởi, bản tính của hiện khởi là vũ trụ, nó là một thứ triết lý về toàn thể tính của tất cả hiện hữu, hơn là triết học về nguyên khởi: Although the idea of the interdependence and simultaneous rise of all things is called the Theory of Universal Causation, the nature of the rise being universal, it is rather a philosophy of the totality of all existence than a philosophy of origination. • See Bốn Loại Vũ Trụ. • See Mười Lý Do Vạn Hữu Hòa Điệu Trong Pháp Giới Duyên Khởi. ** For more information, please see Tứ Duyên Sanh. ; (緣起) I. Duyên khởi. Phạm: pratìtyasamutpàda, Pàli: paticca-samuppàda. Âm hán: Bát lạt để đế dạ tham mâu bá đầu. Tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên (các điều kiện) hòa hợp mà thành, lí này gọi là duyên khởi. Tức là bất cứ sự vật gì trong thế giới hiện tượng đều nương vào những điều kiện nhân duyên mà sinh khởi, tồn tại, biến hóa (vô thường) và tiêu diệt. Đó là pháp tắc mà đức Phật đã chứng ngộ được. Như 12 chi duyên khởi đã được giải thích rõ trong các kinh điển A hàm : Vô minh là duyên của hành, hành là duyên của thức, cho đến sinh là duyên của lão tử; Vì cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh để chỉ bày rõ lí sinh tử nối nhau, đồng thời cũng nêu rõ lí cái này không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt để đoạn trừ vô minh chứng Niết bàn. Lí Duyên khởi này là sự chứng ngộ thành đạo của đức Phật, là nguyên lí cơ bản của Phật giáo. Đối với luận điểm của các tôn giáo khác ở Ấn độ chủ trương cái ta (ngã) và các pháp đều có tự tính thực tại, đức Phật đã bác bỏ hết và tuyên bố rằng, vạn hữu đều nương vào nhau mà tồn tại, không có tự tính độc lập. Ngài dùng nguyên lí duyên khởi để giải thích nguồn gốc của thế giới, xã hội, nhân sinh và sự sản sinh của những hiện tượng tinh thần, mà kiến lập nhân sinh quan và thế giới quan riêng và là đặc trưng lớn nhất của Phật giáo khác hẳn với các tư tưởng, triết học và tôn giáo khác. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 24, để thu nhiếp tất cả mọi căn cơ trình độ, đức Phật đã lập nhiều pháp duyên khởi: Một duyên khởi, hai duyên khởi, ba duyên khởi, bốn duyên khởi cho đến 11 duyên khởi, 12 duyên khởi v.v... Trong đó, một duyên khởi là chỉ chung tất cả pháp hữu vi; hai duyên khởi là nhân và quả; ba duyên khởi là ba đời sai khác, hoặc chỉ cho phiền não, nghiệp và sự; bốn duyên khởi là vô minh, hành, sinh, lão tử. Như đã nói trên đây thì tất cả các pháp hữu vi do nhân duyên tạo thành đều có thể gọi là duyên khởi, duyên sinh, duyên sinh pháp, duyên dĩ sinh pháp. Nhưng theo luận Câu xá quyển9 và thuyết của Tôn giả Vọng mãn (Phạm: Pùrịàza) thì hai pháp duyên khởi và duyên sinh có chỗ khác nhau: Nếu nói về Nhân thì gọi là duyên khởi, nếu nói về Quả thì gọi là duyên sinh. Đứng về phương diện giáo lí sử mà nhận xét, thì tất cả các tông phái Phật giáo, bất luận là ở thời đại nào, xứ sở nào, cũng đều lấy tư tưởng duyên khởi làm giáo lí căn bản. Như: Phật giáo nguyên thủy lấy thuyết 12 duyên khởi (12 nhân duyên) của kinh A hàm làm gốc; Đại chúng bộ, Hóa địa bộ xếp pháp duyên khởi làm một trong chín pháp vô vi; Duy thức Đại thừa và luận Du già sư địa có thuyết A lại da duyên khởi; kinh Lăng già, kinh Thắng man, luận Đại thừa khởi tín có thuyết Như lai tạng duyên khởi (Chân như duyên khởi); tông Hoa nghiêm có thuyết Pháp giới duyên khởi; Mật tông có thuyết Lục đại duyên khởi v.v... tất cả đã hình thành sự nhất quán trong lịch sử tư tưởng Phật giáo. Thuyết Duyên khởi này cùng với luận Thực tướng của Trung luận và Thiên thai đã tạo thành hai hệ thống lớn của giáo học Phật giáo. [X. kinh Tạp a hàm Q.12; kinh Đa giới trong Trung a hàm Q.47; luận Đại tì bà sa Q.23; luận Phẩm loại túc Q.6]. (xt. Duyên Dĩ Sinh, Duyên Khởi Luận). II. Duyên khởi. Phạm: Nidàna. Dịch âm: Ni đà na. Dịch ý là Duyên khởi, Nhân duyên. Giống như từ ngữ Duyên khởi đã nói ở trên nhưng được sử dụng trong tình huống khác: chỉ cho Nhân duyên bộ trong 12 bộ loại kinh (kinh điển Phật giáo nguyên thủy). Tức là nói rõ duyên do (lí do, nguyên do) đức Phật hoặc Tổ sư các đời tùy theo căn cơ của chúng sinh mà thuyết pháp, hoặc lí do soạn thuật ba tạng Kinh, Luật, Luận, như Duyên khởi nhân phần............. trong giáo nghĩa của tông Hoa nghiêm là thuộc loại này. Ngoài ra, đời sau cũng gọi nguyên do sáng lập chùa viện, Phật đường, khắc tạo tượng Phật, hoặc ghi chép hành trạng của các bậc đại đức cao tăng là Duyên khởi. III. Duyên khởi. Theo thuyết của tông Hoa nghiêm, nếu đứng trên lập trường Nhân vị Phật mà nói, thì khi các pháp trong vũ trụ hiện khởi, gọi là Duyên khởi, hàm ý là nhân duyên sinh khởi. Nếu đứng trên lập trường Quả vị Phật mà nói thì gọi là Tính khởi, là vì quả vị này từ bản tính giác ngộ sinh ra. Tông Hoa nghiêm lại kết hợp Duyên khởi với phán giáo mà chia nó làm bốn loại:1. Nghiệp cảm duyên khởi của Tiểu thừa. 2. A lại da duyên khởi của Đại thừa thủy giáo.3. Như lai tạng duyên khởi (Chân như duyên khởi) của Đại thừa chung giáo. 4. Pháp giới duyên khởi của Viên giáo Hoa nghiêm. (xt. Tứ Chủng Duyên Khởi, Nhân Phần Quả Phần). IV. Duyên khởi : Vị cao tăng người Ấn độ sống vào thế kỉ VI. Ngài đến Triều tiên vào năm Chân hưng vương thứ 5 (544) và sáng lập chùa Hoa nghiêm trên núi Trí dị, người đời tôn xưng ngài là Duyên khởi tổ sư. Ngoài chùa Hoa nghiêm ra, ngài còn xây dựng chùa Tuyền ẩn, chùa Yên cốc. [X. Hoa nghiêm tự sự tích; Đông quốc dư địa thắng lãm].

duyên khởi chư pháp

Căn Bản Vi Tâm Pháp: Duyên Khởi Chư Pháp Chi căn Bổn Giả Vi Tâm Pháp—Chư pháp tùng tâm khởi. Hai trường phái Hiển và Mật giáo có những giải thích khác nhau—The root of all phenomena is mind. The exoteric and esoteric schools differ in their interpretation: 1) Hiển giáo cho rằng Tâm pháp là vô sắc vô hình—The exoterics hold that mental ideas or things are unsubstantial and invisible. 2) Mật giáo lại cho rằng Tâm Pháp hữu sắc hữu hình—The esoterics hold that mental ideas have both substance and form. ** For more information, please see Tâm Pháp.

duyên khởi kệ

Duyên Khởi Pháp Tụng—Bài kệ văn của ba trong bốn đế hay giáo lý căn bản của đạo Phật, theo Trí Độ Luận (bài kệ nầy thường được đặt dưới các nền chùa hay bên trong hình tượng Phật)—The gatha of three of the four dogmas of Buddhism according to the Sastra on the Prajna Sutra (usually placed in the foundations of pagodas and inside of images of Budhas): a) Khổ Đế: All is suffering. b) Tập Đế: Suffering is intensified by desire. c) Diệt Đế: Extinction of desire is practicable.

duyên khởi luận

6128請參閱 緣起法頌為闡釋宇宙萬法皆由因緣所生起之相狀及其原由等教理之論說。與「實相論」相對稱。為佛教教理兩大系統之一,據說此劃分始於隋代之慧遠。與之相對之實相論又稱實體論,乃審察諸法之實相本體,並以之為教理之論說。 緣起論係以「法印」為基礎,以十二緣起、四聖諦、八正道為中心思想。法印之內容,一般最常見者為「三法印」,即:(一)諸行無常,謂自時間上觀之,一切現象(有為法)皆屬遷流變化而剎那生滅者,故無固定不變壞之物存在。(二)諸法無我,謂自空間上觀之,諸法(包括有為、無為法)依緣起之法則,互相依存,而無「我」之實體可言。(三)涅槃寂靜,謂有情眾生顛倒諸法實相,妄執有「我」、「我所」,因而起惑造業,流轉不息;如能悟解「無我」,則惑亂不起,當下即能正覺諸法實相,深徹法性寂滅,獲得無礙自在,而證一切皆即寂靜涅槃。除三法印之外,又有加上「一切皆苦」而成「四法印」者;或僅以「一切皆苦」與「涅槃寂靜」二者並稱為「二法印」者。一切皆苦係自理想之觀點考察現實世界所獲之結論;蓋現實世界乃凡夫之輪迴界,充滿苦惱與不滿,而無任何絕對之幸福、快樂、完美、圓滿、純淨等可言,故謂一切皆苦。 十二因緣又稱十二緣起,共由十二支前後剎那無間相續之法所成,即:(一)老死,包括老、死、憂、悲、苦、惱等人生所不能免除之痛苦事實,以此為觀察之起點。(二)生,為老死之源。(三)有,即所謂之「存在」,為「生」之源,具體言之,即指欲有、色有、無色有等三有;經由此三有之依報、正報,始有吾人之「生」。(四)取,即執著之意;由於執著妄心之故,吾人方墮於三有之境界。(五)愛,為執著之本源,亦為現實界之根源。(六)受,即是感情,然感情不起於自身,而係由刺激之反應而生者。(七)觸,即感情(受)之所依。(八)眼、耳、鼻、舌、身、意等六入,又稱六根,為觸所依賴之感覺器官,亦為一切愛欲緣起之條件。(九)名色,即心、身,為生命組織之全體,亦為五蘊之有機複合體,乃六入所賴以成立者。(十)識,為統一心、身之認識作用。(十一)行,即業,乃造作、行為之義。(十二)無明,即無知之意;行為之根源乃無始以來之一種盲目意志。上記十二支所成之十二緣起有順觀(稱為流轉緣起)、逆觀(稱為還滅緣起)兩種。順觀係自「苦」開始,探索其原因所推求出之十二項具體條件;逆觀則就逐一之條件,倒逆次第而審諦、徹悟,以滅除老、死、憂、悲、苦、惱等眾苦。 四諦指苦、集、滅、道等四種真實不虛之諦理,係根據上述之三法印與十二因緣之思想,而組成之教綱。(一)苦諦,審實世間四苦、八苦等之相,乃實苦而不虛之真諦。(二)集諦,審實關於苦之生起或根源之真諦。(三)滅諦,審實吾人可從相續不斷之苦獲得解脫自在之真諦。(四)道諦,即依照正見等八種正確之方法(八正道)以滅除眾苦,證得涅槃之真諦。 八正道為四諦法之第四道諦之解脫方法,即:(一)正見,即確認苦、集、滅、道四諦及三世因果為唯一真確之知識。(二)正思惟,即過出世生活,不瞋恨,不中傷。(三)正語,即說話莊重、真實、親切、仁慈。(四)正業,如戒殺、戒偷、戒邪淫、戒妄語、戒飲酒等五戒。(五)正命,即以正當之方法維持生活,維繫生命。(六)正精進,消除舊有惡習,防止新業產生。(七)正念,思量身體、感官、心靈等均非我、我所,故無我可得。(八)正定,分四次第,由沈靜、輕安、無分別心至解脫境界。 上述之緣起說,乃佛陀所證悟之獨特思想,為其他各種宗教、哲學、思想所未曾有者,其完整之理論體系於原始佛教時代即已具備,後世之論師乃以之為根本教理,而逐漸發展出業感緣起、賴耶緣起、真如緣起、法界緣起、六大緣起等一系列之緣起論系統教說。(一)業感緣起,如俱舍論所說。謂諸法之緣起係由於業力所感之故,即由善惡之業力可招感善惡果報,此果報亦為業,故亦必再招感次一之果報,如是則因果相依而循環不盡。(二)賴耶緣起,為法相宗基於解深密經、瑜伽師地論、唯識論等所說。謂業力係來自於眾生心識之阿賴耶識中所執持之種子,此種子遇緣則生起「現行」,復由現行熏染種子(稱新熏種子),其後再遇緣則更生現行,自現行又熏種子,如是輾轉依存、互為因果而無窮無盡,故知阿賴耶識乃一切萬法開發之本源。(三)真如緣起,主要係依據大乘起信論而說者。謂眾生心識之阿賴耶識雖為發動宇宙一切現象之本源,然溯其根源,則為含藏真如之如來藏心;諸法係真如由無明之緣而起動,猶如海水本自湛然,然由風之緣而產生千波萬浪,翻騰不已。(四)法界緣起,此係華嚴宗基於華嚴經所說。謂萬法相互融通,以一法成一切法,以一切法起一法,主伴具足,相入相即,並存無礙而重重無盡。(五)六大緣起,此係密宗所說。謂一切諸法皆由地、水、火、風、空、識等六大遇緣而生起者。 於諸經論中,屬於緣起論系統者有華嚴、解深密、楞伽、勝鬘等經,及起信、寶性、瑜伽師地、唯識、俱舍等論;屬於實相論系統者有法華、般若、維摩等經,及中、百、十二門、成實等論。於各宗派中,俱舍、法相、地論、攝論、華嚴、密宗等皆屬緣起論系;三論、天台則屬實相論系。蓋緣起論以諸法由因緣生起為其主旨,從而探索諸法開展之本源,故其研究方向為時間性(縱),而傾向於論理性之闡釋態度;實相論以諸法之本體實相為其論旨,故研究方向為空間性(橫),而傾向於直覺性之實踐主義態度。此二大教系之相對並存,若以「空」、「有」相對之觀點而言,緣起論即「有」論,主張「真有俗空」,是為表德門之說;實相論為「空」論,主張「真空俗有」,是為遮情門之說。 緣起論系次第發展出上記之業感、賴耶、真如、法界、六大等緣起論旨。於實相論,則有:(一)成實論判立萬法為假有、實有、真空三方面,而以真空為究竟第一義。(二)三論宗基於中、百、十二門等論,及般若經之說,主張諸法皆空、不可得,乃屬絕對之空論。(三)以法華經為主之天台宗,揭出即空、即假、即中之「三諦圓融」之說,謂諸法存在之原本即是真如實相,而名之為「空」者,並非如吾人所存於情想概念中者,而係諸法之宛然存在者,故謂柳綠花紅,一一悉皆實相真如之妙相,此即中道之「現象即實在論」。此二大教系之教理構成要點雖各自不同,然其根源思想本非迥然相違者,而宜以「一掌之兩面」融通之,使其相資相成,故若以重新整合之立場觀之,則法界緣起、六大緣起、三諦圓融等教說亦可視為緣起、實相二大教系之全面調和,此亦為教理思想發展上之特殊旨趣。〔雜阿含經卷十二、大毘婆沙論卷二十四、俱舍論卷九、大乘義章卷十九〕(參閱「原始佛教」4061、「緣起」6126) ; (緣起論) Là giáo lí giải thích rõ về nguyên do và các tướng trạng của muôn pháp trong vũ trụ do nhân duyên sinh khởi. Đối lại với Thực tướng luận. Cứ theo truyền thuyết thì ngài Tuệ viễn đời Tùy đã chia giáo lí của Phật giáo thành hai hệ thống lớn là Thực tướng luận và Duyên khởi luận. Thực tướng luận cũng gọi là Thực thể luận: Luận thuyết xét thấu thực tướng bản thể của các pháp và lấy đó làm giáo lí. Duyên khởi luận: Lấy pháp ấn làm nền tảng, lấy 12 duyên khởi, bốn thánh đế, tám chính đạo làm tư tưởng chủ yếu. Nội dung pháp ấn thường thấy nhất là ba pháp ấn : 1. Chư hành vô thường: Đứng về phương diện thời gian mà nhận xét, thì tất cả hiện tượng (pháp hữu vi) đều sinh diệt biến hóa từng sát na, cho nên không một vật gì tồn tại cố định, bất biến. 2. Chư pháp vô ngã: Đứng về phương diện không gian mà nhận xét, thì các pháp (gồm cả hữu vi và vô vi) theo nguyên lí duyên khởi, nương tựa vào nhau mà tồn tại, trong đó không có thể thực của cái ta. 3. Niết bàn tịch tĩnh: Chúng sinh điên đảo, ngu mê, không thấy được thực tướng các pháp, vọng chấp có ta, của ta, do đó mà khởi phiền não, tạo nghiệp ác, trôi lăn không ngừng. Nếu biết rõ là vô ngã thì không bị mê hoặc, có thể thấy thực tướng, thấu suốt pháp tính vắng bặt, được tự tại vô ngại, chứng Niết bàn tịch lặng. Ngoài ba pháp ấn trên đây, còn thêm Nhất thiết giai khổ (hết thảy đều khổ) làm bốn pháp ấn. Hoặc lấy Nhất thiết giai khổ và Niết bàn tịch tĩnh làm hai pháp ấn. Nhất thiết giai khổ là kết luận được rút ra từ sự khảo sát thế giới hiện thực theo quan điểm lí tưởng. Bởi vì thế giới hiện thực là thế giới luân hồi của phàm phu, đầy dẫy các nỗi khổ não và bất mãn, không có bất cứ niềm hạnh phúc, khoái lạc tuyệt đối nào có thể cảm được. Mười hai nhân duyên, cũng gọi là Mười hai duyên khởi, do 12 chi trước sau nối nhau trong từng sát na không xen hở mà thành. Mười hai nhân duyên: 1. Lão tử: Gồm các sự thực thống khổ như: già, chết, lo buồn, khổ, não mà kiếp người không ai tránh khỏi, lấy đây làm khởi điểm cho việc quán xét. 2. Sinh: Là nguồn gốc của già, chết. 3. Hữu: Sự tồn tại, nguồn gốc của sinh, cụ thể chỉ cho ba hữu: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Do y báo, chính báo của ba hữu này mới có sinh. 4. Thủ: Giữ chặt lấy. Vì vọng tâm giữ chặt lấy nên người ta mới sinh vào cảnh giới của ba hữu (tức cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc). 5. Ái: Nguồn gốc của sự bám níu, cũng là căn nguyên của thế giới hiện thực. 6. Thụ: Những cảm tình do phản ứng lại sự khêu gợi mà phát sinh. 7. Xúc: Là chỗ nương của cảm tình (thụ). 8. Lục nhập: Sáu chỗ gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý v.v... cũng gọi Lục căn, là những khí quan cảm giác làm chỗ nương cho Xúc, cũng chính là những điều kiện duyên khởi của tất cả tham muốn. 9. Danh sắc: Tâm và thân, là toàn thể tổ chức của mệnh sống, cũng chính là phức hợp thể hữu cơ của năm uẩn; lục nhập nhờ đó mà được thành lập. 10. Thức: Tác dụng nhận thức thống nhất tâm và thân. 11. Hành: Nghiệp, là những hành vi tạo tác. 12. Vô minh: Nghĩa đen là không sáng suốt, không biết. Là ý chí mù quáng làm căn nguyên cho hành vi từ vô thủy đến nay.Mười hai duyên khởi do 12 chi vừa nói ở trên tạo thành, có Thuận quán (gọi là Lưu chuyển duyên khởi) và Nghịch quán (gọi là Hoàn diệt duyên khởi). Thuận quán bắt đầu từ khổ quán xét nguyên nhân của khổ từ 12 điều kiện cụ thể để tìm cách thoát li. Nghịch quán thì bắt đầu từ một điều kiện theo thứ tự ngược trở lên mà thẩm xét đến chỗ thấu triệt để diệt trừ các nỗi khổ già, chết, lo, buồn, khổ, não. Tứ đế gồm bốn chân lí: Khổ, Tập, Diệt, Đạo, là giáo lí nòng cốt được thành lập từ tư tưởng ba pháp ấn và 12 nhân duyên trình bày ở trên. 1. Khổ đế: Ở thế gian thực sự có đầy dẫy các nỗi thống khổ. 2. Tập đế: Tất cả khổ đau đều có nguyên nhân. 3. Diệt đế: Với nỗ lực không ngừng, con người có thể chấm dứt khổ đau. 4. Đạo đế: Phương pháp trừ diệt khổ đau.Bát chính đạo là phương pháp tu hành để diệt khổ mà đạt đến giải thoát, gồm tám thành phần: 1. Chính kiến: Thấy rõ bốn đế và nhân quả ba đời là chân lí xác thực duy nhất. 2. Chính tư duy: Luôn suy nghĩ về chân lí bốn đế. 3. Chính ngữ: Lời nói trang trọng, chân thật, thân thiết, nhân từ. 4. Chính nghiệp: Giữ năm giới (không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm, không nói láo, không uống rượu). 5. Chính mệnh: Mưu sinh bằng nghề nghiệp chính đáng. 6. Chính tinh tiến: Nỗ lực làm việc thiện. 7. Chính niệm: Nhớ nghĩ những việc lợi mình lợi người, không nghĩ những điều tà bậy làm vẩn đục tâm hồn. 8. Chính định: Tập trung tư tưởng vào một đối tượng khiến cho tâm trí không loạn động, nhờ thế đầu óc được sáng suốt, an tịnh.Thuyết Duyên khởi nói ở trên là tư tưởng đặc hữu mà đức Phật đã chứng ngộ, các tôn giáo, tư tưởng, triết học khác chưa từng có; hệ thống lí luận về Duyên khởi đã hoàn chỉnh và đầy đủ từ thời đại Phật giáo nguyên thủy. Các luận sư đời sau lấy đó làm giáo lí căn bản và dần dần phát triển thành các giáo thuyết thuộc hệ thống Duyên khởi luận như : Nghiệp cảm duyên khởi, A lại da duyên khởi, Chân như duyên khởi, Pháp giới duyên khởi, Lục đại duyên khởi v.v...1. Nghiệp cảm duyên khởi: Theo luận Câu xá thì duyên khởi của các pháp là do sức nghiệp chiêu cảm, tức là do sức nghiệp thiện hoặc ác mà mang lại quả báo thiện hoặc ác, quả báo này cũng là nghiệp, cho nên lại tiếp tục chiêu cảm quả báo, cứ như thế nhân quả nương nhau quay vòng không dứt. 2. A lại da duyên khởi: Tông Pháp tướng lấy các thuyết trong các kinh luận như : kinh Giải thâm mật, luận Du già sư địa, luận Thành duy thức v.v... làm nền tảng, cho rằng : Nghiệp lực là do chủng tử (hạt giống) được tích chứa trong thức A lại da của chúng sinh phát ra. Chủng tử này gặp duyên thì khởi hiện hành, rồi hiện hành lại huân tập (xông ướp) chủng tử (gọi là Tân huân chủng tử: hạt giống mới được ươm), sau đó gặp duyên lại sinh hiện hành, rồi từ hiện hành lại huân chủng tử, cứ như thế làm nhân làm quả lẫn nhau xoay vòng bất tận. Cho nên biết thức A lại da là nguồn gốc phát sinh tất cả muôn pháp. 3. Chân như duyên khởi: Thuyết này căn cứ vào luận Đại thừa khởi tín, cho rằng A lại da thức của tâm chúng sinh tuy là nguồn gốc sinh khởi hết thảy hiện tượng trong vũ trụ, nhưng tìm đến căn nguyên thì nó là tâm Như lai tạng hàm chứa chân như. Các pháp vốn là chân như, vì duyên của vô minh mà khởi động, giống như nước biển vốn tự phẳng lặng, nhưng vì gió thổi mà sinh ra muôn nghìn đợt sóng cuồn cuộn chuyển vần. 4. Pháp giới duyên khởi: Đây là thuyết của tông Hoa nghiêm lấy kinh Hoa nghiêm làm nền tảng để thành lập, cho rằng muôn pháp dung thông lẫn nhau, lấy một pháp làm thành tất cả pháp, lấy tất cả pháp làm thành một pháp, chủ bạn đầy đủ, tương nhập tương tức, cùng tồn tại không trở ngại nhau và trùng trùng vô tận. 5. Lục đại duyên khởi: Đây là thuyết của Mật tông, cho rằng hết thảy các pháp đều do sáu nguyên tố (lục đại) : đất, nước, lửa, gió, không và thức gặp duyên mà sinh khởi.Các kinh luận thuộc hệ thống Duyên khởi luận thì có: kinh Hoa nghiêm, kinh Giải thâm mật, kinh Lăng già, kinh Thắng man và luận Khởi tín, luận Bảo tính, luận Du già sư địa, luận Duy thức, luận Câu xá v.v... Còn các kinh luận thuộc hệ thống Thực tướng luận thì có: kinh Pháp hoa, kinh Bát nhã, kinh Duy ma, và các luận: Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận, Thành thực luận v.v...Về các tông phái thì tông Câu xá, tông Pháp tướng, tông Địa luận, tông Nhiếp luận, tông Hoa nghiêm, Mật tông v.v... thuộc hệ thống Duyên khởi luận; còn tông Tam luận, tông Thiên thai thì thuộc hệ thống Thực tướng luận. Vì Duyên khởi luận lấy các pháp do nhân duyên sinh khởi làm chủ yếu để tìm đến nguồn gốc khai triển của các pháp, cho nên phương hướng nghiên cứu thuộc về thời gian tính (dọc) và thái độ giải thích thì có khuynh hướng luận lí tính. Còn Thực tướng luận thì lấy bản thể thực tướng làm luận chỉ, cho nên phương hướng nghiên cứu thuộc về không gian tính (ngang) và có thái độ nghiêng về chủ nghĩa thực tiễn của tính trực giác. Đây là hai hệ thống giáo lí song song tồn tại. Nếu nói theo quan điểm Hữu, Không đối nhau thì Duyên khởi luận thuộc Hữu luận, chủ trương Chân đế hữu, Tục đế không, là thuyết của môn Biểu đức, còn Thực tướng luận thì thuộc Không luận, chủ trương Chân đế không, Tục đế hữu, là thuyết của môn Già tình. Duyên khởi luận đã lần lượt phát triển thành một hệ thống giáo thuyết như đã trình bày ở trên. Còn Thực tướng luận thì có: 1. Luận Thành thực chủ trương ba phương diện: Muôn pháp giả hữu, thực hữu, chân không và lấy chân không làm nghĩa rốt ráo bậc nhất. 2. Tông Tam luận dựa vào thuyết của Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận v.v... chủ trương : Các pháp đều không, bất khả đắc, thuộc Không luận tuyệt đối. 3. Tông Thiên thai lấy kinh Pháp hoa làm nền tảng, đề xướng thuyết Ba đế viên dung Tức không, Tức giả, Tức trung, cho rằng, sự tồn tại nguyên gốc của các pháp chính là chân như thực tướng và gọi đó là không, nhưng chẳng phải là cái không theo khái niệm thông thường của người đời, mà là các pháp y nhiên tồn tại, cho nên nói: liễu xanh hoa đỏ, tất thảy đều là tướng mầu nhiệm của thực tướng chân như, đây là thuyết Trung đạo Hiện tượng tức thực tại.Tóm lại, điểm then chốt cấu thành giáo lí của hai giáo hệ lớn Duyên khởi luận và Thực tướng luận tuy khác nhau, nhưng xét về nguồn gốc tư tưởng thì vốn chẳng trái nhau, mà là dung thông như hai mặt của một bàn tay, trợ giúp và thành tựu lẫn nhau. Bởi thế, nếu đứng trên lập trường trùng tân chỉnh hợp mà nhận xét, thì các giáo thuyết Pháp giới duyên khởi, Lục đại duyên khởi, Tam đế viên dung v.v... cũng có thể xem là sự điều hòa toàn diện giữa hai giáo hệ Duyên khởi và Thực tướng. Đó cũng là chỉ thú đặc thù của sự phát triển tư tưởng giáo lí. [X. kinh Tạp a hàm Q.12; luận Đại tì bà sa Q.24; luận Câu xá Q.9; Đại thừa nghĩa chương Q.19]. (xt. Nguyên Thủy Phật Giáo, Duyên Khởi).

duyên khởi pháp

Pratitya-samutpada (skt)—The twelve nidanas—See Thập Nhị Nhân Duyên.

duyên khởi pháp tụng

6126略說緣起法之偈頌。又作緣起偈。即說佛教根本義四諦中之苦、集、滅三諦之偈文。偈文之梵語為 Ye dharmā hetu-prabhavā hetuṃ teṣaṃ tathāgato hy avadat, teṣāṃ ca yo nirodho evaṃ vādī mahā-śramaṇaḥ,巴利語為 Ye dhammā hetu-ppabhavā tesaṃ hetuṃ tathāgato āha, tesañ ca yo nirodho evaṃ vādī mahāsamaṇo。諸經典所譯不同,初分說經卷下譯為(大一四‧七六八中):「若法因緣生,法亦因緣滅;是生滅因緣,佛大沙門說。」有部毘奈耶出家事卷二譯為(大二三‧一○二七下):「諸法從緣起,如來說是因;彼法因緣盡,是大沙門說。」大智度論卷十一譯為(大二五‧一三六下):「諸法因緣生,是法說因緣;是法因緣盡,大師如是說。」據巴利律藏大品(巴 Mahā-vagga)I.23、四分律卷三十三等,此頌係阿濕卑(梵 Aśvajit,巴 Assaji,意譯馬勝,五比丘之一)為舍利弗說佛陀教說之概略,舍利弗聞此而得預流果,與目連同歸佛陀門下。又以此法頌安置於塔基、塔內或佛像內,則稱為法身舍利偈或法身偈。現存梵本或藏譯佛典之末多記載此頌,於佛像之臺座、光背等處亦刻之。〔撰集百緣經卷十長爪梵志緣、過去現在因果經卷四、佛所行讚卷四大弟子出家品、大方等大集經卷十九寶幢分魔苦品、聖迦柅忿怒金剛童子菩薩成就儀軌經卷上、五分律卷十六、大智度論卷十八、大日經疏卷七、南海寄歸內法傳卷四灌沐尊儀〕 ; See Duyên Khởi Kệ. ; (緣起法頌) Gọi tắt của Duyên khởi pháp chi kệ tụng. Cũng gọi Duyên khởi kệ. Tức là văn kệ nói về Khổ, Tập, Diệt trong bốn đế, là nghĩa căn bản của Phật giáo. Văn kệ bằng tiếng Phạm như sau: Ye dharmà-hetu prabhavàhetuô tewaô tathàgato hy avadat, tewaô ca yo nirodho evaô vàdì mahà-zramaịa#. Văn kệ bằng tiếngPàli: Ye dhammà hetu-ppabhavà tewaô hetuô tathàgato àha, tesaĩ ca yo nirodho evaô vàdì mahàsamaịo. Bản Hán dịch của bài kệ này trong các kinh luận có khác nhau, kinh Sơ phần thuyết quyển hạ (Đại 14, 768 trung), chép:Nhược pháp nhân duyên sinh Pháp diệc nhân duyên diệt Thị sinh diệt nhân duyên Phật đại sa môn thuyết. (Pháp từ nhân duyên sinh Cũng theo nhân duyên diệt Nhân duyên sinh diệt ấy Phật đại sa môn nói). Hữu bộ tì nại da Xuất gia sự quyển 2 (Đại 23, 1027 hạ), chép: Chư pháp tòng duyên khởi Như lai thuyết thị nhân Bỉ pháp nhân duyên tận Thị đại sa môn thuyết. (Các pháp từ duyên sinh Như lai nói là nhân Pháp ấy do duyên diệt Đại sa môn nói thế). Luận Đại trí độ quyển 11 (Đại 25, 136 hạ), chép: Chư pháp nhân duyên sinh Thị pháp thuyết nhân duyên Thị pháp nhân duyên tận Đại sư như thị thuyết (Nhân duyên sinh các pháp Pháp ấy là nhân duyên Nhân duyên hết pháp diệt Đại sư nói như vậy) Cứ theo Luật tạng đại phẩm (Pàli: Mahà-vagga) I.23 và luật Tứ phần quyển 33,thì bài kệ này do tỉ khưu Mã thắng (Phạm: Azvajit, Pàli: Assaji) nói cho ngài Xá lợi phất (khi còn tu theo ngoại đạo) nghe, nhờ đó, ngài Xá lợi phất chứng được quả Dự lưu, rồi cùng với ngài Mục kiền liên (bạn đồng tu) cùng về qui y theo Phật. Nếu bài kệ tụng này được viết trên tháp, hoặc để vào trong tháp hay trong tượng Phật, thì gọi là kệ Pháp thân xá lợi hay kệ Pháp thân. Ở cuối các kinh bản tiếng Phạm hiện còn hoặc bản dịch Tây tạng thường có ghi, rồi ở tòa ngồi hoặc trên hào quang sau lưng tượng Phật cũng khắc bài kệ này. [X. Trường trảo Phạm chí duyên trong kinh Soạn tập bách duyên Q.10; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.14; phẩm Đại đệ tử xuất gia trong Phật sở hành tán Q.4; phẩm Bảo chàng phần ma khổ trong kinh Đại phương đẳng đại tập Q.19; kinh Thánh ca ni phẫn nộ kim cương đồng tử bồ tát thành tựu nghi quĩ Q.thượng; luật Ngũ phần Q.16; luận Đại trí độ Q.18; Đại nhật kinh sớ Q.7; Quán mộc tôn nghi trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].

Duyên khởi quán

xem quán Mười hai nhân duyên.

duyên khởi quán

6129五停心觀之一。又稱因緣觀、緣性緣起觀、觀緣觀。即觀十二緣起之連環相續,係用以對治眾生愚癡煩惱之觀法。(參閱「五停心觀」1144) ; Idam-Pratyayata-Pratītyasamut-pada-smṛti (S)Thập nhị nhân duyên quán. ; (緣起觀) Một trong Ngũ đình tâm quán. Cũng gọi Nhân duyên quán, Duyên sinh duyên khởi quán, Quán duyên quán. Pháp quán tưởng về sự liên tiếp nối nhau của 12 duyên khởi để đối trị sự ngu si phiền não của chúng sinh.

duyên khởi tính

Xem Y tha khởi tính.

duyên khởi tướng do

6127為「法性融通」之對稱。依緣而生起之諸現象,互為交織,互相由藉,稱為緣起相由。為華嚴宗說明事事無礙理論之用語。反之,法性之理圓融於諸現象中,稱為法性融通,表示理事無礙之義。此二者為華嚴教義之根本,尤以緣起相由最為見重。法藏於華嚴遊心法界記闡釋入華嚴三昧之方便,於緣起相由門分開說與合說,其意係就諸法之有力與無力(即作用方面)論融通無礙,說明萬法無一獨存,常相互依存。 法藏又於華嚴經探玄記卷一列舉緣起相由之十義,即:(一)諸緣相異,謂一切諸法由各異之因緣而成立,諸緣絕不混亂。(二)互遍相資,謂諸緣互遍互資而成緣起。(三)俱存無礙,謂差別而不混亂之義與無差別而互遍之義,互不相礙。(四)異體相入,謂由因緣所生之諸現象,其作用互為交織。(五)異體相即,謂異體互為一體化,其體相即而無礙。(六)體用雙融,謂異體相即相入,圓融無礙。(七)同體相入,謂一現象中具足本來一切現象,又兼具一切法之作用。(八)同體相即,謂同體互為一體化。(九)俱融無礙,謂同體相即相入,圓融無礙。(十)同異圓滿,謂不論在異體或同體上,一切諸法皆相即相入,悉為萬有圓融不可思議之妙法,即事事無礙。此十義中,先就緣起本法分為第一諸緣相異義與第二互遍相資義,此二義以第三俱存無礙義概括之。次將異體門之第一諸緣相異義分為第四異體相入義與第五異體相即義。同體門之第二互遍相資義分為第七同體相入義與第八同體相即義。其次將異體門之第四、第五等二義攝入第六體用雙融義。將同體門之第七、第八等二義攝入第九俱融無礙義。最後以第十同異圓滿義總括第六、第九等二義。此中,第四、第五、第七、第八之四義,相當於華嚴五教章卷四之同體、異體、相即、相入四義。〔華嚴經明法品內立三寶章卷下、大方廣佛華嚴經疏卷二、華嚴經疏鈔玄談卷六〕 ; (緣起相由) Các hiện tượng nương vào duyên mà sinh khởi, đan dệt vào nhau, nương nhờ lẫn nhau, gọi là Duyên khởi tương do. Đối lại với Pháp tính dung thông............. Tiếng dùng của tông Hoa nghiêm nói rõ cái lí của sự sự vô ngại. Trái lại, lí pháp tính viên dung trong các hiện tượng thì gọi là Pháp tính dung thông, biểu thị nghĩa: lí sự vô ngại. Đây là hai dụng ngữ căn bản diễn đạt giáo nghĩa Hoa nghiêm, đặc biệt dụng ngữ Duyên khởi tương do được coi trọng hơn. Trong Hoa nghiêm du tâm pháp giới kí, ngài Pháp tạng đã giải thích rõ phương tiện vào tam muội Hoa nghiêm, chia môn Duyên khởi tương do làm Khai thuyết và Hợp thuyết. Tức là đứng về mặt có sức và không sức (tức mặt tác dụng) mà bàn về sự dung thông vô ngại, nói rõ muôn pháp không có một pháp nào tồn tại riêng lẻ mà thường nương tựa lẫn nhau để sống còn. Rồi trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1, ngài Pháp tạng lại nêu 10 nghĩa của Duyên khởi tương do là: 1. Chư duyên tương dị (các duyên khác nhau): Tất cả các pháp do những nhân duyên khác nhau tạo thành, nhưng các duyên không hề hỗn loạn. 2. Hỗ biến tương tư (khắp cả giúp đỡ lẫn nhau): Các duyên trùm khắp giúp đỡ lẫn nhau mà thành duyên khởi. 3. Câu tồn vô ngại (cùng tồn tại mà không ngăn ngại): Sai biệt mà không hỗn loạn và trùm khắp lẫn nhau, thì cùng tồn tại mà không ngăn ngại nhau. 4. Dị thể tương nhập (thể khác mà nhập vào nhau): Các hiện tượng do nhân duyên sinh, tác dụng lẫn nhau, đan dệt vào nhau. 5. Dị thể tương tức (thể khác mà tức là nhau): Thể khác mà nhất thể hóa lẫn nhau, thể tức là nhau mà không trở ngại. 6. Thể dụng song dung (thể và dụng dung nhau): Thể khác mà tức là nhau, hòa nhập vào nhau, viên dung vô ngại. 7. Đồng thể tương nhập (đồng thể hòa nhập vào nhau): Trong một hiện tượng vốn đầy đủ hết thảy hiện tượng, cũng gồm đủ tác dụng của tất cả pháp. 8. Đồng thể tương tức (đồng thể tức là nhau): Đồng thể được nhất thể hóa lẫn nhau. 9. Câu dung vô ngại (đều dung nhau không ngại): Cùng thể tức là nhau, hòa vào nhau, viên dung vô ngại. 10. Đồng dị viên mãn (giống, khác tròn đủ): Dù đồng thể hay khác thể, hết thảy vạn hữu đều là pháp mầu nhiệm tương tức tương nhập chẳng thể nghĩ bàn, tức là sự sự vô ngại. [X. Hoa nghiêm kinh minh pháp phẩm nội lập Tam bảo chương Q.hạ; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ Q.2; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.6].

duyên kiếp

Predestined affinity.

duyên lý

1) Quan niệm hay lý luận về chân lý: To reason on fundamental principles. 2) Quán tưởng về chân lý tối thượng: To contemplate ultimate reality. ** For more information, please see Duyên Sự

duyên lý bồ đề tâm

Tâm toàn giác về chân lý tối thượng (tất cả các pháp vốn là tịch diệt) nên phát tâm “thượng cầu Bồ Đề, hạ hóa chúng sanh.” Đây cũng là tâm Bồ Đề tối thượng—A mind that has a perfect understanding of the ultimate reality; therefore, start out a vow “Above to seek bodhi, below to save beings.” This is also the supreme bodhi-mind.

duyên lý đoạn cửu

Suy xét chỉ Phật giới, còn thì đoạn lìa phiền não của chín giới kia—By the consideration of the tenth realm only, i.e. the Buddha-realm, to cut off the illusion of the nine other realms of time and sense. ** For more information, please see Thập Giới.

duyên lự tâm

6132為四種心之一。又作慮知心、慮知緣慮心。即攀緣境界,思慮事物之心,指眼、耳乃至阿賴耶等八種之心識。〔摩訶止觀卷一、禪源諸詮集都序卷上之一〕(參閱「四心」1670) ; The rational cogitating mind. ; Lự Trí Tâm—Tâm dính líu vào cảnh giới, suy nghĩ về sự vật hay tám loại tâm thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, ý căn, a lại da)—The rational cogitating mind or eight kinds of consciousness (eye, ear, tongue, body, mind, mana, alaya, etc). ; (緣慮心) Một trong bốn tâm. Cũng gọi Lự tri tâm, Lự tri duyên lự tâm. Là tâm duyên theo cảnh giới, nhớ tưởng sự vật. Tức là tám tâm thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na và A lại da. [X. Ma ha chỉ quán Q.1; Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q.thượng phần 1]. (xt. Tứ Tâm).

duyên lực

6123指助緣之力量。相對於「因力」而言。佛家以為夙世有修習正法之善因,今生復聽聞正法而助其善因之發動,此力量稱為緣力。無量壽經卷下(大一二‧二七四中):「因力、緣力、意力、願力,(中略)如法調伏諸眾生力,如是等力,一切具足。」 ; Pratyaya-bala (S). The power of the conditioning cause. ; Pratyaya-bala (skt)—Sức trợ duyên từ những điều kiện hay hoàn cảnh bên ngoài, đối lại với nhân lực hay nguyên nhân trực tiếp—The environmental or secondary force (the power of the conditioning cause, circumstance, or contributing environement), in contrasted with the causal force or direct cause (nhân lực). ; (緣力) Chỉ cho năng lực của trợ duyên. Đối lại với Nhân lực...... Nhà Phật cho rằng người kiếp trước có nhân lành tu tập chính pháp ở đời này lại được nghe chính pháp nữa thì càng giúp cho nhân lành ấy nảy nở. Sức giúp đỡ ấy gọi là Duyên lực. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 trung), nói: Nhân lực, duyên lực, ý lực, nguyện lực, (...) như pháp điều phục chư chúng sinh lực v.v.., những lực như thế, tất cả đều đầy đủ.

duyên nghiệp

Karma-cause—Karma circumstances/condition resulting from karma.

duyên nhân

6124二因之一。緣,緣助之義。指一切功德善根能資助智慧之了因,開發正因之性。〔北本大般涅槃經卷二十八、大明三藏法數卷六〕(參閱「二因」193) ; Developing cause, i.e. development of the fundamental Buddha nature. ; Những trợ duyên hay duyên phát triển do những điều kiện bên ngoài (tất cả gốc thiện, công đức giúp đở cho cái nhân, làm nảy sinh cái tính của cái nhân chân chính)—A contributory or developing cause, i.e. development of the fundamental Buddha-nature; as compared with direct or true cause. ** For more information, please see Nhị Nhân. ; (緣因) Một trong hai nhân. Duyên là trợ duyên. Chỉ cho tất cả công đức thiện căn làm duyên giúp đỡ trí tuệ để khiến tính (Phật) của chính nhân bừng sáng. [X. kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.28; Đại minh tam tạng pháp số Q.6]. (xt. Nhị Nhân).

duyên nhân phật tánh

Những trợ duyên hay sự phát triển bên ngoài giúp phát triển Phật tánh, đối lại với Chính Nhân Phật Tánh hay chân như hay Phật tánh tự nó—Contributory or developing cause of all undergoing development of the Buddha-nature, in contrast with the Buddha-nature or Bhutatathata itself.

duyên nhật

6124有緣日之略稱。以佛菩薩與此世界有緣之日稱緣日,例如彌勒菩薩降誕日(陰曆正月初一)、觀音菩薩降誕日(陰曆二月十九日)、釋迦佛降誕日(陰曆四月八日)、地藏王菩薩降誕日(陰曆七月二十九日)、阿彌陀佛降誕日(陰曆十一月十七日)等。 於日本則指入佛門因緣之日,或由於對佛陀神明有某種因緣,而定一祭祀、供養之日,於此日參詣寺社。緣日常為每月各一次或一月數次,又稱香期。另亦指寺院或道觀之年中行事,例如涅槃會、浴佛會、燃燈會、開山忌、盂蘭盆會等。緣日期間,戲場、市集等紛紛而起,極為熱鬧。此風本盛於唐、宋之時,日本則源自鎌倉時代。 或以三十佛配當三十日,即一日定光佛、二日燃燈佛、三日多寶佛、四日阿閦佛、五日彌勒菩薩、六日二萬燈佛、七日三萬燈佛、八日藥師如來、九日大通智勝佛、十日日月燈明佛、十一日歡喜佛、十二日難勝如來、十三日虛空藏菩薩、十四日普賢菩薩、十五日阿彌陀佛、十六日陀羅尼菩薩、十七日龍樹菩薩、十八日觀世音菩薩、十九日日光菩薩、二十日月光菩薩、二十一日無盡意菩薩、二十二日施無畏菩薩、二十三日得大勢至菩薩、二十四日地藏菩薩、二十五日文殊師利菩薩、二十六日藥上菩薩、二十七日盧舍那如來、二十八日大日如來、二十九日藥王菩薩、三十日釋迦如來。〔修驗故事便覽卷四、嬉遊笑覽卷七〕 ; Buddha day: Theo Kinh Luận thì 30 vị Phật và Bồ tát mỗi vị lấy một ngày trọng tháng để chúng sanh lễ bái mà kết duyên: - Ngày 1: Đinh Quang Phật - Ngày 2: Nhiên Đăng Phật - Ngày 3: Đa Bảo Phật - Ngày 4: A Súc Phật - Ngày 5: Di Lặc Phật - Ngày 6: Nhị vạn đăng Phật - Ngày 7: Tam vạn Đăng Phật - Ngày 8: Dược Sư Phật - Ngày 9: Đại Thông Trí Thắng Phật - Ngày 10: Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật - Ngày 11: Hoan Hỷ Phật - Ngày 12: Nan Thắng Phật - Ngày 13: Hư Không Tạng Phật - Ngày 14: Phổ Hiền Bồ Tát - Ngày 15: A di Đà Phật - Ngày 16: Đà la ni Bồ tát - Ngày 17: Long Thọ Bồ tát - Ngày 18: Quán thế âm Bồ tát - Ngày 19: Nhựt Quang Bồ tát - Ngày 20: Nguyệt Quang Bồ tát - Ngày 21: Vô tận ý Bố tát - Ngày 22: Thí vô uý Bố tát - Ngày 23: Đắc Đại thế chí Bố tát - Ngày 24: Địa tạng vương Bồ tát - Ngày 25: Văn thù Sư Lợi Bồ tát - Ngày 26: Dược Thượng Bồ tát - Ngày 27: Lư Già Na Bồ tát - Ngày 28: Đại Nhựt Phật - Ngày 29: Dược Vương Bồ tát - Ngày 30: Thích Ca Như Lai. ; The day of the month on which a particular Buddha or bodhisattva is worshipped. ; Ngày có duyên với cõi Ta Bà của mỗi Đức Phật—The day of the month on which a particular Buddha or Bodhisattva is worshipped, he is being in special charge of mundane affairs on that day (lunar calendar): 1) Định Quang Phật: Ngày mồng một trong tháng—Dhyana-Light Buddha on the first day of the month. 2) Nhiên Đăng Phật: Ngày mồng hai trong tháng—Dipankara Buddha on the second day of the month. 3) Đa Bảo Phật: Ngày mồng ba trong tháng—Prabhutaratna on the third day of the month. 4) A Súc Bệ Phật: Ngày mồng bốn trong tháng—Aksobhya Buddha on the fourth day of the month. 5) Di Lặc Bồ tát: Ngày mồng năm trong tháng—Maitreya Bodhisattva on the fifth of the month. 6) Nhị Vạn Đăng Phật: Ngày mồng sáu trong tháng—Twenty Thousand-Lamp Buddha on the sixth day of the month. 7) Tam Vạn Đăng Phật: Ngày mồng bảy trong tháng—Thirty Thousand-Lamp Buddha on the seventh day of the month. 8) Dược Sư Phật: Ngày mồng tám trong tháng—Bhaisajyaraja-Samudgata Buddha on the eighth day of the month. 9) Đại Thông Trí Thắng Phật: Ngày mồng chín trong tháng—Mahabhijna-Jnanabhibhu Buddha on the ninth day of the month. 10) Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật: Ngày mồng mười trong tháng—Candra-Surya-Pradipa Buddha on the tenth day of the month. 11) Hoan Hỷ Phật: Ngày mười một trong tháng—Delightful Buddha—The eleventh day of the month. 12) Nan Thắng Phật: Ngày mười hai trong tháng—Unconquerable Buddha on the twelfth day of the month. 13) Hư Không Tạng Bồ Tát: Ngày mười ba trong tháng—Akasagarbha Bodhisattva (Bodhisattva of Space) on the thirteenth day of the month. 14) Phổ Hiền Bồ Tát: Ngày mười bốn trong tháng—Samantabhadra Bodhisattva—The fourteenth day of the month. 15) A Di Đà Phật: Ngày rằm trong tháng—Amitabha Buddha on the fifteenth of the month. 16) Đà La Ni Bồ Tát: Ngày mười sáu trong tháng—Dharani Bodhisattva on the sixteenth of the month. 17) Long Thọ Bồ Tát: Ngày mười bảy trong tháng—Nagarjuna Bodhisattva on the seventeenth of the month. 18) Quán Thế Âm Bồ Tát: Ngày mười tám trong tháng—Kuan-Yin or Avalokitesvara Bodhisattva on the eighteenth of the month. 19) Nhật Quang Bồ Tát: Ngày mười chín trong tháng—The Sun-Light Bodhisattva on the nineteenth of the month. 20) Nguyệt Quang Bồ Tát: Ngày hai mươi trong tháng—The Moon-Light Bodhisattva on the twentieth of the month. 21) Vô Tận Ý Bồ Tát: Ngày hai mươi mốt trong tháng—Infinite Resolve Bodhisattva on the twenty-first day of the month. 22) Thí Vô Úy Bồ Tát: Ngày hai mươi hai trong tháng—Abhayandada Bodhisattva on the twenty-second day of the month. 23) Đắc Đại Thế Chí Bồ Tát: Ngày hai mươi ba trong tháng—Mahasthamaprapta Bodhisattva on the twenty-third day of the month. 24) Địa Tạng Bồ Tát: Ngày hai mươi bốn trong tháng—Earth-Store Bodhisattva on the twenty-fourth of the month. 25) Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Ngày hai mươi lăm trong tháng—Manjusri Bodhisattva on the twenty-fifth of the month. 26) Dược Thượng Bồ Tát: Ngày hai mươi sáu trong tháng—Supreme Bhaisajyaraja-samudgata Bodhisattva on the twenty-sixth day of the month. 27) Lư Già Na Phật: Ngày hai mươi bảy trong tháng—Vairocana Buddha on the twenty-seventh day of the month (same as in #28). 28) Đại Nhật Như Lai: Ngày hai mươi tám trong tháng—Vairocana Buddha on the twenty-eighth of the month (same as in #27). 29) Dược Vương Bồ Tát: Ngày hai mươi chín trong tháng—Bhaisajyaraja-samudgata Bodhisattva on the twenty-ninth day of the month. 30) Thích Ca Mâu Ni Phật: Ngày ba mươi trong tháng—Sakyamuni Buddha on the thirtieth of the month. ; (緣日) Gọi tắt của Hữu duyên nhật (ngày có duyên). Ngày mà Phật và Bồ tát có duyên với thế gian gọi là Duyên nhật, như: Ngày Bồ tát Di lặc giáng sinh (mồng 1 tháng giêng Âm lịch), ngày bồ tát Quan âm giáng sinh (ngày 19 tháng 2 Âm lịch), ngày đức Phật Thích ca giáng sinh (mồng 8 tháng 4 Âm lịch), ngày bồ tát Địa tạng vương giáng sinh (29 tháng 7 Âm lịch), ngày đức Phật A di đà giáng sinh (17 tháng 11 Âm lịch). Ở Nhật bản thì Duyên nhật là chỉ cho ngày có nhân duyên đến cửa Phật, hoặc có nhân duyên với Phật và thần linh để định ngày tế lễ, cúng dường. Vào ngày này, dân chúng đến chùa hoặc đền thần để lễ bái. Duyên nhật thường là mỗi tháng một lần hoặc mỗi tháng vài lần, cũng gọi là Hương kì. Duyên nhật cũng chỉ cho những ngày lễ hội ở các chùa viện hoặc Đạo quán trong năm, như: Lễ hội Phật niết bàn, lễ hội tắm Phật, lễ hội thắp đèn Dược sư, lễ hội Vu lan bồn, ngày giỗ Tổ khai sơn v.v... Vào những ngày này, người ta tụ tập rất đông đảo nhộn nhịp ở các nơi vui chơi và đường phố. Phong tục này thịnh hành vào thời Đường, Tống ở Trung quốc, còn ở Nhật bản thì bắt đầu từ thời đại Liêm thương. Lại có thuyết đem phối hợp 30 vị Phật và Bồ tát với 30 ngày: Mồng 1: Phật Định quang. Mồng 2: Phật Nhiên đăng. Mồng 3: Phật Đa bảo. Mồng 4: Phật A súc. Mồng 5: Bồ tát Di lặc. Mồng 6: Phật Nhị vạn đăng. Mồng 7: Phật Tam vạn đăng. Mồng 8: Dược sư Như lai. Mồng 9: Phật Đại thông trí thắng. Mồng 10: Phật Nhật nguyệt đăng minh. Ngày 11: Phật Hoan hỉ. Ngày 12: Nan thắng Như lai Ngày 13: Bồ tát Hư không tạng. Ngày 14: Bồ tát Phổ hiền. Ngày 15: Phật A di đà Ngày 16: Bồ tát Đà la ni. Ngày 17: Bồ tát Long thụ. Ngày 18: Bồ tát Quán thế âm. Ngày 19: Bồ tát Nhật quang. Ngày 20: Bồ tát Nguyệt quang. Ngày 21: Bồ tát Vô tận ý. Ngày 22: Bồ tát Thí vô úy. Ngày 23: Bồ tát Đại thế chí. Ngày 24: Bồ tát Địa tạng. Ngày 25: Bồ tát Văn thù sư lợi. Ngày 26: Bồ tát Dược thượng. Ngày 27: Lô xá na Như lai. Ngày 28: Đại nhật Như lai. Ngày 29: Bồ tát Dược vương. Ngày 30: Thích ca Như lai. [X. Tu nghiệm cố sự tiện lãm Q.4; Hí du tiêu lãm Q.7].

duyên niệm

Duyên Tưởng—Tư tưởng khởi lên từ ngoại cảnh—Thoughts arising from environment.

duyên nợ

See Duyên Phận.

duyên phá hoại

Destructive conditions.

duyên phược đoạn

(緣縛斷) Một trong hai đoạn, một trong ba đoạn. Cũng gọi Sở duyên đoạn, Li phược đoạn. Tức là cắt đứt sự ràng buộc của sở duyên. Đối lại với Tự tính đoạn . Sở duyên phược là bị cảnh phiền não sở duyên trói buộc không được tự tại, như tất cả sắc pháp hữu lậu, thiện pháp hữu lậu, tâm vô kí, tâm sở v.v... Nếu có thể dứt trừ được tự thể của tất cả pháp này thì tức là đoạn trừ được sự trói buộc của năng duyên, nhờ đó cũng có thể tự cởi bỏ được sở duyên, vì thế gọi là Duyên phược đoạn. [X. luận Câu xá Q.21; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần cuối]. (xt. Nhị Đoạn).

duyên phận

Karma of previous lives have brought two persons together.

duyên phật

Thân nhân hay bằng hữu quá cố thì gọi là duyên Phật—A deceased relative or friend.

duyên phọc đoạn

6132二斷之一,三斷之一。又作所緣斷、離縛斷。即斷所緣之束縛。相對於「自性斷」而言。所緣縛,係指被煩惱所緣之境束縛而不得自在。如一切有漏色法、有漏善法、無記之心、心所等。凡此若能斷其自體,即斷「能緣之縛」,由此亦可自「所緣」解脫,此稱緣縛斷。〔俱舍論卷二十一、大乘法苑義林章卷三末〕(參閱「二斷」250)

duyên quyết bất sinh

6132謂諸法之生起皆由因緣和合,如缺其中必具之緣,則此法即不能生起。此種情況發生時,即得非擇滅無為。俱舍論頌疏卷一釋非擇滅(大四一‧八一八下):「言當生者,當來生法;此當生法,緣會則生,緣闕不生,於不生時,得非擇滅。」

duyên quán

6134<一>指所緣之境與能觀之心。三論玄義(大四五‧七下):「內外並冥,緣觀俱寂。」 <二>宋代曹洞宗僧。生卒年不詳。嗣同安觀志之法,住於鼎州(湖南)梁山,世稱「梁山緣觀禪師」。嗣法弟子有大陽警玄等。〔景德傳燈錄卷二十四、聯燈會要卷二十七、五燈會元卷十四〕 ; 1) Sự và lý: The phenomenal and noumenal. 2) Vật được quán sát và sự quán sát: The observed and the observing. 3) Khách và chủ thể: The object and the subject. ; (緣觀) Chỉ cho cảnh sở duyên (khách quan) và tâm năng quán (chủ quan). Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 7 hạ), nói: Trong, ngoài đều dứt bặt; duyên, quán đều vắng lặng.

duyên quán câu tịch

6134指所緣之境與能觀之智俱泯亡。大品般若經卷十七(大八‧三四九中):「菩薩摩訶薩行六波羅蜜時,當作是念:雖生死道長,眾生性多。爾時,應如是正憶念:生死邊如虛空,眾生性邊亦如虛空,是中實無生死往來,亦無解脫者。菩薩摩訶薩作如是行,能具足六波羅蜜,近一切種智。」三論玄義釋之(大四五‧七下):「然既無生死,亦無涅槃,則知亦無眾生及以於佛,寧有經之與論耶?故內外並冥,緣觀俱寂。」蓋「緣」係指實相之境,「觀」係指正觀之智。即以無所得正觀之智對應於不可思議之實相之境,而內外並冥,緣與觀俱寂,一切戲論於此中全然泯息。 ; (緣觀俱寂) Cảnh sở duyên và trí năng quán đều dứt bặt. Kinh Đại phẩm bát nhã quyển 17 (Đại 8, 349 trung), nói: Khi thực hành sáu ba la mật, Bồ tát ma ha tát nên nghĩ: Đường sinh tử dằng dặc, tính chúng sinh thăm thẳm, nhưng bờ sinh tử như hư không, tính chúng sinh cũng như hư không, trong đó, thực không có sinh tử qua lại, cũng không có Niết bàn giải thoát. Bồ tát ma ha tát thực hành như thế thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần nhất thiết chủng trí. Tam luận huyền nghĩa giải thích (Đại 45, 7 hạ): Đã không có sinh tử, cũng không có Niết bàn, thì biết cũng không có chúng sinh, cũng không có Phật, như vậy há có kinh và luận ư? Bởi thế, trong, ngoài đều dứt bặt, duyên, quán đều vắng lặng. Vì duyên là cảnh thực tướng (đối tượng khách quan), quán là trí chính quán (chủ thể chủ quan), cho nên dùng trí chính quán vô sở đắc để đối ứng với cảnh thực tướng bất khả tư nghị thì trong, ngoài đều dứt bặt, duyên và quán đều vắng lặng; trong trạng thái đó, tất cả lí luận hoàn toàn chấm dứt.

duyên sanh

Conditioned dharma, Dependent arising.

duyên sinh

, lý Idappaccayata (S), Conditionality. ; Produced by causal conditions. Thập nhị duyên sinh, the twelve nidànas. ; Pratiyasamutpada (skt)—Paticcasamuppada (p)—Duyên Khởi (lấy nhân mà gọi tên—which are named by the causes)—Tất cả các pháp hữu vi đều do duyên hay điều kiện mà sanh ra (lấy quả mà gọi tên)—All things are produced by causal conditions (or conditional causation which are name by the effects, or following from anything as necessary result). ** For more information, please see Tứ Duyên Sinh and Duyên Khởi.

duyên sinh pháp

6124梵語 pratītyasamutpanna-dharma,巴利語 paṭccasamuppanna-dhamma。指由緣而生者,或謂其理法。雜阿含經卷十二(大二‧八四中):「云何緣生法?謂無明、行。若佛出世,若未出世,此法常住,法住法界。彼如來自所覺知,成等正覺,為人演說,開示顯發,謂緣無明有行,乃至緣生有老死。若佛出世,若未出世,此法常住,法住法界。彼如來自覺知,成等正覺,為人演說,開示顯發,謂緣生故,有老病死憂悲惱苦,此等諸法,法住、法空、法如、法爾,法不離如,法不異如,審諦真實、不顛倒,如是隨順緣起,是名緣生法。謂無明、行、識、名色、六入處、觸、受、愛、取、有、生、老病死憂悲惱苦,是名緣生法。」蓋依緣而生之緣起支或其理法,稱為緣生法。俱舍論卷九將雜阿含經之因緣法譯為緣起法,緣生之法譯為緣已生法,將十二緣起諸支之因分解釋為緣起,果分解釋為緣已生。瑜伽師地論卷十亦云(大三○‧三二五下):「諸行生起法性,是名緣起,即彼生已,說名緣生。」中論卷一因緣品第十三、十四頌,則從諸法無自性之立場,說明果與緣之關係,謂(大三○‧三中):「若果從緣生,是緣無自性;從無自性生,何得從緣生?果不從緣生,不從非緣生;以果無有故,緣、非緣亦無。」 緣起係梵語 pratītyasamutpāda 之意譯,舊譯為因緣;緣生則為梵語 pratītyasamutpanna 之意譯。緣生、緣起、因緣等三詞互為通用之例極多。唐朝玄奘所譯攝大乘論釋卷二中說分別自性及分別愛非愛二緣起,然梁代真諦所譯攝大乘論釋卷二則於該處譯為分別自性與分別愛非愛二種緣生,即為此類譯例。此外,隋代達磨笈多譯之緣生論一卷,為唐代不空所譯大乘緣生論一卷之同本異譯,其內容則為解說十二緣起。〔大生義經、毘婆尸佛經卷上、除蓋障菩薩所問經卷十七、信佛功德經、有部毘奈耶破僧事卷五、舍利弗阿毘曇論卷十二、品類足論卷六、大毘婆沙論卷二十三、俱舍論卷五、卷七、阿毘達磨藏顯宗論卷十四、順正理論卷二十八、阿毘曇心論卷一行品、大乘阿毘達磨集論卷二、大乘阿毘達磨雜集論卷四、瑜伽師地論卷五十六、因緣心論頌〕 ; (緣生法) Phạm : pratìtyasamutpanna-dharma, Pàli : paỉiccasamuppanna-dhamma. Chỉ cho pháp do duyên sinh, hoặc nói về nguyên lí duyên sinh. Kinh Tạp a hàm quyển 12 (Đại 2, 84 trung), nói: Thế nào là pháp duyên sinh? Đó là: Vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử bi ai khổ não. Dù Phật có ra đời hay chưa ra đời, pháp này vẫn thường trụ trong pháp giới. Đức Như lai tự biết được pháp này mà thành bậc Đẳng chính giác. Rồi Ngài đem pháp ấy diễn nói, chỉ dạy chúng sinh rằng: Duyên vô minh mà có hành, cho đến duyên sinh mà có lão bệnh tử ưu bi khổ não. Tất cả các pháp này là pháp trụ, pháp không, pháp như, pháp nhĩ, pháp bất li như, pháp bất dị như, là những pháp chân thực, không điên đảo, thuận theo duyên mà sinh khởi nên gọi là Duyên sinh pháp. Luận Câu xá quyển 9 dịch từ ngữ Nhân duyên pháp trong kinh Tạp a hàm là Duyên khởi pháp, còn pháp do duyên sinh thì dịch là Duyên dĩ sinh pháp; và giải thích Nhân phần của 12 chi là Duyên khởi, giải thích Quả phần là Duyên dĩ sinh. Luận Du già sư địa quyển 10 (Đại 30, 325 hạ) cũng nói: Chư hành sinh khởi các pháp gọi là Duyên, pháp ấy đã sinh gọi là Duyên sinh. Đứng trên lập trường các pháp không có tự tính để thuyết minh mối quan hệ giữa quả và duyên, bài kệ thứ 14 của phẩm Nhân duyên 13 trong Trung luận quyển 1 (Đại 30, 3 trung), nói: Nhược quả tòng duyên sinh, Thị duyên vô tự tính Tòng vô tự tính sinh Hà đắc tòng duyên sinh? Quả bất tòng duyên sinh Bất tòng phi duyên sinh Dĩ quả vô hữu cố Duyên, phi duyên diệc vô (Nếu quả từ duyên sinh, Duyên ấy không tự tính; Từ không tự tính sinh Sao gọi từ duyên sinh? Quả chẳng từ duyên sinh Không từ phi duyên sinh Bởi lẽ quả không có, Duyên phi duyên cũng không). Duyên khởi là dịch ý từ tiếng Phạm: pratìtyasamutpàda, dịch cũ là Nhân duyên. Còn Duyên sinh là dịch ý từ tiếng Phạm: pratìtyasamutpanna. Ba danh từ Duyên sinh, Duyên khởi, Nhân duyên thường được dùng lẫn cho nhau, trường hợp này rất nhiều. Chẳng hạn như phần phân biệt tự tính và phân biệt ái, phi ái trong luận Nhiếp đại thừa luận thích quyển 2, ngài Chân đế đời Lương dịch ái, phi ái là hai Duyên sinh; còn ngài Huyền trang đời Đường thì dịch là hai Duyên khởi. Ngoài ra, luận Duyên sinh 1 quyển do ngài Đạt ma cấp đa dịch vào đời Tùy là bản dịch khác của luận Đại thừa duyên sinh 1 quyển do ngài Bất không dịch vào đời Đường, nội dung giải thích 12 duyên khởi. [X.kinh Đại sinh nghĩa; kinh Tì bà thi Phật Q.thượng; kinh Trừ cái chướngbồ tát sở vấn Q.17; kinh Tín Phật công đức; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.5; luận Xá lợi phất a tì đàm Q.12; luận Phẩm loại túc Q.6; luận Đại tì bà sa Q.23; luận Câu xá Q.5, Q.7; luận A tì đạt ma hiển tông Q.14; luận Thuận chính lí Q.28; luận A tì đàm tâm Q.1 Hạnh phẩm; luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.2; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; luận Du già sư địa Q.56; Nhân duyên tâm luận tụng].

duyên sơn tam đại tạng mục lục

6123凡三卷。日本淨土宗僧隨天編。為東京三緣山增上寺所藏宋本、元本、高麗本三大藏之目錄。為方便閱者,特將三本之異同重新校對;如係同本異譯,則隨處加以註解。在經名下,又據開元錄、貞元錄、大藏綱目、至元錄、法寶標目、閱藏知津等抄出,並補充作者自己之看法。考證詳確,足可為學者所依用。卷首有延享五年(1748)之自序,現收於昭和法寶總目錄卷二。 ; (緣山三大藏目錄) Gồm 3 quyển, do sư Tùy thiên thuộc tông Tịnh độ Nhật bản biên soạn, là mục lục của ba bộ Đại tạng Tống, Nguyên, Cao li được cất giữ ở chùa Tăng thượng núi Tam duyên Đông kinh (Tokyo). Bản mục lục này đối chiếu so sánh những chỗ dị đồng giữa ba bộ Đại tạng nói trên để sửa chữa; nếu là các bản dịch khác của cùng một bộ kinh thì tùy theo chỗ dị đồng mà chú giải thêm để giúp người đọc được dễ dàng. Về tên kinh thì tác giả ghi theo tên trong các bộ Khai nguyên lục, Trinh nguyên lục, Đại tạng cương mục, Chí nguyên lục, Pháp bảo tiêu mục, Duyệt tạng tri tân v.v... và bổ sung thêm nhận xét của chính tác giả. Sách này khảo chứng rõ ràng chính xác, được các học giả dùng theo. Ở đầu quyển có bài tựa do tác giả soạn vào năm Diên hưởng thứ 5 (1748). Tác phẩm này được đưa vào bộ Chiêu hòa pháp bảo tổng mục lục quyển 2.

duyên sự

To lay hold of, or study things or phenomena. ; Cái tâm duyên (nương) theo sự tướng, đối lại với duyên lý (tin vào sự tướng nhân quả báo ứng là duyên sự; tin vào diệu lý của pháp tính phi nhân phi quả là duyên lý); như thiền quán về hóa thân và báo thân đối lại với pháp thân—To lay hold of, or study things or phenomena, in contrast to principles or noumena; or meditation on the Buddha's nirmanakaya, and sambhogakaya, in contrast with the dharmakaya.

duyên sự bồ đề tâm

Tâm Bồ Đề nguyện lấy Tứ Hoằng Thệ Nguyện làm chính bổn nguyện của mình để cứu độ chúng sanh—A mind that vows to take the four universal vows of a Buddha or a Bodhisattva to be one's own original vows to save all sentient beings—See Tứ Hoằng Thệ Nguyện.

duyên thuận

Favorable conditions.

duyên thành

6125因緣所成之意。謂諸法皆為因緣所成,全無自性。華嚴五教章卷四(大四五‧五○三下):「所言一者,非自性一,緣成故。(中略)乃至十者,皆非自性十,由緣成故。為此,十中有一者,是緣成無性十;若不爾者,自性無緣起,不名十也,是故一切緣起皆非自性。」蓋華嚴宗之無盡緣起,亦基於此緣成之理而說。謂一中即具多,故十即一,主伴互具,一多鎔融,萬物相關交錯,乃能事事無礙。〔華嚴五教章復古記卷六、華嚴五教章通路記卷二十六〕(參閱「因緣」2301) ; Bất cứ thứ gì cũng do duyên mà hình thành chứ không có tự tính—The phenomenal, whatever is produced by causal conditions. ; (緣成) Hàm ý do nhân duyên tạo thành. Nghĩa là các pháp do nhân duyên tạo thành hoàn toàn không có tự tính. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 (Đại 45, 503 hạ), nói: Cái gọi là một, chẳng phải tự tính là một, mà do nhân duyên tạo thành một. (...) Cho đến 10 đều chẳng phải tự tính là 10, vì do nhân duyên tạo thành 10. Như vậy, trong 10 có một, đó là do duyên tạo thành không có tính 10. Nếu không như vậy thì tự tính không có duyên khởi, không gọi là 10 được.Cho nên tất cả duyên khởi đều chẳng phải tự tính. Tông Hoa nghiêm đã căn cứ vào lí các duyên tạo thành này mà lập ra thuyết Vô tận duyên khởi. Nghĩa là trong một có nhiều nên 10 tức là một, một nhiều dung hợp, muôn vật giao thoa đan dệt vào nhau mà không hề ngại trở lẫn nhau: đó là lí sự sự vô ngại.[X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương phục cổ kí Q.6; Hoa nghiêm ngũ giáo chương thông lộ kí Q.26]. (xt. Nhân Duyên).

duyên trung

6123指藉境繫念時,心所緣之境中。初學者為令心住於緣中而無分散,則繫心於鼻端,或眉間,或額上。所緣之境雖多,但只緣於一處。緣中亦非等於境,否則一心繫念兩境,心境分張,而不成定。〔大智度論卷二十一、修習止觀坐禪法要〕 ; Cảnh trí hay ý tưởng mà tâm nương theo hay tập trung vào—The place or idea on which the mind is centralized. ; (緣中) Chỉ cho cái cảnh (đối tượng) mà tâm duyên theo để chuyên chú. Người mới học, muốn định tâm ở một cảnh thì nên chú tâm nơi đầu sống mũi, hoặc ở giữa hai chân mày hay ở trên trán, đừng để tâm duyên theo cảnh khác; nếu không thì một tâm hai cảnh, tâm, cảnh phân tán, khó có thể định tâm được. [X. luận Đại trí độ Q.21; Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu].

duyên trần

The gunas, qualities, or sense-data which cause the six sensations of form, sound, odour, taste, touch, and thought. ; Gunas (skt)—The qualities or sense-data which cause the six sensations of form, sound, odour, taste, touch, and thought.

duyên tu

6125二修之一。為「真修」之對稱。在修觀時,有所藉緣而修行者,稱為緣修;若非藉緣而修行,即無修而修者,稱為真修。於天台別教之修行階位中,前者係指初地(歡喜地)以前之菩薩所修,後者則為初地以上之菩薩所修。〔摩訶止觀卷六下、法華經玄義卷三下〕(參閱「真修緣修」4218) ; (緣修) Một trong hai cách tu. Đối lại với Chân tu . Người nương theo duyên để tu tập Thiền quán, gọi là Duyên tu; trái lại, không nhờ vào duyên mà thuận theo tự tính để tu, thì tức là không tu mà tu, gọi là Chân tu. Trong giai vị tu hành của Biệt giáo thuộc tông Thiên thai, thì Duyên tu là phương pháp tu hành của các Bồ tát chưa đến Sơ địa (Hoan hỉ địa) còn Chân tu là phương pháp tu hành của các Bồ tát từ Sơ địa trở lên đến Đẳng giác. [X. Ma ha chỉ quán Q.6 hạ; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3 hạ]. (xt. Chân Tu Duyên Tu).

duyên tánh tự tánh

Pratyaya-svabhāva (S)Duyên tự tánhTánh trợ duyên làm sanh khởi các pháp.

duyên tâm

Cái tâm nương duyên vào sự vật—The conditioned mind or the mind held by the phenomenal.

duyên tướng

Tâm—Trạng thái của tâm duyên vào cảnh giới—Mentality—Reasoning—The Mind.

duyên tưởng

See Duyên Niệm.

duyên tự tánh

Xem Duyên tánh tự tánh.

duyên vô gián

An immediate cause—A cause without interval.

duyên ảnh

6131指心識四分中,見分緣慮外塵而生之外塵影像。此為見分緣慮外塵之氣分,故又稱緣氣。又為所緣之事相,而非能緣之心性,故稱緣事。其別有二:(一)指五識與五因緣之意識,緣外界五塵時,心內所現之色、聲、香、味、觸等。(二)指五後意識、獨頭意識,分別見聞覺知外界六塵之性覺。分別此見聞覺知之分別性,為緣外塵而生者,故亦是緣影。以上二者雖有所緣、能緣之分別,但皆屬緣影。 ; (緣影) Chỉ cái bóng dáng trần cảnh bên ngoài do Kiến phần (một trong bốn phần của tâm thức) duyên theo trần cảnh mà sinh ra. Đây là khí phần của Kiến phần duyên lự trần cảnh bên ngoài, cho nên cũng gọi là Duyên khí. Lại nữa, vì là sự tướng sở duyên chứ không phải tâm tính năng duyên, cho nên gọi là Duyên sự. Duyên ảnh có hai loại: 1. Khi năm thức trước và ý thức cùng duyên theo năm trần cảnh bên ngoài (sắc, thanh, hương, vị, xúc) thì năm trần cảnh này hiện ra ở trong tâm. 2. Chỉ cho tính biết của năm ý thức sau và ý thức độc đầu, phân biệt sự thấy, nghe, hay, biết khi tiếp xúc với sáu trần cảnh bên ngoài. Tính biết phân biệt sự thấy, nghe, hay, biết này là do duyên theo trần cảnh bên ngoài mà sinh ra, cho nên cũng gọi là duyên ảnh. Hai loại trên đây tuy có năng duyên và sở duyên, nhưng đều thuộc về Duyên ảnh.

duyệt

Etsu (J). ; 1) Duyệt xét: To examine—To review—To inspect—To look over. 2) Vui vẻ: Please—Pleased.

duyệt chúng

4110梵語 karma-dāna。音譯作羯磨陀那。又作知事。知其事、悅其眾之意。僧職之名稱,司掌僧團中之事務者。〔大宋僧史略卷中〕(參閱「知事」3461、「維那」5890) ; Người đánh mõ trong lúc hành lễ. ; 1) Làm cho mọi người vui vẻ vừa lòng: To please all. 2) Tri Sự: Karmadana (skt)—Tên của vị tri sự trong tự viện—Name for the manager of affairs in a monastery—See Tri Sự. ; (悅衆) Làm đẹp lòng mọi người. Phạm : Karma-dàna. Âm Hán: Yết ma đà na. Cũng gọi Tri sự. Hàm ý xem xét các việc, làm đẹp lòng mọi người. Là một chức vụ trong tăng đoàn, có trách nhiệm trông coi điều hành mọi việc của tùng lâm. [X. Đại tống tăng sử lược Q.trung]. (xt. Tri Sự, Duy Na).

duyệt lãm

To read over.

duyệt lạc

Pleasant.

duyệt mục

Pleasant to (see) the eyes.

duyệt nhĩ

Pleasant to (hear) the ears.

duyệt tâm

Content—Satisfied.

duyệt tạng

Khảo cứu hết thảy kinh điển hay thư viện—To examine (and dust) the scriptures or library.

duyệt tạng tri tân

6195凡四十八卷。明末天台宗蕅益智旭(1599~1655)著。收於大正藏法寶總目錄第三冊。本書將大藏經所收一七七三部之佛典分成經、律、論、雜四部,並加扼要解說。 (一)經藏,分為大乘經(按天台宗五時判教之順序華嚴、方等、般若、法華、涅槃而分)九七六部(卷一至卷二十五),小乘經二一一部(卷二十六至卷三十一)。 (二)律藏,分為大乘律三十部(卷三十二)、小乘律六十一部(卷三十三),並附疑似雜偽篇。 (三)論藏,分為大乘論與小乘論,前者又分釋經論七十一部(卷三十四)、宗經論一一七部(卷三十五至卷三十七)、諸論釋三十二部(卷三十八、卷三十九);後者共有四十七部(卷四十)。作者各有西土(印度等)、此方(中國)之別。 (四)雜藏計有西方(外道、疑偽經)四十八部(卷四十一)與此土(懺儀、淨土、台宗、禪宗、賢首宗、慈恩宗、密宗、律宗、纂集、傳記、護法、音義、目錄、序讚、法事、應收入義)一七六部(卷四十二至卷四十四)。另於卷首有總目錄四卷。 本書乃首次改變自唐代智昇所撰開元釋教錄以來之佛典編目分類方法。又日本明治十三年(1880)出版之大日本校訂縮刻大藏經(縮版印刷大藏經)之分類,及我國「頻伽精舍校刊大藏經」亦大體模仿閱藏知津之分類方法。此外,另有小閱藏知津四卷,乃簡約本書,纂輯其要而成者。 ; (閱藏知津) Gồm 48 quyển, do ngài Ngẫu ích Trí húc (1599-1655) thuộc tông Thiên thai biên soạn vào cuối đời Minh, thu vào Đại chính tạng Pháp bảo tổng mục lục tập 3. Sách này chia 1773 bộ kinh Phật đã được đưa vào Đại tạng thành bốn bộ: Kinh, Luật, Luận, Tạp và giải thích những chỗ trọng yếu. 1. Tạng kinh: Các kinh Đại thừa được xếp theo thứ tự năm thời phán giáo của tông Thiên thai (Hoa nghiêm, Phương đẳng, Bát nhã, Pháp hoa, Niết bàn) gồm 976 bộ (từ quyển 1 đến quyển 25); kinh Tiểu thừa gồm 211 bộ (quyển 26 đến quyển 31). 2. Tạng Luật: Luật Đại thừa gồm 30 bộ (quyển 32); luật Tiểu thừa 61 bộ (quyển 33) và phụ thêm các thiên: Nghi (còn ngờ), Tự (tương tự), Tạp (lẫn lộn), Ngụy (kinh giả).3. Tạng Luận: Chia ra luận Đại thừa và luận Tiểu thừa. Luận Đại thừa lại chia: Thích kinh luận gồm 71 bộ (quyển 34), Tông kinh luận gồm 117 bộ (quyển 35 đến quyển 37), Chư luận thích gồm 32 bộ (quyển 38, 39). Luận Tiểu thừa gồm 47 bộ (quyển 40). Về tác giả thì chia các vị người Ấn độ và người Trung quốc. 4. Tạng tạp: Gồm Ngoại đạo và các kinh bị nghi là kinh giả của Ấn độ... có 48 bộ (quyển 41) và Sám nghi, Tịnh độ, Thai tông, Thiền tông, Hiền thủ tông, Từ ân tông, Mật tông, Luật tông, Toản tập, Truyện kí, Hộ pháp, Âm nghĩa, Mục lục, Tự tán, Pháp sự, Ưng thu nhập nghĩa v.v... có 176 bộ (quyển 40 đến 44). Riêng ở đầu sách có Tổng mục lục 4 quyển. Kể từ bộ Khai nguyên thích giáo lục do ngài Trí thăng soạn vào đời Đường đến nay, Duyệt tạng tri tân là tác phẩm đầu tiên thay đổi phương pháp phân loại và cách sắp đặt mục lục kinh Phật. Và Đại tạng kinh của Nhật bản (được sửa chữa và in rút ngắn lại) ấn hành vào năm Minh trị 13 (1880) cũng như Tần già tinh xá giáo san Đại tạng kinh của Trung quốc, trên đại thể, cũng bắt chước phương pháp phân loại của Duyệt tạng tri tân. Ngoài ra, còn có Tiểu duyệt tạng tri tân 4 quyển là bộ sách rút ngắn và chỉ biên soạn phần chủ yếu của Duyệt tạng tri tân.

duyệt xoa

See Yaksa.

Duyệt xoa 閲叉

[ja] エツシャ etsusha ||| A transcription of the Sanskrit term yakṣa 夜叉. => Phiên âm chữ yakṣa (dạ-xoa) 夜叉 từ tiếng Sanskrit. Hình 形[ja] ギョウゾウ gyōzō ||| (1) Sculptured image; portrait, carved statue (pratikrti). (2) Form, appearance, shape. (3) Human form. => Hình tượng 1. Ảnh tượng, chân dung, bức tượng (s: pratikrti). 2. Hình dáng, tướng mạo, hình dạng. 3. Hình dáng con người.

duyệt y

To review and approve.

duyệt ý

Manatā (P), Manatā (S, P), Attamanatā (P). Joyful mentality

duyệt đầu đàn

Suddhodana (skt)—Thủ Đô Đà Na—Tịnh Phạn Vương (the father of Gautama Siddhartha—vua cha của Đức Phật).

Duệ Không

(叡空, Eikū, ?-1179): vị học Tăng của Thiên Thai Tông sống vào khoảng cuối thời Bình An, húy là Duệ Không (叡空), hiệu Từ Nhãn Phòng (慈眼房); con của Thái Chính Đại Thần Đằng Nguyên Y Thông (藤原伊通). Ông lên Tỷ Duệ Sơn, thọ giới Viên Đốn với Lương Nhẫn (良忍), rồi học Mật Giáo và Tịnh Độ Giáo. Sau đó, ông đến ẩn cư ở vùng Hắc Cốc (黑谷), Tây Tháp và thỉnh thoảng có thuyết giảng bộ Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集). Ông được xem như là vị học Tăng xuất chúng nhất của Tỷ Duệ Sơn về Mật Giáo và Luật Đại Thừa. Năm 1150, ông trao truyền giới Viên Đốn cho Nguyên Không (源空, tức Pháp Nhiên), rồi đến năm 1154 thì làm giới sư chứng minh lễ xuất gia cho vị quan Hữu Đại Thần Nguyên Nhã Định (源雅定). So với Nguyên Không, ông có ý kiến khác về vấn đề giới thể luận, quán Phật, xưng niệm, v.v. Ông là vị Tổ của Dòng Hắc Cốc. Tác phẩm của ông có Viên Đốn Giới Pháp Bí Tạng Đại Cương Tập (圓頓戒法秘藏大綱集) 1 quyển.

duệ sơn học viện

6208日本天台宗所立之學院。位於大津市坂本本町。以教授宗乘、餘乘、法儀,及其他各種必備學識,並策進解行,涵養宗教人格等為其宗旨。該學院創立於日本天台宗開宗之時,即延曆二十五年(806)。後經數次變革,至明治六年(1873)改稱天台宗總黌,即今日叡山學院之前身。大正十四年(1925)成立財團法人比叡山專修院,為宗學研究之最高學府,昭和二年(1927)遷至今址。同院設本科與別科之課程,均須二年以上始修畢,而本科入學資格僅限於大學或專修院別科畢業,於宗學研究與學徒培養方面有甚大之成果。昭和二十七年解散財團法人專修院,另行天台宗宗學法。現時該院之本科為三年制,上設二年制之研究科。該院圖書館所藏珍貴資料頗富。學生限額甚少,本科每學年二十名,研究科十名。畢業後,分別具有出任天台宗大律師補任、少僧都補任之資格。

Duệ Sơn Đại Sư Truyện

(叡山大師傳, Eizandaishiden): 1 quyển, do Nhất Thừa Trung (一乘忠) soạn, còn gọi là Tỷ Duệ Đại Sư Truyện (比叡大師傳), Truyền Giáo Đại Sư Truyện Ký (傳敎大師傳記), Đại Sư Nhất Sanh Ký (大師一生記), được thành lập vào năm thứ 2 (825) niên hiệu Thiên Trường (天長), sau khi Truyền Giáo Đại Sư Tối Trừng (最澄, Saichō) qua đời 2 năm. Nội dung tác phẩm này thuật rõ từ khi Tối Trừng ra đời, tên họ, xuất thân, xuất gia, lên núi tu hành, học tập kinh điển, khai giảng Pháp Hoa, rồi sang nhà Đường cầu pháp, sự tích khi còn tham học bên Trung Quốc, sau đó đem truyền pháp môn Thiên Thai vào Nhật và khai sáng Thiên Thai Tông, quá trình đi tuần lễ chiêm bái ở Cửu Châu (九州, Kyūshū), Nam Đô (南都, Nanto), Quan Đông (關東, Kantō), sự nỗ lực kiến lập đại giới, di huấn và lúc thị tịch, sự vinh quang sau khi ông qua đời, danh sách những nhà ngoại hộ đắc lực, v.v. Thư tịch này còn dẫn dụng các sử liệu phong phú như những bức nguyện văn, tờ biểu dâng lên triều đình do chính tay Tối Trừng viết, sắc chiếu của vua ban cũng như Quan Phù, v.v.; là tư liệu chính xác và căn bản nhất nói về cuộc đời cũng như con người Tối Trừng. Vào năm đầu (1704) niên hiệu Bảo Vĩnh (寳永), lần đầu tiên Tú Vân (秀雲) của Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) cho phổ biến dưới tên gọi là Duệ Sơn Tứ Đại Sư Truyện (叡山四大師傳); và đến năm thứ 4 (1767) niên hiệu Minh Hòa (明和) thì chính thức được san hành. Bản của Tú Vân được thâu lục vào trong Tục Quần Thư Loại Tùng (續群書類從, phần Truyện Bộ) 8, Sử Tịch Tập Lãm (史籍集覽) 12, phần Thiên Thai Tông Hiển Giáo Chương Sớ (天台宗顯敎章疏) 2 của Nhật Bản Đại Tạng Kinh (日本大藏經). Tuy nhiên, một phần của bản này bị sai lộn thứ tự, nên cần phải lưu ý khi dùng làm tham khảo. Riêng tả bản xưa nhất hiện đang được tàng trữ tại Thạch Sơn Tự (石山寺) thì vẫn còn nguyên vẹn, không bị sai sót về thứ tự như bản trên; cho nên bộ Truyền Giáo Đại Sư Toàn Tập (傳敎大師全集) thì y cứ vào bản này.

duệ sơn đại sư truyện

6208全一卷。日僧仁忠撰。詳述日本天台宗開祖傳教大師最澄住世五十六年間之行化事蹟。東山天皇寶永元年(1704)八月刊行,有西塔院秀雲所作之序。收於明和四年(1767)版之四大師傳中。 ; (叡山大師傳) Có 1 quyển. Do vị tăng người Nhật bản là ngài Nhân trung soạn. Nội dung thuật lại sự tích hành hóa của vị tổ khai sáng tông Thiên thai Nhật bản là Đại sư Tối trừng trong 65 năm tại thế. Sách được ấn hành vào tháng 8 niên hiệu Vĩnh bảo năm đầu (1704) đời Đông sơn Thiên hoàng. Bài tựa do ngài Tú vân ở viện Tây tháp soạn, được thu vào Tứ đại sư truyện bản năm Minh hòa thứ 4 (1767).

duệ sắt tri lâm

(洩瑟知林) Phạm: Yaṣṭivana. Khu rừng ở phía ngoài thành Vương xá nước Ma yết đà trung Ấn độ. Cũng gọi Thân sắt tri lâm, Già việt lâm, Từ tự lâm. Dịch ý là rừng gậy.Đại đường tây vực kí quyển 9 (Đại 51, 920 thượng) nói: Rừng tre cây cao và cứng, um tùm che kín núi hang. Nơi này trước kia có người Bà la môn nghe Phật Thích ca thân cao một trượng sáu, thường không tin, nên dùng cây gậy tre dài một trượng sáu để đo thân Phật. Mỗi lần ông đo thân Phật lại cao thêm, cứ thế, ông càng đo thân Phật càng cao thêm mãi; cuối cùng, không đo được nữa, ông bèn quăng gậy bỏ đi, cây gậy tre mọc rễ ở đó thành rừng. Trong khu rừng này có tòa tháp lớn do vua A dục xây dựng. Cũng tại nơi này thuở xưa đức Phật đã từng vì các trời, người hiện đại thần thông nói pháp nhiệm mầu trong suốt bảy ngày. Hiện nay có khu di tích cổ gần thôn Kiệt hỉ nhĩ (Jethian) ở mạn đông bắc thị trấn Gia nhã thuộc Bengal chính là rừng trúc này. [X. Đại trang nghiêm kinh luận Q.12; Phật sở hành tán Q.4].

Duệ trí

叡智; C: ruìzhì; J: eichi; |Trí huệ, nhìn xa trông rộng, thông minh.

Duệ trí 叡智

[ja] エイチ eichi ||| Wise, farsighted, intelligent. => Trí tuệ, nhìn xa trông rộng, thông minh.

Duệ Tôn

(叡尊 hay 睿尊, Eison, 1201-1290): vị tăng sống vào giữa thời kỳ Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ sư khai sáng ra Chơn Ngôn Luật Tông, tự là Tư Viên (思圓), người vùng Đại Hòa (大和, Yamato). Ban đầu ông theo học về Đông Mật, sau đó dốc chí chuyên tâm nghiên cứu về Luật Học và tiến hành phục hưng Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji). Ông lấy nơi đây làm nơi tu tập trung tâm, rồi thuyết giảng về việc trì giới, sát sanh, cấm đoán và trở thành nổi tiếng. Ông có viết tự truyện Cảm Thân Học Chứng Ký (感身學証記), và được ban cho thụy hiệu là Hưng Chánh Bồ Tát (興正菩薩).

duệ tôn

6208(1201~1290)日本律宗中興之祖。大和(奈良縣)人,俗姓源。字思圓。初學密教,後以復興律學為主,受戒於西大寺,勤學精進,頗為朝野所崇敬。師平生矢志以戒律救世,常為非人、乞丐等授戒,並設戒殺放生池一千三百五十餘處。正應三年示寂,世壽九十。著有梵網古迹文集十卷、感身覺正記三卷等。後伏見天皇敕諡興正菩薩。〔興正菩薩傳、本朝高僧傳卷五十九、元亨釋書卷十三〕 ; (叡尊) (1201 - 1290) Vị tổ Trung hưng của Luật tông Nhật bản. Ngài người Đại hòa (huyện Nại lương) họ Nguyên, tự Tư viên. Lúc đầu, ngài học Mật giáo, sau lấy việc phục hưng Luật học làm chính, thụ giới ở chùa Tây đại, siêng năng tinh tiến, được trong triều ngoài nội tôn kính. Ngài dốc chí dùng giới luật cứu đời, thường truyền giới cho phi nhân và những người ăn xin v.v... Ngài đào 1350 cái ao để phóng sinh. Năm Chính ứng thứ 3 ngài tịch, thọ 90 tuổi. Sau ngài được Phục chính Thiên hoàng ban thụy hiệu Hưng chính bồ tát. Ngài để lại các tác phẩm: Phạm võng cổ tích văn tập 10 quyển, Cảm thân giác chính kí 3 quyển. [X. Hưng chính bồ tát truyện; Bản triều cao tăng truyện Q.59; Nguyên hanh thích thư Q.13].

dzog-chen

Mahāsandhi (S), dzog chen (T).

dzogchen

Mahā-ati (S), dzogchen (T).

dà phạm đạt ma

Bhagavaddharma (S)Vị sa môn người Ấn du hoá sang Trung quốc đời nhà Đường niên hiệu Khai nguyên.

dài

Xem Trường.

dài dòng văn tự

Wordy—Lengthy.

dàn

See Chùa Dàn.

dành dụm

To economize—To save.

dày công

Many efforts—With great efforts.

dám

To dare—To venture to do something.

dáng cao thượng

A noble figure.

dáng điệu

Appearance—Look.

Dâm

淫; C: yín; J: in;|1. Không chặc chẽ, tự do, không ràng buộc; 2. Rải rác, lúng túng; 3. Quá mức, vượt quá giới hạn, vi phạm; 4. Dâm dật, gợi dục, ham muốn tình dục (婬).

dâm

Excess, excessive; licentious, lewd; adultery, fornication. ; Giới thứ ba trong ngũ giới cho hàng tại gia, cấm ham muốn nhiều về sắc dục hay tà hạnh với người không phải là vợ chồng của mình. Giới thứ ba trong mười giới trọng cho hàng xuất gia trong Kinh Phạm Võng, cắt đứt mọi ham muốn về sắc dục. Người xuất gia phạm giới dâm dục tức là phạm một trong tứ đọa, phải bị trục xuất khỏi giáo đoàn vĩnh viễn—Lewd—Sexual misconduct— Licentious—Fornication—Adultery—Lascivious—The third commandment of the five basic commandments for lay people, and the third precept of the ten major precepts for monks and nuns in the Brahma Net Sutra. Monks or nuns who commit this offence will be expelled from the Order forever—See Ngũ Giới, and Mười Giới Trọng Của Chư Bồ Tát Trong Kinh Phạm Võng.

dâm bôn

To commit adultery.

dâm bạc kiện

4716唐代玄奘由印度歸國所經之國。約在現今帕米爾高原(Pamirs)之西南部。依大唐西域記卷十二載,淫薄健為睹貨羅國之故地,山嶺連屬,川田隘狹。 ; (淫薄健) Tên nước. Khi ngài Huyền trang từ Ấn độ trở về Trung quốc vào đời Đường đã đi qua nước Dâm bạc kiện, vị trí có lẽ ở phía tây nam cao nguyên Pamirs hiện nay. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 chép, thì Dâm bạc kiện là vùng đất cũ của nước Đổ hóa la (Tukhara) ngày xưa, núi non trùng điệp, diện tích nhỏ hẹp.

dâm cung

4714梵名 Mithuna。音譯彌偷那。十二宮之一。為辰星位。又作夫婦宮、男女宮、夫妻宮、陰陽宮、雙女宮、雙鳥神主。於密教,位於北斗曼荼羅第二院西方,胎藏現圖曼荼羅外院東方,於胎藏圖像為月天眷屬,住外院西方。此宮之形像,於各書所載有差異,或謂男女二體;於胎藏現圖中,則有二尊或一尊之說;於胎藏舊圖樣、胎藏圖像、北斗曼荼羅中,亦另有不同之說法。種子為???(mi)。真言為:歸命彌陀那(mithuna,夫婦)婆多曳(pataye,主)娑縛賀(svāhā)。〔宿曜經〕(參閱「十二宮」342) ; (淫宮) Phạm: Mithuna. Hán âm: Di thâu na. Một trong 12 cung. Cũng gọi là Phu phụ cung, Nam nữ cung, Phu thê cung, Âm dương cung, Song nữ cung, Song điểu thần chủ. Cung này ở phương tây của viện thứ hai trong Bắc đẩu mạn đồ la và ở phía đông của viện ngoài trên Thai tạng hiện đồ mạn đồ la Mật giáo. Trong thai tạng đồ tượng, Dâm cung là quyến thuộc của Nguyệt thiên ở phía tây của viện ngoài. Hình tượng của cung này trong các sách chép có khác nhau, hoặc hai hình nam nữ; trong Thai tạng hiện đồ thì có thuyết cho là hai vị hoặc một vị. Ngoài ra, trong Thai tạng đồ tượng(kiểu cũ), Thai tạng đồ tượng (kiểu mới) và Bắc đẩu mạn đồ la còn có nhiều thuyết. Chủng tử là (mi). Chân ngôn: Qui mệnh di đà na (mithuna, phu phụ) bà đa duệ (pataye, chủ) sa phạ hạ (svàhà). [X. kinh Tú diệu]. (xt. Thập Nhị Cung).

dâm dật

Immoral dissipation; perverse, depraved; excessive.

dâm dục

4715即行淫之欲望,與「愛欲」、「色欲」同義。圓覺經載,諸世界一切種性,無論卵生、胎生、濕生、化生,皆因淫欲而延續種族生命。律典中以淫欲雖不惱眾生,然能繫縛修行者之心,故佛陀制戒禁之。經論中,比喻淫欲如火能燒心,稱為淫欲火;或比喻淫欲傷身如病,稱為淫欲病。〔諸法無行經卷上、千手觀音大悲陀羅尼經、大智度論卷六、摩訶止觀卷九上〕 ; Lewdness, lechery, lust; sexual passion, desire. ; Ham muốn sắc dục—Desire for sex—Lustful—Debauched—Sexual desire—Sexual passion. ; (淫欲) Tham muốn làm dâm. Cùng nghĩa với ái dục, sắc dục. Kinh Viên giác nói: Tất cả chúng sinh trong các thế giới, bất luận noãn sinh, thai sinh, thấp sinh hay hóa sinh đều do dâm dục mà có thân mệnh, kéo dài nòi giống. Vì dâm dục trói buộc tâm ý người tu hành nên đức Phật đã đặt ra giới cấm. Trong kinh luận, dâm dục được ví với lửa hay thiêu đốt tâm nên gọi là lửa dâm dục; hoặc ví dâm dục như bệnh tật hay làm tổn thương thân thể nên gọi là bệnh dâm dục. [X. kinh Chư pháp vô hành Q.thượng; kinh Thiên thủ quan âm đại bi đà la ni; luận Đại trí độ Q.6; Ma ha chỉ quán Q.9 phần trên].

dâm dục bất nhiễm

4715指淫欲之實相本來清淨。與「貪慾不染」同義,為觀自在菩薩之內證。據理趣釋經卷下載,瑜伽廣品中密意說二根交會五塵成大佛事;以此三摩地,奉獻一切如來,亦能速滅從妄心所起之雜染,疾證本性清淨之法門。此處二根交會,是以隱密真旨之意解之,故非指男女二根和合,乃指觀自身金剛與他身蓮花和合成為定慧。是故觀自在菩薩觀一切有情身中如來藏性自性清淨光明,為一切惑染所不能染;由觀自在菩薩加持,得離垢清淨,故稱淫欲不染。 ; (淫欲不染) Dâm dục không nhơ nhuốm. Thực tướng của dâm dục vốn trong sạch. Đồng nghĩa với tham dục bất nhiễm, là sự nội chứng của bồ tát Quán tự tại. Kinh Lí thú thích quyển hạ nói, theo mật ý trong Quảng phẩm Du già thì hai căn giao hợp với năm trần thành đại Phật sự; đem Tam ma địa này dâng cúng tất cả Như lai. Đây là pháp môn có khả năng diệt hết tạp nhiễm từ nơi vọng tâm sinh khởi và mau chóng chứng được bản tính thanh tịnh.Hai căn giao hợp ở đây là dùng ý chỉ sâu kín để giải thích, không phải sự hòa hợp của hai căn nam nữ mà là chỉ cho định và tuệ do quán tưởng thân mình là kim cương và thân người là hoa sen mà thành. Cho nên bồ tát Quán tự tại quán Như lai tạng tự tính trong sạch sáng sủa trong thân của hết thảy hữu tình không bị tất cả hoặc nhiễm làm nhơ nhớp. Nhờ bồ tát Quán tự tại gia trì mà được thanh tịnh, nên gọi là Dâm dục bất nhiễm.

dâm dục bệnh

Bệnh (tâm thần) gây ra bởi sự ham muốn sắc dục—The (spiritual) disease caused by sexual passion.

dâm dục hỏa

Lửa của sự ham muốn về sắc dục—The fire or the burning of sexual desire.

Dâm dục 婬欲

[ja] インヨク inyoku ||| (1) Sexual desire, one of the 'four desires.' (四欲). 〔法華經 T 262.9.57a02〕(2) Sexual intercourse. => 1. Ham muốn tình dục, 1 trong Tứ dục. 2. Quan hệ tính giao.

dâm giới

4714梵語 a-brahma-carya-virati,巴利語 abrahmacariyā veramaṇī。為十重禁之一,四波羅夷之一,五戒之一,八戒之一,十戒之一。以不淫即戒之意,故又稱不淫戒。淫欲雖不惱眾生,而能繫縛行者之心,故佛陀制戒以禁之。據有部毘奈耶卷一載,佛成道十二年中,弟子無過失,至第十三年,蘇陣那始犯淫,遂制淫戒,故此戒為佛教教團中最初之制禁。於小乘戒,置淫戒於四波羅夷之首位;梵網等大乘戒以慈悲為先,故置於第三位。此戒依七眾之別,其結罪之相亦不相同。在家之優婆塞、優婆夷,僅禁邪淫,於五戒中稱為邪淫戒。出家之五眾,雖總稱不淫戒,但沙彌、沙彌尼、式叉摩那三眾,犯者不結波羅夷,而稱滅擯惡作罪,剝其袈裟,擯出寺門;比丘與比丘尼二眾,以係大僧之故,犯者結波羅夷罪,不得與他僧共住,不得一同說戒、一同羯磨。〔摩訶僧祇律卷一、四分律卷一、大智度論卷四十六、瑜伽師地論卷四十一〕 ; The commandment against adultery. ; Giới cấm dâm dục, một trong mười trọng giới của Hiển Giáo trong Kinh Phạm Võng—The commandments against adultery, one of the ten major commandments or precepts in the Brahma Net Sutra. ** For more information, please Mười Giới Trọng Của Chư Bồ Tát Trong Kinh Phạm Võng. ; (淫戒) Phạm: a-brahma-carya-virati. Pàli: abrahmacariyà-vemaraịì. Một trong mười giới trọng cấm, một trong bốn Ba la di, một trong năm giới, một trong tám giới, một trong mười giới. Cũng gọi Bất dâm giới. Dâm dục trói buộc tâm ý người tu hành nên đức Phật chế giới để cấm. Cứ theo Hữu bộ tì nại da quyển 1 chép, thì trong 12 năm đầu sau khi đức Phật thành đạo, đệ tử không có những lỗi lầm, đến năm thứ 13 ông Tô trận na mới phạm dâm, đức Phật bèn chế giới. Bởi thế, giới này là giới cấm đầu tiên trong giáo đoàn Phật giáo. Đối với giới Tiểu thừa, giới dâm được đặt ở đầu trong bốn Ba la di, giới Đại thừa như kinh Phạm võng v.v... lấy từ bi làm đầu, nên giới dâm được đặt ở vị trí thứ ba. Giới này theo sự khác biệt của bảy chúng nên hình thức kết tội cũng không giống nhau. Đối với ưu bà tắc (tín nam) và ưu bà di (tín nữ) tại gia chỉ cấm tà dâm, nên trong năm giới, giới này được gọi là giới Tà dâm. Năm chúng xuất gia, tuy gọi chung là giới không dâm dục, nhưng đối với ba chúng sa di, sa di ni và thức xoa ma na thì người phạm không bị kết tội Ba la di mà gọi là tội Diệt bấn ác tác, bị lột ca sa và đuổi ra khỏi chùa. Còn đối với hai chúng tỉ khưu và tỉ khưu ni, vì là đại tăng, nên người phạm bị kết tội Ba la di, không được ở chung với vị tăng khác, không được ở chung cùng một thuyết giới, cùng một yết ma. [X. luật Ma ha tăng kì Q.1; luật Tứ phần Q.1; luận Đại trí độ Q.46; luận Du già sư địa Q.41].

dâm hoả

4714比喻淫欲之熱情如火,若不祛除,可燒毀身心。又作淫欲火。摩訶止觀卷七上(大四六‧九三上):「大論云:『多婬者,令觀九想;於緣不自在,令觀背捨;緣不廣普,令觀勝處;不能轉變,令觀十一切處;若有怖畏,令修八念。皆以不淨為初門,悉治婬火。』」〔大智度論卷十四〕 ; (淫火) Lửa dâm dục. Ví dụ lòng dâm dục như lửa đốt, nếu không từ bỏ, nó có thể thiêu hủy thân tâm. Cũng gọi Dâm dục hỏa. Ma ha chỉ quán quyển 7 thượng (Đại 46, 93 thượng) : Đối với người nhiều dâm dục, dạy cho họ quán chín tưởng; đối với các duyên không tự tại, nên quán Bội xả; duyên không rộng khắp, nên quán Thắng xứ; không thể chuyển biến, nên quán Thập nhất thiết xứ; nếu cảm thấy sợ hãi thì quán Bát niệm. Tất cả phép quán trên đây đều lấy pháp bất tịnh làm đầu để đối trị lửa dâm dục.

dâm hỏa

Fire of sexual passion. ; Lửa của sự ham muốn sắc dục—The fire of sexual passion—See Dâm Dục Hỏa.

dâm la võng

The net of passion. ; Lưới ham muốn sắc dục—The net of sexual desire.

dâm loạn

Incest.

dâm ngữ

Xem Vô nghĩa ngữ.

dâm nộ si

Desire, anger, and ignorance. ; See Nhiễm Khuể Si.

dâm nữ

Flirsigig, flirt-girl, pert girl; giglet, gillian, wanton.

dâm phụ

Adulteress.

dâm thang

4715禪林用語。指以焦飯或米之粉末泡湯,作茶水之用。淫,意謂焦飯泡於湯中,混濁而沈滯;或作飲。或以其令飲用者淫心淡薄,故稱為淫湯。據傳洞山良价禪師之母,於會見禪師途中去世,時良价取其母囊中少許米粒投於湯中,與大眾結緣,為淫湯之由來。然洞山良价之語錄及景德傳燈錄均無記載此事。〔禪林象器箋飲啖門〕 ; Mễ Thang—Cháo nấu bằng gạo—A kind of rice soup, or gruel. ; (淫湯) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho cơm khô hoặc bột gạo rang pha với nước sôi làm nước trà để uống. Dâm, ý nói cơm khô dầm vào nước sôi trông tạp nhạp và đục lờ; hoặc làm thức uống khiến cho lòng dâm dục của người uống trở nên đạm bạc, vì thế gọi là Dâm thang. Cứ theo truyền thuyết, thân mẫu của Thiền sư Động sơn Lương giới qua đời ngay khi gặp Thiền sư giữa đường. Bấy giờ ngài Lương giới lấy một ít gạo ở trong túi của mẹ bỏ vào nước nóng cúng dường đại chúng để kết duyên Phật pháp: đó là nguồn gốc của Dâm thang. Nhưng trong ngữ lục của Thiền sư Động sơn Lương giới cũng như trong Cảnh đức truyền đăng lục đều không thấy ghi chép mẩu chuyện này. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Ẩm đạm môn].

dâm thuỵ

4716指俯臥之睡姿。依正規,僧應右脅而眠。入眾日用(卍續一一一‧四七四上):「睡須右脅,不得仰臥,仰為屍睡;覆為婬睡,多惡夢。」 ; (淫睡) (1912 - 1977) Vị danh tăng Trung quốc thời hiện đại, người Phú bình, tỉnh Thiểm tây, họ Mạnh, tên Bá khiêm, còn có tên là Điền dưỡng dân. Sư xuất thân từ dòng dõi thư hương (nhà có học thức). Thủa nhỏ sư theo Nho học và từng học Đại học Thanh hoa tại Bắc kinh. Trong thời gian Trung quốc kháng chiến chống Nhật bản xâm lược, sư giảng dạy tư tưởng Nho gia tại Đại học Tây bắc và Thập tam kinh ở hội Khổng giáo tại Tây an. Năm 1949, sư dời ra Hồng kông. Năm 1954, sư được mời giảng dạy môn Triết học Nho gia ở Đại học Á tế á tại Nhật bản. Đồng thời, sư vào nghiên cứu ở Đại học Đông dương. Năm 1959, sư đậu Thạc sĩ văn học với luận án Tư mã thiên đích sử kí bút pháp và được Chính phủ Nhật bản khen thưởng. Năm 1961, sư đậu Tiến sĩ qua luận án Đại thừa khởi tín luận Như lai tạng duyên khởi chi nghiên cứu. Sư từng tiếp nhận nghi thức Quán đính của viện Truyền pháp thuộc tông Chân ngôn Nhật bản; sư thiết lập tinh xá Đàm thụy ở Tokyo để giảng kinh hoằng pháp, hướng dẫn Hoa kiều học Phật. Năm 1977, sư tịch, thọ 66 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Đại thừa khởi tín luận xu yếu; Tỉ giảo triết học, Duy thức luận v.v...

dâm tâm

Lewdness.

dâm từ

Licentious talk, lewd word.

dâm ô

Obscene—Lewd.

dâm ý

Dutthullam (P).

dâm đãng

Lascivious—Lustful.

Dâm 婬

[ja] イン in ||| (1) Desire, especially sexual desire. (2) The mistaken actions that result from sexual passion. (3) Sexual intercourse between male and female. => 1. Ham muốn, đặc biệt là ham muốn tình dục. 2. Hành vi sai lầm kết quả của đam mê tình dục. 3, Tính giao giữa nam và nữ.

Dâm 淫

[ja] イン in ||| (1) Loose, free, unbounded. (2) Scattered, confused. (3) To exceed, go to excess, transgress. (4) Lewd, sexy, sexual desire (婬). => 1. Không chặc chẽ, tự do, không ràng buộc. 2. Tán loạn, lúng túng. 3. Quá mức, vượt quá giới hạn, vi phạm. 4. Dâm dật, gợi dục, ham muốn tình dục(婬).

dân chủ

Democratically.

Dân Kinh Ký

(民經記, Minkeiki): còn gọi là Kinh Quang Khanh Ký (經光卿記), Trung Quang Ký (中光記); cuốn nhật ký của Dân Bộ Khanh Quảng Kiều Kinh Quang (民部卿廣橋經光, tức Đằng Nguyên Kinh Quang [藤原經光, 1213-1274]), gồm 46 quyển. Do vì cuối đời, Kinh Quang được bổ nhiệm làm chức Dân Bộ Khanh (民部卿), nên tác phẩm này còn có tên là Dân Bộ Khanh Kinh Quang Nhật Ký (民部卿經光日記). Bộ này gồm những ký sự ghi từ năm 1226 (Gia Lộc [嘉祿] thứ 2) đến 1270 (Văn Vĩnh [文永] thứ 7), tuy có bộ phận bị thiếu mất; nhưng bản tự bút 46 quyển hiện được bảo tồn tại Viện Bảo Tàng Dân Tục Lịch Sử Quốc Gia (國立歷史民俗博物館). Đây được xem như là ký lục công gia rất quan trọng và quý giá dưới thời Liêm Thương Trung Kỳ.

dân lành

Peaceful inhabitant.

dân quê

Country people.

dân trí

Intellectual standard of the people.

dân tâm

The mind of the people.

dân tình

Situation of the people.

dân tộc thần

2009為民族宗教所信奉之神,常與民族起源之神話傳說相聯結。在文明發展過程中,各部落相互融合,若干大部落原有之神遂漸融合為一,或在其中漸形成一位或數位主神。由於民族宗教係屬全民性,不對外傳播,故常隨民族之滅亡而消失;惟較重要之民族神常被範圍更大之宗教所吸收而繼續流傳。 ; (民族神) Vị thần được tôn giáo dân tộc tin thờ, thường liên kết với truyền thuyết thần thoại về nguồn gốc dân tộc. Trong quá trình phát triển văn minh, các bộ lạc dung hợp với nhau, những vị thần vốn được các bộ lạc sùng bái, dần dần được hợp làm một hoặc thành một vài vị thần chủ yếu. Vì tôn giáo dân tộc có tính toàn dân nhưng không được truyền bá ra ngoài mà chỉ giới hạn trong phạm vi dân tộc thôi, cho nên thường theo sự diệt vong của dân tộc mà tiêu mất. Chỉ những vị thần dân tộc tương đối quan trọng thì mới được tôn giáo lớn tiếp tục thờ cúng và lưu truyền.

dân tộc tôn giáo

(民族宗教) Tông giáo được toàn dân tộc tin theo, vốn được phát triển từ tông giáo của các bộ lạc nguyên thủy. Tín ngưỡng tông giáonày được kết hợp chặt chẽ với ý thức dân tộc, vị thần linh được sùng bái chính là vị thần che chở giữ gìn cho dân tộc ấy, thậm chí còn được coi là nguồn gốc hoặc tổ tiên của dân tộc. Do sự phát triển của văn hóa dân tộc và sự nảy sinh tư tưởng quốc gia, tông giáo dân tộc thường trở thành là tiền thân của tôn giáo quốc gia thời cổ. Trên cơ sở thống nhất hóa và tiến bước nữa mà xác định hóa, tông giáo dân tộc dần dần hình thành thể hệ giáo nghĩa được hệ thống hóa cùng với tư tưởng thần học bước đầu và điển chương nghi lễ lấy chủ tế làm trung tâm mà tổ chức thành thể chế... tất cả điều kiện văn hóa ấy, đạt đến trình độ dân tộc tương đối cao mà sản sinh ra kinh điển tông giáo. Nói một cách chung chung, các tông giáo dân tộc ở thời kì đầu là thuộc tính toàn dân, không truyền bá ra ngoài, cho nên thường theo sự diệt vong của dân tộc mà tiêu mất. Nhưng cũng có khi do sự tiếp xúc lâu dài và hòa nhập với dân tộc khác mà cái đặc sắc dân tộc cố hữu vẫn tiếp tục tồn tại, đồng thời, tính toàn dân càng yếu dần đi, như Bà la môn giáo, Thần đạo giáo chẳng hạn. Trường hợp Do thái giáo vốn thuộc tông giáo dân tộc, sau khi người Do thái lưu lạc khắp nơi trên thế giới, tông giáo của họ vẫn được tiếp tục lưu truyền như xưa và, trong số người Do thái đến một trình độ tương đương, đã đồng hóa với nền văn hóa của nước sở tại mà họ cư trú, nhưng vẫn bảo tồn nét đặc sắc tông giáo dân tộc của họ: đó là trường hợp đặc biệt của tông giáo dân tộc.

dân tộc tông giáo

2009指民族成員共同信奉之宗教,係由原始部落宗教發展而來。其信仰與民族意識緊密結合,所拜神靈即該民族之守護神,甚而更視之為其源出或祖先。由於民族文化之發展與國家之出現,常成為古代國家宗教之前身。在比較統一化與進一步確定化之神話基礎上,逐漸形成系統化之教義體系與初步之神學思想,及以祭司為核心之禮儀典章、組織體制等,某些文化達到較高程度之民族則產生若干宗教經典。一般而言,早期民族宗教係屬全民性,不對外傳佈,故常隨民族之滅亡而消逝,然亦有由於與其他民族長期接觸交融,在大量保有民族特色而繼續存在之同時,愈見減弱其全民性,如婆羅門教、神道教等。又原屬民族宗教之猶太教,於猶太民族流散世界各地後,其宗教依舊繼續流傳於受到各所在國相當程度同化之猶太人中,並保持其民族宗教之特色,此為民族宗教之特例。

dân tục

2009佛教之教化滲入一般百姓日常生活中之情形,可由諸方面加以考察。如緬甸、泰國等南方佛教圈,所有男子必須體驗一次出家生活,即為著例。一般在亞洲各地,避諱殺生,相信有來世,喜好蔬食,無論民間信仰、年中行事、社會制度、埋葬儀式等習俗多與佛教有密切關係。如中國近代之年中行事,一月之城隍廟禮佛、演鬼,二月之仰佛會、觀音聖誕日焚香,四月之佛陀聖誕浴佛放生、阿彌飯、佛子颶,六月之楊泗菩薩誕辰,中秋之兒童堆寶塔,十二月之臘八粥,冬季之演目連救母故事等,亦皆與佛教有關。此外,如久旱時期之斷屠祈雨、親友亡逝之超度薦亡、誦經拜懺、中元之盂蘭盆會,乃至國家每遇刀兵水災等,多迎請高僧祈禱禳災等,皆是佛教對我國文化民俗之重要影響。 在日本,例如講、檀那、米、般若湯、對馬耳念佛、佛顏亦三度等語彙、隱語、俚諺,弘法清水、笠地藏等傳說,及路邊之石地藏、庚申塔等,皆由佛教之影響所形成之特殊民俗風習。又如喇嘛教圈到處能見之達魯就喀(藏 dar-lcog),在屋上、石積塚,樹立刻錄或書寫經文之旗、竿或觀音六字名號之刻石等,亦皆為佛教入傳後極具普遍性之民俗。 ; (民俗) Phong tục của một dân tộc. Ta có thể thấy từ nhiều phương diện, sự giáo hóa của Phật giáo đã thấm sâu vào đời sống hàng ngày của các tầng lớp dân chúng tại các nước mà Phật giáo đã truyền vào và có ảnh hưởng rất lớn đối với phong tục tập quán của mỗi nước. Như ở Miến điện, Thái lan, v.v... thuộc phạm vi Phật giáo Nam truyền, tất cả thanh niên đều phải một lần thể nghiệm đời sống xuất gia. Tại các nước châu Á nói chung, những tập tục như: kiêng sát sinh, tin có đời sau, thích ăn chay, ngay cả tín ngưỡng dân gian, việc cúng lễ trong năm, chế độ xã hội, nghi thức mai táng v.v... hầu hết đều có quan hệ mật thiết với Phật giáo. Như ở Trung quốc hàng năm có những tập tục: Tháng giêng lễ Phật, cúng quỷ ở miếu Thành hoàng;tháng hai đốt hương trong hội rước Phật và ngày Thánh đản Quan âm; tháng 4 tắm Phật, phóng sinh, cơm A di, Phật tử cụ v.v... trong ngày Phật đản; tháng sáu Thánh đản bồ tát Dương tứ, Trung thu nhi đồng làm tháp báu, tháng Chạp nấu cháo Lạp bát (cháo nấu với các thứ đậu vào ngày 8 tháng chạp-ngày đức Phật thành đạo), cuối mùa đông diễn sự tích Mục liên cứu mẹ. Ngoài ra, cấm sát sinh để cầu mưa khi hạn hán, tụng kinh lễ sám cầu siêu cho vong linh những người thân và bạn bè đã qua đời, hội Vu lan bồn rằm tháng bảy, cho đến mỗi khi quốc gia gặp phải chiến tranh, lụt lội v.v... thường thỉnh các bậc cao tăng cầu đảo cho khỏi tai nạn v.v... Ở Nhật bản, những ngữ vựng, ẩn ngữ, lí ngạn như: giảng, đàn na, mễ, bát nhã thang, đối mã nhĩ niệm Phật, Phật nhan diệc tam độ v.v..., rồi truyền thuyết hoằng pháp thanh thủy, Lạp Địa tạng, cho đến tượng Địa tạng bằng đá, tháp Canh thân bên đường v.v... tất cả đều là những tập tục dân gian đặc biệt được hình thành do ảnh hưởng Phật giáo. Ở Tây tạng, trước cửa nhà treo miếng vải viết sáu chữ: Án ma ni bát minh hồng; trên các mộ đá dựng cột khắc hoặc chép kinh văn trên lá cờ,hoặc khắc sáu chữ danh hiệu Quan âm trên đá v.v... cũng đều là dân tục rất phổ biến sau khi Phật giáo truyền vào.

dân vọng

Aspiration of the people.

dân ý

Will of the people.

dâng hoa

To offer incense.

dâng hương

To offer flowers.

dâng y cà ca

Kaṭhina (P)Thọ y ca-thi-na.

dâu

Tên của một ngôi chùa, còn gọi là Thiền Định, Duyên Ứng và Pháp Vân. Chùa tọa lạc tại ấp Dâu, xã Thanh Khương, quận Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, Bắc Việt Nam. Chùa cách Hà Nội 17 dậm. Xưa đã từng là trung tâm của cố đô Luy Lâu. Đây là một trong những ngôi chùa đầu tiên của Việt Nam được xây dựng vào thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch. Từ những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Thiên Chúa, vùng Dâu đã là một trung tâm Phật Giáo nổi tiếng cả trong lẫn ngoài nước. Vào đời nhà Tùy, những thế kỷ thứ sáu và thứ bảy, chùa Dâu là nơi tu trì và đạo tràng thuyết pháp, là nơi truyền bá Phật Giáo quan trọng của các danh Tăng như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Pháp Hiền, và Quan Duyên, vân vân. Vào thời nầy Sư Lưu Khương, theo lệnh vua Tùy Văn Đế, đã xây tháp Hòa Phong chín tầng ở ngay trước sân chùa để thờ xá lợi Phật, nhưng về sau đã bị đổ nát. Tháp được xây lại vào năm 1738 nhưng chỉ còn ba tầng. Vào các năm 1073, 1169, 1434, và 1448, các vua Lý Nhân Tông, Lý Anh Tông, Lê Thái Tông, và Lê Nhân Tông đã từng tổ chức lễ cầu đảo tại chùa Dâu. Các vị vua khác thì cho đến chùa rước tôn tượng Đức Phật về Hà Nội để làm lễ. Vào thế kỷ 14, Mạc Đỉnh Chi được chiếu chỉ nhà vua cho đứng ra hưng công xây dựng lại chùa Dâu. Từ đó về sau nầy chùa đã được trùng tu nhiều lần—Name of a temple, also called Thiền Định, Duyên Ứng and Pháp Vân, located in Dâu hamlet, Thanh Khương village, Thuận Thành district, Hà Bắc province, North Vietnam. It is about 17 miles from Hanoi. It used to be Luy Lâu ancient citadel. This is one of Vietnam's earliest temples built in the third century A.D. Since the beginning of the Christian era. The Dâu area has been a famous Buddhist center for both home and abroad. In the Sui dynasty, around the sixth and seventh centuries A.D., Dâu Temple functioned as the Buddhist monks' monastery, the place of Buddhist preaching and the famous center where Buddha's Dharma was propagated by the well-known monks as Vinitaruci, Pháp Hiền, Quan Duyên, etc. At that time, king Sui-Wen-Ti ordered Liou-K'ang to build a stupa for Buddha's relics. Placed in the yard of the temple. Hoa Phong stupa which used to have nine storeys was in ruin. A new three-storeyed stupa was rebuilt in 1738. In the years of 1073, 1169, 1434, and 1448, successive Kings Lý Nhân Tông, Lý Anh Tông, Lê Thái Tổ, and Lê Nhân Tông organized a prayer at the temple. Other kings had Dâu Temple's Buddha statue brought to Báo Thiên Temple in Hanoi for their worship prayer. It was Madarin Mạc Đỉnh Chi who was in charge of rebuilding Dâu Temple in the fourteenth century. Since that time, the temple has been rebuilt many other times.

dây cột lỗ mũi

Thiền giả lọt vào cái bẫy của Tổ sư (như đánh đập, chửi mắng…) phát nghi mãnh liệt mà tự chẳng biết, cũng như con trâu bị cột dây lỗ mũi, đi tới đi lui đều do tay của Tổ sư lôi kéo.

dây dưa

To drag on.

dây nịt du già

Yogapaṭṭa (S)Dây nịt dùng chống ngả ra phước hay phía sau khi ngồi thiền (được các Mahasiddha sử dụng).

4816悉曇字???(ya)。悉曇五十字門之一,四十二字門之一。又作夜、也、耶、邪、計。大品般若經卷五取梵語 yathāvat(意譯為實、正)之字首,釋 ya 為入諸法如實不生;大日經卷二取梵語 yāna(意譯為乘)釋之為一切諸法一切乘不可得。舊華嚴經卷五十七則釋為差別積聚(梵 saṃbhedakūṭa)。〔文殊師利問經卷上字母品、佛本行集經卷十一習學技藝品、大智度論卷四十八、大日經疏卷七〕 ; Hoang dã—The country—Wilderness—Wild—Rustic—Uncultivated—Rude. ; (野) Chữ Tất đàm (ya). Một trong 50 chữ cái, một trong 42 chữ cái. Cũng gọi Dạ, Da, Tà, Kế. Kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 lấy chữ đầu trong tiếng Phạmyathàvat (dịch ý là thật, chính) mà giải thích ya là vào các pháp như thực chẳng sinh. Kinh Đại nhật quyển 2 lấy tiếng Phạmyàna (dịch ý là thừa) mà giải thích là tất cả pháp, tất cả thừa đều không thể được. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 57 thì giải thích là tích tụ sai biệt (Phạm: saôbhedakùỉa). [X. kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng phẩm Tự mẫu; kinh Phật bản hạnh tập Q.11 phẩm Tập học kĩ nghệ; luận Đại trí độ Q.48; Đại nhật kinh sớ Q.7]

dã bàn tăng

4818奔走四方而無閒暇之村野僧。或指露宿山野之行腳僧。野盤者,盤旋草野之意。景德傳燈錄卷十三風穴延沼章(大五一‧三○二下):「問:『如何是清涼山中主?』師曰:『一句不遑無著問,迄今猶作野盤僧。』」 ; Một vị du Tăng rày đây mai đó, không có nơi trụ xứ nhất định—A roaming monk without fixed abode. ; (野盤僧) Chỉ cho vị tăng nơi thôn dã quanh năm đi khắp bốn phương, không được nhàn rỗi. Hoặc chỉ vị tăng hành cước ngủ nghỉ nơi sơn dã. Dã bàn hàm ý là quanh quẩn nơi thôn dã. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 13 Phong hiệp Diên chiểu chương (Đại 51, 302 hạ), ghi: Hỏi: thế nào là chủ trong núi Thanh lương? Sư nói: Một câu cũng chẳng có thì giờ để hỏi Vô trước, nên đến nay vẫn chỉ là ông tăng quê mùa (dã bàn tăng).

dã bố thí

Cúng các âm hồn ngạ quỷ tại nhà mồ—To scatter offerings at the grave to satisfy hungry ghosts.

dã ca minh

Sṛgala (S)Nghĩa đen là con chồn kêu, chỉ người chưa đạt đạo mà vọng nói chân lý.

dã can

Srgala (skt)—Một loài thú giống như chồn, hay kêu la về đêm—Jackal, or an animal ressembling a fox which cries at night.

dã cán minh

4817野干,梵語 śṛgāla。音譯悉伽羅。狐之一種。「獅子吼」之對稱。即比喻修行未臻成熟而妄說真理。〔玄應音義卷二十四〕(參閱「獅子吼」5525) ; (野幹鳴) Con chồn kêu. Dã can, Phạm: Zfgàla, dịch âm Tất già la. Đối lại với Sư tử hống (sư tử rống). Từ ngữ này dùng để ví dụ người tu hành chưa thấu đáo mà cứ nói bừa chân lí. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. Sư Tử Hống).

dã dượi

Vishada (S)Sự mệt mỏi và chán nản, một trong những chướng ngại trên đường giải thoát. ; Tired—Worn out.

dã hồ

Một loại chồn hoang—A wild fox, a fos sprite.

Dã hồ thiền

野狐禪; J: yakōzen; nghĩa là »Thiền của loài chồn hoang«; |Chỉ loại thiền của những người chưa Kiến tính mà đi lừa người, chỉ biết bắt chước làm và thuyết giảng chân lí mà chính mình chưa trực nhận. Người Trung Quốc tin rằng, chồn là một con thú được dùng để cưỡi của loài yêu tinh và chính nó cũng là con tinh, có khả năng biến thành nhân dạng để mê hoặc người.

dã hồ thiền

4817禪林用語。用以比喻似是而非之禪。謂所為不契合禪之真義,然卻自許為契合。此語係出自唐代禪僧百丈懷海開導野狐之談話。無門關第二則(大四八‧二九三上):「百丈和尚,凡參次,有一老人,常隨眾聽法,眾人退,老人亦退。忽一日不退,師遂問:『面前立者復是何人?』老人云:『諾!某甲非人也。於過去迦葉佛時,曾住此山。因學人問:大修行底人還落因果也無?某甲對云:不落因果。五百生墮野狐身。今請和尚代一轉語,貴脫野狐。』遂問:『大修行底人,還落因果也無?』師云:『不昧因果。』老人於言下大悟。」〔從容錄第八則、鎮州臨濟慧照禪師語錄〕(參閱「百丈野狐」2489) ; Thiền gia coi thiền ngoại đạo là “Dã Hồ Thiền” (theo Tứ Gia Huyền Lục, có một cụ già đến nghe Bách Trượng Đại Trí thuyết pháp. Cụ già nói: xưa tôi là Tăng trụ trì ở núi nầy, có người đến hỏi, là một nhà đại tu hành nhân gian thì có còn rơi vào vòng nhân quả nữa không? Tôi nói : Không rơi vào vòng nhân quả nữa. Thế là tôi phải đọa làm thân dã hồ. Xin Hòa Thượng cho một lời chuyển ngữ. Bách Trượng nói : Cụ cứ hỏi tiếp đi. Cụ già lại hỏi thêm. Cuối cùng sư nói : Cụ già đã hiểu được lẽ nhân quả rồi đấy. Cụ già chợt tỉnh ngộ nói : nay thoát kiếp dã hồ. Xin nhờ đại sư chiều lại ghé qua sau núi cho hỏa táng theo lệ vong Tăng. Chiều lại Bách Trượng đi vòng sau núi, quả nhiên thấy trong hang có một xác dã hồ, ngài bèn cho mang về chùa hỏa táng theo lệ vong Tăng cho nó thoát kiếp)—Wild-fox meditators, i.e. non-Buddhist ascetics, heterodoxy in general—See Bách Trượng Hoài Hải. ; (野狐禪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Dùng để ví dụ Thiền tựa hồ như đúng mà thực là sai. Tức là việc làm không khế hợp với chân nghĩa của Thiền mà tự cho là khế hợp. Lời nói này phát xuất từ câu chuyện của Thiền sư Bách trượng Hoài hải đời Đường mở tỏ cho con cáo đồng. Vô môn quan tắc 2 (Đại 48, 293 thượng) chép: Hòa thượng Bách trượng mỗi lần nói pháp, có 1 ông già thường theo chúng tăng vào nghe. Thời thuyết pháp kết thúc, mọi người giải tán và ông già cũng ra về. Bỗng một hôm ông già nán lại, ngài Bách trượng bèn hỏi: - Người nào mà đứng trước đó? Ông già đáp: - Dạ! Bạch ngài, con không phải là người, vào thời đức Phật Ca diếp ở quá khứ, con từng ở tại núi này. Nhân có người hỏi: Bậc đại đức tu hành còn rơi vào nhân quả hay không? Con trả lời là không rơi vào nhân quả. Do đó 500 đời con đã bị đọa làm thân cáo đồng. Nay xin hòa thượng đáp thay một chuyển ngữ, cứu con thoát khỏi kiếp cáo này. Rồi ông già liền hỏi: - Bậc đại đức tu hành còn rơi vào nhân quả hay không? Ngài Bách trượng đáp: - Không mờ nhân quả (bất muội nhân quả).Ngay câu nói ấy ông già đại ngộ. [X. Thung dung lục tắc 8; Trấn châu lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục]. (xt. Bách Trượng Dã Hồ).

dã hồ tinh

4817禪林用語。原指野狐之精魅能作變幻,以欺誑他人。比喻自稱見性悟道而欺瞞他人者。景德傳燈錄卷十二幽州譚空和尚章(大五一‧二九四下):「有尼欲開堂說法。師曰:『尼女家不用開堂。』尼曰:『龍女八歲成佛又作麼生?』師曰:『龍女有十八變,汝與老僧試一變看。』尼曰:『變得也,是野狐精!』」碧巖錄第九十三則(大四八‧二一七上):「僧問大光:『長慶道:因齋慶讚,意旨如何?』大光作舞,僧禮拜。光云:『見箇什麼便禮拜?』僧作舞,光云:『這野狐精!』」〔古尊宿語錄卷七〕 ; (野狐精) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ con cáo hoang đã biến thành tinh quái để lừa gạt người ta. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để ví dụ kẻ tự tuyên bố đã thấy tính ngộ đạo để lừa người. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 12 U châu Đàm không hòa thượng chương (Đại 51, 294 hạ) chép: Có 1 vị ni định lên tòa thuyết pháp, Sư nói: - Ni là đàn bà không được lên tòa. Ni nói: - Long nữ tám tuổi thành Phật thì sao? Sư nói: - Long nữ có 18 phép biến hóa, ngươi hãy thử 1 phép biến hóa cho lão tăng xem! Ni nói: - Biến hóa được là dã hồ tinh! Bích nham lục tắc 93 (Đại 48, 217 thượng) chép: Vị tăng hỏi Đại quang: - Trường khánh bảo nhân bữa trai chúc mừng khen ngợi, ý là thế nào? Đại quang đứng dậy múa, vị tăng liền lễ bái.Đại quang hỏi: - Thấy cái gì mà lễ bái? Vị tăng cũng múa. Quang nói: - Con dã hồ tinh này! [X. Cổ tôn túc ngữ lục Q.7]

dã khai

2787(1852~1922)清末民初禪僧。江蘇江都人,俗姓許。名清鎔。十一歲出家。十三歲從學於儀徵縣天寧寺蓮安和尚。二十歲以後,參訪常州天寧寺定念和尚而嗣法,遍歷普陀、九華、五臺、終南、峨眉諸山。三十四歲,住終南山之茅舍,夢知蓮安罹病,乃歸省之。三十八歲任常州天寧寺住持。後至杭州靈隱寺。師道高行潔,聞其風而發心之居士頗多。又重修天寧寺大殿、禪堂、太平寺文筆峰寶塔、杭州靈隱寺大殿、上海玉佛寺念佛堂等。傾力於慈善賑濟事業,民國八年(1919),華北五省旱災,師即自行北上放賑。九年,中風病發,仍專誦華嚴經,以每日四卷為常課。十一年冬,誦華嚴經畢,十月二十日入寂,世壽七十一。弟子顯澈為撰年譜,蘊寬則撰其傳文。〔新續高僧傳卷三十五、中國佛教史卷四(蔣維喬)〕

dã man

Barbarous—Savage—Barbaric.

dã mã

4818梵語 marīci。譯作陽焰、焰(炎)。全稱野馬泉。乃現於沙漠或曠野中之一種自然林泉幻象。即熱氣之遊絲或塵埃現於遠方時,其幻影如真實之樹林、泉水,然趨近之,則又消滅;故知野馬為假相,並無實體。以此比喻諸法之無自性,如幻影之不能久住。大智度論卷六(大二五‧一○二上):「一切諸行如幻,欺誑小兒,屬因緣,不自在、不久住。是故說諸菩薩知諸法如幻、如炎者;炎以日光風動塵故,曠野中見如野馬,無智人初見,謂之為水。」〔成實論卷十二滅法心品、大智度論卷三十一、大日經疏卷三〕 ; (野馬) Phạm: marìci. Hán dịch: Dương diệm (giợn nắng), Diệm (viêm). Gọi đủ là Dã mã tuyền. Một hiện tượng hư ảo (mirage) thường thấy trong sa mạc hoặc giữa nơi đồng không mông quạnh.Tức là những bóng dáng của giợn nắng hoặc bụi trần hiện ra ở đằng xa, trông giống như rừng cây, suối nước, nhưng khi đến gần thì không có. Vì thế nên biết dã mã là tướng giả, không có thực thể. Nó được dùng để ví dụ các pháp không có tự tính, như huyễn. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 25, 102 thượng), nói: Tất cả các hành như huyễn, lừa dối trẻ con, thuộc về nhân duyên, không được tự tại, không dừng trụ lâu. Cho nên nói Bồ tát biết các pháp như huyễn, như giợn nắng. Giợn nắng do ánh mặt trời và gió thổi bụi bay trong đồng hoang thấy như dã mã, người không trí mới thấy, bảo đó là nước.[X. luận Thành thực Q.12 phẩm Diệt pháp tâm; luận Đại trí độ Q.31; Đại nhật kinh sớ Q.3.]

dã nhân

Gorilla.

dã sử

Unofficial history.

dã thôn diệu xương

4817(1916~ )日本佛教學者。神奈川縣人。日蓮宗妙國寺住持。立正大學畢業。一九三七至一九四四年,編輯「支那佛教史學」雜誌。曾任立正大學教授,及該校佛教學院(部)長、圖書館長等職。主要研究西域佛教史、突厥族史、中國佛教史等。著有周武法難之研究、經典─它的心與歷史、佛教百話考、佛教寓言集等。 ; (野村耀昌) (1916 -) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản. Người huyện Thần nại xuyên, trụ trì chùa Diệu quốc của tông Nhật liên. Ông tốt nghiệp Đại học Lập chính. Năm 1937-1944, ông chủ biên tạp chí Chi na Phật giáo sử học. Ông từng là giáo sư, khoa trưởng Phật khoa và Thư viện trưởng của Đại học Lập chính. Chủ yếu ông nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Tây vực, lịch sử dân tộc Đột quyết và lịch sử Phật giáo Trung quốc. Ông có các tác phẩm: Chu Vũ pháp nạn chi nghiên cứu, Kinh điển - đà đích tâm dữ lịch sử, Phật giáo bách thoại khảo, Phật giáo ngụ ngôn tập...

dã thú

Wild beast.

dã thượng tuấn tĩnh

4817(1907~ )日本佛教學者。一九三二年畢業於大谷大學。一九三七至一九四四年,編輯「支那佛教史學」雜誌。一九五○年任大谷大學教授。其後,主要研究中國宗教史、大谷大學所藏敦煌文獻資料等。重要著作有遼金的佛教、佛教史概論─中國篇、續高僧傳─淨土三祖傳、敦煌本無量壽殘經解說(禿庵文庫藏本)、大谷大學所藏中國敦煌古寫經。 ; (野上俊靜) (1907- ?) Học giả Phật giáo Nhật Bản. Năm 1932, Ông tốt nghiệp Đại học Đại cốc. Năm 1937- 1944, ông biên tập tạp chí Chi na Phật giáo sử học. Năm 1950, ông giữ chức giáo sư ở Đại học Đại cốc.Sau đó, ông chủ yếu nghiên cứu lịch sử tông giáo Trung quốc và những tư liệu văn hiến tìm thấy ở Đôn hoàng và được cất giữ tại Đại học Đại cốc. Các tác phẩm quan trọng của ông gồm có: Liêu kim đích phật giáo, Phật giáo sử khái luận-Trung quốc thiên, Tục cao tăng truyện- Tịnh độ tam tổ truyện, Đôn hoàng bản Vô lượng thọ tân kinh giải thuyết (Thốc am văn khố tàng bản), Đại cốc Đại học sở tàng Trung quốc Đôn hoàng cổ tả kinh.

dã thọ bì đà

Một trong bốn bộ Kinh Vệ Đà—One of the four Vedas.

dã thố hình thần

Sasi—The spirit with marks or form like a hare.

Dã Trung Kiêm Sơn

(野中兼山, Nonaka Kenzan, 1615-1664): quan Lão Trung của Phiên Thổ Tá (土佐, Tosa-han), Nho gia Nam Học và là chính trị gia, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; tên là Chỉ (止); tự Lương Kế (良繼); thông xưng là Truyền Hữu Vệ Môn (傳右衛門); hiệu Kiêm Sơn (兼山); thân phụ là Dã Trung Lương Minh (野中良明). Năm lên 13 tuổi, ông quen biết với Tiểu Thương Thiểu Giới (小倉少介) của Phiên Thổ Tá; rồi nhờ người này làm môi giới, ông đến làm rễ nhà Dã Trung Trực Kế (野中直繼), quan Phụng Hành của Phiên; và năm lên 15 tuổi thì ra làm quan với tên là Lương Kế. Vào năm 1636 (Khoan Vĩnh [寛永] 13), khi dưỡng phụ Trực Kế qua đời, ông kế thừa sự nghiệp của dòng họ Dã Trung, làm chức Phụng Hành. Phiên chủ là Trung Nghĩa (忠義) hạ lệnh cho ông tiến hành cải cách chính trị của Phiên và ông đã góp công lớn trong việc kiến thiết đê điều, khai thác tài nguyên thiên nhiên của Phiên để tăng sản lượng gạo thóc, v.v. Hơn nữa, ông còn cho du nhập các loại thực vật, cá giống cũng như kỷ thuật bắt cá voi, làm đồ gốm, nuôi ong, v.v.; nhờ vậy, nền tài chính của Phiên chuyển sang hướng tốt. Năm 1656 (Minh Lịch [明曆] 2), Phiên chủ Trung Nghĩa lui về ẩn cư, Trung Phong (忠豐) lên thay thế. Đến năm 1663 (Khoan Văn [寛文] 3), do vì bất mãn với chính sách của Kiêm Sơn, thông quan quan Gia Lão Thâm Vĩ Xuất Vũ (深尾出羽), nhóm Dựng Thạch Nguyên Chính (孕石元政), Sanh Câu Mộc Công (生駒木工) đề xuất bản trạng hạch tội. Cho nên, Kiêm Sơn bị thất cước, lui về bế quan ở vùng Túc Mao (宿毛) và năm sau thì ông qua đời.

dã trạch tĩnh chứng

4818(1908~ )日本佛教學者。畢業於大谷大學文學部佛教學科。高野山大學教授。著有世親唯識の原典解明(與山口益共著)。

dã táng

See Lâm Táng.

dã tâm

Bad ambition.

dã uyển tịnh xá

Isipatanarama (S)Một trong 6 tịnh xá nổi tiếng thời đức Phật.

dã vu

4817指僅知一種法術之鄉野巫師。轉為比喻學行不足之修禪者。據摩訶止觀卷七下載,野巫唯解一術,能救一人;大醫師遍覽眾治,廣療諸疾,能救眾多病者。學禪者亦如是,專一法以治惑,僅得微益,終非大用,不能破除煩惱、入無生忍。〔止觀輔行傳弘決卷七之四〕 ; (野巫) Thầy cúng ở làng quê chỉ biết được một pháp thuật. Từ này được chuyển dụng để ví dụ người tu Thiền không thấu đáo đầy đủ.Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 7 phần dưới nói, thì ông thầy cúng ở thôn quê chỉ hiểu có một thuật, có thể cứu được một người. Bậc đại lương y biết hết các phương pháp trị liệu, chữa được nhiều bệnh, có thể cứu nhiều người. Người học Thiền cũng vậy, chuyên dùng một pháp để đối trị phiền não thì chỉ được lợi ích nhỏ, chẳng phải đại dụng, không thể phá trừ hết các phiền não mà vào vô sinh nhẫn. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.7 phần 4]

dã độc

To neutralize (counteract) a poison.

dãy núi

Girijāla (S), Ranges of mountains. ; A chain of mountains.

dè xẻn

To save little by little.

dì phước

Sister of mercy.

dìu dắt

To guide—To lead—To conduct.

dìu dịu

To calm down.

dính chặt

Alagati (skt)—Bám chặt vào—To adhere to—To cling to.

dính dáng

Concerned in—Connected.

dính khắn

To adhere to.

dính líu

To involve—To concern.

dò hỏi

To seek information.

dò la

To get (obtain) information.

dò thăm

To make an inquiry about.

dòm chừng

To watch.

dòm lén

To look furtively.

dòm ngó

To look at.

dòng dõi

Lineage.

dòng dõi hoàng tộc

Royal lineage.

dòng họ

Family.

dòng truyền thừa

Lineage.

dòng tâm

Citta-dhara (skt)—Flow of mind or thoughts.

dòng tâm thức

Cittasantana (S), Mental continuum.

dóc

To lie.

dông dài

Lengthy—Wordy.

dông tố

Stormy.

dõng dạc

Sedately.

dõng kiện

Xem Dạ xoa.

dõng thiên

Baladeva (S)Tên một Long vương.

dõng thí bồ tát

PradānaśŪra (S), PradnaśŪra (S)Tên một vị Bồ tát.

dõng tánh

Balatā (S), Quality of strength (S, P).

dõng đức

Puabalaṁ (P), Force of merit.

dõng đức phật

Baladatta (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.

Anyway—Anyhow—No matter what.

dù bà ca la

Xem Tam tạng Thiện vô úy.

dù tu thiền hay tịnh độ, người tu không nên an hưởng trên phước báo nhơn thiên, mà phải quyết chí giác ngộ để thành phật

No matter what Dharma-door you are practicing, Zen or the Pure Land, you should not enjoy the human or deva bless, but try hard to enter enlightenment and to become a Buddha.

dùng

To use—To employ.

dùng dằng

Hesitant—Undecided.

dùng sức

To use force.

(屺): ngọn núi không có cây cỏ. Căn cứ vào bài Trắc Hỗ của Thi Kinh có câu: “Trắc bỉ dĩ hề, chiêm vọng mẫu hề (陟彼屺兮、瞻望母兮, Lên núi kia chừ, trông nhớ mẹ chừ)”; dĩ còn có nghĩa là người mẹ và nhớ đến mẹ được gọi là trắc dĩ (陟屺). Trong khi đám tang người mẹ, câu “Dĩ Lãnh Vân Mê (屺嶺雲迷, Non Dĩ Mây Mờ)” thường được treo tại bàn thờ hương linh quá cố. Nếu cúng cho mẹ thì thay thế từ dĩ này.

1) Đã rồi: Already. 2) Quá khứ: Past. 3) Cuối cùng: End. 4) Chấm dứt: Cease.

dĩ biện địa

957梵語 kṛtāvī-bhūmi。又作所作辨地、已作地、已辦地。即天台宗所說三乘共位之第七地。三乘之行者,斷盡色界、無色界之思惑,發起真無漏智,斷盡五上分結七十二品。智斷功畢,故稱已辨。然於此位,雖已斷盡正使(煩惱之主體),而尚未能除去習氣。相當於三藏教中之第四果。又於三乘共位中,聲聞位終於此地,故就聲聞而立已辨之名。 另據大品般若經卷六發趣品載,七地中之菩薩,必須不著二十法,而另具足二十法始可。所不著之二十法為:(一)不著我,(二)不著眾生,(三)不著壽命,(四)不著眾數乃至知者、見者,(五)不著斷見,(六)不著常見,(七)不應作相,(八)不應作因見,(九)不著名色,(十)不著五陰,(十一)不著十八界,(十二)不著十二入,(十三)不著三界,(十四)不作著處,(十五)不作所期處,(十六)不作依處,(十七)不著依佛見,(十八)不著依法見,(十九)不著依僧見,(廿)不著依戒見。所須具足之二十法為:(一)具足空,(二)證得無相,(三)了知無作,(四)三分清淨,(五)具足對一切眾生之慈悲智,(六)不念一切眾生,(七)平等觀一切法,(八)了知諸法實相,(九)無生法忍,(十)無生智,(十一)宣說諸法一相,(十二)破除分別相,(十三)轉憶念,(十四)轉見,(十五)轉煩惱,(十六)等定慧地,(十七)調意,(十八)心寂滅,(十九)無礙智,(廿)不染愛。(參閱「十地」419) ; Xem Dĩ Tác Địa. ; (已辨地) Phạm: Kftàvì-bhùmi. Cũng gọi Sở tác biện địa, Dĩ tác địa, Dĩ biện địa, là địa vị thứ 7 trong Tam thừa cộng vị theo thuyết của tông Thiên thai. Hành giả ba thừa dứt hết Tư hoặc trong cõi Sắc và cõi Vô sắc, phát khởi trí chân vô lậu, diệt sạch 72 phẩm Ngũ thượng phần kết (tham ở cõi Sắc, tham ở cõi Vô sắc, điệu cử, mạn, vô minh). Công phu dùng trí tuệ đoạn trừ phiền não đã hoàn tất, cho nên gọi là Dĩ biện (đã làm xong). Nhưng ở giai vị này, hành giả tuy đã dứt hết chính sử (phiền não chủ thể), nhưng vẫn chưa trừ sạch tập khí. Tương đương với quả thứ tư trong Tam tạng giáo. Lại giai vị này là quả cuối cùng của hàng Thanh văn, cho nên căn cứ vào đó mà đặt tên là Dĩ biện địa. Ngoài ra, theo phẩm Phát thú trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 6 thì Bồ tát Thất địa không được dính mắc vào 20 pháp và phải đầy đủ 20 pháp. Hai mươi pháp không được dính mắc là: 1. Không được dính mắc vào cái ta. 2. Không được dính mắc vào chúng sanh. 3. Không được dính mắc vào thọ mệnh. 4. Không dính mắc các con số cho đến người biết, người thấy. 5. Không dính mắc vào cái thấy dứt mất hẳn (đoạn kiến). 6. Không dính mắc vào cái thấy thường còn mãi (thường kiến). 7. Không được tác tướng. 8. Không được tác nhân kiến. 9. Không dính mắc danh sắc. 10. Không dính mắc năm ấm. 11. Không dính mắc 18 giới. 12. Không dính mắc 12 nhập (xứ). 13. Không dính mắc ba cõi. 14. Không dính mắc nơi chỗ. 15. Không nghĩ đến chỗ để trông đợi. 16. Không nghĩ đến nơi để nương tựa. 17. Không dính mắc nương vào Phật kiến. 18. Không dính mắc nương vào pháp kiến.19. Không dính mắc nương vào tăng kiến. 20. Không dính mắc nương nơi giới kiến. Hai mươi pháp phải đầy đủ là: 1. Đầy đủ không. 2. Chứng được vô tướng. 3. Biết rõ vô tác. 4. Ba phần trong sạch. 5. Đầy đủ trí từ bi đối với tất cả chúng sinh. 6. Không nhớ nghĩ tất cả chúng sinh. 7. Quán xét tất cả pháp một cách bình đẳng. 8. Biết rõ thực tướng của các pháp. 9. Vô minh pháp nhẫn. 10. Trí vô sinh. 11. Tuyên thuyết các pháp một tướng. 12. Phá trừ tướng phân biệt. 13. Chuyển ức niệm. 14. Chuyển kiến. 15. Chuyển phiền não. 16. Định Tuệ ngang nhau. 17. Điều phục ý. 18. Tâm vắng lặng. 19. Trí vô ngại. 20. Không nhiễm ái. (xt. Thập Địa).

dĩ châm đầu bát

1536禪宗公案名。付法藏第十五祖迦那提婆,初為外道。一日,自執師子國至憍薩羅國,詣見龍樹,求相與論議。龍樹為試其智,乃命弟子持滿鉢之水置於提婆前。提婆見之,默投一針於鉢中。龍樹大歎其智慧,遂授以至真之妙理。其滿鉢之水乃比擬龍樹之智慧周遍,投針則係表提婆欲究其底之意。〔大唐西域記卷十、景德傳燈錄卷二、傳法正宗記卷三、宗門統要續集卷二〕 ; (以針投鉢) Cầm cây kim ném vào bát. Tên công án trong Thiền tông. Tổ phó pháp tạng thứ 15 là Ngài Ca na đề bà trước vốn là ngoại đạo. Một hôm, ngài từ nước Chấp sư tử đến nước Kiêu tát la yết kiến ngài Long thụ để cùng nghị luận. Để thử trí tuệ của Ca na đề bà, ngài Long thụ sai đệ tử bưng ra một bát nước đầy đặt trước mặt Đề bà. Thấy thế, ngài Đề bà lẳng lặng cầm cây kim ném vào trong bát nước. Ngài Long thụ hết sức khen ngợi trí tuệ của Đề bà, liền trao cho lí mầu nhiệm chân thật rốt ráo. Bát nước đầy tượng trưng trí tuệ mênh mông của ngài Long thụ, còn việc ngài Đề bà ném cây kim vào bát nước là biểu thị ý muốn dò tìm đến đáy nguồn của biển trí tuệ ấy. [X. Đại đường tây vực kí Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Truyền pháp chính tông kí Q.3; Tông môn thống yếu tục tập Q.2].

dĩ hoàn

957又作以來、以至。還,還歸之意。如謂「三千年已還」,即指三千年之過去以至於目前之間。或謂「等覺已還」,則指自等覺以至於凡夫間之一切地。 ; Đã trở lại—Bắt đầu một chu kỳ—Already returned—The recommencement of a cycle. ; (已還) Cũng gọi Dĩ lai, Dĩ chí. Hoàn nghĩa là trở lại. Như nói: Ba nghìn năm trở lại, tức chỉ cho khoảng thời gian ba nghìn năm đã qua cho đến hiện giờ. Hoặc nói: Đẳng giác trở lại là chỉ tất cả giai vị từ khoảng Đẳng giác trở xuống cho đến phàm phu.

dĩ huyết tiển huyết

1536比喻迷妄誘心,自一迷執入另一迷執,無絲毫利益可言。雜阿含經卷十(大二‧七二上):「譬如士夫從闇而入闇,從冥入冥,從糞廁出復墮糞廁,以血洗血,捨離諸惡,還復取惡。我說此譬,凡愚比丘亦復如是。」 ; (以血洗血) Lấy máu rửa máu (làm sao sạch được). Ví dụ mê vọng cám dỗ tâm, từ mê chấp này rơi vào mê chấp khác, không một mảy may ích lợi. Kinh Tạp a hàm quyển 10 (Đại 2, 72 thượng), nói: Ví như kẻ sĩ phu từ chỗ tối tăm vào chỗ tăm tối, từ nơi mờ mịt vào nơi mịt mờ, từ hố phân ra lại rơi vào hố phân, lấy máu rửa máu, lìa bỏ các việc ác, trở lại làm các việc ác. Ta nói ví dụ này là chỉ cho những tỉ khưu phàm ngu.

dĩ huyết tẩy huyết

Lấy máu rửa máu, máu càng lan rộng (lấy máu rửa máu hay lấy oán báo oán, chúng ta sẽ rơi hết từ tội lỗi nầy sang tội lỗi khác)—To wash out blood with blood, from one sin to fall into another.

dĩ kim đương

957指已生、今生、當生,即過去、現在、未來三世。或指已往、現今、當來。又以華嚴、阿含、方等、般若等前四時為所說之經已說,無量義經為今說,涅槃經為當說。(參閱「三世」536) ; Tam thế—Three times. 1) Quá Khứ: Past. 2) Hiện Tại: Present. 3) Vị Lai: Future. ; (已今當) Chỉ cho dĩ sinh, kim sinh, đương sinh, hoặc chỉ dĩ vãng, hiện kim, đương lai. Tức là ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Lại có thuyết cho những kinh đức Phật nói trong bốn thời: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng và Bát nhã là những kinh dĩ thuyết (đã nói), kinh Vô lượng nghĩa là kim thuyết (đang nói), kinh Niết bàn là đương thuyết (sẽ nói). (xt. Tam Thế)

dĩ kim đương vãng sanh

Những vị vãng sanh về Tịnh Độ, trong quá khứ, trong hiện tại, và vị lai—Those born into the future life of the Pure Land, in the past, in the prsent, and to be born in the future.

dĩ kê vi phụng

1536禪林用語。指正邪不分之迷妄情境。雞為凡鳥,鳳為靈鳥;以凡鳥為靈鳥,猶如以瓦礫為珠玉,禪林乃用以比喻以邪見為正見、認妄想為佛性之迷妄情境。 ; (以鶏爲鳳) Trông gà hóa phượng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho tình cảnh mê vọng không phân biệt được chính tà. Gà là loại chim phàm thường, phượng là loài chim linh quí, cho chim thường là chim quí thì cũng giống như cho ngói gạch là châu ngọc. Thiền lâm dùng từ ngữ này để ví dụ tình cảnh mê vọng cho tà kiến là chính kiến, nhận vọng tưởng là tính Phật.

dĩ li dục giả

958又作已離欲人。指脫離欲界修惑之人。通常可分為異生與聖者兩種:(一)異生,依俱舍論卷二十三之說,在凡夫位,修有漏之六行觀,斷盡欲界第九品之染,至此見位,稱為第三果向,此即異生之已離欲者。(二)聖者,依俱舍論卷二十四之說,入見道後,重修有漏、無漏二道,總斷盡欲界九品之修惑,成不還果,而不須再來欲界受生,此即聖者之已離欲者。〔大毘婆沙論卷九十、俱舍論光記卷二十三〕 ; (已離欲者) Người đã lìa ham muốn. Cũng gọi Dĩ li dục nhân. Chỉ cho người đã thoát lìa Tu hoặc ở cõi Dục. Thông thường có thể chia làm hai loại là Dị sinh và Thánh giả. 1. Dị sinh: Theo thuyết của luận Câu xá quyển 23, ở giai vị phàm phu tu sáu hạnh quán hữu lậu, dứt hết phẩm nhiễm thứ 9 ở cõi Dục, đến giai vị Kiến đạo gọi là Quả hướng thứ 3 (A na hàm hướng). Đây là hàng dị sinh đã lìa dục. 2. Thánh giả (bậc Thánh): Theo thuyết trong luận Câu xá quyển 24, sau khi vào giai vị Kiến đạo, tiếp tục tu Hữu lậu đạo, Vô lậu đạo, dứt hết cả chín phẩm Tu hoặc ở cõi Dục, thành quả Bất hoàn, không còn phải trở lại thụ sinh ở cõi Dục. Đây là bậc Thánh đã lìa dục. [X. luận Đại tì bà sa Q.90; Câu xá luận quang kí Q.23].

dĩ ly dục giả

Người đã từ bỏ dục giới, có hai loại—Those who have abandoned the desire-realm, divided into two classes: 1) Dị Sanh: Phàm phu đã lìa dục vọng, nhưng vẫn còn luân hồi trong lục đạo—Ordinary people who have left desire, but will be born into the six gati. 2) Thánh Giả: Những vị Thánh không còn luân hồi trong dục giới, cho cả Phật tử và không Phật tử—The saints, who will not be reborn into the desire-realm, for both Non-Buddhists and Buddhists.

Dĩ ly dục 已離欲

[ja] イリヨク iriyoku ||| A Buddhist practitioner who has succeeding in freeing her/himself from the afflictions of the desire realm. The third of the three levels of freedom from desire 三離欲. In the Yogācārabhūmi-śāstra, this stage is equivalent to that of non-returner 不還果. 〔瑜伽論 T 1579.30.436b19〕 => Hành giả tu tập theo Phật pháp đã thoát khỏi phiền não ở cõi Dục. Giai vị thứ ba trong Tam ly dục. TheoDu-già sư địa luận, giai vị nầy tương dương với quả vị Bất hoàn.

Dĩ lãnh

(屺嶺): từ này phát xuất từ bài Trắc Hỗ trong Thi Kinh có câu: “Trắc bỉ dĩ hề, chiêm vọng mẫu hề (陟彼屺兮、瞻望母兮, lên núi kia chừ, trông nhớ mẹ chừ).” Cho nên, người ta thường dùng câu “Dĩ Lãnh Vân Mê (屺嶺雲迷, Non Dĩ Mây Mờ)” để phúng điếu trong khi đám tang người mẹ.

dĩ nhiên

Of course—Naturally.

dĩ oán báo oán

To return evil for evil.

dĩ phật đạo thanh

1536指聲聞弟子亦領悟大乘佛道,且以之傳於大眾。法華經信解品(大九‧一八下):「我等今者,真是聲聞,以佛道聲,令一切聞。」上引中之「我」,指聲聞弟子。 ; (以佛道聲) Chỉ cho hàng đệ tử Thanh văn đã lãnh ngộ Phật đạo Đại thừa rồi truyền lại cho đại chúng. Phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 18 thượng) nói: Chúng ta hôm nay thực là Thanh văn, đem tiếng nói Phật đạo truyền cho tất cả đều nghe. Chữ chúng ta (ngã đẳng) trong câu văn dẫn ở trên là chỉ hàng đệ tử Thanh văn.

dĩ sa thí phật

1536為阿育王前世之故事。阿育王前世為小兒時,途逢釋迦佛,戲以砂為麨施佛,佛預言彼來生必為國王。〔阿育王傳卷一、義楚六帖卷十八〕 ; Theo truyền thuyết thì tiền kiếp vua A Dục khi là một đứa nhỏ lúc còn thơ ấu đã lấy nắm cát trong tay mà cúng dường cho Phật, nên về sau nầy được tái sanh làm vua—The legend of Asoka when a child giving a handful of gravel as alms to the Buddha in a previous incarnation, hence his rebirth as a king. ; (以砂施佛) Đem cát cho Phật. Sự tích tiền thân của vua A dục. Đời trước, khi vua A dục còn là một em bé đang vui chơi trên đường, bỗng gặp đức Phật Thích ca, cậu bé bèn lấy cát giả làm bánh dâng cúng Phật, Phật dự đoán rằng đời sau đứa trẻ ấy sẽ làm vua. [X. A dục vương truyện Q.1; Nghĩa sở lục thiếp Q.18].

dĩ sanh

BhŪta (S)Thân trung ấm đã gá sanh vào đời sau. ; Bhuta (skt)—Dĩ Sanh—Lúc hiện hữu hay ngay trong hiện tại—Become—The moment just come into existence, the present moment.

dĩ sinh

957梵語 bhūta。與「未生」相對。<一>指法體自未來之生相位(即未來位之最後一剎那)流至現在位之剎那。〔俱舍論卷五〕 <二>指本有。中有之眾生常求受生於次生,稱為求生;對此,本有係已生,故稱已生。 ; (已生) Phạm: Bhùta. Đối lại với Vị sinh. I. Dĩ sinh. Chỉ cho sinh tướng vị (tức sát na sau cùng của thời vị lai) của pháp thể từ vị lai lưu chuyển đến sát na của vị hiện tại. [X. luận Câu xá Q.5]. II. Dĩ sinh. Chỉ cho bản hữu. Tức là thân trung ấm đã thụ sinh vào đời sau. Còn thân trung ấm đang tìm cầu chỗ thụ sinh thì gọi là Cầu sinh.

Dĩ sinh 已生

[ja] イショウ ishō ||| (1) Already born, already produced; already arisen (jāta, utpanna). 〔瑜伽論T 1579.30.282a14〕(2) The moment when future events have manifested themselves into the present. (3) Originally existent. => 1. Đã sinh ra, đã xuất hiện; đã sinh khởi (jāta, utpanna). 2. Lúc mà những sự kiện trong tương lai đã tự trình hiện trong hiện tại. 3. Bản thể hiện hữu.

Dĩ thuyết 已説

[ja] イセツ isetsu ||| Have (already) explained. => Đã giảng giải rồi.

dĩ tri căn

Ajnendriya (skt)—Một trong ba căn vô lậu—Người đã biết rõ căn cội thiện lành đều phát khởi từ những chân lý (ý, lạc, hỷ, xả, tín, tấn, niệm, định, huệ) mà ra—The second of the three passionless roots—One who already knows the Indriya or roots that arise from the practical stage associated with the four dogmas (purpose, joy, pleasure, renunciation, faith, zeal, memory, abstract meditation, wisdom).

Dĩ tri 已知

[ja] イチ ichi ||| "Has understood." A Chinese translation of the name of Ājñāta-kaundinya. See 阿若憍陳如. => Hán dịch tên của Ājñāta-kaundinya. Xem A-nhã Kiều-trần-như. 阿若憍陳如.

dĩ tác địa

Kṛtavi-bhŪmi (S)Sở Tác Biện Địa, Dĩ Biện ĐịaMột trong Tam thừa cộng Thập địa ghi trong kinh Đại Bát nhã.

dĩ tâm học tâm

With the mind learning the mind.

dĩ tâm quán đỉnh

1535大日經所說三種灌頂之一。指以上師之心傳予弟子之心的灌頂。乃密教傳法灌頂之一種。又作心授灌頂、祕密灌頂、心想灌頂。與心外別設灌頂壇以進行修法之「事業灌頂」相對稱。行此灌頂者,須上師與弟子皆為三昧耶戒成就之人。修法時,上師與弟子共住瑜伽,於弟子之淨菩提上,直接建立曼荼羅,入此心壇而行灌頂。〔大日經卷五、大日經疏卷十六〕(參閱「灌頂」6853) ; (以心灌頂) Một trong ba phép quán đính (rưới nước lên đỉnh đầu) nói trong kinh Đại nhật. Tức là phép quán đính dùng tâm của thầy truyền vào tâm của đệ tử. Cũng gọi là Tâm thụ quán đính (quán đínhtrao tâm), Bí mật quán đính, Tâm tưởng quán đính. Đối lại với Sự nghiệp quán đính là phép quán đính thiết lập đàn tràng ngoài tâm để tu phép quán đính.Khi muốn thực hành pháp Dĩ tâm quán đính này, thầy và đệ tử đều phải là người thành tựu tam muội da giới. Khi tu pháp, thầy và đệ tử cùng trụ trong Du già, trực tiếp kiến lập mạn đồ la nơi tâm bồ đề thanh tịnh của đệ tử rồi vào đàn tâm này mà thực hành pháp quán đính. [X. kinh Đại nhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.16]. (xt. Quán Đính).

Dĩ tâm truyền tâm

以心傳心; C: yǐxīn chuánxīn; J: ishin-denshin; tức là »Lấy tâm truyền tâm«; |Một cách diễn bày của Thiền tông, chỉ sự truyền giao Phật pháp thâm thuý từ thầy sang trò trong hệ thống truyền thừa. Danh từ này xuất phát từ Pháp bảo đàn kinh của Lục tổ Huệ Năng và sau này trở thành một danh từ quan trọng trong giới thiền. Lục tổ chỉ rõ rằng, cái được lưu trì trong truyền thống thiền không phải cái hiểu biết suông, vay mượn từ kinh sách, mà hơn nữa, một cách hiểu biết tường tận qua kinh nghiệm Kiến tính và người có thể dẫn môn đệ đến nơi này chính là một vị Thiền sư.

dĩ tâm truyền tâm

Truyền thẳng từ tâm qua tâm bằng trực giác, đối lại với lấy văn tự mà truyền pháp—Direct transmission from mind to mind (the intuitive principle of the Zen or Intuitive school)—With the mind transmitting the mind, as contrasted with the written word.

Dĩ tâm truyền tâm 以心傳心

[ja] イシンデンシン ishin denshin ||| The transmission from mind to mind (i.e., from master to disciple) without relying on verbal or literary communication. A popular slogan of the Chan school. 〔六祖壇經 T 2007.48.3 〕 => Lấy tâm truyền tâm (Thầy ấn chứng cho đệ tử), không dựa vào lời nói hay văn tự. Đây là một thuật ngữ thông dụng trong Thiền tông. (Theo Lục Tổ Đàn Kinh)

dĩ tâm truyển tâm

I-shin den-shin (C).

dĩ tâm truyện tâm

1534指離言說文字,以心傳於心。禪宗不立文字、不依經論,唯師徒直接面授,以心鏡相照,傳佛法大義,稱為以心傳心。釋尊在靈鷲山說法,拈花示眾,八萬人中唯迦葉領知其意而微笑。禪門歷代祖師即依此故事,確立不立文字而傳大法之宗風。又此亦為傳達悟境之語。一般傳達思想,亦有用「以心傳心」之語。 達磨大師血脉論(卍續一一○‧四○五上):「三界混起,同歸一心。前佛後佛,以心傳心,不立文字。」六祖壇經(大四八‧三四九上):「昔達磨大師初來此土,人未之信,故傳此衣,以為信體,代代相承;法則以心傳心,皆令自悟自解。」宗密之禪源諸詮集都序卷上之一(大四八‧四○○中):「達摩受法天竺,躬至中華。見此方學人多未得法,唯以名數為解,事相為行,欲令知月不在指,法是我心故,但以心傳心,不立文字。」故知此為禪宗特有之宏旨,不外是教外別傳、不立文字、直指佛心之意。〔傳心法要(黃檗)、顯宗記(荷澤)〕 ; (以心傳心) Lìa lời nói văn chữ, dùng tâm truyền tâm.Thiền tông không lập văn chữ, không nhờ vào kinh luận, chỉ có thầy và trò trực tiếp trao truyền, dùng gương tâm chiếu vào nhau để truyền yếu chỉ Phật pháp, gọi là Dĩ tâm truyền tâm. Đức Thế tôn nói pháp trên núi Linh thứu, Ngài đưa bông hoa lên dạy chúng, trong tám vạn người chỉ có tôn giả Ca diếp hiểu ý của Phật và mỉm cười. Tổ sư Thiền tông qua các đời đã căn cứ vào tích truyện này mà định tông phong chẳng lập văn tự truyền trao đại pháp. Đây cũng là lời truyền đạt cảnh giới chứng ngộ. Luận Huyết mạch của Tổ Đạt ma (Vạn tục 110, 405 thượng), nói: Ba cõi bời bời đều về một tâm, Phật trước Phật sau dùng tâm truyền tâm, chẳng lập văn tự. Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 349 thượng), nói: Ngày xưa, Đại sư Đạt ma mới đến Trung hoa, mọi người chưa tin Thiền pháp nên Ngài truyền tấm áo này để làm tín vật, đời đời truyền nhau; Pháp thì đem tâm truyền tâm, đều khiến mọi người tự ngộ tự giải.Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng phần 1 của ngài Tông mật (Đại 48, 400 trung), nói: Đạt ma nhận được pháp bên Thiên trúc, rồi đích thân đến Trung hoa, Ngài thấy người học ở phương này phần nhiều chưa thấu suốt pháp, chỉ hiểu theo danh số, làm theo sự tướng. Vì Ngài muốn mọi người hiểu rằng mặt trăng chẳng ở nơi ngón tay, pháp là tâm ta, nên Ngài chỉ dùng tâm truyền tâm chứ không lập văn tự. Đây là đặc sắc của Thiền tông: truyền riêng ngoài giáo, chẳng lập văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật. [X. Truyền tâm pháp yếu (Hoàng bá); Hiển tông kí (Hà trạch).

dĩ tương ưng

957大乘起信論就薰習真如之體用,而有已相應與未相應二門之分。據大乘起信論義記卷下本載,已相應者,地上菩薩得根本智,與諸佛自體相應;得到後得智,則與諸佛自在之業用相應,故其修行,不若地前未相應者單以信力而行。因其證得真如之法而修行,是為依法力之自然修行。故地前未相應者之修行稱為緣修,地上已相應者之修行稱為真修。依此自然之修行而薰習真如,滅除無明,故稱為已相應。(參閱「未相應」1936) ; (已相應) Bàn về thể dụng huân tập chân như, luận Đại thừa khởi tín chia làm hai môn Dĩ tương ứng (đã tương ứng) và Vị tương ứng (chưa tương ứng). Cứ theo Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển hạ phần đầu, thì Dĩ tương ứng là hàng Bồ tát Thập địa được trí căn bản tương ứng với tự thể của chư Phật; khi chứng được hậu đắc trí thì tương ứng với nghiệp tự tại của chư Phật. Cho nên sự tu hành của Bồ tát Thập địa là vì chứng được pháp chân như mà tu hành, là nương theo pháp lực tự nhiên mà tu, nên gọi là chân tu. (xt. Vị Tương Ứng).

dĩ tự bất thành bát tự phi

1535禪林用語。又作以字不成八字不是。以字,指寫在護符上端之「觍」字,係悉曇字凕(i,伊)字之變形,然若以中文字觀之,則既非以字,亦非八字。禪林乃據此轉指以任何方式皆難以表達其本來面目之情形。 ; (以字不成八字非) Cũng gọi Dĩ tự bất thành bát tự bất thị (chẳng phải chữ dĩ, cũng chẳng phải chữ bát). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chữ Dĩ chỉ cho chữ viết trên đầu lá bùa hộ thân, đó là biến hình của chữ (i) Tất đàm, nhưng nếu nhìn theo hình chữ Trung quốc thì nó chẳng phải chữ Dĩ (..) cũng chẳng phải chữ bát (..). Thiền tông căn cứ vào đó để chỉ ra rằng bản lai diện mục rất khó diễn tả bằng bất cứ phương thức nào.

dĩ tự tam điểm

1535指悉曇字凕(i,伊)字猶如三點,此三點之排列位置無縱無橫而一無所缺,故一般多為譬喻之用,與「天主三目」一詞同義。涅槃經中即以之喻指如來之三德祕藏,而用以表示法身、般若、解脫等三德圓具。南本涅槃經卷二哀歎品(大一二‧六一六中):「何等名為祕密之藏?猶如伊字,三點若並,則不成伊,縱亦不成。如摩醯首羅面上三目,乃得成伊,三點若別,亦不得成。我亦如是,解脫之法亦非涅槃,如來之身亦非涅槃,摩訶般若亦非涅槃,三法各異亦非涅槃。我今安住如是三法,為眾生故,名入涅槃,如世伊字。」此外,亦有以之喻指三菩提(實性、實智、方便)、三佛性(正因、了因、緣因)、三寶(佛、法、僧)、三 D(苦、煩惱、業)等一切之三法者。〔涅槃經疏(章安)卷六、摩訶止觀卷三〕 ; (以字三點) Chữ Dĩ ba chấm. Chỉ cho chữ (i) Tất đàm giống như ba cái chấm, vị trí của ba chấm này được sắp xếp không phải theo đường dọc cũng không phải theo đường ngang mà gồm đủ cả ngang dọc, cho nên thông thường phần nhiều được dùng làm thí dụ, cùng nghĩa với từ Thiên chủ tam mục (ba mắt của chúa trời). Trong kinh Niết bàn, ba chấm này được ví dụ cho ba đức bí tạng của Như lai, biểu thị pháp thân, bát nhã và giải thoát đều tròn đủ. Phẩm Ai thán của kinh Niết bàn (bản Nam) (Đại 12, 616 trung) nói: Những gì gọi là tạng bí mật? Giống như chữ i, nếu ba chấm ngang nhau thì không thành chữ i, dọc xuống cũng không thành, như ba mắt trên mặt của trời Ma hê thủ la mới thành chữ i, nếu ba chấm đặt chỗ khác cũng không thành. Ta cũng như thế, pháp giải thoát cũng chẳng phải Niết bàn, thân Như lai cũng chẳng phải Niết bàn, ma ha bát nhã cũng chẳng phải Niết bàn. Nay ta an trụ ba pháp như thế là vì chúng sinh, gọi là vào Niết bàn, như chữ i ở thế gian. Ngoài ra cũng có thuyết cho ba chấm chữ i là dụ chỉ cho ba bồ đề (thực tính, thực trí, phương tiện), ba tính Phật (chính nhân, liễu nhân, duyên nhân), ba ngôi báu (Phật, pháp, tăng), ba đạo (khổ, phiền não, nghiệp) v.v... [X. Niết bàn kinh sớ (Chương an) Q.6; Ma ha chỉ quán Q.2].

dĩ tự điểm

1535略稱以字。指「觍」符號。通常用於經之題籤,或護符之上端。此乃悉曇字凕(i,伊)字之變形,或謂係表水字或四天王。祖庭事苑卷一舉古來有三說,一是嘔啊二字,二是音字俱不譯,三是梵書之心字。而以字始出自雲門禪師語錄,雖見於宋版經卷之題籤,然至今於其由來及典據仍未有定說。〔宋高僧傳卷三譯經篇、谷響集卷二、修驗故事便覽卷二〕 ; (以字點) Gọi tắt: Dĩ tự. Chỉ cho phù hiệu . Thông thường được dùng trên thẻ đề kinh hoặc trên đầu lá bùa hộ thân. Đây là biến hình của chữ (i) Tất đàm, có thuyết nói nó biểu thị chữ thủy () hoặc Tứ thiên vương (). Tổ đình sự uyển quyển 1 cho biết xưa nay có ba thuyết: 1. Là chữ Ẩu.., chữ A . 2. Chữ và âm đều không dịch. 3. Là chữ tâm trong Phạm thư. Phù hiệu giống chữ Dĩ...này tuy đã bắt đầu xuất hiện trong Ngữ lục của Thiền sư Vân môn và được thấy trên thẻ viết đề kinh bản đời Tống, nhưng cho đến nay nguồn gốc và điển cứ của nó vẫn chưa được xác định. [X. Tống cao tăng truyện Q.3 thiên Dịch kinh; Cốc hưởng tập Q.2; Tu nghiệm cố sự tiện lãm Q.2].

dĩ vi

Coi như—To take to be—To consider as.

dĩ vãõng

The former time—The past.

dĩ ân báo oán

To return good for evil.

dĩ đạt đại đức

1) Bậc cao Tăng đạo cao đức trọng: A monk far advanced in religion. 2) Vị A La Hán: An Arhat.

Dĩ 已

[ja] イ i ||| (1) This, here. 此 (2) Extremely, very, excessive. To come to an end; to bring to an end. Stop. Be stopped. (3) Intensive final particle. Gives emphasis to what precedes: "Indeed!" ". . .and that's it!" "Certainly!" (4) Already, finished. Before, prior; indicator of the past tense. (5) When used in a compound word, has the sense of "from." For example 已下 is equivalent to 以下. => 1. Cái nầy, ở đây. Như chữ Thử此. 2. Cực kỳ, rất, quá mức. Đến cuối cùng. Dừng lại. Bị dừng lại. 3. Đến mức tận cùng. Nhấn mạnh những điều đã nói trước; “Thực vậy!”, “ Đúng vây!”, “Chắc vậy!”. 4. Xong rồi, Hoàn tất rồi. Trước đó, từ trước; biểu thị cho thời quá khứ. 5. Khi dùngchung với một từ ghép, có nghĩa là “ về phía, từ”. Ví dụ 'dĩ hạ' (已下) đồng nghĩa với với 'dĩ hạ' (以下): về phía dưới.

dĩnh ngộ

Intelligent.

dĩnh tượng

4335比喻相應成巧之事。典故出自莊子徐無鬼篇,郢地有人塗石灰於鼻端,薄若蠅翼,使匠石砍之;匠石運斧成風,隨手砍去,砍盡石灰而絲毫不傷鼻,郢地人亦面不改色。國君聞之,命匠石曰:「試為寡人為之。」匠石答曰:「雖然我能,然此事須有相互配合之對手。」善導大師乃以此相應成巧之故事解說觀無量壽經中釋迦與彌陀二尊的化導之功。釋尊說出苦惱法,彌陀住立空中,以四十八願度眾生,釋迦說法之處彌陀隱而不顯,彌陀顯時釋迦默而不說;二尊相待而施化益,恰如郢人與匠石相待而成事。〔觀無量壽經疏定善義(善導)〕

dĩnh xuyên

6275<一>河南許州東北,即後漢豫州之穎川郡。我國三國時代,首位前往于闐國求取梵本經典之沙門朱士行,即生於此。 <二>湖北荊州之穎川。為隋初天台大師智顗之出生地。

dũng

1) Dũng cảm: Courageous—Brave—Bold—Fearless. 2) Dũng xuất: To spring up—To spring forth—See Tùng Địa Dõng Xuất, and Tùng Địa Dõng Xuất Bồ Tát in Vietnamese-English Section.

dũng cảm

Courageous—Bold—Brave.

dũng khí

Dũng cảm—Courage.

Dũng kiện

勇健; C: yǒngjiàn; J: yōken;|Có các nghĩa sau: 1. Kiên cố, hùng mạnh (s: ṛddha); 2. Tiếng Hán dịch chữ Yakṣa (Dạ-xoa 夜叉) từ tiếng Phạn; 3. Tên của một vị Tăng Nhật Bản.

dũng kiện bồ tát

Vikranta (S)Tên một vị Bồ tát.

Dũng kiện 勇健

[ja] ヨウケン yōken ||| (1) Strong, powerful (ṛddha) (2) A Chinese translation of the Sanskrit term yakṣa 夜叉. (3) The name of a Japanese monk. => Có các nghĩa sau: 1. Kiên cố, hùng mạnh (s: ṛddha). 2. Tiếng Hán dịch từ chữ yakṣa (dạ xoa) từ tiếng Sanskrit. 3. Tên của một vị Tăng Nhật Bản.

dũng lực

Vigourous force.

dũng mãnh

Brave and strong.

dũng mãnh bồ tát

Sauraya (S)Đại Tinh Tấn Bồ tátTên một vị Bồ tát.

dũng mãnh tinh tấn

Bold advance, or progress.

dũng niệm phật

5938日本佛教用語。爲日本平安時代之天台宗僧空也所創之念佛方法。又作空也念佛、空也踊。踊,爲舞蹈之意。即一邊拍擊鼓與鉦,一邊合著節拍念佛或念其他偈頌,至深得法喜滋味,自然婆娑起舞。後漸趨向通俗化。日本京都之六齋念佛、江戶之葛西念佛及泡齋念佛等,世稱踊念佛。〔元亨釋書卷十四、本朝高僧傳卷六十四〕 ; (踴念佛) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Phương pháp niệm Phật do sư Không dã thuộc tông Thiên thai sáng chế vào thời đại Bình an của Nhật bản. Cũng gọi Không dã niệm Phật, Không dã dũng. Dũng nghĩa là nhảy múa. Dũng niệm Phật là lối niệm Phật hoặc niệm kệ tụng vừa vỗ tay vừa đánh chiêng trống, cho đến khi thấm sâu được vị pháp hỉ ngây ngất thì tự nhiên nhảy múa theo nhịp chiêng trống. Sau, phương pháp niệm Phật này dần dần được dân gian hóa, các hội Lục trai niệm Phật ở Kinh đô (Kyoto), Cát tây niệm Phật và Bào trai niệm Phật ở Giang hộ v.v... được người đời gọi là Dũng niệm Phật. [X. Nguyên hanh thích thư Q.14; Bản triều cao tăng truyện Q.64].

Dũng phục định

勇伏定; C: yǒngfúdìng; J: yōfukujō;|Tiếng Hán dịch nghĩa từ chữ Śūrāṃgama-samādhi. Thủ-lăng-nghiêm tam-muội (首楞嚴三昧).

Dũng phục định 勇伏定

[ja]ヨウフクジョウ yōfukujō ||| Chinese translation of śūrāmgama-samādhi. See 首楞嚴三昧. => Hán dịch từ chữ śūrāmgama-samādhi. Xem Thủ Lăng Nghiêm tam muội.

dũng quân vương

Vīrasena (S)Tì la tiện na.

dũng sĩ

Viliant man.

dũng thân thất thụ

6315據大般涅槃經後分卷上載,釋尊曾躍身空中,身放光明,以照人天,其高七倍於多羅樹。淨覺師碑銘:「開口萬言,音和水鳥,踴身七樹,光映天人。」 ; (踴身七樹) Thân bay lên cao gấp bảy lần cây đa la. Cứ theo Đại ban Niết bàn kinh hậu phần quyển thượng chép, thì đức Thích tôn cất mình bay lên hư không cao gấp bảy lần cây đa la, phóng ánh sáng chiếu soi trời người. Bài minh trên bia của ngài Tịnh giác nói: Mở miệng nói muôn lời, âm thanh hòa chim suối, bay lên cao gấp bảy lần cây đa la, ánh sáng chiếu trời người.

Dũng Thí

勇施; C: yǒngshī; J: yōse;|Có hai nghĩa: 1. Tên của một vị Bồ Tát (theo kinh Pháp Hoa); 2. Tên của một vị tăng được đề cập trong kinh Tịnh nghiệp chướng (淨業障經). Vị tăng này yêu cô con gái của một nhà giàu. Khi chồng cô ta nghi ngờ muốn giết vị tăng, thì vị tăng giết ông ta trước. Tâm hối hận vì nghiệp ác nầy đã khiến vị tăng nỗ lực tu tập, đạt được Vô sinh pháp nhẫn (無生法忍).

dũng thí bồ tát

Pradhanasura (skt)—Một vị Bồ Tát trong quyến thuộc của Đức Phật Thích Ca—A Bodhisattva now in Sakyamuni's retinue.

Dũng Thí 勇施

[ja] ヨウセ yōse ||| (1) Bold Almsgiver--the name of a bodhisattva. 〔法華經 T 262.9.2a10〕(2) 'Heroic Giving'-- a monk mentioned in the Jìngyèzhàng jīng 淨業障經. He fell in love with the daughter of a rich man. As her husband became suspicious and tried to kill him, the monk killed the husband instead. His remorse over this deed drove him to practice to attain insight into the non-arising of all existences 無生法忍. => Có hai nghĩa: 1. Tên của một vị Bồ-tát. Theo Kinh Pháp Hoa. 2. Tên của một vị tăng đề cập trong Kinh Tịnh Nghiệp Chướng (c: Jìngyèzhàng jīng). Ông ta yêu cô con gái của một nhà giàu. Khi chồng cô ta nghi ngờ muốn giết vị tăng, thì vị tăng giết ông ta trước. Tâm hối hận vì nghiệp ác nầy đã khiến vị tăng nỗ lực tu tập, đạt được Vô sinh pháp nhẫn.

dũng tuyền

4148梵語 sūtra(修多羅)含有五義,此為其第三義;謂修多羅之文義不盡,如泉水之流注。〔法華玄義卷八〕(參閱「經」5548) ; Kinh điển như dòng suối cam lồ phúng lên làm tư nhuận chúng sanh—The springing fountain, i.e. the sutras. ; (涌泉) Suối tuôn chảy. Phạm:sùtra (Tu đa la, kinh) gồm có năm nghĩa, Dũng tuyền là nghĩa thứ ba. Tức là văn nghĩa Tu đa la tuôn chảy như dòng suối bất tận. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.8]. (xt. Kinh).

dũng tuyền kị ngưu

4148禪宗公案名。乃涌泉景欣禪師(石霜慶諸之法嗣)破除彊、德二禪客的分別知見之故事。景德傳燈錄卷十六涌泉景欣章載,有彊、德二禪客欲訪師,於途中見師騎牛不識師,乃隨口道(大五一‧三二九下):「蹄角甚分明,爭奈騎者不識!」師騎牛急速而去。其後,二禪客憩於樹下煎茶,師迴下牛近前,師問:「二禪客,近離什麼處?」對曰:「離那邊。」師道:「那邊事作麼生?」彼二人提起茶盞。師復言:「此猶是遮邊,那邊事作麼生?」二人無言以對,師乃道:「莫道騎者不識好!」 ; (涌泉騎牛) Dũng tuyền cỡi trâu. Tên công án trong Thiền tông. Sự tích Thiền sư Dũng tuyền Cảnh hân (đệ tử nối pháp của ngài Thạch sương Khánh chư) phá trừ cái thấy biết phân biệt của hai Thiền khách Cương và Đức. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 Dũng tuyền Cảnh hân chương nói: Có hai Thiền khách là Cương và Đức muốn đến hỏi đạo nơi sư, giữa đường thấy sư cỡi trâu mà không biết, liền buột miệng nói (Đại 51, 329 hạ): Móng trâu và sừng trâu rất rõ ràng, thế mà người ngồi trên lưng trâu không biết! Sư bèn thúc trâu đi thật nhanh. Sau đó, hai Thiền khách nghỉ lại dưới gốc cây, nấu trà. Sư quay lại, xuống trâu, đến gần hỏi: Hai vị vừa từ đâu đến? Đáp: Từ đàng kia.Sư nói: Việc đàng kia thế nào? Hai Thiền khách nâng tách trà. Sư lại nói: Đây là việc bên này, còn việc đàng kia thế nào? Hai Thiền khách không đáp được. Sư lại nói: Đừng bảo kẻ cỡi trâu không biết, nghe!

Dũng Tuyền Tự

(湧[涌]泉寺, Yūsen-ji): ngôi danh lam cổ sát hiện tọa lại dưới chân núi Bạch Vân Phong (白雲峰) thuộc Cổ Sơn (鼓山), phía Đông Huyện Mân (閩縣), Phủ Phúc Châu (福州府, Tỉnh Phúc Kiến). Xưa kia, trên Bạch Vân Phong có một hồ nước, có con độc long sống trong đó và thường xuyên nhiễu hại dân lành. Vào năm thứ 4 (783) niên hiệu Kiến Trung (建中) nhà Đường, vị quan Tùng Sự Bùi Trụ (裴冑) cung thỉnh tu sĩ Linh Kiệu (靈嶠) đến tụng Kinh Hoa Nghiêm (華嚴經) bên hồ, con rồng kia nhân nghe pháp mà bỏ đi nơi khác. Do đó, nơi đây một ngôi chùa được dựng lên với tên gọi ban đầu là Hoa Nghiêm Tự (華嚴寺). Về sau, nhân gặp phải nạn phá Phật Hội Xương (會昌), chúng tăng bỏ chạy tứ tán nên chùa trở thành hoang phế. Trải qua 70 năm, đến năm thứ 2 (908) niên hiệu Khai Bình (開平) nhà Lương, vua nhà Mân là Thẩm Tri (審知) trùng hưng lại chùa này, cung thỉnh Thần Yến (神晏, tức Hưng Thánh Quốc Sư [興聖國師])―pháp từ của Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存)―đến làm trú trì đời thứ nhất. Tại đây, Thần Yến bắt đầu cử xướng tông phong của thầy mình, tương truyền chúng hội thường có đến vạn người. Sau đó, các pháp từ của Thần Yến như Trí Nghiêm (智嚴, tức Liễu Giác Đại Sư [了覺大師]), Trí Nhạc (智岳, tức Liễu Tông Đại Sư [了宗大師]), Thanh Ngạc (清諤, tức Tông Hiểu Thiền Sư [宗曉禪師]), v.v., kế tiếp sự nghiệp tôn sư duy trì Thiền môn. Đến năm thứ 5 (915) niên hiệu Càn Hóa (乾化), chùa được ban sắc ngạch là Cổ Sơn Bạch Vân Phong Dũng Tuyền Viện (鼓山白雲峰湧泉院). Dưới thời nhà Tống, chùa lại được đổi thành Hoa Nghiêm Tự. Vào đầu niên hiệu Thuận Trị (順治, khoảng 1644) nhà Minh, Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢) đến trú nơi đây và tiến hành trùng tu toàn bộ; sau đó Vi Lâm Đạo Bái (爲霖道霈) cũng có trú trì nơi đây.

dũng tuyền tự

5058位於福州鼓山白雲峰麓。唐末,州人於山廬墓,制滿拆廬,有泉湧出。山中原有華嚴寺,據傳其地有潭,潭中有毒龍,唐建中四年(783),靈嶠誦華嚴經逐之,遂建寺宇,稱華嚴寺,於會昌法難時荒廢。後梁開平二年(908),閩王王審知重興,稱湧泉寺;雪峰義存之法嗣神晏禪師主之,擴建殿寮,遂成叢林。宋真宗賜額「湧泉禪院」,明永樂五年(1407)改稱為寺。永覺元賢、為霖道霈皆曾住錫於此。 本寺迄今已有千餘年歷史,為東南第一禪剎。寺中之建築,隨山勢佈局,得天然形勝。規模宏偉,列為福州五大禪寺之一。另有著名之十八景,如更衣亭、迴龍閣、喝水岩、半山亭等。寺以藏經、藏版著稱,有明代南北藏、清代龍藏等,及康熙初年道霈所著大方廣佛華嚴經纂要一二○卷雕版,計二四○○片,為我國佛典古版收藏之寶庫。〔鼓山志卷二、福建通志卷二六四、大清一統志卷三二六〕(參閱「鼓山」5713) ; (涌泉寺) Chùa nằm ở chân núi Bạch vân thuộc Cổ sơn thuộc Phúc châu. Vào cuối đời Đường, dân ở châu này thường chôn người chết trong núi rồi làm nhà bên cạnh mộ để ở, hết tang thì dỡ nhà. Trong núi vốn có chùa Hoa nghiêm và dòng suối.Cứ theo truyền thuyết thì vùng này có một cái đầm, trong đầm có con rồng dữ. Vào năm Kiến trung thứ 4 (783) đời Đường, ngài Linh kiệu (kiêu) tụng kinh Hoa nghiêm để đuổi rồng đi, rồi làm chùa ở đó đặt tên là chùa Hoa nghiêm. Vào thời pháp nạn Hội xương chùa bị hoang phế. Năm Khai bình thứ 2 (908) đời hậu Lương, Mân vương là Vương thẩm tri xây dựng lại, đặt tên là chùa Dũng tuyền; đệ tử nối pháp của ngài Tuyết phong Nghĩa tồn là Thiền sư Thần án trụ trì, mở rộng thêm điện đường, tăng phòng nên chùa đã trở thành ngôi tùng lâm. Vua Chân tông nhà Tống ban bảng hiệu Dũng tuyền Thiền viện; năm Vĩnh lạc thứ 5 (1407) đổi lại là chùa. Các ngài Vĩnh giác Nguyên hiền, Vi lâm Đạo bái đều đã trụ trì chùa này. Hiện nay chùa đã có hơn 1000 năm lịch sử, là danh lam bậc nhất ở đông nam. Các tòa kiến trúc trong chùa được bố cục theo thế núi, giữ được hình thế thiên nhiên, qui mô to lớn, được xếp vào một trong năm Thiền viện lớn ở Phúc châu. Chùa nổi tiếng về tạng kinh và các tạng bản như: Nam Bắc tạng đời Minh, Long tạng đời Thanh và 2400 bản gỗ khắc chữ của Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh toản yếu 120 quyển do ngài Đạo bái soạn vào đầu năm Khang hi, là kho báu thu góp và tàng trữ các bản kinh xưa của Phật giáo Trung quốc. [X. Cổ sơn chí Q.2; Phúc kiến thông chí Q.264; Đại thanh nhất thống chí]. (xt. Cổ Sơn)

dũng tâm

Bravery—Courage.

dũng xuất

4147又作踊出。從地下涌出。諸經中多處載有寶物或佛菩薩突然從空無一物之地下涌出之神妙事蹟,例如法華經見寶塔品有多寶塔自地下涌出之記述,同經從地踊出品亦載有無量恆沙大菩薩自地下涌出之情形。 ; See Dũng (2). ; (涌出) Từ dưới đất vọt lên, phun lên. Trong các kinh có nhiều chỗ nói về các sự tích thần diệu có vật báu hoặc Phật, Bồ tát đột nhiên từ dưới đất hiện lên. Như phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa có ghi việc tháp Đa bảo từ dưới đất nhô lên, rồi phẩm Tòng địa dũng xuất cũng nói việc vô lượng hằng sa Đại bồ tát từ dưới đất vọt lên.

dũng đầu

4625禪林掌管桶類之寺僧。景德傳燈錄卷十八玄沙師備章(大五一‧三四六中):「文桶頭下山。師問:『桶頭下山幾時歸。』曰:『三、五日。」師曰:『歸時有無底桶子,將一擔歸?』文無對。」 ; (桶頭) Vị tăng trông coi các loại thùng, như thùng chứa nước... trong Thiền lâm. Chương Huyền sa sư bị trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 18 (Đại 51, 346 trung), nói: Vị Dũng đầu tên là Văn xuống núi. Sư hỏi: Dũng đầu xuống núi bao giờ về? Đáp: Dăm, ba hôm? Sư nói: Lúc về có gánh theo một thùng không đáy về không? Văn không đáp được.

dũng để thoát

4625請參閱 攝大乘論釋 請參閱 攝大乘論釋禪林用語。原謂桶之底脫落;禪林中,轉指達到大悟而絲毫無惑無疑之境地,猶如桶底脫落,桶中之物隨而洩地,不再留有任何殘物。碧巖錄第二十二則(大四八‧一六二下):「後到德山,問:『從上宗乘中事,學人還有分也無?』山打一棒:『道什麼?我當時如桶底脫相似。』」又與「脫底桶」一詞同義。 ; (桶底脫) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên nghĩa là cái thùng trút mất đáy. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho việc đã đạt đến cảnh giới đại ngộ không còn mảy may ngờ vực, giống như cái thùng đã trút mất đáy, mọi vật trong thùng đều rơi xuống đất, chẳng còn sót lại thứ nào. Bích nham lục tắc 22 (Đại 48, 162 hạ), nói: Sau đến Đức sơn hỏi: Việc trong tông thừa kẻ học này có phần gì hay không? Đức sơn phang cho một gậy rồi hỏi: Nói cái gì? Ta bây giờ giống như cái thùng mất đáy (Thoát để dũng).

Dirty—Unclean—Filthy—Foul.

dơ bẩn

Unclean—Dirty.

dơ mắt

Unpleasant to the eyes.

dơû

Bad.

Remains, reminder, the rest, the other; surplus. ; Dư thừa—Superfluous—Spare—Residual—Remains—Remainder—The rest—Surplus—The other.

dư cam tử

6369梵語 āmala。即阿摩勒樹。又作菴摩洛迦樹。果實初食味苦澀,後轉甘美。毘奈耶雜事卷一所載餘甘子之夾注謂(大二四‧二一○中):「梵云菴摩洛迦,此云餘甘子。」〔善見律毘婆沙卷一、卷十七、玄應音義卷八〕(參閱「阿摩勒樹」3670) ; Amraphala (skt)—Quả Am Ma Lạc Ca, mọc nhiều ở Quảng Châu và Ấn Độ, dùng làm xà bông gội đầu—The fruit of amraphala, grown in Kuang-Chou and India, used as a shampoo. ; (余甘子) Phạm: àmala. Tức là cây A ma lặc. Cũng gọi cây Am ma lạc ca. Quả của nó mới ăn thì đắng, chát, sau thì ngon ngọt. Tì nại da tạp sự quyển 1 phần chú thích về Dư cam tử, nói (Đại 24, 210 trung): Tiếng Phạm Am ma lạc ca, Tàu dịch là Dư cam tử. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1, Q.17; Huyền ứng âm nghĩa Q.8]. (xt. A Ma Lặc Thụ).

dư giả

Plentiful.

dư hàng

Tên khác của Phúc Lâm Tự, tọa lạc tại phường Hồ Nam, quận Lê Chân, tỉnh Hải Phòng, Bắc Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo tin rằng chùa được xây dựng về đời nhà Trần vào cuối thế kỷ thứ 13. Năm 1672 quan Đô Úy Nguyễn Đình Sách từ quan về trùng tu và tu tại chùa nầy. Đến đời vua Thành Thái, Hòa Thượng Thông Hạnh trùng tu và xây tháp chuông năm 1899. Năm 1917, chùa được trùng tu lần nữa. Trong chùa có nhiều pho tượng lớn và đẹp, với nhiều câu đối chạm khắc công phu nghệ thuật Nguyễn Triều. Chùa còn giữ được nhiều di vật quý như đỉnh đồng, khánh đồng. Ngoài vườn chùa có chín tháp mộ, trong đó có nhóm tháp “Trúc Lâm Tam Tổ.”—Another name for Phúc Lâm Tự, located Hồ Nam quarter, Lê Chân district, Hải Phòng province. Some Buddhist researchers believed it was built in the late thirteenth century in the Trần dynasty. In 1672, Madarin Nguyễn Đình Sách, resigned from his post, rebuilt Dư Hàng Temple, and stayed there to practise Buddha's Dharma for the rest of his life. In the Thành Thái dynasty, Most Venerable Thông Hạnh rebuilt the temple and built the bell tower in 1899. In 1917 it was rebuilt one more time. In the temple, there are many big, beautiful statues and a lot of symmetrical sentences (câu đối) painstakingly carved, following the art style of the Nguyễn dynasty. One can also find a lot of precious vestiges like caudrons, gongs all made of bronze. In the temple garden stand nine tomb stupas, including a group of stupas named “The Three Trúc Lâm Patriarchs.”

dư hưởng

Last echo.

dư khoản

Surplus of money.

Dư Khánh

(余慶, Yokei, 919-991): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Thiên Thai Tọa Chủ đời thứ 20, trú trì đời thứ 15 của Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji), húy Dư Khánh (余慶), thụy hiệu là Trí Biện (智辨), xuất thân vùng Tảo Lương (早良), Trúc Tiền (筑前, Chikuzen, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]), họ Vũ Tá (宇佐). Năm 967, ông thọ phép Bí Mật Quán Đảnh của Hành Dự (行譽) ở Thiên Quang Viện (千光院); và đến năm 979 thì làm Trưởng Lại (長吏, Chōri) của Viên Thành Tự vùng Cận Giang (近江, Ōmi). Vào năm 981, ông đảm nhiệm chức Tọa Chủ của Pháp Tánh Tự (法性寺, Hōshō-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Năm 989, ông được bổ nhiệm làm Thiên Thai Tọa Chủ, nhưng gặp phải sự chống đối của môn đồ Từ Giác (慈覺, Phái Sơn Môn) và mối bất hòa với môn đồ Trí Chứng (智証, Phái Tự Môn) càng lên cao. Do đó, Dư Khánh thống suất môn nhân của ông xuống núi, chuyển đến sống tại Quan Âm Viện (觀音院, Kannon-in, tức Đại Vân Tự [大雲寺, Daiun-ji]) ở vùng Nham Thương (岩倉, Iwakura) thuộc Sơn Thành. Từ đó, ông cống hiến toàn lực để phát triển môn phái.

dư kết

6370謂殘留之結使,即指尚未斷除之煩惱。大乘義章卷十六(大四四‧七八三中):「若說除貪,餘結隨亡;若說除憂,餘受隨遣。譬如破竹,初節為難,若破初節,餘節皆隨;貪、憂亦爾。」此外,殘存於心而不離之執念,稱為餘執。 ; (餘結) Kết sử còn sót lại, chỉ cho những phiền não chưa bị dứt trừ hết. Đại thừa nghĩa chương quyển 16 (Đại 44, 783 trung), nói: Nếu trừ được tham thì các kết sử khác (dư kết) cũng theo đó mà diệt hết. Nếu trừ được lo thì các cảm nhận khác (dư thụ) cũng theo đó mà diệt. Ví như chẻ tre, mắt đầu tiên rất khó vỡ, nếu mắt đầu tiên bị chẻ vỡ thì các mắt khác cũng đều vỡ, tham, lo cũng vậy.Ngoài ra, những ý niệm chấp trước còn sót lại trong tâm, gọi là dư chấp.

dư luận

Public opinion.

dư lưu

6369指自宗以外之宗派,或指自宗之末流、法孫。此外,又有以自宗為本位而稱其他各宗為餘宗者。〔正法眼藏坐禪箴〕 ; (餘流) Chỉ cho các tông phái khác ngoài tông của mình; hoặc chỉ cho những chi phái pháp tôn của tông mình. Ngoài ra, cũng có trường hợp lấy tông mình làm bản vị mà gọi các tông khác là Dư tông. [X. Chính pháp nhãn tạng Tọa thiền châm].

dư lực

Excess of strength.

dư nghiệp

The remainder of karma. Inheritance.

dư niên

Declining years of one's life.

dư niệm

6369於所對之境、事未能專一而心念餘事。大寶積經卷六十八(大一一‧三八六下):「此諸眾會無餘念,一心瞻仰大瞿曇,唯願敷演授記事。」 ; Tán niệm hay niệm không tập trung—Divided thoughts—Inattentive. ; (餘念) Niệm khác. Tâm không chuyên chú vào một đối tượng mà nghĩ đến những việc khác. Kinh Đại bảo tích quyển 68 (Đại 11, 386 hạ), nói: Những người trong hội này không có ý nghĩ nào khác (dư niệm), chỉ một lòng chiêm ngưỡng Đại cù đàm, cầu xin diễn bày việc thụ kí.

dư thiên vương

Vaisravana (S), Vessavana (P)Tỳ sa môn thiên, Tỳ xá la bà nô, Tì sa môn thiên, Đa văn thiên, Phổ văn thiên.

dư thú

6370除人界以外之世界。指地獄、餓鬼、阿修羅、畜生等四趣及天界。〔正法眼藏出家功德〕 ; (餘趣) Các cõi (đường) khác. Tức chỉ cho cõi trời và bốn cõi : Địa ngục, quỉ đói, súc sinh, A tu la v.v... [X. Chính pháp nhãn tạng xuất gia công đức].

dư thặng

Superfluous.

dư thừa

6369自宗之教稱為宗乘,他宗之教稱為餘乘。乘,謂從此迷岸渡至彼悟岸之載乘物具,即教法。如法華經卷一方便品,即以法華圓教為真實乘,其他別教為帶方便之教,為有餘未了之說,故稱餘乘。此外,亦有指大乘以外之教為餘乘者。〔俱舍論卷二十三、瑜伽師地論釋、法華文句卷四上〕 ; See Dư Tông. ; (餘乘) Các thừa khác. Giáo pháp của tông mình gọi là Tông thừa, giáo pháp của các tông khác gọi là Dư thừa. Thừa, nghĩa là cái phương tiện ví như cỗ xe, hoặc con thuyền chuyên chở chúng sinh từ bến mê sang bờ giác, phương tiện đó chính là giáo pháp. Như phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa quyển 1 lấy Viên giáo Pháp hoa làm thừa chân thực, còn các Biệt giáo khác vì là giáo pháp phương tiện, chưa được trọn đủ, nên gọi là Dư thừa.Ngoài ra, đối với các giáo pháp ngoài giáo pháp Đại thừa cũng gọi là Dư thừa. [X. luận Câu xá Q.23; Du già sư địa luận thích; Pháp hoa văn cú Q.4 phần trên].

dư tông

Các tông phái khác với tông phái của chính mình—Other schools; other vehicles, i.e. other than one's own.

dư tập

6369<一>謂雖斷除煩惱,然猶存殘餘之習氣。又作殘習、餘氣、習氣。二乘不能斷除餘習,僅佛能斷之。維摩詰所說經卷上(大一四‧五三七上):「深入緣起,斷諸邪見、有無二邊,無復餘習。」〔新譯華嚴經卷二、大智度論卷二〕 <二>梵名 Pilinda-vatsa。音譯畢陵伽婆蹉。為佛陀弟子之一。係舍衛城婆羅門種,初學隱身咒,後遇佛,遂出家為佛弟子。(參閱「畢陵伽婆蹉」4736) ; Dư Khí—Tàn Tập—Tập Khí—Dù đã dứt hẳn dục vọng phiền não nhưng tàn dư tập khí hay thói quen vẫn còn, chỉ có Phật mới có khả năng dứt sạch chúng mà thôi (theo Đại Trí Độ Luận, các vị A La Hán, Bích Chi, Duyên Giác, tuy đã phá được ba món độc, nhưng phần tập khí của chúng còn chưa hết, ví như hương ở trong lò, tuy đã cháy hết rồi nhưng khói vẫn còn lại, hay củi dù đã cháy hết nhưng vẫn còn tro than chưa nguội. Ba món độc chỉ có Đức Phật mới vĩnh viễn dứt trừ hết sạch, không còn tàn dư)—The remnants of habits which persist after passion has been subdued, only the Buddha can eliminate or uproot them all. ; (余習) I. Dư tập. Những tập khí (thói quen) còn sót lại sau khi đã dứt trừ phiền não. Cũng gọi Tàn tập, Dư khí, Tập khí. Hàng Nhị thừa không thể đoạn trừ tập khí, chỉ có Phật mới dứt được. Kinh Duy ma cật sở thuyết quyển thượng (Đại 14, 537 thượng), nói: Vào sâu lí duyên khởi, đoạn trừ các tà kiến, dứt hai bên có, không, dư tập cũng hết sạch.[X. kinh Hoa Nghiêm (bản dịch mới) Q.2; luận Đại trí độ Q.2] II. Dư tập. Phạm:Pilinda- vatsa. Hán âm: Tất lăng già bà ta. Một trong các vị đệ tử của đức Phật. Ngài thuộc dòng Bà la môn ở thành Xá vệ, mới đầu học chú thuật tàng hình, sau gặp đức Phật, bèn xuất gia làm đệ tử của Ngài. (xt. Tất Lăng Già Bà Ta).

dư tập a la hán

Pilindavatsa (S)Tất lăng già Bà ta, Tập khí1- Thói quen còn sót lại 2- Một vị đệ tử Phật đắc A la hán.

dư tập khí

The remnants of habit which persist after passion has been subdued.

dư uẩn

6370蘊,積聚、類別之意,指色、受、想、行、識等五蘊。餘蘊,謂雖已脫離分段生死之五蘊身,而還殘餘變易五蘊之菩薩身。或稱最後身之二乘與菩薩。 ; (餘蘊) Uẩn còn lại. Uẩn nghĩa là chứa nhóm, chỉ cho năm uẩn: Sắc, thụ, tưởng, hành, thức... Dư uẩn nghĩa là Bồ tát tuy đã trút bỏ thân năm uẩn phần đoạn sinh tử, nhưng còn rớt lại thân năm uẩn biến dịch sinh tử. Hoặc có thuyết gọi thân sau cùng của Nhị thừa và Bồ tát là Dư uẩn.

dư vật

Rest—Remnant—Superfluous.

dư vị

After-taste.

dư âm

Echo.

dưng

To offer.

dương

Yang (C), Positive. ; Avi (skt). 1) Con dê: A sheep—A goat—A ram. 2) Dương gian: This life. 3) Dương liễu (cây): Willow—Poplar. 4) Dương mai (bệnh): Syphilis. 5) Dương tính: Positive—Masculine. 6) Sức nóng: Heat. 7) Về phía mặt trời: The side on which the sun shines.

dương bạch y

5485(1924~1986)臺灣臺南人。日本佛教大學文學博士。名顯祥,字白衣,以字行世。筆名有龍慧、慧吉祥等。早歲東渡日本留學,在東京芝浦工業大學攻讀土木工程。學成回臺後,出任空軍工程師,並主編覺生月刊十年。民國四十二年(1953)入日本佛教大學專攻佛學。畢業後轉任教職,前後任職東方工專、臺北工專、文化大學、東海大學等校教授。氏在初度赴日攻讀期間,即以閱讀佛書爲主要興趣。返臺後,其研究佛學之時間,遠較工程方面爲多。二度赴日後,於佛學尤有心得。返臺後,先後執教於臺灣各佛學院,暇時常撰文發表於各佛教刊物。氏之重要貢獻,乃將日本佛學界之嶄新成果,介紹於臺灣佛學界。其所涉獵之範圍極廣,佛教史、義理、目錄學等方面皆嘗鑽研,且著重研究方法之創新,對現代臺灣之佛學研究,頗有啟蒙作用。曾數度出席國際佛教學術會議,發表馬祖禪與新羅禪、玄奘對日韓佛教的貢獻與影響、修心訣的先悟後修論等論文多篇。重要論著有世親三性論之研究、龍樹七十空性論之研究,以及俱舍成實宗史觀、中國佛教史略、俱舍要義、印度佛教概說、唯識要義(唯識讀本)、圓測之研究等書。民國七十五年九月去世,世壽六十三。 ; (楊白衣) (1924 - 1986) Người Đài nam, Đài loan. Tiến sĩ Văn học Đại học Phật giáo Nhật bản. Tên Hiển tường, tự Bạch y, bút hiệu Long tuệ, Tuệ cát tường... Ông du học Nhật bản rất sớm, theo ngành kiến trúc ở Đại học Công nghiệp Chi phố tại Đông kinh. Sau khi tốt nghiệp, ông trở về Đài loan làm kiến trúc sư cho binh chủng Không quân, và chủ biên Nguyệt san Giác sinh trong 10 năm. Năm Dân quốc 42 (1953), ông lại vào Đại học Phật giáo Nhật bản chuyên ngành Phật học. Học xong, ông chuyển sang làm giáo chức, dạy tại các trường Đại học Đông phương, Đại học Đài bắc, Đại học Văn hóa, Đại học Đông hải v.v... Ngoài ra, ông còn dạy tại các Phật học viện ở Đài loan và dành nhiều thì giờ viết bài đăng trên các báo chí Phật giáo. Sự cống hiến lớn lao của ông là giới thiệu cái thành quả mới mẻ của các nhà nghiên cứu Phật học Nhật bản với giới Phật giáo Đài loan. Phạm vi nghiên cứu của ông rất rộng, bao quát các lĩnh vực Phật giáo sử, nghĩa lí, mục lục học v.v... Ông đặc biệt chú trọng đến phương pháp nghiên cứu mới, rất có tác dụng mở đường cho công cuộc nghiên cứu Phật học của Đài loan hiện đại. Ông từng tham dự các hội nghị về học thuật Phật giáo và trình bày các đề tài như: Thiền Mã tổ và Thiền Tân la, Huyền trang đối Nhật Hàn Phật giáo đích cống hiến dữ ảnh hưởng (Sự cống hiến và ảnh hưởng của ngài Huyền trang đối với Phật giáo Nhật bản và Hàn quốc); Tu tâm quyết đích tiên ngộ hậu tu luận v.v... Tác phẩm của ông gồm có: Thế thân tam tính luận chi nghiên cứu, Long thụ thất thập không tính luận chi nghiên cứu, Câu xá Thành thực tông sử quan, Trung quốc Phật giáo sử lược, Câu xá yếu nghĩa, Ấn độ Phật giáo khái thuyết, Duy thức yếu nghĩa (Duy thức độc bản), Viên trắc chi nghiên cứu v.v... Ông mất vào tháng 9 năm Dân quốc 75 (1986), thọ 63 tuổi.

dương bố lạp cung

5484西藏名 Yum-bu gla-sgaṅ。西藏南部雅倫(藏 Yar-kluṅs)地方的三聖地之一。據傳,該堂係由西藏早期神話中之國王倷里贊普(藏 Gñaḥ-khri btsan-po)所建,一般相信爲西藏最古之佛殿。並傳此宮殿屋頂之佛像與經卷係於佛教傳來之初(約爲三世紀中葉)自虛空而降者。在拉薩成爲西藏首都以前,該地爲歷代王宮所在之地,堪稱西藏古代文化之中心地。〔チベツト(多田等觀)、A.H. Francke: Antiquities of Indian Tibet, Calcutta 1914~1926; E. Schäfer:Geheimnis Tibet Munich 1943〕 ; (楊布拉宮) Phạm: Danta - kàwỉha, Pàli: danta - kaỉỉha hoặc danta - poịa. Dịch âm: Đạn đá gia sắt sá, Thiền đa ni sắt sáp. Cũng gọi Xỉ mộc (cây tăm). Tức là thanh gỗ mỏng, nhỏ dùng để chà răng, nạo lưỡi, một trong 18 vật mà đức Phật cho phép các tỉ khưu được giữ. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 Triêu tước xỉ mộc điều (Đại 54, 208 hạ), nói: Mỗi ngày vào sáng sớm phải dùng xỉ mộc chà răng, nạo lưỡi đúng như pháp; súc miệng sạch sẽ rồi mới làm lễ. (...) Xỉ mộc, tiếng Phạm: Đạn đá gia sắt sá. Đạn đá, dịch là xỉ (răng); gia sắt sá là mộc (gỗ). Xỉ mộc dài nhất là 12 đốt ngón tay, ngắn nhất không dưới 8 đốt, to bằng ngón tay út, một đầu thon thon, phải nhấm thật nát một lúc lâu rồi mới chà răng cho sạch (...) Xỉ mộc gọi là dương chi (cành dương), thực ra ở Ấn độ không có cây dương liễu, người dịch sách dịch tạm thế thôi, chứ xỉ mộc của đức Phật thường dùng mà tôi đã được thấy tận mắt ở chùa Na lan đà không phải là dương chi.Theo tục lệ của Ấn độ và các nước Tây vực, khi mời khách đến, trước hết, tặng xỉ mộc (tăm xỉa răng) và nước thơm, chúc họ được mạnh khỏe để bày tỏ lòng ân cần của mình mời họ, cho nên thỉnh Phật và Bồ tát cũng dùng dương chi và tịnh thủy gọi là phép thỉnh Quan âm hoặc phép Dương chi tịnh thủy. Trong pháp sám Quan âm có câu: Nay con dâng dương chi và tịnh thủy cúng dường, xin đức Đại bi xót thương nạp thụ.Còn Pháp uyển châu lâm thì ghi: Con Thạch lặc bệnh nặng, Lặc nghe tiếng Phật đồ trừng là người nước Thiên trúc, sai người mời đến chữa bệnh cho con, Trừng lấy cành dương nhúng nước rồi rảy lên người bệnh, người ấy liền khỏe mạnh. Lại nữa, Tì ni nhật dụng thiết yếu chép, có bốn loại cây dương có thể dùng để xỉa răng, đó là: Dương trắng, dương xanh, dương đỏ, dương vàng. Tuy nhiên, không phải chỉ có dương liễu mới có thể dùng làm xỉ mộc (tăm xỉa răng) mà tất cả các cây đều dùng được. Cứ theo luật Ngũ phần quyển 26 nói, thì ngoại trừ sáu loại cây: Cây sơn, cây có chất độc, Xá di, cây ma đầu, cây bồ đề v.v... còn tất cả cây đều có thể dùng để nhấm. Cách nhấm như thế nào đã được trình bày rõ ràng trong Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp quyển 10. Ngoài ra, cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 5 và Cao tăng pháp hiển truyện Sa kì thái quốc điều ghi chép, thì khi đức Phật đến nước Kiêu tát la giáo hóa, Ngài từng nhấm dương chi, nhấm xong, Phật cắm cành dương xuống đất, nó liền mọc rễ. [X. luật Tứ phần Q.53; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.13; Đại nhật kinh sớ Q.5].

Dương chi

(s: danta-kāṣṭha, p: danta-kaṭṭha, danta-poṇa, 楊枝): âm dịch là Đạn Đa Gia Sắt Sá (憚哆家瑟詑), Thiền Đa Ni Sắt Sáp (禪多抳瑟插); còn gọi là xỉ mộc (齒木), tức là mảnh cây nhỏ dùng để mài răng cạo lưỡi cho sạch; là một trong 18 vật cần dùng cho vị Tỳ Kheo do Phật chế ra. Như trong Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳, Taishō Vol. 54, No. 2125) quyển 1, phần Bát Triêu Tước Xỉ Mộc (八朝嚼齒木), giải thích rõ rằng: “Mỗi nhật đán triêu tu tước xỉ mộc, giai xỉ, quát thiệt, vụ linh như pháp, quán thấu thanh tịnh, phương hành kính lễ (每日旦朝須嚼齒木、揩齒、刮舌、務令如法、盥漱清淨、方行敬禮, mỗi ngày vào sáng sớm nên nhai cây xỉa răng, chùi răng, cạo lưỡi, làm việc như pháp, rửa tay súc miệng sạch sẽ, mới hành kính lễ).” Tại Ấn Độ, các nước phía Tây, khi mời người thế tục, trước tặng cho cây xỉa răng và nước hương, v.v., để chúc cho người đó được sức khỏe, thể hiện ý thỉnh cầu. Ngay như cung thỉnh chư Phật, Bồ Tát cũng dùng nhành dương chi và nước trong sạch, được gọi là Pháp Thỉnh Quán Âm (請觀音法) hay Pháp Dương Chi Tịnh Thủy (楊枝淨水法). Như trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 60, phần Thỉnh Quan Thế Âm Đại Thế Chí Bồ Tát Chú Pháp (請觀世音大勢至菩薩咒法), có câu: “Thỉnh thập phương Thất Phật Quan Âm Đại Thế Chí Bồ Tát đẳng, ngã kim dĩ cụ dương chi tịnh thủy, duy nguyện đại từ ai mẫn nhiếp thọ (請十方七佛觀音大勢至菩薩等、我今已具楊枝淨水、惟願大慈哀愍攝受, thỉnh mười phương bảy vị Phật, Quan Âm, Đại Thế Chí Bồ Tát, v.v., con nay đã đầy đủ nhành dương nước sạch, xin nguyện từ bi thương xót nhiếp thọ).” Pháp Uyển Châu Lâm quyển 61 còn cho biết rằng Phật Đồ Trừng (佛圖澄, 232-348), cao tăng Thiên Trúc, là người có đức độ lớn, Thạch Lặc (石勒, 274-333)—vua nhà Hậu Triệu, nghe tiếng bèn cho mời vào cung nội. Nhân con nhà vua bị bệnh chết, Phật Đồ Trừng lấy nhà dương thấm nước rưới lên, người ấy sống lại. Cho nên, người ta thường dùng nhành dương liễu và nước trong sạch để làm thanh tịnh các đàn tràng cầu nguyện cầu an, cầu siêu, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn, v.v. Trong Từ Bi Dược Sư Bảo Sám (慈悲藥師寶懺, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1484) quyển 1 có bài tán Dương Chi Tịnh Thủy như sau: “Dương chi tịnh thủy, biến sái tam thiên, tánh không Bát Đức lợi nhân thiên, phước tuệ quảng tăng diên, diệt tội trừ khiên, hỏa diệm hóa hồng liên (楊枝淨水、遍洒三千、性空八德利人天、福慧廣增延、滅罪除愆、火燄化紅蓮, nhành dương nước tịnh, rưới khắp ba ngàn, tánh không Tám Đức lợi người trời, phước tuệ rộng tăng thêm, diệt tội oan khiên, lửa rực hóa hồng sen).” Về loại cây xỉa răng, Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毗尼日用切要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) có nêu ra 4 loại có thể dùng làm cây xỉa răng là Bạch Dương (白楊), Thanh Dương (青楊), Xích Dương (赤楊) và Hoàng Dương (黃楊). Hơn nữa, không chỉ riêng loại Dương Liễu mới có thể làm cây xỉa răng, mà tất cả các loại cây đều có thể dùng được. Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu còn giới thiệu bài kệ Thủ Dương Chi (取楊枝, Cầm Nhành Dương Liễu [Tăm Xỉa Răng]) là: “Thủ chấp dương chi, đương nguyện chúng sanh, giai đắc diệu pháp, cứu cánh thanh tịnh (手執楊枝、當願眾生、皆得妙法、究竟清淨, tay cầm nhành dương, nguyện cho chúng sanh, đều được pháp mầu, rốt ráo thanh tịnh)”; và bài Tước Dương Chi (嚼楊枝, Xỉa Răng): “Tước dương chi thời, đương nguyện chúng sanh, kỳ tâm điều tịnh, phệ chư phiền não (嚼楊枝時、當願眾生、其心調淨、噬諸煩惱, khi đang xỉa răng, nguyện cho chúng sanh, tâm được trong sạch, hết các phiền não).” Tỳ Ni Chỉ Trì Hội Tập (毗尼止持會集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 39, No. 709) quyển 16 còn cho biết một số nguyên tắc khi xỉa răng như: “Bất đắc tại Phật tháp hạ tước dương chi (不得在佛塔下嚼楊枝, không được xỉa răng dưới tháp Phật)”, “bất đắc hướng Phật tháp tước dương chi (不得向佛塔嚼楊枝, không được hướng về tháp Phật mà xỉa răng)”, “bất đắc Phật tháp tứ biên tước dương chi (不得佛塔四邊嚼楊枝, không được xỉa răng ở bốn phía của tháp Phật)”, v.v.

dương chi

5487梵語 danta-kāṣṭha,巴利語 danta-kaṭṭha 或 danta-poṇa。音譯作憚哆家瑟詑、禪多抳瑟插。又作齒木。即磨齒刮舌之木片,爲佛制比丘十八物之一。嚙小枝之頭爲細條,用以刷牙齒者。南海寄歸內法傳卷一朝嚼齒木條(大五四‧二○八下):「每日旦朝須嚼齒木,揩齒、刮舌,務令如法。盥漱清淨,方行敬禮。(中略)其齒木者,梵云憚哆家瑟詑。憚哆,譯之爲齒;家瑟詑即是其木。長十二指,短不減八指,大如小指,一頭緩,須熟嚼,良久淨刷牙關。(中略)齒木,名爲楊枝,西國柳樹全稀,譯者輒傳斯號,佛齒木樹,實非楊柳,那爛陀寺目自親觀,既不取信於他,聞者亦無勞致惑,撿涅槃經梵本云,嚼齒木時矣。」 又凡印度、西域諸國請俗人,先贈齒木及香水等,而祝其人健康,以表懇請之意,故請佛菩薩亦用楊枝淨水,稱爲請觀音法或楊枝淨水法;觀音懺法中即有「我今具楊枝淨水,惟願大悲哀憐攝受」之語。另據法苑珠林所載,天竺人佛圖澄,石勒聞名召之,其子暴病,澄乃取楊枝沾水灑之,遂甦。故於謝僧醫病時,可稱說「辱灑楊枝之水」。 據毘尼日用切要所載,有四種楊木可作梳齒之用,即白楊、青楊、赤楊、黃楊。然不獨楊柳之屬可作齒木,一切木皆可梳齒。據五分律卷二十六之說,除漆樹、毒樹、舍夷、摩頭樹、菩提樹等五種之外,餘一切木均可聽任嚼用。其嚼用之法,詳載於根本薩婆多部律攝卷十一。另據大唐西域記卷五、高僧法顯傳沙祇太國條等所載,佛陀遊化憍薩羅國時,嘗嚼楊枝,嚼已,插入土中即生根。〔四分律卷五十三、有部毘奈耶雜事卷十三、大日經疏卷五〕 ; Nhành dương liễu, ngày xưa được dùng để làm sạch răng bằng cách nhai hay chà xát—Willow branch, or twigs used as dantakastha, i.e. cleansing the teeth by chewing or rubbing.

dương châu

Yang-chou (C).

dương chính hà

5487(1941~ )臺灣高雄人。臺灣大學哲學研究所碩士。親近方東美教授。常指導各大專佛學社團,講說佛法。主持慧炬雜誌、慧炬出版社多年。長於華嚴思想之研究。著有華嚴經教哲學研究等書,並常有論文發表於各佛教刊物。

dương cung

2505梵名 Meṣa。音譯迷沙。十二宮之一。又稱白羊宮、持羊神主。即太陽於黃道三月之位置,相當於春分。此宮位於北斗曼荼羅第二院之西方,胎藏現圖曼荼羅、胎藏舊圖樣之外院東方。其形像為伏臥之羊;或為天女,左手作施無畏印,右手握拳置於胸前而豎食指,坐於圓座上,座前有羊。種子為???(me)。真言為:歸命迷娑(meṣa,羊)婆多曳(pataye,主)娑縛賀(svāhā);或為「唵迷沙娑縛賀」。 ; (羊宮) Phạm: Mewa. Dịch âm: Mê sa. Một trong 12 cung. Cũng gọi Bạch dương cung, Trì dương thần chủ. Tức là vị trí của thái dương ở cung Hoàng đạo trong tháng 3, tương đương với tiết Xuân phân. Cung vị này ở phía tây của viện thứ 2 trên Bắc đẩu mạn đồ la, ở phía đông của viện ngoài trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới và Thai tạng mạn đồ la tranh cũ. Hình tượng của cung này là con dê nằm phục xuống; hoặc là hình Thiên nữ, tay trái bắt ấn Thí vô úy, tay phải nắm lại để trước ngực, ngón trỏ dựng thẳng, ngồi trên tòa hình tròn, trước tòa ngồi có con dê. Chủng tử là (ma). Chân ngôn là : Qui mệnh mê sa (mewa, dê) bà đa duệ (pataye, chủ) sa phạ hạ (svàhà). Hoặc là Án mê sa sa phạ hạ.

dương diệm bồ tát

Xem Ma dị chi Bồ tát.

dương diệp

Lá cây dương liễu. Nếu trẻ khóc thì lấy lá vàng của cây dương mà dỗ, ví với các pháp môn phương tiện của Phật (chiếc lá dương không phải là vàng thật, cũng như pháp môn phương tiện của Phật chỉ là phương tiện đưa chúng sanh đến cứu cánh chứ không phải là cứu cánh)—Willow-leaves, e.g. yellow willow leaves given to a child as golden leaves to stop its crying, a parallel to the Buddha's opportune methods of teaching.

dương gian

Dương thế—The world.

dương giác

Sừng dê được dùng để ám chỉ dục vọng và phiền não trên đời—A ram's horn is used for the passions and delusions of life.

Dương Huyễn Chi

(楊衒之, Yōgenshi, khoảng giữa thế kỷ thứ 5): người vùng Bắc Bình (北平, Mãn Thành [滿城], Hà Bắc [河北]), từng nhậm chức Thái Thú. Sau vụ binh loạn trong khoảng thời gian niên hiệu Vĩnh Hy (永熙, 532-534), ông đi qua Lạc Dương (洛陽), thủ đô cũ của Bắc Ngụy chính mắt thấy các ngôi chùa do hàng quý tộc vương tôn đã bỏ biết bao công sức xây dựng nên nay trở thành hoang phế, trong lòng rất cảm khái. Vì vậy ông bèn viết cuốn Lạc Dương Già Lam Ký (洛陽伽藍記), ghi lại nhân duyên xây dựng cũng như cấu trúc của toàn bộ những ngôi chùa lớn ở vùng Lạc Dương và ngoại ô. Văn phong của ông rất diễm lệ, lưu loát và truyền cảm.

dương huyễn chi

5488元魏北平(河北滿城)人。史通及晁公武之讀書志中誤作羊衒之。曾任期城郡太守。永熙(532~534)年間兵亂後,楊衒之行經北魏舊都洛陽,目睹貴族王公耗費巨資所建之佛寺已多成廢墟,深有所感,乃著洛陽伽藍記一書,記錄洛陽及城郊諸大寺之建寺緣起及建築結構等。其文筆艷麗秀逸,駢中有散,頗具特色。 ; (楊炫之) Người Bắc bình (Mãn thành, Hà bắc) thời Nguyên Ngụy. Trong Sử thông và Độc thư chí của Triều công vũ viết lầm là Dương huyễn chi . Ông từng giữ chức Thái thú Thành đô. Sau cuộc binh biến khoảng năm Vĩnh hi (532 - 534), Dương huyễn chi đến kinh đô cũ của nhà Bắc Ngụy là thành Lạc dương, tận mắt thấy các ngôi chùa lớn bị đổ nát, hoang phế, ông rất mủi lòng, do đó, ông viết Lạc dương già lam kí 1 quyển, ghi lại những ngôi chùa trong và ngoài thành Lạc dương, nói rõ về nhân duyên làm chùa, và mô tả sự kết cấu của các kiến trúc. Văn ông diễm lệ, thể biền ngẫu rất hay.

dương huệ chi

5489唐代雕塑家。開元(713~741)初年,與吳道玄共同學畫,而道玄聲光獨顯,遂焚筆埋硯,專事塑作。數年之間,名撼天下,獨步古今。首創壁塑之法,作山水雲樹之狀,景物逼真,世稱雕塑聖手。崑山慧聚寺天王像、用直保聖寺羅漢像,均其所作。近人又於四川、雲南等處發現其作品,無不精妙絕倫,超邁百世。曾著塑訣一卷,今已失傳。〔畫繼琅琊代醉編卷十八〕

dương huệ nam

5489(1943~ )臺灣臺中人。臺灣大學哲學研究所碩士,嘗講佛學於各大專佛學社團、佛學院。現任臺灣大學副教授,曾主編中國佛教雜誌。著有佛教思想新論、當代學人談佛教等,並常有論述發表於各佛教刊物。

dương hồng phi

5490(1918~ )江蘇南通人。自幼孝悌。十二歲起茹素學佛。二十歲時辭親受具足戒,法號圓明。嘗親炙於印光、太虛等大德。先後歷任廈門閩南佛學院講師、常州天寧佛學院教務主任、臺灣佛教會弘法委員等職。手創靜安佛學院「學僧」雜誌,來臺後創辦人生雜誌。曾在臺北萬華法華寺、基隆大覺寺等處弘法布教。大陸初淪陷時,與慈航法師從事「搶救僧寶」之活動,以救助大陸來臺之僧侶。三十四歲時,東渡日本,於大正、龍谷兩大學先後讀畢碩士、博士課程。後現居士身,創辦大阪中文學院,闡揚中華語言、文化之外,並服務於僑校、僑社,且兼任京都同志社大學文學部講師。業餘又戮力於中國佛教文化之宣揚,曾應聘爲修訂中華大藏經會之日本總代理人。此外,對我國留日學生亦甚照拂。在研究方面,於禪宗荷澤神會之思想,用力頗深。作品除人生的真諦、人人必讀的緣生論二書在臺出版外,另有永嘉證道歌的年代及其作者等論文散見中、日各刊物。

Dương Kiệt

(楊傑, Yōketsu, hậu bán thế kỷ 11): xuất thân vùng Vô Vi (無爲, Tỉnh An Huy), sống dưới thời Bắc Tống, tự là Thứ Công (次公), hiệu Vô Vi Tử (無爲子). Ông có tài hùng biện, tuổi trẻ đậu cao, nhưng rất thích về Thiền, đã từng đến tham vấn chư vị tôn túc các nơi, rồi theo học pháp với Thiên Y Nghĩa Hoài (天衣義懷). Mỗi lần Nghĩa Hoài dẫn dụ Thiền ngữ của Bàng Cư Sĩ (廊居士) ông đều chăm chú lắng nghe. Có hôm nọ nhân khi thấy mặt trời như tuôn vọt ra, ông đại ngộ, đem trình kệ lên cho thầy và được ấn khả. Sau đó, ông lại gặp Phù Dung Đạo Giai (芙蓉道楷), cả hai rất tâm đắc với nhau. Vào năm cuối niên hiệu Hy Ninh (熙寧, 1068-1077) đời vua Thần Tông nhà Tống, ông trở về quê nuôi dưỡng mẹ, chuyên tâm đọc kinh tạng và quay về với Tịnh Độ. Do vì ông đã từng nhậm chức trông coi ngục hình nên có tên gọi là Dương Đề Hình (楊提刑). Lúc bấy giờ ông viếng thăm Bạch Liên Tự (白蓮寺) trên Thiên Thai Sơn (天台山), theo hầu Chơn Hàm (眞咸), đảnh lễ tháp của Trí Giả Đại Sư. Đến cuối đời ông chỉ chuyên tâm tu pháp môn Tịnh Độ, từng vẽ bức tranh A Di Đà Phật. Khi lâm chung, ông cảm đắc Phật đến đón rước, ngồi ngay ngắn mà ra đi, hưởng thọ 70 tuổi. Trước tác của ông có Thích Thị Biệt Tập (釋氏別集), Phụ Đạo Tập (輔道集), v.v.

dương kiệt

5489北宋無爲(安徽)人。字次公,號無爲子。雄才俊邁,年少登科。好禪,歷叩諸山名宿,參謁天衣義懷,義懷每引龐居士之機語提撕。一日奉祠泰山,睹日如盤湧,因而大悟,呈偈於義懷,遂蒙稱可。後會芙蓉道楷,相互酬問。宋神宗熙寧(1068~1077)末年,歸鄉省母,閑居閱藏經,遂歸心淨土。曾任兩浙提點刑獄,有楊提刑之稱。時詣天台山白蓮寺,師事真咸,禮智者之塔。晚年專事淨業,曾畫丈六阿彌陀佛像禮拜觀想。臨終時感佛來迎,端坐而逝,享年七十。著有釋氏別集、輔道集等。〔續傳燈錄卷八、釋門正統卷七、淨土聖賢錄卷七〕

Dương Kì phái

楊岐派; C: yángqí-pài; J: yōgi-ha;|Một nhánh của Thiền tông, xuất phát từ Thiền sư Dương Kì Phương Hội. Phái này được xếp vào Ngũ gia thất tông và là nhánh quan trọng hơn của hai nhánh được phân ra sau Thiền sư Thạch Sương Sở Viên. Nhánh thứ hai là Hoàng Long phái. Rất nhiều vị Thiền sư danh tiếng xuất phát từ phái này như Vô Môn Huệ Khai, Viên Ngộ Khắc Cần… Tại Nhật, phái này vẫn tồn tại đến ngày nay.|Khi Thiền tông đang trên đường tàn lụi cuối đới Tống thì phái Dương Kì trở thành nơi thu thập của tất cả những hệ phái khác thuộc tông này. Sau khi hoà hợp với Tịnh độ tông (Thiền Tịnh hợp nhất) trong đời Minh thì Thiền tông hiểu theo dạng gốc là »Dĩ tâm truyền tâm« không còn tồn tại tại Trung Quốc.

Dương Kì Phương Hội

楊岐方會; C: yángqí fānghuì; J: yōgi hōe; 992-1049;|Thiền sư Trung Quốc, Khai Tổ hệ phái Dương Kì trong tông Lâm Tế. Sư là pháp tự của Thiền sư Thạch Sương Sở Viên (Từ Minh). Môn đệ của Sư có Bạch Vân Thủ Ðoan xuất sắc nhất.|Sư họ Lĩnh quê ở Nghi Xuân Viên Châu. Thuở nhỏ tính tình nhậm lẹ, nói năng vui vẻ lí thú. Có dịp, Sư đến Cửu Phong chợt nhớ như chỗ đã từng ở, quyến luyến không thể bỏ đi và xin cạo tóc xuất gia. Sư xem kinh nghe pháp tâm mở sáng tinh thần lĩnh hội. |Sư đến tham học với Thiền sư Từ Minh. Sau một thời gian lâu, tâm Sư vẫn mù mịt. Mỗi khi đến hỏi, Từ Minh bảo: »Việc quá nhiều, hãy đi.« Lần khác Sư hỏi, Từ Minh lại đáp: »Giám tự (chức của Sư) ngày sau con cháu khắp thiên hạ, cần gì vội gấp.« Một hôm Sư rình ở con đường tắt. Từ Minh đến, Sư liền nắm lại nói: »Ông già này hôm nay phải vì tôi nói, nếu không tôi phải đánh ông.« Từ Minh trả lời: »Giám Tự biết là việc quanh co liền thôi.« Nghe câu này Sư Ðại ngộ, liền quì lạy ngay dưới bùn.|Từ Minh thượng đường, Sư bước ra hỏi: »‹Khi chim núp kêu nẩm nẩm, mây từ vào núi loạn‹, là thế nào?« Từ Minh đáp: »Ta đi trong cỏ hoang, ngươi lại vào thôn sâu.« Sư thưa: »Quan chẳng nhận kim, lại mượn một câu hỏi.« Từ Minh liền hét. Sư thưa: »Hét hay.« Từ Minh lại hét. Sư cũng hét. Từ Minh hét luôn hai tiếng, Sư lễ bái. Từ Minh nói: »Việc này là cá nhân mới hay gánh vác.« Sư phủi áo ra đi.|Sau đó Sư trở về Cửu Phong. Tăng tục lại thỉnh về trụ trì tại núi Dương Kì.|Sư hỏi một vị tăng mới đến: »Mây dày đường hẹp xe to từ đâu đến?« Tăng thưa: »Trời không bốn vách.« Sư hỏi tiếp: »Ði rách bao nhiêu đôi giày cỏ?« Tăng liền hét. Sư bảo: »Một hét hai hét sau lại làm gì?« Tăng thưa: »Xem ông Hoà thượng già vội vàng.« Sư bảo: »Cây gậy không có ở đây, thôi ngồi uống trà.«|Sư lại hỏi hai vị tăng mới đến: »Lá rụng mây dồn sớm rời nơi nào?« Tăng thưa: »Quan Âm.« Sư hỏi: »Dưới chân Quan Âm một câu làm sao nói?« Tăng thưa: »Vừa đến thấy nhau xong.« Sư hỏi: »Việc thấy nhau là thế nào?« Tăng không đáp được. Sư bảo: »Thượng toạ thứ hai đáp thế Thượng toạ thứ nhất xem!« Vị tăng thứ hai cũng không đáp được. Sư bảo: »Cả hai đều độn hết.«|Niên hiệu Khánh Lịch năm thứ sáu (1046), Sư dời đến núi Vân Cái Ðàm Châu và đem Lâm Tế chính mạch truyền cho sư Bạch Vân Thủ Ðoan. Ðến niên hiệu Hoàng Hựu cải nguyên Sư thị tịch, thọ 57 tuổi.

dương kì phương hội

5486(996~1049)北宋臨濟宗楊岐派之開祖。石霜楚圓之法嗣,南嶽懷讓法系第十一世,臨濟義玄法系第八世法孫。袁州(江西)宜春人,俗姓冷。法名方會。初從楚圓掌監院之事,後住筠州九峰山,未久至袁州楊岐山住持普通禪院,大振禪風。宋仁宗慶曆六年(1046),住潭州雲蓋山海會寺。皇祐元年示寂,世壽五十四;一說慶曆六年或皇祐二年示寂,世壽五十八。遺有語錄一卷。嗣法弟子有白雲守端、保寧仁勇等十三人,門流繁盛,蔚成一派,後世稱爲楊岐派,興同門慧南之黃龍派對峙,與臨濟、溈仰、曹洞、雲門、法眼等五家,並稱爲五家七宗。〔建中靖國續燈錄卷七、佛祖歷代通載卷十八、指月錄卷二十五、五燈會元卷十九〕 ; (楊岐方會) (996 - 1049) Tổ khai sáng Thiền phái Dương kì thuộc tông Lâm tế đời Bắc Tống. Đệ tử nối pháp của Thiền sư Thạch sương Sở viên, đời thứ 11 pháp hệ Nam nhạc Hoài nhượng, pháp tôn đời thứ 8 pháp hệ Lâm tế Nghĩa huyền. Sư là người Nghi xuân thuộc Viên châu (Giang tây), họ Lãnh, pháp danh Phương hội. Lúc đầu, sư theo ngài Sở viên giữ chức Giám viện; sau, sư ở núi Cửu phong tại Quân châu, không bao lâu, sư đến núi Dương kì thuộc Viên châu trụ trì Thiền viện Phổ thông, phát huy Thiền phong. Năm Khánh lịch thứ 6 (1046) đời vua Nhân Tông nhà Tống, sư trụ trì chùa Hải hội ở núi Vân cái thuộc Đàm châu. Niên hiệu Hoàng hựu năm đầu (1049) sư tịch, thọ 54 tuổi. Có thuyết nói sư tịch năm Khánh lịch thứ 6 hoặc Hoàng hựu thứ 2, thọ 58 tuổi. Có Ngữ lục 1 quyển lưu truyền ở đời. Sư có các đệ tử nối pháp như: Bạch vân Thủ đoan, Bảo ninh Nhân dũng v.v... gồm 13 người. Dòng Thiền của sư phồn thịnh, sau phát triển thành một phái gọi là phái Dương kì, sánh ngang với phái Hoàng long của sư Tuệ nam (người đồng môn), cùng với năm nhà Lâm tế, Qui ngưỡng, Tào động, Vân môn, Pháp nhãn... gọi chung là Ngũ gia thất tông (năm nhà bảy tông). [X. Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.7; Phật tổ lịch đại thông tải Q.18; Chỉ nguyệt lục Q.25; Ngũ đăng hội nguyên Q.19].

dương kì phương hội hoà thượng ngữ lục

5486全一卷。宋代僧保寧仁勇、白雲守端等編。收於大正藏第四十七冊。係集錄楊岐宗之開祖楊岐方會之語要、偈頌等之作。內容分五篇,依次爲江寧府保寧禪院嗣法小師仁勇所編之袁州楊岐山普通禪院會和尚語錄、舒州白雲峰嗣法小師守端所編之後住潭州雲蓋山海會寺語錄、潭州道吾真禪師語要、勘辨(記某師試一僧之事)、偈頌(收錄溈山水牯牛以下九首及三妙三訣頌)。本書恐係自古尊宿語錄卷十九別出者。此外另有楊岐方會和尚後錄(一卷,亦收於大正藏第四十七冊),內容包括潭州興化禪寺入院開堂以下上堂約三十條、勘辨七條及自術真讚,恐係自宋代師明所集續古尊宿語要別出者。 ; (楊岐方會和尚語錄) Có 1 quyển. Do Nhân dũng ở chùa Bảo ninh và Thủ đoan ở núi Bạch vân đời Tống biên chép, thu vào Đại chính tạng tập 47. Tác phẩm thu chép các ngữ yếu, kệ tụng v.v... của Thiền sư Phương hội, tổ khai sáng phái Thiền Dương kì. Nội dung chia làm năm thiên, theo thứ tự là: Dương châu Dương kì sơn Phổ thông thiền viện Hội hòa thượng ngữ lục, Đàm châu Vân cái sơn Hải hội tự ngữ lục, Đàm châu Đạo ngô Chân thiền sư ngữ lục, Khám biện, Kệ tụng v.v... Sách này có lẽ đã được rút ra từ quyển 19 của Cổ tôn túc ngữ lục. Ngoài ra, còn có: Dương kì Phương hội hòa thượng hậu lục (1 quyển, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 47), nội dung gồm: Đàm châu Hưng hóa thiền tự nhập viện khai đường, Thướng đường v.v... khoảng 30 hạng mục, Khám biện 7 mục và Tự thuật chân tán, e rằng cũng được rút riêng ra từ sách Tục cổ tôn túc ngữ yếu do Sư minh biên tập vào đời Tống.

dương kì sơn

5485位於江西袁州萍鄉縣北約四十公里處。又作煬岐山。北宋方會禪師曾入此山住持普通禪院,化益四方海眾,門風自成一格,後世稱爲楊岐宗。

dương kì tông

5486禪宗五家七宗之一。又稱楊岐派。以臨濟宗第七世石霜楚圓之弟子楊岐方會(996~1049)爲開祖。方會初從楚圓掌監院事,後住筠州九峰山,未久,棲止袁州(江西)楊岐山普通禪院,提揚宗風,接化學人,門庭繁茂,蔚成一派,與同門慧南之黃龍派同時並立,時人以虎喻稱方會,而以龍喻稱慧南。方會門下十三人,白雲守端、保寧仁勇爲上足。仁勇下有壽聖楚文、上方日益;守端下有五祖法演。法演門下俊秀輩出,有佛眼清遠、太平慧懃、天目齊、圜悟克勤、五祖表自、雲頂才良等。其中,清遠、慧懃、克勤三人時稱演門三佛或二勤一遠。 清遠三傳至蒙菴元聰,日僧俊芿嘗就其受學,返國後,開日本楊岐禪之端,日本禪宗二十四流中,有二十流源自此一法系。克勤編有碧巖錄,聞名於世,法嗣七十五人中,以大慧宗杲、虎丘紹隆最著。宗杲盛倡看話禪,與曹洞宗之默照禪並立,法嗣九十餘人,以拙菴德光之門庭最榮,其下出妙峰之善、北〖⿰石/門〗居簡二傑。日僧能仁嘗受德光印可,返國揭舉日本達磨宗之旗幟。居簡二傳至梅屋念常,撰佛祖歷代通載,另一弟子東陽德暉奉敕撰禪林清規。本派門徒於宋以後幾囊括臨濟宗之全部道場,其宗風以拈提先人古則,拂拳棒喝,勘辨公案爲悟入之機要。〔嘉泰普燈錄卷四、卷八、卷十四至卷十七、五燈會元卷十九、卷二十、續傳燈錄卷十三至卷十五、卷二十五至卷三十四〕 ; (楊岐宗) Một trong Ngũ gia thất tông (Năm nhà bảy tông trong Thiền tông). Cũng gọi Dương kì phái. Thiền sư Dương kì Phương hội (996 - 1049) là tổ khai sáng của tông này. Phương hội là đệ tử của Thiền sư Thạch sơn Sở viên, trụ trì Thiền viện Phổ thông ở núi Dương kì thuộc Viên châu (tỉnh Giang tây), nêu cao tông phong, tiếp dẫn người học, môn đình phồn thịnh, phát triển thành một phái, đứng ngang hàng với phái Hoàng long của sư Tuệ nam (đồng môn với Phương hội). Sư Phương hội có 13 người đệ tử, trội hơn cả là Bạch vân Thủ đoan và Bảo ninh Nhân dũng. Dưới Nhân dũng có Thọ thánh Sở văn, Thượng phương Nhật ích; dưới Thủ đoan có Ngũ tổ Pháp diễn. Đệ tử Pháp diễn có nhiều vị tuấn tú, nổi bật nhất là: Phật nhãn Thanh viễn, Thái bình Tuệ cần, Thiên mục tề, Viên ngộ Khắc cần, Ngũ tổ Biểu bạch, Vân đính Tài lương v.v... Thanh viễn truyền đến đời thứ 3 là Mông am Nguyên thông, vị tăng Nhật bản tên Tuấn nhận đến học Mông am, sau đó khi về nước, mở ra Thiền phái Dương kì tại Nhật. Trong 24 dòng Thiền của Nhật bản, có 20 dòng bắt nguồn từ pháp hệ Dương kì. Khắc cần biên soạn Bích nham lục vang danh ở đời, trong số 75 người đệ tử nối pháp Khắc cần thì Đại tuệ Tông cảo và Hổ khâu Thiệu long là nổi tiếng nhất. Tông cảo đề xướng Khán thoại thiền, sánh ngang với Mặc chiếu thiền của tông Tào động. Trong hơn 90 đệ tử nối pháp của Tông cảo thì môn đình Chuyết am Đức quang là thịnh nhất, dưới Đức quang có hai vị anh kiệt là: Diệu phong Chi thiện và Bắc giản Cư giản. Vị tăng người Nhật đến học Đức quang và được ấn khả, trở về nước, đã nêu cao ngọn cờ của tông Đạt ma tại Nhật bản. Cư giản truyền đến đời thứ 2 là Mai ốc Niệm thường, Niệm thường soạn Phật tổ lịch đại thông tải; một đệ tử khác của Cư giản là Đông dương Đức huy thì tuân mệnh vua soạn Thiền lâm thanh qui. Từ đời Tống trở về sau, môn đồ phái này hầu như bao trùm toàn bộ đạo tràng của tông Lâm tế. Tông phong của phái Dương kì ứng dụng các phương pháp như nêu ra cổ tắc của người xưa, dựng phất trần, giơ nắm tay, đánh, hét, khám biện công án v.v... làm cơ yếu ngộ nhập. [X. Gia thái phổ đăng lục Q.4, Q.8, Q.14 - 17; Ngũ đăng hội nguyên Q.19, Q.20; Tục truyền đăng lục Q.13 - 15, Q.25 - 34].

dương kì tự

5486位於江西萍鄉楊岐山。又稱普通禪院。創建於唐代,清道光年間重修。寺內有如來佛、十八羅漢、二十四諸天等塑像,並保存有劉禹錫所書之序文石碑。石碑原屬塔銘,塔毀後,碑被移至室內。石碑嵌在寺內正殿之左右兩牆上,右爲唐大和六年(832)甄叔大師塔銘,左爲唐元和二年(807)乘廣禪師塔銘。北宋時,禪宗高僧方會(996~1049)於此創立楊岐宗,屬臨濟宗一脈,世人稱之爲楊岐方會。〔大明一統志卷五十七、大清一統志卷二五二〕

dương kỳ

Yang-chi (C), Yogi (C), naljorpa (T)Du giàDòng Dương Kỳ trường phái thiền Lâm Tế.

dương kỳ phong hội

Yang-ch'i Fang-hui (C), Yogi Hoe (J), Yan-chi Fang-hui (C), Yogi Hoe (J)Tên một vị sư.

dương kỳ phái

Yogi-ha (J), Yogi P'ai (C), Yang-ch'i p'ai (C), Yang-ch'i tsung (C), Yangqizong (C), Yangqipai (C), YogishŪ (J), Yogi School Một trong những hệ phái quan trọng nhất thuộc Lâm tế tông.

Dương Kỳ Phương Hội

Dương Kì Phương Hội (楊岐方會, Yōgi Hōe, 992-1049): vị tổ của Phái Dương Kì thuộc Tông Lâm Tế Trung Quốc, người Huyện Nghi Xuân (宜春縣, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), họ là Lãnh (冷). Hồi còn nhỏ, ông đi chơi ở Cửu Phong (九峰) về mà lòng quyến luyến khôn nguôi, nên cuối cùng thì xuống tóc xuất gia. Sau ông đi khắp các nơi tham học các bậc thiện tri thức, kế đến tham yết Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓) ở Nam Nguyên Sơn (南源山), rồi theo hầu thầy đến các vùng Đạo Ngô Sơn (道吾山), Thạch Sương Sơn (石霜山). Chính tại Thạch Sương Sơn, ông được đại ngộ và kế thừa dòng pháp của Sở Viên. Khi Sở Viên chuyển đến Hưng Hóa Tự (興化寺) ở Đàm Châu (潭州, thuộc Tỉnh Hồ Nam ngày nay), ông từ chối không theo thầy mà quay trở về Cửu Phong. Về sau, thể theo lời thỉnh cầu của chúng đạo tục, ông đến an trụ ở Dương Kì Sơn Phổ Thông Thiền Viện (楊岐山普通禪院) vùng Viên Châu (袁州), rồi đến năm thứ 6 (1046) niên hiệu Khánh Lịch (慶曆), ông lại chuyển về Vân Cái Sơn Hải Hội Tự (雲蓋山海會寺). Ông thị tịch vào năm đầu (1049) niên hiệu Hoàng Hựu (皇祐), hưởng thọ 58 tuổi. Dòng pháp từ của ông có Bạch Vân Thủ Đoan (白雲守端), Tỷ Bộ Tôn Cư Sĩ (比部孫居士), Thạch Sương Thủ Tôn (石霜守孫), Bảo Ninh Nhân Dũng (保寧仁勇), v.v. Đệ tử của ông là Nhân Dũng và Thủ Đoan đã biên tập bộ Viên Châu Dương Kì Hội Hòa Thượng Ngữ Lục (袁州楊岐會和尚語錄).

dương kỳ phương hội phái

Yang-Qi-Fang-Hui Sect—Phái Thiền có nguồn gốc từ Thiền Sư Trung Quốc tên Dương Kỳ Phương Hội. Đây là nhánh quan trọng nhất trong hai nhánh thiền thoát thai từ thiền Lâm Tế sau khi Thiền sư Thạch Sương Sở Viện thị tịch. Trong truyền thống thiền Lâm Tế người ta gọi nó là Lâm Tế Dương Kỳ. Phái Dương Kỳ có nhiều thiền sư quan trọng, trong đó có Vô Môn Tuệ Khai, người sưu tập bộ Vô Môn Quan. Sau nầy các môn đệ của Vô Môn, nhất là Kakushin, đã du nhập vào Nhật Bản dòng thiền Lâm Tế Dương Kỳ, hiện vẫn còn tồn tại. Vào cuối thời nhà Tống, khi Thiền tông bất đầu suy thoái, dòng Lâm Tế Dương Kỳ trở thành nơi dung hợp cho tất cả các phái Thiền khác cũng đang suy yếu và biến mất. Dưới thời nhà Minh, Thiền hòa lẫn với Tịnh Độ nên mất đi tính chất riêng của nó, không còn tinh thần “tâm truyền tâm” nữa—Yang-Qi-Fang-Hui, a school of Zen originating with the Chinese Ch'an master Yang-Qi-Fang-Hui. It is one of the two most important lineages into which the Lin-Chih split after Shih-Shuang Ch'u-Yuan. As a traditional lineage of Lin-Chih Zen, it is also called the Lin-Chih-Yang-Qi lineage. TheYang-Qi school produced important Zen masters like Wu-Men-Hui-K'ai, the compiler of the Wu-Men-Kuan, and his Dharma successor, Kakushin, who brought the Ch'an of Lin-Chih-Yang-Qi lineage to Japan, where as Zen it still flourishes today. As Ch'an gradually declined in China after the end of Sung period, the Lin-Chih-Yang-Qi school became the catchment basin for all the other Ch'an schools, which increasingly lost importance and finally vanished. After becoming mixed with the Pure Land school of Buddhism, in the Ming period Ch'an lost its distinctive character and ceased to exist as an authentic lineage of transmission of the Buddha-dharma “from heart-minf to heart-mind.” ** For more information, please see Phương Hội Dương Kỳ Thiền Sư.

dương kỳ phương hội thiền sư

Zen master Yang-Qi-Fan-Hui—See Phương Hội Dương Kỳ Thiền Sư.

dương kỳ tông

Yang-ch'i tsung (C), Yogi-shŪ (C).

Dương Kỳ 楊岐 (1095-1049)

[ja] ヨウギ Yōgi ||| (1095-1049) A Song dynasty Chan master who was the originator of the Yangqi branch of Linji Ch'an. He is also known as Fanghui 方會, after Mt. Fanghui, where he lived. See 方會. => Thiền sư đời Tống, là người khai sáng dòng thiền Dương Kỳ thuộc tông Lâm Tế. Sư còn được gọi là Phương Hội, theo tên ngọn núi nơi sư ở. Xem Phương Hội.

dương liễn chân gia

5489元代僧。蒙古人。世祖時,江南初平,任釋教總統。於至元二十九年(1292),與喇嘛僧桑哥勾結,挖掘故趙宋帝王、諸侯寢陵一百餘所。又屢逼諸寺僧尼,以求進奉。每用刑責,有致死者。又受人供獻美女、醇酒等。摧殘江南佛教極甚。〔元史卷二○二〕

dương liễu quan âm

5488三十三觀音之一。又稱藥王觀音。左手結施無畏印,右手持楊柳枝。若修楊柳枝藥法,可消除身上之眾病。又於千手觀音四十手中,其一即是楊柳枝手。〔千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼、千光眼觀自在菩薩祕密法經〕 ; (楊柳觀音) Một trong 33 Quan âm. Cũng gọi Dược vương Quan âm. Vị tôn này tay trái bắt ấn Thí vô úy, tay phải cầm cành dương liễu. Người tu pháp Dương liễu chi dược (thuốc cành dương liễu) có thể tiêu trừ mọi chứng bệnh. Ngoài ra, trong 40 tay của Thiên thủ Quan âm (Quân âm nghìn tay), có một tay cầm cành dương liễu. [X. Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni; kinh Thiên quang nhãn quán tự tại bồ tát bí mật pháp].

dương liễu quán âm

Một trong 33 vị Quán Âm, vị Quán Âm dùng nhành dương liễu làm hình tam muội da (ý nói lấy sự mềm mại, nhu thuận mà cứu độ chúng sanh)—One of the thirty-three Kuan-Yins, Kuan-Yin with the willow branch.

dương mao trần

2504梵語 avi-rajas。指羊毛尖上之微塵。蓋極微塵為組成一切色法(物質)之最小單位,七極微塵合為一微塵,七微塵為一金塵,七金塵為一水塵,七水塵為一兔毛塵,而七兔毛塵則為一羊毛塵。〔俱舍論卷十二〕(參閱「色量」2548、「極微」5479、「塵」5762) ; Avirājas (S). ; 1) Hạt bụi trên đầu lông dê: The minute speck of dust that can rest on the tip of the sheep's hair. 2) Số lượng bụi ở trên đầu lông dê bảy lần ít hơn số lượng bụi ở trên đầu lông trâu—The amount of dust that can rest on the top of a goat's hair is seven times less than that of a cow's hair. ; (羊毛塵) Bụi lông dê. Phạm: avi - rajas. Chỉ mảy bụi nhỏ bằng cái đầu nhọn của lông con dê. Cực vi trần là đơn vị nhỏ nhất cấu thành tất cả sắc pháp (vật chất). Bảy cực vi trần hợp lại thành một vi trần, bảy vi trần là một kim trần, bảy kim trần là một thủy trần, bảy thủy trần là một thố mao trần (mảy bụi nhỏ bằng đầu lông con thỏ) và bảy thố mao trần là một dương mao trần.[X. luận Câu xá Q.12]. (xt. Sắc Lượng, Cực Vi, Trần).

Dương Minh Học

(陽明學, Yōmeigaku): học vấn của Vương Dương Minh (王陽明, tức Thủ Nhân [守仁]) nhà Minh, học thuyết nhấn mạnh vấn đề tâm tức lý, trí lương tri, tri hành hợp nhất (心卽理、致良知、知行合一).

Dương Nguyệt

(陽月): tên gọi khác của tháng 10 Âm Lịch, vì tháng này thuộc về Tiểu Dương Xuân (小陽春), nên có tên như vậy. Như trong Quan Âm Kinh Phổ Môn Phẩm Phu Thuyết (觀音經普門品膚說, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 35, No. 647) có câu: “Mậu Ngọ Dương Nguyệt Gia Hòa Trí Giác Giáo Tự Tỳ Kheo Linh Diệu tự (戊午陽月嘉禾智覺敎寺比丘靈耀序, vào tháng 10 năm Mậu Ngọ, Tỳ Kheo Linh Diệu ở Trí Giác Giáo Tự vùng Gia Hòa ghi lời tựa).” Hay trong Hóa Châu Bảo Mạng Chơn Kinh (化珠保命眞經, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 25) cũng có câu: “Vạn Lịch Kỷ Dậu Dương Nguyệt cát đán Mân Vương Hanh Trọng huân mộc bái tử (萬曆己酉陽月吉旦閩王亨仲熏沐拜梓, vào sáng sớm tốt lành tháng 10 năm Kỷ Dậu [1609] niên hiệu Vạn Lịch, vua nhà Mân là Hanh Trọng xông hương, tắm rửa, lạy khắc).”

dương quang

1) Ánh sáng mặt trời: The sun's light. 2) Tia nóng mặt trời, tạo thành hoa đốm: Sun flames, or heat, i.e. the mirage causing the illusion of lakes.

Dương Thành Thiên Hoàng

(陽成天皇, Yōzei Tennō, tại vị 876-884): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, Hoàng Tử thứ nhất của Thanh Hòa Thiên Hoàng (清和天皇, Seiwa Tennō), tên là Trinh Minh (貞明, Sadaakira). Ông bị Đằng Nguyên Cơ Kinh (藤原基經, Fijiwara-no-Mototsune) phế vị.

dương thạch

Chữ viết tắt của Yết Ma—An abbreviation for karma, from the radical of the two words.

dương viêm

See Nhiệt Thời Viêm.

dương văn hội

5484(1837~1911)安徽石埭人。字仁山。爲清末復興中國佛教之樞紐人物。生性任俠,好讀奇書,淡泊名利,鄙棄科舉,不願入宦。太平軍起,避亂杭州,偶於書肆得大乘起信論,讀後乃潛心佛學。曾兩度出使歐洲,於英倫得識錫蘭居士達磨波羅、日本佛教學者南條文雄等,相約協力恢弘正法。歸國後,於同治五年(1866)出資設立金陵刻經處,擬刻印三千餘卷之大小乘佛典,然生前僅出版二千餘卷。又日本編印卍字藏經時,氏曾提供佛教典籍數百種。光緒三十三年(1907)於刻經處設立祇洹精舍等,自編課本,招生教習佛典、梵文、英文等,培育後進。又興辦「佛學研究會」,定期講經。一時高僧如月霞、諦閑、曼殊等均往佐之。又如歐陽漸、梅光羲、李證剛等人均出其門下。文會又與英人李提摩太譯佛經論爲英文,以饗西歐人士,并選工繪西方極樂世界依正莊嚴圖,以弘揚淨土,今仍流行。其於義理特尊起信論,於行持則崇尚淨土;曾與日人論辯淨土真宗之非,又評擊禪宗末流之失,乃倡導唯識法相以救其弊。卒於宣統三年之秋,世壽七十五。生平著述凡十二種,編入「楊仁山居士遺書」。〔中國佛教史卷四(蔣維喬)、楊仁山與現代中國佛教(華岡佛學學報第二期)〕 ; (楊文會) (1837 - 1911) Người Thạch đại, An huy, tự Nhân sơn. Ông là nhân vật then chốt trong công cuộc phục hưng Phật giáo Trung quốc ở cuối đời Thanh. Tính ông hào hiệp, thích đọc sách, thờ ơ với danh lợi, ghét bỏ khoa cử, không muốn làm quan. Khi quân Thái bình nổi lên, ông lánh nạn đến Hàng châu, tình cờ được đọc luận Đại thừa khởi tín ở thư viện, ông bèn chuyên tâm học Phật. Ông từng đi châu Âu hai lần, ở nước Anh, ông làm quen với các cư sĩ Đạt ma ba la (Dharmapàla) người Tích lan và Nam điều Văn hùng học giả Phật giáo Nhật bản, hẹn ước cùng nhau hợp sức khôi phục và hoằng dương chính pháp. Sau khi về nước, vào năm Đồng trị thứ 5 (1866), ông xuất tiền của thiết lập cơ sở khắc kinh ở Kim lăng, dự định khắc in hơn 3.000 quyển kinh Đại, Tiểu thừa, nhưng mới xuất bản được hơn 2.000 quyển thì ông qua đời. Khi Nhật bản biên tập và ấn hành tạng kinh chữ...(vạn) ông đã tặng vài trăm loại kinh sách Phật giáo. Năm Quang tự 33 (1907), ông xây dựng tinh xá Kì hoàn trong khu vực nhà khắc kinh làm nơi học tập, rồi tự mình soạn sách giáo khoa, chiêu tập học viên học kinh Phật, Phạm văn, Anh văn v.v... để bồi dưỡng lớp hậu tiến. Ông còn lập Hội Nghiên Cứu Phật Học, giảng kinh định kì. Những vị cao tăng như Nguyệt hà, Đế nhàn, Mạn thù v.v... đều đến giúp ông. Lại như Âu dương tiệm, Mai quang hi, Lí chứng cương v.v... đều là học trò của ông. Ông còn hợp lực với Lí đề ma thái người Anh dịch kinh luận sang Anh văn để giúp các nhân sĩ Âu tây học Phật. Rồi lại chọn họa sĩ vẽ tranh chính báo y báo trang nghiêm ở thế giới Cực lạc phương Tây để hoằng dương Tịnh độ giáo. Những bức tranh vẽ ấy hiện nay vẫn còn lưu hành. Về giáo nghĩa, ông đặc biệt tôn sùng luận Đại thừa khởi tín, còn về phương diện hành trì thì ông quí trọng Tịnh độ. Ông từng biện luận với người Nhật về cái sai trái của Tịnh độ chân tông, phê bình, công kích những lỗi lầm của hạng Thiền sư ám chứng và đề xướng Pháp tướng duy thức để cứu vãn thời tệ. Ông qua đời vào mùa thu năm Tuyên thống thứ 3 (1911), thọ 75 tuổi. Các trứ tác của ông gồm có 12 loại, được đưa vào Dương nhân sơn cư sĩ di thư. [X. Trung quốc Phật giáo sử Q.4 (Tưởng duy kiều); Dương nhân sơn dữ hiện đại Trung quốc Phật giáo (Hoa cương Phật học học báo kì thứ 2)].

dương xa

Dương Thặng—Xe Dê—Theo Kinh Pháp Hoa, phẩm Thí Dụ về nhà lửa đang cháy, đây là một trong tam xa—According to the Lotus Sutra, chapter of Parables, in the parable of the burning house, this is the inferior, or sravaka, one of the three forms of Buddhism.

dương úc cư sĩ

See Đại Niên Cư Sĩ.

dương úc văn

5488(1937~ )臺灣雲林人。法名宏文。高雄醫學院醫學系畢業。皈依印順導師,並隨受在家菩薩戒。除自設婦產科醫院濟世外,並擔任中華佛學研究所教授、各大專院校佛學社團導師,亦常應邀在臺北市各佛教道場開講佛學。氏治學態度嚴謹,自學巴利文、日文,專攻原始佛教,鑽研南北傳諸阿含典籍,頗有成就。曾協助佛光山新編大藏經阿含藏之整理暨佛光大辭典之審核。

dương đại niên

Yang tainien (C), Yodainen (J), Yodainen (J).

Dương Ức

(楊億, Yōoku, 973-1020): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, vị cư sĩ đã từng tham học với chư tăng Lâm Tế, tự là Đại Niên (大年), thụy hiệu là Văn (文), xuất thân Huyện Phố Thành (浦城縣), Kiến Châu (建州, Tỉnh Phúc Kiến). Lúc còn nhỏ, ông đã thông minh lanh lợi, đến năm lên 11 tuổi thì được vua Thái Tông mời vào cung, trước mặt vua, ông đã làm 5 thiên thi phú, cho nên tiếng tăm của ông vang khắp. Vào năm đầu (990) niên hiệu Thuần Hóa (淳化) thì làm Phụng Lễ Lang (奉禮郎) ở Thái Thường Tự (太常寺), rồi trãi qua các chức quan khác như Quang Lộc Tự Thừa (光祿寺丞), Trước Tác Tá Lang (著作佐郎), Hàn Lâm Học Sĩ (翰林學士), Công Bộ Thị Lang (工部侍郎), v.v. Khi làm Thái Thú Nhữ Châu (汝州, Tỉnh Hà Nam), ông thường hay đến tham vấn Quảng Huệ Nguyên Liên (廣慧元漣) và Thủ Sơn Tỉnh Niệm (首山省念), cuối cùng kế thừa dòng pháp của Nguyên Liên. Theo sắc chỉ của vua Chơn Tông, ông cùng với Lý Duy (李維), Vương Não (王瑙), v.v., giám định bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) 30 quyển và viết lời tựa cho bộ này. Bên cạnh đó, ông cũng đã cùng với Vương Khâm Nhã (王欽若) soạn cuốn Sách Phủ Nguyên Quy (册府元龜).

dương ức

5489(974~1020)北宋浦城(福建建甌)人。字大年。少時以文章名世,太宗嘗召入面試,歎爲神童。真宗時,歷任翰林學士、侍郎、修撰等官。持身清正,不畏權勢。初不知佛,學士李維勉以宗門事相策發,遂生深信,後禮汝州廣慧禪師得法。每翼護法門,多著洪力,一時學佛士夫推爲領袖。又屢奉詔命編製大藏目錄,校刊景德傳燈錄,於譯經院任潤文一職。天禧四年有疾,書偈遺李遵勗而逝,享年四十七,諡號「文」。有文集行世。〔五燈會元卷十二、居士傳卷二十、宋史卷三○五〕 ; (楊億) (974 - 1020) Người Phố thành (Kiến âu, Phúc kiến) đời Bắc Tống, tự Đại niên. Lúc còn trẻ đã nổi tiếng về văn chương, vua Thái tông từng triệu đến để thử tài và khen là thần đồng. Thời vua Chân tông, ông làm quan đến các chức: Hàn lâm học sĩ, Thị lang, Tu soạn v.v... Ông rất thanh liêm, chính trực, không sợ quyền thế. Lúc đầu, ông không biết Phật pháp, nhờ học sĩ Lí duy miễn đem sự tướng của tông môn khuyến khích, ông mới sinh tâm tin sâu. Sau, ông đến Nhữ châu học Thiền sư Quảng tuệ và đắc pháp. Ông hết lòng hộ trì Phật pháp, sĩ phu học Phật thời bấy giờ suy tôn ông làm lãnh tụ. Ông vâng lệnh vua biên soạn mục lục Đại tạng, kiểm xét lại Cảnh đức truyền đăng và giữ chức nhuận văn ở viện Dịch kinh. Năm Thiên hi thứ 4 ông lâm bệnh, viết kệ để lại cho Lí tuân húc rồi qua đời, hưởng dương 47 tuổi, thụy hiệu là Văn. Ông để lại Văn tập lưu hành ở đời. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.12; Cư sĩ truyện Q.20; Tống sử Q.305].

Dương 揚

[ja] ヨウ yō ||| (1) Give, hand up, lift up, hoist, raise, rise. (2) To praise, to spread, popularize. (3) A hatchet, axe. (4) A relaxed countenance. (5) A river in ancient China. => 1. Làm cho, đưa tay lên, giương cao, nhấc lên, kéo lên, dâng lên. 2. Tán dương, truyền bá, phổ biến. Cây rìu nhỏ, cái rìu. Vẻ mặt thoải mái.

Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức Kinh

(藥師本願功德經): xem Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh bên dưới.

Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh

(s: Bhaiṣajyaguruvaiḍūryaprabhāsapūryapraṇidhāna, 藥師瑠璃光如來本願功德經): 1 quyển, được thâu lục vào Taishō Vol. 48, No. 450, do Đại Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang (大唐三藏法師玄奘, 602-664) dịch, gọi tắt là Dược Sư Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師如來本願功德經), Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師本願功德經), Dược Sư Kinh (藥師經). Bản Hán dịch của kinh này có 5 loại: (1) bản do Bạch Thi Lê Mật Đa La (帛尸梨多羅) nhà Đông Tấn dịch (317~322); (2) bản do Huệ Giản (慧簡) nhà Lưu Tống dịch (457); (3) bản do Đạt Ma Cấp Đa (達磨笈多) nhà Tùy dịch (615); (4) bản do Huyền Trang nhà Đường dịch (650); và (5) bản do Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) nhà Đường dịch (707). Ba bản đầu cường điệu về công đức của Phật Dược Sư, được gọi là Dược Sư Tùy Nguyện Kinh (藥師隨願經). Bản của Nghĩa Tịnh dịch là Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師琉璃光七佛本願功德經, Taishō No. 451), hay Thất Phật Dược Sư Kinh (七佛藥師經), nói rõ về bản nguyện cũng như Đà La Ni (陀羅尼) của 7 vị Phật. Bản do Huyền Trang dịch là thông hành nhất, có đủ tính chất Mật Giáo, có đặc sắc thuyết về tư tưởng lợi ích hiện thế và vãng sanh Tịnh Độ. Bản dịch Kinh Dược Sư bằng tiếng Tây Tạng có 2 loại, trong đó có bản tương đương với bản hiện hành là Bcom-ldaṃ ḥdás sman-gyi bla vaiḍūryaḥi hod-kyi sṅon-gyi smon-lam-gyi khyad-par rgyas-pa. Bản tương đương với bản của Nghĩa Tịnh dịch là De-bshin-gśegs-pa bdun-gyi sṅon-gyi smon-lam-gyi khya-par rgyas-pa. Bản chú sớ về kinh này có Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức Nghĩa Sớ (藥師本願功德義疏) 3 quyển của Thật Quán (實觀), cũng như Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức Kinh Sớ (藥師本願功德經疏) của Khuy Cơ (窺基, 632-682), Tĩnh Mại (靖邁), Thần Thái (神泰), Độn Luân (遁倫), Cảnh Hưng (憬興), v.v., mỗi vị viết 1 quyển; cọng thêm Dược Sư Bổn Nguyện Kinh Cổ Tích (藥師本願古迹) 2 quyển của Thái Hiền (太賢).

Dược Sư Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh

(藥師如來本願功德經): xem Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh bên trên.

dưới gốc cây

At the foot of a tree.

dưới nước

Under the water.

dưới sông

In the river.

dưới đáy biển

At the bottom of the sea.

dưới đất

Under the ground.

dưỡng

1) Nuôi dưỡng: To nourish—To rear—To support. 2) Ngứa ngái: To itch.

Dưỡng Châu Tự

(養珠寺, Yōshu-ji): ngôi chùa của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại Wakayama-shi (和歌山市), hiệu là Hòa Ca Phố Diệu Kiến Sơn (和歌浦妙見山). Vào năm 1654 (Thừa Ứng [承應] 3), vị Tổ của dòng họ Đức Xuyên ở vùng Kỷ Châu (紀州, Kishū) là Đức Xuyên Lại Tuyên (德川賴宣, Tokugawa Yorinobu) phát tâm kiến lập chùa này để cầu siêu độ cho thân mẫu ông là Dưỡng Châu Viện (養珠院), rồi cung thỉnh Trung Chánh Viện Nhật Hộ (中正院日護) làm Tổ khai sơn chùa. Trong khuôn viên chùa có Diệu Kiến Đường (妙見堂), nơi tôn thờ bức tượng của bà Dưỡng Châu Viện, do Nhật Hộ tạc. Ngoài ra, còn có bảo tháp và một số kiến trúc khác. Bảo tháp gồm 3 tầng, bên trong thờ tượng Thích Ca, A Nan và Ca Diếp, là những chiến lợi phẩm được Gia Đằng Thanh Chánh (加藤清正, Katō Kiyomasa) đem từ Triều Tiên về. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ khá nhiều bảo vật.

dưỡng dục

To bring up—To rear—To educate.

dưỡng hoà tử

6777即如意。又稱和痒子、和癢子。為輔助搔癢之物。柄長約三尺,柄頭作雲狀或手狀。叢林中,法師說法及法會時持之,或於柄上記節文祝辭,用以備忘。又以之比喻師家為協助學人解決疑難所施設之方便法門。〔祖堂集卷四石頭希遷章、禪林象器箋器物門〕(參閱「如意」2369) ; (癢和子) Cũng gọi Hòa dương tử, Hòa dưỡng tử. Tức là cái như ý, dụng cụ để gãi ngứa, hình dáng giống như đám mây hoặc như bàn tay, có cán để cầm. Trong Thiền lâm, khi pháp sư thuyết pháp hoặc trong các pháp hội thì cầm dưỡng hòa tử, trên cán đôi khi có ghi đoạn văn chúc từ. Ngoài ra, dưỡng hòa tử còn được ví dụ như pháp môn phương tiện mà thầy dùng để giúp người học giải quyết các vấn đề nghi nan. [X. Tổ đường tập Q.4 Thạch đầu Hi thiên chương; Thiền lâm tượng khí tiên Khí vật môn]. (xt. Như Ý).

dưỡng hòa tử

Cây dùng để gãy lưng, một từ dùng để chỉ bùa “như ý”—A back-scratcher, a term for a ceremonial sceptre, or a talisman.

dưỡng lão

To spend one's remaining days.

dưỡng mẫu

Foster mother.

dưỡng nhân

6200梵語 upabṛṃhaṇa。乃長養一切物之原因,即謂地水火風四大種為長養一切物之原因。為五因之一。阿毘達磨順正理論卷二十(大二九‧四五二下):「為養因者,能增長故,猶如樹根,水所沃潤。(中略)風為養因,能引發彼,令增長故。」〔瑜伽師地論卷五十四、大毘婆沙論卷一三一〕(參閱「五因」1074) ; Upabrmbhana (S)Một trong ngũ nhân. ; (養因) Phạm: Upabfôhaịa. Những nguyên nhân nuôi lớn mọi vật. Tức là bốn nguyên tố đất, nước, lửa, gió, có khả năng trưởng dưỡng hết thảy muôn vật. Dưỡng nhân là một trong năm nhân. Luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 20 (Đại 29, 452 hạ), nói: Gọi là dưỡng nhân, vì nó có thể làm tăng trưởng, như nước thấm nhuần cây cối khiến chúng xanh tốt, gió có năng lực dẫn phát, làm cho cây cối lớn mạnh. [X. luận Du già sư địa Q.54; luận Đại tì bà sa Q.131]. (xt. Ngũ Nhân).

dưỡng phụ

Foster father.

dưỡng thân

To nourish one's parents.

dưỡng tử

Foster son.

dưỡng đường

Clinic—Hospital.

dược

Bhaiṣajya (P), Bhaishajya (S)Xem Bhaichad. ; Medicine, chemicals. ; Thuốc—Medicine—Chemicals.

dược an sơn quốc thiền sư

Yueh-An-Shan-Kuo Zen master 1079-1152. • Thiền sư thuộc dòng Dương Kỳ phái Lâm Tế, là môn đồ và người kế vị Pháp với Đạo Ninh Thiền Sư—Yueh-An-Shan-Kuo, Chinese Zen master of the Yogi lineage of Linn-Chih Zen, a student and Dharma successor of T'ao-Ning. • Tên của Dược An được biết đến qua thí dụ thứ tám trong Vô Môn Quan—Master Yueh-An was known in example 8 of the Wu-Men-Kuan.

dược châu nhị thân

6696指佛陀所化現之藥樹王身與如意珠王身。藥,即藥樹,能治癒疾病;珠,即如意珠,能出眾寶。佛陀為拔除眾生之苦,而化現藥樹王身;為給予眾生安樂,而化現如意珠王身。〔法華玄義卷六、法華義疏卷二(嘉祥)、觀音玄義卷上〕 ; (藥珠二身) Chỉ cho thân Dược thụ vương và thân Như ý châu vương do đức Phật hóa hiện. Dược là cây thuốc có khả năng chữa khỏi các tật bệnh; châu là ngọc châu như ý có thể sinh ra các vật quí báu. Bởi thế, đức Phật hóa hiện làm thân cây thuốc và thân ngọc châu như ý để diệt trừ các khổ não và mang lại yên vui cho chúng sinh. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.6; Pháp hoa nghĩa sớ Q.2 (Gia tường); Quan âm huyền nghĩa Q.thượng].

dược châu thiền sư

Yueh-Chou Zen Master. • Thiền sư đời Đường, môn đồ và người kế vị Pháp của Thiền sư Động Sơn Lương Giới—Yueh-Chou, Chinese Zen master of the T'ang dynasty, a student and Dharma successor of T'ung-Shan-Liang-Chieh. • Tên của ngài được nhắc đến trong thí dụ thứ 48 của Vô Môn Quan—Yueh-Chou was known in example 48 of the Wu-Men-Kuan.

dược kiền độ

6696又作醫藥法。為二十犍度之第七。犍度,梵語 skandha,巴利語 khandhaka,意譯作聚、蘊,即分類編集,而將同類之法聚集一處;相當於品、節。有關僧尼受戒、安居等行持之法,統攝為二十種,稱為二十犍度;藥犍度即為其一。此犍度之內容係有關比丘之飲食、生病比丘之醫藥等法。即規定比丘飲食之種類、生病比丘服用醫藥之種類及其處方,乃至風邪、眼病、嘔吐、熱病、蛇毒、頭痛等諸病之藥劑。〔四分律卷四十二、卷四十三、八宗綱要〕 ; (藥犍度) Cũng gọi Y dược pháp. Kiền độ thứ 7 trong 20 kiền độ. Kiền độ, Phạm: skandha, Pàli: khandhaka, hàm ý chứa nhóm, tụ tập, tức là chia loại các pháp rồi biên tập những pháp cùng loại vào một chỗ, tương đương với phẩm, tiết. Dược kiền độ qui định việc ăn uống và thuốc thang của tỉ khưu có bệnh, như: loại thực phẩm nào thích hợp, thuốc gì để chữa trị và phải uống thuốc như thế nào v.v... [X. luật Tứ phần Q.42, Q.43; Bát tông cương yếu].

dược lâm thiền sư

Yueh-Lin 1143-1217—Dược Lâm thuộc dòng Dương Kỳ của phái Lâm Tế, thầy của Vô Môn Tuệ Khai—Yueh-Lin, Chinese Zen master of the Yogi lineage of Lin-Chih, master of Wu-Men-Hui-K'ai.

dược sơn

Yueh shan (C). Yakusan (J). Name

dược sơn duy nghiêm

Yakusan Igen (J), Yao shan Wei yen (C)Tên một vị sư. (khoảng 745-828).

Dược Sơn Duy Nghiễm

(藥山惟儼, Yakusan Igen, 745-828): xuất thân vùng Phong Châu (絳州, thuộc Huyện Tân Phong, Tỉnh Sơn Tây), sau dời đến Huyện Tín Phong (信豐), Nam Khang (南康, Tỉnh Giang Tây), họ là Hàn (韓). Năm lên 17 tuổi, ông xuất gia với Huệ Chiếu (慧照) ở Tây Sơn (西山), Triều Dương (潮陽, Tỉnh Quảng Đông), rồi đến năm thứ 8 (773) niên hiệu Đại Lịch (大曆), lúc 29 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới với Hy Tháo (希澡) ở Hành Nhạc Tự (衡岳寺), và được đại ngộ dưới trướng của Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷), được ấn chứng cho và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông theo hầu hạ Hy Thiên suốt 13 năm, rồi sau đến trú tại Dược Sơn (藥山, tức Thược Dược Sơn [芍藥山], thuộc Tỉnh Hồ Nam), Lễ Châu (澧州), có khoảng bốn, năm mươi người đến tham học. Đến ngày mồng 6 tháng 12 năm thứ 2 (828) niên hiệu Thái Hòa (太和), ông thị tịch, hưởng thọ 84 tuổi. Ông được ban cho thụy hiệu là Hoằng Đạo Đại Sư (弘道大師). Đệ tử của ông có Vân Nham Đàm Thịnh (雲巖曇晟), Hoa Đình Đức Thành (華亭德誠), Bại Thọ Tuệ Tỉnh (稗樹慧省), Đạo Ngô Viên Trí (道吾圓智), Cao Sa Di (高沙彌), Bách Nhan Minh Triết (百顔明哲), Kính Nguyên Sơn Quang Mật (涇源山光虙), Tuyên Châu Lạc Hà (宣州落霞), Lý Cao (李翺), v.v. Duy Nghiễm không để lại thư tịch nào, nhưng ông rất tinh thông kinh luận, xưa kia vốn nghiêm thủ giới luật, và gia phong của ông rất kỳ đặc. ; 藥山惟儼; C: yàoshān wéiyǎn; J: yakusan igen; 745-828 hoặc 750-834;|Thiền sư Trung Quốc. Môn đệ xuất sắc của Thạch Ðầu Hi Thiên và Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư. Nối pháp của Sư có nhiều người, trong đó Ðạo Ngô Viên Trí, Vân Nham Ðàm Thạnh và Thuyền Tử Ðức Thành (Hoa Ðình Thuyền Tử) là ba vị được sử sách nhắc đến nhiều nhất.|Sư họ Hán, người ở Ráng Châu, Sơn Tây, xuất gia năm 17 tuổi. Sư học thông kinh luận, nghiêm trì giới luật nhưng vẫn không nắm được yếu chỉ, tự than rằng: »Bậc đại trượng phu nên xa lìa các pháp để giữ mình trong sạch, nào ai có thể tỉ mỉ làm những việc nhỏ.«|Sư đến tham vấn Thạch Ðầu Hi Thiên và hỏi: »Ba thừa mười hai phần giáo con còn hiểu sơ, đến như thường nghe phương Nam nói ›chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật‹ thật con mù tịt. Cúi mong Hoà thượng từ bi chỉ dạy.« Thạch Ðầu bảo: »Thế ấy cũng chẳng được, không thế ấy cũng chẳng được, thế ấy không thế ấy đều chẳng được, ngươi làm sao.« Sư mờ mịt không hiểu, Thạch Ðầu liền bảo: »Nhân duyên của ngươi không phải ở đây, hãy đến Mã Ðại sư.«|Sư đến Mã Tổ thưa lại câu đã trình với Thạch Ðầu. Mã Tổ bèn nói: »Ta có khi dạy y nhướng mày chớp mắt, có khi không dạy y nhướng mày chớp mắt. Có khi nhướng mày chớp mắt là phải, có khi nhướng mày chớp mắt là không phải, ngươi làm sao?« Ngay câu này Sư đạt yếu chỉ, bèn lễ bái. Mã Tổ hỏi: »Ngươi thấy đạo lí gì lễ bái?« Sư thưa: »Con ở chỗ Thạch Ðầu như con muỗi đậu trên trâu sắt.« Mã Tổ bảo: »Ngươi đã biết như thế, phải khéo gìn giữ.« Sau khi hầu Mã Tổ ba năm, Sư trở về Thạch Ðầu và được truyền Tâm ấn nơi đây.|Rời Thạch Ðầu, Sư đến Dược Sơn Lễ Châu, môn đệ theo học rất đông. Một hôm có vị tăng hỏi: »Tổ sư chưa đến nước này, nước này có ý Tổ sư chăng?« Sư đáp: »Có.« Tăng lại hỏi: »Ðã có ý Tổ sư, lại đến làm gì?« Sư lại đáp: »Bởi có, cho nên đến.«|Ðời Ðường niên hiệu Thái Hoà, năm thứ tám, tháng hai, sắp thị tịch, Sư kêu to: »Pháp đường ngã! Pháp đường ngã!« Ðại chúng đều mang cột đến chống, Sư liền khoát tay bảo: »Các ngươi không hiểu ý ta.« Nói rồi Sư từ giã chúng thị tịch, thọ 84 tuổi, 60 tuổi hạ. Vua sắc phong là Hoằng Ðạo Ðại sư.

dược sơn duy nghiễm

6689(751~834)唐代僧。屬青原行思之法系。山西絳州人,俗姓韓。十七歲依潮陽(廣東)西山慧照禪師出家。大曆八年(773)就衡山希澡受具足戒。博通經論,嚴持戒律。後參謁石頭希遷,密領玄旨。次參謁馬祖道一,言下契悟,奉侍三年。後復還石頭,為其法嗣。不久,至澧州藥山,廣開法筵,四眾雲集,大振宗風。一夜,登山經行,忽雲開見月,大笑一聲,遍於澧陽東九十餘里,居民均聞其聲。朗州刺史李翱贈詩云(大五○‧八一六中):「選得幽居愜野情,終年無送亦無迎;有時直上孤峰頂,月下披雲笑一聲。」唐太和八年(834)示寂,世壽八十四。一說太和二年十二月示寂,世壽七十。敕諡「弘道大師」。〔宋高僧傳卷十七、祖堂集卷四、景德傳燈錄卷十四、傳法正宗記卷七、佛祖統紀卷四十二、佛祖歷代通載卷二十二、五燈會元卷五〕 ; Dược Sơn Duy Nghiễm (745-828 hay 750-834), quê ở Ráng Châu, nay thuộc tỉnh Sơn Tây—Yueh-Shan-Wei-Yen 745-828 or 750-834. He came from ancient Jiang-Chou, now is in Shan-Xi province. • Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm, môn đồ và là người kế vị Pháp với Thiền sư Thạch Đầu Hy Thiên, thầy của Đạo Ngộ Viên Trí và Vân Nham Đàm Thạnh—Chinese Zen master, a student and Dharma successor of Shih-T'ou-Hsi-T'ien, master of Tao-Wu-Yuan-Chih and Yun-Yen-Tan-Sheng. • Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Dược Sơn rời gia đình cha mẹ lúc 17 tuổi. Ngài được thọ cụ cúc giới năm 774 với Luật Sư Hy Tháo. Ngài là một trong những đệ tử xuất sắc nhất mà Thạch Đầu Thiền Sư đã gửi tới Mã Tổ Đạo Nhất. Là một đệ tử tinh cần, Dược Sơn tinh thông Kinh Luận, và nghiêm trì giới luật—According to the Ching-Te-Ch'uan-Teng-Lu, Yueh-Shan left home at the age of seventeen and was fully ordained by Vinaya master Hsi-Ts'ao in 774. He was one of the most prominent disciples referred to Ma-Tsu T'ao-I by Shih-T'ou. As an earnest disciple, Yueh-Shan mastered the sutras and sastras and strictly adhered to the Vinaya. • Sau đó sư tìm đến gặp Hy Thiên Thạch Đầu và hỏi: “Đối Tam thừa thập nhị kinh, con còn hiểu biết thô sơ, đến như thường nghe phương nam nói 'chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật,' thật con mù tịt. Vì thế con đến cúi mong Hòa Thượng từ bi chỉ dạy”—Later, Yueh-Shan went to Shih-T'ou Hsi-T'ien's place. He asked: “I have a general understanding of the three vehicles and the twelve divisions of scriptures. Now I want to find out about 'the southern teaching of pointing directly at mind, seeing self-nature, and becoming a Buddha.' Truly, I am not clear about this teaching and therefore, I come and ask for the master's compassionate instruction.” • Thiền sư Hy Thiên bảo: “Thế ấy cũng chẳng được, không thế ấy cũng chẳng được, thế ấy không thế ấy đều chẳng được, ngươi làm sao?”—Shih-T'ou said: “You can't attain it this way. You can't attain it not this way. Trying to attain it this way or not this way, it can't be attained. So what will you do?” • Thiền sư Hy Thiên lại bảo thêm: “Khi con nói, 'đây là cái nầy, con đã đứng sang một bên rồi.' Là cái nầy hay không phải cái nầy, bao giờ con cũng đứng về một bên. Có phải thế không?”—Shih-T'ou added: “When you say, 'It is this, then you miss it.' This and not-this, both miss it. What do you think?” • Dược Sơn mờ mịt không hiểu—Yueh-Shan was confused. • Thạch Đầu bảo: “Nhơn duyên của ngươi không phải ở đây, hãy đến chỗ Mã Tổ Đạo Nhất.”—Shih-T'ou then said: “Your affinity is not at this place. Go to Master Ma-Tsu-T'ao-I's place.” • Dược Sơn vâng lệnh đến yết kiến Mã Tổ. Sư thưa lại câu đã thưa với Thạch Đầu—Yueh-Shan went and paid his respects to Ma-Tsu in accordance with Shih-T'ou's instructions. He then posed the same question to Ma-Tsu that he had previously presented to Shih-T'ou. • Mã Tổ bảo: “Ta có khi dạy y nhướng mày chớp mắt, có khi không dạy y nhướng mày chớp mắt; có khi nhướng mày chớp mắt là phải, có khi nhướng mày chớp mắt là không phải, ngươi làm sao?”—Ma-Tsu said: “Sometimes I teach it by raising my eyebrows and blinking my eyes. Sometimes I don't teach it by raising my eyebrows and blinking my eyes. Sometimes raising my eyebrows and blinking my eyes is it, sometimes raising my eyebrows and blinking my eyes isn't it. So what will you do?” • Ngay câu nói nầy, Dược Sơn liền khế ngộ, bèn lễ bái—At these words, Yueh-Shan was enlightened. He then bowed to Ma-Tsu. • Mã Tổ lại hỏi: “Ngươi lấy đạo lý gì lễ bái?”—Ma-Tsu asked: “What principle have you observed that makes you bow?” • Dược Sơn thưa: “Con ở chỗ Thạch Đầu như con muỗi đậu trên trâu sắt.”—Yueh-Shan said: “When I was at Shih-T'ou's place, it was like a mosquito on an iron bull.” • Mã Tổ bảo: “Ngươi đã biết như thế, tự khéo gìn giữ.”—Ma-Tsu said: “Since you are thus, uphold and sustain it well.” • Dược Sơn ở đây hầu Mã Tổ ba năm—Yueh-Shan stayed there to serve as Ma-Tsu's attendant for three years. • Một hôm Mã Tổ hỏi Dược Sơn: “Ngày gần đây chỗ thấy của ngươi thế nào?”—One day Ma-Tsu asked Yueh-Shan: “What have you seen lately?” • Dược Sơn thưa: “Da mỏng da dầy đều rớt sạch, chỉ có một chơn thật.”—Yueh-Shan said: “Shedding the skin completely, leaving only the true body.” • Mã Tổ bảo: “Sở đắc của ngươi đã hợp với tâm thể, khắp hết tứ chi. Đã được như thế, nên đem ba cật tre cột da bụng, tùy chỗ ở núi đi.”—Ma-Tsu said: “Your attainment can be said to be in accord with the mind-body, spreading through its four limbs. Since it's like this, you should bind your things to your stomach and go traveling to other mountains.” • Dược Sơn thưa: “Con là người gì dám nói ở núi?”—Yueh-Shan said: “Who am I to speak of being head of a Zen mountain?” • Mã Tổ bảo: “Chẳng phải vậy, chưa có thường đi mà chẳng đứng, chưa có thường đứng mà chẳng đi, muốn lợi ích không chỗ lợi ích, muốn làm không chỗ làm, nên tạo thuyền bè, không nên ở đây lâu.”—Ma-Tsu said: “That's not what I mean. Those who haven't gone on a long pilgrimage can't reside as an abbot. There's no advantage to seeking advantage. Nothing is accomplished by seeking something. You should go on a journey and not remain in this place.” • Dược Sơn từ giả Mã Tổ trở về Thạch Đầu—Yueh-Shan then left Ma-Tsu and returned to Shih-T'ou. • Một hôm sư ngồi trên tảng đá, Thạch Đầu trông thấy bèn hỏi: “Ngươi ở đây làm gì?” Sư thưa: “Tất cả chẳng làm.” Thạch Đầu lại hỏi: “Tại sao ngồi nhàn ở đây?” Sư thưa: “Ngồi nhàn rỗi tức làm.” Thạch Đầu lại hỏi: “Ngươi nói chẳng làm, là chẳng làm cái gì?” Sư thưa: “Ngàn Thánh cũng không biết.” Thạch Đầu dùng kệ khen: Tùng lai cộng trụ bất tri danh Nhậm vận tương tương chỉ ma hành Tự cổ thượng hiền du bất thức Tạo thứ phàm lưu khởi khả minh (Chung ở từ lâu chẳng biết chi Lặng lẽ theo nhau chỉ thế đi Thượng hiền từ trước còn chẳng biết Huống bọn phàm phu đâu dễ tri). One day, as Yueh-Shan was sitting, Shih-T'ou asked him: “What are you doing here?” Yueh-Shan said: “I am not doing a thing.” Shih-T'ou said: “Then you're just sitting leisurely.” Yueh-Shan said: “If I were sitting leisurely, I'd be doing something.” Shih-T'ou said: “You say you're not doing anything. What is it that you're not doing?” Yueh-Shan said: “A thousand sages don't know.” Shih-T'ou then wrote a verse of praise that said: Long abiding together, not knowing its name, Just going on, practicing like this, Since ancient times the sages don't know. Will searching everywhere now make it known. • Thạch Đầu dạy: “Nói năng động dụng chớ giao thiệp.” Sư thưa: “Chẳng nói năng động dụng cũng chớ giao thiệp.” Thạch Đầu nói: “Ta trong ấy mũi kim mảnh bụi chẳng lọt vào.” Sư thưa: “Con trong ấy như trồng hoa trên đá.” Thạch Đầu ấn khả—Later Shih-T'ou offered an instruction, saying, “Words do not encroach upon it.” Yueh-Shan said, “No words does not encroach upon it.” Shih-T'ou said, “Here, I can stick a needle to it.” Yueh-Shan said, “Here, is like I am growing flowers on a bare rock.” Shih-T'ou approved Yueh-Shan's answer. • Về sau sư đến ở chỗ Dược Sơn Lễ Châu, đồ chúng theo học rất đông—Later the masterlived on Mount Yueh Li-Chou, and a sea of disciples assembled there. • Ngày kia một ông viện chủ thỉnh sư thượng đường thuyết pháp. Tăng chúng hội đông đủ. Sư im lặng giây lâu rồi hạ đường, trở vào phương trượng đóng cửa lại. Viện chủ vào hỏi: “Hòa Thượng hứa nói pháp sao bây giờ vào phương trượng?” Dược Sơn nói: “Viện chủ, kinh thì có ông thầy kinh, luận thì có ông thầy luận, luật thì có ông thầy luật. Còn trách lão Tăng nỗi gì?”—One day when Yueh-Shan was asked to give a lecture, he did not say a word, but instead came down from the pulpit and went off to his room. The abbot came to his room and asked: “Master, you promised to preach, why you are in your room?” Yueh-Shan said: “Abbot, in the temple, when talking about sutras, you have the acarya; talking about commentaries, you have an Abhidharma specialist; talking about the law, you have a Vinaya specialist. Why do you blame on me?” • Vào tháng hai năm 834, khi sắp thị tịch, sư kêu to: “Pháp đường ngã! Pháp đường ngã!” Đại chúng đều mang cột đến chống đở. Sư khoát tay bảo: “Các ngươi không hiểu ý ta.” Sư bèn từ giả chúng thị tịch, thọ 84 tuổi, 60 tuổi hạ. Đồ chúng xây tháp thờ sư bên phía đông tự viện. Vua sắc phong là Hoàng Đạo Đại Sư, tháp hiệu Hóa Thành—In the second month of the year 834, Zen master Yueh-Shan called out, “The Dharma hall is collapsing! The Dharma hall is collapsing!” The monks grabbed poles and tried to prop up the Dharma hall. Yueh-Shan lifted his hand and said, “You don't understand what I mean,” and passed away. The master was eighty-four years old and had been a monk for sixty years. His disciples built his memorial stupa on the east side of the hall. He received the posthumous name “Great Teacher Vast Way.” His stupa was named “Transforming City.” ; (藥山惟儼) (751-834) Vị tăng đời Đường, thuộc pháp hệ ngài Thanh nguyên Hành tư. Sư là người Giáng châu tỉnh Sơn tây, họ Hàn. Năm 17 tuổi sư theo ngài Tuệ chiếu ở Tây sơn thuộc Triều dương (Quảng đông) xuất gia. Năm Đại lịch thứ 8 (773), sư đến ngài Hành sơn Hi tháo thụ giới Cụ túc. Sư thông suốt kinh luận, giữ giới luật rất nghiêm. Sau, sư tham yết ngài Thạch đầu Hi thiên, lãnh hội ý chỉ sâu kín. Kế đến, sư lại tham yết ngài Mã tổ Đạo nhất và ngay sau câu nói của ngài, sư liền khế ngộ và ở lại thị giả ngài ba năm. Sau, sư lại trở về với ngài Thạch đầu và nối pháp của ngài. Không bao lâu, sư đến Dược sơn thuộc châu Lễ, mở rộng đạo tràng giảng pháp, bốn chúng tụ hội, tông phong rất thịnh. Một đêm, sư lên núi đi dạo, bỗng thấy mây tan trăng sáng, sư cười lớn một tiếng, vang vọng cả một vùng phía đông Lễ dương xa hơn 90 dặm, dân sống trong vùng đều nghe tiếng cười của sư. Nhân đó, Thứ sử Lãng châu là Lí cao mới tặng sư bài thơ nguyên văn như sau (Đại 50, 816 trung). Tuyển đắc u cư khiếp dã tình Chung niên vô tống diệc vô nghinh Hữu thời trực thướng cô phong đính Nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thinh (thanh) …Tạm dịch: Được chỗ u nhàn ở thảnh thơi Quanh năm không tiễn cũng không mời Có khi lên thẳng trên đầu núi Cười vang một tiếng dưới trăng chơi! Sư tịch vào năm Thái hòa thứ 8 (834) đời Đường, thọ 84 tuổi. Có thuyết nói sư tịch vào tháng chạp năm Thái hòa thứ 2, thọ 70 tuổi. Vua ban thụy hiệu Hoằng đạo Đại sư. [X. Tống cao tăng truyện Q.17; Tổ đường tập Q.4; Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Truyền pháp chính tông kí Q.7; Phật tổ thống kỉ Q.42; Phật tổ lịch đại thông tải Q.22; Ngũ đăng hội nguyên Q.5].

dược sơn thăng toà

6689禪宗公案名。為唐代藥山惟儼禪師陞座說法示眾之公案。從容錄第七則(大四八‧二三一中):「藥山久不陞座,院主白云:『大眾久思示誨,請和尚為眾說法。』山令打鐘。眾方集,山陞座良久,便下座歸方丈。主隨後問:『和尚適來許為眾說法,云何不垂一言?』山云:『經有經師,論有論師,爭怪得老僧?』」此公案說明藥山陞座說法,雖未垂示一言半語,然當下即示現全身說法之活三昧,故藥山隨後所說「經有經師,論有論師」之語,亦不外表示經師所說之經、論師所說之論,皆僅為佛法真理之一部分,遠不如絲毫不落言語葛藤之「全身說法」;此即為本公案之主旨。〔景德傳燈錄卷十四〕 ; (藥山升座) Dược sơn lên tòa. Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về việc Thiền sư Dược sơn Duy nghiễm đời Đường lên tòa nói pháp dạy chúng tăng. Thung dung lục tắc 7 (Đại 48, 231 trung), nói: Đã lâu, Dược sơn không thăng tòa, nên Viện chủ bạch rằng: Lâu nay đại chúng trông mong được dạy bảo, vậy xin Hòa thượng nói pháp cho họ nghe. Dược sơn bảo đánh chuông. Khi chúng tăng vừa tập họp, Dược sơn lên tòa, im lặng hồi lâu, rồi xuống tòa về phương trượng! Viện chủ theo sau thưa hỏi: Vừa rồi Hòa thượng hứa nói pháp cho chúng nghe, tại sao Ngài không dạy một lời? Dược sơn đáp: Kinh đã có kinh sư, luận thì có luận sư, sao còn trách lão tăng? Công án trên thuyết minh Dược sơn lên tòa nói pháp, tuy chưa dạy nửa lời nhưng ngay đó đã thị hiện tam muội sống động toàn thân nói pháp. Cho nên sau đó Dược sơn nói câu: Kinh thì có kinh sư, luận đã có luận sư không ngoài việc biểu thị kinh do kinh sư nói, luận do luận sư nói, đều chỉ là một phần của chân lí Phật pháp, không giống một tí nào với toàn thân nói pháp đã thoát khỏi mọi vướng mắc của ngôn từ : đó là điểm nòng cốt của công án này. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.14].

Dược Sư

(s: Bhaiṣajyaguru, 藥師): nói rõ là Dược Sư Lưu Ly Quang (s: Bhaiṣajyaguruvaiḍūryaprabha, 藥師瑠璃光), Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật (藥師琉璃光王佛), Dược Sư Như Lai (藥師如來), Đại Y Vương Phật (大醫王佛), Y Vương Thiện Thệ (醫王善誓), Thập Nhị Nguyện Vương (十二願王), âm dịch là Bệ Sát Xã Lũ Lô (鞞殺社窶嚕). Theo Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (s: Bhaiṣajyaguruvaiḍūryaprabhāsapūryapraṇidhāna, 藥師瑠璃光如來本願功德經, Taishō No. 450), ngoài 10 hằng hà sa Phật độ có thế giới gọi là Tịnh Lưu Ly (淨瑠璃) và giáo chủ của thế giới đó là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Thế giới này được gọi là cõi Tịnh Độ ở phương Đông, cũng trang nghiêm như cõi nước Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂). Trong thời gian hành Bồ Tát đạo, vị Phật này có phát 12 lời nguyện lớn và nhờ lời nguyện này mà hiện tại ngài thành Phật ở thế giới Tịnh Lưu Ly, có hai vị Bồ Tát Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光) và Nguyệt Quang (s: Candraprabha, 月光) thường xuyên hộ trì hai bên. Thệ nguyện của đức Phật này không thể nghĩ bàn và sự linh nghiệm của Ngài cũng rất rộng lớn. Nếu có người thân mạng bệnh nặng, hiện tướng sắp chết, bà con quyến thuộc của người ấy tận tâm, chí thành cúng dường, lễ bái Phật Dược Sư, đọc tụng Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh 49 biến, thắp 49 ngọn đèn, tạo tràng phan 5 sắc màu của 49 cõi trời, thì người sắp lâm chung ấy sẽ được sống lại và kéo dài sinh mạng thêm. Cho nên, tín ngưỡng Phật Dược Sư đã thịnh hành từ xa xưa. Về hình tượng của Ngài, theo Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō No. 926) cho biết rằng tay trái Ngài cầm dược khí (còn gọi là Vô Giá Châu [無價珠]), tay phải kết Tam Giới Ấn (三界印), mặc áo Ca Sa (s: kaṣāya, kāṣāya, p: kāsāya, kāsāva, 袈裟), ngồi kiết già trên đài hoa sen và dưới đài có 12 vị thần tướng. Các vị thần tướng này thệ nguyện hộ trì pháp môn Dược Sư, mỗi vị thống lãnh 7.000 quyến thuộc Dược Xoa (藥叉), tại các nơi hộ trì cho chúng sanh nào thọ trì danh hiệu Phật Dược Sư. Bên cạnh đó, hình tượng được lưu truyền phổ biến nhất về đức Phật này là hình có mái tóc xoăn hình trôn ốc, tay trái cầm bình thuốc, tay phải bắt Thí Vô Úy Ấn (施無畏印, hay Dữ Nguyện Ấn [與願印]); có 2 Bồ Tát Nhật Quang Biến Chiếu (日光遍照) và Nguyệt Quang Biến Chiếu (月光遍照) hầu hai bên, được gọi là Dược Sư Tam Tôn (藥師三尊). Hai vị Bồ Tát này là thượng thủ trong vô lượng chúng ở cõi Tịnh Độ của Phật Dược Sư. Ngoài ra còn có 8 Bồ Tát khác hầu cận bên Ngài như Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利), Quan Âm (s: Avalokiteśvara, 觀音), Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 勢至), Bảo Đàn Hoa (寶壇華), Vô Tận Ý (無盡意), Dược Vương (s: Bhaiṣajyarāja, 藥王), Dược Thượng (s: Bhaiṣajyasamudgata, 藥上), Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒). Theo Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師琉璃光七佛本願功德經, Taishō No. 451) do Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) nhà Đường dịch có nêu tên 7 vị Phật Dược Sư, gồm: Thiện Xưng Danh Cát Tường Vương Như Lai (善稱名吉祥王如來), Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Như Lai (寶月智嚴光音自在王如來), Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai (金色寶光妙行成就如來), Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Như Lai (無憂最勝吉祥如來), Pháp Hải Lôi Âm Như Lai (法海雷音如來), Pháp Hải Tuệ Du Hý Thần Thông Như Lai (法海慧遊戲神通如來) và Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai (藥師琉璃光如來). Trong số đó, 6 vị đầu là phân thân của Dược Sư Như Lai. Đức Phật này cùng với Thích Ca Mâu Ni Như Lai (釋迦牟尼佛), A Di Đà Phật (阿彌陀佛) được gọi là Hoành Tam Thế Phật (橫三世佛), hay Tam Bảo Phật (三寶佛). Trong Phật Giáo, Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật ở phương Đông và A Di Đà Phật ở phương Tây được xem như là hai đấng tối cao giải quyết vấn đề sanh và tử của chúng sanh.

dược sư

See Dược Sư Phật and Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức in Appendix A (4).

Dược sư bổn nguyện công đức kinh 藥師本願功德經

[ja] ヤクシホンガンクトクキョウ Yakushi hongan kudoku kyō ||| Abbreviated title of the 藥師琉璃光如來本願功德經. => (j: Yakushi hongan kudoku kyō). Viết tắt của Dược sư lưu ly quang Như Lai bổn nguyện công đức kinh 藥師琉璃光如來本願功德經 .

dược sư hối quá

6694又作藥師懺。以藥師如來為本尊而行懺悔罪障之修法。悔過,意為懺悔罪過;即於佛前懺悔自己身、口、意所造之罪過,以求得福利之行事。悔過法依所修之本尊不同而有多種,其中以藥師如來為本尊而修法者,稱為藥師悔過。明代僧受登所纂集之藥師三昧行法一書,即依據此一悔過法而作者。(參閱「藥師三昧行法」6693) ; (藥師悔過) Cũng gọi là Dược sư sám. Pháp tu lấy đức Dược sư Như lai làm bản tôn để sám hối tội chướng. Hối quá nghĩa là sám hối tội lỗi. Tức là nghi thức lễ bái sám hối trước đức Phật những tội lỗi đã do thân, miệng, ý của mình tạo ra để cầu được phúc lợi. Có nhiều loại pháp hốiquá nương vào bản tôn khác nhau để tu, trong đó, pháp tu lấy đức Dược sư Như lai làm bản tôn, thì gọi là Dược sư hối quá. Sách Dược sư tam muội hành pháp do vị tăng đời Minh tên là Thụ đăng soạn chính đã được căn cứ vào pháp hối quá này.(xt. Dược Sư Tam Muội Hành Pháp)

dược sư hộ ma

6695請參閱 藥師琉璃光如來本願功德經 [1]又作七壇御修法、七佛藥師法。即日本台密以七佛藥師為本尊,為息災、增益所修之祕法。(參閱「七佛藥師法」98) ; (藥師護摩) Cũng gọi là Thất đàn ngự tu pháp, Thất Phật dược sư pháp. Là pháp tu của Thai mật Nhật bản lấy bảy đức Phật Dược sư làm bản tôn cầu tiêu trừ tai nạn, tăng thêm lợi ích. (xt. Thất Phật Dược Sư Pháp).

dược sư kinh

Xem Dược Sư Lưu Ly quang Như lai bản nguyện công đức kinh.

dược sư lưu li quang như lai bản nguyện công đức kinh

6695梵名 Bhagavān-bhaiṣajyaguru-vaidūryaprabhasya pūrvapraṇidhāna-viśeṣa-vistara。全一卷。唐代玄奘譯。略稱藥師如來本願功德經、藥師本願功德經、藥師本願經、藥師經。收於大正藏第十四冊。本經漢譯有五種(一說四種),依其譯出時間之先後為:(一)東晉帛尸梨密多羅譯(317~322 )本,(二)劉宋慧簡譯(457)本,(三)隋代達磨笈多譯(615)本,(四)唐代玄奘譯(650 )本,(五)唐代義淨譯(707)本。其中前三譯係強調藥師佛之功德,稱為藥師隨願經。義淨所譯者,稱為藥師琉璃光七佛本願功德經,或七佛藥師經;詳述七佛藥師之本願及其陀羅尼。一般最通行者為玄奘譯本,具有密教性質,以說明現世利益與淨土往生之思想為其特質。 西藏譯之藥師經有二種,其中一譯相當於本經,題為 Bcom-ldam ḥdas sman-gyi blavaidūryaḥi hod-kyi sṅon-gyi smon-lam-gyi khyad-par rgyas-pa。另一譯相當於義淨之譯本,題為 De-bshin-gśegs-pa bdun-gyi sṅon-gyi smon-lam-gyi khya -par rgyas-pa。 本經之注疏有實觀之藥師本願經義疏三卷,及窺基、靖邁、神泰、遁倫、憬興等之藥師本願經疏各一卷、太賢之藥師本願經古迹二卷等。〔開元釋教錄卷三、卷七、法經錄卷一、卷四、出三藏記集卷五新集疑經偽撰雜錄、至元法寶勘同總錄卷二〕 ; (藥師琉璃光如來本願功德經) Phạm : Bhagavàn-bhaiwajyaguruvaidùryaprabhasya pùrvapraịidhànavizewa-vistara. Có 1 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. Gọi tắt: Dược sư Như lai bản nguyện công đức kinh, Dược sư bản nguyện công đức kinh, Dược sư bản nguyện kinh, Dược sư kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 14. Kinh này có năm loại bản Hán dịch (có thuyết nói bốn loại), xếp theo thứ tự thời gian được dịch như sau : 1. Bản do ngài Bạch thi lê mật đa la dịch vào đời Đông Tấn (317- 322). 2. Bản do ngài Tuệ giản dịch vào đời Lưu Tống (475). 3. Bản do ngài Đạt ma cấp đa dịch vào đời Tùy (615). 4. Bản do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường (650). 5. Bản do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường (707). Trong năm bản dịch trên đây, các bản 1,2,3 nhấn mạnh về phương diện công đức của Phật Dược sư, gọi là Kinh Dược sư tùy nguyện. Bản dịch của ngài Nghĩa tịnh gọi là kinh Dược sư lưu li quang thất Phật bản nguyện công đức, hoặc kinh Thất Phật dược sư, trình bày rõ về bản nguyện và đà la ni của bảy đức Phật Dược sư. Bản dịch của ngài Huyền trang được lưu hành phổ biến nhất, lấy tư tưởng lợi ích hiện thế và vãng sinh Tịnh độ làm đặc chất. Tại Tây tạng, kinh Dược sư có hai bản dịch, trong đó, bản tương đương với kinh Dược sư lưu li quang như lai bản nguyện công đức đề là: Bcom-ldam #das smangyi bla vaidùrya#i hod-kyi síon-gyi smon-lam-gyi khyad-par rgyas-pa. Còn bản dịch tương đương với bản dịch của ngài Nghĩa tịnh thì đề là: De-bshingzegs-pa bdun-gyi síon-gyi smon-lamgyi khya-par rgyas-pa. Về sách chú sớ kinh này thì có: Dược sư bản nguyện kinh nghĩa sớ 3 quyển của ngài Thực quán, Dược sư bản nguyện kinh sớ của các ngài Khuy cơ, Tĩnh mại, Thần thái, Độn luân, Cảnh hưng v.v... của mỗi vị đều có 1 quyển, Dược sư bản nguyện kinh cổ tích 2 quyển của Thái hiền v.v... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.3, Q.7; Pháp kinh lục Q.1, Q.4; Xuất tam tạng kí tập Q.5; Tân tập nghi kinh ngụy soạn tạp lục; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.2].

Dược Sư Lưu Li Quang Phật

藥師琉璃光佛; S: bhaiṣajyaguruvaidūrya-prabha-buddha; |Dược Sư Phật

dược sư lưu ly quang như lai

Bheshajyaguru (S), Bhaisajyaguru-vaidurya-prabhasa Xem Bhaisajya Buddha. Cõi Lưu ly (bằng ngọc lưu ly, màu xanh, trong suốt), cõi tịnh độ của Phật Dược Sư, ở phía đông cõi ta bà. Công đức và sự trang nghiêm của cõi ấy giống như cõi cực lạc của Phật A di đà,.

dược sư lưu ly quang như lai bản nguyện công đức kinh

Bhagavan-bhaisayaguru-vaiduryapra-bhesya-pŪrṇapraṇidhāna-visesa-vistara (S)Dược sư Như lai bản nguyện kinh, Dược sư kinhTên một bộ kinh.

dược sư lưu ly quang như lai bổn nguyện công đức kinh

Yao-shih liu-li-kuang ju-lai pen-yuan kung-te ching (C)Tên một bộ kinh. Tên một bộ kinh.

dược sư lưu ly quang như lai phật

Xem Dược sư Phật.

dược sư lưu ly quang như lai tiêu tai trừ nạn niệm tụng nghi quĩ

Yao-shih liu-li-kuang ju-lai hsiao-tsai ch'u-nan nien-sung i-kuei (C)Tên một bộ kinh.

dược sư lưu ly quang phật

Xem Phật Dược sư.

dược sư lưu ly quang thất phật bổn nguyện công đức kinh

Yao-shih liu-li-kuang ch'i fo pen-yuan kung-te ching (C)Tên một bộ kinh. Tên một bộ kinh.

Dược sư lưu ly quang thất Phật bổn nguyện công đức kinh 藥師琉璃光七佛本願功德經

[ja] ヤクシホンガンキョウ Yakushi hongan kyō ||| The Yaoshi běnyuan jing 藥師琉璃光如來本願功德經 (j: Yakushi rurikō nyorai hongan kōtoku kyō; c: Yaoshi liuliguang rulai běnyuan gongde jing; s: Bhagavatobhaiṣajyaguruvaiḍūryaprabhasyapūrvapraṇidhānaviśeṣavistāra; t: bcom ldan 'das sman gyi bla bai ḍūrya'i 'od kyi sngon gyi smon lam gyi khyad par rgyas par; e: Original Vows of the MedicineMaster Tathāgata of Lapis Light) 1 fasc. [T 450.14.404409], tr. by Xuanzang 玄奘 at Dacien Monastery in 650 CE. English translation by Birnbaum (1979) , pp. 173217. [To.504, P.136] [ISK53] => (j: Yakushi rurikō nyorai hongan kōtoku kyō; c: Yaoshi liuliguang rulai běnyuan gongde jing; s: Bhagavatobhaiṣajyaguruvaiḍūryaprabhasyapūrvapraṇidhānaviśeṣavistāra; t: bcom ldan 'das sman gyi bla bai ḍūrya'i 'od kyi sngon gyi smon lam gyi khyad par rgyas par; e: Original Vows of the Medicine Master Tathāgata of Lapis Light) 1 quyển, Huyền Trang dịch tại chùa Từ Ân năm 650. Có bản dịch tiếng Anh của Birnbaum (1979). Dược sư lưu ly quang Như Lai bổn nguyện công đức kinh 藥師琉璃光如來本願功德經[ja] ヤクシルリコウシチブツホンガンクトクキョウ Yakushi rurikō shichibutsu hongan kōtoku kyō ||| The Yaoshi liuliguang qifo benyuan gongde jing; Skt. Saptatathāgatapūrvapraṇidhānaviśeṣavistāra Tib. de bzhin gshegs pa bdun gyi sngon gyi smon lam gyi khyad par rgyas pa'i mdo sde'i man nag; (Original Vows of the Seven Medicine Master Buddhas of Lapis Light) 2 fasc. [T 451.14.409418], tr. Yijing 義淨 in 707. For an English translation see Birnbaum (1979), pp.173217. [To.503, P.135] [ISK53] => (j: Yakushi rurikō shichibutsu hongan kōtoku kyō; c: Yaoshi liuliguang qifo benyuan gongde jing; s: Saptatathāgatapūrvapraṇidhānaviśeṣavistāra; t: de bzhin gshegs pa bdun gyi sngon gyi smon lam gyi khyad par rgyas pa'i mdo sde'i man nag; e: Original Vows of the Seven Medicine Master Buddhas of Lapis Light); 2 quyển, Nghĩa Tịnh (c: Yijing 義淨) dịch năm 707. Về bản dịch tiếng Anh, xem tác phẩm của Birnbaum (1979).

dược sư lưu ly quang vương như lai

Bhaiṣajyaguru-vaiḍŪryaprabhārāja-tathāgata (S), Bhaiṣajyaguru-Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.

dược sư lưu ly quang vương phật

Bhaichadjyaguru (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.

dược sư lưu ly quang vương thất phật bổn nguyện công đức kinh niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp

Yao-shih liu-li-kuang-wang ch'i-fo pen-yuan kung-te ching nien-sung i-kuei kung-wang Tên một bộ kinh.

dược sư lưu ly quang vương thất phật bổn nguyện công đức kinh niệm tụng nghi quỹ

Yao-shih liu-li-kuang-wang ch'i-fo pen-yuan kung-te ching nien-sung i-kuei (C)Tên một bộ kinh.

dược sư nghi quỹ nhất cụ

Yao-shih i-kuei i-chu (C)

dược sư như lai

Xem Dược sư Phật.

dược sư như lai bản nguyện kinh

Xem Dược Sư Lưu Ly quang Như lai bản nguyện công đức kinh.

dược sư như lai bổn nguyện kinh

Yao-shih ju-lai pen-yuan ching (C)Tên một bộ kinh. Tên một bộ kinh.

dược sư như lai bổn nguyện kinh tự

Yao-shih ju-lai pen-yuan ching hsu (C)Tên một bộ kinh.

dược sư như lai hiện quán giản lược nghi quĩ

Yao-shih ju-lai hsien-kuan chien-lueh i-kuei (C)Tên một bộ kinh.

dược sư như lai niệm tụng nghi quĩ

Yao-shih ju-lai nien-sung i-kuei (C)Tên một bộ kinh.

dược sư như lai quán hạnh nghi quỹ pháp

Yao-shih ju-lai kuan hsing i-kuei fa (C)Tên một bộ kinh.

Dược Sư Phật

藥師佛; S: bhaiṣajyaguru-buddha; J: yakushi; gọi đầy đủ là Dược Sư Lưu Li Quang Phật (s: bhaiṣajyaguruvaidūrya-prabha-buddha);|Vị Phật đại diện cho sự trọn vẹn của Phật quả. Ngài ngự cõi phía đông (Tịnh độ), tranh tượng hay vẽ tay trái Ngài cầm thuốc chữa bệnh, tay mặt giữ Ấn thí nguyện.|Phật Dược Sư thường được thờ chung với Phật Thích-ca Mâu-ni và A-di-đà, trong đó Ngài đứng bên trái còn Phật A-di-đà đứng bên mặt đức Thích-ca. Trong kinh Dược Sư – hiện nay chỉ còn bản chữ Hán và chữ Tây Tạng – người ta đọc thấy 12 lời nguyện của Ngài, thệ cứu độ chúng sinh, với sự giúp đỡ của chư Phật, Bồ Tát và 12 vị Hộ Pháp và Thiên vương.||H 22: Dược Sư Phật. Trong các tranh tượng, Ngài luôn luôn được trình bày với những cây cỏ có vị thuốc (dược thảo). Trong hình này, tay phải Ngài bắt ấn thí nguyện (cho phép, s: varada-mudrā) và cầm một nhánh cây Myrobalan (s: harītakī, tên khoa học là terminalia bellerica, người Việt gọi là cây Bàng biển. Cây này cho hạt màu xám nhung với tinh dầu có tác dụng nhuận trường). Tay trái của Ngài cầm bình bát, cũng có lúc cầm một hộp linh dược.|Tại Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản và Việt Nam, Phật Dược Sư được thờ cúng rộng rãi. Các lời nguyện của Phật Dược Sư: 1. Phát hào quang chiếu sáng mọi chúng sinh; 2. Cho chúng sinh biết đến Nhất thiết trí của mình; 3. Cho chúng sinh thực hiện được ước nguyện; 4. Hướng dẫn chúng sinh đi trên đường Ðại thừa; 5. Giúp chúng sinh giữ giới hạnh; 6. Giúp chúng sinh chữa lành các thứ bệnh do sáu giác quan sinh ra; 7. Chữa bệnh thuộc về thân tâm cho mọi chúng sinh; 8. Cho phụ nữ tái sinh trở thành nam giới; 9. Tránh cho chúng sinh khỏi rơi vào tà kiến và giúp trở về chính đạo; 10. Tránh cho chúng sinh khỏi tái sinh trong thời mạt kiếp; 11. Ðem thức ăn cho người đói khát; 12. Ðem áo quần cho người rét mướt.

dược sư phật

6693 請參閱 藥師琉璃光如來本願功德經 [1]藥師,梵名 Bhaiṣajyaguru,音譯作鞞殺社窶嚕。又作藥師如來、藥師琉璃光如來、大醫王佛、醫王善逝、十二願王。為東方淨琉璃世界之教主。此佛於過去世行菩薩道時,曾發十二大願,願為眾生解除疾苦,使具足諸根,導入解脫,故依此願而成佛,住淨琉璃世界,其國土莊嚴如極樂國。此佛誓願不可思議,若有人身患重病,死衰相現,眷屬於此人臨命終時晝夜盡心供養禮拜藥師佛,讀誦藥師如來本願功德經四十九遍,燃四十九燈,造四十九天之五色綵幡,其人得以蘇生續命。此種藥師佛之信仰自古即盛行。 藥師佛之形像,據藥師琉璃光王七佛本願功德念誦儀軌供養法載,左手執持藥器(又作無價珠),右手結三界印,著袈裟,結跏趺坐於蓮花臺,臺下有十二神將。此十二神將誓願護持藥師法門,各率七千藥叉眷屬,在各地護祐受持藥師佛名號之眾生。 又一般流傳之像為螺髮形,左手持藥壺,右手結施無畏印(或與願印),日光、月光二菩薩脅侍左右,並稱為藥師三尊。此二脅侍在藥師佛之淨土為無量眾中之上首,是一生補處之菩薩。亦有以觀音、勢至二菩薩為其脅侍者。此外,或以文殊師利、觀音、勢至、寶壇華、無盡意、藥王、藥上、彌勒等八菩薩為其侍者。 依唐代義淨譯藥師琉璃光七佛本願功德經載,藥師佛又作七佛藥師。即善稱名吉祥王如來、寶月智嚴光音自在王如來、金色寶光妙行成就如來、無憂最勝吉祥如來、法海雷音如來、法海慧遊戲神通如來、藥師琉璃光如來。其中前六如來為藥師如來之分身。七佛藥師法則為日本台密四大法之一。如以藥師如來為本尊,修息災等法,則稱為藥師法。其儀軌與七佛藥師法相同。其三昧耶形為藥壺。真言有大咒與小咒之分,小咒為「唵呼嚧呼嚧戰馱利摩橙祇莎訶」。又此如來與阿閦、大日或釋迦同體。〔藥師如來本願經(隋代達摩笈多譯)、藥師琉璃光如來消災除難念誦儀軌、藥師如來觀行儀軌法、續高僧傳卷三十隋真觀傳、宋高僧傳卷二十四唐元皎傳、出三藏記集卷五新集疑經偽撰雜錄、古今圖書集成神異典第九十一佛像部〕 ; Bhaiṣajyaguru-Buddha (S), Bhaiṣajyaguru-vaiḍŪrya-prabhāsa (S), Yakushi Nyorai (J), Yakushi Nyorai (J), Bhaiṣajya Buddha (S)Xem Bheshajyaguru. Trị tất cả bệnh, kễ cả bệnh vô minh. Ngài ngự phương đông. Ngài có 12 lời nguyện: 1- tỏ rõ tất cả chúng sanh bằng hào quang rực rỡ của Ngài 2- dùng tất cả tâm lực của Ngài để cứu độ chúng sanh 3- giúp chu toàn mọi tâm nguyện của chúng sanh 4- giúp mọi chúng sanh được vào nẻo đại thừa 5- giúp mọi chúng sanh thấy đưọc giới luật 6- trị lành tất cả chúng sanh có giác quan bất toàn 7- giúp trị tất cả bệnh tật và đem an lạc đến thân tâm hầu chóng đạt giác ngộ 8- kiếp sau người nữ sẽ thành người nam 9- giúp mọi chúng sanh thoát vòng kiểm toả của tà giáo để quay về nẻo chánh 10- giúp mọi chúng sanh thoát nanh vuốt kẻ bạo ngược ác đạo 11- giúp kẽ đói được thức ăn kẽ khát có nước uống 12- giúp kẽ nghèo có y phục che thân. ; Bhaisajya-guru-vaidùrya-prabhàsa (S). The Buddha of Medicine. ; Bhaisajya-Guru-vaidurya-prabhasa (skt)—Bề Sát Xã Lũ Lô—Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai—Đại Y Vương Phật—Y Vương Thiện Thệ—Phật Dược Sư Lưu Ly Quang, giáo chủ của nước Tịnh Lưu Ly ở phương đông, có khả năng chữa lành bá bệnh cho chúng sanh, kể cả bệnh vô minh hay ngu si (theo Kinh Dược Sư, Đức Phật Thích Ca bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng từ đây đi sang phương đông qua mười muôn cõi Phật, có một thế giới gọi là Tịnh Lưu Ly, có Đức Phật hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nầy Văn Thù Sư Lợi, khi Đức Phật Dược Sư còn là vị Bồ Tát, ngài đã phát 12 đại nguyện lớn, khiến cho các loại hữu tình cầu sao được vậy). Hình tượng của Ngài thường được đặt bên trái của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Xuất xứ của Ngài chưa được biết rõ, nhưng có nhiều kinh liên hệ tới ngài—The Buddha of Medicine, who heals all diseases, including the disease of ignorance. His image is often at the left of Sakyamuni Buddha's, and he is associated with the east. The history of this personification is not yet known, but there are several sutras relating to him. When he was a Bodhisattva, he initiated 12 great vows to cause living beings to obtain what they wish. ; (藥師佛) Dược sư, Phạm: Bhaiwajyaguru, âm Hán: Bệ sát xã lũ rô. Cũng gọi Dược sư Như lai; Dược sư lưu li quang Như lai, Đại y vương Phật, Y vương thiện thệ, Thập nhị nguyện vương. Là vị giáo chủ của thế giới Tịnh lưu li ở phương Đông. Khi còn tu đạo Bồ tát ở thời quá khứ, đức Phật Dược sư đã từng phát 12 nguyện lớn, nguyện diệt trừ các nỗi khổ do tật bệnh gây nên cho chúng sinh, khiến họ đầy đủ các căn, cuối cùng được đạo giải thoát; nhờ thệ nguyện ấy mà Ngài được thành Phật, trụ ở thế giới Tịnh lưu li, cõi nước của Ngài đẹp đẽ trang nghiêm như nước Cực lạc. Thệ nguyện của đức Phật Dược sư không thể nghĩ bàn, nếu có người bị bệnh nặng, hiện tướng tử vong, lúc sắp chết, họ hàng thân thuộc của người này đêm ngày dốc lòng cúng dường lễ bái đức Phật Dược sư, thắp 49 ngọn đèn, làm 49 lá phan trời năm mầu, tụng 49 biến kinh Dược sư Như lai bản nguyện công đức, thì người ấy sẽ được sống lại. Tín ngưỡng Phật Dược sư đã rất thịnh hành từ xưa đến nay. Cứ theo Dược sư lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đức niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp, thì hình tượng của Phật Dược sư là: Tay trái cầm dược khí (bình thuốc, cũng gọi là ngọc vô giá), tay phải bắt ấn Tam giới, mặc áo ca sa, ngồi kết già (ngồi xếp bằng) trên đài hoa sen, dưới đài có 12 thần tướng. Mười hai thần tướng này thề nguyền hộ trì pháp môn Dược sư, mỗi vị cầm đầu 7000 Dược xoa quyến thuộc, ở các nơi để bảo vệ những chúng sinh thụ trì danh hiệu Phật Dược sư. Lại nữa, hình tượng phổ thông được lưu truyền là hình tượng có tóc xoắn ốc, tay trái cầm bình thuốc, tay phải bắt ấn Thí vô úy (hoặc ấn Dữ nguyện), hai bồ tát Nhật quang, Nguyệt quang đứng hầu hai bên, gọi chung là Dược sư tam tôn. Hai vị đứng hầu hai bên này là bậc Thượng thủ trong vô lượng chúng ở cõi Tịnh độ của Phật Dược sư, là các bồ tát Nhất sinh bổ xứ. Cũng có chỗ đặt bồ tát Quan âm và bồ tát Thế chí đứng hầu hai bên Phật Dược sư. Ngoài ra, cũng có thuyết lấy tám vị bồ tát: Văn thù sư lợi, Quan âm, Thế chí, Bảo đàn hoa, Vô tận ý, Dược vương, Dược thượng, Di lặc v.v... làm thị giả của đức Phật này. Theo kinh Dược sư lưu li quang thất Phật bản nguyện công đức do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, thì Phật Dược sư còn có tên là Thất Phật Dược sư. Tức là bảy đức Như lai gồm: Thiện xưng danh cát tường vương Như lai, Bảo nguyệt trí nghiêm âm tự tại vương Như lai, Kim sắc bảo quang diệu hạnh thành tựu Như lai, Vô ưu tối thắng cát tường Như lai, Pháp hải lôi âm Như lai, Pháp hải tuệ như ý thần thông Như lai và Dược sư lưu li quang Như lai. Trong đó, sáu vị Như lai trước là những phân thân của đức Dược sư Như lai. Pháp Thất Phật dược sư là một trong bốn pháp lớn của Thai mật Nhật bản. Nếu các pháp tu cầu tiêu trừ tai ách lấy Dược sư Như lai làm bản tôn, thì gọi là Dược sư pháp. Nghi quĩ của pháp này cũng giống như pháp Thất Phật dược sư. Hình tam muội da là bình thuốc. Chân ngôn thì có Đại chú và Tiểu chú khác nhau; Tiểu chú là: Án hô lô hô lô chiến đà lợi ma đằng chỉ sa ha. Ngoài ra, Dược sư Như lai là cùng thể với các đức Như lai A súc, Đại nhật hoặc Thích ca. [X. kinh Dược sư như lai bản nguyện (ngài Đạt ma cấp đa dịch vào đời Tùy); Dược sư lưu li quang Như lai tiêu tai trừ nạn niệm tụng nghi quĩ; Dược sư Như lai quán hành nghi quĩ pháp; Tục cao tăng truyện Q.30 truyện ngài Chân quán đời Tùy; Tống cao tăng truyện Q.24 truyện ngài Nguyên kiểu đời Đường; Xuất tam tạng kí tập Q.5 Tân tập nghi kinh ngụy soạn tạp lục; Cổ kim đồ thư tập thành dị điển thứ 91 Phật tượng bộ].

dược sư tam muội hành pháp

6692全一卷。明代僧受登纂集。收於卍續藏第一二九冊。本書係根據藥師如來本願功德經而作之懺法書。旨在說明依藥師如來之誓願而離苦得樂之行法。內容包括:(一)定名,敘述藥師三昧名稱之緣由。(二)勸修,勸誡修習本三昧,則所求長壽、富饒、官位、男女等,皆得順遂。(三)方法,揭示供養藥師如來之方法。(四)釋疑,因當時西方往生之思想極為盛行,故作釋疑,以肯定本書為致福消災之要法及明心作佛之祕典。後世凡消災延壽之法事,多禮拜此懺,即今所謂之「藥師懺」。 ; (藥師三昧行法) Có 1 quyển, do Tăng thụ đăng soạn vào đời Minh, thu vào Vạn tục tạng tập 129. Là sám pháp được soạn theo kinh Dược sư Như lai bản nguyện công đức, nói rõ việc sám hối theo đúng thệ nguyện của Dược sư như lai sẽ thoát khổ nạn, được yên vui. Nội dung gồm: 1. Định danh: Trình bày nguồn gốc của danh xưng Dược sư tam muội. 2. Khuyến tu: Khuyên bảo tu tập tam muội này thì những điều mong cầu như sống lâu, giàu có, quan tước, con trai, con gái v.v... đều được toại nguyện. 3. Phương pháp: Chỉ bày phương pháp cúng dường Dược sư Như lai. 4. Thích nghi: Vì thời bấy giờ tư tưởng vãng sinh Tây phương rất thịnh hành, cho nên soạn giả phải giải thích sự nghi ngờ để khẳng định sách này là pháp trọng yếu để cầu phúc đức, trừ tai ách. Đến đời sau, phàm các việc cầu qua hoạn nạn được sống lâu, phần nhiều đều lễ bái theo pháp sám này, tức là Dược sư sám hiện nay.

dược sư tam tôn

6693又稱東方三聖。即中尊藥師如來,左脅侍日光遍照菩薩,右脅侍月光遍照菩薩。藥師如來本願經(大一四‧四○二上):「於其國中有二菩薩摩訶薩,一名日光,二名月光。於彼無量無數諸菩薩眾最為上首,持彼世尊藥師琉璃光如來正法之藏。」(參閱「藥師佛」6694) ; Gồm ba vị tôn quý, Phật Dược Sư ở giữa, bên trái (tả trợ) là Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, bên phải (hữu trợ) là Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát—The three honoured doctors, with Yao-Shih in the middle, assistant on his left is the Bodhisattva Sunlight Everywhere-Shining, assistant on his is the Bodhisattva Moonlight Everywhere-Shining. ; (藥師三尊) Cũng gọi Đông phương tam thánh (Ba bậc Thánh ở phương Đông). Tức là đức Dược sư Như lai ở chính giữa, bồ tát Nhật quang biến chiếu đứng hầu bên trái, bồ tát Nguyệt quang biến chiếu đứng hầu bên phải. Kinh Dược sư Như lai bản nguyện (Đại 14, 402 thượng), nói: Ở trong nước ấy có hai vị Đại bồ tát: Một là Nhật quang, hai là Nguyệt quang, là hàng Thượng thủ (đứng đầu) trong vô lượng vô số các vị Bồ tát, giữ gìn kho chính pháp của đức Thế tôn Dược sư lưu li quang Như lai. (xt. Dược Sư Phật).

Dược sư thất Phật cúng dường nghi quỹ như ý vương kinh 藥師七佛供養儀軌如意王經

[ja] ヤクシシチブツクヨウギキニョイオウキョウ Yakushi shichibutsu kuyō giki nyoiō kyō ||| The Yaoshi qifo gongyang yigui ruyiwang jing (Ritual Procedure for Making Offerings to the Seven HealingMaster Buddhas, the WishFulfilling Kings). 1 fasc. (T 927.19.4862), tr. mGon po skyabs 工布査布. => (j: Yakushi shichibutsu kuyō giki nyoiō kyō; c: Yaoshi qifo gongyang yigui ruyiwang jing; e: Ritual Procedure for Making Offerings to the Seven HealingMaster Buddhas, the Wish Fulfilling Kings). 1 quyển. Công-bố Tra-bố (t: mGon po skyabs 工布査布) dịch.

dược sư thập nhị nguyện

Bhaishajya-Guru's Twelve Vows—See Mười Hai Lời Nguyện Của Dược Sư Lưu Ly Quang Phật in Vietnamese-English Section.

Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng

(藥師十二神將): xem Thập Nhị Dược Xoa Đại Tướng (十二藥叉大將) bên dưới.

dược sư thập nhị thần tướng

6691又作十二神王、十二神將、十二藥叉大將。為藥師佛之眷屬,即守護誦持藥師經者之十二夜叉神將;或以其為藥師佛之分身。每一神將各擁有七千藥叉,計為八萬四千護法神。即:(一)宮毘羅,又作金毘羅,意譯為極畏。身呈黃色,手持寶杵,以彌勒菩薩為本地。(二)伐折羅,又作跋折羅、和耆羅,意譯為金剛。身呈白色,手持寶劍,以大勢至菩薩為本地。(三)迷企羅,又作彌佉羅,意譯為執嚴。身呈黃色,手持寶棒或獨鈷,以阿彌陀佛為本地。(四)安底羅,又作頞儞羅、安捺羅、安陀羅,意譯為執星。身呈綠色,手持寶鎚或寶珠,以觀音菩薩為本地。(五)頞爾羅,又作末爾羅、摩尼羅,意譯為執風。身呈紅色,手持寶叉或矢,以摩利支菩薩為本地。(六)珊底羅,又作娑儞羅、素藍羅,意譯為居處。身呈煙色,手持寶劍或螺貝,以虛空藏菩薩為本地。(七)因達羅,又作因陀羅,意譯為執力。身呈紅色,手持寶棍或鉾,以地藏菩薩為本地。(八)波夷羅,又作婆耶羅,意譯為執飲。身呈紅色,手持寶鎚或弓矢,以文殊菩薩為本地。(九)摩虎羅,又作薄呼羅、摩休羅,意譯為執言。身呈白色,手持寶斧,以藥師佛為本地。(十)真達羅,又作真持羅,意譯為執想。身呈黃色,手持羂索或寶棒,以普賢菩薩為本地。(十一)招度羅,又作朱杜羅、照頭羅,意譯為執動。身呈青色,手持寶鎚,以金剛手菩薩為本地。(十二)毘羯羅,又作毘伽羅,意譯為圓作。身呈紅色,手持寶輪或三鈷,以釋迦牟尼佛為本地。 或謂十二神將於晝夜十二時、四季十二個月輪流守護眾生,若以地十二支逆配十二神將,則宮毘羅屬亥,伐折羅屬戌,招度羅屬丑,毘羯羅屬子等。其配屬關係及本地、持物等,表解如下: 蓋於藥師經並未舉出十二神將配於十二支之說,又一行阿闍棃詮集、妙見菩薩神咒經等亦未見記載,故此說為何人所傳不詳。疑係十二之數與十二支之數相合,且大方等大集經卷二十三舉有十二獸之說,故後世附會之,遂產生種種說法。〔藥師七佛供養儀軌如意王經、藥師如來本願功德經、藥師琉璃光王七佛本願功德念誦儀軌供養法、灌頂經卷十二、陀羅尼經卷二、淨琉璃淨土標〕 ; See Thập Nhị Thần Minh Vương. ; (藥師十二神將) Mười hai vị tướng thần Dược sư. Cũng gọi Thập nhị thần vương, Thập nhị thần tướng, Thập nhị Dược xoa đại tướng, quyến thuộc của đức Phật Dược sư. Tức là 12 vị Dược xoa thần tướng ủng hộ và bảo vệ những người trì tụng kinh Dược sư. Hoặc có thuyết cho 12 vị thần tướng này là những phân thân của đức Phật Dược sư. Mỗi vị thần tướng cầm đầu 7.000 Dược xoa, tổng cộng là 84.000 vị thần hộ pháp. Mười hai vị thần tướng Dược sư là : 1. Cung tì la, cũng gọi Kim tì la, nghĩa là rất sợ. Vị này thân màu vàng, tay cầm chiếc chày báu, lấy bồ tát Di lặc làm bản địa. 2. Phạt chiết la, cũng gọi Bạt chiết la, Hòa kì la, nghĩa là kim cương. Thân màu trắng, cầm gươm báu, lấy bồ tát Đại thế chí làm bản địa. 3. Mê xí la, cũng gọi Di khư la, nghĩa là chấp nghiêm. Mình màu vàng, tay cầm gậy báu hoặc chày một chĩa, lấy Phật A di đà làm bản địa. 4. An để la, cũng gọi Át nễ la, An nại la, An đà la, nghĩa là chấp tinh. Thân màu xanh lá cây, tay cầm chiếc dùi báu hoặc viên ngọc báu, lấy bồ tát Quan âm làm bản địa. 5. Át nhĩ la, cũng gọi Mạt nhĩ la, Ma ni la, nghĩa là chấp phong. Thân màu đỏ lợt, tay cầm cái chĩa hoặc mũi tên báu, lấy bồ tát Ma lợi chi làm bản địa. 6. San để la, cũng gọi Sa nễ la, Tố lam la, nghĩa là chỗ ở. Thân màu lam, tay cầm gươm hoặc tù và báu, lấy bồ tát Hư không tạng làm bản địa. 7. Nhân đạt la, cũng gọi Nhân đà la, nghĩa là chấp lực. Thân màu đỏ, tay cầm cái côn hoặc cái mâu báu, lấy bồ tát Địa tạng làm bản địa. 8. Ba di la, cũng gọi Bà da la, nghĩa là chấp ẩm. Thân màu đỏ lợt, tay cầm dùi hoặc cung tên báu, lấy bồ tát Văn thù làm bản địa. 9. Ma hổ la, cũng gọi Bạc hô la, Ma hưu la, nghĩa là chấp ngôn. Thân màu trắng, tay cầm cái rìu báu, lấy Phật Dược sư làm bản địa. 10. Chân đạt la, cũng gọi Chân trì la. Thân màu vàng, tay cầm giây lụa hoặc cây gậy báu, lấy bồ tát Phổ hiền làm bản địa. 11. Chiêu độ la, cũng gọi Chu đỗ la, Chiếu đầu la, nghĩa là chấp động. Thân màu xanh, cầm cái dùi báu, lấy bồ tát Kim cương thủ làm bản địa. 12. Tì yết la, cũng gọi Tì già la, nghĩa là viên tác. Thân màu đỏ, tay cầm bánh xe báu hoặc chày ba chẽ, lấy Phật Thích ca mâu ni làm bản địa. Có thuyết nói 12 vị thần tướng này trong 12 giờ ban ngày, 12 giờ ban đêm, 12 tháng trong bốn mùa thay phiên nhau giữ gìn ủng hộ chúng sinh. Nếu phối hợp 12 thần tướng với 12 địa chi ngược lên thì Cung tì la thuộc Hợi, Phạt chiết la thuộc Tuất, Chiêu độ la thuộc Sửu, Tì yết la thuộc Tí v.v... Quan hệ phối với 12 địa chi, bản địa và vật cầm tay của 12 vị thần tướng được đồ biểu như sau: 12 thần tướng 12 Địa chi Bản địa Vật cầm tay Tì Yết La Hợi Thần Di Lặc Chày Báu Phạt Chiết La Tuất Thần Đại Thế Chí Gươm Báu Mê Xí La Dậu Thần A Di Đà Chày Một Chĩa An Để La Thân Thần Quan Thế Âm Ngọc Báu Át Nhĩ La Mùi Thần Ma Lị Chi Mũi Tên San Để La Ngọ Thần Hư Không Tạng Tù Và Nhân Đạt La Tị Thần Địa Tạng Cây Mâu Ba Di La Thìn Thần Văn Thù Cung Tên Ma Hổ La Mão Thần Dược Sư Rìu Báu Chân Đạt La Dần Thần Phổ Hiền Gậy Báu Chiêu Độ La Sửu Thần Kim Cương Thủ Dùi Báu Tì Yết La Tí Thần Thích Ca Chày Ba Chĩa Vì trong kinh Dược sư không thấy đề cập đến thuyết phối hợp 12 địa chi với 12 Thần tướng, vả lại, trong Nhất hạnh a xà lê thuyên tập và kinh Diệu kiến bồ tát thần chú v.v... cũng không thấy có ghi chép, cho nên thuyết này đã do ai truyền thì không được rõ. E rằng con số 12 thần tướng với con số 12 địa chi phù hợp nhau, hơn nữa, kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 23 có nêu thuyết 12 con thú, bởi thế đời sau phụ họa mà đặt ra thuyết này. [X.kinh Dược sư thất Phật cúng dường nghi quĩ như ý vương; kinh Dược sư như lai bản nguyện công đức; Dược sư lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đức niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp; kinh Quán đính Q.12; kinh Đà la ni Q.2; Tịnh lưu li tịnh độ tiêu].

dược sư thập nhị thệ nguyện

See Mười Hai Lời Nguyện Của Dược Sư Lưu Ly Quang Phật in Vietnamese-English Section.

dược sư thập nhị đại nguyện

6691指藥師佛於過去世修菩薩行時,所發利導眾生之十二大願。又作十二大願、十二上願。即:(一)願我來世得菩提時,自身光明熾然,照耀無量世界,以三十二相、八十種好莊嚴,令一切有情如我無異。(二)願身如琉璃,內外清淨無垢,光明過日月,幽冥眾生悉蒙開曉。(三)願以智慧方便令諸有情皆得受用無盡。(四)令行邪道者,皆安住菩提道中;行二乘之道者,亦皆以大乘之道安立之。(五)於我法中修行梵行者,一切戒不缺減。(六)諸根不具、白癩顛狂,乃至種種病苦者,聞我名皆諸根具足,無諸疾苦。(七)眾病逼切,無護無依者,聞我名,眾患悉除。(八)若有女人願捨女形者,聞我名,成丈夫相。(九)令眾生皆脫魔網,置於正見,速證無上正等菩提。(十)若為王法所縛,身心受無量災難煎迫之苦,此等眾生若聞我名,以我福力,皆得解脫一切憂苦。(十一)為饑渴所惱而造諸惡業者,若聞我名,我先以妙色香味食,飽足其身,後以法味畢竟安樂。(十二)貧無衣服者,聞我名,我當施彼隨用衣服,乃至莊嚴之具,皆令滿足。〔藥師如來本願功德經〕 ; (藥師十二大願) Mười hai thệ nguyện lớn của Phật Dược sư. Cũng gọi Thập nhị đại nguyện, Thập nhị thượng nguyện. Khi còn tu hạnh Bồ tát ở thời quá khứ, đức Phật Dược sư đã phát 12 thệ nguyện làm lợi ích chúng sinh là: 1. Tôi nguyện trong đời vị lai, khi được đạo Bồ đề, ánh sáng từ nơi thân tôi chiếu soi vô lượng thế giới, dùng 32 tướng và 80 vẻ đẹp trang nghiêm làm cho tất cả hữu tình cũng đều được như tôi không khác. 2. Nguyện thân tôi như lưu li, trong ngoài thanh tịnh, sáng hơn mặt trời mặt trăng, chúng sinh trong những nơi tối tăm đều được nhờ ánh sáng của tôi soi rọi. 3. Tôi nguyện dùng phương tiện trí tuệ khiến các hữu tình đều được thụ dụng không hết. 4. Tôi nguyện khiến những người làm đạo tà đều được an trụ trong đạo Bồ đề, những người tu đạo Nhị thừa đều ở yên trong đạo Đại thừa. 5. Tôi nguyện những người tu phạm hạnh trong giáo pháp của tôi đều giữ trọn vẹn tất cả các giới cấm. 6. Tôi nguyện những người không đủ các căn, bị bệnh phong, điên khùng và những loại bệnh khác, khi nghe tên tôi thì các căn được đầy đủ, hết mọi bệnh khổ. 7. Người bị bệnh tật bức bách, không ai chăm sóc, không nơi nương tựa, được nghe tên tôi thì các bệnh đều tiêu tan. 8. Nếu có người nữ nguyện bỏ thân nữ, được nghe tên tôi thì sẽ thành tướng trượng phu. 9. Khiến chúng sinh đều thoát khỏi lưới ma, được chính kiến, mau chứng Vô thượng chính đẳng bồ đề. 10. Nếu bị phép vua trừng trị, thân tâm bị vô lượng khổ nạn bức bách, những chúng sinh ấy được nghe tên tôi đều thoát khỏi tất cả lo khổ. 11. Nếu người vì đói khát mà phải gây nghiệp ác, được nghe tên tôi thì trước hết tôi đem cho thức ăn ngon để nuôi thân, sau đó, ban cho pháp vị khiến được yên vui vĩnh viễn. 12. Những người nghèo khó không có quần áo, được nghe tên tôi, tôi sẽ cấp cho y phục tùy theo sở thích, cho đến các vật trang nghiêm đều được đầy đủ. [X. kinh Dược sư Như lai bản nguyện công đức].

Dược Sư Tự

(藥師寺, Yakushi-ji): ngôi đại bản sơn của Pháp Tướng Tông, hiện tọa lạc tại Nishinokyō-chō (西ノ京町), Nara-shi (奈良市), Nara-ken (奈良縣), một trong 7 ngôi đại tự của Phật Giáo Nam Đô. Vào năm thứ 9 (680) đời Thiên Võ Thiên Hoàng (天武天皇, Temmu Tennō), nhà vua phát nguyện kiến lập chùa để cầu nguyện cho Hoàng Hậu được lành bệnh. Sau khi Thiên Hoàng qua đời, Trì Thống Thiên Hoàng (持統天皇, Jitō Tennō) tiếp tục sự nghiệp xây dựng chùa và đến năm 698 mới hoàn thành. Cùng với sự di chuyển của kinh đô về Bình Thành (平城, Heizei), tương truyền chùa cũng được dời vào năm thứ 2 (718) niên hiệu Dưỡng Lão (養老), và đến năm thứ 2 (730) niên hiệu Thiên Bình (天平) thì Đông Tháp được dựng lên. Vào năm đầu (749) niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo (天平勝寳), ruộng, lúa và vật phẩm bắt đầu được dâng cúng cho chùa. Chùa được sự bảo hộ của quốc gia với tư cách là Quan Tự; Tối Thắng Hội (最勝會) khởi đầu vào năm thứ 7 (830) niên hiệu Thiên Trường (天長) là một trong 3 lễ hội quan trọng của chùa. Sự phối trí trong già lam có 2 ngôi tháp phía Đông và Tây nằm phía trước Kim Đường theo dạng thức của Dược Sư Tự. Sau nhiều trận hỏa tai như lần vào năm đầu (1528) niên hiệu Hưởng Lộc (享祿), v.v., kiến trúc lúc mới xây dựng chùa chỉ còn lại Đông Tháp mà thôi và nó được xem như là tài sản văn hóa quan trọng. Tượng Dược Sư Tam Tôn (藥師三尊) được an trí tại Kim Đường (金堂) là bức tượng được đúc bằng đồng vàng theo dạng thức thời Thịnh Đường của Trung Quốc, là tác phẩm trứ danh trong lịch sử điêu khắc thời cổ đại của Nhật Bản. Tượng Thánh Quan Âm (聖觀音) ở Đông Viện Đường (東院堂) mang cả hai yếu tố thời Bạch Phụng (白鳳, Hakuhō) và Trung Quốc, là bức tượng nổi tiếng được đánh giá cổ hơn cả bức Dược Sư Tam Tôn. Ngoài ra, tranh vẽ Cát Tường Thiên (吉祥天) là tượng thiên nữ, được vẽ trên vải đay, thể hiện tư thế của người phụ nữ thời nhà Đường Trung Quốc. Gần đây, qua lần phục hưng Kim Đường, Tây Tháp và Trung Môn, chùa đã được chỉnh đốn cảnh quan khá nhiều. Những câu chuyện truyền khẩu về khởi nguyên của chùa cũng như sự linh nghiệm của tượng thờ chính được tìm thấy rải rác trong các thư tịch cho đến cuối thời Trung Đại. Đặc biệt, điều đáng lưu ý ở đây là sự hiện hữu của Hành Cơ (行基, Gyōki)—vị cao tăng của Dược Sư Tự. Ông đã hoạt động tích cực và tạo ra rất nhiều câu chuyện cũng như truyền thuyết về ông, từ đó gây ảnh hưởng rất lớn cho hậu thế. Bên cạnh đó, Cảnh Giới (景戒, Keikai) cũng có soạn cuốn Nhật Bản Linh Dị Ký (日本靈異記)—tập thuyết thoại đầu tiên của Nhật Bản và được xem như là tiếng vang của nền văn học thuyết thoại Phật Giáo. Hiện tồn có nhiều loại thư tịch liên quan đến nguồn gốc của chùa, nhưng bản tối cổ là bản năm thứ 4 (1015) niên hiệu Trường Hòa (長和).

dược sư tự

6693請參閱 藥師琉璃光如來本願功德經 請參閱 藥師琉璃光如來本願功德經<一>位於日本奈良市西京。又稱西京寺。為日本法相宗大本山之一,南都七大寺之一。天武天皇(673~686 在位)為祈願皇后(後即位為持統天皇)疾癒,於藤原宮創建本寺。元正天皇養老二年(718), 因營建平城京(奈良),與諸大寺移建至現址,堂塔完備,蔚為大伽藍。自天長七年(830) 起,勤修最勝會(南京三會之一)。 天延元年(973) 遭火災,除佛殿、東西二塔外,餘皆焚燬。後經數度重建,今除東塔外,他如佛殿、講堂、東院堂等,皆江戶時代之建築。東塔為三重塔,每層各附有裳層,狀似六重塔,為奈良前期之遺構,以九輪上部附加水煙之天人圖案為最美。佛殿所供奉之三尊藥師佛像,亦為奈良前期金銅佛像鑄造中之傑作,雖遇災變,其表面猶顯黑亮之光澤。東院堂之觀音立像亦為同期所作。吉祥天畫則為碩果僅存之天平繪畫。此外尚藏有慈恩大師圖像,及數尊平安初期之佛像。〔日本書紀卷二十九、卷三十、藥師寺緣起〕 <二>位於日本訤木縣河內郡南河內町。為日本古時三戒壇之一。創建於天智天皇九年(670),一說天武天皇二年(674),或大寶三年(703)。後一度衰廢。鎌倉時代,密嚴復興之。今屬新義真言宗智山派。寺之北方山林中,有中國唐代僧鑑真和尚之碑。〔續日本紀卷十九、卷三十、東大寺要錄卷一〕 ; (藥師寺) Chùa ở Tây kinh, thị trấn Nại lương bên Nhật bản. Cũng gọi Tây kinh tự. Đại bản sơn của tông Pháp tướng Nhật bản, một trong bảy ngôi chùa có tiếng tại Nam đô, do Thiên hoàng Thiên vũ sáng lập. Niên hiệu Thiên diên năm đầu (973) bị hỏa hoạn, ngoại trừ điện Phật, tháp Đông, tháp Tây, còn tất cả đều bị cháy rụi. Sau được làm lại mấy lần, nay chỉ có tháp Đông là kiến trúc cũ, ngoài ra, điện Phật, nhà Giảng, nhà Đông viện v.v...đều được xây dựng vào thời đại Giang hộ. Tháp Đông là ngôi tháp ba tầng, mỗi tầng đều có một tầng phụ, trông giống như tháp sáu tầng, là cấu trúc của thời kì đầu Nại lương còn lại, trên nóc tháp có chín bánh xe là bộ phận đẹp nhất.Trong điện Phật, thờ ba pho tượng Phật Dược sư (Dược sư tam tôn) đúc bằng đồng, cũng là kiệt tác của thời kì đầu Nại lương, tuy đã trải qua nhiều tai biến, nhưng sắc diện vẫn còn sáng bóng, trông rất đẹp. Nhà Đông viện thờ tượng bồ tát Quan âm đứng cũng là tác phẩm cùng thời gian. Tranh Cát tường thiên là bức hội họa thời Thiên bình. Ngoài ra còn có tượng vẽ của Đại sư Từ ân và mấy pho tượng Phật của thời kì đầu Bình an. [X. Nhật bản thư kỉ Q.29, Q.30; Dược sư tự duyên khởi].

dược sư ấn tướng

6693藥師如來之印相。即置左掌於臍下,以右手疊置於左手上,二拇指指頭相接,為藥師如來之根本印。其中,左手四指表示眾生之四大,右手四指表示佛界之四大。眾生一切之疾病乃由四大不調而起,故以佛界之四大調和眾生界之四大,作為藥壺,而以二空(即拇指)表示召入眾生疾病之義;故此印又稱藥壺印。又以此印為法界定印,於掌中觀想藥壺。 ; (藥師印相) Ấn tướng của đức Dược sư Như lai. Để bàn tay trái ở dưới rốn, rồi để tay phải chồng lên trên tay trái, đầu hai ngón cái chạm vào nhau: đó là ấn căn bản của Dược sư Như lai. Trong ấn này, bốn ngón của tay trái biểu thị bốn đại của chúng sinh, bốn ngón của tay phải biểu thị bốn đại của Phật giới. Tất cả tật bệnh của chúng sinh đều bởi bốn đại không điều hòa gây ra, cho nên dùng bốn đại của Phật giới mà điều hòa bốn đại của chúng sinh giới để làm bình thuốc, rồi dùng hai ngón tay cái (tức là hai không) biểu thị nghĩa hòa nhập thuốc hai không vào tật bệnh của chúng sinh, cho nên ấn này cũng gọi là Dược hồ ấn (ấm bình thuốc). Ngoài ra, ấn này còn được dùng làm Pháp giới định ấn, quán tưởng Dược hồ trong lòng bàn tay.

Dược Thượng

(s: Bhaiṣajyasamudgata, 藥上): tên của một vị Bồ Tát trong số 25 vị của đức Phật Di Đà; cùng với Dược Vương (s: Bhaiṣajya-rāja, 藥王), là hai Bồ Tát thường hầu cận bên phật Dược Sư. Theo Quán Dược Vương Dược Thượng Nhị Bồ Tát Kinh (觀藥王藥上二菩薩經) cho biết rằng, cả hai từng là anh em ruột thịt, đều là trưởng giả giàu có, Dược Vương là Tinh Tú Quang (星宿光); Dược Thượng là Điện Quang Minh (電光明). Vào đời tương lai họ sẽ thành Phật hiệu là Tịnh Nhãn (s: Vimala-netra, 淨眼) và Tịnh Tạng (s: Vimala-garbha, 淨藏). Về toàn thể, hình tượng của Dược Thượng Bồ Tát cũng giống như Dược Vương Bồ Tát, nhưng chỉ khác nhau là trên tay phải chỉ cầm bình thuốc mà thôi.

dược thượng bồ tát

Bhaiṣajya-samudgata (S)Tên một vị Bồ tát. ; Bhaisajya-samudgata bodhisattva (S). ; See Dược Vương Bồ Tát.

Dược Thượng Bồ-tát 藥上菩薩

[ja] ヤクジョウボサツ Yakujō bosatsu ||| Lord of Medicine. One of the bodhisattvas in the Lotus Sutra.〔法華經 T 262.9.55b8〕 => (j: Yakujō bosatsu; e: Lord of Medicine). Một vị Bồ-tát trong kinh Pháp Hoa.

Dược thạch

(藥石, yakuseki): nghĩa là thuốc chữa bệnh và cây kim bằng đá, tức y dược và đồ dùng trị bệnh. Trong La Hán Dược Thực Điều (羅漢藥食條) của Tổ Đình Sự Uyển (祖庭事苑) có đoạn rằng: “Thực đương tác thạch, thủ liệu bệnh nghĩa, cố viết dược thạch (食當作石、取療病義、故曰藥石, thức ăn nên xem như đá, với nghĩa để trị bệnh, cho nên gọi là viên đá thuốc)”. Từ này còn gọi là dược thực (藥食, thức ăn thuốc), tức bữa ăn chiều trong Thiền môn. Đức Phật quy định rằng các Tỳ Kheo không được ăn quá ngọ, cho nên các tự viện Thiền Tông gọi bữa ăn chiều là dược thạch (藥石, viên đá thuốc) và đó cũng là ẩn ngữ của buổi ăn tối. Hơn nữa, căn cứ vào tích xưa có vị tăng mỗi ngày chỉ ăn 2 bữa mà thôi, nhưng đến mùa đông lạnh giá, đến buổi chiều tối vị này thường lấy khối đá hâm nóng bỏ trên bụng mình để chống lạnh và trị cơn đói, như là linh đơn có thể trị các bệnh về đường ruột, cho nên đời sau người ta thường gọi bữa ăn thứ 3 trong 1 ngày là dược thạch. Trong phần Đạt Ma Kỵ (達摩忌) của Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規) 2 có đoạn rằng: “Tất minh Tăng Đường chung tam hạ, chúng tán hoặc thỉnh tựu tọa dược thạch (畢鳴僧堂鐘三下、眾散或請就坐藥石, sau khi đánh ba tiếng chuông ở Tăng Đường xong, đại chúng phân tán hay mời ngồi dùng cơm chiều).” ; 藥石; J: yakuseki; sau cũng được gọi là Dược thực (藥食);|Danh từ được dùng chỉ bữa ăn cuối cùng trong một thiền viện, thường là buổi chiều. Tên dược thạch được dùng vì theo luật xưa, bữa ăn cuối cùng là buổi trưa và các vị Tỉ-khâu thường lấy một viên đá được hô nóng dằn lên bụng để bụng đói ban chiều khỏi sôi. Sau này, viên đá được thay bằng những thức ăn còn lại của buổi trưa và vì vậy bữa ăn này được gọi là dược thạch.

dược thạch

6691<一>指療病之藥餌與砭石。即醫藥與醫療器具。祖庭事苑卷一羅漢藥食條(卍續一一三‧八上):「食當作石,取療病義,故曰藥石。夫攻病曰藥,劫病曰石;古以砭石為針也。」〔玄應音義卷十八〕 <二>又作藥食。指禪林之晚餐。佛制比丘過午不食,故禪宗寺院稱午後之飲食為藥石,亦即晚食之隱語。意謂服之以療饑渴。敕修百丈清規卷五遊方參請條(大四八‧一一四○中):「當晚特為湯,披衣赴,住持接入,(中略)湯罷起就爐前謝湯,須兩展三禮,抽衣就坐藥石。」 此外,據傳古代之僧人每日僅兩度用食,至冬日晚間,為禦寒與消饑,常將一塊烘暖之石塊置於腹部,作為療治一切胃腸疾病之萬靈丹,後世遂將每日之第三餐稱為藥石。〔敕修百丈清規卷二達磨忌條、入眾日用條、行持軌範卷一日分行持、黃檗清規、禪林象器箋飲啖門〕 ; Yakuseki (J). ; (藥石) I. Dược thạch: Dược là dược nhị (các chất bổ cho người bệnh ăn); Thạch là Biếm thạch (cái kim bằng đá) dùng để chữa bệnh. Dược thạch tức là thuốc thang và các dụng cụ y khoa. Mục La hán dược thực trong Tổ đình sự uyển quyển 1 (Vạn tục 113, 8 thượng), nói : Thực nên gọi là thạch. Thức ăn được xem như là vị thuốc để chữa bệnh, cho nên gọi là dược thạch. Công phạt bệnh gọi là dược, trừ diệt bệnh gọi là thạch. Thời xưa dùng cây kim bằng đá chích vào da thịt để chữa bệnh. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.18]. II. Dược thạch. Cũng gọi Dược thực. Chỉ cho bữa ăn chiều trong Thiền lâm. Phật cấm tỉ khưu đã quá giờ ngọ không được ăn, cho nên các chùa viện Thiền tông gọi sự ăn uống sau giờ ngọ là dược thạch, cũng tức là tiếng lóng chỉ cho bữa ăn chiều. Ý nói ăn để chữa bệnh đói khát. Mục Du phương tham thỉnh trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1140 trung) : Buổi chiều đặc biệt uống nước nóng, mặc áo đến, trụ trì mời vào (...) uống nước xong đến trước lò sưởi lễ tạ hai lần, mỗi lần ba lạy rồi vén áo ngồi xuống dùng dược thạch (ý nói ăn cơm chiều). Ngoài ra, theo truyền thuyết, chư tăng thời xưa mỗi ngày chỉ dùng hai bữa, cho nên vào buổi chiều những ngày mùa đông thường đốt một hòn đá nóng đặt ở nơi bụng để chống rét và trừ đói. Phương pháp này được gọi là Vạn linh đơn........ (thuốc chữa muôn bệnh) có thể trị liệu tất cả các bệnh dạ dày và ruột, do đó đời sau mới gọi bữa ăn chiều là Dược thạch. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.2 Đạt ma kị điều, Nhập chúng nhật dụng điều; Hành trì quĩ phạm Q.1 Nhật phần hành trì; Hoàng bá thanh qui; Thiền lâm tượng khí tiên Ẩm đạm môn].

dược thảo

Medicinal plant. ; Medicine—Herbs—Medicine plants.

dược thảo dụ

6696為法華七喻之一。又作雲雨喻。法華經卷三藥草喻品以雨比喻佛陀之教法,以草木比喻眾生之機類,而以藥草比喻為三乘人之根性。藥草有三種,即小草、中草、大草。小草比喻人、天,中草此喻聲聞、緣覺,大草比喻菩薩。藥草雖有大小不同,若蒙雲雨滋潤,皆得敷榮鬱茂,能治眾病;故以之比喻三乘人之根器雖高下不同,若蒙如來慈雲法雨潤澤,則能成大醫王,普救群生。 據法華經藥草喻品所載,係以三草二木比喻五乘之機類,然菩薩乘中之大草、二木,諸宗之解釋各自不同。在天台宗,依法華文句卷七所說,則以大草比喻藏教菩薩,以小樹比喻通教菩薩,大樹比喻別教菩薩;即以三草二木比喻為五乘七方便人。(參閱「三草二木」603) ; (藥草喻) Dụ cỏ thuốc. Một trong bảy thí dụ của kinh Pháp hoa. Cũng gọi Vân vũ dụ. Kinh Pháp hoa quyển 3 phẩm Dược thảo dụ dùng mưa ví dụ cho giáo pháp của đức Phật, dùng cỏ cây ví dụ cho căn cơ của chúng sinh, còn dùng cỏ thuốc ví dụ cho căn tính của hàng Tam thừa. Cỏ thuốc có ba loại: Cỏ nhỏ, cỏ vừa, cỏ to. Cỏ nhỏ ví dụ người, trời, cỏ vừa ví dụ Thanh văn, Duyên giác, cỏ to ví dụ Bồ tát. Cỏ thuốc tuy có to, nhỏ khác nhau, nhưng nếu được mây mưa tưới tắm thì cũng tốt tươi um tùm, có khả năng chữa trị nhiều bệnh. Bởi thế, cỏ thuốc được dùng để ví dụ với căn khí của hàng Tam thừa, tuy cao thấp khác nhau, nhưng nếu được mây lành mưa pháp của Như lai che mát tưới nhuần, thì có thể trở thành Đại y vương chữa khắp các bệnh. Cứ theo kinh Pháp hoa phẩm Dược thảo dụ, thì ba cỏ, hai cây được dùng để ví dụ căn cơ của ngũ thừa, nhưng về cỏ to, hai cây trong Bồ tát thừa thì các tông giải thích không giống nhau. Tông Thiên thai theo thuyết trong Pháp hoa văn cú quyển 7, đem cỏ to ví dụ bồ tát Tạng giáo, cây nhỏ ví dụ bồ tát Thông giáo, cây to ví dụ bồ tát Biệt giáo. Tức là dùng ba cỏ, hai cây ví dụ hàng Ngũ thừa thất phương tiện. (xt. Tam Thảo Nhị Mộc).

dược thụ vương

6697又作藥王樹。草木有可以治病者,稱為藥草、藥樹;其中最勝者,稱為藥王。若人立於樹前,其五臟六腑等,悉見分明。勝天王般若波羅蜜經卷三(大八‧七○五上):「為諸眾生而作依止,治諸疾病如藥樹王。」〔㮈女因緣經〕 ; (藥樹王) Cũng gọi Dược vương thụ. Cỏ và cây có thể được dùng làm thuốc chữa bệnh gọi là dược thảo (cỏ thuốc), dược thụ (cây thuốc). Trong đó, thuốc hay nhất, tốt nhất gọi là Dược vương (vua thuốc). Nếu người ta đứng trước cây thuốc ấy thì thấy rõ tất cả lục phủ, ngũ tạng của mình. Kinh Thắng thiên vương bát nhã ba la mật quyển 3 (Đại 8, 705 thượng), nói : Vì chúng sinh mà làm chỗ nương tựa, chữa các bệnh như Dược thụ vương. [X. kinh Nại nữ nhân duyên].

dược thụ vương thân

Bồ Tát Dược Vương (ứng hiện trong lục đạo) để cứu độ chúng sanh—The body of form which is taken by Bhaisajyaraja Bodhisattva at any time for healing the sick.

Dược thụ 藥樹

[ja] ヤクジュ yakuju ||| A medicinal tree; medicinal herb. A metaphor for the teachings of the Buddha, which heal the sicknesses of people. In the Śūrangamasamādhisūtra, a metaphor for the śūrangamasamādhi (T vol. 15, p. 633b). => Cây thuốc; thuốc thảo mộc. Dụ cho giáo pháp của Phật, chữa lành mọi bệnh khổ của con người. Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm (Śūrangamasamādhisūtra), từ nầy dụ cho Lăng nghiêm đại định (s: śūrangamasamādhi).

dược tạng

6697指藥局。其典故出自印度阿育王時,有一比丘因病求藥而不得,王乃於國中四城門邊建藏藥之庫,施藥與一切生病比丘。我國則始建於東晉時代。〔善見律毘婆沙卷二〕 ; (藥藏) Kho chứa thuốc. Ở Ấn độ, thời vua A dục, có vị tỉ khưu bị bệnh đi tìm thuốc không được, nhà vua ra lệnh xây dựng kho chứa thuốc ở bốn cửa thành để phát thuốc cho tất cả tỉ khưu và dân chúng khi đau ốm. Tại Trung quốc, Dược tạng được sáng lập vào thời Đông Tấn. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.2].

dược tửu

Medicinal wine.

Dược Vương

(s: Bhaiṣajya-rāja, 藥王): dịch âm là Bế Thệ Xả La Nhạ (鞞逝捨羅惹), là vị Bồ Tát thường ban các loại thuốc tốt để trị các bịnh khổ về thân lẫn tâm của chúng sanh. Đây là 1 trong 25 vị Bồ Tát của đức Phật A Di Đà. Theo Kinh Quán Dược Vương Dược Thượng Nhị Bồ Tát (觀藥王藥上二菩薩經) cho biết rằng, trong đời quá khứ vô lượng vô biên A Tăng Kỳ kiếp có đức Phật hiệu là Lưu Ly Quang Chiếu Như Lai (琉璃光照如來), quốc độ của Ngài tên là Huyền Thắng Phan (懸勝幡). Sau khi vị Phật này nhập Niết Bàn, vào đời tượng pháp có vị Tỳ Kheo tên Nhật Tạng (日藏) thông minh, nhiều trí tuệ, vì đại chúng mà diễn thuyết trí tuệ lớn bình đẳng thanh tịnh vô thượng của Đại Thừa. Khi ấy trong hội chúng có trưởng giả tên là Tinh Tú Quang (星宿光) nhân nghe được trí tuệ này tâm liền sanh hoan hỷ, bèn lấy thuốc tốt trên núi Tuyết Sơn đem dâng cúng dường cho Tỳ Kheo Nhật Tạng và chúng tăng, còn phát nguyện đem công đức này hồi hướng để được giác ngộ vô thượng. nếu chúng sanh nào nghe được tên của mình nguyện cho người ấy được diệt trừ 3 loại bịnh khổ. Lúc bấy giờ người em của trưởng giả là Điện Quang Minh (電光明) cũng theo người anh mình mang các loại thuốc tốt đến dâng cúng Tỳ Kheo Nhật Tạng và chúng tăng, cũng phát bồ đề tâm lớn, nguyện được thành Phật. Lúc đó toàn thể đại chúng đều tán thán trưởng giả Tinh Tú Quang là Dược Vương (vua của các loại thuốc), còn Điện Quang Minh là Dược Thượng. Về sau hai vị này đã chứng đắc ngôi vị Bồ Tát với tên gọi như vậy. Cũng kinh này cho biết rằng, hai vị Bồ Tát đã từng tu phạm hạnh trong khoảng thời gian lâu dài, các nguyện đã được tròn đầy, Dược Vương Bồ Tát sẽ thành Phật trong đời tương lai, hiệu là Tịnh Nhãn Như Lai (s: Vimala-netra, 淨眼如來) và Dược Thượng Bồ Tát cũng thành Phật hiệu là Tịnh Tạng Như Lai (s: Vimala-garbha, 淨藏如來). Lại nữa, trong phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự (藥王菩薩本事) của kinh Pháp Hoa cũng nói rằng, trong thời quá khứ vô lượng hằng hà sa kiếp có đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai (日月淨明德如來), tuổi thọ của vị Phật này là 42.000 kiếp. Lúc bấy giờ có vị Bồ Tát tên là Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát (一切眾生喜見菩薩) tu tập khổ hạnh, tinh tấn kinh hành, nhất tâm cầu Phật. Trải qua 12.000 tuổi, chứng được Hiện Nhứt Thiết Sắc Thân Tam Muội (現一切色身三昧). Vị này phủ lên mình các loại hương, dầu rồi đốt cháy thân mình cúng dường Phật trong vòng 1200 năm. Sau khi mạng chung, lại hóa sanh vào gia đình của vua Tịnh Đức, được Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai phó chúc cho. Sau khi vị Phật này qua đời, Bồ Tát đã tạo dựng 84.000 ngôi tháp. Chính bản thân của Ngài trong vòng 72.000 năm đã từng đốt cánh tay cúng dường các tháp ấy. Ngài còn có tên gọi là Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát, tức là Dược Vương Bồ Tát bây giờ. Riêng phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự, cuốn 7, Kinh Pháp Hoa cho biết rằng vào thời quá khứ vô số kiếp có ngài Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật (雲雷音宿王華智佛) thuyết Kinh Pháp Hoa. Lúc bấy giờ có vị quốc vương tên là Diệu Trang Nghiêm (s: Śubha-vyūha, 妙莊嚴), phu nhân tên là Tịnh Đức (s: Vimala-datta, 淨德) và hai người con tên là Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn. Vị vua này tin vào tà kiến tu theo pháp của ngoại đạo nên phu nhân cùng với hai người con đã dùng nhiều loại phương tiện khác nhau khiến cho nhà vua đến chỗ của Tú Vương Hoa Trí Phật để nghe kinh Pháp Hoa và đã được lợi ích. Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn hiện tại là Dược Vương và Dược Thượng. Hình tượng của Dược Vương Bồ Tát thông thường trên đầu có đội mũ báu, tay trái nắm chặt lại đặt ngang hông, tay phải đặt trước ngực, ngón tay cái, ngón áp út và ngón tay giữa cầm cây dược thảo hình Tam Muội Da hình Hoa Sen.

dược vương

Bhaisajyaraja (skt).

dược vương bồ tát

6689藥王,梵名 Bhaiṣajya-rāja,音譯鞞逝捨羅惹。為施與良藥,救治眾生身、心兩種病苦之菩薩。為阿彌陀佛二十五菩薩之一。據觀藥王藥上二菩薩經載,過去無量無邊阿僧祇劫,有佛號琉璃光照如來,其國名懸勝幡。彼佛涅槃後,於像法中,有日藏比丘,聰明多智,為大眾廣說大乘如來之無上清淨平等大慧。時眾中有星宿光長者,聞說大乘平等大慧,心生歡喜,以雪山之良藥,供養日藏比丘及眾僧,並發願以此功德回向無上菩提,若有眾生聞己名者,願其得滅除三種病苦。時長者之弟電光明,亦隨兄持諸醍醐良藥供養日藏及諸僧眾,亦發大菩提心,願得成佛。其時,大眾讚嘆星宿光長者為藥王,電光明為藥上,後即為藥王、藥上二位菩薩。同經並載此二菩薩久修梵行,諸願已滿,藥王菩薩於未來世成佛,號淨眼如來(梵 Vimala-netra);藥上菩薩亦成佛,號淨藏如來(梵 Vimala-garbha)。 又法華經卷六藥王菩薩本事品載,過去無量恆河沙劫,有日月淨明德如來,其佛壽命為四萬二千劫。時有一菩薩,名「一切眾生憙見菩薩」,修習苦行,精進經行,一心求佛,經一萬二千歲,證得「現一切身色三昧」,乃服諸香,飲香油,燃自身供養佛一千二百年。命終後復化生於淨德王之家,受日月淨明德如來之付囑,於彼佛滅度後造八萬四千塔。其自身亦於七萬二千年間,燃臂供養其塔。或謂彼「一切眾生憙見菩薩」即今之藥王菩薩。 另據法華經卷七妙莊嚴王本事品載,於過去無數劫,有雲雷音宿王華智佛,說法華經。時有國王名妙莊嚴(梵 Śubha-vyūha),夫人名淨德(梵 Vimala-datta),二子名淨藏、淨眼。其王邪見熾盛,信外道之法。夫人與二子乃共設種種方便,使王至宿王華智佛所,聽聞法華經,共得利益。淨藏、淨眼二人即今藥王、藥上二菩薩。 藥王菩薩之形像,一般為頂戴寶冠,左手握拳,置於腰部,右手屈臂,置放胸前,而以拇指、中指、無名指執持藥樹。三昧耶形為阿迦陀藥,或為蓮花。真言為「唵(oṃ)鞞逝捨羅惹耶(bhaiṣajya-rājaya,藥王)莎訶(svāhā)」,或「曩莫三曼多沒馱南訖叉拏多羅閻攒莎訶。」〔灌頂經卷十二、法華曼荼羅威儀形色法經、法華經文句卷十下、圖像抄卷五〕 ; Bhaichadjyaradja (S), Bhaiṣajyarāja (P)Tên một vị Bồ tát. ; Bhaisajya-raja bodhisatta (S). ; Bhaisajyaraja-samudgata (skt)—Hai anh em Bồ Tát Dược Vương Bồ Tát và Dược Thượng Bồ Tát (Tinh Túc Quang và Điện Quang Minh) chuyên trì hạnh cứu chữa bệnh cho chúng sanh (Dược Vương về sau thành Phật hiệu là Tịnh Nhãn Như Lai, Dược Thượng Bồ Tát về sau cũng thành Phật hiệu là Tịnh Tạng Như Lai, có thể là Tịnh Nhãn lo phần chẩn bệnh và Tịnh Tạng lo phần trị bệnh). Dược Vương Bồ Tát cũng chính là vị đã dùng tay làm dầu đốt cúng dường cho Phật—Bodhisattva of healing, he whose office together with his brother , is to heal the sick. He is described as the younger of the two brothers, the elder of whom is the Bhaisajyaraja (the elder of the two brothers, who was the first to decide on his career as Bodhisattva of healing and led his younger brother to adopt the same course). They are also styled Pure-eyed and Pure-treasury, which may indicate diagnose and treatment. He is referred to the Lotus sutra as offering his arms a a burnt sacrifice to his Buddha. ; (藥王菩薩) Dược vương, Phạm: Bhaiwajya-ràja. Âm Hán: Bệ thệ xả la nhạ. Vị Bồ tát ban cho thuốc hay chữa bệnh thân, bệnh tâm cho chúng sinh. Là một trong 25 vị Bồ tát của Phật A di đà. Cứ theo kinh Quán dược vương dược thượng nhị bồ tát nói, thì trong vô lượng vô biên kiếp quá khứ, có đức Phật là Lưu li quang chiếu Như lai, cõi nước của Ngài tên là Huyền thắng phan. Sau khi đức Lưu li quang chiếu Như lai nhập diệt, trong thời tượng pháp, có tỉ khưu Nhật tạng, thông minh, nhiều trí, nói pháp Đại thừa vô thượng thanh tịnh bình đẳng đại tuệ của Như lai cho đại chúng nghe. Bấy giờ, trong thính chúng có Trưởng giả Tinh tú quang nghe pháp Đại thừa bình đẳng đại tuệ, lòng sinh vui mừng, đem thuốc hay của núi Tuyết cúng dường tỉ khưu Nhật tạng và chúng tăng, đồng thời phát nguyện đem công đức ấy hồi hướng vô thượng bồ đề và nguyện rằng: Nếu có chúng sinh nào nghe tên tôi thì nguyện cho họ diệt trừ được ba thứ bệnh khổ. Lúc ấy, người em của Trưởng giả tên là Điện quang minh, cũng theo anh đem đề hồ, thuốc hay cúng dường tỉ khưu Nhật tạng và chúng tăng, cũng phát tâm đại bồ đề, nguyện được thành Phật. Bấy giờ, đại chúng khen ngợi Trưởng giả Tinh tú quang là Dược vương, Điện quang minh là Dược thượng: đó là hai vị bồ tát Dược vương và Dược thượng sau này.Cũng theo kinh đã dẫn ở trên, thì hai vị Bồ tát này tu phạm hạnh đã lâu, đã đầy đủ các nguyện, trong đời vị lai, bồ tát Dược vương sẽ thành Phật, hiệu là Tịnh nhãn Như lai (Phạm: Vimala - netra); Bồ tát Dược thượng cũng thành Phật, hiệu là Tịnh tạng Như lai (Phạm: Vimala - garbha). Lại nữa, kinh Pháp hoa quyển 6 phẩm Dược vương bồ tát bản sự chép, ở thời quá khứ vô lượng hằng hà sa kiếp, có Nhật nguyệt tịnh minh đức Như lai, sống lâu tới bốn vạn hai nghìn kiếp. Bấy giờ, có một vị Bồ tát tên là Nhất thiết chúng sinh hỉ kiến tu tập khổ hạnh, tinh tiến kinh hành, một lòng cầu Phật quả, trải qua một vạn hai nghìn năm, chứng được Hiện nhất thiết sắc thân tam muội. Sau đó, Bồ tát uống các thứ dầu thơm rồi đốt thân cúng dường Phật trong một nghìn hai trăm năm. Sau khi mệnh chung, hóa sinh vào nhà vua Tịnh đức, nhận sự phó chúc của Nhật nguyệt tịnh minh đức Như lai. Sau khi đức Như lai nhập diệt, bồ tát Nhất thiết chúng sinh hỉ kiến dựng 84.000 ngôi tháp, rồi trong khoảng 72.000 năm, Bồ tát tự đốt cánh tay cúng dường những tháp ấy. Bồ tát Nhất thiết chúng sinh hỉ kiến kia nay chính là bồ tát Dược vương. Ngoài ra, theo kinh Pháp hoa quyển 7 phẩm Diệu trang nghiêm vương chép, thì vô số kiếp quá khứ, có đức Phật Vân lôi âm tú vương hoa trí nói kinh Pháp hoa. Bấy giờ có vị vua tên là Diệu trang nghiêm (Phạm: Zubha-vyùha), phu nhân tên Tịnh đức (Phạm:Vimala-datta), hai người con tên Tịnh tạng, Tịnh nhãn. Nhà vua tin pháp ngoại đạo và tà kiến rất nặng. Phu nhân và hai con cùng nhau tìm cách khiến vua đến chỗ đức Phật Tú vương hoa trí để nghe kinh Pháp hoa, mong cùng được lợi ích. Tịnh tạng, Tịnh nhãn nay chính là hai vị bồ tát Dược vương và Dược thượng. Hình tượng của bồ tát Dược vương thông thường đầu đội mũ báu, tay trái nắm lại để ở chỗ cạnh sườn, cánh tay phải co lại để ở trước ngực, dùng ngón cái, ngón giữa, ngón vô danh (ngón áp út) cầm cây thuốc. Hình tam muội da là A ca đà dược, hoặc hoa sen. Chân ngôn là: Án (oô) bệ thệ xả la nhạ da (bhaiwajya - ràjaya, Dược vương) sa ha (svàhà), hoặc Nẵng mạc tam mạn đa mật đà nam ngật xoa noa diêm nhận sa ha. [X. kinh Quán đính Q.12; kinh Pháp hoa mạn đồ la uy nghi hình sắc pháp; Pháp hoa kinh văn cú Q.10 phần dưới; Đồ tượng sao Q.5].

dược vương dược thượng kinh

Bhaiṣajyarāja-bhaiṣajya-samudgata-bodhisattva sŪtra (S)Tên một bộ kinh.

dược vương thụ

Dược Thụ Vương—The king of healing herbs and trees.

dược vương tạng

6690 請參閱 觀藥王藥上二菩薩經良藥之庫藏;即指陀羅尼。千手經(大二○‧一○九中):「誦持此陀羅尼者,(中略)當知其人是藥王藏,常以陀羅尼療眾生病故。」 ; (藥王藏) Kho tàng thuốc hay. Chỉ cho Đà la ni. Kinh Thiên thủ (Đại 20, 109 trung), nói: Người trì tụng đà la ni này, nên biết người ấy là Dược vương tạng, thường dùng đà la ni chữa bệnh cho chúng sinh.

Dược vương 藥王

[ja] ヤクオウ yakuō ||| Medicine King the name of a bodhisattva (Bhaiṣajyarāja). 〔法華經 T 262.9.2a10〕 => Tên của một vị Bồ-tát (s: Bhaiṣajyarāja; e: Medicine King).

Dược Xoa

(藥叉): tức Dạ Xoa (s: yakṣa, p: yakkha, 夜叉), còn gọi là Duyệt Xoa (悅叉、閱叉), Dã Xoa (野叉); ý dịch là Khinh Tiệp (輕捷), Dũng Kiện (勇健), Năng Đạm (能噉), Quý Nhân (貴人), Uy Đức (威德), Từ Tế Quỷ (祠祭鬼), Tiệp Tật Quỷ (捷疾鬼); là một trong tám bộ chúng, thường được gọi chung với quỷ La Sát (s: rākṣasa, 羅刹). Chúng Dạ Xoa thường trú trên đất liền hay trên hư không, dùng uy thế để làm cho con người sợ hãi. Đây cũng là loại quỷ ủng hộ chánh pháp. Theo Đại Hội Kinh (大會經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經) quyển 12, Đại Tỳ Bà Sa Luận (大毘婆沙論) quyển 133, Thuận Chánh Lý Luận (順正理論) quyển 31, v.v., cho biết rằng chúng Dạ Xoa chịu sự thống lãnh của Tỳ Sa Môn Thiên Vương (毘沙門天王), thủ hộ cung Trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利), thọ nhận đủ loại hoan lạc, đầy đủ thế lực. Về chủng loại, Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 12 có nêu ra 3 loại Dạ Xoa: (1) Dạ Xoa đi trên mặt đất, thường có đủ các loại hoan hỷ, âm nhạc, đồ ăn uống, v.v. (2) Dạ Xoa trên hư không, có đủ sức mạnh, chạy nhanh như gió. (3) Dạ Xoa bay chạy trong cung điện, có đầy đủ các thứ âm nhạc cũng như vật tùy thân. Quyến thuộc của đức Phật Dược Sư có 12 vị Dược Xoa, được gọi là Thập Nhị Thần Vương (十二神王), Thập Nhị Thần Tướng (十二神將), Thập Nhị Dược Xoa Đại Tướng (十二藥叉大將). Các vị này bảo vệ người trì tụng Dược Sư Kinh (s: Bhaiṣajyaguruvaiḍūryaprabhāsapūryapraṇidhāna, 藥師經); hoặc họ là phân thân của đức Phật Dược Sư để ứng với 12 đại nguyện của Ngài. Mỗi vị Thần Tướng đều có 7.000 Dược Xoa quyến thuộc; tổng cọng là 84.000 vị thần hộ pháp.

dược xoa

Xem Dạ xoa. ; See Dạ Xoa.

dược xoa trì minh

6688梵名 Yakṣa-vidyā-dharaḥ。持明仙之一。位於密教胎藏現圖曼荼羅外金剛部院南門之東方,為增長天之眷屬。其形像為身呈赤肉色,頭戴寶冠,嚬眉怒目,右手當胸持劍,左手握拳,而伸拇指、小指置於腰前,交腳坐於圓座上。又藥叉持明有二使者侍立,名為藥叉持明女。其形像,皆呈肉色,頭戴寶冠。左方之使者兩手持戟;右方之使者跪坐於圓座,左手握拳置於胸前,右手屈掌,掌上立有獨股杵。〔大日經疏卷六、卷十一、兩部曼荼羅義記卷三〕 ; (藥叉持明) Phạm: Yakwa - vidyà - dhara#. Một trong các vị tiên Trì minh, ngồi ở phía đông của cửa Nam thuộc viện Ngoại kim cương bộ trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, quyến thuộc của trời Tăng trưởng. Hình tượng của vị tôn này màu da thịt, đầu đội mũ báu, cau mày, trợn mắt, tay phải cầm gươm để ở ngang ngực, tay trái nắm lại, duỗi ngón cái và ngón út đặt ở chỗ thắt lưng phía trước, ngồi tréo chân trên tòa ngồi hình tròn. Dược xoa trì minh có hai sứ giả hầu hai bên, tên là Dược xoa trì minh nữ. Hình tượng của hai sứ giả này đều lộ màu thịt, đầu đội mũ báu. Sứ giả bên trái đứng, hai tay cầm cây kích; sứ giả bên phải quì trên tấm nệm hình tròn, tay trái nắm lại để trước ngực, bàn tay phải co lại, trên bàn tay dựng cây chày một chĩa. [X. Đại nhật kinh sớ Q.6, Q.11; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.3].

Dược xoa 藥叉

[ja] ヤクシャ yakusha ||| A transcription of the Sanskrit term yakṣa 夜叉. => Phiên âm chữ yakṣa (dạ xoa 夜叉) từ tiếng Sanskrit.

dược xí nê

6696梵名 Yakṣiṇī。意譯勇健神。為女藥叉,俱吠羅之妻;又為不動明王之使者。其身呈青色,有四手、三眼,頂戴髑髏,頸部纏大蛇。左第一手持三鈷叉,第二手執棒;右第一手掌上置有一輪,第二手持羂索。〔不動立印軌、聖無動尊決祕要義〕 ; (藥厠抳) Phạm: Yakwinì. Hán dịch: Dũng kiện thần. Là nữ dược xoa, vợ của Câu phệ la; cũng là sứ giả của Bất động minh vương. Thân hình vị thần nữ này màu xanh, có bốn tay, ba mắt, đầu đội đầu lâu, cổ quấn rắn. Tay trái thứ nhất cầm xoa ba chĩa, tay thứ hai cầm gậy; trên bàn tay phải thứ nhất đặt một bánh xe, tay thứ hai cầm dây lụa. [X. Bất động lập ấn quĩ; Thánh vô động tôn quyết bí yếu nghĩa].

dược đảo tịnh bình

6872禪宗公案名。百丈懷海為擇大溈山住持,試驗典座靈祐、首座華林二人見解之公案。景德傳燈錄卷九溈山靈祐條(大五一‧二六四下):「百丈是夜召師入室,囑云:『吾化緣在此,溈山勝境汝當居之,嗣續吾宗,廣度後學。』時華林聞之曰:『某甲忝居上首,祐公何得住持?』百丈云:『若能對眾下得一語出格,當與住持。』即指淨瓶問云:『不得喚作淨瓶,汝喚作什麽?』華林云:『不可喚作木

dược đồng tử

6696以藥草作成之童子。據大寶積經卷八載,耆域(梵 Jīvaka,為佛陀弟子之一,以醫術著稱)取藥草作童子形,其形貌端正殊好,能行住坐臥、往來周旋等;每有病苦之人求診,耆域則以藥童子令患者視之,與共歌戲,則能醫治種種疾病。 ; (藥童子) Cậu bé được làm bằng cỏ thuốc. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 8 chép, thì Kì vực Phạm:Jìvaka, một đệ tử của đức Phật, nổi tiếng về Y học) lấy cỏ thuốc làm thành hình đứa bé dáng rất xinh đẹp, dễ thương, có thể đi, đứng, ngồi, nằm, qua lại xoay vòng v.v... mỗi khi có người bệnh đến xin chữa, thì Kì vực đem Dược đồng tử cho họ xem và bảo họ vui chơi múa hát với nó, thì họ sẽ hết bệnh.

Dược 藥

[ja] ヤク yaku ||| Medicines, healing herbs, drugs. To administer medicines. => Thuốc, thuốc chữa bệnh bằng thảo mộc, dược phẩm. Trông coi việc chữa bệnh.

dạ

Night. ; Ban đêm—Night.

dạ bán chính minh thiên hiểu bất lộ

3130禪林用語。此語係轉用自禪宗三祖僧璨所撰參同契(大五一‧四五九中):「當明中有暗,(中略)當暗中有明」之文。夜半正明,指暗中有明;天曉不露,指明中有暗。又於洞山良价所立「洞山五位」中,夜半、不露,相當於正位,有平等性之意;正明、天曉,相當於偏位,有差別相之意。故夜半正明天曉不露一語,即表示法性真如與森羅萬法彼此相入,互爲一如之狀態。〔寶鏡三昧〕 ; (夜半正明天曉不露) Nửa đêm trời sáng ban ngày lại tối. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Từ ngữ này được chuyển dụng từ câu Đương minh trung hữu ám... đương ám trung hữu minh (trong sáng có tối, trong tối có sáng) trong Tham đồng khế (Đại 51, 459 trung) do ngài Thạch đầu Hi thiên soạn. Dạ bán chính minh chỉ cho ám trung hữu minh; Thiên hiểu bất lộ chỉ cho minh trung hữu ám. Nếu đối với Động sơn ngũ vị do Thiền sư Động sơn Lương giới lập, thì Bán dạ, Bất lộ tương đương với ý nghĩa Chính vị, có tính bình đẳng. Chính minh, Thiên hiểu tương đương với ý nghĩa Thiên vị, có tướng sai biệt. Cho nên từ ngữ Dạ bán chính minh thiên hiểu bất lộ là biểu thị trạng thái chân như pháp tính và muôn tượng sum la tương nhập nhất như.

dạ hành

Night trip (journey).

dạ ma

Yama (S)Diệm Ma thiên, Diệm thiên, Tô dạ ma thiên, Diêm La vương, Chế giới1- Tên vị thần cõi chết (Diêm La vương). 2- Dạ Ma thiên, Diêm Ma thiên: Tên một cõi trời, thuộc tầng thứ ba trong trời Dục giới, đứng đầu là Tu dạ ma thiên (Suyama-devaraja) 3- Chế giới: Một trong 8 pháp thật tu đề cập trong Du già kinh. 4- Kinh Vệ đà: Diêm La vương. ; See Yama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

dạ ma giới

See Yamaloka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

dạ ma lô ca

Yamaloka (skt)—Dạ Ma Lư Ca—Cõi thế giới của Diêm Ma Vương—The realm of Yama, the third devaloka.

dạ ma lư ca

See Dạ Ma Lô Ca.

dạ ma sứ

Sứ giả của Diêm Vương—The messengers of Yama King.

dạ ma thiên

3132夜摩,梵名 Yāma,巴利名同。意譯爲善時分、善時、善分、妙善、妙時分、妙唱、唱樂等。欲界六天之第三天。又作夜磨天、焰摩天、炎摩天、蘇夜摩天(梵 Suyāma,巴同)、須夜摩天、須炎天、離諍天。據正法念處經卷三十六、立世阿毘曇論卷六、佛地經論卷五、慧苑音義卷上等所載,此天界光明赫奕,無晝夜之分,居於其中,時時刻刻受不可思議之歡樂。另據彰所知論卷上載,三十三天常與阿修羅諍鬥,夜摩天卻遠離諍鬥,故稱離諍天。得生此天之眾生,乃於不殺生、不偷盜、不邪淫等樂修多作,又自能持戒,教他持戒,修持自他利益者。 夜摩天位於空居天之最初層,即距閻浮提十六萬由旬,距忉利天八萬由旬之上層虛空中;縱廣八萬由旬,範圍包括勢力地、上行地、林光明地、乘處地、遊行地等三十二地。夜摩天王,稱爲牟修樓陀,身量五由旬,宮殿設於勢力地。又有高達一萬由旬之清淨山、無垢山、大清淨山、內像山等四大山及其他諸山,以諸多天花莊嚴,並有種種河池,百千園林周匝圍繞:其殊勝妙樂,遠非忉利天所能及。此天壽量爲二千歲,其一晝夜相當人間二百年。亦有男娶女嫁婚姻之事,以互相親近,或相抱,即成陰陽和合;兒女隨念之起而由膝上化生,初生即如閻浮提三、四歲之孩童。 夜摩天王之信仰,始於吠陀時代以降,此天界因係充滿歡樂之光明世界,夙爲印度民族所憧憬,亦爲亡者所欲往生之處。其後夜摩天王逐漸演變爲人死後之審判官,而成爲鬼趣、地獄之主,即所謂之閻魔王,並相信其天界在天空之上層。然該信仰被引入佛教之後,乃置其位於六欲天之第三天。〔長阿含經卷十八、卷二十、卷二十一、正法念處經卷三十七至卷六十三、瑜伽師地論卷四、卷五、俱舍論卷十一、華嚴經探玄記卷六、W. Kirfel: Die Kosmographie der Inder〕(參閱「閻魔王」6340) ; Yamadevaloka (P)Tên một vị thiên. ; Yama deva (S). The third devaloka, the places where the times or seasons are always good. ; Tu Dạ Ma—Tô Dạ Ma—Thời Phân—Thiện Thời Phân—Dạ Ma Thiên là cõi trời dục giới thứ ba, được giải thích như là nơi luôn có thời gian và mùa màng lương hảo—Yama deva; the third devaloka, interpreted as the place where the times, or seasons, are always good. ; (夜摩天) Trời Dạ ma. Phạm, Pàli: Yàma. Hán dịch: Thiện thời phần, Thiện thời, Thiện phần, Diệu thiện, Diệu thời phần, Diệu xướng, Xướng nhạc v.v... Là tầng trời thứ ba trong sáu tầng trời cõi Dục. Cũng gọi Diệm ma thiên,Viêm ma thiên, Tu viêm thiên, Li tránh thiên, Tô dạ ma thiên (Phạm, Pàli: Suyàma), Tu dạ ma thiên.Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 36, luận Lập thế a tì đàm quyển 6, Phật địa kinh luận quyển 5 và Tuệ uyển âm nghĩa quyển thượng chép, thì cõi trời này ánh sáng rực rỡ, không chia ngày đêm, người ở cõi trời này lúc nào cũng yên vui sung sướng không thể nghĩ bàn. Hơn nữa, theo luận Chương sở tri quyển thượng nói, thì tầng trời 33 (trời Đao lợi) thường đánh nhau với A tu la, nhưng cõi trời Dạ ma thì xa lìa sự tranh đấu, vì thế gọi là Li tránh thiên. Chúng sinh được sinh vào cõi trời này là nhờ đời trước thích tu các hạnh không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm v.v..., tự mình giữ giới, lại khuyên người giữ giới, làm các việc lợi ích cho mình và người. Dạ ma là tầng trời đầu tiên (thấp nhất) trong các cõi trời ở trong hư không, cách cõi trời Đao lợi ở tầng trên tám vạn do tuần, gồm 32 địa: Thế lực địa, Thượng hành địa, Lâm quang minh địa, Thừa xử địa, Du hành địa v.v... Vua cõi trời Dạ ma tên là Mâu tu lâu đà, mình cao năm do tuần, cung điện của vua được đặt ở Thế lực địa. Lại có bốn núi lớn là núi Thanh tịnh, núi Vô cấu, núi Đại thanh tịnh và núi Nội tượng đều cao một vạn do tuần, cùng với các núi khác có rất nhiều hoa trời tươi đẹp, các sông hồ cũng như trăm nghìn vườn rừng bao bọc chung quanh. Sự vui sướng ở cõi trời này thù thắng hơn ở cõi trời Đao lợi. Người cõi trời Dạ ma sống lâu hai nghìn tuổi, một ngày một đêm ở đây bằng hai trăm năm ở cõi người. Cũng có việc hôn nhân trai gái lấy nhau, nhưng chỉ gần gũi hoặc ôm nhau là âm dương hòa hợp, có con theo ý muốn và từ đầu gối hóa sinh ra. Trẻ sơ sinh ở cõi trời này đã to bằng đứa bé ba, bốn tuổi ở cõi Diêm phù đề (tức cõi người). Tín ngưỡng về Dạ ma thiên vương đã bắt nguồn từ thời đại Phệ đà trở về sau. Vì cõi trời này là thế giới đầy ánh sáng và có đủ mọi sự vui sướng, cho nên từ xưa đã là nơi mà dân tộc Ấn độ mơ ước được sinh đến sau khi chết. Về sau, Dạ ma thiên vương dần dần diễn biến làm quan thẩm phán xử tội người chết mà thành là chúa loài quỉ và địa ngục với cái tên là vua Diêm ma ở tầng trời cao nhất trong hư không. Nhưng sau khi tín ngưỡng này được đưa vào Phật giáo thì vị trí của cõi trời Dạ ma được đặt vào hàng thứ ba trong sáu tầng trời cõi Dục. [X. kinh Trường a hàm Q.18, Q.20, Q21; kinh Chính pháp niệm xứ Q.37 đến Q.63; luận Du già sư địa Q.4, Q.5; luận Câu xá Q.11; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.6; W. Kirfel: Die Kosmographie der Inder]. (xt. Diêm Ma Vương).

dạ ma vương sảnh

Sảnh đường của Diêm Vương, nơi phán quyết tội nhân—Yama's judgment hall.

dạ mi

Yami (S)Nữ Diêm vươngThần cõi chết.

dạ minh châu

Precious stone shining brightly at night.

dạ mẫu na

Yamuna (skt)—Sông Dạ Mẫu Na ở vùng bắc Ấn Độ—The River Jumna in northern India.

dạ nhu phệ đà

3131梵名 Yajur-veda,巴利名同。印度古代經典「四吠陀」之一。又作耶柔吠陀、冶受吠陀、耶樹薜陀、耶受毘陀、夜殊鞞陀。意譯祠、祭祠、作明供施、祭祀智論。即有關祭祠(梵 yajus)、祭司(梵 adhvaryu)所唱之咒文及其注解等之集成。所傳有二種:(一)黑夜柔吠陀(梵 Kṛṣṇa-yajur-veda),意指與梵書之區別不甚分明之吠陀。乃合糅吠陀之本文(讚歌、祭祠、咒詞等)及梵書(吠陀之註書)所成,計四卷(或五卷、七卷、八卷)。(二)白夜柔吠陀(梵 Śukla-yajur-veda),意指與梵書可以明白區分之吠陀。乃將黑夜柔雜糅之本文與梵書析離,分別整理而成。又依論述吠陀學派之著作如加拉納毘哈(梵 Caraṇa-vyūha)等之記載,四吠陀皆有副吠陀,夜柔吠陀之副吠陀爲陀菟論(梵 Dhanu-veda,弓之吠陀),即射法論。 ; (夜柔吠陀) Phạm,Pàli: Yajur-veda. Một trong bốn bộ kinh Phệ đà của Ấn độ đời xưa. Cũng gọi Dạ nhu phệ đà, Dã thụ phệ đà, Da thụ bệ đà, Dạ thụ tì đà, Da thù bệ đà. Hán dịch: Từ (cúng tế), Tế từ, Tác minh cúng thí, Tế tự trí luận. Dạ nhu phệ đà là tập đại thành các bài chú được đọc trong tế từ (Yajus), Tế tư (Phạm:adhvaryu) và giải thích văn chú của tế từ, tế tư v.v... Dạ nhu phệ đà có hai loại: I. Hắc dạ nhu phệ đà (Phạm:Kfwịayajur-veda). Giữa Phệ đà này và Phạm thư không phân biệt rõ ràng, là vì văn chính của Phệ đà (Tán ca, Tế từ, Chú từ v.v...)và Phạm thư (sách chú thích Phệ đà) được hợp lại với nhau mà thành, gồm 4 quyển (hoặc 5, 7, 8 quyển). II. Bạch dạ nhu phệ đà(Phạm:Zuklayajur-veda). Loại Phệ đà này và Phạm thư có thể phân biệt rõ ràng, là vì văn chính của Hắc dạ nhu lẫn lộn với Phạm thư đã được tách rời ra và chỉnh lí lại mà thành. Ngoài ra, theo các trứ tác nói về học phái Phệ đà, như Gia lạp nạp tì cáp (Phạm: Caraịa-vyùha). v.v... thì bốn Phệ đà đều có phó Phệ đà, phó Phệ đà của Dạ nhu phệ đà là luận Đồ thố (Phạm:Dhanu-veda, Phệ đà của cung nỏ), tức là luận về hép bắn cung.

dạ nhu phệ đà kinh

Yajur-veda (S)Tế tựKinh điển Vệ đà.

dạ tha bạt

Yathavat (skt). 1) Thích hợp: Suitably. 2) Chính xác: Exactly. 3) Rắn chắc: Solid. 4) Thực sự: Really.

dạ thuyền nhàn thoại

3131全一卷。日本禪僧白隱慧鶴(1685~1768)著。作者在修行當中曾患神經衰弱與肺結核,本書即作者記載,由獨得之內觀祕法治癒疾病之經驗談。修習該祕法能令身心健康,達成修行目的。〔白隱廣錄卷上〕 ; (夜船閑話) Có 1 quyển, do Thiền sư Bạch ẩn Tuệ hạc của Nhật bản soạn. Trong khi tu hành, tác giả từng mắc chứng thần kinh suy nhược và lao phổi, nhưng nhờ thực hành phép nội quán bí mật mà chữa lành bệnh. Nội dung tác phẩm tác giả ghi lại những kinh nghiệm ấy và cho rằng tu tập phép bí mật này có thể làm cho thân tâm khoẻ mạnh, đạt mục đích tu hành. [X. Bạch ẩn quảng lục Q.thượng].

dạ thù

Yajurveda (skt)—Nghi thức tế lễ Vệ Đà của Bà La Môn giáo—The sacrificial veda of the Brahmans; the liturgy associated with Brahmanical sacrificial services.

dạ thần lạp thoát lệ

Ratri (S).

dạ toạ

3131<一>在禪門修行道場,於日沒時之坐禪。又稱黃昏坐禪、初夜坐禪。  <二>指半夜之坐禪。禪宗寺院之就寢時間,多爲晚上九點鐘,此時間以後之坐禪,稱爲夜坐。 ; (夜坐) I. Dạ tọa. Ngồi thiền vào lúc mặt trời lặn. Cũng gọi Hoàng hôn tọa thiền, Sơ dạ tọa thiền. II. Dạ tọa. Ngồi thiền vào lúc nửa đêm. Trong các chùa viện Thiền tông, chư tăng thường đi ngủ vào chín giờ tối, đến 12 giờ khuya dậy ngồi thiền, gọi là Dạ tọa.

Dạ Trung Pháp Môn

(夜中法門, Yachūhōmon, Pháp Môn Trong Đêm): tên gọi của một trong những Pháp Môn Bí Sự vốn nương vào giáo thuyết của Chơn Tông. Trong điều thứ 18 của cuốn Cải Tà Sao (改邪鈔) do Giác Như (覺如, Kakunyo), Tổ đời thứ 13 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji) trước tác, có tố cáo sự tồn tại dị đoan của cái gọi là Pháp Môn Trong Đêm này. Đây là pháp môn tiến hành nghi thức trong bóng tối nhằm cưỡng chế cảm giác khi nhập môn, nên mới có tên gọi như vậy. Nó âm thầm tồn tại từ thời Trung Đại cho đến hiện tại, được xem như là pháp môn tà nghĩa mang tính cực đoan có liên quan đến Chơn Tông.

dạ tọa

Thời tọa thiền ban đêm sau 9 giờ, là giờ ngủ trong các thiền viện—Meditation done after 9 :00 PM, the usual bedtime hour in the Zen monastery.

Dạ Xoa

(s: yakṣa, p: yakkha, 夜叉): xem phần Dược Xoa (藥叉) bên dưới.

dạ xoa

3129梵語 yakṣa,巴利語 yakkha。八部眾之一。通常與「羅剎」(梵 rākṣasa)並稱。又作藥叉、悅叉、閱叉、野叉。意譯輕捷、勇健、能噉、貴人、威德、祠祭鬼、捷疾鬼。女性夜叉,稱爲夜叉女(梵 yakṣiṇī,巴 yakkhinī)。指住於地上或空中,以威勢惱害人,或守護正法之鬼類。據長阿含卷十二大會經、大毘婆沙論卷一三三、順正理論卷三十一等載,夜叉受毘沙門天王統領,守護忉利天等諸天,得受種種歡樂,並具有威勢。 有關夜叉之種類,大智度論卷十二舉出三種夜叉,即:(一)地行夜叉,常得種種歡樂、音樂、飲食等。(二)虛空夜叉,具有大力,行走如風。(三)宮殿飛行夜叉,有種種娛樂及便身之物。注維摩詰經亦舉出三種夜叉,即:(一)地夜叉,因過去世僅行財施,故不能飛行。(二)虛空夜叉。(三)天夜叉,因過去世布施車馬而能飛行。 另據大方等大集經卷五十二毘沙門天王品載,毘沙門天王有無病、吉祥等十六夜叉大臣大力軍將,及因陀羅、蘇摩、婆樓那、伊奢那、阿吒薄拘等五十夜叉軍將。據金光明最勝王經卷一序品載,毘沙門天王爲上首,庵婆、持庵、蓮花光藏、蓮花目、顰眉、現大怖、動地、吞食等三萬六千藥叉眾來會。據大日經疏卷五載,胎藏界曼荼羅外金剛部中,於北門置毘沙門天,其左右繪有摩尼跋陀羅、布嚕那跋陀羅、半只迦、沙多祈哩、醯摩嚩多、毘灑迦、阿吒嚩迦、半遮羅等夜叉八大將。 經典中常述及身爲正法守護神之夜叉。如藥師如來本願經載,宮毘羅、跋折羅等十二夜叉大將,誓言護衛藥師如來本願經之受持者。據陀羅尼集經卷三載,達哩底囉瑟吒等十六大藥叉將(即般若十六善神),願護衛念誦「般若波羅蜜」者。據大毘婆沙論卷一八○載,兩國交戰時,由護國藥叉先行比鬥。據孔雀王咒經卷上載,鉤鉤孫陀等一九七名夜叉住於諸國,降伏怨敵。然經典中亦述及爲害眾生之各類夜叉。據大吉義神咒經卷三載,諸夜叉、羅剎鬼等,常作獅、象、虎、鹿、馬、牛、驢、駝、羊等形象,或頭大而身小,或赤腹而一頭兩面、三面等,手持刀、劍、戟等,相狀可怖,令人生畏,能使見者錯亂迷醉,進而飲啜其精氣。南本涅槃經卷十五、觀佛三昧海經卷二等亦載有該類夜叉之可怖形狀,彼等即爲奪人精氣、噉人血肉之獰惡鬼類。 夜叉之梵語 yakṣa,語根爲 yakṣ,有尊敬、祭祀、躁動等意,指半人半神之群類。故注維摩詰經卷一,將夜叉譯作貴人;慧琳音義卷二十三,稱夜叉爲祠祭鬼,謂印度民間常祭祀夜叉以求福。於印度神話中,夜叉則爲一種半神之小神靈。有謂其父爲補羅娑底耶,或迦葉波,或補羅訶(梵 Pulaha),或謂係由梵天腳中生出者;其母係財神俱毘羅之隨從,或爲毘溼奴之隨從。於密教中,據大日經疏卷一載,密迹力士爲夜叉王,稱爲金剛手,或執金剛。〔長阿含經卷二十、大方等大集經卷五十、起世經卷六「四天王品」、立世阿毘曇論卷一、卷四、大唐西域記卷三迦溼彌羅國條〕(參閱「多聞天」2331) ; Yakṣa (S), Yakkha (P), Yakkhini (P), Yakṣi (S), Yakṣinī (S)Dược xoa, Dõng Kiện, Bạo ác, Thiệp Tật, Yakasa, Tiệp tật quỷMột loài quỉ rất hung mãnh, bay đi mau lẹ, có phận sự giữ các cửa Khuyết cùng thành trì của Trời. Một trong bát bộ. Gồm: Thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu na, khẩn na la, ma hầu la già. Một trong 8 loại quỉ: Càn thát bà, Đảm tinh quỉ, Cưu bàn trà, Ngạ quỉ, Chư long, Phú đơn na, Dạ xoa, La sát. ; Yaksa (S). Demons in the earth, or in the air, or in lower heavens;they are malignant, and violent, and devourers (of human flesh). ; See Yaksa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (夜叉) Phạm: yakwa, Pàli: yakkha. Một trong tám bộ chúng, thường được gọi chung với La sát (Phạm: ràkwasa). Cũng gọi Dược xoa, Duyệt xoa, Dã xoa. Hán dịch: Khinh tiệp, Dũng kiện, Năng đạm, Quí nhân, Uy đức, Từ tế quỉ, Tiệp tật quỉ. Nữ tính Dạ xoa gọi là Dạ xoa nữ (Phạm: yakwiịì, Pàli: yakkhinì). Chỉ cho loài quỉ ở trên mặt đất hoặc ở trong hư không, dùng uy thế não hại người, hoặc dùng uy thế giữ gìn chính pháp. Cứ theo kinh Đại hội trong Trường a hàm quyển 12, luận Đại tì bà sa quyển 33 và luận Thuận chính lí quyển 31 nói, thì Dạ xoa được đặt dưới quyền điều khiển của vua trời Tì sa môn, có bổn phận giữ gìn các cõi trời Đao lợi v.v... Loài quỉ này được thụ hưởng những sự vui sướng và có đầy đủ uy thế.Cứ theo luận Đại trí độ quyển 12 nói thì có 3 loại dạ xoa: 1. Địa hành dạ xoa: thường được sung sướng, thưởng thức âm nhạc, ăn uống... 2. Hư không dạ xoa: có đầy đủ đại lực, đi nhanh như gió. 3. Cung điện phi hành dạ xoa: có đầy đủ tiện nghi và mọi sự vui sướng. Chú Duy ma cật kinh cũng nêu ba loại dạ xoa: 1. Địa dạ xoa: đời quá khứ chỉ bố thí tiền của nên không bay được. 2. Hư không dạ xoa. 3. Thiên dạ xoa: nhờ đời trước bố thí xe, ngựa, nên có thể bay đi. Ngoài ra, phẩm Tì sa môn thiên vương trong kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 52 nói: Vua trời Tì sa môn có 16 đại lực tướng quân Dạ xoa như: Vô bệnh, Cát tường v.v... và năm mươi tướng quân Dạ xoa như: Nhân đà la, Tô ma, Bà lâu na, Y xa na, A tra bạc câu v.v... Cứ theo phẩm tựa trong kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 1 chép, thì Vua trời Tì sa môn có 36000 chúng Dược xoa dưới quyền, như: Am bà, Trì am, Liên hoa quang tạng, Liên hoa mục, Tần mi, Hiện đại bố, Động địa, Thôn thực v.v... Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 chép,thì trong Kim cương bộ ngoài của Thai tạng giới mạn đồ la, ở phía bắc đặt trời Tì sa môn, ở hai bên vị trời này vẽ tám đại tướng Dạ xoa: Ma ni bạt đà la, Bố rô na bạt đà la, Bán chỉ ca, Sa đa kì lí, Hê ma phạ đa, Tì sái ca, A tra phạ ca và Bán già la. Trong các kinh thường đề cập đến các thần Dạ xoa hộ trì chính pháp. Như kinh Dược sư như lai bản nguyện nói: 12 vị đại tướng Dạ xoa, như Cung tì la, Bạt chiết la v.v... thề nguyền che chở giữ gìn những người trì tụng kinh Dược sư như lai bản nguyện. Còn kinh Đà la ni tập quyển 3 thì nói: 16 vị đại tướng Dược xoa, như Đạt lí để la sát tra v.v... (tức là 16 vị thiện thần Bát nhã) thì phát nguyện hộ vệ những người tụng niệm Bát nhã ba la mật. Luận Đại tì bà sa quyển 180 nói: khi hai nước giao chiến thì Dược xoa hộ quốc ra đánh trước. Kinh Khổng tước vương chú thì nói: 197 Dạ xoa như Câu câu tôn đà v.v... ở các nước để hàng phục oán địch. Tuy nhiên, trong các kinh điển cũng còn nói đến các loài Dạ xoa làm hại chúng sanh Như kinh Đại cát nghĩa thần chú quyển 3 nói: các Dạ xoa, quỉ La sát v.v... thường biến làm hình sư tử, voi, hổ (cọp), nai, ngựa, trâu, lừa, lạc đà, dê v.v... hoặc đầu to mình nhỏ, hoặc bụng đỏ với một đầu hai mặt v.v... tay cầm dao, gươm, dáo, mác v.v... hình tướng dữ tợn, làm ai cũng sợ, người trông thấy kinh quá đến ngất xỉu, rồi Dạ xoa tiến đến hút uống tinh khí của họ. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 15 và kinh Quán Phật tam muội hải quyển 2 cũng nói đến loài Dạ xoa có thân hình đáng sợ, đó là loài quỉ hung ác thường uống máu ăn thịt và hút tinh khí của người. Tiếng Phạm của Dạ xoa là yakwa, từ gốcyakw mà ra, có các nghĩa: tôn kính, tế tự, táo bạo v.v... là loài nửa người nửa thần. Cho nên trong Chú Duy ma cật kinh quyển 1, Dạ xoa được dịch là người quí. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 23 gọi Dạ xoa là Từ tế quỉ và bảo người dân Ấn độ thường thờ cúng Dạ xoa để cầu phúc. Trong thần thoại Ấn độ, Dạ xoa là một loại thần linh nửa thần. Có thuyết nói cha của Dạ xoa là Bổ la sa để da, hoặc Ca diếp ba, hoặc Bổ la ha (Phạm: pulaha); hoặc có thuyết cho Dạ xoa là từ trong chân của Phạm thiên sinh ra. Mẹ của Dạ xoa là người theo hầu thần tài Câu tì la, hoặc theo hầu thần Tì thấp nô. Trong Mật giáo, theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, thì lực sĩ Mật tích là chúa Dạ xoa, gọi là Kim cương thủ hoặc Chấp kim cương [X. kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.50; kinh Khởi thế Q.6 phẩm Tứ thiên vương; luận Lập thế a tì đàm Q.1, Q.4; Đại đường tây vực ký Q.3, Ca thấp di la quốc điều]. (xt. Đa Văn Thiên).

dạ xoa nữ

Yakṣi (S), Yakkhini (P).

dạ đường thuỷ

3132禪林用語。原指暗夜之中,僅有池水而無生物之池塘;於禪林中,轉指空無內容之虛妄言句。蓋虛妄之言句原本缺乏真切入理之要義,而愚癡人不辨真假虛實,猶於其中尋覓探索,冀望捕捉悟道之機,徒勞而無功;猶如龍門激流下之水塘,塘中之魚早已登上三級之浪,化身爲龍,然有愚癡不解實情之人,猶於暗夜前往尋捕,徒然枉費一場功夫。碧巖錄第七則(大四八‧一四七下):「三級浪高魚化龍,癡人猶戽夜塘水。」 ; (夜塘水) Nước ao trong đêm. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cái ao trong đêm tối vốn chỉ có nước chứ không có sinh vật. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ nội dung của câu nói hư dối trống rỗng. Bởi vì câu nói không mang ý nghĩa quan trọng nào để đi vào lí, mà người ngu si thì không biết rõ chân giả thực hư, cứ loay hoay tìm kiếm trong đó, hy vọng nắm bắt được cái cơ ngộ đạo, đã khó nhọc mà vô ích. Cũng như nước từ cửa Long môn chảy xuống, cá đã vượt lên trên ba lớp sóng mà hóa thân thành rồng rồi, thế nhưng những người ngu không hiểu rõ sự thực, vẫn cứ chạy lên phía trước để tìm mò bắt cá trong đêm tối; thật uổng công phí sức! Bích nham lục tắc 7 (Đại 48, 147 hạ), nói:Sóng cao ba lớp cá hóa rồng Người ngu vẫn tát ao nước tối.

Dạ-xoa

夜叉; S: yakṣa; P: yakkha; cũng được gọi là Dược-xoa|Là một loại thần. Kinh sách có khi nhắc nhở đến loài này, gồm hai loại chính: 1. Loài thần, có nhiều năng lực gần giống như chư thiên; 2. Một loài ma quỷ hay phá các người tu hành bằng cách gây tiếng động ồn ào trong lúc họ thiền định.

Dạ-xoa nữ 夜叉女

[ja] ヤサニョ yasanyo ||| The yakṣiṇī (Pali yakkhinī), a female yakṣa . => Nữ quỷ Dạ-xoa (s:yakṣiṇī ; p: yakkhinī). ; [ja] ヤサニョ yasanyo ||| The yakṣiṇī (Pali yakkhinī), a female yakṣa . => Nữ quỷ Dạ-xoa (s:yakṣiṇī ; p: yakkhinī). Di-sa-tắc bộ 彌沙塞 部 [ja] ミシャサイブ mishasaibu ||| The Five Part Vinaya 五分律 of the Mahīśāsaka school 化地部. => Ngũ phần luật (e: Five Part Vinaya 五分律 ) của Hoá địa bộ (c: Huadibu; s: Mahīśāsaka化地部).

dạ-xoa và la-sát

phiên âm từ Phạn ngữ là yakṣa và rakṣasa. Nguyên bản Hán văn dùng tiệp tật la-sát (捷疾羅剎), tiệp tật là cách dịch cũ theo nghĩa của dạ-xoa, còn la-sát dịch nghĩa là bạo ác quỷ (暴惡鬼).

dại dột

Stupid—Foolish.

dạm

To offer.

dạm hỏi

To offer marriage.

dạm mua

Offer of purchase.

dạn dĩ

Fearless.

dạn mặt

Shameless.

dạo

To take a walk—To go for a walk.

dạo ấy

At that time.

dạy

To teach—To instruct—To train.

dạy bảo

To rear—To bring up.

dấu chân

Hoof—Footprint—footmark—Footstep—Imprint of the foot.

dấu hiệu tái sanh

Gati-nimitta (S), Sign of future existence.

dấu hiệu vãng sanh về đâu

Signs of places of rebirth—See Những Điểm Nóng Tối Hậu, and Sanh Về Cõi Nào?

dấu tích

Trace—Vestige.

dầm mưa dãi nắng

Expose to the rain and the sun.

dầm sương

To expose to the dew

dầm sương dãy nắng

Đi sớm về muộn—Arises early and retires late.

dần dần

Gradually—Little by little.

dầu

Oil.

dầu bát

Một bát dầu—A boil of oil—Trì Dầu Bát (cẩn thận như đang mang bát dầu đầy trên tay)—As careful as carrying a bowl of oil.

dầu vậy

In spite of.

Dẫn

(引): một loại thể văn được hình thành vào thời nhà Đường (唐, 618-907), như Dẫn Thủy Sám Bát Tiên, v.v.

dẫn

To lead—To bring in or on—To conduct—To stretch—To draw.

dẫn chánh vương

Satavahana (S)Bảo Hành vương, Sa đa bà ha vươngMột vị vua ở Nam Ấn khoảng thế kỳ thứ 3.

dẫn chính thái tử

1391引正王之子。引正王,梵名 Sātavāhana,音譯娑多婆訶,係古代中印度憍薩羅國之主,歸依龍樹,從習藥術,得年貌不衰之妙術。太子欲早登大位,私忖父王之長命乃依龍樹之福力而得,遂乞龍樹自裁。龍樹既死,王亦命終,太子遂即王位。〔大唐西域記卷十〕 ; (引正太子) Con vua Dẫn chính. Dẫn chính. Phạm: Sàta-vàhana, âm Hán: Sa đa bà ha, vua nước Kiêu tát la trung Ấn độ thời xưa. Vua qui y ngài Long thụ, học được y thuật của ngài và giữ thân mình trẻ khỏe sống lâu. Thái tử muốn sớm lên ngôi vua, nghĩ thầm rằng vua cha sống lâu là nhờ vào phúc lực của ngài Long thụ, do đó, đến xin Ngài tự xử. Sau khi ngài Long thụ tịch, vua cũng mệnh chung, Thái tử bèn lên ngôi vua. [X. Đại đường tây vực kí Q.10].

dẫn chứng

To cite with proof.

Dẫn chứng 引證

[ja] インショウ inshō ||| To induce realization. Enlightenment. => Đưa đến sự nhận thức rõ. Chứng ngộ.

dẫn giá đại sư

1394唐代僧職名。四大師之一。主引導天子車駕之事。依佛祖統紀卷七智威條及其注載,唐太宗時,封法華尊者智威為引駕大師。〔大宋僧史略卷下〕 ; (引駕大師) Tên một chức Tăng ở đời Đường. Một trong bốn vị Đại sư. Nhiệm vụ của chức tăng này là dẫn đường cho xa giá Thiên tử. Theo Phật tổ thống kỉ quyển 7 Trí uy điều phần chú thích, thì vua Đường Thái tông đã phong cho Pháp hoa tôn giả Trí uy là Xa giá đại sư. [X. Đại tống tăng sử lược Q.hạ].

dẫn giải

To explain and comment.

dẫn hóa

To initiate and instruct.

dẫn khánh

1394法器名。即碗狀之小鐘,以小鐵枹擊之。於底部之中央貫紐,附有木柄,便於把持,故又稱手磬。乃鳴之以引起大眾注意之器具。〔敕修百丈清規卷上尊祖章達磨忌條、卷下法器章〕 ; (引磬) Tên của một loại pháp khí, tức là quả chuông nhỏ hình giống cái chén, làm bằng kim loại, có cán để cầm tay, cho nên cũng gọi là Thủ khánh. Trong pháp hội, đánh chuông này để đại chúng chú ý. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng Tôn tổ chương Đạt ma kị điều, Q.hạ Pháp khí chương].

dẫn lộ bồ tát

1394引導臨終者去路之菩薩。其名號未見諸經典,係唐末宋初,與淨土教之流行共同興起之民間信仰。英國學者史坦因(Stein)曾由敦煌千佛洞持還此菩薩之圖像,為唐末之製作。圖中,引路菩薩著瓔珞天衣,右手持柄香爐,爐中出香煙一縷,浮五彩雲,雲中現淨土寶樓閣,左手持蓮華,附有寶幢,並有一女子隨其身後,共乘飛雲。〔藥師琉璃光如來本願功德經、蘇老泉先生全集第十五極樂院造六菩薩記〕 ; (引路菩薩) Bồ tát dẫn đường cho người sắp chết. Danh hiệu của ngài chưa thấy được ghi trong các kinh điển. Đây là tín ngưỡng dân gian phát khởi cùng lúc với sự truyền bá Tịnh độ giáo vào cuối đời Đường đầu đời Tống. Tượng vẽ của vị Bồ tát này do học giả Stein - người nước Anh - tìm thấy trong động Nghìn Phật tại Đôn hoàng, là tác phẩm ở cuối đời Đường. Trong bức vẽ, bồ tát Dẫn lộ mặc áo trời đeo chuỗi ngọc anh lạc, tay phải cầm cán lư hương (loại lư hương có cán), một làn khói từ trong lư hương bay ra hiện thành áng mây năm mầu, trong áng mây hiện ra lầu gác báu ở cõi Tịnh độ; tay trái cầm hoa sen và bảo chàng, đồng thời, có một người con gái cùng cỡi mây bay theo sau vị Bồ tát này. [X. kinh Dược sư lưu li quang như lai bản nguyện công đức; Tô lão tuyền tiên sinh toàn tập đệ thập ngũ Cực lạc viện tạo lục Bồ tát kí].

dẫn nghiệp

1393牽引五趣四生等果之業。又作引因、牽引業、總報業。為「滿業」之對稱。即感有情總報果體之強勝業。大小乘解其名義,其說有異。(一)小乘之說:俱舍論卷十七謂,業能引眾同分等為引業,圓滿莊嚴其同分者為滿業。即引業約因,滿業約果而解,此即業果相對。又業有順現業、順生業、順後業、順不定業四種,大毘婆沙論卷一一四中,就順現等四業配於引、滿二業,舉出三師之異說,即:(1)順次生受業與順後次受業皆能引眾同分果,亦能滿眾同分果;順現法受業與順不定受業則能滿眾同分果,不能引眾同分果。(2)順現法受業能滿眾同分果,不能引眾同分果;餘三業皆能引眾同分果,亦能滿眾同分果。(3)四業皆能引眾同分果,亦能滿眾同分果。俱舍論卷十五即取此中之第二說。 (二)大乘之說:成唯識論述記卷二、唯識論泉鈔等有二解,其中,總報業感總報之果,同時扶其餘劣弱之業,使彼亦能感別報,稱為引業;第六識之別報業圓滿莊嚴第八總報之果體,稱為滿業。此即業業相對。又總報之果起時,其果能為增上緣,引生其餘別報之果,稱為引業;此別報之果能使總報之果圓滿,則稱滿業。此即果果相對。 此外,引業唯限於一業或通於多業,引一生或通於多生,大小乘之說亦有不同。小乘主張引業唯限於一業,唯引一生,大乘則主張一多互為不定。然小乘中之經部亦同於大乘之說,主張一業引多生之義。〔大毘婆沙論卷十九、成唯識論卷二、大乘阿毘達磨雜集論卷七、俱舍論寶疏卷十七〕 ; Dẫn nhân—Tổng báo nghiệp, hay nghiệp chủ yếu dẫn đến quả báo phải tái sanh vào cõi nào, trời, người, hay súc sanh, vân vân—The principle or integral direction of karma, which determines types of reincarnation, i.e. deva, man, or animal, etc. ; (引業) Nghiệp kéo chúng sinh chịu quả báo trong năm đường bốn loài. Cũng gọi Dẫn nhân, Khiên dẫn nghiệp, Tổng báo nghiệp. Đối lại với Mãn nghiệp. Sự giải thích về Dẫn nghiệp giữa Đại thừa và Tiểu thừa có nhiều thuyết khác nhau. I. Tiểu thừa: Luận Câu xá quyển 17 nói, nghiệp có khả năng dẫn chúng đồng phận là Dẫn nghiệp; nghiệp viên mãn trang nghiêm chúng đồng phận là Mãn nghiệp. Tức giải thích Dẫn nghiệp là nhân, Mãn nghiệp là quả, đây là nghiệp và quả đối nhau. Vả lại, nghiệp còn có 4 loại: Thuận hiện nghiệp, Thuận sinh nghiệp, Thuận hậu nghiệp, Thuận bất định nghiệp v.v... Luận Đại tì bà sa quyển 140 căn cứ vào bốn nghiệp kể trên đem phối với Dẫn nghiệp và Mãn nghiệp mà nêu ra ba thuyết như sau: 1. Thuận thứ sinh thụ nghiệp và Thuận hậu thứ thụ nghiệp đều có thể dẫn đến quả chúng đồng phận, cũng có khả năng làm tròn đủ quả chúng đồng phận. Còn Thuận hiện pháp thụ nghiệp và Thuận bất định thụ nghiệp thì có thể làm cho quả chúng đồng phận tròn đủ, nhưng không có khả năng dẫn đến quả chúng đồng phận. 2. Thuận hiện pháp thụ nghiệp có thể làm cho quả chúng đồng phận tròn đủ, nhưng không thể dẫn đến quả chúng đồng phận. Ba nghiệp còn lại đều có khả năng dẫn đến quả chúng đồng phận và cũng có thể làm viên mãn quả chúng đồng phận. 3. Bốn nghiệp đều có thể dẫn đến quả chúng đồng phận, mà cũng có thể làm viên mãn quả chúng đồng phận. Trong ba thuyết kể trên, luận Câu xá quyển 15 chấp nhận thuyết thứ hai. II. Đại thừa: Thành duy thức luận thuật kí quyển 2 và Duy thức luận tuyền sao nêu ra hai cách giải thích: 1. Tổng báo nghiệp cảm tổng báo quả, đồng thời, giúp đỡ những nghiệp yếu kém khác, khiến chúng cũng có thể cảm biệt báo, gọi là Dẫn nghiệp. Biệt báo nghiệp của thức thứ sáu viên mãn trang nghiêm, quả thể tổng báo của thức thứ tám, gọi là Mãn nghiệp. Đây là nghiệp với nghiệp đối nhau. 2. Khi quả tổng báo dấy lên, quả ấy có thể làm duyên tăng thượng dẫn sinh ra các quả biệt báo khác, gọi là Dẫn nghiệp.Quả biệt báo này có khả năng làm cho quả tổng báo viên mãn, thì gọi là Mãn nghiệp. Đây là quả với quả đối nhau. Ngoài ra, về vấn đề Dẫn nghiệp chỉ giới hạn ở một nghiệp hay gồm nhiều nghiệp, dẫn đến một đời hay nhiều đời, giữa Tiểu thừa và Đại thừa cũng có quan điểm khác nhau. Tiểu thừa chủ trương Dẫn nghiệp chỉ giới hạn ở một nghiệp và dẫn đến một đời. Còn Đại thừa thì cho rằng một đời hay nhiều đời đắp đổi không nhất định. Nhưng phái Kinh lượng bộ trong Tiểu thừa chủ trương một nghiệp dẫn đến nhiều đời, đại khái cũng đồng quan điểm với Đại thừa. [X. luận Đại tì bà sa Q.19; luận Thành duy thức Q.2; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7; Câu xá luận bảo sớ Q.17].

Dẫn nghiệp 引業

[ja] インゴウ ingō ||| (1) "Directive karma" which draws one into overarching conditions, such as that of the species that one is a member, also called 總報 "general reward." This contrasted to 滿業 or particularizing karma. This karma is produced from ignorance, as opposed to 生業 karma produced from desire.〔二障義HPC 1.795b; 瑜伽論T 1579.30.612b08, 430c16.〕 => 1. “Nghiệp trực tiếp” đưa con người vào một hoàn cảnh bao quát chung, như giống loài mà họ là thành viên, còn gọi là 'tổng báo'. Ngược lại với Mãn nghiệp, hay biệt nghiệp. Nghiệp nầy xuất phát từ vô minh, ngược với sinh nghiệp, xuất phát từ tham dục.

dẫn nhiếp

Tiếp dẫn—Trong lời nguyện thứ 19 của Phật A Di Đà, Ngài nguyện sẽ tiếp dẫn những ai gọi đến hồng danh Ngài—To accept—To receive—To welcome (as a Buddha does on who call on him as stated in the nineteenth vow of Amitabha).

dẫn nhân

1392「生因」之對稱。生近果與正果之因,稱為生因;引遠果與殘果之因,稱為引因。就內種而言,以現在之種子生現在之身,稱為生因;引其他枯喪屍骸等,稱為引因。就外種而言,生芽、莖等為生因,引枯死之草木等為引因。此屍骸及枯草等之位皆無內外之種,或生於他界,或種既久而滅。然由生因之作用力故,猶能引彼,即依其義,說彼生因之種,稱為引因,二因並無別體。又十二有支中,能生支稱為生因,能引支及所引支皆為引因。即愛、取、有三支距生、老死之果近,能生近果,故稱生因;無明、行、識、名色、六處、觸、受等七支離生、老死之果猶遠,引遠果,故稱引因。〔成唯識論卷二〕 ; (引因) Đối lại với Sinh nhân. Nhân sinh ra quả báo gần (cận quả) và quả chính là Sinh nhân; Nhân sinh ra quả báo xa (viễn quả) và quả còn sót lại (tàn quả) là Dẫn nhân. Đứng về mặt hạt giống bên trong mà nói, thì hạt giống hiện tại sinh ra thân hiện tại là Sinh nhân; hạt giống hiện tại dẫn đến xác chết rữa tan là Dẫn nhân. Còn đứng về phương diện hạt giống bên ngoài mà nói, thì hạt giống nảy mầm thành cây là Sinh nhân, hạt giống dẫn đến cây cỏ chết khô là Dẫn nhân. Giai đoạn của xác chết và cỏ khô này đều không có hạt giống bên trong, bên ngoài hoặc sinh ở cõi khác, hoặc hạt giống đã diệt, nhưng nhờ sức tác dụng của Sinh nhân mà hạt giống của Sinh nhân cũng có thể đưa đến Dẫn nhân. Chính do nghĩa này mà hạt giống của Sinh nhân được gọi là Dẫn nhân, hai nhân đều không có thể riêng khác. Lại nữa, trong 12 nhân duyên thì chi năng sinh gọi là Sinh nhân, còn chi năng dẫn và chi sở dẫn đều là Dẫn nhân. Nghĩa là ba chi: Ái, Thủ, Hữu gần với quả sinh và lão tử, ba chi này hay sinh ra cận quả nên gọi là Sinh nhân. Còn bảy chi: Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục xứ, Xúc, Thụ v.v... thì cách xa với quả sinh và lão tử, bảy chi này dẫn sinh viễn quả cho nên gọi là Dẫn nhân. [X. luận Thành duy thức Q.2].

dẫn nhập

To introduce—To initiate.

Dẫn phát 引發

[ja] インホツ inhotsu ||| To bring about, cause, result in, induce, especially in the sense of inducing karmic effects. Used in the Yogācārabhūmi-śāstra over 170 times. => Gây ra, căn nguyên, đưa đến, đem lại, đặc biệt trong ý nghĩa đem lại nghiệp quả. Thuật ngữ được dùng trong Du-già sư địa luận hơn 170 lần.

dẫn phạn đại sư

1394指淨槌。即僧家將進食時,所鳴之槌。據清異錄釋族引飯大師條所載,淨槌由維那掌之,叢林視為引飯大師。 ; (引飯大師) Đại sư báo giờ dùng cơm. Tức là cái Kiểng (Tịnh chùy). Trong nhà Thiền, sắp đến giờ thụ trai, đánh tịnh chùy để báo hiệu cho chúng tăng biết. Cứ theo Thanh dị lục Thích tộc dẫn phạn đại sư điều, thì tịnh chùy do vị Duy na phụ trách, do đó mà có từ Dẫn phạn đại sư.

dẫn quả

1392「滿果」之對稱。眾生之果報有總別之分,凡果報之主要成分,稱為引果;果報之局部,則稱為滿果。例如第八識為引果,五根、五境等好醜美惡為滿果。第八識為總報之果體,於反現人界五根、五境等之總體上,更就彼總體而成美惡、上下、貧富等種種差別,乃是第八識中具有滿業種子之故。由此可知同一人間,果報之所以有上下種種差別者,此乃滿果所致。引果總為同一。〔成唯識論卷二、成唯識論述記卷二末〕 ; Giai đoạn quả báo thưởng phạt tổng báo, ngược lại với biệt báo—The general stage of fruition, such as reward or punishment in the genus, as contrasted with the differentiated species or stages, such as for each organ or variety of condition. ; (引果) Đối lại với Mãn quả. Quả báo của chúng sinh có tổng (chung) và biệt (riêng) khác nhau. Thành phần chủ yếu của quả báo gọi là Dẫn quả; quả báo riêng biệt thì gọi là Mãn quả. Chẳng hạn như thức thứ tám là Dẫn quả, sự đẹp xấu, ưa ghét của năm căn, năm cảnh là Mãn quả. Thức thứ tám là quả thể tổng báo, tổng thể này hiện hành năm căn, năm cảnh v.v... trong cõi người và cũng do tổng thể này mà có những sự sai biệt đẹp xấu, trên dưới, giầu nghèo v.v... ấy là do hạt giống Mãn nghiệp đã có sẵn ở trong thức A lại da. Do đó có thể biết cùng một cõi người mà quả báo có cao thấp khác nhau, đó là do Mãn quả, còn Dẫn quả thì đồng nhất. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối].

Dẫn sinh 引生

[ja] インショウ inshō ||| Projection into rebirth. One of four kinds of permeation of the store consciousness in the Mahāyāna-saṃgraha. 〔攝大乘論 T 1593.31.117c5〕 => Đưa đến việc tái sinh. Một trong 4 loại dị thục của tàng thức trong Nhiếp Đại thừa luận.

Dẫn Thanh Niệm Phật

(引聲念佛, inzeinembutsu hay injōnembutsu): nghĩa là khi xướng niệm danh hiệu A Di Đà Phật thì có thêm vào âm tiết rất nhẹ nhàng, chầm chậm kéo dài tiếng ra. Hình thức này do Viên Nhân (圓仁, Ennin) đem từ Ngũ Đài Sơn bên Trung Hoa truyền vào, rồi đến năm 851 thì ông cho xây dựng Thường Hành Tam Muội Đường (常行三昧堂) ở trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), và nơi đây được xem như là nơi đầu tiên được tiến hành hình thức Dẫn Thanh Niệm Phật lần đầu tiên ở nước ta vậy. Hiện tại ở một số nơi như Chơn Như Đường (眞如堂) ở Kyoto vẫn còn lưu truyền hình thức này. Hơn nữa, thêm âm tiết trầm bổng nhẹ nhàng mà đọc tụng Kinh A Di Đà thì được gọi là Dẫn Thanh A Di Đà Kinh (引聲阿彌陀經).

dẫn thanh niệm phật

1394謂附曲調,稱揚阿彌陀佛之名號。相傳此等念佛方法,為我國法道(一說法照)和尚於定中赴極樂世界,聽聞水鳥樹林念佛之聲,出定後,遂將彼法音流布於教界。至唐代,日僧圓仁入五臺山,始學其念佛之音曲而傳入日本,大為盛行。其中,真如堂之十日十夜念佛為日本淨土宗十夜念佛之濫觴。行引聲念佛之會堂即稱引聲念佛堂。〔金剛界大法對受記卷六〕 ; (引聲念佛) Xưng niệm danh hiệu đức Phật A di đà theo nhịp điệu. Tương truyền, phương pháp niệm Phật này do Hòa thượng Pháp đạo (có thuyết nói Pháp chiếu) ở Trung quốc trong khi nhập định đến thế giới Cực lạc nghe tiếng nước chảy, chim hót, cây reo vang ra tiếng niệm Phật. Sau khi xuất định, ngài đem pháp âm ấy truyền bá trong giới Phật giáo. Vào đời Đường, vị tăng Nhật bản là ngài Viên nhân đến Trung quốc, lên núi Ngũ đài mới học được pháp niệm Phật này. Sau, ngài truyền về Nhật bản và rất thịnh hành. Trong đó, khóa tu niệm Phật 10 ngày 10 đêm là mở đầu cho khóa tu niệm Phật 10 đêm của tông Tịnh độ. Ngôi nhà họp tập thể để tu hành Dẫn thanh niệm Phật gọi là Dẫn thanh niệm Phật đường. [X. Kim cương giới đại pháp đối thụ kí Q.6].

dẫn tiêu

1393日本黃檗宗授戒時表三師七證等十僧座位之名票。票用紅紙,長二尺餘,寬五寸。如三師之引票上書「第一(或二、三)引票上某下某某宗師為得戒大和尚(或羯磨阿闍黎、教授阿闍黎)」,貼附於阿闍黎之座位上。七證之引票亦同。〔黃檗清規弘戒儀式〕 ; (引票) Tấm phiếu ghi tên dán vào tòa ngồi của Tam sư thất chứng (ba vị thầy bảy vị chứng minh) khi truyền giới. Đây là cách thức của tông Hoàng bá Nhật bản. Phiếu dùng giấy màu hồng, dài hơn hai thước (Tàu), rộng năm tấc. Trên phiếu của tam sư ghi: Đệ I (hoặc đệ II, đệ III) thượng ... (tên gì) hạ ... (tên gì) tông sư ... (tên gì) là Đại hòa thượng truyền giới (hoặc Yết ma a xà lê, Giáo thụ a xà lê). Dẫn phiếu của thất chứng cũng giống như thế. [X. Hoàng bá thanh qui hoằng giới nghi thức].

dẫn tiếp

1392引導接取。又作引攝。其義有三:(一)指佛力攝取救濟眾生,令生佛國。  (二)又作迎接。謂佛菩薩來迎,引導佛子往生淨土。往生要集卷上(大八四‧四一中):「彌陀如來之本願故,與諸菩薩、百千比丘眾,放大光明,(中略)至行者前。大勢至菩薩與無量聖眾同時讚歎,授手引接。」 (三)指教誡示導眾生,令眾生歸於正法。安樂集卷上(大四七‧一○上):「世尊引接當來造惡之徒,令其臨終捨惡歸善,乘念往生。」〔往生要集卷上末〕 ; (引接) Dẫn đường tiếp dắt. Cũng gọi Dẫn nhiếp. Có ba nghĩa: 1. Uy lực của Phật nhiếp thủ cứu độ chúng sinh khiến họ sinh về nước Phật. 2. Phật và Bồ tát đến đón tiếp dìu dắt chúng sinh sinh về Tịnh độ. Vãng sinh yếu tập quyển thượng (Đại 84, 41 trung): Vì bản nguyện của A di đà Như lai nên Ngài cùng với các vị Bồ tát, trăm nghìn chúng tỉ khưu, phóng ánh sáng lớn (...) đến trước hành giả. Bồ tát Đại thế chí và vô lượng Thánh chúng đồng thời khen ngợi, đưa tay tiếp dẫn. 3. Răn dạy chỉ đường cho chúng sinh, khiến chúng quay về chính pháp. An lạc tập quyển thượng (Đại 47, 10 thượng): Đức Thế tôn tiếp dẫn những kẻ làm ác, khiến họ lúc sắp chết bỏ ác quay về thiện, nương theo niệm thiện được vãng sinh. [X. Vãng sinh yếu tập Q.thượng phần cuối].

dẫn toà

1392指引導陞座。禪林中,新來者將陞座說法時,先立於一旁,由住持引請之,並介紹予大眾。如他寺住持虛席,請本寺之西堂或首座遷補之際,必遣專使迎請本寺住持引座,而後受請之新住持陞座。又他寺尊宿來訪時,禪寺首座勸請彼尊宿陞座說法,必由住持為之引座。敕修百丈清規卷三請新住持條(大四八‧一一二四下)云:「專使當隔宿懷香詣方丈,觸禮三拜,詞云:『拜請和尚來日為新命和尚引座。』」同書卷二住持日用(大四八‧一一二二下)亦云:「住持先引座,與常上堂同。」〔禪林象器箋卷十一垂說類〕 ; (引座) Hướng dẫn lên tòa nói pháp. Trong Thiền lâm, vị giảng sư mới đến, lúc sắp lên tòa nói pháp, trước hãy đứng ở một bên, sau đó, vị trụ trì thỉnh đưa lên tòa và giới thiệu với đại chúng. Nếu chùa khác không có trụ trì, muốn thỉnh vị Tây đường hoặc Thủ tọa của bản tự dời đến đảm nhiệm thì phải nhờ chuyên sứ đến thỉnh vị trụ trì của bản tự làm dẫn tòa, sau đó vị Tân trụ trì mới nhận lời thỉnh lên tòa thuyết pháp. Trong trường hợp một bậc tôn túc của chùa khác đến thăm viếng, nếu vị Thủ tọa của bản tự thỉnh Ngài lên tòa thuyết pháp, thì vị trụ trì của bản tự phải làm dẫn tòa. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 3 Thỉnh tân trụ trì điều (Đại 48, 1124 hạ), nói: Chuyên sứ phải đem hương đến phương trượng vào đêm hôm trước, đính lễ ba lạy, bạch rằng: Cung thỉnh Hòa thượng ngày mai ngài hướng dẫn vị tân trụ trì lên tòa. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.11 Thùy thuyết loại].

dẫn tọa

Từ ngữ dùng để chỉ người dẫn ai lên tòa để thuyết pháp trong thiền lâm—A phrase used by one who ushers a preacher into a “pulpit” to expound the law.

dẫn tới khổ đau không tránh được

To lead to inevitable sufferings.

dẫn xuất phật tính

The Buddha-nature in all the living to be developed by proper processes. One of the three kinds of Buddha-nature—See Tam Phật Tánh.

dẫn điệp

1393密教十二口傳之一。牒者,轉記之義。即先作解釋,後引經文以合之。(參閱「十二口傳」331) ; (引牒) Điệp có nghĩa chuyển ghi, tức là trước hết giải thích, sau đó dẫn văn kinh cho phù hợp. Đây là một trong 12 cách truyền khẩu của Mật giáo. [Xt. Thập Nhị Khẩu Truyền].

dẫn đường

To guide.

dẫn đạo

1394指誘引開導。本為導人入佛道之意,後轉用於葬儀中,在棺木前由一法師為死者說法語,教示亡靈隨佛之接引往生極樂世界。因宗派不同,其法語和作法亦各異。增一阿含經卷五十中,即記載釋尊於大愛道比丘尼示寂荼毘時,說明人生無常之道理及涅槃常住等佛法。在我國,此一做法始自唐朝百丈禪師,施行於一般僧侶之間,其後乃大行於民間。又於引導時,間或有作棒喝之狀者,此乃源自黃檗希運以來禪宗之獨門特色。引導死者之儀式,亦行諸日本真宗以外之各個宗派。至於密教之引導儀式則更有其特殊之作法。〔法華經卷一方便品、卷四法師品、藥師琉璃光如來本願功德經、大智度論卷十〕 ; 1) Đưa người vào chân lý—To lead people into Buddha-truth. 2) Dẫn dắt linh hồn người chết về thế giới khác—A phrase used at funerals implying the leading of the dead soul to the other world, possibly arising from setting alight the funeral pyre. ; (引導) Mở đường dẫn dắt người vào đạo Phật. Nhưng về sau từ ngữ này được dùng trong nghi lễ tống táng. Nghĩa là trước khi cử hành đám táng, vị pháp sư đứng trước quan tài người chết nói pháp ngữ chỉ bảo vong linh theo Phật dắt dẫn sinh về thế giới Cực lạc. Do tông phái bất đồng nên pháp ngữ và tác pháp cũng khác nhau. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 50 chép, khi tỉ khưu ni Đại ái đạo tịch và lúc đồ tì (thiêu), đức Thích tôn đã thuyết minh đạo lí đời người vô thường và Niết bàn thường trụ.Tại Trung quốc vào đời nhà Đường, Thiền sư Bách trượng bắt đầu thực hành nghi thức này trong giới tăng lữ, sau đó áp dụng rộng khắp dân gian. Cũng có trường hợp khi dẫn đạo dùng cách đánh hét, đây là nghi thức đặc biệt của Thiền tông bắt nguồn từ Thiền sư Hoàng bá Hi vận. Ở Nhật bản, ngoài Chân tông ra, nghi thức tiếp dẫn vong linh người chết cũng được các tông phái khác thực hành. Đến nghi thức dẫn đạo của Mật giáo thì phương pháp cử hành còn đặc biệt hơn nữa. [X. kinh Pháp hoa Q.1 phẩm Phương tiện, Q.4 phẩm Pháp sư; kinh Dược sư lưu li quang như lai bản nguyện công đức; luận Đại trí độ Q.10]

Dẫn đạo 引導

[ja] インドウ indō ||| To lead and guide people [into the Buddhist Way] (parikarṣaṇa). 〔法華經 T 262.9.32b01〕 => Hướng dẫn mọi người (tu tập Phật đạo) (s: parikarṣaṇa).

dẫn đầu

To precede.

dẫu

Althought—Though—In spite of—Even if—Even though.

dẫu xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người

Saving one life earns more credit than building a temple of nine stupas (stories).

dập dìu

To come in great number.

dập tắt

Extinction

dập vùi

To maltreat—To ill-treat.

dật

1) Dâm dật: Lustful. 2) Dễ chịu: To be at ease. 3) Phóng dật: To get away from—Indulgence.

dật dục

Sensual.

dật nhiên tính dung

5289明代末年僧。生卒年不詳。浙江仁和人,俗姓李。明末爲避世亂,於正保二年(1645)至日本長崎,任興福寺三世住持,號浪雲庵主。擅畫人物佛像,日人從其學者有渡邊秀石、河村蒼芝等,皆卓然成家,使日本畫風爲之一新,影響頗鉅。

dật đa

See Ajita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

dắt

To guide—To conduct—To lead—To bring someone by the hand.

dằn lòng

To hold oneself—To control one's temper.

dặn bảo

To advise—To recommend—To counsel.

dặn đi dặn lại

To recommend over and over again.

dẹp bỏ

To dispel.

dễ bảo

Obedient—Docile.

dễ chịu

Comfortable.

dễ cảm

Nhạy cảm—Emotional.

dễ dãi

Easy-going.

dễ dạy

Easily taught.

dễ hiểu

Easy to understand.

dễ ngươi

To disregard.

dễ như chơi

Easy as ABC.

dễ nói

Easy to say—Đạo Phật dễ nói nhưng không dễ làm: Buddha teaching is eay to say, but not easy to do or to practice.

dễ thương

Pleasant—Lovely—Lovable.

dễ thối chuyển

Easily prone to retrogression.

dễ tinh tấn

Capable of great vigor.

dễ ợt

Very easy.

dị

5149請參閱 苦瓜和尚畫語錄 [1]梵語 jarā。為小乘有部所說心不相應行法之一,四相之一。指事物之變異衰敗。〔俱舍論卷五〕(參閱「四相」1732) ; Visesa (P)Dị cú nghĩa, Cá biệt tínhDị cú nghĩa là mộ trong Lục cú nghĩa, còn gọi là Biệt tướng đế hay Biệt đế, chỉ các pháp có tướng riêng biệt của nó. ; 1) Dị thường: Extraordinary. 2) Dung Dị: Dễ dàng—Easy. 3) Sự khác biệt: Prthak (skt)—Different—Unlike—Separate—Diverse—Diversity—Not the same—Diversity—Change—Strange—Heterodox. ; (異) Phạm: jarà. Sự đổi khác, suy hoại của sự vật. Là một trong các pháp Tâm bất tương ứng hành, một trong bốn tướng (sinh, trụ, dị, diệt) do Hữu bộ của Tiểu thừa thành lập. [X. luận Câu xá Q.5]. (xt. Tứ Tướng).

dị an tâm

5151日本佛教用語。即違背祖師傳承之「安心」。其異於正統之宗意見解,蓋各宗皆有宗祖傳承之安心、法義,違背此安心之異流,名為異安心。又稱異解、異計、異義、邪義、邪流、祕事等。日本真宗古來最重安心,故常用此語。〔真宗安心異諍紀事、異安心史〕 ; (異安心) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp an tâm trái với sự truyền thừa của Tổ sư. Nghĩa là an tâm khác với kiến giải và tông chỉ chính thống của tông phái. Cũng gọi Dị giải, Dị kế, Dị nghĩa, Tà nghĩa, Tà lưu, Bí sự v.v... Tịnh độ chân tông của Nhật bản xưa nay rất trọng sự an tâm, cho nên thường dùng từ ngữ Dị an tâm để cảnh giác hành giả. [X. Chân tông an tâm dị tránh kỉ sự; Dị an tâm sử].

dị biến

Thay đổi—To change.

dị bẩm

Extraordinary nature.

dị bộ

5155指不同之宗派。如佛教中之種種宗派、學說。異部宗輪論述記(卍續八三‧二一一下):「異者,別也;部者,類也。人隨理解,情見不同,別而為類,名為異部。」此外,又指議論之對手。 ; Different class, or sect; heterodox schools, etc. ; (異部) Chỉ các tông phái, học thuyết bất đồng trong Phật giáo. Dị bộ tông luân luận thuật kí (Vạn tục 83, 211 hạ) nói: Dị là khác, bộ là loại, tùy theo kiến giải, tình chấp bất đồng mà có sự phân biệt thành bộ loại khác nhau. Ngoài ra, dị bộ còn chỉ đối thủ trong cuộc tranh luận.

dị bộ tông luân luận

5155梵名 Samayabhedoparacanacakra。全一卷。印度世友(梵 Vasumitra,西元一、二世紀頃)撰,唐代玄奘譯。收於大正藏第四十九冊。異部,指部派各異;宗輪,指各部派宗旨互異,如輪轉不定。係小乘佛教之作品。以說一切有部教義為基礎,並敘述小乘佛教二十部派產生之經過,及各部派教義之異同。為研究部派佛教史者所必讀。其異譯本有真諦之十八部論(或疑為姚秦鳩摩羅什所譯)、部執異論各一卷。注釋書有窺基之異部宗輪論述記一卷。〔大唐內典錄卷四、開元釋教錄卷七、卷八〕 ; Samayabheda-vyŪha-cakra-śāstra (P), Samyabhedo-paracana-cakra-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh. ; (異部宗輪論) Phạm: Samayabhedoparacanasacakra, 1 quyển, do ngài Thế hữu (Phạm: Vasumitra khoảng thế kỉ I, II, Tây lịch) người Ấn độ soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 49, là tác phẩm của Phật giáo Tiểu thừa. Dị bộ là chỉ các bộ phái khác nhau; Tông luân là tông chỉ và học thuyết của các bộ phái bất đồng, giống như bánh xe quay chuyển không nhất định. Nội dung lấy giáo nghĩa của Thuyết nhất thiết hữu bộ làm nền tảng để tường thuật quá trình phân hóa và các điểm dị đồng về giáo nghĩa của 20 bộ phái Phật giáo Tiểu thừa. Đây là bộ sách rất cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu lịch sử của các bộ phái Phật giáo. Những bản dịch khác của luận này có Thập bát bộ luận 1 quyển và Bộ chấp dị luận 1 quyển đều do ngài Chân đế dịch (nhưng Thập bát bộ luận có người ngờ là do Ngài Cưu ma la thập đời Diêu Tần dịch). Về sách chú thích luận này có Dị bộ tông luân luận thuật kí 1 quyển của ngài Khuy cơ. [X. Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.7, Q.8).

dị bộ tông luân luận thuật kí

5155全一卷。唐代窺基撰。收於卍續藏第八十三冊。為異部宗輪論之注釋書,詳釋小乘二十部分裂之歷史,及其教義。初為序文,敘述翻譯及著作之由來;後釋本文,詮顯異部宗輪論之義。本書之注釋書有異部宗輪論述記目論五卷(豐山榮天)、異部宗輪論述記私記二卷(智山海應)、異部宗輪論述記別錄二卷(豐山悟心)等。 ; (異部宗輪論述記) Có 1 quyển, ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, thu vào Vạn tục tạng tập 83, là sách chú thích luận Dị bộ tông luân, nói rõ lịch sử phân chia và giáo nghĩa của 20 bộ phái Phật giáo Tiểu thừa. Đầu tiên là bài tựa, trình bày lí do soạn luận và phiên dịch; sau đó giải thích chính văn, nói rõ nghĩa của luận Dị bộ tông luân. Sách chú thích bộ thuật kí này có: Dị bộ tông luân luận thuật kí mục luận 5 quyển của Phong sơn Vinh thiên, Di bộ tông luân luận thuật kí tư kí 2 quyển của Trí sơn Hải ứng và Dị bộ tông luân luận thuật kí biệt lục 2 quyển của Phong sơn Ngộ tâm v.v...

Dị bộ tông luân luận 異部宗輪論

[ja] イブシュウリンロン Ibushū rin ron ||| The Yibuzong lun lun; Samaya-bhedoparacana cakra (Treatise of the Wheel of the Different Divisions of the Tenets). One fascicle, T 2031.49.15-17. Attributed by the Tibetan tradition to Vasumitra 世友, translated by Xuanzang 玄奘 in 662. Earlier translations were done by Paramārtha and Kumārajīva. It contains an overview of the twenty early schools of Indian Buddhism from a Sarvāstivāda standpoint. . => (c: Yibuzong lun lun; s: Samaya-bhedoparacana cakra;e: Treatise of the Wheel of the Different Divisions of the Tenets). Một quyển. Truyền thống Tây Tạng quy tác giả là Thế Hữu (Vasumitra 世友), Huyền Trang dịch năm 662. Các bản dịch trước là do Chân Đế và Cưu-ma-la-thập. Luận nầy trình bày khái quát về 20 bộ phái Phật giáo Ấn Độ từ quan điểm của Nhất thiết hữu bộ.

dị bộ tông tinh thích

Nikāyabheda-vibhaṅga-vyākhyāna (S)Do ngài Thanh Biện trước tác.

dị chấp

5155指所執持之見解有悖於正理,稱為異執。如外道執著我身為實有。觀無量壽佛經疏卷四(大三七‧二七一中):「順教修行,永除疑錯,不為一切別解、別行、異學、異見、異執之所退失傾動。」〔教行信證卷六末〕 ; Cố chấp với cái lý khác với chánh lý—A different tenet—To hold to heterodoxy. ; (異執) Dị chấp là chấp chặt những hiểu biết trái với chính lí. Như ngoại đạo chấp trước thân ta do năm uẩn giả hòa hợp là có thật. Quán Vô lượng thọ kinh sớ quyển 4 (Đại 37, 271 trung) nói: Thuận theo giáo pháp mà tu hành, dứt trừ nghi lầm, không để tất cả biệt giải, biệt hành, dị học, dị kiến, dị chấp khuynh đảo khiến phải trở lui. [X. Giáo hành tín chứng Q.6 phần cuối].

dị chất bất thành

5160三不成之一。指淨土與穢土皆以真如實相為本體,非由全異之本質各別成立,故稱為異質不成。〔釋淨土群疑論卷一〕(參閱「三不成」528) ; (異質不成) Tịnh độ và Uế độ tính chất tuy có khác, nhưng đều lấy chân như làm bản thể, cho nên nói dị chất bất thành (khác chất không thành), là một trong ba bất thành. [X. luận Thích tịnh độ quần nghi Q.4]. (xt. Tam Bất Thành).

dị chủng

Foreign race.

dị cú nghĩa

Visesa-padarthah (S)Tạo cho vạn hữu tất cả tánh đặc thù, cá biệt. Xem cá biệt tính.

dị duyên

Alambana-pratyaya (skt)—Những yếu tố bên ngoài làm ảnh hưởng đến sự chăm chú, hay tập trung tư tưởng—Things distracting the attention, distracting thoughts; the action of external objects conditioning consciousness.

dị dạng

Strange form.

dị dị tướng

5156隨相之一。相對於生、住、異、滅等四相之「異相」。法之一種,乃能令異相起變異作用之法。生、住、異、滅等四相,乃一切有為法所具有之四相。然因此四相之自體亦為有為法,故須另有令其生、住、異、滅之法,此即生生、住住、異異、滅滅等四者,又稱為隨相、小相;與之相對者,生、住、異、滅等四相則稱為本相、大相。(參閱「四相」1732) ; (異異相) Một trong bốn tùy tướng. Đối lại với Dị tướng. Là pháp khiến cho Dị tướng khởi tác dụng đổi khác. Tất cả các pháp hữu vi đều có đủ bốn tướng sinh, trụ, dị, diệt. Nhưng vì tự thể của bốn tướng này cũng là pháp hữu vi, nên cần phải có pháp khác để làm cho chúng sinh, trụ, dị, diệt, đó tức là bốn pháp sinh sinh, trụ trụ, dị dị, diệt diệt, cũng gọi là Tùy tướng, Tiểu tướng. Đối lại, bốn tướng sinh, trụ, dị, diệt gọi là Bản tướng, Đại tướng. (xt. Tứ Tướng)

dị dụ

5155梵語 vaidharmya-dṛṣṭānta。因明用語。「同喻」之對稱。又作異品、異法、異法喻。為因明二喻之一。乃對宗(命題)及因(理由)舉出異類異品事項之譬喻,並從中確定同喻之正確與否。例如立「聲為無常(宗),所作性故(因)」之論式,則其同喻為「若見諸所作性,皆無常,譬如瓶等」,其異喻則為「若見諸非無常者,皆非所作性,譬如虛空等」。二喻之中,同喻乃自正面來直接推斷所立之宗,異喻則自反面來間接確定同喻之推斷是否正確,故同喻必為「宗同品」兼「因同品」,異喻則必為「宗異品」兼「因異品」;亦即以同喻來表現因三相中之「同品遍有性」,而以異喻來表現「異品遍無性」。 因明入正理論(大三二‧一一中):「異法者,若於是處說所立無,因遍非有;謂若是常,見非所作,如虛空等。」其中「是處」即指喻,「所立」指所立法,「所立法無」乃謂無所立法處,即指宗異品。「因」指因中之能立法,即因同品之略稱;「因遍非有」乃謂普遍地不能立法。又因明之法,若採用異喻來建立論式之作法,稱為離作法,其內容應依照「先宗後因」之規定。異喻之作法若不完全,則成似異喻(似是而非之異喻),將發生五種過失,稱為「似異喻五過」,即:所立法不遣過、能立法不遣過、俱不遣過、不離過、倒離過。〔因明論疏瑞源記卷三、因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕(參閱「因明」2276、「似異喻五過」2775) ; (異喻) Phạm: vaidharmya-dfwỉànta. Tiếng dùng trong Nhân minh, đối lại với Đồng dụ. Cũng gọi Dị phẩm, Dị pháp, Dị pháp dụ. Một trong hai dụ Nhân minh. Là thí dụ nêu lên sự vật khác hẩm loại với Tông (mệnh đề) và Nhân (lí do), đồng thời, từ đó xác định Đồng dụ có chính xác hay không. Chẳng hạn như lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì có tính được tạo ra. Đồng dụ: Những vật có tính được tạo ra đều vô thường, như cái lọ v.v... Dị dụ: Những vật thường trụ đều không có tính được tạo ra, như hư không... Trong hai thí dụ trên thì Đồng dụ là từ chính diện trực tiếp suy đoán tông, còn Dị dụ thì từ phản diện gián tiếp xác định sự suy đoán của Đồng dụ có đúng hay không. Bởi thế, Đồng dụ phải cùng một phẩm loại với Tông và Nhân, Dị dụ phải khác phẩm loại với Tông và Nhân. Tức là, trong ba điều kiện của Nhân, Đồng dụ biểu hiện điều kiện Đồng phẩm hoàn toàn có cùng tính chất với Nhân (Đồng phẩm biến hữu tính), còn Dị dụ thì biểu hiện điều kiện Dị phẩm hoàn toàn khác với tính chất của Nhân (Dị phẩm biến vô tính). Lại nữa, trong Nhân minh, nếu dùng Dị dụ để lập luận thức thì gọi là Li tác pháp, nội dung phải theo qui định Tông trước Nhân sau, nếu Dị dụ không hoàn toàn thì trở thành Tự dị dụ (dị dụ tựa hồ như đúng mà sai) sẽ phát sinh năm lỗi gọi là Dị dụ ngũ quá, gồm: 1. Sở lập pháp bất khiển quá. 2. Tăng lập pháp bất khiển quá. 3. Câu bất khiển quá. 4. Bất li quá. 5. Đảo li quá. [X. Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.3; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Nhân Minh, Tự Dị Dụ Ngũ Quá).

dị giáo

Heresy.

dị giải

Lối giải thích theo dị giáo—A different, or heterodox, interpretation.

dị huệ

Trí tuệ của kẻ theo tà giáo—Heterodox wisdom.

dị hành

3290爲「難行」之對稱。即得不退轉所修難易二行之中,速得而易行之法。又龍樹以稱名爲速得不退而易行之法,且其行必具信之條件。曇鸞之往生論註卷上(大四○‧八二六中):「易行道者,謂但以信佛因緣,願生淨土,乘佛願力,便得往生彼清淨土。」日本淨土宗以三心具足之稱名爲易行,真宗不僅以口稱之稱名爲易行,更以表現於彌陀他力迴向之大信的稱名爲易行。〔十住毘婆沙論卷五易行品〕 ; Dễ làm—Easy to do—Easy progress. ; (易行) Dễ làm. Đối lại với Nan hành (khó làm). Nghĩa là, trong hai pháp tu Nan hành và Dị hành để đạt đến giai vị không trở lui, thì Dị hành là pháp tu mau được mà dễ thực hiện.Ngài Long thụ cho pháp tu xưng niệm danh hiệu Phật là không trở lui, mau thành mà dễ làm, nhưng, tu pháp này, điều kiện tiên quyết là phải có lòng tin vững mạnh. Vãng sinh luận chú quyển thượng của Đàm loan (Đại 40, 826 trung), nói: Dị hành đạo, nghĩa là chỉ cần nhân duyên tin Phật, phát nguyện vãng sinh, nương nhờ nguyện lực củc Phật, được sinh về cõi thanh tịnh. Tông Tịnh độ Nhật bản cho rằng xưng niệm danh hiệu Phật với đầy đủ ba tâm (trực tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm) là Dị hành; Chân tông thì không những cho niệm danh hiệu Phật là dị hành mà còn cho niệm danh hiệu với niềm tin sâu xa vào tha lực hồi hướng của Phật A di đà cũng là dị hành. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.5 phẩm Dị hành].

dị hành phẩm

3290爲十住毘婆沙論中第九品之別出者。龍樹菩薩造,鳩摩羅什譯。係爲求不退者開示易行之法。北魏曇鸞即以此爲基準而立難易兩道之判教。認爲稱誦諸佛名號則易達初地不退之位,故特倡阿彌陀佛之救度。依自力修行,猶如陸地步行之難,故稱爲難行;若以他力念佛之修行,則如水路行舟之易,即稱爲易行。又此品係由長行九、偈頌八所集成,最初敘述菩薩得不退轉地,有難易二種道,其次舉出易行之法。而易行之內容,大要爲:於意憶念諸佛菩薩,於身禮拜恭敬,於口則稱念其名號。〔出三藏記集卷四〕 ; (易行品) Phẩm thứ 9 trong luận Thập trụ tì bà sa do ngài Long thụ soạn, ngài Cưu ma la thập dịch. Phẩm này được rút ra để lưu hành riêng. Đây là pháp tu dễ thực hành chỉ bày cho những người cầu quả vị Bất thoái (không trở lui). Ngài Đàm loan đời Bắc Ngụy lấy phẩm này làm tiêu chuẩn để lập giáo phán hai đạo khó, dễ, chủ trương xưng niệm danh hiệu chư Phật thì dễ đạt đến quả vị Sơ địa bất thoái, cho nên đặc biệt đề cao sự cứu độ của đức Phật A di đà. Nếu nương vào sức mình mà tu hành thì khó, giống như người đi bộ; còn tu hành niệm Phật nhờ vào nguyện lực cứu độ của Ngài thì dễ, giống như người ngồi thuyền lướt trên mặt nước. Nội dung trọng yếu của phẩm Dị hành là: Ý nhớ nghĩ chư Phật, Bồ tát, thân cung kính lễ bái và miệng niệm danh hiệu của các Ngài. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4].

dị hành thuỷ lộ

3290比喻易行之教猶如水路行舟。反之,則以陸路步行比喻難行之法。十住毘婆沙論卷五易行品(大二六‧四一中):「佛法有無量門,如世間道有難有易。陸道步行則苦,水道乘船則樂。菩薩道亦如是,或有勤行精進,或有以信方便易行,疾至阿惟越致地者。」(參閱「難行道易行道」6721) ; (易行水路) Ví dụ giáo pháp Dị hành dễ tu giống như đi thuyền trên mặt nước. Phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 (Đại 26, 41 trung) nói: Phật pháp có vô lượng môn, như đường đi ở thế gian có khó có dễ. Đi bộ trên đất thì khó nhọc, ngồi thuyền lướt trên mặt nước thì khỏe khoắn. Đạo Bồ tát cũng như thế: có vị tinh tiến tu hành khó nhọc, có vị đem lòng tin làm phương tiện thì dễ làm mà mau đạt đến địa vị Bất thoái chuyển (không trở lui). (xt. Nan Hành Đạo Dị Hành Đạo).

dị hành thừa

3290梵名 Sahaji-yāna。爲印度左道密教之自稱。左道密教興起於西元七世紀,強調純密金剛頂經所說之大樂說(梵 Mahā-sukha-vāda)。於八世紀頃傳入西藏以來,成爲喇嘛教之根幹。盛行於十至十一世紀,其經典之一部分傳入中國,譯爲漢文,但思想上並無產生影響。(參閱「密宗」4477) ; Sahajiyāna (S)Một bộ phận Mật giáo tả đảo ở Ấn độ vào thế kỷ VII, chủ trương đại lạc, vào Tây tạng thịnh hành vào thế kỷ X, XI. ; (易行乘) Phạm:Sahaji-yàna. Phái Mật giáo tả đạo ở Ấn độ tự xưng là Dị hành thừa (cỗ xe dễ vận chuyển). Mật giáo tả đạo xuất hiện vào thế kỉ thứ VII Tây lịch, nhấn mạnh thuyết Đại lạc (Phạm:Mahà-sukha-vàda) trong kinh Thuần mật kim cương đính. Mật giáo tả đạo được truyền vào Tây tạng khoảng thế kỉ thứ VIII và trở thành căn bản của Lạt ma giáo. Phái này thịnh hành từ thế kỉ X đến XI, một số kinh điển Mật giáo tả đạo đã được truyền vào Trung quốc và dịch ra Hán văn, nhưng không gây được ảnh hưởng gì về phương diện tư tưởng. (xt. Mật Tông).

dị hình

Strange shape.

dị học

1) Những nghiên cứu khác: Different studies. 2) Học thuyết của tà giáo: Heterodoxy.

dị khẩu đồng âm

5150謂多人於同時發同一語。觀普賢菩薩行法經(大九‧三八九下):「時三大士,異口同音而白佛言。」 〔大佛頂首楞嚴經卷五、南本涅槃經卷十〕 ; Nhiều ý kiến khác nhau, nhưng lại đồng tâm nhứt trí—Different or many mouths, but the same response—Unanimous. ; (異口同音) Khác miệng cùng tiếng: Nghĩa là nhiều người nói một lời trong cùng một lúc. Kinh Quán phổ hiền bồ tát hạnh pháp (Đại 9, 389 hạ), nói: Bấy giờ, ba vị Đại sĩ (khác miệng cùng tiếng) bạch Phật rằng... [X. kinh Đại Phật đỉnh thủ lăng nghiêm Q.5; kinh Niết bàn (bản Nam) Q.10].

dị kiến

5152指因煩惱而起之惡見解。四分律卷三十二(大二二‧七八六下):「依於異見,樂於樔窟眾生。以是樂於樔窟故,於緣起法甚深難解。」佛弟子應不為一切別解、別行、異見、異執、異學所迷而有所退失傾動。 ; Different view, heterodoxy. ; (異見) Thấy hiểu khác. Chỉ cho kiến giải xấu ác do phiền não sinh khởi. Luật Tứ phần quyển 32 (Đại 22, 786 hạ) nói: Chúng sinh nương theo dị kiến rồi sinh chấp trước, nên không hiểu được pháp duyên khởi rất sâu xa. Đệ tử Phật không nên để tất cả biệt giải, biệt hành, dị kiến, dị chấp, dị học làm mê loạn và khuynh đảo đến nỗi thoái thất.

Dị liễu

易了; C: yìliăo; J: iryō;|Dễ hiểu.

Dị liễu 易了

[ja] イリョウ iryō ||| Easy to understand. 〔瑜伽論 T 1579.30.625b1〕 => Dễ hiểu.

dị loại trung hành

5160異類,指屬於佛果位以外之因位,如菩薩、眾生之類。異類中行,指行於異類之中。發願利生之菩薩,於悟道後,為救度眾生,不住涅槃菩提之本城,而出入生死之迷界,自願處於六道眾生之中,以濟度一切有情。景德傳燈錄卷八南泉普願章(大五一‧二五七中):「一日師示眾云:『道箇如如早是變也。今時師僧須向異類中行。』歸宗云:『雖行畜生行,不得畜生報。』」 ; (異類中行) Đi trong các loài khác. Bồ tát phát nguyện làm lợi ích cho chúng sinh, nên sau khi giác ngộ, các Ngài không trụ nơi Niết bàn mà ra vào đường sinh tử, tự nguyện ở trong sáu ngã để cứu giúp tất cả hữu tình. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 Nam tuyền Phổ nguyện chương (Đại 51, 257 trung) nói: Một hôm sư dạy chúng rằng: Nói như như là đã sớm thay đổi rồi. Thời nay, sư tăng phải đi lại trong các loài. Qui tông nói: Tuy làm hạnh súc sinh mà không bị quả báo súc sinh.

dị loại trợ nghiệp

5160為「同類助業」之對稱。又作異類善根。於往生淨土之助業中,不直接屬於彌陀之業,而與念佛正業相異之發菩提心、起立塔像等之行業,稱為異類助業。(「參閱「正助二業」1987) ; (異類助業) Trợ nghiệp khác loại. Đối lại với Đồng loại trợ nghiệp (Trợ nghiệp cùng loại). Cũng gọi là Dị loại thiện căn (gốc lành khác loại). Phát tâm bồ đề làm các việc như: xây dựng chùa tháp, tạc tượng đúc chuông, bố thí phóng sinh v.v... là những hạnh nghiệp phụ giúp cho chính nghiệp niệm Phật vãng sinh, gọi là Dị loại trợ nghiệp. (xt. Chính Trợ Nhị Nghiệp).

dị loại vô ngại

5160異類,不相同之種類。異類無礙,指不同之種類互攝而無礙,如水與火、水與地相攝而無礙。為「同類無礙」之對稱。 ; (異類無礙) Khác loài mà không ngăn ngại lẫn nhau. Đối lại với Đồng loại vô ngại. Nghĩa là chủng loại tuy bất đồng, nhưng dung nhiếp lẫn nhau không trở ngại, như nước với đất.

Dị loại 異類

[ja] イルイ irui ||| A"different type of being" or "different types of beings." From a human standpoint, beings such as animals or hungry ghosts; or any of the other five (or six) destinies. (2) People who vary in basic constitution. (3) Difference; to differ. => 1. 'Các loại chúng sinh khác nhau' hay 'chúng sinh khác loại'. Theo quan niệm của loài người, đó là scác loài súc sinh hoặc ngạ quỷ; hoặc là các loài chúng sinh khác trong ngũ (lục) đạo. 2. Người có nền tảng thể trạng khác nhau. 3. Sự khác nhau; bất đồng.

dị môn túc luận tập

Saṃgitiparyayapada (S)Tên một bộ luận kinh. Do Ngài Xá lợi Phất soạn.

dị nhân

1) Người dị thường: An Extraordinary man—A different person. 2) Nhân khác: A different cause.

dị pháp tương tự quá loại

5152因明用語。古因明之祖足目所立因明「似能破」十四過類之第二。於因明對論中,敵者(問難者)在駁斥立者(立論者)時,以對方所引證之同喻作為自己之異喻,並以之攻擊非難對方,強說對方犯「不定過」,然實為敵者自己違犯此異法相似之過。例如佛弟子立「聲是無常(宗,命題),勤勇無間所發性故(因,理由)」之論式,其同喻為「凡勤勇所發者,皆是無常,譬如瓶等」,異喻為「凡是常者,皆非勤勇所發,譬如虛空」。敵者欲破斥之,遂謂:「虛空是常,非勤勇所發;聲是勤勇所發,即是無常。瓶是無常,有質礙;聲既無質礙,應是常。又瓶是無常,無常之法必有質礙,則可反顯『聲無質礙』,故聲應是常,由是汝犯不定之過,而以不定之故,究竟以汝『所作性』之因,據瓶為同喻而成立『聲是無常』?或如我以『無質礙』之因,據瓶為異喻而成立『聲是常』?」蓋於因明各種規定中,異品須具有「遍無性」方能反顯,如敵者所舉之異品「瓶」雖以有質礙之故,縱許反顯「聲是常」,然其「質礙性」僅與宗賓詞之「無常」具有部分異品之關係,而異品中復有心、心所亦有部分關係,為無質礙性,是無常,亦可用以轉證「聲無質礙,聲應是無常」,今敵者僅以「瓶之質礙」證成「聲為常」,而不以「心、心所之無質礙」證成「聲之無常」,係由於缺乏因三相中之「異品遍無性」而令自己之論點無法確立,故亦無從據以駁斥對方。〔因明正理門論本、因明論疏瑞源記卷八、因明十四相似過類略釋(惟賢,現代佛教學術叢刊(21))〕(參閱「十四過類」415、「因明」2276) ; (異法相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Là lỗi thứ hai trong 14 lỗi Tự năng phá của Nhân minh cũ do Mục túc lập. Trong đối luận Nhân minh, khi người vấn nạn muốn bác bỏ chủ trương của người lập luận, bèn dùng Đồng dụ của đối phương làm Dị dụ của chính mình để công kích đối phương và gán ép cho họ đã phạm lỗi Bất định. Nhưng thực ra thì chính người vấn nạn đã vi phạm lỗi Dị pháp tương tự. Chẳng hạn như đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì do sự nỗ lực không ngừng phát ra. Đồng dụ: Phàm những cái do sự nỗ lực không ngừng phát ra đều vô thường, ví như cái lọ. Dị dụ: Phàm những cái thường trụ, đều không do sự nỗ lực phát ra, ví như hư không. Người vấn nạn muốn bác bỏ luận thức trên đây, bèn nói: Hư không là thường, chẳng phải do sự nỗ lực phát ra; âm thanh do sự nỗ lực phát ra, tức là vô thường. Cái lọ là vô thường, vì có tính chất ngại; âm thanh không có tính chất ngại nên là thường trụ. Vả lại, cái lọ là vô thường, mà đã vô thường thì ắt có tính chất ngại, thì có thể nêu ngược lại: Âm thanh không có tính chất ngại nên âm thanh phải là thường trụ, do đó, bạn đã phạm phải lỗi bất định. Vì bất định nên cuối cùng dùng Nhân do sự nỗ lực của bạn rồi lấy cái lọ làm Đồng dụ mà lập Tông Âm thanh là vô thường là đúng, hay dùng Nhân không chất ngại của tôi rồi lấy cái lọ làm Dị dụ mà lập Tông Âm thanh là thường trụ là đúng? Bởi vì các qui định trong Nhân minh, Dị phẩm cần phải có đủ Biến vô tính thì mới có thể lập luận ngược lại. Như người vấn nạn nêu lên Dị phẩm Lọ là có tính chất ngại để lập luận ngược lại Âm thanh là thường trụ, nhưng tính chất ngại của lọ chỉ có một phần liên quan với vô thường của Tông, mà trong Dị phẩm cũng có liên quan một phần tâm, tâm sở, là không có tính chất ngại, là vô thường, cũng có thể được dùng để chứng minh quay trở lại là Âm thanh không có tính chất ngại, thì âm thanh phải là vô thường. Ở đây, người vấn nạn chỉ dùng tính chất ngại của cái lọ để chứng minh Âm thanh là thường trụ, chứ không dùng tính không chất ngại của tâm, tâm sở để chứng minh Âm thanh là vô thường, do đó đã thiếu hẳn điều kiện Dị phẩm biến vô tính trong ba điều kiện của Nhân, nên đã làm cho luận điểm của chính mình không thể xác lập được. Cho nên, kết quả, cũng không thể bác bỏ lập luận của đối phương. [X. luận Nhân minh chính lí môn phần đầu, Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8; Nhân minh thập tứ tương tự quá loại lược thích (Duy hiền)].

dị phương tiện

5150即指佛為使眾生開悟所用之特異方法。後代諸師根據不同經典,所作之解釋各異:(一)法華經方便品(大九‧八下):「更以異方便,助顯第一義。」根據此經文,法華文句卷十二乃解釋為:若用圓妙之正觀,即是實相之方便;若用七方便觀而助顯第一義,則稱為異方便。(二)觀無量壽經(大一二‧三四一下):「佛告韋提希:『汝是凡夫,心想羸劣,未得天眼,不能遠觀,諸佛如來有異方便,令汝得見。』」根據此經文,智顗之觀無量壽經疏認為:異方便即是該經所說之十六觀,而非以直觀稱為方便;又以佛力之故而見彼佛國,亦是方便。〔法華玄贊卷四、觀經疏玄義分、觀無量壽經義疏卷上(隋代慧遠)、觀無量壽經義疏卷中(宋代元照)〕 ; Phương tiện đặc thù mà Phật dùng để xiển dương Nhất Nghĩa Đế—Extraordinary, or unusual adaptations, devices, or means. ; (異方便) Phương pháp đặc biệt khác thường mà đức Phật sử dụng để chỉ dạy giác ngộ cho chúng sinh. Các sư đời sau căn cứ vào những kinh điển bất đồng mà đưa ra nhiều giải thích như sau: 1. Kinh Pháp hoa phẩm Phương tiện (Đại 9, 8 hạ), nói: Lại dùng dị phương tiện giúp bày nghĩa đệ nhất. Căn cứ vào câu kinh này, Pháp hoa văn cú quyển 12 giải thích: Nếu dùng chính quán tròn đầy mầu nhiệm thì tức là phương tiện thực tướng, còn như dùng bảy pháp quán phương tiện để giúp bày nghĩa đệ nhất thì gọi là Dị phương tiện. 2. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 341 hạ) nói: Phật bảo Vi đề hi: Ngươi là phàm phu, tâm tưởng yếu kém, chưa được thiên nhãn, không thể thấy xa, chư Phật Như lai có dị phương tiện, khiến ngươi được thấy. Căn cứ vào văn kinh này, trong Quán vô lượng thọ kinh sớ, ngài Trí khải cho rằng, Dị phương tiện tức là 16 pháp quán nói trong kinh này, chứ không phải dùng trực quán gọi là phương tiện. [X. Pháp hoa huyền tán Q.4; Quán kinh sớ Huyền nghĩa phần; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn đời Tùy); Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.trung (Nguyên chiếu đời Tống)].

dị phẩm

5152梵語 asapakṣa。因明用語。<一>「同品」之對稱。性質不共通之品類稱為異品。如「無常」與「常住」互為異品。〔因明正理門論、因明入正理論〕 <二>被證明不同時存在之物事。如「無常」與「虛空」互為異品。〔因明入正理論〕 <三>因明稱與宗(命題)之後陳(述詞)性質相異之品類為異品。因明入正理論(大三二‧一一中):「異品者,謂於是處,無其所立。」異品包括「宗異品」和「因異品」二類。然因明中所泛稱之「異品」,一般多係指宗異品而言。所謂宗異品,凡事物不具有「所立法」中所說之義者,均屬宗異品。如立「聲為無常」之宗,「無常」為所立法,「虛空」等不具有無常之性質,故屬宗異品。〔因明入正理論疏卷中末、因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕 ; Aspaksa (S). ; Phẩm loại tương phản hay khác nhau—Of different order, or class. ; (異品) Phạm: Asapakwa. Tiếng dùng trong Nhân minh. I. Dị phẩm. Đối lại với Đồng phẩm. Phẩm loại không cùng một tính chất gọi là Dị phẩm, như Vô thường và Thường trụ. II. Dị phẩm. Sự vật được chứng minh không đồng thời tồn tại, như Vô thường và Hư không. [X. luận Nhân minh nhập chính lí]. III. Dị phẩm. Phẩm loại không cùng tính chất với khách từ (hậu trần) của Tông (mệnh đề). Luận Nhân minh nhập chính lí (Đại 32, 11 trung), nói: Dị phẩm nghĩa là ở nơi đó không có pháp sở lập. Dị phẩm bao gồm Tông dị phẩm và Nhân dị phẩm. Nhưng Dị phẩm trong Nhân minh thông thường là chỉ cho Tông dị phẩm. Phàm sự vật không có nghĩa nói trong pháp sở lập đều thuộc Tông dị phẩm. Như lập Tông Âm thanh là vô thường, thì vô thường là pháp sở lập. Hư không v.v... không có tính chất vô thường, nên thuộc Tông dị phẩm. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung phần cuối; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].

dị phẩm biến vô tánh

Vipakse-asattvam (S).

dị phẩm biến vô tính

5154梵語 vipakṣe asattvaṃ。因明用語。因明三支作法中,因(理由)三相(三特質)之第三。與「異品非有」意義相同。異,別之意;異品,即指除宗(命題)之後陳(賓詞)範圍以外之其餘一切法。遍無性,乃全無關係之意。即因與宗異品之間全無關係,如是則宗異品全部皆不具有「能立法」,自然亦無法確立「因」支以證成「宗」支。(參閱「三支作法」534) ; (異品遍無性) Phạm:Vipakawe asattvaô. Tiếng dùng trong Nhân minh. Là đặc chất (tướng) thứ ba trong ba đặc chất của Nhân (lí do) trong tác pháp ba chi Nhân Minh. Đồng nghĩa với Dị phẩm phi hữu. Dị phẩm chỉ cho tất cả các pháp ngoại trừ phạm vi khách từ (hậu trần) của Tông (mệnh đề). Biến vô tính hàm ý là hoàn toàn không có quan hệ, tức là Nhân hoàn toàn không dính dáng gì với Tông dị phẩm. Như vậy thì toàn bộ Tông dị phẩm đều không có pháp Năng lập, tự nhiên cũng không xác lập được Nhân để chứng minh Tông. (xt. Tam Chi Tác Pháp).

dị phẩm hữu

5153因明用語。有,全有之意。因明稱宗異品全部均具有「能立法」所說之義者為異品有。例如聲論師對佛弟子立「聲為常(宗,命題),所量性故(因,理由)」之論式,其中,「常」為「所立法」;「所量」,為「能立法」,意指思想之對象。於此論式中,凡不具有常性者(如瓶)皆屬宗異品;而瓶及其他任何不具有常性之事物皆無一不可成為吾人思想之對象,甚至如龜毛兔角等,不僅不具常性,且根本虛幻不存在,然亦能成為吾人思想之對象,故稱異品有。 ; (異品有) Tiếng dùng trong Nhân minh. Hữu nghĩa là có toàn bộ. Tức toàn bộ Tông dị phẩm đều có nghĩa của pháp Năng lập. Chẳng hạn như luận sư phái Thanh luận đối với đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường trụ. Nhân: Vì có tính lường được. Trong luận thức trên thường trụ là pháp sở lập, lường được là pháp năng lập.Như vậy, phàm cái gì không có tính thường trụ (như cái lọ) đều thuộc Tông dị phẩm. Nhưng, cái lọ hay bất cứ vật gì khác tuy không có tính thường trụ, song cũng có thể là đối tượng của tư tưởng, thậm chí như lông rùa sừng thỏ, chẳng những không có tính thường trụ, mà thật ra còn là hư ảo, không tồn tại, nhưng cũng có thể là đối tượng của tư tưởng, vì thế gọi là Dị phẩm hữu.

dị phẩm hữu phi hữu

5154因明用語。有非有,部分有、部分無之意。因明中,宗異品部分具有「能立法」之義,部分不具「能立法」之義者,稱為異品有非有。例如勝論師對聲論師立「聲為勤勇無間所發(宗,命題),無常性故(因,理由)」之論式,其中,「勤勇無間所發」為「所立法」,「無常」為「能立法」。於此論式中,凡不具有勤勇無間所發之性質者(如空、電等)皆屬宗異品;而「空」不具有勤勇無間所發之性質,亦不具有無常之性質,故為「異品非有」,「電」不具有勤勇無間所發之性質,然具有無常之性質,故為「異品有」。如是同於宗異品中,部分具有能立法之無常性,部分則不具,故稱異品有非有。 ; (異品有非有) Tiếng dùng trong Nhân minh. Hữu phi hữu nghĩa là một phần có, một phần không có. Trong Nhân minh, Tông dị phẩm một phần có nghĩa của pháp năng lập, một phần không có, gọi là Dị phẩm hữu phi hữu. Chẳng hạn như Thắng luận sư đối với Thanh luận sư lập luận thức: Tông: Âm thanh do nỗ lực không ngừng mà phát ra. Nhân: Vì có tính vô thường. Trong đó, nỗ lực không ngừng mà phát ra là pháp sở lập, vô thường là pháp năng lập. Trong luận thức này, phàm những cái không có tính nỗ lực không ngừng mà phát ra (như hư không, điện v.v...) đều thuộc Tông dị phẩm. Mà hư không chẳng những không có tính nỗ lực không ngừng phát ra, lại cũng không có tính vô thường, cho nên là Dị phẩm phi hữu; điện vốn không có tính nỗ lực không ngừng mà phát ra, nhưng lại có tính vô thường, cho nên là Dị phẩm hữu. Như vậy, cùng trong Tông dị phẩm mà một phần thì có tính vô thường của pháp năng lập, một phần thì không có, vì thế gọi là Dị phẩm hữu phi hữu.

dị phẩm nhất phần chuyển đồng phẩm biến chuyển bất định

5153因明用語。因明三十三過中,因六不定過之一。略稱異分同全不定過。異品一分轉,梵語 vipakṣaikadeśa-vṛtti;同品遍轉,梵語 sapakṣa-vyāpaka;不定,梵語 an-aikāntika。此乃僅與宗異品有部分關係,而與宗同品具有全部關係之過失,亦即缺乏因(理由)第三相之過失。相當於九句因之第三句「同品有異品有非有」。例如立「聲為勤勇無間所發(宗,命題),無常性故(因,理由),如瓶、電、虛空(喻,譬喻)」之論式,瓶具有勤勇無間所發之性質,故為宗同品;又瓶屬無常性,故隨無常性之「因」所依轉。電及虛空不屬勤勇無間所發性質之事物,故為宗異品;而兩者中,電屬無常性,虛空不屬無常性。如是則無常性之「因」雖全部遍轉於宗同品之「瓶」與宗異品之「電」等,然卻不通於宗異品之虛空。 另如立「某甲是男子(宗),不產子故(因)」之論式,此時男子為宗同品,女子為宗異品。而男子與不產子之間具有全部關係,即全部男子皆不產子;然若僅就「不產子」之因,不能證明某甲即是男子之宗,此因亦有部分女子不產子。如是則「不產子」之因僅通於宗異品之部分,此即異品一分轉同品遍轉不定之過失。〔因明入正理論、因明入正理論疏卷中末、因明三十三過本作法纂解卷中、因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕(參閱「因明」2276) ; (異品一分轉同品遍轉不定) Tiếng dùng trong Nhân minh. Là một trong sáu lỗi Bất định của Nhân, một trong 33 lỗi của Nhân minh. Gọi tắt là Dị phần, Đồng toàn bất định quá. Dị phẩm nhất phần chuyển, Phạm: Vipakwaikadeza-vftti; Đồng phẩm biến chuyển, Phạm: Sapakwa-vyàpaka; Bất định, Phạm:An-aikàntika. Đây là lỗi thiếu mất tướng thứ ba của Nhân (lí do), tức là một phần Tông dị phẩm có Nhân và toàn bộ Tông đồng phẩm có Nhân. Tương đương với câu thứ ba Đồng phẩm hữu, Dị phẩm hữu phi hữu trong chín câu Nhân. Chẳng hạn như lập các luận thức: 1. Tông: Âm thanh do sự nỗ lực không ngừng mà phát ra. Nhân: Vì có tính vô thường. Dụ: Như cái lọ, điện, hư không. Trong đó, cái lọ có tính nỗ lực không ngừng mà phát ra, là Tông đồng phẩm, thuộc tính vô thường. Còn điện và hư không không do sự nỗ lực không ngừng mà phát ra, là Tông dị phẩm. Nhưng điện có tính vô thường, hư không có tính thường trụ. Như vậy, cái lọ thuộc tính vô thường nên Tông đồng phẩm hoàn toàn có Nhân. Còn trong Tông dị phẩm thì điện có tính vô thường, hư không có tính thường trụ, do đó, Tông dị phẩm một phần có Nhân, một phần không Nhân. 2. Tông: A là đàn ông. Nhân: Vì không sinh con. Ở đây, tất cả đàn ông là Tông đồng phẩm, tất cả đàn bà là Tông dị phẩm. Như vậy, Tông đồng phẩm hoàn toàn có Nhân, vì tất cả đàn ông đều không sinh con, còn Tông dị phẩm đàn bà thì có người sinh con cũng có người không sinh con. Cho nên, Tông dị phẩm một phần có Nhân, một phần không Nhân. Vậy thì, Nhân không sinh con không thể minh xác A là đàn ông hay đàn bà. Đó là lỗi bất định Dị phẩm nhất phần chuyển (Dị phẩm một phần có Nhân), Đồng phẩm biến chuyển (Đồng phẩm hoàn toàn có Nhân). [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung phần cuối; Nhân minh tam thập tam quá bản tác pháp soạn giải Q.trung; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Nhân Minh).

dị phẩm phi hữu

5154因明用語。非有,全無、遍無之意。因明中,宗異品全部均不具有「能立法」,稱為異品非有。例如佛弟子對聲生論師立「聲為常(宗,命題),所作性故(因,理由)」之論式,其中,「無常」為「所立法」,「所作」為「能立法」。於此論式中,凡不具有無常之性質者(如虛空)皆屬宗異品;而虛空等不具有無常性之事物皆無一具有所作性,故稱異品非有。 ; (異品非有) Tiếng dùng trong Nhân minh. Phi hữu hàm ý là hoàn toàn không có. Trong Nhân minh, Tông dị phẩm hoàn toàn không có pháp năng lập, gọi là Dị phẩm phi hữu. Chẳng hạn như đệ tử Phật đối với luận sư phái Thanh sinh lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì có tính được làm ra. Trong đó, vô thường là pháp sở lập, tính được làm ra là pháp năng lập. Trong luận thức này, phàm những cái không có tính vô thường (như hư không) đều thuộc Tông dị phẩm. Mà hư không thì thường trụ, không có tính được làm ra, cho nên Tông dị phẩm không có pháp năng lập, vì thế gọi là Dị phẩm phi hữu.

dị sanh

Xem Phàm phu.

dị sanh tánh

Pṛthagjanatva (S)Phàm phu tánh.

dị sinh

5150梵語 pṛthag-jana。音譯必栗託仡那。全稱婆羅必栗託仡那(梵 bālapṛthagjana,意譯愚異生)。舊譯為凡夫,新譯為異生 。凡夫輪迴六道,受種種別異之果報;又凡夫起變異而生邪見造惡,故稱異生。有關異生之語義,據大毘婆沙論卷四十五載,異生之意即起異類之見、異類之煩惱,造異類之業,受異類之果、異類之生。又據成唯識論述記卷二本載,異有二義:(一)別異,謂聖者唯生於人天趣,而異生乃通於五趣。(二)變異,謂異生轉變為邪見等。生,係生類之意,以異於聖人之生類,故稱異生。〔大日經疏卷一、玄應音義卷二十四、卷二十五〕(參閱「凡夫」730、「婆羅必栗託仡那」4462) ; Prthagjana, Balaprthagjana (skt)—Tên gọi khác của phàm phu. Phàm phu được dịch là “dị sinh” vì do vô minh mà theo tà nghiệp chịu quả báo, không được tự tại, rơi vào các đường dữ—An ordinary person unenlightened by Buddhism, an unbeliever, sinner; childish, ignorant, foolish; the lower orders. ; (異生) Phạm: Pfthag-jana. Âm Hán: Tất lật thác khất na. Gọi đủ: Bà la tất lật thác khất na (Phạm: bàlapfthagjana) Hán dịch: Ngu dị sinh. Các nhà dịch cũ dịch là phàm phu, các nhà dịch mới dịch là dị sinh. Phàm phu sống chết vòng quanh trong sáu đường, chịu các quả báo khác nhau. Lại nữa, phàm phu khởi biến dị mà sinh tà kiến tạo ác, cho nên gọi là Dị sinh. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 45 nói, thì dị sinh nghĩa là khởi lên cái thấy khác loại, phiền não khác loại, tạo các nghiệp khác loại, chịu quả báo khác loại, sinh vào các loài khác nhau. Thành duy thức luận thuật kí quyển 2 phần đầu thì cho rằng dị có hai nghĩa: 1. Biệt dị, nghĩa là bậc Thánh chỉ sinh trong cõi người, cõi trời, còn dị sinh thì sinh khắp cả năm đường. 2. Biến dị, nghĩa là dị sinh biến chuyển sinh ra tà kiến v.v... Sinh là sinh loại, vì sinh loại khác với bậc Thánh nên gọi Dị sinh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.24, Q.25]. (xt. Phàm Phu, Bà La Tất Lật Thác Khất Na).

dị sinh tánh chướng

The common illusions of the unenlightened—Taking seeming for real.

dị sinh tính

5151梵語 pṛthag-janatva。舊譯為凡夫性。凡夫者,乃指六道之中未得佛法之有情眾生。異生性,即眾生成為凡夫之依據或原因在於不得佛法。意指凡夫之愚異生性。異生,即凡夫;異,含有別異、變異二義。因凡夫輪迴五趣(或六道),受種種別異之果報;又凡夫由種種變異而生邪見、造諸惡,故稱異生。準此,異生性即指使眾生成為凡夫之本性,亦即通常所謂「見惑」之煩惱種子。 關於其體性,諸部之間有異說:(一)小乘犢子部,認為異生性係以欲界見苦所斷之煩惱(即十隨眠)為其體性;屬於欲界所繫縛,具有染污性,而為「見道位」時所斷除者,攝於「相應行蘊」中。(二)小乘說一切有部之正統主張,認為聖道之非得(亦即不能獲得聖道)之性為異生性之體性;屬於三界所繫縛,不具染污性,而為「修道位」時所斷除者,攝於「不相應行蘊」中,而別有自體。(三)小乘經部,不另立體性,而以聖法未生時相續之分位差別稱為異生性,此係一種「假立」之異生性,亦即不承認有異生性存在,而僅假立名相以說明之。(四)唯識大乘,亦屬假立之異生性,即於分別而起的煩惱、所知二障之種子上假立為異生性;而異生之凡夫若能至見道位時永斷此二障,方可稱為聖者。亦即以分別而起之二障為異生性,若不斷此性則不得為聖者,故初地所斷之惑,又稱為「異生性障」。〔大毘婆沙論卷四十五、俱舍論卷四、成唯識論卷九、成唯識論述記卷三〕 ; (異生性) Phạm:pfthag-janatva. Các nhà dịch cũ dịch là phàm phu tính. Phàm phu là chỉ loại hữu tình chúng sanh trong sáu đường chưa được giác ngộ giải thoát. Dị sinh tính là bản tính chủng tử phiền não của kiến hoặc. Về thể tính của nó, giữa các bộ có nhiều thuyết: 1. Độc tử bộ Tiểu thừa cho rằng, Dị sinh tính lấy kiến khổ sở đoạn (10 tùy miên) làm thể tính. Tính này bị trói buộc ở cõi Dục nên nhiễm ô. Người tu hành khi đến giai vị Kiến đạo mới đoạn trừ được. Dị sinh tính này được thu nhiếp vào Hành uẩn tương ứng. 2. Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa chủ trương rằng, thể tính của Dị sinh là tính phi đắc Thánh đạo (không thể đạt được Thánh đạo), bị ràng buộc trong ba cõi, không có tính nhiễm ô và khi hành giả đến giai vị Tu đạo thì đoạn trừ. Tính này được nhiếp vào Hành uẩn bất tương ứng và có tự thể riêng. 3. Kinh bộ Tiểu thừa không lập thể tính riêng, mà cho rằng Dị sinh tính là phần vị sai biệt nối nhau khi Thánh pháp chưa sinh. Đây là một loại tính dị sinh giả lập, cũng tức là bộ này không thừa nhận có tính dị sinh tồn tại thật sự, mà chỉ tạm đặt danh tướng để thuyết minh. 4. Duy thức Đại thừa cho rằng, đứng trên phương diện chủng tử phân biệt khởi lên hai chướng; phiền não và sở tri mà tạm đặt ra tính dị sinh; còn phàm phu dị sinh chỉ khi nào có thể đạt đến giai vị Kiến đạo dứt hẳn hai chướng thì mới có thể gọi là bậc Thánh. Cũng tức là do phân biệt mà khởi hai chướng là Dị sinh tính, nếu không dứt tính này thì không thể là bậc Thánh. Chính vì thế mà các phiền não lậu hoặc do bồ tát Sơ địa diệt trừ còn được gọi là Dị sinh tính chướng. [X. Luận Đại tì bà sa Q.45; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.9; Thành duy thức luận thuật kí Q.3].

Dị sinh tính 異生性

[ja] イショウショウ ishōshō ||| (prthagjanatva). The 'nature of ordinary people.' 異生 (yisheng) means ordinary person, or 'worldling.' (1) One of the 24 elements not concomitant with mind 心不相應行法 in Consciousness-only theory. From the first of the ten bodhisattva-ground stages, the adept practitioner cuts off the seeds of the deluded view of the three worlds, and possesses the undefiled saintly nature. Nonetheless, when a sage gives rise to the worldly mind and it becomes manifest, it is not different from the mind of an ordinary person; yet the worldling differs from the sage in that he possesses the seeds of deluded view. This 'worldling-nature' is something bound to transmigration and provisionally based on the seeds of defilement. (2) A term for the seeds of defilement in regular people. According to Consciousness-only theory, in the case of those of bodhisattva nature and undetermined nature, these are the seeds of the two hindrances of the hindrance by the known and hindrance due to defilement, while in the case of those possessing the nature of śrāvaka and pratyekabuddha, it refers only to the seeds of hindrance due to defilement. => 'Tính của chúng sinh phàm phu'. Dị sinh (異生 c: yisheng) có nghĩa là hàng phàm phu. 1. Là một trong 24 pháp bất tương ưng hành trong giáo lý Duy thức. Từ giai vị đầu của Bồ-tát Thập địa, hành giả đoạn dứt hạt giống vô minh trong tam giới, và có được thánh tánh vô lậu. Tuy nhiên, khi một vị thánh phát khởi tâm phàm phu và thị hiện ở thế gian, thì cũng chẳng khác tâm của người phàm phu; nên phàm phu khác với bậc thánh là họ có trong mình chủng tử vô minh. 'Phàm phu tính' nầy là điều trói buộc trong luân hồi sinh tử và nhất thời dựa vào chủng tử nhiễm ô. 2. Thuật ngữ chỉ cho chủng tử nhiễm ô của hàng phàm phu. Theo giáo lý Duy thức, đối với tánh Bồ-tát và tánh bất định, đây là những chủng tử của nhị chướng (sở tri chướng và phiền não chướng), trong khi đối với hàng định tánh Thanh văn và Bích chi Phật, thuật ngữ nầy chỉ đề cập đến chủng tử của phiền não chướng.

dị sinh đê dương tâm

5151略稱羊心。十住心之第一。異生,即凡夫。異生羝羊心,謂凡夫之愚癡無智,猶如羝羊惟念婬食。凡夫不辨善惡,但恣三毒,貪著五欲,不信地獄惡報,晝夜行惡業,無慚愧之心,不忠不孝,不顧人倫五常,或起斷見,撥無因果;或起常見,不信輪迴,身死命終,必墮惡趣。故此心品,以三惡道配之。〔大日經卷一住心品、大日經疏卷二、祕藏寶鑰卷上、十住心義林卷上〕 ; Cái ngu của phàm phu được ví như con dê đực (Đê Dương) chỉ nghĩ tới ăn uống và dâm dục—Common “butting goat,” or animal, propensities for food and lust. ; (異生羝羊心) Tâm phàm phu dê đực. Gọi tắt: Dương tâm (tâm dê). Trụ tâm thứ 1 trong 10 trụ tâm.Dị sinh tức là phàm phu. Dị sinh đê dương tâm, nghĩa là phàm phu ngu ngơ không có trí, chỉ nghĩ đến dâm dục và ăn uống, giống như dê đực. Phàm phu không phân biệt rõ thiện ác, buông thả theo ba độc (tham sân si), đắm đuối năm dục, không tin ác báo địa ngục, ngày đêm làm các việc xấu xa, không biết hổ thẹn, bất hiếu bất trung, bất chấp nhân luân, không đếm xỉa đến năm thường (nhân nghĩa lễ trí tín); hoặc khởi đoạn kiến, phủ nhận lí nhân quả, hoặc khởi thường kiến, không tin luân hồi, khi trút bỏ thân này, ắt rơi vào đường ác. Bởi thế, tâm phẩm này được phối hợp với ba đường ác. [X. kinh Đại nhật Q.1 phẩm Trụ tâm; Đại nhật kinh sớ Q.2; Bí tạng bảo thược Q.thượng; Thập trụ tâm nghĩa lâm Q.thượng].

Dị sinh 異生

[ja] イショウ ishō ||| (1) 'Worldling,''ordinary person.' The ideograph i 異 means to differ, or to vary. Therefore this term, which literally means "different birth," or "different existence," is explained as (a) the ordinary person "differing" from the sage, or (b) the fact that an ordinary person, due to his/her good and evil acts, is reborn into various existences, such as heaven, hell, hungry ghost, etc. (2) Worldly, profane. => 'Phàm phu, thế gian'. Chữ Dị có nghĩa là khác, hoặc là thay đổi. Do đó thuật ngữ nầy có nghĩa là 'sinh mạng khác nhau', hoặc 'hiện hữu khác nhau', được giải thích là: a. Kẻ phàm phu 'khác' với thánh hiền, hoặc: b. Thực tế là hàng phàm phu do các nghiệp thiện ác của họ mà được tái sinh trong các cõi giới khác nhau, như cõi trời, địa ngục, ngạ quỷ v.v... 2. Trần gian, phàm trần.

dị sự

Extraordinary fact.

dị thuyết

Giáo thuyết của dị giáo—A different, or heterodox explanation; or strange doctrine.

dị thường

Extraordinary—Exceptional—Unnatural—Fantastic.

dị thế ngũ sư

5150指佛陀入滅後百年間次第傳持法藏之五位佛弟子。係相對於優波毱多門下之五位高足「同世五師」而稱。據阿育王經卷七佛弟子五人傳持法藏因緣品載,世尊付法藏予摩訶迦葉後入涅槃,摩訶迦葉付阿難後入涅槃,阿難付末田地後入涅槃,末田地付舍那婆私後入涅槃,舍那婆私付優波毱多後入涅槃。達磨多羅禪經卷上與薩婆多部記目錄五十三祖中,亦載有此五師次第傳承之說。吉藏等依「佛滅百年優波毱多出世」之說,而謂此五師傳持法藏各為二十年;但此說恐非確切。又關於此五師,亦有異說,付法藏因緣傳卷二中不列末田地一師,而加入提多迦。佛大跋陀羅師宗相承一書中則略去摩訶迦葉。上述為北傳佛教所說法藏傳持之次第。南傳佛教所傳,別出五人傳持律藏,即善見律毘婆沙卷二所載,第一優波離(梵 Upāli,巴同)、第二馱寫拘(巴 Dāsaka)、第三須那拘(巴 Sonaka)、第四悉伽婆(巴 Siggava)、第五目犍連帝須(巴 Moggaliputta-Tissa),此五師於閻浮利地,以律藏次第相付不令斷絕。然摩訶僧祇律卷三十三,則舉優波離、陀沙婆羅、樹提陀婆、耆哆、根護等二十七師次第相付傳持律藏。〔三論玄義卷下、出三藏記集卷十二〕 ; (異世五師) Năm bậc thầy khác thời đại. Chỉ cho năm vị đệ tử Phật lần lượt truyền trì pháp tạng trong khoảng 100 năm sau Phật nhập diệt. Đối lại với Đồng thế ngũ sư (năm bậc thầy cùng thời đại) là chỉ cho năm đệ tử cao túc của ngài Ưu ba cúc đa. Cứ theo phẩm Phật đệ tử ngũ nhân truyền trì pháp tạng nhân duyên trong kinh A dục vương quyển 7 chép, thì sau khi đức Thế tôn nhập diệt, giáo pháp của Ngài lần lượt được truyền cho năm vị tổ là các Ngài: Ma ha ca diếp, A nan, Mạt điền địa, Xá na bà tư và Ưu ba cúc đa. Trong kinh Đạt ma đa la thiền quyển thượng và Tát bà đa bộ kí mục lục ngũ thập tam tổ cũng có ghi thuyết trên. Ngài Cát tạng căn cứ vào thuyết Sau Phật nhập pháp tạng đều 20 năm; nhưng thuyết này e không đúng. Ngoài ra, cũng còn có thuyết khác về năm vị tổ sư này. Trong Phó pháp tạng nhân duyên truyện, quyển 2 không ghi tên ngài Mạt điền địa mà thay vào đó là ngài Đề đa ca. Trong bộ Phật đại bạt đà la sư tông tương thừa thì bỏ bớt ngài Ma ha ca diếp. Trên đây là thứ tự truyền trì pháp tạng theo thuyết của Phật giáo Bắc truyền. Về phía Phật giáo Nam truyền, thì Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 có nêu tên của năm vị tổ sư truyền trì tạng luật là: 1. Ưu ba li (Phạm,Pàli: Upàli). 2. Đà tả câu (Pàli: Dàsaka). 3. Tu na câu (Pàli: Sonaka). 4. Tất già bà (Pàli: Siggava) 5. Mục kiền liên tử đế tu (Pàli: Moggaliputta-Tissa). Nhưng luật Ma ha tăng kì quyển 33 thì nêu những 27 vị tổ sư lần lượt truyền trì tạng luật là các ngài: Ưu ba li, Đà sa ba la, Thụ đề đà bà, Kì đá, Căn hộ v.v... [X. Tam luận huyền nghĩa Q.hạ; Xuất tam tạng kí tập Q.12].

dị thể môn

5160指一法與多法成為各別之體用。為「同體門」之對稱。華嚴宗謂一切諸法一一相異,各由不同之因緣而生,彼此體用差別非為一義。於「因六義」中,此為待緣之義,有相即、相入二義門。(參閱「異體相入」5160、「異體相即」5161) ; (異體門) Môn khác thể. Nghĩa là thể dụng của một pháp và nhiều pháp có khác nhau. Đối lại với Đồng thể môn. Tông Hoa nghiêm nói rằng, tất cả các pháp mỗi pháp có tướng khác nhau, đều do nhân duyên bất đồng mà sinh, thể dụng của các pháp cũng sai biệt chứ không phải một nghĩa. Đây là nghĩa đợi duyên trong sáu nghĩa của Nhân, có hai môn tương tức, tương nhập. (xt. Dị Thể Tương Nhập, Dị Thể Tương Tức).

dị thể trọng tự

5161指二個以上之異種字相疊合成之悉曇子音字。重字,又作合成字、複合字。如???(kṣi,叉)字為異種字所合成。於悉曇體文(子音字)三十五字中,有十字為遍口聲。其中,最後二字之???(llaṃ,濫)及???即為二種重字之例子;???為當體重字,乃同一???(la,羅)字所合成;???為異體重字,乃???(ka)與???(ṣa)二異種字所合成。(參閱「悉曇」4564) ; (異體重字) Chữ kép khác thể. Chỉ cho hai chữ khác loại được chồng xếp lên nhau để hợp thành chữ phụ âm Tất đàm. Như chữ (kwa) là do hai chữ (ka) và (wa) khác loại nhau hợp thành. (xt. Tất Đàm).

dị thể tướng nhập

5160為華嚴宗顯示「事事無礙圓融」的義門之一。異體,為「同體」之對稱;相入,為「相即」之對稱。依因六義中之「待緣」義而立異體門。萬有生起之因緣,有「有力」與「無力」二義。緣起之諸法皆由自、他相依,如集合柱、樑、瓦、石以成屋,缺一則不可,依「有力」與「無力」之互相關係,而一多相容,無礙自在,以有力攝無力,力用交徹,互相相入,稱為相入。若彼此同時皆為「有力」或「無力」,則不能成立緣起。 玆以十文錢為譬喻,從一至十來數異體之錢,從一至十為向上去,從十至一為向下來。就向上數來說,一為本數,此一非指單一,乃緣成之一,而能成二、三乃至十,即一中之二、一中之三乃至一中之十,若無此一,則不能成二、三乃至十,故一為「有力」,能攝二、三乃至十。其餘九門亦然,一一皆有十,此為向上數之相入門。向下數亦有十門,即十攝一,此十為緣成之十,若無此十,則不成一,故一為「無力」而歸十。其餘九門亦然,此即向下數之相入門。〔華嚴經探玄記卷一、華嚴五教章卷四〕(參閱「異體相即」5161) ; (異體相入) Khác thể mà hòa nhập vào nhau. Là một trong hai môn hiển bày nghĩa sự sự viên dung vô ngại của tông Hoa nghiêm. Dị thể là đối lại với Đồng thể, Tương nhập đối lại với Tương tức. Dựa theo nghĩa đợi duyên trong sáu nghĩa của Nhân mà lập Dị thể môn. Muôn vật do nhân duyên sinh có hai nghĩa: Hữu lực và Vô lực. Tức là các pháp duyên khởi đều do cái này cái khác nương vào nhau mà được thành lập, như tập hợp rường, cột, gạch, ngói... để làm thành ngôi nhà, thiếu một trong những thứ ấy thì không được. Nhờ vào mối quan hệ hỗ tương hữu lực, vô lực mà một với nhiều dung hợp nhau, vô ngại tự tại. Vì hữu lực dung nhiếp vô lực, lực dụng thông suốt, hòa nhập vào nhau. Nếu cái này cái kia cùng lúc là hữu lực hoặc vô lực, thì duyên khởi không được thành lập. Hãy dùng 10 đồng tiền làm ví dụ: Đếm từ 1 đến 10 đồng tiền mỗi số có tự thể khác nhau, từ 1 đến 10 là đi lên, từ 10 đến 1 là đi xuống. Đứng về mặt đếm trở lên mà nói, thì 1 là số gốc, 1 này không phải là số 1 đơn lẻ mà là số 1 do duyên hợp thành, nên 1 có thể thành 2, 3 cho đến 10, tức là 2 trong 1, 3 trong 1 cho đến 10 trong 1; nếu không có số 1 này thì không thể thành 2, 3 cho đến 10, cho nên số 1 là hữu lực có khả năng dung nhiếp 2, 3 cho đến 10. Chín môn còn lại cũng thế, mỗi mỗi môn đều có 10, đây là môn tương nhập đếm trở lên. Đếm trở xuống cũng có 10 môn, tức là 10 dung nhiếp 1, số 10 này là 10 do duyên thành, nếu không có số 10 này thì không thành số 1, cho nên số 1 là vô lực mà về 10. Chín số còn lại cũng thế, đây là nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa môn tương nhập đếm trở xuống. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Dị Thể Tương Tức).

dị thể tướng tức

5160為華嚴宗顯示「事事無礙圓融」的義門之一。異體,為「同體」之對稱;相即,為「相入」之對稱。依因六義中之「待緣」義而立異體門。即緣起之諸法,就「體」而言,諸法皆具有「空」與「有」二義,互相相即而無礙。以諸法無自性,故為空義;諸法依因緣而生起假有之相,故為有義。如甲乙二方,「甲有」、「乙空」之時,甲為主而顯於表面,乙為伴而隱於裏面;反之亦然。若甲乙皆為「有」,則相礙而不相即;反之,甲乙皆為「空」,則無可相即,皆不能成立緣起。 以十文錢為譬喻,從一至十來數異體之錢,由一至十為向上去,從十至一為向下來。就向上去而言,有一至十之十門。一者,一即十之義,此一非自性之一,乃緣成之一。若無一即無十,故一為有體,其餘皆為空;既為空有,故成「一多相即」,此一即十。準此,由一向上乃至第十皆然。就向下來而言,亦有十至一之十門。一者,十即一之義,此十非自性之十,乃緣成之十,故一為無體,其餘為有體;既為空有,故成「多一相即」,此十即是一。準此,由十向下,乃至第一皆然。以上一多之體互為有無而相即,故能成就緣起;反之,若不相即,則不能成一多。蓋一若非即十,則雖有幾多一,然僅為多個之一,而終不能成十。今既一能為十,是知一即十;又一若非即十,十即不得成,十若不成,則一之義亦不得成。如此一多之諸法其體互為空有而相即,是為異體相即之緣起門妙趣。〔華嚴經探玄記卷一、華嚴五教章卷四〕 ; (異體相即) Khác thể mà tức là nhau. Một trong hai môn hiển bày sự sự viên dung vô ngại của tông Hoa nghiêm. Dị thể đối lại với Đồng thể; Tương tức đối lại với Tương nhập. Dựa theo nghĩa đợi duyên trong sáu nghĩa của Nhân mà lập môn Dị thể. Đứng về phương diện thể mà nói, thì các pháp duyên khởi đều có hai nghĩa không và có, tương tức vô ngại. Vì các pháp không có tự tính nên là không; các pháp nương vào nhân duyên mà sinh khởi tướng có giả, nên là có. Như A và B, khi A có, B không, thì A là chủ biểu hiện ở bên ngoài, B là bạn ẩn kín ở bên trong, ngược lại cũng thế. Nếu AB đều là có thì sẽ ngăn ngại nhau không tương tức; trái lại, nếu AB đều là không thì cũng không thể tương tức, đều không thành lập được duyên khởi.Hãy dùng 10 đồng tiền làm ví dụ: Đếm từ 1 lên 10 có 10 môn. Một tức là nghĩa 10, một này chẳng phải tự tính mà do duyên thành. Nếu không có 1 thì cũng không có 10, cho nên 1 là có, ngoài ra đều là không, vì là không nên thành một, nhiều tương tức, 1 này tức 10. Lấy đây làm chuẩn, từ 1 đến 10 đều như thế. Đếm từ 10 trở xuống 1 cũng có 10 môn. Một tức là nghĩa 10, 10 này chẳng phải tự tính mà là 10 do duyên thành, nên là không, ngoài ra đều là có. Vì là không nên nhiều, một tương tức, 10 này tức là 1. Lấy đó làm chuẩn từ 10 trở xuống cho đến 1 cũng đều như thế. Dùng thể của một, nhiều nói trên làm có, không lẫn cho nhau mà tương tức, vì thế có thể thành tựu duyên khởi, trái lại, nếu không tương tức thì không thể thành một, nhiều. Bởi vì, nếu 1 chẳng phải là 10, thì cho dù có bao nhiêu cái 1 đi nữa cũng chỉ là nhiều cái 1 riêng lẻ, chứ không bao giờ có thể thành 10. Nay, 1 đã là 10, cho nên biết 1 tức là 10. Nếu 1 chẳng tức là 10, thì 10 cũng không thành; mà nếu 10 đã không thành, thì 1 ắt cũng chẳng thành. Như vậy, thể của các pháp một, nhiều làm có không lẫn nhau mà tương tức: Đó là ý chỉ nhiệm mầu của môn Duyên khởi. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4].

dị thục

5156梵語 vipāka。舊譯為果報。音譯為毘播迦。即依過去之善、惡而得果報之總稱;蓋謂果異於因而成熟。異熟有種種解釋,據成唯識論卷二載,所謂異熟,係謂「因」變為「果」,此「果」之性質異於「因」之性質;「因」有善有惡,而「果」具非善非惡之無記性,故自「因」成熟為「果」,其性質已變異為別類。然據成唯識論述記卷二載,異熟一詞有三義:(一)異時熟,謂「因」與「果」必隔世於異時而熟。(二)變異熟,謂「果」為「因」所變異而熟。(三)異類熟,謂「果」與「因」為異類,而由「因」所成熟。上記三義中,說一切有部主張「異類熟」,經部主張「變異熟」,唯識宗亦主張「異類熟」。 說一切有部與唯識宗雖同取「異類熟」之義,然兩宗所說旨趣不一,在說一切有部而言,「無記」由於力劣之故,猶如朽敗之種子,完全缺乏因緣之義,故並不招感異熟。以此之故,「異熟因」與「異熟果」之關係,於四緣中,配屬「因緣」之中。在唯識宗而言,認為等流習氣之因、果均通於善、惡、無記三性;即謂異熟果中含有無記之親因,故雖為等流之因果,然須有「業種子」之資助,才能引生無記之果報,以此無記之果報與業種子相望,始稱異熟,而此業種子即稱為異熟因,無記之果報則稱異熟果。準此言之,異熟因對異熟果而言,即予以資助力之「增上緣」,而此業種子乃與第六識相應之善惡「思心所」之種子。 上述「思心所」種子有兩種功能:(一)能自行生起「現行」之功能。(二)能資助其他異熟無記之種子而令生之功能。就自生「現行」之意義而言,此種子乃是親因緣,亦即等流因、等流果。就資助其他異熟無記之種子而言,此種子乃是增上緣,亦即異熟因、異熟果。又異熟因乃六因(異熟、能作、俱有、同類、相應、遍行)之一,異熟果乃五果(異熟、增上、士用、等流、離繫)之一。能產生異熟果之能力者,稱為「有異熟」;反之,則稱「無異熟」。唯識宗又將異熟分為二;(一)第八識總報之果體,稱為「真異熟」,或單稱「異熟」。(二)從真異熟而產生者,稱為「異熟生」。例如阿賴耶識為真異熟,眼識等六識則為異熟生。 此外生於地獄、餓鬼、畜生、北俱盧洲、無想天等處之眾生,因其不能聞法修行,故稱此等眾生之世界為異熟障。此乃由於眾生前世之業因招感今生之果報,而轉生於此等世界,故稱異熟障。〔大毘婆沙論卷二十、卷二十五、俱舍論卷二、卷六、俱舍論光記卷二、俱舍論寶疏卷二、玄應音義卷二十三〕(參閱「果報」3323) ; Vipāka (S), Result Quả báo. ; Vipaka (skt)—Quả báo nương theo thiện ác của quá khứ mà có được, cái quả khác với tính chất của cái nhân, như thiện nghiệp thì cảm lạc quả, ác nghiệp thì cảm khổ quả, cả hai lạc quả và khổ quả không còn mang tính chất thiện ác nữa, mà là vô ký (neutral), nên gọi là dị thục tức là cái nhân khi chín lại khác—Differing from the cause, different when cooked, or matured, i.e. the effect differing from the cause, pleasure differing from goodness its cause, and pain from evil. Maturing or producing its effects in another life. ; (異熟) Phạm: Vipàka. Các nhà dịch cũ dịch là quả báo. Âm Hán: Tì bá ca. Gọi chung quả báo cảm được do nghiệp thiện, ác đã tạo ở đời trước; vì quả khi chín (thục) thì tính chất lại khác (dị) với nhân nên gọi là Dị thục. Vấn đề này có nhiều cách giải thích. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, thì Dị thục là nhân biến làm quả, tính chất của quả này khác với tính chất của nhân. Nhân có thiện có ác, mà quả thì là tính vô kí không thiện không ác, cho nên từ nhân chín thành quả thì tính chất của nó đã biến đổi làm loại khác. Nhưng, cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 2, thì Dị thục có ba nghĩa: 1. Dị thời thục (chín khác thời), nghĩa là nhân và quả cách đời mới chín. 2. Biến dị thục (chín đổi khác), nghĩa là quả do nhân đổi khác mà chín. 3. Dị loại thục (chín khác loại), nghĩa là quả và nhân khác loại và do nhân chín mà thành quả. Trong ba nghĩa nêu trên, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Dị loại thục, Kinh bộ chủ trương Biến dị thục, tông Duy thức cũng chủ trương Dị loại thục. Thuyết nhất thiết hữu bộ và tông Duy thức tuy cùng chủ trương nghĩa Dị loại thục, nhưng ý chỉ của hai tông thì không giống nhau. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng, sức của tính vô kí yếu ớt, hệt như hạt giống đã mục nát, hoàn toàn thiếu mất nghĩa nhân duyên, cho nên không chiêu cảm quả dị thục. Vì lẽ này, nên mối quan hệ giữa Dị thục nhân và Dị thục quả được phối hợp với Nhân duyên trong bốn duyên. Còn tông Duy thức thì cho rằng, nhân của đẳng lưu tập khí đều suốt cả ba tính thiện, ác, vô kí. Nghĩa là trong quả Dị thục có bao hàm nhân vô kí, cho nên tuy là nhân quả đẳng lưu, nhưng cần có sự giúp đỡ của hạt giống nghiệp (nghiệp chủng tử) mới có thể dẫn sinh quả báo vô kí. Chính vì quả báo vô kí và hạt giống nghiệp này mà gọi là Dị thục, và hạt giống nghiệp này tức là nhân dị thục, còn quả báo vô kí thì là quả dị thục. Theo đó, thì nhờ sức giúp đỡ của tăng thượng duyên mà nhân dị thục (hạt giống nghiệp) thành quả dị thục, và nhân dị thục này là hạt giống của Tư tâm sở thiện, ác tuơng ứng với thức thứ 6. Hạt giống Tư tâm sở nói trên đây có hai công năng: 1. Công năng tự sinh khởi hiện hành. 2. Công năng giúp đỡ các hạt giống vô kí dị thục khác khiến sinh ra. Nói theo nghĩa tự sinh khởi hiện hành, thì hạt giống này là nhân gần, cũng tức là nhân đẳng lưu, quả đẳng lưu. Còn nói theo nghĩa giúp đỡ các hạt giống vô kí dị thục khác, thì hạt giống này là duyên tăng thượng, cũng tức là nhân dị thục, quả dị thục.Ngoài ra, Dị thục nhân là một trong sáu nhân (Dị thục, Năng tác, Câu hữu, Đồng loại, Tương ứng, Biến hành), Dị thục quả là một trong năm quả (Dị thục, Tăng thượng, Sĩ dụng, Đẳng lưu, Li hệ). Năng lực sản sinh ra quả dị thục, gọi là Hữu dị thục; ngược lại thì gọi là Vô dị thục. Tông Duy thức chia Dị thục làm hai: 1. Chân dị thục (hoặc gọi tắt: Dị thục), là quả thể tổng báo của thức thứ 8. 2. Dị thục sinh, từ chân dị thục sinh ra, như thức A lại da là Chân dị thục, sáu thức là Dị thục sinh. Ngoài ra, chúng sinh ở những nơi như: địa ngục, quỉ đói, súc sinh, châu Bắc câu lô, cõi trời Vô tưởng v.v.., vì không được nghe pháp tu hành, cho nên thế giới của hạng chúng sinh này được gọi là Dị thục chướng. Đây là do nghiệp nhân đời trước của chúng sinh chiêu cảm quả báo ở đời này mà tái sinh vào các thế giới ấy, nên gọi là Dị thục chướng. [X. luận Đại tì bà sa Q.20, Q.25; luận Câu xá Q.2, Q.6; Câu xá luận quang kí Q.2; Câu xá luận bảo sớ Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. (xt. Quả Báo).

dị thục chướng

5159梵語 vipākāvaraṇa。指眾生由過去世之煩惱業因而招感今世生於地獄、餓鬼、畜生等諸趣之果報。又作報障、果報障。為三障之一,四障之一。又除地獄、餓鬼、畜生外,或亦生於人間、天上等,然生來即不能聞法修持,因而障礙聖道及其加行之善根,故亦稱為異熟障;如北俱盧洲及無想天之果報皆是。〔大毘婆沙論卷一一五、俱舍論卷十七、俱舍論光記卷十七、俱舍論寶疏卷十七、俱舍論頌疏卷十七〕 ; Vipakāvaraṇa (S)Quả báo do nghiệp xấu quá khứ khiến không thể nghe pháp tu hành. ; (異熟障) Phạm: Vipàkàvaraịa. Chỉ quả báo của chúng sinh do nghiệp nhân phiền não ở đời quá khứ mà chiêu cảm các đường địa ngục, quỉ đói, súc sinh ở đời này. Cũng gọi Báo chướng, Quả báo chướng. Là một trong ba chướng, một trong bốn chướng. Ngoài ra, cũng có các chúng sinh nhờ quả báo tốt được sinh vào cõi người, hoặc châu Bắc câu lô và cõi trời Vô tưởng v.v... nhưng suốt đời không được nghe Phật pháp và tu trì, do đó mà chướng ngại Thánh đạo và thiện căn gia hành, cho nên cũng gọi Dị thục chướng. [X. luận Đại tì bà sa Q.115; luận Câu xá Q.17; Câu xá luận quang kí Q.17; Câu xá luận bảo sớ Q.17; Câu xá luận tụng sớ Q.17].

dị thục kinh

Vipāka-sutta (P), Sutra on Results Tên một bộ kinh.

Dị thục ngu 異熟愚

[ja] イジュクグ ijukugu ||| Folly in regard to one's understanding of mundane phenomena, which results in the production of evil karma. 〔對法論T 1606.31.728c9〕 => Sự ngu si liên quan đến nhận thức con người về thế giới hiện tượng, là kết quả của việc tạo nên những ác nghiệp.

dị thục nhân

5158梵語 vipāka-hetu。指善、惡二種能招感苦、樂二果報之業因。即異熟之因。又作報因。六因之一。即招感異熟無記果之善惡有漏法。依俱舍論卷六載,僅諸不善及善之有漏法為異熟因。而「無記」由於其力薄劣,如朽敗之種子,故不招感異熟;又無漏法由於無愛潤作用,故亦不招感異熟,如真實之種子,無水之潤沃,故不生。除此之外,其餘之法具有善與不善,故能招感異熟,如真實之種子,由水之潤沃而能生。 蓋小乘俱舍等不承認有無記因、無記果,故僅以不善及有漏善為「親因緣」而招感當來之果。於大乘唯識宗,認為異熟果含有無記之親因,即以善惡之業種子於未來世招感苦樂之果,唯識宗視此「因」為「同類因」而非異熟因。但由善惡之種子所生起善惡之現行為「疏因緣」,復以之令生起無記之種子,故對無記之現行而言,即是異熟因,而與「業種子」、「異熟習氣」、「有支習氣」等為同義之語。〔大毘婆沙論卷十九、卷二十、卷二十一、俱舍論卷二、成唯識論卷二、俱舍論光記卷二、卷六〕(參閱「六因」1256、「有支習氣」2429、「業種子」5503) ; Vipāka-hetu (S)Nghiệp thiện ác có khả năng đưa dến quả báo vui khổ trong ba đời. Nhân của quả dị thục. ; Vipakahetu (skt)—Nhân sanh ra quả khác với chính nó, thí dụ như thiện nhân không sanh ra thiện quả mà lại sanh ra lạc quả; ác nhân không sanh ra ác quả, mà lại sanh ra khổ quả (lạc quả và khổ quả đều là vô ký, chứ không phải là thiện ác)—Heterogeneous cause, i.e. a cause producing a different effect, known as neutral, or not ethical, e.g. goodness resulting in pleasure, evil in pain. ; (異熟因) Phạm:vipàka-hetu. Nhân của quả Dị thục. Chỉ cho nghiệp nhân thiện, ác có thể mang lại quả báo khổ, vui. Cũng gọi Báo nhân. Một trong sáu nhân. Tức là các pháp thiện, ác hữu lậu chiêu cảm quả vô kí dị thục.Theo luận Câu xá quyển 6, chỉ có các pháp hữu lậu bất thiện và thiện mới là nhân dị thục, còn vô kí thì vì sức yếu ớt như hạt giống mục nát, nên không chiêu cảm được Dị thục. Vả lại, pháp Vô lậu do không có tác dụng ái dục thấm nhuần nên cũng không mang lại quả dị thục, như hạt giống tốt mà thiếu nước tưới nên không mọc lên được. Luận Câu xá Tiểu thừa, vì không chấp nhận có nhân, quả vô kí, nên chỉ cho bất thiện và hữu lậu thiện là thân nhân duyên chiêu cảm quả báo tương lai. Còn tông Duy thức Đại thừa thì cho quả dị thục có hàm chứa thân nhân (nhân gần) vô kí, tức là vì hạt giống nghiệp thiện, ác mà mang lại quả khổ, vui ở tương lai, nhưng cho Nhân này là Đồng loại nhân chứ không phải Dị thục nhân. Nhưng do hạt giống thiện, ác sinh khởi hiện hành thiện, ác là Sơ nhân duyên (nhân xa), lại từ đó khiến sinh khởi hạt giống vô kí, nên đối với hiện hành vô kí mà nói, thì đó tức là nhân Dị thục, đồng nghĩa với hạt giống nghiệp, tập khí dị thục, tập khí hữu chi v.v...[X. luận Đại tì bà sa Q.19, Q.20, Q.21; luận Câu xá Q.2; luận Thành duy thức Q.2; Câu xá luận quang kí Q.2, Q.6]. (xt. Lục Nhân, Hữu Chi Tập Khí, Nghiệp Chủng Tử).

dị thục nhơn dị thục quả

Differently ripening causes produce differently ripening effects—Every developed cause produce its developed effect.

dị thục quả

5158梵語 vipāka-phala。指由「異熟因」所招感之果報。又作報果。五果之一。俱舍宗以五根(即眼根、耳根、鼻根、舌根、身根)七心界(即眼識界、耳識界、鼻識界、舌識界、身識界、意識界、無間滅之意根)等之「無覆無記性」為異熟果。然在大乘唯識,一切有情總報之果體(即第八識),稱為真異熟;從真異熟所生之前六識別報,稱為異熟生。真異熟與異熟生合稱為異熟果;而第七識並非異熟之種子所引生,故非異熟果。由此知異熟果即指第八識,以此識能含藏一切諸法種子而成熟諸根識之果。如眼等諸根,由過去世所作善、惡之因,招感今世苦、樂之果;今世所作善、惡之因,亦招感當來世苦、樂之果,故稱異熟果。〔大毘婆沙論卷十九、俱舍論卷二、卷六、成唯識論卷二、卷八、成唯識論述記卷一本、卷二末、卷八本〕(參閱「五種果」1180) ; Vipākaphala (S), Vipākavatta (S)Một trong ngũ chủng quả (đẳng lưu, dị thục, ly hệ, sĩ dụng, tăng thượng quả); quả báo thành thục, chín muồi. Quả báo do nhân dị thục chiêu cảm. ; Quả báo khác thời mà chín, như trong một kiếp tái sanh nào đó thì do cái nhân đời trước mà ngũ căn đời nầy sẽ xấu, đẹp, thông minh, ngu độn (chứ không phải là thiện ác nữa, do đó mới gọi là dị thục quả)—Fruit ripening differently, or heterogeneous effect produced by heterogeneous cause, i.e. in another incarnation, or life, e.g. the condition of the eye and other organs now resulting from specific sins or otherwise in previous existence. ; (異熟果) Phạm:vipàka-phala. Quả báo do nhân Dị thục mang lại. Cũng gọi Báo quả, là một trong năm quả. Tông Câu xá cho tính Vô phú vô kí của năm căn (nhãn căn, nhĩ căn, tị căn, thiệt căn, thân căn), bảy tâm giới (nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tị thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới, ý căn không gián đoạn) v.v... là quả Dị thục. Nhưng theo Duy thức Đại thừa thì quả thể tổng báo (thức thứ 8) của tất cả hữu tình gọi là Chân dị thục. Còn biệt báo của sáu thức trước do Chân dị thục sinh ra gọi là Dị thục sinh. Chân dị thục và Dị thục sinh gọi chung là Dị thục quả. Riêng thức thứ 7 vì không phải hạt giống dị thục sinh ra, nên không phải là quả Dị thục. Do đó, quả Dị thục, tức là chỉ cho thức thứ 8, vì thức này có khả năng hàm chứa hạt giống của tất cả các pháp mà thành thục quả của các căn thức. Như các căn mắt, tai v.v... do nhân thiện, ác đã gieo ở đời trước mà mang lại quả khổ, vui đời này. Rồi nhân thiện, ác gây ở đời này, cũng sẽ chiêu cảm quả khổ, vui ở đời sau, vì thế gọi là Dị thục quả. [X. luận Đại tì bà sa Q.19; luận Câu xá Q.2, Q.6; luận Thành duy thức Q.2, Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu, Q.2 phần cuối, Q.8 phần đầu]. (xt. Ngũ Chủng Quả).

Dị thục quả 異熟果

[ja] イジュクカ ijukuka ||| The unusual or impossible case where the quality of the effect is different from that of the cause. A result which is of a different nature from its cause. => Tình trạng khác thường hoặc khó thể xảy ra khi đặc tính của kết quả khác với nguyên nhân. Kết quả có một tính chất khác với nhân của nó.

dị thục sinh

5157大小乘之解釋互異:(一)小乘俱舍之看法:指由異熟因所生者。蓋小乘總謂由異熟因所生者,稱為異熟生;故與「異熟果」為同義詞。俱舍論卷二以四義解釋其名:(一)係由異熟因之所生,故稱為異熟生。如牛所駕之車,稱為牛車。(二)所造之業至得果之時,變化而能成熟,稱為異熟;此果從異熟而生,故稱異熟生。(三)所得之果與因互為別類,且係由因所成熟,故稱異熟;此異熟即「生」之義,故稱異熟生。(四)於因之上假立果之名,故既稱「因」為異熟因,所生之果即稱異熟生。(參閱「異熟果」5158) (二)大乘唯識之看法:指由異熟所生。唯識宗以第八識總報之果體,稱異熟,或真異熟;由此所生之前六識別報之果,即稱異熟生。成唯識論卷二(大三一‧七下):「異熟習氣為增上緣,感第八識,酬引業力,恆相續故,立異熟名;感前六識,酬滿業者,從異熟起,名異熟生。不名異熟,有間斷故。」〔成唯識論卷八、成唯識論述記卷二末〕 ; Sự phân biệt của Đại Thừa về sự khác biệt giữa “dị thục” và “dị thục sinh.” Dị thục sinh là sáu thức (dị thục của sáu thức do A Lại Da thức sanh ra)—A diference is made in Mahayana between Alaya-vijnana and the six senses which produced from the Alaya-vijnana. ; (異熟生) Vấn đề này, giữa Đại Thừa, Tiểu thừa giải thích có khác: 1. Theo luận Câu xá Tiểu thừa: Chỉ cho quả do nhân Dị thục sinh ra, đồng nghĩa với Dị thục quả. Luận Câu xá quyển 2 giải thích Dị thục sinh theo bốn nghĩa: a. Do nhân dị thục sinh ra, như xe do bò kéo, gọi là xe bò. b. Từ lúc tạo nghiệp cho đến kết quả, luôn luôn biến đổi để thành thục, gọi là Dị thục. Quả này từ Dị thục sinh ra nên gọi là Dị thục sinh. c. Quả khác loại với nhân, nhưng lại do nhân mà thành thục, nên gọi Dị thục; Dị thục này tức là nghĩa sinh, nên gọi Dị thục sinh.d. Do nhân mà tạm đặt tên quả, nên đã gọi nhân là nhân Dị thục, thì quả do nhân này sinh ra tức gọi Dị thục sinh. (xt. Dị Thục Quả). 2. Theo Duy thức Đại thừa: Quả thể tổng báo của thức thứ 8 gọi là Dị thục, hoặc Chân dị thục; quả biệt báo của sáu thức trước do Chân dị thục sinh ra, gọi là Dị thục sinh. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 7 hạ) nói: Tập khí dị thục làm duyên tăng thượng, chiêu cảm thức thứ 8 dắt dẫn sức nghiệp, vì luôn luôn nối nhau nên gọi Dị thục. Khi chiêu cảm sáu thức trước thể hiện nghiệp một cách đầy đủ, từ Dị thục sinh ra, gọi là Dị thục sinh, chứ không gọi Dị thục, vì có gián đoạn. [X. luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối].

dị thục thọ

Vipāka-vedaniyata (S).

dị thục thức

5159梵語 vipāka-vijñāna。音譯毘播迦毘若南。為阿賴耶識之異稱。乃因果業報之主體。唯識家以阿賴耶識係由善惡業所薰習,以業種子為增上緣而招感異熟果,故稱異熟識,為阿賴耶識之果相。前六識雖亦為異熟果,然僅為別報而有間斷,故非「真異熟」;相對於前六識者,有情總報之果體(即第八識)方是真異熟,以其具有業果義、不間斷義、遍三界義等三義,故稱異熟識。然至究竟佛果之前剎那方捨其名,即異熟識之名僅存於善惡業之果位;至成佛果時,無論異熟之因或果全不存在,屆時即無此名。又識之三能變中之初能變,即以「異熟能變」稱之。〔攝大乘論本卷上、成唯識論卷二、卷三、卷五、卷八、成唯識論述記卷二末、卷八本〕(參閱「三能變」602、「阿賴耶識」3676) ; Vipāka-vijāna (S)A lại da thức. ; (異熟識) Phạm: vipàka-vijĩàna. Âm Hán: Tì ba ca tì nhã nam. Tên khác của thức A lại da. Chủ thể của nhân quả nghiệp báo. Nhà duy thức cho rằng, thức A lại da do nghiệp thiện, ác huân tập (hun ướp), lấy chủng tử nghiệp làm duyên tăng thượng mà chiêu cảm quả Dị thục, vì thế gọi là Dị thục thức, là quả tướng của thức A lại da. Sáu thức trước tuy cũng là quả Dị thục, nhưng chỉ là biệt báo và có gián đoạn, nên không phải Chân dị thục. Chỉ có quả thể tổng báo (thức thứ 8) của hữu tình mới là Chân dị thục, vì nó có đủ ba nghĩa: nghiệp quả, không gián đoạn và khắp ba cõi, nên gọi là Dị thục thức. Nhưng đến sát na cuối cùng trước quả Phật thì bỏ tên Dị thục, bởi vì thức Dị thục chỉ tồn tại ở quả vị của nghiệp thiện, ác; đến lúc thành quả Phật thì nhân, quả dị thục hoàn toàn không còn nữa. Ngoài ra, Sơ năng biến trong ba Năng biến thì thức Dị thục được gọi là Dị thục năng biến. [X. Nhiếp đại thừa luận bản Q.thượng; luận Thành duy thức Q.2, Q.3, Q.5, Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối, Q.8 phần đầu]. (xt. Tam Năng Biến, A Lại Da Thức).

Dị thục thức 異熟識

[ja] イジュクシキ ijukushiki ||| The consciousness which brings various kinds of karmas to fruition. A connotative term for the ālaya-vijñāna (vipāka-vijñāna), which contains the seeds and other latent karmic factors that produce effects within the seven transformed consciousnesses 轉識. Also see 三能變. => Thức dẫn đến nhiều loại nghiệp quả khác nhau. Là nghĩa mở rộng của A-lại-da thức (vipāka-vijñāna), chứa đựng những chủng tử và những nhân tố nghiệp tiềm ẩn làm phát sinh kết quả trong 7 chuyển thức轉識. Xem Tam năng biến三能變.

dị thục tâm

Vipāka-citta (S).

dị thục tập khí

5158為「等流習氣」之對稱。指能招感三界異熟果之業種子,即前六識之有漏善、惡業薰習第八識而生之業種子。習氣,為種子之異稱,以其具有薰習之義,故又稱習氣。此業種子即是第六識相應的善惡等思心所之種子,乃招感第八異熟識之增上緣,而第八異熟識則是一切有情總報之果體。 此種子有二功能:(一)自生現行之功能,(二)資助其他異熟無記之種子令生現行之功能。其中,自生現行之種子,稱為等流習氣;資助其他異熟無記之種子,稱為異熟習氣。蓋此乃一體之二用,並非遠離等流習氣而另有別體。 所謂資助所生之其他無記之果,係指總報之第八識與別報之前六識;而第七識僅為無記,故非異熟因所攝,又具有覆蔽聖道之性質,故亦非異熟果。又總果之第八識,稱為異熟或真異熟;別果之前六識,稱為異熟生。此異熟與異熟生,合稱異熟果。〔成唯識論卷二、成唯識論述記卷二末〕(參閱「等流習氣」5172、「業種子」5503) ; (異熟習氣) Đối lại với Đẳng lưu tập khí. Chỉ cho nghiệp chủng tử (hạt giống nghiệp) có khả năng chiêu cảm quả Dị thục trong ba cõi; nghiệp chủng tử này là do nghiệp thiện, ác hữu lậu của năm thức trước huân tập (hun ướp) thức thứ 8 mà sinh ra. Tập khí là tên khác của chủng tử, vì nó có nghĩa huân tập nên cũng gọi là Tập khí. Nghiệp chủng tử này tức là hạt giống của Tư tâm sở thiện, ác tương ứng với thức thứ sáu, làm tăng thượng duyên chiêu cảm Dị thục thức thứ 8, mà Dị thục thức thứ 8 lại là quả thể tổng báo của tất cả hữu tình chúng sinh. Chủng tử này có hai công năng là tự nó sinh hiện hành và giúp đỡ các chủng tử vô kí dị thục khác sinh khởi. Trong đó, chủng tử tự sinh hiện hành gọi là Đẳng lưu tập khí; còn chủng tử giúp đỡ các chủng tử dị thục vô kí khác thì gọi là Dị thục tập khí. Nhưng đây là cùng một thể mà có hai tác dụng, chứ không phải ngoài Đẳng lưu tập khí còn có thể riêng biệt. Cái gọi là giúp đỡ quả vô kí khác sinh khởi là chỉ cho thức thứ 8 tổng báo và sáu thức trước biệt báo. Còn thức thứ 7 thì chỉ là vô kí, cho nên không phải là nhân Dị thục, lại có tính chất che lấp Thánh đạo; nên cũng chẳng phải là quả Dị thục. Ngoài ra, tổng quả thức thứ 8, gọi là Dị thục hoặc Chân dị thục; biệt quả sáu thức trước gọi là Dị thục sinh. Dị thục và Dị thục sinh gọi chung là Dị thục quả. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối]. (xt. Đẳng Lưu Tập Khí, Nghiệp Chủng Tử).

dị thục vô kí

5159異熟,為果報之異稱。記,即判斷、斷定之意。無記,指不可斷定為善,亦不可斷定為惡,而為非善非惡之性。異熟無記,為無覆無記(無所謂染淨之無記性)之一,乃由前世業因所招感之身心果報,其性為非善非惡、不障聖道、不蔽心性之無記性。(參閱「無記」5107) ; (異熟無記) định. Vô kí có nghĩa không thể đoán định là thiện, cũng không thể đoán định là ác, mà là tính phi thiện phi ác. Dị thục vô kí là một trong Vô phú vô kí (nghĩa là tính vô kí không nhiễm không tịnh), là quả báo thân tâm do nghiệp đời trước chiêu cảm, tính của nó chẳng phải thiện chẳng phải ác, không chướng ngại Thánh đạo, không che lấp tâm tính v.v... (xt. Vô Kí).

Dị thục vô ký 異熟無記

[ja] イジュクムキ ijuku muki ||| The [non-impedimentary] morally neutral hindrances of heterogeneous result, i.e., the retribution and result of good and evil karma. One of the four kinds of non-impedimentary morally neutral hindrances 四無記, originally taught by the Sarvāstivādins 有部. 〔瑜伽論 T 1579.30.580b26〕 => Quả báo không đồng nhất của tính vô ký, nghĩa là quả báo của nghiệp thiện hay ác. Là một trong 4 loại vô ký 四無記, thường được các nhà Hữu bộ chủ trương.

dị thục đẳng ngũ quả

Năm quả dị thục, hay năm quả được sản sanh bởi sáu nhân—The five fruits of karma. Pancaphalani, or effects produced by one or more of the six hetus or causes. 1) Dị Thục Quả: Vipaka-phala (skt)—See Dị Thục Quả. 2) Đẳng Lưu Quả: Nisyanda-phala (skt)—Uniformly continuous effect—See Đẳng Lưu Quả. 3) Sĩ Dụng Quả: Purusakara-phala (skt)—Simultaneous effect produced by the sahabhu-hetu and the samprayukta-hetu—See Sĩ Dụng Quả. 4) Tăng Thượng Quả: Adhipati-phala (skt)—Aggregate effect produced by the karma-hetu—See Tăng Thượng Quả. 5) Ly Hệ Quả: Visamyoga-phala (skt)—Emancipated effect produced by all six causes—See Ly Hệ Quả.

Dị thục 異熟

[ja] イジュク ijuku ||| 'Differing in maturation, 'changed through maturation;' heterogeneous [results]; or simply 'results' [due to various kinds of good, evil and neutral causes].' A term that basically describes an important characteristic of the ripening of karma into results, or new phenomena, in that when one thing produces another, the next thing that is produced, while having a direct and close relation to its cause, must also be something different from its cause. According to the particular tradition and text, various connotations of this notion are emphasized: (1) The variance in times and types of karmic maturation or fruition (Skt. vipāka, vaipākya, Tib. rnam par smin). The deviation of results (karmic fruits) in relation to the quality of their causes. The fact that good and evil fruits can seem to have neutral 無記, or even opposite results. (2) The separation between causes and their fruition through succeeding worlds, or time. (3) The results of activity; the results of moral intention. The various results of good and evil actions. (Pali: phala). (4) "Already matured fruits" of karmic activity. (5)In Yogācāra usage, the term refers especially to the natural fruition of the latent power of good and evil activities (karma), and is used especially in reference to the ālayavijñāna 阿頼耶識. In the Chengweishi lun 成唯識論, the variant maturation of the ālaya is distinguished from that of other consciousnesses, since the latter are actually produced from the former. 〔有部律, T vol. 23, p. 647c; 集異門論, T vol. 26, p. 369c.; 成唯識論, T vol. 31, p. 1a.; 瑜伽論T 1579.30.290c23〕 (6) A reference to unenlightened activity wherein one bases one's activities on knowledge of worldly phenomena instead of knowledge of reality. => 'Khác nhau khi kết quả', 'biến đổi khi kết quả'; khác thể [kết quả]; hay nói đơn giản là 'quả' [do nhiều loại nhân thiện, ác, và vô ký khác nhau tạo nên]. Thuật ngữ cơ bản để diễn tả đặc tính quan trọng khi nghiệp quả chín muồi, hoặc là một hiện tượng mới, trong đó khi một vật sinh ra một vật khác, thì vật được sinh ra kế tiếp, trong khi có một mối liên hệ trực tiếp và gần gũi với nguyên nhân nó được sinh ra, thì nó phải có điểm khác với nhân ban đầu của nó. Theo nhiều kinh văn và tông phái khác nhau, ý nghĩa của thuật ngữ nầy được nhấn mạnh như sau: Sự khác nhau về thời gian và chủng loại của nghiệp quả (s: vipāka, vaipākya; t: rnam par smin). Sự lệch hướng của nghiệp quả trong mối liên hệ với đặc tính từ nhân của nó. Thực tế là quả lành hoặc dữ có vẻ như là vô ký, hoặc cả nghiệp trái nghịch. Sự phân cách giữa nhân và quả thông qua thế giới hoặc thời gian tương tục. Kết quả của hành vi; kết quả của ý thức đạo đức. Những kết quả khác nhau của hành vi thiện hay ác (p: phala). 'Kết quả đã thành thục' của hành nghiệp. Trong cách dùng của Du-già hành phái, thuật ngữ nầy đặc biệt đề cập đến kết quả tự nhiên năng lực tiềm tàng của hành nghiệp thiện hay ác, và được đặc biệt dùng để đề cập đến A-lại-da thức. Trong Thành Duy thức luận (c: Chengweishi lun 成唯識論), quả dị thục của A-lại-da khác biệt với các thức khác, vì các thức kia thực tế là phát sinh do thức A-lại-da. Đề cập đến hành vi chưa giác ngộ, trong đó hành giả y cứ những hành vi của mình vào trong kiến giải của thế giới hiện tượng, thay vì trí huệ từ chân như.

dị thừa

5155聲聞眾之一。指無量壽經之聽眾。於大阿彌陀經稱為摩訶波羅衍,莊嚴經中稱為波囉野尼枳囊,平等覺經稱為氏戒聚,如來會稱為住彼岸。以其戒行穎萃,故稱異乘。 ; (異乘) Chỉ cho chúng Thanh văn có giới hạnh siêu việt nghe đức Phật nói kinh Vô lượng thọ. Kinh Đại A di đà gọi Dị thừa là Ma ha ba la diễn, kinh Trang nghiêm gọi là Ba la dã ni chỉ nãng, kinh Bình đẳng giác gọi là Thị giới tụ, Như lai hội gọi là Trụ bỉ ngạn v.v...

dị tài

Extraordinary talent.

dị tâm

1) Tâm khác: Different mind. 2) Tâm chứa chấp tà thuyết: Heterodox mind.

dị tính không

5152為唯識宗所立三空之一。又作不如空、遠離空。謂以凡夫迷妄之情妄執為實有,其實無體而不同於真性。此係三性中「依他起性」之法。〔辯中邊論卷中、中邊分別論卷上、辯中邊論述記卷中〕(參閱「三空」574) ; (異性空) Tính mê chấp cho vọng là có thật của phàm phu, thực ra nó không có tự thể và khác với chân tính. Đây là pháp Y tha khởi tính trong ba tính. Một trong ba không do tông Duy thức thành lập. Cũng gọi là Bất như không, Viễn li không. [X. luận Biện trung biên Q.trung, luận Trung biên phân biệt Q.thượng; Biện trung biên luận thuật kí Q.trung]. (xt. Tam Không).

Dị tính 異性

[ja] イショウ ishō ||| (1) To differ; to differ in nature (atad-bhāva). (2) Changes in the nature of something that occur from moment to moment due to the action of karma. => Khác; khác về bản chất (atad-bhāva). Biển đổi về bản chất của một vật xảy ra từ lúc nầy đến lúc khác do tạo nghiệp.

dị tướng

5154<一>四相之一,俱舍七十五法之一,唯識百法之一。異,衰變之義。即令一切有為諸法變易衰敗之法。此法非色非心,為不相應行蘊所攝。然俱舍論謂其為實法,唯識論等則以之為分位假立之法。(參閱「四相」1732) <二>為「一相」之對稱。一切法其自性差別,非唯一元之義。一切法異為外道毘世師論師之說。中論「八不」中之「非異」,即破斥此說。〔外道小乘四宗論〕(參閱「一相」57、「八不中道」275) <三>六相之一。為「同相」之對稱。異,差別、差異之義。指一切諸法各各相異之狀態。如瓦、石、柱、椽、樑等形狀各異,為異相;又瓦、石、柱、椽、樑等和合成屋舍,乃合力而不相背,故稱同相。(參閱「六相圓融」1280) ; 1) Một trong tứ tướng, sự thay đổi: One of the four states of all phenomena, difference or differentiation—See Tứ Tướng (3). 2) Phẩm chất đặc biệt, tướng mạo lạ thường: Particular qualities, strange physiognomy. ; (異相) I. Dị tướng: Một trong 4 tướng, một trong 75 pháp Câu xá, một trong 100 pháp Duy thức. Dị nghĩa là suy biến, tức là pháp làm cho tất cả các pháp hữu vi biến đổi suy bại. Pháp này không phải sắc không phải tâm mà là thuộc hành uẩn bất tương ứng. Nhưng luận Câu xá cho nó là pháp thật, còn luận Duy thức thì cho là pháp phần vị giả đặt. (xt. Tứ Tướng). II. Dị tướng: Đối lại với Nhất tướng. Nghĩa là tự tính của tất cả các pháp sai khác chứ không phải nhất nguyên. Đây là thuyết của ngoại đạo Tì thế sư. Thuyết Phi dị trong Bát bất của Trung luận là để phá thuyết này. [X. luận Ngoại đạo Tiểu thừa tứ tông]. (xt. Nhất Tướng, Bát Bất Trung Đạo). III. Dị tướng: Một trong sáu tướng, đối lại với Đồng tướng. Dị nghĩa là sai biệt khác nhau, tức tất cả các pháp đều có tướng trạng khác nhau. Như ngói, gạch, xà, cột v.v... tướng trạng đều khác, là Dị tướng. Nhưng ngói, gạch, xà, cột hợp lại làm thành ngôi nhà, không chống trái nhau, thì đó là Đồng tướng. (xt. Lục Tướng Viên Dung).

dị tướng xảo phương tiện

5154六種巧方便之一。菩薩為廣度眾生,現乖異瞋恚之相,使不順其教者畏懼,令其捨惡從善。(參閱「六種巧方便」1301) ; (異相巧方便) Phương tiện sai trái khéo léo, là một trong sáu thứ phương tiện khéo kéo. Nghĩa là Bồ tát vì muốn cứu độ chúng sinh một cách rộng rãi mà hiện tướng giận dữ khiến những người không thuận theo lời dạy của các Ngài phải sợ hãi mà bỏ ác theo thiện. (xt. Lục Chủng Xảo Phương Tiện).

Dị tướng 異相

[ja] イソウ isō ||| 'Difference', 'differentiation.' (1) "changing;" One of the four stages that the course of all existences, from their arising to their extinction, are divided into. One of The 'four marks of conditioned existence' 四有爲相. (2) The appearance, or manifestation of difference. When all things are each seen individually, there are discernable differences (see 六相) (paraspara) (Lankāvatāra-sūtra). (3) The 'differentiated aspect' 別異相. Despite the fact that both the enlightened world of pure existences and the world of defiled existences produced by ignorance have true thusness/original enlightenment as their essence, illusory distinctions are produced through the defiled mind of sentient beings. Also called "discriminated aspect", and "arising and ceasing aspect" (Awakening of Faith). (4) The appearance of possessing characteristics (Wu-chiao chang). => 'Sự khác biệt' 1. 'Biến đổi'. Là một trong 4 tiến trình của hiện hữu, từ sinh khởi cho đến hoại diệt, được chia làm hai. Là một trong Bốn tướng hữu vi 四有爲相. 2. Sự biểu hiện, hay sự khác nhau trong khi biểu hiện. Khi các vật đều có cái nhìn riêng biệt, thì chúng sẽ có khả năng nhận thức khác nhau (xem Lục tướng六相s: paraspara) (theo kinh Lăng-già; Lankāvatāra-sūtra). 3. Biệt dị tướng別異相. Mặc dù thực tế là cả hai cảnh giới giác ngộ thể tính thanh tịnh và cảnh giới nhiễm ô do vô minh đều có cùng một chân như/ bản giác như trong thể tính của nó, vọng tưởng phân biệt phát khởi bởi tâm nhiễm ô của chúng sinh. Còn được gọi là 'phân biệt môn', và 'sinh diệt môn' (theo luận Đại thừa khởi tín). 4. Sự trình hiện của sở hữu tướng.

dị tộc

Different race.

dị vãng

3290謂往生阿彌陀佛極樂世界之容易。即乘阿彌陀佛之本願力,則容易往生極樂世界。此係對上生兜率之難生而言,故稱此往生西方爲易生。無量壽經中有「易往而無人」之語,係言往生雖易,而得修往生之因,或具足三心、真實信心而能契入之人則寥若晨星,故謂無人。〔無量壽經卷下、無量壽經義疏卷下(慧遠)釋淨土群疑論卷四、往生要集卷中〕 ; (易往) Dễ dàng sinh về thế giới Cực lạc của đức Phật A di đà. Nghĩa là nương nhờ vào sức bản nguuyện của Phật A di đà thì sinh về thế giới Cực lạc một cách dễ dàng. Đây nói so sánh sự vãng sinh về phương Tây dễ hơn sự vãng sinh lên cung trời Đâu suất. Trong kinh Vô lượng thọ có câu: Dễ vãng sinh nhưng không có người. Ý nói vãng sinh tuy dễ nhưng ít người tu được nhân vãng sinh. Những người có được đầy đủ ba tâm với niềm tin chân thật thì rất hiếm, nên nói là không có người. [X. Kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ (Tuệ viễn); luận Thích tịnh độ quần nghi Q.4, Vãng sinh yếu tập Q.trung].

dị đoan

5156在宗教學上,此指非自己所信仰之其他宗教而言。如受洗之基督教徒稱信奉其他宗教為異端。在佛教中,稱其他宗教或學說為外道、外教、外法、外學、異學;而佛教則自稱為內道、內教、內法、內學。稱教外典籍為外典;而佛書則稱內典。對外教異說亦稱異解、異計、異義、別解等。對不信佛教正法而另有邪見者稱之為誹謗正法(略稱謗法、破法、斷法),同於五逆罪,乃墮地獄中最重之罪。 ; Superstition—Heterodoxy. ; (異端) Đứng về phương diện tôn giáo học mà nói, thì từ Dị đoan là chỉ cho các tôn giáo khác với tôn giáo mà mình tin theo. Như các tín đồ của Thiên chúa giáo gọi sự tin thờ các tôn giáo khác là dị đoan. Phật giáo thì gọi các tôn giáo hoặc học thuyết khác là ngoại đạo, ngoại giáo, ngoại pháp, ngoại học, dị học. Còn Phật giáo thì gọi mình là nội đạo, nội giáo, nội pháp, nội học; gọi các sách của ngoại đạo, là ngoại điển, và kinh sách Phật thì được gọi là nội điển. Đối với các thuyết khác của ngoại giáo cũng gọi là dị giải (hiểu khác), dị kế (chấp khác), dị nghĩa, biệt giải. Đối với những người không tin chính pháp Phật giáo mà còn có tà kiến thì gọi là phỉ báng chính pháp (nói tắt là báng pháp, phá pháp, đoạn pháp).

dị đồng

Different.

Dị 異

[ja] イ i ||| (1) To differ, to be different. Another, a different one. To differentiate, to distinguish. (2) Strange, unusual, rare, inconceivable. (3) Great, excellent, marvelous. (4) To change, changing. One of the four marks of existence 四相. => 1. Khác, khác biệt. Cái khác. Phân biệt. 2. Lạ, khác thường, hiếm thấy, phi thường. 3. Vĩ đại, xuất sắc, tuyệt diệu. 4. Thay đổi, hay biến đổi. Một trong Tứ tướng 四相 (thành, trụ, dị, diệt).

dịch

To translate.

dịch kinh

6806即指翻譯經典。又作翻經。廣義而言,並不限於經藏,如律、論之翻譯亦皆稱為譯經。蓋以印度各種方言流傳之佛典(經、律、論三藏),被整理為梵語、巴利語之原典,及至佛教傳來東方諸國,遂逐漸譯成各國語言。現今之漢譯佛典有直接由梵本譯出,亦有由西域地方之胡語重譯者。 在我國古代之譯經,大多由朝廷保護設置譯經院以完成譯業,此類譯經,稱為奉詔譯,故於現存之諸經中,未題為「奉詔譯」者極少。又精通梵漢語言,從事譯經之法師,稱為譯經三藏(略稱三藏),或三藏法師。然譯經之大業,古來即罕有獨自一人完成者,而係於譯經三藏下,另有眾多輔助者從旁協助譯業,其後乃有專為譯業所設之種種官制。據佛祖統紀卷四十三載,譯場所置之譯官有下列九職:(一)坐於正面宣述梵文者,稱為譯主。(二)坐於譯主之左,評量(批判、審查)梵文者,或判斷譯文正確與否者,稱為證義。(三)坐於譯主之右側,審查譯主所讀梵文之正誤者,稱為證文。(四)聽受梵文而將梵音如實寫成漢字者,稱為書字梵學僧。(五)將梵音翻譯成漢文者,稱為筆受。(六)連綴文字成句者,稱為綴文。(七)對照梵文與漢文之正誤者,稱為參譯,或稱證梵語。(八)削刪冗長之文以定句義者,稱為刊定。(九)坐於南面潤飾譯文者,稱為潤文。 譯經中,僅譯出一次者,稱為單譯、一譯。翻譯二次以上者,稱為重譯、異譯、同本異譯。譯者名稱不明之經典,稱作失譯經;後世之譯經,常於經首或卷尾署明譯者之名,而在古代,譯經者多不署名,故所謂之失譯經特多。又唐代玄奘及其以後之翻譯,稱為新譯;玄奘以前所譯者,稱為舊譯;或謂姚秦鳩摩羅什以前之譯經為古譯。 東晉道安漢譯經典時,提出「五失三不易」之說,謂漢譯經有五種情形易失原意,而有三種難譯之情形。五失,又作五失本,即:(一)由於文法相異,原語與漢語之文詞顛倒。(二)原典之文體質樸,較少修飾語;漢語好文飾。(三)原典常有數度重覆相同之語句,極為繁瑣;漢譯則多略去此類重覆語。(四)原典經文中夾雜注解,語詞頗有錯亂之嫌;漢譯文體多略去此類夾雜之注解。(五)原典於說畢一事再接敘次事之時,常有重覆前述文詞之嫌;漢譯則多省略重覆之部分。此即漢譯經典五種易於失去原意之情形。 三不易,即:(一)聖典係依當時之風俗、語言等而立,但物換星移,時俗既變,若期以適合現代,則翻譯不易。(二)不拘聖人與凡夫之距離多大,而欲令遠昔聖人微妙法音,適合後世凡愚之風俗,則翻譯不易。(三)阿難出經,距佛世不久,再經無數聖者點校記載,從而乃有聖教流傳,後世之人若以淺見從事譯經,縱然審慎萬分,亦恐有所訛誤,則知翻譯不易。 此外,玄奘亦有五種不翻之說,即:(一)祕密故不翻,如陀羅尼。(二)含多義故不翻,如婆伽梵。(三)此方無故不翻,如閻浮樹。(四)有古譯故不翻(從前已經音譯,且為一般所知),如阿耨多羅三藐三菩提。(五)令生善故不翻,如般若,聞之則生信念,若譯作智慧恐生輕薄,以尊重故不翻。 另據續高僧傳卷二、翻譯名義集卷一等載,隋代彥琮著辯正論,舉出八備十條之說。所謂八備,乃譯經者應具備之八種資格,即:(一)誠心愛法,志願益人,不憚久時。(二)將踐覺場,先牢戒足,不染譏惡。(三)筌曉三藏,義貫兩乘,不苦闇滯。(四)旁涉墳史,工綴典詞,不過魯拙。(五)襟抱平恕,器量虛融,不好專執。(六)沈於道術,澹於名利,不欲高衒。(七)要識梵言,乃閑正譯,不墜彼學。(八)薄閱蒼雅,粗諳篆隸,不昧此文。十條,則為譯經十項要例,即:(一)字聲,(二)句韻,(三)問答,(四)名義,(五)經論,(六)歌頌,)(七)咒功,(八)品題,(九)專業,(十)異本。 贊寧之宋高僧傳卷三亦舉出翻譯之六例,即:(一)譯字譯音,分為譯字不譯音、譯音不譯字、音字俱譯、音字俱不譯等四種情形。(二)胡語梵語,說明原典有胡語與印度純梵語之別,於純梵語之中,依五天竺地域之別,各地梵語亦不儘同;胡語之中,有豎讀之胡語(如羯霜那國),亦有橫讀之胡語(如吐貨羅、迦畢試等);此外,如龜茲語則是亦胡亦梵之語。(三)重譯直譯,直接從印度之梵篋譯成漢語者,稱為直譯;一度譯為胡語後,再度轉譯成漢語者,稱為重譯;此外,譯者來華之途中,經歷諸胡國時所譯之經典,譯語之中常夾帶胡語,此則屬亦直譯亦重譯。(四)粗言細語,印度之語言有所謂平常言詞之口語與典正言詞之文言,其中,佛陀說法時大多採用口語;又佛陀之言音可概分兩類,即分明典正之全聲(細語),與不分明訛僻之半聲(粗語)。此外如法護、寶雲、玄奘、義淨等所譯之梵本皆採用中天竺之細語。(五)華言雅俗,謂譯成之漢語亦有雅俗之別。(六)直語密語,謂梵語涉俗者為直語,涉真者為密語。〔首楞嚴義疏注經卷一之一、佛祖統紀卷五十三、法苑珠林卷一○○、大宋僧史略卷上、出三藏記集卷六至卷十一〕 ; (譯經) Người Lật dương tỉnh Giang tô, tự Sở khanh, Sở thanh, Bình tử, hiệu Bình đẳng các chủ. Lúc còn trẻ ông đã có tư tưởng cách tân, chủ trương của ông rất giống với chủ trương của Khang hữu vi và Lương khải siêu. Năm Quang tự 30 (1904), ông sáng lập tờ Thời báo ở Thượng hải để cổ xúy cho cách mệnh. Từ sau năm Dân quốc (1911) trở đi, ông lần lượt xuất bản các tờ tuần san mang tính chất giáo dục, thực nghiệp, phụ nữ, nhi đồng, anh văn, văn nghệ... Đồng thời, để bảo tồn nền quốc học và văn hóa phương Đông, ông sáng lập tờ Phật pháp tùng báo để tuyên dương Phật giáo. Tờ nguyệt san Phật giáo ra đời năm Dân quốc thứ 2 (1913), tờ Giác xã tùng thư xuất bản năm Dân quốc thứ 7 (1918) đều do sự gợi ý của ông. Đến như viện Đại học Hoa nghiêm được sáng lập vào năm Dân quốc thứ 3 (1914) cũng là nhờ sự thúc đẩy của ông. Ông đã có những cống hiến rất lớn trong việc hoằng dương Phật pháp vào những năm đầu Dân quốc. Ông giỏi về thi, thư, họa, dốc lòng tin Tịnh độ, đối với Thiền cũng có chỗ lãnh hội. Từ khi qui y cửa Phật, ông lấy việc phát huy văn hóa Phật giáo làm trọng tâm. Năm 1931, ông cùng với Diệp cung xước bắt đầu in ảnh tạng Thích sa bản đời Tống. Ông có tác phẩm: Bình đẳng các bút kí 1 quyển.

dịch kinh viện

6806北宋開封太平興國寺之官設佛典漢譯機構。又稱傳法院。設於宋太宗太平興國五年(980)。我國之佛典翻譯工作始於後漢,多依帝王之保護。隋大業二年(606),煬帝於洛陽上林園設置翻經館,命翻經學士彥琮居之;唐貞觀二十二年(648),太宗於大慈恩寺西北造翻經院,以為玄奘之譯場。至宋太宗時,法天譯出聖無量壽經、七佛讚等,州官表進,上覽大悅,乃敕建譯經院,命天息災、法天、施護等於此從事譯經工作。據佛祖統紀卷四十三載,太平興國八年改名為傳法院,復於其西側建印經院。 譯經院組織完備,設有譯主、證義、證文、書字梵學僧、筆受、綴文、參譯、刊定、潤文等九職,通稱譯場九位。該院為北宋之譯經中心,所譯幾囊括當朝所有譯經,載於大中祥符法寶錄、景祐新修法寶錄者,即見百餘部之多。景祐以後北宋之譯經,資料闕如,僅知有智吉祥、金總持、日稱、招德、慧詢等於此從事譯經工作。〔釋氏稽古略卷四、佛祖歷代通載卷十八、宋會要「道釋」條、傳法院碑銘(夏竦,文莊集卷二十六所收)〕 ; (譯經院) Phiên dịch kinh điển. Cũng gọi là Phiên kinh. Nói theo nghĩa rộng thì không chỉ giới hạn ở việc dịch tạng kinh, mà phiên dịch luật, luận cũng đều gọi là Dịch kinh. Ở Ấn độ, Phật điển (ba tạng Kinh, Luật, Luận) được lưu truyền bằng nhiều thứ tiếng địa phương, sau được chỉnh lí thành nguyên Chấm Chữ Dĩ điển bằng tiếng Phạm (Sanskrit) vàPàli. Đến khi Phật giáo truyền sang các nước phương đông thì kinh điển dần dần được dịch ra tiếng các nước đó. Phật điển Hán dịch hiện nay có loại được dịch thẳng từ bản chữ Phạm, cũng có loại được dịch lại từ tiếng Hồ của vùng Tây vực. Tại Trung quốc, thời xưa, việc dịch kinh phần nhiều do triều đình bảo hộ, nhờ có thiết trí các viện dịch kinh mà sự nghiệp phiên dịch được hoàn thành. Loại dịch kinh này gọi là Phụng chiếu dịch (theo mệnh lệnh của vua mà dịch), cho nên hầu hết trong các kinh hiện còn đều ghi Phụng chiếu dịch ngay ở trang đầu. Còn những pháp sư tinh thông ngôn ngữ Phạm, Hán chuyên việc dịch kinh thì được gọi là Tam tạng dịch kinh (gọi tắt: Tam tạng), hoặc Tam tạng pháp sư. Nhưng dịch kinh là sự nghiệp lớn lao, xưa nay rất hiếm có trường hợp chỉ một người mà làm được việc đó, bởi vậy, ngoài vị Tam tạng dịch kinh ra còn cần rất nhiều người giúp đỡ, do đó, về sau các chức quan mới được đặt ra để chuyên lo việc phiên dịch kinh điển. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 43 chép, thì các quan phụ trách công việc phiên dịch trong Dịch trường gồm có chín chức: 1. Dịch chủ: Vị ngồi ở chính giữa tuyên đọc văn Phạm. 2. Chứng nghĩa: Vị ngồi ở phía tay trái của Dịch chủ, có nhiệm vụ kiểm tra, nhận xét xem câu văn Phạm hoặc văn dịch có đúng không. 3. Chứng văn: Vị ngồi ở mé bên phải Dịch chủ thẩm tra xem văn Phạm mà vị Dịch chủ tuyên đọc là đúng hay sai. 4. Thư tự Phạm học tăng: Vị nghe âm tiếng Phạm rồi viết ra chữ Hán (phiên âm) một cách đúng như thực. 5. Bút thụ: Vị đem tiếng Phạm phiên dịch (dịch nghĩa) ra Hán văn. 6. Xuyết văn: Trau chuốt văn tự cho thành câu. 7. Tham dịch; cũng gọi là Chứng Phạm ngữ: Vị có nhiệm vụ đối chiếu Hán văn với Phạm văn xem đúng hay sai. 8. San định: Vị bỏ bớt những câu văn rườm rà lòng thòng, để làm cho câu văn ngắn gọn sáng sủa đúng nghĩa. 9. Nhuận văn: Vị ngồi ở phía nam nhuận sắc văn dịch. Trong việc dịch kinh, những bản chỉ dịch một lần gọi là Đơn dịch, Nhất dịch. Những bản được dịch từ hai lần trở lên gọi là Trùng dịch (dịch lại), Dị dịch (dịch khác), Đồng bản dị dịch (cùng bản dịch khác). Những kinh điển mà tên người dịch không được rõ (hoặc không được ghi) thì gọi là Thất dịch kinh (kinh mất tên người dịch). Những kinh dịch ở đời sau, tên người dịch thường được ghi rõ ở ngay đầu hoặc ở cuối quyển kinh, nhưng đời xưa phần nhiều người dịch kinh không ghi tên mình nên có khá nhiều kinh Thất dịch. Lại nữa, những kinh được dịch từ ngài Huyền trang (đời Đường) trở về sau gọi là Tân dịch (dịch mới); còn những kinh được dịch từ trước ngài Huyền trang thì gọi là Cựu dịch (dịch cũ), hoặc cho những kinh được dịch từ ngài Cưu ma la thập (đời Diêu Tần) trở về trước là Cổ dịch (dịch xưa). Vào thời Đông Tấn, khi ngài Đạo an dịch kinh đã nêu ra thuyết Ngũ thất tam bất dị (Năm mất ba chẳng dễ). Nghĩa là khi dịch kinh từ chữ Phạm sang Hán văn có năm trường hợp dễ làm mất nguyên ý và ba trường hợp khó dịch. I. Ngũ thất. Cũng gọi Ngũ thất bản: Năm trường hợp dễ mất nguyên ý. 1. Do văn pháp khác nhau, văn từ của nguyên ngữ và Hán ngữ đảo lộn. 2. Văn thể của nguyên điển thì chất phác, lời ít được trau chuốt, Hán ngữ thì hay gọt dũa văn từ. 3. Nguyên điển thường có những câu giống nhau được nhắc đi nhắc lại nhiều lần rất là rườm rà, Hán dịch thì phần nhiều bỏ bớt những câu trùng lắp ấy. 4. Trong nguyên điển, văn kinh có kèm theo chú giải, từ ngữ lại rất lộn xộn, thể văn Hán dịch phần lớn lược bỏ loại chú giải xen lẫn ấy. 5. Nguyên điển khi nói xong một việc rồi, đến lúc trình bày việc tiếp theo thì văn từ thường hay nhắc lại đoạn trước. Hán dịch thì phần nhiều rút gọn bớt phần trùng lắp ấy đi. II. Tam bất dị: Ba trường hợp dịch không dễ dàng. 1. Thánh điển vốn dựa theo phong tục và ngôn ngữ đương thời mà được thành lập, nhưng vật đổi sao dời, thời tục đã khác, nếu muốn cho văn từ được thích hợp với đời nay thì việc phiên dịch không phải dễ dàng. 2. Không tính đến khoảng cách quá xa giữa Thánh nhân và phàm phu mà lại muốn pháp âm sâu xa mầu nhiệm của Thánh nhân đời xưa thích hợp với phong tục của phàm ngu thời nay thì việc phiên dịch không dễ dàng. 3. Lúc ngài A nan tụng lại kinh, thời gian cách đức Phật chưa xa, lại được vô số Thánh giả sửa chữa ghi chép, từ đó mà có Thánh giáo lưu truyền, người đời sau nếu dựa vào cái thấy nông cạn của mình mà dịch kinh, thì dù có thận trọng muôn phần cũng khó tránh khỏi sai lầm, thì biết việc phiên dịch không phải dễ dàng. Ngoài ra, ngài Huyền trang cũng đề ra thuyết Ngũ chủng bất phiên (năm thứ không dịch), đó là: 1. Vì bí mật nên không dịch, như Đà la ni. 2. Thuật ngữ hàm có nhiều nghĩa nên không dịch, như Bà già phạm. 3. Tại Trung quốc không có nên không dịch, như cây diêm phù. 4. Xưa đã dịch rồi nên nay không dịch (trước đã phiên âm rồi mà mọi người đều biết), như A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. 5. Những tiếng khiến người ta sinh tâm thiện nên không dịch, như tiếng Bát nhã, người nghe nó thì sinh lòng tin, nếu dịch là trí tuệ thì e sinh tâm coi nhẹ, lơ là. Vì tôn trọng nên không dịch. Lại nữa, cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 2 và Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 1 chép, thì ngài Ngạn tông đời Tùy soạn luận Biện chính có nêu ra thuyết Bát bị Thập điều. A. Bát bị: Tám tư cách mà người dịch kinh phải có. 1. Phải thành tâm quí mến chính pháp, chí nguyện làm lợi ích cho người, không ngại lâu dài. 2. Khi bước vào trường giác ngộ (nơi dịch kinh), trước hết phải giữ giới đầy đủ, không nhiễm xấu xa, không bị chê cười. 3. Hiểu rõ ba tạng, thông suốt hai thừa 4. Dựa theo sử sách, dùng lời chải chuốt, không để thô lỗ vụng về. 5. Trong lòng bình thản, khí lượng rộng rãi, không ưa chuyên chấp hẹp hòi. 6. Say mùi đạo nhạt mùi đời, không thích khoe khoang. 7. Cốt yếu phải biết tiếng Phạm mới có thể dịch đúng và không rơi vào cái học khác. 8. Biết qua về ca dao tục ngữ và lối viết chữ triện chữ lệ, không thể bỏ qua loại văn này. B. Thập điều: Mười thể lệ cốt yếu cho người dịch kinh. 1. Tự thanh...... 2. Cú vận . 3. Vấn đáp . 4. Danh nghĩa ...... 5. Kinh luận . 6. Ca tụng...... 7. Chú công...... 8. Phẩm đề..... 9. Chuyên nghiệp...... 10. Dị bản...... Tống cao tăng truyện quyển 3 của ngài Tán minh cũng nêu ra sáu lệ cho việc dịch kinh. 1. Dịch chữ dịch âm, có bốn trường hợp: a. Dịch chữ không dịch âm. b. Dịch âm không dịch chữ. c. Dịch cả âm và chữ. d. Âm chữ đều không dịch. 2. Về tiếng Hồ, tiếng Phạm: Nói rõ nguyên điển có Hồ ngữ và thuần Phạm ngữ Ấn độ, trong thuần Phạm ngữ, theo sự khác nhau của năm khu vực Thiên trúc, Phạm ngữ ở mỗi khu vực cũng không giống nhau. Trong Hồ ngữ thì có Hồ ngữ đọc theo chiều dọc từ trên xuống (như nước Yết sương na), có Hồ ngữ đọc theo chiều ngang từ trái qua phải (như các nước Thổ hóa la, Ca tất thí v.v...). Ngoài ra, như Cưu tư ngữ thì là ngôn ngữ vừa Hồ vừa Phạm. 3. Trùng dịch, trực dịch (dịch lại, dịch thẳng): Dịch thẳng từ chữ Phạm Ấn độ ra Hán văn thì gọi là Trực dịch, những kinh đã được dịch một lần ra tiếng Hồ rồi, lại chuyển dịch ra chữ Hán lần nữa thì gọi là Trùng dịch. Ngoài ra, các dịch giả từ Ấn độ đến Trung quốc, khi đi qua các nước Hồ có dịch kinh điển, nên trong văn dịch của họ thường xen lẫn tiếng Hồ thì loại dịch phẩm này vừa là Trực dịch vừa là Trùng dịch. 4. Thô ngôn tế ngữ: Trong ngôn ngữ Ấn độ có lối nói thông thường và văn chương trong sách vở. Khi đức Phật nói pháp phần nhiều Ngài dùng lời nói thông thường. Lời Phật nói đại khái có thể chia làm hai loại là: Toàn thanh, rõ ràng văn vẻ (tế ngữ) và Bán thanh, tức là thổ ngữ không được trong sáng lắm (thô ngữ). Những bản tiếng Phạm do các ngài Pháp hộ, Bảo vân, Huyền trang, Nghĩa tịnh dịch thì đều sử dụng tế ngữ của xứ trung Thiên trúc. 5. Hoa ngôn nhã tục: Hán ngữ được dịch thành cũng có chỗ thanh nhã, quê kịch khác nhau. 6. Trực ngữ mật ngữ: Phạm ngữ nói về tục đế là trực ngữ, nói về chân đế là mật ngữ. [X. Thủ lăng nghiêm nghĩa sớ chú kinh Q.1 phần 1; Phật tổ thống kỉ Q.53, Pháp uyển châu lâm Q.100; Đại tống tăng sử lược Q.thượng; Xuất tam tạng kí tập Q.6 đến Q.11].

dịch thoát

To translate freely.

dịch thương

6806為西藏地方政府之祕書機關。設有四名「仲譯欽波」,為四品僧官,掌管除班禪系統以外之藏區宗教事務,負責達賴喇嘛之印信、文書,起草公文、命令,收發函件,並管理僧官之培養、任免與調動。 ; (譯倉) I. Dịch tăng. Chức vụ của vị tăng làm việc trong các pháp hội hoặc nghi lễ tống táng. Cũng gọi Dịch giả. Như 7 vị tăng: Giảng sư, Độc sư, Chú nguyện sư, Tam lễ sư, Bái sư, Tán hoa sư, Đường đạt sư trong các pháp hội ở Nhật bản đều được gọi là Dịch tăng. Đời sau danh từ Dịch tăng được dùng để chỉ chung những vị tăng làm các việc lặt vặt trong chùa viện. II. Dịch tăng. Chỉ cho Bạn tăng. (xt. Bạn Tăng).

dịch tiểu giác

2885(634~701?)為日本修驗道之開祖。大和國南葛城郡茅原人。又稱役行者、役優婆塞、神變大菩薩(光格天皇敕諡)。為日本奈良時代之山嶽咒術者。以大和(奈良縣)葛城山為根據地,開創吉野金峰山、大峰山、高野山等道場,且於此宣道修行,以神佛調和之思想為理論基礎。文武天皇三年(699),以誑惑世俗之罪,流放於伊豆島。大寶元年(701)獲赦,時年六十八歲,其後不知所終。修驗道之確立始自鎌倉時代,有種種奇異之傳說,尤以顯示密教化之山嶽佛教為其特徵。其隨從稱前鬼、後鬼。 ; Enno Ozunu (J)Khai tổphái Tu nghiệm đạo (Shugendo). ; (役小角) (634-701?) Vị tổ khai sáng của phái Tu nghiệm đạo Nhật bản. Người Mao nguyên, quận Nam cát thành, nước Đại hòa. Cũng gọi Dịch hành giả, Dịch ưu bà tắc, Thần biến đại bồ tát (thụy hiệu do Quang cách Thiên hoàng ban cho). Là nhà chú thuật ở thời đại Nại lương của Nhật bản.Ông lấy núi Cát thành ở Đại hòa (huyện Nại lương) làm căn cứ địa, khai sáng các đạo tràng ở núi Kim phong tại Cát dã, núi Đại phong, núi Cao dã v.v... giảng đạo tu hành, lấy tư tưởng điều hòa thần Phật làm cơ sở lí luận. Năm Văn Vũ Thiên hoàng thứ 3 (699), vì tội phỉnh gạt người đời, ông bị lưu đày ở tỉnh Y đậu. Niên hiệu Đại bảo năm đầu (701) ông được phóng thích, lúc đó ông 68 tuổi. Về sau không biết ông mất ở đâu. Phái Tu nghiệm đạo được sáng lập bắt đầu từ thời đại Liêm thương, có nhiều truyền thuyết kì quái về phái này, đặc trưng rõ rệt của phái tu đạo này là Phật giáo sơn lâm đã được Mật giáo hóa. Những người theo Dịch tiểu dác được gọi là Tiền quỉ, Hậu quỉ.

dịch tăng

2885<一>從事有關法會、葬儀等行事之職者。又作役者。如日本七僧法會中,講師、讀師、咒願師、三禮師、唄師、散華師、堂達等七僧,即是役僧。後世泛指在寺院服雜役者。 <二>指伴僧。(參閱「伴僧」2776) ; (役僧) Vị tăng học giả thuộc tông Tịnh độ của Phật giáo Nhật bản. Người Điền biên, phía bắc thành phố Hòa ca sơn, họ Thổ kiều, tên Trúc trị lang, hiệu Độc hữu. Năm 10 tuổi, sư y vào ngài Địch nguyên Vân đài xuất gia, do đó mới đổi tên là Địch nguyên Vân lai. Năm 1883, sư theo ngài Phúc điền Hành giới thụ giới Cụ túc, 2 năm sau vào học tại Phân viện của tông Tịnh độ ở Đông kinh, sau trở về viện chính. Năm 1895 sư tốt nghiệp và 2 năm sau làm giáo sư của viện này. Năm 1899, sư sang Đức quốc học tiếng Phạm tại trường Đại học Strasbourg do ông E. Leumann dạy và năm 1905 đậu bằng Tiến sĩ Triết học. Tháng 10 sư về nước và làm giáo sư Đại học Tôn giáo ở Đông kinh, sau kiêm nhiệm Hiệu trưởng và giảng sư các trường. Năm 1920, sư trụ trì chùa Thệ nguyện ở Đông kinh và 2 năm sau sư đậu bằng Tiến sĩ Văn học. Năm 1926, sư làm chủ nhiệm phòng Nghiên cứu Thánh ngữ học khoa Văn học của Đại học Đại chính (Taisho). Năm 1927, sư chính thức được bổ nhiệm Tăng chính, sau ra giảng ở Đại học Lập chính. Sư thông suốt Tính tướng học và đặc biệt nổi tiếng trong và ngoài nước về Phạm ngữ học. Sư có các tác phẩm: Thực tập Phạm ngữ học, Ấn độ đích Phật giáo; Địch nguyên Vân lai văn tập. Các dịch phẩm đối chiếu: Phạm Hòa Vô lượng thọ kinh, Phạm Hòa A di đà kinh, Phạm Hòa Pháp cú kinh và Hán dịch đối chiếu Phạm Hòa đại từ điển.

dịch từng chữ

To translate word by word.

Dịch, dị

易; C: yì; J: eki, i;|1. Thay đổi, biến đổi; 2. Kinh Dịch (易經), được dùng để tiên đoán sự biến chuyển; 3. Dễ, dễ dàng. Đơn giản, giản dị.

Dịch, Dị 易

[ja] エキ、イ eki, i ||| (1) To change, to transform. (2) A reference to the 易經, or "Book of Changes." Thus, the art of studying change-divination. (3) Easy, easily. Simple, simply. => 1. Thay đổi, biến đổi. 2. Kinh Dịch (易經 e: Book of Changes). Theo đó, để tiên đoán sự biến chuyển. 3. Dễ, dễ dàng. Đơn giản, giản dị.

dịp

Occasion—Chance—Opportunity.

dịp may

Chance—Opportunity.

dịu

Soft—Sweet.

dịu dàng

Graceful—Sweet.

dịu giọng

To lower one's voice—To lower one's tone.

dọa

To threaten—To menace.

dọc đường

On the way.

dọn ra

To move out.

dọn sạch

To clean up.

dọn vào

To move in.

dọn đường

To open up (clear) a path.

dốc chí

To do one's utmost—To do with all one's heart.

dốc lên

Upward slope.

dốc xuống

Downward slope.

dốc đứng

Steep slope.

dối trá

Deceitful—False.

dốt

Ignorant—unlettered—Illiterate—Uninstructed.

dốt đặc

Completely ignorant.

dồi dào

Abundant—Plentiful—Exuberant.

dồn

To accummulate—To cummulate—To gather.

dỗ ngọt

To begule by sweet promises.

dội ngược

To bounce back.

dột

To leak.

dời lại

To postpone—To put off.

dời đổi

To move—To change.

dở chừng

See Dở dang.

dở dang

Unfinished—Uncompleted—Half-done.

dụ

4916<一>梵語 dṛṣṭāntaḥ。於一切法中,為顯示其道理而作之譬喻。佛典多處記載,釋尊說法,巧用譬喻,而令聞法者深領其理,例如法華經之三車喻、藥草喻及華嚴經之善畫師喻。另如以樹動說明風、舉指以示月等,皆為經典中之著名譬喻。於十二部經中,阿波陀那(梵 avadāna)即是以譬喻來開示法義之一類經典。(參閱「譬喻」6809) <二>梵語 udāharaṇa 或 dṛṣṭāntaḥ。因明用語。為古因明「五支作法」及新因明「三支作法」中之第三支。喻,藉比況以說明所宗(主張、命題)之意。於因明論式中,喻支居於因支(理由)之後,作用在於舉出既知之事例以推證未被確定、認可之宗支。例如立「聲為無常(宗),所作性故(因),譬如瓶等(喻)」之論式,若於古因明五支作法中,喻支僅相當於邏輯學上之類比推理作用而已,而另須依合支、結支之輔助才能證明宗支之論點,故證明力十分薄弱。然於新因明中,喻支中包含一種相等於邏輯學上大前題之普遍原理,使類比推理變成演繹推理,以增強其證明力,故新因明之喻支已具有邏輯學上大前題之作用。新因明中,喻支與因支皆為理由論據之一部分,故若能正確聯合兩者之作用,即可嚴密證明宗支之主張。通常喻支可分二類:一為同法喻,一為異法喻;同法喻之作法稱為「合作法」,異法喻之作法稱為「離作法」。又喻支本身係由「喻體」與「喻依」兩部分所構成者。 此外,喻支之使用若不正確,將造成如下十種過失,即:(一)能立法不成過,(二)所立法不成過,(三)俱不成過,(四)無合過,(五)倒合過,(六)所立法不遣過,(七)能立法不遣過,(八)俱不遣過,(九)不離過,(十)倒離過。〔因明入正理論、因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕(參閱「同法喻」2246) ; Dṛṣtanta (S), Dṛṣtantah (S)Một trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn. ; 1) Một trong ba điều suy luận, lấy thí dụ làm điều suy luận: One of the three branches in stating a syllogism, the example or drstanta in a syllogism—See Tông Nhân Dụ. 2) Thí dụ—An example—An illustrate. ; (喻) I. Dụ. Phạm:dfwtànỉa#. Dùng thí dụ để làm cho đạo lí trong tất cả pháp được sáng tỏ. Trong kinh điển, nhiều chỗ ghi chép, khi đức Phật nói pháp, Ngài đã khéo dùng thí dụ làm cho người nghe lãnh hội được lí sâu xa, chẳng hạn như Tam xa dụ, Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa và Thiện họa sư dụ trong kinh Hoa nghiêm. Lại như lấy cây lay động để nói rõ về gió, đưa ngón tay chỉ mặt trăng v.v... đều là những thí dụ nổi tiếng trong kinh điển. A ba đà na (Phạm: avadàna) trong 12 thể tài của kinh tức là loại kinh điển dùng thí dụ để mở bày pháp nghĩa. (xt. Thí Dụ). II. Dụ. Phạm: udàharaịa hoặc dfwỉànta#. Tiếng dùng trong Nhân minh. Là chi thứ 3 trong tác pháp 5 chi của Nhân minh cũ và chi thứ 3 trong tác pháp 3 chi của Nhân minh mới. Dụ là nhờ vào sự so sánh để thuyết minh Tông (chủ trương, mệnh đề). Trong luận thức Nhân minh, Dụ được đặt sau Nhân (lí do), có tác dụng nêu ra một sự lệ đã biết đễ dẫn chứng cho Tông vốn chưa được xác định, chưa được thừa nhận. Chẳng hạn lập luận thức: Tông: Tiếng nói là vô thường. Nhân: Vì có tính được tạo ra. Dụ: Như cái bình. Trong tác pháp năm chi của Nhân minh cũ, chi Dụ chỉ tương đương với tác dụng tỉ loại suy lí của luận lí học (La tập) mà thôi, còn cần phải nhờ vào sự giúp đỡ của chi Hợp và chi Kết thì mới có thể chứng minh luận điểm của Tông, cho nên sức chứng minh của chi Dụ trong Nhân minh cũ rất là yếu ớt. Nhưng trong Nhân minh mới, chi Dụ bao hàm một thứ nguyên lí phổ biến tương đương với đại tiền đề của luận lí học, khiến cho loại tỉ suy lí biến thành diễn dịch suy lí để tăng cường sức chứng minh của nó; bởi thế, chi Dụ trong Nhân minh mới đã có đủ tác dụng của đại tiền đề trong luận lí học. Trong Nhân sinh mới, chi Dụ và chi Nhân đều là một bộ phận của luận cứ lí do, cho nên, nếu có thể liên kết chặt chẽ và chính xác tác dụng của hai chi này thì có thể chứng minh được chủ trương của chi Tông. Thông thường chi Dụ có thể chia làm hai loại: a. Đồng pháp dụ. b. Dị pháp dụ. Tác pháp theo Đồng pháp dụ gọi là Hợp tác pháp, tác pháp theo Dị pháp dụ gọi là Li tác pháp. Còn bản thân chi Dụ là do hai phần Dụ thể và Dụ y tạo thành. Ngoài ra, nếu sử dụng chi Dụ một cách không chính xác thì sẽ tạo ra 10 lỗi dưới đây: 1. Pháp năng lập không thành. (Trái với Nhân) 2. Pháp sở lập không thành. (Trái với Tông). 3. Pháp năng lập, pháp sở lập đều không thành. (Trái với Nhân và Tông) 4. Không hợp. (Không có lời kết hợp) 5. Đảo hợp. (Kết hợp trái ngược) 6. Pháp sở lập không trái hẳn với Tông. 7. Pháp năng lập không trái hẳn với Nhân. 8. Pháp sở lập, pháp năng lập đều không trái hẳn với Nhân và Tông. 9. Bất li: Không có lời thì rõ mặt trái. 10. Đảo li: Chỉ lộn ngược. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Đồng Pháp Dụ].

dụ dẫn

5918誘導引入之意。即指隨機方便。法華經卷二譬喻品(大九‧一三下):「彼長者初以三車誘引諸子,然後但與大車,寶物莊嚴,安隱第一,然彼長者無虛妄之咎。如來亦復如是,無有虛妄,初說三乘引導眾生,然後但以大乘而度脫之。」據此,法藏於華嚴五教章卷上以三乘教爲能誘引之權教,一乘教則爲三乘教所依歸之實體,是爲實教。此外,天台宗立五時判教,將佛一代之化導分爲華嚴時、鹿苑時、方等時、般若時、法華涅槃時等五時,認爲前四時化意之特徵分別爲擬宜、誘引、彈訶、淘汰。其特別以鹿苑時之小乘教配爲誘引之時,意即第一時華嚴經之說法,爲小機者所不堪領解,故更隨應其根性,方便述說小乘教,以誘導引入之。法華經卷二信解品(大九‧一七上):「爾時,長者將欲誘引其子,而設方便,密遣二人形色憔悴無威德者:『汝可詣彼,徐語:窮子!此有作處,倍與汝直。(中略)雇汝除糞,我等二人亦共汝作。』」即以小乘爲誘引之教之譬喻。 ; (誘引) Phương tiện tùy căn cơ chúng sinh mà dẫn dắt họ vào đạo. Phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa quyển 2 (Đại 9, 13 hạ), nói: Trưởng giả kia lúc đầu đem ba cỗ xe dụ dẫn các con, nhưng sau ông chỉ cho chúng một cỗ xe lớn với những vật báu rất trang nghiêm và tiện nghi (an ổn) bậc nhất. Tuy nhiên, ông trưởng giả ấy không mắc lỗi lừa dối. Như lai cũng vậy, Ngài không có lỗi hư vọng, lúc đầu nói ba thừa để dẫn dắt chúng sinh, nhưng sau chỉ cho pháp Đại thừa nhờ đó họ được độ thoát. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển thượng, ngài Pháp tạng đã căn cứ vào nghĩa này mà cho rằng Tam thừa là Quyền giáo (giáo pháp lâm thời) dùng để dẫn dụ, còn Nhất thừa mới là Thực giáo (giáo pháp chân thực), chỗ quay về của tam thừa. Ngoài ra, tông Thiên thai lập phán giáo năm thời, chia một đời giáo hóa của đức Phật làm năm thời: Hoa nghiêm, Lộc uyển, Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa Niết bàn và cho rằng đặc trưng của bốn thời giáo hóa trước theo thứ tự là: Tùy căn cơ, thí dỗ (dụ dẫn), quở trách và gạn lọc. Tông Thiên thai đặc biệt cho Tiểu thừa giáo trong thời Lộc uyển là thời dụ dẫn, hàm ý là: Căn cơ trình độ chúng sinh còn yếu kém chưa thể lãnh hội giáo pháp trong thời Hoa nghiêm thứ nhất, nên đức Phật đã dùng các phương tiện khéo léo mà nói pháp Tiểu thừa theo đúng căn tính chúng sinh để dẫn dụ họ vào Đại thừa. Phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa quyển 2 (Đại 9, 17 thượng), nói: Lúc bấy giờ, vì muốn dụ dỗ con mình nên ông trưởng giả mới bày phương tiện ngầm sai hai người nghèo hèn tiều tụy, dùng lời nhỏ nhẹ nói với người con rằng: Này, cùng tử! Ở đây có việc làm và tiền công xứng đáng (...) ông trưởng giả muốn thuê anh hốt phân cùng với chúng tôi. Đây là thí dụ cho Tiểu thừa là giáo pháp dẫn dụ.

dụ dỗ

To entice—To seduce.

dụ nghi

4917全一編。東晉僧慧叡(355~439)撰。收於大正藏第五十五冊出三藏記集卷五。因曇樂等人懷疑般若、法華、涅槃等三經有虛妄之嫌;慧叡遂作此文批駁其妄言,並闡揚三經實為佛陀教化之基礎。 ; (喻疑) Có 1 quyển, do ngài Tuệ duệ (355 - 439) soạn vào đời Đông Tấn, thu vào Xuất tam tạng kí tập quyển 5 trong Đại chính tạng tập 55. Nhân vì các vị Đàm lạc v.v... hoài nghi ba kinh Bát nhã, Pháp hoa và Niết bàn e có chỗ hư dối, nên ngài Tuệ duệ mới soạn sách này để bác bỏ ý kiến sai lầm của họ và nói rõ ba kinh này đúng thực là cơ sở giáo hóa của đức Phật.

dụ y

Phép dụ của Nhân Minh Luận, chia dụ ra làm hai nghĩa, dụ y và dụ thể. Lấy vật thể làm chỗ dựa vào của dụ thì gọi là “dụ y,” như cái bình, cái chay; đối lại với việc lấy nghĩa lý của việc muốn dụ là “dụ thể,” như cái bình vô thường hay không vĩnh cửu—The subject of the example, e.g. a vase, a botle; as contrasted with the predicate, e.g. the vase is not eternal.

dụ y dụ thể

4916因明用語。為因明三支作法中,共同構成喻支之兩部分。古因明之喻支僅具有例證作用,故並無喻體、喻依之分別,至陳那之新因明,將喻支明確分為二部分,第一部分稱為喻體,提示一普遍原理,能有效發揮證宗(命題)之力量,相當於邏輯學之大前題;第二部分稱為喻依,即喻體所依以成立者。故喻依為喻體之證據,亦即喻體之實例。喻之作法,有同喻、異喻兩種,同喻中之喻體稱為「同法喻體」,略稱「同喻體」;同法喻中之喻依稱為「同法喻依」,略稱「同喻依」。例如立「聲為無常(宗),所作性故(因,理由)」之論式時,同喻體為「謂若所作,見彼無常」,同喻依為「譬如瓶等」。異喻中提示普遍原則者,稱為「異法喻體」,略稱「異喻體」;異法喻中為原理提供證據或實例者,稱為「異法喻依」,略稱「異喻依」。例如於上記相同之論式中,異喻體為「謂若是常,見非所作」,異喻依則為「如虛空等」。〔因明入正理論、因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕 ; (喻依喻體) Tiếng dùng trong Nhân minh. Hai bộ phận cùng cấu thành Dụ trong tác pháp ba chi của Nhân minh. Chi Dụ trong Nhân minh cũ chỉ có tác dụng lệ chứng (lấy việc đã biết để làm chứng cứ cho việc khác), nên không phân biệt Dụ thể và Dụ y. Đến Nhân minh mới thì ngài Trần na chia làm hai phần: 1. Dụ thể: Nêu lên một nguyên lí phổ biến để phát huy sức chứng minh Tông (mệnh đề) một cách hữu hiệu, tương đương với Đại tiền đề của luận lí học. 2. Dụ y: Chỗ nương để thành lập Dụ thể, bởi vậy, Dụ y là chứng cứ của Dụ thể, cũng chính là thực lệ (sự lệ thực tại) của Dụ thể. Dụ gồm có Đồng dụ và Dị dụ, Dụ thể của Đồng dụ gọi là Đồng pháp dụ thể hay Đồng dụ thể; Dụ y của Đồng pháp dụ gọi là Đồng pháp dụ y hay đơn giản là Đồng dụ y. Như khi lập luận thức: Tông: Tiếng nói là vô thường. Nhân: Vì có tính được làm ra. Đồng dụ thể: Những vật có tính được làm ra thì đều là vô thường. Đồng dụ y: Như cái bình. Nguyên tắc phổ biến được nêu ra trong phần Dị dụ, thì gọi là Dị pháp dụ thể, hay nói đơn giản là Dị dụ thể. Nguyên lí được nêu ra để làm chứng cứ hoặc thực lệ trong Dị pháp dụ gọi là Dị pháp dụ y, hay đơn giản là Dị dụ y. Thí dụ: Tông: Tiếng nói là vô thường. Nhân: Vì có tính được làm ra. Dị dụ thể: Nếu là thường thì không có tính được làm ra. Dị dụ y: Như hư không. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].

dụ đạo luận

4916全一卷。晉代孫綽撰。收於大正藏第五十二冊弘明集卷三。本書主張佛、儒一致,序文首先說明佛、儒之不同,佛教為超俗,而儒教為世俗之教。正文則敘說我國古聖賢亦有報應之說,與佛教報應說僅說法有異。並主張出家為大孝,佛教經典中屢屢說「孝」,故佛教與孝道並無不合。 ; (喻道論) Có 1 quyển, ngài Tôn xước soạn vào đời Tấn, thu vào Đại chính tạng tập 52 Hoằng minh tập quyển 3. Sách này chủ trương Phật, Nho là nhất trí. Bài tựa nói rõ sự khác nhau giữa Phật giáo và Nho giáo: Phật giáo thì thoát tục, còn Nho giáo là đạo của thế tục. Trong phần chính văn nói thuyết báo ứng của Nho giáo và thuyết báo ứng của Phật giáo chỉ khác ở cách trình bày mà thôi. Vả lại, Phật giáo chủ trương xuất gia là đại hiếu, trong kinh điển Phật luôn nói đến hiếu, bởi vậy, Phật giáo và đạo hiếu của Nho giáo hoàn toàn phù hợp.

Dụ 喩

[ja] ユ yu ||| (1) To realize, to understand, to apprehend, to be aware of. (2) To make others aware; to teach, to enlighten. (3) Awareness, enlightenment. (4) For example...; as compared to [比, 譬]. (5) A metaphor, simile, allegory, parable, trope, figurative language. (6) To be joyful. => Có các nghĩa sau: 1. Nhận ra, hiểu được, cảm thấy rõ, nhận thức được. 2. Làm cho người khác hiểu được, làm sáng tỏ. 3. Sự nhận biết, sự tỏ ngộ. 4. Ví dụ, so với (tỉ 比 , thí 譬). 5. Pháp ẩn dụ, sự ví von, phúng dụ, ngụ ngôn, phép tu từ theo nghĩa bóng, ngôn ngữ biểu trưng, ẩn dụ. 6. Vui mừng, hân hoan.

Dục

欲; C: yù; J: yoku;|1. Mong muốn, ao ước, mong mỏi; 2. Lòng tham muốn, sự thèm khát, sự đam mê. Thèm muốn. [Phật học] 1. Thường có nghĩa là »khát ái, ái dục, tham dục, ái trước« (s: tṛṣṇā, raga); 2. Theo A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, đó là một tâm sở pháp: mong cầu ái dục, khát ái, mong muốn những đối tượng thoả mãn ái dục (s: chanda, āśaya); 3. Theo giáo lí Du-già hành tông, đó là tâm sở pháp mong mỏi đón nhận những cảm thụ mà nó thích. Thuộc nhóm Biệt cảnh, là một trong 5 nhóm thuộc Tâm bất tương ưng hành pháp; 4. Cõi Dục; 5. Tham muốn tình dục giữa nam và nữ.|Theo đạo Phật, dục là một trong những chướng ngại lớn nhất của sự tu học. Người ta phân biệt năm thứ dục dựa trên năm giác quan: sự tham ái về sắc, về thanh âm, về hương, về mùi vị, về thân thể. Dục là một trong Ba độc (Ái, tham, ham muốn), Năm chướng ngại (s: nīvaraṇa) và một trong những Ô nhiễm (s: āśrava). ; 欲 (慾); S, P: kāma;

dục

4651梵語 chanda 或 rajas。又作樂欲。心所名。意謂希求、欲望。希望所作事業之精神作用。說一切有部指從一切心起之作用,為大地法所攝。唯識宗則謂,心捕捉對象係由作意之作用,非由欲之作用,故欲非從一切心起,僅係對願求對象所起之別境。欲有善、惡、無記等三性,善欲為引起精勤心之根據;惡欲中之希欲他人財物者,稱為貪,為根本煩惱之一。 欲有五欲、六欲、三欲等多種:(一)五欲,愛著色、聲、香、味、觸等五境者,稱為五欲;被愛著之五境,亦稱為五欲、五欲德或五妙欲。對財、色、飲食、名、睡眠之欲,亦稱作五欲。(二)六欲,對色、形貌、威儀姿態、言語音聲、細滑、人相之欲,即為六欲。(三)三欲,於六欲中對形貌、姿態、細觸之欲,稱為三欲。此外,以貪欲深而難越、易落,比喻為塹,稱為欲塹;或以貪欲之煩惱能令人沈沒如河,稱為欲河;比喻諸欲惱人如針刺身,稱為欲刺;此等皆為強調欲之害人。又以欲之污身、擾人,而比喻為欲塵、欲魔、欲縛等。〔俱舍論卷四、品類足論卷二、大乘阿毘達磨雜集論卷一、成唯識論卷五〕(參閱「五欲」1149、「六欲」1291) ; Chanda (P), Rajas (S), Desire Mong muốn làm một việc gì. Một trong 10 đại địa pháp. ; Rajas, Kàma (S). Passion, lust; desire, love; breathe after, aspire to. ; (I) Nghĩa của “dục”—The meanings of “desire” 1) Lòng ham muốn hay sự nhiễm ái trần: Rajas (skt)—Passion—Desire—Love—Inordinate desire—Lust. Interpreted as “tainted with the dust or dirt of love, or lust. 2) Nuôi dưỡng: To rear—To nurture. 3) Tắm: To bathe—To wash. (II) Phân loại “dục”—Categories of “desire” (A) Tam Dục—The three desires: 1) Hình mạo dục: Desire for beauty. 2) Uy nghi tư thái dục: Desire for demeanour. 3) Tế xúc dục: Desire for softness. (B) Ngũ Dục—The five desires: 1) Sắc dục: Desire for colour. 2) Thanh dục: Desire for sound. 3) Hương dục: Desire for smell. 4) Vị dục: desire for taste. 5) Xúc dục: Desire for touch. ** For more information, please see Ngũ Dục. (C) Lục Dục: The six desires—See Lục Dục. ; (欲) Phạm: Chanda hoặc rajas. Cũng gọi Nhạo dục. Tên tâm sở. Là tác dụng tinh thần mong muốn sự nghiệp được hoàn thành. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Dục là tác dụng theo tất cả tâm mà khởi lên thuộc về đại địa pháp. Tông Duy thức thì cho rằng tâm đuổi bắt đối tượng là do tác dụng của tác ý (chú ý) chứ không phải tác dụng của Dục, cho nên Dục chẳng phải theo tất cả tâm mà khởi, mà chỉ là tâm sở Biệt cảnh mong cầu đối tượng mà khởi lên. Dục có ba tính: Thiện, ác và vô kí (không thiện không ác). Dục tính thiện là nguồn gốc phát khởi tâm tinh tiến cần mãn, dục mang tính ác thì thèm muốn tài vật của người khác, gọi là tham, là một trong những phiền não căn bản. Dục có nhiều loại: Năm dục, sáu dục, ba dục v.v... 1. Năm dục: Say đắm năm cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. Cũng gọi năm dục đức, năm diệu dục. Hoặc ham muốn của cải, sắc đẹp, ăn uống, tiếng tăm, ngủ nghỉ, cũng gọi năm dục. 2. Sáu dục: Say mê sắc đẹp, dung mạo, uy nghi tư thái, giọng nói quyến rũ, làn da mịn màng, tướng người xinh đẹp. 3. Ba dục: Ham đắm dung mạo, tư thái, làn da mịn màng. Ngoài ra, vì tính tham muốn quá sâu, khó vượt qua, lại dễ làm cho người ta sa ngã như cái hố nên còn được gọi là Dục tiệm (hố dục). Hoặc vì phiền não tham dục hay nhận chìm người giống như dòng sông, nên gọi Dục hà (sông dục). Những tham muốn nung nấu người ví như kim đâm vào mình, nên gọi là Dục thích . Những điều vừa nói ở trên là nhấn mạnh sự tai hại của dục. Lại vì dục làm nhơ bẩn thân, nhiễu loạn người nên ví dụ dục là bụi bặm, là ma, là sự trói buộc v.v... [X. luận Câu xá Q.4; luận Phẩm loại túc Q.2; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Thành duy thức Q.5]. (xt. Ngũ Dục, Lục Dục).

dục anh

To bring up children.

Dục bạo lưu

欲暴流; C: yùbàoliú; J: yokubōru;|Dòng chảy mãnh liệt của ái dục (s: kāma-ogha), đặc biệt theo hướng 5 trần cảnh. Là một trong Tứ bạo lưu. Tương đương nghĩa Dục lậu (欲漏).

Dục bạo lưu 欲暴流

[ja] ヨクボウル yokubōru ||| The raging current of desire (kāma-ogha), esp. toward the objects of the five sense fields. One of the four raging currents 四暴流, equivalent to the outflow of desire 欲漏. 〔瑜伽論 T 1579.30.314c18〕 => Dòng chảy mãnh liệt của ái dục (s: kāma-ogha), đặc biệt theo hướng 5 trần cảnh. Là một trong Tứ bạo lưu. Tương đương nghĩa Dục lậu欲漏.

dục bản

4163禪林浴室之中,置一小板,凡入浴沐洗者意欲加減熱水時,則敲擊此板,浴頭行者聞板聲後,必依其所冀者而加減之;此一小木板稱為浴板。另於浴板之側,懸一小牌,稱浴室小牌,其上書寫敲打浴板之規則。敕修百丈清規卷 |知浴條(大四八‧一一三一中):「室內掛小板,旁釘小牌,書云:『鳴板一聲添湯,二聲添水,三聲則止;以此為節。』」 ; (浴板) Cái bảng nhỏ treo trong nhà tắm. Trong Thiền lâm, khi vào tắm, người tắm cần nước nóng hay nước lạnh thì gõ bảng này, sau khi nghe tiếng bảng, Dục đầu hành giả .(người trông nom nhà tắm) sẽ theo ý muốn của người tắm mà thêm hoặc bớt. Bên cạnh Dục bản có treo một tấm thẻ nhỏ, trên đó ghi lời chỉ dẫn cách đánh bảng. Thẻ này gọi là Dục thất tiểu bài …Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 4 Tri dục điều (Đại 48, 1131 trung), nói: Trong nhà tắm treo một bảng nhỏ, bên cạnh có tấm thẻ ghi: Đánh vào bảng một tiếng là thêm nước nóng, đánh hai tiếng là thêm nước lạnh, ba tiếng thì là thôi.

dục chủ

4161又作知浴、浴司。禪林西序六頭首之一。禪院中司浴室之職務。凡遇開浴,於齋前掛開浴牌,並舖設浴室,點視柴火炭煤等。其下有浴頭行者受其使令。〔敕修百丈清規卷四知浴條、禪林象器箋職位門〕 ; (浴主) Người trông coi nhà tắm. Cũng gọi Tri dục, Dục tư. Chức vụ trông nom về nhà tắm trong Thiền viện, một trong sáu vị đứng đầu Tây tự trong Thiền lâm. Đến giờ tắm, Dục chủ phải treo thẻ khai dục ở trước nhà trai và sắp đặt trong nhà tắm, xem xét củi, lửa, than v.v... Dưới quyền có vị Dục đầu hành giả giúp đỡ. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.4 Tri dục điều; Thiền lâm tượng khí tiên Chức vị môn].

dục câu

4654即菩薩為救度眾生,以欲牽引之;比喻欲為鉤,故稱欲鉤。維摩經卷中佛道品載,菩薩為救度眾生而行善巧方便,示現種種身,或現作淫女,誘引好色者,先以欲鉤牽引,終令入佛智。 ; Lưỡi câu ái dục mà chư Bồ tát dùng để hấp dẫn chúng sanh, để rồi sau đó đưa họ vào con đường tu tập giác ngộ—The hook of desire; the bodhisattva attracts men through desire, and then draws them to the enlightenment of Buddha. ; (欲鈎) Lưỡi câu tham muốn. Vì muốn cứu độ chúng sinh, Bồ tát dùng sự tham muốn để lôi kéo. Kinh Duy ma quyển trung phẩm Phật đạo chép, vì cứu độ chúng sinh, Bồ tát bày ra các phương tiện khéo léo, thị hiện nhiều loại thân, có khi hiện làm dâm nữ nhử kẻ hiếu sắc, trước dùng sự tham muốn để kéo lôi, sau cùng mới đưa họ vào trí của Phật.

dục cúc

See Dục Anh.

Dục cầu

欲求; C: yùqiú; J: yokugu;|Ái dục, khát ái, khát khao ái dục. Tâm tham muốn mọi vật trong dục giới.

dục cầu

4652二種求之一。即希求滿足諸種欲望之意。成實論卷十列舉二種求:(一)求現存之諸欲,稱為欲求。(二)更求後身,稱為有求。 ; (欲求) Một trong hai thứ mong cầu, tức là mong cầu được thỏa mãn mọi dục vọng. Luận Thành thực quyển 10 nêu hai thứ mong cầu: 1. Mong cầu được thỏa mãn mọi dục vọng ở đời hiện tại gọi là Dục cầu. 2. Mong cầu các dục vọng cho thân đời sau gọi là Hữu cầu.

Dục cầu 欲求

[ja] ヨクグ yokugu ||| Desire, craving, aspiration. The mind of craving in regard to all the things of the desire realm. => Ái dục, khát ái, khát khao ái dục. Tâm tham muốn vật chất trong Dục giới.

dục cổ

4164通知入浴所打之鼓。其敲打之方法由慢緩而漸急促,最後疾打一下,戛然而止;通常係由知浴(浴主)擊之。依古規,聞鼓聲時眾僧先入浴,後浴頭行者入浴,最後住持、知事入浴。後改為第一會住持入浴,第二會僧堂眾入浴,第三會諸寮眾與餘諸人入浴。〔敕修百丈清規卷八鼓條〕 ; 1) Trống báo nghi lễ “mộc dục” hay việc tắm Phật trong tự viện: The bathing-drum, announcing the time for the ceremony of “washing the Buddha image.” 2) Trống nầy cũng dùng để báo hiệu giờ tắm trong thiền lâm: This is also the bathing-drum for announcing the time for washing in the Ch'an monasteries. ; (浴鼓) Trống báo giờ tắm. Trống này do vị Tri dục, (người trông coi việc tắm gội, cũng gọi Dục chủ, đánh). Cách đánh trống là lúc đầu đánh chậm, sau mau dần và cuối cùng đánh thật mạnh một tiếng rồi dứt. Theo qui định xưa, khi nghe tiếng trống, chúng tăng vào tắm trước, kế đến, Dục đầu hành giả vào tắm, sau cùng mới đến Trụ trì và Tri khách. Về sau đổi lại là hồi thứ nhất vị Trụ trì vào tắm, hồi thứ hai chư tăng vào tắm, hồi thứ ba các sư chú và những người khác tắm. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.8 Cổ điều].

dục cụ

4163例如浴巾、小淨瓶、浴裙(浴衣)、小鏁、函櫃等,特用於浴室之物;入浴時,須以右手持入。敕修百丈清規卷六日用軌範條(大四八‧一一四六上):「如開浴,浴具攜右手,入下間門內。」此外,入浴之前,需先以一布帛包裹浴具,此一布帛即稱浴複,或浴袱,亦屬浴具之一。 ; (浴具) Các vật dùng riêng trong nhà tắm như: khăn tắm, bình nhỏ đựng nước sạch, quần tắm (áo tắm), khóa cửa nhà tắm, ghế ngồi tắm v.v... Khi vào nhà tắm, tay mặt cầm các dục cụ. Điều Nhật dụng qui phạm trong Bách trượng thanh qui quyển 6 (Đại 48, 1146 thượng) nói: Khi vào nhà tắm, phải cầm dục cụ bên tay mặt và đi vào qua cửa của gian dưới. Ngoài ra, trước khi vào nhà tắm phải lấy khăn vải gói các dục cụ lại, khăn này gọi là Dục phức.., hoặc Dục phục , cũng thuộc một trong các Dục cụ.

dục giác

xem ba loại tư tưởng xấu ác. ; Sự tỉnh thức về lòng tham—The consciousness of desire—Passion-consciousness.

Dục giới

xem Ba cảnh giới. ; 欲界; C: yùjiè; J: yokukai; S, P: kāmaloka, kāmadhātu;|Cõi Dục (s: kāma-dhātu). 1. Một trong 3 cõi Hữu, trong đó tâm thức con người là chủ thể của sự tham muốn thực phẩm, tình dục và ngủ nghỉ; 2. Trạng thái khát ái của tâm thức. Ba thế giới.

dục giới

4653梵語 kāma-dhātu,巴利語同。指有情生存狀態之一種,又指此有情所住之世界。欲界與色界、無色界合稱三界。即合地獄、餓鬼、畜生、阿修羅、人、六欲天之稱。此世界之有情以有食欲、淫欲、睡眠欲等,故稱欲界。欲界包含有情世間與器世間。相對於色界與無色界之為定心(入禪定三昧不散動之心)之地,以欲界為散心(散動之平常心)之地,故稱欲界散地。然就欲界是否有定,鞞婆沙論卷十、大乘義章卷十一等載有諸說。若將三界分為九地,有所謂欲界五趣地,欲界全體即屬九地之最初地。 此外,有關欲界所包括的範圍及類別,諸經論中各有記載,如雜阿毘曇心論卷八修多羅品列八大地獄、畜生、餓鬼、四大洲、六欲天等二十處;長阿含經卷二十忉利天品則分地獄、畜生、餓鬼、人、阿須倫、四天王、忉利天、焰魔天、兜率天、化自在天、他化自在天、魔天等十二種;瑜伽師地論卷四列有八大地獄、四大洲、八中洲、六欲天、餓鬼及非天,計有三十六處。俱舍論卷十一詳述其位置、身長、壽命等。〔長阿含經卷十九、起世經卷一至卷九、舍利弗阿毘曇論卷七、大毘婆沙論卷一三六、卷一三七、俱舍論卷三〕 ; Kāmaloka (S, P), Kāmadhātu, Kāma-bhŪmi (S), Kāmavacara (S), World of Desire Kamaloka (P)Sensuous sphere Có 6 cõi: Tứ thiên vương thiên, Đao lợi thiên (tam thập tam thiên), Đâu suất thiên, Tô dạ ma thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại thiênDục giới là một trong ba cõi giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Dục giới là cảnh giới của chúng sanh thích về ngũ dục... ; Kàmadhàtu (S). The realm, or realms of desire. ; Dục giới (có nam nữ dâm dục), Sắc giới (chỉ có hình sắc mà không có nam nữ dâm dục), Vô sắc giới (không có sắc thân, chỉ có thần thức), gọi chung là tam giới. ; Kamadhatu (skt). (I) Nghĩa của Dục Giới—The meaning of “Kamadhatu” 1) Dục giới là một trong tam giới, nơi đó có đầy dẫy những thứ ham muốn—Realm of desire or sensual realm—Human world—Desire world—Passion world—Passions. One of the three realms. Realm of desire is a realm where there exists all kinds of desires: a) Sắc Dục: Desire for sex. b) Thực Dục: Desire for food. c) Thùy Dục: Desire for sleep. d) Danh Dục: Desire for fame. e) Tài Dục: Desire for talents. (II) Phân loại Dục Giới. Dục giới được chia thành 20 khu vực khác nhau. Gọi là chúng sanh trong cõi dục giới vì chúng sanh trong cõi nầy luôn bị dục vọng chế ngự—Categories of “Kamadhatu.” The realm of desire is divided into 20 different regions. Beings in the realm of desire (so called because the beings in these states are dominated by desire): (A) Chư Thiên trong sáu cõi trời dục giới: Kamadeva (skt)—Devas in the six heavens of desire. 1) Cõi Dạ Ma Thiên: Yamah—See Dạ Ma Thiên. 2) Cõi Tứ Thiên Vương Thiên: Caturmaharajakayika. a) Trì Quốc Thiên Vương: Đông Thiên Vương—Dhrtarastra, in the east. b) Tăng Trưởng Thiên: Nam Thiên Vương—Virudhaka, in the south. c) Quảng Mục Thiên Vương: Tây Thiên Vương—Virupaksa, in the west. d) Đa Văn Thiên Vương: Bắc Thiên Vương—Vaisramana (Dhanada), in the north. ** For more information, please see Tứ Thiên Vương. 3) Cõi Đao Lợi Thiên: Trayastrimsah—See Đao Lợi Thiên. 4) Cõi Đâu Suất Thiên: Tusita—See Đâu Suất. 5) Cõi Hóa Lạc Thiên: Nirmanarati—See Hóa Lạc Thiên. 6) Cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên: Paranirmitavasavartin—See Tha Hóa Tự Tại Thiên. (B) Nhân gian trong Tứ Châu—Beings in the four continents—See Tứ Châu. (C) Súc Sanh: Tiryagyoni (skt)—See Súc Sanh and Súc Sanh Thú. (D) Ngạ Quỷ: Preta-gati (skt)—Hungry ghosts—See Ngạ Quỷ. (E) Địa Ngục: Naraka (skt)—See Địa Ngục. ; (欲界) Cõi Dục. Phạm, Pàli: Kàma-dhàtu. Chỗ ở của loài hữu tình. Cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc gọi chung là ba cõi (tam giới). Cõi Dục gồm: Địa ngục, quỉ đói, súc sinh, a tu la, người và trời Lục dục. Các loài hữu tình ở thế giới này nặng về thực dục, dâm dục, thụy miên dục (ham ngủ) nên gọi là cõi Dục. Cõi Dục bao gồm Hữu tình thế gian và khí thế gian. Cõi Sắc và cõi Vô sắc là nơi định tâm (tâm vào Thiền định không tán động), còn cõi Dục là nơi tán tâm (tâm bình thường loạn động), vì thế cõi Dục được gọi là Tán địa. Nhưng, vấn đề cõi Dục có định hay không thì trong luận Tì bà sa quyển 10 và Đại thừa nghĩa chương quyển 11 có ghi nhiều thuyết. Nếu chia ba cõi làm chín địa (nơi, chốn), thì toàn thể cõi Dục (gồm năm đường: Địa ngục, quỉ đói, súc sinh, người, trời) là địa đầu tiên trong chín địa. Ngoài ra, về phạm vi và các loài khác nhau của cõi Dục, trong các kinh luận đều có ghi, như phẩm Tu đa la của luận Tạp A tì đàm tâm quyển 8 có liệt kê 20 chỗ: Tám đại địa ngục, súc sinh, quỉ đói, bốn đại châu và sáu tầng trời cõi Dục. Phẩm Đao lợi thiên trong kinh Truờng a hàm quyển 20 chia làm 12 loại: Địa ngục, quỉ đói, súc sinh, người, a tu luân, Tứ thiên vương, trời Đao lợi, trời Diệm ma, trời Đâu suất, trời Hóa tự tại, trời Tha hóa tự tại và Ma thiên. Luận Du già sư địa quyển 4 thì nêu 36 chỗ: Tám địa ngục lớn, bốn châu lớn, bốn châu cỡ vừa, sáu tầng trời cõi Dục, quỉ đói và phi thiên. Còn luận Câu xá quyển 11 thì nói về vị trí, thân hình và tuổi thọ v.v... [X. kinh Trường a hàm Q.19; kinh Khởi thế Q.1 đến Q.9; luận Xá lợi phất a tì đàm Q.7; luận Đại tì bà sa Q.136, Q.137; luận Câu xá Q.3].

dục giới hệ

4654繫者,拘繫之意。繫縛於欲界之法,稱為欲界繫。欲界所繫,具足十八界。又二十二根中,除後三無漏根外,其餘十九根為欲界繫。九十八隨眠中,有三十六隨眠為欲界繫。〔大毘婆沙論卷五十、卷五十二、俱舍論卷二、卷三、大乘阿毘達磨雜集論卷二〕(參閱「界繫」3893) ; (欲界系) Hệ nghĩa là trói buộc, pháp trói buộc ở cõi Dục gọi là Dục giới hệ. Những pháp trói buộc đó là 18 giới (sáu căn, sáu trần, sáu thức). Lại nữa, trong 22 căn, 19 căn trước là Dục giới hệ; trong 98 tùy miên, có 36 tùy miên là Dục giới hệ. [X. luận Đại tì bà sa Q.50, Q.52; luận Câu xá Q.2, Q.3; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2]. (xt. Giới Hệ).

Dục giới Lục thiên

xem Sáu cõi trời thuộc Dục giới.

dục giới tam dục

4653據翻譯名義集卷三舉出欲界凡夫之三欲,指:(一)飲食欲,即凡夫於種種美味之飲食,多生貪愛之心。(二)睡眠欲,即凡夫之心多暗塞,耽著於睡眠而不能勤修道業。(三)淫欲,即一切男女由互相之貪染,而起造諸種欲事。 ; (欲界三欲) Ba món dục ở cõi Dục. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 3 nêu ra ba món dục của phàm phu trong cõi Dục, đó là: 1. Ẩm thực dục: Phàm phu đối với các thức ăn uống thơm ngon sinh tâm tham đắm. 2. Thụy miên dục: Tâm phàm phu phần nhiều mờ tối, ham mê ngủ nghỉ nên không thể siêng tu đạo nghiệp. 3. Dâm dục: Tất cả nam nữ do tâm tham nhiễm lẫn nhau, nên làm các việc dâm dục.

dục giới thiên

Heavens of desire. There are several in this realm—See Dục Giới (C).

dục giới tán địa

4654即欲界。色界與無色界之有情方有定心,有定心處稱為定地;欲界為散心之地,因欲界有情無定心,故稱欲界散地。〔釋氏要覽卷中〕(參閱「欲界」4653) ; (欲界散地) Cõi Dục là nơi tán tâm. Hữu tình ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mới có định tâm, nơi có định tâm gọi là Định địa. Cõi Dục là nơi tán tâm, vì hữu tình ở cõi Dục không có định tâm nên gọi là Dục giới tán địa.[X. Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Dục Giới).

dục giới định

4654指屬於欲界之禪定。又稱欲定。關於欲界是否有定,有種種議論。或以欲界無禪定,唯有散心,故所謂欲界定,係指未至定,即入於初禪定之前的階段。或以欲界雖多散心,仍有少部分定心,取此少部分之定,稱為欲界定。以其定心不永續,消滅甚速,故又稱電光定。然成實論卷十一,則謂欲界有確實之禪定,能發出無動智。〔阿毘曇毘婆沙論卷四十一、七帖見聞卷三末〕 ; (欲界定) Thiền định thuộc cõi Dục. Cũng gọi Dục định. Về vấn đề cõi Dục có định hay không, thì có nhiều thuyết. Có thuyết bảo cõi Dục không có Thiền định, chỉ có tâm tán động, bởi thế, cái gọi là định cõi Dục là chỉ cho định Vị chí, tức là ở giai đoạn trước khi vào Sơ thiền. Có thuyết cho rằng cõi Dục tuy nhiều tán tâm, nhưng vẫn có một phần nhỏ định tâm, và chính lấy phần nhỏ định tâm này làm định cõi Dục. Vì định tâm ở cõi Dục không liên tục mà tiêu diệt rất nhanh, nên cũng gọi là Điện quang định (định ánh chớp). Nhưng, luận Thành thực quyển 11 thì bảo cõi Dục thực sự có thiền định và thiền định này có thể phát ra trí không động. [X. luận A tì đàm tì bà sa Q.41; Thất thiếp kiến văn Q.3 phần cuối].

Dục giới 欲界

[ja] ヨクカイ yokukai ||| The desire realm. (1) One of the three realms of existence, in which one's consciousness is subject to the desires for food, sex and sleep (kāma-dhātu). (2) A desirous state of mind. => Cõi Dục(s: kāma-dhātu). Một trong 3 cõi Hữu, trong đó tâm thức con người là chủ thể của sự tham muốn thực phẩm, tình dục và ngủ nghỉ. Trạng thái khát ái của tâm thức.

dục hoa

Yukta (skt)—Một loại Thiên hoa—A kind of celestial flower.

dục hoả

4652即淫欲之熱情,猶如火能燒眾生心;或以淫欲心如火不可遏止,故稱欲火。欲又作慾。楞嚴經卷八(大一九‧一四三下):「十方一切如來,色目行婬,同名欲火。菩薩見欲,如避火坑。」〔法苑珠林卷四十四〕 ; (欲火) Lửa dục. Nhiệt tình dâm dục giống như lửa hay thiêu đốt tâm chúng sinh, hoặc vì tâmdâm dục bốc cháy như lửa khó dập tắt, nên gọi là Dục hỏa. Dục .cũng viết là dục... Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 143 hạ), nói: Tất cả các đức Như lai trong 10 phương coi việc hành dâm như lửa dục. Bồ tát thấy sự dâm dục thì tránh xa như tránh hố lửa. [X. Pháp uyển châu lâm Q.44].

dục hà

Dòng sông dục vọng, nhận chìm chúng sanh—The river of desire or lust (which drowns).

dục hải

4654人類之愛欲熾盛、深廣,難以脫出,故以海為譬喻。一般以愛欲難度,譬如急流,稱之為欲流(梵 kāma-ogha)。眾生皆由於熾盛之煩惱而輪迴生死,不能到達理想之涅槃界,稱之為煩惱生死大海。煩惱中以愛欲為最重,故稱愛欲為欲海。 ; The ocean of desire. ; Biển dục vọng thâm sâu và bao la, không đáy và vô bờ bến—The ocean (sea) of desires, so called because of its extent and depth. ; (欲海) Biển dục. Sự yêu đương ham muốn của loài người rất mạnh, rất sâu rộng như biển cả mông mênh khó mà thoát ra được, cho nên dùng biển làm thí dụ mà gọi là Dục hải.Thông thường, sự yêu đương khó vượt qua, như một dòng thác chảy xiết nên cũng gọi là Dục lưu (Phạm: Kàma-ogha: Dòng ái dục). Chúng sinh đều do phiền não bốc cháy mà phải luân hồi sinh tử, không thể đạt tới cõi Niết bàn lí tưởng, gọi là biển lớn phiền não sinh tử. Trong các phiền não, ái dục mạnh nhất, vì thế gọi ái dục là Dục hải.

dục hỏa

The fire of desire. ; Lửa dục—The fire of desire.

dục hữu

The realm of desire, one of the tam hữu. ; Một trong tam hữu—The realm of desire, one of the three kinds of existence. ** For more information, please see Tam Hữu.

dục hữu kiến vô minh

Bốn phần tử gây nên khổ đau phiền não, hay kết thành lậu hoặc—The four constituents which produce affliction (distress or pain) or make up the contents of evil outflow (asvrava). (A) Dục: Kama (skt)—See Dục. (B) Hữu: Bhava (skt)—See Hữu, and Tam Hữu. (C) Kiến: Drsti (skt)—See Kiến. (D) Vô Minh: Avidya (skt)—See Vô Minh.

dục hữu lậu

Xem Dục lậu.

dục khí

Ảnh hưởng của dục vọng—Desire-breath, passion-influence, the spirit or influence of desire, lust.

dục khổ

1) Sự khổ đau gây ra bởi lòng tham dục: The sufferings of desire. 2) Sự khổ đau trong dục giới: The sufferings in desire-realms.

dục kim cang

See Dục Tiển (2).

dục kim cang bồ tát

Iṣta-Vajra (S)ý sanh Kim cang Bồ tát, Kim Cang Tiễn Bồ tátTên một vị Bồ tát.

dục kim cương

4652梵名 Iṣṭa-vajra。音譯伊瑟吒縛日羅。又作慾金剛、箭金剛、意生金剛、金剛箭、眼箭。密教金剛界曼荼羅理趣會中臺五尊四金剛之一,即列於中尊金剛薩埵之前方月輪蓮花上之菩薩。身呈赤色。種子???(ma),三昧耶形為箭。又此尊為五祕密菩薩之一,形像以左手持弓,右手執箭,立右膝而作射狀。據金剛頂瑜伽金剛薩埵五祕密修行念誦儀軌載,欲金剛,名為般若波羅蜜,能通達一切佛法而無滯無礙,猶如金剛能生諸佛。持金剛弓、箭,射阿賴耶識中一切有漏種子,成大圓鏡智。亦即此尊以大悲欲箭射眾生心中之貪欲,使能悟入般若理趣清淨。〔理趣釋卷上、大樂金剛薩埵修行成就儀軌、金剛界七集卷下〕 ; (欲金剛) Phạm: Iwỉa-vara. Âm Hán: Y sắt tra phạ nhật la. Cũng gọi Dục.. kim cương, Tiễn kim cương, Ý sinh kim cương, Kim cương tiễn, Nhãn tiễn. Một trong bốn vị Kim cương của Ngũ tôn ở Trung đài trong hội Lí thú trên mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, tức là vị Bồ tát ngồi trên hoa sen trong vòng tròn (nguyệt luân) ở phía trước Bồ tát Trung tôn Kim cương tát đỏa. Thân mầu đỏ, chủng tử là (ma), hình tam muội da là mũi tên. Lại nữa, vị tôn này cũng là một trong năm vị Bồ tát bí mật, hình tượng: Tay trái cầm cung, tay phải cầm tên, đầu gối bên phải dựng thẳng trong tư thế bắn cung. Cứ theo Kim cương đính du già kim cương tát đỏa ngũ bí mật tu hành niệm tụng nghi quĩ, thì Dục kim cương tên là Bát nhã ba la mật, có khả năng thông suốt tất cả Phật pháp mà không trệ không ngại, giống như kim cương hay sinh ra chư Phật. Vị Bồ tát này cầm cung, tên bằng kim cương bắn vào tất cả hạt giống hữu lậu trong thức A lại da để nó trở thành tấm gương trí tuệ tròn sáng. Cũng chính là vị tôn này dùng mũi tên dục đại bi bắn vào tâm tham dục của chúng sinh, khiến chúng ngộ nhập Bát nhã lí thú thanh tịnh. [X. Lí thú thích Q.thượng; Đại lạc Kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ; Kim cương giới thất tập Q.hạ].

dục kết

Kāmarāga, Kāma-rŪpa (S), Sensuous lust Dục thamMối trói buộc mà người đắc quả A na hàm dứt bỏ được là không còn vướng bận vào những cảnh vui của thế gian và cõi tiên dục giới.

dục lưu

4653梵語 kāma-ogha。謂欲界貪瞋等之思惑,由此思惑而流轉於欲界,故稱欲流。四流之一。又作欲暴流。欲界之思惑,即見道四諦之下各有貪、瞋、慢、疑四惑,而成十六惑;修道下有貪、瞋、慢三惑,以及無慚、無愧、睡眠、掉舉、惛沈、慳、嫉、忿、覆、悔十纏,總為二十九惑。又欲流為三界生死之總稱。以依欲之迷惑,而致流轉於生死之故。〔增一阿含經卷二十三、俱舍論卷二十〕(參閱「四暴流」1831) ; Kāma-ogha (S), Kāmogha (S), Flood of sensual desires Kāmogha (S)Một trong tứ lưu, dòng thác tham sân mạn nghi trong dục giới. ; The stream of the passion, i.e.the illusions of cupidity, anger, etc.,which keep the individual in the realm of desire; the stream oftransmigration, which results from desire. ; 1) Dòng thác tham dục, một trong tứ lưu, như tư hoặc, tham, sân, si, vân vân, giữ mãi cá nhân trong vòng dục giới—The stream of the passion, one of the four currents that carry the thinking along, i.e. the illusions of cupidity, anger, etc., which keep the individual in the realm of desire. 2) Việc sống chết trong dòng luân hồi sanh tử (ba cõi) trong dục giới: The stream of transmigration, which results from desire. ; (欲流) Phạm: Kàma-ogha. Là tư hoặc tham sân si v.v... ở cõi Dục, vì tư hoặc này mà phải lưu chuyển trong cõi Dục nên gọi là Dục lưu. Một trong bốn lưu. Cũng gọi Dục bạo lưu (dòng dục chảy xiết). Tư hoặc ở cõi Dục là trong bốn đế của Kiến đạo mỗi đế đều có bốn hoặc: Tham, sân, mạn, nghi, cộng thành 16 hoặc; Tu đạo có ba hoặc: tham, sân, mạn cho đến 10 triền: Vô tàm, vô quí, thụy miên, trạo cử, hôn trầm,xan, tật, phẫn, phú và hối... Lại nữa, Dục lưu cũng chỉ chung cho sống chết trong ba cõi, vì mê hoặc nương theo dục mà có sống chết lưu chuyển. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.23; luận Câu xá Q.20]. (xt. Tứ Bạo Lưu).

dục lạc

Kamsrava (S), Kāmasukha (P), Kāmasrava (S), Kāmasava (P), Kāmasava (P), The defilement of sense-desire, Sexual pleasure Dục hữu lậu. ; The joy of the five desires. ; Lạc thú ngũ dục—Sensual pleasures—Joy of the five desires

dục lạc trần tục

Common desire.

Dục lậu

欲漏; C: yùlòu; J: yokuro; S: kāmāsrava; P: kāmāsava. |Phiền não hay »lậu« trong cõi Dục. Phiền não do mê chấp vào đối tượng ái dục. Là một trong Tam lậu (三漏).

dục lậu

4654梵語 kāmāsrava,巴利語 kāmāsava。三漏之一。又作欲有漏。欲,指欲界之五欲境界;漏,為煩惱之異稱。由欲而起煩惱,稱為欲漏。即欲界中除去五部無明外,其餘三十一種煩惱及無慚等十纏,共為四十一種煩惱。又眾生因欲界之見思二惑,造作諸業,漏墮於欲界而不能出離,故稱為欲漏。〔雜阿含經卷十八、北本大般涅槃經卷二十二〕(參閱「十纏」504、「三漏」646) ; Dòng luân hồi sanh tử bị khuấy lên bởi tham dục, tà kiến, và tà tư—The stream or flow of existence, evoked by desire interpenetrated by unenlightened views and thoughts (these stimulating desires produce karma which in turn produces reincarnation). ** For more information, please see Tam Lậu Hoặc. ; (欲漏) Phạm: Kàmàsrava, Pàli: Kàmàsava. Một trong ba lậu. Cũng gọi Dục hữu lậu. Dục chỉ cho năm món dục ở cõi Dục; lậu là tên khác của phiền não. Vì tham dục mà dấy sinh phiền não gọi là Dục lậu. Tức là ngoài việc loại trừ năm bộ vô minh của cõi Dục, còn lại 31 thứ phiền não và 10 triền, tổng cộng là 41 thứ phiền não. Chúng sinh vì kiến hoặc, tư hoặc ở cõi Dục mà tạo tác các nghiệp để rồi bị rơi rớt trong cõi Dục không thể nào thoát ra được, cho nên gọi là Dục lậu. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; kinh Đại bát Niết bàn (bản Bắc) Q.22]. (xt. Thập Triền, Tam Lậu).

Dục lậu 欲漏

[ja] ヨクロ yokuro ||| The defilement or "outflow" of the desire realm. The affliction of deluded attachment to objects of desire (Skt. kāmāsrava; Pali kāmāsava). One of three kinds of outflow 三漏. 〔雜阿含經卷十八; 北本大般涅槃經卷二十二〕 => (s: kāmāsrava; p: kāmāsava). Phiền não hay 'lậu' trong cõi Dục. Phiền não do mê chấp vào đối tượng ái dục. Là một trong Tam lậu 三漏.

dục ma

The evil demon of lust. ; Ma tham dục—The evil demon of lust.

dục nhiễm

4652指諸欲染污真性,或指貪欲等煩惱。金剛般若經(大八‧七七二下):「世尊!我是阿羅漢,離於欲染。」〔大品般若經卷二十七、法華經卷二譬喻品〕 ; The tainting, or contaminating influence of desire. ; Sự nhiễm trược của dục vọng—The tainting, or contaminating influence of desire. ** For more information, please see Ngũ Dục. ; (欲染) Chỉ các dục làm bẩn chân tính, hoặc chỉ cho các phiền não tham dục. Kinh Kim cương bát nhã (Đại 8, 772 hạ) nói: Bạch Thế tôn! Con là A la hán đã lìa các dục nhiễm. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.27; kinh Pháp hoa Q.2 phẩm Thí dụ].

Dục như ý túc

xem Bốn như ý túc.

dục nê

Vũng bùn dục vọng—The mire of desire, or lust.

dục pháp

4652指與欲、受欲、說欲三法。即舉行布薩、說戒、授戒等時,同一結界內之比丘皆應參加,然礙於其他原因而不能參加者,於此法事表示隨喜共贊其事之希望,稱為欲;將此欲意委託其他比丘,稱為與欲;受此委託,稱為受欲;於僧中傳達其意,稱為說欲。〔十誦律卷十五、薩婆多部毘尼摩得勒伽卷六、四分律刪繁補闕行事鈔卷上一〕 ; (欲法) Chỉ cho ba pháp: Dữ dục, thụ dục, thuyết dục. Nghĩa là khi cử hành Bố tát, thuyết giới, thụ giới v.v... các tỉ khưu cùng ở chung trong khu vực kết giới đều phải tham dự, nhưng nếu vì một lí do bất khả kháng nào đó không tham dự được, thì vị ấy phải bày tỏ lòng mong muốn, tùy hỉ và tán đồng pháp sự đó, gọi là Dục. Ủy thác ý muốn ấy cho vị tỉ khưu khác, gọi là Dữ dục. Nhận sự ủy thác ấy, gọi là Thụ dục. Đem truyền đạt ý ấy cho chúng tăng đều biết, gọi là Thuyết dục (nói dục). [X. luận Thập tụng Q.15; Tát bà đa bộ tì ni ma đắc lặc già Q.6; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng đoạn 1].

dục phật

4161又作灌佛。乃為紀念釋尊誕生,佛寺舉行誦經法會之儀式。佛陀降生後,天降香水為之沐浴。根據此一傳說,於每年四月八日舉行法會,用花草作一花亭、亭中置誕生佛像,以香湯、水、甘茶、五色水等物,從頂灌浴,此外還舉行拜佛祭祖、供養僧侶等慶祝活動。此一法會,即稱灌佛會,亦稱佛生會、浴化齋。佛誕節因此又稱浴佛節。在印度及西域則是將誕生佛像置於車內,遊行市區。我國唐、宋時代亦盛行此種法會。傳到日本後,日本亦從承和七年(840)開始,每年四月八日均在皇宮中舉行灌佛,此種浴佛法會,稱為花祭,以後一般寺廟亦廣為流行。又浴佛時所唱之頌文稱為浴佛偈。 此外,依般泥洹後灌臘經載,以佛誕日及七月十五夏滿日舉行灌佛,稱為灌臘。或依譬喻經,而有臘八之浴佛。禪林中,於十二月初八佛成道日亦行灌佛儀式。浴佛所用之香湯,其內應以牛頭栴檀、紫檀、多摩羅香、甘松、芎藭、白檀、鬱金、龍腦、沈香、麝香、丁香等種種妙香互滲而成,其後置於淨器。浴佛儀式中,既以香湯灌灑佛頂,應以淨水繼灌浴之。有關浴佛之由來,在印度一般寺廟每天均舉行浴佛,此乃起因於印度氣候炎熱,需每日淋水,故南海寄歸內法傳卷四、大宋僧史略卷上均謂浴佛原非僅行於佛之誕生日,然至後世漸成一年一度之儀式。〔浴佛功德經、釋氏要覽卷中、敕修百丈清規卷二佛降誕條、禪林象器箋報禱門〕 ; Lễ tắm Phật vào ngày Phật Đản, rằm tháng tư—To wash the image of the Buddha; this is a ceremony on his birthday, 15th of the fourth month. ; (浴佛) Tắm Phật. Cũng gọi Quán Phật . Nghi thức pháp hội tắm Phật được cử hành tại các chùa để kỉ niệm ngày đức Thích tôn đản sinh. Khi đức Phật giáng sinh các vị trời rưới nước thơm xuống để tắm rửa thân thể ngài. Căn cứ theo truyền thuyết này, hằng năm đến ngày Phật đản các chùa cử hành lễ hội tắm Phật; tượng Phật giáng sinh được đặt trong một cỗ long đình có kết hoa, cỏ, rồi dùng nước thơm rưới từ trên đầu tượng để tắm. Nhân dịp này cũng cử hành các lễ chúc mừng khác như: Cúng Phật, cúng tổ, cúng dường chư tăng v.v... pháp hội này được gọi là Hội quán Phật, Hội Phật sinh, Dục hóa trai. Lễ Phật đản do đó cũng gọi là lễ tắm Phật. Tại Ấn độ và Tây vực thì tượng Phật đản sinh được đặt trong một cỗ xe rồi rước đi khắp thành phố. Ở Trung quốc, vào các đời Đường, Tống pháp hội này cũng rất thịnh hành. Sau khi truyền đến Nhật bản, bắt đầu từ năm. Thừa hòa thứ 7 (840), hằng năm vào ngày 8 tháng 4 lễ tắm Phật được cử hành trong Hoàng cung, pháp hội tắm Phật này được gọi là Hoa tế. Về sau, pháp hội này cũng được lưu hành rộng rãi trong các chùa viện. Văn tụng đọc khi tắm Phật gọi là kệ tắm Phật. Ngoài ra, theo kinh Bát nê hoàn hậu quán lạp chép, thì vào ngày Phật đản và ngày rằm tháng 7 mãn hạ cử hành lễ Quán Phật (tắm Phật) gọi là Quán lạp . Lại nữa, theo kinh Thí dụ thì còn có lễ tắm Phật vào ngày mùng 8 tháng chạp (ngày đức Phật thành đạo). Trong Thiền lâm, vào ngày mùng 8 tháng chạp, ngày đức Phật thành đạo, cũng làm lễ tắm Phật. Nước nóng dùng để tắm Phật được pha lẫn với các thứ hương thơm như: ngưu đầu chiên đàn, tử đàn, hương đa ma la, hương cam tùng, khung cùng, bạch đàn, uất kim, long não, trầm hương, xạ hương, đinh hương v.v... sau đó cho vào trong bình sạch, rồi từ từ rưới nước từ trên đỉnh đầu tượng Phật. Về nguồn gốc của lễ tắm Phật, các chùa ở Ấn độ mỗi ngày đều có cử hành, là vì khí hậu ở Ấn độ nóng bức, cần tắm mỗi ngày, cho nên Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 và Đại tống tăng sử lược quyển thượng đều nói rằng, lễ tắm Phật vốn không phải chỉ được cử hành vào ngày Phật giáng sinh, mà đời sau dần dần trở thành nghi thức tắm Phật mỗi năm một lần. [X. kinh Dục Phật công đức; Thích thị yếu lãm Q.trung; Sắc tu bách trượng thanh qui Q.2 Phật giáng đản điều; Thiền lâm tượng khí tiên báo đảo môn].

dục phật kệ

4162浴佛儀式中,以香湯浴佛像時所唱之偈文。浴像功德經中載有浴像之法,浴佛儀式中,像上之水下流時,維那宣疏畢乃高聲舉唱(大一六,七九九中):「我今灌沐諸如來,淨智功德莊嚴聚,五濁眾生令離垢,願證如來淨法身」四句偈頌。〔敕修百丈清規卷二佛降誕條〕(參閱「浴佛」4162) ; (浴佛偈) Bài kệ đọc lúc tắm Phật. Theo kinh Dục tượng công đức, trong nghi thức tắm Phật, khi nước từ trên tượng Phật chảy xuống, vị Duy ma tuyên sớ xong, cao giọng xướng bốn câu kệ như sau (Đại 16, 799 trung): Nay con tắm gội tượng chư Phật Thân tịnh trí công đức trang nghiêm Khiến chúng sinh xa lìa năm trược Mong chứng được pháp thân Như lai. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.2 Phật giáng đản điều]. (xt. Dục Phật).

dục sinh

4652<一>三心(三信)之一。全稱欲生我國。即欲往生彌陀淨土之願心。與至心、信樂共為淨土門之安心。(參閱「三信」578) <二>梵語 kāmotpatti。指六欲天所受用之欲境,雖有三種分別,均為受欲,故稱為欲生。 <三>指於欲界之三種生。阿毘達磨集異門足論載三欲生(大二六‧三八六上):「有諸有情,樂受現前諸妙欲境,彼於現前諸妙欲境富貴自在轉,謂人全、天一分,是第一欲生;(中略)謂樂變化天,是第二欲生;(中略)謂他化自在天,是第三欲生。(中略)欲生者,謂此於欲界生。」 ; (欲生) I. Dục sinh. Muốn sinh. Gọi đủ là Dục sinh ngã quốc (muốn sinh trong đất nước của ta). Dục sinh, Chí tâm (dốc lòng) và Tín nhạo (tin ưa) là ba pháp an tâm của môn Tịnh độ. (xt. Tam Tín). II. Dục sinh. Phạm:Kàmotpatti. Là cảnh dục lạc mà chư thiên của sáu tầng trời cõi Dục thụ hưởng, tuy có ba loại khác nhau, nhưng đều là thụ hưởng dục lạc nên gọi là Dục sinh. III. Dục sinh. Chỉ cho ba loại sinh ở cõi Dục. Luận A tì đạt ma tập dị môn túc nêu ba loại dục sinh (Đại 26, 386 thượng): Có các hữu tình ưa thích hưởng thụ các cảnh dục lạc vi diệu hiện tiền, những hữu tình ấy đối với các cảnh diệu dục hiện tiền như giàu sang, được tự tại, được hoàn toàn ở cõi người, được một phần ở cõi trời, đó là dục sinh bậc nhất; (...) trời Lạc biến hóa là dục sinh bậc nhì (...), trời Tha hóa tự tại là dục sinh bậc ba.

dục sắc

1) Dục và sắc: The passion and the sensuous. 2) Dục Sắc Nhị Giới: Dục giới và Sắc giới trong tam giới: The two realms of desire and form.

dục sắc nhị giới

See Dục Sắc (2).

dục tham

4654梵語 kāma-rāga,巴利語同。又作欲貪隨眠。指欲界之貪煩惱。「有貪」之對稱。即上二界(色界、無色界)之貪煩惱,稱為有貪;對此而言,欲界五部所斷之貪煩惱,即稱為欲貪。欲貪有淫欲貪、境界貪等別。其中,修不淨觀以對治淫欲貪,修四無量中之捨無量以對治境界貪。又俱舍論卷十九解釋欲貪,謂欲界之貪欲係緣色、聲、香、味、觸等五欲之外境而起者,故稱欲貪。〔品類足論卷三、入阿毘達磨論卷上、大毘婆沙論卷八十三〕(參閱「貪」4792) ; Kāmaṭṛṣnā (S), Sensuous craving Dục áiXem Dục kết. ; Desire and coveting, or coveting as the result of passion; craving. ; Craving. 1) Dục vọng và ham muốn: Desire and coveting. 2) Ham muốn là kết quả của dục vọng: Coveting as the result of passion. ; (欲貪) Phạm, Pàli: Kàma-ràga. Cũng gọi Dục tham tùy miên. Chỉ cho phiền não tham ở cõi Dục. Còn phiền não tham ở cõi Sắc và cõi Vô sắc thì gọi là Hữu tham...... Dục tham có Dâm dục tham và Cảnh giới tham khác nhau. Trong đó, tu Bất tịnh quán để đối trị dâm dục tham, tu Xả vô lượng trong bốn vô lượng (tức từ bi hỉ xả) để đối trị cảnh giới tham. Ngoài ra, theo luận Câu xá quyển 19, thì tham dục ở cõi Dục duyên theo năm cảnh bên ngoài: Sắc, thanh, hương, vị, xúc mà sinh khởi, nên gọi là Dục tham. [X. luận Phẩm loại túc Q.3; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.83]. (xt. Tham).

dục thiên

4651指欲界諸天。計有六重,又稱六欲天。即指四王天、忉利天、夜摩天、兜率天、樂變化天、他化自在天。〔俱舍論卷八〕 ; The six heavens of desire or passion, the kàmadhàtu. ; Kamadhatu (skt)—Lục Dục Thiên của cõi Dục Giới—The six heavens of desire or passion. ** For more information, please see Dục Giới (C). ; (欲天) Chỉ cho các trời cõi Dục. Cũng gọi Lục dục thiên, gồm có sáu tầng: Trời Tứ thiên vương, trời Đao lợi, trời Dạ ma, trời Đâu suất, trời Lạc biến hóa và trời Tha hóa tự tại. [X. luận Câu xá Q.8]

dục thiên ngũ dâm

4652欲界諸天之淫事有五種:(一)四王天與忉利天,前者居須彌山腹,後者居須彌山頂,故為地居,其淫事與人間無異。(二)夜摩天於欲境知時分,故以相抱成淫。(三)兜率天於諸欲境知止足,故以執手成淫。(四)樂變化天欲心微薄,故以相笑成淫。(五)他化自在天欲念漸盡,故以相視成淫。〔長阿含經卷二十、俱舍論卷十一〕 ; The five methods of sexual intercourse in the heaven of desire; in theheaven of the Four Great Kings and in Trayastrimsàs, the method is thesame as on earth; in the Yama-devaloka a mere embrace is sufficient; inthe Tusita heaven, holding hands; in the Nirmànarati heaven, mutualsmiles; in the other heavens of Tranformation, regarding each other. ; Năm loại giao cấu trong cõi trời dục giới—The five methods of sexual intercourse in the heavens of desire. 1) Chúng sanh trong cõi Tứ Thiên Vương và Đao Lợi Thiên thì việc dâm dục không khác gì ở thế giới nhân gian: The methods (of sexual intercourse) of beings in the heavens of the Four Great Kings and Trayastrimsas the method is the same as on earth. 2) Chúng sanh trong cõi trời Dạ Ma chỉ cần ôm nhau là đủ: The methods (of sexual intercourse) of beings in the Yamadevaloka a mere embrace is sufficient. 3) Chúng sanh trong cõi trời Đâu Suất chỉ cần nắm tay nhau: The methods (of sexual intercourse) of beings in the Tusita heaven, holding hands. 4) Chúng sanh trong cõi trời Hóa Lạc chỉ cần cười với nhau: The methods (of sexual intercourse) of beings in the nirmanarati heaven, mutual smiles. 5) Chúng sanh trong cõi trời Tha Hóa chỉ cần nhìn nhau: The methods (of sexual intercourse) of beings in the other heavens of transformation, regarding each other. ; (欲天五淫) Năm cách hành dâm của các trời cõi Dục:1. Trời Tứ thiên vương và trời Đao lợi: Trời Tứ thiên vương ở lưng chừng núi Tu di, trời Đao lợi ở trên chóp núi Tu di, đều ở gần với mặt đất, sự hành dâm của hai cõi trời này cũng giống như loài người. 2. Trời Dạ ma: Đối với cảnh dục biết rõ thời giờ, nên chỉ cần ôm nhau là thành. 3. Trời Đâu suất: Đối với các cảnh dục biết dừng đủ, cho nên chỉ cần nắm tay nhau là thành. 4. Trời Lạc biến hóa lòng dục rất nhẹ, nên chỉ cười với nhau là đủ. 5. Trời Tha hóa tự tại, dục niệm hết dần, nên chỉ nhìn nhau là thỏa mãn. [X. kinh Trường a hàm Q.20; luận Câu xá Q.11].

dục thuyền

4163亡者之遺骸於入棺前,需先以溫水沐浴之,其時所用以盛水之容器,稱為浴船,其形狀與浴槽相類。敕修百丈清規卷六亡僧條(大四八‧一一四七下):「如病僧瞑目,延壽堂主即報維那,令堂司行者報燒湯,覆首座、知客、侍者、庫司,差人檯龕浴船,安排浴亡。」 ; (浴船) Cái bồn để tắm. Trước khi đưa vào quan tài, thi hài người chết được tắm rửa bằng nước ấm, cái đồ đựng nước tắm lúc ấy gọi là Dục thuyền, giống như cái bồn để tắm. Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 6 Vong tăng điều (Đại 48, 1147 hạ), nói: Nếu vị bệnh tăng nhắm mắt thì vị chủ Diên thọ đường báo tin ngay cho vị Duy ma biết để vị này bảo Đường tư hành giả đun nước, đồng thời, báo tin cho các vị Thủ tọa, Tri khách, Thị giả, Khố tư và sai người đưa dục thuyền đến để tắm cho người quá cố.

dục thành

To bring forth—To create.

dục thánh

4163禪家洗浴聖僧像之法。安置僧堂中央之像,總稱聖僧。然大小乘寺院所置之聖僧像互異,大乘之寺安置文殊,小乘則安置憍陳如或賓頭盧或大迦葉或須菩提等。〔敕修百丈清規卷四知浴條、禪林象器箋報禱門〕 ; (浴聖) Phép tắm rửa tượng Thánh tăng trong Thiền gia. Các tượng được tôn trí ở chính giữa nhà Tăng, gọi chung là Thánh tăng. Nhưng tượng Thánh tăng thờ trong các chùa viện của Đại thừa và Tiểu thừa có khác nhau. Các chùa Đại thừa thờ tượng bồ tát Văn thù, còn các chùa Tiểu thừa thì thờ tượng ngài Kiều trần như hoặc Tân đầu lư hoặc Đại ca diếp hoặc Tu bồ đề .v...[X. Sắc tubách trượng thanh qui Q.4 Tri dục điều; Thiền lâm tượng khí tiên báo đảo môn].

dục thích

The sharp point of desire. ; Những mũi kim nhọn của lòng tham dục—The sharp point of desire.

dục thất

4163巴利語 nahāna-koṭṭhaka。大眾行洗浴之所。又作浴堂、溫室(巴 jantāghara)、湯屋。五分律卷二十六載僧房設浴室之由來,謂諸比丘食多美食,然增諸病,耆域(耆婆)憂之,乃勸佛設浴室,除大眾之病;浴時必著浴衣,若裸形而浴,互相揩磨,則得突吉羅罪。浴時用蒲桃皮、摩樓皮、澡豆等去垢。禪林中,置有知浴(浴主)、浴頭等職。又於浴室置跋陀婆羅(賢護)菩薩之像,此尊於浴室依水之因緣而證圓通。增一阿含經卷二十八謂浴室有除風、病得差、除去塵垢、身體輕便、得肥白等五種功德。此外,四分律卷十六、摩訶僧祇律卷三十四亦載有多種溫室洗浴之功德。於叢林中,浴室乃七堂伽堂之一,興僧堂、西淨並稱為三默堂。〔釋氏要覽卷中、禪林象器箋殿堂門〕 ; Nhà tắm trong tự viện—A bath-house in a monastery. ; (浴室) Nhà tắm. Pàli: Nahàna-koỉỉhaka. Là nơi đại chúng tắm rửa. Cũng gọi Dục đường, Ôn thất (Pàli: Jantàghara), Thang ốc. Luật Ngũ phần quyển 26 nói về lí do làm nhà tắm là: các vị tỉ khưu ăn uống đầy đủ, nhưng vẫn bị nhiều bệnh, y sĩ Kì vực (Kì bà) lấy làm lo, bèn bạch đức Phật cho xây nhà tắm để trừ bệnh cho đại chúng. Lúc tắm dùng vỏ bồ đào, vỏ ma lâu, bột đậu v.v... để kì cọ cho sạch. Trong Thiền lâm có đặt các chức Tri dục (Dục chủ), Dục đầu v.v... Ở nhà tắm thì đặt tượng bồ tát Bạt đà bà la (Hiền hộ), vị Bồ tát này nhờ nhân duyên tắm gội trong Dục thất mà chứng viên thông. Theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 28, thì tắm gội trong nhà tắm có năm điều lợi ích: Trừ phong, khỏi bệnh, sạch bụi bặm cáu bẩn, thân thể nhẹ nhàng, trắng trẻo béo tốt. Ngoài ra, luật Tứ phần quyển 16 và luật Ma ha tăng kì quyển 34 cũng có nói đến các điềulợi ích của việc tắm rửa trong nhà tắm. Trong Tùng lâm, nhà tắm được kể là một trong bảy nhà già lam (nhà của toàn chùa). Nhà tăng, nhà tắm và nhà tẩy tịnh (nhà vệ sinh) gọi là Tam mặc đường (ba nhà khi vào phải giữ im lặng). [X. Thích thị yếu lãm Q.trung; Thiền lâm tượng khí tiên Điện đường môn].

dục thất hiền hộ bồ tát tượng

4163又稱浴室本尊像。賢護菩薩,梵名 Bhadra pāla,音譯作跋陀婆羅。此菩薩於浴室依水之因緣而證得圓通;據此因緣,後世寺院多於浴室安置此菩薩之像。(參閱「賢護菩薩」6183) ; (浴室賢護菩薩像) Tượng bồ tát Hiền hộ ở nhà tắm. Cũng gọi Dục thất bản tôn tượng. Bồ tát Hiền hộ, Phạm: Bhadra pàla, âm Hán: Bạt đà bà la. Vị Bồ tát này nhờ nhân duyên đang tắm trong nhà tắm mà chứng được viên thông. Theo nhân duyên này mà các chùa viện ở đời sau thường đặt tượng của ngài ở nhà tắm. (xt. Hiền Hộ Bồ Tát).

dục thất tịnh can

4163置於浴室內部脫衣處之竹竿,所脫除之衣物,如法衣等淨衣,則掛於淨竿上,其餘髒垢之衣則掛於觸竿。禪林象器箋器物門:「教戒律儀入溫室法云:『入浴室內,脫淨衣安淨竿上,脫觸衣安觸竿上。』」 ; (浴室淨竿) Cây sào sạch ở nơi nhà tắm. Tức là cây sào (tre) gác ở phía trong nhà tắm để mắc quần áo sạch. Thiền lâm tượng khí tiên khí vật môn chép: Giáo giới luật nghi nhập ôn thất pháp nói: Vào trong nhà tắm, áo sạch thì mắc lên cái sào sạch, áo dơ thì mắc lên cái sào dùng cho đồ dơ.

Dục thủ

欲取; C: yùqŭ; J: yokushu;|Dính mắc vào ái dục, đặc biệt là 5 trần cảnh (s: kāmopādāna). Một trong Tứ thủ (四取).

Dục thủ 欲取

[ja] ヨクシュ yokushu ||| To cling to one's desires, esp. the object of the five sense data fields (kāmopādāna). One of the four types of clinging 四取. 〔成實論 T 1646.32.320b15 => Dính mắc vào ái dục, đặc biệt là 5 trần cảnh (s: kāmopādāna). Một trong Tứ thủ四取.

dục tiển

1) Những mũi tên của lòng tham dục—The arrows of desire, or lust. 2) Dục Kim Cang: Những mũi tên Kim Cang của Bồ Tát, dùng để câu móc và lôi kéo chúng sanh về với Phật—The darts of the Bodhisattva, who hooks and draws all beings to Buddha.

dục tiễn

4655因五欲之法能害人,故喻為箭,稱為欲箭。或指欲金剛菩薩所持之箭。或以欲心與境相應,如箭之射中目標,故亦稱欲箭。〔八十華嚴經淨行品、慧琳音義卷十〕(參閱「欲金剛」4652) ; The arrows of desire, or lust. Also the darts of the Bodhisattva Dục Kim Cương, who hooks and draws all beings to Buddha. ; (欲箭) Mũi tên dục. Vì năm dục lạc hay làm hại người, nên ví dụ như mũi tên mà gọi là Dục tiễn. Hoặc chỉ cho mũi tên màbồ tát Dục kim cương cầm nơi tay. Hoặc vì lòng dục tương ứng với cảnh giống như mũi tên bắn trúng mục tiêu nên cũng gọi là Dục tiễn.[X. phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm (60 quyển); Tuệ lâm âm nghĩa Q.10]. (xt. Dục Kim Cương).

dục tri

Wanting to know.

dục trì

4161為浴身所設之池塘。於印度,除浴室之外,有承受雨水作池,或盛清流洗浴。印度為熱帶,故隨處設之,以供澡浴之用。〔釋氏要覽卷中〕 ; (浴池) Ao tắm: Hồ ao được dành riêng cho việc tắm gội thân thể. Tại Ấn độ, ngoài nhà tắm ra, còn đào ao hồ chứa nước mưa để tắm rửa. Ấn độ là xứ nhiệt đới, cho nên chỗ nào cũng đào ao hồ để tắm rửa. [X. Thích thị yếu lãm Q.trung]

dục trần

The dust, or dirt, or infection of the passion. ; Năm dục làm bẩn thân tâm như bụi trần—The dust or dirt, or the infection of the passions. (A) Lục Dục: The six desires—See Lục Dục. (B) Ngũ Trần: Five gunas (dusts)—See Ngũ Trần.

dục tà hạnh

Tà dâm hay tà hạnh là giới cấm trong ngũ giới—Adultrous conduct, which is prohibited in the five basic commandments.

dục tâm

A desirous, covetous, passionate, or lustful heart. ; Tâm tham dục—A desirous, covetous, passionate, or lustful heart.

dục tình

Passion.

dục tính

Desire-nature, the lusts. ; The lust—Desire-nature.

dục tưởng

Kāma-saṃjā (S).

dục tượng

See Dục Phật.

dục tốc bất đạt

The more you hurry, the less progress you will make.

dục vong

4161即湯灌。屍體入棺之前,以溫水沐浴,使之清淨,稱為浴亡。叢林中,每有病僧入寂,多行此儀式。敕修百丈清規卷六亡僧條(大四八‧一一四七下):「如病僧瞑目,延壽堂主即報維那,令堂司行者報燒湯,覆首座、知客、侍者、庫司,差人檯龕浴船,安排浴亡。」〔禪林象器箋喪薦門〕 ; (浴亡) Tắm vong. Trước khi đưa vào quan tài, thi thể người chết được tắm rửa bằng nước nóng để được sạch sẽ, gọi là Dục vong. Nghi thức này thường được thực hành trong thiền lâm mỗi khi có vị tăng lâm bệnh nhập tịch. (xt. Dục Thuyền).

dục vọng

Desire. ; (I) Nghĩa của “Dục Vọng”—The meanings of “Dục Vọng” Ham muốn—Passion—Desire—Lust—Kềm chế dục vọng: To command one's passions—To bridle on one's passions. (II) Những lời Phật dạy về “Dục Vọng” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Passion” in the Dharmapada Sutra: 1) Những người chỉ muốn sống trong khoái lạc, không chịu nhiếp hộ các căn, ăn uống vô độ, biếng nhác chẳng tinh cần, họ là người dễ bị ma nhiếp phục như cành mềm trước cơn gió—Those who only want to live with pleasant things, with senses unrestrained, in food immoderate, indolent, inactive, are quickly overthrown by the mara as a weak tree breaks before a big wind (Dharmapada 7). 2) Những người nguyện ở trong cảnh chẳng khoái lạc, khôn khéo nhiếp hộ các căn, uống ăn tiết độ, vững tin và siêng năng, ma không dễ gì thắng họ, như gió thổi núi đá—Those who contemplate “impurities,” with senses restrained, moderate in food, faithful and active, mara cannot overthrow him as it's impossible for the wind to overthrow a rocky mountain (Dharmapada 8).

dục vọng căn bản

Base passion.

dục y

4161巴利語 udakasāṭikā。又作浴裙、內衣、明衣、雨浴衣。入浴時所著之衣服。浴具七物之一。依五分律卷二十六、十誦律卷十八、摩訶僧祇律卷四十等,比丘、比丘尼不得裸形而浴,必著浴衣,若不著之,則得突吉羅罪,稱為浴衣法。南海寄歸內法傳卷三載,澡浴時用浴裙,以氈布為之,長五肘,闊肘半,繞身而浴。或於洗浴之際,以腳布纏肚腰,浴裙則於入浴之前後著之。又「雨浴衣」一詞係緣自印度人於急雨時,出露地洗浴所著之衣,佛制浴衣法後亦沿用之。〔五分律卷五、敕修百丈清規卷六日用軌範條、禪林象器箋服章門〕 ; (浴衣) Pàli: Udakasàỉikà. Cũng gọi Dục quần, Nội y, Minh y, Vũ dục y. Là y phục mặc lúc tắm. Một trong bảy vật dụng tắm. Theo luật Ngũ phần quyển 26, luật Thập tụng quyển 18 và luật Ma ha tăng kì quyển 40, thì tỉ khưu, tỉ khưu ni, khi tắm không được để mình trần mà phải mặc áo tắm, nếu không sẽ phạm tội Đột cát la gọi là Dục y pháp. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 nói, khi tắm phải dùng mảnh vải dày (dục quần) dài 5 khuỷu tay, rộng năm khuỷu, quấn quanh mình để tắm. Còn danh từ Vũ dục y (áo tắm mưa) là theo y phục của người Ấn độ mặc để tắm mưa. Sau khi đức Phật chế pháp dục y thì từ ngữ này vẫn được lưu dụng. [X. luật Ngũ phần Q.5; Sắc tu bách trượng thanh qui Q.6 Nhật dụng quĩ phạm điều; Thiền lâm tượng khí tiên hục chương môn].

dục ái

4654指欲界之煩惱。即對五欲之妄執。菩薩喜樂正法,稱為法愛;對之,凡夫貪愛五欲,稱為欲愛。〔長阿含經卷十、楞嚴經卷一、集異門足論卷四〕(參閱「愛」5457) ; Xem Dục tham. ; Passion-love; love inspired by desire, through any of the five senses;love in the passion-realm as contrasted to pháp ái the love inspired bythe dharma. ; Phàm phu tham ái với cảnh ngũ dục hay ái dục thường tình khởi phát từ dục vọng, ngược lại với Pháp ái—To hanker after—Desire—Ordinary human love springing from desire, in contrast with religious love (Pháp ái)—Passion-love—Love inspired by desire through any of the five senses—Love in the passion realm. ** For more information, please see Pháp Ái. ; (欲愛) Chỉ cho phiền não trong cõi Dục. Tức là vọng chấp đối với năm dục. Bồ tát ưa thích chính pháp gọi là Pháp ái; trái lại, phàm phu tham đắm năm dục (của cải, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ) gọi là Dục ái.[X. kinh Trường a hàm Q.10; kinh Lăng nghiêm Q.1; luận Tập dị môn túc Q.4]. (xt. Ái).

dục ái trụ địa

Một trong năm trụ địa (trong các tư hoặc, ái là quan trọng nhất)—One of the five fundamental conditions of the passions. ** For more information, please see Ngũ Trụ Địa.

dục đa bà đề

Yukta-bodhi (skt)—Những bước đạt đến trí huệ trong Thiền Yoga—Steps in Yoga wisdom.

dục đầu

4164又稱浴頭行者。叢林中,隸屬知浴(浴主)之下,而供其差遣喚使,處理浴室事務之職役名稱。〔敕修百丈清規卷四知浴條、禪林象器箋職位門〕 ; Vị sư phụ trách nhà tắm trong tự viện—Bath-controller in a monastery. ; (浴頭) Cũng gọi Dục đầu hành giả, một chức vụ dưới quyền vị Tri dục (Dục chủ), chuyên trách xử lí các việc trong nhà tắm của Tùng lâm. [X. Sắc tu bách trượng thanh qui Q.4 Tri dục điều; Thiền lâm tượng khí tiên Chức vị môn].

dục để

Yukti (skt). 1) Ách: Yoking. 2) Phối hợp: Joining—Combination—Plan.

dục đức

To nourish one's virtue

Dục 欲

[ja] ヨク yoku ||| (1) To desire, to long for, to wish. (2) Desire, lust, passion. Covetous. [Buddhism] (1) Generally means "craving, desire, grasping, deluded attachment;" (tṛṣṇā, raga). (2) In the Abhidharmakośa-bhāsya, one the mental functions: to hope desire, long for; the desire for those objects one takes pleasure in. (chanda, āśaya). (3) According to the doctrine of the Yogācāra school, the function of the mind that hopes to receive the objects that it likes. One of the five "object-dependent" mental state dharmas. (4) The desire realm (5) The sexual lust between man and woman. => 1. Mong muốn, ao ước, mong mỏi. 2. Lòng tham muốn, sự thèm khát, sự đam mê. Thèm muốn. [Phật học] 1. Thường có nghĩa là 'khát ái, ái dục, tham dục, ái trước' (s: tṛṣṇā, raga). 2. Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, đó là một tâm sở pháp: mong cầu ái dục, khát ái, mong muốn những đối tượng thoả mãn ái dục (s: chanda, āśaya). . 3. Theo giáo lý Du-già hành tông, đó là tâm sở pháp mong mỏi đón nhận những cảm thọ mà nó thích. Thuộc nhóm Biệt cảnh, là một trong 5 nhóm thuộc Tâm bất tương ưng hành pháp. 4. Cõi Dục. 5. Tham muốn tình dục giữa nam và nữ.

dụm

Dành dụm—To economize—To save.

dụng

2072指作用、功用或目的、理由等。其義頗多歧異,玆歸納為二:(一)梵語 prayojana之意譯。意謂目的、教示之理由。與所詮(梵 abhidheya)、相屬(梵 sambandha)共稱三事,係顯示論書之大綱。以三事顯示論書之綱要者,係始自六、七世紀頃,為印度諸注釋家所採用,以迄於今。其中,用,指論之目的,或著作論書之目標;所詮,指該論書之主題;相屬,則表示著述該論書之意義。例如月稱之中論註,歸敬偈中「八不」之緣起為所詮,戲論寂靜吉祥涅槃為用,龍樹之慈悲濟度一切眾生而著中論為相屬。 除以上三事外,再加上用之用(梵 prayojanasya prayojana),而為四事之例亦頗多。但以四事彰顯經論大綱之用例,成型於較晚期之時代,其注釋方式已儼然具有業經嚴格整理之完備風格。於此,用之用,係顯示論書真正之目的,頗多言及論書之宗教性目標。此外,一般有關之術語、思想等,論及用者亦不少,例如有關空性,則共舉其用、相(梵 lakṣaṇa)與義(梵 artha)。如於清辨之般若燈論中,空性之用即戲論寂滅之意,空性之相為知曉真如之智,空性之義則指真實之相。 (二)作用、功能之意。相對於「體」而言。為隋唐時代華嚴宗、天台宗所完成,富有組織性之佛教哲學體系之論理範疇。三論玄義(大四五‧七中):「非真非俗,名為體正;真之與俗,目為用正。」同書並載,般若與方便實無前後,而作前後之說者,係以般若為體,以方便為用之故。大智度論亦謂,譬如以金為體,金上之精巧為用。又如六祖慧能所言定、慧係一體,兩者非二,定為慧之體,慧為定之用。此類用例之多,不勝枚舉。總括而言,以體用相對並舉時,「體」多指勝義的、本質的、絕對的,即指靜的世界、絕對的世界;對此,「用」則表示世俗的、相對的,即活動的世界、相對的世界。然體與用之關係,在根本上為「即體即用」,此種即一性、相即性乃佛教哲學所特別強調者。又「體」係指一切有為法各各之自體,「用」則指每一自體所具有之作用;因此有為法之生、住、滅三相,亦各有其自體之體與作用之用。此用例,於中觀論疏、十二門論疏等,論及有為三相,多有詳載。又大乘起信論中更於體、用外,另加「相」而成「三大」。〔大毘婆沙論卷三十九、俱舍論卷五〕 ; Prayojana (S)Một trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn. ; To use—To employ—To function. ; (用) Là tác dụng, công dụng, hoặc là mục đích, lí do v.v... Dụng có rất nhiều nghĩa, nhưng có thể thu gọn vào hai nghĩa sau: 1. Dụng. Phạm: Prayojana. Là mục đích lí do các sự chỉ dạy. Cùng với Sở thuyên (Phạm: Abhidheya), Tương thuộc (Phạm: sambandha) gọi chung là Tam sự (ba việc), là hiển bày đại cương của Luận thư. Các nhà chú giải Ấn độ, bắt đầu từ khoảng thế kỉ VI, VII, đã dùng Tam sự để biểu thị cương yếu của Luận thư. Trong đó, Dụng, chỉ cho mục đích hoặc mục tiêu trứ tác Luận thư; Sở thuyên, chỉ chủ đề của Luận thư; Tương thuộc thì biểu thị ý nghĩa của việc soạn thuật Luận thư. Chẳng hạn như bộ Trung luận chú của ngài Nguyệt xứng, thì duyên khởi Bát bất trong kệ qui kính là Sở thuyên, hí luận tịch tĩnh cát tường Niết bàn là Dụng, vì lòng từ bi cứu độ tất cả chúng sinh mà ngài Long thụ trứ tác Trung luận là Tương thuộc. Ngoài tam sự (Dụng, Sở thuyên, Tương thuộc) kể ở trên, còn có nhiều trường hợp thêm Dụng chi dụng (Phạm: Prayojansva prayojana, dụng của dụng) nữa mà thành Tứ sự (bốn việc). Nhưng trường hợp dùng Tứ sự để hiểu rõ đại cương của kinh luận thì ở vào thời kì tương đối muộn hơn, vì lúc ấy, phương thức chú thích đã nghiễm nhiên có đủ phong cách chỉnh lí hoàn bị và nghiêm túc. Dụng chi dụng là biểu thị mục dích chân chính của Luận thư, phần nhiều nói đến mục tiêu có tính chất tôn giáo của nó. Ngoài ra, cũng có không ít trường hợp bàn về Dụng của các thuật ngữ và tư tưởng v.v... Chẳng hạn như về tính Không thì cùng nêu Dụng, Tướng (Phạm: Lakwaịa) và Nghĩa (Phạm: Artha) của nó. Như trong luận Bát nhã đăng của ngài Thanh biện thì Dụng của tính không là hí luận tịch diệt, Tướng của tính không là trí biết rõ chân như, còn nghĩa cũa tính không thì chỉ cho tướng chân thực. 2. Dụng. Là tác dụng, công năng. Đối lại với Thể. Là phạm trù lí luận của hệ thống triết học Phật giáo có tính chất tổ chức do các tông Hoa nghiêm, Thiên thai hoàn thành vào thời đại Tùy, Đường. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 7 trung), nói: Chẳng chân chẳng tục gọi là Thể chính; chân đi với tục, gọi là Dụng chính. Cũng sách đã dẫn lại nói: Bát nhã và Phương tiện thực không có trước sau, nay nói có trước sau là vì lấy Bát nhã làm thể, lấy Phương tiện làm dụng. uận Đại trí độ cũng nói: như lấy vàng làm thể, làm thành các đồ trang sức đẹp đẽ là dụng. Cũng như ngài Lục tổ Tuệ năng nói định và tuệ là cùng một thể tính, chẳng phải hai: Định là thể của tuệ, tuệ là dụng của định. Tóm lại, thể phần nhiều chỉ cho thắng nghĩa, bản chất, tuyệt đối, tức là chỉ cho thế giới tĩnh chỉ, thế giới tuyệt đối; còn dụng thì biểu thị thế tục, tương đối, tức là thế giới hoạt động, thế giới tương đối. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa thể và dụng, trên căn bản, là tức thể tức dụng, nghĩa là đứng về phương diện tuyệt đối mà nói thì thể tức là dụng, dụng tức là thể, tính chất tức nhất, tương tức này đặc biệt được nhấn mạnh trong triết học Phật giáo.Thêm nữa, thể là chỉ cho tự thể của tất cả pháp hữu vi đều có, còn dụng thì chỉ cái tác dụng mà mỗi một tự thể có đầy đủ. Do đó, ba tướng sinh, trụ, diệt của pháp hữu vi cũng đều có thể của tự thể và dụng của tác dụng của nó. Trung quán luận sớ, Thập nhị môn luận sớ v.v... bàn về ba tướng hữu vi rất rõ. Còn luận Đại thừa khởi tín thì ngoài Thể, Dụng ra, lại thêm Tướng nữa mà thành là Tam đại (Thể đại, Dụng đại, Tướng đại). [X. luận Đại tì bà sa Q.39; luận Câu xá Q.5].

dụng công

1) To cultivate (practice) steadily. 2) To work steadily.

dụng công tu hành

To practice or cultivate steadily.

dụng diệt

2074為「體滅」之對稱。即指作用之謝滅。俱舍論「三世實有」教義中,主張諸法滅時,其體非滅,體為常住恆有,所滅者僅其作用而已。(參閱「體滅」6931) ; Tác dụng của các pháp diệt (nhưng thể của chúng chẳng diệt, thể luôn thường trụ hằng hữu)—Function or activity ceasing; however, matter or the body does not cease to exist, but only its varying functions or activities cease. ; (用滅) Đối lại với Thể diệt. Chấm dứt tác dụng. Giáo nghĩa Tam thế thực hữu (ba đời thực có) của luận Câu xá cho rằng khi các pháp diệt, thể của chúng không diệt, vì thể là hằng hữu thường còn, chỉ có tác dụng diệt mất mà thôi. (xt. Thể Diệt).

dụng huân tập

2074為「自體相薰習」之對稱。指由諸佛菩薩之外緣薰力而增長眾生之善根。大乘起信論所說之無明、妄心、妄境界、淨法等四種薰習中,淨法薰習分為真如薰習與妄心薰習二種;其中,真如薰習又分為自體相薰習與用薰習二種。(參閱「四薰習」1848) ; (用熏習) Đối lại với Tự thể tướng huân tập. Nhờ sức huân tập (xông ướp) ngoại duyên của chư Phật, Bồ tát mà thiện căn của chúng sinh được tăng trưởng. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín nói, thì trong bốn thứ huân tập: Vô minh, vọng tâm, vọng cảnh giới và tịnh pháp, thì tịnh pháp huân tập được chia làm hai loại: Chân như huân tập và Vọng tâm huân tập. Trong đó, Chân như huân tập lại được chia làm Tự thể tướng huân tập và Dụng huân tập. (xt. Tứ Huân Tập)

dụng khâm

2073南宋僧。初依靈芝寺元照研習律典,操持恭謹,為眾推許。一日,聞元照之示眾語「生弘毘尼,死歸安養」,遂依此而嚮往淨土,一心不退。其後開法於錢塘七寶院,日課念佛三萬。一日,神遊淨土,見佛菩薩之種種異相,而告侍者,明日當西行。即集眾念佛,次日黎明,合掌西向,結跏趺坐而示寂。年壽不詳。著有阿彌陀經疏超玄記一卷、觀經疏白蓮記四卷。日本淨土真宗開祖親鸞之名著「教行信證」嘗引用其文。〔佛祖統紀卷二十八〕 ; (用欽) Vị tăng đời Nam Tống. Lúc đầu theo ngài Nguyên chiếu học Luật ở chùa Linh chi, giữ gìn kính cẩn, được mọi người quí mến. Một hôm, sư nghe lời ngài Nguyên chiếu dạy chúng tăng: Sống truyền bá Tì ni, chết sinh về an dưỡng, sư liền theo lời dạy ấy mà nguyện vãng sinh Tịnh độ, một lòng kiên định, không lui sụt. Về sau, sư mở đạo tràng, ở viện Thất bảo tại Tiền đường, mỗi ngày niệm Phật ba vạn câu. Một hôm, thần thức của sư đến Tịnh độ, thấy các tướng lạ của Phật và Bồ tát, mới bảo thị giả, ngày mai ta sẽ về Tây phương. Rồi sư cho họp chúng niệm Phật, sáng hôm sau sư ngồi xếp bằng chắp tay hướng về tây mà tịch, không rõ tuổi thọ. Sư để lại các tác phẩm: A di đà kinh sớ siêu huyền kí 1 quyển, Quán kinh sớ bạch liên kí 4 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.28].

dụng lực

To use force.

Dụng Minh Thiên Hoàng

(用明天皇, Yōmei Tennō, tại vị 585-587): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thế kỷ thứ 6, con thứ 4 của Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō), cha của Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi, 574-622), Hoàng Hậu là Huyệt Tuệ Bộ Gian Nhân (穴穗部間人, Anohobe Hashihito), ông tên là Quất Phong Nhật (橘豐日, Tachibana Notoyohi), nơi vua ở là Trì Biên Song Quy Cung (池邊雙槻宮, Ikenobenona Mitsukinomiya) ở vùng Bàn Dư (盤余, Iware) thuộc nước Đại Hòa (大和, Yamato). Trong khoảng thời gian đang tại vị thì ông đối lập dữ dội với nhóm Tô Ngã Mã Tử (蘇我馬子, Soga-no-Umako) và Vật Bộ Thủ Ốc (物部守屋, Mononobe-no-Moriya).

dụng quyền

To use one's authority.

Dụng thanh 用聲

[ja] ヨウショウ yōshō ||| To spread a report, cry out. => Đưa ra một bản tin; thét, la lên.

dụng thức

2074<一>為九種顯識之一。又作正受識。以「三界唯識」為主旨之顯識論(真諦譯)中特立九識之說,謂三界有二種識,一為顯識,一為分別識。顯識為本識,即阿賴耶識,依其轉作五塵四大等之作用,而分為九種,「用識」即其中第三項,係指轉作眼、耳、鼻、舌、身、意等六識之識。〔成唯識論述記卷一本、大乘法苑義林章卷一末〕(參閱「九識義」160) <二>與「轉識」同義。謂轉變業識之根本無明而成能見之識。最常見之用例有「轉識得智」、「轉識成智」等。中邊分別論卷上(大三一‧四五一下):「第一名緣識,第二是用識,於塵受分別,引行謂心法。」(參閱「轉識得智」6626) ; (用識) I. Dụng thức: Một trong chín loại Hiển thức. Cũng gọi Chính thụ thức. Luận Hiển thức (do ngài Chân đế dịch) lấy Tam giới duy thức làm nòng cốt mà lập ra thuyết chín thức, cho rằng trong ba cõi có hai loại thức: Hiển thức và Phân biệt thức. Hiển thức là thức gốc, tức là thức A lại da, dựa vào tác dụng của nó chuyển làm năm trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc) bốn đại (đất, nước, lửa, gió) mà chia làm chín loại, trong đó, Dụng thức là loại thứ ba, tức loại thức chuyển làm sáu thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý v.v... [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối]. (xt. Cửu Thức Nghĩa). II. Dụng thức: Cùng nghĩa với chuyển thức. Nghĩa là chuyển biến nghiệp thức căn bản vô minh thành thức năng kiến, như Chuyển thức đắc trí, Chuyển thức thành trí v.v... Luận Trung biên phân biệt quyển thượng (Đại 31, 451 hạ), nói: Thứ nhất gọi Duyên thức, thứ hai là Dụng thức, đối với các cảnh trần, khởi tác dụng nhận lãnh, phân biệt, lựa chọn mà thành các tâm pháp: thụ, tưởng, hành. (xt. Chuyển Thức Đắc Trí).

dụng tâm

Intentional—deliberate.

dụng tăng

2074有二義:(一)禪林中,舉行葬儀法事時臨時雇入以供傳喚之僧侶。(二)指法會中,負責各種實際雜務之僧人,通常多以重要職事以外之諸僧任之。 ; (用僧) Có hai nghĩa: 1. Trong Thiền lâm, khi cử hành pháp sự nghi thức tống táng, thỉnh các tăng lữ để hô truyền gọi là Dụng tăng. 2. Trong pháp hội, Dụng tăng chỉ cho vị tăng phụ trách các việc lặt vặt, thông thường phần nhiều do các vị tăng không giữ các chức vụ trọng yếu đảm nhận.

dụng võ

See Dụng Lực.

dụng ý

Intentionally—Purposely—Deliberately.

dụng đại

2072為體、相、用三大之一。大,即周遍法界、廣大無限等義。據大乘起信論載,用大,係指真如之作用,即能生一切世間、出世間善因善果之廣大作用。亦即眾生心之體性,具足一切功德,內潛於源底而薰染妄心,外現報、化二身以教化眾生。依此內外二用,使人初修世間之善而得世間之善果,後修出世間之善因而生出世之妙果。大乘起信論(大三二‧五七五下):「三者用大,能生一切世間、出世間善因果故。」另據慧遠之大乘起信論義疏卷上之上載,用大之「用」,有染用、淨用二義;世間係染用之義,出世間係淨用之義。 此外,密宗就宇宙法界之本體、相狀、作用之廣大無限,亦立三大之說。其中,用大,係指身、語、意等三密之作用於深祕中彼此相應。〔釋摩訶衍論卷一、大乘起信論義記卷上、華嚴經探玄記卷一〕(參閱「三大」525) ; Thể của chân như có đại tác dụng sinh ra nhân quả thiện ác của tất cả các pháp—Great in function or the universal activity of the bhutatathata. ; (用大) Một trong ba đại: Thể, Tướng, Dụng. Đại nghĩa là cùng khắp pháp giới, rộng lón vô biên. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín, thì Dụng đại là chỉ cho tác dụng của chân như, tức là tác dụng to lớn có khả năng sinh ra thiện nhân thiện quả của tất cả thế gian và xuất thế gian. Cũng chính là thể tính của tâm chúng sinh có đầy đủ tất cả công đức, tự đáy nguồn bên trong ngấm ngầm huân tập tâm vọng nhiễm, bên ngoài hiện báo thân, hóa thân để giáo hóa chúng sinh. Nhờ hai dụng trong, ngoài này, khiến người ta trước hết tu nhân thiện thế gian được quả thiện thế gian; rồi sau tu nhân thiện xuất thế gian mà được diệu quả xuất thế gian. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 575 hạ), nói: Ba là Dụng đại, hay sinh thiện nhân thiện quả của tất cả thế gian và xuất thế gian. Lại cứ theo Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ quyển thượng phần trên của ngài Tuệ viễn (chùa Tịnh ảnh, đời Tùy), thì dụng của Dụng đại có hai nghĩa: Nhiễm dụng và Tịnh dụng; thế gian là nghĩa nhiễm dụng, xuất thế gian là nghĩa tịnh dụng. Ngoài ra, đối với bản thể, tướng trạng và tác dụng rộng lớn vô hạn của vũ trụ pháp giới, Mật tông cũng lập thuyết Tam đại. Trong đó, Dụng đại là chỉ cho tác dụng của thân mật, ngữ mật và ý mật tương ứng một cách sâu xa kín nhiệm. [X. luận Thích ma ha diễn Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt. Tam Đại).

Dụng đại 用大

[ja] ヨウダイ yōdai ||| The greatness of function. One of the three greatnesses 三大. => Sự to lớn của Dụng. Một trong Tam đại 三大.

dứt

To cease—To end.

dứt bịnh

To be cured—To recover.

dứt bỏ thị phi

To get rid of the mind distinghing of right and wrong.

dứt khoát

To settle a problem once and for all.

dứt tình

To break off relationship with.

dừng

Trong triết lý nhà Phật, thì dòng tâm thức tuôn chảy không thể bị ngừng hay bị cản trong dòng suy tưởng. Hãy để cho tâm không trụ vào đâu. Lý tưởng nhứt là đi trên mọi chướng ngại—To stop—To halt—Stopping—In Buddhist philosophy, the mind must forever flow and never be “stopped” or “blocked” in a thought. Let the mind abide nowhere. The ideal is to walk on through all problems and situations.

dừng bút

To stop writing.

dửng dưng

To be indifferent.

dữ

Wicked—Fierce—Wild.

dữ dội

Violent—Terrible.

dữ dục

5904當僧團行布薩、自恣及其他行事作法(即羯磨)之際,遇疾病或因故不能出席時,對其行事之決定,有所贊成或反對之欲意,即所謂「欲」;將其欲意委託出席之比丘,即稱與欲。出席比丘受其欲意之委託,稱爲受欲。將受委託之欲意向眾僧傳達,即稱說欲。 ; (與欲) Gửi ý kiến. Khi chúng tăng cử hành Bố tát, Tự tứ hoặc bàn thảo (yết ma) về các việc khác mà có vị tỉ khưu nào vì đau nặng hay vì một lí do bất khả kháng không tham dự được, thì vị tỉ khưu ấy phải đem ý kiến của mình (tán thành hay phản đối) ủy thác cho vị tỉ khưu khác ra trình bày trước đại chúng, như thế gọi là Dữ dục. Vị tỉ khưu nhận sự ủy thác ấy gọi là Thụ dục ; đem ý kiến được ủy thác truyền đạt đến chúng tăng gọi là Thuyết dục .

dữ kiện

Xem Sự kiện. ; Data.

dữ lực bất chướng

5902增上緣之一。爲「無力不障」之對稱。謂付予助力,使之增強,以補其力之不足,使無障礙。 ; (與力不障) Cho thêm sức mạnh để khỏi bị chướng ngại. Một trong những duyên tăng thượng. Đối lại với Vô lực bất chướng. Nghĩa là giúp thêm sức mạnh để bù vào chỗ không đủ sức, khiến không bị ngăn ngại.

dữ ma

5904禪林用語。原爲宋代之俗語。又作恁麽、異沒、伊麽、漝麽。指現在所述說事物之狀態與已實現之狀態。意即這麽、如此。無門關第二十三(大四八‧二九五下):「不思善,不思惡,正與麽時,那箇是明上座本來面目?」〔碧巖錄第五則、第四十二則〕 ; (與麽) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên là tục ngữ ở đời Tống. Cũng gọi Nhẫm ma, Dị một, Y ma, Trập ma. Chỉ cái trạng thái sự vật đang được trình bày và trạng thái sự vật đã được thực hiện, nghĩa là như vậy, như thế đấy... Vô môn quan quyển 23 (Đại 48, 295 hạ) nói: Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay lúc ấy (dữ ma thời), cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh? [X. Bích nham lục tắc 5, tắc 42].

dữ nguyện thủ

5905即結「與願印」之手相。與願印,印相爲右手仰掌,舒五指而向下,流注如意寶或甘露水之相。〔攝真實經、大日經疏卷十六〕 ; (與願手) Tay bắt ấn Dữ nguyện (ban cho điều mong cầu). Cách bắt ấn như sau : Bàn tay phải ngửa lên, năm ngón duỗi thẳng và hướng xuống, làm như dáng của báu như ý và nước cam lộ đang từ lòng bàn tay chảy xuống. [X. kinh Nhiếp chân thực; Đại nhật kinh sớ Q.16].

dữ tợn

Cruel—Fierce—Ferocious.

dữ đoạt

5904爲禪家用以指導學人之方法。與,給予修行者自然發揮,亦即放行之意;奪,即奪取、不允許,或奪去一切之自由,亦即把住之意。故形容師家接化眾生,其方法巧妙、收放自如者,稱爲「與奪自在」。碧巖錄第一則(大四八‧一四○上):「是衲僧家尋常茶飯,至於截斷眾流,東涌西沒,逆順縱橫,與奪自在。」此外,論評教義,褒而取之,亦稱爲與;貶而斥之,則稱爲奪。〔四教儀集註卷上〕 ; (與奪) Phương pháp được sử dụng trong Thiền gia để hướng dẫn người học. Dữ là cho, tức là cho người tu hành được phát huy khả năng lãnh hội của mình một cách tự nhiên, là ý phóng hành (buông lỏng). Đoạt là lấy lại, không cho phép, hoặc ngăn chặn tất cả sự tự do, là ý bả trụ (nắm giữ lại). Bởi thế, khi hình dung cái phương pháp khéo léo, buông, bắt tự do mà thầy dùng để tiếp hóa người học thì gọi là Dữ đoạt tự tại.Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 140 thượng), nói: ... Đó là việc cơm nước tầm thường của nạp tăng, nhưng đến lúc dứt tuyệt các dòng, thì hiện đằng đông ẩn đằng tây, ngược xuôi tung hoành, buông, bắt (dữ đoạt) tự tại. Ngoài ra, khi bình luận giáo nghĩa, khen thì lấy dùng, gọi là Dữ, mà chê thì bác bỏ gọi là Đoạt. [X. Tứ giáo nghi tập chú Q.thượng].

Dữ đoạt 與奪

[ja] ヨダツ yodatsu ||| To posit and refute; to offer and snatch away; to approve and then disapprove. A kind of Buddhist teaching method. => Công nhận và bác bỏ; cho và đoạt lấy; tán thành và phủ nhận. Một phương pháp dạy người trong thiền tông Phật giáo.

dự

集異門論十八卷八頁云:云何名譽?答:諸有隱背不現在前稱讚歎美,亦復揄揚;言彼信戒聞捨慧等、悉皆具足。是名為譽。 ; 1) Dự phòng: Provided for—Beforehand. 2) Sắp xếp: Arranged.

dự bị

Preparatory—To make ready.

dự di quốc

Yami (skt)—Thế giới của ma vương, nơi không có Phật—The land or state of Yama, where is no Buddha.

dự giác

Forewarning—Consciousness.

dự khuyết

Substitute.

dự kiến

Preconceived idea.

dự liệu

To forecast—To foresee.

dự luật

Bill.

Dự lưu

xem Bốn quả thánh. ; 預流; S: śrotāpanna; P: sotāpanna; dịch theo âm Hán Việt là Tu-đà-hoàn;|Chỉ một người mới nhập dòng, đạt quả thứ nhất của Thánh đạo (ārya-mārga), trước đó là một bậc Tuỳ tín hành (s: śraddhānusārin) hay bậc Tuỳ pháp hành (s: dharmānusārin). Bậc dự lưu là người đã giải thoát ba Trói buộc đầu tiên là ngã kiến, nghi ngờ và giới cấm thủ (bám vào quy luật), nhưng vẫn còn Ô nhiễm (s: kleśa) dính mắc. Bậc dự lưu sẽ tái sinh nhiều nhất là bảy lần, sau đó đạt giải thoát; nếu thoát được Ái dục (s: kāma-tṛṣṇā) và sân hận thì chỉ cần tái sinh hai hay ba lần nữa.

dự lưu

Rgyun zhugs (T). ; Stream entry—Stream-winner—Còn gọi là Tu Đà Hườn, Nhập Lưu, Thốt Lộ Đa A Bán Na—Quả thứ nhất trong Tiểu Thừa tứ Thánh Quả, hàng Thanh Văn thừa đã dứt bỏ hết kiến hoặc của tam giới thì gọi là “Dự Lưu”—According with the streamof holy living, the srota-apanna disciple of the sravaka stage, who has overcome the illusion of the seeming, the first stage in Hinayana—See Srota-apanna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Dư Lưu Thánh Đệ Tử in Vietnamese-English Section.

dự lưu hướng

5700預流果爲四沙門果中之初果,乃預入無漏聖道之果位,此一果位係修道位之初位。預流向,梵語爲 srotāpatti-pratipannaka,又作逆流向,意即趣向預流果之因位,此位乃指初發得無漏聖智之見道位聖者。〔中阿含卷三十福田經、順正理論卷六十五〕(參閱「四向四果」1683) ; (預流向) Phạm: Srotàpatti - pratipannaka. Cũng gọi Nghịch lưu hướng. Hàm ý là Nhân vị hướng tới quả Dự lưu. Đây là giai vị Kiến đạo của bậc Thánh mới phát được Thánh trí vô lậu. [X. Trung a hàm Q.30 kinh Phúc điền; luận Thuận chính lí Q.65]. (xt. Tứ Hướng Tứ Quả).

dự lưu quả

5701梵語 srotāpanna。音譯須陀洹、窣路多阿半那。新譯預流,舊譯入流。又譯作逆流。小乘聲聞四果之第一,十八有學之一。意指預入無漏聖道之果位。聲聞乘之人斷三界之見惑已,方達違逆生死瀑流之位,稱爲逆流果。蓋預流之「流」,即指聖道之流。斷三界之見惑已,方預參於聖者之流,稱爲預流果。此爲聲聞乘最初之聖果,故稱爲初果。趨向此果者,在斷在斷見惑之見道十五心間,稱爲逆流向,又稱預流向,即預流果之因位。預流向爲見道位,預流果爲修道位。玄應音義卷二十三:「預流,梵言窣路多阿半那,此言預流。一切聖道說爲流,能相續流向涅槃故。初證聖果,創參勝列,故名預流。預,及也,參預也。舊言須陀洹者,訛也。或言逆流,或言入流,亦云至流,皆一也。」俱舍論卷二十三(大二九‧一二三上):「預流者,諸無漏道總名爲流;由此爲因,趣涅槃故。」〔成實論卷一分別聖賢品、大乘義章卷十七本、大乘法苑義林章卷五本〕(參閱「四向四果」1683) ; (預流果) Phạm: Srotàpanna. Dịch âm: Tu đà hoàn, Tốt lộ đa a bán na. Dịch mới là Dự lưu, dịch cũ là Nhập lưu. Còn dịch là Nghịch lưu. Quả thứ nhất trong bốn quả Thanh văn, một trong 18 bậc Hữu học. Chỉ cho quả vị dự vào Thánh đạo vô lậu.Hàng Thanh văn dứt hết Kiến hoặc trong ba cõi mới đạt đến quả vị ngược dòng sinh tử, gọi là Nghịch lưu quả. Bởi vì chữ lưu (dòng) trong Dự lưu là chỉ cho Thánh đạo lưu (dòng của đạo Thánh). Dứt hết Kiến hoặc trong ba cõi mới được tham dự vào dòng Thánh giả, gọi là Dự lưu quả. Vì đây là quả đầu tiên của thừa Thanh văn, cho nên còn gọi là Sơ quả. Người hướng tới quả này, trong giai đoạn dứt Kiến hoặc của 15 tâm Kiến đạo, gọi là Nghịch lưu hướng, cũng gọi Dự lưu hướng, tức là Nhân vị của quả Dự lưu. Dự lưu hướng là giai vị Kiến đạo, Dự lưu quả là giai vị Tu đạo. Huyền ứng âm nghĩa quyển 23 nói: Dự lưu, tiếng Phạm là Tốt lộ đa a bán na, Hán dịch là Dự lưu. Tất cả Thánh đạo gọi là Lưu (dòng chảy), vì hay nối nhau chảy tới Niết bàn. Mới chứng quả và dự vào dòng Thánh nên gọi là Dự lưu. Xưa dịch Tu đà hoàn là lầm. Hoặc dịch là Nghịch lưu, Nhập lưu, hay Chí lưu... đều là một. Luận Câu xá quyển 23 (Đại 29, 123 thượng), nói: Dự lưu, nghĩa là các đạo vô lậu gọi chung là lưu; do vì nhân này mà tới được Niết bàn. [X. luận Thành thực Q.1 phẩm Phân biệt hiền thánh; Đại thừa nghĩa chương Q.17 phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5 phần đầu]. (xt. Tứ Hướng Tứ Quả).

dự lưu thánh đệ tử

Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Veludvara, Phật đã dạy về Dự Lưu Thánh Đệ Tử—In The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Veludvara, the Buddha taught about a noble stream-enterer: “Vị Thánh đệ tử đã thành tựu bốn pháp là vị “dự lưu,” không còn bị thoái đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ—A noble disciple who possesses four things is a stream-enterer, no longer bound to the nether world, fixed in destiny, with enlightenment at his destination.” 1) Vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật: He possesses confirmed confidence in the Buddha. 2) Vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin với Pháp: He possesses confirmed confidence in the Dharma. 3) Vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin nơi Tăng: He possesses confirmed confidence in the Sangha. 4) Vị ấy sống ở gia đình, với tâm gột sạch mọi cấu uế xan tham. Vị ấy luôn bố thí, bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, thích được nhờ cậy, thích thú chia xẻ vật được bố thí: Whatever there is in his family that is suitable for giving, all that he shares universally among those who are virtuous and of good character.

dự mưu

Scheme conceived beforehand.

dự ngôn

5700本義指神借特定人之口宣說神意。與「巫」同義,相當於梵語 vipra。在佛教,爲因應人心之趨向,與教化、弘法之方便,而作過去、現在、未來三世種種預言。其一般性(社會性)預言可分爲:(一)預言佛滅後佛法之變遷者,有佛臨涅槃記法住經、佛說當來變經、佛說法滅盡經等。(二)預言彌勒下生者,有彌勒下生經、菩薩處胎經等。(三)有關佛自身之預言者,有般泥洹經卷下、大般涅槃經、四童子三昧經等。(四)預言與其有密切關係之社會事變者,有瑠璃王經等。此外,有關人格(個人)之預言,其預言特定之個人死後來世之善惡報應者,稱爲授記。〔長阿含卷五闍尼沙經、順正理論卷四十四、成實論卷一「十二部經品」〕(參閱「授記」4587) ; Vipra (S)Mượn lời của người do thần chỉ định để nói ý của thần. ; Prediction—Prophecy. ; (預言) Lời nói đoán trước. Nghĩa chính là thần thánh mượn miệng của một người đặc biệt được chỉ định để nói lên ý của các Ngài. Cùng nghĩa với chữ Vu .. (cô đồng, cô bóng), tương đương với tiếng Phạm vipra. Để thích ứng với xu hướng của lòng người và vì phương tiện giáo hóa, hoằng pháp, Phật giáo cũng thường có lời dự đoán về quá khứ, hiện tại, vị lai, như: 1. Lời dự đoán về tình hình sau khi đức Phật nhập diệt, giáo pháp của ngài sẽ bị thay đổi được ghi chép trong các kinh: Kinh Phật thuyết đương lai biến, kinh Phật thuyết pháp diệt tận v.v... 2. Lời dự đoán về việc bồ tát Di lặc giáng sinh được ghi trong: Kinh Di lặc hạ sinh, kinh Bồ tát xử thai v.v... 3. Lời đoán trước có liên quan đến chính đức Phật được ghi trong: Kinh Bát nê hoàn, kinh Đại bát niết bàn, kinh Tứ đồng tử tam muội v.v... 4. Lời dự đoán về các biến cố xã hội có liên quan mật thiết với đức Phật được chép trong: Kinh Lưu li vương v.v... Ngoài ra, những lời dự đoán về việc thiện ác báo ứng ở đời sau của mỗi cá nhân tùy theo sự tạo nghiệp của họ, được gọi là Thụ kí.[X. Trường a hàm Q.5 kinh Xà ni sa; luận Thuận chính lí Q.44; luận Thành thực Q.1 phẩm Thập nhị bộ kinh]. (xt. Thụ Kí).

dự phòng

To prevent—To take preventive measures.

dự phóng

Pakappeti (S), Project.

dự phần

To have a share—To participate in.

dự thi

To take the exam.

dự thính

To attend a lecture.

dự thảo

To draft.

dự trù

To provide for.

dự trữ

To stock.

dự tu

5701又作逆修。欲於死後往生淨土,趣入菩提之道,故在生前預修善根功德。或在臨終之際,預先行佛事,以免墮在三途八難中受諸苦惱,亦稱預修。此係根據灌頂經卷十一、地藏本願經卷下等而來者。又爲預修而請僧供齋,稱爲預修齋、豫修齋。 ; (預修) Tu dự bị trước. Cũng gọi Nghịch tu. Nghĩa là lúc còn sống gắng tu các việc thiện, chứa góp công đức để cầu mong sau khi chết được sinh về Tịnh độ, thoát khỏi ba đường ác, tám nẻo khổ nạn. Pháp tu này là căn cứ theo kinh Quán đính quyển 11, kinh Địa tạng bản nguyện quyển hạ v.v... Ngoài ra, trong thời gian dự tu, thỉnh chư tăng để cúng dường trai soạn, gọi là Dự tu trai.

dự tu thập vương sinh thất kinh

5701全一卷。唐代藏川所述。全稱閻羅王授記四眾逆修生七往生淨土經。略稱十王經、十王生七經、預修十王經。收於大正藏第九十二冊圖像。內容述說閻羅王之受記成佛及十王七齋預修之功德等。初述佛臨涅槃時,授閻羅天子成佛之記,及天子住於冥途之因緣;次說此經之受持及預修十王七齋之功德;又敘秦廣王乃至五道轉輪王等十王檢校亡人生前之罪福;終勸說修齋功德。又文中逐段記載七言四句三十三行之偈讚。 關於本經之起源,諸說不一,有謂係「地藏十王經」之同本異譯,有謂恐係藏川之撰述,而以本經爲偽經者。唐末以後,本經在我國廣爲流傳,後周義楚之釋氏六帖卷十六,及宋代宗鑑之釋門正統卷四等,皆曾引載本經。此外,本經亦流傳於韓國與日本。(參閱「地藏菩薩發心因緣十王經」2321) ; (預修十王生七經) Có 1 quyển, do ngài Tạng xuyên soạn thuật vào đời Đường. Tên đầy đủ là: Diêm la vương thụ kí tứ chúng nghịch tu sinh thất vãng sinh Tịnh độ kinh. Gọi tắt: Thập vương kinh, Thập vương sinh thất kinh, Dự tu thập vương kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 92 (Đồ tượng tập). Nội dung trình bày về việc vua Diêm la được thụ kí thành Phật và về công đức của việc dự tu Thập vương thất trai. Trước hết, kinh này cho biết, khi sắp vào Niết bàn, đức Phật đã thụ kí cho Diêm la thiên tử thành Phật và lí do tại sao Diêm la lại ở dưới cõi âm; kế đến, nói về công đức của việc nhận giữ kinh này và của việc tu Thập vương thất trai; tiếp đó, trình bày về việc 10 vị vua từ Tần quảng vương đến Ngũ đạo chuyển luân vương tra xét tội phúc của các vong hồn lúc sinh tiền; sau hết, khuyên người ta tạo công đức tu trai. Về nguồn gốc của kinh này, có nhiều thuyết khác nhau: có thuyết cho kinh này là bản dịch khác của kinh Địa tạng thập vương, có thuyết cho là tác phẩm do Tạng xuyên soạn thuật và bảo là kinh giả. Từ cuối đời Đường trở đi, kinh này được lưu truyền rất rộng ở Trung quốc, Thích thị lục thiếp quyển 16 của Nghĩa sở đời Hậu chu và Thích môn chính thống quyển 4 của Tông giám đời Tống v.v... đều có trích dẫn kinh này. Ngoài ra, kinh này cũng được lưu truyền ở Hàn quốc và Nhật bản. (xt. Địa Tạng Bồ Tát Phát Tâm Nhân Duyên Thập Vương Kinh).

dự tính

To plan—To project—To calculate.

dự vào

To take part—To participate.

dự án

Draft.

dự đoán

Dự liệu—To predict—To forecast—To foresee.

dự định

Ceceti (S), Intention.

dự ước

Preliminary agreement.

dựa trên

To found on.

dựa vào

To lean on.

dực

Cái cánh—A wing.

dựng tóc gáy

To make one's hair stand on end.

dựng đứng câu chuyện

To make up (raise up or fabricate) a story.

e

to be afraid of—To fear.

e dè

To fear—To fear for.

e lệ

To be bashful—To be shy.

gai góc

Thorny—Obstacles--Difficulties

gai mắt

To offend the eye—To shock the eye.

gan lì

Brave—Valiant—Venturesome —Fearless—Bold—Daring.

ganh ghét

Jealous contempt—To be jealous of someone—Envy and hate.

ganh tỵ

Jealousy. ; Jealousy—To envy someone.

ganh đua

To compete with someone.

gautami

Xem Ma ha Ba xà bà đề.

gay cấn

Thorny matter.

gay go

Terrible—Desperate—Keen.

gay gắt

Bitter.

gerab dorje

Gerab Dorje (T).

Ghan-ta-pa

S: ghaṇṭāpa hoặc vajraghaṇṭā; »Nhà sư rung chuông«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống khoảng thế kỉ thứ 9.|Ông là một Tỉ-khâu tại viện Na-lan-đà và sống một cuộc đời với giới luật nghiêm khắc. Ngày nọ ông đến Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) thì được nhà vua mời vào hoàng cung. Ông từ chối không vào vì cho rằng không thể chấp nhận được cảnh người bóc lột người. Nhà vua nghe báo lại, lấy làm tức giận, mới nghĩ cách hạ nhục ông. Nhà vua tìm một cung nữ xinh đẹp, ra lệnh cho nàng quyến rũ vị sư cho được. Sau một thời gian, chống cự không nổi sự cám dỗ, Ghan-ta-pa lấy cung nữ làm vợ, phá giới rời tu viện. Sau một năm hai người có một đứa con. Nhà vua vui thích với chuyện này, tìm cách gặp ông để chế nhạo. Biết thế, một tay gói đứa con trong áo, tay kia cầm hũ rượu, ông cùng vợ đi gặp vua. Vua cười chế diễu, nhưng ông nhìn thẳng vào mắt vua nói mình không tội lỗi gì. Vua hỏi cái gì dấu trong áo, ông ném con và hũ rượu xuống đất. Thần thổ địa run sợ, vội cho nước trào ra, đứa con và hũ rượu biến thành Kim cương chử (s: vajra) và chuông (ghaṇṭā). Ghan-ta-pa và vợ bỗng biến thành thần Sam-va-ra (s: saṃvara) và Kim cương Va-ra-hi (vajra vārāhī) lơ lửng trên không. Nước cứ trào dâng mãi, sắp dìm chết vua quan thì Quán Thế Âm hiện ra cứu giúp. Vua quan đều lễ bái xin tha tội, Ghan-ta-pa khai thị như sau:|Thuốc men và chất độc,|có tác dụng khác nhau,|nhưng trong tận tự tính,|cả hai chỉ là một.|Cái ác hay cái thiện,|cũng không hề sai khác,|chẳng qua chỉ là một.|Bậc có trí đã ngộ,|không hề khước từ gì.|Chỉ như lũ trẻ con,|chưa hề chứng đạt đạo,|bị năm độc hoành hành,|lang thang trong Sinh tử.|Nhờ lời giáo hoá này mà nhà vua cũng như quần thần thoát ra khỏi trói buộc của thành kiến. Còn nàng cung nữ thì sáu kiếp trước đó, nàng là người luôn luôn quyến rũ vị tỉ-khâu phá giới nhưng không được. Vị tỉ-khâu thì bám giữ giới luật một cách máy móc, chỉ trong đời này mới phá được sự ràng buộc này, nhờ một tâm thức đã chín muồi hoàn toàn, đã đạt đạo, tự tại trong tính Không.

ghen ghét

Jealous—Envious—To envy—To Begrudge.

ghen tỵ

Issa (S), Envy.

ghi khắc

To impress deeply.

ghi lòng

To engrave—To impress deeply in one's memory.

ghi lòng tạc dạ

See Ghi lòng.

ghi nhận

To acknowledge.

ghiền

To be addicted to.

ghiền rượu

To be addicted to drink.

ghé bờ

To come on board.

ghét

Hate—Anger—Ire—Buddha taught: “When you hate others, you yourself become unhappy. But when you love others, everyone is happy.”

ghê gớm

See Ghê sợ.

ghê rợn

Dreadful.

ghê sợ

Frightful—Awful.

gia

1) Gia đình: Family—Home. 2) Tán thán: To commend. 3) Tăng thêm: To increase—To augment—To add—To put on. 4) Tốt: Good—Excellent—Praiseworthy.

gia biến

Family disaster.

gia bà bạt đế

Xem Kiều phạm ba đề.

gia bá

Bác—Uncle (elder brother of the father).

Gia Bình

(嘉平): nguyên nghĩa là tên gọi của lễ hội vào tháng 12 Âm Lịch, từ đó nó có nghĩa là tháng 12 Âm Lịch. Sự việc này liên qua đến một câu chuyện thần tiên. Tương truyền vào cuối thời nhà Chu (周, 1134-250 ttl) có một người tên Mao Mông (茅濛), tự Sơ Thành (初成); xuất thân Nam Quan (南關), Hàm Dương (咸陽), Thiểm Tây (陝西), là Cao Tổ của Đông Khanh Mao Quân Doanh (東卿茅君盈). Mao Mông tánh tình rất từ bi, lương thiện, ngày thường hay tích đức, làm việc phước thiện, cần kiệm, thanh bần, học rộng nghe nhiều. Biết được vô thường của cuộc đời và kiếp người, ông bái Quỷ Cốc Tử (鬼谷子) làm thầy, học về thuật trường sanh bất tử và tiên đơn bí dược. Sau khi nhà Chu diệt vong, ông vào trong Hoa Sơn (華山), xa lìa trần thế, tĩnh tâm tu đạo luyện đơn; về sau ông cỡi rồng lướt mây bay lên trời thành tiên. Trong đô thành nơi ông thành tiên vẫn còn lưu truyền bài ca dao rằng: “Thần tiên đắc giả Mao Sơ Thành, giá long thượng thăng nhập đại thanh, thời hạ Huyền Châu hí Xích Thành, kế thế nhi vãng tại ngã doanh, đế nhược học chi lạp Gia Bình (神仙得者茅初成、駕龍上升入太清、時下玄洲戲赤城、繼世而徃在我盈、帝若學之臘嘉平, thần tiên đắc đạo Mao Sơ Thành, cỡi rồng bay lên tận trời xanh, bấy giờ Huyền Châu vui Xích Thành, kế nghiệp rồi đến tại chốn ta, vua nên biết tháng Chạp Gia Bình).” Sau này, Tần Thỉ Hoàng (秦始皇, tại vị 246-210 ttl) thích tu tiên cầu đạo, bèn đổi tên gọi tháng Chạp (臘月, lạp nguyệt) thành Gia Bình và lưu truyền cho đến hiện tại. Như trong Sử Ký (史記) quyển 6, phần Tần Thỉ Hoàng Bổn Kỷ (秦始皇本紀) có giải thích rằng: “Tam thập nhất niên thập nhị nguyệt, cánh danh Lạp viết Gia Bình (三十一年十二月、更名臘曰嘉平, vào tháng 12 năm thứ 31 [216 ttl], lại đổi tháng Chạp thành Gia Bình).” Trong Tu Dược Sư Nghi Quỹ Bố Đàn Pháp (修藥師儀軌布壇法, Taishō No. 928) có câu: “Đại Thanh Đạo Quang tuế thứ Giáp Thân Gia Bình nguyệt cát nhật Tịnh Trú Tự (大清道光歲次甲申嘉平月吉日淨住寺, Tịnh Trú Tự, ngày tốt tháng 12 năm Giáp Thân [1824] niên hiệu Đạo Quang nhà Thanh).”

gia bảo

Family treasure—Treasure of the family.

Gia bị

加被; C: jiābèi; J: kabi;|Mang vào, bao gồm, thừa nhận. Nhận được oai lực hộ trì của chư Phật và Bồ Tát. Đồng nghĩa với Gia hộ (加護).

gia bị

1577指諸佛如來以慈悲心加護眾生。又作加備、加祐、加威、加。佛加被之力,稱為加被力或加威力;被其力而說法者,稱加說。加被有顯加與冥加二種。顯加為可以眼見者,例如佛菩薩加被說法者,使其身、口、意三業能如法演說;冥加(又稱冥護、冥祐)為肉眼不可見者,惟冥冥中知有佛菩薩之加護。〔菩薩瓔珞經卷三、大智度論卷四十一、阿彌陀經疏鈔序(雲棲)、俱舍光記卷一、觀經玄義分傳通記卷一〕 ; Xem Thần lực. ; See Gia Hộ.

Gia bị 加被

[ja] カビ kabi ||| To bring in, include, accept. To receive the support and power of the buddhas and bodhisattvas. Same as 加護 => Mang vào, bao gồm, thừa nhận. Nhận được oai lực hộ trì của chư Phật và Bồ-tát.

gia bộc

Servant.

gia chánh

Housekeeping.

gia chủ

Kulapati (skt)—Vị chủ gia đình—Head of the family—Householder—Head of the household.

gia công

To make every effort—To endeavor.

gia cú

1570指真言(咒)上下所增加之語句。隨修法之種類,所加之句各有不同。例如修息災法時,所誦之真言,最初加「唵」(oṃ),最末加「莎訶」(svāhā),或入「扇底迦」(śāntika)之句;修調伏法時,以「

gia cư

Habitation—Dwelling—Abode.

gia cảnh

Situation of the family—Family condition—Family circumstance.

gia cầm

Poultry.

gia cẩu

4084家狗馴服而不畏人,藉以譬喻瞋恚等煩惱隨逐於身而難以去除之。北涼曇無讖譯之大般涅槃經卷十五(大一二‧四五三下):「如家犬不畏於人,山林野鹿見人怖走,瞋恚難去如守家狗,慈心易失如彼野鹿。」〔往生要集卷中末〕 ; Phiền não bám theo thân người khó dứt bỏ được như chó giữ nhà—A domestic dog, i.e. trouble, which ever dog one steps.

gia da đa xá

Saṃghayaśas (S)Tăng Già Da Xá, Chúng XưngTổ thứ 18 trong 28 tổ sư Phật giáo ở Ấn độ.

gia du đà la

Yasodhara

gia dĩ

Moreover—Furthermore—Besides—In addition.

gia dụng

Family use.

gia gia thánh giả

4084家家,為梵語 kulaṃkula 之意譯。係小乘聖者之名。為二十七賢聖之一,十八有學之一。即指聲聞四果中之一來向,已斷欲界三、四品修惑,而於命終時,三或二次受生於欲界人天間之聖者。此類聖者由甲家轉生至乙家,或三生或二生,證極果,入涅槃,故稱家家。其受生次數可別為二:(一)三生家家,謂斷欲界三品修惑,既滅四生,猶餘六品者。(二)二生家家,斷欲界四品修惑,既滅五生,仍餘五品者。若依受生之種類,則可分為:(一)天家家,謂於天趣受三或二生而證圓寂者。(二)人家家,於人趣受三或二生而證圓寂者。此外,又有不厭受生之平等家家與厭受生之不等家家等分別。〔俱舍論卷二十四、阿毘曇心論卷二、阿毘達磨順正理論卷六十四〕(參閱「四向四果」1683)

gia giáo

4085又作家訓。為小參之別名。指禪林中非時之說法,以別於上堂說法之大參。據死心語錄載,所謂家教,即指小參,譬如人家有三五兒子,大的今日幹甚事,小的今日幹甚事,有無錯處,晚間歸來,父母一一處斷。 ; Family education.

gia giảm

To increase and decrease

gia hiến

Family rules.

gia huấn

See Gia giáo.

Gia huệ

(嘉惠): ban ân huệ. Như trong bài Tùng Quân Hữu Khổ Lạc Hành (從軍有苦樂行) của Lý Ích (李益, 746-829) nhà Đường có câu: “Nhất đán thừa gia huệ, khinh mạng trọng ân quang (一旦承嘉惠、輕命重恩光, một sớm chịu ân huệ, mạng nhẹ ơn nặng sâu).” Hay trong (金剛三昧經通宗記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 35, No. 652) quyển 10, Phẩm Như Lai Tạng (如來藏品) thứ 7, cũng có câu: “Hựu hà hữu tiếp vật lợi sanh chi pháp thí, dĩ gia huệ ư đương thế hồ (又何有接物利生之法施、以嘉惠於當世乎, lại có pháp thí tiếp vật lợi sanh nào, để ban ân huệ cho đời này chăng ?).”

gia hành

1570梵語 prayoga。舊譯方便。即加功用行之意。乃針對正行之預備行。據成唯識論卷九、大乘法苑義林章卷二末之說,接近見道的四善根之位,特稱加行,然亦廣通資糧位,瑜伽師地論卷三十一之白品與黑品中,各舉出相應、串習、無倒、不緩、應時、解了、無厭足、不捨軛、正等九種加行之法,即為其意。加行又指密教接受灌頂、授戒、宗脈相承等儀式之前,所須預修之特定行法,有所謂四度加行,即指正式授予傳法灌頂(正行)之前所傳授之十八道、金剛界、胎藏界、護摩等四法,為密教行者修行之第一階段,迄今猶頗受重視。其 丑A依次有加行、正行之分別。所謂加行得,即以種種功力修行而證得者,乃相對於先天即能見道之「生得」而言;由此所起之善,稱為加行善。又加行道,即指修行者達到涅槃四道中之第一道,亦即修戒、定、慧之階位。〔俱舍論卷二十五、顯揚聖教論卷十八、大乘法相名目卷五下〕 ; Prāyogikacaryā (S), Full effort. ; Prayoga (skt)—Gia Hành Đạo—Gia Hành Vị—Gia tăng dụng công mà tu hành—Added progress—Intensified effort—Earnest endeavour.

gia hành kết nguyện

1571謂密法傳授之加行終了。加行,指法會之前所須預修之特定行法;結願,即修法終了時之最後作法。加行結願即指加行修法終了之作法,乃密教特行之法,其行法依派別而異。

gia hành quả

1570梵語 prayoga-phala。即由加行所起之果。乃依不淨觀等之加行力所生之無漏智。為犍馱羅國諸論師所立九果之一。大毘婆沙論卷一二一(大二七‧六三○中):「加行果者,謂不淨觀,或持息念,為加行故,漸次引起,盡無生智;餘加行果,類此應知。」〔俱舍論卷六〕

gia hành thiện

1571指方便善或修得善。乃由加行方便所得之善心。為「生得善」之對稱。即經由加功用行始了達聞、思、修之覺慧善心,而非天生即有之善心。俱舍論卷七(大二九‧三九上):「三界善心,各分二種,謂加行得、生得別故。」又大乘法苑義林章卷六(大四五‧三五四中、三五六中):「若於三藏,要用功力,所生明勝覺慧善心,名加行善;能順出世,由功力起,性極明了,讀解文義,加行而起,名為聞慧。(中略)此三種慧皆非生得,非闇昧故,並加行得、加行善故。」〔大毘婆沙論卷十一、阿毘達磨順正理論卷二十、顯揚聖教論卷十八、俱舍論光記卷七〕(參閱「三性」563) ; Tu Đắc Thiện—Phương Tiện Thiện—Thiện tâm do phương tiện tu hành mà chứng đắc được, đối lại với sinh đắc thiện—Goodness acquired by effort, or works as differentiated from natural goodness.

gia hành vị

1570指加功力進修之位。為唯識宗所立五位之第二位。又作加行道、方便道。即在資糧位之第十回向之終,為住於真唯識性(即制伏能取、所取之分別,引發對唯識之真見),修習四尋思、四如實智所產生之煖、頂、忍、世第一法等四善根之位。乃入於見道,正通達於真理之方便加行。成唯識論卷九(大三一‧四八中、四九上):「加行位,謂修大乘順決擇分。(中略)煖、頂、忍、世第一法,此四總名順決擇分。順趣真實決擇分故,近見道,故立加行名,非前資糧無加行義。」〔俱舍論卷二十二、大乘阿毘達磨雜集論卷八、成唯識論述記卷九、百法問答鈔卷五、卷六〕(參閱「五位」1087、「四尋思」1768) ; Vị thứ hai trong từ vị của Duy Thức Tông—The second of the four stages of the sect of consciousness.

gia hành đại sĩ

1570指大乘加行位之菩薩。日本則稱世親為加行大士。(參閱「加行位」1570)

Gia hành đạo

xem Tứ đạo thánh nhân.

gia hành đạo

1571梵語 prayoga-mārga。乃加功力進修之道。為四道之一。又作方便道。即為斷除煩惱而預備加功用行的修行之道,修此方便加行,能引後無間道而趣向涅槃之道。與唯識五位中之加行位相同,即「見道」之前的四善根(煖、頂、忍、世第一法)之位。據俱舍論卷二十五載,經由加行道可生起其後之無間道。大乘法苑義林章卷二(大四五‧二八二下):「加行者,加功用行,欣求斷道。」〔大乘阿毘達磨雜集論卷八、成唯識論卷九、瑜伽師地論卷六十九、俱舍論卷二十一〕(參閱「加行」1570、「加行位」1570)

gia hành đắc

1571又作修得、人功得。乃由加行之力而得者。指經由聞、思、修等三慧所證得者,即由後天努力(加行)始能證得者。對此,與生俱來者,則稱生得(梵 upapatti-prātilambhika);煩惱完全滅盡之後(即離染之際)自然而得者,則稱離染得。此外,生得之善,稱為生得善;加行得之善,則稱加行善。〔俱舍論卷四、卷五、卷二十二、大毘婆沙論卷一四四、大乘法苑義林章卷六末〕

gia hình

To execute.

Gia Hạ

(加賀, Kaga): tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa, nay thuộc phía nam Ishikawa-ken (石川縣).

gia hạn

To extend—To prolong time-limit.

Gia hạnh

加行; C: jiāxíng; J: kegyō;|Có các nghĩa sau: 1. Sự chuẩn bị cho việc tu tập; giai đoạn tu tập ban đầu (s: prayoga, prayogika); 2. Tu tập, nỗ lực, gắng sức, đặc biệt trong thời kì đầu hay vì tính chất phương tiện; 3. Giai vị Gia hạnh đạo (加行道) hoặc Gia hạnh vị (加行位).

gia hạnh

Payoga (P), Prayāgā (S).

gia hạnh quả

Prayogā-phala (S), Payoga-phala (P)Quả từ gia hạnh đạo sinh ra.

Gia hạnh vị

加行位; C: jiāxíng wèi; J: kegyōi;|Giai vị chuẩn bị, giai vị gia công thực hành lúc đầu (s: adhimukticaryābhūmi). Giai vị thứ 2 trong 5 vị tu chứng do Thế Thân đề ra trong Duy thức tam thập tụng. Đây là giai đoạn hành giả chuẩn bị cho sự khai mở trí vô lậu để thể nhập vào giai vị Kiến đạo. Đó là giai vị giống như trước Tư lương vị (資糧位), nhưng trực tiếp hơn. Giai vị nầy có thể tương ưng với Phương tiện đạo (方便道), trong 1 số kinh văn khác cho là như nhau.

Gia hạnh vị 加行位

[ja] ケギョウイ kegyōi ||| The 'stage of preparation' or 'stage of initial application' (adhimukti-caryā-bhūmi). The second among the five stages of practice as outlined by Vasubandhu 世親 in his Thirty verses on Consciousness-only. This is the stage of preparation for the purpose of opening the wisdom of "no outflow" to enter the "seeing of the way" 見道. It is preparation like the step before (資料位), but more direct preparation. It can also be corresponded with the 方便道 which is taught in other texts at the same level. => Giai vị chuẩn bị, giai vị gia công thực hành lúc đầu (s: adhimukti-caryā-bhūmi). Giai vị thứ hai trong năm giai vị tu chứng do Thế Thân đề ra trong Duy thức Tam thập tụng. Đây là giai đoạn hành giả chuẩn bị cho sự khai mở trí vô lậu để thể nhập vào giai vị Kiến đạo. Đó là giai vị giống như trước Tư lương vị, nhưng trực tiếp hơn. Giai vị nầy có thể tương ưng với Phương tiện vị, trong một số kinh văn khác cho là như nhau.

Gia hạnh đạo

加行道; C: jiāxíngdào; J: kegyōdō;|Giai đoạn gia công thực hành ban đầu, 1 trong Ngũ đạo theo tiến trình của Du-già hành tông để tu tập giác ngộ. Như Gia hạnh vị (加行位).

gia hạnh đạo

Prayāgā-mārga (S), Payoga-magga (P)Giai đoạn tu gia hạnh để trừ phiền não.

Gia hạnh đạo 加行道

[ja] ケギョウドウ kegyōdō ||| The path of initial application, one of the five 五道 paths in the Yogācāra program for the attainment of enlightenment. Same as 加行位. => Giai đoạn gia công thực hành ban đầu, 1 trong Ngũ đạo theo tiến trình của Du Già Hành Tông để tu tập giác ngộ. Như Gia hạnh vị加行位.

gia hạnh định

Xem Cận phần định.

Gia hạnh 加行

[ja] ケギョウ kegyō ||| (1) Preparation for practice; preparatory practice. (prayoga, prayogika). (2) Practice, effort, endeavor, especially of a preliminary or expedient nature. (3) The "stage of initial application" 加行道 or 加行位sense> => Có các nghĩa sau: 1. Sự chuẩn bị cho việc tu tập; giai đoạn tu tập ban đầu (s: prayoga, prayogika). 2. Tu tập, nỗ lực, gắng sức, đặc biệt trong thời kỳ đầu hay vì tính chất phương tiện. 3. Giai vị Gia hạnh đạo hoặc Gia hạnh vị.

gia hệ

Genealogy.

gia hộ

1578加力助護。即佛菩薩以其力加被護持於眾生身上。八十華嚴經卷二十七(大一○‧一四七下):「常為一切諸佛加護。」最勝王經卷八(大一六‧四四三中):「由諸天加護,得作於國王。」(參閱「加持」1572) ; Nhờ Phật lực gia hộ—Blessing—Divine or Buddha aid or power bestowed on the living, for their protection or perfection.

gia hội đàn mạn đồ la

5761請參閱 觀無量壽經義疏 嘉,歡喜之義;會,來集之義。嘉會壇曼荼羅,即密教諸尊集會示現各自之本誓,而彼此不相涉入之曼荼羅。此曼荼羅用於受明、傳法等灌頂之時。爲大日經所言胎藏曼荼羅四種之一。大日經卷一具緣品載有白壇九位曼荼羅及嘉會壇曼荼羅。嘉會壇之名即取自該經中之「群機嘉會」一語。〔大日經疏卷六、卷十二、祕藏記鈔卷一、胎藏界曼荼羅鈔卷上、溪嵐拾葉集卷五十三〕

gia la thích tinh xá

Ghataya-Sukkassa-Vihāra (S)Tên một ngôi chùa.

gia lí đà sa

1571梵名 Kālidāsa。印度笈多王朝時代之詩人、戲曲家。約於五世紀前期,活躍於笈多王朝犍陀羅笈多二世之宮廷。在印度古典梵文文學黃金時代,有「詩聖」之美譽。經過吠陀、奧義書、敘事詩時代,至二世紀頃始高度發達之印度古典文學─美文體(詩),即由加里陀沙完成。被稱為「印度之莎士比亞」,西洋大文學家歌德推崇備至,譽之為世界文學之瑰寶。相傳歌德之「浮士德」一劇之所以用開場白,係受加里陀沙劇本之影響。加里陀沙之作品有抒情詩、敘事詩、戲曲等,係以優越筆調,加上典雅之韻律,運用梵文獨特之修辭技巧所寫成。主要作品有戲曲莎昆妲羅(梵 Abhijñānaśakuntalam)、天女之戀(梵 Vikramorvaśīya)、敘事詩羅怙系譜(梵 Raghuvaṃśa)、摩羅毘迦與火天友(梵 Mālavikāgnimitra)、童子之出生(梵 Kumārasambhava)、抒情詩時令之環(梵 ^tusaṃhāra)、雲之使者(梵 Meghadūta)。其中莎昆妲羅一劇已由糜文開譯為中文。〔印度文學欣賞第十六篇(糜文開)、世界文學史綱第十六章(郭源新)、莎昆妲羅的真實意義(泰戈爾著,糜文開譯)〕

gia lực

Lực gia bị của chư Phật và chư Bồ Tát—Added strength or power (by the Buddhas or Bodhisattavas)—Aid.

gia miếu

Family temple.

gia mẫu

Mother.

gia mộc tường

5759即嘉木祥恊比多吉,藏語意爲妙語笑金剛。爲西藏佛教格魯派轉世活佛之一,拉卜楞寺之最高座主。一世根欽嘉木祥恊比多吉爲覺臥尊追恊巴(1648~1721),甘肅夏河甘家灘人。於西藏學經,獲「格西」學位,曾任哲蚌寺郭芒扎倉堪布,清代康熙(1662~1722)時,受勅封爲護法禪師額爾德尼諾門汗。後受青海蒙古河南親王之請,返夏河建拉卜楞寺(黃教第六大寺),形成黃教在安木多地區最大之活佛轉世系統。二世爲居米旺波,嘗受乾隆皇帝勅封爲護法禪師呼圖克圖。今之嘉木祥爲第六世。

gia nghiêm

Father.

gia nghiệp

Family property.

Gia Nguyệt

(葭月): cổ nhân gọi tháng 11 Âm Lịch là Gia Nguyệt, vì vào tháng này loại cỏ lau bắt đầu nở hoa. Hoa lau có màu nâu xám đung đưa trong gió lạnh, thể hiện sự thê lương, giá buốt của thời tiết cuối năm. Người ta thường lấy cây lau làm củi dự trữ dùng cho lúc tuyết đóng băng; cho nên cũng có thể vì lý do này mà có tên gọi Gia Nguyệt. Trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林) có câu rằng: “Đông Chí đáo nhi gia hôi phi, Lập Thu chí nhi ngô diệp lạc (冬至到而葭灰飛,立秋至而梧葉落, Đông Chí đến mà tro lau bay, Lập Thu đến cho lá ngô rụng).”

gia ngữ

Chia yu (C), Instructive Discourses.

gia nhân

Servants.

gia nhập

To join.

gia nô

See Gia nhân.

Gia phi ngọc quản

(葭飛玉管): Gia phi (葭飛) nghĩa là tro cây lau bay tan đi. Có thuật ngữ thường dùng là “xuy gia (吹葭)”. Đây là một phương pháp suy định khí hậu thời cổ đại. Người ta lấy tro của cái mạng mỏng trong thân cây lau, đem trấn bên trong khí cụ Luật Quản (律管, 律琯), khi hơi thổi đến thì tro tan đi. Như trong bài thơ Tiểu Chí (小至) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Thích tú ngũ văn thiêm nhược tuyến, xuy gia lục quản động phi hôi (刺繡五紋添弱線、吹葭六琯動飛灰, thêu gấm năm vân thêm chỉ mỏng, thổi lau khí cụ động tro bay).” Ngọc quản (玉管) ở đây là một loại khí cụ Luật Quản, dùng để thẩm định âm tiết thời xưa, được chế bằng ngọc; còn gọi là Lục Quản (六琯, 六管). Người ta thường dùng ống trúc hoặc loại chế bằng kim thuộc để tạo thành. Như trong tác phẩm Lục Thao (六韜), chương Ngũ Âm (五音) có giải thích rằng: “Phù Luật Quản thập nhị, kỳ yếu hữu ngũ âm, Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ (夫律管十二、其要有五音、宮、商、角、徵、羽, phàm Luật Quản có mười hai loại, chủ yếu có năm âm là Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ).” Bên cạnh đó, đây cũng là một loại khí cụ dùng để trắc lượng sự thay đổi của thời tiết thời cổ đại. Như trong chương Tượng Số (像數) của Mộng Khê Bút Đàm (夢溪筆談) có dẫn một đoạn trong Tục Hán Thư (續漢書) của Tư Mã Bưu (司馬彪, 243-306) nhà Tấn rằng: “Hầu khí chi pháp, ư mật thất trung, dĩ mộc vi án, trí thập nhị Luật Quản, các như kỳ phương, thật dĩ gia hôi, phú dĩ đề hộc, khí chí tắc nhất luật phi hôi (候氣之法、於密室中、以木爲案、置十二律琯、各如其方、實以葭灰、覆以緹縠、氣至則一律飛灰, cách trắc lượng khí hậu, tại trong phòng kín, lấy gỗ làm bàn, đặt 12 ống Luật Quản lên, mỗi thứ đúng phương hướng của nó, lấy tro mạng mỏng cây lau, bít bằng loại vải sa đỏ, khi hơi thổi đến thì một ống Luật thổi bay tro).” Trong bài thơ Bảo Đại Ngũ Niên Nguyên Nhật Đại Tuyết Đăng Lâu Phú (保大五年元日大雪登樓賦) của Lý Cảnh (李璟, 916-961) nhà Đường có câu: “Xuân khí tạc tiêu phiêu Luật Quản, Đông phong kim nhật phóng Mai hoa (春氣昨宵飄律管,東風今日放梅花, khí xuân đêm trước thổi Luật Quản, hôm nay Đông gió thả hoa Mai).”

Gia phong

(家風, kafū): Gia (家) nghĩa là sư gia, Thiền gia, gia đình, v.v.; phong (風) là phong nghi, phong tục, phong cách. Như vậy, gia phong ở đây có nghĩa là phong nghi của một nhà nào đó. Trong Thiền Tông, đây là phong nghi sinh ra từ Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗); còn gọi là tông phong (宗風), Thiền phong (禪風). Như trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 7, phần Hàng Châu Phủ Linh ẩn Lãn Am Đạo Xu Thiền Sư (杭州府靈隱懶菴道樞禪師) có câu: “Tuyết lí mai hoa xuân tin tức, trì trung nguyệt sắc dạ tinh thần, niên lai bất thị vô giai thú, mạc bả gia phong cử tợ nhân (雪裡梅華春信息、池中月色夜精神、年來不是無佳趣、莫把家風舉似人, trong tuyết hoa mai xuân báo tin, bên hồ trăng tỏ đêm tinh thần, xuân về chẳng phải không thú đẹp, chớ lấy gia phong nói cùng người).” Hay trong Viên Ngộ Phật Quả Thiền Sư Ngữ Lục (圓悟佛果禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1997) quyển 6 có đoạn: “Xích nhục đoàn thượng, nhân nhân cổ Phật gia phong; Tỳ Lô đảnh môn, xứ xứ Tổ sư ba tỷ; niêm nhất cơ thiên cơ vạn cơ thông thấu; dụng nhất cú thiên cú vạn cú lưu thông (赤肉團上、人人古佛家風、毘盧頂門、處處祖師巴鼻、拈一機千機萬機通透、用一句千句萬句流通, trên đống thịt đỏ, người người gia phong cổ Phật; cửa đỉnh Tỳ Lô, chốn chốn xuất xứ Tổ sư; đưa ra một cơ duyên thì ngàn cơ duyên, vạn cơ duyên đều thông thấu; dùng một câu thôi mà ngàn câu, vạn câu thảy lưu thông).” Hoặc như trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 11 có câu: “Độc lâu thường can thế giới, tỷ khổng ma xúc gia phong, vạn lí thần quang đảnh hậu tướng, trực hạ hội đắc, chuyển phàm thành Thánh chỉ tại phiến thời (髑髏常干世界、鼻孔摩觸家風、萬里神光頂後相、直下會得、轉凡成聖只在片時, đầu lâu thường chạm thế giới, lỗ mũi xát đụng gia phong, vạn dặm hào quang sau đỉnh đầu, ngay đó ngộ được, chuyển phàm thành Thánh chỉ trong phút chốc).” ; (家風, kafū): Gia (家) nghĩa là sư gia, Thiền gia, gia đình, v.v.; phong (風) là phong nghi, phong tục, phong cách. Như vậy, gia phong ở đây có nghĩa là phong nghi của một nhà nào đó. Trong Thiền Tông, đây là phong nghi sinh ra từ Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗); còn gọi là tông phong (宗風), Thiền phong (禪風). Như trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 7, phần Hàng Châu Phủ Linh Ẩn Lãn Am Đạo Xu Thiền Sư (杭州府靈隱懶菴道樞禪師) có câu: “Tuyết lí mai hoa xuân tin tức, trì trung nguyệt sắc dạ tinh thần, niên lai bất thị vô giai thú, mạc bả gia phong cử tợ nhân (雪裡梅華春信息、池中月色夜精神、年來不是無佳趣、莫把家風舉似人, trong tuyết hoa mai xuân báo tin, bên hồ trăng tỏ đêm tinh thần, xuân về chẳng phải không thú đẹp, chớ lấy gia phong nói cùng người).” Hay trong Viên Ngộ Phật Quả Thiền Sư Ngữ Lục (圓悟佛果禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1997) quyển 6 có đoạn: “Xích nhục đoàn thượng, nhân nhân cổ Phật gia phong; Tỳ Lô đảnh môn, xứ xứ Tổ sư ba tỷ; niêm nhất cơ thiên cơ vạn cơ thông thấu; dụng nhất cú thiên cú vạn cú lưu thông (赤肉團上、人人古佛家風、毘盧頂門、處處祖師巴鼻、拈一機千機萬機通透、用一句千句萬句流通, trên đống thịt đỏ, người người gia phong cổ Phật; cửa đỉnh Tỳ Lô, chốn chốn xuất xứ Tổ sư; đưa ra một cơ duyên thì ngàn cơ duyên, vạn cơ duyên đều thông thấu; dùng một câu thôi mà ngàn câu, vạn câu thảy lưu thông).” Hoặc như trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 11 có câu: “Độc lâu thường can thế giới, tỷ khổng ma xúc gia phong, vạn lí thần quang đảnh hậu tướng, trực hạ hội đắc, chuyển phàm thành Thánh chỉ tại phiến thời (髑髏常干世界、鼻孔摩觸家風、萬里神光頂後相、直下會得、轉凡成聖只在片時, đầu lâu thường chạm thế giới, lỗ mũi xát đụng gia phong, vạn dặm hào quang sau đỉnh đầu, ngay đó ngộ được, chuyển phàm thành Thánh chỉ trong phút chốc).”

gia phong

Cái tác phong khác biệt của các tông phái dùng để độ người. ; Family customs.

Gia phong 家風

[ja] ケフ kafū ||| The "family style." Literally the customs and traditions of a certain clan. In Buddhism, the teaching methods of a certain lineage. => Phong cách và truyền thống của một bộ tộc. Trong Phật giáo, là phương pháp giáo hoá của một tông phái.

gia pháp

See Gia Hiến.

gia phả

Family register.

gia phụ

See Gia Nghiêm.

gia quyến

Family.

gia sa

Kasaya (skt)—Cà Sa—A colour composed of red and yellow.

gia súc

Domestic animals.

gia sức

See Gia Công.

gia sử

Family history—Family register.

gia sự

Family matter.

gia thi

1569梵語 kāśa。又作加私、迦奢、迦尸。藥物名。譯作光。玄應音義卷三:「加尸,亦作迦尸。此譯云光,言有光澤也。」同書卷十:「迦私,此云光。能發光,藥名也。」又據五分律卷二十五載,迦尸草可作為敷具(坐具)。大唐西域記卷一則載,以迦奢草編結之,可作為佛所用之掃箒。 ; Kasa (skt)—Visibility—Splendour—A species of grass.

gia thuyết

1577指蒙佛力加被而說法。如般若部經典,係聲聞弟子須菩提等所說之大乘教;天台宗謂此乃佛之善巧方便,為誘引小乘根機入大乘法門而設。摩訶止觀卷六上(大四六‧七三下):「須菩提空智偏明,能於石室見佛法身,故大品中被加說空,身子被加說般若。佛欲以大空並小空,大智並小智,故令二人轉教。」止觀輔行傳弘決卷六之二闡釋如下(大四六‧三三五中):「大品被加等者,凡言加者,加於可加。以須菩提空與般若空,相應相似,是故佛加令其說空;般若是智,故亦加身子,所以但加此二人也。」

gia thuộc

Relatives.

Gia Thái Phổ Đăng Lục

(嘉泰普燈錄, Kataifutōroku): 30 quyển, tổng mục có 3 quyển, do Lôi Am Chánh Thọ (雷庵正受) biên tập, san hành dưới thời nhà Tống. Lôi Am Chánh Thọ ở Báo Ân Quang Hiếu Tự (報恩光孝寺) thuộc Phủ Bình Giang (平江府) bắt đầu biên tập bộ này trong khoảng thời gian niên hiệu Gia Thái (嘉泰, 1201-1204) đời vua Ninh Tông nhà Nam Tống, hoàn thành vào năm thứ 4 (1204), đem dâng lên đức vua xem và được phép cho nhập vào Đại Tạng Kinh. Là bộ Đăng Sử Thiền Tông kế thừa bước chân của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄), Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄) và bổ sung thêm cho các bộ sử thư đi trước, tác phẩm này đã thâu tập 17 đời môn hạ của Nam Nhạc (南岳) cho đến 16 đời môn hạ của Thanh Nguyên (青原). Lôi Am cho rằng xưa nay các bộ Truyền Đăng Sử chỉ thâu lục truyền ký, hành trạng của các vị tu sĩ, chứ không đề cập đến tầng lớp vương hầu, sĩ thứ, nữ lưu, ni chúng, v.v.; cho nên trong tác phẩm này từ đầu cho đến quyển 21 thì thuộc về tầng lớp xuất gia, từ quyển 22 trở đi được chia làm các phần như Thánh Quân (聖君), Hiền Thần (賢臣), Ứng Hóa Thánh Hiền (應化聖賢), Thập Di (拾遺), Chư Phương Quảng Ngữ (諸方廣語), Niêm Cổ (拈古), Tụng Cổ (頌古), Kệ Tán (偈贊), Tạp Trước (雜著), v.v., toàn bộ thánh hiền, thứ dân đều được thâu lục vào. Vì vậy nó có tên là Phổ Đăng Lục (普燈錄, Futōroku). Ngoài san bản nhà Tống ra, còn có khá nhiều dị bản như Bản Ngũ Sơn, v.v.

gia thái phổ đăng lục

5760凡三十卷,另有目錄三卷。宋代僧雷庵正受編,寧宗嘉泰四年(1204)編成,進於寧宗,奉勅入藏。收於卍續藏第一三七冊。係正受費時十七年,繼景德傳燈錄、天聖廣燈錄、建中靖國續燈錄之後,輯錄諸方宗師、王侯、公卿、尼師等禪林緇素之機緣語要。內容包括示眾機語、聖君賢臣、應化聖賢(附拾遺)、廣語、拈古、頌古、偈贊、雜著等。目錄卷首附有雷庵受禪師行業、進聖宋嘉泰普燈錄上皇帝書等。

gia thúc

Chú—Uncle (younger brother of the father).

gia thường

4084日常之事,如搬材、運水、吃飯、穿衣等事。若用心體會,則日常一切無非佛法。〔正法眼藏卷九十五〕

gia thượng

5760唐代慈恩寺僧。生卒年不詳。爲玄奘門下四哲之一。慧性天資,遊學於玄奘之門,受瑜伽、唯識要領,玄奘譯大般若經時,師任證義、綴文,才能出眾。於則天武后朝,又與薄塵、靈辨等預譯場證義,功績愈繁。後不知所終。〔宋高僧傳卷四〕

gia thất

Family—Household.

gia thần

4084指家庭之神及家宅之神。前者為一家之守護神,後者為保護家宅安泰之神。主要流行於家族社會之家庭。如我國漢族家中供奉祖先之牌位,視祖先之靈為守護家庭之神;廚房則供奉「灶君」,祈求保護家宅安泰。西方如古代之羅馬,每年戶神節時,於田產或房舍毘連處祭祠戶神拉爾(Lar 或 Lares),是為另一形式之家神。

gia thế

Family situation.

gia tiên

Ancestors—Forefathers.

gia truyền

Truyền lại từ đời nầy sang đời khác, từ cha mẹ sang con cái—To be transmitted from one generation to another—Passed on from parents to child—Hereditary.

gia trân

4084自家中之珍寶;禪林中,轉指人人本具之佛性。無門關自序(大四八‧二九二中):「豈不見道:從門入者,不是家珍;從緣得者,始終成壞。」

gia trì

1572梵語 adhiṣṭhāna,巴利語 adhiṭṭhāna。音譯作地瑟姹曩。謂互相加入,彼此攝持。原意為站立、住所,後轉為加護之義。又譯作所持、護念。佛菩薩以不可思議之力,保護眾生,稱為神變加持。 密教認為大日 p來以大悲大智隨順眾生、佑助眾生,稱為加;而眾生受持其大慈悲,則稱持。此一解釋,與「瑜伽」(梵 yoga)之義相同。即大日如來與眾生相應合一,如來三密與眾生三業相互相應,攝己入他,令其感知如來之慈悲,則可成就種種妙果以期成佛,此稱三密加持。日僧空海即根據此說,立「即身成佛義」之說。三密加持有二種:(一)自行加持,即行者手結密印,口唸真言,心住三摩地之修法。(二)阿闍梨加持,即灌頂師就曼荼羅阿闍梨,具足羯磨,以普賢三摩地引金剛薩埵入己身之修法。由此二種加持,現身可證菩提。 又大日經疏卷九舉出「法界加持」之說,即諸佛、真言、眾生等之實相,皆是毘富羅法界,以此更相加持,故稱法界加持。因眾生、諸佛菩薩與真如法界三事平等,故互相加入,彼此攝持感應。大日經要義鈔卷一舉出四種加持,即:法法加持、法人加持、人法加持、人人加持,其中法法、人人二種為同類加持,人法、法人為異類加持。 咒禁之作法亦稱加持。如五處加持,係行者為消除過去罪業,顯現本來具足之五智功德,以印契或杵鈴等法器加持身體五處(額、兩肩、心、頂及喉)。又有所謂加持香水,即心念香水,使之清淨,口誦明咒,持印契以加持。此外,尚有加持供物、加持念珠等,皆為清淨供物或念珠之禁咒法。其所用之印契、明咒等,即稱加持印明。 加持又有祈禱之意,例如:牛黃加持(又作牛王加持。為求安產,以牛黃香水加持於產門)、帶加持(為求安產,加持於岩田帶)、土砂加持(為除病或消除亡者之罪而於墳墓或死骸上撒布土砂,口唸光明真言加持)、刀加持(為除惡魔與鬼靈,觀想代表不動明王之利劍以加持)等,係專為祈禱現世利益者。加持一般又與祈禱並稱為加持祈禱。〔大日經疏卷一、卷十五、大日經義釋卷十一〕 ; Adhiṭṭhāna (P), Adhiṣṭhāna (S), Adhiṭṭhāna (P), Aid from Buddha Gia trì lực, Uy lựcSở trìXem Thần lực. ; Adhisthàna (S). Determination, resolution. Assist and protect. ; Adhisthana (skt)—Địa Sắt Vĩ Năng—Gia trì có nghĩa là nhờ vào Đức Phật, người đã dùng sức của chính mình để gia hộ và trì giữ cho chúng sanh yếu mềm đang tu hành; gia trì còn có nghĩa là cầu đảo, vì mong cầu Phật lực hộ trì cho tín giả. Nói chung gia trì có nghĩa là “hộ trì'—To depend upon—Dependence on the Buddha, who confers his strength on all who seek it and upholds them; it implies prayer, because of obtaining the Buddha's power and transferring it to others. In general it means to aid or to support.

gia trì cung vật

1575密教行者修一尊法時,以各部辦事明王之印明加持供物,除袪污濁為清淨妙供,以防藥叉、羅剎、毘那夜迦等之盜食觸穢。辦事明王因三部、五部各異,故其印明於經軌所說不一。重要者如下:(一)小三股印、金剛軍荼利小咒,出自蘇婆呼經卷上、蘇悉地供養法卷上。(二)小三股印、甘露軍荼利小咒,出自陀羅尼集經卷三。加持供物時,行逆順加持,即先逆加持,以辟除魔障等,再順加持,為悉地成就結界

gia trì cú

1573即具有「令法久住」功能之真言(咒),乃用於密教胎藏法後供養之後或解界之後所結誦者。據大日經囑累品載,即:南麼三曼多勃馱喃(namaḥ samantabuddhānām,歸命普遍諸佛)薩婆他(sarvathā,一切)勝勝怛袭怛袭顒顒(śiṃśiṃ traṃ traṃ guṃ guṃ)達鄰達鄰(dharam dharam,持持)娑他跛也娑他跛也(sthāpaya sthāpaya,住住)勃馱薩底也嚩(buddha satya vā,若佛真實力)達摩薩底也嚩(dharma satya vā,若法真實力)僧伽薩底也嚩(saṃghasatyava,若僧真實力)

gia trì cúng vật

Trì chú vào những vật cúng, để tránh không cho ma quỷ cướp mất hay làm cho những thức ăn nầy bất tịnh—To repeat tantras over offerings, in order to prevent demons from taking them or making them unclean.

gia trì hương thuỷ

1576密教修法時,加持香水用以灌灑之作法。又稱灑淨、灑水。香,有遍至之德,乃表示「理」;水,有洗滌之用,乃表示「智」。香、水和合,故成滿理智不二甘露之平等性智。若結誦印明,加持香水二十一次,並以散杖(或小束芳草、手指)於水中順逆攪劃紪(raṃ)、徤(vaṃ)二真言各二十一次,其後灑於自身及壇上供物、壇外道場等處,得令行者去妄執,清淨供具等物而速得悉地。但所用之印與真言依修法之別而不定。〔蘇悉地羯羅供養法卷上、大日經疏卷四、阿娑縛抄卷三十七〕

gia trì lực

Adhiṣṭhāna-bāla (S)Xem Gia trì. ; Adhisthànabala (S). Magical power of determination. Buddhaconfers his strength on all (who seek it) and upholds them. ; Adhisthana (skt)—See Gia Trì in Vietnamese-English Section, and Adhisthana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

gia trì niệm châu

1575乃密教行者於修法時,入正念誦前,加持念珠之方便行法。即先取念珠,唱恽字真言;次誦淨珠咒,令念珠清淨;後頂載三次,為五大願等之祈念;再唱旋轉真言,旋轉念珠三次(旋轉係表示轉法輪之義)。行者為成就本尊之身,乃於本尊加持位時以轉法輪之相表示化他說法(即正念誦)之義。(參閱「念誦」3220)

gia trì niệm tụng

1575乃正念誦之異稱。略作念誦。為五種念誦中之三摩地念誦。於密教修法時,行者內心安住於定中,觀想、誦念本尊之真言。〔胎藏界大法對受記卷六〕(參閱「念誦」3220)

gia trì thuyết

1576日本新義真言宗所立,關於大日經教主之學說。此宗立自證極位、加持門、加持世界等三段之說,而謂極位與加持門乃因位行者所不得視聽者,且極位無說法,故大日經係於加持門所說者。此說乃根來中性院賴瑜所創,聖憲集大成。自證之經驗本屬言語道斷、不可言傳之境界,大日如來若住此位,則諸眾生不得受益,故大日如來現加持身,對四重圓壇之自眷屬,為未來諸眾生說大日經。

gia trì thành phật

1574即依修行之功,由佛力加持,而現成佛之相。為密教所說三種即身成佛之一。詳稱加持即身成佛。乃眾生之三業與佛之三密交互加持感應,開顯本有證得之覺體。對本有理具之成佛而言,雖亦在修生修顯之位,然眾生本覺之功德與諸佛之加被力感應道交時,於一念之中覺知諸法實相,即開顯眾生本有證得之覺體。〔大日經疏卷十四、大毘盧遮那經住心鈔卷四、大日經要義鈔卷一〕 ; Nhờ Phật lực gia trì mà được thành Phật Quả—By the aid of Buddha to enter the Buddhahood.

gia trì thân

1575即佛菩薩起大悲心為化益眾生所現之佛身。即密教行者修身、口、意三密之妙行而與三密相應時,於其瑜伽觀中來現之佛身。據大日經疏卷一載,即以平等之身、口、意祕密加持為所入之門,謂以平等密印、語平等真言、心平等妙觀為方便故,即可見加持受用身。此加持受用身即是毘盧遮那遍一切身,遍一切身即是行者之平等智身。是故住此乘者,以不行而行,以不到而到。其中,行者之平等智身,即行者由三密之妙行於其心中生起感應,稱為智法身,其身即加持身,蓋此加持身即自性法身之分身散影,不外是行者自心之淨菩提心所發露。日本古義派與新義派對此各有不同之見解。〔大日經疏鈔卷一、大毘盧遮那經住心鈔卷一〕(參閱「本地身」1955) ; Thân gia trì hay dựa vào sự gia trì mà hiện khởi Phật thân, hay là Ứng Thân—The body which the Buddha depends upon for his manifestation (the nirmanakaya).

gia trì thế giới

1572密宗大日如來為教化眾生,由自性法身變現他受用加持身,並說三平等句法門所現之世界。又作海會現前、隨他法界宮、瑞相土、塵道世界。乃生死凡夫生存之世界,亦即佛與眾生感應道交之世界。以自性法身而言,並無迷之眾生,而眾生自迷,認為自己與佛不同,佛陀為救度此等眾生,乃現他受用加持身,以利教化。故密宗謂,加持世界乃大日如來為救度眾生而變現者;換言之,離開佛界,即無迷界。〔大日經疏卷一、卷六、卷二十、宗義決擇集卷九〕(參閱「加持身」1575、「本地身」1955)

gia trì trát

1573指加持紙札,即唱真言(咒語)而行加持時所用之神聖紙札。札上有種種真言或符。

gia trì trượng

1575即由三十餘公分長之石榴木或桃木枝削製作成之杖。誦真言加持之,可用以扣打魅女之肩,或擊打病者痛處。用桃木,係源於道家之說,蓋以桃木為百鬼所畏;用石榴枝,則根據止風雨經等密教經軌所載。〔摩訶止觀卷八、事物紀元卷八〕 ; Chiếc gậy làm bằng cành đào, dùng chân ngôn mà gia trì rồi gõ vào vai ma nữ hoặc đánh vào chỗ đau của người bệnh—A wand made of peach wood laid on in driving out demons, or in healing disease, the painful place being beaten. Tantras are repeated while the wand is used on the patient.

gia trì tự thân pháp

1574即密宗行者加持自身而觀想自身變為本尊之修法。大日經疏演奧鈔卷十二(大五九‧一二八中):「觀心中有嚩字,變成五股金剛杵,杵變成金剛薩埵,云觀自身即是執金剛。如是觀已,手結薩埵印,口誦其言,為加持法也。」上述乃以金剛薩埵為本尊,行者加持自身而觀想自身變成金剛薩埵之修法。以其餘諸尊為本尊之各種修法,其加持自身法皆可準之而行。

gia trì vật

1576即與本尊或佛菩薩相應之供物。加持,意謂相應涉入,故加持物又稱「相應物」。密教行者修護摩法時,依所修之法選出與本尊相應之供品,投入護摩爐中供之,而觀與本尊相互涉入者。此觀法為護摩行法中最重要者。用以加持之物依修法種類而異,如息災法用白胡麻,增益法用染黃之粳米,調伏法用芥子,敬愛法用花箭、米團、染紅之粳米,延命法用屈婁草。此係以事成理之義,如胡麻含油,具光明之因,故由加持力成光明輪(圓滿月輪),照十方界,能破惑業之暗,且又味甘無毒,故與息災法相應。增益法所用之粳米係表示如意寶珠;敬愛法所用之米團、粳米或花箭,係表示紅蓮華;調伏法用芥子係表示獨股杵。〔乳味鈔卷七、護摩次第(空海)〕

gia trì ấn minh

1574<一>指密教行者修法前,為清淨供物供具,消除行者自身過去之罪業,行加持時所採之印契與明咒。大日經疏卷十五(大三九‧七三四下):「當以空、水二指頭相捻,餘三指皆舒散之,用此印加持諸物,乃至壇中一切供養之具,悉用加之,皆得成也。」空、水二指即指拇指與無名指。蓋供物或有污穢,若不如此加持,則不適於供養,非但行者三業不得清淨,更予魔障難之便,不能成就悉地行法。故一般加持印明,多就供物供具而言,亦即結小三股印,誦軍荼利明王小咒「唵(oṃ)阿蜜哩帝(amṛte)吽(hūṃ)發吒(phaṭ)」。〔阿娑縛抄卷三十七、密教奧義卷下〕 <二>不空所譯千手千眼儀軌經卷上載,密教行者用以加持自身之心、額、喉、頂等四處,以避離障難,成就瑜伽所結誦之印明,稱為加持印明。加持四處時,每處均須結誦印(印契)、明(真言)各一次。結此印相,二手先作外縛拳,二食指微屈,狀如蓮葉,二拇指伸直並立。其真言為:唵(oṃ,歸命)嚩日囉達麼(vajra-dharma,金剛法)地瑟姹(adhiṣṭha,加持)娑嚩舾(svamāṃ,我)。〔瑜伽蓮華部念誦法、觀自在王如來修行法〕

gia trì ẩm thực ấn

1576即加持於飲食之印契,乃施餓鬼等所用之法。據不空所譯施諸餓鬼飲食及水儀軌載,以此印加持,口誦七遍「無量威德自在光明加持飲食陀羅尼」,可令一切餓鬼皆得七斗斛之食(摩揭陀國所用之斗),食已生天或生淨土,而行者亦可消除業障,增益壽命,於現在、當來二世得無量福德。結此印契,先以右手拇指摩中指指甲兩三回,其他三指直立,又以拇指捻食指,彈指作聲,每誦一咒則一彈指。其真言為:曩莫(namaḥ,歸命)薩嚩怛他蘗多嚩嚕吉帝(sarva tathāgatāvalokite,觀一切如來)唵(oṃ,供養)三婆羅三婆羅(sambhara sambhara,扶助者施與者)吽(hūṃ,種子)。此一作法不限於密教所用。

gia trạch

House—Dwelling.

gia trấn

4085為密教之息災法。修法之時,以不動明王為本尊,口誦真言,而祈願之。若由朝廷行之,則為國鎮或安鎮國家法;若由民家行之,則稱家鎮或鎮宅。後者乃造新宅時,祈其家宅安穩所修之密法。(參閱「安鎮法」2410)

gia tài

Family inheritance.

gia tâm

To apply one's mind to something.

gia tăng

To augment—To add—To increase.

gia tường tự

5760位於浙江會稽。係東晉孝武帝太元年間(376~396),郡守瑯琊王薈因仰慕竺道壹之風範而建立之寺宇,並請其居之。竺道壹博通內外經典,且律行清嚴,四方僧尼咸來依附,時人號稱「九州都維那」。梁時,慧皎嘗住此,春夏弘法,秋冬著述。隋代時,吉藏曾於此寺講經八年,聽者常達千餘人,該寺遂名聞天下,世乃稱吉藏爲嘉祥大師。吉藏弟子智凱亦來此宣講三論,聚眾八百餘人。傳王羲之的七代孫智永亦嘗在此讀書。〔梁高僧傳卷五、卷十四、續高僧傳卷六、卷十一、卷十四、佛祖統紀卷十〕

Gia Tường Đại sư 嘉祥大師

[ja] カショウダイシ Kashō Daishi ||| Jiaxiang Dashi A name for the Sanlun patriarch Jizang Jizang 吉藏. This nickname comes from the name of the temple in which he lived the Jiaxiang si 嘉祥寺, in Kuaiji 會稽. => Hiệu của Cát Tạng (c: Jizang 吉藏), vị tổ Tam luận tông. Danh hiệu nầy xuất phát từ ngôi chùa sư trú trì ở Cối Kê (Kuaiji 會稽) tên Cát Tường tự.

gia tẩu

Chị hay em dâu—Sister-in-law.

gia tập

Một chúng hội hoàn hảo—An excellent (delightful) assembly, or meeting.

gia tế

4085梵名 Saṃskāra。又作家庭祭。印度婆羅門教徒於家中舉行之一種祭儀。現已成為民間風俗儀禮,大別為兩類,第一類由投胎至結婚,共十二種,稱十二淨法:(一)受胎禮。(二)成男禮,祈求胎兒為男。(三)分髮禮,祈求胎兒順利出生。(四)出胎禮,產前除惡魔搗亂。(五)命名禮,產後十日命名。(六)出游禮,父母攜嬰兒出游。(七)養哺禮,求子富貴。(八)結髮禮,嬰兒期結束,進入兒童期。(九)剃髮禮,兒童期結束,已達成年期。(十)入法禮,正式成為婆羅門教徒。(十一)歸家禮,離開師家之前,先沐浴歸家。(十二)結婚禮。 第二類為婚後所行之祭典,主要有七種:(一)新滿月祭(梵 Pārvaṇa)。(二)休羅瓦那祭(梵 Śrāvaṇī),七、八月之望日舉行。(三)阿休瓦尤吉祭(梵 Aśvayujī)祈求家畜興旺。(四)阿古羅哈耶那祭(梵 Āgrahāyanī),原於十月舉行,後改為一月之望日夜,假想此夜為一年,祈求春、夏、秋、雨、冬五季風調雨順。(五)佳義特羅祭(梵 Caitrī),三至四月之月滿日。(六)阿休他卡祭(梵 Aṣṭakā),一年之休息時期,以娛樂為旨。(七)祖先祭(梵 Śrāddha),有葬儀。 ; Family ceremony.

gia tốc

To accelerate.

gia tổ

Great Grand father.

gia tộc

Family.

gia uy lực

1572指佛加被於眾生身上之神威力。又作加被力、加祐力、加備力、加力。無量壽如來會卷下(大一一‧一○一上):「已曾供養無量諸佛,由彼如來加威力故,能得如是廣大法門,一切如來稱讚悅可。」諸經典中,常有「經由諸佛如來之加威力而得大法門」之記載。又據摩訶止觀卷六上之說,須菩提嘗於石室見佛之法身,故能於「大品」之中,受加被力而宣說般若之大法。〔大智度論卷四十一、止觀輔行傳弘決卷六之二、觀經玄義分傳通記卷一〕

gia vụ

Family obligations. Gia Vụ Chưa Xong, Chừng Nào Mới Tu? Unfinished family obligations, when can one practise ?

gia ân

To grant a favour.

gia đinh

Servant.

gia đàm bà thụ

1577梵語 kadamba,巴利語同。意譯為條莖。又稱迦曇婆樹。係產於印度之喬木。六月左右開花,氣味芳香,花呈球形,色白略帶黃綠。隋代闍那崛多等譯之起世經卷一謂,弗婆毘提訶洲有一迦曇婆樹,縱廣七由旬,入地二十一由旬,高百由旬,枝葉垂覆五十由旬。惟此一記載不符今日所見之加曇婆樹。又印度教徒以此樹為吉栗瑟拏神(梵 Kṛṣṇa)之聖樹,並謂吉栗瑟拏與其妃羅達常於此樹下遊居。〔菩薩念佛三昧經卷一不空見本事品、大樓炭經卷一〕

gia đình

KŪla (S), Family Bộ tộc. ; Family—Household—Home.

gia đình hạnh phúc

A happy family.

gia đình kinh

4084梵名 Gṛhya-sūtra。古印度吠陀祭儀綱要書,與「隨聞經」同屬吠陀輔助文獻─劫經(梵 Kalpa-sūtra)之一部分。約成書於西元前四○○至二○○年間。書中詳述家庭祭之過程。此家庭祭係印度民間傳統風俗,與印度人日常生活密不可分,舉凡出生、命名、入學、畢業、婚嫁、喪葬等皆有祭儀,又有臨時及定期祭之分。通常以一個終年不絕之祭火,由家長或主婦在家行祭禮,祭品有穀物、乳品、犧牲等。(參閱「隨聞經」6354) ; Gṛhya sŪtra (S)Tên một bộ kinh. Kinh Bà la môn giáo (trong Phệ đà kinh), khoảng 400 - 200 BC, của phái Sử Man nhĩ tháp (Smartha).

gia đường

Ancestral altar

gia đạo

Family situation.

gia đảo pháp loạn

1576又作加島法難、熱原法難。乃發生於日本駿河國加島庄熱原鄉(靜岡縣富士郡鷹岡町厚原),日蓮宗教徒受迫害之事件。日蓮宗初祖日蓮與其門下在富士郡布道,皈依者日眾,而為岩本天台宗實相寺主嚴譽,與下方真言宗瀧泉寺主行智所不喜。弘安二年(1279),皈依日蓮之熱原鄉紳彌四郎遭殺害,日蓮門下之日興遂與瀧泉寺學頭日秀至門注所(地方之轄管單位)爭相起訟,結果皈依日蓮之神四郎等反遭處刑。是故,日蓮乃作聖人御難鈔訓誡門人,其後日秀至幕府呈瀧泉寺申狀書以說明事實,事平歸隱。

Gia Đằng Thanh Chánh

(加藤清正, Katō Kiyomasa, 1562-1611): vị Võ Tướng dưới thời đại An Thổ Đào Sơn, xuất thân vùng Vĩ Trương (尾張, Owari), trung thần của Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi); thông xưng là Hổ Chi Trợ (虎之助); giới danh là Tịnh Trì Viện Vĩnh Vận Nhật Thừa Đại Cư Sĩ (淨池院殿永運日乘大居士); thân phụ là Thanh Trung (清忠), thân mẫu là Y Đô (伊都). Trong trận chiến ở Sekigahara (關ヶ原), ông đứng về phía Gia Khang (家康, Ieyasu) và sau đó thì lãnh hữu tiểu quốc Phì Tiền (肥前, Hizen).

gia đằng tinh thần

1578(1872~1956)日本新義真言宗豐山派學僧。早年剃度並受灌頂,年長,專攻真言學及性相學。歷任各大學教授、校長等職。嘗於東京田端與樂寺,灌頂開壇。大正十四年(1925),被任命為大司教大僧正,於佛教會、學術界頗多貢獻。昭和三十一年入寂,享年八十五。著有大日如來の研究、仁王般若經國譯略註、唯識二十論等十餘種。

gia đằng đốt đường

1577(1870~1949)日本社會教育家。本名熊一郎。生於京都府。幼隨其父習漢文,及長,上京入英吉利法律學校(中央大學前身)就讀。後入大槻如電之門,與島田蕃根、大內青巒等共同研究佛法,並志於社會教化。歷任中央教化團體聯合會理事、上宮教會會長。主編雜誌「新修養」(大正十三年改稱「精神」),並常赴全國各地演講。被尊為社會教化之功臣,先後於大正十三年(1924)、昭和三年(1928)受宮內省、文部大臣之表彰。復任教於東洋大學、日本大學、曹洞宗大學。昭和二十四年歿,壽八十。著有碧巖錄大講座、修養大講座(各十二卷)、禪學要義、維摩經講話、碧巖錄講話、日本佛教の概說、維摩の真髓、勝鬘經を語る、起信論講話、禪と生活等。〔明治佛教史(青年佛教叢書二○)、大正佛教史(青年佛教叢書三一)、明治大正昭和時代佛教史(佛教大講座)〕

Gia 嘉

[ja] カ ka ||| (1) Good, excellent, beautiful, pleasing, fortunate. (2) To like, love, respect. (3) To enjoy, appreciate, be pleased with. (4) Good fortune, happiness. => Có các nghĩa sau: 1. Tốt, ưu tú, đẹp, dễ chịu, may mắn. 2. Yêu, thích, kính trọng. 3. Thích thú, cảm kích, hài lòng.

Gia 家

[ja] カ、ケ ka, ke ||| (1) House, home, residence, housing (agāra). (2) Family, household, family name, family fortune, lineage, tradition. (3) Family, as a metaphor for a certain school of religious or philosophical thought. (4) philosopher, teacher, master. A specialist in any branch, or his/her school. => 1. Nhà ở, chỗ ở, trú xứ (s: agāra). 2. Gia đình, trong nhà, đanh tánh gia đình, tài sản gia đình, dòng họ,truyền thống. 3. Ẩn dụ cho một tông phái hay một trường phái triết học. 4. Nhà tư tưởng, giáo sư, đạo sư. Một chuyên gia trong trường phái hay chi nhánh riêng do họ đề xướng.

gia-bà -đề-bà

, ẩn sĩ Yamataggi (P).

giai

Tất cả—All.

giai cấp

Vaṇṇa (P), Varṇa (S), Classes.

giai cấp lao động

The working class.

giai cấp thượng lưu

The upper class.

giai cấp trung lưu

The middle class.

giai cấp trí thức

Intelligentsia.

giai cấp vô sản

Proletariat.

giai cấp xã hội

The caste system—Class of society.

giai không

Tất cả đều là không—All is empty and void.

giai lão bách niên

Bách niên giai lão—To live together until a hundred years old.

giai ngẫu

Well-assorted couple.

giai phẩm

Fine literary work.

giai thoại

Episode.

giai đoạn cuối

, dzo rim (T),Completion stage.

giai đoạn của nghiệp

Kammavatta (P), Phase of kamma.

giai đoạn phát triển

(S), che rim (T), utpattikrama (P), Creation stage, Development stage, Creation stage, Trong Kim cương thừa, có hai giai đoạn thiền quán tưởng.: giai đoạn phát triển và giai đoạn hoàn bị. Trong giai đoạn này hành giả cố gắng quán tưởng, tạo thành hình tượng và duy trì hình tượng ấy.

Giai 皆

[ja] カイ kai ||| (1) Everyone, all, the whole, every. Including everybody. (2) Both, all three. => Mỗi, tất cả, toàn thể, mọi. Mọi người. Cả 2, toàn thể.

giam hãm

To imprison—To detain—To confine.

giam lỏng

To keep a close watch on someone, not to let that person to go out of a limit.

gian dâm

To commit adultery—To be adulterous.

gian dối

Dishonest—Deceitful.

gian hùng

Scoundrel.

gian lận

To cheat—To trick.

gian nan

Dificult—Laborous—Hard.

Gian nan 艱難

[ja] カンナン kannan ||| Suffering and distress. 〔瑜伽論 T 1579.30.467c10〕 => Đau khổ khốn cùng.

gian nhân

Malefactor—Wrongdoer.

gian phi

See Gian Nhân.

gian phụ

Adulteress.

gian sắc

5316指中間色。即緋、紅、紫、綠、胪黃等五間色。係青、黃、赤、白、黑等五正色之對稱。又五間色之外有青、黑、木蘭三種壞色,亦稱間色,此乃袈裟之常色。五正、五間色皆不可爲袈裟。〔四分律行事鈔資持記卷下一之一〕

gian sắc phục

5317袈裟之別名。又稱離塵服(斷六塵故)、消瘦服(斷煩惱故)、蓮華服(離染著故)。袈裟如法之色有三,一黑色,即緇色,爲黑泥之色。二青色,即銅青色。三木蘭色,即果實之染色;印度稱爲乾陀色,日本稱爲香染。此三種壞色亦稱間色,故袈裟稱間色服。然此間色,非指緋、紅、紫、綠、胪黃等五間色。(參閱「袈裟」4784)

gian tham

Greedy.

gian thông

Adulterous.

gian thố thiên

5317爲密教胎藏界曼荼羅外金剛部南方第十七位之天名。二十八宿中之張宿(梵 Pūrva-phalgunī)。此天在因位,降禍於小男女,或使之至死。由胎藏大日之加持,攝取於曼荼羅會中,爲曼荼羅外護之一尊。此尊之形像,據胎藏現圖之描繪,呈肉色菩薩像,豎右掌,屈食、中、無名三指;左手置臍側,持蓮花,蓮上有珠;豎右膝,交腳而坐。胎藏舊圖像,則作左手持青蓮花,豎右肘仰拳舒小指,半跏坐於圓座。其種子爲???(mi)。印契用二十八宿總印。真言爲:歸命布盧縛發魯求拏(Pūrva phalguna)那乞叉多羅(nakṣatra,宿)娑縛賀(svāhā);或二十八宿總咒。〔宿曜經、諸說不同記卷十〕

gian truân

Upāyaśa (S), Misfortune Bất hạnh, Thất vọng. ; Hard and miserable.

gian trá

Deceitful—fraudulent—Deceptive—Fraudulent—Crafty—To cheat.

gian tà

Treacherous.

gian tặc

Bandit.

gian tế

Spy.

gian xảo

Crafty—Cunning.

gian ác

Dishonest and wicked.

giang

Con sông—A river.

Giang Ca-diếp

江迦葉; C: jiāng jiāshě; J: kō kashō;|Kết hợp phiên âm và dịch nghĩa tên của Nadī-Kāśyapa; Na-đề Ca-diếp (那提迦葉).

Giang Ca-diếp 江迦葉

[ja] コウカショウ Kō kashō ||| A combined translation/transcription of the name of Nadī-Kāśyapa; see 那提迦葉. => Kết hợp phiên âm và dịch nghĩa tên của Nadī-Kāśyapa; Xem Na-đề Ca-diếp 那提迦葉.

Giang hồ

江湖; C: jiāng hú; J: gōko;|Giang và Hồ chỉ cho tỉnh Giang Tây và Hồ Nam, nơi mà vào thế kỉ thứ 8, truyền thống tu tập thiền lớn mạnh cùng với ảnh hưởng của những Thiền sư như Mã Tổ, Thạch Đầu. Nghĩa chung là: 1. Khắp mọi miền; 2. Tụ hội nhiều thiền tăng.

giang hồ

2473原指江西與湖南,或指揚子江(長江)與洞庭湖,或指三江(湖北荊江、江蘇松江、浙江省浙江)與五湖(江西鄱陽湖、湖南青草湖、湖南洞庭湖、江蘇丹陽湖、江蘇太湖)。蓋「江湖」之用語,最早係出自莊子內篇大宗師中之「不如相忘於江湖」一語。 然在禪林中,則稱雲遊四海之僧眾(雲水僧)為江湖。蓋於唐代時,江西有馬祖道一,湖南有石頭希遷,此二師同時大樹法幢,德聲享譽四方,馬祖道一大振禪風,其下乃有臨濟、溈仰、黃龍等法流之演化;石頭希遷亦廣布法化,其下乃有曹洞、雲門、法眼等道法之流布。當時天下僧眾廣集,多以參遊二師門下為要,故依地名而稱參學之僧眾為江湖僧、江湖眾,略稱江湖。此外,因參遊之僧眾多為行腳於三江五湖,周遊天下者,因此亦稱之為江湖。又雲水僧舉行之結制安居,稱為江湖僧會、江湖會,亦可略稱為江湖。又僧堂亦稱為江湖道場、江湖寮;師家則稱江湖名勝禪師。另慶賀晉山之疏文,稱為江湖疏或江湖友社疏;此疏若由東藏主宣讀,稱為東江湖疏;若由西藏主宣讀,則稱為西江湖疏。 此外,「江湖」一語尚有多種意義:(一)據禪林象器箋第六類稱呼門載,江湖,指長江與洞庭湖。禪士若散處於名山大剎之外,而居於江上湖邊者,稱為江湖人;不出世為名山大剎之住持者,聚會在一處,稱為江湖眾。(二)指世間,如漢書中之「甚得江湖間民心」。又對朝廷而言,則指隱士之所居,如范仲淹岳陽樓記中之「處江湖之遠,則憂其君」。(三)一般通俗之稱呼,浪迹四方謀生活者,稱為走江湖、跑江湖;閱歷豐富之人則稱為老江湖;亦有轉稱專以詐術斂財為業者,如江湖術士、江湖郎中等。〔宿曜經卷上定宿直品、敕修百丈清規卷上住持章、尊祖章、景德傳燈錄石頭章、禪林象器箋第二十二類文疏門〕 ; 1) Đi khắp mọi nơi: To travel everywhere. 2) Chỉ hai tỉnh Giang Tây và Hồ Nam bên Trung Quốc, nơi trước đây Thiền Tông rất hưng thịnh: Jiang-Si and Hu-Nan in China, where and whence the Zen (Ch'an) or Intuitive movement had its early spread. 3) Đệ tử của Thiền Tông: A title being applied to followers of the Zen sect.

Giang Hồ Phong Nguyệt Tập

(江湖風月集, Gōkofūgetsushū): 2 quyển, do Tùng Pha Tông Điềm (松坡宗憩) biên tập. Đây là tập thâu lục những thi kệ được nhiều người thích xưng tán, đọc tụng trong số những bài được làm ra từ khoảng thời gian niên hiệu Diên Hựu (延祐, 1314-1320) và Chí Trị (至治, 1321-1323). Bản thân tác giả cũng có 13 bài thơ và thêm khá nhiều bài của lớp hậu bối, cho nên cũng có thuyết nghi vấn liệu có phải do Tông Điềm biên tập hay không. Quyển thượng có 33 người và 134 bài, quyển hạ có 42 người và 130 bài gồm các bài thơ của Tông Điềm, lời bạt của Thiên Phong Như Uyển (千峰如琬); bên cạnh đó có bản riêng thêm vào 6 bài, thành 76 người và 272 bài. Ở Nhật Bản, các tả bản cũng như san bản có rất nhiều như Bản Ngũ Sơn san hành năm thứ 3 (1328) niên hiệu Hỷ Lịch (喜曆), v.v. Sách chú thích có Giang Hồ Phong Nguyệt Tập Chú Giải (江湖風月集註解) của Thiên Tú (天秀), Giang Hồ Phong Nguyệt Tập Chú (江湖風月集註) của Đông Dương Anh Triều (東陽英朝), Giang Hồ Phong Nguyệt Tập Lược Chú Thủ Xả (江湖風月集註取捨) của Dương Xuân Chủ Nặc (陽春守諾), Giang Hồ Phong Nguyệt Tập Lược Chú Thủ Xả Dực Khảo (江湖風月集註取捨翼考) của Cán Sơn Sư Trinh (幹山師貞), Vạn An Sao (萬安鈔), Giáp Sơn Sao (夾山鈔), Khải Mông Sao (啓蒙鈔), v.v.

giang hồ phong nguyệt tập

2473凡二卷。元代松坡宗憩編。又稱江湖集。本書係將宋代之景定、咸淳至元代之延祐、至治年間(1260~1323),諸方尊宿所作之偈頌,編錄而成。內容多為諸方尊宿將歷參之心得,以清風、明月等自然之事,託顯出所悟之境界,故書名為「江湖風月集」。 本書分為上、下二卷,共收七十六人,二七○首偈頌。其中,松坡自作之偈頌有十三首,收於下卷中。又書中亦收有松坡以後之人的作品,故本書為松坡編集之說,可能有疑問。本書亦流傳於日本,有諸多版本及注釋書。

Giang hồ 江湖

[ja] コウコ Gōko ||| Chiang and Hu, a reference to the provinces of Jiangxi and Hunan, where in the eighth century a powerful Chan teaching tradition arose under such influential masters as Mazu 馬祖 and Shitou 石頭. Associated meanings include: (1) the whole land, and (2) a gathering of many Chan practitioners. => Giang (c: Chiang) và Hồ (c: Hu), chỉ cho tỉnh Giang Tây (c: Jiangxi ) và Hồ Nam (Hunan), nơi mà vào thế kỷ thứ tám, truyền thống tu tập thiền lớn mạnh cùng với ảnh hưởng của những Thiền sư như Mã Tổ, Thạch Đầu. Nghĩa chung là: 1. Khắp mọi miền. 2. Tụ hội nhiều thiền tăng.

giang lăng

Chiang ling (C).

giang thiên tự

2472位於江蘇鎮江西北,即在突出於長江中之金山西麓。據傳創建於東晉元帝或明帝之時,初稱澤心寺。梁武帝於天監四年(505)設水陸大會於此。至宋代,真宗嘗頒賜大藏經。大中祥符五年(1012)改稱龍遊寺。元代以後則稱為金山寺。此寺歷代之住僧頗眾,有臨濟宗、曹洞宗、雲門宗等高僧大德駐錫於此。其中,佛印了元住寺期間,蘇東坡常入寺叩問,高麗之義天亦曾來此參學。此外,楊岐宗之圜悟克勤,及天台宗山家派之南屏梵臻等亦嘗住於此。 宋徽宗政和四年(1114),奉令改為道觀,然未幾復改為佛寺。宋、明之際,迭有興廢。至清康熙二十五年(1686)更名為江天寺,與高旻寺、天寧寺合稱臨濟三大叢林。自古以來文人墨客來訪者頗多:因地處金山之西,故一般多稱為金山寺。咸豐三年(1853),於洪楊之亂時焚毀;光緒初年重建,規模大減。民國三十六年(1947)又遭火焚。〔續傳燈錄卷二、卷四、卷五、佛祖統紀卷十二、卷十三、新續高僧傳卷九、卷二十五、大清一統志卷六十三、中國佛教史卷四(蔣維喬)〕(參閱「金山寺」3521) ; Chùa Giang Thiên trên núi Kim Sơn thuộc Thanh Giang, tỉnh Giang Tô—The River and Sky monastery on Golden Island, Ching-Jiang, Jiang-Su.

giang tây

Kiang-si (C). ; Danh hiệu của Mã Tổ, một vị cao Tăng tại tỉnh Giang Tây, thị tịch vào năm 788—A title of Ma-Tsu, who was a noted monk in Jiang-Si, died in 788. ** For more information, please see Ma-Tsu.

giang tây long phái

2472(1375~1446)日本臨濟宗僧。別號豩庵、續翠。東常緣之叔父。早歲即入建仁寺,師事絕海中律。曾住於建仁寺、南禪寺等。於文安三年示寂,世壽七十二。以詩文著稱於世,著有詩文集豩庵集、續翠集;另有天馬玉津沫(蘇東坡詩抄)、江湖集抄等。

giang tây đệ nhất thiền sư ngữ lục

Kiangsi Tao-i-ch'an-shih yu-lu (C), Record of the Words of Ch'an Master Tao-i from Kiangsi Tên một bộ sưu tập.

giang tử

1) Dòng sông: A river. 2) Dòng sông Dương Tử—The Yangtze River.

giang vị nông

2473(1873~1938)江蘇江寧人。寄居湖北。名忠業,字味農,法名妙熙。自幼即隨祖父持誦金剛經。中年喪偶,了悟人世無常。民國七年(1918),禮微軍禪師為師,受菩薩戒。所著「金剛經講義」一書,流通甚廣。又曾校訂敦煌藏書之古寫本經典,輯成大乘稻芋經隨聽疏一卷,及淨名經集解關中疏二卷。

giao

1) Chất keo—Glue—Gum. 2) Giải giao: To hand over. 3) Giao điểm: Intersection. 4) Giao nhau: To intertwine—To twist—To intermingle.

giao bồn tử

1) Hộp keo—A glue-pot. 2) Chữ viết dính nhau: Running handwriting.

giao cát

2151於眾人見證之下,分割公私物品。禪宗僧堂中,更換新舊職務時,新舊執事相互查點公私器物,並將之分割處理,稱為交割。相當於現今之辦理移交。敕修百丈清規卷上住持章入院交割砧基什物條(大四八‧一一二七上)載:「入院後,須會兩序勤舊茶,詳細詢問山門事務、砧基、契書、什物,逐一點對交割,計算財穀,簿書分明,關防作幣,務在詳審。」同書卷下兩序章寮舍交割什物條(大四八‧一一三五上):「新舊相沿交割,損者公界修補,缺者本寮陪償。」此外,二人共同交接查點事物,稱為交點;移交錢財,稱為交收;新舊二者之交代,稱為交承。〔百丈清規證義記卷六、法山塔頭並小方丈交割帳、瑩山和尚清規卷下、類聚名物考卷一八八〕

giao du

To frequent—To company with someone.

giao hoàn

To return—To give back.

giao hương

Hương nhựa của một loại cây hỗ phách—Incense of the liquid amber tree.

giao hảo

To be in friendly terms with—To entertain friendly relation with.

giao hữu

Amicable relations.

giao lộ

2151比喻以寶珠交錯裝飾,如同日光照耀露珠,呈現相互輝映之情景。法華經卷一序品(大九‧三中):「各千幢幡,珠交露幔,寶鈴和鳴。」同經卷四寶塔品(大九‧三三上):「寶交露幔,遍覆其上。」此外,無量壽經卷上描繪極樂淨土之狀況,謂淨土之講堂、精舍、宮殿、樓觀等,皆由七寶自然化成;並以真珠、明月摩尼等眾寶,交露覆蓋其上。據憬興之觀無量壽經疏解釋,以寶珠交錯造幔,其形如垂露,故稱交露。〔自誓三昧經、玄應音義卷六〕 ; Màn nạm ngọc trông giống như những giọt sương treo—A curtain festooned with jewels, resembling hanging dewdrops.

giao phó

To entrust—To trust—To confide—To hand over.

giao sức

Trang sức hay trang phục bằng màu xám, hỗn hợp đen vàng—Adorned or robed in grey, a mixture of black and yellow.

giao thiệp

To be in contact with—To associate—To enter a relationship with.

giao thế thần giáo

Kathenotheism.

giao thời

Period of transition.

Giao triệt

交徹; C: jiāochè; J: kyōtetsu;|Tương giao hoàn toàn với nhau.

Giao triệt 交徹

[ja] キョウテツ kyōtetsu ||| Interfusion, interpenetration. => Tương giao hoàn toàn với nhau.

giao điểm

To hand over and check.

giao đường

2151將輪流看守僧堂之職務交付給下一位當值者。蓋於禪林中,僧堂之直堂者須從「開靜」後,看守眾僧之被位衣鉢,由日至夜,不諷經、不出外、不入寮舍,專此一職,至「放參」結束時,再將職務轉交下一位輪值者。交付時,須將「直堂牌」順次交與,稱為交牌。又輪值之順序,係從僧堂上間第二位開始,一日一人輪值,次第交付直堂牌,如此終而復始。〔禪苑清規卷四直堂條、禪林象器箋叢軌門〕 ; Giao cho ai nhiệm vụ quản đường hay tự viện—To hand over charge of the hall or monastery.

giao động

Disturbances

Giáp Sơn Thiện Hội

(夾山善會, Katsuzan Zenne, 805-881): người đã từng xây dựng ngôi Thiền đường vào năm 870 tại núi Giáp Sơn (夾山) thuộc Huyện Lễ Châu Thạch Môn (澧州石門縣), Phủ Nhạc Châu (岳州府), Tỉnh Hồ Nam (湖南省). Ông là đệ tử kế thừa dòng pháp của Thuyền Tử Đức Thành (船子德誠), người vùng Hiện Đình (峴亭), Hán Quảng (漢廣, thuộc Tỉnh Hà Nam ngày nay), họ là Liêu (廖). Lúc còn nhỏ ông đã lên xuất gia trên Long Nha Sơn (龍牙山) thuộc Đàm Châu (潭州, thuộc Tỉnh Hồ Nam ngày nay) và trú tại Nhuận Châu (潤州, thuộc Phủ Trấn Giang, Tỉnh Giang Tô). Sau theo lời khuyên của Đạo Ngô (道吾), ông đến tham yết Thuyền Tử Đức Thành (船子德誠), ông lái đò ở Ngô Giang thuộc Huyện Hoa Đình (華亭), Chế Trung (淛中, thuộc Tỉnh Giang Tô ngày nay), được ấn khế cho kế thừa dòng pháp của Dược Sơn. Vào năm 870, ông đến trú tại Giáp Sơn và cử xướng Thiền phong của mình tại đây. Đến ngày mồng 7 tháng 11 năm đầu (881) niên hiệu Trung Hòa (中和), ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi đời và 57 hạ lạp. Ông được ban thụy hiệu là Truyền Minh Đại Sư (傳明大師).

gieo căn lành về sau

To garden merits and virtues for the future.

gieo gió gặt bão

He who sows the wind shall reap the whirlwind.

gieo rắc

To scatter—To disseminate—To spread abroad.

Già

伽; C: qié; J: ga;|Phiên âm của chữ ga và ka tiếng Phạn (sanskrit).

già

6189悉曇字???(śca)。四十二字門之一。離變遷、不動之義。又作嗟、左、者、酌、伊陀、是侈、室者、室左。大智度論卷四十八(大二五‧四○八中):「若聞遮字,即時知一切諸行皆非行。」行有變遷不住之義,非行即不動、常住之義。同書卷四十八(大二五‧四○九上):「若聞遮字,即知一切法不動相。遮羅地,秦言動。」蓋梵語 cala 為動之義,其否定語「不動」之梵語為 niścala,其中含 śca 字,故有此說。守護國界主陀羅尼經卷三(大一九‧五三五上):「室者字印者,現前覺悟未曾有故。」此「未曾有」之義為梵語 āścarya,中含遮 śca 字。又光讚般若經卷七舉出捨一切法無所得之義,放光般若經卷四舉出分捨之義,大般若經卷五十三舉出聚集足跡之義。〔大品般若經卷五、華嚴經入法界品〕 ; 2764<一>悉曇字???(gha)。為悉曇五十字門之一,四十二字門之一。係悉曇體文三十五字中,牙聲之第四。又作〖⿰口 虐〗、暅、誐、竭、哈。為與???(ga)區別,古來稱為「一合之伽字」或「合相之伽字」。文殊問經字母品、大莊嚴經示書品等均取梵語 ghana(音譯伽那,稠密之義),解釋伽字為「摧稠密無明闇冥之聲」、「除滅一切無明黑闇厚重翳膜聲」(梵 ghaṇa-paṭala-vidyā-moha-andhakāra-vidhāmana)。瑜伽金剛頂經釋字母品與大日經卷二具緣品則取梵語 ghana 或 ghaṭana(意譯作合),解釋伽字為「一切法一合不可得」、「一切諸法一合相不可得」,即有「合不可得」之義,此「一合」意即密合。北本大般涅槃經卷八取梵語 ghoṣa(意譯作音),轉釋伽字為「如來之常音」。〔大日經卷六「百字成就持誦品」、守護國界主陀羅尼經卷三、華嚴經入法界品四十二字觀門、大日經疏卷七、悉曇字記〕 <二>悉曇字???(ga)。為悉曇五十字門之一,四十二字門之一。又作哦、〖⿰口 卉〗、噶、〖⿰口 虐〗、誐、我。(參閱「誐」5918) ; 1) Che dấu: To hide—To hinder—To cover—To screen. 2) Được dùng thay thế cho chữ “Ca”: Interchanged with “Ca.” 3) Kiết già phu tọa: Ngồi kiểu chân nầy tréo lên chân kia—To sit cross-legged—See Kiết Già. 4) Lão: To grow old—To get old.

già bà

Bhagavan (skt)—Già Phạm—See Bạt Dà Phạm.

già chiếu

6191破除一切事物,而歸於真空,稱為遮;以智慧照見事物之本性,稱為照。遮照同時,即天台宗所謂即空即假即中;亦即同時參悟空、假二諦理,此即中道。遮為空觀,即觀察一切事物皆空;照為假觀,即觀察一切事物假有之性質。宗鏡錄卷八(大四八‧四五九上):「說有而不有,言空而不空,或雙亡而雙流,或雙照而雙寂,破立一際,遮照同時。」 ; 1) Giữ kín hay tiết lộ: Đè nén hay bộc lộ—To suppress or to reveal or to illuminate. 2) Phá hoại hay xây dựng: Destructive or constructive. 3) Phủ nhận hay xác nhận: To negate or to affirm.

già chế

Già Giới—Những luật phụ hay thứ luật mà Phật chế ra như cấm uống rượu, đối lại với “tánh giới” là những giới luật căn bản của con người như cấm giết người—A secondary commandments, deriving from the mandate of Buddha, i.e. against drinking wine, as opposed to a commandment based on the primary laws of human nature, i.e. against murder.

già chỉ

Chữ viết tắt của chữ “Tăng Già Lê” có nghĩa là áo cà sa—An abbreviation for “Sanghati” means robe.

già da

2766梵語 gayā 之音譯。意譯作象。翻譯名義集卷二(大五四‧一○八八中):「伽耶,或那伽,或那先,此云象。」 ; Gayā (S), (S, P). ; Gàya (S). Elephant. ; 1) Thân thể: Kaya (skt)—The body. 2) Già Xa: Gaya (skt)—Một thành phố trong thành Ma Kiệt Đà, tây bắc của Bồ Đề Đạo Tràng, gần nơi mà Đức Thích Ca Mâu Ni đã thành Phật—A city of Magadha, Buddhagaya, northwest of present Gaya, near which Sakyamuni became Buddha. 3) Một loài voi Gaja: An elephant. 4) Núi Đầu Voi—Gajasirsa (skt)—Elephant's Head Mountain—Hai đỉnh đã được nói đến—Two are mentioned: a) Một gần núi Linh Thứu: One is near “Vulture Peak.” b) Một gần Bồ Đề Đạo Tràng: One is near the Gaya.

già da ca diếp

2767梵名 Gayā-kāśyapa。又作誐耶迦葉、迦夷迦葉、竭夷迦葉。<一>為佛陀之弟子。三迦葉之一,即優樓頻螺迦葉及那提迦葉之弟。生於印度摩揭陀國之伽耶近郊,為事火外道(拜火教徒)之師,有二百五十名弟子,後皆皈依佛陀,成為佛弟子。〔增一阿含經卷十五、佛本行集經卷四十、眾許摩訶帝經卷十、太子瑞應本起經卷下、佛所行讚卷四、有部毘奈耶卷二十七〕 <二>密教安置於胎藏界曼荼羅遍知院之三角智院右方。密號離塵金剛,種子為???(ha),三昧耶形為梵篋印。身呈肉色,為比丘形,右手向外,左手執袈裟角,坐於座具。 ; Gayā-Kaśyapa (S)Một trong 3 anh em nhà Ca Diếp: Uruvilva Kasyapa, Gaya Kasyapa, Nadi Kasyapa. ; Gayakasyapa (skt)—Yết Di Ca Diếp, một người em của Đại Ca Diếp, trước kia theo tà giáo, thờ thần lửa, về sau trở thành một trong mười một đệ tử nổi tiếng của Phật, thành Phật tên là Samantaprabhsa—A brother of Mahakasyapa, orginally a fire-worshipper, one of the eleven foremost disciples of buddha, to become samantaprabhasa Buddha.

già da nhân đà la tịnh xá

Jayandra (S).

già da sơn

2766伽耶,梵名 Gayā。又作伽種山、誐耶山、羯闍尸利沙山。意譯象頭山。以山頂似象頭,故有此名。有二處,一在菩提道場附近,一在靈鷲山附近。大唐西域記卷八記載近於菩提道場之伽耶山,謂此山座落於中印度摩竭陀國伽耶城西南,即今之婆羅門優尼(梵 Brahma-yoni),與該城同負盛名。唐時印人俗稱靈山,山頂有石窣堵波,乃阿育王所建。另依俱舍論光記卷十八載,靈鷲山北三、四里處有羯闍尸利沙山,提婆達多於此破僧;以「羯闍」與「伽耶」之音相近,故有謬稱伽耶山為提婆達多破僧處者。〔眾許摩訶帝經卷十、文殊師利問菩提經、佛本行集經卷四十四、四分律卷三十一〕

già da sơn đỉnh kinh

2766全一卷。有四種譯本,均收於大正藏第十四冊。(一)姚秦鳩摩羅什譯之文殊師利問菩提經,又稱伽耶山頂經。(二)元魏菩提流支譯之伽耶山頂經。(三)隋代毘尼多流支譯之佛說象頭精舍經。(四)唐代菩提流志譯之大乘伽耶山頂經。本經記述佛陀初成道於伽耶山時,文殊菩薩請示佛陀發菩提心之深義後,應諸天子等之交相請問,而自答種種之菩薩道。

già da thuỷ thành

2767又作伽耶近成。釋迦佛於久遠之過去實已成佛,然為示現教化世人,乃於印度伽耶城菩提樹下開悟成佛,此係一種權假方便之化迹,稱為伽耶始成。(參閱「久遠實成」723、「本迹二門」1965)

già da thành

2768伽耶,梵名 Gayā。古代中印度摩竭陀國之都城。即今孟加拉巴特那市(Patna)西南九十六公里處之伽耶市,臨恆河支流之尼連禪河(今 Phalga 河)晉代法顯遊此地時,城內空荒;唐代玄奘之大唐西域記卷八記載,此城少人居住,唯有婆羅門千餘家。伽耶市分成二部,一稱舊伽耶,為簡別於佛陀伽耶,稱為婆羅門伽耶(梵 Brahma Gayā),住印度教徒;一為新市,稱 Sahibganj,有英國政府所設之官衙及公共建築物,多歐洲人居之。伽耶附近有三迦葉事火處、前正覺山、菩提樹、金剛座等遺蹟,另有巖窟及阿育王時代之刻銘等。〔小品針毛經、A. Cunningham: TheAncient Geography of India〕

già da xá đa

2767(?~13 B.C.)西元前一世紀印度摩提國人。又稱僧佉耶舍。禪宗付法藏第十八祖(景德傳燈錄卷二),或稱第十七祖(佛祖統紀卷五)。姓欝頭藍。母夢大神持一圓鏡,因而有娠,七日後誕生,肌體晶瑩,自然香潔。幼好閑靜,言語舉止異於尋常童子。一日,手持圓鏡出遊,遇十七祖難提尊者得度,受具足戒。據景德傳燈錄卷二載,某日聞風吹殿角銅鈴聲,尊者問(大五一‧二一二中):「鈴鳴耶?風鳴耶?」師曰:「非風非鈴,我心鳴耳。」尊者曰:「心復誰乎?」師曰:「俱寂靜故。」遂付以大法。活躍於大月氏國,後由鳩摩羅多嗣其法。西漢成帝永始四年人滅。〔寶林傳卷四、增訂佛祖道影卷一(虛雲)〕 ; Gayasata (skt)—Vị Tổ Ấn Độ thứ mười tám, người đã làm việc nặng nhọc trong nhóm nguời Tokhari—The eighteenth Indian patriarch, who laboured among the Tokhari—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (18).

già di ni

Gamini (skt)—Vị vua mà người ta nói rằng đã được Đức Phật thuyết giảng một kinh nói về nhân quả, cũng như thiện và bất thiện nghiệp cùng với quả báo của chúng—A king whom the is said to have addressed a sutra about causes and effects, as well as wholesome and unwholesome deeds and their consequences.

già di ni kinh

Đức Phật giảng thuyết quả báo rõ ràng cho vua Già Di Ni, giống như đá và dầu, một thứ chìm, một thứ nổi—A sutra in which the Buddha expounded clearly for King Gamini on wholesome and unwholesome deeds as well as their consequences—See Già Di Ni.

già giới

6189遮,制止之意。指對輕罪之禁戒。又作息世譏嫌戒、新戒、客戒。為相對於「性戒」而立者。所謂性戒,乃不論當初佛陀是否制戒,原本即須持守之戒,例如殺、盜、淫、妄等四戒。所謂遮戒,係佛陀因事、因地所制之戒,通常較性戒為輕,即一般社會不認為罪惡,而佛教為防止世人譏嫌,避免由此引發其他犯罪,故制此戒。例如飲酒、輕秤販賣、掘地傷生等;蓋以飲酒多有過失,能犯諸戒,故佛陀特意遮止,令不毀犯,乃能守護其餘之律儀。若犯遮戒則稱遮罪。〔優婆塞戒經卷三受戒品、北本涅槃經卷十一聖行品、薩婆多毘尼毘婆沙卷一、四分律行事鈔資持記卷上一〕(參閱「性遮二罪」3241) ; See Già Chế.

già khổ

Old age is suffering

già kinh

2768指於亡者棺前讀經之儀式。即將死者行湯灌等作法後,並移入棺內,於棺前讀誦經文,稱為伽經。然此種儀式之採用與否,係依亡者身分之尊卑及各地風俗之不同而決定。

già la

2770<一>梵語 tagara 之略譯。又作多伽羅、伽南、伽藍、奇南香。意譯作香爐木。為香木之一種。或謂與沈香相異,或謂二者同類。然二者相較,伽羅之性潤澤粘韌,焚時少脂,價昂,不作藥用。沈香之性乾枯,焚時多脂,可供藥用。〔陀羅尼集經卷十、本草綱目卷一、本草彙言〕 <二>梵語 kālāguru 之略譯。意譯作黑沈香木。乃由沈香屬香木之花蕊煉製而成之香。(參閱「沈香」2967) <三>梵語 kalā。極微數量之名稱。(參閱「歌羅分」5823) ; Tagara (skt)—Tên gọi tắt của Đa Già Lê, một loại gỗ thơm—Putchuk, incense.

già la dạ xoa

Kalaka (skt)—Một loài Dạ Xoa đã làm ô nhiễm tâm của ngài Xá Lợi Phất trong lúc hành thiền, mà ngài không hay biết gì—A yaksa who smote (defiled) Sariputra on the head while in meditation, without his perceiving it.

già la ni

Ghrana (skt)—Kiết La Nã—Mùi hương—Smell—Scent.

già la phả quốc

6192遮羅頗,巴利名 Allakappa。為鄰接於摩揭陀國之一小國。居於該地之布利族(Buli),於世尊入滅後,曾請得佛骨,建塔供奉。據長部經典所載,阿拉卡巴之布利族曾遣使者至拘希那拉之麻魯拉族,對之謂世尊曾為武士族,彼等亦為武士族,理當得獲遺骨,建塔供養。由是,該族終乞得遺骨,歸而建塔供養之。〔長部經典十六大般涅槃經(巴 Mahāparinibbāna-suttanta)、佛種姓經、遊行經、有部雜事卷三十九、般泥洹經卷下、十誦律卷六十〕

già la tu mạt na

Kalasumāna (P)Tên một vị sư.

già la việt

Xem Cư sĩ.

già la đà

2770<一>意譯度邊地。為鳩摩羅什譯仁王經卷下所說之菩薩修行階位。此階位位於「無相闍陀波羅位」之後,「須陀洹位」之前。即明慧圓融之修行菩薩,常於無相法忍中,妙觀宿命、天眼、漏盡等三明,了知三世皆係無來、無去、無住之法,內心寂滅靜定,脫離三界之煩惱,復於六阿僧祇劫中,廣集無量明波羅蜜,故得證入此位,並以不著相之萬行,受持一切法。〔仁王般若經疏卷五〕 <二>梵名 Kharādīya。即佉羅提耶山。為十寶山之一,七金山之一。佛陀嘗於此處廣說地藏十輪經,因而成為地藏菩薩之住地。(參閱「佉羅帝耶山」2762) ; Kharadiya (skt). 1) Ngọn núi nơi mà Đức Phật đã thuyết giảng kinh Địa Tạng Thập Luận (nơi ở của chư vị Bồ Tát)—The mountain where the Buddha is supposed to have uttered the Abode of Ti-Tsang. 2) Ngôi vị Giá La Đà của Bồ Tát (do tu tập nhiều a tăng kỳ kiếp Minh Ba La Mật mà thành tựu, đây là hạnh vô tướng mà thọ trì chư pháp)—A Bodhisattva stage attained after many kalpas.

Già Lam

(s, p: saṅghārāma, j: garan, 伽藍): âm dịch là Tăng Già Lam Ma (僧伽藍摩), gọi tắt là Tăng Già Lam (僧伽藍); ý dịch là Tăng Viên (僧園), Chúng Viên (眾園), Tăng Viện (僧院), v.v., là nơi thanh tịnh, vắng vẻ phù hợp cho chư tăng tập trung tu hành. Về sau, từ này được dùng để ám chỉ kiến trúc tự viện; mỗi khi tự viện nào hoàn thành đều có đủ 7 kiến trúc chính; từ đó có tên gọi Thất Đường Già Lam (七堂伽藍). Tên gọi cũng như tổ chức của Thất Đường Già Lam này có khác nhau ít nhiều tùy theo tông phái hay thời đại. Trong Thiền Tông, có 7 kiến trúc chính, gồm: (1) Điện Phật (佛殿, nơi an trí tượng thờ chính, cùng với tháp là kiến trúc trung tâm của Già Lam); (2) Pháp Đường (法堂, hay Thuyết Pháp Đường [說法堂, Nhà Thuyết Pháp, tương đương với Giảng Đường, nằm sau Điện Phật]); (3) Tăng Đường (僧堂, còn gọi là Thiền Đường [禪堂], Vân Đường [雲堂], Tuyển Phật Trường [選佛塲], là nơi tăng chúng ngồi Thiền, sinh hoạt, ở giữa an trí tượng Bồ Tát Văn Thù), (4) Khố Phòng (庫房, Nhà Kho, còn gọi là Khố Viện [庫院], nơi điều phối thực vật); (5) Sơn Môn (山門, còn gọi là Tam Môn [三門], tức cửa lầu có đủ 3 cánh cửa lớn, là ba cánh cửa giải thoát, biểu hiện cho Không [空], Vô Tướng [無相] và Vô Nguyện [無願]); (6) Tây Tịnh (西淨, còn gọi là Đông Ty Tịnh Phòng [東司淨房], tức Nhà Vệ Sinh, Nhà Xí) và (7) Hòa Dục Thất (和浴室, còn gọi là Ôn Thất [溫室], là nhà tắm nước nóng). Trong đó, Tăng Đường, Tây Tịnh và Hòa Dục Thất là ba nơi cấm không được nói chuyện, nên có tên là Tam Mặc Đường (三默堂, ba nhà giữ im lặng). Nếu theo quan điểm học vấn mà nói, kiến trúc của Thất Đường Già Lam gồm: (1) Tu Bối Hữu Tháp (須具有塔, để an trí Xá Lợi Phật); (2) Kim Đường (金堂, còn gọi là Phật Điện [佛殿]); (3) Giảng Đường (講堂, nơi giảng thuyết kinh luận); (4) Chung Lâu (鐘樓, Lầu Chuông, tục gọi là Chung Chàng Đường [鐘撞堂], nơi treo Hồng Chung [洪鐘]); (5) Tàng Kinh Lâu (藏經樓, còn gọi là Kinh Đường [經堂], là lầu tàng trữ hết thảy kinh sách); (6) Tăng Phòng (僧房, hay Tăng Phường [僧坊], là nơi tăng chúng sinh sống, phân bố ở 3 hướng Đông, Tây, Bắc của Giảng Đường); và (7) Hòa Thực Đường (和食堂, hay Trai Đường [齋堂], là nơi chúng tăng cùng thọ trai). Như trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (法界聖凡水陸大齋普利道塲性相通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498) quyển 2 có đoạn: “Thập đại thần vương thừa Phật sắc, thường ư biến giới hộ Già Lam, duy tư thanh tịnh pháp vương cung, tất hữu thần minh lai túc vệ (十大神王承佛勅、常於遍界護伽藍、唯茲清淨法王宮、必有神明來宿衛, mười vị thần vương vâng Phật dạy, thường biến khắp nơi hộ Già Lam, hôm nay thanh tịnh pháp vương cung, tất có thần minh đến bảo vệ).” Hay trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 7, phần Ni Ba La Quốc (尼波羅國), lại có đoạn: “Già Lam Bắc tam tứ lí hữu Tốt Đổ Ba, thị Như Lai tương vãng Câu Thi Na quốc nhập bát Niết Bàn, nhân dữ phi nhân tùy tùng Thế Tôn, chí thử trữ lập (伽藍北三四里有窣堵波、是如來將往拘尸那國入般涅槃、人與非人隨從世尊、至此佇立, phía Bắc Già Lam khoảng ba bốn dặm có ngôi tháp, là do khi đức Như Lai trên đường đi đến nước Câu Thi Na để nhập Niết Bàn, người và phi nhân cùng đi theo Thế Tôn, đến đây thì dựng lên).”

già lam

2769<一>梵語 saṃghārāma 之略譯。全譯為僧伽藍摩。又作僧伽藍。意譯眾園。又稱僧園、僧院。原意指僧眾所居之園林,然一般用以稱僧侶所居之寺院、堂舍。直至後世,一所伽藍之完成,須具備七種建築物,特稱七堂伽藍。七堂之名稱或配置,因時代或宗派之異而有所不同。通常皆為南面建築,就以研究學問為主之寺院而言,須具有塔(安置佛舍利)、金堂(又稱佛殿,安置本尊佛。與塔共為伽藍之中心建築)、講堂(講經之堂屋)、鐘樓(俗稱鐘撞堂,為懸掛洪鐘之所在)、藏經樓(一作經堂,為藏納一切經之堂)、僧房(又作僧坊,即僧眾起居之所在。分布於講堂東西北三方,即三面僧房)和食堂(又稱齋堂)等。 禪宗伽藍,則須具有佛殿、法堂(又稱說法堂。相當於講堂,位於佛殿後方)、僧堂(或作禪堂、雲堂、選佛場。僧眾坐禪或起居之所,中央安置文殊菩薩像)、庫房(又作庫院,為調配食物之所)、山門(又作三門。即具有三扇門之樓門,表示空、無相、無願等三解脫門)、西淨(又作東司淨房,指廁所)和浴室(又作溫室,為溫浴之室)等七堂,其中以僧堂、西淨、浴室為禁語之所,故總稱三默堂。〔十誦律卷三十四、大毘婆沙論卷九十九〕(參閱「寺院」2414) <二>梵語 tagara。為香木之一種。(參閱「伽羅」2770) ; Saṃgharāma (S), Garan (J), Assama (S), Āśrama (S), Āśram (S)Chủng viên. ; Asrama, àsram (S). Monastery, hermitage. ; Sangharama or Sanghagara (skt)— 1) Chúng viên hay vườn sân tự viên nơi Tăng chúng ở: The park of a monastery. 2) Chùa hay tự viện: A monastery—Convent—Pagoda—Temple.

già lam khai cơ kí

2770凡十卷。日本黃檗宗懷玉道溫著。乃記述日本著名寺院之創立年代、緣起、開山事蹟等。以畿內、四國、京都、鎌倉與諸國之禪宗寺院為主,且及於各宗有名之寺院。卷末並附錄僧綱階、戒壇、放生、禁制等。

già lam pháp

2769為日本佛教法系傳承制度之一。又稱伽藍相續。在我國禪林,傳承之方法採用嗣法制,即宗派系統皆由師家傳付弟子,而有世代之延續。此一傳承法係經由「人」,而非經由「寺剎」之傳承。另於寺剎傳承方面,則於招請新住持時,並不問其法系與門派,而係自由招聘天下名僧以任之,此一制度稱為十方住持制。故於我國禪林,並無所謂「屬於寺院之法系」。然於日本,則法系傳承與寺剎傳承合為一者,寺院之住持概由自派之法系任之,故法系之傳遞多附屬寺剎之中,此一傳承制度即為伽藍法。於江戶時代之曹洞宗,伽藍法之傳承制度產生不少流弊,其後遂有宗統復古運動應運而起。 ; Garan-hō (J).

già lam thần

2770又作伽藍十八善神、護伽藍神、守伽藍神、寺神。狹義指伽藍守護神,廣義泛指所有擁護佛法之諸天善神。七佛八菩薩所說大陀羅尼神咒經卷四列舉守護寺院之神有美音、梵音、天鼓、巧妙、歎美、廣妙、雷音、師子音、妙美、梵響、人音、佛奴、歎德、廣目、妙眼、徹聽、徹視、遍觀等十八護伽藍神。我國自唐宋以降,即有禪宗奉祀伽藍神之記載。〔敕修百丈清規卷七四節土地堂念誦條、釋氏要覽卷下〕(參閱「護法善神」6867) ; Theo Đức Phật, có 18 vị Già Lam Thần trong mỗi tự viện—According to the Buddha, there are eighteen guardian spirits of a monastery.

già lam đường

2770安置伽藍守護神之堂宇。在宋代之寺院中,伽藍堂與祖師堂分建於法堂左右兩側,伽藍堂內安置伽藍守護神;或謂伽藍堂即是「土地堂」,此蓋以土地神為伽藍守護神而祭祀之,故稱土地堂。〔敕修百丈清規卷二念誦條、釋氏要覽卷下〕

già lan tha

Grantha (skt). 1) Kệ: Verse. 2) Giáo điển của người Sikhs—The scriptures of the Sikhs.

già lâu la điểu

Xem Ca lâu la.

già lê

2768<一>三衣中僧伽棃(梵 saṅghāṭi)之略稱。指九條以上之衣。(參閱「僧伽棃」5723) <二>梵名 Kālī。印度教女神名。意譯時母。意謂黑色女神。雪山神女十化身之一。為濕婆(梵 Śiva)之妻,乃性力派崇奉的主神之一。信徒主要集中於孟加拉地區。其形貌凶惡,遍體黑色,具四頭四手(一說十頭十手),額上有第三隻眼,手執各類兵器,胸前懸掛髑髏,腰掛人手。此神專喝惡魔之鮮血,象徵強大與新生。

già lê dạ

6190梵語 caryā, carita, caritra,巴利語 carita。又作遮唎耶、遮梨夜。(一)意謂行為、動作、實踐。即身、口、意三業之行業。大智度論卷四十八(大二五‧四○八中):「遮梨夜,秦言行。」(二)為到達悟境所作之修行或行法。〔法華經玄義卷三下、法華經文句卷四上、大日經疏卷七〕(參閱「行」2551) ; Carya (skt)—Hạnh Kiểm—Actions—Doings—Proceedings.

già lợi da

See Già Lê Dạ.

già ma

6192為魔名之一。據奮迅王問經卷上載,過去久遠劫光明無垢光王如來出世時,有一魔子名遮,率領八萬四千眾魔,欲惱亂金剛齊菩薩,然反為菩薩所教化,而發菩提心,歸依無垢光王如來。

già mạt la

See Già Đoạn.

già mạt la châu

6189遮末羅,梵名 Cāmara。為南贍部大洲的二中洲(遮末羅洲、筏羅遮末羅洲)之一。又作遮摩羅洲。此二中洲各復有五百眷屬小洲。俱舍論光記卷十一(大四一‧一八六中):「遮末邏,此云猫牛。」〔大毘婆沙論卷一七二、俱舍論卷十一〕

già mật la

Xem Miêu Ngưu Châu.

già na

Gana or Ghana (skt)—Cứng chắc, dầy—Solid—Thick.

già na nghiệp

6190為日本天台法華圓宗學生所必修學的兩業之一,為「止觀業」之對稱。即修法時專修密教之事相。日本天台大師最澄之本意係以天台止觀為宗旨,然圓仁、圓珍相繼來唐修學顯密諸學,回國後,大弘密法,遂逐漸形成天台密教化;所謂「台密」,即指此宗,乃相對於空海所傳真言宗之「東密」而言。除止觀、遮那兩業外,復加金剛頂業、蘇悉地業、佛頂業等三業,合稱五業,為日本天台宗主要之修行內容。〔元亨釋書卷一、日本後紀卷十三、天台霞標卷一之一〕(參閱「止觀業」1478)

già na viên đốn

6190遮那,為毘盧遮那之略稱,為佛之報身或法身;圓頓,指圓滿究極之教法。以華嚴經為毘盧遮那佛所說圓融頓極之法,即特指華嚴宗而言。

già na đề bà

Ariyadeva or Kanadeva (skt)—Ca Na Đề Bà—Tổ thứ 15, đệ tử của Ngài Long Thọ—Fifteenth patriarch, disciple of Nagarjuna—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ.

già nan

Những cuộc khảo sát để nhận Tăng Ni thọ cụ túc giới.—Tests for applicants for full orders. 1) Già: 16 giới phụ nằm trong giới cấm căn bản của Phật như không uống rượu—16 secondary commandments, derving from the mandate of Buddha, e.g. against drinking wine. 2) Nan: 13 giới chánh nằm trong những luật lệ chính yếu như không sát sanh—13 types of moral conduct based on the primary laws of human nature, e.g. against murder, ect.

già nua

To grow old and gray.

già phu tọa

Thế ngồi tréo chân—To sit cross-legged—See Kiết Già.

già phạm

Bhagavan (skt)—Già Bà—See Bạt Dà Phạm.

già phạm ba đề

Gavampati (skt)—Ngưu Vương, tên của một vị A La Hán—Lord of cattle, name of an arhat.

già phạm đạt ma

2768梵名 Bhagavat-dharma。意譯尊法。唐代譯經僧。七世紀西印度人。永徽、顯慶年間來華,譯有千手千眼大悲心陀羅尼經一卷。生卒年不詳。〔宋高僧傳卷二、貞元新定釋教目錄卷十二〕 ; Bhagavat-dharma (S). ; Bhagavaddharma (skt)—Một vị Tăng người Ấn Độ đã dịch quyển Kinh “Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi” sang Hoa ngữ và thời nhà Đường—An Indian monk who translated the “Kuan-Yin with Great Compassion of Thousand-Arms-and-Thousand-Eyes” Sutra into Chinese during the T'ang dynasty.

già tha

Gatha (skt)—Bài tụng theo vần điệu, thường gồm 32 chữ gọi là “Cô Khởi Tụng,” phân biệt với “Trùng Tụng” nghĩa là lập lại lời của câu trước—Recitation—Song—A metrical narrative or hymn, with moral purport, described as generally composed of thirty-two characters, and called a detached stanza, distinguished from geya, which precedes the ideas of preceding prose passages.

già thuyên biểu thuyên

6191遮詮與表詮之並稱。<一>通用於佛教各宗派。於華嚴宗,特稱為遮情表德。通常指語言中之兩種表達方式,遮詮,即從反面作否定之表述,排除對象不具有之屬性,以詮釋事物之義者;表詮,乃從正面作肯定之表述,以顯示事物自身之屬性而論釋其義者。宗鏡錄卷三十四(大四八‧六一六中):「遮,謂遣其所非;表,謂顯其所是。又遮者,揀卻諸餘;表者,直示當體。如諸經所說真如妙性,每云『不生不滅,不垢不淨,無因無果,無相無為,非凡非聖,非性非相』等,皆是遮詮;遣非蕩跡,絕想袪情,若云『知見覺照,靈鑒光明,朗朗昭昭,堂堂寂寂』等,皆是表詮。」〔觀經玄義分記卷二、禪源諸詮集都序卷三、應理大乘傳通要錄卷上〕 <二>因明用語。於因明中,遮詮表詮既包括判斷(遮詮為否定之判斷,表詮為肯定之判斷),又包括概念(遮詮與表詮相關之概念)。遮詮與表詮有其關聯性,遮詮可不包含表詮,表詮則一定包含遮詮。如「聲」一詞,既為表詮,亦為遮詮。因聲之為名,除顯示其具有聲之各種意義外,亦排斥其為色、臭等任何不屬於聲之屬性。蓋任何名言概念,若僅具積極之顯示功能而無消極之遣除作用,其意義仍不明確。故所謂「聲」,必將聲以外之一切意義遣除盡淨,令其僅涵蓋聲所應具之意義,純淨無雜,恰如其分,而後聲與非聲之界限始克分明,聲之意義方能明確;準此可知,「顯示」必借助於「遣除」,此乃表詮必包含遮詮之故。 與之相對者,若有名言概念僅能有所遮而不能有所表之時,則屬「遮詮可不包含表詮」之情形。如「烏有先生」一名,既稱烏有,則已明白遣除其為實有,既非實有其人,則雖欲顯示,亦無可顯示,唯有消極遣除,不能積極顯示之,故「烏有先生」僅遮而不表。又如「兔角」一名,雖為積極名詞,然事實確無此物,不能顯示其意義,亦是僅能遣除,不可顯示,故「兔角」亦為僅遮而不表。要之,表詮中同時包含遮詮之功能,實為因明之一大特色。 理門論述記(大四四‧九○上):「名言但詮共相,(中略)詮共相要遣遮餘法,方詮顯此法。如言『青』,遮『非青』、『黃』等,方能顯彼『青』之共相;若不遮『黃』等,喚『青』,『黃』即應來。故一切名言,欲取其法,要遮餘詮此,無有不遮而詮法也。」〔因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕

già tra ca

Cataka (S)Một loài chim.

già trá ca điểu

6189遮吒迦,梵語 cātaka。學名 Cucculus melanoleucus。意譯作沙燕。屬杜鵑之一種。此鳥唯仰口飲天降之雨水,而不飲普通之水,故常患饑渴之苦惱。〔正法念處經卷十六、枳橘易土集卷十一〕

già tình

Đè nén dục vọng—To repress passions. ** For more information, please see Biểu Đức.

già tình biểu đức

6190遮情與表德之並稱。藉否定(遮遣)迷情(即錯誤之見解),而消極導入真智者,稱為遮情,又作遮情門。反之,直接表現真如之功德,即直接表現事物之實相、狀態等,而積極得真智者,稱為表德,又作表德門。此外,密宗用以解釋經典、字相之「十六玄門」中,遮情、表德即屬其中最初之二門;又用此二門簡別顯、密二教,謂一切之顯教為遮情門,密教為表德門。〔大日經疏卷七、華嚴五教止觀〕

già tính

Hai loại giới luật—The two kinds of commandments: 1) Già Giới: Những luật phụ—Secondary commandments—See Già Chế. 2) Tính Giới: Những luật lệ chính ngoài xã hội—Primary commandments—See Già Giới.

già tội

6191為「性罪」之對稱。違犯遮戒(因應時間、地點、情況所制定之戒),稱為遮罪。通常較性罪為輕。若犯性罪,必遭僧團驅逐;若犯遮罪,則可在眾僧之前懺悔,謹慎言行即可。瑜伽師地論卷九十九(大三○‧八六九下):「云何遮罪?謂佛世尊觀彼形相不如法故,或令眾生重正法故,或見所作隨順現行性罪法故,或為隨順護他心故,或見障礙善趣壽命沙門性故,而正遮止。若有現行如是等事,說名遮罪。」〔大智度論卷十三、順正理論卷三十八、大日經疏卷九〕(參閱「性遮二罪」3241、遮戒」6190) ; Loại tội phụ khi hành giả phạm những giới phụ như uống rượu (theo nhà Phật hay tỳ kheo thì đây là tội, nhưng không phải là cái tội từ tự tính), để đối lại với những tính tội (tội chính) như giết người—The second kinds of sin when cultivators commit the secondary commandments, i.e. commiting drinking wine, as opposed to commiting the primary sin, i.e. murdering.

già việt lâm

Xem Trượng Lâm.

già văn đồ

6189梵名 Cāmuṇḍā。為密教焰摩天之眷屬,居七母天之首。又稱左悶拏、者門拏、遮悶拏、嫉妒女、怒神。列於胎藏界曼荼羅之外金剛部院西方。其形像為豬頭(赤黑色)人身(赤色),不著衣,戴寶冠,右手仰持器皿,左手握拳置於腰,面向左方。大日經義釋演密鈔卷五載,遮文荼攝於夜叉趣,能以咒術害人,世人亦有行此法者。法華經陀羅尼品謂吉遮即遮文荼,然吉遮之梵名為 Kṛtyā,是否與遮文荼相同,則不詳。〔大日經疏卷六、卷十、卷十四、大日經義釋卷七〕 ; Camunda (skt). 1) Tật đố của người nữ: Hạng đàn bà hay ganh ghét—A Jealous woman. 2) Nộ Thần: An angry spirit. 3) Quỷ Nhập Tràng: Loại ác quỷ chiêu hồn người chết để giết kẻ thù—Evil Demon, one used to call up the dead to slay an enemy.

già xa đề

Gachati (skt)—Tiến bộ—Progress.

già ác

6190謂可制止不犯之過錯,指輕罪而言。為「性惡」之對稱。如飲酒、掘地傷生等,一般社會不認為罪惡,然為防止世人譏嫌,避免由此引起其他犯罪,故佛陀制止之,稱為遮惡。四分律行事鈔資持記卷中四(大四○‧三四四上):「遮惡者,謂事非極惡,遮譏而制。」〔四分律行事鈔資持記卷上三〕(參閱「遮戒」6190、「遮罪」6191) ; See Già Tội.

già đoạn

6191指遮止一時之煩惱,使不生起。為「永斷」之對稱。成實論卷十五(大三二‧三五八下):「若說斷貪或是遮斷,或畢竟斷。若不生真智,則是遮斷;隨生真智,是畢竟斷。」 ; Camara (skt)—Già Mạt La—Tên của một trong những vùng trung tâm của miền nam châu Diêm Phù Đề (Già Mạt La Châu và Phiệt La Già Mạt La Châu)—Name of one of the central parts of the southern continent, Jambudvipa.

già đà

2765<一>梵語 gāthā,巴利語同。為九部教之一,十二部經之一。又作伽他、偈佗、偈。意譯諷誦、諷頌、造頌、偈頌、頌、孤起頌、不重頌偈。係由語根 gai 而形成之名詞。gai 有「謠」之意,故「伽陀」一詞,廣義指歌謠、聖歌,狹義則指於教說之段落或經文之末,以句聯結而成之韻文,內容不一定與前後文有關。 伽陀與祇夜(即重頌)二者之差別在於祇夜雖亦為韻文,但重複述說長行經文之內容;伽陀則否,故有不重頌偈、孤起頌等異稱,其長短或二句,或三句、四句、五句、六句不等。但大毘婆沙論卷一二六中,謂諸經中聯結句而諷誦彼彼所說者,稱為伽陀。大智度論卷三十三亦謂一切偈皆稱祇夜,句之多寡不定,又稱伽陀。此等均以伽陀僅為諷詠之義,與祇夜無二。又北本大般涅槃經卷十五載,伽陀指除修多羅及戒律以外諸經典中之四句偈等。另據巴利文長部經註(Sumaṅgala-vilāsinī)序、善見律(巴 Samanta-pāsādikā)序所載,法句(巴 Dhamma-pada)、長老偈(巴 Thera-gāthā)、長老尼偈(巴 Therī-gāthā)、經集(巴 Sutanipāta)等書中,凡不稱為修多羅之偈頌,稱為伽陀。此外,成實論卷一謂祇夜(偈)有伽陀、路伽二種,路伽又分順煩惱、不順煩惱二類,而將十二部經中之伽陀,歸屬不順煩惱之類。〔顯揚聖教論卷六、卷十二、順正理論卷四十四、瑜伽師地論卷二十五、卷八十一、大乘阿毘達磨集論卷六、大乘義章卷一、玄應音義卷二十四〕(參閱「十二部經」344、「偈」4383) <二>阿伽陀(梵 agada)之略。為良藥。六十華嚴經卷十(大九‧四六五上):「譬如伽陀藥,消滅一切毒。」華嚴經探玄記卷六(大三五‧二一四中):「伽陀,此云良藥,謂能除一切毒。」 ; Gàthà (S). Strophe.

già đà bổng

2769為密教胎藏曼荼羅金剛部院之金剛拳菩薩等所持之法器。伽馱,梵語 gadā,為棒之意。在密教經軌中,伽馱棒多指寶棒,除金剛拳菩薩之外,亦為胎藏曼荼羅五大院之閻曼德迦、諸尊之奉教使者等所持之法器。又伽馱棒所顯之印契為:二手虛心合掌,二小指入於掌中相交,二拇指並豎,二食指屈於二中指之指背,相距約三公分寬。此外,胎藏法之多聞天印即採此印。據瞿醯經卷中載,多聞天之契印與三昧耶形即是伽馱棒。另據大日經疏卷六載,北方之夜叉八將亦皆持伽馱印。此乃寶棒直稱為伽馱印之例。

già đà ca

Cataka (skt)—Chim sẻ, chỉ uống nước mưa—A sparrow, which is supposed only to drink falling rain.

Già 伽

[ja] ガ ga ||| Transcription of Sanskrit ga and ka sounds. => Phiên âm từ âm Ga và Ka của tiếng Sanskrit.

Già-da Ca-diếp 伽耶迦葉

[ja] ガヤカショウ Gaya kashō ||| Gayā-Kāśyapa, the youngest of the three Kāśyapa brothers 三迦葉 who were close disciples of Śākyamuni. Gayā refers to the name of his birthplace. 〔法華經 T 262.9.28c3〕 => (j: Gaya kashō ), (s: Gayā-Kāśyapa) Người trẻ nhất trong 3 anh em Ca-diếp (Tam Ca-diếp), là những đệ tử lớn của Đức Phật. Già-da (s: Gayā ) là nơi sinh của ông.

Già-lam

伽藍; C: qiélán; J: garan;|Gọi tắt của Tăng-già-lam-ma (僧伽藍摩; s: saṃgha-ārāma), nghĩa là »khu vườn của chúng tăng«, »Chúng viên«. Là nơi thanh tịnh để tu tập thiền định. Chùa hay Tu viện Phật giáo.

Già-lam 伽藍

[ja] ガラン garan ||| An abbreviation of sengqie lanma 僧伽藍摩 (Skt. saṃgha-ārāma), literally 'a garden for a group of monks.' A place with a pure, quiet atmosphere where one can carry out meditation practice. A Buddhist convent or monastery; a temple. => Gọi tắt của Tăng-già-lam-ma (c: sengqie lanma 僧伽藍摩 ), (s: saṃgha-ārāma), nghĩa là "khu vườn của chúng tăng-Chúng viên". Là nơi thanh tịnh để tu tập thiền định. Chùa hay Tu viện Phật giáo.

Già-lâu-la

伽樓羅; C: qiélóuluó; J: karura;|Phiên âm từ chữ garuḍa trong tiếng Phạn. Ca-lâu-la (迦樓羅).

Già-lâu-la 伽樓羅

[ja] カルラ karura ||| A transcription of the Sanskrit garuḍa. See 迦樓羅. => Phiên âm từ chữ garuḍa trong tiếng Sanskrit. Xem mục Ca-lâu-la迦樓羅.

Già-na Ca-diếp

伽耶迦葉; C: qiéyé jiāshě; J: gaya kashō; S: gayā-kāśyapa.|Người trẻ nhất trong 3 anh em Ca-diếp (Tam Ca-diếp 三迦葉), là những đệ tử lớn của đức Phật. Già-da (s: gayā) là nơi sinh của ông.

Già-đà

phiên âm từ Phạn ngữ là Gth, dịch nghĩa là ‘Cô khởi tụng’, ‘Phúng tụng’, cũng đọc là Kệ-đà hay kệ, nghĩa là những bài kệ do có nhân duyên thích hợp mà Phật nói ra riêng rẽ chứ không để trùng tụng Khế kinh, cũng không nhằm nói giới luật. Xem Mười hai bộ kinh. ; 伽陀; C: qiétuó; J: gata;|Thể thơ hay kệ (s: gāthā) trong kinh văn Phật giáo. Xem Kệ tụng (偈頌). Là 1 trong 12 thể loại của kinh văn Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經).

Già-đà 伽陀

[ja] ガタ gata ||| The poetry or verse of the Buddhist scriptures (gāthā). See 偈頌. One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Thể thơ hay kệ(s: gāthā) trong kinh văn Phật giáo. Xem mục Kệ tụng偈頌. Là một trong 12 thể loại của Kinh văn Phật giáo (Thập nhị bộ kinh).

giành

To fight over—To Dispute.

giàu có

See Giàu Sang.

giàu lòng từ thiện

Charitable.

giàu sang

Wealth—Rich. Lời Phật dạy về “Giàu sang” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Wealth” in the Dharmapada Sutra: “Giàu sang chỉ làm hại người ngu chứ không phải để cầu sang bờ giác. Người ngu bị tài dục hại mình như mình đã vì tài dục hại người khác—Riches ruin the foolish, not the seekers of Nirvana. He who craves for wealth destroys himself as if he were ruining others.” (Dharmapada 355).

giàu sang hay nghèo khó

Rich or poor.

giá

Nầy—This.

giá bốc cát

5612興第語 Japji。印度錫克教經典之一。爲格蘭特沙哈卜之最初部分。係錫克教教主那那克所創作之三十八首讚歌及首尾兩首頌詩,共分四部分:(一)詩七首,敘述尋求神聖之道路。(二)詩二十首,敘述引導教徒虔信最高神。(三)詩四首,描述享受神之恩賜。(四)詩七首,概述獲得神恩之全部過程。錫克教第十代祖師哥賓德辛格創立卡爾沙(Khalsa)神權政體後,賈卜吉乃成爲教徒晨誦所必吟唱者。

giá cá

4796禪林用語。這,此之義;個,為量詞。又作這箇。<一>即近代所謂之指示代名詞。臨濟錄上堂(大四七‧四九六中):「師云:『這箇師僧,卻堪持論。』」 <二>強調後面所接之語,為給予具體性之語言。指其本身,非為其他之事物。臨濟錄示眾(大四七‧四九七中):「是爾目前歷歷底,勿一箇形段孤明,是這箇解說法聽法。」 <三>「自性」之代名詞。那個、伊、本來面目、無位真人、自己、家賊等,亦皆為用以稱呼自性者。 <四>為特殊用語之代名詞。禪苑蒙求卷下(卍續一四八‧一三三下):「尼問:『如何是密密意?』州以手搯之。尼曰:『和尚猶有這箇在!』州曰:『卻是你有這箇在!』」公案之中,尼師請教「密密意」,即最根本之理,趙州以手搯之,蓋示以「根本之理」即在自身之中,而非言語所可表達者。尼師不解趙州之意,驚道:「和尚猶有這箇在!」其「這箇」一詞乃「習氣」或「色心」等意之代名詞。趙州所答「卻是你有這箇在」之「這箇」則為「分別心」、「分別情識」等意之代名詞。〔五燈會元卷四〕 ; Cái nầy—This.

giá cô

Chim đa đa—A partridge.

giá cô ban

Một loại nhang lốm đốm như bộ lông chim đa đa—Spotted like a partridge, a kind of incense.

giá lý

Chỗ nầy—This place—Here.

giá na

Tỳ Lô Giá Na—See Vairocana.

giá sư cổ

5612南宋畫家。汴京人。紹興(1131~1162)年間爲畫院祗候,善畫釋道人物。或謂其白描人物師法李公麟,頗得閒逸自在之妙趣。

giá trị

Worth.

giá trị nhân loại

The worth of mankind

Giác

覺; S, P: bodhi; C: xué; J: kaku; cũng được dịch âm là Bồ-đề (菩提);|Danh từ dịch ý từ chữ »bodhi« của Phạn ngữ (sanskrit), có nghĩa là tỉnh thức, thường được gọi chung với chữ »ngộ« là Giác ngộ.

giác

6792<一>梵語 bodhi,巴利語同。音譯菩提。即證悟涅槃妙理之智慧。舊譯作道,新譯則作覺。以區分「法」與「人」之故,而譯 bodhi 為覺,譯 buddha 為覺者。〔般若心經幽贊卷下、集古今佛道論衡卷丙、慧苑音義卷上〕(參閱「菩提」5198) <二>梵語 buddha。音譯佛、佛陀。又作覺者。據慧遠之觀經義疏卷本載,覺有二義:(一)覺察之義,係相對於「煩惱障」而言。煩惱之侵害如賊,僅聖者能覺知而不受其害,故謂之覺。(二)覺悟之義,係相對於「所知障」而言。無明之昏闇如睡眠,然聖慧一起則明朗了知,如自睡眠中醒寤,故謂之覺。又凡夫之人,了無覺義;聲聞、緣覺等二乘之人,僅具自覺;而菩薩雖能自覺、覺他,然覺行未滿;唯獨有佛,為自覺、覺他,而又覺行圓滿者。〔北本大般涅槃經卷十八〕(參閱「佛」2605) <三>與「不覺」相對。指心性遠離妄念而照用朗然。據大乘起信論載,阿賴耶識(萬有之本體)有覺與不覺二義,而覺又有本覺、始覺之別。其中,以萬有之本體本為清淨之覺體(本覺),然無始以來為無明妄念所覆,故依現實狀態,而稱不覺;若依修行觀智即可達覺了心源,則稱始覺。 又依覺之程度,始覺復分為如下四位:(一)究竟覺,意謂無上之覺知,係指菩薩修行階位中第十地菩薩之覺知,然一般以佛之覺知方為究竟覺、無上覺、正覺、大覺等。(二)隨分覺,指初地以上至第九地的菩薩之覺知,以其不完全究竟之故。(三)相似覺,指十住、十行、十迴向之菩薩及二乘之覺知,以其相似於覺,然非真覺。(四)不覺,十信以下之凡夫,已覺知業果之理,如知惡業能招感苦果等,雖不造惡業,然仍未起斷惑之智慧,是為不覺。(參閱「本覺」1979、「始覺」3140) <四>梵語 vitarka。新譯作尋。心所之名。即尋求推度之精神作用,亦即對事理之粗略思考;僅限於色界之初禪及欲界。於諸經論中,因其性質之善、惡,分為善覺與惡覺。如欲覺(貪覺)、瞋覺(恚覺)、害覺(惱覺)等三者,稱為三惡覺,或三不善覺;若再加親里覺、國土覺、不死覺、族姓覺(利他覺)、輕他覺(輕侮覺),則稱八覺。反之,離欲覺(遠離覺、出離覺、出覺)、無瞋覺(無恚覺)、無害覺(無惱覺)等三者,稱為三善覺(其中後二者為安穩覺)。此外,菩薩、緣覺、聲聞等聖者為入菩提道而覺知、思念之八種覺,稱為八大人覺,或大人八念,即:少欲覺、知足覺、遠離覺、精進覺、正念覺、正定覺、正慧覺、不戲論覺等八者,皆屬於善覺類。〔北本大般涅槃經卷二十三、菩薩地持經卷四、成實論卷十四、俱舍釋論卷三〕(參閱「尋」4936) <五>為心、心所之總名。以心、心所乃緣對境而覺知之故。成唯識論卷二(大三一‧六下):「如心、心所,能取彼覺,亦不緣彼,是能取故;如緣此覺,諸心、心所依他起故。」〔成唯識論述記卷二末〕 ; Xem bồ đề. ; Bodhi (S,P) from avabhoda knowing, understanding. Enlightenment, illumination. Giác is to awake, apprehend, perceive, realize. ; 1) Visana (skt)—Cái sừng—A horn—A trumpet. 2) Ngẫm nghĩ sơ qua (thô tư) hay cảm giác—To sense—To apprehend—To be aware. 3) Giác là sự nhận biết hay sự hiểu biết: Buddhi (p & skt)—Awareness, knowledge, or understanding. 4) Giác là đã tỉnh thức, tỉnh ngộ hay giác ngộ, đối nghĩa với mê mờ, ngu dại và dốt nát—Buddha means awakened, awake, or enlightened, in contrast with silly and dull, stupid, and foolish (mudha). 5) Bodhi or Buddhiboddhavya (skt)—Tiếng Phạn là Bồ Đề có nghĩa là giác sát hay giác ngộ. Giác có nghĩa là sự biết và cái có thể biết được—Bodhi from bodha, “knowing, understanding,” means enlightenment, illumination. Buddhiboddhavya also means knowing and knowable. a) Giác sát là nhận ra các chướng ngại phiền não gây hại cho thiện nghiệp: To realize, to perceive, or to apprehend illusions which are harmful to good deeds. b) Giác ngộ là nhận biết các chướng ngại che lấp trí tuệ hay các hôn ám của vô minh như giấc ngủ (như đang ngủ say chợt tỉnh): To enlighten or awaken in regard to the real in contrast to the seeming, as to awake from a deep sleep. ** For more information, please see Quán (I).

giác chi

6795梵語 saṃbodhyaṅga,巴利語 saṃbojjhaṅga。又作覺分、菩提分。覺,指菩提、開悟;支,指成分、要素。意指構成修行道法之內容。廣義而言,泛指三十七道品,即四念處、四正勤、四如意足、五根、五力、七覺支、八聖道;以此三十七法皆順趣菩提,故皆稱菩提分法。於大毘婆沙論卷九十六中,分別論者復加四聖種,總立四十一菩提分法。狹義言之,則僅指七覺支(七菩提分),即:(一)念覺支,心明不忘。(二)擇法覺支,以智慧研究或辨別教法。(三)精進覺支,努力。(四)喜覺支,喜悅。(五)輕安覺支,心靈安適輕鬆。(六)定覺支,精神集中。(七)捨覺支,心平而不偏。〔俱舍論卷二十五、大智度論卷十九、大乘阿毘達磨雜集論卷九、法界次第初門卷中之下〕 ; Saṃbodhyaṅga (S), Bodhi shares Sambojjhaṅga (P)Giác phần, Bồ đề phần Những yếu tố đưa đến giác ngộXem giác ýXem thất bồ đề phần. ; The various branches or modes of enlightenment. Thất giác chi seven factors of enlightenment. ; The various branches or modes of enlightenment—See Giác Phần, Thất Bồ Đề Phần, and Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo.

giác chân như

See Chân Như.

giác chứng

The evidence of the senses.

giác cứu

Xem Phật đà đa la.

giác danh

Xem Phật đà da xá.

giác du

6799(1053~1140)日本天台宗畫僧。京都人。初名顯智,別稱鳥羽僧正、法輪院僧正。師事園城寺覺圓,究顯密二教。從賴豪受灌頂。曾受鳥羽上皇召至離宮問祕要,崇遇甚篤。初居於園城寺法輪院,後任四天王寺、證金剛院(京都南部鳥羽離宮附近)、法成寺等別當之職。保延元年(1135)升任園城寺長吏,四年十月受命為延曆寺第四十七代座主,然為避開山徒之嫉視,三日即退位。後隱居鳥羽,善繪畫,尤長於諷刺畫,世稱鳥羽繪。或謂其為信貴山緣起與鳥獸戲畫之作者,然無確證。保延六年示寂,世壽八十八。

giác dụng

Hóa Thân—See Nirmanakaya (skt), Tam Thân, and Tam Bảo.

Giác giả

覺者; S, P: buddha;|Nghĩa là »Bậc giác ngộ«; người ta thường gọi theo âm Hán Việt là Phật, Phật-đà.

giác giả

6797為梵語 buddha 之意譯。又作覺、知者。即已捨去迷妄分別,自徹真源,開顯真理,具有大慈悲、大智慧、自覺、覺他、覺行圓滿之聖者。大乘義章卷二十末(大四四‧八六四下):「既能自覺,復能覺他,覺行窮滿,故名為佛。噵言自覺,簡異凡夫。云言覺他,明異二乘。覺行窮滿,彰異菩薩。是故獨此偏名佛矣。」〔雜阿含經卷十二、大智度論卷七十、俱舍論卷二十五〕 ; Xem Phật. ; An enlightened one, especially a Buddha, enlightening self and others tự giác giác tha. ; Buddha (p & skt)—Bậc giác ngộ, như Phật, tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn—An Enlightened (Awakened) One, especially a Buddha, enlightened self and others—See Phật in Vietnamese-English Section, and Buddha in English-Vietnamese Section.

Giác Hiền

覺賢; S: buddhabhadra; 359-429, cũng được gọi theo âm là Phật-đà Bạt-đà-la;|Cao tăng Ấn Ðộ, người Kashmir, thuộc Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Năm 409 Giác Hiền qua Trung Quốc, cùng với Pháp Hiển dịch nhiều bộ kinh quan trọng của Ðại thừa qua chữ Hán.|Sư gia nhập Tăng-già lúc 17 tuổi và sớm nổi tiếng với giới luật nghiêm minh và khả năng thiền định. Năm 409, Sư đến Trường An và nơi đây có sự mâu thuẫn với các vị tăng của phái Cưu-ma-la-thập, là phái được triều đình thời đó ủng hộ. Vì vậy Sư rời Trường An, cùng khoảng 40 học trò đến Lư Sơn và gặp Huệ Viễn tại đây (410). Năm 415, Sư đến Nam Kinh và dịch các tác phẩm cơ bản của Phật giáo như Luật tạng (s, p: vinaya-piṭaka), kinh Ðại bát-niết-bàn (s: mahāparinirvāṇa-sūtra). Giữa năm 418 và 421, Sư dịch bộ kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm (s: buddhāvataṃsaka-sū-tra) ra chữ Hán, gồm 60 tập.

giác hiền

Buddhabhadrā (S)Phật Đà Bạt Đà LaTên một vị Sa môn Thiên trước sang truyền đạo ở Tàu tại thành Kiến Khương từ 398 - 429, dịch bộ Hoa nghiêm Kinh.

Giác Hoa

(覺華、覺花): hay Giác Ba, có mấy nghĩa khác nhau. (1) Là danh xưng của một vị Phật. Theo Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 40, vào thời kiếp Hoa Tích (華積), các đức Phật đều có hiệu là Giác Hoa. Trong Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh (摩訶般若波羅蜜經, Taishō Vol. 8, No. 223) quyển 2 cũng có giải thích rằng: “Ư chư pháp trung đắc Vô Sanh Nhẫn, thị chư nhân ư vị lai thế, quá lục thập bát ức kiếp đương tác Phật, kiếp danh Hoa Tích, Phật giai hiệu Giác Hoa (於諸法中得無生忍、是諸人於未來世、過六十八億劫當作佛、劫名花積、佛皆號覺花, đối với trong các pháp chứng Vô Sanh Nhẫn, những người này vào đời tương lai, qua sáu mươi tám kiếp sẽ thành Phật, kiếp ấy tên là Hoa Tích, chư Phật đều có hiệu là Giác Hoa).” (2) Hoa giác ngộ. Như trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 10, bài Sư Ni (師尼) có câu: “Sắc thân kiên cố, giới hạnh đoan nghiêm, trưởng phước quả ư thiện căn, khai giác hoa ư tâm địa (色身堅固、戒行端嚴、長福果於善根、開覺花於心地, sắc thân vững chắc, giới hạnh đoan nghiêm, nuôi phước quả nơi thiện căn, bày hoa giác nơi đất tâm).” Hay trong Phật Thuyết Pháp Thân Kinh (佛說法身經, Taishō Vol. 17, No. 766) cũng có câu: “Ly ư Ngũ Dục siêu Ngũ Thú khổ, cụ Lục Phần Pháp viên mãn Lục Ba La Mật, khai Thất Giác Hoa diễn Bát Chánh Đạo (離於五慾超五趣苦。具六分法圓滿六波羅蜜。開七覺花演八正道, lìa xa Năm Dục vượt khổ Năm Cõi, đủ Sáu Phần Pháp tròn đầy Sáu Ba La Mật, bày Bảy Hoa Giác diễn Tám Chánh Đạo).” (3) Thể hiện cho tướng hảo của Bồ Tát Quán Tự Tại (觀自在). Như trong Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi (瑜伽集要焰口施食儀, Taishō Vol. 21, No. 1320) giải thích rõ rằng: “Thứ nhập Quan Âm định, tức nhập Quán Tự Tại Bồ Tát Tam Ma Địa, bế mục trừng tâm quán tưởng tự thân, viên mãn khiết bạch do như tịnh nguyệt, tại tâm tịnh nguyệt thượng tưởng hrīḥ tự phóng đại quang minh; kỳ tự biến thành bát diệp Liên Hoa, ư hoa đài thượng hữu Quán Tự Tại Bồ Tát, tướng hảo phân minh; tả thủ trì Liên Hoa, hữu thủ tác khai phu diệp thế. Thị Bồ Tát tác thị tư duy: 'Nhất thiết hữu tình thân trung, các cụ hữu thử giác ngộ chi hoa, thanh tịnh pháp giới bất nhiễm phiền não.' Ư Liên Hoa bát diệp thượng, các hữu Như Lai nhập định già phu nhi tọa, diện hướng Quán Tự Tại Bồ Tát, hạng bội viên quang thân như kim sắc quang minh hoảng diệu. Tưởng thử bát diệp Liên Hoa, tiệm thư tiệm đại lượng đẳng hư không, tức tác như thị tư duy, dĩ thử giác hoa chiếu xúc Như Lai hải hội, nguyện thành quảng đại cúng dường. Nhược tâm bất di thử định, tắc ư vô biên hữu tình thâm khởi bi mẫn. Dĩ thử giác hoa mông chiếu xúc giả, ư chư khổ não tất đắc giải thoát đẳng đồng Quán Tự Tại Bồ Tát tướng hảo, tức tưởng Liên Hoa tiệm tiệm thu liễm lượng đẳng kỷ thân, tắc kết Quán Tự Tại Bồ Tát ấn gia trì tứ xứ (次入觀音定、卽入觀自在菩薩三摩地、閉目澄心觀想自身、圓滿潔白猶如淨月、在心淨月上想hrīḥ字放大光明、其字變成八葉蓮華、於華臺上有觀自在菩薩、相好分明、左手持蓮華、右手作開敷葉勢、是菩薩作是思惟、一切有情身中、各具有此覺悟之華、清淨法界不染煩惱、於蓮華八葉上、各有如來入定跏趺而坐、面向觀自在菩薩、項佩圓光身如金色光明晃耀、想此八葉蓮華、漸舒漸大量等虛空、卽作如是思惟、以此覺華照觸如來海會、願成廣大供養、若心不移此定、則於無邊有情深起悲愍、以此覺華蒙照觸者、於諸苦惱悉得解脫、等同觀自在菩薩相好、卽想蓮華漸漸收斂量等己身、則結觀自在菩薩印加持四處, kế đến nhập vào định Quan Âm, tức nhập vào định của Bồ Tát Quán Tự Tại, nhắm mắt lắng tâm quán tưởng tự thân, tròn đầy trong trắng giống như trăng thanh, ngay tại trung tâm phía trên mặt trăng thanh ấy quán tưởng chữ hrīḥ phóng ra ánh sáng lớn, chữ ấy biến thành hoa sen tám cánh; trên đài hoa ấy có Bồ Tát Quán Tự Tại, tướng tốt rõ ràng, tay trái cầm hoa sen, tay phải làm theo tư thế cánh hoa nở ra. Vị Bồ Tát ấy suy nghĩ như vậy: 'Trong thân của hết thảy chúng hữu tình, đều có đủ hoa giác ngộ này, trong sạch pháp giới, không nhiễm phiền não.' Trên hoa sen có tám cánh ấy, mỗi cánh có một đức Như Lai ngồi xếp bằng nhập định, mặt hướng về Bồ Tát Quán Tự Tại, nơi cổ trang sức tỏa sáng, thân như sắc vàng sáng tỏa chói lọi, quán tưởng hoa sen tám cánh này, dần dần mở ra, dần dần to lớn như hư không; rồi lại suy nghĩ rằng, lấy hoa giác ngộ này chiếu rọi chạm đến hải hội của chư Như Lai, nguyện hoa sen thành to lớn để cúng dường. Nếu như tâm không dời khỏi định này, thì sẽ khởi lòng thương xót đối với vô biên chúng hữu tình. Nhờ lấy hoa giác ngộ này chiếu chạm đến, các khổ não đều được giải thoát, ngang đồng với tướng tốt của Bồ Tát Quán Tự Tại. Rồi lại quán tưởng hoa sen dần dần thâu nhỏ lại bằng với thân mình, liền bắt ấn Bồ Tát Quán Tự Tại để gia trì bốn nơi).” Như vậy, bàn thờ Giác Hoa, còn gọi là Giác Ba, thường được thiết bày trong đàn tràng Chẩn Tế, có thể là bàn thờ đức Bồ Tát Quan Thế Âm (hay Quán Tự Tại). (4) Cũng có thuyết cho rằng Giác Ba ở đây tức là đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai (覺華定自在王如來) như trong Phẩm Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông (忉利天宮神通品) thứ nhất của Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經, Taishō Vol. 13, No. 412) có đề cập đến. Vì theo như lời nói của Quỷ Vương Vô Độc thưa với Thánh nữ Bà La Môn (tức tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát) rằng: “Duyệt Đế Lợi tội nữ, sanh Thiên dĩ lai, kinh kim tam nhật, vân thừa hiếu thuận chi nữ, vị mẫu thiết cúng, tu phước, bố thí Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai tháp tự, phi duy Bồ Tát chi mẫu đắc thoát Địa Ngục, ưng thị Vô Gián tội nhân, thử nhật tất đắc thọ lạc (悅帝利罪女、生天以來、經今三日、云承孝順之子、爲母設供、修福、布施覺華定自在王如來塔寺、非唯菩薩之母得脫地獄、應是無間罪人、此日悉得受樂, nữ tội nhân Duyệt Đế Lợi sanh lên Trời đến nay, đã dược ba ngày, nương nhờ con gái hiếu thuận, vì mẹ thiết lễ dâng cúng, tu phước, bố thí chùa tháp của đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai; không phải chỉ có mẹ của Bồ Tát được giải thoát, mà các tội nhân trong Địa Ngục Vô Gián, ngày ấy thảy được hưởng vui sướng)”; thiết lễ, cúng dường đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, nhờ công đức đó mà chư tội nhân trong các Địa Ngục, chư vị âm linh cô hồn được siêu thoát khỏi cảnh khổ của ba đường ác. Cho nên, cũng có thể bàn thờ Giác Ba trong đàn tràng Chẩn Tế là bàn thờ Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai.

giác hoa

6798<一>為佛名。據大智度論卷四十載,華積劫時,佛皆號覺華。[1] <二>比喻真覺。覺,即智慧。智慧之開,如華盛開,故稱覺華。長阿含經卷三(大一‧二一上):「阿難白佛言:『齋(云)何名供養?』『受法而能行,覺華而為供。』」 ; The flower of enlightenment. ; Hoa giác ngộ—The flower of enlightenment, which opens like a flower.

Giác Hoàng

(覺皇): vua giác ngộ; đức Phật được xem như là vị vua giác ngộ, nên Giác Hoàng còn là tên gọi khác của Phật. Như trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 3 có đoạn: “Như Cam Lồ nhi ốc tâm, tợ Đề Hồ nhi quán đảnh, hà tất cánh tầm Di Lặc Phật, chỉ kim hạnh đổ Thích Ca sư, cung đối Giác Hoàng, liêu ngâm Phật vận, tín sĩ kiền thành, cung thân thiết bái (如甘露而沃心、似醍醐而灌頂、何必更尋彌勒佛、只今幸睹釋迦師、恭對覺皇、聊吟佛韻、信士虔誠、躬身設拜, như Cam Lồ mà rưới tâm, tựa Đề Hồ mà rưới đầu, đâu cần đi tìm Di Lặc Phật, chỉ nay may gặp Thầy Thích Ca, đối trước Giác Hoàng, cùng ngâm lời Phật, tín đồ lòng thành, cúi mình vái lạy).” Hay trong Từ Bi Thủy Sám Pháp (慈悲水懺法) quyển Hạ có câu: “Giác Hoàng tòa hạ, huân tu Tam Muội huyền văn, kim đối đệ tam quyển, công đức châu long (覺皇座下、薰脩三昧玄文、今對第三卷、功德周隆, dưới tòa Giác Hoàng, chuyên tu Tam Muội văn mầu, nay đến quyển thứ ba, công đức trọn vẹn).” Trong Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏, Shōbōgenzō) quyển 72 của Thiền Sư Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253), vị tổ sáng lập ra Tào Động Tông Nhật Bản, cũng có câu: “Đương Giác Hoàng giải chế chi thời, thị pháp tuế châu viên chi nhật, cửu tuần vô nạn, nhất chúng hàm an (當覺皇解制之時、是法歳周圓之日、九旬無難、一眾咸安, lúc Giác Hoàng giải hạ kết chế, là đúng ngày tuổi hạ tròn đầy, chín tuần chẳng nạn, toàn chúng đều yên).” ; (覺皇): vua giác ngộ, còn gọi là Giác Vương (覺王), xưng hiệu của Phật. Như trong bài Đại Hưng Long Tiết Công Đức Sớ (代興龍節功德疏) của Trần Sư Đạo (陳師道, 1053-1101) nhà Tống có câu: “Phục nguyện bằng Giác Hoàng chi ngoại trợ, hiệu thần tử chi nội tâm (伏願憑覺皇之外助、效臣子之內心, cúi mong nương Giác Hoàng ấy ngoài giúp, chữa chúng thần ấy trong tâm).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3, phần Lục Hiến Tổng Văn (六獻總文), lại có đoạn: “Như Cam Lộ nhi ốc tâm, tợ Đề Hồ nhi quán đảnh, hà tất cánh tầm Di Lặc Phật, chỉ kim hạnh đổ Thích Ca Sư, cung đối Giác Hoàng, liêu ngâm Phật vận, tín sĩ kiền thành, cung thân thiết bái (如甘露而沃心、似醍醐而灌頂、何必更尋彌勒佛、只今幸睹釋迦師、恭對覺皇、聊吟佛韻、信士虔誠、躬身設拜, như Cam Lộ mà rót tâm, tựa Đề Hồ mà rưới đầu, hà tất lại tìm Di Lặc Phật, chỉ nay may gặp Thích Ca Ngài, cung đối Giác Hoàng, hứng ngâm Phật hiệu, tín đồ lòng thành, cúi thân lễ lạy).”

giác hành

6796指自覺覺他之行法。自覺、覺他、覺行圓滿,則稱為佛。大乘義章卷二十末(大四四‧八六四下):「覺行窮滿,故名為佛。」 ; Phương thức tu hành để đạt tới giác ngộ cho mình và cho người—The procedure, or discipline, of the attainment of enlightenment for self and others.

giác hùng

6798佛之尊稱。又作世雄、梵雄。於覺道有大威猛力之英雄,故稱覺雄。明覺禪師語錄卷五(大四七‧六九八中):「自西自東,應排罔象得象,必須覺雄讓雄。」 ; Phật là vị chúa tể hay anh hùng giác ngộ—The lord or hero, of enlightenment, Buddha.

giác hạnh

The procedure, or discipline, of the attainment of enlightenment for self and others,

Giác Hải

(覺海, Kakukai, 1142-1223): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, Kiểm Hiệu đời thứ 37 của Cao Dã Sơn, húy là Giác Hải (覺海), thông xưng là Hòa Tuyền Pháp Kiều (和泉法橋), tự là Nam Thắng Phòng (南勝房), xuất thân vùng Đản Mã (但馬, Tajima, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]), con của vị Trưởng Quan Kami vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi) là Nguyên Nhã Long (源雅隆). Ông thọ hai bộ Quán Đảnh với Định Hải (定海) ở Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), sau đó lên Cao Dã Sơn học Sự Tướng với Khoan Tú (寛秀) và cũng được truyền trao phép Quán Đảnh. Tiếp theo, ông đến thọ pháp với Thân Nghiêm (親嚴) ở Tùy Tâm Viện (隨心院), rồi Lãng Trừng (浪澄) ở Thạch Sơn Tự (石山寺), kiến lập thảo am (tức Hoa Vương Viện [華王院]) trên Cao Dã Sơn, tận lực dốc chí nghiên tầm giáo pháp. Năm 1217, ông được bổ nhiệm làm Kiểm Hiệu của Cao Dã Sơn. Chính trong thời gian tại nhiệm, do vì nảy sinh cuộc tranh chấp về lãnh thổ chùa và Kim Phong Sơn (金峰山) vùng Cát Dã (吉野, Yoshino), ông phải bôn tẩu để tránh kiện tụng. Ông đã nuôi dưỡng khá nhiều đệ tử như Pháp Tánh (法性), Đạo Phạm (道範), Thượng Tộ (尚祚), Chơn Biện (眞辯), Trân Hải (珍海), Thạnh Hải (盛海), v.v., và tận lực làm phát triển giáo học của Cao Dã Sơn. Trước tác của ông có Giác Hải Pháp Kiều Pháp Ngữ (覺海法橋法語) 1 quyển, Giác Nguyên Sao (覺源抄), Thính Hải Sao (聽海抄). ; 覺海; tk. 11-12|Thiền sư Việt Nam dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 10.|Sư họ Nguyễn, thuở nhỏ làm nghề chài lưới. Năm 25 tuổi, Sư cùng Không Lộ xuất gia, cùng thờ Thiền sư Hà Trạch làm thầy. Về sau Sư trở thành người nối pháp của Không Lộ, trụ trì chùa Hải Thanh.|Cũng như Không Lộ, Sư có khuynh hướng tu tập Mật giáo, sử dụng thần thông. Lần nọ lúc vào chầu vua Lí Nhân Tông (1072-1127), Sư cùng đạo sĩ Thông Huyền biểu diễn phép lạ làm hai con tắc kè rơi xuống đất, Lí Nhân Tông có thơ khen:|覺海心如海。通玄道又玄|神通兼變化。一佛一神仙|Giác Hải tâm như hải,|Thông Huyền đạo hựu huyền|Thần thông kiêm biến hoá,|Nhất Phật nhất thần tiên.|*Giác hải tâm như biển,|Thông Huyền đạo lại huyền,|Thần thông gồm biến hoá,|Một Phật, một thần tiên.|Sau đây là bài kệ Hoa và bướm – 花蝶 của Sư:|春來花蝶善知時。花蝶應須共應期|花蝶本來皆是幻。莫須花蝶向心持|Xuân lai hoa điệp thiện tri thời|Hoa điệp ưng tu cộng ứng kì|Hoa điệp bản lai giai thị huyễn|Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.|*Xuân sang hoa bướm khéo quen thời|Bướm liệng hoa cười vẫn đúng kì|Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo|Thây hoa, mặc bướm, để lòng chi!|(Bản dịch của Ngô Tất Tố)

giác hải

6798<一>指悟界。覺性甚深,湛然如海,故稱覺海。大佛頂首楞嚴經卷六(大一九‧一三○上):「覺海性澄圓,圓澄覺元妙。」又指佛教。佛以覺悟為宗,以其教義深廣,故以海喻之。 <二>宋代雲門宗僧。法名若冲,號覺海。(參閱「若冲」3948) ; The fathomless ocean of enlightenment, or Buddha-wisdom. ; 1) Giác tính sâu sắc bao la như biển cả: Sea of knowledge—The fathomless ocean of enlightenment or Buddha-wisdom. 2) Tên của một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong quận 6, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được bà Trần Thị Liễu xây năm 1887. Hòa Thượng Hoằng Ân đặt tên Giác Hải và cử Hòa Thượng Từ Phong về trụ trì. Năm 1929, Hòa Thượng Từ Phong trùng tu chùa lại như ngày nay. Mặt trước chùa có bao lam đắp nổi và khắc tám hàng chữ Hán nói về tiểu sử Đức Phật—Name of a famous ancient pagoda, located in the Sixth district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in 1887 by Ms. Trần Thị Liễu. Most Venerable Hoằng Ân named it Giác Hải and appointed Most Venerable Từ Phong Head of the pagoda. In 1929, Most Venerable Từ Phong had it rebuilt as it is seen today. On the upper part of its façade, there is a bas-relief on which were carved eight lines of Chinese characters describing Sakyamuni Buddha's biography.

giác hải thiền sư

Zen master Giác Hải—Thiền sư Việt Nam, quê tại Bắc Việt. Ngài xuất gia năm 25 tuổi, cùng với Không Lộ trở thành đệ tử của Thiền sư Hà Trạch tại chùa Diên Phước. Ngài là pháp tử đời thứ 10 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài cũng tiếp tục dạy thiền và kế thừa dòng Thiền Không Lộ, do Thiền sư Không Lộ sáng lập. Vua Lý Thần Tông nhiều lần thỉnh ngài vào cung, nhưng ngài đều từ chối—A Vietnamese Zen master from North Vietnam. He left home at the age of 25. First, he and Không Lộ became disciples of Zen master Hà Trạch at Diên Phước Temple. He was the Dharma heir of the tenth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he continued to teach Zen of the Không Lộ Zen Sect, which was founded by Zen master Không Lộ. King Lý Thần Tông invited him to the Royal Palace so many times, but he refused to go.

giác hổ tập

3004凡二卷。清代濟能纂輯。收於卍續藏第一○九冊。集錄有關禪家論淨土之語要而成。卷上收錄臨濟宗死心悟新、慧海儀、楚石梵琦、張商英、馮濟川等十四人、曹洞宗真歇清了、宏智正覺、萬松行秀、萬安廣恩等十一人,卷下收錄曹洞宗博山元來、雪關智誾等五人、雲門宗本覺法真、天衣義懷、楊傑、范仲淹等九人、法眼宗永明延壽一人、溈仰宗文喜無著一人、古尊宿白居易、文彥博等七人,及廬山慧遠、南嶽慧思、天台智顗、袁宏道等十一人,計收錄僧俗五十九人之語要。卷首附選刻之小序及目次,卷末附起念佛七儀式及編者濟能之小傳、語要。據選刻之小序所載,知書名係採自延壽之參禪念佛四料揀偈:「有禪有淨土,猶如戴角虎。」 ; (角虎集) Gồm 2 quyển, do ngài Tế năng soạn vào đời Thanh, thu vào Vạn tục tạng tập 109. Nội dung thu chép những yếu ngữ của Thiền gia bàn về Tịnh độ. Quyển thượng thu chép ngữ yếu của 14 nhà thuộc tông Lâm tế như các ngài: Tử tâm Ngộ tân, Tuệ hải nghi, Sở thạch Phạm kì, Trương thương anh, Phùng tế xuyên... Mười một vị thuộc tông Tào động như các ngài: Chân yết Thanh liễu, Hoành trí Chính giác, Vạn tung Hành tú, Vạn an Quảng ân... Quyển hạ có năm vị thuộc tông Tào động như các ngài: Bác sơn Nguyên lai, Tuyết quan Trí ngân... Tông Vân môn có chín vị như các ngài:Bản giác Pháp chân, Thiên y Nghĩa hoài, Dương kiệt, Phạm trọng yêm...Tông Pháp nhãn có một vị là ngài Vĩnh minh Diên thọ. Tông Qui ngưỡng một vị là ngài Văn hỉ Vô trước; Bảy vị túc Nho như các ông Bạch cư dị, Văn ngạn bác... và 11 vị cổ tôn túc như các ngài: Lô sơn Tuệ viễn, Nam nhạc Tuệ tư, Thiên thai Trí khải, Viên hoành đạo... Ngoài ra, ở đầu quyển thượng có tiểu tự và mục lục, cuối quyển hạ có ghi nghi thức niệm Phật, Tiểu truyện và ngữ yếu của soạn giả Tế năng. Lại cứ theo bài Tiểu tự cho biết thì tên sách Dác hổ tập là lấy ý của câu: Hữu Thiền hữu Tịnh độ, do như đới dác hổ trong bài kệ Tham thiền niệm Phật tứ liệu giản của ngài Diên thọ.

giác hộ

Buddhapāla (S)Phật Đà Ba Lợi.

giác hộ vương

Buddhagupta (S)Tên một vị vua Bắc Ấn thời xưa.

giác khải

Buddhavarman (S)Một vị sa môn người Ấn qua Tàu dịch kinh năm 437 - 439.

giác kiên

6798六堅法之一。謂覺了之堅固。即指別教妙覺果佛,覺了一切法皆為中道,其覺了堅固,無能毀壞。〔三藏法數卷二十六〕(參閱「六堅法」1290) ; Sự giác ngộ kiên cố chắc chắn—Firm, or secure enlightenment.

giác kiếm

6800形容覺悟之力,能破邪執,故以劍比喻之。此外,類似之比喻如形容佛之妙覺果德,猶如高山,稱為覺山;形容覺性圓融,周遊不息,猶如車輪,稱為覺輪。 ; Sharpness of enlightenment.

giác kiết-tường bồ tát

Buddhaśrynana (S)Tên một vị Bồ tát.

Giác linh

(覺靈): linh hồn đã giác ngộ, hay đã tìm thấy con đường; từ này được dùng cho các vị xuất gia đã viên tịch. Chữ giác (s, p: bodhi, 覺) ở đây có âm dịch là Bồ Đề (菩提), là trí tuệ chứng ngộ diệu lý Niết Bàn; cựu dịch là đạo (道), tân dịch là giác. Như trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1245) quyển 7, phần Vong Tăng (亡僧), có đoạn dùng từ giác linh này cho vị tu sĩ qua đời: “Dụng biểu vô thường, ngưỡng bằng tôn chúng, phụng vị một cố mỗ nhân Thượng Tọa, tư tợ giác linh vãng sanh Tịnh Độ (用表無常、仰憑尊眾、奉爲歿故某人上坐、資助覺靈往生淨土, thể hiện vô thường, ngưỡng mong đại chúng, kính vì Thượng Tọa … đã qua đời, trợ giúp giác linh vãng sanh Tịnh Độ).” Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修百丈清規, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 6, phần Vong Tăng (亡僧), còn cho biết rằng: “Bài thượng thư vân: 'Tân viên tịch mỗ giáp Thượng Tọa giác linh' (牌上書云、新圓寂某甲上座覺靈, trên bài vị ghi rằng: 'Giác linh Thượng Tọa … mới viên tịch').” Hay trong Tế Điên Đạo Tế Thiền Sư Ngữ Lục (濟顚道濟禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1361) cũng có đoạn rằng: “Cung duy viên tịch Tử Hà Đường Thượng Tánh Không Đại Hòa Thượng Bổn Công giác linh (恭惟圓寂紫霞堂上性空大和尚本公覺靈, kính nghĩ giác linh Bổn Công Đại Hòa Thượng Tánh Không Tử Hà Đường Thượng đã viên tịch).” Ngay cả trong văn thỉnh 12 loại cô hồn của Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083), đoạn thỉnh các tu sĩ quá cố cũng dùng từ giác linh này: “Nhất tâm triệu thỉnh, xuất trần thượng sĩ, phi tích cao tăng, tinh tu Ngũ Giới tịnh nhân, Phạm hạnh Tỳ Kheo Ni chúng, …, như thị chuy y Thích tử chi lưu, nhất loại giác linh đẳng chúng (一心召請、出塵上士、飛錫高僧、精修五戒淨人、梵行比丘尼眾…如是緇衣釋子之流、一類覺靈等眾, một lòng triệu thỉnh, xuất trần thượng sĩ, vân du cao tăng, ròng tu Năm Giới tịnh nhân, Phạm hạnh Tỳ Kheo Ni chúng, …, như vậy áo đen tu sĩ các dòng, một loại giác linh các chúng).”

giác liễu

6792覺悟了知事理,指證悟佛道之真理。楞嚴經卷五(大一九‧一二七下):「我於爾時,觀界安立,觀世動時,觀身動止,(中略)諸動無二,等無差別,我時覺了此群動性,來無所從,去無所至。」〔正法華經卷九、佛所行讚卷四、無量壽經卷下、楞嚴經卷一〕 ; Completely and clearly enlightened; clearly to apprehend. ; Thấu hiểu hoàn toàn và rõ ràng—Completely and clearly enlightened—To apprehend clearly.

giác lâm

Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong quận Tân Bình, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa xưa trên gò Cẩm Sơn, do Lý Thụy Long, người xã Minh Hương, đã quyên tiền của đàn na tín thí để dựng lên vào mùa xuân năm 1744, vào đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát. Năm 1804, Hòa Thượng Viên Quang đã xây lại ngôi chùa. Năm 1909, hai vị Hòa Thượng Hồng Hưng và Như Phòng đã cho trùng tu lại như kiến trúc hiện nay. Chùa được xây theo hình chữ “Tam” gồm chánh điện, giảng đường, phòng ăn. Hai bên chánh điện là hai bộ thập bát La Hán, một cở lớn và một cở nhỏ. Chùa có cả thảy 113 pho tượng bằng gỗ mít, sơn son thếp vàng. Tất cả những pho tượng, các bộ bao lam, bàn ghế, bài vị, tháp mộ, vân vân đều được chạm khắc thật tinh xảo—Name of an ancient temple, located in Tân Bình district, Saigon City, South Vietnam. In the spring of 1744, under the reign of Lord Nguyễn Phúc Khoát, a Chinese man whose name was Li Juei Lung from Minh Hương village, raised the devotees' money to build the temple on Cẩm Sơn Hill. In 1804, it was rebuilt by Most Venerable Viên Quang. In 1909, Most Venerable Hồng Hưng and Như Phòng had it reconstructed as it is seen today. Giác Lâm Temple wa designed in the form of the word “San,” consisting of the Main Hall, the Lecture Hall (auditorium), and the dining room. On both sides of the Main Hall stand two sets od statues of the Eighteen Arahats (one set is of big size and the other of small size). In the temple, there are 113 wooden statues in all, most of which are made of jacktree wood. The are gilded and painted in red. The statues, carving frames, tables, chairs, tomb stupas, etc. all are painstakingly carved.

Giác Lãng Đạo Thạnh

(覺浪道盛, Kakurō Dōsei, 1592-1659): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Giác Lãng (覺浪), hiệu Trượng Nhân (杖人), xuất thân Phố Thành (浦城), Kiến Ninh (建寧, Tỉnh Phúc Kiến), họ Trương (張). Năm 19 tuổi, ông xuất gia ở Thoại Nham (瑞巖), rồi đến tham vấn Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經) ở Thọ Xương Tự (壽昌寺) và thọ Cụ Túc giới ở Bác Sơn (博山). Sau đó, ông lại đến hầu hạ Hối Đài Nguyên Kính (晦臺元鏡) ở Đông Uyển (東苑), pháp từ của Huệ Kinh, và có chỗ sở ngộ. Vào năm thứ 47 (1619) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông bắt đầu khai đường thuyết giáo ở Quốc Hoàn Tự (國懽寺). Từ đó trở đi, ông sống qua một số nơi khác như Linh Cốc Tự (靈谷寺) ở Kim Lăng (金陵, Tỉnh Giang Tô), Long Hồ Tự (龍湖寺) ở Ma Thành (麻城, Tỉnh Hồ Bắc), Thọ Xương Tự (壽昌寺) ở Tân Thành (新城, Tỉnh Giang Tây), Khuông Sơn Viên Thông Tự (匡山圓通寺), v.v. Đến năm thứ 3 (1646) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông làm trú trì Thiên Ninh Tự (天寧寺) ở Giang Nam (江南, Tỉnh Giang Tô) và xiển dương Thiền phong nơi đây. Vào ngày mồng 7 tháng 9 năm thứ 16 (1659) cùng niên hiệu trên, ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi đời và 49 hạ lạp. Pháp từ của ông có 29 vị. Lưu Dư Mô (劉余謨) soạn văn bia tháp, Trúc Am Thành (竺菴成) biên tập hành trạng của ông. Suốt trong hơn 40 năm thuyết pháp của ông đều được thâu lục vào trong Thiên Giới Giác Lãng Thạnh Thiền Sư Toàn Lục (天界覺浪盛禪師全錄) 33 quyển, Thiên Giới Giác Lãng Thiền Sư Ngữ Lục (天界覺浪盛禪師語錄) 12 quyển, Thiên Giới Giác Lãng Thiền Sư Gia Hòa Ngữ Lục (天界覺浪盛禪嘉禾語錄) 1 quyển, v.v. Đặc biệt, ông còn để lại một số trước tác như Lẫm Sơn Trung Công Truyện (廩山忠公傳) 1 quyển, Phật Tổ Nguyên Lưu Tán (佛祖源流贊), Truyền Đăng Chánh Tông (傳燈正宗), Tôn Chánh Quy (尊正規), Động Tông Tiêu Chánh (洞宗標正).

giác lộ

The way to enlightenment. ; Way of enlightenment—See Thất Bồ Đề Phần and Bát Chánh Đạo.

giác lực

6793(1881~1933)福建廈門人,俗姓林。年十九禮鼓山湧泉寺萬善和尚披剃,名復願,字圓通,號覺力。嘗親近本忠律師研習戒律,並隨至南洋弘法。年二十九,初渡臺灣,駐錫臺北縣凌雲禪寺,後歸湧泉寺任首座。年三十三,應臺灣信眾之迎請,於苗栗大湖開創法雲禪寺,一時四方善信多聞風皈投。師依叢林體制,行持百丈清規;又開辦佛學社、研究院,培養弘法人才,更推動各項社會慈善事業,於是法務大興,住眾二百餘人。年三十七,與善慧、心源二師於臺北合創「臺灣佛教中學林」(泰北中學之前身)。師修持嚴謹,過午不食,夜不倒單,自化化他,駐臺二十年,弘宗演教,七次傳戒,度眾無數,法嗣遍及臺灣各地,對臺灣佛教貢獻甚大。

giác ma tử

6801指西藏出家之女子。西藏新志:「藏民篤信佛教,所生子女出家者居多數。男子為喇嘛,女子為覺魔子,猶如比丘尼,其數當以五六萬計。即豪富如噶布倫,家擁巨資,其女子亦為覺魔子。」

giác minh

Xem Giác Minh Sa môn.

giác minh sa môn

Buddha-yaśas (S)Tên một vị sư người A phú hãn sang Tàu dịch kinh hồi thế kỷ thứ 5, ngài sang Tàu dịch kinh từ năm 403 đến 413 Xem Phật đà da xá.

giác mãn

6800覺行圓滿之略稱。指佛自覺、覺他、覺行圓滿。大乘義章卷二十末(大四四‧八六四下):「既能自覺,復能覺他,覺行窮滿,故名為佛。」

giác mẫu

6796又稱佛母。<一>指般若菩薩。此菩薩乃三世諸佛覺悟之母,故稱覺母。般若心經祕鍵(大五七‧一一上):「覺母,梵文調御師。」修習般若軌(大二○‧六一二上):「入本尊瑜伽三摩地,觀身為般若波羅蜜佛母。」 <二>文殊菩薩之德號。文殊菩薩於理智二門中專司智慧門,而諸佛皆從智慧出生,故稱覺母。〔心地觀經卷三〕 <三>指修行與智慧;為成佛之因,故稱覺母。 ; 1) Mẹ của sự giác ngộ: Mother of enlightenment. 2) Danh hiệu của ngài Văn Thù và công đức của ngài như vị hộ trì mật trí. Chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai đều đạt được sự giác ngộ từ nơi ngài—A title of Manjusri as the eternal guardian of mystic wisdom, all Buddhas, past, present, and future, deriving their enlightenment from him as its guardian. ** For more information, please see Phật Mẫu.

giác ngoạ phật

6797覺臥,西藏語意為王子,用以稱釋迦牟尼,取淨飯王子之意。相傳以釋迦牟尼佛十二歲時之身量造像,唐文成公主曾攜之入藏,今存拉薩大昭寺大殿內。

Giác Nguyên Huệ Đàm

(覺原慧曇, Kakugen Edon, 1304-1371): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Giác Nguyên (覺原), xuất thân Huyện Thiên Thai (天台縣, Tỉnh Triết Giang), họ Dương (楊). Lúc nhỏ, ông thường khác người, lớn lên theo xuất gia với Pháp Quả (法果) ở Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), sau thọ Cụ Túc giới. Từ đó, ông đến tham học với Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢) ở Trung Thiên Trúc Tự (中天竺寺) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông bắt đầu khai đường thuyết giáo tại Tổ Đường (祖堂) vùng Ngưu Thủ (牛首), rồi từng sống qua một số nơi khác như Thanh Lương (清涼) ở Thạch Thành (石城), Bảo Ninh Tự (保寧寺) và Tương Sơn (蔣山) ở Kim Lăng (金陵); cuối cùng ông nhận sắc chỉ đến trú trì Thiên Giới Tự (天界寺). Theo chiếu của nhà vua, ông được ban tặng danh hiệu là Diễn Phạn Thiện Thế Lợi Quốc Sùng Giáo Đại Thiền Sư (演梵善世利國崇敎大禪師). Vào ngày 27 tháng 9 năm thứ 4 (1371) niên hiệu Hồng Võ (洪武), ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi đời và 53 hạ lạp. Tống Liêm (宋濂) soạn bài minh bia tháp của ông.

Giác ngạn

(覺岸): bờ bên kia của giác ngộ, tức cảnh giới của Phật. Như trong Pháp Hoa Kinh Huyền Tán Quyết Trạch Ký (法華經玄贊決擇記, CBETA No. 637) có giải thích rằng: “Giác ngạn giả, Phật quả dã; nhiên Phật thuyết pháp, vọng linh chúng sanh tất cánh ly thử sanh tử khổ tân, chung cứu đăng vu Phật quả bỉ ngạn (覺岸者、佛果也、然佛說法、望令眾生畢竟離此生死苦津、終究登于佛果彼岸, bờ giác là quả Phật; vì vậy đức Phật thuyết pháp, khiến cho chúng sanh rốt cuộc xa lìa bến bờ khổ sanh tử, cuối cùng lên quả Phật bờ bên kia).” Trong Luật Yếu Hậu Tập (律要後集, CBETA No. 1124) có đoạn: “Mạng chung chi hậu, sanh chư Phật tiền, chứng bất tư nghì, giải thoát cảnh giới, phổ năng du hý, xuất nhập trần lao, tận độ mê lưu, đồng đăng giác ngạn, hư không hữu tận, ngã nguyện vô cùng, quy mạng đảnh lễ, nhất thiết Tam Bảo (命終之後、生諸佛前、證不思議、解脫境界、普能遊戲、出入塵勞、盡度迷流、同登覺岸、虛空有盡、我願無窮、歸命頂禮、一切三寶, sau khi mạng hết, sanh trước chư Phật, chứng không nghĩ bàn, giải thoát cảnh giới, vui chơi cùng khắp, ra vào trần lao, độ khắp dòng mê, cùng lên bờ giác, hư không có tận, nguyện con không cùng, quy mạng đảnh lễ, hết thảy Tam Bảo).”

giác ngạn

6797<一>迷譬如海,覺猶如岸,破迷而開悟,即稱為登覺岸。即一般所謂之涅槃、彼岸。 <二>(1286~?)元代僧。烏程(浙江吳興)人,俗姓吳。號寶洲。居烏程寶相寺,學通內外古今,深究佛祖禪旨,至正年中(1341~1367),撰釋氏稽古略四卷,採編年體,載佛祖及諸高僧之事蹟;自佛世以降,凡名師大德之行業出處,以及塔廟之興廢,僧侶之眾寡,無不具載。〔續釋氏稽古略卷一、四庫全書總目卷一四五〕 ; The shore, bank of enlightenment, which Buddha has reached after crossing the sea of illusion. ; Bờ giác ngộ mà Đức Phật đã đạt đến khi vượt qua biển khổ đau phiền não—Shore of enlightenment (the Buddhist land), which Buddha has reached after crosing the sea of illusion.

Giác Ngạn Bảo Châu

(覺岸寳洲, Kakugan Hōshū, 1286-1355?): vị tăng sống dưới thời nhà Nguyên, tên là Giác Ngạn (覺岸), xuất thân Ô Trình (烏程, Ngô Hưng, Triết Giang), họ Ngô (呉). Ông sống ở Bảo Tướng Tự (寳相寺) trong vùng, học thông cả nội ngoại cổ kim, chuyên nghiên cứu sâu về yếu chỉ Thiền của chư Phật tổ. Trong khoảng niên hiệu Chí Chánh (至正, 1341-1367), ông có soạn bộ Thích Thị Kê Cổ Lược (釋氏稽古略) 4 quyển, ghi lại những sự tích của chư Phật tổ và liệt vị cao tăng, thuật rõ hành trạng, xuất xứ, tình trạng tháp miếu hưng suy như thế nào và đồ chúng nhiều ít của chư vị cao tăng đại đức.

Giác ngộ

覺悟; S, P: bodhi;|Danh từ được dịch nghĩa từ chữ Bodhi (Bồ-đề, tỉnh thức) của Phạn ngữ; chỉ trạng thái tỉnh thức, lúc con người bỗng nhiên trực nhận tính Không (s: śūnyatā), bản thân nó là Không cũng như toàn thể vũ trụ cũng là Không. Chỉ với trực nhận đó, con người mới thấu hiểu được thể tính mọi hiện tượng. Tính Không hiểu ở đây không phải sự trống rỗng thông thường mà nói về một thể tính vô biên không thể dùng suy nghĩ, cảm nhận để đo lường, nằm ngoài cặp đối đãi có-không. Tính Không này không phải là một đối tượng để một chủ thể tiếp cận đến vì bản thân chủ thể cũng thuộc về nó. Vì vậy, giác ngộ là một kinh nghiệm không thể giải bày.|Người giác ngộ hoàn toàn là đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni, cũng là người bắt đầu giáo hoá cho nên đạo Phật cũng được gọi là »đạo giác ngộ« (Ðại ngộ triệt để, Ngộ, Kiến tính).|Dù rằng cái thể của tính Không là một, nhưng người ta cho rằng có nhiều mức độ giác ngộ khác nhau. Nếu so sánh giác ngộ như phá vỡ một bức tường, thì có mức giác ngộ như chỉ hé mở một lỗ nhỏ và giác ngộ như đức Thích-ca là phá vỡ hoàn toàn bức tường đó. Có vô vàn khác nhau giữa các mức giác ngộ, biểu hiện bằng sự rõ ràng chính xác của thiền giả đạt được. Dựa trên kinh nghiệm của các bậc giác ngộ, thế giới của sự giác ngộ không hề khác với thế giới hiện tượng của chúng ta, tất cả đều là một, Hiện tượng-Tính không, Tương đối-Tuyệt đối. Kinh nghiệm về cái tất cả là một này chính là kinh nghiệm về thể tính tuyệt đối đó. Trong Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh (s: mahāprajñāpā-ramitā-hṛdaya-sūtra) chỉ rõ »sắc tức là không, không tức là sắc«, tức là không hề có hai thế giới. Nhờ tình trạng giác ngộ sâu xa, hành giả từ bỏ được cái Ngã. Trong Thiền tông, một khi cái ngã đã chết (»đại tử«) thì »đời sống« mới bắt đầu, đó là một cuộc sống tự tại và an lạc.|Một câu hỏi được rất nhiều người mộ đạo đặt ra cụ thể là: nhờ đâu mà người ta có thể nhận ra được một Thánh nhân, một Bậc giác ngộ – với những giác quan của một »Phàm phu« – và theo người đó tu tập? Sách vở thường nói rằng, chỉ có một Bậc giác ngộ mới nhận ra một Bậc giác ngộ (Vô thượng du-già), nhưng kinh nghiệm chung cho thấy, người bình thường cũng có khả năng nhận ra được một người đã đạt một cấp bậc siêu việt trên con đường tu tập qua các biểu hiện, qua bầu không khí xung quanh người đó. Ðó là một khung cảnh thái bình, tịch tịnh mà người nào cũng có thể cảm nhận được, ngay cả thú rừng. Trong khung cảnh này thì tâm của con người không còn bị những câu hỏi, hồ nghi quấy nhiễu – không phải vì chúng mỗi mỗi được giải đáp mà vì chúng đã tự biến mất, tự huỷ diệt trong cái tĩnh mịch vô biên của Chân như. Trong đoạn văn dịch sau đây – do một Triết gia người Ðức Veltheim-Ostrau viết – mô tả cảm giác của ông trong bầu không khí và những hiện tượng xung quanh một Bậc giác ngộ hiện đại, đó là Śrī Ra-ma-na Ma-hā-ri-shi (1897-1950) tại Tiruvanna-malai, núi A-ru-nā-cha-la ở miền Nam Ấn Ðộ (»mahāṛṣi« dịch sát nghĩa là Ðại Thấu Thị, một Ðại nhân đã nhìn thấu suốt vạn sự):|»Tôi cảm nhận sự hiện diện của tất cả mọi người, những động vật xung quanh, một bầu không khí thái bình, một sự yên tịnh không tả nổi. Tôi đứng bên cạnh họ với một tâm trạng vô tư, hoàn toàn không quen biết, nhưng với một tình thương ấm áp. Tâm trạng này không dễ miêu tả bởi vì nó quá đơn giản, quá tự nhiên. Tôi chỉ cầu mong nhớ lại được trạng thái này trước khi tôi qua đời.|Cặp mắt của tôi đang chú ý đến Ma-hā-ri-shi ngồi yên nhập định thì một hiện tượng xảy ra, một hiện tượng mà tôi – mặc dù rất ngại diễn tả lại – trình bày một cách khiêm nhường, ngắn gọn như tôi đã thật sự chứng kiến. Thân hình màu đen thẫm của ông dần dần trở nên trắng và trắng hơn, sau đó phát quang như được rọi sáng từ trong! Ban đầu tôi cho nó là một hiện tượng tự ý gợi (e: autosuggestion), thôi miên (e: hypnosis) và lấy sổ tay, xem đồng hồ để kiểm soát… Khi quay đầu nhìn lại – với cặp mắt vừa mới xem quyển sổ tay xong – tôi vẫn thấy Ma-hā-ri-shi, một thân hình sáng rực đang ngồi trên một tấm da cọp! Tôi nhìn vào mắt ông – mắt chạm mắt – nhưng bây giờ nỗi ngạc nhiên về ánh sáng chói loà đã tan biến…« (trích từ »Hơi thở Ấn Ðộ«, Der Atem Indiens, Hamburg, 1955).|Mặc dù Thần thông, Tất-địa (s: siddhi) là một dấu hiệu của sự tiến triển trong quá trình tu tập nhưng Phật khuyên không nên sử dụng – nếu có khả năng – và không nên coi trọng nó – nếu đang trên đường tìm Ðạo, vì nó vẫn nằm trong thế giới Hữu vi, chưa là biểu hiện của Tuyệt đối, của Chân như.

giác ngộ

6798覺醒了悟之意。即體得真理、開發真智。據楞伽阿跋多羅寶經卷二載,覺悟乃是空無生無二,離自性之相。又六十華嚴經卷七(大九‧四三七中):「又放光明名見佛,彼光覺悟命終者,念佛三昧必見佛,命終之後生佛前。」大乘起信論義記卷中(大四四‧二五八中):「雖於麤念住相而得覺悟,猶自眠於生相夢中,覺道未圓。」由此可知,覺悟有自了悟與從他而覺醒之別,其覺悟之程度亦有深淺不同。〔六十華嚴經卷六、北本大般涅槃經卷十六〕 ; Xem bồ đề. ; To awake, become enlightened, comprehend spiritual reality. Ðược giác ngộ: to be awaken, illumined, enlightened. ; Bujjhati (p)—Bodhum or Sambodhi (skt)—Tỉnh—Tỉnh thức—Enlightenment—To wake up—To awake—To come to oneself—To awaken—To become enlightened—To be awakened—To comprehend spiritual reality—To understand completely—All-Knowing—Attainment of Enlightenment—See Enlightenment in English-Vietnamese Section.

giác ngộ trí

6798即佛智。以佛智能了達諸法,故稱覺悟智。一切如來真實攝大乘現證大教王經卷一(大一八‧三四一中):「為一切金剛界覺悟智大士。」 ; Enlightened wisdom; omniscience. ; Trí giác ngộ—Enlightened wisdom; wisdom that extends beyond the limitations of time and sense (omniscience).

giác ngộ tâm

Awakened Mind—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, giác ngộ tâm bao gồm những điểm giác ngộ sau đây—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, awakened mind must include the following awakenings: 1) Thân nầy chẳng phải TA và CỦA TA, mà đó chỉ là một sự tổng hợp giả tạm của tứ đại (đất, nước, lử, gió) mà thôi: This body is not ME (self) or MINE (self-belonging), but is only a temperary collaboration of the four great elements (land, water, fire, and wind). 2) TÂM THỨC PHÂN BIỆT nầy cũng thế, nó chỉ là sự tổng hợp của sáu trần là sắc, thinh, hương, vị. Xúc, và pháp mà thôi. Do vậy nên nó cũng chẳng phải là TA và CỦA TA nữa. Hiểu được như vậy, hành giả tu tập sẽ dứt trừ những thứ sau đây—The discriminating mind is the same way; it is the result from the combination of the six elements of form, sound, odor, flavor, touch and dharma. Therefore, it is also not ME or SELF-BELONGING either. If cultivators are able to penetrate and comprehend in this way, they will be able to eliminate the followings: a) Hai thứ trói buộc là NGÃ và NGÃ SỞ. Ngã và Ngã sở đã không, tức nhiên sẽ dứt trừ được cái “Ngã Tướng” hay cái “Chấp Ta”: Two types of bondage of SELF and SELF-BELONGING. If there is no “Self” or “Self-belonging,” then the Self-Form, or the characteristic of being attached to the concept of self will be eliminated immediately. b) Sự “Chấp có nơi người khác” hay “Nhơn Tướng” cũng không: The Other's Form or the characteristic of clinging to the concept of other people does not exist either. c) Sự chấp “Có” nơi tất cả chúng sanh hay “Chúng Sanh Tướng”: The Sentient Beings Form or the characteristic of clinging to the existence of all other sentient beings will no longer exist. d) Sự chấp “Thọ Giả Tướng” hay không có ai chứng đắc: The Recipient-Form is also eliminated. ** Vì Bốn Tướng Chúng Sanh đều bị dứt trừ, nên hành giả liền được Giác Ngộ— Because these four form-characteristics of sentient beings no longer exist, the practitioners will attain Enlightenment.

giác ngộ tối thượng

Supreme enlightenment.

giác ngộ và trở thành phật

Buddho-vibudhyate (S).

giác nhân

6793指覺悟佛道之人,即徹見佛性之修學佛道者。頓悟入道要門卷上(卍續一一○‧四二六上):「如來道者,即一切覺人解脫也。」〔佛祖統紀卷四十二〕 ; Người giác ngộ đã thấu triệt chân lý—An enlightened man who has apprenhended Buddha-truth.

Giác Như

(覺如, Kakunyo, 1270-1351): vị Tăng của Chơn Tông sống vào khoảng cuối thời kỳ Liêm Thương và đầu thời Nam Bắc Triều, vị Tổ đời thứ 3 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), húy là Tông Chiêu (宗昭), tên lúc nhỏ là Quang Tiên (光仙); thông xưng là Trung Nạp Ngôn (中納言); hiệu là Giác Như (覺如), Hào Nhiếp (毫攝); xuất thân vùng Kyoto, con trai đầu của Giác Huệ (覺惠) ở Bổn Nguyện Tự. Ông vốn tu học ở Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji) thuộc vùng Cận Giang (近江, Ōmi) cũng như Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), rồi đến năm 1287 thì thọ lãnh giáo học với người cháu của Thân Loan (親鸞, Shinran) là Như Tín (如信). Năm 1290, ông tham bái những di tích của Thân Loan ở vùng Quan Đông (關東, Kantō). Vào năm 1310, ông làm chức Lưu Thủ canh giữ ngôi nhà mộ của Thân Loan, rồi từ đó đặt tên nơi đây là Bổn Nguyện Tự. Ông chủ trương mình là người kế thừa giáo lý chính thống của Thân Loan, và có phương hướng làm cho phát triển giáo đoàn Chơn Tông ở ngôi chùa này. Trước tác của ông có Thân Loan Thánh Nhân Hội Truyện (親鸞聖人繪傳) 2 quyển, Khẩu Truyền Sao (口傳鈔) 3 quyển, Thập Di Cổ Đức Truyện (拾遺古德傳) 9 quyển, Chấp Trì Sao (執持鈔) 1 quyển, Giáo Hành Tín Chứng Đại Ý (敎行信証大意) 1 quyển, Cải Tà Sao (改邪鈔) 1 quyển, Báo Ân Giảng Thức (報恩講式) 1 quyển, Nguyện Nguyện Sao (願願鈔) 1 quyển, v.v.

giác như

See Chân Như.

giác nhật

Timelessness, eternity, changelessness, the bodhi day which has no change. ; Ngày giác ngộ—Timelessness, eternity, changelessness, the bodhi-day which has no change.

Giác Noan

(覺鑁, Kakuban, 1095-1143): vị tăng của sống vào cuối thời Bình An, vị khai Tổ của Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, húy là Giác Noan (覺鑁), thông xưng là Noan Thượng Nhân (鑁上人), Mật Nghiêm Tôn Giả (密嚴尊者), hiệu là Chánh Giác Phòng (正覺房), thụy hiệu là Hưng Giáo Đại Sư (興敎大師), xuất thân vùng Phì Tiền (肥前, Hizen). Năm 13 tuổi, ông theo làm môn hạ của Khoan Trợ (寬助) ở Thành Tựu Viện (成就院) tại Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), rồi học Pháp Tướng, Hoa Nghiêm, Tam Luận ở vùng Nam Đô. Đến năm 16 tuổi, ông xuất gia, sau đó lên Cao Dã Sơn, theo hầu Minh Tịch (明寂) ở Tối Thiền Viện (最禪院) và nỗ lực học Mật Giáo. Năm 1121, ông thọ phép Quán Đảnh từ Khoan Trợ. Năm 1126, ông phát nguyện chấn hưng giáo học với ý đồ tái hưng Truyền Pháp Hội, rồi đến năm 1130 thì được Điểu Vũ Thượng Hoàng (鳥羽上皇) ủng hộ và khai sáng Tiểu Truyền Pháp Viện (小傳法院). Đến năm 1132, ông kiến lập thêm Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院), Mật Nghiêm Viện (密嚴院) với tư cách là ngôi chùa phát nguyện của Thượng Hoàng. Trong lúc này, Thượng Hoàng đã hiến cúng 7 trang viên ở vùng Thạch Thủ (石手), Kỷ Y (紀伊, Kii). Năm 1133, ông thọ pháp với Giác Du (覺猷) của Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji); với Định Hải (定海), Hiền Giác (賢覺) của Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji); với Khoan Tín (寬信) của Khuyến Tu Tự (勸修寺, Kanshū-ji); với Giác Pháp (覺法), Thánh Huệ (聖惠) của Nhân Hòa Tự. Từ đó, ông khai sáng Dòng Truyền Pháp Viện (傳法院流), sự tổng hợp của hai dòng Tiểu Dã (小野), Quảng Trạch (廣澤) thuộc Đông Mật và Thai Mật. Năm 1134, ông làm Viện Chủ của Đại Truyền Pháp Viện, kiêm nhiệm luôn cả Tọa Chủ của Kim Cang Phong Tự (金剛峰寺, Kongōbō-ji). Chính ông đã thành công trong việc làm cho Cao Dã Sơn thoát khỏi sự chi phối của Đông Tự (東寺, Tō-ji), nhưng vì gặp phải sự phản đối kịch liệt của Kim Cang Phong Tự và Đông Tự, nên năm sau ông phải nhường cả hai chức này cho Chơn Dự (眞譽), rồi lui về ẩn cư ở Mật Nghiêm Viện. Đến năm 1140, do từ cuộc luận tranh trang viên ở vùng Tương Hạ (相賀, Aiga), ông bị phía Kim Cang Phong Tự tấn công; cho nên hạ sơn xuống vùng Căn Lai (根來, Negoro), rồi cùng với Quán Pháp (觀法) ở Viên Minh Tự (圓明寺) tập trung cho việc trước tác. Chính ông viết tác phẩm Ngũ Luân Cửu Tự Minh Bí Mật Thích (五輪九字明秘密釋) để làm cơ sở cho tư tưởng Bí Mật Niệm Phật vốn thuyết về sự nhất trí tận cùng của Chơn Ngôn Mật Giáo và Chuyên Tu Niệm Phật. Trước tác của ông ngoài tác phẩm trên còn có Nhất Kỳ Đại Yếu Bí Mật Tập (一期大要秘密集) 1 quyển, Mật Nghiêm Viện Phát Lộ Sám Hối Văn (密嚴院發露懺悔文) 1 quyển, Chơn Ngôn Tông Tức Thân Thành Phật Nghĩa Chương (眞言宗卽身成佛義章) 1 quyển, Hưng Giáo Đại Sư Toàn Tập (興敎大師全集) 2 quyển, v.v.

Giác Pháp

(覺法, Kakubō, 1091-1153): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, vị Tổ đời thứ 4 của Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), Tổ của Dòng Nhân Hòa Ngự (仁和御流), húy là Giác Pháp (覺法), thông xưng là Cao Dã Ngự Thất (高野御室), Thắng Liên Hoa Tự Sư Tử Vương Cung (勝蓮華寺獅子王宮); tự là Chơn Hành (眞行), Hành Chơn (行眞); Hoàng Tử thứ 4 của Bạch Hà Thiên Hoàng (白河天皇, Shirakawa Tennō, tại vị 1072-1086). Năm 1104, ông theo xuất gia và thọ giới với anh mình là Giác Hạnh (覺行) ở Nhân Hòa Tự. Sau khi anh qua đời, ông theo học pháp với Khoan Trợ (寬助) ở Thành Tựu Viện (成就院); rồi đến năm 1109 thì thọ phép Quán Đảnh ở Quan Âm Viện (觀音院) và trở thành Nhất Thân A Xà Lê (一身阿闍梨). Năm sau, ông nhận Dòng Tiểu Dã (小野流) từ Phạm Tuấn (範俊); đến năm 1125, ông nhậm chức Kiểm Hiệu của Nhân Hòa Tự; năm 1130 thì làm Đại A Xà Lê cho lễ cúng dường của Pháp Kim Cang Viện (法金剛院), và năm 1137 thì làm Chứng Minh Đạo Sư cho buổi lễ khánh thành An Lạc Thọ Viện (安樂壽院). Đến năm 1139, ông biến Quan Âm Viện thành ngôi chùa phát nguyện của triều đình và được phép tiến hành Quán Đảnh Hội tại đây. Năm 1141, ông truyền trao giới pháp cho Điểu Vũ Thiên Hoàng (鳥羽天皇, Toba Tennō, tại vị 1107-1123) tại Giới Đàn Viện (戒壇院) của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Năm 1144, ông tu Khổng Tước Kinh Pháp (孔雀經法) để cầu nguyện cho cận vệ của Thiên Hoàng được lành bệnh. Ông rất giỏi về sự tướng, và khai sáng Dòng Nhân Hòa Ngự. Đệ tử phú pháp của ông có Giác Thành (覺成), Giác Tánh (覺性), Kiêm Trợ (兼助), Thánh Huệ (聖惠), v.v.

giác pháp tự tính ý thành thân

Dharmasvabhavanabodhamanomayakaya (skt)—Cái thân do ý sinh được mang khi tự tính của các sự vật được hiểu là vô tự tính—The will-body assumed when the self-nature of things is understood as having no self-nature.

Giác Phạm Huệ Hồng

(覺範慧洪, Kakuban Ekō, 1071-1128): vị tăng của Phái Hoàng Long (黃龍派) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, họ là Bành (彭), tự là Giác Phạm (覺範), sau có tên là Đức Hồng (德洪) và được gọi là Tịch Âm Tôn Giả (寂音尊者), xuất thân vùng Thoại Châu (瑞州, Huyện Cao An, Tỉnh Giang Tây). Năm lên 14 tuổi, ông xuất gia, theo học Câu Xá cũng như Duy Thức với các luật sư Tam Phong Tĩnh (三峰靘) và Tuyên Bí (宣秘). Về sau, ông đi theo tu học với Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文). Ông đã từng sống qua ở Thanh Lương Tự (清涼寺) vùng Kim Lăng (金陵, Tỉnh Giang Tô), nhưng trong khoảng niên hiệu Sùng Ninh (崇寧, 1102-1106) đời vua Huy Tông (徽宗), do lời sàm ngôn tố cáo có vị tăng làm khác với chủ trương của triều đình nên ông đã bị trước sau 4 lần giam vào ngục thất. Đương thời, ông được vị cư sĩ Tể Tướng Trương Thương Anh (張商英) và Thái Úy Quách Thiên Dân (郭天民) cứu thoát. Sau khi trở về, ông đến trú tại Minh Bạch Am (明白庵) vùng Tương Tây (湘西, Tỉnh Hồ Nam) và chuyên tâm tập trung vào việc trước tác. Vào tháng 5 năm thứ 2 (1128) niên hiệu Kiến Viêm (建炎), ông thị tịch, hưởng thọ 58 tuổi đời và 39 hạ lạp. Thể theo lời tâu của Quách Thiên Dân, ông được cho thụy hiệu là Bảo Giác Viên Minh (寳覺圓明). Một số trước tác của ông còn lưu lại hậu thế như Lâm Nhàn Lục (林閑錄) 2 quyển, Lâm Nhàn Lục Hậu Lục (林閑錄後錄), Thiền Lâm Tăng BảoTruyện (禪林僧寳傳) 30 quyển, Cao Tăng Truyện (高僧傳) 12 quyển, Lãnh Trai Dạ Thoại (冷齋夜話) 10 quyển, Thạch Môn Văn Tự Thiền (石門文字禪) 30 quyển, v.v.

giác phần

Bodhipakkhipa (P)Bồ đề phầnCó 37 bồ đề phần họp thành giác ngộ. ; Bodhyanga (S) Xem Thất bồ đề phần, giác chi. ; Bodhyanga (skt)—Seven bodhyanga—Seven limbs of enlightenment—Seven charateristics of bodhi—Seven bodhi shares. ** For more information, please see Thất Bồ Đề Phần and Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo.

giác quan

Organs of sense—Sense organs—Sensibleness—Perceptibility.

giác quan căn bản

The sense bases—See Lục Căn.

giác quan thứ sáu

The sixth sense.

giác quang

6796(1919~ )東北遼寧人,俗姓谷。自幼茹素,不沾葷腥。十歲依鄞縣(浙江)天童寺清一和尚出家,十一歲於天童寺受戒,十三歲入觀宗寺求學。其後受寶靜大師賞識,選為常隨入室弟子。抗戰期間,師目睹國人遭受凌辱,悲憫世間疾苦,發願實踐菩薩道,建立人間淨土,以出世精神做入世工作。復員返港,積極組織香港佛教聯合會,創辦各種社會事業。現在香港由師親手創立,或協助,或影響而創立的佛教事業,有幼稚園、小學、中學、大專、佛教醫院、佛教安老院、護理安老院、佛教墓園等。於香港佛教之振興,影響甚大。現任香港佛教聯合會會長。

giác quán

(覺觀): là cách dịch cũ của tầm tứ (尋伺), chỉ chung tất cả các tư tưởng thô (tầm) và vi tế (tứ). Những bản trước đây có khi dịch thành giác quan, có khi để nguyên từ giác quán, đều không làm rõ ý. Chính do các tư tưởng (thô và tế) xấu ác mà khởi sanh tham, sân, si...; và cũng nhờ các tư tưởng (thô và tế) tốt lành mà có sự khởi đầu tu tập hướng đến giải thoát. ; 6801新譯作尋伺。覺,尋求推度之意,即對事理之粗略思考;觀,即細心思惟諸法名義等之精神作用。二者皆為妨礙第二禪以上之定心者,若持續作用,則身心勞損,正念旁落,故又為隨煩惱之一。依此覺觀之有無,能判別定心之淺深。雜阿含經卷二十一(大二‧一五○上):「有覺、有觀,名為口行。」又覺與觀為發言語之因,離覺觀之心,則無言語。維摩經弟子品(大一四‧五四○上):「法無名字,言語斷故。法無有說,離覺觀故。」〔大智度論卷二十三、往生要集卷中本〕 ; Awareness and pondering, acts of intellectuation. ; Suy nghĩ thô sơ và suy nghĩ tường tận, cả hai đều hại đến việc định tâm hay thiền định—Awareness and pondering, acts of intellectuation, both of them hindrances to abstraction, or dhyana.

giác quán tam chủng phát tướng

6801粗思為覺,細思為觀。二者皆為妨礙第二禪以上之定心者。據釋禪波羅蜜次第法門卷四載,修禪定者有三種覺觀發相,即:(一)明利心中覺觀發相,謂修禪之人,宿無善根,於現修定時,善法不起,但覺觀攀緣,念念不住,於三毒之中,或緣貪,或緣瞋,或緣癡,而所緣之事,分明了了,如是雖經年累月而不得定,稱為明利心中覺觀發相。(二)半明半昏心中覺觀發相,謂修禪之人於攝念時,雖了知覺觀煩惱念念不住,然隨所緣,或明或昏。明則覺觀攀緣,起諸思想,昏則無記瞪唣,無所覺知,稱為半明半昏心中覺觀發相。(三)一向沈昏心中覺觀發相,謂修禪之人於修禪定時,心中雖一向昏闇,猶如睡眠,然於昏闇之中,亦切切攀緣而覺觀不住,稱為一向沈昏心中覺觀發相。

giác sinh tự

6796位於北平安定門外。俗稱大鐘寺。清雍正十一年(1733)敕建,其建築式樣頗異其他諸寺,尚保有明初建築之風格。寺內藏有一口大鐘,名為華嚴鐘,係奉明成祖之詔鐫製,原置於城西之萬壽寺,後移置此寺。該鐘為八角形,高六點九公尺,鐘唇厚二十二公分,外徑三點三公尺,重約四十六點五噸;銅質精良,鐘身內外鑄滿佛教經咒十七種之多,外鑄諸佛如來菩薩尊者名號集經、阿彌陀經、十二因緣咒,內鑄妙法蓮華經,鐘口鑄金剛般若經,蒲牢處鑄楞嚴經,總計二十二萬七千餘字。每字八分四方,字畫整雋,傳係出自沈度之筆,道衍(姚廣孝)所監造,為北平名物之一。鐘聲輕擊圓潤深沈,重擊渾厚宏亮,音波起伏,節奏明快幽雅。鐘聲傳送距離為十五至二十公里左右。據長安客話所記,晝夜撞擊,聲聞數十里,時遠時近,有異他鐘。

Giác Siêu

(覺超, Kakuchō, 960-1034): học tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Bình An, vị tổ của Dòng Xuyên (川流), húyGiác Siêu (覺超), thông xưng là Đâu Suất Tiên Đức (兜率先德), Đâu Suất Giác Siêu (兜率覺超), xuất thân vùng Đại Đảo (大島), Hòa Tuyền (和泉, Izumi), thuộc dòng họ Cự Thế (巨勢). Năm lên 13 tuổi, song thân đều qua đời, được Nguyên Tín (源信, Genshin) dẫn lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), theo hầu Lương Nguyên (良源, Ryōgen) cũng như Khánh Viên (慶圓, Keien), nghiên tầm giáo lý Mật Giáo. Sau đó, ông đến trú tại Đâu Suất Viện (兜率院), Thủ Lăng Nghiêm Viện (首楞嚴院) ở Hoành Xuyên (横川, Yokokawa) và chuyên tâm trước tác. Năm 1002, ông làm giảng sư cho hội Tối Thắng Giảng (最勝講) và đến năm 1009 thì làm Quyền Thiếu Tăng Đô (權少僧都). Đặc biệt, ông rất tinh thông về Mật Giáo, pháp phái của ông là Dòng Xuyên. Trước tác của ông có rất nhiều như Thai Tạng Tam Mật Sao (胎藏三密抄) 5 quyển, Kim Cang Tam Mật Sao (金剛三密抄) 5 quyển, Đông Tây Mạn Trà La Sao (東西曼茶羅抄) 4 quyển, Vãng Sanh Cực Lạc Vấn Đáp (徃生極樂問答) 1 quyển, v.v.

giác sách

6798醒覺警策之意。謂醒覺妄心,警策煩惱。〔摩訶止觀卷四上〕 ; Giác ngộ khỏi phiền não ác nghiệp—To awaken and stimulate the mind against illusion and evil.

giác sơn

The mountain of enlightenment. ; Chân lý Phật pháp cao thâm như núi (giác ngộ)—The mountain of enlightenment, i.e. Buddha-truth.

giác sử

Buddhadaśa (S)Giác ThiênTên một vị sư.

giác tha

6795佛陀所具三覺之一。謂佛之大悲具有覺悟一切眾生之德。即自覺之外,又說法開悟眾生,使脫離生死之苦。(參閱「三覺」705) ; To awake others; to enlighten others. ; Giác ngộ cho người khác, đối lại với tự giác (sau khi tự mình đã giác ngộ lại thuyết pháp để giác ngộ cho người khác, khiến họ được khai ngộ và giúp họ rời bỏ mọi mê lầm và khổ não trong vòng luân hồi—Enlightening or awakening of others, in contrast with self-enlightening. ** For more information, please see Nhị Giác(C).

giác thiên

6793梵名 Buddhadeva。音譯佛陀提婆、勃陀提婆。為說一切有部之學者,婆沙會四大論師之一。主張過去、現在、未來三世諸法依前後相待而有異。大毘婆沙論卷七十七(大二七‧三九六上):「說一切有部有四大論師,各別建立三世有異;(中略)尊者覺天說待有異。」此外,師與其他毘婆沙師相比,思想較為進步,如大毘婆沙論卷一二七所載師之主張(大二七‧六六一下):「造色即是大種差別,心所即是心之差別。」其餘事蹟不詳。〔大毘婆沙論卷二、卷十九、俱舍論卷二十〕 ; Buddhadeva (S)Học giả Nhất thuyết hữu bộ, một trong tứ Đại Luận sư Tỳ bà sa, chủ trương các pháp trong 3 đời trước sau đối đãi nhau Xem Phật đà đề bà. Xem Giác Sử. ; Tên của một ngôi chùa trong thị xã tỉnh Vĩnh Long, Nam Việt Nam. Chùa được kiến lập năm 1906 và đã được trùng tu nhiều lần—Name of a temple in Vinh Long Town, Vinh Long province, South Vietnam. The temple was built in 1906 and has been rebuilt many times.

Giác Thiết Tuy

(覺鐵觜, Kakutetsushi, ?-?): tức Huệ Giác (慧覺, Ekaku), nhân vật sống vào cuối thời nhà Đường, pháp từ của Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗). Ông trú ở Quang Hiếu Viện (光孝院) thuộc Dương Châu (揚州). Việc ông đã từng luận đàm với Tướng Quốc Tống Tề Kheo (宋齊丘) đã trở thành nổi tiếng.

giác thiền sao

6800凡一二八卷。又作百卷鈔、小野百卷鈔、淨土院鈔。為日本真言宗僧覺禪所著。本書共分諸佛部、佛頂部、諸經部、觀音部、文殊部、菩薩部、明王部、天等部、雜集部等九部,廣涉經軌章疏及古記古圖等,詳細記述諸尊法及諸經法,並附有諸尊與修法壇等之圖像。為研究東密事相之權威著作。與台密之阿娑縛抄同為名著。由於部帙甚鉅,故歷時約四十餘年始告成書。〔諸宗章疏錄卷三、金剛頂無上正宗傳燈廣錄續編卷五〕 ; Kakuzen sho (C).

Giác Thành

覺城; S, P: bodh-gayā, buddha-gayā; còn được gọi là Chính Giác Sơn (正覺山);|Một trong bốn thánh địa của Phật giáo, cách Patna 90 km về phía Nam. Nơi đây, đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã Giác ngộ hoàn toàn sau khi thiền định 49 ngày dưới cây Bồ-đề. Ngày nay, tại Giác Thành còn lại tháp Ðại Bồ-đề do một nhà vua Tích Lan xây dựng.

Giác thành

xem Câu-thi-na.

giác thành

6797<一>覺悟之心,眾惑不能入,猶如城垣能禦外敵,故以之為譬。圓覺經(大一七‧九二○上):「一切諸眾生,皆由執我愛,無始妄流轉。(中略)愛憎生於心,諂曲存諸念,是故多迷悶,不能入覺城。」 <二>指印度摩揭陀國伽耶城(梵 Gayā)。乃佛陀成正覺之都城,故稱覺城。〔因明入正理論疏卷上〕 ; The walled city of enlightenment, into which illusion cannotenter. Bodh Gayà where the Buddha attained the enlightenment. ; 1) Bồ Đề Đạo Tràng nơi Phật thành đạo: Gaya, where the Buddha attained enlightenment—See Bồ Đề Đạo Tràng. 2) Thành trì giác ngộ, nơi mà phiền não không thể xâm nhập được: The walled city of enlightenment, into which illusion cannot enter.

giác tháp bà

3004日本佛塔建築用語。為細長之四角柱塔婆。乃「五輪塔婆」之變形。通常在堂舍落成之供養會或本尊之開帳時,於堂前樹立之。塔婆四面所刻寫之書法隨宗派而異,據行持軌範卷三位牌塔婆書法條載,正面書寫「大圓鏡智」,其下書寫法名;右面書寫「平等性智,經曰」,其下書寫經典偈文;左面書寫「成所作智,銘曰」,其下書寫祖師法語;裡面書寫「妙觀察智」,其下書寫建塔之年月日、建塔者之名。(參閱「塔」5421) ; (角塔婆) Tiếng dùng trong kiến trúc tháp Phật ở Nhật bản. Tháp này là một cây cột hình vuông nhỏ mà dài, là biến hình của Ngũ luân tháp bà. Thông thường trong lễ hội khánh thành nhà, điện, hoặc khi an vị Bản tôn thì dựng cột dác tháp bà ở trước nhà điện. Chữ khắc hoặc viết trên bốn mặt tháp bà tùy theo tông Phái mà có khác. Cứ theo Hành trì quĩ phạm quyển 3 Vị bi tháp bà thư pháp điều, thì trên mặt chính viết: Đại viên kính trí, dưới hàng chữ này ghi pháp danh. Mặt phải viết Bình đẳng tính trí, kinh viết, dưới hàng chữ này viết văn kệ trong kinh điển. Mặt trái viết Thành sở tác trí, Minh viết, dưới hàng chữ này ghi pháp ngữ của Tổ sư. Mặt sau viết Diệu quan sát trí, dưới đó ghi ngày, tháng, năm và tên người dựng tháp. (xt. Tháp).

giác thân

Xem Tổ Phật-đà-mật-đa.

giác thế tuần san

6795為高雄縣大樹鄉佛光山所發行之佛教文化刊物。原由張少齊、張若虛父子創刊於民國四十六年(1957)四月,聘請星雲大師為總編輯,五十一年大師接辦發行迄今。現任發行人為慈惠法師。其宗旨為「發揚固有文化,光大佛教教義,覺人救世,輔國安民。」內容除報導海內外佛教界動態外,並致力於佛教教義之宣揚,二十餘年來,漸成為傳播佛教消息之主要媒體,不但為海內外教內人士搭建了便捷之通訊網,更將大乘佛教精神廣宏於社會,接引無數人信佛、學佛,乃至出家。其流通範圍,遍及東南亞、歐美等五十餘國,為目前發行數量最多、弘揚佛法收效最大之中文佛教刊物。

giác thọ

Bodhi-druma (S)Cây bồ đềTên để gọi cây Tất ba la (Pippala) nhơn vỉ đức Phật ngồi thiền định đắc đạo dưới cội cây này nên người ta tránh không gọi ngay tên gốc của nó mà gọi là cây bồ đề. Xem Phật Đà Thập.

giác thời

See Giác Nhật.

Giác thụ

覺樹|Bồ-đề thụ

giác thụ

6800<一>又作佛樹、道樹。特指佛陀成道處之菩提樹。因佛陀於摩揭陀國佛陀伽耶之畢波羅(梵 pippala)樹下證悟菩提,故稱其樹為菩提樹(梵 bodhi-druma)。(參閱「菩提樹」5208) <二>指功德善根。因功德善根可開發正覺,故以覺樹譬喻之。 ; 1) Vun trồng công đức để đạt được giác ngộ (thiện căn công đức có thể khai ngộ chính giác): To plant virtue in order to attain enlightenment. 2) Đức Phật đắc đạo dưới gốc cây Tất Ba La, nên cây đó được gọi là cây Bồ Đề: The tree of knowledge, or enlightenment, the pippala under which the buddha attained enlightenment, also called Bodhidruma.

giác tánh

Buddhata (skt)—Còn gọi là Chân tánh hay Phật tánh. Giác tánh là tánh giác ngộ sẳn có ở mỗi người, hiểu rõ để dứt bỏ mọi thứ mê muội giả dối. Trong Liên Tâm Thập Tam Tổ, Đại Sư Hành Sách đã khẳng định: “Tâm, Phật, và Chúng sanh không sai khác. Chúng sanh là Phật chưa thành; A Di Đà là Phật đã thành. Giác tánh đồng một chớ không hai. Chúng sanh tuy điên đảo mê lầm, song Giác Tánh chưa từng mất; chúng sanh tuy nhiều kiếp luân hồi, song Giác Tánh chưa từng động. Chính thế mà Đại Sư dạy rằng một niệm hồi quang thì đồng về nơi bản đắc.”—Also called True Nature or Buddha Nature. The enlightened mind free from all illusion. The mind as the agent of knowledge, or enlightenment. In the Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, the Tenth Patriarch Ching-She confirmed: “Mind, Buddha, and Sentient Beings, all three are not any different. Sentient beings are Buddhas yet to be attained, while Amitabha is Buddha who has attained. Enlightened Nature is one and not two. Even though we are delusional, blind, and ignorant, but even so our Enlightened Nature has never been disturbed. Thus, once seeing the light, all will return to the inherent enlightenment nature.” ** For more information, please see Pháp Thân.

Giác Tâm

(覺心, Kakushin, ?-?): vị tăng của Tịnh Độ Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời kỳ Liêm Thương, húy là Giác Tâm (覺心). Ông theo làm môn hạ của Trường Tây (長西), người chủ xướng Chư Hạnh Bản Nguyện Nghĩa (諸行本願義), rất tinh thông về Câu Xá Thích Luận (具舍釋論). Ông đến trú tại Tây Tam Cốc (西三谷) vùng Tán Kì (讚岐, Sanuki) và hoằng bá chủ trương Chư Hạnh Bản Nguyện Nghĩa của thầy ông.

giác tâm

6794<一>本覺靈妙之心性。即覺證本具之真心(佛性)。圓覺經(大一七‧九一四上):「一切眾生種種幻化,皆生如來圓覺妙心,猶如空花,從空而有,幻花雖滅,空性不壞,眾生幻心,還依幻滅,諸幻盡滅,覺心不動。」 <二>(1207~1298)日本臨濟宗法燈派之祖。信濃國神林人,俗姓常澄。號心地。天性英邁。十五歲入神宮寺,十九歲落髮,二十九歲於東大寺受具足戒。建長元年(1249)春,隨商船入宋,直趨徑山。翌年,參謁荊叟玨,遊四明、育王、五臺山等聖地。寶祐元年(1253)春,偶值鄉僧源心,聞知無門慧開為一代宗師,乃共至護國寺參謁慧開,得其心要,六年後回國。先後駐錫西方寺、興國寺、勝林寺。龜山上皇聞師高風,曾三度下詔書請師住於洛東勝林寺,並親迎至宮中問法,後又將皇居改為禪剎,請師居之。然師厭帝畿之煩囂而辭之。從其座下受教者常達千餘人,室中多舉「狗子還有佛性也無」之話頭接引學人。永仁六年示寂,世壽九十二。龜山上皇敕諡「法燈禪師」。後醍醐天皇重諡「法燈圓明國師」。〔元亨釋書卷六、延寶傳燈錄卷二〕 ; Xem Bồ đề tâm. ; The mind of enlightenment, the illuminated mind, the original nature of human. Thought of wisdom. ; Bodhihrdaya or Bodhicitta (skt)—Đạo Giác Tâm—Bồ Đề Tâm—Cái diệu tâm bản giác hay bản tánh nguyên thủy của con người—The mind of enlightenment, the illuminated mind, the original nature of man.

giác tâm bất sinh tâm

6794日本真言宗判教所立十住心之第七。即覺知自心本來清淨、不生不滅之位。指三論宗所立八不中道之境界。不生,即含有不生、不滅、不斷、不常、不一、不異、不去、不來等八不之意。在十住心中,第六他緣大乘心乃法相宗之意,即談心識之有,為境空心有之說。而覺心不生心之位,則更進一步,為心境俱空之說;即修八不之正觀,觀心識亦是緣生無性,不生、不滅、不斷、不常、不一、不異、不去、不來,了知生死涅槃、煩惱菩提畢竟是空,以畢竟空,故覺悟空宛然而有,有宛然是空。亦即用八不中道之正觀遮遣萬有,自覺心性之空寂,稱為覺心不生位。〔十住心論卷七、祕藏寶鑰卷下〕(參閱「十住心」431)

Giác Tín

(覺信, Kakushin, 1224-1283): vị Ni sống vào khoảng giữa thời đại Liêm Thương, người giữ chức Lưu Thủ Miếu Đường đầu tiên; húy là Giác Tín (覺信); tục danh là Vương Ngự Tiền (王御前), thông xưng là Binh Vệ Đốc Cục (兵衛督局); xuất thân vùng Thường Lục (常陸, Hitachi, thuộc Ibaraki-ken [茨城縣]); con gái út của Thân Loan (親鸞, Shinran), mẹ là Ni Huệ Tín (惠信, Eshin). Bà cùng với Thân Loan lên kinh đô, rồi kết hôn với nhà công khanh Cửu Ngã Thông Quang (久我通光, Koga Michiteru); nhưng sau đó thì đến làm dâu nhà Nhật Dã Quảng Cương (日野廣綱, Hino Hirotsuna), và sau khi Nhật Dã qua đời thì bà lại tái hôn với Tiểu Dã Cung Thiền Niệm (小野宮禪念, Onomiya Zennen). Vào năm 1272, bà kiến lập nên ngôi miếu đường của Thân Loan nơi vùng đất Đại Cốc (大谷, Ōtani) thuộc Đông Sơn (東山, Higashiyama), vùng đất sở hữu của Thiền Niệm. Về sau, bà dâng cúng khu đất này cho anh em môn đệ vùng Quan Đông và được bổ nhiệm làm chức Lưu Thủ vùng này.

giác tính

6797(1575~1660)李氏朝鮮時代僧。俗姓金。字澄圓,號碧巖。九歲喪父,師事雪默,十四歲出家。後隨浮休善修入俗離山,並隨侍遊歷德裕、伽耶、金剛等名山。豐臣秀吉入侵時(1592),曾侍師持劍戰於海中。宣祖三十三年(1599),代師於七佛庵安居講經。三十九年喪母,潔齋於俗離山迦葉庵,勤行苦修,法譽漸高,求道者接踵而至,遂撰三箴以誡門徒;三箴即:思不妄、面不愧、腰不屈。門下弟子頗多,入室高足有翠微守初、白谷處能二師。顯宗元年示寂,世壽八十六。著有禪源集圖中決疑、看話決疑、釋門喪儀抄各一卷。又師寂後,自其門下衍生翠微、白谷、枕虛、孤雲、慕雲、東林、蓮花、碧川等八派。〔報恩郡俗離山法住寺碧嵒大師碑銘并序、賜報恩闡教圓照國一都大禪師碧巖碑銘并序(以上收錄於朝鮮金石總覽下、朝鮮寺剎史料上冊)、朝鮮佛教通史、李朝佛教、朝鮮禪教史〕 ; The enlightened mind free from all illusion. Enlightenment ability.

giác tông

6801(1095~1143)日本新義真言宗之開祖。肥前(佐賀縣)人。號正覺坊。家中四兄弟皆出家為僧,師排行第三。十四歲入仁和寺,學於寬助、定寬,後至南都從喜多院之慧曉研習唯識,又就東南院之覺樹學三論。天永元年(1110)歸仁和寺,依寬助剃度。永久元年(1113),再往南都究性相之奧旨,翌年於東大寺登壇受具足戒,又上高野山,謁最禪院明寂,受傳密印。保安二年(1121)回仁和寺受三摩耶戒及兩部祕密灌頂,又至醍醐寺謁理性院賢覺,傳五部之灌頂,究小野流祕奧。天承元年(1131),師奏請於高野山建立大傳法院,而成為鳥羽上皇之御願寺。長承三年(1134)任大傳法院座主,兼金剛峰寺座主。後辭座主職,退居密嚴院,專修密觀;以遭金剛峰寺徒眾之嫌忌,遂於保延六年(1140)率徒眾避難至紀州(和歌山縣)根來山,建圓明寺。於康治二年示寂,世壽四十九。元祿三年(1690)諡號「興教大師」,或稱密嚴尊者。著有五輪九字祕釋、孝養集、一期大要祕密集等,悉收於興教大師全集五冊中。其新義真言宗係針對高野之門流而創立者,其事相之傳流,稱為大傳法院流、傳法院流。〔大傳法院本願上人御傳、撰集抄卷六、本朝高僧傳卷十二〕

giác tú

3004梵名 Citrā。二十八星宿之一。為位於密教北斗曼荼羅外院東邊南方第一位之星宿,或現圖胎藏曼荼羅外院南方之星宿。在孔雀經、寶星陀羅尼中,又稱為質多羅。質多羅,即彩色之義,故角宿又稱彩畫宿。其星數有一、二顆等說法。在現圖胎藏曼荼羅中,其形像為:豎右掌,屈食、中、無名指等三指,左拳置於臍上,二手持蓮,蓮上有珠。豎右膝,交腳而坐。其三昧耶形為蓮上星。種子為???(ci)。印契用二十八宿總印。真言為:歸命質多羅(citra)那乞叉多羅(nakṣatra,宿)娑縛賀;或用二十八宿總咒。〔大方等大集經卷四十一星宿品、摩登伽經卷上說星宿品、宿曜經卷下〕 ; (角宿) Sao Dác. Phạm:Citrà. Một trong 28 ngôi sao. Là vì sao thứ nhất được đặt ở phương nam bên mé đông của viện ngoài trên Bắc đẩu mạn đồ la; hoặc là ngôi tinh tú ở phía nam của viện ngoài trong Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la của Mật giáo. Trong kinh Khổng tước và Bảo tinh đà la ni,vì sao này còn zược gọi là Chất đa la. Chất đa la nghĩa là thể sắc (năm sắc xen lẫn), cho nên Dác tú cũng gọi là Thể họa tú. Về số sao thì có thuyết nói một ngôi, có thuyết bảo hai ngôi. Trong Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la, hình tượng của vì sao này là bàn tay phải dựng thẳng, ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út co lại, bàn tay trái đặt ở trên rốn, hai tay cầm hoa sen, trên sen có hạt châu, ngồi tréo chân, dựng thẳng đầu gối bên phải. Hình tam muội da là ngôi sao trên hoa sen. Chủng tử là (Ci). Ấn khế dùng ấn chung của 28 vì sao. Chân ngôn: Qui mệnh Chất đa la (Citra) na khất xoa đa la (nakwatra, sao) sa phạ hạ. Hoặc dùng chú chung của 28 tinh tú. [X. Kinh Đại phương đẳng đại tập Q.41 phẩm Tinh tú; kinh Ma đăng già Q.thượng phẩm Thuyết tinh tú; kinh Tú diệu Q.hạ].

giác tướng

Báo Thân—See Sambhogakaya, and Tam Thân.

giác tỉnh

Sampajanna (P).

giác uyển

6797<一>指佛所居之淨土。又喻指心。僧清珙閒詠詩:「心田不長無明草,覺苑長開智慧花。」 <二>遼代僧。山西人。號鵬耆。生卒年不詳。住燕京圓福寺。博通群經,復明外典,尤擅三密之法。曾從西天竺摩尼三藏深究瑜伽精義,又受詔開講密乘經典,發揚真言教理,為世所崇。道宗太康三年(1077)奉敕撰大日經義釋演密鈔十卷(收於卍續藏第三十七冊)。書成,賜紫服,號「總祕大師」。 ; 1) Vườn Giác Ngộ: Garden of enlightenment. 2) Tịnh Độ: Pure Land. 3) Tây Phương Cực Lạc: Western Paradise. 4) Tâm: Mind.

giác viên

6799(1244~1306)南宋僧。西蜀(四川成都)人。號鏡堂。日本臨濟禪鏡堂派之祖,該派為臨濟禪二十四派之一。師早年歷參諸方名宿,後參謁臨濟宗楊岐派下環溪惟一而頓悟玄機。祥興二年(1279,即日本弘安二年)偕無學祖元赴日,住禪興寺弘法,受北條時宗之崇敬。不久遷淨智寺,復為奧州興德寺之開山,此後又住於圓覺、建長等寺。正安二年(1300)主持京都建仁寺,歷時七年。後二條天皇德治元年九月示寂,世壽六十三。臨終遺偈:「甲子六十三,無法與人說;任運自去來,天上唯一月。」付法於無雲義天、月堂圓心、伯師祖稜等人,惜今已中絕。其遺骨分別由建仁、建長兩寺造塔供奉。敕諡「大圓禪師」。著有四會語錄三卷。〔大圓禪師傳、元亨釋書卷七、延寶傳燈錄卷三〕 ; Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong khu vực Đầm Sen, quận 11, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Hương Đăng xây vào năm 1805 với tên là Quan Âm Viên. Đến năm 1850, chùa được Tổ Hải Tịnh đổi lại là Giác Viên Tự. Năm 1899, chùa được Hòa Thượng Hoằng Ân trùng tu, năm 1910 Hòa Thượng Như Phòng lại trùng tu lần nữa. Chùa có 153 pho tượng và 57 bao lam có giá trị về mặt nghệ thuật chạm trổ Gia Định đầu thế kỷ 20. Trong Chánh điện, có bộ đèn Dược Sư cao 3 thước, có 49 vị Phật cưỡi long phụng. Chân đèn bằng gỗ chạm khắc hình ba con sư tử. Trong Chánh điện cũng có bộ lư đồng cao 41 phân, hai bên là hai đầu rồng. Tác phẩm chạm trổ hình “Bách Điểu,” cao 3,3 mét, đã trở thành mẫu mực chạm trổ trên gỗ của thành Gia Định vào đầu thế kỷ 20. Các nhà điêu khắc đã khéo sắp xếp 94 con chim, từ chim trên trời, đến chim ở sông rạch, đủ cở, phác họa theo đủ mọi tư thế dáng nét, phong cách, tính tình, phản ảnh cuộc sống của loài chim từ cảnh ăn ngủ, tranh mồi, đùa giởn, suy nghĩ, vân vân. Bên mé Đông Lang, có những bao lam được tạo theo các đề tài cổ điển như Mạnh Lương Bắt Ngựa, Ngư Ông Đắc Lợi, Lã Vọng Ngồi Câu, Ngư Tiều Canh Độc, Tô Vũ Chăn Dê, vân vân, kết hợp với hoa trái bốn mùa của miền Nam—Name of a pagoda, located at Đầm Sen area, Eleventh District, Saigon City, South Vietnam. Formerly, it was called Quan Âm Garden established by Ch'an Master Hương Đăng in 1805. Up to 1850 it was renamed Giác Viên Pagoda by Patriarch Hải Tịnh. It was rebuilt many times, in 1899 by Most Veneable Hoằng Ân, in 1910 by Most Venerable Như Phòng. The pagoda has conserved 153 statues and 57 carved drafts which are highly evaluated in wood sculptural art of Saigon City in the early years of the twentieth century. In the Main Hall stands the Dược Sư Lantern, 3 meters high. It describes 49 Buddhas riding dragons and phoenixes. The base of the latern is carved in the three-wooden lion shape. In the shrine, there is a 41-centimeter high bronze incense burner placed between two dragon heads. The masterpiece “Bách Điểu,” placed in the Main Hall, 3.3 meters, has become a typical pattern of wood-carved art in Gia Định Citadel in the early twentieth century. The craftsmen skillfully arranged ninety-four birds together, big and small, on the sky or on the bank of a river. The birds were described in all positions, postures, characters, activities reflecting vivid, various life of bird species as they are eating, sleeping, fighting for food, frolicking, thinking, etc. In the East Compartment of the pagoda, there are carved draftsdescribing the ancient topics of literature and history of Meng Liang's Catching Horses, Fisherman's Getting Fish, Lu-Wang's Angling, the set of Fisherman, Woodcutter, Farmer, and Reader, Su-Wu's Raising Goats, etc. These drafts were carved in accordance with four-season fruits in South Vietnam.

giác vương

6795覺者之王。又作覺皇、覺帝。為佛之敬稱。佛圓滿覺悟一切諸法之真性,具自覺、覺他、覺行圓滿三義。以其為覺行圓滿者,故謂之覺;因覺故,為一切法門之主,最勝自在,於菩薩等位之上,故謂之王。大慧普覺禪師語錄卷二十七(大四七‧九二九上):「佛者,覺也。為其常覺故,謂之大覺,亦謂之覺王。」〔佛本行集經卷二、宗鏡錄卷三十、萬善同歸集卷六〕 ; The king of enlightenment, the enlightened king. ; Vua của sự giác ngộ hay Đức Phật—The king of enlightenment, the enlightened king, or the Buddha.

Giác Vận

(覺運, Kakuun, 953-1007): học tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Bình An, vị tổ của Dòng Đàn Na (檀那流), húy Giác Vận (覺運), thông xưng là Đàn Na Tăng Chánh (檀那僧正), xuất thân kinh đô Kyōto, con của Đằng Nguyên Trinh Nhã (藤原貞雅). Sau khi xuất gia, ông lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), làm việc cho hội Quảng Học Thụ Nghĩa (廣學竪義, Kōgakuryūgi) với tư cách là người có học thức cao và để lại khá nhiều trước tác. Vì ông trú tại Đàn Na Viện (檀那院) ở Tây Tháp, nên pháp phái của ông được gọi là Dòng Đàn Na; và cùng sánh ngang hàng với Dòng Huệ Tâm (惠心流) của Nguyên Tín (源信, Genshin), cả hai được gọi là Nhị Đại Học Lưu (二大學流, hai dòng phái học thức lớn). Ông đã từng làm Giảng Sư tại các pháp hội như giảng nghĩa về Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀) cho Tướng Quân Đằng Nguyên Đạo Trưởng (藤原道長) nghe và gần gủi với tầng lớp quý tộc trong cung nội. Trước tác của ông có Chỉ Quán Khám Văn (止觀勘文) 1 quyển, Niệm Phật Bảo Hiệu (念佛寳號) 1 quyển, Thảo Mộc Phát Tâm Tu Hành Thành Phật Ký (草木發心修行) 1 quyển, Thập Nhị Nhân Duyên Nghĩa Tư Ký (十二因緣義私記) 1 quyển, Nhất Tâm Tam Quán Ký (一心三觀記) 1 quyển, v.v.

giác vận

6799(953~1007)日本天台宗僧。京都人。為檀那流之祖師。又稱檀那僧都、檀那僧正、檀那院先德。出家於比叡山,師事慈惠僧正,研習天台教學,天資英敏,諳誦諸宗之章疏,後居於東塔南谷檀那院,大開講席。與惠心院之源信並稱於世。二人雖同以念佛為宗,然流派各殊,故有檀那流與惠心流之別。師嘗修密教,從成信上人受祕密灌頂。成信示寂後,更就池上皇慶研練,遂達其玄奧,時皇慶猶未滿三十歲,師不恥下問之精神,頗為世人所稱道。長保五年(1003)任少僧都,翌年任大僧都。寬弘四年示寂,世壽五十五。著有觀心念佛、草木成佛論、慈惠大僧正傳等。〔續本朝往生傳、扶桑略記卷二十八、東國高僧傳卷五〕

giác vị

6796正覺之位。即指成佛之果位。 ; The stage of perfect enlightenment. ; Ngội vị chánh giác hay ngôi vị của bậc đã thành Phật—The stage of perfect enlightenment, that of Buddha.

giác vực phái

6798西藏名 Good-yul-pa。西藏佛教派別之一。覺,意為能斷;域,意為境。此派之教法源於入藏之印度僧人丹巴桑結。宣說慈悲菩提心和性空見,認為能斷除人生之苦惱與死亡之根源。其教法後融於其他教派中。

giác xúc

6800覺,覺知;觸,接觸。由接觸而認識之意。又坐禪時,觸機緣而感得自心之真實體,亦稱覺觸。〔瑩山和尚傳光錄第四祖優婆毱多尊者章〕

giác ý

Bodhyaṅga (S), Bojjhaṅga (P)Giác chi, Giác phần, Bồ đề phầný niệm giác ngộ. Tức 7 giác chiXem thất bồ đề phần. ; Bodhi (skt)—Awakening idea.

giác ý tam muội

6799謂於一切時中,一切事上,念起即覺,意起即修三昧。即天台宗所立四種三昧中之非行非坐三昧,於四種三昧中最為重要。大品般若經名覺意三昧,慧思稱為隨自意三昧。〔摩訶止觀卷二上、四教義卷十一〕(參閱「四種三昧」1793) ; Bojjhaṅga-samyutta (P), The Seven Factors of AwakeningTên một bộ kinhPháp trở thành vô lậu. Thiền định về thất bồ đề phần: ý, phân biệt, tinh tấn, khả, khinh an, định, hộ.

giác đà

3005於牛角上荷物。比喻凡夫身心為妄想執著束縛,不得自由。碧巖錄第二十一則垂示(大四八‧一六一下):「脫籠頭,卸角馱,太平時節。」意謂透徹自己之本源時,卸下妄想迷執之角馱,輕快而自由。 ; Những vọng tưởng tà kiến mà một vị sư chấp vào cũng giống như lừa ngựa mang chở đồ vật không khác—Perverted doctrines and wrong thoughts, which weigh down a monk as a pack on an animal. ; (角馱) Cái vạy (cái ách đặt trên cổ trâu). Dác đà ví dụ thân tâm của phàm phu bị các vọng tưởng chấp trước trói buộc, mất hết tự do. Bích nham lục tắc 21 Thùy thị (Đại 48, 161 hạ), nói: Ra khỏi chuồng, trút bỏ dác đà (vạy, ách), thời tiết thái bình. Ý nói khi thấu suốt được nguồn gốc của chính mình, thì cởi bỏ tất cả sự trói buộc của vọng tưởng mê chấp, được thanh thoát tự do.

Giác đạo

(覺道): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ con đường chánh giác, giác ngộ, chứng thành Phật quả, đồng nghĩa với đạo Bồ Đề. Như trong Bảo Tinh Đà La Ni Kinh (寶星陀羅尼經, Taishō Vol. 13, No. 402) có câu: “Như Lai sơ chứng giác đạo, độ Mục Liên thân tử, cập hàng phục ma vương, hộ trì quốc độ (如來初證覺道、度目連身子、及降伏魔王、護持國土, đức Như Lai lúc mới chứng đạo Bồ Đề, độ mẹ con Mục Liên, cùng hàng phục ma vương, hộ trì đất nước).” Hay trong Phạm Võng Kinh Trực Giải (梵網經直解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 697) quyển Hạ giải thích rằng: “Bồ Đề, Hoa ngôn giác đạo, diệc danh đạo thọ; phàm nhất thiết chư Phật, giai tại thử thọ hạ thị thành vô thượng giác đạo cố dã (菩提、華言覺道、亦名道樹、凡一切諸佛、皆在此樹下示成無上覺道故也, Bồ Đề, Tàu gọi là con đường giác ngộ, còn gọi là đạo thọ; vì phàm hết thảy chư Phật, đều dưới cây này thị hiện thành đạo giác ngộ vô thượng vậy).” (2) Từ gọi chung của Thất Giác Chi (s: saptapodhyaṅgāni, p: satta-pojjharigā, 七覺支) và Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道).

giác đạo

6799<一>指正覺之道。又作覺路。即覺證成佛之大道。與「菩提道」同義。維摩經佛國品(大一四‧五一九下):「始在佛樹力降魔,得甘露滅覺道成。」禪苑清規卷七亡僧條(卍續一一一‧四五七下):「用表攀違,上資覺路。」〔大佛頂首楞嚴經卷六〕 <二>為「七覺支」與「八正道」之合稱。七覺支,即七種助長開發菩提智慧之方法。八正道,即八種求趣涅槃之正道。 ; The way of enlightenment. ; Con đường giác ngộ—The way of enlightenment. ** For more information, please see Thất Bồ Đề Phần and Bát Chánh Đạo.

giác đạo chi

6800指七覺支與八正道支。為幫助覺悟、趣向涅槃之正確方法或途徑。七覺支即念覺支、擇法覺支、精進覺支、喜覺支、輕安覺支、定覺支、捨覺支;八正道支即正見、正思惟、正語、正業、正命、正精進、正念、正定。〔稱讚淨土經〕

giác đầu

Buddha kapala (S).

giác đế

See Giác Vương.

Giác địa

(覺地): có hai nghĩa. (1) Chỉ cho ý chí tu hành ngộ đạo. Như trong bài thơ Đề Linh Sơn Tự (題靈山寺) của Cố Huống (顧況, khoảng 725-814) nhà Đường có câu: “Giác địa bổn tùy thân, Linh Sơn trùng kết nhân (覺地本隨身、靈山重結因, cõi giác vốn tùy thân, Linh Sơn lại kết nhân).” (2) Cảnh giới giác ngộ, Phật địa. Như trong bài Phước Thiện Miếu Thiết Trai Môn Bảng (福善廟設齋門榜) của Hoàng Công Thiệu (黃公紹, ?-?) nhà Tống có câu: “Kim tắc thụ thắng phan ư giác địa, hạ tiên ngự ư hy đài (今則豎勝旛於覺地、下飆馭於熙臺, nay tất dựng phan lớn nơi cõi giác, hạ thần giá xuống đài thiêng).” Trong Viên Giác Kinh Cận Thích (圓覺經近釋, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 10, No. 259) quyển 1 có đoạn: “Nhất thiết Như Lai giai dĩ thử Đại Quang Minh Tạng trang nghiêm thử thân trú trì thử độ, phi nhược chúng sanh dĩ Tạng Thức trang nghiêm thử thân trú trì thử độ dã; nhiên thử Đại Quang Minh Tạng nguyên phi tha vật, tức thị chúng sanh sở cụ vô cấu vô nhiễm thanh tịnh giác địa, chư Phật chứng chi danh Pháp Tánh Thân (一切如來皆以此大光明藏莊嚴此身住持此土、非若眾生以藏識莊嚴此身住持此土也、然此大光明藏元非他物、卽是眾生所具無垢無染清淨覺地、諸佛證之名法性身, hết thảy Như Lai đều lấy Đại Quang Minh Tạng này để trang nghiêm thân này và trú trì cõi nước này; không phải như chúng sanh lấy Tạng Thức để trang nghiêm thân này và trú trì cõi nước này; nhưng Đại Quang Minh Tạng này vốn chẳng phải là vật khác, tức là cảnh giới giác ngộ thanh tịnh, không nhớp không nhiễm vốn đầy đủ của chúng sanh; chư Phật chứng được thì gọi là Pháp Tánh Thân).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 26, phần Lô Sơn Vạn Thọ Tự Trang Nghiêm Phật Tượng Ký (廬山萬壽寺莊嚴佛像記), cũng có đoạn: “Hoặc nhất bổng nhất hát chi gian, sử nhân đốn tận phàm tình, lập đăng giác địa, tức sở vị nhất hô nhi tỉnh đại mộng (或一棒一喝之閒、使人頓盡凡情、立登覺地、卽所謂一呼而醒大夢, hoặc trong một gậy đánh một tiếng hét, khiến người đốn ngộ phàm tình, liền lên cõi giác, tức gọi là một tiếng gọi mà tỉnh cơn đại mộng).”

giác định

Xem Phật Đà Phiến Đa.

giác đức

6800<一>佛陀入滅後,正法住世時之一持戒比丘名。據大般涅槃經卷三載,此比丘有徒眾甚多,能作師子吼,廣說九部經典,並制諸比丘不得蓄養奴婢、牛羊等非法之物。〔涅槃經會疏卷一〕 <二>六世紀之新羅僧。曾至我國學佛,梁武帝太清三年(549),與梁使共齎佛舍利歸返新羅。

giác-pháp

Sparsa and dharma (skt)—Sensations and properties—Objects of the body and mind as sense organs.

giám

1) Giám định: To survey—To examine. 2) Giám thị: To superintend—To oversee—A warden of a jail. 3) Tấm kiếng—A mirror. 4) Thái giám: A palace-eunuch.

giám ba lăng

Chien Paling (C)Kan Haryo (J)Tên một vị sư.

Giám Chân

鑒真; C: jiànzhēn; J: ganjin; 688-763;|Luật sư Trung Quốc. Sư đến Nhật Bản năm 754 và sáng lập Luật tông (j: ritsu-shū) nơi đây.|Sư quê ở Dương Châu. Năm 14 tuổi Sư theo cha vào chùa, nhìn tượng Phật cảm động và xin xuất gia. Sư thông Tam tạng, giữ giới nghiêm chỉnh và vì vậy tiếng tăm lừng lẫy. Ðến năm 55 tuổi, Sư có ý nguyện đi Nhật Bản vì có hai tăng sĩ người Nhật khẩn thiết mời Sư sang giáo hoá. Môn đệ của Sư ngăn cản vì đường sang Nhật rất nguy hiểm. Sư nghe vậy liền nói: »Ðây là việc pháp, tiếc gì tính mệnh, mọi người không đi, một mình ta đi.« Nghe vậy nhiều môn đệ xin đi, tổng cộng có 21 người. Chuyến đi hoằng hoá Nhật Bản đầy gian nan. Năm lần thất bại, lần thứ sáu sau 11 năm mới toại nguyện. Trong suốt hành trình này có tất cả 36 Tỉ-khâu chết và chính Sư cũng bị mù hai mắt.|Sư đến Nhật năm 66 tuổi, đem theo rất nhiều kinh sách. Nơi đây, Sư được cả nước Nhật hoan nghênh sùng ngưỡng và được Nhật hoàng phong chức Truyền Ðăng Ðại Pháp sư. Vì tinh thông y dược nên Sư cũng có cống hiến lớn cho y dược học Nhật Bản. Sư tịch năm 763 sau mười năm truyền bá rất thành công tại đây, thọ 77 tuổi.

giám chân

6907(687~763)唐代僧。又稱過海大師、唐大和尚。乃日本律宗之始祖。廣陵江陽(江蘇江都)人,俗姓淳于。早歲出家學律及天台,又至長安、洛陽參學,後歸揚州,於大明寺講律傳法。開元二十一年(733,日本天平五年),日僧榮叡、普照等來唐留學,見中國戒律之盛況,遂於天寶元年(742)請師東渡弘傳律法。 師深感日本乃佛法興隆有緣之國,遂決心赴日弘布戒律,時請隨往之弟子有祥彥、道興、道航等二十一人。然五次東渡,皆因國人不捨高僧東遊,又遭受海賊、暴風等而未能成行,其間顛沛長達十一年之久。後雖雙目失明,卻不稍減其赴日之志。 天寶十二年,日本遣唐使藤原清河等人復請師東渡,是為第六次啟航,時與師同往者有法進、曇靜、思託等十一人,師年六十六。日本天皇遣使慰問,並詔賜「傳燈大法師」之號。遂依道宣之戒壇圖經,於東大寺毘盧遮那佛前營建戒壇,師親為君民上下傳授菩薩戒,又為日僧重授戒法,此為日本登壇授戒之嚆矢。其後,於大佛殿之西創立戒壇院,又於院北建構唐禪院,盛化四眾。 日本天平勝寶七年(755),師受賜新田部之邸,乃建寺為結界之道場。次年,師受任夏大僧都,未久,任大僧正,然師以教務繁雜之由請辭。天平寶字元年(757),敕賜「大和尚」之號,並賜予備前國水田一百町,乃於上園地啟建伽藍。寺成,敕賜「唐律招提」之額。不久,詔築戒壇,並敕天下入此學律受戒,乃成為授戒傳律之根本道場。此外,師復奏請於下野藥師寺、筑紫觀世音寺啟建戒壇,由是,律法大興。天平寶字七年,師面西結跏趺坐示寂,世壽七十六。 師攜往日本之大量佛教經像、藥物、藝術品等,對發展日本醫學、雕塑、美術、建築皆有相當貢獻。〔宋高僧傳卷十四、唐大和上東征傳、戒律傳來記卷上、今昔物語卷十一、元亨釋書卷一、本朝高僧傳卷二〕(參閱「東征繪傳」3297、「唐大和上東征傳」4064) ; Ganjin (J)Tên một vị sư.

Giám Chơn

(鑑眞, Ganjin, 688-763): vị học tăng nhà Đường, tổ sư khai sáng Luật Tông Nhật Bản, người Huyện Giang Dương (江陽縣), Dương Châu (楊州). Ông chuyên học tập về giới luật và Thiên Thai giáo học. Nhận lời thỉnh cầu của các vị học tăng Nhật Bản sang cầu pháp tại Trung Hoa lúc bấy giờ như Vinh Duệ (榮叡), Phổ Chiếu (普照), ông đã mấy lần lên thuyền sang Nhật, nhưng không thành công; mãi cho đến lần thứ 6 vào năm 753 (năm thứ 5 niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寳]), ông mới đến được Nhật Bản. Lần đầu tiên ông lập giới đàn tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), và truyền thọ giới pháp cho Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō), v.v. Sau đó, ông kiến lập Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺, Tōshōdai-ji) làm đạo tràng tu tập giới luật và được ban cho hiệu là Đại Hòa Thượng (大和尚). Ngoài ra ông còn có các hiệu khác như Quá Hải Đại Sư (過海大師), Đường Đại Hòa Thượng (唐大和尚).

giám hộ

Guardian.

giám thâu

5847即管理寺院所有地之收入及租稅等雜務之職稱。設立於元代,在莊主管轄之下,職權相當於知庫,然其弊甚多。勅修百丈清規卷下諸莊監收條(大四八‧一一三三中):「古規初無莊主監收,近代方立此名,此名一立,其弊百出,爲住持私任匪人者有之,因利曲徇者有之,爲勤舊執事人連年佔充者有之,托勢求充者有之,樹黨分充者有之,角力爭充者有之,蠹公害私不可枚舉,雖欲匡救,末如之何!」〔禪林備用清規卷六、禪林寶訓卷一、禪林象器箋職位門〕 ; See Giám Tự.

Giám Trai Sứ Giả

(監齋使者): vị thần chuyên giám sát việc ăn uống của chúng tăng; còn được gọi là Giám Trai Bồ Tát (監齋菩薩), Giám Trai (監齋). Vị này có khuôn mặt màu xanh, tóc đỏ. Theo tác phẩm Thiền Lâm Tượng Khí Tiên (禪林象器箋), phần Linh Tượng Môn (靈像門), các tự viện dưới thời nhà Thanh (清, 1616-1911) đều gọi Giám Trai Sứ Giả là Giám Trai Bồ Tát. Bộ Tiễn Dăng Dư Thoại (剪燈餘話) quyển 1, phần Thính Kinh Viên Ký (聽經猿記), của Lý Trinh (李禎, 1403-1424) nhà Thanh, cho biết rằng có người tên Viên Tú Tài (袁秀才), thường vui đùa, làm dáng đứa bé nhỏ, nhảy qua xà nhà, có khi duỗi hai chân ngồi trong khám thờ, lấy màu xanh nhuộm lên mặt, khiến cho người trong Nhà Bếp cho rằng đó là Giám Trai, Đại Thánh Hồng Sơn (洪山大聖). Về sau, Nhà Trù của chùa thường tôn thờ vị này. Trong Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1248), phần Kết Hạ Khải Kiến Lăng Nghiêm Hội Sớ (結夏啟建楞嚴會疏), có câu: “Trù ty Giám Trai Sứ Giả, chủ thang hỏa tỉnh Táo thần kỳ (廚司監齋使者、主湯火井灶神祇, Giám Trai Sứ Giả chưởng quản Nhà Trù là Táo Thần chủ quản về lửa, nước sôi, giếng nước).” Hay trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 3 có câu thỉnh rằng: “Đông Trù Ty Mạng, Giám Trai Sứ Giả thần chúng (東廚司命、監齋使者神眾, Đông Trù Ty Mạng, Giám Trai Sứ Giả các thần).” Trong Thiền môn có bài tán về Giám Trai Bồ Tát rằng: “Giám Trai Sứ Giả, hỏa bộ oai thần, điều hòa bách vị tiến duy hinh, tai hao vĩnh vô xâm, hộ mạng tư thân, thanh chúng vĩnh mông ân. Nam Mô Diệm Huệ Địa Bồ Tát (監齋使者、火部威神、調和百味薦惟馨、災耗永無侵、護命資身、清眾永蒙恩、南無燄慧地菩薩, Giám Trai Sứ Giả, quản lửa oai thần, điều hòa trăm vị cúng hương thơm, tai nạn mãi không xâm, hộ mạng an thân, đại chúng mãi mang ơn. Kính lễ Diệm Huệ Địa Bồ Tát).”

giám trai sứ giả

5847指監護僧眾齋食之神祇。在我國稱爲監齋菩薩,此菩薩青面朱髮。據禪林象器箋靈像門載,清代僧寺稱監齋使者爲監齋菩薩。依剪燈餘話、聽經猿記等書所說,有袁秀才者,喜戲舞跳樑作小兒態,有時舒兩足坐於龕中,以靛塗面,令廚人向其致敬道:「此洪山大聖監齋也。」此後寺廚即供奉之。

giám tự

5847即總領眾僧之職稱,爲一寺之監督(與寺主同)。古稱監院、院主、主首、寺主,後爲特尊住持而改稱此名。又一般俗稱爲當家。係禪宗六知事之一,位置次於都寺。禪林中,在唐代設監院一職掌理全寺之事務。至宋代,因寺廣眾多,將其職權分予都寺及監寺,未久,監院之名亦改爲監寺,多以西堂、首座、書記等擔任此職。據祖庭事苑卷八載,東晉以後寺主之職方盛,後世禪門中有內外知事以監寺爲首者,即沿襲於此。 據禪苑清規卷三監院條所載,監院須負責應對官吏、參辭謝賀、吉凶慶弔、探訪施主、借貸往還、籌計一寺歲用、備辦米麥醬醋等,乃至營辦年節各大齋會等。又擔任監寺之僧,稱爲監寺師;所住寮房,稱爲監寺寮;其行者,稱爲監行。此外,一般皆以監寺同於監院,然於百丈清規與禪苑清規中皆未列舉監寺之職稱。〔勅修百丈清規卷下兩序章東序知事都監寺條、禪林象器箋職位門、中國佛教人物與制度叢林篇(林子青,現代佛學大系(25))〕(參閱「都寺」5290) ; Sư Tri Sự hay vị sư trông coi mọi việc trong tự viện—A warden monk in a monastery—The warden or superintendent of a monastery, especially the one who controls its material affairs.

Giám Viện

(鑑[監]院, Kanin): còn gọi là Giám Tự (監寺), tên gọi chức vụ giám sát toàn bộ công việc của tự viện. Trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) hay Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規), từ Giám Viện được dùng đến chứ không phải Giám Tự.

giám viện

See Giám Tự.

giám định

To examine and to decide.

Giám 鑑

[ja] カン kan ||| (1) A mirror. (2) Example; to regard as an example. The precedent teachings of former masters. (3) To discriminate, to discern. => 1. Tấm gương. 2. Mẫu mực; xem như bài học. Lời giáo huấn của tiên sư. 3. Phân biệt rõ, nhận biết rõ ràng.

gián

1) Can gián: To admonish. 2) Con gián: Cockroach—Black beetle. 3) Gián đoạn: Between—Intermission—Interval—Space—To didive—To intervene—To interfere—To separate.

gián cách

5317爲根本煩惱之異名。謂隔諸法平等之理而執著差別之妄念。由此差別之妄念而起貪瞋等煩惱,造諸惡業,輪迴於生死。蓋一切生死根本皆在一念之間隔,此妄情乃凡夫之自性,無始以來即相續不斷,故稱無始間隔。菩提心論(大三二‧五七四下):「既破人法二執,雖能正見真實之智,或爲無始間隔,未能證於如來一切智智。」〔辨惑指南卷二〕(參閱「惑」4943) ; Trong lúc, trong khi, hay giai đoạn xãy ra một biến cố—Interval, intermission, but it is chiefly used for during, while, or a period of an event.

gián sắc

Màu phụ, đối lại với năm màu chính—Intermediate colors, i.e. not primary colours; in contrast with the five primary colours—See Ngũ Sắc.

gián tiếp

Indirectly.

gián vương

Can gián một vị vua—To admonish a king.

gián vương kinh

6297梵名 Rājāvavādaka。全一卷。劉宋沮渠京聲譯。收於大正藏第十四冊。此經甚短,為平易之散文體。記述佛陀於舍衛國祇樹給孤獨園,為「不離先尼王」說法,誡諫彼應以正法、慈心治國。 ; Rājavavadaka sŪtra (S)Tên một bộ kinh.

gián điệp

Espionage—Spy.

gián đoạn

Gián cách đoạn tuyệt—To interrupt—To interfere and stop.

giáng

To descend, to come down, go down (from heaven). ; 1) Đi xuống: To descend—To send down. 2) Giáng cấp: To degrade—To demote—To subdue. 3) Giáng thế: Đản sanh xuống trần, như trường hợp Đức Phật—To descend to earth from above, as recorded of the Buddha.

giáng ba lâm

5193為位於西康昌都瀾滄江上游楮惹之寺院。明代正統二年(1437),由格魯派創始人宗喀巴之弟子夏江森喜饒桑布興建。共有二大殿堂、五個扎倉(經學院)、八個康村(學經僧人之地域性組織),為格魯派在昌都地區建立之第一座寺院。夏江森喜饒桑布之弟子德欽多吉即是第一世帕巴拉活佛,此寺遂成為歷世帕巴拉活佛之母寺。

giáng hiện

To appear to this world.

giáng hạ

Ti descend from heaven. ; Xuống trần, như Phật Thích Ca xuống từ cung trời Đâu Suất—To come down to this world—To descend into the world, as the Buddha is said to have done from the Tusita heaven.

giáng họa

To impose a misfortune on s.o. ; To bring disasters to.

giáng khúc vi

5193西藏名 Byaṅ-chub-ḥod。十一世紀西藏阿里地方智光王之孫。又稱菩提光。西藏佛教經朗達磨滅法後百年,雖呈日趨復興之迹象,然仍一片混亂,重密輕顯,重師教而輕經論,顯密間形如水火,修行亦無前後次第,僅依密法條文作誅戮仇敵等事,智光王及菩提光為救此流弊,不惜身命資財,遣人至印度求見阿提沙大師,詳陳西藏佛教實況,敦請大師至西藏傳法,西藏佛教遂得以復興,且隆盛一時。

giáng long phục hổ

To subdue nàgas and subjugate tigers.

giáng lâm

Đến từ bên trên, như trường hợp Đức Phật và chư Thần dùng thần túc thông đi lại đây đó và giáng lâm từ trên cao—To descend, draw near from above, condescend, e.g. the Buddha, the spirits, etc.

giáng phúc

To bestow a favour on s.o., to bless s.o.

giáng sinh

To descend into the world. ; See Giáng Hạ.

giáng thai

Giáng hạ vào thai cung của Hoàng Hậu Ma Da—The descent into Maya's womb.

giáng thần

Thần thức của Đức Phật giáng hạ vào thai cung của Hoàng Hậu Ma Da—The descent of Buddha's spirit into Maya's womb; also to bring down spirits as does a spiritualistic medium.

giáng thế

To descend to earth from above, as recorded of the Buddha. ; The descend to earth from above (as Buddhas).

giáng đản

Còn gọi là Đản Sinh, Giáng Sinh, hay Đản Nhật, là ngày kỷ niệm giáng trần của Đức Phật (ngày Đức Phật Thích Ca đản sinh, theo lịch sử là cuối tiết xuân, đầu hạ, khí trời mát mẻ, điều hòa. Ngay khi Đức Phật vừa đản sinh thì có các vị Phạm Thiên, Đế Thích, Tứ Thiên Vương đón rước và tắm cho Ngài bằng các thứ nước thơm. Vì thế mà sau khi Đức Phật nhập diệt, hàng năm cứ đến ngày Phật đản là các chùa có lệ “Mộc Dục” hay tắm rửa cho tượng Phật)—The anniversary of the descent, i.e. the Buddha's birthday, not the conception.

giáo

4595梵語 śāstra。音譯設娑怛羅。意譯效、訓。即聖人垂訓,眾人效之;或謂聖人被澤於下者之言。亦即能詮之言教,為始於佛陀一代所說之法與菩薩諸聖所垂教道之總稱。一般大別佛之經教為大乘教、小乘教二種。其中,復有漸、頓,權、實,了、不了,一乘、三乘,顯、密等之分;亦有分類為有、空、中三教,藏、通、別、圓四教,小、始、終、頓、圓五教者。此外,聖者所教示者,稱聖教。言說於音聲者,稱為言教、聲教。說之以為軌則,則稱教法。為踏循之道路,稱為教道。就「證」而言,稱為教證;就「觀」而言,稱為教觀;就「禪」而言,稱為教禪;就「行證」而言,稱為教行證;就「行信證」而言,稱為教行信證;就「理行果」而言,稱為教理行果;就「境理行果」而言,稱為境教理行果。〔法華玄義卷一上,四教義卷一〕 ; Xem Luận tạng. ; Pravacana (S). To teach, instruct, inculcate; Sàsana (S). Teaching, precept, doctrine. Agama (S). Sect, shool, church. ; Pravacana (skt)—Lời giáo huấn của Thánh nhân—Agama—To teach—To instruct—Doctrine—Religion—Cult.

giáo bị thập cơ

4604據華嚴經疏卷三載,教者,指華嚴一乘圓頓之法。即如來演說華嚴經,化被群機,通於十類,故稱教被十機。即:(一)被無信機,謂邪見、無善根之眾生,不能信受反生誹謗,墮諸惡道,然由聽聞此經,亦得熏種善根。(二)被違真機,謂人依謗此經以求名利,而作不淨之說法,雖違反真教,然佛陀慈悲,無厭捨之。(三)被乖實機,謂人執著文字、語言而乖違實理,然由熏聞之故,亦成善種。(四)被狹劣機,謂二乘之人根器狹小,故難解此經,然得宿種蒙熏。(五)被守權機,謂守權小之教者,不信圓融具德之教,然蒙佛之饒益,終能醒悟。(六)被正為機,謂佛為一乘圓機者宣說具德之教,使其信解悟入,遊於蓮華藏海。(七)被兼為機,謂人聽聞此經,雖未悟入,然能信受,亦可成堅固種。(八)被引為機,謂佛於十地之中,以六相圓融之義,借託三乘行布之名,以寄位增勝,令守權小之教者信受,而入於圓融。(九)被權為機,謂小根二乘,乃諸大菩薩之權巧示現,以顯明小乘根機者亦可得入。(十)被遠為機,謂佛說此經,乃令凡夫外道、無性闡提,及未來世之一切眾生,於今不信者必於後世悟入,遠熏成種。

giáo bồ tát pháp

Bodhisattvavavada (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.

giáo chủ

4596一般指創教者、主持宗教教團者。佛教係由釋迦牟尼佛所創說,故釋迦牟尼佛為佛教教主,普通敬稱為「大恩教主」。又指教化之主,即宣說經教之主尊。後世各宗派,由於對佛身各持不同見解,故亦產生不同之佛身觀,而有各種教主之說。天台宗之維摩經略疏卷一謂(大三八‧五七○中):「轉法輪現相不同者,華嚴圓頓則現大小相;若鹿野轉生滅四諦,即脫瓔珞,現老比丘;若說方等,即現門內尊特之身,或現門外塵坌之像;若說般若,亦現門內尊特之身,及現種種佛身之相,以眾生疑故,現常身、放常光明;若說法華,但現尊特;若說涅槃,備現四種,事同方等。如是隨緣,現種種身。」華嚴宗之華嚴經探玄記卷二載(大三五‧一三○下):「說法之佛總有四位:一、同羅漢身,以表說小乘法故;二、化身佛,表說三乘,廣說地前,略說地上;三、報身佛,表說三乘,廣說地上,略說地前;四、十身佛,表一乘法,六位齊說。以此所說具足主伴無盡法故,佛亦同此十身無盡。」又密教之辨顯密二教論卷上載(大七七‧三七四下):「如來變化身為地前菩薩,及二乘凡夫等說三乘教法;他受用身為地上菩薩,說顯一乘等。並是顯教也。自性受用佛自受法樂故,與自眷屬各說三密門,謂之密教。」由以上諸說,可見各宗均基於各自立教之旨趣,自釋尊一代所說之經教而論其教主之別。 若就一經之教主而言,則華嚴經之教主,有多種論說。華嚴經探玄記卷二舉出三種說法:(一)華嚴經教主為化身佛,此因菩提樹下八相成道之佛為化身,以釋迦之異名為盧遮那,而非其他之報身。(二)此經教主為實報身,乃盧遮那之法界身,居於蓮華藏淨土中,以彼佛具足二十一種殊勝功德,故為實報身;以不離化土而兼居菩提樹下,故非化身。(三)以此經教主為十身佛,其身通於三世間,對十信三賢之人說法,則地前菩薩所見非實報身。雖居華藏世界,然非局化,故非前二(化、報)而具攝前二,性融通故,具足主伴,如帝釋天之網,故為周遍法界十佛之身。又華嚴經疏卷一(大三五‧五○五下):「即是法界無盡身雲,真應相融,一多無礙,即盧遮那是釋迦故。」 至於法華經之教主,依據法華文句記載(大三四‧二五一上):「當知法華,報佛所說。」維摩經略說卷一載(大三八‧五七○中):「若說法華,但現尊特。」故知法華經之教主亦同於華嚴經,皆以盧遮那佛為其教主,惟天台宗認為華嚴經教主僅為報身而已,法華經教主則為「應身即報身」(釋迦即遮那),此乃華嚴、天台兩家有關教主之最大異說。又就此釋迦與遮那二身,宋代天台宗高僧知禮與其弟子仁岳各有不同看法,仁岳認為由同一法身之體而起應身、尊特二用,以普應三界內外之機;知禮則主張釋迦為境本定身,即應眾生之機所現佛身之相,雖有優劣,本身僅為應身釋迦,故華嚴教主為生身釋迦所現起十蓮華藏塵之勝相,即須現尊特之身,而法華教主為不須現尊特之報身。 關於大日經之教主,古來密家之間爭論頗盛,倡論異說者計有二十餘家,其重要者有七說,即:(一)自性身說,據辨顯密二教論卷上之說,自性受用佛為自受法樂,故為自眷屬說三密法門。祕藏寶鑰卷上亦採相同說法,謂密教乃係自性法身大毘盧遮那如來為自眷屬與自受法樂所說之法。(二)曼荼羅中臺加持身說,略稱中臺加持身說,據大日經疏卷一之說,以自在神力加持,故從心王毘盧遮那現起加持尊特之身。又據大日經疏卷三之說,以如來之加持,故由佛菩提自證之德現八葉中胎藏之身。(三)自受用身說,為日本台密所立,圓珍之大日經疏抄謂:薄伽梵即毘盧遮那法身,乃自性身;佛加持身則為受用身,乃自受用身。(四)他受用身說,即自性法身加被他受用身,以令說自內證之法。(五)三轉一體身說,謂本地法身為理身,受用身為智身,此二身冥合為加持身(即他受用身),此即大日經之教主。以上三身原為同一佛身之三種顯現,故稱為三轉一體身。(六)三點具足佛身說,即以理、智、事三點皆具足之身為大日經之教主。(七)四身說,即以大日經所說之「隨自意身」中又別為法身、報身、應身、等流身等四身,其中以自性法身為此經之教主。〔佛地經論卷一、法華文句卷九下、華嚴五教章卷三、華嚴經隨疏演義鈔卷四、金光明文句記卷二之下、四明尊者教行錄卷四〕 ; The founder of a religion, e.g. the Buddha. ; Vị khai sáng nền đạo, như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—The founder of a religion, i.e. The sakyamuni Buddha.

Giáo chủ 教主

[ja] キョウシュ kyōshu ||| The one who teaches--the Buddha. => Đấng giáo hoá—Đức Phật.

giáo chứng

4609<一>指聖教在經論中所顯示之證據;又作文證。而對理論上之證明則稱為理證。 <二>為教行、證行,或教道、證道之並稱。(參閱「教證二道」4609) ; Giáo thuyết và những bằng chứng chứng ngộ—Teaching and evidence, doctrine and its evidential results, or realization.

giáo chứng nhị đạo

4609教道與證道或教行與證行之並稱。以言語宣說者,稱為教;基於教說而實踐者,稱為教道或教行;而契合悟境真理之實踐,則稱證道或證行。合稱為教證。 十地經論卷一以「阿含」為「教」,並以之與「證」並舉而廣論之,天台宗即依準其說,將一切行法分約行、約說二門。約行,即約行者實修之觀行;約說,即指為對機誘引而施設化導能詮之教。又就此二門而分為四:(一)約行門之教道,地前實修未契理體,仍循言教。(二)約行門之證道,菩薩入十地位,理體現前,離教親證真實之法。(三)約說門之教道,對地前菩薩為隨應機情、入地之方便而說隔歷法門。如說真如為惑所覆,或說須離空、有二邊以修真如觀。(四)約說門之證道,對地前菩薩說十地已證之法。即機為地前,然法為相稱地上已證融通無礙之理的證道之法。總上述約行、約說之分,皆以教道為方便權假,證道為真實。此說乃止觀輔行傳弘決卷三之三、法華玄義釋籤卷六,借用法華玄義卷二下有關教證二道之說,以證權實,並解釋摩訶止觀卷三下所顯別教之義,亦即論證法華經以外之教為方便教,稱為教道;唯法華經之教為真實,故稱證道。同時,化法四教各有其教證二道,其中,藏教、通教之教證為權假之設,稱為教證俱權;相對於此,圓教之教證皆為真實,稱為教證俱實;至於別教則為教權證實,惟別教之教說,係針對不能直接理解圓教者所立之方便說,然其證悟之真理則與圓教同。 若依教道言,別教、圓教之菩薩,各具五十二階位;若依證道言,別教之初地菩薩同於圓教之初住菩薩;此稱為證道同圓。大乘義章卷九、華嚴經搜玄記卷三上等,依十地經論就教證之體相而分出九種相對而詳釋,如行教相對、修成相對、就位分別、真妄分別、相實相對、體德相對、體用相對、自分勝進相對、約詮就實相對等。〔大毘婆沙論卷一八三、十地論義記卷二、天台四教儀集註卷下〕

giáo cơ thời quốc sao

4608全一卷。日本日蓮(1222~1282)述。全稱教機時國教法流布前後鈔。略稱五義鈔、五段鈔。謂弘揚佛法須辨明能授之教法、所被之根機、能弘之時代、所弘之國土及弘通教法之先後次第,方能自他得益。

giáo dân

1) Giáo hòa dân chúng: To educate the people. 2) Từ ngữ được dùng tín hữu tinh Lành—The term for Christians.

giáo dục

To educate—To bring up.

giáo giới luân

4608乃三輪之一。即佛說法開導眾生,令反邪歸正、破除煩惱。又作說法輪、口輪。大乘法苑義林章卷六之三輪章載,教,即教示而令彼善滋生;誡,即誡勗而令其惡斷滅;輪,具有摧伏、鎮遏二利之功用。

giáo giới thị đạo

Xem Giáo huấn thị hiện.

giáo giới tân học tỉ khâu hành hộ luật nghi

4608請參閱 教誡新學比丘行護律儀 全一卷。唐代道宣撰。略稱教誡律儀。又作行相法。收於大正藏第四十五冊。乃條錄新學沙彌應遵奉之律儀。凡二十三章四六五條。卷首有自序,謂研鑽義學之盛,諸善律儀漸趨廢頹,然護持正法闡敷遺教,不能不重律規,故作此書。

giáo gới thị hiện

Xem Giáo huấn thị hiện.

giáo hanh

4600(1150~1219)金代僧。濟州任城(山東濟寧)人,俗姓王。字虛明。七歲,依濟州崇覺院圓和尚出家,十三歲受具足戒,十五歲遊方,參謁鄭州普照寺寶公得悟。歷住嵩山戒壇、韶山雲門、鄭州普照、林溪大覺、嵩山法王等五大剎。嘗應金丞相夾谷清臣之請,住中都潭柘寺,又承朝旨,駐錫燕京慶壽寺。而後應知河南府公石抹仲溫之請,遷少林寺,法席大盛。金宣宗興定三年示寂,世壽七十。〔佛祖歷代通載卷三十、大明高僧傳卷五、佛祖綱目卷三十八、五燈嚴統卷十六〕

giáo hoá

4596<一>梵語 pari-pac。教,以善法教導他人;化,令遠離惡法。為教導感化之意,即說法引導眾生而令其受感化。如經上所言,轉無上法輪教化諸菩薩;教化安立無數眾生,令住無上正真之道。凡此皆屬轉惡為善、轉凡化聖之教化。與「開化」、「攝化」、「施化」、「勸化」等詞同義。〔長阿含卷一大本經、增一阿含經卷一、法華經卷四〕 <二>日本佛教用語。在佛前舉行法會之際,所唱誦之一種讚歌。

giáo hoá địa

4596謂能教化眾生之菩薩地位;即指第八地以上之位。即第八地以上之菩薩,已斷分段生死,無漏相續而定慧自在,故得以任運教化十方眾生。又施與教化之場所,亦稱為教化地。〔大智度論卷八十六、往生論註卷下〕

giáo hoá địa ngục kinh

4596全一卷。後漢安世高譯。又作罪業應報教化地獄經、地獄報應經。收於大正藏第十七冊。本經係佛應信相菩薩之請,宣說地獄、餓鬼、畜生、奴婢等受罪眾生之前因,並闡說離苦之世善、歸依三寶、六度行、四無量等,若眾生依之修行,即能永遠離苦。

giáo hoá địa ích

4596謂於往生極樂淨土所得五種果相(五功德門)之第五「園林遊戲地門」中,具有還相迴向之功德,能利益所教化之地。即於第五門中,以大慈悲觀察苦惱眾生,示現應化身,迴入生死園、煩惱林,現遊戲神通,至教化之地,以本願力救拔苦惱眾生脫離生死。〔往生論、往生論註卷下〕(參閱「五功德門」1073)

Giáo hoá 教化

[ja] キョウケ kyōke ||| Guidance, edification. Teaching people and causing them to understand. Bringing peace to those who suffer, faith to those who doubt and returning those who have strayed to the correct path. To preach, propound. To cause people to go toward the good. 〔法華經 T 262.9.29b15〕 => Sự chỉ đạo, sự khai trí. Dạy cho mọi người và khiến họ nhận thức được. Đem sự an lạc đến cho những người đau khổ, đem niềm tin đến cho những ai còn hoài nghi và là nơi chốn quay về cho những ai đi lạc đường chân chính. Giảng thuyết, truyền bá. Khiến mọi người theo hướng thiện.

giáo huấn

Śāsana (S), Dispensation. ; To instruct—To teach—To educate.

giáo huấn thị hiện

Anusasana-pratiharya (S), Anusasana-patiharia (P)Lậu tận thị hiện, Giáo gới thị hiện, Giáo giới thị đạoSa môn đã hoàn thành đạo hạnh, đạt đạo giải thoát, không còn luân hồi sanh tử, nay chỉ pháp mà mình đã chứng cho người khác biết, xoay dần chuyển cho đến vô lượng người.

giáo hành

4599教與行之併稱。教,佛之教法;行,眾生依教起修。亦即依教得以有行,依行可顯教之實益。據四明尊者教行錄序(大四六‧八五六中):「台宗戶牖,莫不依教立行,以行顯教。」又往生要集序載,往生極樂之教行乃濁世末代之目足。十不二門載,觀心是教行之樞機。又四分律行事鈔資持記卷上一之一亦載,若言教則唯歸律藏,若言行則專據戒科。

giáo hành chứng

4600 請參閱 四明尊者教行錄 教、行、證三者之併稱。又作教行果。教,佛所說之教理;行,眾生從教所為之修行;證,由行所得之證悟。大乘法苑義林章卷六本,將教、行、證配正法、像法、末法三時。謂具備教、行、證三者,稱正法;具教、行二者,稱為像法;僅有教者,稱為末法。〔十地經論卷三、法華玄義卷五〕

giáo hành lí

4600教、行、理三者之併稱。教,隨應機緣之教說;行,即可證果之因行;理,指名言所詮顯之實理。法華玄義卷一下(大三三‧六九一上):「立此二名,凡約三意,謂教、行、理。從緣故教別,從說故教通。從能契故行別,從所契故行通。理從名故別,名從理故通。」此謂眾生之機緣雖各自有別,然凡有教說皆同屬佛之說法;眾生之入門雖各自相別,然一切修行之理不二;而所謂理者,雖具種種之名,然其根本之理亦不異。〔觀無量壽佛經疏、請觀音經疏〕

giáo hành tín chứng

4600凡六卷。日本親鸞撰。全稱顯淨土真實教行證文類。略稱淨土文類、文類、廣文類、廣本、本典。收於大正藏第八十三冊。本書係將各種解釋經論之文章分類彙編,為一部闡明淨土眞宗教義之根本聖典。 內容分為教、行、信、證、真佛土、化身土,前五卷旨在闡明真實之教門,第六卷則明示一種方便教。教,指大無量壽經;行,即稱念南無阿彌陀佛六字名號;信,係往生之正因,亦即相信阿彌陀佛之信心;證,乃由行、信所得之證果。真佛土即是淨土,意即自淨土出再歸入淨土之法門。又說在此化身土中行方便教以明示真(真佛土)偽(化身土)。本書之註疏本極多,較重要者為覺如之教行信證大意。

giáo hành tín chứng đại ý

4600全一卷。日本淨土真宗覺如撰,或謂存覺(1290~1373)撰。又稱四法大意、教行信證名義。本書敘述親鸞所著「教行信證」六卷之大意。註疏有略解一卷(道振)、管窺錄(善讓)、聽記一卷(俊嶺)等。

giáo hóa

Pari-pac (S). ; To transform by instruction; teach and convert; to cause another to give alms. ; Giáo hóa bằng cách chỉ dạy người bố thí trì giới---To transform by instruction—To teach and to convert—To cause another to give alms and to observe precepts.

giáo hóa quần sanh

To teach and convert or transform men.

giáo hóa và sửa đổi

Teach and transform.

giáo hạnh

Instruction and conduct; teaching and practice; also the progressof the teaching, or doctrine.

giáo hạnh chứng

Teaching, practice and its realization, its evidential results.

giáo hối sư

4608日本佛教用語。在監獄中教導囚犯,引導他們步入生活正軌之工作者,稱為教誨師。此一職務多由宗教家擔任。在基督教,牧師擔任教誨師者頗多。惟日本佛教界人士較少任此職,明治十九年(1886)以後,教誨師多由真宗之出家人所擔任。

giáo hội

Congregation. ; An assembly for instruction; a congregation; a church. ; Congregation—An assembly for instruction.

giáo hội phật giáo

Buddhist Congregation.

giáo hội phật giáo hòa hảo

Hòa-Hảo Buddhism Congregation—See Phật Giáo Hòa Hảo.

giáo hội phật giáo tăng già khất sĩ

Sangha Bhikshu Buddhist Association.

giáo hội phật giáo tăng già khất sĩ thế giới

Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới được Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, một bậc Tam Tạng Pháp Sư, thành lập vào năm 1978 tại Hoa Kỳ, thoát thai từ Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam sáng lập bởi Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang vào năm 1944—International Sangha Bhikshu Buddhist Association, founded in 1978 in the United States by Most Venrable Thích Giác Nhiên, a Tripitaka teacher of dharma. ISBBA was originated from the Vietnamese Sangha Bhikshu Buddhist Association whose founder was late Great Venerable Minh Đăng Quang in 1944. **For more information, please see Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam in Vietnamese-English Section.

giáo hội phật giáo tăng già khất sĩ việt nam

Giáo hội Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam được Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang sáng lập năm 1944. Giáo Hội được sáng lập trong giai đoạn suy đồi của Phật giáo Việt Nam. Đức Tôn Sư đã khéo léo phối hợp giữa hai truyền thống giáo lý Nam và Bắc Tông để làm giáo lý căn bản cho Giáo Hội. Không bao lâu sau ngày được Đức Ngài thành lập, hàng triệu tín đồ đã theo Ngài tu tập. Tiếng Đức Ngài vang vọng, tuy nhiên Đức Ngài thình lình vắng bóng vào năm 1954, từ năm đó Giáo Hội chính thức tưởng niệm ngày Đức Ngài vắng bóng. Sau khi Đức Ngài vắng bóng Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam đã phát triển nhanh hơn trên một bình diện rộng hơn từ khắp các miền Nam Việt ra tận Bắc Trung Việt với hàng triệu triệu tín đồ—Vietnamese Sangha Bhikshu Buddhist Association, founded in 1944 by the Late Most Honourabled One Minh Đăng Quang. The school was established during declined period of the Vietnamese Buddhism. Most Honourabled One Minh Đăng Quang cleverly combined both doctrines from Theravada (Hinayana) and Mahayana to make the doctrine for the Vietnamese Sangha Buddhism. Not long after he founded The Vietnamese Sangha Buddhism, millions of followers followed him to practise. He was so famous; however, he suddenly disappeared in 1954. He was officially considered missing in 1954. After he disappeared, the Vietnamese Sangha Bhikshu Buddhism developed quicker on a larger scale from all over the South Viet Nam to North of Central Viet Nam with millions more followers.

giáo hội phật giáo việt nam

Vietnamese Buddhist Congregation.

giáo hội phật giáo việt nam thống nhất

Vietnamese Unified Buddhist Congregation.

giáo hội phật giáo việt nam thống nhất.

The Unified Vietnamese Buddhist Congregation.

giáo hội phật giáo việt nam trên thế giới

World Vietnamese Buddhist Order

giáo khu

4606日本佛教用語。於明治以後,日本佛教模仿基督教以一位牧師或祭司管轄某一區域之辦法,又效仿美國等為便於統制教會而劃分區域為教區之方式,遂以教區作為一宗派自治行政地區劃分時所設定之名稱。因此所謂教區,與國家之行政地區不一致。教區之下分為「組」之小區域,「組」之下再劃分為「部」等名稱,為一般寺院統制上之組織。各宗派制定教區之沿革不一,然可推定,明治初期教部省設立神佛合併教導職養成機關之大教院之同時,又於全國各地設置中小教院為其隸屬,此係教區產生之濫觴。明治八年(1975),由於真宗各派分離,合併大教院廢止。各宗派得准各設大教院之後,各宗乃自行制定教區組織,以至漸形成現行制度。

giáo khởi nhân duyên

4604教起,即教法成立之理由。經文之始,必有一段文字闡述有關教法成立之因由,稱為序分、序文。據華嚴經疏卷一載,如來宣說華嚴經,乃以無量因緣而得成就,故以因緣二字,各開十義,以顯無盡,先彰十因,後顯十緣,故稱教起因緣。 (一)教起十因:(1)法應爾,即理本當然之義。謂如來出現,理當宣說華嚴經,此乃佛佛道同,法皆如此,故諸佛皆於無盡世界,常轉無盡法輪,而令眾生返本還原。(2)酬宿因,謂如來說法,乃為酬宿世之願因。(3)順機感,謂如來說教,乃由機緣所感,而隨順機宜。(4)為教本,謂如來先說此一乘圓頓之法為諸教之本,然後漸施末教,以教化二乘之人。(5)顯果德,謂如來顯揚華藏世界、微妙十身之依正果德,令人信樂懇求。(6)彰地位,謂華嚴經彰顯菩薩修行之地位有:1.行布位,即從因至果排布行列,依次第升進而區分階位。2.圓融位,即一位中攝一切位。(7)說勝行,謂如來宣說殊勝妙行,使一切菩薩、眾生皆依教立行,造修證入。(8)示真法,謂如來宣示真實大法,令人開解達理。(9)開因信,謂如來開示一切眾生,真法、勝行之因果,皆為眾生本有之性德。(10)利今後,謂如來說法,乃令今世、後世之一切菩薩、眾生皆得聞知,獲大利益。 (二)教起十緣:(1)依時,時,即說華嚴經之時分。謂如來之一念與多劫圓融,本無時分可限,今則以無時之時,略顯十時,以恆演此經。(2)依處,處,即說華嚴經之處所。謂諸佛菩薩於十方微塵剎海,乃至一一毛端,皆有七處九會以演說此經,猶如帝網,重重無盡。(3)依主,主,即說華嚴經之教主。謂毘盧遮那佛現法界無盡身雲,周徧十方微塵剎海,而宣說此經。(4)依三昧,三昧,即正定。謂佛說經之前,必先入三昧定,以靜鑒法理,權實分明,其後則從定而起,應機說教。(5)依現相,相,即將說華嚴經時初現之瑞相。謂於諸會將欲說法時,或現放光動地、華雨香雲等瑞相,以警動物機。(6)依說人,說人,即說法之人。謂佛法無有興廢,乃由人以弘之。(7)依聽人,聽人,即聽法之人。謂佛說法,若無聽者,終無有說。(8)依德本,謂說經應以智慧、行願為本,若內無德本,則外無以宜說。(9)依請人,謂說法者若無人請問,或可自說,若為人所請,則須敬法重人,要誠請而後說法。(10)依能加,謂如來以神力加被菩薩以說法。加被可分二種:顯加,即佛以三業神力顯然加被;冥加,即佛密與智慧之加被。

giáo kính

4609比喻經教如鏡。即以教為鏡,修行觀照,猶如照鏡。謂依經教修行觀照,即能開發智慧,明白自心;猶如吾人照鏡,能看清自身面貌,藉以整頓儀容。又有「教藥」一詞,亦用來形容經教,即比喻教為藥,以其能治療眾生百病,猶如醫藥,故稱教藥。〔觀經疏序分義、四分律含注戒本疏卷一上〕

giáo lí

4606又作教義。希臘語 dogma。為具有權威及決定性之教說。並非單指意見而言。具體言之,乃指哲學學派之始祖或宗教教祖之言論。以信徒立場而言,此類言論可謂深具權威性,且有信仰之價值。故若將此類教理簡明化,即成為信經或信條。自表面看,此類教理,往往被視為獨斷論(dogmatism)而受批評。 在佛教中,所謂教理,一般外國學者皆用英語 doctrine,係指佛陀之教示及由教示所顯現出來之真理。然釋尊並未視定型的教理為權威,而要求信眾及弟子依準奉行,反而是各宗派產生之後,屬於各宗派之信眾,將宗派教祖之主張、思想視為權威而信奉之。(參閱「佛教教理」2688)

giáo lí hành quả

4607教、理、行、果之合稱。乃佛、法、僧三寶中法寶之種別,一般稱之為四法寶。即指能詮之言教、所詮之義理、能成之修行、所成之證果。佛教一般修證之次第多為依教詮理,依理起行,依行剋果,故又連稱為教理行果。 於諸經論中,分別有對教、理、行、果之不同闡釋:據大乘本生心地觀經卷二載,能破無明煩惱業障之聲、名、句、文,稱為教法;有為無為之諸法,稱為理法;戒、定、慧之行,稱為行法;無為之妙果,稱為果法。大乘法苑義林章卷六本載,教,為音聲、名、句、文等。理,為二諦、四諦之理,有二種:(一)為根本智(又稱無分別智)之境,乃理智平等一如之諸法實性,如二空之理。(二)為後得智(又稱權智、俗智)之境,如古代印度正理學派所說之十六諦等。行,謂三乘之因及聖所起之自利、利他諸行。果,即三乘無學所得大涅槃、大菩提之果。成唯識論了義燈卷一本更設四法寶各有三種:教,有無義言、邪妄言、如義言;理,有增益義、損減義、順體義;行,有順世因、邪僻因、處中因;果,有諂誑果、虛妄果、出世果。〔觀無量壽佛經義疏卷中、成唯識論述記卷一本、華嚴經探玄記卷三〕(參閱「四法」1715)

giáo lý

The fundamental principles of a religion; its doctrines, or dogmas, e.g. the four noble truths, the eightfold noble path, the twelve nidànas. ; Dassannam (p)—Darsana (skt)—Doctrine—Philosophical system—Doctrinal system—See Giáo Lý Căn Bản.

giáo lý căn bản

Đạo lý căn bản của tôn giáo. Những lời thuyết pháp và những huấn giới của Đức Như Lai như Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, và Bát Thánh Đạo—The fundamental teachings (principles) of a religion---Doctrine—Dogmas—Fundamental teachings of the Buddha, i.e. the four truths, the twelve nidanas, the eighfold noble truth.

giáo lý hạnh quả

The fruits or results arising from the practice of a religion.

giáo lý nguyên thủy

Original teaching.

giáo lý thực nghiệm

Patipatti-dhamma (P), Practice of meditation.

giáo lý tịnh độ

Pure Land Buddhism.

giáo lễ

Religious rites.

giáo lệnh

To instruct, command; the commands of a sect or school; instructions, directions. ; Giáo lệnh của tông phái—Religious intructions (directions)—The commands of a sect or school.

giáo lệnh luân

4597教令,指如來為教化利益眾生所發出之教敕。輪,原為武器之一種,有摧破之作用。於密教,大日如來之教敕堅強,能摧破難化眾生之煩惱,猶如轉輪王之輪寶,故稱教令輪。理趣釋卷下載,毘盧遮那佛轉法輪,輪有四種,即:金剛輪、寶輪、法輪、羯磨輪。四輪皆攝於正法輪、教令輪二輪中。

giáo lệnh luân thân

4599三輪身之一。行教令輪之身。如來為濟度逆惡難化之眾生,現凶猛威怒形,令其遵奉如來之教令。此為隨順眾生意相不同,或順或逆,故如來時現慈、怒身以利益眾生。祕藏記以五忿怒尊配五智五佛,即不動明王、降三世明王、軍荼利明王、六足尊、金剛夜叉明王等五忿怒尊,各為大日如來、阿閦佛、寶生佛、無量壽佛、不空成就佛之教令輪身。又於密教金剛界曼荼羅之第八降三世羯磨會、第九降三世三摩耶會中,金剛薩埵即現明王身。〔理趣釋卷下〕(參閱「三輪身」680)

Giáo lệnh 教令

[ja] キョウリョウ kyōryō ||| (1) An established decision. (2) Teaching; to teach somebody. (3) To command, to order. => 1. Quyết nghị đã định. 2. Giáo pháp; giáo lý dạy cho mọi người. 3. Mệnh lệnh, ra lệnh.

giáo môn

A religion, a sect, different religious teachings. ; Tông phái hay tông môn—A religion—A sect.

Giáo môn 教門

[ja] キョウモン kyōmon ||| (1) The aspect of the Buddha's "explained teachings"; the theoretical aspect. (2) The aspect of teaching through the sutras and śāstras. (3) The main thesis of a text. => 1. Phương diện “giảng giải giáo lý ” Phật pháp; phương diện lý thuyết. 2. Phương diện truyền đạt giáo lý thông qua kinh và luận. 3. Chủ đề chính của một kinh văn.

giáo mệnh

To instruct—To command—The commands of a sect or school.

giáo nghĩa

4607<一>教與義之並稱。教,能詮之聲名句文;義,所詮之一切義理。大乘義章分教聚、義法聚二種。其中,教聚立三門,義法聚說二十六門。華嚴家則論三乘一乘之分齊,若依本宗之意,皆具教、義,若僅指無盡緣起之法為義,則除別教一乘外,悉為教而非義。〔華嚴五教章卷一、華嚴經搜玄記卷十一〕 <二>即宗派所立教化之義理。又作教理。大乘、小乘分派別宗,各有主倡之教說,以施教化。如天台教義、華嚴教義、法相教義、俱舍教義等是。 ; The meaning of a teaching, or doctrine. ; The meaning of a teaching or doctrine.

Giáo nghĩa 教義

[ja] キョウギ kyōgi ||| (1) Teaching and meaning. (2) The meaning of a teaching, a doctrine. => 1. Giáo thưyết và ý nghĩa. 2. Ý nghĩa của giáo lý, của pháp môn.

giáo ngoại

Outside the sect, or school, or church; also not undergoingnormal instruction. ; 1) Bên ngoài tông phái: Outside the sect, or school, or church. 2) Tông phái không truyền bằng những lời dạy trong kinh điển, mà là tâm truyền tâm—Instruction or teaching from outsiders. Special transmission outside of the teaching. The intuitive school which does not rely on texts or writings, but on personal communication of its tenets, either oral or otherwise, including direct contact with the Buddha or object of worship.

Giáo ngoại biệt truyền

教外別傳; J: kyōge-betsuden;|Tức là giáo pháp truyền đặc biệt ngoài kinh điển, không thể theo văn tự, lí thuyết mà đạt yếu chỉ được. Câu này thường được các vị Thiền sư sử dụng chỉ tông phái mình, Thiền tông.

giáo ngoại biệt truyền

Kyōge betsuden (J). ; Not rely on texts, or writings but on personalcommunication of its tenets, either oral or otherwise. ; Theo truyền thuyết Phật giáo thì sự truyền thụ riêng biệt bên ngoài các kinh điển đã được bắt đầu ngay từ thời Phật Thích ca với thời thuyết giảng trên đỉnh Linh Thứu. Trước một nhóm đông đồ đệ, Phật chỉ giơ cao một bông sen mà không nói một lời nào. Chỉ có đệ tử Đại Ca Diếp bỗng đại ngộ, hiểu được ý Phật và mỉm cười. Sau đó Phật đã gọi Maha Ca Diếp, một đệ tử vừa giác ngộ của Ngài. Ca Diếp cũng chính là vị trưởng lão đầu tiên của dòng thiền Ấn độ—Special transmission outside of the teaching. According to a Buddhist legend, the special transmission outside the orthodox teaching began with the famous discourse of Buddha Sakyamuni on Vulture Peak Mountain (Gridhrakuta). At that time, surrounded by a crowd of disciples who had assembled to hear him expound the teaching. The Buddha did not say anything but holding up a lotus flower. Only Kashyapa understood and smiled. As a result of his master, he suddenly experienced a break through to enlightened vision and grasped the essence of the Buddha's teaching on the spot. The Buddha confirmed Mahakashyapa as his enlightened student. Mahakashyapa was also the first patriarch of the Indian Zen.

giáo ngoại biệt truyện

4599<一>禪林用語。不依文字、語言,直悟佛陀所悟之境界,即稱為教外別傳。又稱單傳。故禪宗又作別傳宗,係教外別傳宗之略稱。此教外別傳之禪法,亦即菩提達磨所傳之祖師禪。聯燈會要卷一(卍續一三六‧二二○下):「世尊在靈山會上拈花示眾,眾皆默然,唯迦葉破顏微笑。世尊云:『吾有正法眼藏,涅槃妙心,實相無相,微妙法門,不立文字,教外別傳,付囑摩訶迦葉。』」此則公案不僅表示禪家注重正法相傳,亦表示禪宗不滯教門之文字語言,直接洞見心地了悟之意。另據祖庭事苑卷五懷禪師前錄載,禪宗傳法諸祖亦以三藏教乘接引弟子,至達磨祖師時,始單傳心印,破執顯宗,即所謂教外別傳,不立文字,直指人心,見性成佛。〔景德傳燈錄序、圜悟佛果禪師語錄卷一、興禪護國論卷中、傳法正宗論卷下、五燈會元卷一、禪宗正脈卷一〕 <二>凡十六卷。明代黎眉(郭凝之)等編。收於卍續藏第一四四冊。本書係黎眉探究禪之奧妙、佛祖之本源,蒐集機緣之語要,以舉揚祖師之宗乘。並揭示五家之本源、各派家風,令參禪學道之士認識各自面目,高揚祖燈。本書計收四一○人之機緣,佚名者三十八則。漢月法藏、密雲圓悟、雪嶠圓信等,皆為之作序。

giáo ngữ

The words ofBuddhism; words of instruction.

Giáo Như

(敎如, Kyōnyo, 1558-1614): vị tăng của Phái Đại Cốc (大谷派) thuộc Chơn Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, vị Tổ đời thứ 12 của Đông Bổn Nguyện Tự, húy là Quang Thọ (光壽), tên lúc nhỏ là Trà Trà Hoàn (茶茶丸), hiệu là Tín Tịnh Viện (信淨院), Giáo Như (敎如); xuất thân vùng Osaka, con trai đầu của Hiển Như (顯如)—vị tổ đời thứ 11 của Bổn Nguyện Tự. Ông thọ giới vào năm 1570, rồi cùng với Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) hợp chiến ở vùng Thạch Sơn (石山). Đến năm 1580, ông hòa chiến với Tín Trưởng, sau đó cha ông quyết định rút khỏi Bổn Nguyện Tự, nhưng Giáo Như không chịu nên đã đoạn tuyệt tình cha con. Đến năm 1582, ông lại hòa giải với cha, và năm 1592 thì kế thừa chức trú trì Bổn Nguyện Tự. Năm sau, vâng mệnh của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), ông lui về ẩn cư. Năm 1602, Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) cúng dường cho ông khu đất ở vùng Thất Điều Ô Hoàn (七條烏丸), nên ông sáng lập ra một ngôi Bổn Nguyện Tự khác, và từ đó giáo đoàn Bổn Nguyện Tự bị phân chia thành hai phe Đông và Tây.

giáo nội

Within instruction; in the sect or church; ; Giáo nội của tông phái là tông phái nương vào những lời dạy của Đức Phật trong kinh điển—Within instruction in the sect or church; especially those who receive normal instructions or teaching from the scriptures or written canon.

giáo nội giáo ngoại

4595即將佛陀之教化分為教內與教外二種。即:(一)教內之法,指佛陀以言語傳授教法。(二)教外之法,相對於教內之法而言,指捨離言語、文字,而以心傳心之傳法方式。於禪宗所標榜之「教外別傳」,稱自宗為教外之法,而謂依經、律、論等教法而立之諸宗為教內之法。

giáo phái

Religious sect.

Giáo Phán

(敎判, kyōhan), Giáo Tướng Phán Thích (敎相判釋, kyōsōhanshaku) hay Giáo Tướng Phán Giáo (敎相判敎, kyōsōhankyō): sự giải thích kinh điển vốn được hệ thống hóa, phân loại chỉnh lý dựa trên các tiêu chuẩn như hình thức, phương pháp, thứ tự của kinh điển được đức Thích Tôn thuyết ra trong thời gian 45 năm từ khi thành đạo lúc 35 tuổi cho đến khi nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi, hay về mặt tu tập thì giáo lý nào là cứu cánh, chân lý căn bản là gì, v.v. Dưới thời Tùy Đường, có khuynh hướng làm sáng tỏ lập trường mang tính giáo nghĩa vốn tín phụng vào tự than và chủ trương tính ưu việt của các kinh điển cũng như nội dung giáo nghĩa làm chỗ nương tựa. Về tự thể của kinh điển, chúng ta có thể thấy trong Pháp Hoa Kinh (法華經) có thuyết về sự khác nhau giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa, trong Lăng Già Kinh (楞伽經) có Đốn Giáo và Tiệm Giáo, trong Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經) có Tam Chiếu, hay trong Giải Thâm Mật Kinh (解深密經) có Tam Thời, v.v.; hoặc trong các luận thư như Đại Trí Độ Luận (大智度論) thì thuyết về Tam Tạng (三藏) và Ma Ha Diên (摩訶衍), trong Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (十住毘婆娑論) có Nan Hành Đạo (難行道) và Dị Hành Đạo (易行道), v.v.; tất cả đều chỉ phân loại sự sâu cạn của giáo thuyết và đó không phải là Giáo Phán. Tại Trung Quốc, vào thời Trí Khải (智顗) khoảng thế kỷ thứ 6, tương truyền ở Giang Nam có Giáo Phán Tam Thuyết (三說), ở bắc bộ có Thất Thuyết (七說), được gọi là Nam Tam Bắc Thất (南三北七, theo Pháp Hoa Huyền Nghĩa [法華玄義] 10). Giáo Phán tiêu biểu là Ngũ Thời Bát Giáo (五時八敎) của Trí Khải. Ngũ Thời là thời Hoa Nghiêm (華嚴), Lộc Uyển (鹿苑, tức A Hàm [阿含]), Phương Đẳng (方等), Bát Nhã (般若) và Pháp Hoa Niết Bàn (法華涅槃); Bát Giáo gồm Hóa Nghi Tứ Giáo (化儀四敎) của giáo lý Đốn (頓), Tiệm (漸), Bí Mật (秘密), Bất Định (不定) nếu nhìn từ mặt hình thức thuyết pháp; và Hóa Pháp Tứ Giáo (化法四敎) của Tam Tạng (三藏, Tiểu Thừa), Thông (通, cọng thông cả Tiểu lẫn Đại Thừa), Biệt (別, Đại Thừa), Viên (圓, giáo lý hoàn toàn) nếu nhìn từ mặt nội dung. Tiếp theo, Nhị Tạng Tam Luận (二藏三論) của Cát Tạng (吉藏)—người hình thành giáo học Tam Luận, Tam Giáo Bát Tông (三敎八宗) của Khuy Cơ (窺基) thuộc Pháp Tướng Tông, bắt đầu xuất hiện. Kế thừa những giáo học này, Pháp Tạng (法藏), người hình thành giáo học Hoa Nghiêm, đã thuyết về Giáo Phán gọi là Ngũ Giáo Thập Tông (五敎十宗). Ngoài ra, Đạo Xước (道綽) của Tịnh Độ Giáo có thuyết về Nhị Môn Giáo Phán (二門敎判), gồm Thánh Đạo và Tịnh Độ. Tại Nhật Bản, Không Hải (空海, Kūkai), vị tổ khai sáng Chơn Ngôn Tông có lập ra 2 loại Giáo Phán Hoành Thụ (橫竪). Về phía Thai Mật (台密), An Nhiên (安然, Annen) đề xướng thuyết Ngũ Thời Ngũ Giáo (五時五敎). Ngoài ra, Thân Loan (親鸞, )—người kết hợp tự lực và tha lực, Tiệm Giáo và Đốn Giáo—thì chủ trương thuyết Nhị Song Tứ Trùng (二雙四重); Nhật Liên (日蓮, Nichiren) thì có thuyết Ngũ Cương (五綱), v.v.

giáo phán

Giáo thuyết của những tông phái khác nhau, như ngũ thời bát giáo của tông Thiên Thai, Hoa Nghiêm ngũ giáo, hay tứ giáo—The various divisions of teaching or doctrine, such as the T'ien-T'ai theory of the five periods of Sakyamuni's life, the five classes of doctrine or five divisions of teaching of the Hua-Yen sect, the four styles of teaching.

giáo pháp

Dharma-desana (skt)—Doctrine—Dharma—Giáo pháp của Đức Phật: Buddha Dharma or Buddha's sermons.

giáo pháp môn

The Sutra-Studies school.

giáo quán

Teaching and meditation, the Buddha's doctrine and mediatation on it. ; 1) Giáo thuyết và thiền quán—Teaching and meditation. 2) Giao pháp và thiền quán của Đức Phật: The Buddha's doctrine and meditation

giáo quán bản tôn

4611日本佛教用語。即教門本尊與觀門本尊之並稱。日本日蓮宗以木造形像為教門本尊;而以文字表示十界圓具之曼荼羅為觀門本尊。此種教觀本尊之區別,曾引起爭論。蓋曼荼羅為觀心之方便法,而木像等為教相之方便法,二者固可勉強區分,然本尊實則唯一,乃一體之二面。若由妙解門觀之,木像與曼荼羅共為教門本尊;由妙行門觀之,則二者具為觀門本尊,故不可加以區別。

giáo quán cương tông

4611全一卷。明代智旭(1599~1655)述。收於大正藏第四十六冊。概說天台教義樞要之化儀、化法四教及十乘觀。原名一代時教權實綱要圖,因長幅難閱,乃改為書冊。卷頭有云(大四六‧九三六下):「觀非教不正,教非觀不傳。」故知本書係以教觀兼備之天台教學立場闡釋教觀二門之綱要。智旭鑑於「天台四教儀」之修行止觀部門過於簡略,故作本書補充之。若將本書與天台四教儀並讀,即可把握天台教義之真髓。

giáo quán nhị môn

4610教相門與觀心門之並稱。全稱教門觀門。簡稱教觀。為天台宗就教義理論與修行實踐方法而分判之二門。佛教聖典之各種說法,自形式、內容等觀點加以分類、整理、批判,而窮究其真髓,屬於一己思想體系之理論,稱為教相門;為體驗其真髓之修行方法,或講說要諦之實踐,則稱為觀心門。如論教義之相狀差別而分五時八教等,即為教相門;心觀一念三千、一境三諦之理的實踐法,即為觀心門。此二門猶如車之二輪,鳥之雙翼,相輔相成,不可偏廢。天台宗為維護教義之綱格,倘若偏袒其中任何一方,即必須隨時加以警戒,如天台三大部著述中,法華玄義、法華文句二部主說教相門,傍及觀心門;摩訶止觀則主說觀心門,傍及教相門。此外,法相宗稱教相與觀道,密教稱教相與事相,日本淨土真宗稱教相與安心,凡此皆為表示理論與實踐兩方面之詞。〔四教義卷一、教觀綱宗釋義卷上、法華玄義卷八下〕

Giáo quán 教觀

[ja] キョウカン kyōkan ||| Scripture study and meditation practice. Nghiên cứu kinh luận và thực hành thiền quán.

giáo sinh

Student teacher.

giáo sĩ

Buddhist missionary.

giáo sắc

Mệnh lệnh của sư phụ hay nghiêm phụ—The commands of a master or father.

giáo thiền nhị tông

4609即教宗與禪宗之合稱。教宗,即根據佛陀所說之法而建立之宗派,如天台、華嚴等;禪宗,直接傳承佛陀之心法,以教外別傳、不立文字為特色之宗派。 唐代宗密、延壽等師,皆提倡教禪二宗融和一致,必不乖隔,而教者、禪者之所以互相論是非,皆為偏見所致。自宋代以後,禪宗隆盛,教禪隔離,寺院遂有教院、禪院之分。元時,禪教律三者更各守其宗,乃至有明洪武年間(1368~1398)分天下佛寺為禪講教三等之舉。〔佛祖統紀卷五十三、禪源諸詮集都序卷上之一(宗密)〕(參閱「教院」4606)

giáo thể

4610又作經體。即教法之體。於佛所說之教法,或俱舍七十五法,或唯識百法中,論定以何物為體者,稱為教體。其說甚多,大乘法苑義林章卷一本據異部宗輪論等來判別各家之說,謂小乘諸部總有六說:(一)大眾部、說出世部、雞胤部認為佛的一切法皆為無漏,而以無漏實有之聲、名、句等為其教體。(二)多聞部認為佛所說諸教法通於有漏、無漏,故以有漏或無漏之聲為其體。(三)說假部認為六處為假,五蘊為實,故以通於有漏與無漏的假、實之聲、名、句等為其教體。(四)說一切有部唯以有漏之聲為教體。(五)經量部認為聲無詮表之作用,蓋因名、句等為假立之故,而以有漏的聲之上假取屈曲能詮者為其教體。(六)一說部認為一切法體非實有,以無漏而假立之聲、名、句等為其教體。 要之,佛之教法乃宣說令他人聞而生起正解者,故諸宗辨其教體,亦不外聲、名、句、文等,惟以宗趣之異而有假實之別。然據大乘法苑義林章卷一本載,龍猛、清辨等諸師則主張勝義諦中不可論教體,而於世俗諦中,如句、言、章、論等皆以聲為體。大乘義章卷一則謂與音聲、字、句等法相應者為教體。又法華玄義卷八上載有三種說法:(一)佛陀住世時,以「聲」為經體。(二)佛陀入滅後,以紙墨傳持,故以「色」為經體。(三)不依他教或紙墨,唯自身內在思惟,心法相合,故以「法」為經體。上記之說,僅限用於娑婆世界,蓋因娑婆世界之眾生僅有耳(聲)、眼(色)、意(法)三識為利,其餘諸識則鈍,故以聲、色、法三塵為體,然於其他國土則兼用六塵為經體。此外,瑜伽師地論卷八十一則舉出「文」與「義」兩種經體,謂文為經之「所依」,義為經之「能依」。 於唯識家,亦分為兩大主流的看法:(一)稱為「佛說法家」,認為以主張「佛說法」,即護法、最勝子、親光等論師聞者之本願為緣,而於如來之心識上乃有文義相應而生,此等聲、名、句、文等乃為真善無漏之教體。(二)主張「佛不說法」,即龍軍、無性等論師,稱為「佛不說法家」,認為佛實無言語、無說法,而一切教法皆為聞者自己之心識所變現;故此等教法若現於有漏之心,即以似無漏之聲、名、句、文為其體;若現於無漏之心,即以真無漏之文義為其體。另據華嚴經探玄記卷一論教體,謂大乘宗有四別:(一)攝假從實,唯以聲為體,而以名等依聲假立。(二)分假異實,唯以名等為體。(三)假實合辨,以亦聲亦名等為體。(四)假實雙泯,非聲非名,言即無言,兩者皆不可取。由此四別而更開十門以廣論之。〔大毘婆沙論卷一二六、俱舍論卷一、華嚴經疏卷三、成唯識論述記卷一上〕 ; The body, or corpus of doctrine. ; Thể tính giáo pháp hay toàn thể giáo pháp—The body, or corpus of doctrine; the whole teaching.

Giáo thể 教體

[ja] キョウタイ kyōtai ||| The essence of Śākyamuni's teachings. => Phần tinh yếu trong giáo lý cúa Đức Phật.

Giáo Thọ

(敎授): tức Giáo Thọ A Xà Lê (敎授阿闍梨), là tên gọi của một trong Tam Sư (三師), gồm Giới Sư (戒師, tức Đàn Đầu Hòa Thượng [壇頭和尚]), Yết Ma A Xà Lê (羯摩阿闍梨) và Giáo Thọ A Xà Lê. Hay là một trong 5 loại A Xà Lê, như trong Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 39 có nêu rõ là: “Hữu ngũ chủng A Xà Lê, hữu Xuất Gia A Xà Lê, Thọ Giới A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê (有五種阿闍梨、有出家阿闍梨、受戒阿闍梨、敎授阿闍梨、受經阿闍梨、依止阿闍梨, có năm loại A Xà Lê, có Xuất Gia A Xà Lê, Thọ Giới A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê).” Giáo Thọ A Xà Lê còn gọi là Giáo Thọ Sư (敎授師), là vị A Xà Lê (s: ācārya, p: ācariya, 阿闍梨) dạy dỗ, truyền trao cho Giới Tử oai nghi tác pháp, v.v., trong Giới Đàn. Tiểu Thừa Giới thì lấy vị thầy hiện tiền làm Giáo Thọ A Xà Lê; cùng với vị Yết Ma A Xà Lê có giới lạp phải từ 5 tuổi trở lên. Đối với Đại Thừa Viên Đốn Giới (大乘圓頓戒) thì cung thỉnh đức Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) làm vị Giáo Thọ A Xà Lê. Trong Mật Giáo, tại đàn tràng Quán Đảnh, vị hướng dẫn người thọ lễ Quán Đảnh vào trong đàn tràng, chỉ cho các nghi thức tấn thối, v.v., được gọi là Giáo Thọ A Xà Lê. Trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (受菩薩戒儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1085) có chỉ rõ cách cung thỉnh chư tôn như sau: “Phụng thỉnh Thích Ca Mâu Ni Phật tác Hòa Thượng, phụng thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật tác Yết Ma A Xà Lê, phụng thỉnh Đương Lai Di Lặc Tôn Phật tác Giáo Thọ A Xà Lê, phụng thỉnh Thập Phương Hiện Tại Chư Phật tác Chứng Giới Sư (奉請釋迦牟尼佛作和尚、奉請文殊師利龍種上尊王佛作羯磨阿闍梨、奉請當來彌勒尊佛作敎授阿闍梨、奉請十方現在諸佛作證戒師, cung thỉnh Thích Ca Mâu Ni Phật làm Hòa Thượng, cung thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật làm Yết Ma A Xà Lê, cung thỉnh Đương Lai Di Lặc Tôn Phật làm Giáo Thọ A Xà Lê, cung thỉnh Mười Phương Hiện Tại Chư Phật làm Chứng Giới Sư).” Trong phần Thỉnh Giáo Thọ Sư Pháp (請敎授師法) của Tăng Yết Ma (僧羯磨, Taishō Vol. 40, No. 1809) quyển Thượng có đoạn rằng: “Đại Đức nhất tâm niệm, ngã mỗ giáp, kim thỉnh Đại Đức vi Giáo Thọ A Xà Lê, nguyện Đại Đức vị ngã tác Giáo Thọ A Xà Lê, ngã y Đại Đức cố, đắc thọ Cụ Túc Giới (大德一心念、我某甲、今請大德爲敎授阿闍梨、願大德爲我作敎授阿闍梨、我依大德故、得受具足戒, Đại Đức một lòng ghi nhớ, con tên là …, nay cung thỉnh Đại Đức làm Giáo Thọ A Xà Lê, cúi mong Đại Đức vì con làm Giáo Thọ A Xà Lê, vì con nương vào Đại Đức, được thọ Cụ Túc Giới).”

giáo thọ

1) Dạy—To instruct—To give instruction. 2) Thầy dạy (A xà Lê): Instructor—Preceptor—See Acarya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

giáo thọ sư

Acarya (skt)—A Xà Lê—Thầy dạy pháp—Instructor or preceptor.

giáo thọ thiện tri thức

Teaching spiritual advisor.

giáo thụ a xà lê

4606三師之一,五種阿闍棃 之一。又作教授師。於戒場,教授戒子威儀作法等之阿闍棃。小乘戒以現前之師為教授阿闍棃,與羯磨阿闍梨均為戒臘五年以上者;於大乘圓頓戒,則別請彌勒菩薩為教授師。又密教在灌頂道場,引導受者入場內,教示投花等作法及其進退者,稱為教授阿闍棃,或稱教授人。〔五分律卷十六、四分律行事鈔卷上三〕(參閱「三師七證」595、「阿闍棃」3688) ; An àcàrya, or instructor, preceptor.

Giáo thụ 教授

[ja] キョウジュ kyōju ||| (1) To guide, impart, teach; to teach the dharma and impart the way (anuśista, vadam, cayacchanti). (2) A teacher of the way. => 1. Hướng dẫn, truyền đạt, dạy dỗ; giảng dạy giáo pháp và truuyền bá đạo pháp (s: anuśista, vadam, cayacchanti). 2. Bậc đạo sư.

giáo thụ, thọ

To instruct, to give instruction.

giáo thừa pháp số

4604凡四十卷。明代圓瀞編。圓瀞因感於藏乘法數、賢首法數等之缺軼甚多,乃基於天台之觀點,將佛教經典乃至諸子百家中,凡有關法數者皆收集於此書。即初由「一心」,次第列記增至「八萬四千法門」之法數,其間亦解釋外典之名數。本書並以分析、比較、歸納代替說明,為其一大特色。

giáo thực luận

Prasikṣā śāstra (S).

giáo truyện nham truyện

4607西藏密宗寧瑪巴(紅教)之二種傳法方式。教傳,是連鎖性地由高僧傳給弟子;巖傳,是一種神奇之傳授方式,據傳由蓮華生大師,將密乘多種經典法要,分藏於山谷溪水之中,俾後世有緣者搜尋獲得,加以學習修證,如是發掘、傳播之謂。敦珠法王(1904~1987)所撰之西藏古代佛教史,敘述此二種傳承之歷史甚詳。

giáo tích

4605指教法之蹤迹,即聖人布教,各有歸從。又作教跡。據四分律行事鈔資持記卷上一之二載,聖人出現,為物垂範,稱為教迹。又報恩經卷一載,如來教迹,隨宜三藏九部。又判釋教相者,稱為教迹義。據大乘義章卷一所載「眾經教跡義」即是。 ; Dấu tích của tôn giáo—The vestiges, or evidence of a religion; e.g. the doctrines, institutions, and examples of teachings of Buddha and the saints.

Giáo tích 教迹

[ja] キョウシャク kyōshaku ||| The traces, or marks of the Buddha's teachings. Verbal teachings. (2) panjiao 判教 or 'teaching classification.' => 1. Dấu tích và biểu hiện của Phật pháp. Giáo pháp qua ngôn thuyết. 2. Phán giáo, sự sắp xếp, phân loại giáo lý.

Giáo Tín

(敎信, Kyōshin, ?-866): vị Tăng chuyên tu niệm Phật sống vào đầu thời kỳ Bình An, húy là Giáo Tín (敎信), hiệu là Giáo Tín Sa Di (敎信沙彌), Hạ Cổ Giáo Tín (賀古敎信), A Di Đà Hoàn (阿彌陀丸). Ông vốn có vợ con ở vùng Hạ Cổ (賀古, Kako) thuộc vùng Bá Ma (播磨, Harima), sống cuộc đời chuyên làm thuê mướn cho người trong làng, hay khuân vác hành lý cho lữ khách. Ông thường xướng niệm Phật và khuyên mọi người trong làng tu theo mình. Với tư cách là bậc Thánh niệm Phật, chính cách sống của ông đã đem đến ảnh hưởng cho Thân Loan (親鸞, Shinran) cũng như Nhất Biến (一遍, Ippen), đặc biệt trường hợp của Thân Loan thì hình thành tư tưởng Phi Tăng Phi Tục.

giáo tướng

4601<一>佛陀一代所說教法之相狀差別,即種種教義之特徵或差異,稱為教相。若就此教相加以探討、闡釋、區別者,即稱教相判釋,略稱判教、教判。一般而言,探討教相之法門係屬於學解研究之範疇;各宗派乃針對此點而另設實踐之法門,以期學解與實踐二門之並重。如法相宗有教相與觀道之二門,天台宗有教相與觀心之二門,日本淨土真宗有教相與安心之二門。〔法華玄義卷一〕 <二>「事相」之對稱。密教對法門之建立、義理之深淺等,或各種教理組織、教義解學等,加以研究、解釋,稱為教相。反之,實際之修法,則稱為事相。日本圓仁於金剛頂大教王經疏卷一中於教相立明教之本源、辨教之起由、釋教之深淺、明教義之別等四門。(參閱「事相」3041) ; The particular teaching of a sect. ; Giáo pháp đặc biệt của một tông phái—The particular teaching of a sect. ** For more information, please see Giáo Phán.

Giáo tướng môn 教相門

[ja] キョウソウモン kyōsōmon ||| The aspect of the theoretical study of the Buddha's teaching, as opposed to the aspect of 'observing the mind,' practice. => Phương diện nghiên cứu giáo lý Phật pháp, khác với pháp tu tập “quán tâm”.

Giáo Tướng Phán Giáo

(敎相判敎, kyōsōhankyō): xem Giáo Phán (敎判, kyōhan) bên trên.

Giáo Tướng Phán Thích

(敎相判釋, kyōsōhanshaku): xem Giáo Phán (敎判, kyōhan) bên trên.

giáo tướng phán thích

4601即判別解釋佛陀一生所說教法之相狀差別。略作教相、判教、教判、教攝。即依教說之形式、方法、順序、內容、意義等,而分類教說之體系,以明佛陀之真意。蓋佛教經典為釋尊一代所說之教,為數甚多,且說教出現時地與因緣各異,因應對象根機義理亦互有出入,欲知其意旨、因緣、次第,非賴整理諸經典及判定其價值,無法明瞭佛陀之真實意旨,於是產生教相判釋。 就經典自身而言,例如法華經等,係示以大乘、小乘之別;楞伽經示以頓、漸之別;華嚴經說三照;涅槃經說五味;解深密經說三時之別。凡此皆是開教相判釋之端緒。論書方面,大智度論舉出三藏與摩訶衍、顯露與祕密之說;十住毘婆沙論有難行道與易行道之說;戒賢、智光則有「三時教」之說。以上分類,大抵以教說內容之深淺為主,而非依據說法之形式而判別。 在我國所翻譯諸經論,非依其成立次第傳譯,而係於同時傳譯不同時代,甚或教理內容相互矛盾之經典,以致初學者不容易理解其中奧義,而無法入門。又諸具有創見之大德,為明示其所信奉教義之立場,以及指導初學者,故常將此諸經論之繁雜教說,加以組織體系化,並判定其價值與解釋其教相。此乃我國佛教在教相判釋方面特別興盛之因。 判教特盛行於南北朝時代,故後世有「南三北七,義成百家」之評,此後至隋、唐,亦陸續出現新教判。給予我國教相判釋以最大啟發者,乃是曇無讖所譯之大般涅槃經,其卷十四以從牛出乳,從乳出酪,從酪出生酥,從生酥出熟酥,從熟酥出醍醐,比喻從佛出生十二部經而出修多羅,又據以出方等經、般若波羅蜜、大涅槃等,一方面表示整個佛教教義有其體系,一方面亦顯示教義有高下深淺,樹立教相判釋之典型。竺道生就如來之說法立善淨、方便、真實、無餘四法輪之四種區別,唱導頓悟成佛。劉宋之慧觀將此頓漸思想引入教判,把佛陀一代之教法大別為頓、漸二教,以華嚴經為頓教,於漸教中作五時次第之分別。法雲依法華經立牛車、羊車、鹿車、大白牛車之四乘教。而於北地,北涼曇無讖立半、滿二教之教判;北魏菩提流支於一音教外,別有頓、漸二教之說;地論宗南道派之慧光又立頓、漸、圓三教,更就其宗旨而分因緣宗、假名宗、誑相宗、常宗之四宗判。 又依智顗於法華玄義卷十上舉南三北七之教判,據此,江南依佛說法之形式,立頓、漸、不定等三教,其中,漸教方面有:(一)虎丘山岌師所舉之有相教、無相教、常住教等三時教。(二)宗愛、僧旻於無相教之後再舉同歸教,合為四時教。(三)定林寺僧柔、慧次、慧觀於同歸教之前再舉褒貶抑揚教,共立五時教。至於北方七師之教判,則為:(一)武都山劉虬判立人天教、有相教、無相教、同歸教、常住教等五時教。(二)菩提流支判立半字教與滿字教等二教。(三)光統判立因緣宗、假名宗、誑相宗、常宗等四宗。(四)護身寺自軌於四宗外另加法界宗,稱為五宗教。(五)耆闍寺安廩判立因緣宗、假名宗、誑相宗、真宗、常宗、圓宗等六宗。(六)北地某禪師立有相大乘、無相大乘二種大乘。(七)菩提流支(或謂鳩摩羅什)判立一音教,即指佛以一音演說法,眾生隨類各得解。 智顗於法華玄義中縱橫難破「南三北七」十家,而自立三種教相、五時八教之教判,其所依者為法華經,故就三種教相根性之融不融、化導之始終不始終、師弟之遠近不遠近三種相,以示法華經優於他經;所謂五時,即佛成道後對種種根機,應機所說之法門,以時間分類為華嚴、鹿苑、方等、般若、法華涅槃等五時;又將佛陀教導之形式方法分為化儀四教(頓、漸、祕密、不定)、化法四教(藏、通、別、圓)。然化儀四教實淵源於南北諸師之說,化法四教亦基於北地諸師之說而成,故其教判可說集南三北七之大成。 此外三論宗之吉藏立聲聞、菩薩二藏,於菩薩藏中又別開根本、枝末、攝末歸本三法輪,此為二藏三轉法輪判。唐法相宗之玄奘依解深密經、金光明經等,立轉法輪、照法輪、持法轉三法輪之判。其弟子窺基立三教八宗之判,三教中以諸阿含等之小乘義為有教,三論、般若等為空教,華嚴、深密、法華等為中道教;八宗者則以犢子部等為我法俱有宗、薩婆多部等為有法無我宗、大眾部等為法無去來宗、說假部經部等及成實論為現通假實宗、說出世部等為俗妄真實宗、一說部等為諸法但名宗、般若諸經及中百論等為勝義皆空宗、法華等經及無著等所說之中道教為應理圓實宗。華嚴宗之法藏於華嚴經探玄記卷一中,舉從來十家之判而予以批判,別立五教十宗之判,五教指小乘教、大乘始教、終教、頓教、圓教;十宗者,乃就窺基八宗之前六宗,加上一切皆空宗、真德不空宗、相想俱絕宗、圓明具德宗。其他尚有宗密之五教說、延壽之三宗說、明代智旭之禪教律三學一源論等各種教判之說,其中以智顗之五時八教、窺基之三教八宗、法藏之五教十宗最為著名。 日本方面,則有:真言宗空海大師立顯教、密教二教判及十住心之教判,台密安然說五時五教,親鸞說二雙四重,日蓮立五綱之說等。〔大乘義章卷一、大乘玄論卷五、解深密經疏卷一、華嚴經疏鈔玄談卷四〕

giáo tướng phần

4601一部著書中,敘述教義之部分稱為教相分,敘述行法之部分則稱行儀分。如善導大師於淨土宗之五部著述中,講說教義之觀經疏係為教相分;總稱其他四部以宣說實踐方法為主,則為行儀分。

giáo tướng tam ý

4601又作三種教相。天台宗認為法華經與法華以前其他經典相異之處有三:(一)根性融不融相,法華經以外之教法,真實與方便混雜,聽法眾生之根性有利、鈍之分,因程度不一,故不融;而說法華經時,眾生素質齊一,無利、鈍之分,故為融,其教法亦僅有真實教法。(二)化道始終不始終相,法華以外之教法,乃是應時隨機之教法,故有許多法並非真義(不始終);法華經之教法,則是一貫三世有組織之教法,能道盡如來之真義(始終)。(三)師弟遠近不遠近相,法華經以外之教,認為釋尊於今世始成佛,佛弟子亦今生始為佛弟子(不遠近);然法華經言,釋尊過去久遠之時,即已成佛,佛弟子亦於遠昔即為佛弟子,故不可將佛陀及佛弟子於今生之開悟,教化視為真實(遠近)。

Giáo Tầm

(敎尋, Kyōjin, ?-1141): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, húy là Giáo Tầm (敎尋), Vĩnh Tầm (永尋), hiệu là Bảo Sanh Phòng (寶生房); xuất thân vùng Đại Hòa (大和, Yamato, thuộc Nara-ken [奈良縣]), họ Bình. Ông theo học Mật Giáo ở Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji) vùng Cận Giang (近江, Ōmi), đến năm 1069 thì thọ phép Quán Đảnh với Tánh Tín (性信) ở Bắc Viện của Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji). Sau đó, ông lui về ẩn cư trên Cao Dã Sơn, truyền trao Giáo Tướng cho nhóm Giác Noan (覺鑁); và trong khi sáng kiến Truyền Pháp Viện (傳法院), ông được cung thỉnh làm chức Học Đầu. Ông chuyển đến trú tại Bảo Sanh Viện (寶生院) và tín phụng Văn Thù Bồ Tát. Trước tác của ông để lại có Đại Nhật Kinh Hiển Mật Vấn Đáp Sao (大日經顯密問答抄) 2 quyển, Hiển Mật Sai Biệt Vấn Đáp Sao (顯密差別問答抄) 1 quyển, v.v.

giáo tập yếu

Xem Đại thừa Tập Bồ tát học luận.

giáo tổ

4604教派之創始者或信仰之指導者。釋尊教示弟子們依從真理,弟子由於受其人格感化,而信奉佛法。如此,以弟子之立場言,釋尊為教祖,且成為佛教信仰不可或缺之精神要素。教祖之存在,乃信仰上一種人格之結合,使信仰團體產生強而有力之組織,基於此種意義,各宗各派對教祖之重視,遂演變成一種對教祖之絕對崇拜。

giáo uyển thanh quy

4602凡二卷。元代自慶編於至正七年(1347)。又稱增修教苑清規。收於卍續藏第一○一冊。本書係天竺大圓覺教寺之雲外法師自慶,將天台教苑清規(編者不詳,僅知其屬天竺山白雲堂)再增補修訂。內容分為十門,即祝讚門、祈禳門、報本門、住持門、兩序門、攝眾門、安居門、誡勸門、真歸門、法器門等,各門之下復詳述細節。本書為研究宋、元時代天台宗組織、制度等之重要資料。 此外,教苑清規另有二書,一為宋代智圓(976~1022)所作,凡二卷。另一為日僧無著道忠(1653~1744)所作,凡二卷。

giáo viện

4606又作教寺。「禪院」、「律院」之對稱。即天台、華嚴、法相、淨土等寺院之通稱。中唐以後,隨著禪宗之勃興,不分教、律,概稱禪院,至宋代,天台等諸宗亦興盛,故有教院之設,以舉禪、教並立之實。宋大中祥符四年(1011)敕以四明延慶院永為十方傳教住持,此係教院之濫觴。元祐五年(1090),敕令上天竺禪寺改為教寺,此為教寺之權輿。此外,紹興十四年(1144),敕改延慶院為寺。寶慶二年(1226)改天申萬壽圓覺禪寺為天台教寺。凡此,均是例證。至元代,禪、教、律,各固守其宗。明洪武十五年(1382),將天下佛寺分為禪、講、教三種,其中,講寺者,乃講明諸經旨義之處;教寺者,演音利濟之法,以訓世人之處;此二寺,即昔所謂之教院、教寺。日本中世以後,亦模仿此風,遂有教、禪、律三院之別。〔佛祖歷代通載卷二十八、四明教行錄卷一〕

giáo võng

4608<一>指佛之教化。即比喻眾生為魚,佛之教法為網。如經中所言,張開佛教網,亘法界海,漉人天魚,置涅槃岸。謂佛之教化,能令眾生,遠離生死苦海,到達解脫之彼岸。 <二>於禪宗,乃指比喻受縛於教義之網,而不能體得原本真義之用語。碧巖錄第七十八則(大四八‧二○五中):「免得人去教網裏,籠罩半醉半醒,要令人直下灑灑落落。」 ; The teaching (of Buddha) viewed as a net to catch and save mortals. ; The teaching of Buddha viewed as a net to catchand save mortals.

giáo vương hộ quốc tự

4596日本真言宗東寺派總本山。位於京都下京區。本名金光明四天王教王護國寺祕密傳法院。又稱彌勒八幡山總持普賢院。通稱東寺、左大寺。桓武天皇延曆十五年(796)創建。嵯峨天皇弘仁十四年(823),敕賜自唐歸國之空海以此為傳布真言宗之道場,並命今名。其後,曾二度罹火災,至豐臣、德川二氏始復興。寺院建築有鎌倉時代、室町時代之宮殿風格;繪畫方面藏有真言七祖像七幅、山水屏風、兩界曼荼羅二幅等;雕刻方面有表現平安初期時代特徵之密教佛像。其他文物方面另有最澄執筆之空海請來目錄、圓仁之入唐求法巡禮行記四卷、悉曇藏二冊等。

giáo vương kinh

4596又稱大教王經。一般指唐代不空譯之三卷教王經。金剛頂系經典中,冠有此稱者有:(一)唐代不空所譯之金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教王經三卷、金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教王經二卷。(二)宋代施護所譯之佛說一切如來真實攝大乘現證三昧大教王經三十卷、佛說祕密三昧大教王經四卷、佛說一切如來金剛三業最上祕密大教王經七卷、佛說無二平等最上瑜伽大教王經六卷。(三)宋代法賢所譯之佛說瑜伽大教王經五卷。

giáo điều

Religious dogmatism.

giáo điển

The sacred books of a religion, or sect. ; Kinh điển hay điển tịch của một tôn giáo—The scriptures of Buddhism

giáo đoàn

4608同一信仰者群聚一處所形成之團體。通常由講說教義之教職與受教信徒所構成,佛教中自古稱之為僧伽(梵 saṃgha,巴同)。初期原始佛教時代,所謂僧伽乃專指出家眾而言,尚不包含在家信徒。廣義之教團指佛教全體,狹義則指一宗一派。

giáo đạo

To teach a way, or religion; a taught way contrasted with an intuitionalway; the way of teaching. ; 1) Chỉ dạy và hướng dẫn—The way of instruction—To instruct and to lead. 2) Chỉ dạy cho con đường tu hành—To teach a way or religion—The way of teaching. 3) Con đường được chỉ dạy khác với con đường đạt được bằng tuệ giác—The way of teaching or to teach a way or religion; a taught way contrasted with an intuitional way.

giáo đầu

To start—To begine—Prologue.

giáo đốn cơ tiệm

4608即所教示之法,不依修行階次,直接開示佛法奧妙處;然受者之根機為鈍根,則須從漸次累積之修行方得證果。

giáo đồ

Disciples.

Giáo 教

[ja] キョウ kyō ||| (1) The Buddhist teaching. (2) A particular type of Buddhist teaching, such as "sudden teaching," "gradual teaching", "Pure Land teaching," etc. (3) The academic, or scholarly aspect of the Buddhist teaching, as opposed to the meditative 禪 aspect. In Korea, these two aspects became polarized into two opposing factions, which struggled with each other for recognition by the state. Eventually the kyo faction was eclipsed and subsumed by the sŏn faction. => 1. Phật pháp. 2. Giáo pháp đặc biệt, như “đốn giáo”, “tiệm giáo”, “Tịnh độ giáo”v.v... 3. Phương diện học thuật hay lý thuyết trong Phật pháp, khác với Thiền. ở Cao Ly, hai lĩnh vực này trở nên bị phân cực thành hai phái, tranh chấp nhau với sự thừa nhận của nhà nước. Về sau, giáo tông bị lu mờ và sáp nhập vào Thiền tông.

giáp

1) Vỏ hay nón bọc bên ngoài: Scale—Mail—Helmet. 2) Can thứ nhất trong mười can: The first of the ten celestial stems. 3) Gò má: Cheeks—Jaws.

Giáp Chung

(夾鍾): có hai nghĩa chính: (1) Tên gọi âm thứ 2 trong 6 âm thanh thuộc về Âm của 12 luật âm, tương đương với âm Thắng Tuyệt (勝絶, shōzetsu) trong 12 âm luật của Nhật Bản. (2) Tên gọi khác của tháng 2 Âm Lịch. Như trong Lã Thị Xuân Thu (吕氏春秋) quyển 6 của Lã Bất Vi (呂不韋, 290-235 ttl.) có đoạn: “Giáp Chung chi nguyệt, khoan dụ hòa bình, hành đức khử hình, vô hoặc tác sự, dĩ hại quần sinh (夾鐘之月、寬裕和平、行德去刑、無或作事、以害群生, tháng Hai là tháng khoan dung, hòa bình, thực hành nhân đức, bỏ hình phạt, không nên làm việc, tác hại quần sinh).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 có giải thích rõ về Giáp Chung rằng: “Mão vi Giáp Chung, nhị nguyệt chi thần danh vi Mão; Mão giả, mậu dã; ngôn dương khí chí thử, vật sanh tư mậu dã, cố vị chi Mão (卯爲夾鍾、二月之辰名爲卯、卯者、茂也、言陽氣至此、物生孳茂也、故謂之卯, Mão là Giáp Chung, chi của tháng Hai là Mão; Mão là mậu [tươi tốt], nghĩa là khí dương đến tháng này, muôn vật sinh nở tươi tốt, nên gọi nó là Mão).” Trong Chuẩn Đề Tịnh Nghiệp (準提淨業, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1077) quyển 3 lại có câu: “Giáp Chung nhị nguyệt luật, do đắc Xuân khí, thảo mộc vinh hoa (夾鐘二月律、由得春氣、草木榮華, Giáp Chung tháng Hai luật, do có khí Xuân, cỏ cây tươi tốt).” Hay trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 lại giải thích rằng: “Nhị nguyệt kiến Mão, viết Đan Át, hựu viết Giáp Chung, hựu vân Trọng Xuân, hựu xưng Phương Xuân (二月建卯、曰單閼、又曰夾鐘、又云仲春、又稱芳春, tháng Hai kiến Mão, gọi là Đan Át, hay còn gọi là Giáp Chung, lại có tên là Trọng Xuân, hay gọi là Phương Xuân).”

Giáp cán 甲幹

[ja] コウカン kōkan ||| The official name of a monk in charge of cleaning. => Tên gọi chính thức vị tăng đảm nhiệm công việc dọn dẹp quét tước trong tu viện.

giáp lập

2076為折成花瓣形之折紙,通常折挺,安立於盛裝供物之「華足」上部周圍。為日本佛教所用。原稱饗立,係於饗膳之正式場合中,立於盛物器具之折紙,後轉訛稱為甲立。其用途,可使華足盛滿供物而不溢落,今為裝飾佛前供物之用。

giáp mã

2078民間在紙上畫神、佛之像而祭燒之,稱為甲馬。天香樓偶得:「俗於紙上畫神、佛像,塗以紅黃采色,而祭賽之,畢即焚化,謂之甲馬。以此紙為神、佛之所憑依,似乎馬也。」〔水滸傳第三十七回〕 ; 1) Ngày xưa có tục vẻ tượng Thần hay Phật lên giấy rồi đem cúng tế: A picture, formerly shaped like a horse, of a god or a Buddha, in a ceremony. 2) Ngày nay chỉ còn vẽ hình một con ngựa mà thôi: Now a picture of a horse only.

giáp niệm phật

2076即以高音調唱念佛號,為日本佛教唱念佛號法之一。即於例行作法中,以唐音唱念阿彌陀經之前後,用高音調來唱念佛號,先唱念一聲「南無阿彌陀佛」六字,再唱念二聲「阿彌陀佛」四字,合為三聲。通常由導師獨唱至第一句之第五「陀」字,接著由眾僧自第六之「佛」字同聲誦唱。(參閱「合殺」2266)

giáp sát

2077指甲(首位)於諸禪院之剎(寺);又指各州首位之禪剎。即南宋末至元初,官府於五山、十剎之外,所設禪院之寺格。據禪林象器箋卷一載,我國甲剎,有龍朔山集慶寺、華嚴山顯報寺等;日本甲剎,有平安山佛心寺、靈龜山景德寺等。 據扶桑五山記、和漢禪剎次第二書中所列舉之甲剎,及其開山住持、所在地點等為:(一)華藏毘陵顯報寺,密印安民開創,位於常州(江蘇無錫)。(二)大龍翔集慶寺(鳳山天界寺),笑隱大訢開創,位於建康府金陵(江蘇江寧)。(三)仰山太平興國寺,仰山慧寂開創,位於袁州(江西宜春)。(四)太平龍興寺(廬山東林寺),東林常總開創,位於江州南康軍(江西星子縣)。(五)承天能仁寺,傳宗開創,位於蘇州長州縣(江蘇吳縣)。(六)大慈教忠報國寺,笑翁妙堪開創,位於明州寧波府(浙江鄞縣)。(七)金山龍遊寺,斐頭陀開創,位於潤州鎮江府(江蘇鎮江)。(八)焦山普濟寺(定慧寺),位於潤州鎮江府(江蘇鎮江)。(九)何山移忠寺,佛燈守珣開創,位於湖州安吉府(浙江吳興)。(十)鳳臺山保寧寺,牛頭法融開創,位於建康府(江蘇江寧)。(十一)報恩光孝寺(嘉禾天寧寺),位於秀州嘉興府(浙江嘉興)。(十二)永福寺,位於饒州(江西鄱陽)。(十三)百丈山大智壽聖寺,百丈懷海開創,位於洪州隆興府(江西南昌)。(十四)廣惠寺(清涼寺),法眼文益開創,位於建康府金陵(江蘇江寧)。(十五)雁山能仁普濟寺,竹庵士珪開創,位於鎮江府(江蘇鎮江)。(十六)廬山圓通崇勝寺,道濟開創,位於江州山北路(位於江西)。(十七)廬山開先華藏寺,開先善暹開創,位於江州南康郡(江西雩都)。(十八)資福顯忠寺,資福如寶開創,位於湖州(浙江吳興)。(十九)壽山本覺寺,位於秀州嘉興府(浙江嘉興)。(廿)香山智度寺,慈溪智莊開創,位於明州慈溪縣(浙江慈谿)。(廿一)楓橋普明寺,興聖國師開創,位於蘇州平江府(江蘇吳縣)。(廿二)鼓山湧泉寺,鼓山神晏開創,位於福州閩縣(福建閩侯)。(廿三)蓮華峰大覺寺,高峰原妙開創,位於杭州臨安縣(浙江臨安)。(廿四)疏山白雲寺,疏山匡仁開創,位於撫州(江西臨川)。(廿五)黃龍山崇恩寺,黃龍超惠開創,位於洪州隆興府(江西南昌)。(廿六)廣福寺,智顗開創,位於婺州(浙江金華)。(廿七)長蘆山洪濟寺,位於真州(江蘇儀徵)。(廿八)東禪寺,位於福州閩縣(福建閩侯)。(廿九)報國寺,一峰齊開創,位於杭州(浙江杭縣)。(卅)嵩山少林寺,佛陀禪師開創,位於洛州河南府(河南洛陽)。(卅一)二祖山,慧可開創,位於磁州彰德府(河北安陽)。(卅二)三祖山山谷寺,僧璨開創,位於舒州(安徽懷寧)。(卅三)四祖山慈覺寺,道信開創,位於蘄州黃梅(湖北黃梅)。(卅四)五祖山真慧寺,弘忍開創,位於蘄州黃梅(湖北黃梅)。(卅五)六祖山法泉寺,慧能開創,位於韶州曹溪(廣東曲江)。

giáp sơn

2841<一>地名,有二:(一)位於湖南省岳州府澧州石門縣東南約十七公里。唐懿宗咸通十一年(870),船子德誠之法嗣善會在此山建立禪宇,振舉禪風,名噪一時。(二)位於江蘇省鎮江府丹徒縣南方約二公里。山中有竹林寺,善會亦曾在此說法。〔讀史方輿紀要卷七十七、大清一統志卷六十二〕 <二>(805~881)指唐代善會禪師。師曾先後住於江蘇之夾山、湖南澧州之夾山舉揚禪風,故世稱夾山善會禪師,或僅以「夾山」代稱之。(參閱「善會」4893) ; Tên của một tự viện và Thiền sư Thiện Hội ở Lễ Châu dưới thời nhà Đường—Name of a monastery and monk in Li-Chou during the T'ang dynasty—See Thiện Hội Thiền Sư.

giáp sơn huy kiếm

2841禪宗公案名。指唐代夾山善會禪師以般若利劍,斬破一切執著。從容錄第六十八則(大四八‧二六九下):「僧問夾山:『撥塵見佛時如何?』山云:『直須揮劍,若不揮劍,漁父棲巢。』」即為打破執著,佛亦可斬,若不斬,則如漁父處於山巢,失去禪之活用;縱令與佛相見,然因執著未破,反墮毒海,折損慧命。〔五燈會元卷五〕

giáp sơn thiền sư

Zen Master Zhia-Shan—See Thiện Hội Thiền Sư.

Giáp Sơn Thiện Hội

夾山善會; C: jiāshān shānhuì; J: kassan zen'e; 805-881;|Thiền sư Trung Quốc. Sư đắc pháp nơi Thuyền Tử Ðức Thành (Hoa Ðình Thuyền Tử). Sau Sư đến Giáp Sơn trụ trì, môn đệ đến học tấp nập. Môn đệ đắc pháp nổi danh của Sư là Lạc Phổ Nguyên An.|Sư họ Liêu, quê ở Hiện Ðình, Quảng Châu. Năm 9 tuổi, Sư xuất gia tại chùa Long Nha, sau đó lại đến Giang Lăng tập học kinh luận. Sư trụ trì tại Kinh Khẩu. Một vị tăng hỏi Sư: »Thế nào là Pháp thân?« Sư đáp: »Pháp thân vô tướng.« Tăng hỏi tiếp: »Thế nào là Pháp nhãn?« Sư đáp: »Pháp nhãn chẳng bệnh.« Thiền sư Ðạo Ngô Viên Trí đứng trong hội, nghe Sư trả lời bèn cười, nói rằng Sư hoằng hoá mà chưa có thầy và chỉ đến Hoa Ðình Thuyền Tử (xem dưới Thuyền Tử Ðức Thành). Nơi Hoa Ðình, Sư đại ngộ và sau trở về nơi cũ hoằng giáo. Ðạo Ngô cho người đi trắc nghiệm Sư với hai câu hỏi như xưa và Sư trả lời y như trước. Ðạo Ngô thừa nhận, bảo: »Ông ấy đã triệt ngộ.«|Sư dạy chúng: »… Người thượng căn ngay lời nói liền rõ đạo; kẻ căn khí bậc trung, bậc hạ chạy lăng xăng như sóng bủa. Sao chẳng nằm trong sinh tử mà an định? Sẽ nhận lấy chỗ nào? Lại nghi Phật nghi Tổ thế cái sinh tử cho ông được sao? Người có trí sẽ cười ông, nghe bài kệ đây:|勞持生死法,唯向佛邊求|目前迷正理,撥火覓色漚|Lao trì sinh tử pháp|Duy hướng Phật biên cầu|Mục tiền mê chính lí|Bát hoả mích phù âu|*Nhọc gìn pháp sinh tử|Chỉ nhằm bên Phật cầu|Trước mắt lầm lí chính|Trong lửa bọt có đâu«.|Tăng hỏi: »Thế nào là cảnh Giáp Sơn?« Sư đáp: |猿抱子歸青嶂裏。鳥銜花落碧巖前|Viên bão tử quy thanh chướng lí|Ðiểu hàm hoa lạc bích nham tiền.|*»Vượn bồng con về ngọn núi xanh,|chim ngậm hoa đậu trước đỉnh biếc.«|Ðời Ðường, niên hiệu Trung Hoà năm đầu, ngày mùng 7 tháng 11, Sư gọi Chủ sự bảo: »Nay chất huyễn của ta khi hết liền đi, các ông khéo giữ gìn như ngày ta còn, chớ giống người đời sinh ra buồn thảm.« Ðêm ấy Sư tịch, thọ 77 tuổi. Vua phong là Truyền Minh Ðại sư.

giáp sơn thiện hội

Kassan Zen'e (J)Tên một vị sư.

Giáp Sơn 夾山

[ja] キョウサン Kyōsan ||| Jiashan; the name of a monk and monastery during the Li Zhou period of the Tang. => (j:Kyōsan ; c: Jiashan); tên một vị tăng và tên chùa trong thời Li Zhou triều nhà Đường.

giáp trụ ấn

A digital or manual sign, indicating mail and helmet. • Hai tay chấp trước ngực: Two palms in front of the chest. • Đầu hai ngón trỏ chập lại và chạm vào đầu hai ngón giữa: Two forefinger tips touch the two middle finger tips. • Hai ngón cái chạm nhau và chỉ thẳng lên trên: Two thumb tips touch and point straight upward. • Từ từ di chuyển hai đầu ngón trỏ vào khoảng giữa của hai ngón tay giữa: Slowly move the two forefinger tips to the middle of the two middle fingers.

giáp trụ ấn minh

2077為密教印相之一。係修行人生起化導他人之大悲心,遂立下大誓,猶如披著堅固之甲冑,迴入生死界,降伏魔界而利益眾生,此時即須結誦甲冑印明來加持身上之五處。此一印明為金剛界修法時,於已自證成道後,為成就化他之德所結誦者。與胎藏法之「擐金剛甲印」同印。其印相為:先以二手作「虛心合掌」,置於心前,即以二食指附於二中指指背之上節,並豎二拇指,捻二中指指側;此印亦即大三股印,表示披著「心、佛、眾生」三平等的金剛甲冑之義。 其真言為:唵(oṃ,歸命)縛日羅迦縛制(vajra kavace,金剛甲冑)縛日哩(vajri,金剛)矩嚧(kuru,作)縛日羅縛日隸(vajra vajre,金剛極金剛)馱鍐(damam,施我)。

giáp trữ tượng

2842用漆、泥、布挾扼所造之像。又作挾紵(貯)像、夾貯像、夾苧像、塞像、即像、漆像、張貫像、乾漆像。即以麻布貼於泥模上,然後以薄漆固定,再敷上一層麻布(以漆為黏劑),至所須厚度時,始去泥脫空而成。 我國自古即以漆布或筥造冠,且將此技術試用於造像上,惟開始年代不詳。出三藏記集卷十二法苑雜緣原始集目錄,載有譙國二戴造夾紵像記,可知六朝時即已流行。又隋開皇三年(583)京師凝觀寺僧法慶,造夾紵之釋迦像,纔捻塑畢,未加漆布而歿;大唐西域記卷十二瞿薩旦那(于闐)條載,有從屈支(龜茲)來之夾紵立佛像等記事,皆是有關夾紵佛像之記載。日本天平時代之塞像及近世所謂之乾漆像,即相當於夾紵像。〔續高僧傳卷二十五、洛陽伽藍記卷四、大宋僧史略卷上、廣弘明集卷十六、佛祖統紀卷三十八〕

giáp tự

2076位於韓國忠清南道公州郡雞龍山西側,故又稱雞龍甲寺。相傳西元四二○年代,高句麗之高僧阿道和尚所創建。於新羅統一時代(669~917),本寺成為華嚴宗之大道場。至李朝時代(1392~1910),日本豐臣秀吉曾於一五九二年、一五九七年兩度入侵,此地更成為僧兵抵禦外敵之大根據地。全國民眾受此感化,亦頻傳捨身救國之事蹟。

giáp xa

Hai gò má tròn đều, một trong 32 tướng hảo của Đức Phật—The cheeks rounded, one of the thirty-two characteristics of a Buddha. ** For more information, please see Tam Thập Nhị Hảo Tướng Của Phật.

giáp xa như sư tử tướng

6364為佛及轉輪聖王所具足三十二相之一。即雙頰豐隆之相,猶如師(獅)子王之頰。(參閱「三十二相」507)

giáp ất đồ đệ viện

2076宋初以降,寺院住持示寂或引退之際,順次以上位之弟子繼承其職,一般寺院皆採用此師徒相傳之法。與此繼承法相異者,為「十方住持院」,即住持之任命不拘師徒關係,而拔擢自十方之高僧大德。

giãi bày

To make known one's feelings or thoughts.

giãi lòng

To show one's feelings.

giãi nắng

To expose oneself in the sun.

giãy giụa

To struggle.

gièm pha

To backbite—To blacken—Nói hành nói tỏi—To spell ill of someone.

gièm pha và mưu hại

To slander and to look for ways to harm someone.

giòn

Crispy.

gió

Xem Diệt.

gió nghiệp

Xem Nghiệp phong.

giông giống

Somewhat alike (similar).

giùm

To aid—To help.

giúp

To help—To assist—To aid—To back up—To give a hand—To support.

giúp dỡ

Arthacara (S), Attha-caryā (P), Helpful

giúp một tay

To give someone a hand.

giúp người giảm bớt khổ đau

To help others relieve themselves from suffering

giúp nhau

To help one another.

giăng

To extend—To spread—To stretch.

giường gai

Bed of thorns.

Giả

假; C: jiǎ; J: ke;|Có các nghĩa sau: 1. (Các pháp) giả tạm, giả thuyết; 2. Sự thiết lập (các giả thuyết, s: pra-jñapti). Lập nên một ý niệm. Sự thu nhặt các ngôn từ và câu chữ; 3. Sử dụng phép ẩn dụ, dù nó không thực có, dùng để giải thích (s: upacāra); 4. Pháp tạm thời. Nho giáo biểu thị bằng chữ Quyền (權). Trong giáo lí của tông Thiên Thai thì, theo giáo lí chân chính, đặc tính hiện hữu của con người là giả tạm; 5. Thuật ngữ Giả thường được dùng phản nghĩa với Chân (眞), hoặc Thật (實), đề cập đến những gì đó trống không, không có thật, là không tồn tại trên cơ sở tự tính, các pháp chỉ tồn tại trên danh xưng, được gọi là Giả danh hữu (假名有). Dạng hiện hữu nầy chẳng khác gì với Không (e: emptiness). Thuật ngữ giả cũng dùng để chỉ »phương tiện« (方便) hay phương pháp thực hành và giáo hoá không vận dụng đến thật tính, mà chỉ dùng đến những phương tiện nhất thời.

giả

4376無實體之意。或作虛、權、方便之意。乃真、實之對稱。並無實體而僅有其名者,稱為假名有;不直接就實體而假運想念,稱為假想觀;世俗所認空之真理,稱為假諦;內心與外相不符,稱為虛假行;權假方便之法門,稱為假門;進入凡夫迷妄之世界,稱為入假;出於凡夫迷妄之世界,稱為出假。對假之現象界諸法,復有二假、三假、四假等之別。 (一)二假:即窺基之成唯識論述記卷一本、延壽之宗鏡錄卷六十七中所說之無體隨情假與有體施設假二種。(1)無體隨情假,即因凡夫之迷情而將本無實體之存在,錯認為有實體之執著。(2)有體施設假,即一切現象之諸法,皆由因緣所生而假有,並無實體,此假有乃是聖者證悟諸法實相(真理)之後而假設之名詞。此外,宋代四明知禮之金光明玄義拾遺記卷五舉出生死假(妄假)、建立假(施設假)二假,與前之二假意義略同。 (二)三假:(1)據大品般若經卷二「三假品」載,諸法雖無自性,但為破凡夫之妄執,故設有受假、法假、名假等三假,三假又稱為三波羅攝提(梵 prajñapti)、三攝提、三假施設。晉朝慧遠之大乘義章卷一根據大智度論卷四十一之解釋為基礎,再衍生三義,即:1.受假,由眾多因緣合成一物,該物由一切因緣所成,故無實體。2.法假,法由因緣而生,即空而無自性、無實體者。3.名假,萬物皆無自性而為「空」,故僅有假名而無實體。智顗之仁王般若經疏卷二解釋仁王經卷上序品之三空觀門為「三假」,即法假為色陰,受假為受、想、行、識之四陰,名假是受假與法假二名為假。(2)成實論假名相品所列舉三假:1.因成假,一切有為法由因緣成立,故為假。2.相續假,一切有為法,前念與後念相續不斷而存在,此相續並無實體,剎那生滅,故稱假。3.相待假,一切諸法各有對待,如大小、長短之相對,並無一定標準,故稱為假。如此 T假皆空幻如夢,故稱為「三假虛浮」。智顗之摩訶止觀卷五下以為此是藏、通二教之說法。(3)成唯識論卷八載,依他起性之法有假與實之分。假則有聚集假、相續假、分位假等三假,大致與成實論之三假同義。分位假如不相應行法,視其作用程度之異,而錯覺有另一物之存在,故稱為「假」。(4)十八空論列舉分別假、依他假、真實假等三假,此乃根據「三無性」而設之說。 (三)四假:(1)普光之俱舍論記(光記)卷二十九等引成實論所舉之「因生假、緣成假、相續假與相待假」,此四假實與三假同義,其分別乃將因成假分為因生假與緣成假。又因生假相當於三假中之法假,緣成假相當於三假中之受假。(2)吉藏之三論玄義、大乘玄論卷五等根據大智度論卷一「四悉檀」之說,並繼承南朝梁代僧法朗之主張而立「因緣假、隨緣假、對緣假、就緣假」四假之說。此中所說之「假」,有說明法門施設之意,亦即指法門隨應機緣而有種種不同。四假可分別配當於第一義、為人、對治、世界四種悉檀。 ; (A) Nghĩa của Giả—The meanings of “Fallacy” 1) Không thật: Unreal—No reality—False—Fallacious—Futile—Untrue—Vain. 2) Mượn: To borrow. 3) Giả bộ: Giả tá—To pretend—To assume—To suppose. 4) Theo Phật giáo, giả có nghĩa là chư pháp vô thường và không có thực thể, duyên hợp hay mượn các pháp khác mà có, như mượn uẩn mà có chúng sanh, mượn cột kèo mà có nhà cửa. Tất cả chỉ là hiện tượng giả tạm và không thật: In Buddhism nothing is real and permanent, the five aggregates make up beings, pillars and rafters make a house, etc. All is temporal and merely phenomenal, fallacious, and unreal. (B) Phân loại giả—Categories of “Fallacy” 1) Nhị Giả: Two fallacious postulates—See Nhị Giả. 2) Tam Giả: Three fallacious postulates—See Tam Giả.

giả bạc

4381為禪林記載有關請假外出、歸省者之簿。又作請假簿。敕修百丈清規卷四維那條(大四八‧一一三二中):「或有他緣,或暫假出入,將戒臘簿、假簿、堂司須知簿,親送過客司令攝之。」

giả bộ

To pretend.

giả da

Xem Nhạ Da.

giả danh

4376梵語 prajñapti,巴利語 paññatti。意指假他而得之名。略稱假。亦即立於眾緣和合而生之法上假施設之名詞。成實論卷十三滅盡定品分假名為二種:(一)如人乃五陰之因緣和合,稱為因和合假名。(二)諸法從眾緣而生,無定性,但有名字,稱為法假名。蓋大乘雖有淺深之別,而人、法並皆假名無殊。至如中觀派,則認為於緣生之法在俗諦之上雖為假有,然於真諦之上則是皆空。另瑜伽派主張,如依聚集之義,所集成者,有聚集、相續、分位之性,故稱為假有,而心、心所、色等能集成者,由緣而生,則為實有,依此實有之法,得論假有,故依他起性乃通假、實。 大乘義章卷一假名義就假名設四義(大四四‧四七七下):「言假名者,釋有四義:一、諸法無名,假與施名,故曰假名,如貧賤人假稱富貴,如是等也。二、假他得名,故號假名,如假諸陰得眾生名,假棟梁等得屋宅名,如是一切,又復大小長短等事,假他得名,大假小故,得其大名,小亦如是。(中略)三、假之名,稱曰假名,世俗諸法,各非定性,假他而有,名為假法,樹假之稱,故曰假名。四者諸法假名而有,故曰假名,是義云何?廢名論法,法如幻化,非有非無,亦非非有,亦非非無,無一定相可以自別,以名呼法,法隨名轉,方有種種諸法差別,假名故有,是故諸法說為假名。」 此外,大乘義章同卷又舉出一假、二假、三假、四假之別,即:(一)一假,謂一切法皆因緣集起,故為假名。(二)二假,(1)就生、法分別,有眾生假名、法假名。(2)就因和、法和分別,有因和合假、法和合假。(三)三假,即名假、受假、法假。⑷四假,即因生假、因成假、相待假、相續假。然摩訶止觀卷五下則僅列舉因成假、相續假、相待假等三假之名。又假名之法非實有,故稱為假名有、假有;其性為空,故稱為假名空;緣假名之法,則稱為假名心;觀照之,則為假觀、假想觀;主張一切法假有無性,則稱為假名宗;無實德,唯有名號者,稱為假名比丘、假名菩薩。〔大品般若經卷二、菩薩地持經卷一、卷二、大智度論卷四十一、成實論卷十一立假名品、成唯識論卷八、成唯識論述記卷九本〕(參閱「假」4376) ; Paṇṇatti (P), Prajāpti, (S), Paṇṇatti (P), Supposition, Giả thiết. ; Samketa or Vitatha-naman (skt)—Dấu hiệu hay cái tượng trưng tạm thời—Provisionary symbol or sign. • Các pháp do nhân duyên giả hợp tạm bợ mà có chứ không có thực thể: All dharmas are empirical combinations without permanent reality. • Các pháp vô danh, do người ta giả trao cho cái tên, chứ đều là hư giả không thực: False and fictitious—Unreal names, i.e. nothing has a name of itself, for all names are mere human appellations. • Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật nhắc ngài Mahamati: “Này Mahamati! Vì bị ràng buộc vào các tên gọi, các hình ảnh và dấu hiệu, nên phàm phu để mặc cho tâm thức của họ lang bạt.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha reminded Mahamati: “Mahamati! As they are attached to names, images, and signs, the ignorant allow their minds to wander away.”

giả danh bồ tát

4379指大乘菩薩五十二階位中之十信位菩薩。又作名字菩薩、信想菩薩。五十二階位係指十信位、十住位、十行位、十迴向位、十地位、等覺位、妙覺位等,其中之十信位即是具有信心、念心、精進心等之十種修行階段;此十種修行階段,僅有菩薩之名而未具實質,故稱為假名菩薩。〔菩薩瓔珞本業經卷下〕(參閱「十信」454) ; Bậc được gọi là Bồ Tát vì đã đạt đến “thập tín”—One who may be called a bodhisattva because he has attained the Ten Faiths.

giả danh bộ

Xem Thuyết giả bộ.

giả danh hữu

4378三種有之一。多種因緣集合為一物,乃假之存在,稱為假名有。如色、香、味、觸四事之因緣和合,假名為酪,此酪無自體,以假名故有;另如毛氈、林等亦是。又假名之法非實有,故稱假名有,略稱假有。〔大智度論卷十二、摩訶止觀卷五下、大明三藏法數卷十三〕(參閱「三種有」651、「有無」2444、「假名」4377) ; Một trong tam hữu, mọi vật hiện hữu nhờ sự phối hợp của các vật khác và chỉ là gọi tên theo lối kinh nghiệm (như bốn thứ sắc, thinh, hương, vị, xúc, nhân duyên hòa hợp với nhau để thành một cái gì đó trong một thời gian hữu hạn rồi tan hoại, chẳng hạn như sữa bò, kỳ thật là do bốn thứ ấy duyên hợp mà thành, chứ không bao giờ có cái tự thể của sữa)—One of the three kinds of existence, things which exist only in name, i.e. all things are combinations of other things and are empirically named.

giả danh không

4379為「法空」之對稱。觀假名之眾生,並無實在之人、我。又作人空、我空。據成實論卷十二滅法心品載,破裂敗壞眾生是為假名空,見色等無常敗壞、虛誑厭離之相則為法空。又有二種觀:(一)空觀,即是不見假名眾生;例如人見瓶無水,故為空,如是見五陰中無人,故亦為空。(二)若觀法空、第一義空,稱為無我觀。(參閱「人法二空」256、「我空法有」2941、「假名」4377)

giả danh kinh

4379日人將漢文經典譯成日文,以假名(即片假名、平假名)或假名間雜漢字寫成之經典。此類經中,以日本訤木縣足利市家富町鑁阿寺所藏之紙本墨寫假名法華經八卷較著名。〔河海抄卷十二(四辻善成)〕

giả danh nhân

4377指無實體而僅有假名之人。又稱假者、假人。佛教不承認有實人之存在,以人僅為五蘊假和合而成。可分二種:(一)穢土之假名人,即由此世有漏染污之五蘊和合而成之人。(二)淨土之假名人,即由無漏清淨微妙之五蘊而成之淨土菩薩。 淨土菩薩與穢土之人相比,於五蘊之體雖有染淨之別,然亦同為五蘊和合之假名人。穢土假名人與淨土假名人有「不一不異」之義;修行之人於臨終往生淨土時,捨離穢土之假名人,蓮華化生為淨土之假名人。此過程中,穢土之人於臨終時是以前念為因,而成為淨土之人則是以後念為果,故此前念後念之因果相續,若依捨、受、因、果之別而言則為「不一」,若依因果相續之義而言則為「不異」。 另據釋摩訶衍論卷四、卷六、卷九載,相對於地上親證之人,稱地前為假者;對佛果之實人而稱因位為假者。就廣義而言,則不分地前、地上、因果,而總稱人為假人。〔中論卷三觀業品、大智度論卷十二、往生論註卷上〕

giả danh thế gian

Còn gọi là chúng sanh thế gian, hay hữu tình thế gian. Tất cả các loại hữu tình trong thế gian đều là giả danh thế gian (vì hữu tình là danh tự giả thiết nơi ngũ uẩn chứ không có thực thể)—The world of unreal names, i.e the phenomenal world of sentient beings.

Giả danh tông

假名宗; C: jiǎmíngzōng; J: kemyōshū;|Các tông phái xiển dương lí thuyết mọi danh nghĩa là giả tạm, như Kinh lượng bộ (經量部; s: sautrāntika) và Thành thật tông (成實宗).

giả danh tông

4379主張諸法僅有假名而無實體之宗派。小乘經部、成實宗即是。乃北齊大衍所立四宗,北齊護身寺自軌法師所立五宗,南朝陳代耆闍寺安廩法師所立六宗之一。(參閱「五宗」1108、「四宗」1706、「耆闍六宗」4287)

Giả danh tông 假名宗

[ja] ケミョウシュウ kemyōshū ||| Schools that hold to the doctrine that all naming is provisional, such as the Sautrāntika 經量部 and the Cheng-shi 成實宗schools. => Các tông phái xiển dương lý thuyết mọi danh nghĩa là giả tạm, như Kinh Lượng Bộ (s: Sautrāntika) và Thành Thật Tông (c: Cheng-shi).

giả danh tướng

Names—Which are merely indications of the temporal.

giả dạng

To disguise oneself.

giả dối

Insincere—Deceitful—False.

giả dụ

for example—For instance.

giả gạo

To pound rice.

giả hoà hợp

4380依賴因緣之聚集而形成,眾緣離散即不存在。以無自性、非實有,故稱為假和合。略稱假合。

giả hòa hợp

See Giả Hợp.

Giả hợp

假合; C: jiǎhé; J: kegō;|Sự kết hợp tạm thời – cách nhìn của Phật giáo xem chúng sinh như là hợp thể của tứ đại và ngũ uẩn (t: skabs las byung ba; theo Phật thị tạp biện, Phật thị chân giả chi biện 佛氏雜辨, 佛氏眞假之辨)

giả hợp

Hiện tượng tùy theo nhân duyên mà giả hòa hợp, là sự phối hợp của các yếu tố, chứ không có thực thể (hòa hợp ắt phải có ly tán, đó là sự hòa hợp nhứt thời chứ không vĩnh cửu)—Phenomena are combinations of elements without permanent reality—Phenomena, empirical combinations without permanent reality.

giả hợp chi thân

4379即人身。人身乃眾緣假和合之物,故稱假合之身。原人論(大四五‧七○九中):「此身但是眾緣似和合相,元無我人。」(參閱「假名人」4378) ; See Giả Hợp Thân.

giả hợp thân

Thân giả hợp—The emperical body.

Giả hợp 假合

[ja] ケゴウ kegō ||| A provisional combination--the way Buddhists see the human being as composed of four elements and five skandhas (Tib. skabs las byung ba). 〔佛氏雜辨、佛氏眞假之辨〕 => Sự kết hợp tạm thời-- cách nhìn của Phật giáo xem chúng sinh như là hợp thể của tứ đại và ngũ uẩn (t: skabs las byung ba). Theo Phật thị Tạp Biện, Phật Thị Chân Giả Chi Biện.

giả hữu

4379乃「實有」之對稱。又作俗有、假名有。謂諸法皆依因緣和合而存在。因緣所生之法,如鏡花水月,無其實性,然非虛無之法;即諸法之存在,乃由因緣而生之故,既非定無亦非定有,而係假施設為有者,故稱假有。〔成唯識論卷一、三論玄義卷一〕 ; Các pháp hay hiện tượng do nhân duyên sinh ra, như bóng hoa trong nước, hay ánh trăng nơi đáy giếng, không có thực tính. Tuy không có thực tính, lại không phải là pháp hư vô. Sự hiện hữu của chư pháp chỉ là giả hữu, nếu không muốn nói là không hơn gì sự hiện hữu của lông rùa sừng thỏ—The phenomenal which no more exists than turtle's hair or rabbit's horns.

giả kê thanh vận

4381禪林用語。指模擬雞叫聲,試圖以偽裝欺騙之意。原典故出自史記孟嘗君傳,書中記述孟嘗君夜半欲通過函谷關時,其食客馮驩模擬雞叫,守關者依憑雞鳴而開關門,讓孟嘗君得以安然通過,免去秦兵追殺之危。從容錄卷二(大四八‧二三九下):「假雞聲韻難謾我,未肯模胡放過關。」

Giả lập

假立; C: jiǎlì; J: keryū;|Có các nghĩa sau: 1. Thiết lập một cách tạm thời, thừa nhận một lí lẽ giống nhau (s: saṃketa, prajñapti; theo Nhị chướng nghĩa 二障義); 2. Thừa nhận sự đề cập đến một đối tượng đặc biệt.

Giả lập 假立

[ja] ケリュウ keryū ||| (1) Provisionally established; posited for the same of argument (saṃketa, prajñapti). 〔二障義HPC 1.794c17〕(2) Posited in reference to a specific object. => Có các nghĩa sau: 1. Thiết lập một cách tạm thời, thừa nhận một lý lẽ giống nhau(s: saṃketa, prajñapti) 2. Thừa nhận sự đề cập đến một đố tượng đặc biệt.

giả môn

4380乃「真門」之對稱。為日本淨土真宗教義。謂不行念佛法門,以自力修諸功德而往生者,則稱為假門。假者,權假而非真實;門者,通入(入真實)。於阿彌陀佛四十八願中之第十九願,謂念佛之外修諸行諸善,欲往生極樂者,則臨終之時,佛來迎接。蓋假門乃源自觀無量壽經所說定散要門之法,亦即以定散乃攝一代教,令入弘願念佛要門之方便善;故依據其第十九願而設為方便假門。淨土真宗之祖親鸞於其最重要著作教行信證中主張:彌陀之本願可分真實與方便兩種,即第十八願為真實之本願,第十九、二十為方便之本願,方便之中又分為兩種,而以第十九願為方便假門,第二十願為方便真門;行者最理想之修行過程乃出假門而入真門,又自真門而出,最終歸於真實弘願之中。教行信證卷六(大八三‧六三二下):「久出萬行諸善之假門,永離雙樹林下之往生。」同書又謂(大八三‧六二九下):「漸教、定散、三福、三輩、九品,自力假門也。」 ; Tông phái mà giáo thuyết dựa vào những công đức cứu độ từ những hình thức hay nghi lễ bên ngoài, chứ không phải tín tâm bên trong như niềm tin vào Đức Phật A Di Đà—The sect which relies on the externals or external works for salvation, in contrast with faith in Amitabha.

giả mạo

To falsify—To counterfeit—To forge—To fake.

giả ngu

To play the fool—To pretend ignorance.

giả ngã

4379以佛教之立場而言,所謂「我」者,實際上並無「我」之存在,僅由五蘊和合所成之身,假名為我而已,故稱假我。又作俗我。為「實我」之對稱。就世間法中,言「我」之語,依大智度論卷一載有三根本,即:(一)邪見,指凡夫未去除我見,故妄執有真實的我。(二)慢,指有學之聖者雖已去除我見,猶存我慢,故說「我」語。(三)名字,指佛及無學聖者,我見、我慢雖已去除,全無我執,為隨世間流布,故說「我」語。如佛經中,所謂「如是我聞」、「設我得佛」等皆是,此等稱呼五蘊和合之人,僅假借其名而無實體之我,即是隨世流布我。大乘佛教雖破斥小乘、外道、凡夫等執著五蘊和合之假我為實體,然並不擯除名字之假我。(參閱「我」2937) ; Cái ngã không thực, hòa hợp bởi ngũ uẩn (phàm phu hay ngoại đạo thì vọng chấp cho đó là thực, bậc Thánh giác ngộ cho đó là cái giả ngã; tuy nhiên, nếu cứ khư khư chấp giữ cho rằng giả ngã là “vô” là rơi vào chấp thủ tà kiến “không”)—The empirical ego of the five skandhas.

giả như

If—Supposing that. Giả Như Ác Nghiệp Có Hình Tướng, Mười Phương Hư Không Chẳng Thể Dung Chứa Hết: In the Avatamsaka Sutra, the Buddha taught: “Supposing that evil karma had physical form, the empty space of the ten directions could not contain it.” Giả Như Lòng Tham Dục Có Hình Tướng, Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới Cũng Chẳng Thể Dung Chứa Hết: If greed and desire had physical form, three thousand great chiliocosmos could not contain them.

Giả pháp

假法; C: jiǎfǎ; J: kehō;|Pháp hiện hữu giả tạm hay nhất thời. Theo giáo lí của Pháp tướng tông, thì Giả pháp là một yếu tố không thể tự có »chủng tử« riêng của mình.

Giả pháp 假法

[ja] ケホウ kehō ||| A provisional, temporary existence or thing. According to the doctrine of the Faxiang 法相 school, an element which does not possess its own "seed." => Pháp hiện hữu giả tạm hay nhất thời. Theo giáo lý của Pháp tướng tông, một yếu tố không thể tự có "chủng tử" riêng của mình.

giả quán

4382<一>天台宗三觀之一。為「空觀」、「中觀」之對稱。即觀照諸法依假名而存在。(參閱「一心三觀」23) <二>為「真觀」之對稱。指不就事實,而就方便施設者以修觀照法。觀無量壽經所說之觀法中,日觀、水觀、像觀等均是。 ; Một trong ba loại quán của tông Thiên Thai, quán sát chư pháp là giả tạm. Quán sát về sự thật tương đối của hiện tượng, do đó chỉ là sự hiện hữu giả tạm, so với thiền quán về “Tánh Không.”—One of the three kinds of contemplation of T'ien-T'ai sect, contemplation of all as unreal, transient or temporal—Meditation on the relative truth or phenomenal and therefore illusory existence, in comparison with the meditation on the void (Không quán). ** For more information, please see Không Giả Trung in Vietnmaese-English Section.

giả sắc

Vô biểu sắc hay hình thức bên trong, như hương vị không có hình thể—Invisible or internal form, i.e. spiritual form.

giả sử

See Giả Như.

giả thiết

Xem Giả danh. ; Hypothesis.

Giả thuyết

假説; C: jiǎshuō; J: kesetsu; |Có các nghĩa sau: 1. Sự giải thích tạm thời. Ngôn ngữ, hay tục lệ quy ước. Biểu tượng có tính ẩn dụ. Đệ nhị nghĩa (s: gauna), ngược lại với Đệ nhất nghĩa (s: mukhya). Sự giải thích mà không biểu hiện tình trang chính xác như nó đang là; 2. Theo giáo lí Duy thức tông, giả thuyết nầy được phân làm 2 loại, đó là »giáo lí giả danh của các pháp« (s: upacāra) như qua An Huệ (s: sthiramati); 3. Giả thuyết sai lầm (s: prajñapti).

giả thuyết

Prajnapti (skt)—Học thuyết dựa vào hiện tượng hay cấu trúc tâm thức—Ordinary teaching—Doctrines dervied from the phenomenal or mental construction, or ideation.

Giả thuyết 假説

[ja] ケセツ kesetsu ||| (1) To provisionally explain. Linguistic convention, or custom. Metaphorical expression. Secondary meaning (gauna) as opposed to primary meaning 義 (mukhya). An explanation that does not express the situation exactly as it is. (2) In Consciousness-only theory, this provisional explanation is discriminated into two types, namely, the 'provisional teaching of elements' as per Sthiramati (see 成唯識論, T vol. 31, p. 1a) (upacāra). (3) Falsehood (prajñapti). => Có các nghĩa sau: 1. Sự giải thích tạm thời. Ngôn ngữ, hay tục lệ quy ước. Biểu tượng có tính ẩn dụ. Đệ nhị nghĩa (s: gauna), ngược lại với Đệ nhất nghĩa (s: mukhya). Sự giải thích mà không biểu hiện tình trang chính xác như nó đang là. 2. Theo giáo lý Duy thức tông, giả thuyết nầy được phân làm 2 loại, đó là "giáo lý giả danh của các pháp" như qua Ngài An Huệ (s: Sthiramati) (xem Thành Duy Thức Luận T vol. 31, p. 1a) (upacāra). ) 3. Giả thuyết sai lầm (s: prajñapti).

giả thật

4380「假」與「實」之並稱。又稱虛假真實。如阿毘達磨順正理論卷三十二就「極微」舉出實、假二種極微,實極微,係指極微所形成色等之自相,於和集之位為現量所得者;假極微,乃依分析而為比量所知者。於各種色法中,以智慧漸次分析而至最極之位,然後於此中辨別色聲等極微之差別;此係經由分析而得最極之位,故稱為假極微。此外,據成唯識論卷八載,依他起性亦有實有假,所謂假,以其聚集、相性、分位等之性,故謂之假有;所謂實,如心、心所、色等,從緣而生,故謂之實有。就實、假二者之關係而言,若無實法,則亦無假法;蓋假係依實之因而施設者。〔觀無量壽經疏卷四〕

giả thật nhị pháp

4381指假法與實法。法有實體,稱為實法;假存立於實法之集合、相續、部分、相對之上而無實體者,則稱假法。如五蘊為實法,有情立於五蘊和合之上,則是假法。法之假實,依各部派而有異說。若依華嚴五教章等所說「十宗判」之意,(一)於小乘之中:(1)一切有部以五蘊和合之人為假,五蘊、十二處、十八界而成之七十五法體為實有。(2)大眾部以無為法及有為法之現在世為實有,過去、未來世之法為假。(3)說假部主張,於現在法中,五蘊雖為實;而於相對之上言之,十二處、十八界等乃為「有而假」者。(4)說出世部以有漏俗諦之因果(苦、集二諦)為假,以無漏真諦之因果(滅、道二諦)為實。(5)一說部主張諸法皆僅具其名而無有實體。(6)依成實宗之意,不僅五蘊和合之人為假,五蘊之法亦為假。 (二)大乘之成唯識論卷八就三性而定法之假實而言,遍計所執乃安立於虛妄上,故可說為假,又無體相,故非假非實;依他起性有實有假,以聚集、相續、分位性,故稱為假有,心、心所、色依緣(種子)而生,故說為實有;又若無實法,假法亦無,以假依實因而施設之故。由此可知,唯圓成實性是實有,以不依他緣而施設之故。中論卷四「四諦品」則謂,由眾因緣所生法,我說即是空;眾緣具足和合而物生,此物屬眾因緣,故無自性;無自性,故為空,空亦是空,但為引導眾生,故立假名而說。有宗、空宗即因對法之假實觀點不同而分為相互迥異之兩大教派。〔阿毘達磨順正理論卷三十二、大乘掌珍論卷上、成實論卷十二滅法心品〕

giả thời quốc

6315赭時,梵名 Chaj。西域諸國之一。大唐西域記卷一載其西臨葉河。漢史作赭支、拓支、者舌,亦稱大石、石國。即今俄屬中亞最大都會塔什干(Tashkend)之地。

giả thực

Giả và thực—False and true—Unreal and real—Empirical and real.

giả trang

To disguise onself.

giả trá

Deceitful—False.

giả tu

Sham cultivator.

giả từ

To bid farewell.

giả từ cõi đời

To bid farewell to this world.

giả vô

4380指捨離有、無二邊之真諦中道。又作真無。據三論玄義卷一載,假無不可定無,假無不可定有,遠離二邊,故視之為正。(參閱「中道」1030)

giả vấn

4380為汾陽十八問之一。宋代之汾陽善昭禪師(947~1024)將歷來禪林中,學人請教師家之問題,依其性質,分類為十八種,此即著名的「汾陽十八問」,「假問」即其中之第十四。即假借某物以發問,透過此問而通達真實體。人天眼目卷二(大四八‧三○八上):「問徑山:『這箇是殿裏底,那箇是佛?』山云:『這箇是殿裏底。』」〔五家宗旨纂要卷上〕

giả vờ

To pretend—To make believe.

giả đạo đức

Hypocritical.

giả định

Đạo Phật không có giả định, mà dựa trên sự kiện, do đó không bao giờ lánh xa ánh sáng trí tuệ—Assumption—Buddhism starts with no assumptions. It stands (bases) on facts, therefore, it never shuns the dry light of knowledge.

Giả 假

[ja] ケ ke ||| (1) Provisionally hypothesized (-dharma). (2) An institution or establishment (prajñapti). To establish a concept. The gathering of words and/or sentences. (3) The use of a metaphor which, though not truly existent, is used for explanation (upacāra). (4) Something that is provisional or temporary. Signified in Confucianism with the character 權. In the doctrine of the Tiantai 天台 sect, according to the true teaching, the real characteristic of human existence is provisionality. (5) The term 假 is usually used in contrast to terms like truth 眞, or reality 實, referring to something that is empty, or unsubstantial, lacking inherent existence; something that exists only in reference to the name assigned to it. This is called jiamingyou 假名有. This sort of existence is not different from emptiness. The term 假 is also used to refer to 'expedient means' (fangbian 方便), or methods of practice and teaching that have no real nature, but are used provisionally. => Có các nghĩa sau: 1. (Các pháp) giả tạm, giả thuyết. 2. Sự thiết lập (các giả thuyết) (s:prajñapti). Lập nên một ý niệm. Sự thu nhặt các ngôn từ và câu chữ. 3. Sử dụng phép ẩn dụ, dù nó không thực có, dùng để giải thích (s: upacāra). 4. Pháp giả tạm. Khổng giáo biểu thị bằng chữ Quyền 權. Trong giáo lý tông Thiên Thai, theo giáo lý chân chính, đặc tính hiện hữu của con người là giả tạm. 5. Thuật ngữ Giả thường được dùng phản nghĩa với Chân, hoặc Thực, đề cập đến các pháp là Không, là không có thực, là không tồn tại trên cơ sở tự tướng, các pháp chỉ tồn tại trên danh xưng. Đây gọi là Giả danh hữu (c: jiamingyou 假名有). Dạng hiện hữu nầy chẳng khác gì với Không (e: emptiness). Thuật ngữ giả cũng dùng để nói đến pháp "phương tiện", hay phương pháp thực hành và giáo hóa không vận dụng đến thực tính, mà chỉ dùng đến những phương tiện nhất thời.

giải

5599請參閱 成實論 <一>思惟事物之理而能有所了知者,稱爲解;係與「信」、「證」相對之詞,例如「十解」相對於「十行」、「十住」。此外,作領知之義者,稱爲領解;作信知之義者,稱爲信解;作心意開悟之義者,稱爲悟解、了解、開解;作印持審決之義者,稱爲勝解、慧解;作義推之義者,則稱義解。 <二>呈申之意。本爲下屬對上司所呈之文書,後世則不限於官方所用。於日本。一般神社、寺院亦採用之。及後,不論公私,自下向上呈出之申文皆逐漸採用解之形式,稱爲解狀、解文。 ; To unloose, let go, release, untie, disentangle; explain, expound. ; 1) Giải: Cửa quan—An official building. 2) Giải thích: To explain—To expound. 3) Giải thoát: Moksa, Mukti, Vimoksa, Vimukti (skt)—To unloose—To let go—To release—To disentangle. 4) Giải Đãi: Kausidya (skt)—Lười biếng hay không hết sức với việc trì giới—Idle—Lazy—Negligent—Indolent, lazy or remiss in discipline.

giải bày tâm sự

To open one's heart.

giải chế

See Giải Hạ.

giải cát tường trí

Buddhaśrījāna (S)Tên một vị Bồ tát.

giải cảnh thập phật

5605 請參閱 梵志阿????經華嚴圓教之菩薩以真實之智解照見法界時,所觸目者,無論萬有萬法,皆視爲佛身,簡約其類別,可有十種,統稱爲解境十佛,或解境十身、融三世間十身。與「行境十佛」相對稱。關於行境、解境之二種十佛說,係出自智儼之華嚴孔目章卷二。澄觀之華嚴玄談卷三中的「融三世間十身」即屬解境十佛,而「佛上自有十身」相當於行境十佛。 據舊譯華嚴經卷二十六之十地品中所列舉之十身爲:(一)眾生身,指眾生世間。(二)國土身,指國土世間。(三)業報身,指感受前二身因緣之惑、業。(四)聲聞身,聲聞之果位。(五)辟支佛身,緣覺之果位。(六) 菩薩身,求佛果者。(七) 如來身,完成佛果者。(八) 智身,三乘及佛之智慧。(九)法身,依前項智慧而開悟之理法。(十)虛空身,指以上諸身之所依皆爲空。 以上十身皆由緣起法而來,然依意義別之,另有數種分類,如初三身顯示染分,次六身顯示淨分,第十身則表示不二分,以上三者互成「染、淨、不二」之十身。此外,第四身以下已攝於三世間中之智正覺世間,而與眾生、國土等二大類共成「融三世間」之十身。〔十地經論卷十〕(參閱「行境十佛」2564) ; Tông Hoa Nghiêm khi lấy trí chân thực để giải kiến pháp giới đã lập ra thuyết vạn hữu vô tự thập Phật nghĩa là chúng sanh đều giống như Phật dưới mười hình thức—All existence discriminated as ten forms of Buddha. The Hua-Yen school sees all things as pan-Buddha, but dicriminates them into ten forms: 1) Chúng Sanh Thân: All the living. 2) Quốc Độ Thân: Countries or places. 3) Nghiệp Thân: Karma. 4) Thanh Văn Thân: Sravakas. 5) Bích Chi Phật Thân: Pratyeka-buddhas. 6) Bồ Tát Thân: Bodhisatvas. 7) Như Lai Thân: Tathagatas. 8) Trí Thân: Jnanakaya. 9) Pháp Thân: Dharmakaya. 10) Hư Không Thân: Space, i.e. each is a corpus of the Buddha.

giải cứu

To deliver, rescue, save. ; To rescue—To save.

Giải Dưỡng Trai

(蟹養齋, Kani Yōsai, 1705-1778): Nho gia của Khi Môn Học Phái (崎門學派), sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; tên là Duy An (維安); tự Tử Định (子定); thông xưng là Tá Tả Vệ Môn (佐左衛門); biệt hiệu là Đông Minh (東溟); xuất thân An Nghệ (安芸, Aki). Ông theo học với Tam Trạch Thượng Trai (三宅尚齋), từng phục vụ cho Phiên Vĩ Trương (尾張藩, Owari-han), sau đó từ chức và đến trú tại Y Thế (伊勢, Ise), mở trường Tư Thục Khuyến Thiện Đường (勸善堂). Ông qua đời vào ngày 14 tháng 7 năm thứ 7 (1778) niên hiệu An Vĩnh (安永) tại Y Thế, hưởng thọ 74 tuổi. Trước tác của ông có Độc Thư Lộ Kính (讀書路徑), Trị Bang Yếu Chỉ (治邦要旨), Sự Quân Đề Cương (事君提綱), Khuyến Học (勸學), Võ Gia Tu Tri (武家須知), v.v.

giải giới

5600<一>解除修法時所結之界場。於律中,界有攝僧界、攝衣界、攝食界,在此三界中,各有羯磨作法,其作法準之結界法,然其次第則與結界相反,先小後大,即大界之中,先解攝衣界,後解大界。又大界之中,若有戒場,須先解戒場,後解大戒。此外,三界之中,攝僧、攝衣兩界各於其相內解之,攝食界則於相外解之。〔四分律卷三十五、十誦律卷二十三、五分律卷十八、四分律行事鈔資持記卷下一之一〕 <二>密教之行者於一座之修法結束時,解除結界之印明。結界時,每一真言誦三遍,然解界時唯誦一遍即可。所結之印明,其方向一一與結界時逆反。又於解界時,有投花之法,乃爲奉送本尊而投者。〔大日經持誦次第儀軌、金剛界念誦私記〕 ; Phép tu của Mật tông hay Chân Ngôn (Kết giới là thâu tóm pháp giới về một mối hay biểu thị của một pháp giới; trong khi giải giới là mở ra một trần hội ở pháp giới, là biểu thị của nhiều pháp giới. Giải hết từng ấn minh kết giới. Khi Kết giới thì từng chân ngôn phải tụng ba lần, nhưng khi giải giới thì chỉ tụng một lần. Khi giải giới thì dùng phép ném hoa để tiển vị bổn tôn, khi ném hoa thì ném về hướng bản thổ của chư Phật hay cung pháp giới. Chư Phật sẽ ngự trên các hoa đó)—To release or liberate the powers by magic words, in esoteric practice.

giải hoặc

To dispel doubts.

giải hành

5599<一>即智解與修行之並稱。指由見聞學習而知解教理,進而實踐躬行所知解之教理。了解佛道之真理(智解)與觀心修行之實踐行,乃是相因相資,稱爲解行相應、解行具足、開解立行等。解與行,譬若鳥之雙翼、車之兩輪,具有缺一不可之關係;亦即依解而起行,依行而實解。解與行皆爲學道之法,故又分別稱爲解學、行學。於解行相修之法中,又分:(一)解行俱圓之相修,係依一念三千之教,發起一念三千之解,而復依此解以爲一念三千之行。(二)解圓行漸之相修,係不堪發一念三千之解,即還修小乘之行,而入於實相之理。〔止觀輔行傳弘決卷五、漢光類聚卷一〕 <二>爲菩薩修行之階位名稱,即六種住中之解行住,略稱解行。 ; Tri giaiû và tu hành—To understand and do—Interpretation and conduct.

giải hành phát tâm

5599爲大乘起信論所說三種發心之一。謂於菩薩修行階位中之十行位乃至十迴向之位,解理行道者之發菩提心。蓋菩薩入住位之後,漸次積功,以第一阿僧祇劫將滿之故,於真如法中深解現前,隨順法性,修六波羅蜜行,稱爲解行住發心;相當於菩薩地持經卷九所說之解行住。起信論義記卷下末(大四四‧二七八上):「解行發心者,位在十迴向,兼取十行。十行位中能解法空,順行十度,行成純熟,發迴向心,入十向位,故云解行發心。」〔十地經論卷二、大乘義章卷九〕

giải hành địa

5599梵語 adhimukti-caryā-bhūmi。又作解行住、勝解行地。爲菩薩修行階位之一,七地之一,十二住之一。即依解而修行,未證真如之地前三賢菩薩之階位。亦即入於初地以前,由思惟力方便而習得一切善根之位。〔菩薩地持經卷三、成唯識論卷九〕(參閱「六種住」1301) ; Adhimukti-caryā-bhŪmi (S). ; Từ lý giải hay hiểu được mà tu hành—The stage of apprehending and following the teaching.

giải hòa

To reconcile—To conciliate—To make peace.

giải hạ

5600又作夏竟、夏滿、夏解。自印度以來,僧團於每年雨季時舉行夏安居;而於雨季停止後,安居亦結束,稱爲解夏,意指解除夏安居之制。解夏之日,根據舊律所載,謂七月十五日;新律則謂八月十五日。此日亦稱自恣日,即於此日,眾僧群集,自行發露於安居期間所犯之過。另據四分律卷四十三迦絺那衣犍度載,安居結束之日,應作自恣、解界、結界、受功德衣等四事。(參閱「安居」2398) ; The dismissing of the summer retreat. ; Giải Chế—Giải hạ an cư vào rằm tháng bảy hay rằm tháng tám (vào ngày nầy chư Tăng Ni thực hành phép Tự Tứ)—The dismissing of the summer retreat on the fifteenth day of the seventh month (or the fifteenth day of the eighth month).

giải hạ thảo

5600解夏之日,僧贈檀越之物。此日,諸比丘取生茆擬如來成道時之吉祥草,坐於此上而行解夏之法,故分贈此吉祥草,取其分享福分之意。釋氏要覽卷下(大五四‧三○四下):「今浙右僧,解夏日,以綵束苑(疑作茆)以遺檀越,謂之解夏草。今詳此草已爲五分法身座故,名爲吉祥草也。」

giải hạnh

Interpretation and conduct; to understand and do. ; Interpretation and conduct.

giải hạnh thân

Thân giải thoát mọi phiền trược để đạt tới Phật Quả—Bodies set free from all physical taint, thus attaining to Buddhahood.

giải hận

To put an end to hatred.

giải học

5605與「行學」相對稱。謂博爲智解,廣學內外典。善導之觀經疏卷四散善義(大三七‧二七二下):「若欲學解,從凡至聖,乃至佛果,一切無礙,皆得學也。」

giải hổ tích

5600指北齊僧稠禪師以錫杖解開兩虎之相鬥。據續高僧傳卷十六僧稠傳載,僧稠嘗詣懷州西王屋山修習禪定,聞兩虎交鬥,咆響震巖,乃以錫杖中解,各散而去。此外,隋代曇詢禪師亦有此事。續高僧傳卷十六曇詢傳(大五○‧五五九中):「又山行值二虎相鬥,累時不歇;詢乃執錫分之,以身爲翳,語云:『同居林藪,計無大乖,幸各分路。』虎低頭受命,便飲氣而散。」證道歌(大四八‧三九六上):「降龍鉢,解虎錫,兩鈷金環鳴歷歷。」

giải hội

Samvetti (skt)—Nhận ra hay nhận thức thấu đáo—To recognize or to comprehend.

giải khuyên

To console—To comfort.

giải không

5599<一>悟解諸法之空相。佛弟子中,以須菩提爲解空第一。阿羅漢具德經(大二‧八三一下):「復有聲聞常行布施而能不滅,解空第一,須菩提苾芻是。」〔增一阿含經卷三、注維摩詰經卷三〕 <二>指宋代僧可觀。江蘇華亭人。字宜翁,號竹庵。生於北宋元祐七年(1092)。法嗣有北峰宗印、智行守旻、神辯清一等人。著有楞伽說題集解補注四卷、山家義苑、竹庵草錄一卷。〔佛祖統紀卷十五、卷二十五、釋門正統卷七〕(參閱「可觀」1607) ; To apprehend, or interpret the immateriality of all things. ; Ngộ giải thấy không tướng của chư pháp (trong số đệ tử của Phật có ngài Tu Bồ Đề là bậc giải không đệ nhất)—To apprehend, or interprete the immateriality of all things.

giải kết

To untie, undo, loose (bonds etc.) ; To untie.

giải lý nội tâm

The analysts of personal exoerience.

Giải lực thứ năm

(Đệ ngũ giải lực), tức Tri chủng chủng giải trí lực, là trí lực thứ năm trong Mười trí lực của Phật, có thể rõ biết căn trí của tất cả chúng sanh và biết cách giáo hóa thích hợp.

giải minh

To explain clearly.

giải muộn

To relieve the sadness (tedium).

giải mạn

6221<一>即懈惰怠慢,意謂不熱衷於從事某項事物。又有懈怠憍慢之義。[1] <二>懈慢界之略稱。又稱懈慢國。即欲往生阿彌陀佛淨土之修行人,因懈慢而生處之國土。〔菩薩處胎經卷三〕(參閱「懈慢國」6222)

giải mạn biên địa

6222即懈慢界、邊地。為阿彌陀佛極樂淨土之方便化土,係疑惑阿彌陀佛之本願而雜修者所生之處。懈慢界為菩薩處胎經卷三所說,邊地為無量壽經卷下所說。據二經所載,懈慢界位於閻浮提西方十二億那由陀,為懈慢之人所生之處;邊地在極樂淨土之邊,生於邊地者,五百年間不得見佛、聞法。日本淨土真宗以二者同為一處,故稱懈慢邊地。(參閱「邊地」6707、「邊地胎生」6708)

giải mạn giới

Giải Mạn Quốc—Cõi nầy ở phía Tây Diêm Phù Đề, giữa đường đi đến Cực Lạc, chúng sanh trong cõi nầy nhiễm thói giải đãi và ngã mạn, không còn muốn tinh tấn để sinh vào cõi Cực Lạc nữa—A country that lies on the west of Jambudvipa, between this world and the Western Paradise, in which those who are reborn become slothful and proud, and have no desire to be reborn in the Paradise.

giải mạn quốc

6222懈慢之人所生之國。又稱懈慢界。據菩薩處胎經卷三載,懈慢國位於閻浮提洲之西方十二億那由陀,為至阿彌陀佛極樂國之中途,生於此國者,皆染著此土之快樂,而生懈怠憍慢之心,不更前進生於阿彌陀佛國,故稱懈慢國。懷感於釋淨土群疑論卷四中,以此說配於善導所說之專雜二修,謂執心牢固之專修者,能往生於極樂國土;執心不牢固之雜修者,則生於懈慢國。其意以懈慢國為化土,凡疑惑佛智之不可思議,雜修自力之善根而願往生阿彌陀佛之國土者,即生於此。 日本淨土真宗主張願海有真假,故佛土亦隨之而有真土、化土之別,認為懈慢界為化土,係依阿彌陀佛第十九願(修諸功德願)而修諸功德者所生之處。〔顯淨土教行證文類卷六、往生要集卷下末〕 ; See Giải Mạn Giới.

giải nghĩa

To interpret—To expound—To explain.

giải nghệ

To leave the profession.

giải nguy

To get someone out of a danger.

giải ngộ

Qua bộ óc nghiên cứu tư duy, hoát nhiên thông suốt nghĩa lý gọi là giải ngộ. ; Qua bộ óc nghiên cứu tư duy, hoát nhiên thông suốt nghĩa lý gọi là giải ngộ. ; Parijneya (skt). 1) Giải thích rõ ràng sự hiểu lầm: To clear a misunderstanding—To comprehend—To be ascertained. 2) Giải thoát và giác ngộ: Release and awareness. 3) Giải thoát bằng sự giác ngộ: The attaining of liberation through enlightenment.

giải ngộ chứng ngộ

5601由理解真理而得知者,稱爲解悟,又稱開悟;由實踐而體得真理者,稱爲證悟,又稱悟入。

giải ngộ và chứng ngộ

Awakening and Enlightenment—Phải có một sự phân biệt rõ ràng giữa giải ngộ (một sự tỉnh thức lớn—great awakening) và chứng ngộ hay đạt được đại giác tối thượng. Giải ngộ là đạt được tuệ giác tương đương với tuệ giác Phật qua Thiền định hay trì niệm. Giải ngộ có nghĩa là thấy “Tánh,” là hiểu được bản mặt thật của chư pháp, hay chơn lý. Tuy nhiên, chỉ sau khi thành Phật thì người ta mới nói là thật sự đạt được đại giác tối thượng—A clear distinction should be made between Awakening to the Way and attaining the way or attaining Supreme Enlightenment. To experience the Awakening is to achieve a level of insight and understanding equal to that of the Buddha through Zen meditation or Buddha recitation. Awakening is to see one's nature, to comprehend the true nature of things, or the Truth. However, only after becoming a Buddha can one be said to have attained Supreme Enlightenment or attained the Way.

giải nhất thiết chúng sanh ngôn ngữ

Sarva-ruta-kausalya (skt)—Thần thông quán triệt tất cả các thứ ngôn ngữ của chúng sanh—Supernatural power of interpreting all the languages of all beings.

giải nhất thiết chúng sinh ngôn ngữ

Sarva-ruta-kausalya (S). Supernatural power of interpreting all the languages of all beings.

giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn tam muội

Sarvaruta-kauśalya (S)Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.

giải nạn

To save s.o. đrom a danger. ; To deliver from a danger.

giải oan

To exculpate, exonerate s.o. from a charge, to clear s.o. of a crime. ; 1) Làm tỏ rõ sự buộc tội bất công: To clear of one's unjust charge. 2) Tên của một ngôi chùa trên núi Yên Tử. Núi Yên Tử còn gọi là Bạch Vân Sơn, cao trên 3.000 bộ Anh, chừng 7 dậm về phía tây bắc thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Bắc Việt Nam. Trên núi Yên Tử có nhiều chùa như chùa Cấm Thực, chùa Lâu Động, chùa Hoa Yên, và chùa Giải Oan. Có một giai thoại về chùa Giải Oan nằm bên cạn con suối trước kia có tên là Hồ Khê. Khi vua Trần Nhân Tông vào núi Yên Tử, nhiều cung nữ cũng đi theo ngài, nhà vua kêu họ quay về. Để tỏ lòng trung trinh, các cung nữ đã gieo mình xuống dòng suối. Đa số được cứu sống và dựng nhà bên phía ngoài chùa, còn số bị chết chìm vua cho lập đàn cầu siêu, nên từ đó chùa được dựng bên cạnh bờ suối cũng mang tên là chùa Giải Oan—Name of a temple, located on Mount Yên Tử. Mount yên Tử also called Bạch Vân Sơn, over 3,000 feet high, about 7 miles north-west of Uông Bí town, Quảng Ninh province, North Vietnam. In the area of Mount Yên Tử, there are many temples such as Cấm Thực, Lâu Động, Hoa Yên, and Giải Oan. There was a legend related to Giai Oan Temple which stands by Giai Oan Spring, whose old name was Hồ Khê. As King Trần Nhân Tông entered the mountain, many royal ladies followed him. The King asked them to come back. Instead, they threw themselves into the spring in order to show their loyalty. Most of them were rescued from death, and later settled outside the temple. The rest died from drowning, were celebrated a mass for peace of their souls at Giai Oan Temple by the spring.

giải phiền

See Giải muộn.

giải pháp

Solution.

giải phóng

To liberate—To affranchise—To emancipate—To free.

giải quyết

To solve—To resolve

giải quán quân

Championship.

giải sầu

See Giải Muộn.

giải tam hồng

5599明末清初臨濟宗僧。蘇州(江蘇)嘉定人,俗姓葛。號解三。自幼許願出家,十七歲從南翔(江蘇)白鶴寺之會心落髮,二十六歲受具足戒。歷訪福嚴、靈隱、靈巖等諸剎。康熙五年(1666)至北京放生池參謁大博行乾,後嗣其法。初於北京海會寺弘法,前後領七院,後奉勅住錫香山洪光寺。生卒年不詳。〔五燈全書卷九十三〕

Giải thoát

解脫; S: vimukti; P: vimutti; J: gedatsu;|Giải phóng ra khỏi Khổ bằng cách tri kiến nguyên nhân của khổ và tận diệt nó, tức là thực hiện Tứ diệu đế và đoạn diệt Ô nhiễm (s: āśrava). Giải thoát tức là thoát khỏi ảo tưởng và khổ, thoát khỏi sự tái sinh trong Luân hồi (s: saṃsāra) và đạt Niết-bàn (s: nirvāṇa). Danh từ Giải thoát được dùng đồng nghĩa với Giác ngộ, Ngộ.

giải thoát

5602梵語 vimokṣa(音譯作毘木叉、毘目叉)或 vimukti(音譯作毘木底)或 mukti,巴利語 vimutta 或 vimokkha 或 vimutti。又作木叉、木底。意謂解放,指由煩惱束縛中解放,而超脫迷苦之境地。以能超度迷之世界,故又稱度脫;以得解脫,故稱得脫。廣義言之,擺脫世俗任何束縛,於宗教精神上感到自由,均可用以稱之。如從三界束縛中獲得解脫,分別稱爲欲纏解脫、色纏解脫、無色纏解脫。由修習所斷煩惱之不同,可分爲見所斷煩惱解脫、修所斷煩惱解脫等。特殊而論,指斷絕生死原因,不再拘於業報輪迴,與涅槃、圓寂之含意相通。 佛教原以涅槃與解脫表示實踐道之終極境地,其後乃逐漸形成種種分類而加以考究。例如:有爲解脫(指阿羅漢|得解脫者|能明白了解心之作用,即勝解)與無爲解脫(涅槃),或性淨解脫(指眾生本具離煩惱之清淨本性)與障盡解脫(由於現實之煩惱污染本來之清淨,故今斷其煩惱而得解脫),或心解脫(指心離貪愛)與慧解脫(以智慧觀照,而遠離無明),或慧解脫(阿羅漢未至得滅盡定者)與俱解脫(阿羅漢至得滅盡定者),或時解脫與不時解脫等二解脫。此外,另有煩惱解脫、邪見解脫等十解脫。 由耳聞佛法而得解脫,特名耳爲「解脫耳」。解脫味,意指解脫之真味,由於解脫之境地乃平等無差別,故又稱一味。以小乘佛教而言,得解脫最速需經三生,故有「三生解脫」之說。同時,稱如來爲真解脫(真實之解脫),稱阿羅漢爲一分解脫。一分解脫非真實究竟之解脫,蓋如執著於得解脫者,則將不饒益他人,故亦稱爲「墮於解脫深坑者」。〔北本大般涅槃經卷五、顯揚聖教論卷十三、十住毘婆沙論卷十一、成唯識論述記卷一本〕 ; Vimukti (S), Mukti (S), Mutti (P), Mokkha (P), Mokṣa (S), Vimokṣa (S),Vimokkha (P), Vimutti (P),Vimutta (P), Gedatsu (J), Emancipation, LiberationGiác ngộ, Mộc xoa, Độ thoátThoát khỏi ràng buộc sanh tử của thế gianTất cả cảm thọ có thể ảnh hưởng sự khổ vui của thân tâm đều được giải tỏa mà đạt đến chỗ sanh tử tự do, chẳng bị thời gian không gian hạn chế. ; Mukti (S). Deliverance, liberation, setting free, emancipation. ; Phàm tất cả cảm thọ ảnh hưởng sự khổ vui của thân tâm đều được giải tỏa, mà đạt đến chỗ sanh tử tự do, chẳng bị thời gian không hạn chế, mới là chân giải thoát. ; Mukti or Vimutti (p)—Moksha (skt). (A) Giải thoát: To deliver—To emancipate—To emancipate from transmigration—To get free—To liberate—To get rid of—To release—To release and take off—To release from the round of birth and death—To set free—Setting free. (B) Sự giải thoát: Vimutti (p)—Vimukti (skt)—Deliverance—Emancipation—Liberation—Realization of liberation. (C) Nghĩa của giải thoát—The meanings of Moksha: 1) Giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, giải thoát khỏi mọi trở ngại của cuộc sống, những hệ lụy của dục vọng và tái sanh: To Deliverance from all the trammels of life, the bondage of the passion and reincarnation. 2) Giải thoát tối hậu, giải thoát vĩnh viễn, giải thoát khỏi sự tái sanh trong vòng luân hồi sanh tử: Final emancipation or liberation, eternal liberation, release from worldly existence or the cycle of birth and death. 3) Giải thoát là lìa bỏ mọi trói buộc để được tự tại, giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, cởi bỏ trói buộc của nghiệp hoặc, thoát ra khỏi những khổ đau phiền não của nhà lửa tam giới: Moksha means the escaping from bonds and the obtaining of freedom, freedom from transmigration, from karma, from illusion, from suffering of the burning house in the three realms (lokiya). 4) Giải thoát có nghĩa là Niết Bàn: Moksha denotes nirvana—See Niết Bàn in Vietnamese-English Section, and Nirvana in Sanksrit/Pali-Vietnamese Section. 5) Giải thoát là tên gọi khác của sự giải thoát đạt được qua thiền định: Moksha is another name for freedom obtained in dhyana-meditation—See Tam Giải Thoát, and Bát Giải Thoát Tam Muội. 6) Giải thoát là một trong ngũ phần pháp thân Phật: Moksha is one of the five characteristics of Buddha—See Ngũ Phần Pháp Thân Phật. 7) Trong Phật giáo, Phật không phải là người giải thoát cho chúng sanh, mà Ngài chỉ dạy họ cách tự giải thoát—In Buddhism, it is not the Buddha who delivers men, but he teaches them to deliver themselves, even as he delivered himself. (D) Phân Loại giải thoát—Categories of Moksha: a) Nhị chủng giải thoát—Two kinds of liberation: 1) Hữu vi giải thoát: Active or earthly deliverance to arhatship. 2) Vô vi giải thoát: Nirvana-deliverance. ** For more information, please see Nhị Giải Thoát. b) Tam Giải Thoát—Three kinds of liberation—See Tam Giải Thoát. c) Bát Giải Thoát Tam Muội: Eight forms of liberation—See Bát Giải Thoát Tam Muội.

giải thoát bát nhã ba la mật

Prajna-Paramita Emancipation—Theo Kinh Hoa Nghiêm—According to the Avatamsaka Sutra: • Thiện Tài Đồng Tử hỏi Diệu Nguyệt Trưởng Giả: “Làm sao để hiện tiền chứng đắc môn giải thoát Ba La Mật?”—Sudhana asked Sucandra: “How does one come to the Prajna-paramita emancipation face to face? How does one get this realization?” • Trưởng Giả Diệu Nguyệt đáp: “Một người hiện tiền thân chứng môn giải thoát nầy khi nào người ấy phát khởi tâm Bát Nhã Ba La Mật và cực kỳ tương thuận; rồi thì người ấy chứng nhập trong tất cả những gì mà mình thấy và hiểu.”—Sucandra answered: “A man comes to this emancipation face to face when his mind is awakened to Prajnaparamita and stands in a most intimate relationship to it; for then he attains self-realization in all that he perceives and understands.” • Thiện Tài Đồng Tử lại thưa: “Có phải do nghe những ngôn thuyết và chương cú về Bát Nhã Ba La Mật mà được hiện chứng hay không?”—Sudhana asked: “Does one attain self-realization by listening to the talks and discourses on Prajnaparamita?” • Diệu Nguyệt đáp: “Không phải. Bởi vì Bát Nhã Ba La Mật thấy suốt thể tánh chân thật của các pháp mà hiện chứng vậy.”—Sucandra replied: “That is not so. Because Prajnaparamita sees intimately into the truth and reality of all things.” • Thiện Tài lại thưa: “Há không phải do nghe mà có tư duy và do tư duy và biện luận mà được thấy Chân Như là gì? Và há đây không phải là tự chứng ngộ hay sao?”—Sudhana asked: Is it not that thinking comes from hearing and that by thinking and reasoning one comes to perceive what Suchness is? And is this not self-realization?” • Diệu Nguyệt đáp: “Không phải vậy. Không hề do nghe và tư duy mà được tự chứng ngộ. Nầy thiện nam tử, đối với nghĩa nầy ta phải lấy môt thí dụ, ngươi hãy lắng nghe! Thí dụ như trong một sa mạc mênh mông không có suối và giếng, vào mùa xuân hay mùa hạ khi trời nóng, có một người khách từ tây hướng về đông mà đi, gặp một người đàn ông từ phương đông đến, liền hỏi gã rằng 'tôi nay nóng và khát ghê gớm lắm; xin chỉ cho tôi nơi nào có suối trong và bóng cây mát mẻ để tôi có thể uống nước, tắm mát, nghỉ ngơi và tươi tỉnh lại?' Người đàn ông bèn chỉ dẫn cặn kẽ rẳng 'cứ tiếp tục đi về hướng đông, rồi sẽ có con đường chia làm hai nẻo, nẻo phải và nẻo trái. Bạn nên hãy theo nẻo bên phải và gắng sức mà đi tới chắc chắn bạn sẽ đến một nơi có suối trong và bóng mát.' Này thiện nam tử, bây giờ ngươi có nghĩ rằng người khách bị nóng và khát từ hướng tây đến kia, khi nghe nói đến suối mát và những bóng cây, liền tư duy về việc đi tới đó càng nhanh càng tốt, người ấy có thể trừ được cơn khát và được mát mẻ chăng?”—Sucandra said: “That is not so. Self-realization never comes from mere listening and thinking. O son of a good family, I will illustrate the matter by analogy. Listen! In a great desert there are no springs or wells; in the spring time or summer time when it is warm, a traveller comes from the west going eastward; he meets a man coming from the east and asks hm: '' am terribly thirsty, please tell mewhere I can find a spring and a cool refreshing shade where I may drink, bathe, rest, and get revived.' The man from the east gives the traveller, as desired, all the information in detail, saying: 'When you go further east the road divides itself into two, right and left. You take the right one, and going steadily further on you will surely come to a fine spring and a refreshing shade. Now, son of a good family, do you think that the thirsty traveller from the west, listening to the talk about the spring and the shady trees, and thinking of going to that place as quickly as possible, can be relieved of thirst and heat and get refreshed? • Thiện Tài đáp: “Dạ không; người ấy không thể làm thế được; bởi vì người ấy chỉ trừ được cơn nóng khát và được mát mẻ khi nào theo lời chỉ dẫn của kẻ kia mà đi ngay đến dòng suối rồi uống nước và tắm ở đó.”—Sudhana replied: “No, he cannot; because he is relieved of thirst and heat and gets refreshed only when, as directed by the other, he actually reaches the fountain and drinks of it and bathes in it." • Diệu Nguyệt nói thêm: “Này thiện nam tử, đối với Bồ Tát cũng vậy, không phải chỉ do nghe, tư duy và huệ giải mà có thể chứng nhập hết thảy pháp môn. Này thiện nam tử, sa mạc là chỉ cho sanh tử; người khách đi từ tây sang đông là chỉ cho các loài hữu tình; nóng bức là tất cả những sự tướng mê hoặc; khát tức là tham và ái ngã; người đàn ông từ hướng đông đến và biết rõ đường lối là Phật hay Bồ Tát, an trụ trong Nhất Thiết Trí, các ngài đã thâm nhập chân tánh của các pháp và thật nghĩa bình đẳng; giải trừ khát cháy và thoát khỏi nóng bức nhờ uống dòng suối mát là chỉ cho sự chứng ngộ chân lý bởi chính mình.”—Sucandra added: “Son of a good family, even so with the Bodhisattva. By merely listening to it, thinking of it, and intellectually understanding it, you will never come to the realization of any truth. Son of a good family, the desert means birth and death; the man from the west means all sentient beings; the heat means all forms of confusion; thirst is greed and lust; the man from the east who knows the way is the Buddha or the Bodhisattva who, abiding in all-knowledge has penetrated into the true nature of al things and the reality of sameness; to quench the thirst and to be relieved of the heat by drinking of the refreshing fountain means the realization of the truth by oneself. • Diệu Nguyệt tiếp: “Này thiện nam tử, cảnh giới tự chứng của các Thánh giả ấy không có sắc tướng, không có cấu tịnh, không có thủ xả, không có trược loạn; thanh tịnh tối thắng; tánh thường bất hoại; dù chư Phật xuất thế hay không xuất thế, ở nơi pháp giới tánh, thể thường nhất. Này thiện nam tử, Bồ Tát vì pháp nầy mà hành vô số cái khó hành và khi chứng được pháp thể nầy thì có thể làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh, khiến cho các loài chúng sanh rốt ráo an trụ trong pháp nầy. Này thiện nam tử, đó là pháp chân thật, không có tướng dị biệt, thực tế, thể của Nhất thiết trí, cảnh giới bất tư nghì, pháp giới bất nhị đó là môn giải thoát viên mãn.”—Sucandra added: “O son of a good family, the realm of self-realization where all the wise ones are living is free from materiality, fre from purities as well as from defilements, free from grasped and grasping, free from murky confusion; it is most excellently pure and in its nature indestructible; whether the Buddha appears on earth or not, it retains its eternal oneness in the Dharmadhatu. O son of a good family, the Bodhisattva because of this truth has disciplined himself in innumerable forms od austerities, and realizing this Reality within himself has been able to benefit all beings so that they find herein the ultimate abode of safety. O son of a good family, truth of self-realization is validity itself, something unique, reality-limit, the substance of all-knowledge, the inconceivable, non-dualistic Dharmadhatu, and the perfection of emancipation.” • Như vậy môn giải thoát Ba La Mật phải được chứng ngộ bằng kinh nghiệm cá biệt của mình; còn như chỉ nghe và học hỏi thôi thì chúng ta không cách gì thâm nhập vào giữa lòng chân tánh của thực tại được—Thus, to Prajnaparamita emancipation must be personally experienced by us, and that mere hearing about it, mere learning of it, does not help us to penetrate into the inner nature of Reality itself.

giải thoát bồ tát

Inexhaustible Intention Bodhisattva.

giải thoát chính mình

Self-salvation.

giải thoát chúng

Xem Giải thoát thân.

giải thoát chướng

5604梵語 vimukty-āvaraṇa。又作定障。「煩惱障」或「根本障」之對稱。二障之一。障礙聖者進入滅盡定,使不得俱解脫,故稱解脫障。其體爲不染污無知之一種。〔大毘婆沙論卷一五三、俱舍論卷二十五、成唯識論述記卷一本〕 ; Vimukti-āvaraṇa (S)Định chướng. ; Hindrances to deliverance.

giải thoát giới

The commandments accepted on leaving the world and becoming adisciple or a monk/nun. ; Giới của người xuất gia để trở thành Tăng sĩ—The commandments accepted on leaving the world and becoming a disciple or a monk.

giải thoát hương

5604五分法身香之一。指自心無所攀緣,不思善、不思惡,自在無礙。〔大藏法數卷三十三、教乘法數卷十八〕(參閱「五分香」1067)

giải thoát hải

Biển giải thoát—The ocean of liberation.

giải thoát khỏi gông cùm

To free men from its fitters.

giải thoát kiên cố

5604五五百年之一。即大方等大集經所說五堅固之第一。佛陀入滅後,有五期之五百年,一期各說一堅固,以示佛法之興廢。解脫堅固,謂佛陀入滅後第一之五百年間,以正法盛而證解脫者多。

giải thoát luận

Soteriology.

giải thoát là căn trần không dính mắc

Emancipation means no cohesion between sense organs and external objects.

giải thoát môn

5603得入解脫境界之門,即稱解脫門;乃指脫離三界之苦而令得悟之門。此外,空、無相、無願等三種禪定,爲通往涅槃之門戶,故亦稱爲解脫門。俱舍論卷二十八(大二九‧一四九下):「於中無漏者,名三解脫門,能與涅槃爲入門故。」大乘義章卷二(大四四‧四八九上):「涅槃果德,絕縛名脫;空、無相等,與脫爲門,名解脫門。」 ; Vimokkha-dvāra (S), Vimokkha-dvāra (P). ; The door of release, gate of deliverance. ; Vimokshamukha or Moksa-dvara (skt)—Emancipation-entrance—Gate of emancipation. (A) Nghĩa của cửa giải thoát—The meanings of the door of release—Cửa giải thoát, giai đoạn thiền quán làm vắng lặng khái niệm hay ao ước (không, vô tướng và vô nguyện)—The door of release—The stage of meditation characterized by vacuity and absence of perception or wishes—The gate of libertaion. (B) Phân loại giải thoát môn—Categories of gates of enlightenment used by the Buddha: 1) Trí môn: Cửa trí của Phật, đi thẳng vào tự mình giải thoát—Wisdom gate—Buddha-wisdom gate, which directs to the enlightenment of self. 2) Bi môn: Cửa Bi của Phật đi vào cứu độ chúng sanh—Pity gate—Buddha-pity gate, which directs to the salvation of others.

giải thoát ngay trong đời nầy

Tịnh Độ Tông cho rằng trong thời Mạt Pháp, nếu tu tập các pháp môn khác mà không có Tịnh Độ, rất khó mà đạt được giải thoát ngay trong đời nầy. Nếu sự giải thoát không được thực hiện ngay trong đời nầy, thì mê lộ sanh tử sẽ làm cho hạnh nguyện của chúng ta trở thành những tư tưởng trống rỗng. Phật tử thuần thành nên luôn cẩn trọng, không nên ca ngợi tông phái mình mà hạ thấp tông phái khác. Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ rằng tất cả chúng ta là Phật tử và cùng tu theo Phật, dù phương tiện có khác, nhưng chúng ta có cùng giáo pháp là Phật Pháp, và cùng cứu cánh là giác ngộ giải thoát và thành Phật—The Pure Land Sect believes that during this Dharma-Ending Age, it is difficult to attain enlightenment and emancipation in this very life if one practices other methods without following Pure Land at the same time. If emancipation is not achieved in this lifetime, one's crucial vows will become empty thoughts as one continues to be deluded on the path of Birth and Death. Devoted Buddhists should always be very cautious, not to praise one's school and downplay other schools. Devoted Buddhists should always remember that we all are Buddhists and we all practice the teachings of the Buddha, though with different means, we have the same teachings, the Buddha's Teachings; and the same goal, emancipation and becoming Buddha.

giải thoát nguyệt bồ tát

Moon of Liberation Bodhisattva.

giải thoát nhĩ

5603以耳聞法,遂得解脫,即耳爲解脫之門,故稱解脫耳。蓋此土眾生特以耳根爲解脫門。思益梵天所問經卷二(大一五‧四一中):「耳、鼻、舌、身、意是解脫門。」妙法蓮華經玄義卷六下(大三三‧七五五中):「此土耳根利,故偏用聲塵。」 ; Tai chỉ còn nghe chân lý dẫn tới Niết bàn—The ear of deliverance—The ear for hearing the truth which leads to nirvana (the ear freed, hearing the truth is the entrance to nirvana).

giải thoát phong

Gió giải thoát khỏi lửa khổ đau trần thế—The wind of liberation from the fires of worldly suffering.

giải thoát phục

5603又作解脫幢相衣、幢相衣,解脫幢衣。爲袈裟之別名;因袈裟乃求出離解脫者之服,故稱解脫服。法苑珠林卷二十二(大五三‧四四八中):「大哉解脫服,無相福田衣;披奉如戒行,廣度諸眾生。」 ; Quần áo của sự giải thoát—The clothing of liberation.

giải thoát quan

Nón giải thoát—The crown of release.

giải thoát quân

Vimuktisena (S).

giải thoát rốt ráo

The eventual realization of liberation.

giải thoát sanh tử

Release from the bonds of births and deaths—Nirvana.

giải thoát thanh tịnh pháp

Pháp thanh tịnh dẫn đến Niết Bàn—The pure dharma which leads to nirvana.

giải thoát thanh tịnh pháp điện

Thanh tịnh pháp tòa của Niết Bàn, nơi trụ của Pháp thân Phật—The pure dharma-court of nirvana, the sphere of nirvana, the abode of the dharmakaya.

giải thoát thiên

5602指玄奘三藏。玄奘在印度時,彼土之小乘眾尊稱其爲解脫天。慈恩寺三藏法師傳卷五(大五○‧二四八上):「諸眾歡喜,爲法師競立美名,大乘眾號曰摩訶耶那提婆,此云大乘天;小乘眾號曰木叉提婆,此云解脫天。」 ; Xem Mộc xoa đề bà. ; Moksadeva (skt)—See Mộc Xoa Đề Bà and Pratimoksa.

giải thoát thâm khanh

5604執著於解脫而不能圓滿自利利他之行,譬如墮於深坑,故稱解脫深坑。大方等大集經卷十三不可說菩薩品(大一三‧八八上):「譬如有人墜墮深坑,是人不能自利利他,聲聞、緣覺亦復如是,墮解脫坑,不能自利及以利他。」

giải thoát thân

5603梵語 vimukti-skandha。五分法身之一,亦爲二佛身之一。又稱解脫蘊、解脫眾、解脫品。其義有二:(一)指佛身,佛身已解脫煩惱障,故稱解脫身。成唯識論述記卷十末(大四三‧六○三中):「言法身者,非三身中之法身也。佛得二名,離煩惱故,名解脫身;離所知障,具無邊德,名爲法身。」(二)指與已盡無學之正見相應之勝解,乃無學聖者所成就的功德之一。〔雜阿含經卷四十七、菩薩瓔珞本業經卷上、大乘義章卷二十〕 ; Vimukti-skandha (S), Vimuti-kkhanda (P)Giải thoát uẩn, Giải thoát chướngTrong ngũ phần pháp thân. ; 1) Thân giải thoát: The body of liberation. 2) Thân Phật giải thoát mọi chướng ngại phiền não: The body of Buddha released from klesa, i.e. passion, affliction. 3) Một trong ngũ phần Pháp Thân Phật: One of the five attributes of the dharmakaya or spiritual body of Tathagata—See Ngũ Phần Pháp Thân Phật.

giải thoát thực

5604出世五食、九食之一。出家行人由解脫惑業之繫縛,增長一切菩提善根,資益慧命,猶如世間之食資養諸根,故稱解脫爲食。(參閱「九食」143、「五食」1125)

giải thoát tri kiến

The knowledge and experience of nirvàna. ; The knowledge and experience of nirvana.

giải thoát tri kiến thân

5603五分法身之一。解脫知見爲如來法身之一分,故稱解脫知見身。又作解脫所見身、解脫知見蘊、解脫知見眾、解脫知見品。〔俱舍論卷一、佛地經論卷四、大乘義章卷二十本〕 ; Vimikti-jāna-darśana-skandha (S)Trong ngũ phần pháp thân.

giải thoát tràng tướng y

5605即袈裟。又作解脫幢相袈裟。幢,佛塔之標幟。袈裟爲出離解脫之標幟,故稱解脫幢相衣。蓋求解脫之人,身著袈裟,而不爲邪所傾動。地藏十輪經卷四(大一三‧七四二下):「被殑伽沙佛解脫幢相衣,於此起惡心,定墮無間獄。」心地觀經卷五(大三‧三一四上):「袈裟即人天寶幢之相。」釋氏要覽卷上(大五四‧二六八中):「又名幢相,謂不爲邪所傾故。」

giải thoát tàng tướng y

See Cà Sa.

giải thoát tướng

Tướng giải thoát, một trong tam tướng giải thoát—The mark or condition of liberation—Release from the idea of transmigration, one of the three forms or positions. ** For more information, please see Tam Tướng.

giải thoát tạng

5605指遠離一切繫縛而得自在解脫之人。千手千眼大悲心經(大二○‧一○九中):「當知其人是解脫藏,天魔、外道不能稽留故。」

giải thoát uẩn

Xem Giải thoát thân.

giải thoát vị

5603梵語 vimukti-rasa。出世法三味之一。即涅槃之妙味。大智度論卷一○○(大二五‧七五六中):「佛法皆是一種一味,所謂苦盡解脫味。」勝鬘經(大一二‧二二○中):「涅槃一味等味,謂解脫味。」法華經藥草喻品(大九‧二○上):「爲大眾說,甘露淨法,其法一味,解脫涅槃。」〔南本大般涅槃經卷五、大日經卷一〕 ; Vimukti-rasa (S). ; The flavour of release, i.e. nirvàna. ; Hương vị giải thoát hay Niết Bàn—The flavour of liberation (release), or nirvana.

giải thoát xứ

See Bát Giải Thoát Tam Muội.

giải thoát y

The garment of liberation, the robe. ; Giải Thoát Tàng Tướng Y—Cà Sa—The garment of liberation, the robe—See Cà Sa.

Giải thoát đạo

xem Tứ đạo thánh nhân.

giải thoát đạo

5604梵語 vimukti-mārga。爲四道之一。乃於無間道斷惑之後,生出一念之正智,以此正智證悟真理之位。此一正智,乃解脫迷惑之智,故稱解脫道。無間道則爲煩惱正行斷滅之位,爲解脫道之前位。解脫道、無間道,再加上加行道、勝進道,稱爲四道。〔大毘婆沙論卷六十四、俱舍論卷二十三、卷二十五〕 ; Vimukti-mārga (S). ; Moksa-marga (skt). 1) Con đường giải thoát khỏi mọi khổ đau phiền não bằng cách chứng ngộ chân lý: The way of release (the way or path of liberation from) all sufferings by realization of truth. 2) Đạo Phật, đạo xuất ly giải thoát: The way or doctrine of liberation (emancipation—Release)—Buddhism.

giải thoát đạo luận

5604梵名 Vimokṣamārga-śāstra。凡十二卷。阿羅漢優波底沙造,南朝梁代僧伽婆羅譯。收於大正藏第三十二冊。本書內容係依坐禪人解脫之階次分別解釋戒、定、慧等解脫法門。共有十二品,即:因緣品、分別戒品、頭陀品、分別定品、覓善知識品、分別行品、分別行處品、行門品、五通品、分別慧品、五方便品、分別諦品。第一品至第三品談戒,敘述三學、八正道、破三十四法障礙道、八行四觀、十三頭陀等僧人修行之戒律與途徑;第四品至第九品談定,敘述四禪及十不淨想、十念、十一切入、四無量心、四大食、不淨想等三十八行處之種種修定方法;第十品至第十二品談慧,闡說四諦、五陰、十二入、十二因緣、十八界等佛教教義。此書被認爲是覺音撰清淨道論之重要理論依據。據日本學者長井真琴之研究,本書與巴利文之清淨道論(Visuddhimagga)類同,然清淨道論所舉之多數譬喻,本書則闕如。〔法經錄卷五、開元釋教錄卷六、根本佛典の研究(長井真琴)〕 ; Vimokṣa-mārga śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.

giải thuyết

To expound—To explain—To interpret.

giải thâm mật (kinh)

Sandhi-nirmocana-sùtra (S). Scripture Unlocking the Mysteries.

Giải thâm mật giải thoát kinh 深密解脱經

[ja] シンミツゲダツキョウ Shinmitsu gedatsukyō ||| Shenmi jietuo jing; Bodhiruci's 菩提流支 translation of the Saṃdhinirmocana-sūtra; 5 fasc., T 675.16.668-687. See Jieshenmi jing 解深密經. => (c: Shenmi jietuo jing) Bồ-đề-lưu-chi dịch từ Saṃdhinirmocana-sūtra; gồm 5 quyển. Xem Giải thâm mật kinh (c: Jieshenmi jing 解深密經).

Giải thâm mật kinh

解深密經; S: saṃdhinirmocana-sūtra; dịch theo âm Hán Việt là San-địa niết-mô-chiết-na tu-đa-la;|Một bộ kinh Ðại thừa. Cùng với kinh Nhập Lăng-già, Giải thâm mật là bộ kinh căn bản của Duy thức tông, nói về A-lại-da thức (ālaya-vijñāna), thuyết Tam tính (s: tri-svabhāva) của hiện hữu theo Duy thức học (Pháp tướng tông) v.v…|Kinh này bao gồm tám phẩm. Phẩm thứ nhất là phẩm mở đầu, nói về thời điểm, nguyên do Phật thuyết kinh này. Phẩm thứ hai nói về sắc thái của chân lí tuyệt đối (thắng nghĩa đế tướng), về lí Bất nhị và tính siêu việt của Tâm. Phẩm 3-5 nói về Tâm ý, Thức tướng, về Tự tính và Vô tự tính tướng, nói bao gồm là Tâm chính là cảnh sở quán. Phẩm 6-7 nói rằng Tâm chính là hạnh năng quán và phẩm 8 nói về Phật sự, quả sở đắc.|Kinh này có nhiều bản Hán dịch. Bản dịch đầu tiên được Cầu-na Bạt-đà-la (s: guṇabhadra) hoàn tất năm 443 (hoặc 453) – chỉ có hai phẩm 7 và 8 được dịch – dưới tên Tương tục giải thoát liễu nghĩa kinh. Năm 515, Bồ-đề Lưu-chi (s: bodhiruci) dịch trọn bộ dưới tên Thâm mật giải thoát kinh, được gọi là Nguỵ dịch. Năm 561, Chân Ðế (s: paramārtha) dịch phẩm một. Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang dịch trọn bộ 647 dưới tên Giải thâm mật kinh, bản này được gọi là Ðường dịch.

giải thâm mật kinh

5601梵名 Saṃdhinirmocana-sūtra。凡五卷。略稱深密經。唐朝玄奘譯。收於大正藏第十六冊。同本異譯尚有南朝陳代真諦所譯之佛說解節經(一卷)、北魏菩提流支所譯之深密解脫經(五卷),西藏亦有譯本。別生經有劉宋求那跋陀羅之相續解脫地波羅蜜了義經一卷(即玄奘譯本之第七品)、相續解脫如來所作隨順處了義經一卷(即玄奘譯本之第八品)、陳代真諦之解節經一卷(即玄奘譯本之第二品)。 本經屬中期大乘經典,係法相宗之根本典籍。其內容分爲八品。(一)序品,敘述佛陀於十八圓滿受用土,現出二十一種功德成就受用身時,無量大聲聞眾與大菩薩眾集會之情景。(二)勝義諦相品,說明勝義諦真如乃是離名言之有無二相,超越尋思所行,遠離諸法之一異相,而遍於一味相。(三)心意識相品,敘說阿陀那識、阿賴耶識、一切種子心識、心;並說明與六識之俱轉。(四)一切法相品,敘說遍計所執性、依他起性、圓成實性等三性。(五)無自性相品,闡說相無性、生無性、勝義無性等三種無自性與三時教。(六) 分別瑜伽品,詳說止觀行,說明識之所緣僅是唯識之所現。(七) 地波羅蜜多品,述說十地及十波羅蜜多行。(八) 如來成所作事品,說明如來法身相及其化身作業。 本經係瑜伽行派根本經典之一,除序品外,其餘七品均爲瑜伽師地論卷七十五至七十八所引收,此外攝大乘論、成唯識論亦引用之;對後世之影響甚大。本經之註疏較著名者有解節經疏(真諦)、解深密經疏十卷(圓測)、解深密經疏十一卷(令因)、解深密經疏三卷(元曉),然其中僅有圓測疏現存。〔梁高僧傳卷三、歷代三寶紀卷十、出三藏記集卷二、開元釋教目錄卷五至卷八〕 ; Saṃdhinirmocana-sŪtra (S), Gijimnikkyo (J)Tên một bộ kinh. ; Sandhi-Nirmocana-Sutra (skt)—Giáo điển chính của Pháp Tướng Tông, được ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ vào khoảng thế kỷ thứ năm sau Tây Lịch—The chief text of the Dharmalaksana school, translated into Chinese by Hsuan-Tsang around the fifth century A.D.

giải thâm mật kinh sớ

5601凡十卷。新羅僧圓測(613~695)撰。收於卍續藏第三十四、三十五冊。本書爲解深密經(梵 Saṃdhinirmocana-sūtra,玄奘譯)諸註疏中唯一現存者。卷首敘述解深密經之概論,其後分爲四門。 第一教興題目,敘述解深密經思想興起之理由,亦即經題之說明。第二辨經宗體,敘述本經之思想內容(所詮之宗旨)及其表現方法(能詮之教體)。第三顯所依爲,說明本經所根據之立場:於二藏之中,本經係根據菩薩藏;於三藏之中,則根據阿毘達磨藏;於十二部經之中,根據論議經;於五教門中,則根據觀行門。第四依文正釋,係依照經文一一加以註釋,佔本書篇幅大部分。本書原爲中文,曾由法上譯成藏文(收於影印北京版西藏大藏經第一○六冊),其後中文本原典部分欠缺,乃由日人稻葉正就譯自藏文本,而使之還原。〔圓測解深密經疏の散逸部分の研究(稻葉正就)〕

giải thích

5605指解說、釋明經典之文義。如顯揚聖教論卷十三所說,應以六種相應,解釋一切佛經(大三一‧五四四下):「一、由遍知諸法故,二、由捨惡行大小惑故,三、由受善行故,四、由智遍知通達病等行故,五、由彼果故,六、由自他受彼果故。由如是六相及由如前建立諸相應,善解釋一切佛經。」我國註釋家註解經典時,大多初敘經文大意,次釋經文,稱爲入文解釋。此外,天台宗釋經文時,每以因緣、約教、本迹、觀心等四種釋義;三論宗釋宗義時,以隨名、就因緣、顯道、無方等四種釋義。日本方面,真言宗明宗義時,以淺略、深祕、祕中深祕、祕祕中深祕等四種解釋;日蓮宗說宗旨,以文上、文底等二種解釋。以上皆爲各宗獨特之解釋法。〔金剛仙論卷一、十住毘婆沙論卷一、遺教經論、勝思惟梵天所問經論卷四〕 ; To interpret—To explain

giải thích sai lầm

Misinterpretations.

giải thể

To dissolve.

giải tri kiến

A Buddha's understanding of release, or nirvàna, the fifth of ngũ phần pháp thân. ; Giải thoát và giải thoát tri kiến, phần thứ năm trong ngũ phần pháp thân của Như Lai: A Buddha's understanding, or interpreted as release, or nirvana, the fifth of the five attributes of the dharmakaya or spiritual body of Tathagata. ** For more information, please see Ngũ Phần Pháp Thân Phật.

giải trí

To amuse—To divert—To relax.

giải trừ

To annul—To emancipate.

giải tín

5600非如實信仰教法,而賴義理之智解與教法之分析所得之信念,稱作解信。反之,全憑信仰、信心而入信者,稱作仰信。

giải viện

Kho thóc lúa trong tự viện—A monastery granary.

giải viện chủ

6219請參閱 指導論 [1]禪林中,主管寺院之會計、接待等事務之職稱。廨院,即禪林行辦此等事務之處所。〔禪苑清規卷四磨頭園頭莊主廨院主條、禪林象器箋職位門〕 ; Vị Tăng trông coi kho thóc lúa trong tự viện—The head of the granary in a monastery.

giải ách

To loose s.o. from his bonds; to relieve distress.

giải đoán

To interpret.

giải đáp

To reply—To answer.

giải đãi

6221梵語 kausīdya,巴利語 kusīta。又作怠。心所之名。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。為「勤」之對稱。即指懶惰之狀態。除意謂不積極修善行之精神作用外,並有積極行惡之含義。成唯識論卷六(大三一‧三四中):「云何懈怠?於善惡品修斷事中,懶惰為性,能障精進,增染為業。謂懈怠者滋長染,故於諸染事而策勤者,亦名懈怠。」 據菩薩本行經卷上載,懈怠為眾行之累,居家而懈怠者,則衣食匱乏,產業不舉;出家而懈怠者,則不能出離生死。俱舍宗視懈怠為遍通於一切污心(不善心與有覆無記心)所起心所(即大煩惱地法)之一;唯識宗則以此為二十隨煩惱之一。二宗俱以懈怠有其別體,為勤(即精進)所對治。〔俱舍論卷四、阿毘達磨順正理論卷十一、成唯識論卷六、俱舍論光記卷四、成唯識論述記卷六下、釋氏要覽卷中〕 ; Kausīdya (S), Kusita (P), Laziness Không hăng hái thực hành thiện pháp. Một trong 6 Đại tuỳ phiền não địa pháp. Xem Uất đà ca la la. ; Kausidya (S). Indolence. ; See Giải (4).

giải đãi canh giả kinh

6221全一卷。全名佛說懈怠耕者經。南朝劉宋惠簡譯。收於大正藏第十七冊。記載佛對耕者說懈怠不勤力之過失,耕者因而悔過,得不退轉。

giải đãi tặc

6221懈怠,即於斷惡修善之事皆不勤力。以懈怠能賊害修道之心,故稱懈怠賊。大智度論卷十五(大二五‧一七三中):「一切諸賊中,無過懈怠賊。」 ; Tên giặc lười biếng làm trì trệ việc tiến tu—The robber indolence—The robber of the religious progress.

Giải đãi 懈怠

[ja] ケダイ kedai ||| (Skt. kauśīdya; Tib. le lo). Laziness, negligence, indolence, idleness. A mental action of not exhausting all of one's energy in the effort of cutting off evil and cultivating goodness. One of the six great defilements as listed in the Abhidharmakośa-bhāsya. One of the twenty secondary defilements suifannao 隨煩惱 in the doctrine of the Yogācāra 瑜伽行派 school.〔成唯識論T 1585.31.33b〕 => (s: kauśīdya; t: le lo). Sự lười biếng, tính lơ đễnh, sự biếng nhác, sự lười nhác. Một tâm hành không hết sức tinh tấn diệt trừ việc ác, làm tăng trưởng việc thiện. Là một trong 6 đại địa phiền não pháp theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận. Là một trong 20 tuỳ phiền não theo giáo lý Du-già hành tông.

giải độc

To detoxicate—To be antidotal.

giảm

1) Giảm thiểu: To deminish—To decrease—To reduce. 2) Giản lược: To abbreviate.

giảm bớt

To relieve—To lessen—To diminish—To reduce—To decrease—To subside.

giảm chấp

5061「增執」之對稱。即妄執諸法為空無之見解。蓋若自佛教中道之理觀之,凡主張諸法為實有者,即稱為增執,此乃因此類偏執多由於妄自增益諸法自身原本所具之意義價值,故視諸法之存在為絕對者、實有者;反之,由於妄自減損諸法自身原本所具之意義價值,則易陷入「偏空」之執著,故稱減執。(參閱「二執」210)

giảm duyên giảm hành

5061指聲聞之人於見道以前之中忍位,次第減所緣之觀境與能緣之行相,而觀四諦之理。小乘修道階位上,忍位共分上、中、下三個階段,在中忍位以十六行相觀四諦,依此次第縮觀之觀法,稱為減緣減行。緣,為所緣之義,指觀之對境,即謂四諦。三界分為上(色界、無色界)、下(欲界)兩界,於上下兩界中各觀四諦,合為八諦,即八緣。行,為行相之義,即觀四諦之狀態;四諦各具有四行相,故共計有十六行相。即:在苦諦有非常、苦、空、非我等四行相;集諦有因、集、生、緣等四行相;滅諦有滅、靜、妙,離等四行相;道諦有道、如、行、出等四行相。上下八諦共為三十二行相。 下忍位與其前之煖、頂二位相同,須修上下八諦三十二行相,至中忍位始用縮觀法,漸減漸略,直至僅留一行二剎那觀,稱為中忍滿。中忍位以前,觀猶未成熟,故不能作縮觀;中忍位以後之上忍位、世第一法,皆以一行一剎那觀而無間入於正道,以唯為一剎那,故無從修減略之法。故縮觀法唯有中忍位適用。 在中忍位所以要減緣減行,即將作趣入見道之準備(方便加行),故須漸次縮小觀之範圍,以使觀智猛利,而生起無漏真智,直達見道之階位。其減略之順序,第一周先以非常、苦、空、非我四行相觀欲界之苦諦,復以此四行相觀上界之苦諦;其次以因、集、生、緣四行相觀欲界之集諦,復以此四行相觀上界之集諦。如是觀欲界之滅諦、上界之滅諦,乃至以道、如、行三行相觀上界之道諦,至此,減略「出」之一行相,即為減行,為第一周。 從第二周以下,同樣以觀欲界之苦諦為始,至最後以道、如二行相觀上界之道諦,再減「行」之一行相。如是漸次減一行相,至第四周又從欲界苦諦開始、再漸次觀至上界道諦時,減略「道」之行相。至此上界道諦下之觀行皆已減除,故稱減緣。在減緣時,原亦有減行,但以攝於減緣中,故不稱減行。 如是依序而觀,於第四、八、十二、十六、二十、二十四、二十八等七周減緣、而於其他之二十四周減行,此謂七周減緣、二十四周減行。至第三十一周復可減三十二行相中之三十一行相,而僅存有欲界苦諦下之「非常」一行相。換言之,第三十一周只觀欲界苦諦之「非常」行相,其後則重新觀欲界苦諦下之「非常」一行相,而至中忍滿位。即於第三十一周,僅留「非常」一行相不減。如苦法智忍、苦法智,以審慮與決定的二剎那之心,作「非常」之行相而觀欲界之苦諦,稱為中忍滿。亦即中忍之位係至一行二剎那而滿,自此開始,無間生起善根,僅以一剎那之心,觀欲界之「苦」行相而入於上忍位,又於此無間之剎那中,觀欲界之「苦」行相,圓滿忍位而入於世第一法之位,由是更證成苦法忍、苦法智之位。是知此上忍與世第一法、苦法忍、苦法智等四位,皆是同一所緣且同一行相,亦即僅留「苦」之行相。然大乘義章卷十一、俱舍論頌疏卷二十三、法華玄義釋籤卷三上等諸書以「二行二剎那」之心來觀欲界之「苦」而稱之為中忍滿。於此,古來說法紛紜,或以留「非常」一項者為二行二剎那,而留其餘三行相中之任一行相者為一行二剎那;或謂正觀、減滿之故,故稱二行;或謂就「習修」與「得修」二者而稱二行。要之,一行二剎那之說,在大毘婆沙論以後,即為小乘之定說,而所謂二行二剎那則不免誤謬,其「二行」一詞,恐係「一行」之誤寫,後人不察,妄設會釋,久之,其說乃益加紛亂。〔阿毘曇毘婆沙論卷三、大毘婆沙論卷五、俱舍論卷二十三、阿毘達磨順正理論卷六十一、顯宗論卷三十、法華玄義卷三、俱舍論光記卷二十三〕

giảm hình

See Giảm khinh.

giảm khinh

To extenuate an offence—To attenuate.

giảm kiếp

5061「增劫」之對稱。即人壽每百年減一歲,由八萬歲減至十歲所需之時間。佛教之世界觀,認為以人間世界為中心之宇宙有成、住、壞、空四大劫,各大劫又由二十中劫所成。依小乘之說,住劫二十中劫之第一劫中,以人積集惡業之故,人壽每百年減一歲,由八萬歲減至十歲,稱為減劫。其後十八劫之各劫中,人壽由十歲增至八萬歲,復由八萬歲減至十歲,此時期稱為增減劫。第二十劫中,人壽再由十歲增至八萬歲,稱為增劫。大乘則認為二十中劫各有增減,即以中劫各為唯一之增減劫。〔大毘婆沙論卷一三五、俱舍論卷十二、法苑珠林卷一〕(參閱「劫」2811) ; Trong giai đoạn giảm kiếp, sanh mạng giảm dần, ngược lại với tăng kiếp sinh mạng tăng dần. Cả hai làm thành 20 kiếp, 10 giảm, 10 tăng—The decreasing kalpas in which the period of life is gradually reduced, in contrast with the increasing kalpas (tăng kiếp). Together they form twenty kalpas, ten decreasing and ten increasing.

giảm phí

Cắt giảm chi phí cá nhân, để dùng vào việc bố thí—To cut down one's personal expenditure for the sake of charity.

giảm phạt

To mitigate a penalty.

giảm sức

To diminish in strength.

giảm thiểu

To lessen—To diminish—To decrease—To reduce.

giảm thuỷ dụ kinh

6842全一卷。譯於西晉(265~316),譯者佚名。收於大正藏第一冊。內容敘述佛陀為諸比丘宣說水喻七事,舉人沒於水;或從水中出,復還沒於水;或從水中出,而住於岸,乃至達彼岸等,以比喻人由溺於罪惡之狀態而至證悟之七個階段。此經計有四種譯本,以收於中阿含經中之水喻經為最詳細,其他三本則大同小異。

giảm thọ

To shorten one's life.

giảm tội

See Giảm Phạt.

giản

1) Lựa chọn—To pick—To choose—To select. 2) Xem xét: To examine. 3) Thẻ (thường làm bằng trúc hay tre): A tablet (usually made of bamboo).

giản biệt

6587<一>簡擇差別之意。又作簡異、別異、分異。略稱簡。即簡擇諸法之同異,以明其差別。俱舍論卷一(大二九‧六上):「此為眼等名所簡別,雖標總稱,而即別名。」〔成唯識論卷九、無量壽經義疏卷上〕 <二>因明用語。又作簡言。因明對論中,為避免論法上之過失,於宗(命題)、因(理由)、喻(譬喻)之上冠以各種簡別之語,稱為簡別。(參閱「簡言」6587) ; Lựa chọn hay phân biệt (lựa chọn và phân biệt sự giống và khác nhau của các pháp để làm sáng tỏ sự khác biệt của chúng)—To select or to differentiate.

Giản biệt 簡別

[ja] ケンベツ kenbetsu ||| To discriminate, differentiate, analyze. => Nhận rõ sự khác nhau; phân biệt; phân tích.

giản dị hóa

To simplify.

giản ngôn

6587因明用語。即簡別之言。又作簡別、簡別語。即因明對論中,為避免論法上之過失,於宗(命題)、因(理由)、喻(譬喻)上所冠之自限語。可大別為七種,即:真故、真性、汝執(汝許)、自許、我故、極成、除餘。其中,真故、真性二語,多用於共比量,間亦用於自比量或他比量,用此二語可免世間相違之過,亦可離自語相違、自教相違、現量相違等過失;汝執一語,用於他比量;自許、我故二語,用於自比量;極成一語,用於共比量,由是能顯示自、他、共之差別,得免不極成之過失;除餘一語,三比量俱用,故得免部分之自語相違與自教相違等過失。 因明入正理論疏卷中末(大四四‧一二二中):「宗因不極,須置簡言,不簡立以為宗,所別便成不極;說因依立,即成因過。」同疏卷中本(大四四‧一一五中):「凡因明法,所能立中若有簡別,便無過失。若自比量,以許言簡,顯自許之,無他隨一等過。若他比量,汝執等言簡,無違宗等失。若共比量等,以勝義言簡,無違世間自教等失。隨其所應,各有標簡。」〔因明論疏明燈抄卷三末、因明入正理論疏瑞源記卷四〕

Giản ngôn 簡言

[ja] ケンゴン kengon ||| Also簡別言. To delimit, clarify, select, for the sake of clearing away error in a rational argument. A parameter for an argument => Còn gọi là Giản biệt ngôn 簡別言. Phân định rõ; làm cho sáng sủa, dễ hiểu; chọn lọc; vì mục đích điều chỉnh sai lầm trong cuộc tranh cãi. .

giản sư

Chọn lựa đạo sư (A Xà Lê). Vị sư được lựa chọn nhưng không đủ khả năng, giới đức và đạo hạnh khiến người đi vào tà đạo (vì thế chọn thầy phải chọn người xứng đáng)—One chosen to be a teacher; but not yet fit for a full appointment.

giản tiện

Easy—Simple and practical.

giản trạch

6587即選擇。指依智慧力作正確之判斷,以捨偽取真。「簡」與「擇」,均為選擇、分別之意。以智慧來簡擇一切諸法之力,即稱為擇力。又由簡擇力而得滅諦涅槃,即稱為擇滅。此外,為師者從眾弟子中選擇、分別何人堪受教法、何人不堪受教法,則稱為簡器。器,即根器、根機之意。〔雜阿含經卷二十八、俱舍論卷一〕 ; Chọn lựa—To choose—To select.

Giản trạch 揀擇

[ja] ケンジャク kenjaku ||| (1) To investigate, analyze, research (pravicaya). (2) To select, distinguish, choose. (3) To discriminate, divide, separate. => 1. Nghiên cứu, phân tích, khảo cứu (s: pravicaya). 2. Tuyển chọn, phân biệt, chọn lựa. 3. Phân biệt sự khác nhau, chia ra, phân loại.

Giản trạch 簡擇

[ja] ケンチャク kenchaku ||| (1) To select, choose, distinguish--especially to distinguish between the correct and the mistaken (pravicaya).〔瑜伽論T 1579.30.291c06〕 (2) To research, study, investigate, check into. => 1. Tuyển chọn, chọn lựa; phân biệt- đặc biệt là phân biệt giữa đúng và sai (s: pravicaya).. 2. Nghiên cứu; tìm tòi, điều tra; kiểm soát.

giản yếu

Simple and essential.

Giản 揀

[ja] ケン kan, ken ||| (1) To choose, select, pick up. [Buddhism] (2) To discriminate, distinguish. (3) To select, choose, taste. (4) To critique or explicate. => 1. Chọn, lựa, chọn lấy. [Phật học] 2. Phân biệt, nhận định sự khác nhau. 3. Tuyển chọn, thử nghiệm.

Giản 簡

[ja] ケン ken ||| (1) To choose, to examine, determine. (2) To investigate, to compare. => 1. Chọn lựa, khảo sát, quyết định. 2. Nghiên cứu, so sánh.

giảng

6515講演、講說之意。謂聚集眾人,講演或論議經論等。依講說之內容,可大別為講經、講律、講論。在印度,阿育王時代已有講經說法之事。如阿育王於 Calcutta-Bairāt 之小摩崖法敕中,刻有毘奈耶中之最勝法說(梵 Vinaya-samukase)、聖種經(梵 Ariya-vasāṇī)等七種經典,期勉僧俗四眾能時時聽聞而憶念之;善見律毘婆沙卷二亦記載阿育王時之傳道師赴各地弘法,演說經典,而列舉蛇譬喻經(巴Āsīvisūpama-suttanta)天使經(巴 Devadūta-sutta)等十三種經名。又大品般若經卷二十七囑累品、法華經卷四法師品等,皆勸人於受持讀誦經典之外,並為人廣說。 我國之講經,始於後漢末年。據釋氏要覽卷下載,曹魏時,朱士行開講道行般若經,為講經(僧講)之始;東晉尼師道馨開講法華、維摩二經,為尼講之始;元魏時,法聰敷揚四分律,為講律之始;姚秦時,鳩摩羅什授僧嵩法師成實論,為講論之始。又據法苑珠林卷十七敬佛篇第六之五載,劉宋大明四年(460),路昭太后造立普賢菩薩乘白象之像,置於中興禪房,並設「講」於寺。另據吉藏之大乘玄論卷三謂,諸師皆依河西道朗法師所撰之涅槃義疏,講涅槃經,乃至闡釋佛性義。此外,據梁書卷三武帝本紀所載,大通三年(529),帝於同泰寺升法座,為四眾說大般涅槃經義。是為帝王講經之例。 有關講說者之稱謂,或稱為講師、講僧,或稱講主、講士、講匠。如續高僧傳卷二十六載,隋代沙門智隱曾任講論眾主;碧巖錄第四則載,唐代德山宣鑑禪師曾任講僧,於西蜀講金剛經。又據大宋僧史略卷中、釋氏要覽卷上載,宋代設有講經首座、講論首座等;如佛祖統紀卷四十三載,宋太宗端拱二年(989),贊寧撰鷲嶺聖賢錄五十卷,遂受敕任左街講經首座。另據釋氏要覽卷下載,與講經說法者對揚之職,稱為都講、都講師。即於講經之際,由都講發問,法師一一作答,如東晉道安,每於開講時,立有都講。 其次,講說之場所,稱為講堂、講席、講筵,或稱講肆、講座等、如增一阿含經卷五十載,佛陀住世時,毘舍離國有普會講堂者即是;又據廣清涼傳卷上,五臺山公主寺即存有講堂。又講說之集會,稱為講會。此外,亦有結社講法者。如釋氏要覽卷上載,東晉時代,廬山慧遠集合僧俗,組成白蓮社,講淨土教義,共修淨業;佛祖統紀卷四十二載,唐代龍興寺南操組成華嚴社,講華嚴經,力勸眾人持誦。上舉之外,講讚,謂講解讚歎經典之意義;講下,謂講席之下,係對知名法師之尊稱;講嚫,指對講經說法者之謝禮,「嚫」為達嚫(梵 dakṣiṇā,譯作布施)之略稱。另據佛祖歷代通載卷十七所記,唐末之世,立有講經科、禪定科、持念科、文章議論科等,以勘驗僧尼。 講說有三種利益,據釋氏要覽卷下所舉,三益即聞時益、修行時益、轉生時益。又講說者有五種福報,即當生長壽、得大富、得端正、得名譽、得聰明。 在日本,講論法義之形式有多種。如講法華經,有源自我國唐代慧明於法華經開八座講讚之法華八講,另有法華十講、三十講等;講最勝王經,有「最勝講」等。其後講會逐漸流於儀式代,亦廣泛包含修佛事,而有往生講、念佛講,或涅槃講、羅漢講、遺跡講、舍利講等四座講。更傳至後世,對參與佛事、神事等之結社,稱為講社;參與者稱為講中。又以募化供物、社寺所需金錢為目的,亦有舉行講會之例。目的在於金錢之殖利者,有所謂無盡講、賴母子講等。 對於講解經論之師,亦稱為講師,可分二種:(一)自平安朝以降,在各國設此職,稱為講說師、國講師。(二)於維摩會等敕會中擔任講經者。即於南京三會(宮中金光明會、興福寺維摩會、藥師寺最勝會)、北京三會(法勝寺大乘會、圓宗寺法華會、最勝會)中,受請講明經論者,又稱三會講師。 此外,講述佛、菩薩、祖師德行之儀式,或次第記錄此類儀式而成之書,皆稱為講式,如往生講式。又臨濟宗於受布施後,對篤信者所設之齋筵,稱為講中齋。〔梁高僧傳卷五法遇傳、續高僧傳卷五法雲傳、出三藏記集卷十沙彌十慧章句序、卷十三安玄傳、大宋僧史略卷上僧講條、類聚三代格卷二、漢魏兩晉南北朝佛教史第五章(湯用彤)〕 ; To talk, explain, preach, discourse. ; Thuyết giảng—To explain—To preach—To discourse—To talk.

giảng bài

To explain a lesson.

giảng diễn

Xem giảng thuyết. ; See Giảng Thuyết.

giảng giải

To expound—To interpret—To explain.

giảng hòa

To reconcile—To make peace—To negotiate for peace.

giảng hạ

Đi xuống bụt khi chấm dứt giảng thuyết—To descend the pulpit when end of discourse.

giảng khoa

Course of study.

giảng kinh

To elucidate holy scriptures; to comment (up) on classics. ; To expound the sutra.

giảng kinh tứ ích

6517謂講說金光明微妙經典,可獲得四種利益。據金光明經卷一載,即:(一)國土吉祥益,即軍眾勢力強盛而無怨敵,疾疫消除而壽命增長,正法興隆。(二)輔臣和樂益,即輔相大臣和悅無諍,為國王所敬愛。(三)國人富壽益,即沙門弟子及國內人民皆修行正法,種諸福田而富足安樂。(四)法師自利利他益,即講經者於一切時中皆身心調適,慈悲平等而無傷害之心,亦令一 切眾生誠心歸仰,修習菩提菩提之行。

giảng luận

To dissert—To explain and to discuss.

giảng nghĩa

To explain the sense, the meaning. ; See Giảng Giải.

giảng pháp

Deśanā (S), Teaching Dharma.

giảng sư

Lecturer ; Dharma expounder—An expounder—Teacher.

giảng sư độc sư cao toà

6517於法會中,講師、讀師宜昇之高座。在佛前左右,講師座居右,讀師座居左,二座相對。讀師讀經題,講師講經義。如日本法隆寺之講堂,在中央南面築壇,供奉藥師三尊及四天王等,壇前之左右即設二師之高座。

giảng thuyết

To expound, discourse, preach; to try to convince. ; To give a lecture—To expound—To discourse—To preach.

giảng tông

6515指佛教禪、律二宗外之其餘諸宗派。係禪宗所立;以彼等多重講說經典義解,不似禪宗之強調見性悟道,故以此名稱之。 ; The preaching sects i.e. all except Thiền tông. ; Trừ Thiền tông và Luật tông còn các tông phái khác của đạo Phật đều được gọi là giảng tông, tức là đều giảng thuyết nghĩa kinh, đàm luận và chỉ rộng cho môn đồ phương pháp tu hành—The preaching sects, i.e. all except the Ch'an, or intuitional, and the Vinaya, or ritual sects.

giảng viện

6517又作講寺。與禪院、律院相對。指專研天台、華嚴二宗為主之寺院。據續釋氏稽古略卷二載,明洪武十五年(1382),將全國寺院分為禪、講、教三種;講院者,即以講明諸經之旨意為務。高麗僧義天於北宋元祐年間(1086~1094)來我國學法時,所住之慧因古寺,原屬於禪院,後改為講院。日本亦沿襲我國之制,如山城栗生光明寺即依此制而改為光明講寺。〔佛祖統紀卷四十八、釋氏稽古略卷四、四明尊者教行錄卷一第十二〕

giảng đường

6517梵語 prāsāad,巴利語 pāsāda。指供作講經說法之建築。於印度,佛陀在世時已設有講堂,如增一阿含經卷五十載,佛陀在毘舍離之普會講堂時,有大比丘眾五百人同住。又據分別功德經卷二載,祇洹精舍有七十二座講堂,其他如忉利天善法講堂、舍衛國東園鹿母講堂、大林重閣講堂等名稱亦散見於諸經論。 關於講堂之始設,據釋氏要覽卷下講堂制條引用佛本行經之說,謂佛世時,一日,比丘群聚於一堂內,適有二比丘個別對眾說法,由於在同一處所,故彼此互相妨礙,佛陀遂規定造立二堂,以利說法。同書講堂置佛像條引用法炬陀羅尼經之說,謂法師說法時,有羅剎女名為愛欲,常來蠱惑法師,令其心散亂;故說法之處,須供奉佛像,並供養香花,此羅剎女見之即自行迷亂,無法為障。 我國自古即設有講堂,如後漢書顯宗孝明帝紀第二載,孔子宅有講堂。至於佛教之講堂,據洛陽伽藍記卷一載,北魏普泰元年(531),於洛陽建中寺設立講堂。廣清涼傳卷上載,五臺山公主寺設有講堂。唐大和上東征傳載,鑑真大師在振州建講堂。 在日本,法隆寺、東大寺、元興寺等早就有講堂之設置。於堂內安置本尊,講師面向本尊,坐於禮盤(法座)上說法,大眾分左右聽聞。今尚存有唐招提寺講堂、法隆寺東院傳法堂、廣隆寺講堂等。後世禪寺之法堂即準據講堂之制設置者,成為伽藍之中心。又以講師乃代替佛陀說法,故講師坐於壇上之椅中。〔金光明經卷四捨身品、無量壽經卷下、祇洹寺圖經卷下、南都七大寺日記〕 ; Xem tín. ; The preaching hall, lecture hall; amphitheatre, auditorium. ; Preaching hall—Lecture hall.

giảng đạo

Explanation of the Doctrine. ; To preach a religion

giảng đề

Subject-matter (of lecture, speech)

giảo

So sánh—To compare—Compared with—Similar to.

giảo lượng

So sánh—To compare—To collate—Compared with—Comparative.

giảo sức

Trang nghiêm—To adorn—Ornament.

giấc mộng

Dream

giấc ngủ du già

Yogā-nidra (S), Yogic sleep Một trạng thái mà hành giả hoàn toàn thư giãn và gần như ngủ, chỉ khác là hành giả lúc đó ý thức được mọi sự và không bị tư tưởng chi phối.

giấu

To hide—To conceal.

giấu mặt

To hide one's face.

giấu tài

To conceal one's talents.

giấu tên

Anonymous.

giầy vò

To torment—To worry.

giận

To be angry—In a temper—To get angry—To lose one's temper.

giận căm gan

Boiling with anger.

giận dữ

Anger Trong tam độc: tham (desire), sân (anger), si (stupidity).

giận tức buồn phiền

Anger and acrimony.

giật lùi

To move back.

giằng co

To pull about.

giặc giả

Hostility—War.

giết

To kill—To murder—To slay.

giết phật

Ngài Lâm Tế nói: “Gặp Phật giết Phật”, là muốn phá trừ cái kiến giải chấp Phật của đương cơ, nghĩa là chẳng trụ nơi Phật.

giọng miễn cưỡng

Constrained voice.

giọng ngọt ngào

Kalarava (S), Low sweet tone.

giọng quyến rủ

Kalasvana (S), Charming voice.

giọng tự nhiên

natural tone of voice.

giọng vui vẻ

Kalabhāshin (S), With pleasant tone.

giọt bất hoại

Indestructible dropGiọt tinh chất trong tim, hình thành từ chất màu trắng của tinh cha và màu đỏ của huyết mẹ. Giọt tinh chất này chỉ tan biến vào lúc chết, lúc ấy nó mở ra để thần thức và luồng thần lực chuyển di vào kiếp sống kế tiếp (TT).

giỏi dang

Clever at—Good at.

giống hệt

To be very much alike.

giống như

To be analogous.

giồng

A row.

giồng thành

Tên của một ngôi chùa trong tỉnh An Giang, Nam Việt Nam—Name of a temple in An Giang province, South Vietnam—See Long Hưng (2).

Giới

戒; S: śīla; P: sīla;|Giới luật mà tăng, ni cũng như người tu tại gia phải tuân thủ, là điều kiện để Giác ngộ. Mười giới cho Tỉ-khâu, Tỉ-khâu-ni và Sa-di (s: śrāmaṇera) là: 1. Không giết hại, 2. Không trộm cắp, 3. Không tà dâm, 4. Không nói dối, 5. Không say sưa, 6. Không ăn quá bữa, 7. Không nghe âm nhạc, hát xướng và các trò chơi khác, 8. Không xức dầu thơm, trang điểm, 9. Không ngủ giường cao, đệm êm, 10. Không dính líu chuyện tiền bạc phiền hà thế gian. Năm giới đầu được áp dụng cho Cư sĩ, Phật tử tại gia, và trong một số ngày đặc biệt có thể lên đến tám (Bố-tát).|Giới là những quy định tự nhiên trong đời sống thông thường, trong lúc đó Luật được hiểu là quy luật dành cho những người xuất gia, sống trong chùa chiền hay thiền viện. Giới được nhắc tới như một phần trong ba nhóm của Bát chính đạo, một trong Ba môn học cũng là một của các hạnh Ba-la-mật-đa.|Trong Ðại thừa Phật giáo, người ta phân ra hai loại giới: Hiển và mật. Mười hiển giới tại đây có khác với mười giới nêu trên chút ít và có giá trị như nhau cho tăng, ni và cư sĩ (ngoài giới thứ 3), được ghi lại trong kinh Phạm võng (s: brahmajālasūtra): 1. Bất sát sinh; 2. Không lấy những gì người ta không cho; 3. Không tà dâm; 4. Không nói dối; 5. Không mua bán rượu; 6. Không nói về hành động xấu của người khác; 7. Không tự khen mình, chê người; 8. Sẵn lòng bố thí; 9. Không giận hờn; 10. Không phỉ báng Tam bảo. Mười giới này – loại trừ giới thứ 3 ra – là quy định chung cho tăng, ni và giới Cư sĩ.|Mười hiển giới nêu trên rất quan trọng, có ích về khía cạnh đạo lí thế gian và cả khía cạnh cơ sở của một cuộc đời hành đạo xuất thế. Hành giả không thể tiến xa nếu thâm tâm còn vướng mắc vào những vọng niệm – mà những vọng niệm này chính là kết quả của một cách sống không tôn trọng giới luật, không có ý thức. Nhưng dù có chí thế nào đi nữa thì hành giả cũng khó lòng thực hiện, giữ được trọn vẹn mười giới trên và phạm giới trong một mức độ nào đó là một hậu quả khó tránh. Nhưng vi phạm giới không làm ngăn cản bước đường tu đạo, với điều kiện là hành giả phải thật sự ăn năn hối lỗi, nguyện không tái phạm. Với sự tiến triển trên con đường tu tập, những kết quả tốt đẹp đạt được qua phương pháp Toạ thiền như Bi, Trí, dũng, những lần vi phạm giới luật sẽ tự giảm dần. Nhưng việc cần phải chú trọng tuyệt đối chính là việc giữ vững niềm tin nơi Phật pháp. Nếu mất lòng tin nơi đức Phật, chân lí Ngài đã trực chứng và những lời khuyến khích của chư vị Tổ sư thì Ðạo không thể nào thành, Vô minh không thể nào đoạn diệt và giải thoát vượt khỏi tầm tay.|Dưới dạng Mật giới, hành giả nguyện rằng: 1. Không lìa chính pháp; 2. Không xao lãng việc tu tập; 3. Không tham lam, không ích kỉ; 4. Lúc nào cũng giữ lòng từ bi với chúng sinh; 5. Không phỉ báng một tông phái nào của Phật giáo; 6. Không bám chặt vào bất cứ cái gì; 7. Không ôm ấp vọng tưởng; 8. Khuyến khích chúng sinh phát tâm Bồ-đề; 9. Thuyết giảng giáo pháp Ðại thừa cho những người theo Tiểu thừa; 10. Luôn luôn bố thí cho chư vị Bồ Tát. ; 界; S, P: dhātu; là cảnh giới, không gian, yếu tố.|Khái niệm quan trọng của đạo Phật, có nhiều nghĩa:|1. Một trong Tứ đại chủng (四大種; s, p: mahābhūta), bốn yếu tố của vũ trụ;|2. Một trong sáu yếu tố, gồm có: Tứ đại, Hư không (虛空; s: ākāśa) và Thức (識; s: vijñā-na);|3. Chỉ Ba thế giới (三界; s: triloka), tức là dục giới (欲界; s: kāmadhātu), sắc giới (色界; s: rūpadhātu) và vô sắc giới (無色界; s: arūpadhātu);|4. Mười tám yếu tố sinh ra tâm thức gồm có sáu giác quan (Lục căn), sáu đối tượng của sáu giác quan (Lục trần), và sáu thức được sinh ra từ đây.

giới

3889梵語 dhātu 之意譯。音譯爲馱都,含有層、根基、要素、基礎、種族諸義。<一>界爲各種分類範疇之稱呼,如:眼、耳、鼻、舌、身、意等六根,對色、聲、香、味、觸、法等六境,而產生眼識、耳識、鼻識、舌識、身識、意識等六識,合稱爲十八界。又如地、水、火、風、空、識稱爲六界。此外,欲界、色界、無色界稱爲三界;此「界」有接近於「境界」之意。唯識宗即將一切法之種子稱爲「界」,有要素、因之意。〔雜阿含經卷十二、相應部因緣篇第一、六十華嚴經卷五十八、法苑義林章卷五本〕 <二>梵語動詞之語根,稱爲字界。 ; 2895梵語 śīla,巴利語 sīla。音譯尸羅。意指行為、習慣、性格、道德、虔敬。為三學之一,六波羅蜜之一,十波羅蜜之一。廣義而言,凡善惡習慣皆可稱之為戒,如好習慣稱善戒(又作善律儀),壞習慣稱惡戒(又作惡律儀),然一般限指淨戒(具有清淨意義之戒)、善戒,特指為出家及在家信徒制定之戒規,有防非止惡之功用。 據菩提資糧論卷一所載,尸羅共有習近、本性、清涼、安穩、安靜、寂滅、端嚴、淨潔、頭首、讚歎等十義。其中,自「清涼」以下為淨戒之再轉釋。戒為實踐佛道之基礎,故與定學、慧學共稱三學。又為五分法身之一,稱戒身、戒品、戒蘊(身、品、蘊三者係表示複數)。同時,大乘佛教舉之為六波羅蜜、十波羅蜜之一,而稱為戒波羅蜜(又作持戒波羅蜜)。 戒,原係佛陀住世時,舉外道所作之非行來教誡佛教徒者。適用於出家、在家二眾,並非如律之隨犯隨制,故於犯戒時不伴以處罰之規定,而是由自發之努力為其特徵。據此,則戒與律本應有所區分,但後人往往將此二者混用。一般謂戒為三藏中之律藏所說者,以戒為律之一部分,而以律為詮說戒之典籍。 小乘佛教應在家、出家、男女之別,制定五戒、八戒、十戒、具足戒(略稱為五八十具)。凡此,大乘佛教指為聲聞戒(又作小乘戒),而另制菩薩戒(又作大乘戒),合稱為二戒。又於佛陀所制定之戒,其本質若為罪惡者(即性罪),稱為性戒;反之,若本質非罪惡,然易令世人誹謗,或誘發其他之性罪,而特別制定者,稱為遮戒。合之亦稱二戒。犯遮戒之罪惡,亦稱遮罪。 例如殺生戒、偷盜戒等,屬於性戒,飲酒戒多歸於遮戒。此二戒又有如下異名:(一)性戒,又稱舊戒、主戒、性重戒。(二)遮戒,又稱新戒、客戒、息世譏嫌戒、離惡戒、離戒。 其中,性重戒為性戒中罪特別重者,殺生、偷盜、邪淫、妄語等即所謂四重禁戒。息世譏嫌戒簡稱譏嫌戒,屬佛制之輕罪戒,旨在制止世間之誹謗,一般汎指四重禁戒以外之戒。 戒有四別。四分律刪繁補闕行事鈔卷中一載,四別為戒法、戒體、戒行、戒相。戒法為佛陀所制戒之法則,戒體為戒之體性,即有防非止惡作用之無表,戒行指持戒(實踐),戒相意謂持戒之相貌。 戒體係由受戒之儀式作法(即羯磨)所得之律儀,以其不可見,故稱無表。律儀,梵語為 saṃvara,音譯三婆囉,意譯亦作等護、擁護、防護、護、禁戒,即所謂遮止惡戒,具有防止身、口、意三惡,保護六根之作用。以其律法儀則能產生防非止惡之作用,故意譯為律儀。是故,俱舍論卷十四載,律儀防止身、口、意之惡者,分別稱為身律儀、語律儀、意律儀(以上總稱遍律儀);保護六根者,稱根律儀。其中,前二者以無表為體,後二者以正念、正知為自性。但無表不限於律儀。 一切有部認為,一般表現於身、語上勢力強烈之善、惡行為(即身表業、語表業),或由定所產生防止造作善、惡之作用,由此形成一種後天之性格,此即無表。無表屬於色法(物質)之一種,故稱無表色。此無表有三種,其由立誓決意實行善、惡者,稱為律儀無表(善心之情形)或不律儀無表(惡心之情形);若隨緣應時而生起善惡心,稱為處中無表(又作非律儀非不律儀無表),其中律儀無表即所謂戒體之無表。 成實論以無表屬非色非心之法,南山律宗即採此說。大乘唯識宗則主張戒體為思心所之種子熏習阿賴耶識所致;天台宗以其為假色,而對戒體(無表)賦與種種說明。此外,小乘佛教主張戒體無相續,但大乘佛教主張一度得戒即永久不失。 一切有部類別律儀無表(即戒體)為三種律儀、四種律儀。 (一)別解脫律儀,又作別解脫戒、別解律儀、波羅提木叉律儀、律儀戒、欲纏戒(意指繫屬欲界之戒)。乃得自受戒作法時。復分為八:(1)苾芻律儀,(2)苾芻尼律儀,(3)正學律儀,(4)勤策律儀,(5)勤策女律儀,(6)近事男律儀,(7)近事女律儀,(8)近住律儀。其中,前二項屬具足戒之體,第三項屬六法戒之體,第四、五項屬十戒之體,第六、七項屬五戒之體,第八項則為八齋戒之體。 (二)靜慮律儀,又作靜慮生律儀、定共戒、色纏戒(意指繫屬色界之戒)。乃得自入靜慮(禪)之時。蓋禪定之中,自然離過絕非,亦自然契入法爾律儀,故能防止欲界不善之過失。又靜慮律儀即所謂隨心轉戒,於入定時與心同起,於出定時與其無表同時俱滅,與有漏定共生共滅,故又稱定共戒。 (三)無漏律儀,又作道生律儀、道共戒。以上別解脫律儀、靜慮律儀為有漏戒,無漏律儀則屬斷盡煩惱之無漏戒,係見道以上之聖者所得者,亦即入於無漏定中所獲得之律儀;於此間自然遠離過惡,契於律儀。無漏律儀亦為隨心轉戒,與無漏道共生共滅,故又稱道共戒。反之,別解脫律儀不論心之狀態如何,僅須無捨戒等緣,戒即可永遠相續,故稱不隨心轉戒。以上為三種律儀。 (四)斷律儀,又作斷戒。即與未至定之九無間道俱生之靜慮律儀及無漏律儀,能永斷欲纏之惡戒與煩惱,故稱斷律儀。以上四者,合稱為四種律儀(又作四戒)。 此外,瑜伽師地論卷五十三列舉八種律儀:能起、攝受、防護、還引、下品、中品、上品、清淨。前七種指受戒(別解脫律儀)時內心決意之狀態,由其差異所分之層次;後一種則屬靜慮律儀、無漏律儀。 行十善之十善戒(又作十善法戒、十善性戒、十根本戒)中,除與心意有關之三種,前七種稱為七善律儀;同此,行十惡之前七種稱為七不善律儀。此外,不律儀(又作惡律儀、惡戒)又依職業之分類(如屠殺、狩獵、獄吏等)而有不同,在北本涅槃經卷二十九有十六惡律儀;在大方便佛報恩經卷六中則說十二惡律儀。 別解脫律儀之內容如下: (一)五戒。此為優婆塞(在家之男信徒)、優婆夷(在家之女信徒)所守,故又稱優婆塞戒(即近事男律儀)、優婆夷戒(即近事女律儀)。五戒即:(1)不殺生戒,(2)不偷盜戒,(3)不邪淫戒,(4)不妄語戒,(5)不飲酒戒。印度其他宗教亦有類似之五戒,如摩奴法典舉不殺生、不妄語、不偷盜、梵行(不淫)、不貪瞋五者,耆那教則說不殺生、不妄語、不偷盜、不邪淫、離欲等五戒。 (二)八齋戒。為優婆塞、優婆夷於一日一夜中學習出家所守之戒。受持者稱鄔波婆沙(梵 upavāsa,意譯作近住、善宿)。八齋戒又作八支齋、八關齋戒、八戒齋、佛法齋、八分戒、八戒、齋戒、一日戒、近住戒、近住律儀。此為六齋日所持之戒,除五戒(其中不邪淫戒在此為不淫戒)外,尚有離眠坐高廣嚴麗床座(即不坐高座、不臥好床)、離塗飾香鬘(即身不塗香油或裝飾)離歌舞觀聽(即不觀戲聽歌)、離非時食戒(即過午不食)等三戒。六齋日沐浴斷食之習慣,自古即為印度其他宗教所行,佛教沿用之。此八戒以非時食戒為中心。 (三)十戒。此為沙彌(未滿二十歲之男出家眾)、沙彌尼(未滿二十歲之女出家眾)所守之戒,分別稱為沙彌戒(又作勤策律儀)、沙彌尼戒(又作勤策女律儀)。內容如下:(1)不殺生,(2)不偷盜,(3)不淫,(4)不妄語,(5)不飲酒,(6)不塗飾香鬘,(7)不歌舞觀聽,(8)不坐臥高廣大床,(9)不非時食,(10)不蓄金銀寶。 (四)六法戒,略稱六法。係沙彌尼於受具足戒之前二年間所守之戒,即所謂式叉摩那(意譯學法女、學戒女、正學女)所學之六法。據四分律卷二十七載,其內容為:(1)染心相觸戒,即不以愛欲之心觸男子之身。(2)盜人四錢戒,即不盜四錢以下。盜四錢以下為缺戒,可重新受戒,若盜五錢以上,則應默擯之。(3)斷畜生命戒,即不斷畜生之命。(4)小妄語戒。(5)非時食戒。(6)飲酒戒。 十誦律則列舉淫欲、偷奪、殺生、妄語、摩觸男子裸身、捉男子之手與衣而共語等六種。有部律則列舉不獨行等六法,與不取錢等六隨法;摩訶僧祇律則說十八事,然並未列舉上記六法。 (五)具足戒,又稱具戒、進具戒、近圓戒、大戒。此乃比丘、比丘尼所守之戒,分別稱為比丘戒(即作苾芻律儀)、比丘尼戒(即作苾芻尼律儀),係守出家教團所定之一切戒條。戒條之數目、內容,男女各異。具足戒,梵語為 upasaṃpanna 或 upasaṃpadā。此語原意指親近世尊之足下(座下)或參加教團,但一般譯作具足、進具、近圓,而解釋為「近涅槃」。其後更演變為指受比丘戒、比丘尼戒,意為完全圓滿戒。此乃相對於五戒、十戒等不完全戒而言,至此,具足二字之意義已有明顯變化。 據四分律載,比丘之具足戒共二五○戒,比丘尼共三四八戒(除七滅諍戒,則共為三四一戒,但一般皆舉概數,稱五百戒),且有五篇、七聚之分。 歸依佛、法、僧三寶,係參加佛教教團之第一條件,故三歸依(又作三歸、三自歸)特稱為三歸戒。此戒為大、小乘所重視。惟大乘戒之特色在於「知罪不可得,名為持戒」(維摩經),係由空之立場理解戒之精神。戒可作二種解釋,即消極之防惡(止持戒)與積極之行善(作持戒)。舉例言之,過去七佛通戒偈中,所謂「諸惡莫作」即止持戒,「眾善奉行」即作持戒。依廣律所言,五篇、七聚均屬止持戒,犍度分則屬作持戒。 此外,瑜伽師地論卷四十舉有三聚淨戒(又作三聚戒、三聚清淨戒),可作為大乘菩薩戒之代表。即:(一)攝律儀戒,又作律儀戒。指遵守佛制,防止過惡。(二)攝善法戒,指進而行善。(三)攝眾生戒,又作饒益有情戒。指教化眾生,使得利益。其中,攝律儀戒與五八十具等小乘聲聞戒是否相同,尚有異說。 同論卷四十二載菩薩守六種戒,即:回向戒、廣博戒、無罪歡喜處戒、恆常戒、堅固戒、尸羅莊嚴具相應戒。一般大乘佛教稱菩薩戒為持戒波羅蜜,即有勝於聲聞戒之意,如大智度論卷四十六中,說戒波羅蜜總攝一切戒法,而十善為總相戒,其他無量戒均為別相戒。 梵網經(大乘律典)列舉十重禁、四十八輕戒,共說五十八戒,此稱梵網大戒。十重禁又稱十重禁戒、十重戒、十無盡戒、十重、十重波羅提木叉、十波羅夷、十不可悔戒,乃大乘戒之最重罪,若大乘菩薩犯此,則構成破門罪、追放罪(即波羅夷罪)。十重即:(一)殺戒。(二)盜戒。(三)淫戒。(四)妄語戒。(五)酤酒戒,即買賣酒。(六)說四眾過戒,指說在家、出家菩薩,以及比丘、比丘尼之罪過。(七)自讚毀他戒。(八)慳惜加毀戒,指吝惜施給財、法。(九)瞋心不受悔戒,指不原諒他人之懺悔。(十)謗三寶戒,指毀謗佛、法、僧三寶。此十重禁戒乃訓誡他行或自行者。 相對於十重戒,四十八輕戒乃屬輕垢罪(污垢清淨行之輕罪,相對於波羅夷罪)。內容包括不敬師友戒、飲酒戒、食肉戒等四十八種。 關於菩薩之波羅夷罪,眾說紛紜,如優婆塞戒經卷三舉出六波羅夷<(一)至(六)>、二十八輕戒;菩薩地持經卷五舉出四波羅夷<(七)至(十)>、四十二輕戒;菩薩善戒經舉出八波羅夷<(一)至(四)、(七)至(十)>、五十輕戒;菩薩瓔珞本業經則舉出十波羅夷<(一)至(十)>,並說八萬威儀戒。 依天台宗之說,戒可分權戒、實戒二種。法華玄義卷四下載,五八十具等小乘戒,及瑜伽師地論、菩薩善戒經等大乘戒,均為三乘共通之權戒(粗戒),至如梵網大戒,則為對界外菩薩所說之實戒(妙戒)。此妙戒仍係相對者,然法華圓教「開三會一」(開說三乘之權教而會歸一乘之實教)時,卻以一切戒律皆為絕待妙戒。 此外,摩訶止觀卷四上載,戒有事戒、理戒二種。具有具體之形式者,即為事戒(隨相戒);若能不住戒相而安住於空、假、中三觀者,則為理戒(離相戒)。前者能得天、人、阿修羅等三趣之果報,後者必配以三乘及四教之菩薩。 如是,我國天台宗說一切戒乃絕對圓頓之妙戒。於此,日本佛教則有進一步之解釋。日僧最澄據法華「開顯」之立場,以為梵網經之十重禁與四十八輕戒,係為盧舍那佛所說戒,以利他為根本,戒體乃一得永不失,戒境為無邊法界,不限於三千世界,戒相為三聚淨戒,其持戒與犯戒,並無一定之法則,並允許通別二授(或二受)。通授(以十戒為例,各戒不須分別而授,可作十戒全體之授受)不限出家與在家,一律以三聚淨戒之作法總授;依一白三羯磨或三歸法,個別而授之,即所謂別授(個別授戒)。此種戒特名圓頓戒,又作梵網菩薩戒、天台圓教菩薩戒、菩薩金剛寶戒、一乘戒、一乘圓戒、一心戒、一心金剛戒、大乘圓頓戒、圓頓菩薩戒、圓頓大戒、圓頓無作戒、圓戒、大戒。 法華玄義卷三以北本涅槃經卷十一中之根本業清淨戒、前後眷屬餘清淨戒、非諸惡覺覺清淨戒、護持正念念清淨戒、回向阿耨多羅三藐三菩提戒等五支戒,依次分別配以四重禁或十善戒、偷蘭遮等以外之四篇、定共戒、道共戒、大乘戒。又將同經卷十一所舉禁戒、清淨戒、善戒、不缺戒、不折戒、大乘戒、不退戒、隨順戒、畢竟戒、具足成就戒等十戒,配以四教,稱為菩薩護他十戒(又作十種護持、防護十願)。同時依據大智度論等立大論十戒(菩薩所念十戒):(一)不缺戒,(二)不破戒,(三)不穿戒,(四)不雜戒,(五)隨道戒,(六)無著戒,(七)智所讚戒,(八)自在戒,(九)隨定戒,(十)具足戒。 真言宗說三昧耶戒(又作三摩耶戒、三戒),意謂「平等戒」。即立於三三平等之理,說佛與眾生之身口意三密絕對平等。此一真言祕密戒係以眾生本具之清淨菩提心為戒體,而以法界無量之萬德為行相。 大日經說四重禁(又作四重戒),即:(一)不應捨正法戒,(二)不應捨離菩提心戒,(三)於一切法不應慳悋戒,(四)勿於一切眾生作不饒益行戒。又以不退菩提心、不捨三寶、不謗三寶、不生疑惑、不令退菩提心、不令發二乘心、不輒說深妙大乘、不發邪見、不說我具無上道戒、捨一切無利益事等為十重戒。 接受戒法,稱為受戒;戒師授予戒法,稱為授戒;持守戒法,稱為持戒。授戒有一定的儀式作法,稱為戒儀。授戒之際,以戒和尚(或廣至三師七證)或傳戒師(日本天台宗所傳圓頓戒,係以釋尊為戒和尚,現前授戒之師則稱傳戒師)為戒師。受戒有各種形式,如通受與別受、自誓受與從他受、一分受與全分受。其中,自誓受(又作自誓受戒、自誓得戒),無須三師七證等形式,唯自己於佛像前誓言受戒;從他受,則指由三師七證等形式從他而受戒者。 戒體有二,凡身語經過受戒之儀式行為(表業),初受戒時,稱為作戒或教戒。作戒、教戒並無永續性,但一旦由受戒者之身上發得戒體,則恒常相續,能保持戒之作用,此稱無作戒或無教戒。作、教均是「表」之異譯,意指身語之表業;反之,無作、無教意指無表業。若得戒體,稱為得戒(或發戒),但此時所得到之戒體並不僅限於別解脫律儀之無表,而係廣義包含所有之無表;若捨離戒體,稱為捨戒(或失戒)。 於無表之得捨,俱舍論卷十四、卷十五有明確之解說,謂別解脫律儀須以三師七證等緣始得戒,而因下列五緣捨戒:(一)意樂(有心犯戒),(二)死亡,(三)兼有男女兩性(二形),(四)斷善根,(五)踰一晝夜期限(適用於八關齋戒)。 此外,得具足戒之緣有十,稱十種得戒緣:(一)自然得,即覺至而得,如佛、獨覺。(二)見諦得,又作見道得。即入見道而得,如五比丘。(三)善來得,即與佛善而得,如耶舍。(四)自誓得,即信受佛為大師而得,如大迦葉尊者。(五)論議得,即與佛問答而得,如蘇陀夷。(六)受重得,又作敬重得。即受比丘尼八敬法而得,如摩訶波闍波提。(七)遣信得,又作遣使得。即佛為遣使授具足戒而得,如法授尼。(八)邊五得,又作五人得。即邊國僧眾不足定數,可立五人師而得。(九)羯磨得,又作十眾得。即在非邊國,依規定由三師七證之羯磨作法而得。(十)三歸得,即歸依佛、法、僧三寶而得,如十六人之賢聖。 復次,以受五戒、十重禁戒等之多寡,戒分為五種,此稱五分戒,如受持三歸及五戒中之任一戒,稱為一分戒;受三歸及受持二戒,稱為少分戒;若受持二戒而破一戒,則稱無分戒;受持三四戒稱為多分戒;受持五戒稱為滿分戒。受沙彌戒不久者,稱為新戒。若祈望生於諸天等善處而受戒,稱希望戒;恐懼自他之責罰而受戒,稱恐怖戒,又作怖畏戒;欲七覺支(七菩提分法)莊嚴其心而受戒,稱為順覺支戒;欲離煩惱垢而受戒,稱為無漏清淨戒。以上四戒稱為四種持戒。 一般認為持戒可生於天、人等善趣,實則持戒為六波羅蜜之一,乃凡夫趨往涅槃的修道資糧。又以光、香比喻戒德,稱為戒光、戒香(即持戒者之德名將如香熏遠方,而傳之久遠)。向受戒者解說戒律,稱為說戒;或亦指在半月一度之布薩行事中,由上座比丘誦戒之條文,僧眾有違犯者,則在眾人面前懺悔,由之而將布薩引申為說戒。 一度受戒者,若犯戒所制止之罪過,則稱破戒(或犯戒);反之則為持戒。據四分律卷四十六載,犯波羅夷、僧殘、偷蘭遮等重罪(戒分),稱為破戒;犯波逸提、波羅提提舍尼、突吉羅、惡說等輕罪(威儀分),則稱破威儀。受戒後常犯者,逐漸減弱其戒體之勢力,但未至完全捨戒,此一期間,稱為戒羸;反之,發得戒體而受持,則逐漸強大其勢力,稱為戒肥。 一般謂破戒者死後將墮三惡道。四分律卷五十九亦舉出破戒五過,即;(一)自害,(二)被智者叱,(三)惡名遍聞,(四)臨死生悔恨,(五)死後墮惡趣。若對戒律取邪見而執著,則稱戒禁取見(五見之一)。如牛狗外道之持牛戒、狗戒、雞狗戒等,盡屬戒禁取見。又雖未破戒,但起煩惱而染污戒,稱為污戒;若相對於淨戒而言,此染污之戒,亦稱污戒。〔增一阿含經卷一、卷三十、卷四十四、文殊師利問經卷上、北本大般涅槃經卷十一聖行品、菩薩善戒經卷四、大寶積經卷十七、新華嚴經卷五十三、大毘婆沙論卷四十四、卷一二三、俱舍論卷十八、大智度論卷十三、卷二十二、瑜伽師地論卷四十一、成實論卷九、大乘義章卷十、大乘法苑義林章卷三末、四分律行事鈔資持記卷上、卷中、華嚴經疏鈔玄談卷三〕 ; Silaṃ (P), Dhātu (S), kham (T), Element Thế giới, Pháp thể, Cõi giớiTứ đại gồm: đất, nước, gió, lửa. Ngũ đại thêm hư không giới. Lục đại thêm 2 yếu tố là: hư không và ý thứcXem silaXem Thế giới. ; Dhàtu (S). A boundery, limit, region; that which is contained or limited, e.g. the nature of a thing; provenance; a species, class, variety. ; (I) Nghĩa của giới—The meaning of “sila” 1) Giới luật: Sila (skt). • Những qui tắc căn bản trong đạo Phật: Basic precepts, commandments, discipline, prohibition, morality, or rules in Buddhism. • Hành trì giới luật giúp phát triển định lực, nhờ định lực mà chúng ta thông hiểu giáo pháp, thông hiểu giáo pháp giúp chúng ta tận diệt tham sân si và tiến bộ trên con đường giác ngộ: Observe moral precepts develops concentration. Concentration leads to understanding. Continuous understanding means wisdom that enables us to eliminate greed, anger, and ignorance and to advance and obtain liberation, peace and joy. 2) See Giới Sa Di, and Tam Học (1) in Vietnamese-English Section. 3) Giới luật mà Đức Phật đã ban hành không phải là những điều răn tiêu cực mà rõ ràng xác định ý chí cương quyết hành thiện, sự quyết tâm có những hành động tốt đẹp, một con đường toàn hảo được đắp xây bằng thiện ý nhằm tạo an lành và hạnh phúc cho chúng sanh. Những giới luật nầy là những quy tắc đạo lý nhằm tạo dựng một xã hội châu toàn bằng cách đem lại tình trạng hòa hợp, nhất trí, điều hòa, thuận thảo và sự hiểu biết lẫn nhau giữa người với người—The code of conduct set forth by the Buddha is not a set of mere negative prohibitions, but an affirmation of doing good, a career paved with good intentions for the welfae of happiness of mankind. These moral principles aim at making society secure by promoting unity, harmony and mutual understanding among people. 4) Giới là nền tảng vững chắc trong lối sống của người Phật tử. Người quyết tâm tu hành thiền định để phát trí huệ, phải phát tâm ưa thích giới đức, vì giới đức chính là yếu tố bồi dưỡng đời sống tâm linh, giúp cho tâm dễ dàng an trụ và tĩnh lặng. Người có tâm nguyện thành đạt trạng thái tâm trong sạch cao thượng nhất hằng thực hành pháp thiêu đốt dục vọng, chất liệu làm cho tâm ô nhiễm. Người ấy phải luôn suy tư rằng: “Kẻ khác có thể gây tổn thương, nhưng ta quyết không làm tổn thương ai; kẻ khác có thể sát sanh, nhưng ta quyết không sát hại sinh vật; kẻ khác có thể lấy vật không được cho, nhưng ta quyết không làm như vậy; kẻ khác có thể sống phóng túng lang chạ, nhưng ta quyết giữ mình trong sạch; kẻ khác có thể ăn nói giả dối đâm thọc, hay thô lỗ nhảm nhí, nhưng ta quyết luôn nói lời chân thật, đem lại hòa hợp, thuận thảo, những lời vô hại, những lời thanh nhã dịu hiền, đầy tình thương, những lời làm đẹp dạ, đúng lúc đúng nơi, đáng được ghi vào lòng, cũng như những lời hữu ích; kẻ khác có thể tham lam, nhưng ta sẽ không tham; kẻ khác có thể để tâm cong quẹo quàng xiên, nhưng ta luôn giữ tâm ngay thẳng—This code of conduct is the stepping-stone to the Buddhist way of life. It is the basis for mental development. One who is intent on meditation or concentration of mind should develop a love of virtue that nourishes mental life makes it steady and calm. This searcher of highest purity of mind practises the burning out of the passions. He should always think: “Other may harm, but I will become harmless; others may slay living beings, but I will become a non-slayer; others may wrongly take things, but I will not; others may live unchaste, but I will live pure; other may slander, talk harshly, indulge in gossip, but I will talk only words that promote concord, harmless words, agreeable to the ear, full of love, heart pleasing, courteous, worthy of being borne in mind, timely, fit to the point; other may be covetous, but I will not covet; others may mentally lay hold of things awry, but I will lay mental hold of things fully aright.” (II) Phân loại giới—Categories of “sila”—Theo Ngài Bhadantacariya Buddhaghosa trong Thanh Tịnh Đạo, giới được phân loại theo đặc tính kết hợp của nó—According to Bhadantacariya Buddhaghosa in The Path of Purification, sila is classified on its own characteristic of composing: (A) Hai loại giới—Two kinds of “sila”: (1A) Có hai loại Hành và Chỉ: It is of two kinds as keeping and avoiding. 1) Hành: Keeping—Something should be done—Việc gì đó nên làm thì gọi là hành. 2) Chỉ (Tránh): Avoiding—Something should not be done—Việc gì đó không nên làm gọi là Chỉ hay Tránh. (2A) Có hai loại là giới thuộc chánh hạnh và giới khởi đầu đời sống phạm hạnh: It is of two kinds as that of good behavior and that of the beginning of the life of purity. 1) Chánh hạnh: Good behavior—Những gì được Đức Thế Tôn tuyên thuyết là chánh hạnh, là cách cư xử tốt đẹp nhất ngoài tám giới (Sát, Đạo, Dâm nơi thân; nói dối, nói ác, nói thô và nói vô ích nơi khẩu; và chánh mạng trong Bát Thánh Đạo)—Good behavior is what the Buddha announced for the sake of good behavior, is the best kind of behavior. This is the term for Virtue other than these eight precepts (Killing, Stealing, and Sexual misconduct in the body; Lying, Malicious speech, Harsh speech, and Gossip in Mouth; and Right Livelihood). 2) Giới Khởi Đầu Cuộc Sống Phạm Hạnh: Beginning of the life of purityby keeping (observing) the above mentioned eight precepts. (3A) Giới Kiêng và Không Kiêng: The virtues of Abstinence and Non-Abstinence 1) Giới Kiêng: Abstinence—Kiêng không làm điều ác như không giết hại chúng sanh—Abstinence from evil deeds such as abstinence from killing living beings, etc. 2) Không Kiêng: Non-Abstinence—Không Kiêng giới bao gồm những tác động của “Hành” trong mười hai nhân duyên—Non-Abstinence consisting in Volition in the twelve links. (4A) Giới có hai loại Lệ Thuộc và Không Lệ Thuộc. 1) Lệ Thuộc: Dependence—Có hai loại--There are two kinds. a. Lệ thuộc do Tham: Dependence through Craving b. Lệ thuộc do Tà kiến: Dependence through false views. 2) Không Lệ Thuộc: Independence—Giới Xuất Thế và giới thế gian làm điều kiện tiên quyết cho giới xuất thế—The supramundane and the mundane that is pre-requisite for the aforesaid supramundane. (5A)Giới có hai loại Tạm Thời và Trọn Đời—It is of two kinds as Temporary and Lifelong. 1) Tạm Thời: Temporary—Giới được thọ có hạn định thời gian—Virtue that is undertaken after deciding on a time limit. 2) Trọn Đời: Lifelong—Giới được thọ trì đến khi mạng chung—Lifelong virtue is that practised in the same way as the temporary virtue, but undertaking it for as long as life lasts. (6A)Giới Hữu Hạn và Giới Vô Hạn—It is of two kinds as Limited and Unlimited: 1) Giới Hữu Hạn: Limited Virtue—Giới Hữu Hạn là giới bị hạn hẹp vào danh lợi, quyến thuộc, chân tay hoặc mạng sống—The limited virtue is that seen to be limited by gain, fame, relatives, limbs or life. 2) Giới Vô Hạn: Unlimited Virtue—Giới không bị hạn hẹp trong vòng lợi danh, quyến thuộc, hay mạng sống được gọi là Patisambhida hay là Giới Vô Hạn—Virtue that is not limited to gain, fame, relatives or life is called Patisambhida or Unlimited Virtue. (7A)Hai loại Thế Gian và Xuất Thế Gian—It is of two kinds as Mundane and Supramundane Virtue. 1) Giới Thế Gian: Mundane Virtue—Giới thế gian đem lại một hữu lậu như thân cảnh tốt đẹp trong tương lai—The mundane virtue brings about improvement in future becoming. 2) Giới Xuất Thế Gian: Supramundane Virtue—Giới xuất thế gian đem lại sự thoát khỏi Hữu hay thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử—The supramundane virtue brings about the escaping from Becoming or escaping from the cycle of births and deaths. (B) Ba loại giới—Three kinds of “sila”: (1B)Ba loại Giới Hạ, Trung và Thượng—Three kinds of Precepts as Inferior, Medium and Superior: 1) Giới bậc Hạ: The Inferior. a. Giới phát sanh do ít tinh tấn, ít dục, ít nhất tâm và ít trạch pháp—The inferior is produced by inferior zeal, purity of consciousness, energy or inquiry. b. Vì ham danh mà thọ giới: To undertake precepts out of fame. c. Ác giới, khen mình có giới chê người tà giới: Only I am possessed of virtue, other people are Ill-conducted and ill-natured. d. Giới có động lực tham ái, đưa đến tái sanh: The purpose of keeping precepts is to enjoy continued existence. 2) Giới bậc Trung: The Medium. a. Giới phát sanh nhờ tinh tấn, dục, nhứt tâm và trạch pháp ở mức trung bình—The medium is produced by medium zeal, energy or inquiry. b. Thọ giới vì mong được quả báo công đức: To undertake precepts out of desire for the fruits of merit. c. Giới thế gian mà không ô nhiễm: Undefiled mundane virtue. d. The purpose of practice is for one's own deliverance: Giới thực hành để giải thoát riêng mình. 3) Giới bậc Thượng: The Superior. a. Giới bậc Thượng là giới phát sanh nhờ cao độ tinh tấn, nhất tâm và trạch pháp—The superior is produced by superior zeal, energy and inquiry. b. Vì tôn quí mà thọ giới: To undertake precepts for the sake of the noble states. c. Giới xuất thế: Supramundane virtue. d. Vì thực hành các hạnh Ba La Mật giải thoát chúng sanh mà thọ giới: The virtue of the perfections practised for the deliverance of all sentient beings. (2B)Ba loại Giới Vị Kỷ, Vị Tha và Vị Pháp—Three kinds of precepts of Giving Precedence to Self, Giving Precedence to the World, Giving Precedence to the Dharma: 1) Giới Vị Kỷ (Giới thực hành vì bản thân)—Virtue giving precedence to self—Muốn bỏ những gì không thích hợp với tự ngã: To undertake precepts out of self-regard by one one who regards self and desires to abandon what is unbecoming to self. 2) Giới Vị Tha—Giới thực hành vì quan tâm đến thế gian, vì muốn người đời khỏi chỉ trích: Virtue giving precedence to the world—To undertake precepts out of regard for the world and out of desire to ward off the censure of the world. 3) Giới Vị Pháp—Giới thực hành vì tôn trọng Pháp và Luật: Virtue giving precedence to the Dharma—To undertake precepts out of regard for the Dharma and out of desire to honor the majesty of the Dharma. (3B)Giới Chấp Thủ (dính mắc), Không Chấp Thủ, và An Tịnh—Adhered to, Not ahdered to, and Tranquilized: 1) Giới Chấp Thủ—Dính mắc vào tham đắm và tà kiến: Adhered to through craving and false views. 2) Giới Không Chấp Thủ—Not ahdered to: a. Giới được thực hành bởi phàm phu hữu đức làm điều kiện tiên quyết cho đạo lộ: Practised by magnanimous ordinary people as the prerequisite of the path. b. Giới tương ứng với đạo lộ ở các vị hữu học: Precets that associated with the path in trainers. 3) Tranquilized precepts—Giới an tịnh: Giới tương ứng với quả của hữu học và vô học—Precepts that associated with trainers' and nontrainers' fruition is tranquilized. (4B)Ba loại Giới Thanh Tịnh, Bất Tịnh và Khả Nghi—Pure, Impure and Dubious: 1) Giới Thanh Tịnh—Pure Precepts: Giới được viên mãn do một người chưa từng phạm, hoặc đã phạm mà đã sám hối—Precepts fulfilled by one who has committed no offence or has committed offence, but already made a repentance after committing one. 2) Giới Không Thanh Tịnh—Impure Precepts: Giới bị vi phạm mà chưa phát lồ sám hối—One who breaks precepts but has not made a repentance. 3) Giới Khả Nghi—Dubious: a. Một người còn nghi không biết việc nầy có phải là giới tội hay không: Virtue in one who is dubious about whether a thing constitutes an offence. b. Không biết đã vi phạm vào giới nào: Whether he has committed an offence is dubious. (5B)Giới Hữu Học, Vô Học, Không Hữu Học Hay Vô Học—Virtue of the Trainer, Virtue of the Nontrainer, and that of the neither-trainer-nor-nontrainer: 1) Giới Hữu Học—Virtue of the Trainer: Giới tương ưng với bốn đạo và ba quả đầu—Virtue associated with the four paths and with the first three fruitions (See Tứ Thánh Quả). 2) Giới Vô Học—Virtue of the non-trainer: Giới tương ưng với quả A La Hán—Virtue that associated with the fruition of Arahanship (See Tứ Thánh Quả). 3) Không Hữu Học Không Vô Học—Virtue of neither trainer nor non-trainer: Những loại giới còn lại—The remaining kinds of virtues. (C) Bốn loại giới—Four kinds of “sila”: (1C)Bốn loại giới Thối Giảm, Tù Đọng, Tăng Tiến và Thâm Nhập—Four kinds of virtue of Partaking of diminution, Stagnation, Distinction, and Penetraion: 1) Giới Thối Giảm—Partaking of diminution: a. Học tu với ác tri thức: Cultivate with the unvirtuous. b. Không gần gủi bậc giới đức: Not to visit the virtuous. c. Không thấy ngu si: Not to see ignorance. d. Không thấy phạm giới: No fault in a transgression. e. Tâm thường tà tư duy: Mind is full with wrong thoughts. f. Các căn không phòng hộ: Not to guard one's own faculties. 2) Giới Tù Đọng—Partaking of Stagnation: a. Người có tâm tự mãn với giới đã thành tựu: One whose mind is satisfied with virtue that has been achieved. b. Không nghĩ đến thiền định mà chỉ an phận trong giới: Contented with mere virtuousness, not striving for higher meditations. 3) Giới Tăng Tiến—Partaking of Distinction: Người đang an trụ trong giới luật, mà luôn cố gắng đạt đến mục tiêu bằng thiền định—One who abide by virtues, but always strives with concentration for his aim. 4) Giới Thâm Nhập—Partaking of Penetration: Người nhận biết rằng chỉ thấy giới không chưa đủ, nên hướng đến ly dục bằng cách trì Giới—One who realizes that to see Virutes is not enough, he aim his dispassion through keeping precepts. (2C)Bốn Loại giới: Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Giới của Người chưa thọ Cụ Túc, Giới Tại Gia—Virtue of Bhikkhus, of Bhikkhunis, of Not-Fully-Admitted, of the Laity. 1) Giới Tỳ Kheo—The virtue of Bhikkhus: Có những giới dành cho Tỳ Kheo—There are precepts for Bhikkhus to keep (See Giới Cụ Túc). 2) Giới Tỳ Kheo Ni—The virtue of Bhikkhunis (See Giới Cụ Túc). 3) Giới của Người chưa thọ Cụ Túc—The virtue of the not-fully-admitted (See Giới Sa Di). 4) Giới Tại Gia: The virtue of the Laity—Ngũ giới hay Thập Thiện, khi có thể giữ trọn đời và Tám Giới trong ngày Bố Tát (Bát Quan Trai) dành cho Phật tử tại gia—Five or ten precepts, as permanent undertaking, eight precepts as the factors of the Uposatha Day for male and female fay followers. (3C)Bốn loại, Giới Tự Nhiên, Giới Theo Cổ Tục, Giới Tất Yếu, Giới Do Nhân về Trước—Natural, Customary, Necessary, Due to Previous Causes: 1) Giới Tự Nhiên—Sự không phạm của những người ở Bắc Cu Lô Châu: The non-transgression on the part of Uttarakuru human beings. 2) Giới Cổ Tục—Mỗi địa phương, tông phái cóa luật riêng gọi là Giới Theo Tục Lệ: Customary virtue—Each locality's or sect's own rules of conduct. 3) Giới Tất Yếu—Giới không có tư tưởng dục nhiễm: Necessary virtue—No thought of men that is connected with the cords of sense desire. 4) Giới Do Nhân Về Trước—Giới của những người thanh tịnh và của tiền thân Phật khi hành Bồ Tát hạnh: The virtue of pure beings or of Bodhisattva in his various births. (4C)Bốn loại Giới: Giới Bổn (Ba Đề Mộc Xoa—Patimokkha), Giới Phòng Hộ Các Căn, Giới Thanh Tịnh Sanh Mạng, Giới Liên Hệ Bốn Vật Dụng—Virtue of Patimokkha Restraint, Virtue of Restraint of Sense Faculties, Virtue of Purification of Livelihood, and Virtue Concerning Requisites: 1) Giới Ba Đề Mộc Xoa: Virtue of Patimokkha—Giới như Đức Thế Tôn mô tả: “Vị Tỳ Kheo sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ hành xứ và chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ, nên vị ấy lãnh thọ các học giới—The virtue described by the Blessed One Thus, “Here a Bhikkhu dwells restrained with the Patimokkha restraint, possessed of the proper conduct and resort, and seeing fear in the slightest fault, he trains himself by undertaking the precepts of training. 2) Giới Phòng hộ các Căn—Virtue of restraint of the sense faculties: a. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung tướng riêng: On seeing a visible object with eye, he apprehends neither the signs nor the particulars. b. Khi nhãn căn không được phòng hộ, khiến cho tham ái, ưu sầu và bất thiện pháp khởi lên, vị ấy liền biết mà trở về hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn: When he left the eye faculty unguarded, evil and unprofitable states of covetousness and grief may invade him; he immediately realizes them and turns back to guard the eye faculty, undertakes the restraint of the eye faculty. c. Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, mà quay về hộ trì ý căn: On hearing a sound with ear, smelling an odour with the nose, tasting a flavor with the tongue, touching a tangible object with the body, cognizing a mental object with the mind, he apprehends neither the signs nor the particulars; if he left the mind faculty unguarded, evil and unprofitable states of covetousness and grief might invade him, he immediately realizes this and goes back to enter upon the way of its restraint, he guard the mind faculty, undertakes the restraint of the mind faculty. 3) Giới Thanh Tịnh Mạng Sống—Virtue of Livelihood Purification: Sự từ bỏ những tà mạng, không vi phạm sáu học giới liên hệ đến cách sinh sống, tà mạng lôi kéo theo những ác pháp như lừa đảo, ba hoa, hiện tướng chê bai, lấy lợi cầu lợi—Abstinence from such wrong livelihood as entails transgression of the six training precepts announced to respect to livelihood and entails the evil states beginning with 'scheming, talking, hinting, belittling, pursuing gain with gain. 4) Giới Liên Hệ Đến Bốn Vật Dụng—Virtue concerning Requisites: Sự sử dụng bốn vật dụng, được thanh tịnh nhờ giác sát. Như khi nói chân chánh giác sát, vị ấy thọ dụng y phục để che thân khỏi rét—Use of the four requisites that is purified by the reflection stated in the way beginning 'Reflecting wisely, he uses the robe only for protection from cold. (III) Dhatu (skt)—Đà Đô—Cõi—A boundary—Limit—Region—See Dhatu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

giới ba

2911修行菩薩道者為求受淨戒,於戒壇內至誠懺摩後,以香燃燒身體之某部分以供養諸佛、菩薩,此為求受清淨戒體而於身上遺留之燃燒痕跡,稱為戒疤。在家菩薩戒之戒疤燃於手臂;出家菩薩戒之戒疤則燃於頭頂,戒壇中稱「火燒菩薩頭」。燒戒疤本非佛制,印度亦無。佛教傳至中國,僧侶甚受國家、社會重視,唐代時,為防止俗人假冒僧眾,故朝廷敕令僧眾於受戒時應燃燒戒疤以為識別。另據談玄「中國和尚受戒燒香疤考證」一文所載,則謂燒香於頂之起源,相傳係始於元世祖至元二十五年(1288),沙門志德住持天禧寺時,與七眾授戒燃香於頂,以為終身之誓。

giới ba la mật

Sila-pàramità (S). The rules of the perfect morality of bodhisattvas. ; Giới luật, Ba La Mật thứ hai trong sáu Ba La Mật—Moral precepts—The second of the six paramitas. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật.

giới ba la mật bồ tát

2908戒波羅蜜,梵名 Śīla-pāramitā。音譯尸羅波羅蜜多,意譯戒到彼岸。為十波羅蜜菩薩之一。位於密教胎藏界曼荼羅虛空藏院中央虛空藏菩薩之左方第二位。密號尸羅金剛。三昧耶形為寶珠。現圖曼荼羅中,形像為身呈肉色,著羯磨衣,豎右掌,食、中二指彎曲,持一短杖,杖頭有三枚寶珠,具光炎;左掌覆於膝上,目視右下方,交腳坐於蓮花上。其印契與功德載於金剛頂瑜伽千手千眼觀自在菩薩修行儀軌經卷下,即二手內相叉,二手拇指直豎,並誦真言「唵(oṃ,意譯歸命)試攞(śīla,意譯戒)馱哩抳(dhāraṇi,意譯總持)婆哦嚩底(bhagavatī,意譯世尊)吽郝(hūṃ haḥ,表示空染污義之種子)」,由結此印與誦真言三遍,可滅無量劫破戒之業種,獲得律儀戒、攝善法戒、饒益有情戒等三種戒之功德,此即戒波羅蜜圓滿。又常以戒香莊嚴身、口、意業,則所有違犯四重禁,或比丘、比丘尼犯八重罪等,悉得清淨,當來隨願得生淨妙佛剎。〔青龍寺儀軌卷中、胎藏界七集卷中、祕藏記〕 ; Xem Trì giới Ba la mật.

giới ba li

Upali (skt)—Giới Bà Li. 1) Ưu Bà Li, một người thợ hớt tóc thuộc giai cấp thủ đà la, về sau ông trở thành một trong mười đệ tử nổi bậc của Đức Phật, nổi tiếng vì sự hiểu biết và tinh chuyên hành trì giới luật của ông. Ông là một trong ba vị trưởng lão trong lần kết tập kinh điển lần thứ nhất, và nổi tiếng về việc kết tập Luật Tạng, vì thế ông có danh hiệu là “Trì Giới.”—A barber of Sudra caste, who became one of the ten outstanding disciples of Sakyamuni, famous for his knowledge and practice of the Vinaya. He was one of the three sthaviras of the first Synod, and reputed as the principal compiler of the Vinaya, hence his title “Keeper of the laws.” 2) Còn một người khác cũng tên Ưu Bà Li là đệ tử của ngoại đạo Ni Kiền Tử: There was another Upali, a Nirgrantha ascetic.

Giới ba-la-mật

xem Thi ba-la-mật.

Giới ba-la-mật 戒波羅蜜

[ja] カイハラミツ kaiharamitsu ||| The perfection of morality (śīla-pāramitā); conducting moral practices without any expectation of benefit therefrom. One of the six pāramitās 六波羅蜜 and ten pāramitās 十波羅蜜. => Giới hạnh viên mãn (s: śīla-pāramitā); tu tập giới luật mà không mong cầu lợi ích từ công hạnh ấy. Là một trong Sáu ba-la-mật và Mười Ba-la-mật.

Giới ba-la-mật-đa 戒波羅蜜多

[ja] カイハラミッタ kaiharamitta ||| See 戒波羅蜜. => Xem giới ba-la-mật.

giới buông xả

(xả giới): chỉ sự trì giới dựa trên tâm niệm buông xả sự hiện hữu trong Ba cõi.

giới bạn tự

3893指悉曇字中之???(aṃ,暗)、???(aḥ,惡)二字。此稱呼來由有二,一謂此二字存於摩多、體文之間;二謂???表證菩提之義,???字表入涅槃之義,而菩提、涅槃二點之妙果有盡煩惱生死邊際之義。此外淨嚴之悉曇三密鈔卷上之上,則以???(llaṃ,灠)與???(kṣa,乞灑)二字釋爲界畔義。〔悉曇字記〕

giới bản

2905梵語 prātimokṣa,巴利語 pātimokkha。音譯波羅提木叉。乃彙集比丘、比丘尼所受持之學處(巴 sikkhāpada,即禁戒)條目之書。係由翻譯而成,或從廣律(如四分律、五分律等詳說戒律者)中選取戒律各條而集成者,如四分戒本(即四分僧戒本)、十誦律、菩薩戒本等。就巴利文律藏而言,經分別(巴 sutta-vibhaṅga)之內容即是說明戒本序文以外之其他部分;其中比丘戒本列舉四波羅夷(巴 pārājika)、十三僧伽婆尸沙(巴 saṅghādisesa)、二不定(巴 aniyata)、三十尼薩耆波逸提(巴 nissaggiya-pācittiya)、九十二波逸提(巴 pācittiya)、四波羅提提舍尼(巴 pāṭidesanīya)、七十五眾學(巴 sekhiya)、七滅諍(巴 adhikaraṇasamatha)等二二七條,比丘尼戒本則列舉八波羅夷、十七僧伽婆尸沙、三十尼薩耆、一六六波逸提、八提舍尼、七十五眾學、七滅諍等,共計三一一條。 我國戒本之翻譯,傳說以曹魏嘉平年間(249~254)曇柯迦羅譯出僧祇戒心為始,姚秦曇摩持、竺佛念二人繼之,共同傳譯十誦比丘戒本二六○戒(上二書均已失逸),此後陸續有姚秦鳩摩羅什譯出十誦比丘波羅提木叉戒本、劉宋法穎集出十誦比丘尼波羅提木叉戒本、姚秦佛陀耶舍譯出四分僧戒本、四分律比丘戒本、四分律比丘尼戒本、東晉佛陀跋陀羅譯出摩訶僧祇律大比丘戒本、東晉法顯與覺賢合譯摩訶僧祇比丘尼戒本、劉宋佛陀什等譯出彌沙塞五分戒本、南朝梁代明徽集錄五分比丘尼戒本、唐代義淨譯出根本說一切有部戒經、根本說一切有部苾芻尼戒經、元魏瞿曇般若流支譯出解脫戒經等各一卷。 近年在敦煌出土之寫經中,有十誦比丘尼波羅提木叉戒本,被推定為鳩摩羅什所譯。另於中亞之土耳其斯坦(Turkeṣtan),亦發現漢譯戒本之斷片。又自法人伯希和(P. Pelliot)所發現之梵本戒本,其內容頗類於十誦戒本,可能為漢譯十誦戒本之別本。西藏藏經甘珠爾(Bkaḥ-ḥgyur)中,相當於比丘戒本者為 So-so-thar-paḥi-mdo,共列舉二五三戒;相當於比丘尼戒本者為 Dge-sloṅ-maḥi so-thar-gyi-mdo,共列舉三六四戒。 於小乘佛教各部派中,戒本之傳承亦有不同,如法藏部傳四分比丘比丘尼戒本及巴利戒本,化地部傳彌沙塞五分比丘比丘尼戒本,薩婆多部傳十誦比丘比丘尼戒本等,迦葉毘部傳解脫戒經,大眾部傳摩訶僧祇比丘比丘尼戒本,說一切有部則傳根本說一切有部比丘比丘尼戒本。又今西藏所傳之戒本係屬於說一切有部之傳承。此外,於大乘戒中,有由菩薩地持論抽出之菩薩戒本(曇無讖譯),以及由瑜伽師地論所抽出之菩薩戒本(玄奘譯)等。〔中阿含卷三十六瞿默目揵連經、梵網經卷下、四分戒疏卷上、出三藏記集卷十一、開元釋教錄卷十五、R. Hocrnle: Manuscript remains of Buddhist Listerature found in E. Turkestan, vol. I〕 ; Pràtimoksa (S), Pàtimokkhà (P). Disciplinary Code, Code of monk's rules.

giới bổn

Pratimoksa (skt)—Ba La Đề Mộc Xoa—See Pratimoksha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

giới bổn tỳ kheo

Prātimokṣa (S), Pātimokkhā (P), Pratītya-samutpāda (S)Ba la đề Mộc xoa.

Giới châu

(戒珠): tỷ dụ giới luật trong sạch, không tỳ vết, sai phạm như viên minh châu, có thể trang nghiêm thân người; cho nên cần phải siêng năng tu tịnh giới. Như trong Truy Môn Cảnh Huấn (緇門警訓, Taishō Vol. 48, No. 2023) quyển 9, phần Tấn Vương Thọ Bồ Tát Giới Sớ (晉王受菩薩戒疏), có câu: “Thiên Thai Trí Khải Thiền Sư, Phật pháp long tượng, đồng chơn xuất gia, giới châu viên tịnh, niên tương nhĩ thuận, định thủy uyên trừng (天台智顗禪師、佛法龍象、童眞出家、戒珠圓淨、年將耳順、定水淵澄, Thiền Sư Thiên Thai Trí Khải, là bậc long tượng của Phật pháp, xuất gia lúc còn nhỏ, giới luật nghiêm trì, đến tuổi sáu mươi, nước định lắng sâu).” Hay trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 21, phần Chư Sư Tạp Truyện Đệ Thất (諸師雜傳第七), Nho Sĩ Thuật Am Tiết Trừng (儒士述菴薛澄), lại có đoạn: “Thám giới châu ư li hạm, phi huệ kiếm ư Long Môn, tảo du nhận ư Nho lâm, vô thư bất độc (探戒珠於驪頷、飛慧劍於龍門、早遊刃於儒林、無書不讀, tìm ngọc giới nơi hàm ngựa, vung kiếm tuệ ở Cửa Rồng, sớm tinh thông nơi rừng Nho, sách nào cũng đọc).” Hoặc trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 31, phần Phục Hoàng Tinh Nguyên Chư Cư Sĩ (復黃惺源諸居士), cũng có đoạn khác: “Oánh giới châu vu Ngũ Trược, thị thủy khả thanh; xúc thiện đạo vu Bát Quan, hữu tình giai Phật (瑩戒珠于五濁、是水可清、趨善道于八關、有情皆佛, sáng ngọc giới nơi Năm Trược, nước ấy cũng trong; đẩy đường thiện về Tám Cửa [Bát Quan Trai], hữu tình thành Phật).”

giới châu

2912<一>比喻戒律如明珠之潔白無瑕,可莊嚴人身,故當精進勤修淨戒,護己懷中之明珠。唐代宗文:「戒珠在握,明鏡入懷。」又梵網經卷下(大二四‧一○○四上):「戒如明日月,亦如瓔珞珠。」 <二>(985~1077)宋代僧。淨土往生傳之作者。俗姓黃。字耀之。幼即篤學,日誦萬言。師事法性子光。並嘗試講經。剃髮後,好修善根,博覽群經,善文詞,時人以「默書」稱之。生平雜著泰半為師焚滅,僅存淨土往生傳及碑記傳序。嘗受禪教於法海懷要。〔釋門正統卷八〕 ; Những người tu trì giới luật thanh tịnh, trang nghiêm kính cẩn và đáng quý như châu báu—The commandments, or rules, are like pure white pearls, adorning the wearer.

giới châu tự

2912位於浙江紹興東北約三公里處。本係晉代大書法家王羲之(321~379)之故宅,王氏捨宅為寺,嘗於寺內橋上為一姥姥所持之六角竹扇題字,世人競購之,其橋遂得「題扇橋」之名。

giới chấp thủ

Śīlabbata-paramasa (P).

giới căn

Indriya-śaṃvara-śīla (S), Precepts on sense restraints.

giới cấm

Xem giới. ; Prohibitions arising out of the fundamental rules; by-laws. ; Những giới luật ngoài giới căn bản—Prohibitions arising out of the fundamental rules.

Giới cấm kiến 戒禁見

[ja] カイゴンケン kaigonken ||| See 戒禁取見. =>Xem Giới cấm thủ kiến.

giới cấm thủ

Śīlavrata-parāmarśa (S).

giới cấm thủ kiến

2914戒禁取,梵語 śīla-vrata-parāmarśa。全稱戒禁等取見。又稱戒取見、戒盜見。為五見之一,十隨眠之一,四取之一。指就戒禁(戒律、禁制)等而起之謬見,以非因為因,非道為道。如見牛狗死後生天,乃學牛狗之所為,食草噉糞,修非因非道之行,執迷此即生天解脫之因,此等妄見稱為戒禁取見。〔俱舍論卷十九、成唯識論卷六、大智度論卷二十二、大乘阿毘達磨雜集論卷一、大毘婆沙論卷四十九、阿毘達磨順正理論卷四十七〕(參閱「十隨眠」499、「五見」1099、「四取」1704) ; Śīlabbata-parāmāsa (P), Śīlavrata-parāmarśa (S), Śīla-vrata-parāmarśa-dṛṣṭi (S), Wrong practice Nhận những giới cấm không phải là nhân của đạo giải thoát làm căn bản để tu. Một trong Thập sử.Giới thủ kếtMột trong ba mối dứt bỏ của người đắc quả Tu đà hườn đạt được là cắt đứt mọi mối chấp về dị đoan và ham mê hành lễ, cúng kiến. ; Silavrataparàmarsa (S). Clinging to mere rules and rituals. ; Silavrataparamarsa (skt)—Upholding forbidden religious practices. • Chấp thủ vào những giới luật tà vạy, như những người tu khổ hạnh cực đoan, đây là một trong tứ thủ—Clinging to heterodox ascetic views, i.e. those of ultra-asceticism, one of the four attachments (catuh-paramarsa). • Tại Ấn Độ vẫn còn có người tuân thủ giới cấm thủ của ngoại đạo như dằn đá vào bụng hay ném mình từ trên cao xuống lửa để được hưởng phước—In India there are still people who still uphold heterodox beliefs such as pressing the belly with a stone or throwing oneself from a high position into a fire in order to enjoy blessings. ** For more information, please see Tam Kết, and Tứ Thủ.

Giới cấm thủ kiến 戒禁取見

[ja] カイゴンシュケン kaigonshuken ||| The 'view of attachment to discipline.' The mistaken view of misunderstanding the path of discipline, and considering it to be the true cause of cessation of suffering when it is not, and holding to it as the true path, though it is not. Also, the view that the austerities, moral practices and vows of non-Buddhist sects can lead one to the truth.(śīla-vrata-parāmarśa-dṛṣṭi)--trying to seek salvation by means of the austerities of the non-Buddhist Indian schools of philosophy. In the Yogācāra system, it is taken as one of the four, or five 'wrong views' (四見 五惡見), also, one of the 'ten secondary dullnesses.' This general type of attachment is also distinguished into the two times of "precepts-only" attachment 獨頭戒取 and "upside down (i.e. mistaken)" attachment 足上戒取. => Quan niệm sai lầm về đạo lý của giới luật, xem nó là nguyên nhân chính để chấm dứt khổ đau trong khi không phải như vậy, và giữ nó như là chân lý, dù không đúng. Cũng vậy, quan niệm rằng khổ hạnh, giới luật và sự thề nguyện của ngaọi đạo là có thể dẫn đến chân lý .(śīla-vrata-parāmarśa-dṛṣṭi)—nên nỗ lực tìm kiếm sự giải thoát bằng pháp tu khổ hạnh theo các trường phái triết học Ấn Độ. Theo hệ thống giáo lý của Du-già hành phái, nó được xem là một trong bốn hoặc năm tà kiến (四見五惡見Tứ kiến, ngũ ác kiến), và cũng là một trong 10 Tuỳ miên. Loại giới cấm thủ chung nầy còn được phân biệt thành hai loại: Độc đầu giới thủ 獨頭戒取và Túc thượng giới thủ足上戒取.

Giới cấm thủ 戒禁取

[ja] カイゴンシュ kaigonshu ||| An imbalanced attachment to the precepts, wherein the practitioner mistakenly believes that it is the precepts in themselves that one can attain nirvana. Or, a mistaken attachment to the moral discipline of non-Buddhist sects (Skt. śīla-vrata-upādāna; Pali sīla-bbata-upādāna). This general type of attachment is also distinguished into the two times of "precepts-only" attachment 獨頭戒取 and "upside down (i.e. mistaken)" attachment 足上戒取. See also 戒禁取見. 〔成實論 T 1646.32.320b15〕 => Sự chấp trước không quân bình về giới luật, trong đó hành giả hiểu lầm rằng họ có thể chứng niết-bàn chỉ bằng hành trì giới luật. Hoặc là chấp trước sai lầm về giới luật của ngoại đạo (s: śīla-vrata-upādāna; p: sīla-bbata-upādāna). Loại giới cấm thủ chung nầy còn được phân biệt thành hai loại: Độc đầu giới thủ và Túc thượng giới thủ足上戒取. Xem thêm mục Giới cấm thủ kiến戒禁取見.

giới cấp

1) Thừa Cấp Giới Hoãn: Mong muốn phát triển trí tuệ hơn là thọ giới (Duy Ma Cật)—One who is zealous for knowledge rather than the discipline (Vimalakirti). 2) Giới Cấp Thừa Hoãn: Mong muốn thọ giới hơn là phát triển trí tuệ—One who zealous for the discipline rather than for knowledge (Tiểu Thừa). 3) Thừa Giới Câu Cấp: Bồ Tát Đại Thừa nhấn mạnh đến cả hai—Mahayana Bodhisattvas emphasize on both. 4) Thừa Giới Câu Hoãn: Loại không nghĩ đến cả trí tuệ lẫn giới luật—One who is indifferent to both discipline and knowledge.

giới cấp thừa hoãn

2910為戒乘四句之一。戒,指佛所制定之諸戒;乘,指佛所宣說之諸法。急,急切之意;緩,緩慢之意。謂熱衷於持戒,而怠慢於聞法。此類根機雖得生於人、天,然因執著人、天之樂,故不樂聞法。(參閱「戒乘四句」2911) ; See Giới Cấp (2).

giới cấu

The source of defiling the commandments. ; Nguồn cội làm ô uế giới luật (đàn bà)—The source of defiling the commandments (woman).

giới cụ túc

Full commands for Sangha: (A) Cụ Túc Giới theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa—Full commandments for Sangha in Mahayana Buddhism: 1) 250 giới Tỳ kheo: For a monk from Theravada is 227 and from Mahayana is 250. 2) 348 giới Tỳ kheo Ni: For a nun is 348. (B) Cụ Túc Giới theo truyền thống Nguyên Thủy—Full commandments in Theravada Buddhism: 1) 227 giới trọng cho cả Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni, và còn nhiều giới khinh. Ngày nào mà vị Tăng hay Ni còn mặc áo cà sa là ngày đó các vị nầy phải giữ 227 giới trọng và nhiều giới khinh khác—227 major commandments for both Bhikkhus and Bhikkhunis. There are a lot of other minor commandments. As long as he or she is still wearing the yellow robe, he or she is bound to observe 227 major commandments, apart from many other minor ones.

Giới Danh

(戒名, Kaimyō): trong Phật Giáo, người xuất gia thọ trì giới luật, thệ nguyện suốt đời không phạm đến các giới điều ấy, và dấu ấn chứng tỏ đã được truyền trao giới pháp chính là Giới Danh. Đối với hàng tu sĩ xuất gia từ Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌), Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼) cho đến Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘), Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼); và đối với hàng cư sĩ tại gia thì Giới Danh cũng giống nhau mà thôi. Tại Nhật Bản, có truyền thống sau khi qua đời, người chết được ban cho Giới Danh như Thích …, … Viện, … Cư Sĩ (Đại Tỷ), v.v., cùng với tục danh; như Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) có Giới Danh là Đông Chiếu Đại Quyền Hiện An Quốc Viện Điện Đức Liên Xã Sùng Dự Đạo Hòa Đại Cư Sĩ (東照大權現安國院殿德蓮社崇譽道和大居士) hay An Quốc Viện Điện Đức Liên Xã Sùng Dự Đạo Hòa Đại Cư Sĩ (安國院殿德蓮社崇譽道和大居士); Võ Tướng Võ Điền Tín Huyền (武田信玄, Takeda Shingen) có Giới Danh là Pháp Tánh Viện Cơ Sơn Tín Huyền (法性院機山信玄). Trường hợp tu sĩ xuất gia, Giới Danh được gọi là Pháp Danh (法名, Hōmyō). Pháp Danh của Tăng Ni có thêm vào hiệu Phòng như Pháp Nhiên Phòng Nguyên Không (法然房源空), Phật Pháp Phòng Đạo Nguyên (佛法房道元), Thiện Tín Phòng Thân Loan (善信房親鸞), v.v. Cho nên, hiệu Phòng ấy trở thành thông xưng, và cũng có trường hợp như vậy mà được thăng cách thành hiệu Thượng Nhân (上人, Shōnin), như Pháp Nhiên Thượng Nhân (法然上人, Hōnen Shōnin), v.v. Đối với Phật Giáo Nhật Bản, Giới Danh thường được ban cho cư sĩ tại gia khi qua đời, và từ đó có tập quán khắc Giới Danh này vào bia mộ cũng như Bài Vị (牌位).

giới danh

2907佛教徒受三歸戒而歸入佛門時,由授戒師所命之名字。又稱法名。但法名一般不僅為戒名,尚包括出家時師父所起之名。 在印度,四姓入佛門出家,剃除鬚髮,身著三衣,單稱為沙門、釋子,不用本姓。但我國及日本,出家為沙彌時,捨其俗名而稱法名;在家者於受戒時則納受戒名。然日本淨土真宗因無授戒之作法,故無有法名、法號等戒名之稱。〔考信錄卷二〕(參閱「法名」3344)

giới hiền

2916梵名 Śīlabhadra。音譯尸羅跋陀羅。西元六七世紀間,大乘佛教瑜伽行派論師,為印度摩竭陀國那爛陀寺之住僧。係東印度三摩呾吒國(梵 Samataṭa)之王族,屬於婆羅門種姓。少好學,遊歷諸方,訪求明哲,至那爛陀寺遇護法菩薩,聞法信悟而出家。年三十,即以論退南印一大外道,獲王嘉賞,為建伽藍。 師長期主持那爛陀寺,弘傳唯識教義。其依解深密經、瑜伽師地論等,將佛教判為有、空、中三時,主張五種姓說。玄奘西遊時,師年已百餘,時為那爛陀寺大長老,玄奘師事之,且傳習其法。彼時,眾共尊師,不直呼其名,而美稱為「正法藏」。〔華嚴經探玄記卷一、大乘起信論義記卷上、大唐西域記卷八、卷十、大慈恩寺三藏法師傳卷三、卷七〕 ; Śīlananda (S). ; Silabhadra (skt)—See Thi La Bạt Đà La.

giới hiền luận sư

Śīlabhadrā (S)Thi la bạt đà la, Giới Hiền Luận sưSa môn người Ấn, thượng tọa chùa Na lan đà, hồi thế kỷ thứ 7 lúc ngài Huyền Trang sang Thiên Trúc thỉ được Ngài truyền cho giáo lý của Bồ tát Vô Trước và Duy thức luận. Khi ấy Ngài được 103 tuổi.

Giới Hiền 戒賢

[ja] カイケン Kaigen ||| (Treatise master 論師) Śīlabhadra (529-645). An renowned Indian master of the Yogācāra school 瑜伽行派. Originally from Magadha, he taught at Nalanda 那爛陀 temple, where he was when Xuanzang 玄奘 came to study with him in 636. He was also the teacher of Prabhākaramitra 波頗. => Śīlabhadra (529-645). Luận sư. Danh tăng học giả của Du-già hành phái Ấn Độ. Xuất thân ở Ma-kiệt-đà (s: Magadha), ngài dạy học tại Tu viện Na-lan-đà (s: Nalanda 那爛陀 ) nơi Huyền Trang đến thọ giáo với Ngài năm 636. Ngài cũng là thầy của Ba-phả (s: Prabhākaramitra 波頗)

giới hoà thượng

2907授戒之和尚,為授戒之本主。三師之一。又作戒和尚、得戒和尚、戒師。指對出家或在家之佛教徒授戒之僧人。所授之戒律有五戒、十戒、具足戒等。其中新學沙彌受具足戒時,須有三師及七證師,戒和上即為此十師之首,於戒壇上,親自授戒。此外,三師七證等諸師亦泛稱為戒師。 據四分律等之說,戒和尚須由十夏以上之比丘任之。但大乘戒中,舉凡真佛、像佛、真聖(十地等之菩薩)、像聖,及至具足五德之凡師等,皆可為戒和尚。所具之五德為:(一)堅持淨戒,(二)年滿十臘,(三)善解律藏,(四)通達禪思,(五)慧藏窮玄。 在日本,戒師又稱為臨壇和上、登壇戒師。又日本天台宗所傳之大乘圓頓戒中,可不須三師七證,而以釋迦佛像為戒和尚,故僅請一師,稱為傳戒師。又四分律等小乘戒中,後世亦有自誓受戒之法,但仍以就現前之師得戒為原則。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上三、四分律行事鈔資持記卷上三之一、菩薩戒義疏卷上〕(參閱「三師七證」595、「受戒」3101、「和尚」3124)

giới hoàn

2919宋代僧。越(浙江紹興)人。住溫陵開元寺,世稱溫陵大師。宣和年間,撰妙法蓮華經解二十卷,以闡揚天台奧意。又精通賢首大師法藏之華嚴教旨,宏揚講說,多所開發,撰述宏富。

giới hành

2907謂持戒之行為。受持佛陀所制之律法,能隨順戒體,動作身、口、意三業而不違法,稱為戒行。南山律宗立此為戒四別之一。四分律刪繁補闕行事鈔卷中一(大四○‧五○上):「戒行,謂方便修成,順本受體。」(參閱「戒四別」2905)

giới hòa thượng

See Giới Sư.

giới hương

2911以香薰於十方,比喻持戒者之德名遠聞。蓋持戒之香,芳馨徧世間,名聞滿十方,逆、順風時悉聞之;非如栴檀、沈水或花葉之香,順風則聞之,逆風則不聞。戒香經(大二‧五○八中):「世間所有諸花果,乃至沉檀龍麝香,如是等香非徧聞,唯聞戒香徧一切。」此戒香無欲無所染,等智而解脫,遊處魔不知,故是最妙最勝者。〔增一阿含經卷十三、觀佛經卷三〕 ; The perfume of the commandments, or rules. ; Đức trì giới giống như hương thơm tỏa khắp muôn phương (mùi hương của các loại gỗ chiên đàn hay các loài hoa không thể bay khắp muôn phương, duy chỉ hương thơm trì giới là bay khắp)—The perfume of the commandments or rules, i.e. their pervading influences.

giới hạn

Limited—Restricted.

giới hạnh

Strict morality.

giới hạnh ba la mật

Xem Trì giới Ba la mật.

giới hạnh tinh nghiêm

One should keep the precepts strictly.

giới hải

2911比喻戒律清淨猶如海水。摩訶止觀卷二下(大四六‧一九中):「戒海死屍,宜依律擯治。」 ; Giới luật thanh khiết như nước biển—The rules are pure and purify like the waters of the ocean.

giới hệ

3893界指欲、色、無色三界;繫乃聯繫、關連之意。即繫縛於三界之煩惱。大毘婆沙論卷五十二(大二七‧二七一下):「繫在欲,故名欲界繫;繫在色,故名色界繫;繫在無色,故名無色界繫。如牛馬等繫在於柱或在於栓,名柱等繫。」又同論卷五十謂,就界繫可分九十八隨眠,即:欲界繫有三十六隨眠,色、無色界繫各有三十一隨眠。又俱舍論卷二謂,欲界所繫者具足十八界;色界所繫者,除香味二境及鼻舌二識外,唯餘十四界;無色界所繫者唯意根、法境及意識等三界之界繫。以上爲小乘教之說。於大乘教中,唯識宗謂,繫縛三界九地之法者爲與第六識相應俱生之煩惱,分別諸識之界繫,而鼻舌二識僅存於欲界,不通於色、無色二界;眼耳身等三識僅存於初禪,於二禪以上則無,故二禪以上唯有六、七、八等三識。無色界中無色法之故,於第八識三種境之中唯緣種子而已。〔顯揚聖教論卷十八、成唯識論卷四、百法問答鈔卷四、略述法相義卷上〕 ; Sự ràng buộc về nghiệp của ba cõi—The karma which binds to the infinite, i.e. to any one of the three regions.

giới học

Adhiśīla-śikṣa (S), Adhisīla-sikkhā, Formation of Precepts Xem Tăng giới học. ; The study of the rules, or discipline; moral formation. ; Tu học giới luật, một trong tam học của Phật giáo, hai phần khác là định và huệ—The study of the rules or discipline, or the commandments, one of the three departments, the other two being meditation and philosophy. ** For more information, please see Tam Học.

giới khuyến

5917指誡、勸二門。佛教教義不出誡、勸二門,諸惡莫作,稱爲誡門;諸善奉行,稱爲勸門。百論疏卷上之中(大四二‧二四八下):「佛法大宗,唯誡與勸。惡止,明諸惡莫作,謂誡門也;善行,則眾善奉行,明勸門也。」〔中觀論疏卷一〕 ; Ngăn cấm không cho làm điều ác, khuyến tấn làm những điều thiện (chớ làm điều ác, vâng làm những điều lành)—Prohibitions from evil and exhortations to good.

giới khí

2916器,根機之意。即指堪受戒律之根機。又作戒機、戒根、戒根機。依據戒律種類之不同,所定戒器之範圍亦有別:(一)依梵網菩薩戒經卷十下所述,凡了解法師之語者,無論身為國王、王子、百官、宰相、比丘、比丘尼、十八梵天、六欲天子、庶民、黃門、淫男、淫女、奴婢、八部、鬼神、金剛神,乃至變化人等,均得受戒。但若犯出佛身血、殺父、殺母、殺和上(尚)、殺阿闍梨、破羯磨轉法輪僧、殺聖人等七遮罪者,則不得受戒。 (二)大乘法苑義林章卷三末援引瑜伽師地論卷五十三之說而有如下之記載:謂有下列六因者不得受苾芻(比丘)、苾芻尼、正學女、沙彌、沙彌尼等之律儀:(1)意樂損害,指為他人所迫或受生活逼迫者。(2)依止損害,如患有癰腫、白癩、癲狂、大小便道合等疾病者。(3)男形損害,指扇搋、半擇迦二者。(4)白法損害,如造無間業、污比丘尼等極無慚愧而白法(善法)劣薄者。(5)繫屬於他,如被債主拘執、他人之奴僕、未得父母允許者。(6)隨護他心,如變化身形者,若於受戒後恢復本形,為他人所見,必令人產生憎惡比丘之心;為護他心之故,此等變化身形者亦不得受戒。又謂近事男律儀僅限於意樂損害、男形損害者不得受戒,近住律儀則唯有意樂損害不得受戒。 (三)依四分律刪繁補闕行事鈔卷上所述,犯邊罪、犯比丘尼、賊心、破內外道、黃門、殺父、殺母、殺阿羅漢、破法輪僧、出佛身血、非人、畜生、二形等十三難者,不得受具足戒。此外,未滿二十歲、不具三衣、未得父母允許者、負債者、官人、癩、癲狂等,亦不得受具足戒。 (四)俱舍論卷十五謂,人及六欲天中,除扇搋、半擇迦、二形者外,皆可受別解脫律儀,此外,北俱盧洲者亦不得受此戒;由於此洲之人生活極為享樂,而無善惡業之造作,故戒於彼亦無作用。據俱舍論卷十五載(大二九‧八○下):「北俱盧人無受及定,及無造惡勝阿世耶,是故彼無善戒惡戒。猛利慚愧,惡趣中無,故律不律儀於彼亦非有。」 ; A utensil fit to receive the rules, i.e one who is not debarred fromentering the Order, as is an eunuch, slave, minor, etc. ; Những người đủ tư cách thọ giới hay không bị ngăn cản gia nhập giáo đoàn, chẳng hạn như những người không giết cha mẹ, không hủy báng Tam Bảo, vân vân—Those who meet the criteria to receive the rules, i.e. one who is not debarred from entering the order, such as not killing parents, not slandering the Triratna, etc. ** For more information, please see Ngũ Nghịch.

Giới Không

戒空; ~ tk. 12|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 15. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Quảng Phúc và sau truyền lại cho đệ tử là Trí Thiền.|Sư tên tục là Nguyễn Tuân, quê tại Mãn Ðầu. Thuở nhỏ, Sư đã hâm mộ Phật pháp, sớm xuất gia tu học với Thiền sư Quảng Phúc tại chùa Nguyên Hoà trên núi Chân Ma. Nơi đây, Sư ngộ được tông chỉ.|Rời Quảng Phúc, Sư đến Lịch Sơn lập am tu thiền, sau rời am chống gậy xuống núi tuỳ duyên hoằng đạo. Vua Lí Thần Tông nhiều lần mời về Kinh nhưng Sư đều từ chối, mãi sau bất đắc dĩ nhận lời và trụ trì chùa Gia Lâm.|Về già, Sư trở về quê trụ trì chùa làng Tháp Bát quận Mãn Ðẩu. Một hôm, Sư không bệnh nói kệ dạy chúng:|我有一事奇特。非青黃赤白黑|天下在家出家。親生惡死爲賊|不知生死異路。生死秖是失得|若言生死異塗。賺卻釋迦彌勒|若知生死生死。方會老僧處匿|汝等後學門人。莫認盤星軌則|Ngã hữu nhất sự kì đặc|Phi thanh hoàng xích bạch hắc|Thiên hạ tại gia xuất gia|Thân sinh ố tử vi tặc|Bất tri sinh tử dị lộ|Sinh tử chỉ thị thất đắc|Nhược ngôn sinh tử dị đồ|Trám khước Thích-ca Di-lặc|Nhược tri sinh tử sinh tử|Phương hội lão tăng xứ nặc|Nhữ đẳng hậu học môn nhân|Mạc nhận bàn tinh quỹ tắc|*Ta có một việc kì đặc|Chẳng xanh vàng đen đỏ trắng|Cả người tại gia xuất gia|Thích sinh chán tử là giặc|Chẳng rõ sinh tử khác đường|Sinh tử chỉ là được mất|Nếu cho sinh tử khác đường|Lừa cả Thích-ca Di-lặc|Ví biết sinh tử sinh tử|Mới hiểu lão tăng chỗ náu|Môn nhân, hậu học, các người|Chớ nhận khuôn mẫu phép tắc.|Nói xong, Sư cười một tiếng lớn rồi chắp tay viên tịch.

giới không giết hại

(bất sát giới): là giới đầu tiên trong Năm giới (Ngũ giới) của người Phật tử tại gia, cũng là giới căn bản của tất cả các phần giới luật trong đạo Phật.

giới không thiền sư

Zen Master Giới Không—Thiền sư Việt Nam, quê ở Mãn Đẩu, Bắc Việt. Khi hãy còn nhỏ ngài rất thích Phật pháp. Khi xuất gia, ngài đến chùa Nguyên Hòa trên núi Chân Ma là đệ tử của Thiền sư Quảng Phước. Ngài là pháp tử đời thứ 15 của dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sau đó, ngài dời về núi Lịch Sơn cất am tu thiền trong năm hay sáu năm mới xuống núi làm du Tăng đi hoằng hóa Phật pháp. Vua Lý Thần Tông nhiều lần gửi chiếu chỉ triệu hồi ngài về kinh, nhưng ngài đều từ chối. Về sau, bất đắc dĩ ngài phải vâng mệnh về trụ tại chùa Gia Lâm để giảng pháp. Về già, ngài trở về cố hươngvà trụ tại chùa làng Tháp Bát. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài hoằng hóa và trùng tu trên 95 ngôi chùa—A Vietnamese zen master from Mãn Đẩu, North Vietnam. When he was very young, he was so much interested in the Buddha Dharma. He left home to become a monk and received complete precepts with zen master Quảng Phước at Nguyên Hòa Temple on Mount Chân Ma. He was the dharma heir of the fifteenth generation of the Vinitaruci Zen Sect. Later, he moved to Mount Lịch Sơn to build a small temple to practise meditation for five or six years. Then he left the mountain to become a wandering monk to expand Buddhism along the countryside. He stopped by Thánh Chúc Cave and stayed there to practise ascetics for six years. He refused so many summons from King Lý Thần Tông. Later, he unwillingly obeyed the king's last summon to go to the capital and stayed at Gia Lâm Temple to preach the Buddha Dharma. When he was old, he returned to his home village and stayed at a temple in Tháp Bát village. He spent most of his life to expand Buddhism and rebuild more than 95 temples.

giới kinh

Dhātu sutta (P), Sutra on Properties Tên một bộ kinh.

giới kiến thủ

Tà kiến hay những hiểu biết sai lầm về giữ giới—Wrong views in understanding the precepts—Đây là kiến thủ một chiều. Những người cho rằng tu tập Phật pháp với không tu tập cũng vậy thôi. Một lối giới kiến thủ khác cho rằng sau khi chết thì con người đầu thai làm con người, thú làm thú, hoặc giả không còn lại thứ gì sau khi chết. Lối kiến thủ nầy là triết học của những nhà duy vật chối bỏ luật nhân quả—This is a biased viewpoint tending to favor one side. Those who conceive this way think that practicing Buddha's teachings is equivalent to not practicing it. Another biased one claims that, after death man will be reborn as man, beast as beast, or that there is nothing left after death. The last viewpoint belongs to a materialistic philosophy that rejects the law of causality.

giới luy

2919又作學羸。指戒體之勢用衰損羸劣。比丘等依羯磨作法得戒,應自奮勵相續,若屢屢犯戒,致使戒體勢用衰減,稱為戒羸。反之,發得戒體後,念念倍增以防非止惡,遂生未來之善果,則稱為戒肥。〔大乘法苑義林章卷三〕

giới luận

3893巴利名 Dhātu-kathā(-ppakaraṇa)。音譯作陀兜迦他。屬巴利論藏七部論之一。內容闡述蘊處界等諸法攝不攝及相應不相應之關係。對於諸法蘊處界攝不攝及相應不相應之論,在漢譯論藏中品類足論卷三、卷八至卷十、卷十八,與眾事分阿毘曇論卷二、卷六、卷七、卷十二等均述及。同時本論第六品所說者頗類於界身足論中所論心、心所與蘊處界等之相應不相應。本論較重要之註疏本有佛音之本論注(巴 Dhātukathāppakaraṇa-aṭṭhakathā)、阿難陀論師之 Tatiya-paramattha-ppakāsinī(收於阿毘達磨根本末注之第三篇)。一八九二年,庫內拉特納(E. Gooneratne)將本論及佛音注之原版校訂出版。此外,本論亦有日譯本,收於南傳大藏經中。〔善見律毘婆沙卷一、南方上座部論書解說〕 ; Dhātu-katha (P)Một tập trong 7 tập của bộ Thắng Pháp Tạng.

giới luật

2909指防止佛教徒邪非之戒法規律。梁高僧傳卷一記述曇柯迦羅譯出僧祇戒心圖,更請梵僧立羯磨法受戒。此為我國戒律之始。唐代,鑑真赴日,於東大寺設戒壇授戒,並建立唐招提寺弘傳戒律,戒律遂流傳於日本。 我國與日本之佛典,用「戒律」一語之例頗多。然在印度經律論中缺乏典據,亦不見其定義。如長阿含卷十五種德經(大一‧九六下):「捨家財業,棄捐親族,服三法衣,去諸飾好,諷誦比丘具足戒律。」上引之中,「戒律」原語,對照南傳長部 Soṇadaṇḍa sutta,其相當字為 pātimokkhasaṃvara,即梵語 prātimokṣasaṃvara。此梵語通常譯為波羅提木叉律儀,或別解脫律儀。波羅提木叉譯為戒律之例,亦見於雜阿含經卷二十五。又分別功德論卷一(大二五‧三二上):「此戒律藏者亦如是,非沙彌、清信士女所可聞見,故曰律藏也。」其中,「戒律藏」之原語為 Vinaya-piṭaka,然而,普通 vinaya 僅譯為律。 由上例,可見戒律之原語並不一定。通常,戒之原語為 śīla 或 sīla。此外,śikṣā, sikkhā(譯作學)亦譯為戒,又有 śikṣāpada(譯作學處)亦然,例如二百五十戒之戒字原語即為 śikṣāpada。又 prātimokṣa, pātimokkha(音譯波羅提木叉)譯為戒本、戒經等,upasaṃpadā 譯為具足戒。故知「戒」之原語,極為複雜。律之原語,除特殊情形外,泰半為 vinaya。由此,戒與律之原語,可視為 śīla 與 vinaya;然而 śīla-vinaya 合成語在巴利三藏中並未發現,漢譯之小乘律及大乘經論中均無此語,故戒律一語實難下定義。 概言之,戒,係以自發之心守規律;律,則含有他律規範之意義。蓋佛教教團之確立,須賴教團秩序之建立,故有分別制成之規律條文,與違反時之罰則,凡此,皆稱為律。若由內心自發遵守一切律文,則稱為戒。或亦有以戒律僅為一般之規範者,此一說法甚為普遍。要之,戒之範圍窄,律則包含一切律儀,僧人之威儀亦含攝其中;即就廣義而言,「戒律」一語實有戒、律、律儀等義。〔四分戒疏卷一上、大乘義章卷一、四分律行事鈔資持記卷上一之一、原始佛教聖典之集成第三章、第四章(印順)〕(參閱「戒」2896、「律」3789、「律宗」3795) ; Pannati-śīla (P), Precept Gồm: ngũ giới cấm, thập thiện, bát quan trai giới, 250 giới của Tỳ kheo, 350 giới của Tỳ kheo Ni, đại giói, Bồ tát giới. ; Sila and vinaya, the rules. ; Sila and Vinaya (skt)—Giới luật của Phật chế ra, phần chính thứ nhì trong Tam Tạng Kinh Điển, giới luật bao gồm những giới sau đây—Rules—Rules of law—Moral restraint or Vinaya Pitaka—Commandments, second main division of the Tripitaka (canon), vinaya includes the following: 1) Ngũ Giới Căn Bản: The five basic commandments—See Ngũ Giới. 2) Bát Giới: Eight commandments—See Bát Giới. 3) Thập Giới: Ten commandments—See Thập Giới and Thập Giới Phạm Võng Kinh. 4) Sa Di Giới: Ten commandments taken by a sramanera—See Sa Di Giới and Giới Sa Di. 5) Tỳ Kheo Giới: 250 commandments taken by a monk—See Cụ Túc Giới. 6) Tỳ Kheo Ni Giới: 348 commandments taken by a nun—See Cụ Túc Giới. 7) Bát Kính Giới: The eight commandments given to a nun before letting her entering the Bhiksuni Order—See Bát Kính Giáo.

giới luật bản luận

2909印度功德光著。主要論述僧人之各種戒律,分十七事、三科,逐一敘述僧人得戒、守戒及犯戒後還淨之法。為西藏佛教格魯派僧人必修之論著。

giới luật thiền định

Discipline of mental concentration.

Giới luật tông 戒律宗

[ja] カイリツシュウ Kairitsu shū ||| The Jielü zong (Kor. Kyeyul chong), or Vinaya sect, also known in Japan simply as Risshū 律宗. This school, based on the Mahāyāna vinaya was founded by Daoxuan 道宣, who taught that the observance of the precepts was the best path to liberation. The vinaya branch of Buddhist studies, especially active during the early periods of transmission of Buddhism in East Asia, the members of which specialized in researching and interpreting the Buddhist codes of discipline, called vinaya 戒律(see above). => (c: Jielü zong ; k: Kyeyul chong; e: Vinaya sect). Nhật Bản gọi đơn giản là Luật tông (j: Risshū 律宗). Tông nầy dựa vào luật Đại thừa do Đạo Tuyên (c: Daoxuan 道宣) sáng lập, chủ trương trì giữ giới luật là con đường tốt nhất dãn đến giải thoát. Là tông phái Phật giáo chuyên nghiên cứu giới luật, đặc biệt là sự hành trì trong thời kỳ trước khi Phật giáo được truyền sang Đông Nam Á, môn đệ tông nầy đặc biệt nghiên cứu và giải thích những điểm chính yếu về giới luật. Gọi là Giới luật tông.

giới luật tạng

2910又作律藏。為三藏之一,八藏之一。指記載戒律之經典,以其包含蘊積戒律之文義,故稱藏。(參閱「八藏」315、「三藏」690) ; Vinaya Pitaka (S). The collection of rules.

Giới luật 戒律

[ja] カイリツ kairitsu ||| A compound word created out of the Chinese translations of the two Sanskrit terms śīla 戒 and vinaya 律. {I} A broad term for the set of rules and disciplines observed by Buddhist practitioners, whether they be monks 比丘, nuns 比丘尼 or householders, the application and interpretation of which varies widely among the various branches of Buddhism. The observance of these rules prevents dissipation, allowing the practitioner to have the spiritual energy to pursue the path to enlightenment. The householder practitioner, declaring his/her faith in the three treasures, receives a set of five precepts 五戒 from the monks and nuns. Before the age of 20, if a person wants to begin the process of becoming a member of the order, they choose a preceptor of the same sects, and from that preceptor, receive initiation into the ten precepts 十戒. If, after the age of 20, one wants to become a full-fledged member of the sangha, their application will be examined by a committee of elder monks. If they are accepted, they are then initiated into the full set of precepts 具足戒, which usually number about 250 for men and 350 for women. {II} while vinaya are an integral part of every branch of Buddhism, as Buddhism worked its way into East Asia, certain groups of monks became specialists in the study, interpretation and implementation of vinaya, to the extent that "vinaya schools" were formed. Thus, in China, Korea and Japan, some monks are listed as being members of the vinaya school 戒律宗. => Là từ ghép của tiếng Hán khi dịch 2 chữ śīla: giới 戒 và vinaya: luật 律trong tiếng Sanskrit. I. Nói rộng về các giới luật mà người tu tập theo Phật pháp phải tuân giữ, dù là Tỷ-khưu, Tỷ-khưu-ni, cư sĩ, sự áp dụng và giải thích về các điều giới có rất nhiều sự khác nhau theo từng tông phái Phật giáo. Sự tuân giữ các giới nầy là để ngăn ngừa sự phóng túng, giúp người tu tập có được năng lực tinh thần để tiến đến giác ngộ. Hàng cư sĩ khi phát nguyện quy y Tam bảo, họ sẽ thọ nhận 5 giới do chư tăng ni truyền trao. Khi chưa đến 20 tuổi, nếu muốn bắt đầu trở thành người xuất gia, họ cầu thỉnh một bậc thầy làm bổn sư truyền thụ cho họ Mười giới. Nếu sau khi được 20 tuổi, họ muốn trở thành một vị tăng hoàn chỉnh, ý nguyện của họ sẽ được hội nghị tăng đoàn xem xét, nếu được chấp thuận, họ sẽ được thọ Cụ túc giới, thường gồm 250 giới cho tăng và 350 cho ni. II. Trong khi giới luật là một tổng thể của mọi tông phái Phật giáo, như Phật giáo sinh hoạt theo cách của mình ở Đông Nam Á, thì có một số nhóm tăng sĩ nghiên cứu và thực hành chuyên biệt về giới luật, dẫn đến mức 'Giới luật tông' được thành lập. Như ở Trung Hoa, Cao Ly và Nhật Bản, nhiều chư tăng được xem là thành viên của Giới luật tông.

giới lạp

2919又作戒鵤、法鵤、法臘、夏鵤、坐鵤。指僧侶受具足戒以後之年數。據釋氏要覽卷下載,比丘以夏安居之最後一日(七月十五日)為受臘日,自此而有法歲,十六日則為新歲歲首。僧侶之長幼順序即依戒臘之多寡而定;受戒年數未久者,則稱淺臘。另有一說,謂法臘乃指剃度以後之年數,戒臘為受具足戒以後之年數。又依戒臘記載僧席次序之木牌,稱戒臘牌。禪家於入寮之終有寮元茶禮,若人數眾多時,即依戒臘從上位次第請眾寮點茶,此稱戒臘茶。又僧侶之生年及戒臘,合稱為年戒。〔增一阿含經卷二十四、敕修百丈清規卷七、禪林象器箋簿券門、圖牌門〕(參閱「法臘」3431) ; The number of years a monk has been ordained. ; Số năm thọ giới của một vị Tỳ Kheo (vị thứ của Tỳ Kheo tùy theo giới lạp nhiều ít mà xác định)—The number of years a monk has been ordained. ** For more information, please see Lạp, Hạ Lạp, and Pháp Lạp in Vietnamese-English Section.

giới lạp bài

2919依戒臘記載僧眾席次之牌。又作戒牌。禪門係按堂司、侍司、眾寮之戒臘寫造,於每年七月十四日午後公佈,堂司牌置於僧堂上間,侍司牌置於法堂下間,眾寮牌則列於寮內,大眾並炷香作展拜儀式。〔敕修百丈清規卷七戒臘牌、禪林象器箋圖牌門、禪苑清規卷三維那條、僧堂清規卷三結制草單法〕

giới lạp bạc

2919記載僧侶戒臘之簿。又作僧籍簿。敕修百丈清規卷五謝掛搭(大四八‧一一四一下):「侍者先期,取堂司戒臘簿,檢看新掛搭戒臘,在上者一人為參頭。」〔禪林象器箋簿券門〕

giới lực

The power derived from the observation of the commandments. ; Công dụng sức mạnh của giới luật hoặc của việc gìn giữ giới luật khiến cho người giữ ngũ giới được tái sanh làm người, người giữ thập thiện được sanh lên cõi trời—The power derived from observing the commandments, enabling one who observes the five commandments to be reborn among men, and one who observes the ten positive commands to be born among devas.

giới môn

Tu hành giới luật là cửa vào giải thoát—The way or method of the commandments or rules—Obedience to the commandments as a way of salvation.

giới môn vãng sinh

2909謂以持戒之功德,往生極樂淨土。觀無量壽經舉出欲生極樂國土者,當修三福,其中第二福為(大一二‧三四一下):「受持三歸,具足眾戒,不犯威儀。」即解釋戒福之意。據日僧源空之觀無量壽經釋(黑谷上人語燈錄卷二所收)載,所謂受持三皈,即皈依佛、法、僧,有翻邪三皈、五戒三皈、八戒三皈、菩薩三皈等,皆為入道之初門。以此法迴向,以為往生之業。又具足眾戒者,有五戒、八戒、沙彌戒、菩薩之三聚淨戒及十重四十八輕戒等類。不犯威儀者,有三千威儀、八萬威儀。戒為諸佛之源,行菩薩道之本。若志於往生,宜持此等諸戒,此即戒門往生。

giới mạch

2912即受戒之血脈。起自釋尊,經摩訶迦葉輾轉相續,至現在之戒師及受者,其系統一脈相承,稱為戒脈。大小乘各派傳承互異,摩訶僧祇律卷三十二載,由佛、優波離、陀娑婆羅至道力,二十七人次第相承;善見律毘婆沙卷二舉優波離、馱寫拘、須那拘至私婆,凡二十四人;出三藏記集卷十二引薩婆多部記目錄,謂十誦律之傳持者,自大迦葉、阿難以下至達磨多羅,凡五十三祖;又四分律宗以曇無德為始祖,傳入我國,曇摩迦羅為二祖,經法聰至道宣,凡九祖;道宣以下至宋代元照,則為南山律十五祖。日本則以鑑真為初祖,法載、真璟以下次第傳持至今。

giới nghi

2915指授戒時之儀式作法。大、小二乘所制不同。(一)小乘戒儀,據彌沙塞羯磨本之說,正授戒中,具有九法,即:請和尚法、安受戒人、差教師法、教師檢法、召入眾法、教乞戒法、戒師問白法、羯磨師問法、正授戒法。(二)大乘戒儀,據唐代湛然所著授菩薩戒儀載,正授戒中,作十二門戒儀,即:開導、三歸、請師、懺悔、發心、問遮、授戒、證明、現相、說相、廣願、勸持。 此外,陳代慧思、唐代慧沼、澄照、宋代延壽、遵式、元照及明代智旭諸師,亦各撰授菩薩戒儀。我國自古以來多用十二門戒儀。日本有最澄、源空所編之戒儀,淨土宗以我國湛然之戒儀稱古本,源空所撰則稱新本。又真言宗傳三摩(昧)耶戒儀,異於普通授戒,僅敘述灌頂入壇前加行之法儀。〔四分律刪補隨機羯磨卷上、四分律刪繁補闕行事鈔卷上三、菩薩戒義疏卷上、梵網菩薩戒經義疏發隱、授菩薩戒儀要解〕 ; 5917佛法大海,唯信能入,故常告誡勿起疑惑,稱爲誡疑。據八十華嚴經卷六十載,如來能永斷一切眾生之疑,隨眾生各自心之所樂,皆令滿足。

giới ngoại

3891「界內」之對稱。即指欲界、色界、無色界等三界外之國土。三界乃凡夫生死往來之世界,於此三界外,尚有諸佛菩薩之淨土,此即稱爲界外。法華經卷二譬喻品(大九‧一三下):「以佛教門,出三界苦;怖畏險道,得涅槃樂。」〔大智度論卷九十三〕 ; The pure realms, or illimitable "spiritual" regions of the Buddhasoutside the three limitations of desire, form and formlessness. ; Quốc độ ở ngoài ba cõi Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới. Ngoài ba cõi nầy là cõi tịnh độ của chư Phật, Bồ Tát—The pure realms, or illimitable “spiritual” regions of the Buddhas and Bodhisattvas outside the three limitations of desire, form, and formlessness.

giới ngoại giáo

3892「界內教」之對稱。指天台宗所立四教中之別、圓二教。此二教之法身菩薩已斷見、思二惑,出離三界,於界外淨土受變易生死,斷無明而成佛,不以解脫三界爲究竟之果,故稱爲界外教。其中,界外事教指別教,界外理教指圓教。反之,以解脫三界爲究竟之果的藏、通二教則被斥之爲界內教。〔天台四教儀集註卷下〕(參閱「界外事教」3892、「界外理教」3892)

giới ngoại hoặc

3892即天台宗所立三惑中之塵沙、無明二惑。界,指欲界、色界、無色界等三界。迷於三界內外恆沙塵數之法而障於事智,稱爲塵沙惑;可以假觀對治之,而令證得道種智,成就解脫之德。迷於中道第一義諦之理而障於理智,稱爲無明惑,乃純屬三界外之惑。此惑唯有菩薩能斷除,故又稱別惑;可以中觀對治之,而令證得一切種智,成就法身之德。〔大智度論卷二十七、摩訶止觀卷四上、法華玄義釋籤卷三〕(參閱「三惑」624)

giới ngoại lí giáo

3892指天台宗所立化法四教中之圓教。此教之菩薩迷理輕,故不借事事之方便,而直談一切萬法爲中道實相之妙理,稱爲界外理教。此教說圓融無礙之妙理,故稱理教。法華經玄義卷三上(大三三‧七一○下):「圓教佛與菩薩,俱觀界外十二因緣理。」(參閱「五時八教」1132)

giới ngoại lý giáo

Thiên Thai Viên Giáo—Bồ Tát hàng Viên giáo mê cái lý nên khinh nhẹ phương tiện, chỉ dùng lý mà nói thẳng diệu lý của hết thảy vạn pháp là thực tướng của trung đạo—T'ien-T'ai's complete teaching, or the school of the complete Buddha-teaching concerned itself with the Sunya doctrines of the infinite, beyond the realms of reincarnation, and the development of the bodhisattva in those realms.

giới ngoại sự giáo

3891指天台宗所立化法四教中之別教。此教之菩薩迷中道之理重,故分別無量之事法,以之爲方便而使悟理,稱爲界外事教。法華經玄義卷三上(大三三‧七一○下):「別教佛與菩薩,俱知界外十二因緣事。」(參閱「五時八教」1132) ; Thiên Thai Biệt Giáo—Một từ mà tông Thiên Thai dùng để gọi Biệt giáo. Các vị Bồ Tát Biệt giáo dù không còn vướng bận bởi sanh tử tam giới, nhưng vẫn còn chấp vào lý trung đạo mà phân biệt vô lượng sự pháp, nên tông Thiên Thai dùng Biệt giáo làm phương tiện để giác ngộ đạo lý—T'ien-T'ai's term for differentiated teaching, which concerned itself with the practice of the bodhisattva life, a life not limited to three regions of reincarnation, but which had not attained to its fundamental principles.

giới ngoại đạo

ngoại đạo tin rằng thọ trì các giới này sẽ được sanh lên cõi trời. Không biết cụ thể nội dung các giới này, chỉ thấy trong Trí độ luận, quyển 22 có ghi rằng: “Giới của ngoại đạo là giới trâu, giới hươu, giới chó, giới quỷ la-sát, giới câm, giới điếc.” (外道戒者,牛戒,鹿戒,狗戒,羅剎鬼戒,啞戒,聾戒。- Ngoại đạo giới giả, ngưu giới, lộc giới, cẩu giới, la-sát quỷ giới, á giới, lung giới.) Ở đây tuy nội dung có khác nhưng cũng đều là liên quan đến các loài súc vật.

giới ngoại độ

3891指三界外之國土。乃斷盡三界之惑者所生之國土。在小乘中不言三界外之國土,但大乘經論則敘說不少。佛地經(大一六‧七二○中):「無量方所,妙飾間列,周圓無際,其量難測,超過三界所行之處,勝出世間善根所起,最極自在,淨識爲相,如來所都,諸大菩薩眾所雲集。」大智度論卷九十三(大二五‧七一四上):「得阿羅漢時,三界諸漏因緣盡,更不復生三界。有淨佛土出於三界,乃至無煩惱之名。於是國土佛所,聞法華經,具足佛道。」攝大乘論釋(梁譯)卷十五(大三一‧二六三中):「論曰:出過三界行處。釋曰:三界集諦爲行,三界苦諦爲處,淨土非三界苦集所攝,故言出過三界行處。」此皆指界外之淨土。然仁王般若經卷上(大八‧八二六下):「一切眾生煩惱不出三界藏,一切眾生果報二十二根不出三界,諸佛應化法身亦不出三界。三界外無眾生,佛何所化?是故我言,三界外別有一眾生界藏者,外道大有經中說,非七佛之所說。」此則說明三界外無土。智顗之仁王般若經疏卷四、柏庭之仁王般若經疏神寶記卷三等,皆就有無而會通如下:主張界外無眾生者,乃謂受分段生死之眾生者無;主張有者,則謂受變異生死之眾生之有而不相違。若斷界外眾生之有,乃外道之見;若謂無,則無異於二乘之見而不盡共;若依菩薩之見,乃爲不有不無。〔大智度論卷三十八、法華玄義卷六、卷七、法苑義林章佛土章〕

Giới ngoại 界外

[ja] カイゲ kaige ||| (1) Outside the gate (as in the Lotus Sutra 's parable of the burning house). (2) Outside of regulations. (3) That which is outside the three realms 三界. => 1. Ngoài cổng nhà (như dụ nhà lửa trong kinh Pháp Hoa). 2. Ngoài quy tắc, điều lệ. 3. Ngoài Tam giới 三界.

giới nguyên

2913戒法之本源,即指信德。蓋戒法乃衍生自眾生心性本具之信德;此一信德為一切行為之首,更為眾德之本,故謂信為戒法之本源。又於授戒會中,得戒師之本師即稱為戒源師。

giới nhiên

1222宋代僧。明州鄞縣人。初學於福泉山延壽,復從明智中立受天台教觀於南湖。元豐(1078~1085)初年,修淨業三年,建立十六觀堂。建炎四年(1130),金兵至明州,寺眾盡散,師獨不去。兵至,訝其不畏死,虜師北歸,後不知所終。時人遂以去日為忌,尊之為定慧尊者。〔佛祖統紀卷十五、淨土聖賢錄卷三〕

giới nhĩ

1223介,弱、小之義;爾,係助辭。形容至微至小,即謂現前剎那之一念心。「介爾之一念」、「一念介爾之起心」等語,均係天台宗之專用語。摩訶止觀卷五上(大四六‧五四上):「此三千在一念心,若無心而已,介爾有心,即具三千。」〔止觀輔行傳弘決卷五之三、法華玄義釋籤卷二上〕

giới nhất thực

Ekāsānikaṅga (P).

giới nhẫn

Sự nhẫn nhục đòi hỏi nơi người thọ giới—Patience acquired by the observance of the discipline.

giới nhật phật

Śīlāditya (S)Giới Nhật vương.

giới nhật vương

2904梵名 Śīlāditya。音譯尸羅阿迭多。為七世紀頃中印度羯若鞠闍國國王、劇作家、詩人,史稱戒日王第二世,以大力保護佛教、獎勵文學著名。本名 Harṣa-vardhana(音譯曷利沙伐彈那,意譯喜增、嘉增),略作 Harṣa(音譯哈薩、哈爾沙)。別名 Harṣadeva, Śrīharṣa。屬吠舍種姓,為光增王(梵 Prabhākara-vardhana,音譯波羅羯羅伐彈那,五八○年頃在位)之次子,繼長兄王增王(梵 Rāja-vardhana,音譯曷邏闍伐彈那,六○五年頃在位)即位。 蓋西元五五○年頃,戒日王第一世(梵 Śīlāditya Pratāpaśīla)在位,其次為光增王、王增王。王增王以德治國,遭東印度金耳國設賞迦王忌恨而誘殺,喜增王遂於六一○年頃即位,稱戒日王第二世。王即位後,於六年間復兄之讎,臣服五印度,擁有象軍六萬、馬軍十萬,垂三十年兵戈不起,文治武功均盛。 王歸依佛教,並致力宣揚弘布,建立數千窣堵波,並於五印度城邑鄉聚建立精廬,儲備飲食醫藥,施諸貧困,廣建伽藍。每年一度集會諸國沙門,於三七日中四事供養。又每五年舉行無遮大會,玄奘大師旅印歸國前,王即於曲女城召集無遮大會,請玄奘大師講論大乘教義,到會者有十八國王、大小乘僧三千餘人及外道、婆羅門等。 王於學術文化之提倡,不遺餘力。其所作著名之三齣戲曲為:拉塔納瓦利(梵 Rat-nāvalī,意譯寶珠胸飾)、清容婦人(梵 Priyadarśikā)、納加難陀(梵 Nāgānanda,意譯龍喜記、龍王之喜)。其中,納加難陀為謳歌佛教慈悲、犧牲精神之五幕戀愛劇,係梵語佛教戲曲中傑出之作。又作八大靈塔梵讚(原名被推定為 Aṣṭamahāśrīcaityastotra),為佛教讚歌,原作今已散逸,僅存有宋代法賢之音譯一卷及漢譯八大靈塔名號經一卷。此外,描述其生平之著作則有巴納(Bāṇa,七世紀頃)所撰之傳記小說哈薩王行傳(Harṣa-Carita)、玄奘所撰之大唐西域記,以及其他印章、碑銘類。 其卒年不詳。據唐書西域列傳卷一四六上記載,太宗貞觀二十二年(648),唐使王玄策經吐蕃赴中印度,其時戒日王已歿,大臣伏帝阿羅那順(梵 Arjuna)自立為王。可推知其歿於西元六四七年頃。又印度史上稱戒日王者,凡有數人,而以此王及摩臘婆國戒日王最為著名。據大唐西域記卷十一載,西元六百年頃,摩臘婆國戒日王崇敬三寶,曾於宮側建立精舍,作佛世尊之像,開無遮大會,招集四方僧徒。〔大唐西域記卷五、南海寄歸內法傳卷四、大慈恩寺三藏法師傳卷四、卷五、印度佛教史(多羅那他)〕 ; Śrī-harsha (S)Xem Giới nhật Phật.

giới nội

3889欲、色、無色等三界之內,稱爲界內;出離三界,則稱界外。三界爲苦之世界,而佛陀已離生死,得涅槃,故言佛陀已超出三界之生死。一般人認爲涅槃係身心歸於死滅,大乘則認爲,身心之滅絕,並非真實之涅槃,涅槃並不是僅以出三界爲目的,必須斷除精神上之迷根,始能獲得真正之涅槃。故真正之涅槃乃不分界內、界外,此稱「無住處涅槃」;若以出三界爲目的,即稱爲「界內教法」。 勝鬘經將生死分爲分段生死與不思議變易生死二種。分段生死係指界內之生死,乃眾生之生死,由於煩惱而輪迴六道。不思議變易生死,則指脫離輪迴之佛菩薩,憑其悲願心,爲救度眾生而乘願來此娑婆世界。又阿羅漢懼分段生死,故欲求出三界。然變易生死與分段生死相反,乃不分界內、界外者。而唯一能自由自在變異生死者,唯有佛陀。 天台宗將佛教分爲藏、通、別、圓四教,認爲藏教是界內之事教;通教是界內之理教;別教是界外之事教;圓教是界外之理教。事教係指由因緣生滅而變化有差別相之教法;理教則指一貫事理之根本教法。此外,惑亦分三種,即界內惑(指見、思惑)、界外惑(指無明惑)及塵沙惑(塵沙惑通於界內、界外)。藏、通二教僅斷除界內之見、思二惑,而別、圓二教則是進一步斷除界內界外一切之塵沙惑。 斷除三界迷惑所生之國土,乃位於三界外,故稱爲界外土,此爲大乘佛教之說法。大智度論卷九十三謂,阿羅漢生於出三界之淨土,而後聽聞法華經。天台宗則將淨土分爲四種:凡聖同居土、方便有餘土、實報無障礙土、常寂光土四土,其中,以凡聖同居土爲界內,其他三土爲界外。 律宗將修道限定範圍所在之地域稱結界;區域之內,稱界內(即界中);區域之外,稱界外。〔法華經卷二譬喻品、瑜伽師地論卷七十九、梁譯攝大乘論卷下、法華經玄義卷五上、卷六下、天台八教大意、華嚴五教章卷一〕(參閱「五時八教」1132、「生死」2059、「結界」5181) ; Within the region, limited, within the confines of the tam giới. ; Gồm ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, không vượt ra ngoài ba cõi nầy—Within the region—Limited—Within the confines of the three regions of desire, form, and formlessness, and not reaching out to the infinite.

giới nội giáo

3890「界外教」之對稱。天台宗所立四教中之藏、通二教。此二教對沉淪三界中之眾生,教斷見、思二惑,使出離解脫三界,此一教法稱界內教。又小乘教以出離三界爲修道之究竟,得解脫三界而證涅槃,斷界內惑之教法,故亦稱界內教。其中,界內事教指藏教,界內理教指通教。〔天台四教儀集註卷下〕(參閱「界內事教」3890、「界內理教」3891) ; Hai tông phái Thiên Thai (Giới Nội Sự Giáo hay Tạng Giáo và Giới Nội Lý Giáo hay Thông Giáo) chỉ dạy cho chúng sanh đang chìm đắm trong ba cõi biết dứt bỏ mê hoặc kiến tư mà ra khỏi ba cõi nầy—T'ien-T'ai's two schools. 1) See Giới Nội Sự Giáo, and Thiên Thai Tam Giáo (C). 2) See Giới Nội Lý Giáo, and Thiên Thai Tam Giáo (C).

giới nội hoặc

3891指天台宗所立三惑中之見、思二惑。見惑即於見道所斷之惑,迷於推度三世道理之煩惱。思惑,新譯修惑,即於思惟道(修道)所斷之惑,迷於現在事境之煩惱。此二者皆迷於界內之事理而招致三界之生死,故稱界內惑。(參閱「三惑」624) ; Một trong tam hoặc, kiến tư hoặc khiến con người tiếp tục lăn trôi trong luân hồi sanh tử—Illusion of, or in, the three realms (desire, form, and formlessness) which gives rise to rebirths, one of the three illusions. ** For more information, please see Tam Hoặc in Vietnamese-English Section.

giới nội lí giáo

3890指天台宗所立化法四教之通教。此教談因緣即空之理,所談事相少於藏教,然窮理稍深,謂達生即無生,空即不空,故稱之爲界內理教。(參閱「五時八教」1132)

giới nội lý giáo

Thông Giáo—Đây là tên mà các nhà Thiên Thai gọi Thông Giáo. Thông giáo bàn về sự tướng có kém hơn Tạng Giáo, nhưng xét kỹ thấy lý cũng khá sâu sắc, đạt tới sinh tức vô sinh, không tức bất không, nên khen là Giới Nội Lý Giáo—T'ien-T'ai considered the intermediate or interrelated teaching to be an advance in doctrine on the last, partially dealing with the “emptiness” and advancing beyond the merely relative.

giới nội sự giáo

3889指天台宗所立化法四教之一。即三藏教或藏教,指小乘教而言。即爲三乘人說阿含經,以明但空之理,並由析空觀而入無餘涅槃之教。此一教義特重色心諸法等之事相差別,精研五蘊十二處十八界等事項之法門,然所論唯偏真之空理,究理猶屬淺薄,故被貶稱爲界內事教。〔法華玄義釋籤卷十、天台四教儀集註卷下〕(參閱「五時八教」1132) ; Tạng Giáo—Thiên Thai cho rằng Tam Tạng Giáo của Tiểu Thừa tuy là pháp môn nghiên cứu tinh thâm về các sự tướng như ngũ uẩn, thập nhị sử, thập bát giới, nhưng xét kỷ thì rất thô thiển, nên chê là Giới Nội Sự Giáo—T'ien-T'ai's term for the Tripitaka school, i.e. Hinayana, which deals rather with immediate practice, confining itself to the five skandhas, twelve stages, and eighteen regions, and having but imperfect ideas of illimitable.

Giới pháp

(戒法): chỉ chung cho luật pháp do đức Phật chế ra, cũng là quỹ phạm của chúng sanh. Phàm 5 giới, 8 giới, 10 giới, Cụ Túc Giới (具足戒), Tam Tụ Tịnh Giới (三聚淨戒), 10 giới trọng, 48 giới khinh, v.v., được gọi là giới pháp; sau đó chỉ chung cho giới luật. Giới là căn bản của Thánh đạo, nhờ nương vào giới này, sanh Thiền định và trí tuệ diệt khổ; được miễn khỏi bị chìm đắm trong biển sanh tử luân hồi, nên được gọi là một trong những con đường tắt dẫn đến giải thoát. Trong tác phẩm Sự Vật Kỷ Nguyên (事物紀原), chương Đạo Thích Khoa Giáo (道釋科敎), Giới Đàn (戒壇), của Cao Thừa (高承, ?-?) nhà Tống, cho biết rằng: “Hán Ngụy chi tăng, tuy thế nhiễm nhi giới pháp vị bị, duy thọ Tam Quy (漢魏之僧、雖剃染而戒法未僃、唯受三歸, tăng sĩ thời nhà Hán và Ngụy, tuy xuất gia mà giới pháp chưa đủ, chỉ thọ Tam Quy thôi).” Hay trong Lược Thọ Tam Quy Ngũ Bát Giới Tinh Bồ Tát Giới (略授三歸五八戒幷菩薩戒, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1087) cũng khẳng định rằng: “Phù giới pháp giả, nãi thị thành Phật chi nguyên, chứng Thánh chi bản (夫戒法者、乃是成佛之源、證聖之本, phàm giới pháp chính là nguồn để thành Phật, là gốc để chứng Thánh).” Hoặc trong Ngũ Dăng Hội Nguyên (五燈會元, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 1, phần Thập Tam Tổ Ca Tỳ La Tôn Giả (十三祖迦毗摩羅尊者), lại có đoạn: “Khởi sân hận tưởng, mạng chung đọa vi mãng thân, trú thị quật trung, kim dĩ thiên tải, thích ngộ tôn giả, hoạch văn giới pháp, cố lai tạ nhĩ (起嗔恨想、命終墮爲蟒身、住是窟中、今已千載、適遇尊者、獲聞戒法、故來謝爾, do khởi tưởng sân hận, khi mạng hết đọa làm thân con trăn, sống trong động này, nay đã ngàn năm, may gặp tôn giả, được nghe giới pháp, nên đến tạ người).”

giới pháp

2908泛指佛陀所制之律法,乃眾生之軌範。凡五戒、八戒、十戒、具足戒、三聚淨戒、十重戒、四十八輕戒等律法,通稱戒法。蓋戒係聖道之根本,因依此戒,得生諸禪定及滅苦之智慧,得免沒溺於生死海,故為解脫途徑之一。南山律宗立此為戒四別中之一者。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷中一〕(參閱「戒四別」2905) ; Śīladharma (S).

Giới pháp 戒法

[ja] カイホウ Kaihō ||| A Chinese translation of the name of Śīladharma 尸羅達摩. => Hán dịch từ chữ Śīladharma (尸羅達摩c: thi-la đạt-ma).

giới phân biệt quán

Dhātu-prabheda-smṛti (S)Tên một bộ luận kinh.

giới phì

2908由秉聖法所發得無作之戒體,其勢用念念倍增,防非止惡,遂生未來善果者,稱為戒肥。反之,如其勢用漸衰損,終至失戒,稱為戒羸。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上、大乘義章卷十〕(參閱「戒羸」2919)

giới phạt

5917即對有過失之修行僧,給予嚴重之懲罰。大宋僧史略卷上(大五四‧二四○中):「或有過者,主事示以拄杖,焚其衣鉢,謂之誡罰。〔禪林象器箋罪責門〕 ; Cảnh cáo và răn phạt—To warn and punish; to punish for breach of the commandments or rules.

giới phần

Any region or division, especially the region of desire, form and formlessness.

giới phẩm

3892請參閱 阿毘達磨界身足論 即俱舍論一部九品中之第一品。界者,性之義。此品用以明諸法之體性,故稱界品。俱舍光記卷一(大四一‧一下):「界者性也,性之言體。此品明諸法體,以界標品。」 ; The different groupings, or subjects of the commandments, or discipline; i.e. the 5, 10, 250 etc. ; Phẩm loại của giới như ngũ giới, thập thiện, vân vân—The diferent groupings or subjects of the commandments, or discipline, i.e. the five basic rules, the ten commandments, etc. ** For more information, please see Giới Luật.

Giới phẩm 戒品

[ja] カイホン kaihon ||| (1) One of the various "sets" of precepts, such as the five precepts for householders, or ten precepts for clerics, etc. (2) A chapter or section of a Buddhist text which outlines precepts. => 1. Một trong các 'loại' giới , như 5 giới cho hàng cư sĩ tại gia, 10 giới cho chúng xuất gia,v.v... 2. Một chương hay phần của kinh điển Phật giáo, trong đó có phần đề cương về giới luật.

giới phận

Ba cõi Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới—Any region or division, especially the regions of desire, form, and formlessness.

giới quang

Śīlaprabhā (S)Tên một vị sư.

giới quang minh

2905請參閱四分律含注戒本疏 表受戒之德相,或形容持戒修善之功德之用語。又作戒光。光明,比喻持戒之德力。蓋諸佛出現於世,皆相承傳誦戒文,一切發心之菩薩,乃至十住、十行、十地菩薩亦皆誦之,故非僅是佛,凡戒德熏習之僧尼,口中皆出此戒光。然此光非青、黃、赤、白、黑等之色光,非色亦非心,非有亦非無,亦非因果之法,唯於思想上假立,為諸佛之本源菩薩道之根本。又以持戒修善之功德能斷除諸惡、利益眾生,如陽光平等遍照一切萬象,故形容持戒修善之功德等,亦常以此語表示之。〔梵網經卷下〕

giới sa di

Thập giới Sa di—The ten commands for the ordained: 1) Không sát sanh: Not to kill. 2) Không trộm cướp: Not to steal. 3) Không dâm dục: Not to commit adultery. 4) Không nói dối: Not to lie (speak falsely). 5) Không uống rượu: Not to drink wine. 6) Không dùng đồ trang sức hay nước hoa: Not to use adornment of flower, nor perfume. 7) Không múa hát, đờn địch cũng không xem múa hát đờn địch: Not to perform as an actor, singing, nor playing musical instrument. 8) Không nằm giường cao rộng: Not to sit on elevated, broad and large beds. 9) Không ăn sái giờ: Not to eat except in regular hours. 10) Không cất giữ tiền, vàng bạc hay châu báu: Not to possess money, gold, silver, or precious things.

giới sát

To abstain from killing.

giới sát niệm phật

2912戒殺生、修念佛之意。係我國宋末以降特別強調之行儀。不殺生為五戒、十戒等之第一戒,乃佛教所嚴守者。南北朝齊梁之際,學佛者即依據楞伽阿跋多羅寶經卷四中「不應食肉」之語而斷肉食。隋唐時代依梵網經及金光明經卷四流水長者子品等,舉行戒殺放生法會。其後宋末之真歇清了、王日休等,依據觀無量壽經三福(大一二‧三四一下)「慈心不殺,修十善業」之說法,主張念佛行者須受持殺生戒,以為警策。 王日休之龍舒增廣淨土文卷四修持法門八(大四七‧二六四上):「全持齋戒,又禮佛念佛,讀誦大乘經典,解第一義,以此迴向願生西方,必上品上生。(中略)能持此五戒,常不失人身。若修淨土者不在此限也。若全持十戒加以如上文所言,功德固上品上生矣。若止持五戒而修淨土,亦不失中品上生或上品下生。若又不能持五戒,豈可以不戒殺生乎?殺生為五戒之首,亦為十戒之首,亦為比丘五百五十戒之首。是不殺則為大善,殺則為大惡。(中略)若止能持此不殺之一戒以修淨土,已不在下品生矣。」故知,不肉食是為大善。若因疾病而食三種淨肉時,須對所食眾生,念誦「南無西方極樂世界三十六萬億一十一萬九千五百同名同號阿彌陀佛」四十九遍,以祈彼等往生極樂。此一說法,為明代以後居士行法之軌範。又歸元直指集卷上揭載真歇等之戒殺文,雲棲袾宏製戒殺放生文,鼓山元賢撰淨慈要語,均強調念佛與慈悲戒殺放生兼修。〔龍舒增廣淨土文卷六、歸元直指集卷下、中國淨土教理史(望月信亨)〕

giới sư

The teacher of the discipline, or of the commandments (to the novice) ; Giới Hòa Thượng—Vị Hòa Thượng làm phép truyền thụ giới cho đệ tử—The teacher of the discipline, or the commandments (to the novice).

giới sư ngũ đức

The five virtues of the teacher of discipline: obedience tothe rules, twenty years as monk, ability to explain the vinaya, meditation, ability to explain the abhidharma. ; Năm đức của giới sư—The five virtues of the teacher of the discipline: 1) Trì Giới: Tuân thủ giới luật—Obedience to the rules. 2) Thập Hạ: Xuất gia 10 năm hay có mười tuổi hạ trở lên (vài tông phái đòi hỏi từ 20 tuổi hạ trở lên)—Ten years as a monk (some sects require 20 years or more). 3) Thông Hiểu Luật Tạng: Khả năng giải thích giới luật—Ability to explain the vinaya. 4) Thông Suốt Thiền Định: Meditation. 5) Thông Suốt Vi Diệu Pháp (Kinh Tạng) Khả năng giải thích kinh pháp—Ability to explain the Abhidharma.

giới sắc

To abstain from sexual relations.

giới tam muội

Giới tam muội được chư Tăng Ni thọ trì nghiêm nhặt trước khi được cho cho làm lễ thọ giới cụ túc—Samaya commandments—The rules to be strictly observed before full ordination in the esoteric sects.

giới thai tự

2915位於北平西郊十七公里處之西山極樂峰。北平名剎之一。山麓有石琢牌坊一座,高九點六公尺,寬十六公尺,瓦椽、榱桷、樑柱均白石築成。建於唐武德五年(622),初名慧聚寺。遼咸雍年間有法均大師開山築戒壇,極為方廣,階全以白玉石作成,雕刻精美,戒壇上置佛像,為全國最大之戒壇,故亦稱戒壇寺。金時波羅尊者於此說教。明正統年間改稱萬壽寺。憲宗時,有道孚法師者,世稱鵝頭祖師,益宏殿宇。正殿為大雄寶殿,據云其額為嚴嵩所題。其後有千佛閣,閣東為戒壇,壇前有明慈聖太后所鑄銀鼎。其上為觀音殿,閣東有慧聚堂,係清朝恭親王斥資所建。西為方丈室。戒壇後面有極珍貴之金天德四年(1152)之碑。

giới thanh

1222(1239~1301)元初臨濟宗楊岐派禪僧。福州(福建)長溪人,俗姓王。號龍源。出家於雪峰山,於一峰齊之門下得度,十五歲即受具足戒。吳興道場山東叟仲穎請師為典賓,繼掌內記之職。後辭,與育王山寂窓有照契合,為其法嗣,司掌藏鑰。初住浙江壽國寺,旋遷開壽普光禪寺。至元二十二年(1285),浙江道場山罹火災,師起而自任,重建大佛寶殿等堂宇,具備大藏經、鼓鐘等法器。元世祖賜以金襴袈裟及「佛海性空禪師」之號。大德五年示寂,世壽六十三。有語錄一卷行世。〔增續傳燈錄卷四、續燈存稾卷五〕

giới thanh tịnh

Pure precepts. ; Sila-visuddhi (p & skt)—Purity of life—Keeping the precepts perfectly.

giới thiện

The good root of keeping the commandments. ; Căn thiện được vun đắp do việc thọ trì giới luật, nếu thọ trì ngũ giới sẽ được tiếp tục sanh vào cõi người, nếu tu tập thập thiện sẽ được sanh vào cõi trời hay sanh làm quốc vương—The good root of keeping the commandments, from which springs the power for one who keeps the five to be reborn as a man; or for one who keeps the ten to be reborn in the heaven, or as a king.

giới thiệu

To present—To introduce

giới thuyết luận

Dhātu katha (P)Tập thứ ba của bộ Luận tạng.

giới thân

2907梵語 śīla-skandha。五分法身之一。又作戒眾、戒蘊、戒品。指無漏之身、語二業。即於無學身中,與無漏道俱起,而以道俱戒(具有防非止惡之功能)之無表為體者,稱為戒身。(參閱「五分法身」1066) ; Śīla-skandha (S)Trong ngũ phần pháp thân.

giới thân luận

Xem A tì đạt ma giới thân túc luận.

giới thân túc luận

Dhātukāyapāda (S)Tên một bộ luận kinh. Do Ngài Thế Hữu soạn.

giới thân tức luận

Xem A tỳ đạt ma Giới Thân Tức Luận.

giới thú

The three regions (desire, form and formlessness) and the six paths. ; Ba cõi sáu đường (tam giới lục thú) là xứ sở của luân hồi sanh tử—The three regions (desire, form, and formlessness) and the six paths or six gati, i.e. the sphere of transmigration.

giới thạch

Giới Tử Kiếp và Bàn Thạch Kiếp. Giới Tử Kiếp nghĩa là vô lượng kiếp (see Giới Tử Kiếp)—Mustard-seed kalpa and rock kalpa, the former interpreted as immeasurable kalpas, the latter the time required to rub away a rock 40 mile-square by passing a soft cloth over it once every century.

Giới thể

(戒體、戒体): tánh thể của giới, cựu dịch là vô tác (無作), tân dịch là vô biểu (無表); tức là công năng phòng ngừa điều sai, ngăn chận điều ác sanh khởi nơi thân của người sau khi thọ giới; cũng chỉ cho sự tín niệm đối với giới pháp và ý chí vâng giữ giới pháp ấy. Giới thể tuy do tác dụng hành lễ xin giới, v.v., mà sanh khởi, nhưng sau khi có được, thì nó thường hằng tương tục, nên gọi là vô tác. Bên cạnh đó, ngoại tướng của giới thể không thể hiện ra bên ngoài, nên gọi là vô biểu. Trong Phật Thuyết Đại Thừa Giới Kinh (佛說大乘戒經, Taishō Vol. 24, No. 1497) có đoạn: “Giới vi tối thượng trang nghiêm, giới vi tối thượng diệu hương, giới vi hoan hỷ thắng nhân, giới thể thanh tịnh, như thanh lãnh thủy, năng trừ nhiệt não (戒爲最上莊嚴、戒爲最上妙香、戒爲歡喜勝因、戒體清淨、如清冷水、能除熱惱, giới là trang nghiêm trên hết, giới là hương mầu trên hết, giới là nhân thù thắng hoan hỷ, giới thể trong sạch, như nước trong mát, có thể trừ nóng bức).”

giới thể

2920戒之體性。舊譯無作,新譯無表。指行者受戒後,於身所生防非止惡之功能。亦即對於戒法之信念與奉持戒法之意志。戒體雖由作禮乞戒等作用而生起,但發得之後,即不假造作,恒常相續,故稱無作;其外相不顯著,故稱無表。據智顗之菩薩戒義疏卷上載,陳隋以前即有戒體有無之諍論,智顗認其為有,視之為假色。(參閱「戒體三種」2920、「無作戒」5087) ; The embodiment of the commandments in the heart of the recipient;also the basis, or body, of the commandments. ; Giới được thực hành qua thân tâm người thụ giới (một khi đã tu hành như vậy thì giới thể của người ấy có khả năng phòng ngừa tà phi, ngăn chặn điều ác)—The embodiment of the commandments in the heart of the cultivator. (recipient).

giới thể tam chủng

2920防非止惡之功能(即戒體,又譯無作、無表),其性通於大小乘,古來有三種異說,即色法、心法、非色非心法。(一)色法:說一切有部認為戒體乃依四大而生之無見無對之實色,攝於色蘊之中,稱無表業或無表色。如俱舍論卷十三所載(大二九‧七○上):「毘婆沙師說有實物,名無表色,是我所宗。」 (二)心法:經部、唯識宗之主張。謂受戒時有發動思之心所,由此心所之種子相續而生防非止惡之功能,故戒體雖依受戒時之表色而生,附以色名,然實為心法。如成唯識論卷一所載(大三一‧四下):「表既實無,無表寧實,然依思願善惡分限,假立無表,理亦無違。謂此或依發勝身語善惡思種增長位立,或依定中止身語惡行思立,故是假有。」蓋大乘唯識宗主張無表雖非色,但由其所防與所發,假名為色。又就別解脫戒而言,謂無表以思心所種子上之功能為體;若就道共戒與定共戒而言,則以現行之思為體。 (三)非色非心法:成實論之主張。謂戒體無形質,故非色;無緣慮,故非心。如成實論卷七無作品所載(大三二‧二九○中):「若人在不善、無記心,若無心,亦名持戒。(中略)無作法非心,今為是色,為是心不相應行。(中略)色是惱壞相,是無作中惱壞相不可得故,非色性。」道宣亦主此說,係於四分律之當分,依準成實宗之所立,立非色非心之戒體。但道宣於四分律刪補隨機羯磨疏卷三復舉出南山圓宗之戒體說,即視四分律分通於大乘,而以藏識(真妄和合之現識)中熏習之善種子為戒體,此「種子戒體說」實為道宣之正義。 此外,天台宗智顗大師於菩薩戒義疏卷上謂戒體為假色,但據其釋禪波羅蜜次第法門卷二、摩訶止觀卷四上所載,則以心性為戒體。天台一家雖有色心戒體二說,但仍以色法戒體為定準。密教亦主張戒體為心法,以本有之淨菩提心為佛性三摩耶戒之戒體。〔俱舍論卷一、俱舍論光記卷十三、四分律刪繁補闕行事鈔卷上一、卷中一、四分律行事鈔資持記卷中一、大乘義章卷十、大乘法苑義林章卷三末、摩訶止觀輔行傳弘決卷四之一、授菩薩戒儀、釋氏要覽卷上、梵網經玄義〕

Giới thể 戒體

[ja] カイタイ kaitai ||| The 'essence of the precepts.' The power of stopping evil and cultivating goodness that is endowed on a person by their receiving the Buddhist precepts. => Thể tính của giới luật. Năng lực ngăn chặn điều ác và tăng trưởng điều thiện. Điều nầy phát sinh khi thọ giới pháp Phật chế.

giới thủ

Chấp chặt vào những giới luật tà vạy—Clinging to the commandments of heterodox teachers. ** For more information, please see Giới Cấm Thủ Kiến, Tứ Thủ, Ngũ Kiến Thô Thiển, and Ngũ Kiến Vi Tế.

giới thủ kiến

Xem Giới cấm thủ kiến. ; See Giới Cấm Thủ Kiến.

Giới thủ kết

xem Ba kết.

giới thủ sứ

Mê mờ do bám víu vào những giới luật tà đạo hay phiền não do việc mê chấp vào giữ giới—The delusion resulting from clinging to heterodox commandments.

Giới thủ 戒取

=> Viết tắt của giới cấm thủ–chấp trước vào giới.

Giới thừa câu cấp 戒乘倶急

[ja] カイジョウクキュウ kaijōkukyū ||| See 戒乘四句. => Xem Giới thừa tứ cú 戒乘四句.

giới thừa tứ cú

2911戒,指佛所制之輕重諸戒;乘,指佛所說之大小乘諸法。由持戒、聞法之先後緩急,而生乘急戒緩、戒急乘緩、乘戒俱急、乘戒俱緩等四種之別,稱為戒乘四句。 此係天台、華嚴諸宗,為區別不同之根機而設。即:(一)乘急戒緩,又作戒緩乘急。急,即急切;緩,即寬緩。謂懈怠持戒,故墮於修羅、餓鬼、畜生、地獄等四趣之中;然以乘急而熱衷聞教,故仍得聞法。如八部眾中之龍、鬼等,皆得與會聞法。(二)戒急乘緩,謂因急於持守戒法,故得生於人、天;然以乘緩之故,懈怠於聞法。(三)乘戒俱急,又稱戒乘俱急。謂因戒急,得生於人、天;亦由乘急之故,得聞法悟道。(四)乘戒俱緩,又稱戒乘俱緩。謂既不持戒,亦不聞法,而喪失人身,永墮四趣。〔北本大般涅槃經卷六、摩訶止觀卷四上、法華經文句卷二下、華嚴經隨疏演義鈔卷六、止觀輔行傳弘決卷四之二、天台四教儀集註卷上〕

Giới thừa tứ cú 戒乘四句

[ja] カイジョウシク kaijōshiku ||| Four different ways of combining wisdom (乘) and moral discipline (戒): (1) jiehuanshengji 戒緩乘急 To be relaxed about the precepts while applying great effort toward polishing wisdom. (2) jiejishenghuan 戒急乘緩 To apply great effort toward the precepts while relaxing on the polishing of wisdom. (3) jieshengjuji 戒乘倶急 To apply great effort to both. (4) jieshengjuhuan 戒乘倶緩 To be relaxed about both. The result of serious application to precepts is rebirth as a god. The result of serious application to the polishing of wisdom is enlightenment. => Bốn phương pháp phối hợp Thừa (trí tuệ)(乘e: wisdom) và Giới (戒e: moral discipline): 1. Giới hoãn thừa cấp (c: jiehuanshengji 戒緩乘急): không chịu nghiêm trì giới pháp, trong khi tinh tấn trau dồi trí tuệ. 2. Giới cấp thừa hoãn (c: jiejishenghuan 戒急乘緩): Tinh cần trì giữ giới luật trong khi xem nhẹ tu tập trí tuệ. 3. Giới thừa câu cấp (c: jieshengjuhuan 戒乘倶急): tinh cần tu tập cả thừa lẫn giới. 4. Giới thừa câu hoãn (c: jieshengjuhuan 戒乘倶緩): Không trì giữ giới luật, cũng không trau dồi trí tuệ. Kết quả của việc nghiêm trì giới luật là được tái sinh ở cõi trời. Quả báo của việc trau dồi trí tuệ là được giải thoát. [ja] チュウ chū ||| Sanskrit śalāka; (1) A small stake or stick. A piece of wood or bamboo used for couting and voting. (2) A thin piece of wood used for wiping away ecrement. [ja] ショウゴン shōgon ||| To endeavor, make effort; strain, exert (ātāpin, pradadhāti, vīrya). [ja] ショウミョウ shōmyō ||| Exact, lucid, explicit, distinct; definite, clear, bright. [ja]ショウジン セイシン shōjin seishin ||| (1) Consciousness, mental function-the sixth consciousness 六識. (2) The mind as subject [心], as distinguished from the body, which experiences rebirth. (3) Core, marrow, essence. [ja] ショウジャ shōja ||| The residence of a religious practitioner: temple, monastery, etc. [ja] ショウショウ shōshō ||| Minute, detailed, exact. [ja] ショウジン shōjin ||| (vīrya). 'effort', 'vigor', 'diligence.' One of the 'six perfections' (六波羅蜜). One of the 'ten good mental condition' dharmas explained in the Abhidharmakośa-bhāsya, one of the eleven good mental function dharmas in the doctrine of the Yogācāra school. The mental operation of continuously cultivating good dharmas and cutting off evil ones. [ja] ショウシントウヒガン shōjin tōhigan ||| The perfection of effort. See 精進波羅蜜. [ja] ショウジンハラミツ shōjinharamitsu ||| The perfection of effort (virya-pāramitā). One of the six pāramitās 六波羅蜜 and ten pāramitās 十波羅蜜. [ja] ショウジンハラミッタ shōjin haramitta ||| See 精進波羅蜜. [ja] アク yaku ||| (1) An agreement, a promise, a pact, an alliance, a treaty. (2) To promise, contract, agree to, to bind. (3) To be in dire circumstances; to be in poverty. To be frugal, sparing, concise, restrained; to be cautious. (4) About, nearly, approximately. (5) About, concerning. Concerning . . .; seen from such-and-such a standpoint (āvasthika). Seen from such-and-such a perspective; seen from the standpoint of . . . (6) To shorten, contract, shrink, compress. [ja] アクキョウ yakukyō ||| Seeing from the viewpoint of a particular doctrine. [ja] ジュンタ Junda ||| Also written 准陀, 淳陀. Cunda, a lay disciple of Śākyamuni who invited him to his home for what turned out to be the last meal of his life. The meat which was served for dinner was tainted, causing the Buddha to suffer from food poisoning and eventual death (Nirvāna-sūtra). [ja] フンネン funzen ||| To be in trouble, difficulty, confusion, disorder. [ja] フンウン fun'un ||| Out of order, in disorder, a mess, be in confusion, disarranged; in chaos. [ja] ソ so ||| (1) White cloth. (2) White, bright. (3) Simple, unadorned. Purity, simplicity. Naive. (4) Origin, beginning. Raw materials. [ja] ソタンラン sotanran ||| An old transliteration of the Sanskrit sūtra, more commonly transliterated as 修多羅. 〔瑜伽論 T 1579.30.345a28〕 [ja] ソカイ sokai ||| One's original intent; a vow or wish held from long ago. [ja] サク saku ||| (1) A rope, a cord. (2) To twine rope. (3) Regain, retake, resume, recover, redeem. (4) Seek, ask for, desire, search for; to question. (5) Sad, lonely. (6) Use up, exhaust, finish. (7) Scatter, disperse. (8) A unit of length. [ja] サクオン sakuon ||| To seek the occult. [ja] シマゴン shimagon ||| Pure gold with a violet tinge, considered to be the most precious gold. (suvarna) [ja] シマゴンシン shimagonshin ||| The golden Buddha-body tinged with violet. [ja] サイ sai ||| (1) Get thin, taper off, make narrow. (2) Fine, thin, slender. (3) Detailed, minor, trifling, delicate, small, minute. (4) The subtle defilements possessed by bodhisattvas, as opposed to the coarse defilements possessed by worldlings. [ja] サイキョウソウシキ saikyōsōshiki ||| The rarefied, or pliant aspect of the store consciousness, which exists as the opposite of the dense, or sluggish aspect of the store consciousness (麁重相識). The rarefied is aspect refers to virtuous elemental constructions with outflow 有流善法. 〔攝大乘論 T 1593.31.1717c28〕 [ja] シュウナンダイシ Shūnan daishi ||| Zhongnan DashiAnother name for Shan-tao 善導. 終南 Chung-nan is the name of the mountain monastery where he lived and taught. [ja] シュウジフクシ shūjifukushi ||| To finish and start over again. In the Mahāyāna sutras a bodhisattva usually repeats his question to the Buddha three times in succession. [ja] ケツ ketsu ||| (1) Tie up, join together, link. Restrain, shackle. The shackles of the afflictions; defilement. That which binds and fetters sentient beings. Delusion (samyojana). (2) A reference to the 'ten fetters' 十結: desire, anger, pride, false views, doubt, attachment to discipline, attachment to existence, jealousy, parsimony, ignorance. (3) A contract, a bond. (4) Give birth to, produce (pratisaṃdhi). To give fruit, to finish. (5) Rolled hair. (6) The fifth part of the five part syllogistic method of the Old School of Buddhist Logic 因明. [ja] ケッセイ kessei ||| (1) To stay with resolve in the meditation retreat. (2) The retreat season; meditation season. [ja] ケッカ kekka ||| The beginning of the summer meditation retreat. [ja] ケッショウ kesshō ||| Literally, "linking life;" the power of continuity that leads one from one life to the next, based on the continued production of karma. To be born; to undergo birth. (pratisaṃdhi) 〔二障義、 HPC 1.796b〕 [ja] ケチシャ kechisha ||| A community dedicated to a common goal in religious practice. [ja] ケチキョウ kechikyō ||| (1) A Buddhist council held to settle debates over matters of orthodoxy; see 結集. (2) A sutra that the Buddha preaches as a conclusion, as a summary of a main sutra. As contrasted with a prefatory sutra 開經 and a main body sutra 本經. For example, the Kuānpŭxiánjīng 觀普賢經 is the concluding sutra for the Fahuajing 法華經. [ja] ケツバク ketsubaku ||| (1) The condition of bondage due to affliction. Equivalent in meaning to "affliction" 煩惱. (2) A Chinese translation of the name of the rākṣasī Lambā 藍婆. [ja] ケッカ kekka ||| See next 結跏(加)趺坐 . [ja] ケッカフザ kekkafuza ||| A style of sitting for meditation, known in the West as Lotus Position. One first places the right foot on the left thigh, and then places the left foot on the right thigh. This is the most correct and stable posture for meditation, which has been taught in India since ancient times. [ja] ケツジュウ ketsujū ||| A Buddhist council which is held to settle questions of orthodoxy (Skt. saṃgīti; Pali saṃgīti), also expressed in Chinese as 作集法, 集法藏, 結經, and 經典結集. There are three major categories: (1) The councils of early Indian ("Lesser Vehicle") Buddhism 小乘經結集; (2) The councils of Mahāyāna Buddhism 大乘經結集; and (3) The Councils of Esoteric Buddhism 秘密經結集. Within the first category, the Buddhist tradition records four: The First Council 第一結集 at Rājagṛha, the Second Council 第二結集 at Vaiśālī, the Third Council 第三結集 at Pāṭaliputra, and the Fourth Council 第四結集, held in Kaśmīra. [ja] ギツコドク Gitsukodoku ||| Anāthapindika (or Anāthapindada), whose name is also transliterated as Anatuobintutuo 阿那陀擯荼駄. A wealthy and generous man who lived in Rājagraha at the time when Śākyamuni was teaching. He was known for giving food and clothing to those in hardship ("orphans and the lonely elderly") and was revered by his contemporaries. He was a key figure in the acquisition of the land that was used for the building of the first temple. His real name was Sudatta (須達). [ja] トウ tō ||| (1) To govern, rule, control. (2) All, the whole. To gather into one. (3) A clue, a beginning, a succession; relationship lineage. [ja] ゼツ zetsu ||| (1) To cut off, to sever, interrupt, finish, be done with, end, stop, put a stop to, exhaust, end, die. (2) Decidedly, absolutely, extremely, very. Used to strengthen a negative. (3) To cross over. [ja] ゼツリョ zetsuryo ||| To end false discrimination. [ja] キョウ kyō ||| (1) The vertical threads of a textile. (2) Vertical. (3) Way, path, principle, thread. (4) A book; a scripture, a classic. The recorded words of a sage. The Chinese translation of the Sanskrit term sūtra. (5) One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. [ja] キョウテンケツジュウ kyōten ketsujū ||| A Buddhist council held to settle disagreements regarding orthodoxy; see 結集. [ja] キョウシュウ kyōshū ||| (1) The main doctrinal theme of a particular scripture. (2) A sect based on a particular scripture. (3) Another name for the Nichiren School 日蓮宗. [ja] キョウリツイソウ Kyōritsu isō ||| The Jinglu yixiang; T 2121.53.1a-268c. [ja] キョウキョウ kyōkyō ||| The teaching of the scriptures. [ja] キョウイ kyōi ||| (1) Horizontal and vertical; horizontal threads and vertical threads; longitude and latitude. (2) To be well-ordered; the particulars. [ja] キンヒン kinhin ||| To quietly and slowly walk around a certain area, especially to take a break after eating, hard work or sitting meditation, to clear up drowsiness. Customarily done in between long periods of meditation. [ja] キョウロン kyōron ||| Sutras and śāstras; scriptures and treatises. [ja] キョウブ kyōbu ||| ching-puSee 經量部. [ja] キョウリョウブ Kyōryōbu ||| Sautrāntika. One of the 20 Hīnayāna sects. This sect itself had an original group and a branch group. Both factions posited a basic seed consciousness theory. The original group developed the idea of the continuation of saṃsāra by mutual perfumation of consciousness and materiality; the branch sect established the theory of a subtle "ālaya" consciousness that is beginningless. As the name indicates, this school was known for its strict reliance on the sūtras 經, rather than on śāstras 論 and abhidharma. [ja] ソウリシュウキョウモクロク Sōrishūkyō mokuroku ||| The Zongli zhongjing mulu (Comprehensive Catalog of Scriptures); The first classical period Chinese catalog of Buddhist works, by Daoan 道安 (312-385), compiled in 374 (not extant); generally known by the abbreviated title Anlu 安録 (An's Catalogue). [ja] ユイマ Yuima ||| A transcription of the name Vimalakīrti, which means 'spotless name', and is translated as Jingming (淨名) etc. Vimalakīrti was a rich man who lived in Vaiśālī, India, and was renowned for his profound understanding of Mahāyāna. According to the Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra 維摩經, he lived in a small room of ten feet square. Once, when he became ill, the Buddha sent to his place his disciples, headed by Mañjuśrī, to whom Vimalakīrti revealed the profundity of the Mahāyāna doctrine. [ja] ユイマドウ Yuimadō ||| A name for the temple Kōfukuji in Nara, where the Yuima-e takes place. [ja] ユイマエ Yuimae ||| The annual reading of the Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra held at the Kōfukuji in Nara, for a week beginning on the 16th of the tenth month. This annual meeting had stopped and was revived by Chihō, who turned it into a meeting for studying Hossō 法相 teachings. [ja] ユイマキョウ Yuima gyō ||| Weimo jing; the Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra. This scripture considered to be one of the most profound, as well as literarily excellent of the Indian Mahāyāna sutras. The sutra expounds the profound principle of Mahāyāna as opposed to lesser vehicle teachings, focusing on the explication of the meaning of non-duality. A significant aspect of the scripture is the fact that it is a teaching addressed to high-ranking Buddhist disciples through the mouth of the layman bodhisattva Vimalakīrti. There are three translations extant: the Weimojie suoshuo jing 維摩詰所説經 (trans. by Kumārajīva 鳩摩羅什; T 475.14.537a-557b), the Shuo wugoucheng jing 説無垢稱經 (6 fasc., trans., Xuanzang 玄奘. T 476.14.557-587) and the Foshuo Weimojie jing 佛説維摩詰經 (2 fasc., trans. Lokakṣema 支謙. T 474.14.519-536). In addition to these, earlier translations had been done by Zhiqian (223-228), Dharmarakṣa 竺法護 (308), Upaśūnya (545), and Jñānagupta (591). Of the three extent renditions, Kumārajīva's has traditionally been the most popular. Charles Luk translated the Kumārajīva version into English, as did Richard Robinson (unpublished); Robert Thurman translated from the Tibetan, taking advantage of Robinson's rendition from Chinese; Burton Watson (1997) also translated the Kumārajīva version. Lamotte took all editions, including Hsüan-tsang's, into account in his thorough translation of Vimalakīrti into French (L'enseignement de Vimalakīrti, 1962); his version has been translated into English by Sara Boin (PTS, 1976). [ja] ユイマキョウブンソ Yuimakyōbunso ||| Weimojing wenshou 'Commentary on the Passages of the Vimalakīrti Sutra ", by Zhiyi 智顗. [ja] ユイマキョウゲンソ Yuimakyō genso ||| Weimojing xuanshou The 'Profound Commentary on the Vimalakīrti Sutra ', 6 fasc., by Zhiyi 智顗. T 1777.38.519-561. [ja] ユイマキョウリャクソ Yuimakyō ryakuso ||| Weimo jing lue shou; 10 fasc., Tan-jen's 湛然 distillation of Zhiyi's 智顗 commentary. T 1778.38.562c-710a. [ja] ユイマキョウソ Yuimakyō so ||| Weimo jing shou; 2 fasc., T 2772.85.375c-423c. [ja] ユイマキツショセツキョウ Yuimakitsu shosetsu kyō ||| Weimojie suoshuo jing; (Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra). 3 fasc., trans. by Kumārajīva; T 475.14.537a-557b. See 維摩經. [ja] ユイマキツキョウ Yuimakitsukyō ||| The Foshuo Weimojie jing; (Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra). 2 fasc., trans. Lokakṣema 支謙. See 維摩經 for more details, including other translations. Full formal title is 佛説維摩詰經.T 474.14.519-536. [ja] コウヨウ kōyō ||| An outline of a doctrine, text, etc. The essentials of a school, teaching, etc. [ja] キゴ kigo ||| (1) Beautiful, ornate speech. (2) [Buddhism] Smooth, fancy talk that is used to conceal the truth. One of the ten crimes 十惡. [ja] キショク kishoku ||| Decorate ornately; embellish, dress up. [ja] シモンケイクン Shimon kyōkun ||| Zimen jingxun; 10 fasc. by 如巹, T 2023.48.1042b-1096c. [ja] キンナラ kinnara ||| One of the alternative transcriptions of kiṃnara. See 緊那羅. [ja] キンナラク kinnaraku ||| One of the alternative transcriptions of kiṃnara. See 緊那羅. [ja] キンタンロ kintanro ||| One of the alternative transcriptions of kiṃnara. See 緊那羅. [ja] キンヨウ kinyō ||| Most important, most essential. [ja] キンナラ kinnara ||| A heavenly musician, who body is part god, part human, and part animal (Skt. kiṃnara; Pali kinnara). Possibly equivalent to English chimera. The kiṃnaras are said to sing and dance to the wonderfully sublime music that they make. They are one of the eight kinds of spiritual beings 八部衆 who usually appear in the audience of Mahāyāna sutras. This term is also transcribed into Chinese as 緊捺洛, 緊拏羅, 緊擔路, 甄陀羅, 眞陀羅, and translated as 歌神, 歌樂神, and 音樂天. The meaning of kiṃ is that of an expression of doubt, while nara means "human." Thus the meaning is that of "dubious human" 疑人, or "human yet not human" 人非人. [ja] レンコン renkon ||| To polish one's abilities; to develop one's religious awareness to become sharp in faculty 利根, rather than dull in faculty 鈍根. This is something that normally occurs during the stage of preparation 加行位. (uttapti)〔對法論T 1606.31.764a5〕 [ja] エン en ||| (1) Cause. Various conditions. (Skt. kāraṇa, pratyaya, pratītya, pratyaya-hetu). (2) Indirect cause, secondary cause. Associated conditions. All things are subject to the principle of cause and effect, but there are conditions/circumstances that aid the causes that produce an effect, which are called 'indirect causes.' Connection. Opportunity, chance. (3) Relationship, basis (ārambana, ālambana). (4) Object of cognition, object of perception; environment, object. (5) To take as an object. To connect with; be connected with. The mind facing an object of the external world. To sense, perceive or cognize. With the meaning of cognition, it refers to the relation of subject to object, that is, the function of the consciousness cognizing external objects. (6) Facing the mind. (7) An abbreviation of 機縁, a term for 'sentient beings.' (8) Implement(s). Relationship, affinity, connection. (9) One of the ten such-likes taught in the Lotus Sutra. See 十如是. [ja] エンジ enji ||| (1) Things and affairs as conditions--as karma. (2) The consciousness that fully believes in the perfect connection between cause and effect. (3) The matters concerned with one's life; the things one has to do in his/her daily life; one's business. (4) The objects cognized by the mental consciousness. The objective aspect(xiangfen) 相分 of the four aspects (sifen 四分) of Consciousness-only. See 縁影 (yuanying) . [ja] エンシュショウウ enshu shōu ||| Conditioned by grasping, being arises (within the twelve limbs of conditioned origination). 〔攝大乘論 T 1593.31.116b2〕 [ja] エンヨウ enyō ||| 'Objective images.' The images that are produced when the subjective part (jianfen 見分) of the mental consciousness cognizes the objects of the external world. Also called the 'objective aspect' (xiangfen 相分). [ja] エンシン enshin ||| The contingent mind, or conditioned mind, which arises only based on its contact with the six sense data fields. 〔圓覺經 842.17.914b〕 [ja] エンリョ enryo ||| The thought, conceptualization that is based on, or conditioned by the six objects. In Consciousness-only theory it is an explicit reference to the function of the sixth consciousness to reflect on its (conceptual) objects. [ja] エンエ en'e ||| The coming together of various conditions. 〔瑜伽論T 1579.30.501b〕 [ja] エンウ en'u ||| Dependently-arisen existence. The view of reality according tot the nature of dependent origination. Equivalent to 依他起性. 〔瑜伽論 T 1579.30.0668c7〕 [ja] エンキ enki ||| (1) Conditioned energy; usually conditioned by the four elements or the six faculties. (2) The aspect of the outer environment cognized by the subjective view as explained by the Consciousness-only school. The objective view or realm (相分). [ja] エンホウ enhō ||| (1) Conditioned elemental constructs. (2) Concerning the dharma. 〔攝大乘論 T 1593.31.123a8〕 (3) Causes and conditions 因縁. [ja] エンショウ enshō ||| Produced by causal conditions. Produced by karma. All conditioned phenomena are produced as the result of the combination of causes and conditions. Same as 縁起 (pratītya-samutpāda). The Yogācārabhūmi-śāstra says "云何縁生。謂諸行生起法性" (T 1579.30.325c11). [ja] エンソウ ensō ||| (1) The cognition of objects by the mental consciousness. The external appearance of conditions. (pratyaya-lakṣaṇa). (2) In the Ratnagotravibhāga the "marks of conditions" represent one of four kinds of hindrances 四種障. 〔寶性論T 1611.31.830b2-5〕(3) In the Mahāyāna-saṃgraha, one of four kinds of permeation of the store consciousness. 〔攝大乘論 T 1593.31.117c5〕 [ja] エンギョウショウシキ engyō shōshiki ||| Conditioned on karmic formation, consciousness arises (within the twelve limbs of conditioned origination). 〔攝大乘論 T 1593.31.116b01〕 [ja] エンガク engaku ||| "Enlightened by contemplation on dependent arising." A Chinese translation, according to one interpretation of the meaning of the term (pratyekabuddha) bizhifo 辟支佛; also translated into Chinese as "solitary realizer" 獨覺. [ja] エンタイ entai ||| (1) In reference to the noble truths; [practice] depending on the noble truths. 〔瑜伽論 T 1579.30.475a10〕(2) The observation of the reality of dependent origination. [ja] エンジキ enjiki ||| The causal consciousness (pratyaya-vijñāna), or causal aspect of consciousness, as distinguished from the experiential consciousnesses 受識. This is a way of describing the ālayavijñāna 阿頼耶識 in contrast to the transforming consciousnesses 轉識. 〔攝大乘論 T 1593.31.115c19〕 [ja] エンギ engi ||| Dependent origination, conditioned genesis, etc. (pratītya-samutpāda). Also written in Chinese as yuansheng 縁生 and yinyuansheng 因縁生. The condition of relationship to something else resulting in arising or production. To be due to, in the sense of ...due to A, B arises. In the meaning of 'causal production,' all phenomena are given rise to due to the mutual relationships of countless causes (hetu: 因) and conditions (pratyaya: 縁) and are not independently existent. If all causes and conditions did not exist, no results or 'fruits' (phala: 果) could come into existence. This is a basic Buddhist teaching common to all schools of thought--that all production is the result of mutually dependent existence. Theoretically this shows the impossibility of a singular, eternal or truly substantial existence. In terms of practice, the aim is, in making this cause and effect relationship clear, to release one from the phenomenal world (of suffering) by removing these causes and conditions. [ja] エンギインブン engi inbun ||| The 'causal viewpoint of conditioned arising.' In Huayan teaching, that which is explained in speech in response to practitioners by the Buddha who is in the realm of the Ocean Like True Nature (realm of enlightenment). Also called the "realm of Samantabhadra." A way of describing the enlightenment perceived by practitioners who have not yet achieved Buddhahood. [ja] エンキキョウ Engi kyō ||| The Yuanqi jing; Pratītya-samutpāda divibhaṅga-nirdeśa sūtra (Sutra on Conditioned Arising). One fascicle, T 124.2.547-549. Translated by Xuanzang 玄奘 in 661. A sutra on the twelve limbs 十二支 of conditioned origination with some affinities to the Majjhima Nikāya 33, Mahāgopalaka Sutta. [ja] エンキショウドウキョウ Engi shōdō kyō ||| The Yuanqi shengdao jing; Nidāna sūtra (Sutra of Ārya Teachings on Conditioned Arising). One fascicle, T 714.16.827-829. (cf. T 124, 717). Translated by Xuanzang 玄奘 in 649 at Hungfa Hall. A sutra on the twelve limbs of pratītya-samutpāda. Full title is 佛説縁起聖道經

Giới Toán

(戒算, Kaizan, 963-1053): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Bình An, húy là Giới Toán (戒算). Ông sống lâu trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), học giáo học Thiên Thai, nhưng sau tu theo Tịnh Độ Giáo. Năm 984, ông được sự báo mộng của tượng thờ trong Thường Hành Đường (常行堂); cho nên vào năm 992, ông khai sáng Chơn Chánh Cực Lạc Tự (眞正極樂寺, còn gọi là Chơn Như Đường [眞如堂]) ở Thần Lạc Cương (神樂岡), vùng Đông Sơn (東山, Higashiyama). Tại đây, ông chuyên tu pháp môn Bất Đoạn Niệm Phật (不斷念佛, niệm Phật không ngừng) và thuyết giảng các kinh điển Tịnh Độ.

giới trường

2912請參閱 四分律戒本疏 或 菩薩戒義疏 指授戒及布薩說戒之道場。如授三昧耶戒之道場,稱三昧耶戒場。在戒場內設戒壇,行授戒作法。戒場本無建築屋舍之必要,僅須於空地有結界標示即成,然為防風雨之故,古來大抵係堂內受戒與露地結界受戒兼行之。其與戒壇相異之處,戒壇乃由平地立一稍高之土壇而成,戒場則僅限平地。但亦有稱戒壇為壇場,或混稱為壇場者。舉辦授戒會道場之人師,稱為戒場主,一般多指該授戒會道場之寺院住持。又戒場主常兼任引禮師,亦常兼任授戒會三師之得戒和尚。(參閱「戒壇」2917、「結界」5181) ; Đạo tràng hay giới đàn nơi chư Tăng Ni làm lễ thọ giới—The place where monks are given the commandments.

giới trần

2914(1878~1948)湖北漢川人,俗姓邱。字滌吾。十九歲出家,專修苦行,止於終南山,棲心禪寂。後轉持念佛,專事淨土。光緒年間,入雲南雞足山修般舟法。民國三年(1914),入杭州華嚴大學就讀。後掩關於常熟佛垣寺,潛修淨業。九年秋,與了塵、慈舟等法師續辦華嚴大學於漢口九蓮寺。圓滿後,返滇建淨業蓮社,率眾梵修,歸依者凡數萬人。三十七年五月寂於昆明笻竹寺,世壽七十一,戒臘五十三。撰有華嚴一滴、華嚴七處九會圖、蓮社明訓、淨宗要語等書。

giới trần tục

Secular world.

giới trục

The rules—The rut or way of the commandments

giới tài

(戒財): giới hạnh là tài sản quý giá của người tu tập. Tập dị môn luận (集異門論) quyển 15, tờ 13 giải thích rằng: “Những ai lìa xa sự giết hại, lìa xa sự trộm cắp, lìa xa tà hạnh dâm dục, lìa xa lời nói dối trá, lìa xa việc uống các loại rượu; đó gọi là giới tài.” Vì thế, giới tài ở đây chỉ việc giữ trọn năm giới căn bản.

giới tìm cầu

(cầu giới): chỉ sự trì giới do mong cầu quả báo tốt đẹp trong Ba cõi.

giới tư

2914授戒會期間,戒子納付金錢或物資,以充作自己所需之衣食費用。又作戒金、戒米。黃檗清規梵行章五(大八二‧七六九中):「欲受戒者當先就庫司納戒資,次到書記寮報名,以便填牒。」

giới tướng

2911謂持戒表現之相狀差別。如持五戒、十戒,乃至二百五十戒,一一戒中各有差別,按其持犯之輕重,各有不同之相狀。一般指切切實實遵守戒律之相狀。此乃南山行事鈔所立戒四別之一。 四分律行事鈔資持記卷中一下(大四○‧二七四下):「相有形狀,覽而可別。前明戒法,但述功能;次明戒體,唯論業性;後明戒行,略示攝修。若非辨相,則法、體、行三,一無所曉,何以然耶?法無別法,即相是法;體無別體,總相為體;行無別行,履相成行;是故學者於此一門深須研考。」(參閱「戒四別」2905) ; The commandments, or rules in their various forms. ; Tướng trạng khác biệt của các giới từ ngũ giới đến 250 giới Tỳ Kheo—The commandments or rules in their various forms, from the basic five moral precepts to 250 commandments for monks.

giới tạng

2919<一>謂一戒之中包含收藏一切真理。梵網經卷下(大二四‧一○○四上):「諦聽我正誦,佛法中戒藏,波羅提木叉,大眾心諦信。」 <二>指說戒律之一切經典類。 <三>指藏於戒法中,本來具有之佛心、佛性。 ; Vinaya Pitaka (skt)—Luật Tạng—The collection of rules.

giới tất

Giới Tất hay quỳ gối chân phải khi thọ giới—The “commandments' knee,” i.e. the right knee bent as when receving the comandments.

giới tứ biệt

2904指戒法、戒體、戒行、戒相。乃為說明戒之要義而設。(一)戒法,指佛陀制定不可殺、盜、淫、妄等戒律,作為行者規範、禁戒之法。此即「體」,乃通達出離生死之道。(二)戒體,謂領受戒法後,於行者身心發得戒之體性;此乃出生眾行之本。(三)戒行,乃發得戒體後,護持身、口、意三業不失之意。既受得此戒,則秉之在心,廣修方便,時時檢察身口威儀之行,克志專崇前聖,持心而不散。(四)戒相,隨其持戒,成就威儀之行,則一切舉止皆如法,美德光顯,故稱戒相。四分律行事鈔資持記卷上一下(大四○‧一八○中):「聖人制教名法,納法成業名體,依體起護名行,為行有儀名相。」〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上一、四分律行事鈔資持記卷中一之四、補助儀卷上〕

giới tử

3508梵語 sarṣapa。音譯作薩利殺跛、舍利娑婆、加良志。西藏語 yuṅs-kar。原係芥菜之種子,顏色有白、黃、赤、青、黑之分,體積微小,故於經典中屢用以比喻極小之物,如謂「芥子容須彌,毛孔收剎海」即爲常見於佛典中之譬喻。又因芥子與針鋒均爲極微小之物,而以「芥子投針鋒」比喻極難得之事,如北本涅槃經卷二謂,佛出世之難得猶如芥子投針鋒。 於金光明最勝王經卷七,將芥子與菖蒲、沈香等,共列爲三十二味香藥之一。又於大日經義釋卷七,以其性辛辣異常,多用於降伏障難之修法。在密教中,將白芥子置於火中燃燒,以爲退除惡魔、煩惱,及加持祈禱之用。然以白芥子之不易得,古來多用罌子粟、蔓菁子或普通芥子代替。又自古傳說,龍樹菩薩曾在南天竺以白芥子七粒擊開南天鐵塔,取得大日經。一般既以芥子具有袪除魔障之神力,故於供養佛舍利之馱都法時,每以白芥子爲不可少的供物之一。〔首楞嚴三昧經卷上、七俱胝佛母准提大明陀羅尼經,大日經卷二息障品、大智度論卷三十、增廣本草綱目卷二十六〕(參閱「白芥子」2089、「極微」5479、「馱都法」5707) ; 2903即受戒之弟子。又稱戒弟、戒徒。蓋於授戒會中,為避免與戒師混稱,乃特稱受戒之人為戒子。又授戒會中,經常隨侍戒師之側,以應其所需而設之職稱,稱為戒侍者、戒侍。另有手持香臺,隨從戒師左側,於戒師上殿時,輔佐戒師燃香之侍者,稱為戒侍香。 ; Sarsapa (S)Hạt cải. ; One who receives the commandments orrules. ; Sarsapa (skt)—Xá Lợi Sa Bà—Tát Lợi Sát Bả—Hạt cải. 1) Lấy hạt cải để ví với khoảng thời gian một phần mười triệu tám trăm mười sáu ngàn do tuần (một do tuần tương đương với 10 dậm Anh): A measure of length 10,816,000 part of a yojana. 2) Lấy hạt cải để ví với sức nặng một phần ba mươi hai “thảo tử” hay “gram” của Trung Quốc: A weigh of the 32nd part of a raktika, 2 3/16 grains. 3) Vì tính hạt cải cứng và cay nên Mật Giáo lấy nó làm biểu tượng khắc phục phiền não và ma quân—On account of its hardness and bitter taste it is used as a symbol for overcoming illusions and demons by the esoteric sects. 4) Theo Kinh Niết Bàn, lấy hạt cải ném vào đầu mũi kim từ xa đã là khó, Phật ra đời còn khó hơn thế ấy: According to The Nirvana Sutra, the appearance of a Buddha is as rare as the hitting of a needle's point with a mustard-seed thrown from afar. 5) Giới Tử Kiếp: Vô lượng kiếp—Immeasurable kalpas—See Giới Tử Kiếp.

giới tử gia trì

3508即密教修法中,行護摩之時,加持芥子而散於十方,以爲降魔結界之用。真言行者行此芥子加行時,觀想打開十方法界塔婆,而體請諸尊聖眾之證明聽許。據蘇悉地經奉請成就品載,行法之初,以成辦諸事真言,或用軍荼利真言,加持於白芥子等物而散之於地,如是則可辟除諸難。〔陀羅尼集經卷七、蘇悉地經補闕少法品〕

giới tử kiếp

3509梵語 sarṣapopama-kalpa。以芥子比喻劫期之悠長。又作芥城劫。如雜阿含經卷三十四、大智度論卷五等均載有此類譬喻,謂有一由旬方廣之城,其內充滿芥子,稱爲芥城,有一長壽之人,每百歲來取一芥子;縱令芥子悉數持去,劫數亦尚未盡。於佛典中,形容劫量之悠長者,除芥子劫外,亦常用「磐石劫」之譬喻,或兩喻並舉,而稱爲芥石、芥城劫石。(參閱「劫」2811、「磐石劫」6117) ; Sarsapopama-kalpa (S)Kiếp số nhiều như hạt cải. ; Lấy Giới Tử Kiếp để ví với một thời gian thật dài như việc làm trống một thành phố vuông vức mỗi cạnh là 100 do tuần, bằng cách mỗi thế kỷ lấy ra một hạt cải—A mustard-seed kalpa, i.e. as long as the time it would take to empty a city 100 yojanas square, by extracting a seed once every century.

giới tửu

To abstain from wine.

giới tự

2907指梵網經菩薩戒之序文(大二四‧一○○三上):「諸佛子等!合掌至心聽,我今欲說諸佛大戒序。」於大布薩會,戒師誦讀戒文時,必先誦讀戒序,其次方誦讀戒之本文。

giới tỳ kheo

Bhikshu Precepts—See Giới Cụ Túc.

giới tỳ kheo ni

Bhikshuni Precepts—See Giới Cụ Túc.

giới văn

2904指戒本之本文。四分律、五分律等廣律之本文稱為律文;對此而言,四分比丘戒本、彌沙塞五分戒本等之本文,稱為戒文。

giới xích

3891又作界方。劃界線時所使用之定木。宋姚寬之姚氏殘語(說郛卷三十一所收):「太祖,以柏木爲界尺,稱隔筆簡。」或於講經時,以文鎮代用界尺,輕擊桌面,以示講經即將結束。元朝道泰之禪林類聚卷一(卍續一一七‧二下):「梁武帝請傅大士講經,大士陞座,以界尺揮案一下,便下座。」 寫經時,必先劃一界線,例如敦煌所出土之經書大多畫有界線。所謂界線,通常以薄墨將天地(上下)與行間各畫一線。或以金銀泥、篦等畫一白線,稱白界(亦稱押界);以墨筆畫出界線者則稱烏絲欄。〔禪林象器箋卷十九、日本書誌學之研究(川瀨一馬)、古寫經綜鑑(田中塊堂)〕 ; 2903略稱尺。於歸依、剃度、傳戒、說法、瑜伽焰口施食、三時繫念佛事等諸法會儀式中,警覺大眾或安定法會秩序所用之法器。由兩小木構成,一仰一俯,仰者在下,稍大。使用之時,把持上木,向下擊之使鳴。近年來所用之戒尺,已大有改變,多半僅用一條長約十五公分,寬厚各約三點五公分之木塊。一般,戒尺又作界尺;然據禪林象器箋器物門則有戒尺與界尺不同之說法。此外,淨土宗於讀經時為合經文所使用之拍子,亦有稱為戒尺者。〔敕修百丈清規卷下大眾章沙彌得度條、禪林象器箋唄器門〕

giới xưng nhị môn

2914日本天台真盛宗之根本教義。戒,指圓頓菩薩戒;稱,指口稱阿彌陀佛名號。即圓戒、念佛二門二而不二,相即不離;具足此二門,則必往生。

giới ăn ngày một lần

Ekāsānika (S), Ekāsānikaṅga (P)Ế ca san niMỗi ngày ăn một lần. Một trong 12 hạnh đầu đà.

giới đao

2896梵語 śastraka,巴利語 satthaka。又作刀子。係比丘隨身所常持之道具,為比丘十八物之一。乃用於裁衣、剃髮、剪爪之半月形小刀。由於佛陀不許斫截一切草木等,故比丘所畜之刀稱為戒刀。大宋僧史略卷上謂戒刀等皆是道具,表斷一切諸惡,故戒刀除具有實用價值外,亦表示精神上之意義。 據十誦律卷三十七、有部毘奈耶雜事卷三等記載,比丘得畜裁衣用之月頭刀子,其長度與種類有大、中、小三種,大者可長六指,小者四指,長度居於四指至六指之間為中;其形狀有二,或彎曲如鳥羽,或似雞翎,不可尖直。又依四分律卷五十一雜犍度所載,佛制比丘可畜剃刀、剪爪刀,並准許前者作刀鞘,後者作筒盛之。晚近在中央亞細亞吐魯番之貝羯克立克(Bäzäklik)發現古代遺留之壁畫,其中有使用半月形剃刀之圖,由此可知剃刀與裁衣刀二者形狀相同。現今印度尚有使用半月形剃刀者。〔大乘入楞伽經卷六偈頌品、大寶積經卷五十六、五分律卷二十六、十誦律卷三十九、有部毘奈耶雜事卷十一、四分律刪繁補闕行事鈔卷下一、釋氏要覽卷中、祖庭事苑卷八〕

giới điệp

2913僧尼出家受戒後所發之受戒證件。據釋氏稽古略卷三載,唐代宣宗大中十年(856),曾敕任法師辯章為三教首座,命僧尼受戒給牒,此為我國僧尼正式受戒給牒之始。於其前,開元十七年(729)玄宗曾下詔,令天下僧尼每三年造一次籍冊;又於天寶六年(747)下令天下僧尼隸屬兩街功德使,並由尚書省祠部出具證明,稱為祠部牒。 蓋唐、宋時代僧尼出家時即須領取度牒(出家僧籍證明書),受戒後再領取戒牒,皆由官方頒發。且受戒時須呈驗度牒,方准受戒。明代洪武至永樂年間(1368~1424),三度敕許僧俗受戒者抄白牒文隨身攜帶,以為執照,凡遇關津把隘之處,驗實放行。戒牒之作用遂成為僧尼旅行護照。清雍正廢止度牒,僧尼出家漫無限制,各地亦傳戒頻繁,戒牒則改由傳戒寺院發給。至民國以後,已無度牒之頒予,而僅存戒牒之制,係由中國佛教會統一簽發。日本自天平勝寶(749~756)以後,始發給由授戒之三師七證簽字之戒牒。〔經律戒相布薩軌儀、敕修百丈清規卷下大眾章沙彌得度條、大宋僧史略卷中、釋氏要覽卷上、釋氏稽古略卷四、魏書釋老志第二十〕(參閱「度牒」3779) ; Certificate of ordination of a monk. ; Độ Điệp—Giấy chứng nhận đã được truyền giới, giúp ích cho du tăng khất sĩ (chứng nhận cho mọi người biết đây là vị Tăng đã thọ cụ túc giới)—A certificate of ordination of a monk (a monk's certificate), useful to a wandering or travelling monk.

Giới Đàn

(戒壇): là đàn tràng dùng để cử hành nghi thức truyền thọ giới pháp cũng như thuyết giới. Nguyên lai, Giới Đàn không cần phải xây dựng nhà cửa gì cả, tùy theo chỗ đất trống kết giới mà thành. Xưa kia, thời cổ đại Ấn Độ tác pháp ngoài trời, không cần phải làm đàn. Về việc Giới Đàn được kiến lập đầu tiên, Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Thượng, có ghi lại rằng Bồ Tát Lâu Chí (樓至) thỉnh ý đức Phật xin thiết lập Giới Đàn cho chư vị Tỳ Kheo thọ giới và được Ngài hoan hỷ chấp thuận: “Tây Thiên Kỳ Viên, Tỳ Kheo Lâu Chí thỉnh Phật lập đàn, vi Tỳ Kheo thọ giới Như Lai ư viên ngoại viện Đông Nam, trí nhất đàn, thử vi thỉ dã (西天祇園、比丘樓至請佛立壇、爲比丘受戒、如來於園外院東南、置一壇、此爲始也, Kỳ Viên ở Tây Thiên [Ấn Độ], Tỳ Kheo Lâu Chí xin Phật thiết lập Giới Đàn để truyền thọ giới cho Tỳ Kheo; đức Như Lai thiết lập một đàn ở phía Đông Nam ngoài Kỳ Viên; đây là khởi đầu).” Tại Trung Quốc, tương truyền Giới Đàn đầu tiên do Đàm Kha Ca La (s: Dharmakāla, 曇柯迦羅) kiến lập trong khoảng thời gian niên hiệu Gia Bình (嘉平, 249-254), Chánh Nguyên (正元, 254-256) nhà Tào Ngụy. Từ thời nhà Tấn, Tống trở đi, ở phương Nam kiến lập Giới Đàn rất nhiều. Như Pháp Hộ (法護) nhà Đông Tấn lập đàn ở Ngõa Quan Tự (瓦官寺), Dương Đô (揚都, Nam Kinh [南京]). Chi Đạo Lâm (支道林, 314-366) cũng thiết lập ở Thạch Thành (石城, Lê Thành [黎城], Sơn Tây [山西]), Phần Châu (汾州, Tân Xương [新昌], Triết Giang [浙江]) mỗi nơi một đàn. Chi Pháp Tồn (支法存, ?-457) lập đàn ở Nhã Da (若耶, Thiệu Hưng [紹興], Triết Giang). Trí Nghiêm (智嚴) nhà Nam Tống lập đàn ở Thượng Định Lâm Tự (上定林寺, Nam Kinh). Huệ Quán (慧觀) lập đàn ở Thạch Lương Tự (石梁寺, Thiên Thai Sơn [天台山]). Cầu Na Bạt Ma (s: Guṇavarman, 求那跋摩, 367-431) lập đàn ở Nam Lâm Tự (南林寺). Tăng Phu (僧敷, ?-?) của nhà Nam Tề lập đàn ở Vu Hồ (蕪湖). Pháp Siêu (法超) của nhà Lương thời Nam Triều lập đàn ở Nam Giản (南澗, Nam Kinh). Tăng Hựu (僧祐, 445-518) thiết lập tại Nam Kinh 4 chùa Vân Cư (雲居), Thê Hà (棲霞), Quy Thiện (歸善) và Ái Kính (愛敬) mỗi nơi một đàn. Tổng cọng hơn 300 Giới Đàn. Đến thời nhà Đường, vào năm thứ 2 (667) niên hiệu Càn Phong (乾封), Luật Sư Đạo Tuyên (道宣, 596-667) kiến lập Giới Đàn tại Tịnh Nghiệp Tự (淨業寺) ở ngoại ô Trường An (長安). Bắt đầu từ thời này, Giới Đàn đã hình thành quy thức nhất định. Về sau, chư cao tăng khác như Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713), Nhất Hành (一行, 683-727), Kim Cang Trí (金剛智, 671-741), v.v., từng kiến lập Giới Đàn ở vùng phụ cận Lạc Dương (洛陽). Vào năm đầu (765) niên hiệu Vĩnh Thái (永泰), vua Đại Tông (代宗, tại vị 762-779) ban sắc lệnh kiến lập Phương Đẳng Giới Đàn (方等戒壇, tức Đại Thừa Giới Đàn) ở Đại Hưng Thiện Tự (大興善寺); rồi cho đặt 10 vị Lâm Đàn Đại Đức (臨壇大德) trong giáo đoàn Tăng Ni ở Kinh Thành; tức sau này là Tam Sư Thất Chứng (三師七證). Về phía Nhật Bản, Giới Đàn đầu tiên do Giám Chơn (鑑眞, Ganjin, 688-763) kiến lập ở phía trước Chánh Điện Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) vào năm 749 (Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寶] thứ 6). Đến tháng 4 năm này, Giám Chơn đã truyền giới cho Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749) cùng với 430 người khác. Sau đó, Giới Đàn Viện (戒壇院) được kiến lập ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji); và hai Giới Đàn khác ở Quan Thế Âm Tự (觀世音寺, Kanzeon-ji), vùng Trúc Tử (筑紫, Chikushi) và Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji) thuộc tiểu quốc Hạ Dã (下野, Shimotsuke). Trong (Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành) Thích Giáo Bộ Vị Khảo ([古今圖書集成]釋敎部彙考, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1521) quyển 2 có câu: “Trường Khánh tứ niên, Kính Tông tức vị, Từ Tứ Vương Trí Hưng, thỉnh trí Tăng Ni Giới Đàn (長慶四年、敬宗卽位、徐泗王智興、請置僧尼戒壇, niên hiệu Trường Khánh thứ 4 [824], vua Kính Tông nhà Đường lên ngôi, Từ Tứ Vương Trí Hưng, xin thiết trí Giới Đàn Tăng Ni).” Hay trong Chung Nam Gia Nghiệp (終南家業, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1109) quyển Trung có đoạn rằng: “Chí Nguyên Hỷ thập niên, hữu Tăng Già Bạt Ma, ư Dương Đô Nam Lâm Giới Đàn, vi Tăng Huệ Chiếu đẳng ngũ thập nhân, Ni Huệ Quả đẳng tam thập tam nhân, trùng thọ cụ giới (至元喜十年、有僧伽拔摩、於揚都南林戒壇、爲僧慧照等五十人、尼慧果等三十三人、重受具戒, cho đến niên hiệu Nguyên Hỷ thứ 10, tại Giới Đàn Chùa Nam Lâm ở Dương Đô, có Tăng Già Bạt Ma vì nhóm Tăng Huệ Chiếu 50 người, nhóm Ni Huệ Quả 33 người, thọ giới Cụ Túc lại).”

giới đàn

2916指用以舉行授戒儀式及說戒之壇場,即於戒場中特製稍高於平地之土壇。蓋戒場本無建築屋舍之必要,隨處空地僅須有結界標示即成,然為防患風雨起見,古來皆堂內受戒與露地結界受戒並行。古代印度初於露天作法,不另設壇。戒壇之始建,據釋氏要覽卷上記載,係樓至菩薩向佛陀請示,築一戒壇為比丘受戒,佛陀許之,遂於祇園精舍外院之東南建壇。關於戒壇之形制,據義淨於大唐西域求法高僧傳卷上描述印度那爛陀寺之戒壇,謂其「方大尺一丈餘」,即於平地四周高築塼牆,高約二尺,牆內坐基則高約五寸。 我國最早之戒壇,相傳為曹魏嘉平、正元年間(249~256)曇柯迦羅於洛陽所建。晉、宋以來,南方立戒壇甚多。東晉法護於揚都(南京)瓦官寺立壇。支道林於石城(山西黎城南)、汾州(浙江新昌)各立一壇,支法存於若耶(浙江紹興)立壇,南宋智嚴於上定林寺(於南京)立壇,慧觀於石梁寺(於天台山)立壇。求那跋摩於南林寺立壇,南齊僧敷於蕪湖立壇。復有三吳戒壇,此壇似與法獻有關。南朝梁代法超於南澗(於南京)立壇,僧祐於上雲居、棲霞、歸善、愛敬四寺(皆於南京)立壇。至唐代初年為止,渝州(重慶)以下至江淮(江蘇、安徽)之間,總計戒壇有三百餘所,然諸戒壇之形制已不可考。至唐代乾封二年(667),道宣律師在長安郊外淨業寺亦曾建立戒壇,此時戒壇始有定式。其制凡三層,下層縱廣二丈九尺八寸,中層縱廣二丈三尺,上層畟方七尺。其高度下層三尺,中層四尺五寸,上層二寸,總高七尺七寸;周圍上下有獅子神王等雕飾。道宣並撰有「戒壇圖經」一書,該書對戒壇之起源、名稱、形狀均有詳細記載。其後,義淨、一行、金剛智等諸師,均曾在洛陽附近建立戒壇。建立戒壇之風氣從此盛行全國,官設與私設均有。永泰元年(765),代宗敕令大興善寺建造方等戒壇,又命京城僧尼各置「臨壇大德」十人;此為臨壇大德設置之始,即後世受戒時之三師七證。所謂方等戒壇,即指大乘戒壇,壇法雖依準諸律,但受戒者須發大菩提心,是與小乘戒壇殊異之處。 日本東大寺大佛殿前所建立之戒壇,為該國最早者,係西元七五四年由我國鑑真和尚東渡日本所建,後燬於火災。該壇建築之藍本,即依準道宣「戒壇圖經」一書而建。〔四分律行事鈔資持記卷上二之一、佛祖統紀卷三十六、卷三十九、佛祖歷代通載卷十八、大宋僧史略卷下、釋氏稽古略卷三、卷四、道宣律師感通錄〕 ; Xem mạn-đà-la. ; Pulpit, esplanade, altar at which the commandments are received bythe novice. Phương đẳng giới đàn is the Mahàyàna altar. ; Đàn tràng truyền thụ giới pháp—The altar of the law—The altar at which the commandments are received by the novices.

giới đàn thạch

2917律宗或禪宗寺院門前所立之石碑。又作結界石。碑上通常銘刻「不許葷酒入山門」字樣。起源不詳,惟黃檗清規有高六、七尺,廣一尺二寸之記載。(參閱「結界石」5184)

giới đàn viện

2918日本天平勝寶六年(754),唐僧鑑真抵日時,於奈良東大寺大佛殿前建築戒壇,為聖武天皇以下四百人授菩薩戒,是為日本授戒之濫觴。未幾,此壇移至大佛殿西側,並營建堂宇,是為戒壇院之始,其後燬於火。現存者為享保十八年(1733)江戶靈雲寺之惠光所重建,安置有天平時代之四天王像。〔南都東大寺戒壇院略緣起、唐大和尚東征傳、東大寺要錄卷一、卷四〕

giới đàn đường

2918於日本,指內設戒壇,用以舉行授戒儀式之建築物。又稱戒堂。於我國無此種堂宇之設施,僅有壇而已。

Giới đáo bỉ ngạn 戒到彼岸

[ja] カイトウヒガン kai tōhigan ||| The perfection of morality. See 戒波羅蜜. => Xem Giới ba-la-mật.

giới đạo

3893於密教之曼荼羅中,任一會曼荼羅與其餘他會曼荼羅分界所畫之道路,稱爲界道。爲通道、界境,故稱界道。有數種:(一)三股界道,即列三股杵爲界道。(二)一股界道,列獨股杵之界道。(三)五色界道,描白赤黃青黑五色之界道。(四)三色界道,白赤黃三色之界道。(五)一色界道,即純白色之界道。〔大日經疏卷六、慈氏菩薩儀軌卷下〕

giới đạo thân phọc

2913梵語 śīla-vrata-parāmarśa-kāya-grantha,巴利語 sīlabbata-parāmāsa-kāya-gantha。又作戒取身縛、戒取身繫。為四縛之一。指執守外道之邪戒,起惑業束縛於身,而不得解脫。以其本非戒,而強以戒名之,故稱戒盜;又取進行之義,故稱戒取。〔鞞婆沙論卷二、華嚴經孔目章卷三〕(參閱「四縛」1839)

giới đế tác

Śīlendrabodhi (S).

giới định

To set a limit (boundary) to.

giới định huệ

2907指戒律、禪定與智慧。據翻譯名義集卷四謂,防非止惡為戒,息慮靜緣為定,破惡證真為慧。學此三法可達無上涅槃,故稱三學。此三學在聖者之身為無漏,故亦稱三無漏學。(一)戒學,指防止身、口之惡之戒律。小乘有五戒、八戒、二百五十戒,大乘有三聚淨戒、十重戒、四十八輕戒等。(二)定學,指防止心意散亂以求安靜之法。小乘有四禪定、四無色定、九想、八背捨等,大乘更加九種大禪、百八三昧、百二十三昧等。(三)慧學,指破除迷惑以證真理之道。小乘觀四諦、十二因緣,大乘觀真如、實相。 佛經通常類別為經、律、論三藏,即各以詮顯定學、戒學、慧學為主。又經論中凡有關此三學者,多冠以「增上」二字,稱增上戒(梵 adhiśīla)、增上心(梵 adhicitta,即定學)、增上慧(梵 adhiprajñā)。蓋「增上」有殊勝之意味。〔雜阿含經卷二十九、瑜伽師地論卷二十八、大毘婆沙論卷一、大乘義章卷十、大藏法數卷九〕(參閱「三學」683) ; Giới là hành vi trong cuộc sống hàng ngày nên tuân theo: về chỉ trì thì việc ác chớ nên làm, về tác trì thì việc thiện nên phụng hành. Định là tâm địa chẳng loạn thì mới thấy khinh an. Huệ là tâm địa chẳng si thì phát ra ứng dụng. Nói chung là Tam vô lậu học. ; Discipline, meditation and wisdom—Nếu không có giới hạnh thanh tịnh sẽ không thể đình chỉ sự loạn động của tư tưởng; nếu không đình chỉ sự loạn động của tư tưởng sẽ không có sự thành tựu của tuệ giác. Sự thành tựu của tuệ giác có nghĩa là sự viên mãn của tri thức và trí tuệ, tức giác ngộ trọn vẹn. Đó là kết quả của chuỗi tự tạo và lý tưởng của đời sống tự tác chủ—Without purity of conduct there will be no calm equipoise of thought; without the calm equipoise of thought there will be no completion of insight. The completion of insight (prajna) means the perfection of intellect and wisdom, i.e., perfect enlightenment. It is the result of self-creation and the ideal of the self-creating life. 1) Giới: Sila (skt)—Giới giúp loại bỏ những ác nghiệp.—Discipline (training in moral discipline) wards off bodily evil. 2) Định: Dhyana (skt)—Định giúp làm yên tĩnh những nhiễu loạn tinh thần—Meditation (training the mind) calms mental disturbance. 3) Tuệ: Prajna (skt)—Huệ giúp loại trừ ảo vọng để đạt được chân lý—Wisdom (training in wisdom) gets rid of delusion and proves truth.

Giới độ

xem Thi ba-la-mật.

giới độ

2909南宋律宗僧。字拙菴。受業於棲心寺,從元照學習四分律。晚年住餘姚極樂寺,一意西歸,病中作遺書,告別士夫道舊,命眾誦觀無量壽經,誦至法身觀時,厲聲念佛跏趺而化,其餘事蹟不詳。著作有觀經疏正觀記三卷、阿彌陀經疏聞持記三卷等。另有觀經扶新論一卷,破斥草菴道因所著觀經輔正解一書之說,而彰顯元照之意。〔佛祖統紀卷二十八、淨土聖賢錄卷四〕

giới đức

2915(1909~ )江蘇江都人,俗姓馮。號天成。民國十二年(1923),於揚州邰伯福善庵依智文、朗文二位和尚披剃。十五年春於南京寶華山受具足戒。常熟法界學院、杭州僧學院、廈門閩南佛學院畢業。曾任閩南佛學院助教、常州天寧寺監院等職。三十八年,得大醒、慈航二師引介來臺,隨緣說法。後代證蓮法師籌建竹林精舍,復於臺北創建法雲寺,接管新店妙法寺。師深研法相唯識學及因明,尤精佛教梵唄,以熟叢林規範及寶華山傳戒禮法而蜚聲教界,錄製有「常州天寧寺唱誦」唱片六集,及「南京寶華山大板焰口」卡帶全套流通。其所撰弘法文字散見各佛教刊物。 ; Silakkhanda (P). ; The power of the discipline. ; Đức hay lực của giới luật—Virtue of morality—The power of the discipline.

Giới 戒

[ja] カイ kai ||| (1) The precepts; the rules of religious discipline (śīla), transliterated into Chinese as 尸羅. (2) To warn, to caution, to guard against. (3) Warnings, precautions, precepts. In Buddhism, practice of the precepts is one of the "three practices" 三學 and one of the six perfections 六波羅蜜. It is the aspect of the Buddhist teachings which focuses on the nurturance of morality. Many Mahāyāna texts list the practice of the precepts as the most fundamental practice, after which one may engage properly in the practice of samādhi 定 (concentration) and prajñā (wisdom) 慧. => 1. Giới luật của hàng xuất gia (s: śīla), Phiên âm sang tiếng Hán là Thi-la. 2. Cảnh cáo, phòng ngừa. 3, Sự báo trước, sự đề phòng, sự răn dạy. Trong Phật giáo, tu tập giới luật là một trong Tam học và là một trong Sáu ba-la-mật. Là phương châm của Phật giáo tập trung vào sự tu dưỡng đạo đức. Nhiều kinh văn Phật giáo Đại thừa dạy rằng tu giới là pháp môn căn bản nhất, sau đó mới có thể chuyên tập định (定s: samādhi;e: concentration) và tu huệ (慧s: prajñā e: wisdom).

Giới 界

[ja] カイ kai ||| (dhātu). "world," "realm." (1) Boundary, environment, realm. For example, the 'three realms' of desire, form and formlessness. (2) World. (3) The essential nature of the individual existence of things, as for example in the term fajie 法界. Essence, substance, original nature. The aspect of things as inherent, inborn from previous lifetimes, as opposed to conditioning from the present lifetime. (4) That which supports or sustains. Principle. (5) Discrimination; that which discriminates this and that, giving order in place of confusion. (6) Category, class, species; delimitation, division, kind, type. (7) Element. The compositional elements of human existence, or of perception. (8) The 18 realms 十八界, that is the 18 compositional elements of human existence: the six faculties, the six objects and the six cognitive functions. (9) The compositional elements of the universe: earth, air, water, fire, wind and consciousness. (10) 'Seeds.' In both Huayan and Consciousness-only theory, the seeds in the ālaya-vijñāna are sometimes called 界, meaning 'element' or 'cause.' 〔瑜伽論T 1579.30.478c〕 => (s: dhātu). 1. Ranh giới, môi trường, lĩnh vực. Chẳng hạn, Tam giới: dục giới, sắc giới, và vô sắc giới. 2. Thế giới, vũ trụ, vạn vật. 3. Thể tính hiện hữu riêng biệt của các pháp, như trong thuật ngữ Pháp giới (法界c: fajie). Bản chất, bản thể, bản tính. Phương diện tồn tại của các pháp như nó vốn là, bẩm sinh từ trong đời trước; ngược với hiện hữu do điều kiện tạo ra trong đời nầy. 4. Điều được bảo hộ và duy trì. Nguyên tắc. 5. Sự phân biệt; để phân biệt cái nầy với cái kia, đề ra trật tự để khỏi nhầm lẫn. 6. Phạm trù, hạng, loại; sự phân định, phân loại, thứ, hạng. 7. Yếu tố. Những yếu tố cấu thành sự hiện hữu hay nhận thức của con người. 8. Mười tám giới 十八界, là 18 yếu tố cấu thành sự hiện hữu của con người, gồm 6 căn, sáu trần, sáu thức. 9. Những yếu tố hợp thành vũ trụ vạn vật: đất, khí, nước, lửa, gió, và thức. 10. Chủng tử'. Trong giáo lý cả hai tông Hoa Nghiêm và Duy thức, chủng tử trong A-lại-da thức có khi được gọi là 'giới', có nghĩa là 'yếu tố' hoặc 'nguyên nhân'.

giới, ðịnh, tuệ

Discipline, meditation, wisdom; discipline wards off bodilyevil, meditation calms mental disturbance, wisdom gets rid of delusion and prove truth.

giờ bô

cách dùng cũ, vào khoảng giữa giờ thân, tức là từ 4 đến 5 giờ chiều.

giờ ngọ

Noontime.

giờ trang hoàng

Maṇḍanakārikā (S), Time to adorn.

giục thần túc

Chanda-samādhi (S), (S, P).

giữ bình tĩnh

To keep one's composure—To govern one's temper.

giữ chừng

To keep an eye on.

giữ giới

To observe moral precepts—To keep moral disciplines.

giữ gìn

To preserve—To guard—To maintain—To conserve—To be careful.

giữ khư khư

To keep something for someone.

giữ kín

To keep secret.

giữ lời hứa

To keep one's promise.

giữ miệng

To hold one's tongue.

giữ mùi

Gandhapālin (S), Preserving perfumes.

giữ nhà

Vì luyến ái và nghiệp lực, chúng ta có thể tái sanh làm chó giữ nhà trong kiếp lai sinh—To guard the house—To take care of the house—Because of the attachment and its karma, we may reincarnate and become a dog to guard our own house in the next life.

giữa ban ngày

In broad daylight.

giữa biển đời sanh tử

In the open sea (life) of birth and death

giữa dòng sanh tử

In the midstream of birth and death.

giựt mình

To startle.

gutijjita

Gutijjita (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.

gài bẫy

To lay (set) a trap.

gàn gàn

To be a little mad (crazy).

gá nghĩa kim bằng

To form a friendship with.

gá nghĩa vợ chồng

To get married.

gác chuông

Bell-tower.

gác qua thế sự, rũ sạch thân tâm

To put aside all mundane affairs and cleanse one's body and mind.

gán cho

To attach—To Impulate—To label.

gánh

To be in charge.

gánh chữ không

To carry the term “Emptiness.”—See Chấp Không.

gánh nặng

Burden—Heavy load.

gánh sầu

A burden of sorrow.

gánh vác

To shoulder—To take on a responsibility.

gây

1) To quarrel. 2) To create (gây ra)—To cause.

gây dựng

To establish.

gây gỗ

To pick a quarrel—Quarrelling.

gây hấn

To provoke hostilities.

gây lộn

To quarrel—To dispute.

gây nhiều lầm lỗi tội ác

To engage in wrongful acts.

gây nhiều ác nghiệp

To create a great deal of bad karma.

gây oán

To create (stir up) hatred.

gây thù

To create enemies.

gây vốn

To raise capital.

gãy

To break off.

gãy gọn

Concise.

gãy đổ

To collapse—To fall in.

Gê-sa

T: ge-sar; có nghĩa là »Liên hoa ấn«, ấn hoa sen;|Tên của một vị anh hùng huyền thoại Tây Tạng. Hình tượng của vị này tạo nên một câu truyện cổ Phật giáo Tây Tạng, được truyền bá đến Mông Cổ qua những du sĩ. Nhân vật này xuất phát từ một vương quốc tên Ling, nằm ở phía Ðông Tây Tạng và những huyền thoại về ông bắt đầu lan truyền từ thế kỉ 11. Trong thời gian này Phật giáo đã nắm ưu thế so với đạo Bôn và đề tài chính của câu truyện này chính là những cuộc chiến giữa Gê-sa và ác loài (trong trường hợp này là Bôn giáo). Trong những cuộc chiến này, Gê-sa được xem là hiện thân của Quán Thế Âm Bồ Tát (s: avalokiteśvara) và Liên Hoa Sinh Ðại sư (s: padmasambhava). Những nhân vật anh hùng trong câu truyện này đều được xem là hoá thân của các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha). Sau này, Gê-sa thường được tôn thờ như một vị thánh và vợ ông như một Không hành nữ (s: ḍākinī).|Theo truyền thống những bài Thánh ca (s: dohā) của Drug-pa Kun-leg và Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa), những người du ca đã truyền miệng những sự tích đầu của Gê-sa. Những phần bổ sung thêm sau này do những vị Lạt-ma thực hiện qua những cảm hứng tự ngộ được.|Tích này được phân thành hai chương: thời niên thiếu khổ cực, bị tất cả mọi người ruồng bỏ và thời làm vua Gê-sa. Gê-sa được xem như »con trời« giáng thế ngự trị. Sau khi ra đời thì bị trục xuất ra khỏi nước, sống viễn li đến năm 15 tuổi. Trong một cuộc đua ngựa giành ngai vàng, Gê-sa thắng được đối thủ là Khro-thung, được nhường ngai và cưới công chúa Brug-mo. Sau đó câu chuyện được tiếp nối với những cuộc chiến với ma quỷ, giáo hoá nước Hor.

1) What ? 2) Whatever ?

gì nữa

What else ?

gì thế

What's the matter ?

gìn giữ

To preserve.

Gô-rắc-sa

S: gorakṣa; »Kẻ chăn bò bất tử«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong thế kỉ thứ 10.|Lúc nhỏ, ông là một đứa trẻ chăn bò, ngày nọ được gặp A-chin-ta (s: aciṅtapa hoặc Mi-na-pa). Vị này chỉ cho ông tìm gặp Châu-ran-gi-pa (s: cauraṅgi-pa), một hoàng tử bị hãm hại, bị chặt hết tay chân. Ðộng lòng trắc ẩn, Gô-rắc-sa hết lòng săn sóc, lấy phần ăn của mình đưa vị hoàng tử và như vậy suốt 12 năm. Khi Châu-ran-gi-pa đắc đạo, chân tay lành lại, ông cũng nghe lời A-chin-ta tu tập và đạt chính quả. Phép tu của ông dựa trên lòng nhẫn nhục chịu đựng suốt mười hai năm phục vụ cho Châu-ran-gi-pa. Bài thánh ca của ông có những dòng sau:|Sinh trong giai cấp nào,|cao, thấp hay trung bình,|Hãy tận dụng đời mình,|đạt đến cái tối thượng.|Hãy nhận rốt ráo rằng, |dòng chảy nghiệp lực đang, |giúp bạn đạt mục đích.|Chụp cơ may giác ngộ,|ta quên mình phụng sự, |cho Châu-ran-gi-pa.|Rồi A-chin-ta hiện đến,|tặng ta nước cam lộ,|Ðạt tri kiến tối thượng,|Thật tại cùng Bất nhị,|và bây giờ ta là,|chúa chăn bị ba cõi.

Gô-vin-đa, Lạt-ma A-na-ga-ri-ka

S: govinda, lama anāgārika; 1898-1985;|Một Ðại sư người CHLB Ðức, chuyên tìm hiểu triết học và cách tu tập của nền Phật giáo Tây Tạng (Kim cương thừa). Sách của Sư đã giúp rất nhiều người phương Tây quen biết đạo Phật. Ðặc biệt, tác phẩm The way of The White Clouds (Bản dịch Việt ngữ: Ðường mây qua xứ tuyết) và Foundations of Tibetan Mysticism (Việt ngữ: Cơ sở mật giáo Tây Tạng) được phổ biến rộng rãi. Gô-vin-đa là người sáng lập hội Ārya Maitreya Maṇ-ḍala tại CHLB Ðức.

Gô-đu-ri-pa

S: ghodhuripa; »Thợ săn chim«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử của Li-la-pa (s: līlapa), sống khoảng thế kỉ thứ 9, 10.|Ông là người chuyên bắt chim. Ngày nọ, lúc ông đang bẫy chim thì có một vị Du-già sư đi qua, khuyên ông không nên sát hại sinh vật nữa mà nên tu học một Nghi quỹ (s: sādhana). Ông đồng ý và được dạy phép quán tưởng đặc biệt: quán tất cả âm thanh đều là tiếng chim hót, quán tiếng chim và sự suy tưởng về tiếng chim là một:|Lắng nghe mọi thứ tiếng,|lắng nghe, lắng nghe mãi,|ngươi sẽ nghe từng nốt,|tự tính nó giống nhau.|Hãy quán thêm một bước,|âm thanh và người nghe,|chỉ là một mà thôi,|trong cõi xứ bao trùm,|của Thật tại duy nhất.|Gô-đu-ri-pa quán đúng như lời khai thị này và ông ngộ cái nhất thể của âm thanh và tính Không. Sau chín năm, tâm thức ông đã gạn sạch Ô nhiễm và ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Bài thánh ca của ông như sau:|Ta đã thật chứng rằng,|mọi hiện tượng trong ngoài,|đều là Tâm hết thảy.|Ta đã giác ngộ rằng,|Tự tính thật của Tâm,|đều là ánh sáng cả.|Thức, ngủ, mơ, thiền định,|là hành động tỉnh giác,|nằm ở trong Pháp thân.|Ta đã chứng Phật quả.

gông cùm

Fitter.

gõ mõ

To beat gong.

găng

Tense.

gươm trí tuệ

The sword of Buddha-truth—Able to cut off the functioning of illusion.

gương

Example—Model—Pattern—To set an example.

gương chánh pháp

Dhammadaśa (P) Pháp kính.

gương mẫu

Examplary.

gương sen

Lotus seed pod.

gương sáng

Brilliant example.

gương tốt

Good example.

gương xấu

Bad example.

gương đức hạnh

Pattern of virtue.

gượng dậy

To try to get up—To raise oneself after a fall.

gượng gạo

Reluctantly—Unwillingly.

gạ

To coax someone into doing something.

gạch bỏ

To cross out—To delete—To cancel.

gạn lọc

Refinement.

gạn đục lóng trong

To decant and purify.

gạt

To cheat—To deceive—To fool—To trick.

gạt gẫm

Deceiving.

gạt nước mắt (gạt lệ)

To suppress one's tears.

gấp

1) Urgent—Pressing. 2) Folding—Fold.

gấp ba

Threefold.

gấp rút

See Gấp (1).

gầm mặt xuống

To bow one's head and appear to be ashamed (in an ashamed manner).

gầm thét

To roar.

gần chết

Near death—About to die—At the point of death.

gần gủi

Close to someone. Gần Gủi Người Lành Như Đi Trong Sương Mù, Không Thấy Ướt Áo, Nhưng Sương Đã Thấm Vào Da. Gần Gủi Kẻ Ác, Thêm Ác Tri Kiến, Chẳng Chóng Cũng Chầy Sẽ Có Ngày Gây Tạo Tội Ác, Trước Mắt Chịu Quả Báo, Chết Rồi Phải Trầm Luân: Staying with noble and good people is like walking through morning dew. You will not feel the wetness of the dew, yet gradually it will penetrate your skin. Staying with mean and wicked people, you can only develop wrong views and create negative karma. Soon you will be acquired and revolved in the three evil paths. Gần Mực Thì Đen, Gần Đèn Thì Sáng: A man is known by the companion he keeps.

gần đây

Recently—Lately.

gần đất xa trời

To be at death's door—To have one's foot in the grave.

gầy gò

Thin.

gầy mòn

To grow thin.

gầy yếu

Sickly.

gẫm

To ponder—Gẫm thế sự: To ponder the affairs of the world.

gẫu

Tán gẫu—To join in the conversation.

gập ghềnh

Uneven—Bumpy—Rough.

gật gù

To nod repeatedly.

gật đầu

To give a nod of assent.

gậy như ý

Nyoi (J).

gắm ghé

To aim at.

gắn bó

Abhinivesa (p & skt). (n) Attachment—Adgering to—Inclination to. (v) To become fond of—To be attached to.

gắn liền với

Adherence—Adherent (a).

gắng

To strive—To endeavour.

gắng gượng

Unwillingly—Reluctantly.

gắng sức

To make every effort—To do one's best—To make every endeavor.

gắp

To pick up with chopsticks.

gắt gao

Severe—Hard—Difficult.

gắt gỏng

Bad-tempered.

gặm nhấm

Gnawing.

gặp

To meet—To encounter—To see.

gặp dịp

To find the favorable occasion.

gặp may

To be lucky—Fortunate—In luck.

gặp nhau

To meet one another.

gặp nạn

To be in danger.

gặp rắc rối

To face trouble.

gặp thình lình

To meet accidentally—To run across.

gặp vận may

See Gặp May.

gặp vận rủi

To be down with one's luck.

gặt

To harvest—To reap.

gặt những gì bạn gieo

Reap what you sow.

gọi hồn

To call forth a spirit.

gồ ghề

Uneven—Rough—Unlevelled.

gồm có

To be consist of.

gỗ chiên đàn

Aguru (S), Agāru (S).

gỗ thơm

Gandhashṭha (S), Fraggrant wood.

gỗ trầm

Agāru (S), Sandalwood incense..

gột rửa

To cleanse—To clean and to wash.

gớm

Dreadful—Disgusting—Horrible.

gỡ rối

To disentangle.

gợi chuyện

To strike up a conversation.

gửi thông điệp

To give a message.

Ha

呵; C: hē; J: ka;|Trách mắng nghiêm khắc; phê bình, khiển trách.

ha bà bà

Hahava or Ababa (skt)—Ðịa ngục thứ tư trong tám địa ngục lạnh, nơi tội nhân chỉ có thể rên khẻ những âm thanh nầy (ha bà bà)—The fourth of the eight cold hells, in which the suferers can only utter these sounds.

ha la la

Ahaha (S), Cold hell . Also hàn địa ngục. ; Atata (skt)—Ðịa ngục thứ ba trong tám địa ngục lạnh, nơi tội nhân chỉ có thể rên khẻ những âm thanh “ha la la.”—The third of the eight cold hells, in which the suferers can only utter these sounds.

ha ly bạt ma

Harivarman (S)Sư tử Khải, Sư tử GiápMột vị La hán, đệ tử ngài Cưu ma la đa, người Thiên trúc, soạn bộ Thành thật luận 202 quyển, sau đó ngài Cưu ma la thập dịch ra chữ Hán. Tổ thứ hai phái Thành Thật Tông, được vua Ma kiệt phong là Quốc sư.

ha lê bạt ma

5272梵名 Harivarman。單稱跋摩。意譯師子鎧、師子冑。西元四世紀頃之人。爲成實宗之祖。中印度婆羅門之子,幼即慧秀,及長,好思索。初遊於數論之門,後皈依佛教,聽聞說一切有部學者鳩摩羅馱(梵 Kumāralabdha)之發智論,以覺其論旨卑淺,非佛化之本源,乃潛心鑽研三藏,後轉入摩訶僧祇部,專究大乘,遂徹幽玄之底,博稽百家眾流之談,淘汰五部,商略異端,著成實論二○二品。該論爲成實宗之根本聖典。後奉摩揭陀國王之命,悉破外道諸論師之言論,而被任爲國師。〔三論玄義、出三藏記集卷十一訶梨跋摩傳〕 ; (呵棃 跋摩) Phạm: Harivarman. Gọi tắt: Bạt Ma. Dịch ý: Sư tử khải, Sư tử trụ. Tổ khai sáng tông Thành thực, người Ấn độ, sống vào khoảng thế kỉ thứ IV Tây lịch. Ngài là con của một người Bà la môn ở Trung Ấn Độ, thông minh từ thuở nhỏ, lớn lên thích tìm tòi học hỏi. Mới đầu, ngài theo học phái Số Luận, sau qui y theo Phật giáo. Sau khi đọc luận Phát trí của ngài Cưu Ma La Đà (Phạm:Kumàralabdha), một học giả của Thuyết Nhất Thuyết Hữu bộ, Ha Lê Bạt Ma cho rằng nội dung của luận này còn nông cạn, chưa nói hết được ý Phật muốn chỉ dạy, nên ngài chú tâm nghiên cứu Tam tạng. Sau, ngài chuyển sang Ma Ha Tăng Kì Bộ, chuyên nghiên cứu Đại thừa, thấu suốt chỗ sâu xa kín nhiệm, rồi lại tham khảo và chắt lọc các nguồn tư tưởng khác mà soạn ra bộ luận Thành thực gồm 202 phẩm, là Thánh điển căn bản của tông Thành Thực. Về sau, ngài dùng tài biện luận phá dẹp các luận thuyết dị đoan của ngoại đạo và được vua nước Ma Kiệt Đà tôn làm Quốc sư. [X. Tam luận huyền nghĩa, truyện Ha lê bạt ma trong Xuất tam tạng kí tập Q.11].

ha lê lặc

Harìtakì (S). Yellow myrobalan. Also Ha tử (cây).

ha lê lặc thụ

5272梵語 haritakī,巴利語 harītaka。意譯作天主持、天主苻來。又又作呵利勒樹、訶梨怛雞樹、呵梨得枳樹、澀翁樹、苛子樹、呵子樹,訶子樹、賀唎怛繫樹。爲產於中國嶺南、中南半島、印度之果樹,學名 Terminalia chebula。樹似木槿,葉長橢圓形,開白色花,初秋結果。果實青黃色,呈五、六稜形之卵狀,可治眼疾、風邪,且有通便之效。於古代律典爲五藥之一。〔五分律卷二十二、十誦律卷十四、善見律毘婆沙卷一、俱舍論卷十二、玄應音義卷十八、卷二十四〕 ; (呵棃 勒樹) Phạm: Haritakì.Pàli: Harìtaka. Dịch ý: Thiên chủ trì, Thiên chủ phù lai. Cũng gọi: Ha Lợi Lặc Thụ, Ha lê đát kê Thụ, Ha Lê Đắc Chỉ Thụ, Sáp Ông Thụ, Hà Tử Thụ, Ha Tử Thụ, Hạ Lị Đát Hệ Thụ. Tên khoa học: Terminalia chebula. Loại cây ăn trái sinh sản ở các vùng Lĩnh Nam Trung quốc, bán đảo Trung Nam, Ấn độ v.v... Là một trong 5 thứ thuốc nói trong các sách luật thời xưa. Thân cây giống như cây dâm bụt, lá dài và nhọn, hoa mầu trắng, kết trái vào đầu mùa thu. Trái hơi tròn như quả trứng, màu vàng chanh, dùng làm thuốc chữa các bệnh đau mắt, phong tà và thông đại tiểu tiện. [X. luật Ngũ phần Q.22; luật Thập tụng Q.14; Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; luận Câu xá Q.12; Huyền ứng âm nghĩa Q.18, Q.24].

ha lê đà khương

3111梵語 haridrā,巴利語 haliddā。意譯黃薑。又作阿利陀薑。屬薑荷科之鬱金類。學名 Curcuma longa。花、葉類似生薑,而香氣稍異。根(地下莖)乾燥後,可作藥、調味料、染料(用於塗身)四分律卷十二所說壞生種戒之五種根中,將之與薑、憂尸羅等並屬根種之一。〔善見律毘婆沙卷十五、四分律疏卷九(智首)〕 ; (呵梨陀薑) Phạm: Haridrà,Pàli: Haliddà. Cũng gọi A Lợi Đà Khương. Tên khoa học: Curcuma Longa. Cây nghệ, thuộc họ Uất kim, hoa và lá giống cây gừng, nhưng mùi thơm thì hơi khác. Củ nghệ, sau khi phơi khô, được dùng làm thuốc, hoặc làm hương liệu, hoặc thuốc nhuộm. Luật Tứ phần quyển 12 xếp Ha Lê Đà khương vào một trong năm loại căn chủng (loại cây cho củ). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.15; Tứ phần luật sớ Q.9 (Trí thủ)].

ha lê đế

Xem Ha lỵ đế.

ha lăng

5271又作波陵。相當於唐朝南海(今馬來群島)中之闍婆島(今爪哇島)。六朝末期至唐代間,印度文化普及於印度諸國及馬來群島,且佛教亦甚興盛。大唐西域求法高僧傳卷上載,據傳唐代麟德年中(664~665),成都沙門會寧航海至此地,與南天竺僧若那跋陀羅共譯大般涅槃經後分二卷。島上之婆羅浮屠(Borobudur)爲現今世界最大之大乘佛教建築。〔大周錄卷二、開元釋教錄卷九〕(參閱「婆羅浮屠」4470) ; (呵陵) Cũng gọi Ba lăng. Tên đất vào đời Đường, nay là đảo Trảo Oa (Java) thuộc Nam dương (Indonesia). Vào cuối đời Lục triều đến đời Đường, văn hóa Ấn độ và Phật giáo đã rất hưng thịnh ở quần đảo Mã lai. Cứ theo Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng chép, tương truyền, khoảng năm Lân Đức (664-665) đời Đường, sa môn Hội ninh, người Thành đô, Trung quốc, đã vượt biển đến đảo Ha Lăng, rồi cùng với ngài Nhã Na Bạt Đà La, người Nam Thiên Trúc, dịch kinh Đại Bát Niết Bàn hậu phần 2 quyển. Trên đảo này có tòa tháp Bà La Phù Đồ (Borobudur) được coi là kiến trúc của Phật giáo Đại thừa lớn nhất trên thế giới hiện nay. [X. Đại chu lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.9]. (xt. Bà La Phù Đồ).

ha lợi kê la quốc

5271梵名 Harikela。約當今緬甸國之阿拉干(Arakan)地方。據大唐西域求法高僧傳載,由師子洲向東北,泛舟一月可至訶利雞羅國,此國爲東天之東界,即贍部洲之地,義淨西行求法嘗途經此國,其地佛教甚盛。 ; (呵利鶏羅國) Phạm: Harikela. Tên một nước nhỏ thời cổ đại, có lẽ ở vào vùng A Lạp Can (Arakan) của nước Miến Điện ngày nay. Cứ theo Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện chép, thì từ châu Sư tử đi thuyền về hướng đông bắc khoảng một tháng thì đến nước Ha lợi kê la. Nước này là biên giới phía đông của Đông thiên trúc. Ngài Nghĩa tịnh trên đường sang Ấn độ cầu pháp có đi ngang qua nước này. Phật giáo ở đây rất thịnh.

ha lỵ đế

Hāritī (S)Ha lê đế, Quỉ tử mẫuMột nữ đại quỉ thần vương, thích ăn thịt con nít, được Phật hoá độ, qui y, về sau chứng quả A la hán. Có tâm nguyện hộ trợ phụ nữ trong lúc sanh sản.

ha mật

Hami (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Ðiển, Ha Mật là một vương quốc và thành phố cổ ở Trung Á, nằm về phía đông bắc hồ Lop. Từ thời Hán đến Ðường được biết đến qua tên Y-Vũ, bây giờ được dân Turki-Mohammadans gọi là Kumul. Vì là địa điểm chính yếu cung cấp nước trong vùng trong hơn 1.500 năm, nên Ha Mật là một đầu cầu cho công cuộc bành trướng về phía Trung Á của các vương triều Trung Quốc—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Hami is an ancient kingdom and city in central Asia, northeast of lake Lop. From Han to T'ang times known as I-Wu, now called Kumul by Turki Mohammadans. For more than 1,500 years, owing to its location and supply of water, Hami was a bridge-head for the expansion and control of the outposts of the Chinese empire in Central Asia.

ha ngũ dục

5271請參閱 注維摩詰經 [1]請參閱 往生論註天台宗正修觀法二十五方便五科中之第二。謂訶斥色聲香味觸等五境。五境本非欲,然其中有愛味,能令修行者引生欲心,牽入魔境,故稱五欲而訶斥之。此五欲境之過患,色如熱鐵丸,執之則燒;聲如塗毒鼓,聞之必死;香如憋龍之氣,嗅之則病;味如沸蜜湯、蜜塗刀,舐之則傷;觸如臥獅子,近之則囓。此五欲得之無厭足,惡心轉熾如火益薪,世世爲害甚於盜賊,無始劫來,常相劫奪摧折色心,輪迴三道永無止境,故應訶之、棄之。摩訶止觀卷四下記載古德之詩(大四六.四四上):「遠之易爲士,近之難爲情,香味頹高志,聲色喪軀齡。」〔天台四教儀卷下〕 ; (呵五欲) Quở trách 5 món dục lạc. Khoa thứ 2 trong 5 khoa của 25 phương tiện tu chính quán thuộc tông Thiên thai. Nghĩa là quở trách 5 trần cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. Năm trần cảnh này vốn không phải là dục, nhưng vì chúng mà người tu hành sinh khởi dục tâm nên phải quở trách. Về sự tai hại của 5 dục cảnh này có thể ví: Sắc như viên sắt nóng, cầm vào thì cháy tay; Thanh như độc cổ (trống có bôi chất độc), nghe thì chắc chắn phải chết; Hương như hơi độc của rồng, hễ ngửi thì bị bệnh; Vị như mật dính dao, liếm thì đứt lưỡi; Xúc như sư tử nằm, đến gần sẽ bị nó ăn thịt. Năm thứ dục này một khi đã được hưởng thụ thì không bao giờ nhàm chán, ác tâm hừng hừng như lửa đổ thêm dầu, đời đời bị hại hơn cả giặc cướp. Từ kiếp vô thủy đến nay, năm thứ dục này đã làm hại thân tâm chúng sinh, khiến phải luân hồi trong 3 đường không bao giờ dứt, cho nên phải quở trách, phải lìa bỏ. [X. Thiên thai tứ giáo nghi Q.hạ].

ha phật mạ tổ

5271請參閱 菩薩訶色欲法經 禪林用語。斥罵佛祖之謂。又作殺佛戮祖。禪宗每有訶佛罵祖之語,藉罵倒佛祖,否定權威之法,爲學人解縛破執,使其體得自在之境地。〔碧巖錄第四則〕 ; (呵佛駡祖) Cũng gọi Sát Phật lục tổ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là quở Phật mắng tổ. Thiền tông thường dùng từ ngữ này để phủ nhận uy quyền, nhằm giúp người học phá chấp hầu thể hội được cảnh giới tự tại, giải thoát. [X. tắc 4 trong Bích nham lục].

ha phọc

5272即悉曇字???(hva)。悉曇四十二字門之一。又作叵、火婆、嗑縛、沙波、訶婆、訶麼、火。舊華嚴經卷五十七(大九‧七六六上):「唱訶婆字時,入般若波羅蜜門,名觀察一切無緣眾生方便攝受,令生海藏。」華嚴經入法界品四十二字觀門(大一九‧七○八中):「訶嚩字時,入觀察一切眾生堪任力遍生海藏般若波羅蜜門,悟一切法可呼召性不可得故」蓋梵語「訶嚩」爲「呼召」之義,依深祕釋解爲可呼召性不可得。如地能載一切法,海能包藏一切法,佛陀大悲之堪任力能呼召一切法,以無緣之悲攝受,令成有緣,而觀諸法本不生,能召與所召非隔歷不融,非生非佛而能現能、所之相,所謂無可滅之生死法、無可生之涅槃理、無可定之呼召之體,故謂呼召之性不可得。若以此顯三般若,則訶嚩字爲文字般若,依此字入般若波羅蜜門爲觀照般若,悟此字之實體本不生之義爲實相般若。〔大品般若經卷五、大般若波羅蜜多經卷五十三、大智度論卷四十八、慧琳音義卷二〕 ; (呵嚩) Cũng gọi: Phả, Hỏa bà, Hạp phược, Sa ba, Ha bà, Ha ma, Hỏa. Chữ Tất đàm (hva). Một trong 42 chữ cái Tất đàm. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 57 (Đại 9, 766 thượng), nói: Khi xướng chữ Ha bà thì vào cửa Bát nhã ba la mật, quán xét tất cả chúng sinh vô duyên, dùng phương tiện nhiếp thụ, khiến sinh hải tạng . Môn Tứ thập nhị tự quán trong phẩm Pháp giới kinh Hoa nghiêm (Đại 19, 708 trung), nói: Khi xướng chữ Ha phạ, vào cửa Bát nhã ba la mật, khiến tất cả chúng sinh liễu ngộ hết thảy pháp có tính kêu gọi đều chẳng thể được . Tiếng Phạm Ha phạ nghĩa là kêu gọi . Thâm bí thích chú giải là pháp có tính kêu gọi chẳng thể được . Như đất có thể chuyên chở tất cả pháp, biển có khả năng dung chứa tất cả pháp, sức đại bi của đức Phật có thể kêu gọi tất cả pháp, dùng tâm từ bi vô duyên để nhiếp hóa, khiến thành hữu duyên và quán xét các pháp vốn chẳng sinh, giữa Phật và chúng sinh không ngăn cách; không năng, sở mà có thể hiện tướng năng, sở. Nghĩa là chẳng có pháp sinh tử để có thể diệt, không có lí Niết bàn để có thể sinh, sự kêu gọi không có thể tính nhất định, cho nên tính kêu gọi chẳng thể được. Nếu dùng Ha phạ để hiển bày nghĩa của 3 Bát nhã, thì chữ Ha phạ là Văn tự bát nhã; nương vào chữ Ha phạ mà vào cửa Bát nhã ba la mật là Quán chiếu bát nhã; hiểu rõ thực thể của Ha phạ vốn chẳng sinh là Thực tướng bát nhã. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.53; luận Đại trí độ Q.48; Tuệ lâm âm nghĩa Q.2].

Ha trách

呵責; C: hēzé; J: kashaku; S: vigarhante; P: vigarahati;|Quở trách nghiêm khắc, phê phán, khiển trách, quở trách.

ha trách kiện ðộ

Phép khiển trách thứ bảy trong hai mươi phép khiển trách chư Tăng Ni sai trái—The eleventh of the twenty rules for monks, dealing with rebuke and punishment of a wrongdoer.

Ha trách yết-ma

(訶責羯磨): hình thức áp dụng đối với vị tỳ-kheo có tội, buộc phải chịu sự quở trách công khai trước chúng tăng.

Ha trách 呵責

[ja] カシャク kashaku ||| To scold severely; to criticize, reprimand, rebuke (Skt. vigarhante; Pali vigarahati). => (s: vigarhante; Pali vigarahati) Quở trách nghiêm khắc, phê phán, khiển trách, quở trách.

ha trạch ca

5271梵語 kāṭaka。又作呵吒迦。全稱呵吒迦阿羅娑(梵 kāṭaka-rasa)。意譯金色水或金光汁藥。傳說爲鍍金之材料,或指不老之藥〔八十華嚴經卷七十八、華嚴經探玄記卷二十、慧苑音義卷下〕 ; (呵宅迦) Phạm: Kàỉaka. Cũng gọi: Ha tra ca. Gọi đủ: Ha tra ca a la sa (Phạm: Kàỉakarasa). Dịch ý là nước có mầu vàng, hoặc chất thuốc nước mầu vàng. Truyền thuyết cho rằng Ha tra ca là một thứ tài liệu mạ vàng để bảo trì được lâu, hoặc chỉ cho thuốc bất lão (không già). [X. kinh Hoa nghiêm Q.78 (bản 80 quyển); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.20; Tuệ lâm âm nghĩa Q.hạ].

ha đa phạt na già la tự chí

5271巴利名 Hatthavanagallavihāravaṃsa。凡十一章。作者不詳。爲南傳上座部佛教三藏外之著作,書成於錫蘭波洛羅摩婆訶二世(巴 Parakkamabāhu Ⅱ, 1236~1270 在位)時期。其內容主要敘述阿多那迦羅(巴 Attanagalla)地區訶多伐那伽羅寺之歷史,一至八章載室利僧伽菩提國王(巴 Siri Saṅghabodhi, 251~253 在位)之事蹟,九至十一章則描述該寺各種建築物之藝術造型等。 ; (呵多伐那伽羅寺志) Pàli: Hatthavanagallavihàravaôsa. Gồm 11 chương, được biết sớm vào thời vua Ba lạc la ma bà ha đệ nhị (Pàli: Parakkambàhu II, ở ngôi 1236-1270) của Tích lan. Nội dung sách này chủ yếu nói về lịch sử chùa Ha đa na già la ở vùng A đa na ca la (Pàli: Attanagalla). Từ chương 1 đến chương 8 ghi chép sự tích của vua Thất lợi tăng già bồ đề (Pàli: Siri Saíghabodhi, ở ngôi 251-253); từ chương 9 đến chương 11 miêu tả nghệ thuật tạo hình của các tòa kiến trúc ngôi chùa này.

Ha 呵

[ja] カ ka ||| To scold severely; to criticize, rebuke = 呵責. => Trách mắng nghiêm khắc; phê bình, khiển trách.

Ha-lê Bạt-ma

訶梨跋摩; S: harivarman; tk. 4; dịch nghĩa là Sư Tử Khải, Sư Tử Giáp;|Là vị Tổ của Thành thật tông. Sư sinh trong một gia đình Bà-la-môn ở Trung Ấn, trước học ngoại đạo, sau gia nhập Tăng-già tu tập theo giáo lí của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Quan niệm của Sư lại không tương ưng với học thuyết của Hữu bộ nên sau một thời gian ngắn, Sư rời bộ này và bắt đầu nghiên cứu kinh điển và thông cả Tam tạng. Sau Sư đến Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) chung học Ðại thừa kinh điển với những nhà sư thuộc Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika). Trong thời gian này, Sư viết Thành thật luận (成實論; s: satyasiddhiśāstra), phát triển tư tưởng tính Không (s: śūnyatā). Thành thật luận được Cưu-ma-la-thập dịch sang Hán văn và sau này trở thành bài luận cơ bản của Thành thật tông.

ha-lê-lặc

phiên âm từ Phạn ngữ là haritakỵ, cũng đọc là ha-lỵ-lặc, là một loại cây có trái, rễ, thân, cành lá, hoa và hạt đều có vị đắng.

ha-lỵ-lặc

xem ha-lê-lặc.

Hai chân lý

(Nhị đế): tức Tục đế hay Thế đế (chân lý tương đối của thế tục) và Chân đế, Thắng nghĩa đế hay Đệ nhất nghĩa đế (chân lý tuyệt đối của cảnh giới giải thoát).

hai chướng ngại

Two hindrances.

hai loại bệnh

Two illnesses.

hai loại bố thí

Two kinds of donation or almsgiving: 1) Thế gian: Ordinary alms. 2) Xuất thế gian: Spiritual gifts.

hai loại nhân quả

See Nhị chủng nhân quả.

hai loại Pháp thân

tức Pháp tánh Pháp thân và Phương tiện Pháp thân, cũng gọi là Lý Pháp thân và Trí Pháp thân.

hai loại thỏa thích

Two kinds of pleasure—Theo Kinh Niệm Xứ, có hai loại thỏa thích—According to the Satipatthana Sutta, there are two kinds of pleasure. 1) Thỏa Thích Thế Gian: Samisa sukha (p)—Pleasant worldly feeling. 2) Thỏa Thích Siêu Thế Gian: Niramisa sukha (p)—Thỏa thích siêu thế gian cao quý hơn thỏa thích thế gian—Pleasant unworldly feeling, which is far superior to samisa sukha.

hai loại vận hành của tâm

Two kinds of functioning of the mind—Trong Nghiên Cứu Kinh Lăng Già, Thiền Sư D.T. Suzuki đã phân biệt hai loại vận hành của tâm—In The Studies of The Lankavatara Sutra, Zen Master D.T. Suzuki distinguished two kinds of functioning of the mind: 1) Vận Hành Tùy Thuộc vào Tâm Phân Biệt: Còn gọi là sự phân biệt trí, được hàng nhị thừa nhận biết. Nó được gọi là Ứng Thân hay cái thân đáp ứng. Vì họ không biết rằng đây là do cái tâm sinh khởi hay chuyển thức phóng chiếu ra, nên họ tưởng nó là cái gì ở bên ngoài họ, và khiến cho nó mang một hình tướng có thân thể mà không thể có một cái biết thông suốt về bản chất của nó: This functioning is dependent on the Individualizing Mind and is perceived by the minds of the two-vehicle followers. It is known as Responding Body. As they do not know that this is projected by their Evolving Mind, they take it for something external to themselves, and making it assume a corporeal form, fail to have a thorough knowledge of its nature. 2) Vận Hành Tùy Thuộc Vào Nghiệp Thức: Ðây là loại vận hành xuất hiện với tâm Bồ Tát nào đã nhập vào con đường Bồ Tát tính cũng như đối với tâm của những vị đã đạt đến địa cao nhất. Loại nầy được gọi là Báo Thân. Cái thân có thể nhìn thấy được trong vô số hình tướng, mỗi hình tướng có vô số nét, và mỗi nét cao vời với vô số cách, và cái thế giới trong đó thân trú ngụ cũng được trang nghiêm theo vô số thể cách. Vì thân thể hiện khắp mọi nơi nên nó không có giới hạn nào cả, nó có thể không bao giờ suy diệt, nó vượt khỏi mọi hoàn cảnh. Tùy theo yêu cầu của chúng sanh tín thủ. Nó không bị đoạn diệt cũng không biến mất. Những đặc điểm ấy của thân là những kết quả huân tập của những hành động thuần khiết như các đức hạnh toàn hảo hay Ba La Mật, và cũng là sự huân tập vi diệu vốn sẵn có trong Như Lai Tạng. Vì có được các tính chất vô lượng an lạc như thế nên nó được gọi là Báo Thân: This functioning is dependent on the Karma-consciousness, that is, it appears to the minds of those Bodhisattvas who have just entered upon the path of Bodhisattvahood as well as of those who have reached the highest stage. This is known as the Recompense Body. The body is visible in infinite forms, each form has infinite marks, and each mark is excellent in infinite ways, and the world in which the Body has its abode is also embellished in manners infinite varying. As the Body is manifested everywhere, it has no limitations whatever, it can never be exhausted, it goes beyond all the conditions of determination. According to the needs of all beings it becomes visible and is always held by them, it is neither destroyed nor lost sight of. All such characteristics of the Body are the perfuming effect of the immaculate deeds such as the virtues of perfection and also the work of the mysterious perfuming innate in the Tathagata-garbha. As it is thus possession of immeasurably blissful qualities, it is called Recompense Body.

hai lòng

Double-faced—Two-faced

hai lối tu hành

Two paths of cultivation—Theo Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận, có hai lối tu hành—According to The Commentary on the Ten Stages of Bodhisattvahood, there are two paths of cultivation. (I) Nan Hành Ðạo—The Difficult Path: Nan hành đạo là chúng sanh ở cõi đời ngũ trược ác thế nầy đã trải qua vô lượng đời chư Phật, cầu ngôi A Bệ Bạt Trí, thật là rất khó được. Nỗi khó nầy nhiều vô số như cát bụi, nói không thể xiết; tuy nhiên, đại loại có năm điều—The difficult path refers to the practices of sentient beings in the world of the five turbidities, who, through countless Buddha eras, aspire to reach the stage of Non-Retrogression. The difficulties are truly countless, as numerous as specks of dust or grains of sand, too numerous to imagine; however, there are basically five major kinds of difficulties: 1) Ngoại đạo dẫy đầy làm loạn Bồ Tát pháp: Externalists are legion , creating confusion with respect to the Bodhisattva Dharma. 2) Bị người ác hay kẻ vô lại phá hư thắng đức của mình: Evil beings destroy the practitioner's good and wholesome virtues. 3) Dễ bị phước báo thế gian làm điên đảo, có thể khiến hoại mất phạm hạnh: Worldly merits and blessings can easily lead the practitioner astray, so that he ceases to engage in virtuous practices. 4) Dễ bị lạc vào lối tự lợi của Thanh Văn, làm chướng ngại lòng đại từ đại bi: It is easy to stray onto the Arhat's path of self-benefit, which obstructs the Mind of great loving kindness and great compassion. 5) Bởi duy có tự lực, không tha lực hộ trì, nên sự tu hành rất khó khăn; ví như người què yếu đi bộ một mình rất ư là khó nhọc, một ngày chẳng qua được vài dặm đường: Relying exclusively on self-power, without the aid of the Buddha's power, make cultivation very difficult and arduous; it is like the case of a feeble, handicapped person, walking alone, who can only go so far each day regardless of how much effort he expends. (II) Dị Hành Ðạo—The Easy Path: a) Dị hành đạo là chúng sanh ở cõi nầy nếu tin lời Phật, tu môn niệm Phật nguyện về Tịnh Ðộ, tất sẽ nhờ nguyện lực của Phật nhiếp trì, quyết định được vãng sanh không còn nghi. Ví như người nương nhờ sức thuyền xuôi theo dòng nước, tuy đường xa ngàn dặm cũng đến nơi không mấy chốc. Lại ví như người tầm thường nương theo luân bảo của Thánh Vương có thể trong một ngày một đêm du hành khắp năm châu thiên hạ; đây không phải do sức mình, mà chính nhờ thế lực của Chuyển Luân Vương: The easy path of cultivation means that, if sentient beings in this world believe in the Buddha's words, practice Buddha Recitation and vow to be reborn in the Pure Land, they are assisted by the Buddha's vow-power and assured of rebirth. This is similar to a person who floats downstream in a boat; although the distance may be thousands of miles far away, his destination will be reached sooner or later. Similarly, a common being, relying on the power of a 'universal mornach' or a deity, can traverse the five continents in a day and a night, this is not due to his own power, but, rather, to the power of the monarch. b) Có kẻ suy theo lý mà cho rằng hạng phàm phu hữu lậu không thể sanh về Tịnh Ðộ và không thể thấy thân Phật. Nhưng công đức niệm Phật thuộc về vô lậu thiện căn, hạng phàm phu hữu lậu do phát tâm Bồ Ðề cầu sanh Tịnh Ðộ và thường niệm Phật, nên có thể phục diệt phiền não, được vãng sanh, và tùy phần thấy được thô tướng của Phật. Còn bậc Bồ Tát thì cố nhiên được vãng sanh, lại thấy tướng vi diệu của Phật, điều ấy không còn nghi ngờ chi nữa. Cho nên Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tất cả các cõi Phật đều bình đẳng nghiêm tịnh, vì chúng sanh hạnh nghiệp khác nhau nên chỗ thấy chẳng đồng nhau.”: Some people, reasoning according to 'noumenon,' or principle may say that common beings, being conditioned, cannot be reborn in the Pure Land or see the Buddha's body. The answer is that the virtues of Buddha Recitation are 'unconditioned' good roots. Ordinary, impure persons who develop the Bodhi Mind, seek rebirth and constantly practice Buddha Recitation can subdue and destroy afflictions, achieve rebirth and, depending on their level of cultivation, obtain vision of the rudimentary aspects of the Buddha (the thirty-two marks of greatness, for example). Bodhisattvas, naturally, can achieve rebirth and see the subtle, loftier aspects of the Buddha, i.e., the Dharma body. There can be no doubt about this. Thus the Avatamsaka Sutra states: “All the various Buddha lands ar equally purely adorned. Because the karmic practices of sentient beings differ, their perceptions of these lands are different.”

hai lỗi

Two faults Rơi vào quả vị Thanh Văn hay Duyên Giác.

hai món ăn tinh thần

See Nhị Thực.

hai mươi bốn phiền não phụ

Theo Tam Thập Tụng của Ngài Thế Thân, có hai mươi bốn tùy phiền não—According to Vasubandhu's Trimsika, there are twenty-four secondary afflictions. 1) Phẫn: Krodha (skt)—Bất nhẫn hay sự nóng giận—Impatience or anger. 2) Sân: Upanada (skt)—Sự sân hận—Hatred or resentment. 3) Phú: Mraksha (skt)—Sự che dấu—Hypocrisy or concealment. 4) Não: Pradasa (skt)—Lời nói gây ra phiền não cho người—Stinging talk or worry. 5) Tật: Irshya (skt)—Sự đố kỵ hay ganh ghét—Envy or jealousy. 6) Xan: Matsarya (skt)—Sự keo kiết bỏn xẻn—Stinginess. 7) Cuống: Maya (skt)—Lời nói lừa dối—Deceit or manipulation. 8) Siểm: Sathya (skt)—Sự nịnh nọt—Duplicity or undully flattering. 9) Kiêu Mạn: Mada and Mana (skt)—Sự kiêu mạn—Arrogance or conceitedness. 10) Hại: Vihimsa (skt)—Gây tổn hại cho người khác—Hurting others or destructive. 11) Vô Tâm: Ahri (skt)—Sự không hổ thẹn—Shamelessness, self-shameless, or have no shame of self. 12) Vô Quý: Atrapa (skt)—Sự khinh suất—Recklessness, or have no shame around other people. 13) Hôn Trầm: Styanam (skt)—Sự trì trệ—Torpidity or drowsiness. 14) Trạo Cử: Uddhava (skt)—Sự chao đảo—Fluctuations, or instability of mind and body. 15) Bất Tín: Asraddha (skt)—Sự không tin—Unbelief or faithlessness. 16) Giải Ðãi: Kausidya (skt)—Sự biếng nhác—Indolence or laziness. 17) Phóng Dật: Pramada (skt)—Sự buông lung—Thoughtlessness, uninhibitedness, or lack of self-mastery. 18) Thất Niệm: Mushitasmritita (skt)—Sự mất chánh niệm—Senselessness. 19) Tán Loạn: Vikshepa (skt)—Trạng thái tán loạn không ổn định—Uncollected state or unsteadiness. 20) Bất Chánh Kiến: Asamprajanya (skt)—Sự hiểu biết không đúng—Inaccuracy of knowledge, or do not understand in a proper manner. 21) Ác Tác: Kaukritya (skt)—Sự làm ác—Evil doing. 22) Thụy Miên: Middha (skt)—Sự buồn ngũ hay mê trầm—Drowsiness. 23) Tầm: Vitarka (skt)—Sự truy tầm nghiên cứu—Investigation. 24) Tứ: Vicara (skt)—Sự suy nghĩ hay dò xét—Reflection.

hai mươi bốn pháp bất tương ưng trong duy thức học

The twenty-four Non-interactive Activity Dharmas: 1) Ðắc: Prapti (skt)—Attainment. 2) Mạng căn: Jivitendriya (skt)—Life faculty. 3) Chúng đồng phận: Nikaya-Sabhaga (skt)—Generic Similarity. 4) Dị sanh tánh: Visabhaga (skt)—Dissimilarity. 5) Vô tưởng định: Asamjnisamapatti (skt)—No-thought samadhi. 6) Diệt tận định: Nirodha-samapatti (skt)—Samadhi of extinction. 7) Vô tưởng báo: Asamjnika (skt)—Reward of No-Thought. 8) Danh thân: Namakaya (skt)—Bodies of nouns. 9) Cú thân: Padakaya (skt)—Bodies of sentences. 10) Văn thân: Vyanjanakaya (skt)—Bodies of phonemes. 11) Sanh: Jati (skt)—Birth. 12) Trụ: Sthiti (skt)—Dwelling. 13) Lão: Jara (skt)—Aging. 14) Vô thường: Anityata (skt)—Impermanence. 15) Lưu chuyển: Pravritti (skt)—Revolution. 16) Ðịnh dị: Pratiniyama (skt)—Distinction. 17) Tương ưng: Yoga (skt)—Interaction. 18) Thế tốc: Java (skt)—Speed. 19) Thứ đệ: Anukrama (skt)—Sequence. 20) Thời: Kala (skt)—Time. 21) Phương: Desha (skt)—Direction. 22) Số: samkhya (skt)—Numeration. 23) Hòa hiệp tánh: Samagri (skt)—Combination. 24) Bất hòa hiệp tánh: Anyathatva (skt)—Discontinuity.

hai mươi bốn tâm ðẹp cõi dục giới

Theo A Tỳ Ðạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), có hai mươi bốn tâm đẹp—According to the Abhidharma, there are twenty-four Sense-Sphere Beautiful Consciousnesses: (A) Tám Loại Tâm Thiện—Eight Sense-Sphere Consciousness: 1) Tâm không bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by joy, associated with knowledge, unprompted. 2) Tâm bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by joy, associated with knowledge, prompted. 3) Tâm không bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, không liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by joy, dissociated from knowledge, unprompted. 4) Tâm bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, không liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by joy, dissociated from knowledge, prompted. 5) Tâm không bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ xả, liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by equanimity, associated with knowledge, unprompted. 6) Tâm bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ xả, liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by equanimity, associated with knowledge, prompted. 7) Tâm không bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ xả, không liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by equanimity, dissociated from knowledge, unprompted. 8) Tâm bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ xả, không liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by equanimity, dissociated from knowledge, prompted. (B) Tám loại Tâm Quả Dục Giới—Eight kinds of Sense-Sphere Resultant Consciousness: 9) Tâm không bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by joy, associated with knowledge, unprompted. 10) Tâm bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by joy, associated with knowledge, prompted. 11) Tâm không bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, không liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by joy, dissociated from knowledge, unprompted. 12) Tâm bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, không liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by joy, dissociated from knowledge, prompted. 13) Tâm không bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ xả, liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by equanimity, associated with knowledge, unprompted. 14) Tâm bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ xả, liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by equanimity, associated with knowledge, prompted. 15) Tâm không bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ xả, không liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by equanimity, dissociated from knowledge, unprompted. 16) Tâm bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ xả, không liên hợp với tri kiến: Consciousness that acompanied by equanimity, dissociated from knowledge, prompted. (C) Tám Loại Tâm Hành—Eight kinds of Sense-Sphere Functional Consciousness: 17) Tâm không bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by joy, associated with knowledge, unprompted. 18) Tâm bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by joy, associated with knowledge, prompted. 19) Tâm không bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, không liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by joy, dissociated from knowledge, unprompted. 20) Tâm bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, không liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by joy, dissociated from knowledge, prompted. 21) Tâm không bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ xả, liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by equanimity, associated with knowledge, unprompted. 22) Tâm bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ xả, liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by equanimity, associated with knowledge, prompted. 23) Tâm không bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ xả, không liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by equanimity, dissociated from knowledge, unprompted. 24) Tâm bị xúi dục, đồng phát sanh cùng thọ xả, không liên hợp với tri kiến: Consciousness that accompanied by equanimity, dissociated from knowledge, prompted.

hai mươi cha mẹ và quyến thuộc của một vị bồ tát

Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận Tập III, chư Bồ Tát có hai mươi cha mẹ và quyến thuộc—According to Zen Master D.T. Suzuki in Essays in Zen Buddhism, Book III, Bodhisattvas have twenty parents and relatives: 1) Bát Nhã là mẹ: Paramita (skt)—Prajna is his mother. 2) Phương tiện là cha: Upaya (skt)—Skilful means is his father. 3) Bố thí là người nuôi nấng: Dana (skt)—Charity is his wet nurse. 4) Trì giới là người trông nom: Sila (skt)—Morality is his supporter. 5) Nhẫn nhục là đồ trang sức: Ksanti (skt)—Patience is his decoration. 6) Tinh tấn là người thủ hộ: Virya (skt)—Strenuousness or energy is his nurse. 7) Thiền định là người tắm rữa: Dhyana (skt)—Meditation is his cleaner. 8) Thiện hữu tri thức là người dạy dỗ: Good friends are his instructors. 9) Các Bồ Ðề phần là bạn đồng hành: All factors of enlightenment are his companions. 10) Các Bồ tát là anh em: All Bodhisattvas are his brothers. 11) Bồ Ðề tâm là nhà cửa: Bodhicitta (skt)—The Bodhicitta is his home. 12) Ði đúng theo chánh đạo là cách hành xử tại nhà: To conduct himself in accordance with the truth is his family manners. 13) Các trụ địa là chỗ ở: Bhumi (skt)—The Bhumis are his residence. 14) Các pháp nhẫn là gia tộc: The Kshantis are his family members. 15) Các nguyện là gia giáo: The vows are his family motto. 16) Thực hành công hạnh là gia nghiệp: To promote deeds of devotion is his family legacy. 17) Khiến kẻ khác chấp nhận Ðại Thừa là gia vụ: To make others accept Mahayana is his family business. 18) Ðược thọ ký trong một đời nữa là số phận của ngài như vị thái tử nối nghiệp trong vương quốc chánh pháp: To be anointed after being bound for one more birth is his destiny as crown prince in the kingdom of Dharma. 19) Các Ba La Mật là con thuyền Bát Nhã đưa ngài đáo bỉ ngạn Giác Ngộ: Paramitas are the Prajna Boat which conveys him to another shore of Enlightenment. 20) Thành tựu trí tuệ viên mãn của Như Lai là nền tảng của gia quyến thanh tịnh của ngài: To arrive at the full knowledge of Tathagatahood forms the foundation of his pure family relationship.

hai mươi lăm cảnh giới hiện hữu

gồm tất cả các cảnh giới hiện hữu của tất cả chúng sanh. Đó là sự phân chia ba cõi chúng sanh luân hồi thành hai mươi lăm cảnh giới, vì thế cũng đồng nghĩa với những danh từ như Tam giới, Ba cõi, Tam hữu, chư hữu. Trong Tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới) có tất cả 25 cảnh giới, mỗi cảnh giới đều có chúng sanh hữu tình, cho nên gọi là nhị thập ngũ hữu. Trong cõi Dục giới có 14, trong cõi Sắc giới có 7, trong cõi Vô sắc giới có 4; phân chia cụ thể như sau: Tứ ác đạo (四惡道) gồm: 1. Địa ngục, 2. Súc-sanh, 3. Ngạ-quỷ, 4. A-tu-la; Tứ châu (四洲) hay Tứ thiên hạ gồm: 1. Phất-vu-đãi, 2. Cồ-da-ni, 3. Uất-đan-việt, 4. Diêm-phù-đề; Lục dục thiên (六欲天) gồm: 1. Tứ thiên vương xứ, 2. Tam thập tam thiên xứ, 3. Diệm-ma thiên, 4. Đâu-suất thiên, 5. Hóa lạc thiên, 6. Tha hóa tự tại thiên. Mười bốn cảnh này thuộc về Dục giới. Tứ thiền thiên (四禪天) gồm: 1. Sơ thiền, 2. Nhị thiền, 3. Tam thiền, 4. Tứ thiền; Tịnh cư thiên (淨居天) gồm: 1. Đại phạm vương, 2. Vô tưởng thiên, 3. Tịnh cư A-na-hàm. Bảy cảnh này thuộc về Sắc giới. Tứ không xứ thiên (四空處天) gồm: 1. Thức xứ, 2. Không xứ, 3. Bất dụng xứ (Vô sở hữu xứ) 4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Bốn cảnh này thuộc về Vô sắc giới.

hai mươi lăm trạng thái luân hồi

Twenty-five states of Samsara.

hai mươi quyến thuộc của chư bồ tát

Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận Tập III, chư Bồ Tát có hai mươi cha mẹ và quyến thuộc—According to Zen Master D.T. Suzuki in Essays in Zen Buddhism, Bodhisattvas have twenty parents and relatives—See Hai Mươi Cha Mẹ Và Quyến Thuộc Của Chư Bồ Tát.

hai mươi sáu ðặc tính của chư bồ tát trong chúng hội hoa nghiêm

Twenty-six characteristics of Bodhisattvas in the Gandavyuha Assembly. Họ biết rằng chư pháp như huyễn: They know that all dharmas are like Maya. Họ biết chư Phật như ảnh: They know that all Buddhas are like shadows. Họ biết hết thảy loài thọ sinh như mộng: They know that all existence with its rise and fall is like a dream. Họ biết hết thảy nghiệp báo như bóng trong gương: They know that all forms of karma are like images in a mirror. Họ biết hết thảy các pháp khởi lên như quáng nắng: They know that the rising of all things is like fata-morgana. Họ biết hết thảy thế gian đều như hóa: They know that the worlds are mere transformations. Họ đã thành tựu mười năng lực: They are all endowed with the ten powers. Họ đã thành tựu trí huệ: They are all endowed with knowledge. Họ đã thành tựu tối thắng: They are all endowed with dignity. Họ đã thành tựu quyết tín của Như Lai, khiến họ có thể cất tiếng rống của sư tử: They are all endowed with faith of the Tathagata, which enable them to roar like lions. Họ đã vào sâu trong biển cả của biện tài vô tận: They have deeply delved into the ocean of inexhaustible eloquence. Họ đã chứng đắc tri kiến giảng thuyết chánh pháp cho hết thảy chúng sanh: They all have acquired the knowledge of how to explain the truths for all beings. Họ đã hoàn toàn tự tại đối với hành vi của mình nên có thể du hành khắp thế giới không trở ngại như đi giữa hư không: They are complete masters of their conduct so that they move about in the world as freely as in space. Họ đã chứng đắc các năng lực kỳ diệu của một vị Bồ Tát: They are in possession of all the miraculous powers belonging to a Bodhisattva. Sự dũng mãnh và tinh tấn của họ có thể phá vỡ đội quân Ma vương: Their strength and energy will crush the army of Mara. Trí lực của họ quán triệt từ quá khứ, hiện tại đến vị lai: Their knowledge power penetrates into the past, present, and future. Họ biết rằng tất cả các pháp đều như hư không, họ thực hành hạnh không chống đối, không chấp trước các pháp: They know that all things are like space, they practice non-resistance, and are not attached to them. Dù họ siêng năng không mệt mỏi vì lợi ích của mọi người, nhưng biết rằng khi dùng nhất thiết trí để quán sát, các pháp vốn không từ đâu đến: Though they work indefatigably for others, thay know that when things are observed from the point of view of all-knowledge, nobody knows whence they come. Dù họ nhận thấy có một thế giới khách quan, họ biết rằng hiện hữu của thế giới vốn là bất khả đắc: Though they recognize an objective world, they know that its existence is something unobtainable. Bằng trí tuệ tối thắng, họ tự hiện thân vô cùng tự tại: They enter into all the worlds by means of incorruptible knowledge. Họ thác sanh vào tất cả các thế giới, hóa hiện đủ loại hình tướng: They are born in all the worlds, take all forms. Trong tất cả thế giới, họ tự hiện thân vô cùng tự tại: In all the worlds they reveal themselves with the utmost freedom. Họ biến đổi cảnh vi tế thành cảnh quảng đại, biến đổi cảnh rộng lớn thành cảnh vi tế: They transform a small area into an extended tract of land, and the latter again into a small area. Ngay trong một niệm diện kiến hết thảy chư Phật: All the Buddhas are revealed in one single moment of their thought. Họ được thần lực của chư Phật gia hộ: The powers of all the Buddhas are added on to them. Trong chớp mắt họ thấy hết cả vũ trụ mà không chút lẫn lộn, và ngay trong một sát na; và họ có thể du hành khắp tất cả mọi thế giới: They survey the entire universe in one glance and are not all confused; and they are able to visit all the worlds in one moment.

hai mươi sự khác biệt giữa thanh văn và bồ tát

Theo Thiền Luận của Thiền Sư D.T. Suzuki, tập III, có hai mươi sự khác biệt giữa Thanh Văn và Bồ Tát—According to The Essays in Zen Buddhism, book III, there are twenty differences between Sravakas and Bodhisattvas: Vì phước giữa Thanh Văn và Bồ Tát không đồng: Because the stock of merit is not the same. Vì Thanh Văn đã không thấy, đã không tự mình tu tập các công đức của Phật: Because the Sravakas have not seen, and disciplined themselves in the virtues of the Buddha. Vì Thanh Văn không chứng thực quan niệm rằng vũ trụ dẫy đầy các quốc độ của Phật trong mười phương thế giới, mỗi quốc độ đều có một hoạt cảnh vi diệu của hết thảy chư Phật: Because Sravakas have not approved the notion that the universe is filled with Buddha-lands in all the ten directions where there is a fine aray of all Buddhas. Vì Thanh Văn không ca ngợi những thị hiện kỳ diệu được diễn xuất bởi chư Phật: Because Sravakas have not given praise to the various wonderful manifestattions put forward by the Buddhas. Vì Thanh Văn không khởi tâm mong cầu Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác có thể chứng đắc ngay giữa luân hồi: Because Sravakas have not awakened the desire after Supreme Enlightenment attainable in the midst of transmigration. Vì Thanh Văn không khuyến dẫn kẻ khác ôm ấp lòng mong cầu Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác: Because Sravakas have not induced others to cherish the desire after Supreme Enlightenement. Vì Thanh Văn không thể kế tục gia nghiệp Như Lai: Because Sravakas have not been able to continue the Tathagata-family. Vì Thanh Văn không bảo hộ hết thảy chúng sanh: Because Sravakas have not taken all beings under their protection. Vì Thanh Văn không khuyên kẻ khác thực thi các Ba La Mật của Bồ Tát: Because Sravakas have not advised others to practice the Paramitas of the Bodhisattva. Vì khi còn lăn lộn trong vòng sống chết Thanh Văn đã không khuyến dụ kẻ khác tìm cầu con mắt trí tuệ tối thắng: Because while yet in the transmigration of birth and death, Sravakas have not pesuaded others to seek for the most exalted wisdom-eye. Vì Thanh Văn đã không tu tập tất cả phước nghiệp để làm nảy sinh nhất thiết trí: Because Sravakas have not disciplined themselves in all the stock of merit from which issues all-knowledge. Vì Thanh Văn không hoàn thành tất cả phước nghiệp để thành tựu Phật Quả: Because Sravakas have not perfected all the stock of merit which makes the appearance of the Buddha possible. Vì Thanh Văn không làm tăng trưởng quốc độ của Phật bằng cách tìm cầu trí tuệ biến hóa: Because Sravakas have not added the enhencement of the Buddha-land by seeking for the knowledge of transformation. Vì Thanh Văn không thâm nhập cảnh giới được quán sát với con mắt Phật: Because Sravakas have not entered into the realm which is surveyed by the Bodhisattva-eye. Vì Thanh Văn đã không tìm cầu phước nghiệp để làm nảy sinh sở kiến vô tỷ vượt ngoài thế giới nầy: Because Sravakas have not sought the stock of merit which produces an incomparable insight going beyond this world. Vì Thanh Văn không phát nguyện thiết lập Bồ Tát Ðạo: Because Sravakashave not made any of the vows constituting Bodhisattvahood. Vì Thanh Văn không tùy thuận với tất cả những gì phát xuất từ năng lực gia trì của Phật: Because Sravakas have not conformed themselves to all that is the product of the Tathagata's sustaining power. Vì Thanh Văn không nhận biết rằng tất cả các pháp là như huyễn và Bồ Tát như mộng: Because Sravakas have not realized that all things are like Maya and the Bodhisattvas are like a dream. Vì Thanh Văn không đạt được những hoan hỷ phấn khởi của Bồ Tát: Beause Sravakas have not attained the most exhilarating excitements (prativega-vivardhana) of the Bodhisattva. Vì Thanh Văn không chứng được tất cả trạng thái tâm linh kể trên, trong con mắt trí tuệ của Phổ Hiền mà hàng Thanh Văn Duyên Giác coi như xa lạ: Because Sravakas have not realized all these spiritual states belonging to the wisdom-eye of Samantabhadra to which Sravakas and Pratyekabuddhas are strangers.

hai mươi tám tầng trời

twenty-eight divine realms.

hai mươi tám tổ ấn ðộ

Theo trường phái Thiền, thì nhà Thiền không truyền bằng giáo pháp mà bằng Tâm truyền Tâm. Có 28 vị Tổ tại Ấn Ðộ—According to the Zen sect, men who inherited and passed on teaching of Sakyamuni which was not expounded in words but transmitted from mind to mind. There are twenty eight Indian Patriarchs: 1) Ma Ha Ca Diếp: Mahakashyapa—Ông sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn, ngoại ô của thành Vương Xá, một trong mười đại đệ tử của Phật, người ta nói ông là một trong những đệ tử vượt trội các đệ tử khác về mặt buông xả và hạnh đầu đà. Sau khi Phật nhập diệt, Ðại Ca Diếp đã nối tiếp Phật hướng dẫn Tăng đoàn. Ông cũng là người chủ tọa hội đồng kiết tập kinh điển đầu tiên—He was born into a Brahmin family, on the outskirts of Rajagrha, one of the Buddha's great disciples. He was said to be foremost among the ten great disciples in non-attachment, and foremost at the practice of austerity. After the Buddha's death, Mahakasyapa succeeded the Buddha as a leader of Buddhist Order. He also presided the First Council at Rajagrha. 2) A Nan: Ananda—Ông là anh em cùng cha khác mẹ với Phật, là một trong mười đại đệ tử của Phật. Ông còn là thị giả của Phật. Ông có một trí nhớ tuyệt hảo đến độ trong lần đầu kết tập kinh đển, ông đã nhớ lại và trùng tụng tam tạng kinh điển—He was the Buddha's half brother, one the the Buddha's ten great disciples. He served as the Buddha's attendant. He had excellent memory that he was able to remember and reciting the Buddha's discourses (Tripirtaka) at the first Council. 3) Thương Na Hòa Tu: S(h)anavasa or Shanakavasa. 4) Ưu Ba Cúc Ða: Upagupta—Người sanh ra trong giai cấp Thủ Ðà La (giai cấp hạ tiện nhất trong xã hội Ấn Ðộ), gia nhập Tăng đoàn lúc 17 tuổi. Ngài nổi tiếng như một vị Phật, dưới triều vua A Dục, và là thầy của vua A Dục, ngài đã trở thành vị tổ thứ tư của Ấn Ðộ, 100 năm sau ngày Phật nhập Niết Bàn—A Sudra by birth, who entered upon monastic life when 17 years of age. He was renowned as almost a Buddha, lived under king Asoka, and teacher of Asoka, and is reputed as the fourth patriarch, 100 years after the nirvana. 5) Ðề Ða Ca: Dhitaka or Dhritaka (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Ðiển, Ðề Ða Ca, tổ thứ năm tại Ấn Ðộ, không được Phật Giáo Nam Truyền biết đến, sanh trưởng tại xứ Ma Kiệt Ðà, đệ tử của Ưu Ba Cúc Ða. Ông đến xứ Madhyadesa nơi đây ông làm lễ quy y thọ giới cho Micchaka và 8.000 đệ tử—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Dhrtaka, the fifth patriarch “Unknown to Southern Buddhists, born in Magadha, a disciple of Upagupta, went to Madhyadesa where he converted the heretic Micchaka and his 8,000 followers. 6) Di Già Ca: Mikkaka—Micchaka or Michchhaka—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Ðiển, Di Già Ca là một cư dân thuộc trung bộ Ấn Ðộ, hoằng hóa vùng Bắc Ấn, rồi đến Ferghana nơi mà ông đã chọn Bà Tu Mật làm tổ thứ bảy. Ông thị tịch bằng lửa tam muội của chính mình—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Mikkaka, a native of Central India, who laboured in Northern India transported himself to Ferghana where he chose Vasumitra as his successor. He died by the fire of samadhi of his own. 7) Bà Tu Mật: Vasumitra—Một cư dân vùng Bắc Ấn, sanh ra vào cuối thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch. Ông là người đã tổ chức Ðại hội Kết tập Kinh điển lần thứ tư tại vương quốc Kaniska—A native of Northern Indian state of Gandhara, born at the end of the first century AD. He is said to have organized the Fourth Council in the Kingdom of Kaniska. 8) Phật Ðà Nan Ðề: Buddhanandi. 9) Phật Ðà Mật Ða: Buddhamitra. 10) Hiếp Tôn Giả: Bhikshu Pars(h)va or Parshwa—Là một cư dân vùng Trung Ấn. Ông là người chủ tọa Ðại hội kiết tập kinh điển lần thứ tư—A native of Central India. He is also said to have presided over the Fourth Council. 11) Phú Na Dạ Xa: Punyayas(h)as—Một cư dân của vương quốc cổ Kosala, dòng dõi nhà họ Cồ Ðàm, sanh ra tại Pataliputra, hoằng hóa vùng Varanasi. Ông chính là người đã quy y cho Mã Minh Bồ Tát—A native of the ancient Indian state of Kosala, descendant of Gautama family, born in Pataliputra, laboured in Varanasi and converted Asvaghosa. 12) Mã Minh: Asvaghosha—Cư dân của thành Xá Vệ. Ông là tác giả của quyển Buddha carita (Tiểu Sử Ðức Phật)—A native of Sravasti. He was the author of the Buddha Carita, a biography of the Buddha. 13) Ca Tỳ Ma La: Bhikshu Kapimala—Là một cư dân của xứ Ma Kiệt Ðà, vùng trung Ấn. Thoạt đầu ông là thủ lãnh của trên 3000 ngoại đạo, nhưng sau khi gặp Ngài Mã Minh, ông đã chứng được chân lý, và sau nầy đem Phật pháp truyền bá khắp miền Tây Ấn—A native of central Indian state of Magadha. It is said that at first he led a group of three thousand non-Buddhists, but later he met Asvaghosha, realized the truth, and spread the Dharma through the West of India. 14) Long Thọ: Nagarjuna—Tên Việt Nam là Long Thọ hay Long Thắng. Long Thọ sống vào khoảng thế kỷ thứ nhì hay thứ ba trước Tây lịch. Ông sanh ra trong một gia đình Bà la môn ở miền Nam Ấn. Ông xuất gia và trở thành một Tỳ kheo của trường phái Tiểu Thừa, nhưng sau đó ông đã du hành đến Tuyết Sơn và tu học theo trường phái Ðại Thừa—Vietnamese name is Long Thọ or Long Thắng. Nagarjuna lived in the second or third century AD. He was born into a Brahmin family in Southern India. When he became a monk he first studied Hinayana canon, but later he travelled to the Himalaya and learned the teachings of Mahayana. 15) Ca Na Ðề Bà: Aryadeva or Kanadeva (skt)—Sở dĩ gọi là Kanadeva vì ông chỉ có một mắt. Kana theo Phạn ngữ là một mắt. Ông còn được gọi là Aryadeva. Ông sống tại miền Nam Ấn vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Tây lịch. Người ta kể rằng ông bị một người ngoại đạo ám hại—He was called Kanadeva because he had only one eye. The Sanskrit “Kana” means one-eyed. He was also called Aryadeva. He lived in Southern India in the third century and is said to have been killed by a non-Buddhist. 16) La Hầu La Da: Arya Rahulata—Vốn là một cư dân của thành Ca Tỳ La Vệ, mà bây giờ là Nepal—A native of Kapilavastu, in present day Nepal. 17) Tăng Già Nan Ðề: Samghanandi—Vốn là cư dân của thành Vương Xá, kinh đô của vương quốc cổ Kosala—A native of the city of Sravasti, the capital of the ancient state of Kosala. 18) Tăng Già Da Xá: Dà Da Xá Ða—Samgayashas or Gayasata (skt). 19) Cưu Ma La Ða: Kumarata. 20) Xà Dạ Ða: Jayata (skt)—Vốn là cư dân vùng Bắc Ấn, thầy dạy của ngài Thế Thân Bồ Tát—A native of Northern India, teacher of Vasubandhu. 21) Bà Tu Bàn Ðầu: Vasubandhu—Thế Thân Bồ Tát, sanh tại Purusapura (gần Peshawar bây giờ), kinh đô của Gandhara (bây giờ là một phần của A Phú Hản)—He was born in the fifth century in Purusapura (close to present-day Peshawar), the capital of Gandhara (now is part of Afghanistan). ** For more information, please see Thiên Thân in Vietnamese-English Section. 22) Ma Nô La: Manorhita or Manura—Con Vua xứ Nadai, trở thành Tăng sĩ năm 30 tuổi—The son of the King of Nadai, became a monk at the age of 30. ** For more information, please see Mạt Nô Hạt Lạt Tha. 23) Hạc Lặc Na: Haklena or Haklenayasas or Padmaratna (skt)—Sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn, trong xứ của vua Tokhara. Ông đã truyền bá đạo Phật vào vùng Trung Ấn—He was born into a Brahmin family in a place said to be of king Tokhara. He spreaded the Buddha's Teachings in Central India. 24) Sư Tử Tỳ Kheo: Aryasimha or Bhikshu Simha—Sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn ở Trung Ấn. Ông là người đã truyền bá Phật giáo về phía Bắc Ấn Ðộ. Người ta kể rằng ông đã bị vua xứ Kashmira hành quyết—He was born into a Brahmin family in Central India. He spreaded the Buddha's Teachings in the Northern India. It is said that he was executed by the king of Kashmira. 25) Bà Xá Tư Ða: Vasiasita or Baysyasita—Là một cư dân của vùng Tây Ấn, hoằng hóa vùng Trung Ấn. Người ta nói ông mất khoảng năm 325 sau Tây Lịch—A native of Western India, who laboured in Central India. The date of his death is given as 325 A.D. 26) Bất Như Mật Ða: Punyamitra—Một cư dân của vùng Bắc Ấn—A native of Northern India. 27) Bát Nhã Ða La: Prajnatara—Sanh ra trong một gia đình Bà La môn ở vùng Ðông Ấn—He was born into a Brahmin family in Eastern India. 38) Bồ Ðề Ðạt Ma: Bodhidharma—Ông là con trai thứ ba của một vị vua miền Nam Ấn. Sau khi kế tục Tổ Bát Nhã Ða La, ông đã du hành bằng đường biển sang Tàu (502) và trở thành vị Tổ đầu tiên ở đây—He was the third son of a Southern Indian king. After having succeeded Master Prajnatara, he sailed to China ((502) and became the Buddhist Patriarch there—See Bồ Ðề Ðạt Ma.

hai mươi tám ðiều lợi trong việc cúng dường hình tượng ngài ðịa tạng

Theo Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, Ðức Phật bảo ngài Hư Không Tạng Bồ Tát:“Lắng nghe! Lắng nghe cho kỹ! Ta sẽ vì ông mà nói rõ việc ấy cho. Trong đời sau, người thiện nam cùng thiện nữ nào thấy hình tượng của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát và nghe kinh nầy, cho đến đọc tụng, dùng hương hoa, đồ ăn món uống, y phục, vật báu mà bố thí cúng dường ngợi khen chiêm lễ thời kẻ ấy được hai mươi tám điều lợi ích như sau đây—According to the Earth Store Bodhisattva's Original Vows Sutra, the Buddha told Empty Space Treasure Bodhisattva:“Listen attentively! Listen attentively! I shall enumerate them and describe them to you. If there are good men or women in the future who see Earth Store Bodhisattva's image, or who hear this sutra or read or recite it; who use incense, flowers, food and drink, clothing, or gems as offerings; or if they praise , gaze upon, and worship him, they will benefit in twenty-eight ways: Các hàng trời rồng thường hộ niệm—Gods and dragons will be mindful of them and protect them. Quả lành càng ngày càng thêm lớn—The fruits of their goodness will increase daily. Chứa nhóm nhân vô thượng của các bậc Thánh—They will accumulate superior causes of Sagehood. Mãi không còn thối thất đạo Bồ Ðề—They will not retreat from Bodhi. Ðồ mặc món ăn dồi dào đầy đủ—Their food and drink will be abundant. Những bệnh tật không đến được nơi thân—Epidemics will not touch them. Khỏi những tai nạn về lửa và nước—They will not encounter disasters of fire and water. Không bị hại bởi nạn trộm cướp—They will not have any difficulties with thieves or armed robbers. Người khác thấy đến liền sanh lòng cung kính—They will be respected by all who see them. Các hàng quỷ thần theo hộ trì—They will be aided by ghosts and spirits. Ðời sau thân nữ sẽ chuyển thành thân nam—Women will be reborn as men. Ðời sau sẽ làm con gái hàng Vương Giả, Ðại Thần—If born as women, they will be daughters of kings and ministers. Thân tướng xinh đẹp—They will have handsome features. Phần nhiều được sanh về cõi trời—They will often be born in the heavens. Hoặc làm bậc vua chúa—They may be emperors or kings. Có trí sáng biết rõ việc trong những đời trước—They will know their past lives. Có mong cầu chi cũng đều được toại ý—They will attain whatever they seek. Quyến thuộc an vui—Their families will be happy. Các tai vạ bất ngờ đều dứt sạch—All disasters will be eradicated. Các nghiệp về ác đạo đều trừ hẳn—They will eternally be apart from bad karmic paths. Ði đến đâu cũng đều không bị sự trở ngại—They will always arrive at their destination. Ðêm nằm chiêm bao an ổn vui vẻ—At night their dreams will be peaceful and happy. Những người thân tộc đã chết có tội thời được khỏi khổ—Their deceased ancestors will leave suffering behind. Nếu về đời trước có phước thời được thọ sanh về cõi vui sướng—And they will receive the blessings from their past lives to aid their rebirth. Các bậc Thánh ngợi khen—They will be praised by the sages. Căn tánh lanh lợi thông minh—They will be intelligent and they will have sharp faculties. Giàu lòng từ mẫn—They will have magnanimous, kind and sympathetic (compassionate) hearts. Rốt ráo thành Phật—They will ultimately realize Buddhahood.

hai mươi ðiều khó

Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Ðức Phật dạy:“Có hai mươi đều khó mà chúng sanh thường gặp phải”—In the Sutra of Forty-Two Sections, the Buddha taught:“There are twenty difficulties people always encounter”: 1) Nghèo mà phát tâm bố thí là khó: Nghèo khổ mà muốn thực hành bố thí quả là khó, bởi nghèo khổ dù muốn bố thí, nhưng ngặt vì có lòng mà thiếu sức, nếu gắng gượng bố thí tất cả ảnh hưởng đến sự sống của của mình nên phải hy sinh lớn lao—It is difficult to give when one is poor (it is hard for a poor man to be generous). It is difficult to practice charity when we are poor and destitute because under such conditions, even if we have the will, we lack the means. To force ourselves to practice charity must entail sacrifices. 2) Giàu sang và có quyền thế mà phát tâm tu hành là khó: Giàu sang mà chịu học đạo tu hành là khó, bởi giàu sang tuy có sức bố thí, song lại bị cảnh dục lạc lôi cuốn, khó buông bỏ thân tâm để tu hành—It is difficult to study the Way when one has power and wealth (it is hard for a rich and powerful man to learn the way). It is difficult to study the Dharma when we are wealthy and eminent, because under such favorable circumstances, we may have the means, but we are pulled away by opportunities for enjoyment and self-gratification. 3) Từ bỏ thế tục để đương đầu với tử thần là điều khó (xả thân cầu đạo là khó): It is difficult to abandon life and face the certainty of death (it is hard to seek Enlightenment at the cost of self-sacrifice). 4) Gặp được kinh Phật là điều khó: It is difficult to encounter the Buddha sutras (it is hard to hear the teaching of Buddha). 5) Ðược sanh ra vào thời có Phật là điều khó: Sanh gặp đời Phật là khó, như Ðại Trí Ðộ Luận nói: “Ở nước Xá Vệ gồm chín trăm ngàn dân mà chỉ có một phần ba trong số người nầy được gặp thấy Phật, một phần ba số người tuy nghe danh tin tưởng nhưng không thấy gặp, và một phần ba số người hoàn toàn không được nghe biết cũng không được thấy. Ðức Phật ở tại xứ nầy giáo hóa trước sau hai mươi lăm năm, mà còn ba ức người không thấy gặp nghe biết, thì những kẻ sanh nhằm đời Phật nhưng ở cách xa, hoặc sanh trước hay sau khi Phật ra đời, tất cả cơ duyên gặp Phật hoặc nghe Phật Pháp là điều không phải dễ. Tuy không gặp Phật mà y theo Phật pháp tu hành, thì cũng như gặp Phật. Nếu không theo lời Phật dạy, dù ở gần Phật, vẫn là xa cách. Khi xưa Ðề Bà Ðạt Ða là em họ của Ðức Phật cũng như Tỳ Kheo Thiện Tinh làm thị giả cho Phật hai mươi năm, vì không giữ đúng theo đường đạo, nên kết cuộc bị đọa vào địa ngục. Bà lão ở phía đông thành Xá Vệ, sanh cùng ngày cùng giờ với Phật, nhưng vô duyên nên không muốn thấy Phật. Thế cho nên thấy được Phật, nghe được pháp, y theo lời dạy phụng hành, phải là người có nhiều căn lành phước đức nhân duyên—It is difficult to be born at the time of a Buddha (while the Buddha is in the world). The difficulty of being born during the lifetime of a Buddha is mentioned in the Perfection of Wisdom Treatise as follows: “In the town of Sravasti, north of India, out of a total population of nine hundred thousand, only one-third had actually seen and met Sakyamuni Buddha, another one-third had heard His Name and believed in Him but had not actually seen or met Him, while the remaining one-third had not seen, heard or even learned of His existence. Sakyamuni Buddha taught in Sravasti for some twenty-five years, yet a full one-third of the town's population were completely unaware of His existence. Is it any wonder, then, that those who were born during Sakyamuni Buddha's time but did not reside in Sravasti, or those who happened to be born before or after His time, would find it difficult to learn of Him or hear the Dharma. However, even though we may not be able to meet Sakyamuni Buddha, cultivating according to the Dharma is tantamount to meeting Him. On the other hand, if we do not follow His teaching, even while near Him, we are still far away. Thus, Devadatta, Sakyamuni Buddha's very own cousin, as well as Bhikshu Sunaksatra who attended the Buddha personally for twenty years, both descended into the hells because they strayed from the Path. There is also the case of an old woman in the eastern quarterof Sravasti who was born at exactly the same moment as Sakyamuni Buddha, yet, because she lacked causes and conditions, wished neither to see nor to meet Him. Thus, not everyone can see the Buddhas and listen to the Dharma. Extensive good roots, merits, virtues and favorable conditions are required. 6) Chống lại được với tham dục là điều khó: It is difficult to resist lust and desire . 7) Thấy được việc mà không phải bỏ công tìm cầu là điều khó: It is difficult to see good things and not seek them. 8) Bị sỉ nhục mà không sanh tâm tức giận là điều khó: It is difficult to be insulted and not become angry (It is hard not to get angry when one is insulte). 9) Có quyền thế mà không lạm dụng là điều khó: It is difficult to have power and not abuse it. 10) Tiếp xúc với sự việc mà không bị vướng mắc là điều khó: It is difficult to come in contact with things and have no attachment to them or no thoughts of them (It is hard not to be disturbed by external conditions and circumstances). 11) Quảng học Phật pháp là điều khó: It is difficult to be greatly learned in the Dharma (It is hard to apply onself to study widely and thoroughly). 12) Bỏ được tự mãn và cống cao ngã mạn là điều khó: It is difficult to get rid of self-satisfaction and pride (It is hard to keep onself humble). 13) Không khinh thường người sơ cơ (chưa học Phật pháp) là điều khó: It is difficult not to slight those who have not yet studied the Dharma. 14) Tu tập cho tâm được thanh tịnh là điều khó: It is difficult to practice equanimity of mind (It is hard to keep the mind pure against instincts of the body). 15) Không nhàn đàm hý luận là chuyện khó: It is difficult not to gossip. 16) Gặp được thiện hữu tri thức là điều khó: Nay Ðức Phật đã nhập diệt, các bậc thiện tri thức thay thế Ngài ra hoằng dương đạo pháp, nếu thân cận nghe lời khuyên dạy tu hành của quý ngài, tất cũng được giải thoát. Nhưng kẻ căn lành sơ bạc, gặp thiện tri thức cũng khó. Dù có duyên được thấy mặt nghe pháp, song nếu không hiểu nghĩa lý, hoặc chấp hình thức bên ngoài mà chẳng chịu tin theo, thì cũng vô ích. Theo Kinh Phạm Võng và Hoa Nghiêm, muốn tìm cầu thiện tri thức, đừng câu nệ theo hình thức bên ngoài; như chớ chấp người đó trẻ tuổi, nghèo nàn, địa vị thấp, hoặc dòng dõi hạ tiện, tướng mạo xấu xa, các căn chẳng đủ, mà chỉ cầu người thông hiểu Phật pháp, có thể làm lợi ích cho mình. Lại đối với bậc thiện tri thức chớ nên tìm cầu sự lầm lỗi, bởi vị đó có khi mật hạnh tu hành, vì phương tiện hóa độ, hoặc đạo lực tuy cao song tập khí còn chưa dứt, nên mới có hành động như vậy—It is difficult to meet good knowing advisor (It is hard to find good friends). Although Sakyamuni Buddha has now entered Nirvana, good spiritual advisors are taking turns preaching the Way in His stead. If we draw near to them and practice according to their teachings, we can still achieve liberation. Nevertheless, those who possess only scant and shallow roots must find it difficult to meet good spiritual advisors. Even when they do so and hear the Dharma, if they do not understand its meaning, or merely grasp at appearances and forms, refusing to follow it, no benefit can possibly result. According to the Brahma Net and Avatamsaka Sutras, we should ignore appearances and external forms when seeking a good spiritual advisors. For example, we should disregard such traits as youth, poverty, low status or lack of education, unattractive appearance or incomplete features, but should simply seek someone conversant with the Dharma, who can be of benefit to us. Nor should we find fault with good spiritual advisors for acting in certain ways, as it may be due to a number of reasons, such as pursuing a secret cultivation practice or following an expedient teaching. Or else, they may act the way they do because while their achievements may be high, their residual bad habits have not been extinguished. If we grasp at forms and look for faults, we will forfeit benefits on the path of cultivation. 17) Thấy được tự tánh mà tu tập là điều khó: It is difficult to see one's own Nature and study the Way. 18) Cứu độ chúng sanh theo đúng hoàn cảnh của họ là điều khó: It is difficult to save sentient beings with means appropriate to their situations. 19) Thấy sự việc mà không bị cảm xúc là điều khó: It is difficult to see a state and not be moved by it (It is hard not to argue about right and wrong). 20) Hiểu và thực hành đúng theo chánh pháp là điều khó: It is difficult to have a good understanding of skill-in-means and apply to it well (It is hard to find and learn a good method).

hai mặt

Double-faced—Two-faced.

hai nghĩa

Double meaning.

hai pháp cơ bản về các thiện pháp

Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Ambapali, có hai pháp cơ bản về các thiện pháp—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Ambapali, there are two starting points of wholesome states Giới Khéo Thanh Tịnh: Virtue that is well purified. 1) Y cứ trên giới: Based upon virtue. 2) An trú trên giới: Established upon virtue. Tri Kiến Chánh Trực: View that is straight.

hai pháp không xác định

(nhị bất định pháp): Hai trường hợp phạm tội liên quan đến phụ nữ (của vị tỳ-kheo) nhưng không thể xác định rõ, vì xảy ra trong chỗ kín đáo, riêng chỉ có hai người, không còn ai khác biết được. Do đó, việc xác định tội này phải tin theo lời của một người thứ ba biết chuyện, là người có tín tâm vững chắc.

hai sắc thái của ðời sống phật tử

Two aspects of the Buddhist life—Theo Kinh Hoa Nghiêm, có hai sắc thái của đời sống Phật tử—According to the Avatamsaka Sutra, there are two aspects of the Buddhist life: Phát Bồ Ðề tâm hay làm trổi dậy khát vọng mong cầu giác ngộ tối thượng: Raising the desire for supreme enlightenment—Phát Bồ Ðề tâm trong Phạn ngữ là “Bodhicittapada,” nói cho đủ là “Anuttarayam-Samyaksambodhi-cittam-utpadam,” tức là phát khởi “Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác Tâm.” Trong Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật dạy: “Trong thế gian nầy ít ai có thể nhận biết một cách sáng tỏ Phật Pháp Tăng là gì; ít ai thành tín bước theo Phật Pháp Tăng; ít ai có thể phát tâm vô thượng bồ đề; tu hành Bát Nhã lại càng ít nữa. Tinh tấn tu hành Bát Nhã cho đến địa vị Bất Thối Chuyển và an trụ trong Bồ Tát Ðịa lại càng ít hơn gấp bội.”—The Sanskrit phrase for 'the desire for enlightenment' is 'bodhicittotpada,” which is the abbreviation of 'Anuttarayam-samyaksambodhi-cittam-utpadam,' that is, 'to have a mind raised to supreme enlightenment.' In the Avatamsaka Sutra, the Buddha taught: “There are only a few people in this world who can clearly perceive what the Buddha, Dharma, and Sangha are and faithfully follow them; fewer are those who can raise their minds to supreme enlightenment; fewer still are those who practice prajnaparamita; fewer and fewer still are those who, most steadfastly practicing prajnaparamita and finally reaching the stage of no-turning back, abide in the state of Bodhisattvahood. Thực hành đạo Bồ Tát, tức là hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền. Thiện Tài Ðồng Tử (Sudhana) sau khi đã phát tâm dưới sự chỉ dẫn của Ngài Văn Thù, từ đó về sau cuộc hành hương của ông hoàn toàn nhắm vào việc hỏi thăm cách thức thực hành hạnh Bồ Ðề (bodhicarya). Cho nên ngài Văn Thù nói với đệ tử của mình, khi ngài chỉ thị Thiền Tài Ðồng Tử ra đi cho một cuộc lữ hành trường kỳ và gian khổ: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Sau khi đã phát tâm mong cầu giác ngộ tối thượng, bây giờ lại muốn tìm học hạnh của Bồ Tát. Thiện nam tử, ít thấy có ai phát tâm mong cầu giác ngộ tối thượng, mà những ai sau khi đã phát tâm mong cầu giác ngộ tối thượng lại còn tìm học hạnh của Bồ Tát, càng ít thấy hơn. Vì vậy, thiện nam tử, nếu muốn thành tựu Nhất Thiết Chủng Trí, hãy tinh tấn thân cận các bậc thiện hữu tri thức (kalyanmitra).” Theo Kinh Bát Nhã, sau khi phát tâm Bồ Ðề là thực hành Bát Nhã Ba La Mật. Trong khi theo Hoa Nghiêm thì sự thực hành đó được thắt chặt với công hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát và sinh hoạt của sự giác ngộ được đồng hóa với Phổ Hiền Hạnh: Practicing the life of the Bodhisattva, that is, the Bodhisattva Samantabhadra. Sudhana, the young pilgrim had his first awakening of the desire (cittotpada) under the direction of Manjusri, and his later pilgrimage consisted wholly in inquiries into living the life of enlightenment (bodhicarya). So says Manjusri to his disciple when he sends Sudhana off on his long, arduous 'Pilgrim's Progress': “Well done, well done, indeed, son of a good family! Having awakened the desire for supreme enlightenment, you now wish to seek for the life of the Bodhisattva. Oh! Son of a good family, it is a rare thing to see beings whose desire is raised to supreme enlightenment; but it is a still rarer thing to see beings who, having awakened the desire for supreme enlightenment, proceed to seek for the life of the Bodhisattva. Therefore, oh, son of a good family, if you wish to attain the knowledge which is possessed by the All-knowing one, be ever assiduous to get associated with good friends (kalyanamitra). In the Prajnaparamita Sutra, after the awakening of the desire for supreme enlightenment is the practice of Prajnaparamitas. In the Avatamsaka Sutra, this practice is deeply associated with the life of the Bodhisattva known as Samantabhadra, and the Bodhicarya, the life of enlightenment, is identified with the Bhadracarya, the life of Bhadra, that is Samantabhadra.

Hai thừa

xem Ba thừa.

hai trăm năm mươi giới tỳ kheo

Two hundred fifty precepts—Rules or disciplines to be observed by fully ordained monks: 1) Ba La Di Pháp: (4) Bốn giới sát, đạo, dâm, vọng: Parajika—Four unpardonable offences of killing, theft, sexual intercourse and lying. 2) Tăng Tàn: (13) Mười ba giới cấm (lậu, thất, ma xúc, thô ngữ, thán thân, môi nhơn, vô chủ phòng, hữu chủ phòng, vô căn báng, giả căn báng, trợ phá tăng, ô gia tấn, cự tăng gián)—Samgha-Avashesha—Thirteen major prohibitions. Monks who violate these are divested of membership in the Order of a certain period. 3) Nhị Bất Ðịnh (Bình xứ bất định và lộ xứ bất định): Aniyata—(2) The indeterminate group—Prohibitions related to offences which are committed either in a place where one can be seen or in a place where one cannot be seen (being alone with a woman). The punishment for this type of sin varies according to the circumstances. 4) Ni Tát Kỳ Bà Dật Ðề: (30) Ba mươi giới về y bát vật dụng—Xả đọa, ưng xả đối trị—Naihisargika-prayashchittika—Thirty standards, whose violation is said to cause one to fall into the evil paths. 5) Ba Dật Ðề: Shuddha-prayashchittka—90 giới ứng đối trị phải phát lồ trước tứ chúng—Ninty standards, violation of which requires public confession. 6) Tứ Ðề Xá Ni: Pratideshaniya—(4) Bốn giới khinh ưng phát lồ khi có người biết (phi thân nhi thủ thực, thực nhi chỉ thọ thực, học gia thọ thực, lan nhã thọ thực)—Four lesser standards, the breaking of which requires confession when one becomes aware of his error. 7) Bá chúng học pháp: Shaiksha-dharma—100 giới nhỏ cần phải học cho biết—One hundred very minor standards, which are easily broken but which should be borne in mind for one's self-development. 8) Thất diệt tránh: Adhikarana-shamatha—(7) Bảy điều lệ dùng để giải hòa trong Giáo Hội—Seven rules for settling disputes within the Order. ** For more information, please see Cụ Túc Giới Tỳ Kheo.

ham

Greedy—Wanting very much.

ham chuộng hòa bình

Peace-loving.

ham của

Greedy of property.

ham danh

Greedy for fame.

ham lợi

Greedy of gain.

ham muốn

Ràga (S). Lust, greed. ; Desire—To covet.

ham sống

Jìvitàkàma (S). Will to live.

ham thích

To desire—To be fond of.

ham tiền

Greedy of money.

ham tông

4072指???(hāṃ)與???(maṃ),為不動明王之種子。通常在口誦不動真言之最後方用此二字。例如火界咒、慈救咒中即有此二字。大日經疏卷十(大三九‧六八五上):「用後二字為種子,諸句義皆成就此也」(參閱「不動明王」988) ; (唅鍐) Chỉ cho chữ (haô) và chữ (maô) là chủng tử của Bất động minh vương. Thông thường, 2 chữ này được tụng sau chân ngôn Bất động. Trong chú Hỏa giới và chú Từ cứu đều có 2 chữ này. Đại nhật kinh sớ quyển 10 (Đại 39, 685 thượng), nói: Dùng 2 chữ này làm chủng tử thì các cú nghĩa đều thành tựu . (xt. Bất Động Minh Vương).

ham uống

Wanting to drink (liquor).

ham vui

To devote oneself to. pleasures—To indulge in pleasures.

hang núi

Girikandara (S), Mountain cave.

hang thất diệp

Xem Thất Diệp quật.

hanh lợi khắc lỗ đức tư

2599(Heinrich Lüders, 1869~1943)為德國之印度學學者,中央亞細亞語言、歷史、文化研究者。曾任哥丁根(Göttingen)、柏林等大學之教授。其對佛教文學、佛教史方面頗有建樹,又以「古代印度佛教碑文之研究」一書,確立印度佛教史之研究方向。曾將陸庫克(Albert Von Le Coq, 1860~1930)於中亞發現之寫本校訂出版「童受之喻鬘論」,並因而開啟對佛教詩人馬鳴之議論,復於部派佛教經量部之歷史,有所詳論。 ; (亨利克魯德斯) Heinrich Lüders (1869-1943) Nhà Ấn độ học người Đức, cũng là nhà nghiên cứu về ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa của vùng Trung Á. Ông từng dạy tại các trường Đại học Gôttingen và Berlin. Ông có công lớn đối với văn học và sử học Phật giáo. Qua cuốn sách Nghiên cứu văn bia Phật giáo Ấn độ cổ đại , ông đã xác định phương hướng nghiên cứu lịch sử Phật giáo Ấn độ. Ông đã từng hiệu đính và xuất bản bộ Dụ Man Luận chép tay của ngài Đồng thụ do ông Albert Von Le Coq (1860-1930) tìm thấy ở vùng Trung Á, đồng thời, nhờ đó mà ông trở thành người đầu tiên tìm hiểu về ngài Mã minh. Ông cũng còn nghiên cứu rất rõ ràng về lịch sử của Kinh lượng bộ.

hanh thông

Flowing—Easy.

hao giảm

To diminish—To decrease—To lessen.

hao mòn

Worn out.

hao tốn

Costly.

hao tổn

To spend much money.

hay giận

To become angry quickly—To have a short temper—Quick-tempered.

hay gây gỗ

To be quarrelsome.

hay hay

Rather good-looking.

hay ho

Interesting.

hay nói

Talkative.

hay tin

To learn the news—To be informed of the news.

hay Tu Thiền Tự

(遵西, Junsai, ?-1207): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, húy là Tuân Tây (遵西), tục danh Trung Nguyên Sư Quảng (中原師廣), hiệu là An Lạc Phòng (安樂房), con của vị Thiếu Ngoại Ký Trung Nguyên Sư Tú (少外記中原師秀). Sau một thời gian làm việc cho triều đình, ông theo xuất gia với Nguyên Không (源空). Năm 1192, khi Nguyên Không tu pháp môn Biệt Thời Niệm Phật ở Dẫn Đạo Tự (引導寺) vùng Bát Phản (八坂, Yasaka), ông cùng với nhóm Trú Liên (住蓮) bắt đầu tiến hành pháp tu Sáu Thời Lễ Sám. Ông đã từng chấp bút soạn thuật bộ Tuyển Trạch Niệm Phật Tập (選擇念佛集) của Nguyên Không và đi tuần hóa khắp vùng Liêm Thương. Vào năm 1206, nhân khi ông và nhóm người Trú Liên tu hành pháp môn Sáu Thời Lễ Sám Niệm Phật thì người vợ của Hậu Điểu Vũ Thượng Hoàng (後鳥羽上皇) mới cảm động phát tâm xuất gia theo ông, vì thế Thượng Hoàng mới tố cáo lên triều đình và ra lệnh đình chỉ pháp tu niệm Phật. Năm sau ông bị chém đầu ở vùng Lục Điều Hà Nguyên (六條河原, Rokujō Gawara).

Hà tợ sanh

(何似生): câu tục ngữ của Trung Quốc, sanh là trợ ngữ, hà tợ nghĩa là 'sao hả, như thế nào'. Đây là câu mà Nhất Hưu thường hay dùng trong thi ngữ của mình. Ngay trước bức tượng của Nhất Hưu tại Chân Châu Am (眞珠庵) có treo bức ngạch hai chữ Hà Tợ (何似) do chính tay tác giả viết, và tên tháp được gọi là Hà Tợ Tháp (何似塔). Qua đó chúng ta có thể biết được rằng Nhất Hưu xem trọng hai chữ nầy như thế nào.

Hào ngoa

(誵訛): khó thấy, khó khăn. Từ này được tìm thấy trong Hiển Hiếu Ngữ Lục (顯孝語錄) của Hư Đường Lục (虛堂錄), hay Cuồng Vân Tập (狂雲集) của Nhất Hưu Tông Thuần (一休宗純, Ikkyū Sōjun, 1394-1481): “Giá cá hào ngoa thọ dụng đồ, cổ kim nạp tử nhất nhân vô, Tố Lão Từ Minh đích dụng tử, Lệ Chi hạt tử tước hà thô (這箇誵訛受用徒、古今衲子一人無、素老慈明的傳子、荔支核子嚼何麁, khó hiểu câu nầy mấy ai dùng, xưa nay tu sĩ chẳng người thông, Thanh Tố chơn truyền Từ Minh ấy, liệu ăn hạt vải thấu trong lòng).” Hay như trong bài Tiền An Cư Nhật Cúng Cưu Văn (前安居日供鬮文) của Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (靈峰蕅益大師宗論) có câu: “Tiệm chí lưu bố, nhiên ký tái tam phiên độc, thâm tri thời tệ đa đoan, bất nhẫn tùy tục hào ngoa, cọng thực như lai chánh pháp (漸至流布、然旣再三飜讀、深知時弊多端、不忍隨俗誵訛、共蝕如來正法, lưu truyền từ từ, rồi lại ba lần đọc kỹ, biết rõ thời buổi rắc rối, không nên theo tục khó khăn, lại hưởng chánh pháp Như Lai).”

hi

Sáng rực—Light—Bright—Splendid—Prosperous.

hi biện

2876<一>(921~997)宋代法眼宗僧。又稱普門希辨。蘇州常熟(位於江蘇)人。幼從延福院啟祥落髮、受具足戒。初於楞伽山學律,後參於法眼門下之天台德韶,受其心印。宋太祖乾德(963~967)初年,受忠懿王之命,住持越州(浙江紹興)清泰院。開寶年中(968~976)復遷於杭州普門寺。太平興國三年(978),太宗敕賜紫衣與「慧明大師」之號。至道三年八月示寂,世壽七十七。〔景德傳燈錄卷二十六、五燈會元卷十〕 <二>(1081~1149)宋代曹洞宗僧。又稱一辨、一辯、一弁。洪州(江西南昌)人,俗姓黃。十一歲出家,十八歲受具足戒。遊方至襄州(湖北襄陽),參謁鹿門自覺禪師,得契機受印可。宣和(1119~1125)年間住持青州天寧寺,嘗於室中設百問勘驗修學者。歷住燕京華嚴寺、萬壽寺、青州普照寺,鼓揚北地曹洞禪,後傳法於大明寶。金熙宗皇統九年示寂,世壽六十九。〔五燈全書卷六十一、續指月錄卷三、宗統編年卷二十四〕

Hi Dương sơn

曦陽山; C: xīyángshān; J: giyōsan; K: hŭiyangsan;|Hi dương tông, một trong 9 tông phái Phật giáo Hàn Quốc thời xưa, do Pháp Lãng (法朗, k: pŏmnang) và Trí Sân Đạo Hiến (智詵道憲, k: chisŏn tohŏn) sáng lập

hi hữu

2873梵語 āścarya。謂事之甚少、難逢者。尤指如來之示現及其一代教法,故有「希有大法王」、「希法」之稱。金剛經纂要刊定記卷三謂佛陀有四種希有,即:(一)時希有,謂佛陀之出世,非曠世所常有。(二)處希有,三千世界中,佛陀不出現於他處,唯降生於迦毘羅城。(三)德希有,佛陀乃具無量之福德智慧者,以其最尊,無人能比,故謂德希有。(四)事希有,佛陀一代所作,係以佛法普利眾生,故為希有殊勝之事。 若能了知諸佛妙法,生尊重不思議心者,亦稱為希有人,如金剛仙論卷十(大二五‧八七四中):「明此般若理深旨遠,唯是諸佛境界,非餘人所知故,凡夫、二乘、小行根、小行之人所不能受,以信者難得故,曰希有也。」又善導之觀經疏散善義謂,若人能相續念佛,則如分陀利華(花),以念佛為人中之希有者,故有此喻。〔法華經卷六如來神力品、無量壽經卷上、金剛般若疏卷二(吉藏)、法華義疏卷三(吉藏)〕 ; Rare ; (希有) Phạm:Àzcarya. Hiếm có, khó được gặp. Đặc biệt chỉ cho sự xuất hiện của đức Phật và giáo pháp của Ngài, như các từ Hi hữu đại pháp vương (bậc Pháp vương hiếm có), Hi pháp (giáo pháp hiếm có) v.v...…Kim cương kinh toản yếu san định kí quyển 3 cho rằng đức Phật có 4 thứ hi hữu: 1. Thời hi hữu: Không phải thời nào đức Phật cũng xuất hiện mà vô số kiếp mới có một lần. 2. Xứ hi hữu: Đức Phật chỉ giáng sinh ở thành Ca tì la vệ, chứ không ở nơi nào khác trong 3.000 thế giới. 3. Đức hi hữu: Đức Phật có đầy đủ vô lượng phúc đức, trí tuệ, là bậc tôn quí nhất, không ai sánh kịp. 4. Sự hi hữu: Đức Phật suốt một đời nói pháp, lợi ích khắp tất cả chúng sinh. Nếu người nào hiểu rõ diệu pháp của chư Phật , rồi sinh tâm tôn trọng chẳng thể nghĩ bàn, thì cũng được gọi là người hi hữu. Luận Kim cương tiên quyển 10 (Đại 25, 874 trung), nói: Thấu rõ ý chỉ sâu xa mầu nhiệm của Bát nhã, duy có chư Phật mà thôi. Hàng phàm phu, Nhị thừa, tiểu căn, tiểu hạnh không thể nhận được. Vì khó có được người tin nên gọi là hi hữu . Ngoài ra, Quán kinh sớ tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo cũng cho rằng nếu người nào niệm Phật liên tục không gián đoạn thì người ấy là hi hữu trong thế gian, giống như hoa Phân đà lợi. [X. phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa Q.6; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Kim cương bát nhã sớ Q.2 (Cát tạng); Pháp hoa nghĩa sớ Q.3 (Cát tạng)].

hi hữu nhân

2874為對念佛行者之美稱。日本淨土教稱之為「五種嘉譽」之一。念佛之人希有難得,故稱希有人。此係根據觀無量壽經所稱「念佛者乃人中之分陀利華」一說而來。北本涅槃經卷十八、卷三十三亦曾以分陀利華、大分陀利華比喻佛。唐代淨土教高僧善導遂根據上記二經之說,於其觀經疏散善義謂,分陀利華為美麗、殊勝、罕開之花,猶如念佛者為人中之好人、人中之妙好人、人中之上上人、人中之希有人、人中之最勝人。日本淨土教即援引善導之說,而稱之為五種嘉譽。 此外,北本涅槃經卷二十六亦列舉六種希有人:(一)不行惡法、有罪而能懺悔。(二)作恩、念恩。(三)諮受新法、溫故不忘。(四)造新、修故。(五)樂聞法、樂說法。(六)善問難、善能答。(參閱「五種嘉譽」1188) ; (希有人) Người hiếm có. Tiếng khen ngợi người tu niệm Phật. Tông Tịnh độ Nhật bản xếp người tu niệm Phật vào một trong 5 hạng người tốt đẹp đáng khen. Hi hữu nhân có xuất xứ từ lời khen tặng người niệm Phật là hoa Phân đà lợi trong thế gian của kinh Quán vô lượng thọ. Kinh Niết bàn quyển 18, quyển 33 (bản Bắc) cũng dùng hoa Phân đà lợi, hoa Đại phân đà lợi để ví dụ đức Phật. Ngài Thiện đạo, vị Cao tăng của tông Tịnh độ đời Đường, đã căn cứ vào lời dạy của 2 bộ kinh trên mà viết trong tác phẩm Quán kinh sớ tán thiện nghĩa của ngài rằng: Hoa Phân đà lợi là loại hoa mĩ lệ, thù thắng, hi hữu, cũng như người niệm Phật là người tốt, người thượng thượng, người hiếm có, người hơn hết trong loài người . Ngoài ra kinh Niết bàn quyển 26 (bản Bắc) cũng nêu ra 6 hạng người hi hữu: 1. Không làm các việc ác, có tội biết sám hối. 2. Làm ơn và nhớ ơn. 3. Thưa hỏi tin nhận những pháp mới, ghi nhớ và ôn luyện những pháp đã học. 4. Luôn làm những điều hay, sửa những điều dở. 5. Thích nghe pháp, thích nói pháp. 6. Khéo hỏi, khéo đáp. (xt. Ngũ Chủng Gia Dự).

hi hữu đại pháp vương

2874佛之美稱。謂於一大千世界中,同時不出二佛,如同一國無二王,故稱希有;於法已得大自在,故稱大法王。北本涅槃經卷三十四(大一二‧五六九上):「一人出世,多人利益。一國土中,二轉輪王;一世界中,二佛出世,無有是處。」 菩薩善戒經卷三(大三○‧九七六中):「何以故?一土之中無二佛故。菩薩摩訶薩初發心時,作如是言:『唯我一人能令無量無邊眾生斷煩惱苦,入於涅槃。』以是願力,獲得果報。如來能為三千大千無量世界說法教化,調伏眾生,是故一土無二佛出。若一土中有二佛出者,眾生不能樂修善法,不生恭敬難遭之想;若見一佛,則得生於不思議心。」〔大乘本生心地觀經卷二報恩品〕 ; (希有大法王) Bậc Đại pháp vương hiếm có. Tiếng tôn xưng đức Phật. Trong một đại thiên thế giới, không bao giờ có 2 đức Phật ra đời một lúc, cũng như trong một nước không có 2 vua, cho nên gọi là hi hữu; đối với các pháp, đức Phật đã tự tại, cho nên gọi là Đại pháp vương. Kinh Niết bàn (Đại 12, 569 thượng) quyển 34 (bản Bắc), nói: Không bao giờ có chuyện trong một đất nước có 2 vua Chuyển luân, trong một thế giới có 2 đức Phật ra đời . Kinh Bồ tát thiện giới quyển 3 (Đại 30, 976 trung), nói: Vì sao? Vì trong một cõi nước không bao giờ có 2 vị Phật. Bậc Đại bồ tát lúc mới phát tâm nói rằng: Chỉ một mình ta có thể khiến vô lượng vô biên chúng sinh dứt trừ được khổ phiền não để vào Niết bàn. Nhờ nguyện lực ấy mà Bồ tát được chứng quả. Như lai có thể thuyết pháp, giáo hóa, điều phục chúng sinh trong ba nghìn đại thiên vô lượng thế giới, vì thế một quốc độ không có 2 đức Phật. Nếu trong một cõi nước có 2 đức Phật ra đời, thì chúng sinh sẽ không ham tu thiện pháp, không sinh ý tưởng cung kính khó gặp; nếu chỉ được thấy một đức Phật thì mới sinh tâm chẳng thể nghĩ bàn . [X. phẩm Báo ân trong kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.2].

hi liền thiền

Hiranyavati (S). Name of a river.

hi lân

2876遼僧。籍貫、生卒年均不詳。住燕京(北平)崇仁寺。編撰續一切經音義十卷,乃承接唐代慧琳一切經音義之作,略解開元(713~741)以後入藏之新譯經典一一○部之難字、梵語等音義,並訂正訛誤。 ; (希麟) Vị tăng sống vào đời Liêu, năm sinh, năm mất và quê quán đều không rõ, trụ trì chùa Sùng nhân tại Yên kinh (tỉnh Bắc bình). Sư có tác phẩm: Tục nhất thiết kinh âm nghĩa 10 quyển. Sách này được soạn tiếp theo tác phẩm Nhất thiết kinh âm nghĩa của ngài Tuệ lâm đời Đường. Nội dung giải thích một cách sơ lược về âm nghĩa và đính chính những sai lầm liên quan đến các chữ khó, tiếng Phạm trong 110 bộ kinh điển mới được dịch từ năm Khai nguyên (713-741) trở về sau, đã được đưa vào tạng.

hi lăng

2875(1247~1322)元代臨濟宗楊岐派破菴派僧。浙江義烏人,俗姓何。字虛谷。號西白。十九歲投東陽資壽院出家,博學多聞,二十歲受具足戒。參禮雙林寺虛舟遠公、淨慈寺東叟穎公。後嗣雪巖祖欽之法,得其密印,並繼其法席,延祐三年(1316)住持徑山。世祖召對大內,賜號「佛鑑」,加贈「大圓」、「慧照大辯」等號。至治二年示寂,世壽七十六。有瀑巖集及語錄行世。〔續燈存槀卷六、新續高僧傳四集卷六十一、道園錄卷四十八塔銘〕 ; (希陵) (1274-1322) Vị Thiền tăng thuộc chi Phá am, phái Dương kì, tông Lâm tế ở đời Nguyên, người huyện Nghĩa ô, tỉnh Chiết giang, họ Hà, tự Hư cốc, hiệu Tây bạch. Năm 19 tuổi, sư xuất gia ở viện Tư thọ tại Đông dương, năm 20 tuổi thụ giới Cụ túc. Sư học rộng, nghe nhiều, từng tham vấn các ngài Hư chu Viễn công chùa Song lâm và Đông tẩu Dĩnh công chùa Tịnh từ. Sau, sư nối pháp của ngài Tuyết nham Tổ khâm. Năm Diên hựu thứ 3 (1316), sư trụ trì Kính sơn, vua Thế tổ triệu sư vào cung ban hiệu là Phật Giám , sau lại ban thêm các hiệu Đại Viên , Tuệ Chiếu Đại Biện . Năm Chí trị thứ 2 (1322) sư tịch, thọ 76 tuổi.Sư có các tác phẩm: Bộc nham tập, Ngữ lục.[X. Tục đăng tồn cảo Q.6; Tân tập cao tăng truyện tứ tập Q.61; Tháp minh trong Đạo viên lục Q.48].

hi ma phạ đa

Xem Ứng Niệm.

hi mã lạp sơn

Himavant (S). Himalaya.

hi pháp

2874梵語 adbhuta-dharma。音譯阿浮陀達磨。又作未曾有法。為十二部經之一。此部類之經典,係述說佛及諸弟子等神祕希有之事,故稱希法。(參閱「十二部經」344、「未曾有」1936) ; (希法) Phạn: Adbhuta-dharma. Dịch âm: A phù đà đạt ma. Cũng gọi vị tằng hữu pháp (Pháp chưa từng có). Pháp nói về sự thần bí hiếm có của đức Phật và các vị đệ tử. Những bộ kinh điển nói về Hi pháp được gọi là kinh Vị tằng hữu, là một trong 12 loại thể tài kinh. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh, Vị Tằng Hữu).

hi sinh

6775指祭祀天地神祇之祭品或行為。通常以各種動物或稀有珍奇之植物獻神。相當於英語中 sacrifice 一語,此語含有神聖、聖化之意味,係指將動植物神聖化,以作為祭品而舉行祭祀之宗教行為。此類宗教行為產生之原因,學界之看法莫衷一是,英國人類學家泰勒(E.B. Tylor, 1832~1917)主張:犧牲乃為博得神靈歡喜,以獲得福祉、利益等之賄賂行為。英國之東方學學者史密斯(R. Smith, 1846~1894)則立「融合說」,認為採行犧牲祭法之人希望透過共食動物(犧牲之祭品—代表祖先或神)來謀求神人之結合。英國人類學家弗雷塞(J.G. Frazer, 1854~1941)則以為犧牲之根本動機,乃為謀取神祕之生命力與咒力;此說法視犧牲為一種贖罪行為,視犧牲動物之死為行祭者之死,故亦稱「代置說」。在印度,婆羅門教以犧牲行祭祀,而佛教則禁止殺生,反對犧牲祭祀之行為。 ; (犧牲) Hành vi hoặc phẩm vật cúng tế trời đất hoặc thần thánh. Danh từ Hi sinh tương đương với chữ Sacrifice trong tiếng Anh, hàm nghĩa thần thánh hoặc thánh hóa; tức là hành vi tông giáo thần thánh hóa động vật hoặc thực vật để làm phẩm vật cúng tế. Thông thường người ta dùng các loại động vật hoặc thực vật quí hiếm dâng hiến thần thánh để cầu được phúc lợi. Ở Ấn độ, Bà la môn giáo dùng vật hi sinh để cúng tế, nhưng Phật giáo cực lực phản đối và cấm chỉ hành vi giết hại này. Ngoài ra, danh từ Hi sinh còn có nghĩa bóng là xả bỏ tất cả tự do, quyền lợi và tính mệnh của mình để làm một việc gì đó mà người ta cho là chính nghĩa cao cả.

hi siêu

(hi siêu ) (336-377) Nhà chính trị sống vào đời Đông Tấn, người Kim hương, Cao bình, tự Cảnh hưng, cũng có tên là Gia tân. Ông vốn sùng kính Thiên sư đạo, nhưng thân giao với các vị cao tăng Chi độn, Trúc pháp thải, v.v...… nên dần dần cũng khởi tín tâm đối với Phật giáo. Ông từng giữ chức Tham quân cho Đại tư mã Hoàn ôn. Sau khi mẹ ông qua đời, ông từ chức Tư đồ tả trưởng sử để cư tang và từ đó không tham chính nữa. Ông có các tác phẩm: Phụng pháp yếu, Minh cảm luận, Toàn sinh luận. Nhưng hiện chỉ còn Phụng pháp yếu mà thôi. (xt. Phụng Pháp Yếu).

Hi Thiên

希遷|Thạch Ðầu Hi Thiên.

hi thế linh ngạn

2873(1404~1489)日本臨濟宗僧。京都人。號村庵。幼能作詩,為後小松天皇所賞識。十七歲出家,師事惟肖得巖、江西龍派,且以侍者身分終其一生。又專事詩文,享譽五山詩文壇。其詩文集名村庵稿。延德元年示寂,世壽八十六。敕諡「慧鑑明照禪師」。

hi tẩu thiệu đàm thiền sư quảng lục

2875請參閱 希叟紹曇禪師廣錄 凡七卷。又作希叟和尚廣錄。宋代僧希叟紹曇撰,侍者法澄等編。收於卍續藏第一二二冊。收錄慶元府佛隴山進山語、平江府法華寺進山語、慶元府雪竇資聖寺進山語、小參、法語、拈古、題、跋、頌、贊、小佛事等。卷四之「示日本平將軍法語」,係日僧蘭溪道隆遣使請希叟開示法語,以寄予當時之幕府將軍北條時宗。卷六之「俊侍者將別山四會語錄歸日本板行求予序引」,及「日本澄上人」(最澄)、「日本然上人」(法然)之頌等,皆顯示希叟與來華日僧往來之密切。 自悟等人編集希叟紹曇禪師語錄一卷,又作希叟紹曇和尚語錄,亦收於卍續藏第一二二冊。 ; (希叟紹曇禪師廣錄) Cũng gọi Hi tẩu hòa thượng quảng lục. Gồm 7 quyển, do ngài Hi tẩu Thiệu đàm soạn vào đời Tống, thị giả là Pháp trừng biên chép, thu vào Vạn tục tạng tập 122. Nội dung ghi chép lời Tiến sơn (pháp ngữ của vị trụ trì nói trong lễ nhập tự) ở núi Phật lũng phủ khánh nguyên, chùa Pháp hoa phủ Bình giang, chùa Tư thánh ở núi Tuyết đậu phủ Khánh nguyên và các phần Tiểu tham, Pháp ngữ, Niêm cổ, Đề, Bạt, Tụng, Tán, Tiểu Phật sự, v.v...… Phần Thị Nhật bản Bình tướng quân Pháp ngữ trong quyển 4 là do ngài Lan khê Đạo long, vị tăng người Nhật, sai sứ đến Trung quốc xin thiền sư Hi tẩu lời khai thị để gởi cho Mạc phủ tướng quân lúc bấy giờ là Bắc điều Thời tông. Bài tự dẫn và các bài tụng Nhật bản Trừng thượng nhân (ngài Tối trừng) Nhật bản Nhiên thượng nhân (ngài Pháp nhiên), v.v...… trong quyển 6 đã cho thấy sự giao du thân mật giữa ngài Hi tẩu và các vị tăng Nhật bản đến Trung quốc. Ngoài ra, các vị Tự ngộ, v.v...… biên tập Hi tẩu Thiệu đàm thiền sư ngữ lục 1 quyển (còn gọi Hi tẩu Thiệu đàm hòa thượng ngữ lục) cũng được thu vào Vạn tục tạng tập 122.

Hi Vận

希運|Hoàng Bá Hi Vận.

hi vận

2875(?~850)唐代僧。福州閩縣人,姓氏不詳。幼出家於洪州黃檗山,聰慧利達,學通內外,人稱黃檗希運。相貌殊異,額肉隆起如珠,號為肉珠。據宋高僧傳卷二十載,師嘗遊天台山,偶逢一僧,目光爛然射人,師與之比肩而行。路逢巨溪,溪水泛泛湧溢,其僧催師渡水,師乃強激發之曰(大五○‧八四二下):「師要渡!自渡。」僧乃褰衣而行,足躡水波,如履平地。至他岸,回顧招手曰:「渡來。」師拍手呵斥曰:「咄!自了漢,早知必斬汝脛。」僧歎曰:「真大乘法器,我所不及。」少頃不見。 後遊京師,遇一姥指示,遂還洪州謁百丈懷海,並大開心眼,得百丈所傳心印,一時聲譽彌高,人皆讚為大乘之器。後於黃檗山鼓吹直指單傳之心要,四方學子雲集而來,時河東節度使裴休鎮宛陵,建寺,迎請說法,以師酷愛舊山,故凡所住山,皆以黃檗稱之。大中四年示寂,年壽不詳。諡號「斷際禪師」。門下有臨濟義玄、睦州道縱等十數人。裴休輯師之語錄成一卷,並題名黃檗山斷際禪師傳心法要,廣行於世。〔景德傳燈錄卷九、傳法正宗記卷七、佛祖統紀卷四十三、佛祖歷代通載卷二十三、五燈會元卷四、釋氏稽古略卷三十、指月錄卷十〕 ; See Hy Vận. ; (希運) (?-850) Vị Thiền tăng đời Đường, người huyện Mân, Phúc châu (Phúc kiến). Thủa nhỏ, sư xuất gia ở núi Hoàng bá tại Hồng châu. Sư thông minh lanh lợi, học suốt nội ngoại điển, tướng mạo rất khác thường, trên trán sư nổi lên cục thịt như hạt châu, gọi là Nhục châu. Cứ theo Tống cao tăng truyện quyển 20, có lần sư đến núi Thiên thai, tình cờ gặp một vị tăng giữa đường, có ánh mắt sáng rực, chiếu thẳng vào người, sư liền kết bạn cùng đi. Trên đường đi, gặp con sông lớn, nước dâng cao, vị tăng giục sư qua sông. Sư bèn nói khích (Đại 50, 842 hạ): Ông muốn qua thì cứ qua đi! Vị tăng liền vén áo mà lướt trên mặt nước như đi trên đất. Qua đến bờ bên kia, vị tăng quay đầu lại vẫy tay gọi sư: Qua đây! Sư khoắc tay mắng rằng: Chà! Nếu biết trước như thế thì tôi đã chặt chân ông rồi! Vị tăng khen: Thực là pháp khí Đại thừa, ta không sánh kịp. Lát sau, vị tăng biến mất. Sau đó, sư đến kinh đô, gặp một bà lão chỉ dẫn sư trở về Hồng châu tham yết ngài Bách trượng Hoài hải và được truyền tâm ấn, tiếng tăm lừng lẫy một thời. Về sau, sư trụ trì tại núi Hoàng bá, tuyên dương tâm yếu trực chỉ đơn truyền, người từ khắp nơi về học rất đông. Lúc bấy giờ quan Tiết độ sứ Hà đông là ông Bùi hưu đang trấn giữ Uyển lăng, làm chùa thỉnh sư đến thuyết pháp. Sư rất mến núi xưa, nên dù ở núi nào sư cũng đặt tên là Hoàng bá. Đệ tử của sư gồm 10 vị như: Lâm tế Nghĩa huyền, Mục châu Đạo tung, v.v...… Năm Đại trung thứ 4 (850) sư thị tịch, thụy hiệu Đoạn Tế Thiền Sư . Sư có tác phẩm: Hoàng bá sơn Đoạn tế thiền sư truyền tâm pháp yếu 1 quyển.

hi đa bạch đạt sa

2873梵名 Hitopadeśa 之音譯。為印度古典文學寓言集,以梵文寫成,約成於十至十四世紀間,相傳作者為那羅延那(梵 Nārāyaṇa)。或謂那羅延那係第九、十世紀間之孟加拉人,準之,則本書成書年代亦應在此一期間。 本書係以寓言文學形式為骨幹,間雜教訓詩而成。書名意為「有益之教訓」,內容包括處世訓、實踐德目與金言。其內容取材自五怛特羅(梵 Pañcatantra)一書者頗多,寓言部分泰半與該書相通,教訓詩亦有部分直接抄錄該書。在印度國內有興地語、孟加拉語等數種譯本,以文體平易,故流布甚廣。此外,本書亦有英譯及歐洲各國之譯本。

hi địch

2875宋代僧。籍貫、生卒年均不詳。於杭州一帶宏法,號「武林沙門」。係可堂師會之弟子、善熹之同門。與道亭、觀復、師會並稱為宋代華嚴四大家。師會對觀復所撰之五教章折薪記,有所責難。師會與善熹曾作「五教章復古記」三卷,闡釋華嚴圓頓之旨,師亦作「評復古記」一卷,書中之主張皆依準於師會之說。寧宗嘉泰元年(1201),師作「註華嚴同教一乘策」一卷,忠實注解師會之華嚴同教一乘策,並駁斥宗豫、觀復之說。嘉定十一年(1218),作華嚴五教章集成記六卷(今僅餘卷一),廣蒐清涼澄觀、圭峰宗密、可堂師會等人之精義。 ; (希迪) Vị tăng đời Tống. Năm sinh, năm mất và quê quán đều không rõ, hiệu là Vũ lâm sa môn, đệ tử của ngài Khả đường Sư hội. Sư soạn Chú Hoa nghiêm đồng giáo nhất thừa sách để giải thích rõ tác phẩm Hoa nghiêm đồng giáo nhất thừa sách của ngài Sư hội và phản bác thuyết của các ngài Tông dự và Quán phục. Năm Gia định 11 (1218), sư soạn Hoa nghiêm ngũ giáo tập thành kí 6 quyển (hiện chỉ còn 1 quyển), sưu tập tinh nghĩa của các ngài Thanh lương Trừng quán, Khuê phong Tông mật và Khả đường Sư hội.

hinga

Hinga (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.

hingu

Hingu (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.

hiu hiu

To blow very lightly.

hiu hắt

To blow lightly.

hiu quạnh

Deserted—Lonely.

hiên bát

4325托鉢之際,挨家挨戶誦經乞食,稱為軒鉢。乃「連鉢」之對稱。(參閱「連鉢」4809) ; (軒鉢) Đối lại với Liên bát. Phép xin ăn, bưng bình bát đứng trước cửa từng nhà tụng kinh để xin, gọi là Hiên bát.(xt. Liên Bát).

hiên giáo

3916英語 Zarathustra, Zoroaster, Zoroastrianism, Zarathustra。音譯瑣羅亞斯德教。又稱火祆教、火教、拜火教。西元前六、七世紀波斯之預言家瑣羅亞斯德創於波斯東部大夏(今阿富汗之巴爾赫)之民族宗教。自古代波斯帝國至中世薩珊王朝(Sassanides, 224~651)止,成爲波斯之國教而興盛。七世紀,阿拉伯人征服波斯後,該教遂於波斯本土逐漸衰落。部分教徒不願改信回教,乃向印度西海岸遷移。因而殘存於南亞。目前該教在印度孟買地區有教徒十萬餘人。另於伊朗南部之耶斯德、格爾孟,及巴基斯坦卡拉奇一帶皆殘存少數信徒。 又該教曾於六世紀(南北朝時代)傳入我國,當時西域之焉耆、康國、疏勒、 _闐等均信奉該教。北魏、北齊、北周之皇帝皆曾帶頭奉祀。隋唐時,在東西兩京皆建立「祀祠」,並設立祀官,然當時信奉該教者多爲僑居中國之外國人。北宋末年、南宋初年於汴梁、鎮江等地仍有祆祠,民間亦有拜火之風習。惟至宋以後,中國之史籍絕少有關此教之記載。要之,祆教之勢力在今日世界已瀕臨沒落衰竭,然在世界各大宗教之關係史上,祆教對猶太教及基督教有極大之影響,另如密特羅教(Mithraism,又作光明教)、摩尼教(Manicheism)皆爲祆教所衍出之宗教。 祆教之主神名爲亞甫拉馬哲達(Ahura Mazda, Ormuzd,意譯火祆,意即智慧光明之善神),認爲世間萬物皆爲其所創;又以火爲主神之象徵,代表光明、善、神聖,而加以禮拜,故一般皆稱此教爲拜火教。其聖典稱爲阿凡士塔(Avesta),其內以光明之神爲全知全能之主,能與黑暗之惡神安格羅麥紐(Angro Mainyu)爭鬥,即以光明、黑暗分別代表人生兩大力量之善惡二元論。認爲人類爲光明之神之僕從,在其保護下,與黑暗之惡神爭鬥;而於善惡兩端之爭中,人有自由選擇之意志。該教富有強烈的一神教之色彩,惟仍主張在主神之下,有許多善神存在,包括農牧社會等眾多複雜之神靈。同時以火象徵其主神之靈,根源於天界,故應特別尊敬奉拜。在寺院或一般家庭皆置有聖火,且於聖火之前舉行祈禱。並認爲火葬或土葬會污染神聖而排斥不用,僅將屍體置於岩山頂之「沈默之塔」上,作爲禿鷹之食,稱之爲鳥葬,此爲其特異風俗之一。

hiên ngang

Proud—Haughty.

Hiên ngự

(軒馭): chỉ cho loại xe có màn che, là phương tiện chỉ có quan bậc Đại Phu trở lên mới dùng; từ đó nó ám chỉ cho bậc đáng tôn kính như đức vua, v.v. Như trong bài thơ Hỗ Tùng Ôn Tuyền Đồng Tử Vi Hoàng Môn Quần Công Phiếm Vị Xuyên Đắc Tề Tự (扈從溫泉同紫微黃門群公泛渭川得齊字) của Tô Đĩnh (蘇頲, 670-727) nhà Đường có câu: “Phó chu lai thị dụng, hiên ngự vãng ưng mê (傅舟來是用、軒馭往應迷, thuyền con đến sử dụng, xe ngự đi mê man).” Hay trong Vạn Linh Đăng Nghi (萬靈燈儀) quyển 1 lại có câu: “Cẩn y khoa cách, kiến lập đàn tràng, khiết bị hương đăng, dụng diên hiên ngự (謹依科格、建立壇塲、潔僃香燈、用延軒馭, kính nương khoa lễ, kiến lập đàn tràng, chuẩn bị hương đèn, cầu mong trường thọ).” Cho nên câu “hiên ngự tiêu dao, diệu chứng chơn như chi vức; Thánh linh bạn hoán, tề đăng Cực Lạc chi thiên (軒馭逍遙、妙證眞如之域、聖靈伴奐、齊登極樂之天)” có nghĩa là “đức vua tiêu dao, chứng đạt chơn như cõi tịnh; linh Thánh tự tại, cùng lên Cực Lạc cung trời.”

Hiên Thị

(軒氏): tức Hiên Viên (軒轅), Hoàng Đế (黃帝), một trong Tam Hoàng Ngũ Đế (三黃五帝) của truyền thuyết Trung Quốc, là tổ tiên của dân tộc Trung Hoa. Hoàng Đế họ là (公孫), hiệu là Hiên Viên Thị (軒轅氏), Hữu Hùng Thị (有熊氏) hay Quy Tàng Thị (歸藏氏). Như trong Sử Ký (史記), phần Ngũ Đế Bản Ký (五帝本記) có ghi rằng: “Hoàng Đế giả, Thiếu Điển chi tử, tánh Công Tôn, danh Hiên Viên; Hoàng Đế cư Hiên Viên chi kheo (黃帝者、少典之子、姓公孫、名軒轅、黃帝居軒轅之丘, Hoàng Đế là con của Thiếu Điển; họ Công Tôn, tên Hiên Viên; Hoàng Đế sống trên Đồi Hiên Viên).” Vị trí của Đồi Hiên Viên hiện vẫn còn đang tranh luận, nhưng phần lớn các học giả đều công nhận là ở tại Trịnh Châu (鄭州), Hà Nam (河南). Xưa kia nơi đây có đô thành của vương quốc Hữu Hùng (有熊); phụ thân của Hiên Viên là quốc vương của xứ sở này. lại có thuyết cho là đồi này hiện ở tại vùng Khúc Phụ (曲阜), Sơn Đông (山東). Tương truyền rằng ông sanh vào ngày mồng 2 tháng 2 Âm Lịch. Trong trận chiến Trác Lộc (涿鹿), ông giết chết vua Xi Vưu (蚩尤), giành được thắng lợi, thống nhất các bộ lạc Trung Nguyên. Sau cuộc chiến, Hoàng Đế xuất binh tiến vào địa khu Cửu Lê (九黎), tại núi Thái Sơn (泰山), tập trung các bộ lạc trong thiên hạ, tiến hành long trọng nghi thức cáo tế trời đất. Đột nhiên, trên trời hiện ra con con giun lớn, màu vàng; mọi người cho rằng lấy đức của đất làm vua, nên vua tự xưng là Hoàng Đế. Trước kia Viêm Đế (炎帝) cùng với Hoàng Đế đã từng liên minh chống lại Xi Vưu. Tuy nhiên, sau khi vua Xi Vưu thất bại, Viêm Đế lại sanh bất hòa với Hoàng Đế. Hai bên quyết chiến trong trận Phản Tuyền (阪泉), và cuối cùng thì Hoàng Đế thắng trận và xác lập địa vị độc tôn thiên hạ. Trong thời gian trị vì, nhà vua đã từng dạy cho nhân dân biết cách lấy lửa nấu cơm, ăn cơm nóng, sáng chế kỹ thuật dệt lụa, chế ra lịch pháp, chế tạo y phục, mũ giày để đè phòng giá lạnh, che thân, v.v. Hoàng Đế có 4 vợ chính và 10 bà hầu. Bà Chánh Phi họ Tây Lăng (西陵), tên Luy Tổ (嫘祖), người phát minh và dạy nhân dân nuôi tằm, dệt tơ để làm y phục, nên có hiệu là Tiên Tàm (先蠶). Bà Thứ Phi là Mô Mẫu (嫫母), tuy hình dung xấu xí nhưng đức hạnh cao thượng, rất được Hoàng Đế kính trọng. Ông có 25 người con, trong số đó 14 người được phong cho 12 họ khác nhau, gồm: Cơ (姬), Tây (酉), Kì (祁), Kỷ (己), Đằng (滕), Hàm (葴), Nhiệm (任), Tuân (荀), Hy (僖), Cật (姞), Huyên (儇), Y (衣). Các đời vua Thiếu Hạo (少昊), Chuyên Húc (顓頊), Đế Khốc (帝嚳), Đường Nghiêu (唐堯), Ngu Thuấn (虞舜), cho đến vua triều nhà Hạ (夏), Thương (商), Chu (周) đều là con cháu của Hoàng Đế. Sau khi qua đời, Hoàng Đế được an táng tại Kiều Sơn (橋山), tức là Hoàng Đế Lăng (黃帝陵) ở Tỉnh Thiểm Tây (陝西省) ngày nay. Trong Đạo Giáo, ông được xem như là một trong những người khai sáng ra tôn giáo này. Trong bài Đông Đô Phú (東都賦) của Ban Cố (班固) nhà Hán có đoạn ca ngợi công lao của Hiên Viên rằng: “Phân xuyên thổ, lập thị triều, tác chu dư, tạo khí giới, tư nãi Hiên Viên Thị chi sở khai đế công dã (分州土、立市朝、作舟輿、造器械、斯乃軒轅氏之所以開帝功也, chia sông hồ, đất đai; lập chợ, triều đình; làm thuyền, xe; tạo khí giới; thảy đều là công khai sáng đầu tiên của Hiên Viên Thị).”

Hiên Viên

(軒轅): xem chú thích Hiên Thị (軒氏) bên trên.

hiên viên giáo

4325我國新興宗教之一。民國四十六年(1957)由王寒生創立。為繼承中國自黃帝以至東漢前期宗教之新教。謂太極原理創於伏羲,道統成於黃帝,並尊昊天上帝為最高信仰目標,而以軒轅黃帝為教祖,尊天法祖為信條。 ; (軒轅教) Một tông giáo mới ở Trung quốc, do ông Vương hàn sinh sáng lập vào năm 1957. Tông giáo này thờ Hiên viên Hoàng đế làm giáo tổ, Hạo thiên Thượng đế là đấng tối cao và lấy nguyên lí Thái cực làm giáo lí.

hiếm

Rare.

hiến

Dâng hiến—To offer up—To present.

hiến châu kệ

6775指法華經所載龍女獻珠前所頌之偈。法華經提婆達多品載龍女獻珠予佛之事,龍女先頌偈曰(大九‧三五中):「深達罪福相,遍照於十方。微妙淨法身,具相三十二。以八十種好,用莊嚴法身。天人所戴仰,龍神咸恭敬。一切眾生類,無不宗奉者。又聞成菩提,唯佛當證知。我闡大乘教,度脫苦眾生。」此稱獻珠偈。〔法華玄義私記卷六〕 ; (獻珠偈) Bài kệ dâng châu của Long nữ. Phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa chép bài kệ ấy như sau (Đại 9, 35 trung): Thấu suốt tướng tội phúc. Soi rọi khắp 10 phương. Pháp thân tịnh vi diệu. Đủ ba mươi hai tướng. Cùng tám mươi vẻ đẹp. Để trang nghiêm pháp thân. Trời người thảy kính ngưỡng. Long thần đều tôn sùng. Tất cả loài chúng sinh. Hết thảy đều cung kính. Nghe con thành Bồ đề. Chỉ Phật mới biết rõ. Con xiển dương Đại thừa. Độ chúng sinh thoát khổ . [X. Pháp hoa huyền nghĩa tư kí Q.6]

hiến chương

Charter.

hiến kế

To offer a scheme.

hiến liên hoa toà ấn

6776又作華座印。為密教十八契印之一。兩手合掌中虛,左右無名指、中指、食指舒開而屈,如微開敷蓮華形。真言為「唵迦麼攞娑嚩訶」,意即「歸命蓮華成就」。修行者結此印,口誦真言,可得十地滿足,得坐於金剛座。(參閱「十八契印」354) ; (獻蓮華座印) Cũng gọi Hoa tòa ấn. Một trong 18 khế ấn của Mật giáo. Khi kết ấn này, 2 tay chắp lại, để trống ở giữa, ngón áp út, ngón giữa, ngón trỏ của hai tay tỏa ra và hơi co, như hình hoa sen chớm nở. Chân ngôn là: Án ca ma la sa phạ ha , nghĩa là Qui mệnh liên hoa thành tựu . Hành giả kết ấn này và tụng chân ngôn, có thể được đầy đủ Thập địa, được ngồi tòa Kim cương. (xt. Thập Bát Khế Ấn).

hiến pháp

Constitution.

Hiến Thâm

(憲深, Kenjin, 1192-1263): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu và giữa thời kỳ Liêm Thương, trú trì đời thứ 35 của Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), tổ của Dòng Báo Ân Viện (報恩院流); húy là Hiến Thâm (憲深), thông xưng là Báo Ân Viện Tăng Chánh (報恩院僧正), Kiểm Hiệu Tăng Chánh (檢校僧正), hiệu là Cực Lạc Phòng (極樂房); con của Thị Tùng Đằng Nguyện Thông Thành (藤原通成). Năm 1214, ông thọ Truyền Pháp Quán Đảnh với Thành Hiền (成賢) ở Tam Bảo Viện (三寶院) của Đề Hồ Tự; chuyên tâm nghe pháp và thọ lãnh mật ấn. Sau đó, ông thiết lập giáo trường ở Báo Ân Viện (報恩院), khai sáng một dòng phái và giáo huấn cho nhóm Lại Du (賴瑜), Định Thọ (定壽), Thánh Thủ (聖守). Vào năm 1251, ông tựu nhiệm chức Tọa Chủ Đề Hồ Tự; vì triều đình mà tiến hành tu bí pháp và tương truyền có linh nghiệm. Đến năm 1253, ông nhường chức Tọa Chủ lại cho Thật Thâm (實深) và làm Kiểm Hiệu. Vào năm 1255, ông được thăng chức Tăng Chánh. Trước tác của ông để lại có rất nhiều như Hạnh Tâm Lưu Quán Đảnh Cực Bí Khẩu Quyết Sao (幸心流灌極秘口決抄) 1 quyển, Hạnh Tâm Sao (幸心抄) 5 quyển, Đại Pháp Ngoại Nghi (大法外儀) 1 quyển, Hành Pháp Ngoại Nghi Pháp Tắc Tập (行法外儀法則集) 1 quyển, Báo Ân Viện Ký (報恩院記) 1 quyển, v.v.

hiến thân

6775謂皈依、歸命,或獻身信奉之意。源自梵語 namas(巴 namo,音譯南無);namas原謂屈身禮敬,其後演變為皈依、獻身等意。此乃佛教徒對三寶皈依或獻身之信仰所不可或缺者。至大乘佛教,獻身之意義有進一步之發揮,認為所謂禮佛乃對他人獻身之服務。如菩提行經所載(大三二‧五四四下、五五○中):「我今思惟為自他,願佛受斯隨力施;我自身施一切佛,以自身等遍一切。(中略)我今奉事於如來,同於世間諸僕從;眾人足蹈我頂上,受之歡喜而同佛。」 於密教中,更講求絕對之奉獻。如金剛頂經瑜伽修習毘盧遮那三摩地法所載(大一八‧三二七下、三二八上):「為欲承事諸如來,捨身奉獻阿閦佛;全身委地以心禮,金剛合掌舒頂上。(中略)為求供養轉法輪,次應敬禮無量壽;金剛合掌置頂上,以口著地奉其身。(中略)由是獻身方便故,便能示現種種身。」(參閱「歸依」6570) ; Hiến thân làm vật tế—To offer up one's body as a sacrifice. ; (獻身) I. Hiện Thân. Thân thể hiện tại. II. Hiện Thân. Cũng gọi Hiện thân độ sinh. Chư Phật và Bồ tát thị hiện các loại thân hình để hóa độ chúng sinh, như nói Hiện thân thuyết pháp. Lại nói theo nghĩa rộng, đương thể của muôn vật cũng là những lời nói pháp và cũng được gọi là Hiện thân thuyết pháp, như 2 câu kệ sau đây: Suối reo vang những lời thuyết pháp, Non xanh biếc toàn thanh tịnh thân . (Khê thanh tận thị quảng trường thiệt, Sơn sắc vô phi thanh tịnh thân). Đây cũng gọi là Vô tình thuyết pháp. (xt. Ứng Thân).

hiến át già hương thuỷ ấn

6776密教十八契印之一。即兩手捧閼伽器,觀想洗浴聖眾之足。真言為「曩莫三滿多沒馱南誐誐曩娑莽娑莽娑嚩訶」,意即「歸命普遍諸佛虛空等無等成就」。修行者由獻此閼伽香水,得三業清淨,洗滌煩惱垢。(參閱「十八契印」354) ; (獻閼伽香水印) Ấn khế dâng cúng nước thơm trong Mật giáo. Một trong 18 khế ấn. Khi bưng bình át già lên, hành giả quán tưởng đây là nước rửa chân cho Thánh chúng. Chân ngôn là: Nẵng mạc tam mãn đa một đà nam nga nga nẳng sa mãng sa mãng sa phạ ha , nghĩa là: Qui mệnh phổ biến chư Phật hư không đẳng vô đẳng thành tựu . Hành giả nhờ tu pháp mà rửa sạch các phiền não và 3 nghiệp được thanh tịnh. (xt. Thập Bát Khế Ấn).

hiếp

4289梵名 Pārśva。音譯作波栗溼縛。又作波奢。意譯為難生。為印度小乘說一切有部之論師,付法藏之第九祖,禪宗傳法之第十祖。精進修行,未曾脅臥,故時人稱之為脅尊者、脅比丘、脅羅漢、長老脅、勤比丘等。尊者初為梵志師,年八十捨家染衣,城中少年譏之,以為其年衰老耄,無所進取,托跡清流,徒知飽食而已。脅尊者聞之,乃自誓必通三藏之理,斷三界之欲,以得六神通,具八解脫;終不以脅至席,經歷三載,果斷三界欲,得三明智。後又從佛陀蜜多習佛教深旨,並證得羅漢果。馬鳴初習婆羅門之學,才氣縱橫,智辯無礙,僧侶備受攻擊,致中天竺佛教大衰,脅尊者欲挽中天竺佛教之衰運,入中天竺華氏城與馬鳴對論,並折服之,馬鳴即入尊者門下,受具足戒。其後脅尊者歸北天竺,馬鳴留住中天竺宣揚佛教。後迦膩色迦王攻華氏城,攜馬鳴歸。脅尊者後奉迦膩色迦王之命,於迦濕彌羅國,與五百聖賢共編纂大毘婆沙論,得王崇敬。後於北天竺布教,高齡以歿,君臣哀悼,集其舍利,起塔供養。〔付法藏因緣傳卷五、大唐西域記卷二、卷三、翻譯名義集卷二〕 ; 1) Bẹ sườn: The ribs. 2) Hiếp đáp—To oppress—Forceful.

hiếp huyền

4290懸於本尊兩脅之繪像、名號等。日本真宗一般用九字、十字之名號,又有懸掛宗祖、中祖之像者。 ; (脅懸) Treo ở hai bên. Tức là tượng vẽ và danh hiệu được treo ở 2 bên Bản tôn. Tịnh độ chân tông Nhật bản thường dùng danh hiệu 9 chữ, 10 chữ, hoặc những tượng Tông tổ, Trung tổ treo ở 2 bên bản tôn.

hiếp sĩ

4289又作夾侍、挾侍、脅侍、脅立。指侍立於本尊兩側之侍聖。士者,大士之意,為菩薩之異譯。然脅侍一般不限於菩薩,童子與羅漢亦為常見之脅侍。較常見之脅侍,釋迦佛有普賢、文殊二菩薩,或迦葉、阿難二羅漢。阿彌陀佛有觀音、勢至二菩薩。藥師如來有日光、月光,或藥王、藥上二菩薩。不動明王有制吒迦、矜羯羅二童子。觀音菩薩有善財、龍女,般若菩薩有梵天、帝釋,或法涌、常啼二菩薩。傅大士有普建、普成二童子。現存最古之釋迦像係自印度秣突羅(梵 Mathurā)一帶所出土者,釋迦趺坐於中央,其後方左右各有執持拂子之脅侍一尊。脅侍之數未必左右各一,例如藥師如來有十二神將,不動明王有八大童子,普賢菩薩有十羅剎女等。〔陀羅尼集經卷一、古今圖書集成神異典佛像部〕 ; Bodhisattva (skt)—Còn gọi là Hiếp Thị hay Hiệp Thị, hai vị Bồ Tát đứng hai bên một vị Phật, bên phải và bên trái (như hai Ngài Quán Âm và Thế Chí là hai vị hiếp sĩ của Đức Phật A Di Đà; hai ngài Nhật Quang và Nguyệt Quang là hai vị hiếp sĩ của Đức Phật Dược Sư; hai ngài Văn Thù và Phổ Hiền là hai vị hiếp sĩ của Đức Phật Thích Ca)—The two assistants of a Buddha, etc., right and left—See Tam Thánh. ; (脅士) Cũng gọi Giáp thị, Hiệp thị, Hiếp thị, Hiếp lập. Chỉ cho các vị Thánh đứng hầu 2 bên Bản tôn. chỉ có Bồ tát, mà Đồng tử và La hán cũng thường là Hiếp sĩ. Những vị Hiếp sĩ thường được thấy đứng hầu 2 bên tượng Phật Thích ca là các bồ tát Phổ hiền và Văn thù, hoặc 2 vị La hán là Ca diếp và A nan. Đứng hầu 2 bên đức Phật A di đà là 2 vị bồ tát Quan âm và Thế chí. Đứng 2 bên đức Dược sư Như lai là 2 vị bồ tát Nhật quang và Nguyệt quang, hoặc Dược vương và Dược thượng. Hiếp thị của Bất động minh vương là 2 đồng tử Chế tra ca và Căng yết la. Đứng hầu 2 bên bồ tát Quan âm là Thiện tài và Long nữ; bồ tát Bát nhã thì có Phạm thiên, Đế thích, hoặc 2 vị bồ tát là Pháp dũng, Thường đề làm hiếp thị. Phó đại sĩ thì có 2 đồng tử Phổ kiến và Phổ thành đứng hầu 2 bên. Về số Hiếp thị thì không phải chỉ có 2 vị mà cũng có nhiều vị, như đức Phật Dược sư có 12 vị thần tướng đứng hầu, Bất động minh vương có 8 Đại đồng tử, còn bồ tát Phổ hiền thì có 10 La sát nữ, v.v… [X. kinh Đà la ni Q.1; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển Phật tượng bộ].

hiếp trác

4290佛堂內之用具。置於禮盤兩側之長方形桌,一般以密教較常安置此類脅桌。行者右方之脅桌通常放置敲鳴之法器,左方之脅桌則放置灑水器、塗香、念珠、柄香爐等。此外,山門左右兩邊之小門則稱脅門。 ; (脅桌) Chiếc bàn hình chữ nhật kê ở 2 bên bàn lễ. Một trong những dụng cụ của Phật đường. Đặc biệt Mật giáo hay dùng loại bàn này.Trong đàn tràng tu pháp, Hiếp trác ở bên phải của hành giả, thường đặt các pháp khí để đánh gõ, như chuông, mõ, thanh la, v.v..., còn Hiếp trác bên trái thì để các đồ đựng nước sái tịnh, hương xoa, chuỗi tràng, lư hương có cán cầm, v.v... Ngoài ra, 2 cửa nách ở 2 bên cửa Tam môn (ta quen gọi là cửa Tam quan) thì gọi là Hiếp môn.

hiếp tôn giả

Parśva (S)Tổ thứ 10 trong 28 vị Tồ Phật giáo ở Ấn độ. ; Pàrsva (S). 10th Indian patriarch. ; (脅尊者) Hiếp, Phạm:Pàrzva. Dịch âm: Ba lật thấp phạ, Ba xa. Dịch ý: Nan sinh (khó sinh). Luận sư Thuyết nhất thiết hữu bộ và là Tổ truyền pháp thứ 10 của Thiền tông Ấn độ, vì ngài tinh tiến tu hành, không hề nằm nghỉ (vị tằng hiếp ngọa) nên người đương thời gọi ngài là Hiếp tôn giả, Hiếp tỉ khưu, Hiếp la hán, Trưởng lão hiếp, Cần tỉ khưu (tỉ khưu siêng năng, v.v...). Ban đầu, Tôn giả là một vị Phạm chí. Năm 80 tuổi ngài mới xuất gia, bị các tỉ khưu trẻ chê cười là già cả suy yếu, không tiến tu được, mới lạm dự vào hàng xuất gia để mưu cầu việc ăn no mà thôi. Tôn giả nghe những lời dèm pha ấy liền tự phát nguyện: Nếu không thông suốt lí Tam tạng, dứt trừ tham dục để được 6 thần thông và 8 giải thoát, thì trọn đời quyết không đặt lưng xuống chiếu (hiếp bất chí tịch) . Trải qua 3 năm, Tôn giả đã dứt hết tham dục trong 3 cõi, chứng được Tam minh. Sau Tôn giả theo ngài Phật đà mật đa học thêm về ý chỉ sâu xa của Phật pháp và đã chứng được quả A la hán. Bấy giờ ở Trung Ấn độ có ngài Mã minh học theo Bà la môn có tài hùng biện, tranh luận với các vị tỉ khưu nhằm công kích Phật giáo, trong giới tăng sĩ không ai địch lại, nên Phật giáo ở Trung Ấn độ rơi vào tình trạng suy đồi. Hiếp tôn giả muốn cứu vãn vận mệnh của Phật giáo, liền đến thành Hoa thị biện luận với Mã minh, Mã minh bị chiết phục và xin theo Tôn giả làm đệ tử, thụ giới Cụ túc. Sau đó, Tôn giả trở về Bắc Ấn độ, còn ngài Mã minh ở lại thành Hoa thị để hoằng dương Phật pháp. Sau khi về đến nước Ca thấp di la, Hiếp tôn giả vâng mệnh vua Ca nhị sắc ca tham gia với 500 vị Thánh hiền biên soạn luận Đại tì bà sa. Sau, ngài truyền pháp cho đệ tử là Phú na dạ xa rồi thị tịch. Vua tôi rất thương tiếc, làm lễ trà tì, thu nhặt xá lợi và xây tháp cúng dường. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.5; Đại đường tây vực kí Q.2; Q.3; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2].

Hiếp tôn giả 脅尊者

[ja] キョウソンジャ Kyō sonja ||| Pārśva (2c.), whose name is transcribed from Sanskrit as 波栗濕縛 and 波奢. A Sarvāstivādin 有部 scholar who is recorded as the compiler of the Vibhāṣā-śāstra 毘婆沙論 and the chair of the Fourth Council 第四結集 which was convened by King Kaniṣka 迦膩色迦王 at his encouragement. He is counted by the Chan school as the tenth patriarch in the lineage that goes back to Śākyamuni. His name means "Venerable Side" because he never slept with his side on the seat in his whole life. => s: Pārśva. Âm Hán là Ba-lật-thấp-phược 波栗濕縛 và Ba-xa 波奢. Là Luận sư của phái Nhất thiết hữu bộ, là người biên soạn Luận Tỳ-bà-sa (s: Vibhāṣā-śāstra 毘婆沙論) và chủ trì kỳ Kết tập kinh điển thứ IV, được triệu tập do sự bảo trợ của vua Ca-nị-sắc-ca (s: Kaniṣka 迦膩色迦王). Thiền tông xem Ngài là tổ thứ 10 được truyền thừa từ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Ngài có tên Hiếp tôn giả là do ngài phát nguyện trọn đời không bao giờ nằm ngủ.

hiếu

2858子對親盡誠順命供養。又作孝順、孝養。佛經中,不論在家出家,勸孝之文甚多。如孝子經謂,親之生子,懷胎十月,身為重病,臨生之日,母危父怖,其情難言。梵網經卷下謂,孝順乃至道之法,故以孝為戒。大乘本生心地觀經卷二報恩品謂,父有慈恩,母有悲恩,若人恭敬供養一百淨行大婆羅門、一百五通諸大神仙、一百善友,一心供養,滿百千劫,不如一念住孝順心,故應勤加修習孝養父母,與供佛之福等無差別。中阿含卷三十三善生經載,子當以增益財物、備辦眾事、所欲則奉、自恣不違、所有私物盡以奉上等五事奉敬供養父母。五分律卷二十謂,若人百年之中,右肩擔父,左肩擔母,於上大小便利,並以極世珍奇衣食供養,猶不能報須臾之恩,故當盡心盡壽供養父母,若不供養,必得重罪。 孝又分為世間之孝與出世間之孝,供給父母衣食等為世間之孝,以佛法開導父母為出世間之孝,故毘尼母經卷二謂,若父母貧苦,應先授三歸、五戒、十善,然後施與;此蓋以出世間之孝方能令父母徹底離苦得樂之故。又龍舒增廣淨土文卷六載,長蘆賾禪師作孝友文百二十篇,前百篇言奉養甘旨,為世間之孝,後二十篇勸父母修淨土,為出世間之孝。世間之孝,止於一世,為孝之小者;出世間之孝,無時而盡,因父母生淨土,福壽不止,如恆河沙劫,是為大孝。眾生若能孝養敬順父母,則可招感少病、端正、有大威勢、生上種族、多有資生等五種果報,稱為五善根。 除上記所述之外,有關孝道思想之經典,另有佛昇忉利天為母說法經(三卷,西晉竺法護譯)、六方禮經(一卷,後漢安世高譯)、父母恩重難報經、提謂波利經、盂蘭盆經等。在我國,佛家每將孝道思想與佛教相聯結,如史書、目錄、綜合傳記類中,即設有孝、報恩等項目,又以不殺、不盜、不邪婬、不飲酒、不妄語等五戒配合仁、義、禮、智、信等五常,以奉行五常、五戒者為大孝。蓋自佛教立場而言,救渡父母與對祖先報恩實為最大之孝,且強調精神救渡與成佛得道乃孝道之根本,如「一人出家,九族升天」之說,即由此產生。〔長阿含卷十一善生經、優婆塞戒經卷三、觀無量壽經、四天王經、善生子經、菩薩戒義疏卷上、梵網經菩薩戒本疏卷三(法藏)、四分律刪繁補闕行事鈔卷下三、四分律行事鈔資持記卷下三之四) ; Filial—Obedient. ; (孝) Cũng gọi Hiếu thuận, Hiếu dưỡng. Hết lòng thành kính và phụng dưỡng cha mẹ. Trong các kinh điển của Phật giáo, chữ hiếu được nói đến rất nhiều. Như kinh Phạm võng quyển hạ ghi, hiếu thuận là pháp chí đạo, vì thế lấy hiếu làm giới. Phẩm Báo ân trong kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 2 nói, cha có từ ân, mẹ có bi ân; nếu có người một lòng cung kính cúng dường 100 vị đại Bà là môn tịnh hạnh, 100 vị đại thần tiên đủ 5 thần thông, 100 vị bạn tốt, như thế cho đến trăm nghìn kiếp cũng không bằng một niệm trụ nơi tâm hiếu thuận. Bởi thế cần phải siêng năng tu tập hiếu dưỡng cha mẹ, thì phúc ấy bằng với phúc cúng dường chư Phật, không có sai khác. Luật Ngũ phần quyển 22 nói, nếu có người cõng cha mẹ trên 2 vai trong 100 năm, dâng các thức ăn mặc quí hiếm nhất để cúng dường cũng không thể báo đáp công ơn trong muôn một, vì thế phải trọn đời hết lòng cúng dường cha mẹ, nếu không sẽ mắc trọng tội. Hiếu lại được chia làm 2 loại: Hiếu thế gian và Hiếu xuất thế gian. Cung cấp các thức ăn uống và quần áo cho cha mẹ là hiếu thế gian, đem Phật pháp hướng dẫn cha mẹ là hiếu xuất thế gian. Kinh Tì ni mẫu quyển 2 nói, nếu cha mẹ nghèo khổ thì trước hết phải truyền Tam qui, Ngũ giới, Thập thiện cho cha mẹ, sau mới cung cấp các thứ vật chất. Vì hiếu xuất thế gian mới có năng lực giúp cho cha mẹ lìa khổ não được an vui một cách triệt để. Long thư tăng quảng tịnh độ văn quyển 6 ghi, trong Hiếu hữu văn (120 bài), thiền sư Trường lô Tông trách nói, phụng dưỡng cha mẹ về vật chất là hiếu thế gian, khuyên cha mẹ tu Tịnh độ là hiếu xuất thế gian. Hiếu thế gian chỉ được một đời, là hiếu nhỏ; còn hiếu xuất thế gian thì không có lúc nào cùng tận. Vì nếu cha mẹ nhờ công đức tu tập tịnh độ mà được vãng sinh thì sẽ được hưởng phúc thọ lâu dài nhiều kiếp như số cát sông Hằng, đó là hiếu lớn. Chúng sinh nào hiếu dưỡng kính thuận cha mẹ thì sẽ chiêu cảm được 5 thứ quả báo: ít bệnh, đẹp đẽ, có uy thế lớn, sinh vào dòng dõi cao sang, có nhiều tiền của, gọi là Ngũ thiện căn. Ngoài những điều vừa được trình bày ở trên, còn có nhiều kinh điển khác nói về đạo hiếu như: Kinh Phật thăng Đao lợi thiên vị mẫu thuyết pháp (ngài Pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, gồm 3 quyển), kinh Lục phương lễ, 1 quyển (ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán) kinh Phụ mẫu ân trọng nan báo, kinh Đề vị ba lợi, kinh Vu lan bồn, v.v...…Ở Trung quốc, người ta thường liên kết đạo hiếu với Phật giáo, như trong các loại sách sử, mục lục, truyện kí, v.v...… thường đặt các hạng mục như: Hiếu, Báo ân, v.v...…, đồng thời phối hợp ngũ giới của Phật giáo: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không uống rượu và không nói dối với ngũ thường của Nho giáo: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín và cho rằng người nào giữ được ngũ giới, ngũ thường là đại hiếu. Nhưng theo lập trường của Phật giáo thì căn bản của đạo hiếu là thành Phật để cứu độ cha mẹ và báo hiếu tổ tiên mới là hiếu lớn nhất. [X. kinh Thiện sinh trong Trường a hàm Q.11; kinh Ưu bà tắc giới Q.3; kinh Quán vô lượng thọ; kinh Tứ thiên vương; kinh Thiện sinh tử; Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng; Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển 3 (ngài Pháp tạng soạn); Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ phần 3; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 3 đoạn 4].

hiếu danh

Eager for fame.

hiếu dưỡng

2860指盡孝行以奉養父母。又稱孝順。此不僅指世間之孝養,對出世間之孝養(使父母成佛)亦須重視。廣義言之,包含對死去父母之追悼供養。佛經中,不論在家出家,勸人孝養之文甚多,如觀無量壽經(大一二‧三四一下):「孝養父母,奉事師長。」梵網經卷下(大二四‧一○○四上):「孝順,至道之法。孝,名為戒,亦名制止。」 中阿含卷三十三善生經、長阿含卷十一善生經謂,子當以增益財物、備辦眾事、所欲則奉、自恣不違、所有私物盡以奉上等五事奉敬供養父母。〔大乘本生心地觀經卷二報恩品、毘尼母經卷二、尸迦羅越六方禮經、四分律刪繁補闕行事鈔卷下三、菩薩戒義疏卷上、梵綱經菩薩戒本疏卷三(法藏)〕(參閱「孝」2858) ; To nurse one's parents. ; (孝養) Cũng gọi Hiếu thuận. Hết lòng hiếu kính phụng dưỡng cha mẹ. [X. Hiếu].

hiếu dưỡng tập

2860凡三卷。日本真言宗覺鍐撰。內容明示入信之要義,特以平易之日文敘述往生極樂之意趣。收於大日本佛教全書。卷上闡明善惡,卷中彰顯實道,卷下揭示臨終正念之往生極樂。全集所引用之經論甚多,有仁王經、正法念經、六波羅蜜經、雜寶藏經、法華經、往生要集(源信)等數十餘種。有寬永十九年(1642)、元祿七年(1694)刊本。 ; (孝養集) Gồm 3 quyển, do ngài Giác tông thuộc tông Chân ngôn Nhật bản soạn, xuất bản lần đầu vào năm Khoan vĩnh thứ 9 (1642), lần thứ 2 vào năm Nguyên lộc thứ 7 (1694) thu vào Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư. Nội dung sách này nói rõ yếu nghĩa của niềm tin và bằng lối văn bình dị, trình bày về ý thú của sự vãng sinh Cực lạc. Quyển thượng nói về thiện ác, quyển trung thuyết minh đạo lí chân thực, quyển hạ bàn về lâm chung chính niệm vãng sinh Cực lạc. Toàn tập sách trích dẫn rất nhiều kinh luận như: kinh Nhân vương, kinh Chính pháp niệm, kinh Lục ba la mật, kinh Tạp bảo tạng, kinh Pháp hoa, Vãng sinh yếu tập (Nguyên tín), v.v...

Hiếu Khiêm Thiên Hoàng

(孝謙天皇, Kōken Tennō, tại vị 749-758): vị nữ đế trị vì vào cuối thời kỳ Nại Lương, còn gọi là Cao Dã Thiên Hoàng (高野天皇), vị hoàng nữ thứ 2 của Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749), mẹ là Hoàng Hậu Quang Minh (光明皇后), tên là A Bội (阿倍, Abe). Bà rất trọng dụng Đằng Nguyên Trọng Ma Lữ (藤原仲麻呂) và Đạo Kính (道鏡, Dōkyō). Tuy đã có lần nhường ngôi cho Thuần Nhân Thiên Hoàng (淳仁天皇, Junnin Tennō, tại vị 758-764), nhưng sau đó bà lại lên ngôi lần thứ hai với hiệu là Xưng Đức Thiên Hoàng (稱德天皇, Shōtoku Tennō, tại vị 764-770).

hiếu kỳ

To be curious.

hiếu nam

Pious or filial son.

hiếu nghiêm

Hsiao-yen (C).

hiếu nữ

Pious girl.

hiếu phục

2858指僧侶之喪服。禪林中,凡遇住持等德高之老僧入寂,其法眷(同修)或小師(弟子)皆須各隨身分,穿著定制之喪服。據敕修百丈清規卷上住持章遷化孝服條所載,住持遷化時,在祭弔、送終等儀式中,侍者小師須穿著麻布之裰,東西兩序須穿著苧布之裰,主喪者及法眷中之尊長須穿著生絹之裰,勤舊(已退休之職事)、辦事(打雜之僧)、法眷中之同鄉者、諸山前來祭弔之人須繫戴生絹之腰帛,一般信徒繫上生絹之巾腰帛,方丈行者穿著麻布之巾裰,眾行者繫戴苧布之巾,方丈之人僕(下僕)、作頭須穿著麻布之巾衫,甲幹莊客、諸僕繫戴麻布之巾。然依六祖大師法寶壇經載,六祖謂受人弔問及身著孝服,皆非正法。〔釋氏要覽卷下送終篇、佛制比丘六物圖、禪林象器箋服章門〕 ; Tang phục—Mourning dress—Mourning clothes for parents. ; (孝服) Tức tang phục. Trong Thiền lâm, khi vị lão Tăng cao đức trụ trì viên tịch, thì hàng pháp quyến hoặc đệ tử của vị ấy đều phải tùy theo thân phận của mình mà mặc tang phục theo qui định. Cứ theo điều Thiên hóa hiếu phục, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng, khi vị Trụ trì viên tịch, Thị giả và các vị Đông tự, Tây tự đều phải mặc áo dài bằng vải gai, vị Chủ tang và các vị tôn trưởng trong pháp quyến phải mặc áo dài bằng lụa sống, các Chức sự đã nghỉ việc, Biện sự, người đồng hương trong pháp quyến, người các Sơn môn đến phúng điếu phải thắt dây lưng bằng lụa sống, tín đồ phổ thông thắt dây lưng và chít khăn bằng lụa sống, hành giả Phương trượng mặc áo và chít khăn vải gai, Chúng hành giả chít khăn vải gai, những người giúp việc trong Phương trượng mặc áo ngắn vải gai, những vị Giáp cán trang khách và những người phụ tá đều chít khăn vải gai. Nhưng theo Lục tổ đại sư Pháp bảo đàn kinh, thì người nhận phúng điếu và mặc hiếu phục đều chẳng phải chính pháp. [X. thiên Tống chung trong Thích thị yếu lãm Q.hạ; Phật chế tỉ khưu lục vật đồ; môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hiếu sắc

To have a weakness for woman.

hiếu thuận

Obedient—Pious and submissive.

hiếu thảo

Pious.

hiếu trung

Piety and loyality.

Hiếu Tông 孝宗

[ja] コウソウ Kōsō ||| Xiaozong (1127-1194) Emperor of the second dynasty of the Southern Song (ascended the throne in 1162). An unusually learned emperor who instituted many government reforms which resulted in a period of resurgence for the Southern Song. He was especially interested in Buddhism and studied with prominent teachers of his time. He wrote essays defending Buddhism against Neo-Confucian criticism and also wrote a commentary on the Yuanjue jing 圓覺經 (Z 251). details. => c: Xiaozong (1127-1194). Hoàng đế thứ hai của triều Nam Tống (lên ngôi năm 1162). Là một vị vua ham thích học tập khác thường, đã có nhiều cải tổ triều chính đưa đến kết quả là sự phục hưng của thời đại Nam Tống. Ông là người đặc biệt quan tâm đến Phật pháp và được tham học với nhiều danh tăng thời đó. Ông có viết một luận giải tán đồng Phật giáo, phản bác sự phê phán của tân Khổng giáo và Ông cũng trứ tác một luận giải về Kinh Viên Giác.

hiếu tử

See Hiếu Nam.

hiếu võ

Hsiao-wu (C).

hiếu ân tự

2859日本淨土宗寺。通稱木積觀音堂。位於大阪府貝塚市(泉南郡西葛城村)。相傳為行基所建四十九院之一。天正十三年(1585),寺遭焚毀,僅存觀音堂(鎌倉時期所建)。寺內木造之文殊菩薩立像、十一面觀音立像等十五尊,為平安期至藤原期之名作。

hiếu để

Dutiful to one's parents and submissive to one's elder brothers.

hiếu động

Restless.

Hiếu Đức Thiên Hoàng

(孝德天皇, Kōtoku Tennō, tại vị 645-654): vị Thiên Hoàng sống vào khoảng thế kỷ thứ 7, con thứ nhất của Mao Đình Vương (茅渟王, Chinuno Ōkimi), tên là Thiên Vạn Phong Nhật (天萬豐日, Ameyorozu Toyohi) hay Khinh Hoàng Tử (輕皇子). Chính ông là người tiến hành cuộc Cải Tân Đại Hóa (大化改新).

hiềm khích

To detest—To hate.

hiềm nghi

To suspect.

hiềm oán

To bear a grudge.

Hiềm 嫌

[ja] ケン ken ||| (1) Dislike, hate, detest. (2) Hateful, disgusting. (3) To doubt; be doubtful. (4) Be dissatisfied, unsatisfactory. => 1. Không thích, ghét, ghê tởm. 2. Căm hờn, kinh tởm. 3. Ngờ vực, hồ nghi. 4.Bất, mãn, không hài lòng. Hình Khê Trạm Nhiên 荊溪湛然 [ja] キョウケイタンネン Kyōkei Tannen ||| Jingqi Zhanran of the Chinese Tiantai school (711782). => j: Kyōkei Tannen; c: Jingqi Zhanran. Tăng sĩ tông Thiên Thai Trung Hoa. Hiện đương 現當 [ja] ゲントウ gentō ||| Present world and future world. => Thế giới hiện tại và thế giới tương lai.

hiền

Dhadra (S), Kindness Bạt đà la1- sự lành 2- Bạt đà la: Một trong 16 đại A la hán được đức Phật cử đi hoằng pháp ở nước ngoài. ; Bhadra (S). August, auspicious; moral, virtuous, worthy; able. talented. ; Bhadra (skt). 1) Hiền Đức: Wise and Virtuous—Virtuous—Good and excellent in character. 2) Hiền Nhân: Sage—A wise and virtuous man. 3) Hàng thứ hai sau bậc Thánh: Second rank to a saint.

hiền bình

6180指能生善福、如意滿足所願之瓶。賢,善之義。以瓶中能出心所欲求之物,故引喻能生善福。又作善瓶、德瓶、滿瓶、賢德瓶、功德瓶、如意瓶、吉祥瓶。於經論中頗多以此瓶作譬喻者,如舊譯華嚴經卷五十九,以德瓶比喻菩提心,能滿足一切願望;大智度論卷十三以此瓶比喻戒,以其能成立一切功德。 在密教中,則以賢瓶為地神之三昧耶形,又於其中盛香、藥等,佈置於修法壇上。又此瓶中藏有種種寶,猶如大地埋藏諸種之財寶。此外,關於賢瓶之原語,據慧苑音義卷上記載,為梵語 pūrṇa-ghaṭa(音譯本囊伽吒,意譯滿瓶);於密教,則為梵語 kalaśa(迦羅奢,瓶之義)。〔大乘大集地藏十輪經卷五、大日經疏卷八、法華經玄贊卷二、華嚴經探玄記卷二十〕 ; Bhadra-kumbha (skt)—Thiện Bình—Bình Như Ý—Hữu Đức Bình—Bình Kiết Tường, từ đó chúng ta có thể cầu mọi chuyện thiện lành—Auspicious jar—Magic bottle, from which all good things may be wished. ; (賢瓶) Cũng gọi Thiện bình, Đức bình, Mãn bình, Hiền đức bình, Công đức bình, Như ý bình, Cát tường bình. Hiền nghĩa là tốt lành. Hiền bình chỉ cho chiếc bình có công năng sinh ra phúc thiện; vật chứa đựng trong bình có thể thỏa mãn mọi điều ước nguyện. Kinh Hoa nghiêm quyển 59 (bản dịch cũ) dùng Đức bình để ví dụ tâm Bồ đề, có thể làm thỏa mãn tất cả điều mong muốn, còn luận Đại trí độ quyển 13 thì ví dụ Hiền bình với giới, vì nó có thể thành lập tất cả công đức. Trong Mật giáo, Hiền bình được dùng làm hình Tam muội da của Địa thần và đựng nước thơm, thuốc, v.v...… để ở trên đàn tu pháp. Những bảo vật được chứa trong bình này cũng giống như những của báu chôn ở dưới đất. Ngoài ra, theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển thượng, thì tiếng Phạn của Hiền bình là Pùrịa-ghaỉa, nghĩa là mãn bình; còn theo Mật giáo thì tiếng Phạn làKalaza, nghĩa là bình. [X. kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.8; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.20]

hiền giả

1) Bất cứ ai giữ địa vị cao hay có bản tánh tốt: Anyone occupying a superior position, or a good man in general. 2) Bậc hiền nhân, nhưng chưa vượt thoát được phiền não, cũng như chưa thấu đạt hết chân lý: A good and wise man, not yet free from illusion or fully comprehending reality.

hiền hòa

Meek and affable.

hiền hạnh

Meek and virtuous.

hiền hậu

Meek and loyal.—Benevolent

hiền hỉ

Upananda (S). Name. Also Thiện hỉ.

hiền hộ

Bhadrapala (skt). 1) Vị Bồ Tát tại gia, là một trong những đại đệ tử tại gia của Phật trong thời Phật còn tại thế: One of the great lay disciples of the Buddha, who kept the faith at home at the time of the Buddha. 2) Vị Bồ Tát đã cùng với 500 vị khác khinh hủy Phật trong một tiền kiếp, về sau quy-y Phật và trở thành Phật—A Bodhisattva who with 500 others slighted Sakyamuni in a previous existence, was converted and became a Buddha. 3) Hình tượng của Hiền Hộ thường được đặt trong phòng tắm của tự viện: An image of Bhadrapala is kept in the monastic bathroom.

hiền hộ bồ tát

6183賢護,梵名 Bhadra-pāla。為八大菩薩之一,十六大菩薩之一。係在家菩薩。音譯作跋捺羅波羅菩薩、 ; Bhadrāpala (S), Gracious protector Bạt đà bà la Bồ tát, Bạt đà Bồ tát, Bạt đà hòa Bồ tát, Thiện Thủ Bồ tát, Hiền Thủ Bồ tát, Bạt nại la ba la Bồ tát, Bạt đà bà la Bồ tát, Bạt đà hoà Bồ tát.Tên một vị Bồ tát. ; Bhadrapàla-Bodhisattva (S). Name. ; (賢護菩薩) Hiền hộ, Phạm:Bhadra-pàla. Dịch âm: Bạt nại la ba la bồ tát, Bạt đà bà la bồ tát, Bạt đà ba la bồ tát, Bạt pha bồ tát, Bạt đà hòa bồ tát, Phát nại la bá la bồ tát. Cũng gọi Hiền hộ trưởng giả, Hiền hộ thắng thượng đồng chân, Thiện thủ bồ tát, Hiền thủ bồ tát. I. Hiền Hộ Bồ Tát. Vị Bồ tát tại gia, đứng đầu trong số đại chúng nghe kinh Ma ha bát nhã ba la mật và kinh Vô lượng thọ. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 109, thì Hiền hộ trưởng giả là con của một thương gia giầu có, hưởng thụ các phúc báo vui sướng mà đến Đế thích Đao lợi thiên vương cũng không sánh bằng. Lại theo kinh Bát cát tường thần chú, nếu có người bệnh nặng, xưng danh hiệu của 8 vị Bồ tát trong đó có bồ tát Hiền hộ, thì liền hết bệnh, khi mệnh chung, được 8 vị Bồ tát ấy đến đón rước. Ngoài ra, theo kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 5, ngài Bạt đà la khi vào nhà tắm thấy nước mà ngộ được tính không . Căn cứ vào thuyết này, Thiền tông bèn đặt tượng Hiền hộ tôn giả trong nhà tắm.II. Hiền Hộ Bồ Tát. Vị tôn thứ 2 ở phía tây ngoài luân đàn trong hội Yết ma trên mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 16 vị tôn của Hiền kiếp. Mật hiệu là Xảo hộ kim cương, Li cấu kim cương, hình Tam muội da là Hiền bình. Hình tượng vị Bồ tát này là người nữ, thân màu hồng, ngồi trên hoa sen, tay trái nắm lại đặt trên đầu gối, tay phải bưng hiền bình. Hình nữ biểu thị đức định, màu hồng biểu thị từ bi, hiền bình biểu thị giữ gìn nước trí thanh tịnh của chúng sinh, cho nên hình tượng vị tôn này hiển bày 3 đức: Định, Bi, Trí. Lại vì khéo giữ gìn trí Phật của chúng sinh nên vị Bồ tát này được gọi là Xảo hộ kim cương. III. Hiền Hộ Bồ Tát. Cũng gọi Trừ nghi quái bồ tát. Vị Bồ tát thứ 4 trong 9 vị tôn của viện Trừ cái chướng trên mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Xảo tế kim cương, hình Tam muội da là chày kim cương một chĩa. Hình tượng của vị Bồ tát này là thân nữ mầu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, tay trái bưng bình báu, tay phải cầm chày một chĩa. Chày một chĩa là trí nhất thực của Như lai, biểu thị nhất pháp giới của chữ A, bình báu biểu thị sự khéo giữ gìn 5 trí của chúng sinh vì thế gọi là Hiền hộ. Lại vì trí tuệ kim cương của Như lai khéo trừ diệt sự nghi hối của chúng sinh nên cũng gọi là Trừ nghi hối bồ tát; vì đem ánh sáng trí tuệ của Như lai soi rọi, cứu giúp chúng sinh trong chỗ tối tăm một cách khéo léo nên còn gọi là Xảo tế kim cương. [X. kinh Đại bảo tích Q.110; kinh Hiền kiếp Q.1; kinh Huyễn sĩ nhân hiền; kinh Đại thừa bồ tát tạng chính pháp Q.1; kinh tư ích phạm thiên sở vấn Q.1; kinh Quán đính Q.4, kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Hiền kiếp thập lục tôn; Kim cương đính đại giáo vương Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.5]. HIỀN KHOAN (?–1326) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế sống ở đời Nguyên, người Hàm sơn. Hòa châu (tỉnh An huy), họ Chu, là đệ tử nối pháp của thiền sư Kim ngưu chân. Người đời gọi sư là Vô dụng Hiền khoan thiền sư. Một ngày kia, sư đến tham vấn ngài Kim ngưu ở Dã phụ, vừa bước vào cửa, ngài Kim ngưu liền hét, sư cũng hét. Ngài Kim ngưu hỏi (Vạn tục 142, 439 thượng): –Ông học được cái thói cứng đầu ấy ở đâu thế? Sư đáp: –Rất nhiều người ngờ vực. Ngài Kim ngưu liền đánh. Hôm sau, sư lại đến tham kiến, ngài Kim ngưu đưa sư vào ngồi trong phòng, bỗng nước trong ấm sôi trào ra, chảy xuống lò than khói xông lên, sư hốt nhiên đại ngộ, mồ hôi toát ra đầm đìa. Sau, sư trình kệ, trong có câu: Đáy nước trâu bùn kêu một tiếng. Đại thiên sa giới đều ngả nghiêng . Ngài Kim ngưu rất bằng lòng. Về sau, sư thuyết pháp ở chùa Phổ minh tại Thái hồ, người về học rất đông. Ban đêm ở chùa thường có ánh sáng chiếu, xa gần người ta đều cho là việc lạ sư được vua ban hiệu Phật Chiếu Viên Ngộ . Năm Thái định thứ 3 (1326) đời vua Tấn tông sư tịch. [X. Tăng tục truyền đăng lục Q.5].

hiền hỷ long vương

Upānanda (S)Thiện Hoan Hỷ, Tôn đà la nan đà, Ưu bà nan đà, Bạt Nan Đà Long vương1- Một trong Bát đại Long vương, gồm: Hoan Hỷ Long vương, Hiền Hỷ Long vương, Long vương hải, Bảo Hữu Long vương, Đa Thiệt Long vương, Vô nhiệt não Long vương, Đại ý Long vương, Thanh Liên Long vương. 2- Có nghĩa đoan chánh, hoan hỷ. Tên một đệ tử của Phật.

hiền khoan

6182(?~1326)元代臨濟宗僧。和州(安徽)含山人,俗姓周。為金牛真禪師之法嗣。一日,師參謁金牛於冶父,初入門,金牛便喝,師亦喝,金牛曰(卍續一四二‧四三九上):「那裡學得這慿頭來?」師曰:「大有人疑著。」金牛便打。次日又參見金牛,金牛引之入閤中坐,忽爐內之湯瓶水溢出,爐灰上衝,師乃豁然大悟,汗流浹背,即呈偈,有「水底泥牛吼一聲,大千沙界一齊傾」之句,金牛深許之。世稱無用賢寬禪師。後開法於太湖普明寺,禪衲雲集,夜有天燈下照,遠近皆歎異,帝賜「佛照圓悟」之號。元晉宗泰定三年示寂,世壽不詳。〔增集續傳燈錄卷五〕

hiền kiếp

6174梵語 bhadrakalpa。音譯 ; Bhadrā-kalpa (S), Bhadda-kappa (P)Bạt đà kiếp, Pha đà kiếpTên kỳ kiếp lớn hiện nay, do có nhiều thánh nhơn ra đời nên được gọi là hiền kiếp. Kiếp đã qua là Trang nghiêm kiếp, kiếp sắp tới là Tinh tú kiếp. Trong kỳ kiếp này sẽ có dến 1000 đức Phật ra đời, đến nay đã có 4 vị. ; Bhadra kalpa (S). Lucky kalpa. ; Bhadra-kalpa (skt)—Thiện Kiếp—Thời đại mà chúng ta đang sống (kiếp đã qua là Trang nghiêm Kiếp, kiếp sắp tới là Tinh Tú Kiếp). Hiền kiếp kéo dài 236 triệu năm, nhưng chúng ta đã trải qua 151 triệu năm. Trong một ngàn vị Phật Hiền Kiếp thì Phật Thích Ca là vị thứ tư và Phật Di Lặc là vị thứ 995 nối tiếp—The age in which we are living now—The present kalpa—The present period. It is to last 236 million years, but over 151 million have already elapsed. There are one thousands Buddhas, Sakyamuni was the fourth and Maitreya will be the 995th to succeed him. ; (賢劫) Phạm: Bhadrakalpa. Dịch âm: Bạt đà kiếp, Pha đà kiếp, Ba đà kiếp. Gọi đủ: Hiện tại hiền kiếp. Chỉ cho kiếp trụ. Hiền (Phạm:Bhadra), nghĩa là thiện; Kiếp (Phạm:Kalpa), nghĩa là thời phần. Trong kiếp này có một nghìn bậc Hiền thánh ra đời giáo hóa, nên gọi là Hiền kiếp, Thiện kiếp, Hiện kiếp. Hiện kiếp hợp chung với Quá khứ trang nghiêm kiếp và Vị lai tinh tú kiếp gọi là Tam kiếp. Cứ theo các kinh: Hiền kiếp, kinh Hiện tại hiền kiếp thiên Phật danh và kinh Thiên Phật nhân duyên, v.v…thì trong Hiền kiếp sẽ có một nghìn đức Phật lần lượt ra đời kể từ các đức Phật Câu lưu tôn, Câu na hàm mâu ni, Ca diếp, Thích ca, Di lặc, cho đến đức Phật Lâu chí, v.v... Về lượng thời gian của Hiền kiếp thì trong các kinh luận có nhiều thuyết khác nhau: 1. Theo các kinh Quán Di lặc bồ tát thướng sinh Đâu suất thiên quyển thượng, Tam di lặc kinh sớ và Du già luận kiếp chương tụng... thì 20 kiếp trụ là lượng thời gian của Hiền kiếp. 2. Theo Di lặc thướng sinh kinh tông yếu của ngài Nguyên hiểu, thì một đại kiếp là lượng thời gian của Hiền kiếp. 3. Theo Du già luận kí quyển 1 phần dưới của ngài Độn luân, thì một trăm nghìn đại kiếp là Hiền kiếp. Trong những thuyết nói trên, thì thuyết thứ nhất là thuyết thông dụng. [X. kinh trường a hàm Q.1; kinh Đại bi Q.3; luận Câu xá Q.12; luận Đại trí độ Q.38; Pháp hoa kinh văn cú Q.8 phần cuối]. (xt. Kiếp).

Hiền kiếp kinh

賢劫經; S: bhadrakalpika-sūtra; có nghĩa là kinh của kiếp hạnh phúc;|Kinh Ðại thừa, nói về 1000 vị Phật sẽ ra đời trong »hiền kiếp« này, trong đó đức Thích-ca Mâu ni là vị thứ tư, vị thứ năm là Di-lặc, Phật sẽ ra đời. Kinh này là đặc trưng các kinh nói về cuộc đời chư Phật, Bồ Tát, Thánh hiền… trong Phật giáo.

hiền kiếp kinh

6178梵名 Bhadrakalpika-sūtra。凡八卷(或七卷、十卷、十三卷)。又稱 ; Bhadrākalpika sŪtra (S)Hiền Kiếp định ý kinh, Bạt đà kiếp tam muội kinhTên một bộ kinh. ; Bhadrakalpika-sùtra (S). Sùtra of the Lucky Kalpa. ; (賢劫經) Phạm: Bhadrakalpika-sùtra. Cũng gọi Bạt đà kiếp tam muội kinh, Hiền kiếp định ý kinh. Gồm 8 quyển (hoặc 7 quyển, 10 quyển, 13 quyển). Nguyên bản tiếng Phạm đã thất lạc, hiện còn các bản Tạng dịch và Hán dịch. Bản Hán do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này gồm 24 chương thuật lại việc lúc đức Phật ở tại tinh xá Kì viên, trả lời những câu hỏi của bồ tát Hỉ vương. Trước hết, Ngài nói về các loại Tam muội (Phạm, Pàli: Samàdhi) và công đức của các Tam muội ấy; kế đến, nói về 84 nghìn pháp môn Đại thừa và công đức thù thắng của các đức Phật, rồi nói về danh hiệu, chỗ ở, dòng họ, cha mẹ, đệ tử, tuổi thọ, thính chúng trong ba hội, v.v... của một nghìn đức Phật trong Hiền kiếp, sau cùng Ngài nói về công đức truyền trì kinh này. Trong các loại kinh Phật danh, kinh này là bản Hán dịch sớm nhất, cho nên còn giữ được hình thái xưa và tương đối được xem trọng. Nhưng vì văn nghĩa khó hiểu nên ít người nghiên cứu, đọc tụng. Cứ theo Xuất hiền kiếp kinh kí trong Xuất tam tạng kí tập quyển 7, thì kinh này còn có bản dịch khác của ngài Cưu ma la thập, cũng gọi là kinh Hiền kiếp, gồm 7 quyển, nhưng hiện nay đã thất truyền. Ngoài ra, cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 6, thì còn có kinh Bạt đà kiếp tam muội, 7 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch, nhưng Khai nguyên thích giáo lục quyển 2 thì cho đó là kinh dịch lại. Về các bản chú sớ của kinh này thì có: Hiền kiếp kinh kí 1 quyển, Hiền kiếp kinh lược giải 1 quyển (ngài Đạo an soạn vào đời Đông Tấn), đều đã thất lạc. Ông F. Weller biên tập bản tiếng Phạm và các bản dịch: Tây tạng, Mông cổ, Mãn châu, Vu điền, v.v...của kinh này và xuất bản. Ngoài ra, giữa kinh Hiền kiếp thiên Phật danh được dịch vào đời Lương thuộc Nam triều (khoảng thế kỉ VI Tây lịch, mất tên dịch giả), có một số điểm sai khác. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.3; F. Weller: Tausend Buddha namen des Bhadsakalpa nach einer fünfsprachigen Polyglotte, Leipzig,1928].

hiền kiếp thiên phật

6175指賢劫出現之千佛。或就因位而言,稱為賢劫千菩薩。即自過去拘留孫、拘那含牟尼、迦葉、釋迦牟尼之四佛,及當來出現之慈氏、師子焰乃至樓至等千佛,稱為賢劫千佛。有關千佛出世之本緣,或謂此千佛乃轉輪聖王之千子,或千手觀音之化現,或以為千佛各別出生等,經論中所說各異。據大寶積經卷九密迹 金剛力士會載,過去久遠世有一無量勳寶錦淨王如來,時有轉輪聖王勇郡,有一千子,王與千子共詣如來所,發無上道心。勇郡即過去之定光如來,其千子即賢劫之千佛,第一子即拘留孫佛,第千子即樓至佛。 據千眼千臂觀世音菩薩陀羅尼經卷上載,過去毘婆尸佛化現降魔身,千眼中各出一佛,是為賢劫千佛。於千手千眼觀世音菩薩姥陀羅尼身經中,亦載有菩薩示現降魔身而化作千佛之說。另據觀藥王藥上二菩薩經載,釋迦牟尼佛曾於往昔無數劫時,於妙光佛末法之中出家學道,聞五十三佛名號,展轉相教乃至三千人。其中,千人以拘留孫佛為首,乃至樓至佛,於現在賢劫中次第成佛。其他如悲華經卷五、維摩詰經卷下、千佛因緣經等另有不同的記載。 就千佛出現說之起因,據傳係基於印度史詩摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)等所載,係由那羅延臍中生出蓮花之說。又據高僧法顯傳、大唐西域記卷七載,昔有一鹿女,為梵豫王之夫人,生一蓮花,花有千葉,每一葉上坐有一子。以為不祥,將之投於殑伽河,烏耆延王於下游遊觀,取而開視,乃有千子,遂乳養之,及長,千子皆有大力。後千子率兵攻梵豫王,鹿女登城樓,忠告千子不可為逆事,遂以手按兩乳,千道流注入千子之口。此千子即賢劫之千佛。上記之烏耆延王即分別功德論卷一之憂陀延(梵 Udayana),亦即那羅延之別名。此和那羅延臍中生出蓮花之說頗有關係。 有關千佛出現之時限,據長阿含卷一大本經、七佛父母姓字經及七佛經等載,過去九十一劫人壽八萬歲時有毘婆尸佛,過去三十一劫人壽七萬歲時有尸棄佛,過去三十一劫人壽六萬歲時有毘舍浮佛;現在賢劫之中,人壽四萬歲時有拘留孫佛,人壽三萬歲時有拘那含牟尼佛,人壽二萬歲時有迦葉佛,人壽百歲時有釋迦牟尼佛。悲華經卷五、賢劫經卷八等亦與上記之說相同。此外,增一阿含經卷四十五則以拘留孫佛出世時為人壽五萬歲;大唐西域記卷六以拘留孫佛出世為人壽六萬歲,拘那含牟尼佛出世為人壽四萬歲。 至後代密教,將賢劫千佛置於金剛界曼荼羅中成身會之輪壇外,一方各有二五○尊,四方合有一千佛。千佛之種子悉同為???(hūṃ)字。蓋賢劫千佛之崇信,印度以來極為盛行,如阿旃多(梵 Ajantā)第十七號窟殿、龜茲之千佛洞、于闐之千佛洞及卡達里柯(Khadalik)之廢寺中之壁畫等,皆刻有賢劫千佛。 中國亦早有造立千佛之事,於法苑珠林卷一○○、梁高僧傳卷五、續高僧傳卷六、辯正論卷三、宋高僧傳卷六等,皆有造立千佛之記載。又如河南鞏縣之石窟存有北魏以來所塑造之千佛,山東歷城之摩崖亦有東魏所造立千佛之摩崖像,四川廣元有開元三年(715)開鑿之千佛崖,四川巴州之南龕存有光啟三年(887)完成之千佛、彌陀等像。另於敦煌千佛洞藏有不少千佛壁畫,浙江台州千佛塔之壁面貼附有塼製之千佛等。〔觀彌勒菩薩上生兜率天經、說無垢稱經卷六、大智度論卷三十八、大慈恩寺三藏法師傳卷二、A. Stein: Ancient Khotan; Ruins of Desert Cathay, vol. I; P. Pelliot: Les Grottes de Touen-Houang〕 ; (賢劫千佛) Một nghìn đức Phật ra đời ở Hiền kiếp. 4 Hoặc nói theo địa vị tu nhân thì gọi là Hiền kiếp thiên Bồ tát (một nghìn vị Bồ tát ở kiếp Hiền). Tức là một nghìn đức Phật từ các ngài Câu lưu tôn, Câu na hàm mâu ni, Ca diếp, Thích ca mâu ni ở quá khứ và các ngài Từ thị, Sư tử diệm cho đến Lâu chí sẽ xuất hiện trong vị lai, gọi là Hiền kiếp thiên Phật. Về nhân duyên ra đời của một nghìn đức Phật này, có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Mật tích kim cương lực sĩ hội trong kinh Đại bảo tích quyển 9, thì vào thời đức Vô lượng huân bảo cẩm tịnh Như lai trong quá khứ xa xưa, có vị Chuyển luân thánh vương tên Dũng quận sinh được một nghìn người con. Về sau, vua và một nghìn người con cùng phát tâm Vô thượng bồ đề ở nơi đức Như lai Cẩm tịnh vương. Chuyển luân thánh vương Dũng quận tức là đức Định quang Như lai ở quá khứ, còn một nghìn người con tức là một nghìn đức Phật ở Hiền kiếp; người con thứ 1 là Phật Câu lưu tôn, người thứ 1.000 là Phật Lâu chí. Cứ theo kinh Thiên nhãn thiên tí Quan thế âm bồ tát đà la ni quyển thượng, thì đức Phật Tì bà sa ở đời quá khứ thị hiện thân hàng ma, Ngài có một nghìn mắt, từ mỗi mắt phóng ra một đức Phật, đó là một nghìn Phật của Hiền kiếp. Cứ theo kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị bồ tát, thì trong vô lượng kiếp xa xưa, đức Phật Thích ca mâu ni từng xuất gia học đạo ở thời Mạt pháp của đức Phật Diệu quang. Bấy giờ Ngài được nghe danh hiệu của 53 vị Phật, rồi lần lượt dạy nhau cho đến ba nghìn người. Trong đó, bắt đầu từ đức Câu lưu tôn cho đến đức Lâu chí, theo thứ tự thành Phật trong Hiền kiếp hiện tại. Còn các kinh Bi hoa quyển 5, kinh Duy ma cật quyển hạ, kinh Thiên Phật nhân duyên, v.v... đều ghi chép khác nhau. Nhân duyên đầu tiên về thuyết nghìn Phật ra đời bắt nguồn từ Sử thi Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) của Ấn độ. Tức là thuyết nói trong rốn của Na la diên sinh ra hoa sen. Ngoài ra, theo Cao tăng Pháp hiển truyện và Đại đường tây vực kí quyển 7, thưở xưa có nàng Lộc nữ là vợ vua Phạm dự, sinh ra một bông sen nghìn cánh, trên mỗi cánh có một người con. Nhà vua cho đó là điềm xấu, bèn đem thả xuống sông Hằng. Vua Ô kì diên đang đi dạo ở miền hạ du thấy được, liền đem về nuôi nấng. Một nghìn người con ấy tức là một nghìn vị Phật của Hiền kiếp. Vua Ô kì ni chính là Ưu đà diên (Phạm: Udayana) được nói đến trong luận Phân biệt công đức quyển 1, cũng tức là tên khác của Na la diên. Cho nên, thuyết này chắc hẳn đã có quan hệ với thuyết hoa sen mọc ở rốn của Na la diên đã nói ở trên. Về thời điểm ra đời của một nghìn đức Phật, theo kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1, kinh Thất Phật phụ mẫu tính tự, kinh Thất Phật, kinh Bi hoa quyển 5 và kinh Hiền kiếp quyển 8 chép, vào kiếp 91 thời quá khứ, khi con người thọ 8 vạn tuổi thì đức Phật Tì bà thi ra đời. Vào kiếp 31 thời quá khứ, khi con người thọ 7 vạn tuổi thì đức Phật Thi khí ra đời. Trong kiếp 31 thời quá khứ khi con người thọ 6 vạn tuổi thì đức Phật Tì xá phù ra đời. Trong Hiền kiếp hiện tại, khi con người thọ 4 vạn tuổi thì đức Phật Câu lưu tôn ra đời; khi con người thọ 3 vạn tuổi thì đức Phật Câu na hàm mâu ni ra đời; khi con người thọ 2 vạn tuổi thì đức Phật Ca diếp ra đời; khi con người thọ 100 tuổi thì đức Phật Thích ca mâu ni ra đời. Ngoài ra, kinh Tăng nhất a hàm quyển 45 thì cho rằng đức Phật Câu lưu tôn ra đời vào lúc con người thọ 5 vạn tuổi. Còn Đại đường tây vực kí quyển 6 lại nói rằng khi con người thọ 6 vạn tuổi thì đức Phật Câu lưu tôn ra đời và rằng khi con người thọ 4 vạn tuổi thì đức Phật Câu na hàm mâu ni ra đời. Đến đời sau, Mật giáo tôn trí một nghìn đức Phật Hiền kiếp ở 4 phương ngoài Luân đàn của hội Thành thân trong Mạn đồ la Kim cương giới, mỗi phương 250 vị, chủng tử là (hùô). Từ nghìn xưa, tín ngưỡng Hiền kiếp Thiên Phật đã rất là thịnh hành ở Ấn độ, Trung á và Trung quốc. Hiện ở các nơi này còn nhiều tượng và tranh vẽ của nghìn vị Phật ở trong các hang động. [X. kinh Quán Di lặc bồ tát thướng sinh Đâu suất thiên; kinh Thuyết vô cấu xưng Q.6; luận Đại trí độ Q.38; Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.2; A. Stein: Ancieint Khotan; Ruins of Desert Cathay, vol.I; P. Pelliot: Les Grottes de Touen- Houang].

hiền kiếp thiên phật danh kinh

6176全一卷。譯於南朝梁代(502~557)。譯者不詳。又稱現在賢劫千佛名經。收於大正藏第十四冊。與莊嚴劫千佛名經、星宿劫千佛名經合稱三劫三千佛名經。列出拘那提佛至樓至佛等千佛之名,並說明懺悔滅罪與稱佛名號之功德。 ; (賢劫千佛名經) Cũng gọi Hiện tại Hiền kiếp thiên Phật danh kinh. Có 1 quyển, được dịch vào đời Lương (502-557) thuộc Nam triều, không rõ dịch giả, thu vào Đại chính tạng tập 14. Kinh này cùng với kinh Trang nghiêm kiếp thiên Phật danh và kinh Tinh tú kiếp thiên Phật danh hợp lại gọi chung là kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh. Nội dung liệt kê danh hiệu của một nghìn vị Phật, từ đức Phật Câu na đề đến đức Phật Lâu chí, rồi nói về công đức xưng niệm danh hiệu Phật và sám hối diệt tội.

hiền kiếp thí dụ

Bhadrākalpavadāna (S)Tên một bộ kinh.

hiền kiếp thập lục tôn

6174<一>賢劫出現之十六尊。又稱賢劫十六大菩薩。即密教金剛界曼荼羅九會之中,羯磨會、三昧耶會、供養會、降三世會等各安立於輪壇外四方之十六菩薩。四方各安立四尊,東方之四尊為:(一)慈氏(梵 Maitreya,音譯每怛缵野),即彌勒。密號迅疾金剛、正覺金剛。(二)不空見(梵 Amogha-darśana,音譯阿目佉那?捨曩),又稱「常」。密號普見金剛、真如金剛。(三)除蓋障(梵 Sarvāpāyajaha,音譯薩嚩幡野惹訶),又稱能捨一切惡趣、滅惡趣、除惡、破惡趣、正流轉。密號普救金剛、智滿金剛。(四)除憂暗(梵 Sarvaśokatamo-nirghātana,音譯薩嚩戌迦怛母儞㗚伽多),又稱樂摧一切黑闇憂惱、除一切暗、除憂、除憂惱、覺清淨。密號淨智金剛、解脫金剛。 南方之四尊:(一)香象(梵 Gandhahastin,音譯誐馱賀悉晝),又稱大火。密號大力金剛、護戒金剛。(二)大精進(梵 Śuraya,音譯輸羅野),又稱勇猛、不退。密號不退金剛。(三)金剛幢(梵 Gaganagañja,音譯??曩彥惹),又稱虛空藏、寶幢、三有。密號福貴金剛、圓滿金剛。(四)智幢(梵 Jñānaketu,音譯枳孃襄計都,又稱常恆者、性淨。密號智滿金剛、法滿金剛。 西方之四尊:(一)無量光(梵 Amita-prabha,音譯阿彌多鉢羅婆),又稱甘露光、降三世、大明。密號大明金剛、離染金剛。(二)賢護(梵 Bhadra-pāla,音譯跋捺羅播邏),又稱賢護光、主宰。密號巧護金剛、離垢金剛。(三)網明(梵 Jālinīprabha,音譯惹里儞鉢羅婆),又稱光網、能調。密號方便金剛、普願金剛。(四)月光(梵 Candraprabha,音譯贊捺羅鉢羅婆),又稱食樂。密號清涼金剛、適悅金剛。 北方之四尊:(一)無盡意(梵 Akṣayamati,音譯阿吃叉野摩底),又稱無盡慧、無量意、無量慧、妙地、無盡。密號定惠金剛、無盡金剛。(二)文殊(梵 Pratibhānakūṭa,音譯鉢羅底婆耶俱吒),又稱辯積、智積、勝。密號巧辯金剛、大惠金剛。(三)金剛藏(梵 Vajragarbha,音譯嚩日羅蘗婆),又稱堅主。密號持教金剛、立驗金剛。(四)普賢(梵 Samantabhadra,音譯三曼多跋捺羅),又稱智彼岸。密號普攝金剛、如意金剛。 此賢劫十六尊或係賢劫出現之彌勒等菩薩雜糅賢護等十六正士中某尊,充以十六之數所成,為賢劫千佛之代表,或為千佛之上首。其通種子為???(hūṃ)。 〔金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教王經卷下、無量壽經卷上、思益梵天所問經卷一、寶雲經卷一、大寶積經卷一一一、賢劫十六尊、金剛頂經卷一、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷三、金剛頂大教王經疏卷二、都部陀羅尼目〕 <二>全一卷。譯者佚名。譯出年代不詳,或謂晚唐時代,一說乃法全所作。收於大正藏第十八冊。敘說密教金剛界曼荼羅中賢劫十六尊及外金剛部二十天之印明。 ; (賢劫十六尊) I. Hiền Kiếp Thập Lục Tôn. Cũng gọi Hiền kiếp thập lục đại Bồ tát. Mười sáu vị tôn xuất hiện trong Hiền kiếp, tức là 16 vị Bồ tát được an trí ở 4 phương ngoài Luân đàn của các hội Yết ma, Tam muội da, Cúng dường và Hàng tam thế trong 9 hội Mạn đồ la Kim cương giới Mật giới. Trong 4 phương, mỗi phương an trí 4 vị. Bốn vị Bồ tát ở phương Đông: 1. Từ thị(Phạm:Maitreya, dịch âm: Mỗi đát nghĩ dã), tức là bồ tát Di lặc. Mật hiệu là Tấn tật kim cương, Chính giác kim cương. 2. Bất không kiến (Phạm: Amoghadarzana, dịch âm: A mục khư na lật xả nẵng). Cũng gọi Thường . Mật hiệu Phổ kiến kim cương, Chân như kim cương. 3. Trừ cái chướng (Phạm:Sarvàpàyajaha, dịch âm: Tát phạ bá dã nhạ ha). Cũng gọi Năng xả nhất thiết ác thú, Diệt ác thú, Trừ ác, Phá ác thú, Chính lưu chuyển. Mật hiệu Phổ cứu kim cương, Trí mãn kim cương. 4. Trừ ưu ám (Phạm: Sarvazokatamonirghatana, dịch âm: Tát phạ thú ca đát mẫu nể lật già đa). Cũng gọi Nhạo tồi nhất thiết hắc ám ưu não, Trừ nhất thiết ám, Trừ ưu, Trừ ưu não, Giác thanh tịnh. Mật hiệu Tịnh trí kim cương, Giải thoát kim cương. Bốn vị Bồ tát ở phương Nam: 1. Hương tượng (Phạm: Gandhahastin, dịch âm: Nga đà hạ tất trú). Cũng gọi Đại hỏa. Mật hiệu Đại lực kim cương, Hộ giới kim cương. 2. Đại tinh tiến(Phạm:Zauraya, dịch âm: Du la dã). Cũng gọi Dũng mãnh, Bất thoái. Mật hiệu Bất thoái kim cương. 3. Kim cương chàng (Phạm: Gaganagaĩja, dịch âm: Nga nga nẳng ngạn nhạ). Cũng gọi Hư không tạng, Bảo chàng, Tam hữu. Mật hiệu Phúc quí kim cương, Viên mãn kim cương. 4. Trí chàng (Phạm: Jĩànaketu, dịch âm: Chỉ nương tương kế đô). Cũng gọi Thường hành giả, Tính tịnh. Mật hiệu Trí mãn kim cương, Pháp mãn kim cương. Bốn vị Bồ tát ở phương Tây: 1. Vô lượng quang (Phạm: Amitaprabha, dịch âm: A di đa bát la bà). Cũng gọi Cam lộ quang, Hàng tam thế, Đại minh. Mật hiệu Đại minh kim cương, Li nhiễm kim cương. 2. Hiền hộ (Phạm: Bhadra-pàla, dịch âm: Bạt nại la bá la). Cũng gọi Hiền hộ quang, Chủ tể. Mật hiệu Xảo hộ kim cương, Li cấu kim cương. 3. Võng minh (Phạm: Jàlinìprabha, dịch âm: Nhạ lí nễ bát la bà). Cũng gọi Quang võng, Năng điều. Mật hiệu Phương tiện kim cương, Phổ nguyện kim cương 4. Nguyệt quang (Phạm: Candraprabha, dịch âm: Tán nại la bát la bà). Cũng gọi Thực lạc. Mật hiệu Thanh lương kim cương, Thích duyệt kim cương. Bốn vị Bồ tát ở phương Bắc: 1. Vô tận ý (Phạm: Akwayamati, dịch âm: A khất xoa dã ma để). Cũng gọi Vô tận tuệ, Vô lượng ý, Vô lượng tuệ, Diệu địa, Vô tận. Mật hiệu Định huệ kim cương, Vô tận kim cương. 2. Văn thù (Phạm: Pratibhànakùỉa, dịch âm: Bát la để bà da câu tra). Cũng gọi Biện tích, Trí tích, Thắng. Mật hiệu Xảo biện kim cương, Đại huệ kim cương. 3. Kim cương tạng (Phạm: Vajragarbha, dịch âm: Phạ nhật la nghiệt bà). Cũng gọi Kiên chủ. Mật hiệu Trì giáo kim cương, Lập nghiệm kim cương. 4. Phổ hiền (Phạm: Samantabhadra, dịch âm: Tam mạn đa bạt nại la). Cũng gọi Trí bỉ ngạn. Mật hiệu Nhiếp kim cương, Như ý kim cương. Mười sáu vị Bồ tát này là đại biểu cho một nghìn đức Phật trong Hiền kiếp. Chủng tử chung của 16 vị là (hùô). [X. kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương Q.hạ; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Tư ích phạm thiên sở vấn Q.1; kinh Bảo vân Q.1; kinh Đại Bảo tích Q.111; Hiền kiếp thập lục tôn; kinh Kim cương đính Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng, Kim cương đính đại giáo vương kinh sớ Q.2; Đô bộ đà la ni mục]. II. Hiền Kiếp Thập Lục Tôn. Kinh, 1 quyển, mất tên dịch giả, cũng không rõ được dịch vào thời đại nào. Hoặc có thuyết nói được dịch vào cuối đời Đường; lại có thuyết cho rằng kinh này do ngài Pháp toàn soạn. Được thu vào Đại chính tạng tập 18. Nội dung kinh này nói về Hiền kiếp thập lục tôn trong Mạn đồ la Kim cương giới và về ấn minh của Nhị thập thiên thuộc Kim cương bộ ngoài của Mật giáo.

hiền kiếp định ý kinh

Xem Hiền Kiếp kinh.

hiền lành

Gentle and meek.

hiền lành phúc hậu

Good-natured and benevolent.

hiền lương

Avihimsa (P). Absence of cruelty, humanity. ; Honest.

hiền mẫu

Virtuous mother.

hiền ngu kinh

6179請參閱 大乘起信論義記 [1]請參閱 賢愚經 [1]梵名 Damamūka-nidāna-sūtra。凡十三卷。全稱賢愚因緣經。元魏慧覺等所譯。收於大正藏第四冊。為收集種種譬喻(梵 avadāna)因緣之經典。內容係關於賢者與愚者之譬喻。本經依版本不同,而有品名之異同、品目之前後增減。今依高麗本有六十二品,依宋、元、明三本則增加大光明王始發道品、快目王眼緣品等七品,共計六十九品。西藏譯本為五十一品。此非僅就漢譯經而重譯,乃係參酌梵本,合糅而成者。有關本經之傳譯,出三藏記集卷九所載僧祐之賢愚經記謂,初有河西沙門八人等,為尋覓經典而入于闐,於大寺之般遮于瑟會遇三藏諸學者宣說經律,乃各書其所聞,後返回高昌,遂集成此書。一八四三年,德裔之東方學者舒密特(I.J. Schmidt)將賢愚經由西藏文譯成德文 Der Weise und der Thor 出版。〔出三藏記集卷二、開元釋教錄卷六〕 ; DamamŪrkha-nidāna sŪtra (S), Hsien-yii ching (C)Hiền Ngu Nhân Duyên kinhTên một bộ kinh. ; (賢愚經) Phạm: Damamùka-nidàna-sùtra. Gọi đủ: Hiền ngu nhân duyên kinh. Gồm 13 quyển, do các ngài Tuệ giác, v.v... dịch vào đời Nguyên Ngụy thu vào Đại chính tạng tập 4. Nội dung kinh này thu tập các loại thí dụ (Phạm: Avadàna), nhân duyên nói về người hiền và người ngu. Kinh này có nhiều bản khác nhau, nên tên phẩm cũng khác và số phẩm có thêm bớt. Nay theo bản Cao li thì có 62 phẩm, còn 3 bản Tống, Nguyên, Minh của Trung quốc có thêm 7 phẩm thì thành 69 phẩm, bản Tây tạng thì có 51 phẩm. Kinh này được dịch lại từ bản Hán dịch có sự tham khảo nguyên tác tiếng Phạm. Về việc truyền dịch kinh này, theo Hiền ngu kinh kí của ngài Tăng hựu chép trong Xuất tam tạng kí tập quyển 9, lúc đầu có 8 vị sa môn ở Hà tây đến nước Vu điền tìm cầu kinh điển. Khi đến Đại tự, họ gặp các học giả Tam tạng giảng thuyết kinh luật trong hội Ban già vu sắt, mỗi vị liền ghi lại những điều mình đã nghe, sau khi trở về Cao xương mới gom chép lại thành bộ kinh này. Năm 1843, nhà học giả Đông phương học người Đức tên là I. J. Schmidt dịch kinh này từ tiếng Tây tạng sang tiếng Đức dưới nhan đề: Der Weise und der Thor và xuất bản. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.6]

hiền ngu nhân duyên kinh

Xem Kinh Hiền Ngu.

hiền nhân

Virtuous man—A wise and virtuous man.

hiền năng

Virtuous and talented.

hiền thánh

6180賢(梵 bhadra)與聖(梵 ārya)之並稱。賢,即善和之意,指見道以前調心離惡之人;謂凡夫離惡而未發無漏智,不證理亦未斷惑,係見道以前之位。聖,即會於正理之意,指證見諦理,捨異生性之人;謂捨去凡夫之性,發無漏智而證理斷惑,屬見道以後之位。要之,以有漏智修善根者,稱為賢者;以無漏智證見正理者,稱為聖者。 蓋佛道修行者有聲聞、緣覺、菩薩等三乘之別,而此三乘復有賢聖位之分。(一)茲就大小乘諸經論所說之聲聞乘而論其賢聖之別:(1)據中阿含經卷三十所列,以十八學人(有學)與九無學合為二十七賢聖。1.十八學人,即:信行、法行、信解脫、見到、身證、家家、一種、向須陀洹、得須陀洹、向斯陀含、得斯陀含、向阿那含、得阿那含、中般涅槃、生般涅槃、行般涅槃、無行般涅槃、上流色究竟。2.九無學,即:思法、昇進法、不動法、退法、不退法、護法、實住法、慧解脫、俱解脫。又成實論卷一分別賢聖品亦立二十七賢聖,惟其名稱與解釋與中阿含所說互有異同。 (2)據俱舍論卷二十二以下之分別賢聖品載,於見道以前立七賢,見道以後立四聖及七聖。1.七賢,即:五停心、別相念住、總相念住、煖、頂、忍、世第一法。2.四聖,即:須陀洹果、斯陀含果、阿那含果、阿羅漢果。3.七聖,即:隨信行、隨法行、信解、見至、身證、慧解脫、俱解脫。若以見道、修道、無學道等三道與四聖、七聖相配列,則見道即是上記四聖中初果向位中之鈍根(隨信行),及利根(隨法行);修道即前三果後三向位中之鈍根(信解),及利根(見至);無學道乃第四果中之鈍根(慧解脫),及利根(俱解脫)。至於在此身中得滅盡定之第三果之聖者,則稱為「身證」。故總合上記之七賢、七聖,共為十四類。 (3)大乘法苑義林章卷五本與成唯識論掌中樞要卷上本等亦立二十七賢聖,即:信解、見至、身證、慧解脫、俱解脫、預流向、預流果、一來向、一來果、不還向、不還果、阿羅漢向、阿羅漢果、極七返、家家、一間、中般、生般、無行般、有行般、上流般、退法、思法、護法、住法、堪達法、不動法。其中,亦以前十八項為有學,後九項為無學。又此一配列法係將隨信行與隨法行攝於見道以前之方便位,故若再加此二項,則總為二十九賢聖。 (二)次將聲聞、緣覺(辟支佛)、菩薩等三乘共攝於「十地」,而論其賢聖之別,此即大品般若經卷十七燈炷深奧品與大智度論卷七十五等所說之「三乘共十地」,即:乾慧地、性地、八人地、見地、薄地、離欲地、已作地、辟支佛地、菩薩地、佛地等十地;其中,以初二地為賢,後八地為聖。另如大方等大集經卷八海慧菩薩品亦列舉「出離九種性而入於佛種性」之說。所謂九種性,即:凡夫性、信行性、法行性、八忍性、須陀洹性、斯陀含性、阿那含性、阿羅漢性、辟支佛性,再加佛種性,則共為十性;其中,以初三性為賢,後七性為聖。要之,其旨趣大致與三乘共十地之說相同。 (三)若僅就菩薩位次而言者,如成唯識論卷九所舉,總立菩薩位為五位,即:資糧位、加行位、通達位、修習位、究竟位。並以修習大乘順解脫分之善根(即煖位等四善根位以前)之三十心為資糧位;以修大乘順決擇分之善根(即煖、頂、忍、世第一法等四位)為加行位;以見道初地之「入心」為通達位;以初地之「住心」以後,至第十地之「金剛無間道」為修習位;以佛果為究竟位。其中,即以初二位為賢,後三位為聖。另如華嚴經所說之十住、十行、十迴向、十地及妙覺位等菩薩四十一位,即以前三十位為賢,十地及妙覺為聖。此外,仁王般若經卷上教化品,別於十住位之前另有十信位之說,故總為五十一位;而菩薩瓔珞本業經卷上賢聖學觀品則詳舉五十二位之名,即:十心、十住、十行、十迴向、十地、等覺、妙覺;其中,十住、十行、十迴向等三十心為賢,十地、等覺、妙覺等十二階位為聖。 準之上記所敘,賢聖之別,諸經論雖皆有其定說,然亦不宜一概判然定奪之,而僅應別其範圍之寬、狹、通、局,如大乘義章卷十七本所說,賢之範圍「通」而聖之範圍「局」,以賢之範圍「通」,故自修道之始至修道之終皆可謂之為賢者,如經中常言「賢者舍利弗」、「賢者須菩提」,非謂舍利弗、須菩提定然僅屬賢位而不屬聖位之人;以聖之範圍「局」,故謂見道以前為凡夫位之賢者,而見道以上始可謂之為聖者。另如俱舍論賢聖品於廣說七賢七聖之時,即通稱為賢聖(梵 ārya-pudgala)。〔舊華嚴經卷八、卷十一、卷十五、卷二十三、大毘婆沙論卷五十四、雜阿毘曇心論卷五、阿毘達磨順正理論卷五十七至卷七十二、法華經玄義卷九下、四教義卷二至卷六、俱舍論光記卷二十二〕(參閱「菩薩階位」5221) ; Hiền và Thánh là những bậc thiện lành trí tuệ—Both Hsien (hiền) and Shêng (Thánh) are those who are noted for goodness, and those who are also noted for wisdom, or insight. 1) Hiền là bậc còn trong hàng phàm phu, chưa đoạn hoặc, chưa chứng lý, cũng như chưa kiến đạo: The “Hsien” are still of the ordinary human standard. They are still in the moral plane and have not eliminated illusion, have not attained the upward attainments, have not yet have insight into absolute reality. 2) Thánh là các bậc không còn ở địa vị phàm phu nữa, mà các ngài đã vượt qua mọi phiền não (đoạn hoặc), phát vô lậu trí, và chứng toàn lý. Các ngài đã đạt được trên địa vị thấy đạo—The “Shêng” are no longer of ordinary human standard because they transcend in wisdom character and cut off illusion and have insight into absolute reality. They have attained the upward attainments ; (賢聖) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thành tựu ngay trong hiện tiền, tức là chân lí tuyệt đối tự nhiên hiện bày, mà không cần sự nỗ lực đặc biệt nào. Ngoài ra còn có từ ngữ Hiện thành để kiến , cũng có nghĩa là hết thảy muôn pháp hiện tiền đều có thực, tự nhiên sinh ra chứ không do nhân duyên nào cả. Quan điểm này giống như chủ trương của ngoại đạo Tự nhiên.

hiền thê

Virtuous wife.

hiền thục

Honest.

hiền thủ

Hsien shou (C), Genju (J)Tên một vị sư. (Hoa Nghiêm Tông). ; 1) Hiền Nhân hay người dẫn đầu: Sage head or leader. 2) Tôn hiệu dùng gọi một vị tỳ kheo: A term of address to a monk. 3) Tên một vị Bồ Tát trong Kinh Hoa Nghiêm: Name of a Bodhisattva in the Hua-Yen Sutra. 4) Hiền Thủ Phu Nhân: Tên một vị Hoàng Hậu nước Tính Sa được nói đến trong Kinh Hoa Nghiêm—Name of a queen mentioned in the Hua-Yen Sutra. 5) Tổ Hiền Thủ hiệu Pháp Tạng, vị tổ thứ ba của tông Hoa Nghiêm. Duới thời ngài người ta gọi tông Hoa Nghiêm là Hiền Thủ Tông—The third patriarch Fa-Tsang, of the Hua-Yen sect, which is also known by his title Hsien-Shou-Tsung.

hiền thủ bồ tát

Xem Hiền Hộ Bồ tát.

hiền thủ kinh

Kinh nói về các vị hiền thủ—A sutra mentioned about the sages—See Hiền Thủ.

Hiền Thủ Pháp Tạng

賢首法藏; 643-712|Ðại sư Trung Quốc, Tổ thứ ba của Hoa nghiêm tông.|Sư người nước Khang Cư (sogdian), cha làm quan cho triều đình Trung Quốc. Một hôm người mẹ nằm mộng thấy mình nuốt mặt trời, mặt trăng và sau đó thụ thai Sư. Năm 16 tuổi, Sư đốt một ngón tay cúng dường chư Phật để tỏ lòng thành cầu đạo của mình. Năm 17 tuổi, Sư đi đi đây đó tìm thầy học đạo nhưng không gặp ai có thể truyền diệu pháp và vì vậy Sư vào núi sống ẩn dật, kham khổ tu tập. Một đêm Sư mơ thấy hào quang sáng chói, tự nghĩ »Phải có một vĩ nhân thuyết pháp gần đây«. Sáng hôm sau Sư đến một ngôi chùa gần đó nghe Trí Nghiễm Pháp sư giảng Hoa nghiêm kinh. Nghe xong Sư vui mừng và trở thành môn đệ của ông. Nhờ sự tận tình chỉ dạy của Trí Nghiễm, Sư hội được yếu chỉ Hoa nghiêm tông.|Năm Ất Mùi (695), Vũ Hậu thỉnh Sư vào cung thuyết giải Hoa nghiêm kinh. Sư đang thuyết thì hào quang từ miệng thoát ra. Vũ Hậu chứng kiến việc này vui mừng, liền ban hiệu là Hiền Thủ. Sư thuyết giải rất nhiều lần kinh Hoa nghiêm, Nhập Lăng-già, Ðại thừa khởi tín luận, Phạm võng… và viết nhiều luận chú giải với bài nổi tiếng nhất thời đó là Tâm kinh lược sớ. Sư cũng giúp Huyền Trang dịch kinh sách nhưng việc này không kéo dài vì quan niệm khác biệt của hai trường phái.|Năm Tiên Thiên thứ nhất, Sư thị tịch. Vì công lớn của Sư trong việc làm hưng thịnh tông Hoa nghiêm nên sau này người ta cũng gọi tông này là Hiền Thủ tông và xem Sư là vị Tổ thứ nhất.

hiền thủ tông

Hsien-Shou Tsung—See Hiền Thủ (5).

hiền thủ đại sư truyện

6179全一卷。又稱法藏和尚傳。新羅崔致遠撰。收於卍續藏第一三四冊。為華嚴宗第三祖法藏之傳,內題為「唐大薦福寺故寺主翻經大德法藏和尚傳」。係效法華嚴三昧觀直心中之十義,共分族姓、遊學、削染、講演、傳譯、著述、修身、濟俗、垂訓、示滅等十科,網羅一代事蹟。初有華嚴寺僧千里和尚為其作傳,然今已不傳,復據纂靈記而作成此傳。卷末題有「大安八年壬申歲,高麗國大興王寺奉宣彫造」,故知此傳係高麗宣宗朝所刊行。又南宋紹興年間(1131~1162)之刻本,題有「伡紹興十九年孟冬一日,平江府吳江縣華嚴寶塔教院嗣講,住持圓證大師義和謹題」,係與閻朝隱之康藏法師碑合刻者。然至後世,本書曾一度失傳,後依日本華嚴寺鳳潭之寫本,於元祿十二年(1699)刊行,傳末附道忠所著之賢首碑傳正誤一篇。 ; (賢首大師傳) Cũng gọi Pháp tạng hòa thượng truyện. Có 1 quyển, do ngài Thôi trí viễn người nước Tân la soạn, được thu vào Vạn tục tạng tập 134. Nội dung trình bày về tiểu sử của đại sư Hiền thủ, tức là ngài Pháp tạng, tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm. Sách này bắt chước sự sắp xếp 10 nghĩa trong Hoa nghiêm tam muội quán trực tâm bằng cách chia làm 10 khoa: Tộc tính, Du học, Tước nhiễm, Giảng diễn, Truyền dịch, Trứ thuật, Tu thân, Tế tục, Thùy huấn và Thị diệt. Cuốn truyện đầu tiên về ngài Pháp tạng là do hòa thượng Thiên lí ở chùa Hoa nghiêm soạn, nhưng nay đã thất truyền. Còn tác phẩm này là căn cứ vào Toản linh kí mà được soạn thành và ấn hành vào năm Đại an thứ 8 đời vua Tuyên tông nước Cao li. Sau bị thất truyền, về sau, dựa theo bản viết tay của ngài Phụng đàm ở chùa Hoa nghiêm tại Nhật bản, ấn hành lại vào năm 1699, cuối truyện có phụ thêm một thiên Hiền Thủ Bi Truyện Chính Ngộ do ngài Đạo trung viết.

hiền toạ

6178梵語 bhadrāsana。指密教行者修敬愛法或降伏法之坐法。為四坐法之一。又稱豎坐。金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一(大一八‧二二五下):「若欲降伏者,應面向西,結賢座而坐。」又七俱胝佛母所說准提陀羅尼經(大二○‧一八四中):「豎二膝並腳,名為賢坐。」謂結此坐時,並腳蹲坐,臀部不著地。此坐法非密教所特有,古印度婆羅門即依此坐法,醫治一切疾病諸毒。〔諸佛境界攝真實經卷上、金剛頂瑜伽護摩儀軌、大日經供養次第法疏卷下〕 ; (賢坐) Phạm: Bhadràsana. Cũng gọi Thụ tọa. Chỉ cho tư thế ngồi của hành giả Mật giáo khi tu pháp Kính ái hoặc Hàng phục. Là một trong 4 cách ngồi. Kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng quyển 1 (Đại 18, 225 hạ). Nói: Nếu người muốn hàng phục ác ma thì nên ngồi xoay mặt về hướng tây trong tư thế Hiền tọa . Kinh Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết chuẩn đề đà la ni (Đại 20, 184 trung), nói: Ngồi 2 đầu gối dựng thẳng, mông không chạm đất, gọi là Hiền tọa . Nghĩa là ngồi xổm. Cách ngồi này không phải chỉ được sử dụng trong Mật giáo, mà những tín đồ Bà la môn giáo ở Ấn độ thời xưa cũng ngồi theo cách này để điều trị các chứng bệnh. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.thượng; Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ; Đại nhật kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.hạ]

hiền triết

Rsi, rs (S). Sage, seer, holyman. ; The sages.

hiền trụ bộ

6179賢胄,梵名 Bhadrayānika,巴利名 Bhaddayānika。賢,部主之名;胄,苗裔之義。此部係賢阿羅漢之苗裔。為小乘二十部之一。音譯跋陀與尼與、跋陀羅耶尼、多梨羅耶尼。又作賢乘、名賢、賢。據異部宗輪論載,此部係佛入滅三百年中,從薩婆多部一派之犢子部分支而出。係因解釋「已解脫更墮,墮由貪復還,獲安喜所樂,隨樂行至樂」一頌而起,與犢子部執義不同。此部解釋該頌,舉三乘之無學,謂初二句解釋阿羅漢,第三句解釋獨覺,末句解釋佛。其餘之教義與犢子部相同。 蓋島史第五章、大史第五章、西藏傳清辨(梵 Bhavya)第二說、多羅那他(梵 Tāranātha)之印度佛教史及舍利弗問經等,均主張此部為犢子部之分派。又巴利文大菩提樹史(Mahā-bodhi-vaṃsa)、清辨第一說等,主張此部屬於上座部。清辨第三說,則主張此部乃由犢子部之分派大山部(梵 Mahāgiriya)所分派者。窺基及法藏則稱此部為我法俱有宗,係小乘六宗之一。〔文殊問經卷下、出三藏記集卷三、異部宗輪論述記、法華經玄贊卷一〕(參閱「小乘二十部」928) ; Bhadrāyānika (S), Bhadrayaṇīya (P)Một trong 20 bộ phái tiểu thừa. ; Bhadràyanìya (S). Name of a Buddhist sect. ; (賢胄部) Hiền trụ, Phạm: Bhadra-yànika. Pàli: Bhaddayànika. Dịch âm: Bạt đà dữ ni dữ, Bạt đà la da ni, Đa lê la da ni. Cũng gọi Hiền thừa, Danh hiền, Hiền. Tên của một bộ phái. Bộ này thuộc dòng dõi của Hiền A la hán, là một trong 20 bộ của Tiểu thừa. Cứ theo luận Dị bộ tông luân, thì bộ này là chi nhánh của Độc tử bộ, ra đời trong khoảng thời gian 300 năm sau khi đức Phật nhập diệt, vì lí do giải thích một bài tụng không giống với nghĩa của Độc tử bộ chủ trương nên tách ra thành một chi phái riêng. Bài tụng như sau: Dĩ giải thoát cánh đọa; Đọa do tham phục hoàn. Hoạch an hỉ sở lạc Tùy lạc hành chí lạc . (Giải thoát rồi lại đọa; Đọa do tham trở lại; Đạt được niềm an vui; Từ vui đến rất vui). Hiền trụ bộ giải thích bài kệ này theo hàng vô học của Tam thừa: Hai câu đầu nói về A la hán, câu thứ 3 nói về Độc giác, câu cuối cùng nói về Phật. Quan điểm này không giống với quan điểm của Độc tử bộ, còn các giáo nghĩa khác thì tương đồng. Chương 5 trong Đảo sử, chương 5 trong Đại sử, thuyết thứ 2 của ngài Thanh biện (Phạm:Bhavya) trong Tây tạng truyện, Ấn độ Phật giáo sử của Đa la na tha (Phạm: Tàranàtha) và kinh Xá lợi phất vấn, v.v... đều cho rằng Hiền trụ bộ là phân phái của Độc tử bộ. Còn Đại bồ đề thụ sử (Pàli: Mahà-bodhi-vaôsa) và thuyết thứ 1 của ngài Thanh biện thì chủ trương bộ này thuộc Thượng tọa bộ. Theo thuyết thứ 3 của ngài Thanh biện thì bộ này là từ Đại sơn bộ (Phạm: Mahàgiriya) tách ra, mà Đại sơn bộ là một phân phái của Độc tử bộ. Ngoài ra, ngài Khuy cơ và ngài Pháp tạng gọi bộ này là Ngã pháp câu hữu tông . Là một trong 6 tông Tiểu thừa. [X. kinh Văn thù vấn Q.hạ; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Dị bộ tông luân luận thuật kí; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).

hiền tịch

Devaśarman (S), Devasema (S)Thiên Tịch, Đề bà Thiết MaTên một vị sư ra đời sau khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm.

hiền từ

Indulgent.

hiền ái

Bhadrāruci (S)Tên một vị sư.

hiền đậu

6178梵名 Hindhu。為印度(梵 Indu)之古名。昔稱印度河流域為身毒(梵 Sindhu)、天竺者,波斯人訛傳稱賢豆,後希臘人依之稱為印度。續高僧傳卷二(大五○‧四三三中):「賢豆,本音因陀羅婆陀那,此云主處,謂天帝所護故也。」〔大唐西域記卷二、南海寄歸內法傳卷三〕(參閱「印度」2209) ; Ấn Độ—Thiên Trúc—Hindu—India. ; (賢豆) Phạn: Hindhu. Tên của nước Ấn độ (Indu) cổ đại. Thời xưa người ta gọi lưu vực sông Ấn độ là Sindhu, người Ba tư đọc lầm tiếng ấy là Hindhu, rồi sau người Hi lạp cũng theo đó mà đọc là Indu. Tục Cao tăng truyện quyển 2 (Đại 50, 493 trung), nói: Hiền đậu, âm gốc là Nhân đà la bà đà na, Trung quốc dịch là Chủ xứ, nghĩa là nơi được Thiên đế che chở . [X. Đại đường tây vực kí Q.2; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3]. (xt. Ấn Độ).

hiền đốn

6180(1903~1986)臺灣臺中大甲人,俗姓林。十歲即茹素長齋,十八歲於臺中大甲鎮瀾宮出家。二十四歲,遠赴福建鼓山湧泉寺受具足戒,並就學於閩南佛學院,畢業後即返臺。民國二十二年(1933),再往大陸,參訪名山佛寺。二十五年返臺後,即致力弘法利生諸事業,三十四年晉任龍雲寺住持,五十三年與白聖法師創辦「戒光佛學院」,培育僧材。於臺省各大寺傳授千佛大戒及菩薩戒會中,多次擔任三師。歷任臺灣省佛教分會理事長,及北投天竺寺、天母吉祥寺、臺北東和禪寺、嘉義天龍寺、板橋接雲寺、金山慧明禪寺、士林啟明堂住持。七十五年於臺北示寂,世壽八十四。

hiền đức

Exalted virtue.

hiểm nghèo

Perilous—Full of obstacles.

hiểm trở

Full of obstacles.

hiểm yếu

Dangerous area.

hiểm ác

Wicked.

hiểm địa

Dangerous area.

hiểm độc

See Hiểm Ác.

hiển

To be evident, to exhibit, to display, to appear, to be illustrious; manifest, prominent. ; Hiện ra rõ ràng—To manifest—To eveal—To open.

hiển bày

Revealing.

hiển bản

6921係天台宗所說,謂釋尊於法華經壽量品顯示如來久遠之本地。天台智顗以「開迹顯本」一語闡明法華經之旨趣,其中,迹指近成之垂迹,本指久成之本地。因世間天、人等皆執著釋尊為伽耶始成之新佛,實則於百千萬億那由他劫前已成佛,伽耶成佛之身僅其垂迹而已;故釋尊於法華經壽量品開伽耶成佛之近迹,而顯久遠成佛之本。〔法華經玄義卷七下、卷九下〕 ; (顯本) Bản địa của Như lai được hiển bày trong phẩm Như lai thọ lượng của kinh Pháp hoa theo thuyết tông Thiên thai. Ngài Trí khải đã nói rõ chỉ thú của kinh Pháp hoa qua từ ngữ Khai tích hiển bản (mở dấu tích, hiển bày gốc). Tích tức là Thùy tích , chỉ cho việc đức Phật mới thành đạo; Bản chỉ cho Bản địa đã thành từ lâu. Bởi vì trời, người, v.v... ở thế gian đều cho rằng đức Thế tôn mới thành Phật ở Già da. Nhưng thực ra thì Ngài đã thành Phật từ trăm nghìn muôn ức na do tha kiếp về trước rồi, thân Phật ở Già da chỉ là Thùy tích của Ngài mà thôi, cho nên trong phẩm Như lai thọ lượng kinh Pháp hoa, đức Thế tôn đã nói rõ tích mới thành Phật ở Già da và hiển bày bản địa đã thành Phật từ lâu xa rồi. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.7 phần dưới, Q.9 phần dưới].

hiển bổn

Hiển Lộ Bản Địa—Chỉ việc hiển lộ bản địa xa xưa của Đức Thích Ca Như Lai trong Phẩm Thọ Lượng trong Kinh Pháp Hoa—The revelation of Buddha's fundamental or eternal life in the Lotus Sutra.

hiển chánh

Nói rõ ý nghĩa trung thực để phá tà chấp—To reveal (show) the truth, reveal that which is correct.

hiển chính

6921為「破邪」之對稱。意謂彰顯正義。又作申正、立正。如三論宗以「破邪顯正」為一宗之軌要,因本宗所依之中論、百論、十二門論等皆不出破邪與顯正之二轍,專門破斥「有所得」之說;大乘起信論亦設「顯示正義」一科,以對治邪執之迷見。又如唐代法琳之破邪論、辯正論,及玄嶷之甄正論等,亦多寓破邪顯正之義。〔大乘玄論卷五、中觀論疏卷一、大乘義章卷一、三論玄義〕(參閱「破邪顯正」4233) ; (顯正) Cũng gọi Thân chính, Lập chính. Đối lại với phá tà. Làm sáng tỏ nghĩa lí chân chính. Tông Tam luận dựa theo Trung luận, Bách luận và Thập nhị môn luận, chủ trương phá tà hiển chính; luận Đại thừa khởi tín cũng lập môn Hiển thị chính nghĩa để đối trị tà chấp mê lầm. Ngoài ra, các luận Phá tà, Biện chính của ngài Pháp lâm và luận Chân chính của ngài Huyền nghi ở đời Đường, cũng mang ý nghĩa phá tà hiển chính. [X. Đại thừa huyền luận Q.5; Trung quán luận sớ Q.1; Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Phá Tà Hiển Chánh).

Hiển Chơn

(顯眞, Genshin, 1131-1192): vị Tăng của Thiên Thai Tông sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, vị Thiên Thai Tọa Chủ đời thứ 61, húy là Hiển Chơn (顯眞), hiệu là Tuyên Dương Phòng (宣陽房), con trai của vị Trưởng Quan Kami vùng Mỹ Tác (美作, Mimasaka) là Đằng Nguyên Hiển Năng (藤原顯能). Lúc còn nhỏ tuổi, ông đã lên Tỷ Duệ Sơn học của Hiển và Mật Giáo với Minh Vân (明雲) và Tướng Thật (相實). Sau đó theo lời yêu cầu của triều đình, ông ra làm Phật sự và làm chức Biệt Đương của ngôi đền Kỳ Viên Xã (祇園社, Gionsha). Đến năm 1173, ông từ quan, đến dựng thảo am ở vùng Đại Nguyên (大原, Ōhara), Lạc Bắc và chuyên tâm tu niệm. Năm 1186, ông được Nguyên Không (源空) mời đến Thắng Lâm Tự (勝林寺), và rất nổi tiếng với tài năng hùng biện Phật pháp nơi đây. Năm 1190, thể theo mệnh của Hậu Bạch Hà Pháp Hoàng (後白河法皇), ông được bổ nhiệm làm Thiên Thai Tọa Chủ. Trước tác của ông có Sơn Gia Yếu Lược Ký (山家要略記) 1 quyển.

hiển chương ẩn mật

6925又作顯說隱彰、隱顯。日本淨土真宗用來解釋觀無量壽經之語,即真宗開祖親鸞於解釋淨土三部經時所說。顯謂表面明顯,彰謂內在明彰;隱謂隱藏,密指佛之密意。觀無量壽經表面雖為要門之教,顯說定、散二善,而其中則隱示佛之密意,此密意即阿彌陀佛之弘願一法。又三部經中除觀經外,阿彌陀經亦有隱顯之義,此經為善本、德本之真門,顯說自利之一心,而隱示佛之無礙大信心之密意。無量壽經則無隱顯之義,所說假即假、真即真,乃真實之教。〔教行信證卷六〕 ; (顯彰隱密) Cũng gọi Hiển thuyết ẩn chương, Ẩn hiển.Nêu rõ ý kín đáo trong kinh. Đây là tiếng dùng của Tịnh độ chân tông Nhật bản. Hiển là bên ngoài sáng tỏ, Chương là làm cho bên trong được rõ ràng; Ẩn là ẩn giấu, Mật là ý kín đáo của Phật. Kinh Quán vô lượng thọ bề ngoài tuy nói về giáo nghĩa của yếu môn, trình bày rõ Định thiện và Tán thiện, nhưng bên trong lại ẩn chứa mật ý của Phật, mật ý ấy tức là thệ nguyện rộng lớn của đức Phật A di đà. Trong 3 bộ kinh, ngoại trừ bộ Quán kinh thì kinh A di đà cũng có nghĩa ẩn hiển. Kinh A di đà là chân môn thiện bản, đức bản, nói rõ nhất tâm tự lợi, ẩn chứa mật ý đại tín tâm vô ngại của Phật. Còn kinh Vô lượng thọ thì không có nghĩa ẩn hiển, hễ nói giả thì tức là giả, mà chân tức là chân, là giáo nghĩa chân thực. [X. Giáo hành tín chứng Q.6].

Hiển chật

(顯秩): quan vị hiển hách. Như trong bài Dương Kinh Châu Lụy (楊荆州誄) của Phan Nhạc (潘岳, 247-300) nhà Tấn có câu: “Dụng tích sĩ vũ, ưng tư hiển chật (用錫土宇、膺茲顯秩, ban cho nhà cửa, nhận lấy quan vị).” Hay trong tác phẩm Kim Liên Ký (金蓮記), phần Khống Đại (控代) của Trần Nhữ Nguyên (陳汝元, ?-?) nhà Minh có đoạn: “Tưởng Tô Thức tự phụ kỳ tài, kí trăn hiển chật, kim trí ngoại quận, trung đa quyết vọng nhĩ (想蘇軾自負奇才、覬臻顯秩、今置外郡、中多觖望耳, tưởng Tô Thức tự phụ vào tài năng đặc biệt của mình, mong muốn được quan vị hiển hách; nay an trí tại quận ngoài xa, trong lòng nhiều oán trách vậy).”

hiển cảnh danh ngôn

成唯識論八卷七頁云:顯境名言、卽能了境心心所法。 ; 6925唯識宗之教義。以名、句、文等詮表事物之義理,稱為表義名言;而七轉識之心、心所能識別對象,正如名言能彰顯事物之義理,故稱顯境名言。 ; (顯境名言) Danh ngôn hiển rõ cảnh. Giáo nghĩa của tông Duy thức. Dùng danh từ, câu văn làm rõ nghĩa lí của sự vật, gọi là Biểu nghĩa danh ngôn; còn tâm và tâm sở của 7 chuyển thức có khả năng nhận biết và phân biệt các cảnh tượng bên ngoài thì gọi là Hiển cảnh danh ngôn.

hiển dương

To exalt, dignify, enoble.

hiển dương luận trung tứ luận khả đắc

顯揚五卷一頁云:又此論中、四論可得。非於餘論。是故最勝。何者四論?一、非二邊論,二、非一向論,三、一切取斷徧知論,四、立正相論。非二邊論者:謂非有、非無、非異、非不異、非我、非無我,非常、非斷,如是等論。非一向論者:非一切樂、悉應習近。謂能引無義利者:非一切樂、悉不習近。謂能引有義利者。如樂,苦、亦爾。如是等論。一切取斷徧知論者:謂欲取、見取、戒禁取、我語取、斷徧知論。立正相論者:謂無倒施設一切諸法自相共相因相果相。如是等論。

hiển dương thánh giáo luận

6923 請參閱 寶雨經 [1]梵名 Prakaraṇāryavācā-śāstra。凡二十卷。又稱總苞眾義論、廣苞眾義論、顯揚論。印度無著造,唐代玄奘譯。收於大正藏第二十一冊。本論為顯揚瑜伽師地論要義之最著者,古稱瑜伽論十支之一;為唯識宗十一論之一,成唯識論之所依。 本書凡十一品:(一)攝事品,(二)攝淨義品,(三)成善巧品,(四)成無常品,(五)成苦品,(六)成空品,(七)成無性品,(八)成現觀品,(九)成瑜伽品,(十)成不思議品,(十一)攝勝決擇品。共有二百五十二頌半,卷末附錄顯揚聖教論頌一卷。另有注釋書顯揚疏一卷(唐代窺基)、顯揚論疏八卷(新羅璟興)等,然皆已不傳。 此外,由於玄奘將顯揚論與顯揚聖教論頌分別譯出,以致引起學界對於論、頌之作者是否為同一人之議論。日本學者宇井伯壽主張顯揚論為世親所作,顯揚聖教論頌方為無著所作。其所提論點之一,謂南朝陳代真諦所譯之三無性論相當於顯揚論中成無性品之長行釋文,而三無性論與同為真諦所譯之轉識論,皆屬於無相論之一部分,又轉識論為世親三十唯識頌之同本異譯,故知無相論為世親所作;復由此推知顯揚論當為世親之釋文。〔大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷八〕 ; Prākāraṇārya-vāsa-śāstra (S)Do ngài Vô Trước biên soạn. ; Prackaranàryacàva (S). ; (顯揚聖教論) Phạm: Prakaraịàryavàcà-zàstra. Cũng gọi Tổng bao chúng nghĩa luận, Quảng bao chúng nghĩa luận, Hiển dương luận.Gồm 20 quyển, do ngài Vô trước người Ấn độ soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 21. Luận này làm cho nghĩa trọng yếu của bộ luận Du già sư địa được sáng tỏ rực rỡ nhất, nên gọi là Hiển dương Thánh giáo, là một trong 10 chi luận Du già; một trong 11 bộ luận của tông Duy thức và là chỗ y cứ của luận Thành duy thức. Nội dung gồm có 11 phẩm. 1. Phẩm Nhiếp sự. 2. Phẩm Nhiếp tịnh nghĩa. 3. Phẩm Thành thiện xảo. 4. Phẩm Thành vô thường. 5.Phẩm Thành khổ. 6. Phẩm Thành không. 7. Phẩm Thành vô tính. 8. Phẩm Thành hiện quán. 9. Phẩm Thành du già. 10. Phẩm Thành bất tư nghị. 11. Phẩm Nhiếp thắng quyết trạch. Tất cả có hơn 252 bài tụng, cuối quyển có phụ thêm Hiển dương Thánh giáo luận tụng 1 quyển. Những sách chú thích của luận này gồm có: Hiển dương sớ một quyển (của ngài Khuy cơ đời Đường), Hiển dương luận sớ 8 quyển (của ngài Cảnh hưng người Tân la), v.v... nhưng đều đã thất truyền. Ngoài ra, Hiển dương luận và Hiển dương Thánh giáo luận tụng do ngài Huyền trang dịch thành 2 bản riêng biệt, cho nên giới học giả thắc mắc không biết 2 tác phẩm này có cùng một tác giả hay khác. Về vấn đề này, nhà học giả Nhật bản là ông Vũ tỉnh Bá thọ cho rằng Hiển dương luận là tác phẩm của ngài Thế thân, còn Hiển dương Thánh giáo luận tụng mới là tác phẩm của ngài Vô trước. Quan điểm của ông là: Luận Tam vô tính do ngài Chân đế dịch vào đời Trần thuộc Nam triều tương đương với phần văn chú thích của phẩm Thành vô tính trong luận Hiển dương, còn luận Tam vô tính và luận Chuyển thức (cũng do ngài Chân đế dịch) đều là một phần của luận Vô tướng. Vả lại, luận Chuyển thức và Tam thập duy thức tụng của ngài Thế thân là cùng một bản mà dịch khác, cho nên biết luận Vô tướng là tác phẩm của ngài Thế thân. Cũng cứ đó mà suy thì biết luận Hiển dương hẳn là văn chú thích của ngài Thế thân. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].

hiển dương tâm nghĩa

Saratthappakasini (S).

hiển gia

6921為「冥加」之對稱。指佛菩薩對眾生所施顯而易見之加被。如佛陀於華嚴會上,以身業摩菩薩頂,增其威力;以口業勸說法音,助其辯才。其利益皆明顯可見,故稱為顯加。〔法華經玄義卷六上、華嚴經疏卷一〕(參閱「二加」191) ; (顯加) Gia bị rõ ràng. Đối lại với Minh gia (Gia bị âm thầm). Sự gia bị của chư Phật, Bồ tát ban cho chúng sinh được hiển bày rõ ràng dễ thấy. Như trên hội Hoa nghiêm, đức Phật dùng tay xoa đỉnh đầu các vị Bồ tát để tăng thêm uy lực cho các vị, dùng miệng giảng nói để giúp thêm biện tài. Sự lợi ích ấy đều có thể thấy rõ ràng, nên gọi là Hiển gia.

hiển giáo

Zarathustra (S), Zaroastrianism Hoả hiên giáo, Hoả giáoTôn giáo ở Đông Ba tư váo thế kỷ 6, 7 BC. ; Exoterism. ; Giáo thuyết mà Đức Thích Ca thuyết giảng (hai bộ Kim Tạng Giới và Thai Tạng Giới của Đức Đại Nhật Như Lai là Mật giáo)—Open (Exoteric or general) teaching—The exoteric teachings or schools (Vajradhatu and Garbhadhatu of Vairocana belong to esoteric teaching).

hiển giới luận

6922凡三卷。日本天台宗之祖最澄撰(820)。收於大正藏第七十四冊。由於最澄上表請廢小乘戒儀,而立大乘戒儀,並別設大乘戒壇,遂引起南都諸宗之多方論難,最澄乃針對此類論難而闡明大乘戒為經論中所明示之事實。此實為開展日本山家學生式及成立天台宗之根本理論,亦為純大乘戒創立之根本聖典。 ; (顯戒論) Gồm 3 quyển, do ngài Tối trừng, Tổ khai sáng tông Thiên thai Nhật bản, soạn vào năm 820, thu vào Đại chính tạng tập 74. Ngài Tối trừng dâng biểu xin bỏ nghi giới Tiểu thừa mà lập nghi giới Đại thừa, đồng thời lập riêng đàn giới Đại thừa. Điều này đã khiến các tông phái ở miền Nam phản đối, hạch hỏi. Ngài Tối trừng nhân cơ hội này mới soạn ra Hiển giới luận để minh xác rằng giới Đại thừa là sự thực được dạy rõ trong kinh luận. Bộ luận này là cơ sở lí luận để thành lập tông Thiên thai Nhật bản, đồng thời, cũng là nền tảng cho việc sáng lập giới Đại thừa thuần túy.

hiển hiện

To appear clearly.

hiển hiện biến dị phân biệt

世親釋四卷十七頁云:顯現變異分別者:謂眼識等、顯現似彼所緣境相、所有變異。緣此顯相變異分別。此亦如前所說老等種種變異。由此亦於老等位中變異起故。無性釋四卷二十五頁云:顯現變異分別者:謂由眼等所依根故;令似色等影像顯現。眼識等識、種種變異。卽於此中,起諸分別。卽如前說老等變異、隨其所應而起變異。何以故?如說眼等、根有利鈍,識明昧故。如無表色,所依變異、彼亦變異。由樂受等變異亦爾。如說樂者,心安定故。如說苦者,心散動故。貪等逼害時節代謝變異亦爾。捺落迦等及欲界等依身變異,識亦變異。如應當知。無色界中,亦有受等所作變異諸識分別。

hiển hiện thậm thâm

世親釋十卷五頁云:頌曰:眾生罪不現,如月於破器。遍滿諸世間,由法光如日。此頌顯示顯現甚深。若諸世間、不見諸佛,而說諸佛、其身常住;佛身既常;何故不見?眾生罪不現如月於破器者:如破器中,水不得住。水不住故;月則不現。如是有情身中,無有奢摩他水;佛月不現。水喻等持。體清潤故。遍滿諸世間由法光如日者:謂今世間佛雖不現;然徧一切施作佛事。由說契經應頌等法,譬如日光,遍滿世間,作諸佛事,成熟有情。

hiển hành thị quán

6922顯行與示觀之並稱。為日本淨土宗西山派之祖證空解釋觀無量壽經中定散二善行之意義時所說,依自力修行所顯現之行稱為顯行,而顯示彌陀他力救度之德稱為示觀。乃本於善導之觀經疏序分義中所立之散善顯行緣、定善示觀緣等語。此中,顯行相當於行門,示觀則相當於觀門。 ; (顯行示觀) Từ gọi chung Hiển hành và Thị quán. Sự tu hành nương vào tự lực của mình mà được hiển hiện, gọi là Hiển hành, còn chỉ bày rõ cái đức tha lực cứu độ của Phật A di đà thì gọi là Thị quán. Thuật ngữ này do ngài Chứng không, Tổ khai sáng của phái Tây sơn thuộc tông Tịnh độ Nhật bản, đặt ra khi ngài giải thích ý nghĩa của Định thiện và Tán thiện trong kinh Quán vô lượng thọ. Thuật ngữ này có xuất xứ từ các câu Tán thiện hiển hành duyên và Định thiện thị quán duyên trong tác phẩm Quán kinh sớ tự phần nghĩa của ngài Thiện đạo. Trong đó, Hiển hành tương đương với Hành môn, Thị quán thì tương đương với Quán môn.

hiển hách

Brilliant—Glorious.

hiển kinh

Kinh điển của Hiển Giáo (tất cả các tông phái Đại Thừa và Tiểu Thừa đều dùng, ngoại trừ Chân Ngôn Tông)—Exoteric or general scriptures, as distinguished from the esoteric, occult, or tantric scriptures.

hiển linh

(Of divinity, deceased person) to make one's appearance; to make one's presence felt; (of miracle) to reveal itself, to make itself manifest. ; To appear (supernaturally).

hiển linh tự

6926位於西藏江孜。為江孜最大之喇嘛廟,又為西藏紅教主要寺廟之一。本寺依山而建,與江孜砲臺遙遙相對,乃半月形之寺院,由山麓攀到最高處,共有四百餘公尺,周圍密築層層城牆,地上舖滿大塊石板,顯示神聖莊嚴之氣勢。廣場左邊有一座奇大之兆壇,為一多面塔,塔頂飾以赤金月燄形之尖飾。塔共五層,象徵地、水、火、風、空等五大;每層之小堂內,藏有歷代高僧之遺物。

hiển liễu năng tác

如能作因二十種中說。

hiển liễu thuyết pháp

瑜伽三十七卷二十三頁云:顯了說法者:謂於廣大智慧有情、已善悟入聖教理者,為其開示廣大甚深道理法處。

hiển liễu đối trị

顯揚三卷十六頁云:顯了對治者:謂於第九法行,方便修習。

hiển lộ

To come out to appear. ; Vyanjita (skt)—To reveal—To disclose—Clearly manifested.

hiển minh

6923 請參閱 阿毘達磨藏顯宗論<一>謂無穢惡垢染。無量壽經卷上(大一二‧二六六上):「洗濯垢污,顯明清白;光融佛法,宣流正化。」 <二>(1917~ )遼寧錦西人,俗姓雷。十二歲出家,親近倓虛、如光二師。十五歲禮營口楞嚴寺禪定法師受具足戒。畢業於浙江四明觀宗講寺弘法社,親炙諦閑、寶靜二師,專攻天台教學九年,為天台宗第四十五代法嗣。曾任觀宗講寺弘法研究社及香港弘法精舍之輔講、主講、廣西佛教會副會長。抗日戰爭期間,徵得太虛大師等認可,入軍籍,赴印、緬工作。來臺後參與黨務,六十歲自公職退休,重披緇衣。師數十年來講經、弘法於港臺佛教界,先後於汐止慈航佛學院等處擔任教席,並出任香港菩提佛學院院長、美國莊嚴寺、大覺寺住持。著有顯明大師法集行世。 ; 1) Sáng tỏ: Brilliant—Clear—Open—Manifest—Pure—Reveal. 2) Hiển thuyết và minh thuyết: Open and hidden—External and internal. ; (顯明) Rõ ràng sáng tỏ, nghĩa là không nhớp nhúa cáu bẩn. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng), nói: Tẩy sạch cáu bẩn, rõ ràng trong trắng, làm rạng rỡ Phật pháp, hóa độ chúng sinh .

hiển mật

Hiển giáo và Mật giáo—Exoteric and Esoteric. 1) Hiển Giáo: Tất cả các tông phái, ngoại trừ tông Chân Ngôn—All sects except the Shingon Sect. 2) Chân Ngôn tông: Chân Ngôn tông tu tập những nghi thức Du Già—The Shingon, or True-word sect is the esoteric sect, which exercises occult rites of Yoga character.

hiển mật nhị giáo

6923指顯教與密教。又稱顯密、顯露祕密、顯示祕密。自言語文字上明顯說出教法者,稱為顯教;若祕密說,不可由表面得知者,則稱為密教。其分類法,或就說教之方式而別,或就教義之內容而別。 大智度論卷四(大二五‧八四下):「佛法有二種:一祕密,二顯示。顯示中,佛、辟支佛、阿羅漢皆是福田,以其煩惱盡無餘故;祕密中,說諸菩薩得無生法忍,煩惱已斷,具六神通,利益眾生。」天台宗智顗大師即基於大智度論所說,在化儀四教中舉出顯露不定教、祕密不定教,此係就說教之方式而別。另據宋高僧傳卷三、淨土指歸集卷上等載,則以經、律、論等為顯教,以壇場作法、誦持密咒等為密教。 蓋於佛教諸宗派中,俱舍、唯識、三論、華嚴、天台、淨土等諸宗,一般皆以大小乘而別其意趣;然若自真言密宗之觀點而言,則不區別其大小乘,而一概皆以顯、密二教界分之,如上記所舉諸宗派,既以俱舍、唯識等諸論,或華嚴、法華等諸經為依用經典,皆被密教視為淺顯易解之教法,故總名為顯教;反之,以真言法「瑜伽觀行」、「即身成佛」等祕密奧旨為宗旨者,始稱為密教。在印度,以大日經之說為中心所產生之密教,稱為真言乘;以金剛頂經之說為中心所形成之密教,則稱為金剛乘。 在日本,東密、台密等對顯密之分類係就教義之內容而區別:(一)日本東密之教判,空海在辨顯密二教論中指出,應身佛釋迦牟尼應眾生之根機、能力,而說之一乘、三乘教,即為顯教;至若法身之大日如來,係為顯示其自身證悟內容(自受法樂)之三密教,即屬密教。又密教為唯佛所知之祕密教;相對於此,顯教則為權假方便之教。(二)台密(天台宗之密教)之教判,據圓仁、安然等諸師之說,三乘教為顯教,一乘教為密教。而在密教中,以華嚴、法華諸經典僅說世俗與勝義共一體之理論,而不說印相等具體之事相,故稱為理密教。另如大日、金剛頂等經典則兼說理、事兩方面,故稱為事理俱密教;於事、理之中,所說之理固然相同,而說事密之教法較為優勝,此即所謂「事勝理同」之說。然後世多主張法華與大日為同一圓教,並無優劣之別;或謂法華經等所說之密教為雜密,而大日經所說之密教為純密。 此外,顯密兼學,指修習顯教與密教,亦即修學佛陀一代之教法;顯密戒三學,指顯教之華嚴、法華等經典,與真言密教、戒律等三者。〔法華經卷十、蘇悉地經略疏卷一、十住心論卷九、卷十〕 ; See Hiển Mật. ; (顯密二教) Hiển giáo và Mật giáo. Cũng gọi Hiển mật, Hiển lộ bí mật, Hiển thị bí mật. Giáo pháp được hiển bày bằng ngôn ngữ văn tự, gọi là Hiển giáo, giáo pháp bí mật, không thể căn cứ vào ngôn ngữ, văn tự mà hiểu được, gọi là Mật giáo. Có thể dựa theo phương thức thuyết giáo, hoặc nội dung giáo nghĩa mà phân biệt Hiển giáo và Mật giáo.Luận Đại trí độ quyển 4 (Đại 25, 84 hạ), nói: Giáo pháp của Phật có 2 thứ: Một là Bí mật, hai là Hiển thị. Trong Hiển thị, Phật, Bích chi phật, A la hán đều là ruộng phúc, vì các Ngài đã trừ sạch phiền não. Trong bí mật thì nói các Bồ tát được vô sinh pháp nhẫn, phiền não đã dứt, đủ 6 thần thông lợi ích chúng sinh . Trong Tứ giáo hóa nghi, đại sư Trí khải đã dựa vào những điều được nói trong luận Đại trí độ mà nêu ra Hiển lộ bất định giáo và Bí mật bất định giáo. Đây là căn cứ vào phương thức thuyết giáo mà phân biệt. Còn Tống cao tăng truyện quyển 3 và Tịnh độ chỉ quy tập quyển thượng, thì cho rằng kinh, luật, luận là Hiển giáo, đàn tràng tác pháp, trì tụng mật chú, v.v... là Mật giáo.Các tông phái Phật giáo nói chung đều căn cứ vào ý thú của các tông như: Câu xá, Duy thức, Tam luận, Hoa nghiêm, Thiên thai; Tịnh độ, v.v... mà phân biệt là Tiểu thừa hay Đại thừa. Nhưng Chân ngôn Mật tông thì không phân biệt theo Tiểu thừa và Đại thừa mà phân biệt theo Hiển giáo và Mật giáo. Theo quan điểm của mật tông thì những kinh luận y cứ của các tông phái nói trên, như các luận Câu xá, Duy thức, hoặc các kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa, v.v...… đều bị Mật giáo xem là những giáo pháp nông cạn, rõ ràng dễ hiểu nên gọi chung là Hiển giáo. Trái lại, giáo pháp Du già quán hành, Tức thân thành Phật của tông Chân ngôn là những giáo pháp sâu xa, bí mật thì mới gọi là Mật giáo. Ở Ấn độ, Mật giáo lấy kinh Đại nhật làm yếu chỉ thì gọi là Chân ngôn thừa, còn y cứ vào kinh Kim cương đính làm trung tâm thì gọi là Kim cương thừa. Tại Nhật bản, phái Đông mật và Thai mật căn cứ vào nội dung giáo nghĩa mà phân loại Hiển giáo và Mật giáo: 1. Đông mật cho rằng Nhất thừa giáo, Tam thừa giáo do Ứng thân của đức Phật Thích ca mâu ni tùy theo căn cơ, năng lực của chúng sinh mà nói ra, là Hiển giáo; còn Tam mật giáo doPháp thân của đức Đại nhật Như lai hiển bày nội dung chứng ngộ tự thân (Tự thụ pháp lạc) thì thuộc Mật giáo. 2. Thai mật thì cho rằng Tam thừa giáo là Hiển giáo, Nhất thừa giáo là Mật giáo. Thuyết này do các ngài Viên nhân, An nhiên, v.v... chủ trương. Mật giáo cho rằng các kinh như Hoa nghiêm, Pháp hoa chỉ lí luận về Thế tục đế và Thắng nghĩa đế có cùng một thể tính, chứ không nói về những sự tướng cụ thể như ấn tướng, v.v... nên gọi là Lí mật giáo. Còn các kinh như Đại nhật, Kim cương đính… thì bàn về cả 2 mặt lí và sự, nên gọi là Sự lí câu mật giáo. Trong Sự là Lí, thì Lí được thuyết minh cố nhiên là giống nhau, nhưng giáo pháp nói về Sự mật thì rất thù thắng, cho nên gọi là Sự thắng lí đồng . Nhưng người đời sau phần nhiều chủ trương kinh Pháp hoa và kinh Đại nhật đều là Viên giáo, chứ không phân biệt hơn kém. Hoặc có thuyết cho rằng Mật giáo nói trong kinh Pháp hoa là Tạp mật, còn Mật giáo nói trong kinh Đại nhật là Thuần mật. Ngoài ra các thuật ngữ như: Hiển Mật Kiêm Học là chỉ cho sự tu tập cả Hiển giáo và Mật giáo; cũng tức là tu học giáo pháp của một đời đức Phật; Hiển Mật Giới Tam Học là chỉ cho các kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa của Hiển giáo, Chân ngôn Mật giáo và Giới luật. [X. kinh Pháp hoa Q.10; Tô tất địa kinh lược sớ Q.1; luận Thập trụ tâm Q.9, Q.10].

hiển nhiên

Obviously—Evidently.

hiển quá phá

6925因明用語。為因明論議中「真能破」之一。「立量破」之對稱。即不別立論式,而僅指出論敵在論式中之過誤,以破斥之。(參閱「能破」4297) ; (顯過破) Đối lại với Lập lượng phá. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, khi muốn phá lập luận chủ trương của đối phương, mình không tổ chức luận thức, mà chỉ tìm ra những chỗ sai lầm trong luận thức của họ để bác bỏ luận thức ấy, thì gọi là Hiển quá phá (Vạch rõ lỗi để phá). (xt. Năng Phá).

hiển sắc

6922梵語 varṇa-rūpa。指顯然可見之色。為「形色」之對稱。於一切色法中,其相狀顯著,可使眼見而識別者,有十二種,即:(一)青(梵 nīla)。(二)黃(梵 pīta)。(三)赤(梵 lohita)。(四)白(梵 avadāta)。(五)雲(梵 abhra),指龍氣。(六)煙(梵 dhūma),指火氣。(七)塵(梵 rajas),指被風吹起之細土。(八)霧(梵 mahikā),指地面之水蒸氣。(九)影(梵 chāyā),光明被障而不得明見物體或其餘諸色。(十)光(梵 ātapa),指日焰。(十一)明(梵 āloka),指月、星、寶珠、電等之光焰。(十二)闇(梵 andhakāra),全然無法見物。 其中,青、黃、赤、白等四種為本色,稱為四顯色,尤以白色最為殊勝;其餘八色均由本色之差別所立,故皆攝於此四本色中。 以上十二種顯色為小乘說一切有部所立,而唯識宗之瑜伽師地論卷一則增立「空一顯色」一項,總為十三種顯色;大乘阿毘達磨雜集論卷一增加「迥色」,共為十四種顯色。俱舍宗則於上記十二種外,另立長、短、方、圓、高、下、正、不正、空一顯色等九項,而成二十一種顯色。又在青、黃、赤、白外別加「黑」色,則為密宗之特論。又說一切有部認為此十二顯色有各別之「極微」,各有其別體;經部及唯識宗則主張僅有四本色為實色,其餘均為假色。〔識身足論卷一、大毘婆沙論卷七十八、卷八十五、俱舍論卷一、俱舍論光記卷一〕 ; VarnarŪpa (S)Có 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được. ; Những màu sắc thấy được như đỏ, xanh, hồng, vân vân—The visible or light colors---The colours red, blue, pink, etc. ; (顯色) Phạm:Varịa-rùpa. Đối lại với Hình sắc. Chỉ cho những sắc pháp hiện rõ ràng mà mắt người thường có thể thấy và phân biệt được. Về số lượng có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Thuyết nhất thiết hữu bộ thì có 12 loại hiển sắc: 1. Thanh (Phạm: nìla): Mầu xanh. 2. Hoàng (Phạm: pìta): Mầu vàng. 3. Xích (Phạm: lohita): Mầu đỏ. 4. Bạch (Phạm: avadàta): mầu trắng. 5. Vân (Phạm: abhra): Mây. 6. Yên (Phạm: dhùma): Khói. 7. Trần (Phạm: rajas): Bụi. 8. Vụ (Phạm: mahikà): Sương mù. 9. Ảnh (Phạm: chàryà): Bóng, ánh sáng bị che nên không thấy được vật thể hoặc các mầu sắc khác. 10. Quang (Phạm:àtapa): Ánh sáng, chỉ cho ánh sáng mặt trời.11. Minh (Phạm: àloka): Chỉ cho ánh sáng mặt trăng, ngôi sao, viên ngọc báu, tia chớp, v.v... 12. Ám (Phạm: andhakàsa): Chỉ cho bóng tối. Trong đó, 4 loại xanh, vàng, đỏ, trắng là mầu sắc chính, gọi là Tứ hiển sắc. Đặc biệt mầu trắng rất thù thắng; 8 loại còn lại đều do sự sai biệt của 4 mầu sắc chính tạo ra, cho nên chúng đều thuộc về 4 mầu sắc chính này. Theo luận Du già sư địa quyển 1 thì có 13 loại Hiển sắc, gồm 12 loại nói trên và thêm một loại nữa là Không nhất hiển sắc . Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 lại thêm Quýnh sắc nữa thành 14 loại. Ngoài 12 loại Hiển sắc của Thuyết nhất thiết hữu bộ nói trên, tông Câu xá còn lập thêm 9 loại nữa là: Dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, chính, bất chính và không nhất hiển sắc, mà thành tất cả là 21 loại Hiển sắc. Lại ngoài xanh, vàng, đỏ, trắng ra đặc biệt Mật tông còn thêm mầu đen nữa. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng 12 loại hiển sắc này đều có cực vi và thể tính riêng biệt. Còn Kinh bộ và tông Duy thức thì chủ trương chỉ có 4 mầu sắc chính là mầu thật, ngoài ra đều là mầu giả. [X. luận Thức thân túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.78, Q.85; luận Câu xá Q.1; Câu xá luận quang kí Q.1].

hiển sắc sở tác biến dị

瑜伽三十四卷四頁云:云何尋思內事顯色所作變異無常之性?謂由觀見或自或他,先有妙色,肌膚鮮澤;後見惡色,肌膚枯槁。復於後時,還見妙色,肌膚鮮澤。見是事已;便作是念:如是諸行,其性無常。何以故?此內顯色、前後變異、現可得故。

hiển sắc viên mãn

佛地經論一卷七頁云:最勝光曜七寶莊嚴者:謂大宮殿、用最盛光曜七寶莊嚴。或大宮殿、七寶莊嚴故;最勝光曜。言七寶者:一、金。二、銀。三、吠琉璃。四、牟婆洛揭婆。五、遏濕摩揭婆。六、赤真珠。謂赤蟲所出,名赤真珠。或珠體赤,名赤真珠。七、羯雞怛諾迦。就此所重,且說七寶。其實淨土、無量妙寶綺飾莊嚴;非世所識。放大光明,普照一切無邊世界者:謂大宮殿、放大光明,普照一切無邊世界。或大宮殿、其體週徧無邊界故;放大光明,普照一切。由此二句,顯佛淨土顯色圓滿。

hiển thánh

To sanctify.

hiển thánh tự

6924請參閱 顯揚聖教論位於浙江紹興縣南十八公里處之雲門山中。又稱雲門山顯聖寺。於明代,以曹洞宗之湛然圓澄為始,繼有同宗之爾密明澓、石雨明芳等禪師住於此寺。〔大明一統志卷四十五、大清一統志卷二二六〕

hiển thị

6921謂顯露曉示。一切眾生之本性,具有因果、理事等法,佛即以十二因緣、四諦、八正道等教法顯示,令彼眾生開悟,得以度脫。〔無量壽經卷下、瑜伽師地論卷八、華嚴經疏卷一〕 ; Hiển lộ tất cả bản tính của chúng sanh (các pháp lý sự nhân quả mà Đức Phật đã hiển thị)—To reveal—To indicate. ; (顯示) Hiển bày rõ ràng. Bản tính của tất cả chúng sinh có đầy đủ nhân, quả, sự, lí, cho nên đức Phật chỉ bày rõ ràng các giáo pháp 12 nhân duyên, 4 đế, 8 chính đạo, v.v...… khiến họ khai ngộ mà được giải thoát. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Du già sư địa Q.8; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1].

hiển thị nhân

6922為無始以來六種妄想的習因之一。即以一念妄情之生,必有所作善惡業之相;猶如燈之照物,顯然可見者,稱為顯示因。〔大乘入楞伽經卷二、大明三藏法數卷二十六〕(參閱「六因」1256) ; (顯示因) Nhân hiển bày rõ ràng. Là nhân của vọng tưởng đã có từ vô thủy đến nay, một trong 6 tập nhân. Nghĩa là một niệm vọng tưởng nổi lên thì chắc chắn sẽ tạo tác các tướng thiện nghiệp, ác nghiệp giống như đèn khi thắp lên sẽ soi sáng các đồ vật một cách rõ ràng. [X. kinh Đại thừa lăng già Q.2; Đại minh tam tạng pháp số Q.26]. (xt. Lục Nhân).

hiển thức

6926係顯識論所立二種識之一。為阿賴耶識之異名。顯識論中謂身識、應受識、正受識、世識、數識、處識、言說識、自他差別識、善惡兩道生死識等九種識,皆由阿賴耶識之變異而生起。阿賴耶識含藏一切善惡種子,而能顯現一切境界;上記之九識係以阿賴耶識為種子所顯現之果,故稱為顯識。又顯識論中所立之另一識稱為分別識,即指意識,包括身者識與受者識。身者識,係被我見所覆的染污之「意」;受者識,則係一切能受之體,二者同為虛妄分別之主,故稱分別識。〔大明三藏法數卷五〕 ; Alaya-vijnana (skt)—A Lại da thức, chứa đựng mọi chủng tử thiện ác, hiển hiện được hết thảy mọi cảnh giới—Open knowledge—Manifest—The store of knowledge where all is revealed, either good or bad. ; (顯識) I. Hiện thức. Phạm: Khyàtivijĩàna. Tên gọi khác của thức A lại da. Tất cả các pháp đều nương dựa vào thức A lại da mà hiện ra các cảnh tượng, vì thế, thức A lại da cũng được gọi là Hiện thức. Một trong 3 thức được đề cập đến trong kinh Lăng già. Cũng giống như các bóng dáng phản chiếu trong tấm gương, thức A lại da hiện ra tất cả cảnh giới hư vọng làm đối tượng cho Phân biệt sự thức duyên theo. Chính từ ý ấy mà nói chuyển thức A lại da thành Đại viên kính trí. [X. Lăng già a bạt đa la bảo kinh Q.1; luận Đại thừa khởi tín]. II. Hiện thức. Chỉ cho thức hiện hành. Tức là thức Dị thục và thức Năng huân do chủng tử của thức A lại da hiện hành. [X. luận Thành duy thức Q.7; Thành duy thức luận thuật kí Q.7 phần cuối].

hiển thức luận

6926梵名 Vidyānirdeśa-śāstra。全一卷。陳‧真諦譯。收於大正藏第三十一冊。內容闡明三界唯識之義。初說識有顯識、分別識等二種,次舉一切三界唯識等論旨。 本論論題下有「從無相論出」之語,而同為真諦所譯之「轉識論」論題下亦有此語。又除高麗大藏經外,於宋、元、明三種版本中之本論卷首皆有「顯識品」三字,準此,推測本論係闡釋「無相論」中顯識品之作,然因無相論於漢譯中並無譯本,故亦無法確知作者究係何人。 此外,本論之夾注謂(大三一‧八八○中):「義疏九識第三,合簡文義有兩,一明識體,二明識用;一識體者出唯識論。」上引中「義疏九識」之語,或指真諦所倡言之九識義,而轉識論中亦有(大三一‧六二上)「具如九識義品說」之語,故推知本論與轉識論當為姊妹作之關係。又上引中「出唯識論」之語,似意味本論所說「一切三界唯有識」等文乃出自唯識論,若然,無相論當係唯識論之異名。又若自本論之譯語觀之,則與真諦譯之攝大乘論釋等頗不一致,故推測本論或係由真諦,或真諦之門人所造。〔大周刊定釋教目錄卷六、開元釋教錄卷七、印度哲學研究卷六(宇井伯壽)〕 ; Vidyā-nirdeśa-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh. ; (顯識論) Phạm: Vidyànirdeza-zàstra. Có 1 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần thuộc Nam triều, thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung của luận này nói về Hiển thức và Phân biệt thức, kế đến thuyết minh yếu chỉ của luận là Tam giới duy thức . Dưới nhan đề của luận này và luận Chuyển thức đều có ghi câu: Rút ra từ luận Vô tướng . Ngoại trừ Tạng Cao li, còn trong các Tạng Tống, Nguyên, Minh, ở đầu quyển của luận này đều có 3 chữ Hiển thức phẩm . Như vậy, ta có thể suy đoán rằng luận này là tác phẩm giải thích phẩm Hiển thức trong luận Vô tướng, nhưng vì luận Vô tướng không có bản Hán dịch nên cũng không biết đích xác tác giả của luận này là ai. Nhưng, trong, lời chú thích của luận này (Đại 31, 880 trung), nói: Lời sớ về nghĩa 9 thức tóm tắt có 2 nghĩa: Một là nói về thể của thức, hai là nói về dụng của thức. Thể của thức được rút ra từ luận Duy thức . Trong đoạn văn trích dẫn trên, Lời sớ về nghĩa 9 thức có lẽ là của ngài Chân đế, nhưng trong luận Chuyển thức cũng có câu (Đại 31, 62 thượng). Như trong phẩm Cửu thức nghĩa đã nói đầy đủ , vì vậy ta có thể suy đoán rằng luận này và luận Chuyển thức chắc chắn có mối quan hệ rất mật thiết. Câu được rút ra từ luận Duy thức và câu Tất cả 3 cõi chỉ có thức đều được trích ra từ luận Duy thức; như thế thì luận Vô tướng phải là tên khác của luận Duy thức. Tuy nhiên, nếu xét về văn dịch của luận này thì khác với lời văn dịch của ngài Chân đế, cho nên ta có thể suy đoán luận này đã do ngài Chân đế hoặc do học trò củangài soạn ra. [X. Đại chu san định thích giáo mục lục Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.6 (Vũ tỉnh Bá thọ)].

Hiển Trí

(顯智, Kenchi, 1226-1310): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, thuộc Phái Cao Điền (高田派), sống vào khoảng giữa và cuối thời kỳ Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 3 của Chuyên Tu Tự (專修寺, Senjū-ji), húy là Hiền Thuận (賢順), Hiển Trí (顯智). Tương truyền ông là con trai của Bình Cơ Tri (平基知) ở vùng Việt Hậu (越後, Echigo). Ông có lên tu học trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), rồi sau đó thông qua môi giới của Chơn Phật (眞佛, Shinbutsu), ông theo làm đệ tử của Thân Loan, thường lên xuống vùng kinh đô và Hạ Dã (下野, Shimotsuke) để nghe giảng pháp. Vào năm1258, ông kế thừa chức vị trú trì ngôi Chuyên Tu Tự (專修寺, Senjū-ji) ở vùng Hạ Dã Cao Điền (下野高田), rồi đi tuần hóa khắp nơi mà thuyết pháp giáo hóa, khuyên mọi người niệm Phật, và trở thành nhân vật trung tâm hoạt động mạnh mẽ nhất của giáo đoàn Chơn Tông buổi đầu. Sau khi Thân Loan qua đời, ông theo phụ giúp Ni Giác Tín (覺信, Kakushin), tận lực xây dựng ngôi miếu đường ở vùng Đại Cốc (大谷, Ōtani) thuộc Đông Sơn (東山, Higashiyama). Và lần đầu tiên trong giáo đoàn Chơn Tông, ông được bổ nhiệm làm chức Đại Tăng Đô. Trước tác của ông có Tịnh Độ Đại Danh Mục (淨土大名目) 1 quyển, Hiển Trí Ngữ Truyện (顯智語傳) 6 quyển, Thân Loan Thánh Nhân Bổn Truyện (親鸞聖人本傳) 6 quyển.

hiển tôn luận

Abhidharma-prakarana-śāsana śāstra (S)Xem A tỳ đạt ma Hiển tông luận.

hiển tông

Tông chỉ của Hiển giáo, đối lại với Mật giáo (trừ Chân Ngôn Tông, tất cả các tông phái khác đều là Hiển Tông)—The esoteric sects, in contrast with the esoteric.

hiển tông kí

6922全一篇。唐代荷澤神會作。全稱荷澤大師顯宗記。收於大正藏第五十一冊景德傳燈錄卷三十。內容敘述禪宗之宗要,全篇僅有六百六十字。卷頭語云(大五一‧四五八下):「無念為宗,無作為本,真空為體,妙有為用。」其下則略解無念、無作等之意義;蓋無念、無作乃神會之根本主張。其次論說般若與涅槃不二之理;再次敘述傳衣在禪宗傳承中之重要性。全篇以金剛般若經所說之「般若空智、應無所住而生其心」為基礎,並承繼後秦僧肇之般若無知論、涅槃無名論,與六祖慧能之法寶壇經中定慧第四等思想。又針對神秀等之北宗,論述傳衣,以示慧能之正統。 此外,於全唐文卷九一六載有本篇,延壽之宗鏡錄卷九十九亦引用顯宗記之標題。又胡適所編神會和尚遺集之第四殘簡亦收載本篇。〔禪籍志卷上、禪學思想史(忽滑谷快天)、唐代文化史(羅香林)〕(參閱「荷澤宗」4779) ; (顯宗記) Gọi đủ: Hà trạch đại sư Hiển tông kí. Có 1 thiên, gồm 660 chữ, do ngài Hà trạch Thần hội soạn vào đời Đường, được thu vào Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30 trong Đại chính tạng tập 51. Nội dung của thiên kí này trình bày về yếu chỉ của Thiền tông, ở đầu sách có nói (Đại 51, 458 hạ): Vô niệm là tông, Vô tác là gốc, Chân không là thể, Diệu hữu là dụng . Sau đó chia ra 3 đoạn: 1. Giải thích sơ lược về ý nghĩa Vô niệm, Vô tác. 2. Bàn về lí Bát nhã và Niết bàn không hai. 3. Nói về sự quan trọng của việc truyền áo bát trong Thiền tông. Toàn thiên kí lấy những câu Bát nhã không trí và Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm trong kinh Kim cương bát nhã làm cơ sở và dùng những tư tưởng trong luận Bát nhã vô tri, luận Niết bàn vô danh của ngài Tăng triệu đời Hậu Tần và Định tuệ trong kinh Pháp bảo đàn của Lục tổ Tuệ năng làm y cứ. Ngoài ra, sách này cũng được chép trong Toàn đường văn quyển 916 và Thần hội hòa thượng di tập của Hồ thích. Tiêu đề Hiển tông kí cũng được dẫn dụng trong Tông kính lục quyển 99 của ngài Diên thọ. [X. Thiền tịch chí Q.thượng; Thiền học tư tưởng sử (Hốt hoạt cốc khoái thiên); Đường đại văn hóa sử (La hương lâm)]. (xt. Hà Trạch Tông).

hiển tướng phân biệt

世親釋四卷十七頁云:顯相分別者:謂眼識等、幷所依識、顯現似彼所緣境相、所起分別。有所分別,或能分別;故名分別。無性釋四卷二十四頁云:顯相分別者:謂眼識等、幷所依識、顯現似彼所緣相故。

hiển từ

6925(1888~1955)廣東人。民國九年(1920),依諦閑法師出家,學天台教觀。其後,參禪於江蘇高旻寺,深得首座普修法師賞識,啟迪良多。十五年起,於上海佛教居士林,開講彌陀、楞嚴等諸經。次二年,於維揚摘星寺閉關潛修般若,於關中著楞嚴易解疏十卷。出關後,至各方弘教說法。二十四年,應邀赴香港講經。四十四年八月,示寂於九龍,世壽六十八。師畢生講經演教不懈,誓志不當住持、不傳戒。著有心經貫珠解、圓覺經釋要、金剛經真義疏等。 ; (顯慈) (1888-1955) Vị tăng Trung quốc thời hiện đại, người Quảng đông. Năm 1920, sư y vào ngài Đế nhàn xuất gia, học giáo quán Thiên thai. Về sau, sư đến tu học ở chùa Cao mân tại tỉnh Giang tô, được vị thủ tọa là pháp sư Phổ tu chỉ bảo rất nhiều. Từ năm 1926, sư bắt đầu giảng kinh Di đà, Lăng nghiêm cho Phật giáo cư sĩ lâm ở Thượng hải. Năm 1928, sư nhập thất tĩnh tu ở chùa Trích tinh tại Duy dương. Sau khi ra thất, sư đến các nơi giảng kinh thuyết pháp. Năm 1935, đáp lời thỉnh cầu, sư đến Hương cảng để giáo hóa. Tháng 8 năm 1955 sư tịch ở Cửu long, thọ 68 tuổi. Sư có các tác phẩm: Lăng nghiêm dị giải sớ 10 quyển, Tâm kinh quán châu giải, Viên giác kinh thích yếu, Kim cương kinh chân nghĩa sớ.

hiển vinh

Glorious (brilliant) and honorable.

hiển vô biên phật độ công đức kinh

Aciṇtyarāja-(nāma)-mahāyāna-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.

hiển văn

6921(1856~1909)湖南人,俗姓楊。字魁印。十一歲禮浙江高明寺覺實法師出家,二十歲受具足戒。後至溫陽紅螺山,晝夜精勤,誦華嚴、法華諸經,歷經六年,洞悉奧旨,復至九華、翠峰諸山,開講說法,頓悟性海。旋赴南京赤山,依法忍禪師參究,偶逢石子擊足,豁然有省。光緒二十八年(1902),結茅於廬山,專修禪定,脅不著席。劉思訓聞其道譽,迎請主持南京毘盧寺。於宣統元年十二月示寂,世壽五十四。有語錄一卷行世。 ; (顯文) (1856-1909) Vị tăng Trung quốc thời hiện đại, người Hồ nam, họ Dương tự là Khôi ấn. Năm 11 tuổi, sư y vào ngài Giác thực xuất gia ở chùa Cao minh tại tỉnh Chiết giang, năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc. Sau đó sư đến núi Hồng loa tại Ôn châu, ngày đêm chuyên cần trì tụng các kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa trong 6 năm, thấu suốt được ý chỉ sâu xa của kinh. Sau đó, sư lại đến núi Cửu hoa và núi Thúy phong, bắt đầu giảng kinh thuyết pháp. Rồi sư lại đến núi Xích sơn ở Nam kinh theo thiền sư Pháp nhẫn tham cứu, một hôm tình cờ bị viên đá văng trúng chân, sư hoát nhiên tỉnh ngộ. Năm Quang tự 28 (1902), sư cất am tranh ở Lô sơn chuyên tu Thiền định, không hề ngủ nghỉ. Lưu tư huấn nghe đạo hạnh của sư, đến rước sư về trụ trì chùa Tì lô ở Nam kinh. Tháng 12 niên hiệu Tuyên thống năm đầu (1909) sư tịch, thọ 54 tuổi. Tác phẩm: Ngữ lục 1 quyển.

hiển ích

6923即現世獲得佛菩薩之利益。法華玄義卷七下(大三三‧七七一上):「此土他土弘經,論其功德,觀文但明冥利,不說顯益。」 ; (顯益) Lợi ích rõ ràng. Đối lại với Minh ích (lợi ích ngấm ngầm). Được sự lợi ích của chư Phật và Bồ tát ban cho ở ngay đời này. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 phần dưới (Đại 33, 771 thượng), nói: Khi bàn về công đức hoằng truyền kinh (Pháp hoa) thì văn kinh chỉ nói đến lợi ích ngầm về sau, chứ không nói lợi ích ngay trong đời này .

hiển điển

Exoteric scriptures.

hiển đạt

To succeed brilliantly.

hiển ấm

6925(1902~1925)江蘇崇明人,俗姓宋。字大明。依諦閑法師出家。天資秀敏,學通經藏,尤擅辭章。民國十二年(1923),與包承志東渡日本,在高野山天德院學密,並受灌頂。十四年抵滬杭傳授密法,名噪一時。同年五月示寂,年僅二十四。師學養厚實,文筆洗練,曾負責編輯佛教居士林之刊物,並先後應邀為丁福保所編之佛學大辭典及日本大正新修大藏經作序。此外,另有論文數篇散見於早期之海潮音。 ; (顯蔭) (1902-1925) Vị tăng Trung quốc thời cận đại. Sư người Sùng minh, tỉnh Giang tô, họ Tống, tự Đại minh, xuất gia làm đệ tử ngài Đế nhàn. Sư thông minh dĩnh ngộ, học rộng nhớ dai, giỏi văn chương. Năm 1923, sư cùng với Bao thừa chí sang Nhật bản, đến viện Thiên đức trên núi Cao dã học Mật giáo và được truyền thụ pháp Quán đính. Năm 1925, sư trở về Trung quốc, truyền bá Mật giáo ở Thượng hải và Hàng châu, nổi tiếng một thời. Học vấn của sư uyên thâm, văn bút điêu luyện. Sư từng phụ trách biên tập các tạp chí của Phật giáo, viết các bài tựa trong bộ Phật học Đại từ điển do ông Đinh phúc bảo biên soạn và trong Đại chính tân tu Đại tạng kinh của Nhật bản. Ngoài ra, sư còn viết một số bài in rải rác trong tạp chí Hải triều âm ở giai đoạn đầu. Năm 1925 sư tịch, hưởng dương 24 tuổi.

hiểu

1) Hiểu biết: To understand—To know—To make known. 2) Rõ ràng: Trong sáng—Shining—Clear. 3) Bình Minh: Dawn.

hiểu biết

• Hiểu biết (v): Janati (p)—Jnatum (skt)—Understanding—Knowledge—To comprehend—To gain knowledge. • Sự hiểu biết (n): Jananam (p)—Jna (skt)—Knowing—Understanding.

hiểu biết hạn hẹp

Understanding is not comprehensive.

hiểu biết sâu xa

Penetrative understanding

hiểu công

See Nguyên Hiểu.

hiểu công tứ giáo

6242新羅元曉判釋諸經所立之四教。即:(一)三乘別教,如四諦教、緣起經等。所說為聲聞、緣覺、菩薩三乘所共學,其中二乘僅知人空之理,未明法空之理,與菩薩別異,故稱三乘別教。(二)三乘通教,如般若經、深密經等。所說為聲聞、緣覺、菩薩三乘所共學,三乘皆明人、法二空之理,故稱三乘通教。(三)一乘分教,如瓔珞經、梵網經等。所說獨為一乘,即菩薩不與二乘共學,故稱一乘;又以所說未能顯現法之周遍圓融,故稱分教。(四)一乘滿教,如華嚴經等。亦獨為一乘,而所說具明法界之理,周遍圓融,故稱一乘滿教。澄觀於華嚴經疏鈔玄談卷四評之,謂此四教與天台宗所立藏、通、別、圓四教大致相同,所異者在於元曉合別教與圓教為一,而另加一乘分教而已。〔華嚴經探玄記卷一〕 ; (曉公四教) Bốn giáo do ngài Nguyên hiểu, người nước Tân la (nay là Triều tiên) lập ra để phán thích các kinh. Bốn giáo ấy là: 1. Tam thừa biệt giáo: Đức Phật nói Tứ đế, Duyên khởi, v.v... cho 3 thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát cùng tu, trong đó, Nhị thừa mới chỉ biết lí Nhân không chứ chưa rõ lí Pháp không cho nên gọi là Tam thừa biệt giáo. 2. Tam thừa thông giáo: Đức Phật nói các kinh Bát nhã, Thâm mật, v.v... cho 3 thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát cùng tu, cả3thừa đều biết rõ lí Nhân không , lí Pháp không nên gọi là Tam thừa thông giáo.3. Nhất thừa phần giáo: Đức Phật nói các kinh Anh lạc, Phạm võng, v.v... riêng cho Nhất thừa, tức hàng Bồ tát không cùng tu với Nhị thừa, nên gọi là Nhất thừa. Lại vì các kinh này chưa nói rõ sự viên dung trùm khắp của pháp nên gọi là Phần giáo. 4. Nhất thừa mãn giáo: Đức Phật nói kinh Hoa nghiêm, v.v... cho Nhất thừa giáo, hiển bày rõ lí pháp giới, viên dung trùm khắp nên gọi là Nhất thừa mãn giáo. Trong Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm quyển 4, ngài Trừng quán nói rằng 4 giáo này của ngài Nguyên hiểu đại khái giống với 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên của tông Thiên thai, chỉ có điều khác là ngài Nguyên hiểu đem hợp Biệt giáo và Viên giáo làm một, rồi thêm nhất thừa phần giáo.[X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1].

hiểu cổ

6242為「昏鼓」之對稱。即天明時所打之鼓。反之,黃昏時所打之鼓,稱為昏鼓。擊打之法為擬聲三聲,次以一棒由緩而漸快速打一通,反覆三次,最後殺聲三下而止。〔敕修百丈清規卷下法器章〕(參閱「昏鼓」3291) ; Trống tỉnh thức vào buổi bình minh—The reveillé drum at dawn. ; (曉鼓) Đối lại với Hôn cổ. Hồi trống báo hiệu trời sáng. Trái lại, trống đánh lúc chạng vạng tối gọi là Hôn cổ. Về cách đánh, trước tiên đánh dặt dặt trên mặt trống 3 tiếng, kế đến đánh 3 hồi dài từ chậm đến mau dần, cuối cùng đánh 3 tiếng là chấm dứt. [X. chương Pháp khí trong Sắc tu Bách trượng tranh qui Q.hạ]. (xt. Hôn Cổ).

hiểu liễu

6242<一>徹底通達、了解之意。灌頂經卷十二(大二一‧五三三中):「雖知明經不及中義,不能分別曉了中事。」 <二>唐代僧。為禪宗六祖慧能之嫡嗣。號曉了。住於匾擔山。北宗之忽雷澄撰其塔銘。生卒年不詳。〔五燈會元卷二、景德傳燈錄卷五、全唐文卷九一三曉了禪師塔銘〕 ; Làm cho sáng tỏ—To make clear. ; (曉了) I. Hiểu Liễu. Thông suốt một cách triệt để. Kinh Quán đính quyển 12 (Đại 21, 533 trung), nói: Dù biết rõ kinh mà không hiểu đúng nghĩa, thì không thể phân biệt, hiểu rõ sự việc một cách đúng đắn . II. Hiểu Liễu. Vị Thiền tăng sống vào đời Đường, đệ tử nối pháp của Lục tổ Tuệ năng, hiệu là Hiểu liễu, trụ ở núi Biển đảm. Bài minh trên tháp của sư do ngài Hốt lôi trừng soạn. Năm sinh năm mất và quê quán đều không rõ. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; Hiểu liễu thiền sư tháp minh trong Toàn đường văn Q.913].

Hiểu liễu 曉了

[ja] ギョウリョウ gyōryō ||| To awaken. To fully understand. => Tỉnh thức, thông hiểu.

hiểu lầm

To misunderstand—To misconceive.

hiểu ngầm

To understand through hints.

hiểu như thật

Xem Thấy như thật.

hiểu nông cạn hẹp hòi

Sperficial and narrow understanding of the issue.

hiểu oánh

6243南宋臨濟宗僧。字仲溫。少壯行腳,遍參諸方叢林,得了大事,嗣法於大慧宗杲。晚年歸隱江西羅湖,杜門不與世接。紹興二十五年(1155),以生平見聞、與諸方尊宿提撕語,及友朋談論之言,編輟著書,成羅湖野錄四卷、雲臥紀談二卷,為世所寶。籍貫、生卒年均不詳。〔明高僧傳卷八、佛祖通載卷二十、五燈會元補遺、佛祖綱目卷三十八〕 ; (曉瑩) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đời Nam Tống, tự Trọng ôn. Lúc trẻ sư đi hành cước, tham học hầu hết các tùng lâm ở nhiều nơi, rõ được đại sự (sinh tử) và nối pháp ngài Đại tuệ Tông cảo.Cuối đời, sư trở về ẩn tu ở La hồ, Giang tây, đóng cửa không tiếp khách. Năm Thiệu hưng 25 (1155), sư đem những điều thấy nghe trong cuộc đời tham học của mình, những lời chỉ dạy của các bậc tôn túc ở khắp nơi và những lời đàm luận với bạn bè, biên soạn thành sách rất được đời sau trân trọng. Trứ tác: La hồ dã lục, 4 quyển, Vân ngọa kỉ đàm, 2 quyển. [X. Minh cao tăng truyện Q.8; Phật tổ thông tải Q.20; Ngũ đăng hội nguyên bổ di; Phật tổ cương mục Q.38].

Hiểu Oánh Trọng Ôn

(曉瑩仲溫, Gyōei Chūon, 1116?-?): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Trọng Ôn (仲溫). Ông đi tham vấn khắp chốn tùng lâm, cuối cùng liễu ngộ đại sự và kế thừa dòng pháp của Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲). Đến cuối đời ông đến sống bên La Hồ (羅湖), viết cuốn La Hồ Dã Lục (羅湖野錄); rồi khi ở Vân Ngọa Am (雲臥庵), ông viết cuốn Vân Ngọa Ký Đàm (雲臥記談).

hiểu pháp bằng lý thuyết

Pariyatti (S), Theoretical understanding.

hiểu rõ

To understand clearly.

hiểu vân

6242(1913~ )廣東南海人,俗姓游。別號青峰。早耽禪悅,樂文詞,嗜丹青。廣東文理學院、南中美術學院畢業,拜嶺南畫祖高劍父之門下。民國三十一年(1942)抗戰期間,曾參加後方戰時文化工作,後隨中央文化協會抵陪都。三十五年遊學印度,印度泰戈爾大學美術學院聘為研究員,並任教中國畫學。於阿羅頻多哲學院研究古代印度哲學,遍禮佛蹟。四十一年返香港,創辦雲門學園及原泉出版社,刊行原泉雜誌。 四十四年至四十七年環球之行,歷歐、亞、美二十餘國,與各國文教人士晤談,舉行雲門畫展,應邀演講禪宗與中國藝術等。回港後,禮天台宗倓虛為師,依止釋門,法名能淨,字曉雲。創佛教文化藝術協會,悉心推展佛教文教事業。五十六年應華岡中國文化大學之聘回國任教,授佛教哲學、佛教藝術課程,創佛教文化研究所,並兼任所長。另創立蓮華學佛園、華梵佛學研究所,以培養佛教人才。此外又創辦清涼藝展十餘屆。曾應邀出席世界佛教藝術專家會議、二十八屆東方學者會議等。著有禪林教化對現代教育之啟示、佛教園林思想、印度藝術等書。

hiểu ý

To know someone's intention.

Hiểu 曉

[ja] ギョウ gyō ||| (1) To awaken; to clarify. (2) Sunrise, morning, dawn. (3) To remove, conceal, exclude (vinodana). => 1. Thức tỉnh, làm trong sáng. 2. Bình minh, buổi sáng, rạng đông. 3. Lấy ra, che đậy, loại trừ.

hiện

Appear, apparent; manifest, visible; now; presnt; ready. ; 1) Xuất hiện: To appear—Visible—Present—To manifest. 2) Hiện tại: Present—Now. 3) Hiển hiện: Apparent—Visible.

hiện báo

Present life recompense for good or evil done in the present life. ; Immediate retribution—Quả báo hiện đời cho những hành động tốt xấu trong hiện tại. Thí dụ như đời nầy làm lành thì ngay ở đời nầy có thể được hưởng phước; còn đời nầy làm ác, thì ngay ở đời nầy liền bị mang tai họa—Present-life recompense for good or evil done in the present life. For example, if wholesome karma are created in this life, it is possible to reap those meritorious retributions in this present life; if evil karma are committed in this life, then the evil consequences will occur in this life.

hiện báo nghiệp

Ḍsta-dharma-vedaniya-karma (S)Nghiệp đời này, thành thục trong đời này.

hiện bát

4727即不再轉生,於欲界現生般涅槃者。為七種不還之一,二十七聖賢之一。為聲聞四果中第三不還果之一類。不還果之聖者於欲界(不生於色界、無色界)之現生中,斷盡餘惑而入涅槃。 ; (現般) Chỉ cho quả Bất hoàn trong 4 quả Thanh văn. Bậc Thánh ở cõi Dục dứt hết các hoặc còn rớt lại mà vào Niết bàn, nên gọi là Hiện bát. Là một trong 7 loại Bất hoàn, một trong 27 bậc Hiền Thánh.

hiện bát niết bàn

4727般涅槃,入滅之意。佛陀八相成道中,示現入涅槃之相,即稱現般涅槃。又含現生入滅之意。據大日經卷六「三三昧耶品」載,於一身示現三種,即佛、法、僧;由此成立說三種乘,即廣作佛事、現般涅槃、成熟眾生。 ; (現般涅槃) Thị hiện tướng vào Niết bàn, một trong 8 tướng thành đạo của đức Phật. Cũng hàm ý là nhập Niết bàn trong đời hiện tại. Cứ theo phẩm Tam tam muội da trong kinh Đại nhật quyển 6, thì trong một thân thị hiện Phật, Pháp, Tăng; dựa vào đó mà lập thuyết Tam chủng thừa; tức là làm các Phật sự, giáo hóa chúng sinh hiện Bát niết bàn.

hiện chứng

Abhisamaya (S). The immediate realization of enlightenment, or nirvàna; abhisamaya, inner realization; pratyaksa, immediate perception, evidence of the eye or other organ. ; Pratyaksha (skt). • Nhận thức ngay liền diệu quả: The immediate realization of enlightenment or nirvana—Inner realization—Immediate perception. • Khi một sự vật xuất hiện trước một cơ quan cảm giác hay căn thì cơ quan nầy nhận thức nó và nhận biết nó là một cái gì ở bên ngoài. Đây là cái biết ngay liền, tạo thành nền tảng cho tất cả các hình thức biết khác: When an object appears before a sense-organ, the latter perceives it and recognizes it as something external. This is immediate knowledge, forming the basis of all other forms of knowledge.

hiện chứng lượng

Học hay tìm hiểu qua thấy biết—Learning by seeing and understanding.

hiện chứng tam muội đại giáo vương kinh

4731全三十卷。宋代施護譯。全稱一切如來真實攝大乘現證三昧大教王經。又稱宋譯教王經、三十卷大教王經、大教王經。收於大正藏第十八冊。本經相當於唐代不空譯金剛頂經所載十八會中初會之全部。於初會(一切如來真實攝教王會)列出金剛界品、降三世品、遍調伏品、一切義成就品,共四大品,二十六分。四大品各有大、三昧耶、法、羯磨之四種曼荼羅,又明示四曼荼羅各有五佛、四波羅蜜、十六大菩薩、四攝、八供養等三十七尊。 ; (現證三昧大教王經) Gọi đủ: Nhất thiết Như lai chân thực nhiếp đại thừa hiện chứng tam muội đại giáo vương kinh. Cũng gọi Tống dịch giáo vương kinh, Tam thập quyển đại giáo vương kinh, Đại giáo vương kinh. Gồm 30 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, thu vào Đại chính tạng tập 18. Kinh này tương đương với toàn bộ hội thứ 1 trong 18 hội của kinh Kim cương đính do ngài Bất không dịch vào đời Đường. Nội dung gồm 26 phần thuộc 4 phẩm lớn: Kim cương giới, Hàng tam thế, Biến điều phục và Nhất thiết nghĩa thành tựu; mỗi phẩm có 4 loại Mạn đồ la: Đại, Tam muội da, Pháp và Yết ma. Trong mỗi Mạn đồ la đều có 37 vị tôn: 5 Phật, 4 Ba la mật, 16 Đại bồ tát, 4 Nhiếp và 4 Cúng dường.

hiện có

Existent.

hiện diện

To be present.

hiện dụ

4728為北本大般涅槃經卷二十九所說之八種譬喻之一。於解釋事理時,若取現在之事實以作譬喻,稱為現喻。如說眾生之心性猶如獼猴,即為一例。此乃取目前一般較易為人理解之事實,即以獼猴之特性為喻,來說明不易理解之眾生心性。(參閱「譬喻」6809) ; Một cách so sánh bao gồm dữ kiện hay hoàn cảnh hiện tại—A comparison consisting of immediate facts, or circumstances. ; (現喻) Dùng một sự thực hiện tại dễ hiểu làm ví dụ để giải thích một sự lí nào đó, gọi là Hiện dụ. Như các kinh luận thường dùng khỉ, vượn để ví dụ tâm chúng sinh. Nghĩa là tâm chúng sinh thường duyên theo ngoại cảnh, giống như khỉ, vượn leo trèo, thường bỏ cành này vin cành khác. Hiện dụ là một trong 8 loại thí dụ nói trong kinh Niết bàn quyển 29 (bản Bắc). (xt. Thí Dụ).

hiện giờ

At this moment.

Hiện hoá 現化

[ja] ゲンケ genke ||| Incarnation, manifestation, transformation (nirmita). 〔法華經 T 262.9.28a21〕 => Hiện thân, sự hiện hình, hoá thân (nirmita).

hiện hành

4725請參閱 稱揚諸佛功德經 請參閱 賢劫千佛名經 梵語 abhisaṃskara。指有為法顯現於眼前之意。又作現行法。說一切有部不立種子,認為諸法係從雜亂而住之未來領域,由因緣和合而起現行。唯識宗則主張於阿賴耶識具有生出一切法之能力,稱為種子;自此種子產生色心一切萬法(即現行法),稱為現行。其中,即以種子為因相,依因緣之故,現行為果相。如此,阿賴耶識之種子由因緣和合而生現行,即稱為種子生現行;再次由其現行法之影響,而薰習新種子(即新薰種子),稱為現行薰種子。在種子、現行法、新薰種子三者之間,產生「種子生現行」、「現行薰種子」之密切關係,互為因果,同時完成。亦即現行由種子而生,種子依現行薰成,能生之種子、所生能薰之現行、所薰之種子,形成三法展轉,互為因果,故稱為「三法展轉因果同時」。又於現行中,除佛果之一切善、前六識中業所招感之極劣無記、第八之心品外,其餘之現行,具有能薰四義之故,悉皆能薰本識(第八識)以生自類種子,此乃相對於「種子因緣」,而稱「現行因緣」。〔俱舍論卷十九、阿毘達磨順正理論卷五十三、成唯識論卷二、卷七、成唯識論述記卷三本〕(參閱「阿賴耶識」3676、「種子」5863) ; Abhisaṃskāra (S), Abhisaṃskaroti (S), Abhisaṃskaṛta (S), Accomplishment Các pháp hữu vi trước mắt. ; Now going, or proceeding; present or manifest activities. ; A Lại Da có khả năng sinh ra nhất thiết pháp hay chủng tử. Từ chủng tử nầy mà sinh ra pháp tâm sắc hay hiện hành—Now going, or proceeding; present or manifest activities. ; (現行) Phạm: Abhisaôskara. Cũng gọi Hiện hành pháp. Các pháp hữu vi hiển hiện trước mắt. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng các pháp tạp loạn, do nhân duyên hòa hợp mà khởi hiện lành, nên không lập thuyết chủng tử. Tông duy thức chủ trương trong thức A lại da có đủ năng lực sinh ra tất cả pháp, nên năng lực ấy được gọi là chủng tử (hạt giống). Chủng tử ấy sinh ra tất cả muôn pháp sắc, tâm, gọi là Hiện hành (pháp hiện hành). Trong đó, chủng tử là nhân, nương vào nhân duyên mà khởi hiện hành, nên hiện hành là quả. Như vậy chủng tử của thức A lại da nhờ nhân duyên hòa hợp mà sinh hiện hành, nên gọi là Chủng tử sinh hiện hành, rồi lại do pháp hiện hành mà huân tập chủng tử mới (tân huân chủng tử), cho nên gọi là Hiện hành huân chủng tử. Giữa Chủng tử, Hiện hành và Tân huân chủng tử có mối quan hệ Chủng tử sinh hiện hành và Hiện hành huân chủng tử rất mật thiết, làm nhân làm quả cho nhau, hoàn thành cùng một lúc. Cũng tức là Hiện hành do Chủng tử sinh ra, Chủng tử lại nhờ Hiện hành mà được huân tập. Như vậy 3 pháp: Chủng tử năng sinh, Hiện hành năng huân sở sinh và Chủng tử sở huân đắp đổi lẫn nhau, làm nhân làm quả cho nhau mà hình thành, cho nên gọi là Tam pháp triển chuyển nhân quả đồng thời . Trong hiện hành, ngoài các điều thiện của quả Phật, những chủng tử vô kí yếu ớt do nghiệp của 6 thức trước chiêu cảm và tâm phẩm của thức thứ 8 (A lại da) ra, còn các hiện hành khác vì có đủ 4 nghĩa năng huân, nên đều có thể huân lại bản thức (thức thứ 8) để sản sinh ra chủng tử của tự loại. Đây gọi là Hiện hành nhân duyên để đối lại với Chủng tử nhân duyên . [X. luận Câu xá Q.19; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.53; luận Thành duy thức Q.2, Q.7; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. A Lại Da Thức, Chủng Tử).

Hiện hành phiền não 現行煩惱

[ja] ゲンギョウボンノウ gengyō bonnō ||| Defilements in their state of manifest activity (纏), as distinguished from defilements which are in the state of latent potential (隨眠). 〔二障義HPC 1.793a〕 => Phiền não trong trạng thái hoạt động (triền 纏), khác biệt với phiền não đang ở trong trạng thái tiềm ẩn (tuỳ miên 隨眠).

hiện hành pháp

Từ hạt giống A Lại Da hiển hiện thành mọi pháp hành động—Things in present or manifested action, phenomena in general.

Hiện hành 現行

[ja] ゲンギョウ gengyō ||| Skt. adhyācarati, samudācāra. (1) That which is manifestly operating. This term is often seen used in contrast to the term 隨眠 ("dormant") to refer to bad habits which have been lying unnoticed but manifest themselves when circumstances are appropriate. 〔二障義、 HPC 1.789c〕(2) In Consciousness-only theory, the appearance of things in their manifest aspect emerging from seeds in the ālaya-consciousness 阿頼耶識. This term is used ubiquitously in the Yogācāra-bhūmi-śāstra 瑜伽師地論. (3) The manifest action of the two hindrances 二章 as they are produced from various seeds. (4) To act. (5) Materialization, as object of perception or conception. => (s: adhyācarati, samudācāra) 1. Những gì đang biểu hiện. Thuật ngữ nầy thường dùng đối nghịch với Tuỳ miên 隨眠, đề cập đến những tập khí xấu nằm ẩn sâu không thấy được, nhưng chỉ biểu hiện khi gặp hoàn cảnh tương ứng. 2. Theo giáo lý Duy thức, đó là diện mạo của những hiện tượng khi chúng biểu biểu xuất phát từ chủng tử trong A-lại-da thức. Thuật ngữ nầy được dùng nhiều nơi trong Du-già sư địa luận. 3. Tác dụng biểu hiện của Nhị chướng khi chúng sinh khởi từ những chủng tử khác nhau. 4. Hành động. 5. Sự thực hiện, mục tiêu của nhận thức hay quan niệm.

hiện hình

To manifest—To appear.

hiện hữu

Bhava (S). Existence, process of existence. ; Existence—Existing.

hiện khởi quang

4727「常光」之對稱。二光之一。指佛為化益眾生,應其機感而現起之光明,隨機感而隱顯不定。又作神通光、放光。阿彌陀經義疏聞持起卷中載,佛光有二:一者常光,二者現起光。始終一如,凡聖皆睹,故稱常光;隨機隱顯,有無不定,故稱現起光。〔阿彌陀經義疏、選擇集決疑鈔見聞持卷三〕(參閱「二光」192) ; The phenomenal radiance of Buddha which shines out when circumstances require it, as contrasted to his noumenal radiance which is constant. ; Hào quang bên ngoài của Phật (tùy theo hoàn cảnh bên ngoài), đối lại với thường quang của Phật—The light in temporary manifestations—The phenomenal radiance of Buddha which shines out when circumstances require it, as contrasted to his noumenal radiance which is constant. ; (現起光) Cũng gọi Thần thông quang, Phóng quang. Đối lại với Thường quang. Một trong 2 loại hào quang. Phóng hào quang. Đức Phật tùy cơ cảm của chúng sinh mà phóng hào quang để giáo hóa, làm lợi ích cho họ. A di đà kinh nghĩa sớ văn trì khởi quyển trung nói, hào quang của đức Phật có 2 loại: Thường quang và Hiện khởi quang. Trước sau như một, phàm thánh đều thấy, nên gọi là Thường quang; tùy theo căn cơ của chúng sinh mà lúc ẩn lúc hiện, khi có khi không, nên gọi là Hiện khởi quang. [X. A di đà kinh nghĩa sớ; Tuyển trạch tập quyết nghi sao kiến văn trì Q.3]. (xt. Nhị Quang).

Hiện khởi 現起

[ja] ゲンキ genki ||| To be manifest, actualized, active, present. (Skt. saṃbhūti, pratibhāsa; Tib. ḥbyuṅ ba) 〔成唯識論T 1585.31.37a〕 => Biểu hiện, biến thành hiện thực, hoạt động, hiện tiền (Skt. saṃbhūti, pratibhāsa; Tib. ḥbyuṅ ba) .

hiện kiến bồ tát

Pratyaksadarśana (S)Tên một vị Bồ tát.

hiện kiếp

Auspicious Kalpa The present cosmic period, in which a thousand Buddhas are believed to appear.

hiện lên

See Hiện Hình.

hiện lượng

4729梵語 pratyakṣa-pramāṇa。因明用語。三量之一,心識三量之一。量,為尺度之意,指知識來源、認識形式,及判斷知識真偽之標準。現量即感覺,乃尚未加入概念活動,毫無分別思惟、籌度推求等作用,僅以直覺去量知色等外境諸法之自相。如五根之眼見色、耳聞聲等是。廣義之現量,分為真現量,似現量兩種,真現量係指未受幻相、錯覺等所影響,且尚未加入概念分別作用之直接經驗;似現量則指由於幻相、錯覺所致,或已加入概念分別作用之認識。狹義之用法,現量一詞多指真現量而言。於唯識中,五識之緣五境、五同緣意識、五俱意識、定中之意識與第八識之緣諸境,均為出於心識上之現量。因明所用之現量,唯有五識及五同緣、五俱意識而已。 因明入正理論(大三二‧一二中):「現量謂無分別,若有正智於色等義,離名種等所有分別,現現別轉,故名現量。」因明入正理論疏卷上(大四四‧九三中):「能緣行相,不動不搖,自循照境,不籌不度,離分別心,照符前境,明局自體,故名現量。」〔瑜伽師地論卷十五、因明入正理論疏卷下、因明論疏明燈抄卷三末、卷四本、因明入正理論疏瑞源記卷四〕(參閱「三量」633) ; Reasoning from the manifest, pratyaksa, (1)-Immediate, or direct reasoning, whereby the eye apprehends and distinguish colour and form,the ear sound etc. (2)-Immediate insight into, or direct inference in a trance định of all the conditions of the àlayavijnàna. ; Người tu chánh pháp được chứng ngộ, hiển hiện bản thể đầy khắp không gian thời gian, cái thực tướng này gọi là Hiện lượng, cái dụng gọi là Hiện lượng trí. ; Lý luận hay lượng tri hiện thực của các pháp để biết tự tượng chứ không nhằm phân biệt—Reasoning from the manifest—Appearance, i.e. smoke. ** For more information, please see Nhị Lượng. ; (現量) Phạm: Pratyakwa-Pramàịa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Lượng nghĩa là đo lường, là tiêu chuẩn để phân biệt đúng và sai của tri thức. Trí óc suy xét, cho cái này đúng, cái kia sai là lượng . Khi ta nhận biết sự vật chung quanh mà chưa phân biệt, suy xét, thì gọi là hiện lượng, một trong 3 lượng. Hiện lượng có 2 loại: Chân hiện lượng và Tự hiện lượng. - Chân hiện lượng: Sự nhận biết đúng về trực giác, chưa bị ảnh hưởng bởi những huyễn tướng hoặc tác dụng phân biệt của khái niệm, như thấy sợi dây thì biết ngay đó là sợi dây. Tự hiện lượng: Sự nhận biết sai về hiện lượng, tức là sự nhận thức đã bị ảnh hưởng bởi các huyễn tướng hoặc tác dụng phân biệt của khái niệm, như khi thấy khói cho là mây, thấy mây tưởng là khói; hoặc trong chỗ tối lờ mờ, thấy sợi dây cho ngay đó là con rắn, v.v... Nói theo nghĩa hẹp, Hiện lượng thường chỉ cho Chân hiện lượng mà thôi. Tông Duy thức cho rằng 5 loại: Ngũ cảnh (chỗ duyên theo của Ngũ thức), Ngũ đồng duyên ý thức, Ngũ câu ý thức, Định trung ý thức và Chư cảnh (các đối tượng mà thức thứ 8 duyên theo) đều là những hiện lượng phát sinh từ tâm thức. Còn đối với Nhân minh thì chỉ có Ngũ thức và Ngũ đồng duyên, Ngũ câu ý thức là hiện lượng. Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển thượng (Đại 44, 93 trung), nói: Hành tướng năng duyên không động, không lay, tự chiếu theo cảnh, không tính toán suy xét, xa lìa tâm phân biệt, phù hợp với cảnh hiện tiền, làm sáng tỏ tự thể nên gọi là Hiện lượng . [X. luận Du già sư địa Q.15; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.hạ phần cuối, Q.4 phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận sớ thụy nguyên kí Q.4]. (xt. Tam Lượng).

hiện lượng tương vi quá

4729因明用語。現量相違,梵語 pratyakṣa-viruddha。為因明三十三過中,宗九過之一。為所立之宗(命題)與現量之智證相違反而產生之過誤。例如立「聲非所聞」即是;蓋以吾人現量知識(感覺知識)之所得,「聲」即「所聞」之結果,故若言「聲非所聞」,即與吾人之「現量智」相矛盾。 因明入正理論疏卷中(大四四‧一一四中):「現量體者,立敵親證法自相智,以相成宗,本符智境。立宗已乖正智,令智那得會真?耳為現體,彼此極成;聲為現得,本來共許,今隨何宗所立?但言聲非所聞,便違立、敵證智,故名現量相違。」 現量相違可詳分為全分、一分二類,每一類復各有四句之別。全分相違過有:違自現非他、違他現非自、違共現、俱不違。一分相違過有:違自一分現非他、違他一分現非自、俱違一分現、俱不違一分。〔因明論疏明燈抄卷三末、卷四本、因明入正理論疏瑞源記卷四〕(參閱「因明」2276、「宗九過」3145) ; (現量相違過) Hiện lượng tương vi, Phạm: Pratyakwa- Viruddha. Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi do lập tong (mệnh đề) trái với trí chứng hiện lượng, một trong 9 lỗi thuộc về Tông trong 33 lỗi Nhân minh. Chẳng hạn như lập Tông: Âm thanh chẳng phải là cái bị nghe . Đây là lỗi hiện lượng tương vi. Bởi vì theo sự nhận biết của trí hiện lượng (trực giác), thì âm thanh là cái bị nghe , cho nên, nếu nói Âm thanh chẳng phải là cái bị nghe thì hiển nhiên là mâu thuẫn với hiện lượng. Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển trung (Đại 44, 114 trung), chép: Về thể hiện lượng thì người lập luận và người vấn nạn đều đã biết rõ tự tướng của các pháp, phải căn cứ vào tướng ấy mà thành lập Tông cho phù hợp với trí cảnh. Nếu lập Tông mà trái với chính trí thì làm sao hiểu đúng được. Tai là cái hiện thấy, âm thanh là cái bị nghe, xưa nay vốn được cả 2 bên chấp nhận. Nay nếu lập Tông Âm thanh chẳng phải là cái bị nghe thì tất nhiên đã phạm lỗi hiện lượng tương vi. Hiện lượng tương vi có thể chia làm 2 loại: Toàn phần tương vi quá và Nhất phần tương vi quá. Mỗi loại lại chia làm 4 loại khác nhau. Toàn phần tương vi quá gồm 4 loại: Vi tự hiện phi tha, Vi tha hiện phi tự, Vi cộng hiện và Câu bất vi. Nhất phần tương vi quá cũng có 4 loại: Vi tự nhất phần hiện phi tha, Vi tha nhất phần hiện phi tự, Câu vi nhất phần, Câu bất vi nhất phần. [X. Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.3 phần cuối, Q.4 phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận sớ thụy nguyên kí Q.4]. (xt. Nhân Minh, Tông Cửu Quá).

Hiện lượng 現量

[ja] ゲンリョウ genryō ||| (1) To be seen clearly (pratyaksam). (2) Direct awareness; direct cognition or experience; esp. to have direct awareness of something without interference from conceptualization or predispositions (pratyakṣa). (3) One of the three bases of cognition in Buddhist logic, where one cognizes things exactly as they are. => 1. Thấy một cách rõ ràng (s: pratyaksam). 2. Nhận thức trực tiếp; nhận biết hay kinh nghiệm trực tiếp; đặc biệt là có nhsự nhận biết ngay không qua suy luận hay một khuynh hướng nào (s: pratyakṣa). 3. Một trong 3 nhận thức căn bản trong luận lí Phật giáo, nhận thức sự vật đúng như chúng đang là.

hiện nghiệp

Ditthadhammavedaniya (p)—Immediately effective karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), hiện nghiệp là nghiệp mà quả của nó phải trổ sanh trong kiếp hiện tại (nghiệp trổ quả tức khắc); nếu không thì nó sẽ trở thành vô hiệu lực—According to the Abhidharma, immediately effective karma is a karma which, if it is to ripen, must yield its results in the same existence in which it is performed; otherwise, if it does not meet the opportunity to ripen in the same existence, it becomes defunct. This karma is divided into two parts: a) Quả lành trổ sanh trong kiếp hiện tại: Trong Truyện Cổ Phật Giáo có một câu chuyện về “Quả Lành Trổ Sanh Ngay Trong Kiếp Hiện Tại” như sau. Vào thời Đức Phật còn tại thế, có hai vợ chồng người kia chỉ có một cái áo choàng che thân. Khi chồng có việc đi đâu, mặc áo, thì vợ phải ở nhà. Nếu vợ đi thì chồng ở nhà. Một ngày kia, chồng đi nghe Đức Phật thuyết pháp, lấy làm thỏa thích bèn nẩy sinh ý định muốn dâng lên Phật cái áo duy nhất ấy, nhưng lòng luyến ái cố hữu của con người trổi lên, và một cuộc tranh đấu với chính mình diễn ra trong lòng anh. Sau cùng tâm bố thí chế ngự được lòng luyến ái. Anh hết sức vui mừng mà reo lên rằng: “Ta đã chiến thắng, ta đã chiến thắng” và hành động đúng y như sở nguyện, đem dâng cái áo duy nhất của hai vợ chồng lên Phật. Câu chuyện lọt đến tai vua. Đức vua bèn hoan hỷ truyền lệnh ban cho anh ta 32 bộ áo. Người chồng mộ đạo nầy lựa ra một cái cho mình, một cái cho vợ, còn bao nhiêu đem dâng hết cho Đức Phật và Tăng đoàn—The result of a good karma reaped in this life. In the Buddhist Legends, there is a story about the result of a good karma reaped in this life. At the time of the Buddha, a couple of husband and wife who possessed only one upper garment to wear when they went outdoor. One day the husband heard the Dharma from the Buddha and was so pleased with the doctrine that he wished to offer his only upper garment to the Buddha, but his inate greed would not permit him to do so. He combatted with his mind and, eventually overcoming his greed, offered the garment to the Buddha and exclaimed, “I have won, I have won.” Upon learning this story, the king was so delighted and in appreciation of his generosity, the king presented him with 32 robes. The devout husband kept one for himself, and another for his wife, and offered the rest to the Buddha and the Order. b) Quả dữ trổ sanh trong kiếp hiện tại: Trong Truyện Cổ Phật Giáo có một câu chuyện về “Quả Dữ Trổ Sanh Ngay Trong Kiếp Hiện Tại” như sau. Một người thợ săn dắt bầy chó vào rừng để săn thú, thấy bên đường có một vị Tỳ Kheo đang đi khất thực. Đi cả buổi không săn được gì, người thợ săn lấy làm bực tức cho rằng xui vì giữa đường gặp đạo sĩ. Lúc trở về lại cũng gặp vị đạo sĩ ấy, nên người thợ săn nổi cơn giận xua chó cắn vị sư. Mặc dầu vị sư hết lời năn nỉ van lơn, người thợ săn vẫn cương quyết không tha. Không còn cách nào khác, vị sư bèn trèo lên cây để tránh bầy chó dữ. Người thợ săn bèn chạy đến gốc cây giương cung bắn lên, trúng nhằm gót chân vị sư. Trong lúc quá đau đớn, vị sư đánh rơi cái y xuống đất, chụp lên đầu và bao trùm lên toàn thân tên thợ săn. Bầy chó tưởng lầm là vị sư đã té xuống, nên áp lại cắn xé chính chủ của mình—The result of a bad karma reaped in this life. In the Buddhist Legends, there is a story about the result of a bad karma reaped in this life. At the time of the Buddha, there was a hunter who went hunting to the forest, followed by his dogs, met by the wayside a monk who was proceeding on his almsround. As the hunter could not procure any game he thought it was due to the unfortunate meeting of the monk. While returning home he met the same monk and was deeply engraved at this second encounter. In spite of the entreaties of the innocent monk, the hunter set the dogs on him. Finding escape therefrom, the monk climbed a tree. The wicked hunter ran up the tree, and pierced the soles of the monk's feet with the point of an arrow. The pain was so excruciating that the robe the monk was wearing fell upon the hunter completely covering him. The dogs, thinking that the monk had fallen from the tree, devoured their own master.

hiện nhất thiết sắc thân tam muội

The Samàdhi which enables to manifest in all forms of physical body.

hiện nhứt thiết thế gian

Sarvabuddha-samdarśana (S)Cõi thế giới thời quá khứ, Phật quốc của đức Như lai Vân lôi Âm vương Phật.

hiện pháp lạc hạnh

Xem Hiện pháp lạc trú.

hiện pháp lạc trú

Ḍstadharma sukhavihāra (S)Một loại định, ở đó hành giả tu tập thiền định, lìa bỏ vọng tưởng, than tâm vắng lặng, hiện được pháp hỷ, an trụ chẳng động.

hiện pháp lạc trụ

4726梵語 dṛṣṭa-dharma-sukha-vihāra。色界四等持之一,禪定七名之一。即依定之結果而有此稱。「後法樂住」之對稱。又作現法樂、現法安樂住、現法喜樂住。無學之聖者經由修善靜慮,住於解脫之法樂。據俱舍論卷二十八載,即依淨、無漏之四根本靜慮而得現前之法樂。大毘婆沙論卷二十六列舉出家樂、遠離樂、寂靜樂、三菩提樂等四種現法樂住。又此現法樂住唯限於色界四靜慮,不通於近分及無色界。〔俱舍論卷二十八、大毘婆沙論卷八十一、顯揚聖教論卷十九、阿毘達磨順正理論卷七十九〕(參閱「定」3171) ; (現法樂住) Phạm: Dfwia-dharma-sukha-vihàra. Cũng gọi Hiện pháp lạc, Hiện pháp an lạc trụ, Hiện pháp hỉ lạc trụ. Đối lại với Hậu pháp lạc trụ. An trụ trong niềm vui pháp hiện tiền. Bậc Thánh vô học nhờ tu tập các thiện tĩnh lự mà được an trụ trong pháp vui giải thoát. Vì căn cứ vào kết quả của thiền định nên có tên gọi là Hiện pháp lạc trụ. Một trong 4 Đẳng trì của cõi Sắc, một trong 7 loại Thiền định.Cứ theo luận Câu xá quyển 28, thì nhờ nương vào 4 Tĩnh lự căn bản thanh tịnh, vô lậu mà được pháp lạc hiện tiền. Luận Đại tì bà sa quyển 26 thì nêu ra 4 loại Hiện pháp lạc trụ là: Xuất gia lạc, Viễn li lạc, Tịch tĩnh lạc và Tam bồ đề lạc. Hiện pháp lạc trụ nói chung chỉ giới hạn trong 4 Tĩnhlự căn bản ở cõi Sắc, chứ không có ở Cận phần định và cõi Vô sắc.[X. luận Câu xá Q.28; luận Đại tì bà sa Q.81; luận Hiển dương Thánh giáo Q.19; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.79]. (xt. Định).

hiện pháp niết bàn luận

4726為有關涅槃之不同見解。乃外道所執六十二見中,依後際(未來)所起之分別見。計有五種,故又作五種現法涅槃論、五現法涅槃論。即主張於現在之五欲自恣受樂,故此欲界即為涅槃;復主張色界初禪天、二禪天、三禪天、四禪天即為涅槃。此論相當於外道十六宗中妄計清淨宗之主張。〔大毘婆沙論卷一九九、大乘法苑義林章卷四末〕(參閱「六十二見」1241) ; (現法涅槃論) Cũng gọi Ngũ chủng hiện pháp Niết bàn luận, Ngũ hiện pháp Niết bàn luận. Năm kiến giải khác nhau về Niết bàn, một trong 62 kiến chấp của ngoại đạo. Luận thuyết này chủ trương hưởng thụ khoái lạc ngũ dục ở hiện tại là Niết bàn. Cho nên họ chia Niết bàn làm 5 loại: Dục giới Niết bàn, Sơ thiền Niết bàn, Nhị thiền Niết bàn, Tam thiền Niết bàn và Tứ thiền Niết bàn. Luận thuyết này tương đương với chủ trương của tông Vọng kế thanh tịnh trong 16 tông ngoại đạo. [X. luận Đại tì bà sa Q.199; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4 phần cuối]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến).

Hiện phược 現縛

[ja] ゲンバク genbaku ||| Presently manifested affliction (binding). 〔二障義HPC 1.795b〕 => Thế giới phiền não hiện tiền (trói buộc).

Hiện Quang

現光; ?-1221|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 14, là vị Tổ khai sơn của phái Yên Tử thời nhà Trần sau này. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Trí Thông và sau truyền lại cho đệ tử là Ðạo Viên.|Sư tên tục là Lê Thuần, quê ở thành Thăng Long, mồ côi từ nhỏ. Năm 11 tuổi, Sư được Thiền sư Thường Chiếu đem về nuôi nhưng chưa ngộ được ý chỉ thì Thường Chiếu đã viên tịch.|Sư dạo khắp nơi cầu đạo và khi đến chùa Thánh Quả, nơi Thiền sư Trí Thông trụ trì, Sư nhân một câu bỗng tỉnh ngộ, ở lại đây hầu hạ một thời gian. Sau đó, Sư lui vào núi Uyên Trừng, phủ Nghệ An sống ẩn dật và sau này lại đến núi Yên Tử cất am cỏ ở dưỡng già. Vua Lí Huệ Tông rất kính trọng đạo hạnh của Sư, sắp bày đủ lễ đón tiếp nhưng Sư một mực từ chối.|Mùa xuân năm Tân Tị, niên hiệu Kiến Gia thứ 11 đời Lí Chiêu Hoàng, Sư ngồi ngay thẳng trên một tảng đá nói kệ:|幻法皆是幻。幻修皆是幻|二幻皆不即。即是除諸幻|Huyễn pháp giai thị huyễn|Huyễn tu giai thị huyễn|Nhị huyễn giai bất tức|Tức thị trừ chư huyễn|*Huyễn pháp đều là huyễn|Huyễn tu đều là huyễn|Hai huyễn đều chẳng nhận|Tức là trừ các huyễn.|Nói kệ xong, Sư an nhiên thị tịch. Ðệ tử là Ðạo Viên thực hành đầy đủ lễ táng trong núi.

hiện quang thiền sư

Zen Master Hiện Quang (?-1221)—Thiền sư Việt Nam, quê ờ Thăng Long, Bắc Việt. Lúc 11 tuổi ngài xuất gia và trở thành đệ tử của Thiền sư Thường Chiếu. Sau khi thầy thị tịch, ngài gặp và trở thành đệ tử của Thiền sư Trí Thông. Ngài là pháp tử đời thứ 14 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Ngài thị tịch năm 1221—A Vietnamese Zen master from Thăng Long, North Vietnam. At the age of 11, he left home and became a disciple of Zen master Thường Chiếu. After his master passed away, he met and became a disciple of Zen master Trí Thông. He was the dharma heir of the fourteenth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. He passed away in 1221.

hiện quá vị

Hiện tại, quá khứ, vị lai—Present, past, and future.

hiện quán

4731梵語 abhisamaya,巴利語同。意指現前之觀境。<一>據俱舍宗言,在見道階位以無漏智觀四諦之境,此種觀法稱為聖諦現觀。共有三種現觀:(一)見現觀,即以無漏智慧於四諦之境現見分明。(二)緣現觀,即合此無漏智慧及與此慧相應之心、心所共同緣四諦之境。(三)事現觀,以無漏智慧及與之相應之心、心所及無表色並四相(生、住、異、滅)等不相應法,共同對四諦能作知、斷、證、修等事業。大眾部以為一剎那之心一時可現觀四諦,故主張「頓現觀」。一切有部則認為係由八忍八智之十六剎那次第現觀,即所謂「漸現觀」。〔俱舍論卷二十三〕 <二>以有漏、無漏之智慧觀現前境明了,並資助使之不退轉。據成唯識論卷九、瑜伽師地論卷七十一、顯揚聖教論卷十七等,此種現觀共有六種:(一)思現觀,與喜悅之感受(喜受)同時生起,由思惟而成立(思所成)之智慧。(二)信現觀,對佛法僧三寶具有有漏、無漏之決定信,可助現觀,使其不退轉。(三)戒現觀,得無漏戒能除破戒之垢穢,使作觀更明了。(四)現觀智諦現觀,指於見道與修道能觀真如本體之根本智、後得智。(五)現觀邊智諦現觀,即因現觀邊而起,觀差別法之有漏、無漏智慧,亦即於觀真如本體(非安立諦)後,更觀真如之相(安立諦)之見道修道智諦。此即俱舍宗所謂「現觀邊」,或「現觀邊世俗智」,相當於在苦、集、滅三類智後邊所修之未來(畢竟不生法)世俗智;(六)究竟現觀,指究竟位之無漏十智。此六種現觀,後三者為現觀之自性,前三者為現觀俱起之法。顯揚聖教論卷十六列舉發起、證得、等流、成滿等四現觀,復舉尸羅淨、定淨、見淨、度疑淨、道非道淨、行淨、行斷智見淨等七現觀;大乘阿毘達磨雜集論卷十三列舉法、義、真、後、寶、不行、究竟、聲聞、獨覺、菩薩等十現觀。另據攝大乘論本卷中載,聲聞之現觀與菩薩之現觀有十一種差別,即:(一)所緣差別,(二)資持差別,(三)通達差別,(四)涅槃差別,(五)地差別,(六)與(七)清淨之差別,(八)於自他得平等心之差別,(九)出生之差別,(十)受住之差別,(十一)果之差別。〔大毘婆沙論卷三、卷四、阿毘達磨順正理論卷六十三、大乘義章卷十二〕 ; Abhisamayā (S), Intuitive compre-hension Hiện chứngQuán cảnh hiện tiền. ; Insight into, or meditation on, immediate presentations. ; Tuệ hiện quán chân lý—To meditate on or insight into—Present insight into the deep truth of Buddhism—Immediate presentations. ; (現觀) Phạm, Pàli: Abhisamaya. Quán cảnh hiện tiền. I. Hiện Quán. Cứ theo tông Câu xá, giai vị Kiến đạo dùng trí vô lậu quán cảnh Tứ đế, gọi là Thánh đế hiện quán. Pháp quán này có 3 loại:1. Kiến hiện quán: Dùng trí tuệ vô lậu quán xét cảnh Tứ đế và thấy một cách rõ ràng.2. Duyên hiện quán: Hợp trí tuệ vô lậu với tâm, tâm sở tương ứng với trí tuệ này để cùng duyên theo cảnh Tứ đế. 3. Sự hiện quán: Hợp trí tuệ vô lậu với tâm, tâm sở tương ứng (với trí tuệ này) và Vô biểu sắc cùng với pháp bất tương ứng như: sinh, trụ, dị, diệt (tứ tướng) để tu tập Tứ đế. Đại chúng bộ cho rằng trong một sát na, tâm có thể hiện quán Tứ đế, vì thế bộ này chủ trương Đốn hiện quán (Hiện quán mau chóng). Còn Nhất thiết hữu bộ thì cho rằng hiện quán Tứ đế theo thứ tự 16 sát na của bát trí bát nhẫn, tức là Tiệm hiện quán (hiện quán dần dần theo thứ lớp). [X. luận Câu xá Q.23]. II. Hiện Quán. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 9, luận Du già sư địa quyển 71 và luận Hiển dương Thánh giáo quyển 17, dùng trí tuệ hữu lậu, vô lậu quán xét cảnh hiện tiền một cách rõ suốt, khiến cho trí tuệ ấy không chuyển lui. Pháp hiện quán này có 6 loại: 1. Tư hiện quán: Trí tuệ hiện quán sinh khởi cùng lúc với cảm giác vui mừng (hỉ thụ) do tư duy mà có được. 2. Tín hiện quán: Có đủ niềm tin hữu lậu, vô lậu quyết định đối với Tam bảo, có thể giúp cho trí hiện quán không chuyển lui. 3. Giới hiện quán: Đạt được giới vô lậu, có thể trừ cấu uế, khiến cho hiện quán được rõ ràng. 4. Hiện quán trí đế hiện quán: Chỉ cho trí Căn bản và trí Hậu đắc ở giai vị Kiến đạo và Tu đạo có năng lực quán chiếu bản thể chân như. 5. Hiện quán biên trí đế hiện quán: Trí tuệ hữu lậu và vô lậu quán xét các pháp sai biệt sau khi trí Hiện quán biên sinh khởi. Cũng tức là trí Căn bản và trí Hậu đắc quán xét tướng chân như (an lập đế) sau khi quán chiếu bản thể chân như (phi an lập đế). Đây là Hiện quán biên , hoặc Hiện quán biên thế tục trí nói trong luận Câu xá, nó tương đương với Thế tục trí ở vị lai (pháp rốt ráo không sinh). 6. Cứu cánh hiện quán: Chỉ cho 10 trí vô lậu của vị cứu cánh. Trong 6 loại Hiện quán này, 3 loại trước là pháp hiện quán câu khởi, còn 3 loại sau là tự tính của Hiện quán. Luận Hiển dương Thánh giáo quyển 16 nêu ra 4 loại Hiện quán: Phát khởi, Chứng đắc, Đẳng lưu và Thành mãn. Sau lại liệt kê thêm 7 loại Hiện quán: Thi la tịnh, Định tịnh, Kiến tịnh, Độ nghi tịnh, Đạo phi đạo tịnh, Hạnh tịnh và Hành đoạn trí kiến tịnh. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập thì nêu 10 loại Hiện quán: Pháp, Nghĩa, Chân, Hậu, Bảo, Bất hành, Cứu cánh, Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Lại cứ theo Nhiếp đại thừa luận bản quyển trung, thì Hiện quán của Thanh văn và của Bồ tát có 11 loại sai biệt: Sở duyên sai biệt, Tư trì sai biệt, Thông đạt sai biệt, Niết bàn sai biệt, Địa sai biệt, Dữ sai biệt, Thanh tịnh sai biệt, Tự tha đắc bình đẳng tâm sai biệt, Xuất sinh sai biệt, Thụ trụ sai biệt và Quả sai biệt. [X. luận Đại tì bà sa Q.3, Q.4; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.63; Đại thừa nghĩa chương Q.12].

hiện quán biên

4732梵語 abhi-samayāntika。指於見道現觀之後邊所得之世俗智。據小乘說一切有部十六現觀中,唯於苦集滅三類智之後邊所得之世俗智,稱為現觀邊。據大毘婆沙論卷三十六載,於現觀之苦邊、集邊、滅邊得此智,故稱為現觀邊;或以此為諸瑜伽師觀聖諦時,傍修所得之故;或以此智近於現觀故有此稱。異部宗輪論載,依大眾部本宗同義,謂於見道後邊,更有一剎那現起現觀邊智,遍知四諦諸相之差別。成唯識論卷九所列六現觀中之現觀邊智諦現觀,則係於第四現觀智諦現觀之後所立,稱為世出世智。又攝大乘本論卷中以見道以前加行位中所修明得、明增、印順及無間等四種三摩地,亦稱現觀邊,蓋以其近見道之現觀故。〔大毘婆沙論卷三十六、俱舍論卷二十六、異部宗輪論述記、成唯識論述記卷九末〕(參閱「現觀」4731) ; (現觀邊) Phạm: Abhi-samayàntika. Trí thế tục sinh khởi ngay sau trí hiện quán của Kiến đạo. Theo Thuyết nhất thiết hữu bộ, thì trong 16 Hiện quán, chỉ có trí thế tục là sinh khởi ngay sau 3 loại trí Khổ biên, Tập biên, Diệt biên, nên gọi là Hiện quán biên. Cứ theo luận Tì bà sa quyển 36, thì từ hiện quán Khổ biên, Tập biên, Diệt biên mà được trí này, cho nên gọi là Hiện quán biên; hoặc có thuyết cho rằng trí này do các sư Du già tu quán Thánh đế mà được; hoặc vì trí này gần với Hiện quán nên có tên là Hiện quán biên. Cứ theo luận Dị bộ tông luân, thì trong một sát na ngay sau Kiến đạo sinh khởi trí Hiện quán biên, biết suốt các tướng sai biệt của Tứ đế. Ngoài ra, theo Nhiếp đại thừa luận bản quyển trung, thì 4 thứ Tam ma địa: Minh đắc, Minh tăng, Ấn thuận và Vô gián trong giai vị Gia hạnh trước Kiến đạo, cũng gọi là Hiện quán biên, vì nó gần Hiện quán của Kiến đạo. [X. luận Đại tì bà sa Q.36; luận Câu xá Q.26; Dị bộ tông luân luận thuật kí; Thành duy thức luận thuật kí Q.9 phần cuối]. (xt. Hiện Quán).

hiện quán trang nghiêm luận

4731梵名 Abhisamayālaṃkāra-śāstra。印度彌勒菩薩(梵 Maitreyanātha)造。全稱現觀莊嚴般若波羅蜜多優波提舍論(梵 Abhisamayālaṃkāra-nāma-prajñāpāramitopadeśa-śāstra)。又稱般若經論現觀莊嚴頌。為大乘彌勒學之代表作。係略攝梵文二萬五千頌般若(相當於漢譯大品般若經等)之綱要。主要內容為敘述三智及八事七十義,即言自一凡夫循序修持以達到成佛境地之過程。以梵文記載,共八品二七二頌。 其中八品為:(一)一切相智性品,係依發心、教授、決擇支、行依持、所緣、所期、所作、資糧、成辨等,證入佛果之次第,而說明佛之一切相智性。(二)道智性品,即闡明道智之所依、二乘菩薩及佛境界之差別、聲聞緣覺之道、菩薩之見道修道等。(三)一切智性品,即示聲聞獨覺之取相、佛母之遠近、有所得及無所得之所對治能對治、菩薩加行、所觀之見道等。(四)一切相現等覺品,係闡述順解脫分之善根生起、勝加行諸行相、順決擇分之過程等,示攝一切之相與道,修第三的一切智性之一切相現等覺。(五)頂現觀品,說四善根自性之表相、增進、確實,及心安住、能、所執之二種分別、所對治能對治、無間三摩地等,以示由勝進道殊勝邊際所證之頂現觀。(六)次第現觀品,係明六波羅蜜多、六隨念,及一切法無性自性覺等十三品性之次第現觀並其因。(七)一剎那現觀品,示說由一切法非異無漏之一剎那相等之四差別相,一剎那現起所證之法。(八)法身品,係分別法身、自性身、受用身及化身。八品中,於初三品令遍知一切智性,次四品為令於一切智性得自在而說加行,終品闡說由加行可達到佛果。標題「現觀」,即分明覺悟之義,意謂證得覺悟之過程,與「道」(梵 mārga)為同義語。 有關此論撰作之由來,據師子賢(梵 Haribhadra)八千頌般若釋論載,般若波羅蜜多經重說之處頗多,或雖無重說,但意義甚深難辨,無著因苦於了解經義,故彌勒菩薩為無著解釋般若經而造此論。本論之內題有「聖彌勒尊造」之語,遂被認作彌勒所作。此論今由法尊法師譯出並注解。但此論在印度及西藏古來就被重視,依據此論而注釋二萬五千頌般若及八千頌般若之著作甚多,西藏大藏經丹珠爾中收有二十一種。〔印度哲學研究第一、荻原雲來文集、東北帝國大學西藏大藏經總目錄、C. Bendall:Catalogue of the Buddhist Sanscrit Manuscript in the University Library Cambridge;E. Obermiller: History of Buddhism by Bu-ston〕44d5 ; Abhisama-yālaṇkāra śāstra (S)Tên một bộ luận kinh. ; (現觀莊嚴論) Phạm: Abhisamayàlaôkàra-zàstra. Gọi đủ: Hiện quán trang nghiêm bát nhã ba la mật ưu ba đề xá luận (Phạm: Abhisamayàlaôkàra-namàprajĩàpàramitopadeza-zàstra). Cũng gọi Bát nhã kinh luận hiện quán trang nghiêm tụng. Tác phẩm, do bồ tát Di lặc (Phạm: Maitreyanàtha) người Ấn độ soạn thuật, là bộ luận Đại thừa tóm tắt cương yếu của 25.000 bài tụng Bát nhã (tương đương với kinh Đại phẩm bát nhã bản Hán dịch). Nội dung chính của luận này nói về quá trình tu hành theo thứ lớp từ phàm phu đến cảnh giới Phật. Gồm có 8 phẩm, 272 bài tụng. 1. Phẩm Nhất thiết tướng trí tính: Nương theo thứ lớp từ sơ phát tâm, thụ giáo, quyết trạch chi, hành y trì, sở duyên, sở kì, sở tác, tư lương, thành biện, v.v... mà chứng nhập quả Phật, để nói rõ về Nhất thiết tướng trí tính của Phật. 2. Phẩm Đạo trí tính: Nói rõ về chỗ sở y của Đạo trí, về sự sai biệt giữa Nhị thừa, Bồ tát và cảnh giới Phật, về đạo của Thanh văn, Duyên giác và về Kiến đạo và Tu đạo của Bồ tát… 3. Phẩm Nhất thiết trí tính: Hiển bày rõ về sự chấp tướng của hàng Thanh văn, Độc giác, sự xa gần của Phật mẫu, về sở đối trị, năng đối trị của hữu sở đắc và vô sở đắc, về Bồ tát gia hạnh, về Kiến đạo sở quán… 4. Phẩm Nhất thiết tướng hiện đẳng giác: Trình bày về sự sinh khởi thiện căn của Thuận giải thoát phần, các hành tướng Thắng gia hạnh, quá trình của Thuận quyết trạch phần tu tập Nhất thiết tướng hiện đẳng giác. 5. Phẩm Đính hiện quán: Nói về tự tính 4 thiện căn (4 gia hạnh), tăng tiến, xác thực, tâm an trụ, phân biệt 2 loại năng chấp sở chấp, sở đối trị, năng đối trị, tam ma địa vô gián, v.v... để hiển bày Đạo thắng tiến thù thắng. 6. Phẩm Thứ đệ hiện quán: Thuyết minh về thứ lớp hiện quán 13 phẩm tính, gồm: Lục ba la mật đa, Lục tùy niệm và Nhất thiết pháp vô tính tự tính giác… 7. Phẩm Nhất sát na hiện quán: Chỉ bày rõ về pháp sở chứng hiện lên trong một sát na. 8. Phẩm Pháp thân: Nói rõ về Pháp thân, Tự tính thân, Thụ dụng thân và Hóa thân. Tóm lại, trong 8 phẩm nói trên, 3 phẩm đầu trình bày về Nhất thiết trí tính; 4 phẩm kế tiếp nương vào Nhất thiết trí tính mà nói rõ việc tu tập gia hạnh; phẩm cuối cùng kết luận nhờ tu gia hạnh mà đạt đến quả Phật. Về nguyên do soạn thuật luận này, cứ theo Bát thiên tụng bát nhã thích luận của ngài Sư tử hiền (Phạm: Haribhadra) thì vì trong kinh Bát nhã ba la mật đa có nhiều chỗ trùng lập, nhiều chỗ ý nghĩa rất sâu xa khó hiểu, nên ngài Vô trước thỉnh cầu bồ tát Di lặc giải thích rõ kinh Bát nhã, do đó mà ngài Di lặc tạo luận này. Bộ luận này đã được pháp sư Pháp tôn phiên dịch và chú giải, ở Ấn độ và Tây tạng xưa nay luận này rất được xem trọng và cũng có khá nhiều tác phẩm đã căn cứ vào luận này để giải thích Nhị vạn ngũ thiên tụng bát nhã (25.000 tụng Bát nhã) và Bát thiên tụng bát nhã (8.000 bài tụng Bát nhã) mà, trong Đan châu nhĩ của Đại tạng kinh Tây tạng, có tới 21 loại được thu nhận. [X. Ấn độ triết học nghiên cứu đệ nhất; Địch nguyên Vân lai văn tập; Đông bắc đế quốc đại học Tây tạng đại tạng kinh tổng mục lục; C. Bendall: Catalogue of the Buddhist Sanscrit Manuscript in the University Library Cambridge; E. Obermiller: History of Buddhism by Bu-ston].

Hiện quán trí đế hiện quán 現觀智諦現觀

[ja] ゲンカンチタイゲンカン genkanchi taigenkan ||| One of the six kinds of observations of reality 六現觀. The no-outflow wisdom that observes the essence of suchness. 〔瑜伽論 T 1579.30.606a5〕 => Một trong sáu loại quán sát thực tại (Lục hiện quán 六現觀). Là trí huệ vô lậu quán sát thể tính chân như.

Hiện quán trí 現觀智

[ja] ゲンカンチ genkanchi ||| See 現觀智諦現觀. 〔二障義 HPC 1.799a〕 => Xem Hiện quán trí đế hiện quán現觀智諦現觀.

Hiện quán 現觀

[ja] ゲンカン genkan ||| (1) To clearly observe reality; to have a clear view of the truth; to understand existence in its true aspect.〔瑜伽論、 T 1579.30.328b; 攝大乘論T 1594.31.143b〕(abhisamaya, abhisamā) (2) In the Sarvāstivādin doctrine, a term for the "right view." (3) To realize intimately. 〔五教章〕 => 1. Quán sát thực tại một cách rõ ràng; có cái nhìn thông suốt về chân lý; hiểu rõ thực tại như chân tính của chúng (s: abhisamaya, abhisamā) 2. Theo giáo lý của Nhất thiết hữu bộ, thuật ngữ nầy chỉ cho 'Chính kiến'. 3. Hiểu sâu sắc.

hiện quả tuỳ lục

4726凡四卷。清代戒顯記。收於卍續藏第一四九冊。係記述撰者所見所聞之因緣故事。共一○三則。內容大多為明末清初湖州、杭州、撫州等江南地方僧俗間之善惡果報故事。書中特別強調念佛功德,此外有關淨土往生之思想亦極濃厚。〔四庫全書總目提要卷一四五釋家類存目、中國佛教史籍概論(陳垣)〕 ; (現果隨錄) Truyện kí, 4 quyển, do ngài Giới hiển soạn vào đời Thanh, thu vào Vạn tục tạng tập 149. Nội dung gồm 103 tắc, ghi chép những truyện về quả báo thiện ác của tăng tục ở vùng Giang nam như: Hồ châu, Hàng châu, Phủ châu, v.v... vào cuối đời Minh đầu đời Thanh. Đặc biệt nhấn mạnh công đức niệm Phật và tư tưởng vãng sinh Tịnh độ. [X. Thích gia loại tồn mục trong Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu Q.145; Trung quốc Phật giáo sử tịch khái luận (Trần viên)].

hiện ra

To come out—To become visible—To appear—To manifest.

hiện sinh

Xem hiện hữu ; Cuộc sống hiện tại—The present life.

hiện sinh chính định tụ

4724日本淨土真宗之見解。謂確得真實信心之行者,於現生之世,即住於正定聚之位(不退位),將來必至佛果。此即所謂「現生不退」。亦即相當於日本親鸞於顯淨土真實教行證文類卷三所說,念佛行者現生可獲十種益中之「入正定聚」。 ; (現生正定聚) Cũng gọi Hiện sinh bất thoái. Ngay trong đời này đạt được quả vị không trở lui. Theo quan điểm của Tịnh độ chân tông Nhật bản, nếu hành giả có lòng tin chân thật, vững chắc, thì nhất định vào được vị chính định tụ (vị không trở lui). Trong Hiển tịnh độ chân thực giáo hành chứng văn loại quyển 3, ngài Thân loan (người Nhật bản) cũng cho rằng hành giả niệm Phật ngay đời này được vào chính định tụ.

hiện sinh lợi ích

Những lợi ích hiện đời trong việc cúng dường chư Phật—Benefits in the present life from serving Buddha.

Hiện sự 現事

[ja] ゲンジ genji ||| Direct awareness (pratyakṣa). One of the four kinds of cognition. 〔二障義HPC 1.811c〕 => Nhận thức trực tiếp (s: pratyakṣa). Một trong bốn loại nhận thức.

hiện thuỵ

4729即指顯現瑞相之義。如佛陀將臨教化時,放光明、大地震動等,表現出種種瑞相。又就法華經序品中敘述雨花、放光等六瑞之一段經文,而特稱為現瑞序。依自性法身如來之加持而顯現瑞相三身以教化未悟之眾生,稱為現瑞加持。大日經疏卷一(大三九‧五七九中):「世尊往昔大悲願故,(中略)住於自在神力加持三昧,普為一切眾生示種種諸趣所憙見身,說種種性欲所宜聞法,隨種種心行開觀照門。」 ; (現瑞) Hiển hiện những điềm lành. Khi đức Phật sắp nói pháp thì hiện ra những điềm tốt lành như phóng hào quang, trái đất chấn động, v.v... Phẩm tựa của kinh Pháp hoa nói về 6 điềm lành như mưa hoa, phóng quang, v.v... nên đặc biệt gọi phẩm này là Hiện thụy tự . Ngoài ra, Như lai nương vào sức gia trì của tự tính pháp thân mà hiện ra thụy tướng 3 thân để giáo hóa những chúng sinh chưa khai ngộ, gọi là Hiện thụy gia trì .

hiện thành

4725於禪語中,表示現前成就之意。即絕對真理不假造作安排,自然呈現,當體即是。此外,「現成底見」一語,為一切萬法現前即存在之見解。類似「自然外道」所主張一切萬物不依因緣,乃自然而生之見解。即謂日常之飲茶喫飯,或當前所有「悟」之境界,並非來自特別之修行或工夫,乃自然即有。 ; Self-evidence of existing. ; (現成) Hiền, Phạm: Bhadra, Thánh, Phạm: Àrya. Hiền: Chỉ cho hàng phàm phu trước giai vị Kiến đạo, tuy xa lìa các điều ác, nhưng chưa phát trí vô lậu, chưa chứng lí, cũng chưa đoạn hoặc. Thánh: Chỉ cho bậc từ giai vị Kiến đạo trở lên, đã chứng lí, đoạn hoặc, xả bỏ tính phàm phu, phát trí vô lậu. Tóm lại, người dùng trí hữu lậu tu tập căn lành, gọi là Hiền; người dùng trí vô lậu chứng được chính lí, gọi là Thánh. Trong quá trình tu hành Phật đạo có 3 thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát, mỗi thừa lại có các giai vị Hiền và Thánh khác nhau. 1. Luận về Hiền và Thánh trong Thanh văn thừa: Cứ theo kinh Trung a hàm quyển 30, thì có 27 bậc Hiền thánh, trong đó 18 bậc trước là hữu học, gồm: Tín hành, Pháp hành, Tín giải thoát, Kiến đáo, Thân chứng, Gia gia, Nhất chủng, Hướng tu đà hoàn, Đắc tu đà hoàn, Hướng tư đà hàm, Đắc tư đà hàm, Hướng a na hàm, Đắc a na hàm, Trung bát niết bàn, Sinh bát niết bàn, Hành bát niết bàn, Vô hành bát niết bàn và Thượng lưu sắc cứu cánh. Còn 9 bậc sau là Vô học, gồm: Tư pháp, Thăng tiến pháp, Bất động pháp, Thoái pháp, Bất thoái pháp, Hộ pháp, Thực trụ pháp, Tuệ giải thoát và Câu giải thoát. Phẩm phân biệt Hiền thánh trong luận Thành thực quyển 1 cũng lập 27 bậc Hiền thánh, chỉ có tên gọi và sự giải thích thì hơi khác với kinh Trung a hàm. Phẩm phân biệt Hiền thánh trong luận Câu xá quyển 22, thì trước giai vị Kiến đạo lập 7 bậc Hiền; sau giai vị Kiến đạo lập 4 bậc Thánh và 7 bậc Thánh. Bảy bậc Hiền: Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ, Noãn, Đính, Nhẫn và Thế đệ nhất pháp. Bốn bậc Thánh: Tu đà hoàn quả, Tư đà hàm quả, A na hàm quả và A la hán quả. Bảy bậc Thánh: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Tuệ giải thoát và Câu giải thoát. Nếu đem 3 giai vị Kiến đạo, Tu đạo và Vô học đạo phối hợp với 4 bậc Thánh và 7 bậc Thánh, thì Kiến đạo tức là hàng Độn căn (Tùy tín hành) và Lợi căn (Tùy pháp hành) của Sơ quả hướng trong 4 bậc Thánh. Tu đạo tức là hàng Độn căn (Tín giải) và Lợi căn (Kiến chí) của 3 quả trước và 3 hướng sau. Còn Vô học đạo tức là hàng Độn căn (Tuệ giải thoát) và Lợi căn (Câu giải thoát) của quả thứ tư. Lại nếu bậc Thánh của quả thứ 3 ngay trong thân này mà chứng được Diệt tận định, thì gọi là Thân chứng . Cho nên, hợp chung 7 bậc Hiền và 7 bậc Thánh trên đây, thì thành 14 loại. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 5 phần đầu và Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng phần đầu cũng lập 27 bậc Hiền thánh. Đó là: Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Tuệ giải thoát, Câu giải thoát, Dự lưu hướng, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, A la hán hướng, A la hán quả, Cực thất phản, Gia gia, Nhất gian, Trung ban, Sinh ban, Vô hành ban, Hữu hành ban, Thượng lưu ban, Thoái pháp, Tư pháp, Hộ pháp, Trụ pháp, Kham đạt pháp và Bất động pháp. Trong đó, 18 bậc trước là Hữu học và 9 bậc sau là Vô học. Lại nếu thêm Tùy tín hành và Tùy pháp hành vào giai vị Phương tiện trước Kiến đạo thì thành 29 bậc Hiền thánh. 2. Luận về Hiền và Thánh trong Tam thừa cộng Thập địa. Cứ theo phẩm Đăng chú thâm áo trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 17 và luận Đại trí độ quyển 75, thì trong Thập địa: Can tuệ địa, Tính địa, Bát nhân địa, Kiến địa, Bạc địa, Li dục địa, Dĩ tác địa, Bích chi phật địa, Bồ tát địa và Phật địa, thì 2 địa trước thuộc về Hiền, còn 8 địa sau là Thánh. Ngoài ra, phẩm Hải tuệ bồ tát trong kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 8 có nêu ra thuyết Xuất li cửu chủng tính nhi nhập ư Phật chủng tính (ra khỏi 9 chủng tính để vào chủng tính Phật). Chín chủng tính gồm: Phàm phu tính, Tín hành tính, Pháp hành tính, Bát nhẫn tính, Tu đà hoàn tính, Tư đà hàm tính, A na hàm tính, A la hán tính và Bích chi phật tính, và thêm Chủng tính Phật là 10 tính. Trong đó, 3 tính trước thuộc về Hiền, 7 tính sau là Thánh. 3. Luận về Hiền và Thánh của Bồ tát thừa. Luận Thành duy thức quyển 9 lập 5 giai vị Bồ tát: Tư lương vị, Gia hạnh vị, Thông đạt vị, Tu tập vị và Cứu cánh vị. Trong đó, 2 giai vị trước thuộc về Hiền, 3 giai vị sau thuộc về Thánh. Còn trong 41 giai vị Bồ tát: Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa và Diệu giác nói trong kinh Hoa nghiêm, thì 30 giai vị trước là Hiền, 11 giai vị sau là Thánh. Ngoài ra, phẩm Giáo hóa trong kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng, lại lập thêm giai vị Thập tín ở trước giai vị Thập trụ mà thành 51 giai vị. Còn phẩm Hiền thánh học quán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng thì nêu rõ tên của 52 giai vị là: Thập tâm, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác. Trong đó, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng là Hiền, còn Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác là Thánh. Theo sự trình bày trên đây thì vấn đề sai khác giữa Hiền và Thánh, tuy các kinh luận đều có thuyết riêng, nhưng cũng không nên quyết đoán một cách tổng quát, mà chỉ nên phân biệt phạm vi rộng, hẹp, phổ thông, hạn cục của từ ngữ Hiền Thánh mà thôi. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 17 phần đầu, thì phạm vi của Hiền là phổ thông, còn phạm vi của Thánh là hạn cục. Vì phạm vi của Hiền rộng, cho nên từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc, giai vị Tu đạo đều có thể gọi là Hiền, như trong kinh thường gọi các bậc Thánh Xá lợi phất, Tu bồ đề là Hiền giả . Vì phạm vi của Thánh có giới hạn nên từ giai vị Kiến đạo trở xuống là Hiền, thuộc địa vị phàm phu, còn từ giai vị Kiến đạo trở lên mới được gọi là Thánh. Ngoài ra, theo phẩm Hiền thánh của luận Câu xá, khi nói rộng về 7 Hiền 7 Thánh, thì gọi chung là Hiền Thánh (Phạm:Àryapudgala). [X. kinh Hoa nghiêm Q.8, Q.11, Q.15, Q.23 (bản dịch cũ); luận Đại tì bà sa Q.54; luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.57-72; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.9 phần dưới; Tứ giáo nghĩa Q.2-6; Câu xá luận quang kí Q.22]. (xt. Bồ Tát Giai Vị).

Hiện thân

現身; hoặc Hiện tướng;|Là Hiện thân của những vị Hộ thần (s: iṣṭadevatā), Bồ Tát (s: bodhisattva), nói chung là tất cả những vị được tôn thờ trong Ðại thừa Phật giáo. Ðặc biệt trong truyền thống Phật giáo tại Tây Tạng, người ta thường thấy hai cách trình bày hiện thân của một vị, đó là dạng phẫn nộ (s: krodha) và tịch tịnh (s: śānta). Ví dụ như Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara) dưới dạng tịch tịnh và Ma-ha Ka-la (s: mahākāla) trong trạng thái phẫn nộ. Trong những Nghi quỹ (s: sādha-na), hiện thân của một vị Hộ thần dưới hai dạng nêu trên là biểu tượng của hai loại Chủng tử tương ưng trong tâm của người tu tập: 1. Thanh tịnh và 2. Hung hăng, phá hoại.|Như vị Thiền sư hiện đại người Tây Tạng là Chog-yam Trung-pa nói, »phẫn nộ« ở đây không nên hiểu là một tâm trạng, cảm xúc phụ thuộc vào cái tự ngã và »phá hoại« »hung hăng« ở đây cũng không nên hiểu theo lẽ »bất thiện« thông thường. Những năng lượng tiềm tàng được biểu hiện qua các vị phẫn nộ cũng rất có ích và cần thiết trong quá trình tu chứng như những vị tịch tịnh. Cái được tiêu huỷ, phá hoại ở đây chính là những Ảo ảnh gây chướng ngại trên con đường đạt giải thoát và chủ thể đang sợ hãi, cảm thấy bị công kích chính là cái ngã – đúng hơn là cái huyễn ngã chưa từng có thật – của hành giả. Sự tôn sùng các vị dưới hai dạng tại Tây Tạng – không phân biệt tốt xấu theo lẽ thường – cũng thường gây sự hiểu lầm rằng, Phật tử ở đây »tôn thờ quỷ thần ngoại đạo«|Song song với Phật gia (s: buddhakula), Kim cương thừa (s: vajrayāna) cũng thừa nhận và tôn sùng »100 gia đình của chư vị hộ thần cao quý tịch tịnh và phẫn nộ.« 100 vị này tường được nhắc đến trong Tử thư và là một phần của giáo lí Ma-ha du-già (s: mahāyoga) được Liên Hoa Sinh (s: padma-sambhava) Ðại sư truyền sang Tây Tạng. Các vị Hộ thần này được xếp vào hai Man-đa-la và hai Man-đa-la này được xem như là sự mở rộng của Phật gia – vốn đã bao gồm năm vị Phật.

hiện thân

4726<一>現在之身體。  <二>佛、菩薩為救度眾生而示現種種身體。如現身佛、應化身即是。又作現身度生。又以神通力示現種種身形,為人說法,稱為現身說法。就廣義而言,萬法自體無言之說法,亦稱為現身說法。即萬物之當體,能陳說無限真理,如「溪聲盡是廣長舌,山色無非清淨身」。此又稱無情說法。(參閱「應身」6432) ; The present body. Also the various bodies or manifestations in which the Buddhas and bodhisattvas reveal themselves. ; 1) Thân hiện tại: Embodiment—The present body. 2) Hiện thân của chư Phật và chư Bồ Tát dưới nhiều hình thức để cứu độ chúng sanh: The various bodies or manifestations in which Buddhas and Bodhisattvas reveal themselves. ; (現身) Nghĩa là qui y, qui mệnh, hoặc hiến thân tin thờ. Từ ngữ này bắt nguồn từ chữ Phạm: Namas (Pàli: Namo, dịch âm: Na mô). Namas nguyên nghĩa là cúi mình kính lễ, về sau chuyển thành nghĩa qui y, hiến thân, v.v... nhưng đến Phật giáo Đại thừa thì nghĩa hiến thân được mở rộng, cho rằng hiến thân phục vụ chúng sinh tức là lễ kính chư Phật. Trong Mật giáo còn nói đến nghĩa hiến thân tuyệt đối. Kim cương đính du già tu tập Tì lô giá na tam ma địa pháp (Đại 18, 327 hạ, 328 thượng), nói: Vì muốn kính thờ các đức Như lai, bỏ thân dâng hiến Phật A súc; gieo mình sát đất đem tâm lễ, chắp tay kim cương đưa lên đầu. (...) Vì muốn cúng dường chuyển pháp luân, dốc lòng kính lễ Vô lượng thọ. Nhờ phương tiện hiến thân như thế, nên có thể thị hiện nhiều loại thân . (xt. Qui Y).

hiện thân thuyết pháp

To manifest body and to preach Dharma.

hiện thông giả thật tông

4728華嚴宗十宗判釋之第四,慈恩八宗之第四。指小乘說假部、成實論及其他經部之後世論師所立義。即立義不但過去、未來皆無實體,且於現在之諸有為法中亦有假有實,此等以現在法通於假實為其宗者,稱為現通假實宗。說假部謂現在法之五蘊不分根境,能緣所緣不對立,直就法之自性而分類,故為實;十二處係相對於六根而立六境,十八界乃根境相對、識境相對、根識相對而立六根、六境、六識,而十二處、十八界皆依能所相對而成立,故為假。成實宗主張地、水、火、風四大,係依色、香、味、觸四塵而造,除色、香、味、觸外,別無實體,故四大為假,唯四塵為實法。經量部之後世論師則以粗法為假,細法為實;所謂粗法指山河大地等,細法指極微,山河大地皆由極微物所成,故粗法不為實。此等主張現在法或假或實者,皆屬於現通假實宗。〔華嚴經探玄記卷一、法華玄贊卷一、五教章卷上、大乘法苑義林章卷三本〕(參閱「十宗」443) ; (現通假實宗) Tông thứ 4 trong 10 tông theo phán giáo của tông Hoa nghiêm; tông thứ 4 trong 8 tông theo phán giáo của tông Từ ân. Tông này chủ trương không những quá khứ, vị lai đều không có thực, mà ngay cả các pháp hữu vi trong hiện tại cũng có giả có thực. Vì pháp hiện tại thông cả giả lẫn thực nên gọi là Hiện thông giả thực tông. Thuyết giả bộ cho rằng 5 uẩn hiện tại không chia căn, cảnh, năng duyên, sở duyên, không đối lập, ở ngay nơi tự tính của pháp mà chia loại, cho nên là thực; 12 xứ là đối với 6 căn mà lập 6 cảnh; 18 giới là căn và cảnh đối nhau, thức và cảnh đối nhau, căn và thức đối nhau mà lập 6 căn, 6 cảnh, 6thức; 12 xứ, 18 giới đều nương vào năng và sở đối nhau mà được thành lập, cho nên là giả. Tông Thành thực chủ trương 4 đại: Đất, nước, lửa, gió nương vào 4 trần: Sắc, hương, vị, xúc, mà được tạo thành; ngoài sắc, hương vị, xúc ra không có thực thể riêng biệt, cho nên 4 đại là giả, mà 4 trần là thực. Các vị luận sư đời sau của Kinh lượng bộ thì cho pháp thô (như núi sông đất liền) là giả, còn pháp tế (chỉ cho cực vi) là thực. Vì núi sông đất liền đều do cực vi tạo thành nên không phải pháp thực mà là pháp giả. Bởi thế, những chủ trương cho pháp hiện tại hoặc là thực hoặc là giả thì đều thuộc Hiện thông giả thực tông . [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Pháp hoa huyền tán Q.1; Ngũ giáo chương Q.thượng; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần đầu]. (xt. Thập Tông).

Hiện thông giả thật tông 現通假實宗

[ja] ゲンツウケジツシュウ gentsū kejitsu shū ||| The teaching that the present has both provisional and real elements. => Giáo lý chủ trương rằng hiện hữu có cả hai mặt giả tạm và chân thật.

Hiện thường 現常

[ja] ゲンジョウ genjō ||| The "present constant." The present manifestation of Buddhahood in an enlightened person. => 'Thường hiện tiền'. Sự biểu hiện trước mắt của Phật tính nơi người đã giác ngộ.

hiện thật

Real—Actual.

Hiện thật 現實

[ja] ゲンジツ genjitsu ||| The actuality; the reality. => Thực tế, thật tại.

hiện thế

The present world. ; Đời hiện tại hay quảng đời con người ta đang sống—The present world.

hiện thế lợi ích

4723「當益」之對稱。於現在世受佛、菩薩之恩惠。亦即由祈禱、修法、作善、念法等,得息災延命除病滅罪,乃至國家安穩等之利益。又作現生益、現益。藥師琉璃光如來本願功德經載,此如來名號一經眾生耳,可消除眾病,家屬資具豐足。金光明最勝王經卷二「三身品」謂,講說金光明王微妙經典,可於其國土得國強軍盛、離病延命、王臣后妃無諍、國人修行正法無枉死者、諸天常護眾生等利益。觀念法門載,稱念阿彌陀佛,願生淨土者,現生即得延年轉壽,不遭九橫之難。日本親鸞亦於顯淨土真實教行證文類卷三列舉念佛行者於現生可獲之十種利益(現生十種益):(一)冥眾護持,(二)至德具足,(三)轉惡成善,(四)諸佛護念,(五)諸佛稱讚,(六)心光常護,(七)心多歡喜,(八)知恩報德,(九)常行大悲,(十)入正定聚。〔法華經卷七觀世音菩薩普門品、灌頂經卷四、安樂集卷上〕 ; (現世利益) Cũng gọi Hiện sinh ích, Hiện ích. Đối lại với Đương ích. Được sự gia hộ của chư Phật và Bồ tát ngay trong đời hiện tại, cũng tức là nhờ gắng sức tu hành, niệm Phật và làm các việc thiện mà được những sự lợi ích như: Tiêu trừ tai nạn, tật bệnh, diệt tội, được phúc, cho đến quốc gia thanh bình, nhân dân an lạc, v.v... Kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện công đức nói, nếu chúng sinh được nghe danh hiệu Phật Dược sư, thì có thể tiêu trừ các bệnh, nhà cửa sung túc an vui. Phẩm Tam thân trong kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 2 nói, nếu có người giảng thuyết kinh Kim quang minh vương thì sẽ được những lợi ích như: Đất nước được hùng cường, quân đội mạnh mẽ, trong nước không có dịch bệnh, vua tôi hòa thuận, nhân dân tu hành chính pháp, không bị chết oan uổng mà được sống lâu, chư thiên thường che chở. Theo Quán niệm pháp môn, những người niệm danh hiệu đức Phật A di đà, nguyện sinh về Tịnh độ thì đời hiện tại được tăng thêm tuổi thọ, không gặp 9 loại chết oan uổng. Hiển Tịnh độ chân thực giáo hành chứng văn loại quyển 3 của ngài Thân loan người Nhật bản nói, hành giả niệm Phật sẽ được 10 điều lợi ích ngay trong đời hiện tại: Quỉ thần ủng hộ, Chí đức đầy đủ, Chuyển ác thành thiện, Chư Phật hộ trì, Chư Phật khen ngợi, trí tuệ sáng suốt, Tâm thường vui vẻ, Biết ân báo ân, Thường tu đại bi và Nhập chính định tụ. [X. phẩm Quan thế âm bồ tát phổ môn; kinh Quán đính Q.4; An lạc tập Q.thượng].

hiện thời

At the present time—Now.

hiện thức

4730<一>梵語 khyātivijñāna。為阿梨(賴)耶識之別名。乃楞伽經所說「三識」之一。蓋一切諸法皆依阿梨耶識而顯現種種境界之相,故阿梨耶識又稱為現識。猶如鏡中映現諸色像,阿梨耶識顯現一切妄境界之相,為分別事識所攀緣。又所謂轉阿梨耶識可得大圓鏡智,即是基於此意。〔楞伽阿跋多羅寶經卷一、大乘起信論〕 <二>指現行之識。即由阿賴耶識之種子所現行之異熟識及能薰識。〔成唯識論卷七、成唯識論述記卷七末〕 ; Khyativijāna (S)Các pháp tương ứng A lại da thức mà hiện ra Xem A lại da thức. ; Direct knowledge, manifesting wisdom, another name of the àlayya-vijnàna; also the "representation-consciousness", or perception of an external world, one of the ngũ thức theo Khởi tín luận. Khyàti (S). Opinion, idea. ; 1) Một trong ba thức được nói trong Kinh Lăng Già: Direct knowledge or manifesting wisdom, one of the thre states mentioned in the Lankavatara Sutra—See Tam Thức. 2) Tên khác của A Lại Da thức: Mọi pháp đều dựa vào A Lại Da thức mà hiển hiện (các pháp đều hiển hiện trên bản thức nên gọi là hiện thức)—Another name of Alayavijnana, on which all things depend for realization, for it completes the knowledge of the other vijnanas—See A Lại Da Thức. 3) Một trong năm thức được nói đến trong Khởi Tín Luận: Representation consciousness or or perception of an external world, one of the five parijnanas mentioned in the Awakening of Faith—See Ngũ Thức. ; (現識) Tên khác của thức A lại da. Thức A lại da hàm chứa tất cả chủng tử (hạt giống) thiện ác và có khả năng hiển hiện hết thảy cảnh giới, cho nên gọi là Hiển thức.Cứ theo luận Hiển thức thì 9 loại thức là: Thân thức, Ứng thụ thức, Chính thụ thức, Thế thức, Số thức, Xứ thức, Ngôn thuyết thức, Tự tha sai biệt thức và Thiện ác lưỡng đạo sinh tử thức, đều do thức A lại da biến hiện ra. Ngoài 9 loại thức nói trên, luận Hiển thức còn lập một thức nữa gọi là Phân biệt thức, tức chỉ cho Ý thức, bao gồm Thân giả thức và Thụ giả thức. Bản chất của 2 thức này đều phân biệt hư vọng, cho nên gọi là Phân biệt thức. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.5].

Hiện thức 現識

[ja] ゲンシキ genshiki ||| The manifesting consciousness; cognition, recognition (khyāti-vijñāna). (2) The aspect of consciousness as reflecting the myriad form in the objective realm, the way a clear mirror reflects all the objects that appear in front of it. 〔起信論T 1666.32.577b〕 => 1. Thức hiện hành; nhận thức, sự nhận ra (s: khyāti-vijñāna). 2. Cảnh giới thức phản ánh của vô số hiện tượng từ cảnh giới khách quan, như cách tấm gương trong phản chiếu mọi vật trước nó.

hiện thực

Carvakas (S)Những người chủ trương sống hiện thực thời đức Phật.

hiện tiền

4726梵語 pratyakṣa。即顯現於眼前或於目前存在之意。又稱現在前。依成唯識論卷九所說,就欲界入見道者而言,色、無色之上二界為不現前界,欲界則為現前界。對四方僧伽而言,常住僧伽稱為現前僧伽,其所用之資具稱為現前僧物。又菩薩乘十地之第六地,為真如淨性顯現之位,乃引生無分別最勝般若而令現前之階位,故稱為現前地。又供養眼前之佛身、塔婆等,稱為現前供養,為十種供養之一。於授戒時,小乘須具備現前十師,大乘則僅須現前一師即可,稱為現前師。〔無量壽經卷上、大毘婆沙論卷二十七、顯揚聖教論卷三、南海寄歸內法傳卷四亡財僧現條〕 ; Abhimukhī (S), Abhimukham (P), Pratyakṣa (S), Abhimukha (P), Face-to-face,Xem Thắng giải. ; Now present, manifest before one. ; 1) Hiện tại, ngay lúc nầy—Now—At this moment—At the present time. 2) Hiển hiện ngay trước mặt: Manifest before one. ; (現前) Phạm: Pratyakwa. Cũng gọi Hiện tại tiền. Hàm ý là hiển hiện hoặc tồn tại ở trước mắt. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 9 nói, thì đối với giai vị Kiến đạo, cõi Dục là cõi hiện tiền, còn 2 cõi Sắc và Vô sắc không phải là cõi hiện tiền. Ngoài ra, tăng thường trụ gọi là Hiện tiền tăng; cúng dường Phật và tháp Phật trước mắt, gọi là hiện tiền cúng dường; khi thụ giới Tiểu thừa phải có đủ 10 vị sư hiện diện, gọi là Hiện tiền sư. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.27; luận Hiển dương Thánh giáo Q.3; điều Vong tài tăng hiện trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].

hiện tiền tam bảo

4727三種三寶之一。歷史上實存之佛,即指於印度成正覺之佛身釋尊為佛寶;佛陀之正覺內容、所說之法為法寶;修學佛所說之教並傳諸後世之僧團為僧寶。〔教授戒文〕(參閱「三寶」700) ; (現前三寶) Ba ngôi báu hiện tiền. Một trong 3 loại Tam bảo. - Hiện tiền Phật bảo: Đức Phật có thực trong lịch sử, tức là đức Thích ca mâu ni thành bậc Chính đẳng giác ở nước Ấn độ cách nay 2544 năm. - Hiện tiền Pháp bảo: Giáo pháp do đức Phật nói ra trong khoảng 45 năm. Hiện tiền Tăng bảo: Tăng đoàn tu học theo lời đức Phật dạy và truyền trì giáo lí cho đời sau. [X. Giáo thụ giới văn]. (xt. Tam Bảo).

hiện tiền thọ

Sammukhibhāva-vedaniyata (S).

hiện tiền tăng vật

4727僧物之一種。「四方僧物」之對稱。乃現前僧能受用者,即由施主施與現前僧眾之衣食等生活物質,或已亡比丘之遺物等。摩訶僧祇律卷二十八載,屬於現前僧之物有:我施之衣、衣直、物、物直、時藥(前食、後食、哆波那食)、夜分藥(十四種漿)、七日藥(酥油蜜等)、盡壽藥、死比丘物、施住處、大會(大會中所施之物)、非時衣、雜物、請食。四分律行事鈔卷中之一,又分現前僧物為現前現前物、十方現前物。〔正法念處經卷一「十善業道品」、摩訶僧祇律卷三〕(參閱「三寶物」703、「僧物」5736) ; (現前僧物) Đối lại với Tứ phương tăng vật. Những vật dụng cần cho cuộc sống hàng ngày do tín đồ cúng dường mà chúng tăng hiện tiền được phép dùng như: Quần áo, thức ăn uống, thuốc men, v.v... hoặc những đồ vật của các vị tăng đã qua đời để lại. Tứ phần luật hành sự sao quyển trung phần 1 còn chia Hiện tiền tăng vật làm 2 loại: Hiện tiền hiện tiền vật và Thập phương hiện tiền vật. Nghĩa là vật hiện tiền của chúng tăng thường trụ và vật hiện tiền của chư tăng từ các nơi khác đến. [X. phẩm Thập thiện nghiệp đạo trong kinh Chính pháp niệm xứ Q.1; luật Ma ha tăng kì Q.3]. (xt. Tam Bảo Vật, Tăng Vật).

hiện tiền tỳ ni luật

Sammukha-vinaya (P).

Hiện tiền địa

xem Mười địa vị.

hiện tiền địa

4727梵語 abhimukhī-bhūmi。音譯阿比目佉普。為菩薩乘十地之第六。即此地係真如淨性顯現之位,故有此稱。又作現在地、目見地。又成唯識論卷九載,現前地,住緣起智,引生無分別最勝般若,令現前故。〔楞嚴經卷八〕(參閱「十地」419) ; Abhimukhī-bhŪmi (S), Face-to-face stage Trong Thập địa. ; Abhimukhì (S). The six of the ten stages of the bodhisattva. ; Giai đoạn thứ sáu trong thập địa Bồ Tát, địa vị tối thắng trong đó chân như đã hiện lên—The sixth of the ten stages of the bodhisattva, in which the bhutatathata (chân như) is manifested to him. ; (現前地) Phạm: Abhimukhì-bhùmi. Dịch âm: A tì mục khư phổ. Cũng gọi Hiện tại địa, Mục kiến địa. Địa vị trong đó tính chân như thanh tịnh hiển hiện, là địa thứ 6 trong 10 địa của Bồ tát. Luận Thành duy thức quyển 9 nói, Hiện tiền địa trụ nơi trí duyên khởi, làm phát sinh ra trí bát nhã tối thắng vô phân biệt. [X. kinh Lăng nghiêm Q.8]. (xt. Thập Địa).

Hiện tiền địa 現前地

[ja] ゲンゼンチ genzenchi ||| The stage of directly becoming apparent (abhimukhī), which is the sixth of the ten bodhisattva stages 十地. The fact of the dependently arisen nature of existence becomes fully apparent. => Giai vị mà tính chân như thanh tịnh trở nên hiển bày rõ ràng (s: abhimukhī), Là địa thứ sáu trong Thập địa. Tính duyên khởi trở nên hoàn toàn rõ ràng.

Hiện tiền 現前

[ja] ゲンゼン genzen ||| (1) To be manifested; to arise, appear. (2) To appear in front of one; to appear before one's eyes. (3) In front; before one. (Skt. agrataḥ; Tib. mdun du) (4) Directly. (5) For something to appear as it is in itself. => 1. Rõ ràng, hiển nhiên; sinh khởi, xuất hiện. 2. Hiện ra ngay trước vật gì; hiện ra ngay trước mắt người. 3. Phía trước, trước một vật gì (Skt. agrataḥ; Tib. mdun du). 4. Trực tiếp. 5. Vật thể xuất hiện như chúng đang là.

hiện trí thân

4728現智法身之意。密教金剛界念誦法中之觀想。即召入金剛薩埵(自受用智法身)於自身中,先於行者身前現薩埵之身,諦觀其相好。現智身之印明,印相為:二手外縛,二拇指入掌中,以二拇指三度召入。真言為:唵(oṃ,歸命)縛日羅薩怛縛(vajra sattva,金剛薩埵)惡(aḥ,種子)。 於金剛界修法時,行現智身印明之前,結誦五相成身觀乃至拍掌之印言,為修顯行者自性身,此係表示理法身之顯現;其次修現智身,即觀想智法身之顯現,乃表示冥會於理智不二之境界。現智身之後,則修見智身印言。〔金剛頂經卷下、蓮華部心儀軌、金剛王念誦儀軌、理趣會儀軌〕 ; (現智身) Cũng gọi Hiện trí pháp thân. Pháp quán tưởng nói trong pháp niệm tụng của Kim cương giới, Mật giáo. Khi tu pháp này, trước hết hành giả phải thỉnh Kim cươnng tát đỏa (Tự thụ dụng trí pháp thân) nhập vào thân của mình. Sau khi Kim cương tát đỏa hiện trong thân, hành giả quán xét kĩ tướng hảo của Ngài, đó chính là Hiện trí thân. Ấn tướng của Hiện trí thân là: Các ngón của hai tay đan lại với nhau ở phía ngoài, riêng 2 ngón cái thì gập vào lòng bàn tay 3 lần để triệu thỉnh. Chân ngôn: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật ra tát đát phạ (Vajra sattva, Kim cương tát đỏa) ác (a#, chủng tử). Khi tu pháp Kim cương giới, trước khi kết ấn Hiện trí thân, hành giả phải kết ấn và tụng chân ngôn Ngũ tướng thành thân quán để hiển bày Tự tính thân của hành giả, đây là biểu thị sự hiển hiện của Lí pháp thân; kế đến tu Hiện trí thân, tức là quán tưởng Trí pháp thân hiện bày, để biểu thị sự thầm hội với cảnh giới lí trí chẳng 2. Sau Hiện trí thân thì kết ấn và tụng chân ngôn Kiến trí thân. [X. kinh Kim cương đính Q.hạ; Liên hoa bộ tâm nghi quĩ; Kim cương vương niệm tụng nghi quĩ; Lí thú hội nghi quĩ].

hiện trạng

Present condition.

hiện tình

Present situation.

hiện tướng

Theo Khởi Tín Luận, hiện tướng có nghĩa là cảnh giới tướng hay cảnh giới bên ngoài—According to The Awakening of Faith, manifest forms mean the external or phenomenal world.

hiện tướng của nghiệp si

The manifestation of the karma of delusion (ignorance).

hiện tướng thô thiển

Gross manifestation.

hiện tướng vi tế

Subtle manifestation.

hiện tượng

4728呈現於眼前之情況(象),稱為現象。尤其指看得見之情形,稱為假象。對現象而言,不動不變之實體稱為本體或本質,亦有視現象為本體之顯現,而以本體為超越現象者。在佛教中,現象即是假有,而本體、本質稱為實有、自性或本性。在唯識法相宗,將作為認識之對象稱為影像,其實質稱為本質,而表現在現實中之現象即稱為現行。吾人所能見到之現象(假象)即無體隨情假(妄假),實際上乃屬不存在者;由於凡夫之迷情而視之為實在,此係錯覺所產生之幻象。對此而言,由因緣而產生之實際現象稱為有體施設假。此外,又立圓成實性(本質、本體)、依他起性(因緣生滅之現象)、遍計所執性(迷情之假象)等三性。依他起性乃主張假有實無,遍計所執性主張情有理無,皆是空、無性。圓成實性之本質為永遠不變之真理,遠離吾人之執著(法執、我執),即超越有無相對之觀念,此亦為空、無性。又普遍一如之本體稱為「理」,差別之現象稱為「事」。(參閱「事理」3043) ; Phenomenon—Adornment—All manifestation—Adornment of space—The features of the world—Theo Ngài Long Thọ trong triết học Trung Quán, hiện tượng vốn có đặc tính như là biểu hiện của thực tại hay thế đế, bởi vì chúng phủ một bức màn lên thực tại. Nhưng đồng thời, chúng cũng có nhiệm vụ chỉ đường dẫn đến thực tại như là cơ sở của hiện tượng—According to Nagarjuna in the Madhyamaka philosophy, phenomena are characterized as samvrti because they cover the real nature of all things, or they throw a veil over Reality. At the same time they serve as a pointer to Reality as their ground. ; (現象) Đối lại với Bản thể, Bản chất. Cái trạng thái của sự vật mà người ta có thể cảm và biết được hiện bày ra trước mắt. Trong Phật giáo, các hiện tượng được xem là có giả, mà bản thể, bản chất, hoặc gọi là tự tính, bản tính mới là có thật. Tông Duy thức gọi đối tượng của nhận thức là ảnh tượng (bóng dáng), gọi thực chất của ảnh tượng là bản chất, còn cái hiện tượng biểu hiện trong thực tại thì được gọi là Hiện hành. Những hiện tượng mà người ta thấy chỉ là bóng huyễn do nhận thức sai lầm mà có. Ngoài ra, bản thể nhất như gọi là lí , hiện tượng sai biệt gọi là sự . (xt. Sự Lí).

hiện tượng kỳ lạ

Strange phenomena.

hiện tượng luận

Pramahāvartika (S). ; Phenomenalism—See Thật Tướng Luận.

hiện tượng tự nhiên

A natural phenomenon.

hiện tượng và thực thể

Phenomenon and noumenon—Theo tông Thiên Thai, thực tướng hay thực thể chỉ được thể nhận qua các hiện tượng. Chương hai của Kinh Pháp Hoa nói:“Những gì Đức Phật đã thành tựu là pháp tối thượng, hy hữu, và khó hiểu. Chỉ có chư Phật mới thấu suốt được thực tướng của tất cả các Pháp, tức là tất cả các pháp đều như thị tướng, như thị thể, như thị nhân, như thị lực, như thị tác, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh.” Qua những biểu hiện nầy của những hiện tượng hay của chân như, chúng ta thấy được thực tướng. Đúng hơn, những biểu hiện nầy tức là thực tướng. Không có thực thể bên ngoài hiện tượng, chính nơi hiện tượng là thực thể—The true state or noumenon can be realized only through phenomena. In the second chapter of the Lotus Sutra, it is said: "Wha“ the Buddha has accomplished is the dharma foremost, rare and inconceivable. Only the Buddhas can realize the true state of all dharmas; that is to say, all dharmas are thus formed, thus-natured, thus-substantiated, thus-caused, thus-forced, thus-activated, thus-circumstanced, thus-effected, thus-remunerated and thus-beginning-ending-completing.” Through these manifestations of Thusness or phenomena we can see the true state. Nay, these manifestations are the true state. There is no noumenon besides phenomenon; phenomenon itself is noumenon.

hiện tượng vũ trụ

Universal phenomena.

hiện tại

Pratyutpaa (S), Present. ; Now, at present, the present. ; • Bây giờ—Ngay lúc nầy—Now—At present—At this moment. • Phật giáo tin vào hiện tại. Với cái hiện tại làm căn bản để lý luận về quá khứ và tương lai. Hiện tại chính là con, là kết quả của quá khứ; hiện tại rồi sẽ trở thành cha mẹ của tương lai. Cái thực của hiện tại không cần phải chứng minh vì nó hiển nhiên—Buddhism believes in the present. With the present as the basis it argues the past and future. The present id the offspring of the past, and becomes in turn the parent of the future. The actuality of the present needs no proof as it is self-evident.

hiện tại hiền kiếp

The present bhadra-kalpa. ; The present bhadrakalpa.

hiện tại hiền kiếp tam thiên phật danh kinh

Hsien-tsai hsien-chieh ch'ien-fo-ming ching (C)Tên một bộ kinh.

hiện tại hữu thể quá vị vô thể

4725 【現在有體過未無體】此乃針對三世實有而言。一切有部認為,不論未來位、現在位或過去位,一切有為法皆為實有。但經量部主張,一切有為法於現在位時為實有,於過去、未來位皆無體。此說即「原無今有,已有還無」,又作「本無今有,有已還無」。(參閱「經量部」5555) ; (現在有體過未無體) Cũng gọi Bản vô kim hữu, Hữu dĩ hoàn vô, Nguyên vô kim hữu, Dĩ hữu hoàn vô. Tất cả các pháp hữu vi ở hiện tại thì có thật, còn ở quá khứ và vị lai thì đều không có thật. Đây là chủ trương của Kinh lượng bộ nhằm đối lại với luận thuyết Tam thế thực hữu (ba đời có thật) của Thuyết nhất thiết hữu bộ. (xt. Kinh Lượng Bộ).

hiện tại ngũ quả

4724指十二因緣中之識、名色、六入、觸、受等五者。據華嚴經疏卷三十九、華嚴經隨疏演義鈔卷六十六等載,以十二因緣配於三世因果,即以無明與行二者為過去之因;愛、取、有三者為現在之因;生、老死二者為未來之果;識、名色、六入、觸、受五者為現在五陰之身,故稱現在五果。玆依大明三藏法數卷二十一之解釋,即:(一)識,識者,初入胎阿賴耶現行之識種。其由過去無明業行為因,且此識與父母三緣和合,乃有色身之增長,此為胎中現在果。(二)名色,名,即識心;色,即羯邏藍(梵 kalala),為凝滑、胞胎、膜之義。指胎中初七日之形位,為胎內五位之一。其諸根尚未成長,為五蘊肉團之體,此為胎中現在果。(三)六入,六入者,即六根、六處。謂四七日後,眼、耳、鼻、舌、身、意六根漸漸增長具足,因其能入於諸塵,故稱為入,此為胎中現在果。(四)觸,謂六根成就,十月滿足而出於胎中,身根觸風而知寒熱,故稱為觸,此為出胎現在果。(五)受,謂出胎之後,諸根領納分別苦樂、好惡等事,故稱為受,此為出胎現在果。 ; (現在五果) Năm quả hiện tại. Chỉ cho Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc và Thụ trong 12 nhân duyên. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 39 và Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 66, đem 12 nhân duyên phối hợp với nhân quả 3 đời, cho Vô minh và Hành là nhân quá khứ; Ái, Thủ, Hữu là nhân hiện tại; Sinh, Lão tử là quả vị lai; còn Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc và Thụ là thân 5 uẩn hiện tại, vì thế gọi là Hiện tại ngũ quả. Đại minh Tam tạng pháp số giải thích như sau: 1. Thức: Hạt giống thức A lại da hiện hành lúc mới đầu thai. Thức này lấy nghiệp vô minh ở đời quá khứ làm nhân, hòa hợp với tinh, huyết của cha mẹ mà có sắc thân. Đây là quả hiện tại trong bào thai. 2. Danh sắc: Danh tức là tâm thức, Sắc tức là bào thai, hình thể của thân 5 uẩn vào 7 ngày đầu, chưa có các căn. Đây là quả hiện tại trong thai. 3. Lục nhập: Sáu căn, 6 chỗ. Hai mươi tám ngày sau khi đầu thai, 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý dần dần tăng trưởng đầy đủ. Đây là quả hiện tại ở trong thai. 4. Xúc: Sáu căn thành tựu, đủ 10 tháng thì sinh ra, thân căn tiếp xúc với không khí mà biết nóng, lạnh nên gọi là Xúc. Đây là quả hiện tại ra khỏi thai. 5. Thụ: Sau khi sinh ra, các căn cảm nhận, những sự khổ vui, đẹp xấu, v.v... nên gọi là thụ. Đây là quả hiện tại ra khỏi thai.

hiện tại tam muội

Pratyutpaa samādhi (S).

hiện tại thập phương ngũ bách phật danh tịnh tạp phật đồng hiệu

Hsien-tsai shih-fang ch'ien-wu-pai fo-ming ping-tsa fo t'ung hao (C).

hiện tại thế

4724梵語 pratyutpannādhvā,巴利語 paccuppannāddhā。又作現在、現世、現生。略稱現。三世之一。相對於「過去世」與「未來世」。亦即介於過去與未來之間;相對於尚未生起作用之未來與作用已滅謝之過去而言,正行變礙、領納等作用之此一剎那,即是現在。經量部、唯識宗等雖主張過去、未來無實體,然亦與薩婆多部(說一切有部)同以現在為實體。此外,有關過去、現在、未來三世有各種說法,若依剎那而分三世,則以住、異二相為現在世;若依果報而分三世,則存於現在一期中由生、老、病、死為現在世。阿毘達磨集異門足論卷三(大二六‧三七八下):「『現在世云何?』答:『諸行已起已等起,已生已等生,已轉已現轉,聚集出現。住未已謝,未已盡滅,未已離變,和合現前。現在性、現在類、現在世攝,是謂現在世。』」〔俱舍論卷二十、大毘婆沙論卷七十六、異部宗輪論〕(參閱「三世」536) ; The present world. ; 1) Thế giới hiện tại: The present world. 2) Một trong tam thế: See Hiện Tại, Quá Khứ, Vị Lai. ; (現在世) Phạm: Pratyutpannàdhava. Pàli: Paccuppannàddhà. Cũng gọi Hiện tại, Hiện thế, Hiện sinh. Gọi tắt: Hiện. Đối lại với Quá khứ thế và Vị lai thế. Đời hiện tại. Giữa cái sát na quá khứ đã diệt và sát na vị lai chưa sinh, thì cái sát na chính đang diễn ra là hiện tại. Kinh lượng bộ và tông Duy thức chủ trương quá khứ và vị lai không có thật, còn hiện tại thì có thật. Ngoài ra, về quá khứ, hiện tại và vị lai còn có nhiều thuyết khác nhau. Nếu y cứ vào sát na để phân chia 3 đời, thì chỉ có 2 tướng Trụ, Dị là đời hiện tại; nếu y cứ vào quả báo mà phân chia, thì từ khi sinh ra đến khi chết đi là đời hiện tại. Luận A tì đạt ma tập dị môn túc quyển 3 (Đại 26, 378 hạ) nói: Thế nào là đời hiện tại? Đáp: Các hành đã khởi và đang khởi, đã sinh và đang sinh, đã chuyển và đang chuyển, đang xuất hiện, chưa hết, chưa diệt, đang biến đổi, hòa hợp ngay hiện tiền, tính hiện tại, loại hiện tại, thuộc về đời hiện tại, nên gọi là Hiện tại thế . [X. luận Câu xá Q.30; luận Đại tì bà sa Q.76; luận Dị bộ tông luân]. (xt. Tam Thế).

Hiện tại tiền 現在前

[ja] ゲンザイゼン genzaizen ||| To be manifest in the present situation. 〔瑜伽論 T 1579.30.280a18〕 => Sự biểu hiện trong trạng thái hiện hành.

hiện tại tạng

Pratyutpaa kośa (S).

Hiện tại 現在

[ja] ゲンザイ genzai ||| (1) The present, right now. (2) State of fruition. (3) The state of the functioning of all conditioned elements, as opposed to the past or future. (4) This world, this existence. => 1. Hiện nay, ngay bây giờ. 2. Trạng thái kết quả. 3. Trạng thái vận hành của mọi pháp hữu vi, đối nghịch với trạng thái trong quá khứ hoặc tương lai. 4. Thế gian nầy, hiện hữu nầy.

hiện tại, quá khứ, vị lai

Hiện quá vị—Present, past and future.

hiện tử

5597唐代曹洞宗僧。洞山良价之法嗣。生卒年、籍貫均不詳。住於京兆,居無定所。印心於洞山。混俗於閩川一帶。不蓄道具,不循律儀,冬夏唯被一衲,逐日沿江岸探掇蝦蜆,以充其腹。暮即宿於東山白馬廟紙錢中。居民稱爲蜆子和尚。華嚴靜禪師與之往來唱和。後不知所終。弟子有豬頭和尚、維足和尚。〔五燈會元卷十三、景德傳燈錄卷十七、神僧傳卷九〕 ; (蜆子) Vị Thiền tăng thuộc tông Tào động sống vào đời Đường, là đệ tử nối pháp của Thiền sư Động sơn Lương giới, năm sinh, năm tịch và quê quán đều không rõ. Sư thường sống ở vùng Kinh, Triệu, nhưng không có chỗ ở nhất định, mà sống lẫn lộn với người thế tục ở suốt một dải đất Phúc kiến. Bình sinh, sư không cất giữ bất cứ một vật gì, không để bị luật nghi bó buộc, mùa đông, mùa hạ chỉ khoác một tấm mền rách. Hằng ngày sư đi dọc theo bờ sông tìm bắt tôm, hến làm thức ăn, tối về ngủ ở một ngôi miếu thờ thần. Dân cư địa phương gọi sư là Hiện tử hòa thượng (Hòa thượng Hến). [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.13; Cảnh đức truyền đăng lục Q.17; Thần hội truyện Q.19].

hiện vô lượng thân

To manifest boundless bodies.

hiện ích

Ích lợi hiện đời—Benefit in the present life.

hiện đương

Hiện tại và tương lai—Present and future.

hiện đại

Contemporary period—Present times.

hiện đại phật giáo học thuật tùng san

4723凡一○○冊。張曼濤主編。大乘文化出版社刊於民國六十五年(1976)。乃彙集民國以來六十餘年間,佛教研究之各家論述而成。內含六祖壇經研究論集、大藏經研究彙編、唯識學的發展與傳承、中國佛教史論集、佛教人物史話、佛教邏輯與辯證法、佛教哲學思想論集等數十種,共分十輯。集民國以來佛教論文之大成。 ; (現代佛教學術叢刊) Gồm 100 quyển, do ông Trương mạn đào chủ biên, nhà xuất bản Đại thừa văn hóa ấn hành vào năm 1976. Nội dung sưu tập các soạn thuật của các nhà nghiên cứu Phật giáo trong khoảng hơn 60 năm, từ năm 1911 về sau như: Lục tổ đàn kinh nghiên cứu luận tập, Đại tạng kinh nghiên cứu vựng biên, Duy thức học đích phát triển dữ truyền thừa, Trung quốc Phật giáo sử luận tập, Phật giáo nhân vật sử thoại, Phật giáo la tập dữ biện chứng pháp, Phật giáo triết học tư tưởng luận tập, v.v

hiện đại phật học

4724為民國三十九年(1950)九月由大陸創刊發行之佛教刊物。開始為月刊,後改為雙月刊。民國四十二年六月北京成立「中國佛教協會」,統制大陸所有佛教教團,現代佛學遂成為中國佛教協會之機關刊物。至一九六四年第六期,即文化大革命之時停刊,共刊行一四四期。社址位於北京西安門大街之居士林,社長與發行人為陳銘樞,總編輯為芝峰法師。其餘重要參與者另有巨贊、李濟深、趙樸初、葉恭綽、周叔迦、喜饒嘉錯等人。 ; (現代佛學) Tập san Phật giáo Trung quốc. Tập san này ra số đầu tiên vào tháng 9 năm 1950, mỗi tháng một kì, sau đổi lại 2 tháng một kì. Tháng 6 năm 1953. Hiệp hội Phật giáo Trung quốc được thành lập tại Bắc kinh, tờ báo này liền trở thành cơ quan ngôn luận của Hội Phật giáo. Tòa soạn đặt tại Cư sĩ lâm, đại lộ An môn, Bắc kinh. Chủ nhiệm và phát hành là ông Trần minh xu, Tổng biên tập là pháp sư Chi phong. Ngoài ra, còn có các cộng tác viên quan trọng như các ông: Cự tán, Lí tế thâm, Triệu phác sơ, Diệp cung xước, Chu thúc ca, Hỉ nhiêu gia thố, v.v... Năm 1966, khi nổ ra cuộc Đại cách mạng văn hóa của Cộng sản thì tập san này bị đình bản, sau khi ra được 144 số.

hiện đại phật học đại hệ

4724凡六十冊。藍吉富主編。民國七十一年(1982)由臺北彌勒出版社刊行。輯錄一百餘種佛學著述,包括古典資料、工具書、基礎佛學、佛教語文、印度哲學、佛教史、教義(佛教哲學與思想)、佛書研究、佛教文學與藝術、名家專集、目錄等十三類。其中,古典資料類收錄極多珍本典籍,如朝鮮佛教史料、判比量論、梵文本阿彌陀經、出定後語等。工具書類所收錄者,如英漢佛學大辭典、梵巴藏英佛教辭彙一覽、西藏大藏經總目錄等。 ; (現代佛學大系) Tác phẩm, 60 quyển, do ông Lam cát phú chủ biên, nhà xuất bản Di lặc ấn hành ở Đài bắc năm 1982. Nội dung sách này thu tập hơn 100 loại trứ tác về Phật giáo, bao gồm 13 loại như: Tư liệu cổ điển, Cơ sở Phật học, Ngữ văn Phật giáo, Triết học Ấn độ, Sử Phật giáo, Triết học tư tưởng Phật giáo, Phật thư nghiên cứu, Văn học và nghệ thuật Phật giáo, Danh gia chuyên tập, Mục lục, v.v... Trong tư liệu cổ điển có rất nhiều sách vở quí giá của Phật giáo như: Triều tiên Phật giáo sử liệu, Phán tỉ lượng luận, kinh A di đà (bản tiếng Phạm), Xuất định hậu ngữ, v.v... Những sách tra cứu thì có: Anh Hán Phật học đại từ điển, Phạm-Pàli-Tạng-Anh Phật giáo từ vựng nhất lãm, Tây tạng đại tạng kinh tổng mục lục.

hiện đẳng giác

Abhisambuddha (S). Name. Also A tỳ tam phật đà.

hiện đẳng phật

Abhisaṃbuddha (S)A tì tam Phật đà, Hiện đẳng giácTên một vị Phật hay Như Lai Xem Hiện đẳng Phật.

hiện đồ mạn đà la

Mạn Đà La của hai bộ Thai Tạng và Kim Cang Giới (hiện ra từ trên không trung nên gọi là hiện đồ. Mạn Đà La Kim Cang do các các pháp sư Kim Cang Trí, Bất Không truyền lại. Cũng có thuyết nói cả hai đều do pháp sư Thiện Vô Úy truyền lại)—The two revealed or revealing mandalas, the Garbhadhatu and Vajradhatu

hiện đồ mạn đồ la

4730為日本密教所特用之名詞。又作隨機曼荼羅。相當於現代圖畫,意謂流行於現代之曼荼羅。又意謂於圖畫中表現出諸尊尊形及列位。狹義而言,指空海攜回日本之神護寺(高雄)、東寺之曼荼羅。相對於此之另一系統,即圓珍攜返日本之舊式圖樣。廣義而言,指空海、圓仁、圓珍、宗叡所攜回日本之曼荼羅圖,而相對於阿闍黎所傳之曼荼羅及經疏所說之曼荼羅。現圖曼荼羅最初指胎藏曼荼羅,一般指金剛、胎藏二部。「現圖」一語,最早出現於日本安然所著胎藏界釋迦會不同記卷上。關於其由來有諸說:或謂善無畏祈請,現於空中,將之圖繪者;或謂龍猛菩薩開塔時,現於空中者;或以胎藏界為善無畏於空中感得,金剛界為金剛智於空中感得;又有以二部皆為不空或惠果所傳。 ; (現圖曼荼羅) Cũng gọi Tùy cơ mạn đồ la. Tiếng dùng riêng của Mật giáo Nhật bản. Chỉ cho những Mạn đồ la hiện đang lưu hành, hoặc chỉ cho những hình tượng của các vị tôn được biểu hiện trong các bức tranh. Nói theo nghĩa hẹp, Hiện đồ mạn đồ la là chỉ cho Mạn đồ la ở Đông tự và chùa Thần hộ (Cao hùng) tại Nhật bản, do ngài Không hải mang từ Trung quốc về Nhật, khác với Mạn đồ la kiểu cũ do ngài Viên trân mang về. Nói theo nghĩa rộng, Hiện đồ mạn đồ la là chỉ cho những Mạn đồ la do các ngài Không hải, Viên nhân và Tông duệ mang về, khác với Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền và Mạn đồ la được nói trong các kinh sớ. Hiện đồ mạn đồ la lúc đầu chỉ cho Mạn đồ la của Thai tạng giới, nhưng về sau thì chỉ chung cho cả 2 bộ Kim cương và Thai tạng. Danh từ Hiện đồ đầu tiên được thấy trong tác phẩm Thai tạng giới Thích ca hội bất đồng kí quyển thượng của ngài An nhiên. Về nguồn gốc của Hiện đồ có nhiều thuyết: Có thuyết cho rằng do ngài Thiện vô úy cầu thỉnh nên chư tôn xuất hiện trong hư không, rồi ngài vẽ lại để lưu truyền; hoặc có thuyết nói khi bồ tát Long mãnh mở tháp sắt ở Nam thiên trúc thì chư tôn xuất hiện trong hư không, sau đó ngài vẽ lại; hoặc có thuyết cho rằng Mạn đồ la Thai tạng giới là tác phẩm của ngài Thiện vô úy, Mạn đồ la Kim cương giới là tác phẩm của ngài Kim cương trí. Lại có thuyết nói cả 2 bộ đều do ngài Bất không hoặc ngài Huệ quả truyền.

hiện đồ mạn đồ la chư tôn tiện lãm

4730凡八卷。日本菩提華祥瑞(1750~1823)撰。略稱曼荼羅便覽、諸尊便覽。就現圖兩界曼荼羅,分各尊之梵號、密號、種子、三昧耶形、尊形、印相、真言等七項,依經軌或口傳等之說,辨述其異同。 ; (現圖曼荼羅諸尊便覽) Gọi tắt: Mạn đồ la tiện lãm, Chư tôn tiện lãm. Gồm 8 quyển, do ngài Bồ đề hoa tường thụy (1750-1823) người Nhật bản soạn. Sách này căn cứ vào Hiện đồ mạn đồ la Kim cương giới và Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới mà chia làm 7 hạng mục: Tên Phạm, Mật hiệu, Chủng tử, Hình tam muội da, Hình tượng Chư tôn, Ấn tướng và chân ngôn của mỗi vị tôn. Rồi dựa theo các kinh, nghi quĩ hoặc những lời truyền miệng, soạn giả phân biện sự dị đồng trong các hạng mục đó.

Hiện 現

[ja] ゲン gen ||| (1) Manifestation, appearance. (2) To be perceived clearly. (3) Now, present tense, actually; the present world, present existence, manifest world. (4) Present activity, manifest activity, materialization. => 1. Sự biểu lộ, sự xuất hiện. 2. Hiểu được một cách rõ ràng. 3. Bây giờ, thì hiện tại, hiện thời; thế giới hiện thời, hiện hữu, thế giới tồn tại. 4. Hành vi hiện tại, hành vi biểu hiện, sự cụ thể hoá.

hiệp

1) Kẹp nách—To clasp under the arm. 2) Ôm ấp: Ấp ủ—To cherish.

hiệp (hợp)

Bring together, unite, unisson, in accord.

Hiệp chưởng

合掌; J: gasshō;|Chắp hai tay trước ngực, một cách chào hỏi của các dân tộc Á châu (ấn hiệp chưởng, Ấn).|Khi chắp tay lại, người ta có thể cảm nhận được – dù chỉ là một khoảnh khắc – âm dương dung hoà, trí phân biệt gián đoạn.

hiệp chưởng

Ajali (S), Gasshō (J), Hands clasping Có 12 cách chắp tay. ; To bring the ten fingers, or two palms together; join palms; a monk's salutation.

hiệp hòa

To be in accord.

hiệp hội

Association.

hiệp lực

To join force with.

hiệp ngao

3089爲喇嘛教寺院之僧職名稱。乃藏語之音譯。又作協俄、協峩。或稱相公。意爲「僧眾總管」,專管全寺僧眾紀律。因手持鐵棍,故俗稱大鐵棒喇嘛、鐵棒喇嘛。通常協敖有二人,其下設有兩名喇嘛、兩名囊馬、十六名格役等,亦持鞭或棒,協助維持秩序。往昔西藏拉薩每年正月舉行傳召大會(攢招大會)期間,即由哲蚌寺鐵棒喇嘛負全城治安秩序之責,並處理百姓之訴訟案件。 ; (協敖) Cũng gọi Hiệp nga, dịch âm của tiếng Tây tạng. Hán dịch: Tướng công, Tăng chúng tổng quản. Tên chức Tăng chuyên coi về kỉ luật trong các chùa viện của Lạt ma giáo. Vị này thường cầm cái côn bằng sắt nên tục gọi là Đại thiết bổng Lạt ma, Thiết bổng Lạt ma. Thông thường có 2 vị Hiệp ngao, dưới quyền 2 vị này, đặt 2 vị Lạt ma, 2 vị Nẵng mã, 16 vị Cách dịch phụ tá, cũng cầm roi hoặc gậy giúp đỡ để duy trì trật tự trong chùa viện. Ngày xưa, vào tháng giêng hàng năm, ở Lhasa, Tây tạng, trong thời gian mở Đại hội Truyền triệu (Đại hội Toàn chiêu), Thiết bổng Lạt ma ở chùa Triết bạng phụ trách an ninh trật tự trong thành và xử lí các việc kiện cáo của dân chúng.

hiệp sức

See Hiệp Lực.

hiệp thiện thú cầu

4116解釋回向之意義所用之詞。與解釋發願之「直爾趣求」相對。發願與回向,前者乃尚無善根,唯求往生成佛,故稱直爾趣求;後者則已有善根,並以之求得挾帶善果,故稱挾善趣求。慧遠之觀無量壽經義疏卷末(大三七‧一八三中):「直爾趣求,說之為願;挾善趣求,說為迴向。」 ; (挾善趣求) Đối lại với Trực nhĩ thú cầu. Từ ngữ được dùng để giải thích ý nghĩa của sự hồi hướng. Phát nguyện và hồi hướng khác nhau. Phát nguyện là người chưa có căn lành, chỉ cầu vãng sinh thành Phật, nên gọi là Trực nhĩ thú cầu. Còn hồi hướng là chỉ cho người đã có căn lành và nhờ đó mà cầu được đến quả lành, nên gọi là Hiệp thiện thú cầu. Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển cuối của ngài Tuệ viễn (Đại 37, 183 trung), nói: Trực nhĩ thú cầu là nguyện, Hiệp thiện thú cầu là hồi hướng .

hiệp trì

See Hiếp Sĩ.

hiệp trảo

Xem hiệp chưởng.

hiệt

Khôn lanh mà xảo trá—Clever, intelligent, but cunning.

hiệt huệ

Chỉ trí huệ thế gian (thông minh, khôn lanh mà xảo trá)—Worldly wisdom, clever, intelligent, but cunning.

hiệt tuệ

See Hiệt Huệ.

hiệu

1) Dấu hiệu: A sign—A mark. 2) Hiệu triệu: To call.

hiệu khiếu địa ngục

Raurava (skt)—Địa ngục nơi nạn nhân luôn than khóc—The hell of wailing—See Địa Ngục (A) (a) (4).

hiệu lượng thán

4131請參閱 叢林校定清規總要 請參閱 曼殊室利咒藏中校量數珠功德經 又作格量歎。欲讚歎任何之功德,先假舉一大功德,使知其分量,再以此比較其他功德,則他功德之大,亦能不諭而知。法華經隨喜功德品之所明者即是此例。

hiệu lực

Effective—Efficient—Valid.

hiệu nghiệm

See Hiệu lực.

hiệu năng

Competance—Capacity.

hiệu quả

To be effective

hiệu đính

To revise.

hoa

5227梵語 puṣpa,巴利語 puppha,西藏語 me-tog。音譯布瑟波、補逝波。華,俗作花,經典中多作華。指草木之花。獻於佛、菩薩前,稱爲獻花;將花散佈,則稱散華。花供養爲源於印度之佛教儀式之一。密教修法以花爲重要供養物之一。大日經卷二具緣品載,真言行者,供養諸聖尊,應奉潔白黃朱色之悅意華。又大日經疏卷七載,花供養應各隨諸尊之性類及曼荼羅之方位,而用不同之花。諸多供養花中,最珍貴者爲優鉢羅華(青蓮華)、鉢特摩華(紅蓮華)、拘勿頭華(白蓮華)與分陀利華(大白蓮華)四種,或是曼陀羅華、摩訶曼陀羅華、曼殊沙華與摩訶曼殊沙華等四種。前四花據無量壽經卷上載,此四花可莊嚴極樂世界。後四花在法華經卷一則謂,爲法華六瑞相中之第三瑞相,乃從天而降之花。除上記草木之花外,後世復有以紙花、金屬製花,供養於佛前。〔蕤呬耶經卷中、起世經卷二十七、毘尼母經卷五、蘇悉地羯囉經卷上供養花品、華嚴經探玄記卷一、翻梵語卷十、翻譯名義集卷八〕 ; Puppha (P), Puṣpa (S), Flower. ; Kusuma; puspa; padma (S). A flower, blossom; flowery; especially the lotus; pleasure, vice; to spend, waste, profligate; splendour, glory, ornate; to decorata; China. ; Kusuma, Puspa, or Padma (skt). 1) Hoa, đặc biệt là hoa sen, một trong sáu loại vật để cúng đường Phật: Flower—Blossom—Flowery, especially the lotus, one of the six objects for offerings—For more information, please see Liên Hoa. 2) Khoan Hòa: Vì hoa nhu nhuyễn khiến lòng người khoan hòa—Pleasure. 3) Xa Hoa: To waste—To spend—To profligate. 4) Hoa Nghiêm: Hoa tượng trưng cho vạn hạnh phô bày trang nghiêm—To ornate—To decorate—Glory—Splendour. 5) Hoa Sen: Padma (skt)—The lotus flower. 6) Hoa Trời: Celestial flowers. ; (華) Phạm: Puwpa. Pàli: Puppha. Tạng: Me-tog. Dịch âm: Bố sắt ba, Bổ thệ ba. Dâng hoa cúng dường chư Phật và Bồ tát, gọi là Hiến hoa; còn rải hoa trên bàn để cúng dường thì gọi là Tán hoa. Cúng dường hoa bắt nguồn từ nghi thức của Phật giáo Ấn độ trong các pháp tu của Mật giáo, hoa là vật cúng dường rất quan trọng. Phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật nói, hành giả Chân ngôn nên dâng hoa mầu trắng, vàng và đỏ tinh khiết để cúng dường chư tôn. Còn Đại nhật kinh sớ quyển 7 thì nói, tùy theo tính loại của các vị tôn và phương vị Mạn đồ la mà cúng dường hoa khác nhau. Trong các loại hoa cúng dường, quí nhất có 4 loại: Hoa Ưu bát la (hoa sen xanh), hoa Bát đặc ma (hoa sen hồng), hoa Câu vật đầu (hoa sen trắng) và hoa Phân đà lợi (hoa sen trắng to); hoặc 4 loại: Hoa Mạn đà la, hoa Ma ha mạn đà la, hoa Mạn thù sa và hoa Ma ha mạn thù sa. Bốn loại hoa trước dùng để trang nghiêm thế giới Cực lạc (theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng), còn 4 loại hoa sau là điềm lành thứ 3 trong 6 điềm lành nói trong kinh Pháp hoa, là loại hoa từ trên trời rơi xuống. [X. kinh Nhuy hi da Q.trung; kinh Khởi thế Q.27; kinh Tì ni mẫu Q.5; phẩm Cúng dường hoa trong kinh Tố tất địa yết ra Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Phiên phạm ngữ Q.10; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8]

hoa báo

chỉ sự báo ứng ngay trước mắt, do nghiệp thiện ác chiêu cảm tức thời, chưa phải là kết quả cuối cùng. Giống như người trồng cây, trước phải thấy có hoa rồi sau mới được quả, vì thế nên gọi loại quả báo trước mắt này là hoa báo. ; 5233又作花報。華開在結實之前,故「華報」乃對後得之「果報」而言。譬如人爲獲得果實而植樹,除正得其果實之外,兼可得華,是爲華報。眾生植善惡之業因,由此業因正得之果爲果報(又作實報、正報),果報之前所兼得者,則稱爲華報。如以不殺爲業因,因之而得長壽,是爲華報;遠感涅槃之果,是爲果報。又如以念佛修善爲業因,往生極樂世界爲華報;後證大菩提則爲果報。〔灌頂經卷十二、大智度論卷十一、往生要集卷上末〕 ; Flower-recompense, i.e. flowers to him who cultivates them, and fruit corresponding to the seed sown. ; Flower-recompense—Quả báo tương ứng với nhân gieo, nhân lành quả lành nhân ác quả ác—The fruit corresponds to the seed, good for good and evil for evil. ; (華報) Hoa nở trước khi kết trái, vì thế, đối với quả báo được sau mà gọi là Hoa báo. Ví dụ người trồng cây, ngoài việc thu hoạch quả còn hái được cả hoa: Đó gọi là Hoa báo. Chúng sinh gieo nghiệp nhân thiện hoặc ác, quả có được từ nghiệp nhân này là quả báo (cũng gọi Thực báo, Chính báo), còn cái có trước quả báo thì gọi là Hoa báo. Như lấy việc không giết hại làm nghiệp nhân, nhờ vào nghiệp nhân không giết hại ấy mà được sống lâu, đó là Hoa báo; lâu xa về sau cảm được quả Niết bàn, đó là Quả báo. Còn như lấy việc niệm Phật, tu thiện làm nghiệp nhân, được sinh về thế giới Cực lạc là Hoa báo; về sau chứng Đại bồ đề thì là Quả báo. [X. kinh Quán đính Q.12; luận Đại trí độ Q.11; Vãng sinh yếu tập Q.thượng phần cuối].

hoa bình

5233即盛花之瓶。又作花瓶、華生、華入。爲佛前供具之一。於其中注入水、插樒(以防水之腐臭);係由密教盛寶藥、香水等以供養諸尊之迦羅奢轉化而來。印度之供花原作華鬘,或以散花盛於盤內,後世則漸演變爲剪枝供佛之風。且有以香爐、華瓶、燭臺等一系列之器具,作爲莊嚴佛前之用,稱爲三具足。若香爐一、華瓶及燭臺各一對,則稱五具足。 ; (華瓶) Cũng gọi Hoa sinh, Hoa nhập. Bình cắm hoa. Trong Mật giáo, Hoa bình vốn là Ca la xa, một vật dụng đựng thuốc quí, nước thơm, v.v...… để cúng dường chư tôn. Ấn độ thời xưa thường dùng cái mâm để đặt vòng hoa hoặc rải những bông hoa lên trên để cúng Phật, đến đời sau thì dần dần dùng bình để cắm hoa thay cho mâm. Ngoài ra, còn có các đồ dùng được sắp thành hàng trang nghiêm trước Phật như một lư hương, một bình hoa, một cây đèn, gọi là Tam cụ túc. Nếu đặt một lư hương, 2 bình hoa, 2 cây đèn thì gọi là Ngũ cụ túc.

hoa cung

See Hoa Lung.

hoa cách

(hoa cách ) Vật dụng đựng hoa để cúng dường các bậc cao quí theo phong tục Ấn độ. Đời sau, trong Pháp hội, người ta dùng lẵng hoa là phỏng theo Hoa cách ngày xưa. (xt. Y Cách, Hoa Lung).

hoa cái

5234梵語 puṣpa-cchatra。華,即花、花鬘等;蓋,即遮陽之傘。以花裝飾而成之傘蓋,稱爲華蓋。又作花蓋。相傳我國古代神話中黃帝與蚩尤戰於涿鹿,常有五色雲氣,金枝玉葉,如花狀之物出現於黃帝頭頂上,稱爲華蓋。故後世帝王所用之傘,別稱華蓋。 在印度、西域等地,氣候炙熱,人多持傘蓋遮陽,傘上或以花裝飾之,一般通稱爲華蓋。又密教修法中,用於灌頂之傘蓋,亦有於上懸佩花鬘之作法。又佛教建築中,如經幢、石塔之頂上,有雕刻精細如傘狀之蓋,亦稱華蓋,又稱寶蓋。〔瞿醯經卷下分別護摩品、無量壽經卷下、法華玄贊卷二〕 ; (華蓋) Phạm: Puwpa-cchatra. Cây lọng trang sức bằng hoa. Trong thần thoại cổ đại của Trung quốc truyền rằng khi Hoàng đế đánh nhau với Si vưu (. ), thì trên hư không thường có đám mây ngũ sắc giống như cây lọng hoa xuất hiện, che trên đầu Hoàng đế, gọi là Hoa cái. Bởi thế, đời sau, lọng của các đế vương dùng cũng được gọi là Hoa cái. Ở Ấn độ và vùng Tây vực, khí hậu nóng bức, người ta phần nhiều cầm ô (dù) che nắng, có người trang sức cây dù bằng hoa, gọi là Hoa cái. Trong các kiến trúc Phật giáo, như trên nóc cột kinh, tháp đá được chạm trổ rất tinh vi, trông giống như cây lọng, cũng gọi là Hoa cái, hoặc Bảo cái. [X. Phẩm Phân biệt hộ ma trong kinh Cù hê Q.hạ; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Pháp hoa huyền tán Q.2].

hoa cái am

5234位於廣西桂林西一公里處之隱山。始建年代不詳。內藏有唐末五代僧人貫休所畫十六尊者像,線條遒勁圓潤,形態各異,造型突出,性格分明,爲我國藝術史上頗具價值之作品,迄今保存完好。 ; (華蓋庵) Am ở Ẩn sơn, cách huyện Quế lâm về phía tây 1 km, thuộc tỉnh Quảng tây, Trung quốc. Không rõ am được sáng lập vào thời nào. Trong am có cất giữ 16 bức tranh A la hán do sư Quán hưu vẽ vào cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, nét vẽ tinh xảo, phong cách sống động, hình thái mỗi vị một khác, là những tác phẩm rất có giá trị về mặt lịch sử nghệ thuật Trung quốc, đến nay còn được bảo tồn toàn vẹn.

Hoa diên

(花筵): nguyên nghĩa là chiếc chiếu mỹ lệ được trang trí những hoa văn trang nhã, tuyệt đẹp; loại chiếu này thường được dùng trong các buổi yến hội, tiệc tùng và đặc biệt để dọn bày các phẩm vật dâng cúng; từ đó, dọn mâm cúng được gọi là “thiết hoa diên (設花筵, dọn chiếu hoa).” Như trong bài Thất Tịch Phú (七夕賦) của Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường có câu: “Phất hoa diên nhi thảm trắc, phi diệp tự nhi thản dương, kết diêu tình ư Hán Mạch, phi vĩnh đệ ư Hà Trang (拂花筵而慘惻、披葉序而徜徉、结遥情於汉陌,飞永睇於霞庄。結遙情於漢陌、飛永睇於霞莊, bày chiếu hoa mà thảm thương, mang chùm lá mà đùa vui, kết tình xa nơi Hán Mạch, phóng mắt nhìn chốn Hà Trang).” Hay trong bài thơ Bệnh Trung Giá Nữ Kĩ (病中嫁女妓) của Tư Không Thự (司空曙, ?-?) nhà Đường lại có câu: “Vạn sự thương tâm tại mục tiền, nhất thân thùy lệ đối hoa diên (萬事傷心在目前、一身垂淚對花筵, vạn chuyện thương tâm trước mắt mình, một thân rơi lệ trước chiếu hoa).” Cũng như trong bài Cửu Nhật Phụng Bồi Thị Trung Yến Hậu Đình (九日奉陪侍中宴後亭) của Lô Luân (盧綸, 739-799) nhà Đường có câu: “Ngọc hồ khuynh cúc tửu, nhất cố đắc yêm lưu, thái bút chinh mai tẩu, hoa diên vũ mạc sầu, quản huyền năng trú cảnh, tùng quế bất đình thu, vi tạ bồng hao bối, như hà sương tản trù (玉壺傾菊酒、一顧得淹留、彩筆征枚叟、花筵舞莫愁、管弦能駐景、松桂不停秋、爲謝蓬蒿輩、如何霜霰稠, bình ngọc rót rượu cúc, ngoảnh nhìn còn ngâm mãi, bút màu lão đồ già, chiếu hoa múa thêm buồn, dây đàn dừng cảnh vật, tùng quế chẳng giữ thu, cám ơn hàng bèo cỏ, sao biết sương tuyết nhiều).” Câu “ngưỡng tuân giáo điển, kính thiết hoa diên (仰遵敎典、敬設花筵)” có nghĩa là cung kính tuân theo lời dạy của thánh hiền, thành tâm thiết bày lễ cúng.

hoa dại

Wild flowers.

hoa hình đàn

5231請參閱 華手經 又作花形壇。係密教所用,四面雕有蓮華之方形大壇。其壇上列輪寶、羯磨、五瓶、鈴、五股杵、香、花、燈、塗等修供養之法具。四方壇形表本有性淨之心蓮華,每一側各有向上二重八瓣豎蓮華,華瓣向上表上求菩提之義;向下亦有八瓣二重伏蓮華,瓣下垂表下化眾生;上下蓮瓣中間刻有五色線條。向上之八瓣二重豎蓮華表薩、王、愛、喜等慧門十六尊;向下之八瓣二重伏蓮華表八供、四攝、四波羅蜜等定門十六尊。五色線表五智;四方具有四智四佛,其總體爲法界體性智,即表大日尊。凡此三十七尊具足三十七智,而成曼荼羅之深義。〔密教法具便覽〕 ; (華形壇) Cái đàn (làm bằng gỗ hoặc đắp bằng đất) lớn hình vuông 4 mặt có khắc hoa sen được dùng trong Mật giáo. Trên đàn được bày các pháp cụ như: Luân bảo, Yết ma, 5 cái bình, chuông nhỏ, chày 5 chĩa, hương, hoa, đèn, hương xoa, v.v...… để cúng dường. Hoa sen ở 4 mặt đàn tượng trưng cho Tâm bản hữu thanh tịnh. Mỗi mặt đều có 2 lớp hoa sen, mỗi lớp có 8 cánh hoa hướng lên và 8 cánh hoa hướng xuống; 8 cánh hướng lên biểu thị nghĩa thượng cầu Bồ đề, 8 cánh hướng xuống biểu thị nghĩa hạ hóa chúng sinh. Giữa 2 lớp cánh sen hướng lên và quay xuống có khắc một đường chỉ 5 sắc. Mười sáu cánh hoa hướng lên tiêu biểu cho 16 vị tôn Tuệ môn như: Tát, Vương, Ái, Hỉ, v.v...…, 16 cánh sen quay xuống tượng trưng cho 16 vị tôn Định môn là Bát cúng, Tứ nhiếp, Tứ ba la mật. Đường chỉ 5 sắc tượng trưng 5 trí, 4 phương tượng trưng 4 trí, 4 Phật, tổng thể của đàn tiêu biểu cho Pháp giới thể tính trí, tức là bản tôn Đại nhật. Tóm lại, 4 mặt của Hoa hình đàn có 32 cánh sen, tượng trưng cho 32 vị tôn, cộng với 4 đức Phật ở 4 phương và đức Bản tôn Đại nhật thì thành tất cả 37 vị. Ba mươi bảy vị tôn này có đầy đủ 37 trí mà tạo nên ý nghĩa sâu xa của Mạn đồ la. [X. Mật giáo pháp cụ tiện lãm].

hoa hòe

Flowery.

Hoa Hạ

(華夏): từ người Trung Quốc tự hào về đất nước mình và tự xưng như vậy, có nghĩa là đất nước to lớn, phát triển văn minh rực rỡ. Như trong Thích Môn Chánh Thống (釋門正統, CBETA No. 1513) quyển 4 có câu: “Ngã Tống nhân như thiên, Thần Võ nhi bất sát, Hoa Hạ cập man mạch, thai noãn kị hóa thấp, giai quy háo sanh đức, duy khủng nhất vật thất (我宋仁如天、神武而不殺、華夏及蠻貊、胎卵暨化濕、皆歸好生德、惟恐一物失, nhà Tống nước ta nhân từ như trời, vua Thần Võ không sát sanh, Trung Hoa và chư hầu, loài sanh bằng thai, trứng, hóa sanh và thấp sanh, đều có đức ham sống, chỉ sợ một vật mất đi).” Hay như trong Tỉnh Am Pháp Sư Ngữ Lục (省菴法師語錄, CBETA No. 1179) cũng có đoạn: “Cư ư Hoa Hạ, Lục Căn vô dạng, Tứ Đại khinh an, cụ hữu tín tâm, hạnh vô ma chướng, huống kim ngã đẳng hựu đắc xuất gia, hựu thọ cụ giới, hựu ngộ đạo tràng, hựu văn Phật pháp, hựu chiêm Xá Lợi, hựu tu sám pháp, hựu trị thiện hữu, hựu cụ thắng duyên (居於華夏、六根無恙、四大輕安、具有信心、幸無魔障、況今我等又得出家、又受具戒、又遇道塲、又聞佛法、又瞻舍利、又修懺法、又值善友、又具勝緣, sanh nơi Trung Hoa, sáu căn không bệnh, bốn đại nhẹ nhàng, có đủ tín tâm, may chẳng ma chướng, huống nay chúng ta lại được xuất gia, lại thọ giới pháp, lại gặp đạo tràng, lại nghe Phật pháp, lại thấy Xá Lợi, lại tu sám hối, lại gặp bạn tốt, lại đủ duyên lành).”

hoa hậu

The queen of beauty—The beauty queen.

hoa hồng

1) Rose. 2) Commission—Trade allowance.

hoa khai

Sự xuất hiện của mọi hiện tượng—The appearance of phenomena.

hoa khai kiến phật

Hoa sen nở thấy Phật. To see the Buddha when the lotus blooms—Theo thuyết Tịnh Độ, những ai chuyên tâm trì niệm hồng danh Phật A Di Đà, sau khi chết sẽ vãng sanh Cực Lạc—According to the Pure Land Doctrine, those who decisively recite the name of Amitabha Buddha will be reborn in the Western Pure Land after passing away.

hoa khai liên hiện

5233爲天台宗所立「蓮華三喻」之一。天台宗對於法華經之判釋,謂法華經有「本迹 二門」之開顯;且爲闡明法華經之旨意,遂就經題之蓮華各立本門、迹門三喻,稱蓮華三喻,即以華譬喻權法與(垂)迹,以蓮譬喻實法與本(地)。華開蓮現,喻於法華之迹門,譬喻開權法,則實法自然顯現,稱開權顯實,即開三乘之權法,顯一乘之實法;喻於法華之本門,稱開迹顯本,即開除以釋尊爲伽耶近成垂迹示現之權佛之情執,以顯示久遠實成之本地本佛。法華玄義卷七下(大三三‧七七三上):「華開故蓮現,而須華養蓮,譬權中有實而不能知,今開權顯實,意須於權。」(參閱「本迹二門」1965、「開權顯實」5315、「蓮華三喻」6148) ; (華開蓮現) Hoa nở sen hiện, một trong 3 thí dụ về hoa sen do tông Thiên thai lập ra. Theo sự phán thích của tông Thiên thai thì kinh Pháp hoa mở bày 2 môn: Bản môn và Tích môn, để giải thích rõ ý chỉ của kinh này, tông Thiên thai theo đề kinh Liên hoa mà đặt ra 3 thí dụ về bản môn và tích môn, gọi là Liên hoa tam dụ. Tức là dùng hoa dụ cho Quyền pháp (pháp phương tiện tạm thời) và Tích môn, dùng sen dụ cho Thực pháp (pháp chân thật) và Bản môn. Hoa khai liên hiện, nếu dụ cho Tích môn, thì gọi là Khai quyền hiển thực, tức mở ra Quyền pháp Tam thừa để hiển bày Thực pháp Nhất thừa. Nếu dụ cho Bản môn, thì gọi là Khai tích hiển bản, tức xóa bỏ tình chấp cho rằng đức Thích tôn mới thành Phật ở thành Già da (thùy tích), để hiển bày nghĩa Ngài đã thành Phật từ lâu xa (bản địa). Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 phần dưới (Đại 33, 773 thượng), nói: Hoa nở nên sen hiện, cần phải có hoa để dinh dưỡng hạt sen, ví như trong Quyền có Thực mà không biết, nay mở ra Quyền để hiển bàyThực, ý là cần phải có Quyền pháp. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Quyền Hiển Thực, Liên Hoa Tam Dụ).

hoa khai phu phật

Xem Khai Phu Hoa Vương Như Lai.

Hoa khai phu Phật 華開敷佛

[ja] ケカイフブツ Kekaifu butsu ||| See 開敷華王如來. => Xem Khai phu hoa vương Như Lai 開敷華王如來.

hoa khai thế giới khởi

Vị tổ thứ 27 tại Ấn Độ là Bát Nhã Đa La đã dạy:“Hoa khai thế giới khởi,” nghĩa là hiện tượng và sự hiện hữu cụ thể chỉ là một—The twenty-seventh patriarch, Master Prajnatara, said, “Flowers opening are the occurrence of the world,” in other words, phenomena and concrete existence are just one.

hoa khôi

See Hoa hậu in Vietnamese-English Section.

hoa kệ

3506又作貫花。指經文中之偈頌。蓋一般經典之散文比喻爲散花,對於貫穿經文之偈頌則比喻爲貫花。於禪林中,特指達磨之傳法偈,,亦即一花五葉之偈。 景德傳燈錄卷三(大五一‧二一九下):「可曰:『請師指陳。』師曰:『內傳法印以契證心,外付袈裟以定宗旨。(中略)聽吾偈曰:吾本來茲土,傳法救迷情;一花開五葉,結果自然成。』」祖庭事苑卷三(卍續一一三‧三七上):「花偈,初祖達磨傳法,一花五葉之偈。」 ; (花偈) Cũng gọi Quán hoa. Chỉ cho những bài kệ tụng trong văn kinh.Phần văn xuôi trong các kinh điển được ví như những bông hoa rời rạc, tản mạn, còn những bài kệ tụng (văn vần) đúc kết, tóm thu ý nghĩa tản mạn trong phần văn xuôi, thì được dụ như một xâu hoa, cho nên gọi là Hoa kệ, hoặc Quán hoa. Trong Thiền tông, Hoa kệ được đặc biệt chỉ cho kệ truyền pháp của Tổ Đạt ma. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51, 219 hạ), chép: Tuệ khả bạch: Xin Thầy chỉ dạy cho. Sư nói. Trong truyền pháp ấn để khế chứng tâm, ngoài trao ca sa để định tông chỉ. (….) Hãy nghe kệ ta đây: Ta vốn đến xứ này, Truyền pháp cứu mê tình Một hoa nở năm cánh, Kết quả tự nhiên thành. [X. Tổ đình sư uyển Q.3]

hoa lung

5256盛花之器。又作華筥、華皿。原稱衣祴、華篋、華盤,即指對高貴人士獻花之盛具。日本中古世紀以來,多於法會時用之。或用金屬製之盆盤,或用竹籠,而其中盛以紙蓮瓣或樒葉,於行道或起立間,以散華表示供養佛陀之誠意。(參閱「衣祴」2569) ; 1) Rỗ đựng hoa sen: Flower baskets for scattering lotus flowers. 2) Rỗ đựng hoa lá nói chung: Baskets for leaves and flowers in general. ; (華籠) Cũng gọi Hoa cử, Hoa mãnh, Y cách, Hoa khiếp, Hoa bàn. Đồ đựng hoa dâng tặng những người cao quí.Ở Nhật bản, từ thời trung cổ đến nay, Hoa lung được dùng trong pháp hội, thường là mâm thau, hoặc rổ tre, trong đó đựng những cánh sen bằng giấy hoặc lá cây mật, rồi khi hành đạo hoặc đứng dậy rải hoa để bày tỏ lòng thành kính cúng dường đức Phật. (xt. Y Cách).

hoa lâm

Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng tọa lạc trong thị xã Cao Lãnh, Nam Việt Nam. Theo tài liệu của chùa thì chùa được xây dựng từ thế kỷ thứ 19. Kiến trúc chùa hiện nay là kết quả của kỳ trùng tu năm 1972. Bên phải chùa có ba tháp thờ các vị Hòa Thượng Như Lễ, Giác Ngộ và Nhựt Lang, là những vị Tổ Lâm Tế tại Việt Nam đời thứ 39, 40 và 41—Name of a famous ancient pagoda located in Cao Lãnh town, South Vietnam. According to the documents in the pagoda, it was built in the nineteenth century. The present structure results from the reconstruction in 1972. On the right side of the pagoda stand three stupas of Most Venerable Như Lễ, Giác Ngộ, and Nhựt Lang, who were respectively the 39th, 40th, and 41th Patriarchs of the Lin-Chi of the Vietnam Buddhist Sangha.

hoa lâm nhị hổ

5230馬祖道一之法嗣華林善覺有大空、小空二隻老虎爲侍者,師夜裏步行時,常七步一振錫,一唱觀音名號。宰相裴休感其攝虎祕術,以之問師,師答曰(卍續一四八‧一○四上):「山僧常念觀音。」〔禪苑蒙求卷上〕 ; (華林二虎) Hai con hổ (cọp) của ngài Hoa lâm. Thiền sư Hoa lâm Thiện giác là đệ tử nối pháp của ngài Mã tổ Đạo nhất, có 2 con hổ già thường theo ngài làm thị giả, ngài đặt tên cho chúng là Đại không và Tiểu không. Ban đêm, khi tản bộ, ngài thường đi 7 bước lại rung tích trượng một lần và niệm danh hiệu bồ tát Quan âm. Tể tướng Bùi hưu thâm cảm bí thuật phục hổ của ngài, nên đem việc ấy thưa hỏi. Thiền sư đáp (Vạn tục 148, 104 thượng): Sơn tăng thường niệm Quan âm . [X. Thiền uyển mông cầu Q.thượng].

hoa lâm quật

3506梵名 Kareri-kuṭikā,巴利名同。又作迦梨隸、迦利羅石室、迦利囉窟、俱利窟。係給孤獨長者所獻僧園(祇園精舍)中的建築物之一。窟前植有迦利樹,故又稱爲迦利樹窟。釋尊曾居於此。 巴利文長部經第十四大本經(Mahāpadāna-suttanta)卷頭語載,世尊於舍衛城祇樹給孤獨園(Jetavanānāthapiṇḍikārāma)之迦利樹窟,托鉢而歸,在迦利樹圓堂(Kareri-maṇḍalamāla)與大眾共坐,向聚集而來之比丘講說前生故事。此外,雜阿含經卷三十七、長阿含大本經、起世經、起世因本經、大樓炭經、七佛經等,皆舉出此窟之名。 ; (花林窟) Phạm,Pàli: Kareri-kuỉika. Cũng gọi Ca lê lệ, Ca lợi la thạch thất, Ca lợi la quật, Câu lợi quật. Thạch thất Hoa lâm, một trong các kiến trúc ở tịnh xá Kì viên do trưởng giả Cấp cô độc dâng cúng. Trước thạch thất có trồng cây Ca lợi nên gọi là Ca lợi thụ quật. Đức Thế tôn từng trụ ở đây. Lời mở đầu của kinh Đại bản (Mahàpadana-suttanta) trong Trường bộ kinh 14, tiếngPàli, ghi: Đức Thế tôn ở tại động Ca lợi thụ trong vườn ông Cấp cô độc, rừng cây của thái tử Kì đà, thành Xá vệ. Hàng ngày đức Thế tôn mang bát đi khất thực, rồi trở về cùng ngồi với Đại chúng ở Viên đường (Kareri-maịđalamàla) dưới cây Ca lợi, giảng nói về các sự tích đời trước cho các vị tỉ khưu nghe. Ngoài ra, Hoa lâm quật cũng được nói đến trong các kinh như: Tạp a hàm quyển 37, kinh Đại bản trong Trường a hàm, kinh Khởi thế, kinh Khởi thế nhân bản, kinh Đại lâu thán, kinh Thất Phật, v.v...…

hoa lâm tự

5230<一>位於廣東廣州西關之「西來初地」。據本寺第二代住持離幻元覺所撰之開山碑記載,此地係梁大通元年(527),菩提達摩航海東來著陸之處,故稱西來初地,建有西來庵。明崇禎初年,有宗符老人自漳州至,應庵主之請,起建道場,至清代順治十二年(1655),完成大雄寶殿、樓閣、堂廡、寮室,引河流名爲功德水,植樹而成祇園,榜曰華林禪寺。宗符住持本寺十七年,大闡達摩西來宗旨,常垂三關語,道風遠播,聞者景從。 本寺向與光孝、淨慧、海幢、大佛等四寺稱廣府五大叢林,但近來頹廢不振。寺前有丈六餘之石塔,其附近爲舊時寺域,今多建民舍,其部分已見殘磚敗瓦堆積。羅漢堂北端神龕安置釋迦、彌陀、彌勒三尊,號三寶佛;堂中央有丈餘之阿育天王塔,四面各塑一佛,稱四方佛;堂內安置有六公寸餘乾漆之羅漢像五百尊,今缺數尊。〔西來初地華林寺考訪記(葛定華)、支那文化史蹟解說卷三〕 <二>位於福建福州北郊,屏山南麓。北宋乾德二年(964),吳越王錢氏據福州,其臣下鮑脩讓爲郡守,建寺於此。初名「越山吉祥禪院」,明代正統年間賜額,改名華林寺。今僅存大殿,雖歷經明清之重修,但其主要樑架、斗栱仍係初建時原物,保存唐宋時建築風格,爲我國長江以南最古老之木構建築。 ; (華林寺) Chùa ở Tây quan thuộc Quảng châu, Quảng đông, Trung quốc. Cứ theo Khai sơn bi kí do ngài Li huyễn Nguyên giác, vị trụ trì đời thứ 2 soạn, thì nơi này xưa kia là am Tây lai, chỗ ở đầu tiên của Tổ Bồ đề đạt ma, khi ngài từ Ấn độ đến Trung quốc vào niên hiệu Đại thông năm đầu (527) đời Lương, vì thế gọi là Tây lai sơ địa . Đầu năm Sùng trinh đời Minh, nhận lời thỉnh cầu của am chủ, trưởng lão Tông phù từ Chương châu đến đây xây dựng đạo tràng. Đến năm Thuận trị 12 (1655) đời Thanh thì hoàn thành Đại hùng bảo điện, lầu gác, nhà hai bên, liêu phòng, rồi dẫn nước sông vào gọi là nước công đức, trồng cây làm thành Kì viên và đặt tên chùa là Hoa lâm Thiền tự. Trưởng lão Tông phù trụ trì chùa này được 17 năm, xiển dương tông chỉ của Tổ Đạt ma, thường giảng giải về thuyết Tam quan, đạo phong của ngài vang xa, được nhiều người ngưỡng mộ. Trước kia, chùa này cùng với 4 chùa: Quang hiếu, Tịnh tuệ, Hải chàng, và Đại Phật được gọi là Quảng phủ ngũ đại tùng lâm (năm chốn tùng lâm lớn ở Quảng phủ). Nhưng gần đây, chùa này đã suy đồi hoang phế. Trước chùa có tòa tháp đá cao 1 trượng 6. Phía bắc La hán đường có khám thờ 3 pho tượng: Thích ca, Di đà và Di lặc, gọi là Tam bảo Phật. Chính giữa La hán đường có tháp A dục thiên vương cao hơn một trượng, 4 mặt tháp đều đắp một pho tượng Phật, gọi là Tứ phương Phật. Trong La hán đường có 500 pho tượng La hán, mỗi pho cao hơn 60 cm, một số pho nay không còn. [X. Tây lai sơ địa Hoa lâm tự khảo phóng kí (Cát định hoa); Chi na văn hóa sử tích giải thuyết Q.3].

hoa lâm viên

5230<一>爲鳩摩羅什譯彌勒下生成佛經所記載之園林。據彌勒下生成佛經、彌勒下生經(竺法護譯)、賢愚經卷十二等載,將來(五十七億六千萬年之後)人壽增至八萬四千歲時,國土清淨豐樂,時氣和適,人民熾盛,無諸病患,其時彌勒菩薩自兜率天下生人間,於此園中之龍華樹下成道,亦於此園中以三會說法度化眾生。初會說法度化九十六億人,二會度化九十四億,三會度化九十二億,令皆獲得阿羅漢果。 <二>爲南北朝時代南朝之宮苑,位於江蘇江寧縣。齊武帝永明元年(483)曾於此園設八關齋。永元元年(499),敕請三十僧入華林園夏講,推舉成實論之碩學僧旻爲法主。梁武帝天監五年(506),僧旻再遊帝都,帝厚遇之,並與法寵、法雲等於華林園講論道義,因之僧旻道譽益隆。十四年,武帝勅令安樂寺僧紹撰華林佛殿眾經目錄四卷,未契帝意。十七年更詔請寶唱改訂僧紹之目錄,新編爲經錄四卷,世稱「寶唱錄」,武帝大爲嘉賞,敕掌華林園寶雲經藏。〔歷代三寶紀卷十五〕 ; (華林園) I. Hoa Lâm Viên. Khu vườn cây được nói đến trong kinh Di lặc hạ sinh thành Phật, do ngài Cưu ma la thập dịch. Cứ theo kinh Di lặc hạ sinh thành Phật, kinh Di lặc hạ sinh (ngài Trúc pháp hộ dịch) và kinh Hiền ngu quyển 12, thì trong vị lai, bồ tát Di lặc sẽ từ cung trời Đâu suất sinh xuống nhân gian xuất gia tu đạo và thành Phật dưới cây Long hoa trong khu vườn này. Sau đó, Ngài sẽ thuyết pháp 3 hội để hóa độ chúng sinh ở đây. II. Hoa Lâm Viên. Khu vườn ở huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô ở thời đại Nam Bắc triều. Niên hiệu Vĩnh minh năm đầu (483) Vũ đế nhà Tề đã thiết lập hội Bát quan trai ở đây. Niên hiệu Vĩnh nguyên năm đầu (499), vua sắc thỉnh 30 vị tăng đến đây kết hạ an cư, suy cử ngài Tăng mân –một bậc thạc học về luận Thành thực– làm Pháp chủ. Sang đời Lương, vào năm Thiên giám thứ 5 (506), ngài Tăng mân lại đến kinh đô, rất được Lương Vũ đế tôn kính. Sau đó nhà vua sắc thỉnh các ngài Pháp sủng, Pháp vân đến Hoa lâm viên để giảng bàn đạo nghĩa với ngài Tăng mân. Năm Thiên giám 14 (520), Lương Vũ đế ban chiếu thỉnh ngài Tăng thiệu ở chùa An lạc soạn Hoa lâm Phật điện chúng kinh mục lục, 4 quyển, nhưng chưa hợp ý vua. Năm Thiên giám 17 (523), vua thỉnh ngài Bảo xướng sửa đổi bản mục lục của ngài Tăng thiệu, rồi biên soạn lại và đặt tên là Kinh lục, 4 quyển mà người đương thời gọi là Bảo xướng lục . Vũ đế rất hoan hỉ và sắc lệnh đưa vào Hoa lâm viên Bảo vân kinh tạng. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.15].

hoa lạc liên thành

5234爲天台宗所立「蓮華三喻」之一。天台宗對於法華經之判釋,謂法華經有「本迹二門」之開顯,且爲闡明法華經之旨意,遂就經題之蓮華各立本門、迹門三喻,稱蓮華三喻。華落蓮成即以蓮華瓣落,則蓮實成,喻於法華之迹門,稱廢權立實,即三乘之權方便廢去,則一乘之真實義成立;喻於法華之本門,稱廢迹顯本,即釋尊伽耶垂迹之權身廢去,則本地之實身成立。〔法華玄義卷七下〕(參閱「本迹二門」1965、「廢迹顯本」5983、「廢權立實」5984、「蓮華三喻」6148) ; (華落蓮成) Hoa rụng sen thành, một trong 3 thí dụ về hoa sen do tông Thiên thai lập ra. Hoa lạc liên thành nghĩa là khi những cánh hoa sen rụng thì hạt sen thành, dụ cho Tích môn của kinh Pháp hoa, gọi là Phế quyền lập thực, tức là khi Pháp phương tiện tạm thời của Tam thừa được phế bỏ, thì pháp chân thực của Nhất thừa mới được thành lập. Còn Hoa lạc liên thành dụ cho Bản môn kinh Pháp hoa, thì gọi là Phế tích hiển bản, tức là khi thân Thùy tích tạm thời của đức Thích tôn ở thành Già da được phế bỏ, thì thân Bản địa chân thực của Ngài được thành lập. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 phần dưới]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Phế Tích Hiển Bản, Phế Quyền Lập Thực, Liên Hoa Tam Dụ).

hoa lợi

Income.

hoa man

5255梵語 kusumamālā,音譯俱蘇摩摩羅;西藏語 me-tog-gi phreṅ-ba。即以絲綴花,結於頸項,或裝飾於身上。此爲印度風俗之一。然比丘不得以華鬘裝飾身上,僅能以之懸掛室內,或用以供養佛。中國、日本更轉用爲佛前之莊嚴用品。華鬘以鮮花製成,所用種類並非一定,主要擇其芳香。亦有以鮮花以外之物作成華鬘者,如以青銅等鑄成之金屬圓形板,上面刻鏤花鳥、天女之形,或以牛皮切割而成(稱爲牛皮華鬘)。後世主要皆用金屬製者。 又密教有華鬘之印,此印能流出無漏七覺之華及種種華雲海,周遍法界之微塵剎土,以爲廣大供養。古代印度佛教雕刻中屢見華鬘供養,如加爾各答博物館藏阿摩羅婆提(梵 Amarāvatī)之塔,及由薩忽載州(Yusafzai)地方出土之說法佛等,皆刻有多人運載之大華鬘,華鬘上刻有蓮紋。〔大日經卷二具緣品、毘尼母經卷五、十誦律卷三十九、大唐西域記卷二,玄應音義卷一,印度佛蹟實寫、世界美術全集第十一、第十五〕 ; KuśŪmamālā (S)Vòng hoa. ; (華鬘) Phạm: Kusumamàlà. Dịch âm: Câu tô ma ma la. Tạng: Me-tog-gi Phreí-ba. Vòng hoa. Phong tục của người Ấn độ thường hay xâu vòng hoa đeo ở cổ, hoặc trang sức trên thân mình. Theo luật Phật chế định, người xuất gia không được dùng vòng hoa để trang sức trên thân mình, mà chỉ được treo trong nhà hoặc cúng dường đức Phật. Trung quốc và Nhật bản thì dùng vòng hoa để trang nghiêm trước tượng Phật. Vòng hoa phần nhiều dùng hoa tươi và thơm kết thành. Ngoài hoa tươi ra cũng có những hoa man bằng đồng đàn mỏng, trên mặt khắc các hình hoa, chim và thiên nữ. Hoặc có khi dùng da bò cắt thành hoa man, gọi là Ngưu bí hoa man . Đến đời sau, chủ yếu là dùng kim loại. Trong nghệ thuật điêu khắc của Phật giáo Ấn độ cổ đại, người ta thường thấy Hoa man, như bức hoa man được khắc nổi trên tháp A ma la bà đề (Phạm:Amaràvatì) hiện được cất giữ ở Bảo tàng viện Calcutta, Ấn độ; những Hoa man đào được ở Yusafzai, v.v...… Ngoài ra, Mật giáo có ấn Hoa man, từ ấn này sinh ra hoa Thất giác vô lậu và hoa Vân hải trùm khắp pháp giới nhiều như vi trần để cúng dường 10 Lẵng Hoa phương chư Phật. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.2; kinh Tì ni mẫu Q.5; luật Thập tụng Q.39; Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.1; Ấn độ Phật tích thực tả; Thế giới mĩ thuật toàn tập 11, 15].

hoa muộn

Late flower.

hoa mạn

Kusuma-mala (skt)—Vòng hoa trang sức của phụ nữ Ấn Độ—Chaplet of flowers used as adornments for Indian women.

hoa mạn đà la

Mahāmaṇdala (S).

hoa mầu

Agricultural produce.

hoa mẫn

See Hoa Lung.

hoa mắt

To be dazzled.

hoa mục

Mắt đẹp như hoa sen xanh—Eyes like the blue lotus (pure).

hoa mỹ

Beautiful—Splendid.

hoa nghiêm

Kegon (J), Huayen (C), Gaṇḍa-vyŪha (S), Avataṃsaka sŪtra, Buddhavataṃsaka sŪtra, Dharmadhātu-praveṣa Phẩm cuối của bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa nghiêm kinh. ; Avatamsaka (S). A garland, a ring-shaped ornament, the flower-adorned. ; Avatamsa (skt). 1) Vòng hoa trang sức—A ring-shaped ornament—The flower-adorned, or a garland. 2) Tên của Kinh Hoa Nghiêm: The name of the Hua-Yen Sutra. 3) Tên của Tông Hoa Nghiêm (một tông phái dùng tên kinh nầy làm chỗ sở y và pháp môn cho tông phái mình): The name of the Hua-Yen school.

hoa nghiêm biến tướng

5255請參閱 華嚴玄談乃指描繪華嚴經七處九會或七處八會之圖相。又稱毘盧遮那佛華藏世界圖、七處九會華藏世界圖、華嚴七處九會圖像。據華嚴經傳記卷五唐法誠傳所載,法誠嘗圖畫七處八會像。此乃依據舊譯華嚴經七處八會之說,恐即華嚴變相圖寫之嚆矢。又據唐大薦福寺故寺主翻經大德法藏和尚傳及古今圖書集成神異典第九十一所載唐劉禹錫之毘盧遮那佛華藏世界圖讚序之記載,知唐代法藏及澄觀之門人嗣肇等,皆曾依新譯華嚴經七處九會之說,描寫成圖相。此等圖相皆色彩華麗,構圖廣大,描法精細,然今皆不傳。唯敦煌千佛洞第八、第一○二、第一一七、第一一八、第一六八諸窟,存七處九會之壁畫變相數種。〔華嚴經疏演義鈔卷九、華嚴經感應略記、法界宗五祖略記、P. Pelliot: Les Grottes de Touen-Houang(伯希和第二十二號、第一八四號、第一八五號、第二一六號、第二四一號、第三三二號)〕 ; (華嚴變相) Cũng gọi Tì lô giá na Phật hoa tạng thế giới đồ, Thất xứ cửu hội hoa tạng thế giới đồ, Hoa nghiêm thất xứ cửu hội đồ tượng. Bức trang vẽ cảnh 7 chỗ 9 hội hoặc 7 chỗ 8 hội nói kinh Hoa nghiêm. Cứ theo truyện Đường Pháp thành trong Hoa nghiêm kinh truyện kí quyển 5, thì ngài Pháp thành đời Đường đã từng vẽ tranh 7 chỗ 8 hội. Đây là căn cứ theo thuyết 7 chỗ 8 hội của kinh Hoa nghiêm bản dịch cũ, có lẽ đây là bức Hoa nghiêm biến tướng đầu tiên. Còn theo Đường Đại tiến phúc tự cố tự chủ phiên kinh đại đức Pháp tạng hòa thượng truyện và Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển 91 đã ghi lại những gì được nói đến trong bài tựa Tì lô giá na Phật hoa tạng thế giới đồ tán của ông Lưu vũ tích đời Đường, thì biết rằng đại sư Pháp tạng và các học trò của ngài Trừng quán là Tự triệu, v.v...… ở đời Đường, đều theo thuyết 7 chỗ 9 hội của kinh Hoa nghiêm bản dịch mới mà vẽ thành biến tướng. Những bức tranh biến tướng này đều có mầu sắc đẹp đẽ, nét vẽ tinh xảo, khổ tranh rộng rãi, nhưng rất tiếc nay đều đã thất truyền chỉ còn một vài bức biến tướng của 7 chỗ 9 hội được vẽ trên vách của các hang 8, 102, 117, 118 và 168 trong động Thiên Phật tại Đôn hoàng. [X. Hoa nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao Q.9; Hoa nghiêm kinh cảm ứng lược kí; Pháp tông ngũ tổ lược kí; P. Pelliot: Les Grottes de Touen-Houang (P. Pelliot số 22, 184, 185, 216, 241, 332].

hoa nghiêm bồ tát

PadmavyŪha (S)Tên một vị Bồ tát.

hoa nghiêm bộ

5250大乘經典分爲五大部類,華嚴部乃其中之第四。開元釋教錄定其爲由大方廣佛華嚴經以下二十六經一八七卷所成。明代智旭之閱藏知津基於天台宗之教判,以華嚴部爲五大部之首,共收二十九經二三六卷。又法藏之華嚴傳記列新舊二譯之華嚴經一四○卷,支派別出之經三十六部一○五卷。 ; (華嚴部) Là bộ thứ 4 trong 5 bộ loại của kinh điển Đại thừa. Theo Khai nguyên thích giáo lục, thì Hoa nghiêm bộ gồm có kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm và 26 kinh cùng loại, tổng cộng có 187 quyển. Theo Duyệt tạng tri tân của ngài Trí húc đời Minh, thì Hoa nghiêm bộ đứng đầu trong 5 đại bộ, gồm 29 kinh, 236 quyển. Ngoài ra, theo Hoa nghiêm truyện kí của ngài Pháp tạng, thì Hoa nghiêm bộ gồm có kinh Hoa nghiêm bản dịch cũ và mới 140 quyển và kinh Biệt sinh của các chi phái là 36 bộ, 105 quyển.

hoa nghiêm chỉ quy

5242<一>凡二卷。東晉法業撰。今已不存在。〔諸宗章疏錄卷一〕[1] <二>全一卷。唐代法藏(643~712)述於天授年間。又稱華嚴經旨歸。收於大正藏第四十五冊。本書分十門以闡論華嚴經。內容多處引用提雲般若所譯之華嚴經不思議境界分,故推斷本書係法藏撰於四十九歲之時。法藏爲華嚴宗三祖,著作多達數十種,綜觀其一生之思想與教學體系,乃以華嚴五教章一書爲基礎,而以華嚴經探玄記一書集大成,本書則爲其間之重要著作。華嚴宗素有「十玄緣起」之說,乃闡釋法界中各種無礙法界之相狀者,華嚴宗並謂通達此義始可深入華嚴經之玄海。基於此說,華嚴宗二祖智儼創立十玄章,被稱爲古十玄;法藏又進一步發揮闡論十玄之奧義,被稱爲新十玄。本書所論述之要旨即介於古十玄至新十玄之間,書中舉出「十義」作爲十玄門之根據。 ; (華嚴旨歸) I. Hoa Nghiêm Chỉ Qui. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Pháp nghiệp soạn vào đời Đông Tấn, nay đã thất truyền. [X. Chư tông chương sớ lục Q.1]. II. Hoa Nghiêm Chỉ Qui.Cũng gọi Hoa nghiêm kinh chỉ qui.Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp tạng (643-712) soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 45. Ngài Pháp tạng là Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm, ngài trứ tác rất nhiều; nhận xét một cách tổng quát về tư tưởng và hệ thống giáo học của ngài, người ta thấy Hoa nghiêm ngũ giáo chương là nền tảng, mà Hoa nghiêm kinh thám huyền kí là tập đại thành, còn Hoa nghiêm chỉ qui là tác phẩm quan trọng ở khoảng giữa 2 tác phẩm trên. Tông Hoa nghiêm vốn có thuyết Thập Huyền Duyên Khởi để giải thích rõ tướng trạng của pháp giới Vô ngại và cho rằng có thông suốt nghĩa này thì mới có thể thâm nhập lí sâu xa của kinh Hoa nghiêm. Căn cứ vào thuyết Thập huyền duyên khởi, Nhị tổ tông Hoa nghiêm là ngài Trí nghiễm sáng lập Thập Huyền Chương , được gọi là Cổ Thập Huyền . Ngài Pháp tạng lại phát huy nghĩa sâu kín của Thập huyền mà gọi là Tân Thập Huyền . Hoa nghiêm chỉ qui bàn về yếu chỉ giữa Cổ thập huyền và Tân thập huyền, nội dung nêu ra Thập Nghĩa để làm căn cứ cho Thập Huyền Môn .

hoa nghiêm cảm ứng truyện

(華嚴感應傳) Gọi đủ: Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh cảm ứng truyện. Tác phẩm, 1 quyển, do ông Hồ u trinh biên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Quyển sách này vốn do đệ tử của ngài Pháp tạng là sư Huệ anh biên thành 2 quyển. Năm Kiến trung thứ 4 (783) ông Hồ u trinh ở núi Tứ minh soạn lại thành 1 quyển. Nội dung ghi lại những việc linh nghiệm của tín ngưỡng kinh Hoa nghiêm. Đây là tư liệu nghiên cứu về tín ngưỡng kinh Hoa nghiêm ở đời Đường. Những tác phẩm cùng loại này còn có: Hoa nghiêm kinh cảm ứng lược kí của ngài Châu hoành đời Minh, Hoa nghiêm Hoa Nghiêm cảm ứng duyên khởi truyện của ngài Hoằng bích đời Thanh và Hoa nghiêm kinh trì nghiệm kí của Chu khắc phục đời Thanh.

hoa nghiêm du tâm pháp giới kí

5254請參閱 華嚴經傳記請參閱 華嚴五教章義苑 [1]全一卷。唐代法藏撰。收於大正藏第四十五冊。本書係基於華嚴宗初祖杜順之五教止觀,闡明華嚴宗之觀門。分爲法是我非門、緣生無性門、事理混融門、言盡理顯門、法界無礙門等五門。即依五門之次第說明小乘教、始教、終教、頓教、圓教之觀門,並示其淺深之相狀。〔華嚴宗經論章疏目錄、諸宗章疏錄卷一、卷二〕 ; (華嚴游心法界記) Tác phẩm, 1 quyển do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chínhtạng tập 45. Sách này căn cứ vào Ngũ giáo chỉ quán của ngài Đỗ thuận–Sơ tổ tông Hoa nghiêm– để giải thích rõ về Quán môn của tông Hoa nghiêm. Nội dung chia làm 5 môn: 1. Pháp thị ngã phi môn. 2. Duyên sinh vô tính môn. 3. Sự lí hỗn dung môn. 4. Ngôn tận lí hiển môn. 5. Pháp giới vô ngại môn. Rồi soạn giả theo thứ tự của 5 môn trên mà thuyết minh về tướng trạng sâu, cạn trong Quán môn của Tiểu thừa giáo, Thủy giáo, Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo. [X. Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mụclục; Chư tông chương sớ lục Q.1; Q.2].

Hoa Nghiêm du tâm pháp giới ký 華嚴遊心法界記

[ja] ケゴンユシンホッカイキ Kegon yūshin hokkai ki ||| Huayan youxin fajie ji; one fasc. by Fazang 法藏. T 1877.45.642c650c. => (j: Kegon yūshin hokkai ki; c: Huayan youxin fajie ji); 1 quyển, của Pháp Tạng (c: Fazang 法藏).

hoa nghiêm du ý

5254全一卷。隋代吉藏述於揚州慧日道場。又稱華嚴經遊意。收於大正藏第三十五冊。本書乃立於三論宗之立場,由化主、化處、教門、徒眾四方面,論華嚴教學之佛身、佛土、因果等問題。並就舍那佛與釋迦牟尼佛之關係,評論南方論師之二佛一致說及北方論師之二佛相異說。本書約成於開皇十七年至十九年(597~599)。其敘述之形式雖複雜難解,然於諸問題亦有明白之教示。〔諸宗章疏錄卷一〕 ; (華嚴游意) Cũng gọi Hoa nghiêm kinh du ý. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 35. Trong sách này, tác giả đứng trên lập trường của tông Tam luận, rồi từ 4 phương diện: Hóa chủ, Hóa xứ, Giáo môn và Đồ chúng mà bàn về các vấn đề: Phật thân, Phật độ, Nhân quả, v.v...… trong giáo lí Hoa nghiêm. Đồng thời, tác giả còn đứng về mặt quan hệ giữa đức Phật Xá na và Phật Thích ca mà bình luận về thuyết chủ trương 2 Phật là mộtcủa các Luận sư miền Nam và thuyết chủ trương 2 Phậtkhác nhau của các Luận sư miền Bắc. Sách này, về hình thức tuy phức tạp, khó hiểu, nhưng phần nội dung được trình bày khá rõ ràng.

hoa nghiêm duyên khởi

5254原爲八卷,現存六卷。又稱華嚴祖師繪卷、華嚴宗祖師繪傳、義湘元曉繪。爲一部記錄新羅華嚴宗宗祖義湘及元曉入唐求法事蹟之繪卷。內容由義湘傳四卷及元曉傳二卷組成,以詞、繪交錯聯用,表達義湘與元曉來華求法之經過。主要敘述元曉於入唐途中忽有所感,遂中止而折返,唯義湘獨以勇猛心排除險難,達成求法之夙志。由於脈絡貫串鬆散,須依宋高僧傳卷四之記載始得判明其法脈。又繪卷之詞係日僧明惠所作,圖繪部分則出自鎌倉初期華嚴宗復興期間,與高山寺有關之託磨派畫師之手筆。全圖係蛋彩畫,運筆揮灑自如,堪稱傑作,畫風多少受到宋畫之影響。此繪卷現今藏於日本栂尾高山寺。 ; (華嚴緣起) Cũng gọi Hoa nghiêm tổ sư hội quyển, Hoa nghiêm tông tổ sư hội truyện, Nghĩa tương Nguyên hiểu hội. Truyện bằng tranh có 8 cuốn, nay chỉ còn 6 cuốn, do các họa sĩ phái Thác ma có quan hệ với chùa Cao sơn vẽ vào thời kì đầu của thời đại Liêm thương, là giai đoạn phục hưng tông Hoa nghiêm, lời chú thích trong tranh do vị Tăng người Nhật bản tên là Tuệ minh viết. Nội dung diễn tả truyện 2 ngài Nghĩa tương và Nguyên hiểu, người nước Tân la, đến Trung quốc cầu pháp. Chủ yếu trình bày việc ngài Nguyên hiểu trên đường đến Trung quốc, chợt cảm ngộ rằng Pháp ở trong tâm, vậy cần gì phải đi tìm đâu xa , rồi ngài quay trở về, chỉ còn lại một mình ngài Nghĩa tương, với tâm dũng mãnh, vượt qua mọi hiểm nạn mà đạt thành chí nguyện cầu pháp. Có điều mạch lạc câu chuyện không được nhất quán, nên phải nhờ vào những ghi chép trong Tống cao tăng truyện quyển 4 mới có thể phân biệt rõ ràng. Nét vẽ trong toàn bộ tranh rất sinh động, tự nhiên, có thể xem là kiệt tác; phong cách vẽ có phần chịu ảnh hưởng của hội họa đời Tống, Trung quốc. Bộ tranh này hiện nay được cất giữ ở chùa Cao sơn tại Mai vĩ, Nhật bản.

hoa nghiêm huyền đàm

5242凡九卷。唐代澄觀撰。又稱華嚴經疏鈔玄談,華嚴懸談、清涼玄談。收於卍續藏第八冊。本書記述八十華經之綱要,係將清涼大師澄觀所撰述之華嚴經疏、華嚴經隨疏演義鈔中有關玄談之部分摘出,成爲會本刊行。本書針對慧苑之華嚴經刊定記所出之異說,加以矯正,顯揚教祖以來之正義,共分教記因緣、藏教所攝、義理分齊、教所被機、教體淺深、宗趣通別、部類品會、傳譯感通、總繹教題、別解文義十門。其擴充列祖之說,特立新義處不少。注疏有華嚴談玄抉擇六卷(鮮演)、懸談會玄記(普瑞)。 ; (華嚴玄談) Cũng gọi Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm, Thanh lương huyền đàm. Tác phẩm, 9 quyển, do ngài Trừng quán soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 8. Sách này rút ra những phần có liên quan đến Huyền đàm trong Hoa nghiêm kinh sớ và Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao (cũng do ngài Trừng quán biên soạn) mà làm thành hội bản để ấn hành. Nội dung sách này trình bày về cương yếu của kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển), nhằm đính chính lại những dị thuyết trong Hoa nghiêm kinh san định kí của ngài Tuệ uyển, đặc biệt lập ra nhiều nghĩa mới để làm sáng tỏ giáo nghĩa của chư Tổ từ xưa đến nay. Toàn bộ sách chia làm 10 môn: 1. Giáo kí nhân duyên. 2. Tạng giáo sở nhiếp. 3. Nghĩa lí phân tề. 4. Giáo sở bị cơ. 5. Giáo thể thiển thâm. 6. Tông thú thông biệt. 7. Bộ loại phẩm hội. 8. Truyền dịch cảm thông. 9. Tổng dịch giáo đề. 10. Biệt giải văn nghĩa. Về các bản chú sớ của sách này thì có: Hoa nghiêm huyền đàm quyết trạch, 6 quyển (Tiên diễn), Huyền đàm hội huyền kí (Phổ thụy).

hoa nghiêm khổng mục chương

5241凡四卷。華嚴宗二祖智儼(602~668)六十二歲以後所作。又稱華嚴經內章門等雜孔目章、華嚴經孔目章、孔目章。收於大正藏第四十五冊。本書將六十華嚴分成一四四章,解釋六十華嚴難解之處。書中不僅闡明華嚴經之優勝,並肯定華嚴經於一切經中之地位。本書後來成爲搜玄記、華嚴一乘十玄門及法藏(643~712,智儼弟子)所撰探玄記等三書之基礎。其特色爲融合三乘與一乘及同別二教之教判,而成爲華嚴宗極重要之思想。本論中較重要者爲卷一之教分齊義、一乘三乘義章、因果章、唯識章、入佛境界章,卷二之發菩提心章、真如章、一乘法海章,卷三之十地章、轉依章、緣起章,卷四之往生義、性起章、迴心章、融合一乘義等。其注解較著名者有華嚴孔目章抄(尊玄)、華嚴孔目章發悟記(日僧凝然)等。〔新編諸宗教藏總錄卷一、華嚴宗經論章疏目錄、諸宗章疏錄卷一、佛典疏鈔目錄卷上〕 ; (華嚴孔目章) Cũng gọi Hoa nghiêm kinh nội chương môn đẳng tạp khổng mục chương, Hoa nghiêm kinh khổng mục chương, Khổng mục chương. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Trí nghiễm (602-668), Tổ thứ 2 của tông Hoa nghiêm, soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 45. Soạn giả đem bộ kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) chia làm 144 chương để giải thích những chỗ khó hiểu trong kinh, đồng thời nêu rõ sự ưu việt thù thắng và khẳng định địa vị của kinh Hoa nghiêm đối với các kinh khác. Đặc sắc của bộ sách này là ở chỗ dung hợp Tam thừa với Nhất thừa và là giáo phán của Đồng giáo và Biệt giáo, cho nên đã trở thành tư tưởng rất trọng yếu của tông Hoa nghiêm. Về sau, sách này là nền tảng cho các tác phẩm: Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí, Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn và Hoa nghiêm thám huyền kí cũng do ngài Pháp tạng soạn. Các chương quan trọng trong bộ sách này là: Giáo phân tề nghĩa, Nhất thừa Tam thừa chương nghĩa, Nhân quả chương, Duy thức chương, Nhập Phật ảnh giới chương (trong quyển 1), Phát bồ đề tâm chương, Chân như chương, Nhất thừa pháp hải chương (trong quyển 2) Thập địa chương, Chuyển y chương, Duyên khởi chương (trong quyển 3), Vãng sinh chương, Tính khởi chương, Hồi tâm chương, Dung hợp nhất thừa nghĩa (trong quyển 4), v.v...… Các bản chú giải của sách này gồm có: Hoa nghiêm khổng mục chương sao, do ngài Tôn huyền soạn, Hoa nghiêm khổng mục chương phát ngộ kí, do ngài Ngưng nhiên người Nhật soạn. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Chư tông chương sớ lục Q.1; Phật điển sớ sao mục lục Q.thượng].

hoa nghiêm khổng mục chương phát ngộ kí

5241凡二十三卷。日僧凝然撰。本書係注解唐代華嚴宗二祖智儼所撰華嚴經內章門等雜孔目章卷一之十八章。依其序,知爲弘安九年(1286)七月於東大寺戒壇院起筆,翌年七月完成。收於大日本佛教全書第七、第一二二兩卷。〔律苑僧寶傳卷十四、諸宗章疏錄卷二〕 ; (華嚴孔目章發悟記) Tác phẩm, 23 quyển, do ngài Ngưng nhiên người Nhật bản soạn vào năm Hoằng an thứ 9 (1286) ở viện Giới đàn chùa Đông đại, được đưa vào Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 7 và quyển 122. Nội dung sách này chú giải 18 chương trong bộ Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 1 của ngài Trí nghiễm. [X. Luật uyển tăng bảo truyện Q.14; Chư tông chương sớ lục Q.2]

Hoa Nghiêm khổng mục chương 華嚴孔目章

[ja] ケゴンクモクショウ Kegon kumokushō ||| Huayan kongmu zhang. The full name of this text is 華嚴經内章門等雜孔目章, and is usually abbreviated as KongMuzhang 孔目章. Four fascicles, T 1870.45.536c589b, written by the second Huayan patriarch Zhiyan 智嚴 in his later years. The theory of '144 gates' is established and the distinction between the theories of 'small vehicle', 'three vehicles' and 'single vehicle' are explained. This text became important for the third Huayan patriarch Fazang in establishing Huayan as a school. => (j: Kegon kumokushō; j: Huayan kongmu zhang). Tên gọi đầy đủ của kinh nầy là Hoa Nghiêm kinh nội chương môn đẳng khổng mục chương 華嚴經内章門等雜孔目章 thwờng được viết tắt là (c: KongMuzhang 孔目章). Gồm 4 quyển, do vị tổ thứ hai tông Hoa Nghiêm là Trí Nghiễm soạn trong những năm cuối cùng. Đề ra giáo lý về '144 môn', vaf giải thích sự khác nhau giữa những giáo lý 'tiểu thừa', 'tam thừa' và 'nhất thừa'. Kinh nầy trở nên quan trọng đối với vị tổ thứ ba của tông Hoa Nghiêm là Pháp Tạng trong việc xiển dương tông Hoa Nghiêm.

hoa nghiêm kim sư tử chương

5248全一卷。唐代法藏撰。又作金師子章、大方廣佛華嚴經金師子章。收於大正藏第四十五冊。係藉金獅子之譬喻,解說華嚴法界緣起之妙理;因此譬喻而使天帝網義、十重玄門、海印三昧、六相和合、普眼境界等義了然而明。全文大別爲十門,即:(一)明緣起,謂金無自性,但隨匠人之巧工爲緣,便有獅子形相展現。此即形相依緣而顯現之意。(二)辨色空,謂「空」無相狀,獅子體性雖空,然不礙其獅子形相之顯現。(三)約三性,以師子情有、師子似有、金性不變,分別配遍計所執性、依他起性、圓成實性等唯識三性:(1)師子情有,謂獅子之存在乃出於吾人之主觀構想。(2)師子似有,謂獅子之存在係依外緣而虛假展現。(3)金性不變,謂巧匠雖以黃金打造成固定形狀樣態之獅子,然其金之性質永不變易。(四)顯無相,謂就體性而言,一切皆金,金之外則無獅子乃至獅子之相狀可言。(五)說無生,謂獅子雖有生、滅,金體本無增減,故無生。(六)論五教,就獅子之緣起,一一闡論華嚴五教(愚法聲聞教、大乘始教、大乘終教、大乘頓教、一乘圓教)之旨。(七)勒十玄,「勒」,統率之意。藉獅子之各種本質、相狀,分別比喻華嚴宗用以描述法界緣起「十玄門」之一一法門。(八)括六相,以獅子之總、別、同、異、成、壞等六相,闡論「六相圓融」之理。(九)成菩提,謂經由上述法門而徹見獅子之時,即徹見一切有爲法本來寂滅之理,並遠離取捨,入薩婆若海(指一切智,意謂佛所具有之智深廣如海)。更進而得一切種智而悟道。(十)入涅槃,謂若能徹見師子與金二相俱盡,則不生煩惱,永離苦源,而證入涅槃。 據宋高僧傳卷五記載,法藏曾參與新華嚴經之翻譯,聖曆二年(699)全經譯畢,法藏奉詔於洛陽佛授記寺爲則天武后宣講華嚴經,講至天帝網義、十重玄門、海印三昧、六相和合之時,武后茫然不解其旨,法藏乃指殿前之金獅子爲喻,解說法界構造,遂成此金師子章。華嚴宗之體系龐雜,艱深晦澀,而金師子章堪稱簡明扼要,遂成華嚴學之入門書。其注疏有:華嚴經金師子章註一卷(承遷)、雲間類解一卷(淨源)、光顯鈔二卷(高辨)等。〔佛祖統紀卷三十九、佛祖歷代通載卷十五、華嚴宗經論章疏目錄、諸宗章疏錄卷一〕 ; (華嚴金師子章) Cũng gọi Kim sư tử chương, Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kim sư tử chương. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp tạng đời Đường soạn, được thu vào Đại chính tạng tạp 45. Sách này dùng thí dụ Kim sư tử (sư tử bằng vàng) để giải thích về diệu lí của pháp giới duyên khởi trong kinh Hoa nghiêm. Nhờ thí dụ này mà ý nghĩa trong Thiên đế võng, Thập trùng huyền môn, Hải ấn tam muội, Lục tướng hòa hợp, Phổ nhãn cảnh giới, v.v...… được rõ ràng, dễ hiểu. Cứ theo Tống cao tăng truyện quyển 5 chép, thì ngài Pháp tạng đã từng tham dự phiên dịch kinh Tân hoa nghiêm. Vào năm Thánh lịch thứ 2 (699), trọn bộ kinh được dịch xong, ngài vâng chiếu đến chùa Phật thụ kí ở Lạc dương tuyên giảng kinh Hoa nghiêm cho Vũ hậu Tắc thiên nghe. Khi ngài Pháp tạng giảng đến nghĩa của Thiên đế võng, Thập trùng huyền môn, Hải ấn tam muội, Lục tướng hòa hợp, v.v...… thì Vũ hậu mờ mịt không hiểu được ý chỉ, ngài liền chỉ vào con sư tử bằng vàng ở trước điện làm thí dụ, để giải thích sự cấu tạo của pháp giới. Nhờ đó mà Vũ hậu hiểu được diệu lí của Pháp giới duyên khởi trong kinh Hoa nghiêm. Vì thế tác phẩm được đặt tên là Kim Sư Tử Chương. Nội dung sách này được chia làm 10 môn: 1. Minh duyên khởi: Vàng vốn không có tự tính, chỉ do bàn tay khéo léo của người thợ đúc chạm mà thành con sư tử, nghĩa là hình tướng sư tử tùy duyên mà hiện. 2. Biện sắc không: Thể tính của sư tử tuy là không nhưng cũng không trở ngại gì cho việc phô bày hình tướng sư tử. 3. Ước tam tính: Đem Sư tử tình hữu (về mặt tình thì có sư tử nhưng về mặt lí thì không), Sư tử tự hữu(sư tử có giả)và Kim tính bất biến (chất vàng không thay đổi) phối hợp với 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực của Duy thức thì: - Sư tử tình hữu: Sự tồn tại của sư tử là do tư tưởng hư cấu chủ quan (Biến kế sở chấp). - Sư tử tự hữu: Sự tồn tại của sư tử là nhờ duyên bên ngoài mà hiện ra một cách giả có(Y tha khởi). - Kim tính bất biến: Người thợ khéo léo đúc vàng thành hình dáng sư tử, nhưng tính chất của vàng thì không thay đổi(Viên thành thực). 4. Hiển vô tướng: Về mặt thể tính mà nói thì tất cả đều là vàng, ngoài vàng ra không có sư tử cho đến tướng trạng của sư tử. 5. Thuyết vô sinh: Sư tử tuy có sinh diệt, nhưng bản thể của vàng thì không thêm, bớt. 6. Luận ngũ giáo: Về mặt duyên khởi của sư tử, tất cả đều bàn rõ yếu chỉ của Hoa nghĩa Ngũ giáo(Ngu pháp Thanh văn giáo, Đại thừa Thủy giáo, Đại thừa Chung giáo, Đại thừa Đốn giáo, Nhất thừa Viên giáo).7. Lặc thập huyền: Lặc, nghĩa là thâu tóm tất cả. Tông Hoa nghiêm mượn bản chất, tướng trạng của sư tử làm thí dụ, để trình bày từng môn trong thập huyền môn của Pháp giới duyên khởi. 8. Quát lục tướng: Dùng 6 tướng tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại của sư tử để bàn rõ về lí Lục tướng viên dung . 9. Thành bồ đề: Nhờ vào các pháp môn nói ở trên, khi thấy sư tử liền thấu suốt được lí tất cả pháp hữu vi xưa nay vốn vắng lặng, đồng thời xa lìa thủ xả, vào biển Nhất thiết trí, rồi tiến lên được Nhất thiết chủng trí mà ngộ đạo. 10. Nhập Niết bàn: Nếu thấy rõ được tướng sư tử và vàng đều không còn, thì chẳng sinh phiền não, vĩnh viễn xa lìa gốc khổ, chứng nhập Niết bàn. Hệ thống tông Hoa nghiêm tuy phức tạp, sâu xa, khó hiểu, nhưng Kim sư tử chương đã tóm tắt được những điểm cốt yếu một cách rõ ràng, cho nên đã trở thành bộ sách nhập môn của học thuyết Hoa nghiêm. Về các bản chú sớ của sách này thì có: Hoa nghiêm kinh Kim sư tử chương chú, 1 quyển, của Thừa thiên; Vân gian loại giải, 1 quyển của Tịnh nguyên; Quang hiển sao, 2 quyển, của Cao biện. [X. Phật tổ thống kỉ Q.39; Phật tổ lịch đại thông tải Q.15; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.1]

Hoa Nghiêm Kinh

(s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, c: Hua-yen-ching, j: Kegonkyō, 華嚴經): còn gọi là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經), Lục Thập Hoa Nghiêm (六十華嚴), Cựu Dịch Hoa Nghiêm Kinh (舊譯華嚴經), Cựu Kinh (舊經), Tấn Kinh (晋經), 60 quyển, hiện còn, Taishō 45, 477, No. 1866, Phật Đà Bạt Đà La (s: Buddhabhadra, 佛駄跋陀羅, 359-429) dịch từ năm 418-420 hay 421 (niên hiệu Nghĩa Hy [義熙] thứ 14 đến niên hiệu Nguyên Hy [元熙] thứ 2 hoặc Nguyên Sơ [元初] thứ 2) thời Đông Tấn.

Hoa nghiêm kinh

華嚴經; S: avataṃsaka-sūtra;|Tên ngắn của Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh

hoa nghiêm kinh

Kegon-kyō (J)Tên một bộ kinh. ; Avatamsaka-sùtra (S), Kégon kyo (N), Hua yen king (H) ; Avatamsaka-sutra (skt)—Đại Phương Quảng Phật Hoa nghiêm Kinh—See Kinh Hoa Nghiêm in Vietnamese-English Section and Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện in Appendix A (5).

hoa nghiêm kinh chỉ quy

5251全一卷。唐代法藏撰。收於大正藏第四十五冊。本書略述華嚴經之大綱。內容分爲說經處、說經時、說經佛、說經眾、說經儀、辯經教、顯經義、釋經意、明經益、示經圓等十門。各門皆設十例辯之,總成百門,以一經所說之法門,盡顯圓融無礙之義。〔華嚴經傳記卷五、唐大薦福寺故寺主翻經大德法藏傳、新編諸宗教藏總錄卷一、華嚴宗經論章疏目錄、諸宗章疏錄卷一〕 ; (華嚴經旨歸) Cũng gọi Hoa nghiêm chỉ qui. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này trình bày tóm lược về đại cương kinh Hoa nghiêm và chia làm 10 môn để giải thích rõ nghĩa Viên dung vô ngại . Mười môn ấy là: Thuyết kinh xứ, Thuyết kinh thời, Thuyết kinh Phật, Thuyết kinh chúng, Thuyết kinh nghi, Biện kinh giáo, Hiển kinh nghĩa, Thích kinh ý, Minh kinh ích và Thị kinh viên. [X. Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.5; Đường Đại tiến phúc tự cố tự chủ phiên kinh đại đức Pháp tạng truyện; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Chư tông chương sớ lục Q.1].

hoa nghiêm kinh cương yếu

5253凡八十卷。明代德清撰。又作大方廣佛華嚴經綱要。收於卍續藏第十二冊。本書係提舉澄觀所撰華嚴大疏鈔之要義,合八十華嚴之經文,而總成一部。書中往往設補義之項目,記述作者之見解,以補澄觀解釋之不足,然仍難以脫出澄觀之釋義。於明代諸宗皆禪宗化之際,作者獨祖述澄觀之著作,實乃發揮異彩之舉。〔華嚴宗經論章疏目錄、禪籍志卷下〕 ; (華嚴經綱要) Cũng gọi Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh cương yếu. Tác phẩm, 80 quyển, do ngài Đức thanh soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 12. Nội dung sách này nêu ra những nghĩa trọng yếu trong Hoa nghiêm đại sớ sao do ngài Trừng quán soạn, rồi kết hợp với văn kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) mà tạo thành một bộ. Trong sách có thêm một số hạng mục trình bày những kiến giải của tác giả nhằm bổ túc cho những chỗ mà ngài Trừng quán giải thích còn thiếu. Nhưng thực ra cũng không ngoài những điều ngài Trừng quán đã giải thích. Ở đời Minh, trong lúc các tông phái Phật giáo đều được Thiền tông hóa, thì một mình ngài Đức thanh lại soạn chú sớ theo tác phẩm của ngài Trừng quán, đây là việc làm rất có ý nghĩa. [X. Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục; Thiền tịch chí Q.hạ].

hoa nghiêm kinh cảm ứng truyện

5252全一卷。唐代胡幽貞刊纂。全稱大方廣佛華嚴經感應傳。收於大正藏第五十一冊。本書原爲法藏之弟子惠英編成二卷。建中四年(783),四明山胡幽貞重新整理成一卷。內容爲華嚴經信仰者之感應事蹟,可作爲唐代華嚴經信仰之研究資料。明代袾宏之華嚴經感應略記、清代弘璧之華嚴感應緣起傳、清代周克復之華嚴經持驗記,皆爲同類著作。

hoa nghiêm kinh hợp luận

5251請參閱 貞元新釋華嚴經疏凡一二○卷。唐代李通玄撰。收於卍續藏第五冊。本書爲新譯八十華嚴之注釋書。內容開立十門以說明八十華嚴經之要義,即:(一)依教分宗,(二)依宗教別,(三)教義差別,(四)成佛同別,(五)見佛差別,(六)說教時分,(七)淨土權實,(八)攝化境界,(九)因果延促,(十)會教始終。 李通玄係一居士,與法藏爲同時代之人,雖亦尊崇十玄六相之法相,然與法藏異趣,以自家獨特之見解研究新譯之八十華嚴,爲新華嚴注釋書之先驅,爾後清涼國師澄觀著華嚴大疏鈔,受華嚴經合論影響之處亦不少。 本書之卷首附有李通玄之略傳,並敘述本書流傳之概要。本書與諸家說法相異之處,即視華嚴一經爲十處、十會、四十品;且不用五教之說,而用十教判;另加性惡說,並發揮三聖圓融之義。又本書之注疏有華嚴經合論簡要四卷(李贄)、華嚴經合論纂要三卷(方澤)等。 ; (華嚴經合論) Tác phẩm, 120 quyển, do cư sĩ Lí thông huyền soạn vào đời Đường được đưa vào Vạn tục tạng tập 5. Đây là sách chú thích kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển). Nội dung lập ra 10 môn để giải thích nghĩa trọng yếu trong kinh. Đó là các môn: Y giáo phân tông, Y tông giáo biệt, Giáo nghĩa sai biệt, Thành Phật đồng biệt, Kiến Phật sai biệt, Thuyết giáo thời phần, Tịnh độ quyền thực, Nhiếp hóa cảnh giới, Nhân quả diên xúc và Hội giáo thủy chung. Lí thông huyền là một cư sĩ cùng thời đại với Pháp tạng, tuy cũng tôn sùng Pháp tướng của Thập huyền lục tướng, nhưng lập trường của ông lại khác với lập trường của ngài Pháp tạng. Ông dùng kiến giải riêng của mình để nghiên cứu kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển), là người mở đầu cho việc chú thích bộ kinh đồ sộ này. Bộ Hoa nghiêm đại sớ sao của Quốc sư Thanh lương Trừng quán đã chịu rất nhiều ảnh hưởng của tác phẩm này. Trong quyển đầu có phần Tiểu sử của Lí thông huyền và trình bày khái quát về sự lưu truyền sách này. Điểm đặc biệt của sách này là cho kinh Hoa nghiêm có 10 hội được nói ở 10 chỗ, gồm 40 phẩm, không dùng thuyết Ngũ giáo, mà dùng Thập giáo để phán thích, thêm vào thuyết Tính ác, đồng thời phát huy nghĩa Tam Thánh Viên Dung . Về các sách chú sớ thì có: Hoa nghiêm hợp luận giản yếu, 4 quyển của Lí chí, Hoa nghiêm kinh hợp luận toản yếu, 3 quyển của Phương trạch.

hoa nghiêm kinh luân quán

5253全一卷。宋代復菴撰。又稱復菴和尚華嚴綸貫。收於卍續藏第四冊。本書係就八十華嚴中七處八會三十九品等內容,所作略說。乃研究宋代禪宗化華嚴教說之代表著作。內容初舉經之品數,次記述澄觀之一經三分說,並就題號舉出三義、敘述會品之所說等,再次則說明四分、五周因果、十玄六相、四法界等,最後之善財童子則以禪宗之教旨爲結語。 ; (華嚴經綸貫) Cũng gọi Phục am hòa thượng Hoa nghiêm luân quán. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Phục am soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 4. Nội dung sách này nói sơ lược về 7 chỗ 8 hội 39 phẩm trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển). Đây là tác phẩm tiêu biểu cho việc nghiên cứu tư tưởng Hoa nghiêm đã được Thiền tông hóa. Trước hết, sách này nêu lên số phẩm của kinh, kế đến, trình bày về thuyết Nhất kinh tam phần của ngài Trừng quán, đồng thời theo những đề mục ấy mà nêu ra 3 nghĩa để trình bày những điều đã được nói trong các hội, các phẩm; kế nữa, thuyết minh về Tứ phần, Ngũ chu nhân quả, Thập huyền lục tướng, Tứ pháp giới, v.v... Sau cùng, nói về đồng tử Thiện tài, thì dùng giáo chỉ của Thiền tông để kết luận.

Hoa Nghiêm kinh nghi quỹ 花嚴經儀軌

[ja] ケゴンキョウギキ Kegonkyōgiki ||| The Huayanjing yigui; see the Dafangguangfo huayanjing rufajiepin dunzheng piluzhena fashen zilun yuqie yigui 大方廣佛花嚴經入法界品頓證毘盧遮那法身字輪瑜伽儀軌 => (c: Huayanjing yigui); Xem Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh nhập pháp giới phẩm đốn chứng Tỳ-lô-giá-na pháp thân tự luân du già nghi quỹ (c: Dafangguangfo huayanjing rufajiepin dunzheng piluzhena fashen zilun yuqie yigui 大方廣佛花嚴經入法界品頓證毘盧遮那法身字輪瑜伽儀軌).

Hoa Nghiêm kinh nghĩa hải bách môn 華嚴經義海百門

[ja] ケゴンキョウギカイヒャクモン Kegonkyō gikai hyakumon ||| Huayanjing yihai bomen; by Fazang 法藏, one fasc. T 1875.45.627a636c. => (j: Kegonkyō gikai hyakumon; c: Huayanjing yihai bomen); của Pháp tạng (c: Fazang 法藏).

Hoa Nghiêm kinh nội chương môn đẳng ly khổng mục chương 華嚴經内章門等離孔目章

[ja] ケゴンキョウナイショウモントウリクモクショウ Kegonkyō naishōmon tōri ku moku shō ||| Huayan jingnei zhangmen dengza kongmu zhang; 4 fasc., by Zhiyan 智儼. T 1870.45.536c589b. => (j: Kegonkyō naishōmon tōri ku moku shō; c:Huayan jingnei zhangmen dengza kongmu zhang); 4 quyển, của Trí Nghiễm (c: Zhiyan 智儼).

hoa nghiêm kinh san định kí

5250請參閱 華嚴孔目章 [1]請參閱 華嚴孔目章凡十五卷(或十六卷)。唐代慧苑撰。全稱續華嚴經略疏刊定記。又作華嚴刊定記、華嚴經略疏刊定記。收於卍續藏第五冊。內容係開立十門以注釋八十華嚴。十門即:(一)教起所因,(二)藏部所攝,(三)顯教差別,(四)簡所被機,(五)能詮教體,(六)所詮宗趣,(七)顯義分齊,(八)部類傳譯,(九)具釋題目,(十)依文正釋。 撰者慧苑乃法藏門下六哲之一,雖繼承其師之遺志而作此刊定記,然書中背師自立之說不少。直至清涼大師澄觀出,作華嚴大疏鈔以破斥其異轍。又日本早期即依刊定記宣講八十華嚴,及至大疏鈔傳入時,方知其非,以後則依大疏鈔而宣講。〔諸宗章疏錄卷一、東域傳燈目錄卷上〕 ; (華嚴經刊定記) Gọi đủ: Tục Hoa nghiêm kinh lược sớ san định kí. Cũng gọi Hoa nghiêm san định kí, Hoa nghiêm kinh lược sớ san định kí. Tác phẩm, 15 quyển hoặc 16 quyển, do ngài Tuệ uyển soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 5. Nội dung sách này lập ra 10 môn để chú thích kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển). Mười môn ấy là: 1. Giáo khởi sở nhân. 2. Tạng bộ sở nhiếp. 3. Hiển giáo sai biệt. 4. Giản sở bị cơ. 5. Năng thuyên giáo thể. 6. Sở thuyên tông thú. 7. Hiển nghĩa phân tề. 8. Bộ loại truyền dịch. 9. Cụ thích đề mục. 10. Y văn chính thích. Sư Tuệ uyển là một trong 6 vị đệ tử ưu tú của ngài Pháp tạng, tuy kế thừa di chí của thầy mình, nhưng khi soạn bộ sách này thì sư lại tự đặt ra nhiều thuyết trái ngược với quan điểm của thầy. Về sau, đại sư Thanh lương Trừng quán mới soạn Hoa nghiêm đại sớ sao để bác bỏ những thuyết sai lầm ấy. Ngoài ra, giới Phật giáo Nhật bản lúc đầu cũng căn cứ theo Hoa nghiêm kinh san định kí của sư Tuệ uyển để giảng kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển), nhưng đến khi Hoa nghiêm đại sớ sao được truyền vào Nhật bản, thì mới biết sách ấy là sai. [X. Chư tông chương sớ lục Q.1; Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng].

hoa nghiêm kinh sưu huyền kí

5253凡五卷,或十卷。唐代智儼撰。全稱大方廣佛華嚴經搜玄分齊通智方軌。略稱華嚴經略疏。收於大正藏第三十五冊。本書記述六十華嚴之綱要,並解釋其文義。全書分立五門,以分別華嚴一經之文義,即:(一)歎聖臨機,德量由致。(二)明藏攝之分齊。(三)辨教下所詮之宗趣及能詮之教體。(四)釋經題目。(五)分文解釋。前四門爲搜玄記中之玄談,第五門由淨眼品至入法界品等三十四品,就每一品分品名、來意、宗趣、釋文等四科談其玄旨。 法藏所著之華嚴經探玄記等即以本書爲依據,特以本書十玄門之說發揮華嚴一經之深旨,爲法藏等所依用。在大正藏所載之版本,係以高麗高宗三十二年(1245)刊行之海印寺本爲底本。大日本續藏經所收者則依據日本所傳之古寫本。〔新編諸宗教藏總錄卷一、華嚴宗經疏目錄、佛典疏鈔目錄卷上、華嚴宗經論章疏目錄〕 ; (華嚴經搜玄記) Gọi đủ: Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh sưu huyền phân tề thông trí phương quĩ. Gọi tắt: Hoa nghiêm kinh lược sớ. Tác phẩm, 5 quyển hoặc 10 quyển, do ngài Trí nghiễm soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 35. Nội dung sách này nói về cương yếu và giải thích văn nghĩa của kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) được chia làm 5 môn: 1. Thán Thánh lâm cơ: Khen ngợi đức Phật nói pháp hợp căn cơ. 2. Minh tạng nhiếp chi phân tề: Phân định thuộc tạng nào (Thanh văn tạng hay Bồ tát tạng). 3. Biện giáo hạ sở thuyên chi tông thú cập năng thuyên chi giáo thể: Phân biệt về tông thú sở thuyên và giáo thể năng thuyên. 4. Thích kinh đề mục: Giải thích tên kinh. 5. Phân văn giải nghĩa: Theo văn giải nghĩa. Bốn môn trên là phần Huyền đàm trong Sưu huyền kí, môn thứ 5 gồm 34 phẩm từ phẩm Tịnh nhãn cho đến phẩm Nhập pháp giới. Mỗi phẩm được chia ra 4 khoa: Tên phẩm, Ý nghĩa, Tông thú và Giải thích văn. Ngài Pháp tạng đã căn cứ theo sách này mà soạn bộ Hoa nghiêm kinh thám huyền kí, đặc biệt dùng thuyết Thập huyền môn của sách này để phát huy ý chỉ sâu xa của kinh Hoa nghiêm. Bản khắc in của sách này được chép trong Đại chính tạng là lấy bản của chùa Hải ấn tại Cao li, phát hành năm 1245, làm bản thảo. Còn bản được thu vào Đại nhật bản Tục tạng kinh thì căn cứ vào bản chép tay cổ được lưu truyền ở Nhật bản. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Hoa nghiêm tông kinh sớ mục lục; Phật điển sớ sao mục lục Q.thượng; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục].

hoa nghiêm kinh sớ

5252請參閱 新譯大方廣華嚴經音義 請參閱 菩薩本業經 請參閱 華嚴經搜玄記 [1]請參閱 華嚴經刊定記 或 續華嚴經略疏刊定記 【華嚴經疏鈔玄談→】請參閱 華嚴玄談 請參閱 貞元新釋華嚴經疏<一>凡二十卷。唐代法藏著。全稱華嚴經探玄記。又稱華嚴探玄記、探玄記。收於大正藏第三十五冊。本書敘述六十華嚴經之大要,並解釋經之文義,旨在闡釋華嚴宗之中心教義。(參閱「華嚴經探玄記」5252) <二>凡十卷。唐代澄觀著。全稱貞元新譯華嚴經疏。又稱華嚴經普賢行願品疏、華嚴經行願品疏。收於卍續藏第七冊。本書敘述四十華嚴經之綱要,並解釋其文義。(參閱「貞元新譯華嚴經疏」3955) <三>凡六十卷。唐代澄觀著。全稱大方廣佛華嚴經疏。又稱新華嚴經疏、清涼疏、華嚴大疏、大疏。收於大正藏第三十五冊。本書爲八十華嚴經之注釋書。(參閱「大方廣佛華嚴經疏」764) <四>全一卷。作者不詳。收於大正藏第八十五冊。本書爲新譯八十華嚴之注釋書,然非八十華嚴全本之注釋,以其間有跳漏者,故推測本書或係由殘缺之片斷整理而成者。 ; (華嚴經疏) I. Hoa Nghiêm Kinh Sớ. Gọi đủ: Hoa nghiêm kinh thám huyền kí. Cũng gọi Hoa nghiêm thám huyền kí, Thám huyền kí. Tác phẩm, 20 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 35. Nội dung trình bày đại cương của kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) và giải thích văn nghĩa trong kinh. (xt. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí). II. Hoa Nghiêm Kinh Sớ. Gọi đủ: Trinh nguyên tân dịch Hoa nghiêm kinh sớ. Cũng gọi Hoa nghiêm kinh Phổ hiền hành nguyện phẩm sớ, Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm sớ. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Trừng quán soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 7. (xt. Trinh Nguyên Tân Dịch Hoa Nghiêm Kinh Sớ). III. Hoa Nghiêm Kinh Sớ. Gọi đủ: Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh sớ. Cũng gọi Tân hoa nghiêm kinh sớ, Thanh lương sớ, Hoa nghiêm đại sớ, Đại sớ. Tác phẩm, 60 quyển, do ngài Trừng quán soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 35. Đây là sách chú thích kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển). (xt. Đại Phương Quảng Phật Hoa nghiêm Kinh Sớ). IV. Hoa Nghiêm Kinh Sớ. Tác phẩm, 1 quyển, không rõ soạn giả, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung chú thích kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển), nhưng không phải chú thích trọn bộ mà trong đó còn thiếu nhiều đoạn; vì thế, có lẽ sách này đã do chỉnh lí những đoạn còn sót mà thành.

hoa nghiêm kinh tam dịch

Ba bản dịch của Kinh Hoa Nghiêm bên Trung Quốc—Three translations of the Avatamsaka-sutra in China. 1) Bản dịch của ngài Phật Đà Bạt Đà đời Đông Tấn, khoảng năm 406 sau Tây Lịch, 60 quyển, còn gọi là Lục Thập Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh, hay kinh cũ: 60 books translated by Buddhabhadra, who arrived in China around 406 A.D., also known as the East-Chin Sutra or the old sutra. 2) Bản dịch của ngài Thực Xoa Nan Đà đời Đường, vào khoảng năm 700 sau Tây Lịch, 80 quyển, còn gọi là Bát Thập Hoa Nghiêm, Đường Kinh, hay Kinh mới: 80 books translated by Siksananda, about 700 A.D., also known as the T'ang Sutra or the new sutra. 3) Bản dịch của ngài Bát Nhã đời Đường, khoảng năm 800 sau Tây Lịch, 40 quyển, còn gọi là Tứ Thập Hoa nghiêm. Bản dịch nầy bao gồm phần Hoa Nghiêm Âm Nghĩa của ngài Huệ Uyển biên soạn năm 700 sau Tây Lịch: 40 books translated by Prajna around 800 A.D. This translation also included the Dictionary of Classic by Hui-Yuan in 700 A.D.

hoa nghiêm kinh thám huyền kí

5252凡二十卷。唐代法藏著。又稱華嚴探玄記、華嚴經疏、探玄、探玄記。收於大正藏第三十五冊。本書乃法藏模仿其師智儼之華嚴經搜玄記所作。敘述舊譯六十華嚴經之大要,並解釋經文之義,旨在闡述華嚴宗之中心教義。本書分立十門:(一)教起所由,(二)藏部所攝,(三)立教差別,(四)教所被機,(五)能詮教體,(六)所詮宗趣,(七)釋經題目,(八)部類傳譯,(九)文義分齊,(十)隨文解釋。本書之注疏有探玄記鈔(尊玄)、探玄記洞幽鈔(凝然)、華嚴經探玄記發揮鈔(普寂)、華嚴經探玄記南紀錄(芳英)、華嚴經探玄記講義(秀存)、華嚴經探玄記會錄(雲溪)等。〔諸宗章疏錄卷一,華嚴宗經論章疏目錄〕 ; (華嚴經探玄記) Cũng gọi Hoa nghiêm thám huyền kí, Hoa nghiêm kinh sớ, Thám huyền, Thám huyền kí. Tác phẩm, 20 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 35. Sách này được mô phỏng theo bộ Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí của ngài Trí nghiễm mà soạn thành. Nội dung nêu đại ý của kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) và giải thích văn kinh, chủ yếu nói rõ về giáo nghĩa trung tâm của tông Hoa nghiêm. Gồm có 10 môn: 1. Giáo khởi sở do: Nguyên do đức Phật nói kinh Hoa nghiêm. 2. Tạng bộ sở nhiếp: Kinh Hoa nghiêm thuộc tạng nào (Thanh văn tạng hay Bồ tát tạng). 3. Lập giáo sai biệt: Kinh Hoa nghiêm lập các giáo pháp khác nhau. 4. Giáo sở bị cơ: Giáo pháp Hoa nghiêm hóa độ căn cơ nào. 5. Năng thuyên giáo thể: Giáo thể giải thích rõ ràng tông thú. 6. Sở thuyên tông thú: Tông thú đượcgiải thích rõ ràng. 7. Thích kinh đề mục: Giải thích tên kinh (Hoa nghiêm). 8. Bộ loại truyền dịch: Các loại kinh Hoa nghiêm được truyền dịch. 9. Văn nghĩa phân tề: Phân định văn và nghĩa. 10. Tùy văn giải thích: Theo văn giải thích. Về các bản chú sớ sách này thì có: Thám huyền kí sao của Huyền tôn, Thám huyền kí đỗng u sao của Ngưng nhiên, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí phát huy sao của Phổ tịch, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí nam kỉ lục của Phương anh, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí giảng nghĩa của Tú tồn, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí hội lục của Vân khê. [X. Chư tông chương sớ lục Q.1; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục].

hoa nghiêm kinh thất xứ cửu hội tụng thích chương

5250 請參閱 華嚴五教章復古記 請參閱 華嚴經傳記 請參閱 華嚴經傳記 請參閱 華嚴經傳記 請參閱 大方廣佛華嚴經 [1]請參閱 華嚴經七處九會頌釋章 全一卷。唐代澄觀撰。又作新譯華嚴經七處九會頌釋章、華嚴經七處九會頌。收於卍續藏第四冊。本書乃總合頌分、釋分二部分而成,以五言六十八句之頌,敘述八十華嚴七處九會三十九品之要義。本書雖僅一萬三千餘言,然已將華嚴經要義揭示無遺,且其文辭平易,實爲華嚴教海之入門書。 ; (華嚴經七處九會頌釋章) Cũng gọi Tân dịch Hoa nghiêm kinh thất xứ cửu hội tụng thích chương, Hoa nghiêm kinh thất xứ cửu hội tụng. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trừng quán soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 4. Sách này gồm 2 phần kệ tụng và chú thích, dùng 68 câu kệ tụng thể 5 chữ để trình bày ý nghĩa chủ yếu của 39 phẩm trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) được nói ở 7 chỗ, 9 hội. Sách này tuy chỉ có hơn một vạn ba nghìn lời, nhưng đã trình bày đầy đủ yếu nghĩa của kinh Hoa nghiêm, văn từ lại rất bình dị nên đã thành là sách nhập môn của giáo nghĩa Hoa nghiêm.

hoa nghiêm kinh thập địa sớ

Commentary on the Chapter Ten Stages of the Garland sŪtra Tên một bộ luận kinh.

hoa nghiêm kinh truyện kí

5252請參閱 華嚴經傳記凡五卷。唐代法藏撰。又稱華嚴經纂靈記、華嚴傳之記、華嚴傳記、華嚴經傳、華嚴傳。收於大正藏第五十一冊。本書集錄華嚴經之部類、傳譯、講解、諷誦等有關人物之事蹟。全書共分部類、隱顯、傳譯、支流、論釋、講解、諷誦、轉讀、書寫、雜述等十門。最後之雜述則列舉與本經有關之雜著十數部,並舉作者其他著作。本書即爲華嚴經流傳初期至撰者當時史實之集記。書未撰畢,法藏即示寂,門人慧苑、惠英等續成,正德元年(1711)印行。 ; (華嚴經傳記) Cũng gọi Hoa nghiêm kinh toản linh kí, Hoa nghiêm truyện chi kí, Hoa nghiêm truyện kí, Hoa nghiêm kinh truyện, Hoa nghiêm truyện. Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này gom chép sự tích của các nhân vật có liên quan đến bộ loại, truyền dịch, giảng giải, phúng tụng, v.v... của kinh Hoa nghiêm, gồm 10 môn: Bộ loại, Ẩn hiện, Truyền dịch, Chi lưu, Luận thích, Giảng giải, Phúng tụng, Chuyển độc, Thư tả và Tạp thuật. Sách này nghi chép những sự thực lịch sử từ lúc bắt đầu lưu truyền kinh Hoa nghiêm cho đến đương thời ngài Pháp tạng. Sách soạn chưa xong thì ngài Pháp tạng đã thị tịch, học trò của ngài là các sư Tuệ uyển, Huệ anh, v.v... tiếp tục hoàn thành và ấn hành vào niên hiệu Chính đức năm đầu (711).

Hoa Nghiêm kinh truỵện ký 華嚴經傳記

[ja] ケゴンキョウデンキ Kegonkyō denki ||| Huayan jing zhuanji; by Fazang 法藏. 5 fasc., T 2073.51.153173. => (j: Kegonkyō denki; c: Huayan jing zhuanji); của Pháp Tạng (c: Fazang 法藏), 5 quyển.

hoa nghiêm kinh tuỳ sớ diễn nghĩa sao

5253 請參閱 妄盡還源觀疏鈔補解 [1]凡九十卷。唐代澄觀撰。全稱大方廣佛華嚴經隨疏演義鈔。略稱隨疏演義鈔、華嚴大疏鈔、演義鈔。收於大正藏第三十六冊。澄觀曾撰有八十華嚴之注釋書,即華嚴經疏六十卷(又稱大疏,收於大正藏第三十五冊),該書與法藏之探玄記同被稱爲華嚴經注釋之雙璧。其後,再將華嚴經疏詳爲解說,敷衍而成本書。本書前九卷係著者之華嚴思想綱要,即本書之「玄談」部分,素來備受重視。華嚴經疏演義鈔三十卷,即由本書之玄談部分別出而成。全書分爲四部分:(一)總序名意,釋大疏之自序。(二)歸敬請加,釋大疏之歸敬序。(三)開章釋文,廣逐疏之本文,次第釋之。(四)謙讚回向,略解末尾之流通偈。先詳釋教起因緣、藏經所攝、義理分齊、教所被機、教體淺深、宗趣通局、部類品會、傳譯感通、總釋經題等九科玄談,後則依經文而作注解。〔大明三藏聖教北藏目錄卷四、閱藏知津卷三十五、華嚴宗章疏錄、佛典疏鈔目錄卷上、華嚴宗經論章疏目錄〕 ; (華嚴經隨疏演義鈔) Gọi đủ: Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao. Gọi tắt: Tùy sớ diễn nghĩa sao, Hoa nghiêm đại sớ sao, Diễn nghĩa sao. Tác phẩm, 90 quyển, do ngài Trừng quán soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 36. Nội dung sách này được chia làm 4 phần: 1. Tổng tự danh ý: Giải thích bài tựa của chính tác giả trong Đại sớ. 2. Qui kính thỉnh gia: Giải thích bài tựa qui kính trong Đại sớ. 3. Khai chương thích văn: Lần lượt giải thích rộng văn chính của Đại sớ. 4. Kiêm tán hồi hướng: Lược giải bài kệ lưu thông ở cuối sách. Ngài Trừng quán từng soạn Hoa nghiêm kinh sớ, 60 quyển (cũng gọi Đại sớ, thu vào Đại chính tạng tập 35). Về sau, ngài lại giải thích Hoa nghiêm kinh sớ một cách tỉ mỉ, rõ ràng hơn mà thành sách này. Chín quyển đầu là tư tưởng Hoa nghiêm cương yếu của tác giả, tức là bộ phận Huyền đàm trong sách này rất được xem trọng từ trước đến nay. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.35; Hoa nghiêm tông chương sớ lục; Phật điển sớ sao mục lục Q.thượng; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục].

Hoa Nghiêm kinh tâm đà-la-ni 華嚴經心陀羅尼

[ja] ケゴンキョウシンダラニ Kegonkyō shindarani ||| The Huayanjing xintuoluoni ; Tib. dong po bkod pa'i snying po [To.585/941]; (Dhāraṇī of the Essence of the Avataṃsakasūtra) 1 fasc., (T 1021.19.709710), tr. Śikṣānanda 實叉難陀. (Tib.: "Essence of the Gaṇḍavyuha"). => (j: Kegonkyō shindarani; c: Huayanjing xintuoluoni; t: dong po bkod pa'i snying po; e: Dhāraṇī of the Essence of the Avataṃsakasūtra), 1 quyển, Thật-xoa-nan-đà (Śikṣānanda 實叉難陀) dịch (e: Essence of the Gaṇḍavyuha).

hoa nghiêm kinh văn nghĩa cương mục

5250全一卷。唐代賢首大師法藏撰。又稱華嚴八會綱目章、大方廣佛華嚴八會綱目章、華嚴經綱目、華嚴綱目。收於大正藏第三十五冊。內容係開立十門以述說華嚴經之大要,即:(一)辨教起所因,(二)釋經題目,(三)明經宗趣,(四)說經時處,(五)辨定教主,(六)明眾數差別,(七)請說分齊,(八)所入三昧,(九)佛光加持,(十)正說品會。本書之撰述年代,依本書十門之第一辨教起所因之條所載,成於唐代永隆元年(680)法藏三十八歲之際,即在華嚴一乘教分記之草本撰述之後,華嚴經探玄記及大乘起信論義記撰述之前;或謂係法藏五十一歲前後之作品。然其全盤繼承智儼之十玄門,而爲探玄記撰述前概述華嚴經之大綱及要點,當無疑問。本書之注疏有華嚴綱目甲午記一卷(僧朗)、文義綱目玄談並分科一卷(宜然)、文義綱目講錄一卷(湛幸)等。 ; (華嚴經文義綱目) Cũng gọi Hoa nghiêm bát hội cương mục chương, Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm bát hội cương mục chương, Hoa nghiêm kinh cương mục, Hoa nghiêm cương mục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 35. Nội dung sách này lập ra 10 môn để trình bày về đại cương của kinh Hoa nghiêm: 1. Biện giáo khởi sở nhân: Nói về nguyên do đức Phật thuyết kinh Hoa nghiêm. 2. Thích kinh đề mục: Giải thích tên kinh.3. Minh kinh tông thú: Nói rõ tông thú của kinh. 4. Thuyết kinh thời xứ: Nói về thời gian và nơi chỗ thuyết kinh. 5. Biện định giáo chủ: Biện minh và quyết định ngôi Giáo chủ. 6. Minh chúng số sai biệt: Nói về số người nghe kinh khác nhau. 7. Thỉnh thuyết phân tề: Phân định việc thỉnh đức Phật thuyết kinh. 8. Sở nhập tam muội: Nói về các loại Thiền định Phật trụ trong đó. 9. Phật quang gia trì: Hào quang của Phật gia trì. 10. Chính thuyết phẩm hội: Chính thức nói về các phẩm và các hội. Về các bản chú thích của sách này thì có: Hoa nghiêm cương mục giáp ngọ kí, 1 quyển, của ngài Tăng lãng, Văn nghĩa cương mục huyền đàm tịnh phân khoa, 1 quyển, của ngài Nghi nhiên, Văn nghĩa cương mục giảng lục 1 quyển, của ngài Trạm hạnh.

hoa nghiêm kinh vấn đáp

5251凡二卷。唐代法藏撰。又稱華嚴問答。收於大正藏第四十五冊。內容係以問答體之方式,敘述華嚴經之概要。諸先德皆依用本書。然華嚴五教章指事記及華嚴五教章通路記,咸認爲本書係偽作,此恐因本書所述因轉果轉之義與法藏所說不相符合,故指本書爲偽作。 ; (華嚴經問答) Cũng gọi Hoa nghiêm vấn đáp. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này dùng thể vấn đáp để trình bày những điểm chính yếu của kinh Hoa nghiêm. Các bậc tiên đức đều dùng sách này làm tư liệu tham khảo. Nhưng, Hoa nghiêm Ngũ giáo chương chỉ sự kí và Hoa nghiêm Ngũ giáo chương thông lộ kí đều cho sách này là ngụy tạo, có lẽ vì nghĩa nhân chuyển quả chuyển được trình bày trong Hoa nghiêm kinh vấn đáp không phù hợp với nghĩa mà ngài Pháp tạng đã nói.

Hoa Nghiêm kinh 花嚴經

[ja] ケゴンキョウ Kegonkyō ||| See 華嚴經. => – Xem Hoa Nghiêm kinh華嚴經.

Hoa Nghiêm kinh 華嚴經

[ja] ケゴンキョウ Kegonkyō ||| The Huayan jing; Avataṃsakasūtra. One of the most influential texts in East Asian Buddhism, of which three Chinese translations were done, all with the full title of Dafangguangfo huayanjing 大方廣佛華嚴經. This text describes a cosmos of infinite realms upon realms, mutually containing each other. The vision expressed in this work was the foundation for the creation of a the Huayan school 華嚴宗 of Buddhism, which was characterized by a philosophy of interpenetration (通達、圓融). The sutra is also well known for its detail description of the course of the course of the bodhisattva's practice through fiftytwo stages. Fragmentary translation of this text probably began in the second century, and the famous "Ten Stages" 十地經 book, often treated as an individual scripture, was first translated in the third century. The first full translation was completed by Buddhabhadra 佛駄跋陀 around 420 (Avataṃsakasūtra; 60 fascicles, T 278.9.395a788b.); the second translation (80 fascicles Avataṃsakasūtra; T 279.10.1b444c.) was completed by Śikṣānanda 實叉難陀 around 699; the third was completed by Prajñā 般若 (40 fascicles, Gandavyūha; T 293.10.661a848b) around 798. => (j: Kegonkyō; c: Huayan jing; s: Avataṃsakasūtra). Là một trong những bản kinh quan trọng nhất của Phật giáo Á đông, trong 3 bản dịch tiếng Hán, tất cả đều có tên đầy đủ là Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh (c: Dafangguangfo huayanjing 大方廣佛華嚴經). Kinh nầy mô tả pháp giới trùng trùng duyên khởi, tương dung tương nhiếp lẫn nhau. Cái nhìn được diễn tả trong kinh nầy là cơ sở để lập nên tông Hoa Nghiêm Phật giáo, biểu thị qua tư tưởng viên dung (圓融), thông đạt (通達). kinh nầy cũng được biết đến qua trình bày chi tiết từng thứ lớp khi tu đạo của hàng Bồ-tát với 52 giai vị. Việc phiên dịch kinh nầy được bắt đầu với những phẩm rời từ thế kỷ thứ II, và phẩm kinh nổi tiếng 'Thập địa kinh', thường được xem như là một bản kinh riêng biệt, là được dịch vào thế kỷ thứ III. Bản dịch đầy đủ trọn bộ kinh nầy đầu tiên được ngài Phật-đà-bạt-đà (Buddhabhadra 佛駄跋陀) dịch vào khoảng năm 420 (gồm 60 quyển, có tên Avataṃsakasūtra); bản thứ 2 gồm 80 quyển, có tên Avataṃsakasūtra, do ngài Thật-xoa-nan-đà (Śikṣānanda 實叉難陀) dịch xong năm 699; bản thứ III gồm 40 quyển, có tên Gandavyūha, do ngài Bát-nhã (Prajñā 般若) dịch xong khoảng vào năm 789.

hoa nghiêm kỳ

Avataṁsaka (S), Avataṁsa (S)Hoa Nghiêm thời, Hoa Nghiêm bộ kinhThời kỳ Phật dạy cho các vị Đại Bồ tát. Thời kỳ thứ nhất trong 5 thời kỳ thuyết giáo.

hoa nghiêm luận tiết yếu

5254凡三卷。高麗僧知訥(1158~1210)撰。本書乃擷取李通玄所著新華嚴經論之要點,復加知訥自己之見解,而由門人沖湛刊行。李通玄之實踐修入教學乃法藏之華嚴學所無;而本書則深得其要,堪與我國明代李卓吾所著「華嚴論簡要」比擬。二書對於李通玄教學之理解方法有顯著之差異。本書末附有「李通玄長者行狀」,可供李通玄傳記資料之研究。 ; (華嚴論節要) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Tri nột (1158-1210), vị tăng người Cao li soạn, đệ tử là sư Xung trạm ấn hành. Nội dung trích những điểm trọng yếu trong Tân Hoa nghiêm kinh luận của cư sĩ Lí thông huyền rồi thêm vào những kiến giải của chính tác giả. Sách này đã thâm nhập được chỗ cốt tủy trong giáo học tu hành thực tiễn của Lí thông huyền, có thể sánh với Hoa nghiêm luận giản yếu của Lí trác ngộ, người Trung quốc, sống vào đời Minh. Tuy nhiên, đối với giáo nghĩa của Lí thông huyền, phương pháp lí giải của Hoa nghiêm luận tiết yếu và Hoa nghiêm luận giản yếu có sự sai khác rõ rệt. Ngoài ra, ở cuối sách này có thêm Lí Thông Huyền Trưởng Giả Hành Trạng , là tư liệu rất cần cho việc nghiên cứu tiểu sử của Lí thông huyền.

Hoa Nghiêm luận tiết yếu 華嚴論節要

[ja] ケゴンロンセツヨウ Kegonron setsuyō ||| Hwaŏm non chŏryo (Essentials of the Huayen lun). By Chinul 知訥; HPC 4.767869. Chinul's longest work, comprised of an examination of the main themes of Li Tongxuan's 李通玄 Xin Huayan jing lun 新華嚴經論 (Treatise on the New Translation of the Flower Ornament Scripture) => (j: Kegonron setsuyō; k: Hwaŏm non chŏryo; e: Essentials of the Huayen lun), của Trí Nột (k: Chinul 知訥); Là tác phẩm dài nhất của Trí Nột, gồm những giải thích về những luận đề chính trong Tân Hoa Nghiêm kinh luận (新華嚴經論 c: Xin Huayan jing lun; e: Treatise on the New Translation of the Flower Ornament Scripture) của Lý Thông Huyền (c: Li Tongxuan's 李通玄).

hoa nghiêm nguyên nhân luận

5248全一卷。唐代圭峰宗密撰。簡稱原人論。收於大正藏第四十五冊。本書旨在破除儒道二教之妄執,究尋人類本源。分爲四篇:(一)斥迷執,破斥儒道二教元氣剖判說及虛無大道說。(二)斥偏淺,就佛教中人天教、小乘教、大乘法相教、大乘破相教之所說,破斥業爲本說、色心相續說、賴耶緣起說、萬法皆空說。(三)直顯真源,依華嚴一乘顯性教之旨,以本覺之真心,爲天地萬有之本源,顯示一切有情本來是佛。(四)會通本末,會通前所破之諸教,悉引入一乘方便教。注疏有發微錄三卷、原人論解五卷、原人論合解二卷等。〔新編諸宗教藏總錄卷三、諸宗章疏錄卷二〕 ; (華嚴原人論) Gọi tắt: Nguyên nhân luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Khuê phong Tông mật soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Mục đích của sách này là phá trừ vọng chấp của Nho giáo, Đạo giáo và suy cứu về nguồn gốc của nhân loại. Nội dung chia làm 4 thiên: 1. Xích mê chấp: Bác bỏ thuyết Nguyên khí phẫu phán (phân tích nguyên khí) của Nho giáo và thuyết Hư vô đại đạo của Đạo giáo. 2. Xích thiên thiển: Nói về thiên kiến nông cạn của các thuyết trong Phật giáo như: Nhân thiên giáo, Tiểu thừa giáo, Đại thừa pháp tướng giáo, Đại thừa phá tướng giáo, v.v... bác bỏ thuyết chủ trương nghiệp và nguồn gốc, thuyết sắc tâm tương tục, thuyết A lại da duyên khởi, thuyết vạn pháp giai không.… 3. Trực hiển chân nguyên: Theo tông chỉ hiển tính giáo của Nhất thừa Hoa nghiêm, lấy chân tâm của bản giác làm cội gốc của vũ trụ vạn hữu, hiển bày ý chỉ hết thảy hữu tình xưa nay vốn là Phật. 4. Hội thông bản mạt: Dung thông các giáo thuyết đã bác bỏ trước, rồi đưa tất cả vào Nhất thừa phương tiện giáo. Về các bản chú sớ của sách này thì có: Nguyên nhân luận giải 5 quyển, Nguyên nhân luận hợp giải 2 quyển. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Chư tông chương sớ lục Q.2].

hoa nghiêm ngũ giáo

See Ngũ Thời Giáo, and Ngũ Giáo in Vietnamese-English Section.

hoa nghiêm ngũ giáo chương

5239凡四卷或三卷。爲唐代法藏(643~712)所著。全稱華嚴一乘教義分齊章,或華嚴一乘教分記。略稱五教章。收於大正藏第四十五冊。係華嚴宗之教判論著,將釋迦佛創教以來之不同流派與教義分爲五教(小乘教、大乘始教、終教、頓教、圓教)、十宗(我法俱有宗、法有我無宗、法無去來宗、現通假實宗、俗妄真實宗、諸法但名宗、一切皆空宗、真德不空宗、相想俱絕宗、圓明俱德宗),在圓教中,以法華經爲包含諸教之同教一乘;相對於此,主張華嚴經爲超越諸教之別教一乘,亦即最勝經。 全書分十章,第一章敘述一乘之意義,即華嚴獨特之一乘與融合三乘於一乘之意義。第二章敘述一乘與三乘之教義及其利益。第三章敘述古今立教,列舉菩提流支至玄奘等古今十師之教相判釋。第四章整理佛教各種見解,以作價值之判斷,此即五教十宗之教判。第五章敘論五教相互之關係。第六、七章論佛教各種經典在時間上之順序及其理由。第八章分十項說明一乘與三乘相異之點。第九章論華嚴教學與其他佛教教學之關係,並考察意識、佛性、修行等問題。第十章論華嚴教學內容上之問題,並論及十玄門與六相之說。由此可知,作者係立於華嚴宗之立場展望佛教全體。〔新編諸宗教藏總錄卷一、華嚴宗經論章疏目錄、諸宗章疏錄卷一〕 ; (華嚴五教章) Gọi đủ: Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương, Hoa nghiêm nhất thừa giáo phân kí. Gọi tắt: Ngũ giáo chương. Tác phẩm, 3 hoặc 4 quyển, do ngài Pháp tạng (643-712) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Sách này thuộc phần phán giáo của tông Hoa nghiêm, tác giả đem chia giáo pháp của một đời đức Phật làm Ngũ giáo (Tiểu thừa giáo, Đại thừa thủy giáo, Đại thừa chung giáo, Đốn giáo, Viên giáo) và Thập tông Ngã pháp câu hữu tông, Pháp hữu ngã vô tông, Pháp vô khứ lai tông, Hiện thông giả thực tông, Tục vọng chân thực tông, Chư pháp đãn danh tông, Nhất thiết giai không tông, Chân đức bất không tông, Tướng tưởng câu tuyệt tông và Viên minh cụ đức tông). Trong Viên giáo, tác giả cho kinh Pháp hoa là Đồng giáo nhất thừa, còn kinh Hoa nghiêm là Biệt giáo nhất thừa, cũng tức là kinh thù thắng nhất. Nội dung sách này chia làm 10 chương: Chương 1: Trình bày về ý nghĩa Nhất thừa biệt giáo của kinh Hoa nghiêm và dung hợp Tam thừa về Nhất thừa. Chương 2: Trình bày về giáo nghĩa của Nhất thừa và Tam thừa, cùng sự lợi ích của các thừa này. Chương 3: Trình bày về sự lập giáo và sự phán thích giáo tướng của Thập sư từ ngài Bồ đề lưu chi đến ngài Huyền trang. Chương 4: Chỉnh lí các kiến giải về Phật giáo để phán đoán giá trị của Ngũ giáo, Thập tông. Chương 5: Bàn về mối quan hệ hỗ tương của Ngũ giáo. Chương 6 và 7: Bàn về thứ tự thời gian và lí do xuất hiện của các loại kinh điển Phật giáo. Chương 8: Nói rõ những điểm khác nhau giữa Tam thừa và Nhất thừa. Chương 9: Bàn về mối quan hệ của giáo học Hoa nghiêm với giáo học Phật giáo khác, đồng thời khảo sát các vấn đề ý thức, Phật tính, tu hành, v.v... Chương 10: Bàn về các vấn đề nội dung của giáo học Hoa nghiêm và về thuyết Lục tướng cùng Thập huyền môn. Qua nội dung trên, ta thấy tác giả đứng trên lập trường của tông Hoa nghiêm mà nhìn một cách tổng quát toàn thể Phật giáo.[X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.1].

hoa nghiêm ngũ giáo chương nghĩa uyển

5240凡十卷。宋代道亭(1023~1100?)撰。又稱華嚴一乘分齊章義苑疏、華嚴一乘教義分齊章義苑疏、華嚴五教章義苑疏、五教章義苑疏、華嚴義苑疏、五教章道亭疏、義苑疏。收於卍續藏第一○三冊。爲宋朝華嚴宗四大注疏之一。本書乃對法藏所述、晉水淨源重校之「華嚴五教章」本文所作隨文解釋,內容初爲楊傑之序,次則隨文釋義。師會批評本書雖注釋法藏之著作,然書中並無擷取二祖智儼之華嚴經搜玄記與三祖法藏之華嚴經探玄記之釋義,而僅依四祖澄觀、五祖宗密之說,故多有疏漏之處。然唐末、五代戰亂期間,華嚴典籍多遭毀損,如搜玄記、探玄記等諸祖重要著作皆散逸不見。於此情況之下,道亭尚能著成此書,將五教章與澄觀、宗密之教說作爲華嚴教學之體系,就此點而言,則本書之成立,自有其意義。又本書爲我國最早之五教章注釋書。於南宋寧宗嘉定二年(1209)由淨覺募緣出版。 ; (華嚴五教章義苑) Cũng gọi Hoa nghiêm Nhất thừa phân tề chương nghĩa uyển sớ, Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương nghĩa uyển sớ, Hoa nghiêm ngũ giáo chương nghĩa uyển sớ, Ngũ giáo chương nghĩa uyển sớ, Hoa nghiêm nghĩa uyển sớ, Ngũ giáo chương đạo đình sớ, Nghĩa uyển sớ. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Đạo đình (1023-1100) soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 103, là một trong 4 bản chú sớ lớn của tông Hoa nghiêm đời Tống, do ngài Tịnh giác xuất bản vào năm Gia định thứ 2 (1209) đời vua Ninh tông nhà Nam Tống. Nội dung sách này giải thích tác phẩm Hoa nghiêm ngũ giáo chương của ngài Pháp tạng (theo bản hiệu đính của ngài Thủy tịnh nguyên đời Hậu Tấn). Ở đầu sách có bài tựa của ông Dương kiệt, sau đó, tác giả lần lượt theo văn mà giải nghĩa. Ngài Sư hội cho rằng sách này tuy chú thích Hoa nghiêm ngũ giáo chương của ngài Pháp tạng (Tổ thứ 3 tông Hoa nghiêm), nhưng hoàn toàn không căn cứ vào bộ Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí của ngài Trí nghiễm (Tổ thứ 2 tông Hoa nghiêm) và bộ Hoa nghiêm kinh thám huyền kí của ngài Pháp tạng, mà chỉ dựa vào thuyết của ngài Trừng quán (Tổ thứ 4 tông Hoa nghiêm) và ngài Tông mật (Tổ thứ 5 tông Hoa nghiêm) vì thế nên có nhiều chỗ thiếu sót. Nhưng vào cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại là thời loạn lạc, sách vở của tông Hoa nghiêm phần lớn đã bị tổn hại; những tác phẩm quan trọng của các vị Tổ, như: Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí, v.v... đều đã bị mai một. Trong tình huống như vậy mà ngài Đạo đình vẫn còn soạn được bộ sách này, đem Ngũ giáo chương và giáo thuyết của các ngài Trừng quán và Tông mật làm thành một hệ thống giáo học Hoa nghiêm là một việc làm rất có ý nghĩa. Hơn nữa, đây là bộ sách chú thích Ngũ giáo chương sớm nhất tại Trung quốc.

hoa nghiêm ngũ giáo chương phục cổ kí

5240凡三卷或六卷。宋代可堂師會(爲華嚴四大家之一)與其弟子善熹撰。又稱華嚴一乘教義分齊章復古記、華嚴復古記、五教章復古記、復古記。收於卍續藏第一○三冊。本書係依據晉水淨源所重校之「華嚴五教章」而作解釋,爲宋朝華嚴宗四大注疏之一。撰者師會幼學華嚴,精通華嚴經孔目章,早期著有註華嚴同教一乘策一卷、華嚴五教章焚薪二卷等,直至六十五歲時方撰本書,然至斷惑分齊章時,因疾而逝世,後由弟子善熹繼其遺志完成之。本書之首附有善熹之序,謂師會當時,五教章之注釋書多誤解華嚴宗二祖智儼與三祖法藏之教義,故本書乃行古義之訓釋,而冠書名以復古二字。宋代希迪作評復古記一卷,論釋本書,認爲本書內容隨文釋義,雖有發揮之說,然於性相融會之義不解,故有失章意之處。 ; (華嚴五教章復古記) Cũng gọi Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương phục cổ kí, Hoa nghiêm phục cổ kí, Ngũ giáo chương phục cổ kí, Phục cổ kí. Tác phẩm, 3 hoặc 6 quyển, do ngài Khả đường Sư hội và đệ tử là sư Thiện hi soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 103. Nội dung sách này giải thích bộ Hoa nghiêm ngũ giáo chương (căn cứ theo bản hiệu đính của ngài Thủy tịnh nguyên đời Hậu Tấn), là một trong 4 bản chú sớ lớn của tông Hoa nghiêm đời Tống. Ngài Sư hội thủo nhỏ đã học kinh Hoa nghiêm, tinh thông bộ Hoa nghiêm khổng mục chương. Lúc còn trẻ ngài đã chú thích bộ Hoa nghiêm đồng giáo nhất thừa sách 1 quyển, Hoa nghiêm ngũ giáo chương phần tân 2 quyển. Mãi đến năm 65 tuổi ngài mới soạn sách này, nhưng khi soạn đến chương Đoạn hoặc phân tề thì ngài bỗng nhuốm bệnh rồi thị tịch. Sau đệ tử ngài là sư Thiện hi tiếp nối chí nguyện của ngài mà hoàn thành bộ sách này. Cứ theo lời tựa của sư Thiện hi, thì đương thời ngài Sư hội có nhiều sách chú thích bộ Hoa nghiêm ngũ giáo chương đã hiểu lầm giáo nghĩa của ngài Trí nghiễm và ngài Pháp tạng. Riêng sách này đã giải thích theo đúng nghĩa cổ, vì thế mới đặt tên là Phục Cổ . Ngài Hi địch đời Tống có soạn Bình phục cổ kí để bàn giải về sách này, nhận định rằng nội dung sách này y theo văn mà giải nghĩa, tuy có chỗ phát huy, nhưng về nghĩa Tính tướng dung hợp thì không giải rõ được, nên chưa trọn vẹn.

Hoa Nghiêm ngũ giáo chương 華嚴五教章

[ja] ケゴンゴキョウショウ Kegon gokyōshō ||| The Huayan Wujiao zhang "Essay on the Five Teachings of Huayen." The full title is 華嚴一乘教義分齋章, and it is usually abbreviated as Wujiao zhang 五教章. Three (or four) fascicles. Written by the Huayan master Fazang 法藏, T 1866.45.407509. In this work he explains the special teaching of the Single Vehicle 一乘 (as distinguished from the threevehicle theory), showing the relative depth and shallowness of these two kinds of teachings. He also classifies the 'five teachings and ten tenets.' => (j: Kegon gokyōshō; e: The Huayan Wujiao zhang "Essay on the Five Teachings of Huayen). Tên gọi đầy đủ là Hoa Nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phần tế chương 華嚴一乘教義分齋章, và thường được gọi tắt là Ngũ giáo chương (c: Wujiao zhang 五教章). Gồm 3 hoặc 4 quyển, do bậc thấy của tông Hoa Nghiêm là Pháp Tạng soạn. Trong tác phẩm nầy, ngài đặc biệt Giảng giải về giáo lý Nhất thừa (để phân biệt với giáo lý Tam thừa), phân tích sự tương quan sâu cạn của hai giáo lý nầy. Ngài cũng đề ra 'Ngũ giáo' và 'Thập huyền'. T 2337.72.201220. Japanese commentary on the Wujiao zhang 五教章. Commonly referred to by the abbreviated title of Shiji 指事. Hoa Nghiêm ngũ giáo chương chỉ sự 華嚴五教章指事 (k: Kegon gokyōshou shiji ; j: Kegon gokyōshō shiji) 6 quyển, của Thọ Linh (Jurei 壽靈).

hoa nghiêm ngũ giáo chỉ quán

5239全一卷。唐代華嚴宗初祖杜順撰。又稱華嚴教分記、五教分記、五教止觀。收於大正藏第四十五冊。乃詳敘華嚴五教觀門之趣入次第。五門即:(一)法有我無門,爲小乘教之止觀。(二)生即無生門,乃大乘始教之止觀。(三)事理圓融門,即大乘終教之止觀。(四)語觀雙絕門,乃大乘頓教之止觀。(五)華嚴三昧門,係一乘圓教之止觀。於小、始、終、頓、圓五教之名稱下,闡明各止觀之修相,而未判教相,然廣亙諸經,說觀門之淺深差別,而終歸依於華嚴圓教之事事無礙觀,爲後來至相、法藏等所立五教判之起因。此書傳爲杜順所撰,然書中所言多使用玄奘所傳之用語(玄奘返唐,杜順已示寂五年)並出現杜順時代並未沿用之寺名,故有本書乃法藏之華嚴遊心法界記之草稿本,及假托杜順之名仿上書所偽作等諸說。〔新編諸宗教藏總錄卷一、華嚴宗經論章疏目錄、諸宗章疏錄卷一〕 ; (華嚴五教止觀) Cũng gọi Hoa nghiêm giáo phần kí, Ngũ giáo phần kí, Ngũ giáo chỉ quán. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đỗ thuận, Sơ tổ tông Hoa nghiêm soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này trình bày rõ thứ tự thể nhập Ngũ giáo quán môn của tông Hoa nghiêm. Ngũ giáo quán môn là: 1. Pháp hữu ngã vô môn: Pháp tu chỉ quán của Tiểu thừa giáo. 2. Sinh tức vô sinh môn: Pháp tu chỉ quán của Đại thừa thủy giáo. 3. Lí sự viên dung môn: Pháp tu chỉ quán của Đại thừa chung giáo. 4. Ngữ quán song tuyệt môn: Pháp tu chỉ quán của Đại thừa đốn giáo. 5. Hoa nghiêm tam muội môn: Pháp tu chỉ quán của Nhất thừa viên giáo. Danh xưng ngũ giáo (Tiểu, Thủy, Chung, Đốn, Viên) mới chỉ nói đến tướng tu của các pháp chỉ quán, chứ chưa phân biệt giáo tướng. Nhưng căn cứ vào các kinh mà nêu rõ thứ tự từ cạn đến sâu khác nhau của Quán môn, cuối cùng qui về pháp quán Sự sự vô ngại của Hoa nghiêm Viên giáo: Đó chính là nguyên nhân đầu tiên khiến các ngài Chí tướng và Pháp tạng thành lập Ngũ thời phán giáo sau này. Tương truyền, sách này do ngài Đỗ thuận soạn, nhưng xét về ngôn ngữ trong sách thì phần nhiều là ngôn ngữ được ngài Huyền trang sử dụng (ngài Đỗ thuận đã thị tịch được 5 năm, thì ngài Huyền trang mới từ Ấn độ trở về Trung quốc), vả lại, trong sách còn có các tên chùa mà ở thời đại ngài Đỗ thuận vẫn chưa ai dùng. Bởi thế, có thuyết cho rằng sách này là bản thảo cuốn Hoa nghiêm du tâm pháp giới kí của ngài Pháp tạng, hoặc có thuyết nói về sách này bắt chước Hoa nghiêm du tâm pháp giới kí mà ngụy tạo rồi mượn tên ngài Đỗ thuận. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.1].

hoa nghiêm ngũ thập ngũ sở hội quyển

5238全一卷。又稱華嚴五十五處緣起、善財童子五十五所經歷之繪卷物、善財童子繪卷。爲繪卷本,現收藏於日本東大寺。內容係依華嚴經入法界品之說,描繪善財童子歷參五十三位善知識之典故,各段皆有北宋楊傑撰寫之入法界品讚頌。此描繪卷本於日本明治初年尚收藏齊全,然其後即散佚。今除三十七段外,皆分藏於諸家。此一繪卷爲華嚴教復興之鎌倉初期作品,題材雖然單調,描繪卻頗具用心,乃出自繪佛師之筆。同一圖式則有別本之殘闕本,或爲模倣本。另有額裝本,除東大寺收藏外,尚分藏於諸家。此外,亦有濃縮成一幅者,稱爲華嚴海會善知識圖。〔三寶繪卷三,東大寺所藏善財童子繪卷考證、世界美術全集卷十三、國寶目錄〕 ; (華嚴五十五所繪卷) Cũng gọi Hoa nghiêm ngũ thập ngũ xứ duyên khởi, Thiện tài đồng tử ngũ thập ngũ sở kinh lịch chi hội quyển vật, Thiện tài đồng tử hội quyển. Tranh vẽ, 1 quyển, hiện được cất giữ ở chùa Đông đại, Nhật bản. Nội dung họa phẩm này dựa vào phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm, miêu tả sự tích Thiện tài đồng tử lần lượt đi tham vấn 53 vị thiện tri thức. Mỗi đoạn đều có bài kệ khen ngợi phẩm Nhập pháp giới do ông Dương kiệt soạn vào đời Bắc Tống. Vào đầu năm Minh trị (1867), quyển tranh vẽ này vẫn còn được cất giữ đầy đủ ở chùa Đông đại, Nhật bản, nhưng sau đó bị thất lạc; hiện nay chỉ còn 37 đoạn, ngoài ra đều bị phân tán ở nhiều nơi. Tác phẩm này được vẽ vào đầu đời Liêm thương, tức là thời kì phục hưng Hoa nghiêm giáo, đề tài tuy đơn điệu, nhưng nhờ nét bút của các bậc thầy về hội họa, tác phẩm đã được miêu tả một cách rất công phu. Cùng một loại tranh này còn có các bản khác, nhưng bị thiếu sót hoặc chỉ là những bản mô phỏng lại mà thôi. Ngoài ra còn có loại tranh được rút gọn lại thành một bức gọi là Hoa nghiêm hải hội thiện tri thức . [X. Tam bảo hội Q.3; Đông đại tự sở tàng Thiện tài đồng tử hội quyển khảo chứng; Thế giới mĩ thuật toàn tập Q.13; Quốc bảo mục lục].

hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp

5239凡二卷。唐代智儼集。又稱要義問答、華嚴問答、華嚴經問答。收於卍續藏第一○二冊。係以五十三條問答敘述華嚴一乘之要義。〔新編諸宗教藏總錄卷一、諸宗章疏錄卷一〕 ; (華嚴五十要問答) Cũng gọi Yếu nghĩa vấn đáp, Hoa nghiêm vấn đáp, Hoa nghiêm kinh vấn đáp. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Trí nghiễm biên tập vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 102. Nội dung tập sách nhỏ này dùng 53 điều vấn đáp để trình bày nghĩa cốt yếu của Hoa nghiêm nhất thừa. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Chư tông chương sớ lục Q.1].

hoa nghiêm ngũ vi

5241請參閱 華嚴五教章義苑 [1]指佛陀宣說華嚴經之五種目的,即;(一)正爲,佛說華嚴經,乃爲不思議乘菩薩說,而不爲餘眾生說。(二)兼爲,佛說華嚴經,兼爲未悟入之眾生,因聽聞而能起信佛法、薰成佛種。(三)引爲,佛因權教菩薩不信受圓融之法,故以三乘之名,寄十地之位,引導其起修,以漸顯圓融之法勝。(四)權爲,諸菩薩權巧示現二乘之人於法會中,以顯明小乘根機者亦可悟入華嚴一乘圓頓之法。(五)遠爲,一切凡夫、外道,闡提等皆有佛性,今雖不信受,然尚知有法可謗,以其知有法,故將來必當信受。 ; (華嚴五爲) Vì 5 mục đích mà đức Phật tuyên thuyết kinh Hoa nghiêm. 1. Chính vị: Vì hàng Bồ tát thừa bất tư nghị mà đức Phật nói kinh Hoa nghiêm, chứ không phải vì các chúng sinh khác. 2. Kiêm vị: Vì cả chúng sinh chưa ngộ nhập mà đức Phật nói kinh Hoa nghiêm cho họ nghe để nhờ đó mà họ có thể khởi lòng tin đối với Phật pháp và huân tập hạt giống Phật. 3. Dẫn vị: Vì hàng Bồ tát quyền giáo không tin nhận pháp viên dung, nên đức Phật dùng tên Tam thừa, đặt ra ngôi vị Thập địa mà dẫn dắt họ, để dần dần hiển bày pháp viên dung thù thắng. 4. Quyền vị: Các vị Bồ tát dùng phương tiện quyền xảo, thị hiện tướng Nhị thừa ở trong pháp hội, để chứng tỏ rằng căn cơ Tiểu thừa cũng có thể ngộ nhập được pháp viên đốn Nhất thừa của Hoa nghiêm. 5. Viễn vị: Tất cả phàm phu, ngoại đạo, Xiển đề, v.v... đều có tính Phật, nay tuy họ không tin nhận, nhưng vẫn biết có pháp để hủy báng; vì họ biết có pháp nên trong tương lai chắc chắn họ sẽ tin nhận.

Hoa Nghiêm nhất thừa pháp giới đồ 華嚴一乘法界圖

[ja] ケゴンイチジョウホッカイズ Kegon ichijō hokkai zu ||| Hwaŏm ilsŭng pŏpgye to; (Chart of the Dharmaworld of the Single Vehicle of the Huayen), by Ŭisang 義湘. T 1887A.45.711a716a. =>(j: Kegon ichijō hokkai zu; k: Hwaŏm ilsŭng pŏpgye to; e: Chart of the Dharmaworld of the Single Vehicle of the Huayen), của Nghĩa Tương (k:Ŭisang 義湘). T 1869.45.519a536b. Hoa Nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp 華嚴五十要問答 (j: Kegon gojū yō mondō; c: Huayen wushih yao wenta); 2 quyển, của Trí Nghiễm (c: Zhiyan 智儼).

hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn

5235全一卷。唐代華嚴宗初祖杜順說,智儼撰。又稱華嚴經十玄門、華嚴十玄章。收於大正藏第四十五冊。本書係就如來海印三昧之所現而立十門,發揮其玄旨。十門爲:(一)同時具足相應門,(二)因陀羅網境界門,(三)祕密隱顯俱成門,(四)微細相容安立門,(五)十世隔法異成門,(六)諸藏純雜具德門,(七)一多相容不同門,(八)諸法相即自在門,(九)唯心迴轉善成門,(十)託事顯法生解門。此十門各具教義、理事、解行、因果、人法、分齊境位、法智師弟、主伴依正、逆順體用、隨生根欲性等十義,總成百門,以顯示重重無盡之義。〔華嚴宗經論章疏目錄〕 ; (華嚴一乘十玄門) Cũng gọi Hoa nghiêm kinh thập huyền môn, Hoa nghiêm thập huyền chương. Tác phẩm 1 quyển, do ngài Đỗ thuận giảng thuyết, ngài Trí nghiễm biên soạn vào đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này dựa theo Như lai hải ấn Tam muội mà lập ra 10 huyền môn và phát huy ý chỉ sâu xa của các môn ấy. Đó là: 1. Đồng thời cụ túc tương ứng môn. 2. Nhân đà la võng cảnh giới môn. 3. Bí mật ẩn hiện câu thành môn. 4. Vi tế tương dung an lập môn. 5. Thập thế cách pháp dị thành môn. 6. Chư tạng thuần tạp cụ đức môn. 7. Nhất đa tương dung bất đồng môn. 8. Chư pháp tương tức tự tại môn. 9. Duy tâm hồi chuyển tự thành môn. 10. Thác sự hiển pháp sinh giải môn. Mười môn trên, mỗi môn đều có đủ 10 nghĩa: Giáo nghĩa, lí sự, giải hành, nhân quả, nhân pháp, phân tề cảnh vị, pháp trí sư đệ, chủ bạn y chính, nghịch thuận thể dụng và tùy sinh căn dục tính. Tổng cộng thành 100 môn, được dùng để giải thích rõ nghĩa trùng trùng vô tận của kinh Hoa nghiêm. [X. Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục].

hoa nghiêm nhứt thừa

Tất cả chúng sanh nhờ một đạo duy nhất mà thành Phật, hay tất cả đều y nương theo Hoa Nghiêm Nhứt Thừa mà thành Phật đạo—The One Vehicle of Hua-Yen (Avatamsaka-yana) for bringing all to Buddhahood.

hoa nghiêm niệm phật tam muội vô tận đăng

5244全一卷。宋代圓澄義和撰於乾道元年(1165)。僅存序文,收於大正藏第四十七冊樂邦文類卷二。義和住於杭州慧因教院,繼承淨源之教觀雙修學風,而視華嚴之相即相入、圓融無礙之教義,爲佛與眾生交融、淨土與穢土融通之教,且以華嚴觀門之普賢行即於心中稱念阿彌陀佛,並稱之爲華嚴融通念佛法門,故撰成此書。 ; (華嚴念佛三昧無盡燈) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Viên trừng Nghĩa hòa soạn vào niên hiệu Càn đạo năm đầu (1165) đời Tống, được đưa vào Đại chính tạng tập 47, hiện chỉ còn bài tựa trong Lạc bang văn loại quyển 2. Ngài Nghĩa hòa trụ ở Giáo viện Tuệ nhân tại Hàng châu, nối tiếp học phong Giáo quán song tu của ngài Tịnh nguyên, xem giáo nghĩa tương tức tương nhập, viên dung vô ngại của kinh Hoa nghiêm là giáo pháp giao thoa giữa Phật và chúng sinh, dung thông giữa Tịnh độ và Uế độ; hơn nữa, cho hạnh Phổ hiền của môn quán Hoa nghiêm tức là sự xưng niệm Phật A di đà ở trong tâm và gọi đó là Hoa nghiêm dung thông niệm Phật pháp môn, vì thế nên soạn thành sách này.

hoa nghiêm phái

Hua-yen p'ai (C), Kegon(J), Huayen (C)Tên một tông phái.

hoa nghiêm pháp giới

Realm of Dharma—The plan of Avatamsaka—See Dharmadhatu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

Hoa Nghiêm pháp giới huyền cảnh 華嚴法界玄鏡

[ja] ケゴンホッカイゲンキョウ Kegon hokkai genkyō ||| Huayan fajie xuanjing; 2 fasc., by Chengguan 澄觀. T 1883.45.672683. => (j: Kegon hokkai genkyō; c:Huayan fajie xuanjing); 2 quyển, của Trừng Quán (c: Chengguan 澄觀).

hoa nghiêm pháp giới huyền kính

5247凡二卷。唐代澄觀撰。又稱華嚴法界觀玄鏡、法界玄鏡、玄鏡。收於大正藏第四十五冊。爲華嚴宗初祖杜順所撰華嚴法界觀門之注釋書。本書作於華嚴大疏之後。書名玄鏡,係根據「一鏡攝九鏡」之譬喻而來。內容係就杜順所說之真空觀、理事無礙觀、周遍含容觀等法界三觀,而述說四法界,以明示法界之相有三,而總具四種之理。又主張十玄門係出自周遍含容觀之十門等。宗密之注華嚴法界觀門即承本書而作之簡要注釋,而華嚴法界觀門之廣爲流布,可謂深受此二書之影響。 ; (華嚴法界玄鏡) Cũng gọi Hoa nghiêm pháp giới quán huyền kính, Pháp giới huyền kính, Huyền kính.Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Trừng quán soạn vào đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 45. Sách này được soạn sau Hoa nghiêm đại sớ để chú thích bộ Hoa nghiêm pháp giới quán môn của ngài Đỗ thuận. Tên Huyền kính (gương huyền diệu) là căn cứ theo thí dụ Nhất kính nhiếp cửu kính (một tấm gương thu nhiếp 9 tấm gương) mà ra. Nội dung sách này dựa theo 3 phép quán pháp giới: Chân không, Lí sự vô ngại và Chu biến hàm dung của ngài Đỗ thuận mà trình bày 4 pháp giới để chỉ rõ pháp giới có 3 tướng, nhưng đều đầy đủ 4 lí. Đồng thời cho rằng Thập huyền môn chính là xuất phát từ 10 môn của Chu biến hàm dung quán. Tác phẩm chú Hoa nghiêm pháp giới quán môn của ngài Tông mật chính là nối theo sách Huyền kính này mà chú thích Hoa nghiêm pháp giới quán môn. Và nhờ ảnh hưởng của Huyền kính và Chú Hoa nghiêm pháp giới quán môn mà bộ Hoa nghiêm pháp giới quán môn của ngài Đỗ thuận được lưu hành rộng rãi.

hoa nghiêm pháp giới nghĩa kính

5247凡二卷。日僧凝然撰。又稱華嚴宗要。係敘述華嚴宗之宗要。內容分爲教興意致、辨釋名字、出其體性、顯示行相、觀行狀貌、立教開宗、本經說相、修證次第、所憑典籍、宗緒相承等十門。於元錄八年(1695)刊行。 ; (華嚴法界義鏡) Cũng gọi Hoa nghiêm tông yếu. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Ngưng nhiên, vị tăng Nhật bản soạn và ấn hành vào năm Nguyên lộc thứ 8 (1695). Nội dung trình bày về cương yếu của tông Hoa nghiêm, chia làm 10 môn: Biện thích danh tự, Xuất kì thể tính, Hiển thị hành tướng, Quán hạnh trạng mạo, Lập giáo khai tông, Bản kinh thuyết tướng, Tu chứng thứ đệ, Sở bằng điển tịch và Tông tự tương thừa.

hoa nghiêm pháp giới quán môn

5248全一卷。唐代華嚴宗初祖杜順撰。全稱修大方廣佛華嚴法界觀門。又稱華嚴法界觀、法界觀門。本書缺單行本,然注疏有華嚴法界玄鏡二卷(澄觀)、註華嚴法界觀門一卷(宗密),而以此等注本行世,皆收於大正藏第四十五冊。本書記述華嚴法界之觀法;有真空觀、理事無礙觀、周遍含容觀三種:(一)真空觀即四法界中之理法界觀,於此觀法中,另開四句十門以闡釋之,有會色歸空觀(四門)、明空即色觀(四門)、空色無礙觀、泯絕無寄觀四句十門。(二)理事無礙觀即理事無礙法界觀,此觀之下復分十門加以說明,有理遍於事門、事遍於理門、依理成事門、事能顯理門、以理奪事門、事能隱理門、真理即事門、事法即理門、真理非事門、事法非理門等十門。(三)周遍含容觀即事事無礙法界觀,此觀亦開十門以說明,有理如事門、事如理門、事含理事門、通局無礙門、廣陿無礙門、遍容無礙門、攝入無礙門、交涉無礙門、相在無礙門、溥融無礙門等十門。後澄觀又於此三種法界觀法之外,另加「事法界」而說爲「四法界」。〔新編 悕v教藏總錄卷一、華嚴宗經論章疏目錄、諸宗章疏錄卷一、卷二〕(參閱「法界觀門」3372) ; (華嚴法界觀門) Gọi đủ: Tu đại phương quảng Phật Hoa nghiêm pháp giới quán môn. Cũng gọi Hoa nghiêm pháp giới quán, Pháp giới quán môn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đỗ thuận soạn vào đời Đường. Nội dung sách này tường thuật về 3 pháp quán của Hoa nghiêm pháp giới: 1. Chân không quán. 2. Lí sự vô ngại quán. 3. Chu biến hàm dung quán. Về các chú sớ của sách này thì có: Hoa nghiêm pháp giới huyền kính 2 quyển của ngài Trừng quán, Chú Hoa nghiêm pháp giới quán môn 1 quyển của ngài Tông mật; cả 2 bản chú sớ này đều được thu vào Đại chính tạng tập 45. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.1; Q.2]. (xt. Pháp Giới Quán Môn).

hoa nghiêm tam muội

5237請參閱 四十二字觀門 三昧,即定。指供佛、教化、十度等行所依之定。又作佛華嚴三昧、華嚴定、佛華三昧。修此定乃以一真法界無盡緣起爲理趣,爲達此理趣而修萬行,莊嚴佛果,稱爲華嚴;一心修之,稱爲三昧。此三昧乃統攝法界,入一切佛法之大三昧。據舊華嚴經卷三十六離世間品載,普賢菩薩正受三昧,其三昧名爲佛華嚴。華嚴遊心法界記釋此三昧,以「華」有生實作用,而釋華爲菩薩萬行;以「嚴」爲行成果滿契合相應,垢障永消,證理圓潔;以「三昧」爲理智無二,交徹鎔融,彼此俱亡,能、所皆絕。又謂華即嚴,以理智無礙故;華嚴即三昧,以行融離見故;或華即嚴,以一行頓修一切行故;華嚴即三昧,一行即多而不礙一多故;或華嚴即三昧,以定亂雙融故;或三昧即華嚴,以理智如如故。若將此三昧與「海印三昧」相對照,則此三昧乃約解行而言,係從因而立名,海印三昧係依果而立。然因果本無二,故此二者爲一體之二用。唐代法藏著「妄盡還源觀」,即謂自性清淨圓明之體有二用,一爲海印森羅常住之用,即海印三昧;一爲法界圓明自在之用,即華嚴三昧。〔無量壽經卷上、華嚴經探玄記卷十七、華嚴經疏卷五、卷十六、華嚴五教止觀〕(參閱「海印三昧」4165) ; Phật Hoa Nghiêm Tam Muội hay tam muội Phật, coi duyên khởi vô tận của nhất chân pháp giới là một pháp giới tinh thần trường cửu mà tất cả các hoạt động của Phật đều mở ra từ đó—The Buddha-samadhi of an eternal spiritual realm from which all Buddha activities are evolved. ; (華嚴三昧) Cũng gọi Phật Hoa nghiêm tam muội, Hoa nghiêm định, Phật hoa tam muội. Tam muội tức là định. Tu định Hoa nghiêm này, lấy Nhất chân pháp giới vô tận duyên khởi làm lí để đạt tới, vì muốn đạt lí ấy nên tu vạn hạnh, trang nghiêm quả Phật, gọi là Hoa nghiêm; nhất tâm tu hành, gọi là tam muội. Tam muội này bao nhiếp pháp giới, là Đại tam muội vào tất cả Phật pháp. Cứ theo phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 36, thì bồ tát Phổ hiền vào Tam muội, Tam muội ấy gọi là Phật Hoa nghiêm. Hoa nghiêm du tâm Pháp giới kí giải thích Tam muội này, cho rằng Hoa là muôn hạnh của Bồ tát, Nghiêm là hạnh thành quả mãn khế hợp tương ứng, vĩnh viễn tiêu trừ cấu chướng, chứng lí viên dung thanh tịnh; Tam muội là lí và trí không hai, viên dung giao triệt, năng sở đều mất. Sách này còn nêu ra nhiều giải thích khác như: Hoa tức là Nghiêm, vì lí và trí không trở ngại nhau hoạc Hoa tức là Nghiêm, vì tu một hạnh tức đốn tu tất cả hạnh; Hoa nghiêm tức Tam muội, vì một hạnh tức nhiều hạnh mà một và nhiều không ngăn ngại nhau; hoặc Hoa nghiêm tức Tam muội, vì định và loạn dung hợp nhau; hoặc Tam muội tức Hoa nghiêm, vì lí và trí như như. Nếu đối chiếu Hoa nghiêm tam muội này với Hải ấn tam muội, thì Tam muội này, về mặt giải hành, là nhân, mà tam muội Hải ấn là quả; nhân và quả vốn không hai, nên 2 tam muội này là 2 dụng của 1 thể. Trong thuyết Vọng tận hoàn nguyên quán , ngài Pháp tạng cho rằng thể của tự tính thanh tịnh viên minh có 2 dụng: 1. Dụng của Hải ấn sum la thường trụ, tức là Hải ấn tam muội. 2. Dụng của Pháp giới viên minh tự tại, tức là Hoa nghiêm tam muội. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17; Hoa nghiêm kinh sớ Q.5, Q.16; Hoa nghiêm ngũ giáo chỉ quán]. (xt. Hải Ấn Tam Muội).

hoa nghiêm tam muội quán

5238全一卷。唐代法藏(643~712)述。本書即法藏所撰華嚴經傳記卷五所載「華嚴三昧觀一卷十門」。係就發菩提心章與華嚴三昧章之關係,而對杜順之法界觀門作論諍。其內容存否,說法各異。一說現存之三昧章即原三昧觀,而三昧觀再加上觀門,即爲發菩提心章。另有一說謂發菩提心章刪除觀門,則爲三昧章,與三昧觀並不相同。〔東域傳燈目錄卷上、諸宗章疏錄卷一〕 ; (華嚴三昧觀) Tác phẩm 1 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường. Sách này tức là Hoa nghiêm tam muội quán nhất quyển thập môn được chép trong bộ Hoa nghiêm kinh truyện kí quyển 5 (của ngài Pháp tạng). Sách này căn cứ vào sự quan hệ giữa chương Phát bồ đề tâm và chương Hoa nghiêm tam muội để tranh luận với Pháp giới quán môn của ngài Đỗ thuận. Về nội dung của sách này, có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng chương Tam muội hiện còn vốn là Tam muội quán; mà Tam muội quán thêm Quán môn vào, tức là chương Phát bồ đề tâm. Lại có thuyết cho rằng chương Phát bồ đề tâm, nếu bỏ bớt Quán môn, thì tức là chương Tam muội, mà chương Tam muội này không giống với Tam muội quán. [X. Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng; Chư tông chương sớ lục Q.1].

hoa nghiêm tam thánh

5238即華嚴經所指華藏世界之三位聖者。(一)毘盧遮那佛,毘盧遮那意爲遍一切處。謂佛之煩惱體淨,眾德悉備,身土相稱,遍一切處,能爲色相所作依止,具無邊際真實功德,是一切法平等實性;即此自性,又稱法身。(二)普賢菩薩,以其居伏道之頂,體性周遍,故稱普;斷道之後,鄰於極聖,故稱賢。(三)文殊師利菩薩,文殊師利意爲妙德。以其明見佛性,具足法身、般若、解脫三德,不可思議,故稱妙德。毘盧遮那佛理智完備,居中位;文殊菩薩主智門,立於毘盧遮那佛之左;普賢菩薩主理門,位於毘盧遮那佛之右。轉之則右爲智,左爲理時,顯示理智之涉入胎藏界曼陀羅。 關於三聖之關係,據澄觀所著三聖圓融觀門載,三聖之內,以二聖爲因,以如來爲果,然因果德超越言語思想,故宜自「二因」悟解之;若悟二因之玄微,則知果海之深妙。新華嚴經論卷三謂,華嚴經中以佛果爲不可說,故以文殊、普賢二菩薩爲說主,其中以能信之深心爲文殊,所信之法界爲普賢。蓋文殊勸修,成法身之本智;普賢大行,成差別智之行德。故以文殊、普賢配合毘盧遮那佛,共爲華嚴三聖,利樂一切眾生。〔華嚴決疑論卷一上、華嚴佛光三昧觀祕寶藏卷上、華嚴法界義鏡卷上、三聖圓融觀義顯卷二〕 ; Ba vị Vua trong Hoa Nghiêm, Phật Tỳ Lô Giá Na ở giữa, Phổ Hiền bên trái và Văn Thù bên phải—The three kings in Avatamsaka, Vairocana in the center, Samantabhadra in the left, and Manjusri in the right. ; (華嚴三聖) Chỉ cho 3 bậc Thánh của thế giới Hoa tạng nói trong kinh Hoa nghiêm: Phật Tì lô giá na, bồ tát Phổ hiền và bồ tát Văn thù. 1. Phật Tì lô giá na: Tì lô giá na nghĩa là trùm khắp tất cả mọi nơi; đầy đủ các đức, thân và quốc độ tương xứng, là chỗ nương tựa cho các sắc tướng, vô lượng công đức chân thật, là thực tính bình đẳng của tất cả pháp; tự tính này cũng gọi là Pháp thân. 2. Bồ tát Phổ hiền: Thể tính trùm khắp nên gọi là Phổ; địa vị gần với bậc Thánh nên gọi là Hiền. 3. Bồ tát Văn thù sư lợi: Văn thù sư lợi nghĩa là Diệu đức, vì ngài đã thấy rõ tánh Phật, đầy đủ 3 đức Pháp thân, Bát nhã và Giải thoát bất khả tư nghị, cho nên gọi là Diệu đức. Đức Phật Tì lô giá na đủ cả Lí và Trí, ở ngôi vị chính giữa; bồ tát Văn thù chủ về Trí, đứng ở bên trái; bồ tát Phổ hiền chủ về Lí, đứng ở bên phải. Khi chuyển đổi bên phải là Trí, bên trái là Lí thì hiển bày Lí và Trí hòa nhập vào Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Về sự quan hệ của 3 bậc Thánh, cứ theo Tam thánh viên dung quán môn của ngài Trừng quán, thì 2 vị Bồ tát là Nhân, đức Phật Tì lô giá na là Quả. Nhưng vì Phật quả siêu việt ngôn ngữ, tư tưởng, cho nên phải từ 2 nhân Lí và Trí mà ngộ giải; nếu ngộ được lẽ huyền vi của 2 Nhân này thì biết được chỗ sâu xa mầu nhiệm của Phật quả. Cứ theo Tân Hoa nghiêm kinh luận quyển 3, thì kinh Hoa nghiêm cho Phật quả là bất khả thuyết, vì thế mới lấy 2 vị bồ tát Văn thù và Phổ hiền làm chủ thuyết pháp, trong đó lấy thân tâm năng tín làm Văn thù, pháp giới sở tín làm Phổ hiền. Bởi vì sự khuyến tu của ngài Văn thù thành trí căn bản của Pháp thân, còn công hạnh của ngài Phổ hiền thì thành đức của trí sai biệt. Bởi thế, đem 2 ngài Văn thù và Phổ hiền phối hợp với đức Phật Tì lô giá na mà thành Hoa Nghiêm Tam Thánh, lợi lạc hết thảy chúng sinh. [X. luận Hoa nghiêm quyết nghi Q.1 phần trên; Hoa nghiêm Phật quang tam muội quán bí bảo tạng Q.thượng; Hoa nghiêm pháp giới nghĩa kính Q.thượng; Tam thánh viên dung quán nghĩa hiển Q.2].

hoa nghiêm tam vương

See Hoa Nghiêm Tam Thánh.

hoa nghiêm tháp

5250位於江蘇金山縣松隱鎮東北。松隱禪院創建於元代,有寺僧書寫華嚴經八十一卷,募款造華嚴塔。明代洪武十三年(1380)興工,歷四年完成,亦名松隱塔。塔爲磚木構造,七層方形,聳立於黃浦江南岸。此類磚木構造之方塔,於明代較爲少見。 ; (華嚴塔) Cũng gọi Tùng ẩn tháp. Ngôi tháp ở mạnđông bắc thị trấn Tùng ẩn, huyện Kim sơn, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Ở thị trấn Tùng ẩn có một Thiền viện được sáng lập vào đời Nguyên, cũng lấy tên là Thiện viện Tùng ẩn. Chư Tăng trong Thiền viện sao chép bộ kinh Hoa nghiêm (81 quyển) và muốn xây cất một tòa tháp để tôn trí kinh. Cho nên vào năm Hồng vũ 13 (1380) đời Minh khởi công xây tháp và 4 năm sau thì hoàn thành. Tháp bằng gỗ và gạch, hình vuông, 7 tầng, đứng sừng sững ở Nam ngạn sông Hoàng phố. Loại tháp hình vuông làm bằng gạch và gỗ này rất ít thấy ở đời Minh.

hoa nghiêm thần chú

Avatamsaka mantra (S)Gồm 42 âm Phạn ngữ trong kinh Bát nhã Ba la mật.

hoa nghiêm thập dị

5236請參閱 華嚴五教章義苑 [1]請參閱 華嚴五教章 請參閱 華嚴五教章 請參閱 華嚴五教章復古記 請參閱 華嚴五教章義苑 指華嚴經與他經之十種相異之相。華嚴一乘教義分齊章卷一概括諸異相爲十門,以顯華嚴法界之重重無盡,且稱華嚴經爲一乘教義,以別於三乘。此十異即:(一)時異,謂此一乘教義在初時二七日中宣說,猶如日出先照高山;又於此初時攝一切時,無前際、後際之隔;三乘則以隨逐機宜而時不定,未能於一時攝一切時。(二)處異,謂此一乘教義在蓮華藏世界海中眾寶莊嚴之菩提樹下被宣說,如此則攝七處八會等,及其餘不可說不可說之諸世界海於此中;亦即以此一處攝一切處。而三乘教義乃於娑婆界木樹等處宣說,亦無一處即一切處之義。(三)主異,謂此一乘教義是盧舍那十身佛及無盡三世間所說;亦即佛說、菩薩說、剎說、眾生說、三世一切說等;而三乘教義乃化身及受用身等所說。(四)眾異,謂此一乘經首唯列舉普賢等菩薩及佛境界中之諸神王眾,而不同於三乘經之或列聲聞眾,或列大小二眾等。(五)所依異,謂此一乘教起,依佛之海印三昧中出,而不同於三乘教等依佛之後得智出。(六)說異,謂此一乘教義於此一方說一事、一義、一品、一會等時,必賅通十方一切世界皆同此說,具足主伴而共成一部;三乘教義則但隨一方一相說,而無主伴賅通之義。(七)位異,謂此一乘教義之所有位相上下皆齊,於一一位中攝一切位,是故乃至佛等諸位,亦在信等位中,餘位亦然;三乘教義則但隨當位上下階降,皆不相雜。(八)行異,謂於一乘教隨一菩薩而修,則具信等六位,於一一位中,所有定散等差別行相皆於一時遍修;然於三乘教,「十地」以上各階位之菩薩猶各有等別差異,則「十地」以前之菩薩更無法一時遍修。(九)法門異,謂雖有無量之異門,然此經略舉如下十種:十佛、十通、十明、十解脫、十無畏,十眼,十世、十諦、十辯、十不共法,以別於其他三乘經之三佛、六通、三明、八解脫、四無畏、五眼、三世、四諦、四辯、十八不共法等,此中之「十」即用以顯無盡之意。(十)事異,謂此一乘教義法性恆如,隨於舍林、地山等事象,皆是法門;或行、位,或教義等,於一一塵中皆具足法界一切差別事。不同於三乘教義之但說「即空」、「即真如」等。 ; (華嚴十異) Mười tướng khác nhau giữa kinh Hoa nghiêm và các kinh khác. Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa phân tề chương quyển 1 tổng quát các tướng khác nhau ấy thành 10 môn để hiển bày lí trùng trùng vô tận của pháp giới Hoa nghiêm và gọi kinh Hoa nghiêm là giáo nghĩa Nhất thừa để phân biệt với Tam thừa. Mười tướng khác nhau là: 1. Khác nhau về thời (Thời dị): Giáo nghĩa Nhất thừa này do đức Thế tôn nói ở thời đầu tiên trong 14 ngày, cũng như mặt trời mới mọc, trước hết chiếu trên núi cao; lại ở thời đầu tiên này bao nhiếp tất cả thời, không có khoảng cách giữa trước và sau. Còn Tam thừa thì vì tùy theo căn cơ mà thời không nhất định, nên chưa thể nhất thời thu nhiếp tất cả thời. 2. Khác nhau về nơi chỗ (Xứ dị): Nơi đức Phật nói giáo nghĩa Nhất thừa này là ở gốc cây Bồ đề trong Liên hoa tạng thế giới hải được trang nghiêm bằng các thứ quí báu, gồm thu cả 7 chỗ, 8 hội và vô lượng thế giới hải khác ở trong đó, cũng tức là một chỗ này bao nhiếp tất cả chỗ. Còn giáo nghĩa Tam thừa thì chỉ được nói ở các gốc cây trong thế giới Sa bà, mà cũng không có nghĩa là một chỗ tức tất cả chỗ. 3. Khác nhau về chủ (Chủ dị): Giáo nghĩa Nhất thừa này do 10 thân Phật Lô giá na và vô tận thân Phật 3 thế gian tuyên nói, tức là Phật, Bồ tát, cõi nước, chúng sinh, tất cả 3 đời cùng nói; còn giáo nghĩa Tam thừa thì chỉ do Hóa thân và Thụ dụng thân của Phật tuyên nói. 4. Khác nhau về thính chúng (Chúng dị): Thính chúng nghe kinh Nhất thừa này là các vị Bồ tát như Phổ hiền, v.v... và các vị Thần vương trong cảnh giới Phật; khác với thính chúng của các kinh Tam thừa, hoặc là các vị Thanh văn, hoặc là 2 chúng Đại thừa và Tiểu thừa. 5. Khác nhau về chỗ nương (Sở y dị): Giáo nghĩa Nhất thừa nương vào Hải ấn tam muội của Phật mà được nói ra; còn giáo nghĩa Tam thừa thì y cứ vào Hậu đắc trí của Phật. 6. Khác nhau về tuyên thuyết (Thuyết dị): Khi tuyên nói một nghĩa, một phẩm, một hội, v.v... của giáo nghĩa Nhất thừa ở một phương thì tất cả thế giới trong 10 phương cũng đều nói như vậy, đầy đủ chủ, bạn mà thành một bộ; còn giáo nghĩa Tam thừa thì tùy theo mỗi phương, mỗi tướng mà nói ch không bao gồm chủ và bạn. 7. Khác nhau về giai vị (Vị dị): Trong giáo nghĩa Nhất thừa, từ quả vị Phật đến các giai vị Thập tín, v.v... đều bằng nhau, trong một vị bao nhiếp tất cả vị; còn giáo nghĩa Tam thừa thì có phân biệt các thứ bậc trên dưới rõ ràng, không lẫn lộn được. 8. Khác nhau về tu hành (Hành dị): Trong giáo nghĩa Nhất thừa, Bồ tát tu một vị là gồm đủ cả 6 giai vị (Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Phật địa) trong mỗi một giai vị, cùng lúc gồm tu tất cả hành tướng sai biệt Định, Tán. Nhưng trong giáo nghĩa Tam thừa thì từ giai vị Bồ tát Thập địa trở lên vẫn còn có sự sai khác, còn giai vị Bồ tát từ Thập địa trở xuống thì không thể cùng một lúc gồm tu đầy đủ được. 9. Khác nhau về pháp môn (Pháp môn dị): Tuy có vô lượng pháp môn khác nhau, nhưng kinh Nhất thừa giáo chỉ nêu sơ lược 10 môn: Thập Phật, Thập thông, Thập minh, Thập giải thoát, Thập vô úy, Thập nhãn, Thập thế, Thập đế, Thập biện và Thập bất cộng pháp, để phân biệt với 10 môn: Tam Phật, Lục thông, Tam minh, Bát giải thoát, Tứ vô úy, Ngũ nhãn, Tam thế, Tứ đế và Thập bát bất cộng pháp. Chữ Thập (10) ở đây được dùng để hiển bày ý nghĩa vô tận. 10. Khác nhau về sự (Sự dị): Pháp tính hằng như của giáo nghĩa Nhất thừa, tùy theo những sự vật, hiện tượng như nhà cửa vườn rừng, núi non, đất liền, v.v... đều là pháp môn; hoặc hạnh, hoặc vị, hoặc giáo nghĩa, trong mỗi một hạt bụi đều đầy đủ tất cả sự vật sai biệt của pháp giới; không giống như giáo nghĩa Tam thừa chỉ nói Tức không , Tức chân như ….

hoa nghiêm thập nghĩa

5236爲華嚴宗「十玄緣起」所依之十項要目。十玄緣起與「六相圓融」並爲華嚴宗基本教義「法界緣起」之核心內容。法界緣起即在說明宇宙一切現象界事事物物間相即相入而又圓融無礙之和諧關係,此種「一」與「多」相即相入、「自」與「他」互遍相資之無窮玄妙關係乃華嚴宗思想、教義之最大特色,而與其他「賴耶緣起」、「真如緣起」等並爲佛教緣起學說之重要教理。十玄緣起即華嚴宗爲說明法界緣起所揭出之十個玄妙的緣起法門,有古十玄與新十玄兩種,分別爲華嚴宗二祖智儼、三祖法藏所創說。無論古十玄或新十玄,其一一之法門均須透過具體之事物或法理,方能說明現象界之間各種圓融玄妙關係之相狀,此即華嚴十義。 此十義,於華嚴探玄記卷一、華嚴五教章卷中、華嚴旨歸等諸書中均詳加論述,然各書所列舉名目略有出入。若據華嚴五教章卷中所載,則爲:(一)教義,總攝一乘、三乘乃至五乘等之一切教義。教,指具有詮釋功能之音聲、名言、句文等;義,指所詮釋之一切義理。於三乘教中,教與義判然有別;然若入於一乘教中,則教與義於一時之間相應相即。(二)理事,理,爲各種事相所依之真理;事,指色身等各種事相。於三乘教中,理與事各自相異;然於一乘教中,理即事,事即理,彼此交融互入而無礙。(三)解行,解,悟解之意;行,修行之意。三乘教法中,解與行各爲證悟過程之一部分;於一乘教中,解與行,猶如一體之兩面,互賅互攝,相即相入。(四)因果,就證悟佛道而言,因,泛指所有的修行過程;果,指契達於極致之境地。於小乘教法中,以「七方便」爲因,以「四沙門果」爲果;三乘教法中,「等覺」以前之各階位爲因,「妙覺」爲果;於一乘圓教之中,則普賢菩薩之各種行願爲因,遮那佛之圓滿成就爲果。(五)人法,人,指佛、菩薩,乃至歷代諸論師、師家等;法,即上述諸人所宣說之各種法門要旨。於三乘教,人與法各有別異;於華嚴一乘中,人法共融而相互彰顯。(六)分齊境位,於法界中,一一之法各有分位界限,不相混淆參雜。(七)師弟法智,師,能開啟化導之人;弟,被師家開啟化導而能與之相輔相成者;法,指所了知之事理;智,指能了知事理之智慧。(八)主伴依正,於萬法之中,隨舉一法爲主,其餘諸法爲伴,則主與伴互爲依正。(九)隨生根欲示現,謂聖者隨順各類眾生之根機欲樂而示現化導;眾生之根機欲樂爲「感」,聖者之示現爲「應」,感應道交,共融一體。(十)逆順體用自在,逆,如貪、瞋、癡等三毒爲逆法界;順,如忍辱、精進等六波羅蜜爲順法界;體,指理事諸法之真如本體;用,指應現於外之作用。謂各種逆順法界之體與用,自在相應,互爲緣起,無窮無盡。〔華嚴經隨疏演義鈔卷十、華嚴一乘十玄門、華嚴玄談卷六〕(參閱「十玄門」416) ; (華嚴十義) Mười nghĩa căn bản làm chỗ nương tựa cho Thập huyền duyên khởi của tông Hoa nghiêm. Mười nghĩa này được giải thích rõ ràng trong các tác phẩm: Hoa nghiêm thám huyền kí quyển 1, Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển trung và Hoa nghiêm chỉ qui, nhưng về danh mục thì có hơi khác nhau. Cứ theo Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển trung, thì 10 nghĩa là: 1. Giáo nghĩa: Giáo, chỉ cho tiếng nói, tên gọi, câu văn, v.v... có công năng giải thích rõ ràng; Nghĩa, chỉ cho tất cả nghĩa lí được giải thích rõ ràng. Giáo nghĩa Hoa nghiêm tóm thu tất cả giáo nghĩa từ Nhất thừa, Tam thừa cho đến Ngũ thừa. Trong Tam thừa giáo, Giáo và Nghĩa hiển nhiên có khác nhau, nhưng trong Nhất thừa giáo thì Giáo và Nghĩa tương ứng tương tức trong cùng một lúc. 2. Lí sự: Lí là chân lí làm chỗ nương tựa cho các sự tướng. Sự chỉ cho các sự tướng như sắc thân, v.v...… Trong Tam thừa giáo, Lí và Sự đều khác nhau; nhưng trong Nhất thừa giáo thì Lí tức Sự, Sự tức Lí, Lí, Sự viên dung vô ngại. 3. Giải hành: Giải nghĩa là giải ngộ; Hành nghĩa là tu hành. Trong giáo pháp Tam thừa, Giải và Hành mỗi việc là một phần của quá trình chứng ngộ; nhưng trong Nhất thừa giáo thì Giải và Hành giống như 2 mặt của một vật thể, dung nhiếp lẫn nhau, tương tức tương nhập. 4. Nhân quả: Đứng về phương diện chứng ngộ Phật đạo mà nói, thì Nhân chỉ chung cho quá trình tu hành; Quả là chỉ cho cảnh giới rốt ráo đạt được. Trong giáo Pháp Tiểu thừa, lấy Thất phương tiện làm Nhân, lấy Tứ sa môn quả làm Quả; trong giáo Tam thừa lấy các giai vị từ Đẳng giác trở xuống làm Nhân, lấy Diệu giác làm Quả; còn trong Nhất thừa Viên giáo thì lấy các hạnh nguyện của bồ tát Phổ hiền làm Nhân, thành tựu viên mãn Phật Tì lô giá na là Quả. 5. Nhân pháp: Nhân chỉ cho Phật, Bồ tát, cho đến các vị Luận sư, Tổ sư nhiều đời. Còn Pháp chỉ cho yếu chỉ của các pháp môn do các bậc kể trên giảng nói. Trong Tam thừa giáo, Nhân và Pháp đều khác nhau; nhưng trong Hoa nghiêm Nhất thừa thì Nhân và Pháp cùng dung hợp hiển bày lẫn nhau. 6. Phân định cảnh vị (Phân tề cảnh vị): Trong pháp giới, mỗi mỗi pháp đều có phần vị riêng biệt, nhất định, không lẫn lộn nhau. 7. Thầy trò với pháp và trí (Sư đệ pháp trí): Sư là người có thể khơi mở, giáo hóa, dắt dẫn; Đệ là người được bậc thầy khai thị, chỉ dẫn và giúp đỡ cho thành tựu; Pháp chỉ cho sự lí được rõ biết; Trí chỉ cho trí tuệ rõ biết sự lí. 8. Chủ bạn, chỗ nương, người nương (Chủ bạn y chính): Trong muôn pháp, hễ một pháp làm chủ, thì các pháp còn lại là bạn, như vậy, chủ và bạn nương vào nhau và làm chỗ nương cho nhau. 9. Tùy theo căn cơ và ý muốn của chúng sinh mà thị hiện (Tùy sinh căn dục thị hiện): Bậc Thánh tùy theo căn cơ và sự ưa thích của tất cả chúng sinh mà thị hiện để giáo hóa, dắt dẫn. Căn cơ và sự ưa thích của chúng sinh là cảm , sự thị hiện của bậc Thánh là ứng , cảm ứng giao hòa, dung nhiếp thành một thể. 10. Nghịch thuận thể dụng tự tại: Nghịch là nghịch pháp, như tham sân si, Thuận là thuận pháp, như 6 Ba la mật; Thể chỉ cho bản thể chân như của các pháp; Dụng chỉ cho tác dụng ứng hiện ở bên ngoài. Nghĩa là thể và dụng của các pháp nghịch thuận ứng nhau một cách tự tại, làm nhân duyên cho nhau, vô cùng vô tận. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10; Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn; Hoa nghiêm huyền đàm Q.6]. (xt Thập Huyền Môn).

hoa nghiêm thời

5249天台宗所立判教「五時」之一。五時係判如來一代聖教之說時,其中華嚴時指佛陀成道之後,三七日中宣說華嚴經之期間;即七處八會中之前七會。然關於華嚴經之說時,異說頗多。華嚴宗謂爲佛陀成道後第二七日之說法,乃不定其長短,又不分前分後分,八會一時俱說。法相宗亦謂華嚴經係佛陀於成道後第二七日之說法,然別有前後二分,「後分華嚴」爲後時之說法,與天台宗所說同。天台宗謂華嚴經一部八會,別爲前後二分,「前分華嚴」指第一會至第七會,爲佛陀成道三七日間之說法,「後分華嚴」指第八會,爲三七日以後至涅槃之長時所說,是名「時長華嚴」。〔法華經方便品、華嚴經探玄記卷二,華嚴疏鈔卷一上、法華玄義卷十下〕(參閱「五時八教」1132 、「時長華嚴」4123) ; Xem Hoa nghiêm kỳ. ; Thời kỳ thứ nhất trong năm thời giảng pháp của Đức Phật, thời Hoa Nghiêm được Đức Phật thuyết giảng ngay sau khi Ngài giác ngộ—The first of the “five periods” during which the Avatamsaka- Sutra was delivered by Sakyamuni Buddha immeditely after his enlightenment. ** For more information, please see Ngũ Thời Giáo (1). ; (華嚴時) Thời gian đức Phật nói kinh Hoa nghiêm, 21 ngày sau khi Ngài thành đạo, là một trong 5 thời giáo do tông Thiên thai lập ra. Tuy nhiên, về thời gian Phật nói kinh Hoa nghiêm, có rất nhiều thuyết như: Tông Hoa nghiêm cho rằng đức Phật nói kinh Hoa nghiêm sau khi thành đạo được 14 ngày, không định thời gian dài ngắn, cũng không chia ra phần trước phần sau, 8 hội đều nói một lần. Tông Pháp tướng cũng cho rằng đức Phật nói kinh Hoa nghiêm sau khi thành đạo được 14 ngày, nhưng có chia ra phần trước, phần sau, giống với chủ trương của tông Thiên thai. Tông Thiên thai chủ trương bộ kinh Hoa nghiêm có 8 hội chia làm 2 phần trước và sau. Hoa nghiêm phần trước từ hội thứ 1 đến hội thứ 7, tức là thời gian Phật thuyết pháp trong 21 ngày sau khi Ngài thành đạo. Còn Hoa nghiêm phần sau là chỉ cho hội thứ 8, tức là thời gian đức Phật nói pháp sau khi thành đạo được 21 ngày cho đến khi vào Niết bàn, gọi là Trường thời Hoa nghiêm (Hoa nghiêm thời gian dài). [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2; Hoa nghiêm sớ sao Q.1 phần trên; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10 phần dưới]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo, Thời Trường Hoa Nghiêm).

hoa nghiêm triều

5250請參閱 華嚴經探玄記 或 華嚴經疏 請參閱 華嚴五教止觀 [1]請參閱 續華嚴經略疏刊定記 或 華嚴經刊定記佛陀成道最初三七日中說華嚴經,臨滅度時一日一夜中說涅槃經,故有華嚴朝、涅槃夕之稱。 ; (華嚴朝) Chỉ cho buổi sáng Phật nói kinh Hoa nghiêm. Khi đức Phật mới thành đạo, Ngài nói kinh Hoa nghiêm trong 21 ngày, đến khi Phật diệt độ, Ngài nói kinh Niết bàn trong một ngày một đêm. Bởi thế có danh xưng là Hoa nghiêm triêu, Niết bàn tịch (Hoa nghiêm buổi sáng, Niết bàn buổi tối).

Hoa Nghiêm Tông

(華嚴宗, Kegon-shū): tông phái được thành lập vào khoảng đời nhà Tùy cho đến đầu nhà Đường và hìnhthành nên giáo học cố hữumang tính căn bản dựa trên kinh điển tối cao là Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) và tư tưởng của bộ kinh này. Theo cách nhìn truyền thống thì có hai thuyết: Ngũ Tổ và Thất Tổ. Ngũ Tổ gồm Sơ Tổ Đỗ Thuận (杜順, 557-640), Nhị Tổ Trí Nghiêm (智嚴, 602-668), Tam Tổ Pháp Tạng (法藏, 643-712), Tứ Tổ Trừng Quán (澄觀, 738-839) và Ngũ Tổ Tông Mật (宗密, 780-841). Thất Tổ thì trước Đỗ Thuận có thêm vào Mã Minh (Aśvaghoṣa, 馬鳴, khoảng thế kỷ thứ 2) và Long Thọ (Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250). Ở Trung Hoa, sau thời Tông Mật thì Hoa Nghiêm Tông bắt đầu yếu dần thế lực. Đến năm 671 có Nghĩa Sương (義湘), người đồng hàng sư huynh của Pháp Tạng, đã truyền tông này sang Tân La (新羅, tức Triều Tiên); và vào năm 736 thì Thẩm Tường (審祥), môn hạ của Pháp Tạng, truyền tông này sang Nhật Bản. Bên cạnh căn cứ vào Hoa Nghiêm Kinh, Hoa Nghiêm Tông của Nhật còn chú trọng đến Phạm Võng Kinh (梵綱經), lập cước ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), kết hợp giữa tư tưởng của Lý Thông Huyền (李通玄) và tư tưởng Mật Giáo. Thêm vào đó, việc xác lập nên hệ thống giáo học Đông Đại Tự của Ngưng Nhiên (凝然, Gyōnen, 1240-1321) là điểm trọng yếu.

Hoa nghiêm tông

華嚴宗; C: huáyán-zōng; J: kegon-shū;|Một tông quan trọng của đạo Phật Trung Quốc, lấy Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (s: buddhāvataṃsaka-sūtra) làm giáo lí căn bản. Tông này do Pháp sư Hiền Thủ Pháp Tạng (賢首法藏; 643-712) thành lập. Trước đó, hai vị Ðế Tâm Ðỗ Thuận (帝心杜順; 557-640) và Vân Hoa Trí Nghiễm (雲華智儼; 602-668) đã nghiên cứu thành lập tông chỉ nên được xem là Sơ tổ và Nhị tổ của tông này. Về sau có Pháp sư Thanh Lương Trừng Quán (清涼澄觀; 737-820) phát triển mạnh phái này, được xem là một hiện thân của Văn-thù (s: mañjuśrī). Tổ thứ năm của Hoa nghiêm là Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密; 780-841), một Ðại sư kiêm Thiền sư xuất sắc. Năm 740, Hoa nghiêm tông được Thẩm Tường (審祥) truyền qua Nhật.|Chủ trương của tông này là xem mọi vật đều bình đẳng, mọi vật đều liên hệ lẫn nhau. Giáo pháp này được gọi là »nhất thể« – vì Hoa nghiêm quan niệm rằng tất cả đều từ Một mà ra và mọi hiện tượng chẳng qua là dạng xuất hiện của cái Một đó. Ðó là các hiện tượng của Pháp giới (法界; s: dharma-dhātu), chúng cùng xuất hiện đồng thời. Tất cả các Pháp (s: dharma) đều có 6 đặc trưng (六相; Lục tướng) trong ba cặp đối xứng là toàn thể và riêng biệt; giống nhau và khác biệt; hoà nhập và riêng tư. Dạng tĩnh của Chân như (真如; s: tathatā) là tính Không (空; s: śūnyatā), tức là Lí (理), dạng động là Sự (事). Lí và Sự tương tác qua lại với nhau mà sinh ra toàn thể vạn vật.|Giáo pháp của Hoa nghiêm tông xuất phát từ quan niệm cho rằng, tất cả đều từ Pháp thân mà ra, mọi pháp trong thế gian đều phụ thuộc lẫn nhau, không có pháp nào tồn tại độc lập.|Tất cả mọi pháp đều trống rỗng, hai mặt của Không đó là tĩnh (lí) và động (sự) đều cùng lúc tồn tại, xuyên suốt vào nhau, không ngăn ngại; mỗi hiện tượng đều đồng nhất với hiện tượng khác. Quan điểm này được Pháp Tạng trình bày qua một ẩn dụ nổi tiếng: con sư tử vàng. Sư tử biểu hiện cho thế giới hiện tượng (Sự). Vàng là lí, vàng không có một dạng riêng tư, phải xuất hiện dưới một dạng nhất định, nhưng dạng nào cũng được. Mỗi một bộ phận của con sư tử đều bằng vàng. Trong mỗi bộ phận đều có cái toàn thể và ngược lại, cái toàn thể hiện lên trong mỗi bộ phận. Mỗi hiện tượng đều là thể hiện của một cái lí duy nhất và mỗi hiện tượng nói lên tất cả mọi thứ khác. Vàng và sư tử hiện diện đồng thời, phụ thuộc lẫn nhau, bao hàm lẫn nhau. Pháp Tạng cho rằng mọi hiện tượng trong thế gian đều diễn tả cái lí đó.|Hoa nghiêm tông xem mọi sự trong thế gian được bao gồm trong bốn loại Pháp giới (Tứ pháp giới) và sáu dạng xuất hiện (lục tướng). Tứ pháp giới gồm có: 1. Sự pháp giới (事法界): thế giới của mọi hiện tượng thông thường; 2. Lí pháp giới (理法界): thể chung của nguyên lí, của tự tính tuyệt đối; 3. Lí sự vô ngại pháp giới (理事無礙法界): chỉ mối liên hệ giữa hiện tượng và bản thể, sinh thành lẫn nhau, đại diện cho nhau không hề chướng ngại; 4. Sự sự vô ngại pháp giới (事事無礙法界): chỉ sự vật tuy thiên hình vạn trạng nhưng »ăn khớp« lẫn nhau, dựa lên nhau mà có.|Lục tướng là sáu mối liên hệ giữa cái toàn thể và cái riêng lẽ trên ba mặt Thể, Tướng, Dụng, được Pháp Tạng giải thích như sau: 1. Tổng tướng (總相): toàn bộ các chi tiết làm thành một tướng trạng thống nhất, ở đây được ví như toàn con sư tử; 2. Biệt tướng (別相): nói về các phần nhỏ của một Tổng tướng, các chi tiết đó đều khác với Tổng tướng, mỗi mỗi bộ phận đều có chức năng khác hẳn với Tổng tướng; Hai dạng »Tổng biệt« nói về mối tương quan về mặt nguyên lí giữa cái đơn lẽ và cái toàn thể (體; Thể); 3. Ðồng tướng (同相): tuy các bộ phận khác nhau nhưng chúng lại hoà trong một Tổng tướng, liên hệ qua lại chặt chẽ với nhau; 4. Dị tướng (異相): các bộ phận khác nhau là khác nơi tướng trạng của chúng; hai dạng »Ðồng dị« này nói về mối tương quan nơi mặt tướng trạng giữa bộ phận và toàn thể (Tướng); 5. Thành tướng (成相): sự kết hợp giữa các bộ phận để thành tổng thể; 6. Hoại tướng (壞相): mỗi bộ phận tuy là một phần của tổng thể nhưng lại có thế giới và nơi chốn riêng biệt của mình; hai dạng »Thành hoại« chỉ rõ mối liên hệ của toàn thể và cái đơn lẽ trong hoạt động và tác dụng của chúng (Dụng 用).|Tương tự như tông Thiên Thai, tông Hoa nghiêm cũng chia giáo pháp Phật Thích-ca ra nhiều thời kì, đó là năm thời giáo: 1. Thời giáo Tiểu thừa, nội dung giáo pháp chứa đựng trong các kinh A-hàm; 2. Thời giáo đầu của Ðại thừa, đó là giáo pháp của Pháp tướng tông và Tam luận tông, xem mọi pháp đều Không vì chúng dựa trên nhau mà có; 3. Thời giáo Ðại thừa đích thật là giáo pháp của Thiên Thai tông, xem mọi pháp đều là Không, nhưng chấp nhận sự trình hiện của chúng trên mặt tương đối; 4. Ðốn giáo, là giáo pháp đạt được do sự đốn ngộ mà ra, đó là trình độ của Thiền tông; 5. Viên giáo Ðại thừa, là giáo pháp của Hoa nghiêm tông.|Giáo pháp của Hoa nghiêm tông có một điểm quan trọng khác với các trường phái Ðại thừa còn lại: tông Hoa nghiêm chuyên nghiên cứu mối liên hệ giữa hiện tượng và hiện tượng, chứ không phải giữa hiện tượng và bản thể. Tông này cho rằng mọi hiện tượng đều tồn tại hoà hợp với nhau, tại vì chúng là phát biểu của một bản thể duy nhất. Chúng như những đợt sóng của một biển duy nhất. Vì thế mọi thế giới và mọi hiện tượng trong mỗi thế giới là hiện thân của một thật thể cao nhất và đồng một thể với Phật tính. |Hoa nghiêm tông (j: kegon-shū) Nhật Bản dựa trên giáo lí của Hoa nghiêm tông Trung Quốc, được Thẩm Tường (審祥; c: shěn-xiáng; j: shinshō) truyền qua Nhật năm 740. Ðại sư người Nhật đầu tiên của tông Hoa nghiêm là Lương Biện (良辨; j: roben, 689-772). |Thánh Vũ Thiên hoàng (j: shōmu, 724-748) là người muốn trị nước theo nguyên công án của tông Hoa nghiêm. Ông cho xây Ðông Ðại tự ở Nại Lương (nara), sau đổi tên là chùa Hoa nghiêm, trong đó có một tượng Phật Ðại Nhật (vairocana). Ngày nay chùa này vẫn là một trung tâm của Hoa nghiêm tông Nhật Bản. Hoa nghiêm tông đóng một vai trò quan trọng trong nền triết lí Phật giáo tại Nhật và kinh Hoa nghiêm được diễn giải để bảo vệ cho quan điểm thống nhất quốc gia.

hoa nghiêm tông

5244又稱賢首宗、法界宗、圓明具德宗。爲我國十三宗之一,日本八宗之一。本宗依大方廣佛華嚴經立法界緣起、事事無礙之妙旨,以唐代杜順禪師(557~640,即法順)爲初祖。本宗依華嚴經立名,故稱華嚴宗。華嚴經係如來成道第二七日,於菩提樹下爲文殊、普賢等上位菩薩所宣說之自內證法門。佛陀入滅後七百年頃,龍樹於龍宮中見此經有三本,以上、中二本非凡力所能持,乃誦下本十萬偈四十八品(或謂三十八品),流傳印度民間,且作大不思議論十萬偈以釋其文義;復作十住毘婆沙論,以注釋華嚴經十地品之一部分,此即華嚴釋論之濫觴。至佛陀滅度後九百年頃,世親作十地經論,解釋十地品;金剛軍、堅慧等諸論師亦先後作十地品之釋論。 我國於東晉義熙十四年(418),由佛馱跋陀羅譯出本經六十卷,即所謂舊華嚴經,未久,有法業講之,並撰華嚴旨歸二卷,是我國講華嚴經之第一人。北魏永平年間(508~511),菩提流支、勒那摩提於洛陽譯世親之十地經論,僧統慧光祖述之,並開立地論宗,著有華嚴經疏十卷、華嚴經略疏四卷,立漸、頓、圓三教判,而以華嚴爲圓教。地論宗雖爲華嚴之別派,然仍以十地經論爲正依,未用及華嚴經。唐代聖曆二年(699),實叉難陀再譯本經爲八十卷,此即新華嚴經;貞元年間,般若三藏譯出普賢行願品四十卷,世稱四十華嚴。依用華嚴經,始爲賢首大師法藏,法藏師事智儼,智儼師事杜順。杜順作五教止觀、華嚴法界觀門等,大爲闡揚華嚴教學,受唐太宗之歸敬。智儼先後習學四分律、毘曇、成實、涅槃,以讀華嚴經有所省悟,乃作華嚴經搜玄記、華嚴孔目章、華嚴五十要問答等,發揮十玄六相之奧旨,奠定華嚴宗成立之基礎。法藏夙受則天武后崇敬,嘗就華嚴經提出疑義;及至永隆元年(680),日照三藏來華,乃以其所進獻之梵本,補原譯經之脫落處;又嘗參與實叉難陀之新華嚴經譯場。著有華嚴經探玄記、華嚴五教章等,並判釋如來一代所說之教典爲三時、五教,以華嚴之法界緣起、事事無礙爲別教一乘。先後講華嚴經三十餘遍,以前二師教學爲基礎,集一宗之大成,觀門教相至此圓備。澄觀注解新譯大經,卷帙數百,世稱華嚴疏主。其下之宗密,曾習禪學,開所謂華嚴禪,此爲教禪一致之始。 本宗歷祖相承,以毘盧遮那爲開法教主,別立十祖,即:普賢、文殊、馬鳴、龍樹、世親、杜順、智儼、法藏、澄觀、宗密;或杜順以下至宗密五師,稱五祖;此五祖加馬鳴、龍樹,則成七祖。宗密示寂後未久,唐武宗「會昌法難」起,經論銷毀殆盡,諸宗一時皆衰。至宋代,子璿重興本宗,門人淨源作疏倡導;又有道亭、觀復、師會、希迪各作五教章之注解,世稱宋代四大家。元代有普瑞、圓覺、本蒿、盤谷、文才、達益巴。明代有德清、古庭、李卓吾、道通、如妃、祖住。清代有周克復、續法等,相繼或作章疏,或敷演華嚴經。民初復有月霞(1861~1918)創辦華嚴大學,智光、常惺、定西、慈舟、了塵等均曾就讀該院,而以常惺爲著。 華嚴宗以五教十宗判釋如來一代教法。五教係依所詮法義之淺深,將如來一代所說教相分爲:(一)小乘教,(二)大乘始教,(三)終教,(四)頓教,(五)圓教。十宗則係依佛所說之義理區別爲:(一)我法俱有宗,(二)法有我無宗,(三)法無去來宗,(四)現通假實宗,(五)俗妄真實宗,(六)諸法但名宗,(七)一切皆空宗,(八)真德不空宗,(九)相想俱絕宗,(十)圓明具德宗。前六宗即小乘教,七至十依序即大乘始教、終教、頓教、圓教,第十即華嚴之教旨。華嚴宗旨雖甚深玄妙,所說多端,其骨幹則不出法界緣起。法界緣起者,宇宙萬象相即相入,此一物爲他萬物緣,他萬物爲此一物緣,自他相待相資,圓融無礙。爲明此事事無礙法界之無盡緣起,本宗立有四法界、十玄門、六相圓融等法門:(一)四法界:事法界、理法界、理事無礙法界、事事無礙法界。蓋法界即總括宇宙萬有之一心,此一心即法界,故稱一心法界;而此一心法界攝上述四法界。(二)十玄門,即以十門開演法界緣起之相狀,說明萬物同體,相即相入,圓融無礙之原理。十玄門有新古之別,智儼、法藏所立,各稱古十玄、新十玄。又藉教義、理事、解行、因果等十項要目(華嚴十義)來闡發諸法皆各具足此十玄門無礙涉入,成一大緣起之圓融玄妙關係。(三)六相圓融,六相者,總相、別相、同相、異相、成相、壞相,一切諸法無不具足此六相,圓融相即無礙。華嚴,就經典而言,係印度佛教中期之大乘作品;就學派而言,則爲中國佛教之宗派,頗能契合國人追求圓融之心態。 朝鮮之華嚴宗係由與法藏同門之新羅僧義湘,稟承智儼之法而傳入海東,爲海東華嚴宗之初祖,與元曉亦共同盛弘本宗。其中,元曉著有華嚴經疏,義湘著有華嚴一乘法界圖等。至高麗時代之王子義天,攜其國之華嚴章疏來宋,投於淨源門下研究宗義,歸國則大弘本宗,故在朝鮮本宗之研學講說較他宗爲盛且久。 日本於養老六年(722)十一月,即已開始書寫新華嚴經,而於天平八年(736)七月,唐代之道璿攜入華嚴之章疏,始傳本宗。新羅僧審祥則爲日本講華嚴經之第一人,亦爲日本華嚴宗之初祖。其後,傳法於日僧良辨,以良辨之奏請,聖武天皇(724~749 在位)敕建東大寺,成爲華嚴之根本道場。後經實忠、等定、正進等傳法至光智,光智係中興華嚴宗之高僧,建尊勝院爲專修華嚴之道場,其下分爲東大寺系、高山寺系。此二系派出凝然、高辨二師,爲鎌倉時代之二大巨匠,同爲復興華嚴之大德。東大寺於明治五年(1872)九月,曾一度爲淨土宗所管轄,至十九年六月方獨立。〔華嚴法界觀門、華嚴經傳記、華嚴經探玄記卷一、卷十九、華嚴經疏卷一、卷二、卷三、佛祖統紀卷二十九、法界宗五祖略記、八宗綱要卷下〕(參閱「十玄門」416、「大方廣佛華嚴經」758 、「五教十宗」1146、「六相圓融」1280、「四法界」1717、「法界緣起」3371、「華嚴十義」5237) ; Hua-yen School (C), Hua-yen tsung (C), Kegon-shŪ (J), Kegon sect, Kegon School Tên một tông phái. ; The Avatamsaka school, whose foundation work is the Avatamsaka-sùtra. ; (A) Nguồn gốc tông Hoa Nghiêm—The origin of the Hua-Yen Sect: • Trước Hoa Nghiêm tông, ở Trung Hoa đã có một phái mang tên là Địa Luận Tông và Pháp Tính Tông (see Địa Luận Tông and Pháp Tính Tông), y cứ trên bản luận giải của Thế Thân về Thập Địa Kinh. Tác phẩm nầy được phiên dịch sang Hán văn trong năm 508-512 do công trình của Bồ Đề Lưu Chi, Bửu Huệ và Phật Đà Phiến Đa. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Hoa Nghiêm nghĩa là “Trang nghiêm bằng hoa” và được coi như một dịch ngữ từ tiếng Phạn Avatamsaka chỉ cho tràng hoa hay vòng hoa. Đây là danh hiệu của quyển kinh trong đó giáo nghĩa bí mật của Đức Phật Đại Nhật được mô tả rất tỉ mỉ. Kinh Hoa Nghiêm được coi như là do Đức Phật thuyết ngay sau khi Ngài thành đạo, nhưng thính chúng như câm như điếc không ai hiểu được một lời. Do đó Ngài lại bắt đầu thuyết pháp dễ hơn, là bốn kinh A Hàm và các giáo lý khác—Prior to the Avatamsaka School, there were in China schools named Ti-Lun and Fa-Tsing which were founded on Vasubandhu's commentary on the Dasa-Bhumi-Sutra. The text was translated into Chinese in 508-512 A.D. by Bodhiruci, Ratnamati and Buddhasanta, all from India. According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, “Wreath” means “flower-ornament” and is considered a translation of the Sanskrit term “Avatamsaka” denoting a wreath or garland. It is the name of a Sutra in which the mystic doctrine of the Buddha Mahavairocana is minutely described. The scripture is said to have been preached by the Buddha soon after his Enlightenment, but none of those listening to him could understand a word of it as if they were deaf and dumb. Therefore he began anew to preach the easy four Agamas (discourses) and other doctrines. • Kinh Hoa Nghiêm là những gì Ngài thuyết giảng lần đầu, cũng là những gì Ngài chứng ngộ. Chân lý mà Ngài chứng ngộ được tuyên thuyết minh nhiên. Chỉ bậc đã tiến bộ như một vị Bồ Tát mới có thể hiểu được Ngài, còn phàm phu hoàn toàn không thể thấu được bản ý của Ngài—What he preached first was what he had realized in his Enlightenment. The truth he had conceived was proclaimed exactly as it was. An advanced personage such as a Bodhisattva or saintly person might have understood him, but an ordinary person could not grasp his ideas at all. • Dịch bản kinh Hoa Nghiêm bằng Hán văn có ba bộ: Bát Thập, Lục Thập và Tứ Thập Hoa Nghiêm. Hai bản đầu không còn nguyên bản Phạn ngữ; bản cuối Hoa Nghiêm 40 quyển, còn được nguyên bản Phạn ngữ là Ganda-vyuha (Phẩm Nhập Pháp Giới). Bản văn nầy mô tả cuộc chiêm bái thực hiện bởi Thiện Tài, thăm viếng 53 Thánh địa của đại sĩ Tăng lữ và cư sĩ. Mục đích của cuộc chiêm bái nầy là để chứng ngộ nguyên lý Pháp giới—The Avatamsaka Sutra is represented in Chinese by three recensions, in eighty, sixty, and forty Chinese volumes. Of the first two we do not possess their sanskrit original. For the last, the forty-volume text, we have its original which is called Ganda-vyuha. In the text, a pilgrimage undertaken by the young Sudhana to visit fifty-three worthies, religious and secular, is described. The object of the pilgrimage was to realize the principle of Dharma-dhatu or the Realm of Principle or Elements. • Tại Ấn Độ, tông Hoa Nghiêm không được coi như là một tông phái độc lập. Tuy nhiên sự tích chiêm bái của Thiện Tài được kể tỉ mỉ trong Divya-avadana, và cuộc hành trình nầy được miêu tả tỉ mỉ trong những điêu khắc ở Java. Trong kinh nói rằng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ngự trên núi Thanh Lương ở Trung Hoa, và thuyết pháp trong mọi thời. Núi Thanh Lương nầy đồng hóa với Ngũ Đài Sơn ở Trung Hoa. Chính danh từ “Ngũ Đài” hình như chỉ cho Panca-sikha hay ngũ đảnh, một danh hiệu của Văn Thù. Đại Tự Viện Hoa Nghiêm trên núi nầylà tháp thiêng thờ vị Bồ tát nầy. Đức tin về Ngài ở Ấn cũng như ở Trung Hoa, hình như có từ thế kỷ thứ năm sau Tây Lịch hay sớm hơn—In India, the Avatamsaka School is not known as an independent school. However, the story of Sudhana's pilgrimage is minutely told in the Divya-avadana, and his journey is depicted in detailed sculptures in Java. In the sutra it is stated that the Bodhisattva Manjusri is living on the Ch'ingliang Mountain in China, and is proclaiming the laws at al times. Tis Ch'ingliang Mountain is identified with with the Wu-T'ai Mountain of China. The name Wu-T'ai or five heights itself seems to indicate Panca-sikha or five top-knots, a name of Manjusri. The great Avatamsaka Monastery of that mountain is the shrine sacred to that Bodhisattva. Such a belief in India as well as in China seems to go back to the fifth century A.D. or still earlier. (B) Ý nghĩa và giáo thuyết của Tông Hoa Nghiêm—The meanings and doctrine of the Avatamsaka sect: • Hoa Nghiêm Tông lấy Kinh Hoa Nghiêm làm chỗ dựa—The Avatamsaka sect or school whose foundation works in the Avatamsaka-sutra. • Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, lý viên dung của tông Hoa Nghiêm được phát triển chính yếu là ở Trung Hoa. Đây là điểm son cho những công trình học thuật của Phật giáo Trung Hoa. Như các tông phái khác, tông Hoa Nghiêm được thành lập trên nền tảng lý nhân quả duy tâm, nhưng theo chủ trương của Hoa Nghiêm, lý thuyết nầy có đặc điểm riêng. Đấy là “Pháp giới duyên khởi.”—The Totalistic principle of the Hua-Yen School was developed chiefly in China. It is indeed a glory of the learned achievements of Chinese Buddhism. The Hua-Yen School stands as other schools do, on the basis of the theory of causation by mere ideation, but as held in the Hua-Yen School, the theory has a peculiarity. It is designated “the theory of universal causation of Dharmadhatu.”—See Pháp Giới Duyên Khởi. (C) Chư Tổ Tông Hoa Nghiêm tại Trung Quốc—Patriarchs of the Hua-Yen School in China: 1) Ngài Đế Tâm Đỗ Thuận bên Trung Hoa làm thủy tổ, ngài thị tịch năm 640. Sau khi chính thức khai sáng tông Hoa Nghiêm, thì tất cả đồ đệ của Địa Luận Tông Nam Đạo Phái thảy đều bị thu hút quanh ngài. Từ đó Địa Luận tông được coi như kết hợp với Hoa Nghiêm Tông. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Hoa Nghiêm tông, sau khi đã tiếp nhận Địa Luận Tông, khai sáng một thời kỳ phồn thịnh cho Phật Giáo Trung Hoa. Cơ sở của học thuyết đã được thiết lập ngay từ đó bởi nhà tài danh Đỗ Thuận. Pháp danh ông là Pháp Thuận, nhưng vì gia đình ông họ Đỗ nên ông được gọi là Đỗ Thuận. Ông nổi tiếng như là một thuật sĩ và vua Đường Thái Tôn đã từng cho vời ông vào cung và phong ông tước hiệu “Tam Đế Tôn Giả.” Người ta tin rằng ông là hóa thân của Ngài Văn Thù sư Lợi Bồ Tát. Ngài Đỗ Thuận đã được nối truyền bởi những vị sau đây: founded in China by Ti-Hsin-T'u-Shun. When Tu-Shun, the nominal founder of the Hua-Yen School, appeared on the scene, the best workers of the Ti-Lun School were all attracted around him. Since then, the Ti-Lun School was united with the Hua-Yen School. According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, the Hua-Yen School, having absorbed the Ti-Lun School, opened a flourishing period of Chinese Buddhism. The foundation-stone of the Hua-Yen doctrine was laid once and for all by the famous Tu-Shun. His Buddha name was Fa-Shun, but his family name was Tu, people generally called him Tu-Shun. He was famous as a miracle worker, and Emperor T'ang T'ai-Tsung of Tang invited him to his palace and gave him the title of 'the Venerable Imparial Heart.” He was believed to be an incarnation of Majusri. T'u-Shun died in 640 A.D. and was followed by: 2) Vân Hoa Trí Nghiễm Pháp Sư làm tổ thứ hai: Yun-Hua-Chih-Yen, the second patriarch—Trí Nghiễm là đồ đệ tài ba của Đỗ Thuận, lên kế tổ của tông phái nầy. Trí Nghiễm được Đỗ Thuận truyền cho môn tu quán. Trí Nghiễm viết nhiều sách vể những căn bản của các giáo thuyết của thầy mình—An able pupil of Tu-Shun, Chih-Yen (602-668), the succeeding patriarch of the school, received from Tu-Shun all the culture of contemplation. He wrote several important books on the basis of his teacher's instructions. 3) Hiền Thủ Pháp Tạng Pháp Sư làm tổ thứ ba: Hsien-Shu-Fa-Tsang, the third patriarch—Pháp Tạng có công hệ thống hóa toàn bộ nền triết học Hoa Nghiêm. Hoạt động của ông không những chỉ là công trình văn học, mà còn cả ở dịch thuật và diễn giảng. Có bảy tác phẩm được xem là do ngài viết ra. Trong số đó có quyển Hoa Nghiêm Nhất Thừa Giáo Nghĩa Phân Tế Chương, bàn luận về ý nghĩa độc đáo của giáo lý Nhất Thừa (Ekayana) thuộc kinh Hoa Nghiêm; quyển Hoa Nghiêm Kinh Minh Pháp Phẩm Nội Lập Tam Bảo Chương; và quyển Hoa Nghiêm Kinh Sư Tử Chương Vân Giảng Loại Giải—Fa-Tsang (643-712) was responsible for the final systematization of the philosophy. His activity was not only in literary work but also in translations and lectures. Seven works are ascribed to him. Among these are Hua-Yen-Yi-Shan-Chiao-I-Fan-Tshi-Chzang, a treatise on the distinction of the meaning of the doctrine of one vehicle (Ekayana) of the Avatamsaka sutra; Hua-Yen Ching-Ming-Fa-Fin-Nei-Li-San-Pao-Chzang, and the Hua-Yen-Ching-Shi-Tsu-Chzang-Yun-Chiang-lei-Chie. 4) Thanh Lương Trừng Quán Pháp Sư làm tổ thứ tư: Ch'ing-Liang-Ch'êng-Kuan, the fourth patriarch—Trừng Quán (760-820), một đồ đệ khác, được truy tặng Tứ Tổ vì nỗ lực hăng hái của ông trong việc bác bỏ dị thuyết của Huệ Viễn, cũng là một đồ đệ của Pháp Tạng. Đồng thời Trừng Quán còn tái lập giáo thuyết của Thầy mình trong thuần nhất nguyên thủy của nó—Ch'êng-Kuan (760-820), another pupil of Fa-Tsang, was honored as the fourth patriarch for his earnest effort in refuting the heresy of Hui-Yuan, also a pupil of Fa-Tsang. Ch'êng-Kuan also restored his teacher's doctrine to its original purity. 5) Khuê Phong Tông Mật Thiền Sư làm tổ thứ năm: Zen master Kuei-Feng-Tsung-Mi, the fifth patriarch. 6) Mã Minh Bồ Tát làm tổ thứ sáu: Asvaghosa Bodhisattva, the sixth patriarch. 7) Long Thọ Bồ Tát làm tổ thứ bảy: Nagarjuna Bodhisattva, the seventh patriarch. (D) Sự truyền bá của Tông Hoa Nghiêm tại Nhật—The propagation of the Avatamsaka sect in Japan 1) Tông Hoa Nghiêm được truyền sang Nhật vào đầu nhà Đường và rất thịnh hành tại đây: The Avatamsaka school was imported into Japan early in the T'ang dynasty and flourished there. 2) Tại Nhật tông nầy lấy giáo thuyết Pháp Tính nên cũng có tên là Pháp Tính Tông: In Japan, it held the doctrine of the Dharma-nature, by which name it was also called the “Dharma-nature” sect. ; (華嚴宗) Cũng gọi Hiền thủ tông, Pháp giới tông, Viên minh cụ đức tông. Tông Hoa nghiêm y cứ vào ý chỉ vi diệu của kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm mà lập ra thuyết Pháp giới duyên khởi, Sự sự vô ngại, tôn thiền sư Đỗ thuận (tức Pháp thuận, 557-640) đời Đường làm Sơ tổ. Là một trong 13 tông của Trung quốc, một trong 8 tông của Nhật bản. Tông này đặt tên theo kinh Hoa nghiêm, nên gọi là tông Hoa nghiêm. Kinh Hoa nghiêm là pháp môn nội chứng của đức Phật, được Ngài tuyên giảng cho hàng Bồ tát thượng thừa như ngài Văn thù và Phổ hiền, sau khi thành đạo được 14 ngày. Tương truyền, khoảng 700 năm sau đức Phật nhập diệt, bồ tát Long thụ được thấy kinh này có 3 bản ở Long cung. Vì nhận thấy căn cơ của phàm phu không thể thụ trì được 2 bản thượng và trung, nên ngài chỉ đem 10 vạn kệ tụng gồm 48 phẩm (có thuyết nói 38 phẩm) của bản hạ về lưu truyền trong dân gian Ấn độ và viết luận Đại bất tư nghị gồm 10 vạn bài kệ để giải thích nghĩa của văn kinh. Sau, ngài lại soạn luận Thập trụ tì bà sa để chú thích một phần của phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm, đây là bộ luận mở đầu cho các bộ luận giải thích kinh Hoa nghiêm sau này. Sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 900 năm, ngài Thế thân soạn Thập địa kinh luận để giải thích phẩm Thập địa; các vị Luận sư như Kim cương quân, Kiên tuệ, v.v... cũng lần lượt soạn luận để giải thích phẩm Thập địa. Tại Trung quốc, vào năm Nghĩa hi 14 (418) đời Đông Tấn, bản kinh Hoa nghiêm 60 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch ra được gọi là Cựu Hoa nghiêm kinh (kinh Hoa nghiêm bản dịch cũ). Sau đó không bao lâu, có ngài Pháp nghiệp giảng kinh này và soạn Hoa nghiêm chỉ qui 2 quyển; ngài cũng là người đầu tiên giảng kinh này ở Trung quốc. Khoảng năm Vĩnh bình (508-511) đời Bắc Ngụy, các ngài Bồ đề lưu chi, Lặc na ma đề ở Lạc dương dịch Thập địa kinh luận của ngài Thế thân, ngài Tăng thống Tuệ quang dựa theo luận này lập ra tông Địa luận, soạn Hoa nghiêm kinh sớ 10 quyển, Hoa nghiêm kinh lược sớ 4 quyển, đồng thời, lập 3 loại giáo phán Tiệm, Đốn, Viên và lấy kinh Hoa nghiêm làm Viên giáo. Tông địa luận tuy là phái khác của tông Hoa nghiêm, nhưng vẫn lấy bộ Thập địa kinh luận làm chỗ y cứ, chứ chưa dùng kinh Hoa nghiêm. Năm Thánh lịch thứ 2 (699), ngài Thực xoa nan đà dịch lại bộ kinh này thành 80 quyển, đây tức là Tân Hoa nghiêm kinh (kinh Hoa nghiêm bản dịch mới). Khoảng năm Trinh nguyên, ngài Tam tạng Bát nhã dịch phẩm Phổ hiền hạnh nguyện 40 quyển, người đời gọi là Tứ thập Hoa nghiêm (Hoa nghiêm 40 quyển). Ngài Đỗ thuận biên soạn Ngũ giáo chỉ quán và Hoa nghiêm pháp giới quán môn để xiển dương giáo học Hoa nghiêm, được vua Đường Thái tông qui kính. Ngài Trí nghiễm, đệ tử của thiền sư Đỗ thuận đã từng học tập các bộ: Tứ phần luật, Tì đàm, Thành thực, Niết bàn, v.v...; sau, nhờ đọc kinh Hoa nghiêm mà có chỗ tỉnh ngộ, nên ngài mới soạn các sách như: Hoa nghiêm kinh sưu huyền bí, Hoa nghiêm khổng mục chương, Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp, v.v... để phát huy ý chỉ sâu kín của Thập huyền lục tướng, đặt nền tảng cho việc thành lập tông Hoa nghiêm. Ngài Pháp tạng, đệ tử của đại sư Trí nghiễm, rất được Vũ hậu Tắc thiên tôn kính, đã từng nêu ra những điểm hoài nghi đối với kinh Hoa nghiêm. Nhưng đến niên hiệu Vĩnh long năm đầu (680), ngài Tam tạng Nhật chiếu đến Trung quốc, dâng bộ kinh Hoa nghiêm bằng tiếng Phạm, ngài Pháp tạng nhờ đó đã bổ sung được những chỗ thiếu sót của bản kinh Hoa nghiêm đã được dịch ở Trung quốc. Ngài cũng từng tham dự dịch trường phiên dịch kinh Tân Hoa nghiêm do ngài Thực xoa nan đà chủ trì. Sau, ngài soạn các sách: Hoa nghiêm kinh thám huyền kí, Hoa nghiêm ngũ giáo chương, v.v... và phán thích toàn bộ giáo điển của đức Phật làm 3 thời, 5 giáo, chủ trương Pháp giới duyên khởi và Sự vô ngại của Hoa nghiêm là Biệt giáo Nhất thừa. Ngài giảng kinh Hoa nghiêm trước sau hơn 30 lượt, lấy giáo nghĩa của 2 bậc Tôn sư trước (tức ngài Đỗ thuận và ngài Trí nghiễm) làm cơ sở mà tập đại thành tông Hoa nghiêm, giáo tướng của Quán môn đến đây đã đầy đủ. Ngài Trừng quán chú giải kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) có tới mấy trăm quyển, người đời tôn xưng ngài là Hoa nghiêm sớ chủ. Sau đó, có ngài Tông mật từng thực tập Thiền học, khai sáng thiền Hoa nghiêm, mở đầu cho chủ trương Giáo Thiền Nhất Trí . Về hệ thống truyền thừa, tông này thờ đức Phật Tì lô giá na làm vị giáo chủ mở pháp, rồi lập riêng thuyết Thập tổ, Thất tổ, Ngũ tổ. Thập Tổ: Phổ hiền, Văn thù, Mã minh, Long thụ, Thế thân, Đỗ thuận, Trí nghiễm, Pháp tạng, Trừng quán và Tông mật. Thất tổ: Mã minh, Long thụ, Đỗ thuận, Trí nghiễm, Pháp tạng, Trừng quán và Tông mật. Ngũ tổ: Đỗ thuận, Trí nghiễm, Pháp tạng, Trừng quán, Tông mật. Đời Đường Vũ tông xảy ra pháp nạn Hội xương, kinh luận bị thiêu hủy gần hết, các tông đều suy. Đến đời Tống, ngài Tử tuyền trùng hưng tông này. Môn nhân của ngài là Tịnh nguyên làm chú sớ giải thích kinh luận của tông này. Về sau, lại có các ngài Đạo đình, Quán phục, Sư hội và Hi địch mỗi vị đều soạn chú sớ Ngũ giáo chương, được người đời gọi là Tứ đại gia của đời Tống. Đời Nguyên có các ngài Phổ thụy, Viên giác, Bản cảo, Bàn cốc, Văn tài, Đạt ích ba. Đời Minh có các ngài Đức thanh, Cổ đình, Lí trác ngô, Đạo thông, Như phi, Tổ trụ. Đời Thanh có các ông Chu khắc phục, Tục pháp, v.v... nối nhau hoặc làm Chương sớ hoặc diễn giải kinh Hoa nghiêm. Đầu năm 1911, có ngài Nguyệt hà (1861-1918) sáng lập Đại học Hoa nghiêm, các sư Trí quang, Thường tỉnh, Định tây, Từ chu, Liễu trần, v.v... đều đến học tại trường này, trong đó, có sư Thường tỉnh nổi tiếng hơn cả. Tông Hoa nghiêm phân biệt toàn bộ giáo pháp của đức Phật làm Ngũ giáo, Thập tông. Ngũ giáo: Tiểu thừa giáo, Đại thừa thủy giáo, Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo. Thập tông: Ngã pháp câu hữu tông, Pháp hữu ngã vô tông, Pháp vô khứ lai tông, Hiện thông giả thực tông, Tục vọng chân thực tông, Chư pháp đãn danh tông, Nhất thiết giai không tông, Chân đức bất không tông, Tướng tưởng câu tuyệt tông và Viên minh cụ đức tông. Sáu tông trước tức là Tiểu thừa giáo. Từ tông thứ 7 đến thứ 10 theo thứ tự là Đại thừa thủy giáo, Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo. Tông thứ 10 tức là giáo chỉ của tông Hoa nghiêm. Tông chỉ của kinh Hoa nghiêm sâu xa kín nhiệm, tuy giảng nói vô cùng, nhưng phần cốt tủy thì không ngoài lí Pháp giới duyên khởi. Pháp giới duyên khởi nghĩa là vũ trụ vạn tượng tương tức tương nhập, một vật làm duyên cho muôn vật khác, muôn vật khác làm duyên cho một vật này, tự tha đắp đổi lẫn nhau, viên dung vô ngại. Để giải bày rõ lí duyên khởi vô tận, sự sự vô ngại của pháp giới, tông Hoa nghiêm đã lập ra các pháp môn: Tứ pháp giới, Thập huyền môn, Lục tướng viên dung…... 1. Tứ pháp giới: Sự pháp giới, Lí pháp giới, Lí sự vô ngại pháp giới, Sự sự vô ngại pháp giới. Bốn pháp giới này ở trong nhất tâm nên gọi là Nhất tâm pháp giới, bao trùm toàn thể vũ trụ vạn hữu. 2. Thập huyền môn: Mười môn này mở bày tướng trạng của Pháp giới duyên khởi, thuyết minh nguyên lí vạn vật đồng thể, tương tức tương nhập, viên dung vô ngại. 3. Lục tướng viên dung: Tổng tướng, Biệt tướng, Đồng tướng, Dị tướng, Thành tướng, Hoại tướng, tất cả các pháp đều có đầy đủ 6 tướng này, viên dung tương tức vô ngại. Tông Hoa nghiêm của Triều tiên do ngài Nghĩa tương, vị tăng nước Tân la, truyền vào Hải đông và là Sơ tổ của tông này ở Hải đông, cùng với ngài Nguyên hiểu hợp lực truyền bá tông này. Ngài Nguyên hiểu soạn Hoa nghiêm kinh sớ, ngài Nghĩa tương soạn Hoa nghiêm nhất thừa pháp giới đồ. Đến thời đại Cao li, vương tử Nghĩa thiên mang Hoa nghiêm chương sớ của nước mình sang Trung quốc (đời Tống) theo ngài Tịnh nguyên nghiên cứu về tông chỉ và nghĩa lí, sau khi về nước, Nghĩa thiên hết sức truyền bá tông này, nhờ đó mà sự nghiên cứu, học tập và giảng thuyết về tông Hoa nghiêm được thịnh hành và lâu dài hơn các tông khác. Ở Nhật bản, kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) bắt đầu được biên chép vào tháng 11 năm 722. Năm 736, ngài Đạo tuyền mang Hoa nghiêm chương sớ từ Trung quốc sang Nhật bản và bắt đầu truyền bá tông này. Còn người đầu tiên giảng kinh Hoa nghiêm tại Nhật bản là ngài Thẩm tường, vị tăng nước Tân la, ngài cũng là Sơ tổ của tông Hoa nghiêm Nhật bản. Về sau, ngài Thẩm tường truyền pháp cho sư Lương biện người Nhật bản và do sự tâu xin của sư Lương biện, Thiên hoàng Thánh vũ (trị vì 724-749) ban sắc xây dựng chùa Đông đại làm đạo tràng căn bản của tông Hoa nghiêm. Về sau, tông này lần lượt được truyền qua các ngài Thực trang, Đẳng định, Chính tiến đến Quang trí, vị cao tăng trung hưng tông Hoa nghiêm đã xây dựng viện Tôn thắng để làm đạo tràng chuyên tu Hoa nghiêm. Sau ngài Quang trí, tông Hoa nghiêm Nhật bản chia làm 2 hệ phái: Hệ phái chùa Đông đại và hệ phái chùa Cao sơn. Từ 2 hệ phái này đã xuất hiện 2 bậc kì tài lỗi lạc, cùng nhau phục hưng tông Hoa nghiêm ở thời đại Liêm thương, đó là ngài Ngưng nhiên và ngài Cao biện. [X. Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Hoa nghiêm kinh truyện kí; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1, Q.19; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1, Q.2, Q.3; Phật tổ thống kỉ Q.29; Pháp giới tông Ngũ tổ lược kí; Bát tông cương yếu Q.hạ]. (xt. Thập Huyền Môn, Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Ngũ Giáo Thập Tông, Lục Tướng Viên Dung, Tứ Pháp Giới, Pháp Giới Duyên Khởi, Hoa Nghiêm Thập Nghĩa).

Hoa Nghiêm tông chương sớ tịnh nhân minh lục 華嚴宗章疏并因明録

[ja] ケゴンシュウショウソビョウインミョウロク Kegonshū shōsobyō inmyōroku ||| The Kegonshū shōsho byō immyōroku. 1 fasc., by Enchō 圓超 . T 2177.55.1132c1135b => (j: Kegonshū shōsobyō inmyōroku; e: Kegonshū shōsho byō immyōroku). 1 quyển, của Viên Siêu (j: Enchō 圓超).

Hoa Nghiêm tông 華嚴宗

[ja] ケゴンシュウ Kegon shū ||| The Huayan zong school, one of the major schools of Chinese Buddhism, the doctrines of which ended up having profound impact on the philosophical attitudes of all of East Asian Buddhism. Established during the period of the end of the Sui and beginning of Tang dynasties, this school centered on the philosophy of interpenetration and mutual containment which its founders perceived in the Huayan jing 華嚴經. Yet despite basic reliance on this sutra, much of the technical terminology that the school becomes famous for is not found in the sutra itself, but in the commentarial works of its early founders. The founding of the school is traditionally attributed to a series of five "patriarchs" who were instrumental in developing the schools doctrines. These five are: Dushun 杜順, 智儼 (c: Zhiyan), Fazang 法藏, Chengguan 澄觀 and Zongmi 宗密. Another important figure in the development and popularization of Huayan thought was the lay scholar Li Tongxuan 李通玄. Some accounts of the school also like to extend its patriarchship earlier to Aśvaghoṣa 馬鳴 and Nāgārjuna 龍樹. Although there are certain aspects of this patriarchal scheme which are clearly contrived, it is fairly well accepted that these men each played a significant and distinct role in the development of the school: for example, Dushun is known to have been responsible for the establishment of Huayan studies as a distinct field; Zhiyan is considered to have established the basic doctrines of the sect; Fazang is considered to have rationalized the doctrine for greater acceptance by society; Chengguan and Zongmi are understood to have further developed and transformed the teachings. After the time of Zongmi and Li Tongxuan the Chinese school of Huayan generally stagnated in terms of new development, and then eventually began to decline. The school, which had been dependent upon the support it received from the government, suffered severely during the purge of 8415, never to recover its former strength. Nonetheless, its profound metaphysics, such as that of the four dharmadhātu 四法界 of interpenetration, had a deep impact on surviving East Asian schools, especially the Chan school. The greatest lasting impact of the Huayan school was to be seen in Korea, where it was transmitted by Ŭisang 義湘, who had been, along with Fazang, a student of Zhiyan. After Ŭisang returned to Korea in 671, he worked vigorously toward the establishment of the Hwaŏm school on the peninsula. In this effort, he was greatly aided by the powerful influences of his friend Wŏnhyo 元曉, who although not an official representative of the school, relied deeply on Hwaŏm metaphysical principles to establish his concept of "interpenetrated Buddhism 通佛教." After the passing of these two early monks, the Hwaŏm school became strongly established under the influence of a long series of Hwaŏm masters. The Hwaŏm school remained in the position of predominant doctrinal school in Korea up till the end of the period, when it was placed into a forced merger with the Sŏn school 禪宗. Within the Sŏn school, Hwaŏm thought would continue to play a strong role, and continues as such to modern times. Huayan studies were founded in Japan when, in 736, the scholarpriest (originally a Hossō 法相 specialist) invited the Korean Simsang 審祥 to give lectures on the Huayan jing at Konshuji 金鐘寺. When the construction of Tōdaiji 東大寺 was completed, Rōben entered that temple to formally initiate Kegon as a field of study in Japanese Buddhism, and the Kegon shū would become known as one of the "six Nara 奈良 schools." Kegon thought was later be popularized in Japan by Myōe 明惠, who combined its doctrines with those of the esoteric school 密教, and Gyōnen 凝然, who is most responsible for the establishment of the Tōdaiji lineage of Kegon. The most important philosophical contributions of the Huayan school were in the area of its metaphysics, as it taught the doctrine of the mutual containment and interpenetration of all phenomena 事事無礙 c: shishiwuai that one thing contains all things in existence, and that all things contain one. => (j: Kegon shū; c: Huayan zong) Một trong những tông chính của Phật giáo Trung Hoa, giáo lý tông nầy có một ảnh hưởng sâu đậm đến mọi quan điểm triết học của Phật giáo Á đông. Được hình thành vào thời kỳ cuối đời nhà Tuỳ và đầu nhà Đường, tông nầy chú trọng vào ý niệm triết học tương dung tương tức mà các vị tổ sáng lập tông nầy đã trực nhận được từ kinh Hoa Nghiêm. Mặc dù hoàn toàn căn cứ vào kinh Hoa Nghiêm, nhưng phần nhiều các thuật ngữ chuyên môn khiến cho tông nầy được phổ biến lại không dựa trên kinh này, mà có trong những luận giải của các vị khai tổ. Sáng lập tông nầy thường được ghi lại gồm năm vị tổ: 1. Đỗ Thuận 杜順 (c: Dushun). 2. Trí Nghiễm 智儼 (c: Zhiyan). 3. Pháp Tạng 法藏 (c: Fazang). 4. Trừng Quán 澄觀 (c: Chengguan). 5. Tông Mật 宗密 (c: Zongmi). Một nhân vật quan trọng khác xiển dương sâu rộng tư tưởng Hoa Nghiêm là cư sĩ học giả Lý Thông Huyền (Li Tongxuan 李通玄). Một số căn nguyên của tông nầy còn như được tiếp truyền từ các vị tổ trước đây nữa như Mã Minh (Aśvaghoṣa 馬鳴), Long Thụ (Nāgārjuna 龍樹). Mặc dù có những khía cạnh về phả hệ truyền thừa đã được sắp đặt rõ ràng trước, khá chính xác để thừa nhận rằng những vị Tổ nầy mỗi người đều đóng một vai trò nổi bật và đặc sắc trong sự phát triển Hoa Nghiêm tông nầy. Đỗ Thuận nổi tiếng là vị đã thiết lập một nền học thuật nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm như một lĩnh vực chuyên biệt; Trí Nghiễm được xem là người lập nên giáo lý căn bản cho tông nầy; Pháp Tạng được xem là vị đã hợp lý hoá học thuyết kinh Hoa Nghiêm để được quần chúng công nhận sâu rộng hơn; Trừng Quán và Tông Mật được biết là đã phát triển giáo lý sâu sắc và truyền bá mạnh mẽ hơn. Sau thời của Tông Mật và Lý Thông Huyền, tông Hoa Nghiêm của Trung Hoa nói chung bị đình trệ về mặt phát triển cái mới, cuối cùng trở nên suy thoái. Tông nầy, vốn truyền bá nhờ vào sự hỗ trợ của triều đình, phải chịu đựng sự khắc nghiệt qua cuộc thanh trừng 8415 (?) (Pháp nạn Hội Xương thời Đường Vũ Tông) , tông nầy không phục hồi được sinh lực như xưa nữa. Tuy nhiên, tư tưởng siêu hình học sâu mầu của tông nầy như về Tứ pháp giới (four dharmadhātu 四法界) tương tức tương nhiếp đã coa ảnh hưởng sâu đậm trong sự tồn tại của các tông phái Phật giáo Á đông, đặc biệt là Thiền tông. Ảnh hưởng lâu dài và lớn nhất của tông Hoa Nghiêm có thể được thấy ở Triều Tiên, nơi tông nầy được truyền bá do ngài Nghĩa Tương (k: Ŭisang 義湘), cùng với Pháp Tạng, là môn đệ của ngài Trí Nghiễm. Sau khi Nghĩa Tương trở về Triều Tiên năm 671, ngài tận lực xiển dương tông Hoa Nghiêm trên bán đảo nầy. Trong nỗ lực đó, ngài được hỗ trợ lớn lao bởi uy tín của pháp hữu là Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉), là người mặc dù không đại diện chính thức cho tông nầy, nhưng đã căn cứ rất sâu sắc vào tư tưởng siêu hình học trong kinh Hoa Nghiêm để lập nên tư tưởng 'Thông Phật giáo通佛教'. Sau khi hai vị nầy viên tịch, tông Hoa Nghiêm trở nên phát triển mạnh mẽ nhờ vào ảnh hưởng của nhiều bậc thầy trong chính tông phái ấy. Tông Hoa Nghiêm duy trì được vị trí tông phái có giáo lý nổi bật ở Triều Tiên mãi cho đến thời kỳ Koryŏ, khi tông nầy được đặt vào vị thế phải hoà nhập với Thiền tông. Trong Thiền tông, tư tưởng Hoa Nghiêm tiếp tục đóng vai trò chủ yếu và kéo dài như vậy cho đến ngày nay. Việc nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm được bắt đầu ở Nhật Bản vào năm 736 khi Tăng sĩ học giả Lương Biện (j: Rōben 良辯) (nguyên là một học giả Pháp tướng tông) mời một Tăng sĩ Triều Tiên Là Thẩm Tường (k: Simsang 審祥) giảng thuyết về kinh Hoa Nghiêm tại Kim Chung tự (Konshuji 金鐘寺) Khi việc kiến thiết chùa Đông Đại tự (Tōdaiji 東大寺) đã xong, Lương Biện ở tại chùa nầy chính thức đưa kinh Hoa Nghiêm vào như một lãnh vực nghiên cứu chính của Phật giáo Nhật Bản, và tông Hoa Nghiêm trở nên một trong “Sáu tông phái của Phật giáo Nại Lương”. Tư tưởng Hoa Nghiêm về sau được phổ biến ở Nhật Bản do Minh Huệ (Myōe 明惠), người đã phối hợp giáo lý Hoa Nghiêm với Mật giáo; và ngài Ngưng Nhiên (j: Gyōnen 凝然), người đã có công sáng lập phái Đông Đại Tự thuộc tông Hoa Nghiêm. Sự góp phần quan trọng nhất về mặt triết học của tông Hoa Nghiêm là lãnh vực siêu hình học, như được trình bày qua giáo lý tương dung tương tức của mọi hiện tượng (sự sự vô ngại), một trong tất cả, tất cả trong một.

hoa nghiêm tứ phần

5242大藏聖教法寶標目將新譯華嚴經九會說法分爲四分,即:(一)舉果勸樂生信分,略稱信分,即第一會中舉揚如來依正二報殊勝之果,以勸勵當機者生起欣樂、淨信之心,故稱信分。(二)修因契果生解分,略稱解分,即第二會至第七會以進修十信、十住、十行、十回向、十地、十定等六位之圓因,契證十身之妙果,令聞者生勝解,故稱解分。(三)託法進修成行分,略稱行分,謂與會大眾既對前七會生起勝解,即於第八會攝解成行,隨舉一行而六位頓修,故稱行分。(四)依人證入成德分,略稱證分,即於第九會中諸行既已圓滿具足,則隨事而顯理;亦即善財童子歷參善知識,隨其所見所聞而無不證入,故稱證分。(參閱「大方廣佛華嚴經」758) ; (華嚴四分) Bốn phần của kinh Hoa nghiêm. Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục chia 9 hội thuyết pháp trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) làm 4 phần: 1. Cử quả khuyến nhạo sinh tín phần (gọi tắt là Tín phần): Trong pháp hội thứ 1 nêu lên quả vị thù thắng về y báo về chính báo của đức Như lai để khuyến khích kẻ đương cơ sinh tâm ưa thích mà phát khởi tịnh tín, cho nên gọi là Tín phần. 2. Tu nhân khế quả sinh giải phần (gọi tắt là Giải phần): Từ pháp hội thứ 2 đến pháp hội thứ 7, đem viên nhân để tiến tu 6 giai vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa và Thập định, khế chứng diệu quả Thập thân, khiến cho người nghe sinh thắng giải, cho nên gọi là Giải phần. 3. Thác pháp tiến tu thành hạnh phần (gọi tắt là Hạnh phần): Đại chúng đối với 7 pháp hội trước đã sinh khởi thắng giải, nay trong pháp hội thứ 8 này nhiếp giải thành hạnh, tùy theo mỗi hạnh mà đốn tu 6 giai vị, cho nên gọi Hạnh phần. 4. Y nhân chứng nhập thành đức phần (gọi tắt là Chứng phần): Trong pháp hội thứ 9 các hạnh đều viên mãn đầy đủ thì tùy sự mà hiển lí, cũng tức là đồng tử Thiện tài đi tham vấn các bậc thiện tri thức, tùy theo chỗ thấy nghe của mình mà được chứng nhập, cho nên gọi là Chứng phần. (xt. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh).

hoa nghiêm tự

5242請參閱 續華嚴經略疏刊定記 或 華嚴經刊定記<一>位於山西五臺山。爲賢首大師法藏所建五華嚴寺之一。日僧圓仁曾到此參訪。寺內所供奉之文殊菩薩像,靈驗馳名。惜本寺今已廢絕。 <二>位於山西大同市西門內。爲遼金時代我國華嚴宗重要寺廟之一。寺內曾奉安諸帝石、銅像,在當時尚兼具遼皇室祖廟性質。明代中業以後分爲上、下華嚴寺,各開山門,自成格局。上華嚴寺又稱上寺,始建於遼,形制古樸,氣勢雄渾。保大之亂(1122)時毀於兵火。金天眷三年(1140)於舊址重建,大雄寶殿即爲金代之遺物。殿面闊九間,深五間,總面積爲一五五九平方公尺,爲現存遼金時期最大佛殿之一。殿內供奉金身五如來,正中三尊係木雕,爲明代宣德二年(1427),了然禪師所募造,面容上寬下窄,肉髻上有桃狀突起之寶珠,與藏式佛像近似。壇兩側侍立二十諸天,神情不一,姿態各異,皆前傾十五度,別具一格。四壁飾以壁畫,面積廣達八八七平方公尺,爲全國少有。其他尚有明代成化元年(1465)、萬曆九年(1581)所立石碑,殿前有遼太康二年(1076)立之陀羅尼石幢。 下華嚴寺又稱下寺,其正殿(薄伽教藏殿)建於遼重熙七年(1038),爲我國現存最古木造建築之一,亦爲我國現存最完整最古老之教藏殿。殿內所塑大小佛像、菩薩、金剛三十一尊,皆爲遼代原塑。殿後壁之藏經樓閣,欄版花紋,屋頂有瓦獸等裝飾,精細而富於變化,爲我國僅存完美玲瓏之遼代小木作模型。內存明清藏經一千七百餘函,計一萬八千餘冊。 <三>位於山東嶗山之東,那羅延山(華嚴山)山麓。爲嶗山唯一現存之佛寺。明代崇禎時即墨人黃宗昌所捐造,初名華嚴庵,又稱華嚴禪院,後毀於兵火。清代初年,黃坦資助慈霑禪師重建於今址,民國二十年(1931)改今名。山門外有塔院,內有九級磚塔,爲該寺第一代住持慈霑法師之墓塔。寺內舊藏文物甚豐,除大部藏經外,有明版經典、名人書畫、佛像等,惜屢經戰亂,已無所存。 <四>位於陝西長安少陵原半山坡上,北距西安市十五公里。建於唐代德宗貞元十九年(803),爲我國華嚴宗之發源地。明代改稱開福寺。清代乾隆年間,少陵原一部分崩塌,寺內殿宇全毀,今僅存磚塔兩座,東爲華嚴宗初祖杜順禪師塔,西爲華嚴宗四祖清涼國師塔。(參閱「開福寺」5310) <五>位於四川安岳城外五十公里處。寺內依崖鑿洞,寬八公尺,深十公尺。正壁造華嚴三聖像,兩壁各刻五菩薩像,面頰豐滿,神情自如,衣服輕薄柔軟,線條流暢。左側有般若洞,正壁一佛二菩薩,兩壁下層刻十八羅漢,上層刻二十四諸天,形相古樸,洞有南宋嘉熙四年(1240)題「庚子嘉熙大般若洞」等字,考據其造像藝術風格及形制,當爲宋代作品。 <六>韓國佛教三十一本山之一。位於全羅南道求禮郡智異山,緣起禪師建於新羅時代真興王五年(544),爲韓國四大寺院之一。屬少有之大建築,又稱禪教兩宗大伽藍大華嚴寺。元曉、義湘曾在此講授華嚴經。賢俊於此成立華嚴經社,爲華嚴經弘通之中心。宣祖王二十六年(1592),毀於兵火,三十九年碧巖予以重建以來,成爲禪宗道場。寺內有新羅時代五層之東西兩塔,舍利塔與唐州佛國寺之多寶塔並稱新羅佛塔雙璧。 <七>山號谷汲山,屬日本天台宗,位於岐阜縣揖斐郡谷汲村。建於日本平安時代初期,相傳嘗自土中湧現油料,成爲燃燈用油。此寺受醍醐天皇賜給敕額,成爲一所敕願寺。南北朝時代,曾遭新田軍破壞。寺內收藏許多笈摺(遊方僧所穿之無袖外衣)。 ; (華嚴寺) I. Hoa Nghiêm Tự. Chùa ở núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, do đại sư Hiền thủ Pháp tạng xây dựng vào đời Đường. Trong chùa thờ tượng bồ tát Văn thù nổi tiếng rất linh nghiệm. Tiếc rằng chùa này nay không còn nữa. II. Hoa Nghiêm Tự. Chùa ở cửa Tây thành phố Đại đồng, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, là một trong những ngôi chùa trọng yếu của tông Hoa nghiêm ở thời đại Liêu Kim. Trong chùa thờ các tượng các vị vua bằng đá hoặc đồng mang tính chất Tổ miếu Hoàng thất của nhà Liêu đương thời. Từ giữa đời Minh về sau, chùa được chia làm 2 phần: Hoa nghiêm thượng và Hoa nghiêm hạ, mỗi chùa mở sơn môn và tự thành kiểu cách riêng. Chùa Hoa nghiêm thượng cũng gọi là chùa Thượng, được xây dựng vào đời nhà Liêu, kiến trúc theo lối cổ, trang nghiêm hùng vĩ. Năm 1122, chùa bị binh hỏa hủy hoại. Năm 1140, chùa được làm lại trên nền chùa cũ. Đại hùng bảo điện hiện nay chính là kiến trúc của đời Kim còn lại. Mặt trước chính điện rộng 9 gian, sâu vào 5 gian, tổng diện tích 1559m2, là một trong những tòa Phật điện lớn nhất ở thời Liêu Kim còn tồn tại đến ngày nay. Trong điện thờ tượng Kim thân của 5 đức Phật, 3 pho ở giữa là tượng gỗ do thiền sư Liễu nhiên khắc tạo vào năm Tuyên đức thứ 2 (1427) đời Minh. Gương mặt các pho tượng có trán rộng, cằm thon, trên đỉnh đầu có viên bảo châu hình trái đào nổi lên (nhục kế) gần giống với kiểu tượng Tây tạng. Hai bên bệ thờ có 20 Thiên thần đứng hầu, thần sắc mỗi vị một khác, mỗi tượng mỗi vẻ. Bốn mặt vách đều có các bức vẽ to lớn rộng khoảng 887m2. Trong chùa còn có các tấm bia đá được dựng vào các năm 1465 và 1581 đời Minh. Trước chính điện có cột đá khắc Đà la ni (thần chú) được dựng vào năm 1076 đời Liêu. Chùa Hoa nghiêm hạ, cũng gọi là chùa Hạ, Chính điện (Bạc già giáo tạng điện) được kiến tạo vào năm Trùng hi thứ 7 (1038) đời Liêu, là một trong những kiến trúc bằng gỗ xưa nhất và cũng là Giáo tạng cổ nhất, hoàn chỉnh nhất hiện còn tại Trung quốc. Trong điện có 31 pho tượng Phật, Bồ tát, Kim cương lớn nhỏ bằng đất, đều được đắp từ đời Liêu. Lầu kinh ở phía sau chính điện có lan can chạm trổ hoa văn, trên mái có trang sức những con thú bằng sành, rất sinh động, như đang biến hóa. Đây là kiến trúc bằng gỗ tuy nhỏ nhưng hoàn mĩ của đời Liêu còn lại ở Trung quốc. Bên trong lầu còn hơn 1.700 hòm kinh thuộc các Tạng Minh, Thanh, chứa tới hơn 18.000 quyển. III. Hoa Nghiêm Tự. Chùa ở chân núi Na la diên (núi Hoa nghiêm), phía đông Lao sơn thuộc tỉnh Sơn đông, Trung quốc, do ông Hoàng tông xương xây dựng vào khoảng năm Sùng trinh đời Minh. Đây là ngôi chùa cổ duy nhất hiện còn tại Lao sơn. Mới đầu, chùa được đặt tên là am Hoa nghiêm, rồi đổi là Thiền viện Hoa nghiêm, sau bị binh lửa phá hủy. Vào năm đầu đời Thanh nhờ sự giúp đỡ của ông Hoàng thản, thiền sư Từ triêm xây dựng lại ngôi chùa trên nền hiện nay. Năm 1931, chùa được đổi tên là Hoa nghiêm tự. Bên ngoài cổng chùa có Tháp viện, trong viện có ngôi tháp gạch 9 cấp, là mộ tháp của thiền sư Từ triêm, vị trụ trì đầu tiên của chùa này. Trong chùa còn cất giữ rất nhiều di vật văn hóa xưa, ngoài bộ Đại tạng kinh, còn có các bản khắc kinh điển, các thủ bút và họa phẩm của các danh nhân đời Minh, nhưng rất tiếc là qua nhiều cuộc chiến tranh nên nay đều không còn. IV. Hoa Nghiêm Tự. Chùa ở trên gò Thiếu lăng, huyện Trường sa, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, cách thành phố Tây an về phía bắc 15km, được xây dựng vào năm Trinh nguyên 19 (803) đời vua Đức tông nhà Đường. Chùa này là nơi bắt nguồn của tông Hoa nghiêm Trung quốc. Đến đời Minh, chùa được đổi tên là chùa Khai phúc. Vào khoảng năm Càn long đời Thanh, vì một phần gò Thiếu lăng bị sụt lở, nên nhà điện của chùa đều bị hư hoại, nay chỉ còn 2 tòa tháp gạch: Tòa phía đông là tháp của ngài Đỗ thuận, Sơ tổ tông Hoa nghiêm; tòa phía tây là tháp của quốc sư Thanh lương, Tổ thứ 4 tông Hoa nghiêm. (xt. Khai Phúc Tự). V. Hoa Nghiêm Tự. Cũng gọi Thiền giáo lưỡng tông Đại già lam Đại Hoa nghiêm tự. Chùa ở núi Trí dị, quận Cầu lễ, tỉnh Toàn la nam, Hàn quốc, do thiền sư Duyên khởi xây dựng vào năm Chân hưng vương thứ 5 (544) thời đại Tân la, là một trong 4 chùa lớn tại Hàn quốc. Hai ngài Nguyên hiểu, Nghĩa tương từng giảng dạy kinh Hoa nghiêm tại chùa này. Cũng tại nơi đây, ngài Hiền tuấn thành lập trung tâm hoằng truyền kinh Hoa nghiêm. Năm 1592 chùa bị binh lửa thiêu hủy. Năm 1605, ngài Bích nham dư xây dựng lại làm đạo tràng Thiền tông. Trong chùa có 2 ngôi tháp cao 5 tầng ở phía đông và phía tây. Trong đó, tháp Xá lợi cùng với tháp Đa bảo của chùa Phật quốc ở Đường châu được gọi là Song bích Phật tháp(hai viên ngọc tháp Phật) của nước Tân la. VI. Hoa Nghiêm Tự. Chùa ở thôn Cốc cấp, quận Ấp phỉ, huyện Kì phụ, thuộc tông Thiên thai Nhật bản, được xây dựng vào đầu thời đại Bình an. Tương truyền, trong chùa thường có nhiên liệu từ dưới đất phun lên và được dùng làm dầu đốt đèn. Bảng hiệu chùa này do Thiên hoàng Đề hồ ban cho, nên chùa trở thành một ngôi Sắc nguyện tự (chùa nhà vua đến cầu nguyện). Về sau, chùa bị quân Tân điền phá hủy trong chiến tranh thời Nam Bắc triều. Trong chùa còn cất giữ rất nhiều cấp triệp (loại áo của du tăng mặc ở bên ngoài, áo không có tay).

hoa nghiêm viện

5250位於湖北襄陽城東南十七公里處之鹿門山。因南齊建武年中(494~497)習郁於山中立神祠,並置二石鹿,故俗稱鹿門山。隋唐以來,隱逸之士多喜棲此。本院建於唐代,後處真禪師於此大宏曹洞之法,遂成十方叢林,明代擴建,改爲禪寺。 ; (華嚴院) Chùa viện ở núi Lộc môn, cách thành Tương dương tỉnh Hồ bắc về mạn đông nam 17km. Trong năm Kiến vũ (494-497) đời Nam Tề, ông Tập úc lập miếu thờ thần ở trong núi, hai bên cửa miếu có đặt 2 con nai bằng đá, do đó tục gọi là núi Lộc môn (núi của nai). Viện Hoa nghiêm được xây dựng vào đời Đường. Về sau, thiền sư Xử chân đến đây hoằng truyền Thiền pháp Tào động, cho nên nơi này trở thành tùng lâm của chúng tăng. Đến đời Minh, viện được xây cất rộng thêm và đổi thành Thiền tự.

hoa nghiêm xã

5248唐代之佛教社團。長慶二年(822),杭州龍興寺南操邀請靈隱寺道峰講說華嚴經。南操聽聞華藏世界品而心生歡喜,故發願勸十萬人,乃至一千萬人,共同誦念華嚴經。此後每年舉行四次集會及持齋會,其費用則由大眾勸募而來。白居易(722~847)亦爲社中一員,於寶曆二年(826)應南操之請,爲社書一碑文,並刻於石上。〔佛祖統紀卷四十二〕 ; (華嚴社) Xã đoàn Hoa nghiêm được thành lập ở đời Đường. Năm Trường khánh thứ 2 (822), ngài Nam tháo ở chùa Long hưng tại Hàng châu, thỉnh ngài Đạo phong ở chùa Linh ẩn giảng kinh Hoa nghiêm. Khi nghe đến phẩm Hoa tạng thế giới thì trong tâm ngài Nam tháo sinh niềm hoan hỉ khó tả, do đó ngài phát nguyện khuyến khích 10 vạn người cho đến 1.000 vạn người cùng tụng kinh Hoa nghiêm. Từ đó về sau cứ mỗi năm tổ chức 4 lần tập hội và trai hội. Thi hào Bạch cư dị (772-847) cũng là Xã viên của Xã đoàn này. Vào năm Bảo lịch thứ 2 (826), theo yêu cầu của các xã viên, ông có viết một bài văn bia về Hoa Nghiêm Xã, được khắc vào bia đá. [X. Phật tổ thống kỉ Q.42].

hoa nghiêm đầu

5255禪宗寺院之職稱。爲街坊化主之一。其職爲向檀越講說華嚴經之功德,以勸募之。唐代一般寺院皆設有此職。〔禪苑清規卷四街坊化主、禪林象器箋職位門〕 ; (華嚴頭) Chức vụ giảng nói về công đức của kinh Hoa nghiêm cho người đàn việt (tín đồ) nghe. Thông thường, các chùa viện thuộc Thiền tông ở đời Đường đều có đặt ra chức vụ này. [X. Nhai phường hóa chủ trong Thiền uyển thanh qui Q.4; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Hoa nghiêm 華嚴

[ja] ケゴン kegon ||| (1) To be decorated with various kinds of bright colored flowers; 'flower adornment.'(2) A reference to the Flower Ornament Scripture (Avataṃsakasūtra; 華嚴經) or the Huayan school 華嚴宗 of Buddhism. [ja] ケゴンイチジョウキョウギブンザイショウ Kegon ichijō kyōgi bunzaishō ||| Huayan yisheng jiao fenqi zhang; T 1866.45.407509. by Fazang 法藏. 華嚴一乘教義分齊章 => 1.Trang nghiêm bằng vô số các loài hoa rực rỡ; “trang nghiêm bằng hoa.” 2. Chỉ cho kinh Hoa Nghiêm (Avataṃsakasūtra; 華嚴經) hay tông Hoa Nghiêm Phật giáo.

hoa ngôn

Flowery words.

hoa nhung

5233又作花䘬。爲盛花之器具。印度供養高貴之人時所捧以盛花之器物。後來法會所用之華籠即仿此而作。(參閱「衣䘬」2569、「華籠」5256)

hoa nhài

Mallikà (S). Jasmin flower.

hoa niên

Heyday of youth.

hoa nội tam chướng

5228華,指蓮花。謂犯五逆重罪與誹謗正法之人雖藉念佛之力,而蒙彌陀攝取,往生淨土;然以五逆與謗法之罪業深重,仍須於蓮花內受三種障,方能安享淨土之樂。此三障即:(一)不得見佛及諸聖眾,(二)不得聽聞正法,(三)不得歷事供養。除此以外更無諸苦。 蓋往生淨土之人多經由「化生」之方式,亦即蒙彌陀接引之後,即自然化生於七寶蓮花之中,跏趺而坐。然上記罪業深重之人於蓮花中化生之後,蓮花閉合多劫,彼等則於蓮花之內,受不得見佛等三種障難,故稱華內三障。此係觀無量壽經與唐代善導大師之觀經疏散善義所說;若據無量壽經之說,則犯五逆重罪與誹謗正法之人皆不得往生淨土。〔無量壽經卷下、往生論〕(參閱「五逆」1142、「誹謗正法」6166) ; (華內三障) Ba chướng nạn trong hoa sen. Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ và Quán kinh sớ tán thiện nghĩa, thì người phạm những tội ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp, tuy nhờ sức niệm Phật mà được đức Phật A di đà tiếp nhận, vãng sinh Tịnh độ, hóa sinh trong hoa sen, nhưng hoa sen vẫn chưa nở, phải chịu 3 thứ chướng nạn trong nhiều kiếp, rồi mới được an hưởng niềm vui của Tịnh độ. Ba chướng là: 1. Không được thấy Phật và các Thánh chúng. 2. Không được nghe chính pháp. 3. Không được làm những việc cúng dường. Nhưng theo kinh Vô lượng thọ, thì những người phạm các tội ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp đều không được vãng sinh Tịnh độ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Vãng sinh]. (xt. Ngũ Nghịch, Phỉ Báng Chính Pháp).

hoa phong sơn chí

5232凡五卷。清代僧鑑傳撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。華峰山位於廣東增邑城南四十六公里。昔融老和尚,由江西黃山寺退院,南遊,因愛增城之南樵山幽勝,乃築山而居,是爲本山始祖。其後頹毀,至康熙二十一年(1682),南樵和尚來主此山,於梅林之上創建海門禪寺;乾隆年間(1736~1795),本源禪師奮志中興,遷殿於梅林之下,仍號海門禪院。清代光緒年間(1875~1908),寺僧鑑傳撰山志五卷,首敘名勝,繼述院中諸人物,並歷代碑記序疏,及諸遊客詩,卷四附覺海之「虛舟遺稿」,卷五爲鑑傳之「藏拙堂詩存」。志雖以山名,實爲海門禪院而作。

hoa phát

Kusuma-mala (skt)—A wrath of flowers.

hoa phương

The flowery region—Phương Nam có nhiều hoa—The South, the flowery region.

hoa phạm

See Hoa Phạn.

hoa phạn

Trung Hoa và Ấn Độ—China and India.

hoa quang

Padmaprabha (S). Lotus-radiance, the name by which Sàriputra is to be known as a Buddha. ; Padmaprabha (skt)—Trong Kinh Pháp Hoa, Phật thọ ký cho tôn giả Xá Lợi Phất sau nầy sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang—Lotus-radiance—The name by which Sariputra is to be known as a Buddha.

hoa quang như lai

Padmaprabhā (S)Hoa Quang Như Lai là Phật vị lai, hậu thân của ngài Xá lợi Phất, cõi giới của Hoa Quang Như Lai là Ly Cấu, kỳ kiếp của ngài là Đại Bảo trang nghiêm vì có vô số Bồ tát đều đồng hiệu Đại Bảo. ; Padmaprabha-Buddha (skt)—See Hoa Quang, and Xá Lợi Phất.

hoa quang phật

Padmaprabha-Buddha (skt)—See Hoa Quang, and Xá Lợi Phất.

hoa quang xuất phật

5229據無量壽經卷上載,極樂淨土之蓮花放出光明,其光中現出三十六百千億佛,遍至十方世界說法,以救度眾生,此謂華光出佛。 ; (華光出佛) Chư Phật hiện ra trong hào quang hoa sen.Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng, thì hoa sen ở cõi Tịnh độ cực lạc phóng ra ánh sáng. Trong ánh sáng ấy có 3 trăm nghìn ức Phật thuyết pháp khắp các thế giới trong 10 phương để cứu độ chúng sinh. Sự kiện này được gọi là Hoa quang xuất Phật .

hoa quang đại đế

Asvakarna (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Hoa Quang Đại Đế, thần lửa của Trung Quốc, tiền thân đầu tiên của Đức Phật Thích Ca được nói đến trong 1.000 vị Phật—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Budhist Terms, Asvakarna, the Chinese god of fire, mentioned in a list of 1,000 Buddhas and “who is reported to have lived here in his first incarnation.”

hoa quả

Flower and fruit.

hoa râm

Grey hair.

hoa sen

Padma (S). Lotus, rose lotus. ; Một biểu tượng của Phật giáo—Lotus flower, a symbol of Buddhism.

hoa sen trắng

Pundarìka (S). White lotus.

hoa sen xanh

Puṣkara (S), Blue lotus. ; Puskara, utpala (S). Blue lotus.

hoa sen đỏ

Kamala (S). ; Kamala (S). Red lotus.

hoa sĩ

Puspadanti (skt)—Tên của một La sát nữ—Flowery teeth—Name of a raksasi.

hoa sĩ la sát nữ

Puṣpa-dantī (S)Thi Hoa La sát nữTên một vị thiên.

hoa sơn

5227(1870~1918)浙江樂清人,俗姓陳。十二歲出家於樂清靜濟寺。受戒後,泛歷講習,而資性敏明,能依所聞之義,當眾敷演。後閉關於靜濟寺,又結茅於天台山深處,至三十歲始出。嘗於浙江成立僧教育會,開僧學風氣之先。光緒三十四年(1908),與太虛大師會晤於慈谿西方寺,對太虛之佛教革新思想多所影響。民國七年示寂,世壽四十九。 ; He shan (C), Kwazan (J)Quan Sơn Huệ Huyền. ; Một trong năm ngọn núi thiêng liêng của Trung quốc—One of the Five Sacret Mountains of China—See Cửu Hoa Sơn.

hoa sơn tín thắng

3506(1898~ )日本佛教學學者。畢業於東京大學文學部印度哲學科。曾任東京大學教授。著有聖德太子御製法華義疏の研究、勝鬘經義疏の上宮王撰に關する研究、原本校註漢和對照往生要集、日本佛教、萬世を照らすもの等。

hoa tai

Ear-ring.

hoa tay

Skilled hands.

hoa thai

5231又作含華、胎生、宮胎。願往生西方之人,以疑惑佛智之心未去,雖因善根得生淨土,然因疑惑故,五百歲中包於蓮華胎內,不能見聞三寶,猶如兒在母胎,不能見聞世間,故稱華胎。 ; 5234指佛菩薩之臺座。佛菩薩之臺座大都以蓮華所成,故稱華臺。大日經疏卷十五(大三九‧七三三下):「如世人以蓮華爲吉祥清淨,能悅可眾心,今祕藏中亦以大悲胎藏妙法蓮華爲最深祕吉祥,一切加持法門之身,坐此華臺也。」(參閱「蓮臺」6155) ; Thai Liên Hoa trong đó những kẻ nghi hoặc và mỏng đức sẽ bị giữ lại trong 500 năm, không thấy được Tam Bảo, giống như đứa trẻ bị bọc trong thai mẹ, chỉ được thấy Phật nghe pháp và vãng sanh khi nào Hoa Thai mở ra—The lotus womb in which doubters and those of little virute are detained in semi-bliss for 500 years before they can be born into the Pure Land by the opening of the lotus. ; (華胎) Cũng gọi Hàm hoa, Thai sinh, Cung thai. Nằm trong bào thai hoa sen. Những người phát nguyện sinh về nước Cực lạc phương Tây, tuy nhờ căn lành được vãng sinh Tịnh độ, nhưng vì tâm nghi ngờ tha lực của Phật A di đà, nên phải nằm trong hoa sen 500 năm, không được thấy Phật nghe pháp, giống như hài nhi nằm trong thai mẹ, không được thấy nghe các việc bên ngoài, nên gọi là Hoa thai.

hoa thiên

Trường phái Hoa Nghiêm và Thiên Thai—The Avatamsaka (Hua-Yen) and T'ien T'ai schools.

hoa thành

Kusumapura (skt)—Nơi trị vì của Vua A Dục—The city of flowers. The residence of King Asoka.

hoa thơm

Gandhapītā (S), Gandhapushpa (S), Gandhakasumā (S), Fraggrant blossom.

hoa thị

See Pataliputra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

Hoa Thị thành

華氏城; S: pāṭaliputra; P: pāṭaliputta;|Một thành phố cổ của Ấn Ðộ, ngày nay là Patna. Dưới thời A-dục vương, Hoa Thị thành là kinh đô của xứ Ma-kiệt-đà (s, p: magadha) và là nơi hội nghị Kết tập lần thứ ba được tổ chức.

hoa thị thành

5228梵名 Pāṭaliputra,巴利名 Pāṭali-putta。又作波吒釐子、波吒羅、波羅利子、波羅利弗多羅、波吒唎補怛羅、巴羅利弗、巴隣、巴連弗。爲中印度摩揭陀國之都城,位於恆河左岸,即今之巴特納市(Patna)。波吒釐子,原爲樹名,因該城種此樹多,故以之爲城名。本城係摩揭陀國阿闍世王治世時,爲防跋耆族人之侵襲所建。 據中阿含卷六十「八城經」記載,佛陀入滅後,有眾多上尊名德皆曾住於城東南之雞園僧伽藍(梵 Kukkuṭārāma)。善見律毘婆沙卷二載,阿育王即位第十七年,請目犍連子帝須(巴 Moggaliputta-tissa)爲上座,召集長老一千人,於城西之阿育僧伽藍(巴 Asokārāma)從事第三次經典結集,費時九個月。此後,華氏城即成爲印度政治及佛教中心。阿育王並於城南營造大塔,廣爲豎立石柱等。又據大唐西域記所載,龍樹、提婆、馬鳴等諸論師,亦曾於此地降伏外道。至七世紀,玄奘至該城參訪時,城已荒廢。據傳故城之北有佛足石、過去四佛之座、大石室,城南有小石山、五窣堵波,城東南有阿摩落伽大窣堵波,城西北有揵稚窣堵波、鬼辯婆羅門所居處等故基,而於西元七五○年,恆河氾濫時,古都之大部分皆流失。晚近有西方學者從事於故城遺蹟之探討,並發表論著,如:L. Waddell:Excavations at Pāṭaliputra and exact site of Aśoka's classic Capital of Pāṭaliputra;P.C. Mukherji: Excavation of the site of Pāṭaliputra 等。〔長阿含卷二遊行經、舍利弗問經、仁王護國般若波羅蜜多經卷下奉持品、大智度論卷三、華嚴經探玄記卷十五、大唐西域記卷八、A. Cunningham: Ancient Geography of India;N.L. Dey: The geographical dictionary of ancient and mediaeval India〕 ; Patna (S), Pāṭaliputra (S), Pāṭaliputta (P), Patna (P)Ba trá lị phất thànhNăm 250 BC, vua A Dục tổ chức đại hội kiết tập kinh điển tại thành này. ; Kusumapura, Pusapura (S). The city of flowers, also known as Pàtaliputra, the modern Patna. It was the residence of King Asoka, he there convoked the third synod. ; Kusumapura or Puspapura (skt)—The city of flowers, or the palace of flowers—See Pataliputra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (華氏城) Phạm: Pàỉaliputra. Pàli: Pàỉali-putta. Cũng gọi Ba tra li tử, Ba tra la, Ba tra lợi tử, Ba la lợi phất đa la, Ba tra lị bổ đát la, Ba la lợi phất, Ba lân, Ba liên phất. Thủ đô nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, nằm ở tả ngạn sông Hằng, nay là thành phố Patna. Ba tra li tử nguyên là một loại cây được trồng nhiều ở nơi này, cho nên lấy tên cây để đặt tên thành. Trong thời cai trị nước Ma yết đà, vua A xà thế đã xây thành này để đề phòng sự xâm lăng của chủng tộc Bạt kì. Cứ theo kinh Bát thành trong Trung a hàm quyển 16 chép, thì sau khi đức Phật nhập diệt, có nhiều vị Cao tăng đại đức từng ở chùa Kê viên (Phạm: Kukkuỉàsàma) phía đông nam thành này. Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 chép, thì sau khi lên ngôi được 17 năm, vua A dục triệu tập 1.000 vị trưởng lão về chùa A dục (Pàli: Asokàràma) ở phía tây thành này, thỉnh ngài Mục kiền liên tử đế tu (Pàli: Moggaliputta-tissa) làm Thượng thủ, mở Đại hội kết tập kinh điển lần thứ 3, trong thời gian 9 tháng. Về sau, thành Hoa thị trở nên trung tâm chính trị và Phật giáo của Ấn độ. Vua A dục đã xây dựng các ngôi tháp lớn và cột đá ở phía nam thành này. Cứ theo Đại đường tây vực kí ghi chép, thì các luận sư Long thụ, Đề bà, Mã minh, v.v... cũng đã từng hàng phục ngoại đạo ở thành này. Đến thế kỉ VII, khi ngài Huyền trang sang Ấn độ thì thành này đã hoang tàn. Theo truyền thuyết, ở phía bắc ngôi thành cổ này có tảng đá in dấu bàn chân Phật, có tòa ngồi của 4 đức Phật quá khứ và thạch thất lớn; phía nam có núi đá nhỏ và 5 ngôi tháp; phía đông nam có đại tháp A ma lạc già; phía tây bắc có tháp Kiền trĩ và nền nhà cũ của Bà la môn Quỉ biện, v.v... nhưng vào năm 750 Tây lịch, khi nước sông Hằng tràn bờ gây ngập lụt thì phần lớn các di tích ở tòa thành cổ này đã bị cuốn trôi mất. Thời gần đây, các học giả phương Tây đã nghiên cứu về thành Hoa thị và kết quả của các cuộc nghiên cứu ấy đã được ghi lại trong các tư liệu như: Excavations at Pàỉaliputraand exact site ofAzoka’s classic Capital ofPàỉaliputracủa L. Waddell; Excavation of the sitc of Pàialiputracủa P. C. Mukherji, v.v... [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.2; kinh Xá lợi phất vấn; phẩm Phụng trì trong kinh Nhân vương hộ quốc Bát nhã Ba la mật đa Q.hạ; luận Đại trí độ Q.3; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15; Đại đường tây vực kí Q.8; A. Cunningham: Ancient Geography of India; N. L. Dey: The Geographical Dictionary of ancient and mediaeval India].

hoa thủ

Tay chấp theo kiểu hoa sen—The hands folded lotus fashion.

hoa thủ kinh

5228梵名 Kuśala-mūla-saṃgraha。凡十卷。姚秦鳩摩羅什譯。又稱華首經、攝諸善根經、攝諸福德經、攝善根經、攝福德經。收於大正藏第十六冊。本經記述佛陀在王舍城迦蘭陀竹園,現神力,攝四眾,十方菩薩皆來聚集,手持蓮花供養佛陀,佛陀爲斷除彼等之疑惑而宣說大乘菩薩得道經過、毀謗大乘行者之苦報及護持佛法、造像功德等。經名華手,即緣於諸菩薩手持花供養佛陀之故。〔歷代三寶紀卷八、開元釋教錄卷四〕 ; Kuśala-mŪla saṃgraha (S)Tên một bộ kinh. ; (華手經) Phạm: Kuzala-mùla-saôgraha. Cũng gọi Nhiếp chư thiện căn kinh, Nhiếp chư phúc đức kinh, Nhiếp thiện căn kinh, Nhiếp phúc đức kinh. Kinh, 10 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật ở trong vườn trúc Ca lan đà gần thành Vương xá, giảng nói cho các Bồ tát từ 10 phương đến nghe về quá trình chứng đạo của Bồ tát Đại thừa, về quả báo khổ đau của việc dèm chê người tu hành Đại thừa, về công đức tạo tượng và hộ trì Phật pháp…. Trong hội này, các Bồ tát đến tập họp, tay cầm hoa dâng cúng Phật, vì thế nên đặt tên kinh là Hoa thủ. [X. Lịch đại tam bảo kỉ quyển 8; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].

hoa tiêu

Aviator—Pilot.

hoa tiễn

3507密教在修敬愛法時所用供物之一。即於壇上置箭,以射厭離憎惡之心。此乃古來祕傳之法,異說眾多。一般傳說,花箭以蘇芳製造,長約四十公分。諸儀軌稟承錄卷一則謂以蓮莖爲箭。 據金剛頂瑜伽護摩儀軌載,修敬愛法時,觀想自本尊身中流出花箭,遍於無量世界,供養一切佛、聖賢,並射聲聞、緣覺之厭離心及六道四生之互憎恚心。 蓋花箭原指魔王。據大智度論卷五載,魔王以好美之欲誘惑人,破壞種種善事,故稱魔王爲花箭。其後,以慈悲之花箭射人之厭離憎惡心,而成就敬愛法,可謂係轉用花箭之義。〔摩訶止觀卷八下〕 ; (花箭) Mũi tên hoa. Một trong những thứ cúng dường được dùng khi tu pháp Kính ái trong Mật giáo. Tức là trên đàn tu pháp đặt một mũi tên tượng trưng cho việc bắn vào tâm nhàm chán ghét bỏ. Đây là pháp bí truyền từ xưa đến nay và có nhiều thuyết khác nhau. Truyền thuyết phổ thông cho rằng mũi tên hoa được làm bằng cây tía tô, dài độ 40cm. Nhưng Chư nghi quĩ bẩm thừa lục quyển 1 thì nói rằng tên được làm bằng cuống hoa sen. Cứ theo Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ, thì khi tu pháp Kính ái, hành giả quán tưởng, từ trong thân của Bản tôn tuôn ra những Hoa tiễn đầy khắp vô lượng thế giới, cúng dường hết thảy Phật, Thánh hiền, đồng thời bắn vào tâm chán lìa của Thanh văn, Duyên giác và tâm ghen ghét, hờn giận lẫn nhau của chúng sinh trong 6 đường. Hoa tiễn vốn chỉ cho Ma vương. Vì Ma vương, theo luận Đại trí độ quyển 5, hay dùng năm món dục lạc cám dỗ người tu hành nhằm phá hoại các hạnh lành, nên gọi Ma vương là Hoa tiễn. Về sau, Mật giáo dùng Hoa tiễn từ bi bắn vào tâm chán lìa, ghen ghét của chúng sinh để thành tựu pháp Kính ái, có lẽ đã chuyển dụng từ nghĩa gốc(chỉ cho Ma vương) của Hoa tiễn. [X. Ma ha chỉ quán Q.8 phần dưới].

hoa toà quán

5232乃觀無量壽經所說十六觀法之第七觀。又作華座想。即觀想阿彌陀佛蓮華座之莊嚴相。觀無量壽經(大一二‧三四二下);「於七寶地上作蓮花想,令其蓮花一一葉作百寶色。有八萬四千脈,猶如天畫,一一脈有八萬四千光,了了分明,皆令得見。華葉小者,縱廣二百五十由旬,如是蓮華有八萬四千大葉;一一葉間,有百億摩尼珠王以爲映飾,一一摩尼珠放千光明,其光如蓋,七寶合成,遍覆地上。釋迦毘楞伽摩尼寶以爲其臺,(中略)處處變化各作異相,或爲金剛臺,或作真珠網,或作雜花雲;於十方面隨意變現,施作佛事。」(參閱「十六觀」396) ; (華座觀) Cũng gọi Hoa tòa tưởng. Quán tưởng tòa sen trang nghiêm của đức Phật A di đà, là pháp quán thứ 7 trong 16 pháp quán của kinh Quán vô lượng thọ. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 342 hạ), nói: Trên đất bảy báu, quán tưởng hoa sen, mỗi cánh sen có trăm mầu sắc báu. Mỗi cánh có tám vạn bốn nghìn đường gân, giống như trời vẽ ra, mỗi gân có tám vạn bốn nghìn tia sáng, đều thấy được rõ ràng, cánh hoa bé nhỏ cũng rộng tới 250 do tuần. Thế mà mỗi hoa sen có tám vạn bốn nghìn cánh lớn thì rộng biết bao nhiêu; trong mỗi cánh sen có trăm ức hạt châu ma ni vương, mỗi hạt châu ma ni vương phóng ra nghìn ánh sáng lấp lánh, ánh sáng ấy giống như tàn lọng do bảy thứ báu hợp thành, che khắp mặt đất. Tòa sen này lấy Thích ca tì lăng già ma ni bảo làm đài, (...…) nơi nơi đều biến hóa ra các tướng lạ, hoặc làm đài kim cương, hoặc là lưới chân châu, hoặc làm mây hoa ở khắp 10 phương, tùy ý biến hiện mà thi tác Phật sự . (xt. Thập Lục Quán).

hoa tràng

Vòng hoa—Garland—Wreath.

hoa trì

Ikebana (J), Pond flower.

hoa tàn

Faded flower.

Hoa tích lâu các đà-la-ni kinh 花積樓閣陀羅尼經

[ja] ケシャクロウカクダラニキョウ Keshaku rōkaku darani kyō ||| The Huaji louge tuoluoni jing (T 1359.21.877878); see Huaji tuoluoni shenzhou jing 華積陀羅尼神呪經. => (c: Huaji louge tuoluoni jing ); Xem Hoa tích đà-la-ni thần chú kinh (c: Huaji tuoluoni shenzhou jing 華積陀羅尼神呪經).

Hoa tích đà-la-ni thần chú kinh 華積陀羅尼神呪經

[ja] ケシャクダラニシンジュキョウ Keshaku darani shinju kyō ||| The Huaji tuoluoni shenzhou jing; Skt. Puṣpakūṭadhāraṇī; Tib. me tog brtsegs pa [To.516/886]; (Dhāraṇī of the Flower Heap). (1) 1 fasc. (T 1356.21.874875), Dhāraṇī Incantation of the Heaped Flowers 華積陀羅尼神呪經, trans. Zhiqian 支謙. (2) 1 fasc. (T 1357.21.875877), Sutra of the Questions Posed by the Bodhisattvās the Lion Springs into Action 師子奮迅菩薩所問經 trans. unknown, c.317420 CE. (3) 1 fasc. (T 1358.21.876877), Dhāraṇī Spell of the Flower Arrangement 花聚陀羅尼呪經', trans. unknown. (4) 1 fasc. (T 1359.21.877878), , trans. Dānapāla 施護. (j: Keshaku darani shinju kyō; c: Huaji tuoluoni shenzhou jing; s: Puṣpakūṭadhāraṇī; t: me tog brtsegs pa; e: Dhāraṇī of the Flower Heap). => 1. Hoa tích đà-la-ni thần chú kinh 華積陀羅尼神呪經. 1 quyển, Chi Khiêm (Zhiqian 支謙) dịch. 2. Sư tử phấn tấn Bồ-tát sở vấn kinh (師子奮迅菩薩所問經 e: Sutra of the Questions Posed by the Bodhisattvās the Lion Springs into Action), 1 quyển. Dịch giả vô danh. 3. Hoa tụ đà-la-ni thần chú (花聚陀羅尼呪經 e: Dhāraṇī Spell of the Flower Arrangement), 1 quyển, dịch giả vô danh. 4. Hoa tích lâu các đà-la-ni kinh (花積樓閣陀羅尼經; e: Dhāraṇī of the Pavilion of Heaped Flowers), 1 quyển, Thi Hộ (Dānapāla 施護) dịch.

hoa túc an hành phật

Padmavṛṣabla-vikramin (S)Tên một vị Phật hay Như Lai. Phật hiệu của Kiên Mãn Bồ tát.

hoa tươi

Fresh flower.

hoa tạng

Lotus-treasury. ; Lotus treasury.

hoa tạng (dữ) cực lạc

Thế giới Hoa Tạng có nguồn vui kỳ diệu không gì hơn—The Lotus world and that of Perfect Joy of Amitabha and other Buddhas.

hoa tạng bát diệp

Mạn Đà La của Thai Tạng Giới—The mandala of Garbhadhatu.

Hoa Tạng Giới

(華藏界): gọi tắt của từ Liên Hoa Tạng Thế Giới (蓮華藏世界), thế giới trang nghiêm và thanh tịnh theo hạnh nguyện của đức Phật Tỳ Lô Giá Na (s: Vairocana, 毘盧遮那) được thuyết trong Kinh Hoa Nghiêm (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經).

hoa tạng giới

World of Lotus-store, Flower Store World Toàn thể vũ trụ. ; See Liên Hoa Tạng Thế Giới.

hoa tạng giới hội

See Hoa Tạng Thế Giới.

hoa tạng thế giới

The lotus-store, or lotus-world, the Pure Land of Vairocana, also the Pure Land of all Buddhas in their enjoyment bodies. ; Theo Kinh Hoa Nghiêm, đây là pháp hội của thế tạng hay cõi nước Tịnh Độ của Phật Tỳ Lô Giá Na, mà cũng là cõi Tịnh Độ của chư Phật. Tầng dưới cùng là phong luân, trên phong luân có biển “Hương Thủy” trồi ra đóa Đại Liên Hoa ngàn cánh, trong đóa sen nầy chứa vô số những thế giới khác nhau, gọi tắt là “Hoa Tạng Thế Giới (còn gọi là Báo Độ hay Phật Độ. Các Đức Phật chứng đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác/Anuttara-Samyak-Sambodhi, dùng tịnh thức chuyển biến ra các thế giới, vì thế cho nên gọi là thế giới chư Phật. Tiếng Phạn là ksetra, nghĩa là cõi hay cõi nước. Vì là chỗ ở của báo thân nên gọi là “báo độ.” Kinh Hoa Nghiêm/Avatamsaka-Sutra nói:“trong biển hương thủy sanh hoa sen lớn, trong hoa sen hàm chứa thế giới như số vi trần, cho nên gọi là hoa tạng thế giới hải.” Hoa sen lớn là thí dụ chơn như pháp giới. Hoa sen mọc từ trong bùn nhơ mà không nhiễm mùi bùn, ví như chơn như tuy ở khắp thế gian nhưng không bị thế gian làm ô nhiễm. Mỗi thế giới đều là chỗ cư trú cho loài hữu tình)—According to the Flower Adornment Sutra, the lotus store, or the lotus world, the Pure Land of Vairocana, also the Pure Land of all Buddhas in their sambogakaya (enjoyment bodies). Above the wind or air circle is a sea of fragrant water, in which is the thousand-petal lotus with its infinite variety of worlds, hence the meaning is the Lotus which contains a store of myriads of worlds—See Hoa Vương Thế Giới. **For more information, please see Báo Độ ,and Phật Độ in Vietnamese-English Section.

hoa tạng tự

5235<一>位於韓國京畿道長湍郡寶鳳山(距開城一點七公里)。高麗忠肅王時,西域僧提納薄陀尊者(指空禪賢)應王之請入開城,被迎入內院,頗受優遇。後移居寶鳳山中,大建堂塔,遂成大叢林。每逢夏期,則僧徒聚居坐禪,當時頗爲興盛。李朝仁祖末年,重營伽藍,歷經五、六年而成。後遭焚毀,孝宗時復建。今存有大雄殿、七重石塔、冥府殿、寂默堂、萬歲樓,應真殿、雲霞堂、位室閣,八腳門及指空塔等堂宇。〔華藏寺改創記、東國輿地勝覽卷十二、朝鮮佛教通史卷下〕 <二>位於菲律賓首都馬尼拉市郊。爲開闢菲律賓佛教之性願法師(1889~1962)所創立。民國二十六年(1937),性願應菲律賓華僑之迎請,自國內前往菲律賓,主持馬尼拉之信願寺。未久,即感於市廛繁囂,不宜清修,遂於市郊另覓山林清淨之地,設立叢林風範之華藏寺。四十一年春破土,興建數年,規模大備。全寺佔地數千坪,大雄寶殿爲仿照我國古代宮殿式樣之兩層建築,另有客堂、寮房等,堂宇齊備,庭園廣大,花草水池,景致幽靜。現任上座(菲律賓佛教稱一寺之「住持」爲「上座」)爲瑞今法師;法師繼任之後,致力於教法之弘傳,本寺遂成爲信願寺以外,菲律賓最大最著名之佛寺。 ; (華藏寺) Chùa ở núi Bảo phượng (cách Khai thành 1,7 km), thuộc quận Trường thoan, tỉnh Kinh kì, Hàn quốc. Vào thời Trung túc vương nước Cao li, ngài Đề nạp bạc đà (Chỉ không Thiền hiền), người Tây vực, nhận lời thỉnh của vua vào Khai thành, được rước vào Nội viện và rất được trọng đãi. Sau, ngài dời đến núi Bảo phượng xây dựng chùa này cùng với nhà, tháp tạo thành một ngôi đại tùng lâm. Mỗi năm vào mùa hạ, chư tăng qui tụ về đây tu tập tọa thiền, nên vào thời ấy, chùa rất hưng thịnh. Vào năm cuối đời vua Nhân tổ nhà Lí, chùa được trùng tu, mất 6 năm mới hoàn thành. Sau bị hỏa hoạn thiêu hủy, đến đời vua Hiếu tông chùa mới được xây dựng lại. Hiện nay còn có các kiến trúc như: Điện Đại hùng, tháp đá 7 tầng, điện Minh phủ, nhà Tịch mặc, lầu Vạn tuế, điện Ứng chân, nhà Vân hà, gác Vị thất, cửa Bát cước và tháp Chỉ không. [X. Hoa nghiêm tự cải sáng kí; Đông quốc dư địa thắng lãm Q.12; Triều tiên Phật giáo thông sử Q.hạ].

hoa tẩu tông đàm

Kesō Sōdon (J)Tên một vị sư.

hoa tọa

Tòa sen mà chư Phật và chư Bồ Tát ngồi—The lotus throne on which Buddhas and Bodhisattvas sit.

hoa tọa quán

Quán tưởng hình tượng của Đức Phật A Di Đà—To contemplate the image of Amitabha Buddha.

Hoa tụ đà-la-ni thần chú kinh 花聚陀羅尼呪經

[ja] ケシュダラニジュキョウ Keshu daraniju kyō ||| The Huaju tuoluonizhou jing (T 1358.21.876877); see Huaji tuoluoni shenzhou jing 華積陀羅尼神呪經. => (c: Huaju tuoluonizhou jing ); Xem Hoa tích đà-la-ni thần chú kinh (c: Huaji tuoluoni shenzhou jing 華積陀羅尼神呪經).

hoa viên

Flowers garden.

Hoa Viên Thiên Hoàng

(花園天皇, Hanazono Tennō, tại vị 1308-1312): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thời kỳ Liêm Thương, vị Hoàng Tử của Phục Kiến Thiên Hoàng (伏見天皇, Fushimi Tennō), tên là Phú Nhân (富仁, Tomihito). Sau khi làm vua được mấy năm, ông nhường ngôi lại cho Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō). Ông có để lại tập nhật ký Hoa Viên Viện Thần Ký (花園院宸記).

hoa viên đại học

3507位於日本京都市。屬臨濟宗。爲妙心寺派教學財團所經營之宗立大學。創於明治四年(1871),修業年限六年,後二年爲高等部。昭和九年(1934)改爲三年制,二十四年改制爲花園大學,所設佛教學部有禪哲學、佛教哲學、佛教史學等佛教學科,並附設禪學研究所、禪文化研究所,發行有「禪學研究」(年刊)、「禪文化」(季刊)等。

hoa viện

5232即華葉之院。於密教畫像曼荼羅法中,畫三層八葉蓮華之曼荼羅,而華院即指圍繞中臺華葉之第二層、第三層之院,稱第二華院、第三華院。瑜伽瑜祇經金剛吉祥大成就品(大一八‧二六三上):「於中應畫三層八葉蓮華,中畫我身,當於我前一蓮華葉上,畫一切佛頂輪王,手持八輻金剛寶輪,於次右旋,布七曜使者。第二華院,當頂輪王前,畫金剛薩埵,次畫八大菩薩,各執本幖幟。次第三花院,右旋各畫八大金剛明王。又於華院外四方面,畫八大供養及四攝等使者,皆戴師子冠。」 ; (華院) Cũng gọi Đệ nhị hoa viện, Đệ tam hoa viện.Viện hoa diệp. Trong phép vẽ Mạn đồ la của Mật giáo, vẽ hình Mạn đồ la 8 cánh hoa sen 3 tầng, trong đó, Hoa viện tức là chỉ cho các viện ở tầng thứ 2 và tầng thứ 3 bao chung quanh những cánh hoa của Trung đài, gọi là Đệ nhị Hoa viện, Đệ tam Hoa viện. Phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du già du kì (Đại 18, 263 thượng), nói: Ở trong phải vẽ hoa sen 8 cánh 3 tầng, ở giữa vẽ thân ta, trên một cánh sen trước ta, vẽ Nhất thiết Phật đính luân, tay cầm 8 bức Kim cương bảo luân, kế đó, vòng theo bên phải, vẽ Thất diệu sứ giả. Ở Đệ nhị Hoa viện, ngay trước Luân vương, vẽ Kim cương tát đỏa, kế đến vẽ 8 vị Đại Bồ tát cầm cờ hiệu. Đến Đệ tam Hoa viện, xoay quanh bên phải vẽ 8 vị Đại Kim cương minh vương; 4 mặt ngoài của Hoa viện vẽ 8 vị sứ giả Đại cúng dường và Tứ nhiếp, đều đội mũ Sư tử .

hoa vô ưu

Xem A Dục vương.

hoa vương thế giới

Liên Hoa Tạng thế giới, nơi ở của Phật Tỳ Lô Giá Na—The world of the lotus-king (that of Vairocana—Tỳ Lô giá Na Phật)—See Hoa Tạng Thế Giới.

hoa đà

Hua T'ou (C), Hua-t'o (C), Hua Tuo (C), Hua T'ou (C)Thầy thuốc nổi tiếng thế kỷ thứ 2 hay thứ 3. Ngài là người khai sáng các bài tập Khí công ở Trung quốc.

hoa đài

Đài hoa sen—The lotus seat or throne. ; (華臺) Đài hoa, tòa ngồi của Phật và Bồ tát, thường có khắc hoa sen nên gọi là Hoa đài. Đại nhật kinh sớ quyển 15 (Đại 39, 733 hạ), nói: Người đời cho hoa sen là thanh sạch tốt lành, có thể làm đẹp lòng mọi người, nay trong Bí tạng cũng lấy Đại bi thai tạng diệu pháp liên hoa làm phép sâu kín tốt lành nhất, chư tôn của pháp môn Gia trì đều ngồi trên đài hoa này . (xt. Liên Đài).

hoa đàm

Udambara (skt)—Hoa Ưu Đàm.

Hoa đàn

(華[花]壇): từ mỹ xưng của đàn tràng, trai đàn; vì tại các đàn tràng thường được trang trí nhiều phẩm vật dâng cúng, đặc biệt là hoa, rất trang nghiêm, rực rỡ, nên có tên như vậy. Như trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển 1 có đoạn: “Kim tắc la liệt hoa đàn, xiển dương Phật sự, hương phần bảo triện, đằng ngũ sắc chi vân hà, chúc trán kim liên, xán nhất thiên chi tinh đẩu (今則羅列華壇、闡揚佛事、香焚寶篆、騰五色之雲霞、燭綻金蓮、燦一天之星斗, nay tất la liệt hoa đàn, xiển dương Phật sự, hương xông triện báu, tỏa năm sắc ấy mây lành, nến thắp sen vàng, sáng một trời muôn sao tỏ).”

hoa đình tự

5230位於雲南昆明湖畔之華亭山。該寺原爲宋代一豪族之別墅,元代仁宗延祐七年(1320),玄峰禪師予以重建,名爲圓覺寺,後人以山爲名,遂改名華亭寺。清代初年毀於兵火,康熙二十六年(1687)、光緒九年(1883)兩度重修。民國十一年(1922),虛雲和尚又予重建,於土中掘出古碑,有「雲棲」二字題識,年代已湮沒,故又名雲棲禪寺。殿宇巍峨,規模宏偉,大殿供有三尊金身佛像,兩側壁塑五百羅漢,栩栩如生,各具神態,頗具藝術價值。 ; (華亭寺) Chùa ở núi Hoa đình bên bờ hồ Côn minh, tỉnh Vân nam, Trung quốc. Chùa này vốn là biệt thự của một nhà hào tộc đời Tống. Năm Diên hựu thứ 7 (1320) đời Nguyên, thiền sư Huyền phong cho làm lại và đặt tên là chùa Viên giác, người sau lấy núi làm tên, nên đổi lại là chùa Hoa đình. Đầu đời Thanh, chùa bị binh lửa hủy hoại, sau được trùng tu 2 lần vào những năm Khang hi 26 (1687) và năm Quang tự thứ 9 (1883). Đến năm Dân quốc 11 (1922), hòa thượng Hư vân đứng ra xây cất lại, có đào được một tấm bia cổ, chỉ nhìn rõ được 2 chữ Vân Thê , còn về niên đại thì đã bị mờ, không đọc được. Vì thế, hòa thượng Hư vân mới đặt tên lại là Vân Thê Thiền Tự. Nhà cửa nguy nga tráng lệ, qui mô rộng lớn, trong chính điện thờ tượng 3 đức Phật Tam thế, thân mầu vàng ròng, 2 bên vách đắp tượng 500 vị La hán, trông rất sống động, mỗi vị có thần thái riêng, rất có giá trị về nghệ thuật.

Hoa Đình Đức Thành

(華亭德誠, Katei Tokusei, ?-?): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, môn hạ dòng Thanh Nguyên, không rõ xuất xứ ở đâu. Ông theo hầu Dược Sơn Duy Nghiễm (藥山惟儼) trong vòng 30 năm rồi kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông đến vùng Hoa Đình (華亭), Tú Châu (秀州, Tỉnh Triết Giang), sống bằng một chiếc thuyền con, hằng ngày đưa người qua sông và tùy duyên thuyết pháp hóa độ. Người đương thời gọi ông là Thuyền Tử Hòa Thượng (船子和尚). Ông truyền pháp lại cho Giáp Sơn Thiện Hội (夾山善會) rồi tự mình phiêu lãng với con thuyền và biến mất trong sương khói.

Hoa đạo

花道; J: kadō;|Một trong những phương pháp tu luyện tâm thức xuất phát từ Thiền tông Nhật Bản. Hoa đạo ở đây có một ý nghĩa cao xa, tổng quát hơn là nghệ thuật cắm hoa, trưng bày. Hoa đạo là một phương pháp tiêu diệt ranh giới giữa chủ thể và khách thể, »Ta chính là hoa và hoa chẳng khác ta«. Ðây là một cách tu luyện rất hay cho những người có chút ít hiểu biết về thẩm mĩ.

hoa đạo

Kadō (J), Ikebana (J), Way of Flowers Nghệ thuật phát triển tâm bất nhị bằng cách dùng hoa để biểu thị bàn tánh.

hoa đỉnh tự

5232位於浙江天台山之極頂,規模宏偉,工程艱鉅。五代後晉天福元年(936),德韶大師建,原稱善興寺,後因年代久遠,屢毀屢修,已非舊觀。今存大殿爲民國十七年(1928)所建,寺門題「華頂講寺」,寺外樹木成林,茅篷錯落,爲僧人所築,向有七十二茅篷之稱。舊時每逢佛教齋期,山上常聚僧數百。峰頂有拜經臺,傳爲智者大師拜經處。 ; (華頂寺) Chùa ở trên đỉnh núi Thiên thai, tỉnh Chiết giang, do đại sư Đức thiều xây dựng vào niên hiệu Thiên phúc năm đầu (936) đời Hậu Tấn thời Ngũ đại, Trung quốc. Chùa vốn có qui mô rộng lớn,tráng lệ, tên là chùa Thiện hưng. Vì trải qua thời gian lâu xa, chùa bị hư hỏng và được trùng tu nhiều lần, nên không còn giữ lại được những kiến trúc cũ. Đại điện hiện nay đã được xây cất lại vào năm dân quốc 17 (1928), cửa chùa có tấm biển đề 4 chữ Hoa Đính Giảng Tự . Bên ngoài chùa cây cối mọc thành rừng, có tới 72 ngôi am tranh rải rác, do các vị tăng tạo lập. Thời xưa, vào những ngày lễ trọng thể, chư tăng thường tập trung về chùa có đến vài trăm vị. Trên đỉnh núi có đài lễ kinh, tương truyền là nơi đại sư Trí khải lạy kinh.

hoa đỉnh yếu lược

5233凡二○○卷,一七○冊。日本藤原爲善,藤原爲純編於享和元年至天保五年(1801~1834)。此書係將日本天台宗延曆寺門跡寺院「青蓮院」之各種記事編集而成。本文一五○卷、附錄四十九卷、目錄一卷。其「門首傳」被收於大日本佛教全書中,「門下傳」則被收入天台宗全書內。 ; (華頂要略) Tác phẩm, gồm 200 quyển, 170 tập, do các vị Đằng nguyên Vi thiện và Đằng nguyên Vi thuần người Nhật bản biên soạn từ năm 1801 đến năm 1834. Nội dung sách này ghi chép những sự kiện ở viện Thanh liên của chùa Diên lịch thuộc tông Thiên thai Nhật bản. Chính văn gồm 150 quyển, phụ lục 49 quyển, mục lục 1 quyển. Môn thủ truyện của sách này được thu vào Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư, Môn hạ truyện thì được thu vào Thiên thai tông toàn thư.

hoa đốm

chỉ ảo giác nhìn thấy rất nhiều đốm sáng giữa hư không mà thật ra không có gì cả. Thuật ngữ này được dịch từ Phạn ngữ là khapuṣpa, những kinh luận khác cũng thường dùng không hoa (空花) hay hư không hoa (虛空花).

hoa đớm

Xem Không hoa.

hoa đức bồ tát

Padmaśrī (S)Tên một vị Bồ tát. Về vị lai, Hoa đức Bồ tát sẽ thành Phật hiệu là Ta la thọ vương Phật. ; Padmasri (skt)—Vị Bồ Tát của Hoa Sen sáng chói, tên của Diệu Trang Nghiêm khi còn là một thành viên trong thân quyến của Phật Thích Ca Mâu Ni—Lotus-Brillance Bodhisattva, translated as Lotu-Virtue, name of Subhavyuha when incarnated as a member of Sakyamuni's retinue.

hoa ưu bát

Udambara (skt)—See Ưu Đàm Ba La Hoa.

hoa ưu đàm

Udadambara (S), Udumbara (P), Udambara (P)Nhiều ngàn năm mới trổ hoa một lần, khi trổ thì có Luân vương xuất thế hay Phật ra đời.

hoa ế

5235與「虛空華」同義。又作花翳。華,指空中之花;翳,指眼球上所生遮蔽瞳孔之薄膜。翳目所見滿天空華,非真有花,乃目不明所致。以此譬喻妄心所計諸相,皆無實體。圓覺經(大一七‧九一五下):「譬如幻翳,妄見空花,(中略)妙覺圓照,離於花翳。」 ; (華翳) Đồng nghĩa: Hư không hoa. Hoa đốm trong hư không, do mắt bị bệnh mà sinh ra chứ chẳng phải hoa có thật. Từ ngữ này thường được dùng để chỉ cho vọng tâm phân biệt và chấp trước các sắc tướng là có thật. Kinh Viên giác (Đại 17, 915 hạ), Ví như đau mắt, vọng thấy không hoa, (...) diệu giác soi khắp, chẳng còn hoa ế .

Hoa-xỉ 華齒

[ja] ケシ Keshi ||| Puṣpadantī. One of the ten rākṣasīs who protect the dharma in the Lotus Sutra. See 十羅刹女. 〔法華經 T 262.9.59a23〕 => s: Puṣpadantī. Một trong mười vị La-sát nữ hộ trì Phật pháp trong kinh Pháp Hoa.

Hoan

歡; C: huān; J: kan;|1. Vui lòng, sung sướng, niềm vui; 2. Sự thân tình.

hoan

Nanda (S). Pleased, glad. ; Nanda (skt)—See Hoan Hỷ.

Hoan hỉ

歡喜; C: huānxǐ; J: kanki;|1. Niềm vui, sự hân hoan, hạnh phúc. Niềm vui phát sinh do thành tựu công hạnh tu tập, làm thăng hoa con người; 2. Giai vị đầu tiên trong Thập địa của hàng Bồ Tát (s: pramuditā), được giải thích rộng trong phẩm Thập địa của kinh Hoa Nghiêm. Trong phẩm nầy, Đức Phật định nghĩa »hoan hỉ« là »tăng trưởng niềm tin; tin và hiểu một cách trong sáng; thành tựu lòng từ bi; trang nghiêm thân bàng pháp sám hối; có lòng khoan dung; gieo trồng thiện căn không ngưng nghỉ; tam không chấp trước; không tham lợi dưỡng, không mong cầu được cung kính tôn trọng; không đắm trước cuộc sống gia đình của cải, vui thích tìm cầu trí thức viên mãn; xa lìa luống dối hư vọng; thực hành đúng với lời nói; không làm theo những gì thế gian mong muốn«. Như vây, »hoan hỉ« có nghĩa là chân chính tu tập các đức hạnh; 3. Hoan hỉ khi nhập vào Tịnh độ; 4. Tên cõi Đức A-súc-bệ Như Lai đang giáo hoá (Hoan hỉ quốc 歡喜國).

hoan hỉ

6898<一>梵語 pramudita,巴利語 pamudita。音譯波牟提陀。即接於順情之境而感身心喜悅;亦特指眾生聽聞佛陀說法或諸佛名號,而心生歡悅,乃至信受奉行。中阿含卷六教化病經(大一‧四六○中):「世尊為我說法,勸發渴仰,成就歡喜。」 於修行之歷程,有各種不同層次之歡喜。其中,修證至初地之果位,乃真正之歡喜,故初地菩薩稱為歡喜地菩薩。但初地以前之凡夫,亦能經由聽聞佛法,或感念佛菩薩稀有之功德,而生起歡喜之心;此誠為信受之結果,可謂珍貴之宗教體驗。 據天親之十地經論卷二載,歡喜地菩薩之歡喜,乃指「心喜、體喜、根喜」,其歡喜有九種:(一)敬信歡喜,(二)愛念歡喜,(三)慶悅歡喜,(四)調柔歡喜,(五)踊躍歡喜,(六)堪受歡喜,(七)不壞他意歡喜,(八)不惱眾生歡喜,(九)不瞋恨歡喜。 若依日本淨土教之主張,則「歡喜」特指由於佛陀之救度,或由於決定往生淨土,而生之由衷喜悅而言,故常用「信心歡喜」、「踊躍歡喜」來形容。又親鸞於「一念多念證文」簡別「歡」與「喜」之義,而謂「歡」是令身欣悅,「喜」是令心欣悅;歡喜,即預知決定往生,而於內心欣悅。故修淨土者,因預知死後得往生西方之欣悅,稱為歡喜;若因現世之信心堅固而得入於不退位之欣悅,稱為慶喜。又日本淨土行者於歡喜佛陀救濟之餘,遂產生舞踊之風氣,如空也、一遍等人提倡之「踊躍念佛」即是。〔法華經卷二譬喻品、無量壽經卷下、釋氏要覽卷下、顯淨土真實教行證文類卷三〕 <二>梵名 Ānanda 之意譯。即佛陀十大弟子中「多聞第一」之阿難陀。(參閱「阿難」3694) ; Pramuditā (S), Pamudita (P), Joy ; Nanda (S). Pleased, glad. Rejoycing. ; (歡喜) I. Hoan Hỉ. Phạm: Pramudita. Pàli: Pamudita. Dịch âm: Ba mâu đề đà. Cảm giác vui mừng khi người ta tiếp xúc với cảnh vừa lòng đẹp ý. Đặc biệt chỉ cho chúng sinh nghe đức Phật nói pháp hoặc nghe danh hiệu của chư Phật mà sinh tâm vui mừng, cho đến tin nhận vâng làm. Kinh Giáo hóa bệnh trong Trung a hàm quyển 6 (Đại 1, 460 trung), ghi: Đức Thế tôn nói pháp cho tôi nghe, khuyên phát tâm khát ngưỡng, thành tựu hoan hỉ . Trong quá trình tu hành, có nhiều tầng bậc hoan hỉ khác nhau. Trong đó, tu chứng đến quả vị Sơ địa là hoan hỉ chân chính, vì thế bồ tát Sơ địa được gọi là bồ tát Hoan hỉ địa. Nhưng phàm phu dưới Sơ địa cũng có thể nhờ nghe Phật pháp hoặc cảm niệm công đức hi hữu của chư Phật và Bồ tát mà sinh tâm hoan hỉ, đây thật là do kết quả của tín thụ, có thể nói là sự thể nghiệm tông giáo quí giá. Cứ theo Thập địa kinh luận quyển 2 của ngài Thiên thân, thì sự hoan hỉ của bồ tát Hoan hỉ địa là chỉ cho tâm hỉ, thể hỉ, căn hỉ . Hoan hỉ này có 9 thứ: 1. Kính tín hoan hỉ. 2. Ái niệm hoan hỉ. 3. Khánh duyệt hoan hỉ. 4. Điều nhu hoan hỉ. 5. Dũng dược hoan hỉ. 6. Kham thụ hoan hỉ. 7. Bất hoại tha ý hoan hỉ. 8. Bất não chúng sinh hoan hỉ. 9. Bất sân hận hoan hỉ. Nếu nói theo chủ trương của Tịnh độ giáo Nhật bản, thì Hoan hỉ đặc biệt chỉ cho sự vui mừng phát sinh từ trong lòng nhờ được Phật cứu độ, hoặc do nghĩ rằng chắc chắn mình sẽ được sinh về Tịnh độ cực lạc; bởi vậy, sự vui mừng ấy thường được miêu tả bằng các từ ngữ Tín tâm hoan hỉ , Dũng dược hoan hỉ . Trong Nhất niệm đa niệm chứng văn , ngài Thân loan đã phân biệt ý nghĩa khác nhau giữa Hoan và Hỉ , bảo rằng Hoan là làm cho thân vui mừng, Hỉ là làm cho tâm vui mừng. Hoan hỉ tức biết trước chắc chắn mình sẽ được vãng sinh, cho nên trong tâm vui mừng. Bởi thế, người tu Tịnh độ, vì biết trước sau khi chết, mình được sinh về Cực lạc phương Tây mà vui mừng, gọi là Hoan hỉ. Còn trong đời hiện tại, nhờ lòng tin vững chắc, được vào địa vị Bất thoái mà vui mừng, thì gọi là Khánh hỉ. [X. phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa Q.2; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Thích thị yếu lãm Q.hạ; Hiển Tịnh độ chân thực giáo hành chứng văn loại Q.3]. II. Hoan Hỉ. Phạm:Ànanda. Chỉ cho ngài A nan đà, vị Đa văn đệ nhất trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật. (xt. A Nan).

hoan hỉ hội

The festival of All Souls.

hoan hỉ nhật

6900佛歡喜之日。又作佛歡喜日。僧眾於四月十五日至七月十五日之間結夏安居,七月十五日為圓滿日,其間有多人證果,佛歡喜之,故稱為歡喜日。〔盂蘭盆經、盂蘭盆經疏卷下〕 ; The happy day of the Buddha, and of the order, i.e. the ending of the retreat, 15th day of the 7th moon. ; (歡喜日) Cũng gọi Phật hoan hỉ nhật. Ngày chư Phật hoan hỉ. Chúng tăng kết hạ an cư trong khoảng thời gian từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7, ngày rằm tháng 7 là ngày viên mãn, ngày đó có nhiều vị chứng quả, Phật rất vui mừng, nên gọi là Hoan hỉ nhật. [X. kinh Vu lan bồn; Vu lan bồn kinh sớ Q.hạ].

hoan hỉ quang phật

Buddha of joyful light, Amitàbha.

Hoan hỉ quốc

歡喜國; C: huānxǐ guó; J: kanki koku;|Cõi nước đầy niềm vui. Một trong các tên gọi cõi Tịnh độ của A-súc-bà Như Lai (阿閦婆, s: akṣobhya-tathāgata). Còn gọi là Diệu hỉ (妙喜).

hoan hỉ tam muội

6898於諸法生歡喜之禪定,稱為歡喜三昧。即安住此三昧,能受諸三昧之喜悅。大智度論卷四十七(大二五‧四○○上):「歡喜三昧者,得是三昧,於諸法生歡喜樂。」 據北本大般涅槃經卷十四載,大菩薩住無畏地,得二十五種三昧,能摧壞「二十五有」。其中,若得證歡喜三昧,能摧壞「阿修羅有」。又依維摩經略疏垂裕記卷二謂,菩薩證果後,能隨類現形,饒益眾生,若得證歡喜三昧,可示現阿修羅身,以方便度化。〔觀音義疏卷下、維摩經略疏垂裕記卷十〕 ; (歡喜三昧) Thiền định phát sinh vui mừng. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 400 thượng), nói Người được Hoan hỉ tam muội, đối với các pháp phát sinh vui mừng . Theo kinh Đại bát niết bàn quyển 14 (bản Bắc), thì bậc Đại bồ tát trụ ở địa vị vô úy, được 25 thứ Tam muội có thế phá diệt 25 Hữu . Trong 25 thứ Tam muội này nếu chứng được Hoan hỉ tam muội, thì có khả năng phá dẹp A tu la hữu (cõi A tu la). Ngoài ra, theo Duy ma kinh lược sớ thùy dụ kí quyển 2, thì sau khi chứng quả, Bồ tát có thể tùy loại mà hiện thân làm lợi ích cho chúng sinh; nếu chứng được Hoan hỉ tam muội, thì Bồ tát có thể thị hiện thân A tu la để phương tiện hóa độ. [X. Quan âm nghĩa sớ Q.hạ; Duy ma kinh lược sớ thùy dụ kí Q.10].

hoan hỉ thiên

6899梵名 Nandikeśvara。歡喜自在之義。全名大聖歡喜自在天(梵 Mahārya-nandikeśvara)。又作歡喜自在天、難提自在天、大聖歡喜天。略作聖天、天尊。原為印度濕婆神(梵 Śiva)之別稱,佛教則稱俄那鉢底(梵 Gaṇa-pati)為歡喜天,其乃濕婆與波羅和底(梵 Pāravatī,或作烏摩,梵 Umā)之子。俄那鉢底意譯為軍隊,意即大自在天眷屬之將。因與其兄弟塞揵陀(梵 Skandha)共統轄其父大自在天之眷屬,故得此名。俄那鉢底,其意有障礙他之事業或排除諸種障礙之力用,故又名毘那夜迦(梵 Vighnāyaka),乃障礙或排礙之義。 其形像為象頭人身,有單身與雙身兩種。單身形之中,有二臂、四臂、六臂、八臂、十二臂等不同,其手持物於各經軌所載亦不同。雙身天王之形像係夫婦二天相抱站立之狀。蓋密教以毘那夜迦之男天為實類之身,即魔王;女天為權類,即十一面觀音之化身。毘那夜迦常隨逐眾生,伺隙障礙,梵王、諸大龍王悉不能破之,唯十一面觀音與軍荼利明王能降伏之;故十一面觀音為降伏彼,乃隨順其本性欲望而示現女人身,以引入聖法。 印度於富蘭那(梵 Purāṇa)時代,歡喜天信仰頗盛,稱之為誐尼沙(梵 Gaṇeśa),相信彼威力自在,有障礙、排礙之力,為一智慧神。故每於祈願之初,恭敬稱名歸命。〔大使咒法經、金剛薩埵說頻那夜迦天成就儀軌經卷一、卷二、大聖歡喜雙身毘那夜迦天形像品儀軌〕 ; (歡喜天) Phạm: Nandikezvara. Cũng gọi Hoan hỉ tự tại thiên, Nan đề tự tại thiên, Đại thánh hoan hỉ thiên. Gọi tắt: Thánh thiên, Thiên tôn. Gọi đủ: Đại thánh hoan hỉ tự tại thiên (Phạm: Mahàrya-nandikezvara). Nguyên là tên khác của thần Thấp bà (Phạm: Ziva) ở Ấn độ, Phật giáo thì gọi Nga na bát để (Phạm: Gaịa-pati) là Hoan hỉ thiên. Hoan hỉ thiên là con của Thấp bà và Ba la hòa để (Phạm: Pàravatì, hoặc Ô ma (Phạm: Umà). Nga na bát để dịch ý là quân đội, tức là các vị tướng thân thuộc của trời Đại tự tại do Hoan hỉ thiên và em trai là Tắc kiện đà (Phạm: Skandha) cùng nhau thống lãnh quyến thuộc của cha là trời Đại tự tại, nên có tên là Hoan hỉ thiên. Nga na bát để hàm ý là có sức ngăn trở sự nghiệp của người khác, hoặc dẹp bỏ các thứ chướng ngại, cho nên cũng gọi là Tì na dạ ca (Phạm: Vighnàyaka), nghĩa là chướng ngại hoặc phá trừ chướng ngại. Hình tượng Hoan hỉ thiên là đầu voi mình người, có 2 loại là Đơn thân và Song thân. Hình đơn thân có 2 tay, 4 tay, 6 tay, 8 tay, 12 tay. Về vật cầm tay thì trong các kinh quĩ nói có khác nhau. Tượng Song thân là hình 2 vợ chồng trời đứng ôm nhau. Vì Mật giáo cho trời nam tính Tì na dạ ca là thân chân thực, tức Ma vương; còn trời nữ tính là thân giả tạm, tức là hóa thân của Quan âm 11 mặt. Tì na dạ ca thường theo dõi chúng sinh, chờ cơ hội để gây chướng ngại; Phạm vương và các Đại long vương đều không phá trừ được Tì na dạ ca, mà chỉ có Quan âm 11 mặt và Quân đồ lợi minh vương mới hàng phục được. Bởi thế, Quan âm 11 mặt phải thuận theo bản tính dục vọng của Tì na dạ ca (tức Hoan hỉ thiên) mà thị hiện thân đàn bà để dẫn dụ Ma vương này vào Thánh pháp. Tại Ấn độ, vào thời đại Phú lan na (Phạm: Puràịa), tín ngưỡng về Hoan hỉ thiên rất thịnh hành, người ta gọi vị thần này là Nga ni sa (Phạm: Gaịeza), có sức chướng ngại và phá trừ chướng ngại. Cho nên mỗi khi bắt đầu cầu nguyện, người ta đều cung kính xưng danh hiệu Hoan hỉ thiên. [X. kinh Đại sử chú pháp; kinh Kim cương tát đỏa thuyết tần na dạ ca thiên thành tựu nghi quĩ Q.1, Q.2; Đại thánh hoan hỉ song thân tì na dạ ca thiên hình tượng phẩm nghi quĩ].

hoan hỉ thiên pháp

6899密教以歡喜天為本尊,為除障難、得富貴之修法。又作歡喜天供、聖天供。依大聖歡喜雙身大自在天毘那夜迦王歸依念誦供養法載,若不知歡喜天法,則其餘尊法難成,且多障礙。故密教行者修諸大法時,必附修歡喜天法。然若為求得富貴、聰明、高官等,有時只專修歡喜天法,非為諸大法之附隨法。 修歡喜天法有浴油供、酒供、華水供三種。其中,浴油供之法,即以胡麻油灌浴其像。據使咒法經謂,欲修歡喜天法,必先造象頭人身之形像,於淨室內用淨牛糞磨製成一圓壇,當取一升胡麻油,持誦咒語,暖其油,然後用淨銅器盛暖油,安置於壇內,再以淨銅匙或銅杓取油灌浴歡喜天像,於正灌油時,宜數數發願,此外,應準備盞酒、歡喜團、蘿蔔根等供物。〔陀羅尼集經卷四、十一面神咒心經、大使咒法經、十一面觀自在菩薩心密言念誦儀軌經卷上〕 ; (歡喜天法) Cũng gọi Hoan hỉ thiên cúng, Thánh thiên cúng. Pháp tu trong Mật giáo thờ Hoan hỉ thiên làm Bản tôn để cầu trừ chướng nạn, được giầu sang. Cứ theo Đại thánh hoan hỉ song thân đại tự tại thiên tì na dạ ca vương qui y niệm tụng cúng dường pháp, nếu không biết Hoan hỉ thiên pháp, thì các tôn pháp khác khó thành và gặp nhiều chướng ngại. Cho nên, khi hành giả Mật giáo tu các Đại pháp thì phải tu thêm Hoan hỉ thiên pháp. Nhưng nếu vì cầu được giầu sang, thông minh, thăng chức, v.v... thì chỉ chuyên tu Hoan hỉ thiên pháp là đủ. Tu Hoan hỉ thiên pháp có 3 loại: Dục du cúng, Tửu cúng và Hoa thủy cúng. Trong đó, pháp Dục du cúng là dùng dầu vừng (mè) rưới lên tượng Hoan hỉ thiên. Cứ theo kinh Sử chú pháp, muốn tu Hoan hỉ thiên pháp, trước tiên phải tạo tượng đầu voi mình người, ở trong tịnh thất dùng phân bò sạch đắp một cái nền (đàn) hình tròn, nên lấy một thăng dầu vừng, trì tụng chú, đun ấm dầu, rồi dùng cái thau đồng đựng dầu để ở trên nền, sau đó, lấy cái thìa hoặc phễu bằng đồng sạch múc dầu rưới lên tượng Hoan hỉ thiên. Trong khi rưới dầu, nên cầu nguyện liên tục. Ngoài ra, nên chuẩn bị các vật cúng như: Chén rượu, viên hoan hỉ, củ cải, v.v... để cúng dường. [X. kinh Đà la ni tập Q.4; Thập nhất diện thần chú tâm kinh; kinh Đại sử chú pháp; kinh Thập nhất diện Quán tự tại bồ tát tâm mật ngôn niệm tụng nghi quĩ Q.thượng].

hoan hỉ uyển

6900梵名 Nandana-vana,巴利名同。音譯難檀槃那、難陀。乃忉利天中帝釋四園之一。位於須彌山頂善見城北面。又稱歡喜園、歡樂園、喜林苑、歌舞苑、大喜苑。據大毘婆沙論卷一三三載,忉利天之四園,皆呈四方形,但各具特色。若遊至歡喜苑,極妙之境,悉為現前,遍覽不倦。又依大智度論卷八謂,諸天入此苑時,心皆柔軟,歡樂和悅,粗心不生;若阿修羅起兵至此,則無鬥心,故稱歡喜苑。 另據日僧存覺之報恩記所載,昔釋尊為報母恩而昇忉利天,四月十五日至七月十五日間,於歡喜苑中波利質多羅樹下安居說法,此即佛說報恩經之由來。〔長阿含經卷二十、起世經卷六、起世因本經卷六、俱舍論卷十一〕(參閱「帝釋四苑」3776) ; (歡喜苑) Phạm, Pàli: Nandana-vana. Dịch âm: Nan đàn bàn na, Nan đà. Cũng gọi Hoan hỉ viên, Hoan lạc viên, Hỉ lâm uyển, Ca vũ uyển, Đại hỉ uyển. Vườn vui chơi. Một trong 4 khu vườn của Đế thích trên cung trời Đao lợi, nằm về phía bắc thành Thiện kiến, trên đỉnh núi Tu di. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 133, thì 4 khu vườn ở cung trời Đao lợi đều là hình vuông, nhưng mỗi khu đều có đặc sắc riêng. Nếu đi dạo chơi đến vườn Hoan hỉ thì những cảnh trí cực kì vi diệu đều hiện ra ở trước mắt, ngắm nhìn mãi không chán. Theo luận Đại trí độ quyển 8, lúc những người trời vào vườn này thì trong lòng đều vui vẻ, hòa nhã; nếu A tu la kéo quân đến đây, thì tâm chiến đấu tiêu tan, nên gọi là vườn Hoan hỉ. Ngoài ra, theo Báo ân kí của ngài Tồn giác, vị tăng Nhật bản, thủa xưa, đức Thế tôn lên cung trời Đao lợi, trong thời gian an cư từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7, Ngài ngồi dưới gốc cây Ba lợi chất đa trong vườn Hoan hỉ thuyết pháp cho mẫu hậu nghe, đây chính là nguyên do đức Phật nói kinh Báo ân. [X. kinh Trường a hàm Q.20; kinh Khởi thế Q.6; kinh Khởi thế nhân bản Q.6; luận Câu xá Q.11]. (xt. Đế Thích Tứ Uyển).

hoan hỉ đoàn

6901梵語 mahotikā。音譯摩呼荼迦。又作歡喜丸。乃以酥、麵、蜜、薑等調和製成之食物。印度自古以來即以之為食物之一。諸經論多處載其名稱、作法等。如北本大般涅槃經卷三十九載,和合酥、麵、蜜、薑、胡椒、蓽茇、蒲萄、胡桃、石榴、桵子等眾味,而成歡喜丸。大智度論卷九十三載,以百種之藥草、藥果作成歡喜丸。大日經疏卷七載,歡喜丸應以蘇煮諸餅,參糅以眾味及三種辛藥等。另如十誦律卷三十五載,有胡麻歡喜丸、石蜜歡喜丸、蜜歡喜丸等。 於密教中,以歡喜團作為曼荼羅諸尊之供物;又作為歡喜天之供物,或歡喜天之持物。依大使咒法經所載,以蘇油作歡喜團及蘿蔔等菓,盛於銅器中,供養毘那夜迦。據大聖歡喜雙身大自在天毘那夜迦王歸依念誦供養法載,當於此尊之前作小圓壇,設置餚饍、飲供、酒藥、蘿蔔、歡喜團等迎請之。其中,歡喜團、蘿蔔、酒三種供物分別表示貪、瞋、癡三毒煩惱,以此供養雙身毘那夜迦,即表示轉化三毒成清淨之義。〔佛本行集經卷五十九、百喻經卷三「五百歡喜丸喻」、大智度論卷十七〕 ; (歡喜團) Phạm: Mahotikà. Dịch âm: Ma hô đồ ca. Cũng gọi Hoan hỉ hoàn. Thực phẩm làm bằng váng sữa, bột mì, mật, gừng, v.v... được se lại thành viên tròn (đoàn, hoàn). Là một trong các món ăn của người Ấn độ rất được ưa chuộng và cũng được nói đến rất nhiều trong các kinh luận của Phật giáo. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 39 (bản Bắc), thì Hoan hỉ đoàn được làm bằng váng sữa, bột mì, mật, gừng, hạt tiêu, lá lốt, quả nho, quả đào, quả lựu, v.v...Luận Đại trí độ quyển 39 nói, Hoan hỉ đoàn được làm bằng trăm thứ cỏ thuốc và quả thuốc. Còn Đại nhật kinh sớ quyển 7 thì nói, Hoan hỉ đoàn phải dùng váng sữa chưng với bột gạo và 3 thứ thuốc có vị cay. Trong Mật giáo, Hoan hỉ đoàn được dùng làm phẩm vật cúng dường chư tôn trong Mạn đồ la, cũng là vật cúng của Hoan hỉ thiên, hoặc là vật cầm ở tay của Hoan hỉ thiên. Cứ theo Đại thánh hoan hỉ song thân Đại tự tại thiên Tì na dạ ca vương qui y niệm tụng cúng dường pháp, thì khi cúng dường Đại tự tại thiên Tì na dạ ca vương, phải làm một cái đàn (nền) tròn nhỏ, rồi đặt các thức ăn, thức uống, rượu thuốc, hạt cải, Hoan hỉ đoàn, v.v... trên đàn mà đón mời. Trong đó, 3 thứ: Hoan hỉ đoàn, hạt cải và rượu tượng trưng cho 3 độc tham, sân và si, dùng để cúng dường Song thân Tì na dạ ca, tức là biểu thị nghĩa chuyển hóa 3 độc thành thanh tịnh. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.59; dụ Ngũ bách hoan hỉ hoàn trong kinh Bách dụ Q.3; luận Đại trí độ Q.17].

Hoan hỉ địa

歡喜地; C: huānxǐdì; J: kankiji; S: pramu-ditā.|Giai vị đầu tiên trong Thập địa của hàng Bồ Tát. Còn gọi là Cực hỉ địa (極喜地).

hoan hỉ địa

6900梵語 pramuditā-bhūmi。音譯作波牟提陀步弭。十地之初地;即菩薩修行五十二階位中之第四十一位。又作極喜地、初歡喜地。略作初地。菩薩歷十信、十住、十行、十迴向等修行階位,經一大阿僧祇劫之修行,初證真如平等聖性,具證二空之理,能成就自利利他之行,心多生歡喜,故稱歡喜地。 據十住毘婆沙論卷二載,菩薩得初地,多有七相,即:(一)能堪忍受,能為難事,修集無量福德善根,並於無量恆河沙劫往來生死,教化剛強難度之惡眾生,心不退沒。(二)不好諍訟,菩薩樂於寂滅之道故,而不與人諍競。(三)心多喜,能令身得柔軟,心得安隱;又能順於阿耨多羅三藐三菩提大悲。(四)心悅,於轉法輪時,心得踊悅;又心安隱無患。(五)樂於清淨,離諸煩惱垢濁,於一切深經、諸菩薩及其所行一切佛法,皆心信清淨。(六)悲心愍眾生,深切愍念眾生而予其救護。(七)無瞋恚心,菩薩雖結使未斷盡,然瞋恨少而心常樂慈行。又同書載,初地菩薩與初地以前之凡夫,所得歡喜不同,例如初地菩薩念諸佛有無量功德,並確知當來必能成就佛果,故其心多歡喜,凡夫雖勤念諸佛,然不能作「我必當作佛」之念,故其歡喜異於初地菩薩。 十地經論卷二,謂初地菩薩有九種歡喜(大二六‧一三五下):「是菩薩住菩薩歡喜地中,成就多歡喜:多信敬、多愛念、多慶悅、多調柔、多踊躍、多堪受、多不壞他意、多不惱眾生、多不瞋恨。」〔舊華嚴經卷二十三、菩薩瓔珞本業經卷下、十地經論卷一、十住毘婆沙論卷一、瑜伽師地論卷七十八、華嚴經探玄記卷十〕 ; Pramudità-bhùmi (S). The Bodhisattva's stage of joy. ; (歡喜地) Phạm: Pramudità-bhùmi. Dịch âm: Ba mâu đề ba bộ nhĩ. Cũng gọi Cực hỉ địa, Sơ hoan hỉ địa. Gọi tắt: Sơ địa. Địa vị đầu tiên trong 10 địa, tức địa vị thứ 41 trong 52 địa vị tu hành của Bồ tát. Bồ tát tu hành trải qua các thứ bậc: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, v.v..., trong thời gian một đại a tăng kì kiếp mới chứng được Thánh tính chân như bình đẳng và lí nhân không pháp không, thành tựu hạnh lợi mình, lợi người, tâm thường hoan hỉ, nên gọi là Hoan hỉ địa. Cứ theo luận Thập trụ tì bà sa quyển 2, thì các Bồ tát chứng được Sơ địa đều có 7 đặc điểm như sau: 1. Có khả năng chịu đựng: Làm được những việc khó làm, tu tập vô lượng phúc đức thiện căn và ra vào đường sinh tử trải vô lượng hằng hà sa kiếp để giáo hóa những chúng sinh ương ngạnh xấu ác, mà tâm không chán nản. 2. Không ưa tranh cãi: Bồ tát ưa đạo vắng lặng, không thích tranh cãi với người khác. 3. Tâm thường mừng rỡ: Làm cho thân nhu nhuyến, tâm an ổn. 4. Tâm thường vui vẻ: Khi nói pháp tâm thường vui vẻ, an ổn, không lo sợ. 5. Ưa sự thanh tịnh: Xa lìa các phiền não cấu uế, đối với tất cả Phật pháp và các hạnh Bồ tát đều có tín tâm thanh tịnh. 6. Tâm thương xót chúng sinh: Thương xót và cứu độ tất cả chúng sinh. 7. Không có tâm sân hận: Bồ tát tuy chưa dứt hết phiền não kết sử, nhưng tâm không sân hận nên thường được an vui. Cũng theo luận nói trên, sự hoan hỉ của bồ tát Sơ địa và phàm phu dưới Sơ địa có khác nhau. Chẳng hạn như bồ tát Sơ địa luôn nghĩ rằng chư Phật có vô lượng công đức, đồng thời biết mình trong vị lại chắc chắn sẽ thành tựu Phật quả, cho nên tâm thường hoan hỉ. Còn phàm phu tuy cũng siêng năng niệm Phật, nhưng không dám nghĩ rằng mình sẽ thành Phật , do đó sự hoan hỉ của phàm phu không giống như bồ tát Sơ địa. Thập địa kinh luận quyển 2 (Đại 26, 135 hạ), nói: Bồ tát này trụ trong Hoan hỉ địa, thành tựu nhiều thứ hoan hỉ như: Đa kính tín hoan hỉ, Đa ái niệm hoan hỉ, Đa khánh duyệt hoan hỉ, Đa điều nhu hoan hỉ, Đa dũng dược hoan hỉ, Đa kham thụ hoan hỉ, Đa bất hoại tha ý hoan hỉ, Đa bất não chúng sinh hoan hỉ và Đa bất sân hận hoan hỉ . [X. kinh Hoa nghiêm Q.23 (bản dịch cũ); kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; Thập địa kinh luận Q.1; luận Thập trụ tì bà sa Q.1; luận Du già sư địa Q.78; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.10].

hoan hỷ

Xem Nan đà. ; Nanda (skt)—Pleased—Delightful—Joyful—Full of joy—Take delight in—Pleasure—Glad—Đức Phật luôn hoan hỷ làm điều lợi lạc cho chúng sanh—A Buddhist always takes delight in doing good things to others—Hoan hỷ còn là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà tâm ta luôn an tịnh—Delight is one of the most important entrances to the great enlightenment; for it is the mind of peace and tranquility.

hoan hỷ hoàn

Hoan Hỷ Đoàn—Tên một loại bánh làm bằng mật—Joy-buns, a name for a kind of honey-cake.

hoan hỷ hội

The festival of All Souls—See Vu Lan Bồn in Vietnamese-English Section, and Ullambana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

hoan hỷ long vương

Xem Nan đà.

hoan hỷ nhật

1) Ngày rằm hằng tháng được gọi là ngày “Hoan Hỷ Nhật”—Every 15th day of the month. 2) Ngày rằm tháng bảy hay tháng tám là ngày hoan hỷ, ngày đó Đức Phật và giáo đoàn chấm dứt lễ an cư kiết hạ—The happy day of the Buddha, and of the order, i.e. that ending the “retreat,” 15th day of the seventh or eighth moon.

hoan hỷ quang phật

Amitabha (skt)—Buddha of Joyful Light.

hoan hỷ quốc

Abhirati (skt)—Diệu Hỷ Quốc—Tên cõi Tịnh Độ của Đức A Súc Bệ Phật ở về phương đông của vũ trụ (Kinh Pháp Hoa, phẩm Hóa Thành Dụ)—The happy land, or paradise of Aksobhya, east of our universe.

Hoan hỷ quốc 歡喜國

[ja] カンキコク Kanki koku ||| The land of great joy. One of the names for the Pure Land of Akṣobhya Tathāgata 阿閦婆. Also called 妙喜. 〔法華經 T 262.9.25b27〕 => Cõi nước đầy niềm vui. Một trong các tên gọi cõi Tịnh độ của Đức Phật A-súc-bà Như Lai (阿閦婆. s: Akṣobhya Tathāgata). Còn gọi là Diệu hỷ 妙喜.

hoan hỷ thiên

See Hoan Lạc Thiên.

hoan hỷ tâm

Rejoicing Mind—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Hoan Hỷ Tâm gồm có hai tâm sau đây—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, rejoicing mind includes the following two minds 1) Tùy Hỷ Tâm: Tùy hỷ là vui theo các sự vui vẻ và hạnh phúc của người. Tùy hỷ tâm dứt trừ được các chướng nghiệp về tật đố, ích kỷ, nhỏ nhen, vân vân: Accepting Mind. Accepting means to feel happy for others' joy and happiness. Accepting mind has the special characteristics that can eliminate various karmic obstructions including jealousy, stinginess, pettiness, etc. 2) Hỷ Xả Tâm: Hỷ xả là vui mà tha thứ lỗi lầm của người khác. Hỷ xả tâm dứt trừ được các chướng nghiệp về hận thù, báo phục, vân vân: Forgiving Mind. Forgiving means to forgive happily others' mistakes and transgressions. Forgiving mind has the special characteristics that can solve and destroy karmic obstructions including vengeance and grudges.

hoan hỷ uyển

Nandānavana (P)Một trong bốn khu vườn của vua trời Đế Thích. ; See Hoan Hỷ Viên.

hoan hỷ viên

Nandana-vana (skt)—Hoan Hỷ Uyển—Hoan Lạc Viên—Hỷ Lâm Uyển—Một trong bốn vườn của Đế Thích ở cõi trời Đao Lợi, vườn nầy ở về phía bắc của thành Hỷ Kiến (chư Thiên vào đây thì tự nảy ra sự hoan hỷ)—Garden of joy, or Joy-grove garden; one of the four gardens of Indra's paradise, north of his central city.

hoan hỷ vương bồ tát

Xem Kim Cang Hỷ Bồ tát.

Hoan hỷ địa

xem Mười địa vị.

hoan hỷ địa

Xem Cực hỷ địa. ; Pramudita (skt)—Sơ địa trong Thập Địa Phật Thừa—The bodhisattva's stage of joy, the first of his ten stages (bhumi). **For more information, please see Thập Địa Phật Thừa (1).

hoan hỷ địa bồ tát

Stage of Joy.

Hoan hỷ địa 歡喜地

[ja] カンキジ kankiji ||| The stage of joy (pramuditā), which is the first of the ten bodhisattvas stages 十地. Also written as 極喜地. => (s: pramuditā). Giai vị đầu tiên trong Thập địa của hàng Bồ-tát. Còn gọi là Cực hỷ địa 極喜地.

Hoan hỷ 歡喜

[ja] カンキ kanki ||| (1) Happiness, joy, bliss. A joy that is produced by religious fulfillment, that which uplifts the whole person. (2) The first of the ten stages (十地) of bodhisattvas (pramuditā), as explained in the Book of the Ten Stages in the Huayan jing. In this chapter it defines 'joy' as the "increase in conviction; the purity of faith and understanding; the fulfillment of compassion; the adornment of the body with compunction; the possession of the exuberance of fortitude; accumulating roots of goodness without rest; no attachment in the mind; not seeking profit, respect or name; not being attached to family and possessions; happily seeking the standpoint of total knowledge; separation from falsehood and deceit; acting according to one's words; not acting in the world with expectations." Thus this "joy" consists of genuine practice of all religious and moral virtues. (3) The experience of entering the Pure Land. (4) The name of a Pure Land where Akṣobhya Tathāgata teaches 歡喜國. =>1. Niềm vui, sự hân hoan, hạnh phúc. Niềm vui phát sinh do thành tựu công hạnh tu tập, làm thăng hoa con người. 2. Giai vị đầu tiên trong Thập địa của hàng Bồ-tát (s: pramuditā), được giải thích rộng trong Phẩm thập điạ của Kinh Hoa Nghiêm. Trong phẩm nầy, Đức Phật định nghĩa 'hoan hỷ' là “tăng trưởng niềm tin; tin và hiểu một cách trong sáng; thành tựu lòng từ bi; trang nghiêm thân bàng pháp sám hối; có lòng khoan dung; gieo trồng thiện căn không ngưng nghỉ; tam không chấp trước; không tham lợi dưỡng, không mong cầu được cung kính tôn trọng; không đắm trước cuộc sống gia đình của cải, vui thích tìm cầu trí thức viên mãn; xa lìa luống dối hư vọng; thực hành đúng với lời nói; không làm theo những gì thế gian mong muốn”. Như vậy, 'hoan hỷ' có nghĩa là chân chính tu tập các đức hạnh. 3. Khi thể nhập vào cõi Tịnh độ. 4. Tên cõi nước nơi Đức Phật A-súc-bệ Như Lai (s: Akṣobhya Tathāgata) đang giáo hoá (Hoan hỷ quốc歡喜國).

hoan lạc

See Hoan Hỷ.

hoan lạc thiên

Đại Thánh Thiên—Thánh Thiên lấy hình hai vợ chồng thân người đầu voi ôm lấy nhau làm bản tôn. Vị Nam Thiên là con trưởng của Đại Tự Tại Thiên, một đại hoang thần bạo hại thế giới. Vị Nữ Thiên là Quan Âm hóa hiện ôm lấy vị Nam Thiên ấy, khiến cho vị Nam Thiên tâm được hoan hỷ để dẹp bỏ cái thói bạo hại—The joyful devas—Devas of pleasure, represented as two figures embracing each other, with elephants' heads and human bodies; the two embracing figures are interpreted as Ganesa, the eldest son of Siva, and an incarnation of Kuan-Yin; the elephant-head represents Ganesa; the origin is older than the Kuan-Yin idea and seems to be a derivation from the Sivaitic linga-worship.

hoan lạc viên

See Hoan Hỷ Viên.

hoan lạc địa

Pramudita (skt)—Land of Joy.

hoan nghênh

To welcome—To applaud

Hoan 歡

[ja] カン kan ||| (1) Be happy; happiness, joy. (2) Intimacy. => 1. Vui lòng, sung sướng, niềm vui. 2. Sự thân tình.

hoang

1) Hoang dã: A wilderness—Uncultivated. 2) Hoang dại (tánh tình): An angry appearance. 3) Hoang đàng: Reckless. 4) Hoang vu—Wild—Waste—Empty.

hoang dã

See Hoang (1).

hoang hành

4312日本佛教用語。即在嶮岨之山林,或飛瀑河水,或火焰中修苦行。為日本佛教界修驗行者及修苦行者所常採用之修行方式。

hoang hạnh

(荒行) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tu khổ hạnh nơi rừng núi hiểm trở, hoặc lội qua sông nước giá buốt, hoặc ngồi dưới ánh nắng thiêu đốt, v.v... Đây là phương thức tu hành của phái Tu nghiệp đạo và của những hành giả khổ hạnh trong giới Phật giáo Nhật bản.

hoang không

Empty—Deserted.

hoang ngôn

Lie—Falsehood.

hoang phí

Extravagant—To squander one's money.

hoang phế

In ruin.

hoang sơ

Neglected.

hoang tàn

Devastated—In ruins.

hoang vu

Desolate—Deserted.

hoang vắng

Deserted.

hoang điền

Uncultivated field.

hoang điền tuỳ bút

4312凡四卷。全稱不能語荒田隨筆。日本曹洞宗僧指月慧印著。收於大正藏第八十二冊。內容包括:撰佛、出世不出世、修行成道、自證化他、現在滅度、衣座室、戒定慧、諦緣度、傳教、定祖、定祖之餘、次祖等。慧印慨嘆佛教祖道之衰弊,故揭示佛教之宗旨、祖道之要訣,並論述祖師卓拔之志業、綿密質實之言教與行持,以籲學人堅持道業。本書名為「隨筆」,實係評論宗義之論述。 ; (荒田隨筆) Gọi đủ: Bất năng ngữ hoang điền tùy bút.Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Chỉ nguyệt Tuệ ấn thuộc tông Tào động Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Nội dung sách này gồm có các đề mục: Tuyển Phật. Xuất thế bất xuất thế, Tu hành thành đạo, Tự chứng hóa tha, Hiện tại diệt độ, Y tòa thất, Giới định tuệ, Đế duyên độ, Truyền giáo, Định tổ chi dư, Thứ tổ, v.v... Cảm thương sự suy đồi của Phật giáo nên trong Tùy bút của mình, ngài Tuệ ấn đã nêu rõ tông chỉ của Phật giáo, yếu quyết của Tổ đạo, chí nghiệp cao xa, ngôn giáo chân thực và sự hành trì nghiêm mật của các bậc Tổ sư để khuyên bảo người học kiên trì đạo nghiệp. Sách này tuy gọi là Tùy bút nhưng thực ra là bộ sách bàn về tông nghĩa.

hoang đường

Fabulous—Hard or impossible to believe

Hoàng Bá Hy Vận

(黃檗希運, Ōbaku Kiun, ?-?): người Huyện Mân (閩縣, thuộc Phúc Châu, Tỉnh Phúc Kiến). Ông xuất gia ở Hoàng Bá Sơn (黃檗山), Phúc Châu (福州), sau đó lên ngao du trên Thiên Thai Sơn, rồi theo làm đệ tử của Hoài Hải (懷海) ở Bách Trượng Sơn (百丈山, thuộc Tỉnh Giang Tây) và đắc được huyền chỉ của vị nầy. Sau ông đến trú tại Đại An Tự (大安寺) và tập trung được khá nhiều đệ tử theo tu học. Hơn nữa, thể theo lời thỉnh cầu của Tướng Quốc Bùi Hưu (裴休), ông đến vùng Chung Lăng (鍾陵, thuộc Tỉnh Giang Tây), rồi do vì nhớ đến núi xưa nơi mình đã từng cư ngụ, ông đặt tên nơi đây là Hoàng Bá Sơn và trở thành tổ khai sơn tại đây. Kể từ đó môn phong Hoàng Bá mỗi ngày một rực rỡ thêm lên. Về sau, vào năm thứ 2 (842) niên hiệu Hội Xương (會昌), ông chuyển đến Long Hưng Tự (龍興寺), rồi năm thứ 2 (848) niên hiệu Đại Trung (大中) thì đến Khai Nguyên Tự (開元寺) ở Uyển Lăng (宛陵, thuộc Tỉnh An Huy). Vào khoảng năm thứ 10 (856) cùng niên hiệu trên, ông thị tịch. Đệ tử của ông có Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄), vị tổ khai sáng ra Lâm Tế Tông Trung Quốc. Truyền Tâm Pháp Yếu (傳心法要) là tập pháp ngữ của ông do Bùi Hưu thâu lục nên. Ông được ban cho thụy hiệu là Đoạn Tế Thiền Sư (斷際禪師).

honenbo genku

Honenbo Genku (J)Nguyên tên của Pháp Nhiên đại sư.

Hoà

和; C: hé; J: wa;|1. Hoà dịu, uyển chuyển, hoà nhã, mềm dẻo, ngoan ngoãn; 2. Hoà hợp, thích nghi, hoà thuận, hoà điệu (trong âm nhạc cũng như cách dùng trong thành ngữ); 3. Hài hoà, sự hoà thuận, sự hoà giải.

hoà ca la na

Xem Thọ ký kinh.

hoà dạng

3125爲日本最古之建築式樣。源自中國,然因傳行日本已久,故有此稱。其特徵,如地板,早期爲石敷,至平安時代以後則改爲板敷;柱子,採用圓筒形之圓柱。奈良時代之建築,柱體粗大,且向外伸張,由現存之藥師寺東塔內陣柱即可窺見其原形。此外,法隆寺之建築亦屬廣義之和樣。

hoà già la na

3124梵語 vyākaraṇa。略稱和羅那、和伽那、和伽羅。意譯授記、授決、記莂。爲十二部經之一。佛陀所說經文,依其性質、內容可分爲十二類,其中,說弟子之死生因果、分明甚深義理,及說成佛等事者,即稱和伽羅那。〔大乘義章卷一四分律疏飾宗義記卷三本〕(參閱「十二部經」344、「授記」4587) ; (和伽羅那) Phạm: Vyàkaraịa. Gọi tắt: Hòa la na, Hòa già na, Hòa già la. Dịch ý: Thụ kí, Thụ quyết, Kí biệt. Loại kinh nói về nhân quả sinh tử của các đệ tử và những việc thụ kí thành Phật. Là trong 12 loại kinh. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.1; Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.3 phần đầu]. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh, Thụ Kí).

hoà hưu kinh

3123全一卷。又稱太子和休經。譯者不詳,約譯於西晉時代。收於大正藏第十二冊。本經與太子刷護經、大寶積經卷三十七阿闍世王子會等,爲同本異譯。內容敘述阿闍世王之太子和休,向佛請問二十七種法之因緣。如:端正、三十二相、三業淨、家中和順、天耳、憶知宿命、預治佛國、光明遍照十方等。〔出三藏記集卷三、開元釋教錄卷二〕 ; (和休經) Cũng gọi Thái tử hòa hưu kinh. Kinh, 1 quyển, được dịch vào khoảng đời Tây Tấn, nhưng không rõ dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung kinh này tường thuật việc thái tử Hòa hưu, con vua A xà thế, đến thưa hỏi đức Phật về 27 loại pháp như: Xinh đẹp, 32 tướng, 3 nghiệp trong sạch, sự hòa thuận trong gia đình, thần thông, nhớ biết các nghiệp kiếp trước, sửa sang nước Phật, ánh sáng soi khắp 10 phương, v.v... Kinh này còn có các bản dịch khác như: Kinh Thái tử loát hộ, A xà thế vương tử hội trong kinh Đại bảo tích quyển 37. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].

hoà hương hoàn

3125和種種香末爲一丸,常用以比喻一法中具有無量之佛法。據首楞嚴三昧經卷上載,佛在王舍城耆闍崛山中,對堅意菩薩說法,謂菩薩住於首楞嚴三昧,世世自得六波羅蜜,念念常有六波羅蜜,而身皆是法、行皆是法,並以和香丸爲譬喻:如將百千種香料搗爲粉末,若有人欲索取其中一種,而不欲其餘香末共相薰雜,則爲不可能之事。猶如菩薩以一切波羅蜜薰習身心,能於念念中常生六波羅蜜。〔金光明經玄義卷上〕 ; (和香丸) Hòa trộn các thứ bột hương làm thành một viên, thường dùng để ví dụ trong một pháp có vô lượng Phật pháp. Cứ theo kinh Thủ lăng nghiêm quyển thượng chép, thì có lần đức Phật ở trong núi Kì xà quật, gần thành Vương xá, nói pháp cho bồ tát Kiên ý rằng: Các Bồ tát trụ nơi Thủ lăng nghiêm tam muội, đời đời tự được 6 Ba la mật, niệm niệm thường có 6 Ba la mật, thân đều là pháp, hạnh đều là pháp. Nghĩa là Bồ tát huân tập thân tâm bằng tất cả pháp Ba la mật, ví như đem trăm nghìn thứ hương liệu tán ra thành bột, rồi trộn lẫn với nhau làm thành Hòa hương hoàn , nếu có người tìm trong đó để lấy ra một thứ mà không muốn nó dính các bột hương khác thì không thể được. [X. Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng].

Hoà hợp

和合; C: héhé; J: wagō; S: saṃgraha.|1. Hợp nhất, hoà hợp, kết hợp (s: samagra); 2. Sự kết hợp của nhân và duyên. Sự hội đủ của nhiều yếu tố trong sự tạo thành một thực thể đơn nhất; 3. Theo Duy thức tông, đó là nhiều loại tạo tác hài hoà với nhau, một trong 24 pháp Tâm bất tương ưng hành.

hoà hợp

Samavaya (S)Hoà hợp cú nghĩa, Vô chướng ngại đếMột trong Lục cú nghĩa. Nghĩa là năm cú nghĩa: Thật, Đức, Nghiệp, Đồng và Dị nhiếp thuộc lẫn nhau mà không lìa nhau.

hoà hợp hương

3123指由諸種香料調合所製成之香,多用於密教供養中。俗稱五種香。據蘇悉地經卷上、瞿醯壇跢羅經卷中等載,用於塗香之香料及用於燒香之香料,兩類和合稱爲和合香;又和合香之中不得含攝有情之身分(肉身)、穢惡物或無香物等。 ; (和合香) Cũng gọi Ngũ chủng hương. Loại hương tổng hộp được điều chế từ các hương liệu, thường dùng để cúng dường trong các pháp tu của Mật giáo. Cứ theo kinh Tô tất địa quyển thượng và kinh Cù hê đàn đá la quyển trung, thì dùng hương thoa và hương đốt trộn lẫn với nhau gọi là Hòa hợp hương. Trong hòa hợp hương không được bao hàm thân của hữu tình, vật nhớp nhúa hoặc vật không có mùi thơm.

Hoà hợp thức

和合識; C: héhéshì; J: wagōshiki; |Được đề cập trong Đại thừa khởi tín luận. Có nghĩa A-lại-da thức là nơi của bất khả tư nghì nhiễm tịnh, của ngộ và mê.

Hoà hợp thức 和合識

[ja] ワゴウシキ wagōshiki ||| The "combining consciousness" explained in the Awakening of Faith 起信論. The ālaya consciousness as the locus of the inconceivable interpenetration of purity and defilement, reality and illusion. => Được đề cập trong Đại Thừa Khởi Tín Luận. Có nghĩa A-lại-da thức là nơi chứa nhóm của bất khả tư nghì nhiễm tịnh, của ngộ và mê.

Hoà hợp tính

和合性; C: héhé xìng; J: wagō shō; S: sāma-grī.|Theo giáo lí của tông Duy thức, đó là một trong 24 pháp Tâm bất tương ưng hành. Đề cập đến sự thiết yếu của vô số nguyên nhân kết hợp trong mối tương quan nhân quả. Vì để cho một vật hiện hữu thì phải có sự kết hợp của vô số nguyên nhân.

hoà hợp tính

3123梵語 sāmagrī。略作和合。唯識宗所說百法之一,二十四不相應行法之一。指形成心、色等諸法之因緣,能彼此和合之性質。亦即有爲諸法生起時,必須由眾多之因緣和合集會之特性,稱爲和合性。印度六派哲學中,勝論學派之勝論六句義,其第六句義即和合句義。又勝論學派以此和合性爲實法,大乘佛教則以之爲分位假立。然小乘之俱舍宗,並未別立和合性之說。〔顯揚聖教論卷一、大乘阿毘達磨雜集論卷二、瑜伽師地論卷三〕 ; (和合性) Phạm: Sàmagrì. Gọi tắt: Hòa hợp. Tính hòa hợp của các nhân duyên khi sinh khởi các pháp hữu vi. Là một trong trăm pháp và một trong 24 pháp Bất tương ứng hành theo thuyết của tông Duy thức. Trong 6 nguyên lí của học phái Thắng luận ở Ấn độ, nguyên lí thứ 6 là nguyên lí hòa hợp (Hòa hợp cú nghĩa). Học phái này cho tính hòa hợp ấy là thực pháp, nhưng Phật giáo Đại thừa thì cho tính ấy chỉ là phần vị giả lập. Còn tông Câu xá của Tiểu thừa thì không lập riêng thuyết Hòa hợp tính.[X. luận Hiển dương Thánh giáo Q.1; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2; luận Du già sư địa Q.3].

Hoà hợp tính 和合性

[ja] ワゴウショウ wagō shō ||| (sāmagrī). 'Harmonization.' In the theory of the Consciousness-only school, one of the 24 elements not concomitant with mind. Refers to the necessity for a great number of causes to be gathered and combined in the relationship of cause and effect. For one thing to come into existence, a vast amount of causes are combined. => (s: sāmagrī) Theo giáo lý của tông Duy thức, đó là một trong 24 pháp Tâm bất tương ưng hành. Đề cập đến sự thiết yếu của vô số nguyên nhân kết hợp trong mối tương quan nhân quả. Vì để cho một vật hiện hữu, thì phải có sự kết hợp của vô số nguyên nhân.

hoà hợp tăng

3124梵語 saṃgha。指比丘、比丘尼入佛門,同持戒、同修行,和合一處。又稱和合眾。略稱和僧、和眾。據大乘法苑義林章卷六本載,僧眾分爲三種,即理和合僧、事和合僧、辨事僧等,三者協調,共營僧團生活。又僧眾亦可稱爲「和合海」,乃比喻僧眾和合爲一味,猶如海水之一味;並比喻僧眾之量無限,猶如海之深廣。破壞和合者必獲罪,二十犍度中有破僧犍度,爲五逆罪之一。破僧又分爲二:(一)使僧團分裂者,稱破羯磨僧。(二)另立異道僧團者,稱破法輪僧。此外,對和合僧功德之尊崇,稱爲和合尊。〔南海寄歸內法傳卷二、佛祖正傳菩薩戒作法〕(參閱「二十犍度」181) ; (和合僧) Phạm: Saôgha. Cũng gọi Hòa hợp chúng. Gọi tắt: Hòa tăng, Hòa chúng. Sự hòa hợp của tăng chúng. Cứ theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6 phần đầu, thì chúng tăng được chia làm 3 loại: Lí hòa hợp tăng, Sự hòa hợp tăng, Biện sự hòa hợp tăng, cả 3 hợp lại tạo thành Tăng đoàn. Ngoài ra, chúng tăng cũng còn gọi là Hòa hợp hải , ví dụ chúng tăng hòa hợp thành một, giống như nước biển chỉ có một vị mặn và ví dụ số lượng của chúng tăng nhiều vô hạn, giống như sự sâu rộng của biển cả. Người phá hòa hợp tăng bị tội rất nặng. Trong 20 kiền độ, có Kiền độ phá tăng, là một trong 5 tội nghịch. Phá tăng có 2 loại: 1. Phá Yết ma tăng: Làm cho tăng đoàn chia rẽ. 2. Phá Pháp luân tăng: Lập riêng tăng đoàn dị đạo. Ngoài ra, tôn sùng công đức của hòa hợp tăng, gọi là Hòa hợp tôn. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Phật tổ chính truyền Bồ tát giới tác pháp]. (xt. Nhị Thập Kiền Độ).

Hoà hợp 和合

[ja] ワゴウ wagō ||| (saṃgraha). (1) Unified, harmonized, combined. (samagra) (2) The gathering of causes and conditions. The combination of various elements in the formation of a single entity. (samyoga) (3) In Consciousness-only theory, the action of diverse causes coming together and harmonizing, one of the 24 elements not concomitant with mind. => (s: saṃgraha) 1. Hợp nhất, hoà hợp, kết hợp ( s: samagra). 2. Sự kết hợp của nhân và duyên. Sự hội đủ của nhiều yếu tố trong sự tạo thành một thực thể đơn nhất. 3. Theo Duy thức tông, đó là nhiều loại tạo tác hài hoà với nhau, một trong 24 pháp Tâm bất tương ưng hành.

hoà kĩ giả

3123爲「工伎兒」之對稱。工伎兒,指演藝者,即隨著鼓等樂器之節拍而表演各類動作之人;和伎者,指調弄樂器以配合演藝者之伴奏人。蓋於演藝之中,和伎者與工伎兒勢必兩相應和,始能完成劇作。佛教中,將此二者之緊密應和,比喻凡夫之心執著於外境所生顛倒之狀況。大乘入楞伽經現證品(大一六‧六二○上):「計著文字者,不見我真實;心如工伎兒,意如和伎者;五識爲伴侶,妄想觀伎眾。」〔四卷本楞伽經卷四、景德傳燈錄卷八亮坐主章〕 ; (和伎者) Đối lại với Công kĩ nhi. Chỉ cho người hòa nhạc. Công kĩ nhi là người diễn xuất, tức là người theo nhịp điệu của tiếng nhạc mà trình diễn. Trong nghệ thuật trình diễn, người hòa nhạc và người diễn xuất phải ăn khớp với nhau mới có thể hoàn thành vở kịch. Trong Phật giáo, sự hòa hợp mật thiết giữa 2 loại người này được dùng để ví dụ tâm của người phàm phu, vì chấp trước ngoại cảnh mà sinh ra điên đảo. Phẩm Hiện chứng trong kinh Đại thừa nhập lăng già (Đại 16, 620 thượng), nói: Người chấp trước văn tự. Chẳng thấy ngã chân thực. Tâm như kẻ hát xướng. Ý như người hòa nhạc. Năm thức làm bạn lữ, Vọng tưởng xem trình tấu . [X. kinh Lăng già (bản 4 quyển) Q.4; chương Lượng tọa chủ trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.8].

hoà luân tỉ khâu

3126爲世尊過去世之受業師。據般舟三昧經三卷本至誠佛品載,昔時和輪比丘從至誠佛受持般舟三昧。世尊於其時爲剎帝利種國王,一夜在夢中聞此三昧,醒後即尋求和輪比丘,從之出家爲沙門。然以不斷爲魔事所擾,竟未能受持般舟三昧。故世尊據以告誡諸弟子,當速取般舟三昧,並謹慎護持之。 ; (和輪比丘) Thầy dạy của đức Thế tôn ở đời quá khứ. Cứ theo phẩm Chí thành Phật trong kinh Bát chu tam muội (bản 3 quyển), thủơ xưa có vị tỉ khưu Hòa luân theo Phật Chí thành thụ trì Bát chu tam muội. Lúc bấy giờ đức Thế tôn là vị quốc vương dòng Sát đế lợi. Một đêm kia ngài nằm mộng được nghe Tam muội này, sau khi tỉnh dậy. Ngài tìm đến chỗ tỉ khưu Hòa luân xin xuất gia làm sa môn; nhưng vì không đoạn trừ được việc ma quấy nhiễu nên cuối cùng Ngài đã không thụ trì được Bát chu tam muội. Cho nên ngày nay đức Thế tôn lấy đó răn dạy các đệ tử nên tu Bát chu tam muội và cẩn thận giữ gìn.

Hoà luân 和輪

[ja] ワリン warin ||| Transcription of the Sanskrit Varuṇa; see 水天. => Phiên âm chữ Varuṇa từ tiếng Sanskrit. Xem Thuỷ thiên.

hoà lỗ ca thành tựu pháp

Heruka Sadhana (S).

Hoà nam

和南; C: hénán; J: wanan; |Sự chào kính. Lễ bái.

hoà nam

3125梵語 vandana,巴利語同。係對長上問訊之語,屬禮法之一。又作槃那寐、槃談、煩淡、畔睇、婆南、伴題、伴談、畔憚南、末捺南。意譯我禮、歸禮、敬禮、恭敬、度我、稽首。十誦律卷三十九(大二三‧二八○上):「稱和南者,是口語。若曲身者,是名心淨。」摩訶僧祇律卷二十七(大二二‧四四六中):「佛言:『從今日後,前人若坐若立住,身口、心。身者,前人若坐若立住,頭面禮足,是名身。口者,若前人遠遙,合掌低頭,作是言和南,是名口。若以背去,應合掌作敬,是名心恭敬。若見上座來,不起迎和南恭敬者,越毘尼罪。』」是謂對長上表敬意時,口應稱「和南」之意。梵文法集名數經(Dharmasaṃgraha, XIV)以此爲七種禮法中之第一種。 南海寄歸內法傳卷三、大乘法苑義林章卷四本等,皆謂和南爲訛音,正音爲畔睇、伴談、伴題等。蓋梵語 vandana(和南)乃以 vand(有讚賞、尊崇之義)爲語根,附加後接字 ana 所成者。〔有部毘奈耶雜事卷十五、四分律行事鈔卷下三、翻譯名義集卷十一〕 ; (和南) Phạm, Pàli: Vandana. Cũng gọi Bàn na mị, Bàn đàm, Phiền đàm, Bạn đê, Bà nam, Bạn đề, Bạn đàm, Bạn đạn nam, Mạt nại nam. Dịch ý: Ngã lễ, Qui lễ, Kính lễ, Cung kính, Độ ngã, Khể thủ. Lời thăm hỏi đối với bậc trưởng thượng. Luật Thập tụng quyển 39 cho rằng Hòa nam là bày tỏ sự cung kính bằng lời nói. Luật Ma ha tăng kì quyển 27 (Đại 22, 446 trung), ghi: Phật dạy: Từ nay về sau, Hòa nam có 3 thứ là thân, khẩu, tâm. Thân: Ở trước người hoặc ngồi, hoặc đứng, phải cúi đầu lễ chân. Khẩu: Nếu thấy người từ xa, phải chắp tay cúi đầu thưa hỏi. Tâm: Nếu người quay lưng đi rồi, vẫn chắp tay cung kính. Nếu thấy bậc trưởng thượng đến mà không đứng dậy cung kính đón chào, thì phạm tội Việt tì ni . Theo kinh Pháp tập danh số (Dharmasaôgraha, XIV) bản tiếng Phạm, đây là pháp thứ 1 trong 7 phép lễ. Ngoài ra, Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 và Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 4 phần đầu, đều cho rằng Hòa nam là phiên âm sai; đúng ra phải là Bản đê, Bạn đàm, Bạn đề, v.v... Vì tiếng Phạm: Vandana (Hòa nam) là do ngữ căn Vand (có nghĩa tán thưởng, tôn sùng) thêm tiếp vĩ ngữ ana vào sau mà thành. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.15; Tứ phần luật hành sự sao Q.hạ phần 3; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.11].

Hoà nam 和南

[ja] ワナン wanan ||| A salutation. To pay one's respects to. => Sự chào kính. Lễ bái.

hoà nê hợp thuỷ

3124禪林用語。謂爲行慈悲,完全與塵世眾生和合,以化導眾生行善止惡,達到濟度之目的。乃第二義門之施設,慈悲方便之作法。又稱拖泥帶水。據碧巖錄第八十七則載,於一塵中示現一切身,隨各類根器而和泥合水。此外,有將師家爲接化不同根機之學人,依第二義門所施之權巧方便,稱爲和麩糶麵。和麩糶麵,原指於精細之麵粉中,摻雜粗糙之麥麩而予以出售,禪林則以麵比喻精深之佛法,麩此喻第二義門。〔正法眼藏卷三(大慧)〕 ; (和泥合水) Cũng gọi Đà nê đới thủy (trộn bùn với nước). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vì thực hiện hạnh từ bi mà hòa hợp với chúng sinh trong trần tục để khuyến khích họ làm lành lánh ác, mong đạt mục đích cứu độ. Tắc 87 trong Bích nham lục nói rằng ở trong một hạt bụi thị hiện tất cả thân, tùy theo các loại căn cơ mà hòa nê hợp thủy. Ngoài ra còn có từ ngữ cùng nghĩa: Hòa phu thiếu miến (trộn trấu với bột gạo). [X. Chính pháp nhãn tạng Q.3 (Đại tuệ)].

hoà quang đồng trần

3123出自老子「和其光,同其塵」一語,謂與塵俗相合而不自立異。於佛教,指佛菩薩爲救度眾生,須隱藏菩提之智慧光,以應化身權假方便,生於充滿煩惱之塵世,與眾生結緣,次第導引眾生入佛法。摩訶止觀卷六下,即稱此種權巧施設爲和光同塵。然北本涅槃經卷六,稱此種施設爲「和光不同塵」,意謂佛菩薩爲達救度目的而興塵世眾生和合,卻不爲惡濁所染。〔注維摩詰經卷一、止觀輔行傳弘決卷六之一〕 ; (和光同塵) Hòa ánh sáng cùng với bụi. Nghĩa là hòa hợp với trần tục mà không tự lập dị. Từ ngữ này có xuất xứ từ câu Hòa kì quang, đồng kì trần của Lão tử. Trong Phật giáo, từ ngữ này được dùng để chỉ cho việc Phật, Bồ tát vì cứu độ chúng sinh phải ẩn giấu ánh sáng trí tuệ, dùng thân Ứng hóa tạm thời phương tiện sinh trong cõi trần dẫy đầy phiền não, kết duyên với chúng sinh để rồi lần lượt dắt dẫn họ vào Phật pháp. Ma ha chỉ quán quyển 6 phần dưới gọi việc làm quyền xảo trên đây là Hòa quang đồng trần. Nhưng kinh Niết bàn quyển 6 (bản Bắc) thì gọi là Hòa quang bất đồng trần, nghĩa là Phật và Bồ tát vì đạt mục đích cứu độ mà hòa hợp với chúng sinh cõi trần, nhưng không bị những điều xấu ác làm ô nhiễm. [X. Chú Duy ma cật kinh Q.1; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6 phần 1].

hoà sơn

2145位於江西永新,此山盛產嘉禾,故稱禾山。又作秋山。山景奇峰累累,其最高峰稱赤面峰,赤面峰下有禾山寺(又稱甘露寺),古來為禪宗著名道場之一,巖頭全奯之法嗣慧宗、九峰道虔之法嗣無殷(884~960),世稱禾山無殷禪師)、黃龍慧南之法嗣德普(1025~1091),世稱禾山德普禪師)、死心悟新之法嗣慧方(629~695),世稱禾山慧方禪師)等諸禪師先後弘法於此,世人每冠以「禾山」二字稱其法號。〔大明一統志卷 五十六、大清一統志卷二四九、讀史方輿紀要卷八十七〕 ; (禾山) Cũng gọi Thu sơn. Núi ở huyện Vĩnh tân, tỉnh Giang tây, Trung quốc, vì núi này trồng nhiều lúa nên gọi là Hòa sơn (núi lúa). Núi này có nhiều ngọn kì lạ, chồng xếp lên nhau, ngọn cao nhất gọi là Xích diện phong (ngọn núi mặt đỏ), dưới Xích diện phong có chùa Hòa sơn, cũng gọi là chùa Cam lộ, vốn là một trong những đạo tràng nổi tiếng của Thiền tông từ xưa. Ngài Tuệ tông, ngài Vô ân (884-960), ngài Đức phổ (1025-1091), ngài Tuệ phương, v.v... đều đã lần lượt hoằng pháp ở đây; người đời mỗi khi nhắc đến Pháp hiệu của các ngài đều có 2 chữ Hòa sơn ở trước như: Hòa sơn Tuệ tông thiền sư, Hòa sơn Vô ân thiền sư, v.v... [X. Đại minh nhất thống chí Q.56; Đại thanh nhất thống chí Q.249; Độc sử phương dư kỉ yếu Q.87].

hoà sơn giải đả cổ

2145禪宗公案名。又作禾山四打鼓、解打鼓、禾山打鼓。即唐末五代禾山無殷禪師(884~960)對於學人之參問,四次均答以「解打鼓」,開示真正之解脫唯在於領會此一包含所有事實而始終同一之「解打鼓」。碧巖錄第四十四則(大四八‧一八○下):「禾山垂語云:『習學謂之聞,絕學謂之鄰;過此二者,是為真過。』僧出問:『如何是真過?』山云:『解打鼓。』又問:『如何是真諦?』山云:『解打鼓。』又問:『即心即佛即不問,如何是非心非佛?』山云:『解打鼓。』又間:『向上人來時,如何接?』山云:『解打鼓。』」 或謂解打鼓,即響在後面之意,亦即寓玄旨於言外之意。蓋真正體會諸佛悟境之人,視無味之言語,無關於慧解;若能於此理會,則當下猶如桶底脫落,執情盡除而驀然開悟。雪竇重顯頌之,云(大四八‧一八一中):「一拽石,二般土,發機須是千鈞弩。象骨老師曾輥毬,爭似禾山解打鼓?報君知,莫莽鹵,甜者甜兮苦者苦。」〔宗要統要續集卷十七、五燈會元卷六、拈評三百則卷中〕 ; (禾山解打鼓) Cũng gọi Hòa sơn tứ đả cổ, Giải đả cổ, Hòa sơn đả cổ. Tên công án trong Thiền tông. Hòa sơn biết đánh trống. Thiền sư Hòa sơn Vô ân (884-960) ở cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, khi người học đến tham vấn, chỉ dùng câu Biết đánh trống để khai thị. Tắc 44 trong Bích nham lục (Đại 48, 180 hạ) ghi: Hòa sơn Vô ân dạy rằng: Học tập gọi là nghe, tuyệt học gọi là gần, qua được 2 đoạn này mới là thật qua. Có một vị tăng bước ra hỏi: Thế nào là thật qua? Biết đánh trống. Thế nào là chân đế? Biết đánh trống. Tức tâm tức Phật thì chẳng phải hỏi, nhưng phi tâm phi Phật là thế nào? Biết đánh trống. Khi người hướng thượng đến, tiếp như thế nào? Biết đánh trống . Có thuyết cho rằng Biết đánh trống là ý tiếng dội lại ở mặt sau, cũng tức là lý mầu nhiệm sâu kín ở ngoài lời nói. Bởi vì đối với người đã lãnh hội được cảnh giới giác ngộ của chư Phật thì ngôn ngữ trở thành vô nghĩa, chẳng liên quan gì đến trí tuệ hiểu biết. Nếu cảm nhận được điều đó thì ngay ở câu đáp ấy liền trừ sạch tình chấp mà hoát nhiên khai ngộ. [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.17; Ngũ đăng hội nguyên Q.6; Niêm bình tam bách tắc Q.trung].

hoà sơn ngũ âm

Kasan Muin (J), Ho-shan Wu-yin (C), Heshan Wuyin (C), Kasan Muin (J)Thiền sư Trung quốc thế kỳ 10.

Hoà thượng

和尚 (上); S: upādhyāya; P: upajjhāya; C: héshàng; J: ōshō; dịch âm Hán Việt là Ưu-ba-đà-la, Ô-ba-đà-na (鄔波駄耶)|1. Là bậc tôn sư thân cận dìu dắt các Sa-di hoặc Tỉ-khâu, vì vậy cũng được gọi là Thân giáo sư hoặc Lực Sinh. Trong thời gian đầu của Phật giáo tại Ấn Ðộ, người ta phân biệt hai vị thầy của một người mới nhập Tăng-già, đó là Hoà thượng và A-xà-lê (hoặc Giáo thụ; s: ācārya; p: ārcāriya). Hoà thượng là người dạy các đệ tử biết trì Giới, thực hành nghi lễ, và vị Giáo thụ là người giảng Pháp, ý nghĩa của kinh sách. Vì thế mà danh từ Hoà thượng đồng nghĩa với từ Luật sư hoặc Giới sư trong thời này.|2. Vị trú trì; Tăng sĩ Phật giáo; Ở Nhật Bản, từ nầy được phát âm theo nhiều cách khác nhau: Thiền tông gọi là ōshō, Thiên thai tông gọi là kashō, Chân ngôn tông gọi là washō.|Tại Ðông và Nam Á, danh hiệu Hoà thượng là chức vị cao nhất mà một người tu hành có thể đạt được, cao hơn cả vị A-xà-lê. Muốn mang danh hiệu này một vị tăng phải đạt được những tiêu chuẩn đạo đức, thời gian tu tập (tuổi hạ)…. và danh hiệu này được ban trong một buỗi lễ long trọng. Danh từ này sau cũng được dùng chỉ những vị tăng cao tuổi, trụ trì một ngôi chùa và có đức hạnh, tư cách cao cả mặc dù chưa được chính thức phong hiệu.|Danh hiệu »Ðại Hoà thượng« cũng thường được sử dụng trong Thiền tông để chỉ những vị Thiền sư. Theo những nghi thức tụng niệm trong một Thiền viện tại Nhật Bản, thiền sinh phải tưởng niệm đến hệ thống truyền thừa từ Phật Thích-ca Mâu-ni đến vị Lão sư (j: rōshi) đang trụ trì và tụng danh hiệu của chư vị. Tên của chư vị thường được gài thêm danh hiệu »Ðại Hoà thượng« phía sau để tăng thêm vẻ uy nghiêm.

hoà thượng

3124梵語 upādhyāya,巴利語 upajjhāya。指德高望重之出家人。又作和上、和闍、和社、殟社、鶻社、烏社。音譯爲鄔波馱耶、優婆陀訶、郁波第耶夜。意譯親教師、力生、近誦、依學、大眾之師。和尚爲受戒者之師表,故華嚴、天台、淨土等宗皆稱爲戒和尚。後世沿用爲弟子對師父之尊稱。然和尚一語乃西域語之轉訛,如龜茲語 pwājjhaw 等之誤轉。亦有謂印度古稱「吾師」爲烏社,于闐等地則稱和社、和闍(khosha),和尚一語即由此轉訛而來。又鳩摩羅什譯此語爲力生,意指弟子依師而生道力。 據大智度論卷十三載,沙彌、沙彌尼之出家受戒法,應求二師,一爲和上,一爲阿闍梨;和上如父,阿闍梨如母。意即捨本生之父母而求出家之父母。在西藏喇嘛教之四種階位中,以和尚爲最上之第四位,其權力僅次於達賴喇嘛與班禪喇嘛,住持諸大寺。日本佛教僧官階位中,有大和尚位、和尚位等稱呼,後則轉爲對高僧之尊稱。〔四分律卷三十三、卷三十九、根本說一切有部百一羯磨卷一、南海寄歸內法傳卷三、宋高僧傳卷三、玄應音義卷八、翻譯名義集卷四、慧琳音義卷十三、禪林象器箋稱呼門〕 ; Upajjhāya (P), Upajjha (P), Upādhyāya (S), Venerable Ưu ba đà da, Thân giáo sưBậc thầy đỡ đầu cho đệ tử tu hạnh xuất gia, cùng với ngài giáo thọ và kiết ma gọi là Tam sư. ; (和尚) Phạm: Upàdhyàya. Pàli: Upajjhàya. Cũng gọi Hòa xà, Hòa xã, Ốt xã, Cốt xã, Ô xã. Dịch âm: Ô ba đà da, Ưu bà đà ha, Úc ba đệ da dạ. Dịch ý: Thân giáo sư, Lực sinh, Cận tụng, Y học, Đại chúng chi sư. Chỉ cho bậc xuất gia có trí tuệ đức hạnh cao quí. Hòa thượng là vị thầy gương mẫu cho những người thụ giới, nên các tông Hoa nghiêm, Thiên thai, Tịnh độ, v.v... đều gọi là Giới hòa thượng . Đến đời sau, từ này được các đệ tử dùng để tôn xưng thầy tổ của mình. Nhưng danh từ Hòa thượng là chuyển âm sai từ tiếng Tây vực, như tiếng Pwàjjhaw của Cưu tư, v.v... Cũng có thuyết cho rằng người Ấn độ xưa gọi thầy của mình là Ô xã, còn người nước Vu điền thì gọi thầy là Hòa xã, Hòa xà (Khosha), tiếng Hòa thượng chính đã được chuyển âm sai từ đó. Còn ngài Cưu ma la thập dịch từ Hòa thượng là Lực sinh, nghĩa là đệ tử nương vào bậc thầy mà phát sinh đạo lực. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 13, thì sa di, sa di ni xuất gia thụ giới, phải cầu thỉnh 2 vị thầy: Một là Hòa thượng, hai là A xà lê; Hòa thượng ví như cha, A xà lê ví như mẹ. Ở Tây tạng, Hòa thượng là ngôi vị cao nhất trong bốn ngôi vị, quyền hạn chỉ dưới Đạt lai lạt ma và Ban thiền lạt ma. Hòa thượng giữ chức Trụ trì các chùa lớn. Trong các cấp bậc quan chức của Tăng đoàn Phật giáo Nhật bản, các danh xưng chức vị Đại hòa thượng, Hòa thượng, về sau, các từ này được chuyển thành tiếng tôn xưng các bậc Cao tăng. [X. Luật tứ phần Q.33, 39; Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma Q.1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3; Tống cao tăng truyện Q.3; Huyền ứng âm nghĩa Q.8; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4; Tuệ lâm âm nghĩa Q.13; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Hoà thượng 和尚

[ja] ワショウ washō ||| (1) Chinese translation of the Sanskrit upādhāya, meaning preceptor--a Buddhist teacher who imparts the precepts to the practitioner. Transcribed as 鄔波駄耶. (2) An abbot; a Buddhist priest. In Japanese, these word is pronounced variously: In Zen oshō, in Tendai, kashō, and in Shingon, washō. => Có hai nghĩa: 1.Tiếng Hán dịch từ chữ upādhāya trong tiếng Sanskrit, nghĩa là Giáo thụ sư--một cao tăng Phật giáo có năng lực truyền trao giới pháp cho mọi người. Phiên âm là Ô-ba-đà-na. 2. Vị trú trì; Tăng sĩ Phật giáo. Ở Nhật Bản, từ nầy được phát âm theo nhiều cách khác nhau: Thiền tông gọi là oshō, Thiên thai tông gọi là kashō, Chân ngôn tông gọi là washō.

hoà tu cát

Xem Hoà tu kiết long vương.

hoà tu cát long vương

Xem Hoà tu kiết long vương.

hoà tu kiết long vương

Vasuki (S)Hoà tu cát Long vương, Bảo Hữu Long vươngTên một vị thiên. Một trong Bát đại Long vương, gồm: Hoan Hỷ Long vương, Hiền Hỷ Long vương, Long vương hải, Bảo Hữu Long vương, Đa Thiệt Long vương, Vô nhiệt não Long vương, Đại ý Long vương, Thanh Liên Long vương.

hoà tu mật đa

Xem Bà tu mật.

Hoà tán

和讚; J: wasan; nghĩa là »bài ca tán thán«;|Một một dạng tán tụng trong Thiền tông, trong đó Phật, Bồ Tát, các vị Tổ sư và các chủ đề thuộc Phật giáo khác được ca ngợi, tán thán. Một bài hoà tán nổi danh là Bạch Ẩn Thiền sư toạ thiền hoà tán, trong đó, sư Bạch Ẩn ca ngợi phương pháp Toạ thiền theo Ðại thừa để trực nhận được chân tính thanh tịnh.

hoà tán

3126日本佛教用語。以「和音」唱頌佛、菩薩、祖師或教法等之讚歌。多以七五調,四句一章爲基本,由數章至數十章連續唱頌。日本平安時代,良源作本覺讚;千觀作極樂國稱彌陀和讚;源信作極樂六時讚等。鎌倉時代,親鸞曾作三帖和讚;智真作別願和讚等。以迄於現代,陸續皆有作品推出,居日本佛教歌曲中之重要地位。 ; (和贊) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Bài hát hòa âm tán thán Phật, Bồ tát hoặc Tổ sư. Ở thời đại Bình an của Nhật bản, ngài Lương nguyên soạn Bản giác tán, ngài Thiên quán viết Cực lạc quốc xưng Di đà hòa tán, ngài Nguyên tín làm Cực lạc lục thời tán, v.v... Đến thời đại Liêm thương, có ngài Thân loan soạn Tam thiếp hòa tán, ngài Trí chân viết Biệt nguyện hòa tán, v.v... cho đến thời hiện đại, loại tác phẩm này vẫn tiếp tục xuất hiện và đã chiếm một địa vị quan trọng trong nền âm nhạc Phật giáo Nhật bản.

hoà âm thiên

Aghaniṣṭha (S), Sound-Accordance Realm Tên một cõi giới trong Tịnh phạm địa: Vô tưởng thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện kiến thiên, Sắc cứu cánh thiên, Hoà âm thiên, Đại tự tại thiên.

hoà địa bộ

Xem Di sa tắc bộ.

Hoà 和

[ja] ワ wa ||| (1) To be soft, flexible, gentle, pliant, obedient, gentle. (2) To harmonize (with), to adapt to, to be in tune with, or keep in tune with (musically, as well as the idiomatic usage). (3) Harmony, peace, conciliation. => 1. Hoà dịu, uyển chuyển, hoà nhã, mềm dẻo, ngoan ngoãn. 2. Hoà hợp, thích nghi, hoà thuận, hoà điệu ( trong âm nhạc cũng như cách dùng trong thành ngữ). 3. Hài hoà, sự hoà thuận, sự hoà giải.

Hoà-già-la

和伽羅; C: héqiéluó; J: wagara; S: vyākaraṇa.|Phiên âm chữ vyākaraṇa từ tiếng Phạn, một trong 12 thể loại của Kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經), nghĩa là báo trước sự chứng ngộ của đệ tử từ Đức Phật. Hán dịch là Thụ kí (授記).

Hoà-già-la 和伽羅

[ja] ワガラ wagara ||| A transcription of the Sanskrit vyākaraṇa, one of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經, consisting of predictions of enlightenment of his disciples by the Buddha. Translated into Chinese as 授記. => Phiên âm chữ Vyākaraṇa từ tiếng Sanskrit, một trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo (thập nhị bộ kinh), nghĩa là báo trước sự chứng ngộ của đệ tử từ Đức Phật. Hán dịch là Thụ ký授記.

Hoà-già-la-na

和伽羅那; C: héqiéluónà; J: wakarana; |Phiên âm chữ vyākaraṇa từ tiếng Phạn,, nghĩa là báo trước sự chứng ngộ của đệ tử từ Đức Phật. Hán dịch là Thụ kí (授[受] 記). Một trong 12 thể loại của Kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經)

Hoà-già-la-na 和伽羅那

[ja] ワカラナ wakarana ||| A transcription of the Sanskrit vyākaraṇa, which means the prediction of future buddhahood, given by the Buddha toward one of his disciples; most commonly translated as 授記 and 受記. One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Phiên âm chữ Vyākaraṇa từ tiếng Sanskrit, , nghĩa là báo trước sự chứng ngộ của đệ tử từ Đức Phật. Hán dịch là Thụ ký và Thọ ký 授記 và 受記 . Một trong 12 thể loại của Kinh điển Phật giáo (thập nhị bộ kinh)

Hoà-la-na

和羅那; C: héluónà; J: éwarana;|Phiên âm chữ vyākaraṇa từ tiếng Phạn, nghĩa là báo trước sự chứng ngộ của đệ tử từ Đức Phật. Hán dịch là Thụ kí (授[受] 記). Một trong 12 thể loại của Kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經)

Hoà-la-na 和羅那

[ja] ワラナ warana ||| A transcription of the Sanskrit vyākaraṇa, which means the prediction of future buddhahood, given by the Buddha toward one of his disciples; most commonly translated as 授記 and 受記. One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Phiên âm chữ vyākaraṇa từ tiếng Sanskrit, nghĩa là báo trước sự chứng ngộ của đệ tử từ Đức Phật. Hán dịch là Thụ ký và Thọ ký 授記 và 受記 . Một trong 12 thể loại của Kinh điển Phật giáo (thập nhị bộ kinh)

Hoà-luân

和輪; C: hélún; J: warin; |Phiên âm chữ Varuṇa từ tiếng Phạn. Xem Thuỷ thiên.

Hoà-tu Mật-đa

和須蜜多; C: héxūmìduō; J: washumitta; |Phiên âm tên Vasumitra, Hán dịch là Thế Hữu.

Hoà-tu-cát

和修吉; C: héxiūjí; J: washukitsu; S: vāsuki|Một loại vua rồng 9 đầu thường đi quanh núi Tu-di bắt rồng con để ăn.

Hoà-tu-kiết 和修吉

[ja] ワシュキツ Washukitsu ||| Vāsuki. A type of nine-headed dragon king that traverses around Mt. Sumeru and feeds on smaller dragons. 〔法華經 T 262.9.2a21〕 => s: Vāsuki Một loại vua rồng chín đầu thường đi quanh núi Tu-di bắt rồng con để ăn.

Hoà-tu-mật-đa 和須蜜多

[ja]ワシュミッタ Washumitta ||| Transcription of the name of Vasumitra, which is translated into Chinese as 世友. => Phiên âm tên Vasumitra, Hán dịch là Thế Hữu.

hoài

Mang trong lòng—To carry in the mind, or heart—To embrace—To cherish.

hoài bảo

To cherish—To keep in one's heart.

hoài bảo to lớn

High aspiration.

Hoài Cảm

(懷感, Ekan, ?-?): vị tăng của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, không rõ năm sinh và mất cũng như quê quán. Ban đầu ông sống tại Thiên Phước Tự (千福寺) ở Trường An (長安), học Duy Thức và giới luật, thông các kinh điển, nhưng không tin vào nghĩa lý niệm Phật của Tịnh Độ. Sau ông đến tham yết Thiện Đạo (善導), trình bày chỗ nghi vấn của mình, Thiện Đạo bèn giải tỏa mối nghi, nên ông nhập môn tinh tấn niệm Phật. Sau 21 ngày mà vẫn chưa thấy điềm lành, ông tự hận mình tội chướng sâu nặng, muốn tuyệt thực mà chết, nhưng bị Thiện Đạo ngăn cản. Từ đó trở đi, ông chuyên tâm tinh thành niệm Phật cho đến 3 năm sau thì cảm được linh ứng, thấy sắc vàng tướng ngọc, lại chứng được niệm Phật tam muội, cho nên ông soạn ra Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận (釋淨土群疑論) 1 quyển; viết xong thì thị tịch.

hoài cảm

6664唐代淨土宗僧。生卒年、籍貫均不詳。初居長安千福寺,學唯識與戒律,博通經典,而於淨土念佛之義未能生信。後謁善導,述其疑義,善導乃深期勉之,師遂入道場精勤念佛。於三七日後,未見靈瑞,自恨罪障深重,欲絕食而死,為善導所阻。師復精誠念佛,三年後感得靈驗,既見金色玉毫,復證念佛三昧,乃撰釋淨土群疑論一書,然書未竟而示寂,由同門懷惲完成其志。後世之淨土行者每奉師之精虔感佛為圭臬。〔宋高僧傳卷六、淨土聖賢錄卷二、佛祖統紀卷二十七〕 ; (懷感) Vị tăng thuộc tông Tịnh độ sống vào đời Đường. Mới đầu sư ở chùa Thiên phúc tại Trường an, học Duy thức và Giới luật, làu thông kinh điển, nhưng đối với nghĩa Niệm Phật Tịnh độ thì chưa sinh chính tín. Về sau, sư đến tham vấn ngài Thiện đạo, trình bày chỗ hoài nghi của mình, ngài Thiện đạo mới đem lí nghĩa sâu xa để khuyến khích sư, sư liền vào đạo tràng tinh cần niệm Phật. Sau 37 ngày, chưa thấy điềm lành, sư tự hận mình tội chướng sâu nặng, muốn tuyệt thực để chết, bị ngài Thiện đạo cản trở. Sư lại chí thành niệm Phật, sau 3 năm cảm được linh nghiệm, thấy hào quang và chứng được Tam muội niệm Phật, sư liền soạn Thích tịnh độ quần nghi 1 quyển, nhưng sách chưa soạn xong thì sư thị tịch, sau nhờ đồng môn là ngài Hoài uẩn hoàn thành chí nguyện của sư. Những người tu Tịnh độ đời sau thường lấy gương chí thành tinh tiến của sư làm khuôn mẫu. [X. Tống cao tăng truyện Q.6; Tịnh độ thánh hiền lục Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.27].

hoài cầm

Huai kan (C).

hoài cố hương

To think of one's native land.

hoài cổ

To remember things in the past

hoài giám

Ekan (J)Tên một vị sư.

hoài hương

To be anxious to return home.

Hoài Hải

懷海|Bách Trượng Hoài Hải

hoài hải

6661(720~814)唐代禪宗高僧,我國禪宗叢林清規之制定者。福州長樂(福建)人,俗姓王(一說姓黃)。以師之後半生皆住於洪州百丈山(江西奉新),故世稱百丈禪師。從潮陽西山(廣東潮安)慧照禪師落髮,依衡山法朝律師受具足戒。後至廬江(安徽)浮槎寺閱藏。於大曆初年(766)頃,聞馬祖道一禪師在南康(位於江西)豎立南禪法幢,師遂前往投其座下。 據百丈懷海禪師語錄載,一日,師隨馬祖出行,途中見一群野鴨飛過,馬祖問(卍續一一九‧四○九下):「是甚麽?」師答:「野鴨子。」馬祖再問:「甚麽處去也?」師答:「飛過去也。」馬祖乃擰師之鼻,師負痛失聲。馬祖道:「又道飛過去也!」師遂於言下開悟。以得馬祖大機大用之禪,遂嗣其法。馬祖示寂後,受眾之請,於百丈山開堂說法,高倡南宗之旨。其最大之貢獻,在糅合大小乘律,制定禪門儀規,即「百丈清規」。為禪宗首創法制。 祖堂集卷十四載其風範,謂師平生苦節高行,凡日常作務必先於眾,主事者不忍,密收其作具而請息焉,師以「吾無德,焉可勞於人」而拒之,並遍求作具,既不獲而亦忘食,故叢林有「一日不作,一日不食」之佳話。師至晚年,猶勤勞不息。其俗弟陳詡書塔銘(大四八‧一一五六下):「行同於眾故,門人力役必等其艱勞;怨親兩忘故,棄遺舊里;賢愚一貫故,普授來學。常以三身無住,萬行皆空,邪正並捐,源流齊泯;用此教旨,作人表式。」又常教大眾平等從事作務,亦以平等心攝受門徒,故天下俊秀齊集門下。傑出者有黃檗希運、溈山靈祐,百丈法正、西院大安、大慈寰中等,其中,黃檗門下出臨濟義玄,開臨濟宗。溈山門下出仰山慧寂,創溈仰宗。 關於師之語錄,據陳詡塔銘(大四八‧一一五七上):「門人神行梵雲結集微言,纂成語本,凡今學者,不踐門閾,奉以為師法焉。初閩越靈藹律師,一川教宗,三學歸仰,嘗以佛性有無,響風發問,大師寓書以釋之,今與語本並流于後學。」祖堂集亦載師有語錄行世。可知當時門人編集語錄一事,當屬實情。現存之百丈語錄有百丈懷海禪師語要二卷、百丈懷海禪師語錄一卷、百丈懷海禪師廣錄一卷,收在卍續藏第一一九冊四家語錄之卷二、卷三及古尊宿語錄卷一。又天聖廣燈錄卷八、卷九,載有師之全部語錄。此等語錄與祖堂集卷十四、景德傳燈錄卷六百丈章,及宗鏡錄卷九十八之語合觀,當可得見百丈語錄之全貌。禪宗語錄,最古者為六祖壇經與神會語錄,其次為馬祖與百丈之語錄。 關於師之公案,較著名者,除前引「野鴨子」公案外,另有獨坐大雄峰、併卻咽喉、百丈野狐、捲席、再參馬祖等數則。至於百丈之寂年,通常以元和元年為諸傳一致之說。惟陳詡塔銘記其年壽為六十六,此與宋高僧傳卷十、景德傳燈錄卷六、天聖廣燈錄卷八所記之「春秋九十五」不一致。師示寂後,長慶元年(821)諡號為「大智禪師」,塔名「大勝寶輪」。北宋大觀元年(1107)追諡「覺照禪師」,元順帝元統三年(1335)加諡「弘宗妙行禪師」。〔碧巖錄第二十六則、第五十三則、第七十則、第七十一則、無門關第二則〕 ; Huai-Hai (C)Tên một vị sư. Bách Trượng Hoài hải. ; (懷海) (720-814) Vị Thiền sư sống vào đời Đường, người huyện Trường lạc thuộc Phúc châu (Phúc kiến), họ Vương (có thuyết nói họ Hoàng). Vì suốt quãng thời gian nửa đời sau sư thường ở tại núi Bách trượng thuộc Hồng châu (huyện Phụng tân, tỉnh Giang tây ngày nay), nên người đời gọi sư là thiền sư Bách trượng. Sư theo thiền sư Tuệ chiếu xuất gia ở Tây sơn tại Triều dương (nay là huyện Triều an, tỉnh Quảng đông) và y vào luật sư Pháp triều ở Hành sơn thụ giới Cụ túc. Sau, sư đến chùa Phù tra ở Lư giang (tỉnh An huy) đọc Đại tạng. Khoảng đầu năm Đại lịch (766), sư đến Nam khang (tỉnh Giang tây) tham học thiền sư Mã tổ Đạo nhất. Bách trượng Hoài hải thiền sư ngữ lục (Vạn tục 119, 409 hạ), chép: Một hôm, sư theo ngài Mã tổ đi ra ngoài, giữa đường thấy một đàn vịt trời bay qua, Mã tổ hỏi: Cái gì thế kia? Đàn vịt trời, sư đáp. Chúng bay đi đâu? Bay qua rồi, sư đáp. Mã tổ liền vặn mũi sư, đau quá sư kêu thất thanh. Hãy nói bay qua đi! Mã tổ giục sư. Ngay câu nói đó sư tỏ ngộ và được nối pháp . Sau khi ngài Mã tổ thị tịch, nhận lời thỉnh cầu của đại chúng, sư khai đường thuyết pháp ở núi Bách trượng, xiển dương Thiền chỉ của Nam tông. Sư dung hợp luật Đại thừa, Tiểu thừa lập ra Bách Trượng Thanh Qui , là pháp tắc đầu tiên của Thiền tông, cũng là sự cống hiến lớn nhất của sư đối với Thiền gia. Cứ theo Tổ đường tập quyển 14, thì bình sinh sư khổ hạnh thanh cao, trong những việc hằng ngày sư thường làm trước chúng tăng, vị Chủ sự không nỡ thấy sư vất vả, lén cất dụng cụ làm việc của sư đi và thỉnh sư nghỉ ngơi, sư không chịu và nói: Lão tăng không có đức, đâu dám để mọi người cực nhọc vì mình , rồi đi tìm dụng cụ khắp nơi không thấy, sư liền nhịn ăn vì không có dụng cụ để làm việc. Cho nên trong tùng lâm có giai thoại Một ngày không làm, một ngày không ăn . Sư thường dạy đại chúng làm việc một cách bình đẳng và nhiếp thụ môn đồ cũng với tâm bình đẳng, bởi thế những người tài giỏi trong nước đều về tham học nơi sư. Trong đó, nổi bật nhất có các ngài: Hoàng bá Hi vận, Qui sơn Linh hựu, Bách trượng Pháp chính, Tây viện Đại an, Đại từ Hoàn trung, v.v..., trong số này có đệ tử của ngài Hoàng bá là Lâm tế Nghĩa huyền khai sáng tông Lâm tế, đệ tử của ngài Qui sơn là Ngưỡng sơn Tuệ tịch khai sáng tông Qui ngưỡng. Về Ngữ lục của sư, theo bài minh trên tháp do ông Trần hủ soạn (Đại 48, 1157 thượng), nói: Đệ tử của sư là Thần hành Phạm vân thu chép những lời dạy của sư, biên thành ngữ lục, những người học ngày nay đều thờ bản Ngữ lục này làm thầy . Tổ đường tập cũng nói sư có Ngữ lục lưu hành ở đời. Do đó ta biết được việc các đệ tử biên tập Ngữ lục của sư vào thời ấy là có thực. Những bộ Ngữ lục của sư hiện còn thì có: Bách trượng Hoài hải thiền sư ngữ yếu 2 quyển, Bách trượng Hoài hải thiền sư ngữ lục 1 quyển, Bách trượng Hoài hải thiền sư quảng lục 1 quyển, được thu vào Tứ gia ngữ lục quyển 2, quyển 3 và Cổ tôn túc ngữ lục quyển 1 trong Vạn tục tạng tập 119. Về công án của sư, ngoài công án Đàn vịt trời nói ở trên còn có các công án nổi tiếng khác như: Ngồi một mình trên ngọn Đại hùng , Bách trượng và cáo đồng , Cuốn chiếu , Tái tham Mã tổ , v.v... Về niên đại sư thị tịch thì thông thường các thuyết đều nhất trí cho rằng sư tịch vào niên hiệu Nguyên hòa năm đầu (814). Nhưng trong bài minh viết trên tháp do ông Trần hủ soạn thì nói sư thọ 66 tuổi. Còn Tống cao tăng truyện quyển 10, Cảnh đức truyền đăng lục quyển 6 và Thiên thánh quảng đăng lục quyển 8 thì đều cho rằng sư thọ 95 tuổi. Sau khi sư thị tịch, vào niên hiệu Trường khánh năm đầu (821), sư được đặt thụy hiệu là Đại Trí Thiền Sư , hiệu tháp là Đại Thắng Bảo Luân . Đến niên hiệu Đại quan năm đầu (1107) đời Bắc Tống, sư được truy thụy Giác Chiếu Thiền Sư . Rồi đến năm Nguyên thống thứ 3 (1335) đời Thuận đế nhà Nguyên, sư lại được thêm thụy hiệu Hoằng Tông Diệu Hạnh Thiền Sư . [X. Bích nhan lục tắc 26, tắc 53, tắc 70, tắc 71; Vô môn quan tắc 2].

hoài hải bá trượng thiền sư

Zen master Bai-Zhang-Huai-Hai—See Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư.

hoài linh

6665又作有情。猶言含識,即懷抱靈識之義。大唐西域記序(大五一‧八六七中):「穹儀方載之廣,蘊識懷靈之異。」(參閱「有情」2441) ; Tên gọi khác của chúng hữu tình hay là loài chứa đựng linh thiêng hay thần thức (giống như khi nói hàm thức là chứa đựng tri thức, hàm tình là chứa đựng tình cảm)—Spirit-enfolders, i.e. all conscious beings. ; (懷靈) Cũng gọi Hữu tình. Giống như nói hàm thức, nghĩa là ôm giữ linh thức. Lời tựa trong Đại đường tây vực kí (Đại 51, 867 trung), nói: Đất trời rộng lớn bao la, uẩn thức hoài linh muôn loại . (xt. Hữu Tình).

hoài nam tử

Huai-nan-tzu (C), Huainanzi (C).

hoài nghi

Vicikitsa (skt)—Doubtful.

hoài ngọc

6660<一>(?~742)唐代淨土宗僧。丹邱(浙江寧海)人,俗姓高。住台州(浙江臨海)湧泉寺,執持律法,名節峭然。誦彌陀經三十萬遍,日念佛號五萬聲。天寶元年六月九日於夢中見西方聖像,既知命終,書偈云(卍續一三五‧一一七上):「清淨皎潔無塵垢,上品蓮臺為父母,我修道來經十劫,出示閻浮厭眾苦,一生苦行超十劫,永離娑婆歸淨土。」遂逝。郡太守段懷然作偈厚葬之。〔淨土聖賢錄卷二〕 <二>唐代僧。并州(山西太原)人,俗姓許。生卒年不詳。戒節嚴峻,以建寺、造像、寫經為務。大曆年間(766~779)住太原崇福寺,於寺側增建淨土院,帝敕為灌頂道場主。世壽六十三。 ; (懷玉) I. Hoài Ngọc (?-742). Vị tăng thuộc tông Tịnh độ ở đời Đường, người Đan khâu (huyện Ninh hải, tỉnh Chiết giang), họ Cao. Sư ở chùa Dũng tuyền tại Thai châu (huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang), nghiêm trì giới luật. Sư tụng kinh Di đà 30 vạn lần, mỗi ngày niệm danh hiệu Phật 50 vạn tiếng. Ngày mùng 9 tháng 6 niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742), sư nằm mộng thấy Thánh tượng cõi Tây phương, biết mình sắp mệnh chung, sư liền viết bài kệ (Vạn tục 135, 117 thượng) như sau: Thanh sạch trong sáng không bụi nhơ, Đài sen thượng phẩm là cha mẹ; Tôi đã tu hành trải mười kiếp, Nay ở Diêm phù chán các khổ; Một đời khổ hạnh vượt mười kiếp, Lìa hẳn Sa bà về Tịnh độ . Viết kệ xong, sư thị tịch. Quan Thái thú là Đoàn hoài nhiên làm kệ tán thán và an táng sư rất trọng hậu. [X. Tịnh độ thánh hiền lục Q.2]. II. Hoài Ngọc (?-?). Vị tăng sống vào đời Đường, người Tinh châu (huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây), họ Hứa.Sư có giới đức tiết hạnh, chuyên lo việc xây chùa, tạo tượng chép kinh. Khoảng năm Đại lịch (766-779), sư ở chùa Sùng phúc tại Thái nguyên, bên cạnh chùa sư kiến thiết viện Tịnh độ, được vua ban danh hiệu Quán Đính Đạo Tràng Chủ . Sư thọ 63 tuổi.

Hoài Nhượng

懷讓|Nam Nhạc Hoài Nhượng

hoài nhượng

Huai Jang (C)Tên một vị sư.

hoài nhượng thiền sư

Zen Master Nan-Yueh-Huai-Rang—See Nam Nhạc Hoài Nhượng Thiền Sư.

Hoài Nhượng 懷讓

[ja] エジョウ Ejō ||| Huairang (677-744); a Tang period Chan master from Qinzhou 金州 (in present-day ). His family name was originally Du 杜, and he was commonly known as Nanyue huairang 南嶽懷讓. He became a monk at 15 years of age, subsequently studying under the sixth patriarch Huineng 慧能 for a period of eight years. At his first interview with Huineng, he was asked the question "For what thing have you come?", to which he answered "Just at the moment you define the single thing, is the moment you lose it" (説示一物即不中). In 714 he moved to Banyao temple in Nanyue, where he remained for some 30 years. During this time he gained fame as a meditation master, such that later on a Chan teaching style, called "Nanyue" would develop. He passed away in 744 and was given the posthumous title of Dahui 大慧. He had six major disciples, among who Mazu Daoyi 馬祖道一 and Qingyuan xingsi 青原行思 established major lines of transmission of the master's methods. => j: Ejō; c: Huairang (677-744); Thiền sư đời Đường, xuất thân từ Toàn Châu (c: Qinzhou 金州), họ Đỗ (杜c: Du), thường được biết với tên Nam Nhạc Hòai Nhượng (Nanyue huairang 南嶽懷讓). Xuất gia năm 15 tuổi, sau đó tham học với Lục tổ Huệ Năng thời gian 6 năm. Trong buổi tham thỉnh đầu tiên với Lục tổ, sư được hỏi “Vật gì đến ?”; Sư đáp “Ngay lúc xác định là vật gì, thì ngay lúc ấy đã đánh mất nó rồi” (Thuyết thị nhất vật tức bất trúng 説示一物即不中). Năm 714, sư chuyển đến chùa Bát-nhã núi Nam Nhạc, Sư trụ ở đó suốt 30 năm. Trong thời gian đó, Sư đạt được danh hiệu là Thiền sư, để sau đó một phong cách dạy Thiền mới được ra đời gọi là phái Nam Nhạc. Sư thị tịch năm 744, được ban thuỵ hiệu là Đại Tuệ. Sư có sáu đệ tử thượng thủ, trong đó Mã Tổ Đạo Nhất và Thanh Nguyên Hành Tư đã lập nên dòng Thiền truyền thừa chính thống theo phương pháp của Thầy mình.

hoài niệm

To think of.

Hoài Phong Tảo

(懷風藻, Kaifūsō): tập Hán Thi tối cổ của Nhật Bản, 1 quyển, tương truyền do Đạm Hải Tam Thuyền (淡海三船, Oumi-no-Mifune) soạn, nhưng vẫn chưa rõ. Trong tập này có lời tựa ghi năm thứ 3 (751) niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo (天平勝寳). Là tập thơ thâu lục theo thứ tự niên đại 120 thiên thơ của 64 nhân vật từ thời Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenji Tennō, tại vị 668-671) cho đến Thời Đại Nại Lương (奈良時代, 710-784), nó lưu truyền tinh hoa của cổ thi Nhật Bản vốn bắt chước thi phong thời Lục Triều của Trung Quốc.

hoài thai dụ

6661據出曜經卷十五利養品下載,調達比丘染著世利,以其神通,受阿闍世王太子之供養,世尊遂以此警誡諸比丘,並以芭蕉、竹、蘆葦、騾四事,譬喻士以貪而自喪。蓋芭蕉、竹、蘆葦三物,本為危脆之物,若開花生實,旋即枯死,而騾若懷妊,則母子俱喪;以之比喻人身無常,脆弱而不堅實,若更求名聞利養,則自陷於罪,同時亦害他人。 ; (懷胎喻) Ví dụ con la mang thai (la là con vật lai giống giữa lừa và ngựa). Cứ theo phẩm Lợi dưỡng trong kinh Xuất diệu quyển 15, thì tỉ khưu Điều đạt ham đắm danh lợi thế gian, nhận sự cúng dường của thái tử A xà thế, đức Thế tôn đem việc này để răn dạy các vị tỉ khưu, Ngài dùng cây chuối, cây trúc, cây lau và con la để ví dụ kẻ vì lòng tham mà phải mất mạng. Chuối, trúc, lau vốn là vật mong manh, nếu chúng đơm hoa, kết trái thì sẽ chết khô; còn con la nếu mang thai thì mẹ con đều chết. Đức Phật dùng thí dụ Hoài thai này để chỉ thân người vô thường, nếu kẻ nào chạy theo danh lợi thì sẽ rơi vào hố tội lỗi, đồng thời cũng hại cho người khác.

hoài thâm

6664(1077~1132)宋代雲門宗僧。壽春府(安徽)六安人,俗姓夏。字慈受。世稱慈受禪師。十四歲剃髮。崇寧(1102~1106)初,謁長蘆崇信於嘉禾(浙江嘉興)資聖寺,並嗣其法。後崇信移住江蘇長蘆寺,命師為首座。政和三年(1113),應儀真郡守之請,住資福寺,學侶僧眾雲集。後朝廷改資福寺為神霄宮,遂往蔣山,住於西庵。其後奉敕住於江蘇焦山、洛陽慧林寺。靖康事起,師二度請辭,乃經天台徙於靈隱,再入蔣山,數月後退居洞庭之包山,復應王氏之請,為圓覺第一祖。高宗紹興二年示寂,世壽五十六,法臘三十六。有慈受深和尚廣錄四卷行世。〔嘉泰普燈錄卷九、五燈會元卷十六、續傳燈錄卷十八〕 ; (懷深) (1077-1132) Vị tăng thuộc tông Vân môn ở đời Tống, người Lục an, phủ Thọ xuân, tỉnh An huy, họ Hạ, tự Từ thụ. Năm 14 tuổi sư xuất gia. Vào đầu năm Sùng ninh (1102-1106), sư đến chùa Tư thánh ở Gia hòa (huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang) tham yết thiền sư Sùng tín và được nối pháp của ngài. Sau, ngài Sùng tín đến trụ trì chùa Trường lô tại tỉnh Giang tô, cử sư làm Thủ tọa. Năm Chính hòa thứ 3 (1113), nhận lời thỉnh của Quận thú Nghi chân, sư đến trụ trì chùa Tư phúc, chúng tăng các nơi về học rất đông. Về sau, triều đình đổi chùa Tư phúc làm cung Thần tiêu, sư liền đến Tưởng sơn, trụ ở Tây am. Sau đó, sư phụng chiếu đến ở Tiêu sơn tại Giang tô, chùa Tuệ lâm ở Lạc dương. Năm Thiệu hưng thứ 2 đời vua Cao tông sư tịch, thọ 56 tuổi, pháp lạp 36. Tác phẩm: Từ thụ Thâm hòa thượng quảng lục 4 quyển.

hoài thố

6660<一>梵語 śaśin。月亮之異稱。印度民間俗信月中有兔,故以懷兔稱之。依大唐西域記卷七婆羅痆斯國條載,傳說此乃佛之本生譚,謂佛於過去世修菩薩行時為兔,與狐、猨等住於林中。其時,帝釋欲驗其菩薩行,化為老者,求食於三獸。狐遂沿水濱銜一鮮鯉,猨亦於林中採異花果,供其食用。唯兔空返,無可饋者,遂自投火中,以身供養。帝釋感念其心,乃收其遺骸,寄之月輪。由是,遂有月中懷兔之說。 <二>於因明論中,為表示世間相違之過(即不拘事實如何,與常識相違而立宗法),乃借之為其宗(命題)法。如因明入正理論(大三二‧一一中):「世間相違者,如說懷兔非月。」 ; Sasa-dhara (skt)—Người luôn ôm ấp bóng nguyệt (suy nghĩ vẩn vơ)—The hare-bearer, or in Chinese the hare-embracer. ; (懷兔) Phạm: Zazin. Tên khác của mặt trăng. Phong tục dân gian Ấn độ tin rằng ở trong mặt trăng có con thỏ, vì thế gọi mặt trăng là Hoài thỏ (ôm thỏ). Theo điều Bà la niệt tư quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 7, thì truyền thuyết thỏ trong mặt trăng là chuyện tiền thân của đức Phật. Nghĩa là ở thời quá khứ, khi tu hạnh Bồ tát, Phật từng làm thỏ, ở cùng với con cáo, con vượn trong rừng, Bấy giờ, trời Đế thích muốn thử hạnh Bồ tát của Ngài nên hóa thành một ông già, đến xin 3 con vật này thức ăn. Cáo liền men theo bờ suối bắt cá tươi, vượn thì đi hái hoa trái lạ đưa về dâng cho ông già ăn, chỉ có thỏ là trở về tay không, chẳng có gì cho ông già, thỏ bèn gieo mình vào lửa, đem thân cúng dường. Trời Đế thích thâm cảm tấm lòng của thỏ, liền thu nhặt xương cốt của nó gửi trên mặt trăng. Do đó mà có truyền thuyết Hoài thỏ này.

hoài trang

Ejō (J)Tên một vị sư.

hoài tín

6660(1280~1357)元代臨濟宗僧。浙江奉化人,俗姓姜。號孚中。十五歲依法華院子思出家,受具足戒於五臺山。為天童山竺西妙坦之法嗣。並從雲外雲岫研習藏經。泰定三年(1326),任明州觀音寺住持,未久移普陀寺,常持一鉢行乞於吳楚之間,鎮南王、宣讓王皆問道於師,並歸依之。又於姑蘇購奇石,建五層多寶塔,高九丈六尺,受賜「廣慧妙悟智寶弘教禪師」號。順帝至正二年(1342)遷住中天竺寺,後移住天童山及江蘇龍翔集慶寺。至正十七年示寂,世壽七十八。宋濂為撰塔銘。〔般若心經注、增續傳燈錄卷六、南宋元明僧寶傳卷十、宋學士集卷五塔銘〕

hoài tố

6663<一>(634~707)唐代律僧。京兆(陝西西安)人,俗姓范。自幼聰敏,器度寬大。十二歲禮玄奘出家,專承經論。受戒後,從道宣習四分律行事鈔。其後,又轉入法礪之弟子道成門下,學四分律疏。久之,慨歎古人之義未能盡善,乃撰述四分律開宗記二十卷,糾彈古疏之過,總結為十六失,而別立一家之說,時人稱為新疏,以別於法礪之四分律疏。自是,師所立之新說,乃稱東塔律宗,而與法礪之相部宗、道宣之南山宗鼎足,並稱律學三大宗。初住長安弘濟寺,上元三年(676)奉詔住西太原寺,敷席弘闡,學眾雲集。後於景龍元年入寂,世壽七十四。著有俱舍論疏、遺教經疏、四分比丘戒本疏、僧羯磨、尼羯磨等數種。〔宋高僧傳卷十四、大唐貞元續開元釋教錄卷中、諸宗章疏錄卷一、卷二〕 <二>(737~?)唐代僧。書法家。長沙(湖南)人,俗姓錢。字藏真。幼喜讀佛書,餘暇則好筆翰,家貧無紙可書,乃以芭蕉葉、漆盤等物揮毫。先後從歐陽詢、鄔彤、張旭等習書法,後又負笈西遊,屢謁當代名士,得見古代書翰遺編、絕簡。於大曆年間,完成自敘帖、千金帖、聖母帖、藏真帖、律公帖、食魚帖、苦筍帖等。所書帖蹟流傳於世,人稱瑰寶。 師情性疏放,不拘細行,最嗜飲酒,每醉,則於寺壁、里牆、器皿等處執筆狂揮。善於草書,尤以狂草出名,自稱深得草聖三昧,以其筆法係承張旭,故世稱顛張狂素。師並有草書四十二章經傳世。今湖南零陵縣永州鎮綠天庵遺址附近,有清代摹刻懷素千字文石碑一塊,附近並有墨池、筆塚等。其卒年不詳,僅知唐貞元十五年(799)尚存,時年六十三。〔全唐文卷四三三、太平廣記卷二○八、僧懷素傳(陸羽)、釋氏疑年錄卷四〕 ; (懷素) I. Hoài Tố (634-707). Vị tăng thuộc Luật tông ở đời Đường, người Kinh triệu (Tây an, Thiểm tây), họ Phạm. Sư thông minh nhanh nhẹn từ nhỏ, tính khí rộng rãi, năm 12 tuổi, sư y vào ngài Huyền trang xuất gia, chuyên học kinh luận. Sau khi thụ giới, sư theo ngài Đạo tuyên học tập Tứ phần luật hành sự sao. Tiếp đó, sư lại học Tứ phần luật sớ nơi ngài Đạo thành (đệ tử của luật sư Pháp lệ). Về sau, vì cảm khái về nghĩa luật của cổ nhân chưa được rõ ràng, nên sư mới soạn thuật Tứ phần luật khai tông kí 20 quyển, sửa chữa các bản sớ cũ, tổng cộng có 16 lỗi và lập một thuyết riêng biệt gọi là Tân sớ, để phân biệt với Tứ phần luật sớ của ngài Pháp lệ. Từ đó, thuyết mới do sư lập ra, được gọi là Đông tháp luật tông, cùng với Tướng bộ tông của ngài Pháp lệ và Nam sơn tông của ngài Đạo tuyên, gọi chung là Luật học tam đại tông, tạo thành thế chân vạc. Lúc đầu, sư trụ ở chùa Hoằng tế tại Trường an. Niên hiệu Thượng nguyên thứ 3 (676), sư vâng chiếu đến ở chùa Tây thái nguyên, mở Đạo tràng hoằng truyền giới luật, người học rất đông. Niên hiệu Cảnh long năm đầu (707), sư tịch, thọ 74 tuổi. Tác phẩm của sư gồm có: Câu xá luận sớ, Di giáo kinh sớ, Tứ phần tỉ khưu giới bản sớ, Tăng yết ma, Ni yết ma… [X. Tống cao tăng truyện Q.14; Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo Q.trung; Chư tông chương sớ lục Q.1, Q.2].II. Hoài Tố (737-?). Tăng sĩ kiêm thư pháp gia sống vào đời Đường, người Trường sa (tỉnh Hồ nam), họ Tiền, tự Tàng chân. Thủa nhỏ sư thích đọc sách Phật, khi rảnh rỗi thì tập viết chữ, nhưng vì nhà nghèo không có giấy để viết, nên sư phải dùng lá chuối và mâm sơn để tập viết. Sư lần lượt học theo bút pháp của Âu dương tuân, Ổ đồng, Trương húc, sau lại học cách viết của các danh sĩ đương thời và chiêm ngưỡng những thư pháp tuyệt bút của người xưa để lại. Tính tình sư hào phóng, không chấp tiểu tiết, rất thích uống rượu, mỗi khi say thì phóng bút viết đầy chữ trên vách chùa, tường nhà, đồ sứ, v.v... Sư viết chữ thảo rất đẹp, đặc biệt nổi tiếng về cuồng thảo (mỗi khi say sư viết chữ thảo lại càng đẹp) sư tự xưng đã đạt được Thảo thánh tam muội, cho là người thừa kế bút pháp của Trương húc, bởi thế người đời mới gọi Điên Trương Cuồng Tố (Trương húc điên, Hoài tố khùng). Sư còn có bản kinh Tứ thập nhị chương viết bằng chữ thảo lưu truyền ở đời. Hiện nay ở trấn Vĩnh châu, huyện Linh lăng, tỉnh Hồ nam, gần nền cũ của am Lục thiên, còn một tấm bia đá từ đời nhà Thanh có khắc 1.000 chữ của sư Hoài tố, gần đó là những di tích ao mực, gò bút, v.v... Không rõ sư mất năm nào, chỉ biết vào năm Trinh nguyên 15 (799) đời Đường sư vẫn còn sống, lúc ấy sư 63 tuổi. Tác phẩm: Tự tự thiếp, Thiên kim thiếp, Thánh mẫu thiếp, Tàng chân thiếp, Luật công thiếp, Thực ngư thiếp, Khổ duẫn thiếp…. Những bức thư pháp này được gọi là những viên ngọc báu. [X. Toàn đường văn Q.433; Thái bình quảng kí Q.208; Tăng hoài tố truyện (Lục vũ); Thích thị nghi niên lục Q.4].

hoài uẩn

6664<一>(640~701)唐代淨土宗僧。高宗時,求天下賢能,於總章元年(668)夢見師,乃降詔召請,師固辭,請出家。於西明寺剃髮,未久,入實際寺善導之門,就學十餘年,遂承真乘付囑,與懷感俱為善導之高足。善導入寂,師收其遺骨,築墓於神禾原,並於其旁造一伽藍,後稱香積寺。則天武后永昌元年(689),師奉敕為實際寺主,廣勸有緣,建淨土堂。復繼懷感之志,完成釋淨土群疑論。大足元年十月入寂,世壽六十二。神龍元年(705)敕諡「隆闡大法師」。〔釋淨土群疑論序、金石萃編卷八十六隆闡大法師碑銘〕 <二>(754~815)唐代禪僧。又作懷暉。泉州人,俗姓謝。貞元元年(785)禮馬祖道一,得其心要。後隱於岨峽山,寓居濟州(山東)靈巖寺、定州(河北)百巖寺,又於中條山大開禪法。元和三年(808),敕住長安章敬寺毘盧遮那院,並常入大內,居於上座。元和十年示寂,世壽六十二。敕諡「大覺禪師」,後又追諡「大宣教禪師」。〔景德傳燈錄卷七、宋高僧傳卷十〕 <三>五代禪僧。為曹洞宗第三代祖師。生卒年、籍貫均不詳。嗣法於雲居道膺禪師,為青原六世之法系。居廬山歸宗寺,復住百丈山。〔景德傳燈錄卷二十、聯燈會要卷二十五〕

hoài vấn

6663北宋入竺僧。籍貫、生卒年均不詳。據景祐新修法寶錄卷十六至十八載,師於天禧元年(1017)十月、天聖元年(1023)正月、明道元年(1032)正月,三度赴天竺,攜回梵經、佛骨舍利、念珠、菩提葉等,仁宗並賜號「顯教大師」。師二遊天竺時,嘗為真宗皇帝建聖塔於佛陀伽耶金剛座側;三遊時,復增建二塔,並鐫刻真宗聖教序、皇太后發願文、仁宗御製三寶讚等。仁宗曾詔命譯經潤文樞密副使兵部侍郎夏竦,為撰懷問三詣西天中印度摩伽陀國記。其後事蹟不詳。〔印度古佛國遊記(李俊承)、A. Cunningham: Mahābodhi; E. Chavannes:Les Inscriptions chinoise de Bodhi-Gayā〕 ; (懷問) Vị tăng Trung quốc sống vào đời Bắc Tống. Cứ theo Cảnh hựu tân tu pháp bảo lục quyển 16, 17, 18 thì sư từng đến Thiên trúc 3 lần vào tháng 10 niên hiệu Thiên hi năm đầu (1017), tháng giêng niên hiệu Thiên thánh năm đầu (1023) và tháng giêng niên hiệu Minh đạo năm đầu (1032), mang kinh bằng tiếng Phạm, xá lợi Phật, chuỗi tràng, lá Bồ đề, v.v... về nước. Vua Nhân tông ban cho sư danh hiệu Hiển Giáo Đại Sư , trong lần thứ 2 đi Thiên trúc, sư phụng chiếu Chân tông Hoàng đế xây tháp bên cạnh tòa Kim cương ở Phật đà già da; lần thứ 3 xây thêm 2 tháp, đều có khắc bài tựa Thánh giáo do vua Chân tông viết, văn phát nguyện của Hoàng thái hậu và bài Tam bảo tán do vua Nhân tông làm. Vua Nhân tông hạ lệnh cho quan Khu mật phó sứ Binh bộ thị lang và Hạ tủng viết Kí sự về việc ngài Hoài vấn 3 lần đi Thiên trúc. [X. Ấn độ cổ Phật giáo quốc du kí (Lí tuấn thừa); A. Cunningham: Mahàbodhi; E. Chavannes: Les Inscriptions chinoise de Bodhi-Gayà].

hoài vọng

To hope.

hoài đặc ni

6661(Whitney, William Dwight; 1827~1894)美國語言學者、梵語學者。嘗學梵語於耶魯大學,後遊學歐洲,師事魯斯(W.R. Roth)。歸國任教母校,授梵文、印歐比較語言學。一八六九年,任美國語言學協會首任會長,於梵語文法書(Sanskrit Grammar, 1879)作文法上之歷史敘述。一八八四年,任美國東方學協會會長,致力於美國東方學之研究。氏為印度吠陀學研究之先驅,自一八五五年,凡十年間完成英譯阿闥婆吠陀(梵 Atharva Veda)。另有語言學論著多種,並嘗主編世紀大辭典(Century Dictionary, 1889~1891),增訂韋氏辭典(Webster's Dictionary)。其他著作有:Language and its study, 1867; Life and Growth of language, 1875.

hoài địch

6661唐代僧。循州(廣東惠陽東北)人。生卒年不詳。初住羅浮山南樓寺,博通內外典籍,並就梵僧學梵文。神龍二年(706)菩提流志譯寶積經時,奉詔入京證義。後於廣府與一梵僧譯出大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經十卷;此乃據開元釋教錄卷九等所載,然大佛頂首楞嚴經恐非譯自梵文本(近代學者或以之為偽經),故有關懷迪之證譯,仍係存疑之說。〔宋高僧傳卷二、續古今譯經圖紀、貞元新定釋教目錄卷十四〕(參閱「大佛頂首楞嚴經」789) ; (懷迪) Vị tăng đời Đường, người Tuân châu (Huệ dương, tỉnh Quảng đông). Lúc đầu sư ở chùa Nam lâu núi La phù, học rộng kinh sách nội ngoại, đồng thời học tiếng Phạm với vị tăng Ấn độ. Năm Thần long thứ 2 (706), khi ngài Bồ đề lưu chí dịch kinh Bảo tích, sư phụng chiếu vào kinh đô giữ chức Chứng nghĩa. Cứ theo Khai nguyên thích giáo lục quyển 9, thì sư cùng với một vị tăng người Ấn độ ở Quảng phủ dịch bộ kinh Đại Phật đính Như lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh thủ lăng nghiêm 10 quyển. Nhưng kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm e không phải được dịch từ bản tiếng Phạm, cho nên vấn đề sư Hoài địch có tham dự phiên dịch kinh này vẫn còn điểm đáng ngờ.[X. Tống cao tăng truyện Q.2; Tục cổ kim dịch kinh đồ kỉ; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14]. (xt. Đại Phật Đính Thủ Lăng Nghiêm Kinh).

hoàn

To return; repay; still; yet. ; 1) Cây dùng lấy hạt làm chuỗi: A tree whose hard, black seeds are used for beads. 2) Cây trụ: A pillar—Post. 3) Chiếc vòng (sắt)—A metal ring—A ring. 4) Trả lại: To repay. 5) Trở lại: To return.

hoàn bái

Lạy tạ—To return of a salute.

hoàn châu động ma nhai tạo tượng

6523位於廣西桂林之伏波山麓,面臨漓江。唐代稱為東岩。還珠洞玲瓏通透,「臨江試劍石」尤為奇特。千佛岩內有唐代摩崖造像二百餘尊,以宋伯康造像與造像記為最著名,刻於大中六年(852),皆係珍貴之佛教藝術傑作。洞內摩崖石刻甚多,最早者為唐咸通四年(863)桂管觀察使越格與攝支使劉虛白之題名、宋代大畫家米芾之自畫像、范成大之鹿鳴詩,均為研究唐宋繪畫書法之重要資料。 ; (還珠洞摩崖造像) Những bức tượng được khắc trên vách đá trong động Hoàn châu. Động Hoàn châu ở trên núi Phục ba, huyện Quế lâm, tỉnh Quảng tây, Trung quốc, mặt nhìn ra sông Lí giang. Đời Đường, động này gọi là Động nham. Trong động Thiên Phật có 200 bức tượng khắc trên vách đá vào đời Đường, nổi tiếng hơn cả là các bức tượng và bài kí tạo tượng của ông Tống bá khang khắc vào năm Đại trung thứ 6 (852), đây là những kiệt tác của nghệ thuật Phật giáo. Ngoài ra, còn rất nhiều văn tự hoặc tượng được khắc trên vách đá, sớm nhất là hàng chữ đề tên Quế quản quan sát sứ Việt cách và Nhiếp chi sứ Lưu hư bạch được khắc vào năm Hàm thông thứ 4 (863) đời Đường, tượng tự vẽ của Mễ phất, một họa sĩ lớn ở đời Tống, thơ Lộc minh (Nai kêu) của Phạm thành, v.v... đều là những tư liệu quan trọng để nghiên cứu về hội họa và thư pháp ở các đời Đường, Tống.

hoàn cảnh

6450指人類生活主體之外在活動空間。佛教典籍中,多稱為境(梵 viṣaya, gocara)或境界,通常有五境、六境之別。唯識宗有「三類境」之說,就識與境之關係而言,唯識宗主張「唯識無境」、「境識俱泯」(俱空),天台宗則認為「境智俱融」,故產生諸種複雜之議論。 自佛教之根本立場而言,主體與環境乃是相關相依者,任何一方皆無固定之實體,意即兩者悉無自性,皆為空。此外,由於有心隨境轉之說,遂有改善環境之必要,然亦應慎防精神主義一面倒之傾向。惟因強調主體之實踐,故猶以心之主體性為其重點;由是,對於佛教究竟屬唯識論或屬唯心論之觀點,亦常產生分歧之看法。一般而言,以心為唯一之實在者,即屬唯心論。然自主體之實踐而言,縱使強調唯心之說,亦必視此心為無自性、為空。此種主張主體與環境之間,或心與物之間,具有相依共存之關係,以及無自性與空之特性,即是佛教一貫之精神。 ; Environment—Circumstance ; (環境) Cảnh chung quanh. Trong kinh điển Phật giáo, từ ngữ này thường được gọi là Cảnh (Phạm: Viwaya, gocara) hoặc Cảnh giới . Đứng trên lập trường căn bản của Phật giáo mà nói, thì giữa chủ thể (nội tâm) và hoàn cảnh(ngoại giới) có sự quan hệ mật thiết với nhau, nương vào nhau mà tồn tại, nhưng đều không có thực thể cố định, nghĩa là cả hai đều không có tự tính, đều là không.

hoàn cảnh thuận tiện

Favorable circumstances

hoàn cổ vị liễu, hoàn kim đáo lai

(還古未了還今到來) Tiếng dùng để biểu thị thực tướng của các pháp không có tướng đi lại. Tức là bản chất chân thực và dạng thái của muôn sự muôn vật trong vũ trụ vốn y nhiên như thế, đứng về phương diện thời gian, không có cái gọi là đi hay đến khác biệt, mà duy chỉ là vĩnh viễn xưa và vĩnh viễn nay.

hoàn diệt

6523轉迷而還歸寂滅之意。又作還源。與「流轉」相對稱。據大毘婆沙論卷一○○、顯揚聖教論卷十五等所說,即由修行之功行,斷除煩惱,出離生死,還歸涅槃之本源。摩訶止觀卷五上(大四六‧五六中):「還源反本,法界俱寂,是名為止。」 俱舍論卷三就流轉及還滅,建立六根乃至三無漏根等二十二根,初十四根即就流轉之所依、生、住、受用等四義而立,後之信等八根亦就還滅之所依等立。即信等五根為還滅之所依;又三無漏根中,由未知當知根故得無漏智生,由已知根故得無漏智住,由具知根故得受用現法樂住。〔瑜伽師地論卷五十一、阿毘達磨順正理論卷九、成唯識論卷三、大乘起信論義記卷中末、卷下末〕(參閱「流轉」3866) ; To return to nirvàna and escape from the backward flow to transmigration. ; 1) Nhập Niết Bàn: To enter Nirvana. 2) Tu đạo chứng quả Niết Bàn để thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi: To escape the Samsara (the cycle of birth and death). To return to nirvana and escape from the backward flow to transmigration. ; (還滅) Cũng gọi Hoàn nguyên. Đối lại với Lưu chuyển. Chuyển mê lầm để trở về tịch diệt. Luận Đại tì bà sa quyển 100 và luận Hiển dương Thánh giáo quyển 15 nói, nhờ công hạnh tu hành, đoạn trừ phiền não, ra khỏi sinh tử mà trở về nguồn gốc Niết bàn. Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng (Đại 46, 56 trung), nói: Trở về cội nguồn, pháp giới đều lặng, ấy gọi là Chỉ . Luận Câu xá quyển 3 căn cứ vào Lưu chuyển và Hoàn diệt mà lập thành 22 căn, trong đó, 14 căn trước được thành lập theo 4 nghĩa: Sở y, Sinh, Trụ, Thụ dụng của Lưu chuyển; còn 8 căn sau cũng được thành lập theo 4 nghĩa trên, nhưng là của Hoàn diệt. Tức là 5 căn Tín, Tiến, v.v... là sở y (chỗ nương) của Hoàn diệt; còn trong 3 căn vô lậu, thì nhờ Vị tri đương tri căn mà sinh trí Vô lậu, nhờ Dĩ tri căn mà được Vô lậu trí trụ, nhờ Cụ tri căn mà được Thụ dụng hiện pháp lạc trụ. [X. luận Du già sư địa Q.51; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.9; luận Thành duy thức Q.3; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung phần cuối, Q.hạ phần cuối]. (xt. Lưu Chuyển).

hoàn huyền

4139(369~404)字敬道,又名靈寶。東晉大司馬桓溫之子。以其舉兵入京,篡東晉安帝之位而自立,故晉書卷九十九將其列為叛逆。自東晉成帝咸康年間(335~342)以來,有「沙門不敬王者」之論諍,桓玄即為主張沙門應敬王者之一,慧遠則著「沙門不敬王者論」以駁斥之。兩方往復對論之文,皆收於弘明集卷十二。(參閱「沙門不敬王者論」2973) ; (桓玄) (369-404) Cũng gọi Linh bảo. Tên một người bày tôi phản nghịch ở đời Đông Tấn, tự là Kính đạo. Hoàn huyền là con trai của Đại tư mã Hoàn ôn, kéo quân về kinh đô, cướp ngôi An đế nhà Đông Tấn rồi tự lên làm vua. Từ khoảng năm Hàm khang (335-342) trở đi, đã xảy ra cuộc tranh luận Sa môn bất kính vương giả (Sa môn không kính vua chúa), Hoàn huyền là một trong những người chủ trương Sa môn ưng kính vương giả (Sa môn phải kính vua chúa), do đó ngài Tuệ viễn viết luận Sa môn bất kính vương giả để bác bỏ luận điệu của Hoàn huyền. Những tư liệu liên quan đến cuộc tranh luận này đều được thu vào Hoằng minh lập quyển 12. (xt. Sa Môn Bất Kính Vương Giả Luận).

hoàn hương

722調和各種香而成之丸粒,乃密教修護摩法時所用供物之一。行法時,投諸爐中,燒以供養。蓋丸香係以丁子香、白檀香、沈香、薰陸香等拌和而成,表示總集之煩惱,投之於火,表示以智火燒盡瞋煩惱。蓋於此類供物中,切花、散香各表三毒中之貪、癡;對此,丸香則表瞋。又一日三時,一時三十六丸,合為百八丸,表示百八煩惱。配以六度時,與散香合表精進度。(參閱「六波羅蜜」1273、「散香」4973) ; 1) To return of incense offered. 2) Về nhà: To return home. ; (丸香) Hương liệu được điều chế và se thành viên, một trong những vật cúng được dùng khi tu pháp Hộ ma của Mật giáo. Hoàn hương do các loại hương như: Đinh tử hương, bạch đàn hương, trầm hương, huân lục hương, v.v... trộn lẫn với nhau mà thành, tượng trưng cho việc thu gom hết các phiền não, rồi bỏ hoàn hương vào lửa là biểu thị nghĩa dùng lửa trí tuệ đốt hết các phiền não ấy. Trong 3 độc tham, sân, si, hoa tượng trưng cho tham, hương bột tượng trưng cho si, còn hoàn hương tượng trưng cho sân. Một ngày được chia làm 3 thời, mỗi thời 36 viên, cộng chung là 108 viên, tượng trưng 108 phiền não. Nếu đem phối với Lục độ, thì hương viên (hoàn hương) và hương bột biểu thị Tinh tiến độ. (xt. Lục Ba La Mật, Tán Hương).

hoàn hảo

Perfect—Excellent.

hoàn hồn

To recover—To regain one's consciousness.

Hoàn Khê Duy Nhất

(環溪惟一, Kankei Iichi, 1202-1281): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hoàn Khê (環溪), xuất thân vùng Ngu Trì (愚池), Tư Châu (資州, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Cổ (賈). Lúc nhỏ ông theo tham học với Giác Khai (覺開) ở Phạn Nghiệp Tự (梵業寺) trong làng. Năm lên 12 tuổi, ông vấn đáp với Trương Hưởng Tuyền (張享泉), rồi sau đó xuống tóc xuất gia. Năm 22 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới ở Cam Lồ Tự (甘露寺) trên Thành Đô (城都, Tỉnh Tứ Xuyên). Sau đó, ông đi tham vấn khắp nơi, cuối cùng đến học với Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Dục Vương Sơn (育王山); khi Sư Phạm chuyển đến Kính Sơn (徑山) thì ông theo hầu thầy. Ngoài ra, ông còn tham học với Si Tuyệt Đạo Xung (癡絕道沖) ở Kim Lăng (金陵, Tỉnh Giang Tô), nhưng 2 năm sau thì trở về lại Kính Sơn và kế thừa dòng pháp của Sư Phạm. Vào năm thứ 6 (1246) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông bắt đầu khai mở đạo tràng tuyên dương giáo pháp tại Thoại Nham Tự (瑞巖寺) thuộc Phủ Kiến Ninh (建寧府, Tỉnh Phúc Kiến). Về sau, ông còn sống qua một số nơi khác như Huệ Lực Tự (慧力寺) ở Lâm Giang Quân (臨江軍, Tỉnh Giang Tây), Bảo Phong Tự (寳峰寺) và Hoàng Long Sơn Sùng Ân Tự (黃龍山崇恩寺) ở Lặc Đàm (泐潭) thuộc Phủ Giáng Hưng (降興府, Tỉnh Giang Tây), Tư Thánh Tự (資聖寺) ở Kiến Xương Quân (建昌軍, Tỉnh Giang Tây), Báo Ân Quang Hiếu Tự (報恩光孝寺) ở Hoàng Bá Sơn (黃檗山) thuộc Thoại Châu (瑞州, Tỉnh Giang Tây), Thái Bình Hưng Quốc Tự (太平興國寺) ở Ngưỡng Sơn (仰山) thuộc Viên Châu (袁州, Tỉnh Giang Tây), Tuyết Phong Sơn Tư Thánh Tự (雪峰山資聖寺) ở Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), và Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Tự (天童山景德寺) ở Phủ Khánh Nguyên (慶元府, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày mồng 4 tháng 9 năm thứ 18 niên hiệu Chí Nguyên (至元), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi đời và 60 hạ lạp. Trước tác của ông có Hoàn Khê Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (環溪惟一禪師語錄) 2 quyển.

hoàn lại

To return—To give back.

hoàn lễ

hoàn hương:Return of courtesy, of a salute, of incense offered etc. ; See Hoàn Bái.

hoàn môn

6522天台宗所立六妙門之一。轉心反照謂之還。即反照能觀之心不可得之法門。蓋修行者雖修觀照,而真明未發,即應轉心反照能觀之心;若了知能觀之心乃虛妄無實,則所觀我執自滅,無漏方便自然明朗,故以還門為第五妙門。〔法界次第初門卷上之下〕(參閱「六妙門」1265) ; Một trong sáu diệu môn hay sáu pháp môn kỳ diệu cho người tu Phật, trở về với chính mình để biết cái tâm năng quán là không có thật—One of the six wonderful strategies or doors for Buddhist cultivators, i.e. to realize by introspection that the thinker, or introspecting agent, is unreal. ** For more information, please see Lục Diệu Môn. ; (還門) Pháp môn quán chiếu tâm năng quán bất khả đắc. Một trong 6 diệu môn do tông Thiên thai thành lập. Người tu hành tuy tu quán chiếu, nhưng trí tuệ chưa phát thì phải phản chiếu lại tâm năng quán; nếu biết rõ tâm năng quán là hư vọng, không thực có, thì ngã chấp sơ quán tự tiêu diệt, phương tiện vô lậu tự nhiên sáng rỡ, vì thế Hoàn môn được xếp vào hàng Diệu môn thứ 5. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn quyển thượng phần dưới]. (xt. Lục Diệu Môn).

hoàn mỹ

Perfectly beautiful.

hoàn nguyên

To return to the source, i.e. abandon illusion and turn to enlightenment. ; 1) Trở về nguyên quán: To return home. 2) Trở về cội nguồn bằng cách đoạn trừ tất cả mê lầm mà bước vào cảnh giác ngộ: To return to the source, i.e. abandon or eradicate all illusions and turn to enlightenment.

hoàn nhân

tên gọi tắt của Thích Đề Hoàn Nhân—An abbreviation for Indra.

hoàn niên dược

6522即可令老者返回少壯之藥。大智度論卷二十二(大二五‧二二四中):「如是耆老相,還變成少身,如服還年藥。」 ; (還年藥) Loại thuốc làm cho người già trẻ trở lại. Luận Đại trí độ quyển 22 (Đại 25, 224 trung), nói: Tướng già cả như thế lại biến thành son trẻ, giống như uống Hoàn niên dược .

hoàn niên lạc

Một loại thuốc làm cho người ta trẻ trung yêu đời như những năm còn niên thiếu—A drug to return to the years and restore one's youth.

hoàn phúc

Perfect happiness.

hoàn sinh

6522<一>謂自涅槃界復活。依實大乘教之意,二乘之人雖已入於無餘涅槃界,而餘業未盡,則經若干劫數,還生心身,發大乘菩提心而得成佛。所謂實大乘教,意即不帶權方便之大乘教,如天台、華嚴、密宗、禪宗等教法。 <二>謂破戒者以懺悔而還復正命。據止觀輔行傳弘決卷二之二載,若乖違三歸而歸依邪師、邪法,破互戒乃至二百五十戒者,即為佛海之死屍,若因懺悔而復正命,稱為還生。 ; To return to life; to be reborn in this world; to be reborn from the Hinayàna nirvàna in order to be able to attain the Mahàyàna Buddhahood; also, restoration to the order, after repentance for sins. ; 1) Chết đi sống lại (phục sinh): To revive. 2) Tái sanh vào cõi Ta Bà: To come to life again—To return to life; to be reborn in this world. 3) Từ nhị thừa tái sanh trở lại để hoàn tất tu đạo Phật thừa: To be reborn from the Hinayana nirvana in order to be able to attain to Mahayana Buddhahood. 4) Những tu sĩ phá giới bị khai trừ, sau đó biết phát lồ sám hối, nên được cho trở lại giáo đoàn: Restoration to the order, after repentance for sin. ; (還生) I. Hoàn Sinh. Từ cõi Niết bàn sống lại. Theo ý nghĩa của Phật giáo Đại thừa thì hàng Nhị thừa tuy đã vào cõi Niết bàn vô dư, nhưng dư nghiệp chưa hết, nên trải qua nhiều kiếp rồi sinh trở lại, phát tâm Bồ đề Đại thừa mà được thành Phật. II. Hoàn Sinh. Người phá giới nhờ sám hối mà khôi phục được chính mệnh. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 2 phần 2 nói, nếu người nào trái phạm 5 giới cho đến 250 giới, qui y tà sư, tà pháp, thì người ấy đã là xác chết trong biển Phật pháp, nếu nhờ sám hối mà khôi phục được chính mệnh thì gọi là Hoàn sinh.

hoàn sơn

Huan shan (C).

hoàn sơn lục

6522凡四卷。全稱鼓山為霖禪師還山錄。又作為霖禪師還山錄。明末清初曹洞宗僧為霖道霈(1615~1702)撰,興燈等編,康熙二十七年(1688)刊行。收於卍續藏第一二五冊。輯錄道霈再住鼓山以後之語錄,故稱還山錄。內容包括上堂、示眾、佛事、偈、贊、序、題跋、記等。卷末附錄旅泊幻蹟一篇,係其自述一生行誼與著作之記錄。 ; (還山錄) Gọi đủ: Cổ sơn Vi lâm thiền sư hoàn sơn lục. Cũng gọi Vi lâm thiền sư hoàn sơn lục. Tác phẩm, 4 quyển, do thiền sư Vi lâm Đạo bái (1615-1702) thuộc tông Tào động soạn vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, các ngài Hưng đăng, v.v... biên tập, ấn hành vào năm Khang hi 27 (1688), thu vào Vạn tục tạng tập 125. Vì sách này biên chép các ngữ lục của ngài Đạo bái từ sau khi ngài trở lại trụ ở Cổ sơn, cho nên được gọi là Hoàn sơn lục. Nội dung gồm các phần: Thướng đường, Thị chúng, Phật sự, Kệ, Tán, Tự, Đề bạt, Kí, v.v..., ở cuối quyển có phụ thêm bài Lữ bạc huyễn tích , do ngài tự thuật về hành trạng và sự nghiệp sáng tác của mình.

hoàn thiện

Perfection.

hoàn thành

To accomplish—To finish.

hoàn toàn

2860指無所欠缺之狀態。就量而言,為總體、全體;就質而言,意即最高。完全,原係印度一般使用之形容詞,又有「完全之人格者」之意。佛教則有圓滿、圓融等諸用語。又在佛陀之稱號「如來」之梵語為 tathāgata,含特別具有最高意義「完全」之意。蓋梵語 tathāgata 可分解為 tathā-gata(如去)與 tathā-āgata(如來)二語,如去,即悟入真理之人;如來,即來自真理之人。「如來十號」,即自各種角度,表明佛陀之完全性。 ; Perfect—Impeccable—Clean—Entire—Complete—Faultless—Ngoài Niết bàn ra, không có hạnh phúc hoàn toàn trên đời nầy—Beside nirvana, there is no such thing as perfect bliss.

hoàn toàn hoại diệt

Complete annihilation

hoàn trung

6218(780~862)唐代僧。河東蒲坂(山西蒲州)人,俗姓盧。秉性聰敏,博古通今。二十五歲應試中第。後入并州(山西太原)童子寺出家,盡覽群經,深解精義,並往嵩山受具足戒,學習戒律。以心慕上乘佛法,復往百丈山,參禮百丈懷海,得嗣其法。此後隱居於南嶽常樂寺。時有諫議大夫崖公為師建立方丈,其地缺水,一夜有虎嘯於其側,次日即見地湧泉水,適足汲用,因名虎跑泉。後駐錫於大慈山,四方歸依參禮者如雲。會昌四年(844),值武宗毀滅佛教,師遂易服還俗(一說隱居於戴氏之別墅)。大中六年(852),師重行剃染,舉揚宗風。咸通三年二月示寂,世壽八十三,法臘五十四。僖宗乾符四年(877),追諡「性空大師」之號,塔名定慧。〔宋高僧傳卷十二、祖堂集卷十七、景德傳燈錄卷九、五燈會元卷四〕

hoàn trung hư bạch

6450環中,空虛之義;虛白,純白之心。指超越善惡、是非、有無、迷悟等絕對之境地。又用以形容打坐之境地。 ; (環中虛白) Hoàn trung nghĩa là rỗng không; Hư bạch nghĩa là tâm trắng phau. Chỉ cho cảnh giới tuyệt đối siêu việt thiện ác, thị phi, hữu vô, mê ngộ, v.v...

hoàn tương hồi hướng

6522略稱還相。二種迴向之一。與「往相迴向」相對。據往生論註卷U、往生禮讚偈等所說,往生彌陀淨土之聖賢已成就方便力,更起利他之大悲心,還來此土,濟度一切眾生,共向佛道,是為還相。〔觀經疏卷四〕(參閱「迴向」3784) ; (還相回向) Gọi tắt: Hoàn tướng. Đối lại với Vãng tướng hồi hướng, một trong 2 loại hồi hướng. Cứ theo Vãng sinh luận chú quyển hạ và Vãng sinh lễ tán kệ nói, thì các bậc Thánh hiền đã được sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà, lại khởi tâm đại bi lợi tha, trở lại cõi này tế độ tất cả chúng sinh đều hướng về Phật đạo. [X. Quán kinh sớ Q.4]. (xt. Hồi Hướng).

hoàn tương hồi hướng nguyện

6523指彌陀四十八願中第二十二願。謂往生極樂之菩薩,為濟度眾生誓願復出他方國土。在無量壽經現存諸譯中,如魏譯無量壽經卷上所說(大一二‧二六八中):「設我得佛,他方佛土諸菩薩眾來生我國,究竟必至一生補處,除其本願自在所化,為眾生故,被弘誓鎧,積累德本,度脫一切,遊諸佛國,修菩薩行,供養十方諸佛如來,開化恆沙無量眾生,使立無上正真之道,超出常倫諸地之行,現前修習普賢之德。若不爾者,不取正覺。」 ; (還相回向願) Nguyện thứ 22 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Nghĩa là bậc Bồ tát đã sinh về cõi Cực lạc, nhưng vì tế độ chúng sinh nên thệ nguyện sinh lại ở các quốc độ phương khác. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 trung), nói: Khi tôi được thành Phật thì các chúng Bồ tát ở các cõi Phật phương khác sinh về nước tôi, cuối cùng sẽ đạt đến địa vị Nhất sinh bổ xứ, trừ ra các vị có bản nguyện tự tại giáo hóa, vì chúng sinh mà mặc áo giáp hoằng thệ, tích lũy gốc đức, độ thoát tất cả, dạo khắp các cõi Phật, tu hạnh Bồ tát, cúng dường chư Phật Như lai trong 10 phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sinh, khiến họ an lập nơi đạo Vô thượng chính chân, vượt khỏi các hạnh theo thứ tự của những giai vị thông thường, hiện tiền tu tập công đức Phổ hiền. Nếu chẳng được như thế thì tôi không thành chính giác .

hoàn tướng

Từ cõi Tịnh Độ trở lại cõi uế độ, để cứu độ chúng sanh—To return to the world from the Pure Land, to save its people.

hoàn tất

Finished.

hoàn tục

6522又作歸俗。謂已入僧籍者因心生退墮,或奉官命脫下法服歸還俗家。還俗之因約有三種:(一)自身不欲為僧侶而除去僧籍者,如心生退墮,或因世尊之教誡甚深甚難,學道亦復甚深甚難而退出者。(二)因犯罪而被逐出教團者。(三)奉朝廷之命而還俗者,如北周武帝之滅佛。依照戒律規定,僧尼可以自由捨戒還俗,然比丘尼還俗後則不得再度出家。 此外,亦有謂還俗、歸俗之義有別,以出家人自行歸返俗家生活者,稱為歸俗;出家人犯罪而被逐出教團者,稱為還俗。〔中阿含卷一木積喻經、大莊嚴論經卷六、有部毘奈耶雜事卷三十、梁高僧傳卷三求那跋摩傳、佛祖統紀卷三十八北周武帝建德三年條、禪林象器箋罪責門〕 ; To return to lay life, leave the monastic order. ; Trở lại đời sống thế tục (có thể tự ý hoàn tục hay phạm tội bị khai trừ khỏi giáo đoàn mà phải hoàn tục)—To go back to the secular life—To leave the monastic order and return to lay life—To return to the world from the order. ; (還俗) Cũng gọi Qui tục. Trở về với thế tục. Có 3 nguyên nhân khiến người đã xuất gia làm tăng phải hoàn tục: 1. Tự mình không muốn làm tăng nữa mà bỏ pháp phục, hoặc vì giáo pháp của đức Phật quá sâu xa, việc học đạo quá khó khăn nên hoàn tục. 2. Vì phạm tội nên bị đuổi ra khỏi Tăng đoàn. 3. Vì tuân lệnh triều đình mà phải hoàn tục, như trong Pháp nạn thời Vũ đế nhà Bắc Chu. Theo qui định của giới luật, tăng ni được phép tự do xả giới hoàn tục, nhưng tì khưu ni sau khi đã hoàn tục thì không được xuất gia trở lại. Ngoài ra, giữa hoàn tục và qui tục cũng có nghĩa khác nhau: Qui tục: Người xuất gia tự trở về thế tục. Hoàn tục: Người xuất gia vì phạm tội nên bị đuổi ra khỏi Tăng đoàn. [X. kinh Mộc tích dụ trong Trung a hàm Q.1; Đại trang nghiêm luận kinh Q.6; Hữu bộ tì nại gia tạp sự Q.30; Cầu na bạt ma trong Lương cao tăng truyện Q.3; điều Bắc Chu Vũ đế Kiến đức tam niên trong Phật tổ thống kỉ Q.38; môn Tội trách trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Hoàn Võ Thiên Hoàng

(桓武天皇, Kammu Tennō, tại vị 781-806): vị Thiên Hoàng sống từ cuối thời Nại Lương cho đến đầu thời Bình An, còn được gọi là Bá Nguyên Thiên Hoàng (柏原天皇), vị hoàng tử thứ 2 của Quang Nhân Thiên Hoàng (光仁天皇, Kōnin Tennō), mẹ là Cao Dã Tân Lạp (高野新笠, Nii Gasa) vốn xuất thân dòng họ Hòa (和, Yamato) thuộc hệ di dân đến Nhật. Tên ông là Sơn Bộ (山部, Yama-no-be). Ông phái Phản Thượng Điền Thôn Ma Lữ (坂上田村麻呂) lên vùng Đông Bắc với tư cách là Chinh Di Đại Tướng Quân (征夷大將軍), và vào năm 794 (năm thứ 13 niên hiệu Diên Lịch [延曆]), thì dời đô về vùng Sơn Thành Quốc Vũ Thái (山城國宇太), đặt tên là Bình An Đô (平安都).

hoàn vũ

The universe.

hoàn xuyến

6881印度流行之飾物。鐶,即指鐶,戴於手指,兼指一般環狀之飾物;釧,有臂釧、腕釧、腳釧等,以寶玉、金屬等為之。菩薩像多佩用為莊嚴之物。金光明最勝王經卷二(大一六‧四○九下、四一○上):「譬如有人願欲得金,(中略)得清淨金,隨意迴轉,作諸鐶釧種種嚴具,雖有諸用,金性不改。」〔北本大般涅槃經卷四十、一字佛頂輪王經卷一〕 ; Nhẫn và vòng đeo tay—A finger-ring and armlets. ; (鐶釧) Những vật trang sức bằng kim loại quí lưu hành ở Ấn độ. Hoàn chỉ cho chiếc nhẫn đeo ở ngón tay và tất cả vật trang sức có hình dáng giống như chiếc nhẫn. Còn Xuyến là vòng đeo ở cánh tay, cổ chân… Kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 2 (Đại 16, 409 hạ, 410 thượng), nói: Ví như có người muốn có được vàng, (...) có được vàng rồi, tùy ý làm ra các món trang sức đẹp đẽ như hoàn, xuyến, v.v... tuy công dụng của chúng khác nhau, nhưng tính chất của vàng thì không thay đổi .

hoàn độ

722土製之丸粒。又作九丸土。即如廁之後,用以清潔手等之物。九丸之中,三丸洗手,三丸洗瓶,三丸洗足。或以壁土乾後製之,或以小豆粉、淨砂合成。蓋因印度古代無紙,多用篦或木片掃除糞門,以手及瓶多穢,故有此法。〔南海寄歸內法傳卷二便利之事條〕 ; (丸土) Cũng gọi Cửu hoàn thổ (9 viên đất). Những viên đất dùng để rửa tay sau khi đi vệ sinh. Ở thời cổ, Ấn độ không có giấy, sau khi đi vệ sinh, thường dùng cái thẻ tre hoặc thanh gỗ mỏng để làm cho sạch. Nhưng nhưvậy thì trong tay và bình đều dơ dáy, nên có cách dùng 9 viên đất. Trong số đó, 3 viên để rửa tay, 3 viên rửa bình, 3 viên rửa chân có nơi dùng đất trét vách sau khi đã khô để thay cho hoàn thổ hoặc trộn chung cát sạch với bột đậu nhỏ để thay cho hoàn thổ. [X. điều Tiện lợi chi sự trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2].

Hoàn 完

[ja] カン kan ||| (1) To perfect, to complete, to accomplish. (2) Perfect, full, complete. => 1. Hoàn tòan, trọn vẹn, thành tựu. 2. Hoàn chỉnh, đầy đủ, viên mãn.

hoàng

Xem Huỳnh. ; Màu vàng—Yellow.

hoàng bá

Huang Po (C)Xem Huệ Nam. ; See Hoàng Bá Hy Vận.

Hoàng Bá Hi Vận

黃蘖希運; C: huángbò xīyùn; J: ōbaku kiun; ?-850;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những ngôi sao sáng chói nhất của Thiền tông đời Ðường. Sư là Pháp tự của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải và là thầy của Lâm Tế Nghĩa Huyền, người đã sáng lập dòng thiền Lâm Tế được truyền cho đến ngày nay. Sư có 13 môn đệ đắc pháp. Tướng quốc Bùi Hưu có cơ duyên được học hỏi nơi Sư và để lại hậu thế quyển sách quý báu với tên Hoàng Bá Sơn Ðoạn Tế Thiền sư truyền tâm pháp yếu, được gọi tắt là Hoàng Bá truyền tâm pháp yếu. Những lời dạy của Sư trong sách này là những nguồn cảm hứng sâu đậm nhất trong thiền ngữ.|Sư người tỉnh Mân (Phúc Kiến), Hồng Châu, thuở nhỏ xuất gia trên núi Hoàng Bá. Sư cao lớn vạm vỡ, trên trán có cục u như hạt châu, âm thanh trong trẻo, ý chí đạm bạc. Ban đầu nghe danh Mã Tổ, Sư muốn đến học đạo, nhưng khi đến nơi thì Tổ đã tịch. Sau đó Sư đến yết kiến Bách Trượng. Bách Trượng hỏi: »Chững chạc to lớn từ đâu đến?« Sư thưa: »Chững chạc to lớn từ Lĩnh Nam đến.« Bách Trượng lại hỏi: »Chững chạc to lớn sẽ vì việc gì?« Sư đáp: »Chững chạc to lớn chẳng vì việc khác« và lễ bái, hỏi: »Từ trước tông thừa chỉ dạy thế nào?« Bách Trượng lặng thinh. Sư thưa: »Không thể dạy người sau, dứt hẳn mất.« Bách Trượng bảo: »Sẽ nói riêng với ngươi.« Bách Trượng đứng dậy đi vào phương trượng, Sư đi theo sau thưa: »Con đến riêng một mình.« Bách Trượng bảo: »Nếu vậy ngươi sau sẽ không cô phụ ta.«|Một hôm Bách Trượng bảo chúng: »Phật pháp không phải là việc nhỏ, lão tăng xưa bị Mã Tổ quát một tiếng, đến ba ngày vẫn còn ù tai.« Nghe như vậy, Sư bỗng ngộ yếu chỉ, bấc giác le lưỡi.|Bách Trượng hỏi Sư: »Ở đâu đến?« Sư thưa: »Nhổ nấm núi Ðại Hùng đến.« Bách Trượng hỏi: »Lại thấy đại trùng (con cọp) chăng?« Sư làm tiếng cọp rống, Bách Trượng càm búa thủ thế. Sư tát Bách Trượng một cái, Bách Trượng cười to bỏ đi. Sau, Bách Trượng thượng đường bảo chúng: »Dưới núi Ðại Hùng có con đại trùng, các ngươi nên xem. Lão tăng hôm nay đích thân gặp và bị nó cắn.« Với lời này, Bách Trượng đã công nhận Sư là người nối pháp.|Sau Sư về trụ trì chùa Ðại An ở Hồng Châu. Học giả tìm đến rất đông. Chỗ chỉ dạy của Sư đều nhằm bậc thượng căn, hạ và trung khó hội được yếu chỉ.|Sư thượng đường: »… Người học Ðạo hễ có một niệm vọng tâm là xa Ðạo, ấy là điều tối kị. Hết thảy mọi niệm đều vô tướng, đều vô vi, tức là Phật. Người học Ðạo nếu muốn thành Phật thì hết thảy Phật pháp đều không cần phải học, chỉ cần học cái không mong cầu, không chấp trước là đủ. Không mong cầu thì tâm không sinh, không chấp trước thì tâm không diệt. Tám vạn bốn ngàn pháp môn là chỉ đối trị với tám vạn bốn ngàn phiền não, đấy chỉ là Pháp môn giáp hoá tiếp dẫn. Vốn không có pháp nào, sự lìa bỏ chính là Pháp, người biết lìa bỏ chính là Phật. Chỉ cần lìa bỏ mọi phiền não thì không còn pháp gì để chứng đắc cả…. Phàm phu nắm lấy ngoại cảnh, đạo nhân nắm lấy tâm. Tâm, cảnh đều quên chính là pháp chân thật. Quên cảnh thì dễ, quên tâm thật khó. Người ta không dám quên tâm, sợ rơi vào hư không không chỗ nắm níu, chứ không biết rằng, Không vốn vô không, chỉ một Pháp giới chân thật mà thôi vậy.«|Có vị tăng hỏi: »Làm thế nào để khỏi bị rơi vào giai cấp của quả vị?« Sư đáp: »Chỉ cần suốt ngày ăn cơm mà chưa từng cắn một hạt gạo, suốt ngày đi mà chưa từng đạp một mảnh đất. Ngay khi ấy không có tướng ngã tướng nhân nào, suốt ngày không rời một việc nào cả, không bị cảnh mê hoặc, thế mới gọi là người tự tại. Bất cứ lúc nào, bất cứ niệm nào cũng không bao giờ thấy một tướng nào cả. Ðừng cố chấp ba thời trước sau! Chặp trước không đi, chặp nay không đứng, chặp sau không đến. An nhiên vững ngồi, nhiệm vận không câu chấp, thế mới gọi là giải thoát.|Hãy cố lên! Hãy cố lên! Trong pháp môn này, ngàn người vạn người, chỉ được dăm ba. Nếu không nỗ lực công phu, ắt có ngày gặp tai ương. Cho nên nói:|Ra sức đời này cho liễu ngộ|Hoạ kia kiếp kiếp há mang hoài?…«|Ðời Ðường khoảng niên hiệu Ðại Trung, Sư tịch tại núi Hoàng Bá. Vua sắc phong là Ðoạn Tế Thiền sư. Sư để lại bài kệ sau để khuyến khích chúng (Trần Tuấn Mẫn dịch):|學道猶如守禁城。緊把城頭戰一場|不受一番寒徹骨。怎得梅花撲鼻香|Học đạo do như thủ cấm thành|Khẩn bả thành đầu chiến nhất trường|Bất thụ nhất phiên hàn triệt cốt|Chẩm đắc mai hoa phác tị hương|*Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường|Ðầu dây nắm chặt giữ lập trường|Chẳng phải một phen sương lạnh buốt|Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.

hoàng bá hy văn

Xem Hoàng Bá Hy Vận.

hoàng bá hy vận

Huang-po Hsi-yun (C), Ōbaku-Kiun (J)Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của ngài Bách trượng Hoài Hải. ; Huang-Po-Hs'i-Yun. • Một trong những thiền sư nổi bậc vào đời nhà Đường. Ông là sư phụ của một thiền sư nổi tiếng tên Lâm Tế. Thiền sư Hoàng Bá quê tại tỉnh Phúc Kiến, là đệ tử của Thiền Sư Bá Trượng—One of the outstanding Zen masters during the T'ang dynasty. He was the master of another famous Zen master named Lin-Chi. Zen master Huang-Po-Hs'i-Yun was born in Fu-Jian Province, was a disciple of Bai-Zhang. • Trong khi đi dạo núi Thiên Thai, sư gặp một vị tăng, nói chuyện với nhau như đã quen biết từ lâu, nhìn kỹ là người Mục Quang Xạ. Hai người đồng hành, gặp một khe suối đầy nước chảy mạnh, sư lột mũ chống gậy đứng lại. Vị Tăng kia thúc sư đồng qua, sư bảo: “Huynh cần qua thì tự qua.” Vị Tăng kia liền vén y, bước trên sóng như đi trên đất bằng. Qua đến bờ, vị Tăng kia xây lại hối: “Qua đây! Qua đây!” Sư bảo: “Bậy! Việc ấy tự biết. Nếu tôi sớm biết sẽ chặt bắp đùi huynh.” Vị Tăng kia khen: “Thật là pháp khí Đại Thừa, tôi không bì kịp.” Nói xong, không thấy vị Tăng ấy nữa—While on his journey to Mount T'ien-T'ai, Huang-Po met another monk. They talked and laugh, just as though they were old friends who had long known one another. Their eyes gleamed with delight as they then set off traveling together. Coming to the fast rapids of a stream, they removed their hats and took up staffs to walk across. The other monk tried to lead Huang-Po across, saying: “Come over! Come over!” Huang-Po said: “If Elder Brother wants to go across, then go ahead.” The other monk then began walking across the top of the water, just as though it were dry land. The monk turned to Huang-Po and said: “Come across! Come across!” Huang-Po yelled: Ah! You self-saving fellow! If I had known this before I would have chopped off your legs!” The monk cried out: “You're truly a vessel for the Mahayana, I can't compare with you!” And so saying, the monk vanished. • Một hôm, Bá Trượng hỏi: “Chững chạc to lớn từ đâu đến?” Sư thưa: “Chững chạc to lớn từ Lãnh Nam đến.” Bá Trượng hỏi: “Chững chạc to lớn sẽ vì việc gì?” Sư đáp: “Chững chạc to lớn chẳng vì việc gì khác.” Sư liền lễ bái hỏi: “Từ trước tông thừa chỉ dạy thế nào?” Bá trượng lặng thinh. Sư thưa: “Không thể dạy người sau là dứt hẳn mất.” Bá trượng bảo: “Sẽ nói riêng với ngươi.” Bá Trượng đứng dậy đi vào phương trượng. Sư đi theo sau thưa: “Con đến riêng một mình.” Bá trượng bảo: “Nếu vậy, ngươi sau sẽ không cô phụ ta.”—One day, Bai-Zhang asked: So grand and imposing, where have you come from?” Huang-Po said: “So grand and imposing, I've come from south of the mountains.” Bai-Zhang said: “So grand and imposing, what are you doing?” Huang-Po said: “So grand and imposing, I'm not doing anything else.” Huang-Bo bowed and said: “From high antiquity, what is the teaching of this order?” Bai-Zhang remained silent. Huang-Po said: “Don't allow the descendants to be cut off.” Bai-Zhang then said: “It may be said that you are a person.” Bai-Zhang then arose and returned to his abbot's quarters. Huang-Po followed him there and said: “I've come with a special purpose.” Bai-Zhang said: “If that's really so, then hereafter you won't disappoint me.” • Một hôm Bá Trượng hỏi sư: “Ở đâu đến?” Sư thưa: “Nhổ nắm dưới núi Đại Hùng đến.” Bá trượng hỏi: “Lại thấy đại trùng chăng?” Sư làm tiếng cọp rống. Bá trượng cầm búa thủ thế. Sư vỗ vào chân Bá Trượng một cái. Bá trượng cười bỏ đi. Sau đó Bá trượng thượng đường dạy chúng: “Dưới núi Đại Hùng có con đại trùng, các ngươi nên xem. Lão Bá Trượng này hôm nay đích thân bỗng gặp và bị cắn một cái.”—One day, Bai-Zhang asked Huang-Bo: “Where have you been?” Huang-Po said: “I've been picking mushrooms at the base of Mount Great Hero.” Bai-Zhang said: “Did you see a big tiger?” Huang-Po roared. Bai-Zhang picked up an ax and assumed a pose as if to strike Huang-Po. Huang-Bo then hit him. Bai-Zhang laughed “Ha, ha,” and returned to his room. Later Bai-Zhang entered the hall and said to the monks: “At the base of Great Hero Mountain there's a tiger. You monks should go take a look at it. Just today, I myself suffered a bite from it.” • Sư ở chỗ Nam Tuyền. Một hôm, toàn chúng đi hái trà, Nam Tuyền hỏi: “Đi đâu?” Sư thưa: “Đi hái trà.” Nam Tuyền lại hỏi: “Đem cái gì hái?” Sư đưa con dao lên. Nam Tuyền bảo: “Tất cả đi hái trà.”—Once, Huang-Po was at Nan-Chuan-Pu-Yuan's temple and participated in picking tea leaves. Nan-Chuan asked him: “Where are you going?” Huang-Po said: “To pick tea leaves.” Nan-Chuan said: “What will you use to pick them?” Huang-Po took his knife and held it straight up. Nan-Chuan said: “You've only acted as guest. You haven't acted as host.” Huang-Po stabbed three holes in the air. Nan-Chuan said: “Everyone is going to pick tea leaves.” • Hôm nọ, Nam Tuyền bảo sư: “Lão Tăng ngẫu hứng làm bài ca “Chăn Trâu,” mời Trưởng Lão hòa. Sư thưa: “Tôi tự có thầy rồi.”—One day, Nan-Chuan said to Huang-Bo: “I have a song called 'Ode of the Oxherd.' Can you recite it?” Huang-Po said: “I am my own teacher right here.” • Sư từ giả đi nơi khác, Nam Tuyền tiễn đến cổng, cầm chiếc mũ của sư đưa lên hỏi: “Trưởng Lão thân to lớn mà chiếc mũ nhỏ vậy?” Sư thưa: “Tuy nhiên như thế, đại thiên thế giới đều ở trong ấy.” Nam Tuyền bảo: “Vương Lão Sư vậy.” Sư đội mũ ra đi—Huang-Po was taking his leave of Nan-Chuan. Nan-Chuan accompanied Huang-Po to the monastery gate. Lifting up Huang-Po's hat, Nan-Chuan said: “Elder, your physical size is not large, but isn't your hat too small?” Huang-Po said: “Although that's true, still the entire universe can fit inside it.” Huang-Po then put on his hat and left. • Một hôm sư thượng đường, đại chúng vân tập, sư bảo: “Các ngươi! Các ngươi muốn cầu cái gì?” Sư cầm trượng đuổi chúng. Đại chúng không tan. Sư lại ngồi xuống bảo: “Các ngươi toàn là bọn ăn hèm, thế mà xưng hành khất để cho người chê cười. Thà cam thấy tám trăm, một ngàn người giải tán, chớ không thể giải tán, không thể chịu sự ồn náo. Ta khi đi hành khất hoặc gặp dưới rễ cỏ có cái ấy, là đem hết tâm tư xem xét nó. Nếu biết ngứa ngáy khả dĩ lấy đãy đựng gạo cúng dường. Trong lúc đó, nếu dễ dàng như các ngươi hiện giờ thì làm gì có việc ngày nay. Các ngươi đã xưng là hành khất, cần phải có chút ít tinh thần như thế, mới có thể biết đạo. Trong nước Đại Đường không có Thiền Sư sao?”—One day, Zen master Huang-Po entered the hall to speak. When a very large assembly of monks had gathered, he said: “What is it that you people are all seeking here?” He then use his staff to try and drive them away, but they didn't leave. So Huang-Po returned to his seat and said: “You people are all dreg-slurpers. If you go on a pilgrimage seeking in this way you'll just earn people's laughter. When you see eight hundred or a thousand people gathered somewhere you go there. There's no telling what trouble this will cause. When I was traveling on pilgrimage and cam upon some fellow 'beneath the grass roots' (a teacher), then I'd hammer him on the top of the head and see if he understood pain, and thus support him from an overflowing rice bag! If all I ever found were the likes of you here, then how would we ever realize the great matter that's before us today? If you people want to call what you're doing a 'pilgrimage,' then you should show a little spirit! Do you know that today in all the great T'ang there are no Zen teachers?” • Có vị Tăng hỏi: “Bậc tôn túc ở các nơi hợp chúng chỉ dạy, tại sao nói không Thiền Sư?” Sư bảo: “Chẳng nói không thiền, chỉ nói không sư. Xà Lê chẳng thấy sao, dưới Mã Tổ Đại Sư có tám mươi bốn người ngồi đạo tràng , song được chánh nhãn của Mã Tổ chỉ có hai ba người, Hòa Thượng Lô Sơn Qui Tông là một trong số ấy. Phàm người xuất gia phải biết sự phần từ trước lại mới được. Vả như, dưới Tứ Tổ, Đại sư Ngưu Đầu Pháp Dung nói dọc nói ngang vẫn chưa biết then chốt hướng thượng. Có con mắt này mới biện được tông đảng tà chánh. Người hiện giờ không hay thể hội, chỉ biết học ngôn ngữ, nghĩ nhầm trong đãy da tức chỗ đến an ổn, xưng là ta tự hội thiền, lại thay việc sanh tử cho người được chăng? Khinh thường bậc lão túc vào địa ngục nhanh như tên bắn. Ta vừa thấy ngươi vào cửa liền biết được rồi. Lại biết chăng? Cần kíp nỗ lực chớ dung dị. Thọ nhận chén cơm manh áo của người mà để một đời qua suông, người sáng mắt chê cười. Người thời gian sau hẳn sẽ bị người tục lôi đi. Phải tự xem xa gần cái gì là việc trên mặt? Nếu hội liền hội, nếu không hội giải tán đi. Trân trọng!”—A monk then asked: “In all directions there are worthies expounding to countless students. Why do you say there are no Zen teachers?” Huang-Po said: “I didn't say there is no Zen, just that there are no teachers. None of you see that although Zen master Ma-Tsu had eighty-four Dharma heirs, only two or three of them actually gained Ma-Tsu's Dharma eye. One of them is Zen master Kui-Zong of Mount Lu. Home leavers must know what has happened in former times before they can start to understand. Otherwise you will be like the Fourth Ancestor's student Niu-T'ou, speaking high and low but never understanding the critical point. If you possess the Dharma eye, then you can distinguish between true and heritical teachings and you'll deal with the world's affairs with ease. But if you don't understand, and only study some words and phrases or recite sutras, and then put them in your bag and set off on pilgrimate saying: 'I understand Zen,' the will they be of any benefit even for your own life and death? If you're unmindful of the worthy ancients you'll shoot straight into hell like an arrow. I know about you as soon as I see you come through the temple gate. How will you gain an understanding? You have to make an effort. It isn't an easy matter. If you just wear a sheet of clothing and eat meals, then you'll spend your whole life in vain. Clear-eyed people will laugh at you. Eventually the common people will just get rid of you. If you go seeking far and wide, how will this resolve the great matter? If you understand, then you understand. If you don't, then get out of here! Take care!” • Thiền sư Hoàng bá thị tịch năm 850. Sau khi thị tịch sư được vua ban hiệu “Đoạn Tế Thiền Sư”—He died in 850. After his death, he received the posthumous title “Zen Master Removing Limits.”

hoàng bá khán kinh

(黃檗看經) Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Hoàng bá Hi vận và đệ tử nối pháp của ngài là Lâm tế Nghĩa huyền. Lâm tế lục hành lục (Đại 47, 505 trung), nói: Sư lên núi Hoàng bá vào giữa hạ, thấy Hòa thượng đang xem kinh. Sư tự nghĩ: Mình tưởng là người thế nào, hóa ra chỉ là ông Hòa thượng già chấp trước văn kinh. Sư ở vài ngày rồi từ biệt ra đi. Ngài Hoàng bá nói: Ông phá hạ đến đây, sao không ở hết hạ hãy đi? Sư đáp: Con chỉ tạm đến lễ bái Hòa thượng. Ngài Hoàng bá liền đánh rồi đuổi đi. Sư đi được vài dặm đường thì sinh ngờ về việc này, bèn trở lại ở đến hết hạ . (xt. Hắc Đậu Pháp).

hoàng bá lễ phật

(黃檗禮佛) Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Hoàng bá và một vị sa di (tức vua Tuyên tông nhà Đường). Hoàng bá uyển lăng lục (Vạn tục 119, 419 hạ), nói: Trong hội Diêm quan, khi thấy sư lên điện lễ Phật, vị sa di hỏi: Không cầu Phật, không cầu Pháp, không cầu Tăng, vậy Trưởng lão lễ Phật để cầu gì? Sư đáp: Không cầu Phật, không cầu Pháp, không cầu Tăng, chỉ thường lễ như thế thôi. Sa di nói: Như vậy thì lễ làm gì? Sư liền đánh. Sa di nói: Thô quá! Sư hỏi: Trong ấy có cái gì mà ông nói thô nói tế? Nói rồi lại đánh. Sa di liền chạy . [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.4].

hoàng bá sơn

5373<一>位於福建福清縣城西十七公里處。又稱南山。以盛產黃檗(其樹皮可作藥用與染料用)而得名。唐貞元五年(789),正幹禪師開山建寺,名般若堂。其後大闢堂宇,歷時八年,改稱建福寺。旋有希運禪師住山,黃檗之名頓顯,該寺遂成爲我國禪宗臨濟派之大道場,宋時頗爲興盛。其後,歷經興衰。明神宗曾賜以萬福禪寺之額。至崇禎十四年(1641),隱元始重興。後隱元東渡日本,開創宇治大和山,即取其規模,並取名爲黃檗山萬福禪寺。〔景德傳燈錄卷九、宋高僧傳卷二十、釋氏稽古略卷三、黃檗山志〕(參閱「萬福寺」5545) <二>位於江西宜豐縣西五十七公里處。又稱鷲峰山。唐末,希運禪師至此開山。以其出家於福州黃檗山,故世稱此山爲黃檗山,寺名黃檗寺,又稱靈鷲寺。不久,四方學者望風雲集,往來常有千餘人。唐宣宗曾幸此山,與希運同觀瀑布,並相對賦詩,從此黃檗宗風盛於江南。又希運之後,有法濟、志因、惟初、惟勝、道全、永泰等相繼住此,山名益著。南宋紹興九年(1139),高宗曾賜名「報恩光孝禪寺」,以爲追念其父徽宗之所。至明中葉曾廢毀,然明思宗時,常愚、炤通等曾復興之。〔黃檗禪師傳心法要序、隆興佛教編年通論卷二十六、佛祖歷代通載卷二十三〕 <三>位於江西餘干東南四十六公里。又稱小廬山。 <四>爲日本黃檗宗之大本山萬福寺之山號。(參閱「萬福寺」5545) ; (黃檗山) I. Hoàng Bá Sơn. Cũng gọi Nam sơn. Núi ở phía tây cách huyện lị Phúc thanh, tỉnh Phúc kiến 15km. Vì núi này có rất nhiều cây hoàng bá (vỏ cây dùng làm thuốc chữa bệnh và thuốc nhuộm) nên gọi là núi Hoàng bá. Năm Trinh nguyên thứ năm (789) đời Đường, thiền sưChính cán mở núi xây chùa, đặt tên là Bát nhã đường. Về sau, Bát nhã đường được kiến thiết to lớn hơn và đổi tên là chùa Kiến phúc. Thiền sư Hi vận đến ở đây, từ đó núi Hoàng bá cũng như chùa Kiến phúc đều trở nên nổi tiếng. Vào thời Tống chùa rất hưng thịnh. Đến đời Minh, vua Thần tông ban bảng hiệu là Vạn Phúc Thiền Tự . Năm Sùng trinh 14 (1641) đời Minh, ngài Ẩn nguyên bắt đầu trùng tu chùa này. Sau, ngài Ẩn nguyên sang Nhật bản hoằng pháp, sáng lập chùa ở núi Đại hòa theo qui mô của Vạn phúc thiền tự và lấy tên: Hoàng bá sơn Vạn phúc thiền tự . [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.9; Tống cao tăng truyện Q.20; Thích thị kê cổ lược Q.3; Hoàng bá sơn chí]. (xt. Vạn Phúc Tự). II. Hoàng Bá Sơn. Cũng gọi Thứu phong sơn. Núi ở cách huyện Nghi phong, tỉnh Giang tây 57km về phía tây. Cuối đời Đường, thiền sư Hi vận đến đây khai sơn. Vì ngài xuất gia ở núi Hoàng bá tại Phúc châu nên người đời gọi núi này là núi Hoàng bá và cũng đặt tên chùa là chùa Hoàng bá. Không bao lâu, người học từ khắp nơi nghe danh về tụ họp rất đông, chúng vãng lai thường có tới hơn nghìn người. Vua Tuyên tông nhà Đường đã từng đến núi này, cùng với ngài Hi vận xem thác nước chảy và đối đáp thi phú với nhau, từ đó tông phong Hoàng bá hưng thịnh ở Giang nam. Sau ngài Hi vận, có các thiền sư Pháp tế, Chí nhân, Duy sơ, Duy thắng, Đạo toàn, Vĩnh thái, v.v...… lần lượt đến ở núi này, nên tên núi lại càng nổi tiếng. Năm Thiệu hưng thứ 9 (1139) đời Nam Tống, vua Cao tông ban hiệu chùa là: Báo ân quang hiếu thiền tự để làm nơi tưởng nhớ phụ hoàng là vua Huy tông. Đến giữa đời Minh chùa bị hoang phế, nhưng vào thời vua Tư tông nhà Minh thì được các ngài Thường ngu, Chiểu thông, v.v... khôi phục lại. [X. bài tựa trong Hoàng bá thiền sư truyền tâm pháp yếu; Long hưng Phật giáo biên niên thông luận Q.26; Phật tổ lịch đại thông tải Q.23]. III. Hoàng Bá Sơn. Tên núi của chùa Vạn phúc, đại bản sơn của tông Hoàng bá Nhật bản. (xt. Vạn Phúc Tự).

hoàng bá sơn chí

5374凡八卷。黃檗宗性幽編集,隱元重修。於清世祖順治八年(1653)刊行。乃記述福建省黃檗山萬福禪寺之起源及沿革。內容共分八編:山、寺、僧、法、塔、外護、文、詩偈逸事等。第一至第五之卷首,附寺景及塔臺等圖,且記黃檗希運禪師之正脈源流及至隱元禪師之法系等。 ; (黃檗山志) Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Tính u thuộc tông Hoàng bá biên tập, ấn hành vào năm Thuận trị thứ 8 (1653) đời Thanh. Nội dung nói về nguồn gốc và sự thay đổi của Vạn phúc thiền tự ở núi Hoàng bá thuộc tỉnh Phúc kiến. Toàn sách chia làm 8 mục: Núi, chùa, tăng, pháp, tháp, ngoại hộ, văn, thi kệ... Từ quyển 1 đến quyển 5, ở đầu mỗi quyển đều có vẽ tranh về cảnh chùa, đài tháp và ghi rõ các dòng phái chính thống phát xuất từ thiền sư Hoàng bá Hi vận cho đến pháp hệ của thiền sư Ẩn nguyên.

Hoàng Bá Sơn Đoạn Tế Thiền Sư Truyền Tâm Pháp Yếu

(黃檗山斷際禪師傳心法要, Ōbakuzandansaizenjidenshinhōyō): gọi tắt là Truyền Tâm Pháp Yếu (傳心法要, Denshinhōyō), 1 quyển, trước tác do Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運) thuật lại và Bùi Hưu (裴休) biên tập, lời tựa ghi năm thứ 11 (857). Là tác phẩm do vị Tướng Quốc nhà Đường Bùi Hưu thâu lục các đề xướng của Hoàng Bá Hy Vận tại Long Hưng Tự (龍興寺) cũng như Khai Nguyên Tự (開元寺), được hình thành từ 2 bộ Chung Lăng Lục (鍾陵錄) và Uyển Lăng Lục (宛陵錄). Chung Lăng Lục là tập do Bùi Hưu thâu lục những lời thuyết pháp của Hoàng Bá ở Chung Lăng (鍾陵) và Uyển Lăng (宛陵); Uyển Lăng Lục được người khác thâu lục lại bài thuyết pháp của Hoàng Bá ở Uyển Lăng. Trong Chung Lăng Lục có ghi lời tựa của mình, đến đầu thời nhà Tống thì được nhập vào Đại Tạng Kinh Bản Phúc Châu. Về sau, nó được san hành ở Trung Quốc, Triều Tiên; riêng ở Nhật Bản, có bản san hành vào năm thứ 6 (1283) niên hiệu Hoằng An (弘安), trong đó có lời bạt của Đại Hưu Chánh Niệm (大休正念), bản Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) do tướng quân Bắc Điều Hiển Thời (北條顯時) bố thí tiền san hành; và một số bản khác như bản hoạt tự vào đầu niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永, 1624-1628), bản năm thứ 9 (1632) niên hiệu Khoan Vĩnh, 2 loại bản của niên hiệu Khánh An (慶安, 1648-1651), bản năm thứ 13 (1673) niên hiệu Khoan Văn (寬文), bản năm thứ 9 (1876) niên hiệu Minh Trị (明治), v.v.

hoàng bá sơn đoạn tế thiền sư truyền tâm pháp yếu

5375全一卷。唐代裴休集錄於大中十一年(857)。收於大正藏第四十八冊。係裴休集錄親聞斷際禪師希運之法要,間記其月日。由本書得以窺知宋代嶮峻禪風之淵源。卷首有裴休之序,末附禪師之宛陵錄一卷。然景德傳燈錄卷九所收之黃檗希運禪師傳心法要,各章皆刪去年月,卷末又省略三分之一,而附以裴休之傳心偈四言長篇。

hoàng bá sơn đoạn tế thiền sư truyện tâm pháp yếu

(黃檗山斷際禪師傳心法要) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Bùi hưu thu chép vào năm Đại trung 11 (857) đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này gồm những lời pháp trọng yếu của thiền sư Hoàng bá Hi vận mà chính ông Bùi hưu được nghe và thu chép lại, trong đó có ghi rõ ngày tháng. Qua sách này, người ta thấy được tận đáy nguồn sâu thẳm của Thiền phong đời Tống. Ở đầu quyển có lời tựa của ông Bùi hưu, cuối quyển có phụ thêm Uyển lăng lục 1 quyển của thiền sư Hoàng bá Hi vận. Nhưng trong Hoàng bá Hi vận thiền sư Truyền tâm pháp yếu chép trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 9 thì các chương đều bỏ tháng năm, cuối quyển lại lược bớt 1 phần 3 mà thêm vào đó là bài kệ truyền tâm dài theo thể 4 chữ của Bùi hưu.

hoàng bá thanh quy

(黃檗清規) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Mộc am Tính thao (1611-1684) Tổ sư đời thứ 2 của tông Hoàng bá Nhật bản duyệt xét và ngài Cao tuyền Tính đôn (1633-1695), Tổ sư đời thứ 5 biên soạn sửa chữa, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Sách này phỏng theo hình thức Bách trượng thanh qui, nói về qui tắc, nghi thức, v.v... do ngài Ẩn nguyên Long kì (1592- 1673), Tổ khai sáng tông Hoàng bá Nhật bản chế định. Nội dung gồm có 10 chương: Chúc li, Báo ân, Tôn tổ, Trụ trì, Phạm hạnh, Phúng tụng, Tiết tự, Lễ pháp, Phổ thỉnh và Thiên hóa; đồng thời phụ thêm: Phật sự phạm bái tán, Khai sơn dự chúc ngữ, Tháp viện qui ước, Cổ đức tập yếu và Pháp cụ đồ.

hoàng bá thiền phái

Phái Thiền Hoàng Bá, phái Thiền do Thiền sư Hoàng Bá sáng lập—Huang-Po Zen Sect, founded by Zen Master Huang-Po—See Hoàng Bá Hy Vận.

Hoàng Bá truyền tâm pháp yếu

黃蘗傳心法要; nguyên tên là Hoàng Bá Sơn Ðoạn Tế Thiền sư truyền tâm pháp yếu;|Một quyển sách nói về cuộc đời hoằng hoá của Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận và các lời dạy của Sư, được môn đệ là Tướng quốc Bùi Hưu ghi lại.

hoàng bá tràng tửu

(黃檗噇酒) Hoàng bá ăn bã rượu. Tên công án trong Thiền lâm. Công án này nói về việc thiền sư Hoàng bá Hi vận ở đời Đường chỉ trích những người chấp trước ngôn ngữ, văn tự. Tắc 11 trong Bích nham lục (Đại 48, 151 trung), ghi: Hoàng bá dạy chúng rằng: Tất cả các ông chỉ là người ăn bã rượu. Hành cước những đâu? Các ông có biết trong nước Đại đường (tức Trung quốc) ngày nay, ở đâu có Thiền sư không? Lúc ấy có vị tăng bước ra hỏi: Vậy thì các nơi thu lãnh đồ chúng, nên hiểu như thế nào? Không phải không có Thiền, chỉ là không có thầy mà thôi. Hoàng bá đáp . Người tu Thiền mà bị kẹt trong ngôn ngữ, văn tự thì không biết được Thiền vị, cũng như người chỉ ăn bã rượu thì không biết được hương vị thực của rượu. Về tên của công án này, các sách ghi chép có hơi khác, như có chỗ chép là Hoàng bá tửu tao hán , có chỗ ghi Hoàng bá chàng tao , lại có chỗ chép Hoàng bá chàng tửu tao …. [X. Tắc 53 trong Thung dung lục; Long hưng Phật giáo biên niên thông luận Q.26].

Hoàng Bá tông

黃檗宗; J: ōbaku-shū;|Một nhánh thiền thứ ba của Thiền tông Nhật Bản song song với hai nhánh lớn khác là Lâm Tế (j: rinzai) và Tào Ðộng (s: sōtō). Nhánh này bắt nguồn từ Thiền sư Ẩn Nguyên Long Kì (j: ingen ryūki), người sáng lập Thiền viện chính của tông này là Vạn Phúc tự (j: mampuku-ji) giữa thế kỉ 17 tại Uji, Kinh Ðô (j: kyōto). Hoàng Bá tông là một nhánh của tông Lâm Tế, nhìn chung thì không gây ảnh hưởng bao nhiêu trong truyền thống Thiền của Nhật.|Thiền sư Ẩn Nguyên nguyên là vị trụ trì của Vạn Phúc tự – một Thiền viện nằm trên núi Hoàng Bá (s: ōbaku-san) tại Trung Quốc. Năm 1654, Sư sang Nhật hoằng hoá và chỉ bảy năm sau đó, Tướng quân Ðức Xuyên Gia Cương (j: tokugawa tsunayoshi) đem đất ban cho sư để thành lập một thiền viện theo kiến trúc đời nhà Minh. Sư đặt tên cho thiền viện này là Hoàng Bá Sơn Vạn Phúc tự. Thiền sư Mộc Am Tính Thao (j: mokuan shōtō), một đệ tử đồng hương của Ẩn Nguyên kiến lập một thiền viện khác với tên Thuỵ Thánh tự (j: zuishō-ji) tại Ðông Kinh (j: tōkyō) năm 1671, một thiền viện có công rất nhiều trong việc truyền bá Thiền tông tại đây. Tất cả 13 vị kế thừa trụ trì thiền viện này – kể từ Ẩn Nguyên, Mộc Am – đều là người Trung Quốc, vị thứ 14 mới là người Nhật đầu tiên đảm nhận chức vụ này. Dòng này được chính thức công nhận là một tông phái năm 1876.|Tông này được sáng lập như một trường phái riêng biệt tại Nhật, không phải tại Trung Quốc và tên của tông này không có quan hệ gì đến Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận, thầy của Lâm Tế.

hoàng bá tông

Ōbaku-shŪ (S)Tên một tông phái. ; (黃檗宗) Một trong 3 phái của Thiền tông Nhật bản. Năm Vĩnh lịch thứ 8 (1654), ngài Ẩn nguyên Long kì (1592-1673) ở Vạn phúc Thiền tự, núi Hoàng bá, Trung quốc và ngài Độc trạm nhận lời thỉnh của sư Dật nhiên ở chùa Sùng phúc tại Trường kì Nhật bản, cùng đến hoằng dương Thiền lâm tế tại Nhật. Năm 1658, Đức xuyên Gia cương hiến cho ngài một khu đất ở Sơn thành và đến năm 1662 ngài lập Hoàng bá sơn Vạn phúc thiền tự trên khu đất này, khai sáng tông Hoàng bá. Năm 1666, đệ tử là Mộc am Tính thao kế thừa Vạn phúc Thiền tự, ngài Ẩn nguyên đến vùng Bạch kim vùng Giang hộ sáng lập chùa Thánh thụy và mở rộng Thiền phong ở chùa Chính minh tại Cận giang. Nhờ đó tông Hoàng bá được đến đất Quan đông. Nhưng sau thời trung hưng của ngài Cao tuyền Tính đôn, Tổ đời thứ 5 của tông Hoàng bá, thì chùa Vạn phúc dần dần suy vi. Đến năm Gia hòa thứ 4 (1851) mới được ngài Lương trung đời thứ 33 chấn chỉnh tông môn thì tông phong mới được hưng thịnh trở lại. Năm Minh trị thứ 7 (1874), tông Hoàng bá được sáp nhập với tông Lâm tế. Nhưng năm Minh trị thứ 9 (1876) lại tuyên bố độc lập. Tông này lấy chùa Vạn phúc làm tổng bản sơn, ngoài ra còn có hơn 500 chùa trực thuộc. Tông chỉ của tông này là khai thị pháp môn Chính pháp nhãn tạng, thực tướng vô tướng . Ngoài ra còn lấy Giáo Thiền nhất như làm tông qui. Khi thừa kế tông phong phái Dương kì tông Lâm tế ở Trung quốc, ngài Ẩn nguyên chủ trương Thiền tịnh nhất như , tuyên dương tín ngưỡng Tịnh độ của đức Phật A di đà và khuyến khích mọi người tu Niệm Phật thiền , khác hẳn với tông phong của các Thiền phái khác tại Nhật bản, Ngài lại cho rằng Muôn pháp duy tâm, ngoài tâm không có pháp khác , Thân mình là Di đà, tâm mình là Tịnh độ , v.v.. cũng lại khác với tín ngưỡng của tông Tịnh độ nói chung. Ngài cũng tụng kinh theo âm Hán, đối với các pháp hội và phương thức tu hành vẫn giữ phong cách đời Minh, Trung quốc. [X. Hoàng bá tông giám lục; Phật giáo các tông cương yếu Q.9]. (xt. Lâm Tế Tông).

hoàng bá tông giám lục

(黃檗宗鑒錄) Tác phẩm, 2 quyển, do các ngài Cao tuyền Tính đôn và Cảo đường Nguyên sưởng thuộc tông Hoàng bá, Nhật bản, biên soạn và được ấn hành vào năm Nguyên lộc thứ 6 (1693). Nội dung nói về thứ tự và ngày, tháng, năm của sự truyền thừa pháp mạch cho nhau giữa các vị tăng cùng thuộc tông Hoàng bá; ghi chép việc truyền thừa từ 7 đức Phật đời quá khứ, 28 vị tổ Ấn độ, 6 vị tổ Trung quốc, cho đến các đệ tử nối pháp từ ngài Nam nhạc Hoài nhượng trở xuống. Ngoài ra, tác giả còn ghi thêm tên của những vị tăng cùng một tông, cùng một bản sơn, theo thứ tự truyền thừa cho nhau từ ngài Cao tuyền Tính đôn trở về sau.

hoàng bá đoạn tế ngữ lục

(黃檗斷際語錄) Cũng gọi Đoạn tế thiền sư ngữ lục, Hoàng bá Hi vận thiền sư ngữ lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hoàng bá Hi vận soạn vào đời Đường, được thu vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 2 trong Vạn tục tạng tập 118. Nội dung sách này gồm 2 phần: Một ghi chép những cơ duyên ngữ yếu của thiền sư Bách trượng chỉ dạy khi ngài Hoàng bá Hi vận tham vấn và một biên tập các pháp ngữ của chính ngài Hi vận như: Thướng đường, Thị chúng, v.v...

hoàng bách dẫn đạo

5375引導,接引化導之意。爲唐代黃檗希運禪師引導母親之故事。黃檗出家後,其母因思念愛兒,憂傷過度而致失明。黃檗參訪百丈懷海禪師悟道後,回鄉探省母親。然其母未遇,遂追至河畔,而不慎落水滅頂。黃檗乃執火炬,謂:一子出家,九族生天,若是妄語,諸佛妄語。並將火炬投入河中,引導其母。此一故事並未記載於禪宗之史傳典籍,僅見於日本中世紀之「切紙」中。〔百通切紙卷三〕

hoàng bách khán kinh

5376禪宗公案名。乃敘述唐代黃檗禪師與其法嗣臨濟義玄之機緣。臨濟錄行錄(大四七‧五○五中):「師因半夏上黃蘗,見和尚看經。師云:『我將謂是箇人,元來是揞黑豆老和尚。』住數日乃辭去,黃蘗云:『汝破夏來,不終夏去?』師云:『某甲暫來禮拜和尚。』黃蘗遂打趁令去。師行數里,疑此事,卻回終夏。」 禪門一年一夏之九十日修行期間,必須禁足,若違反規定,即稱破夏。臨濟於夏中至黃檗處,黃檗正在看經,臨濟心想:這老和尚果真只是個拘泥經句的「文字法師」,若逗留於此亦無法得益。不數日,即欲辭去。黃檗乃謂:你破夏而來,不終夏,即欲去?臨濟答:我只是來禮拜和尚。黃檗遂將其逐打出去。臨濟已行數里,始覺黃檗此舉實乃對其親切之化導,即返回終此一夏。蓋黃檗之經常看經,並不表示其爲拘泥於文字經句者;黃檗之逐打臨濟,亦非表示其爲獨斷而無理之人。臨濟行數里即折返,乃在悟知黃檗實爲一忠實守夏而有綿密宗風之人。(參閱「黑豆法」5382)

hoàng bách lễ phật

5377[1] 【黃檗斷際禪師宛陵錄→】請參閱 宛陵錄 或 黃檗斷際語錄禪宗公案名。敘述黃檗於佛殿上禮佛,與當時爲沙彌之唐代宣宗所作之問答。黃檗宛陵錄(卍續一一九‧四一九下):「師在鹽官會裏,大中帝爲沙彌,師於佛殿上禮佛。沙彌云:『不著佛求,不著法求,不著眾求,長老禮拜當何所求?』師云:『不著佛求,不著法求,不著眾求,常禮如是事。』沙彌云:『用禮何爲?』師便掌。沙彌云:『太麤生!』師云:『這裏是什麼所在?說麤說細。』隨後又掌,沙彌便走。」蓋唐大中帝宣宗,只見黃檗禮佛之形相,未見其心髓,而徒然說粗說細,遂遭致黃檗之痛掌。〔五燈會元卷四〕

hoàng bách thanh quy

5376全一卷。日本黃檗宗第二世祖師木庵性瑫(1611~1684)校閱,第五世祖師高泉性潡(1633~1695)編修。收於大正藏第八十二冊。本書乃效百丈清規之體,敘述黃檗宗之宗祖隱元隆琦(1592~1673)所制定之規則儀式等。內容有祝釐、報恩、尊祖、住持、梵行、諷誦、節序、禮法、普請、遷化等十章。並附錄佛事梵唄讚、開山預囑語、塔院規約、古德輯要及法具圖。

hoàng bách tràng tửu

5376禪宗公案名。噇,吃之意。乃唐代黃檗希運禪師呵斥拘泥語言文字之行者,僅嘗得釋迦、達磨之殘渣;有如僅嘗得酒糟味,而不知真正酒味。碧巖錄第十一則(大四八‧一五一中):「黃檗示眾云:『汝等諸人,盡是噇酒糟漢,恁麼行腳,何處有今日?還知大唐國裏無禪師麼?』時有僧出云:『只如諸方匡徒領眾,又作麼生?』檗云:『不道無禪,只是無師。』」黃檗胫嘆大唐國雖廣,卻無真正能說禪化導行者之師家;蓋黃檗此語係爲喝破彼等拘泥於語言文字、行腳參訪而無所得者之迷執,促其經由身證體驗,以開拓本具之佛性。又本則公案名稱,各書記載略異,另有題爲黃檗酒糟漢、黃檗噇糟、黃檗噇酒槽。〔從容錄第五十三則、隆興佛教編年通論卷二十六〕

hoàng bách tông

5375請參閱 黃檗斷際語錄 爲日本禪宗三派之一。明代永曆八年(1654),我國黃檗山萬福禪寺之隱元隆琦(1592~1673)應日本長崎興福寺逸然之邀請,與獨湛相偕至長崎弘揚臨濟禪。四年後,謁見德川家綱,翌年受賜山城國宇治之寺地。其後三年,於當地開黃檗山萬福禪寺,創黃檗宗,與日本臨濟宗、曹洞宗並爲日本禪宗三派。四年後,由弟子木庵性瑫繼承萬福禪寺。隱元轉至江戶白金創建瑞聖寺,並於近江正明寺等處大弘禪風,此宗遂傳於關東。然萬福寺在第五代高泉中興之後即逐漸衰微。至嘉永四年(1851),始由第三十三代良忠重整宗門,宗風復甦。明治七年(1874),與臨濟宗合併。二年後,又告獨立。此宗以萬福寺爲大本山,另有五百餘寺。其宗規開示正法眼藏、實相無相之法門。此外又以教禪一如爲其宗旨。隱元於中國承繼臨濟宗楊岐派之禪風,主張禪淨一致,宣揚西方阿彌陀佛淨土信仰,鼓吹念佛禪,而異於日本其他禪宗之宗風。復認爲「萬法唯心,心外無別法」,「己身彌陀,唯心淨土」,又與一般淨土信仰不同;且以漢音諷經,於法會與修行方式上仍保留明代風格。〔黃檗宗鑑錄、佛教各宗綱要卷九〕(參閱「臨濟宗」6507)

hoàng bách tông giám lục

5375凡二卷。日本黃檗宗高泉性潡、杲堂元昶等編。記錄同宗僧侶法脈相傳之次第及年、月、日。收錄過去七佛、西天二十八祖、我國六祖至南嶽懷讓以下嗣法相承者。又附錄高泉以後同宗本山次第相傳之僧名。刊行於元祿六年(1693)。

hoàng bách đoạn tế ngữ lục

5376全一卷。又稱斷際禪師語錄、黃檗希運禪師語錄。唐代僧黃檗希運撰。收於卍續藏第一一八冊古尊宿語錄卷二。編集希運參謁百丈懷海之機緣語要,以及上堂、示眾之法語問答等。本語錄之部分另又收於黃檗傳心法要之中,而與傳心法要同爲窺探臨濟宗祖師特殊風貌之禪籍。

hoàng bảng thức

5371禪院告知行事,以黃紙揭示,稱爲黃榜式。如敕修百丈清規祝釐章之中規定,於皇帝誕生日(天壽聖節),需設金剛無量壽道場,並於黃紙上書寫「今上皇帝聖壽萬歲」,署住持法號,貼於木片上,揭示於山門右側。 ; (黃榜式) Tờ yết thị được viết bằng giấy mầu vàng để thông báo các việc phải làm trong Thiền viện. Chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui nói: Vào ngày đản sinh của Hoàng đế (Thiên thọ thánh tiết) phải thiết lập đạo tràng Kim cương vô lượng thọ, đồng thời, viết dòng chữ Kim thượng Hoàng đế thánh thọ vạn tuế trên giấy vàng, ghi pháp hiệu của vị Trụ trì, rồi dán trên tấm gỗ, treo ở bên phải cổng chùa.

hoàng ca sa

5371黃色之袈裟。黃爲乾陀羅色,乃以乾陀羅樹皮爲染料所製。於部派佛教時代,各部所傳律典各異,較重要者有曇無屈多迦等五部之律,而其所主張之袈裟顏色亦不一,據舍利弗問經記載,如曇無屈多迦部爲赤色,薩婆多部爲皂色,迦葉維部著木蘭色,彌沙塞部著青色,摩訶僧祇部則用黃色。但青黃赤白黑於印度爲佛制所禁用之正色,黃之壞色本指黃濁色。然譯經者難示壞色之別,故仍以青黃赤等稱之。又西藏喇嘛教之黃派亦著黃衣。此外,黃衲指青黃之間色(黃褐)衣。據大宋僧史略卷上記載,江南一帶僧人多服黑色、赤色衣,偶或有著青黃間色衣,後皆稱黃衲爲觀音衲。〔大比丘三千威儀卷下〕 ; (黃袈裟) Ca sa mầu vàng. Vàng là mầu càn đà la, tức là dùng vỏ của cây càn đà la làm thuốc nhuộm để nhuộm áo ca sa. Nhưng về mầu áo ca sa, chủ trương của các bộ phái không giống nhau. Theo kinh Xá lợi phất vấn, thì Đàm vô khuất đa ca bộ dùng mầu đỏ, Tát bà đa bộ dùng mầu đen, Ca diếp di bộ dùng mầu mộc lan, Di sa tắc bộ dùng mầu xanh, Ma ha tăng kì bộ dùng mầu vàng. Nhưng ở Ấn độ, xanh, vàng, đỏ, trắng, đen là 5 mầu chính mà đức Phật cấm không được dùng, sắc hoại của mầu vàng vốn chỉ cho mầu vàng đục. Nhưng người dịch kinh khó có thể dùng chữ nào để chỉ cho mầu hoại sắc, nên vẫn gọi bằng xanh, vàng, đỏ, v.v... Hoàng phái thuộcLạt ma giáo Tây tạng cũng mặc áo mầu vàng. Ngoài ra, cứ theo Đại tống tăng sử lược quyển thượng, thì chư tăng ở Giang nam phần nhiều mặc áo mầu đen, mầu đỏ, thỉnh thoảng cũng có vị mặc áo mầu vàng sậm, được gọi là Hoàng nạp. Về sau, Hoàng nạp được gọi là Quan âm nạp. [X. Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.hạ].

Hoàng Chung

(黃鐘, 黃鍾): âm thanh đầu tiên thuộc về Dương trong 12 Luật của âm nhạc được quy định từ thời xưa của Trung Quốc, và cũng là tên gọi khác của tháng 11 Âm Lịch. Âm này tương đương với âm Nhất Việt (壱越, ichikotsu) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Trong A Di Đà Kinh Sớ Sao Sự Nghĩa (阿彌陀經疏鈔事義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 22, No. 425) có giải thích rõ rằng 6 âm thanh thuộc về Dương gồm Hoàng Chung (黃鍾), Thái Thốc (太簇), Cô Tẩy (姑洗), Nhuy Tân (蕤賓), Di Tắc (夷則) và Vô Xạ (無射); 6 âm thanh thuộc về Âm là Đại Lữ (大呂), Giáp Chung (夾鍾), Trọng Lữ (仲呂), Lâm Chung (林鐘), Nam Lữ (南呂) và Ưng Chung (應鍾). Từ đó có cụm từ Hoàng Chung hủy khí (黃鐘毀棄) ám chỉ người hiền bị bài xích, ruồng bỏ. Như trong bài Bốc Cư (卜居) của Khuất Nguyên (屈原, 340-278 ttl.) của nhà Sở thời Chiến Quốc có đoạn: “Hoàng Chung hủy khí, ngõa phữu lôi minh, sàm nhân cao trương, hiền sĩ vô danh (黃鐘毀棄、瓦缶雷鳴、讒人高張、賢士無名, Hoàng Chung đem bỏ, bụng rỗng kêu to, kẻ hèn lên mặt, người hiền không tên).” Hay trong Chuẩn Đề Tịnh Nghiệp (準提淨業, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1077) quyển 3 có câu: “Hoàng Chung thập nhất nguyệt luật, đắc Đông khí cố, ngưng âm băng đống (黃鐘十一月律、得冬氣故、凝陰冰凍, Hoàng Chung tháng Mười Một luật, vì có khí Đông, đất trời băng đóng).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 có giải thích về Hoàng Chung rằng: “Hoàng Chung giả, thị âm dương chi trung, nhược thiên hữu Lục Khí, giáng vi Ngũ Vị, thiên hữu Lục Giáp, địa hữu Ngũ Tý, tổng thập nhất, nhi thiên địa chi số tất hỉ, cố dĩ lục vi trung. Hoàng Chung giả, thị Lục Luật chi thủ, cố dĩ Hoàng Chung vi danh. Hoàng giả, thổ chi sắc, dương khí tại địa trung, cố dĩ Hoàng vi xưng. Chung giả, động dã, tụ dã; dương khí tiềm động ư huỳnh tuyền, tụ dưỡng vạn vật, manh nha tương xuất, cố danh Hoàng Chung dã (黃鍾者、是陰陽之中、若天有六氣、降爲五味、天有六甲、地有五子、總十一、而天地之數畢矣、故以六爲中、黃鍾者、是六律之首、故以黃鍾爲名、黃者、土之色、陽氣在地中、故以黃爲稱、鍾者、動也、聚也、陽氣潛動於黃泉、聚養萬物、萌芽將出、故名黃鍾也, Hoàng Chung là ở trong âm dương, nếu trời có Sáu Khí, giáng xuống thành Năm Vị, trời có Sáu Giáp, đất có Năm Tý, tổng cọng là mười một, là đủ hết số của trời đất vậy, nên lấy số sáu làm chính. Hoàng Chung là đứng đầu trong Sáu Luật, nên lấy Hoàng Chung làm tên. Hoàng [màu vàng] là sắc màu của đất, khí dương ở trong đất, cho nên lấy màu vàng mà gọi tên. Chung nghĩa là động, là tích tụ; khí dương ngầm chuyển động dưới Suối Vàng, tích tụ và nuôi dưỡng vạn vật, mầm non sẽ nhú ra, nên có tên là Hoàng Chung vậy).”

hoàng chung đại lữ thanh

5377黃鐘爲樂器,具有六律(陽聲)、六呂(陰聲)之基本音,其中大呂乃十二音中,最高、最美之音聲。「黃鐘大呂聲」一詞用於佛教典籍中,喻指佛法之奧旨。虛堂錄卷四(大四七‧一○一二中):「達磨祖師自西天歷十萬里水雲,而至此土,首對梁主奏以黃鐘大呂之聲。」 ; (黃鐘大呂聲) Hoàng chung (chuông vàng) là nhạc khí, có 12 âm cơ bản là 6 luật (tiếng dương) và 6 lã (tiếng âm), trong đó, Đại lã là âm thanh cao nhất, hay nhất. Trong kinh điển Phật giáo, từ ngữ Hoàng chung đại lã thanh được dùng để chỉ cho yếu chỉ sâu xa của Phật pháp. Hư đường lục quyển 4 (Đại 47, 1012 trung), chép: Tổ sư Đạt ma từ Tây thiên trải qua 10 vạn dặm đường mới đến Trung quốc, trước hết nói lời Hoàng chung đại lã với Lương Vũ đế .

hoàng cung

Imperial palace.

hoàng cân

Huan-chin (C), Yellow Turbans Huangjin (C)Tên một vị sư. Môn đồ của Thái bình đạo do Trương Giác thành lập.

hoàng công vĩ

5367(1908~ )河北定縣人。本名士學,號毅民,晚稱東雨軒主。燕京大學中文系畢業。曾留學日本東京帝國大學,並得碩士學位。氏早年即曾受學於梁啟超、湯用彤、許地山等諸賢,故於佛學頗具基礎。政府播遷以前,氏在大陸曾任職於國史館及報社。來臺後,先後於淡江、政大、輔仁、臺大等校講授哲學、佛學、宋明理學等課程。氏勤於著述,所撰諸書,除人生哲學、倫理學、理學等類之外,與佛學有關之著作,有印度哲學史話、印度佛學體系論史、中國佛學思想傳統史、佛學原理通釋等書。 ; (黃公偉) (1908- ) Người huyện Định, tỉnh Hà bắc, Trung quốc, vốn tên là Sĩ học, hiệu Nghị dân, về già lấy hiệu là Đông vũ hiên chủ. Ông tốt nghiệp khoa Trung văn trường Đại học Yên kinh, từng học tại Đại học Đế quốc ở Đông kinh (Tokyo), Nhật bản và đậu Thạc sĩ. Lúc còn trẻ, ông từng theo học các ông Lương khải siêu, Thang dụng đồng, Hứa địa sơn, v.v... nên rất có căn bản về Phật học. Ông từng giữ các chức vụ ở Quốc sử quán và Báo xã tại Trung quốc. Sau khi ra Đài loan, ông lần lượt dạy các chương trình Triết học, Phật học, Lí học Tống, Minh tại các trường Đạm giang, Chính đại, Phụ nhân, Đài đại, v.v... Ông còn dành nhiều thì giờ cho công việc soạn thuật. Các tác phẩm của ông gồm có: Ấn độ triết học sử thoại, Ấn độ Phật học thể hệ luận sử, Trung quốc Phật học tư tưởng truyền thống sử, Phật học nguyên lí thông thích.

Hoàng Công Vọng

(黃公望, 1269-1354): họa sĩ dưới thời nhà Nguyên, một trong 4 nhân vật vĩ đại cuối thời nhà Nguyên, hiệu là Đại Si Đạo Nhân (大癡道人). Ông có sở trường về tranh sơn thủy.

hoàng diện lão tử

5370指釋迦牟尼佛。又稱黃面瞿曇、黃面老、黃頭大士、黃頭老、黃面、黃老、黃頭。如來爲金色身,故有黃面之稱。又迦毘羅衛城,梵名 Kapilavastu,其中 Kapila 意爲黃色、黃赤色,vastu 意爲住所、城。故迦毘羅衛城之梵語意即迦毘羅仙、黃頭仙人之住居。以釋尊出生於該城,故稱其黃面老子。 禪宗多以此語表現訶佛罵祖之機法,如無門關世尊拈花條(大四八‧二九三下):「黃面老子誑謼閭閻,若道無傳授,爲甚蛱獨許迦葉?」〔翻譯名義集卷三〕 ; Chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vì toàn thân hình tượng của ngài tỏa ra màu vàng kim—Yellow-faced Lao-Tzu, i.e. Buddha, because his images are gold-colour. ; (黃面老子) Cũng gọi Hoàng diện Cù đàm, Hoàng diện lão, Hoàng đầu đại sĩ, Hoàng đầu lão, Hoàng diện, Hoàng lão, Hoàng đầu. Chỉ cho đức Phật Thích ca mâu ni. Thành Ca tì la vệ, tiếng Phạm là Kapilavastu, trong đó, Kapila nghĩa là mầu vàng (hoàng sắc),vastunghĩa là chỗ ở, là thành. Cho nên tiếng Phạm của thành Ca tì la vệ có nghĩa là chỗ ở của vị tiên Ca tì la, vị tiên Đầu vàng. Vì đức Thích tôn sinh ra ở thành này nên gọi là Hoàng diện lão tử (Ông già mặt vàng). Thiền tông thường dùng nhóm từ này để biểu hiện cơ pháp trách Phật mắng Tổ, như điều Thế tôn niêm hoa trong Vô môn quan (Đại 48, 293 hạ), nói: Hoàng diện lão tử dối gạt mọi người, nếu bảo không có truyền thụ, thì tại sao lại truyền riêng cho ngài Ca diếp? [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].

hoàng diệp

Còn gọi là Hoàng Diệp Chỉ Đề hay dùng lá vàng của cây dương làm vàng để dỗ khóc trẻ con. Dùng “Hoàng Diệp Chỉ Đề” để ví với việc Đức Phật thuyết giảng về lạc quả trên cõi trời để ngăn ngừa sự xấu ác của thế gian—Yellow willow leaves, resembling gold, given to children to stop their crying; the evanescent joys of the heavens offered by Buddha to curb evil.

hoàng diệp chỉ đề

5371乃譬喻如來爲度眾生所作之方便行。如來見眾生欲造諸惡時,即爲彼等說三十三天之常樂我淨,使聞者心生喜樂而勤作善業,斷止其惡。然此實乃生死,屬無常、無樂、無我、無淨,言「常樂我淨」者,係如來爲度眾生之方便言說。此如嬰兒啼哭時,父母以楊樹之黃葉爲金,予小兒以止其啼哭;然黃葉實非真金,乃父母之權便引設。又禪宗以「經論家」之說法,皆爲「空拳黃葉」之方便說,僅得以誑欺愚鈍者。〔北本大般涅槃經卷二十〕 ; See Hoàng Diệp. ; (黃葉止啼) Dùng chiếc lá vàng để dỗ đứa trẻ nín khóc. Ví dụ đức Như lai dùng phương tiện để hóa độ chúng sinh. Khi thấy chúng sinh tạo các nghiệp ác, Như lai liền nói về thường, lạc, ngã, tịnh ở cõi trời Ba mươi ba (Đao lợi thiên) cho họ nghe, khiến cho tâm họ sinh vui thích mà siêng năng làm các việc thiện, dứt trừ các nghiệp ác. Nhưng thực ra thì cõi trời Ba mươi ba vẫn còn trong vòng sinh tử, thuộc về vô thường, vô lạc, vô ngã, bất tịnh, mà nói là thường, lạc, ngã, tịnh thì đó chỉ vì hóa độ chúng sinh mà Như lai phương tiện nói thế thôi. Việc này cũng giống như lúc đứa trẻ khóc, cha mẹ lấy chiếc lá vàng(hoàng diệp) của cây dương cho đứa trẻ để nó nín khóc(chỉ đề). Nhưng thực ra lá vàng chẳng phải là vàng thật, mà chỉ là chiếc lá phương tiện tạm thời cha mẹ dùng để dụ dỗ đứa trẻ nín khóc. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.20 (bản Bắc)].

hoàng dương mộc thiền

5371禪林用語。禪宗呵罵鈍漢久參而不悟之語。俗謂黃楊木成長至遲,若遇閏年則反縮一寸;以此諷喻參禪者之滯著,以其年久不悟,一如黃楊木之倒縮回去。〔大慧禪師普說卷下、本草綱目卷三十六〕 ; Cây hoàng dương là một loại cây rất khó trồng, hơn nữa khi gặp năm nhuần thì nó co lại, cho nên từ “Hoàng Dương Mộc Thiền” được dùng để ám chỉ những kẻ tham thiền thối chuyển và đần độn—The yellow poplar meditation. The yellow poplar grows slowly, and in years with intercalary months is supposed to recede in growth; hence the term refers to the backwardness, or decline of stupid disciples. ; (黃楊木禪) Thiền cây hoàng dương. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây hoàng dương rất chậm lớn, nếu gặp năm nhuận thì nó lại co lại một tấc. Trong Thiền tông, từ ngữ này được dùng để quở trách người độn căn tham thiền đã lâu mà chẳng ngộ, cũng giống như cây hoàng dương chậm lớn. [X. Đại tuệ thiền sư phổ thuyết Q.hạ; Bản thảo cương mục Q.36].

hoàng gia

The imperial (royal) family.

hoàng giáo

See Hoàng Mạo Giáo.

hoàng giáo - huỳnh giáo

Geloups-pas (Tib). Yellow hat sect.

Hoàng Hà

(黃河): xem Hoàng Thủy (黃水) bên dưới.

Hoàng hành

(璜珩): hay hành hoàng (珩璜); hành (珩) là viên ngọc đeo ở trên, hoàng (璜) là viên đeo bên dưới. Như trong bài Tây Dịch Cáo Từ (西掖告詞), phần Tằng Tổ Mẫu Lý Thị Yến Quốc (曾祖母李氏燕國), của Tô Triệt (蘇轍, 1039-1112) nhà Tống có câu: “Hành hoàng chi tiết, động tất dĩ thời (珩璜之節、動必以時, nhịp điệu ngọc trên dưới, động tất theo thời gian).” Hay trong bài thơ Trừ Tịch Tả Hoài (除夕寫懷) của Huệ Sĩ Kỳ (惠士奇, 1671-1741) nhà Thanh cũng có câu: “Cung cung giai tiên hậu, tạp bội minh hành hoàng (匔匔偕先後、雜珮鳴珩璜, kính cẩn theo sau trước, ngọc bội reo dưới trên).”

hoàng hôn

Evening.

Hoàng Khánh

(皇慶, Kōgei, 977-1049): vị học tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Bình An, tổ của Dòng Cốc (谷流), húy Hoàng Khánh (皇慶), thông xưng là Cốc A Xà Lê (谷阿闍梨), Đơn Ba A Xà Lê (丹波阿闍梨), Trì Thượng A Xà Lê (池上阿闍梨), hiệu Biến Chiếu Kim Cang (遍照金剛), thụy hiệu là Từ Ứng (慈應), xuất thân kinh đô Kyōto. Năm 983, ông lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), theo học Thai Mật với Tĩnh Chơn (靜眞) của Pháp Hưng Viện (興法院) ở Đông Tháp, rồi đi du hóa khắp các tiểu quốc và trong khoảng thời gian niên hiệu Trường Đức (長德, 995-999), tiến hành pháp Phổ Hiền Diên Mạng (普賢延命) tại vùng Y Do (伊予, Iyo) cho vị quan Kami là Đằng Nguyên Tri Chương (藤原智章). Sau ông theo học Đông Mật với Cảnh Vân (景雲) ở Bối Chấn Sơn (背振山), Trúc Tiền (筑前, Chikuzen). Trong khoảng thời gian niên hiệu Vạn Thọ (萬壽, 1024-1028), ông đến trú trì Đại Nhật Tự (大日寺) ở vùng Trì Thượng (池上, Ikegami), Đơn Ba (丹波, Tamba), được vị quan Kami là Đằng Nguyên Nguyên Chương (藤原源章) trọng dụng và trở thành A Xà Lê (阿闍梨). Pháp lưu của ông được gọi là Dòng Cốc, đời sau rất hưng thạnh. Trước tác của ông có Quán Đảnh Tùy Yếu Ký (灌頂隨要記) 2 quyển, Thai Tạng Đạo Tràng Quán Tư Ký (胎藏道塲觀私記) 1 quyển, v.v.

hoàng khánh

3894(977~1049)日本天台宗僧。初於比叡山修學,其後居於丹波池上之大日寺,專心研究台密,稱爲谷流,門下有三十餘人。永承四年於東塔示寂,世壽七十三。著有灌頂隨要記、胎藏道場觀私記、護摩私記等。 ; (皇慶) (977-1049) Vị tăng Nhật bản thuộc tông Thiên thai. Mới đầu, sư tu học tại núi Tỉ duệ, về sau sư đến ở chùa Đại nhật gần hồ Đan ba, chuyên nghiên cứu Thai mật, đệ tử có hơn 30 người. Năm Vĩnh thừa thứ 4 (1049), sư tịch ở Đông tháp, thọ 73 tuổi. Sư có các tác phẩm: Quán đính tùy yếu kí, Thai tạng đạo tràng quán tư kí, Hộ ma tư kí.

hoàng kim

The yellow metal (gold).

hoàng kim trạch

5369即指伽藍。昔印度之須達長者欲購買祇陀太子之園林,以建造精舍。太子戲言若以黃金舖滿園地,即售之。長者即依言以象馱金舖地,太子感其誠摯,遂獻園地,由長者興建祇園精舍。故以黃金宅稱伽藍。〔祖庭事苑卷三〕 ; Tên gọi ngôi già lam từ sự tích trưởng giả Tu Đạt đem vàng phủ đầy vườn Kỳ Thọ để mua nó, xây dựng tịnh xá và hiến cho Đức Phật—Golden abode, i.e. a monastery, so called after the Jetavana vihara, for whose purchase the site was covered with gold. ; (黃金宅) Nhà vàng, tức chỉ cho già lam. Thủa xưa, ở Ấn độ, trưởng giả Tu đạt muốn mua khu vườn cây của thái tử Kì đà để xây cất tinh xá cúng dường đức Phật. Thái tử nói đùa rằng nếu Trưởng giả có đủ vàng trải khắp mặt đất trong vườn thì mới chịu bán. Trưởng giả liền y lời, dùng voi chở vàng đến trải khắp mặt đất. Thái tử Kì đà rất cảm kích trước tấm lòng thành của Trưởng giả, cho nên hiến cúng đất vườn, được Trưởng giả xây dựng thành tinh xá Kì viên. Vì thế nên già lam được gọi là Hoàng kim trạch. [X. Tổ đình sự uyển Q.3].

hoàng kim đảm tử thiên quân trọng

5369禪林用語。譬喻悟道者之氣勢有如千鈞重,其所發出之光輝,亦如黃金一般璀璨。虛堂錄卷九(大四七‧一○五五上):「僧云:『世尊云:吾有正法眼藏,分付摩訶大迦葉。此意又作蛱生?』師云:『黃金擔子千鈞重。』」 ; (黃金擔子千鈞重) Người gánh vàng ròng nặng nghìn quân (1 quân = 20 kg). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thiền tông dùng từ ngữ này để ví dụ cái khí thế mạnh mẽ của người ngộ đạo, ánh sáng của người ấy phát ra cũng rực rỡ như vàng ròng. Hư đường lục quyển 9 (Đại 47, 1055 thượng), ghi: Tăng hỏi: Đức Thế tôn nói: Ta có chính pháp nhãn tạng, nay phó chúc cho Ma ha ca diếp, ý này như thế nào? Sư đáp: Người gánh vàng ròng nặng nghìn quân (Hoàng kim đảm tử thiên quân trọng) .

hoàng liên

Uppala (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili Xem Câu vật đầu.

Hoàng Long Huệ Nam

(黃龍慧南, Ōryū Enan, 1002-1069): vị tổ sư khai sáng ra Phái Hoàng Long của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người Huyện Ngọc Sơn (玉山), Tín Châu (信州, Tỉnh Giang Tây), họ là Chương (章). Năm lên 11 tuổi, ông theo xuất gia với Trí Loan (智鑾) ở Hoài Ngọc Định Thủy Viện (懷玉定水院), rồi năm 19 tuổi thì thọ giới Cụ Túc. Ban đầu ông đến tham vấn Tự Ngọc (自玉) ở Quy Tông Tự (歸宗寺) trên Lô Sơn (廬山), rồi Trừng Thị (澄諟) ở Thê Hiền Tự (棲賢寺), và Hoài Trừng (懷澄) ở Tam Giác Sơn (三角山, Tỉnh Hồ Bắc). Sau đó, ông theo học với Vân Phong Văn Duyệt (雲峰文悅), đã từng vào tham vấn trong thất của Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓), cuối cùng nhân nghe câu chuyện lão bà của Triệu Châu (趙州) mà đại ngộ. Lúc ấy ông 35 tuổi, từ đó trở đi ông đi tham học khắp chốn Thiền lâm. Sau khi trở về lại Quy Tông Tự, gặp phải lúc chùa bị hỏa tai, ông bị hạch tội và bị tống giam vào ngục thất. Sau khi được tha tội, ông lui về ẩn cư ở Hoàng Bá. Sau đó, ông chuyển đến Hoàng Long Sơn (黃龍山) ở Phủ Long Hưng (隆興府), và nỗ lực cử xướng tông phong của mình. Chính trong khoảng thời gian này, công án được sử dụng rất rộng rãi trong Thiền lâm như là phương tiện để tiếp độ môn đồ. Tông phong của ông mở rộng đến tận trung tâm Hồ Nam (湖南), Hồ Bắc (湖北), và Giang Tây (江西). Về sau phái này được gọi là Phái Hoàng Long. Vào ngày 17 tháng 3 năm thứ 2 (1069) niên hiệu Hy Ninh (熙寧), ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Phổ Giác Thiền Sư (普覺禪師). Có một số tác phẩm của ông như Hoàng Long Nam Thiền Sư Ngữ Lục (黃龍南禪師語錄) 1 quyển, Hoàng Long Nam Thiền Sư Ngữ Yếu (黃龍南禪師語要) 1 quyển, Hoàng Long Nam Thiền Sư Thư Xích Tập (黃龍南禪師書尺集) 1 quyển. Đệ tử của ông có Hối Đường Tổ Tâm (晦堂祖心), Bảo Phong Khắc Văn (寳峰克文). ; 黃龍慧南; C: huánglóng huìnán; J: ōryo e'nan; 1002-1069;|Thiền sư Trung Quốc, Khai tổ hệ phái Hoàng Long thuộc tông Lâm Tế. Sư là môn đệ xuất sắc của Thiền sư Thạch Sương Sở Viên (Từ Minh). Kế thừa Sư có hai vị danh tiếng, đó là Hối Ðường Tổ Tâm và Bảo Phong Khắc Văn.|Sư họ Chương tên Huệ Nam, quê ở Học Sơn Tín Châu. Thuở bé đã thâm trầm, có tướng đại nhân, không ăn thịt cá. Năm 11 tuổi, Sư xuất gia học với nhiều thầy nhưng sau nhiều năm tu luyện vẫn còn mù mịt. Một hôm, có vị Thiền sư tên Vân Phong Văn Duyệt đến bảo Sư: »Thiền sư Hoài Trừng tuy là con cháu Vân Môn nhưng pháp đạo còn khác xa Vân Môn.« Sư hỏi: »Khác ở chỗ nào?« Văn Duyệt đáp: »Vân Môn như đơn sa đã chín phen luyện, để vào sắt liền biến thành vàng; Hoài Trừng như dược hống ngân, nhìn thấy đẹp mắt mà để vào lò liền chảy.« Nghe thầy mình bị chê Sư nổi giận cầm chiếc gối ném Văn Duyệt. Văn Duyệt xin lỗi lại nói: »Chí khí Vân Môn như vua, cam chịu ngữ tử sao? Hoài Trừng có pháp dạy người là tử ngữ. Tử ngữ mà hay làm người sống được sao?« Nói xong Văn Duyệt bỏ đi. Sư kéo lại nói: »Nếu vậy thì ai hợp ý thầy?« Văn Duyệt bảo: »Thạch Sương Sở Viên thủ đoạn vượt cả mọi nơi, thầy muốn yết kiến thì không nên chậm trễ.« Sư bèn khăn áo lên đường. Ði giữa đường, Sư nghe đồn Thạch Sương mỗi việc đều lừa đảo thiền sinh, liền thối chí không đến Thạch Sương, ở lại chùa Phúc Nghiêm giữ chức thư kí, học nơi Thiền sư Hiền. Chợt Thiền sư Hiền tịch, quận thú mời Thạch Sương đến trụ trì. Nghe Thạch Sương luận nói chê các nơi mỗi điều thuộc tà giải, Sư nhớ lại lời của Văn Duyệt lúc bình nhật rất đúng, bèn thay đổi quan niệm, tự nhủ: »Ðại trượng phu thâm tâm nghi ngờ hoài sao?«|Sư đến Thạch Sương cầu xin yếu chỉ. Thạch Sương cười bảo: »Thư kí lĩnh đồ chúng và du phương, nếu còn có nghi ngờ thì chẳng cần phải khổ cầu như vậy, hãy ngồi mà thương lượng.« Thạch Sương gọi thị giả đem ghế mời ngồi. Sư từ chối và thành khẩn yêu cầu chỉ dạy. Thạch Sương hỏi: »Thư kí học thiền Vân Môn ắt thông được yếu chỉ ấy. Như nói: ›Tha Ðộng Sơn ba gậy.‹ Ðộng Sơn khi ấy nên đánh hay chẳng nên đánh?« Sư thưa: »Nên đánh.« Thạch Sương nghiêm nghị bảo: »Nghe tiếng ba gậy liền cho là nên ăn gậy, vậy ông từ sáng đến chiều nghe chim kêu trống đánh… cũng nên ăn ba gậy. Ăn gậy đến lúc nào mới thôi?« Sư nghe vậy chẳng biết nói gì, Thạch Sương lại bảo: »Ta lúc đầu nghi không thể làm thầy ông, giờ đây đã đủ tư cách. Ông hãy lễ bái đi.« Sư lễ bái xong đứng dậy. Thạch Sương nhắc lời trước: »Triệu Châu thường nói: ›Bà già ở Ðài Sơn bị ta khám phá.‹ Nếu ông hội được ý chỉ Vân Môn thì thử chỉ chỗ khám phá xem?« Sư mặt nóng hực, mồ hôi toát ra, không biết đáp thế nào, bị Thạch Sương đuổi ra. Hôm sau, Sư lại vào thất, bị Thạch Sương mắng chửi tiếp. Sư hổ thẹn, nhìn những người hai bên nói: »Chính vì chưa hiểu câu quyết nghi, mắng chửi đâu phải là quy củ từ bi thí pháp.« Thạch Sương cười nói: »Ðó là mắng chửi sao?« Nhân câu này, Sư đại ngộ, tất cả kiến chấp đều tan vỡ. Năm ấy Sư được 35 tuổi.|Sư ở trong thất thường hỏi tăng ba câu, được người sau gọi là Hoàng Long tam quan ngữ:|1. »Người người trọn có sinh duyên, Thượng toạ sinh duyên chỗ nào?«;|2. Lúc vấn đáp qua lại, Sư duỗi tay nói: »Tay ta sao giống tay Phật?«;|3. Hỏi chỗ sở đắc của các vị tông sư, Sư liền duỗi chân nói: »Chân ta sao giống chân lừa?« |Sư lấy ba câu này hỏi hơn ba mươi năm. Nếu có người đáp thì Sư không nói phải chẳng phải, khép mắt ngồi thẳng, không ai lường ý. Có người hỏi lí do, Sư đáp: »Ðã ra khỏi cửa thì lay tay đi thẳng, chẳng cần biết có kẻ gác cửa. Từ người gác cửa hỏi phải chẳng phải, ấy là người chưa qua khỏi cửa vậy.«|Sư trụ tại Hoàng Long, môn đệ tấp nập. Ðến niên hiệu Hi Ninh năm thứ hai, ngày 17 tháng 3, Sư thị tịch, thọ 68 tuổi, được 50 tuổi hạ.

hoàng long huệ nam

Huang lung Huinan (C), Ōryō Enan (J)(1002-1069) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Thạch Sương Sở Viên, dòng thiền Lâm tế. Dòng thiền của ngài là dòng thiền đầu tiên được lưu truyền sang Nhật bản vào thế kỳ thứ 12.

hoàng long huệ nam thiền sư

Zen Master Huang-Lung-Hui-Nan—See Huệ Nam Hoàng Long Thiền Sư.

hoàng long huệ nam thiền sư ngữ lục

5373全一卷。南宋惠泉編集。係集錄黃龍派宗祖黃龍慧南之語要、偈頌等。收於大正藏第四十七冊。內容首爲黃龍初住於同安崇勝禪院之上堂語十一條,次爲遷住歸宗寺語錄十三條、筠州黃檗山法語十四條、黃龍山語錄十四條,並包括四十首偈頌。語要中亦收錄藥山、南嶽懷讓、石頭、雲門、大顛、嚴陽、臨濟、德山、鏡清、泐潭、永嘉、龐居士、大珠等古德之說。 此外,惠泉又編集黃龍四家之語錄。收於卍續藏第一二○冊。四家依序爲:上述之黃龍慧南禪師語錄、慧南法嗣晦堂祖心之寶覺祖心禪師語錄、祖心法嗣死心悟新之死心悟新禪師語錄、悟心法嗣禾山慧方之超宗慧方禪師語錄。編者九頂惠泉與禾山慧方係屬同門,卷首附紹興十一年(1141)錢密撰之黃龍四家語錄序。 又日本京都建仁寺兩足院高峰東晙自續燈錄、聯燈會要、嘉泰普燈錄、續古尊宿語要、禪門拈頌集、永平廣錄、無示介諶禪師語錄等書中,集錄慧南語要五十餘條,並自嘉泰普登錄、五燈會元、林間錄、雲臥紀譚諸書中,集錄十二首偈頌,編爲黃龍慧南禪師語錄續補,收載於卍續藏第一二○冊及附載於大正藏第四十七冊慧南語錄之末。 ; (黃龍慧南禪師語錄) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Huệ tuyền biên tập vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung trước hết thu chép các pháp ngữ thướng đường 11 điều của ngài Hoàng long Tuệ nam lúc ngài ở Thiền viện Đồng An Sùng Thắng, kế đến là ngữ lục 13 điều khi ngài dời đến ở chùa Qui tông; pháp ngữ 14 điều lúc ở núi Hoàng bá tại Quân châu, ngữ lục 14 điều ở núi Hoàng long và 40 bài kệ tụng. Trong phần ngữ yếu cũng có thu chép pháp ngữ của các ngài: Nam nhạc Hoài nhượng, Thạch đầu, Vân môn, Đại điên, Nghiêm dương, Lâm tế, Đức sơn, Kính thanh, Lặc đàm, Vĩnh gia, Bàng uẩn, Đại châu, v.v... Ngoài ra, ngài Đông tuấn ở núi Cao phong, viện Lưỡng túc, chùa Kiến nhân tại kinh đô (Kyoto) Nhật bản còn biên tập Hoàng long Tuệ nam thiền sư ngữ lục tục bổ , được thu vào Vạn tục tạng tập 120, đồng thời được chép vào phần cuối của Tuệ nam ngữ lục trong Đại chính tạng tập 47. Nội dung thu chép 12 bài kệ tụng của ngài Tuệ nam từ Gia thái phổ đăng lục, Ngũ đăng hội nguyên, Lâm gian lục và Vân ngọa kỉ đàm.

Hoàng Long Ngộ Tân

(黃龍悟新, Ōryū Goshin, 1043-1114): vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Tử Tâm (死心), họ là Hoàng (黃), người Khúc Giang (曲江), Tỉnh Quảng Đông (廣東省). Ông theo Đức Tu (德修) ở Phật Đà Viện (佛陀院) xuống tóc xuất gia và thọ giới. Sau ông du hành các nơi, đến năm thứ 8 (1075) niên hiệu Hy Ninh (熙寧), ông đến Hoàng Long Tự (黃龍寺), tham yết Hối Đường Tổ Tâm (晦堂祖心), được ấn khả và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông tiếp tục vân du đây đó, đến năm thứ 7 (1092) niên hiệu Nguyên Hựu (元祐), ông bắt đầu ra mặt hoạt động ở Vân Nham (雲巖), và mãi cho đến đầu niên hiệu Chính Hòa (政和, 1111-1118), ông về sống tại Hoàng Long. Vào ngày 14 tháng 12 năm thứ 4 (1114) cùng niên hiệu trên, ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 46 hạ lạp.

Hoàng Long Phái

(黃龍派, Ōryū-ha): một phái trong Ngũ Gia Thất Tông của Thiền Trung Quốc. Đến giữa thời Bắc Tống, trong Lâm Tế Tông của Trung Quốc có xuất hiện hai nhân vật kiệt xuất thuộc môn hạ của Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓) là Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) và Dương Kì Phương Hội (楊岐方會) từ đó làm cho Tông này hưng thạnh lên. Vào năm thứ 3 (1036) niên hiệu Cảnh Hựu (景祐), Huệ Nam đến trú tại Hoàng Long Sơn (黃龍山) thuộc Phủ Long Hưng (隆興府, Tỉnh Giang Tây ngày nay), nỗ lực làm cho Thiền phong hưng hiển, rồi dần dần môn hạ của ông có những nhân vật nổi danh ra đời như Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文), Đông Lâm Thường Thông (東林常聰), Hối Đường Tổ Tâm (晦堂祖心), v.v.; ông mở rộng giao tiếp với tầng lớp văn nhân sĩ phu đương thời, lập thành một phái riêng biệt lấy Tỉnh Triết Giang làm trung tâm hoạt động truyền bá, và dần dần được gọi là Hoàng Long Phái. Chính những người trong Hoàng Long Phái này đã cống hiến rất lớn trong việc thành lập Đại Tạng Kinh bản đời Tống. Sau đó, môn hạ của Chơn Tịnh Khắc Văn còn có Đâu Suất Tùng Duyệt (兜率從悅), Lặc Đàm Văn Chuẩn (泐潭文準), Huệ Nhật Văn Nhã (慧日文雅), v.v. Còn đệ tử của Hối Đường Tổ Tâm thì có Tử Tâm Ngộ Tân (死心悟新), Linh Nguyên Duy Thanh (靈源惟清), Lặc Đàm Thiện Thanh (泐潭善清), v.v. Vinh Tây của Nhật Bản sang Tống cầu pháp, đến tham yết Hư Am Hoài Sưởng (虛庵懷敞), kế thừa dòng pháp của vị này, và lần đầu tiên truyền thừa dòng Thiền của Hoàng Long Phái sang Nhật Bản. Tông Lâm Tế thì hưng thạnh một cách áp đảo ở vùng Nam Tống, còn Hoàng Long Phái thì dần dần đi đến suy thối.

Hoàng Long phái

黃龍派; C: huánglóng-pài; J: ōryo-shū;|Một trong hai nhánh được phân ra sau Thiền Sư Thạch Sương Sở Viên trong tông Lâm Tế do Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam khai sáng. Nhánh thứ hai là phái Dương Kì do Dương Kì Phương Hội Thiền sư sáng lập (Ngũ gia thất tông).|Hoàng Mai Hoằng Nhẫn|黃梅弘忍; C: huángméi hóngrěn; J: ōbai gunin; |Ngũ tổ Hoằng Nhẫn

hoàng long phái

5373[1] 【黃龍四家錄→】請參閱 四家語錄 請參閱 寶覺祖心禪師語錄 [1]請參閱 寶覺祖心禪師語錄爲臨濟禪之支派。禪宗五家七宗之一。又稱黃龍宗。以黃龍慧南(1002~1069)爲宗祖。慧南爲臨濟宗第七祖石霜楚圓之門下,於宋景祐三年(1036)住江西隆興黃龍山,盛弘教化,遂成黃龍派。石霜接化手段一向峻嚴毒辣,慧南得其骨髓,亦有嚴厲之風。其時楊岐方會亦爲石霜門下俊傑,別開楊岐一派;或以龍喻慧南,以虎喻楊岐方會。慧南常設生緣、佛手、驢腳三轉語勘辨學者,世稱黃龍三關。入南宋後,楊岐派隆盛,黃龍派日漸衰頹。 黃龍會下有真淨克文、東林常總、晦堂祖心等,與文人、士大夫頗有交往。宋版大藏經之成立,黃龍派出力甚多。克文門下有兜率從悅、泐潭文準、慧日文雅等;祖心門下有死心悟新、靈源惟清、泐潭善清等。宋淳熙十三年(1186),日僧明菴榮西來我國,受學於此派之虛菴懷敞,歸國之後,開日本臨濟宗建仁寺一派,成爲日本禪宗二十四流中之黃龍派。〔禪林僧寶傳卷二十二、五燈會元卷七、禪宗正脈卷九〕(參閱「黃龍三關」5372) ; Huang-lung p'ai (C), Ōryō-ha (J)Tên một tông phái do Hoàng Long Huệ Nam sáng lập. ; (黃龍派) Cũng gọi Hoàng long tông. Chi phái của tông Lâm tế, do thiền sư Hoàng long Tuệ nam (1002-1069) khai sáng. Thiền sư Tuệ nam là học trò của ngài Thạch sương Sở viên, Tổ thứ 7 của tông Lâm tế. Vào năm Cảnh hựu thứ 3 (1036), sư đến ở núi Hoàng long, huyện Long hưng, tỉnh Giang tây, mở rộng việc giáo hóa, bèn trở thành Tổ khai sáng phái Hoàng long. Sự tiếp hóa của ngài Thạch sương rất nghiêm khắc, sư Tuệ nam thấu hiểu được phương pháp của ngài nên cũng có phong cách như thế. Bấy giờ, sư Dương kì Phương hội cũng là học trò của ngài Thạch sương, sáng lập phái Dương kì; người đương thời dụ sư Hoàng long Tuệ nam là rồng và dụ sư Dương kì Phương hội là hổ. Đệ tử của sư Hoàng long có các vị: Chân tịnh Khắc văn, Đông lâm Thường tổng, Hối đường Tổ tâm, v.v... Học trò của Khắc văn thì có: Đâu suất Tòng duyệt, Lặc đàm Văn chuẩn, Tuệ nhật Văn nhã, v.v...; Học trò của Tổ tâm có: Tử tâm Ngộ tân, Linh nguyên Duy thanh, Lặc đàm Thiện thanh, v.v... Phái Hoàng long đã đóng góp rất nhiều công sức vào việc thành lập Đại Tạng Kinh bản đời Tống. Vào thời Nam Tống, phái Dương kì hưng thịnh, còn phái Hoàng long thì mỗi ngày một suy vi dần. Đến năm Thuần hi 13 (1186) đời Tống, có vị tăng Nhật bản là Minh am Vinh tây đến Trung quốc, theo học nơi Hư am Hoài xưởng của phái này. Sau khi trở về nước, sư Vinh tây mở ra một phái Hoàng long tại chùa Kiến nhân thuộc tông Lâm tế Nhật bản, thành là một trong 24 dòng phái của Thiền tông Nhật bản. [X. Thiền lâm tăng bảo truyện Q.22; Ngũ đăng hội nguyên Q.7; Thiền tông chính mạch Q.9]. (xt. Hoàng Long Tam Quan).

hoàng long sơn

5372又稱輔山。位於江西修水縣西。相傳山頂有一黃龍,能呼風喚雨,故稱黃龍山。唐代誨機開山,宋代慧南嘗住此廣弘禪法,成立黃龍派。其後祖心、悟新、惟清、智明、德逢、道震、法忠等相繼住此,宗風頗盛,歷時一百五十餘年,法統始告衰絕。山中有黃龍院,一名永安寺。今存有慧南、祖心二師之塔。〔禪林僧寶傳卷二十二、卷二十九、五燈會元卷十七、卷十八、卷二十、古今圖書集成職方典第八四八〕 ; (黃龍山) Cũng gọi Phụ sơn. Núi nằm về phía tây huyện Tu thủy, tỉnh Giang tây, tương truyền ở trên đỉnh núi có con rồng mầu vàng hay làm gió làm mưa, nên gọi là núi Hoàng long (núi rồng vàng). Ngài Hối cơ đời Đường khai sơn làm chùa, ngài Tuệ nam đời Tống hoằng dương Thiền pháp ở đây và thành lập phái Hoàng long. Về sau, các ngài Tổ tâm, Ngộ tân, Duy thanh, Trí minh, Đức phùng, Đạo chấn, Pháp trung, v.v... nối tiếp nhau trụ trì nơi này, khiến cho tông phong phái Hoàng long hưng thịnh, sau hơn 150 năm sự truyền thừa pháp mạch mới cáo chung. Trong núi có viện Hoàng long, cũng gọi là chùa Vĩnh an. Hiện nay còn 2 ngôi tháp của các ngài Tuệ nam và Tổ tâm. [X. Thiền lâm tăng bảo truyện Q.22, Q.29; Ngũ đăng hội nguyên Q.17, Q.18,Q.20; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển 848].

hoàng long tam quan

5372臨濟宗黃龍派之祖黃龍慧南每設「生緣」、「佛手」、「驢腳」三問,以接化學人,稱爲黃龍三關。據頌古聯珠通集卷三十八載,一問(卍續一一五‧二四三上):「人人盡有生緣,上座生緣在何處?」正當問答交鋒,卻復伸手問:「我手何似佛手?」又問諸方參請宗師所得,卻復垂腳問:「我腳何似驢腳?」黃龍平生發此三問,以試學人,三十餘年無人能契合其要旨。天下叢林稱之爲黃龍三關。 此三問係黃龍用以消除行者對於「相對差別相」之迷執。意指人人皆因前世因緣轉生而來,無法超脫業報輪迴之軌則;人之心性與佛相同,皆有成佛之可能;人與其他眾生,於本質上皆無二致,既能共同輪迴六道,亦能覺悟成佛。又黃龍自作之頌,亦詳載於頌古聯珠通集卷三十八。〔續傳燈錄卷七、宗門統要續集卷十一、五燈會元卷十七黃龍慧南章、人天眼目卷二〕 ; (黃龍三關) Ba câu hỏi do Tổ của phái Hoàng long thuộc tông Lâm tế là ngài Tuệ nam đặt ra để tiếp hóa người học, gọi là Hoàng long tam quan (ba cửa ải của Hoàng long). Cứ theo Tụng cổ liên châu thông tập quyển 38 (Vạn tục 115, 243 thượng), thì 3 câu hỏi về Sinh duyên, Phật thủ, Lư cước như sau: Câu 1: Mọi người đều có chỗ thụ sinh (Sinh duyên), vậy chỗ thụ sinh của Thượng tọa ở đâu? Câu 2: Tay tôi sao giống tay Phật (Phật thủ)?Câu 3: Chân tôi sao giống chân lừa (Lư cước)? Ngài Hoàng long dùng 3 câu hỏi trên đây để xét nghiệm khả năng của người học. Vậy mà trong hơn 30 năm không có ai khế hợp được yếu chỉ của ngài. Vì thế nên Thiền lâm gọi đó là Hoàng long tam quan. [X. Tục truyền đăng lục Q.7; Tông môn thống yếu tục tập Q.11; chương Hoàng long Tuệ nam trong Ngũ đăng hội nguyên Q.17; Nhân thiên nhãn mục Q.2].

hoàng long thang

Dragon soup—See Long Thang.

hoàng long thiền sư

Zen Master Hoàng Long (?-1737)—Thiền sư Hoàng Long, quê ở Bình Định, Trung Việt. Hầu hết cuộc đời ngài hoằng hóa ở Hà Tiên, Nam Việt. Ngài thị tịch năm 1737—A Vietnamese Zen Master from Bình Định, Central Vietnam. He spent most of his life to expand the Buddha Dharma in Hà Tiên, South Vietnam. He passed away in 1737.

hoàng long tứ gia ngữ lục

(黄龍四家語錄) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Huệ Tuyền biên tập, được thu vào Vạn tục tạng tập 120. Nội dung ghi chép ngữ lục của 4 vị Tổ phái Hoàng long theo thứ tự như sau: Hoàng long Tuệ nam thiền sư ngữ lục của Sơ tổ Tuệ nam. Bảo giác Tổ tâm thiền sư ngữ lục của ngài Hối đường Tổ tâm, đệ tử nối pháp của ngài Tuệ nam. Tử tâm Ngộ tân thiền sư ngữ lục của ngài Tử tâm Ngộ tân đệ tử nối pháp của ngài Tổ tâm. Siêu tông Tuệ phương thiền sư ngữ lục của ngài Hòa sơn Tuệ phương, đệ tử nối pháp của ngài Ngộ tân. Ở đầu quyển Hoàng long tứ gia ngữ lục này có bài tựa do ông Tiền mật soạn vào năm Thiệu hưng 11 (1141).

hoàng long tử tâm ngộ tân thiền sư

See Ngộ Tân Tử Tâm Thiền Sư.

hoàng long tự

3894位於韓國慶尚北道慶州市之古寺。又稱黃龍寺。新羅真興王十四年(553)二月,於月城之東營建新宮,適有黃龍顯瑞而改爲寺,勅名皇龍寺,經十七年方成。有一巨船從印度來泊,上貢造佛材料,黃鐵五萬七千斤、黃金三萬分,遂鑄成丈六釋迦三尊像,安於寺內。真平王六年(584),金堂落成。三十五年秋,隋使來賀,於其寺設百講座,迎請圓光等高僧講經。又善德王十二年(643),慈藏遊參唐朝歸國,王請其在皇龍寺營建九層塔,以祈降伏鄰國,王祚永安,善德王十四年(645)完成,塔心柱內安奉慈藏於我國五臺山所感得之佛陀舍利六粒。九層塔之鐵盤以上高十四點五公尺,鐵盤以下則有五十八點六公尺。景德王十三年(754),孝貞伊王三毛夫人施捨鑄鐘一口,長三點三公尺,厚約三公寸。九層塔嘗幾度遭雷火破損,然均留意重修,迨至高宗二十五年(1238)閏四月,蒙古兵將寺塔及丈六殿等燒毀,寺運遂衰。佛殿後存有高約二公尺之迦葉佛宴坐石。其後沿革不詳。今僅存遺址。〔三國遺事卷三、高麗史卷四、卷十、卷二十三〕 ; Hoàng Long Tự thuộc tỉnh Giang Tây. Sở dĩ được gọi tên Hoàng Long vì tương truyền ngài Tuệ Nam đã nhìn thấy rồng vàng bay lên trên sông kế cạnh—Huang-Lung, the Yellow Dragon monastery in Jiang-Si province. So called because people said that Hui-Nan saw a yellow dragon arose from the river nearby.

hoàng lão

5368係黃帝與老子之合稱。東漢時代道家思想流行,道教徒爲賦予老子權威,故將其與黃帝結合。其後,佛教傳播於我國,亦曾藉用黃老思想來解釋佛教義理。故有將佛陀與老子一起並祀者。 ; (黃老) Từ gọi chung Hoàng đế và Lão tử. Tại Trung quốc, vào thời đại Đông Hán, tư tưởng Đạo gia thịnh hành, tín đồ Đạo giáo tôn sùng quyền uy của Lão tử nên kết hợp Lão tử với Hoàng đế. Về sau, Phật giáo truyền bá ở Trung quốc, nhất là vào giai đoạn đầu, các sư cũng đã từng mượn tư tưởng Hoàng Lão để giải thích lí nghĩa của Phật giáo. Cho nên có người thờ chung cả Phật và Lão tử.

hoàng lão quân

Huang-lao-chun (C), Huanglaojun (C), Ancient Yellow Lord, Vị thần chủ yếu của Đạo gia nguyên thủy và Thái bình đạo.

hoàng mai

5370位於湖北省東南。黃梅縣有東、西二山,係禪宗四祖道信及五祖弘忍參禪得道處,五祖並以之爲弘揚東山法門之根據地。其中道信住於黃梅西北十七公里之雙峰山(西山)正覺寺,弘忍則振弘教化於黃梅東北十七公里處之馮茂山(東山)真惠寺,六祖慧能繼承五祖弘忍之衣鉢,弘法於黃梅西南城外之東漸寺。自此以後,黃梅遂叢林處處,而成爲佛教勝地,史稱黃梅佛國。最大者爲老祖寺、四祖寺、五祖寺三大禪林。清代聖祖曾頒賜「天下第一山」匾額。又黃梅西北二十三公里處有黃梅山,以山中多梅樹而得名。 ; Huang-mei (C), Huangmei (C), Ōbai (J)Tên khác của Hoằng Nhẫn. Hoàng Mai là tên ngọn núi nơi Hoằng Nhẫn đã sồng. ; (黃梅) Tên huyện, ở phía đông nam tỉnh Hồ bắc, Trung quốc. Huyện Hoàng mai có 2 núi Đông sơn và Tây sơn, là nơi Tứ tổ Đạo tín và Ngũ tổ Hoằng nhẫn tham thiền ngộ đạo, Ngũ tổ lấy nơi này làm căn cứ địa để mở rộng pháp môn Đông sơn. Trong đó, ngài Đạo tín ở chùa Chính giác, núi Song phong (Tây sơn) cách huyện Hoàng mai 17 km về mạn Tây bắc; còn ngài Hoằng nhẫn thì ở chùa Chân tuệ, núi Phùng mậu (Đông sơn) cách huyện Hoàng mai 17km về phía Đông bắc; Lục tổ Tuệ năng thừa kế y bát của Ngũ tổ Hoằng nhẫn, hoằng pháp ở chùa Đông tiệm thuộc ngoại thành mạn Tây nam huyện Hoàng mai. Từ đó về sau, Tùng lâm mọc lên khắp nơi và huyện Hoàng mai trở thành địa danh nổi tiếng của Phật giáo, trong lịch sử gọi là Hoàng Mai Phật Quốc (Hoàng mai nước Phật). Ở huyện Hoàng mai có chùa Lão tổ, chùa Tứ tổ và chùa Ngũ tổ là 3 Thiền lâm lớn nhất. Cách huyện Hoàng mai 23km về mạn Tây bắc có núi Hoàng mai, trong đó mọc rất nhiều cây mai nên gọi là núi Hoàng mai, vua Thánh tổ nhà Thanh có ban tấm biển hiệu đề là Thiên hạ đệ nhất sơn .

hoàng mai đả tam trượng

5370禪宗公案名。爲禪宗五祖弘忍以杖擊碓(舂米之器具)三下,表示對於慧能之印可與傳法之意。或謂係五祖暗示慧能於三更時至丈室之意。五祖於夜裏至碓坊,問慧能:米白否?慧能答:早白了!只缺一道篩米手續。五祖即以杖擊碓三下,便離去。慧能會其意,乃於夜三更至五祖之丈室,遂嗣五祖之法。五燈會元卷一(卍續一三八‧一八下):「逮夜,祖潛詣碓坊,問曰:『米白也未?』盧曰:『白也!未有篩。』祖於碓以杖三擊之。盧即以三鼓入室。」 ; (黃梅打三杖) Tổ Hoàng mai đưa gậy gõ ba tiếng. Tên công án trong Thiền tông. Ngũ tổ Hoằng nhẫn cầm gậy gõ vào cối giã gạo 3 tiếng, biểu thị ý ấn khả và truyền pháp cho ngài Tuệ năng. Có thuyết cho rằng ngài Ngũ tổ ngầm bảo Tuệ năng canh ba thì đến trượng thất. Ngũ đăng hội nguyên quyển 1 (Vạn tục 138, 18 hạ), chép: Lúc đêm tối, Tổ đến nhà giã gạo, hỏi Tuệ năng: Gạo trắng chưa? Tuệ năng đáp: Trắng rồi, nhưng chưa có dần (sàng). Tổ đưa gậy gõ vào cối ba cái. Lúc canh ba, Tuệ năng liền vào thất .

hoàng môn

(黃門): Phạn ngữ là paṇḍaka, ý nghĩa ban đầu của từ này được dùng để chỉ những quan hoạn mặc áo vàng trong cung cấm của vua, là những người đã tự thiến dương vật. Về sau, hoàng môn được dùng để chỉ chung những người tuy mang dáng vẻ nam giới nhưng không có dương vật, hoặc người tật khuyết nam căn. Từ này chỉ chung những kẻ do tật khuyết nam căn (dương vật) nên không thể làm việc hành dâm, hoặc do có bệnh tật, hoặc bị thiến... ; 5369梵語 paṇḍaka。音譯半擇迦、般吒、般荼迦、半擇、半挓迦。意譯爲閹人、不男。即指男根損壞之人。據十誦律卷二十一、四分律卷三十五、卷五十九等記載,將黃門分爲五種,故又稱五種黃門(梵 pañca paṇḍakāḥ)、五種不能男、五種不男,即:(一)生不能男,又作生黃門(梵 jāti-paṇḍaka),指天生即不能行淫者。(二)半月不能男,又作半不男、半月黃門(梵 pakṣa-paṇḍaka),乃半月能淫,半月不能淫者。(三)妒不能男,又作妒黃門(梵 īrṣyā-paṇḍaka),指見他人行淫而起淫心者。(四)變不能男,又作變黃門、抱生黃門、精不能男、觸抱黃門(梵 āsaktaprādurbhāvī-paṇḍaka),指欲行淫時,忽失男根者。(五)病不能男,又作犍黃門、犍不男、形殘黃門(梵 āpat-paṇḍaka),指生已腐爛,或因蟲噉等而截去男根者。俱舍論卷十五將黃門分爲扇搋(梵 ṣaṇḍha)、半擇迦(梵 paṇḍaka)。俱舍論光記卷三復加以解釋而舉出五種黃門,即本性扇搋(相當於生不能男)、損壞扇搋(相當於病不能男)、嫉妒半擇迦(見他人行淫時,男根方能勃起)、半月半擇迦(相當於半月不能男)、灌灑半擇迦(澡浴時,男根方能勃起)。又摩訶僧祇律卷二十三有「六種不男」之說,即生、捺破、割卻、因他、妒、半月六種。其中,捺破不男,指妻妾同時生子,因兩女彼此嫉妒,故於對方之子幼時即捺破其根。割卻不男,指王公大臣取人割卻男根,以備作爲閹吏役使。因他不男,指因前人之觸,故身根勃然而起。戒律規定上述諸種人皆不得出家受具足戒。〔毘曇毘婆沙論卷三、大乘阿毘達磨雜集論卷八、四分律行事鈔資持記卷上三之一、俱舍論光記卷十五、玄應音義卷二十四〕 ; Pandaka (skt)—Không có nam căn—Eunuchs. ; (黃門) Phạm: Paịđaka. Dịch âm: Bán trạch ca, Ban tra, Ban đồ ca, Bán trạch, Bán thác ca. Dịch ý: Yêm nhân (người bị thiến, hoạn), Bất nam (bất lực). Chỉ cho người nam căn bị hư hoại. Luật Thập tụng quyển 21 và luật Tứ phần quyển 35, 59, chia Hoàng môn làm 5 loại, gọi là Ngũ chủng hoàng môn (Phạm: Paĩca paịđakà), Ngũ chủng bất năng nam, Ngũ chủng bất nam. Đó là: 1. Sinh bất năng nam, cũng gọi sinh Hoàng môn (Phạm: jàti-paịđaka): Chỉ cho người sinh ra đã không có khả năng hành dâm. 2. Bán nguyệt bất năng nam, cũng gọi Bán bất nam, Bán nguyệt hoàng môn (Phạm: Pakwa-paịđaka): Người nửa tháng có thể hành dâm, nửa tháng không thể. 3. Đố bất năng nam, cũng gọi Đố hoàng môn (Phạm: Ìrwyà-paịđaka): Chỉ cho người thấy kẻ khác hành dâm liền khởi tâm dâm. 4. Biến bất năng nam, cũng gọi Biến hoàng môn, Bão sinh hoàng môn, Tinh bất năng nam, Xúc bảo hoàng môn (Phạm: Àsak-tapràdurbhàvì-paịđaka): Chỉ cho người lúc muốn hành dâm thì bỗng nhiên mất nam căn. 5. Bệnh bất năng nam, cũng gọi Kiện bất năng nam, Kiện bất nam, Hình tàn hoàng môn (Phạm: Àpat-paịđaka): Chỉ cho người sinh ra nam căn đã bị hư nát, hoặc vì trùng cắn mà bị đứt mất nam căn. Luận Câu xá quyển 15 chia Hoàng môn làm 2 loại: Phiến sỉ (Phạm: Waịđha) và Bán trạch ca (Phạm: paịđaka). Câu xá luận quang kí quyển 3 thì giải thích thêm và nêu 5 loại Hoàng môn là: Bản tính phiến sỉ (tương đương với sinh bất năng nam), Tổn hoại phiến sỉ (tương đương với Bệnh bất năng nam), Tật đố bán trạch ca (khi thấy người khác hành dâm thì nam căn mới thình lình phát khởi), Bán nguyệt bán trạch ca (tương đương với Bán nguyệt bất năng nam) và Quán sái bán trạch ca (khi tắm rửa nam căn mới thình lình phát khởi). Còn luật Ma ha tăng kì thì có thuyết Lục chủng bất năng nam , tức là Sinh, Nại phá, Cát khước, Nhân tha, Đố và Bán nguyệt. Trong đó, Nại phá bất nam , chỉ cho vợ cả vợ lẽ đồng thời sinh con trai, vì ghen ghét lẫn nhau, nên bên này phá hư nam căn (sinh thực khí) của đứa bé bên kia ngay từ lúc còn nhỏ Cát khước bất nam , chỉ cho các Hoạn quan, Nhân tha bất nam chỉ cho người vì xúc chạm với người đối diện mà thình lình nam căn phát khởi. Giới luật qui định những loại người nói trên đây đều không được xuất gia thụ giới Cụ túc. [X. luận Đại tì bà sa Q.3; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng phần 3 đoạn 1; Câu xá luận quang kí Q.15; Huyền ứng âm nghĩa Q.24].

hoàng môn - huỳnh môn

Eunuque. Hermaphrodite.

hoàng mạo giáo

Một tông phái thuộc Lạt Ma Giáo, mặc toàn đồ vàng, được Đại Sư Tông-Khách-Ba sáng lập năm 1417, sau khi lật đổ Hồng Mạo Giáo, tức giáo phái mặc toàn màu đỏ. Hoàng Giáo được tìm thấy phần lớn ở Tây Tạng và Mông Cổ—The yellow sect of Lamaism, founded in 1417 by Tson-Kha-Pa, Sumatikirti, who overthrew the decadent sect, which wears red robes, and established the sect that wears yellow, and which at first was noted for the austere life of the monks; it is found chiefly in Tibet and Mongolia.

hoàng mậu lâm

5369民國佛教學者。廣東人,生卒年不詳。擅長英文。初於香港與英人研究小乘佛學,後至上海從事譯經,向海外宣傳佛法,將六祖壇經、彌陀經、十善業道經等英譯刊行,又創辦英文「中國佛教雜誌」。並於暇時譯述外國佛教概況,向國人介紹歐美佛教之發展,先後譯出英國佛教會略史、德國佛教居士林、英國比丘馬顯德傳等文。民國二十二年(1933)赴錫蘭(今斯里蘭卡)研究巴利文、梵文,後因肺疾逝於錫蘭。 ; (黃茂林) Học giả Phật giáo ở thời Dân quốc, người tỉnh Quảng đông. Ông rất giỏi tiếng Anh. Lúc đầu ở Hương cảng, ông và một người Anh nghiên cứu Phật giáo Tiểu thừa, sau ông đến Thượng hải chuyên dịch kinh, truyền bá Phật giáo ra Hải ngoại. Ông còn sáng lập Trung quốc Phật giáo tạp chí viết bằng tiếng Anh và trong những lúc rảnh rỗi, dịch các tư liệu nói về tình hình Phật giáo ở các nước để giới thiệu sự phát triển của Phật giáo tại Âu Mĩ cho người trong nước biết. Năm Dân quốc 22 (1933), ông sang Tích lan nghiên cứu tiếngPàli Tháp Hồng Sơn núi Phùng Mậu Hoàng Mai và tiếng Phạm, sau vì bị bệnh phổi nên ông đã qua đời ở Tích lan. Ông để lại các dịch phẩm sau đây: Lục tổ đàn kinh, kinh Di đà, kinh Thập thiện nghiệp đạo, Anh quốc Phật giáo hội lược sử, Đức quốc Phật giáo cư sĩ lâm, Anh quốc tỉ khưu Mã hiển đức truyện.

hoàng phan

5372指黃紙作成之幡,用以懸於死者之塚塔。據釋門正統卷四之中引載灌頂經,謂於人之亡日,爲其造作黃幡,懸於剎上,使其得離八難苦,往生十方諸佛淨土。復引載諸經要集,謂爲亡人造作黃幡,掛於塚塔上,可引導其「中陰」,令其不入惡趣,不生邊國;雖未見經典中對於懸掛黃幡有所解釋,然推測其義,或因五大色之中,黃色居中,用以表忠誠、盡心修福之故。 ; Phướn giấy màu vàng treo trên mộ chí—Yellow paper streamers hung on a grave. ; (黃幡) Lá phan làm bằng giấy mầu vàng treo ở mộ tháp người chết. Kinh Quán đính nói, khi người ta chết, làm Hoàng phan treo ở chùa, cầu cho họ thoát khỏi khổ bát nạn mà sinh về các cõi Tịnh độ của chư Phật trong 10 phương. Còn Chư kinh yếu tập thì nói, làm Hoàng phan treo trên mộ tháp của người chết, có thể dắt dẫn thân Trung ấm của họ khỏi sa vào ác thú, không sinh nơi biên quốc; việc này tuy không thấy được giải thích trong kinh điển, nhưng suy đoán về ý nghĩa thì mầu vàng của Hoàng phan biểu thị sự trung thành và hết lòng làm việc phúc.

hoàng quyển xích trục

5368指佛教經卷。又作黃卷朱軸、黃紙朱軸。以經文書於黃紙上而捲之以朱軸,故稱黃紙朱軸。據維摩經略疏垂裕記卷一記載,唐代貞觀(627~649)年間,敕制以黃紙書寫,以防蟲害。依此推據,經卷以黃紙書寫,亦在貞觀後。另一傳說爲後漢明帝永平十四年(630),帝應褚善信等之請,以火焚驗佛、道經典之優劣;道家書籍盡成灰燼,唯佛家經卷薰成黃色,軸變爍紅,故有黃卷赤軸之稱。〔傳法正宗論卷下、北史卷七十二〕 ; (黃卷赤軸) Cũng gọi Hoàng quyển chu trục, Hoàng chỉ chu trục. Chỉ cho kinh điển của Phật giáo. Vì văn kinh được viết trên giấy vàng rồi dùng cái trục mầu đỏ để cuộn lại. Cứ theo Duy ma kinh lược sớ thùy dụ kí quyển 1, thì vào khoảng năm Trinh quán (627-649) đời Đường, vua ra lệnh dùng giấy vàng viết kinh để phòng ngừa mối mọt ăn hại. Y cứ vào đó mà suy đoán, thì kinh điển Phật giáo được viết chép trên giấy vàng bắt đầu từ năm Trinh quán trở về sau. Theo một truyền thuyết khác, vào năm Vĩnh bình thứ 10 (63), theo lời tâu xin của đạo sĩ Chử thiện tín, vua Minh đế nhà Hậu Hán ra lệnh đốt kinh của Phật giáo và Đạo giáo để xem thật giả thế nào, thì sách vở của Đạo giáo đều cháy thành tro, còn kinh điển của Phật giáo thì khói xông thành mầu vàng, trục biến thành mầu đỏ rực, vì thế được gọi là Hoàng quyển xích trục. [X. luận Truyền pháp chính tông Q.hạ;Bắc sử Q.72].

hoàng sám hoa

5377廣東順德人。日本帝國大學畢業。爲我國唯識學大師歐陽漸之弟子,擅於唯識學,復習梵、藏文,於印度、西洋哲學亦有研究。著有佛教各宗大意、中國佛教史、唯識學輪廓與華嚴根本的教義、西洋哲學史綱、現代哲學概觀、印度哲學史綱、金剛頂菩提心論淺釋等書。其中,佛教各宗大意、中國佛教史等書流通頗廣。歷任第一屆中國佛學會、中國佛教會常務理事,及復旦大學、廈門大學教授等職。 ; (黃懺華) Học giả Phật giáo Trung quốc, người huyện Thuận đức, tỉnh Quảng đông, đệ tử của cư sĩ Âu dương tiệm, bậc thầy về Duy thức học. Ông tốt nghiệp Đại học Đế quốc ở Đông kinh, Nhật bản, thông thạo các thứ tiếng Phạm, Tây tạng, nghiên cứu Triết học Ấn độ và Tây phương. Ông từng làm giáo sư của các trường Đại học Phục đán, Hạ môn, v.v... Ông có những tác phẩm: Phật giáo các tông đại ý, Trung quốc, Phật giáo sử, Duy thức học luân khuếch dữ Hoa nghiêm căn bản đích giáo nghĩa, Tây phương triết học sử cương, Hiện đại triết học khái quan, Ấn độ triết học sử cương, Kim cương đính Bồ đề tâm luận thiển thích, v.v...

hoàng sơn cốc

Kozankoka (J), Huang sanku (C), Kozankoka (J).

hoàng sắc

5368爲密教五色之一。具有堅固不壞之性德。若將黃色與五字、五大、五佛、五根、五方等相配當,則於五字五大之中,爲???阿字地大之色;於五佛之中,爲南方開敷華王如來之色;於金剛、胎藏二界中,爲胎藏之色;於四種法中,爲增益相應之色;於五根、五力之中,具有念根、念力、進根、進力之義。於諸經軌中,更有種種之配釋說。〔大日經疏卷六、卷十二〕(參閱「五色」1082) ; (黃色) Màu vàng. Một trong 5 màu của Mật giáo. Màu vàng tượng trưng cho đức tính bền chắc không hư hoại. Nếu đem Hoàng sắc phối với Ngũ tự, Ngũ đại, Ngũ Phật, Ngũ căn, Ngũ lực, v.v... thì trong Ngũ tự, Ngũ đại màu vàng là màu của chữ (A) và của Địa đại; trong Ngũ Phật, là màu của đức Khai hoa vương Như lai phương Nam; trong Kim cương giới và Thai tạng giới, là mầu của Thai tạng; trong Tứ pháp, là mầu của pháp Tăng ích; trong Ngũ căn, Ngũ lực, màu vàng có ý nghĩa tương ứng với Niệm căn, Niệm lực, Tiến căn, Tiến lực. Ngoài ra, trong các kinh quĩ, màu vàng còn nhiều thuyết giải thích và phối trí khác. [X. Đại nhật kinh sớ Q.6, Q.12]. (xt. Ngũ Sắc).

hoàng thai nhi nữ

3893請參閱 大中祥符法寶錄 明清間民間宗教名詞。意即教徒。各教派流傳的開教故事中,均有「九十二億皇胎兒女」等待拯救之說。〔皇極全冊九蓮正信皈真還鄉寶卷〕

Hoàng Thiên

(皇天): là tiếng kính xưng ông trời, trời xanh; còn gọi là Hoàng Thiên Thượng Đế (皇天上帝), Hạo Thiên Thượng Đế (昊天上帝), một trong các vị thần của Đạo Giáo. Tên gọi của vị này xuất hiện sớm nhất trong Thượng Thư (尚書), Thi Kinh (詩經), là vị thần chủ tể của trời đất vũ trụ. Theo tác phẩm Trung Quốc Tôn Giáo Tư Tưởng Sử Đại Cương (中國宗敎思想史大綱, do Nhà Xuất Bản Dân Quốc Học Thuật Kinh Điển Văn Khố [民國學術經典文庫] ấn hành) của Vương Trị Tâm (王治心), trong truyện thần thoại thời thượng cổ của Trung Quốc có đề cập rằng Hạo Thiên (tức Hoàng Thiên) Thượng Đế là đấng tối tôn kính, kế đến là Thương Đế (蒼帝, hay Viêm Đế [炎帝]) ở phương Đông, chủ về mộc, tên là Linh Uy Ngưỡng (靈威仰); Xích Đế (赤帝) ở phương Nam, chủ về hỏa, tên là Xích Nộ (赤怒, hay Xích Hỏa Tiêu Nộ [赤火票怒]); Hoàng Đế (皇帝) ở trung ương, chủ về Thổ, tên là Xu Nữu (樞紐); Bạch Đế (白帝) ở phương Tây, chủ về kim, tên là Bạch Chiêu Cứ (白招據); Hắc Đế (黑帝) ở phương Bắc, chủ về thủy, tên là Diệp Quang Kỷ (葉光紀). Từ quan điểm này, ta thấy rằng Thượng Đế chỉ có một mà thôi, tức Hoàng Thiên Thượng Đế. Ngoài ra các vị đế khác thì không ít. Chữ “Đế (帝)” được dùng đơn độc trong Thi Kinh (詩經), Thư Kinh (書經), Dịch Kinh (易經), các đỉnh chuông, văn giáp cốt đều chỉ Thượng Đế. Quách Mạt Nhược (郭沫若, 1892-1978) cho rằng: “Thượng hạ bổn lai thị tương đối đích tự, hữu Thượng Đế nhất định dĩ hữu Hạ Đế (上下本來是相對的字、有上帝一定巳有下帝, xưa nay Thượng và Hạ là hai từ mang tính tương đối, có Thượng Đế nhất định phải có Hạ Đế).” Thi Kinh, phần Đại Nhã (大雅) cũng như Chu Tụng (周誦) có câu rằng: “Thiên sanh chưng dân, hữu vật hữu tắc (天生蒸民、有物有則, Trời sanh ra lũ dân, có vật thì có quy tắc).” Rõ ràng điều này muốn nhấn mạnh rằng Hạo Thiên Thượng Đế sinh dưỡng nhân dân, sáng tạo vạn vật, định ra pháp luật; cho nên Ngài là đấng sáng tạo. Trong phần Tiểu Nhã (小雅) và Đại Nhã (大雅) của tác phẩm trên cũng có câu: “Minh minh thiên thượng, chiếu lâm hạ địa (明明天上、照臨下地, sáng tỏ trên trời, chiếu xuống dưới đất)”, hay “Hoàng tai Thượng Đế, lâm hạ hữu hách (皇哉上帝、臨下有赫, Lớn thay Thượng Đế, giáng xuống lẫm liệt)”, hoặc “đãng đãng Thượng Đế, hạ dân chi tịch (蕩蕩上帝、下民之闢, vời vợi Thượng Đế, thâu khắp vạn dân)”; chứng tỏ muốn nói rằng Thượng Đế là đấng chủ tể của vạn dân vốn rất từ ái, vĩ đại, uy phong, vĩnh hằng, vô hạn. Trong chương Hy (僖) 15 của Tả Truyện (左傳) có đoạn rằng: “Quân lý Hậu Thổ nhi tải Hoàng Thiên (君履后土而載皇天, người tuy đạp lên Thần Đất mà đội ông Trời).” Hoàng Thiên Hậu Thổ là thần Trời và thần Đất, là thuật ngữ thường đi chung với nhau. Như trong tác phẩm Cán Sa Ký (浣紗記), phần Phạt Việt (伐越) của Lương Thần Ngư (梁辰魚, 1520-1580) nhà Minh có câu: “Hoàng Thiên Hậu Thổ, giám sanh bình trung hiếu chi tâm, danh sơn đại xuyên, lượng túc tích anh hào chi khí (皇天后土、鑒生平忠孝之心、名山大川、諒宿昔英豪之氣, Hoàng Thiên Hậu Thổ, chứng giám tâm trung hiếu trong đời, núi cao sông lớn, giữ mãi khí anh hào xưa kia).”

hoàng thiên giáo

5367流傳於明、清兩代之民間宗教。明代嘉靖(1522~1566)年間由察哈爾省萬全縣之李賓所創立。李賓,一名李升官,剃度後稱普明虎眼禪師、普明祖。其以燃燈佛子代表過去,乃獸面人心;釋迦佛子代表當今,乃獸面獸心;彌勒佛子代表未來,乃佛面佛心。倡言劫變思想,謂大劫將臨,天下將有變亂。本教奉普明如來無爲了義卷與普靜如來鑰匙通天寶卷爲要典,教徒之名字上皆冠以普字。初流傳於察哈爾、河北一帶,後漸傳入南方,萬曆年間復傳入江浙一帶,稱爲長生教。 此外,於清代光緒年間(1875~1908),張垣市、萬全縣一帶仍盛行此種祕密宗教,稱爲黃天道。距張垣市約三十公里處之膳房堡,傳說即爲該教主神普明佛之發祥地。除普明佛外,亦虔敬崇拜彌勒佛。該教祖師有普明、普靜、普賢、普光、圓通等五位。光緒初期,遊方僧志明(俗姓馬,名有財,萬全縣人)於萬全縣奉普明金光佛(據說爲無生老母所遣下凡之彌勒古佛化身)點授先天真傳,定名爲黃天大道,此後該教即祕密流傳於華北民間。該教奉無生老母救世之命,宣揚三期末劫之教義,以三教歸一之精神,期三曹普度,以彌勒掌教,欲令信仰者皆得往生淨土。所信仰之神祇,除其本道神靈外,亦多與當地各廟宇所供奉者相同。其經典有慈航寶訓、挽劫俚言、四聖救世真言、神名對本、三會收圓寶筏等。 或謂此教之性質與一貫道略同。又由有關一貫道起源之傳說、供奉之神祇及流傳之地帶等推測,一貫道即爲黃天教,或源自黃天教,或爲黃天教之重要支派。

hoàng thành

Royal city.

hoàng thái tử

Crown prince.

hoàng thân

The king's relatives on the paternal side.

hoàng thích

The king's relatives on his maternal side.

hoàng thụ nhân

5372廣東順德人。一名建。性聰頴,十八歲畢業於南洋中學,十九歲由其胞兄黃懺華引進,隨侍歐陽漸學佛,矢志研習梵、藏佛典,擬賡續玄奘未竟之業。惜夙願未償,年二十八即與世長辭,歐陽漸頗痛惜之,嘗爲撰「黃建事略」一文。

Hoàng Thủy

(黃水) hay Hoàng Hà (黃河): là dòng sông dài, lớn thứ 2 của Trung Quốc, sau Trường Giang (長江), lớn thứ 5 của thế giới. Dòng sông này phát nguyên từ rặng núi Ba Nhan Khách Lạp (巴顏喀拉, Bayan Har) của Tỉnh Thanh Hải (青海省); chảy qua 9 tỉnh khu là Thanh Hải (青海), Tứ Xuyên (四川), Cam Túc (甘肅), Ninh Hạ (寧夏), Nội Mông Cổ (內蒙古), Thiểm Tây (陝西), Sơn Tây (山西), Hà Nam (河南) Sơn Đông (山東); cuối cùng đi qua cửa khẩu sông Đông Doanh (東營) của Tỉnh Sơn Đông (山東省) và đỗ vào Bột Hải (渤海, Bohai Sea), với chiều dài toàn bộ là 5464 km. Hoàng Hà có nghĩa là dòng sông màu vàng. Chữ Hoàng (黃) ở đây dùng để miêu tả hiện trang nước sông như thế nào. Trong Nhĩ Nhã (爾雅), phần Thích Thủy (釋水) có câu: “Hà xuất Côn Lôn, sắc bạch, sở lương tinh thiên thất bách nhất xuyên, sắc hoàng (河出崑崙、色白、所渠並千七百一川、色黃, Hoàng Hà xuất phát từ Côn Lôn, nước trong, chảy qua hơn một ngàn bảy trăm sông, sắc thành màu vàng).” Sơn Hải Kinh (山海經) cũng như Thủy Kinh Chú (水經注) đều cho rằng hoàng hà phát xuất từ Côn Lôn. Chi lưu của Hoàng Hà có Bạch Hà (白河), Hắc Hà (黑河), Hoàng Thủy (湟水), Tổ Lệ Hà (祖厲河), Thanh Thủy Hà (清水河), Đại Hắc Hà (大黑河), Quật Dã Hà (窟野河), Vô Định Hà (無定河), Phần Hà (汾河), Vị Hà (渭河), Lạc Hà (洛河), Thấm Hà (沁河), Đại Vấn Hà (大汶河). Hoàng Hà được xem như là người mẹ sản sinh văn minh Trung Quốc. Có một số nhân vật nổi tiếng có liên quan đến dòng sông vĩ đại này như Đại Vũ (大禹), vua nhà Hạ (夏, khoảng 2000-1600 ttl.), người từng chế ngự thành công nạn lũ lụt ở Hoàng Hà; Điền Phân (田蚡), Đại Thần dưới triều Hán Võ Đế; Cổ Nhượng (賈讓), nhà thủy lợi tài ba thời Tây Hán; Đỗ Sung (杜充, ?-1141), Thái Thú Khai Phong (開封) thời Bắc Tống (北宋, 960-1127); phan quý tuần (潘季馴, 1521-1595); nhà chuyên môn trị thủy nổi tiếng thời nhà Minh; Cận Phụ (靳輔, 1633-1692), danh thần trị thủy thời nhà Thanh; Lưu Ngạc (劉鶚, 1857-1909); nhà thủy lợi học cuối thời nhà Thanh, v.v. Chính vì sự vĩ đại của dòng sông, tầm quan trọng như là người mẹ sản sinh ra nền văn minh Trung Quốc, Hoàng Hà còn được xem như là tình thương yêu vô bờ bến của người mẹ đối với con, đối xứng với Thái Sơn là người cha.

hoàng trí hải

5371民國佛教學者。又名涵之。皈依印光大師,修持淨業,常於上海各地講解淨土諸經。著有初機淨業指南,及阿彌陀經、心經、觀無量壽佛經、朝暮課誦等之白話解釋。

hoàng trạch tự ma nhai tạo tượng

3894位於四川廣元縣城郊西一公里處之嘉陵江西岸。皇澤寺原爲武則天之祀廟,寺後有大小窟龕四十餘個,計有北周、隋、唐等時期之摩崖造像一千餘尊,其中第十號造像龕最大,主像高約四點八公尺。造像精美,形式多種,以唐代作品居多。

hoàng tuyền

Suối vàng hay âm phủ—The yellow spring—The shades.

Hoàng Tông Hy

(黃宗羲, Kō Sōgi, 1610-1695): học giả sống đầu thời nhà Thanh, xuất thân Dư Diêu (余姚), Tỉnh Triết Giang (浙江省), tự là Thái Xung (太沖), hiệu Lê Châu (梨洲). Ông chủ trương chú trọng về Sử Học, tôn trọng thực tiễn và đem lại lợi ích cho xã hội. Tác phẩm của ông có rất nhiều như Minh Di Đãi Phỏng Lục (明夷待訪錄), Minh Nho Học Án (名儒學案), v.v.

hoàng tế thiền sư

Hongjichanshi (J), Kosa Zenjii (J)Tước hiệu của Thanh Nguyên Hành Tư.

hoàng tộc

Royal/imperial family.

hoàng tự

5367<一>一般稱佛教或喇嘛教寺院爲黃寺。[1] <二>位於北平安定門外元鑲旗教場之北,有東黃寺、西黃寺二寺,東西相鄰接。東黃寺原係一稱爲普淨禪林之小寺。西元一六五一年,以清世祖之敕命而改建,成爲內外蒙古與西藏喇嘛之駐錫場所。西黃寺又稱清淨化城。乃西元一六五二年清世祖爲達賴五世所建。 <三>位於遼寧瀋陽市。正式名稱爲實勝寺,俗稱黃寺,亦稱皇寺。創建於清太宗崇德三年(1638)。(參閱「實勝寺」5790)

Hoàng Viên

(皇圓, Kōen, ?-1169): vị học Tăng của Thiên Thai Tông, húy là Hoàng Viên (皇圓), thông xưng là Phì Hậu A Xà Lê (肥後阿闍梨), Công Đức Viện A Xà Lê (功德院阿闍梨); con trai đầu của vị Trưởng Quan Kami vùng Tam Hà (三河, Mikawa) là Đằng Nguyên Trùng Kiêm (藤原重兼). Sau đó ông xuất gia, ông lên Tỷ Duệ Sơn, theo hầu hạ Hoàng Giác (皇覺) thuộc Dòng Thương Sanh (椙生流) và tu học cả Hiển lẫn Mật Giáo. Sau đó, ông đến trú tại Công Đức Viện ở phía Đông Tháp, chuyên tâm giáo dưỡng học đồ, mà trong đó có Nguyên Không (源空), tức Pháp Nhiên (法然, Hōnen), sau này trở thành vị Tổ khai sáng nên một Tông phái riêng. Ông rất tường tận về lịch sử, và là tác giả của bộ sử thư nổi tiếng Phù Tang Lược Ký (扶桑略記), 30 quyển. Tương truyền rằng vào năm 1169, ông thác hóa thành con rắn lớn để chờ đến khi Đức Phật Di Lặc ra đời.

hoàng xích sắc tiên nhân

Xem Ca tì la. ; Xem Ca tì la.

hoàng y

5368指黃色法衣。黃色原爲戒律所定五正色之一,僧衣禁用黃色。黃衣爲我國古代官服之一,用於僧服係始於北周,逮元朝更屢屢頒賜黃衣,故傳至今日,亦常有以黃色製成法衣者。又喇嘛教之新教派穿著黃色衣帽,一般稱爲黃衣派或黃教。〔大宋僧史略卷上〕 ; Màu vàng là màu của y áo Tăng Ni, nhưng vì màu vàng là một trong năm màu chính, nên đem ra may áo là không hợp pháp và vì thế mà dùng màu nhuộm hổn hợp giữa vàng và xám để thành màu vàng thẳm—Yellow robes of the monks, but as yellow is a prime colour and therefore unlawful, the garments are dyed a mixture, yellowish-grey. ; (黃衣) Áo pháp màu vàng. Màu vàng là một trong 5 màu chính. Giới luật cấm chư tăng dùng màu vàng. Áo vàng nguyên là áo các quan Trung quốc thời xưa mặc: trong Phật giáo, các sư mặc áo vàng từ thời Bắc Chu. Đến đời Nguyên, các vị cao Tăng thường được vua ban cho áo vàng, do đó truyền đến ngày nay áo pháp cũng thường được nhuộm màu vàng. Còn phái Tân giáo của Lạt ma giáo Tây tạng mặc áo và đội mũ màu vàng, cho nên được gọi là Hoàng y phái hoặc Hoàng giáo. [X. Đại tống tăng sử lược Q.thượng].

hoàng ân

Imperial favor

hoàng đoan bá

5372(?~1645)明代人。江西新城人。字元公。號海岸道人。崇禎元年(1628),舉進士,官至禮部郎中。後爲清兵拘執,不屈而死。氏篤好佛法,曾參學於曹洞宗之無明慧經禪師,反覆參究「趙州柏樹子」之公案,有所省悟。著有易疏、瑤光閣集等。〔五燈全書卷六十二、明史卷二七五、明末忠烈紀實卷十二〕 ; (黃端伯) (?-1645) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Minh, người huyện Tân thành, tỉnh Giang tây, tự Nguyên công, hiệu Hải ngạn đạo nhân. Ông đậu Tiến sĩ vào niên hiệu Sùng trinh năm đầu (1628), làm quan đến chức Lễ bộ lang trung. Sau ông bị quân nhà Thanh bắt, vì không khuất phục nên bị giết. Ông dốc lòng tin kính Phật pháp, từng tham học thiền sư Vô minh Tuệ kinh thuộc tông Tào động, chuyên tâm tham cứu công án Triệu châu bách thụ tử (cây bách của ngài Triệu châu) có chỗ tỉnh ngộ. Ông để lại các trứ tác: Dị sớ, Dao quang các tập. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.62; Minh sử Q.275; Minh mạt trung liệt kỉ thực Q.12].

hoàng đình kinh

Huangting Jing (C). ; Hunag-ting ching (J), Huangting Jing (C)Một tác phẩm của Đạo gia hồi thế kỷ thứ 3. ; Huang-t'ing-ching (C)Kinh sách Đạo giáo.

Hoàng Đình Kiên

(黃庭堅, 1045-1105): thi nhân và họa sĩ dưới thời Bắc Tống, xuất thân Phân Ninh (分寧), Hồng Châu (洪州), tự Lỗ Trực (魯直), hiệu là Sơn Cốc (山谷). Thơ của ông có thể sánh ngang hàng với Tô Thức (蘇軾) và được gọi là Tô Hoàng (蘇黃). Tranh vẽ của ông được xếp hàng vào một trong 4 nhà danh họa Bắc Tống, đặc biệt ông có tài viết chữ thảo.

hoàng đình kiên

5370(1045~1105)宋代詩人。洪州分寧人。字魯直,號山谷。擅長詩、文、詞、草書。舉進士,曾入仕途,政績卓著,然以黨見遭謫貶。氏崇奉佛教,以居士而嗣黃龍祖心(1025~1100)之法。嘗遊學安徽山谷寺,自號山谷道人。晚年築精舍於涪濱,修行淨土之法,又號涪翁。門人於其逝世後,私諡文節先生。又氏所作之詩文,廣爲流行於日本足利時代之五山僧人之間,予日本漢文學史之影響頗鉅。著有山谷內外集、別集等。〔宋史卷四四四、宋史新編卷一七一、元祐黨人傳卷四〕 ; (黃庭堅) Thi nhân Trung quốc ở đời Tống, người Phần ninh, Hồng châu, tự Lỗ trực, hiệu Sơn cốc. Ông rất giỏi về thơ phú, văn chương, từ khúc và viết thảo, ông đậu Tiến sĩ và từng ra làm quan, thành tích chính trị vượt bậc, nhưng vì nạn bè phái nên ông bị giáng chức và lưu đày. Ông kính tín Phật giáo, tuy là cư sĩ nhưng được nối pháp của ngài Hoàng long Tổ tâm (1025-1100). Ông từng học đạo ở chùa Sơn cốc tại tỉnh An huy nên lấy hiệu là Sơn cốc đạo nhân. Về già, ông cất tinh xá ở Bồi tân, tu pháp Tịnh độ nên lại lấy hiệu là Bồi ông. Sau khi ông qua đời, học trò đặt thụy hiệu cho ông là Văn tiết tiên sinh. Tại Nhật bản, thơ văn do ông sáng tác được lưu hành rộng rãi trong giới tăng sĩ ở thời Túc lợi, có ảnh hưởng rất lớn đối với lịch sử văn học chữ Hán. Ông để lại các tác phẩm: Sơn cốc nội ngoại tập, Biệt tập. [X. Tống sử Q.444; Tống sử tân biên Q.171; Nguyên hựu đảng nhân truyện Q.4].

hoàng đạo

Zodiac.

Hoàng đầu

xem Ca-tỳ-la.

hoàng đế

King—Emperor.

hoàng đế nội kinh

Huang-ti nei ching (C)Tên một cuốn sách cỗ về y lý.

Hoàng đồ

(皇圖): có mấy nghĩa. (1) Chỉ cho Hà Đồ (河圖), tức truyền thuyết nguồn gốc hình quẻ Chu Dịch (周易) có liên quan đến Nho giáo. (2) Chỉ cho bản đồ của vương triều phong kiến, hay chỉ cho chính vương triều phong kiến. Như trong bài thơ Xuất Thành Biệt Trương Hựu Tân Thù Lý Hán (出城別張又新酬李漢) của Lý Hạ (李賀, 790-816) nhà Đường có câu: “Hoàng đồ quá tứ hải, bách tánh tha trường thân (皇圖跨四海、百姓拖長紳, bản đồ vượt bốn biển, trăm họ kéo áo dài).” (3) Chỉ cho ngôi vị nhà vua. Như trong Cựu Ngũ Đại Sử (舊五代史), thiên Đường Thư (唐書), Minh Tông Kỷ (明宗紀) thứ 3, có câu: “Trẫm kim toản hoàng đồ, cung tu đế đạo (朕今纘皇圖、恭修帝道, trẫm nay kế thừa ngôi vị Hoàng đế, chấn chỉnh đạo của tiên đế).”

Hoàng độ

(皇度): chỉ về phẩm đức và sự độ lượng của Hoàng đế. Như trong bài Tấn Võ Hoa Lâm Viên Tập Thi (晉武華林園集詩) của Ứng Trinh (應貞, ?-269) của nhà Tấn có câu: “Khôi khôi Hoàng độ, mục mục Thánh dung (恢恢皇度、穆穆聖容, rộng lớn đức vua, sâu thẳm vẻ Thánh).” Hay trong bài Chánh Đán Đại Hội Hành Lễ Ca (正旦大會行禮歌) của Tuân Húc (荀勗, ?-289) nhà Tấn cũng có câu: “Tư ngã Hoàng độ, di luân du tự (思我皇度、彝倫攸序, nhớ đức vua ta, luân thường trật tự).” Hoặc như trong bài Nguyên Hội Đại Hưởng Ca (元會大饗歌), phần Hoàng Hạ (皇夏) của Ngưu Hoằng (牛弘, 545-610) nhà Tùy có đoạn rằng: “Thâm tai Hoàng độ, túy hỉ thiên nghi (深哉皇度、粹矣天儀, sâu thẳm thay đức vua, thuần túy thay nghi Trời).” Trong Lô Sơn Liên Tông Bảo Giám (廬山蓮宗寶鑑, Taishō Vol. 47, No. 1973) quyển 10 có đoạn: “Phát dương tiên giác chi vi ngôn, vĩnh vi hậu nhân chi minh giám, thượng dĩ âm dực hoàng độ, hạ dĩ hóa lợi sanh dân, khả vị tận thiện tận mỹ nhi dĩ (發揚先覺之微言、永爲後人之明鑑、上以陰翊皇度、下以化利生民、可謂盡善盡美而已, phát huy lời dạy của đấng giác ngộ trước, mãi là gương sáng soi cho kẻ đời sau, trên để âm thầm giúp đỡ đức vua, dưới để làm lợi lạc muôn dân, mới có thể gọi là tốt đến tận cùng, đẹp đến tận cùng mới thôi).”

Hoàng 皇

[ja] コウ、オウ kō, ō ||| (1) Ruler, emperor, prince, sovereign. (2) Supreme, exalted, imperial. (3) Good, bright, superior. (4) A ceremonial cap. (5) An open hall or court. (6) A female phoenix. =>1. Người cai trị, hoàng đế, thái tử. 2. Tối cao, hoàng đế. 3. Tốt, sáng chói, cao cấp. 4. Mũ triều lễ. 5. Cung điện. 6. Chim phụng mái.

Hoành

横; C: héng; J: ō;|1. Đường nằm ngang, ngang, bề ngang, bề rộng; 2. Nằm xuống, trải ra, đặt ngang qua; 3. Choán đầy, làm đầy; tắc nghẽn, dừng lại; 4. Thoải mái, thanh thản; 5. Tinh quái, xấu ác, sai lầm, ngang bướng, quá đáng, không tự nhiên; 6. Như là điều người ta khao khát; 7. Tạm thời.

hoành

Xem Tranh lụa. ; 1) Ngang tàng: Arrogant. 2) Trục ngang: A crossbar—Crosswise.

hoành bị

6247指披七條衣時,另外覆於右肩之衣。又稱橫披、橫帔、橫皮、橫尾、橫帶。教誡新學比丘行護律儀二時食法條(大四五‧八七一中):「著七條,當令橫披共衣領齊,直下臂上,半覆肩膊。」 據宋朝元照之佛制比丘六物圖載,披於左肩之衣,稱為祇支;覆於右肩之衣,稱為覆肩。又真言宗持物圖釋載,舊律比丘尼五衣之中,有祇支、覆肩二衣,而無橫被之衣,故謂橫被係律宗後世之異說,乃指祇支、覆肩,或其他之衣。合上述二說,故知古之覆肩衣即現稱之橫被。 近世日本淨土真宗等所披之橫被,其長約五尺,寬約一尺,兩端有紐,而掛於右肩,於左胸前打結,然後復於其上披七條衣。顏色與剪裁均略同於袈裟。〔四分律行事鈔資持記卷下一、南海寄歸內法傳卷二、顯密威儀便覽卷上、法體裝束抄〕 ; (橫被) Cũng gọi Hoành phi, Hoành bí, Hoành bì, Hoành vĩ, Hoành đới. Loại áo đắp trên vai bên phải khi mặc pháp y 7 điều. Điều Nhị thời thực pháp trong Giáo giới tân học tỉ khưu hành hộ luật nghi (Đại 45, 871 trung), nói: Khi mặc áo 7 điều thì Hoành bị phải ngang bằng với cổ áo, thẳng xuống cánh tay, che nửa bả vai . Cứ theo Phật chế tỉ khưu lục vật đồ của ngài Nguyên hiểu đời Tống, cái áo che vai bên trái gọi là Kì chi; cái áo che vai bên phải gọi là Phú kiên. Cứ theo Chân ngôn tông trì vật đồ thích, trong 5 áo của tì khưu ni thì có áo Kì chi và áo Phú kiên, chứ không có áo Hoành bị, vì thế cho rằng Hoành bị là do Luật tông đời sau dùng để chỉ cho Kì chi, Phú kiên hoặc áo khác. Hợp cả 2 thuyết nói trên lại, ta thấy áo Phú kiên xưa, hiện nay được gọi là Hoành bị. Hoành bị của hành giả Tịnh độ Chân tông Nhật bản thời cận đại, có chiều dài khoảng 5 thước (Tàu), rộng 1 thước, 2 đầu có dây để cột, khoác ở vai bên phải, cột lại ở trước ngực bên trái, rồi mới đắp áo 7 điều lên trên. Mầu sắc và cách cắt may đều hơi giống ca sa. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Hiển mật uy nghi tiện lãm Q.thượng; Pháp thể trang thúc sao].

Hoành kế

横計; C: héngjì; J: oke; |Tính toán sai lầm, khái niệm sai lầm.

hoành lai cơ

6246又作橫來新受小機。謂於釋尊一代之說法中,未依次第聽受,而於中途聞法之小乘修行僧。即佛陀對於此等機類亦不漏失,而施以種種善巧方便之教化。例如維摩經所說之小乘無常道,或天台宗五時判教之第三方等時,即於大乘教義中混說小乘三藏之教義,以接引此等機類。 ; (橫來機) Cũng gọi Hoành lai tân thụ tiểu cơ. Các vị tăng tu hành theo Tiểu thừa nghe pháp của đức Phật giữa chừng chứ không theo thứ tự. Đối với loại căn cơ này đức Phật cũng không bỏ sót, mà dùng nhiều phương tiện khéo léo để giáo hóa tiếp dẫn họ. Chẳng hạn như đạo lí Vô thường của Tiểu thừa nói trong kinh Duy ma, hoặc thời Phương đẳng trong 5 thời phán giáo của tông Thiên thai, tức là nói cả giáo nghĩa Tam tạng Tiểu thừa trong giáo nghĩa Đại thừa.

hoành niêm

6246禪林用語。指師家之拈提評釋縱橫自在。又師家指導學人時,能縱橫收放,自由自在靈活運用之方法,稱為橫拈豎放、橫拈倒用。〔枯崖漫錄卷上〕 ; (橫拈) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sư gia nêu ra đề tài rồi bình luận và giải thích một cách tự do, tự tại. Còn khi sư gia chỉ dạy người học, vận dụng phương pháp linh hoạt, có thể thu về phóng ra một cách tự do, thì gọi là Hoành niêm thụ phóng (nắm ngang buông dọc), Hoành niêm đảo dụng. [X. Khô nhai mạn lục Q.thượng].

hoành phi

Horizontal board.

hoành quải lạc

6247日本佛教所用袈裟之一。掛絡又稱掛子、絡子。今日本禪林所著用之掛絡分為二種:(一)小掛絡,僅掛於頸,多用於作務等時。(二)大掛絡,即橫掛絡,乃於簡略之儀式時所披掛,以代替袈裟,而橫披於肩上。 ; (橫挂絡) Cũng gọi Quải tử, Lạc tử. Ca sa của giới tăng sĩ Phật giáo Nhật bản. Quải lạc được chia làm 2 loại: 1. Tiểu quải lạc: Chỉ vắt ở cổ, thường dùng khi làm việc. 2. Đại quải lạc: Tức là Hoành quải lạc, được vắt ngang trên 2 vai để thay thế cho ca sa khi cử hành những nghi thức đơn giản.

hoành siêu

6247日本淨土真宗所立二雙四重教判之一。指不須經次第階位而速疾頓入無上大涅槃之法門。即彌陀本願真實之義。我國淨土宗祖師善導依無量壽經卷下(大一二‧二七四中)「橫截五惡趣,惡趣自然閉」之意而說「橫超斷四流」,即含有頓教一乘之義。日本真宗開祖親鸞承其說,謂橫超者,即選擇本願真實報土即得往生之義。亦即於彌陀之本願深信不疑,應其願力而修行,一心不亂,於命終後直接往生真實報土。以橫超乃借佛之本願他力,故稱佛之本願為橫超大誓願。又由本願力迴向之金剛信心能橫截五惡趣,超證大般涅槃,故稱橫超金剛心。〔觀經玄義分(善導)、教行信證卷三、顯淨土真實信文類、顯淨土方便化身土文類、愚禿鈔卷上、唯信鈔文意〕(參閱「二雙四重」251) ; (橫超) Vượt ngang. Chỉ cho pháp môn không cần phải trải qua thứ tự các giai vị mà hành giả có thể đạt được Vô thượng Niết bàn một cách nhanh chóng. Một trong Nhị song tứ trùng giáo phán của Tịnh độ Chân tông Nhật bản. Pháp môn này tức là ý nghĩa chân thực của bản nguyện Di đà. Ngài Thiện đạo, Tổ sư của tông Tịnh độ Trung quốc, đã căn cứ vào ý nghĩa của câu: Hoành tiệt ngũ ác thú, ác thú tự nhiên bế (Cắt ngang năm đường ác, đường ác tự nhiên dứt) trong kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 trung) mà lập thuyết Hoành siêu đoạn tứ lưu (Vượt ngang dứt bốn dòng), tức có hàm nghĩa Nhất thừa đốn giáo trong đó. Ngài Thân loan, Tổ khai sáng của Tịnh độ Chân tông Nhật bản, noi theo thuyết của ngài Thiện đạo, cho rằng Hoành siêu tức là ý nghĩa chọn Báo độ chân thực của bản nguyện thì liền được vãng sinh. Cũng tức là đối với bản nguyện của Phật Di đà một lòng tin sâu, không hoài nghi, theo nguyện lực của Ngài mà tu hành, tâm không tán loạn, thì sau khi mệnh chung sẽ trực tiếp được sinh về Báo độ chân thực. Vì Hoành siêu là nhờ vào bản nguyện tha lực của Phật nên bản nguyện của Ngài cũng được gọi là Hoành siêu đại thệ nguyện . Ngoài ra, do sự hồi hướng bản nguyện lực của tín tâm kim cương có khả năng cắt ngang 5 đường ác, vượt chứng Đại niết bàn, cho nên cũng gọi là Hoành siêu kim cương tâm. [X. Quán kinh huyền nghĩa phần (Thiện đạo); Giáo hành tín chứng Q.3; Hiển tịnh độ chân thực tín văn loại; Hiển tịnh độ phương tiện hóa thân độ văn loại; Ngu thốc sao Q.thượng; Duy tín sao văn ý]. (xt. Nhị Song Tứ Trùng).

hoành siêu huệ nhật

6248(1906~ )日本佛教學者。愛知縣人。一九二九年畢業於東京大學文學部印度哲學科。歷任東方文化學院東京研究所研究員、東京大學東洋文化研究所研究員、大谷大學教授、大谷大學文學部長等。並曾領受紫綬褒章。主要研究六朝佛教思想,以「廣律傳來之前的中國之戒律」獲文學博士學位。為日本佛教界中研究中國佛教的權威學者之一。著有中國佛教の研究、涅槃經、法華思想、法華思想の研究,並編有北魏佛教の研究一書,又與舟橋一哉等人合編佛教學辭典、綜合佛教大辭典。 ; (橫超慧日) (1906-) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Ái tri. Năm 1929, ông tốt nghiệp khoa triết học Ấn độ tại trường Đại học Đông kinh. Ông từng là Nghiên cứu viên của sở Nghiên cứu đông Kinh thuộc Học viện Văn hóa Đông phương, Nghiên cứu viên của sở Nghiên cứu văn hóa Đông dương thuộc trường Đại học Đông kinh, Giáo sư kiêm Khoa trưởng Văn khoa trường Đại học Đại cốc, v.v... Ông chuyên nghiên cứu tư tưởng Phật giáo Trung quốc thời Lục triều, nhờ luận án Giới luật của Trung quốc trước khi Quảng luật được truyền đến mà ông đậu bằng Tiến sĩ Văn học. Ông là một trong những học giả nghiên cứu về Phật giáo Trung quốc có uy tín tại Nhật bản. Những tác phẩm của ông gồm có: Trung quốc Phật giáo chi nghiên cứu, Niết bàn kinh, Pháp hoa tư tưởng, Pháp hoa tư tưởng chi nghiên cứu, Bắc Ngụy Phật giáo chi nghiên cứu. Ngoài ra, ông còn soạn chung với nhóm các ông Chu kiều Nhất tai, v.v... các bộ Phật giáo học từ điển và Tông hợp Phật giáo đại từ điển.

hoành siêu trực đạo

6247指日本淨土真宗所主張依靠彌陀他力之本願,不經次第階位等迂迴之法,而超越五惡趣,速疾悟入無上涅槃之直道。 ; (橫超直道) Con đường thẳng vượt qua. Tịnh độ Chân tông của Nhật bản, chủ trương hoàn toàn nương tựa vào bản nguyện tha lực của Phật A di đà, không phải trải qua thứ tự các giai vị, mà vượt qua 5 đường ác, trực tiếp chứng nhập Niết bàn vô thượng một cách mau chóng.

hoành siêu đại thệ nguyện

6247指阿彌陀佛四十八願之第十八願。此願為四十八願中之最重要者,故又有願王之稱。彌陀誓願攝受十方一切眾生,由信者一念之願力,即出生死海,而超證佛果。〔淨土論(世親)、正信念佛偈〕(參閱「四十八願」1640) ; (橫超大誓願) Chỉ cho nguyện 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Nguyện này là nguyện trọng yếu nhất trong 48 nguyện, cho nên cũng được gọi là Nguyện vương. Đức Phật A di đà thệ nguyện tiếp thụ tất cả chúng sinh trong 10 phương, do sức nguyện một niệm mà người có lòng tin liền ra khỏi biển sinh tử, siêu chứng quả Phật. [X. luận Tịnh độ (Thế thân); Chính tín niệm Phật kệ]. (xt. Tứ Thập Bát Nguyện).

hoành sơn

6290位於湖南衡陽北方。又稱南嶽。為五嶽之一。南朝陳代之慧思、唐代之懷讓、希遷及明代之德清等歷代高僧皆曾居此山,因而馳名於世。山中有般若、惠日等五峰,或稱二十峰、七十二峰。依開元十八年(730)之麓山寺碑記載,可知於三國吳之寶鼎二年(268)由法崇開山。山中有萬壽寺(麓山寺)、勝業寺(祝聖寺),及石頭希遷故地之南臺寺、慧思故地之福嚴寺,另有與懷讓、馬祖道一有淵源之傳法院,附近又有佛果克勤、無準師範舊居之道林寺。〔續高僧傳卷十七、柳河東集卷六〕(參閱「南嶽」3752) ; (衡山) Cũng gọi Nam nhạc. Núi nằm về mạn bắc huyện Hoành dương, tỉnh Hồ nam, Trung quốc. Một trong Ngũ nhạc. Cứ theo văn bia của chùa Lộc sơn (chùa ở chân núi) được khắc vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, thì ngài Pháp sùng khai sơn làm chùa vào năm Bảo đỉnh thứ 2 (268) đời Ngô (thời Tam quốc). Trong núi có các chùa: Vạn thọ (Lộc sơn), Thắng nghiệp (chùa Chúc thánh), Phúc nghiêm, Đạo lâm và viện Truyền pháp… Các vị Thiền sư: Tuệ tư đời Trần thuộc Nam triều, Hoài nhượng, Hi thiên, Đạo nhất đời Đường, Khắc cần, Sư phạm đời Tống, Đức thanh đời Minh, v.v... đều đã từng ở đây, nhờ đó mà núi này nổi tiếng ở đời. [X. Tục cao tăng truyện Q.17; Liễu hà đông tập Q.6]. (xt. Nam Nhạc).

hoành thuyết tung thuyết

Thuyết pháp vô ngại—Vertically preach and horizontally preach—To preach without restriction in any direction.

hoành thụ

6248即橫與豎。與「縱橫」同義。有二義:(一)以次第謂豎,不依次第謂橫。(二)以亘於時間謂豎,亘於空間謂橫。如選擇決疑鈔卷三(大八三‧六九上):「若橫若豎,具足三心行念佛者,百千皆生,萬無一失。」是取次第、不次第之意。又顯名鈔載,光明無量,乃橫顯十方,利益無邊;壽命無量,乃豎示三世,化導無限。此說是以橫豎表空間、時間之意。〔摩訶止觀卷一上、卷五上、法華經玄義卷二上、華嚴經隨疏演義鈔卷二十二、十住心論卷十、教行信證文類卷三、卷六〕 ; Hoành Tung hay Ngang Dọc—Crosswise and upright, to lay across or stand upright. ; (橫竪) Đồng nghĩa với Tung Hoành. Ngang và Dọc. Có 2 nghĩa: 1.Theo thứ tự gọi là Thụ (dọc), không theo thứ tự gọi là Hoành (ngang). Tuyển trạch quyết nghi sao quyển 3 (Đại 83, 69 thượng), nói: Hoặc Hoành hoặc Thụ, nếu những người tu hành niệm Phật có đầy đủ 3 tâm thì trăm nghìn người đều vãng sinh, vạn người không sót một . Đây là theo ý nghĩa thứ tự, không thứ tự. 2.Về thời gian gọi là Thụ, về không gian gọi là Hoành. Hiển danh sao ghi: Quang minh vô lượng là Hoành, hiển 10 phương, lợi ích vô biên; thọ mệnh vô lượng là Thụ, bày 3 đời, hóa đạo vô hạn. Thuyết này dùng hoành thụ biểu thị nghĩa không gian, thời gian. [X. Ma ha chỉ quán Q.1 phần trên, Q.5 phần trên; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2 phần trên; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.22; luận Thập trụ tâm Q.10;Giáo hành tín chứng văn loại Q.3, Q.6].

hoành tiệt

6248謂橫斷三界五趣生死之流,而往生於極樂世界。無量壽經卷下(大一二‧二七四中):「宜各勤精進,努力自求之,必得超絕去,往生安樂國,橫截五惡趣,惡趣自然閉,昇道無窮極。」 ; Cắt ngang dòng sinh tử của ba cõi sáu đường mà vãng sanh Cực Lạc—To end (thwart, intercept, cut off) reincarnation and enter Paradise. ; (橫截) Cắt ngang. Nghĩa là dứt ngang dòng sinh tử nối tiếp trong 3 cõi 5 đường mà sinh về thế giới Cực lạc. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 trung), nói: Mọi người đều tinh tiến, gắng sức tự cứu mình, chắc sẽ được siêu thoát, sinh về cõi yên vui, chặt ngang 5 nẻo ác, nẻo ác tự nhiên dứt, lên đường vô cùng cực .

hoành trụ chỉ hợp chưởng

6247為密教十二種合掌之一。又稱啼哩曳。即合掌之時,二掌上仰,兩手中指指頭微屈互接。〔大日經疏卷十三、大日經義釋卷八〕(參閱「十二合掌」336) ; (橫柱指合掌) Cũng gọi Đề lí duệ. Một trong 12 cách chắp tay của Mật giáo. Tức khi chắp tay, 2 bàn tay ngửa lên, đầu các ngón giữa hơi co lại và chạm vào nhau. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.8]. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).

hoành túng

Ngang dọc—Across and direct—Crosswise and lengthwise.

hoành tử

6246指非因往世之業果致死,而係遭意外災禍死亡者,稱為橫死。又作非時死、不慮死、事故死。共有九種,即:(一)得病無醫,(二)王法誅戮,(三)非人奪精氣,(四)火焚,(五)水溺,(六)惡獸啖,(七)墮崖,(八)毒藥咒咀,(九)饑渴所困。〔藥師琉璃光如來本願功德經、佛說九橫經、虛空菩薩問七佛陀羅尼咒經〕 ; (橫死) Cũng gọi Phi thời tử, Bất lự tử, Sự cố tử. Chết oan. Vì gặp tai nạn ngoài ý muốn mà chết. Có 9 thứ chết oan: 1. Bị bệnh không có thuốc chữa mà chết. 2. Phạm pháp bị hành hình mà chết. 3. Bị loài phi nhân (yêu quái) hút hết tinh khí mà chết. 4. Bị chết cháy. 5. Bị chết đuối. 6. Bị ác thú ăn thịt. 7. Từ trên sườn núi rơi xuống mà chết. 8. Bị thuốc độc, bùa chú mà chết. 9. Bị chết đói, chết khát. [X. kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện công đức; kinh Phật thuyết cửu hoạnh; kinh Hư không bồ tát vấn thất Phật đà la ni chú].

Hoành tử, hoạnh tử

(橫死): còn gọi là Phi Thời Tử (非時死), Bất Lự Tử (不慮死), Sự Cố Tử (事故死); chỉ cho những người chết không phải do vì nhân nghiệp quả của đời trước, mà do vì tai họa bất ngờ. Hoạnh tử có 9 loại: (1) Có bệnh nhưng không thầy thuốc mà chết; (2) Bị chém chết do phép vua; (3) Chết do loài không phải người đoạt mất tinh khí; (4) Bị chết do lửa thiêu cháy; (5) Bị chết đuối; (6) Chết do bị ác thú ăn; (7) Chết do bị rớt xuống vực thẳm; (8) Chết do bị thuốc độc, bùa chú thư yểm; (9) Chết do bị đói khát. Trong Tống Thư (宋書), phần Liễu Nguyên Cảnh Truyện (柳元景傳), có đoạn: “Thế Tổ băng, Nghĩa Cung, Nguyên Cảnh đẳng tinh tương vị viết: 'Kim nhật thỉ miễn hoạnh tử' (世祖崩、義恭、元景等幷相謂曰、今日始免橫死, vua Thế Tổ băng hà, Nghĩa Cung, Nguyên Cảnh, v.v., cùng bảo rằng: 'Hôm nay bắt đầu khỏi hoạnh tử rồi !').” Trong Thập Nhị Phẩm Sanh Tử Kinh (十二品生死經, Taishō Vol. 17, No. 753), đức Phật có thuyết về 12 trường hợp chết, trong đó có hoạnh tử. Trong Hư Không Tạng Bồ Tát Vấn Thất Phật Đà La Ni Chú Kinh (虛空藏菩薩問七佛陀羅尼咒經, Taishō Vol. 21, No. 1333) thì dạy rằng: “Nhược hữu thiện nam tử thiện nữ nhân thọ trì thử chú giả, nhược độc nhược tụng, nhược phục hữu nhân suy mịch thử chú giả, nhược nhạo thính văn giả, thị nhân bất vi nhất thiết đao trượng sở hại, bất vi nhất thiết thủy nịch, bất vi nhất thiết khổ hoạn sở trì, bất thọ nhất thiết hoạnh tử (若有善男子善女人受持此咒者、若讀若誦、若復有人推覓此咒者、若樂聽聞者、是人不爲一切刀仗所害、不爲一切水溺、不爲一切苦患所持、不受一切橫死, nếu có người thiện nam, thiện nữ nào thọ trì chú này, hoặc đọc hoặc tụng, nếu lại có người tìm tòi chú này, nếu thích lắng nghe, người ấy không bị tất cả đao gậy xâm hại, không bị tất cả chết đuối, không bị tất cả hoạnh tử).” Hay trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 3 lại có câu thỉnh rằng: “Nhất tâm phụng thỉnh, thập phương pháp giới Diệm Khẩu quỷ vương, Tam Phẩm Cửu Loại chư ngạ quỷ chúng, hoạnh tử cô hồn, tinh chư quyến thuộc (一心奉請、十方法界燄口鬼王、三品九類諸餓鬼眾、橫死孤魂、幷諸眷屬, một lòng phụng thỉnh mười phương pháp giới Diệm Khẩu [miệng bốc lửa] quỷ vương, ba phẩm chín loài các chúng ngạ quỷ, hoạnh tử cô hồn, cùng các quyến thuộc).”

Hoành Xuyên

(横川, Yokogawa): tên gọi của khu vực nằm ở một trong ba ngôi tháp lớn trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), nằm phía Bắc của Căn Bổn Trung Đường (根本中堂), gọi là Thủ Lăng Nghiêm Viện (首楞嚴院), do Viên Nhân (圓仁, Ennin) kiến lập. Sau đó Lương Nguyên (良源, Ryōgen) đến sống ở đây và làm cho chốn này hưng thạnh lên. Ngoài ra nơi khu vực này còn có Tứ Quý Giảng Đường (四季講堂), Nguyên Tam Đường (元三堂), Tuệ Tâm Đường (慧心堂), Lưu Ly Đường (瑠璃堂).

hoành xuất

6246日本真宗所立二雙四重教判之一。(一)為「豎出」之對稱。依他力經由次第而出離生死之教義,稱為橫出。反之,以自力經由階次而出離生死之教義,稱為豎出。 (二)為「橫超」之對稱。真宗於淨土門之易行道中,復分橫超與橫出二道。於他力中以自力之心,修習「定散」之諸行,而生於方便之化土,稱為橫出。若依彌陀之本願,深信不疑,而往生真實之報土,稱為橫超。〔愚禿鈔卷下〕(參閱「二雙四重」251、「橫豎」6248) ; Bằng cái tâm tự lực trì trai giữ giới, tu các hạnh định tán để được sanh vào cõi hóa độ phương tiện gọi là “Hoành Xuất,” ngược lại với Hoành Siêu, có nghĩa là nghe và tin vào bản nguyện của Phật A Di Đà để được vãng sanh thẳng vào cõi báo độ chân thực—By discipline to attain to temporary nirvana, in contrast with happy salvation to Amitabha's paradise through trust in him. ; (橫出) I. Hoành Xuất. Đối lại với Thụ xuất. chết, gọi là Hoành xuất. Một trong Nhị song Tứ trùng giáo phán do Tịnh độ Chân tông Nhật bản lập ra. Trái lại, giáo nghĩa nương vào tự lực, trải qua thứ tự tu tập mà được xuất li sinh tử, thì gọi là Thụ xuất. II. Hoành Xuất. Đối lại với Hoành siêu. Trong dị hành đạo của Tịnh độ môn, Chân tông của Nhật bản lại chia làm Hoành siêu và Hoành xuất . Ở trong tự lực, dùng tâm tự lực tu tập các hạnh định tán, được sinh vào cõi phương tiện hóa độ, gọi là Hoành xuất. Còn nương vào bản nguyện của đức Phật Di đà, dốc lòng tin tưởng, không hề nghi ngờ, mà được vào cõi Chân thực báo độ, thì gọi là Hoành siêu. [X. Ngu thốc sao Q.hạ]. (xt. Nhị Song Tứ Trùng, Hoành Thụ).

Hoành 横

[ja] オウ ō ||| (1) Horizontal, sideways, width, breadth. (2) Lie down, stretch out, place across. (3) Fill, become full; be blocked up, stopped up. (4) Freely, easily. (5) Wicked, evil, mistaken, perverse, unreasonable, unnatural. (6) As one desires. (7) Temporarily. =>1. Đường nằm ngang, ngang, bề ngang, bề rộng. 2. Nằm xuống, trải ra, đặt ngang qua. 3. Choán đầy, làm đầy; tắc nghẽn, dừng lại. 4. Thoải mái, thanh thản. 5. Tinh quái, xấu ác, sai lầm, ngang bướng, quá đáng, không tự nhiên. 6. Như là điều người ta khao khát. 7. Nhất thời.

Hoá

化; C: huà; J: ke; |Có các nghĩa sau: 1. Dạy dỗ, hướng dẫn (s: asādhya); 2. Điều hoà; 3. Biểu lộ thông qua sự chuyển hoá (s: nirmāṇa); 4. Tái sinh; 5. Hoá thân Phật (nirmāṇa-kāya); 6. Sự qua đời của một cao tăng.

hoá

1321<一>梵語 sādhya。指教導眾生,使其轉化改變。即普通所謂之教化、勸化(勸入正道)、化導、化益(利益教化)、化度(教化濟度)等。教化他人者,稱為「能化」;被教化者,稱為「所化」;佛陀則為「化主」。佛陀不以一定之方式而隨順眾生之根機教化,稱為「適化無方」。又隨緣作適宜之教導,稱為「隨緣化物」(物指眾生)。漸漸以順當之方法教化眾生,稱為「順化」,而對不服之眾生則以違逆之方法教化,稱為「逆化」。〔大乘本生心地觀經卷三、成唯識論卷十〕 <二>指改變而成為其他者。例如佛、菩薩為教化眾生,而以其神通變化成種種相貌。最初「化」之一詞意指變化、化作、化現、化生(忽然生起)、幻化(如幻之化現)等普通用語,後則指化身、化土、化佛、化菩薩、權化(以為方便手段之暫時假相)等普通用語。此外,化身以身、語、意三業來教化眾生,稱為三化,即身化、語化、意化。此三化與三輪、三種神變、三種示導、三示現等語同義。〔觀佛三昧海經卷三、觀無量壽經〕 <三>指遷化。乃人之遷移化滅,即死亡之意。 ; (化) I. Hóa. Phạm: Sàdhya. Chỉ dạy chúng sinh, khiến cho họ chuyển hóa mà quay về chính đạo, tức phổ thông thường nói giáo hóa, khuyến hóa (khuyên người vào chính đạo), hóa đạo, hóa ích (giáo hóa làm lợi ích), hóa độ (giáo hóa cứu độ), v.v... Người chỉ dạy người khác gọi là Năng hóa , người được chỉ dạy gọi là Sở hóa . Đức Phật chính là Hóa chủ. Ngài không dùng một phương thức giáo hóa nhất định nào mà tùy thuận theo căn cơ của chúng sinh để chỉ dạy, gọi là Thích hóa vô phương ; còn tùy duyên mà giáo hóa một cách thích hợp thì gọi là Tùy duyên hóa vật (vật ở đây là chỉ cho chúng sinh). Dùng phương pháp tùy thuận giáo hóa chúng sinh gọi là Thuận hóa , dùng phương pháp trái ngược giáo hóa chúng sinh gọi là Nghịch hóa .[X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.3; luận Thành duy thức Q.10]. II. Hóa. Biến đổi thành một hình tướng hoặc trạng thái khác, chẳng hạn như Phật và Bồ tát vận dụng thần thông biến hóa thành nhiều hình tượng để tùy cơ giáo hóa chúng sinh.III. Hóa. Chỉ cho sự dời đổi biến diệt của con người, tức là chết hoặc mất.

hoá chủ

1322<一>教化之主。即指釋尊。與「能化」、「教主」為同義語。菩薩戒義疏卷上(大四○‧五七○下):「一標化主,大聖釋尊。」 <二>教化之主人。指住持。禪苑清規卷十百丈規繩頌(卍續一一一‧四六五下):「凡具道眼,有可遵之德者,號曰長老,如西域道高臘長呼須菩提等之謂也。既為化主,即處于方丈。」 <三>街坊化主之略稱。指禪林中專司行走街坊,勸檀化越隨力施與以添助寺院者。有粥街坊、米麥街坊、菜街坊、醬街坊等別。其勸化所得,稱為化米、化麥、化醬等。〔禪苑清規卷四、卷五、禪林象器箋職位門〕 ; (化主) I. Hóa Chủ. Cùng nghĩa với Năng hóa, Giáo chủ. Chỉ cho đức Phật Thích ca. Bồ tát giới nghĩa sớ quyển thượng (Đại 40, 570 hạ), ghi: Đấng Hóa chủ đệ nhất, bậc Đại thánh Thích tôn . II. Hóa Chủ. Người chủ yếu của việc giáo hóa. Chỉ cho vị Trụ trì. Bách trượng qui thằng tụng trong Thiền uyển thanh qui quyển 10 (Vạn tục 111, 465 hạ), nói: Người có đủ đạo nhãn, có đức hạnh đáng được tôn quí, gọi là Trưởng lão, giống như ở Tây vực người ta tôn xưng Trưởng lão Tu bồ đề. Đã là Hóa chủ thì ở trong phương trượng . III. Hóa Chủ. Gọi đủ: Nhai phường hóa chủ. Chỉ cho các chức vụ trong Thiền lâm chuyên đi thuyết pháp, khuyến hóa tín đồ, tùy theo khả năng, cúng dường giúp đỡ chùa viện. Các chức vụ này gồm có: Chúc nhai phường, Mễ mạch nhai phường, Thái nhai phường, Tương nhai phường, v.v... Những phẩm vật khuyến hóa được gọi là Hóa mễ, Hóa mạch, Hóa tương, v.v... [X. Thiền uyển thanh qui Q.4, Q.5; môn Chức vị trong thiền lâm tượng khí tiên].

hoá cung điện

1326為千手觀音四十手中,左手之一所持之物。其手稱化宮殿手、宮殿手、寶殿手。千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼(大二○‧一一九中):「若為生生世世常在佛宮殿中,不處胎藏中受身者,當於化宮殿手。」〔千光眼觀自在菩薩祕密法經、圖像抄卷六〕 ; (化宮殿) Vật cầm ở tay trái trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Tay này được gọi là Hóa cung điện thủ, Cung điện, Bảo điện thủ. Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni (Đại 20, 119 trung), nói: Nếu là người đời đời kiếp kiếp thường ở trong cung điện Phật, không thụ thân trong bào thai, thì chính đang ở nơi Hóa cung điện thủ này . [X. kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp; Đồ tượng sao Q.6].

hoá duyên

1328<一>指教化之因緣。以眾生有受教之因緣,故佛、菩薩即現世說法,待因緣盡,佛、菩薩則入滅。〔南海寄歸內法傳卷一〕 <二>指化益之機緣。能接受佛、菩薩教化利益之眾生根機,成為說法之因緣,故此眾生之根機稱為化緣。 <三>為募化、勸化之意。於日本佛教,則為街坊化主之異稱。即遊街說法,並向人乞討道糧或淨資之意。 ; (化緣) I. Hóa Duyên. Nhân duyên giáo hóa. Vì chúng sinh có nhân duyên nhận lãnh giáo pháp, nên đức Phật và các Bồ tát mới thị hiện ra đời để thuyết pháp. Khi nhân duyên hết thì Phật và Bồ tát liền nhập diệt. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1]. II. Hóa Duyên. Cơ duyên giáo hóa làm lợi ích. Nghĩa là căn cơ của chúng sinh có khả năng tiếp nhận sự giáo hóa của Phật và Bồ tát mà được lợi ích, thì căn cơ ấy trở thành nhân duyên thuyết pháp cho nên được gọi là Hóa duyên. III. Hóa Duyên. Mộ hóa, khuyến hóa. Tên gọi khác của Nhai phường hóa chủ do Phật giáo Nhật bản sử dụng.

hoá giáo

1326指以理為本之教。南山律宗判佛教為化教與制教(又作行教)二大別,故稱化制二教或化行二教。化教意謂應眾生之性質、能力等,而以實踐定、慧為本之教,即所謂大乘、小乘諸經。制教則指制止錯誤之教,於制法之立場上言,稱為制教;於行為之立場言,稱為行教。即所謂戒律一藏。化教以理為本,再由內心加以修行,故適用於出家在家、小乘大乘,對違犯者而言,須受業道報應。制教則以律為本,以守護身口為目的,故在家眾若犯,須受業道果報;而出家眾若有犯者,除受業道果報外,亦違犯佛制戒之罪。 此外,道宣分化教為性空教(小乘)、相空教(般若等大乘淺教)、唯識圓教(說唯識之大乘深教)等而立性空觀、相空觀、唯識觀等三觀。再由制教之戒體論立實法宗(有部)、假名宗(成實論)與圓教宗(唯識圓教)等三宗,而有三教三宗、三觀三宗等名稱。關於律,道宣立制聽二教之說。凡是由佛制所興者,稱為制教;以因緣而特別得佛允許之教,則稱為聽教。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上一、四分律行事鈔資持記卷上一之二〕 ; (化教) Nam sơn Luật tông chia toàn bộ giáo pháp của đức Phật làm Hóa giáo và Chế giáo. Hóa giáo thích ứng với trình độ và năng lực của chúng sinh, lấy định và tuệ làm căn bản, tức là các kinh Đại thừa, Tiểu thừa. Còn Chế giáo là ngăn ngừa những việc làm sai trái, tức là tạng Giới luật. Hóa giáo lấy lí làm nền tảng, trong tâm theo lí đó mà tu hành, thích ứng cho cả hàng xuất gia và tại gia, Tiểu thừa và Đại thừa. Còn Chế giáo thì lấy giới luật làm gốc, ngăn cấm thân khẩu tạo tác các việc xấu ác. Nếu hàng tại gia vi phạm sẽ phải chịu nghiệp đạo quả báo; nếu hàng xuất gia trái phạm thì ngoài việc chịu nghiệp đạo quả báo ra, còn phải tội vi phạm giới luật Phật chế. Ngoài ra, ngài Đạo tuyên chia Hóa giáo làm 3: Tính không giáo (Tiểu thừa), Tướng không giáo (Bát nhã Đại thừa) và Duy thức Viên giáo (Duy thức Đại thừa), đồng thời lập 3 pháp quán: Tính không quán, Tướng không quán và Duy thức quán. Rồi lại căn cứ vào thể của Chế giáo mà lập ra 3 tông: Thực pháp tong (Hữu bộ), Giả danh tông (luận Thành thực) và Viên giáo tong (Duy thức Viên giáo). Vì thế nên có danh xưng Tam giáo tam tông, Tam quán tam tông. Đối với luật, ngài Đạo tuyên lập Chế giáo và Thính giáo. Phàm những việc mà đức Phật cấm, gọi là Chế giáo; còn vì nhân duyên đặc biệt được đức Phật cho phép, thì gọi là Thính giáo. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng phần 1, 2].

hoá hiện

1327指化現形像。即佛、菩薩為救度眾生,變化成種種形像,示現於此一世間。(參閱「權化」6891) ; (化現) Hóa hiện những hình tướng khác nhau. Vì cứu độ chúng sinh, Phật và Bồ tát biến hóa thành nhiều hình tướng, thị hiện trong thế gian. (xt. Quyền Hóa).

hoá hành

1324化教與行教之並稱。又稱化制。應眾生之根性能力而教化,令知因果道理與邪正差別之教法,稱為化教,為實踐定、慧之教,通於道俗,即大小乘諸經所說之教法。明示佛弟子當守之戒行,稱為行教,又作制教,為制止過誤之教,即指戒律一藏。南山律宗以此化行二教分判佛陀一代時教。大乘義章卷一(大四四‧四六九上):「化教所說,名修多羅;行教所說,名曰毘尼。汎宣理事因果是非,是化教也;辨彰行儀,是行教也。」〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上之一、四分律行事鈔資持記卷上一之二、南山四分含注戒本疏卷一之上〕 ; (化行) Cũng gọi Hóa chế. Từ gọi chung Hóa giáo và Hành giáo. Giáo pháp thích ứng với căn tính và năng lực của chúng sinh mà giáo hóa, khiến cho họ biết rõ đạo lí nhân quả và sự khác nhau giữa tà và chính, gọi là Hóa giáo, là pháp định tuệ thực tiễn, chung cho cả hàng xuất gia, tại gia, tức là giáo pháp được nói trong các kinh Tiểu thừa và Đại thừa. Còn các giới hạnh mà các đệ tử Phật phải tuân thủ thì gọi là Hành giáo, hoặc gọi là Chế giáo, là giáo pháp ngăn cấm những đều sai trái, tức chỉ cho tạng Luật. Đại thừa nghĩa chương quyển 1 (Đại 44, 469 thượng), nói Hóa giáo là Kinh, Hành giáo là Luật. Hóa giáo nói chung về lí sự, nhân quả, thị phi; Hành giáo nêu tỏ uy nghi của hành vi, cử chỉ . [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng phần 1 đoạn 2; Nam sơn tứ phần hàm chú giới bản sớ Q.1 phần trên].

Hoá lạc thiên

化樂天; C: huàlètiān; J: kerakuten; |Tầng trời thứ 5 của Lục dục thiên (六欲天). Một cõi mà sinh thể ở đó có thể trực tiếp biến hoá những đối tượng tạo khoái lạc cho chính mình. Còn gọi là Lạc biến hoá thiên (樂變化天).

hoá lạc thiên

1327梵名 Nirmāṇarati-deva,音譯作尼摩羅天、維那羅泥天。又作化自在天、化自樂天、不憍樂天、樂無慢天、無貢高天、樂變化天。乃欲界六天中之第五天,其上為他化自在天,下為兜率天。此天之人,自化五塵而自娛樂,故稱化自樂。以人間八百歲為一日夜,壽長八千歲,身長八由旬,身具常光,男女互相熟視或相向而笑即成交媾,其子自男女膝上化生,甫生即大如人間十二歲之孩童。與夜摩天、兜率天、他化自在天等,俱以長壽、端正、多樂三事勝閻浮提。〔長阿含經卷二十、起世經卷七、大智度論卷九、俱舍論卷十一〕 ; Nirmāṇarati (S)Hoá tự lạc thiên, Diệu lạc hoá thiên, Tu niết mật đàCõi trời thứ 5 trong cõi Lục dục thiên. Đứng đầu là vua Trời Thiện Hóa. ; (化樂天) Phạm: Nirmàịarati-deva. Dịch âm: Ni ma la thiên, Duy na la nê thiên. Cũng gọi Hóa tự tại thiên, Hóa tự lạc thiên, Bất kiêu lạc thiên, Lạc vô mạn thiên, Vô cống cao thiên, Lạc biến hóa thiên. Tầng trời thứ 5 trong 6 tầng trời cõi Dục, tức là tầng trời ở dưới cõi trời Tha hóa tự tại và ở trên cõi trời Đâu suất. Vì người cõi trời này tự biến hóa ra 5 trần cảnh để vui chơi, cho nên gọi là Hóa tự lạc. Một ngày một đêm ở cõi trời này bằng 800 năm ở cõi người, chư Thiên ở cõi này sống lâu 8.000 tuổi, thân cao 8 do tuần, thường phát ra ánh sáng. Nam nữ nhìn nhau hoặc cười với nhau liền thụ thai. Đứa con sinh ra từ đầu gối của người nam hoặc người nữ; trẻ sơ sinh đã to bằng đứa bé 12 tuổi ở cõi người. Cõi trời này cùng với các cõi Dạ ma, Đâu suất, Tha hóa tự tại đều có 3 việc thù thắng hơn cõi Diêm phù đề là: sống lâu, xinh đẹp và vui thú. [X. kinh Trường a hàm Q.20; kinh Khởi thế Q.7; luận Đại trí độ Q.9; luận Câu xá Q.11].

Hoá lạc thiên 化樂天

[ja] ケラクテン kerakuten ||| The "creation of enjoyment" heaven. The fifth of the six heavens of the desire realm 六欲天. An existence where the subject is able to directly create his own objects of enjoyment. Also called 樂變化天. => Tầng trời thứ năm của Lục dục thiên. Một cõi mà sinh thể ở đó có thể tự tạo ra khoái lạc bằng niềm vui cuả các dối tượng khác. Còn gọi là Lạc biến hoá thiên 樂變化天.

Hoá nghi

化儀; C: huàyí; J: kegi; |Phương pháp, hình thức của giáo lí đạo Phật.

hoá nghi

1327謂佛陀化導眾生之形式方法。教化眾生之經典內容,稱為化法。化法有如藥味,化儀有如藥材,兩者必須相輔相成,方可奏效。天台智顗立頓、漸、祕密、不定等四教為化儀四教,藏、通、別、圓四教為化法四教。〔天台八教大意〕(參閱「五時八教」1132) ; (化儀) Phương pháp và hình thức giáo hóa chúng sinh của đức Phật. Nội dung kinh điển để giáo hóa chúng sinh gọi là Hóa pháp. Hóa pháp như vị thuốc, Hóa nghi như phương thuốc, cả hai phải hỗ trợ cho nhau mới có hiệu quả. Ngài Trí khải lập 4 giáo: Đốn, Tiệm, Bí mật và Bất định là 4 giáo Hóa nghi; còn 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên là 4 giáo Hóa Pháp.[X. Thiên thai bát giáo đại ý]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).

hoá nghi tam bảo

1327四種三寶之一。又作化相三寶。大乘以諸佛三身為佛寶,六度等為法寶,十聖為僧寶;小乘以丈六化身為佛寶,四諦十二因緣等為法寶,聲聞、緣覺為僧寶。此化相三寶為無常,其相有別異,故亦稱別相三寶。〔釋門歸敬儀卷上、四分律行事r資持記卷上一之一、正法眼藏歸依三寶〕(參閱「四種三寶」1795) ; (化儀三寶) Cũng gọi Hóa tướng tam bảo, Biệt tướng Tam bảo. Đại thừa chủ trương: Ba thân Phật là Phật bảo; pháp Lục độ là Pháp bảo; Thập thánh là Tăng bảo. Tiểu thừa chủ trương: Thân Phật 1 trượng 6 là Phật bảo; pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên là Pháp bảo; Thanh văn, Duyên giác là Tăng bảo. Vì Hóa tướng Tam bảo này là vô thường, hình tướng sai biệt, cho nên gọi là Biệt tướng Tam bảo. [X. Thích môn qui kính nghi Q.thượng; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng phần 1 đoạn 1; Chính pháp nhãn tạng qui y Tam bảo]. (xt. Tứ Chủng Tam Bảo).

hoá nghi tứ giáo

1327天台宗所立。謂佛陀教導眾生之方式有頓教、漸教、祕密教、不定教等四種,與化法四教並稱為天台八教;八教與五時即為天台宗判教之名。據四教義卷一、八教大意等載:(一)頓,指華嚴經所說不歷階次,「頓」至佛位之教義,由化儀上而言,稱為頓教。(二)漸,指阿含經、般若經、方等經等教義,須依次漸修,故稱漸教。(三)祕密,指「同聽異聞,互不相知」,各人聽到與自己根機相應之道理,此稱祕密教。(四)不定,指「同聽異聞,彼彼相知」,而各有不同之理解,稱為不定教。〔法華經玄義卷十下、法華經文句卷六下、維摩經玄疏卷六、天台四教儀備釋卷上〕(參閱「五時八教」1132、「化法」1325) ; (化儀四教) Bốn giáo pháp do tông Thiên thai dựa theo phương thức giáo hóa chúng sinh của đức Phật mà lập ra. Đó là: Đốn giáo, Tiệm giáo, Bí mật giáo và Bất định giáo. Tứ giáo nghĩa quyển 1 và Bát giáo đại ý giải thích như sau: 1. Đốn: Chỉ cho giáo nghĩa kinh Hoa nghiêm. Tu hành theo giáo nghĩa này không phải trải qua thứ bậc mà tiến thẳng đến quả vị Phật, nên gọi là Đốn giáo. 2. Tiệm: Chỉ cho giáo nghĩa trong các kinh A hàm, Bát nhã, Phương đẳng, v.v... tu tập theo giáo nghĩa này phải trải qua thứ lớp, dần dần mới đạt đến quả vị Phật, nên gọi là Tiệm giáo. 3. Bí mật: Chỉ giáo pháp đức Phật nói cho cùng một thính chúng nhưng tùy theo căn cơ mà mỗi người lãnh hội khác nhau, không ai biết ai, nên gọi là Bí mật giáo. 4. Bất định: Chỉ cho giáo pháp đức Phật nói cho cùng một thính chúng, họ đều biết nhau, nhưng mỗi người hiểu một cách khác, không ai giống ai, nên gọi là Bất định giáo. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10 phần dưới; Pháp hoa kinh văn cú Q.6 phần dưới; Duy ma kinh huyền sớ Q.6; Thiên thai tứ giáo nghi bị thích Q.thượng].

Hoá nghi 化儀

[ja] ケギ kegi ||| The method, or format of the Buddhist teaching. => Phương pháp, hình thức của giáo lý đạo Phật.

hoá nhân

1321梵語 nirmitaka。指經由神通力所變化顯現之人。如佛、菩薩及鬼畜等,以神通力所化現之人。蓋佛、菩薩、羅漢等為救度各類眾生,常隨機變化為各種形相、身分、膚色之人。〔華嚴經卷七十三、大智度論卷二、四分律刪繁補闕行事鈔卷上三〕 ; (化人) Phạm: Nirmitaka. Chỉ cho những người do sức thần thông biến hóa mà hiển hiện ra. Vì cứu độ các loài chúng sinh mà Phật, Bồ tát và La hán thường tùy theo căn cơ biến hóa ra hình người có các tướng trạng, thân phận và mầu da khác nhau. [X. kinh Hoa nghiêm Q.73; luận Đại trí độ Q.2; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 3].

hoá pháp

1324「化儀」之對稱。謂如來所說法門之教旨。天台宗稱藏、通、別、圓四教為化法四教,譬如藥味,而以化儀譬如藥方。〔天台八教大意、止觀義例卷上、天台四教儀集註卷上〕(參閱「化儀」1327) ; (化法) Đối lại với Hóa nghi. Nội dung giáo pháp trong các kinh do đức Phật nói. Hóa pháp ví như vị thuốc, Hóa nghi ví như phương thuốc. [X. Thiên thai bát giáo đại ý; Chỉ quán nghĩa lệ Q.thượng; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Hóa Nghi).

hoá pháp tứ giáo

1325天台宗之判教學說。謂佛陀教化眾生之教法內容有藏教、通教、別教、圓教等四種,與化儀四教並稱為天台八教。分言之,即:(一)藏教,全稱三藏(經、律、論)教。指小乘教。即為三乘人各別說生滅之四諦,以析空觀同斷見思惑,令入無餘涅槃。(二)通教,指諸部般若,義通大小,包括深奧與淺顯之道理。即為三乘人說體空無生之四諦,令同入無餘涅槃。(三)別教,指其它方等經(大乘經)。即不共二乘人說,專為大菩薩說無量之四諦,以次第之三觀破三惑,令證「但中」之理。(四)圓教,指法華經教義。亦即為菩薩說無作之四諦,以圓融三觀同斷三惑,令證「不但中」之理。〔法華玄義卷一、卷十、四教義卷一、卷六、天台八教大意、天台四教儀〕(參閱「五時八教」1132、「化法」1325) ; (化法四教) Thuyết phán giáo của tông Thiên thai. Tông Thiên thai dựa theo phương thức giáo hóa chúng sinh của đức Phật mà chia nội dung giáo pháp làm 4 loại: 1. Tạng giáo: Gọi đủ: Tam tạng (kinh, luật, luận) giáo, chỉ cho Tiểu thừa giáo. Tức là đức Phật nói riêng Tứ đế sinh diệt cho hàng Tam thừa, phân tích Không quán cùng đoạn Kiến, Tư hoặc, khiến họ vào Niết bàn vô dư. 2. Thông giáo: Chỉ cho giáo pháp Bát nhã, nghĩa dung thông cả Tiểu thừa và Đại thừa, bao hàm đạo lí vừa sâu xa kín nhiệm vừa rõ ràng dễ hiểu, tức là đức Phật nói Tứ đế vô sinh cho hàng Tam thừa, khiến họ cùng vào Niết bàn vô dư. 3. Biệt giáo: Chỉ cho giáo pháp trong các kinh Phương đẳng (kinh Đại thừa). Tức là đức Phật nói Tứ đế vô lượng riêng cho hàng Đại bồ tát, không chung cho hàng Nhị thừa, dùng Tam quán theo thứ tự phá Tam hoặc, khiến họ chứng lí Đãn trung . 4. Viên giáo: Chỉ cho giáo nghĩa kinh Hoa nghiêm, tức là đức Phật nói Tứ đế vô tác cho hàng Bồ tát, dùng Tam quán viên dung cùng đoạn Tam hoặc, khiến chứng lí Bất đãn trung . [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1, Q.10; Tứ giáo nghĩa Q.1, Q.6; Thiên thai bát giáo đại ý; Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo, Hóa Pháp).

hoá phật

1324梵語 nirmāṇa-buddha。<一>又作應化佛、變化佛。佛陀為救度眾生而變現另一種姿態,即稱為變化身。〔楞伽阿跋多羅寶經卷一、大乘法苑義林章卷七本〕 <二>指原無而忽有之佛。即應機宜而忽然化現之佛形。觀無量壽經云(大一二‧三四三中):「於圓光中,有百萬億那由他恒河沙化佛,一一化佛亦有眾多無數化菩薩以為侍者。」又千手觀音四十手中,其左手之一手中所持之佛即為化佛,故稱化佛手。〔千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼、大乘義章卷十九〕(參閱「化應身四句」1328) ; (化佛) Phạm: Nirmàịa-buddha.I. Hóa Phật. Cũng gọi Ứng hóa Phật, Biến hóa Phật.Thân biến hóa của chư Phật, tức là vì mục đích cứu độ chúng sinh mà chư Phật biến hóa hiện ra nhiều hình tướng khác nhau.[X. kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7 phần đầu].II. Hóa Phật.Vì đáp ứng cơ duyên cứu độ chúng sinh mà Phật bỗng nhiên hóa hiện.Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 trung), nói: Trong vầng hào quang có trăm vạn ức na do tha Hóa Phật, mỗi mỗi Hóa Phật có vô số Hóa Bồ tát làm thị giả .Ngoài ra, trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm có một vị Hóa Phật trong một bàn tay bên trái, cho nên tay ấy được gọi là Hóa Phật thủ.[X. Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni; Đại thừa nghĩa chương Q.19]. (xt. Hóa Ứng Thân Tứ Cú).

hoá sanh

Aupapāduka (S), Born by metamorphosis (S, P)Chuyển hoá mà sanh, không qua bào thai.

Hoá sinh

化生; C: huàshēng; J: keshō; S: upapāduka-yoni.|Có các nghĩa sau: 1. Sinh ra một cách tự nhiên, tự mình sinh ra; 2. Sinh ra một cách tình cờ, ngẫu nhiên. Chúng sinh đột nhiên sinh ra một nơi nào đó, chẳng hạn, sự xuất hiện của loài ma; 3. Khác với các cách sinh khác (như noãn sinh 卵生, thai sinh 胎生, thấp sinh 濕生), loài chúng sinh sinh ra mà không có nguồn gốc đặc trưng. Đặc biệt liên quan đến giai đoạn trung gian sau khi chết (Trung hữu), khi chúng sinh hoá thân thành thần (a-tu-la), chư thiên và ngạ quỷ… Một trong Bốn cách sinh của các sinh thể (tứ sinh 四生).

hoá sinh

1323梵語 upapāduka,巴利語 upapātika。本無而忽生之意。即無所依托,借業力而出現者。五趣之中,地獄、天及一切中有均唯屬化生,人、傍生、鬼等三趣則有一部分為化生,如劫初之人為化生,龍、金翅鳥為傍生之化生者,鬼通胎、化二種,故五趣中以化生為最多。凡化生者,不缺諸根支分,死亦不留其遺形,即所謂頓生而頓滅,故於四生中亦最勝。據俱舍論卷九載,化生者,皆以愛染當生處而受其生。又依經中所載,生於淨土者亦多為化生。〔放光般若經卷十三夢中行品、無量壽經卷下(康僧鎧譯)、俱舍論卷八、往生論〕(參閱「四生」1680) ; (化生) Phạm: Upapàduka. Pàli: Upapàtika. Chỉ cho các loài không do cha mẹ sinh mà do nghiệp lực sinh, như chúng sinh trong địa ngục, người các cõi trời, thân trung ấm, người kiếp sơ, rồng và chim Kim xí, v.v... còn loài quỉ thì vừa là thai sinh vừa là hóa sinh. Như vậy, trong 5 đường (người, trời, địa ngục, quỉ đói, súc sinh) loài hóa sinh là nhiều nhất. Các loài hóa sinh tuy có đủ thân căn, nhưng khi chết không để lại xác, vì là loài chợt còn chợt mất, cho nên trong tứ sinh loài này là hơn hết. Cứ theo luận Câu xá quyển 9, thì loài hóa sinh tùy theo họ ưa thích nơi nào liền thụ sinh nơi đó. Còn theo các kinh thì những người sinh về Tịnh độ cũng là Hóa sinh. [X. phẩm Mộng trung hành trong kinh Phóng quang bát nhã Q.13; kinh Vô lượng thọ Q.hạ (bản dịch của ngài Khang tăng khải); luận Câu xá Q.8; luận Vãng sinh]. (xt. Tứ Sinh).

Hoá sinh 化生

[ja] ケショウ keshō ||| (1) Born naturally, born from oneself. (2) That which is born through spontaneous generation. A sentient being suddenly appearing from nowhere, for example, the birth of a ghost. (3) In contrast to other types of birth, (i.e., from an egg, from a womb, from moisture) a species that is born suddenly without a specific origin. This refers especially to the intermediate stage after death, where beings are reborn as spirits, gods, hell-beings, etc. (upapāduka-yoni). One of the four types of birth (四生). => Có các nghĩa sau: 1. Sinh ra một cách tự nhiên, tự mình sinh ra. 2. Sinh ra một cách tình cờ, ngẫu nhiên. Chúng sinh đột nhiên sinh ra một nơi nào đó, chẳng hạn, sự xuất hiện của loài ma. 3. Khác với các cách sinh khác (như noãn sinh, thai sinh, thấp sinh), loài chúng sinh sinh ra mà không có nguồn gốc đặc trưng. Điều nầy đặc biệt liên quan đến giai đoạn trung gian sau khi chết, khi chúng sinh hoá thân thành thần (a-tu-la), chư thiên và loài ở địa ngục...(s: upapāduka-yoni). Một trong bốn cách sinh của các sinh thể.

hoá sắc

1323佛菩薩為方便教化各類眾生,遂以神通力變作種種之形體,稱為化色。 ; (化色) Chư Phật và Bồ tát vì phương tiện giáo hóa các loài chúng sinh mà dùng sức thần thông biến hóa ra các thứ hình thể, gọi là Hóa sắc.

hoá sớ

1327<一>指勸化本上記明勸化旨趣之疏。為禪林化主於行走勸化時所持者。〔禪苑清規卷五〕 <二>化,火化之義。化疏,指燒火告神之物。如文疏、紙錢、紙馬之類。 ; (化疏) I. Hóa sớ. Tờ sớ ghi rõ mục đích đi hóa duyên. Khi đi khuyến hóa, vị tăng có nhiệm vụ này phải mang theo hóa sớ. [Thiền uyển thanh qui Q.5] II. Hóa sớ. Chỉ cho các loại văn sớ, tiền giấy, ngựa giấy, v.v... đem đốt (hỏa hóa) để tế cáo thần linh.

hoá tha

1322教化他人。「自行」之對稱。為「利他」之同義語。謂佛菩薩等教化眾生,使之離惡向善。(參閱「自行」2521) ; (化他) Giáo hóa người khác, đối lại với Tự hành (tu hành cho mình). Phật và Bồ tát giáo hóa chúng sinh, khiến họ xa lánh điều ác, hướng về việc thiện. (xt. Tự Hành).

hoá tha thọ

1323「自證壽」之對稱。西方無量壽佛之無量壽,可以無限地度化眾生,故稱化他壽。(參閱「自證壽」2536) ; (化他壽) Đối lại với Tự chứng thọ. Thọ mệnh vô lượng của đức Phật Vô lượng thọ ở thế giới Cực lạc phương Tây, vì Ngài sống lâu nên có thể hóa độ chúng sinh cũng nhiều vô hạn lượng. Cho nên gọi là Hóa tha thọ. (xt. Tự Chứng Thọ).

hoá thành dụ

1325法華七喻之一。化城,梵語 ṛddhi-nagara,指變化之城邑,比喻二乘之涅槃。法華經卷三化城喻品載,有眾人將過五百由旬險難惡道以達寶處,疲極欲返,其導師為振奮眾人,以方便力,於道中過三百由旬處化作一城,令彼等得蘇息,終能向寶處前進。即藉化城比喻二乘所得之涅槃非為真實,乃佛為使彼等達大乘至極佛果之方便假說。 有關五百由旬之解釋,古來謂五百由旬乃喻指到達佛果所須經歷之路程,其一一經越之處,智顗於法華經文句卷七下詳舉諸家之說,而謂三界果報處為三百,有餘國處為四百,實報國處為五百。若就煩惱而言,見惑為一百,五下分為二百,五上分為三百,塵沙 陞|百,無明為五百。若就觀智而言,則入空觀為能過三百,入假觀為過四百,入中觀為過五百。〔法華玄論卷八、法華經玄贊卷八、法華經玄義卷五下〕(參閱「法華七喻」3394、「譬喻」6809) ; (化城喻) Hóa thành, Phạm: Fddhi-nagara. Ví dụ về thành ấp do biến hóa mà có, là một trong 7 thí dụ của kinh Pháp hoa. Theo phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa quyển 3, có một đoàn người phải vượt qua một chặng đường dài 500 do tuần, đầy gian nan nguy hiểm, để đến được nơi có nhiều châu báu, nhưng vì quá mỏi mệt cực nhọc nên muốn quay về. Vì muốn làm cho mọi người phấn chấn tinh thần, nên người dẫn đường mới dùng sức phương tiện, cách nơi đến khoảng 300 do tuần, hóa hiện ra một tòa thành ấp để mọi người được nghỉ ngơi, cuối cùng có thể tiến tới chỗ có châu báu. Phẩm kinh này mượn Hóa thành để ví dụ Niết bàn mà hàng Nhị thừa đã đạt được chưa phải là chỗ rốt ráo, mà chỉ là phương tiện của đức Phật tạm lập ra, mục đích muốn cho mọi người đạt được đến quả Phật cao tột của Đại thừa. Về chặng đường 500 do tuần có nhiều thuyết khác nhau. Các nhà giải thích xưa nay cho rằng 500 do tuần dụ chỉ cho lộ trình đi đến quả Phật phải trải qua. Còn về mỗi chặng, thì trong Pháp hoa văn cú quyển 7 phần dưới có nêu rõ chủ trương của các nhà cho rằng quả báo trong 3 cõi là chỗ 300 do tuần, quốc độ Hữu dư là chỗ 400 do tuần, còn quốc độ Thực báo là chỗ 500 do tuần. Nếu đứng về phương diện phiền não mà nói, thì kiến hoặc là 100, Ngũ hạ phần 200, Ngũ thượng phần là 300, Trần sa là 400 và vô minh là 500. Nếu đứng về phương diện quán trí mà nói, thì vào Không quán là đã có thể vượt qua 300 do tuần, vào Giả quán là vượt qua 400 do tuần và vào Trung quán là vượt qua 500 do tuần. [X. Pháp hoa huyền luận Q.8; Pháp hoa kinh huyền tán Q.8; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần dưới]. (xt. Pháp Hoa Thất Dụ, Thí Dụ).

hoá thành tự

1325位於安徽青陽縣西南之九華山。九華山為著名的地藏菩薩之道場,本名九子山,唐代李白為更今名。山有九峰,壁立千仞,周圍二百里,高千餘丈,以奇峰勝景為著。本寺於東晉隆安五年(401)為杯度所創,其後有新羅僧金地藏居之,安禪石室,苦行自給,四眾感其德,為構禪宇。時人每謂金地藏乃地藏菩薩之應化,遠近尊崇之。建中(780~783)初年,朝廷賜予「化城」之額。明末蕅益大師曾居止於此。清咸豐年間,全寺幾毀於太平天國之兵火,至光緒十五年(1889)重修。寺今存,寺西神光嶺有金地藏之塔,自古稱肉身殿。民國初年曾加以修復。〔宋高僧傳卷二十、九華山志、大清一統志卷八十二池州府山川條〕 ; (化城寺) Chùa ở núi Cửu hoa, phía tây nam huyện Thanh dương, tỉnh An huy, Trung quốc, do ngài Bôi độ sáng lập vào năm Long an thứ 5 (401) đời Đông Tấn. Về sau, ngài Kim địa tạng, người nước Tân la đến chùa này tu Thiền, sống khổ hạnh, bốn chúng cảm mến đức độ của ngài nên xây dựng Thiền thất cúng dường. Người đương thời thường cho ngài là Ứng hóa thân của bồ tát Địa tạng, nên gần xa rất tôn sùng. Đầu năm Kiến trung (780- 783), triều đình ban cho chùa tấm biển Hóa thành . Vào cuối đời Minh, đại sư Ngẫu ích từng trụ ở chùa này.Khoảng năm Hàm phong chùa bị quân Thái bình Thiên quốc phá hủy, đến năm Quang tự 15 (1889) mới được trùng tu. Hiện nay chùa vẫn còn, ở phía tây chùa là núi Thần quang, trên đỉnh có tháp Kim địa tạng, trong đó thờ nhục thân của ngài, nên từ xưa tháp được gọi là Điện nhục thân. Năm 1911, chùa được sửa sang lại. [X. Tống cao tăng truyện Q.20; Cửu hoa sơn chí; điều Trì châu phủ sơn xuyên trong Đại Thanh nhất thống chí Q.82].

Hoá thân

化身; C: huàshēn; J: keshin; S: nirmāṇa-kāya; còn gọi là Ứng hoá thân (應化身) hoặc Ứng thân (應身);|1. Thân nhất thời của Đức Phật. Thân thị hiện. Còn gọi là Biến hoá thân (變化身). Thân thị hiện bằng năng lực thần thông. Một trong Ba thân (三身) của đức Phật. Thân biến hoá của Phật ứng hợp sắc tướng của chúng sinh để giáo hoá và cứu độ. Còn được gọi là Ứng thân (應身; e: response body); 2. Khi Hoá thân và Ứng thân thuộc dạng siêu việt, thì Ứng thân được xem là biểu hiện của những vị có công hạnh tu tập siêu xuất, trong khi đó Hoá thân là thị hiện của những vị có công hạnh tu tập thấp hơn, hoặc dùng cho loài Phi nhân (e: non-human); 3. Theo giáo lí Tiểu thừa, Khi một vị Phật nhập niết-bàn cũng được gọi là »Hoá Phật«; 4. Phật Thích-ca Mâu-ni, thân của Phật Thích-ca Mâu-ni.

hoá thân

1324梵語 nirmāṇa-kāya。乃佛為利益地前凡夫等眾生而變現種種形相之身。<一>二身之一,與法身或真身並稱二身。即三十二相具足的佛之生身。與法、報、應三身中之「應身」相同。〔法身經、大智度論卷三十〕 <二>三身之一,與應身、法身合稱三身。即佛為人、天等五趣眾生所化現之龍、鬼等非佛形之身。此中,應身指現佛形之身。〔合部金光明經卷一之三身分別品、新譯大乘起信論卷上、大乘起信論義記卷下本〕 <三>三身之一,與應身、真身合稱三身。即應身之分身化佛,係依應身(指生於王宮之身、道樹現成之身)所化現,本無而忽有之佛形,故又稱化佛。此應、化二身,係由前述之應身所別開者。〔大乘義章卷十九〕 <四>三身之一,與自性身、受用身合稱三身。全名變化身。即佛為地前之菩薩、二乘及凡夫等所化現之八相成道之身。即法、報、應三身中之「應身」,住於淨穢二土,為地前菩薩等變現無量隨類之身,令彼脫離惡趣,出離三界,而入於初地,稱為變化身。〔佛地經論卷七〕(參閱「四身」1699) ; Accommodated body. ; (化身) Phạm: Nirmàịa-kàya. Đức Phật vì lợi ích cứu độ chúng sinh mà hiện ra các loại thân. I. Hóa Thân. Sinh thân của đức Phật đầy đủ 32 tướng, cùng với Pháp thân hoặc Chân thân gọi chung là Nhị thân. Giống như Ứng thân trong 3 thân Pháp, Báo, Ứng. [X. kinh Pháp thân; luận Đại trí độ Q.30]. II. Hóa Thân. Các thứ thân hình rồng, quỉ, v.v... do đức Phật vì cứu độ chúng sinh trong 5 đường mà hóa hiện ra, cùng với Ứng thân và Pháp thân gọi chung là Tam thân. Trong đây, Ứng thân chỉ cho thân hiện hình tướng Phật. [X. phẩm Tam thân phân biệt trong kinh Hợp bộ kim quang minh Q.1; luận Đại thừa khởi tín (bản dịch mới) Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần đầu]. III. Hóa Thân. Chỉ cho phân thân Hóa Phật nương nơi Ứng thân (thân sinh trong cung vua và thành đạo dưới gốc cây Bồ đề) mà hóa hiện, cùng với Ứng thân và Chân thân gọi chung là Tam thân. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.19] IV. Hóa Thân. Gọi đủ: Biến hóa thân. Thân Phật hóa hiện 8 tướng thành đạo để độ cho hàng Bồ tát địa tiền, Nhị thừa và phàm phu, cùng với Tự tính thân, Thụ dụng thân gọi chung là Tam thân. [X. Phật địa kinh luận Q.7]. (xt. Tứ Thân).

Hoá thân 化身

[ja] ケシン keshin ||| (nirmāna-kāya). (1) The provisional form of the Buddha. The manifest transformation body. Also written bianhuashen 變化身. A body manifest through spiritual powers. One of the three bodies (sanshen 三身) of the Buddha. The transformation of the Buddha's own body into the form of a sentient being in order to teach and save them. Also translated as yingshen 應身 "response body." (2) When transformation body and response body are distinguished, the response body is considered to be manifest for those at a high level of practice, while the transformation body is manifest for those at a low level of practice, and for non-humans. (3) In Huayan theory, a Buddha in nirvana is also called a "transformation Buddha." (4) Śakyamuni; the body of Śakyamuni. => (s: nirmāna-kāya). 1. Thân nhất thời của Đức Phật. Thân thị hiện. Còn gọi là Biến hoá thân 變化 . Thân thị hiện bằng năng lực thần thông. Một trong Tam thân 三身 của Đức Phật. Thân biến hoá của Đức Phật ứng hợp sắc tướng của chúng sinh để giáo hoá và cứu độ. Còn được gọi là Ứng thân 應身.2. Khi Hoá thân và Ứng thân thuộc dạng siêu việt, thì Ứng thân được xem là biểu hiện của những vị có công hạnh tu tập siêu xuất, trong khi đó Hoá thân là thị hiện của những vị có công hạnh tu tập thấp hơn, hoặc dùng cho loài Phi nhân (e: non-humans). 3. Theo giáo lý Tiểu thừa, Khi một Đức Phật nhập niết-bàn cũng được gọi là "Hoá Phật". 4. Đức Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, thân của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni.

hoá tiền

1325淨土家依善導觀無量壽經疏序分義所載,謂佛陀說觀無量壽經前之諸教法為「化前」。天台宗則謂佛陀說法華經前之諸教法為「爾前」。 ; (化前) Các nhà thuộc tông Tịnh độ căn cứ vào Quán vô lượng thọ kinh sớ tự phần nghĩa của ngài Thiện đạo mà chủ trương rằng các giáo pháp do đức Phật nói trước kinh Quán vô lượng thọ là Hóa tiền (giáo hóa trước).

Hoá tác

化作; C: huàzuò; J: kesa; |Có hai nghĩa: 1. Tạo ra bằng một năng lực khác thường; 2. Sự thị hiện sắc thân trong tình huống thích hợp của chư Phật và Bồ Tát để giáo hoá chúng sinh.

Hoá tác 化作

[ja] ケサ kesa ||| (1) To create with supernormal power. (2) The manifestation of appropriate form and circumstances by buddhas and bodhisattvas in order to teach and transform sentient beings. (srstitva). => Có hai nghĩa: 1. Tạo ra bằng một năng lực khác thường. 2. Sự thị hiện sắc thân trong tình huống thích hợp của chư Phật và Bồ-tát để giáo hoá chúng sinh (s: srstitva).

hoá tích

1326指教迹。即佛陀教化眾生之遺迹。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷中一、四分律行事鈔資持記卷中一之二〕 ; (化迹) Chỉ cho giáo tích, tức là di tích đức Phật giáo hóa chúng sinh. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung phần 1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung phần 1 đoạn 2].

hoá tự lạc thiên

Xem Hoá lạc thiên.

Hoá điạ bộ 化地部

[ja] ケジブ Kejibu ||| The ̣Mahīśāsaka sect. A Hīnayāna school which branched off from Sarvāstivāda (Sthavira) 有部 about three hundred years after Śākyamuni's death. Their beliefs were close to the Mahāsāṃghikas 大衆部, especially regarding the point that past and future do not have true existence, only the present truly exists. => (s: ̣Mahīśāsaka) Một tông phái Tiểu thừa, chi nhánh của Hữu bộ 有部; s: Sarvāstivāda (Sthavira), hình thành 300 năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Quan điểm của phái nầy rất gần với Đại chúng bộ ̣(大衆部; s: Mahāsāṃghikas), đặc biệt quan điểm về quá khứ và tương lai là không có thực, chỉ có hiện tại là có thực.

hoá đàn

1328又作涅槃臺。即火葬之際,安置遺骸,以供焚燒之臺。〔敕修百丈清規卷三、禪林象器箋卷一〕 ; (化壇) Cũng gọi Niết bàn đài. Là cái nền cao để di hài lúc hỏa táng. [X. Sắc tu Bách tượng thanh qui Q.3; Thiền lâm tượng khí tiên Q.1].

Hoá đạo

化道; C: huàdào; J: kedō; |Dạy dỗ và khuyến hoá chúng sinh, dẫn dắt họ đến bờ giải thoát.

Hoá đạo 化道

[ja] ケドウ kedō ||| To teach and transform sentient beings, leading them to the other shore of liberation. => Dạy dỗ và khuyến hoá chúng sinh, dẫn dắt họ đến bờ giải thoát.

Hoá địa bộ

化地部; C: huàdì bù; J: kejibu; S: mahīśāsaka;|Một tông phái Tiểu thừa, chi nhánh của Hữu bộ (有部; s: sarvāstivāda; sthavira), hình thành 300 năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Quan điểm của phái nầy rất gần với Đại chúng bộ (大衆部; s: mahāsāṃghika), đặc biệt quan điểm về quá khứ và tương lai là không có thật, chỉ có hiện tại là có thật.

hoá địa bộ

1323梵名 Mahīśāsaka,巴利名 Mahiṃsāsaka。音譯為彌沙塞部。又稱正地部、教地部、大不可棄部。小乘二十部之一。相傳在佛陀入滅後三百年頃,由上座部系統之說一切有部分出。 有關此部派名稱,異部宗輪論述記(卍續八三‧二二○上):「此部之主本是國王,王所統攝國界地也,化地上之人庶,故言化地。捨國出家,弘宣佛法,從本為名,名化地部。真諦法師云:『正地部本是王師,匡正土境,捨而弘法,故言正地。』」 關於此部之教義,異部宗輪論分為本宗同義及末宗異義來敘述。其中,本宗同義頗似大眾部,認為無過去及未來,而有現在與無為法。並立有擇滅、非擇滅、虛空、不動、善法真如、不善法真如、無記法真如、道支真如、緣起真如等九無為。主張於見道一時現觀四聖諦之理,並肯定無「中有」,又謂五識有雜染之力。於四沙門果之主張,謂預流果有退,唯阿羅漢果不退。末宗異義則與薩婆多部所說者近似,主張實有過去、未來,亦有「中有」。此外,就解釋「五法定能縛,諸苦從之生,謂無明貪愛,五見及諸業。」一頌,其末宗之執義各異。慈恩及賢首二人將本宗同義攝為法無去來宗,將末宗異義攝為法有我無宗。又化地部所持之律,即彌沙塞部和醯五分律三十卷。〔文殊師利問經卷下、佛本行集經卷二、部執異論、出三藏記集卷三、玄應音義卷二十四〕 ; Mahisasakah (S)Một bộ trong Thượng toạ bộ. ; (化地部) Phạm: Mahìzàsaka. Pàli: Mahiôsàsaka. Dịch âm: Di sa tắc bộ. Cũng gọi Chính địa bộ, Giáo địa bộ, Đại bất khả khí bộ. Là một trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Tương truyền, bộ này từ Thuyết nhất thiết hữu bộ thuộc Thượng tọa bộ hệ tách ra vào khoảng 300 năm sau đức Phật diệt độ.Về tên gọi của bộ này, Dị bộ tông luân luận thuật kí (Vạn tục 83, 320 thượng), nói: Tông chủ của bộ này vốn là một vị quốc vương, cai trị đất nước, cảm hóa nhân dân nên gọi là Hóa địa. Sau, vị quốc vương này bỏ ngôi xuất gia, hoằng dương Phật pháp, cho nên từ đó bộ phái do ngài sáng lập được gọi là Hóa địa bộ . Còn theo ngài Chân đế thì chủ của Chính địa bộ vốn là một vị Vương sư, khuông chính bờ cõi, rồi bỏ ngôi để chuyên việc hoằng pháp, vì thế gọi là Chính địa. Theo Dị bộ tông luân luận, thì giáo nghĩa của Hóa địa bộ được chia làm Bản tông đồng nghĩa và Mạt tông dị nghĩa để giải thích. Trong đó,Bản tông đồng nghĩa rất giống với giáo nghĩa của Đại chúng bộ, cho rằng không có quá khứ và vị lai, nhưng có hiện tại và pháp vô vi. Đồng thời lập ra 9 pháp vô vi: Trạch diệt, Phi trạch diệt, Hư không, Bất động, Thiện pháp chân như, Bất thiện pháp chân, Vô kí pháp chân như, Đạo chi chân như và Duyên khởi chân như. Về Kiến đạo, chủ trương nhất thời hiện quán lí Tứ thánh đế và khẳng định không có thân Trung hữu , đồng thời cho 5 thức có sức tạp nhiễm. Đối với 4 quả sa môn, bộ này chủ trương quả Dự lưu có thoái chuyển, chỉ có quả A la hán là không thoái chuyển. Còn Mạt tông dị nghĩa thì gần giống với thuyết của Tát bà đa bộ chủ trương có quá khứ, vị lai và cũng có thân Trung hữu. Theo 2 ngài Tứ ân và Hiền thủ thì Bản tông đồng nghĩa thuộc về tông Pháp vô khứ lai , còn Mạt tông dị nghĩa thì thuộc về tông Pháp hữu ngã vô .Ngoài ra, luật do Hóa địa bộ truyền trì là Di sa tắc bộ hòa hê ngũ phần luật 30 quyển. [X. kinh Văn thù sư lợi vấn Q.hạ; kinh Phật bản hạnh tập Q.2; Bộ chấp dị luận; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Huyền ứng âm nghĩa Q.24].

Hoá Địa tự 化度寺

[ja] ケトジ Keto ji ||| Huadu si; a temple in Changan that was the headquarters of the Wujinzang 無盡藏, the charitable lending organization of the Sanjie jiao 三階教 movement; originally known as the Zhenji si 眞寂寺. => (j:Keto ji ; c: Huadu si) Một ngôi chùa ở Trường An, trú sở của ngài Vô Tận Tạng 無盡藏 , người tận tâm sáng lập Tam giai giáo 三階教; vốn được gọi là Chân Tịch tự 眞寂寺 .

Hoá độ

化度; C: huàdù; J:; |Giáo hoá và đem đến sự cứu độ; hướng dẫn và khuyến khích, chuyển hoá đưa đến giải thoát (theo kinh Pháp hoa 法華經).

hoá độ

1322梵語 nirmāṇakṣetra。乃佛為初地以前菩薩、二乘及凡夫所方便示現之國土。又作變化土、應化土、方便化土。係三土或四土之一。與「真實報土」相對。此土隨眾生機宜而有淨、穢之別,淨心所感者稱為淨土,如彌勒淨土;穢心所感者稱為穢土,如釋迦示現之娑婆世界。此淨、穢二土皆為長時變現之化土,異於維摩經中之足趾按地而一時暫變之化土。又阿彌陀佛特為往生淨土而不能見到真實佛土者,所權巧施變之彌陀淨土亦是。 信樂彌陀之他力本願者,直接往生真實報土而證得佛果;不信彌陀本願而以修諸善、稱名號等一切功德迴向往生者,因其尚有疑惑,故不能入真實報土,唯入佛化現之佛土,如觀無量壽經所說之淨土相皆是,即疑城、胎宮、懈慢界、邊地等。〔北本大般涅槃經卷一、成唯識論卷十、大乘法苑義林章卷七末、顯淨土教行證文類卷六〕 ; (化土) Phạm: Nirmàịakwetra. Cũng gọi Biến hóa độ, Ứng hóa độ, Phương tiện hóa độ. Cõi nước do đức Phật vì hàng Bồ tát địa tiền, Nhị thừa và phàm phu mà phương tiện thị hiện ra. Là một trong 3 cõi hoặc 4 cõi, đối lại với Chân thực báo độ . Cõi này tùy theo căn cơ của chúng sinh mà có tịnh (trong sạch), uế ( nhơ nhớp) khác nhau. Quốc độ do tâm thanh tịnh chiêu cảm, gọi là Tịnh độ, như Tịnh độ của đức Di lặc; quốc độ do tâm ô nhiễm chiêu cảm, gọi là Uế độ, như thế giới Sa bà do đức Phật Thích ca thị hiện. Tịnh độ và Uế độ này đều là Hóa độ biến hiện ra trong thời gian dài, khác với Hóa độ nhất thời tạm biến hiện được nói đến trong kinh Duy ma. Còn Tịnh độ do đức Phật A di đà hóa hiện thì có nhiều loại như: Nghi thành, Thai cung, Giải mạn giới, Biên địa, v.v... nói trong kinh Quán vô lượng thọ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.1 (bản Bắc); luận Thành duy thức Q.10; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7 phần cuối; Hiển tịnh độ giáo hành chứng văn loại Q.6].

Hoá Độ tự

化度寺; C: huàdù sì; J: keto-ji; |Một ngôi chùa ở Trường An, trú sở của Vô tận tạng (無盡藏), một tổ chức từ thiện của trào lưu Tam giai giáo (三階教); chùa này vốn được gọi là Chân Tịch tự (眞寂寺).

hoá độ tự

1325位於長安(陝西西安)朱雀街義寧坊南門之東。原為隋尚書左僕射齊國公高熲之住宅。開皇三年(583),高熲捨宅為寺,號「真寂寺」。其時,三階教之祖信行禪師自山東來,高熲乃於寺內為之建院,信行遂居此撰三階集錄等四十餘卷。信行示寂後,其徒僧邕、慧如、慧了等皆住此寺。其後信義於唐武德年中,於寺內置無盡藏院,作為三階教之中心。武德二年(619),改稱化度寺。會昌五年(845)武宗毀佛之際,寺雖一度被廢,然次年恢復為道場,惟改稱為「崇福寺」。又據僧傳載,隋代曇遂、曇良、唐代轉明、智昇、惟慤、滿意等皆曾住此。〔歷代三寶紀卷十二、續高僧傳卷十六、卷十九、卷二十五、卷二十六、宋高僧傳卷五、卷六、卷十四、兩京新記、三階教之研究〕 ; (化度寺) Chùa ở phường Nghĩa ninh, đường Chu tước tại Trường an (Tây an, tỉnh Thiểm tây). Nguyên là ngôi nhà của quan Thượng thư tả bộc xạ Tề quốc công Cao quýnh đời Tùy. Năm Khai hoàng thứ 3 (583). Cao quýnh hóa nhà làm chùa, đặt tên là Chân tịch tự. Lúc bấy giờ, thiền sư Tín hành, Tổ khai sáng Tam giai giáo, từ Sơn đông đến, ông Cao quýnh nghe tin, liền cất một viện trong khuôn viên chùa rồi thỉnh ngài đến ở. Trong thời gian cư trú tại đây, ngài Tín hành đã soạn bộ Tam giai tập lục hơn 40 quyển. Sau khi ngài tịch, các đệ tử là Tăng ung, Tuệ như, Tuệ liễu, v.v... đều trụ ở chùa này. Về sau, trong năm Vũ đức đời Đường, ngài Tín nghĩa lập viện Vô tận tạng ở trong chùa để làm trung tâm của Tam giai giáo. Năm Vũ đức thứ 2 (619), chùa được đổi tên là Hóa độ tự. Năm Hội xương thứ 5 (845), lúc Vũ tông phá hủy Phật Pháp, chùa bị hoang phế một thời gian, nhưng năm sau được khôi phục và đổi tên là chùa Sùng phúc. Ngoài ra, theo Cao tăng truyện, các ngài Đàm toại, Đàm lương đời Tùy, Chuyển minh, Trí thăng, Duy khác, Mãn ý, v.v... đời Đường đều đã từng ở chùa này. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.12; Tống cao tăng truyện Q.5 Q.6, Q.14; Lưỡng kinh tân kí; Tam giai giáo chi nghiên cứu].

hoá độ tự bi

1325唐碑,即化度寺之僧邕禪師之舍利塔銘。碑建於貞觀五年(631),李百藥撰文,歐陽詢書,書法如直木曲鐵。其碑石斷於宋,重摹本相傳有三,一在西安府學,一在大興翁氏,餘一不詳。今所傳拓本多為翻刻者。〔寰宇訪碑錄〕

Hoá độ 化度

[ja] ケト keto ||| To convert and convey to salvation; lead and insprire; transform and deliver. 〔法華經 T 262.9.35b03〕 => Giáo hoá và đem đến sự cứu độ; hướng dẫn và khuyến khích, chuyển hoá đưa đến giải thoát. Theo kinh Pháp Hoa.

hoá ứng thân tứ cú

1328佛為救度眾生而變現種種形相之身,變現為佛形者,稱為應身;變現為異形者,稱為化身。華嚴經隨疏演義鈔列舉出四種化應身,而有化應身四句。即:(一)化身非應,謂佛為救度眾生而隨類變現龍、鬼等形,不為佛身,稱為化身非應。(二)應身非化,指十住、十行、十迴向等地前菩薩所見之佛身;即佛隨彼等之機類應現佛身,而非佛對天、人、鬼、畜、地獄等五趣所化現非佛形之身,故稱為應身非化。(三)亦應亦化,指諸聲聞所見之佛身;彼等所見佛相好之形,皆因修行而成,此稱為應;佛從無變有,此稱為化。故稱為亦應亦化。(四)非應非化,指佛三身(法身、報身、應身)中之法、報二身。法身,為中道之理體,本有之三千;報身,即報因行功德而顯佛之實智。此二身非屬應、化,故稱非應非化。 ; (化應身四句) Đức Phật vì cứu độ chúng sinh mà biến hiện ra các thân dưới nhiều hình tướng, như khi biến hiện làm hình tướng Phật, thì gọi là Ứng thân; khi biến hiện làm các hình tướng khác, thì gọi là Hóa thân. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao nêu ra 4 loại Hóa ứng thân, do đó, có Hóa ứng thân tứ cú là: 1. Hóa thân phi ứng (Hóa thân chẳng phải Ứng thân): Đức Phật vì cứu độ chúng sinh nên tùy theo các loài mà biến hiện làm thân hình rồng, quỉ, v.v... không là thân Phật, cho nên gọi là Hóa thân phi ứng. 2. Ứng thân phi hóa (Ứng thân chẳng phải Hóa thân): Chỉ cho thân Phật vì các Bồ tát địa tiền như: Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, v.v... mà ứng hiện, chứ không phải Phật vì các trời, người, quỉ, súc sinh và địa ngục mà hóa hiện, cho nên gọi là Ứng thân phi hóa. 3. Diệc ứng diệc hóa (vừa là Ứng thân vừa là Hóa thân): Chỉ cho thân Phật vì hàng Thanh văn mà thị hiện tướng hảo trang nghiêm, gọi là Ứng; Phật từ không biến ra có, gọi là hóa, cho nên gọi là Diệc ứng diệc hóa. 4. Phi ứng phi hóa (chẳng phải Ứng thân chẳng phải Hóa thân): Chỉ cho Pháp thân và Báo thân trong 3 thân (Pháp, Báo, Ứng) của Phật. Pháp thân là lí thể trung đạo, Báo thân là nhờ công đức tu hành mà được phúc báo hiển hiện thực trí của Phật. Hai thân này không thuộc về Ứng cũng chẳng thuộc về Hóa, cho nên gọi là Phi ứng phi hóa.

Hoá 化

[ja] ケ ke ||| [Buddhism] (1) To teach, to guide (asādhya). (2) To regulate. (3) To manifest through transformation (nirmāna). (4) To reincarnate. (5) The transformation-body buddha (nirmāna-kāya). (6) The passing away of an eminent monk. => Có các nghĩa sau: 1. Dạy dỗ, hướng dẫn (s: asādhya). 2. Điều hoà. 3. Biểu lộ thông qua sự chuyển hoá (s: nirmāna). 4. Tái sinh. 5. Hoá thân Phật (nirmāna-kāya). 6. Sự qua đòi của một cao tăng.

hoán chung

4916佛堂六物之一。又稱半鐘、小鐘、飯鐘。形狀類似梵鐘而較小,一般高六十四至八十公分,懸吊於佛堂內,用以報知法會等行事開始,故亦稱行事鐘。掛於庫裏簷下之喚鐘,於用飯時敲之,故亦稱飯鐘。此外,又指禪林中學人獨參師家時,侍者傳喚學人入內時所敲之鐘。〔考信論卷一、持寶通覽卷中半鐘條〕(參閱「半鐘」1599) ; (喚鍾) Cũng gọi Bán chung, Tiểu chung, Phạn chung. Chuông báo hiệu. Một trong 6 vật dụng ở Phật đường. Hoán chung treo trong Phật đường, khi pháp hội sắp bắt đầu thì đánh chuông báo hiệu cho đại chúng biết. Hoán chung còn được treo dưới mái hiên nhà kho để báo hiệu giờ dùng cơm, nên cũng được gọi là Phạn chung. [X. luận Khảo tín Q.1; điều Bán chung trong Trì bảo thông giám Q.trung]. (xt. Bán Chung).

hoán chuyển

To exchange.

Hoán Tỉnh 喚醒

[ja] カンショウ Kanshou ||| Hwansŏng; the posthumous title of the Chosŏn Sŏn monk Chian 志安. => Thuỵ hiệu của Chí An, thiền sư Triều Tiên

hoát nhiên chứng ngộ

Effortless spontaneity.

hoãn lại

To postpone—To defer—To delay—To put off to a later time

hoè an quốc ngữ

5819凡七卷。日僧白隱慧鶴(1685~1768)著,一諾編。日本寬延三年(1750)刊行。收於大正藏第八十一冊。係慧鶴評唱大燈國師宗峰妙超語錄之作,文中「○」符號下之短語即其揭示宗乘旨要之心得。慧鶴以「南柯記」中之「槐安國」爲書名,係自謙全書所述純係夢語而已。內容包括開筵垂示、住大德語要(以上第一、二卷)、住崇福語要(第三卷)、退崇福歸大德語要(第四卷)、頌古(第五、六卷,有淨居叉手、迦葉荼毘等四十八項)、拈古(第七卷,有臨濟孤峰、天皇恁麽等十項)。慧鶴以碧巖錄、從容錄之體例爲準則,著力發揮卷七之拈古十項,而成爲本書之重心。 ; (槐安國語) Tác phẩm, 7 quyển, do ngài Bạch ẩn Tuệ hạc, người Nhật soạn, ngài Nhất nặc ghi chép, ấn hành năm 1750, được thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung sách này bình xướng bộ Tông phong diệu siêu ngữ lục của Quốc sư Đại đăng. Những câu ngắn gọn dưới dấu hiệu (O) là phần nói lên chỗ tâm đắc của tác giả đối với yếu chỉ của tông thừa. Ngài Tuệ hạc dùng từ Hòe an quốc trong Nam kha kí để đặt tên cho tác phẩm của mình là tự khiêm rằng những lời trong sách này chỉ là lời nói trong mộng mà thôi. Toàn sách gồm các phần: Lời dạy khai pháp, Yếu ngữ khi trụ ở chùa Đại đức (gồm quyển 1, 2); Yếu ngữ khi trụ ở chùa Sùng phúc (quyển 3); Yếu ngữ khi dời chùa Sùng phúc trở về chùa Đại đức (quyển 4); Tụng cổ (các quyển 5, 6), Niêm cổ (quyển 7). Ngài Tuệ hạc lấy cách thức của Bích nham lục, Thung dung lục làm qui tắc mà phát huy 10 bài Niêm cổ trong quyển 7 để làm trọng tâm cho tác phẩm này.

hoạch

6449梵語 pratilambha。「得」之一種。為「不獲」之對稱。謂得未曾得者,或得曾得而已失者。此係俱舍論卷四、阿毘達磨順正理論卷十二之說。如凡夫得未曾得之見道初無漏,或再得曾得而復失之有漏定,皆稱為獲。然大毘婆沙論卷一五七引「施設論」所說,謂得、獲、成就三者皆同義,乃一體之異名。(參閱「得」4548) ; Pratilambha (S)Sự việc chưa được hoặc đã mất mà nay lại được. ; 1) Bắt được: To seize—To catch—To obtain—To recover. 2) Hoạch định: To sketch—To plan—To devise. 3) See Vạc. 4) Vẽ: To draw—To pain a picture. ; (獲) Phạm: Pratilambha. Đối lại với Bất hoạch. Nghĩa là được cái chưa từng được, hoặc được cái từng được rồi mà đã mất. Một trong các loại Đắc . Luận Câu xá quyển 4 và luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 10 nói, như phàm phu được cái chưa từng được là sơ vô lậu của giai vị Kiến đạo, hoặc được cái đã từng được rồi lại mất là Hữu lậu định, đều gọi là Hoạch. Nhưng luận Đại tì bà sa quyển 157 dẫn lời trong luận Thi thiết cho rằng 3 chữ Đắc, Hoạch và Thành tựu đều đồng nghĩa, tên tuy khác nhưng thể thì giống nhau. (xt. Đắc)

hoạch bính

Vẽ bánh mà ăn, một từ Thiền Tông dùng để chỉ kinh điển như bánh vẽ chỉ là thức ăn vô bổ—Pictured biscuits, a term of the Intuitive school for the scriptures, i.e. useless as food.

hoạch bính sung cơ

5149禪林用語。意謂紙上所繪之餅不足以充饑。禪宗用畫餅比喻文字、語言之無用,修行者無法藉此了脫生死。〔景德傳燈錄卷十一香嚴智閑條〕

hoạch sa

Osh or Ush (skt)—Một vương quốc cổ nằm về phía bắc của Sita, có lẽ bây giờ là Ingachar; rất có thể là Uch-Turfan hay Yangishahr—An ancient kingdom, north of Sita, probably the present Ingachar, possibly Uch-Turfan or Yangishahr.

hoạch thang địa ngục

6907 請參閱 唐大和上東征傳 [1]請參閱 東征繪傳即以鍋鑊煮沸湯,置罪人於其中,以懲其生前罪行之地獄。據觀佛三昧海經卷五載,此地獄共有十八鑊,每一鑊縱廣皆四十由旬,有七重之鐵網,其內充滿沸鐵。有五百羅剎,以大石炭燒其銅鑊,其火焰焰相承,在地獄六十日(即此娑婆世界之十二萬年)而不滅。係眾生毀佛戒法、殺生祠祀、為食肉焚燒山野而傷害眾生、燒煮生類等所招感之果報。犯罪之人,臨命終時,身心煩悶,不能禁制大小便,身體或熱如湯,或冷如冰,乃萌生得大溫水沐浴之念。獄卒羅剎遂化作僮僕,手擎湯瓮至罪人所,罪人見瓮,心生喜愛,氣絕命終而生此鑊湯中。罪人於其內,身肉消爛,唯餘骨存在;即被用鐵叉取出鑊外,鐵狗食之,嘔吐在地,尋復還活;獄卒再驅捕罪人,還令入鑊中。罪人因畏鑊熱,乃攀劍樹上,骨肉斷壞,還墮鑊湯中。因殺生之罪,於一日一夜中有恆河沙之生死果報。罪畢乃出,生於畜生道,豬羊雞狗短命之處,無不經歷,待受身八千萬年後,才生於人道。雖生人道中,仍受多病、短命之報,經無量劫後遇善知識,始能受持五戒、行六度。〔正法念處經卷七、經律異相卷五十〕 ; Địa ngục với những vạc nấu sắt nóng chảy—The purgatory of caldrons of molten iron. ; (鑊湯地獄) Địa ngục vạc nước sôi. Những tội nhân trong địa ngục này bị bỏ vào vạc nước sôi để trừng phạt các tội ác mà họ đã tạo lúc còn sống. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 5, thì địa ngục này có tất cả 18 cái vạc, mỗi cái rộng 40 do tuần, có 7 lớp lưới sắt, trong các vạc chứa đầy nước đồng sôi. Có 500 quỉ La sát lấy tảng than đá lớn đốt vạc đồng, ngọn lửa bốc lên ngùn ngụt liên tiếp, ròng rã 60 ngày (tức bằng 12 vạn năm ở thế giới Sa bà này) mà không tắt. Những chúng sinh hủy phạm giới pháp của Phật, sát sinh cúng tế, vì ăn thịt mà thiêu đốt núi rừng làm thương tổn chúng sinh, thiêu đốt các loài chúng sinh, v.v... thì sau khi chết bị quả báo đọa vào địa ngục này. Người phạm tội khi sắp chết, thân tâm phiền muộn, không làm chủ được đại tiểu tiện, thân thể hoặc nóng như nước sôi, hoặc lạnh như băng giá, liền nảy ra ý muốn được tắm nước ấm. Ngục tốt La sát liền hóa làm người hầu, tay bưng nồi nước nóng đến chỗ tội nhân, tội nhân thấy nước nóng sinh tâm ưa thích, liền tắt thở và sinh ngay vào địa ngục Hoạch thang này. Tội nhân bị nấu trong vạc, da thịt nhừ nát, chỉ còn lại bộ xương, ngục tốt dùng cái chạc bằng sắt gắp xương ra khỏi vạc, vứt cho chó sắt ăn, ăn xong, chó ói mửa trên đất, tội nhân sống lại, ngục tốt liền đuổi bắt tội nhân cho vào vạc trở lại. Vì sợ vạc nóng, tội nhân liền đưa tay bám vào cây bằng gươm dao, xương thịt bị đứt nát, lại rơi vào trong vạc. Vì tội sát sinh nên trong một ngày một đêm phải chịu quả báo chết đi sống lại nhiều lần như số cát sông Hằng. Đền tội xong rồi ra khỏi địa ngục, phải sinh làm loài súc sinh có đời sống ngắn ngủi như: lợn (heo), dê, gà, chó, v.v... Sau khi chịu thân súc sinh trong 8.000 vạn năm mới được sinh làm người. Tuy được sinh trong loài người, nhưng phải chịu quả báo nhiều bệnh và chết non. Trải qua vô lượng kiếp sau mới được gặp thiện tri thức, mới được thụ trì 5 giới, thực hành 6 độ. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.7; kinh Luật dị tướng Q.50].

hoạch thạch

Khắc trên đá, nghĩa là để lại dấu vết cụ thể—Sculpture in stone, which remains.

hoạch thủy

Giống như vẽ một đường trong nước, không để lại một dấu vết gì, là điều không thể được—Like drawing a line across water, which leaves no trace, this is impossible, unlike.

hoạch tượng

Hình tượng vẽ—Portraits, paitings of images, mandalas.

hoạch đắc

See Hoạch (2).

hoạch định

To define—To form.

Hoại

壞; C: huài; J: e, kai;|Có các nghĩa sau: 1. Tiêu tan, hư hoại, huỷ diệt, xoá sạch. Biến đổi và hoại diệt (s: nāśā, hāni, bheda, vigayama, nāśana); 2. Sự hoại diệt một cõi giới; 3. Sự phá huỷ, sự sụp đổ (s: vināśayati); 4. Hoại diệt trên lí thuyết (s: hata).

hoại

Vipariṇāma (S)Xem diệt. ; To go to ruin, decay, perish, destroy, spoil, worn out, rotten. bad. ; Hủy diệt hay hoại diệt—To go to ruin—To decay—To perish—To destroy—To spoil—Worn out—Rotten—Bad.

hoại diệt

To annihilate—Annihilation—Extinguish.

Hoại khổ

壞苦; C: huàikŭ; J: eku;|Sự đau khổ con người trải qua khi đánh mất những thứ mình đã gắn bó. Nói chung là đau khổ vì sự hoại diệt.

hoại khổ

xem ba tướng khổ ; 6653梵語 vipariṇāma-duḥkhatā,巴利語 vipariṇāma-dukkha。為行苦、壞苦、苦苦等三苦之一。又作變異苦。對所愛之人或物,因死亡破壞之變化所生起之苦感。又身中地、水、火、風等四大互侵、互壞之苦,亦稱壞苦。此外,諸可意之樂受法,生時為樂,壞時逼惱身心之苦,亦稱壞苦。〔俱舍論卷二十二、瑜伽師地論卷四十二、顯揚聖教論卷十五、大乘義章卷三〕(參閱「三苦」590) ; Vipariṇāma-dukkhata (S), Dukkha due to change. ; Vipàrinàma-dukkhatà (S). Suffering inherent in the changing. ; Một trong tam khổ, nổi khổ của sự hoại diệt—One of the three aspects of dukkha, the suffering of decay, or destruction. a) Nỗi khổ do sự hoại diệt của thân, khi tứ đại luôn lấn át lẫn nhau: The suffering of decay of the body due to the contradictions of the four great elements. b) Nỗi khổ khi niềm vui bị hủy hoại: The suffering of decay of reaction from joy, etc. ** For more information, please see Tam Khổ, and Bát Khổ in Vietnamese-English Section. ; (壞苦) Phạm: Vipariịàma-dukhatà. Pàli: Vipariịàma-dukkha. Cũng gọi Biến dị khổ. Cái khổ phát sinh khi người mình thương yêu chết mất, hoặc vật mà mình nâng niu ưa thích bị hư hoại. Một trong 3 nỗi khổ. Lại nữa, đất, nước, lửa, gió trong thân xâm lấn lẫn nhau, phá hoại lẫn nhau, làm cho mình khổ, cũng gọi là Hoại khổ. Ngoài ra, những điều thích ý, khi phát sinh thì vui, khi hoại diệt thì khiến cho thân tâm khổ não, cũng gọi là Hoại khổ. [X. luận Câu xá Q.22; luận Du già sư địa Q.42; luận Hiển dương thánh giáo Q.15; Đại thừa nghĩa chương Q.3]. (xt. Tam Khổ).

Hoại khổ 壞苦

[ja] エク eku ||| The suffering that people experience when they lose things that they are attached to. Literally, the suffering of destruction. 〔瑜伽論T 1579.30.523c〕 => Sự đau khổ con người trải qua khi đánh mất những thứ mình đã gắn bó. Nói chung là đau khổ vì sự hoại diệt.

hoại kiến

Tà kiến bại hoại, ám chỉ đoạn kiến—Corrupt or bad views, the advocacy of total annihilation.

hoại kiếp

6652梵語 saṇvarta-kalpa。為成、住、壞、空等四劫之一。即介於住劫與空劫間,世間轉趨壞滅之時期。此時期分二十中劫,有情眾生經最初之十九中劫次第壞盡,唯器世間(國土環境)空曠而住,至最後一中劫,器世間亦壞滅。器世間之破壞係由火、水、風等三大災所次第破壞,相對於住劫時之小三災,特稱為大三災。火災由七個日輪出現而起,色界初禪天以下悉成灰燼;水災由雨霖而起,第二禪天以下悉被浸沒;風災由風之相擊而起,第三禪天以下悉被飄散。此火、風、水三大災,亦稱劫災,然破壞僅至色界第三禪天以下,第四禪天以上不受破壞。〔大毘婆沙論卷十四、卷一三五、俱舍論卷十二、俱舍論光記卷十二〕(參閱「三災」554、「四劫」1694、「劫」2811) ; Saṃvarta-kalpa (S). ; Samvarta (S). The periodical gradual destruction of a universe, one of the four kalpas, i.e. thành vivarta, formation; trụ vivarta-siddha, abiding or existence; hoại samvarta, decay or destruction; diệt samvarta-siddha, final annihilation. ; Samvarta (skt)—Một trong tứ kiếp, khi vũ trụ hay tam thiên đại thiên thế giới bị hủy diệt—The kalpa of destruction—The periodical gradual destruction of a universe, one of its four kalpas. ** For more information, please see Tứ Kiếp. ; (壞劫) Phạm: Saôvarta-Kalpa. Thời gian giữa kiếp Trụ và kiếp Không là Hoại kiếp, tức là thời kì thế gian chuyển dần đến hoại diệt. Một trong 4 kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không. Khoảng thời gian kiếp hoại này được chia làm 20 Trung kiếp, trong 19 Trung kiếp đầu, chúng sinh hữu tình lần lượt hoại diệt hết, khí thế gian (hoàn cảnh đất nước) chỉ còn trống không, đến Trung kiếp cuối cùng thì khí thế gian cũng hoại diệt hoàn toàn. Khí thế gian lần lượt bị phá hoại bởi 3 tai họa lớn: Lửa, nước, gió gọi là Đại tam tai. Hỏa tai (nạn lửa) xảy ra do 7 mặt trời xuất hiện cùng một lúc, từ tầng trời Sơ thiền của cõi Sắc trở xuống đều bị cháy thành tro; Thủy tai (nạn nước) xảy ra do mưa dầm, từ tầng trời Nhị thiền trở xuống đều bị ngập chìm; Phong tai (nạn gió) xảy ra bởi gió va chạm nhau, từ tầng trời Tam thiền trở xuống đều bị gió thổi tan. Ba tai họa lớn này cũng được gọi là Kiếp tai, nhưng chỉ phá hoại từ tầng trời Tam thiền của cõi Sắc trở xuống mà thôi. [X. luận Đại tì bà sa Q.14, Q.135; luận Câu xá Q.12; Câu xá luận quang kí Q.12]. (xt. Tam Tai, Tứ Kiếp, Kiếp).

hoại lư xa

6654指弊驢所駕之壞車。與法華經中「大白牛車」相對稱。天台宗說十乘觀法,謂不具足能觀之十法與所觀之十境,則無其功用,而以壞驢車比喻之。止觀義例卷下(大四六‧四五三上):「十乘十境以為正修,(中略)若無十境,乘則無體;若無十法,名壞驢車。」〔南本大般涅槃經卷十八、大般涅槃經疏卷二十、摩訶止觀卷七下〕 ; Xe lừa đã hư hoại, ám chỉ nhị thừa—A worn-out donkey cart, i.e. Hinayana. ; (壞驢車) Chiếc xe hư do con lừa già yếu kéo, đối lại với cỗ xe trang hoàng đẹp đẽ do con trâu trắng lớn kéo nói trong kinh Pháp hoa. Tông Thiên thai lập ra Thập thừa quán pháp và cho rằng, nếu không tu hành đầy đủ 10 pháp năng quán và 10 cảnh sở quán thì chẳng có công dụng gì, cũng giống như chiếc xe đã hư mà do con lừa già kéo vậy. Chỉ quán nghĩa lệ quyển hạ (Đại 46, 453 thượng), nói: Tu 10 thừa 10 cảnh là tu chân chính, (…) nếu không có 10 cảnh thì 10 thừa không có thể; nếu không có 10 pháp thì gọi là Hoại lư xa [X. kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); Đại bát niết bàn kinh sớ Q.20; Ma ha chỉ quán Q.7 phần dưới].

hoại ma bồ tát

Mārapramardaka (S)Tên một vị Bồ tát.

hoại nghĩa

Vitanda (S)Một trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.

hoại nạp

6653其義有二:(一)指壞色所成之衲衣。壞色(梵 durvarṇī,巴 dubbaṇṇa),即避用青、黃、赤、白、黑等五正色,而用木蘭等染壞之不正色;衲衣,以破碎布片修補縫綴所製成之法衣。壞衲,即指僧侶之袈裟。(二)引申指修行僧。明覺禪師語錄卷六(大四七‧七一一上):「因觀壞衲秀禪客,清苦如冰復如檗。」(參閱「衲」 3951、「袈裟」4784) ; Rag-robe. ; (壞衲) Chỉ cho áo cà sa của chư tăng. Hoại, tức là hoại sắc (Phạm: Durvarịì, Pàli: Dubbaịịa), nghĩa là không dùng 5 mầu chính: Xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, mà dùng các mầu nhuộm xen lẫn nhau như xanh đen, mộc lan, v.v... Còn Nạp, tức là Nạp y, là áo pháp được may bằng nhiều miếng vải khâu lại với nhau. Ngoài ra, tiếng Hoại nạp cũng được dùng để chỉ tăng sĩ Phật giáo. (xt. Nạp, Ca Sa).

hoại pháp

Any process of destruction, or decay; to burn the bones of a deceased person so that they may not draă him in rebirth. ; 1) Tiến trình hoại diệt: Any process of destruction or decay. 2) Theo tập tục Ấn Độ, hỏa thiêu xương cốt người quá vãng để những thứ nầy không còn lôi kéo người ấy tiếp tục lăn trôi trong luân hồi sanh tử nữa: According to Indian customs, to burn the bones of a deceased person so that they may not draw him to reborth any longer.

hoại pháp bất hoại pháp

6653為成就阿羅漢果之二種法;此係依所觀想之境而立其名。壞法,即修不淨觀時,以假想之慧,就自身及所愛之人次第疾修脹想、壞想、血塗想、膿爛想、青瘀想、噉想、散想、骨想、燒想等九想觀,至第九燒想觀時觀想一切皆空。此類修者一心僅求斷苦,故觀想骨人之燒滅,以急速證得無學果,而不欣修八背捨等諸多事觀。然於此境界,既無骨人可觀,則亦因之無禪定、神通、變化、願、智、頂禪等諸功德;復因此類修者係藉漸次修初想而至燒想以取無學果,故稱為壞法。要之,由於此類修者不欣修事觀之緣故,即令已得「慧解脫」之阿羅漢,仍會退轉而捨阿羅漢果。 不壞法,亦以假想之慧就自身及所愛之人修不淨觀,於九想中,由最初之脹想觀而漸修,然止住於第八之骨想觀,不進入第九之燒想。停留在骨想觀時,更使觀慧增進,則得見昔時所未能徹見之骨中八色。八色即地、水、火、風、青、黃、赤、白。此等之色各各發光,狀如流水,圍攏骨人,令修觀之人悲慚恬愉,定心湛然,黮黮轉深。要之,行此觀法之人,於此觀慧上,具足八背捨、八勝處、觀練熏修、神通變化等一切功德;經由如是修觀,然後取無學果,即成就「俱解脫」之阿羅漢。其所採行之觀法,以存留骨人而不令一切皆空,故稱為不壞法。〔雜阿含經卷二、大智度論卷二十一、摩訶止觀卷九上、天台四教儀集註卷中〕(參閱「八解脫」304) ; (壞法不壞法) Hoại pháp và Bất hoại pháp là 2 pháp quán tưởng để thành tựu quả A la hán. Đây là theo cảnh sở quán mà đặt tên. Hoại pháp , tức là khi tu quán bất tịnh, dùng tuệ giả tưởng, lần lượt thực hành 9 quán tưởng về bản thân và về người mình yêu mến, đó là: Quán tưởng chương sình lên, quán tưởng bắt đầu rữa nát, quán tưởng máu chảy ra, quán tưởng mủ rịn ra, quán tưởng xanh bầm, quán tưởng chim thú đến ăn và giòi bọ rúc rỉa, quán tưởng da thịt tan rã, quán tưởng chỉ còn bộ xương và quán tưởng lửa đốt thành tro. Khi đến pháp quán lửa đốt thành tro thì quán tưởng tất cả đều không nên gọi là Hoại pháp. Người tu pháp này chỉ một lòng cầu dứt khổ, nhưng vì hành giả không thích tu sự quán, cho nên dù đã được quả A la hán Tuệ giải thoát vẫn còn thoái chuyển, bỏ quả A la hán. Bất hoại pháp cũng dùng tuệ giả tưởng tu quán bất tịnh. Trong 9 quán tưởng nói trên, lần lượt tu từ pháp quán tưởng sình chương lên đầu tiên trở đi như thường, nhưng dừng lại ở Pháp quán thứ 8 (còn trơ bộ xương) chứ không tiến tới pháp quán thứ 9 (lửa đốt thành tro, quán không). Khi dừng lại ở pháp quán thứ 8 còn trơ bộ xương thì khiến cho trí quán tưởng tăng thêm, thấy suốt được ở trong xương có: Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, gọi là 8 sắc mà trước kia chưa thấy. Tám sắc này đều phát ra ánh sáng tựa hồ như nước chảy, bao quanh bộ xương, khiến cho người tu quán cảm thấy hổ thẹn, tâm định lắng yên, càng lúc càng sâu. Tóm lại, người thực hành pháp quán này, về phương diện tuệ quán, có đầy đủ tất cả công đức như: Bát bối xả, Bát thắng xứ, Quán luyện huân tu, thần thông biến hóa, v.v... Trải qua quá trình tu quán như thế, sau mới chứng quả Vô học, tức là thành tựu quả A la hán Câu giải thoát . Vì khi thực hành pháp quán này, hành giả còn giữ lại bộ xương, không quán tưởng tất cả đều không, cho nên gọi là Bất hoại pháp. [X. kinh Tạp a hàm Q.2; luận Đại trí độ Q.21; Ma ha chỉ quán Q.9 phần trên; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung]. (xt. Bát Giải Thoát).

hoại sơn

Theo Kinh A Hàm:“Sinh, lão, bệnh, tử làm suy hao con người giống như sự hao mòn của quả núi vậy (Suy Hao Sơn)—According to The Agama Sutra:“as the hills wear down, so is it with man.”

hoại sắc

Kasàya (S). A brown colour; but it is described as a neutral colour through the dyeing out of the other colours, i.e. for the monks. ; Kasaya (skt). 1) Màu tối: Broken colour (not a bright colour). 2) Màu phụ (không phải là năm màu chính): A secondary color (not the five primary colours). 3) Màu trung tính, hay là màu được nhuộm từ các màu khác: It is described as a neutral colour through the dyeing out of the other colours. 4) Luật nhà Phật là nhuộm sao cho áo cà sa có màu hoại sắc—A fundamental rule in Buddhism is to dye the kasaya with a secondary color.

hoại sắc y

xem áo nhuộm màu. ; Hoại Sắc Nạp—Áo dành cho chư Tăng Ni—Rag-robe, or robe for monks and nuns.

hoại tướng

Trạng thái hoại diệt của sự vật, một trong sáu tướng của vạn hữu—The aspect, or state of destruction or decay, one of the six characteristics found in everything. ** For more information, please see Lục Tướng in Vietnamese-English Section.

hoại tướng kim cang đà la ni kinh

Vājravidāranā-dhāraṇī (S)Tên một bộ kinh. Một bộ kinh trong Mật bộ.

hoại tướng kim cương đà la ni kinh

Vajravidàranà-dhàrani (S). Sùtra.

hoại đạo

Phá hoại chân lý hay đạo pháp bằng những hành động bại hoại—To destroy the truth, or the religion, e.g. by evil conduct.

hoại đạo sa môn

6654又作污道沙門。為四沙門之一。沙門,為出家修道者之通稱。壞道沙門,指沙門中違犯禁戒、染污佛道而無慚愧心之偽善者。〔俱舍論卷十五、瑜伽師地論卷二十九〕(參閱「四沙門」1698) ; Vị Sa Môn phá hoại chân lý hay đạo pháp bằng những hành động bại hoại (một trong bốn loại Sa Môn)—A monk who destroys the truth, or the religion by his evil conduct. ; (壞道沙門) Cũng gọi Ô đạo sa môn. Sa môn làm nát đạo, làm nhơ đạo. Chỉ cho những sa môn dối trá, vi phạm giới cấm, làm hoen ố đạo Phật mà không biết hổ thẹn. Là một trong 4 loại sa môn. [X. luận Câu xá Q.15; luận Du già sư địa Q.29]. (xt. Tứ Sa Môn).

Hoại 壞

[ja] エ、カイ e, kai ||| To ruin, to spoil, destroy, wipe out. To be changed and destroyed (nāśā, hāni, bheda, vigayama, nāśana). (2) The destruction of the universe. (3) Demolition, collapse (vināśayati). (4) To theoretically defeat or destroy (hata). => Có các nghĩa sau: 1. Tiêu tan, hư hoại, huỷ diệt, xoá sạch. Biến đổi và hoại diệt (s: nāśā, hāni, bheda, vigayama, nāśana). 2. Sự hoại diệt một cõi giới. 3. Sự phá huỷ, sự sụp đổ (s: vināśayati). 4. Hoại diệt trên lý thuyết (s: hata).

hoạn nạn

Calamity—Misfortune

Hoạn 患

[ja] ゲン gen ||| Calamity, evil. To suffer; to be troubled or grieved. To contract an illness. Anxiety. => Tai hoạ, điều ác. Đau khổ, lo âu và đau lòng. Mắc bệnh. Mối băn khoăn.

Hoạnh kế 横計

[ja] オウケ oke ||| Mistaken thought, mistaken conceptualization. => Tính toán sai lầm, suy nghĩ sai lầm.

hoạnh phát

ill-gotten.

hoạnh tài

Ill-gotten gains.

hoạnh tài bất phú

Ill-gotten gains seldon prosper.

hoạnh tử

To die innocently.

Hoạt

活; C: huó; J: katsu;|1. Sống, đang sống, sinh động, tràn đầy sự sống; 2. Sinh kế, cách sinh nhai; 3. Làm sinh động, truyền sự sống cho, hồi sinh. Làm sống lại.

hoạt

Jiva, jivaka (S). Alive, living, lively, revive, movable. ; Jivaka or Jiva (skt)—Sống động, linh hoạt—Alive—Living—Lively—Revive—Movable.

hoạt bát

Active—Fluent—To be a fluent speaker.

hoạt cú tử cú

3880禪林用語。又稱活語死語。活用之句稱活句;不活用之句稱死句。活句係超越分別的靈妙之句。宋慧洪之林間錄卷上舉出洞山初禪師之語(卍續一四八‧二九九下):「語中有語,名爲死句;語中無語,名爲活句。」〔山房夜話卷下(明本)〕 ; (活句死句) Cũng gọi Hoạt ngữ tử ngữ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hoạt cú là câu nói linh diệu, siêu việt mọi sự phân biệt; Tử cú là câu nói không hoạt dụng. Trong Lâm gian lục quyển thượng của ngài Tuệ hồng đời Tống, có ghi câu nói của thiền sư Động sơn Thủ sơ (Vạn tục 148, 299 hạ): Trong lời có lời gọi là Tử cú; trong lời không lời gọi là Hoạt cú . [X. Sơn phòng dạ thoại Q.hạ (Minh bản)].

Hoạt lộ

活路; C: huólù; J: katsuro;|Con đường sống.

Hoạt lộ 活路

[ja] カツロ katsuro ||| The living path. => Con đường sống.

hoạt mệnh

3882<一>梵語 jīvaka, ajīvaka(音譯阿時縛迦、阿時婆迦、阿寅婆迦、阿時婆)、ajīvika(音譯阿耆毘伽、阿夷維、阿耆維)。原指生活、生存之意,然若身爲出家修行者,本應摒絕物欲、專心修道,故如經營買賣、爲人占卜吉凶,或現種種奇特異相等,以獲得生活之資,乃至以衣食之故而爲人說法,此時若以「活命」稱之,則含「邪命」之意,意謂不以正道,而以邪道活命。如四分律卷三十所載,在佛陀之世,有六群比丘尼學習支節咒、剎利咒、知死相、卜知眾鳥音聲等,爲其活命之方式。 佛教以外之外道修行者,若採此類生活方式,特稱爲邪命外道,如與佛陀同時代之尼犍子外道中之末迦利瞿舍梨(巴 Makkhali-gosāla)之徒。〔長阿含經卷十四、佛本行集經卷四十五布施竹園品、摩訶僧祇律卷七、大智度論卷十九、成唯識論述記卷一末、大乘義章卷十〕(參閱「邪命」3033) <二>梵名 Jīvaka。音譯耆婆、時婆、時縛迦。爲佛陀時代之人。有二人:(一)爲當世之大醫,以能活人性命,故有此名。俱舍論光記卷五(大四一‧一○三上):「時縛迦,此云活命,善療眾病,能活命故。」(二)又稱活命童子。曾經蒙受佛陀記莂「必能活命」之童子。 ; Sống hay sống lại—Life—Living—To retrive. ; (活命) I. Hoạt Mệnh. Phạm:Jìvaka, ajìvaka (dịch âm: A thời phạ ca, A thời bà ca, A dần bà ca, A thời bà), Ajìvika (dịch âm: A kì tì già, A di duy, A kì duy). Chỉ cho sự sinh hoạt, sự sống còn. Người xuất gia tu hành nên dứt bỏ vật dục, chuyên tâm tu đạo, nếu kinh doanh buôn bán, xem tướng số, bói lành dữ cho người, hoặc hiện các việc kì lạ để lòe đời, mong được tiền của cho việc mưu sinh, hoặc vì cơm áo mà nói pháp cho người, v.v... thì gọi là Hoạt mệnh, nghĩa là kiếm sống bằng tà đạo chứ không phải chính đạo. Như luật Tứ phần quyển 30 chép, thời đức Phật còn tại thế, có nhóm Lục quần tỉ khưu ni học tập chú Chi tiết, chú Sát lợi, xem tướng chết, bói để biết âm thanh các loài chim, v.v... và dùng cách đó để mưu sinh (hoạt mệnh). Ngoài ra, nhóm Mạt ca lợi cù xá lê (Pàli: Makkhali-gosàla) thuộc ngoại đạo Ni kiền tử cùng thời với đức Phật, cũng làm những nghề nói trên để kiếm sống, nên gọi là Tà mệnh ngoại đạo. [X. kinh Trường a hàm Q.14; phẩm Bố thí trúc viên trong kinh Phật bản hạnh tập Q.45; luật Ma ha tăng kì Q.7; luận Đại trí độ Q.19; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Tà Mệnh). II. Hoạt Mệnh. Phạm: Jìvaka. Dịch âm: Kì bà, Thời bà, Thời phạ ca. Tên một vị Đại lương y ở thời đức Phật. Vì ông đã cứu mạng sống cho nhiều người mắc bệnh nan y, nên được gọi là Hoạt mệnh. Câu xá luận quang kí quyển 5 (Đại 41, 103 thượng), nói: Bấy giờ có Phạ ca, Hán dịch là Hoạt mệnh, rất giỏi về thuốc, chữa lành các bệnh, cứu sống được nhiều người, nên gọi là Hoạt mệnh . Ngoài ra còn có một Đồng tử tên là Hoạt mệnh, từng được đức Phật thụ kí.

hoạt mệnh ấn minh

3882乃密教用於延命招魂法之印明。現證三昧大教王經卷十四(大一八‧三八九上):「堅固應作祕密鉤,諸指向外而舒展,是印相合置頂中,死者能令得還命。」其真言爲:唵(oṃ,歸命)縛日羅薩埵(vajrasattva,金剛有情)吽弱(hūṃjaḥ,引入鉤召)。〔乳味鈔卷十二、祕鈔問答卷九〕 ; (活命印明) Ấn minh của Mật giáo dùng trong pháp Diên mệnh chiêu hồn (pháp gọi hồn người chết sống lại). Kinh Hiện chứng tam muội đại giáo vương quyển 14 (Đại 18, 389 thượng), nói: Kết ấn hình lưỡi câu bí mật, chắc chắn, mười ngón tay hướng ngoại và xòe ra, rồi đặt lên giữa đỉnh đầu, khiến cho người chết được sống lại . Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la tát đỏa (vajrasattva, kim cương hữu tình) hồng nhược (hùôja, dẫn nhập câu triệu). [X. Nhũ vị sao Q.12; Bí sao vấn đáp Q.9].

hoạt nhi tử

3881菩提子之異名。據數珠功德經等之記載,昔時有一外道,其子死,乃於菩提樹下祈請,未久其子復甦,遂依此因緣稱菩提子爲活兒子。〔蘇悉地軌卷下〕 ; Tên của cây Bồ Đề—A name for the bodhi-tree—See Bồ Đề Thọ. ; (活兒子) Cũng gọi Bồ đề tử. Đứa con chết sống lại. Kinh Sổ châu công đức chép, thời xưa, một ngoại đạo có đứa con chết, ông ta liền đến cầu xin dưới cây Bồ đề, nhờ đó mà con ông sống lại. Vì lí do ấy nên hạt Bồ đề được gọi là Hoạt nhi tử. [X. Tô tất địa quĩ Q.hạ).

hoạt nhân kiếm

3880禪林用語。與「殺人刀」相對稱。喻活殺自在之機用。劍、刀皆用來比喻智慧,凡能喚醒人本具之靈性者,稱爲活人劍;反之,能置人於死地者,稱爲殺人刀。據景德傳燈錄卷十六巖頭全豁條(大五一‧三二六下):「石霜雖有殺人刀,且無活人劍。」又碧巖錄第十二則之垂示云(大四八‧一五二下):「殺人刀、活人劍,乃上古之風規,亦今時之樞要。」〔宗門統要續集卷十四夾山善會〕 ; (活人劍) Đối lại với Sát nhân đao. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Gươm cứu sống người. Gươm, dao đều được dùng để ví dụ trí tuệ. Trí tuệ có khả năng đánh thức linh tính sẵn có của con người, thì gọi là Hoạt nhân kiếm; trái lại đặt con người vào chỗ chết, thì gọi là sát nhân đao (dao giết người). Điều Nham đầu Toàn khoát trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại 51, 326 hạ), nói: Thạch sương tuy có sát nhân đao nhưng lại không có hoạt nhân kiếm . Phần Thùy thị, tắc 12, trong Bích nham lục (Đại 48, 152 hạ), ghi: Sát nhân đao, hoạt nhân kiếm vốn là phép tắc từ xưa, nhưng cũng là chỗ then chốt của thời nay . [X. Giáp sơn Thiện hội trong Tông môn thống yếu tục tập Q.14].

hoạt phật

3880西藏語 ḥpbrulsku,蒙古語 khutuktu, khutukutu, hobilghan。西藏喇嘛舊教(紅教)准許娶妻,故以生子爲法位繼承者,自宗喀巴創立黃教之後,乃改爲獨身之規定,故於法位繼承過程中,產生重大之轉變,此即「喇嘛之轉生」。宗喀巴之高足達賴喇嘛一世根敦珠巴(藏 Dge-ḥdun-grub-pa)在西元一四七五年示寂後,一般人都相信他轉生爲根敦嘉穆錯,此即活佛轉生制度之初例。未久,班禪喇嘛亦承襲此一制度,因此,這種教風便漸漸形成喇嘛教中高僧地位之繼承方法。 此種現世活佛化身之思想,遂使各地出現了大小活佛,以致於各宗派勢力互相抗衡。因此,爲維護教團之發展,高僧在臨死之際,便預告下一代轉生之方向。其弟子即就所言地點尋出一年之內所生出之神童,經正式試驗之後,推舉爲繼承者,此即呼畢勒罕(hoblighan, khubilghan)。呼畢勒罕,即蒙古語「自在轉生」、「再來人」等意,爲藏語珠孤(sprul-sku,化身)之意。凡夫之人,妄念未除,隨業轉生,不能自在;大乘聖者已除淨妄念,證實法性,不爲業轉而能自主生死,自在轉生,隨緣度眾。此一自在轉生之思想,係源於輪迴受生與佛陀三身之信仰。 經由呼畢勒罕轉生方式而接替其前生所遺職位之職稱,稱爲呼圖克圖,其蒙古語爲khutuktu,意即「明心見性,生死自主」,此語於藏語亦爲珠孤(化身)與聖者之意。或謂西藏之轉化聖者爲呼畢勒罕,而泛稱印度及西藏聖僧之轉化身爲呼圖克圖。然一般而言,呼圖克圖乃受政府冊封的一種行政上之職稱,呼畢勒罕則爲轉生而仍不昧本性之修行者,故凡是呼圖克圖必爲呼畢勒罕,而成爲呼畢勒罕之行者則未必皆受冊封爲呼圖克圖。 今日,在西藏、外蒙、內蒙、甘肅、青海、西康等地,駐京之活佛計有一百六十人。西藏之達賴喇嘛、班禪喇嘛,外蒙古之哲布尊丹巴呼圖克圖(Rje btsun dam pakhutuktu),以及漠南蒙古之章嘉,均爲歷史上著名之活佛。〔明史卷三三一烏斯藏大寶法王條、聖武記卷五國朝撫綏西藏記上‧下、大清會典事例、蒙藏佛教史(妙舟)、近代西藏史研究及び近代蒙古史研究(矢野仁一)、蒙古喇嘛教史(橋本光寶)〕 ; A living Buddha, i.e. a reincarnation Buddha, e.g. Hutuktu, Dalai Lama etc. ; Vị Phật sống, danh hiệu của Hộ Độ Khắc Đồ, hay đức Đạt Lai Lạt Ma, có khả năng tiếp tục tái sanh, giữ những chức vụ sẳn giữ để hoằng pháp độ sanh (các vùng Mông, Tạng và Thanh Hải đều có)—A living Buddha, i.e. a reincarnation Buddha, e.g. Hutuktu, Dalai Lama. ; (活佛) Tạng: Hpbrulsku. Mông cổ: Khutuktu, Khutukutu, Hobilghan. Phật sống của Tây tạng. Lạt ma cựu giáo (Hồng giáo)của Tây tạng được phép lấy vợ sinh con làm người thừa kế pháp vị. Từ khi ngài Tông khách ba sáng lập Hoàng giáo mới qui định đời sống độc thân, cho nên trong quá trình kế thừa pháp vị đã có sự chuyển biến lớn lao, đó là sự chuyển sinh của Lạt ma . Sau khi vị Đạt lai lạt ma đời thứ I là Căn đôn châu ba (Tạng: Dge-dun-grub-pa), đệ tử ưu tú của ngài Tông khách ba, thị tịch vào năm 1475 Tây lịch, mọi người đều tin rằng ngài chuyển sinh thành Căn đôn gia mục thố, đó là trường hợp đầu tiên về chế độ chuyển sinh của Hoạt Phật. Không bao lâu, Ban thiền lạt ma cũng noi theo chế độ này, do đó, chế độ chuyển sinh dần dần trở thành phương pháp chính thức kế thừa địa vị Cao tăng trong Lạt ma giáo. Tư tưởng về hóa thân Phật sống ở đời hiện tại này đã khiến cho các nơi xuất hiện nhiều Phật sống quá, đến nỗi đưa đến sự đối kháng lẫn nhau giữa các tông phái có thế lực. Bởi vậy, để duy trì sự phát triển của giáo đoàn, khi lâm chung, vị Cao tăng liền báo trước phương hướng chuyển sinh đời kế tiếp. Đệ tử theo phương hướng thầy mình đã nói, đến nơi ấy tìm một thần đồng sinh ra trong vòng một năm, sau khi đã qua cuộc thử nghiệm chính thức, cậu bé ấy được suy tôn làm người thừa kế, đó chính là Hô tất lặc hãn (Hobilghan, Khublighan). Hô tất lặc hãn là tiếng Mông cổ, có nghĩa là tự tại chuyển sinh , tái lai nhân , v.v... và là Châu cô (Sprul-sku); Châu cô là tiếng Tây tạng, có nghĩa là hóa thân . Người phàm phu vọng niệm chưa trừ, theo nghiệp chuyển sinh không được tự tại; bậc Thánh của Đại thừa đã trừ sạch vọng niệm, chứng pháp tính chân thực, không bị nghiệp chuyển, nên tự làm chủ việc sinh tử, tự tại chuyển sinh, tùy duyên độ chúng. Tư tưởng tự tại chuyển sinh này bắt nguồn từ tín ngưỡng luân hồi thụ sinh và 3 thân của Phật. Qua phương thức chuyển sinh Hô tất lặc hãn để tiếp nhận chức vị do đời trước để lại, thì chức ấy được gọi là Hô đồ khắc đồ, tiếng Mông cổ là Khutuktu, nghĩa là minh tâm kiến tính, sinh tử tự chủ , từ ngữ này tiếng Tây tạng cũng có nghĩa là Châu cô (hóa thân) và Thánh giả. Có thuyết cho rằng bậc Thánh chuyển sinh của Tây tạng gọi là Hô tất lặc hãn, còn thân chuyển hóa của các bậc Thánh tăng Ấn độ và Tây tạng thì gọi chung là Hô đồ khắc đồ. Nhưng nói chung, Hồ đồ khắc đồ là một chức vụ về mặt hành chính được nhà nước phong tặng, còn Hô tất lặc hãn là người tu hành tuy chuyển sinh nhưng vẫn không mê mất bản tính, cho nên phàm đã là Hô đồ khắc đồ tất nhiên cũng là Hô tất lặc hãn. Nhưng người tu hành trở thành Hô tất lặc hãn thì chưa hẳn đều được phong tặng tước vị Hô đồ khắc đồ. Hiện nay có tới 160 vị Hoạt Phật từ các vùng Tây tạng, Ngoại mông, Nội mông, Cam túc, Thanh hải, Tây khang, v.v... đang sống tại thủ đô Bắc kinh. Các vị Đạt lai lạt ma và Ban thiền lạt ma của Tây tạng, Triết bá tôn đan ba hô đồ khắc đồ (Rje btsun dam pa khutukta) của Ngoại mông và Chương gia của Nội mông, v.v... đều là những vị Hoạt Phật nổi tiếng trong lịch sử. [X. điều Ô tư tạng đại bảo pháp vương trong Minh sử Q.331; Thánh triều phủ tuy Tây tạng kí thượng, hạ trong Thánh vũ kí Q.5; Đại thanh hội điển sự lệ; Mông Tạng Phật giáo sử (Diệu chu); Cận đại Tây tạng sử nghiên cứu cập cận đại Mông cổ sử nghiên cứu (Thỉ dã Nhân nhất); Mông cổ lạt ma giáo sử (Kiều bản Quang bảo)].

hoạt quốc

3883(Kunduz)西域古國之一,位於葱嶺之西。大唐西域記卷十二(大五一‧九四○上):「活國,睹貨邏國故地也,周二千餘里。國大都城周二十餘里,無別君長,役屬突厥。土地平坦,穀稼時播,草木榮茂,花菓繁,氣序和暢,風俗淳質。人性躁烈,衣服氈褐,多信三寶,少事諸神。伽藍十餘所,僧徒數百人,大小二乘兼功綜習。其王突厥也。」玄奘西行求法,路過此地時,睹貨邏一帶之地悉屬突厥族之領土,其時之舊都爲縛喝(Bokhara),此活國則爲新都。又此國有學者達磨僧伽嘗遊學印度,葱嶺以西,僅此一位學僧,疏勒、于闐之僧非其對論之對象。此地即現今奧克薩斯河(Oxus)之南庫札烏日(Kunduz)之地。〔大唐西域記卷一、大慈恩寺三藏法師傳卷五、S. Beal: Buddhist Records of the Western World vol. I〕 ; Ghur or Ghori (skt)—Đổ Hóa La—Theo Tây Vực Ký, Hoạt Quốc là tên một vương quốc cổ ở vùng Tân Cương—According The Great T'ang Chronicles of the Western World, Ghori is an ancient kingdom in Turkestan, north west of China. ; (活國) Kunduz. Tên một nước xưa ở Tây vực, nằm về phía tây núi Thông lĩnh. Đại đường tây vực kí quyển 12 (Đại 51, 940 thượng), nói: Hoạt quốc là vùng đất cũ của nước Đổ hóa la, chu vi hơn 2000 dặm. Đại đô thành rộng hơn 20 dặm, không có vua, lệ thuộc nước Đột quyết. Đất đai bằng phẳng, lúa cấy 2 vụ, cây cỏ xanh tốt, hoa quả sum suê, khí hậu điều hòa, phong tục thuần phác, người trong nước tính tình nóng nảy, y phục bằng dạ, phần đông tin Tam bảo, ít thờ các thần linh. Trong nước có 10 ngôi chùa với vài trăm vị tăng, tu học cả Đại thừa và Tiểu thừa. Vua là người nước Đột quyết . Khi ngài Huyền trang sang Ấn độ cầu pháp, trên đường qua nước này, thì vùng đất Đổ hóa la đều thuộc lãnh thổ của chủng tộc Đột quyết, đô thành cũ lúc bấy giờ là Phược hát (Bokhara), còn Hoạt quốc này là đô thành mới. Nước này có một học giả tên là Đạt ma tăng già từng du học ở Ấn độ. Nước này chính là vùng Khố trát ô nhật (Kunduz) ở phía nam sông Áo khắc tát tư (Oxus) ngày nay. [X. Đại đường tây vực kí Q.1; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.5; S. Beal: Buddhist Records of the Western World vol.I].

hoạt thạch kinh

5512於滑石畫線刻經文埋入土中之經。現存極爲少數,其形式皆一致,故可推定約爲同一時代所製作。埋藏之際,必配列圓形,彎曲滑石板四十度乃至一二○度,其上畫線,以便刻經。日本東京國立博物館藏有法華經序品一板,日人島地大等亦藏法華經妙莊嚴王本事品及普賢菩薩勸發品各一板。 ; (滑石經) Kinh văn được khắc trên loại đá trơn láng rồi chôn vào lòng đất. Hình thức các bản hoạt thạch đều giống nhau, cong từ 40 độ đến 120 độ, trên có kẻ dòng để tiện việc khắc kinh. Lúc chôn đều phải sắp xếp theo hình tròn. Loại kinh này hiện nay còn rất ít bản như: Viện bảo tàng Quốc lập ở Đông kinh, Nhật bản, còn cất giữ phẩm tựa kinh Pháp hoa; một người Nhật tên là Đảo địa đại cũng tàng trữ phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự và phẩm Phổ hiền bồ tát khuyến phát trong kinh Pháp hoa, mỗi thứ có 1 bản. Ngoài ra, như đã nói trên, các bản kinh hoạt thạch đều có hình thức giống nhau, cho nên ta có thể suy đoán loại kinh này đã được thực hiện trong cùng một thời đại.

hoạt tự bản

3880又稱植字版、一字版、活版。版又作板。東方創始於我國北宋時代,西洋則於十五世紀始正式應用。北宋沈括之夢溪筆談卷十八:「慶曆中(1041~1048),有布衣畢昇,爲活板。其法用膠泥刻字,薄如錢唇,每字爲一印,火燒令堅,先設一鐵板,其上以松脂臘和紙灰之類冒之。欲印則以一鐵範置鐵板上,乃密布字印,滿鐵範爲一板,持就火煬之。藥銷鎔,則以一平板按其面,則字平如砥。若止印三、二本,未爲簡易;若印數十百千本,則極爲神速。」其後或使用木製或錫、銅製之活字。清康熙末年,古今圖書集成編纂之時,使用銅活字。乾隆三十八年(1773)以木活字輯印永樂大典中之罕覯祕帙,稱爲武英殿聚珍版全書,蓋以「活字」不雅,故勅易名爲「聚珍版」。 日本天正十五年(1587)頃,基督教傳教師華禮納倪(Al. Valegnani)攜帶西洋式活字印刷機至日本天草,印刷拉丁文與片假名之基督教書籍、字彙等,惟至日本禁止基督教徒活動時,即告終止。稍後,屬我國系統之朝鮮活字印刷術傳入日本,頗風靡當時印刷界,其活字印刷品,現尚有存者。 我國活字版雖早在宋朝即已發明,惟於宋以後之佛教出版界並不流行,宋元明清印行之大藏經,皆係雕印本。僅民初之頻伽藏用活字而已。日本則於一六三七年即以活字版開印大藏經,此即明正天皇時之天海藏,此後該國大藏經亦多用活字印行。〔中國藏經譯印史(道安)、佛典泛論(呂澄)、中國文獻學概要(鄭鶴聲、鄭鶴春合著)第七章〕

hoạt đạo sa môn

3883四種沙門之一。指修諸善行之沙門。由善行而生長慧命,故稱活道。(參閱「四種僧」1817) ; (活道沙門) Chỉ cho vị sa môn tu các hạnh lành. Nhờ hạnh lành mà tuệ mệnh sinh trưởng. Là một trong 4 loại sa môn. (xt. Tứ Chủng Tăng).

hoạt địa ngục

Sanjiva (S), Sonytra Đẳng hoạt địa ngục, Tưởng địa ngụcĐịa ngục đầu trong 8 cảnh điạ ngục nóng (bát nhiệt địa ngục).

hoạt động

Functioning

Hoạt 活

[ja] カツ katsu ||| (1) To live, be alive, be lively, full of life. (2) Livelihood. (3) To enliven, give life to, restore life (breath) to. Resuscitate. => 1. Sống, đang sống, sinh động, tràn đầy sự sống. 2. Sinh kế, cách sinh nhai. 3. Làm sinh động, truyền sự sống cho, hồi sinh. Làm sống lại.

hoả biện

1501梵名 Citrabhāna。音譯作質呾羅婆拏。印度人。唯識十大論師之一。與世親同時代,乃四世紀末期之人。善於文章,深嫻注述,形雖隱俗,而道高真侶。注釋唯識三十論頌。〔成唯識論述記卷一本〕 ; Citravadin (S)Chất đát la bà niaMột trong mười đại luận sư đồng thời ngài Thế Thân. ; (火辨) Phạm: Citrabhàna. Dịch âm: Chất đát la bà noa. Người Ấn độ. Một trong 10 vị Đại luận sư Duy thức, người cùng thời với ngài Thế thân, sống vào cuối thế kỉ thứ IV. Ngài có tài về văn chương, tuy hình tướng thế tục, nhưng đạo hạnh lại cao vời. Ngài có chú thích Duy thức tam thập tụng. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu].

hoả bản

1495禪林中,掛於庫司竈上之板。又作火板、火鈑。炊飯熟,飯頭擊火版三下,火頭即滅竈火。同時,大眾聞擊火版,乃停止坐禪,預備食事。〔禪林象器箋唄器門〕 ; (火版) Tấm bản treo ở nhà bếp trong Thiền lâm. Khi cơm đã chín, vị Phạn đầu (người trông coi việc cơm nước) đánh 3 hồi Hỏa bản, vị Hỏa đầu (người chuyên việc nấu cơm) liền tắt lửa trong bếp. Đồng thời, khi đại chúng nghe đánh Hỏa bản thì xả thiền chuẩn bị dùng cơm. [X. môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hoả châu

1497指塔頂飾物。於塔頂九輪之上,置一寶珠形之飾物,其周圍以火焰圖案裝飾之,稱為火珠。(參閱「水煙」1491) ; (火珠) Vật trang trí đặt ở trên nóc tháp. Trên cửu luân của đỉnh tháp để một vật trang sức hình viên ngọc báu, chung quanh có hình ngọn lửa cháy, gọi là Hỏa châu. (xt. Thủy Yên).

hoả chủng cư sĩ

1500印度古代對拜火婆羅門之泛稱。如雜阿含經卷五,佛弟子稱毘舍離國之薩遮尼犍子為火種居士,即是其例。 ; (火種居士) Từ chỉ chung cho những người Bà la môn thờ lửa ở Ấn độ cổ đại. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 5 ghi, thì đệ tử của đức Phật gọi những người Tát già ni kiền tử ở thành Tì xá li là Hỏa chủng cư sĩ.

Hoả cung dưỡng pháp 火供養法

[ja] カキョウヨウホウ kakyō yōhō ||| Chinese translation of the Sanskrit homa. See 護摩. => Hán dịch chữ Homa trong tiếng Sanskrit. Xem Hộ-ma護摩.

Hoả cúng 火供

[ja] カキョウ kakyō ||| Chinese translation of the Sanskrit homa. See 護摩. => Hán dịch chữ Homa trong tiếng Sanskrit. Xem Hộ-ma護摩.

hoả cẩu

1496於地獄中吐火以懲罰罪人之狗。如楞嚴經卷八所載,若有生前造作惡業者,於臨終時,亡者之神識先見大山自四面逼合而來,復見大鐵城、火蛇、火狗、虎、狼、獅子等專司懲罪之兇猛惡獸。 ; (火狗) Con chó trong địa ngục phun lửa để trừng phạt tội nhân. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 nói, nếu có người lúc còn sống làm các việc ác, đến khi chết, thần thức người ấy trước hết thấy núi lớn từ 4 mặt dần dần ép lại, kế đến lại thấy thành lớn bằng sắt và các loài ác thú hung dữ như: Rắn lửa, chó lửa, hổ (cọp), chó sói, sư tử, v.v... chuyên việc trừng phạt tội nhân.

hoả diệm luân chỉ ấn

1499密教不動尊十四根本印明之第十。又作 謅鶡L、遮火印。金剛手光明灌頂經最勝立印聖無動尊大威怒王念誦儀軌法品(大二一‧三上):「火焰輪止印,定慧各為拳,空出火風間,二拳背相合,能制止諸火。」其印相為:兩手拇指各出於食指、中指之間,兩手作拳、背合,若以風指(食指)近火指(中指)則火愈盛,故風(食指)、火(中指)之間置空(拇指)則火自消滅,意指以大空之智滅除業煩惱之火。 ; (火焰輪止印) Cũng gọi Chế hỏa ấn, Già hỏa ấn. Ấn minh thứ 10 trong 14 ấn minh căn bản của Bất động tôn thuộc Mật giáo. Phẩm Tối thắng lập ấn thánh vô động tôn đại uy nộ vương niệm tụng nghi quĩ pháp (Đại 21, 3 thượng), nói: Hỏa diệm luân chỉ ấn là 2 tay nắm lại, áp lưng bàn tay vào nhau; 2 ngón cái (tượng trưng hư không) đều đặt vào giữa kẻ ngón trỏ (tượng trưng gió) ngón giữa (tượng trưng lửa), 2 đầu ngón cái đều ló ra. Nếu ngón trỏ nằm gần ngón giữa thì lửa càng mạnh, cho nên đặt ngón cái vào giữa kẽ ngón trỏ và ngón giữa khiến 2 ngón cách xa ra thì lửa tự tiêu diệt, hàm ý là dùng trí đại không để tiêu trừ lửa nghiệp phiền não.

hoả diệm ấn

1499密教不動尊十四根本印明之第九。金剛手光明灌頂經最勝立印聖無動尊大威怒王念誦儀軌法品(大二一‧二下):「次結火焰印,以慧手空輪,加於水火甲,風堅拄定掌,右旋成界方,左轉名解散。」即以右手拇指加於中指、無名指之甲上,伸食指抵左掌。其以右手食指(風)押左手中指(火)之根,表示以佛大悲之教風,發動眾生智火之義。另據底哩三昧耶不動尊聖者念誦法卷下載,其印相為右手拇指捻三指之背,伸食指指左掌,左手五指散開作火焰形。 ; (火焰印) Ấn minh thứ 9 trong 14 ấn minh căn bản của Bất động tôn thuộc Mật giáo. Phẩm Tối thắng lập ấn thánh vô động tôn đại uy nộ vương niệm tụng nghi quĩ pháp trong kinh Kim cương thủ quang minh quán đính (Đại 21, 2 hạ), nói: ... Kế đến, kết ấn Hỏa diệm, lấy ngón cái của tay phải đè lên móng ngón giữa và ngón áp út, duỗi ngón trỏ chống vào bàn tay trái. Vì ngón trỏ (tượng trưng gió) của tay phải đặt ở góc ngón giữa (tượng trưng lửa) của tay trái, là biểu thị nghĩa dùng ngọn gió (tức giáo pháp) đại bi của Phật để thổi bùng ngọn lửa trí tuệ của chúng sinh. Ngoài ra, theo Để lí tam muội da bất động tôn thánh giả niệm tụng pháp quyển hạ, thì ấn tướng này là ngón cái của tay phải đè lên lưng của 3 ngón kia, còn ngón trỏ thì duỗi thẳng chỉ vào bàn tay trái, 5 ngón của tay trái xòe ra thành hình ngọn lửa.

hoả dụ bồ tát thập chủng thiện pháp

1497據除蓋障菩薩所問經卷六載,菩薩修行,以智慧之火了妄即真,鍛凡成聖,破有執而歸空,照昏迷而為朗;猶如大火,鍛鍊陶鎔,必假其力,起滅變化莫測其由,乃至盡群有而歸一空,破諸暗而昭萬象,是皆火之威德,故取之為譬喻。即: (一)燒煩惱薪,謂菩薩以智慧觀察,滅除貪、瞋、癡等煩惱,令淨盡無餘;譬如大火,能燒大地草木諸類,令淨盡無餘。(二)成熟佛法,謂菩薩修行,以智慧觀察,成熟一切佛法,既已成熟,則歷劫不壞;譬如火吨尬騿A能使依地所生之一切種子及諸藥等悉能成熟。(三)乾煩惱淤泥,謂菩薩修行,能以智慧觀察,斷除煩惱之垢,恢復本來明淨之性;譬如大火,能乾除一切濕物及淤泥。(四)如大火聚,謂菩薩以智慧力,為有情作種種開示,令其離苦得樂;譬如大火聚,人若向之,即得解脫於寒逼之苦,而獲溫暖之樂。(五)作光明照,謂菩薩修行,以智慧光明普照,令一切有情於其昏昧未覺悟者皆令覺悟;譬如有人於雪山頂燃大火聚,光明徧照,則無幽而不燭。(六)能使驚怖,謂菩薩有大智威德,光明烜赫,能令天魔、外道悉生驚怖,而離棄其陰暗之地,退伏遠去;譬如大火,能令一切惡獸皆生驚怖,而離己窟穴,四散馳去。(七)能作安慰,謂諸有情昏迷不覺,沈淪諸趣,受苦無窮,菩薩乃為其說法,種種安慰,令其遠離煩惱之稠林,趣菩提之正路;譬如遠道之人,夜行曠野,迷失方向,遂心生恐怖,但若見火聚,即至其所,則心得安慰。(八)利與眾共,謂菩薩隨其所得之利養、受用資具,悉能與眾共之,若貴若賤一律平等,無有差異;譬如大火,光明普照一切,無分彼此。(九)人所供養,謂菩薩慈悲無量,化導亦廣,一切世間天、人、阿修羅等,皆悉奉事供養;譬如世間之火,諸婆羅門、剎帝利、庶民等,皆悉奉事。(十)人不輕慢,謂菩薩於大乘中雖初發心,但能令世間天、人、阿修羅等不敢輕慢,因其知菩薩不久當得無上佛果;譬如小火,人不敢輕忽,蓋以星火雖微,亦能燎原,故不可輕忽。 ; (火喻菩薩十種善法) Dùng lửa để ví dụ cho 10 thiện pháp của Bồ tát. Cứ theo kinh Trừ cái chướng Bồ tát sở vấn quyển 6, thì lửa ví dụ 10 thiện pháp như sau: 1. Đốt củi phiền não: Bồ tát dùng trí tuệ quán xét, diệt trừ hết các phiền não tham, sân, si, v.v... như ngọn lửa mạnh có thể đốt sạch các cây cỏ trên mặt đất. 2. Thành thục Phật pháp: Bồ tát tu hành, dùng trí tuệ quán xét, thành thục tất cả Phật pháp; khi đã thành thục rồi thì dù trải qua bao nhiêu kiếp cũng không hoại mất, như tính nóng của lửa có thể giúp cho tất cả hạt giống và cây cỏ nương mặt đất mà sinh trưởng đều được thành thục. 3. Làm khô bùn lầy phiền não: Bồ tát tu hành, dùng trí tuệ quán xét đoạn trừ các phiền não cáu bẩn, khôi phục bản tính sáng suốt trong sạch xưa nay vốn có, ví như ngọn lửa mạnh có thể làm cho tất cả vật ẩm ướt và bùn lầy khô ráo. 4. Như đống lửa lớn: Bồ tát dùng sức trí tuệ, khai thị cho các hữu tình khiến cho họ lìa khổ được vui; ví như đống lửa lớn mang lại sự ấm áp cho những người ngồi sưởi chung quanh. 5. Làm ánh sáng chiếu rọi: Bồ tát tu hành, dùng ánh sáng trí tuệ chiếu rọi làm cho hữu tình chưa giác ngộ đều được giác ngộ, ví như người đốt đống lửa lớn trên đỉnh núi Tuyết, ánh sáng chiếu khắp thì không một chỗ tối tăm nào mà không sáng. 6. Làm cho kinh sợ: Bồ tát có đại uy đức và trí tuệ, ánh sáng rực rỡ, có thể khiến cho thiên ma, ngoại đạo đều kinh sợ, lìa bỏ hang ổ của mình mà chạy tứ tán. 7. Có thể mang lại sự an ổn: Bồ tát thuyết pháp cho các loài hữu tình nghe, khiến họ xa lìa phiền não, thẳng tới đường Bồ đề chân chính; ví như người đi đường xa, qua cánh đồng rộng trong đêm tối, không biết phương hướng, tâm sinh sợ hãi, nhưng nếu thấy đống lửa thì liền tới nơi muốn đến, tâm được an ổn. 8. Có lợi đều cho mọi người cùng hưởng: Bồ tát tùy chỗ lợi dưỡng có được, đều chia đều cho mọi người cùng hưởng, dù sang hay hèn nhất luật bình đẳng, không có sai khác, như ngọn lửa lớn, soi sáng khắp cả, không phân biệt kia đây. 9. Được mọi người cúng dường: Tâm Bồ tát từ bi vô lượng, hóa đạo rộng rãi, tất cả trời, người, A tu la... đều cung phụng cúng dường; ví như lửa ở thế gian, được các Bà la môn, Sát đế lợi và thứ dân… đều phụng thờ. 10. Không ai khinh mạn: Bồ tát tuy mới phát tâm Đại thừa nhưng có thể làm cho trời, người, A tu la ở thế gian không dám khinh mạn, vì họ biết không bao lâu Bồ tát sẽ chứng quả Phật vô thượng; ví như đốm lửa nhỏ, nhưng không ai dám khinh suất; vì đốm lửa tuy nhỏ nhưng cũng có thể bốc cháy lan tràn, nên chẳng ai dám xem thường.

hoả giáo

Xem Hiên giáo.

hoả giới

1496謂火之自體。界,為持之義。火持其自性,其性為煖,能成熟物。俱舍論卷一(大二九‧三中):地水火風,能持自相。」 ; (火界) Tự thể của lửa. Giới nghĩa là giữ gìn. Lửa giữ gìn tự tính của nó, tính của lửa là nóng, có thể làm cho mọi vật thành thục. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 3 trung), nói: Đất, nước, lửa, gió, đều có thể giữ gìn tự tướng của chúng .

hoả giới tam muội

1496梵語 agni-dhātu-samādhi。由己身發出火燄之禪定。又作火定、火界定、火光三昧、火燄三昧、火生三昧。依大毘婆沙論卷一七七載,底砂佛敷尼師壇,結跏趺坐,入火界定。中阿含卷十一頻鞞娑邏王迎佛經載,绷毘羅迦葉尊者入於火定,身發種種火燄。又有附於荼毘而稱火界三昧者,如三卷本大般涅槃經卷下載,須跋陀羅於佛前入火界三昧而般涅槃。此外,密教不動明王所入之三昧,由己身出火燄,亦稱火生三昧,係表示以淨菩提心之智火燒盡三毒五欲之煩惱。〔頻婆娑羅王經、底哩三昧耶經卷上、大日經卷二普通真言藏品、摩訶僧祇律卷三十二、大智度論卷四、大日經義釋卷七〕 ; (火界三昧) Phạm: Agni-dhàtu-samàdhi. Cũng gọi Hỏa định, Hỏa giới định, Hỏa quang tam muội, Hỏa sinh tam muội. Thiền định trong đó từ thân Thiền giả phát ra lửa. Luận Đại tì bà sa quyển 177 chép, đức Phật Để sa trải ni sư đàn (tọa cụ), ngồi kết già, vào Hỏa giới định. Kinh Tần bà sa la vương nghinh Phật trong Trung a hàm quyển 11 chép, tôn giả Uất tì la ca diếp vào Hỏa định, thân phát ra những ngọn lửa. Cũng có trường hợp vào định phát ra lửa để tự thiêu thân mà nhập Niết bàn, cũng gọi là Hỏa giới tam muội, như kinh Đại bát niết bàn (bản 3 quyển) quyển hạ chép, ngài Tu bạt đà la vào Hỏa giới tam muội ở trước Phật mà nhập Niết bàn. Ngoài ra, Tam muội của Bất động minh vương trong Mật giáo từ thân mình phát ra lửa cũng gọi là Hỏa sinh tam muội, biểu thị cho việc dùng lửa trí tuệ của tâm Bồ đề thanh tịnh đốt sạch phiền não tam độc, ngũ dục. [X. kinh Tần bà sa la vương; kinh Để lí tam muội da Q.thượng; phẩm Phổ thông chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật Q.2; luật Ma ha tăng kì Q.32; luận Đại trí độ Q.4; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7].

hoả hiên giáo

Xem Hiên giáo.

hoả hoán bố ca sa

1496以火浣布製成之袈裟。火浣布,乃以火鼠之毛紡成者,不懼火,垢穢時得投於火中而浣之。據法苑珠林卷三十五載,魏明帝時,西國獻火浣布袈裟。慧琳音義卷十五引山海經、抱朴子之說,謂南方炎洲有火林山,晝夜大火,生不燼之木,其木之皮花可為布,又有火浣獸,其形似鼠,常居火中,毛白而長,可績以為布,垢污時投於火中浣之,則潔白如新,故稱火浣布。抱朴子謂火浣布有木皮、花、獸毛等三種。另說火浣布有用火雞毛紡成者。此外,以石絨(即石綿)織就之布,亦稱為火浣布。〔大寶積經卷一○九、玄應音義卷五、義楚六帖卷二十二、類聚名物考卷二五九〕

hoả huyết đao

1495火途、血途、刀途。為三惡道之異名。三惡道,指地獄、畜生、餓鬼。地獄道為猛火所燒之處,稱為火途;畜生道為畜生互相噉食之處,稱為血途;餓鬼道為刀劍杖逼迫之處,稱為刀途。〔四解脫經、止觀輔行傳弘決卷一之三〕(參閱「三塗」636) ; (火血刀) Tức là Hỏa đồ (đường lửa), Huyết đồ (đường máu), Đao đồ (đường dao), là tên khác của 3 đường ác: Địa ngục, súc sinh, ngã quỉ. Đường địa ngục là nơi bị lửa dữ thiêu đốt, gọi là Hỏa đồ; đường súc sinh là nơi các loài súc sinh ăn thịt lẫn nhau, gọi là Huyết đồ; đường ngã quỉ là nơi tội nhân bị dao gươm chém chặt, gậy gộc đánh đập, gọi là Đao đồ. [X. kinh Tứ giải thoát; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 3]. (xt. Tam Đồ).

hoả hồng

1495密教護摩法之異名。火,指火法,即護摩法。吽(梵 hūṃ),為淨菩提心之種子,表菩提心實相之智火。以智火燒盡無明煩惱之薪,為護摩之義,故火吽為護摩法之異名。〔瑜祇經內護摩品〕 ; (火吽) Tên khác của pháp Hộ ma trong Mật giáo.Hỏa chỉ cho Hỏa pháp, tức là pháp Hộ ma. Hồng (Phạm:Hùô) là chủng tử của tâm Bồ đề thanh tịnh, tượng trưng cho lửa trí tuệ của thực tướng tâm Bồ đề. Dùng lửa trí tuệ đốt hết củi vô minh phiền não là nghĩa Hộ ma, cho nên Hỏa hồng là tên khác của Hộ ma. [X. phẩm Nội hộ ma trong kinh Du kì].

hoả khanh

1495<一>謂色、聲、香、味、觸等五欲之可畏,猶如火坑。雜阿含經卷四十三(大二‧三一四上):「多聞聖弟子見五欲如火坑。」 <二>比喻地獄、畜生等諸惡趣之可怖。惡趣有三惡趣、四惡趣、五惡趣之別。 ; (火坑) Hầm lửa. Từ này được dùng để ví dụ cho 5 dục: Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ đáng sợ như hầm lửa. Hoặc được ví dụ cho sự đáng sợ trong 3 đường ác: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh. Kinh Tạp a hàm quyển 43 (Đại 2, 314 thượng), nói: Các Thánh đệ tử đa văn thấy 5 món dục lạc như hầm lửa .

hoả khách

1496又作火伴、火佃。禪林中,專司爨火之責者。〔敕修百丈清規卷上住持章、禪林備用清規卷七、禪林象器箋職位門〕 ; (火客) Cũng gọi Hỏa bạn, Hỏa điền. Người chuyên phụ trách việc bếp núc, nấu nướng trong Thiền lâm. [X. chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.7; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hoả linh

1500在禪林中,教人小心火燭所用之鈴。在瑩山和尚清規卷上日中行事中,有午時、亥時、寅時振火鈴,警告大眾小心火燭之記載。此火鈴與一般使用之振鈴相同,似鐘而小,有舌有柄,以一手持之,即可振鳴。除用以警火外,亦可為齋、粥二時打板通告之用。後世改為心型之銅質可繫敲之法器,稱為火點。〔敕修百丈清規卷八法器章〕 ; (火鈴) Quả chuông lắc dùng để cảnh giác mọi người đề phòng hỏa hoạn trong tùng lâm. Theo điều Nhật trung hành sự trong Oánh sơn hòa thượng thanh qui quyển thượng nói, thì giờ Ngọ, giờ Hợi, giờ Dần lắc Hỏa linh để nhắc nhở đại chúng đề phòng hỏa hoạn. Ngoài ra, Hỏa linh còn được dùng thay cho bảng thông báo 2 thời cơm, cháo. Đời sau, Hỏa linh được đổi thành pháp khí bằng đồng, hình trái tim, gọi là Hỏa điểm. [X. chương Pháp khí trong Sắc tu Bách tượng thanh qui Q.8].

hoả luân ấn

1501為密教常用印相之一,即結火焰形表示火輪之印契。略稱火印。火大表示法性之智火,故又稱智火印。又以火輪常呈三角形,故又稱三角火輪印。行林抄卷四十九(大七六‧三三七下):「次前印以為火印(法界生印,誦恽字明)變前唅字智心以成不動明王智身,發生迦婁羅炎。」六大印與五輪印中之火大印,及法界生印、恽字觀等,即用此印。印相為左右兩手共結金剛拳,二拇指皆橫置掌中,二食指豎起,其頂端相拄,而結成三角形。 ; (火輪印) Cũng gọi Trí hỏa ấn, Tam giác hỏa luân ấn. Gọi tắt: Hỏa ấn. Ấn khế có hình ngọn lửa. Một trong những ấn tướng thường dùng của Mật giáo.Vì Hỏa đại tượng trưng cho lửa trí tuệ của pháp tính, cho nên cũng gọi là Trí hỏa ấn. Lại vì Hỏa luân thường có hình tam giác nên cũng gọi Tam giác hỏa luân ấn. Ấn tướng này là: Hai tay nắm lại thành Kim cương quyền, 2 ngón cái để trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ dựng thẳng, đầu ngón chụm vào nhau làm thành hình tam giác.

hoả lí liên

1500火中生蓮華,比喻希有之事。表示菩薩之妙用,雖受五欲,亦復行禪,於此等相逆之行中尚能出沒自在,變幻莫測,恰如火中生蓮,為希有之事。維摩經佛道品(大一四‧五五○中):「示受於五欲,亦復現行禪;令魔心憒亂,不能得其便。火中生蓮華,是可謂希有;在欲而行禪,希有亦如是。」 ; (火裏蓮) Hoa sen mọc trong lửa, ví dụ việc hiếm có. Nhóm từ này được dùng để biểu thị sự diệu dụng của Bồ tát. Phẩm Phật đạo trong kinh Duy ma (Đại 14, 550 trung), nói: Thị hiện thụ hưởng 5 món dục lạc, nhưng cũng lại thị hiện hành thiền, làm cho tâm ma rối loạn, không có cơ hội quấy phá. Hoa sen mọc trong lửa là việc hiếm có, nhưng sống trong 5 dục mà vẫn hành thiền cũng hiếm có như thế .

hoả mẫu

Agnayi (S)Tên một vị thiên.

hoả nhất thiết xứ

1493梵語 tejas-kṛtsnāyatana。又作火遍處、火大遍一切處定。十遍處之一。即觀火大周遍一切處而無間隙之禪定。〔大毘婆沙論卷八十五、俱舍論卷二十九〕(參閱「十遍處」481) ; (火一切處) Phạm: Tejas-kftsnàyatana. Cũng gọi Hỏa biến xứ, Hỏa đại biến nhất thiết xứ định. Thiền định quán tưởng lửa bao trùm khắp mọi nơi không xen hở. Là một trong 10 biến xứ. [X. luận Đại tì bà sa Q.85; luận Câu xá Q.29]. (xt. Thập Biến Xứ).

Hoả pháp 火法

[ja] カホウ kahō ||| Chinese translation of the Sanskrit homa. See 護摩. => Hán dịch chữ Homa trong tiếng Sanskrit. Xem Hộ-ma護摩.

hoả quát

1498指木火箸。又作火㮇。菩薩誓願度盡一切眾生,倘眾生不盡,誓不成佛。若眾生未度盡,而自先成佛者,即如以木火箸取薪,燒薪未盡,而火箸已燃盡。故以火㮇譬喻之。〔往生論註卷下、寂照堂谷響集卷一〕

hoả quát thí

1499又作火㮇譬。顯示菩薩善巧方便之相之譬喻。火栝即火箸。菩薩誓願度盡無邊眾生而後成佛,然眾生未盡,菩薩己自成佛;譬如木火㮇燃薪,薪未盡而火㮇自盡。蓋菩薩以利他為先而自利先成,自利既成,利他自在,其方便巧妙,故稱善巧方便。〔大智度論卷十八、往生論註卷下〕

hoả tai

1495梵語 tejaḥ-saṃvartanī。大三災之一。於成、住、壞、空四劫中壞劫之最末,火災、水災、風災次第而起,以蕩盡世界。初興火災,現七日輪,諸海乾渴,眾山洞然,風吹猛燄,自無間地獄至色界初禪天以下悉皆焚燒。〔俱舍論卷十二〕(參閱「三災」554) ; (火灾) Phạm: Teja-saôvartanì. Nạn lửa thiêu đốt xảy ra trong giai đoạn cuối cùng của kiếp hoại. Là một trong 3 tai họa lớn. Khi hỏa tai bắt đầu, thế giới có 7 mặt trời xuất hiện, làm cho các biển lớn và sông hồ đều khô cạn, núi non trơ trụi, gió thổi lửa bốc cháy dữ dội, từ địa ngục Vô gián cho đến mãi cõi trời Sơ thiền của Sắc giới đều bị thiêu rụi. [X. luận Câu xá Q.12]. (xt. Tam Tai).

hoả thiên

1493梵名 Agni,巴利名 Aggi。音譯阿耆尼、阿哦那、惡祁尼。又作火仙、火神、火光尊。為密教十二天之一,八方天之一。為東南方之守護神。於密教為重要護法神之一。密號護法金剛。有各種形像,在胎藏現圖曼荼羅中,火天位於外院東南隅,為仙人形,具有四臂,右二手分別持三角印、念珠,左二手分別執澡瓶、仙杖,住於火焰中。在金剛界曼荼羅外金剛部中,火天位於西方,身呈肉色,右手持三角印,左手執仙杖。又據十二天供儀軌所載,火天乘青羊,遍身火焰,具四臂,右二手分別持青竹、軍持,左二手分別為揚掌、持念珠,有二天女手持天花,左右並置苦行仙。此外,密教修護摩法時,先設火天壇供養火天,而後供養諸尊。〔大日經卷一具緣品、略本瑜伽護摩軌、藥師七佛供養儀軌如意王經、陀羅尼集經卷十一、不空羂索神變真言經卷七護摩增益品、大日經疏卷五、卷二十〕(參閱「八方天」278)、「十二天」331) ; (火天) Cũng gọi Hỏa quát. Đũa bằng gỗ dùng để gắp lửa. (xt. Hỏa Thiểm Thí).

hoả thiên chân ngôn

1493火天,為八方天之一,十二天之一。據大日經卷二載,火天真言為「南麼三曼多勃馱喃 阿揭娜曳 莎訶」,大日經義釋卷六解釋之,謂「南麼三曼多勃馱喃」為歸命諸佛之義,「阿揭娜曳」為火之義。以阿(豙)字為種子,以一切諸法本不生之故,即歸於金剛之智體。「揭」乃行之義,以諸法本不生之故,雖具足萬行而無所行,故謂無師自覺,即同於大空而遍於一切處,故與「娜」字之大空同體。又以諸法無行,故於三界不動不出而至薩婆若地,故無乘及乘者,乃「曳」字之義。又於「曳」字加三昧聲者,旨在說明此乘定慧均等。諸佛行菩薩道時,皆以如是之慧火焚燒一切心垢,而燃正法之光明,是故如實說之,即為真言。若請召時,增「伊係伊係」之字,若發遣時,則增「迦車迦車」等字。此外,陀羅尼集經卷十一載火天真言為「唵 阿奢那曳 訶弊歌弊 婆訶那夜 地弊地弊 地跋夜 莎訶」。〔十二天軌、瑜伽護摩儀軌〕 ; (火天真言) Chân ngôn của thần Hỏa thiên. Cứ theo kinh Đại nhật quyển 2, thì chân ngôn của Hỏa thiên là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm a yết na duệ sa ha . Theo Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 6, thì Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm nghĩa là Qui mệnh chư Phật; A yết na duệ nghĩa là lửa. Lấy chữ A làm chủng tử biểu thị tất cả pháp vốn không sinh, tức trở về với trí thể kim cương. Yết nghĩa là hành, vì các pháp vốn không sinh, nên tu hành đầy đủ muôn hạnh mà thực ra chẳng có gì để tu hành cả, bởi thế gọi là Vô sư tự giác, tức cùng với Đại không trùm khắp pháp giới, tức là đồng thể với Đại không của chữ Na . Lại nữa, vì các pháp vô hành, nên ở trong 3 cõi bất động, bất xuất mà đạt tới địa vị Tát bà nhã (Nhất thiết trí), cho nên Vô thừa mà Thừa là nghĩa của chữ Duệ . Chữ Duệ thêm tiếng Tam muội vào để nói rõ nghĩa Thừa này định và tuệ bằng nhau. Nếu khi triệu thỉnh thì thêm chữ Y hệ y hệ , còn lúc sai khiến thì thêm chữ Ca xa ca xa . Ngoài ra, theo kinh Đà la ni tập quyển 11, thì Hỏa thiên chân ngôn là: Án a xa na duệ ha tệ ca tệ bà ha na da địa tệ địa tệ địa bạt dạ sa ha . [X. Thập nhị thiên quĩ; Du già hộ ma nghi quĩ].

hoả tinh

Aṅgāraka (S)Huỳnh Hoặc tinh.

hoả tiễn

1501密教修愛染明王法時置於壇上之箭。其製法有數說,或以蓮莖、蓮花葉為箭,或以櫻木造箭,其上塗朱,或銅製鍍金,或用蘇芳作箭,長一尺三寸許,結附雌雄鳥之羽毛。另有箭附鴛鴦之羽毛,或於鴛鴦之羽上畫箭等說。修法時,觀想以火箭射所愛者之心、隱所、左乳、右乳、額等五處。 ; (火箭) Tên lửa. Tức mũi tên đặt ở trên đàn khi tu pháp Ái nhiễm minh vương trong Mật giáo. Về cách làm Hỏa tiễn có nhiều thuyết, có thuyết nói làm bằng cọng sen, cánh hoa sen; có thuyết nói làm bằng cây anh đào, đầu mũi tên bôi mầu đỏ, hoặc bằng đồng mạ vàng; có thuyết nói làm bằng cây tía tô, dài một thước ba tấc (Tàu), ở đuôi mũi tên gắn lông cánh chim; cũng có thuyết nói gắn lông cánh của chim uyên ương; hoặc có thuyết nói trên lông cánh của chim uyên ương vẽ mũi tên, v.v... Khi tu pháp, hành giả quán tưởng lấy Hỏa tiễn bắn vào 5 chỗ: Trái tim, chỗ kín, vú trái, vú phải và trán của người mình yêu mến.

hoả trướng

1497禪林中,飯頭計算每日用食人數及所食物量之帳簿。又飯頭係負責大眾粥飯之職稱。雪巖祖欽禪師語錄卷二(卍續一二二‧二五六下):「吹入十八重無間地獄中去,被閻羅老漢與你打算火帳,問你索飯錢。」〔禪林象器箋卷十六〕 ; (火帳) Quyển sổ của vị Phạn đầu (chức vụ phụ trách việc cơm cháo cho đại chúng) dùng để ghi chép số người dùng cơm và lương thực được tiêu thụ hàng ngày trong tùng lâm. Tuyết nham tổ khâm thiền sư ngữ lục quyển 2 (Vạn tục 122, 256 hạ),nói: Các ông sẽ bị thổi vào 88 tầng địa ngục Vô gián, ở đó lão Diêm vương sẽ tha hồ tính sổ (đả toán hỏa trướng) và đòi tiền cơm các ông . [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.16].

hoả trạch

1494梵語 ādīptāgāra。比喻迷界眾生所居住之三界。火喻五濁等,宅喻三界。語出法華經七喻中之火宅喻。眾生生存於三界中,受各種迷惑之苦,然猶不自知其置身苦中,譬如屋宅燃燒,而宅中稚兒仍不知置身火宅,依然嬉樂自得。〔法華經卷二譬喻品〕(參閱「火宅喻」1495) ; (火宅) Phạm: Adìptàgàra. Nhà lửa, ví dụ 3 cõi khổ não mà chúng sinh đang ở trong đó. [X. Hỏa Trạch Dụ].

hoả trạch dụ

1494法華七喻之一。法華經卷二譬喻品載,有大長者,財富無量,某日,宅舍起火,長者之諸子於火宅內樂著嬉戲,不知不覺。長者為救諸子出於火宅,乃設方便,謂屋外有羊車、鹿車及牛車,欲賜諸子。待諸子奔離火宅,長者乃各賜一大白牛車。此譬喻中,火宅比喻三界眾生為五濁、八苦所逼惱而不自知,諸子比喻眾生,長者比喻佛。天台、賢首等一乘家因主張在聲聞、緣覺、菩薩三乘之外,別有一佛乘,故以羊車、鹿車、牛車分別比喻三乘,此為界內三乘之方便權教,而以大白牛車比喻界外一乘真實之法門,即說明「會三歸一」之旨。嘉祥、慈恩等三乘家則主張佛之教法不超於三乘,謂門內之牛車與門外之大白牛車為同體,故僅會二乘而歸於菩薩乘,即說明「會二歸一」之旨。〔正法華經卷二應時品、修行道地經卷七緣覺品、中陰經卷下破愛網品、大智度論卷八十四、法華經論卷下〕 ; (火宅喻) Ví dụ về nhà lửa, một trong 7 thí dụ trong kinh Pháp hoa. Phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa quyển 2 nói rằng, có một Trưởng giả đại phú, tiền của nhiều vô lượng, một ngày nọ, nhà bị cháy, các con của Trưởng giả mải mê vui chơi, không hay biết. Trưởng giả vì cứu các con ra khỏi nhà lửa nên bày phương tiện, bảo các con rằng bên ngoài có xe dê, xe nai và xe trâu sẵn sàng dành cho các con. Nhưng khi các con ra khỏi nhà lửa, Trưởng giả đều cho mỗi người một cỗ xe trâu trắng to lớn, trang hoàng rất đẹp. Trong thí dụ này, nhà lửa dụ cho 3 cõi (Dục, Sắc, Vô sắc) các con dụ cho chúng sinh, Trưởng giả dụ cho đức Phật. Các ngài Thiên thai Trí khải, Hiền thủ Pháp tạng, v.v... vì chủ trương pháp môn Nhất Phật thừa, nên đem xe dê, xe nai, xe trâu dụ cho Tam thừa trong 3 cõi, còn dùng xe trâu trắng lớn dụ cho Nhất Phật thừa ngoài 3 cõi, tức thuyết minh Hội tam qui nhất . Còn các ngài Gia tường, Từ ân, v.v... thì chủ trương giáo pháp của đức Phật không ngoài Tam thừa, nên cho rằng xe trâu và xe trâu trắng lớn chỉ là một, dụ cho hội Nhị thừa về Bồ tát thừa, tức thuyết minh Hội nhị qui nhất . [X. phẩm Ứng thời trong kinh Chính Pháp hoa Q.2; phẩm Duyên giác trong kinh Tu hành đạo địa; phẩm Phá ái võng trong kinh Trung ấm Q.hạ; luận Đại trí độ Q.84; Pháp hoa kinh luận Q.hạ].

hoả trạch tăng

1495指有家室之僧。據夢餘錄所記,吳中呼道士之有家室者,稱為火居。唐鄭熊番禺雜記卷二載,廣中僧娶妻者,稱火宅僧。〔事物異名錄、輟耕錄卷六〕 ; (火宅僧) Chỉ cho vị tăng có gia đình. Cứ theo Mộng dư lục chép, thì ở đất Ngô trung người ta gọi vị đạo sĩ có gia thất là Hỏa cư (ở trong lửa). Còn theo Đường trịnh hùng phiên ngung tạp kí, thì ở vùng Quảng đông, dân chúng gọi vị tăng có vợ là Hỏa trạch tăng. [X. Sự vật dị danh lục; Xuyết canh lục Q.6].

hoả táng

1499梵語 agnidagdha。印度四葬之一。又作荼毘(巴 jhāpita,即燃燒之意)。指焚燒遺體,埋其遺骨。印度自古最重視火葬,在佛陀出世以前,此一葬法被視為正葬。我國原以土葬為主,然亦行火葬,南宋高宗時曾禁止民間火葬之法。又依地域不同,葬法有別,據五雜俎卷六載,吳越之民多用火葬,西北之民則多葬於平地。日本亦行火葬,以文武天皇四年(700)道昭示寂,為日本火葬之始。〔阿闥婆吠陀卷十八、四分律刪繁補闕行事鈔卷下四、大唐西域記卷二〕(參閱「四葬」1788) ; (火葬) Phạm: Agnidagdha. Cũng gọi Đồ tì (Pàli: Jhàpita, thiêu đốt).Đốt xác chết, là một trong 4 cách an táng ở Ấn độ. Từ xưa, người Ấn độ rất coi trọng việc hỏa táng. Trước khi đức Phật ra đời, cách an táng này được xem là cách an táng chính. Trung quốc vốn lấy thổ táng (chôn xuống đất) làm chính, nhưng về sau cũng thực hành hỏa táng. Còn tại Nhật bản, hỏa táng bắt đầu được thực hành từ năm ngài Đạo chiêu thị tịch (700 Tây lịch). [X. A thát bà phệ đà Q.18; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ phần 4; Đại đường tây vực kí Q.2]. (xt. Tứ Táng).

Hoả táng 火葬

[ja] カソウ kasō ||| Cremation, which is practiced in Buddhism, but not in Confucianism. => Lễ hoả thiêu thi hài người chết, thường được thực hiện trong đạo Phật, Nho giáo không có lễ nầy.

hoả tế

1497<一>梵語 homa。音譯作護摩。原為印度古代所行之火祭祀法,後為佛教所採用,密教尤其重視之,於一般修法中大多附有護摩法。其修法方式、所用供物、準備之壇爐等,概視其修法之種類與所宗之部門而別。(參閱「護摩」6869) <二>梵語 agnihotra。印度婆羅門教、印度教供養祭之一。始於夜柔吠陀以後,每日早、晚各一次,向三火(家主火、供養火、祖先祭火)投牛酪及各種供物。係為贖罪而行之祭祀。近代略有變化。 ; (火祭) I. Hỏa Tế. Phạm: Homa. Dịch âm: Hộ ma. Tức là cách bỏ các vật cúng vào trong lửa để tế lễ được người Ấn độ thời xưa thực hành, về sau trở thành một trong những pháp tu quan trọng của Mật giáo. Trong các pháp tu phần nhiều đều có phụ thêm pháp Hộ ma. Về phương thức tu pháp, vật phẩm dùng để cúng, việc chuẩn bị đàn, lư, v.v... đều tùy theo các pháp tu mà có khác. (xt. Hộ Ma). II. Hỏa Tế. Phạm: Agnihotra. Pháp cúng tế của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo. Nghi thức Hỏa tế có từ thời Dạ nhu phệ đà được cử hành 2 lần mỗi ngày vào buổi sáng và buổi chiều. Khi cử hành thì đổ váng sữa bò và các vật cúng vào 3 thứ lửa (lửa gia chủ, lửa cúng dường, lửa tế Tổ tiên). Người Ấn độ thực hành phép tế tự này là để hối lỗi, chuộc tội. Gần đây, phép tế này vẫn còn được cử hành nhưng có thay đổi chút ít cho hợp thời.

Hoả tế 火祭

[ja] カサイ kasai ||| Chinese translation of the Sanskrit homa. See 護摩. => Hán dịch chữ homa trong tiếng Sanskrit. Xem Hộ-ma護摩.

hoả tịnh thực

1497為佛制五種淨食之一。即一切瓜果等物,先當以火燒煮,熟而後食之,稱火淨食。〔有部毘奈耶雜事卷三十六、大明三藏法數卷二十四〕 ; (火淨食) Thực phẩm nấu chín. Một trong 5 loại tịnh thực được Phật cho phép dùng. Tức là các loại trái cây phải nấu chín rồi mới được ăn, gọi là Hỏa tịnh thực. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.36; Đại minh tam tạng pháp số Q.24].

hoả tụ

1500梵語 alātacakra。又作火轉、旋火輪。即點燃木片,將之旋轉,產生輪形。大日經疏卷三(大三九‧六○九上):「人持火燼,空中旋轉,作種種相,或方或圓,三角半月,大小長短,隨意所為。」即比喻諸法無實體、自性,僅為假相,故如幻不常住。又以之為輪迴之譬喻,謂三界眾生一如旋火輪,輪迴於六趣之中。〔觀佛三昧海經卷六、觀無量壽經疏卷三〕 ; (火聚) Phạm: Alàtacakra. Cũng gọi Hỏa chuyển, Toàn hỏa luân. Đốt một đốm lửa như trên đầu nén hương rồi quay tròn tạo thành một vòng lửa, gọi là Hỏa tụ. Đại nhật kinh sớ quyển 3 (Đại 39, 609 thượng), nói: Người cầm đốm lửa quay trong hư không, tạo ra các thứ hình tướng, hoặc vuông hoặc tròn, tam giác, bán nguyệt, lớn nhỏ dài ngắn, tùy ý mình muốn . Trên đây là dụ cho các pháp không có thực thể, không tự tính, chỉ là tướng giả, cho nên giống như ảo thuật, không thường còn.Ngoài ra, Hỏa tụ còn dụ cho luân hồi, nghĩa là chúng sinh trong 3 cõi hệt như vòng lửa xoay tròn, luân hồi trong 6 ngả. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.6; Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.3].

hoả tụ tiên

1500位於密教胎藏界曼荼羅外金剛部院北方毘沙門天之上方。青龍軌稱之為成就持明仙。此仙身遍火焰,故稱火聚仙。其形像為肉色,右手執劍,左拳置腰,有火焰,坐於蓮上,仙女一人侍之。(參閱「持明仙」3817) ; (火聚仙) Vị tôn ngồi ở phía trên Tì sa môn thiên, phía bắc của viện Kim cương bộ ngoài trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Vì vị tiên này lửa cháy khắp mình nên gọi là Hỏa tụ tiên. Hình tượng vị này mầu da người, ngồi trên hoa sen, tay phải cầm thanh gươm, tay trái nắm lại chống vào cạnh sườn, có một tiên nữ đứng hầu. (xt. Trì Minh Tiên).

hoả viện mật phùng ấn

1497又作金剛炎、金剛火炎、金剛火院界印、密縫印、火印。即以金剛火焰密縫結界所餘空隙之意。此印言所結護之地界,其四方四維皆成火界,故亦稱八方火院、火院。印相為左手掌掩右手背,豎二拇指,向右繞身三匝,想金剛牆外有火院圍繞。真言為「唵阿三莽擬儞吽發吒」。〔無量壽供養儀軌、十八契印〕 ; (火院密縫印) Cũng gọi Kim cương viêm, Kim cương hỏa viêm, Kim cương hỏa viện giới ấn, Mật phùng ấn, Hỏa ấn. Ấn khế biểu thị ý nghĩa dùng lửa Kim cương che kín các khe hở mà lúc kết giới còn sót lại. Nơi nào mà ấn khế và chân ngôn này giữ gìn thì 4 phương và 4 góc của nơi ấy đều thành bức tường lửa, vì thế cũng gọi là Bát phương hỏa viện hay Hỏa viện (tường lửa). Khi kết ấn này, bàn tay trái úp lên lưng tay phải, 2 ngón cái dựng thẳng, xoay thân 3 vòng về bên phải, quán tưởng phía ngoài tường kim cương có hỏa viện bao quanh. Chân ngôn là: Án a tam mãng nghĩ nễ hồng phát tra . [X. Vô lượng thọ cúng dường nghi quĩ; Thập bát khế ấn].

hoả xa địa ngục

1495車身發火,專為運載罪人至地獄之車,或作為懲罰罪人之工具,稱為火車。以火車迎載並轢殺罪人之地獄,則稱火車地獄。大智度論卷十四載,提婆達多既犯三逆罪,復欲以毒爪害佛,王舍城大地破裂,火車迎之入地獄。觀佛三昧海經卷五謂此獄有銅鑊,縱廣四十由旬,其中蓄火,下有十二輪,上有九十四火輪,邪命作惡者命終後在火車上,肢節燃火,身體燋散,火車轢身,碎如塵土,天雨沸銅,遍洒其體,於一日夜中受九十億次之生死。〔大方便佛報恩經卷二、經律異相卷五十〕 ; (火車地獄) Địa ngục dùng Hỏa xa chuyên chở tội nhân đến nơi chịu tội hoặc để trừng phạt tội nhân. Loại xe này toàn thân lửa bốc cháy. Luận Đại trí độ quyển 14 nói, Đề bà đạt đa đã phạm 3 tội nghịch, lại dùng thuốc độc tẩm vào 10 đầu ngón tay để hại đức Phật, ngay lúc đó mặt đất thành Vương xá nứt ra, Hỏa xa đưa ông vào địa ngục. Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 5 nói, địa ngục này có cái vạc bằng đồng, rộng 40 do tuần, trong đó chứa đầy lửa, phía dưới có 12 bánh xe lửa, phía trên có 94 vòng lửa, những kẻ gian tà làm ác, sau khi chết bị hành tội trên hỏa xa, từng lóng đốt bị lửa thiêu cháy, hỏa xa cán thân, nát như bụi đất, từ trên trời mưa nước đồng sôi trút xuống tưới khắp thân thể, trong một ngày đêm chịu 90 ức lần chết đi sống lại. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.2; Kinh luật dị tướng Q.50].

hoả xá

1496香爐之一種。又作火虵、化赭。為密教修法壇中燒香器之名。多以銅製,三足,具有蓋。於密教修法中,每以六種供養配當六波羅蜜,其時即以火舍之香煙嫋嫋不絕,配當精進波羅蜜之精進不息。〔類聚名物考卷二十九、考信錄卷一〕 ; (火舍) Cũng gọi Hỏa dã, Hỏa giả. Loại lư hương bằng đồng có nắp đậy và 3 chân dùng để đốt hương đặt trên đàn khi tu pháp Mật giáo. Trong tu pháp, Mật giáo thường dùng 6 thứ cúng dường phối với 6 Ba la mật,trong đó, khói hương nghi ngút không dứt của Hỏa xá được phối với Tinh tiến Ba la mật. [X. Loại tụ danh vật khảo Q.29; Khảo tín lục Q.1].

hoả đầu

1501禪林中,司掌點燈之職稱。又作油頭。或謂司掌造飯者亦稱火頭。〔禪苑清規卷九、禪林象器箋職位門〕 ; (火頭) Cũng gọi Du đầu. Chức vụ coi việc thắp đèn trong Thiền lâm.Có chỗ cho rằng người chuyên trách việc nấu cơm nước cũng gọi là Hỏa đầu. [X. Thiền uyển thanh qui Q.9; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hoả đồ đạo

1499三途之一。途者,道之義。即指地獄道。地獄為猛火所燒之處,故稱火塗道。〔四解脫經、止觀輔行傳弘決卷一之三〕(參閱「三塗」636) ; (火塗道) Chỉ cho đường địa ngục, là một trong ba đường. Vì địa ngục là nơi chịu khổ bị lửa dữ thiêu đốt nên gọi là Hỏa đồ đạo. [X. kinh Tứ giải thoát; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 3]. (xt. Tam Đồ).

hoả đức tinh quân

1500禳除火災之火神名。五行之中,以南方配於火,將之神格化,而混同對炎帝神農氏之祀拜,原屬道教之信仰。自宋朝以降,叢林佛殿之本尊前,掛有「南方火德星君神」之牌,每月四日、十八日修火德諷經,以祈伽藍安穩,消除火災,為叢林六諷經之一。〔禪林象器箋靈像門〕 ; (火德星君) Tên vị thần tiêu trừ hỏa hoạn theo tín ngưỡng Đạo giáo. Hỏa là một trong ngũ hành được phối với phương Nam, thần cách hóa thành Hỏa đức tinh quân, được cúng tế cùng với Viêm đế Thần nông. Tại Trung quốc, từ đời Tống về sau, trong các tùng lâm Thiền tông, trước tượng Bản tôn trên Phật điện có treo tấm bản đề là Nam phương Hỏa đức tinh quân thần và vào các ngày mồng 4, 18 mỗi tháng, đọc kinh Hỏa đức để cầu cho già lam được yên ổn. [X. môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hoảng dưỡng hạo hãn

(滉漾浩汗) Từ ngữ hình dung cảnh nước mênh mông lênh láng. Hoảng dưỡng là nước không có bờ bến; Hạo hãn là dáng nước mênh mông. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 278 thượng), nói: Khi kiếp thủy xảy đến, nước tràn ngập khắp thế giới, muôn vật chìm trong biển nước mênh mông không bờ bến (hoảng dưỡng hạo hãn) .

hoảng dạng hạo hãn

5512形容水勢壯大無有邊際之語。滉瀁,水無際之貌;浩汗,水廣大之貌。無量壽經卷下(大一二‧二七八上):「劫水彌滿世界,其中萬物沈沒不現,滉瀁浩汗,唯見大水。」

Hoảng 恍

[ja] コウ kō ||| Dim, obscure, vague, formless, muddled. => Phảng phất, mờ mịt, mơ hồ, không có hình dáng rõ rệt, rối ren.

hoắc

Chớp nhoáng—Quickly—Suddenly.

hoắc hoắc bà địa ngục

6779臛臛婆,梵名 Hahava,又作矐矐婆、郝郝凡、阿波波、阿婆婆。為八寒地獄之一。墮此地獄者,因凍寒故,舌不得動,但得作臛臛之聲。即以忍寒冷之苦聲為地獄名。俱舍論寶疏卷十一(大四一‧六一六中):「臛臛婆者,寒轉增故,舌不得動,但得作臛臛聲。」〔瑜伽師地論卷四、俱舍論卷十一、大智度論卷十六〕 ; (臛臛婆地獄) Hoắc hoắc bà, Phạm: Hahava. Cũng gọi Hác hác phàm, A ba ba, A bà bà. Một trong 8 địa ngục lạnh. Cứ theo Câu xá luận bảo sớ quyển 11, thì những người rơi vào địa ngục này, vì lạnh giá quá nên lưỡi cứng đờ, không cử động được chỉ phát ra tiếng hừ hừ . Âm thanh khổ sở này được dùng làm tên cho địa ngục. [X. luận Du già sư địa Q.4; luận Câu xá Q.11; luận Đại trí độ Q.16].

hoắc hương thụ

6779藿香,梵語 tamālapatra,音譯多摩羅跋;巴利語 tamāla,音譯多摩羅。為樟科之一種。學名 Cinnamomum nitidum。此樹屬灌木,花呈淡黃色,樹皮有肉桂之香味,可用於發汗、健胃。產於中國、南印度、錫蘭等地。大般若經卷三一八(大六‧六二四上):「爾時,欲界天子各持天上多揭羅香、多摩羅香、栴檀香末,(中略)遙散佛上。」〔法華經卷六法師功德品、北本大般涅槃經卷二十梵行品、增廣本草綱目卷十四〕 ; (藿香樹) Hoắc hương, Phạm: Tamàlapatra, dịch âm: Đa ma la bạt. Pàli: Tamàla, dịch âm: Đa ma la. Tên khoa học: Cinnamomum nitidum. Loại cây thuộc họ Chương, mọc từng bụi là là trên mặt đất, hoa mầu vàng lợt, vỏ cây có mùi thơm như quế, có thể dùng làm cho thoát mồ hôi và chữa bệnh bao tử. Loại cây này sinh sản ở Trung quốc, Nam Ấn độ, Tích lan, v.v... Kinh Đại bát nhã quyển 318 (Đại 6, 624 thượng), nói: Bấy giờ, các thiên tử ở cõi Dục đều cầm bột thơm của cõi trời như: Đa yết la, Đa ma la, Chiên đàn (...) tung lên đức Phật . [X. phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháp hoa Q.6; phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.20 (bản Bắc); Tăng quảng bản thảo cương mục Q.14].

hoắc thao hối

6357(1940~ )廣東南海人。香港新亞書院研究所畢業(1966)。曾任新亞研究所助理研究員,後獲美國哈佛燕京學社資助,選派往日本專攻佛學。一九七二年,在日本大谷大學修畢博士課程,返港任香港中文大學哲學系講師。霍氏赴日之前,己深研因明與唯識,著論文多篇。留日期間,目睹日人接受西方原典學方法,成績斐然,故攻讀梵文、巴利文及西藏文。回港後,即撰文與演講,推介西方之原典學方法,並開梵文課程以訓練繼起之人才。 近年霍氏更因應時代,提倡「相應佛教」,力主(一)上接傳統,以現代之學術語言重新詮釋漢譯佛典,以接引後學;(二)吸收西方及日本之研究方法與成績,尊重材料之客觀性,開中國佛學客觀研究之路;(三)以佛教之智慧應世,批判西方文化之物化性,為當代人之精神、道德探討出路。又一九八二年於香港創辦「佛教法住學會」,旨在從學術文化立場推動佛教思想現代化。一九八六年一月,創辦「法言」雜誌。所著除發表於各刊物之論文外,另有佛家邏輯研究、安慧三十唯識釋原典譯註、歐美佛學研究小史(譯)等書。

hoằng

1) Rộng lớn: Great—Vast—Spacious. 2) Hoằng truyền: To enlarge—To spread abroad.

Hoằng Chính

(弘政, Kōsei, hay Hoằng Chánh [宏正], ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Đường, thuộc Bắc Tông Thiền, đệ tử của Phổ Tịch (普寂) ở Tung Sơn (嵩山), đã từng trú tại Thánh Thiện Tự (聖善寺), Đông Kinh (東京). Trong số khá nhiều đệ tử của ông có Khế Vi (契微) ở An Quốc Tự (安國寺) là nổi tiếng nhất.

hoằng chúc

1925(1610~1683)明末清初曹洞宗僧。山陽人,俗姓毛。世稱靈燄弘燭禪師。師皈依於菩提寺之嵩乳道密(1588~1658),復投禮匡廬(位於江西)之棲賢遙禮出家。往謁博山之雪關智誾,有所省悟;復參禮天童山之密雲圓悟。久之返鄉後,乃呈所悟於嵩乳道密,得蒙印可,遂掩關於枚里。清康熙二年(1663),應四方僧眾之請,住持洪福寺,弘揚禪風二十年。二十二年示寂,世壽七十四。〔增訂佛祖道影卷三(虛雲)〕

hoằng dương chánh pháp

To propagate The True (Correct) Dharma.

hoằng dương phật pháp

To propagate the Dharma.

hoằng giáo

See Hoằng Pháp (1).

hoằng kinh đại sĩ

1922指闡釋佛經並加以弘通之大士,如龍樹、無著、天親等諸菩薩,皆造立論書來注釋闡論佛經,並弘揚流傳之。其中,如龍樹之著作大智度論,係解釋大品般若經之論;十住毘婆沙論,係解釋華嚴十地經之論等。又如無著之攝大乘論,係對阿毘達磨大乘經之攝大乘品的釋論,為無著思想之代表作;金剛般若經論,旨在揭示金剛般若經之意趣。另如被尊為「千部論主」之天親,一生著述極多,對法華、華嚴、涅槃、般若、維摩、阿彌陀等經,均有注釋;其中,對阿賴耶識及如來藏等思想之闡揚更有無與倫比之貢獻,例如十地經論、佛性論等即是宣揚此思想之重要論典。 ; (弘經大士) Các bậc Đại sĩ giải thích và hoằng dương kinh tạng. Như các ngài: Bồ tát Long thụ sáng tác luận Đại trí độ để giải thích kinh Đại phẩm bát nhã; luận Thập trụ tì bà sa giải thích kinh Hoa nghiêm thập địa. Bồ tát Vô trước soạn luận Nhiếp đại thừa để giải thích phẩm Nhiếp đại thừa trong kinh Đại thừa A tì đạt ma; Kim cương bát nhã kinh luận để giải thích kinh Kim cương bát nhã. Bồ tát Thế thân được tôn xưng là Thiên bộ luận chủ , vì Ngài là tác giả của nghìn bộ luận để chú thích và phát huy tư tưởng trong các kinh: Pháp hoa, Hoa nghiêm, Niết bàn, Bát nhã, Duy ma, A di đà, v.v..., trong đó, 2 bộ Thập địa kinh luận và Phật tính luận là các tác phẩm quan trọng xiển dương tư tưởng Như lai tạng và A lại da thức….

hoằng kế

1926(1605~1686)明末清初曹洞宗僧。江蘇姑蘇人,俗姓濮。八歲見同學服喪衣縞素,即存出離生死之念。三十三歲參謁雪嶠信深,一日偶行林間,抬頭見月上柳梢,豁然大悟。清順治十一年(1654),受嵩乳道密(1588~1658)之付囑,出住於卓錫。康熙二十五年秋示寂,世壽八十二,建塔於卓錫之青龍岡。有語錄雜著行世。〔五燈全書卷一一六、增訂佛祖道影卷三(虛雲)〕

hoằng lễ

1925(1600~1667)明末清初臨濟宗僧。又作宏禮。會稽(浙江紹興)人,俗姓張。字具德。於普陀寺出家,後謁漢月法藏(1573~1635)於安隱寺。一日,於窺鏡之際猛然有所省悟。後任圊頭(洗淨廁所之職稱),於運糞間豁然大悟,自此機用橫出,叢林有「鐵觜、」之譽。崇禎十一年(1636),住持雲門光孝寺,刀耕火種,有古德之風。未久即遷徑山,又移靈隱寺,晚年主持天寧寺。後於康熙六年十月示寂,世壽六十八,法臘四十七。有具德禮禪師語錄三十卷,雍正年間,一度遭禁毀,然今猶流傳於世。〔五燈全書卷六十九〕 ; (弘禮) (1600-1667) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Cối kê (Thiệu hưng, Chiết giang), họ Trương, tự Cụ đức. Sư xuất gia ở chùa Phổ đà, sau tham yết ngài Hán nguyệt Pháp tạng ở chùa An ẩn. Một hôm, sư nhìn vào gương bỗng nhiên có chỗ tỉnh ngộ. Sau sư nhận chức Thanh đầu (chức vụ quét dọn nhà vệ sinh), trong lúc dọn phân, hoát nhiên đại ngộ. Năm Sùng trinh 11 (1636), sư trụ trì chùa Quang hiếu ở Vân môn, không bao lâu sư lại dời đến Kính sơn, cuối cùng sư trụ trì chùa Thiên ninh. Năm Khang hi thứ 6 (1667) sư tịch, thọ 68 tuổi, pháp lạp 47. Sư để lại tác phẩm: Cụ đức Lễ thiền sư ngữ lục 30 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.69].

hoằng minh tập

1921凡十四卷。南朝梁僧祐(445~518)撰。收於大正藏第五十二冊。係收錄東漢以來至南朝齊、梁五百餘年間,闡明佛法之護法論集。凡五十八篇。出三藏記集中唯作十卷三十三篇,其後補充成十四卷五十七篇,唐代道宣據之撰廣弘明集三十卷,為本書之續篇。 漢魏之世,出家沙門僅限於西域人;自東晉以後,中國人出家者漸多,塔寺之建設頗耗國費,又值戰亂多事之際,為政者且常將大量人力、財力奉歸佛教,故東晉時代遂有沙門還俗、禮敬王者等問題發生,成為政治上之論難。以儒家觀點而論,出家剃髮、沙門不敬王者等,均為違反先王禮俗、國家法度之事;此外佛教教義,如「佛陀實在」及「因果報應」等說,亦大反先王周孔之訓。廬山慧遠以下之門流對於此類排佛問題雖加反駁,然魏晉以來盛行神仙不死之術,與崇尚老莊虛無自然等玄學思想,故魏晉時代之佛學家每每採用老莊之語來解釋佛教之義理。至宋齊之際,道家模仿佛教,著成不少偽經,想藉此通於佛教。另如慧琳之白黑論、顧歡之夷夏論、張融之門律等。則宣揚「道主佛從」之論。此外,齊梁間又流行「人死神滅論」,否定佛教之「識不滅論」。 僧祐晚年體衰多病,然猶致力護法,凡有益於三寶之事,無不加以編錄成書,例如本論集即為對當時世俗排佛之解答,並舉儒道之典故來說明佛教之義理。所謂弘明,即弘道明教之意,前十一卷係答覆儒、道之批判,而彰明儒、釋、道三教之異同;後三卷則積極闡釋佛教之教義。本書極易為一般人所理解,且為了解當時儒、釋、道三教交流之重要資料。〔歷代三寶紀卷十一、大唐內典錄卷四、唐書藝文志第四十九〕 ; (弘明集) Tác phẩm, 14 quyển, 58 thiên, do ngài Tăng hựu (445-518) soạn vào đời Lương thuộc Nam triều, thu vào Đại chính tạng tập 52. Nội dung sách này thu tập các bộ luận điển xiển dương và hộ trì Phật pháp trong khoảng hơn 500 năm từ thời Đông Hán cho đến các đời Tề, Lương thuộc Nam triều. Phật giáo Trung quốc từ thời Đông Tấn về sau đã rất hưng thịnh, dần dần có thế hơn cả Nho giáo và Đạo giáo. Do đó, các Nho gia và Đạo sĩ đã đặt ra nhiều vấn đề tranh luận để công kích và bài bác Phật giáo một cách kịch liệt. Như Bạch hắc luận của Tuệ lâm, Di hạ luận của Cố hoan, Môn luật của Trương dung, v.v... đều nhằm hạ giảm uy tín của Phật giáo. Trong tình hình ấy, ngài Tăng hựu tuy đã già yếu, lại thêm bệnh hoạn luôn, nhưng vẫn gắng sức hộ trì Phật pháp, bất cứ việc gì có ích cho Tam bảo, ngài đều biên chép, như bản Hoằng minh tập này là bộ sách giải đáp những vấn đề bài Phật của thế tục đương thời, trong đó, ngài nêu ngay những việc được ghi chép trong sách sử của Nho giáo và Đạo giáo để thuyết minh nghĩa lí của Phật giáo. Tập luận này được gọi là Hoằng minh có nghĩa là hoằng đạo, minh giáo. Mười một quyển đầu trả lời sự phê phán của Nho, Đạo và nêu rõ chỗ dị đồng giữa Nho, Thích, Đạo; 3 quyển sau thì tích cực xiển minh giáo nghĩa Phật giáo. Bộ sách này rất dễ hiểu đối với mọi người và là một tư liệu quan trọng cho việc tìm hiểu sự giao lưu giữa Nho, Thích, Đạo ở đương thời. Ngoài ra, sách này được chép trong Xuất tam tạng kí tập chỉ có 10 quyển 33 thiên, về sau bổ sung thành 14 quyển, 57 thiên; ngài Đạo tuyên đời Đường căn cứ vào đây soạn Quảng hoằng minh tập 30 quyển, chính là tiếp theo sách này. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.11; Đại đường nội điển lục Q.4; Đường thư nghệ văn chí Q.49].

Hoằng minh tập 弘明集

[ja] クミョウシュウ Kumyōshū ||| Hongming ji; 14 fasc., by Sengyou 僧祐. T 2102.52.1-97 => (c: Hongming ji); 14 quyển; của Tăng Hựu (c: Sengyou 僧祐).

hoằng nguyện nhất thừa

1926指一佛乘之法門。即令一切眾生皆能成佛之真實法,此乃阿彌陀佛之弘願法。(參閱「弘誓」1924) ; (弘願一乘) Chỉ cho pháp môn Nhất Phật thừa. Tức là pháp chân thực khiến cho tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật. Đây là pháp hoằng nguyện của đức Phật A di đà. (xt. Hoằng Nguyện).

Hoằng Nguyện Trợ Chánh

(弘願助正, Kōganjoshō): giáo thuyết do Tăng Duệ (僧叡, Sōei, 1762-1826), học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, tuyên xướng và cho rằng trong hạnh báo ân hoằng nguyện thì có Trợ Nghiệp (助業) và Chánh Định Nghiệp (正定業); chỉ có xưng danh niệm Phật là Chánh Định Nghiệp mà thôi.

Hoằng nguyện 弘願

[ja] コウガン kōgan ||| A great vow, such as that of Amitābha Buddha 阿彌陀 to save all sentient beings. Among Amitābha's vows, the 18th, 19th, 20th and 35th are considered to be his great vows. => Lời nguyện cao cả, như Đức Phật A-di-đà phát nguyện cứu độ hết thảy chúng sinh . Trong số các lời nguyện của Đức Phật A-di-đà, lời nguyện thứ 18, 19, 20 và 35 được xem là những lời nguyện lớn.

hoằng nhất

1919(1880~1942)為民國中興南山律學之名僧。浙江平湖人,俗姓李,名廣侯,號叔同。又名成蹊,字惜霜。其他別署甚多。性情倜儻恬醇,於詩文詞賦之外,尤好書畫,工篆刻,書法頗得漢魏六朝之祕。二十六歲,東渡日本,入上野美術專門學校,並研究音樂,創組春柳劇社,為我國新劇運動之先驅。回國後,任教於天津工業專門學堂。後赴上海主持太平洋報筆政,藉書畫文字以宣傳革命。旋應浙江第一師範學校之聘,主持圖畫、音樂等科系七載,介紹西洋戲劇、音樂、繪畫,開風氣之先。 民國七年(1918),三十九歲,將一切書籍、字畫等物贈人,又將平生所雕金石封於西泠印社石壁之中,刊字於壁曰「印藏」。遂出家於杭州大慈寺,投禮了悟為師。未久即於杭州靈隱寺受具足戒,法名演音,號弘一。嘗慨嘆僧界之所以往往為世所詬病者,以不守戒律之故,乃發願畢生精研戒法。初學有部之律,後則專弘南山律宗。操行至苦,恆跣足芒鞋,孑然一擔,雲遊各處,講經弘法,以在閩南時為最久。 民國十六年,去函杭州主政諸君,止息「滅佛」之議。民國二十五年,閉關於鼓浪嶼日光巖,並向海外請藏經萬餘卷。其後,復閉關於永春普濟寺、泉州福林寺。晚年自號晚晴老人,又號二一老人。民國三十一年十月示寂於晉江溫陵養老院,世壽六十三,僧臘二十四。 師平生最推崇印光大師,效其不收徒眾,不主寺剎之風,惟以寫字與人結緣。其清純恬淡、孤高耿介之風範,對民國以來之佛教界影響極大。著有彌陀義疏擷錄、四分律比丘戒相表記、清涼歌集、華嚴聯集、戒本羯磨隨講別錄、四分含注戒本講義、南山道祖略譜等書。坊間現有弘一大師法集傳世。 ; (弘一) (1880-1942) Vị danh tăng trung hưng Luật học Nam sơn, sống vào thời Dân quốc, người Bình hồ, Chiết giang, họ Lí, tên Quảng hầu, hiệu Thúc đồng. Cũng lấy tên là Thành hề, tự Tích sương. Tính sư điềm đạm, giản dị, ngoài thi văn từ phú ra, sư còn giỏi về thư họa, đặc biệt là chữ triện, thư pháp đã đạt được bí quyết của Hán Ngụy Lục triều. Năm 26 tuổi, sư sang Nhật bản theo học ở trường Mĩ thuật chuyên môn tại Thượng dã, đồng thời nghiên cứu về âm nhạc, sáng lập Xuân liễu kịch xã , mở đầu phong trào vận động tân kịch nghệ Trung quốc. Sau khi về nước, sư dạy ở trường Công nghiệp chuyên môn tại Thiên tân, rồi đến Thượng hải làm chủ bút báo Thái bình dương, mượn thư họa văn tự để tuyên truyền cách mạng. Sư nhận lời mời của trường Sư phạm đệ nhất ở Chiết giang đặc trách về các khoa Hội họa, Âm nhạc trong 7 năm, là người đầu tiên giới thiệu hí kịch, hội họa, âm nhạc phương Tây ở Trung quốc. Năm dân quốc thứ 7 (1918), lúc 39 tuổi, sư đến chùa Đại từ ở Hàng châu, lễ ngài Liễu ngộ xin xuất gia. Ít lâu sau, sư được phép đến chùa Linh ẩn thụ giới Cụ túc, được đặt pháp danh là Diễn âm, hiệu Hoằng nhất. Sư từng than thở sở dĩ giới tăng sĩ thường bị người đời chê cười là vì không giữ giới luật, cho nên sư phát nguyện trọn đời tinh nghiêm giới pháp. Mới đầu, sư học luật của Hữu bộ, nhưng về sau thì chuyên hoằng truyền Luật tông Nam sơn. Sư tu hành kham khổ, thường mang dép gai, một mình một túi, vân du khắp nơi, giảng kinh hoằng pháp. Năm Dân quốc 16 (1927), sư gởi thư đến nhà cầm quyền ở Hàng châu đề nghị chấm dứt chính sách diệt Phật . Dân quốc 25 (1936), sư nhập thất trong hang núi Nhật quang trên hòn đảo Cổ lãng, rồi ra nước ngoài thỉnh được tạng Kinh hơn một vạn quyển. Về sau, sư lại nhập thất ở chùa Phổ tế tại Vĩnh xuân và chùa Phúc lâm tại Tuyền châu. Về già, sư tự xưng là Vãn tình lão nhân, Nhị nhất lão nhân. Bình sinh sư rất sùng kính đại sư Ấn quang và học theo phong cách của ngài là không thu nhận đồ chúng, không trụ trì chùa, am nào, chỉ lấy việc viết chữ tặng người để kết duyên. Phong cách cao thượng, thanh thoát và điềm đạm của sư đã có ảnh hưởng rất lớn đối với giới Phật giáo thời Dân quốc. Tháng mười năm Dân quốc 31 (1942) sự thị tịch tại viện Dưỡng lão Ôn lăng, Tấn giang, thọ 63 tuổi, tăng lạp 24.Tác phẩm của sư gồm có: Di đà nghĩa sớ hiệt lục, Tứ phần luật tỉ khưu giới tướng biểu kí, Thanh lương ca tập, Hoa nghiêm liên tập, Giới bản yết ma tùy giảng biệt lục, Tứ phần hàm chú giới bản giảng nghĩa, Nam sơn đạo tổ lược phổ…

hoằng nhất đại sư pháp tập

1919凡六冊。弘一撰。新文豐出版。為蔡念生所編輯之弘一大師著述集。二十五開本。內含藥師經析疑、四分律比丘戒相表記、地藏菩薩聖德大觀、律學講錄三十三篇、講演集、年譜(林子青編)、永懷錄等二十餘種。 ; (弘一大師法集) Tác phẩm, 6 tập, do đại sư Hoằng nhất soạn, ông Thái niệm sinh biên tập, nhà xuất bản Tân văn phong phát hành. Nội dung thu chép hơn 20 loại soạn thuật như: Dược sư kinh tích nghi, Tứ phần luật tỉ khưu giới tướng biểu kí, Địa tạng bồ tát thánh đức đại quan, Luật học giảng lục 33 thiên, Giảng diễn tập, Niên phổ (do Lâm tử thanh biên), Vĩnh hoài lục, v.v...

Hoằng Nhẫn

(弘忍, Kōnin, 601-674): vị tổ thứ 5 của Thiền Tông Trung Hoa, xuất thân vùng Hoàng Mai (黃梅) thuộc Kì Châu (蘄州, Tỉnh Hồ Bắc), họ là Chu (周). Ông theo làm đệ tử của Tứ Tổ Đạo Tín (道信) tu hành trong một thời gian khá lâu, rồi kế thừa dòng pháp của vị này. Sau khi thầy qua đời, ông chuyển đến Bằng Mậu Sơn (憑茂山) ở phía Đông của Song Phong Sơn (雙峰山) và nỗ lực tuyên xướng tông phong của mình tại đây. Môn hạ của ông có Thần Tú và Huệ Năng là hai nhân vật kiệt xuất. Huệ Năng sau này trở thành vị tổ thứ 6. ; 弘忍; C: hóngrěn; J: gunin;|Tổ thứ 5 của Thiền tông Trung Quốc. Sư có hai vị kế thừa xuất sắc, đó là Lục tổ Huệ Năng và Thần Tú. Tương truyền rằng, Sư yết kiến Tứ tổ Ðạo Tín năm 14 tuổi và đã chứng tỏ trí huệ sâu xa của mình.|Sư quê ở Kì Châu, đồng hương với Tứ tổ. Một hôm Tứ tổ qua huyện Hoàng Mai, giữa đường gặp Sư, lúc bấy giờ còn là một đứa trẻ với thần sắc khác thường. Tổ hỏi: »Danh tính (姓) là chi?« Sư đáp: »Có tính, nhưng chẳng phải tính (性) thường.« Tổ hỏi: »Là tính chi?« Sư đáp: »Phật tính.« Tổ hỏi vặn lại: »Con không có tính sao?« Sư thưa: »Nhưng tính vốn Không.« Tổ lặng im Ấn chứng.|Sau khi Tứ tổ qua đời, Sư thành lập một thiền viện trên núi Hoàng Mai. Nơi đây xảy ra chuyện truyền y bát cho Huệ Năng và sự phân chia của Thiền tông ra Nam thiền Bắc thiền, biểu hiệu của một bước ngoặt lớn trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc.

hoằng nhẫn

1920<一>(602~675)唐代僧,為我國禪宗第五祖。潯陽(江西九江)人,或謂蘄州(湖北蘄春)黃梅人,俗姓周。七歲,從四祖道信出家於蘄州黃梅雙峰山東山寺,窮研頓漸之旨,遂得其心傳。唐永徽二年(651)五十一歲,道信入寂,乃繼承師席,世稱「五祖黃梅」,或僅稱「黃梅」。咸亨二年(671),傳法於六祖慧能。 我國禪宗自初祖菩提達摩至唐代弘忍之傳承,為後世禪宗各派所承認。弘忍繼此傳承,發揚禪風,形成「東山法門」,禪宗傳教自楞伽經改為金剛般若經即自其始。弘忍之思想以悟徹心性之本源為旨,守心為參學之要。門下甚眾,其中以神秀及慧能二師分別形成北宗禪與南宗禪兩系統;至後世,分衍出更多宗派。於高宗上元二年示寂(即於傳法後四年),世壽七十四。代宗敕諡「大滿禪師」。相傳著有五祖弘忍大師最上乘論一卷,或以為偽作。〔宋高僧傳卷八、景德傳燈錄卷三、五燈會元卷一、佛祖統紀卷二十九、卷三十九〕 <二>(1599~1638)明代臨濟宗僧。蜀中資川人,俗姓鄭,字潭吉。少即黠慧博聞,二十歲出家,常欽慕僧肇、玄奘之懿範,而自怨無真師畏友。崇禎四年(1631)遊於吳中,見漢月法藏(1573~1635)之語錄,不覺毛豎汗下,遂入山請益於法藏,苦參得悟。法藏示寂後,師出主安隱寺,以躬履篤行教化學人。常厲斥禪林頹敗之風,並致力於改革時弊。崇禎十一年示寂,世壽四十。著有安隱錄、燼餘外集等傳世。法藏曾撰五宗源,反對曹洞宗僅單傳釋迦拈華一事,而抹殺五家宗旨,遂引起禪門之論諍。弘忍作五宗救,為其師辯護。清代雍正帝則作揀魔辨異錄,指法藏、弘忍一派為邪魔異說,而毀其書、驅其徒。〔五燈全書卷六十九〕 ; Hung-jen (C), Gunin (J), Kōnin (J), Hongren (C), Gunin (J)(601-674) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Đạo Tín. Tổ Thiền tông đời thứ năm ở Trung hoa, vào thế kỷ 7, sanh tại Hoàng Mai, Kỳ Châu (Trung hoa). ; Zen master Hung-Jen (601-674)—Một vị sư nổi tiếng, tổ thứ năm của Thiền Tông Trung Hoa, đệ tử của Tứ Tổ Đạo Tín, và là thầy của Lục Tổ Huệ Năng. Hoằng Nhẫn cùng quê với Tổ Đạo Tín, ở Kỳ Châu. Hoằng Nhẫn đến với Tứ Tổ khi ngài còn là một đứa trẻ; tuy nhiên, điều mà ngài đã làm hài lòng sư phụ là với cung cách trả lời của ngài qua cuộc nói chuyện đầu tiên. Khi tứ tổ hỏi ngài về họ mà tiếng Trung Hoa gọi là 'Tánh' thì ngài đáp:“Con có tánh, nhưng chẳng phải là tánh thường.” Tổ bèn hỏi:“Vậy là tánh gì?” Hoằng Nhẫn đáp:“Là Phật tánh.” Tổ lại hỏi:“Con không có tánh sao?” Hoằng Nhẫn đáp:“Nhưng tánh vốn là không.” Tổ thầm nhận biết đây là người sẽ được truyền thừa về sau nầy. Đây chỉ là thuật chơi chữ, vì nói về tộc họ hay danh tánh và bổn thể hay tự tánh, người Trung Hoa đều đọc chung là 'tánh.' Tổ Đạo Tín hỏi là hỏi về danh tánh, còn cậu bé Hoằng Nhẫn lại đáp về tự tánh, cậu đã mượn chữ đồng âm ấy cốt đưa ra kiến giải của mình. Thật vậy về sau nầy Hoằng Nhẫn được Tổ Đạo Tín truyền y bát làm tổ thứ năm của dòng Thiền Trung Quốc. Đạo trường của Tổ Hoằng Nhẫn ở Hoàng Mai, tại đây Tổ nói pháp và dạy Thiền cho đồ chúng năm trăm người. Nhiều người cho rằng ngài là vị Thiền sư đầu tiên có ý định giải thông điệp Thiền theo giáo lý Kim Cang. Trước thời Hoằng Nhẫn, thường các vị Thiền sư hoằng hóa trong im lặng, khiến đại chúng chú ý; các ngài lánh ẩn trên núi cao, xa cảnh gió bụi của thế gian, nên không ai biết việc làm của các ngài phải trái thế nào mà định luận. Nhưng Hoằng Nhẫn là vị đã công khai xuất hiện giữa đại chúng, và dọn đường cho người kế vị của mình là Huệ Năng—Hung-Jên, a noted monk. He was the fifth patriarch, a disciple of the fourth patriarch Tao-Hsin, and the master of the sixth patriarch Hui-Neng. Hung-Jen came from the same province as his predecessor, Tao-Hsin in Ch'i-Chou. Hung-Jen came to the fourth patriarch when he was still a little boy; however, what he pleased his master at their first interview was the way he answered. When Tao-Hsin asked what was his family name, which pronounced 'hsing' in Chinese, he said:“I have a nature (hsing), and it is not an ordinary one.” The patriarch asked:“What is that?” Hung-Jen said:“It is the Buddha-nature (fo-hsing).” The patriarch asked:“Then you have no name?” Hung-Jun replied:“No, master, for it is empty in its nature.” Tao-Hsin knew this boy would be an excellent candidate for the next patriarch. Here is a play of words; the characters denoting 'family name' and that for 'nature' are both pronounced 'hsing.' When Tao-Hsin was referring to the 'family name' the young boy Hung-Jen took it for 'nature' purposely, whereby to express his view by a figure of speech. Finally, Hung-Jen became the fifth patriarch of the Chinese Zen line. His temple was situated in Wang-Mei Shan (Yellow Plum Mountain), where he preached and gave lessons in Zen to his five hundred pupils. Some people said that he was the first Zen master who attempted to interpret the message of Zen according to the doctrine of the Diamond Sutra. Before the time of Hung-Jen, Zen followers had kept quiet, though working steadily, without arresting public attention; the masters had retired either into the mountains or in the deep forests where nobody could tell anything about their doings. But Hung-Jen was the first who appeared in the field preparing the way for his successor, Hui-Neng. ; (弘忍) I. Hoằng Nhẫn (602-675). Tổ thứ 5 của Thiền tông Trung quốc sống vào đời Đường, người Tầm dương (Cửu giang, Giang tây), có thuyết nói là người Hoàng mai, Kì châu (Kì xuân, Hồ bắc), họ Chu. Năm lên 7 tuổi, sư theo ngài Đạo tín, Tổ thứ 4, xuất gia ở chùa Đông sơn, núi Song phong, Hoàng mai, Kì châu, tại đây, sư triệt ngộ ý chỉ đốn tiệm và được truyền tâm ấn. Năm Vĩnh huy thứ 2 (651) đời Đường, ngài Đạo tín nhập diệt, lúc đó sư 51 tuổi, kế thừa pháp tịch của thầy. Người đời tôn xưng sư là Ngũ Tổ Hoàng Mai . Năm Hàm hanh thứ 2 (671), sư truyền pháp cho Lục tổ Tuệ năng. Sự truyền thừa của Thiền tông Trung quốc từ Sơ tổ Bồ đề đạt ma đến Ngũ tổ Hoằng nhẫn được các phái Thiền đời sau đều công nhận. Tổ Hoằng nhẫn tiếp nối sự truyền thừa này, phát huy Thiền phong, hình thành pháp môn Đông sơn và bắt đầu truyền kinh Kim cương bát nhã thay thế cho kinh Lăng già. Tư tưởng của Ngũ tổ Hoằng nhẫn lấy việc liễu ngộ nguồn gốc tâm tính làm tông chỉ, giữ tâm là cốt yếu của sự tham học. Ngũ tổ có rất đông đệ tử, trong đó có 2 vị Thần tú và Tuệ năng lập thành 2 hệ thống Thiền Bắc tông và Thiền Nam tông, đến đời sau, từ 2 hệ thống này lại chia ra thành nhiều tông phái. Ngũ tổ tịch vào năm Thượng nguyên thứ 2 (675) đời vua Cao tông nhà Đường, thọ 74 tuổi. Vua Đại tông ban thụy hiệu Đại Mãn Thiền Sư . Tương truyền sư có tác phẩm: Ngũ tổ Hoằng nhẫn đại sư tối thượng thừa luận 1 quyển. Nhưng có thuyết cho là ngụy tác. [X. Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3; Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.29, Q.39]. II. Hoằng Nhẫn (1599-1638). Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đời Minh, người Tứ xuyên, đất Thục, họ Trịnh, tự Đàm cát. Từ nhỏ sư đã thông minh, học rộng nghe nhiều, năm 20 tuổi sư xuất gia, rất hâm mộ phong cách mẫu mực của các ngài Tăng triệu, Huyền trang, rồi tự trách mình không có chân sư thiện hữu. Năm Sùng trinh thứ 4 (1631), sư đến Ngô trung tham học; một hôm, sư xem Ngữ lục của ngài Hán nguyệt Pháp tạng, bất giác toàn thân toát mồ hôi, liền vào núi xin ngài Pháp tạng chỉ giáo và được tỏ ngộ. Sau khi ngài Pháp tạng thị tịch, sư trụ trì chùa An ẩn và lấy sự gắng sức tu tập của chính mình để giáo hóa người học. Sư thường bài xích thói đồi bại trong chốn Thiền lâm và nỗ lực cải cách những tệ nạn của đương thời. Năm Sùng trinh 11 (1638) sư tịch, thọ 40 tuổi. Sư có các tác phẩm: An ẩn lục, Tận dư ngoại tập. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.69].

hoằng năng

1922清代曹洞宗僧。浙江餘姚人,俗姓潘。字山庾,世稱山庾弘能。年三十三,讀高峰和尚語錄而出家,首先參禮瑞光徹命,又拜謁菩提密和尚,因透悟曹洞宗之大旨而得印可。其後,住景會、江浦(位於江蘇)、獨峰等地。歸隱於暘谷菴,世壽六十七,建塔於菴左。〔增訂佛祖道影卷三(虛雲)〕

hoằng pháp

Dhamma deśana (P). ; 1) Hoằng Tuyên—Hoằng Giáo—Hoằng Thông—Đem chân lý Phật rộng truyền khắp nơi—Widely to proclaim the Buddhist-truth. 2) Tên của một vị sư nổi tiếng: Hung-Fa, name of a noted monk.

Hoằng Pháp Tự

(弘法寺, Gubō-ji): ngôi chùa của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại số 4-9-1 Mama (眞間), Ichikawa-shi (市川市), Chiba-ken (千葉縣); hiệu núi là Chơn Gian Sơn (眞間山). Chùa được kiến lập dưới thời Nại Lương (奈良, Nara, 710-794); đến thời Bình An (平安, Heian, 794-1185) thì chùa thuộc về tự viện của Chơn Ngôn Tông; nhưng sau đó thì chuyển sang Thiên Thai Tông. Phú Mộc Thường Nhẫn (富木常忍, tức Nhật Thường [日常, Nichijō]), thí chủ đắc lực của Nhật Liên, thắng trận trong cuộc luận tranh vấn đáp với Liễu Tánh (了性, Ryōshō), trú trì chùa này; nên Liễu Tánh bỏ đi và Nhật Thường đưa con ông là Nhật Đảnh (日頂, Nicchō) đến thay thế. Về sau, Nhật Đảnh rút lui, Nhật Thường, Nhật Cao (日高), Nhật Dương (日陽), Nhật Thọ (日樹) thay nhau kế thừa và hình thành Dòng Phái Chơn Gian (眞間門流).

hoằng pháp tự

2867位於臺灣高雄市。民國四十六年(1957),由開證法師創建。寺內設有慈恩講堂、慈恩圖書館、慈恩幼稚園、慈恩仁愛基金功德會、佛教青年會、佛青國樂團等,頗致力於佛教文化、教育及社會慈善等事業之推動。

hoằng pháp đại sĩ

Kobō Daishi (J)Tổ sáng lập phái Chơn ngôn tông (hệ Mật tông) ở Nhật (774 - 835). Một đại sư Nhật vâng lịnh Thiên hoàng sang Tàu học Mật tông năm 804. Năm 806 ngài về nước, lên núi tham thiền, đắc đạo trên núi Cao dã (Koya-san) rồi truyền Mật giáo tông Chơn ngôn.

hoằng pháp đại sư

Kobō daisu (J)Xem Hoằng Pháp Đại sĩ.

hoằng pháp đại sư hành trạng hội truyện

1921又作高野大師行狀繪傳。係日本鎌倉以後所流行之祖師傳繪卷之一。有關弘法大師空海之傳記,種類版本甚多,至慶長元年(1596)為止,有:(一)東寺本,十二卷,康曆元年(1379,即天授五年),圖為行忠等六人所繪。(二)地藏院(高野山)本,六卷,作於元應元年(1319),圖為巨勢有康所繪(卷一係狩野晴川院補寫),相傳本為土佐光信所繪。其他之弘法大師繪傳則為室町時期之作品。 ; (弘法大師行狀繪傳) Cũng gọi Cao đã đại sư hành trạng hội truyện. Truyện bằng tranh ghi lại hành trạng của đại sư Hoằng pháp (Không hải) người Nhật bản, được lưu hành từ thời Liêm thương trở về sau. Những truyện kí về đại sư Hoằng pháp Không hải có rất nhiều bản in như: 1. Bản Đông tự12 quyển, do nhóm ông Hành trung gồm 6 người vẽ, được in vào năm 1379. 2. Bản Địa tạng viện (núi Cao dã), 6 quyển, do Cự thế Hữu khang vẽ, hoặc có thuyết nói do Thổ tá Quang tín vẽ, được in vào năm 1319. Còn các bản khác là những tác phẩm thuộc thời đại Thất đinh.

Hoằng Pháp Đại Sư Thỉnh Lai Pháp Văn Sách Tử Tam Thập Thiếp

(弘法大師請來法文册子三十帖): xem Tam Thập Thiếp Sách Tử (三十帖册子, Sanjūjōsakushi) bên dưới.

hoằng phúc tự

1923位於陝西長安縣南。唐太宗貞觀八年(634),為追薦太穆皇后,建寺於右領軍大將軍彭國公王君之故宅。十九年,玄奘自西域歸來,所攜回之佛舍利、佛像、大小乘經律論等五二○夾六五七部,均置於本寺。三月,開辦譯場,先譯出菩薩藏經、佛地經、六門陀羅尼經與顯揚聖教論等,此後譯業繼續,並撰大唐西域記,盛極一時。二十二年十月,大慈恩寺建成,譯經院遂移之。唐中宗神龍元年(705)改稱「興福寺」。後又改稱「洪福寺」。至明洪武二年(1369),由長安城內太極宮西宮之修德坊移至今址。明憲宗成化年間(1465~1487),住持真景曾重修之。此後事蹟不詳。〔大唐大慈恩寺三藏法師傳卷六、卷七、大唐故三藏玄奘法師行狀、長安志卷九、大清一統志卷一八○〕 ; (弘福寺) Chùa nằm về phía nam huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây, được xây dựng vào năm Trinh quán thứ 8 (634) đời Đường Thái tông để truy tiến cho hoàng hậu Thái mục. Chùa được xây trên nền nhà cũ của Hữu lãnh Đại tướng quân Bành quốc công Vương quân. Năm Trinh quán 19 (645), ngài Huyền trang thỉnh xá lợi Phật, tượng Phật và 520 hòm gồm 657 bộ kinh, luật, luận Đại Tiểu thừa từ Ấn độ về để ở chùa này. Tháng 3 năm ấy, Dịch trường của ngài Huyền trang được thành lập và các bộ: Kinh Bồ tát tạng, kinh Phật địa, kinh Lục môn đà la ni, luận Hiển dương Thánh giáo được phiên dịch trước tiên tại Dịch trường này. Từ đó về sau, sự nghiệp dịch kinh được tiếp tục cực thịnh một thời. Bộ Đại đường tây vực kí cũng được soạn vào thời gian này. Tháng 10 năm Trinh quán 22 (648), chùa Đại từ ân được xây cất xong, viện Dịch kinh được dời về chùa này. Niên hiệu Thần long năm đầu (705) đời vua Đường Trung tông, chùa Hoằng phúc được đổi tên là chùa Hưng phúc, sau lại được đổi là chùa Hồng phúc. Đến năm Hồng vũ thứ 2 (1369) đời Minh, chùa được dời từ phường Tu đức ở phía tây cung Thái cực trong nội thành Trường an đến địa chỉ hiện nay. Khoảng năm Thành hóa (1465-1487) đời vua Hiến tông nhà Minh, chùa được vị Trụ trì Chân cảnh trùng tu. [X. Đại đường đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.6, Q.7; Đại đường cố Tam tạng Huyền trang pháp sư hành trạng; Trường an chí Q.9; Đại thanh nhất Truyện bằng tranh của Đại Sư Hoằng Pháp thống chí .180].

Hoằng Phước Tự

(弘福寺, Gūfuku-ji): hay còn gọi là Xuyên Nguyên Tự (川原寺, Kawara-dera), ngôi cổ tự của Phái Phong Sơn (豐山派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại Asukamura (明日香村), Takaichi-gun (高市郡), Nara-ken (奈良縣). Theo như phát quật cho thấy, dưới chùa có xuất hiện những vật thuộc di tích của cung điện ngày xưa. Khi Nữ Đế Tề Minh (齊明, 594-661) qua đời, bà được an táng tại Phi Điểu Xuyên Nguyên Cung (飛鳥川原宮), nên tương truyền rằng Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō, tại vị 661-672) đã xây dựng Xuyên Nguyên Tự trên cung điện ấy. Ngôi già lam này có phối trí đặc biệt mang dáng dấp hệ thống của Phi Điểu Tự (飛鳥寺, Asuka-dera); cho nên chùa được xếp vào một trong 4 ngôi Đại Tự, đồng hàng với Phi Điểu Tự, Dược Sự Tự (藥師寺, Yakushi-ji), Đại An Tự (大安寺, Daian-ji); nhưng đến thời Trung Đại thì bị suy tàn. Cũng có ký lục cho biết rằng vào năm 673, nơi đây có tiến hành hội sao chép hết thảy các kinh điển.

hoằng quyết ngoại điển sao

1920凡四卷。日本具平親王撰。唐代湛然所著之止觀輔行傳弘決四十卷為摩訶止觀之注釋書,弘決外典抄則將其書中所引用之外典如周易、尚書等,及其注釋書五十餘部之文,予以抄出,並加注釋。〔日本紀略後篇卷十一、大日本史卷九十四、日本訪書志〕 ; (弘决外典抄) Tác phẩm, 4 quyển, do Cụ bình Thân vương, người Nhật bản soạn. Nội dung của sách này là sao chép và giải thích văn của các ngoại điển như: Chu dịch, Thượng thư mà trong Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết ngài Trạm nhiên đời Đường đã dẫn dụng để chú giải bộ Ma ha chỉ quán. [X. Nhật bản kỉ lược hậu thiên Q.11; Đại nhật bản sử Q.94; Nhật bản phỏng thư chí].

hoằng sung

1920南北朝之學僧。甘肅涼州武威人。少壯即通達老莊之學,巧解經律,尤好論議。劉宋武帝大明(457~464)末年,渡江至多寶寺巡迴講席,與學者論難。後自開法筵,立(立論者)、敵(問難者)論諍甚盛,而師究思玄微,辯才無礙,一一會通而破斥之,無所閡礙。又宣講法華、十地等經論,聽者溢堂,劉宋之名臣歸依者甚多。明帝即位時,起湘宮寺,師被選任為「綱領」之職而移居之。南齊武帝永明(483~493)年中示寂,世壽七十二。著有注文殊問菩提經、注首楞嚴經若干卷。〔梁高僧傳卷八〕 ; (弘充) Vị tăng học giả thời Nam Bắc triều, người Vũ uy, Lương châu, tỉnh Cam túc, Trung quốc. Lúc còn trẻ sư đã thông suốt học thuyết Lão trang và kinh, luật Phật giáo, đặc biệt giỏi về nghị luận. Khoảng cuối năm Đại minh (457-464) đời Vũ đế nhà Lưu Tống, sư đến chùa Đa bảo diễn giảng và biện luận với các học giả. Sau, sư khai trường thuyết pháp, các học giả đến tranh luận rất sôi nổi và hào hứng. Vì trí tuệ của sư sâu rộng, cùng suốt lẽ huyền vi, lại thêm biện tài vô ngại, nên sư đã đánh đổ tất cả luận thuyết của đối phương, làm cho mọi người đều thông suốt. Sư thuyết giảng kinh Pháp hoa, Thập địa kinh luận, v.v... người đến tham học rất đông, nhiều bậc danh thần triều Lưu Tống qui y sư. Và, sau khi lên ngôi, vua Minh đế chọn sư giữ chức Cương lĩnh , đồng thời xây chùa Tương cung thỉnh sư về trụ trì. Khoảng năm Vĩnh minh (483-493) đời vua Vũ đế nhà Nam Tề, sư tịch, thọ 72 tuổi. Sư có các tác phẩm: Chú Văn thù vấn bồ đề kinh, Chú Thủ lăng nghiêm kinh. [X. Lương cao tăng truyện Q.8].

hoằng sư

3331唐代僧。齊安(廣東恩平)人。中宗神龍(705~706)年中,遊於京師。生性簡傲自持,罕於言語。頗善曆象、占卜、地理等方伎之術,據記載,師極善於葬法,每行視山原,即繪成 洁F又爲人占相未嘗差謬。常出入於當代名臣韋安石之門,時號之爲國師。〔唐書卷一九一、新唐書卷一二二〕

hoằng thuyền

2867新加坡光明山普覺寺暨普陀寺住持。依會泉法師剃度,為轉道和尚之法嗣。任新加坡佛教總會、佛教僧伽聯合會主席。創建文殊中學、佛教施診所,並為南洋佛教雜誌名譽社長,於宏法、慈善、教育事業之推動,甚為熱心。師長於堪輿,持大悲咒水與信眾結緣,多有靈驗,新加坡總理李光耀先生並為其護法。又於一九八八年,榮獲泰國國王蒲美蓬御賜「華僧大尊長」之封號。

hoằng thành

2867請參閱 現證三昧大教王經 (1575~1641)明代臨濟宗僧。浙江錢塘人,俗姓黃。世稱一默宏成禪師。年二十三,投真如寺剃髮出家,於雲棲寺受沙彌戒,參謁雲門圓澄(1561~1626)受具足戒。未久往參三峰漢月法藏,七年不得契悟;一日侍三峰,見僧請益,三峰以手拈紅紙翻覆以示之,師頓悟玄旨,遂居首座。後出住於橫山兜率菴。崇禎十四年示寂,世壽六十七。〔正源略集卷五〕

hoằng thánh tự

1923位於雲南大理點蒼山七峰之麓。據雲南通志載,寺址在太和縣城西南,有塔,高十丈,共十級,世傳乃阿育王所建之塔。明嘉靖年間(1522~1566),郡人李元陽重修。又楊慎游點蒼山記亦載,弘聖寺有浮圖,高二百尺,規制嚴整,考之野史,或謂阿育王建,亦有謂隋文帝時敕建者。 ; (弘聖寺) Chùa ở dưới chân ngọn Thất phong núi Điểm thương phủ Đại lí tỉnh Vân nam, Trung quốc. Cứ theo Vân nam thông chí thì chùa nằm về mạn tây nam huyện lị Thái hòa, có tháp 10 cấp cao 10 trượng, tương truyền do vua A dục xây cất. Khoảng năm Gia tĩnh (1522-1566) đời Minh, chùa được ông Lí nguyên dương là người trong quận trùng tu. Theo Điểm thương sơn kí của Dương thận du, thì chùa Hoằng thánh có tháp cao 200 thước (Tàu), kiểu cách trang nghiêm. Xét trong dã sử, thì có thuyết cho là tháp do vua A dục kiến tạo, cũng có thuyết nói do vua Văn đế nhà Tùy hạ chiếu xây dựng.

hoằng thông

See Hoằng Pháp (1).

hoằng thệ

1923梵語 mahāsarnāha-sannaddha。廣大之誓願。又作弘誓願、大誓莊嚴。以其所願之事,廣大普被眾生,故稱弘誓。其梵語之原意乃「著大鎧」;亦即建立弘大誓願廣度眾生,以期成就無上菩提,猶如被著大鎧,以自莊嚴,投於陣中;即指菩薩之總願。此弘誓堅固無比,故以甲冑為喻,稱為弘誓鎧。無量壽經卷上(大一二‧二六八中):「為眾生故,被弘誓鎧,積累德本,度脫一切。」 一般,佛、菩薩共通之誓願有四弘誓願。此外,佛、菩薩另有別願,如彌勒菩薩之奉行十善願,法藏菩薩(阿彌陀佛未成佛前之名稱)之四十八願。日本淨土真宗即以阿彌陀佛四十八願中之第十八願稱為本弘誓願(本願、弘願、誓願、弘誓);且日本淨土真宗以此弘願之教為真實法,故有「弘願真宗」之稱。 此弘誓乃超越普通思慮而無法臆測者,故稱難思弘誓。此難思弘誓為阿彌陀佛廣大之誓願力,為眾生能往生淨土強有力之增上緣,故稱弘誓強緣。即謂彌陀之本願弘誓,乃眾生往生之殊勝因緣。弘誓能負載眾生渡過生死大海而至淨土,故以船為喻,稱為弘誓船,又作大願船。迦才淨土論卷下(大四七‧一○二上):「阿彌陀佛舉慈悲棹,乘大願船,運度一切苦惱眾生。」又如大海能包容一切,無論善、惡眾生均可渡過;或謂其深廣如海,稱為弘誓海。〔道行般若經卷一、大方等大集經卷十七虛空藏菩薩品、放光般若經卷三問僧那品、往生要集卷三〕(參閱「四弘誓願」1677、「要門」3953) ; Mahāsarnaha-sannaddha (S)Thệ nguyện rộng lớn trùm khắp chúng sanh. ; Vast or universal vows of a Buddha or a Bodhisattva, especially Amitabha's forty-eight vows—See Tứ Thập Bát Nguyện (Amitabha's forty-eight vows). ; (弘誓) Phạm: Mahàsarnàha-Sannaddha. Cũng gọi Hoằng thệ nguyện, Đại thệ trang nghiêm. Thệ nguyện rộng lớn bao trùm khắp cả chúng sinh. Nguyên nghĩa của tiếng Phạm là mặc giáp lớn , tức là lập thệ nguyện rộng lớn cứu độ chúng sinh để thành tựu Vô thượng bồ đề. Đây chỉ cho nguyện chung của hàng Bồ tát. Nguyện này rộng lớn bền chắc, nên dùng giáp trụ để ví dụ, gọi là giáp hoằng thệ . Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 trung), nói: … Vì chúng sinh nên mặc giáp hoằng thệ, tích lũy công đức, độ thoát tất cả . Nói chung thì chư Phật và Bồ tát đều có 4 thệ nguyện rộng lớn. Ngoài 4 nguyện này, mỗi vị Phật, Bồ tát còn có nguyện riêng, như bồ tát Pháp tạng (tên của đức Phật A di đà khi chưa thành Phật) có 48 nguyện, bồ tát Di lặc phụng hành 10 nguyện lành...Tịnh độ Chân tông Nhật bản lấy nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà làm Bản hoằng thệ nguyện (Bản nguyện, Hoằng nguyện, Thệ nguyện, Hoằng thệ) và lấy giáo nghĩa hoằng nguyện này làm pháp chân thực, vì thế Tịnh độ Chân tông Nhật bản còn được gọi là Hoằng nguyện chân tông . Hoằng thệ này không thể nghĩ bàn nên gọi là Nan tư hoằng thệ. Nan tư hoằng thệ này là sức thệ nguyện rộng lớn của đức Phật A di đà, là tăng thượng duyên cho chúng sinh được vãng sinh Tịnh độ, cho nên gọi là Hoằng nguyện cường duyên. Nghĩa là bản nguyện hoằng thệ của đức Phật A di đà là nhân duyên thù thắng giúp chúng sinh vãng sinh. Hoằng thệ ấy có khả năng chuyên chở chúng sinh vượt qua biển sinh tử để đến Tịnh độ, cho nên dùng thuyền để ví dụ gọi là Hoằng thệ thuyền, cũng gọi Đại nguyện thuyền. Luận Tịnh độ quyển hạ của ngài Ca tài (Đại 47, 102 thượng), nói: Đức Phật A di đà vận dụng mái chèo từ bi, lái con thuyền đại nguyện chuyên chở tất cả chúng sinh ra khỏi biển sinh tử khổ não . Hoằng thệ còn được ví với biển cả mà gọi là Hoằng thệ hải. Biển hoằng thệ sâu rộng có thể bao dung tất cả, vô luận chúng sinh thiện hay ác đều có thể vượt qua. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.1; phẩm Hư không tạng bồ tát trong kinh Đại phương đẳng đại tập Q.17; phẩm Vấn tăng na trong kinh Phóng quang bát nhã Q.3; Vãng sinh yếu tập Q.3]. (xt. Tứ Hoằng Thệ Nguyện, Yếu Môn).

hoằng thệ phật địa

1924比喻阿彌陀佛之弘誓如大地,為培植堅固不可摧毀的信心之所依處。文類聚鈔(大八三‧六四五上):「樹心弘誓佛地,流情難思法海。」 ; (弘誓佛地) Hoằng thệ của đức Phật A di đà được ví như mặt đất, là nơi nương tựa để vun bồi lòng tin vững chắc không gì có thể hủy hoại được. Văn loại tụ sao (Đại 83, 645 thượng), nói: Tâm nương đất hoằng thệ của Phật, ý chảy vào biển pháp khó lường .

hoằng thệ tự thệ

Saṃnaha-saṃnaddha (S)Bốn thệ nguyện rộng lớn của Bồ tát.

Hoằng thệ 弘誓

[ja] グゼイ guzei ||| Great vow; vast oath--made by bodhisattvas to save all sentient beings. 〔法華經 T 262.9.57c13〕 => Lời nguyện rộng lớn, lời tuyên thệ cao cả–do các vị Bồ-tát phát nguyện cứu độ chúng sinh.

hoằng triệt

1924請參閱 南嶽願文 (1588~1648)明末清初僧。金陵人,俗姓柏。字頂目。年二十四,投漢月法藏(1573~1635)出家,狀若癡兀,法藏授以發慧偈,持誦三年,精勤不懈,一日宿慧湧發,自解偈義,由是能通諸經奧祕。時值上元,法藏令眾作頌,而獨賞師所作。後聞爆竹聲悟脫,法藏為之印可。崇禎二年(1629)繼席法藏,後歷主蘇之瑞光、潤之金山。晚年退隱於吳之穹窿山拈華寺。於順治五年九月入寂,世壽六十一。〔五燈全書卷六十九〕

hoằng trí

Hoằng Trí là tên của ngài Chánh Giác núi Thiên Đồng vào đầu thế kỷ thứ 12—Hung-Chih, posthumous name of a monk of T'ien-T'ung monastey, Ningpo, early in the twelfth century.

Hoằng Trí Chánh Giác

(宏智正覺, Wanshi Shōgaku, 1091-1157): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Thấp Châu (隰州, Tỉnh Sơn Tây), họ là Lý (李). Năm lên 12 tuổi, ông theo xuất gia với Bổn Tông (本宗) ở Tịnh Minh Tự (淨明寺), đến năm 14 tuổi thì thọ Cụ Túc giới với Trí Quỳnh (智瓊) ở Từ Vân Tự (慈雲寺) vùng Tấn Châu (晋州, Lâm Phần, Tỉnh Sơn Tây). Vào năm 18 tuổi, ông có chí muốn đi tham vấn chư tôn túc khắp nơi, nên trước tiên ông lên Hương Sơn Tự (香山寺) ở Nhữ Châu (汝州, Huyện Lâm An, Tỉnh Hà Nam), viếng thăm Khô Mộc Pháp Thành (枯木法成), sau đó ông đến tham học với Tử Thuần (子淳) ở Đơn Hà Sơn (丹霞山, Tỉnh Hà Nam). Ông theo hầu Tử Thuần khi vị này lui về ẩn cư ở Đại Thừa Sơn (大乘山) thuộc Đường Châu (唐州, Bí Dương, Tỉnh Hà Nam), cũng như khi theo thầy ông đến Đại Hồng Sơn (大洪山) ở Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc). Đến năm 31 tuổi, vào năm thứ 3 (1121) niên hiệu Tuyên Hòa (宣和), ông được cử làm chức Thủ Tòa (首座), rồi năm sau thì đến trú trì Phổ Chiếu Tự (普照寺) ở Tứ Châu (泗州, Tỉnh An Huy) và kế thừa dòng pháp của Tử Thuần. Vào năm đầu (1127) niên hiệu Kiến Viêm (建炎), ông chuyển đến sống tại Thái Bình Tự (太平寺) thuộc vùng Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), rồi Vân Cư Sơn (雲居山, Tỉnh Giang Tây), và thỉnh thoảng ông có khai mở đạo tràng thuyết giảng tại Trường Lô Sơn (長蘆山, Tỉnh Giang Tô). Sau đó, ông được cung thỉnh đến trú trì Thiên Đồng Sơn (天童山, Tỉnh Triết Giang). Lúc bấy giờ trên Thiên Đồng Sơn rất nghèo túng, nhà cửa chật hẹp, nhưng kể từ khi ông lên trú trì về sau thì thóc lúa đầy kho, ngôi già lam cũng được hoàn chỉnh trang nghiêm, đặc biệt ngôi Đại Pháp Đường được chỉnh trang đúng với thanh quy Thiền môn. Ông đã sống nơi đây trong vòng 30 năm, chuyên tâm nhiếp hóa đồ chúng, được xem như là vị tổ thời Trung Hưng của Thiên Đồng Sơn. Tông phong đương thời bị hủ bại do vì gặp thời loạn lạc cuối nhà Tống, nên ông đả kích điều này và cử xướng tông phong chánh truyền. Chính hoạt động của ông đã được mọi người công nhận và hình thức tọa Thiền cũng như mặc chiếu là chỉ tiêu Thiền phong của ông, cho nên người ta thường gọi đó là Mặc Chiếu Thiền (黙照禪) hay Hoằng Trí Thiền (宏智禪). Bên cạnh đó, văn từ của ông rất xảo diệu, sánh ngang hàng với Tuyết Đậu (雪竇); ông cùng với Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) của Lâm Tế Tông được gọi là Nhị Đại Cam Lồ Môn. Vào ngày mồng 7 tháng 10 năm thứ 27 (1157) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), ông thị tịch, hưởng thọ 67 tuổi đời và 56 hạ lạp. Vua Cao Tông ban tặng cho ông thụy hiệu Hoằng Trí Thiền Sư (宏智禪師). Một số trước tác ông để lại như Hoằng Trí Giác Hòa Thượng Ngữ Yếu (宏智覺和尚語要) 1 quyển, Hoằng Trí Giác Thiền Sư Ngữ Lục (宏智覺禪師語錄) 4 quyển, Hoằng Trí Quảng Lục (宏智廣錄) 9 quyển; ngoài ra còn có Thiên Đồng Bách Tắc Tụng Cổ (天童百則頌古) rất nổi tiếng.

hoằng trí chánh giác

Hung-chih Cheng chueh (C), Wanshi Shōgaku (J)Tên một vị sư.

Hoằng Trí Chính Giác

宏智正覺; C: hóngzhì zhèngjué; J: wanshi shō-gaku; 1091-1157;|Thiền sư Trung Quốc đời thứ mười dòng Tào Ðộng, môn đệ của Thiền sư Ðan Hà Tử Thuần. Ðời sau còn nhớ đến Sư qua những cuộc tranh luận (với tinh thần bằng hữu) với Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo về phương pháp tu tập của hai dòng Tào Ðộng và Lâm Tế (Mặc chiếu thiền, Khán thoại thiền). Trước khi tịch, Sư nhờ Ðại Huệ hoàn tất tập Công án Thong dong lục. Ðiều đó cho thấy rằng, quan niệm của hai tông không có khác biệt quá đỗi như các môn đệ sau tìm cách chứng minh.|Sư họ Lí, quê ở Thấp Châu, xuất gia năm 11 tuổi và thụ giới cụ túc năm 14. Năm 18 tuổi, Sư đi du phương, nói với ông nội rằng »Nếu con không phát minh việc lớn, thề không trở về.« Ðến tham vấn Ðan Hà, Ðan Hà hỏi: »Thế nào là chính mình trước không kiếp?« Sư thưa: »Con ếch nuốt trăng nằm đáy giếng, canh ba chẳng mượn cuốn rèm lên.« Ðan Hà bảo: »Chưa phải, nói lại.« Sư suy nghĩ, Ðan Hà liền đánh một Phất tử, nói: »Lại nói chẳng mượn.« Sư ngay lời này đại ngộ, làm lễ bái.|Sư làm thư kí nơi Ðan Hà được bốn năm, sau dời về Viên Thông. Thiền sư Chân Yết Thanh Liễu sai tăng đi rước Sư. Chúng ra đón thấy y phục Sư rách rưới đều lấy làm lạ. Chân Yết liền sai thị giả đổi giày mới cho Sư. Sư bảo: »Tôi vì giày mà đến sao?« Chúng nghe được đều hết lòng kính phục.|Sư trụ trì được cúng không mừng, cho ra không chán, thường quá ngọ không ăn. Trước khi tịch, Sư tắm gội mặc y phục ngồi ngay thẳng nói chuyện với đại chúng. Sư sai vị tăng hầu đem bút viết thư, để lại cho Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo việc thỉnh người kế thừa. Thư kệ rằng:|Mộng huyễn không hoa|Sáu mươi bảy năm|Chim trắng khói lặn|Nước thu tiếp trời|Sư ném bút liền tịch, thọ 67 tuổi. Vua sắc phong là Hoằng Trí.

hoằng trí phái

2868為我國曹洞宗之一派,即宋代丹霞子淳禪師之法嗣宏智正覺(1091~1157)之系統。宏智正覺於建炎三年(1129)住天童山(浙江鄞縣),整備伽藍,重振清規,宏揚坐禪、默照之禪風,世稱默照禪、宏智禪,住山三十餘年,門下衲僧多達千餘人,而以聞庵嗣宗、自得慧暉、石窓法恭等為座中之高足。在我國,曹洞宗之勢力不及臨濟宗之隆盛,故宏智派之流傳亦不廣。然曹洞宗傳至日本,法脈頗盛,始於安貞二年(1228),由道元承天童如淨(屬丹霞下長蘆清了之系統)之法;其次,宏智系統之禪,於延慶元年(1308),由直翁德舉之法嗣東明慧日傳入,又觀應二年(1351),東明之法姪東陵永璵亦傳之。東明、東陵兩師居於臨濟宗全盛時期之京都、鎌倉等地,相繼晉住圓覺、建長、南禪、天龍等諸大名剎,法庭亦隨之興隆。東明之會下,有別源圓旨、不聞契聞等五山文藝僧多人,其門流頗多富於文藝氣質之人才。 ; (宏智派) Một Thiền phái thuộc tông Tào động của Trung quốc, tức là hệ thống của ngài Hoành trí Chính giác (1091-1157), đệ tử nối pháp của thiền sư Đơn hà Tử thuần đời Tống. Vào năm Kiến viêm thứ 3 (1129), ngài Hoành trí Chính giác đến núi Thiên đồng, sửa sang già lam, chỉnh đốn thanh qui; hoằng truyền thiền phong Mặc chiếu mà người đương thời gọi là Mặc chiếu thiền, Hoành trí thiền. Ngài trụ ở núi này trong hơn 30 năm, người học rất đông, trong đó có Văn am Tự tông, Tự đắc Tuệ huy, Thạch song Pháp cung, v.v... là nổi bật hơn cả. Ở Trung quốc, tông Tào động không mạnh bằng tông Lâm tế, cho nên dòng phái của ngài Hoành trí truyền bá cũng không được rộng. Nhưng tông Tào động truyền sang Nhật bản thì pháp mạch khá thịnh. Đầu tiên, vào năm 1228, ngài Đạo nguyên truyền hệ thống Thiền của ngài Trường hư Thanh liễu sang Nhật bản; kế đến, vào năm 1308, ngài Đông minh Tuệ nhật truyền hệ thống Thiền của ngài Hoành trí. Cuối cùng, vào năm 1351, ngài Đông lăng Vĩnh dư cũng truyền Thiền pháp Tào động. Hai ngài Đông minh, Đông lăng nối nhau trụ trì các chùa danh tiếng như: Viên giác, Kiến tường, Nam thiền, Thiên long, v.v... ở Kyoto và Nara, tông phong cũng theo đó mà hưng thịnh.

hoằng trí tam chủng công huân

2868即宋代宏智正覺禪師對證悟所揭出之三種境地。即:(一)正位一色,謂既已證悟,則一切無有差別之相,而顯現平等之境界。(二)大功一色,謂既已證悟,則不執著於一切事物,而顯現沒蹤跡之境界。(三)今時一色,謂既已證悟,則完全否定一切之分別,而顯現任運自在之境界。〔人天眼目卷三〕 ; (宏智三種功勛) Ba loại cảnh giới chứng ngộ do thiền sư Hoành trí Chính giác đời Tống nêu ra: 1. Chính vị nhất sắc: Đã chứng ngộ rồi, thì tất cả không có tướng sai khác, mà hiển hiện cảnh giới bình đẳng. 2. Đại công nhất sắc: Đã chứng ngộ rồi thì không chấp trước tất cả sự vật, mà hiển hiện cảnh giới dứt bặt. 3. Kim thời nhất sắc: Đã chứng ngộ rồi thì hoàn toàn phủ định tất cả sự phân biệt, mà hiển hiện cảnh giới nhậm vận tự do. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.3].

hoằng trí tứ tá

2868宋代宏智禪師明示學人修行要路之四法:(一)借功明位,以現象界萬物之作用(功),明其本體(位)。(二)借位明功,以萬物之本體(位),明其作用(功)。(三)借借不借借,萬物之本體與作用共忘,一物不存。(四)全超不借借,超越第三之空位,一念不存之自由境界。 人天眼目卷三(大四八‧三二○中):「(借功明位)蘋末風休夜未央,水天虛碧共秋光,月船不犯東西岸,須信篙人用意良。(借位明功)六戶虛通路不迷,太陽影裏不當機,縱橫妙展無私化,恰恰行從鳥道歸。(借借不借借)識盡甘辛百草頭,鼻無繩索得優游,不知有去成知有,始信南泉喚作牛。(全超不借借)霜重風嚴景寂寥,玉關金鎖手慵敲,寒松盡夜無虛籟,老鶴移棲空月巢。」〔洞上古轍卷上、宏智禪師廣錄卷八〕 ; (宏智四借) Bốn pháp do thiền sư Hoành trí đời Tống đặt ra để chỉ rõ con đường tu hành cốt yếu cho người học: 1. Tá công minh vị: Dựa vào tác dụng (công) của muôn vật trong thế giới hiện tượng để rõ suốt bản thể (vị) của chúng. 2. Tá vị minh công: Dựa vào bản thể (vị) của muôn vật để làm sáng tỏ tác dụng (công) của chúng. 3. Tá tá bất tá tá: Bản thể và tác dụng của muôn vật đều mất, không một vật nào còn tồn tại. 4. Toàn siêu bất tá tá: Vượt lên không vị thứ 3 mà đạt tới cảnh giới tự do chẳng còn một niệm. [X. Động thượng cổ triệt Q.1; Hoành trí thiền sư quảng lục Q.8].

hoằng trữ

1925(1605~1672)明末清初臨濟宗僧。江南通州(江蘇南通)人,俗姓李。字繼起,號退翁。幼遭家難,育於祖母。明天啟年中入鄉校,然絕意功名,潛心佛法,好禪道,參究有得。年二十五,依漢月法藏(1573~1635)出家,苦修有年,終得其法。其後,開法於常州夫椒山祥符寺,又歷遷蘇州之靈巖山崇報寺、堯峰山寶雲寺、虎丘山雲巖寺、秀州(浙江嘉興)之金粟廣慧寺等諸名剎。師通內外百家之學,能詩書,器度恢宏,威儀凜然,見者莫不傾服。滿清入主後,師每寄懷故國,思謀匡復,吳、越間義師屢興,師實左右之。曾被逮捕,自忖必死,後以義士力救得免。每年值國難日,必素服揮淚禮拜,二十八年如一日,人謂以忠孝作佛事者指此。座下龍象數百,得法者七十餘人。於康熙十一年九月示寂,世壽六十八。建塔堯峰山,稱為大光明藏。有語錄百卷,及詩文偈頌等。又其師法藏曾撰「五宗源」一書,申論禪宗傳承之事。雍正年中,世宗作書駁斥五宗源,並貶黜法藏之門徒,師之著作於此之際多被焚毀,現已大半不傳,今僅遺存有南嶽繼起和尚語錄十卷、南嶽勒古一卷、靈巖記略一卷等。〔五燈全書卷六十九、正源略集卷五〕 ; (弘儲) (1605-1672) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Thông châu, Giang nam, họ Lí, tự Kế khởi, hiệu Thoái ông.Thủa nhỏ, gia đình gặp nạn, sư được bà nội nuôi nấng. Năm 16 tuổi, sư học ở trường làng, nhưng không nghĩ đến công danh, trái lại rất tin Phật pháp và thích đạo Thiền, tham cứu có chỗ tâm đắc. Năm 25 tuổi, sư theo ngài Hán nguyệt Pháp tạng xuất gia, khổ tu nhiều năm, cuối cùng được nối pháp. Về sau, sư hoằng pháp ở chùa Tường phù, núi Phù tiêu, Thường châu, rồi lần lượt trụ trì các danh lam như: Chùa Sùng báo, núi Linh nham, Tô châu, chùa Bảo vân ở núi Nghiêu phong, chùa Vân nham ở núi Hổ khâu, chùa Kim túc quảng tuệ ở Tú châu (Gia hưng, Chiết giang), v.v... Sư thông suốt nội điển và các học thuyết của Bách gia chư tử, độ lượng bao dung, uy nghi đĩnh đạc, ai thấy cũng kính phục. Sau khi người Mãn Thanh xâm chiếm Trung hoa, sư thường hoài vọng cố quốc, mưu việc khôi phục nên thường giúp đỡ các đội nghĩa quân ở Ngô, Việt. Có lần sư bị bắt, tin chắc sẽ chết, nhưng sau được nghĩa sĩ ra sức cứu thoát. Mỗi năm đến ngày quốc nạn, sư mặc áo tang rơi lệ lễ bái, suốt 28 năm. Người đời cho đó là lấy trung hiếu làm Phật sự. Dưới pháp tòa của sư, có vài trăm vị long tượng, hơn 70 người đắc pháp. Tháng 9 năm Khang hi 11 (1672) sư tịch, thọ 68 tuổi, tháp xây ở núi Nghiêu phong hiệu Đại quang minh tạng. Sư có trứ tác trên 100 quyển Ngữ lục và thi văn kệ tụng, nhưng phần lớn đã bị thiêu hủy. Hiện nay chỉ còn các sách: Nam nhạc Kế khởi hòa thượng ngữ lục, 10 quyển, Nam nhạc lặc cổ, 1 quyển, Linh nham kí lược, 1 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.69; Chính nguyên lược tập Q.5].

hoằng tuyên

See Hoằng Pháp (1).

hoằng tán

1926(1611~1685)明末清初曹洞宗僧。廣東新會人,俗姓朱。字在犙。早歲從余集生學儒典,博雅能文,弱冠補縣學生員。清入主後,乃遁走為僧,研習禪法,參謁鼎湖道邱,而得印可,初住廣州之寶象林,後繼席肇慶鼎湖。師生平特重實踐篤履,雖精於禪,因痛心於叢林中浮誇不實之風氣,絕口不言禪道,僅弘律儀,倡導戒行,以為職事。於康熙二十四年示寂,世壽七十五。撰有鼎湖山木人居在犙禪師剎稿五卷、七俱胝佛母所說準提陀羅尼經會釋三卷、心經論、四分戒本如釋十二卷、歸戒要集三卷、八關齋法、禮佛儀式等數十種。〔鼎湖山志〕 ; (弘贊) (1611-1685) Vị Thiền tăng thuộc tông Tào động ở cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Tân hội, Quảng đông, họ Chu, tự Tại tham. Thủa nhỏ, sư theo ông Dư tập sinh học sách Nho, học giỏi, hạnh kiểm tốt, có tài làm văn, năm 20 tuổi, sư được bổ làm chức Học sinh ở huyện. Sau khi nhà Thanh thống trị Trung quốc, sư từ quan đi xuất gia, nghiên cứu, tu tập Thiền pháp, tham yết ngài Đạo khâu ở Đỉnh hồ và được ấn khả. Lúc đầu, sư ở Bảo tượng lâm tại Quảng châu, sau nối pháp tịch của ngài Triệu khánh ở Đỉnh hồ. Bình sinh, sư đặc biệt chú trọng những việc thực tiễn, tuy tinh thông Thiền pháp, nhưng lại xót xa vì cái phong khí khoa trương phù phiếm trong chốn tùng lâm, nên sư tuyệt nhiên không nói gì về Thiền đạo mà chỉ thực hành luật nghi, đề cao giới hạnh và lấy đó làm bổn phận của mình. Năm Khang hi 24 (1685) sư tịch, thọ 75 tuổi.Sư có các tác phẩm: Đỉnh hồ sơn mộc nhân cư tại tham thiền sư sát cảo 5 quyển, Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết chuẩn đề đà la ni kinh hội thích 12 quyển, Qui giới yếu tập 3 quyển, Bát quan trai pháp, Lễ Phật nghi thức…; Tứ phần giới bản như thích 12 quyển. [X. Đỉnh hồ sơn chí].

hoằng tán pháp hoa truyện

1926凡十卷。唐代藍谷沙門惠詳撰。略稱法華傳。收於大正藏第五十一冊。此書備載三國至中唐,有關法華經流傳及研學、誦持法華經者所得之靈驗事蹟,多採傳記體。內容分為圖像、翻譯、講解、修觀、遺身、誦持、轉讀、書寫等八部分,圖像係記載寺院、經像、寶塔等建造因緣;翻譯乃論述真、偽經之譯本及其異同;講解、修觀、遺身、誦持、轉讀、書寫等,皆記述修學法華者之傳記或感應。依此,得見法華經於我國佛教史上之地位與影響。 ; (弘贊法華傳) Gọi tắt: Pháp hoa truyện. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Huệ tường ở Lam cốc soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này nói về việc lưu truyền kinh Pháp hoa và sự linh nghiệm của những người tu tập, trì tụng kinh này trong khoảng thời gian từ đời Tam quốc đến đời Trung đường. Sách được chia làm 8 phần: Tranh tượng, Phiên dịch, Giảng giải, Tu quán, Di thân, Tụng trì, Chuyển đọc và Viết chép… Phần Tranh tượng ghi chép những nhân duyên kiến thiết chùa viện, kinh tượng, bảo tháp, v.v... Phần phiên dịch trình bày về những bản dịch kinh thật, giả và sự dị đồng giữa các bản dịch ấy. Các phần còn lại đều là truyện kí hoặc là sự cảm ứng của những người tu tập và trì tụng kinh Pháp hoa. Căn cứ vào đó người ta thấy được ảnh hưởng và địa vị của kinh Pháp hoa trong lịch sử Phật giáo Trung quốc.

Hoằng Tường Tự

(弘祥寺, Kōshō-ji): ngôi phế tự, nguyên lai thuộc về Tào Động Tông, từng tọa lạc tại sườn núi bên bờ tả ngạn Sông Nhật Dã (日野川) thuộc Kanaya-chō (金屋町), Fukui-shi (福井市), Fukui-ken (福井縣). Ban đầu, chùa do Quy Sơn Pháp Vương (龜山法王) kiến lập dưới thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333); nhưng sau đó bị đốt cháy tan tành do vì cuộc chiến loạn Nam Bắc Triều. Về sau, Triêu Thương Quảng Cảnh (朝倉廣景, Asakura Hirokage) tái kiến lại chùa và cung thỉnh Thiền Sư Biệt Nguyên Viên Chỉ (別源圓旨, Betsugen Enshi, 1294-1364) của Tào Động Tông đến làm Tổ khai sơn và nơi đây trở thành ngôi chùa của dòng họ Triêu Thương. Sau khi Triêu Thương Nghĩa Cảnh (朝倉義景, Asakura Yoshikage) diệt vong, chùa lại bị đốt cháy lần nữa. May thay, nhờ bà Trường Quang Viện (長光院), mẫu thân của vị Phiên Chủ đời thứ tư Phiên Tùng Bình (松平藩) là Tùng Bình Quang Thông (松平光通, Matsudaira Mitsumichi), quy y theo, nên chùa được xây dựng lại. Đến thời đại Minh Trị (明治, 1868-1911), chùa được sát nhập vào (大安禪寺).

hoằng từ quảng tế tự tân chí

1923凡三卷。清代湛祐撰,然叢輯。收在中國佛寺史志彙刊第一輯。弘慈廣濟寺位於北平內城之西,大市街北,東望西華門,西接阜城門,近市而境幽。寺創於宋末,原名西劉村寺;元末兵火之後,已成廢墟。至明憲宗時,潞洲僧喜雲因土人掘得石佛,即於其地重建今寺,賜額「弘慈廣濟寺」。清康熙年間,湛祐建大悲壇,並創修新志,發凡起例,廣輯文獻,後經然叢編輯,整理為三卷,前錄御製弘慈廣濟寺碑文、御書匾額,下分四門:建置圖、碑銘頌、傳記序、賦贊跋。寺之文獻略具其中。該志有清康熙四十三年(1704)大悲壇原刊本之影印本,今藏於國立臺灣大學圖書館。

hoằng đàm

1924(1602~1671)明末清初曹洞宗僧。青州(山東益都)諸城人,俗姓蘇。字靈瑞,世稱靈瑞弘曇禪師。自幼即有出世之志,長而志愈堅,時嵩乳道密(1588~1658)行道於沃州(位於河北),師乃棄家往求剃度,得悟,遂辭道密南遊,拜謁天童山之密雲圓悟,復歸沃州,蒙道密之付囑,開法於報恩、菩提諸剎。清康熙十年冬示寂,世壽七十。〔增訂佛祖道影卷三(虛雲)〕

hoặc

4943迷而不解之意。為煩惱之別名或總稱。即指身心惱亂之狀態,或總稱妨礙一切覺悟的心之作用。成唯識論卷八載(大三一‧四三中):「生死相續,由惑、業、苦;發業潤生,煩惱名惑。」蓋眾生迷惑於事理,發有漏之業,潤當來之「有」,而為生死相續、展轉不已之因者,稱之為惑;即特指因不知佛教教理與信仰,以致迷惑於認識之對象而言。與「無明」等義相近,亦可稱為愚惑。又因煩惱與業相結合,為輪迴果報之總因,故「惑」、「業」往往併稱。 十二緣起中,無明為發業之惑,稱為等起因;愛、取二者為潤生之惑,稱為生起因。又由修行階段之差異,惑有見惑、修惑二種,其迷於苦、集、滅、道四諦之理者,稱為見惑,或稱迷理之惑;迷於一切之事理者,稱為修惑,又稱迷事之惑。十隨眠中,貪、瞋、癡、慢、疑五種為修惑;身見、邊見、邪見、見取見、戒禁取見五種則屬見惑。其中貪、瞋、慢三種唯緣各別之事而生,不能遍行三世諸事,故稱為自相惑;五見、疑、無明等七種,則緣多事而生,能遍縛三世諸事,故稱為共相惑。又勝鬘經一乘章將惑分別為見一處住地、欲愛住地、色愛住地、有愛住地、無明住地等五種;即見惑為見一處住地,修惑則分欲愛住地、色愛住地、有愛住地三種,並別立無明為無明住地,而以無明住地之力最大。無上依經卷上菩提品謂,無明住地為生緣之惑,無明住地所生諸行為生因之惑,是亦將惑分為發業、潤生二種。此外,天台宗立三惑,謂障礙空理之界內(指欲界、色界、無色界三界)煩惱稱為見思惑,障礙出假利生之界內外恆沙之習氣稱為塵沙惑,迷於中道第一義諦理之界外惑稱為無明惑;即對勝鬘經所說之五住地,以前四住地總稱為見思惑,第五住地稱為無明惑,又別立習氣為塵沙惑。一般均以「惑」與「煩惱」為同義,而「惑」有不解、闇昧之意,故亦可為無明之異名。〔大毘婆沙論卷五十五、俱舍論卷九、卷二十、卷二十一、成唯識論卷六、順正理論卷五十三、大乘義章卷五本、勝鬘寶窟卷中末、摩訶止觀卷四上〕(參閱「煩惱」5515) ; Moha (S). Illusion, delusion, doubt, unbelief; it is also used for klesa, passion, temptation, distress, care, trouble. ; 1) Tất cả: Entirely. 2) Nghi hoặc: Moha (skt)—Illusion—Delusion—Doubt—Unbelief. 3) Phiền não: Klesa (skt)—Distress—Passion—Temptation—Trouble. ; (惑) Mê lầm không hiểu. Chỉ cho trạng thái thân tâm não loạn, hoặc chỉ chung tất cả phiền não làm chướng ngại tâm giác ngộ. Luận Thành duy thức quyển 8 (Đại 31, 43 trung), nói: Sinh tử nối nhau là do hoặc, nghiệp và khổ. Phiền não phát nghiệp, nhuận sinh gọi là Hoặc . Bởi vì chúng sinh mê lầm sự lí, phát khởi nghiệp hữu lậu, tăng trưởng sức mạnh cho Hữu ở vị lai, làm nhân cho sự sinh tử tiếp nối, gọi là Hoặc. Hoặc gần giống với nghĩa Vô minh . Do phiền não kết hợp với nghiệp tướng làm nhân chung cho quả báo luân hồi nên Hoặc và Nghiệp thường đi đôi với nhau. Trong 12 chi Duyên khởi, Vô minh là Hoặc phát nghiệp, gọi là Đẳng khởi nhân; 2 chi Ái, Thủ là Hoặc nhuận sinh, gọi là Sinh khởi nhân. Do sự tu hành có những giai đoạn khác nhau nên Hoặc có 2 loại là Kiến hoặc và Tu hoặc. Nếu mê lí Tứ đế thì gọi là Kiến hoặc, cũng gọi là Mê lí hoặc; còn mê tất cả sự lí thì gọi là Tu hoặc, cũng gọi là Mê sự hoặc. Trong 10 Tùy miên thì 5 món: Tham, sân, si, mạn, nghi là Tu hoặc; còn 5 món: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến thì thuộc về Kiến hoặc. Trong đó, 3 món tham, sân, mạn của Tu hoặc chỉ duyên riêng từng việc mà sinh, không thể duyên khắp các việc trong 3 đời, nên gọi là Tự tướng hoặc. Còn 5 kiến hoặc, nghi và vô minh thì duyên nhiều việc mà sinh, có khả năng trói buộc khắp các việc trong 3 đời, cho nên gọi là Cộng tướng hoặc. Chương Nhất thừa trong kinh Thắng man chia Hoặc làm 5 loại: Kiến nhất xứ trụ địa, Dục ái trụ địa, Sắc ái trụ địa, Hữu ái trụ địa và Vô minh trụ địa. Tức Kiến hoặc là Kiến nhất xứ trụ địa, còn Tu hoặc là Dục ái trụ địa, Sắc ái trụ địa và Hữu ái trụ địa, đồng thời lập riêng Vô minh làm Vô minh trụ địa. So với các trụ địa nói trên, Vô minh trụ địa có sức mạnh nhất. Phẩm Bồ đề trong kinh Vô thượng y quyển thượng cho rằng, Vô minh trụ địa là Hoặc sinh duyên, các hành do Vô minh trụ địa sinh ra là Hoặc sinh nhân, ở đây cũng chia Hoặc làm 2 loại là Phát nghiệp và Nhuận sinh. Ngoài ra, tông Thiên thai lập 3 Hoặc: Kiến tư hoặc là phiền não giới nội (chỉ cho 3 cõi Dục, Sắc, Vô sắc) làm chướng ngại lí Không . Trần sa hoặc là hằng sa tập khí của giới nội và ngoại (ngoài 3 cõi) làm chướng ngại lí Giả , Vô minh hoặc là Hoặc giới ngoại làm mê lí Trung đạo đệ nhất nghĩa đế . Phổ thông đều cho Hoặc và Phiền não là đồng nghĩa, mà Hoặc thì có nghĩa không hiểu, mờ tối, vì thế cũng có thể được xem là tên khác của Vô minh. [X. luận Đại tì bà sa Q.55; luận Câu xá Q.9, Q.20, Q.21; luận Thành duy thức Q.6; luận Thuận chính lí Q.53; Đại thừa nghĩa chương Q.5 phần đầu; Thắng man bảo quật Q.trung phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.4 phần trên]. (xt. Phiền Não).

Hoặc Am Sư Thể

(或庵[菴]師體, Wakuan Shitai, 1108-1179): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, họ là La (羅), xuất thân Hoàng Nham (黃巖, Tỉnh Triết Giang), Đơn Kheo (丹丘). Năm 15 tuổi, ông bỏ nhà đi theo hầu Thủ Uy (守威) ở Diệu Trí Viện (妙智院). Năm 20 tuổi, ông thọ giới Sa Di, sau đó gặp Bàn Am Kế Thành (蹣庵繼成). Rồi ông theo học với Thử Am Cảnh Nguyên (此庵景元), được đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đã từng sống tại Tiêu Sơn (焦山) thuộc Phủ Trấn Giang (鎭江府, Tỉnh Giang Tô). Vào ngày mồng 1 tháng 8 năm thứ 6 (1179) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), ông nhuốm bệnh nhẹ, rồi đến ngày mồng 4 thì viên tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 52 hạ lạp.

hoặc chướng

The hindrance, or obstruction of the delusive passions to entry into truth. ; Một trong tam chướng, tham sân si làm chướng ngại che lấp chánh đạo—The hindrance or obstruction of the delusive passions to entry into truth, one of the three kinds of hindrance. ** For more information, please see Tam Chướng.

Hoặc chướng 惑障

[ja] ワクショウ wakushō ||| Obstructions due to delusion, delusional hindrances. A synonym for fannaozhang 煩惱障. A references to the hindrances to enlightenment as a result of bad emotional/moral habits (kleśa-āvaraṇa). 〔二障義HPC 1.789c〕 => Chướng ngại do mê mờ, chướng ngại do si mê. Đồng nghĩa với phiền não chướng 煩惱障. Chỉ cho sự chướng ngại đến giải thoát giác ngộ do kết quả của tình thức và tập khí xấu (s: kleśa-āvaraṇa).

hoặc có tội hoặc không có tội

Whether guilty or innocent.

hoặc giả

Maybe—Perhaps—Or else.

hoặc nghiệp khổ

4944即惑、業、苦三道。用以顯示為惑業所纏縛(迷)之因果關係。即依貪、瞋、癡等惑而造作善惡之業,復由此業為因而招三界之生死苦果,稱為惑業苦。又「道」,為能通之義,些三者由惑起業,因業感苦,於苦復起惑,展轉相通,生死不斷,故稱為三道。〔成唯識論卷八〕 ; Illusion, accordant action, and suffering; the pains arising from a life of illusion. ; Các phiền não như tham, sân, si thì gọi là hoặc; những việc làm thiện ác y vào cái hoặc nầy gọi là nghiệp; lấy nghiệp nầy làm nhân sinh tử niết bàn gọi là khổ—Illusion, accordant action, and suffering—The pains arising from a life of illusion, such as greed, hatred, ignorance. ** For more information, please see Nghiệp, Khổ, Tam Đạo, and Phiền Não Nghiệp Khổ ; (惑業苦) Do các hoặc tham, sân, si mà tạo các nghiệp thiện ác, rồi lại do các nghiệp này làm nhân mà chiêu cảm quả khổ sống chết trong 3 cõi. Do hoặc khởi nghiệp, vì nghiệp mà phải chịu khổ, khổ lại khởi hoặc, cứ thế xoay vần, sinh tử không dứt, nên gọi là 3 đạo. [X. luận Thành duy thức Q.8].

hoặc nhiễm

4943惑,指煩惱。即謂迷於貪欲、瞋恚、愚癡等煩惱而染污真性。天台智顗之維摩經略疏卷一(大三八‧五六四中):「故知雖具惑染,願力持心亦得居也。」 ; The taint of delusion, the contamination of illusion. ; Sự uế nhiễm của phiền não (tham sân si làm nhiễm bẩn chân tánh)—The taint of delusion, the contamination of illusion. ; (惑染) Các phiền não tham sân si làm nhơ nhớp chân tính. Duy ma kinh lược sớ quyển 1 của ngài Trí khải (Đại 38, 564 trung), nói: … Cho nên biết rằng tuy còn hoặc nhiễm, nhưng nhờ nguyện lực giữ tâm cũng được an trụ .

hoặc nhân

A deluded person; to delude others ; 1) Người phiền não: A deluded person. 2) Người gây phiền não hay làm người khác phiền não: To delude others.

hoặc thú

4944惑,為迷之意;趣,為理趣之意。謂迷於理。中觀論序(大三○‧一上):「使惑趣之徒,望玄指而一變。」 ; The way or direction of illusion, delusive objective, intp. as deluded in fundamental principles. ; Hướng đi đến phiền não—The way or direction of illusion, delusive objective, interpreted as deluded in fundamental principles. ; (惑趣) Hoặc nghĩa là mê, thú là lí thú. Tức là mê lí. Bài tựa luận Trung quán (Đại 30, 1 thượng), nói: Khiến cho những người mê lí (hoặc thú) thấy được yếu chỉ sâu kín mà thay đổi tức khắc .

Hoặc thú 惑趣

[ja] ワクシュ wakushu ||| To be in confusion regarding the message of the teachings. => Mê lầm về sự truyền đạt giáo lý.

Hoặc trí nhị chướng 惑智二障

[ja] ワクチニショウ wakuchi nishō ||| The afflictive and noetic hindrances. See 二障. 〔攝大乘論 T 1593.31.118a〕 => Phiền não chướng và Sở tri chướng.

hoặc trước

4944即於心貪愛,迷惑於所對之境,執著而不離之意。摩訶止觀卷七上(大四六‧九三上):「若緣女色,耽湎在懷,惑著不離,當用不淨觀為治。」 ; The bond of illusion, the delusive bondage of desire to its environment. ; Sự trói buộc của phiền não—The bond of illusion—The delusive bondage of desire to its environment. ; (惑著) Vì phiền não mê hoặc nên đối với cảnh sở duyên tâm tham ái chấp trước không rời.Ma ha chỉ quán quyển 7 phần trên (Đại 46, 93 thượng), nói: Nếu duyên theo nữ sắc, say đắm trong lòng, hoặc trước không lìa, thì nên đối trị bằng pháp quán bất tịnh .

hoặc đồng

Cùng nhau—All together.

Hoặc 惑

[ja] ワク waku ||| (1) Defilement (煩惱), affliction, delusion, confusion, agitation. The root of delusion (saṃsāra-mahārnava, kleśa). In terms of the twelve limbs of conditioned origination, the aspects of desire 愛 and grasping 取. (2) In some situations, the term is used directly corresponding to the emotional and moral hindrances, that is, the hindrances of affliction (煩惱障), and therefore, it can be understood as being synonymous with "affliction" 煩惱. It is also quite commonly used, however, as a more general term, to refer to any kind conceptual or emotional obstruction to enlightenment or nirvana, thus including the noetic hindrances 所知障 as well. Therefore the general meanings of mistake, error, shortcoming, disturbance (doṣa), delusion 迷, etc. See 〔二障義 HPC 1.802b〕 (3) That which is to be corrected through practice; afflictions (vipakṣa). => 1. Phiền não (煩惱), nỗi ưu phiền, ảo tưởng, sự nhầm lẫn, sự bối rối. Căn bản của si mê (s: saṃsāra-mahārnava, kleśa). Trong Mười hai nhân duyên, Hoặc là khía cạnh của Ái và Thủ. 2. Trong một số trường hợp, thuật ngữ nầy thường tương ứng trực tiếp với sự xúc cảm và chướng ngại đến đạo đức, đó là phiền não chướng (煩惱障), do vậy, nó có thể được hiểu là đồng nghĩa với với 'phiền não', nó thường rất được dùng, tuy nhiên, như là một thuật ngữ thông dụng hơn, đề cập đến bất kỳ ý niệm và tình thức chướng ngại cho giải thoát và niết-bàn, nên bao gồm luôn cả Sở tri chướng. Do vậy, nó có ý nghĩa chung là sai lầm, sai sót, khiếm khuyết, sự nhiễu loạn (s: doṣa), mê 迷. Xem Nhị chướng nghĩa. 3. Là điều được chuyển hoá qua tu đạo; phiền não (s: vipakṣa).

Hoặc 或

[ja] ワク waku ||| (1) Either, also, or. (2) Somebody, someone, something, some, some people. There are some who... (3) Perhaps, if, whether, or else. (4) Doubtful, uncertain. => Hoặc là, cũng, hay là. Ai đó, người nào đó, vật gì đó. Có ai đó... Có lẽ, nếu, nếu không. Bghi ngờ, không chắc chắn.

hoặc…hoặc

Whether…or.

hue

Xem Tuệ.

Hung

凶; C: xiōng; J: kyō;|Có các nghĩa sau: 1. Xấu, ác; 2. Vận xấu, vận chẳng lành; 3. Tai hoạ, tai ương, nạn lụt, nạn hạn hán.

hung hành

4290指以胸腹來前進之動物,例如蛇類。經典中敘及此類以胸腹爬行之動物,有時並不直接載錄其名稱,而以「胸行」一詞代稱之。 ; (胸行) Chỉ cho loại động vật di chuyển bằng bụng, tức loại bò sát, như loài rắn. Trong các kinh, khi đề cập đến loài động vật di chuyển bằng bụng này, có khi không trực tiếp nói đến tên của chúng mà chỉ gọi bằng từ Hung hành để thay thế.

hung tư

Letter svastika on the chest of Buddha.

hung tự

4290為佛三十二相之一,即指佛陀胸上之卍字。觀佛三昧經卷三(大一五‧六六一中):「是時世尊披僧祇支,示胸德字,令比丘讀誦德字已,知佛功德智慧莊嚴,於萬字印中說佛八萬四千諸功德行。比丘見已,讚歎佛言:『世尊甚奇特!但於胸字說無量義,何況佛心所有功德!』」 ; (胸字) Chữ...(Vạn) ở trên ngực của đức Phật. Một trong 32 tướng tốt. Kinh Quán Phật tam muội quyển 3 (Đại 15, 661 trung), nói: Khi ấy đức Thế tôn mặc áo Tăng kì chi, để lộ chữ Vạn ở ngực, khiến các tỉ khưu nhìn thấy chữ này thì biết được công đức trí tuệ trang nghiêm của Phật; từ trong ấn chữ Vạn mà nói về 84.000 hạnh công đức của Phật. Các vị tỉ khưu thấy rồi, bèn tán thán đức Phật rằng: Thế tôn rất kì đặc! Chỉ ở nơi chữ Vạn mà nói vô lượng nghĩa, huống gì là công đức của Phật tâm .

Hung tự 胸字

[ja] キョウジ kyōji ||| The swastika 卍 on the Buddha's chest. One of the 32 auspicious marks 三十二相 of the Buddha. => Chữ Vạn (swastika 卍 ) trên ngực Đức Phật. Là một trong 32 tướng tốt (Tam thập nhị tướng) 三十二相 của Đức Phật •(Chữ Vạn nầy in ngược, vì nó xoay về bên trái. Đúng ra, phải xoay về bên phải mới đúng nghĩa Cát tường).

Hung 凶

[ja] キョウ kyō ||| (1) Bad, evil. (2) Bad luck, bad fortune. (3) Calamity, disaster, flood, drought. => Có các nghĩa sau: 1. Xấu, ác. 2. Vận xấu, vận chẳng lành. 3. Tai họa, tai ương, nạn lụt, nạn hạn hán. Hung 胸 [ja] キョウ kyō ||| Chest, breast. Heart, mind. => Ngực; lòng, tâm trạng. Lồng ngực, tâm ý.

huy tông bài phật

6428請參閱 那先比丘經指北宋徽宗皇帝尊崇道教,而排斥佛教之事蹟。徽宗寵信道士徐知常、徐守信、劉混康等,自稱教主道君皇帝,建造玉清昭陽宮,供奉老子像。並廢佛寺,立千道會,每會費帑數萬。又於政和六年(1116)下詔於道籍院焚棄佛經,宣和元年(1119)下令改佛為大覺金仙,菩薩為仙人大士,僧為德士,尼為女德士,易佛教之貌。時有左街香積院之僧永道,上書諫止,不為所容,反被貶遣道州。直至宣和二年,方始漸復僧尼之服及僧尼之稱。宣和七年,赦永道之罪,嘉許其為法之志,賜號「圓通法濟大師」。〔佛祖統紀卷四十六、卷五十四、佛祖歷代通載卷十九〕 ; (徽宗排佛) Vua Huy tông đời Bắc Tống bài xích Phật giáo. Vua Huy tông vốn sùng tín Đạo giáo nên đã tin dùng các Đạo sĩ: Từ tri thường, Từ thủ tín, Lưu hỗn khang, v.v… và tự xưng là Giáo chủ Đạo quân Hoàng đế, xây cất cung Ngọc thanh chiêu dương thờ Lão tử, phá bỏ chùa Phật, lập một nghìn pháp hội Đạo giáo, làm hao tổn tiền của triều đình. Năm Chính hòa thứ 6 (1116), vua hạ lệnh đốt bỏ kinh Phật ở viện Đạo tịch. Niên hiệu Tuyên hòa năm đầu (1119), vua xuống lệnh đổi danh hiệu Phật thành Đại giác kim tiên, gọi Bồ tát là Tiên nhân đại sĩ, tăng là Đức sĩ, ni là Nữ đức sĩ, làm thay đổi diện mạo của Phật giáo. Bấy giờ có ngài Vĩnh đạo ở viện Hương tích, đang giữ chức Tả nhai, dâng biểu can ngăn, vua chẳng những không nghe, mà còn đày ngài ra Đạo châu. Đến năm Tuyên hòa thứ 2 (1120), pháp phục và danh xưng của tăng ni Phật giáo mới dần dần được khôi phục. Và mãi đến năm Tuyên hòa thứ 7 (1125), ngài Vĩnh đạo mới được ân xá và được thừa nhận việc làm của ngài là vì đạo pháp, cho nên vua mới ban hiệu cho ngài là Viên Thông Pháp Tế Đại Sư . [X. Phật tổ thống kỉ Q.46, Q.54; Phật tổ lịch đại thông tải Q.19].

huynh đệ

1549禪林用語。自少壯即居於叢林而諳熟清規者,稱山中之兄弟。又禪剎同門之人,亦稱兄弟。即雲兄水弟之意,廣指大眾。敕修百丈清規卷二嗣法師忌條(大四八‧一一一九上):「諷經罷,備湯果,(中略)如有法眷尊長、同門兄弟,皆當請之。」〔禪林象器箋卷五稱呼門〕 ; (兄弟) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho đại chúng, là những người cùng tu hành trong Thiền viện. Điều Tự pháp sư kị trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1119 thượng), nói: Tụng kinh xong chuẩn bị nước nóng, trái cây, (...) rồi mời tôn trưởng, pháp quyến, huynh đệ đồng môn cùng thụ dụng . [X. môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Huyên Đường

(萱堂): nhà của mẹ, từ đó nó có nghĩa là người mẹ. Nơi căn nhà phía Bắc người mẹ thường sinh hoạt có trồng loại cỏ huyên dùng để cho người mẹ khi nhìn thấy nó thì quên đi mọi ưu sầu, từ đó ngôi nhà ấy được gọi là Huyên Đường. Từ này đối với Thung Đường (椿堂, nhà người cha ở).

Huyền Sa Sư Bị

(玄沙師僃, Gensha Shibi, 835-908): người Huyện Mân (閩縣, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), họ là Tạ (謝). Hồi còn nhỏ ông rất thích câu cá, nhưng có một ngày nọ vào năm đầu niên hiệu Hàm Thông (咸通), ông bỗng nhiên phát tâm, đến tham kiến Linh Huấn (靈訓) ở Phù Dung Sơn (芙蓉山), Phúc Châu (福州) và xin xuất gia. Vào mùa xuân năm thứ 5 (864) cùng niên hiệu trên, ông thọ cụ túc giới với Luật Sư Đạo Huyền (道玄) của Khai Nguyên Tự (開元寺) thuộc Dự Chương Sơn (豫章山, thuộc Tỉnh Giang Tây). Vào mùa thu năm nầy, ông trở về quê cũ, chuyên tâm tu hành; và vào năm thứ 7 cùng niên hiệu trên, ông đến tham yết Nghĩa Tồn (義存) ở Tuyết Phong Sơn (雪峰山) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Với phong cách hành trì giới luật nghiêm khắc của mình, ông được tôn xưng là Bị Đầu Đà, thêm vào đó vì ông là con trai thứ ba của nhà họ Tạ, nên còn được gọi là Tạ Tam Lang. Ông dựng thảo am trên Phổ Ứng Sơn (普應山), rồi lại đến trú tại Huyền Sa Viện (玄沙院) của vị quan Huyện họ Hầu (候). Vào năm đầu (898) niên hiệu Quang Hóa (光化), ông đến trú ở An Quốc Viện (安國院). Vua Chiêu Tông (昭宗) ban cho ông hiệu là Tông Nhất Đại Sư (宗一大師). Ông thị tịch vào ngày 27 tháng 11 năm 2 (908) niên hiệu Khai Bình (開平), hưởng thọ 74 tuổi đời và 45 hạ lạp. Bộ Phúc Châu Huyền Sa Tông Nhất Đại Sư Quảng Lục (福州玄沙宗一大師廣錄, 3 quyển), Phúc Châu Huyền Sa Tông Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (福州玄沙宗一禪師語錄, 3 quyển) được biên soạn thành. Môn hạ của ông có La Hán Quế Sâm (羅漢桂琛), Quốc Thanh Sư Tĩnh (國清師靜), v.v.

Huyền Sách

(玄策, Gensaku, ?-?): xuất thân vùng Kim Hoa (金華), Vụ Châu (㜈州), sống ở Đông Dương (東陽, thuộc Phủ Kim Hoa, Tỉnh Triết Giang). Ông đã từng theo học với Lục Tổ Huệ Năng 30 năm, sau kế thừa dòng pháp của thầy và giáo hóa đồ chúng. Trong Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện (曹溪大師別傳), ông có tên là Đại Vinh (大榮), trong Tổ Đường Tập (祖堂集) là Trí Sách (智策), rồi trong Vĩnh Gia Huyền Giác Chương (永嘉玄覺章) của tập trên ông lại có tên là Thần Sách (神策), ngoài ra trong Tông Cảnh Lục (宗鏡錄) ông được gọi là Trí Vinh (智榮). Ông thị tịch trong khoảng niên hiệu Thượng Nguyên (上元, 760-762) nhà Đường, thọ 95 tuổi.

huyết bồn kinh

2550全一卷。全稱大藏正教血盆經。收於卍續藏第八十七冊。本經敘述目連尊者至羽州追陽縣時,見許多女子在血盆池地獄中受苦。目連問獄卒原委,獄卒即道彼等受苦係由於女子月經、生產時所流污血污穢了地神;加之用水洗其不潔之衣,人們不知情,復用此水供養諸聖。女子有上述罪業,故死後墮血盆池地獄受苦。目連復問如何為彼等解脫此苦,獄卒答以孝順、敬重三寶,及持血盆齋三年,後再行血盆法會,請僧誦血盆經,血盆池地獄中之罪人即可超生佛地。 本經未見記載於諸經錄中,而被疑為偽經。然因具有上述之功德,故日本禪宗亦持誦之,尤以曹洞宗,於授戒會時,常將本經授予婦人。 ; (血盆經) Gọi đủ: Đại tạng chính giáo huyết bồn kinh. Kinh, 1 quyển, được thu vào Vạn tục tạng tập 87. Nội dung kinh này tường thuật việc tôn giả Mục liên đến huyện Truy dương thuộc Vũ châu, thấy những người đàn bà chịu khổ trong địa ngục Huyết bồn trì. Tôn giả Mục liên bèn hỏi ngục tốt về nguyên nhân do đâu mà họ chịu khổ, ngục tốt cho biết, vào những ngày có kinh nguyệt hoặc khi sinh nở, những người đàn bà thường mang đồ máu me dơ bẩn đến giặt ở các ao hồ, sông ngòi, những người khác không biết, thường lấy nước từ các nơi ấy về cúng dường thần thánh, do đó mà họ phải chịu khổ báo. Ngài Mục liên lại hỏi làm cách nào để họ thoát được tội khổ ấy, thì ngục tốt cho biết phải hiếu thuận cha mẹ, cung kính Tam bảo, tụng kinh Huyết bồn, trì trai thanh tịnh, v.v... thì sẽ được siêu thoát…. Kinh này không thấy được ghi trong các bộ Kinh lục, cho nên bị ngờ là kinh giả, nhưng vì có nói nhiều về công đức lợi ích chúng sinh, nên Thiền tông Nhật bản cũng trì tụng; nhất là tông Tào động mỗi khi có pháp hội truyền giới thì thường tặng kinh này cho phụ nữ.

huyết mạch

2551指師徒之法門相承,而以人體之血脈相連比喻之,表示不絕之意。故法門相承,又稱血脈相承。師資相傳系譜之圖表,稱血脈譜。於我國,唐代貞元年間(785~804)即已流傳血脈譜之作法。於日本,為禪宗、密教所特重。血脈譜之中,將記錄宗派大事之系譜,稱為宗脈或法脈,而傳戒之系譜則稱戒脈。一般僧侶於交傳印信之時,亦附加記載詳細之血脈譜。即使對在家身分之結緣信徒,有時亦贈予簡單之血脈譜。在日本,得血脈譜之結緣者,常有死後將血脈譜置入棺內之風俗。 ; (血脉) Mạch máu. Trong Phật giáo, từ ngữ này được dùng để chỉ cho sự truyền thừa giáo pháp. Huyết mạch biểu thị ý nghĩa lưu thông liên tục không ngừng, vì thế pháp môn được truyền nối giữa thầy và trò gọi là Huyết mạch tương thừa . Đồ biểu về hệ thống truyền thừa giữa thầy và trò gọi là Huyết mạch phổ . Ở Trung quốc, khoảng năm Trinh nguyên (785-804) đời Đường đã có lưu truyền cách làm Huyết mạch phổ. Tại Nhật bản, Huyết mạch phổ đặc biệt được Thiền tông và Mật giáo coi trọng. Trong Huyết mạch phổ, hệ phổ ghi chép các việc lớn của tông phái, được gọi là Tông mạch hoặc Pháp mạch, còn hệ phổ ghi chép việc truyền giới thì gọi là Giới mạch. Nói chung, khi chư tăng trao truyền ấn tín cũng được ghi chép tường tận trong Huyết mạch phổ. Ngoài ra tín đồ tại gia kết duyên Phật pháp, đôi khi cũng được truyền Huyết mạch phổ, nhưng đơn giản hơn.

huyết thư

2550又作血寫。謂以血書寫經文。如梵網經卷下所載(大二四‧一○○九上):「剝皮為紙,刺血為墨,以髓為水,析骨為筆,書寫佛戒。」又如大智度論卷十六所載(大二五‧一七八下):「若實愛法,當以汝皮為紙,以身骨為筆,以血書之。」後世以血書寫經文之風,蓋基於此。〔集一切功德三昧經卷中、大智度論卷二十八、普照國師年譜卷下〕 ; (血書) Cũng gọi Huyết tả. Dùng máu để viết chép kinh văn. Kinh Phạm võng quyển hạ (đại 24, 1009 thượng), nói: Lột da làm giấy, chích máu làm mực, lấy tủy làm nước, chẻ xương làm bút để biên chép giới của Phật . [X. kinh Tập nhất thiết công đức tam muội Q.trung; luận Đại trí độ Q.28; Phổ chiếu quốc sư niên phổ Q.hạ].

Huyết đồ

xem Ba đường ác.

Huyền

(玄): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Trong Dịch Kinh (易經), chương Khôn (坤), có câu: “Thiên huyền nhi địa hoàng (天玄而地黃, trời đen mà đất vàng).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Thiên sắc huyền, địa sắc hoàng (天色玄、地色黃, trời màu đen huyền, đất màu vàng).” Về sau, từ huyền được dùng để chỉ cho trời. (2) Chỉ cho phương Bắc, thuộc về hướng Bắc. (3) Thâm áo, huyền diệu. Như trong Lão Tử (老子) có câu: “Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn (玄之又玄、眾妙之門, thâm áo lại càng thâm áo, cửa của các mầu nhiệm).” Lão Tử còn cho “huyền chi hựu huyền” là đạo (道); nhân đó sau này tư tưởng này trở thành học thuyết của Đạo gia. Hay trong tác phẩm Ngũ Quân Vịnh (五君詠), phần Hướng Thường Thị (向常侍), của Nhan Duyên Chi (顏延之, 384-456) nhà Tống thời Nam Triều, lại có đoạn: “Thám đạo háo uyên huyền, quán thư bỉ chương cú (探道好淵玄、觀書鄙章句, tìm đạo thích thâm áo, xem sách ghét câu chữ).” (4) Chỉ đạo lý thâm áo, huyền diệu. (5) Các triết học gia cổ đại Trung Quốc dùng từ này để chỉ cho bản thể của vũ trụ. Như trong tác phẩm Thái Huyền (太玄), phần Ly (攡), của Dương Hùng (揚雄, 53-18 ttl.) nhà Hán, có đoạn: “Huyền giả, u ly vạn loại nhi bất kiến hình giả dã (玄者、幽攡萬類而不見形者也, huyền [bản thể vũ trụ] nghĩa là trùm khắp muôn loài mà không thấy hình vậy).”

huyền

Dark, sombre, black; abstruse, obscure, deep, profound.

huyền bí tháp bi

2028唐代碑名。塔為唐會昌元年(841)大達法師所建,由裴休撰文,柳公權書。碑高四點八公尺,碑文二十八行,每行五十四字。碑原在長樂南原,後移西安府學。現存陝西省西安碑林,因年代久遠,碑文已多損壞。〔金石史〕 ; (玄秘塔碑) Bia tháp huyền bí. Tên một tấm bia ở đời Đường. Tháp do pháp sư Đại đạt dựng vào niên hiệu Hội xương năm đầu (841) đời Đường, văn bia do ông Bùi hưu soạn, chữ do ông Liễu công quyền viết. Bia cao 4,8m, văn bia gồm 28 dòng, mỗi dòng 54 chữ. Bia này trước để ở Nam nguyên, huyện Trường lạc, sau được dời về Phủ học, huyện Tây an. Hiện nay thì để ở Tây an bi lâm, tỉnh Thiểm tây, vì quá lâu đời nên văn bia phần nhiều đã hư hoại. [X. Kinh thạch sử].

huyền cao

2029(402~444)北魏僧。馮翊萬年人,俗姓魏,名靈育。年十二(413)入中常山,堅求出家,改名玄高。專究禪律,為山僧說法,四座驚異。後師事佛馱跋陀,受禪觀祕法。旬日之中,妙通禪法,跋陀稱讚之。後隱麥積山潛修。其後河南王聞其高名,遣使迎接,崇為國師。後師遊涼土,沮渠蒙遜禮迎供養。北魏太武帝夷平涼土,師乃至平城,太子晃師事之,為一方人望之所繫。既太武帝毀佛法,忌師名盛,於太平真君五年九月縊殺之。世壽四十三。葬之於平城郊野山中。〔古今佛道論衡甲、梁高僧傳卷十一、佛祖統紀卷三十八〕 ; (玄高) (402-444) Vị tăng đời Bắc Ngụy, người Vạn niên, huyện Phùng dực, họ Ngụy, tên Linh dục. Năm 12 tuổi, sư xuất gia ở núi Trung thường, lấy pháp danh là Huyền cao. Sư chuyên nghiên cứu Thiền và Luật, mỗi khi sư thuyết pháp, tứ chúng đều kính phục. Về sau, sư thờ ngài Phật đà bạt đà làm thầy và được truyền trao bí pháp Thiền quán. Chỉ trong một tuần, sư đã thông suốt Thiền pháp, ngài Phật đà bạt đà rất khen ngợi sư. Từ đó, sư ẩn tu ở núi Mạch tích. Hà nam vương nghe danh đức của sư, sai sứ đến đón về, tôn làm Quốc sư. Sau, sư đến đất Lương, được Hà tây vương là Thư cừ Mông tốn nghinh tiếp cúng dường. Khi Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy diệt nước Lương, sư bèn đến Bình thành, lại được thái tử Hoảng tôn làm thầy và mọi người đều kính ngưỡng. Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy đã có ý hủy diệt Phật pháp nhưng còn e ngại danh tiếng của sư, nên vào tháng 9 năm Thái bình chân quân thứ 5 (444), bức ép sư tự vẫn, lúc ấy sư mới 43 tuổi. Nhục thân của sư được an táng trên ngọn đồi ở ngoại ô huyện Bình thành. [X. Cổ kim Phật đạo luận hành giáp; Lương cao tăng truyện Q.11; Phật tổ thống kỉ Q.38].

huyền chỉ

2020指玄妙幽微之旨趣,亦即宗旨之根本義。大乘法苑義林章卷一(大四五‧二五|下):「語設將融,玄旨猶隔。」信心銘(大四八‧三七六中):「不識玄旨,徒勞念靜。」又指涅槃之本旨。肇論(大四五‧一五八下):「涅槃之道果出有無之域,(中略)無乃乖乎神極,傷於玄旨者也。」〔臨濟錄示眾〕 ; (玄旨) Ý chỉ nhiệm mầu sâu kín, cũng tức là nghĩa căn bản tông chỉ. Tín tâm minh (Đại 48, 378 trung), nói: Nếu không thấy suốt được huyền chỉ, thì tư duy tịch tĩnh cũng uổng công . Ngoài ra, Huyền chỉ còn chỉ cho bản chỉ của Niết bàn. Triệu luận (Đại 45, 158 hạ), nói: Đạo quả Niết bàn vượt ra ngoài cảnh giới hữu, vô (...), nếu như vô thì trái với thần cực, tổn hại đến huyền chỉ . [X. Thị chúng trong lâm tế lục].

huyền chỉ quy mệnh đàn

2020日本佛教用語。即以摩多羅神為本尊所修之口傳灌頂。中世紀時,日本天台宗所行口傳祖師心要玄旨之祕法,後與學徒歸命之口傳並稱玄旨歸命;該思想與形式甚為雜亂,既行灌頂儀式,亦糝雜類似禪宗公案之法語。其後,由於受真言宗立川流廣泛弘布之影響,淫祠之傾向強烈,演變成一種愛欲貪財之邪教,直至江戶時代中期始被禁止,其典籍亦被焚毀。 ; (玄旨歸命壇) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp Quán đỉnh truyền khẩu lấy thần Ma đa la làm Bản tôn. Đây là bí pháp huyền chỉ tâm yếu của Tổ sư do tông Thiên thai Nhật bản thực hành vào thời Trung cổ. Về sau, người học qui y lãnh thụ huyền chỉ ấy qua sự truyền khẩu, gọi là Huyền chỉ qui mệnh . Tư tưởng và hình thức của pháp này rất phức tạp, vừa thực hành nghi thức quán đỉnh, vừa xen lẫn các pháp ngữ giống như công án Thiền tông. Về sau, do chịu ảnh hưởng của phái Lập xuyên thuộc tông Chân ngôn, pháp này dần dần đã có khuynh hướng dâm từ, rồi diễn biến thành một loại tà giáo. Đến giữa thời đại Giang hộ, pháp này bị cấm chỉ, sách vở bị đốt hết.

Huyền cơ

(玄機): có hai nghĩa khác nhau. (1) Ý trời, thiên cơ. Như trong Trần Thư (陳書), chương Cao Tổ Kỷ Hạ (高祖紀下), có câu: “Cao Tổ nãi đạo huyền cơ nhi phủ mạt vận (高祖乃蹈玄機而撫末運, vua Cao Tổ bèn theo ý trời mà an ủi mạt vận).” Hay trong hồi thứ nhất của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) cũng có câu: “Thử nãi huyền cơ, bất khả dự tiết (此乃玄機、不可預泄, thiên cơ thế này, không thể tiết lộ).” (2) Nghĩa lý vi diệu, thâm áo. Như trong bài thứ 3 của Đạo Gia Tứ Thủ Phụng Sắc Soạn (道家四首奉敕撰) do Trương Thuyết (張說, 667-730) nhà Đường sáng tác có câu: “Kim lô thừa đạo quyết, ngọc điệp khải huyền cơ (金爐承道訣、玉牒啟玄機, lò vàng vâng bí quyết, điệp ngọc mở lý mầu).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 18, phần Đối Cơ Môn (對機門), Hàng Châu Phật Nhật Sơn Trí Tài Thiền Sư Pháp Từ (杭州佛日山智才禪師法嗣), lại có đoạn: “Bất tu biện vọng cầu chơn, bất dụng tị huyên thủ tĩnh, nhân nhân cảo nhật đương không, xứ xứ huyền cơ độc hồi (不須辨妄求眞、不用避喧取靜、人人杲日當空、處處玄機獨迴, chẳng nên bỏ vọng tìm chân, không cần lánh ồn lấy tĩnh, người người trời sáng trên không, chốn chốn huyền cơ hiện rõ).” Hoặc trong bài tựa của Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chú Giải (銷釋金剛經科儀會要註解, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 1, cũng có câu: “Toát huyền cơ ư chưởng ác, phát diệu nghĩa ư ngôn tiền (撮玄機於掌握、發妙義於言前, nắm huyền cơ nơi bàn tay, phát diệu nghĩa nơi lời nói).”

huyền cơ

Mysterious mechanism; great mystery; occult cause; mysticism.

huyền cước toạ

6769為密教降伏鬼神之法。即以左右二手急作拳,按左右二腿上,又急以上脣齧下脣,怒目而視,是為阿吒婆拘降伏大魔鬼神印。〔阿吒薄俱元帥修行儀軌卷下〕 ; (懸脚坐) Pháp hàng phục quỉ thần của Mật giáo. Khi tu pháp này, 2 bàn tay nắm chặt lại đặt lên 2 bắp đùi, rồi mắm môi, trừng mắt, vẻ mặt giận dữ, đó là ấn A tra bà câu hàng phục đại ma quỉ thần. [X. A tra bạc câu nguyên soái tu hành nghi quĩ Q.hạ].

huyền cảnh

2030(?~606)隋代僧。滄州(河北)人,俗姓石。年二十七出家。以禪道融通內外,巧於講導,從眾甚廣。續高僧傳卷十七玄景傳(大五○‧五六九下):「每震法鼓,動即千人屯赴。供施為儔罕匹,所以景之房內,黃紫緇衣上下之服各百餘副,一時一換,為生物善。」名義集卷七曰(大五四‧一一七○中):「衡嶽終身一衲,玄景每曙更衣,俱高僧也。」後於大業二年入寂,世壽不詳。

huyền cổ

6769又作懸皷。打擊樂器之一。即懸離地面而敲擊之鼓。於佛教行持中,以之修日想觀,即觀日之將沒,狀如懸鼓。觀無量壽經(大一二‧三四一下):「一切眾生,自非生盲,有目之徒,皆見日沒。當起想念,正坐西向,諦觀於日欲沒之處。令心堅住,專想不移,見日欲沒,狀如懸鼓。既見日已,閉目開目,皆令明了,是為日想。」〔敕修百丈清規卷八法器章、類聚名物考卷三一七、禪林象器箋唄器門〕 ; (懸鼓) Một loại trống treo được dùng như một thứ nhạc khí trong các pháp hội, hoặc dùng để tu pháp quán tưởng mặt trời (Nhật quán). Kinh Quán vô lượng thọ (đại 12, 341 hạ), nói: Tất cả chúng sinh, chỉ trừ người mù, còn ai cũng thấy mặt trời lặn. Cho nên, khi quán tưởng mặt trời, nên ngồi ngay thẳng xoay mặt về hướng tây, chuyên chú quán tưởng mặt trời sắp lặn có hình dáng giống như quả trống treo. Thấy như vậy rồi thì lúc nhắm mắt, mở mắt đều thấy được rõ ràng, ấy là Nhật tưởng . [X. chương Pháp khí trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Loại tụ danh vật khảo Q.317; môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên).

huyền diệu

Marvellous, miraculous.

Huyền Diệu Năng Hóa

(玄妙能化, 1314-1392): tức Nhật Thập (日什, Nichijū), xem phần Nhật Thập bên dưới.

Huyền Duệ

(玄叡, Genei, ?-840): vị học tăng của Tam Luận Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời kỳ Bình An, húy Huyền Duệ (玄叡). Ông theo An Trừng (安澄, Anchō) ở Đại An Tự (大安寺, Daian-ji) học về Tam Luận, trú tại Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) và nỗ lực giảng diễn. Vào năm 827, ông thuyết giảng về tông nghĩa trên pháp tòa tượng Dược Sư Như Lai trong cung nội. Đến năm 830, ông viết bộ Đại Thừa Tam Luận Đại Nghĩa Sao (大乘三論大義鈔, 3 quyển) với chủ ý muốn vãn hồi Tam Luận Tông trên lập trường thủ thế về mặt giáo lý.

huyền dục

2024(787~868)新羅僧。朝鮮佛教禪門九山鳳林山派之祖。又稱玄育。俗姓金。憲德王十六年(824)來唐,師事馬祖道一之門人章敬懷暉,並嗣其法。僖康王二年(837)歸國,棲止於南岳實相山,受新羅閔哀、神武、文聖、憲安等四王之歸敬。晚年於慧目山開創高達寺。景文王八年示寂,世壽八十二,法臘六十。其門人審希於慶尚南道開創鳳林寺,久之蔚成鳳林山派。〔祖堂集卷十七、朝鮮金石總覽上〕

Huyền Giác

玄覺|Vĩnh Gia Huyền Giác.

huyền giác

2035(665~713)唐代僧。溫州永嘉(位於浙江)人,俗姓戴。字明道。號永嘉玄覺。八歲出家,博探三藏,尤通天台止觀。後於溫州龍興寺側巖下自構禪庵,獨居研學,常修禪觀。偶因左溪玄朗之激勵,遂起遊方之志,與東陽玄策共遊方尋道。至韻陽時,謁曹溪慧能,與慧能相問答而得其印可,慧能留之一宿,翌日即歸龍興寺,時人稱之「一宿覺」。其後,學者輻湊,號真覺大師。玄朗贈書招之山棲,師覆書辭退。先天二年十月十七日(一說開元二年,或先天元年)趺坐入寂,世壽四十九。敕諡「無相」。著有證道歌一首、禪宗悟修圓旨一卷、永嘉集十卷(慶州刺史魏靖輯)。弟子惠操、惠特、等慈、玄寂等,皆為世所推重。〔宋高僧傳卷八、佛祖統紀卷十、景德傳燈錄卷五、五燈會元卷二〕 ; Hsuan chiao (C). ; Hsuan-Chio (C). A Wenchow monk, also named Minh Đạo, he is said to have attained to enlightenment in one night nhất túc giác, author of Chứng đạo ca Song of Enlightenment. ; (玄覺) (665-713) Cũng gọi Chân giác đại sư. Vị Thiền tăng sống vào đời Đường, người huyện Vĩnh gia, Ôn châu (Chiết giang), họ Đới, tự Minh đạo, hiệu Vĩnh gia Huyền giác. Sư xuất gia năm 8 tuổi, học suốt 3 tạng, đặc biệt thông hiểu pháp chỉ quán của tông Thiên thai. Về sau, sư cất Thiền am dưới dốc núi cạnh chùa Long hưng ở Ôn châu tu tập Thiền quán. Tình cờ được sự khích lệ của ngài Huyền lãng ở Tả khê, sư nảy chí du phương, rồi cùng với sư Huyền sách ở Đông dương lên đường cầu đạo. Khi đến Vận dương, sư ra mắt ngài Tào khê Tuệ năng. Sau cuộc tham vấn, sư được tổ Tuệ năng ấn khả. Tổ giữ sư ở lại một đêm, sáng hôm sau sư liền trở về chùa Long hưng, người đương thời gọi là Nhất túc giác (Giác ngộ trong một đêm). Ngày 17 thàng 10 năm Tiên thiên thứ 2 (có thuyết nói năm Khai nguyên thứ 2-714- hoặc niên hiệu Tiên thiên năm đầu-712), sư ngồi kiết già thị tịch, hưởng dương 49 tuổi, thụy hiệu Vô tướng. Đệ tử có các vị: Huệ tháo, Huệ đặc, Đẳng từ, Huyền tịch. Tác phẩm gồm có: Chứng đạo ca, Thiền tông ngộ tu viên chỉ 1 quyển, Vĩnh gia tập 10 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.8; Phật tổ thống kỉ Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; Ngũ đăng hội nguyên Q.2].

huyền giác trưng

Genkaku Cho (J), Hsuan chiao Cheng (C), Genkaku Cho (J) Tên một vị sư.

huyền giác vĩnh gia

Genkaku Yoka (J), Hsuan chiao Yung chia (C), Genkaku Yoka (J) Tên một vị sư.

huyền giám

2036<一>印度人。為護持護法菩薩之居士。護法乃六世紀中葉之南印度人,為印度後期大乘佛教史上之重要論師,被尊為唯識十大論師之一,有關唯識之著作極多,尤以解釋世親之三十頌一書思想獨特。然護法早逝,僅三十二歲即示寂。於護法生前,玄鑑常供養給侍,每罄所資,精誠盡意,為時人所稱道。護法寂後,玄鑑乃竭誠護持其所著唯識之釋論。至玄奘西遊印度,得以從之求獲唯識之論書,並攜行回國,傳之久遠。唯識之法脈亦因而於我國光大流行,則玄鑑護持之功亦厥偉難計。〔成唯識論樞要卷上本〕 <二>元代臨濟宗僧。生卒年不詳。雲南曲靖人。依虎丘雲巖淨公出家。初習教觀,後感於非究竟生死之道,遂徧參諸方。後參高峰原妙禪師,妙授以首座;及妙示寂,再學於中峰明本,得契心印,復為第一座。未幾,返歸雲南,深為梁王所器重,乃開法大華山,大弘禪風,弟子數百人,得師心印者五人。師終於大華山,示寂時,壽僅三十七,梁王親至葬所弔祭;中峰明本聞師訃,亦親製弔文,痛惜之情溢於言表。〔五燈全書卷五十八、增訂佛祖道影卷二(虛雲)〕 ; (玄鑒) I. Huyền Giám (?-?). Cư sĩ Phật giáo Ấn độ, sống vào giữa thế kỉ VI. Ông là một cư sĩ hết lòng cúng dường bồ tát Hộ pháp, một trong 10 vị Đại luận sư Duy thức. Sau khi ngài Hộ pháp thị tịch, ông lại là người có công lớn trong việc gìn giữ các bộ luận giải thích về Duy thức do ngài soạn. Khi ngài Huyền trang đến Ấn độ, thì được ông trao lại những bộ luận về Duy thức của ngài Hộ pháp, nhờ đó mà Duy thức học được phát triển rực rỡ trên đất nước Trung quốc. [X. Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng phần đầu]. II. Huyền Giám (?-?). Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đời Nguyên, người huyện Khúc tĩnh, tỉnh Vân nam. Sư y vào ngài Vân nham Tĩnh công ở Hổ khâu xuất gia. Mới đầu tu tập giáo quán. Sau, sư theo thiền sư Cao phong Nguyên diệu học Thiền, được cử giữ chức Thủ tọa. Sau khi ngài Cao phong thị tịch, sư theo học ngài Trung phong Minh bản, khế ngộ tâm ấn, được giữ chức Đệ nhất tòa. Không bao lâu, sư trở về Vân nam, khai trường giảng pháp, xiển dương Thiền phong, có hàng trăm đệ tử theo học, trong đó, có 5 người được sư ấn khả. Sư tịch ở núi Đại hoa, hưởng dương 37 tuổi, ngài Trung phong Minh bản làm điếu văn tỏ lòng thương tiếc. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.58; Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].

huyền huệ

2030(1302~1350)日本天台宗僧。號健叟、洗心子,通稱北畠法印。虎關師鍊之弟。學於比叡山,詳於宋學之新註,曾為後醍醐天皇講學。嘗於清涼殿與禪僧通翁鏡圓、宗峰妙超論辯禪宗宗論而失敗,後皈依妙超。備受朝廷與幕府之信任,而參與幕府建武式目之制定。著有庭訓往來、喫茶往來、遊學往來等。後於正平五年示寂,世壽四十九。 ; (玄惠) (1302-1350) Vị tăng Nhật bản thuộc tông Thiên thai, hiệu là Kiện tẩu, Tẩy tâm tử, thường gọi là Bắc điền Pháp ấn. Sư là em của ngài Hổ quan Sư luyện, theo học ở núi Tỉ duệ; sư rất am tường những chú giải của Nho học đời Tống, từng giảng dạy cho Thiên hoàng Hậu đề hồ. Có lần sư biện luận về tông chỉ của Thiền tông với các vị Thiền sư Thông ông Kính viên và Tông phong Diệu siêu ở điện Thanh lương nhưng không thắng được, nên sau sư qui y ngài Diệu siêu. Sư được triều đình và Mạc phủ tín nhiệm nên được tham dự việc chế định các điều mục Kiến vũ của Mạc phủ. Năm Chính bình thứ 5 (1350) sư tịch, thọ 49 tuổi. Tác phẩm của sư gồm có: Đình huấn vãng lai, Khiết trà vãng lai, Du học vãng lai.

huyền hương

6769又作掛香。即懸掛於僧房一隅以除臭氣之香囊。四分律卷五十二(大二二‧九五八中):「諸比丘患屋內臭。佛言:『應灑掃;若故臭,以香泥泥;若復臭,應屋四角懸香。』」此為一時之權宜,並非必依之法。宋大禪僧多用香囊,當時有詩:「去日正宜供夜直,歸來渾未識春愁;禪人尚有香囊愧,道士猶懷炭婦羞。」最初懸香乃出於佛制,係為僧眾驅除室內臭氣之用,後因民間廣為流行,或繫於項間,或抱於懷中,遂漸流於裝飾之具。〔雍州府志卷六〕 ; (懸香) Cũng gọi Quải hương (hương treo). Túi hương được treo ở một góc của Tăng phòng để trừ mùi hôi. Luật Tứ phần quyển 52 (Đại 22, 958 trung), nói: Trong phòng các tỉ khưu có mùi hôi, nên đức Phật dạy: Phải chăm quét dọn, nếu có mùi hôi thì rắc bột thơm, hoặc treo hương ở 4 góc nhà . Đây chỉ là một cách tạm thời, chứ không phải pháp nhất định. [X. Ung châu phủ chí Q.6].

huyền học

2033為佛學之通稱。意即玄妙之學問、深奧之教學。然在中國哲學史上,則指老莊之學。今稱形而上學為玄學。 ; Hsuan-hsuen (C), Secret mystical teaching Tân đạo giáo, xuất hiện hồi thế kỷ 3 -4. ; Occultism. ; (玄學) Môn học sâu xa huyền diệu, chỉ chung cho giáo nghĩa của Phật giáo. Nhưng trong lịch sử Triết học Trung quốc, thì từ này chỉ cho học thuyết Lão Trang. Ngày nay, Huyền học được gọi là Hình nhi thượng học, tức là Siêu hình học.

huyền hội

2031(582~640)唐代僧。京兆樊川(陝西長安)人,俗姓席。字懷默。十二歲投海覺寺出家,為總法師之弟子。每列其講席,學涅槃經。其後,義解通釋,悉依涅槃。創建慈悲寺,專提拔後學。貞觀八年(634),奉敕遷弘福寺,輒廢講事,專修淨業。一日,感靈夢,遂造阿彌陀佛之像。貞觀十四年五月,示寂於慈悲寺,世壽五十九。著有涅槃義疏四卷。〔續高僧傳卷十五、釋氏六帖卷十、六學僧傳卷二十三〕 ; (玄會) (582-640) Vị tăng sống vào đời Đường, người Phàn xuyên, Kinh triệu (huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây), họ Tịch, tự là Hoài mặc. Năm 12 tuổi, sư theo pháp sư Tổng xuất gia ở chùa Hải giác, học kinh Niết bàn. Về sau, sư sáng lập chùa Từ bi để tiếp hóa hàng hậu học. Năm Trinh quán thứ 8 (634), sư vâng sắc dời đến ở chùa Hoằng phúc, sư ngưng việc giảng dạy để chuyên tu tịnh nghiệp. Một hôm, sư cảm được điềm mộng, nên tạo tượng Phật A di đà để chiêm bái. Tháng 5 năm Trinh quán 14 (640), sư thị tịch ở chùa Từ bi, thọ 59 tuổi. Tác phẩm: Niết bàn kinh sớ, 4 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.15; Thích thị lục thiếp Q.10; Lục học tăng truyện Q.23).

huyền khoáng

6770謂佛道之幽遠難行,非具難忍能忍、難行能行之氣魄,則難以成就。法華經提婆達多品(大九‧三五下):「云何能得無上菩提?佛道懸曠,經無量劫,勤苦積行,具修諸度,然後乃成。」 ; (懸曠) Chỉ cho Phật đạo rộng lớn, sâu xa. Phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 35 hạ), nói: Làm thế nào có thể chứng được Vô thượng bồ đề? Phật đạo sâu xa, rộng lớn, phải trải qua vô lượng kiếp, cần khổ, tích chứa công đức, tu lục độ vạn hạnh, rồi mới thành tựu được .

huyền không

2023(1927~ )廣東五華人,俗姓鄒。初名悟西,後改甘如,號玄空。幼依母禮佛,因親友於臺廣間經商貿易,遂隨親來臺。民國四十四年春,依煮雲法師出家,受具足戒於基隆靈泉寺。專宗淨土法門。曾於彰化白雲寺掩關,並於新竹北埔金剛寺閱藏。歷年住持金剛寺、石觀音寺,又於苗栗創建宏法社。著有脫離苦海之要道、人生苦樂之由來等書。

huyền không tự

6768北魏時建。位於山西渾源縣南恆山下之瓷窯峽。寺在峭壁巉岩間,依山面崖,懸空架屋,下承長柱,上建閣樓,崇峙數層,矗立雲際,行人仰望如空中樓閣,為建築上之奇構。〔山西通志〕 ; (懸空寺) Chùa ở mỏm Tứ diêu, dưới núi Hoằng sơn, phía nam huyện Hồn nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được kiến thiết vào thời Bắc Ngụy. Chùa nằm tựa vào sườn núi, giữa những ngọn núi cao sừng sững; người ta đóng các cây cột và đà dài để chống đỡ, trên cất lầu gác cao đến mấy tầng, lẫn trong mây; người đi phía dưới trông lên thấy giống như tòa lâu đài trong hư không. Đây là một kiểu kiến trúc độc đáo tại Trung quốc. [X. Sơn tây sơn chí].

huyền kiên

2029(1255~1319)元代僧。龜城(雲南)人,俗姓王。字雪菴。幼即慧異,見雄辯法師所譯經論,生大歡喜,依之以梵語作歌,闡揚經旨,以便化俗,成曲後獻之辯公,公大奇之。至元二十一年(1284),遂禮辯公入道,未幾即能講圓覺諸經,大德四年(1300),繼主玉案法席。遂廣演教乘,弘宣法化,於是教興荒土,德洽邊陲。至大三年(1310),更頒大藏全部,分供卬竹、圓通、報恩三寺,命堅總攝三剎,獨攬大綱。延祐六年三月示寂,世壽六十五。〔新續高僧傳卷五十〕 ; (玄堅) Cũng gọi Quải kính, Đàn kính. Cái gương treo ở Phật đường, biểu thị cho Pháp thân thanh tịnh, tương đương với Đại viên kính trí. Trong kinh điển Phật giáo, gương thường được dùng để tượng trưng cho sự tròn đầy của Phật đức. Ngoài ra, gương cũng được dùng để trang nghiêm đạo tràng. Nếu được treo trên đàn cầu nguyện hay treo ở trong nhà, thì huyền kính còn có tác dụng xua đuổi tà ma. [X. kinh Đà la ni tập Q.3; Q.12].

huyền kí

6769即預言。特指佛預言未來之事。又作讖記、未來記。如雜阿含經卷二十三、阿育王經卷一等記佛陀入滅後百年阿育王出世之事;大乘入楞伽經卷六、入楞伽經卷十記龍樹等出世之事;摩訶摩耶經卷下記阿育王、尸羅難陀比丘、青蓮花眼比丘、寶天比丘及馬鳴、龍樹二大士等之出世,又有佛陀入滅後至一千五百年間大事之記載;佛臨涅槃記法住經記佛陀入滅後千年間事;大方等大集經卷五十五記佛陀入滅後二千五百年間大事。此等雖均採預言之形式記述,然其中多有於事件發生後所記錄者,故為經典史及印度教團史上珍貴之資料。〔大法鼓經卷下、大毘婆沙論卷一二六、大乘法苑義林章卷二本〕 ; (懸記) Cũng gọi Sấm kí, Vị lai kí. Lời đoán trước của đức Phật về những việc sẽ xảy ra trong tương lai. Có rất nhiều kinh điển nói về sự huyền kí của đức Phật, như kinh Tạp a hàm quyển 23 đoán trước việc vua A dục ra đời vào khoảng 100 năm sau đức Phật nhập diệt; kinh Ma ha ma da quyển hạ tiên đoán việc các vị tỉ khưu: Thi la nan đà, Thanh liên hoa nhãn, Bảo thiên và 2 vị Đại luận sư Mã minh, Long thụ xuất hiện; cũng có các kinh đoán trước những việc lớn sẽ xảy ra trong khoảng 1.500 năm, hoặc 2.500 năm sau đức Phật nhập diệt, như các kinh Phật lâm Niết bàn kí pháp trụ, Đại phương đẳng đại tập quyển 55, v.v…... Những việc trên đây tuy được trình bày dưới hình thức huyền kí, nhưng trong đó cũng có nhiều sự kiện sau khi xảy ra rồi mới được ghi chép, bởi thế, huyền kí là những tư liệu rất quí báu về mặt lịch sử kinh điển và lịch sử giáo đoàn Phật giáo tại Ấn độ. [X. kinh Đại pháp cổ Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.126; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần đầu].

huyền kính

6770懸掛於佛堂之鏡。又作掛鏡、壇鏡。明鏡表示清淨法身,相當於五智中之大圓鏡智,故佛經中多藉以顯示佛德之圓滿。可作為供養物,亦作嚴飾道場之用。若將鏡懸掛於祈禱壇上或室內,則可用來驅避邪魅。〔陀羅尼集經卷三、卷十二〕

Huyền lãm 玄覧

[ja] ゲンラン genran ||| To be absorbed in the deepest part of one's mind and not see the myriad phenomena. => Miệt mài trong phần sâu thẳm nhất của tâm thức và không thấy được hiện tượng thiên hình vạn trạng. [ja] ゲンカク Genkaku ||| See 永嘉玄覺.

huyền lãng

2029(673~754)唐代僧。乃天台宗第八祖。婺州烏傷縣(浙江義烏)人,一作東陽(位於浙江)人。俗姓傅,傅大士之六代孫。字慧明,號左溪。九歲出家。武后如意元年(692,中宗嗣聖九年),二十歲,蒙敕住東陽清泰寺。因就光州岸律師受具足戒,從學律儀經論,常恨古人章疏之判斷有不允當者;乃博覽群籍,精研涅槃經,曾至會稽妙喜寺與印宗禪師研學禪要;聞天台之宗可清眾滯而趣一理,因詣東陽天宮寺,從慧威學法華經等。復依恭禪師修習止觀。又涉獵儒書,兼好道宗。而自以止觀為入道安心之要。其後,因好山林,厭人寰,而隱居婺州浦陽縣左溪巖,常隨僅十八僧物,復行十二頭陀,麻衣蔬食,獨坐一龕,達三十餘年。開元十六年(728),應婺州刺史王正容之請,暫居城下,尋以疾辭還山。平日誨人不倦,頗勤講學。天台教法,由斯轉盛。門下有中興天台宗之湛然,與新羅人法融、理應、純英等,名僧輩出。一日,顧門人曰(大四九‧一八八中):「吾六即道圓,萬行無得,戒為心本,汝等師之。」天寶十三年示寂,世壽八十二。吳越王諡號「明覺尊者」。世稱左溪尊者。撰有法華科文二卷。〔永嘉集、宋高僧傳卷二十六、佛祖統紀卷七、卷四十、佛祖歷代通載卷十七、釋氏稽古略卷三〕 ; (玄朗) (673-754) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Ô thương, Vụ châu (nay là huyện Nghĩa ô, tỉnh Chiết giang), họ Phó, tự Tuệ minh, hiệu Tả khê. Là Tổ thứ 8 của tông Thiên thai. Sư xuất gia năm 9 tuổi; 20 tuổi, y vào luật sư Đạo ngạn ở Quang châu thụ giới Cụ túc, sau đó, được vua ban sắc trụ trì chùa Thanh thái ở Đông dương. Sư học giới luật và kinh luận, đặc biệt tinh thông kinh Niết bàn. Sư từng đến chùa Diệu hỉ ở Cối kê theo thiền sư Ấn tông học tập Thiền yếu. Sau sư lại đến chùa Thiên cung ở Đông dương theo ngài Tuệ uy học kinh Pháp hoa, rồi lại tu tập chỉ quán với thiền sư Cung. Ngoài ra, sư còn nghiên cứu Nho học và Lão giáo. Về sau, vì thích núi rừng, chán nơi náo nhiệt, nên sư ẩn cư tu khổ hạnh hơn 30 năm trên núi Tả khê, huyện Phố dương, Vụ châu. Năm Khai nguyên 16 (728), nhận lời thỉnh cầu của quan Thứ sử Vụ châu tên là Vương chính dung, sư tạm xuống ở trong thành để hoằng pháp, chỉ trong thời gian ngắn, sư cáo bệnh trở về núi. Thường ngày, sư hết lòng với việc giảng dạy, giáo pháp Thiên thai bấy giờ nhờ sư mà dần dần hưng thịnh. Một hôm, sư bảo các đệ tử rằng (Đại 49, 188 trung): Ta nay lục tức đã tròn, muôn hạnh không được, Giới là nguồn gốc của tâm, các ông hãy lấy giới làm thầy . Năm Thiên bảo 13 (754), sư thị tịch, thọ 82 tuổi. Ngô việt vương ban thụy hiệu Minh Giác Tôn Giả , người đời tôn xưng sư là Tả Khê Tôn Giả . Đệ tử có các vị: Trạm nhiên, Pháp dung, Lí ứng, Thuần anh, v.v…... Tác phẩm: Pháp hoa khoa văn 2 quyển. [X. Vĩnh gia tập; Tống cao tăng truyện Q.26; Phật tổ thống kỉ Q.7, Q.40; Phật tổ lịch đại thông tải Q.17; Thích thị kê cổ lược Q.3].

Huyền lý 玄理

[ja] ゲンリ genri ||| The unfathomably deep principle of the Way. => Nguyên lý sâu mầu khó đạt đến của đạo.

huyền lưu

2024玄,緇之意。謂披著緇衣(黑色法衣)之流派。即指僧侶。止觀輔行傳弘決序(大四六‧一四一上):「纘承四世,年將二百,魚魯斯訛,不無同異,方將繹思,津導玄流。」 ; The black-robed sect of monks. ; (玄流) Chỉ chung cho giới tăng sĩ của Phật giáo. Huyền tức là truy, là mầu đen, lưu tức là dòng phái. Bài tựa Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết (Đại 46, 141 thượng), nói: Nối tiếp bốn đời, gần hai trăm năm, dắt dẫn huyền lưu ra khỏi vòng lẩn quẩn của ngữ ngôn văn tự .

huyền lộ

2032謂玄妙之道路。即指真理。於禪宗,則指洞山三路之第二玄妙之路。即超越有無、迷悟等二見之空寂路,稱為玄路。(參閱「洞山三路」3867) ; (玄路) Con đường sâu thẳm, mầu nhiệm lìa ngôn ngữ, văn tự và các kiến chấp, tức chỉ cho chân lí. (xt. Động Sơn Tam Lộ).

Huyền Môn

(玄門, Gemmon, ?-1658): vị tăng của Tịnh Độ Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu thời kỳ Giang Hộ, húy là Huyền Môn (玄門), tự là Trực Chước (直釣), hiệu Thượng Liên Xã (上蓮社), Hướng Dự (向譽); xuất thân vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai, tức Sơn Lê [山梨, Yamanashi]), họ Hoa Thôn (花村). Ông theo tu học với Phan Tùy Ý (幡隨意) ở Tân Tri Ân Viện (新知恩院, tức Phan Tùy Viện [幡隨院]) vùng Giang Hộ (江戸, Edo) và sau đó khai sáng Huyền Môn Tự (玄門寺, Gemmon-ji) ở vùng Kim Trạch (金澤, Kanazawa), Gia Hạ (加賀, Kaga).

huyền môn

2023指玄妙之法門、深奧之妙理。亦為佛法之總稱。又作佛門、空門、真門。三論玄義(大四五‧二上):「不二之玄門。」迦才淨土論卷上(大四七‧八三中):「淨土玄門,十方咸讚。」資持記卷上一下(大四○‧一七九中):「佛法深妙,有信得入,故曰玄門。」〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上、廣弘明集卷十二〕 ; The profound school, i.e. Buddhism. ; (玄門) Cũng gọi Phật môn, Không môn, Chân môn. Pháp môn mầu nhiệm, diệu lí sâu thẳm, tức chỉ chung cho Phật pháp. Luận Tịnh độ quyển thượng của ngài Ca tài (Đại 47, 83 trung), nói: Tịnh độ huyền môn, mười phương đều khen ngợi . Tư trì kí quyển thượng 1, phần cuối (Đại 40, 179 trung), nói: Phật pháp sâu xa mầu nhiệm, người có lòng tin mới vào được, cho nên gọi là Huyền môn . [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng; Quảng hoằng minh tập Q.12].

huyền môn vô ngại thập nhân

2023華嚴宗立十玄門以闡明法界事事無礙之相,而玄門無礙十因即用以說明諸法何以事事無礙。據華嚴玄談卷六載,以下列十法性德為因,而起大業用,令十玄門之諸法,圓融無礙,重重無盡,故稱玄門無礙十因。 玄門無礙十因中,前六因係就諸法自性之德相而論,後四因乃就業用之無礙而論。即:(一)唯心所現,謂一切諸法唯是真心所現,故全法是心,心既圓融,則法亦無礙。(二)法無定性,謂一切諸法既唯心所現,從緣而起,故無定性,因無定性,故有彼此和融之理;如一微塵能含太虛。(三)緣起相由,謂緣起之法,遞相由藉,不得單獨保體,必為相由而成體。(四)法性融通,謂法界之性,圓融無礙,性既融通,事亦如之;如一一微塵,各含法界。(五)如幻夢,謂諸法之虛假無實,猶如幻夢,故有可和融之理。(六)如影像,謂諸法從心所現,而能含明了性;猶如明鏡,各各互現諸法影像。(七)因無限,謂菩薩於往昔因中,修無量殊勝之因,故今得之勝果,亦妙用無邊。(八)佛證窮,謂佛證窮真性,故三覺圓明,六通自在,稱法界性而說圓滿經。(九)深定用,謂以深妙之禪定力,令一切法炳然齊現,圓融無礙。(十)神通解脫,謂佛以不思議之神通解脫之力,令一切法於一法中建立,顯現圓融自在。(參閱「十玄門」416) ; (玄門無礙十因) Mười đức của pháp tính làm nhân sinh khởi đại nghiệp dụng, khiến cho các pháp của huyền môn viên dung vô ngại, trùng trùng vô tận. Mười nhân ấy là: 1. Duy tâm sở hiện: Tất cả các pháp đều do chân tâm hiển ra, cho nên các pháp là tâm, tâm đã viên dung thì pháp cũng vô ngại. 2. Pháp vô định tính: Các pháp đều do tâm hiển hiện, từ nhân duyên mà sinh nên không có tính chất nhất định, vì không có tính chất nhất định cho nên có cái lí cái này, cái kia dung hòa; như một mảy bụi chứa được cả hư không. 3. Duyên khởi tương do: Pháp duyên khởi không thể biệt lập, mà phải nương dựa lẫn nhau mới thành thể. 4. Pháp tính dung thông: Tính của pháp giới viên dung vô ngại, tính đã dung thông thì sự cũng dung thông, như mỗi mảy bụi đều hàm chứa cả pháp giới. 5. Như huyễn mộng: Các pháp hư giả không thật, giống như chiêm bao, trò dối, cho nên có thể dung hòa với nhau. 6. Như ảnh tượng: Các pháp từ tâm hiện ra, có thể hàm chứa tính trong sáng, giống như chiếc gương có khả năng ánh hiện hình bóng của các pháp. 7. Nhân vô hạn: Khi xưa Bồ tát tu vô lượng nhân thù thắng, nên nay được vô lượng quả, cũng diệu dụng vô biên. 8. Phật chứng cùng: Phật chứng được tận cùng chân tính, đầy đủ tự giác, giác tha và giác hạnh, 6 thần thông tự tại. 9. Thâm định dụng: Dùng sức thiền định mầu nhiệm sâu xa khiến cho tất cả các pháp đều hiện rõ ràng, viên dung vô ngại. 10. Thần thông giải thoát: Đức Phật dùng sức thần thông giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, khiến cho tất cả pháp kiến lập trong một pháp, hiển hiện viên dung vô ngại. Trong 10 nhân nói trên, thì 6 nhân trước là bàn về mặt tự tính của các pháp, 4 nhân còn lại là bàn về sự vô ngại của nghiệp dụng. Tông Hoa nghiêm lập ra 10 huyền môn để nói rõ cái tướng của Sự sự vô ngại pháp giới , còn Huyền môn vô ngại thập nhân thì được dùng để giải thích lí do của sự sự sự vô ngại . (xt. Thập Huyền Môn).

huyền nghiễm

2035請參閱 永嘉集 (675~742)唐代僧。諸暨(浙江)人,俗姓徐。年十二,師事富春之僧暉。證聖元年(695),出家於懸溜寺,從光州道岸受具足戒。後遊長安,遇崇福滿意律師、融濟律師,皆獲印可。師由是名動京師,並充任安國、授記二寺大德。未幾,還江左,專弘四分律,著行事鈔輔篇記十卷、羯磨述章三篇、金剛義疏七卷。居越州法華寺,宴坐不出近三十年。開元二十四年(736),唐玄宗親注金剛般若經,詔頒天下普令宣講,師受元彥仲之請,復出闡釋宣講。二十六年,州隸迎請師主持其事,受戒離俗者萬人。當朝權貴如徐嶠、徐安貞、康希銑、賀知章、王弼等均以道友之禮待之。天寶元年示寂,世壽六十八。弟子有神邕、曇俊、崇默、崇曉、唯湛、道昭等。〔宋高僧傳卷十四〕 ; (玄儼) (675-742) Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người ở Chư kí (Chiết giang), họ Từ. Năm 12 tuổi, sư theo ngài Tăng huy ở Phú xuân. Năm 20 tuổi, sư xuất gia ở chùa Huyền lựu, y vào ngài Đạo ngạn ở Quang châu thụ giới Cụ túc. Sau, sư đến Trường an, được các luật sư Mãn ý và Dung tế ấn khả. Do đó, sư nổi tiếng khắp kinh đô và được xếp vào hàng Đại đức của chùa An quốc và chùa Phật thụ kí. Không bao lâu, sư trở về Giang tả, chuyên giảng dạy luật Tứ phần. Sư ở chùa Pháp hoa tại Việt châu, cấm túc gần 30 năm. Năm Khai nguyên 24 (736), vua Đường Huyền tông chú thích kinh Kim cương bát nhã, ban lệnh giảng kinh này khắp trong nước, ông Nguyên ngạn trọng thỉnh sư ra tuyên giảng. Năm Khai nguyên 26 (738), Châu lệ thỉnh sư chủ trì việc giảng kinh, nhân dịp này, có cả vạn người xin xuất gia thụ giới. Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742), sư tịch, thọ 68 tuổi. Đệ tử của sư có các vị: Thần ung, Đàm tuấn, Sùng mặc, Sùng hiểu, Duy trạm, Đạo chiêu…. Tác phẩm của sư gồm có: Hành sự sao phụ thiên kí 10 quyển, Yết ma thuật chương 3 thiên, Kim cương nghĩa sớ 7 quyển. [X. Tống cao tăng truyên Quyển 14].

huyền nghĩa

2031指在解釋經論本文之前,先闡明一部經論所詮之幽旨者。玄義,意謂幽玄之義旨。隋代天台大師智顗依玄義內容,將之分為五個範疇:(1)釋名,即解釋題名。(2)辨體,講明題名所顯示之意義。(3)明宗,明教之主要目的。(4)論用,論教之作用。(5)判教,判該教在佛教全體中所佔之地位。此即所謂天台宗之五重玄義。 玄義多係就一部經論之題目而論談,蓋「題」乃一部經論的總標目之故。如智顗以五重玄義解釋法華經、金剛般若經、觀無量壽經、阿彌陀經、維摩經、請觀音經等諸經之題目。復以釋名、出體、料簡等三重玄義解釋梵網經等之題目。又吉藏著三論玄義,立破邪、顯正二義,以論述「三論」之大義。善導著觀經疏玄義分,亦以序題、釋名等七門玄義,論釋觀無量壽經。此皆釋名之例。〔法華經玄義卷十下、法華玄義釋籤卷一上、金光明經玄義拾遺記卷一、觀經玄義分傳通記卷一〕 ; The deep meaning; the meaning of the profound. ; (玄義) Bàn luận một cách tổng quát về ý nghĩa sâu kín của một bộ kinh, luận trước khi giải thích chính văn. Đại sư Trí khải của tông Thiên thai chia nội dung Huyền nghĩa làm 5 phạm trù để giải thích ý chỉ của một bộ kinh, gọi là Ngũ trùng huyền nghĩa. Năm phạm trù ấy là: 1. Thích danh: Giải thích tên kinh. 2. Biện thể: Bàn rõ ý nghĩa được hiển bày trong tên kinh. 3. Minh tông: Nói rõ mục đích chủ yếu của giáo pháp trong bộ kinh. 4. Luận dụng: Bàn về tác dụng của giáo pháp ấy. 5. Phán giáo: Phân định địa vị của giáo pháp ấy trong toàn thể Phật giáo. Ngài Trí khải đã dùng Ngũ trùng huyền nghĩa này để giải thích đề mục của các bộ kinh như: Pháp hoa, Kim cương bát nhã, Quán vô lượng thọ, A di đà, Duy ma, Thỉnh Quan âm, v.v… Ngài cũng dùng Tam trùng huyền nghĩa: Thích danh, Xuất thể, Liệu giản để giải thích đề mục của kinh Phạm võng, v.v...… Còn ngài Cát tạng thì soạn Tam luận huyền nghĩa, lập 2 nghĩa Phá tà và Hiển chính để bàn về yếu chỉ của Tam luận. Ngài Thiện đạo soạn Quán kinh sớ huyền nghĩa phần cũng dùng Thất môn huyền nghĩa như: Tự đề, Thích danh, v.v…... để giải thích kinh Quán vô lượng thọ…. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10 phần cuối; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1 phần trên; Kim quang minh kinh huyền nghĩa thập di kí Q.1; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.1].

huyền nghĩa phần

2032請參閱 法華玄義於經題之下論述一經之深義者,即稱玄義分。如唐代善導之觀無量壽經疏四卷中,即有一卷為玄義分。該書為觀無量壽經之注釋書,內容分為玄義分、序分義、定善義、散善義等各一卷。玄義分,乃總說觀無量壽經之要義,兼破諸家之謬解;後三分始就經之文句,一一解釋。其中,玄義分首先於卷首揭示發願歸三寶偈,次分序題、釋名等七門玄義,以論釋觀無量壽經之旨義。(參閱「觀無量壽經疏」6968) ; (玄義分) Phần trình bày về ý nghĩ sâu xa của một bộ kinh. Như trong Quán vô lượng thọ kinh sớ 4 quyển của ngài Thiện đạo đời Đường thì có 1 quyển là Huyền nghĩa phần. Nội dung của quyển Huyền nghĩa phần này, trước tiên nêu một bài kệ phát nguyện qui y Tam bảo, kế đến chia ra 7 môn Huyền nghĩa như: Tự đề, Thích danh, v.v... để giải thích yếu chỉ của kinh Quán vô lượng thọ. (xt. Quán Vô Lượng Kinh Sớ).

Huyền nghĩa 玄義

[ja] ゲンギ gengi ||| 'profound meaning.' A style of Buddhist commentary, referring chiefly to the Tiantai method of explication which was to proceed from a general explanation of the content and meaning of the various great sutras to a discussion of the deeper meaning. The method was: (1) shiming 釋名 explanation of terms; (2) bianti 辨體 definition of the substance; (3) mingzong 明宗 clarifying the principles; (4) lunyong 論用 discussing their application; and (5) panjiao 判教 classifying the doctrine. => Đặc trưng của luận giải Phật giáo, chủ yếu đề cập đến phương pháp giải thích của tông Thiên Thai xuất phát từ lối giải thích chung về nội dung và ý nghĩa của những bộ kinh quan trọng cho đến thảo luận về nghĩa lý sâu mầu của bộ kinh ấy. Phương pháp ấy là: 1. Thích danh釋名 : giải thích đề mục. 2. Biện thể 辨體 : xác định nội dung chính. 3. Minh tông 明宗 : tỏ bày nguyên lý. 4. Luận dụng 論用 : bàn về sự vận dụng trong tu tập. 5. Phán giáo 判教 : xếp vào hệ giáo lý nào.

huyền nguyệt

2019指玄妙之真理。即以當空之皓月比喻清明朗淨之真理。三論大義鈔卷一(大七○‧一二○上):「舉此祕指,以示彼玄月。」 ; (玄月) Vầng trăng huyền ảo giữa hư không, dụ cho chân lí trong sáng thanh tịnh. Tam luận đại nghĩa sao quyển 1 (Đại 70, 120 thượng), nói: Đưa ngón tay bí mật để chỉ vầng trăng huyền ảo kia .

huyền ngật

2034唐代僧。俗姓杜,名叉。生卒年不詳幼入道教,修其經法。後被推為洛都大弘道觀主,號杜叉鍊師。以其善通三玄、七略,為當時道徒之統領。其時,唐則天武后歸依佛法,援助宣教度僧。師亦有所感悟,乃懇求剃髮,詔許之,住洛陽佛授記寺。未久,任寺都,並參與翻譯。平時對人示說道家仙法之非道虛誕,又著書詳細論之。遺有甄正論三卷行世。〔宋高僧傳卷十七、開元釋教錄卷十〕 ; (玄嶷) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, họ Đỗ, tên Xoa. Thưở nhỏ, sư tu học theo Đạo giáo, về sau, nhờ tinh thông tam huyền, thất lược, sư được tôn làm Đại hoằng Đạo quan chủ ở Lạc đô, hiệu là Đỗ xoa luyện sư, thống lãnh tín đồ Đạo giáo. Thời ấy, Vũ hậu Tắc thiên nhà Đường qui y Phật pháp, giúp đỡ việc truyền giáo độ tăng, sư cảm ngộ điều đó, nên khẩn cầu xuất gia, được triều đình chấp thuận và vâng sắc trụ ở chùa Phật thụ kí tại Lạc dương. Không bao lâu, sư giữ chức Tự đô và tham dự việc phiên dịch. Sư từng viết sách chỉ ra những điều hư dối sai lầm của Đạo gia. Tác phẩm: Luận Chân chính 3 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.17; Khai nguyên thích giáo lục Q.10].

huyền nhất

2019唐代僧。籍貫不詳,或謂係新羅人。精通法相學,以著述為事。著有無量壽經記二卷、觀無量壽經記一卷、法華經疏八卷、阿彌陀經疏一卷、涅槃經料簡二卷、瑜伽論疏十七卷、中邊論料簡一卷、梵網經疏三卷、唯識樞要私記一卷等,多散佚不傳。僅存無量壽經記上卷,收入卍續藏第三十二冊中。書中處處引用窺基、元曉、法位等師之教說,由此推知師應出於上記諸師之後,其餘事蹟與生卒年均不詳。〔新編諸宗教藏總錄卷一、東域傳燈目錄、諸宗章疏錄卷二、蓮門類聚經籍錄卷上〕 ; A commentator of the Pháp tướng Dharmalaksana school during the Đường dynasty. ; (玄一) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, có thuyết cho rằng sư là người nước Tân la (nay là Cao li). Sư tinh thông về pháp tướng học, chuyên việc trước tác. Những tác phẩm của sư gồm có: Vô lượng thọ kinh kí 2 quyển, Quán vô lượng thọ kinh kí 1 quyển, Pháp hoa kinh sớ 8 quyển, A di đà kinh sớ 1 quyển, Niết bàn kinh liệu giản 2 quyển, Du già luận sớ 17 quyển, Trung biên luận liệu giản 1 quyển, Phạm võng kinh sớ 3 quyển, Duy thức xu yếu tư kí 1 quyển. Phần lớn các tác phẩm trên đây của sư đã thất truyền, hiện chỉ còn Vô lượng thọ kinh kí quyển thượng được thu vào Vạn tục tạng tập 32. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Đông vực truyền đăng mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.2; Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q.thượng].

huyền phong

2028(1266~1349)元代臨濟宗僧。原為楚人,因祖父仕宦滇南,遂落籍昆明,俗姓周。其母夢祥雲繞室而生師,師少具威儀,聰慧悟達,年十二即博通儒籍,十四歲厭棄塵俗煩勞,依雄辯法師出家,受具足戒後往參寶積壇主,與雪庭禪師為友,然不得契悟。曾於林下禪坐七日,聞鳩鵲啾噪,忽有所悟。復東遊天目山,參中峰明本,獲印證。返滇後出住華亭,大弘法化,道風遠被。至正九年十二月示寂,世壽八十四,法臘七十。集有高僧傳及語錄行世。〔增訂佛祖道影卷二(虛雲)〕 ; (玄峰) (1266-1349) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế sống vào đời Nguyên. Sư vốn là người đất Sở, họ Chu, nhưng vì ông nội làm quan ở Điền nam, nên mới dời đến Côn minh. Tương truyền thân mẫu sư nằm mộng thấy áng mây lành bao bọc quanh nhà, bà liền mang thai và sinh ra sư. Từ nhỏ, sư đã thông minh đĩnh ngộ và có uy nghi đĩnh đạc, năm 12 tuổi đã thông suốt Nho học, năm 14 tuổi nhàm chán trần tục, cho nên theo pháp sư Hùng biện xin xuất gia. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư đến tham yết ngài Bảo tích Đàn chủ, kết bạn với thiền sư Tuyết đình, nhưng không khế ngộ. Sau, sư từng tham thiền 7 ngày trong rừng, nghe chim hót líu lo, bỗng nhiên tỉnh ngộ. Sư lại đến núi Thiên mục tham yết ngài Trung phong Minh bản và được ấn khả. Sau khi trở về Điền nam, sư trụ tại Hoa đình, khai đường thuyết pháp, đạo phong vang xa. Tháng 12 năm Chí chính thứ 9 (1349) sư tịch, thọ 84 tuổi, pháp lạp 70. Sư có soạn Cao tăng truyện và Ngữ lục lưu hành ở đời. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].

Huyền phong 玄風

[ja] ゲンプウ genpū ||| A profound teaching style. A recondite school or methodology. => Loại giáo lý sâu mầu. Trường phái giáo lý hay phương pháp bí hiểm.

huyền phạm

2033唐代僧。其生卒年、籍貫、姓氏均不詳。精於唯識學。與玄奘同時代,或謂師嘗入於玄奘之門下。天性好學,造詣亦深。住長安普光寺專事著述。著有解深密經疏十卷、成唯識論疏二十卷、攝大乘論疏七卷、辯中邊論疏三卷、雜集論疏十六卷、對法論疏十卷、大因明論疏二卷、因明正理門論鈔二卷、因明入正理論疏一卷、法華經疏八卷、無垢稱經疏六卷、仁王經疏四卷、能斷金剛般若經述贊三卷、大涅槃經疏鈔二卷等,皆散佚。〔大唐內典錄卷五、東域傳燈目錄、諸宗章疏錄卷一、卷二〕 ; (玄範) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, vì sư là người cùng thời đại với ngài Huyền trang, nên có thuyết cho rằng sư là học trò của ngài Huyền trang. Sư rất ham học, trình độ Phật pháp thâm sâu, đặc biệt là môn Duy thức. Sư ở chùa Phổ quang tại Trường an, chuyên việc soạn thuật. Những tác phẩm của sư gồm có: Giải thâm mật kinh sớ 10 quyển, Thành duy thức luận sớ 20 quyển, Nhiếp đại thừa luận sớ 7 quyển, Biện trung biên luận sớ 3 quyển, Tạp tập luận sớ 16 quyển, Đối pháp luận sớ 10 quyển, Đại nhân minh luận sớ 2 quyển, Nhân minh chính lí môn luận sao 2 quyển, Nhân minh nhập chính lí luận sớ 1 quyển, Pháp hoa kinh sớ 8 quyển, Vô cấu xưng kinh sớ 6 quyển, Nhân vương kinh sớ 4 quyển, Năng đoạn kim cương bát nhã kinh thuật tán 3 quyển, Đại niết bàn kinh sớ sao 2 quyển.… Rất tiếc là tất cả những tác phẩm trên đều đã thất lạc! [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Đông vực truyền đăng mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.1, Q.2].

huyền phảng

2022(?~746)日本法相宗僧。大和(奈良縣)人,姓阿刀。隨龍門寺義淵出家學唯識,於靈龜二年(716),奉敕入唐,從智周學法相宗義,居留二十年。唐玄宗聞其才學,賜位「三品」,贈紫袈裟。天平六年(734),歸返日本,攜回經疏五千餘卷。後以興福寺為其弘法中心,繼一傳道昭、二傳智通、智達,三傳智鳳、智鸞、智雄之後為法相宗第四傳,又稱北寺傳,與道昭之南寺傳相對。天平九年,任僧正,受賜紫袈裟,此為日本賜紫衣之始。由於受到皇室之殊遇,於宮中頗具權勢,後亦因而遭藤原廣嗣流放至筑紫觀世音寺。於天平十八年示寂,年壽不詳。〔元亨釋書卷十六、扶桑略記卷六、本朝高僧傳卷六十七〕 ; (玄昉) (?-746) Vị tăng Nhật bản thuộc tông Pháp tướng, người Đại hòa (huyện Nại lương), họ A đao. Sư theo ngài Nghĩa uyên xuất gia và học Duy thức ở chùa Long môn. Năm Linh qui thứ 2 (716), sư vâng sắc đến Trung quốc, theo ngài Trí chu học tông nghĩa Pháp tướng và ở lại đó 20 năm. Vua Huyền tông nhà Đường nghe tài học của sư liền ban hàm Tam phẩm và áo đỏ. Năm Thiên bình thứ 6 (734), sư trở về Nhật bản, mang theo hơn 5.000 quyển kinh sớ. Sau sư đặt trung tâm hoằng pháp ở chùa Hưng phúc. Năm Thiên bình thứ 9 (737), sư giữ chức Tăng chính, được ban ca sa đỏ, đây là lần đầu tiên vua ban ca sa đỏ ở Nhật bản. Nhờ sự đãi ngộ đặc biệt của nhà vua nên sư rất có quyền thế trong cung và cũng vì thế mà sau sư bị họ Đằng nguyên đày đến chùa Quan âm ở Trúc tử. Năm Thiên bình thứ 8 (746) sư tịch. [X. Nguyên hanh thích thư Q.16; Phù tang lược kí Q.6; Bản triều cao tăng truyện Q.67].

Huyền Phảng 玄昉

[ja] ゲンホウ Genbō ||| Genbō(?-746); a Japanese Hossō 法相 monk who went to Tang China in 716, and studied there for twenty years, returning to Japan in 735. He was a student of Gien 義淵, under whom he studied Yogācāra doctrine 瑜伽行派. While in China, he studied with Zhizhou 智周 and also received the patronage of the Tang emperor. Returning to Japan, he brought back more than 5000 scrolls of Buddhist materials from China. He represents the fourth transmission of Hossō Buddhism into Japan. In 737 he was invested with the title of Sōjō. => (j: Genbō; ?-746); là tăng sĩ thuộc Pháp tướng tông Nhật Bản, sang Trung Hoa vào đời Đường năm 716, học tập 20 năm rồi trở lại Nhật Bản năm 735. Sư là môn đệ của ngài Nghĩa Uyên (義淵j: Gien), thọ giáo vời ngài về giáo lý của Du-già hành phái. Khi ở Trung Hoa, sư tham học với ngài Trí Châu (智周c: Zhizhou) và cũng nhận được sự bảo trợ của Hoàng đế Đường triều. Khi trở về nước, sư mang theo 5.000 quyển kinh Phật . Sư là tổ thứ tư cuả Pháp tướng tông Nhật Bản. Năm 737, sư được ban danh hiệu Sōjō.

Huyền quan

玄關; J: genkan; nghĩa là »Cửa ải huyền bí«; |Ðược sử dụng trong nhiều trường hợp: 1. Nhập môn, bước vào con đường tu học Phật pháp, con đường mà Phật và các vị Tổ sư hướng dẫn; 2. Chỉ ngưỡng cửa của phòng tiếp khách trong một Thiền viện hoặc một phòng tiếp khách nằm gần cửa cổng; 3. Căn phòng nằm giữa cửa nhà và phòng khách trong một ngôi nhà tại Nhật Bản.

huyền quan

2035請參閱 法華玄贊 <一>出入玄妙道之關門,即指深奧佛道之入口。頭陀寺碑:「玄關幽鍵,感而遂通。」碧巖錄第八十八則垂示曰(大四八‧二一二下):「當機敲點,擊碎金鎖玄關。」嘉泰普燈錄卷十七(卍續一三七‧一二六下):「玄關大啟,正眼流通。」 <二>指書院、建築物,或一般住家之正面入口處。或特指一般日式住宅之入口處。 ; (玄關) I. Huyền Quan. Cửa huyền diệu. Tức là pháp môn để chứng nhập đạo sâu xa mầu nhiệm. Đầu đà tự bi nói: Huyền quan khóa kín, cảm được liền thông . Lời dạy trong tắc 88 của Bích nham lục (Đại 48, 212 hạ), nói: Đương cơ đã điểm, đập nát khóa vàng huyền quan . Gia thái phổ đăng lục quyển 17 (Vạn tục 137, 126 hạ), nói: Huyền quan mở rộng, chính nhãn lưu thông . II. Huyền Quan. Chỉ cho thư viện, hoặc cửa chính của nhà ở.

Huyền Quang

玄光; 1254-1334|Thiền sư Việt Nam, Tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử. Sư là một nhà thơ lớn với nhiều bài thơ còn được lưu lại. Cùng với Trúc Lâm Ðầu Ðà (Trần Nhân Tông) và Pháp Loa, Sư được xem là một Ðại thiền sư của Việt Nam và người ta xem Sư và hai vị nêu trên ngang hàng với sáu vị Tổ của Thiền tông Trung Quốc hoặc 28 vị Tổ của Thiền Ấn Ðộ.|Theo Tam tổ thật lục (三祖實錄), mẹ của Huyền Quang là Lê Thị hay đến chùa Ngọc Hoàng cầu nguyện vì đã 30 mà chưa có con. Ðầu năm Giáp Dần 1254, vị trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Huệ Nghĩa mơ thấy »các toà trong chùa đèn chong sáng rực, chư Phật tôn nghiêm, Kim Cương Long Thần la liệt đông đúc. Ðức Phật chỉ Tôn giả A-nan-đà bảo: ›Ngươi hãy tái sinh làm pháp khí Ðông Ðộ và phải nhớ lại duyên xưa.‹« Năm ấy Lê Thị sinh Huyền Quang. Lớn lên Sư dung mạo dị thường, làm quan đến chức Hàn Lâm.|Một hôm, Sư cùng vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phụng Nhãn nghe Thiền sư Pháp Loa giảng kinh, liền nhớ lại »duyên xưa«, xin xuất gia thụ giáo (có tài liệu nói Sư thụ giáo với Bảo Phác ở chùa Vũ Ninh). Sư được cử làm thị giả của Trúc Lâm Ðầu Ðà và được ban pháp hiệu là Huyền Quang.|Sau, Sư theo lời phó chúc của Trúc Lâm trụ trì chùa Vân Yên (nay là chùa Hoa Yên) trên núi Yên Yử. Vì đa văn bác học, tinh thông đạo lí nên tăng chúng đua nhau đến học. Niên hiệu Ðại Khánh thứ 4 (1317), Sư được Pháp Loa truyền y của Trúc Lâm và tâm kệ. Sau khi Pháp Loa tịch (1330), Sư kế thừa làm Tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm nhưng vì tuổi đã cao nên Sư giao phó trách nhiệm lại cho Quốc sư An Tâm.|Sư đến trụ trì Thanh Mai Sơn sáu năm, sau dời sang Côn Sơn giáo hoá. Ngày 23 tháng 1 năm Giáp Tuất (1334), Sư viên tịch, thọ 80 tuổi. Vua Trần Minh Tông sắc thuỵ là Trúc Lâm Thiền Sư Ðệ Tam Ðại, đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.|Sau đây là một vài bài thơ của Sư:|1. Cúc hoa 菊花 – Hoa cúc:|忘身忘世已都忘。坐久簫然一榻涼|歲晚山中無歷日。菊花開處即重陽|Vương thân vương thế dĩ đô vương|Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương|Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật|Cúc hoa khai xứ tức trùng dương|*Quên mình quên hết cuộc tang thương|Ngồi lặng điều hiêu mát cả giường|Năm cuối trong rừng không có lịch|Thấy hoa cúc nở biết trùng dương|(theo Thơ văn Lý-Trần)|花在中庭人在樓。焚香獨坐自忘憂|主人與物渾無競。花向群芳出一頭|Hoa tại trung đình, nhân tại lâu|Phần hương độc toạ tự vong ưu|Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh|Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu.|*Người ở trên lầu hoa dưới sân|Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông|Hồn nhiên người với hoa vô biệt|Một đoá hoa vừa mới nở tung.|(Bản dịch của Nguyễn Lang)|2. Ðịa lô tức sự 地爐即事 – Lò sưởi tức cảnh:|煨餘榾柮獨焚香。口答山童問短章|手把吹商和木鐸。從來人笑老僧忙|Ổi dư cốt đốt độc phần hương|Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương|Thủ bả xuy thương hoà mộc đạc|Tòng lai nhân tiếu lão tăng mang|*Củi hết lò còn vương khói nhẹ|Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh|Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo|Thiên hạ cười ta cứ mặc tình|(Bản dịch của Nguyễn Lang)|Tác phẩm của Sư: 1. Ngọc tiên tập; 2. Chư phẩm kinh; 3. Công văn tập; 4. Phổ huệ ngữ lục.

huyền quang

2020新羅國熊州人。自幼頴悟,出家後即有遠遊之志,遂來中國,於陳太建五年(573)登南嶽,謁見慧思,受學法華安樂行義,奉行精勤,不久即證法華三昧。後由江南乘商船出海洋,歸返熊州翁山建立梵宇,從學者甚眾,為傳教法華於海東之始。其弟子中,昇堂受記別者一人,入火光三昧者一人,入水光三昧者二人。後南嶽之影堂、天台國清寺祖堂內所繪二十八人之圖像中,師均居其一,足見德望之高。後不知所終。嗣法者為行真。〔宋高僧傳卷十八、釋門正統卷一、佛祖統紀卷九、卷三十七、朝鮮佛教通史卷下〕 ; (玄光) Cao tăng nước Tân la (nay là Triều tiên), người Hùng châu. Từ nhỏ sư đã thông minh. Sau khi xuất gia, sư đến Trung quốc. Năm Thái kiến thứ 5 (573) đời Trần, sư lên núi Nam nhạc ra mắt ngài Tuệ tư, học hạnh an lạc trong kinh Pháp hoa, gắng sức tu hành, không bao lâu đã chứng được Pháp hoa tam muội. Sau, sư trở về Tân la, lập chùa ở núi Ông sơn tại Hùng châu, hoằng dương Pháp hoa, người theo học rất đông. Sư là người đầu tiên truyền bá giáo lí Pháp hoa ở Hải đông. Trong số các đệ tử của sư, người nối pháp là Hạnh chân, một người được thụ kí thăng đường, một người nhập Hỏa quang tam muội, 2 người nhập Thủy quang tam muội. Sau này sư là một trong 28 vị Tổ được thờ ở Tổ đường tại núi Nam nhạc và ở chùa Quốc thanh tại núi Thiên thai. [X. Tống cao tăng truyện Q.18; Thích môn chính thống Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.9, Q.37; Triều tiên Phật giáo thông sử Q.hạ].

huyền sa

Hsuan-sha (C).

huyền sa giang biểu

Hsuan sha Shih pei (C), Gensha Shibi (J) Huyền Sa Sư Bị Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn Xem Huyền Sa Giang Biểu.

Huyền Sa Sư Bị

玄沙師備; C: xuánshā shībèi; J: gensha shibi; 835-908;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ danh tiếng nhất của Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Nối pháp của Sư có 13 vị – với La Hán Quế Sâm hàng đầu. Vị này lại là sư phụ của Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích, người sáng lập tông Pháp Nhãn. Cảnh Ðức truyền đăng lục ghi tên tông này là Huyền Sa tông. Bích nham lục (công án 22, 56, 88) và Vô môn quan (41) có ghi lại pháp ngữ của Sư.|Sư họ Tạ, quê ở huyện Mân, Phúc Châu. Sư chẳng biết chữ, không đọc được chữ khắc trên những đồng tiền thời đó. Sư rất thích câu cá, thường cắm một chiếc thuyền nhỏ trên sông Nam Ðài để câu. Bỗng một hôm, Sư phát tâm cầu giải thoát, dẹp bỏ thuyền câu, lên núi Phù Dung theo Thiền sư Linh Huấn xuất gia, sau đến chùa Khai Nguyên ở Dự Chương thụ giới cụ túc với Luật sư Ðạo Huyền. Sư tu theo hạnh Ðầu-đà, chỉ mặc áo gai đi giày cỏ, ăn vừa đủ sống, suốt ngày ngồi im lặng, tăng chúng thấy vậy đều kính phục. Nơi đây, Sư gặp Tuyết Phong. Mặc dù chỉ nhỏ hơn 13 tuổi và theo lí thì như huynh đệ trong đạo, nhưng Sư gần gũi kính thờ Tuyết Phong như thầy trò. Tuyết Phong lên núi Tượng Cốt hoằng hoá, Sư cùng theo góp sức đắc lực. Học giả bốn phương đến tấp nập. Trong một cuộc Hành cước xuất phát từ đây, Sư vấp chân vào đá đau điếng người, bỗng nhiên đại ngộ.|Sư ứng đối nhanh nhẹn phù hợp kinh điển. Những người huyền học các nơi chưa thông đều đến cầu Sư chỉ dạy. Tuyết Phong thường bảo: »Ðầu-đà Bị là người tái sinh!«|Sau, Sư từ giã Tuyết Phong xuống núi, thu nhận môn đệ tại Huyền Sa. Từ đây học chúng đến rất đông. Công án sau đây trong Bích nham lục ghi lại cách dạy thần tốc của Sư và Thiền sư Vân Môn Văn Yển, hai môn đệ kế thừa xuất sắc của Tuyết Phong:|Một hôm, Sư thượng đường dạy chúng: »Những bậc lão túc ở các nơi trọn nói tiếp vật lợi sinh, chợt gặp người ba thứ bệnh đến làm sao mà tiếp? Người bệnh mù thì đưa chùy, dựng Phất tử, họ lại chẳng thấy. Người bệnh điếc thì ngữ ngôn tam-muội, họ lại chẳng nghe. Người bị bệnh câm dạy y nói, lại nói chẳng được. Phải làm sao tiếp? Nếu tiếp không được người này thì Phật pháp chẳng linh nghiệm.«|Tăng đến hỏi Vân Môn. Vân Môn bảo: »Ông lễ bái đi« Tăng lễ bái xong đứng dậy. Vân Môn lấy cây gậy chận, tăng thối lui. Vân Môn bảo: »Ông không phải bệnh mù.« Lại bảo: »Ông đến gần đây.« Vị tăng đến gần. Vân Môn bảo: »Ông không phải bệnh điếc.« Vân Môn hỏi tiếp: »Hội chăng?« Tăng đáp: »Chẳng hội« Vân Môn bảo: »Ông không phải bệnh câm.« Tăng nhân đây có tỉnh.|Sư ứng cơ tiếp người 30 năm, người có mặt nghe giảng không dưới 800. Ðến đời Lương, niên hiệu Khai Bình năm thứ hai, ngày 27 tháng 11 năm Mậu Thìn, Sư thị tịch, thọ 74 tuổi, được 40 tuổi hạ.

huyền sa sư bị thiền sư quảng lục

2021凡三卷。詳稱福州玄沙宗一大師廣錄。又作玄沙廣錄。唐代玄沙師備(835~908)撰,智嚴編。宋神宗元豐三年(1080)刊行。收於卍續藏第一二六冊。內容編集上堂語、頌、上堂示眾、方丈錄、佛心印錄等,卷末附林澂所撰之「唐福州安國禪院先開山宗一大師碑文并序」。 明熹宗天啟六年(1626)刊行林弘衍所編之玄沙師備禪師語錄三卷,又稱福州玄沙宗一禪師語錄、玄沙語錄、玄沙大師語錄,亦收於卍續藏第一二六冊。集錄廣錄所未收之上堂、拈香、垂示等之語要,包括玄沙之略傳、綱宗三句、玄沙對古則公案之拈評等。 ; (玄沙師備禪師廣錄) Gọi đủ: Phúc châu Huyền sa tông nhất đại sư quảng lục. Cũng gọi: Huyền sa quảng lục. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Huyền sa Sư bị soạn vào đời Đường, ngài Trí nghiêm biên tập, ấn hành vào năm Nguyên phong thứ 3 (1080) đời vua Thần tông nhà Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 126. Nội dung sách này gồm các phần: Thướng đường ngữ tụng, Thướng đường thị chúng, Phương trượng lục, Phật tâm ấn lục, v.v... Ở cuối quyển có phụ thêm: Đường phúc châu an quốc thiền viện tiên khai sơn Tông nhất đại sư bi văn tinh tự do ông Lâm trừng soạn. Ngoài ra, còn có Huyền sa Sư bị thiền sư ngữ lục 3 quyển, cũng gọi Phúc châu Huyền sa Tông nhất thiền sư ngữ lục, Huyền sa ngữ lục, Huyền sa đại sư ngữ lục, do ông Lâm hoằng diễn biên tập, ấn hành vào năm Thiên khải thứ 6 (1626) đời vua Hi tông nhà Minh, cũng được thu vào Vạn tục tạng tập 126. Nội dung sách này thu chép những yếu ngữ mà bộ Quảng lục bỏ sót, như: Thướng đường, Niêm hương, Thùy thị, Cương tông tam cú, Niêm bình cổ tắc công án, v.v... và phụ thêm phần Lược truyện của ngài Huyền sa.

huyền sa tam chủng bệnh nhân

2020禪宗公案名。又作玄沙接物利生、玄沙三種病、玄沙三病。為唐末五代玄沙師備禪師(835~908)藉如何接化盲、聾、啞三種病人之問題所拈提之機緣語句。碧巖錄第八十八則(大四八‧二一二下):「玄沙示眾云:『諸方老宿,盡道接物利生,忽遇三種病人來,作麼生接?患盲者,拈鎚豎拂,他又不見;患聾者,語言三昧,他又不聞;患啞者,教伊說,又說不得。且作麼生接?若接此人不得,佛法無靈驗。』僧請益雲門,雲門云:『汝禮拜著!』僧禮拜起,雲門以拄杖挃,僧退後。門云:「汝不是患盲。』復喚近前來,僧近前,門云:『汝不是患聾。』門乃云:『還會麼?』僧云:『不會。』門云:『汝不是患啞。』僧於此有省。」 此則公案之前半,玄沙以盲、聾、啞三種人喻指昧於真見、真聞、真語之人,而非指肉體上之盲聾啞者。蓋諸佛出世之一大事因緣,旨在教化被無明所障而迷失本真之凡夫,故玄沙云「若接此人不得,佛法無靈驗」。公案之後半,某僧以玄沙之語請示雲門文偃禪師(864~949),雲門乃以直接動作作答,絲毫不予其僧以分別思量之機會,當下了然自己原即不盲、不聾、不啞,直如迷妄凡夫原皆本具真如佛性,惟於見聞覺知妄起分別,久之自然與諸法實相天淵懸隔,一如有眼之盲者、有耳之聾者、有口之啞者。是以此則公案之關鍵乃在超越見聞覺知之分別妄想,而契入不可思議、不可言說的實相無相之境界,故透過雲門之靈活機法,其僧即頓然省悟。 雪竇重顯頌云(大四八‧二一三中):「盲聾瘖啞,杳絕機宜,天上天下,堪笑堪悲,離婁不辨正色,師曠豈識玄絲?爭如獨坐虛窓下,葉落花開自有時。復云還會也無?無孔鐵鎚。」上引之中,離婁乃黃帝時之著名目明者,能於百步之外明察秋毫之末;師曠乃春秋時代之著名樂師,能辨音以知吉凶。蓋若囿於分別情識,淪失天然本真,則縱然目明如離婁,耳聰如師曠,亦無法平心看待尋常之形色音聲。〔景德傳燈錄卷十八、頌古聯珠通集卷三十一、古尊宿語錄卷三十四、宗門葛藤集卷下〕 ; (玄沙三種病人) Cũng gọi Huyền sa tiếp vật lợi sinh, Huyền sa tam chủng bệnh, Huyền sa tam bệnh. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là cơ duyên ngữ cú của ngài Huyền sa Sư bị nêu lên vấn đề làm thế nào để tiếp hóa 3 loại bệnh nhân: mù, điếc, câm. Tắc 88 trong Bích nham lục (Đại 48, 212 hạ) ghi: Ngài Huyền sa dạy mọi người rằng: Những bậc lão túc ở các nơi đều hết lòng tiếp vật lợi sinh, nhưng nếu gặp 3 loại bệnh nhân mù, điếc, câm đến thì làm sao tiếp hóa? Vì người mù thì giơ chùy, dựng phất, họ không thấy; người điếc thì nói Tam muội họ cũng không nghe; người câm thì bảo nói thì họ cũng không nói được, vậy làm thế nào để giáo hóa, tiếp dắt họ? Nếu không tiếp hóa được những người ấy thì Phật pháp không linh nghiệm sao . Có vị tăng nêu vấn đề này hỏi ngài Vân môn. Ngài nói: Ông lễ bái đi! Vị tăng lễ xong, đứng dậy, ngài Vân môn dùng gậy ra hiệu, vị tăng lùi lại phía sau. Ngài Vân môn nói: Ông không bị mù Rồi bảo vị tăng đến gần. Vị tăng liền tiến đến. Ngài Vân môn nói: Ông không bị điếc! Ngài lại hỏi: Ông có hiểu không? . Vị tăng thưa: Không hiểu . Ngài Vân môn nói: Ông không bị câm . Ngay lời nói ấy, vị tăng tỉnh ngộ. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Tụng cổ liên châu thông tập Q.31; Cổ tôn túc ngữ lục Q.34; Tông môn cát đằng tập Q.hạ].

huyền sa văn yến tử thanh

2022禪宗公案名。為唐代禪師玄沙師備(835~908)因聽聞燕子之鳴聲而拈提之機緣語句。五燈會元卷七(卍續一三八‧一二三上):「師因參次,聞燕子聲,乃曰:『深談實相,善說法要。』便下座。時,有僧請益曰:『某甲不會。』師曰:『去!誰信汝?』」 此則公案中,玄沙聞燕子之聲,乃隨機告示門人,此聲乃諸法實相善巧說法之顯現。然於現實世界中,此種諸法實相之大說法,卻往往無人能知曉,故僧言「不會」。玄沙遂道「去」,其意概謂諸法實相之大說法與人之領會與否無關,而係在於親身之修行體悟;故該僧縱然不能領會,然仍須自行解決自家之生死大事,此則與諸法實相無關,故玄沙斥退之。又該僧既不能了知吾人自身與諸法實相當體之關係,亦未能領悟玄沙以「燕子聲」為諸法實相善說法要之表徵,直如迷妄凡夫,以分別情想而逕自判定燕子聲即燕子聲、諸法實相即諸法實相,彼此兩不干涉,故率然答以「不會」;然玄沙則認為,若自諸法實相單純、直接、自然法爾之意義而言,無論何人皆能領會其真實意義,一如燕子聲實乃諸法實相所顯現的真如法性,故言「誰信汝」,表示不信彼僧不能體會此一單純而自然之法性。 ; (玄沙聞燕子聲) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên ngữ cú của thiền sư Huyền sa Sư bị nhân nghe tiếng chim én kêu mà khai thị cho đại chúng. Ngũ đăng hội nguyên quyển 7 (Vạn tục 138, 123 thượng), ghi: Một lần sư thăng tòa, nghe chim én kêu, sư bèn nói: Đúng là bàn về thực tướng, rất sâu xa, nói pháp yếu khéo léo . Rồi xuống tòa. Lúc ấy, có vị tăng thưa: -Đệ tử không hiểu. Sư nói: -Đi! Ai tin được ông!

huyền sa đáo huyện

2020請參閱 玄沙師備禪師廣錄 禪宗公案名。為唐末五代玄沙師備禪師(835~908)到莆田縣與小塘長老,就「動靜不一不二」之玄境,所作之機緣問答。景德傳燈錄卷十八師備禪師條(大五一‧三四七上):「師南遊莆田縣,排百戲迎接。來日,師問小塘長老:『昨日許多喧鬧,向什麼處去也?』小塘提起衲衣角。師曰:『料掉勿交涉。』」 此則公案,顯示二師之機鋒相當,靈通妙會,充分表現出禪門師家參究玄境時之穎解妙悟與臨機應物之契當捷敏。 蓋「排百戲之喧鬧」,為現象界之表徵,屬於「動」;「向什麼處去」一語所探究者,則為生滅相隨、千古一如之本質,屬於「靜」。然此一動一靜又不一不二之奧旨,自非尋常思辨所可了達,更非一般言語所可詮表,故玄沙藉百戲之熱鬧詢之以動靜之理,已是妙問,小塘默然不語,僅提衣角作答,更是妙答。從容錄第八十一則玄沙到縣(大四八‧二七九下):「夜壑藏舟,澄源著棹,龍魚未知水為命,折筋不妨聊一攪。玄沙師,小塘老,函蓋箭鋒,探竿影草,朂縮也老龜巢蓮,游戲也華鱗弄藻。」〔五燈會元卷七、頌古聯珠通集卷三十一、宗門統要續集卷七〕 ; (玄沙到縣) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Huyền sa Sư bị (835- 908) và Trưởng lão Tiểu đường về cảnh giới huyền diệu Động tĩnh chẳng phải một, chẳng phải hai . Điều Sư bị thiền sư trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 18 (Đại 51, 347 thượng), ghi: Sư đi về phía nam đến huyện Bồ điền, được tiếp rước bằng nhiều trò vui chơi. Hôm sau, sư hỏi Trưởng lão Tiểu đường rằng: Hôm qua có rất nhiều trò huyên náo, hôm nay đâu cả rồi? Ngài Tiểu đường nắm chéo áo đưa lên. Sư nói: Hiển nhiên chẳng dính dáng. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.7; Tụng cổ liên châu thông tập Q.31; Tông môn thống yếu tục tập Q.7].

huyền sách

2031(?~854)唐代僧。會稽(浙江)人,俗姓魯。幼隨父商旅四方,因赴天台山,參與「光明會」,目睹萬人朝拜之盛況,遂隨禪林寺智廣法師出家。其後參謁江西馬祖道一禪師,豁然得悟。於參遊途中,見黃陂九井山山勢奇秀,乃結茅為舍。於大中八年示寂,世壽不詳。諡號「圓寂」。〔宋高僧傳卷十一〕 ; Hsuan T'se (C), Gensaku (J) Tên một vị sư. ; (玄策) (?-854) Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Cối kê (tỉnh Chiết giang), họ Lỗ. Thưở nhỏ, sư theo cha đi buôn bán khắp nơi, nhân dịp đến núi Thiên thai tham dự Hội Quang Minh , thấy cảnh muôn người lễ bái tấp nập, sư bèn lễ pháp sư Trí quảng ở chùa Thiền lâm xin xuất gia. Về sau, sư tham yết thiền sư Mã tổ Đạo nhất ở Giang tây, bổng nhiên ngộ đạo. Trên đường du phương, thấy thế núi Cửu tỉnh hùng vĩ lạ kì, sư bèn dừng lại đây kết am tranh làm nơi ẩn tu. Năm Đại trung thứ 8 (854), sư tịch, thụy hiệu Viên Tịch . [X. Tống cao tăng truyện Q.11].

huyền sướng

2032<一>(416~484)魏晉時代僧。河西金城(位於陝西華縣)人,俗姓趙。幼時,家為胡軍所滅,遂往涼州出家。初名慧智,後至平城,就學於玄高,改名為玄暢。北魏武帝因崔浩及道士寇謙之進言,禁止私養沙門及巫覡,拘捕玄高、慧崇等,師因脫走。 劉宋元嘉二十二年(445),抵揚州,文帝深加禮重,請為太子之師,師固辭,遷荊州,止於長沙寺。時有西域沙門功德直,為師譯菩薩念佛三昧經六卷、無量門破魔陀羅尼經一卷,由師刊正文義,辭旨婉密。師又善繪畫,於劉宋末年,至成都,居大石寺,自畫金剛密迹等十六神像。於昇明三年(479)西遊,望岷嶺,見岷山郡北廣陽縣界有齊后山,遂有終老之志,乃入山結草菴,並於同年建立齊興寺。 及蕭齊武帝即位,司徒文宣王啟迎師至京師,惠文太子亦發使請之,師於是泛舟東下,中途罹疾,止於京師靈根寺,永明二年入寂,世壽六十九,葬於鍾山。師明經律,深達禪要,占記吉凶無不靈驗,於諸子之學多所涉獵。嘗慨嘆華嚴文旨浩博,未有義釋,遂勵精研思,作其疏釋,蓋為華嚴經疏之嚆矢。又善三論,學者宗之,著有訶梨跋摩傳一篇。〔出三藏記集卷十一、梁高僧傳卷八〕 <二>(797~875)唐代僧。宣城人,俗姓陳。字申之。大中年間(847~859),嘗入大內講道,懿宗賜號「法寶」。著有歷代帝王錄、顯正記、科六帖名義圖、三寶五運等書。〔宋高僧傳卷十七〕 ; (玄暢) I. Huyền Sướng (416-484). Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Ngụy Tấn, người Kim thành, Hà tây (thuộc huyện Hoa, tỉnh Thiểm tây), họ Triệu. Thời thơ ấu, cả nhà bị quân Hồ tàn sát, sư liền đến Lương châu xuất gia. Mới đầu, sư lấy tên là Tuệ trí, sau đến Bình thành, theo học ngài Huyền cao, mới đổi tên là Huyền sướng. Vua Vũ đế nhà Bắc Ngụy vì nghe lời sàm tấu của Tể tướng Thôi hạo và đạo sĩ Khấu khiêm chi nên cấm chỉ không ai được cúng dường sa môn và thầy pháp, rồi ra lệnh bắt các ngài Huyền cao, Huệ sùng, v.v... lúc đó sư may mắn chạy thoát. Năm Nguyên gia 22 (445) đời Lưu Tống, sư đến Dương châu, rất được vua Văn đế tôn kính và thỉnh sư làm thầy dạy cho Thái tử, nhưng sư từ chối, rồi đến trụ ở chùa Trường sa tại Kinh châu. Bấy giờ có vị sa môn người Tây vực tên là Công đức trực dịch kinh Bồ tát niệm Phật tam muội 6 quyển và kinh Vô lượng môn phá ma đà la ni 1 quyển, do sư nhuận sắc văn và chứng nghĩa. Sư cũng giỏi về hội họa; vào những năm cuối đời Lưu Tống, sư đến chùa Đại thạch tại Thành đô và tự tay vẽ 16 bức tượng thần Kim cương mật tích. Năm Thăng minh thứ 3 (479), sư đến núi Tề hậu ở huyện Quảng dương, kết am tranh ẩn tu, ít lâu sau, sư xây cất chùa Tề hưng. Đến khi vua Vũ đế nhà Tiêu Tề lên ngôi, quan Tư đồ là Văn tuyên vương và thái tử Huệ văn sai sứ đến thỉnh sư về kinh đô, sư bèn xuôi thuyền xuống miền Đông, nửa đường sư bị bệnh phải dừng lại ở chùa Linh căn nghỉ ngơi. Ngoài cái học nội điển, sư còn tinh thông các thuật chiêm tinh bói toán và học thuyết của Bách gia chư tử. Sư thường than rằng giáo nghĩa Hoa nghiêm sâu rộng, nhưng chưa được giải thích, nên sư chuyên cần tư duy nghiên cứu để soạn lời chú giải. Đó là mở đầu cho các bộ Hoa nghiêm kinh sớ sau này. Ngoài ra sư cũng giỏi về Tam luận nên rất được các học giả tôn sùng. Năm Vĩnh minh thứ 2 (484) sư tịch, thọ 69 tuổi. Tác phẩm: Ha lê bạt ma truyện (1 thiên). [X. Xuất tam tạng kí tập Q.11; Lương cao tăng truyện Q.8]. II. Huyền Sướng(797-875). Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Tuyên thành, họ Trần, tự là Thân chi. Khoảng năm Đại trung (847-859), sư vào cung giảng đạo, được vua Ý tông ban hiệu Pháp Bảo . Các tác phẩm của sư gồm có: Lịch đại đế vương lục, Hiển chính kí, Khoa lục thiếp danh nghĩa đồ, Tam bảo ngũ vận…. [X. Tống cao tăng truyện Q.17].

huyền sớ

2030玄,指天台大師智顗說,章安所記之「法華經玄義」;疏,指同為智顗說,章安記之「法華經文句」。二書併稱為玄疏,又稱為妙玄妙疏。 ; (玄疏) Cũng gọi Diệu huyền diệu sớ. Chỉ cho 2 bộ sách do đại sư Trí khải nói, ngài Chương an ghi chép. Huyền tức là Pháp hoa kinh huyền nghĩa , còn Sớ tức là Pháp hoa kinh văn cú .

Huyền Thiên Thượng Đế

(玄天上帝): xem Bắc Đế ở trên.

Huyền Thấu Tức Trung

(玄透卽中, Gentō Sokuchū, 1729-1807): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời kỳ Giang Hộ, vị Tổ đời thứ 50 của Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji), húy là Tức Trung (卽中), đạo hiệu Huyền Thấu (玄透), thụy hiệu là Động Tông Hoành Chấn Thiền Sư (洞宗宏振禪師); xuất thân vùng Danh Cổ Ốc (名古屋, Nagoya), Vĩ Trương (尾張, Owari, thuộc Aichi-ken [愛知縣]); họ Kim Tỉnh (今井, Imai). Sau khi xuất gia, ông kế thừa dòng pháp của Quan Khánh (官慶) ở Thanh Lương Tự (清涼寺) vùng Cận Giang (近江, Ōmi). Ông từng sống qua các chùa như Thiện Ứng Tự (善應寺) ở Mỹ Nùng (美濃, Mino), Long Ẩn Tự (龍隱寺) ở Võ Tàng (武藏, Musashi, thuộc Saitama-ken [埼玉縣]); rồi đến năm 1795 thì làm Trú Trì đời thứ 50 của Vĩnh Bình Tự. Ông là người tận lực làm giảng hòa cuộc đối lập giữa Vĩnh Bình Tự với Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji), cho đối chiếu Vĩnh Bình Thanh Quy (永平清規) với Hoàng Bá Thanh Quy (黃檗清規) và tiến hành phục hưng nếp phong xưa. Chính ông đã từng tập trung tái hưng già lam và trở thành vị Tổ thời Trung Hưng của chùa. Pháp từ của ông có Đại Khí Thạch Đỉnh (大器石鼎), Huệ Môn Thiền Trí (慧門禪智). Trước tác của ông có Vĩnh Bình Tiểu Thanh Quy (永平小清規) 3 quyển, Tổ Quy Phục Cổ Tạp Cảo (祖規復古雜稿) 1 quyển, Không Hoa Am Lục (空華庵錄) 1 quyển, Huyền Thấu Thiền Sư Ngữ Lục (玄透禪師語錄) 8 quyển, v.v.

Huyền Trang

(玄奘, Genjō, 602-664): một trong 4 nhà dịch kinh lớn nổi danh dưới thời nhà Đường của Trung Hoa, xuất thân Huyện Hầu Thị (緱氏縣), Lạc Châu (洛州, tức Lạc Dương, Tỉnh Hà Nam ngày nay), tên Huy (褘), họ Trần (陳). Ban đầu ông học Kinh Niết Bàn (涅槃經) và Nhiếp Đại Thừa Luận (攝大乘論), và có chí nghiên cứu dựa trên nguyên điển về Duy Thức Học cũng như Luận A Tỳ Đạt Ma (阿毘達磨論). Vào năm thứ 3 (629) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), với tâm mạo hiểm, ông bắt đầu chuyến hành trình Tây du, xuất phát từ kinh đô Trường An. Trãi qua biết bao nhiêu gian khổ, cuối cùng ông đến được Ấn Độ từ con đường phía Bắc của vùng Tân Cương thuộc miền Tây Turkistan, Afghanistan. Tại Na Lan Đà Tự (s: Nālandā, 那蘭陀寺), ông theo hầu Thật Xoa Nan Đà (s: Śikṣānanda, 實叉難陀, 529-645, tức Giới Hiền [戒賢]), học về giáo lý Duy Thức, Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論), v.v. Sau đó, ông đi tham quan du lịch khắp Ấn Độ, chiêm bái các Phật tích và đến năm thứ 19 (645) niên hiệu Trinh Quán, ông trở về Trường An, mang theo 657 bộ kinh văn bằng tiếng Phạn cùng một số tượng Phật, xá lợi, v.v. Sau khi trở về nước, nhờ có sự tín nhiệm của Hoàng Đế Thái Tông, ông bắt đầu sự nghiệp phiên dịch kinh điển của mình cùng các đệ tử tại Hoằng Phước Tự (弘福寺), Từ Ân Tự (慈恩寺) và Ngọc Hoa Cung (玉華宮). Khởi đầu với bộ Đại Bát Nhã Kinh (大般若經) 100 quyển, kinh điển Hán dịch của ông lên đến 76 bộ, 1347 quyển. Sự phiên dịch của ông nhằm mục đích trung thực dựa trên nguyên điển, cho nên các kinh điển được dịch trước thời của ông được gọi là Cựu Dịch, và những kinh điển do ông dịch sau này là Tân Dịch. Bộ Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記), tác phẩm ghi lại chuyến lữ hành của ông sang Ấn Độ, là tư liệu rất quan trọng cho chúng ta biết được địa lý, phong tục, văn hóa, tôn giáo, v.v., của vùng trung ương Châu Á cũng như Ấn Độ vào tiền bán thế kỷ thứ 7. Cũng từ bộ này mà tác phẩm Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân ra đời. Người đời sau gọi ông là Huyền Trang Tam Tạng (玄奘三藏), Tam Tạng Pháp Sư (三藏法師) và tôn sùng như là vị tổ của Pháp Tướng Tông. Vào năm đầu niên hiệu Lân Đức (麟德), ông thị tịch. ; 玄奘; C: xuánzhuǎng; 600-664; còn mang danh hiệu là Tam Tạng Pháp sư, là người tinh thông cả ba tạng, Tam tạng;|Cao tăng Trung Quốc, một trong bốn dịch giả lớn nhất, chuyên dịch kinh sách văn hệ Phạn ngữ (sanskrit) ra tiếng Hán. Sư cũng là người sáng lập Pháp tướng tông (c: fǎxiàng-zōng), một dạng của Duy thức tông (s: yogācāra, vijñānavāda) tại Trung Quốc. |Sư du hành 16 năm (629-645) Ấn Ðộ, lưu lại học tại Na-lan-đà và thăm viếng tất cả các di tích Phật giáo quan trọng. Cuộc hành trình này được ghi trong Ðại Ðường Tây vực kí, giúp hậu thế hiểu nhiều lịch sử Ấn Ðộ trong thế kỉ thứ 7. Sau khi trở lại Trung Quốc, Sư bắt tay vào công trình dịch các tác phẩm của Duy thức tông và các kinh luận khác sang Hán ngữ, như bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitāsūtra) gồm 600 tập; Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra), Nhiếp Ðại thừa luận (s: mahāyāna-saṃgraha) của Vô Trước (s: asaṅga), A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośa-śās-tra), Duy thức tam thập tụng (s: triṃśikā-vijñāptimātratāsiddhi) và Duy thức nhị thập tụng (viṃśatikāvijñāptimātratāsiddhi) của Thế Thân (s: vasubandhu). Sư cũng là tác giả của bộ luận Thành duy thức (s: vijñāpti-mātratāsiddhi), trong đó Sư tổng kết quan niệm Mười đại luận sư của Duy thức tông. Ðó là bộ luận bao gồm đầy đủ giáo lí của học phái này.|Huyền Trang sinh tại Hồ Nam. Năm lên 13 tuổi Sư đã xuất gia và Thụ giới cụ túc năm 21 tuổi. Sư tu học kinh sách Ðại thừa dưới nhiều giảng sư khác nhau và thấy có nhiều chỗ giảng giải mâu thuẫn. Ðây là lí do chính thúc đẩy Sư lên đường đi Ấn Ðộ để tự mình tìm hiểu và năm 629, Sư rời Trường An. Năm 631, Sư đến Kashmir, năm 633 mạo hiểm tìm đến các dấu tích Phật như Ca-tì-la-vệ, Giác Thành và cuối cùng tìm đến đại học Phật giáo Na-lan-đà và được Giới Hiền (s: śīlābhadra) truyền Pháp môn Duy thức. Hai năm sau, Sư rời Na-lan-đà đi Tích Lan, rồi lại trở về Na-lan-đà học tiếp triết học Ấn Ðộ. Danh tiếng của Sư trở nên lừng lẫy, nhiều vua chúa mời Sư giảng dạy. Sư là người biện luận giỏi, nhiều lần thắng đại diện của Tiểu thừa cũng như phái Bà-la môn. Năm 645 Sư trở về Trường An và mang theo 520 bộ kinh sách của Tiểu thừa và Ðại thừa về Trung Quốc. Những năm sau đó, Sư tập trung dịch kinh và dịch được 75 bộ. Vì thông cả văn hệ Phạn ngữ (sanskrit) nên Sư cũng dịch ngược lại Ðạo đức kinh của Lão Tử và Ðại thừa khởi tín luận (s: mahāyānaśraddhotpāda-śāstra) sang Phạn ngữ (vì nguyên bản Phạn đã thất truyền). Ðặc điểm của các bản dịch của Huyền Trang là trình độ văn chương rất cao và rất chính xác. Sư là người có công trong việc đưa vào tiếng Hán một loạt thuật ngữ Phật giáo quan trọng.|Vào thế kỉ thứ 16, dựa vào chuyến Tây du của Huyền Trang, bộ Tây du kí của Ngô Thừa Ân ra đời, trong đó Huyền Trang có tên là Tam Tạng, mang nhiều tình tiết li kì hấp dẫn người đọc.

huyền trang

2024(602?~664)唐代高僧。洛州緱氏縣(河南偃師)人,俗姓陳,名褘。世稱唐三藏,意謂其精於經、律、論三藏,熟知所有佛教聖典。為我國傑出之譯經家,法相宗之創始人。師之生年,一說為隋代開皇二十年(600)。其兄先出家於洛陽淨土寺,法號長捷。師自幼從兄誦習經典,亦嫻儒道百家典籍。大業八年(612),洛陽度僧時,大卿理鄭善果,見師年紀雖小,然對答出眾,賢其器宇,破格以沙彌身分錄入僧籍。師乃與兄共居淨土寺,就慧景聽涅槃經,從嚴法師受大乘論。至隋唐之際,天下大亂,師偕兄遍歷隴、蜀、荊、趙諸地,參謁宿老,足迹及於半個中國。嘗就道基、寶遷二師學攝論、毘曇,從震法師聽發智論。於唐武德五年(622)受具足戒,又學律部。後復從道深受成實論,就道岳學俱舍論,聽法常、僧辯講攝大乘論。因慨嘆眾師所論不一,驗之聖典亦隱顯有異,莫可適從,乃誓遊天竺,以問惑辨疑。 於貞觀三年(629,一作貞觀元年)西行,孤身涉險,歷盡艱難,經秦涼高昌等地,抵天竺北境,即越過今之新疆省北路,經西土耳其斯坦、阿富汗而進入印度境內,沿途瞻禮聖蹟,迤邐南行,至摩揭陀國。時為貞觀五年,師三十歲,遂留學那爛陀寺,入戒賢論師門下,習瑜伽師地論等,又學顯揚、婆沙、俱舍、順正理、對法、因明、聲明、集量、中、百等論,鑽研諸部,凡經五年。其後,徧遊五天竺,歷謁名賢,叩詢請益,尋求梵本。遊學十二年,還那爛陀寺,依戒賢之命講「攝大乘論」、「唯識抉擇論」。時有師子光講中、百二論,駁師之說,師乃會和中觀、瑜伽二宗作「會宗論」三千頌破斥之;後又製「破惡見論」一千六百頌破斥烏荼國小乘論師之「破大乘論」,因而名震五天竺。戒日王等聞名,競相禮謁。 時,師四十一歲,意欲東返。戒日王於曲女城為師作大法會,五印度十八國王均列席,大小乘僧及婆羅門等七千餘人亦到,此即佛教史上著名之曲女城辯論大會。師受請為論主,稱揚大乘,提出論文「真唯識量」頌,懸之於會場門外,經十八日,竟無人發論難之。戒日王益增崇重,十八國王並於會後歸依為弟子。會畢,師決意辭歸,戒日王堅留不成,遂再邀集十八國王於首都鉢羅那迦城,開七十五日之無遮(布施)大會,為師隆重餞行。貞觀十七年,師正式辭王東歸。經由今之新疆省南路、于闐、樓蘭而回國,往返共歷十七年,行程五萬里。於貞觀十九年正月還抵長安,帝敕命梁國公房玄齡等文武百官盛大歡迎。師所齎經像舍利等,凡數百件,其中除佛像及佛舍利一五○粒之外,共請回佛經梵文原典五二○夾六五七部。 師歸後,為太宗、高宗所欽重,供養於大內,賜號「三藏法師」。太宗且曾兩度勸其棄道輔政,師均以「願守戒緇門,闡揚遺法」而固辭之。帝唯從其志,助其譯經工作,建長安譯經院,詔譯新經;師先後於弘福寺、大慈恩寺、玉華宮譯經,凡十九年,共出經論七十五部一三三五卷。譯出之主要經典有:大般若經六百卷、瑜伽師地論一百卷、大毘婆沙論二百卷、俱舍論、成唯識論、攝大乘論等。師於印度所學遂盡傳至中國。 師嘗斥責鳩摩羅什等古代譯經家以「達意」為原則而信筆直譯之翻譯法,遂提倡忠於原典、逐字翻譯之譯經新規則。後代譯經家每以玄奘所立之定則為法式,而稱玄奘以前所譯之經為舊譯,稱玄奘以後所譯之經為新譯。師著有「大唐西域記」十二卷,內載西域、印度、錫蘭等一三八國之歷史、地理、宗教、神話傳說、風土人情等,親踐者一一○國,傳聞者二十八國。該書在佛教史學及古代西域、印度、中亞、南亞之史地、文化上,乃至於中西交通史料上,均富有極高之價值,至堪珍視,故亦甚為歐美日本學者重視。 麟德元年(664)二月五日示寂,世壽六十三(一作六十五、六十九)。師示寂後,高宗哀慟逾恆,為之罷朝三日。追諡「大遍覺」之號。敕建塔於樊川北原。其後,黃巢亂起,或奉其靈骨至南京立塔。太平天國時,塔圯;迨至亂平,堙沒無人能識。對日抗戰(1937~1945)時,日本人入南京,修路掘地得之,移奉其國。後以部分頂骨歸還我國,現奉安於臺灣省南投縣日月潭玄奘寺。〔大慈恩寺三藏法師傳(慧立)、大唐三藏聖教序、大唐西域記序、玄奘三藏師資傳叢書、大唐內典錄卷五、大唐故三藏玄奘法師行狀、續高僧傳卷四、佛祖統紀卷三十九、開元釋教錄卷八、法苑珠林卷二十九、古今譯經圖紀卷四〕 ; Genjo Sanzo (J), Hsuan-chuang (C), Genjo Sanzo (J), Hiuan-Tsang (C), Husan-tsang (C), Hsan Tsang (C), Xuanzang (C), San-tsang (C), Sentsang (C), T'ang-seng (C) Tên một vị sư (600-664) sáng lập Duy Thức tông (Pháp tướng tông), Ngài đi sang Thiên trúc năm 629 và về năm 645 bằng đường bộ. ; Hsuan Tsang, Hsuan Chuang, Hiuen Tsang, Hiouen Tsang, Yuan Tsang Yuan Chwang (C). The famous pilgrim to India, whose surname was Trần, personal name Vĩ, native of Hồ nam, AD 600-664. It is said that he entered a monastery at 13 years of age, and in 618 with his elder brother, who had preceded him in becoming a monk, went to Trường An, the capital, where in 622 he was fully ordained. Finding that China possessed only half of the Buddist classics, he took his staff, bound his feet, and on foot, braved the perils of the deserts and mountains of Central Asia. The date of his setting out is uncertain (629 or 627) but the year of his arrival in India is given as 633; after visiting and studying in many parts of India, he returned home, reaching the capital in 645, was received with honour and presented his collection with 657 works, 'besides many images and pictures and one hundred and fifty relics' to the Court. Thái Tông, the emperor, gave him the Hoằng Phúc Tự in which to work. He presented the manuscript of his famous Đại Đường Tây Vực ký Record of Western Countries in 646 and completed it as it now stands by 648. The emperor Cao Tông called him to Court in 653 and gave him the Từ Vân Tự in which to work, a monastery which ever after was associated with him; in 657 he removed him to Ngũ Hoa Cung and made that place a monastery. He translated seventy five works in 1335 quyển. In India he receives the titles of Mahàyànadeva and Moksadeve; he was also known as Tam Tạng Pháp Sư Tripitaka Teacher of Dharma. He died in 664. ; (玄奘) (602-664) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Khu thị, Lạc châu (huyện Yển sư, tỉnh Hà nam), họ Trần, tên Huy, là Sơ tổ tông Pháp tướng và là nhà dịch kinh nổi bật nhất của Trung quốc, được người đời tôn xưng là Tam tạng pháp sư hoặc là Đường tam tạng. Có thuyết cho rằng ngài sinh năm Khai hoàng 20 (600) đời Tùy. Người anh của ngài xuất gia ở chùa Tịnh độ tại Lạc dương, pháp hiệu là Trường tiệp. Thưở nhỏ, ngài học tập kinh điển với người anh và đọc các sách Nho, Đạo, Bách gia. Năm Đại nghiệp thứ 8 (612), quan nhà Tùy là Trịnh thiện quả, khi tuyển chọn người làm tăng ở Lạc dương, thấy ngài tuy nhỏ tuổi nhưng thông minh xuất chúng, đối đáp trôi chảy, nên đặc cách cho phép ngài làm tăng. Từ đó ngài đến ở chùa Tịnh độ cùng với anh, rồi theo ngài Tuệ cảnh học kinh Niết bàn và theo pháp sư Nghiêm học luận Đại thừa. Khoảng cuối đời Tùy đầu đời Đường, thiên hạ loạn lạc, ngài cùng với anh đi khắp các vùng như: Lũng tây, Ba thục, Kinh châu, Triệu châu, v.v... tham vấn các bậc Lão túc. Ngài học Nhiếp luận, Tì đàm với các ngài Đạo cơ và Bảo thiên, nghe luận Phát trí với pháp sư Chấn. Năm Vũ đức thứ 5 (622) đời Đường, ngài thụ giới Cụ túc, rồi học Luật bộ. Sau lại theo ngài Đạo thâm học luận Thành thực, theo ngài Đạo nhạc học luận Câu xá và nghe các ngài Pháp thường, Tăng biện giảng luận Nhiếp đại thừa. Nhưng ngài thường than rằng, các sư giảng không giống nhau, mà xét trong các Thánh điển cũng có những chỗ bất đồng, cho nên sinh ra nhiều mối ngờ vực, không biết nương vào đâu làm gốc, vì thế ngài phát nguyện đến Thiên trúc để tìm cầu những kinh điển nguyên bản bằng tiếng Phạm để giải quyết mối nghi. Vào năm Trinh quán thứ 3 (629, có thuyết nói Trinh quán năm đầu), ngài khởi hành một mình, trải qua nhiều gian nan, nguy hiểm, đi qua các vùng Tần, Lương, Cao xương, v.v... đến vùng phía bắc Thiên trúc, tức là ngài vượt qua con đường phía bắc tỉnh Tân cương ngày nay, rồi đi về phía tây, qua Turkistan, Afghanistan mà tiến vào nội địa Ấn độ, dọc đường chiêm bái các Thánh tích và cuối cùng đến nước Ma kiệt đà, dừng lại ở chùa Na lan đà. Bấy giờ là năm Trinh quán thứ 5 (631) ngài vừa 30 tuổi. Tại chùa Na lan đà, ngài thờ đại sư Giới hiền làm thầy, học tập các bộ luận như: Du già sư địa, Hiển dương, Bà sa, Câu xá, Thuận chính lí, Đối pháp, Nhân minh, Thanh minh, Tập lượng, Trung, Bách, v.v... trong khoảng 5 năm. Sau đó, ngài đi tham vấn các bậc danh hiền, thạc đức và tìm cầu các bản kinh tiếng Phạm trên toàn cõi Ấn độ suốt 12 năm, rồi trở về chùa Na la đà. Đại sư Giới hiền giao cho ngài giảng các bộ luận Nhiếp đại thừa và Duy thức quyết trạch. Thời bấy giờ, có ngài Sư tử quang thuộc phái Trung quán, giảng Trung luận, Bách luận để bài bác thuyết của ngài Huyền trang, ngài liền dung hội 2 tông Trung quán và Du già mà làm 3.000 bài tụng lấy tên là Hội Tông Luận để bác bỏ thuyết của ngài Sư tử quang. Về sau, ngài lại làm luận Phá Ác Kiến gồm 1.600 bài tụng để phản bác luận Phá Đại Thừa của luận sư Tiểu thừa nước Ô đồ. Từ đó, danh tiếng ngài Huyền trang vang dội khắp cõi Ấn độ. Vua Giới nhật nghe danh ngài xin đến bái yết. Bấy giờ (642), ngài Huyền trang đã được 41 tuổi, ngài có ý muốn trở về Trung quốc. Vua Giới nhật bèn tổ chức Đại pháp hội ở thành Khúc nữ để ngài Huyền trang có dịp tuyên dương giáo lí Đại thừa và tranh luận với các phái Tiểu thừa cùng ngoại đạo. Đây là Đại hội biện luận nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo, với sự tham dự của 18 vị Quốc vương khắp 5 xứ Thiên trúc, cùng với hơn 7.000 vị tăng Đại, Tiểu thừa và Bà la môn. Trong Đại hội này, ngài Huyền trang được mời làm Luận chủ và ngài đề xuất Chân duy thức lượng để làm nội dung cho cuộc tranh luận, rồi treo ở ngoài cửa hội trường. Nhưng qua 18 ngày, không có ai dám đứng ra tranh luận. Vua Giới nhật càng thêm tôn sùng ngài và 18 vị Quốc vương đều xin quy y làm đệ tử. Sau Đại hội ở thành Khúc nữ bế mạc, ngài Huyền trang quyết định trở về nước, vua Giới nhật cố thỉnh ngài lưu lại không được, lại triệu tập 18 vị Quốc vương đến thành Bát la na ca mở Đại hội Vô già (bố thí) trong 75 ngày để tiễn chân ngài về nước. Năm Trinh quán 17 (643), ngài Huyền trang chính thức từ biệt vua Giới nhật để lên đường hồi hương. Ngài theo con đường phía nam tỉnh Tân cương ngày nay, qua các xứ Vu điền, Lâu lan, v.v... mà về nước. Cuộc hành trình của ngài, từ khi đi đến lúc về, ròng rã 17 năm, trải qua 5 vạn dặm đường. Vào tháng giêng năm Trinh quán 19 (645), ngài về tới Trường an, vua sai trăm quan văn vũ như Lương quốc công Phòng huyền linh, v.v... tổ chức đại lễ đón rước ngài, cùng với kinh, tượng, xá lợi do ngài mang về gồm vài trăm kiện, trong đó có 657 bộ kinh tiếng Phạm. Sau khi về nước, ngài được vua Thái tông và vua Cao tông tôn sùng, tổ chức lễ cúng dường trong cung và ban hiệu Tam Tạng Pháp Sư . Vua Thái tông đã 2 lần khuyên ngài hoàn tục để giúp việc nước, ngài đều từ chối với lí do nguyện giữ giới trọn đời, hoằng dương Phật pháp để báo đáp quốc ân. Cuối cùng, vua cũng phải thuận theo chí nguyện của ngài và giúp đỡ ngài trong sự nghiệp phiên dịch kinh điển sau này. Ngài Huyền trang lần lượt ở các chùa: Hoằng phúc, Đại từ ân và cung Ngọc hoa. Trong 19 năm, ngài dịch được 75 bộ, gồm 1335 quyển kinh, luận. Trong đó, có những bộ kinh, luận chủ yếu như: Kinh Đại bát nhã 600 quyển, luận Du già sư địa 100 quyển, luận Đại tì bà sa 200 quyển, luận Câu xá, luận Thành duy thức, luận Nhiếp đại thừa. Ngài thường chê trách phương pháp dịch ý của ngài Cưu ma la thập mà đề xướng qui tắc phiên dịch trung thành với nguyên tác và dịch từng chữ. Qui tắc này đã trở thành chuẩn mực cho các nhà dịch kinh đời sau. Từ đó, các kinh được dịch trước thời ngài Huyền trang gọi là Cựu dịch (dịch cũ), từ ngài Huyền trang trở về sau gọi là Tân dịch (dịch mới). Ngoài ra, ngài còn soạn bộ Đại Đường Tây Vực Kí 12 quyển, trong đó, ngài thuật lại cuộc hành trình Tây du cầu pháp của ngài trong 17 năm, trải qua 138 quốc gia; những điều ngài thấy nghe và tìm hiểu về lịch sử, địa lí, tông giáo, văn hóa, phong thổ, sơn xuyên, sản vật, nhân tính, v.v... của những nơi mà ngài đã đi qua, đều được ghi chép rõ ràng. Bộ sách này không chỉ là một bộ du kí mà về mặt lịch sử, địa lí, văn hóa, giao thông… đều có giá trị rất lớn, vô cùng quí báu cho việc nghiên cứu về các nước Tây vực, Ấn độ và vùng Trung á, ở thời cổ đại. Vì thế, bộ sách đã được các học giả trên thế giới rất coi trọng, và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ngày mồng 5 tháng 2 niên hiệu Lân đức năm đầu (664) ngài thị tịch, thọ 63 tuổi(có các thuyết nói ngài thọ 65 tuổi, 69 tuổi). Nghe tin ngài tịch, vua Cao tông nhà Đường rất đau buồn, bãi triều 3 ngày. Vua ban thụy hiệu cho ngài là Đại Biến Giác và sắc lệnh xây tháp thờ ngài trên ngọn đồi ở phía bắc Phiền xuyên. Về sau, khi loạn Hoàng sào nổi lên, linh cốt của ngài được đưa về nhập tháp tại Nam kinh. Thời Thái bình thiên quốc, tháp bị đổ nát, đến khi yên định thì không còn dấu tích gì có thể nhận ra. Thời kháng chiến chống Nhật (1937-1945), người Nhật bản đến Nam kinh, sửa đường đào đất phát hiện được linh cốt của ngài, họ bèn đưa về thờ ở nước của họ. Về sau, họ trả lại một phần xương đỉnh đầu cho Trung quốc và hiện đang được thờ ở chùa Huyền trang tại đầm Nhật nguyệt, huyện Nam đầu, tỉnh Đài loan. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện (Tuệ lập); Đại đường tam tạng thánh giáo tự; Đại đường tây vực kí tự; Huyền trang tam tạng sư tư truyện tùng thư; Đại đường nội điển lục Q.5; Đại đường cố tam tạng Huyền trang pháp sư hành trạng; Tục cao tăng truyện Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.39; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Pháp uyển châu lâm Q.29; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4].

Huyền Trang Tam Tạng 玄奘三藏 (600-664);

[ja] ゲンジョウサンゾウ Genjō sanzō ||| (600-664); "Tripitaka Master" Xuanzang sanzang. One of the most important figures in the history of scholastic Chinese Buddhism. A monk who lived in Changan 長安 at the outset of the Tang dynasty. He became famous for his 17 year-long trip to India, during which he studied with many famous Buddhist masters, especially at the famous center of Buddhist learning in Nālanda temple 那爛陀寺. When he returned, he brought with him some 657 Sanskrit texts. With the emperor's support, he set up a large translation bureau in Changan, drawing students and collaborators from all over East Asia. He is credited with the translation of some 1,330 fascicles of scriptures into Chinese. His strongest personal interest in Buddhism was in the field of Yogācāra/Consciousness-only. The force of his own study, translation and commentary of the texts of these traditions initiated the development of the Faxiang school (法相宗) in East Asia. Although the school itself did not thrive for a long time, its theories found their way into the doctrines of other more successful schools. Xuanzang's closest and most eminent student was Kuiji (窺基) who became recognized as the first patriarch of the Faxiang school. => (k: Hyŏnjang samjang; e: Tripitaka Master Xuanzang sanzang; j: Genjō sanzō). Là một trong những nhân vật quan trọng trong lịch sử học thuật của Phật giáo Trung Hoa. Là tăng sĩ ởTrường An vào đầu đời Đường. Ngài trở nên nổi tiếng qua chuyến đi sang Ấn Độ dài 17 năm, trong suốt thời gian đó, Ngài học tập với nhiều tăng sĩ Phật giáo nổi tiếng, đặc biệt là được theo học tại trung tâm nghiên cứu Phật giáo danh tiếng thuộc Tu viện Na-lan-đà (k: Nālanda 那爛陀). Khi trở về Trung Hoa, Ngài đem theo 657 bản kinh tiếng Sanskrit. Với sự hỗ trợ của vương triều, Ngài mở nột đạo tràng phiên dịch đông đảo ở Tràng An, gồm nhiều nhà nghiên cứu và cộng tác viên khắp vùng Đông Á. Ngài có công trong việc phiên dịch chừng 1.330 bản kinh sang tiếng Hán. Lĩnh vực sở trường của Ngài trong Phật học là Duy thức. Tác dụng của việc nghiên cứu, phiên dịch, luận giải của Ngài về những kinh luận thuộc hệ giáo lý nầy đã mở đầu cho sự phát triển Pháp tướng tông (法相宗) ở Á Đông. Mặc dù tông nầy không duy trì được lâu, nhưng giáo lý đó đã làm nền tảng phương pháp cho những giáo lý của những tông phái vững mạnh khác. Môn đệ thân tín và nổi tiếng của Huyền Trang là Khuy Cơ (s: Kuiji 窺基), được xem là Sơ tổ của Pháp tướng tông.

huyền trang tự

2024位於臺灣南投縣日月潭畔。民國五十年(1961),為供奉玄奘之頂骨及舍利而創建。為日月潭名勝之一。民國四十一年世界佛教友誼會時,日人高森隆介、倉持秀峰聲明欲歸還民國三十一年在南京所獲之玄奘頂骨舍利,我國佛教界乃籌建本寺以供奉之。於民國五十五年,先總統 蔣公曾飭令政府資助工程建築。金山江天寺太滄、松山寺道安、福嚴精舍演培、海明寺悟明等法師,皆曾兼任本寺住持。本寺山門及正殿之建築頗壯觀。寺內奉有玄奘舍利塔及玄奘塑像。 ; (玄奘寺) Chùa nằm bên bờ đầm Nhật nguyệt, huyện Nam đầu, Đài loan, được sáng lập vào năm 1961, để thờ xương đỉnh đầu và xá lợi của ngài Huyền trang. Đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng ở Đài loan. Năm 1952, trong thời gian Hội Hữu nghị Phật giáo thế giới nhóm họp tại Tokyo, 2 ông Cao sâm Long giới và Thương trì Tú phong người Nhật bản tuyên bố trả lại xương đỉnh đầu và xá lợi của ngài Huyền trang mà họ đã tìm thấy ở Nam kinh vào năm 1942, giới Phật giáo Trung quốc bèn xây cất chùa này để phụng thờ, kinh phí do chính phủ Đài loan giúp đỡ. Các ngài Thái thương chùa Giang thiên ở Kim sơn, ngài Đạo an chùa Tùng sơn, ngài Diễn bồi tịnh xá Phúc nghiêm, pháp sư Ngộ minh chùa Hải minh, v.v... đã lần lượt kiêm nhiệm chức Trụ trì chùa này.

huyền triều

2031日本僧。為日本十世紀佛教初期之繪佛師。又稱飛鳥寺玄朝。在東大寺要錄中,載有元興寺玄朝、院政之名。又今藏於醍醐寺之不動明王、二童子等兩圖像,頗類似青蓮院之青不動,據考證似出自師之手筆,世稱「玄朝樣」。

huyền trung tự

2019位於山西交城西北十五公里石壁山之南。為淨土宗主要道場之一。又作玄忠寺。現稱大龍山石壁永寧玄中禪寺。北魏孝文帝延興二年(472)淨土教高僧曇鸞最早在此建寺,至承明元年(476)始告完成。然各書記載,該寺創立年代不一,僅知為北魏末年曇鸞所建。隋末道綽、唐代善導相繼住持該寺,繼承曇鸞之淨土系統。日本親鸞亦接受曇鸞一脈相承之淨土教義,建立淨土真宗,並視玄中寺為祖庭。 唐貞元十三年(797),比丘慎微在此建戒壇,敕賜「甘露無礙義壇」,與長安之靈感壇、洛陽之會善壇等,合稱三都三戒壇。其後即成為律寺,至元代始改為禪寺,稱為大龍山十方護國石壁永寧禪寺。 寺中存有曇鸞之碑,天王殿左右有鐘樓、鼓樓,殿後有小觀音殿,殿左右為客堂、禪堂。再內為大雄寶殿,左右為方丈、客堂、廚房,上方左右為準提堂、接引堂。再上為西方聖境(彌陀堂),最深處為千佛閣,閣內安置二二五尊鐵造佛坐像。〔續高僧傳卷六曇鸞傳、卷二十道綽傳、山西通志卷一六八、大清一統志卷九十七、中國佛教史蹟踏查記(常盤大定)、中國淨土教與玄中寺(道端良秀)〕 ; (玄中寺) Chùa ở phía nam núi Thạch bích, cách huyện Giao thành thuộc tỉnh Sơn tây, Trung quốc 15, km về mạn tây bắc, do ngài Đàm loan sáng lập vào năm Diên hưng thứ 2 (472) đời vua Văn đế nhà Bắc Ngụy. Chùa này là một trong những đạo tràng chủ yếu của tông Tịnh độ. Hiện nay được gọi là Đại long sơn thạch bích Vĩnh ninh huyền trung thiền tự. Sau ngài Đàm loan đời Bắc Ngụy thì đến các ngài Đạo xước đời Tùy, ngài Thiện đạo đời Đường nối tiếp nhau hoằng dương Tịnh độ giáo và trụ trì ngôi chùa này. Ngài Thân loan của Nhật bản cũng tiếp nhận giáo nghĩa Tịnh độ, thành lập Tịnh độ Chân tông và xem chùa này là Tổ đình. Năm Trinh nguyên 13 (797), tỉ khưu Thận vi lập giới đàn ở chùa này, được vua ban hiệu là Cam lộ vô ngại nghĩa đàn . Giới đàn này cùng với Linh cảm đàn ở Trường an và Hội thiện đàn ở Lạc dương được gọi chung là Tam đô tam giới đàn. Về sau, chùa này trở thành chùa của Luật tông, mãi đến đời Nguyên mới được đổi làm Thiền tự, gọi là Đại long sơn Thập phương hộ quốc Thạch bích Vĩnh ninh thiền tự. Trong chùa hiện còn bia của ngài Đàm loan, điện Thiên vương, lầu chuông, lầu trống, điện Phật, điện Quan âm, Khách đường, Thiền đường, Phương trượng, Tiếp dẫn đường, v.v... Ngoài ra, còn có Thiên Phật các(Gác Nghìn Phật), trong đó thờ 225 pho tượng Phật ngồi đúc bằng sắt. [X. truyện Đàm loan trong Tục cao tăng truyện Q.6, truyện Đạo xước Q.20; Sơn tây thông chí Q.168; Đại thanh nhất thống chí Q.97; Trung quốc Phật giáo sử tích đạp tra kí (Thường bàn Đại định); Trung quốc Tịnh độ giáo dữ Huyền trung tự (Đạo đoan Lương tú)].

huyền trách

2034唐代僧。生卒年不詳。為禪宗五祖弘忍之法嗣。太原祁縣(山西汾陽)人,俗姓王。唐玄奘自貞觀二十年(646)正月十七日至閏二月二十九日間,於弘福寺翻經院譯出大乘阿毘達磨雜集論十六卷時,師曾任筆受之職。又於玄奘譯出大菩薩藏經二十卷時,與行友同任綴緝。咸亨元年(670)至雙峰山,入五祖弘忍門下,承其教誨。後止於安州壽山(湖北),嘗感得五色舍利。久視元年(700),蒙則天武后召見。景龍二年(708),奉敕至京師,受中宗之皈依。曾撰楞伽人法志,然今不存。其弟子淨覺即以楞伽人法志為基礎,撰述著名之楞伽師資記。該書被發現於敦煌,為研究禪宗史極珍貴之資料。〔楞伽師資記、續高僧傳卷四、開元釋教錄卷八、景德傳燈錄卷四、禪宗史研究(宇井伯壽)〕 ; (玄賾) Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Kì, Thái nguyên (huyện Phần dương, tỉnh Sơn tây), họ Vương, là đệ tử nối pháp của Ngũ tổ Hoằng nhẫn. Năm Trinh quán 20 (646), ngài Huyền trang dịch bộ luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập 16 quyển, ở viện Dịch kinh chùa Hoằng phúc, thì sư giữ chức Bút thụ. Đến khi ngài Huyền trang dịch Đại Bồ tát tạng kinh 20 quyển, thì sư cùng với Hạnh hữu giữ việc nhuận sắc văn. Sau, sư vào ẩn tu tại Thọ sơn ở An châu (Hồ bắc). Năm Cảnh long thứ 2 (708), sư vâng sắc về kinh đô thụ Tam qui cho vua Trung tông. Đệ tử là Tịnh giác căn cứ vào Lăng già nhân pháp chí của sư mà soạn bộ Lăng già sư tư kí, được phát hiện tại Đôn hoàng, là tư liệu rất quí để nghiên cứu lịch sử Thiền tông. Tác phẩm: Lăng già nhân pháp chí (đã thất truyền). [X. Lăng già sư tư kí; Tục cao tăng truyện Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ)].

Huyền Tán 玄贊

[ja] ゲンサン Gensan ||| The Xuanzan; An abbreviation of the title of the Fahuajing xuanzan 法華經玄贊. => (c: Xuanzan); viết tắt của Pháp Hoa Kinh Huyền Tán (c: Fahuajing xuanzan 法華經玄贊).

Huyền Tân 玄賓

[ja] ゲンヒン Genbin ||| Genbin (?-818) monk of the Hossō school 法相宗, who resided primarily at Kōfuku-ji 興福寺. He was initially ordained at Kōfuku-ji where he learned Yogācāra doctrine from Senkyō 宣教. He later practiced in a hermitage at the foot of Mt. Miwa三輪山. He was then invited to come and be a preceptor at the royal court. He attempted to refuse this appointment, but ended up having to take it, and later ended up holding increasingly higher administrative posts. He was later able to travel to China. Although his precise dates are not known, he was over eighty when he passed away. => (j: Genbin ?-818) Tăng sĩ thuộc Pháp tướng tông Nhật Bản, phần lớn trú tại Hưng Phước tự (j: Kōfuku-ji 興福寺). Ban đầu sư xuất gia tại Hưng Phước và được học giáo lý Du-già hành tông với ngài Tuyên Giáo (j: Senkyō 宣教). Sao đó, sư ẩn cư tu tập dưới chân núi Tam Luân (j: Miwa三輪山). Rồi sư được triệu vào dạy Phật pháp trong Hoàng cung. Sư hết sức từ chối nhiệm vụ nầy, nhưng cuối cùng buộc phải nhận, và sau đó viên tịch khi giữ những chức vụ cao nhất.Về sau, Sư cũng có sang Trung Hoa. Mặc dù không rõ ngày tháng chính xác, biết sư viên tịch vào lúc trên 80 tuổi.

huyền tín

2023(1893~1980)臺灣新竹人,俗姓陳。字覺本。出生於竹東望族,民國十八年(1929),皈依三寶,禮臺北護國禪寺日籍住持高林玄寶為師。二十年,於臺北市環河北街創建勸化堂。其後,東渡日本,於京都臨濟學院研究佛學,並在大本山妙心寺受戒。二十九年,畢業於臨濟學院,返國繼續主持勸化堂,並積極展開弘法布教工作。三十一年,於臺北內湖購地,興建金龍寺,後受二次世界大戰影響,被迫停工,迨至四十一年臺灣社會逐漸安定,乃再度興工。五十七年冬,增建金龍寶塔。該寺構築宏偉,環境優雅,近年來成為臺北近郊之觀光勝地。五十一年,當選為全國好人好事代表。五十二年,於臺北臨濟寺受具足戒。歷任臺北市佛教分會理事、臺北縣佛教支會理事長、臺灣省佛教分會理事長,及中國佛教會理事等職。

huyền tông

2022請參閱玄沙師備禪師廣錄 請參閱玄沙師備禪師廣錄 乃佛教之通名。意謂玄妙之宗趣。與玄旨同義。注維摩詰經卷一序(大三八‧三二七中):「常恐玄宗墜於譯人。」唯識樞要卷上本(大四三‧六○八上):「文蘊玄宗,情恢奧旨。」 ; Hsuan-tsung (C), Xuanzong (C) (685-762) Một vị vua đời Đường. ; The profound principles, or propositions, i.e. Buddhism. ; (玄宗) Đồng nghĩa: Huyền chỉ. Tông chỉ huyền diệu, tức gọi chung Phật giáo. Bài tựa trong Chú duy ma cật kinh quyển 1 (Đại 38, 327 trung), nói: Thường sợ rằng huyền tông có thể bị những người phiên dịch làm sai lạc . Duy thức xu yếu quyển thượng phần đầu (Đại 43, 608 thượng), nói: Văn chứa huyền tông, ý hàm áo chỉ .

huyền tảo

2035劉宋時代比丘尼。生卒年不詳。吳郡(江蘇)人,俗姓路。年十餘,患重疾,良藥無效。時太玄臺寺僧法濟語其父,謂此疾由業障而來,非藥所能消。乃設觀音齋,經七月,果感靈瑞,沈疴消癒,遂即出家,住太玄臺寺,誦法華經,蔬食長齋,願生兜率,歷三十七載,精勤匪懈。元嘉十六年(439),出都造經,不知所終。〔比丘尼傳卷二〕

Huyền Tắc

(玄則, Gensoku, ?-?): nhân vật sống vào đầu thời nhà Tống, vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, người vùng Vệ Nam (衛南), Hoạt Châu (滑州), Tỉnh Hà Nam (河南). Ông kế thừa dòng pháp của Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) ở Thanh Lương Viện (清涼院), rồi sau đó đến trú tại Báo Ân Viện (報恩院) ở Kim Lăng (金陵), nên được gọi là Báo Ân Huyền Tắc (報恩玄則). Ban đầu ông đến tham yết Thanh Phong (青峰), rồi sau đến khi tham vấn Pháp Nhãn, ông cũng được trả lời cùng câu như Thanh Phong trả lời trước kia, và lần này ông đốn ngộ. Không bao lâu sau, ông khai đường giáo hóa tại Báo Ân Viện, còn hành tung sau này của ông thì không rõ.

huyền tắc

Hsuan Tse (C), Gensoku (J) Tên một vị sư.

huyền tịch

2035玄妙典籍,通常指佛教經典。注維摩詰經序(大三八‧三二七上):「至韻無言,而玄籍彌布。」四分律刪繁補闕行事鈔卷下四(大四○‧一四八中):「創染玄籍,標心處遠。」〔四分律行事鈔資持記卷下四之一〕 ; Yhe profound scriptures, codes. ; (玄籍) Kinh sách nhiệm mầu, sâu xa, thông thường chỉ cho kinh điển của Phật giáo. Bài tựa trong Chú duy ma cật kinh (Đại 38, 327 thượng), nói: Chỗ cùng tột của âm vận là không lời, nhưng kinh sách nhiệm mầu thì đầy khắp . Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ phần 4 (Đại 40, 148 trung), ghi: Đặt ra kinh sách nhiệm mầu để nêu tỏ chỗ sâu thẳm của tâm . [X. Tứ phần luận hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 4 đoạn 1].

huyền tố

2029(668~752)唐代僧。為牛頭宗第五世智威禪師之法嗣。潤州(江蘇)延陵人。俗姓馬,字道清,故亦稱馬素。唐如意元年(692),於江寧長壽寺出家,受具足戒後,常思玄微,頗受世人尊崇。既解色空,心慕宗匠,晚年乃入青山幽棲寺,師事智威禪師,遂悟真宗。伏形苦節,貴賤怨親皆無喜慍,時人稱之為嬰兒行菩薩。開元年中(713~742),應僧人汪密之請,至京口。又應郡牧韋銑之請,居於潤州黃鶴山之鶴林寺,緇素歸誠,充塞寺宇,王侯每稽首迎請,師亦不為所動。一日,有屠者前來禮謁,懺悔先罪,請師應供,乃欣然受之,降詣其舍,士庶驚駭稱異,素乃謂(大五一‧二二九下):「佛性平等,賢愚一致,但可度者,吾即度之,復何差別之有?」天寶十一年示寂,世壽八十五。其門徒為之建塔於黃鶴山之西。太和年中,追諡「大律禪師」。〔祖堂集卷三、景德傳燈錄卷四、佛祖歷代通載卷十三、宋高僧傳卷九〕 ; Hsuan su (C), Hao lin (C) Hạc Lâm Tên một vị sư. ; (玄素) (668-752) Vị Thiền tăng Trung quốc, thuộc tông Ngưu đầu, sống vào đời Đường, người Diên lăng, Nhuận châu (tỉnh Giang tô), họ Mã, tự là Đạo thanh, vì thế cũng gọi là Mã tố, là đệ tử nối pháp của thiền sư Trí uy. Niên hiệu Như ý năm đầu (692) đời Đường, sư xuất gia ở chùa Trường thọ tại Giang ninh. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư thường tư duy về nghĩa lí huyền nhiệm, mến mộ các bậc tông tượng. Cuối đời, sư vào chùa U thê ở Thanh sơn thờ ngài Trí uy làm thầy và liễu ngộ chân tông, nhưng vẫn hiện thân tu hành cần khổ. Đối với sang hèn, oán thân đều xem bình đẳng, người đương thời tôn xưng sư là vị bồ tát Anh nhi hạnh. Khoảng năm Khai nguyên (713-742), nhận lời mời của vị tăng tên Uông mật, sư đến Kinh khẩu, sau đó, lại theo lời thỉnh cầu của quan Quận mục tên là Vi tiển, sư đến ở chùa Hạc lâm trên núi Hoàng hạc tại Nhuận châu, giới xuất gia, tại gia đều thành kính qui y, các bậc vương hầu thường lễ bái đón mời, nhưng sư không vì thế mà động tâm. Một hôm, có người đồ tể đến bái kiến sư, sám hối những tội lỗi đã làm và thỉnh sư đến nhà để được cúng dường, sư hoan hỷ nhận lời, đến nhà người đồ tể, mọi người đều kinh ngạc cho là việc kì lạ, sư bèn nói (Đại 51, 229 hạ): Phật tính bình đẳng, hiền ngu như nhau, hễ người nào độ được thì ta độ, nào có phân biệt gì? . Năm Thiên bảo 11 (752) sư thị tịch, thọ 85 tuổi. Các đệ tử dựng tháp thờ sư ở phía tây núi Hoàng hạc, thụy hiệu Đại luật Thiền sư . [X. Tổ đường tập Q.3; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Phật tổ lịch đại thông tải Q.13; Tống cao tăng truyện Q.9].

huyền uyển

2031(562~636)隋唐時代僧。本籍為弘農華陰,後遷居雍州新豐,俗姓楊。十五歲出家,從曇延受具足戒,復從洪遵學四分律,遂精通律部,持戒嚴謹。更就曇遷學一切經,且善能講說。貞觀初年,朝廷詔師為太子諸王授菩薩戒,並造普光寺以安之。嘗以行慈、減殺、順氣、奉齋等四事誡太子,帝聞其說,特於貞觀九年下詔,自三月至五月斷屠,師上啟更延,帝特聽許延長至年底。貞觀十年,示寂於延興寺,世壽七十五。道俗哀悼,會葬者十萬餘眾。著有佛教後代國王賞罰三寶法、安養蒼生論、三德論等各一卷。〔續高僧傳卷二十二、佛祖統紀卷三十九、釋氏稽古略卷三〕 ; (玄琬) (562-636) Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy Đường, người Hoằng nông, Hoa âm, sau dời đến huyện Tân phong, Ung châu, họ Dương. Sư xuất gia năm 15 tuổi, y vào ngài Đàm diên thụ giới Cụ túc, rồi theo ngài Hồng tuân học luật Tứ phần. Sư tinh thông Luật bộ và giữ giới nghiêm khắc. Sư học kinh, luận với ngài Đàm thiên và có năng khiếu giảng thuyết. Đầu năm Trinh quán (627), triều đình ban chiếu thỉnh sư thụ giới Bồ tát cho Thái tử và các Thân vương, đồng thời xây chùa Phổ quang thỉnh sư trụ trì. Sư thường dạy Thái tử 4 việc là: Thực hành từ bi, không giết hại, không tức giận và ăn chay. Vua nghe việc ấy, đặc biệt ra lệnh trong năm Trinh quán thứ 9 (635), từ tháng 3 đến tháng 9, không được sát sinh, sư tâu vua triển hạn thêm, vua chấp thuận đến cuối năm. Năm Trinh quán thứ 10 (636), sư tịch ở chùa Diên hưng, thọ 75 tuổi. Sư có các tác phẩm: Phật giáo hậu đại quốc vương thưởng phạt Tam bảo pháp, An dưỡng thương sinh luận (1 quyển), Tam đức luận (1 quyển). [X. Tục cao tăng truyện Q.22; Phật tổ thống kỉ Q.39; Thích thị kê cổ lược Q.3].

huyền vi

Profound and subtle; undecipherable.

Huyền văn

(玄文): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho loại hoa văn có màu đen huyền. Như trong Sở Từ (楚辭), chương 9, phần Hoài Sa (懷沙) có câu: “Huyền văn xử u hề, mông tẩu vị chi bất chương (玄文處幽兮、矇瞍謂之不章, hoa văn đen chỗ tối chừ, mắt mờ bảo chẳng thấy rõ).” Nhà ngôn ngữ học Khương Lượng Phu (姜亮夫, 1902-1995) chú thích rằng: “Huyền văn, hắc văn dã (玄文、黑文也, huyền văn là hoa văn màu đen).” (2) Chỉ cho chiếu lịnh hay Thánh chỉ của triều đình. Như trong bài Tiêu Bái Thái Úy Dương Châu Mục Biểu (蕭拜太尉揚州牧表) của Giang Yêm (江淹, 444-505) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Huyền văn ký giáng, điêu điệp tăng huy (玄文旣降,雕牒增輝, chiếu chỉ ban xuống, điệp khắc rạng ngời).” (3) Chỉ cho văn từ thâm áo. Như trong bài Vị Long Tuyền Tự Mộ Tạo Tàng Kinh Lâu Khải (爲龍泉寺募造藏經樓啟) của Củng Tự Trân (龔自珍, 1792-1841) nhà Thanh có đoạn rằng: “Minh chi sĩ đại phu, tịch thừa bình chi thanh hà, vãng vãng thám bí điển, vấn huyền văn, Chi Na thạnh hữu thuật tác (明之士大夫、席承平之清暇、往往探祕典、問玄文、支那盛有述作, các nhà sĩ đại phu nhà Minh, nhân những lúc nhàn rỗi thời thái bình, học hỏi văn từ thâm áo, nên Trung Hoa có rất nhiều trước tác).” Trong Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán (修華嚴奧旨妄盡還源觀, Taishō Vol. 45, No. 1876) có đoạn: “Bị Tam Tạng chi huyền văn, bằng Ngũ Thừa chi diệu chỉ, phồn từ tất tước, khuyết nghĩa phục toàn (備三藏之玄文、憑五乘之妙旨、繁辭必削、缺義復全, đủ Ba Tạng ấy huyền văn, nương Năm Thừa ý diệu, từ nhiều bỏ bớt, nghĩa thiếu lại tròn).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 2 cũng có đoạn rằng: “Đại Giác di ngôn, quần sanh pháp lạc, thậm thâm áo nghĩa, bí mật huyền văn, Long Vương kính nhi hải tạng thu, Đế Thích khâm nhi thiên thần phủng (大覺遺言、群生法樂、甚深奧義、秘密玄文、龍王敬而海藏收、帝釋欽而天神捧, đấng Đại Giác dặn dò, chúng sanh hưởng pháp lạc, thâm sâu áo nghĩa, bí mật huyền văn, Long Vương kính trọng mà biển cả thu giữ, Đế Thích khâm phục mà thiên thần trân trọng).”

huyền y ông

6768與「奪衣婆」同為冥府十王中初江王之部屬。據淨土見聞集載,人死後二七日(第二個七日)時,至冥府初江王廳,即有奪衣婆上前將死者所著之衣剝走,交予懸衣翁掛於衣領樹,依所掛樹枝之高下,而判其罪業之輕重。〔地藏菩薩發心因緣十王經卷二〕 ; (懸衣翁) Bộ hạ của Sơ giang vương trong Thập điện minh vương. Cứ theo Tịnh độ kiến văn tập, thì người chết sau 14 ngày, phải đến sảnh đường của Sơ giang vương ở âm phủ, lúc đó, Đoạt y bà lột hết quần áo của người chết, rồi đem giao cho Huyền y ông, Huyền y ông treo quần áo ấy lên cây Y lãnh, tùy theo treo cao hay thấp mà phán xét tội nghiệp của người chết là nặng hay nhẹ. [X. kinh Địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương Q.2].

huyền đàm

6770懸,先之意。又作玄談、懸譚。指講經論者於講說經論文句之前,先述題號、撰者及全書大意等。如普寧之起信論懸談、澄觀之華嚴經疏鈔玄談即為其例。略與「玄義」、「玄論」、「開題」等詞同義。〔盂蘭盆疏記卷下〕 ; 2033<一>玄,同懸。又作懸談、懸譚。指緒論一部著作中幽玄之要旨者。即解釋一經論時,於釋入本文之前,先講述該經論大體之旨趣、題目、體例,或作者等。如華嚴經疏鈔玄談、華嚴懸談會玄記、起信論懸譚之類即是。語同玄義、玄論、開題。 <二>總論佛教之玄理者,例如十玄談等。 <三>指黃老之術,意謂虛空奧妙之言論。 ; (玄談) I. Huyền Đàm. Đồng nghĩa: Huyền nghĩa, Huyền luận, Khai đề. Bàn về tựa đề, thể lệ, chỉ thú, hoặc tác giả của một bộ kinh luận nào đó, trước khi giải thích phần chính văn. Như: Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm, Hoa nghiêm huyền đàm hội huyền kí, Khởi tín luận huyền đàm, v.v…... II. Huyền Đàm. Bàn luận một cách tổng quát về lí huyền nhiệm của Phật giáo. Như: Thập huyền đàm, v.v…... III. Huyền Đàm. Chỉ cho thuật Hoàng lão. Tức là những lời bàn luận bông lông không sát thực.

Huyền đàn

(玄壇): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ cho tôn xưng Chánh Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái (正一玄壇元帥, hay Kim Long Như Ý Chánh Nhất Long Hổ Huyền Đàn Chơn Quân [金龍如意正一龍虎玄壇眞君]) của Thần Tài Triệu Công Minh (趙公明). Tượng của ông được vẽ đứng đạp trên con hổ đen, nên có tên là Hắc Hổ Huyền Đàn (黑虎玄壇). (2) Chỉ cho các Đạo Quán hay đàn tràng của Đạo Giáo. Như trong bài thơ Nhạc Từ Trai Cung Dạ Túc (岳祠齋宮夜宿) của Nguyên Hảo Vấn (元好問, 1190-1257) nhà Kim có câu: “Huyền đàn triển suy bộ, tợ dục trục u bình (玄壇展衰步、似欲逐幽屛, đàn tràng từng bước xuống, như muốn đuổi ma binh).” Hay trong bài Kỳ Đảo (祈禱) của tác phẩm Hương Nang Ký (香囊記) do Thiệu Xán (邵璨, ?-?) nhà Minh sáng tác, có đoạn: “Vi nhân cốt nhục bệnh thương tâm, đặc quá huyền đàn khải pháp âm (爲因骨肉病傷心、特過玄壇啟法音, nhân vì cốt nhục bệnh thương tâm, mấy bận đàn tràng diễn pháp âm).” Trong Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) quyển 25 cũng có đoạn: “Ư tam điện tu Kim Lục Đạo Tràng, đông thập nguyệt đế hạnh tam điện, thăng Cửu Tiên Huyền Đàn, thân thọ pháp lục (於三殿修金籙道場、冬十月帝幸三殿、昇九仙玄壇、親受法籙, nơi ba ngôi điện tu thiết Đạo Tràng Kim Lục, đến mùa Đông tháng 10, nhà vua [Võ Tông] thân hành đến ba ngôi điện ấy, lên Đàn Tràng Cửu Tiên, chính thức thọ nhận phù chú [trừ tà ma]).”

Huyền Đô

(玄都): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên nước chư hầu ngày xưa. Như trong Dật Chu Thư (逸周書), phần Sử Ký (史記) có đoạn: “Tích giả Huyền Đô hiền quỷ đạo, phế nhân sự thiên, mưu thần bất dụng, quy sách thị tùng, thần vu dụng quốc, triết sĩ tại ngoại, Huyền Đô dĩ vong (昔者玄都賢鬼道、廢人事天、謀臣不用、龜策是從、神巫用國、哲士在外、玄都以亡, xưa kia có nước chư hầu thân cận với yêu quỷ, bỏ người thờ Trời, mưu thần chẳng dùng, bói toán lại theo, thầy pháp thì trọng dụng, kẻ sĩ thì xem thường, nên nước chư hầu bị diệt vong).” (2) Là trú xứ của thần tiên trong truyền thuyết. Như trong tác phẩm Hải Nội Thập Châu Ký (海內十洲記), phần Huyền Châu (玄洲) có câu: “Thượng hữu đại Huyền Đô, tiên bá Chơn Công sở trị (上有大玄都、仙伯眞公所治, trên có cõi Huyền Đô to lớn, do vị tiên Chơn Công cai trị).” Hay trong tác phẩm Chẩm Trung Thư (枕中書) của Cát Hồng (葛洪, 284-364) nhà Tấn có giải thích rõ rằng: “Huyền Đô Ngọc Kinh Thất Bảo Sơn, châu hồi cửu vạn lí, tại Đại La chi thượng, thành thượng thất bảo cung, cung nội thất bảo đài, hữu thượng trung hạ tam cung …, thượng cung thị Bàn Cổ Chân Nhân Nguyên Thỉ Thiên Tôn Thái Nguyên Thánh Mẫu sở trị (玄都玉京七寶山、週迴九萬里、在大羅之上、城上七寶宮、宮內七寶臺、有上中下三宮…上宮是盤古眞人元始天尊太元聖母所治, Huyền Đô ở Ngọc Kinh thuộc Thất Bảo Sơn, chu vi chín vạn dặm, nằm trên thành Đại La; trên thành có cung điện bảy báu, trong cung điện có đài bảy báu, có ba cung trên giữa dưới …, cung trên do Bàn Cổ Chân Nhân Nguyên Thỉ Thiên Tôn Thái Nguyên Thánh Mẫu cai trị).” (3) Tên gọi của một Đạo Quán nổi tiếng của Trung Quốc, tọa lạc tại khoảng giữa đỉnh núi Chúc Dung (祝融) và Trấn Nam Nhạc (南嶽鎭), thuộc Tỉnh Hồ Nam (湖南省); còn gọi là Bán Sơn Đình (半山亭), Hấp Vân Am (吸雲庵). (4) Tên gọi tắt của Huyền Đô Đàn (玄都壇), đàn tràng ngày xưa của Đạo Giáo. Như trong bài thơ Huyền Đô Đàn Ca Ký Nguyên Dật Nhân (玄都壇歌寄元逸人) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Ốc tiền thái cổ Huyền Đô Đàn, thanh thạch mạc mạc tùng phong hàn (屋前太古玄都壇、青石漠漠松風寒, trước nhà cổ xưa Huyền Đô Đàn, đá xanh mù mịt gió tùng lạnh).” Thái Mộng Bậc (蔡夢弼, ?-?), học giả thời Nam Tống (南宋, 1127-1279) chú thích rằng: “Huyền Đô nãi Hán Võ Đế sở trúc, tại Trường An Nam Sơn Tý Ngọ cốc trung (玄都乃漢武帝所築、在長安南山子午谷中, Huyền Đô Đàn là do Hán Võ Đế dựng nên, nằm trong hang Tý Ngọ, thuộc Nam Sơn, Trường An).” Trong Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 9 cho biết rằng: “Kim cứ Cửu Thiên Sanh Thần Chương, Thái Thượng trú tại Huyền Đô Cung dã, kỳ Ngọc Thanh Cung tại Huyền Đô chi thượng (今據九天生神章、太上住在玄都宮也、其玉清宮在玄都之上, nay theo Chương Cửu Thiên Sanh Thần, Thái Thượng trú ở Huyền Đô Cung; Ngọc Thanh Cung của ngài ở trên Huyền Đô).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 40 có đoạn: “Cung văn Hoa Nghiêm Đại Kinh, nãi Tỳ Lô căn bổn chi pháp luân, Tào Khê cổ sát, vi Lục Tổ Thiền Tông chi chánh mạch, pháp giới thị chúng Thánh chi Huyền Đô, tùng lâm tác thập phương chi quy túc (恭聞華嚴大經、乃毗盧根本之法輪、曹溪古剎、爲六祖禪宗之正脈、法界是眾聖之玄都、叢林作十方之歸宿, cúi nghe Hoa Nghiêm Đại Kinh là bánh xe pháp căn bản của Tỳ Lô, chùa cổ chốn Tào Khê là dòng mạch chính của Lục Tổ Thiền Tông, pháp giới là cõi Huyền Đô của chư vị Thánh, chốn tùng lâm làm nơi nương tựa của thập phương).”

huyền đô quán

2031乃北周時,位於長安之道觀(道教寺院)。為整備道藏、研究道教之中心。天和四年(569),武帝於宮中論議佛道二教,復討論儒、佛、道之優劣,道教乃就道藏之目錄撰成「玄都觀經目」上呈武帝。建德三年(574),帝下詔廢毀佛、道二教,另設官立之宗教研究所,並移所有玄都觀之道藏於通道觀。隋代時,復於新都置玄都觀以取代通道觀。 ; (玄都觀) Ngôi Đạo quan (chùa của Đạo giáo) ở Trường an, trung tâm nghiên cứu và chỉnh lí kinh điển Đạo giáo (Đạo tạng) ở thời Bắc Chu.

huyền đạo

2032幽玄至妙之道。即指佛道、真諦第一義中道。此道非無、非有、非非有、非非無,超越「四句百非」,絕言語思慮,乃無所得之道。此語本出自老子道德經:「道可道,非常道;名可名,非常名。無名,天地之始;有名,萬物之母。(中略)此兩者同出異名,同謂之玄,玄之又玄,眾妙之門。」蓋無名之道與有名之天地,為一體同出,其理深玄幽遠,難以測知,今即假此語以顯真諦無所得之道。〔涅槃無名論(妙存章、玄得章)、中論疏卷一、宗鏡錄卷九十二〕 ; The profound doctrine, Buddhism. ; (玄道) Đạo sâu sa mầu nhiệm. Tức chỉ cho Phật đạo, Chân đế, Trung đạo đệ nhất nghĩa. Đạo này chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải chẳng có, chẳng phải chẳng không, lìa tứ cú, tuyệt bách phi , dứt bặt nói năng suy nghĩ. Từ ngữ Huyền đạo vốn có xuất xứ từ Đạo đức kinh của ngài Lão tử: Đạo mà nói được thì chẳng phải là đạo thường, Danh mà gọi được thì chẳng phải là danh thường. Vô danh là đầu mối của trời đất, hữu danh là mẹ đẻ của muôn vật (...) Cả hai đồng thể mà dị danh, đều gọi là huyền , huyền lại thêm huyền là cửa của các thứ mầu nhiệm . Đạo thì vô danh, trời đất thì hữu danh, cả hai đều từ một thể mà ra, lí ấy rất sâu sa kín nhiệm, khó lường biết được, Phật giáo mượn từ huyền đạo để hiển bày lí Chân đế vô sở đắc . [X. chương Diệu tồn, chương Huyền đắc trong luận Niết bàn vô danh; Trung luận sớ Q.1; Tông kính lục Q.92].

huyền đề bảo tháp

2034日本佛教用語。即指刻有玄題之石塔。日本日蓮宗將「南無妙法蓮華經」七字之題目,稱為「玄題」。又為令人與法華經結緣及積修功德,乃作石塔,將「南無妙法蓮華經」七字刻於其上,並置於山門旁、山野之路旁,或人多聚集之處。此即所謂玄題寶塔。 ; (玄題寶塔) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tháp đá có khắc 7 chữ Na Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh do tông Nhật liên của Nhật bản làm ra. Những Huyền đề bảo tháp này thường được dựng ở bên cổng các chùa viện, nơi vệ đường, hoặc nơi xóm làng thôn ấp để cho mọi người có cơ hội được kết duyên với kinh Pháp hoa.

huyền ảo

Unreal; illusive; illusive; illusory; vague

huyền ứng

2034唐代僧。籍貫、年壽不詳。博聞強記,深諳音韻文字訓詁之學。唐貞觀十九年(645),玄奘自西域歸來,成立譯場,師亦參與譯經之業。貞觀末年,奉敕撰成一切經音義二十五卷,世稱玄應音義。後世研習音義者,莫不以之為範準。此外,其著作尚有攝大乘論疏十卷、辯中邊論疏、因明入正理論疏三卷、大般若經音義三卷等。〔續高僧傳卷八、大慈恩寺三藏法師傳卷六、慧苑音義序、大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷八〕 ; Hsuan-ying (C) Tên một vị sư. ; Deep, or abstruse response. ; (玄應) Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Sư là người học rộng, nghe nhiều, nhớ dai, rất am tường về âm vận và giải thích văn tự. Năm Trinh quán 19 (645) ngài Huyền trang từ Ấn độ trở về, thành lập dịch trường, sư cũng được mời tham dự việc dịch kinh. Tác phẩm của sư gồm có: Huyền ứng âm nghĩa (Nhất thiết kinh âm nghĩa) 25 quyển, Nhiếp đại thừa luận sớ 10 quyển, Biện trung biên luận sớ, Nhân minh nhập chính lí luận sớ 3 quyển, Đại bát nhã kinh âm nghĩa 3 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.8; Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.6; Tuệ uyển âm nghĩa tự; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].

huyền ứng âm nghĩa

2034凡二十五卷。唐代玄應撰。又稱一切經音義。大唐內典錄卷五作眾經音義十五卷,法苑珠林卷一○○作大唐眾經音義二十卷。收於中華大藏經第一輯第三十冊。本書所錄,自華嚴經,至順正理論,共四五八部經論,而就其中難解之字句、名相及音譯,加以注釋。本書不僅為現存音義中之最古者,又以解釋正確,為學者所宗,且所引群籍多屬古逸書,如蒼頡篇、三蒼、通俗文、字苑、古文奇字、字略、聲類、韻略、切韻等諸書,為研究文字音韻學之珍貴資料。(參閱「一切經音義」18) ; (玄應音義) Cũng gọi Nhất thiết kinh âm nghĩa. Tác phẩm, 25 quyển (Đại đường nội điển lục quyển 5 gọi là Chúng kinh âm nghĩa, 15 quyển; Pháp uyển châu lâm quyển 100 gọi là Đại đường chúng kinh âm nghĩa, 20 quyển), do ngài Huyền ứng soạn vào đời Đường, được thu vào Trung hoa Đại tạng kinh tập 1, quyển 30. Nội dung sách này chú thích những tự cú, pháp số và âm nghĩa khó hiểu trong 458 bộ kinh luận, từ kinh Hoa nghiêm cho đến luận Thuận chính lí. Đây là bộ sách âm nghĩa xưa nhất hiện còn và mức độ giải thích rất chính xác, rất được các học giả xem trọng. Những sách được Huyền ứng âm nghĩa trích dẫn là những bộ sách rất xưa mà hiện nay phần nhiều đã bị thất lạc, như: Thương hiệt thiên, Tam thương, Thông tục văn, Tự uyển, Cổ văn, Kì tự, Tự lược, Thanh loại, Vận lược, Thiết vận, v.v... Sách này là tư liệu rất quí giá cho việc nghiên cứu về âm vận học. (xt. Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa).

Huyễn

幻; S, P: māyā; dịch âm là Ma-da; cũng được gọi là ảo ảnh;|Ảo ảnh

huyễn

1390梵語 māyā。指假相。一切事象皆無實體性,唯現出如幻之假相,即幻相;其存在則謂幻有。所顯現之如幻現象,猶如魔術師之化作,故稱幻化。此外,使魔法者,稱為幻師、幻人。〔放光般若經卷三問幻品、大智度論卷五十五〕 ; Māyā (S), Illusion Như huyễn, Siểm, Ảo ảnh 1- Ảo ảnh 2- Luồn cúi, nịnh bợ. Một trong 10 tiểu tùy phiền não. ; Confused vision; illusion; deceptive, unreal, illusive; changeable. ; (幻) Phạm:Màyà. Giả tướng. Tất cả các hiện tượng trong thế gian đều không có thể thật, mà chỉ là giả tướng huyễn hiện như trò ảo thuật. [X. phẩm Vấn huyễn trong kinh phóng quang bát nhã Q.3; luận Đại trí độ Q.55].

huyễn cảnh

Mirage.

huyễn cấu

1391有情眾生之身心為六大假和合而成,無實如幻,有漏而不淨,故稱幻垢。圓覺經(大一七‧九一四下):「善男子!當知身心皆為幻垢。垢相永滅,十方清淨。」 ; (幻垢) Thân tâm của chúng sinh là do 6 đại (đất, nước, lửa, gió, không và thức) giả hòa hợp mà thành, không có thực thể, thuộc về hữu lậu và nhơ nhớp, cho nên gọi là huyễn cấu. Kinh Viên giác (Đại 17, 914 hạ), nói: Này thiện nam tử! Nên biết thân tâm đều là huyễn cấu. Tướng cấu đã diệt thì mười phương thanh tịnh .

huyễn dụ

Māyā-upama (S) Thí dụ chỉ các pháp như huyễn.

huyễn giác

Xem Biến kế sở chấp.

huyễn hoá

1390<一>謂幻術師變化所現無實體之物。常用作譬喻。如說諸法皆由因緣假和合而生,空無實性,是為假有,喻如幻化之物相。大智度論卷六(大二五‧一○一下):「譬如幻化象馬及種種諸物,雖知無實,然色可見,聲可聞,與六情相對,不相錯亂。諸法亦如是,雖空而可見可聞,不相錯亂。」 <二>幻與化。空法十喻之二。幻,謂幻術師之所作。化,謂佛、菩薩等神通力之變化。(參閱「十喻」470) ; (幻化) I. Huyễn Hóa. Những sự vật do nhà ảo thuật biến hóa ra. Trong kinh điển Phật giáo, huyễn hóa thường được dùng để ví dụ các pháp không có thực thể, đều do nhân duyên giả hòa hợp mà sinh. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 25, 101 hạ), nói: Ví như voi ngựa và các vật huyễn hóa khác, tuy biết là không thật, nhưng cũng có thể thấy, có thể nghe, đối với sáu tình (mừng, giận, thương, vui, yêu, ghét) không có lẫn lộn. Các pháp cũng như thế…... II. Huyễn Hóa. Huyễn và hóa. Hai dụ trong 10 thí dụ về pháp không. Huyễn là những sự vật do nhà ảo thuật làm ra. Hóa là Phật và Bồ tát dùng sức thần thông biến hóa ra. (xt. Thập Dụ).

huyễn hoá kim cang

Māyāvajra (S).

huyễn hoá tông

1390東晉般若學派六家七宗之一。吉藏於中論疏中謂此係道壹所立。此宗說世諦諸法皆同幻化,然心神不空。中論疏記卷三末(大六五‧九五上):「玄義云,第一釋道壹著神二諦論云,一切諸法皆同幻化,同幻化故,名為世諦。心神猶真不空,是第一義。若神復空,教何所施,誰修道隔凡成聖,故知神不空。」其存神之意,適與心無宗大相逕庭。〔漢魏兩晉南北朝佛教史(湯錫予)〕 ; (幻化宗) Tông phái chủ trương các pháp thế tục đế đều như huyễn hóa, nhưng tâm là Đệ nhất nghĩa đế thì có thực. Là một trong Lục gia thất tông thuộc học phái Bát nhã do ngài Đạo nhất thành lập vào đời Đông Tấn. Thần nhị đế luận của ngài Đạo nhất nói: Tất cả các pháp đều như huyễn hóa, nên gọi là Thế tục đế. Còn tâm thì chân thực, là Đệ nhất nghĩa đế… . [X. Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử (Thang tích dư)].

Huyễn hoá 幻化

[ja] ゲンケ genke ||| (māyā-upamatā). (1) Illusory transformation, or simply "illusion," synonymous with the ideograph 幻 by itself. That which lacks real substance. A magician's performance. (2) Illusion and transformation. => (s: māyā-upamatā). 1. Sự biến hoá trong ảo tưởng, gọi tắt là “ảo tưởng”, Đồng nghĩa với với chữ Huyễn. Không có thực tính. Trò bày vẽ của phù thuỷ. 2. Ảo tưởng và biến hoá.

huyễn hóa

Māyā-sahadhamma-rŪpamviya (P). ; Magical changes.

Huyễn Hữu Chánh Truyền

(幻有正傳, Genu Shōden, 1549-1614): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Huyễn Hữu (幻有), hiệu Nhất Tâm (一心), xuất thân vùng Lật Dương (溧陽), Ứng Thiên (應天, Lật Dương, Tỉnh Giang Tô), họ Lữ (呂). Năm 22 tuổi, ông theo xuất gia với Lạc Am (樂庵) ở Tĩnh Lạc Viện (靜樂院), Kinh Khê (荆溪, Tỉnh Giang Tô). Sau đó, ông đến tham vấn Tiếu Nham Đức Bảo (笑巖德寳) ở Quan Âm Am (觀音庵), Yến Đô (燕都, Tỉnh Hà Bắc) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm đầu (1573) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông bắt đầu khai đường thuyết pháp tại Vũ Môn Thiền Viện (禹門禪院) ở Long Trì Sơn (龍池山), Kinh Khê và sống nơi đây được 3 năm, đến năm thứ 12 thì đến Bí Ma Nham Tự (秘魔巖寺) ở Thanh Lương Sơn (清涼山) và sau đó ông còn khai sáng Phổ Chiếu Tự (普照寺) ở Yến Sơn (燕山, Tỉnh Hà Bắc). Đến ngày 14 tháng 2 năm thứ 42 (1614) niên hiệu Vạn Lịch, ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi đời và 44 hạ lạp. Châu Nhữ Đăng (周汝登) soạn bài minh tháp của ông; đệ tử nối dòng pháp như Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟), Thiên Ẩn Viên Tu (天隱圓修) thì biên tập bộ Huyễn Hữu Thiền Sư Ngữ Lục (幻有禪師語錄) 12 quyển.

huyễn môn

1391幻化之法門。據法華玄義釋籤卷四之一(科本)所載,菩薩以幻化之法門破除眾生之幻惑,以幻大悲利益幻含識,自他功畢,而於幻涅槃得無所得。 ; (幻門) Pháp môn huyễn hóa. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 4 phần 1, thì Bồ tát dùng pháp môn huyễn hóa để phá trừ huyễn hoặc của chúng sinh, dùng huyễn đại bi để làm lợi ích cho huyễn hữu tình, khi công hạnh tự lợi, lợi tha đã hoàn tất, liền vào huyễn Niết bàn vô sở đắc.

huyễn sinh

1391(1929~ )江蘇泰州人。別號盤石。民國三十一年(1942)禮重慶菴惟音和尚披剃。三十六年受具足戒於南京古林寺。先後就讀於泰縣光孝、杭州武林、上海靜安等三所佛學院。政府播遷後,隨抵臺灣,於汐止彌勒內院親炙慈航大師十餘載,後至新竹福嚴精舍隨侍印順導師,並閱藏自修。其後,在竹山德山寺靜修十數年。主要著述有:敦煌佛經卷子巡禮、彌勒信仰及其應化事跡等,所撰之論文亦常散見於各佛刊。曾任海潮音主編及新竹女眾、福嚴、東山、中華、東方諸佛教學院講師。後赴美國休士頓弘法。

huyễn sư

1391梵語 māyā-kāra。又作幻士、幻人、幻術師。即行幻術之人,能於無實體者變化而現之。經論中多用之為譬喻。幻術不僅行於印度,我國之道士與日本之陰陽家亦傳習之,即西歐古傳說中之魔術師,其術稱為幻術、外術、咒術、符術、魔術,亦稱為外法、魔法。〔大乘入楞伽經卷二、金光明最勝王經卷五、幻師颰陀神咒經、大智度論卷四十四、卷五十〕 ; (幻師) Phạm:Màyà-kàra. Cũng gọi Huyễn sĩ, Huyễn nhân, Huyễn thuật sư. Nhà ảo thuật, tức là người có khả năng biến hóa ra những vật không có thật. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.5; kinh Huyễn sư bạt đà thần chú; luận Đại trí độ Q.44, Q50].

Huyễn sư Phất-đà sở thuyết thần chú kinh 幻師颰陀所説神呪經

[ja] ゲンシバダショセツシンジュキョウ Genshi bada shosetsu shinjukyō ||| The Xuanshi futuo suoshuo shenzhou jing Skt. Māyākārabhadra-dhāraṇīsūtra (Dhāraṇī Spell Spoken by the Magician Bhadra) 1 fasc. (T 1378a.21.901), trans. Dharmarakṣa 竺曇無蘭. Alternate title: Bodhi Incantation Sutra 菩提神呪經. => (c: Xuanshi futuo suoshuo shenzhou jing; s: Māyākārabhadra-dhāraṇīsūtra;e: Dhāraṇī Spell Spoken by the Magician Bhadra). 1 quyển. Trúc Đàm Vô Lan (s: Dharmarakṣa 竺曇無蘭) dịch. Tên gọi khác là Bồ-đề thần chú kinh (菩提神呪經e: Bodhi Incantation Sutra).

Huyễn thân

幻身; Tạng ngữ: gyulu [sGyu lus]; S: māyākāya, māyādeha;|Là thân huyễn hoá. Trong Kim cương thừa, thân này là một thân thanh nhẹ, cao hơn thân do Ngũ uẩn tạo thành, nhưng luôn luôn hiện diện trong đó. Huyễn thân cũng được hiểu là một phần của Na-rô lục pháp (t: nāro chodrug) và một phép tu Tan-tra nhằm thanh lọc thân thể thông thường để đạt Phật quả.

huyễn thân

Gyulu (T), Māhakāya (S), Sgyu lus (T), Māha-kāya (S).

huyễn trụ

Huan chu (C) Tên một vị sư.

huyễn trụ am thanh quy

1391全一卷。元朝中峰明本撰。收於卍續藏第一一一冊。乃就叢林日用須知制定,自成天目一家之規矩,於延祐四年(1317)冬自序上梓。全編分十門,即:日資、月進、年規、世範、營辦、家風、名分、踐履、攝養、津送。附錄之開甘露門,乃施餓鬼會之施食次第及法文、疏等。 ; (幻住庵清規) Thanh qui, 1 quyển, do ngài Trung phong Minh bản soạn vào đời Nguyên, thu vào Vạn tục tạng tập 111. Nội dung chia làm 10 môn là: Nhật tư, Nguyệt tiến, Niên qui, Thế phạm, Doanh biện, Gia phong, Danh phận, Tiễn lí, Nhiếp dưỡng, Tân tống. Bộ Thanh qui này được khắc in vào năm Diên hựu thứ 4 (1317) và thực hành hàng ngày trong các tùng lâm thuộc dòng phái Thiên mục.

huyễn trụ phái

GenjŪ-ha (J) Tên một tông phái.

Huyễn tác 幻作

[ja]ゲンサ gensa ||| Created from illusion; conjured as if by magic (abhiniṣpanna). [Dictionary References]Naka334b CBS0426 [Credit] cmuller(entry) => Tạo tác từ trong mộng tưởng; làm trò ảo thuật như của phù thuỷ (s:abhiniṣpanna).

huyễn tướng

1391指如幻而無實體之假相。以佛教立場而言,諸法皆由因緣和合而生,由因緣離散而滅,本身並無實體,其因緣和合之際,雖可形成一一之法,然實為幻假之相。(參閱「幻」1390) ; (幻相) Chỉ cho những hình tướng giả tạm, không có thực thể. Đứng trên lập trường của Phật giáo mà nói, thì tất cả các pháp đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, tuy có hình tướng nhưng đều là giả tạm, không có thực thể. (xt. Huyễn).

huyễn ảo

Màyà (S). Fraud, deceit.

Huyễn 幻

[ja] ゲン gen ||| Illusion, illusory. (māyā). (1) The art of bewitching others. Originally, in Indian mythology, the magical power by which certain gods were able to deceive people was called māyā, and this word was translated into the Chinese Buddhist classics with the above ideograph. (2) Vision, dream, illusion. For example, the appearance of phenomena which have no real essence. Taking the illusory to be real is the deluded thought of regular people. Taking illusion to be non-existent is the mistaken understanding of the practitioners of the two (lesser) vehicles. (3) Although the six realms do not exist in reality, the manifestation of a 'self' or a 'soul' is called "illusion." => Ảo tưởng, hão huyền (s: māyā). 1. Nghệ thuật làm mê đắm kẻ khác. Xuất phát từ thần thoại Ấn Độ, ma lực của một vị thần làm mê hoặc lòng người được gọi là (s: māyā), trong kinh văn Hán tạng dịch là Huyễn. 2. Ảo ảnh, mộng tưởng, ảo tưởng. Chẳng hạn, diện mạo của hiện tượng không có thực thể. Nhận điều hão huyền làm thực là vọng tưởng của hàng phàm phu. Cho rằng ảo tưởng không có thực là vọng kiến của hàng nhị thừa. 3. Mặc dù Lục đạo (e: six realms) thực tế không hiện hữu, nhưng sự biểu hịên của một 'bản ngã 'hay 'linh hồn' đều được gọi là “Huyễn”.

huyệt đẳng tâm

2146藏語 phug-lta-buḥi sems。為大日經卷一住心品所揭出凡夫六十種分別妄心中之第五十八。即先決定後,又改變初衷之心。(參閱「六十心」1242) ; (穴等心) Tạng: Phug-lta-bu#i sems. Chỉ cho tâm dễ bị loạn động, không giữ được trạng thái an định lúc ban đầu. Đây là tâm thứ 58 trong 60 thứ vọng tâm phân biệt của phàm phu được liệt kê trong phẩm Trụ tâm của kinh Đại nhật quyển 1. (xt. Lục Thập Tâm).

huân ca

Sunga (S) Tên một vị vua ở Ấn độ khoảng 187BC.

Huân hao

(焄蒿): hương vị xuất phát từ vật phẩm dâng cúng trong khi cúng tế, sau đó từ này cũng được dùng để chỉ cho việc cúng tế. Như trong bài thơ Trừ Dạ Cảm Hoài (除夜感懷) có câu: “Huân hao phụng từ sự, khổ lệ lạc tửu chi (焄蒿奉祠事、苦淚落酒巵, cúng tế phụng thờ việc, lệ đắng chén rượu rơi).” Hay trong bài thơ Long Môn (龍門) của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682) nhà Thanh lại có câu: “Nhập miếu huân hao tiếp, lâm lưu tưởng tượng tồn (入廟焄蒿接、臨流想像存, vào miếu cúng tế tiếp, đến dòng tưởng tượng còn).” Trong Hoằng Minh Tập (弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2102) quyển 3, phần Thích Quân Thiện Nan (釋均善難), có đoạn: “Vi khuyến hóa chi bổn, diễn huân hao chi đáp, minh lai sanh chi nghiệm (爲勸化之本、演焄蒿之答、明來生之驗, lấy khuyến hóa làm gốc, bày cúng tế đáp đền, rõ đời sau ứng nghiệm).” Lại trong Tứ Minh Tôn Giả Giáo Hành Lục (四明尊者敎行錄, Taishō Vol. 46, No. 1937) quyển 7, phần Loa Khê Di Tháp Ký (螺谿移塔記), có câu: “Tuy nhiên học giả chi đốc, tư chi chí huân hao thê sảng (雖然學者信之篤、思之至焄蒿悽愴, tuy nhiên học giả dốc một lòng tin, nghĩ đến tận cùng cúng tế thật xót thương).”

huân lục hương thụ

6612薰陸,梵語 kunduru。又作君杜嚕香樹、君柱魯香樹、杜嚕香樹。學名 Boswellia thurifera。此樹之樹脂可製香,稱為薰陸香(梵 kundura 或 kunduruka),其形及香氣頗似松脂。又其脂汁滴如乳頭,故亦稱乳香、乳頭香。歷來與安息、栴檀、龍腦 、蘇合、多揭羅等諸香等分和合,用於燒香供養。現今印度人常燒此香,清淨室內。〔孔雀王咒經卷下、不動使者陀羅尼祕密法、陀羅尼集經卷十、大唐西域記卷十一、翻譯名義集卷八〕 ; (熏陸香樹) Huân lục hương, Phạm: Kundura hoặc Kunduraka. Cũng gọi Quân đỗ rô hương thụ, Quân trụ rô hương thụ, Đỗ rô hương thụ. Tên khoa học: Boswellia thurifera. Loại cây có nhựa dùng làm hương đốt. Hình dáng và mùi thơm của nhựa cây này rất giống với nhựa cây thông, nhựa cây nhỏ xuống giống như núm vú, nên cũng gọi là Nhũ hương, Nhũ đầu hương. Xưa nay hương này thường được trộn lẫn với các thứ hương khác như: An tức, Chiên đàn, Long não, Tô hợp, Đa yết la, v.v... để đốt lên cúng dường. Hiện nay người Ấn độ thường xông hương này để cho phòng ốc thơm tho, sạch sẽ. [X. kinh Khổng tước chú vương Q.hạ; Bất động sứ giả đà la ni bí mật pháp; kinh Đà la ni tập Q.10; Đại đường tây vực ký Q.11; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8].

huân nỗ bối

6611(1392~1481)西藏名 Gshon-nu-dpal。又音譯為雄努剖。意譯為童子吉祥。為迦爾居派之僧。曾學於當時諸派之師,故通曉大小乘法及顯密諸教教義。一生專於聞法、講學,嘗以教、理二證教示接引學人。師亦為一歷史學家,著有「青史」(1476~1478 成書)一書,凡十五章。該書對佛教弘傳入藏之史實、教派源流之考訂甚詳,卷帙頗巨,為西藏佛教史部之要典。 ; (熏努貝) (1392-1481) Tạng: Gshon-nu-dpal. Dịch âm: Hùng nỗ phẫu. Dịch ý: Đồng tử Cát tường. Vị tăng Tây tạng thuộc phái Ca nhĩ cư. Sư từng theo học những bậc thầy của các phái đương thời, cho nên sư thông hiểu các giáo nghĩa Đại thừa, Tiểu thừa, Hiển giáo, Mật giáo. Cả đời sư chuyên nghe pháp, giảng dạy, thường đem nhị chứng Giáo và Lí để chỉ dạy, dắt dẫn người học. Ngoài ra, sư còn là một sử gia nổi tiếng. Năm 1481 sư tịch, thọ 90 tuổi. Tác phẩm: Thanh sử.

Huân phát 薰發

[ja] クンホツ kunhotsu ||| The action of permeation by defiled or pure dharmas into the consciousness. 〔二障義HPC 1.793a〕 => Việc huân tập bởi các pháp nhiễm tịnh vào trong thức.

huân thiền

(熏禪): một trong bốn pháp thiền thuộc Xuất thế gian thiền. Bốn pháp thiền này gồm có: 1. Quán thiền (觀禪), 2. Luyện thiền (練禪), 3. Huân thiền (熏禪), 4. Tu thiền (修禪). Bốn pháp này thường được gọi chung là Quán luyện huân tu (觀練薰修).

Huân thành 薰成

[ja] クンジョウ kunjō ||| The accomplishment of perfumation. A synonym for "seeds" 〔二障義HPC 1.797b〕 => Thành tựu sự huân tập. Đồng nghĩa với 'chủng tử'種子.

huân tu

6611又作熏修。薰謂薰染,修謂修行。以德修身,如以香薰衣,故稱為薰修。大乘智印經卷一(大一五‧四七五中):「若諸有情親近如來及大菩薩,熏修智慧,三業恭敬。」〔觀無量壽經、八十華嚴經卷二十五「十迴向品」〕 ; (熏修) Dùng đức để tu thân như lấy hương xông ướp y phục. Kinh Đại thừa trí ấn quyển 1 (Đại 15, 475 trung), nói: Các chúng hữu tình gần gũi Như lai và Đại bồ tát, huân tu trí tuệ, ba nghiệp cung kính . [X. kinh Quán vô lượng thọ; phẩm Thập hồi hướng trong kinh Hoa nghiêm Q.25 (bản 80 quyển)].

huân tập

6612梵語 vāsanā 或 pravṛti, abhyāsa。又作熏習。略作薰。如人以香氣薰附衣服,染淨迷悟諸法(特指吾人之身、語、意三業;業,即行為)之勢力薰附殘留在吾人心識上之作用,即稱為薰習。以小乘佛教而言,經量部主張色(物質)與心能互相薰習,故有色心互薰說。但薰習說之完成,則屬大乘唯識宗無疑。依其說,薰附之能薰法(其身語意所現者)為「現行」,受薰附之所薰法為「心」,薰附作用能在所薰之心上留下殘氣、習慣、餘習(習氣)等諸種子。 唯識宗以七轉識之現行為能薰之法,而以第八阿賴耶識為貯藏種子之所薰處。此所薰、能薰之關係,即為阿賴耶識因果相續之理。據成唯識論卷二載,所薰、能薰各有四義,即所謂所薰四義與能薰四義。 (一)所薰四義,即:(1)堅住性,即保住同一性,使其堅固、存住、相續之性質。(2)無記性,即非善非惡之中性性質。(3)可薰性,即具有自主能力,但非為堅密不變之自體,故有能受薰習之性質。(4)能所和合,與能薰和合之性質。上記四義,唯阿賴耶識所具有。 (二)能薰四義,即:(1)有生滅,指非靜止不動,而具有動之作用以生長習氣者。(2)有勝用,指有緣慮之作用,且有強盛之「勝用」,能引習氣。(3)有增減,指具有能增能減之「勝用」,以之攝持習氣,而非如圓滿佛果之不增不減。(4)能所和合,指與所薰和合。七轉識及其心所具有以上四義。七轉識既有能薰之作用,則應屬四分中之何者,古來早有異說。關於此,有二薰(見分薰、相分薰)之說,此外又有名言習氣、我執習氣、有支習氣等三種薰習之說,稱作三種薰習。 大乘起信論亦闡說四種薰習,根本之無明煩惱來自染污真如之影響作用(染法薰習),須以佛陀說法之內容(真如)薰習(指淨法薰習),此兩者相互影響下,遂有流轉還滅之展開。四薰習即:(一)無明薰習,眾生無始之無明薰習真如,故生業識乃至分別事識等妄心。可分為兩種:(1)根本薰習,即由「根本不覺」來薰動真如,而生成業等之諸識。(2)所起見愛薰習,即由「枝末不覺」薰習心體而生成分別事識。(二)妄心薰習,以此妄心還薰於無明,轉而出現生死之苦。亦分兩種:(1)業識根本薰習,即由業識之薰習,阿羅漢、辟支佛,及初發意以上之菩薩等,已捨離分段生死之粗苦,而猶受分段生死之細苦及變易生死之苦。(2)增長分別事識薰習,謂凡夫由分別事識之薰習,而受三界業繫的分段生死之粗苦。(三)妄境界薰習,六境(妄境界)還薰於識,而增長我執與法執,再造種種業,受身心之苦。復分為二:(1)增長念薰習,即依境界之緣而增長法執分別之念。(2)增長取薰習,即依境界之緣而增長我執之取著。又上記三種薰習(無明薰習、妄心薰習、妄境界薰習)皆因染法相續而不得清淨,故總稱染法薰習。(四)淨法薰習,此薰習有二,一為真如薰習,一為妄心薰習。(1)真如薰習,即相信己身具有真如法,能冥薰無明;而以冥薰為因緣,使妄心厭離生死之苦,欣求涅槃之樂。又分兩種:1.自體相薰習,謂真如本來具足無漏之法,有不可思議之業用,亦為智境界之性,此性常薰習眾生之心,令眾生厭離生死而欣求涅槃,並深信本具之真如性,從而發心修行。2.用薰習,即藉諸佛菩薩的外緣之薰力,而令眾生之善根增長。(2)妄心薰習,發心修行之凡夫、二乘人及菩薩等,以厭求之妄心還薰習於真如,增其勢力,令起種種方便隨順之行,而滅盡無明;以無明滅,心相皆盡,得涅槃而成自然淨業,以此薰習而淨法不斷。又分為兩種,即分別事識薰習及意薰習。〔楞伽阿跋多羅寶經卷四、梁譯攝大乘論卷上、梁譯攝大乘論釋卷二、成唯識論述記卷三本〕(參閱「所薰四義」3252、「能薰四義」4299) ; Parivāsita (S), Parivāsa (S), Parivāsita (S, P) Xem Kết tập Xem Tập khí. ; (熏習) Phạm:Vàsanà, Pravfti, Abhyàsa. Gọi tắt: Huân. Cũng giống như người dùng mùi thơm để xông ướp quần áo, thế lực của các pháp nhiễm tịnh, mê ngộ (đặc biệt chỉ cho các hành vi của 3 nghiệp: Thân, Ngữ, Ý) in sâu vào tâm thức của con người, ấy là Huân tập (xông, ướp). Kinh lượng bộ của Phật giáo Tiểu thừa chủ trương sắc (vật chất) và tâm huân tập lẫn nhau, vì thế nên có thuyết Sắc tâm hỗ huân. Nhưng hoàn thành thuyết Huân tập này thì chính lại là tông Duy thức của Đại thừa. Theo thuyết ấy thì pháp năng huân (cái do thân, ngữ, ý hiện ra) là Hiện hành , mà pháp sở huân là Tâm , tác dụng huân tập lưu lại các chủng tử: Tàn khí, tập quán, dư tập (tập khí), v.v...… trong tâm sở huân. Tông Duy thức cho rằng sự hiện hành của 7 chuyển thức là pháp năng huân, còn thức A lại da thứ 8 là nơi sở huân chứa chất các chủng tử. Mối quan hệ giữa sở huân và năng huân này là lý nhân quả nối nhau của thức A lại da. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, thì Sở huân và Năng huân mỗi thứ đều có 4 nghĩa. 1. Bốn nghĩa sở huân: a. Kiên trụ tính: Tính chất giữ gìn khiến cho nó được kiên cố, tồn tại, tương tục. b. Vô kí tính: Tính chất chẳng phải thiện, chẳng phải ác. c. Khả huân tính: Tính chất có khả năng chịu sự huân tập và có thể tự huân tập, nhưng chẳng phải là tự thể kiên cố bất biến. d. Năng sở hòa hợp: Tính chất của sở huân hòa hợp với năng huân. Chỉ có thức A lại da đầy đủ 4 nghĩa này. 2. Bốn nghĩa năng huân: a. Hữu sinh diệt: Tác dụng chuyển biến để sinh trưởng tập khí. b. Hữu thắng dụng: Tác dụng duyên lự, có thắng dụng mạnh mẽ và năng lực phát sinh tập khí. c. Hữu tăng giảm: Chỉ cho Thắng dụng có năng lực tăng, giảm để giữ gìn tập khí. d. Năng sở hòa hợp: Năng huân và sở huân hòa hợp. Bảy chuyển thức và các tâm sở đều có đủ 4 nghĩa này. Bảy chuyển thức đã có tác dụng năng huân, thì trong Tứ phần, chúng thuộc về phần nào? Về vấn đề này, xưa nay có các thuyết: Nhị huân (Kiến phần huân, Tướng phần huân), Tam huân tập (Danh ngôn tập khí, Ngã chấp tập khí, Hữu chi tập khí) và Tứ huân tập (Vô minh huân tập, Vọng tâm huân tập, Vọng cảnh giới huân tập và Tịnh pháp huân tập). [X. Lăng già a bạt đa la bảo kinh Q.4; luận Nhiếp đại thừa Q.thượng (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (bản dịch đời Lương); Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Sở Huân Tứ Nghĩa, Năng Huân Tứ Nghĩa).

Huân tập 熏習

[ja] クンジュ kunjū ||| "Perfumation." (1) To be permeated with an odor. Also written with the first character alone. The literal meaning is that of being permeated with an odor, and this image is used as a metaphor to describe the how karma works in the form of various undefiled and defiled phenomena, whereby activities, without fail, leave impressions on the consciousnesses, thus altering them. Thus, the meaning of receiving an impression, or for one thing to have an effect on another thing, especially by habituation. The function of one thing gradually being conditioned by another. As clothes which have been exposed to perfume gradually come to have that same smell of themselves, our own activities of word, thought and deed leave an influence on our mind. (2) In Yogācāra theory, unmanifest karma is sown as a "seed" in the ālaya-vijñāna. That which is the result of this perfumation are called "habit energies" 習氣 (vāsanā) which again produce new karmas. (3) In the Awakening of Faith 起信論, purity and impurity permeate each other. The permeation of true thusness by ignorance produces saṃsāra, while the permeation of ignorance by true thusness produces nirvāna. See 四種法熏習. => 'Xông ướp' 1. Xông ướp hương. Có khi chỉ dùng chữ Huân熏. Nghĩa là những gì được xông ướp hương, hình tượng nầy là ẩn dụ cho sự tạo nghiệp từ những hiện tượng thanh tịnh và ô nhiễm khác nhau, trong đó các hành vi, không bỏ sót một chi tiết nào, đều để lại những dấu vết trong tàng thức, rồi làm cho chúng hiện hành. Do vậy, ý nghĩa của việc thọ nhận một ấn tượng, hay tạo tác một sự việc mà có ảnh hưởng đến một vật thể khác, đặc biệt là do thói quen. Tác dụng của một vật dần dần bị điều kiện hoá bởi những vật khác. Như áo quần dần dần thấm đượm mùi hương, những hành vi từ lời nói, suy nghĩ, hành động của riêng mình cũng lưu dấu ảnh hưởng trong tâm thức. 2. Theo giáo lý tông Duy thức, biểu nghiệp được gieo trồng như là một 'hạt giống' trong A-lại-da thức. Đó là kết quả của sự xông ướp nầy, được gọi là 'tập khí' (習氣 s: vāsanā) để rồi lại tạo ra một nghiệp mới. 3. Theo Luận Đại thừa khởi tín, thanh tịnh và nhiễm ô huân tập lẫn nhau. Vô minh huân tập vào chân như phát sinh luân hồi, trong khi chân như huân tập vào vô minh tạo nên niết-bàn. Xem Tứ chủng pháp huân tập四種法熏習.

Huân tập 薰習

[ja] クンシュウ kunshū ||| Perfumation. See 熏習. => Sự xông ướp. Xem Huân tập熏習.

huân tửu

5592葷與酒之並稱。葷,又作葷辛,指味辣而臭氣濃烈之植物,即五辛。葷酒與肉類共爲禁止供佛之食物。至後世,每在寺院門前之界石刻有「不許葷酒入山門」等字樣,稱爲禁牌石、戒壇石、葷酒牌。據梵網經卷下舉出,五辛係指大蒜、革蔥、慈蔥、蘭蔥、興渠等。但其他經典另有異說。總之,葷帶臭氣,令他人生厭;酒則易亂性,醉亂行者之心意,基於此,葷酒均爲修行者所禁止。〔四分律卷十五、十誦律卷十七、俱舍論卷十四、卷十八、法苑珠林卷九十三〕(參閱「五辛」1099) ; (葷酒) Danh từ chỉ chung cho rượu, thịt và các loại thực vật có vị cay và mùi hôi nồng như hành, tỏi, hẹ, củ kiệu, hưng cừ, v.v…... Đây là những món mà người tu hành bị cấm không được dùng. Ngoài ra, tấm bia dựng ở ngoài cổng chùa có ghi hàng chữ: Không cho người ăn thịt uống rượu (Huân tửu) vào chùa gọi là Cấm bi thạch, Giới đàn thạch, Huân tửu bài. [X. luật Tứ phần Q.15; luật Thập tụng Q.17; luận Câu xá Q.14, Q.18; Pháp uyển châu lâm Q.93]. (xt. Ngũ Tân).

Huân 熏

[ja] クン kun ||| (1) To smoke, smolder. (2) The lingering habit energies (vāsanā); see next xunxi 熏習. (3) To scent, to perfumate. => Xông khói, nung nấu. Tập khí còn rơi rớt lại (vāsanā); xem Huân tập ( 熏習c: xunxi ). Xông hương, ướp hương.

Huân 薰

[ja] クン kun ||| To perfumate, to permeate, the way smoke or perfume permeates one's clothing. This is a metaphor for the permeation of the consciousness by pure and defiled phenomena, found used in Buddhist texts interchangably with 熏. (vāsanā) 〔二障義HPC 1.793a〕 => Xông ướp, thấm vào, thấm qua, như khói hoặc mùi hương xông ướp áo quần. Đây là ẩn dụ cho sự huân tập của thức bới các hiện tượng thanh tịnh và nhiễm ô, thường thấy dùng trong kinh Phật laanx lộn với chữ 熏. (vāsanā)

Huệ Năng

(慧能hay惠能, Enō, 638-713): vị tổ thứ 6 của Thiền Tông Trung Hoa, họ là Lô (盧), người Phạm Dương (范陽, thuộc Tỉnh Hà Bắc ngày nay), sinh tại Tân Châu (新州, Huyện Tân Hưng, Tỉnh Quảng Đông), nhụ hiệu Đại Giám Thiền Sư (大鑑禪師), thường được gọi là Đại Giám Huệ Năng (大鑑慧能), hay Lục Tổ Đại Sư (六祖大師). Ngay từ lúc còn nhỏ, ông đã sống trong cảnh cực khổ cơ hàn, thường hay đi hái củi nuôi mẹ. Một hôm, ông nghe có tiếng tụng Kinh Kim Cang trong chợ, bỗng nuôi chí xuất gia; sau ông đến tham yết Trí Viễn (智遠), và thể theo lời khuyên của vị nầy, năm lên 24 tuổi, ông đến tham bái Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (弘忍) ở Đông Thiền Viện (東禪院) vùng Đông Sơn (東山), Kì Châu (蘄州, thuộc Huyện Hoàng Mai, Tỉnh Hồ Bắc). Được tám tháng, ông làm bài kệ nổi tiếng “Bồ đề bổn vô thọ, minh kính diệc phi đài, bổn lai vô nhất vật, hà xứ hữu trần ai (菩提本無樹、明鏡亦非臺、本來無一物、何處有塵埃, bồ đề vốn không cây, gương sáng chẳng có đài, xưa nay chẳng một vật, nơi nào nhuốm bụi trần)”, nửa đêm đem trình cho Hoằng Nhẫn, được truyền thừa y bát và chạy trốn về phương Nam. Trong bốn năm trường, ông luôn nhớ lời thầy dạy, sống ẩn náu trong nhà người thợ săn, đến năm 677, ông đến Pháp Tánh Tự (法性寺) ở Nam Hải (南海, Tỉnh Quảng Đông), theo xuất gia với Ấn Tông (印宗), rồi bắt đầu cử xướng Thiền phong của mình, và có được rất nhiều người quy ngưỡng theo ông. Đến năm 705, vua Trung Tông (中宗) sai sứ đến triệu thỉnh ông, nhưng ông cáo bệnh không nhận lời. Nhà vua lại ban sắc chỉ cho đổi Bảo Lâm Tự (寶林寺) thành Trung Hưng Tự (中興寺) và ban sắc ngạch cho Pháp Tuyền Tự (法泉寺). Ngoài ra, nhà vua còn cho biến nhà cũ của Huệ Năng thành Quốc Ân Tự (國恩寺), cho dựng nơi ấy ngôi Báo Ân Tháp (報恩塔), và vào ngày mồng 3 tháng 8 năm thứ 2 (713) niên hiệu Tiên Thiên (先天), ông thị tịch tại chùa nầy. Vào năm 816, Hoàng Đế Hiến Tông (憲宗) ban cho ông nhụ hiệu Đại Giám Thiền Sư (大鑑禪師), và đặt tên tháp là Nguyên Hòa Linh Chiếu Chi Tháp (元和靈照之塔). Liễu Tông Nguyên (柳宗元) soạn ra bài minh cho tháp. Đến năm 978, Hoàng Đế Thái Tông (太宗) còn ban thêm cho thụy hiệu là Đại Giám Chơn Không Thiền Sư (大鑑眞空禪師) và tên tháp là Thái Bình Hưng Quốc Chi Tháp (太平興國之塔). Đến năm 1032, Hoàng Đế Nhân Tông (仁宗) cho đem chơn thân và pháp y của Huệ Năng vào trong cung nội làm lễ cúng dường và ban cho thụy hiệu là Đại Giám Chơn Không Phổ Giác Thiền Sư (大鑑眞空普覺禪師). Vào năm 1082, Hoàng Đế Thần Tông (神宗) còn ban thêm thụy hiệu là Đại Giác Chơn Không Phổ Giác Viên Minh Thiền Sư (大覺眞空普覺圓明禪師). Hơn 40 năm trường, Huệ Năng đã từng giáo hóa ở Thiều Châu (韶州, thuộc Tỉnh Quảng Đông ngày nay) và Quảng Châu (廣州), trong đó những bài thuyết pháp của ông tại Đại Phạn Tự (大梵寺) vùng Thiều Châu, được biên tập thành văn bản dưới tên Lục Tổ Đàn Kinh (六祖壇經) rất nỗi tiếng và được lưu hành rộng rãi cho đến ngày nay. Bên cạnh đó ông còn trước tác Kim Cang Kinh Giải Nghĩa (金剛經解義) 2 quyển. Thần Tú (神秀, 605-706), người đồng môn với ông, lớn hơn ông 30 tuổi, và nhờ sự tiến cử của Thần Tú mà Tắc Thiên Võ Hậu (則天武后) đã có lần cung thỉnh Huệ Năng. Thuyết cho rằng Thần Tú hủy báng việc truyền pháp được xem như là do hậu thế tạo nên, nhưng vẫn có căn cứ của nó. Thần Tú thì giáo hóa ở phương Bắc thuộc các vùng phụ cận của Trường An (長安), Lạc Dương (洛陽) với chủ nghĩa tiệm tu. Còn Huệ Năng thì bố giáo ở phương Nam với chủ nghĩa đốn tu. Đời sau, người ta gọi hai trường phái nầy là Nam Đốn Bắc Tiệm (南頓北漸), hay Nam Tông Thiền (南宗禪) và Bắc Tông Thiền (北宗禪). Về sau, Nam Tông Thiền phát triển rực rỡ cũng là nhờ có nhiều nhân vật kiệt xuất thuộc pháp hệ nầy xuất hiện. Những môn đệ xuất sắc của Huệ Năng như Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思, ?-740), Nam Nhạc Hoài Nhượng (南岳懷讓, 677-744), Hà Trạch Thần Hội (河澤神會, 684-760), Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺, 675-713), Nam Dương Huệ Trung (南陽慧忠, ?-775).

Huệ Trung

(慧忠, Echū, ?-775): người vùng Chư Kỵ (諸曁, thuộc Huyện Chư Kỵ, Phủ Thiệu Hưng, Tỉnh Triết Giang), Việt Châu (越州), họ là Nhiễm (冉). Lúc còn nhỏ ông theo Lục Tổ Huệ Năng (慧能) học đạo, và sau kế thừa dòng pháp của vị nầy. Sau khi Huệ Năng qua đời, ông đi tham bái các tòng lâm, từng đi qua Ngũ Lãnh (五嶺), La Phù (羅浮, thuộc Tỉnh Quảng Đông), Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang), Thiên Mục (千目, Tỉnh Triết Giang), cuối cùng đi vào trong hang núi vùng Nam Dương (南陽, Tỉnh Hà Nam), và lưu lại đó suốt trong vòng 40 năm trường không hề hạ sơn. Đến năm thứ 2 (761) niên hiệu Thượng Nguyên (上元) nhà Đường, vua Đường Túc Tông (肅宗) nghe được thanh danh của ông, cho vị sắc sứ Trung Triều Tấn (中朝進) mang sắc chỉ đến triệu ông lên kinh đô và lấy lễ tôn ông làm thầy. Ban đầu ông trú tại Tây Thiền Viện ở Thiên Phước Tự (千福寺), nhưng sau vua Đại Tông (代宗) ban chiếu chỉ cho ông chuyển đến Quang Trạch Tự (光宅寺). Cả hai vị vua đều rất trọng đãi ông, nhưng Huệ Trung lại quen sống cuộc đời đạm bạc, tự nhiên, thường giao du với Nam Nhạc Huệ Tư (南岳慧思). Theo lời thỉnh cầu, ông kiến tạo Thái Nhất Kiến Xương Tự (太一建昌寺) ở Võ Đương Sơn (武當山) thuộc Quân Châu (均州), rồi sáng lập ra Hương Nghiêm Kiến Thọ Tự (香嚴建壽寺) nơi hang động mà ông từng ẩn tu, mỗi nơi ông đều thỉnh về một bộ kinh tạng để tôn thờ. Cùng với Hành Tư (行思), Hoài Nhượng (懷讓), Thần Hội (神會), Huyền Giác (玄覺), và ông là 5 bậc tông tượng lớn của môn hạ Huệ Năng. Mặc dầu Thiền phong của ông có nét đặc trưng khác với bốn vị kia, nhưng ông đã tạo nên sắc thái mới cho giới tôn giáo đương thời. Cùng với Thần Hội mà cử dương Thiền phong của mình ở phương Bắc, ông đả kích nhóm Đạo Nhất (道一) xiển bá Thiền phong ở phương Nam. Thiền phong của ông lấy Thân Tâm Nhất Như (身心一如), Tức Tâm Tức Phật (卽心卽佛) làm yếu chỉ, và bắt đầu tuyên xướng tư tưởng Vô Tình Thuyết Pháp (無情說法). Thêm vào đó, ông còn phê phán việc các Thiền giả phương nam xem nhẹ kinh điển mà tùy ý thuyết pháp; trái lại ông nghiên cứu kinh luật luận một cách rộng rãi, chú trọng đến giáo học. Ông thị tịch vào ngày mồng 9 tháng 12 năm thứ 10 (775) niên hiệu Đại Lịch (大曆). Theo chiếu chỉ nhà vua, ông được an táng tại Hương Nghiêm Tự (香嚴寺). Do vì ông đã từng sống tại Nam Dương (南陽), nên người đời thường gọi ông là Nam Dương Huệ Trung (南陽慧忠). Vua Đại Tông ban cho ông thụy hiệu là Đại Chứng Quốc Sư (大証國師).

huấn lệnh

Agyo (J), Master's instruction.

huấn điểm

4321日人以和音誦讀漢文時,註在漢文旁邊之假名與標點。古稱「乎古止點」,乃於文字之四邊加朱點,後世以「返點」、「送假名」代用。此係日本模仿唐朝區別四聲所用之點法。其用例所示稱為點圖,有諸種流派,頗不一致。

huấn đồng hành

4320訓誨童少行者。即禪林於每月之一日、十五日等,召集各局務之行者於寢堂聽受訓示。敕修百丈清規卷二訓童行條載,凡旦望五參上堂罷,參頭行者令喝食行者報各局務,於行堂前掛牌報眾,鳴昏鐘,行堂前鳴板三下,集眾行者,先至佛殿,次祖堂、僧堂,方上寢堂排立。參頭入方丈,請住持出就坐,參頭進前,插香退身歸位,緩聲喝云:「參!」眾低聲同云:「不審。」齊禮三拜。屏息恭聽規誨畢,又三拜。參頭喝云:「珍重!」眾齊低聲和,問訊而退。另於禪苑清規卷九詳載訓童行時,有關立身(進退作法)、陪眾(對人作法)、作務等之細則規定。〔禪林象器箋垂說門〕 ; (訓童行) Hòa thượng trụ trì dạy bảo các hành giả nhỏ tuổi. Theo điều Huấn đồng hành trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2, thì vào các ngày mồng 1 và ngày rằm mỗi tháng, sau khi Hòa thượng trụ trì thuyết pháp xong, vị hành giả Tham đầu bảo vị hành giả Hát thực, treo bảng thông báo ở trước liêu của hành giả (Hành đường) để báo cho các hành giả ở các bộ phận được rõ. Sau khi thỉnh chuông buổi chiều, gõ 3 tiếng bảng ở trước Hành đường, các hành giả tụ tập, trước tiên lên điện Phật, kế đến xuống Tổ đường, vào Tăng đường rồi đến nhà nghỉ, đứng xếp hàng đúng theo vị trí. Lúc đó, vị Tham đầu vào phương trượng, thỉnh Hòa thượng trụ trì an tọa. Vị hành giả Tham đầu bước lên phía trước cắm hương vào lư, rồi trở về chỗ cũ, hô lên một tiếng Tham! , đại chúng thấp giọng đáp: Bất thẩm , rồi lạy 3 lạy. Sau đó lắng tâm cung kính nghe lời dạy dỗ của Hòa thượng trụ trì, nghe xong lạy 3 lạy, hành giả Tham đầu hô: Trân trọng! Đại chúng thấp giọng họa lại rồi lui. [X. môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng kí tiên].

Huệ

慧; S: prajñā; P: paññā;|Bát-nhã, Trí huệ

huệ

6019<一>梵語 prajñā,巴利語 paññā。音譯般若。指推理、判斷事理之精神作用。心所之名。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。慧,通於善、不善、無記三性。惡慧中,作用強者,稱惡見,為五見之一。善慧又作正見、正慧。依俱舍論之說,慧係與任何種心皆有相連屬之作用,為大地法之一;然唯識宗謂慧為別境五心所之一。此外,慧與智為相對之通名,達於有為之智相稱「智」,達於無為之空理則稱「慧」。俱舍論卷二十六亦言,慧有「有漏慧」與「無漏慧」兩種。前者與煩惱法有密切不可脫離且相互影響之關係,屬於「智」之性質;後者又稱聖慧。由聞法而來之慧,稱作聞慧;由思考而來之慧,稱作思慧;由修行而來之慧,稱作修慧;以上三者合稱聞思修三慧。三慧加上與生俱來之「生得慧」,合稱四慧。依菩薩瓔珞本業經卷上說,菩薩之階段可分六種智慧,即聞、思、修三慧與「無相慧」(已證悟空無自性)、「照寂慧」(以中道之慧觀照見中道之理)、「寂照慧」(寂照不二,定慧平等)。以上六者依次與十住、十行、十迴向、十地、等覺、妙覺等六位配合。此外,天台宗亦有劣慧之說。〔大毘婆沙論卷四十二、卷一四二、俱舍論卷一、卷四、俱舍論光記卷一、卷四、成唯識論述記卷五〕 <二>梵語 adhiprajñā,巴利語 adhipaññā。慧與戒、定二者係佛教之重要德目,合稱「三學」。又就五根、五力之中,而有慧根、慧力之稱。以上之慧屬狹義之解釋;廣義之慧,則指梵語之 prajñā,一般音譯作般若。(參閱「三學」683、「般若」4301) ; she rab (T) Xem xà na, Vibhāṣāna (S) Tỳ bà xá na Phép tu chứng thứ nhì trong 3 phép tu: định, huệ, xả. Chữ tỳ bà xá na bao hàm sáu nghĩa (theo kinh Niết bàn): chánh kiến, liễu kiến (thấy rõ), năng kiến (thấy được), biến kiến (thấy khắp), thứ đệ kiến (thấy lần lượt từ trước ra sau), biết tướng kiến (thấy các tướng một cách phân biệt).

Huệ An

(慧安, Ean, 582-709): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Chi Giang (支江), Kinh Châu (荆州), họ Vệ (衛), còn gọi là Lão An (老安), Đạo An (道安), Đại An (大安), một trong 10 vị đệ tử lớn của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (弘忍). Ông có dung mạo đoan nhã, không hề nhiễm bụi trần, các pháp môn tu học thảy đều thông suốt. Trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Nghiệp (大業, 605-616) nhà Tùy, ông tập trung dân chúng, khai thông cầu đường, bao nhiêu thức ăn xin được ông đem phát cho dân nghèo. Trong khoảng thời gian niên hiệu Trinh Quán (貞觀, 627-649) nhà Đường, ông đến tham yết Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn ở Hoàng Mai Sơn (黃梅山) và ngộ được huyền chỉ với vị này. Vào một đêm nọ của năm thứ 2 (699) niên hiệu Thánh Lịch (聖曆) đời Võ Hậu, mưa gió dữ tợn, ông truyền thọ Bồ Tát giới cho thần Tung Sơn. Đến năm thứ 2 (706) niên hiệu Thần Long (神龍) đời vua Trung Tông, vua ban Tử Y cho ông, kính trọng như thầy, thường mời vào cung nội cúng dường trong vòng 3 năm. Vào năm thứ 3 (709) niên hiệu Cảnh Long (景龍), ông từ khước trở về Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺) và đến ngày mồng 8 tháng 3 năm này, ông thị tịch, hưởng thọ 128 tuổi. ; 慧安; 582-709|Thiền sư Trung Quốc, một trong mười vị đại đệ tử của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Nối pháp của Sư có Phá Táo Ðọa, Nguyên Khuê.|Sư có dung mạo đoan chính, xuất trần, sớm thông các pháp môn tu học. Trong khoảng thời gian 627-649, Sư đến núi Hoàng Mai yết kiến Ngũ tổ và ngộ được huyền chỉ. Vua Ðường Trung Tông (năm 706) ban tử y (ca-sa tía) và dùng lễ thầy trò thỉnh vào cung điện thờ phụng ba năm. Năm 709, Sư từ biệt, trở về chùa Thiếu Lâm ở Tung Nhạc và tịch tại đây ngày mồng 8 tháng 3, thọ 128 tuổi.

huệ an

6028<一>(582~709)唐代僧。荊州支江(湖北)人,俗姓衛。又稱老安、道安、大安。為禪宗五祖弘忍十大弟子之一。其貌端雅,不染俗塵,修學法門,無不該貫。隋大業(605~616)年中,會集庶民,開通濟渠,饑殍相望,師以乞得之食救濟病困。唐貞觀(627~649)年中,於黃梅山參謁五祖,遂得心旨。武后聖曆二年(699)某夜,風雨交加,師為嵩山神授菩薩戒。中宗神龍二年(706),帝賜紫衣,尊以師禮,延入宮中,供養三載。景龍三年,辭歸嵩嶽少林寺,是年三月八日,閉戶偃身而入寂,世壽一二八。〔宋高僧傳卷十八、景德傳燈錄卷四、聯燈會要卷三、五燈會元卷二〕 <二>(1225~1277)日本臨濟宗僧。播磨人。號東巖。又稱惠安。初登書寫山研學台教十餘年。正嘉元年(1257),至太宰府,參謁敬念禪師,乃歸投禪門,而得心印。弘長二年(1262)至建長寺,參謁從宋至日之兀菴普寧,而受頂相。建治三年示寂,世壽五十三。敕諡「宏覺禪師」。〔延寶傳燈錄卷十四、本朝高僧傳卷二十一〕 ; Hui-an (C) Tên một vị sư.

huệ bát

6055又作慧筏。撥,又作燝,與「筏」同,指海中大船。以智慧比喻為渡生死河至涅槃之船筏,故稱慧撥。〔性靈集卷六〕

huệ bát nhã ba la mật bồ tát

Xem Bát nhả Ba la mật Bồ tát.

Huệ Bố

(慧布, Efu, 518-587): vị tăng sống dưới thời nhà Trần thuộc Nam Triều, người vùng Quảng Lăng (廣陵, Giang Đô, Giang Tô), họ Hác (郝). Năm 21 tuổi, ông xuất gia, ban đầu theo Quỳnh Pháp Sư (瓊法師) ở Kiến Sơ Tự (建初寺) thuộc Quận Dương (楊郡) học Thành Thật Luận (成實論), sau nghe Tăng Thuyên (僧詮) ở Chỉ Quán Tự (止觀寺) thuộc Nhiếp Sơn (攝山) giảng về Trung Luận (中論), Bách Luận (百論), Thập Nhị Môn Luận (十二門論), thấu đạt huyền chỉ của 3 bộ luận này. Ông thường vui ngồi Thiền, thề không giảng thuyết, ngồi ngay ngắn như thân cây. Sau ông đến thăm Thiền Sư Huệ Khả (慧可) ở kinh đô Nghiệp, rồi du học nước Tề, viết chương sớ 6 cuốn mang về Giang Nam (江南). Sau khi trở về Dương Đô (楊都), gặp lúc Hầu Cảnh (候景) gây loạn, tuy chịu khổ nhọc, nhưng ông vẫn không hề thối chí trong việc hoằng truyền giáo pháp. Trong khoảng thời gian niên hiệu Chí Đức (至德, 583-586), ông kiến lập Thê Hà Tự (棲霞寺) ở Nhiếp Sơn, danh tiếng vang xa, cho nên vương tôn công tử đều quy y theo, kính thờ ông như Phật. Vào năm đầu (587) niên hiệu Trinh Minh (禎明), ông tuyệt thực mà thoát hóa, hưởng thọ 70 tuổi. Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林) quyển 82 cho rằng ông thọ hơn 70.

huệ bố

6023(518~587)南朝陳代僧。廣陵(江蘇江都)人,俗姓郝。二十一歲出家,初從楊都建初寺瓊法師學成實論;後從攝山止觀寺僧詮聽中論、百論、十二門論等三論,均能洞達玄旨,故時人稱其為得意布、思玄布。常樂坐禪,誓不講話,端坐如木。後北遊訪鄴都慧可禪師,又遊學齊國,寫章疏六馱,攜還江南。返楊都後,適侯景作亂,雖受困厄,而弘濟之業不為稍減。至德年中(583~586),迎請恭禪師,建立攝山棲霞寺,名聞遠馳,陳主諸王並受皈戒,奉之如佛。禎明元年,絕穀不食而寂,世壽七十。法苑珠林卷八十二謂世壽七十餘。〔續高僧傳卷七、釋氏稽古略卷二〕

huệ bộ bồ tát

Xem Hạnh Huệ Bồ tát.

huệ chiểu

6033(651~714)唐代法相宗僧。淄州淄川(山東淄川)人,姓氏不詳。又稱淄州大師。少即警慧,十五歲出家,如法修身不違戒律,時人以「沼闍梨」稱之。初從玄奘受學,後轉依窺基習學唯識,能深入堂奧,得其真傳。窺基示寂後,圓測著唯識論疏反駁窺基之說,師乃撰成唯識論了義燈破斥其說,以顯法相之實義。曾先後參與義淨、菩提流志之譯場,並任證義,多所刊正。又著有能顯中邊慧日論四卷、因明入正理論義纂要一卷,論述法相教義,使該宗達於最盛時期;另著有金光明最勝王經疏六卷、法華玄贊義決一卷、因明入正理論義斷一卷等。與窺基、智周合稱為唯識三祖。開元二年示寂,世壽六十四。〔宋高僧傳卷四、開元釋教錄卷九、六學僧傳卷二十三、玄奘三藏師資傳叢書卷下〕

huệ chướng

6053為「定障」之對稱。指障礙智慧之煩惱。即惛沈、睡眠等。據俱舍論卷二十一載,五蓋能障礙戒、定、慧之生起,如貪恚能障礙戒蘊,惛沈、睡眠能障礙慧蘊,掉舉、惡作能障礙定蘊。(參閱「五蓋」1194)

Huệ chất

(蕙質): có hai nghĩa. (1) Chỉ phong cách và phẩm chất tốt đẹp của người nữ. Như trong bài Hán Võ Đế Trùng Kiến Lý Phu Nhân Phú (漢武帝重見李夫人賦) của Trần Sơn Phủ (陳山甫, ?-?) nhà Đường có câu: “Phảng phất yên quang, phiêu diêu huệ chất (彷彿煙光、飄颻蕙質, lờ mờ khói tỏa, phiêu diêu dáng hình).” (2) Chỉ thục nữ. Như trong bài thơ Chinh Nhân (征人) của Dương Hành (楊衡, ?-?) nhà Đường có câu: “Vọng vân sầu ngọc tái, miên nguyệt tưởng huệ chất (望雲愁玉塞、眠月想蕙質, trông mây buồn Ngọc Môn, gối trăng nhớ thục nữ).”

huệ căn

6039梵語 prajñā-indriya,巴利語 paññindriya。為二十二根之一,五根之一。觀達真理,稱為慧;智慧具有照破一切、生出善法之能力,可成就一切功德,以至成道,故稱慧根。大乘義章卷四(大四四‧五五五下):「言信根者,於境決定,名之為信;信能生道,故名信根。(中略)言慧根者,於法觀達,目之為慧,根同前釋。」〔雜阿含經卷二十六、俱舍論卷二〕(參閱「五根」1137) ; Prajendriya (S), Prajā-indriya (S), Paindriya (P) Một trong 5 căn vô lậu (Tín, tấn, niệm, định, huệ).

huệ cơ

6056(1603~1668)明代臨濟宗僧。四川營山人,俗姓羅。字鐵壁。八歲即隨母持齋,並叩問同鄉大蓬山元白道者。天啟二年(1622),於四川大竹掩關三年。二十五歲,投西竺僧落髮,未久禮謁忠南(四川)之吹萬廣真求道,於三十三歲時大悟,終得吹萬之法。崇禎十二年(1639),吹萬示寂,師繼任聚雲寺住持。後歷住地藏院、吟翁寺、慶忠寺、雲巖院、寶聖寺、治平寺等道場。康熙七年示寂,世壽六十六,法臘四十一。著有慶忠鐵壁禪師語錄三卷、慶忠鐵壁機禪師語錄二十卷、藥病隨宜二卷、慶忠集二卷。〔治平鐵壁機禪師年譜、續燈正統卷十六〕 ; 6040(412~496)南朝僧。錢塘(浙江)人,俗姓呂。幼時依止楊都祇洹寺慧義,十五歲出家,研習群經,精苦勵行,後從西域僧伽跋摩探究禪律。年二十受具足戒後,即四方遊歷訪師,深研法華、思益、維摩、金剛、般若、勝鬘等經。東歸錢塘後,遍歷三吳(浙江一帶),宣講經教。劉宋太宗曾遣使迎請,師卻稱疾不行。然其德澤被彌三吳,譽馳海內,敕任僧正。齊建武三年示寂,世壽八十五。著有法華義疏三卷、問訓義序三十三科、注遺教經。〔梁高僧傳卷八、佛祖統紀卷三十六、法華義疏卷二(吉藏)〕

huệ cư tam muội

Djananolka Samādhi (S).

huệ cảo

6052(547~633)唐初僧。安陸(湖北)人。幼年出家,從茅山明法師學三論。善於講說,三十歲即登法座。隋代大業(605~616)年間,赴成都弘法。化眾之時,制法嚴厲,而招怨妒。唐代武德(618~626)年間,曾遭誣陷。後至荊門布化,隱遁於西山之南,鑽研「中觀」達五年之久。復歸安州方等寺,繼續講說,聲譽益彰。師出家七十餘年間,日僅一食。於貞觀七年示寂,世壽八十七。〔續高僧傳卷十三〕

huệ cần

6058(1059~1117)宋代臨濟宗僧。舒州(安徽)人,俗姓汪。字佛鑑。自幼師事廣教圓深。後參謁五祖法演,並為其法嗣。曾應舒州太守孫鼎臣之請,住持太平山興國禪院,法道大播。徽宗政和(1111~1118)初年,師應詔住汴京智海寺,經五年乞歸,得旨居建康蔣山。樞密鄧子常上奏,賜師紫衣,並賜「佛鑑禪師」之號。政和七年入寂,世壽五十九。與佛果克勤、佛眼清遠同被譽為臨濟五祖法演門下之三佛。〔宗門統要續集卷二十一、佛祖歷代通載卷十九、釋氏稽古略卷四、五燈會元卷十九〕 ; 6048(1320~1376)高麗禪僧。嶺南寧海村人,俗姓牙。原名元慧,號懶翁,世稱懶翁慧勤。所居之室,稱為江月軒。二十歲,從功德山妙寂庵之了然出家,後至揚州(京畿道)天寶山檜巖寺宴坐,精修四年而獲開悟。元至正八年(1348)來華,至燕京(河北)法源寺參訪西天僧指空,十年(或謂十一年)南遊,於杭州淨慈寺參謁平山處林,得其印可。後遊歷補陀洛山、育王山、明州、婺州伏龍山、松江等地。十五年,奉敕住大都廣濟禪寺,開堂說法。 師於高麗恭愍王七年(即元至正十八年)歸國,在遼陽、平壤、東海等地隨機說法。翌年,奉王命於三殿普說教法,敕住神光寺。後移住金剛山正陽庵、清平寺、檜巖寺等處。恭愍王二十年,受封為「王師」,並敕住東方第一道場松廣寺。辛缮王二年示寂於驪興神勒寺,世壽五十七。敕諡「禪覺」之號。法嗣有無覺自超、國師智泉、高峰法藏等三十三人,並有懶翁和尚語錄一卷傳世。〔大興寺事蹟碑、三聖山三幕寺事蹟(以上朝鮮寺剎史料所收)、朝鮮金石總覽上、高麗史卷一三三、朝鮮佛教通史中、朝鮮禪教史〕

Huệ Cần Phật Giám

慧勤佛鑒; tk. 11-12|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế hệ phái Dương Kì. Sư là bạn đồng học với hai vị »Phật« khác là Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả và Thanh Viễn Phật Nhãn dưới trướng của Thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn.|Sư họ Uông, xuất gia từ nhỏ, sớm tinh thông kinh sách. Nhân lúc đọc đến câu »Chỉ đây một sự thật, còn hai thì chẳng chân«, Sư bỗng nhiên có tỉnh.|Câu chuyện ngộ đạo triệt để của Sư cũng có nhiều điểm thú vị đáng được nhắc đến tường tận. Sư vốn đã tham vấn các bậc tôn túc, sau mới đến hội của Pháp Diễn tại Thái Bình và lưu lại đây. Sư tức giận vì Pháp Diễn nói quanh co không chịu ấn chứng. Sư muốn đi nơi khác nhưng Viên Ngộ khuyên ở lại rồi sẽ thấy hiệu quả. Một hôm, Sư nghe Pháp Diễn nhắc lại chuyện sau: »Tăng hỏi Triệu Châu: Thế nào là gia phong của Hoà thượng. Triệu Châu nói: Lão tăng lãng tai hỏi to lên đi. Tăng lại hỏi to lên, Triệu Châu nói: Ông hỏi gia phong của ta, ta lại biết gia phong của ông rồi.« Sư nghe đây bỗng nhiên có tỉnh, nhưng chưa triệt ngộ, trình Pháp Diễn: »Xin Hoà thượng chỉ bày chỗ tột.« Pháp Diễn đáp: »Sum la và vạn tượng là sở ấn của một pháp.« Sư lễ bái và được phong làm thư kí. Một hôm, Sư cùng với Viên Ngộ bàn về việc Ðông Tự Như Hội (môn đệ đắc pháp của Mã Tổ) hỏi Ngưỡng Sơn về hạt minh châu trấn hải. Ðến chỗ »không lí có thể bày«, Viên Ngộ hỏi gạn Sư: »Ðã nói nhận được, đến khi đòi hạt châu, lại nói không lời có thể đáp, không lí có thể bày, là thế nào?« Sư không đáp được. Hôm sau, Sư nói với Viên Ngộ: »Ðông Tự chỉ đòi một hạt châu, Ngưỡng Sơn ngay đó trút cả giỏ.« Viên Ngộ thừa nhận câu này nhưng lại khuyên Sư tham vấn, cận kề Pháp Diễn.|Một hôm, Sư đến Phương trượng của Pháp Diễn, chưa kịp nói gì đã bị Pháp Diễn mắng chửi thậm tệ. Trở về phòng, Sư đóng cửa nằm nghỉ mà tức giận Pháp Diễn vô cùng. Viên Ngộ biết thế gõ cửa vào phòng dọ hỏi, Sư bảo Viên Ngộ: »Tôi vốn không đi, bị huynh lừa nhiều lần, bị lão ấy mắng chửi.« Viên Ngộ nghe vậy bèn cười ha hả nói: »Huynh nhớ được lời ngày trước chăng?« Sư hỏi lại lời gì, Viên Ngộ bảo: »Huynh lại nói, Ðông Tự chỉ đòi một hạt châu mà Ngưỡng Sơn trút cả giỏ.« Sư nhân đây triệt ngộ, tất cả mối nghi ngờ đều tan vỡ.|Sư được Pháp Diễn truyền pháp y và sau khi rời thầy, Sư hoằng hoá nhiều nơi, tông phong rất thịnh hành.|Trước khi tịch, Sư tắm gội đắp y ngồi ngay thẳng, cầm bút viết thư từ giã bạn bè. Vừa dừng bút, Sư tịch.

huệ cần phật giám

Hui-chin Fo chien (C) Tên một vị sư.

Huệ Cần 慧勤

[ja] エゴン Egon ||| Hyegŭn (1320-1376) A Korean monk from Yŏnghae 寧海. Also known as Naong 懶翁 ("lazy old man") and Kang Wŏlhan 江月軒. He was a Sŏn monk of Imje 臨濟 training who lived and taught at the end of the Koryŏ period. He was a student of the Indian master Shih-k'ung 指空 and the teacher of Muhak 無學. He lived at a time of increasing negative sentiment towards Buddhism due to its corruption. He is thought to have entered the sangha at the age of 20, after the death of a close friend. He spent a life of itinerant practice, and later in life became National Teacher 國師. => k: Hyegŭn (1320-1376) . Tăng sĩ Cao Ly vùng Ninh Hải (k: Yŏnghae 寧海). Còn được gọi là Lãn Ông (k: Naong 懶翁) và Giang Nguyệt Hiên (江月軒 k: Kang Wŏlhan). Là Thiền sư thuộc tông Lâm Tế (k: Imje 臨濟), hành hoá vào cuối thời kỳ Koryŏ. Sư là đệ tử của Tăng sĩ Ấn Độ Chỉ Không (Shih-k'ung 指空) và là thầy của Thiền sư Vô Học (c: Muhak 無學). Sư sống vào thời kỳ có nhiều quan điểm phủ nhận Phật giáo do những hiện tượng suy đồi. Được biết Sư xuất gia vào năm 20 tuổi sau cái chết của một người bạn thân. Sư trải qua đời sống tu tập của vị tăng hành cước tham phương, và cuối đời Sư trở thành Quốc sư. Huệ Chiểu 慧沼[ja] エショウ Eshō ||| Huizhao (650-714). Born in modern ??? province. He left home at the age of 15, studying with Hsüan-tsang and later with Kuiji, gaining recognition as an outstanding student of the latter. He ended up doing much work in the area of commentary on sutras and śāstras, writing an important commentary on the Treatise on Consciousness-only. He is recorded in the Biographies of Eminent Monks as the second patriarch of the Faxiang school. Is also known by the name of Zizhou 淄州. => (j: Eshō ; c: Huizhao; 650-714). Sư xuất gia năm 15 tuổi, học với Huyền Trang và sau đó học với Khuy Cơ, sư đạt đến kiến thức như là một học trò kiệt xuất của Khuy Cơ. Sư kiên trì theo đuổi trứ tác trong lĩnh vực chú giải kinh và luận, Sư soạn một bộ luận rất quan trọng về Duy thức. Cao tăng truyện ghi nhận Sư là vị tổ thứ nhì của Pháp tướng tông. Sư còn được biết với tên là Chuy Châu (c: Zizhou 淄州).

huệ cầu

6043<一>(431~504)南朝劉宋時代僧。扶風郡(陝西涇陽)人,俗姓馬。十六歲出家,從學於荊州竹林寺之道馨。繼入湘州麓山寺專修禪道。復與同學慧度入京師諮訪經典。後往彭城,從僧淵學成實論。大明六年(462),歸返荊州講說義學。南朝齊代中興元年(501),任荊州僧主。南朝梁代天監三年示寂,世壽七十四。〔梁高僧傳卷八〕 <二>(?~913)唐末五代僧。泉州莆田(福建莆田)人,姓氏不詳。又稱中塔和尚。於龜山出家。為玄沙師備之法嗣。師備示寂後,繼之主持福州臥龍山安國院。於五代後梁乾化三年示寂。〔景德傳燈錄卷二十一〕

huệ cốc long giới

4941(1902~1979)日本佛教學者、文學博士。京都人。為淨土宗稱名院住持。畢業於比叡山專修院,曾任京都佛教大學校長,我國留學京都之學僧,頗多出於其門。著有新淨土宗辭典。

huệ cự

6036<一>謂智慧能照破無明之闇,使眾生知曉道途之險難,而以燈炬為喻,故稱慧炬。北本大般涅槃經卷二十一(大一二‧四九○上):「汝於佛性猶未明了,我有慧炬能為照明。」〔南海寄歸內法傳卷二〕 <二>高麗道峰山法眼宗之國師。唐末五代時之僧。生卒年不詳。來我國跟隨法眼文益修行而得悟,後高麗國主遣使來請,遂回故地。以後我國法眼宗雖漸衰微,而高麗法眼宗卻興盛一時,皆慧炬影響所致。〔景德傳燈錄卷二十五、五燈嚴統卷十〕 <三>係民國五十年(1961)十一月由周宣德、詹勵吾所創辦之佛教月刊。創刊宗旨為:研究佛儒學術,發揚中華文化,淨化社會人心,接引海內外學佛青年。刊行地區廣及亞、歐、澳、美等諸大洲。現任發行人、主編分別由劉勝欽、陳嘉珍擔任。 ; Hui-chu (C) Tên một vị sư.

huệ cự tam muội

1- đuốc huệ, trí cự (đuốc trí) 2- Huệ cự Tam muội: Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.

huệ diễn

Hui-yuan (C), Huiyuan (C) (334-416) Tổ thứ nhất của Tịnh độ tông Trung quốc.

huệ du

6050南朝劉宋僧。生卒年不詳。江左人。幼年出家,住江陵辛寺,受具足戒後,專習律學。復從卑摩羅叉律師(梵 Vimalākṣa)學十誦律,繼而講說宣揚,陝西律師莫不敬重。著有十誦義疏八卷。〔梁高僧傳卷十一〕

Huệ Dung 慧顒

[ja] エグ Egu ||| Huiyong (c. 860-930); a Chinese monk of the Linji school during the late Tang and Five Dynasties period. => (c: Huiyong 860-930); Thiền sư Trung Hoa thuộc dòng Lâm Tế, sống vào cuối đời Đường và Ngũ đại.

huệ duệ

6056(355~439)南朝劉宋僧。冀州(河北)人。少年出家,常遊方學經,曾至南天竺之界。通曉音譯訓詁、方言等。初曾師事道安,後憩廬山。未久,與道生、慧嚴等入長安,從鳩摩羅什受學。後往建業,住烏衣寺講經。劉宋彭城王劉義康師事之,謝靈運著十四音訓敘,曾向其請教。於泥洹經譯出之後,曾作喻疑論,以釋世之非難佛性義者。劉宋元嘉十六年示寂,世壽八十五。佛祖統紀卷二十七將僧叡列入蓮社十八賢中,然敘及事蹟時,則將僧叡之傳與慧叡之傳混合。又據梁高僧傳卷六、卷七載,入廬山者為慧叡,而非僧叡。〔佛祖統紀卷二十六、釋迦方志卷下、出三藏記集卷五、卷十五道生傳〕

huệ dũng

6034(515~583)南朝梁、陳時代僧。又稱法勇。譙國龍亢(安徽懷遠龍亢集)人,俗姓桓。其兄亦出家,法號慧聰。師幼從楊都靈曜寺之則法師出家。復從靜眾寺之峰律師受具足戒,學十誦律。繼就龍光寺之僧綽、建元寺之法寵,習學成實論。三十歲開席宣揚成實論。太平二年(557)梁亡,師住攝山止觀寺,從僧詮受業。陳代天嘉五年(564),受文帝之請,於太極殿講說,稱譽一時,住大禪眾寺達十八年。所造之講堂稱為般若堂。宣講華嚴經、涅槃經、方等經、大集經、大品般若經、大智度論、中論、百論、十二門論等數十遍。於至德元年示寂,世壽六十九。〔續高僧傳卷七〕

Huệ Giác

(慧覺, Ekaku): xem Giác Thiết Tuy (覺鐵觜, Kakutetsushi, ?-?) bên trên.

huệ giác

6059<一>南北朝譯經家。又稱曇覺。涼州人。風神爽悟,戒地清拔。曾於于闐國得梵本,北魏太武帝太平真君六年(445)返回高昌國,與沙門威德共譯賢愚因緣經十三卷。〔開元釋教錄卷六〕 <二>(554~606)隋代僧。太原晉陽(山西)人,俗姓孫。八歲出家,從學於興皇寺法朗。後棲止於攝山棲霞寺,受學於沙門慧布。之後,於江左一帶廣弘大智度論。南朝陳代之王公貴族皆敬以師禮。受隋煬帝之請,入住慧日道場。應法濟之請,於永福道場宣講大智度論。繼於白塔寺專事宣講大品般若、涅槃經、華嚴經,及中論、百論、十二門論、大智度論等二十餘部。大業二年示寂,世壽五十三。〔續高僧傳卷十二〕 <三>(531~620)隋代僧。齊郡人,俗姓范。辯才無礙,善於講說。開皇元年(581),住并州(山西太原)武德寺,盛講華嚴經。精通華嚴經及十地經論。唐武德三年示寂,世壽九十。著有十地經論、華嚴經、維摩詰經等之注疏。〔續高僧傳卷十二〕 <四>(745~818)唐代僧。衢州(浙江)須江人,俗姓徐。法號大義。住於鵝湖山,故稱鵝湖大義。諡號「慧覺大師」。(參閱「大義」874) <五>唐代僧。又稱覺鐵嘴。生卒年不詳。為趙州從諗(778~897)之法嗣,住揚州光孝寺。精通經史子集,復能詩文。〔景德傳燈錄卷十一、聯燈會要卷七、五燈會元卷四〕 <六>北宋臨濟宗僧。生卒年不詳。西洛人。世稱瑯琊慧覺。又號廣照禪師。〔聯燈會要卷十二〕(參閱「廣照」5999) <七>(1605~1673)清代臨濟宗僧。渝州(四川)綦江人,俗姓熊。法號照衣。(參閱「照衣」5519) <八>清代僧。生卒年不詳。江西泰和人。字幻空,號青原老人。住江都旌忠院。工於畫。 ; Hui-chueh (C) Tên một vị sư.

huệ giác lang gia

Roya Yekaku (J), Hui-chiao Langyeh (C), Roya Yekaku (J) Tên một vị sư.

huệ giải thoát

6051梵語 prajñā-vimukti,巴利語 paññā-vimutti。指僅由無漏之智慧力斷除煩惱障而得解脫之阿羅漢。乃「俱解脫」之對稱。為阿羅漢之一,七聖之一,九無學之一。所謂俱解脫,指得滅盡定,由慧、定之力,斷除煩惱、解脫二障而得解脫之阿羅漢;而慧解脫則係未得滅盡定,僅以慧之力,斷除煩惱障而得解脫之阿羅漢。二者有五義之不同:(一)就觀而言,慧人修性念處,俱人修共念處。(二)就行而言,慧人修行正道斷惑,俱人則正助兼修。(三)就所依法而言,慧人不習事禪,直緣真理,俱人兼修事禪(事禪分為有漏根本四禪、無漏禪、滅盡定等三種,其中,無漏禪又有觀、練、薰、修等四種,慧人實際上亦修觀禪)。(四)就神變而言,慧人有十四種神變,俱人有十八種神變。(五)就三明八解脫而言,慧人雖有一明、二明,然不具三明,其八解脫亦不全具,俱人則三明八解脫皆具。 又從禪法之用意言,慧解脫稱為壞法,以其不好事用之功德,修不淨觀乃至白骨相觀時,尚執著其白骨或觀白骨燒灰之想。俱解脫稱為不壞法,因其好事用之功德,由白骨眉間,觀想放青、黃、赤、白、地、水、火、風八色光明,以此修練而得神通。〔中阿含卷二十九請請經、沙門二十億經、卷三十行欲經、卷五十一阿濕貝經、長阿含卷十大緣方便經、卷十九世記經、大毘婆沙論卷一○一、俱舍論卷二十五、成實論卷一、法華經玄義卷四、天台四教儀集註卷中〕

Huệ giải thoát 惠解脱

[ja] エゲダツ egedatsu ||| See 慧解脱. 〔二障義 HPC 1.809b〕 => Con mắt trí tuệ. Xem Huệ nhãn 慧眼.

huệ giản

6058南朝劉宋譯經僧。又作惠簡。籍貫、世壽、生平事蹟均不詳。孝武帝大明元年(457),於遤陵鹿野寺抄撰灌頂經一卷,其他尚有商人求財經、僧王五天使經、善生王子經、懈怠耕者經、請賓頭盧法經等,譯出經典凡二十五部二十五卷。其中,灌頂經在出三藏記集卷五之中,係被編入「新集疑經偽撰雜錄」一項,又稱藥師琉璃光經,或灌頂拔除過罪生死得度經,即以現藏灌頂經卷十二所收之藥師琉璃光經,為慧簡之抄撰。然於法經所著之眾經目錄卷四中,灌頂經一卷被編入「偽妄錄」,與藥師經為不同之經。〔歷代三寶紀卷十、大唐內典錄卷四、開元釋教錄卷五、貞元新定釋教目錄卷八〕 ; Hui-chien (C) Tên một vị sư.

huệ hanh

6029宋代淨土宗僧。生卒年、籍貫均不詳。字清照。初從元照律師研習戒律,後住杭州武林延壽寺,專修淨土凡六十年。逢人則勸念佛,時有胡闉與師結方外之交,一日胡闉病篤,師慇懃誨示,助其念佛往生。後師建寶閣安置三聖像,參禮者絡繹不絕。〔佛祖統紀卷二十八、往生集卷一、淨土聖賢錄卷四〕

huệ huy

6049<一>(442~514)南朝梁代比丘尼。青州(江蘇東海)人,俗姓駱。性恬淡,常讀涅槃經、法華經。十八歲出家,住京師安樂寺,隨從斌法師、濟法師、柔法師、次法師聽聞涅槃經、成實論等。博通義學,譽聞遐邇。於天監十三年示寂,世壽七十三。 <二>唐代僧。生卒年不詳。住長安西明寺。為圓暉之弟子。採集圓暉所著之俱舍論頌疏,並加以注釋,作成俱舍論釋頌疏義鈔六卷。該書與遁麟之俱舍論頌疏記二十九卷堪稱為雙璧。 <三>(1097~1183)宋代曹洞宗僧。會稽(浙江)上虞人,俗姓張。幼年依澄照道凝剃髮。二十歲參謁長蘆寺之真歇清了。繼學於天童山之宏智正覺,並嗣其法。歷住補陀寺、萬壽寺、吉祥寺、雪竇寺。於孝宗淳熙三年(1176),奉敕主持臨安淨慈寺。七年,退歸雪竇寺。於淳熙十年示寂,世壽八十七,法臘七十五。賜號「自得禪師」。遺有靈隱淨慈自得禪師語錄六卷。〔嘉泰普燈錄卷十三、五燈會元卷十四、聯燈會要卷二十九〕

huệ huyễn

6020萬法皆如幻化,如來之聖智,亦屬幻化,稱為慧幻。幻士仁賢經(大一二‧三二中):「一切人民及其所有皆如幻化,諸坐比丘亦如幻化,如我之身亦是慧幻。」

huệ hưu

4940南朝劉宋僧。原名湯休,時人稱為休上人。頗富文才,所作詩文詞藻華麗,與鮑照齊名。現存詩十餘首,散見於藝文類聚、初學記、玉臺新詠等書。 ; 6025(548~?)唐初僧。瀛州(河北)人,俗姓樂。十六歲遇一沙門,聽其講述三世輪迴之苦,雅會夙懷,萌出家之念,遂依勗律師出家。初就學鄴都,遍訪靈裕等諸師,頗有體悟。復往渤海從明彥聽成實論,從志念學小論。更入關從曇遷、道尼習學攝大乘論,從法礪等律師受四分律,皆能探隱洞明,貫融諸宗。隋末,返相州,居雲門寺,逢寇亂,相州軍民棄城逃隱,唯師率徒二十餘人入城守護,道俗依之而倖免於難。貞觀九年(635),帝頻召入京,師以疾固辭不就。十九年,住相州慈潤寺,仍爽健如前, 犰~已九十八。後不知所終。〔續高僧傳卷十五〕

huệ hạo

6045(?~1784)日本真宗大谷派之嗣講。大坂正行寺住持。又稱樹法庵。寶曆五年(1755)夏任寮司,七年秋任擬講,明和三年(1766)任嗣講。天明四年示寂,世壽不詳。

Huệ Hải

慧海|Ðại Châu Huệ Hải.

huệ hải

6039<一>喻指智慧深廣如海。因明入正理論疏序(大四四‧九一中):「挹慧海於深衷,竦義山於奧腑。」 <二>(541~609)隋代僧。清河武城人,俗姓張。幼即出家,師事鄴都廣國寺冏法師,受涅槃、楞伽等經;慧辯過人,眾所欽服。後又從青州大業寺道猷受摩訶衍、毘曇等。北周大象二年(580),創立安樂寺,修淨土觀法。時有齊州僧道詮齎來無量壽佛之畫像,由是禮懺苦修,發願往生。隋大業五年示寂,世壽六十九。〔續高僧傳卷十二、往生集卷一〕 <三>(550~606)隋代僧。虞鄉(山西)人,俗姓張。少依曇延出家,十八歲即能講說涅槃經。受具足戒後,轉好禪寂,隱居伏犢山。北周滅北齊時,師隱遁入陳;隋興,城安公主為師建立靜法寺於都邑,師於此布座講說,享譽一時。大業二年示寂,世壽五十七。〔續高僧傳卷十一〕 <四>唐代僧。建州(福建)人,俗姓朱。生卒年不詳。世稱大珠和尚、大珠慧海。依越州(浙江紹興)大雲寺道智法師出家,初學經教即有所悟。後遊諸方,參謁馬祖道一,馬祖曰(大五一‧二四六下):「自家寶藏不顧,拋家散走作什麼?」師於言下自識本性,遂事馬祖六載。撰有頓悟入道要門一卷。被竊呈馬祖,祖讚曰:「越州有大珠,圓明光透,自在無遮障。」此即大珠和尚名之由來。悟道之後,歸返越州闡揚禪旨。〔祖堂集卷十四、景德傳燈錄卷六、聯燈會要卷五、佛祖歷代通載卷十四〕 <五>(1626~?)明末清初臨濟宗僧。鄂州(湖北)富川涌泉人,俗姓謝。字水鑑。又稱沙翁、寓叟、寓人。二十歲,投蘄春(湖北)報恩寺體融出家,復從徑山費隱通容受具足戒。先後參叩玉林通琇、萬如通微、木陳道忞、獨冠行敬。三十三歲,承嗣獨冠之法。其後,歷住荊州鐵佛寺、天王寺、揚州地藏寺、鄂州黃龍寺、漢陽棲賢寺、嘉興廣慧寺。遺有天王水鑑海和尚六會錄十卷、五會錄六卷、天王水鑑海和尚住金粟語錄三卷。〔六會錄附寓叟自傳、天王沙翁和尚記略、金粟錄附寓人自傳、五會錄附天王和尚行錄〕 ; Hui-hai (C) Tên một vị sư.

huệ hằng

6049(515~589)南朝陳代僧。義興陽羨(江蘇宜興)人,俗姓周。從竹林寺之詡法師出家,受具足戒。後從靜眾寺之峰法師學十誦律,及龍光寺之僧綽學成實論。並遊方參訪眾師,習學「毘曇」、「八犍度」。復歸龍光寺,從大僧都舒法師精研成實論。永定三年(559),於白馬寺宣講涅槃經、成實論。天嘉二年(561),於湘宮寺講說。太建四年(572),宣帝敕於東安寺講說。至德元年(583),受詔任京邑大僧都,四年轉任大僧正。隋開皇九年,示寂於徐方之中寺,世壽七十五。〔續高僧傳卷九〕

huệ học

6056梵語 prajñā-śikṣā,巴利語 paññā-sikkhā。為獲得聖果而須勤修的三學之一。又作增慧學、增上慧學。謂能斷除煩惱,顯發本性,稱為慧學。蓋觀達真理為慧,進習為學。斷惑證理,乃慧之作用,為發此慧而進修,故稱慧學。三藏中之阿毘達磨藏,即為詮顯此慧學之法藏。此外,雜阿含經卷二十九、摩訶僧祇律卷二、集異門足論卷五等謂修學苦、集、滅、道四諦為慧學。〔對法論卷十一、大乘義章卷十〕(參閱「三學」683) ; Prajā-siksa (S) Pháp môn quán chiếu thấu suốt chân lý.

Huệ Khai

慧開|Vô Môn Huệ Khai.

huệ khai

6047(1183~1260)宋代臨濟宗楊岐派僧。杭州(浙江)錢塘人,俗姓梁。字無門,世稱無門慧開。幼年入道,廣習經論;年長,於南峰石室獨居禪思,積年六載,忽有省悟,乃出禮謁諸山尊宿,得法於江蘇萬壽寺月林師觀禪師座下。嘉定十一年(1218),開法於安吉報國寺,次遷隆興天寧寺、黃龍翠巖寺、蘇州開元寺、靈巖寺、鎮江焦山寺、金陵保寧寺等剎。紹定二年(1229)為皇帝祝壽而編撰無門關一卷,該書係精選諸禪錄之著名公案四十八則,另加評唱與頌而成。理宗淳祐六年(1246),奉旨入杭州護國仁王寺。晚年居於西湖邊,理宗曾詔至選德殿說法,為宮中祈雨得感應,遂敕賜金襴衣,及「佛眼禪師」之號。師形枯神朗,紺髮蓬鬆,常著弊垢之衣,眾人奉其為開此道之先鋒。景定元年入寂,世壽七十八。其無門關一書,迄今仍盛行於世。〔續傳燈錄卷三十五、增集續傳燈錄卷二、五燈嚴統卷二十二、五燈全書卷五十三〕

huệ khai vô môn

Hui-kai wu men (C), Ekai Mumon (J) Tên một vị sư.

huệ không

6034(1644~1721)日本真宗大谷派第一世講師。近江國野州郡人,俗姓川那邊。號光遠房、秀光堂。十八歲登比叡山,研究天台教理三年。後歸鄉里,閱自宗之章疏。未久,入京都隨圓智學宗乘。延寶八年(1680),受門徒之請,住京都西福寺,開席講說,聽眾頗多。正德五年(1715),任講師職,即第一世講師。享保六年示寂,世壽七十八。著有無量壽經開義六卷、阿彌陀經義要四卷、法事讚叢林一卷、觀念法門叢林一卷、般舟讚叢林一卷等。

Huệ Không 慧空

[ja] エクウ Ekū ||| Hyekong; a Silla monk (5-6c) who became known for his popularization of the Buddhist teachings among the common people. => (j: Ekū ; c: Hyekong); Tăng sĩ Cao Ly, thế kỷ 5-6, người trở nên nổi tiếng về lối truyền bá Phật pháp cho người bình dân.

Huệ Khả

(慧可, Eka, 487-593): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Tùy, xuất thân vùng Võ Lao (武牢), Lạc Dương (洛陽, thuộc Tỉnh Hà Nam), họ là Cơ (姫), tên hồi nhỏ là Thần Quang (神光), là vị tổ thứ 2 của Thiền Tông Trung Hoa, còn được gọi là Tăng Khả (僧可). Hồi còn trẻ, ông học Lão Trang và Phật điển, sau đó ông đến vùng Hương Sơn (香山) thuộc Long Môn (龍門), Lạc Dương, xuất gia với Bảo Tĩnh (寳靜) và thọ giới tại Vĩnh Mục Tự (永穆寺). Về sau, ông đi tham học khắp các nơi, đến năm 23 tuổi thì trở về lại Lạc Dương, và nỗ lực tu hành trong 8 năm trường. Vào năm đầu (520) niên hiệu Chánh Quang (正光) nhà Bắc Ngụy, lúc 40 tuổi, ông đến tham vấn Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨) ở Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺), làm đệ tử của vị này và tu hành trong vòng 6 năm. Tương truyền, ban đầu khi đến gặp Đạt Ma, ông đã đứng bên ngoài thất chờ cho đến khi tuyết phủ lên đến hông mình, vậy mà vẫn không được Đạt Ma chấp nhận cho làm đệ tử. Khi ấy, Huệ Khả tự chặt lấy cánh tay mình để thể hiện tâm cầu đạo. Sau một thời gian khắc khổ tu hành, ông đến trình chỗ sở ngộ cho thầy biết, Đạt Ma hứa khả và trao truyền đại pháp cho. Sau đó, ông thuyết pháp suốt 34 năm tại kinh đô Nghiệp (thuộc Tỉnh Hà Nam) và cử xướng tông phong của mình rất mạnh mẽ. Vào năm thứ 3 (550) niên hiệu Thiên Bảo (天保) nhà Bắc Tề, ông trao truyền pháp cho đệ tử Tăng Xán (僧燦). Rồi nhân gặp nạn phá Phật (574-578) nhà Bắc Chu, ông đến ẩn cư tại Hoàn Công Sơn (皖公山), đến khi qua nạn này rồi, ông mới trở về kinh đô Nghiệp. Ông thị tịch vào ngày 16 tháng 3 năm Quý Sửu (593), năm thứ 13 niên hiệu Khai Hoàng (開皇), và được ban cho thụy hiệu là Chánh Tông Phổ Giác Đại Sư (正宗普覺大師), Đại Tổ Thiền Sư (大祖師禪). ; 慧可; C: huìkě; J: eka; 487-593;|Tổ thứ hai của Thiền tông Trung Quốc, được Bồ-đề Ðạt-ma Ấn khả. Kế thừa Sư là Tam tổ Tăng Xán. Theo truyền thuyết thì Sư đến Thiếu Lâm tự năm 40 tuổi tham vấn Bồ-đề Ðạt-ma. Ban đầu Bồ-đề Ðạt-ma chẳng để ý đến sự hiện diện của Sư, để Sư đứng trong tuyết băng nhiều ngày. Ðể chứng minh Bồ-đề tâm của mình, Sư tự chặt cánh tay trái dâng Bồ-đề Ðạt-ma và từ đây Sư được nhận là môn đệ. Tắc thứ 41 trong Vô môn quan có ghi lại cuộc đàm thoại đầu tiên giữa Bồ-đề Ðạt-ma và Huệ Khả.|Bồ-đề Ðạt-ma ngồi nhìn vách tường. Sư dầm tuyết, rút dao tự chặt cánh tay, nói: »Con không an được tâm, xin thầy an tâm cho con.« Ðạt-ma bảo: »Ðưa tâm cho ta, ta sẽ an cho.« Sư đáp: »Con không thấy tâm đâu cả.« Ðạt-ma đáp: »Ta đã an tâm cho con.«|Sau sáu năm tu tập dưới sự hướng dẫn của Bồ-đề Ðạt-ma, Sư được ấn chứng, nhận y bát và từ đây Sư trở thành Nhị tổ của Thiền tông Trung Quốc. Dịp truyền pháp được ghi lại trong Truyền quang lục.|Một hôm Sư nói: »Con đã dứt hết chư duyên rồi« Tổ hỏi: »Ngươi không biến thành đoạn diệt chứ?« Sư đáp: »Chẳng thành đoạn diệt.« Tổ hỏi lại: »Lấy gì chứng minh?« Sư đáp: »Rõ ràng thường biết, nói không thể được.« Tổ hài lòng, đáp: »Ðó là chỗ bí quyết tâm truyền của tất cả chư Phật, ngươi chớ nghi ngờ gì.«|Trước khi đến Bồ-đề Ðạt-ma thụ pháp, Sư tên là Thần Quang, chuyên học Nho, Lão Trang (Lão Tử, Trang Tử) và kinh sách Phật pháp. Cái hiểu biết từ sách vở này không thoả mãn lòng quyết đạt chính giác. Vì vậy Sư chú tâm đến việc tu tập Thiền định, quyết chứng nhận trực tiếp chân lí được tả trong kinh luận. Sau khi được truyền tâm ấn, Sư sống ẩn dật đây đó vì chưa muốn thâu nhận môn đệ và tập trung tâm sức nghiên cứu kinh Nhập Lăng-già theo lời khuyên của Bồ-đề Ðạt-ma. Sư lang thang đây đó, uống rượu ăn thịt, có những hành động như phàm phu. Có người hỏi vì sao thầy tu mà làm những việc này, Sư thản nhiên trả lời: »Ta tu tâm mặc ta, có liên can gì đến ngươi.«|Dầu vậy, Sư vẫn tuỳ duyên hoằng hoá và tương truyền rằng Sư có biệt tài thuyết pháp, dân chúng thường đến rất đông để nghe. Có một ông sư có thái độ chống báng, sai chú tiểu đến dọ chân tướng Sư, nhưng chú này vừa được nghe giảng cái gọi là tà đạo thì bỗng chốc chấn động tinh thần, xin lưu lại học. Vị sư lại sai chú tiểu khác đi gọi chú trước về, nhưng chú sau cũng biến luôn và cứ như thế thêm mấy chú nữa. Sau này, vị sư tình cờ gặp lại chú tiểu đầu tiên, quở: »Sao chú để ta kêu gọi nhiều lần? Ta chẳng tốn công mở mắt cho chú sao?« Chú tiểu đáp: »Mắt của tôi từ bao giờ vẫn thẳng, chỉ vì ông nên nó đâm ra lé!«|Những thành tích trong việc giáo hoá này gây sự bất bình ganh tị của những vị sư khác. Họ phong tin rằng Sư truyền bá tà giáo và thưa việc này cho quan trên. Sư bị bắt và sau đó bị xử trảm. Sư thản nhiên thuận theo, cho rằng đúng với luật nhân quả Sư có một món nợ phải trả. Việc này xảy ra năm 593, Sư thọ 106 tuổi.

huệ khả

6023(487~593)我國禪宗二祖。南北朝之僧。河南洛陽人,俗姓姬。初名神光。又作僧可。幼時於洛陽龍門香山依寶靜出家,於永穆寺受具足戒。早年周遊聽講,參禪冥想,精研孔老之學與玄理。北魏正光元年(520),參謁達磨祖師於嵩山少林寺,從學六年。據景德傳燈錄卷三載,師訪達磨時,終夜立於雪中,至天明仍不許入室,師乃以刀自斷左臂,表求道之至誠,遂面謁而大悟,達磨乃付予大法,並傳衣鉢。然續高僧傳卷十六載,師之手臂,係遭賊所斫斷。 達磨西歸後,師於北齊天保三年(552)授法予弟子僧璨,其後赴河南鄴都演說楞伽經意,凡三十餘年,韜光晦跡,人莫能識。後於筦城匡救寺盛揚宗風,學者雲集,復與沙門辯和論道,辯和不能勝,興謗於邑宰翟仲侃,仲侃惑其邪說,加以迫害,師乃於開皇十三年(一說十二年)示寂,世壽一○七。帝賜「正宗普覺大師」、「大祖禪師」之諡號。〔寶林傳卷八、祖堂集卷二、傳法正宗記卷六、續傳燈錄卷一、宗門統要續集卷二、佛祖統紀卷三十、五燈會元卷一〕(參閱「斷臂」6566) ; Hui-ko (C),Yeka (J), Hui-ke (C), Hui-ko (C), Eka (J), Yeka (J) (487-593) đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Bồ đề đạt ma.

huệ khải

6049(518~568)南朝陳代僧。俗姓曹,籍貫不詳。陳天嘉四年(563),於廣州制旨寺,禮請真諦三藏翻譯攝大乘論及釋論,自任筆受之職,未久又助譯俱舍論,並作兩論之疏。爾後頗受真諦之器識,當真諦翻譯大乘起信論及律二十二明了論時,師皆任筆受之職。光大二年,於智慧寺講說俱舍論,未畢而寂,世壽五十一。著有攝大乘論疏八卷、俱舍論疏五十三卷。或謂慧愷又作智愷,恐係訛誤。又古來有以大乘起信論序、大乘起信論疏及大乘起信論一心二門大意為智愷所著,然皆非其真撰。〔攝大乘論釋序、阿毘達磨俱舍釋論序、續高僧傳卷一、諸宗教藏總錄卷三〕

huệ kinh

6050(1548~1618)明代曹洞宗僧。撫州崇仁(江西崇仁)人,俗姓裴。字無明。夙有出家之志,至廩山從蘊空常忠(1514~1588)修法三年,得省後,隱遁於峩峯三年,一日,因移石,石堅不可舉,極力推之,乃豁然大悟,偈呈常忠,甚得器識。然以體軀衰弱,耕作誦讀,二十七歲始出家受具足戒,爾後二十四年未出峩峯。明萬曆二十六年(1598),應鄉邑之請住持寶方寺,自事作務,經數年殿宇一新。後南遊參訪雲棲袾宏,又禮謁嵩山少林寺初祖達磨之塔,往京師拜謁達觀,入五臺山參禮瑞峰。回寶方寺後,以博山元來為首座開堂說法,大弘曹洞宗風,參道者頗多。萬曆三十六年,應請移至新城壽昌寺,仍不廢勞務,常以偈頌法語應答參禪者。四十六年正月示寂,世壽七十一。法嗣有博山元來、晦臺元鏡、見如元謐、永覺元賢等。其中元賢編有無明慧經禪師語錄四卷,並撰行業記。憨山德清撰有塔銘。〔禪餘外集卷二十四、釋鑑稽古略續集卷三、五燈嚴統卷十六、高僧摘要卷二、補續高僧傳卷十六、禪林僧寶傳卷十四〕

huệ kiếm

6055以智慧比喻利劍,謂智慧能斷除一切煩惱魔障,故稱慧劍。據維摩詰經卷下(大一四‧五五四中):「以智慧劍,破煩惱賊。」永嘉證道歌(大四八‧三九六中):「大丈夫,秉慧劍,般若鋒兮金剛焰,非但空摧外道心,早曾落卻天魔膽。」

huệ kiến

6030梵語 mīmāṃsā-jñāna。指智慧之見解,或指佛之智慧。即以深妙之智慧,達觀諸法之識見。無量壽經卷上(大一二‧二六六下):「自以慧見問威顏乎!(中略)當知如來正覺,其智難量,多所導御;慧見無礙,無能遏絕。」

huệ kiểu

6044(497~554)南朝梁代僧。上虞(浙江)人,姓氏不詳。住會稽(浙江紹興)嘉祥寺。學通內外,博究經律。春夏二季以弘法為務,秋冬則潛心著述。以寶唱所撰之名僧傳有杜撰之失,乃搜羅諸錄,廣詢故老,於梁天監十八年(519)著高僧傳十四卷,世稱梁高僧傳,為我國第一部有系統之僧傳。所創僧傳體例,為後世所依。承聖二年(553)避侯景之亂,西至湓城(江西九江)。次年二月入寂,世壽五十八。另著有梵網經疏、涅槃義疏十卷等。〔梁高僧傳卷十四、續高僧傳卷六、歷代三寶紀卷十一〕

huệ kính

6059智慧猶如明鏡,可明照萬物,故以鏡比喻智慧之照用,稱為慧鏡。中阿含經卷五十四(大一‧七六六上):「云何比丘聖智慧鏡?我慢已盡已知,拔絕根本,打破不復當生,如是比丘聖智慧鏡。」〔弘明集序、禪苑清規卷七亡僧〕

Huệ Liễu 慧了

[ja] エリョウ Eryō ||| Huiliao (d. 656); a monk of the Sanjie 三階 movement. => c: Huiliao (d. 656); Tăng sĩ của phong trào Tam giai giáo.

huệ lâm

6045<一>南朝劉宋僧。秦縣(陝西)人,俗姓劉。道淵之弟子。學通內外,尤善老莊,好語笑俳諧,長於著作。廬江王義真薦之於文帝,甚得寵信,時與議論機密,有黑衣宰相之稱。所著白黑論(均善論),批評當時般若本無之說,以為(大五二‧一八上):「折毫空樹,無傷垂蔭之茂;堆材虛空,無損輪奐之美。」抨擊宗教虛構,以為(大五二‧一八中):「效神光無徑寸之明,驗靈變無纖介之實。(中略)諸若此類,皆謂於事不符。」認為佛教用淨土、地獄之說誘引威嚇民眾;揭露寺院僧侶追求豪華,結黨營私;主張廢鬼神之說,做修利遷善之事。師之批判佛教,為眾所厭棄。然由於文帝之庇護,得免被逐出僧團,後觸罪謫配交州。〔弘明集卷四、梁高僧傳卷七道淵傳〕 <二>(737~820)唐代西明寺僧。西域疏勒國人,俗姓裴。師事不空三藏,內持密藏,外究儒學,精通聲明與訓詁之學。引用字林、字統、聲類、三蒼、切韻、玉篇、諸經、 雜史,並參合佛意,詳察是非,撰成一切經音義百卷,世稱慧琳音義。據宋高僧傳卷五載,其成書年代為貞元四年(788)至元和五年(810),歷時二十餘年。元和十五年示寂於長安西明寺,世壽八十四。所著之一切經音義於大中五年(851)奏請入藏。此外並著有新集浴像儀軌一卷、建立曼荼羅及揀擇地法一卷等書。〔一切經音義序、六學僧傳卷十四〕(參閱「一切經音義」18) <三>(1715~1789)日本真宗大谷派第三世講師。伊勢國飯南郡西弘寺住持。字抱玉(又作懷玉、子玉),號龜陵,亦稱佛乘房、佛乘坊。九歲出家,初名慧空。後投京都慧然門下受宗學,研解精勤,罕能匹比。寶曆五年(1755)任擬講。明和二年(1765)昇嗣講。年五十一,任第三世講師。於寬政元年五月示寂,世壽七十五。諡號「理綱院」。著有大無量壽經貫綜記八卷、淨土論註伊蒿鈔十卷、往生要集錄九卷等書。 ; Hui-lin (C) Chùa Huệ Lâm Tên một vị sư.

Huệ Lâm Tông Bổn

(慧林宗本, Erin Sōhon, 1020-1099): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, hiệu là Pháp Không (法空), người vùng Vô Tích (無錫), Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), họ là Quản (管). Năm lên 19 tuổi, ông theo hầu Đạo Thăng (道昇) ở Thừa Thiên Vĩnh An Viện (承天永安院) thuộc Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô). Sau 10 năm, ông xuống tóc xuất gia và thọ giới, sau đó ông du phương tham học. Trước hết ông đến tham yết Nghĩa Hoài (義懷) ở Cảnh Đức (景德), Trì Châu (池州, Tỉnh An Huy) và được khế ngộ. Đến khi Nghĩa Hoài chuyển đến Thiên Y Sơn (天衣山) ở Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang) và Tiến Phước Tự (薦福寺) ở Thường Châu, ông cũng đi theo hầu thầy. Sau ông bắt đầu hoạt động truyền bá tông phong ở Thoại Quang Tự (瑞光寺) vùng Tô Châu, rồi chuyển sang Tịnh Từ Tự (淨慈寺). Vào năm thứ 5 (1082) niên hiệu Nguyên Phong (元豐) nhà Tống, thể theo lời thỉnh cầu của vua Thần Tông (神宗), ông đến trú trì Đại Tướng Quốc Tự Từ Lâm Thiền Viện (大相國寺慈林禪院) ở Đông Kinh (東京). Ông còn được vua Triết Tông (哲宗) ban cho hiệu là Viên Chiếu Thiền Sư (圓照禪師). Vào ngày 27 tháng 12 năm thứ 2 (1099) niên hiệu Nguyên Phù (元符), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi đời và 50 hạ lạp. Bản Huệ Lâm Tông Bổn Thiền Sư Biệt Lục (慧林宗本禪師別錄) hiện còn lưu hành.

huệ lâm tự

Erin-ji (J) Tên một ngôi chùa.

huệ lãng

6042<一>(662~725)唐代僧。為南山律宗道宣法系第四世。新定遂安(浙江)人。未出家前即信奉佛教,常不辭勞悴,四出求法。二十二歲,逢南宗頓教禪僧之指示,乃往天台山,途中遇一老僧,為其開示心要,師豁然悟本源,遂棲林野參修,經數年,始歸故邑,寄居慧安寺。景龍年間(707~709),頂忽湧現神光,盈照數十里,眾皆奇之,請登法席,演說法要。開元四年(716),師乃依光州道岸剃度,並受具足戒。師久積淨業,曾有山嶺震動、大龜呈祥之靈蹟,四方學禪觀者,皆雲集於此。開元十三年,示寂於龍興寺,世壽六十四。〔宋高僧傳卷八〕 <二>唐末五代僧。生卒年不詳。為雪峰義存之法系,長慶慧稜之法嗣。為同門中之翹楚,通稱為「朗上座」。碧巖錄第四十八則(大四八‧一八三下):「朗上座喫卻招慶飯了。」曾住福州(福建)報慈院。〔景德傳燈錄卷二十一、五燈會元卷八〕

huệ lí

6043晉代僧。西印度人。生卒年不詳。於咸和(326~334)初年來中國,初住杭州時,見其地山岩秀麗,遂建靈鷲、靈隱二剎。師常晏坐於巖中,故世人稱其處為理公巖。〔釋氏稽古略卷四、浙江通志〕

Huệ Lăng

慧稜|Trường Khánh Huệ Lăng.

huệ lăng

6050<一>(576~640)唐初僧。西隆人,俗姓申屠。八歲從檀溪寺誕律師出家。十六歲受教於荊州茅山明法師。於隋代末年歸襄陽,復隨安州暠法師入四川弘化。以能得奧旨,故人稱「得意稜」。及至暠法師遭誣陷,師亦被拘入獄。於獄中為囚徒講說中論、百論、十二門論等三論,達五遍。後獲赦,與暠法師共返安州。其後還襄州紫金寺開席講說。於貞觀十四年示寂,世壽六十五。隆興通論一書載貞觀二十年示寂。〔續高僧傳卷十四〕 <二>(854~932)唐末五代僧。杭州(浙江)鹽官人(宋高僧傳作海鹽人),俗姓孫,人稱孫公。十三歲於蘇州通玄寺出家受具足戒,歷參靈雲志勤、雪峰義存、玄沙師備等師。曾依止雪峰義存三十年,後為其法嗣。唐代天祐三年(906),住於泉州(福建)昭慶院。後住福州(福建)長慶院,故又稱「長慶慧稜」。於後唐長興三年示寂,世壽七十九,僧臘六十。號「超覺大師」。〔宋高僧傳卷十三、景德傳燈錄卷十八、佛祖歷代通載卷十七〕

huệ lăng trường khánh

Hui leng Chang Chinh (C), Hui lang (C); Yeryo Chokei (J) Tên một vị sư.

huệ lưu

6036因智慧能洗卻眾生煩惱之垢染,而以流水為譬喻,故稱慧流。又智慧如甘露水,能滋養眾生成長菩提心;周遍一切眾生無有止境,如泉水之出,無所間斷,故稱慧流。賢愚經卷二(大四‧三六○下):「佛日初出,慧流肇潤。」

huệ lập

6024(615~?)唐代僧。天水(甘肅秦州西南)人,遠祖因官遷至新平(陝西邠州),故亦為豳國公劉人,俗姓趙。本名子立,高宗敕名慧立,又稱惠立。生而聰敏,有棄俗之志,貞觀三年(629)十五歲,出家於豳州昭仁寺。博考儒釋,敕任大慈恩寺翻經大德,次補西明寺都維那,後授太原寺主。以師博學妙辯,直詞正色,高宗頻召入大內,與道士對論,甚合帝旨。師見尚醫奉御呂才,妄造釋因明圖注三卷,排斥諸師之正義,乃致書責之,呂才從此銷聲匿跡。又仰讚玄奘三藏之行儀,遂為之修傳,即大慈恩寺三藏傳五卷,然師因恐修補不全,遺其諸美,遂藏之地窖不予人觀。至臨命終,始命門徒掘出。此書後流離分散,武后垂拱四年(688),乃由沙門彥悰搜購、排列、補校、箋述續成,今流傳之三藏法師傳十卷即依此修正而成。寂年、世壽皆不詳。〔大慈恩寺三藏法師傳序、開元釋教錄卷九、宋高僧傳卷十七、六學僧傳卷十六〕

huệ minh

6031<一>乃智慧光明之意。又作慧燈明、慧燈。謂智慧能破除迷妄,譬如燈火之袪除黑闇。於經典中,「慧明」一語,或指佛之智慧,或指比丘之智慧。如大薩遮尼乾子所說經卷二「一乘品」(大九‧三二四上):「一切諸如來,說於智慧力,猶如夏中日,亦如世間燈,能竭煩惱海,照除無明闇。(中略)生死黑闇中,慧明能度彼。」法華經卷四授學無學人記品(大九‧三○中):「世尊慧燈明,我聞授記音,心歡喜充滿,如甘露見灌。」新譯華嚴經卷七十二(大一○‧三九二中):「慧燈破諸闇,(中略)普度群生靡有餘,此慧燈者之解脫。」即指佛智慧而言。 長阿含卷十五種德經(大一‧九六下):「『云何為慧?』佛言:『若比丘以三昧心清淨無穢,柔軟調伏,住不動處,乃至得三明,除去無明,生於慧明,滅於闇冥,生大法光,出漏盡智。』」此即針對比丘之慧而言。〔長阿含卷十三阿摩晝經〕 <二>唐代僧。又作惠明。生卒年不詳。鄱陽(江西)人,俗姓陳,為陳宣帝之孫。曾受四品將軍之爵,隸署諸衛,故有將軍之號。幼年於永昌寺出家,於高宗之世,投黃梅山五祖弘忍,初無證悟,後聞大鑑慧能得五祖衣鉢,乃躡迹急追,而於大庾嶺會之,承六祖慧能之開示,遂得徹悟本源,故改名道明,並拜留六祖座下三年。其後居於袁州蒙山,聚徒習禪,大宣慧能之旨。〔曆代法寶記、曹溪大師別傳、敦煌本六祖壇經、祖堂集卷二、宋高僧傳卷八、景德傳燈錄卷四、傳法正宗記卷六〕 <三>五代法眼宗僧。錢塘人,俗姓蔣。幼年出家,初習經教,長而慕禪,歷訪閩、越諸尊宿。後於臨川參謁法眼文益禪師,未久嗣其法,遂隱於鄞水(浙江)大梅山。時禪學雖盛,然多不符於古德遺範,師欲整而導之,乃遷於天台,說法饗眾,四方緇素趨之。錢塘忠懿王聞其道風,特延內殿與之論道,深得玄旨,兩度命師駐錫資崇院、杭州報恩院。於後周世宗顯德年間(954~959)示寂,世壽七十餘。〔宋高僧傳卷二十三、景德傳燈錄卷二十五、五燈會元卷十〕 <四>(1318~1386)明代臨濟宗楊岐派僧。台州(浙江)黃巖人,俗姓夏(一說俗姓項)。號性原,別號幻隱。出家於寶冠寺,後至徑山參謁元叟行端,並嗣其法。洪武五年(1372),奉太祖之召,於鍾山大宣宗法。洪武十一年,住持杭州靈隱寺。洪武十九年,師蒙讒受誣,有司未及緝令,師即自投官府,當場宣法說偈而泰然入寂。世壽六十九。〔五嬁會元續略卷四、南宋元明僧寶傳卷十一、增集續傳燈錄卷四、續釋氏稽古略卷二〕 <五>(1859~1930)清末民初僧。福建汀州人,俗姓溫。法號圓照。九歲於福建鼓山出家。十九歲受具足戒於天台山國清寺,其後參學於滬、杭之間。三十二歲,開講法華經於法雨寺。此後講經法緣甚盛,多講於普陀山、天童寺、靈隱寺三處。師善於說法,不滯文句,而居處清簡,風格高超,一生力主參禪。其法緣之廣,攝化之深,深獲時賢尊仰,為民國初年滬杭尊宿之一。曾任杭州靈隱寺住持十一年餘。民國十九年,示寂於靈隱寺,世壽七十一,僧臘六十三。遺有慧明法師開示錄一書。 <六>(1337~1411)日本曹洞宗僧。相模(神奈川縣)糟谷人,俗姓藤原。號了菴。幼遊鎌倉建長寺,從建長寺之不聞契聞得度,乃遍歷諸方,先後參謁永澤寺之通幻寂靈、總持寺之峨山韶碩等禪林尊宿,而於峨山處豁然契悟,其後嗣通幻之法。歷住總寧寺、總持寺、永澤寺、龍泉寺等名剎。應永元年(1394),於相模創建大雄山最乘寺。晚年結庵於大雄山下,應永十八年示寂,世壽七十五。嗣法者有韶陽以遠、大陽明中、大綱明宗、無極慧徹等大德。著有天童小參抄點破、諸嶽二代峨山和尚行實等。〔洞上聯燈錄卷三、延寶傳燈錄卷八、本朝高僧傳卷三十八〕 ; Hui-ming (C), E-myo (J) Tên một vị sư.

huệ mân

4941(573~649)唐代僧。河東人。字玄素。九歲學佛,修習法華教義。十五歲從新羅僧玄光學成論。十七歲即於海鹽之光興寺開講法華經,聽眾雲集。受具足戒後,從竹園志律師學十誦律,並旁涉諸部。後居吳之通玄寺,十七年間足不出院,勤修道業。唐時,隱居海虞山二十餘年,從學問道者達百餘人。於貞觀二十三年八月示寂,世壽七十七。撰有十誦私記十三卷、道俗菩薩戒義疏四卷等。〔續高僧傳卷二十二、六學僧傳卷十九〕 ; (惠旻) (573-649) Vị cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người Hà đông, tự Huyền tố. Năm 9 tuổi, sư bắt đầu học Phật, tu tập giáo nghĩa Pháp hoa. Năm 15 tuổi, sư theo ngài Huyền quang, vị tăng người Tân la, học luận Thành thực. Năm 17 tuổi, sư giảng kinh Pháp hoa ở chùa Quang hưng tại Hải diêm,người đến nghe rất đông. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư theo ngài Trúc viên chí học luật Thập tụng và các bộ luật khác. Sau, sư ở chùa Thông huyền tại đất Ngô, suốt 17 năm không ra khỏi viện, siêng tu đạo nghiệp. Năm Trinh quán 33 (649) sư thị tịch, thọ 77 tuổi. Sư có các trứ tác: Thập tụng tư kí 13 quyển; Đạo tục Bồ tát giới nghĩa sớ 4 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.22; Lục học tăng truyện Q.19].

huệ mãn

6052<一>唐代僧。生卒年不詳。河南滎陽人,俗姓張。曾投僧那門下參禪。貞觀十六年(642),任洛州(河南)會善寺住持。其後,遷住相州(河南)隆化寺。與師僧那共傳「四卷楞伽經」。年七十餘坐化於洛陽。〔續高僧傳卷十六僧可章、景德傳燈錄卷三〕 <二>(?~1206)南宋曹洞宗僧。號雪巖,世人多稱雪巖慧滿、雪巖滿。初參訪普照寶,次禮謁太原府(山西)王山體。得悟之後,任王山住持。其後,遷住磁州大明寺。寧宗開禧二年示寂,世壽不詳。〔五燈會元續略卷一、續燈正統卷三十五、增訂佛祖道影卷三(虛雲)〕

Huệ mạng

(s: āyuṣmat, p: āyasmant, 慧命): ý dịch là cụ thọ mạng (具壽命), cụ thọ (具壽); cũng là từ tôn xưng đối với vị Tỳ Kheo cao đức, còn gọi là huệ thọ (慧壽). Giống như sắc thân thì nương tựa vào ăn uống để nuôi dưỡng, Pháp Thân lấy trí tuệ làm thọ mạng nuôi dưỡng; nên mạng của trí tuệ bị thương tổn thì thể của Pháp Thân mất đi. Vì tuệ là thọ mạng của Pháp Thân, nên được gọi là tuệ [huệ] mạng. Như trong Tăng Già Tra Kinh (僧伽吒經, Taishō Vol. 13, No. 423) quyển 1 có đoạn: “Nhất thời Bà Già Bà, tại Vương Xá Thành Linh Thứu Sơn trung, cọng Ma Ha Tỳ Kheo tăng nhị vạn nhị thiên nhân câu, kỳ danh viết, huệ mạng A Nhã Kiều Trần Như, huệ mạng Ma Ha Mô Già Lược, huệ mạng Xá Lợi Tử, huệ mạng Ma Ha Ca Diếp, huệ mạng La Hầu La, huệ mạng Bà Câu La, huệ mạng Bạt Đà Tư Na, huệ mạng Hiền Đức, huệ mạng Hoan Hỷ Đức, huệ mạng Võng Chỉ, huệ mạng Tu Phù Đế, huệ mạng Nan Đà Tư Na (一時婆伽婆、在王舍城靈鷲山中、共摩訶比丘僧二萬二千人俱、其名曰慧命阿若憍陳如、慧命摩訶謨伽略、慧命舍利子、慧命摩訶迦葉、慧命羅睺羅、慧命婆俱羅、慧命跋陀斯那、慧命賢德、慧命歡喜德、慧命網指、慧命須浮帝、慧命難陀斯那, một thưở nọ đức Bà Già Bà, ở trong núi Linh Thứu Thành Vương Xá, cùng với đại Tỳ Kheo tăng hai vạn hai ngàn người tập trung, tên các vị đó là A Nhã Kiều Trần Như tôn kính, Ma Ha Mô Già Lược tôn kính, Xá Lợi Tử tôn kính, Ma Ha Ca Diếp tôn kính, La Hầu La tôn kính, Bà Câu La tôn kính, Bạt Đà Tư Na tôn kính, Hiền Đức tôn kính, Hoan Hỷ Đức tôn kính, Võng Chỉ tôn kính, Tu Phù Đế tôn kính, Nan Đà Tư Na tôn kính).” Hay trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 15, phần Thỉnh Phương Sách Tạng Kinh Ký (請方册藏經記), lại có đoạn: “Chư Phật huệ mạng, phi văn tự dã; nhiên thác chi văn tự dĩ truyền; cố thiện độc giả, hóa văn tự vi huệ mạng; bất thiện độc giả, hóa huệ mạng vi văn tự (諸佛慧命、非文字也、然托之文字以傳、故善讀者、化文字爲慧命、不善讀者、化慧命爲文字, huệ mạng của chư Phật, chẳng phải là chữ nghĩa; nhưng nhờ vào chữ nghĩa mà lưu truyền; cho nên người khéo đọc thì chuyển chữ nghĩa thành huệ mạng; người không khéo đọc thì chuyển huệ mạng thành chữ nghĩa).”

huệ mạng

Prajā-jivita (S) Xem Cụ thọ.

huệ mệnh

6030<一>梵語 āyuṣmat,巴利語 āyasmant。意謂具壽命。又作具壽。乃對有德比丘之尊稱。摩訶僧祇律卷十三(大二二‧三三二下):「佛住舍衛城時,慧命羅睺羅到。」(參閱「具壽」3079) <二>指法身以智慧為生命。如色身必賴飲食長養,而法身必賴智慧以長養。若智慧之命夭傷,則法身之體亡失。天台四教儀(大四六‧七七五下):「末代鈍根,於佛法中起斷滅見,夭傷慧命,亡失法身。」〔法華文句卷九下、金剛經疏記科會卷二(長水)、禪苑清規卷七亡僧〕 <三>(531~568)南北朝僧。太原晉陽(山西)人,俗姓郭。十五歲出家。專修方等、普賢等懺法。後遊河陽仙城山,住善光寺。復偕友遊學,參禮思、邈二師,方盡袪所滯。北周天和(566~571)初年,返仙城山,弘揚所學。於天和三年示寂,世壽三十八。著有大品義章、融心論等。〔佛祖統紀卷二十八、續高僧傳卷十七、卷二十一、釋門正統卷三〕

Huệ Nam

慧南|Hoàng Long Huệ Nam.

huệ nam

6034(1002~1069)宋代禪僧。臨濟宗黃龍派之祖。信州玉山(江西上饒)人,俗姓章。少習儒業,博通經史。十一歲從定水院智鑾出家,十九歲受具足戒。遍參棲賢澄諟、雲峰文悅、石霜楚圓等諸宿,皆蒙器許。後於同安院開堂說法,四眾歸趨。未久移至歸宗寺,因堂宇突遭火災,全寺盡毀,遂蒙冤坐獄,吏者百端求隙,而師怡然引咎。久而後赦,乃退居黃檗,於溪上築積翠庵,四方接踵而至,受請至黃龍山崇恩院,大振宗風,遍及湖南、湖北、江西、閩粵等地,此一系統乃蔚成黃龍派,日本臨濟宗之祖榮西即源出此一流派。 師每以公案廣度四眾,室中嘗設「佛手驢腳生緣」三轉語以勘驗學人,三十餘年鮮有契其旨者,世稱「黃龍三關」。師住黃龍時,法席鼎盛,直追馬祖、百丈。於宋熙寧二年入寂,世壽六十八。世稱黃龍慧南。徽宗大觀四年(1110),追諡「普覺禪師」。遺有黃龍南禪師語錄、語要、書尺集等各一卷行世。門下之晦堂祖心、寶峰克文、泐潭洪英等皆馳名禪林。〔續傳燈錄卷七、禪宗正脈卷十七、五燈嚴統卷十七、釋氏稽古略卷四〕 ; Hui-nan (C), Huang Po (C) Hoàng Bá Tên một vị sư.

huệ nghiêm

6059(363~443)南朝劉宋僧。豫州(安徽)人,俗姓范。十二歲為諸生,博曉詩書。十六歲出家,深究佛理。聞鳩摩羅什至關中,乃從羅什受學。師深解經論,復善言說,識者莫不敬重。羅什示寂後,還止建康東安寺,甚為劉宋高祖所重。文帝在位時,亦常以佛法請示之。曾撰無生滅論及老子略注,又與謝靈運、慧觀等合譯南本涅槃經。元嘉二十年示寂於東安寺,世壽八十一。〔梁高僧傳卷七、釋氏六帖卷十〕

Huệ Nghiêm Tông Vĩnh

(慧嚴宗永, Egon Sōei, ?-?): người biên tập bộ Tông Môn Thống Yếu (宗門統要, Shūmontōyō, hay Tông Môn Thống Yếu Tập [宗門統要集], 10 quyển). Ông đã từng hoạt động bố giáo tại Kiến Cốc (建谿, Tỉnh Phúc Kiến). Vào năm thứ 3 (1133) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), Thống Yếu Tập được san hành, rồi hai năm sau được san hành tiếp. Vào năm thứ 6 (1179) niên hiệu Thuần Hy (淳熙) có san hành bản nhà Tống và nó là tác phẩm lớn nhất có ảnh hưởng của tập công án, nên sau này đã tạo ảnh hưởng không ít cho Liên Đăng Hội Yếu (聯燈會要). Đến thời nhà Nguyên, Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂) có biên tập bộ Tông Môn Thống Yếu Tục Tập (宗門統要續集).

huệ nghiệp

6050指由智慧所引發之行為,乃達於空理而為之諸善事。維摩經菩薩品(大一四‧五四三下):「知一切法,不取不捨;入一相門,起於慧業。」

huệ ngung

6059(860~930)唐末五代臨濟宗僧。河北人。為興化存獎之法嗣。住汝州(河南)寶應禪院南院。後傳法於風穴延沼。據宗統編年卷十八載,師示寂於後唐明宗長興元年;釋氏通鑑卷十二則載,師示寂於後周太祖廣順二年(952)。其餘事蹟不詳。〔景德傳燈錄卷十二、釋氏稽古略卷三、聯燈會要卷十一、五燈會元卷十一、增訂佛祖道影卷二(虛雲)〕

Huệ Nguyệt 慧月

[ja] エゲツ Egetsu ||| Maticandra, a sixth or seventh century Vaiśeṣika 勝宗 scholar who wrote the Vaiśeṣika-daśapadārtha śāstra 勝宗十句義論. => (s: Maticandra); học giả của Thắng tông (s: Vaiśeṣika 勝宗) sống vào thế kỷ thứ 6 hoặc thứ 7, người đã soạn Thắng tông thập cú nghĩa luận (s: Vaiśeṣika-daśapadārtha śāstra 勝宗十句義論).

huệ ngạc

6057日本臨濟宗僧。又作慧鍔。中國補陀洛伽山寺開山祖師。籍貫、世壽不詳。承和(834~847)初年,奉橘太后之命來唐,由雁門登五臺山巡拜聖蹟,後參謁杭州靈池寺齊安國師,轉達太后之旨,延請義空禪師赴日弘揚禪法,自此日本始傳臨濟宗。齊衡元年(854),再度來唐,登五臺山,於嶺頂得觀音聖像。唐大中十二年(858),於奉歸日本途中,經海路補陀洛伽山邊(寧波故昌之海濱),船忽不動,及請出聖像,船始能行,師遂止而建寺奉像,號補陀洛伽山寺,為南海第一名剎。〔佛祖統紀卷四十二、佛祖歷代通載卷二十三、釋氏稽古略卷三、慧萼和尚年譜〕

huệ ngộ

6038(916~974)五代曹洞宗僧。晉安(福建)人,俗姓和。號沖煦。自幼即不茹葷腥,誓志出家。遂登鼓山依神晏國師剃度,得法受記。年二十四,於洪州豐城為眾開演,時稱「小長老」。後周顯德年間(954~959),師應世宗之請住持光睦寺,後遷於廬山開先寺,晚年居於金陵淨德寺,聚徒說法,聞名遐邇。宋開寶七年(一說八年)示寂,世壽五十九。〔景德傳燈錄卷二十一、增訂佛祖道影卷三(虛雲)〕

Huệ Nhiên

慧然|Tam Thánh Huệ Nhiên.

huệ nhiên

6045<一>唐代臨濟宗僧。生卒年、籍貫皆不詳。住鎮州(河北)三聖院,世稱三聖慧然。得臨濟義玄之旨,其後遍歷諸方,曾至仰山,又參德山宣鑑、雪峰義存諸師。受義玄付囑,編集鎮州臨濟慧照禪師語錄一卷。〔景德傳燈錄卷十二、聯燈會要卷十、五燈會元卷十一〕 <二>(1693~1764)日本真宗大谷派第二世講師。和泉堺海東山專稱寺第八世住持。諱名義融,字海東,號華藏庵。十九歲遊京都,二十一歲入慧空講師之門,深究宗乘。三十七歲任講師,即第二世講師。於寶曆十四年示寂,世壽七十二。賜號「權律師」,諡號「香嚴院」。門下有慧皓、慧琳、隨慧等。著有安樂集勸信義一卷、一枚起請文仰信義略一卷、淨土真宗學規一卷等數十本。

huệ nhân

6026<一>(539~627)隋唐時代僧。吳郡海鹽人,俗姓于(或謂姓干)。十二歲出家,隨侍開善寺之慧熙。從楊都建初寺瓊法師學成實論。復從鍾山之慧曉、智瓘學調心觀法,繼從長干寺智辯學三論。因其德高學博,故時人敬號為知仁。隋代仁壽三年(603),任禪定寺知事上座,盛弘三論,並作注疏。唐代武德元年(618),被舉為十大德之一,人稱「菩薩戒師」。貞觀元年,於京師大莊嚴寺示寂,世壽八十九。有弟子法仁。〔續高僧傳卷十三〕 <二>唐代僧。武城(山東)人,俗姓張。初學於賢法師,眾人推舉其為知寺,然隱遁入四川求學。唐代興,返回荊州,住開聖寺。後入山結茅屋獨居,勤修禪定,持誦法華經。師生卒年不詳,惟知貞觀十九年(645)之後示寂,世壽七十五。〔續高僧傳卷二十七〕

huệ nhân cao li tự chí

6027凡十二卷。明代李翥撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。慧因禪寺位於浙江杭州,後唐天成二年(927)始建,稱慧因禪院。宋代有晉水淨源住持本寺,注釋華嚴諸經義,凡數十種,時高麗國王之子僧義天,至本寺問道於淨源,執弟子禮。義天受教一年返國,以青紙金書晉譯華嚴經三百部,並經閣之費附貢舶以供養淨源法師,俗遂稱院為高麗寺。淨源即本寺華嚴教之始祖。本寺面臨玉岑山,故全稱為玉岑山慧因高麗華嚴教寺,簡稱慧因高麗寺,或僅稱慧因寺。明天啟(1621~1627)年間,李翥應寺僧止水之請,編纂寺志,分為十門:原始、景物、祖德、檀那、宮宇、碑記、傳誌、雜文、題詠、法嗣。

huệ nhân tự

6027位於浙江杭州西湖西南岸之赤山阜附近。後唐天成二年(927),吳越武肅王錢鏐所創,時稱慧因禪院。北宋晉水淨源曾入住本寺,高麗僧義天亦至此從淨源學華嚴。神宗時(1067~1085),敕改慧因教院,並建碑紀念。義天歸國後,以青紙金書晉譯華嚴經三百部供養淨源,致有「高麗寺」之稱。淨源於元祐三年(1088)入寂,於寺之西北,新建一塔,以為供養。南宋乾道(1165~1173)年間,圓澄義和住於此,撰華嚴念佛三昧無盡燈一卷,提倡華嚴圓融念佛法門。後圓澄遷至平江能仁寺,另有懷祥、義盡兩禪師入住寺內。理宗之時(1225~1264),易庵法師改禪院為講堂。 元至正(1341~1367)末年,因遇兵火,建築物十之八九燒毀。明朝正德(1506~1521)年間,徵稅過重,僧徒散離,堂宇荒廢,華嚴閣之遺址亦不明。留寺之僧乃立志恢復,延請萬松慧林入寺,講說華嚴經,徒眾雲集,幾達數千,遂招致地方官憎惡。後又請得萬松之高足易庵如通、悟玄、無際明慧等三師入寺。時如通自地下掘出刻有宋代易庵名之御書碑,而悟三生之緣,乃重建天王殿、大雄殿、輪藏閣、妙應殿、鐘樓、禪堂等。明慧承襲臨濟宗二十七傳之衣鉢,於萬曆六年(1578)重修慧因講寺並立碑記,其徒月印再興華嚴經閣,又獲南宋寧宗御書之匾額。清乾隆二十二年(1757),高宗南巡至此,賜名「法雲寺」。至清末逐漸衰微。〔慧因高麗寺志(李翥)、支那文化史蹟四(常盤大定、關野貞)〕

huệ nhãn

6044梵語 prajñā-cakṣus。指智慧之眼。為二乘所證之眼。為三眼之一,五眼之一。了知諸法平等、性空之智慧,故稱慧眼。因其照見諸法真相,故能度眾生至彼岸。大智度論卷三十三(大二五‧三○五下):「為實相故求慧眼,得慧眼,不見眾生,盡滅一異相;捨離諸著,不受一切法;智慧自內滅,是名慧眼。」〔維摩經卷中、六十華嚴經卷一、無量壽經卷下、思益經卷三、大乘義章卷二十〕(參閱「三眼」616、「五眼」1151) ; Prajācakṣu (S), Paācakkhu (P), Jāna-cakṣu (S).

Huệ nhãn 惠眼

[ja] エゲダツ egedatsu ||| See 慧解脱. 〔二障義 HPC 1.809b〕 => Con mắt trí tuệ. Xem Huệ nhãn 慧眼.

Huệ Nhãn, Tuệ Nhãn

(慧眼): có ba nghĩa khác nhau. (1) Là thuật ngữ Phật Giáo, chỉ cho một trong Ngũ Nhãn (s: pañca cakṣūṃṣi, p: pañca cakkhūni, 五眼), tức là con mắt trí tuệ của Nhị Thừa; cũng chỉ chung cho trí tuệ có thể chiếu thấy rõ thật tướng của các pháp. Như trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475), quyển Trung, Phẩm Nhập Bất Nhị Pháp Môn (入不二法門品) có giải thích về Huệ Nhãn rằng: “Thật kiến giả thượng bất kiến thật, hà huống phi thật, sở dĩ giả hà ? Phi nhục nhãn sở kiến, Huệ Nhãn nãi năng kiến, nhi thử Huệ Nhãn, vô kiến vô bất kiến, thị vi nhập Bất Nhị pháp môn (實見者尚不見實、何況非實、所以者何、非肉眼所見、慧眼乃能見、而此慧眼、無見無不見、是爲入不二法門, cái thấy thật còn không thấy thật thay, huống gì chẳng phải thật, vì cớ sao vậy ? Chẳng phải mắt thịt thấy được, mà Huệ Nhãn [con mắt trí tuệ] mới có thể thấy, mà Huệ Nhãn này, không thấy và không phải không thấy, đó là đi vào pháp môn Không Hai).” Hay trong bài thơ Tặng Am Trung Lão Tăng (贈庵中老僧) của Đường Thuận Chi (唐順之, 1507-1560) nhà Minh có câu: “Nghiệp tịnh Lục Căn thành Huệ Nhãn, thân vô nhất vật ký mao am (業淨六根成慧眼、身無一物寄茅庵, nghiệp sạch Sáu Căn thành Huệ Nhãn, thân không một vật gởi am tranh).” Trong Viên Giác Kinh Giáp Tụng Tập Giải Giảng Nghĩa (圓覺經夾頌集解講義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 10, No. 253) còn cho biết rằng: “Thâm ngộ luân hồi tức Huệ Nhãn, phân biệt tà chánh tức Pháp Nhãn; nhiên Huệ Nhãn chứng chơn, Pháp Nhãn đạt sự; hựu Huệ Nhãn tức Căn Bản Trí, Pháp Nhãn tức Hậu Đắc Trí (深悟輪迴卽慧眼、分別邪正卽法眼、然慧眼證眞、法眼達事、又慧眼卽根本智、法眼卽後得智, biết sâu luân hồi tức là Huệ Nhãn, phân biệt đúng sai tức là Pháp Nhãn; tuy nhiên Huệ Nhãn thì chứng chơn, Pháp Nhãn thì đạt về sự; lại nữa, Huệ Nhãn tức là Căn Bản Trí, Pháp Nhãn tức là Hậu Đắc Trí).” (2) Nhãn lực nhạy bén, tinh anh. Như trong tập Âu Bắc Thi Thoại (甌北詩話), bài Ngô Mai Thôn Thi (吳梅村詩) của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh có câu: “Thử thi nhân huệ nhãn, thiện ư thủ đề xứ (此詩人慧眼、善於取題處, con mắt nhạy bén của nhà thơ này, khéo ở chỗ nắm bắt đề tài).” Hay trong tập Dạ Thu Vũ Đăng Lục (夜雨秋燈錄), Truyện A Hàn (阿韓傳) của tiểu thuyết gia Tuyên Đỉnh (宣鼎, 1832-1880) nhà Thanh lại có câu: “Nhi Hàn năng ư phong trần trung độc cụ tuệ nhãn, nữ hiệp dã (而韓能於風塵中獨具慧眼、女俠也, mà trong phong trần, riêng một mình A Hàn có thể có đủ con mắt tinh anh, đúng là nữ hiệp vậy).” (3) Chỉ cho tròng mắt đẹp. Như trong tập đề vịnh Hồng Vi Cảm Cựu Ký (紅薇感舊記) do Phó Truân Cấn (傅屯艮, 1883-1930, tự Văn Lương [文渠]) sáng tác, có câu: “Năng tương huệ nhãn khán tài tử, khảng khái bi ca úy tịch liêu (能將慧眼看才子、慷慨悲歌慰寂寥, thường lấy mắt đẹp nhìn tài tử, hăng hái buồn ca sợ tịch liêu).”

Huệ Như 慧如

[ja] エニョ Enyo ||| Huiru (d. ca. 618); a monk of the Sanjie jiao 三階教 movement. => (k: Huiru ; - 618); Tăng sĩ thuộc phong trào Tam giai giáo.

huệ nhạc

6057(1927~ )臺灣臺北縣人,俗姓黃。民國二十九年(1940)依斌宗法師出家,三十八年於廈門南普陀受具足戒。四十七年斌宗示寂,師乃繼主法濟寺。五十年負笈日本,於東京立正大學專攻佛學,六年後學成返國,出任慈航中學校長。六十一年創辦中華佛教文獻編撰社。六十五年與連清傳居士共創中國內學院,並任院長。於文化及教育方面,頗為致力。著有天台教學史,譯有華嚴教學之研究、佛教儒家論理等書。現任臺北市天台止觀實踐講堂住持,並於各佛學院教授天台止觀等諸學。

Huệ nhật

(慧日): mặt trời trí tuệ. Trí tuệ của Phật có thể chiếu sáng những nơi tối tăm, u ám của thế gian, cho nên được ví như là mặt trời. Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) có câu: “Huệ nhật chiếu thế gian, tiêu trừ sanh tử vân (慧日照世間、消除生死雲, trời tuệ chiếu thế gian, tiêu trừ mây sanh tử).” Hay trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 7, Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) thứ 25, lại có câu: “Huệ nhật phá chư ám, năng phục tai phong hỏa (慧日破諸闇、能伏災風火, trời tuệ phá tối tăm, hàng phục tai gió lửa).” Hoặc như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 31, phần Trùng Khắc Ngũ Đăng Hội Nguyên Tự (重刻五燈會元序), cũng có đoạn: “Toại sử tông phong quảng diễn, huệ nhật cao huyền, nhiên trường dạ chi đăng, quần hôn đốn hiểu (遂使宗風廣衍、慧日高懸、燃長夜之燈、群昏頓曉, bèn khiến tông phong lan khắp, trời tuệ lên cao, đốt đêm dài đuốc soi, tối tăm sáng tỏ).”

huệ nhật

6021<一>梵語 jñāna-divākara。以日光比喻佛之智慧普照眾生,能破無明生死癡闇。與「慧光」、「慧照」等同義。法華經卷七普門品(大九‧五八上):「無垢清淨光,慧日破諸闇,能伏災風火,普明照世間。」〔無量壽經卷下、華嚴經探玄記卷二〕 <二>(680~748)唐代淨土宗僧。東萊(山東)人,俗姓辛。幼見從印度歸來之義淨,深受其影響,遂誓遊印度。於中宗嗣聖十九年(702),乘船經崑崙(今康道爾群島)、佛誓(今蘇門答臘)、師子洲(今斯里蘭卡)等,三年始達印度。乃禮謁聖蹟,尋求梵文經典,參訪善知識,歷時十三年。師獨影孤征,遠涉雪嶺胡鄉,備經艱苦,遂深厭此娑婆世界,乃尋求有樂無苦、速生佛國之法,遍問印度之三藏學者,皆讚淨土。未久,至北印度健馱羅國,王城東北有一山,山有觀音像,師以頂禮聖像,斷食畢命祈請,終至第七日之夜感觀音現紫金色相,為其摩頂開示。師遍遊七十餘國,凡歷十八年,於開元七年(719)始歸長安,呈獻佛像與經典,玄宗遂敕賜「慈愍三藏」之號。師勤修念佛法門,弘揚淨土教義。著有往生淨土集三卷、般舟三昧讚等。天寶七年於洛陽罔極寺入寂,世壽六十九。又師之淨土思想有其獨特之處,故有將其淨土學說同淨土大師慧遠和善導兩流並列,稱為慈愍流。〔宋高僧傳卷二十九、佛祖統紀卷四十〕 <三>(1271~1340)元代曹洞宗僧。明州定海(浙江)人,俗姓沈。號東明。幼即志幹清爽,九歲入奉化大同寺為童侍。十三歲落髮,十七歲受具足戒。後參訪直翁德舉而契悟,遂任侍香。未久,歷遊天童、靈隱、萬壽、蔣山等地。後又至姑蘇掌承天寺藏鑰,未久東歸明堂之白雲寺開教,並繼嗣直翁之法,居止六年,德風被及四方。元至大二年(1309,日本延慶二年),應日僧之請赴日,於禪興寺傳戒。翌年遷圓覺寺,住七年,大揚曹洞宗風。時曾創建白雲菴。後以幕府之命,歷住建長、萬壽、東勝、壽福諸剎,接引眾人三十年如一日。日本曆應三年(即元至元六年)於白雲菴示寂,世壽六十九,法臘五十三。世稱東明慧日。著有宗門無盡燈論,其法流稱東明流,為日本禪宗二十四流之一。〔延寶傳燈錄卷四、日本高僧傳卷二十六、日本洞上聯燈錄卷一〕 ; Prajā-divakara (S) Mặt trời trí huệ.

huệ nhật giảng đường

6023請參閱 能顯中邊慧日論 位於臺灣臺北市。印順導師創建於民國四十九年(1960),為臺灣著名佛教弘法道場之一。寺內講堂寬廣,可容四百餘人聽講;兩側有寮房十數間。並建有正聞圖書館大樓,收藏經典及各種佛教書籍。導師自任住持三年即告退隱,由印海、真華二法師輪流住持,代有建樹。六十五年由如虛法師接任住持,七十年厚行法師晉任住持,現任住持為晴虛法師。慧日講堂除定期講經外,並設有正聞出版社,出版流通各種佛教書籍。

Huệ Nhật Văn Nhã

(慧日文雅, Enichi Bunga, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, pháp từ của Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文). Ông đã từng sống tại Huệ Nhật Tự (慧日寺) ở Lô Sơn (蘆山) và tận lực cử xướng tông phong của mình.

huệ nhật đạo trường

6022位於江蘇揚州。隋文帝開皇(581~600)末年,晉王楊廣所立天下四道場之一,嘉祥大師吉藏曾被召入本寺,宣說三論之宗旨。

Huệ nhật, tuệ nhật

(慧日): mặt trời trí tuệ. Trí tuệ của Phật có thể chiếu sáng những nơi tối tăm, u ám của thế gian, cho nên được ví như là mặt trời. Trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) có câu: “Huệ nhật chiếu thế gian, tiêu trừ sanh tử vân (慧日照世間、消除生死雲, trời tuệ chiếu thế gian, tiêu trừ mây sanh tử).” Hay trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 7, Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) thứ 25, lại có câu: “Huệ nhật phá chư ám, năng phục tai phong hỏa (慧日破諸闇、能伏災風火, trời tuệ phá tối tăm, hàng phục tai gió lửa).” Hoặc như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 31, phần Trùng Khắc Ngũ Đăng Hội Nguyên Tự (重刻五燈會元序), cũng có đoạn: “Toại sử tông phong quảng diễn, huệ nhật cao huyền, nhiên trường dạ chi đăng, quần hôn đốn hiểu (遂使宗風廣衍、慧日高懸、燃長夜之燈、群昏頓曉, bèn khiến tông phong lan khắp, trời tuệ lên cao, đốt đêm dài đuốc soi, tối tăm sáng tỏ).” Như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên Mục Lục (五燈會元目錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1564) lại có đoạn rằng: “Thích Ca bất xuất thế, Đạt Ma bất Tây lai, Phật pháp biến đại địa, đàm huyền khẩu bất khai; đương thử thời dã, ngữ ngôn văn tự tung tích bất lai, bổng hát cơ duyên phong mang bất lộ, đãi phù niêm hoa thị chúng, khiên khởi trần lận cát đằng, lập tuyết an tâm, đột xuất Hiện Tiền Công Án, toại sử tông phong quảng diễn, huệ nhật cao huyền, nhiên trường dạ chi đăng, quần hôn đốn hiểu, niêm nhất hành chi thảo, pháp giới tề quan; giá xa tu thị đả ngưu, ma chuyên khởi năng tác kính, như linh đơn nhất lạp điểm thiết thành kim, chí lý nhất ngôn chuyển phàm thành Thánh (釋迦不出世、達磨不西來、佛法遍大地、譚玄口不開、當此時也、語言文字蹤跡不來、棒喝機緣鋒芒不露、逮夫拈花示眾、牽起陳爛葛藤、立雪安心、突出現前公案、遂使宗風廣衍、慧日高懸、燃長夜之燈、群昏頓曉、拈一莖之草、法界齊觀、駕車須是打牛、磨磚豈能作鏡、如靈丹一粒點鐵成金、至理一言轉凡成聖, Thích Ca không xuất thế, Đạt Ma chẳng Tây đến, Phật pháp khắp đại địa, đàm đạo miệng chẳng bày; ngay chính lúc này, ngôn ngữ văn tự dấu tích chẳng có, đánh hét cơ duyên mũi đâm không hé, đến khi đưa hoa dạy chúng, liền khởi bày đốt dây leo, đứng tuyết an tâm, chợt xuất Hiện Tiền Công Án, bèn khiến tông phong rộng mở, trời tuệ lên cao, đốt đêm dài đèn soi, chúng mê hiểu ngộ; đưa một nhành cỏ dại, pháp giới cùng xem; cỡi xe nên tập đánh trâu, mài ngói làm sao thành kính; như linh đơn một viên điểm thép thành vàng, chí lý một lời chuyển phàm thành Thánh).” Trong Lễ Sám Văn (禮懺文, Taishō Vol. 85, No. 2854) có câu: “Nhược dục sám hối giả, đoan tọa quán thật tướng, chúng tội như sương lộ, huệ nhật năng tiêu trừ; thị cố ưng chí tâm, cần sám Lục Căn tội (若欲懺悔者、端坐觀實相、眾罪如霜露、慧日能消徐、是故應至心、懃懺六根罪, nếu muốn hành sám hối, ngồi ngay quán thật tướng, các tội như sương móc, trời tuệ thể tiêu trừ; cho nên phải chí tâm, siêng sám tội Sáu Căn).”

huệ nhựt

Nhà sư Trung quốc, học trò sư Nghĩa Tịnh (618 - 905), đi Thiên Trúc từ năm 701 đến 719.

huệ niên

6028(1918~ )臺灣臺南市人,俗姓林。十九歲負笈日本,攻研佛學,二十五歲學成返臺。民國五十年(1961)皈依賢頓法師座下,越二年,依之出家,五十五年於臨濟寺受具足戒。六十三年晉任臺北板橋接雲寺副住持,自接任後,銳意整頓,寺宇煥然一新。六十四年於該寺舉辦在家菩薩戒會。歷任臺北市佛教分會監事、臺北縣佛教支會理事、板橋一言精舍住持等職。師待人誠懇,樂善好施,曾榮膺好人好事代表。

Huệ Năng

慧能; C: huìnéng; J: enō; 638-713;|Tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Quốc, môn đệ và pháp tự của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn.|Trước Huệ Năng, Thiền còn mang nặng ảnh hưởng Ấn Ðộ nhưng đến đời Sư, Thiền bắt đầu có những đặc điểm riêng của Trung Quốc. Vì vậy mà có người cho rằng Sư mới thật sự là người Tổ khai sáng của Thiền Trung Quốc. Huệ Năng không chính thức truyền y bát cho ai, nên sau đó không còn ai chính thức là truyền nhân. Tuy nhiên Sư có nhiều học trò xuất sắc. Môn đệ chính là Thanh Nguyên Hành Tư và Nam Nhạc Hoài Nhượng là hai vị Thiền sư dẫn đầu hầu như toàn bộ các dòng Thiền về sau. Cả hai dòng này cũng được truyền đến Việt Nam qua Thảo Ðường, Nhất Cú Tri Giáo, Vô Ngôn Thông, Chuyết Công.|Sư là tác giả của tác phẩm chữ Hán duy nhất được gọi là »Kinh,« một danh từ thường chỉ được dùng chỉ những lời nói, bài dạy của đức Phật, đó là Lục tổ Ðại sư Pháp bảo đàn kinh, một tác phẩm với ý nghĩa rất sâu xa về thiền. Cũng nhờ Pháp bảo đàn kinh, người ta biết được ít nhiều về lịch sử của Huệ Năng. Sư sinh trong một gia đình nghèo, cha mất sớm, lớn lên giúp mẹ bằng cách bán củi. Một hôm, trong lúc bán củi, nghe người ta tụng kinh Kim cương, Sư bỗng nhiên có ngộ nhập. Nghe người đọc kinh nhắc đến Hoằng Nhẫn, Sư liền đến tìm học. Hoằng Nhẫn nhận ra ngay căn cơ của Sư, nhưng không truyền pháp ngay, bắt tiếp tục chẻ củi, vo gạo. Truyền thuyết nổi tiếng về việc truyền tâm ấn cho Huệ Năng và việc phân đôi hai phái Thiền Nam-Bắc được kể lại như sau:|Hoằng Nhẫn biết tới lúc mình phải tìm người kế thừa nên ra lệnh cho học trò mỗi người viết kệ trình bày kinh nghiệm giác ngộ. Cuối cùng chỉ có Thần Tú, một đệ tử với tri thức xuất sắc mới dám làm. Thần Tú viết bài kệ, so sánh thân người như cây Bồ-đề và tâm như tấm gương sáng và người tu hành phải lo lau chùi, giữ tấm gương luôn luôn được trong sáng. Sư đang làm việc trong bếp, nghe đọc bài kệ biết người làm chưa Kiến tính. Sư cũng nhờ người viết bài kệ của mình như sau:|菩提本無樹。明鏡亦非臺|本來無一物。何處有(匿)塵埃|Bồ-đề bản vô thụ, minh kính diệc phi đài|Bản lai vô nhất vật, hà xứ hữu (nặc) trần ai?|*Bồ-đề vốn chẳng cây|Gương sáng cũng chẳng đài|Xưa nay không một vật|Nơi nào dính bụi trần?||H 28: Huệ Năng xé kinh (tranh của Lương Khải, tk. 13). Hình này không có một tích lịch sử gì, chỉ muốn nêu lên giáo pháp nằm ngoài văn tự của Thiền tông, được biểu hiện qua Lục tổ và phá sự chấp trước chữ nghĩa nằm trong kinh sách.|Nghe bài kệ, Hoằng Nhẫn biết căn cơ của Sư vượt hẳn Thần Tú, nhưng sợ di hại nên nửa đêm gọi Sư vào thất và vì Sư thuyết trọn kinh Kim cương. Ðến câu »Ðừng để tâm vướng víu nơi nào« (應無所住而生其心; ưng vô sở trụ, nhi sinh kì tâm), Sư hoát nhiên đại ngộ. Ngũ tổ truyền y bát cho Sư và khuyên đi về phương Nam. Khi tiễn Sư xuống thuyền, Tổ muốn tự chèo đưa Sư sang sông, Sư bèn nói: »khi mê thầy độ, ngộ rồi tự độ« và tự chèo qua sông.|Suốt 15 năm sau, Sư ở ẩn, và trong thời gian này vẫn là Cư sĩ. Sau đó, Sư đến chùa Pháp Tính ở Quảng Châu. Ðó là nơi sản sinh Công án nổi tiếng »chẳng phải gió, chẳng phải phướn« (Vô môn quan, công án 29). Sau khi Sư chen vào nói »tâm các ông động« thì Ấn Tông, vị sư trụ trì của chùa hỏi Sư »Nghe nói y pháp Hoàng Mai đã truyền về phương Nam, phải chăng là hành giả?« Lúc đó Sư mới nhận mình là truyền nhân của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Ấn Tông sai người cạo đầu cho Sư, cho Sư gia nhập Tăng-già rồi xin nhận Sư làm thầy.|Sư bắt đầu giáo hoá ở chùa Pháp Tính, về sau về Bảo Lâm tự ở Tào Khê và thành lập Nam tông, trong lúc đó Thần Tú và đệ tử thành lập Bắc tông và cũng tự nhận là truyền nhân của Ngũ tổ. Nam tông cho rằng, giác ngộ là một sự nhảy vọt bất ngờ, mang tính trực giác trong lúc Bắc tông chủ trương dùng suy luận, tu tập dần dần theo chỉ dạy của kinh sách mà giác ngộ. Trong cuộc tranh chấp giữa hai phái đốn ngộ (ngộ ngay tức khắc) và tiệm ngộ này, Nam tông đã chứng tỏ sinh lực của mình, sản sinh vô số Ðại sư và trở thành truyền phái đích thật của Phật pháp tại Trung Quốc. Phái Thần Tú chỉ vài thế hệ sau là khô kiệt.|Với Huệ Năng, được xem là người »ít học« nhất lại được truyền tâm ấn, Thiền đã qua một bước ngoặt quyết định, trở thành Thiền tông Trung Quốc với sự ảnh hưởng ít nhiều của đạo Lão. Các hiền triết Lão giáo cũng là những người cười nhạo văn tự, họ đã có ảnh hưởng lên cái »bất lập văn tự« của Thiền tông để từ sự dung hợp này, tất cả các tông phái Thiền Trung Quốc ra đời. Với Huệ Năng và các vị Ðại sư nối tiếp, Thiền tông Trung Quốc đi vào thời đại hoàng kim của đời Ðường, đời Tống. Và cho đến ngày nay, Thiền tông vẫn còn là nguồn cảm hứng sâu xa, vẫn là một pháp môn cho nhiều Phật tử.

huệ năng

6040(638~713)唐代僧。又作惠能。我國禪宗第六祖。號六祖大師、大鑑禪師。祖籍范陽(河北),俗姓盧,生於南海新興(廣東)。據六祖法寶壇經行由品載,其父早亡,家貧,常採薪汲水以奉寡母。一日負薪至市,聞客讀誦金剛經,心即開悟,時五祖弘忍住蘄州黃梅之東禪院,法門甚盛。師乃前往拜謁。五祖試問其所來及欲求何物,師答曰(大四八‧三四八上):「弟子是嶺南新州百姓,遠來禮師,惟求作佛,不求餘物。」五祖謂:「汝是嶺南人,又是獵(疑作獦)獠,若為堪作佛?」慧能對曰:「人雖有南北,佛性本無南北,獵(疑作獦)獠身與和尚不同,佛性有何差別?」五祖驚異其稟性非凡,遂使入碓房舂米,歷八月。一日,五祖令眾人各述一偈以傳衣授法,上座神秀遂於壁廊書偈曰:「身是菩提樹,心如明鏡臺,時時勤拂拭,勿使惹塵埃。」師聞之,謂此偈未見本性,遂請一童子代於壁間亦書一偈曰:「菩提本無樹,明鏡亦非臺,本來無一物,何處惹塵埃?」五祖聞之,識其為真能傳大法者,乃夜召師入室,潛授衣法,並遣其連夜南歸,隱於四會、懷集之間。 儀鳳元年(676)至南海,遇印宗法師於法性寺,遂依之出家,受具足戒。翌年,移住於韶陽曹溪寶林寺,弘揚「直指人心,見性成佛」之頓悟法門。與神秀於北方所倡之漸悟法門相對,史稱「南頓北漸、南能北秀」。其弟子法海將其教說匯編成書,名「六祖法寶壇經」,盛行於世,為後來禪宗之宗經。後應刺史韋據之請,於大梵寺樹立法幢;未久歸曹溪,弘布大法,道俗歸崇。神龍元年(705),中宗派遣內侍薛簡召師至京師,師稱疾固辭未往,帝乃敕賜摩衲袈裟及綠鉢等物,並敕改寶林寺為「中興寺」。三年,更賜「法泉寺」額。 師又曾捨宅為國恩寺,先天元年(712),命門人於寺內建立報恩塔。翌年七月,歸返國恩寺,八月示寂,世壽七十六。師肉身不壞,迄今仍存,歸停曹溪。憲宗時諡號「大鑑禪師」。宋太宗太平興國年中(976~983)加諡「真宗禪師」;後由仁宗諡號「普覺禪師」,神宗賜「圓明禪師」之諡號。遺錄有六祖壇經一卷、金剛經口訣等。其中六祖壇經初由法海集錄師之語要,後人多所節略,未能見祖意之全貌,元代德異乃探求諸方,得其全文。至元二十八年(1291),宗寶重新校對三種異本,正其訛誤,詳其節略,增補弟子之請益機緣而予印行,今收於大正藏第四十八冊。師之嗣法弟子四十餘人中,以荷澤神會、南陽慧忠、永嘉玄覺、青原行思、南嶽懷讓等最著,開後世臨濟、曹洞等五家七宗之禪。〔佛祖統紀卷二十九、宋高僧傳卷八、景德傳燈錄卷五、五燈會元卷一、釋氏稽古略卷三、傳法正宗記卷六〕 ; Yeno (J), Weilang (C), E'no (J), Hui-Neng (C) Tổ thứ sáu Thiền tông Trung hoa. Sanh ngày 8 tháng 2 năm Mậu Tuất đời Đường Thái Tông (638), mất năm 713 Xem Tổ Huệ Năng.

huệ năng đại sư

Enō (J) Tên một vị sư. Xem Hui Neng.

huệ phong

6038(1920~1973)河北灤縣人。法名仁孝。民國二十七年(1938)禮慶一法師出家,次年於哈爾濱極樂寺倓虛大師座下受具足戒。曾於般若寺及湛山寺等佛學院任教數載。民國三十七年來臺,駐錫基隆月眉山靈泉寺暨新竹獅頭山元光寺。四十一年卓錫臺南,常赴各大寺院主持佛經講座。四十三年,在臺南創建湛然精舍。四十八年春,於高雄大崗山東麓新建法華精舍,掩關精修三年餘。畢生弘法化眾,授律傳戒,德譽甚隆。六十二年十二月示寂,世壽五十四。湛然精舍位於臺南忠義路,原為民宅式之弘法道場,民國五十六年拆建為宮殿式三樓寺宇,並更名為湛然寺。

Huệ Phương

(慧方, Ehō, 629-695): vị tổ thứ 3 của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, người vùng Diên Lăng (延陵), Nhuận Châu (潤州, Giang Tô), họ Bộc (濮). Ông xuất gia ở Khai Thiện Tự (開善寺), rồi sau khi thọ Cụ Túc giới thì tập trung nghiên cứu sâu kinh luận. Sau đó, ông lên Ngưu Đầu Sơn (牛頭山), tham yết Thiền Sư Trí Nham (智巖), học các bí pháp. Trí Nham thấy căn cơ của ông có thể gánh vác chánh pháp, bèn trao truyền tâm ấn cho. Trong suốt hơn 10 năm tham học tại Ngưu Đầu Sơn, ông chưa hề hạ sơn lần nào, học chúng đến tham học rất đông. Sau ông phó chúc hậu sự cho Pháp Trì (法持), rồi tự vào trong núi ẩn tu. Vào năm đầu (695) niên hiệu Vạn Tuế (萬歳) đời Võ Hậu, ông thị tịch, hưởng thọ 67 tuổi đời và 40 hạ lạp.

huệ phương

6021<一>(629~695)唐代僧。牛頭宗第三祖。潤州(江蘇)延陵人,俗姓濮。於開善寺出家,受具足戒後,深研經論。後入牛頭山,禮謁智巖禪師,諮詢祕要,智巖觀其根器堪任正法,遂示以心印,師豁然領悟。於牛頭山參契,逾十年不出林藪,四方學者皆雲集來訪。後欲行隨機利物,而以正法傳付法持禪師,獨自歸隱茅山。武后天冊萬歲元年示寂,世壽六十七,法臘四十。〔景德傳燈錄卷四〕 <二>宋代臨濟宗僧。湖南潭州人,俗姓許。生卒年不詳。參學於文殊心道,並嗣其法。後住潭州楚安寺。其餘事蹟不詳。〔嘉泰普燈錄卷十九、五燈會元卷二十〕 <三>(1073~1129)宋代臨濟宗黃龍派僧。江西臨江人,俗姓龔。號超宗。少依禪居寺,十七歲試經得度。參學於死心悟新,並嗣其法。宣和年間(1119~1125),於隆慶寺開堂。建炎三年示寂,世壽五十七。遺有超宗慧方禪師語錄一卷。〔聯燈會要卷十六、嘉泰普燈錄卷十、五燈會元卷十八〕

huệ phọc

6057指愚癡障。因愚癡能繫縛智慧,故稱慧縛。成唯識論述記序中即有(大四三‧二二九上)「解慧縛於攝論,表縱聖而談空」一語。

Huệ Quang

(慧光, Ekō, 468-537): vị tăng sống dưới thời Bắc Ngụy, sơ tổ của Nam Đạo Phái thuộc Địa Luận Tông Trung Quốc, người đời thường gọi là Quang Thống Luật Sư (光統律師), người vùng Trường Lô (長蘆), Định Châu (定州, Hà Bắc [河北]), họ Dương (楊). Năm 13 tuổi, ông theo cha lên Lạc Dương (洛陽), theo xuất gia với Phật Đà Phiến Đa (佛陀扇多) và được người đương thời gọi là Thánh Sa Di. Ban đầu ông học Luật bộ, sau thọ Cụ Túc giới và 4 năm sau thuyết giảng Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律). Vào năm đầu (508) niên hiệu Vĩnh Bình (永平) thời Bắc Ngụy, Lặc Na Ma Đề (勒那摩提) cùng với Bồ Đề Lưu Chi (菩提流支) dịch bộ Thập Địa Kinh Luận (十地經論), ông thông qua cả 2 dịch bản, tự đọc lại Phạn bản, ngộ được yếu chỉ của kinh, nhân đó hưng khởi Địa Luận Tông. Bên cạnh đó, ông còn soạn ra Tứ Phần Luật Sớ (四分律疏), rồi viết chú sớ cho các kinh như Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Duy Ma, Thập Địa, Địa Trì, v.v. Đến cuối thời Bắc Ngụy, ông đến nhậm chức Tăng Đô ở Lạc Dương. Về sau, ông phụng chiếu chỉ vào đất Nghiệp, nhậm thêm chức Quốc Thống, nên từ đó có tên Quang Thống Luật Sư. Khi lâm chung, nơi Thiên cung hiện ra điềm lành, ông thị tịch ở Đại Giác Tự (大覺寺), hưởng thọ 70 tuổi. Trước tác của ông để lại có Huyền Tông Luận (玄宗論), Đại Thừa Nghĩa Luật Chương (大乘義律章), Nhân Vương Thất Giới (仁王七疏), Di Giáo Kinh Sớ (遺敎經疏), Hoa Nghiêm Kinh Sớ (華嚴經疏) 10 quyển, Thập Địa Luận Sớ (十地論疏).

huệ quang

6025<一>指般若(妙智慧)之光。與「慧日」、「慧照」同義。無量壽經卷下(大一二‧二七四上):「慧光明淨,超踰日月。」(參閱「慧日」6022) <二>(468~537)北魏僧。為地論宗南道派初祖。世稱光統律師。定州長蘆(河北)人,俗姓楊。年十三隨父至洛陽,從佛陀扇多出家,時人稱之聖沙彌。初習律部,不久受具足戒。四年後講摩訶僧祇律。北魏永平元年(508),勒那摩提、菩提流支各譯出十地經論,師通兩譯,自閱梵本,悟其綱領,對校異同,合為一本,地論宗遂因之興起。又撰四分律疏,四分律因師之整飾弘揚,乃得光大。復作華嚴、涅槃、維摩、十地、地持等經之注疏。北魏末,於洛陽任國僧都。後奉召入鄴,改任國統,故有光統律師之稱。師立志貞靜,堅存戒業,舉止安詳。臨命終時,天宮現瑞,示寂於鄴城大覺寺,世壽七十。著有玄宗論、大乘義律章、仁王七誡、遺教經疏、華嚴經疏十卷、十地論疏等十數種。〔續高僧傳卷二十一、華嚴經傳記卷二、律苑僧寶傳卷三、佛祖統紀卷二十八〕 <三>宋代雲門宗僧。浙江錢塘人,俗姓夏侯。為慧林懷深之法嗣。住於臨安(浙江),世稱靈隱慧光禪師。其餘事蹟不詳。〔續傳燈錄卷二十四、五燈會元卷十六〕 <四>宋代臨濟宗楊岐派僧。建寧(福建)人。號晦菴。生卒年不詳。約與大慧宗杲之法嗣晦菴彌光同時。係烏巨道行(1089~1151)之法嗣,住持江西龜峰山。撰有晦菴光禪師語要一卷。〔聯燈會要卷十八、嘉泰普燈錄卷二十、五燈會元卷二十、續傳燈錄卷三十三、五燈嚴統卷二十〕 ; 4941(1888~1967)湖南湘潭人,俗姓李。法名聖如,別號復定。十一歲於湖南長沙鐵爐寺依妙華和尚出家,十三歲習禪,十九歲於湖南開福寺受具足戒。先後於長沙開福、湖北武昌、武院、北平中華、七塔報恩、觀宗等佛學院求學十四年,於賢、台、性、相、律、淨、密、禪等各宗皆有甚深體悟,並四度掩關閱藏。著有宗門講錄、禪學指南、禪學問答、釋迦應化史跡等。民國四十七年(1958)自港來臺,於基隆大覺寺主持佛經講座。五十一年應屏東東山寺之禮聘,開講金剛經,四眾建鐵爐精舍,留師常住,未久因法化日盛,精舍不敷使用,乃籌募建寺。五十六年師示寂,弟子佛禪法師繼續興建鐵爐寺,並先後成立護法會、青年會、念佛會、佛書贈送處、密宗修習班等。 ; (惠光) (1881-1967) Vị tăng Trung quốc, người huyện Tương đàm, tỉnh Hồ nam, họ Lí, pháp danh Thánh như, biệt hiệu Phục định. Năm 11 tuổi, sư y vào hòa thượng Diệu hoa chùa Thiết lô ở huyện Trường sa, tỉnh Hồ nam xuất gia, năm 13 tuổi Huệ Quả học thiền, 19 tuổi thụ giới Cụ túc ở chùa Khai phúc tại Hồ nam. Trong suốt 14 năm, sư lần lượt cầu học tại các Phật học viện: Khai phúc tại Trường sa, Vũ xương, Vũ viện ở Hồ bắc, Trung hoa ở Bắc bình và Báo ân, Quán tông ở Thất tháp. Sư từng nhập thất 4 lần để xem Đại tạng kinh, đối với các tông: Hiền thủ, Thiên thai, Tính, Tướng, Luật, Tịnh, Mật, Thiền, v.…v... sư đều thể ngộ sâu sa. Năm Dân quốc 56 (1967) sư tịch, thọ 79 tuổi. Tác phẩm: Tông môn giảng lục, Thiền học chỉ nam, Thiền học vấn đáp, Thích ca ứng hóa sử tích.

huệ quang tự

6025請參閱 鹽山拔隊和尚語錄位於雲南昆明南門外。與位於東方之常樂寺(東寺)相對,故稱為西寺。二寺皆為唐貞元(785~804)初年弄棟節度使王嵯顛所建。寺內有白塔,與東寺之塔相對峙。清康熙六年(1667)一度重修,外觀壯麗。據南詔野史卷上大蒙國豐佑條載,本寺之塔高八十尺,於明弘治十二年(1499)冬,曾因地震而崩壞。弘治十七年太監劉昶重建之。明末,司馬傅公延請性遇為寺主,時性遇以淨土法門教化大眾。康熙六年巡撫袁懋功再次重建。咸豐六年(1856)遇兵火,迄今僅存一磚塔。此磚塔係四角十三層之塔,各層各面中央皆設有拱龕,於龕之左右則附設有小塔。又東寺之塔及大理之三塔,其形式皆類似本寺之塔,為雲南獨特之塔形。〔大清一統志卷三六九、滇釋紀卷三、雲南通志卷十三、昆明縣志卷四、古今圖書集成職方典第一四六四、世界建築集成支那建築上(伊東忠太)〕

Huệ Quang 慧光

[ja] エコウ ekō ||| (1) Wisdom light, light of wisdom, rays of wisdom. 〔法華經 T 262.9.39b19〕(2) Huiguang (468-537)a monk of the Northern Wei 北魏, considered to be the founder of the Four Part Vinaya 四分律 sect in China, as well as the founder of the southern branch of the Dilun school 地論宗, in the capacity of leading disciple of Ratnamati 勒那摩提. He composed a number of commentaries on texts that were being newly translated by monks such as Ratnamati and Bodhiruci 菩提流支, among these the Sifenlüshu 四分律疏, Huayanjing shu 華嚴經疏, Niepanjing shu 涅槃經疏, Weimojing shu 維摩經疏, Shidilun shu 十地論疏, Shengmanjingshu 勝鬘經疏, Renwangjingshu 人王經疏 and so forth. 〔續高僧傳卷二十一、華嚴經傳記卷二、律苑僧寶傳卷三、佛祖統紀卷二十八〕 (3) Huiguang, a Chan monk from the Yunmen school during the Song period. 〔續傳燈録卷二十四、五燈會元卷十六#〕(4) Huiguang, a Linji monk of the Song period, whose dates are not clear, but he lived around the same time as the famous Linji monk Dahui 大慧 (1089-1163). He is the author of the Huianguang chanshi yuyao 晦菴光禪師語要 (one fasc.).〔聯燈會要卷十八、嘉泰普燈録卷二十、五燈會元卷二十、續傳燈録卷三十三、五燈嚴統卷二十〕 => 1. Trí tuệ sáng suốt, ánh sáng trí tuệ, sự toả chiếu của trí tuệ. 2. (c: Huiguang 468-537), Tăng sĩ thời Bắc Nguỵ, được xem là người khai sáng Tứ phần luật tông, cũng như là người thành lập Địa luận tông Nam phái Trung Hoa. Với năng lực là đệ tử thượng thủ của Lặc-na-ma-đề (s: Ratnamati 勒那摩提), Sư soạn nhiều sớ giải về kinh vừa mới được các vị Bồ-đề Lưu-chi và Lặc-na-ma-đề dịch, trong đó gồm Tứ phần luật sớ (c: Sifenlüshu 四分律疏), Hoa Nghiêm kinh sớ (c: Huayanjing shu 華嚴經疏), Niết-bàn kinh sớ (c: Niepanjing shu 涅槃經疏), Duy-ma kinh sớ (s: Weimojing shu 維摩經疏), Thập địa luận sớ (s: Shidilun shu 十地論疏), Thắng Man kinh sớ (s: Shengmanjingshu 勝鬘經疏), Nhân vương kinh sớ (s: Renwangjingshu 人王經疏), v.v... (Theo Cao tăng truyện quyển 21, Hoa Nghiêm kinh truyện ký quyển 2, Luật uyển tăng bảo truyện quyển 3, Phật tổ thống ký quyển 28). 3. Thiền sư tông Vân Môn vào đời Tống. (Tục truyền đăng lục quyển 24, Ngũ đăng hội nguyên quyển 26) . 4. Thiền sư tông Lâm Tế vào đời Tống năm sinh không rõ, nhưng sống vào khoảng cùng thời với Thiền sư nổi tiếng tông Lâm Tế là Đại Huệ (大慧c: Dahui; 1089-1163). Sư là tác giả của Hối am quang thiền sư ngữ yếu (晦菴光禪師語要c: Huianguang chanshi yuyao); 1 quyển. (Liên đăng hội yếu quyển 18, Gia Thái phổ chứng lục quyển 20, Tục truyền đăng lục quyển 33, Ngũ đăng hội nguyên quyển 20).

huệ quán

6060<一>南朝劉宋僧。生卒年不詳。清河(山東清平)人,俗姓崔。弱年出家。後秦弘始三年(401),鳩摩羅什入關中,乃從羅什受學。師風神秀雅,思入玄微,時人有謂(大五○‧三六八中):「通情則生(道生)、融(道融)上首,精難則觀(慧觀)、肇(僧肇)第一。」師曾著法華宗要序,頗受羅什稱揚。未久,佛馱跋陀羅被迫出關至廬山,師亦隨之,深服慧遠之高風。晉義熙八年(412),師隨從佛馱跋陀羅往荊州高悝寺。晚年居止楊都道場寺,敷揚法化。師又精研十誦律,兼善老莊。 師於修治涅槃經兩種漢譯本時,參與南本涅槃經之譯作,又製涅槃經序。其所立之二教五時教判,極為後世所重視。反對道生所倡之頓悟義,特倡漸次修行之漸悟義。此種頓漸相對之立場,至後世仍時有論爭。於元嘉(424~453)年間入寂,世壽七十一。其著作仍存者有法華宗要序、修行地不淨觀序、勝鬘經序等,其餘辯宗論、頓悟漸悟義等書則未傳。〔梁高僧傳卷七、出三藏記集卷八、卷九、卷十二〕 <二>(1920~ )臺灣彰化人。家境富裕,十三歲隨母茹素,二十四歲於竹山德山寺出家,後於獅頭山元光寺受具足戒。民國四十八年(1959),受聘為員林雙林寺副住持,五十三年繼任住持。曾大力重建年久失修之雙林寺,舉辦菩薩學會、定期講經會。又多次參與社會救濟、前線宣慰國軍等公益活動。現任中國佛教會臺灣省分會理事。 ; 6060日本三論宗初祖。高句麗僧。又稱惠觀、惠灌。生卒年不詳。隋代時來我國,從嘉祥寺吉藏習學三論宗。日本推古天皇三十三年(625),奉高句麗王之命入日本,任職僧正,敕住奈良元興寺,大弘三論宗旨,此為日本三論宗之初傳。白鳳十年(682)任大和禪林寺導師,後創建井上寺,弘宣三論宗。〔本朝高僧傳卷一、日本書紀卷二十二〕

huệ quân

6029南朝末年三論宗僧。生卒年不詳。又稱均正、慧均僧正。著有大乘四論玄義十二卷。由此書可窺知師初學成實論、毘曇、攝大乘論,繼從興皇寺法朗專學中論、百論、十二門論。於南朝陳代太建六年(574)五月,將法朗講說內容記錄於所著之書中。因書中提及陳代、隋代年間,吉藏、慧覺、慧衝等人之事蹟,故考據師晚年活躍於長安。

huệ quả

4941(746~805)唐代僧。京兆府昭應縣(陝西)人,俗姓馬。世稱青龍阿闍梨,為密教付法第七祖。童年入道,初從曇貞研習諸經。年十七隨曇貞入內道場,於眾中超邁特出,遂為不空三藏賞識,盡傳其三密法要,二十歲正式出家受具足戒。復從善無畏弟子玄超受胎藏及蘇悉地諸法,從不空受金剛界密法,並融會二者,建立「金胎不二」思想。此後常應詔入內道場為代宗、公主等修法,並繼不空法席,為青龍寺東塔院灌頂國師,故又稱青龍和尚。歷任代宗、德宗、順宗三朝國師,倍受崇敬。 師博通顯密內外群經,啟迪後進不遺餘力,四方從學之眾常多達數千人。各國入唐求法者多從師受密宗教義,曾授法予日僧空海、新羅僧惠日、悟真等,而將此宗傳入日本、新羅。永貞元年示寂,世壽六十。空海奉敕撰其碑文。著有十八契印、阿闍梨大曼荼羅灌頂儀軌、大日如來劍印、金剛界、金剛名號等各一卷。其中,十八契印所說為密教修法之根本形式,為密教重要著作之一。此外,日本真言宗所謂真言八祖中,師為唐土最後之祖師,故在密教史上佔有重要地位。又空海所傳之兩部曼荼羅及其他修法之祕密道具等,皆為師授意,命李真、楊忠信等所作者。〔大唐青龍寺三朝供奉大德行狀、惠果和尚行狀、佛祖統紀卷二十九、卷四十一、弘法大師御傳卷上、真言傳卷一〕 ; Hui-kuo (C) Tên một vị sư. ; (惠果) (746-805) Vị cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người huyện Chiêu ứng, phủ Kinh triệu, tỉnh Thiểm tây, họ Mã, người đời gọi sư là Thanh long A xà lê. Là Tổ thứ 7 của Mật giáo được phó pháp. Sư vào đạo từ thủa nhỏ, mới đầu, sư theo ngài Đàm trinh học tập các kinh. Năm 17 tuổi, sư theo ngài Đàm trinh vào Nội đạo tràng tu tập, sư tỏ ra xuất sắc hơn người nên được ngài Tam tạng Bất không khen ngợi và truyền trao pháp yếu Tam mật. Năm 20 tuổi, sư chính thức xuất gia thụ giới Cụ túc. Sư lại thụ các pháp Thai tạng và Tô tất địa nơi ngài Huyền siêu, đệ tử của Tam tạng Thiện vô úy, thụ mật pháp Kim cương giới nơi ngài Bất không. Sư dung hội 2 pháp này mà lập ra thuyết Kim Thai Bất Nhị . Từ đó về sau, sư thường được vua Đại tông thỉnh vào Nội đạo tràng để tu pháp, đồng thời kế vị ngài Bất không làm Quán đính Quốc sư viện Đông tháp chùa Thanh long, vì thế sư cũng được gọi là Hòa thượng Thanh long. Sư lần lượt làm Quốc sư của 3 triều vua: Đại tông, Đức tông và Thuận tông, danh đức vang lừng và được bội phần sùng kính. Sư thông hiểu các kinh Hiển mật, nội ngoại và hết sức dìu dắt lớp người sau, cho nên môn đồ từ khắp nơi về học, thường đến vài nghìn người. Các vị tăng nước ngoài đến Trung quốc cầu pháp vào thời ấy, phần lớn theo sư học giáo nghĩa Mật tông. Sư từng truyền pháp cho các vị Không hải, người Nhật, Huệ nhật, Ngộ châu, v.v... người Tân la, khi trở về, các vị này đã đem Mật tông về truyền bá tại nước họ. Về sau, tông Chân ngôn Nhật bản xếp sư vào bậc thứ 8 trong 8 vị Tổ tương thừa của Mật giáo, cho nên trong lịch sử của Mật giáo sư đã chiếm một địa vị quan trọng. Hai bộ Mạn đồ la và các đạo cụ bí mật của các pháp tu khác do Không hải truyền đều là do sự chỉ dạy của sư. Niên hiệu Vĩnh trinh năm đầu (805) sư tịch, thọ 60 tuổi. Sư Không hải vâng sắc chỉ của vua soạn văn bia. Tác phẩm của sư gồm có: Thập bát khế ấn, A xà lê đại mạn đồ la quán đính nghi quĩ, Đại nhật Như lai kiếm ấn, Kim cương giới, Kim cương danh hiệu. [X. Đại đường thanh long tự tam triều cung phụng đại đức hành trạng; Huệ quả hòa thượng hành trạng; Phật tổ thống kỉ Q.29, Q.41; Hoằng pháp đại sư ngự truyện Q.thượng; Chân ngôn truyện Q.1].

Huệ Quả 惠果

[ja] ケイカ Keika ||| (746-806). Chinese esoteric master acknowledged as one of the eight patriarchs of the doctrine 傅授八祖 in Shingon lineages. Born in Zhangan 長安, he became a Buddhist novice at nine years of age. In 763, Amoghavajra 不空金剛 began teaching him dhāraṇīs and meditation techniques. Five years later, he had been initiated into the Susiddhi 蘇悉地經 and Vajradhātu 金剛界 practices by Amoghavajra, also receiving the Matrix realm practices 胎藏法 from Xuanchao 玄超, a disciple of Śubhakarāsiṃḥa 善無畏. By 779 Huiguo was acknowledged as the most outstanding of Amoghavajra's disciples and began reporting directly to the throne. A year later he met the Javanese pilgrim Bianhong 辯弘, who had detoured to Zhangan on his way to India, and initiated him into the practices of the Matrix realm. He similarly initiated the Sillan monks Hye-Il 慧日 and O-jin 悟眞 into the Susiddhi and Vajradhatu practices respectively. In 805, when close to death, he met the then-unknown Japanese monk Kūkai 空海 and, recognizing him as his successor, transmitted everything he could during the next few months, including the complete ritual and textual tradition of the Vairocanābhisambodhi 大日經 and Tattvasaṃgraha 金剛頂經. Huiguo died shortly afterwards, and Kūkai composed his epitaph for a grand state-sponsored funeral. In China, Huiguo was succeeded by several other disciples who in turn trained the next generation of Japanese pilgrims. The sole canonical text attributed to him is 'The Eighteen Gestures' 十八契印 [T 900 p.781-5] => (746-806). Tổ sư Mật tông Trung Hoa, được công nhận là một trong Truyền thụ bát tổ thuộc Chân ngôn tông. Sư xuất thân ở Trường An, xuất gia hành điệu lúc 9 tuổi. Năm 763, Bất Không Kim Cương bắt đầu dạy sư đà-la-ni và cách thức tọa thiền. Năm năm sau, sư được Bất Không Kim Cương bắt đầu truyền pháp tu theo Tô-tất-địa kinh (s: Susiddhi 蘇悉地經) và Kim cương giới (s: Vajradhātu 金剛界), và được truyền thụ Thai tạng pháp từ Huyền Siêu (c: Xuanchao 玄超), đệ tử của Thiện Vô Uý (善無畏s: Śubhakarāsiṃḥa). Khoảng năm 779 Huệ Quả được thừa nhận là đệ tử kịêt xuất nhất của Bất Không Kim Cương và bắt đầu được kế nghiệp tổ vị. Năm sau Sư gặp nhà chiêm bái Nhật Bản Biện Hoằng (c: Bianhong 辯弘), khi ông ta di vòng sang Trường An để qua Ấn Độ, sư truyền Thai tạng pháp cho ông ta. Tương tự, Sư cũng truyền cho các vị tăng Triều Tiên là Huệ Nhật (k: ) và Ngộ Chân (k: ) pháp Tô-tất-địa và Kim cương giới . Năm 805, khi sắp tịch diệt, Sư tiếp xúc với vị tăng Nhật Bản lúc ấy chưa nổi tiếng Không Hải (j: Kūkai 空海), và công nhận ông ta là người kế vị, truyền thụ cho Không Hải những gì sư có thể làm được trong mấy tháng cuối đời, bao gồm nghi thức hoàn chỉnh và nguyên bản Đại nhật kinh (s: Vairocanābhisambodhi 大日經 ) và Kim cương đỉnh kinh (s: Tattvasaṃgraha 金剛頂經). Huệ Quả viên tịch không lâu sau đó, và Không Hải điềm tĩnh chuẩn bị bia mộ chí cho lễ đại quốc táng. Ở Trung Hoa, Huệ Quả truyền thụ được vài đệ tử và họ lần lượt truyền dạy cho các thế hệ hành hương khác của Nhật Bản. Kinh văn duy nhất được quy cho Sư là Thập bát khế ấn (十八契印e: The Eighteen Gestures). [ja] エゲン egen ||| Wisdom eye. See 慧眼.

huệ quỳnh

4942(?~1600)日本臨濟宗僧。安藝(廣島)人。通稱安國寺惠瓊。參禪於東福寺,兼住安藝安國寺。富機智與辯才,為毛利輝元所激賞。本能寺之變後,任高松城之和議使,頗得豐臣秀吉信任。未久,再度興建安國寺、東福寺。慶長五年,於關原之役中,因組織西軍,兵敗被斬。世壽不詳。〔惠瓊和尚傳、東福寺舊記、退耕列祖略傳〕

Huệ Sinh

慧生; ?-1063|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 13, nối pháp Thiền sư Ðịnh Huệ.|Sư tên Lâm Khu Vũ, quê ở làng Ðông Phù Liệt. Năm lên 19, Sư xuất gia thờ Thiền sư Ðịnh Huệ ở chùa Quang Hưng làm thầy và được ấn chứng.|Sau đó, Sư du phương tham vấn đầy đủ yếu chỉ Thiền rồi trụ tại núi Trà Sơn, sau lên ngọn Bồ-đề. Ðạo hạnh của Sư từ đây lan xa. Vua Lí Thái Tông nghe danh sai sứ đến mời về kinh. Sư cố gắng từ chối nhiều lần nhưng không được, đành phải tuân lệnh vào cung. Sau khi đàm đạo với Sư, vua rất kính phục và thỉnh trụ trì chùa Vạn Tuế ở gần thành Thăng Long. Nơi đây, Sư tuỳ duyên giáo hoá học chúng cũng như các vị hiền triết trong triều đình.|Niên hiệu Gia Khánh thứ năm, Sư họp chúng nói kệ:|水火日相參。由來未可談|報君無處所。三三又三三|自古來參學。人人指爲南|若人問新事。新事月初三|Thuỷ hoả nhật tương tham|Do lai vị khả đàm|Báo quân vô xứ sở|Tam tam hựu tam tam|Tự cổ lai tham học|Nhân nhân chỉ vị Nam|Nhược nhân vấn tân sự|Tân sự, nguyệt sơ tam|*Nước lửa ngày hỏi nhau|Nguyên do chưa thể bàn|Ðáp anh không nơi chốn|Tam tam lại tam tam|Xưa nay kẻ tham học|Người người chỉ vì Nam|Nếu người hỏi việc mới|Việc mới, ngày mồng ba.|Nói xong, Sư tắm gội, thắp hương và nửa đêm viên tịch.

huệ sinh

6024<一>南朝梁代僧。生卒年、籍貫均不詳。本住湘州,後入龍光寺,依旻公學,精研說一切有部之論書,如毘曇等。行持高操,談吐清幽,擅長草、隸書法。一生淡泊,人皆欽服其德。於天監(502~519)初年入寂。 <二>北魏僧。又作惠生。年壽不詳。住崇立寺。北魏孝明帝神龜元年(518),一說熙平元年,或正光二年)奉胡太后之命,與宋雲等自洛陽出使西域求經。經今之青海、新疆,越葱嶺,歷遊烏場、犍陀羅等地,約於正光二年(521,一說三年,或四年)歸國,得梵本經論一七○部。著有使西域記一卷(又作惠生行記),記載其西域見聞,惜今已不傳,然洛陽伽藍記卷五詳引其文。〔歷代三寶紀卷三、廣弘明集卷二、釋迦方志卷下、佛祖統紀卷三十八、魏書釋老志〕

huệ siêu

6046<一>(475~526)南北朝梁代僧。太原(山西)人,俗姓王。永嘉之亂,寓居襄陽,幼即容止安詳,進退合度。七歲依檀溪寺慧景出家,次年,從僧崇禪師習定業,十二歲又從他僧學三玄。後隨智秀聽經論,復隨之入京邑,住於靈根寺。並從法常受具足戒,誦戒不盈二日,聽律未滿兩遍,即能識文知義,了達其纖密之旨。智秀示寂後,復依智藏問學,由是名震京邑。武帝敕任為「壽光殿學士」,又敕令與僧伽婆羅共譯阿育王經。後屢應請出京弘化,學者稱詠不絕。普通七年入寂,世壽五十二。〔續高僧傳卷六、釋氏要覽卷下〕 <二>(?~526)南北朝梁代僧。趙郡陽平(山東)人,俗姓廉。初生之夕,神光照室,幼而簡靜寡欲。八歲出家,從臨淄建安寺慧通問學,後廣聽諸方之講席,博通內外群經,盡其深義。未久,遊化江南,住於南㵎寺,參訪眾師,賅通涅槃、無量壽等經。師內修戒德,外導群倫,所化之處常顯靈異。此外,師又擅長草隸、占卜、星相等諸術。梁初,授僧正之職,天監(502~519)年中,武帝從之受戒法。普通七年五月示寂,世壽不詳。〔續高僧傳卷六〕 <三>(546~622)隋末唐初僧。丹陽建康(江蘇江寧)人,俗姓沈。初以誦法華為務,後從慧思禪師學天台三觀一乘之法,與智者、命公等同修慧業,久之,再入嵩山潛修。後為隋太子楊勇禮重,遂居定水寺,又移住悟真、禪定等剎,其後力辭還山。唐朝興後,更名重當時。武德五年示寂,世壽七十七。弟子遵其遺囑,露骸一月而顏色不變,帝遣人往視,師之遺體仍端拱如生。〔續高僧傳卷二十九〕 <四>唐代新羅僧。年二十來唐。開元七年(719),金剛智等來中土,慧超乃就近師事之。後航南海,遊印度,遍探聖蹤,開元十五年始歸安西。二十一年(733)正式入金剛智之室,從學八年,開元二十八年,金剛智於長安薦福寺譯大乘瑜伽金剛性海曼殊室利千臂千鉢大教王經時,師任「筆受」之職。 大曆八年(773),隨不空再次受法,翌年二月上「賀玉女潭祈雨表」,六月被選為持誦僧七人之一。建中元年(780),攜其所譯經典至五臺山乾元菩提寺,並作一切如來大教王經瑜伽祕密金剛三摩地三密聖教法門,述其祕義。在唐五十四年,後不知所終。著有慧超往五天竺國傳三卷,然該書久已散佚,至近代始於敦煌石窟發現其節錄本。〔大辨正廣智三藏和上表制集卷五、慧琳音義卷一○○、大日本佛教全書卷一一三遊方傳叢書〕

huệ siêu vãng ngũ thiên trúc quốc truyện

6046凡三卷。新羅慧超撰。記載慧超從中國經海路到達印度,於開元十五年(727)歸國,其間遍訪三十餘國聖蹟之旅行記。原本已散逸,唯慧琳一切經音義卷一○○載有此事(由此書所載之音釋而知其經過)。近年法國人伯希和(P. Pelliot)自敦煌石窟中,發現本書之節錄本,題名為「周歷五天竺行程」,而將之與慧琳音義所載之音釋對照,皆一一吻合;然前後均有部分缺落,羅振玉鑑定其為三卷本之略本。日人藤田豐八著有慧超往五天竺國傳箋釋一卷,係參酌法顯、宋雲、玄奘之旅遊記,及歷代之正史加以考證箋注而成。〔大日本佛教全書卷一一三遊方傳叢書〕

huệ sơn tự

4940位於江蘇無錫西郊惠山第一峰之白石塢。原為南朝宋代司徒長史湛茂之別墅,名歷山草堂。景平元年(423)為僧寮,即華山精舍。梁大同(535~545)年間改建為法雲禪院,其後屢有廢興,清代復加修葺,並改今名。寺中有泉,水質甘美,唐人陸羽稱此泉為天下第二泉,故又稱陸泉,石壁上迄今猶刻有元趙孟頫所書「天下第二泉」五字。山門南北有唐宋時代所建之經幢,北為唐乾符三年(876)李端符所造之陀羅尼經幢,南為北宋熙寧三年(1070)所造之普利院大白傘蓋神咒幢,二者形式大小大致相同。高五點三三公尺,分頂、身、座三部分,頂部有葫蘆寶頂、飛檐、雕座佛石、仰蓮等八層;幢身刻有經文并序;幢座有仰蓮、坐佛、雲紋、石坊等六層,凡十五層,全由壘迭之方式築成,雕刻華麗,造型優美。

huệ sảm

6029(1372~1441)明代臨濟宗僧。湖廣(湖北)人,俗姓王。十四歲於丹陽妙覺寺依湛然出家,後往疎山咨叩松隱,一日出定,抬頭觀松,略有所悟,不久轉往蘇州(江蘇)鄧蔚山謁見果林,相談甚契,復參詣寶藏普持,具陳所悟,寶藏斥之,師乃發憤忘寢食,至第二夜驀然徹悟。永樂六年(1408),住持杭州東明寺,大弘法化,設關三十餘年未曾下山,道俗宿衲爭趨座下。英宗正統六年示寂,世壽七十。〔續釋氏稽古略卷三、五燈全書卷五十九〕

huệ số

6055指慧之心所。數,舊譯為心數法,新譯為心所法。為心所法之一,即俱舍十大地法之一,唯識五別境之一。謂心王雖僅為一,然心所法有多數,慧數即為其中之一。摩訶止觀卷十上(大四六‧一三三上):「如是見慧從何處出?由禪中有觀支,觀支是慧數。」〔品類足論卷一、俱舍論卷四、大乘五蘊論〕(參閱「心所」1403、「慧」6019)

huệ tam

6019(1901~1986)北平人,原籍山東,俗姓霍。法號思元。安徽佛教學校畢業。年十七,禮資聖清池和尚出家。年十九於浙江慈谿五磊山靈山寺,依諦閑和尚受具足戒。嘗親近諦閑、圓瑛、常惺、應慈、慈舟、太虛、能海、度厄等諸師,深究大小二乘諸經典,多所徹悟。其後住持北京崇壽寺、寶禪寺等。民國三十七年(1948)來臺,致力弘法,接引群機。四十四年於臺北縣樹林鎮創建福慧寺,並自任住持,五十二年退居,將寺務交由弟子敬德主持。臺省各寺院傳戒,師多次擔任三師。 福慧寺佔地三千餘坪,四十五年五月大殿完成,師親自開光,後續有增建,於七十年落成,並傳在家菩薩戒。五十八年成立財團法人,師任董事長。七十三年,將董事長之職交由敬德繼任,住持則由欽因擔任。師於七十五年示寂,世壽八十六。敬德法師,臺灣臺北縣人,民國十四年生,年三十二禮慧三法師披剃。四十六年於屏東東山寺受具足戒,其後即協助其師開山建寺。

huệ thi

Hui Chih (C), Hui shih (C) Tên một vị sư. Bạn thân của Trang Tử.

huệ thiên

6057(548~626)隋代僧。瀛州(河北河間)人。從淨影寺慧遠學十地經論。北齊亡於北周時,師南奔陳國。隋代興起,師復返北土,隨從慧遠經洛陽入長安。開皇十七年(597),文帝敕立五眾,請師為十地眾主。被視為地論學派之代表者。曾住持寶光寺。受文帝敕命,分別於仁壽二年(602)、四年,送舍利至瀛州弘博寺及海州(江蘇)安和寺,皆得瑞兆。晚年住大禪定寺。唐武德九年示寂,世壽七十九。〔續高僧傳卷十二〕

huệ thiệp

6039<一>北朝北魏僧。絳州(山西)人,俗姓楊。生卒年不詳。幼出家,日誦數千言。曾住麥積山石室(甘肅天水東南),著百法論鈔。復至蜀,以法驅殺術士妖猴,四眾欽敬。後還憩於中條山竹林精舍,著有維摩搜微記略科、般若心經鈔、無常經真解、四分律科等數十種,然今多已散失不傳。晚年歸絳州,示寂前,囑誡門人可三分其軀:「一投水,一擲郭外,一隨煨燼;勿塔勿銘,以違佛戒。」及焚化後,獲舍利百餘粒,舌不壞,色如黃金。 <二>(741~822)唐代牛頭宗僧。會稽人,俗姓謝。為東晉謝安之後代。師淡泊名利,不違戒律。大曆(766~779)初年,於金陵莊嚴寺遇牛頭山忠禪師,遂師事之,並得心旨。其後五十年中,大揚牛頭宗風,問道者雲集。長慶二年示寂,世壽八十二。〔宋高僧傳卷二十九〕

huệ thành

6029隋代淨土宗僧。又作惠成。生卒年不詳。澧陽(湖南)人,俗姓段。初受業於十住寺,以法華經、淨名經、勝天王經等為日課。受具足戒後,遊於建業,研習成實論,十年不輟。後聞南嶽慧思禪師之道化,遂往依之,徹夜坐禪,又習方等、觀音、法華、般舟三昧,修持三年而得眾生語言三昧。後於荊州枝江創建禪慧寺,誦彌陀經,修西方觀,達三十六年,常坐不臥。一日,自知時至,為眾講涅槃經,適智顗大師自玉泉寺來,與師共談玄理,良久入定示寂,世壽七十三。〔佛祖統紀卷九、續高僧傳卷十六、釋門正統卷一、往生集卷一〕

huệ thân

Prajā-skandha (S) Trong ngũ phần pháp thân.

huệ thông

6044<一>晉末、南朝時代僧。生卒年不詳。關中人。住長安太后寺。蔬食持咒,持誦增一阿含。從涼州(甘肅)慧紹禪師受禪法。後於禪定中見阿彌陀佛來迎,出告同學,安然而化。〔往生集卷一〕 <二>南朝劉宋僧。沛國(江蘇)人,俗姓劉。住治城寺,與豪貴名士徐湛之、袁粲等交遊。並深受孝武帝之禮重。師著有大品般若經、勝鬘經、雜阿毘曇心論等之注疏,及駁夷夏論、顯證論、法性論、爻象記等。於昇明年中(477~479)示寂,世壽六十三,六學僧傳作年六十二。〔梁高僧傳卷七〕 <三>劉宋、南齊時代僧。劉宋元嘉年中(424~453)住壽春(安徽壽縣)。衣食與俗人同,能預言將來,每多靈驗。自稱鄭散騎,然眾莫能識。後至江陵,更多異行。於南齊永元元年(499)示寂,然傳謂後復有人見之。〔梁高僧傳卷十〕 <四>(1431~1501)明代僧。建寧政和(福建政和)人,俗姓邵。字大闡。為天界中禪師之法嗣。成化九年(1473),至燕京弘法。中官黃高為師建寺安住,上奏賜名「正法」。後還住君峰。於弘治十四年示寂,世壽七十一。〔五燈會元續略卷七〕

huệ thượng bồ tát vấn đại thiện quyền kinh

Hui-shang p'u-sa wen ta-shan-ch'uan ching (C) Tên một bộ kinh.

huệ thắng tổ tâm

Huitang Zixin (C), Maidō Sochin (J), Hui-t'ang Tsu-hsin (C), Huitang Zixin (C), Maido Sochin (J) (1025-(10) 0) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Hoàng long Huệ Nam Tên một vị sư.

huệ thứ

6029(434~490)南朝僧。冀州(河北)人,俗姓尹。幼出家,依法遷受學。十八歲,博通經論,常講說成實論及中論、百論、十二門論,每張講席,則道俗奔赴。智藏、僧旻、法雲等均曾從其受業。晚年承繼道場寺慧觀之說,立三教五時之教判,為江南三家之一。齊永明八年講百論,至破塵品時,忽而從化,世壽五十七。〔梁高僧傳卷八、法華經玄義卷十上、釋氏六帖卷十〕

huệ thừa

6038(555~630)隋唐時代僧。徐州彭城(江蘇銅山)人,俗姓劉。十二歲,從叔祖智強出家,智強曾任廣陵大僧正。十六歲,於楊都莊嚴寺聽智㬭講成實論,並受具足戒。後受隋代晉王楊廣之請,入住江都慧日道場。大業六年(610),入東都四方館,任大講主。於東都盛弘講學。唐代武德初年,住勝光寺。武德八年(625),高祖行釋奠之禮,規定道、儒、佛之順位,師遂與道士李仲卿、潘誕奏等展開佛、道論戰。於貞觀四年示寂,世壽七十六。〔續高僧傳卷二十四〕

huệ tiến

6047<一>(401~485)南齊僧。吳興(浙江吳興)人,俗姓姚。少梟勇任俠。年四十始向道,入京師高座寺為僧,蔬食素衣,禮誦法華經,造經百部。永明三年示寂,世壽八十五。 <二>(560~645)唐代僧。上黨(安徽蕪湖)人,俗姓鮑。曾住梵境寺,潛心律部,閉關苦研,後依相州洪律師學四分律,凡十數年。又依惠瓚續其故業,迨惠瓚應召入京,師遂至箕山隱居。貞觀十九年示寂,世壽八十六。 <三>(1355~1436)明代僧。霍州靈石(山西)人,俗姓宋。字棲巖,號止翁。幼即禮大雲寺漸公落髮。洪武(1368~1398)初年,依汴梁古峰法師學華嚴宗旨,旁及唯識、百法等論。後每登講席,則善能剖析幽微,意解心融,為眾所欽服,遂有法主之稱。永樂年間(1403~1424),成祖召至南京,問楞嚴大意,敕賜紫衣,並命住持天界寺,選俊秀僧從學之。後又敕修三藏法數,並隨帝遷北京,住海印寺。師曾率領天下僧眾,修普度大齋,並演說三聚淨戒,以利益幽顯有情,曾感應旛竿放異光。洪熙元年(1425),淘汰教職,唯師獨膺嘉獎。次年,宣宗敕賜毘盧冠、金磨衲。正統元年示寂,世壽八十二,僧臘七十三。〔補續高僧傳卷四、賢首傳燈錄卷上〕

Huệ Toán 慧瓚

[ja] エザン Ezan ||| Huizan (536-607); master of ch'an 禪 and vinaya 律 who was active in the north; teacher of Daochuo. => c: Huizan (536-607); Thiền sư và Luật sư, hành hoá phía Bắc Trung Hoa; thầy của Đạo Xước(道綽c: Daochuo).

huệ triết

6038<一>(539~597)隋代僧。襄陽(湖北)人,俗姓趙。識度弘朗,操業清遠。先後從僧正瓊公、興皇道朗學習,時人呼為「象王哲」。後住望楚山光福禪房下之龍泉寺,以弘法為務。開皇十七年示寂,世壽五十九。〔續高僧傳卷九、釋氏六帖卷十〕 <二>(1948~ )臺灣苗栗銅鑼人,俗姓李。新竹女中畢業後就讀於佛光山東方佛教學院第二屆,後又進入輔仁大學深造。畢業後歷任臺北智光商職教師、教務主任。民國七十一年(1982),出任該校校長。

huệ triệt

6055(785~861)新羅僧。朝鮮佛教禪門九山桐裏山派之祖。又稱惠哲、慧哲。慶州人。字體空。憲德王六年(814)來唐,師事龔公山之西堂智藏。受印可後,至西州浮沙寺閱藏經三年。神武王元年(839)歸國,於全羅南道谷城郡桐裏山開法,久之蔚成桐裏山派,文聖王亦歸依之。景文王元年示寂,世壽七十七。諡號「寂忍禪師」。〔祖堂集卷十七、景德傳燈錄卷九〕

Huệ Triệt 慧徹

[ja] エテツ Etetsu ||| Hyech'ŏl (785-861), an early Korean (Silla) Sŏn teacher who studied Chan in China under the tutelage of Zhizang 智藏, along with Toŭi 道義 and Hongch'ŏk 洪陟. He founded the Tongni san 桐裡山 school, one of the original "nine mountain 九山" Sŏn schools in Korea. => k: Hyech'ŏl (785-861); Thiền sư Cao Ly, tham học Thiền tại Trung Hoa với Thiền sư Trí Tạng (c: Zhizang 智藏), cùng học với sư có Đạo Nghĩa (k: Toŭi 道義 ) và Hồng Trắc (k: Hongch'ŏk 洪陟). Sư sáng lập Đồng lý sơn (k: Tongni san 桐裡山), là một trong 9 tông phái Thiền (Cửu sơn九山 ;e: nine mountain) chính ở Cao Ly.

Huệ Trung

(慧忠, Echū, 683-769): vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, xuất thân vùng Thượng Nguyên (上元), Nhuận Châu (潤州, Giang Tô), họ Vương (王). Năm 23 tuổi, ông xuất gia tại Trang Nghiêm Tự (莊嚴寺), theo hầu hạ Trí Uy (智威) ở Ngưu Đầu Sơn (牛頭山) vùng Kim Lăng (金陵), và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông chia tay với thầy, đi du hóa khắp nơi, rồi đến trú tại Diên Tộ Tự (延祚寺). Thường ngày ông sống rất đơn giản, chỉ một bình bát và một y mà thôi. Ông lại được thỉnh về trú trì chùa cũ Trang Nghiêm Tự, khi ấy học chúng tập trung rất đông và người kế thừa dòng pháp có đến 30, 40. Đến tháng 6 năm thứ 4 (769) niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông thị tịch, hưởng thọ 87 tuổi. Bộ Thích Môn Chánh Thống (釋門正統) quyển 8 cho rằng Nam Dương Huệ Trung Thiền Sư (南陽慧忠禪師) là nhân vật đồng nhất với ông, tuy nhiên hai nhân vật này hoàn toàn khác nhau. ; 慧忠|Nam Dương Huệ Trung

huệ trung

6031<一>(682~769)唐代牛頭宗僧。潤州(江蘇)上元人,俗姓王。二十三歲時,受業於莊嚴寺,隨侍金陵牛頭山六世智威之左右,並嗣其法。後辭智威,行腳諸方,後居止延祚寺。平素生活,僅一鉢一衲,樸實謹嚴。曾應請住莊嚴舊寺,一時四方學侶雲集會下,嗣法者多達三、四十人。大曆四年六月示寂,世壽八十七。又釋門正統卷八將同時代之南陽慧忠禪師與師之記載混同一人。〔宋高僧傳卷十九、景德傳燈錄卷四、五燈會元卷二〕 <二>(?~775)唐代僧。浙江諸暨人,俗姓冉。自幼學佛,初習戒律,長通經論。聞六祖慧能大師之名,即踰嶺叩謁,獲其心印。既而遊諸名山,經五嶺、羅浮、四明、天目,而入南陽白崖山黨子谷(白草谷),靜坐長養,四十餘年足不出山,而學者就之,恆逾百千。開元年中,玄宗欽其道譽,迎赴京師,敕住龍興寺。未久逢安史之亂,師乃遁歸。肅宗上元二年(761),再召赴京,住千福寺西禪院,公卿士庶參叩求法,不捨晝夜。代宗繼位,優禮有加,遷住光宅寺。 師博通詁訓,普窮經律,雖受玄宗、肅宗、代宗三朝禮遇,然天性淡泊,自樂天真。常慕南嶽慧思大師之遺風,乃奏請於衡嶽武當山建太一延昌寺,又於黨子谷創立香嚴長壽寺,各請藏經一部以鎮山。大曆八年(773),又奏請度天下名山之僧,取通於經律禪三者之僧。後歸南陽,於大曆十年在黨子谷示寂,年壽當在八十以上。諡號「大證禪師」,世稱南陽慧忠、南陽國師。 有關師之著名公案有國師三喚、無情說法、無縫塔等,另有九十七種圓相,由侍者耽源所傳。又師與行思、懷讓、神會、玄覺等四人並稱為六祖門下之五大宗匠,與神會同於北方弘揚六祖之禪風,而批評當時於南方(江西)闡揚「平常心是道」之馬祖道一,並對南方禪者不重視經典而隨意說法之作風予以駁斥,故於平日特別重視經律論與教學之研習。〔宋高僧傳卷九、景德傳燈錄卷五、傳法正宗記卷七、禪宗正脈卷二〕 <三>(817~882)唐代僧。泉州(福建)僊遊人,俗姓陳。屬南嶽懷讓之法系。又稱志忠。九歲(一說十五歲)時依龜洋無了出家,後在襄州(湖北)龍興寺受具足戒。師曾參遊諸方,後參謁廬陵之草庵法義,並嗣其法。再歸龜洋山時,適值會昌法難,受迫還俗而逃難。中和二年示寂,世壽六十六。黃瑫為之撰碑銘,門下為之建東塔,與其師龜洋無了之西塔相望。此外,師之法系傳承,在景德傳燈錄、祖堂集等諸禪籍中,各有異說。〔景德傳燈錄卷八、卷二十三、祖堂集卷十五、禪林僧寶傳卷十、五燈會元卷十四、釋氏疑年錄卷五〕

huệ trung quốc sư

Hui-chung (C), Yechu (J) Tên một vị sư.

Huệ Trung Thượng Sĩ

慧忠上士; 1230-1291|Một nhân vật lỗi lạc trong Phật giáo Việt Nam. Thượng sĩ tên thật là Trần Quốc Tung (1230-1291), con trai trưởng của An Sinh Vương Trần Liễu. Ông là anh ruột của Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, anh của hoàng hậu Thiên Cảm. Thiên Cảm là vợ của vua Trần Thánh Tông và là mẹ của Trần Nhân Tông.|Thượng Sĩ có chí khí cao siêu, khí lượng thâm trầm, dung thần nhàn nhã. Từ nhỏ ông đã sùng mộ đạo Phật, lớn lên được cử trấn đất Hồng Lộ. Năm 1251, Trần Thái Tông phong ông tước hiệu Hưng Ninh Vương. Ông cùng em là Trần Hưng Ðạo tham gia kháng chiến ba lần chống quân Nguyên Mông. Ðó là lần thứ nhất 1257-1258, lần thứ hai năm 1258 và lần thứ ba 1287-1288. Qua những lần tham gia giữ nước, ông được thăng chức Tiết Ðộ sứ, nhưng từ quan về quê sống, xưng hiệu là Huệ Trung. Dù chỉ là Cư sĩ có gia đình, nhưng ông đã theo học Phật pháp với Thiền sư Tiêu Diêu, học trò của Thiền sư Ðại Ðăng và cư sĩ Ứng Thuận Vương. Nhờ thế ông trở thành một nhà Thiền học. Trần Thánh Tông tôn ông là sư huynh và ông cũng là thầy của Trần Nhân Tông.|Thượng Sĩ là người có bản lĩnh, không câu nệ giáo điều. Lần nọ, em gái là Thiên Cảm mời ông dùng cơm, có mặt của Trần Nhân Tông. Ông gắp thịt cá tự nhiên làm Thiên Cảm ngạc nhiên hỏi: »Anh tu thiền, ăn thịt cá sao thành Phật được?« Ông cười đáp: »Phật là Phật, anh là anh.« Trần Nhân Tông lần đó cũng thắc mắc, nhưng ngày sau có dịp, ông trả lời như sau (bản dịch của Nguyễn Lang):|無常諸法行。心疑罪便生|本來無一物。非種亦非萌|日日對境時。景景從心出|心境本來無。處處巴羅密|喫草亦喫肉。種生各所食|春來百草生。何處見罪福|Vô thường chư pháp hành|Tâm nghi tội tiện sinh|Bản lai vô nhất vật|Phi chủng diệc phi manh|Nhật nhật đối cảnh thời|Cảnh cảnh tòng tâm xuất|Tâm cảnh bản lai vô|Xứ xứ ba-la-mật|*Vạn pháp vô thường cả,|Tâm ngờ tội liền sinh.|Xưa nay không một vật,|Chẳng hạt chẳng mầm xanh.|Hằng ngày khi đối cảnh,|Cảnh đều do tâm sinh.|Tâm cảnh đều không tịch,|Khắp chốn tự viên thành.|Trần Nhân Tông nghe xong nhưng vẫn thắc mắc về chuyện tội phúc, hỏi »thế thì công phu giữ giới để làm gì«, Thượng Sĩ đọc tiếp các câu kệ (bản dịch của Nguyễn Lang):|持戒兼忍辱。招罪不招福|欲智無罪福。非持戒忍辱|如人上樹時。安中茲求危|如人不上樹。風月何所爲|Trì giới kiêm nhẫn nhục|Chiêu tội bất chiêu phúc|Dục tri vô tội phúc|Phi trì giới nhẫn nhục|Như nhân thượng thụ thời|An trung tư cầu nguy|Như nhân bất thượng thụ|Phong huyệt hà sở vi?|*Trì giới và nhẫn nhục,|Thêm tội chẳng được phúc.|Muốn siêu việt tội phúc,|Ðừng trì giới nhẫn nhục.|Như người khi leo cây,|Ðương yên tự chuốc nguy.|Nếu đừng leo cây nữa,|Trăng gió làm được gì?|Sau đó ông căn dặn Nhân Tông dừng nói những lời này ra cho kẻ sơ cơ biết.|Ngày 1 tháng 4 năm 1291, Thượng Sĩ cho kê giường ở Thiền đường tại Dưỡng Chân Trang, nằm xuôi nhắm mắt. Hầu cận khóc lóc, Thượng Sĩ mở mắt ngồi dậy quở »Sống chết là lẽ thường, sao lại luyến tiếc khóc than, làm náo động chân tính ta.« Nói xong, Thượng Sĩ tịch, thọ 62 tuổi.|Ông để lại rất nhiều thơ văn chỉ rõ kiến giải của một Thiền giả đắc đạo. Một trong những tác phẩm quan trọng là Huệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục do Thiền sư Pháp Loa biên soạn.

huệ trì

6035(337~412)東晉僧。雁門樓煩(山西缲縣)人,俗姓賈。為廬山慧遠之弟。少聰敏,能通經史,有文才,年十八與兄同依止道安出家。遍學三藏,並及外典。後與兄共入廬山。因故曾至京師建康(南京),住東安寺,頗見重於晉衛軍瑯琊王司馬珣。時僧伽羅叉善誦四阿含,王乃請出中阿含,令師特為校文詳定。後還山,講說法華經、阿毘曇論。晉隆安三年(399),聞巴蜀有峨嵋之勝,意欲觀瞻,遂西行至成都,止龍淵精舍,大弘佛法,慕其德者,皆望風推服。有升堂者,號「登龍門」。義熙八年示寂,世壽七十六。臨終時遺命弟子曰(大五○‧三六二上):「經言:『戒如平地,眾善由生。』汝行、住、坐、臥,宜其謹哉!」〔梁高僧傳卷六、釋氏稽古略卷一、釋氏通鑑卷三、佛祖統紀卷二十六、卷二十七〕

huệ trí

6044唐代僧。其父為印度婆羅門種,於出使漢地途中生慧智。少而精勤,有出俗之志,奉敕出家。通達漢梵之語,當地婆訶羅、提雲若那、寶思惟等譯經時,師皆奉召證義。則天武后長壽二年(693),於東都佛授記寺翻譯讚觀世音菩薩頌一卷,後不知所終。〔宋高僧傳卷二、六學僧傳卷二〕 ; Manaḥparyaya (S) Tha tâm trí.

Huệ trướng

(蕙帳): phòng thất tràn đầy mùi hương nhè nhẹ của hoa Lan và Huệ. Huệ trướng còn là tên gọi khác rất hoa mỹ về bức màn the. Trong bài Bắc Sơn Di Văn (北山移文) của Khổng Nhã Khuê (孔稚珪, 447-501) nhà Tề, thời Nam Triều có câu: “Huệ trướng không hề dạ hộc oán, sơn nhân khứ hề hiểu viên kinh (蕙帳空兮夜鵠怨、山人去兮曉猨驚, màn the trống chừ đêm ngỗng oán, người núi đi chừ sáng vượn buồn).” Hay trong bài thơ Đề Định Lâm Bích Hoài Lý Thúc Thời (題定林壁懷李叔時) của Vương An Thạch (王安石, 1021-1086) nhà Tống lại có câu: “Liệu lô vô phục hỏa, huệ trướng lãnh không sơn (燎爐無伏火、蕙帳冷空山, đốt lò không chút lửa, màn the lạnh núi hoang).” Hoặc trong Thanh Vận Khải Mông (聲韻啟蒙) quyển 1 có đoạn rằng: “Lâu đối các, hộ đối song, cự hải đối trường giang, dung thường đối huệ trướng, ngọc giả đối ngân công (樓對閣、戶對窗、巨海對長江、蓉裳對蕙帳、玉斝對銀釭, lầu đối với gác, cửa lớn đối với cửa sổ, biển lớn đối với sông dài, áo đẹp đối với màn thơm, chén ngọc đối với bầu đồng).”

huệ tuân

6051<一>(375~458)南朝劉宋僧。六學僧傳卷十一作慧恂。趙郡(河北趙縣)人,俗姓趙。幼年出家,遊學長安,從鳩摩羅什受學。精研經論,尤精通十誦律、摩訶僧祇律。並述作章疏。永初(420~422)年中,至廣陵大開律席。元嘉(424~453)年中,住京師道場寺,後受慧觀之請,移住長樂寺。大明二年示寂,世壽八十四。六學僧傳謂世壽八十。〔梁高僧傳卷十一〕 <二>(1119~1179)宋代僧。永嘉人,俗姓陳。字謀道。號月堂。八歲即出家於祖印院。聽法華數遍,即能成誦。參謁南湖澄照,繼學於南湖圓辯。嘗於山海間為鬼神講說維摩詰經,屢感神應。於南湖宣揚大法,譽聞遐邇。丞相魏啬亦禮敬之。於淳熙六年示寂,世壽六十一。〔佛祖統紀卷十七〕

huệ tài

6020(998~1083)北宋淨土宗僧。永嘉樂清(浙江)人,俗姓王。字曇遠。大中祥符元年(1008),依白鶴山之怡芳和尚出家,十三歲受具足戒。自恨性識昏鈍,常持大悲咒,願學通祖道,一日,夜夢梵僧脫袈裟與披,豁然開悟,前後所聞了然洞曉。復參謁慈雲,日夜服勤不怠。治平(1064~1067)初年,受杭州太守沈遘之迎請,住法慧寶閣二十年,並蒙受太尉盧公奏賜「廣慈」之號。不久退居雷峰塔下,誦大悲咒與彌陀名號。元豐元年(1078),為道俗千人授大戒,至羯磨時,感觀音像之頂放光,淨慈寺守一禪師特為作戒光記。元豐六年示寂,世壽八十六。〔釋門正統卷三、佛祖統紀卷十二、釋氏稽古略卷四〕

huệ tánh

Prajākara (S) Tên một vị sư.

huệ tích

Hui-chi (C) Tên một vị sư.

huệ tích bồ tát

Prajākuta (S) Trí Tích Bồ tát Tên một vị Bồ tát Xem Trí Tích Bồ tát.

Huệ Tín

(惠信, Eshin, 1182-?): vị Ni sống vào khoảng đầu và giữa thời đại Liêm Thương, vợ của Thân Loan (親鸞, Shinran), xuất thân vùng Việt Hậu (越後, Echigo, thuộc Niigata-ken [新潟縣]); con của Binh Bộ Đại Phụ Tam Thiện Vi Giáo (三善爲敎, Miyoshi Tamenori). Bà kết hôn với Thân Loan trong thời gian vị này bị lưu đày ở vùng Việt Hậu, và hạ sanh được 3 trai và 3 gái, trong đó có Thiện Loan (善鸞, Zenran), Tín Liên Phòng (信蓮房), v.v. Sau bà cùng với Thân Loan chuyển đến sống ở vùng Quan Đông (關東, Kantō), và đã cùng chồng mình tích cực bố giáo cho đến khi trở về kinh đô. Đến cuối đời, bà quay trở về quê của mình, rồi sau khi Thân Loan qua đời thì bà đã ghi lại tất cả hành trạng cuộc đời của ông và trao lại cho người con gái của mình đang sống ở kinh đô là Ni Giác Tín (覺信, Kakushin). Trước tác của bà để lại có Huệ Tín Ni Văn Thư (惠信尼文書), 10 bức.

huệ tông

Hui-tsung (C), Huizong (1082-1135) Hoàng đế triều đại Tống.

Huệ Túc 慧宿

[ja] エシュク Eshuku ||| Hyesuk; a Silla monk of the 5-6th century who was active in the spread of Buddhism to the common people. => (k: Hyesuk); Tăng sĩ Tân La vào thế kỷ thứ 5-6, người đã truyền bá Phật giáo cho giới bình dân.

huệ tĩnh

6057東晉僧。東阿(山東)人,俗姓王。生卒年不詳。少時遊學伊、洛之間,晚年則遊歷徐、兗。師容貌甚黑而識悟清遠,與洛下之沙門道經齊名當世。道經耳甚長,時人每稱(大五○‧三六九中):「洛下大長耳,東阿黑如墨。」每有問題請示於師,師必酬答圓滿。資性虛通,澄審而有思力,每登講席,必學徒雲集。師喜誦法華、小品般若等經。著有涅槃略記、大品旨歸、達命論、諸法師誄等書,及維摩、思益二經之注解,然多流傳北土,不見於江南。劉宋元嘉(424~453)年中示寂,世壽六十餘。〔梁高僧傳卷七、釋氏六帖卷十、六學僧傳卷二十一〕

Huệ Tư

慧思; C: huìsī; 515-577, cũng được gọi là Nam Nhạc Tôn giả (南嶽尊者), Tư Ðại Thiền sư (思大禪師);|Cao tăng Trung Quốc, môn đệ của sư Huệ Văn và là thầy của sư Trí Khải. Vì Trí Khải sau này về núi Thiên Thai sáng lập Thiên Thai tông nên Sư được xem là Tổ thứ ba của tông này sau Long Thụ (s: nāgārjuna) và Huệ Văn.|Sư họ Lí, người Vũ Tân (nay là huyện Thượng Thái, Hà Nam). Sư xuất gia lúc còn nhỏ sau khi chiêm bao thấy một vị tăng khuyên xuất thoát tục. Sư say mê tụng đọc kinh Diệu pháp liên hoa và ngoài việc khất thực, Sư tìm đến những chỗ trống hoang vắng, ở những gò mã, động huyệt chú tâm tụng trì kinh này. Tương truyền trong thời gian này – từ 7 đến 14 tuổi – Sư tụng kinh đến nỗi bệnh cũng tự biến, mộng thấy Phổ Hiền đến xoa đầu và sau đó đầu nổi lên nhục kế (cái chóp thịt trên đầu mà các tượng Phật hay được trình bày), văn tự chưa học mà tự nhiên thông. Trong khoảng thời gian từ 15-20 tuổi, Sư thụ giới cụ túc, tìm đến các nơi tham học và nhân đây, Sư gặp Huệ Văn và được truyền pháp »Nhất tâm tam quán«, tức là quán ba tính chất của chư Pháp là »Không, giả và trung«, một trong những giáo lí then chốt của Thiên Thai tông sau này. Sư tuân theo lời dạy của Huệ Văn, tinh tiến toạ thiền. Một hôm – mặc dù vẫn đang dày công tu tập – Sư tỏ vẻ hối tiếc vì đã để tuổi đạo luống qua, dựa lưng vào tường than thở thì bỗng nhiên ngộ được chân lí, đạt »Pháp hoa tam-muội.«|Sư đặc biệt chú trọng đến việc phụng thờ Phật A-di-đà và Bồ Tát Di-lặc và nhân khi tạo kinh Bát-nhã chữ vàng, Sư làm hộp lưu li tôn trì và nguyện rằng, khi đức Di-lặc ra đời thì kinh Bát-nhã chữ vàng này sẽ xuất hiện và được tuyên dương lần nữa. Sư là một trong những người đầu tiên đưa ra thuyết »thời kì mạt pháp« là thời kì suy vong của đạo Phật. Sư cũng đặc biệt chú trọng đến việc thực hành việc Toạ thiền và cả về việc nghiên cứu giáo lí được ghi chép lại trong Tam tạng kinh điển.|Năm 554, Sư đến Quang Châu khai đường thuyết pháp, hoằng hoá suốt 14 năm và từ đây, danh tiếng vang lừng. Nhưng cũng có nhiều người ganh ghét và nhiều lần muốn ám hại Sư bằng cách đầu độc. Tại núi Ðại Tô ở phía Nam của Hà Nam, Sư truyền pháp lại cho Trí Khải Ðại sư. Năm 568, khi đến Hành Sơn ở Hồ Nam, Sư bỗng nhiên ngộ được ba tiền kiếp của mình, ở lại đây hoằng giáo mười năm và vì thế Sư cũng mang danh hiệu là Nam Nhạc Tôn giả. Vua Tuyên Ðế cũng rất khâm phục tín ngưỡng nên ban cho Sư danh hiệu Ðại Thiền sư và vì vậy Sư cũng được gọi là Tư Ðại Hoà thượng hay Tư Ðại Thiền sư.|Năm 577, Ðinh Dậu, ngày 22 tháng 6, Sư ngồi yên an nhiên thị tịch. Vị Tổ của Luật tông là Ðạo Tuyên viết về Sư như sau trong Tục cao tăng truyện: »Phụng trì Bồ Tát giới, không thị biệt thỉnh, không nhận biệt cúng. Mặc áo vải thô, lạnh thì dùng áo độn cỏ, ăn thì ngày một bữa. Thường ở núi rừng, đêm thì tư duy, ngày phu diễn, phát ngôn sâu xa. Nhân định mà phát huệ, điều này thấy rõ nơi Tôn giả Huệ Tư.«|Các tác phẩm của Sư còn được lưu lại: 1. Pháp hoa kinh an lạc hạnh nghĩa; 2. Chư pháp vô tránh tam-muội pháp môn; 3. Ðại thừa chỉ quán pháp môn; 4. Tứ thập nhị tự môn; 5. Thụ Bồ Tát giới nghi; 6. Nam Nhạc Tư Ðại Thiền sư lập thệ nguyện văn.

huệ tư

6035(515~577)南北朝時代之高僧。武津(河南上蔡)人,俗姓李。世稱南嶽尊者、思大和尚、思禪師。為我國天台宗第二代祖師(一說三祖)。自幼歸佛樂法,心愛法華經,曾持經入塚中讀誦,讀畢深受感動,對經涕泣,旋夢普賢菩薩摩頂而去,由此,頂上遂隆起肉髻。年十五出家,後參謁河南慧文禪師,得授觀心之法,曾因慨嘆虛受法歲,放身倚壁,遂豁然大悟,深得法華三昧。乃最早主張佛法之衰微即末法時期者,故確立對阿彌陀佛與彌勒佛之信仰。注重禪法之踐行,亦注重義理之推究。 北齊天保五年(554),師至光州,不分遠近,為眾演說,長達十四年之久。其間聲聞遠播,學徒日盛,嫉其德望或謗難是非者甚多。又師於河南南部之大蘇山傳法予智顗,智顗為師之眾門弟中最為傑出者。陳代光大二年(568)始入湖南衡山(南嶽),悟三生行道之迹,講筵益盛,居止十年,遂有「南嶽尊者」之稱。倍受宣帝禮遇,尊稱「大禪師」,故思大和尚,又稱思禪師,蓋基於此。太建九年,晏然而化,世壽六十三。著作多半由門徒筆記整理而成,如法華經安樂行義一卷、諸法無諍三昧法門二卷、大乘止觀法門四卷、四十二字門二卷、受菩薩戒儀一卷等。自撰者有南嶽思大禪師立誓願文一卷。〔續高僧傳卷十七、弘贊法華傳卷四、佛祖統紀卷六、景德傳燈錄卷二十七、佛祖歷代通載卷十一〕 ; Hui szu (C), Yeshi (J) Tên một vị sư. Giáo chủ Thiên thai.

Huệ Tư 慧思

[ja] エシ eshi ||| Huisi (515-577) from Nanyue 南嶽; second patriarch of the Tiantai school 天台宗; Huisi is also the earliest known systematizer of the three periods of the dharma and advocate that the third and final period of mofa 末法 had arrived. => c: Huisi (515-577); ở Nam Nhạc (c: Nanyue 南嶽); tổ thứ hai của tông Thiên Thai; Huệ Tư là người sớm nhất hệ thống ba thời kỳ của giáo pháp, và chủ trương thời kỳ thứ ba, thời mạt pháp đã đến.

Huệ Tạng

慧藏|Thạch Củng Huệ Tạng

huệ tạng

6058<一>指三藏中詮顯慧學之論藏,即阿毘達磨藏。又為三藏之通稱。廣弘明集卷二十成實論義疏序(大五二‧二四四中):「四種圍陀,在家必習,三品慧藏,入道彌通。」 <二>(522~605)隋代僧。平棘(河北)人,俗姓郝。十一歲出家。通曉涅槃、戒律。四十歲,乃棲於鵲山,潛心研究華嚴。北齊武成帝曾詔請於太極殿講說華嚴,榮冠當時。大業元年入寂於空觀寺,世壽八十四。〔續高僧傳卷九、釋氏六帖卷十、六學僧傳卷二十二〕 <三>隋代僧。生卒年不詳。冀州(河北)人。初學涅槃,後專講解。入京師訪道,住於光明寺。仁壽(601~604)年中,奉敕送舍利於觀州、江州等處,每送舍利則有靈異顯現。後不知所終。〔續高僧傳卷二十六、釋氏六帖卷十一〕

huệ tế tự

6058位於浙江定海普陀山之佛頂山上。又稱佛頂山寺。原僅一石亭,供佛於中。創建於明代,初稱慧濟庵;乾隆五十八年(1793),又增建圓通、玉皇諸殿與大悲樓等,擴庵為寺。光緒三十三年(1907),請得大藏經。同年,由文正和尚鳩工擴建,遂成巨剎,與普濟、法雨兩寺鼎立,稱為普陀山三大寺。全寺有四殿、七宮、六樓,殿內雕樑畫棟,工藝精緻。

Huệ Tịch

慧寂|Ngưỡng Sơn Huệ Tịch

huệ tịch

6042(840~916)唐末五代禪僧。與溈山靈祐同為溈仰宗之祖。又稱仰山慧寂、仰山禪師。韶州懷化(廣東廣州)人,俗姓葉。自幼欲出家,父母不許,後斷兩指以明志,時年十七,乃依南華寺通禪師剃度,未受具足戒即四出遊方,初參謁耽源應真,既悟玄旨;繼叩訪溈山靈祐,遂登堂奧,得傳其心印。 後更往江陵受戒,深探律藏,又參訪巖頭全奯,不久又回溈山,執侍靈祐前後十五年,後繼嗣溈山之法,遷居江西仰山,學徒聚集,盛冠一方,世稱仰山慧寂。一日,有一梵僧來東土,謂(大四九‧八四○上):「特來東土禮文殊,卻遇小釋迦。」後遂有「仰山小釋迦」之號。師資相承,別開一派,即溈仰宗。師平時常以手勢啟悟學人,稱為仰山門風。後遷江西觀音院,後梁貞明二年復遷韶州東平山,同年示寂,世壽七十七。一說唐中和二出(883),或大順二年(891)示寂。諡號「智通禪師」。〔宋高僧傳卷十二、景德傳燈錄卷十一、傳法正宗記卷七、五燈會元卷九、佛祖歷代通載卷十七、釋氏稽古略卷三、祖庭事苑卷七〕

Huệ Tịch 慧寂

[ja] エジャク Ejaku ||| Huiji (807-883). Patriarch of the Weiyang school (潙仰宗) of Ch'an. His honorific title was ChengxuDashi 澄虚大師. He was named Yangshan Huiji 仰山慧寂 (Yangshan Huiji) after his place of residence. A native of Kwangtung, he entered the sangha at the age of 17 at Nanhua temple with Tongchan shi. He then traveled, first studying with Danyuan Yingzhen 耽源應眞. Then later, under the tutelage of Wei-shan Ling-yu 潙山靈祐 he experienced great enlightenment and became a transmitter of Wei-shan's dharma. During his 15 year tenure with Wei-shan, he was called Bojiao quwu 跛脚駆烏. He established a temple at Mt. Wang-mang 王莽山. He then stayed at Mt. Yangshan in Jiangxi until his old age, when he moved to T'ung-p'ing. Because of the closeness in personality and teaching style with his teacher Weishan, the school of Chan that subsequently developed was termed the Weiyang school. => (c: Huiji; 807-883). Tổ sáng lập Thiền tông Quy Ngưỡng (e: Weiyang school 潙仰宗). Thuỵ hiệu của sư là Trừng Hư Đại sư (c: ChengxuDashi 澄虚大師). Tên sư là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (c: Yangshan Huiji 仰山慧寂), gọi theo trú xứ của sư. Sư xuất thân vùng Quảng Đông, xuất gia năm 17 tuổi tại chùa Nam Hoa với Động Sơn Lương Giới (c:Tongchan shi) rồi đi hành cước. Đầu tiên tham học với Đam Nguyên Ứng Chân (c: Danyuan Yingzhen 耽源應眞); sau đó, dưới sự dạy dỗ của Quy Sơn Linh Hựu sư triệt ngộ và trở thành người nối pháp tông Quy Ngưỡng. Suốt 15 năm cùng tiếp người với Quy Sơn, sư được gọi là Bả Cước Khu Ô (c: Bojiao quwu 跛脚駆烏). Sư có lập một ngôi chùa tại Vương Mãng sơn. Sau sư trụ ở Ngưỡng sơn tỉnh Giang Tây cho đến khi già, rồi sư về trụ tại Đông Bình (c: T'ung-p'ing). Vì tính cách và lối dạy người gần gũi với Thầy là Quy Sơn, nên phái Thiền do sư phát triển sau nầy mang tên Quy Ngưỡng tông.

huệ tịnh

6043(578~?)唐代僧。真定(河北)人,俗姓房。十四歲出家,研習大智度論及其餘經部。未久,從志念習學雜阿毘曇心論、大毘婆沙論等。博通經論,有辯才,能詩文。貞觀二年(628),師參與譯經,筆受大莊嚴論,並撰疏三十卷。由是名聲大揚,房玄齡等稱師為東方菩薩。貞觀十年,於京師紀國寺開講席,王公士夫雲集。十三年,太宗集諸宦臣及三教學士於弘文殿,請師開講法華經,時有道士蔡晃,好論獨高,帝乃下令遣與抗論,師遂展無礙辯才,大挫道門之銳。佛法能盛於唐,慧淨之功不可沒。後任普光寺住持,常以妙音導示群生。十九年,玄奘從西域返唐,敕師參與譯經,師以病未赴,時年六十八。其後,事蹟不詳。著有盂蘭盆經疏、彌勒成佛經疏、雜心論疏、俱舍論疏、詩英華、金剛般若經注疏、仁王般若出要贊等十餘種。〔續高僧傳卷三、佛祖統紀卷三十九〕

huệ tối

6045隋代僧。瀛州(河北)人。生卒年不詳。初遊學鄴都,聽講涅槃經,貫通經義,每能言論,見解獨到而態度從容溫婉,甚為同席諸賢歎仰。北周亡時,奔赴南方。至隋室定天下,中原安泰,師住於光明寺。仁壽年間(601~604),奉敕遣送舍利至荊州大興國寺龍潛道場及吉州發蒙寺,於此二寺均示現瑞相,師乃頂禮描繪之。後示寂於其住處。〔續高僧傳卷十、釋氏六帖卷十〕

huệ từ tự

6052位於臺灣臺南善化鎮。為高雄佛光山寺派下之分院。原名善化念佛會。此會成立於民國六十二年(1973),初無固定集會場所,屢換會址。六十六年,與會蓮友聯名恭請星雲大師為導師,更名為佛光山善化念佛會。在大師領導下,信徒增大信心,捐資購地,籌建道場。六十八年七月大師親往主持破土典禮,定名慧慈寺,由慈嘉法師首任住持。七十年初期工程完成。七十二年依恆法師繼任住持,現任住持為依諦法師。 全寺佔地六百餘坪,附設幼稚園、托兒所、兒童音樂、舞蹈、繪畫等班;法務方面有定期念佛共修會、佛學講座、佛學研習會等,接引一般知識青年;才藝方面有書法班、插花班、素食烹飪班等。農曆每月十四、三十日有延生普佛法會,初一、十五日則有為信徒啟建之消災祈福法會等。

huệ uy

6034(634~713)唐代僧。天台宗第七祖(一說六祖)。又稱惠威。婺州東陽(浙江)人,俗姓劉。幼年出家,受具足戒。後禮謁縉雲之智威研習天台之學,頓悟三觀之法,時人遂以「小威」呼之。初居京師天宮寺時,世人稱為「天宮尊者」。後歸東陽,山居絕人事,而登門求道之士仍不絕於途。高宗時,與智威同為朝散大夫四大師。於開元元年示寂,世壽八十。左溪尊者玄朗為其嗣法弟子。後吳越王敕賜「全真尊者」之諡號。〔宋高僧傳卷六、佛祖統紀卷七、卷三十九〕

huệ uyển

6037(673~743?)唐代僧。京兆(陝西)人。師事華嚴宗三祖法藏,深究華嚴,為同門之上首。曾繼續法藏未完成之著作華嚴經之略疏,而撰續華嚴經略疏刊定記十五卷。雖述法藏之說,然時參己見而異於其師,之後,清涼國師澄觀作大疏鈔百卷逐一破斥慧苑之思想,遂被逐出列祖之統。 師對新譯華嚴經以論理之觀點理解,並以唯識等立場批評之,故頗受現代人之重視。其學說與華嚴宗之傳統說法最大分歧處即其判教說,將法藏之小、始、終、頓、圓之「五教」說廢除,另立迷真異執、真一分半、真一分滿、真具分滿等「四教」,將佛教教義概括在四教之中。又智儼、法藏兩代相承之十玄緣起說,至慧苑時,亦改作十種德相和十種業用兩重。另著有新譯華嚴音義二卷,即新譯大方廣佛華嚴經音義之略稱,世稱慧苑音義。〔華嚴經疏卷二、宋高僧傳卷六、六學僧傳卷二十三、貞元新定釋教目錄卷十四〕

huệ uyển âm nghĩa

6037凡二卷。唐代慧苑撰。本書就新譯大方廣佛華嚴經八十卷中之難字加以注音釋義。為新譯大方廣佛華嚴經音義之略稱。又作新譯華嚴經音義、華嚴經音義、一切經音義。收於大正藏第五十四冊慧琳音義卷二十一至卷二十三。慧苑為賢首大師法藏之弟子,深究華嚴宗義,故有音義之作,此書附有華嚴經中梵語之正譯及略解,其中,為說明譯語之字音、字義,引用之書目甚多,除內典外,尚採用教外典籍,如論語、孟子、易經、尚書、老子等,及諸家之注本、歷來各類形音義辭書,凡百餘種,為研究考證、訓詁、聲韻等學者所欽奉之書。後慧琳撰一切經音義,亦採取其法。〔宋高僧傳卷六、貞元新定釋教目錄卷十四、諸宗章疏錄卷一〕(參閱「新譯大方廣佛華嚴經音義」5471)

Huệ Viễn

(慧遠, Eon, 523-592): vị tăng sống dưới thời nhà Tùy, xuất thân Đôn Hoàng (敦煌, thuộc Cam Túc [甘肅]), họ Lý (李). Năm 13 tuổi, ông theo Sa Môn Tăng Tư (僧思) xuất gia, đến năm 16 tuổi theo Luật Sư Trạm đến kinh đô Nghiệp (thuộc Lâm Chương [臨漳], Hà Bắc [河北]), học thông các kinh điển của Tiểu Thừa và Đại Thừa, rồi đến năm 20 tuổi thọ giới Cụ Túc với Pháp Thượng (法上). Sau đó, ông theo học Tứ Phần Luật (四分律) với Đại Ẩn (大隱). Không bao lâu sau, ông cùng với chúng học tăng dời về Thanh Hóa Tự (清化寺) vùng Cao Đô (高都, thuộc Tấn Thành [晉城], Sơn Tây [山西]), và mọi người cùng hợp sức nhau kiến thiết Giảng Đường. Về sau, gặp phải nạn phế kinh hủy tượng, diệt Phật, bắt buộc Sa Môn hoàn tục dưới thời vua Võ Đế của Bắc Chu, chẳng ai dám khuyên can gì cả, chỉ mình ông đến yết kiến nhà vua biện bác, thưa rằng: “Nay Bệ Hạ ỷ thế lực nhà vua, phá diệt Tam Bảo, đó là người tà kiến. A Tỳ Địa Ngục kia chẳng kể giàu nghèo, Bệ Hạ há chẳng sợ sao ?” Nhà vua nổi giận bảo: “Nếu làm cho bá tánh được vui, trẫm cũng chẳng ngại gì nỗi khổ chốn Địa Ngục”. Biết vậy, ông tránh vào trong núi, chuyên tâm tụng các kinh Pháp Hoa, Duy Ma, v.v. Đến khi nhà Tùy hưng thạnh, ông bắt đầu xuất hiện, khai triển pháp môn ở Lạc Ấp (洛邑), xa gần nghe tiếng ông đều quy tụ về rất đông. Ngoài ra, ông đã từng thuyết giảng các địa phương khác, rồi bao lần vâng chiếu lên Tây Kinh giảng kinh khiến cho nhà vua vui lòng, bèn sắc phong cho ông trú trì Hưng Thiện Tự (興善寺). Sau đó, ông kiến lập Tịnh Ảnh Tự (淨影寺), chuyên tâm giảng thuyết. Vì ông làm trú trì chùa này nên được gọi là Tịnh Ảnh Tự Huệ Viễn, khác với Huệ Viễn trên Lô Sơn (廬山). Vào năm thứ 12 (592) niên hiệu Khai Hoàng (開皇), ông thị tịch, hưởng thọ 70 tuổi. Ông là vị tăng của Nam Đạo Phái thuộc Địa Luận Tông, trước tác để lại có khoảng 24 bộ và hơn 100 quyển như Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) 26 quyển, Thập Địa Kinh Luận Nghĩa Ký (十地經論義記) 14 quyển, Hoa Nghiêm Kinh Sớ (華嚴經疏) 7 quyển, Đại Bát Niết Bàn Kinh Nghĩa Ký (大般涅槃經義記) 20 quyển, Pháp Hoa Kinh Sớ (法華經疏) 7 quyển, Duy Ma Kinh Nghĩa Ký (維摩經義記) 4 quyển, Thắng Man Kinh Nghĩa Ký (勝鬘經義記) 3 quyển, Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ (無量壽經義疏) 1 quyển, v.v. Trong số đó, Đại Thừa Nghĩa Chương được xem như là bộ bách khoa toàn thư của Phật Giáo, có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với việc nghiên cứu Phật Giáo dưới thời nhà Tùy và Đường. ; (慧遠, Eon, 334-416): vị tăng sống dười thời Đông Tấn, sơ tổ của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, người vùng Lâu Phiền (婁煩), Nhạn Môn (鴈門, thuộc Huyện Quách [崞縣], Sơn Tây [山西]), họ Cổ (賈). Năm lên 13 tuổi, ông đi du học khắp các vùng Hứa Xương (許昌), Lạc Dương (洛陽), thông hiểu các học vấn của Lão Trang. Năm 21 tuổi, ông cùng với người em là Huệ Trì (慧持) lên Hằng Sơn (恒山, Tây Bắc Khúc Dương [曲陽], Hà Bắc [河北]) nghe Đạo An (道安) giảng Kinh Bát Nhã, nhân đó ông lãnh ngộ, bèn cùng với em theo xuất gia làm đệ tử của Đạo An. Ông rất tinh thông học thuyết Tánh Không của Bát Nhã, năm 24 tuổi đăng đàn thuyết pháp, lúc ấy ông dẫn chứng 1 quyển sách của Trang Tử để nói về nghĩa thật tướng của Phật Giáo, khiến cho chúng hội thông hiểu rõ ràng. Đến năm thứ 6 (381) niên hiệu Thái Nguyên (太元), ông lên Lô Sơn (廬山), trú tại Đông Lâm Tự (東林寺) truyền bá giáo pháp, đệ tử đến nghe rất đông. Ông tập trung vào việc nghiên cứu kinh điển, thường than thở vùng đất Giang Đông chưa có đủ kinh điển, Thiền pháp chưa từng được nghe, luật tạng thiếu sót, nên sai đệ tử Pháp Tịnh (法淨), Pháp Lãnh (法領), v.v., đi tìm các kinh để truyền dịch. Cứ mỗi lần gặp được vị Tam Tạng pháp sư nào của Tây Vức, ông đều cung thỉnh về trú xứ mình. Vào năm thứ 16 (391) cùng niên hiệu trên, ông cung thỉnh vị tăng người Kế Tân (罽賓) là Tăng Già Đề Bà (s: Saṃghadeva, 僧伽提婆) đến phiên dịch A Tỳ Đàm Tâm Luận (阿毘曇心論), Tam Pháp Độ Luận (三法度論), v.v. Khi ông nghe tin Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什) đến Trung Quốc, bèn tức tốc cho các đệ tử Đạo Sanh (道生), Huệ Quán (慧觀), Đạo Ôn (道溫), Đàm Dực (曇翼), v.v., đến Trường An hầu hạ vị này, học Đại Thừa Không Quán của hệ Long Thọ (s: Nāgārjuna, 龍樹). Bên cạnh đó, ông thường dùng thư từ qua lại với La Thập để nghiên cứu trao đổi nghĩa lý kinh điển. Khi Đàm Ma Lưu Chi (s: Dharmaruci, 曇摩流支) sang Trung Hoa, ông cho đệ tử Đàm Ung (曇邕) đến tham gia dịch Thập Tụng Luật (十頌律). Ngoài ra, ông còn đích thân cung thỉnh Phật Đà Bạt Đà La (s: Buddhabhadra, 佛陀跋陀羅) đến Lô Sơn để dịch bản Đạt Ma Đa La Thiền Kinh (達磨多羅禪經). Song song với việc tuyên dương giáo học Bát Nhã của Đại Thừa, ông còn đề xướng Thiền học Tiểu Thừa. Vào năm đầu (402) niên hiệu Nguyên Hưng (元興), ông cùng với Lưu Di Dân (劉遺民) và đồng đạo hơn 100 người sáng lập Bạch Liên Xã (白蓮社), chuyên lấy việc niệm Phật cầu vãng sanh về Tịnh Độ làm pháp môn tu tập, trong suốt hơn 30 năm chưa từng hạ sơn lần nào. Vào năm thứ 2 (403) niên hiệu Nguyên Hưng, khi Hoàn Huyền (桓玄) hạ lệnh sa thải các vị Sa Môn và bắt họ phải kính trọng nhà vua, ông bèn viết cuốn Sa Môn Bất Kính Vương Giả Luận (沙門不敬王者論) để luận về vấn đề người xuất gia không cần phải khuất phục vương quyền, chủ trương giữ gìn truyền thống cao quý của Phật Giáo. Ông là người rất uyên thâm giáo lý Phật Giáo, lại rành tất cả sách vở, là bậc tông tượng đương thời và thậm chí còn được chư tăng ngoại quốc kính quý. Đông Lâm Tự trên Lô Sơn lúc bấy giờ là trung tâm Phật Giáo phương Nam, cùng với vùng Trường An, nơi La Thập trú ngụ, hùng bá thiên hạ. Vào năm thứ 12 (416) niên hiệu Nghĩa Hy (義熙), ông thị tịch, hưởng thọ 83 tuổi đời. Về sau, ông được các vị vua Đường Tống ban tặng cho những thụy hiệu là Biện Giác Đại Sư (辨覺大師), Chánh Giác Đại Sư (正覺大師), Viên Ngộ Đại Sư (圓悟大師), Đẳng Biến Chánh Giác Viên Ngộ Đại Sư (等徧正覺圓悟大師). Trước tác của ông có Lô Sơn Tập (廬山集) 10 quyển, Vấn Đại Thừa Trung Thâm Nghĩa Thập Bát Khoa (問大乘中深義十八科, tức Đại Thừa Đại Nghĩa Chương [大乘大義章]) 3 quyển, Minh Báo Ứng Luận (明報應論) 1 quyển, Thích Tam Báo Luận (釋三報論) 1 quyển, Biện Tâm Thức Luận (辯心識論) 1 quyển, Sa Môn Đản Phục Luận (沙門袒服論) 1 quyển, Đại Trí Độ Luận Tự (大智度論序), v.v. Đệ tử xuất chúng có Huệ Quán (慧觀), Tăng Tế (僧濟), Pháp An (法安), Đàm Ung (曇邕), Đạo Tổ (道祖), v.v. ; 慧遠; C: huìyuǎn; 334-416;|Cao tăng Trung Quốc, đệ tử của Ðạo An. Là người sáng lập tông phái tôn thờ Phật A-di-đà và thành lập Bạch Liên xã, được xem là Sơ tổ của Tịnh độ tông tại Trung Quốc. Tác phẩm quan trọng của Huệ Viễn gồm một bài luận giải về Nghiệp (s: karma), trong đó Sư nói đến từng bước chín muồi của hành động (quả báo) và một luận đề cập đến những vấn đề »linh hồn« bất tử. Sư là người đã giúp các tăng sĩ thời bấy giờ bớt các trách nhiệm thế gian đối với vương triều để chuyên tâm tu hành.|Lúc thiếu thời, Sư học Nho, Lão Tử, Trang Tử. Qua tuổi 21, Sư được Ðạo An đưa vào Tăng-già và bắt đầu học kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā-sūtra) và diễn giải kinh này với các khái niệm của Lão Trang. Năm 381, Sư đến Lư Sơn và sống đến cuối đời tại đó. Trong thời gian này, Lư Sơn trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng và nổi tiếng về giới luật nghiêm minh. Theo lời mời của Sư, Cao tăng người Kashmir tên là Khang Tăng Khải (s: saṅghadeva, saṅghavarman) đến Lư Sơn và dịch các tác phẩm quan trọng nhất của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) sang tiếng Hán. Sư liên hệ thường xuyên với Cưu-ma-la-thập (s: kumārajīva) để trao đổi về các vấn đề thuộc về Kinh tạng (Tam tạng) và sự khác biệt giữa một A-la-hán (s: arhat) và một Bồ Tát (s: bodhisattva).|Năm 402, Sư tập hợp 123 tăng sĩ trước tượng Phật A-di-đà, thệ nguyện sinh vào cõi Tây phương Cực lạc và thành lập Liên phái và từ đây Sư được xem là Sơ tổ của Tịnh độ tông. Sư là một trong những Cao tăng Trung Quốc đầu tiên nhấn mạnh sự quan trọng của phép Thiền (s: dhyāna) trong việc tu học.

huệ viễn

6053<一>(334~416)東晉僧。我國淨土宗初祖。廬山白蓮社創始者。雁門樓煩(山西崞縣)人,俗姓賈。十三歲,遊學許昌、洛陽,博通六經、老莊之學。二十一歲,偕弟慧持於太行恆山(河北曲陽西北)聽道安講般若經,頗有領悟,感嘆「儒道九流皆糠聁」,遂與弟俱投道安座下,剃度出家。 師精於般若性空之學,年二十四即登講席,時引莊子一書以說明佛教之實相義,使惑者曉然領解,自是,道安乃聽其不廢俗書之議。於東晉太元六年(381)南下廬山,住東林寺傳法,弟子甚眾。師致力於經典之研究,常慨嘆江東之地,經典未備,禪法不聞,律藏殘缺,遂命弟子法淨、法領等,遠尋眾經以傳譯之。每逢西域三藏,輒懇惻咨訪。太元十六年,迎請罽賓沙門僧伽提婆譯出阿毘曇心論、三法度論等。聞鳩摩羅什入關中,即遣弟子道生、慧觀、道溫、曇翼等赴長安師事之,學龍樹系之空觀大乘;又常以書信,與羅什往返研討義理。曇摩流支來華時,師曾遣弟子曇邕參與譯出十誦律。又自長安迎請佛陀跋陀羅至廬山譯出達磨多羅禪經。於宣揚大乘般若學之同時,亦提倡小乘禪數之學。對改革中國佛教問題,更有其深遠之見地;有關此一問題之各種問答、譯經序文等,今皆殘存。 元興元年(402),師與劉遺民等百餘同道創立白蓮社,專以淨土念佛為修行法門,共期往生西方淨土,三十餘年未曾出山。元興二年,桓玄下令沙汰沙門,令沙門盡敬王者,師乃著沙門不敬王者論,闡論出家眾對王權並無屈服之必要,針對當時王權統治下之佛教,主張保有佛教之傳統性。 師內通佛理,外善群書,為當代所宗,亦受國外僧眾所欽敬。廬山之東林寺為當時南地佛教中心,與羅什所居止之長安中分天下。師於義熙十二年示寂,世壽八十三。後由唐、宋諸帝賜贈諡號「辨覺大師」、「正覺大師」、「圓悟大師」、「等徧正覺圓悟大師」。為別於隋代淨影寺之慧遠,後世多稱為「廬山慧遠」。著有廬山集十卷、問大乘中深義十八科(大乘大義章)三卷、明報應論、釋三報論、辯心識論、沙門袒服論各一卷及大智度論抄序等。弟子有慧觀、僧濟、法安、曇邕、道祖等人。〔梁高僧傳卷六、出三藏記集卷十二、卷十五、歷代三寶紀卷七、大唐內典錄卷三、廣弘明集卷十五、卷二十七、卷三十、法苑珠林卷一○○、東林十八高賢傳〕 <二>(523~592)隋代僧。敦煌(甘肅)人,俗姓李。又稱隋遠、小遠、大遠、北遠。十三歲隨沙門僧思出家。年十六隨湛律師赴鄴都(河北臨漳),博覽大小乘經典,二十歲從法上受具足戒,從大隱習四分律,後專師事法上,盡學餘部。未久,攜學侶遷回高都(山西晉城)清化寺,四眾合建講堂。後值北周武帝滅齊,敕命廢經毀像,並令沙門還俗,眾皆莫敢抗諫,師獨挺出與帝辯駁,厲聲謂(大五○‧四九○下):「陛下今恃王力自在,破滅三寶,是邪見人。阿鼻地獄不揀貴賤,陛下何得不怖?」帝怒言:「但令百姓得樂,朕亦不辭地獄諸苦。」帝卒滅佛法。師乃潛隱汲郡西山,諳誦法華、維摩等經,以期遺法之不墜。 至隋興,師始出,於洛邑大開法門,遠近望風來歸,復為文帝所重,敕任洛州沙門都。歷張講席於澤州、定州、上黨等地,並數度應召歸西京,親臨御席,敷述聖化,帝大悅,遂敕居興善寺,未久又另建淨影寺,專事講學。師因住淨影寺,故又稱「淨影寺慧遠」、「淨影」,以別於廬山慧遠。開皇七年(587),敕為大德。十二年,又敕命主持譯場,刊定詞義。同年入寂,世壽七十。師屬地論宗南道派,晚年又就曇遷稟受攝大乘論,博綜當代諸學,亦精通文理,世稱釋義高祖。著有大乘義章二十六卷、十地經論義記十四卷、華嚴經疏七卷、大般涅槃經義記二十卷、法華經疏七卷、維摩經義記四卷、勝鬘經義記三卷、無量壽經義疏一卷等,凡二十部百餘卷。其中,大乘義章二十六卷,堪稱為佛教之百科全書,對隋、唐佛教之研究影響甚大。〔續高僧傳卷八、新編諸宗教藏總錄〕 ; Hui yuan (C), E-on (J) Tên một vị sư.

Huệ Viễn 慧遠

[ja] エオン Eon ||| [. . . text damaged] . . . Saṃghadeva 僧伽提婆 to Lu-shan, to encourage Saṃghadeva's translation work, which included the Apitan xinlun 阿毘曇心論 and other Sarvāstivādin works. From 401, he struck up a lasting relationship with Kumārajīva 鳩摩羅什, who had arrived for a long stay in Chang-an. In 402 Hui-yüan assembled a group of 123 followers in front of an image of Amitābha Buddha. Together they took a vow to be born in the Western paradise (Sukhāvatī) and formed the White Lotus Society. In 404 he wrote the Shamen bujing wangzhe 沙門不敬王者 in counter--argument to the theories of Huanxuan 桓玄. In 410 he welcomed to Lu-shan Buddhabhadra 佛陀跋陀羅, who had been chased out of Kumārajīva's Chang-an group. In addition to the above mentioned texts, Hui-yüan also composed the Tanfu lun 袒服論、 Mingbao lun 明報論 the Nianfosanmei shiji xu 念佛三昧詩集序 and other works. [acm] (2) (523-592) also known as Jingying Huiyuan 浄影慧遠; prominent monk-scholar traditionally affiliated with the Dilun school 地論宗, Huiyuan is also well-known for his exegetical work on the tathāgatagarbha 如來藏 and ālayavijñāna 阿頼耶識. [jh] => 1. . . . Tăng-già-đề-bà (s: ) đến Lô sơn, để cổ vũ công việc dịch thuật của Tăng-già-đề-bà, Trong đó có A-tỳ-đàm tâm luận (c: )và các luận giải khác của Nhất thiết hữu bộ. Từ năm 401, Sư bắt đầu kết tình thân hữu lâu dài với Cưu-ma-la-thập, đã đến định cư ở Trường An. Năm 402, Huệ Viễn tập hợp một nhóm gồm 123 thân hữu cùng nhau phát nguyện trước tượng Đức Phật A-di-đà, nguyện vãng sanh cõi Tây phương cực lạc (s: Sukhāvatī) và thành lập Bạch liên xã. Năm 404, sư soạn bộ luận Sa-môn bất kính vương giả (c: Shamen bujing wangzhe 沙門不敬王者) để phản đối lý lẽ học thuyết của Hoàn Huyền (c: Huanxuan 桓玄). Năm 410, Sư thỉnh Phật-đà Bạt-đà-la , người tách khỏi nhóm của Cưu-ma-la-thập ở Trường An, đến Lô sơn. Ngoài những tác phẩm đã nêu trên, Sư còn soạn những bộ luận như Đản phục luận (c: Tanfu lun 袒服論), Niệm Phật tam muội thi tập tự (c: Nianfosanmei shiji xu 念佛三昧詩集序 ) và các luận giải khác. 2. Huệ Viễn, Tăng sĩ Trung Hoa, (523-592), còn gọi là Tịnh Ảnh Huệ Viễn 浄影慧遠; là học giả nổi tiếng với những luận giải về Như Lai tạng và A-lại-da thức.

huệ vân

6048<一>指智慧之雲。比喻如來之智慧,猶如大雲遮覆一切眾生煩惱障。法華經藥草喻品(大九‧一九下):「慧雲含潤,電光晃曜。」 <二>(655~?)唐代僧。世稱造寺祖師。湖湘人,俗姓姚。十歲即有出塵之志,初從南嶽初祖慧思研經。受具足戒畢,罷棄講科,專營福事,歷遊荊郢、江浙,所至皆勸人捨財興寺,前後共成二十餘所。延和元年(712),時師住於建國寺,刑部尚書王志愔為採訪使,宣敕凡寺院無名額者必毀廢,師乃於彌勒像前泣淚焚香,後感佛像放光而免此難,建國寺亦敕改為「相國寺」。先天(712~713)年中示寂,年壽不詳。〔宋高僧傳卷二十六〕 ; Hui Yun (C) Tên một vị sư.

Huệ Văn

慧文; C: huìwén; tk. 5-6, cũng được gọi là Bắc Tề Tôn giả (北齊尊者);|Cao tăng Trung Quốc, sống vào thời Bắc Tề, được xem là Tổ thứ hai của Thiên Thai tông sau Long Thụ. Người nối pháp của Sư là Huệ Tư.|Sư họ Cao, người Bột Hải, thuộc tỉnh Sơn Ðông. Sư xuất gia từ nhỏ, thông minh hơn người và tinh tiến tu học. Một hôm, Sư xem luận Ðại trí độ (大智度; s: mahāprajñāpāramitā-śāstra) của Long Thụ bỗng nhiên có tỉnh và sau đó, khi đọc Trung quán luận (s: madhyamakaśāstra), phẩm Quán thánh đế đến bài kệ:|Các pháp do nhân duyên sinh ra|Ta nói tất cả đều là Không|Cũng chỉ là giả danh tạm gọi|Cũng chính là lí nghĩa Trung đạo|Sư thông suốt được huyền nghĩa Trung đạo là »Không hữu bất nhị« (空有不二). Sư từ đây căn cứ vào giáo lí của Long Thụ mà xiển dương Phật pháp. Sau, Sư đến vùng Hoàng Hà, truyền bá giáo pháp Ðại thừa, chúng theo học có hơn ngàn người. Tại Hà Nam, Sư truyền giáo pháp lại cho sư Huệ Tư, Tổ thứ ba và từ đây, mầm mống của tông Thiên Thai được hình thành.|Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.

huệ văn

6021北齊僧。又作慧聞。渤海(山東)人,俗姓高。年壽不詳。活動時間約在東魏孝靜帝天平二年(535)至北齊文宣帝天保八年(557)間。幼歲入道,聰敏絕倫,苦學深思,至於成年。一日,閱大智度論至卷二十七,恍然大悟,證得「一心三智」之妙旨。又讀中論至四諦品之偈(大三○‧三三中):「眾因緣生法,我說即是無,亦為是假名,亦是中道義。」而頓悟空有不二中道之義。遂承龍樹之教而建宗風。遊化河淮,聚徒千百人,盛弘大乘。後以心觀傳授南嶽慧思禪師,慧思受法後,弘化南方,開天台教法宣說之基,然門人多在北方,故傳授亦少。天台宗之徒奉為第二祖(或謂初祖),世稱北齊尊者。〔釋門正統卷一、佛祖統紀卷六、天台九祖傳、佛祖通載卷九、六學僧傳卷三〕

huệ vĩnh

6024(332~414)晉代僧。河內(河南)人,俗姓潘。十二歲出家,師事竺曇現,後與慧遠共同學於道安座下。素與慧遠共期欲赴羅浮山,然慧遠為道安所留;師乃於東晉太元(376~396)初年先出發,至潯陽時,為郡人陶範所留而居廬山西林寺,未久慧遠亦來,及至,入住東林精舍,遂有終焉之志。又另立茅室於嶺上,作禪思修持之用,至其室者常聞異香,因號「香谷」。與一虎同居室中,人至則驅令上山;人去後,還復馴伏。師耽好經典,善於講說,言常含笑,語不傷物,蔬食布衣,勵行精苦,願生西方。義熙十年病危,仍持戒不懈,臨終前自斂衣合掌,示眾云:「佛來!」言畢,怡然而寂,世壽八十三。道俗在山,咸聞異香,七日始止。唐玄宗追諡「覺寂大師」之號。〔梁高僧傳卷六、蓮社高賢傳、佛祖統紀卷二十六、卷二十七〕

Huệ Vận

(惠運, Eun, 798-869): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, họ là An Đàm (安曇), xuất thân vùng Sơn Thành (山城), là một trong 8 vị tăng sang nhà Đường (gồm Tối Trừng, Không Hải, Thường Hiểu, Viên Hành, Viên Nhân, Huệ Vận, Viên Nhân và Tông Duệ). Ban đầu ông theo học giáo học Pháp Tướng Tông với Thái Cơ (泰基) ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), cũng như Trọng Kế (仲繼) ở Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji); rồi sau khi thọ giới vào năm 824 (niên hiệu Thiên Trường [天長] nguyên niên), ông đến làm môn hạ của Thật Huệ (實惠, Jitsue) thuộc Chơn Ngôn Tông. Ông đã từng làm chức Kiểm Hiệu cho việc sao chép các kinh điển tại vùng Quan Đông (關東, Kantō), rồi làm Giảng Sư ở Quan Thế Âm Tự (觀世音寺) vùng Trúc Tử (筑紫). Sau đó, vào năm 842 (niên hiệu Thừa Hòa [承和] thứ 9), ông lên thuyền sang nhà Đường. Tại Thanh Long Tự (青龍寺) ở Trường An, ông được Nghĩa Chơn (義眞) ban cho phép Quán Đảnh, và sau đó đi tuần bái khắp Ngũ Đài Sơn và Thiên Thai Sơn. Đến năm 847 (năm thứ 14 cùng niên hiệu trên), ông trở về nước, trên lên triều đình bản Bát Gia Thỉnh Lai Mục Lục (八家請來目錄). Năm sau, ông khai sáng An Tường Tự (安祥寺, Anjō-ji) ở kinh đô Kyoto. Về sau, ông được cử làm Tăng Đô, nên được gọi là An Tường Tự Tăng Đô (安祥寺僧都).

huệ vận

4941(800~871)日本真言宗僧。京都人,俗姓安曇。通稱安祥寺僧都。為入唐留學八家之一。從日本東寺之實慧受灌頂。唐文宗開成三年(838,一說武宗會昌二年)來唐,於青龍寺受義真之兩部密印。十年(或說六年)後歸國,攜回真言經軌二百二十卷,住安祥寺,後補東大寺別當一職。清和天皇貞觀十三年(871,一說十一年)示寂,世壽七十二。著作有菩提心戒儀一卷、金剛界要記一卷等。 ; (惠運) (800-871) Vị tăng Nhật bản, thuộc tông Chân ngôn, người Kinh đô (Kyoto), họ An đàm thường được gọi là Tăng đô chùa An tường, là một trong 8 vị tăng Nhật bản du học ở Trung quốc vào đời Đường. Sư thụ pháp Quán đính nơi ngài Thực tuệ ở Đông tự, Nhật bản. Năm Khai thành thứ 3 (838, có thuyết nói năm Hội xương thứ 2 đời Vũ tông) đời vua Văn tông nhà Đường, sư đến Trung quốc, thụ 2 bộ Mật ấn nơi ngài Nghĩa chân ở chùa Thanh long. Mười năm sau (có thuyết nói 6 năm) sư trở về nước, thỉnh về 220 quyển kinh điển Mật giáo, trụ tại chùa An tường, sau giữ chức Biệt đương ở chùa Đông đại. Năm 871, có thuyết nói năm 869, sư tịch, thọ 72 tuổi. Sư có các tác phẩm: Bồ đề tâm giới nghi 1 quyển, Kim cương giới yếu kí 1 quyển.

huệ đàm

6056(1304~1371)元末明初臨濟宗楊岐派僧。天台(浙江)人,俗姓楊。字覺原。賜號「演梵善世利國崇教大禪師」。年少即從越州(浙江)法果大均出家,受具足戒。師曾於高麗教公門下修習華嚴學,並從上竺澄禪師聽摩訶止觀。後復參謁中天竺寺笑隱大訢禪師,並嗣其法。初住持牛頭山祖堂。至正三年(1343)住持清涼寺,復歷住保寧寺、蔣山、天界寺(大天界寺)。於洪武四年示寂,世壽六十八,僧臘五十三。浙江通志作洪武三年示寂。師之塔銘為宋濂所撰。〔增集續傳燈錄卷五、五燈會元續略卷二〕

huệ đàn nhị lưu

4942為日本天台宗中興之祖良源門下之兩個流派,即:源信所創之惠心流與覺運所創之檀那流。二派之分流,係對良源所出之議論題、論點與學風各異而致,且隨其門流之興起,而各有特異之口傳法門出現。檀那流係汲取最澄承自行滿之天台教相;惠心流則汲取最澄承自道邃之系統,即主張融合天台、密教、禪一致之說,而以觀心為宗旨。其他見解之衝突亦多,以忠尋(源信之第四代)之述作為導因,招致兩派論議之對抗。其中惠心流於關東一帶另有發展,至近世仍稱興盛,其文獻亦得保存;檀那流則受織田信長燒殺比叡山一事之影響而一度絕跡。其後惠心流分出椙生流,椙生流又分出行泉房流、土御門流、寶地房流等,計分四流;檀那流亦陸續分出慧光房流、毘沙門堂流、竹林房流、豬熊流等四流。

huệ đăng

6056比喻智慧猶如燈明,能照破濁世之迷闇。八十華嚴經卷七十二(大一○‧三九二中):「猶如大虛空,慧燈破諸闇。」又大集經卷二(大一三‧一一上):「有諸眾生行無明闇,菩薩見已,修集智慧,為令眾生然慧燈故。」〔無量壽經卷下、八十華嚴經卷二〕

huệ đản

6053唐初僧。生卒年不詳。雍州(陝西長安)人。從學於曇延,精研涅槃經及攝大乘論。住長安延興寺,開席講說。仁壽(601~604)年中奉敕於杭州天竺寺建塔,住靈隱山。後返延興寺,講授義學。貞觀(627~649)初年示寂,世壽七十餘。〔續高僧傳卷二十六〕

huệ định

6030(1929~ )臺灣高雄人,俗姓劉。別號會照。日本東京立正大學碩士。民國三十一年(1942),依高雄美濃鎮朝元寺信行法師出家。四十一年,於大仙寺受具足戒,同年晉任朝元寺住持。師宅心慈悲,熱心公益,六十四年耗資百餘萬,興建美濃雙溪大橋,以利地方。於六十七年當選全國好人好事代表。

huệ độc môn

6032智慧如毒;即以毒之損人,喻指以有漏、無漏之智慧來斷除煩惱,稱為慧毒。蓋菩薩之造論,為眾生開啟慧門,學者依之研究,必能達大悟之境界,猶如由傷口注入少量毒藥,瞬間毒氣遍滿全身,此毒氣乃由毒門而深入者,故以毒門之作用比喻慧門,即稱為慧毒門。俱舍論卷三十(大二九‧一五九中):「於此方隅已略說,為開智者慧毒門。」〔俱舍論光記卷三十〕

huệ ước

6037(452~535)南朝梁代僧。東陽烏傷(四川)人,俗姓婁。字德素。十二歲即遍禮塔廟,潛究經典。劉宋泰始四年(468),十七歲,於東山寺出家。師事慧靜。其師示寂後,為盡心喪之禮,乃棲止山巖,松朮為食。後應齊中書郎周顒之請,住持鍾山草堂寺,朝貴野賢如褚淵、王儉等,皆側席加禮,亦交請開法,時講淨名、勝鬘、法華、大品般若諸經。所居之處,靈異屢見。梁武帝曾從師受菩薩戒。大同元年八月,勸眾「勤修念慧,勿起亂想。」言畢合掌入寂,世壽八十四。敕葬於誌公塔之左,贈號「智者」。〔續高僧傳卷六〕

huệ ảnh

6055隋代僧。巴西(四川)人,俗姓江。曾從後周道安學大智度論,並繼其法。師汎迹人間而志存林野,住蜀地潼州遷善寺。隋開皇(581~600)末年入寂,其餘事蹟與世壽均不詳。著有述道安智度論解二十四卷、傷學論一卷(除謗法之愆)、存廢論一卷(防奸求之意)、厭修論一卷(令改過服道)。其中,述道安智度論解題為大智度論疏,然流傳至今,版本不全,其殘卷分別收於卍續藏第七十四冊、第八十七冊。其餘三論現俱不存。〔歷代三寶紀卷十二、大唐內典錄卷五、續高僧傳卷二十三〕

huệ ấn

6026<一>又作智印。印,有決定不變之義。謂如來之智慧與諸法實相契合而不變,故稱慧印。(參閱「智印」5017) <二>(1689~1764)日本曹洞宗僧。籍貫不詳。號指月,自稱三光老人。幼年出家,師事加賀大乘寺知燈照玄,後為成田龍淵寺牧田春翁之法嗣,一說為月峰快雲之法嗣。師曾於江戶吉祥寺旃檀林大說文字禪。又創建西光寺、西光院、養光寺等,大揚宗風。博學達識,著作頗多,有參同契不能語、寶鏡三昧不能語、金剛茶話、五位顯訣未正語等。與面山、天桂並稱為曹洞宗中興之高僧。明和元年示寂,世壽七十六。〔近古禪林叢談、日本禪宗史要〕 ; Xem trí ấn.

Huệ 惠

[ja] エ、ケイ e, kei ||| (1) To grant, bless, bestow. Blessing(s). (2) Intelligence, wisdom, sagacity. synonymous with 慧 (hui). => 1. Ban cho, ban phúc, ban tặng. Phước lành. 2. Trí thông minh, trí tuệ, sự minh mẫn. Đồng nghĩa với Huệ (慧c: hui).

Huống

况; C: kuàng; J: kyō; S: kah vādah|Thêm vào, ngoài ra, tuy nhiên, thậm chí ít hơn. Chưa tính, chưa kể đến (s: kah vadah). Thường dùng thay đổi với chữ Huống bộ Thuỷ 況.

Huống 况

[ja] キョウ kyō ||| Still more, still (even) less. Not to mention, to say nothing of (kah vadah). Often used interchangeably with 況. => Thêm vào, ngoài ra, tuy nhiên, thậm chí ít hơn. Chưa tính, chưa kể đến (s: kah vadah). Thường dùng thay đổi với Huống況.

Huống 況

[ja] キョウ kyō ||| (kah vādah) (1) Still more, even (still) less. Not to mention; let alone; to say nothing of. (2) For example. => (s: kah vādah) 1. Thêm nữa, vẫn còn ít. Không để ý đến; để mặc; chẳng nói đến. 2. Chẳng hạn, ví như.

huỳnh

Pita (S) Hoàng Màu vàng, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.

huỳnh hoặc tinh

5835<一>梵名 Aṅgāraka。音譯盎伽羅迦。爲九曜之一。又作熒惑天、火星、火曜星、四利星、火精星、虛漢星、雲漢星。其形像,嘴爲赤色,右上手持槍,下手把箭,左上手持劍,下手握弓。披驢皮,著豹衣,赤足,赤髮。〔胎藏界七集卷下〕(參閱「九曜」159) <二>梵名 Piṅgalaḥ。音譯冰誐羅。指位於密教金剛界曼荼羅外金剛部南方之天部。乃金剛界三昧耶會外金剛部二十天之一。此尊與日天等同,攝於五類諸天中之遊虛空天。昔或謂冰誐羅爲訶利底母之愛子,似與此尊有別。如冰誐羅爲赤褐色、黃褐色之義,爲太陽侍者之名,則與火曜星之義較爲契合,然火曜星之梵名爲 Aṅgāraka(盎伽羅迦),故與冰誐羅之同異未詳。身形呈肉色女形,左手作拳安於腰,右手在胸前持火聚,坐於荷葉座。真言爲:唵(oṃ)嚩日羅(vajra,金剛)冰誐羅(pingala,褐色)娑縛賀(svāhā)。〔宋譯教王經卷十、賢劫十六尊軌、祕藏記〕 ; Xem Hoả tinh. ; (熒惑星) I. Huỳnh Hoặc Tinh. Phạm:Aígàraka. Dịch âm: Áng già la ca. Cũng gọi Huỳnh hoặc thiên, Hỏa tinh, Hỏa diệu tinh, Tứ lợi tinh, Hỏa tinh tinh, Hư hán tinh, Vân hán tinh. Sao Huỳnh hoặc, một trong Cửu diệu. Hình tượng của vị thần sao này mình mặc áo da beo, bên ngoài khoác tấm da lừa, tóc, chân và môi đều mầu đỏ, có 4 tay. Hai tay bên phải, tay trên cầm thương, tay dưới cầm tên. Hai tay bên trái, tay trên cầm gươm, tay dưới cầm cung. [X. Thai tạng giới thất tập Q.hạ]. (xt. Cửu Diệu). II. Huỳnh Hoặc Tinh. Phạm: Piígala#. Dịch âm: Băng nga la. Chỉ cho Thiên bộ ở phía nam Kim cương bộ ngoại trên Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo, cũng là một trong 20 vị trời của Kim cương bộ ngoài thuộc hội Tam muội da Kim cương giới. Vị tôn này cùng với Nhật thiên, thuộc hàng chư thiên trên hư không, một trong 5 loại chư thiên. Hình tượng vị tôn này là hình thiên nữ, thân mầu da người, ngồi trên tòa lá sen, tay trái nắm lại để ở chỗ thắt lưng, tay phải cầm vòng lửa để ở trước ngực. Chân ngôn là: Án (oô) phạ nhật la (Vajra, Kim cương) băng nga la (pingala, hạt sắc) sa phạ ha (svàhà). [X. kinh Giáo vương Q.10 (bản dịch đời Tống); Hiền kiếp thập lục tôn quĩ; Bí tạng kí].

huỳnh tinh thiên

Amgaraka (S).

Huỳnh Tuyền

(黃泉): suối vàng. Trong văn hóa Trung Quốc, nó chỉ cho thế giới cư trú của người chết. Người xưa cho rằng trời là đen huyền, đất là màu vàng; suối thì nằm trong lòng đất, nên có tên gọi là Huỳnh Tuyền. Có thuyết cho rằng, Trung Quốc lấy lưu vực Hoàng Hà (黃河) làm trung tâm, do vì đất màu vàng nên nước suối chảy ra cũng có màu như vậy. Người Trung Quốc quan niệm rằng dưới âm phủ có chín suối nước màu vàng, nên có tên gọi Cửu Tuyền (九泉, Chín Suối). Cửu Tuyền hay Huỳnh Tuyền đều chỉ cho thế giới của người chết. Tương truyền vào thời Xuân Thu, có Trịnh Trang Công (鄭莊公) rất có hiếu với mẹ, vì mẹ bất chính nên ông có lời thề rằng: “Bất cập huỳnh tuyền bất tương kiến dã (不及黃泉無相見也, không xuống Huỳnh Tuyền thì không gặp nhau).” Trong Tạp Khúc Ca Từ (雜曲歌辭) 13 của Lạc Phủ Thi Tập (樂府詩集) quyển 73 có câu: “Kết phát đồng chẩm tịch, Huỳnh Tuyền cọng vi hữu (結髮同枕席、黃泉共爲友, nối tóc cùng gối chiếu, Huỳnh Tuyền làm bạn thân).” Hay trong bài Trường Hận Ca (長恨歌) của thi hào Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường còn có câu: “Thượng cùng bích lạc hạ Huỳnh Tuyền, lưỡng xứ mang mang giai bất kiến (上窮碧落下黃泉、兩處茫茫皆不見, trên khắp trời xanh dưới Huỳnh Tuyền, hai chốn mịt mờ nào chẳng thấy).” Theo truyền thuyết thần thoại của Nhật Bản, có quốc gia Huỳnh Tuyền tên là Dạ Kiến (夜見, Yomi). Nguyên lai, cách phát âm yomi này còn có nghĩa là yume (夢, mộng). Về sau, từ yomi này gắn liền với thế giới của người chết. Trong Cổ Sự Ký (古事記, Kojiki), sử thư tối cổ của Nhật Bản, có đề cập đến Huỳnh Tuyền Quốc (黃泉國). Thời xa xưa của Nhật Bản có tồn tại Huỳnh Tuyền Lộ (黃泉路); nó gắn liền với Vi Nguyên Trung Quốc (葦原中國, Ashihara-no-Nakatsukuni, tên gọi khác của nước Nhật) ở vùng Huỳnh Tuyền Tỷ Lương Phản (黃泉比良坂, Yomotsuhirasaka). Tương truyền chàng nam thần Y Tà Na Kì (伊邪那岐, Izanaki) đuổi theo người vợ là nữ thần Y Tà Na Mỹ (伊邪那美, Izanami) đã chết, đi qua con đường này và vào tiểu quốc Nenokatasukuni (根の堅州國, địa vức lấy An Lai Thị [安來市, Yasugi-shi], Huyện Đảo Căn [島根縣, Shimane-ken] làm trung tâm; là nguyên ngữ của Đảo Căn [島根]). Huỳnh Tuyền Tỷ Lương Phản ở gần An Lai Thị, được định vị là Đông Xuất Vân Đinh (東出雲町, Higashiizumo-chō). Tuy nhiên, Y Tà Na Kì lại lỗi hẹn với vợ, nhìn thấy người vợ xinh đẹp của mình bị con giòi ăn thịt, bèn tức giận và quay trở về. Khi ấy, để tránh người vợ và đoàn nữ binh xấu xí thủ hạ dưới Huỳnh Tuyền đuổi theo, chàng thanh niên lấy tảng đá lớn lấp con đường Huỳnh Tuyền. Tảng đá lớn này được gọi là Đạo Phản Đại Thần (道坂の大神, Chigaeshi-no-Ōkami). Nữa phần còn lại của con đường này là Y Phú Dạ Phản (伊賦夜坂, hiện tại nằm ở Đông Xuất Vân Đinh, Huyện Đảo Căn). Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng vùng đất Huỳnh Tuyền là Hùng Dã (熊野, Kumano). Quan niệm về Huỳnh Tuyền (suối vàng) cũng thịnh hành ở Việt Nam như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: “Đã không kẻ đoái người hoài, sẵn đây ta kiếm một vài nén hương, gọi là gặp gỡ giữa đường, họa là ng­ười dưới suối vàng biết cho.”

Huỷ cấm 毀禁

[ja] キキン kikin ||| To break commandments; to defy the precepts. => Vi phạm giới cấm; coi thường giới luật.

Huỷ 毀

[ja] キ ki ||| (1) To defame, vilify, destroy. Slander, abuse, censure. (pratikṣipati, nindā). (2) A slanderer (vigarhaka). => 1. Phỉ báng, gièm pha, phá hoại. Vu khống, nói xấu, chỉ trích (s: pratikṣipati, nindā). 2. Kẻ huỷ báng (s: vigarhaka).

hy

1) Hy: Giởn—To play—Pleasure. 2) Hy hữu: Hiếm—Rare—Seldom—Few. 3) Hy vọng: To hope for.

hy cầu thi

See Hy Thiên Thi.

Hy cầu 希求

[ja] けグ kigu ||| To strive for, seek for, long for (prārthanā, prārthana, ruci, ākūtana). (2) The mental functio of desire (chanda). 〔瑜伽論 T 1579.30.634b5〕 => 1. Phấn đấu, mong cầu, ao ước (s: prārthanā, prārthana, ruci, ākūtana). 2. Tâm sở ham muốn (s: chanda).

Hy dương sơn 曦陽山

[ja] ギヨウサン Giyōsan ||| The Hŭiyang san school, one of the early Korean "nine mountain 九山" schools, founded by Pŏmnang 法朗 and Chisŏn Tohŏn 智詵道憲. => Hy dương tông, một trong 9 tông phái Phật giáo Cao Ly thời xưa, do Pháp Lãng (k: Pŏmnang 法朗) và Trí Săn * Đạo Hiến (k: Chisŏn Tohŏn 智詵道憲) sáng lập.

hy hý

Giải trí—To play—To perform.

hy hữu

Rare—Seldom—Extraordinary—Uncommon.

hy hữu nhân

Hiếm có người thọ nhận Phật Pháp, hiếm có người lầm lỗi mà biết hối lỗi, hiếm có người làm ơn mà nhớ mình làm ơn, vân vân—There are few, a sad exclamation, indicating that those who accept Buddha's teaching are few, or that those who do evil and repent, or give favours and remember favours, etc., are few.

Hy hữu 希有

[ja] ケウ keu ||| Exceedingly rare; amazing, a marvel (Skt. adbhūta, adbhuta, āścarya; Tib. rmad du byuṅ ba). => Vô cùng hiếm hoi; hết sức ngạc nhiên, điều kỳ diệu (s: adbhūta, adbhuta, āścarya; t: rmad du byuṅ ba)..

hy kỳ

Rare and extraordinary.

hy liên hà

The river Nairanjana—See Ni Liên Thiền.

hy lân âm nghĩa

Bộ Tự Điển 10 quyển do Hy Lân đời Đường biên soạn, bổ túc cho bộ Tục Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa do Tuệ Lâm biên soạn. Âm và nghĩa đồng bộ với bộ sách của Tuệ Lâm, lại có thêm phần những từ dịch thuật bổ túc—The Dictionary (10 books) compiled by Hsi-Lin of the T'ang dynasty, supplementing the Hui-Lin-Yin-I. Sound and meaning accord with Hui-Lin, and terms used in translations made subsequent to that work are added.

hy ma đát la

Himatala (skt)—See Tuyết Sơn Hạ.

hy mã lạp sơn

Hymālaya (S) Xem Himalaya.

hy pháp

Xem Vị tằng hữu pháp. ; Adbhutadharma (skt). 1) Những việc siêu nhiên hiếm có, không thể nghĩ bàn: Supernatural things, prodigies, or miracles, which are beyond thought or discussion. 2) Một trong mười hai bộ kinh cổ điển bên Ấn Độ: One of the twelve classical books of India.

Hy pháp 希法

[ja] ケホウ kehō ||| Never before experienced; unprecedented (adbhuta); see 未曾有. => Điều chưa từng xảy ra; việc chưa từng có (s:adbhuta); Xem Vị tằng hữu未曾有.

hy sinh

To sacrifice.

hy thiên thi

Hy Cầu Thi—Thi ân bố thí với hy vọng sanh Thiên hay được hưởng phước (do mong cầu được sanh lên cõi trời mà bố thí)—Giving in hope of heaven, or bliss.

hy thiên thạch đầu thiền sư

Zen master Hsi-T'ien—See Thạch Đâu Hy Thiên.

Hy Tẩu Thiệu Đàm

(希叟紹曇, Kesō Shōdon, ?-?): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Hy Tẩu (希叟), người Tây Thục (西蜀, Tỉnh Tứ Xuyên), pháp từ của Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範). Vào năm thứ 9 (1249) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐) nhà Tống, ông đến sống tại Phật Lũng Tự (佛隴寺) thuộc Phủ Khánh Nguyên (慶元府, Tỉnh Triết Giang), rồi năm đầu (1260) niên hiệu Cảnh Định (景定) thì chuyển đến Pháp Hoa Tự (法華寺) ở Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô), đến năm thứ 5 cùng niên hiệu trên thì đến Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự (雪竇山資聖寺) ở Phủ Khánh Nguyên, và vào năm thứ 5 (1269) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳) thì đến Thoại Nham Sơn Khai Thiện Sùng Khánh Tự (瑞巖山開善崇慶寺) cùng địa phương trên. Các Thiền tăng Nhật Bản như Bạch Vân Huệ Hiểu (白雲慧曉) đã từng đến tham vấn với ông. Trước tác của ông có Ngũ Gia Chánh Tông Tán (五家正宗贊) 4 quyển, Hy Tẩu Hòa Thượng Ngữ Lục (希叟和尚語錄) 1 quyển và Hy Tẩu Hòa Thượng Quảng Lục (希叟和尚廣錄) 7 quyển.

hy tự quỷ

Quỷ mong đợi tế tự từ con cháu còn sống của mình—Ghosts that hope for sacrificial offerings from their descendants.

hy vận

1) Sông Hiranyavati: Hiranyavati River. 2) See Hoàng Bá Hy Vận Thiền Sư.

hy vận hoàng bá thiền sư

Zen Master Xi-Yun Huang-Bo—See Hoàng Bá Hy Vận Thiền Sư.

hy vọng

Hope.

hy vọng tràn trề

To be full of hope

Hy-liên

xem A-lỵ-la-bạt-đề.

Hy-mã-lạp

xem Tuyết sơn.

1) Bông lục bình lá nhỏ: A small-leaved water-lily. 2) Tôm: Shrimp. 3) Hà Mô: Con cóc—A frog. 4) Sông: River—See Nhị Hà Ấn Ðộ. 5) Thế nào: How—What.

Hà Bá

(河伯): tên gọi của vị Thủy Thần ở Hoàng Hà (黃河) trong truyền thuyết thần thoại Trung Quốc. Về lịch sử, tên ban đầu của Hà Bá là Băng Di (冰夷), Bằng Di (馮夷), Hà Thần (河神), Vô Di (無夷). Tên gọi Hà Bá phát xuất từ thời Chiến Quốc (戰國, 403 hay 453-221 ttl.), truyền thuyết không thống nhất với nhau. Vì Hoàng Hà thường lũ lụt, gây tai họa khôn xiết, cho nên người ta cho rằng tính tình của Hà Bá cũng hung bạo. Thần thoại kể rằng Hậu Nghệ (后羿) đã từng dùng tên bắn vào mắt trái Hà Bá. Do vì ông có uy lực không thể lường, nên từ xưa đã có tập tục xấu “Hà Bá Thú Phụ (河伯娶婦, Hà Bá Cưới Vợ)”, lấy đó để cầu được bình an, không hoạn nạn. Về truyền thuyết “Hà Bá Thú Phụ (河伯娶婦, Hà Bá Cưới Vợ)”, dưới thời đại Chiến Quốc, Tây Môn Báo được phái đến Nghiệp Thành (鄴城, nay thuộc Huyện Lâm Chương [臨漳縣], Tỉnh Hà Bắc [河北省]) làm quan huyện. Khi đến nơi thì không bóng người qua lại, cả ngày hoang vắng, bèn hỏi xem thử nguyên do vì sao. Có một lão già tóc bạc phơ bảo rằng đó là do vì chuyện Hà Bá cưới vợ gây nên náo loạn như vậy. Hà Bá là thần của sông Chương, hằng năm đều phải cưới một cô nương xinh đẹp. Nếu như không đem cống nạp, tất sông Chương sẽ phát sinh lũ lớn, làm cho ruộng đất, nhà cửa đều ngập trong biển nước. Nghe vậy, Tây Môn Báo biết rằng đây là câu chuyện bịa đặt của tên tham quan nào đó để xách nhiễu lòng dân. Đợi đến ngày Hà Bá Cưới Vợ năm sau, ông đến ngay tại hiện trường quan sát. Ông phát hiện con quan lớn nhỏ cùng với mấy bà đồng bóng đội lốt thần quỷ cũng có mặt. Về sau, Tây Môn Báo (西門豹) nhà Ngụy không tin vào truyền thuyết đó, cấm tuyệt không cho thờ cúng, kêu gọi dân chúng làm cầu, ngăn đê, cuối cùng dứt được sự lo âu về thủy tai. Về truyền thuyết, Hà Bá có thân người đuôi cá, tóc trên đầu màu trắng bạc, tròng mắt có màu sắc rực rỡ như ngọc Lưu Ly. Tuy nhiên, ông là người nam, có vẻ đẹp dị thường, trên thân có mùi hương thơm ngát, mới nhìn thoáng qua khoảng không quá 20 tuổi. Trong Bão Phác Tử (抱朴子), Thiên Thích Quỷ (釋鬼篇), có giải thích rằng Băng Di đi qua sông, bị chết đuối, được Thiên Đế giao cho làm Hà Bá để quản lý sông hồ. Hay như trong Sưu Thần Ký (搜神記) quyển 4 có đoạn giải thích sự việc trên rằng: “Tống thời Hoằng Nông Bằng Di, Hoa Âm, Đồng Hương, Đê Thủ nhân dã, dĩ bát nguyệt thượng Canh nhật độ hà, nịch tử; Thiên Đế thự vi Hà Bá (宋時弘農馮夷、華陰潼鄉隄首人也、以八月上庚日渡河、溺死、天帝署爲河伯, vào niên hiệu Hoằng Nông nhà Tống, có Bằng Di, người Đê Thủ, Đồng Hương, vùng Hoa Âm, nhân qua sông vào ngày Canh đầu tháng 8, bị chết đuối; Thiên Đế phong cho làm Hà Bá).” Trong tác phẩm Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 75 của Phật Giáo cũng có cùng nội dung tương tự như vậy. Cũng có thuyết cho rằng Hà Bá dùng 8 thứ đá (xưa kia các Đạo gia dùng 8 loại nguyên liệu bằng đá để luyện đơn, gồm Chu Sa [硃砂], Hùng Hoàng [雄黃], Thử Hoàng [雌黃], Không Thanh [空青], Vân Mẫu [雲母], Lưu Huỳnh [硫黃], Nhung Diêm [戎鹽], và Tiêu Thạch [硝石]) và thành thần, như trong Sơn Hải Kinh Hải Kinh Tân Thích (山海經海經新釋) quyển 7 có giải thích: “Bằng Di, Hoa Âm, Đồng Hương, Đê Thủ nhân dã, phục bát thạch, đắc Thủy Tiên, thị vi Hà Bá (馮夷華陰潼鄉隄首人也、服八石、得水仙、是爲河伯, Bằng Di, người Đê Thủ, Đồng Hương, vùng Hoa Âm, dùng tám loại đá, thành Thủy Tiên, đó là Hà Bá).” Vị thần này còn có tên gọi khác là Hà Bá Sứ Giả (河伯使者), như trong Thần Dị Kinh (神异經), phần Tây Hoang Kinh (西荒經) có câu: “Tây hải thủy thượng hữu nhân, thừa bạch mã chu liệp, bạch y huyền quan, tùng thập nhị đồng tử, sử mã Tây hải thủy thượng, như phi như phong, danh viết Hà Bá Sứ Giả (西海水上有人、乘白馬朱鬣、白衣玄冠、從十二童子、駛馬西海水上、如飛如風、名曰河伯使者, trên mặt nước biển Tây có người cỡi con ngựa trắng, bờm đỏ, mặc áo trắng, đội mũ đen, cùng với mười hai đồng tử, cỡi ngựa trên mặt nước biển Tây, bay nhanh như gió, tên là Hà Bá Sứ Giả).” Tên gọi Kappa ở Nhật cũng xuất phát từ nguyên ngữ này. Nó đồng nghĩa với Hà Tông (河宗). Tín ngưỡng Hà Bá cũng rất thịnh hành ở Việt Nam; cho nên tục ngữ Việt Nam thường có câu: “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá.” Truyền thuyết của Hà Đồng (河童) vốn phát xuất rất sớm từ vùng thượng du của lưu vực Hoàng Hà; xưa kia gọi là Thủy Hổ (水虎), hay Hà Bá. Về truyền thuyết của Hà Đồ, khi vua Đại Vũ (大禹) quản lý Hoàng Hà, có 3 báu vật là Hà Đồ (河圖, Bản Đồ Sông Nước), Khai Sơn Phủ (開山斧, Búa Mở Núi) và Tỵ Thủy Kiếm (避水劍, Kiếm Tránh Nước). Truyền thuyết cho rằng Hà Đồ do vị Thủy Thần là Hà Bá trao cho vua Đại Vũ. Vua phục nghi (伏羲) quan sát rất kỹ lưỡng đối với sự hưng suy của mặt trời, mặt trăng, tinh tú, thời tiết, khí hầu, cây cỏ, v.v. Có hôm nọ, bỗng nhiên giữa Hoàng Hà xuất hiện một con Long Mã (龍馬), ông thấy chấn động tâm thần, tự thân cảm xúc được sự linh thiêng của trời đất, tự nhiên. Nhà vua phát hiện trên thân con ngựa có đồ hình, rất tâm đầu ý hợp với ý tưởng về quá trình quán sát vạn vật. Phục nghi đi qua thân con ngựa, quan sát thật kỹ, vẽ ra đồ hình Bát Quái (八卦). Từ đó, đò hình trên thân con ngựa kia được gọi là Hà Đồ. Trong Sơn Hải Kinh (山海經) có giải thích rằng: “Phục Nghi đắc Hà Đồ, Hạ nhân nhân chi, viết Liên Sơn (伏羲得河圖、夏人因之、曰連山, Phục Nghi có được Hà Đồ, người Hạ nhân đó gọi là Liên Sơn).” Ngay như Kinh Quái (經卦) của Phục Nghi cũng xuất phát từ nguồn gốc hiện tượng thiên văn, có căn nguyên từ Hà Đồ. Trong bài Cửu Ca (九歌) của Khuất Nguyên (屈原, 340-278 ttl.) cũng có thiên viết về Hà Bá.

Hà Ca-diếp

河迦葉; C: hé jiāshě; J: ka kashō; |Kết hợp phiên âm và phiên dịch tên của Nadī-Kāśyapa; Na-đề Ca-diếp (那提迦葉).

Hà Ca-diếp 河迦葉

[ja] カカショウ Ka kashō ||| A combined translation/transcription of the name of Nadī-Kāśyapa; see 那提迦葉. => Kết hợp phiên âm và phiên dịch tên của Nadī-Kāśyapa; Xem Na-đề Ca-diếp 那提迦葉.

hà cát sâm

4778請參閱 莊嚴王陀羅尼咒經 或大乘無量壽莊嚴經 請參閱 大乘莊嚴經論 請參閱大乘莊嚴經論 或 大莊嚴經論 請參閱 大乘莊嚴寶王經 (Hodgson, Brian Houghton; 1800~1894)英國之東方學學者、外交官。十八歲即至印度,任東印度公司職員、外交官;任職於波斯、尼泊爾時(1833~1848),對印度殖民地之經營,獻策良多。一八四八年退職後,棲隱於喜馬拉雅山山麓,專心研究動物學、地理學、人類學、語言學。蒐集一萬種以上之鳥類,並介紹尼泊爾、西藏之風俗、文物。致力於三百八十一部梵語大乘教典之寫本類之蒐集、翻譯、刊行,並將梵語佛教教典介紹至歐洲,引起甚大之反應。其中,金剛針論(梵 Vajrasūcī)乃梵語佛典之最早英譯本(1828)。其著作有:Illustrations of the Literature and Religion of the Buddhists, 1841;Essays on the Language, Literature and Religion of Nepal and Tibet, 1874;Aborigines of India; Sketch of Buddhism, derived from Buddha Scriptures of the Nepal;Miscellaneous Essays relating to Indian Subjects, 2 vols., 1800 等。被視為真正研究佛教之拓荒者。 ; (荷吉森) (1800-1894) Hodgson, Brian Houghton. Nhà học giả về Đông phương học người Anh. Năm 18 tuổi, ông đến Ấn độ giữ chức quan ngoại giao của công ty Đông ấn độ. Trong thời gian làm việc ở Ba tư, Nepal (1833-1848), ông đã đưa ra nhiều chính sách tốt đẹp cho vùng đất thực dân ở Ấn độ. Năm 1848, sau khi nghỉ việc, ông lui về ẩn dật ở chân núi Hỉ mã lạp nhã, chuyên nghiên cứu về Động vật học, Địa lí học, Nhân loại học và Ngôn ngữ học. Ông sưu tập hơn một vạn loài chim, đồng thời, giới thiệu phong tục, văn vật của Nepal và Tây tạng với độc giả của ông ở phương Tây. Ngoài ra, ông còn dốc sức vào việc sưu tập 381 bộ kinh điển Phật giáo Đại thừa viết tay bằng tiếng Phạm, rồi phiên dịch và ấn hành để giới thiệu với giới học thuật của các nước Âu châu và đã có ảnh hưởng rất lớn. Trong đó, luận Kim cương châm (Phạm: Vajrasùcì) là bộ sách Phật bằng tiếng Phạm được dịch ra Anh văn sớm nhất. Tác phẩm của ông gồm có: Illustration of the Literature and Religion of the Buddhists, 1841; Essays on the Language, Literature and Religion of Nepal and Tibet, 1874; Aborigines of India; Sketch of Buddhism, derived from Buddha Scriptures of the Nepal; Miscellaneous Essays relating to Indian Subjects, 2 vols, 1800.

hà da

Haya (skt)—Tên tiếng Phạn của Mã Ðầu Quan AÂm—Sanskrit name for the horse-head form of Kuan-Yin.

hà da yết lợi bà

Hayagriva (skt)—Hạ Dã Hột Lợi Phạt—Tên của một vị Mã Ðầu Minh Vương hay Minh Vương Cổ Ngựa—Horse-neck, a form of Visnu, name of a Ming-Wang.

hà da yết lợi bà quan thế aâm bồ tát thụ pháp ðàn

Kinh giải thích về đàn pháp của Ðức Mã Ðầu Quan AÂm, một quyển, không rõ ai đã dịch ra Hoa ngữ—Hayagriva-Dharma-Platform Sutra, explaining about the dharma which Horse-head Kuan-Yin expounded, one book and the translator was unknown.

hà da yết lợi bà tượng pháp

2759全一卷。譯者佚名。為密教有關馬頭觀音之儀軌。又稱賀耶揭哩婆儀軌。今收於大正藏第二十冊。何耶揭唎婆,為梵語 Hayagrīvaḥ 之音譯,意譯作馬首,即指馬頭觀音,為密教八大明王之一。本經內容敘述馬頭觀音之畫像法、咒詛法,並宣說療病、乞食之印明及縛鬼、消除婬、護身之咒。此外,同類經軌尚有:(一)何耶揭唎婆觀世音菩薩受法壇,全一卷,譯者佚名,收於大正藏第二十冊。(二)何耶揭唎婆觀世音菩薩法印咒品,全一卷,阿地瞿多所譯,收於大正藏第十八冊。 ; Kinh nói về tượng pháp và đàn pháp của Mã Ðầu Quan AÂm—The sutra explaining about the dharma forming and dharma platform of Horse-head Kuan-Yin. ; (何耶揭唎婆像法) Cũng gọi: Hạ da yết lí bà nghi quĩ. Nghi quĩ của Mật giáo, 1 quyển, mất tên người dịch, thu vào Đại chính tạng tập 20. Hà da yết lị bà, Phạm:Hayagrìva, dịch là Mã thủ, tức chỉ cho Mã đầu Quan âm, một trong 8 vị Đại minh vương của Mật giáo. Nội dung kinh này trình bày về cách vẽ tượng Mã đầu Quan âm, pháp cầu nguyện, đồng thời, nói về ấn tướng, chân ngôn chữa bệnh, khất thực và thần chú trói quỉ, tiêu trừ dâm dục và giữ mình. Ngoài ra, cùng loại với kinh này còn có: 1. Hà da yết lị bà Quán thế âm bồ tát thụ pháp đàn, 1 quyển, mất tên người dịch, thu vào Đại chính tạng tập 20. 2. Hà da yết lị bà Quán thế âm bồ tát Pháp ấn chú phẩm, 1 quyển, do ngài A địa cù đa dịch, thu vào Đại chính tạng tập 18.

hà diệp toà

4778指荷葉所敷之座。荷,即蓮。密教金剛界之諸天、胎藏界釋迦院之諸大聲聞,皆以荷葉為座。據大日經疏演密鈔卷九之解釋,謂此等諸尊未有菩提之種,故僅以荷葉為座,而不以花臺為座。〔大日經卷五〕 ; (荷葉座) Tòa ngồi bằng lá sen. Trong Mật giáo, chư Thiên của Kim cương giới và các vị Thanh văn lớn của viện Thích ca trong Thai tạng giới đều ngồi tòa lá sen. Cứ theo sự giải thích trong Đại nhật kinh sớ diễn mật sao quyển 9, thì vì các vị tôn này chưa có hạt giống bồ đề, cho nên chỉ dùng lá sen làm tòa chứ không dùng đài sen làm tòa. [X. kinh Đại nhật Q.5].

hà diệp đoàn đoàn

4779禪林用語。團團,即圓形。圓如荷葉之意。謂荷花之葉如月圓,於禪林中,引申為徹底圓滿之意。五燈會元卷五夾山善會章(卍續一三八‧九四上):「荷葉團團團似鏡,菱角尖尖尖似錐。」 ; (荷葉團團) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tròn như lá sen. Thiền tông dùng từ ngữ này để diễn tả sự viên mãn hoàn toàn. Chương Giáp sơn Thiện hội trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 5 (Vạn tục 138, 94 thượng), nói: Lá sen tròn tròn, tròn như gương. Sừng ấu nhọn nhọn, nhọn như dùi .

hà hoài

3335爲我國天台宗鼻祖北齊慧文之住處。河指河北,淮指淮南。摩訶止觀卷一上(大四六‧一中):「南岳事慧文禪師,當齊高之世,獨步河淮。法門非世所知,履地戴天,莫知高厚。」故「河淮之流」,即指天台宗或天台宗之派義。(參閱「慧文」6021) ; (河淮) Hà chỉ cho Hà bắc, Hoài chỉ cho Hoài nam, nơi ở cửa ngài Tuệ văn đời Bắc Tề, là Tị tổ của tông Thiên thai Trung quốc. Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên (Đại 46, 1 trung), nói: Ngài Nam nhạc thờ thiền sư Tuệ văn làm thầy, người đương thời tôn kính, ngài giáo hóa khắp vùng Hà hoài. Pháp môn của ngài cao sâu, bao trùm trời đất, người đời không thể hiểu được . Vì thế mà có từ ngữ Hà hoài chi lưu (dòng Hà hoài), tức là chỉ cho tông Thiên thai hoặc chi phái của tông Thiên thai. (xt. Tuệ Văn).

Hà huống

何況; C: hékuàng; J: kakyō;|Từ ngữ nhấn mạnh vào sự phủ định hoặc khẳng định.

Hà huống 何況

[ja] カキョウ kakyō ||| How much more...; how much less.... An emphatic negative or positive. => Từ ngữ nhấn mạnh vào sự phủ định hoặc khẳng định

hà khẩu huệ hải

3333(1866~1945)日本之西藏探險家及佛教學者。大阪府界市人。明治二十三年(1890)出家。二十七年,師事雲照,又從興然學南傳佛教,因感於研究佛教必從原典入手,遂立志入西藏。明治三十年六月,自神戶出發,後止於西藏邊境之大吉嶺(Darjeeling),研習西藏語。明治三十二年一月,自尼泊爾入西藏,爲日本人最早入西藏者。因假稱西藏名 Śes-rab rgya-mtsho(慧海),而進入藏土學術中心色拉寺(藏 Ser-ra)之學院參究喇嘛教。後以國籍爲人發覺,乃遭放逐,遂經由印度返回日本。 返國後,刊行其「西藏旅行記」,引起世人對西藏之注意。翌年刊行「河口慧海師將來西藏品目錄」。三十七年九月,欲再度入西藏之途中,於尼泊爾蒐得大量梵文佛典寫本。大正二年(1913),入西藏,與班禪喇嘛約定,將以漢譯黃檗版大藏經與西藏譯刊本大藏經交換,並受達賴喇嘛之託,攜回其寄贈予東京帝國大學之西藏譯寫本大藏經,且蒐集他版之大藏經、佛像、佛畫、法器等,與其他地質、動植物之標本等,於大正四年八月返國。關於其所帶回之物品,據日本「美術資料」第一‧二(大正六年)所載,有奈塘版、德格版、卓尼版、抄寫本等各種西藏大藏經,並含有許多藏外佛典,使日本驟得豐富之西藏資料。 其後,講學於東京宗教大學(大正大學之前身),並從事於西藏文及梵文佛典之翻譯,致力於指導佛教宣揚會之組成等。大正十五年一月,師六十歲,捨戒還俗,提倡在家佛教。昭和十年(1935),經由北京至內蒙古勘查。晚年並從事東洋文庫藏和大辭典之編纂。昭和二十年逝世,享年八十。著有西藏文典、正真佛教等,翻譯有奈塘版西藏大藏經甘珠爾目錄、漢藏對照國譯維摩經、漢藏對照國譯法華經、漢藏對照國譯勝鬘經、入菩提行論、法句經等。氏一生所蒐集之梵文佛典寫本、西藏大藏經、西藏文典籍,分藏於東京大學、東洋文庫、大正大學等處。〔入藏の思ひ出(河口慧海,現代佛教一○五)、河口慧海傳(河口正)〕 ; (河口慧海) (1866-1945) Học giả Phật giáo kiêm thám hiểm gia, người Nhật bản, ở phủ Đại phản. Sư xuất gia năm 1890. Năm 1894, sư thờ ngài Vân chiếu làm thầy, rồi theo ngài Hưng nhiên học Phật giáo Nam truyền. Lúc đó, sư cảm thấy rằng muốn nghiên cứu Phật giáo thì phải bắt đầu từ nguyên điển, sư bèn lập chí đến Tây tạng. Tháng 6 năm 1897, sư đi từ Thần hộ đến Đại cát lãnh (Darjeeling) giáp giới Tây tạng để nghiên cứu và học tập tiếng Tây tạng. Tháng 1 năm 1899, sư từ Nepal đi vào Tây tạng, là người Nhật bản đầu tiên đến đất Tây tạng, lấy tên Tây tạng làZesrab rgya-mtsho (Tuệ hải), xin vào học viện chùa Sắc lạp (Tạng:Serra) là trung tâm học thuật của Tây tạng để tham cứu Lạt ma giáo. Về sau, có người phát giác ra quốc tịch, sư bị trục xuất, bèn qua Ấn độ để trở về Nhật bản. Sau khi về nước, sư xuất bản cuốn Tây tạng lữ hành kí , khiến người ta chú ý đến Tây tạng. Năm sau, sư ấn hành cuốn Hà khẩu Tuệ hải sư tương lai Tây tạng phẩm mục lục . Tháng 9 năm 1904, trên đường đến Tây tạng lần thứ 2, sư sưu tầm được một số lượng lớn kinh điển Phật chép tay bằng tiếng Phạm ở Nepal. Năm 1913, sư vào Tây tạng, mang theo bộ Đại tạng Hán dịch (bản Hoàng bá) để đổi lấy bộ Đại tạng kinh (Tạng dịch) của Tây tạng, đồng thời, nhận bộ Đại tạng kinh (Tạng dịch) chép tay của Đạt lại lạt ma gửi tặng trường Đại học Đế quốc ở Đông kinh. Ngoài ra, sư còn sưu tập thêm các bản Đại tạng kinh khác, tượng Phật, tranh Phật, pháp khí và các bản mẫu về địa chất, thực vật, v.v... Tháng 8 năm 1915 sư về nước, mang theo nhiều tư liệu quí báu bằng tiếng Tây tạng gồm các bộ Đại tạng kinh như: Nại đường bản, Cách đức bản, Trác ni bản, Sao tả bản, v.v... và rất nhiều kinh điển khác ngoài Đại tạng. Về sau, ngoài việc giảng dạy tại Đại học Tôn giáo ở Đông kinh, sư còn phiên dịch các kinh điển Phật từ tiếng Tây tạng và tiếng Phạm sang tiếng Nhật, đồng thời, chỉ đạo việc tổ chức hội Tuyên dương Phật giáo . Tháng 1 năm 1926, sư được 60 tuổi, xả giới hoàn tục, đề xướng Phật giáo tại gia. Năm 1935, ông lại đi từ Bắc kinh đến Nội mông cổ để nghiên cứu. Những năm cuối đời, ông còn biên soạn bộ Tạng Hòa Đại Từ Điển của Văn khố Đông dương. Năm 1945, ông qua đời, hưởng thọ 80 tuổi.Những tác phẩm của ông gồm có: Tây tạng văn điển, Chính chân Phật giáo, Đông dương văn khố Tạng Hòa đại từ điển. Các dịch phẩm: Nại đường bản Tây tạng đại tạng kinh cam châu nhĩ mục lục, Hán Tạng đối chiếu quốc dịch Duy ma kinh, Hán Tạng đối chiếu quốc dịch Pháp hoa kinh, Hán Tạng đối chiếu quốc dịch Thắng man kinh, Nhập bồ đề hành luận, Pháp cú kinh. [X. Hà khẩu Tuệ hải truyện (Hà khẩu chính)].

hà la hỗ la

Rahula (skt)—La Hầu La. 1) Tên của con trai Phật Thích Ca Mâu Ni: Rahula, name of Sakyamuni's son. 2) Tên của một loài A-Tu-La: Name of a kind of asura.

Hà linh

(遐齡): tuổi thọ cao, trường thọ. Từ này thường đi chung với “thiên tứ hà linh (天賜遐齡, trời ban tuổi thọ cao)”, “tùng hạc hà linh (松鶴遐齡, sống lâu bằng với cây tùng và con hạc)”, “khắc hưởng hà linh (克享遐齡, hưởng mãi tuổi thọ)” dùng để chúc thọ những người cao niên. Như trong bài Biệt Uông Cư Sĩ (別汪居士) của Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, CBETA No. 1452) quyển 24 có câu: “Khất duy toại kỳ viên nhu chi tình, lượng kỳ khuyển mã chi ám, đắc hoàn sơ địa, vĩnh chúc hà linh (乞惟遂其猿猱之情、亮其犬馬之暗、得還初地、永祝遐齡, cúi mong trọn vẹn tấm tình vượn khỉ, sáng tỏ tối tăm chó ngựa, trở về nguyên quán, chúc được sống lâu).”

hà lí na

2759梵語 hariṇa。又作阿履那、曷利拏、賀哩拏、何履那。總為麑鹿等之名。大威德陀羅尼經譯為山羊。大威德陀羅尼經卷七(大二一‧七八六上):「阿難!彼中更有餘畜生所生四足眾類名字,所謂迦迦婆、迦俱茶、(中略)何履㑚(山羊)、舍舍迦(兔)。」〔玄應音義卷一、翻譯名義集卷六〕 ; (何履那) Phạm: Hariịa. Cũng gọi A lí na, Hạt lợi noa, Hạ lí noa. Tên gọi chung những con hươu và nai con. Kinh Đại uy đức đà la ni dịch là dê rừng. Kinh Đại uy đức đà la ni quyển 7 (Đại 21, 786 thượng), nói: A nan! Trong đó còn có tên của nhiều loài súc sinh 4 chân khác như: Ca ca bà, Ca câu trà (...), Hà lí na (dê rừng), Xá xá ca (thỏ) . [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.1; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6].

hà lực bì ðà

Rigveda (skt)—Một trong bốn phần của kinh Vệ Ðà—One of the four divisions of Vedas.

hà mô thiền

6157禪林用語。貶指凝滯一邊而不能自在活用之禪者。又作蝦蟇禪。有二說:(一)謂蝦蟆僅能一跳而不解他術;故以此比喻認一知半解為是,而不通於他術之不活脫不自由之死禪。(二)指徒知坐禪者,其坐姿如蝦蟆坐荷葉,故有「蝦蟆禪」之稱。雲門錄即有(大四七‧五四九下)「這死蝦蟆」之語。又同書謂(大四七‧五五一中):「拋釣釣鯤鯨,釣得箇蝦蟆。」此外,又有以蝦蟆口比喻饒舌者,如雲門錄卷中有(大四七‧五六四中)「某甲不欲開蝦蟆口」之語,即表示徒弄口舌,而於修道無益。〔宗統錄卷五、正法眼藏辨道話、碧巖錄種電鈔〕 ; Loại thiền cóc nhái (cứng nhắc), không linh hoạt, nhảy múa vui đùa khi chỉ biết nửa vời chân lý—Frog samadhi, which causes one to leap with joy at half-truths. ; (蝦蟆禪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thiền con ếch. Có 2 nghĩa: 1. Ếch chỉ biết nhảy chứ không biết cách gì khác. Thiền tông dùng từ ngữ này để chê trách những người tu Thiền chỉ hiểu một mặt rồi chấp chặt vào đó, khiến cho Thiền trở thành khô cứng, mất tính hoạt dụng tự tại. 2. Chỉ cho những người tu Thiền chỉ biết ngồi thiền như ếch ngồi trên lá sen. Vân môn lục (Đại 47, 551 trung), nói: Ném câu nhằm câu cá kình mà lại câu được chú ếch (hà mô) . Ngoài ra, mồm con ếch còn được dùng để ví dụ người nói nhiều. Vân môn lục quyển trung (Đại 47, 564 trung), ghi: Ta chẳng muốn mở miệng ếch . [X. Tông thống lục Q.5; Chính pháp nhãn tạng biện đạo thoại; Bích nham lục chủng điện sao].

hà nam

Ho-nan (C)Hồ nam.

hà sa

Hằng Hà Sa—Nhiều như cát sông Hằng—The sands of Ganges (vast in number).

hà sung

2758(292~346)晉代灊縣(安徽霍山)人。字道次。俊逸而能文章,成帝時(337)為宰相。後輔佐幼主,尊王攘夷,國家安定。秉性雍和,篤信佛法,興修寺宇,不遺餘力。又常與高僧交遊,持八關齋,結會誦經,終生不怠。永和二年卒,享年五十五,敕諡「文穆」。〔晉書卷七十七〕 ; (何充) (292-346) Người huyện Tiềm (nay là huyện Hoắc sơn, tỉnh An huy) đời Tấn, tự Đạo thứ. Ông là người tài trí, làm quan đến chức Tể tướng thời Thành đế (337), sau phù tá ấu chúa, tôn vua, dẹp loạn, nước nhà yên định, thịnh trị. Tính tình ông hòa nhã, giỏi văn chương, rất kính tin Phật pháp, tận lực xây dựng và sửa sang các chùa viện. Ông thường gần gũi các bậc cao tăng, thụ trì giới bát quan trai, suốt đời không biếng nhác. Năm Vĩnh hòa thứ 2 ông mất, thọ 55 tuổi, được vua ban thụy hiệu là Văn Mục. [X. Tấn thư Q.77].

hà sở la sát nữ

Xem Cao Đế La sát nữ.

hà thiên

Gamgadevī (S)Hăng già đề bàTên một vị sư.

hà thượng công

Ho-shang-kung (C), Heshang gong (C)Đạo gia đệ tử, thế kỷ 2.

hà thần tiểu tì

3335指恆河神。典出佛弟子畢陵伽婆蹉(梵 Pilinda-vatsa)之稱喚恆河神爲小婢。據諸經載,畢陵伽婆蹉生性憍慢,言語粗獷,除對佛陀與八大聲聞外,皆賤稱餘人爲「首陀羅」。又畢陵伽婆蹉患有眼痛,爲乞食常渡恆河,每至河邊,則彈指咄言(大二五‧七一上):「小婢住!莫流水。」河即兩斷。一日,恆河神申訴於佛陀,佛陀乃令其懺謝,畢陵伽婆蹉即合掌對恆河神道:「小婢莫瞋!今懺謝汝。」大眾笑之。佛陀乃對恆河神謂,畢陵伽婆蹉於五百世以來皆生於婆羅門家,故夙性驕貴而輕賤他人。〔增一阿含經卷三弟子品、摩訶僧祇律卷三十、十誦律卷二十五、大智度論卷二、卷二十三〕(參閱「畢陵伽婆蹉」4736) ; (河神小婢) Vị thần ở sông Hằng. Trong kinh chép, đệ tử Phật là Tất lăng già bà ta (Phạm: Pilinda-vatsa) tính tình kiêu mạn, lời nói thô tháo, thường gọi thần sông Hằng là Tiểu tì (con đầy tớ bé nhỏ). Ngoài đức Phật và 8 vị đại Thanh văn ra, ông đều gọi những người khác một cách khinh miệt là Thủ đà la (tiện dân). Ông có chứng đau mắt, lại thường phải qua sông Hằng để khất thực, mỗi lần đến bờ sông thì ông khảy móng tay và quát to (Đại 25, 71 thượng): Này tiểu tì! Hãy ngăn nước lại . Sông liền rẽ nước làm hai đoạn. Một hôm, thần sông Hằng đến bạch đức Phật, Ngài bảo ông phải xin lỗi, Tất lăng già bà ta liền hướng về thần sông Hằng chắp tay nói rằng: Tiểu tì chớ có giận, nay ta xin lỗi ngươi! , đại chúng đều cười. Đức Phật mới bảo thần sông Hằng rằng: Tất lăng già bà ta từ 500 đời đến nay đều sinh trong gia đình Bà la môn, cho nên có tính kiêu căng, hay khinh người . [X. phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm Q.3; luật Ma ha tăng kì Q.30; luật Thập tụng Q.25; luận Đại trí độ Q.2, Q.23]. (xt. Tất Lăng Già Bà Ta).

hà thừa thiên

2758(370~447)劉宋山東郯城人。性情剛愎。博學強記,通達諸學。武帝時官拜尚書祠部郎,出為衡陽內史。文帝時召為御史中丞,每有事故,必先諮問,後以洩密免官。承天素重儒道,不信佛法,與治城沙門慧琳相善,慧琳著「白黑論」,乖於佛理,承天撰「達性論」助之,批判佛教之報應說,主張「神隨形滅」,與宗炳、顏延之等人展開論辯。此外,又曾製作新曆,創十二補償律。有文集行世。〔弘明集卷三、卷四、廣弘明集卷五、卷七、破邪論卷上、宋書卷六十四、南史卷三十三〕 ; (何承天) (370-447) Người Đàm thành, tỉnh Sơn đông, sống vào thời Lưu Tống. Ông học rộng, nhớ dai, làu thông các học thuyết. Thời Vũ đế, ông làm quan đến chức Thượng thư từ bộ lang, sau ra làm Hành dương nội sử. Đến thời Văn đế, ông được triệu về làm Ngự sử trung thừa, mỗi khi có việc phải quyết đoán, nhà vua đều hỏi ý kiến ông. Sau, vì ông tiết lộ việc cơ mật nên bị bãi quan. Hà thừa thiên vốn trọng Nho học, không tin Phật pháp, thường giao du thân thiện với sa môn Tuệ lâm ở Trị thành. Tuệ lâm soạn luận Hắc bạch phản lại giáo lí Phật giáo; Thừa thiên soạn luận Đạt tính , phê bình thuyết Báo ứng của Phật giáo, chủ trương thân xác hoại diệt thì tinh thần cũng diệt theo để tán trợ lập trường của Tuệ lâm trong luận Hắc bạch. Quan điểm của Tuệ lâm và Hà thừa thiên đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi và kéo dài trong giới Phật giáo đương thời. [X. Hoằng minh tập Q.3, Q.4, Q.5, Q.7]; luận Phá tà Q. thượng; Tống thư Q.64; Nam sử Q.33].

hà tiên cô

Ho Hsien-ku (C)Một trong bát tiên.

hà tiện

Misery—Stingy.

hà trung

Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa tọa lạc tại xã Vinh Hà, quận Phú Vang. Năm 1677, au khi khai sơn Thập Tháp Di Ðà ở Qui Nhơn, Tổ Nguyên Thiều ghé lại Huế và được lệnh chúa trở về Trung Quốc để thỉnh thêm danh Tăng và pháp khí. Trong số pháp khí có tượng Bồ Tát Quán AÂm, cở lớn hơn người thật. Tổ muốn đưa tượng nầy lên kinh đô Huế, nhưng khi thuyền chở ngang qua xã Hà Trung thì bị mắc cạn mà không cách gì đẩy nổi. Tổ nghĩ là do cơ duyên nên thỉnh tượng vào thờ tại chùa làng Hà Trung để thờ. Từ đó chùa làng Hà Trung trở thành danh lam quốc tự dưới thời chúa Nguyễn Phước Châu. Sau đó, Tổ Nguyên Thiều phụng mệnh chúa về trụ trì chùa Hà Trung. Rồi trải qua những năm cuối thế kỷ thứ 18, chùa đã bị hư hỏng tiêu điều. Dưới triều nhà Nguyễn, chùa đã được trùng tu. Hiện nay chùa được mang tên Phổ Thành. Người ta kể rằng chiếc đại hồng chung của chùa vốn là chuông của chùa Phổ Thành bên làng Ngân Ðiền, huyện Gia Ðịnh, Phủ Thuận An, đúc năm 1762, không rõ cơ duyên nào mà trở thành pháp khí của chùa Hà Trung trên 100 năm qua. Vì vậy thay vì giữ tên Hà Trung thì người của những thế hệ sau nầy lại đổi tên chùa là Phổ Thành, tên được khắc trên chuông—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple is located in Vinh Hà village, Phú Vang district. In 1677, after building Thập Tháp Di Ðà in Qui Nhơn, Patriarch Nguyên Thiều came to Huế and obeyed the order of the Lord, he travelled back to Kuang-Chou to invite more celebrated Chinese monks and obtain more ritual instruments. Among these ritual instruments, there was a stone statue of Avalokitesvara Bodhisattva, bigger than life size, which sat on a lotus pedestal also made of stone. The statue should have been bound for Huế Citadel, however, when passing by Hà Trung village, the shp got stuck and no efforts could free it. The Patriarch was convinced that this was a token of destiny. Thus, the patriarch decided to fix the statue in the village temple for worship. Since then, the village temple became a national temple during the reign of Lord Nguyễn Phước Châu. After that, patriarch Nguyên Thiều moved to stay at Hà Trung temple. Hà Trung temple fell into deteriorations in the years of the late 18th century. Then it was restored under the reign of the Nguyễn Dynasty. Now the temple name is Phổ Thành. It is said that the great bell of the temple formerly belonged to Phổ Thành temple at Ngân Ðiền village, Gia Ðịnh district, Thuận An province. It was cast in 1762 for an unknown reason, the bell has been a ritual instruments of Hà trung Temple for the last 100 years. As a result, instead of keeping its old name, people of later generations renamed the temple Phổ Thành after the name given on the bell.

Hà Trạch Thần Hội

(荷澤神會, Kataku Jinne, 684-760): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, vị tổ khai sáng Hà Trạch Tông (荷澤宗) Trung Quốc, người vùng Tương Dương (襄陽, Hồ Bắc), họ Cao (高). Lúc nhỏ ông học Ngũ Kinh, Lão Trang, các sử thư, sau theo xuất gia với Cảnh Nguyên ở Quốc Xương Tự (國昌寺), đọc tụng thuộc các kinh điển rất dễ dàng. Năm lên 13 tuổi, ông đến tham yết Huệ Năng (慧能). Sau khi Huệ Năng qua đời ông đi tham học khắp các nơi. Vào năm thứ 8 (720) niên hiệu Khai Nguyên (開元), ông vâng chiếu đến trú trì Long Hưng Tự (龍興寺) ở Nam Dương (南陽) và cử xướng Thiền pháp rộng rãi tại đây, cho nên người đời thường gọi ông là Nam Dương Hòa Thượng (南陽和尚). Sau khi Lục Tổ qua đời trong vòng 20 năm, giáo pháp của ông bị suy tàn dần dần, cả hai kinh đều tôn sùng Thần Tú (神秀) mà thôi. Lần đầu tiên khi đến Lạc Dương (洛陽), ông đã có ý muốn chấn hưng Thiền phong của Lục Tổ, cho nên vào năm thứ 20 (732) niên hiệu Khai Nguyên, ông thiết lập đại hội ở Đại Vân Tự (大雲寺) thuộc Hoạt Đài (滑臺), Hà Nam (河南), cùng luận tranh với Sùng Viễn (崇遠) ở Sơn Đông (山東). Kế đến vào năm thứ 4 (745) niên hiệu Thiên Bảo (天寳), ông viết cuốn Hiển Tông Ký (顯宗記), quy định ra 2 tông phái đốn và tiệm của Nam Bắc, lấy Huệ Năng ở phương Nam làm Đốn Tông và Thần Tú ở phía Bắc làm Tiệm Tông; cho nên từ “Nam Đốn Bắc Tiệm (南頓北漸)” vốn phát xuất từ đây. Ông tận lực công kích pháp môn của Thần Tú, vì vậy Nam Tông Thiền càng ngày trở nên hưng thạnh, trong khi đó thì Bắc Tông Thiền dần dần suy tàn. Đến năm thứ 12 niên hiệu Thiên Bảo, nhân vụ trình tâu vu khống của vị quan Ngự Sử Lô Dịch (盧奕), ông rời khỏi Hà Trạch Tự (荷澤寺) vùng Lạc Dương, chuyển đến sống tại các địa phương như Dặc Dương (弋陽, Giang Tây), Võ Đương (武當, Hồ Bắc), v.v. Đến năm sau, ông lại chuyển đến Tương Dương, rồi Bát Nhã Viện (般若院) của Khai Nguyên Tự (開元寺) vùng Kinh Châu (荆州). Khi vụ loạn An Sử (安史) dấy khởi, cả 2 kinh đô đều rơi vào cảnh lầm than, khắp nơi có thiết lập giới đàn độ chúng tăng, tập trung tiền của để sung vào quân nhu, cho nên người ta thỉnh ông làm chủ đàn. Sau vụ loạn, vua Túc Tông mời ông vào cung nội cúng dường và cho xây dựng Thiền đường trong khuôn viên Hà Trạch Tự, thỉnh ông đến làm trú trì chùa này, cho nên người đời thường gọi ông là Hà Trạch Đại Sư (荷澤大師). Vào năm đầu (760) niên hiệu Thượng Nguyên (上元), ông thị tịch, hưởng thọ 93 tuổi. Có thuyết cho là ông mất vào năm đầu (758) niên hiệu Càn Nguyên (乾元). Ông được ban cho thụy hiệu là Chơn Tông Đại Sư (眞宗大師). Vào năm thứ 12 (796) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), Hoàng Thái Tử cho triệu tập các vị Thiền sư, quy định tông chỉ của Thiền môn, suy cử ông là vị tổ thứ 7 của Thiền Tông, sắc phong bia đặt tại Thần Long Tự (神龍寺). Tông môn của ông được gọi là Hà Trạch Tông (荷澤宗). Môn hạ ông có rất nhiều đấng anh tài như Vô Danh (無名), Pháp Như (法如), v.v. ; 荷澤神會; C: hézé shénhuì; J: kataku jin'e; 686-760 hoặc 670-762;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Lục tổ Huệ Năng. Sư có công lớn trong việc thuyết phục triều đình nhà Ðường công nhận dòng thiền của Lục tổ là chính tông và Tổ là người thừa kế chính của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Sự quan hệ với triều đình, và nói chung các người cầm quyền chính trị, không làm cho phái thiền Hà Trạch của Sư hưng thịnh mà ngược lại, chỉ sau vài đời tàn luỵ. Kế thừa Sư, trong phái sau này chỉ có một vị còn được nhắc nhở đến, đó là Thiền sư Khuê Phong Tông Mật, vị Tổ thứ năm của Hoa nghiêm tông.|Sư họ Cao, quê ở Tương Dương. Lúc nhỏ Sư theo thầy học Nho, hiểu rành Lão Trang. Trên đường tìm thầy chứng đạo, Sư đến Bảo Lâm tự ở Tào Khê, nơi Lục tổ hoằng hoá.|Gặp Sư, Tổ hỏi: »Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến, có đem được gốc (bản) đến chăng? Nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem?« Sư thưa: »Lấy vô trụ làm gốc, thấy tức là chủ.« Tổ bảo: »Sa-di chớ nói càn.« Sư thưa: »Hoà thượng ngồi thiền là thấy hay chẳng thấy?« Tổ đánh Sư ba gậy, hỏi: »Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau?« Sư thưa: »Cũng đau cũng chẳng đau.« Tổ bảo: »Ta cũng thấy cũng chẳng thấy.« Sư hỏi: »Thế nào là cũng thấy cũng chẳng thấy?« Tổ bảo: »Chỗ ta thấy là thường thấy lỗi lầm nơi tâm mình, không thấy việc phải quấy của người khác. Ấy là thấy cũng chẳng thấy. Ngươi nói cũng đau cũng chẳng đau là sao? Nếu ngươi chẳng đau thì đồng cây cỏ, nếu ngươi đau thì đồng với phàm phu, ắt khởi tâm giận hờn. Trước ngươi nói thấy chẳng thấy là hai bên, đau chẳng đau là sinh diệt. Ngươi không thấy tự tính mà dám cợt với người.« Nghe qua Sư thất kinh, quì sám hối. Tổ bảo: »Nếu ngươi tâm mê không thấy nên hỏi thiện tri thức chỉ đường. Nếu ngươi tâm ngộ liền tự thấy tính, y pháp tu hành. Ngươi đã mê không thấy tâm mình, trở lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy. Ta thấy thì ta tự biết, đâu thế cái mê cho ngươi được. Nếu ngươi tự thấy cũng không thế được cái mê cho ta. Tại sao không tự biết tự thấy, lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy?« Sư lễ bái trăm lạy cầu xin sám hối. Một hôm Tổ bảo chúng: »Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không họ, không lưng không mặt, các ngươi biết chăng?« Sư bước ra thưa: »Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tính của Thần Hội.« Tổ bảo: »Ðã nói với các ngươi là không tên không họ, ngươi lại kêu là bản nguyên Phật tính. Sau này ngươi ra trụ trì thì cũng chỉ thành tông đồ của hàng tri giải.« Sư lễ bái lui ra. Từ đây, Sư ở lại hầu hạ Tổ năm năm đến khi Tổ tịch, không lúc nào rời.|Khoảng 20 năm sau khi Tổ nhập diệt, Sư hội họp tất cả những Thiền sư danh tiếng miền Nam, và tuyên rằng, Huệ Năng chính là người nối pháp của Ngũ tổ và Thần Tú – lúc bấy giờ được vương triều công nhận là pháp tự của Thiền tông – vô cớ đoạt danh hiệu này của Huệ Năng, không phải là người được truyền y bát. Sư không nhọc công đi đến tận Trường An và Lạc Dương để nêu rõ và bảo vệ quan niệm này. Kết quả của việc làm mạo hiểm này là Sư bị lưu đày xuống miền Nam. Nhưng sau một cuộc nổi loạn (755-757), triều đình nhớ lại danh tiếng của Sư, muốn nương danh này để lấy lại lòng tin của dân. Sư được mời đến trụ trì chùa Hà Trạch (trước khi bị lưu đày Sư đã trụ trì ở đây). Từ đây Sư rất có uy tín trong triều đình và cuối cùng Huệ Năng và các vị thừa kế được công nhận là Thiền chính tông.|Ðời Ðường niên hiệu Thượng Nguyên, Sư từ biệt đại chúng, nửa đêm thị tịch. Vua ban hiệu là Chân Tông Ðại sư. Tác phẩm Hiển tông kí của Sư vẫn còn lưu hành.

hà trạch thần hội

Kataku-jin'e (J)Tên một vị sư.

hà trạch thần hội thiền sư

Zen master He-Ze-Shen-Hui—See Thần Hội Hà Trạch Thiền Sư.

Hà Trạch tông

荷澤宗; C: hézé-zōng; J: kataku-shū;|Một nhánh của Thiền tông Trung Quốc, bắt nguồn từ Thiền sư Hà Trạch Thần Hội, một môn đệ của Lục tổ Huệ Năng. Ngược với giáo lí và quan niệm thiền định của Phật giáo Ấn Ðộ – được Bồ-đề Ðạt-ma truyền sang Trung Quốc và kế tiếp đến Ngũ tổ Hoằng Nhẫn – Thần Hội nhấn mạnh rằng, Giác ngộ không thể đạt được qua những phương pháp tu tập thiền định và tiến lên từng cấp bậc. Cách tu tập thiền định chính là thực hiện được trạng thái »Vô tâm«, một trạng thái trực tiếp dẫn đến kinh nghiệm Kiến tính, Ðốn ngộ. Mặc dù sư Thần Hội rất có công trong việc xiển dương Nam tông thiền – được xem là một móc ngoặt cực kì quan trọng cho Thiền tông Trung Quốc – tông của sư không được xếp vào Ngũ gia thất tông và tàn lụi chỉ sau vài thế hệ.|Vị Thiền sư nổi danh duy nhất của tông này sau sư Thần Hội là Khuê Phong Tông Mật, nhưng vị này cũng không nổi danh với tính cách một vị Thiền sư mà là vị Tổ thứ năm của Hoa nghiêm tông. Sau khi tịch, Thần Hội được phong danh hiệu Chân Tông Ðại sư.

hà trạch tông

4779 即以禪宗六祖慧能之弟子荷澤神會為宗祖之禪宗派系。神會於唐玄宗時,住洛陽荷澤寺,故後世以荷澤稱之,其宗派亦被稱為荷澤宗。神會極力主張南宗頓悟為禪宗之正系,北宗漸悟為傍系;一生致力於彰顯南宗禪,致使六祖後之禪風形成北漸南頓之對立情勢。神會之弟子有住太行山之磁州法如、洛陽同德寺之無名、荊州國昌寺之行(惠)覺、沂州寶真院光瑤(寶)、進平、河陽空、福琳、雲坦、道隱等。又法孫有無名之法嗣清涼澄觀、雲坦之法嗣全證、道隱之法嗣辯真等。據圭峰宗密之「禪門師資承襲圖」記載,荷澤宗法系,次第為荷澤神會、法如、惟忠、道圓、宗密。然近年之史實研究證實為淨眾寺神會、南印、道圓、宗密。荷澤宗真正開展乃於石頭希遷(677~744)及南嶽懷讓(700~790)之法系,至宗密(780~841)之後則漸衰落。 「知之一字,眾妙之源」為荷澤宗之宗要。「知」即靈知,為達磨所傳空寂之心。迷於此知,故起我相(自我之心),妄計有「我、我所」,視客觀之外境為自己所有,常不能脫離自他、善惡等相對待之世界。若了悟空寂之知,愛惡之心自然淡薄,悲智自然增明,罪惡自然斷除,功行自然精進。 又宗密將代表當代(唐代)禪之荷澤宗總合傳統之華嚴教學,而主張「教禪一致」。此外,宗密對於馬祖道一(709~788)以後之洪州禪所主張「平常心是道」及「行住坐臥一切言語動作皆為佛性顯現」之看法,評之為無知作用下之「惡平等」見解。〔曆代法寶記六祖慧能章、洛京荷澤神會禪師廣語、景德傳燈錄卷二十八、中國禪宗史第七章(印順)、禪宗史研究(宇井伯壽)〕 ; Kataku-shŪ (J), Hesezong (C), Ho-tse tsung (C), Hesezong (C), Kataku-shu (J)Một phái thiền do đệ tử thứ sáu của Huệ Năng, Hà Trạch Thần Hội, lập ra hồi thế kỷ thứ 7 Tên một tông phái. ; (荷澤宗) Tông Hà trạch, một hệ phái của Thiền tông, do ngài Thần hội khai sáng ở chùa Hà trạch tại Lạc dương vào thời vua Huyền tông nhà Đường. Cứ theo Thiền môn sư tư thừa tập đồ của ngài Khuê phong Tông mật, thì pháp hệ truyền thừa của tông Hà trạch là: Thần hội (Sơ tổ), Pháp như, Duy trung, Đạo viên và Tông mật. Nhưng theo các nhà nghiên cứu lịch sử gần đây thì pháp hệ của tông Hà trạch là: Thần hội, Nam ấn, Đạo viên và Tông mật. Tông Hà trạch đã khai triển từ pháp hệ của các ngài Thạch đầu Hi thiên (677-744) và Nam nhạc Hoài nhượng (700-790), đến ngài Tông mật (780-841) trở về sau thì dần dần suy tàn. Yếu chỉ của tông Hà trạch là một chữ Tri (biết). Tri tức linh tri, là cái tâm rỗng lặng do tổ Đạt ma truyền thụ. Vì mê mất linh tri nên khởi ngã tướng (tâm tự ngã), vọng chấp có ta, của ta , nhận các đối tượng khách quan bên ngoài là sở hữu của ta, nên bị vướng mắc trong thế giới đối đãi tự tha, thiện ác. Nếu liễu ngộ được cái linh tri tịch diệt thì bi trí thêm sáng, tội ác đoạn trừ, công hạnh tự nhiên tinh tiến. Ngài Tông mật lại đem tông Hà trạch đại biểu cho Thiền học ở thời bấy giờ (đời Đường) tổng hợp với giáo học Hoa nghiêm truyền thống mà chủ trương Giáo Thiền Nhất Trí. [X. chương Lục tổ Tuệ năng trong Lịch đại pháp bảo kí; Lạc kinh Hà trạch Thần hội thiền sư quảng ngữ; Cảnh đức truyền đăng lục Q.28; Trung quốc thiền tông sử chương 7 (Ấn thuận); Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ)].

Hà Trạch Tự

(荷澤寺, Kataku-ji): hiện tọa lạc tại Lạc Dương (洛陽), Đông Đô (東都), Tỉnh Hà Nam (河南省). Vào năm thứ 4 (745) niên hiệu Thiên Bảo (天寳), nhận lời thỉnh cầu của Tống Đỉnh (宋鼎), Thần Hội (神會) đến trú trì chùa này. Đây là nơi đã từng xảy ra cuộc luận tranh bài xích Bắc Tông Thiền với Sùng Viễn (崇遠).

hà trạch tự

4779請參閱 顯宗記 位於河南洛陽。唐代天寶 四年(745),神會(禪宗六祖慧能之法嗣)受詔住於本寺。神會極力主張「頓悟說」之南宗禪為禪宗之正系,故本寺乃成為抨擊北宗「漸悟說」之所。〔曆代法寶記六祖慧能章、荷澤顯宗記〕 ; (荷澤寺) Chùa ở Lạc dương, Hà nam, Trung quốc. Năm Thiên bảo thứ 4 (745) đời Đường, thiền sư Thần hội (người nối pháp Lục tổ Tuệ năng– Thiền tông), nhận chiếu chỉ của vua đến trụ trì chùa này. Ngài Thần hội cực lực chủ trương thuyết Đốn ngộ của Thiền Nam tông là chính hệ của Thiền tông, cho nên chùa này trở thành nơi công kích thuyết Tiệm ngộ của Bắc tông. [X. chương Lục tổ Tuệ năng trong Lịch đại pháp bảo kí; Hà trạch hiển thị kí].

hà tính

2758為我國禪宗四祖道信與五祖弘忍之機緣問答語句。據景德傳燈錄卷三「五祖弘忍章」載,弘忍七歲時,在黃梅路遇道信,道信問弘忍(大五一‧二二二中):「子何姓?」弘忍遂謂:「姓即有,不是常姓。」此一對話,常被後世禪徒拈用為參禪悟道之主題,為禪宗著名之古則。一般認為道信所問之「子何姓」非指尋常姓氏之姓,而係用表不可限定之佛性,故弘忍答以「不是常姓」正表示其所契入當時問語之機。 ; (何姓) Họ gì? Là cơ duyên vấn đáp giữa Tứ tổ Đạo tín và Ngũ tổ Hoằng nhẫn. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 chương Ngũ tổ Hoằng nhẫn chép, thì khi lên 7 tuổi, trên đường đến núi Hoàng mai, Hoằng nhẫn gặp tổ Đạo tín, tổ hỏi (Đại 51, 222 trung): - Chú họ gì? Hoằng nhẫn đáp: - Họ thì có, nhưng không phải họ (tính) thường. Đây là một trong những tắc công án nổi tiếng của Thiền tông.

Hà tất

何必; C: hébì; J: kahitsu;|Có các nghĩa: 1. Cần gì phải; sao phải?; 2. Có thể như thế nầy…, có thể như thế kia. Từ ngữ biểu thị tính chất phỏng chừng, không dứt khoát.

hà tất

Tại sao lại cần phải như vậy?—Why should it necessarily be?

Hà tất 何必

[ja] カヒツ kahitsu ||| (1) What need; why? (2) It may be so..., it might be possible. An expression of vagueness, indefiniteness. => Có các nghĩa: 1. Cần gì phải; sao phải? 2. Có thể như thế nầy…, có thể như thế kia. Từ ngữ biểu thị tính chất phỏng chừng, không dứt khoát.

hà tự sanh

Thế thì việc ấy xãy đến như thế nào?—How does it thus happened?

hà tự sinh

2758禪林用語。<一>又作何似。即「如何」之意。龐居士語錄卷上(卍續一二○‧三○上):「士纔接茶,林乃抽身退後曰:『何似生?』士曰:『有口道不得!』」 <二>即似何物之意。碧巖錄第六則頌「上下四維無等匹」之評語(大四八‧一四六中):「何似生?上是天,下是地,東、南、西、北與四維,有什麼等匹?爭奈拄杖在我手裏。」此即表示無任何東西與其類似之意。 ; (何似生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Hà tự sinh. Cũng gọi Hà tự. Thế nào? Bàng cư sĩ ngữ lục quyển thượng (Vạn tục 120, 30 thượng), ghi: Cư sĩ vừa tiếp lấy tách trà, Lâm bèn kéo ông ra sau, hỏi: - Thế nào? Cư sĩ đáp: - Có miệng nói chẳng được! II. Hà tự sinh. Giống vật gì? Bích nham lục tắc 6 (Đại 48, 146 trung), chép: Giống vật gì? Trên là trời, dưới là đất, đông, nam, tây, bắc và tứ duy, có vật gì giống với nó không?

hà tỵ chỉ

See Avici in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

hà xuất đồ lạc xuất thư

3334禪林用語。指超越人力之天地大法;又指奇異殊勝之祥瑞事蹟。河圖、洛書原爲我國古代儒家關於周易、洪範二書來源之傳說。周易繫辭:「河出圖,洛出書,聖人則之。」河圖即八卦。據孔傳及孔穎達疏之說,伏羲氏統治天下之世,有龍馬出河(黃河),伏羲遂依準其文而畫八卦,稱爲河圖,此即周易來源之傳說。又夏禹治水時,洛水(黃河之支流)出現神龜,背負有文,其數至九,夏禹乃採用其法,作成九疇,稱爲洛書,此即洪範來源之傳說。 此二傳說,均爲我國古代儒家試圖說明文化道統一脈相傳之淵源而產生之神話,禪林師家則轉申其意,用以形容奇特而超乎人爲或異乎尋常之事。虛堂和尚語錄卷一(大四七‧九九一中):「天基節上堂:『河出圖,洛出書,雷霆變化,鬼神莫測其由,且道是何祥瑞?』良久:『聖人復生。』」〔晉書五行志、北周甄鸞注數術記遺九宮算、隋書經籍志〕 ; (河出圖洛出書) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ý nói đạo của trời đất sức người không thể biết được, cũng chỉ cho điềm lành rất khác thường. Hà đồ và Lạc thư vốn là truyền thuyết về nguồn gốc của hai bộ sách Chu dịch và Hồng phạm của Trung quốc thời xưa. Thiên Hệ từ trong sách Chu dịch nói: Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, Thánh nhân tắc chi (Bản vẽ xuất hiện ở sông Hoàng, sách xuất hiện ở sông Lạc, bậc Thánh dựa theo đó làm ra pháp tắc). Hà đồ tức là Bát quái (8 quẻ). Cứ theo Khổng truyện và Khổng dĩnh đạt sớ nói, thì đời vua Phục hi trị vì thiên hạ, có con Long mã xuất hiện ở sông Hoàng, Phục hi bèn y theo hoa văn của nó mà vạch ra Bát quái, gọi là Hà đồ, đây là truyền thuyết về nguồn gốc sách Chu dịch. Đến thời vua Hạ vũ trị thủy(chống lụt) thì có con rùa thần xuất hiện trên sông Lạc (một chi nhánh của sông Hoàng), trên lưng rùa có 9 nét vạch, vua Hạ vũ căn cứ theo đó mà làm thành Cửu trù (9 phương pháp trị nước), gọi là Lạc thư, đây là truyền thuyết về nguồn gốc sách Hồng phạm. Thiền tông dùng các truyền thuyết thần thoại trên đây để hình dung việc kì lạ khác thường, vượt ra ngoài sự hiểu biết của con người. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 1 (Đại 47, 991 trung), ghi: Thiên cơ tiết thướng đường, nói: Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, sấm sét biến hóa, quỉ thần không lường được, thử nói xem điềm lành gì đó? Im lặng giây lát, sư lại nói: Thánh nhân ra đời . [X. Tấn thư ngũ hành chí; Bắc Chu chân loan chú số thuật kí di cửu cung toán, Tùy thư kinh tịch chí].

hà yến

2759(?~249)三國曹魏南陽宛人。字平叔。早年即以才秀出名。曹操納其母為夫人,故與王室關係密切。態度倔傲,好論玄學,常仿太子裝束;文帝厭憎其行止,明帝斥其浮華,不願重用。其後,曹爽與司馬懿爭權,晏與爽結納,終為懿所殺。晏與王弼首開西晉正始清談之風。著有無名論、首論、無為論、論語集解等。〔釋氏稽古略卷一、佛祖統紀卷二十六〕

hà ðảm

Gánh vác trên vai—To carry, bear on the back or shoulder.

hà điêu a na hàm kinh

4779全一卷。東晉竺曇無蘭譯。又稱呵雕阿那鋡經、呵雕阿那含經。收於大正藏第十四冊。內容敘述呵雕阿那鋡奉行佛陀所說之四事,即:(一)布施,(二)善說,(三)瞻視同學給足有無,(四)同學者財共不計等。佛陀又讚其所行八事,即不求、自信、自羞、自慚、精進、自觀、得禪、黠慧等,皆不欲人知,以免擾人。〔歷代三寶紀卷七、開元釋教錄卷三〕 ; (荷雕阿那含經) Cũng gọi Ha điêu a na hàm kinh. Có 1 quyển, do ngài Trúc đàm vô lan dịch vào thời Đông Tấn, thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này tường thuật việc Ha điêu a na hàm vâng làm 4 điều do đức Phật dạy. Đó là: 1. Bố thí. 2. Nói lời tốt lành. 3. Lưu ý xem người đồng học có được cung cấp đầy đủ không. 4. Coi tiền tài là của chung. Đức Phật còn khen 8 việc làm của Ha điêu a na hàm như: Không cầu, tự tin, tự thẹn, tự hổ, tinh tiến, tự quán xét, được thiền định và thông tuệ, mà đều không muốn ai biết đến để tránh sự quấy nhiễu cho người. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.7; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].

hà đông liên giác

2759(1875~1937)清末民初人。本姓張,廣東新安人。香港何東曉生爵士之夫人。因遊南京棲霞山寺,見舍利塔放光,對佛法生起敬信。嘗於香港捨宅創辦東蓮覺苑,施設女子佛化教育,並請靄亭法師主持。又發行「人海燈」雜誌,宣揚佛法。此外,更在青山及其他地區創辦義學,教育貧苦民家子弟,促進佛教普及民間。

hà đông đại sĩ

3334即唐代之名士裴休。氏爲河南濟源(一說山西聞喜)人,字公美。生卒年不詳。先後任官監察御史、戶部侍郎兼諸道鹽鐵轉運使、昭義節度使、河東節度使兼鳳翔尹等,卒於吏部尚書太子少師。享年七十四。裴休資性寬惠,志操堅正,擅長文章、書法,尤精研佛法,嘗與唐末溈仰宗之祖溈山靈祐論究玄旨,又隨華嚴宗五祖圭峰宗密研學華嚴,中年以後不食葷腥,而以齋居焚香、誦經讚唄爲法樂,世人美稱爲河東大士。(參閱「裴休」5912) ; (河東大士) Danh hiệu của Bùi hưu đời Đường, người Tế nguyên, Hà nam (có thuyết cho rằng ông là người Văn hỉ, Sơn tây), tự Công mĩ. Ông từng làm quan đến các chức: Giám sát ngự sử, Hộ bộ thị lang kiêm Diêm thiết chuyển vận sứ, Chiêu nghĩa tiết độ sứ, Hà đông tiết độ sứ, Lại bộ thượng thư thái tử thiếu bảo, v.v... Tính tình ông rộng rãi, chí khí cao thượng, giỏi văn chương thư pháp, đặc biệt tinh thâm Phật lí; ông nghiên cứu Thiền học, Hoa nghiêm và thấu suốt huyền chỉ. Ông phát nguyện ăn chay và tụng kinh, bái sám hàng ngày. Người đương thời tôn xưng ông là Hà đông đại sĩ. (xt. Bùi Hưu).

hà đảm

4779荷,置物於背;擔,置物於肩。與「荷負」、「荷法」同義,皆謂護持佛教大法,擔負佛法相續之責。〔禪苑清規卷二小參〕 ; (荷擔) Cùng nghĩa với Hà phụ, Hà pháp. Hà là vác trên lưng, Đảm là gánh ở vai, nghĩa là gánh vác. Trong Phật giáo, từ ngữ này được dùng để chỉ cho hạnh nguyện gánh vác và hộ trì Phật pháp. [X. Tiểu tham trong Thiền uyển thanh qui Q.2].

Hà đẳng

何等; C: héděng; J: kadō;|Có hai nghĩa: 1. Biết bao? Thế nào? 2. Xiết bao!

Hà đẳng 何等

[ja] カドウ kadō ||| In what degree? How? How much? (2) How Great! => Có hai nghĩa: 1.Biết bao? Thế nào? 2. Xiết bao?

hà đồ

Ho-t'u (C), Diagram from the River.

Hà 瑕

[ja] カ ka ||| Flaw, mistake, shortcoming, error, crime. => Vết nứt, sai lầm, sự thiếu sót, lầm lỗi, phạm lỗi.

hài cốt

6370又作骨鎖。即白骨,係屍體腐朽後所遺留之骨骼。相當於梵語 śaṅkara(商羯羅)。或單指髑髏。又行者為制伏貪煩惱,而觀想人之身體為白骨連鎖之修法,稱為骨想,或白骨觀,為九想之一。日本一休禪師曾寓白骨之夢,以說明法門之奧義。(參閱「九想」150) ; Xem Bát bộ lực sĩ. ; (骸骨) Phạm: Zaíkara. Dịch âm: Thương yết la. Bộ xương còn lại sau khi xác chết rữa nát. Hoặc chỉ gọi riêng xương đầu lâu. Ngoài ra, pháp tu quán tưởng thân thể người ta là bộ xương trắng mà hành giả tu tập để đối trị phiền não tham dục, gọi là Cốt tưởng, hoặc Bạch cốt quán, là một trong Cửu tưởng. (xt. Cửu Tưởng).

hài kịch

Comedy.

hài lòng

satisfied—Content.

hài ðàm

Humorous talk.

hài ðồng

Infant—Baby.

hàm

To hold in the mouth; cherish; restrain. ; Ngậm trong miệng—To hold in the mouth. Mặn: Salty—Salted.

hàm cái tương ưng

3082函即盒。以盒與蓋緊密相合,了無縫隙,引喻兩物一致、無礙。又作函蓋相稱、函蓋合。據大智度論卷二載,諸法無量,智慧亦無量,二者之相配無數又無邊,猶如函大則蓋亦大,函小則蓋亦小。又如能照之智與所照之境相契,或所說之法與眾生之機相合。此外,亦指師徒之機緣授受相合,或事理契合而不二之旨。〔大智度論卷三十六、法華經玄義卷二、大日經疏卷三、參同契〕 ; (函蓋相應) Cũng gọi Hàm cái tương xứng, Hàm cái hợp. Hàm là chiếc hộp, Cái là nắp đậy. Hộp và nắp ăn khớp nhau không trở ngại. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 2 thì các pháp vô lượng, trí tuệ cũng vô lượng, cả hai phối hợp với nhau thì vô lượng vô biên, giống như hộp lớn thì nắp đậy cũng lớn, hộp nhỏ thì nắp đậy cũng nhỏ. Lại nữa, từ ngữ này cũng biểu thị ý nghĩa trí năng chiếu và cảnh sở chiếu khế hợp nhau; hoặc pháp nói ra và căn cơ của chúng sinh phù hợp nhau; cơ duyên thầy trò truyền thụ khế hợp nhau; hoặc sự và lí khế hợp nhau. [X. luận Đại trí độ Q.36; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.3; Tham đồng khế].

hàm hoa

2832又作含花。往生淨土者尚含於蓮花中,其花未開,不能見聞三寶,稱為含華。係上品中生以下至下品下生之人所受。即有善根而疑惑佛智者,雖得往生,仍有此厄。善導觀經疏定善義(大三七‧二六四上):「明修因正念,不得雜疑,雖得往生,含華未出,或生邊界,或墮宮胎。」(參閱「胎宮」3934) ; Trong sen búp, ví như những người đang chờ sen nở để vãng sanh Cực Lạc—In the closed lotus flower, i.e. those who await the opening of the flower for rebirth in Paradise. ; (含華) Hoa sen búp. Những người có thiện căn tu pháp môn Tịnh độ mà nghi ngờ trí Phật, tuy được vãng sinh nhưng còn ở trong hoa sen búp, khi hoa ấy chưa nở thì vẫn không được thấy Tam bảo. Đây là trường hợp của những người Thượng phẩm trung sinh trở xuống đến Hạ phẩm hạ sinh. Định thiện nghĩa trong Quán kinh sớ của ngài Thiện đạo (Đại 37, 264 thượng): Người tu nhân chính niệm không nên nghi ngờ, vì nghi ngờ tuy được vãng sinh, nhưng phải ở trong hoa sen búp, hoặc sinh nơi biên địa, hoặc rơi vào Thai cung . (xt. Thai Cung)

hàm huyết phún nhân

Ngậm máu phun người To make false charge against s.o.

Hàm Hư

涵虚; C: hánxū; J: kanko; K: hamhŏ|Xem Hàm Hư Đắc Thông (涵虚得通)

Hàm Hư Đường Đắc Thông Hoà thượng ngữ lục

涵虚堂得通和尚語録; C: hánxūtáng détōng héshàng yŭlù; J: kankodō tokutsū ōshō goroku; K: hamhŏ tang tŭkt'ong hwasang ŏrok;|Tóm tắt tiểu sử của Thiền sư Hàn Quốc Hàm Hư Đắc Thông (1376-1433).

Hàm Hư Đường Đắc Thông Hòa thượng ngữ lục 涵虚堂得通和尚語録

[ja] カンコドウトクツウオウショウゴロク Kankodō Tokutsū ōshō goroku ||| Hamhŏ tang Tŭkt'ong hwasang ŏrok; (The Record of the Teachings of the Reverend Hamhŏ Tŭkt'ong) HPC 7.226-250. A biographical sketch of the Chosŏn monk Hamhŏ Tŭkt'ong (涵虚得通 1376-1433). => (j: Kankodō Tokutsū ōshō goroku; k: Hamhŏ tang Tŭkt'ong hwasang ŏrok; e: Record of the Teachings of the Reverend Hamhŏ Tŭkt'ong). Tóm tắt tiểu sử của Thiền sư Cao Ly Hàm Hư Đắc Thông (k: Hamhŏ Tŭkt'ong 涵虚得通; 1376-1433).

Hàm Hư Đắc Thông

涵虚得通; C: hánxū détōng; J: kanko tokutsū; K: hamhŏ tŭkt'ong (1376-1433)|Thuỵ hiệu là Kỉ Hoà (己和, k: kihwa). Nguyên là tăng sĩ trước thời kì Cao Li thuộc Thiền tông Hàn Quốc, sư là nhân vật lĩnh đạo Phật giáo kiệt xuất thuộc thế hệ của này. Hàm Hư vốn là một nhà Nho học nổi danh, nhưng sư chuyển sang Phật giáo vào lúc 21 tuổi sau cái chết của một người bạn thân. Sư hành cước khắp các sơn tự ở Hàn Quốc, cho đến khi sư có dịp may trở thành đệ tử của Quốc sư Vô Học (無學). Các tác phẩm của Kỉ Hoà là một pha trộn giữa sự đả phá tôn sùng ngẫu tượng và ngôn ngữ thiền đốn ngộ, cùng nhận thức sâu sắc về giáo môn. Do vậy, sư tiếp nhận ở Tri Nột tinh thần hợp nhất giữa Phật giáo thiền tông và giáo môn. Trong số các tác phẩm của sư, có 4 tác phẩm đặc biệt tạo nên ảnh hưởng sâu đậm về sau cho Thiền tông Hàn Quốc. Đó là: 1. Luận giải về kinh Viên Giác, nhan đề Viên Giác kinh giải thuyết nghi (圓覺經解説誼; k: wŏn'gakkyŏng hae sŏrŭi), 2. Biên soạn và phụ chú về 5 luận giải nổi tiếng về kinh Kim Cương, 3. Biên soạn và phụ chú về Vĩnh Gia tập, nhan đề Vĩnh Gia tập khoa chú thuyết nghi (永嘉集科註説誼). Cũng như kết quả từ tác phẩm thứ tư của mình là Hiển chính luận (顯正論), Hàm Hư đã tự xem mình là Phật tử chính bị tố cáo trong sự phê phán của Tân Nho gia và sư cũng phản ứng quyết liệt sự phê phán của Tân Nho giáo đối với Phật giáo thời bấy giờ. Sư viên tịch trong lúc trú tại chùa Tịnh Thuỷ (淨水寺), toạ lạc tại đầu phía nam đảo Giang Hoa (江華島), nay Phật tử vẫn còn được viếng tháp của sư ở nơi đây. Có một luận án tiến sĩ phân tích hành trạng và tác phẩm của Hàm Hư của Muller (1993); và bản dịch của Muller (1999) về luận giải kinh Viên Giác của Hàm Hư.

Hàm Hư Đắc Thông 涵虚得通

[ja] カンコトクツウ Kanko tokutsū ||| Hamhŏ Tŭkt'ong (1376-1433). Posthumous name Kihwa 己和. A late Koryŏ-early Chosŏn monk of the Sŏn order, who was the leading Buddhist figure of his generation. Hamhŏ was originally a Confucian scholar of the highest reputation, but he converted to Buddhism at the age of 21 upon the death of a close friend. He wandered among the Korean mountain monasteries, until he had the fortune of becoming the disciple of the last Korean National Teacher Muhak 無學. Kihwa's writings showed a distinctive mixture between iconoclastic and suddenistic Chan language, and a strong appreciation for the scriptural tradition. Thus, he took up from Chinul the tradition of unification of Sŏn and Kyo Buddhism. Among his writings, there are four works in particular that made a deep impact on the subsequent Sŏn tradition in Korea. These are: (1) his commentary on the Sūtra of Perfect Enlightenment, the Wŏn'gakkyŏng hae sŏrŭi 圓覺經解説誼; (2) his redaction and subcommentary to five famous earlier commentaries on the Diamond Sutra, the Kŭmgang panyaparamilgyŏng ogahae sŏrŭi 金剛般若波羅蜜經; (3) his subcommentary and redaction of the Collection of Yongjia, the Yonggajip kwaju sŏrŭi 永嘉集科註説誼. As a result of his fourth major work (4) the Hyŏnjŏng non 顯正論 Hamhŏ distinguishes himself as being the primary Buddhist respondent to the rising Neo-Confucian polemic of his period, as he responds with vigor to the Neo-Confucian criticisms of Buddhism. Hamhŏ passed away while residing at Chŏngsu-sa 淨水寺, located at the southern tip of Kanghwa Island 江華島, where his tomb can still be visited. For a doctoral dissertation which analyzes Hamhŏ's life and works see Muller (1993); Hamhŏ's commentary on the Sutra of Perfect Enlightenment is translated in Muller (1999). => (k: Hamhŏ Tŭkt'ong 1376-1433). Thụy hiệu là Kỷ Hoà (k: Kihwa 己和). Nguyên là tăng sĩ trước thời kỳ Koryŏ thuộc Thiền tông Cao Ly, sư là nhân vật lãnh đạo Phật giáo kiệt xuất thuộc thế hệ của Sư. Hàm Hư vốn là một nhà Nho học nổi danh, nhưng sư chuyển sang Phật giáo vào lúc 21 tuổi sau cái chết của một người bạn thân. Sư hành cước khắp các sơn tự ở Cao Ly, cho đến khi sư có dịp may trở thành đệ tử của Quốc sư Vô Học (k: Muhak 無學). Các tác phẩm của Kỷ Hoà là một pha trộn giữa sự đả phá tôn sùng ngẫu tượng và ngôn ngữ thiền đốn ngộ, cùng nhận thức sâu sắc về giáo môn. Do vậy, sư tiếp nhận ở Trí Nột tinh thần hợp nhất giữa Phật giáo thiền tông và giáo môn. Trong số các tác phẩm của sư, có bốn tác phẩm đặc biệt tạo nên ảnh hưởng sâu đậm về sau cho Thiền tông Cao Ly. Đó là: Luận giải về kinh Viên Giác, nhan đề Viên Giác kinh giải thuyết nghi (k: Wŏn'gakkyŏng hae sŏrŭi 圓覺經解説誼). Biên soạn và phụ chú về năm luận giải nổi tiếng về kinh Kim Cương (k: Kŭmgang panyaparamilgyŏng ogahae sŏrŭi 金剛般若波羅蜜經). Biên soạn và phụ chú về Vĩnh Gia tập, nhan đề Vĩnh Gia tập khoa chú thuyết nghi (k: Yonggajip kwaju sŏrŭi 永嘉集科註説誼). Như là kết quả từ tác phẩm thứ tư của sư. Hiển chính luận (k: Hyŏnjŏng non 顯正論). Chính Hàm Hư đã chiếm vị trí cao nhất trong vai trò tăng sĩ Phật giáo chủ yếu đáp lại cuộc luận chiến với phong trào Tân Nho giáo trong thời của sư, khi sư phản ứng quyết liệt với sự phê phán của Tân Nho giáo đối với Phật giáo. Sư viên tịch khi trú tại chùa Tịnh Thuỷ (k: Chŏngsu-sa 淨水寺), toạ lạc tại đầu mút phía nam đảo Giang Hoa (江華島k: Kanghwa), nay Phật tử vẫn còn được viếng tháp của sư ở nơi đây. Có một luận án tiến sĩ phân tích hành trạng và tác phẩm của Hàm Hư của Muller (1993); và bản dịch của Muller (1999) về luận giải kinh Viên Giác của Hàm Hư.

hàm hải

Xem Biển. ; Sàgara (S). Ocean of nàgas.

hàm hồ

Inconsiderably—Ăn nói hàm hồ:To speak inconsiderably.

hàm khả

4073(1611~1659)明代曹洞宗僧。又作函可。惠州博羅(位於廣東)人,俗姓韓。字祖心,號剩人。才華超絕,早歲習儒,性喜任俠。其父為萬曆年間之禮部尚書,甚負聲望。父歿之後,投宗寶道獨禪師剃髮,依止參究而嗣其法。崇禎十七年(1644)入南京請藏,適逢兵亂,遂留止該地。未久,洪承疇欲迎往敘舊,師以詩譏其負明,承疇愧怒,乃請誅之,遂謫遷遼陽千山朝陽寺。於寺敷座說法,深受崇仰。順治十六年示寂,年四十九,法臘二十。著有千山剩人和尚語錄六卷。〔五燈全書卷一一六〕 ; (函可) (1611-1659) Vị Thiền tăng thuộc tông Tào động ở đời Minh, người Bác la, Huệ châu (thuộc Quảng đông), họ Hàn, tự Tổ tâm, hiệu Thặng nhân. Thân phụ của sư làm quan đến chức Thượng thư bộ lễ, rất nổi tiếng. Thủa nhỏ sư học Nho, tính tình hào hiệp. Sau khi thân phụ mất, sư y vào thiền sư Tông bảo Đạo độc xuất gia và được nối pháp của thầy. Năm Sùng trinh 17 (1644) sư đến Nam kinh thỉnh Đại tạng, gặp lúc loạn lạc, sư phải ở lại đó. Không bao lâu, Hồng thừa trù muốn đón sư về quê cũ, sư làm thơ chê trách ông ta là phản bội nhà Minh, Thừa trù phẫn nộ, lập mưu giết sư, sư phải lánh đến chùa Triêu dương ở Thiên sơn thuộc Liêu dương, mở đạo tràng giảng pháp, rất được mọi người tôn sùng. Năm Thuận trị 16 (1659) sư tịch, hưởng dương 49 tuổi, 20 tuổi đạo. Trứ tác: Thiên sơn Thặng nhân hòa thượng ngữ lục 6 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.116].

hàm kiệt

3763請參閱 叢林校定清規總要 (1118~1186)宋代僧。臨濟宗楊岐派分支虎丘派僧。福建福清人,俗姓鄭。號密菴(密庵)。母夢廬山老僧入舍而生,自幼穎悟。出家爲僧,遍參知識。後至衢州(浙江)明果庵,參謁應庵曇華,得大悟,受印可,出住烏巨庵。歷主祥符蔣山華藏、徑山、靈隱、天童諸名剎。淳熙十三年示寂,享壽六十九,法臘五十二。著有密菴和尚語錄一卷。〔釋氏稽古略卷四、明高僧傳卷八〕 ; (鹹杰) (1118-1186) Vị Thiền tăng thuộc chi Hổ khâu, phái Dương kì, tông Lâm tế ở đời Tống, người huyện Phúc thanh, tỉnh Phúc kiến, họ Trịnh, hiệu Mật am. Tương truyền, thân mẫu sư nằm mộng thấy một vị tăng ở Lô sơn đến, sau đó bà mang thai rồi sinh ra sư. Thủa nhỏ sư rất thông minh. Sau khi xuất gia, sư tham học nhiều bậc tri thức. Về sau, sư đến tham yết ngài Ứng am Đàm hoa ở am Minh quả tại Cù châu (Chiết giang), sư đại ngộ và được ấn khả, rồi đến ở am Ô cự và nhiều danh lam khác. Năm Thuần hi 13 (1186) sư tịch, thọ 69 tuổi, 52 tuổi đạo. Trứ tác: Mật am hòa thượng ngữ lục 1 quyển. [X. Thích thị kê cổ lược Q.4; Minh cao tăng truyện Q.8].

hàm linh

Living beings, all beings possessing life, especially sentient life ; See Hàm Sanh.

hàm loại

All sentient beings. ; All sentient beings—Hàm Thức—See Hàm Sanh.

hàm nhuận

3763宋代天台宗山外派學僧。越州上虞人,俗姓鄭。字巨源。生卒年不詳。七歲師事等慈寺之子明,精通律藏。後遊天台,讀智者大師三觀之書有省悟處。謁錢塘開化寺之慶昭,更求深造,博究淨名、法華、涅槃、楞嚴等義理,得其心傳,慶昭乃分座而處之。景德四年(1007)上虞宰裴煥等迎回等慈寺,宣演淨教。慶昭示寂前,授以爐拂,師乃繼席梵天寺。天禧中,持山外派之主張,抗四明知禮,批議其說。天聖三年(1025),遷會稽永福寺,隨從者五百以上。日日遣眾行化,遠近靡不崇其德。著有指瑕、籤疑等。〔佛祖統紀卷十、釋門正統卷五〕 ; (鹹潤) Vị tăng thuộc phái Sơn ngoại, tông Thiên thai ở đời Tống, người Thượng ngu, Việt châu, họ Trịnh, tự là Cự nguyên, năm sinh năm mất không rõ. Năm lên 7 tuổi, sư thờ ngài Tử minh ở chùa Đẳng từ làm thầy, tinh thông Luật tạng. Sau sư đến núi Thiên thai, nhờ đọc sách của đại sư Trí khải nói về pháp Tam quán mà có chỗ tỉnh ngộ. Sư muốn tiến sâu hơn nữa, nên lại đến tham học ngài Khánh chiêu ở chùa Khai hóa tại Tiền đường, nghiên cứu các kinh Duy ma, Pháp hoa, Niết bàn, Lăng nghiêm v.v... được ngài Khánh chiêu chia tòa thuyết pháp. Và trước khi thị tịch, ngài Khánh chiêu trao cho sư lư hương và phất tử để kế vị trụ trì chùa Phạm thiên. Năm Cảnh đức thứ 4 (1007), quan huyện Thượng ngu là Bùi hoán đón sư về chùa Đẳng từ để giảng giáo nghĩa Tịnh độ. Năm Thiên thánh thứ 3 (1025), sư dời đến chùa Vĩnh phúc ở Cối kê để hoằng hóa, đồ chúng rất đông, xa gần đều ngưỡng mộ đạo hạnh của sư. Trứ tác: Chỉ hà, Tiêm nghi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.10; Thích môn chính thống Q.5].

hàm nộ

nén giận: To restrain one's anger.

hàm oan

To suffer an injustice; to harbour a grievance.

hàm quang

2832唐代譯經僧。不空三藏之弟子。開元二十九年(741)隨不空至師子國,天寶六年(747)歸唐,住保壽寺。永泰二年(766),任五臺山金閣寺之修功德使,並於金閣寺創建密灌道場。譯述有毘那夜迦誐那鉢底悉地品祕要、大聖歡喜雙身毘那夜迦天形像品儀軌各一卷。其餘事蹟與生卒年均不詳。 ; (含光) Vị tăng dịch kinh ở đời Đường, đệ tử của Tam tạng Bất không. Năm Khai nguyên 29 (741), sư theo ngài Bất không đến nước Sư tử (Tích lan), năm Thiên bảo thứ 6 (747), sư trở về Trung quốc, trụ ở chùa Bảo thọ. Năm Vĩnh thái thứ 2 (766) sư giữ chức Tu công đức sứ và sáng lập đạo tràng Mật quán ở chùa Kim các trên núi Ngũ đài. Những sự tích khác về sư và năm sinh năm mất đều không rõ. Dịch phẩm: Tì na dạ ca nga na bát để tất địa phẩm bí yếu 1 quyển, Đại thánh hoan hỉ song thân Tì na dạ ca thiên hình tượng phẩm nghi quĩ 1 quyển.

hàm quỹ

3082即盛置物品之櫃。僧堂中,大眾於該櫃之上半部放置法服、蒲團等物,下半部放置寢具。在眾寮中,則稱經櫃。禪苑清規卷一(卍續一一一‧四三九下):「如堂中有函櫃,即收行李安函櫃中。」〔禪林象器箋器物門〕 ; (函櫃) Cái tủ đựng đồ dùng của chúng tăng trong tùng lâm. Tủ có 2 ngăn, được kê trong Tăng đường, ngăn trên để áo pháp, bồ đoàn, ngăn dưới để chăn, màn, gối v.v... Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 43 hạ) nói: Nếu trong Tăng đường có tủ (hàm quĩ) thì phải để hành lí vào đó . [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hàm sanh

Xem Tát đỏa. ; Hàm tình—Hàm Thức—Hàm linh hay chúng sanh có mạng sống—All beings possessing feeling—All sentient beings.

hàm sinh

Sattva (S). Creature, living being.

hàm súc

To contain much that is suggestive.

hàm sơn

6220(1546~1623)明代僧。安徽全椒人,俗姓蔡。名德清,字澄印,號憨山。十二歲從金陵報恩寺永寧誦習經教。十九歲出家受具足戒,並至棲霞山從法會受禪法。以慕清涼澄觀之為人,自字澄印。萬曆元年(1573)遊五臺山,愛憨山之奇秀,遂取此為號。歷住青州(山東)海印寺、曹溪寶林寺等,宣揚禪宗。倡導念佛與看話頭(禪宗之古則公案)雙修。熹宗天啟三年十月示寂,世壽七十八。世稱憨山大師。與袾宏、真可、智旭,並稱明代四大高僧。著述宏富,有楞嚴經通議十卷、觀楞伽經記八卷、法華經通義七卷等行世。弟子福善、通炯等匯編其遺文,題為憨山老人夢遊集(又作憨山大師夢遊全集),凡五十五卷(古本四十卷),另有其自著之年譜二卷。〔憨山老人自序年譜實錄(憨山老人夢遊集卷五十三、卷五十四所收)、釋鑑稽古略續集卷三、五燈嚴統卷十六、高僧摘要卷三、淨土聖賢錄卷五〕(參閱「德清」6013) ; (憨山) (1546-1623) Vị Thiền tăng ở đời Minh, người huyện Toàn tiêu, tỉnh An huy, họ Thái, tên Đức thanh, tự Trừng ấn, hiệu Hàm sơn. Năm 12 tuổi, sư theo ngài Vĩnh ninh ở chùa Báo ân tại Kim lăng học tập kinh điển. Năm 19 tuổi, sư xuất gia, thụ giới Cụ túc, rồi đến núi Thê hà theo ngài Pháp hội học Thiền. Vì ngưỡng mộ nhân cách của ngài Thanh lương Trừng quán nên sư lấy tự là Trừng ấn. Niên hiệu Vạn lịch năm đầu (1573), sư lên núi Ngũ đài, thấy cảnh Hàm sơn u tịch nên lấy làm hiệu. Sư từng ở các chùa Hải ấn tại Thanh châu (Sơn đông), chùa Bảo lâm ở Tào khê v.v... xiển dương Thiền tông. Sư đề xướng niệm Phật kết hợp với tham cứu công án Thiền. Tháng 10 năm Thiên khải thứ 3 sư tịch, thọ 78 tuổi. Trứ tác: Hoa nghiêm kinh thông nghị 10 quyển, Quán lăng già kinh kí 8 quyển, Pháp hoa kinh thông nghĩa 7 quyển, Hàm sơn lão nhân mộng du tập 55 quyển, Niên phổ 2 quyển. [X. Hàm sơn lão nhân tự tự niên phổ thực lục; Thích giám kê cổ lược tục tập Q.3; Ngũ đăng nghiêm thống Q.16; Cao tăng trích yếu Q.3; Tịnh độ thánh hiền lục Q.5]. (xt. Đức Thanh).

hàm thủy

Salt water.

hàm thủy dụ kinh

(鹹水喻經) Có 1 quyển, được dịch vào khoảng 265- 316 đời Tây Tấn, nhưng không rõ người dịch, thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này kể lại việc đức Phật nói 7 ví dụ về nước cho các tỉ khưu nghe. Lấy trường hợp một người chìm trong nước, rồi ngoi lên khỏi mặt nước, lại bị chìm xuống, cuối cùng bơi được vào bờ qua 7 giai đoạn, để ví dụ những người chìm đắm trong tội lỗi cuối cùng được chứng ngộ. Kinh này có 4 bản dịch, trong đó, bản được thu vào kinh Trung a hàm là rõ ràng nhất, còn 3 bản kia thì đại đồng tiểu dị.

hàm thức

2833梵語 sattva,巴利語 satta。音譯薩埵。意譯有情、眾生。即指含有心識之有情眾生。指一切生物。又作含靈、含生、含類、含情、稟識。以一切眾生皆有心識,故稱含識;此總攝六道之有情眾生。四十華嚴卷二(大一○‧六七○中):「普轉妙法輪,利益諸含識。」大寶積經卷三十七(大一一‧二一五中):「假使三界諸含靈,一切變成聲聞眾。」〔俱舍論卷十二、四分律行事鈔資持記卷上四之一〕 ; All sentient beings. ; (含識) Phạm: Sattva. Pàli: Satta. Dịch âm: Tát đóa. Dịch ý: Hữu tình, Chúng sinh. Cũng gọi Hàm linh, Hàm sinh, Hàm loại, Hàm tình, Bẩm thức. Chỉ chung tất cả chúng sinh hữu tình tức loài có tâm thức, trong 6 đường. Kinh Hoa nghiêm (bản 40 quyển) quyển 2 (Đại 10, 215 trung) nói: Quay bánh xe pháp vi diệu, lợi ích các loài hàm thức . Kinh Đại bảo tích quyển 37 (Đại 11, 215 trung) ghi: Giả sử tất cả hàm linh trong 3 cõi, đều biến thành chúng Thanh văn . [X. luận Câu xá Q.12; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng phần 4].

hàm tiếu

To smile. Cánh hoa hàm tiếu: fresh blown flower.

hàm trung giáo

2832指天台所判藏、通、別、圓等化法四教中,密含中道義理之通教。通教為大乘教法之初門,其所說「如幻即空」的教義中含有「非有非空」的中道之理,故稱含中教。計有二義:(一)通教雖無中道之名,然利根之菩薩了見通教「體空」之真理,由是而通入第三之別教(別接通)或第四之圓教(圓接通);故能被接化之通教,稱為含中教。(二)通教不說「佛性常住」,原本不能視為中道,但如其教義所說「不生不滅」之理,就佛意而言,則已然密詮中道,故稱含中教。〔法華玄義釋籤卷二十三、摩訶止觀卷六下〕(參閱「通教」4803) ; Giáo lý thông giáo của Tông Thiên Thai, nói về Trung Ðạo (tức là Thông giáo trong Tứ Giáo Thiên Thai) giữa Tiểu Thừa và Ðại Thừa—A T'ien-T'ai term for the interrelated teaching which was midway between or interrelated with Hinayana and Mahayana. ** For more information, please see Thiên Thai Hóa Pháp Tứ Giáo. ; (含中教) Giáo nghĩa ẩn chứa lí Trung đạo. Chỉ cho Thông giáo trong Tứ giáo hóa pháp (Tạng, Thông, Biệt, Viên) do tông Thiên thai phán lập. Thông giáo là cửa đầu tiên của giáo pháp Đại thừa, trong đó nói như huyễn tức không là ẩn chứa lí Trung đạo phi hữu phi không , cho nên gọi là Hàm trung giáo. Tại sao Thông giáo lại có tên là Hàm trung giáo? Vì 2 lí do: 1. Thông giáo tuy không được gọi là Trung đạo, nhưng hàng Bồ tát lợi căn nhờ thấy rõ chân lí Thể không của Thông giáo mà tiến suốt vào Biệt giáo (Biệt tiếp Thông) hoặc vào Viên giáo (Viên tiếp Thông), vì thế, hàng Thông giáo được tiếp hóa gọi là Hàm trung giáo. 2. Thông giáo không nói Phật tính thường trụ , như vậy, dĩ nhiên không được coi là Trung đạo, nhưng lí bất sinh bất diệt của Thông giáo đã ẩn chứa lí Trung đạo rồi, vì thế mà được gọi là Hàm trung giáo. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.23; Ma ha chỉ quán Q.6 phần dưới]. (xt. Thông Giáo).

hàm tàng thức

Xem A lại da thức.

hàm tình

All beings possessing feeling, sentience. ; Chúng sanh hữu tình, có cảm thọ—All beings, possessing feeling, sentience.

hàm tạng khí

2832即密教供養諸尊時,用以裝置塗香之塗香器,為六器之一。行者自行修法畢,先將前供、後供之供花及花鬘器、閼伽器等中之殘餘花及供臺上之水滴等皆置入塗香器中,其次取塗香器、花鬘器、閼伽器等依次重疊,置於塗香器之器臺上;以塗香器藏置諸等之物,故稱為含藏器。然此作法之次第應先行後供,次行前供。又六器即分別裝置燈、飯、花、塗香、閼伽、香等六種供養物之器物,通常皆次第配當彌陀、釋迦、文殊、普賢、觀音、彌勒等諸尊;其中,塗香器配當普賢,而普賢又表示八識中之第八識,即含藏識,故塗香器又稱為含藏器。 ; (含藏器) Cũng gọi Đồ hương khí. Dụng cụ đựng hương thoa (đồ hương) để cúng dường chư tôn trong Mật giáo. Một trong 6 thứ đồ đựng(Át già = đồ đựng nước, Đồ hương, Hoa man = đồ đựng hoa, mỗi thứ đều một cặp thành 6 thứ). Sau khi tu pháp xong, hành giả phải thu hết hoa và nước thơm đã cúng dường rồi để vào Đồ hương khí này cho nên gọi là Hàm tàng khí (đồ chứa đựng). Lại nữa, 6 đồ dùng để 6 thứ cúng dường là: Đèn, cơm, hoa, hương thoa, nước thơm và hương đốt, theo thứ tự được phối với Phật Di đà, Phật Thích ca, bồ tát Văn thù, bồ tát Phổ hiền, bồ tát Quan âm và bồ tát Di lặc. Trong đó, Đồ hương khí được phối với bồ tát Phổ hiền, mà bồ tát Phổ hiền lại biểu thị cho thức thứ 8 trong 8 thức, tức là Hàm tàng thức, cho nên Đồ hương khí cũng gọi là Hàm tàng khí.

hàm tạng thức

Àlaya-vijnàna (S). The Eighth consciousness.

hàm ân

To feel grateful to s.o. for sth.

hàn

25) Sita (skt)—Lạnh—Cold. 1) Nghèo: In poverty.

hàn chung li

Han Zhongli (C).

hàn châu thiên long

KōshŪ TenryŪ (J)Tên một vị sư.

Hàn Dũ

(韓愈, 768-824): văn hào thời Trung Đường, một trong 8 nhân vật nổi tiếng thời Đường Tống, tự là Thối Chi (退之), xuất thân vùng Xương Lê (昌黎), Tỉnh Hà Nam (河南省), nên được gọi là Xương Lê Tiên Sinh, bút hiệu là Văn Công (文公). Ông đã cùng với Liễu Tông Nguyên (柳宗元) nỗ lực phục hưng nền cổ văn. Tác phẩm của ông có Hàn Xương Lê Văn Tập (韓昌黎文集) 50 quyển.

hàn dũ

6542(768~824)唐代古文家。字退之。鄧州南陽(河南南陽)人,先世居昌黎。讚揚儒家,反對佛教、道教,富文名;蘇軾嘗稱其文起八代之衰。憲宗時,官至刑部侍郎。後以諫迎佛骨事貶為潮州刺史。嘗問道於大顛和尚。〔舊唐書卷一六○、唐書卷一七六〕 ; (韓愈) (768-824) Văn hào Trung quốc ở đời Đường, người Nam dương, Đặng châu, tỉnh Hà nam, tự là Thoái chi. Ông chủ trương Nho giáo độc tôn, kịch kiệt bài bác Phật giáo và Đạo giáo. Ông là một nhà văn lỗi lạc thời bấy giờ, văn chương của ông có sức lôi cuốn đến nỗi Tô thức đời Tống phải khen rằng ông đã làm cho văn chương 8 đời về trước phải suy vi. Ông làm quan đến chức Hình bộ thị lang. Về sau, vì dâng biểu can vua không nên rước xá lợi Phật vào cung nên bị biếm xuống làm Thứ sử Triều châu. Trong thời gian này, ông thường đến hỏi đạo nơi hòa thượng Đại điên và sau lại qui y theo Phật giáo. [X. Cựu đường thư Q.160; Đường thư Q.176].

hàn giang tử

Han Xiangzi (C), Han Hsiang-Tzu (C), Han Xiangzi (C)Một trong Bát tiên.

hàn gắn

To heal.

hàn hành

4927日本佛教用語。即佛教徒於冬季嚴寒之日,或坐禪,或托鉢、誦經等,作忍耐寒氣之修行。又作寒修行。有寒垢離、寒念佛、寒詣等數種。寒垢離意謂沐浴寒水,除身心之垢穢,以祈願神佛降福;寒念佛即僧俗叩鉦念佛或唱和讚,而繞行於市街;寒詣即於寒夜參詣神社佛寺以祈念,又稱寒參。普通以一日、三日、七日、二十一日或三十日等為期,信徒一般皆裸身、跣足,或僅著白衣,焚護摩以禦寒,取水垢離,並參拜神社寺院一百次等;即以寒日之苦行祈求神佛加庇,認為其功德勝於平常季節。(參閱「垢離」3766) ; (寒行) Cũng gọi Hàn tu hành. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp tu khổ hạnh chịu đựng sự giá lạnh trong mùa đông của tín đồ Phật giáo Nhật bản. Họ thực hành mấy cách sau đây: - Hàn cấu li: Tắm gội bằng nước lạnh, trừ sạch sự nhớp nhúa của thân tâm để cầu thần Phật ban phúc. - Hàn niệm Phật: Tăng ni và tín đồ đi quanh các đường phố niệm Phật hoặc hòa tán.- Hàn nghệ, cũng gọi Hàn tham: Trong đêm giá buốt thường đến các chùa niệm Phật, hoặc đến đền thần cầu nguyện. Thông thường, Hàn hành được tu trong thời gian 1 ngày, 3 ngày, 7 ngày, 21 ngày hoặc 30 ngày. Hành giả đều ở trần, hay mặc áo trắng, đi chân đất, đốt cây cúng dường để chống rét, dùng nước tắm gội, đồng thời, đi lễ chùa đền 100 lần. Họ tin rằng trong mùa đông giá rét mà tu khổ hạnh như vậy thì thần Phật sẽ gia hộ và được nhiều công đức hơn.

hàn khổ điểu

4928又作雪山鳥。棲止於喜馬拉雅山,不築巢,故夜間備受寒苦,俟白晝日暖又忘寒凍之苦。一般常以此形容人之善忘,與「過了喉嚨就忘了熱」之諺語有異曲同工之妙。於印度,又傳說寒苦鳥能作無常偈,雌鳥鳴曰:「寒苦逼身,夜明造巢。」雄鳥則鳴曰:「今日不知死,明日不知死;何故造作棲,安穩無常身?」 ; (寒苦鳥) Cũng gọi Tuyết sơn điểu. Giống chim sống trên núi Hỉ mã lạp nhã (Himàlaya). Vì không biết làm tổ nên ban đêm nó phải chịu cái khổ rét buốt; nhưng khi mặt trời lên ấm áp thì nó lại quên ngay cái khổ của đêm qua. Thông thường, từ ngữ này được dùng để nói về người mau quên. Câu ngạn ngữ Vừa qua khỏi cổ đã quên ngay cái nóng cũng mang ý nghĩa giống nhau. Tương truyền, ở Ấn độ có giống chim Hàn khổ biết nói kệ vô thường. Con mái kêu: Lạnh giá khổ bức thân, đêm mai lo làm tổ . Con trống hót: Biết đâu đêm nay chết, lo tổ để làm gì .

hàn lu trục khối, sư tử giảo nhân

(Hàn Lu là con chó mực rất thông minh của nước Hàn vào thời Xuân Thu Trung Quốc). Có người quăng ra cục xương, con chó đuổi theo cục xương mà cắn, sư tử thì phát hiện người quăng cục xương mà cắn ngay người đó. Người đó dụ cho tự tánh, cục xương dụ cho lời nói của chư Phật chư Tổ. Nếu hướng vào lời nói lãnh hội là con chó, hướng vào vào tự tánh lãnh hội mới là con sư tử.

Hàn Lâm

(s: Śītavana, p: Sītavana, j: kanrin, 寒林): căn cứ vào Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa (一切經音義) quyển 7 của cao tăng Thích Huyền Ứng (玄應, ?-?) nhà Đường giải thích rằng: “Thi Đà Lâm, chánh ngôn Thi Đa Bà Na, thử danh Hàn Lâm; kỳ lâm u thúy nhi hàn, nhân dĩ danh dã, tại Vương Xá Thành trắc, tử nhân đa tống kỳ trung, kim tổng chỉ khí thi chi xứ danh Thi Đà Lâm giả, thủ bỉ danh chi dã (屍陀林、正言屍多婆那、此名寒林、其林幽邃而寒、因以名也、在王舍城側、死人多送其中、今總指棄屍之處名屍陀林者、取彼名之也, Thi Đà Lâm, gọi cho đúng là Thi Đa Bà Na, ở đây [Trung Quốc] gọi là Hàn Lâm; khu rừng này thâm u mà lạnh lẽo, nên có tên như vậy, nằm một bên Vương Xá Thành; phần lớn người chết đều được tống vào trong rừng này; nay chỉ chung cho những nơi vất bỏ thi thể người chết là Thi Đà Lâm, lấy đó làm tên gọi).” Như vậy, Thi Đa Bà Na (尸多婆那), Thi Đà Lâm (屍陀林、尸陀林), là âm dịch của Hàn Lâm, khu mộ địa nằm gần Vương Xá Thành (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城), là khu rừng vứt bỏ xác người chết cho cầm thú ăn. Người vào khu rừng này cảm thấy rùng rợn, lạnh lùng, sợ hãi, nên được gọi là Hàn Lâm (khu rừng lạnh lẽo). Từ đó, nó được gọi là nghĩa trang, khu mộ địa. Cho nên Hàn Lâm ở đây có nghĩa là khu rừng lạnh lẽo với những xác người chết, vì vậy các hồn phách vất vưởng mới đến nương tựa. Trong bài Phụng Hòa Tập Mỹ Thương Sử Củng Sơn Nhân (奉和襲美傷史拱山人) của Lục Quy Mông (陸龜蒙, ?-khoảng 876) nhà Đường có câu: “Tằng thuyết sơn thê dục khứ tầm, khởi tri sương cốt táng Hàn Lâm (曾說山棲欲去尋、豈知霜骨葬寒林, từng sống rừng sâu muốn đi tìm, nào hay sương cốt chôn Hàn Lâm).” Hay trong bài Dữ Lý Sanh Luận Thi Thư (與李生論詩書唐) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường cũng có câu: “Đào nạn nhân đa phần khích địa, phóng sanh lộc đại xuất Hàn Lâm (逃難人多分隙地、放生鹿大出寒林, trốn nạn người đa phần chun đất, phóng sanh nai thường ra Hàn Lâm).”

hàn lâm

Sìtavana (S) Cold forest using as cemetery. Also thi đà lâm. ; Citavana (skt)—Thi Ða Bà Na—Khu rừng lạnh nơi mai táng những người chết (đây là khu rừng ở cạnh thành Vương Xá, nơi mà xác người chết được đem vào đây cho kên kên rỉa thịt)—The cold forest where the dead were exposed (to be devoured by vultures). Nghĩa địa: A cemetery. Accademy.

hàn lâm ngũ phụng tập

6279凡六十四卷。係奉日本後陽成天皇之敕旨,而完成於元和九年(1623)之漢詩集。為「五山文學」初期至江戶初期集大成之作。其中金地院崇傳之序與剛外令柔之跋均收於大日本佛教全書。

hàn lâm viện

Academy.

hàn lô trục khối

6542禪林用語。韓獹,乃戰國時代產於韓國之名犬。又作狂狗逐塊。原意謂向犬投土塊,犬竟誤認土塊為食物,遂盲目追逐之;於禪林中,轉指禪徒並無自己真正之見解,僅於言句上詮解,或執著於事物之形迹、捕捉枝葉末節等,而欲了達事物之真相,可謂徒勞無功。〔碧巖錄第四十三則〕 ; (韓獹逐塊) Cũng gọi Cuồng cẩu trục khối. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Con chó đuổi theo cục đất. Hàn lô là một giống chó nổi tiếng ở nước Hàn trong thời đại Chiến quốc. Nếu ném cục đất trước nó, nó sẽ tưởng lầm là thức ăn được, rồi cứ đuổi theo. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho người không tự tìm hiểu tâm tính của mình, mà chỉ miệt mài giải thích, phân tích từng lời nói, câu văn trong các kinh điển, để mong thấu suốt chân tướng của các pháp. Như thế chỉ uổng công phí sức, chứ chẳng được lợi ích gì.

hàn môn

Needy family.

hàn ngục

Ðịa ngục lạnh—The cold hells—See Ðịa Ngục (A) (b).

hàn nhiệt hòa hợp sinh

Samsvedaja (S). Birth from moisture, moisture sprung. Also thấp sinh.

hàn nho

A poor, needy scholar.

hàn nhân

A poor man.

hàn nữ

A poor girl.

hàn phi tử

Han-Fei-tzu (C).

hàn phong

Cold wind.

hàn quốc phật giáo

6537佛教東傳朝鮮半島,據三國史記卷十八等載,高句麗小獸林王二年(372),中國前秦苻堅遣使者及僧順道齎來佛像、經論;又二年,秦僧阿道來朝。翌年,敕為二僧建肖門寺及伊弗蘭寺,是為韓國有佛寺之始。又十年(384),印度沙門摩羅難陀至百濟宣教,新羅則遲至五二八年始見佛教興隆。 佛教初傳朝鮮半島時,與當時半島上原有之 習俗相融合,目的僅在祈福,此為初傳時之相容時期。至六世紀初,名師輩出,如百濟僧謙益求法印度,攜回梵本阿毘曇藏及五部律,譯出律部七十二卷,是為百濟律宗之祖;時曇旭、惠仁等並著律疏三十六卷,皆奉藏於臺耀殿。高句麗僧惠慈於推古天皇三年(595)至日本,後與百濟僧惠聰同至飛鳥法興寺,並同為聖德太子之師;惠聰後被推許為佛教棟樑。 於高句麗、百濟、新羅等三國之中,以新羅佛教最盛,入中、印求法者最多,高僧亦輩出如雲,其中,圓光於南朝陳時來中國遊學,精通涅槃、成實、攝論等學。元曉來唐未果,曾注釋佛經八十一部,闡揚一乘圓教。義湘亦來唐參謁中國華嚴宗二祖智儼,返國後大力弘傳華嚴宗。又慈藏曾與弟子僧實等十餘人來唐,歸國後,攜回大藏經一部及諸幡幢、花蓋等,王曾命於芬皇寺講大乘論,其思想以律學及華嚴為主,曾建通度寺戒壇及大和寺塔。圓測於十五歲來唐,曾參學各處高僧講筵,專學唯識學,曾蒙唐太宗頒賜度牒。惠通弘傳密法,為真言宗祖師。至新羅統一時期(668~935),佛教已漸脫離中國,樹立朝鮮佛教獨特之教學。 諸宗之中,以禪宗傳入較晚,卻後來居上。最早將禪宗傳入韓國者為法朗及其門人信行(704~779,一名神行),信行所傳者為中國北宗神秀之法脈。信行之後,有道義者,曾來唐參謁智藏,並嗣其法,歸國(821)後,欲興南宗禪法而不果,遂於雪岳山隱居,後由再傳弟子普照大興其宗風。道義之同門洪陟,於智異山創建實相寺,大興禪法,是為朝鮮佛教「禪門九山」之濫觴。 禪門九山無不源於中國曹溪六祖慧能,然與中國禪宗五派(臨濟、曹洞、溈仰、雲門、法眼)並無關連。九山者,實相山派、迦智山派、闍崛山派、桐裏山派、聖住山派、師子山派、曦陽山派、鳳林山派、須彌山派。此外,淨土信仰亦頗盛行。西元九三五年,新羅為高麗所敗,佛教亦出現另一嶄新之面貌。 於高麗時代(935~1392),教宗與禪宗盛行,尤以禪宗,繼新羅末期之教勢而盛於高麗時代全期;華嚴宗與法相宗亦各形成其宗派,而持續教脈。自大覺國師義天以後,成立天台宗,給予教禪兩宗影響甚鉅。高麗時代之佛教,正值外敵侵入與國家混亂之難局,欲以佛德或神力克服此一情勢,而有諸種法會、法席、道場、設齋等佛事之設置,此乃「祈福禳災,鎮護邦國」之國家思想的形成。據東國通鑑等載,太祖即位(918)時,即設八關會、燃燈會;翌年將都城遷往開城,於建宮殿之同時,於京內創建法王、慈雲、王輪、內帝釋、舍那、天禪、新興、文殊、圓通、地藏等十寺。光宗(950~976 在位)於城南建大報恩寺為太祖追福。並設僧階,定國師、王師之制;時毘盧遮那懺悔法、無遮水陸會、齋僧等佛事頻繁。顯宗(1010~1031 在位)時,為攘斥契丹之兵,而發願雕刻大藏經,此即高麗藏之初雕版。於高宗(1214~1259 在位)時,因蒙古兵入侵,藏於符仁寺之初雕版全毀於戰火。至西元一二五一年,經過多年之努力,再雕版大藏經始告完成,總計六五二九卷八一二五八版,收藏於江華城西門外大藏經板堂,後移至海印寺收藏迄今。 高麗時代之高僧輩出,如早期之道詵、廣學、大緣、法印、利嚴、慶甫、利讓、璨幽、允多等,其中,利嚴為太祖之師,璨幽曾來唐,依投子山大同修學,並得其心印,歸國後,曾受太祖、惠宗、定宗、光宗等四代帝王皈依,光宗特賜「證真大師」之號,並封為國師。此外,如智宗、道峰等,均曾來宋參學,受永明延壽之心印,歸國後,活躍一時。舉揚華嚴學之均如,頗受光宗崇信,嘗致力於南岳智異山、北岳浮石寺等二派華嚴學之融合會通。 開立天台宗之大覺義天,為文宗之第四王子,十一歲出家,於靈通寺爛圓處得度,並修學華嚴教觀。於宣宗二年(1085)來宋,歸國時攜回章疏等三千餘卷,後編成「新編諸宗教藏總錄」三卷,並著有「新集圓宗文類」等十餘部三百餘卷。 高麗時代之佛教,自天台宗立宗後,原來興盛之禪宗(曹溪宗)逐漸衰頹,雖有坦然等高僧極力挽回禪宗之頹勢,卻一蹶不振,直至普照知訥時,始中興禪宗,形成一新局面。 高麗時代之佛教,於王室及為政者之保護下得以成長興盛,至西元一三九二年高麗滅亡,佛教亦隨之呈現衰勢。李朝建國後,強烈的興儒排佛思潮,令佛教趨於抑壓受難之時代。睿宗(1469 在位)曾訂定度牒之制,員額為禪宗、教宗各三十名;此外又禁止寺剎之創建。其後之成宗(1470~1494 在位)、燕山君(1495~1505 在位)、中宗(1506~1544 在位)等諸帝皆採排佛政策。至明宗(1546~1567 在位)之初年,太后攝政,欲復興佛教,故佛教一度顯現再興之機,然其後因明宗親政,恢復興儒排佛政策,佛教遂再陷頹敗之勢。惟此時期仍見高僧大德,如無準己和(1376~1433)撰「顯正論」以駁斥排佛論;西山休靜(1520~1604)大振禪風,今韓國僧徒多屬此法系。與休靜法系抗禮者,有浮休善修(1543~1649)與碧巖覺性(1575~1660)之法系。另有晦庵定慧(1685~1741)著「華嚴經疏隱科」、「禪源集都序著柄」,與鏡嚴應允(1703~1804)二人並稱教禪兩宗之大宗師。李朝末期,因諸師之努力,終於一八九五年解除僧侶不得入京之禁令,四年後,於京師創建元興寺,並設置「朝鮮佛教總宗務所」,朝鮮佛教乃得復甦。 一九一○年,日本併吞朝鮮,翌年發布「朝鮮總督府寺剎令」及「寺剎令施行規則」,而將教團分為三十本山(一九二四年加華嚴寺成為三十一本山),形成三十個教區。一九一二年將朝鮮佛教稱「禪教兩宗」,並以覺皇寺為中央教堂,而設置三十本山會議所。三十本山則各制定寺法,後因反對教團被總督府監督,乃於一九二一年召開全國僧侶大會,決議於覺皇寺設置「朝鮮佛教禪教兩宗中央總務院」,以統轄全國寺剎;翌年反對派亦於覺皇寺設置「朝鮮佛教禪教兩宗中央教務院」。一九二五年兩院達成協議,合併組織「財團法人朝鮮佛教中央教務院」,以為中央統一之宗務機構,統轄全國三十一本山。其後將宗名改為「曹溪宗」,並建立太古寺作為其總本山。 此外,圓佛教為新興於本世紀初之佛教宗派,創教者少太山(1891~1943)以修行門(真空妙有)與信仰門(因果報應)為基本教義,立精神修養、事理研究、作業取捨等三學,以教化信徒,並創立圓光大學培育人才,教勢頗盛。 於佛教教育方面,一九○六年於元興寺創建「明進學校」以為僧侶之教育機構,該校後來改組為「佛教師範學校」。一九一六年中央總務院於漢城設立「佛教中央學林」,為培養教界人才之學林,以修身、宗乘、餘乘、宗教學、布教法,及哲學、理、數、史、地等一般學科教育青年僧侶。同時在地方亦以寺院為中心而成立地方學林。然因中央學林曾為韓國獨立運動之根據地,故於一九二二年遭廢止。其後屢經變遷,而於第二次世界大戰後成為東國大學。 佛教之教育機構除上述之外,尚有中央僧伽大學,及附設於寺院之講院等。其中,東國大學及圓光大學成為韓國佛教研究之二大中心,並產生諸多傑出學者。佛教期刊、學報方面,自一九一○年發行佛教雜誌「圓宗」後,陸續有朝鮮佛教月報、海東佛報、佛教振興會月報、朝鮮佛教界、佛教、佛教學報、韓國佛教學、韓國宗教、圓佛教思想等刊行。 現代韓國佛教分為十八宗派,其中,以曹溪宗與太古宗為二大主流,茲據韓國寺剎資料叢書4(1983)所載,將主要宗派之僧侶數(總數二○七五五)及信徒數(總數一一一三○○○○)列表如下。 韓國之宗教,尚有基督教、天主教、儒教、天道教等宗教。天主教約於二百年前傳入韓國,戰後基督教甚盛,其教勢幾有凌駕佛教之勢,至一九八三年,教徒人數已逾九十四萬。〔日韓佛教研究(現代佛教學術叢刊(82))、朝鮮佛教通史(李能和)、韓裈仏教史(愛宕顯昌)、韓裈仏教史(金煐泰)〕 ; (韓國佛教) Phật giáo nước Đại hàn. Hàn quốc thời xưa gồm các nước: Triều tiên, Cao cú li, Bách tế, Tân la, Cao li... Cứ theo Tam quốc sử kí quyển 18 chép, thì năm 372, vua Phù kiên đời Tiền Tân của Trung quốc có sai sứ thần và 2 vị cao tăng là ngài Thuận đạo và A đạo mang kinh luận, tượng Phật đến bán đảo Triều tiên. Năm 373, vua Triều tiên ban sắc cho 2 ngài Thuận đạo, và A đạo xây cất chùa Tiếu môn và chùa Y phất lan. Đây là 2 ngôi chùa đầu tiên trên bán đảo này. Năm 384, có vị sa môn Ấn độ tên là Ma la nan đà đến Bách tế truyền đạo, riêng Tân la thì mãi đến năm 528 mới thấy Phật giáo thịnh hành. Lúc mới truyền vào bán đảo Triều tiên, Phật giáo đã dung hòa ngay với tập tục cố hữu của địa phương, mục đích chỉ nhằm cầu phúc. Đó là thời kì đầu du nhập. Đến đầu thế kỉ VI, có nhiều vị danh tăng xuất hiện, như ở Bách tế có ngài Khiêm ích sang Ấn độ cầu pháp, khi trở về nước mang theo tạng A tì đàm và 5 bộ luật bằng tiếng Phạm, ngài dịch bộ luật 72 quyển, trở thành vị Tổ Luật tông đầu tiên của nước Bách tế, rồi 2 ngài Đàm húc và Huệ nhân soạn bộ Luật sớ 36 quyển, tất cả đều được cất giữ ở điện Đài diệu. Năm 595, ngài Huệ từ của Cao cú li đến Nhật bản, cùng với ngài Huệ thông của Bách tế ở chùa Pháp hưng tại Phi điểu và đều được thái tử Thánh đức tôn làm thầy. Trong 3 nước Cao cú li, Bách tế, Tân la thì Phật giáo ở Tân la hưng thịnh hơn cả, rất nhiều vị cao tăng đến Trung quốc, Ấn độ cầu pháp. Trong đó, ngài Viên quang đến Trung quốc vào thời Trần thuộc Nam triều, học thông Niết bàn, Thành thực, Nhiếp luận. Ngài Nguyên hiểu vừa đến Trung quốc vào đời Đường đã chú thích 81 bộ kinh Phật, xiển dương Nhất thừa viên giáo. Ngài Nghĩa tương cũng đến Trung quốc vào đời Đường, tham yết ngài Trí nghiễm, tổ thứ 2 của tông Hoa nghiêm, khi trở về nước ngài chuyên truyền bá tông Hoa nghiêm. Ngài Từ tạng cùng với 10 người đệ tử đến Trung quốc vào đời Đường, khi về nước mang theo các loại phan phướn, một bộ Đại tạng kinh. Vua ban lệnh cho ngài giảng luận Đại thừa ở chùa Phân hoàng, ngài chuyên về Luật học và Hoa nghiêm. Ngài kiến lập giới đàn ở chùa Thông độ và xây tháp ở chùa Đại hòa. Ngài Viên trắc thì 15 tuổi đã đến Trung quốc, tham học tại các trường giảng của các vị cao tăng ở nhiều nơi, chuyên về Duy thức học, được vua Đường thái tông ban cho độ điệp. Ngài Huệ thông là tổ của tông Chân ngôn, hoằng truyền pháp Mật giáo. Đến thời kì Tân la thống nhất (khoảng 668-935), Phật giáo Triều tiên đã dần dần tách khỏi Trung quốc mà lập ra nền giáo học của riêng mình. So với các tông, thì Thiền tông được truyền vào Triều tiên muộn hơn cả, nhưng về sau lại là tông phái hưng thịnh nhất. Người đầu tiên truyền Thiền tông vào Triều tiên là ngài Pháp lãng và đệ tử là sư Tín hạnh (cũng gọi là Thần hạnh). Sư Tín hạnh (704-779) truyền hệ thống Thiền Bắc tông của ngài Thần tú. Sau Tín hạnh, có các sư Phổ chiếu, Hồng trắc truyền bá Thiền Nam tông của Lục tổ Tuệ năng. Đó là nguồn gốc của Thiền môn cửu sơn của Phật giáo Triều tiên. Thiền môn cửu sơn nghĩa là Thiền tông của Triều tiên gồm có 9 phái: Thực tướng sơn, Ca trí sơn, Xà quật sơn, Đồng lí sơn, Thánh trụ sơn, Sư tử sơn, Hi dương sơn và Tu di sơn. Ngoài ra, tín ngưỡng về Tịnh độ cũng rất thịnh hành. Năm 935, nước Tân la bị nước Cao li đánh bại, từ đó Phật giáo cũng mang một sắc thái mới. Thời đại Cao li (935-1392), Giáo tông và Thiền tông đều hưng thịnh, nhất là Thiền tông, nhờ tiếp nối thế lực ở cuối thời Tân la mà được thịnh hành suốt thời Cao li. Đồng thời, các tông Hoa nghiêm, Pháp tướng cũng được hình thành. Từ quốc sư Đại giác Nghĩa thiên trở về sau, tông Thiên thai được thành lập, có ảnh hưởng rất lớn đối với các tông khác. Thời đại Cao li đất nước ở trong tình trạng ngoại xâm nội loạn, vì muốn nhờ Phật lực che chở nên triều đình đã tổ chức các Phật sự như Pháp hội, giảng tọa, đạo tràng, thiết trai, v.v... do đó mà tư tưởng quốc gia cầu phúc trừ họa, trấn giữ đất nước được hình thành. Cứ theo Đông quốc thông giám chép, năm 918, khi Thái tổ lên ngôi, liền tổ chức hội Bát quan trai, hội thắp đèn. Năm 919, vua dời đô đến Khai thành; cùng với việc kiến thiết cung điện, vua cho xây dựng 10 ngôi chùa tại kinh đô là: Pháp vương, Từ vân, Vương luân, Nội đế thích, Xá na, Thiên thiền, Tân hưng, Văn thù, Viên thông và Địa tạng. Vua Quang tông (ở ngôi 950-976) xây chùa Đại báo ân để truy tiến cầu siêu cho Thái tổ; đồng thời, thiết lập chế độ Tăng chức, định ngôi vị Quốc sư, Vương sư. Bấy giờ, các Phật sự như: Tì lô giá na sám pháp, hội Vô già thủy lục, trai tăng... rất thịnh hành. Thời vua Hiển tông (ở ngôi 1010-1031), Cao li bị quân Khất đan đánh phá, vua phát nguyện khắc Đại tạng kinh để mong trừ quốc nạn. Đây là bản khắc đầu tiên của tạng kinh Cao li và được cất giữ ở chùa Phù nhân, đến khi quân Mông cổ xâm lăng Cao li vào đầu thế kỉ XIII thì toàn bộ bản khắc này bị đốt cháy. Đến năm 1251 Tây lịch, sau nhiều năm nỗ lực, bản khắc Đại tạng kinh thứ 2 mới được hoàn thành, gồm 6529 quyển, 81.258 bản gỗ, được cất giữ ở Đại tạng kinh bản đường phía ngoài cửa tây của thành Giang hoa, sau được dời đến chùa Hải ấn tàng trữ cho đến nay. Ở thời đại Cao li có rất nhiều vị cao tăng xuất hiện, như các ngài: Đạo tân, Quảng học, Đại duyên, Pháp ấn, Lợi nghiêm, Khánh phủ, Lợi nhượng, Xán u, Doãn đa v.v... trong đó, ngài Lợi nghiêm là thầy của vua Thái tổ, ngài Xán u từng đến Trung quốc (đời Đường) theo ngài Đại đồng tu học ở núi Đầu tử và được truyền tâm ấn. Sau khi về nước, ngài được 4 đời vua là Thái tổ, Huệ tông, Định tông và Quang tông qui y, đặc biệt vua Quang tông ban hiệu cho ngài là Chứng chân đại sư , đồng thời được phong làm Quốc sư. Ngoài ra, các ngài Trí tông, Đạo phong cũng từng đến Trung quốc (đời Tống) tham học ngài Vĩnh minh Diên thọ, sau khi về nước, hoằng dương Phật pháp, nổi tiếng một thời. Ngài Đại giác Nghĩa thiên, người sáng lập tông Thiên thai, là con thứ 4 của vua Văn tông. Năm 11 tuổi, y vào ngài Lạn viên ở chùa Linh thông xuất gia, tu học giáo pháp Hoa nghiêm. Năm 1085, ngài đến Trung quốc (đời Tống), khi về nước mang theo hơn 3.000 quyển kinh sớ... sau biên thành Tân biên chư tông giáo tạng mục lục 3 quyển và soạn Tân tập viên tông văn loại hơn 10 bộ trên 300 quyển. Phật giáo ở thời đại Cao li được triều đình bảo hộ nên rất hưng thịnh, đến năm 1392, Cao li diệt vong, Phật giáo cũng theo đó mà suy vi dần. Sau khi nhà Lí dựng nước, phong trào chấn hưng Nho học và bài xích Phật giáo bùng nổ, là thời đại Phật giáo bị hạn chế và đàn áp. Vua Duệ tông (ở ngôi 1469) sửa đổi và định lại qui chế về độ điệp, chia ra Thiền tông, Giáo tông, mỗi tông đều có 30 viên chức chính ngạch. Ngoài ra, còn cấm xây dựng chùa tháp. Các vua về sau như Thành tông (ở ngôi 1470-1494), Yên sơn quân (ở ngôi 1495-1505), Trung tông (ở ngôi 1506-1544), v.v... đều thi hành chính sách bài Phật. Đến đầu năm Minh tông (ở ngôi 1546- 1567), Thái hậu nhiếp chính, làm cho Phật giáo hưng thịnh một thời gian, nhưng sau khi vua Minh tông đích thân cầm quyền, khôi phục chính sách phù Nho bài Phật thì Phật giáo lại rơi vào tình trạng suy đồi như cũ. Tuy vậy, thời kì này vẫn còn có các vị cao tăng đại đức, như ngài Vô chuẩn Kỉ hòa (1376-1433) soạn luận Hiển chính để bác lại luận Bài Phật; ngài Tây sơn Hưu tĩnh (1520-1604) phát huy Thiền học, tăng ni và tín đồ Phật giáo ở Hàn quốc hiện nay phần nhiều thuộc về pháp hệ này. Sánh ngang với pháp hệ của ngài Hưu tĩnh, có pháp hệ của ngài Phù hưu Thiện tu (1543-1649) và pháp hệ của ngài Bích nham Giác tính (1575- 1660). Ngoài ra, còn có ngài Hối am Định tuệ (1685-1741) soạn Hoa nghiêm kinh sớ ẩn khoa, Thiền nguyên tập đô tự trứ bính. Ngài Hối am Định tuệ và ngài Kính nghiêm Ưng doãn (1703-1804) được gọi là Đại tông sư của Giáo tông và Thiền tông. Vào cuối triều Lí, nhờ các sư nỗ lực vận động, cuối cùng, năm 1895, lệnh cấm tăng sĩ vào kinh đô được bãi bỏ. Bốn năm sau, chùa Nguyên hưng được xây cất và Sở Triều tiên Phật giáo tổng tông vụ được thiết lập tại kinh đô. Từ đó, Phật giáo Triều tiên được phục hưng. Năm 1910, Nhật bản xâm chiếm Triều tiên, 1911 ban bố Triều tiên tổng đốc phủ tự sát lệnh và Tự sát lệnh thi hành qui tắc , chia Giáo đoàn làm 30 bản sơn (năm 1924 thêm chùa Hoa nghiêm nữa thành 31 bản sơn), hình thành 30 giáo khu. Năm 1912, Phật giáo Triều tiên được gọi là Giáo Thiền Lưỡng Tông , đồng thời, lấy chùa Giác hoàng làm cơ quan truyền giáo trung ương và là trụ sở hội nghị của 30 bản sơn và qui định qui củ Thiền môn. Sau vì phản đối việc phủ Tổng đốc chi phối giáo đoàn, nên vào năm 1921, một đại hội chư tăng toàn quốc được triệu tập và lấy quyết nghị thiết lập Viện Triều Tiên Phật Giáo Thiền Giáo Lưỡng Tông Trung Ương Tổng Vụ tại chùa Giác hoàng để quản lí các chùa viện trên cả nước. Năm 1922, phái phản đối cũng lập Viện Triều Tiên Phật Giáo Thiền Giáo Lưỡng Tông Trung Ương Giáo Vụ ở chùa Giác hoàng. Năm 1925, 2 viện hiệp nghị với nhau tổ chức thành một viện: Tài Đoàn Pháp Nhân Triều Tiên Phật Giáo Trung Ương Giáo Vụ làm cơ quan tông vụ trung ương thống nhất để cai quản 31 bản sơn trên toàn quốc; về sau đổi tên thành tông Tào khê và kiến lập chùa Thái cổ làm Tổng bản sơn. Ngoài ra, Viên Phật Giáo là một tông phái mới hưng khởi ở đầu thế kỉ XX do ngài Thiếu thái sơn (1891-1943) sáng lập. Giáo nghĩa cơ bản của phái này là Tu hành môn (Chân không diệu hữu) và Tín ngưỡng môn (Nhân quả báo ứng), thành lập 3 học thuyết: Tinh thần tu dưỡng, Sự lí nghiên cứu và Tác nghiệp thủ xả để giáo hóa tín đồ. Đồng thời mở trường Đại học Viên quang để đào tạo nhân tài. Tông pháp này có thế lực rất mạnh. Về phương diện giáo dục, năm 1906 chùa Nguyên hưng mở trường Minh tiến làm cơ sở giáo dục tăng chúng, trường này sau được đổi làm trường Sư phạm Phật giáo. Năm 1916, viện Trung ương tổng vụ lập Phật Giáo Trung Ương Học Lâm tại Hán thành để bồi dưỡng tăng sĩ trẻ với các môn học như: Tu thân, Tông thừa, Dư thừa, Tông giáo học, Bố giáo pháp, Triết học, Lí, Số, Sử, Địa, v.v... Đồng thời, cũng thành lập các Học lâm ở các địa phương lấy chùa viện làm trung tâm. Nhưng vì Học lâm trung ương trước kia từng là căn cứ địa của cuộc vận động độc lập cho Hàn quốc nên vào năm 1922 bị bãi bỏ. Qua nhiều lần đổi thay, sau thế chiến thứ 2, cơ sở này đã trở thành Đại học Đông quốc. Ngoài những cơ sở giáo dục nói trên, còn có Đại học Tăng già trung ương và các giảng viện phụ đặt ở các chùa. Trong đó, Đại học Đông quốc và Đại học Viên quang là 2 trung tâm nghiên cứu Phật giáo lớn nhất và đã đào tạo được nhiều học giả kiệt xuất. Về phương diện báo chí, thì từ sau năm 1910, Phật giáo Hàn quốc đã phát hành các tạp chí như: Viên tông, Triều tiên Phật giáo nguyệt san, Hải đông Phật giáo, Phật giáo chấn hưng hội nguyệt báo, Triều tiên Phật giáo giới, Phật giáo, Phật giáo học báo, Hàn quốc Phật giáo học, Hàn quốc tông giáo, Viên Phật giáo tư tưởng, v.v... Hiện nay, Phật giáo Hàn quốc chia làm 18 tông phái, trong đó, tông Tào khê và tông Thái cổ là 2 phái chủ đạo lớn. Cứ theo Hàn quốc tự sát tư liệu tùng thư 4 (1983), thì Hàn quốc hiện có 20.755 tăng sĩ và 11.130.000 tín đồ thuộc tất cả các tông phái. Ngoài Phật giáo, Hàn quốc còn có các tông giáo khác như Cơ đốc giáo, Thiên chúa giáo, Nho giáo, Thiên đạo giáo... Thiên chúa giáo truyền vào Hàn quốc cách đây khoảng 200 năm. Sau thế chiến, Cơ đốc giáo rất thịnh. Đến năm 1933, số tín đồ đã lên tới 940.000 người. [X. Nhật Hàn Phật giáo nghiên cứu (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 82); Triều tiên Phật giáo thông sử (Lí năng hòa); Hàn quốc Phật giáo sử (Ái đãng Hiển xương); Hàn quốc Phật giáo sử (Kim anh thái)].

hàn sĩ

A poor student.

Hàn Sơn

寒山; C: hánshān; J: kanzan; tk. 7;|Một dị nhân trong Phật giáo Trung Quốc đời Ðường. Ông thường được nhắc đến cùng với Thập Ðắc và Thiền sư Phong Can. Cả ba vị đều là những nhân vật độc đáo trong lịch sử Thiền tông, tạo thành một trong những đề tài hấp dẫn của lối vẽ tốc hoạ bởi các nghệ sĩ thiền. Những bài thơ của Hàn Sơn khắc trên vách đá được sưu tầm và lưu truyền dưới tên Hàn Sơn thi.|Ông là một thi sĩ sống ẩn dật cơ hàn trong một hang đá núi Thiên Thai, thường đến viếng Thiền sư Phong Can (豐干; c: fēnggān; j: bukan) ở chùa Quốc Thanh. Nơi đây ông gặp Thập Ðắc, một người phụ bếp trong chùa. Thập Ðắc (拾得, Thập Ðắc có nghĩa là »lượm được«; c: shide; j: jittoku) hay để dành thức ăn còn sót lại trên bàn của chư tăng cho ông. Ông thường đi tới đi lui ở hành lang, thỉnh thoảng kêu to một mình rồi tự than: »Khổ quá! Khổ quá! Họ cứ lăn trôi mãi trong tam giới« và khi bị đuổi đi thường vỗ tay cười lớn rời chùa.|Về Thập Ðắc thì cũng không ai biết gì, chỉ rõ là ông bị bỏ rơi lúc còn nhỏ trong rừng, được Phong Can – vị trụ trì tại chùa Quốc Thanh – tìm thấy và bồng về chùa nuôi dưỡng. Phong Can thì nổi danh vì sư cảm hoá được cả cọp, xung quanh am của sư có cọp dữ qua lại và vì vậy, sư thường được trình bày dưới dạng cưỡi cọp trong các bức tranh.|Một hôm Thập Ðắc quét sân chùa, vị sư trụ trì hỏi: »Chú tên là Thập Ðắc vì Phong Can mang chú về. Vậy chú tên họ là gì? ở đâu đến?« Thập Ðắc nghe hỏi vậy liệng cây chổi và đứng khoanh tay trước ngực. Sư trụ trì không hiểu. Hàn Sơn chợt đi ngang qua, đấm ngực kêu: »Ối! Ối!« Thập Ðắc hỏi: »Làm gì thế, huynh?« Hàn Sơn bảo: »Chú có biết nói: ›Nhà hàng xóm chết, người hàng xóm chia buồn, không?‹« Rồi cả hai cùng nhảy múa, vừa la vừa cười bỏ đi.|Trong lời dẫn của tập Hàn Sơn thi, Lưu Khâu Dận – một vị quan mộ đạo tại Ðài Châu – có ghi lại chút ít về Hàn Sơn và Thập Ðắc. Khi được Phong Can chữa khỏi bệnh, ông hỏi: »Vùng này có vị nào mà tôi có thể theo học được chăng?« Phong Can đáp: »Ai nhìn họ thì không nhận ra, ai mà nhận ra họ thì không cần nhìn. Nếu ông muốn yết kiến thì không nên tin vào cặp mắt thịt – và sẽ nhận ra họ. Hàn Sơn là Văn-thù, ẩn cư trên chùa Quốc Thanh, Thập Ðắc là Phổ Hiền, trông giống như một gã ăn xin, phong cách như cuồng…«.||H 26: Hàn Sơn và Thập Ðắc, tranh của Châu Văn (周文; j: shūbun, ?-1460), một hoạ sĩ người Nhật.|Nghe như vậy, Lưu Khâu liền đến chùa Quốc Thanh tìm hai vị. Vừa thấy mặt, ông làm lễ cung kính. Việc này làm các vị sư trong chùa ngạc nhiên, hỏi: »Ðại nhân sao lại lễ các gã ăn xin này?« Hàn Sơn và Thập Ðắc liền cười to và nói: »Phong Can này lắm chuyện, đáng bị quở phạt vụ này.« Cả hai chạy trốn thật nhanh, không ai theo kịp. Khi Lưu Khâu đến tìm cúng dường lần nữa thì gặp Hàn Sơn và Hàn Sơn thấy ông liền la lớn: »Các ngươi hãy cố gắng!« Nói xong, ông lui vào một hang đá không bao giờ trở ra nữa, Thập Ðắc cũng mất tích luôn. Sau đây là một bài thơ của ông (Trúc Thiên & Tuệ Sĩ dịch):|憶得二十年。徐歩國清歸|國清寺中人。盡道寒山癡|癡人何用疑。疑不解尋思|我尚自不識。是伊爭得知|低頭不用問。問得復何爲|有人來罵我。分明了了知|雖然不應對。却是得便宜|Ức đắc nhị thập niên|Từ bộ Quốc Thanh quy|Quốc Thanh tự trung nhân|Tận đạo Hàn Sơn si|Si nhân hà dụng nghi|Nghi bất giải tầm ti|Ngã thượng tự bất thức|Thị y tranh đắc tri|Đê đầu bất dụng vấn|Vấn đắc phục hà vi|Hữu nhân lai mạ ngã|Phân minh liễu liễu tri|Tuy nhiên bất ứng đốI|Khước thị đắc tiện nghi.|Nhớ hai mươi năm trước|Thả bộ Quốc Thanh về|Trong chùa ai cũng nói|Hàn Sơn là gã si|Người si cần chi nghi|Nghi không hiểu tầm ti (tư)|Riêng ta còn chẳng biết|Thì y biết nỗi gì|Cúi đầu đừng hỏi nữa|Hỏi được lại làm chi?|Có người đến chửi ta|Ta biết rõ tức thì|Tuy nhiên không ứng đối|Thế mà được tiện nghi|Sự trầm tĩnh khinh an, tự tín bất động xuất phát từ hai nhân vật này cho thấy rằng, nó chỉ có thể là biểu hiện từ tâm giác ngộ. Tự mình tu tập, chẳng theo tông phái nào, cũng chẳng sống trong chùa theo luật chật hẹp mà vẫn đi trên Phật đạo, »cuồng điên« nhưng trí huệ lại cao siêu xuất thế. Có lẽ vì sự dung hoà của những kiến giải mâu thuẫn người ta tìm được ở hai đại nhân này mà hình tượng của họ đã và vẫn còn gây nhiều cảm hứng cho những người cư sĩ mộ đạo, trở thành những đề tài bất hủ trong nghệ thuật giới thiền.

hàn sơn

4925唐代隱士。居浙江天台始豐縣西四十公里之寒巖幽窟中,因不詳其姓氏,故以「寒山」稱之,又稱寒山子或貧子。寒山常至國清寺,時寺中有僧名拾得,任食堂之職,與寒山交友,每收拾眾僧殘食菜滓,藏於巨大之竹筒中,若寒山子來,二人即負之而去。 寒山之行逕極怪誕,跡近於顛狂,來至國清寺中,或於廊下徐行,或時叫躁凌人,或望空漫罵,寺僧不耐,以仗逼逐之,輒翻身撫掌,呵呵大笑而退。所著衣衫破敗,形容枯槁,以樺皮為帽,履大木屐。好吟詩唱偈,發為辭氣,常契於佛理。台州刺史閭丘胤曾慕名相訪,寒山見太守來,與拾得連臂笑傲出寺而避之。閭丘胤復往寒巖謁問,並送衣裳、藥物等。寒山高聲言曰(大五○‧八三一下):「賊!我賊退!」收身入於巖穴,復言:「報汝諸人,各各努力。」巖穴即自行封合,杳無蹤跡。寺僧道翹尋檢其遺物,唯於山林間得詩頌三百餘首,因編錄之,題名寒山詩。 據祖堂集卷十六、宋高僧傳卷十一等載,溈山靈祐禪師曾在天台山會見寒山;另據古尊宿語錄卷十四載,趙州從諗禪師亦曾與寒山相互問答。其族姓不詳,年代亦有異說,或謂係唐玄宗先天年中之人,或謂係太宗貞觀年中之人,或憲宗元和年中之人。據近人考證,生於睿宗景雲初年,代宗大曆年間隱居於天台山。傳說其為文殊菩薩之化身,與豐干(彌陀化身)、拾得(普賢化身)號稱「三聖」,或稱「三隱」。又以三者皆隱棲天台山國清寺,故亦稱「國清三隱」。清雍正十一年(1733),封寒山為「和聖」,拾得為「合聖」,並稱「和合二聖」或「和合二仙」。〔宋高僧傳卷十九、景德傳燈錄卷二十七、佛祖統紀卷三十九、佛祖歷代通載卷二十、釋氏稽古略卷三、天台山國清禪寺三隱集記〕(參閱「拾得」3825) ; Hanzan (J), Han-shan (C), Hanshan (C), Kanzan (J). ; (寒山) Cũng gọi Hàn sơn tử, Bần tử. Nhà ẩn sĩ sống vào đời Đường. Vì ông thường ở trong một hang núi lạnh lẽo tối tăm thuộc huyện Thiên thai, tỉnh Chiết giang, lại cũng chẳng biết họ tên ông, nên người đời gọi ông là Hàn sơn. Hàn sơn thường đến chùa Quốc thanh trên núi Thiên thai, trong chùa có vị tăng tên là Thập đắc, giữ chức trông nom nhà ăn, kết bạn thân với Hàn sơn. Sư thường thu nhặt những thức ăn thừa của chúng tăng, chứa vào một cái ống tre lớn, đợi khi Hàn sơn đến thì 2 người liền mang ống tre đi. Hành vi của Hàn sơn rất quái đản, gần như điên cuồng. Mỗi khi đến chùa Quốc thanh, Hàn sơn hay đi ngất ngưỡng ở hành lang, có khi la hét xúc phạm mọi người, khi lại ngửa mặt lên trời chửi đổng, chư tăng thấy thế, cầm gậy dọa đuổi, Hàn sơn quay lại vỗ tay cười ha hả rồi bỏ đi. Ông mặc manh áo rách nát, thân hình khô đét, đầu đội chiếc mũ làm bằng vỏ cây hoa, chân đi đôi guốc gỗ to; thích ngâm thơ xướng kệ, mỗi khi phát ngôn thường khế hợp với lí Phật. Thứ sử Thai châu là Lư khâu dận nghe danh ông tìm đến chùa Quốc thanh thăm ông, thấy Thái thú đến, Hàn sơn và Thập đắc khoắc tay cười ngạo rồi ra khỏi chùa. Lư khâu dận lại đến hang núi Hàn sơn ở để thăm, mang theo quần áo, thuốc thang để tặng. Hàn sơn lớn tiếng nói (Đại 50, 831 hạ): Giặc đến giặc đến! Ta chạy trốn thôi! rồi thu mình vào hang đá và nói: Các ngươi hãy cố gắng! Nói xong, hang đá tự nhiên khép lại không thấy dấu vết gì nữa. Về sau, ngài Đạo kiều đi tìm di vật của Hàn sơn, chỉ thấy hơn 300 bài thơ ở trong núi, sau đó biên chép lại, lấy tên là Hàn Sơn Thi . Cứ theo Tổ đường tập quyển 16 và Tống cao tăng truyện quyển 11, thì thiền sư Qui sơn Linh hựu đã từng gặp Hàn sơn ở núi Thiên thai. Cổ tôn túc ngữ lục quyển 14 cũng ghi thiền sư Triệu châu Tùng thẩm cũng có lần đối đáp với Hàn sơn. Về niên đại của Hàn sơn, có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng ông sinh vào khoảng năm Tiên thiên đời vua Huyền tông nhà Đường. Có thuyết cho vào khoảng năm Trinh quán đời vua Thái tông, có thuyết nói vào năm Nguyên hòa đời vua Hiến tông. Nhưng theo sự khảo chứng gần đây thì ông sinh vào đầu năm Cảnh vân đời vua Duệ tông, ở ẩn tại núi Thiên thai vào khoảng năm Đại lịch đời vua Đại tông. Truyền thuyết cho rằng Hàn sơn là hóa thân của bồ tát Văn thù cùng với các sư Phong can(hóa thân của Phật Di đà) và Thập đắc (hóa thân của bồ tát Phổ hiền) được gọi là Tam thánh hoặc Tam ẩn. Lại vì cả 3 vị đều ở chùa Quốc thanh, núi Thiên thai, nên cũng gọi là Quốc thanh tam ẩn . Năm Ung chính 11 (1733) đời Thanh, vua phong cho Hàn sơn là Hòa Thánh , Thập đắc là Hợp Thánh , gọi chung là Hòa Hợp Nhị Thánh hoặc Hòa Hợp Nhị Tiên . [X. Tống cao tăng truyện Q.19; Cảnh đức truyền đăng lục Q.27; Phật tổ thống kỉ Q.39; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Thích thị kê cổ lược Q.3; Thiên thai sơn quốc thanh thiền tự tam ẩn tập kí]. (xt. Thập Đắc).

hàn sơn huệ huyền

Xem Quan Sơn Huệ Huyền.

hàn sơn thi

4927凡三卷。唐代國清寺道翹編。集錄寒山之詩頌三百餘首,概為五言律詩。其詩清奇雅致,一洗六朝豔麗綺靡文風之流弊,而專注於心靈與智慧之活潑展現,風格獨具。附錄豐干詩、拾得詩,三詩合稱三隱集。卷首有台州刺史閭丘胤序。本書之異本有宋淳熙十六年(1189)禹穴沙門志南輯本,及明代計益軒刻本。 ; (寒山詩) Thi phẩm, 3 quyển, do ngài Đạo kiều chùa Quốc thanh biên chép vào đời Đường. Nội dung sưu tập hơn 300 bài thi tụng của nhà thơ Hàn sơn, làm theo thể ngũ ngôn. Lời thơ trong sáng, tao nhã, ý thơ thanh thoát, thể hiện chiều sâu của tâm linh và trí tuệ. Ngoài ra, còn có phần phụ lục thơ của ngài Phong can và Thập đắc. Đầu quyển có bài tựa của Thứ sử Thai châu Lư khâu dận. Sách này còn có bản do sa môn Vũ huyệt Chí nam biên tập vào năm Thuần hi 16 (1189) đời Tống và bản khắc của Kế ích hiên đời Minh.

hàn sơn tự

4926位於江蘇吳縣(即蘇州)西之楓橋鎮。又稱楓橋寺。開創於南朝梁代天監年間(502~519)。相傳唐元和年間,寒山、拾得在此結草庵,其後,希遷創建伽藍,號寒山寺。該寺因唐代詩人張繼之「月落烏啼霜滿天,江楓漁火對愁眠;姑蘇城外寒山寺,夜半鐘聲到客船」一詩,而名聞天下。另一說以為舊名妙利普明塔院。宋太平興國年間,節度使孫承祐建浮圖七級。嘉祐年中,改稱普明禪院。元末燬於兵火,明洪武年中重修,其後再經多次修繕;寺中供有寒山、拾得、豐干之像,並有鐘樓、藏經閣等建築。今已荒敗,不復舊觀。惟本殿尚有出於近舟手筆之寒山、拾得石刻,偏殿刻有文徵明親筆之楓橋夜泊詩壁碑,另有清光緒三十一年(1905),日人伊藤博文所贈之鐘。門外有石橋,名為楓橋。〔古今圖書集成職方典第六七八、第六八六、神異典第一一五、大明一統志卷八、大清一統志卷五十五、蘇州府志卷四十、支那佛教史蹟評解第二〕 ; (寒山寺) Cũng gọi Phong kiều tự Chùa ở thị trấn Phong kiều, phía tây huyện Ngô (tức Tô châu), tỉnh Giang tô, được sáng lập vào khoảng năm Thiên giám (502-519) đời Lương thuộc Nam triều. Tương truyền, khoảng năm Nguyên hòa đời Đường, Hàn sơn và Thập đắc dựng am tranh ở đây, về sau, ngài Hi thiên lập thành chùa, lấy tên là Hàn sơn tự. Có thuyết cho rằng trước kia chùa này có tên là Diệu lợi phổ minh tháp viện. Khoảng năm Thái bình hưng quốc đời Tống, quan Tiết độ sứ là Tôn thừa hựu xây một tòa tháp 7 tầng. Khoảng năm Gia hựu đổi tên là Phổ minh thiền viện. Cuối đời Nguyên, chùa bị chiến tranh thiêu hủy. Trong năm Hồng vũ Hàn Sơn đời Minh, chùa được trùng tu. Về sau còn được sửa chữa nhiều lần. Trong chùa thờ tượng các ngài Hàn sơn, Thập đắc và Phong can. Chùa có các kiến trúc như lầu chuông, gác để kinh, v.v... Trong chính điện còn tấm đá khắc các chữ. Hàn sơn, Thập đắc và tấm bia dựng ở vách điện khắc bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của nhà thơ Trương kế đời Đường. Trong chùa cũng có quả chuông do người Nhật tên là Y đằng Bác văn cúng vào năm Quang tự 31 (1905) đời Thanh. Phía ngoài cửa chùa có cây cầu đá tên là Phong kiều. [X. Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 678, 686; Thần dị điển thứ 115; Đại minh nhất thống chí Q.8; Đại thanh nhất thống chí Q.55; Tô châu phủ chí Q.40; Chi na Phật giáo sử tích bình giải thứ 2].

hàn sơn tự chí

4927凡三卷。清代葉昌熾撰。為寒山寺之寺誌。民國十一年(1922)刊行,收於中國佛寺史志彙刊第一輯。本書於清宣統三年(1911)修纂,分為十門。卷一包括志橋、志寺、志象、志鐘,卷二包括志碑、志僧、志產、志遊、志事,卷三包括志詩,並附以寒山拾得事蹟、寒山詩集解題及諸家書牘詩話序跋考證。 ; (寒山寺志) Gồm 3 quyển, do ông Diệp xương xí soạn vào đời Thanh, ấn hành năm 1922, thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vựng san tập 1. Nội dung nói về chùa Hàn sơn. - Quyển 1: Nói về cầu, chùa, tượng, chuông... - Quyển 2: Nói về bia, chư tăng, tài sản, thắng cảnh, du khách... - Quyển 3: Nói về thơ và phụ thêm sự tích Hàn sơn, Thập đắc, Hàn sơn thi tập giải đề, Chư gia thư độc thi thoại tự bạt khảo chứng.

hàn thanh tịnh

6537(1873~?)名德清,別署清淨居土,故佛教界多以「韓清淨」稱之。為繼唐之後復興唯識學大宗匠之一,與歐陽漸齊名。民國十六年(1927),和徐森玉等居士組織「三時學會」,與歐陽漸之「支那內學院」均以研究唯識著稱,當時有「南歐北韓」之譽。氏治學精審,窮究瑜伽師地論之本論,並兼及十支末論,能於瑜伽師地、攝大乘等論書,字句熟背而直言出處。氏又致力於印行唯識學之古籍,講學著述之際,亦力持古義,於華北佛學之開展,頗有啟迪之功。其畢生心血悉集於「瑜伽師地論科句披尋記彙編」一百卷,惟韓氏生前未能出版,直至四十八年,始由三時學會打字刊印百部。另著有唯識指掌、唯識三十頌詮句、成唯識論述記講義二冊、解深密分別瑜伽品略釋三卷等書。 ; (韓清淨) (1873-?) Học giả Phật giáo Trung quốc, tên Đức thanh, hiệu Thanh tịnh cư sĩ, bởi thế, giới Phật giáo thường gọi là Hàn thanh tịnh. Ông là người có công lớn đối với việc phục hưng Duy thức học sau đời Đường và phát triển Phật học ở miền Bắc Trung quốc, ông nổi tiếng ngang với Âu dương tiệm, nên đương thời đã có lời khen một cách danh dự là: Nam Âu Bắc Hàn (miền Nam có Âu dương tiệm, miền Bắc có Hàn thanh tịnh).Năm Dân quốc 16 (1927), ông và Từ sâm ngọc tổ chức Tam thời học hội . Hội này và Chi na nội học viện của ông Âu dương tiệm đều là nơi nghiên cứu Duy thức học nổi tiếng. Nhờ học thức uyên thâm, ông nghiên cứu bộ luận Du già sư địa căn bản và 10 bộ luận phụ thuộc. Ông nhớ từng câu, từng chữ trong bộ luận Du già sư địa và luận Nhiếp đại thừa. Ông đã ấn hành các bộ sách cổ về Duy thức học, mỗi khi giảng dạy hoặc soạn thuật, ông cố sức giữ nguyên nghĩa. Ông có các tác phẩm: Du già sư địa luận khoa cú phi tầm kí vựng biên 100 quyển, Duy thức chỉ chưởng, Duy thức tam thập tụng thuyên cú, Thành duy thức luận thuật kí giảng nghĩa 2 tập, Giải thâm mật phân biệt du già phẩm lược thích 3 quyển.

hàn thử

Lạnh và nóng—Cold and heat.

hàn thử biểu

Thermometer.

hàn vi

Poor and humble.

hàn địa ngục

Ahaha (S), Aṭaṭa (S), Ababa (S), Cold hell. ; Ahaha (S). Cold hell. Also ha la la.

hàn đồng

6537(1900~ )江蘇海陵人。字叔龢,號法稱。江蘇法政大學畢業。為密宗紅教金剛上師。曾師事諾那呼圖克圖,後又得紅教法王敦珠仁波切之阿闍黎遙灌。氏任公職多年,晚年寡交遊,矢志閱藏,精勤持咒,早施食晚度亡,誓修度亡法五千壇,為時十四年餘。著有密咒與科學、民國六十年來之密宗、佛教概論藏密增語、天齡憶向道,及黑關修行記等。氏在臺設有蓮花精舍,並常弘法於臺灣各地。

hàng châu

Hang-chou (C).

Hàng Châu Thiên Long

杭州天龍; C: hángzhōu tiānlóng; J: kōshū tenryū; ?-?;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðại Mai Pháp Thường và là thầy truyền »Thiền một ngón tay« cho Thiền sư Kim Hoa Câu Chi.

hàng châu thiên long

Hangzhou Tianlong (C), KōshŪ TenryŪ (J), Hang-Chou T'ien-Lung (C)Tên một vị sư. Thiền sư Trung quốc vào thế kỷ thứ 9.

hàng châu thượng thiên trúc giảng tự chí

3309凡十五卷,卷首另立一卷。明代僧廣賓撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。上天竺講寺位於浙江杭州西湖天竺山,肇建於晉天福四年(939),吳越錢忠懿王建天竺看經院;宋嘉祐年中,改稱靈感觀音院;元至正五年(1345),改名天竺教寺。清康熙五年(1666)寺毀重建,六十一年再毀,雍正九年(1731)重修,乾隆十六年(1751)御題「法喜寺」,故世稱法喜寺。寺志舊有李金庭所修之志、管廷芬之天竺山志稿十二卷。本寺志於光緒二十三年(1897)重刻行世。分爲七門:普門示現品、尊宿住持品、器界莊嚴品、帝王檀越品、宰官外護品、風範隆污品、詩文紀述品。其風範隆污品,於寺僧污行備書不隱,較他志獨存直筆,誠爲可貴。 ; (杭州上天竺講寺志) Gồm 16 quyển, do ngài Quảng tân soạn vào đời Minh, thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vựng san tập 1. Vị trí chùa Thượng thiên trúc giảng ở núi Thiên trúc, Tây hồ, Hàng châu, tỉnh Chiết giang, được xây cất vào năm Thiên phúc thứ 4 (939) đời Hậu Tấn. Trải qua các triều đại đều được tu bổ. Đến năm Càn long 16 (1751) vua đề tên là Pháp Hỉ Tự , từ đó người đời gọi là chùa Pháp hỉ. Về các bản Tự chí cũ thì có Tự chí của Lí kim đình, Thiên trúc sơn chí 12 quyển của Quản đình phân. Bản chí này được khắc lại và ấn hành vào năm Quang tự 23 (1897), chia làm 7 phẩm: 1. Phổ môn thị hiện. 2. Tôn túc trụ trì. 3. Khí giới trang nghiêm. 4. Đế vương đàn việt. 5. Tể quan ngoại hộ. 6. Phong phạm long ô. 7. Thi văn kí thuật. Trong phẩm Phong phạm long ô, soạn giả đã ghi lại tất cả những hành vi xấu xa nhơ nhuốc của chư tăng trong chùa, không giấu giếm che đậy. Một cây bút cương trực đáng quí.

hàng châu văn hỉ

Hangchou Wenhisi (C), Koshu Bunki (J)Tên một vị sư.

hàng diêm ma tôn

Xem Minh Vương Bất động Bồ tát Xem Diêm Mạn Uy nộ vương.

hàng long

Hàng phục rồng dữ, như bắt nó phải chui vào bình bát như Ðức Phật đã làm—To subdue nagas, e.g. to compel a naga to enter an almsbowl as did the Buddha.

hàng long bát

3987請參閱 龍王兄弟經 晉代高僧涉公嘗應苻堅之請,加持祈禱降雨,未久降伏一龍,入於涉公之鉢,瞬間乃降大雨。後世禪林中轉指通達佛道者於行住坐臥之間所顯現之自由裕如。永嘉證道歌(大四八,三九六上)﹕「降龍鉢,解虎錫,兩鈷金環鳴歷歷。」〔梁高僧傳卷十涉公章〕 ; (降龍鉢) Bình bát hàng phục loài rồng. Vị cao tăng đời Tấn là ngài Thiệp công, theo lời thỉnh cầu của Phù kiên, làm lễ cầu mưa. Ngài chú nguyện một lúc thì hàng phục được một con rồng, nó chui vào trong chiếc bát của ngài và chỉ trong giây lát là mưa lớn trút xuống. Vĩnh gia chứng đạo ca (Đại 48, 396 thượng), nói: Bát hàng rồng, gậy can hổ (cọp), 2 lớp khoen vàng kêu leng keng . [X. chương Thiệp công trong Lương cao tăng truyện Q.10].

hàng long phục hổ

To subdue nagas and subjugate tigers.

hàng long vương kinh

Xem Long vương Huynh đệ Kinh. ; Kinh giảng về câu chuyện Ðức Phật hàng phục rồng dữ—A sutra preached about the story of subduing nagas of the Buddha—See Hàng Long.

hàng ma

3987梵語 māra-tarjana,或 māra-dharṣaṇa。意即對治、降伏惡魔。惡魔乃擾亂身心,障礙善法,破壞勝事,奪取慧命者,通常分爲心內之煩惱魔與心外之天魔,皆爲修行佛道之障礙,修行者可賴禪定或智慧力加以降伏。同時佛菩薩爲引導眾生,亦須以定慧之力降伏魔害。例如,不動明王所持之劍稱爲降魔劍,此即其象徵之意。傳說釋尊在菩提樹下端坐時,即有群魔來襲,然盡爲釋尊逐退,而後終成正等正覺。故降魔亦爲釋尊八相之一。釋尊降魔之事蹟,諸經所載甚多,如佛本行經卷三降魔品、佛所行讚卷三破魔品、普曜經卷六降魔品等均詳舉之。自古描繪釋尊降魔圖像之造立甚盛,其最著名者,乃印度阿旃多石窟第一窟正面佛龕前室右壁之釋尊降魔成道圖,被推定爲七世紀之作品。此外,右手垂膝上,左手提衣之印相,稱降魔印。右足置左股之上,復以左足壓右股,手亦以左居上之結跏趺坐,稱爲降魔坐。〔無量壽經、聖無動尊一字出生八大童子祕要法品、摩訶止觀卷八〕 ; Mārapramar-dāna (S), Māraprama-thana (P), Māra-darśana (S). ; To overcome demons. ; Hàng phục ma quân như Ðức Phật đã làm khi Ngài vừa thành Chánh Giác (Khi Ðức Phật sắp sửa thành chánh giác, Ngài ngồi ở Bồ Ðề Ðạo Tràng, thì có vị trời thứ sáu ở cõi dục giới hiện tướng ác ma đến thử thách Ngài bằng đủ thứ nguy hại, hoặc dùng lời ngon ngọt dụ dỗ, hoặc dùng uy lực bức hại. Tuy nhiên, đức Phật đều hàng phục được tất cả)—To overcome demons, e.g. as the Buddha did at his enlightenment. ; (降魔) Phạm: Màra-tarjama, hoặc Màradharwaịa. Đối trị và hàng phục ác ma để tăng trưởng pháp lành, giữ tìn tuệ mệnh. Thông thường, ma được chia làm 2 loại là Phiền não ma và Thiên ma. Hai thứ ma này đều là chướng ngại cho việc tu đạo, hành giả phải nhờ vào sức thiền định và trí tuệ để hàng phục. Chư Phật và Bồ tát vì dắt dẫn chúng sinh nên cũng phải dùng sức thiền định và trí tuệ để hàng phục ác ma phá hại, như thanh gươm của Bất động minh vương được gọi là gươm hàng ma. Tương truyền, đức Thích tôn đang ngồi ở gốc cây Bồ đề, bọn ma vương đến quấy phá, Ngài liền hàng phục chúng mà thành bậc Chính đẳng chính giác, cho nên Hàng ma là một trong 8 tướng thành đạo của đức Thích tôn. Sự tích hàng ma của đức Thích tôn được ghi chép rất nhiều trong các kinh, như phẩm Hàng ma trong kinh Phật bản hạnh quyển 3, phẩm Phá ma trong Phật sở hành tán quyển 3, phẩm Hàng ma trong kinh Phổ diệu quyển 6, v.v... Ngoài ra, tranh và tượng miêu tả đức Thích tôn hàng ma cũng được đắp vẽ rất nhiều, mà nổi tiếng nhất là bức tranh Đức Thích Tôn Hàng Ma Thành Đạo được vẽ vào thế kỉ thứ VII Tây lịch trên vách đá bên phải của hang thứ nhất trong quần thể hang đá A chiên đa (Ajantà) ở Ấn độ. Lại nữa, ấn tướng tay phải đặt trên đầu gối, tay trái nắm lấy chéo áo ca sa, gọi là Hàng ma ấn. Ngồi kết già chân phải đặt lên trên bắp vế trái, chân trái đè lên bắp vế phải và tay trái để ở trên tay phải, gọi là Hàng ma tọa. [X. kinh Vô lượng thọ; Thánh vô động tôn nhất tự xuất sinh bát tự đồng tử bí yếu pháp phẩm; Ma ha chỉ quán Q.8].

Hàng Ma Sùng Huệ

(降魔崇慧, Gōma Sūe, hậu bán thế kỷ thứ 8): vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, sống vào khoảng giữa thời nhà Đường, pháp từ của Kính Sơn Pháp Khâm (徑山法欽), họ Chương (章), xuất thân Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Ông theo làm đệ tử của Pháp Khâm, tu về Thiền quán lẫn Mật Giáo. Ban đầu ông kết am tu ở Thiên Khoảnh Sơn (千頃山, Tỉnh Triết Giang), trì tụng Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni (佛頂尊勝陀羅尼). Khoảng đầu niên hiệu Đại Lịch (大曆, 766), ông lên Kinh Sư (京師, Trường An), trú ở Chương Tín Tự (章信寺), đã từng tranh đua đạo lực với đạo sĩ Sử Hoa (史華) ở Thái Thanh Cung (太清宮) và thắng trận. Ông được ban cho hiệu là Hộ Quốc Tam Tạng (護國三藏), sắc chỉ trú trì An Quốc Tự (安國寺). Người đời thường gọi ông là Cân Tử Sơn Hàng Ma Thiền Sư (巾子山降魔禪師).

Hàng Ma Tạng

(降魔藏, Kōmazō, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Đường, thuộc Bắc Tông Thiền, xuất thân Quận Triệu (趙郡, Tỉnh Hà Bắc), họ Vương (王). Năm lên 7 tuổi đã từng sống một mình ở chỗ vắng vẻ, chẳng hề sợ sệt và lớn lên tự xưng là Hàng Ma. Ông đến tham yết Minh Tán (明讚) ở Quảng Phước Viện (廣福院), thông hiểu về Pháp Hoa. Sau khi xuống tóc xuất gia và thọ giới Cụ Túc, ông chuyên học về Luật. Mặc dầu ông đã từng giảng thuyết về Nam Tông Luận, nhưng ông từ bỏ và theo hầu hạ Bắc Tông Thần Tú (神秀). Ông thị tịch ở tuổi 91.

hàng ma ấn

3987即降伏惡魔之印相。結此印時,右手垂於膝上,左手捉袈裟之衣角。另據密教歡喜母愛子成就法所載,其印相異於上舉,係二手內縛,二小指相鉤,二無名指各入左右之虎口,二中指豎合,二食指各捻二中指之背,二拇指各捻二中指之中節,稱爲降伏印。 ; (降魔印) Ấn tướng hàng phục ác ma. Khi kết ấn này, tay phải đặt trên đầu gối, tay trái nắm chéo áo ca sa. Nhưng theo Hoan hỉ mẫu ái tử thành tựu pháp nói, thì 2 tay đan vào nhau, 2 ngón út móc với nhau, 2 đầu ngón áp út để vào kẽ 2 ngón cái và 2 ngón trỏ, 2 ngón giữa dựng đứng áp sát nhau, 2 ngón trỏ để trên lưng 2 ngón giữa, 2 ngón cái bấm vào 2 lóng giữa của 2 ngón giữa.

hàng phục

Abhicàraka (S). Exorciser; subjugator (of demons) ; Abhicaraka (skt)—To subdue—To tame—Subjugation—Tiếng Phạn là A Tỳ Giá Lỗ Ca, một trong tứ đàn pháp của tông Chân Ngôn, nghĩa là hàng phục ma quân sức trí tuệ và lòng từ bi của mình—One of the four kinds of altar-worship of the Shingon sect, exorciser; magic; subjugator of demons—See Tứ Chủng Ðàn Pháp.

hàng phục chấn động giả

Vighnantaka (S)Vĩ cận nan đắc ca vuơngMột trong Thập Phẫn nộ vương.

hàng phục phiền não

Có bốn cách cho người Phật tử hàng phục phiền não—Subduing afflictions—There are four basic ways for a Buddhist to subdue afflictions: 4) Hàng phục phiền não bằng tâm: Subduing afflictions with the mind bygoing deep into meditation or Buddha recitation. 5) Hàng phục phiền não bằng quán chiếu sự bất tịnh, vô thường và vô ngã của vạn vật: Subduing afflictions by visualizing the principles of impurity, suffering, impermanence and no-self. 6) Hàng phục phiền não bằng cách rời bỏ hiện trường: Subduing afflictions by leaving the scene and slowly sip a glass of water to cool ourselves down. 7) Hàng phục phiền não bằng cách sám hối nghiệp chướng qua tụng kinh niệm chú: Subduing afflictions with repentance and recitation sutras, mantras, or reciting the noble name of Amitabha Buddha.

hàng phục pháp

Gofuku (J).

hàng phục toạ

3986又稱降魔坐。乃結跏趺坐之一。凡坐皆先以右足壓左股,後以左足壓右股,手亦以左居上,稱爲降伏坐;其反之者稱吉祥坐。天台、禪宗等顯教諸宗多傳此坐。〔慧琳音義卷八〕(參閱「結跏趺坐」5186) ; (降伏坐) Cũng gọi Hàng ma tọa. Một trong những lối ngồi kiết già. Khi ngồi, chân phải đặt lên trên bắp vế trái và chân trái để ở trên bắp vế phải. Tay trái để trên tay phải, đặt trước rốn. Tông Thiên thai và Thiền tông phần nhiều ngồi theo tư thế này. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.8]. (xt. Kết Già Phu Tọa).

hàng phục tâm

To subdue one's mind.

hàng phục vọng tâm

To subdue one's false mind.

hàng tam thế

Vị Minh Vương kiểm soát và hàng phục tam thế tham sân si, như Hàng Tam Thế Minh Vương—To subdue the three worlds of desire, resentment, and stupidity, as conqueror of them, e.g. Trailokya-vijaya-raja—See Hàng Tam Thế Minh Vương.

hàng tam thế kim cang bồ tát

Xem Hàng Tam Thế Minh Vương.

hàng tam thế ma vương

Sumbha (S), Sujana (S, P), Trailokyavijaya-rāja (S)Nguyệt Yểm Tôn, Hàng Tam Thế Kim Cang Bồ tát, Tối Thắng Kim Cang Bồ tát Tống Bà. Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi IsigiliThiện Huệ Bồ tát. Một trong Thập Phẫn nộ vương Xem Thắng Tam Thế Minh vương.

hàng tam thế minh vương

3986梵名 Trailokyavijaya。又稱月黶尊、勝三世、三世勝、降三世金剛菩薩。爲密教五大明王之第二,即五部中金剛部之教令輪身。配置於東方。密號最勝金剛。降服貪瞋癡三毒與三界,故稱降三世。其形像三面八臂,或四面八臂,色青。手執各種武器,背負火焰,足踏大自在天(摩醯首羅)與烏摩妃,表對治煩惱之意。於金剛界曼荼羅呈金剛薩埵之忿怒形,係大日如來所變現者,居於降三世羯磨會及降三世三昧耶會之東方月輪中。於胎藏界曼荼羅之持明院中,安置於般若菩薩與不動尊之間。〔三十卷教王經卷十林僧寶傳一、大日經疏卷五、金剛界曼荼羅尊位現圖鈔私卷三〕 ; Trailokya-vijaya-raja (skt)—Còn gọi là Nguyệt Yêm Tôn Thắng Tam Thế Vương. Vị Minh Vương chinh phục ba món độc hại tham, sân, si, trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Vị Minh Vương nầy ngự trị nơi đông phương—The Maharaja who subdues all resisters (of desire, resentment, and stupidity) in the three realms, past, present, and future, represented with black face, three eyes, four protruding teeth, and fierce laugh. This raja controls and subdues the demons in the east. ; (降三世明王) Phạm: Trailokyavijaya. Cũng gọi: Nguyệt yểm tôn, Thắng tam thế, Tam thế thắng, Hàng tam thế kim cương bồ tát. Vị Minh vương đã hàng phục được tham, sân, si và cả 3 cõi. Vị thứ 2 trong 5 vị Đại minh vương, tức là Giáo lệnh luân thân ở phương đông thuộc Kim cương bộ. Mật hiệu là Tối thắng kim cương. Hình tượng vị này màu xanh, 3 mặt, 8 tay, hoặc 4 mặt, 8 tay. Mỗi tay cầm một thứ vũ khí, sau lưng có lửa bốc lên, chân đạp lên 2 vợ chồng Đại tự tại thiên (Ma hê thủ la), tượng trưng việc đối trị phiền não. Trong mạn đồ la Kim cương giới, vị Minh vương này mang hình tướng phẫn nộ của Kim cương tát đóa. Đó là hóa thân của Đại nhật Như lai trong Nguyệt luân ở phía đông của hội Hàng tam thế yết ma và hội Hàng tam thế tam muội da. Trong viện Trì minh của mạn đồ la Thai tạng giới, Hàng tam thế minh vương được đặt ở khoảng giữa bồ tát Bát nhã và Bất động tôn. [X. Lâm tăng bảo truyện 1 trong kinh Giáo vương Q.10 (bản 30 quyển); Đại nhật kinh sớ Q.5; Kim cương giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao tư Q.3].

hàng tam thế tam muội da hội

3985爲密教金剛界九會曼荼羅中之第九會,位於成身會之左下。於此會中,大日如來以降伏大自在天爲本誓,其餘諸尊亦皆住於降三世明王之本誓。此會之圖位悉同於前一會降三世羯磨會,然彼會係表事業具足之身相,而此會則表彼諸尊內證之德,故特列其三昧耶形。其中,金剛薩埵之三昧耶形爲八輻輪。乃摧破之具,用表眾生本具堅固清淨之菩提心;大自在天則表示根本無明。此會之尊數共七十三尊。〔三十卷教王經卷十二〕(參閱「金剛界曼荼羅」3547) ; (降三世三昧耶會) Hội thứ 9 trong 9 hội Mạn đồ la thuộc Kim cương giới Mật giáo, vị trí ở bên trái phía dưới hội Thành thân. Trong hội này, đức Đại nhật Như lai lấy việc hàng phục trời Đại tự tại làm bản thệ, còn các vị tôn khác đều trụ nơi bản thệ của Hàng tam thế minh vương. Hình tượng và vị trí chư tôn trong hội này cũng giống như hội Hàng tam thế yết ma, nhưng hội Hàng tam thế yết ma thì biểu thị thân tướng đầy đủ sự nghiệp, còn hội này thì biểu thị đức nội chứng của chư tôn, cho nên đặc biệt bày hình Tam muội da của các Ngài. Trong đó, hình Tam muội da của Kim cương tát đóa là bánh xe 8 nan hoa (căm), có tác dụng phá dẹp, biểu thị tâm bồ đề thanh tịnh kiên cố sẵn có của chúng sinh; còn trời Đại tự tại thì tượng trưng cho vô minh căn bản. Tổng số chư tôn trong hội này là 37 vị. (xt. Kim Cương Giới Mạn Đồ La).

hàng tam thế yết ma hội

3986又稱降三世會。爲密教金剛界九會曼荼羅中之第八會,位於成身會之左方。於此會中,大日如來現忿怒之相,係表大日如來以金剛不壞之智來調伏難化之眾生。其兩足踏大自在天、烏摩妃,以示斷滅三世之煩惱、所知二障之相,故此會之諸尊住於降三世明王之羯磨身。其圖位形像與成身會大致相同,中央之大日住於智拳印,顯現降伏四魔之形,其旁之四佛及十六大菩薩亦皆交拳,現忿怒形。此會之尊數乃三摩耶會之七十三尊加上外四隅之四大明王(不動、金剛夜叉、軍荼利、大威德), 合共有七十七尊。 〔三十卷教王經卷十、卷十一〕(參閱「金剛界曼荼羅」3547) ; (降三世羯磨會) Cũng gọi Hàng tam thế hội. Hội thứ 8 trong 9 hội Mạn đồ la thuộc Kim cương giới Mật giáo, vị trí ở phía trái của hội Thành thân. Trong hội này, đức Đại nhật Như lai hiện tướng giận dữ, biểu thị đức Đại nhật Như lai dùng trí kim cương bất hoại để điều phục chúng sinh khó giáo hóa. Hai chân của Ngài đạp lên mình vợ chồng trời Đại tự tại, tượng trưng cho sự đoạn diệt tướng của phiền não chướng và sở tri chướng trong 3 đời, cho nên chư tôn trong hội này trụ nơi thân Yết ma của Hàng tam thế minh vương. Hình tượng và vị trí của chư tôn trong hội này cũng giống như hội Thành thân, đức Đại nhật ở chính giữa kết ấn Trí quyền, hiện tướng hàng phục Tứ ma (Ngũ uẩn ma, Phiền não ma, Tử ma, Thiên ma). Bốn vị Phật và 16 vị đại Bồ tát ở chung quanh Ngài cũng đều nắm tay, hiện tướng phẫn nộ. Tổng số các vị tôn trong hội này gồm 77 vị, trong đó có 73 vị của hội Tam ma da, cộng thêm với 4 vị Đại minh vương trấn giữ ở 4 góc ngoài là Bất động, Kim cương dạ xoa, Quân đồ lợi, Đại uy đức. [X. kinh Giáo vương Q.10, Q.11 (bản 30 quyển)]. (xt. Kim Cương Giới Mạn Đồ La).

hàng thụ

Avenues of trees—Trees in rows.

hàng đản hội

3986爲慶祝佛陀之誕生所舉行之法會,依慣例於每年四月八日舉行。亦稱佛生會、浴佛節、灌佛會。當日必裝飾花亭,內安置誕生佛,以甘茶沐佛,象徵佛陀誕生時自天降落之雨水甘露。〔佛本行經卷一、灌洗佛形像經、佛祖統紀卷三十六〕

Hành

行; S: saṃskāra; P: saṅkhāra;|1. Theo Ấn Ðộ giáo thì saṃskāra có nghĩa là »ấn tượng,« »hậu quả,« được dùng chỉ những ấn tượng, khả năng tiềm tàng trong thâm tâm. Những saṃskāra này được hình thành qua những hành động, ý nghĩ, kể cả những hành động trong những tiền kiếp. Tất cả những saṃskāra này tạo thành thân thể con người, tạo thành cái mà người ta thường gọi là »bản năng«.|2. Thuật ngữ quan trọng của đạo Phật. Hành được xem là một ý định, một chủ tâm có thể dẫn tới một tạo tác. Chủ động tạo tác là Hành mà thể thụ động của một sự việc xảy ra cũng là Hành. Hành là uẩn thứ tư trong Ngũ uẩn (五蘊; s: pañcaskandha; p: pañcakhan-dha) và là yếu tố thứ hai trong Mười hai nhân duyên (s: pratītyasamutpāda; p: pa-ṭicca-samuppāda). Hành bao gồm tất cả các chủ tâm trước khi một hành động được hình thành. Vì hành động bao gồm Thân, khẩu, ý nên người ta cũng phân biệt Hành thuộc thân, khẩu hay ý. Hành mang lại một sự tái sinh (được hiểu là một hành động hay cả một cuộc đời), không có Hành thì không có Nghiệp và không có tái sinh. Hành quyết định phương thức tái sinh vì hành có tốt, có xấu. Hành sinh Thức (識; s: vijñāna; p: viññāṇa) và chính thức này đi tìm cha mẹ để tái sinh và quyết định thể tính của con người mới.

hành

2551<一>梵語 saṃskāra,巴利語 saṅkhāra。音譯刪迦羅、僧娑迦羅。原為造作之意,後轉為遷流變化之意。(一)造作之義。義同於「業」。十二緣起中第二支「行」即屬此類。指能招感現世果報之過去世三業(身業、口業、意業)。亦即人的一切身心活動。(二)遷流變化,即「有為」之義。蓋有為乃由因緣所造,故係指無常之一切法。諸行無常中之「行」即屬此類。五蘊中之「行蘊」亦即此義。(參閱「十二因緣」337、「五蘊」1212、「行蘊」2567、「業」5494) <二>梵語 caryā 或 carita,巴利語 cariyā 或 carita。(一)意謂動作、行為。(二)指為到達悟境所作之修行或行法。如行解相應、行說一致、教行證、教理行果之「行」,意即對於知解言說之實地踐行。日本淨土真宗謂稱名念佛為大行。 <三>梵語 gamana。指進行、步行。行住坐臥(四威儀)之行即是此義。(參閱「四威儀」1728) ; Saṃskāra (S), Saṇkhāra (P), Formation, Fabrication ; 4) Ði: To go. 5) Làm: Asevati (p)—Asev (skt)—To act—To do—To perform—To practice. 6) Hạnh Kiểm: Conduct. 7) Hành uẩn: Sankhara (p)—Samskara (skt)—Yếu tố cấu tạo hành động (mental formation forces or volitional impulses, or intentions that precede an action)—Nhiệm vụ của “Hành” là chuyển tâm về một đối tượng nào đó, nhận biết và thực chứng đối tượng. Như vậy “Hành” là căn bản cho tất cả những mong ước của chúng ta (mong ước nơi thân, khẩu và ý qua hành động, lời nói và tư tưởng)—Mental formation—Intention—Volition—Mental functioning—Whatever is done by mind, mouth, or body in thought, word, or deed—The function of mental factor intention is to move our mind toward an object, to perceive and realize it. Thus mental factors intention is the basis for all our wishes (wishing in body, speech and mind)—See Ngũ Uẩn. 33) Sự cấu tạo: Formation. 34) Ý muốn hành động: Volitional actions. 35) Khuynh hướng của tâm: Tendencies of mind. 36) Lực cấu tạo tâm: Mental formation forces. 37) Pháp duyên hợp hay pháp hữu vi: Compounded things or conditioned things. 8) Thực hành: To practice—There are two kinds of practice—Còn gọi là Hạnh, tức là phần thực hành, hay sự hành trì. Theo Tịnh Ðộ Tông, hành là thiết thực xưng niệm danh hiệu Phật A Di Ðà cho đến nhứt tâm và cảm ứng đạo giao để được Ðức Phật A Di Ðà tiếp dẫn—According to the Pureland Buddhism, practice means one must recite the Amitabha Buddha with the utmost sincerely to the point of achieving one-mind or single-minded recitation in order to establish the unimaginable connections and having the Buddha rescue and deliver the cultivator to the Western Pureland after death. 3) Pháp hành: Practice based on the teaching of Dharma. 4) Tín hành: Practice based on belief. ; (行) I. Hành. Phạm:Saôskàra.Pàli:Saíkhàra. Dịch âm: San ca la, Tăng sa ca la. Nguyên nghĩa là tạo tác, sau chuyển thành nghĩa biến hóa đổi dời. 1. Tạo tác: Cùng nghĩa với Nghiệp , tức là chi Hành trong 12 duyên khởi. Đó là 3 nghiệp thân, khẩu, ý đời quá khứ chiêu cảm quả báo hiện tại. Cũng tức là tất cả hành động của thân và tâm. 2. Biến hóa đổi dời, tức là pháp hữu vi, bởi vì các pháp hữu vi là do nhân duyên tạo thành, đều là pháp vô thường, biến hóa, đổi dời, cùng nghĩa với chữ Hành trong Chư hành vô thường và Hành uẩn trong Ngũ uẩn. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Ngũ Uẩn, Hành Uẩn, Nghiệp).II.Hành. Phạm: Caryà hoặc Carita. Pàli: Cariya hoặc Carita. Có 2 nghĩa: 1. Động tác, hành vi. 2. Chỉ cho sự tu hành hoặc phương pháp tu hành đạt đến cảnh giới giác ngộ. Như chữ Hành trong Hành giải tương ứng (sự hiểu biết và thực hành ứng hợp nhau), Hành thuyết nhất trí (nói và làm giống nhau), Giáo hành chứng, Giáo lí hành quả v.v... III. Hành. Phạm: Gamana. Tiến hành, bộ hành, cùng nghĩa với chữ Hành trong hành trụ tọa ngọa (4 uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm).

hành bà

2560指信佛修行之老婦。景德傳燈錄卷八浮盃和尚傳(大五一‧二六二下):「有凌行婆來禮拜師,師與坐喫茶。」 ; (行婆) Bà lão tin Phật tu hành. Truyện Phù bôi hòa thượng trong Cảnh đức truyền đăng lục (Đại 51, 262 hạ) chép: Có Lăng hành bà đến lễ bái sư, sư cho ngồi uống trà .

hành bát

2563禪林規定以鉢盂喫粥飯,稱為行鉢。又公示行鉢 鉢排位(略稱鉢位)之名牌,稱行鉢排位榜。 ; (行鉢) Thiền lâm qui định chúng tăng ăn cơm cháo bằng bình bát đi khất thực, gọi là Hành bát. Ngoài ra, tấm bảng ghi tên để sắp xếp ngôi thứ của người hành bát, gọi là Hành bát bài vị bảng.

hành bất thoái

2551指佛道修行之階位中,於行業至不退墮之位。與「念不退」、「位不退」並稱為三不退。又於初地得真唯識觀,捨二乘之心,於利他之行得不退,亦稱為行不退。另又與處、位、念,或信、位、證,或念、位、畢竟等之不退並稱為四不退。與信、位、證、煩惱等之不退並稱為五不退。 此外,日本淨土宗之祖源空所立之「行不退」,即以念佛等修行之功,以入於不退位之境地。(參閱「不退」984)

hành bố môn

2552次第行布門之略稱。行者,行列;布者,布置。乃華嚴宗就菩薩進趣至佛果之修行階位所立法門之一。為「圓融門」之對稱。華嚴宗判立由菩薩進趣佛果之階位為二門:(一)初後相即,初發心時,便成正覺者,稱圓融門。(二)初後次第,華嚴經第二會名號品至第六會小相光明品之二十八品,說十信、十住、十行、十回向、十地、等覺、妙覺等五十二位,凡夫可由此順序漸進至佛果位,稱為行布門。又六相圓融中,別相、異相、壞相屬行布門。(參閱「六相圓融」1280、「圓融門行布門」5415) ; (行布門) Cũng gọi Thứ đệ hàng bố môn. Đối lại với Viên dung môn. Pháp môn tu hành theo thứ lớp từ giai vị Bồ tát tiến dần đến quả Phật. Một trong 2 môn của tông Hoa nghiêm. Hai môn ấy là: 1. Sơ hậu tương tức: Người vừa phát tâm liền thành chính giác, gọi là Viên dung môn. 2. Sơ hậu thứ đệ: Từ phẩm Danh hiệu hội thứ 2 đến phẩm Tiểu tướng quang minh hội thứ 6 trong kinh Hoa nghiêm gồm 28 phẩm, nói về 52 giai vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác. Phàm phu có thể theo thứ tự này mà tu để tiến dần đến quả vị Phật, thì gọi là Hàng bố môn. Ngoài ra, trong 6 tướng viên dung thì Biệt tướng, Dị tướng và Hoại tướng thuộc về Hàng bố môn. (xt. Lục Tướng Viên Dung, Viên Dung Môn Hàng Bố Môn).

hành chánh

Administration.

hành chứng

2567即修行與證悟。轉為依於佛道修行而證悟之意。〔大明三藏法數卷十三〕 ; Action and proof; knowledge or assurance derived from doing; practice of religious discipline and the resulting enlightenment. ; Tu hành và chứng ngộ. Dựa vào hành đạo mà chứng lý. Hành là nhân và chứng lý là quả—Action and proof; knowledge or assurance derived from doing; practice of religious discipline and the resulting enlightenment. ; (行證) Tu hành và chứng ngộ. Nương nơi Phật đạo tu hành mà được chứng ngộ. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.13].

hành cú

Caryā-pada (S)Một tác phẩm dân gian Ấn độ nói về Phật giáo.

hành cúng dường

c) Ði đến chùa để cúng dường: To go to a temple to make offerings. d) Thực hành thiện pháp để cúng dường chư Phật—The making of offerings by performing wholesome deeds.

Hành Cơ

(行基, Gyōki, 668-749): vị tăng sống dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara), húy là Hành Cơ, Pháp Hành (法行), xuất thân vùng Phong Điền (蜂田), Hà Nội (河內, Kawachi, tức Ōsaka [大阪] ngày nay); con trai đầu của Cao Chí Tài Trí (高志才智). Năm 682, ông xuất gia, theo hầu Đạo Chiêu (道昭, Dōshō) và Nghĩa Uyên (義淵, Gien). Đến năm 704, ông biến nhà mình thành Gia Nguyên Tự (家原寺, Ebara-ji), chuyên tâm bố giáo cho dân chúng trong vùng; sau đó đi tuần du khắp nơi, chuyên tâm làm các công việc xã hội như xây dựng chùa chiền, thiết lập đê điều, dựng cầu cống, v.v., nên thông xưng là Hành Cơ Bồ Tát. Tập đoàn những tín đồ tri thức của ông bị liệt vào danh sách vi phạm Tăng Ni Lịnh và bị đàn áp kịch liệt; nhưng đến năm 731, một số đệ tử của ông được phép cho xuất gia. Vào năm 743, ông thống lãnh chúng đệ tử tham gia tạo lập tượng Đại Phật Lô Xá Na (盧舍那) ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), và đến năm 745 thì được bổ nhiệm làm Đại Tăng Chánh. Tương truyền ông từng vào kinh đô, khai mở đạo tràng, số lượng lên đến 49 ngôi viện. Đến năm 749, ông viên tịch tại Quản Nguyên Tự (菅原寺, Sugawara-dera, tức Hỷ Quang Tự [喜光寺, Gikō-ji]) trong khi đang đúc tượng Đại Phật.

hành cơ

2559(668~749)日本奈良時代僧。號行基菩薩。和泉(大阪府)人。十五歲至藥師寺學唯識、瑜伽。後遊化諸國,弘揚觀想法門與淨土之說,道俗從之者多達千人,常率弟子掘池築堤,開闢道路,架設橋樑,因違反僧尼令而遭禁。日本聖武天皇崇其盛德而歸依之,並協助其建立東大寺、國分寺。乃日本最早受封為大僧正(日本最高僧階)者。天平感寶元年示寂,世壽八十二。世稱其為文殊菩薩之化身。〔續日本紀卷七、卷十一、卷十七、行基年譜、行基大菩薩行狀記〕 ; (行基) (668-749) Cao tăng Nhật bản sống vào thời Nại lương, người Hòa tuyền, phủ Đại bản. Năm 15 tuổi, sư đến chùa Dược sư học Duy thức, Du già, về sau sư du hóa các nước, hoằng dương pháp môn quán tưởng và giáo nghĩa Tịnh độ, tăng tục theo học sư đông hơn nghìn người. Sư thường dẫn đệ tử đi đào ao, đắp đê, mở đường, bắc cầu, nhưng bấy giờ có người cho những việc làm ấy là trái với giới luật tăng ni nên bị cấm. Thiên hoàng Thánh vũ ngưỡng mộ đức hạnh của sư nên qui y và giúp sức kiến lập chùa Đông đại, chùa Quốc phân. Sư là người đầu tiên được phong chức Đại tăng chính (địa vị cao nhất của chư tăng Nhật bản). Niên hiệu Thiên bình cảm bảo năm đầu (749) sư tịch, thọ 82 tuổi. Người đời tôn sư là hóa thân của bồ tát Văn thù. [X. Tục nhật bản kỉ Q.7, Q.11, Q.17; Hành cơ niên phổ; Hành cơ đại bồ tát].

Hành cước

行腳; J: angya;|Nghĩa là đi chu du đây đó tham học; có hai loại hành cước: 1. Các chuyến hành trình của thiền sinh trẻ và 2. Các cuộc tham vấn, đọ sức, trau dồi kinh nghiệm sau khi ngộ đạo.|Thực hiện các cuộc hành cước loại thứ nhất là các vị đã chấm dứt giai đoạn sơ khởi trong các Thiền viện nhỏ, đi cầu học với các Thiền sư đại gia với hi vọng được thu nhận làm môn đồ (Quải tích). Các chuyến đi đó thường thường rất xa, nhọc nhằn và nguy hiểm, là những thử thách thể chất và tinh thần các thiền sinh. Qua việc gặp nhiều hiểm nguy và cảnh ngộ khác nhau, thiền sinh tập luyện một tâm thức dày dặn và tỉnh giác. Hành lí thường là một cái nón vành rộng, nhằm che mắt để thiền sinh bớt rong ruổi theo cảnh tượng bên ngoài. Ngoài ra thiền sinh có một túi nhỏ đựng quần và giày vải. Trên ngực, thiền sinh mang hai bộ áo, mùa hè và mùa đông, đũa ăn cơm, Bát khất thực, dao cạo râu và vài bộ kinh. Trên lưng là áo mưa lá. Một khi thiền sinh đã vượt qua bao gian nan đến nơi, các vị này hay bị từ chối không cho vào, mục đích là thử thách lòng kiên trì. Có khi các vị phải đứng hàng ngày trời chờ đợi, trong mưa gió lạnh lẽo rồi mới được cho vào. Sau đó các vị phải toạ thiền hàng tuần trong sự cô tịch trước khi chính thức được thâu nhận làm đệ tử. Câu chuyện sau – được Thiền sư Chí Minh ghi lại trong Vườn thiền rừng ngọc (Thiền uyển dao lâm, bản dịch của Thông Thiền) – trình rõ những thử thách khó khăn mà thiền sinh phải vượt qua trước khi được thu nhập làm môn đệ:|»Hoà thượng Diệp Huyện Quy Tỉnh (nối pháp Thủ Sơn Tỉnh Niệm) tính tình nghiêm khắc lạnh lùng, cuộc sống đạm bạc khô khan khiến cho thiền sinh rất kính sợ. Có hai vị thiền sinh là Phù Sơn Pháp Viễn và Thiên Y Nghĩa Hoài riêng đến tham vấn. Gặp lúc mùa đông tuyết rơi, Thiền sư Tỉnh quở mắng thậm tệ rồi lấy nước tạt ướt cả áo quần của chúng tăng. Các vị tăng khác đều giận mà bỏ đi, chỉ còn hai vị Viễn và Hoài ở lại. Họ để nguyên y phục rồi ngồi đợi từ sáng đến trưa, Thiền sư Quy Tỉnh đến quở rằng: ›Các ngươi chẳng chịu đi, ta sẽ đánh các ngươi!‹ Viễn đến trước mặt Quy Tỉnh thưa: ›Hai đứa con đi từ ngàn dặm đến để tham học với Hoà thượng, há vì một gáo nước của Thầy tạt mà bỏ đi. Nếu Thầy có đánh chết, con cũng chẳng chịu đi.‹ Quy Tỉnh cười nói: ›Hai ông muốn tham thiền ư? Hãy vào nhà cất hành lí.‹«|Thuộc vào loại thứ hai là các chuyến hành cước sau khi đạt đạo, khi các vị Thiền sư muốn trau dồi kinh nghiệm giác ngộ với những bậc thượng thủ khác trước khi trụ trì hoằng hoá chúng. Chính những cuộc tiêu diêu du và những Pháp chiến sản sinh từ đây là một trong những điểm đặc sắc nhất của Thiền tông. Các Ðại thiền sư như Triệu Châu Tòng Thẩm, Vân Môn Văn Yển, Lâm Tế Nghĩa Huyền, Tam Thánh Huệ Nhiên, Ngưỡng Sơn Huệ Tịch… đều diêu du đây đó sau khi đã đắc đạo nơi Bản sư. Các cuộc đọ sức của Triêụ Châu với các đệ tử đắc pháp của  Mã Tổ vẫn còn vang vọng đến ngày nay.

hành cước

2562又作游方、遊方、遊行。謂僧侶無一定居所,或為尋訪名師,或為自我修持,或為教化他人,而廣遊四方。遊方之僧,即稱為行腳僧。與禪宗參禪學道之「雲水」同義。行腳僧於遊方時可隨身攜帶常用物件,然於物件類別及數量均有一定之限制。〔祖庭事苑卷八行腳條、林間錄卷下、釋氏要覽卷下〕(參閱「雲水」5328) ; Angya (J). ; Ngày xưa người tu hành đi bộ đến các nơi tham vấn, gọi là hành cước. ; Anupubbena-carikam-caramano (p). Ði từ nơi nầy đến nơi khác: To wander from place to place. Du Tăng tu hành theo lối du phương hoằng hóa—A wandering monk who wanders to convert people. ; (行脚) Cũng gọi Du phương, Du hành. Đồng nghĩa với Vân thủy. Đi khắp nơi để cầu học hoặc giáo hóa. Vị tăng du phương gọi là Hành cước tăng, Vân thủy tăng. Khi du phương, vị tăng hành cước có thể mang theo bên mình những vật dụng cần thiết, nhưng chủng loại và số lượng vật dụng đều có giới hạn. [X. điều Hành cước trong Tổ đình sự uyển Q.8; Lâm gian lục Q.hạ; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. (xt. Vân Thủy).

hành cước tăng

A wandering, itinerant monk. ; Vrajaka (skt)—A wandering religious monk.

hành cảnh thập phật

2564指如來所得之十身。乃華嚴經所舉之十種佛身。為「解境十佛」之對稱。華嚴圓教之菩薩以真實之智解照見法界時,所觸目者,無論萬有萬法,皆視為佛身,簡約其類別為十種,統稱為解境十佛。行境十佛,謂華嚴圓教之菩薩完成修行時,體達究極之佛果;此一佛果乃超絕因位菩薩解了心之境界。又行境十佛僅係就一佛身之十德而分,其佛身乃十身具足之毘盧遮那,或稱周遍法界身。同時,其佛所悟之世界,稱十佛自境界。關於行境、解境二種十佛說,亦見於智儼之華嚴孔目章卷二。澄觀之華嚴玄談卷三中所說之「融三世間十身」,即相當於解境十佛,而「佛上自有十身」則相當於行境十佛。 舊譯華嚴經卷四十二離世間品舉出十佛名號如下:(一)無著佛,謂不執著涅槃(悟)、生死(迷),以完成真實之悟,而顯用於迷妄世界之故。(二)願佛,謂修成菩薩道之際,以生出誓願力之故。(三)業報佛,謂一切修行,以莊嚴而得之故。(四)持佛,謂以淨識(精神之主體)保持一切善之根本,以完成悟道之故。(五)涅槃佛,以常住於涅槃之故。(六)法界佛,以佛身遍滿一切法界之故。(七)心佛,謂佛遍滿於所有眾生之心中,而心即佛之故。(八)三昧佛,以常住於三昧之故。(九)性佛,謂表真實之本性遍一切處之故。(十)如意佛,謂對眾生隨心所欲,施以教化之故。上記乃以無著佛表示如來之總德,其餘九身則用以表示如來個別之德。 舊譯華嚴經卷三十七所舉十佛之中與上述不同者,即:(一)正覺佛,(四)住持佛,(五)化佛(應眾生之性質、能力,而示現之佛身)。此外,新譯華嚴經卷五十三、卷五十七所載不同者:(一)成正覺佛,(四)住持佛,(九)本性佛,(十)隨樂佛。〔華嚴五教章卷一、華嚴經探玄記卷二、卷十四、卷十七、華嚴經疏卷四十二、卷五十一、卷五十三〕(參閱「十身」440、「解境十佛」5605) ; (行境十佛) Đối lại với Giải cảnh thập Phật. Mười loại thân Phật nói trong kinh Hoa nghiêm. Nghĩa là khi Bồ tát Viên giáo Hoa nghiêm hoàn thành việc tu hành thì đạt tới quả vị Phật cùng tột, siêu việt cảnh giới tâm của Bồ tát còn ở Nhân vị. Đó là thân Phật Tì lô giá na hoặc gọi là thân trùm khắp pháp giới. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 42 (bản dịch cũ) liệt kê danh hiệu của 10 đức Phật ấy như sau: 1. Vô trước Phật: Không chấp trước Niết bàn (ngộ) sinh tử (mê) để hoàn thành sự giác ngộ chân thực mà hiển bày sự diệu dụng trong thế giới mê vọng. 2. Nguyện Phật: Khi tu thành đạo Bồ tát đã phát sinh sức thệ nguyện. 3. Nghiệp báo Phật: Tất cả sự tu hành do trang nghiêm mà được. 4. Trì Phật: Dùng tịnh thức bảo trì tất cả căn lành để hoàn thành sự ngộ đạo. 5. Niết bàn Phật: Thường trụ nơi Niết bàn.6. Pháp giới Phật: Thân Phật trùm khắp tất cả thế giới. 7. Tâm Phật: Phật ở trong tâm của hết thảy chúng sinh, vì tâm tức là Phật. 8. Tam muội Phật: Phật thường ở trong chính định. 9. Tính Phật: Bản tính chân thực biểu hiện khắp tất cả mọi nơi. 10. Như ý Phật: Tùy chỗ chúng sinh mong cầu mà ban phát sự giáo hóa. Mười thân Phật là căn cứ vào 10 đức của Phật Tì lô giá na mà phân chia. Trong 10 thân ghi trên thì thân Vô trước biểu thị đức chung của Như lai, 9 thân còn lại thì biểu thị đức cá biệt của Như lai. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2, Q.14, Q.17; Hoa nghiêm kinh sớ Q.42, Q.51, Q.53]. (xt. Thập Thân, Giải Cảnh Thập Phật).

hành cụ tam tâm

2554日本佛教用語。為「智具三心」之對稱。三心,即至誠心、深心、回向發願心,原出自觀無量壽經九品往生中之上上品,謂具足此三心者即可往生極樂淨土,後為日本淨土門所特重,並稱此三心為往生淨士之「安心」,意謂具足此三心即可安住心念,蓋因已具備往生淨土之必要條件。日本淨土門詳論「安心」一義時,認為「安心」若在智解方面,即僅止於對經論之理解者,稱為智具;「安心」若超越智解而發動念佛之起行,則稱行具。故智具三心乃未實之信念;行具三心方為如實之信念,由此乃可決定往生。(參閱「安心」2393) ; (行具三心) Đối lại với Trí cụ tam tâm. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Hạnh đủ 3 tâm: Tâm chí thành, tâm sâu xa và tâm hồi hướng phát nguyện. Ba tâm này là thượng thượng phẩm trong 9 phẩm vãng sinh nói trong kinh Quán vô lượng thọ, nếu có đầy đủ 3 tâm này thì có thể được sinh sang cõi Tịnh độ cực lạc. Về sau, tông Tịnh độ Nhật bản đặc biệt gọi 3 tâm này là pháp An tâm , là điều kiện tất yếu để vãng sinh Tịnh độ. Khi bàn nghĩa an tâm , tông Tịnh độ Nhật bản cho rằng nếu xét về phương diện trí giải, tức chỉ hiểu qua kinh luận thôi thì gọi là Trí cụ; còn nếu vượt qua giai đoạn lí giải mà phát tâm niệm Phật thì gọi là Hạnh cụ. Vì thế, Trí cụ tam tâm chưa phải là lòng tin chân thật, mà Hạnh cụ tam tâm mới là lòng tin chân thật, do đó quyết định được vãng sinh. (xt. An Tâm).

hành dinh

Headquarters.

hành do

2553修行之因緣由來。如六祖壇經中記載慧能之行歷傳記部分,稱為行由章或行由品。 ; (行由) Nhân duyên đưa đến việc tu hành. Như trong Lục tổ đàn kinh có một bộ phận ghi chép truyện kí hành trạng của ngài Tuệ năng, gọi là chương Hành do hoặc phẩm Hành do.

hành duyên

2566以六度、四攝法等菩薩行,增長眾生善根,此種外緣、助緣即稱為行緣。(參閱「六波羅蜜」1273、「四攝法」1853) ; (行緣) Những trợ duyên làm tăng trưởng thiện căn của chúng sinh, như 6 Ba la mật, 4 nhiếp pháp, v.v... (xt. Lục Ba La Mật, Tứ Nhiếp Pháp).

hành dịch thần

2556即指能導致世間流行疾疫之惡鬼神。據卻溫黃神咒經載,有夢多難鬼、阿佉尼鬼、尼佉尸鬼、阿佉那鬼、波羅尼鬼、阿毘羅鬼、波提黎鬼等七鬼神,常吐毒氣以害人,中毒者頭痛寒熱,苦痛難言;然若有知其名字者,則不受該鬼神之毒害。大日經疏卷十一載,又有忙怛哩天,其真言能令人致大疾疫。 ; (行疫神) Các quỉ thần độc ác gieo dịch bệnh cho thế gian. Cứ theo kinh Khước ôn hoàng thần chú chép, có 7 loại quỉ thần: Mộng đa nạn quỉ, A khư ni quỉ, Ni khư thi quỉ, A khư na quỉ, Ba la ni quỉ, A tì la quỉ và Ba đề lê quỉ, các loại quỉ thần này thường nhả khí độc để hại người, người bị trúng khí độc ấy thì nhức đầu, nóng lạnh, đau đớn vô cùng. Nhưng nếu biết tên của những quỉ thần ấy thì không bị họ làm hại. Ngoài ra, Đại nhật kinh sớ quyển 11 còn nói: Mang đát lí thiên cũng có thể dùng chân ngôn của mình để gây dịch bệnh cho người.

hành giáo

To carry out the vinaya discipline; hạnh giáo: the vinaya. ; Tu tập hay thực hành y theo luật tạng mà Phật đã chế ra—To carry out the vinaya disciple (Vinaya)—To preach.

hành giả

2556<一>梵語 yogin。乃指觀行者,或泛指一般佛道之修行者。又稱行人、修行人。一般修念佛法門者,稱「念佛行者」。密教中,誦持真言、修供養法、護摩法等真言門之修行者,稱為真言行者。專持法華經之行者,稱法華行者。〔觀無量壽經、大日經卷一具緣品〕 <二>禪林中,行者乃指未出家而住於寺內幫忙雜務者。有剃髮者,亦有未剃髮而攜家帶眷者。據釋氏要覽卷上行者條載,善見律毘婆沙謂,善男子欲出家,而未得衣鉢,欲依寺中住者,稱為畔頭波羅沙。此畔頭波羅沙即行者之意。又據禪林象器箋職位門行者條載,舊說日本與我國之行者有別,日本之行者,雖剪除鬚髮,而行事與俗人同;在中國,則唯有僧人及沙彌剃髮而已,行者不剃髮,持守五戒。然若據日本之諸宗階級卷上載,喝食行者皆有髮。故知日本行者未必剃髮。 禪林之行者,依其職務不同而有諸多種類,如參頭行者、六局行者、副參行者、客頭行者、方丈客頭行者、茶頭行者、供過行者、門頭行者、喪司行者、執局行者、堂司行者、庫司行者、供頭行者、眾寮行者、方丈行者、庫司客頭行者、喝食行者、直殿行者、監作行者、直靈行者等。此外方丈之行者略稱方行,西堂之行者略稱西行,後堂之行者略稱後行,監寺之行者略稱監行,副寺之行者略稱副行,維那之行者略稱維行,典座之行者略稱典行,直歲之行者略稱直行,知客之行者略稱客行,首座之行者略稱首行、辨事,知殿之行者略稱殿行。又年少之行者,或寺院中服雜役之小沙彌,稱為童行、行童、道者、童侍、僧童。行者之居所,稱行堂、行者房、童行堂。行堂之主首,稱行堂主,或單稱堂主。〔敕修百丈清規卷二住持章訓童行條、持寶通覽卷下〕 <三>日本修驗道之「山伏」,亦通稱行者。彼等為得神驗之法,而於山野作苦行修練。山伏二字,具有「入法性真如之寶山,降伏無明煩惱」之義。例如修驗道之祖「役小角」即以常年跋涉深山幽谷、修練種種苦行而被稱為「役行者」。又近代日本有著一定之行裝,巡拜名山靈蹟者,亦稱行者。(參閱「山伏」947) ; Parivrājaka (S), Paribbājaka (P). ; An abbot's attendant; also àcàrin, performing the duties of a disciple; parivràjaka (S) wandering religious. ; Acarin (skt)— 25) Người thị giả ở phương trượng: An abbot's attendant. 26) Người hành thiền: Zen Practitioner. 27) Vị đệ tử tu hành theo Phật—One who performs the duties of a disciple. ; (行者) I. Hành Giả. Phạm:Yogin. Cũng gọi Hành nhân, Tu hành nhân. Chỉ chung những người tu hành Phật đạo.Những người tu pháp môn niệm Phật là Hành giả niệm Phật; những người tu theo Mật pháp là Hành giả chân ngôn; những người chuyên trì tụng kinh Pháp hoa là Hành giả Pháp hoa, v.v... [X. kinh Quán vô lượng thọ; phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1]. II. Hành Giả. Chỉ cho những người chưa xuất gia nhưng ở trong chùa làm công quả. Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển thượng và Thiện kiến luật tì bà sa, thì người ở trong chùa mà chưa được xuất gia, chưa có áo, bát gọi là Bạn đầu ba la sa, tức là hành giả. Cứ theo điều Hành giả, môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên, thì Hành giả ở Nhật bản cạo bỏ râu tóc, nhưng sinh hoạt giống như người thế tục; còn ở Trung quốc thì chỉ có các vị tỉ khưu và sa di mới cạo tóc, Hành giả thì không cạo và chỉ giữ 5 giới mà thôi. Hành giả trong Thiền lâm, tùy theo chức vụ mà có nhiều tên gọi như: Tham đầu hành giả, Lục cục hành giả, Phương trượng khách đầu hành giả, Phó tham hành giả, Khách đầu hành giả, Trà đầu hành giả, Cung quá hành giả, Môn đầu hành giả, Tang tư hành giả, Chấp cục hành giả, Đường tư hành giả, Khố tư hành giả, Cung đầu hành giả, Chúng liêu hành giả, Phương trượng hành giả, Khố tư khách đầu hành giả, Hát thực hành giả, Trực điện hành giả, Giám tác hành giả, Trực linh hành giả, v.v... Ngoài ra, Hành giả của Phương trượng gọi tắt là Phương hành, Hành giả của Tây đường gọi tắt là Tây hành, Hành giả của Hậu đường gọi tắt là Hậu hành, Hành giả của Giám tự gọi tắt là Giám hành, Hành giả của Phó tự gọi tắt là Phó hành, Hành giả của Duy na gọi tắt là Duy hành, Hành giả của Điển tòa gọi tắt là Điển hành, Hành giả của Trực tuế gọi tắt là Trực hành, Hành giả của Tri khách gọi tắt là Khách hành, Hành giả của Thủ tòa gọi tắt là Thủ hành, Hành giả của Tri điện gọi tắt là Điện hành, v.v... [X. điều Huấn đồng hành, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Trì bảo thông lãm Q.hạ]. III. Hành Giả. Chỉ cho những người Sơn phục thuộc phái Tu nghiệm đạo của Nhật bản, họ thường tu khổ hạnh trong rừng núi hoang dã. Hai chữ Sơn phục nghĩa là vào núi báu pháp tính chân như, hàng phục vô minh phiền não . Ngoài ra, ở Nhật bản cận đại, những người mang theo một số hành trang nhất định, đi chiêm bái các danh sơn linh tích, cũng gọi là Hành giả. (xt. Sơn Phục).

hành giả có bi tâm

Compassionate cultivators (practitioners).

hành giả du già

Yogin (S).

hành giải

2562<一>指心王與心所對某一對象發生作用,同時了解、認知此一對象之意。心王,指八識之識體自身,亦即吾人精神作用之主體;心所,指與心王相應而起的心理活動或精神現象,俱舍宗分為六類四十六種,唯識宗分為六類五十一種。 吾人之心識對外境進行作用時,即是產生認知了解之同時,故「行」即是「解」。然心王與心所之行解作用有總相與別相之別,此於佛教各論典中有多種說法,以下概括為四類:(一)心王攝取外境之總相(如色、聲等)而不能攝取別相(如順、逆等),反之,心所能攝取別相而不能攝取總相。(二)心王正取總相復兼取別相,心所則各自攝取別相而不取總相;此說蓋以心王力強而心所力劣之故。(三)心所既取別相復兼取總相,心王則僅取總相而不能攝取別相;此說蓋謂心王作用之處,心所必定隨之。(四)心王與心所皆能兼取總相與別相。 又俱舍與唯識兩宗雖皆以行解為心王、心所之了別作用,然因俱舍宗將浮現於心識之影像稱為「行相」,故特稱心識之了別作用為行解;唯識宗則直接稱心識了別作用為行相,故無行相與行解之別。〔大毘婆沙論卷三十四、成唯識論卷五、成唯識論述記卷五末、俱舍論光記卷一末〕(參閱「行相」2556) <二>為「行」與「解」之並稱。行,修行之意,即依循教理而實踐躬行;解,知解、智解、認知,即從各種見聞學習而領解教理。通常多稱為解行,為佛教各宗派欲達佛果聖道之二大基本法門。(參閱「解行」5599) ; (行解) I. Hành Giải. Khi tâm vương và tâm sở tiếp xúc với đối tượng thì phát sinh tác dụng nhận thức, hiểu biết, gọi là Hành giải. Hành giải có tổng tướng và biệt tướng khác nhau mà trong các bộ luận Phật giáo giải thích bằng nhiều cách: 1. Tâm vương thu nhiếp lấy tổng tướng của đối tượng (như sắc, thanh), chứ không thể thu nhiếp lấy biệt tướng (như thuận, nghịch). Trái lại, tâm sở thu nhiếp biệt tướng chứ không thể thu nhiếp tổng tướng. 2. Tâm vương vừa thu nhiếp tổng tướng lại vừa thu nhiếp biệt tướng, còn tâm sở thì chỉ thu nhiếp biệt tướng mà thôi. Bởi vì thuyết này cho rằng sức tác dụng của tâm vương mạnh hơn tâm sở. 3. Tâm sở thu nhiếp cả biệt tướng và tổng tướng, còn tâm vương thì chỉ thu nhiếp tổng tướng. Bởi vì thuyết này cho rằng hễ tâm vương tác dụng chỗ nào thì chắc chắn tâm sở cũng y theo chỗ đó. 4. Tâm vương và tâm sở đều có thể thu nhiếp tổng tướng và biệt tướng. Ngoài ra, tông Câu xá và tông Duy thức đều cho Hành giải là tác dụng liễu biệt của tâm vương và tâm sở, nhưng vì tông Câu xá gọi những ảnh tượng (bóng dáng) hiện lên trong tâm thức là Hành tướng , cho nên đặc biệt gọi tác dụng liễu biệt của tâm thức là Hành giải. Còn tông Duy thức thì trực tiếp gọi tác dụng liễu biệt của tâm thức là Hành tướng, cho nên giữa Hành tướng và Hành giải không có sự sai khác. [X. luận Đại tì bà sa Q.34; luận Thành duy thức Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần cuối; Câu xá luận quang kí Q.1 phần cuối]. (xt. Hành Tướng). II. Hành Giải. Gọi chung Hành (thực hành) và Giải (hiểu biết). Hiểu biết và thực hành những giáo lí được chỉ dạy. Đây là 2 điều kiện căn bản để đạt đến quả vị Phật. (xt. Giải Hành).

hành hoa

2561即行道散花之意,係於佛前行道禮拜,配賦散花,稱為行華。據大慈恩寺三藏法師傳卷二所載,玄奘入屈支國界遇木叉毱多,曾見行華儀式。故知此法嘗行於西域。今之行華儀式,乃行華之人持花立於佛堂西南隅,待行道者至其面前,即散花於其上。〔淨土法事讚卷上、類聚名物考卷二十八〕 ; Dâng hoa cúng dường—To offer flowers. ; (行華) Hành đạo và tán hoa (Đi nhiễu và tung hoa).Cứ theo Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện quyển 2 ghi, thì khi ngài Huyền trang đến nước Khuất chi đã thấy nghi thức Hành hoa, cho nên biết nghi thức này đã từng lưu hành ở Tây vực từ xa xưa. Nghi thức hành hoa hiện nay là: Người hành hoa cầm hoa đứng ở góc Tây nam của Phật đường, đợi khi những người đi nhiễu qua trước mặt thì tung hoa lên những người đó. [X. Tịnh độ pháp sự tán Q.thượng; Loại tụ danh vật khảo Q.28].

hành hoá

2552乃遊行教化之略稱。謂遍歷各地,教導眾生。仁王般若經卷上菩薩教化品(大八‧八二八中):「若以幻化身見幻化者,是菩薩真行化眾生。」〔佛所行讚卷四守財醉象調伏品、宋高僧傳卷十九封干傳〕 ; (行化) Gọi đủ: Du hành giáo hóa. Đi khắp nơi để giáo hóa chúng sinh. Phẩm Bồ tát giáo hóa trong kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng (Đại 8, 828 trung), nói: Nếu dùng thân huyễn hóa thấy được các pháp huyễn hóa, thì đó mới là Bồ tát hành hóa chúng sinh một cách chân thực . [X. phẩm Thủ tài túy tượng điều phục trong Phật sở hành tán Q.4; truyện Phong can trong Tống cao tăng truyện Q.19].

hành hung

To act with violence.

hành hóa

To go and convert ; Du hành hoằng pháp để hóa độ chúng sanh—To go and convert.

hành hương

2558乃施主為僧眾設齋食時,先以香分配予大眾,而行燒香繞塔禮拜之儀式。據賢愚經卷七、大比丘三千威儀卷上等載,行香時,僧眾須站立受香,若行香者為女子,則僧眾應坐而受之,否則犯突吉羅罪。此儀式在我國始於晉代道安,至唐宋,遂成朝儀之一種。又行香時,受香者須唱偈,釋氏要覽卷上(大五四‧二七六上):「戒定慧解知見香,遍十方界常芬馥,願此香煙亦如是,無量無邊作佛事。」並唱頌行香梵,勝鬘經(大一二‧二一七上):「如來妙色身,世間無與等,無比不思議,是故今敬禮。如來色無盡,智慧亦復然,一切法常住,是故我歸依。」 此外,禪宗住持於朝、暮二時,燒香巡庫堂、東司、山門、浴室、僧堂等,此種燒香巡堂,亦稱行香。〔普達王經、四分律行事鈔資持記卷下三之三、禪苑清規卷三監院條、大宋僧史略卷中、禪林象器箋報禱門〕 ; Caityacàrikà (S). To go on a pilgrimage; to burn incense. ; Ði hành hương: To go on pilgrimate. Dâng hương cúng Phật: To offer incense in front of the altar of the Buddha. ; (行香) Nghi thức thắp hương đi nhiễu quanh tháp.Khi thí chủ thiết trai cúng dường chư tăng, trước hết, đốt hương chia đều cho đại chúng, rồi đi nhiễu và lễ bái chung quanh tháp. Cứ theo kinh Hiền ngu quyển 7 và Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng, thì khi hành hương, tăng chúng phải đứng ngay thẳng để nhận hương, nếu người hành hương là phụ nữ, thì chư tăng nên ngồi mà nhận hương, nếu không sẽ phạm tội Đột cát la. Ở Trung quốc, nghi thức này bắt đầu với ngài Đạo an đời Tấn, đến các đời Đường, Tống thì biến thành một loại nghi thức của triều đình. Lại khi hành hương, người nhận hương phải xướng kệ. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 276 thượng) chép kệ như sau: Giới định tuệ giải tri kiến hương, Thế giới mười phương đều thơm ngát; Nguyện khói hương này cũng như thế, Thành vô lượng vô biên Phật sự . Ngoài ra, trong Thiền tông, vào 2 thời sớm tối, vị Trụ trì đốt hương đi tuần tra các nhà kho, nhà tăng, nhà tắm, cửa ngõ, v.v..., cách đốt hương đi tuần như thế cũng gọi là Hành hương. [X. kinh Phổ đạt vương; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 3 tiết 3; điều Giám viện trong Thiền uyển thanh qui Q.3; Đại tống tăng sử lược Q.trung; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hành hương sông hằng

Gaṅgāyātrā (S), Pilgrimage to the Ganges.

Hành Hạ

(行賀, Gyōga, 729-803): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương, húy là Hành Hạ (行賀), xuất thân Quảng Lại (廣瀬, Hirose), Đại Hòa (大和, Yamato), họ Thượng Dã Mao (上野毛). Ông theo xuất gia và thọ giới với Vĩnh Nghiêm (永嚴), sau đó học về Pháp Tướng, Duy Thức với Bình Bị (平僃) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji). Năm 752, nhận sắc lệnh của triều đình, ông sang nhà Đường cầu pháp, chuyên học cả Thiên Thai lẫn Pháp Tướng. Sau 31 năm lưu học bên đó, ông trở về nước, mang theo hơn 100 quyển kinh sớ. Trước tác của ông có Duy Thức Nghĩa Tinh (唯識義精) 1 quyển, nhưng bị tán thất. Ông được xem là một trong 6 vị tổ của Pháp Tướng Tông Nhật Bản.

hành hạ

Tormenting—To torture—To torment.

hành hạ thân xác quá ðáng

Extreme of tormenting the body.

hành hải

2558<一>(1604~1670)明末清初僧。嘉興桐鄉(位於浙江)人,俗姓錢。號大方。十九歲有出塵之志,次年至杭州雲棲寺專修淨土。二十九歲閱六祖壇經,禮徑山明珠堂無異元來出家,復閱「禪關策進」而有所觸發,往參密雲圓悟、費隱通容等。清康熙八年(1669),住於江蘇婁江禪燈菴,翌年示寂,世壽六十七。著有大方禪師語錄六卷行世。 <二>(1609~1683)明末清初臨濟宗僧。新安人,俗姓蔣。世稱鐵舟行海禪師。自幼即孤,嘗於忠靈院見佛像端嚴,欣然忘返,乃於佛前瞻禮經行,儼若老納。出家受具足戒後,印記於箬菴通問。後出住龍遊禪寺,清康熙二十二年示寂,世壽七十五。曾撰金山志略。〔正源略集卷四〕 ; (行海) I. Hạnh Hải (1604-1670). Vị Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang, họ Tiền, hiệu Đại phương. Năm 20 tuổi, sư đến chùa Vân thê ở Hàng châu chuyên tu Tịnh độ. Năm 29 tuổi, sau khi đọc Lục tổ đàn kinh, sư đến lễ ngài Vô dị Nguyên lai xin xuất gia ở Minh châu đường tại Kính sơn. Về sau, sư lại tham học các thiền sư Mật vân Viên ngộ, Phí ẩn Thông dung, v.v... Năm Khang hy thứ 8 (1669), sư đến ở am Thiền đăng tại Lâu giang, tỉnh Giang tô. Năm sau sư tịch, thọ 67 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Đại phương thiền sư ngữ lục 6 quyển. II. Hạnh Hải (1609-1683). Vị Thiền tăng tông Lâm tế sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Tân an, họ Tưởng. Người đời gọi là Thiết chu Hạnh hải thiền sư. Từ thủa nhỏ sư mồ côi cha mẹ, một hôm đến chùa Trung linh sư thấy tượng Phật trang nghiêm rực rỡ, sư hân hoan chiêm ngưỡng đến nỗi quên trở về, rồi sư kinh hành lễ bái trước tượng Phật trông như một vị lão tăng. Về sau, sư y vào ngài Nhược am Thông vấn xuất gia, thụ giới Cụ túc và được ấn kí, sư đến ở Long du thiền tự. Năm Khang hi 22 (1682) sư tịch, thọ 75 tuổi. Sư có soạn phẩm: Kim sơn chí lược. [X. Chính nguyên lược tập Q.4].

hành hải kim sơn chí lược

2558凡四卷。明末清初僧行海(1609~1683)撰。又稱金山龍遊禪寺志略、金山志略。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。金山位於江蘇鎮江城西,唐代以來,即為南北水陸交通之要樞。金山之西麓有寺,據傳創建於東晉元帝或明帝之時,初稱澤心寺。後有僧唐裴重建於水際,聲名大噪。歷代高僧建置疊興,遂為京口(鎮江)十剎之首,而成為江南名勝。宋真宗賜改澤心為「龍遊禪寺」,又賜大藏經一部。其後雖有興廢,然宗風不絕,為海內之名剎。清順治(1644~1661)年間始,行海住持三十餘年,禪餘之暇,手輯志略,以歷代宗乘法脈及名賢達士高風逸韻,集於一編,分門有山圖、形勝、建置、祖堂法系、記、紀遊、碑、賦、敕書、高僧、紀蹟、詩等十餘目。康熙二十五年(1686),龍遊禪寺更名為江天寺。民國二十五年(1936),金山江天寺以南京國學圖書館藏本、北平圖書館藏本及焦山滌心和尚藏本補缺影印行世,稱「行海金山志」,以別於他志。 ; (行海金山志略) Cũng gọi Kim sơn long du thiền tự chí lược, Kim sơn chí lược. Gồm 4 quyển, do ngài Hạnh hải soạn vào đời Thanh, thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vựng san tập 1. Kim sơn nằm về mạn tây thành Trấn giang tỉnh Giang tô, là trục lộ giao thông trọng yếu giữa Nam và Bắc cả về đường bộ lẫn đường thủy. Ở chân núi phía tây có chùa, theo truyền thuyết, thì được sáng lập vào thời vua Nguyên đế hoặc Minh đế đời Đông Tấn, mới đầu gọi là chùa Trạch tâm. Về sau, có ngài Đường bùi xây cất lại và từ đó trở đi, các vị cao tăng qua các đời nối tiếp nhau trùng tu, nghiễm nhiên trở thành ngôi chùa nổi tiếng, đứng đầu 10 ngôi chùa ở Kinh khẩu (Trấn giang). Vua Tống chân tông ban chiếu đổi tên là Long Du Thiền Tự và ban cho chùa một bộ Đại tạng kinh. Khoảng đầu năm Thuận trị (1644-1661) đời Thanh, ngài Hạnh hải trụ trì chùa và soạn bản Tự chí này. Nội dung nói về nhân vật, sự truyền thừa pháp mạch, phong cảnh, v.v... chia làm 10 mục: Sơn đồ, Hình thắng, Kiến trí, Tổ đường pháp hệ, Kí, Kỉ du, Bi, Phú, Sắc thư, Cao tăng, Kỉ tích và Thi văn...

hành học

2566指修行與學解。依據日僧日蓮之諸法實相鈔所載,行者當勤於行學二道,絕行學則無佛法。又為「解學」之對稱。指為自己之轉迷開悟而修行實地。 ; (行學) Đối lại với Giải học. Chỉ cho sự tu hành và học hiểu. Trong Chư pháp thực tướng sao, ngài Nhật liên, vị tăng thuộc tông Nhật liên của Nhật bản, nói rằng hành giả phải siêng năng tu hành và học hiểu, đó là con đường chuyển mê khai ngộ; nếu lìa con đường này (hành học) thì không có Phật pháp.

hành hữu

The reality of karma—See Thất Chủng Hữu.

Hành Khiển Đại Vương

(行譴大王): theo quan niệm tín ngưỡng dân gian của Trung Quốc, có 12 vị Đại Vương Hành Khiển, được gọi là Thập Nhị Hành Khiển Đại Vương (十二行譴大王), cai quản nhân gian. 12 vị ứng với 12 Chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Các Đại Vương này còn được gọi là đương (kim) niên chi thần (當[今]年之神, vị thần của năm nay). Mỗi vị có trách nhiệm thống nhiếp thế gian trong vòng 1 năm, xem xét mọi chuyện tốt xấu của từng người, từng gia đình, từng thôn xã, cho đến từng quốc gia để luận tội và trình tấu lên Ngọc Hoàng Thượng Đế. Bên cạnh mỗi vị Đại Vương, thường có một vị Phán Quan trợ lý. Trong số 12 vị này, có rất nhân đức, độ lượng; có vị cương trực và cũng có vị rất nghiêm khắc. Tương truyền rằng có năm xảy ra loạn lạc, chiến tranh, mất mùa, thiên tai, v.v., cũng do các vị Đại Vương Hành Khiển gây ra để trừng phạt nhân gian. Tên gọi các vị Đại Vương Hành Khiển và Phán Quan như sau: (1) Năm Tý: Chu Vương Hành Khiển Đại Vương (周王行譴), Thiên Ôn Hành Binh Chi Thần, Lý Tào Phán Quan; (2) Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiển (趙王行譴), Tam Thập Lục Phương Hành Binh Chi Thần, Tiêu Tào Phán Quan; (3) Năm Dần: Ngụy Vương Hành Khiển (魏王行譴), Mộc Tinh Chi Thần, Tiêu Tào Phán Quan; (4) Năm Mão: Trịnh Vương Hành Khiển (鄭王行譴), Thạch Tinh Chi Thần, Liễu Tào Phán Quan; (5) Năm Thìn: Sở Vương Hành Khiển (楚王行譴), Hỏa Tinh Chi Thần, Biểu Tào Phán Quan; (6) Năm Tỵ: Ngô Vương Hành Khiển (呉王行譴), Thiên Hải Chi Thần, Hứa Tào Phán Quan; (7) Năm Ngọ: Tần Vương Hành Khiển (秦王行譴), Thiên Hao Chi Thần, Nhân Tào Phán Quan; (8) Năm Mùi: Tống Vương Hành Khiển (宋王行譴), Ngũ Đạo Chi Thần, Lâm Tào Phán Quan; (9) Năm Thân: Tề Vương Hành Khiển (齊王行譴), Ngũ Miếu Chi Thần, Tống Tào Phán Quan; (10) Năm Dậu: Lỗ Vương Hành Khiển (魯王行譴), Ngũ Nhạc Chi Thần, Cựu Tào Phán Quan; (11) Năm Tuất: Việt Vương Hành Khiển (越王行譴), Thiên Bá Chi Thần, Thành Tào Phán Quan; (12) Năm Hợi: Lưu Vương Hành Khiển (劉王行譴), Ngũ Ôn Chi Thần, Nguyễn Tào Phán Quan. Một trong những ý nghĩa quan trọng của Lễ Giao Thừa là vì tục lệ Việt Nam chúng ta tin rằng mỗi năm có một vị Hành Khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để cung tiễn vị cũ ra đi và nghênh đón vị mới đến. Sở dĩ Lễ Giao Thừa được thiết cúng ở ngoài trời là bởi vì các cụ xưa hình dung trong phút vị cựu vương hành khiển bàn giao công việc cho tân vương luôn có quân đi, quân về đầy không trung tấp nập, vội vã; thậm chí có quan quân còn chưa kịp ăn uống gì cả.

Hành Không

(行空, Gyōkū, ?-?): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống khoảng vào đầu thời Liêm Thương, húy là Hành Không (行空), hiệu là Pháp Bổn Phòng (法本房), Pháp Bảo Phòng (法寶房), xuất thân vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino, thuộc vùng Gifu-ken [岐阜縣]). Ông theo hầu Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên) và học Tịnh Độ Giáo với vị này, rồi đến năm 1204 thì ký tên vào bản Bảy Điều Răn Dạy. Ông chủ xướng Nghĩa Nhất Niệm (一念義, tức là Nghĩa Vãng Sanh về cõi Thường Tịch Quang Độ), rồi năm 1206 thì phá môn bỏ đạo, và năm sau thì gặp phải vụ Pháp Nạn Kiến Vĩnh (建永), ông bị xử tội lưu đày đến vùng Tá Độ (佐渡, Sado).

hành không

Pracarita (skt)—Cái không về hành động, một trong bảy loại không—Emptiness of action, one of the seven Sunyatas—See Thất Chủng Không (4).

hành khất

To go begging, or asking for alms. ; Ði xin ăn—To go begging, or asking for alms.

hành khổ

xem ba tướng khổ ; 2557請參閱教誡新學比丘行護律儀 乃三苦之一。行,遷流之義。因一切有為法遷流三世,而無剎那常住安穩;見諸法無常,而感逼惱,稱為行苦。(參閱「三苦」590) ; Saṃskāra-duḥkhatā (S), Sankhāra-dukkhatā (P). ; Samskàra-dukkhatà (S). Suffering inherent in the formations. ; Ðau khổ là hậu quả tất yếu của hành động—The suffering inevitably consequent on action. ; (行苦) Hành nghĩa là trôi chảy đổi dời, tất cả các pháp hữu vi đều thay đổi theo thời gian, không một sát na dừng nghỉ an ổn, làm cho con người cảm thấy bức bách khổ não, nên gọi là Hành khổ. Là một trong 3 khổ. (xt. Tam Khổ).

hành khổ hạnh luận sư

2558乃苦行外道之一。彼等認為宿世罪福悉已既定,故主張於現世迅速受苦,求死後得安樂,因而從事苦行。〔外道小乘涅槃論〕 ; (行苦行論師) Một trong những ngoại đạo khổ hạnh ở Ấn độ. Ngoại đạo này cho rằng tội phúc ở đời trước đều đã định, cho nên ở đời này phải tu khổ hạnh để được hưởng an vui ở đời sau. [X. luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn].

hành kiện ðộ

Hành Uẩn, uẩn thứ tư trong ngũ uẩn—The samskara skandha, the fourth of the five skandhas. ** For more information, please see Hành Uẩn and Ngũ Uẩn.

hành lí

2566行,躬行;履,踐履。即指日常之行住坐臥、語默動靜,以至喝茶喫飯、屙屎送尿等一切行為進退。叢林於二月九日、八月九日,每年春秋二回,調查安居僧之員數、解制後之動靜等,稱為行履調查。記錄調查行履結果之帳簿則稱行履帳。〔宏智禪師廣錄卷一、卷六、景德傳燈錄卷二十一、聯燈會要卷二十七、行持軌範卷一年分行持〕 ; (行履) Hành là thân mình làm, Lý là chân bước tới. Chỉ cho những sinh hoạt thực tiễn hàng ngày của chúng tăng. Trong tùng lâm, mỗi năm 2 lần vào ngày mồng 9 tháng 2 và ngày mồng 9 tháng 8 có việc kiểm tra số tăng an cư và xem xét tình hình sinh hoạt sau khi giải chế, gọi là Hành lý điều tra . Cuốn sổ ghi kết quả của cuộc điều tra, gọi là Hành lý trướng. [X. Hoành trí thiền sư quảng lục Q.1, Q.6; Cảnh đức truyền đăng lục Q.21; Liên đăng hội yếu Q.27; Niên phần hành trì trong Hành trì quĩ phạm Q.1].

hành lý

Những hành động thường nhật, đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống, ngủ, nghỉ, suy nghĩ, vân vân—The common acts of daily life, going, standing, lying, siting, eating, drinking, sleeping, resting, thinking, etc.

hành lạc

To rejoice.

hành lễ

To celebrate, to officiate; to take or conduct the service. ; To celebrate.

hành lịch sao

2567全一卷。日人賴覺摘抄圓珍所著之行歷記而成。內容記述圓珍於大中五年至貞觀元年(851~859),來唐、返日期間之旅行見聞,為一重要史料。此書收在智證大師全集(收於大日本佛教全書),原本藏於日本石山寺。 ; (行曆抄) Có 1 quyển, do ngài Lại giác, người Nhật bản, trích sao từ tác phẩm Hành lịch kí của ngài Viên trân mà thành. Nội dung sách này thuật lại những điều tai nghe mắt thấy của ngài Viên trân trên đường đến Trung quốc và trở về Nhật bản, khoảng từ năm Đại trung thứ 5 đến niên hiệu Trinh quán năm đầu (851-859). Đây là một tư liệu lịch sử quan trọng được thu vào Trí chứng đại sư toàn tập trong bộ Đại Nhật Bản Phật Giáo Toàn Thư, bản gốc được cất giữ ở chùa Thạch sơn, Nhật bản.

Hành Minh

(行明, Gyōmyō, ?-1073): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, vị Kiểm Hiệu đời thứ 9 của Cao Dã Sơn, húy là Hành Minh (行明), thông xưng là Đại Bắc Thất Đại Sư (大北室大師). Ông lên tu ở Bắc Thất Viện (北室院) trên Cao Dã Sơn, đến năm 1044 thì làm chức Sơn Lung (山籠), nhập thất tu hành, bắt đầu công phu tu tập một ngày 3 thời tại Ngự ảnh Đường (御影堂), nơi thờ phụng Không Hải Đại Sư. Cùng năm đó, ông làm chức Kiểm Hiệu. Đến năm 1069, ông thọ pháp của Dòng Quảng Trạch (廣澤流) với Tánh Tín (性信) ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji). Đệ tử phú pháp của ông có Lương Thiền (良禪).

hành miên mật

Asevita (skt)—To practice assiduously—Assiduous practice (asevana).

Hành Mãn

(行滿, Gyōman, ?-?): vị tăng của Thiên Thai Tông Trung Quốc, sống vào thời nhà Đường, xuất thân Tô Châu (蘇州). Ông xuất gia năm 20 tuổi, đến năm 25 tuổi thì thọ Cụ Túc giới và học Luật trong vòng 5 năm. Vào năm 768 (niên hiệu Đại Lịch [大曆] thứ 3), ông trú ở Phù Tra Tự (浮槎寺), lúc bấy giờ Trạm Nhiên (湛然) đang thuyết giảng Thiên Thai Chương Sớ (天台章疏) ở Kinh Khê (荆溪), ông liền đi theo vị này. Sau khi Trạm Nhiên thị tịch, ông trú ở Phật Lũng Tự (佛隴寺) trên Thiên Thai Sơn và tận lực truyền trì pháp môn. Đến năm 804 (niên hiệu Trinh Nguyên [貞元] thứ 20), vị tăng người Nhật Bản là Tối Trừng (最澄) sang Trung Hoa, thường đến thọ học giáo điển Thiên Thai với ông. Trước tác của ông có Niết Bàn Kinh Sớ Tư Ký (涅槃經疏私記) 12 quyển, Niết Bàn Kinh Âm Nghĩa (涅槃經音義) 1 quyển, Lục Tức Nghĩa (六卽義) 1 quyển, Học Thiên Thai Tông Pháp Môn Đại Ý (學天台宗法門大意) 1 quyển, v.v.

hành mãn

2564<一>藏名 ḥdsin-bye。密教十二火天之一。其形如秋夜之月,光暉照明,其像住於吉祥圓輪中,身著鮮白衣,以珠鬘嚴飾。〔大日經疏卷二十〕(參閱「十二火」333) <二>唐代僧。蘇州人。生卒年不詳。二十歲出家,二十五歲受具足戒,習律五年。大曆三年(768),住浮槎寺,時湛然於荊溪講天台章疏,師即往從之。湛然示寂後,師住天台山佛隴寺,傳持法門。貞元二十年(804),日僧最澄來華,嘗就師受天台教典。著有涅槃經疏私記十二卷、涅槃經音義一卷、六即義一卷、學天台宗法門大意一卷、行滿和上印信、行滿和尚施與物目錄等。 <三>宋代僧。萬州南浦人。初從石霜學禪法。後遊天台山,住華頂峰下之智者院,居數十年未見慍色。以其行跡奇詭,每有神異,人多視為觀世音大士之現身。開寶年中(968~975)示寂,世壽八十八。〔佛祖統紀卷十、宋高僧傳卷二十二〕 ; Sư Hành Mãn ở chùa Phật Lũng, thân thế của sư ít được ai biết đến, nhưng người ta tin rằng sư là người đã cung cấp cho Thiền sư Kinh Khê kinh điển giáo bổn của tông Thiên Thai vào cuối thế kỷ thứ tám—Hsing-Man, a monk of the Fo-Lung monastery, about whom little is known, but who is accredited with supplying Dengyo of Japan with T'ien-T'ai scriptures in the latter part of the eighth century. ; (行滿) I. Hạnh Mãn. Tạng:Fdsin-bye. Một trong 12 vị tôn Hỏa thiên của Mật giáo.Hình tướng như vầng trăng thu, trong sáng rực rỡ, ngồi trong vòng tròn cát tường, mình mặc áo trắng, trang sức bằng chuỗi ngọc. [X. Đại nhật kinh sớ Q.20]. (xt. Thập Nhị Hỏa). II. Hạnh Mãn. Vị tăng sống vào đời Đường, người Tô châu, năm sinh năm mất không rõ. Sư xuất gia năm 20 tuổi, thụ giới Cụ túc năm 25 tuổi, học Luật bộ trong 5 năm. Năm Đại lịch thứ 3 (768), sư trụ trì chùa Phù tra, nghe ngài Kinh khê đang giảng kinh sớ của tông Thiên thai, sư liền đến theo học. Sau khi ngài Trạm nhiên tịch, sư đến ở chùa Phật lũng trong núi Thiên thai để truyền trì giáo nghĩa Thiên thai. Năm Trinh nguyên 22 (804), vị tăng Nhật bản tên là Tối trừng đến Trung quốc, từng đến đây tham học nơi sư. Tác phẩm của sư gồm có: Niết bàn kinh sớ tư kí 12 quyển, Niết bàn kinh âm nghĩa 1 quyển, Lục tức nghĩa 1 quyển, Học Thiên thai tông pháp môn đại ý 1 quyển, Hạnh mãn hòa thượng ấn tín, Hạnh mãn hòa thượng thí dữ vật mục lục. III. Hạnh Mãn. Vị tăng sống vào đời Tống, người Nam phố, Vạn châu. Lúc đầu, sư theo ngài Thạch sương học Thiền, sau sư đến núi Thiên thai ở tại viện Trí giả dưới ngọn Hoa đính. Vì hành tích của sư linh dị lạ thường, nên người đời coi sư là hiện thân của bồ tát Quan thế âm. Vào khoảng năm Khai bảo (968-975), sư tịch, thọ 88 tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.10; Tống cao tăng truyện Q.22].

hành môn quán môn hoằng nguyện môn

2555日本佛教用語。乃日本淨土宗西山派之證空批判淨土教相所立之名目。(一)行門,即依自力修行之法門,指八萬四千行法。(二)觀門,即觀照彌陀弘願之法門。指觀無量壽經所說定心、散心之觀法。(三)弘願門,即弘誓本願之法門。此「本願」指無量壽經所說彌陀之本願。據善導之觀經玄義分謂,一切善惡凡夫得往生淨土,莫不皆以阿彌陀佛之大願業力為增上緣。〔觀經玄義分觀門義鈔卷一、卷二〕 ; (行門觀門弘願門) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Đây là danh mục do ngài Chứng không thuộc phái Tây sơn của tông Tịnh độ Nhật bản đặt ra để nói về giáo tướng tông Tịnh độ.1. Hành môn: Pháp môn tu hành nhờ vào sức mình, chỉ cho 84.000 hành pháp. 2. Quán môn: Pháp môn quán chiếu thệ nguyện rộng lớn của đức Phật A di đà, chỉ cho pháp quán Định tâm, Tán tâm được nói trong kinh Quán vô lượng thọ. 3. Hoằng nguyện môn: Pháp hoằng thệ bản nguyện của đức Phật A di đà trong kinh Vô lượng thọ. Trong Quán kinh huyền nghĩa phần, ngài Thiện đạo cho rằng tất cả phàm phu thiện ác được vãng sinh Tịnh độ đều nương vào đại nguyện lực của Phật A di đà làm duyên tăng thượng. [X. Quán kinh huyền nghĩa phần Quán môn nghĩa sao Q.1, Q.2].

hành mẫu

Matrka (skt)—Ma Ðức Lý Ca—“Mẹ của nghiệp,” thí dụ trong Vi Diệu Pháp, chỉ rõ nghiệp sanh nghiệp, hay là một hành động đưa đến (sản sanh) một hành động khác—The “mother of karma,” i.e. the Abhidharma-pitaka, which shows that karma produces karma, one act producing another.

hành mẫu tạng

Xem Bản mẫu tạng.

hành nghi

2566指行為之規範或例行之禮儀作法。一般指比丘、比丘尼等日常行為之規矩禮儀。又淨土宗之念佛有尋常、別時、臨終等三種行儀。 ; Tu hành đúng theo luật nghi, đặc biệt cho chư Tăng Ni—To perform the proper duties, especially of monks and nuns. ; (行儀) Lễ nghi phép tắc qui định những hành vi thường nhật của tỉ khưu và tỉ khưu ni, hoặc nghi thức xếp hàng hành lễ. Ngoài ra, nghi thức niệm Phật của tông Tịnh độ cũng có 3 loại hành nghi: Bình thường, Biệt thời và Lâm chung.

hành nghiệp

2562指身、口、意所造作之行為。又作作業。 ; Abhisaṇkhāra (P). ; That which is done, the activities of thought, word, or deed; karma; hạnh nghiệp: moral action. ; Việc làm của thân, khẩu, ý (việc làm thiện ác sẽ gánh chịu quả báo khổ vui)—The activities of thought, word, deed, moral action; karma. ; (行業) Cũng gọi Tác nghiệp. Chỉ cho những hành vi do thân, khẩu, ý tạo tác.

hành nghiệp thần

2562乃指各種特定行業及其從業人員之守護神。隨社會分工制度之發展而產生各種行業神,其緣起多與各行業首創者之神話傳說有關,如我國養蠶者敬奉馬頭娘為神,木匠敬奉魯班為神等。亦有因景仰某神之崇高德行,或因某神與該行業有殊勝之因緣等,而尊奉其為該行業之守護神。如以海為生之漁民,多尊奉媽祖為守護神,一般商人皆恭奉關聖帝(關公)與土地公為守護神。恭奉關聖帝者,因景仰其正義與公正,恭奉土地公者,因信其為福祿之神,能招財進寶之故。 此外,於古代希臘宗教中,亦有此種神,如狩獵女神阿耳忒彌斯、農作女神得墨忒耳、商業神海爾梅斯等。〔臺灣的民間信仰(姜義鎮)〕 ; (行業神) Thần thủ hộ các nghề nghiệp. Tùy theo sự phát triển của chế độ và sự phân công của xã hội mà có các vị Hành nghiệp thần khác nhau. Vì các vị thần này đều có liên hệ với truyền thuyết thần thoại của những người sáng lập nghề nghiệp. Như ở Trung quốc, người làm nghề nuôi tằm thì thờ Mã đầu nương, người làm nghề thợ mộc thì thờ Lỗ ban, dân chài sống bằng nghề biển phần nhiều thờ Ma tổ, những người lái buôn thì đều thờ Quan thánh đế quân (Quan vũ) và Thổ địa công. Trong tông giáo của Hi lạp cổ đại cũng có loại thần này, như thần của nghề săn bắn, nghề nông, thương nghiệp, v.v... [X. Đài loan đích dân gian tín ngưỡng (Khương nghĩa trấn)].

hành nghề

To practice a profession.

hành nguyện

Hành động của thân và ý nguyện của tâm (nương tựa hành nguyện mà tu hành)—Action of the body and vow of the mind—Act and vow, resolve or intention; to act out one's vows; to vow.

hành nguyện bồ ðề

Tu hành những gì mình phát nguyện (nguyện là tất cả chúng sanh đều hàm chứa Như Lai tạng tính, đều có thể an trụ ở vô thượng Bồ Ðề, nên nguyện đem pháp Ðại Thừa Vi Diệu mà độ tận)—To start out for bodhi-mind to act out one's vows to save all living beings (all beings possess Tathagata-garbha nature and can become a Buddha; therefore, vow to save them all).

hành nguyện phẩm

GandhavyŪha (S)Tứ tập Hoa nghiêmMột bộ trong Hoa nghiêm bộ.

hành ngũ pháp

2551指行欲、精進、念、巧慧、一心等五法。天台宗止觀修法有二十五種方便,二十五方便復可分為五科:具五緣、訶五欲、棄五蓋、調五事、行五法。行五法乃五科中之第五,即:(一)欲,欲離世間一切之妄想顛倒,欲得一切諸禪定智慧門。(二)精進,堅持禁戒,棄「五蓋」,於初中後夜勤行精進。(三)念,念世間欺誑之輕賤與禪定智慧之貴重。(四)巧慧,籌量世間樂與出世間禪定智慧樂,二者間之得失輕重。(五)一心,念慧分明,明見世間之可患可惡,善識定慧之可尊可貴。若以船譬喻此五法,則巧慧如船頭,一心如船舵,餘三者如篙槳,若缺一法,則即使於安穩之水道亦難行進。〔摩訶止觀卷四下、次第禪門卷二、天台四教儀集註卷下〕(參閱「二十五方便」174) ; (行五法) Thực hành 5 pháp: Dục, Tinh tiến, Niệm, Xảo tuệ, Nhất tâm. Đây là pháp tu chỉ quán của tông Thiên thai. Pháp tu chỉ quán này có 25 phương tiện, lại được chia làm 5 khoa: Cụ ngũ duyên, Ha ngũ dục, Khí ngũ cái, Điều ngũ sự và Hành ngũ pháp. Khoa Hành ngũ pháp này gồm có 5 món: 1. Dục: Muốn lìa tất cả vọng tưởng điên đảo của thế gian, muốn được tất cả các môn thiền định trí tuệ. 2. Tinh tiến: Ngày đêm siêng năng giữ gìn giới cấm, lìa ngũ cái. 3. Niệm: Luôn nghĩ đến thế gian dối trá mà xem thường và quí trọng thiền định trí tuệ. 4. Xảo tuệ: Dùng trí tuệ sáng suốt so sánh cái vui dục lạc thế gian với cái vui thiền định trí tuệ xuất thế gian, xem cái nào hơn kém, nặng nhẹ. 5. Nhất tâm: Niệm tuệ phân minh, thấy rõ thế gian đáng nhàm chán, biết chắc định tuệ đáng tôn quí. Nếu dùng con thuyền để ví dụ 5 pháp này, thì Xảo tuệ như mũi thuyền, Nhất tâm như bánh lái, 3 pháp còn lại như cây sào, mái chèo. Nếu thiếu một thứ thì dù con thuyền có ở trên sông nước phẳng lặng, yên ổn, cũng khó mà tiến lên được. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 phần dưới; Thứ đệ thiền môn Q.2; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ]. (xt. Nhị Thập Ngũ Phương Tiện).

hành nhiễm

2556謂生活行為受染污。對出家之「離染」而言,在家即稱行染。敕修百丈清規卷五沙彌得度條(大四八‧一一三七中):「三世諸佛不說在家成道,歷代祖師阿誰行染度人?」 ; (行染) Đối lại với Li nhiễm. Chỉ cho những sinh hoạt và hành vi ô nhiễm, tức là đời sống của người tại gia. Điều Sa di đắc độ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1137 trung), nói: Chư Phật 3 đời không có vị nào nói ở tại gia thành Phật, các vị Tổ sư chưa có ai là Hành nhiễm mà độ người .

hành nhân

A traveller, wayfarer, a follower of Buddha; a disciple. ; Tu Hành Nhân—Người du hành hay hành giả tu theo Phật; đệ tử Phật—A traveller, wayfarer; a follower of Buddha; a disciple.

hành pháp

2554指修行之方法。在密教中與「修法」、「密法」同義。又密教之「四度加行」即為受傳法灌頂前,方便所修之行法,包括十八道之行法、胎藏界之行法、金剛界之行法、護摩之行法等四種。(參閱「四度加行」1730、「修法」4044) ; (行法) Phương pháp tu hành. Đồng nghĩa với Tu pháp, Mật pháp trong Mật giáo. Trong Mật giáo, Tứ độ gia hành tức là 4 Hành pháp phương tiện gồm: Thập bát đạo hành pháp, Thai tạng giới hành pháp, Kim cương giới hành pháp và Hộ ma hành pháp. Bốn pháp này được thực hành trước khi nhận lãnh Truyền pháp quán đính. (xt. Tứ Độ Gia Hành, Tu Pháp).

hành pháp trung gian lập toà tác pháp

2554指密教行者於修法中,因重要事欲離座時之作法。作法集載其作法為結五股印,誦吽字。開心祕決卷七之記載,其作法有數種,其中之一即折疊袈裟,置於禮盤上,再以念珠置其上。〔密教奧義卷下〕 ; (行法中間立座作法) Nghi thức tác pháp để rời chỗ ngồi của hành giả Mật giáo. Trong lúc tu pháp, vì có việc quan trọng phải tạm rời chỗ ngồi thì hành giả phải làm phép này. Theo Tác pháp tập thì cách tác pháp là kết ấn 5 chĩa và tụng chữ Hồng . Còn theo Khai tâm bí quyết quyển 7 thì tác pháp là: Gấp áo ca sa đặt trên mâm lễ, rồi để xâu chuỗi lên trên. [Mật giáo áo nghĩa Q.hạ].

hành phạt

Dandakamma (P). Act of punishment. ; To punish.

Hành Phật

行佛; J: gyōbutsu; nghĩa là »hành động như Phật«;|Danh từ được dùng để chỉ sự chú tâm tuyệt đối vào việc tu tập để Kiến tính, ngộ đạo.

hành phật

2554又稱行佛威儀。謂修行者須於日常之行住坐臥中,起崇仰畏敬之念,正其儀容舉措,一一方正合宜而心無動亂,以示現佛之威儀。 ; (行佛) Cũng gọi Hành Phật uy nghi. Giữ uy nghi như Phật. Nghĩa là trong những động tác hàng ngày như đi, đứng, ngồi, nằm, người tu hành luôn phải khởi tâm niệm tôn sùng kính sợ, nghi dung cử chỉ phải ngay thẳng hợp cách, tâm không động loạn để hiển bày uy nghi của Phật.

hành phật tánh

The Buddha-nature in action or development. ** For more information, please see Nhị Phật Tánh.

hành phật tính

2554乃三佛性之一。指各種有漏、無漏等萬行;蓋以有漏、無漏等萬行,乃成就佛果菩提四智之因,故稱行佛性。又為二佛性之一。即法相宗所說眾生之第八阿賴耶識中所具無漏成佛之種子。乃「理佛性」之對稱。(參閱「二佛性」195、「三佛性」552) ; (行佛性) I. Hạnh Phật Tính. Chỉ cho muôn hạnh hữu lậu, vô lậu, là một trong 3 Phật tính. Vì muôn hạnh hữu lậu, vô lậu là nhân để thành tựu bốn trí của quả Phật cho nên được gọi là Hạnh Phật tính. (xt. Tam Phật Tính). II. Hạnh Phật Tính. Đối lại với Lí Phật tính. Tông Pháp tướng cho rằng trong thức A lại da thứ 8 của tất cả chúng sinh đã hàm chứa sẵn chủng tử vô lậu để thành Phật. Là một trong 2 Phật tính. (xt. Nhị Phật Tính).

hành quân

2554遼代僧。生卒年、籍貫均不詳。俗姓于。字廣濟。善音韻、文字學。曾收集大藏經中所用之文字二六四三○餘字,加以注解,各字之下舉出今古字形、反切、字義等,總為四卷,名龍龕手鑑。該書解說出色,為世所重。(參閱「龍龕手鑑」6399) ; (行均) Vị tăng Trung quốc sống vào đời Liêu, họ Vu, tự Quảng tế, năm sinh, năm mất và quê quán đều không rõ. Sư rất giỏi về âm vận và văn tự học, sư từng thu tập những chữ khó hiểu trong Đại tạng kinh rồi soạn thành bộ Long khám thủ giám 4 quyển. Nội dung gồm 26.430 chữ, dưới mỗi chữ nêu hình chữ xưa và nay, cách đọc theo phiên thiết và giải nghĩa tỉ mỉ, rõ ràng. Đây là bộ sách rất quí giá, được người đời ưa chuộng. (xt. Long Khám Thủ Giám).

hành quả

Deed and result; the inevitable sequence of act and its effect. ; Hành nghiệp và quả báo. Quả báo tất yếu dựa vào nhân của hành nghiệp—Deed and result—The inevitable sequence of act and its effect.

hành quả mãn vị

2554即佛位。乃修行功德已達圓滿之位。 ; (行果滿位) Chỉ cho quả vị Phật, quả vị mà công đức tu hành đã đạt đến chỗ viên mãn.

hành sách

2561(1628~1682)清代僧。江蘇宜興人,俗姓蔣。字截流。其父全昌精通儒佛,與憨山德清有親交。德清示寂後三年,全昌夢其杖錫入室,於是生行策。長而父母相繼逝世,年二十三投於武林理安寺箬菴通問門下,五載不橫臥,徹達法要;住報恩寺,受自庵瑛之勸,而修淨土,並就錢塘樵石研習天台學,共修法華三昧,研習教義。清康熙二年(1663),於杭州法華山之西溪河渚間結庵(蓮柎庵),專修淨業。康熙九年,住虞山普仁院,復興蓮社,學者翕然風從。康熙二十一年示寂,世壽五十五。著有金剛經疏記會編十卷(乃宗密「金剛經疏」與子璿「金剛經纂要刊定記」之會本,成於康熙三年)、勸發真信文、起一心精進念佛七期規式、寶鏡三昧本義、楞嚴經勢至圓通章等。〔金剛經疏記會編序、淨土聖賢錄卷六、新續高僧傳卷四十五〕 ; (行策) (1628-1682) Vị tăng thuộc tông Tịnh độ sống vào đời Thanh, người huyện Nghi hưng, tỉnh Giang tô, họ Tưởng, tự Tiệt lưu. Thân phụ của sư tên là Toàn xương, tinh thông Nho Phật, thân giao với ngài Hàm sơn Đức thanh. Tương truyền, sau khi ngài Đức thanh thị tịch được 3 năm thì ông Toàn xương nằm mộng thấy ngài chống tích trượng đi vào nhà mình, sau đó vợ ông mang thai và sinh ra Hành sách. Đến khi lớn khôn, cha mẹ sư lần lượt qua đời. Năm 23 tuổi, sư theo làm đệ tử ngài Nhược am Thông vấn ở chùa Lí an tại Vũ lâm. Sau 5 năm tinh tiến tu học, sư thấu triệt pháp yếu. Sau, sư trụ ở chùa Báo ân và theo lời khuyên của ngài Am anh, sư tu Tịnh độ, đồng thời đến ngài Tiều thạch ở Tiền đường nghiên cứu học thuyết tông Thiên thai và tu Pháp hoa tam muội. Năm Khang hi thứ 2 (1663), sư cất am Liên phù ở bờ sông Tây khê chỗ chân núi Pháp hoa tại Hàng châu, chuyên tu tịnh nghiệp. Năm Khang hi thứ 9 (1670), sư ở viện Phổ nhân trên núi Ngu sơn, phục hưng Liên xã, người đến theo học rất đông. Năm Khang hi 21 (1682) sư tịch, thọ 55 tuổi. Sư để lại các trứ tác: Kim cương kinh sớ kí hội biên 10 quyển, Khuyến phát chân tín văn, Khởi nhất tâm tinh tiến niệm Phật thất kì qui thức, Bảo kính tam muội bản nghĩa, Lăng nghiêm kinh Thế chí viên thông chương. [X. Kim cương kinh sớ kí hội biên tự; Tịnh độ thánh hiền lục Q.6; Tân tục cao tăng truyện Q.45].

hành sách ðại sư

Hsing-She—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Hành Sách đại sư, tự là triệt Lưu, người đời nhà Thanh. Ngài là con của ông Tưởng Toàn Xương, một bậc lão nho ở vùng Nghi Hưng. Thân phụ của ngài là bạn ngoài đời của Hòa Thượng Thanh Ðức, tức là Ngài Hám Sơn Ðại Sư. Niên hiệu Thiên Khải thứ 6, sau khi Hám Sơn Ðại Sư thị tịch được ba năm, một đêm nọ ông Tưởng Toàn Xương mộng thấy Hám Sơn đi vào nhà của mình. Cũng trong đêm ấy. Hành Sách Ðại sư được sanh ra đời. Nhân đó, ngài được thân phụ đặt cho ngoại hiệu là Hám Mộng (Mộng thấy Hám Sơn). Ðến khi khôn lớn, thân phụ thân mẫu kế tiếp qua đời. Ngài thương cảm sự thế vô thường, nên có ý niệm thoát tục. Năm hai mươi ba tuổi, ngài thế phát xuất gia với Hòa Thượng Nhược Am ở chùa Lý An. Suốt năm năm dài, ngài tu hành tinh tấn, không hề đặt lưng xuống nằm, do đó ngài được tỏ suốt nguồn chơn, ngộ vào pháp tánh. Sau khi Nhược Am Hòa Thượng thị tịch. Ngài qua trụ trì chùa Báo AÂn. Thời gian nầy ngài được bạn đồng tham (bạn cùng tu) là Tức An Thiền Sư khuyên tu Tịnh Ðộ. Kế đó ngài lại được gặp Tiều Thạch Pháp Sư hướng dẫn về Thiên Thai Giáo Quán, và sau đó ngài lại cùng với Tiều Thạch Pháp Sư đồng nhập thất tu môn Pháp Hoa Tam Muội. Nhờ đó mà trí huệ huân tu từ kiếp trước của ngài khai phát, ngộ suốt đến cốt tủy của Thai Giáo. Niên hiệu Khang Hy thứ 2, ngài cất am ở núi Pháp Hoa, bên bờ sông Tây Khê tại Hàng Châu, chuyên tu Tịnh Ðộ. Nhân đó đặt tên chỗ ở của mình là Liên Phụ Am. Ðến năm Khang Hy thứ 9, ngài về trụ trì chùa Phổ Nhân ở Ngư Sơn, đề xướng thành lập Liên Xả. Học giả các nơi hưởng quy tụ về rất đông. Ngài trụ trì tại chùa Phổ Nhân được 13 năm. Niên hiệu Khang Hy thứ 21, ngày mồng 9 tháng 7, ngài thị tịch, thọ được 55 tuổi—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Great Venerable Master Hsing-She's self-given name is Che-Liu. He was the son of Mr. Tuong-Toan-Xuong, an elderly Confucianist in the Nghi Hưng region. The Grat Master lived during the Ch'ing Dynasty. His father was the worldly friend of Great Master Ðức Thanh, also known as Greta Master Hám Sơn. In the sixth year of the T'ien-Ksi reign period, three years after Great Master Hám Sơn had passed away, one night while dreaming Mr. Toan Xương saw Great Master Hám Sơn come into his home. It was also during that night the Great Master Hsing-She was born. Given this circumstance, he was given the nickname Hám Dreaming. When he had grown up, both his parents passed away. He had a deep sadness for the impermanence of life; thus, he had the thought of abandoning the worldly life to take a religious path. In his twenty-third year; the Great Master shaved his head to join the order with Great Master Nhược Am at Lý An Temple. After year long, he cultivated diligently, never once lying down on his back; thus, he gained a deep understanding of the truths, penetrated the teachings and became awakened to the Dharma Nature. After Great Master Nhược Am passed away, he went to the Báo AÂn Temple to assume the Headmaster position. During this period, he befriended a fellow cultivator, Zen Master Túc An, who encouraged him to practice Pureland Buddhism as the two studied and examined Buddhism. Thereafter, he met Dharma Master Tiều Thạch who guided him to examine “T'ien-Tai Zen Meditation” and eventually, both of them retreated to practice the Dharma Door of Dharma Flower Samadhi (Lotus Samadhi). For this reason, his wisdom of former lives began to blossom and he was able to penetrate into the root and core of the T'ien-T'ai' Doctrine. The second year of the Khánh-Hỷ reign period, he built a small temple at the Dharma Flower Mountain, on the bank of Tây Khê River at the Heng-Chou region to focus his practice on Pureland Buddhism. Then in the ninth year of the Khánh Hỷ reign period, he came down the mountain to assume the headmaster position at Phổ Nhân Temple at Wu-Tai-Shan region and initiated the building of the Lotus Mandala. Scholars and intellectuals from everywhere began to gather to cultivate in a great number. He held the headmaster position at Phổ Nhân Temple for thirteen years. On July 9th of the twenty-first year of the Khang-Hy reign period, he gained rebirth. He was 55 years old.

hành sâm

2560(1614~1677)明末清初臨濟宗僧。博羅(廣東)人,俗姓黎。世稱茆溪行森禪師。其母夢白光入懷而妊,既誕,眉宇俊秀。七歲,棄家從宗寶獨公削髮出家,參學於雲門雪嶠圓信,復參謁玉林通琇於大雄,得嗣其法,隨侍多年。清代順治十七年(1660),蒙聖恩召入內廷,師力辭封號,上遂賜呼「慈翁」,既歸,隱於浙江杭州龍溪菴,開法弘化,帝下詔改龍溪為圓照寺,恩寵殊隆。康熙十六年示寂於吳山華嚴寺,世壽六十四。雍正十一年(1733),追諡「明道正覺禪師」。師生平言行收入御選語錄卷十一。有茆溪森禪師語錄一卷行世。〔正源略集卷四〕 ; (行森) (1614-1677) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người huyện Bác la, tỉnh Quảng đông, họ Lê, người đời gọi sư là Lữu khê Hành sâm thiền sư. Tương truyền, thân mẫu sư nằm mộng thấy ánh sáng chiếu vào bụng mà có thai. Khi sinh ra, sư rất khôi ngôi tuấn tú. Năm lên 7 tuổi, sư theo ngài Tông bảo Độc công xuất gia, tham học ngài Tuyết kiệu Viên tín ở Vân môn, sau lại tham yết ngài Ngọc lâm Thông tú ở Đại hùng và được nối pháp của ngài. Năm Thuận trị 17 (1660) đời Thanh, sư được nhà vua triệu vào cung để phong hiệu, nhưng sư cố từ nên vua ban cho sư tên gọi Từ Ông . Sau đó, sư trở về ẩn cư tại am Long khê ở Hàng châu, tỉnh Chiết giang để thuyết pháp hoằng hóa, vua ban chiếu chỉ đổi am Long khê thành chùa Viên chiếu, để tỏ lòng ngưỡng mộ của vua. Năm Khang hi 16 (1677) sư tịch ở chùa Hoa nghiêm tại Ngô sơn, thọ 64 tuổi. Năm Ung chính 11 (1733) được truy thụy Minh Đạo Chính Giác Thiền Sư . Hành trạng của sư được chép vào Ngự tuyển lục quyển 11. Sư có trứ tác: Lữu khê Sâm thiền sư ngữ lục 1 quyển. [X. Chính nguyên lược tập Q.4]. HÀNH SỰ Đồng nghĩa với Phụng hành, Tri sự. Chấp hành nghi thức pháp hội theo một qui tắc nhất định, như Pháp hội hành sự, Hội hành sự, v.v... Ngoài ra, người giữ chức vụ làm một việc gì đó đã thành lệ, cũng được gọi là Hành sự. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 1].

Hành Sơn Đăng Bỉnh

(衡山燈炳, Kōzan Tōhei, 1611-1680): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, ban đầu lấy hiệu là Xung Cốc (冲谷), sau đổi thành Hành Sơn (衡山), xuất thân Hợp Giang (合江), Nam Đạo Lô Châu (南道瀘州), xứ Thục (蜀, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Phùng (馮). Sau khi xuất gia, ông đến tham học với Xuy Vạn Quảng Chơn (吹萬廣眞) ở Long Hưng Tự (隆興寺), Vạn Ấp (萬邑); sau theo hầu Tụ Vân (聚雲) ở Trung Châu (忠州, Tỉnh Tứ Xuyên) được mấy năm thì vị này qua đời; cho nên ông đến tham vấn Thiết Bích Huệ Cơ (鐵壁慧機)—pháp từ của Tụ Vân và đến năm 41 tuổi, ông kế thừa dòng pháp của Thiết Bích. Vào năm thứ 9 (1652) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông đến trú trì Cát Tường Tự (吉祥寺) ở Quỳ Châu (夔州, Tỉnh Tứ Xuyên) và sau chuyển đến Phước Thành Sơn Khánh Vân Tự (福城山慶雲寺) ở Trung Châu. Đến ngày 18 tháng 6 năm thứ 9 niên hiệu Khang Hy (康熙) nhà Thanh, ông thị tịch, hưởng thọ 70 tuổi đời và 53 hạ lạp. Ông có để lại bản Hành Sơn Bỉnh Thiền Sư Ngữ Lục (衡山炳禪師語錄) 1 quyển.

hành sử

To make use of—To use—To utilize.

hành sự

2554指行定例之儀式。亦即依一定之軌範,執行儀式法會。又執掌定例事項之職者亦稱行事。有法會行事、會行事等,此與奉行、知事同義。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上一〕

hành thao

2567(?~1652)清代臨濟宗僧。吳江(江蘇)人,俗姓趙,本名庾先。字大庾。幼年從學於伯父漢月法藏。順治三年(1646),隱遁於武夷山。其後,依止吳江報恩寺之浮石通賢,並受具足戒,蒙受印可而成為大僧。繼學於靈巖寺之弘儲,弘儲受天寧寺、瑞喦寺之請,師亦隨侍參叩。順治七年,奉其師命,住於國清寺。於順治九年示寂。遺有大庾禪師住天台景德國清禪寺語錄一卷,書中集錄天台國清韜禪師衣鉢塔銘,及顯祐之天台國清大庾韜和尚行狀等。〔五燈全書卷八十四〕 ; (行韜) (?-1652) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế sống vào đời Thanh, người huyện Ngô giang, tỉnh Giang tô, họ Triệu, tên Dữu tiên, tự là Đại dữu.Thủa nhỏ, sư theo học người bác là ngài Hán nguyệt Pháp tạng. Năm Thuận trị thứ 3 (1646) sư ở ẩn trong núi Vũ di. Về sau, sư y chỉ vào ngài Phù thạch Thông hiền ở chùa Báo ân tại huyện Ngô giang thụ giới Cụ túc, sau lại theo học ngài Hoằng trừ ở chùa Linh nham. Năm Thuận trị thứ 7 (1650), vâng mệnh của thầy, sư đến Hành Sâm trụ trì chùa Quốc thanh. Năm Thuận trị thứ 9 (1652) sư tịch. Sư có tác phẩm: Đại dữu thiền sư trụ Thiên thai cảnh đức quốc thanh thiền tự ngữ lục 1 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.84].

hành thiên cung

2552位於臺灣臺北市。民國三十二年(1943)由郭得進所創建。初稱行天堂,為道教廟宇。奉祀五聖恩主,以關聖帝君為主神,香火鼎盛。民國三十八年遷建至中山區,更名為行天宮。翌年黃欉建設行修宮於臺北縣三峽鎮,即三峽分宮。民國五十七年二宮合併成立「財團法人臺北市行天宮」,今設有圖書館一座。

hành thiện

2560<一>為「止善」之對稱。積極修行善業,是為行善;消極制止惡業,是為止善。如不殺生,止殺生之惡,是為止善;行放生之善,則為行善。又如不偷盜、止偷盜之惡,是為止善;行布施之善,則為行善。(參閱「止行二善」1474) <二>即三福中之行福。謂發大乘之心,廣勸眾人捨棄惡心、惡行,而起往生淨土之心。(參閱「三福」647) ; 3) Làm việc thiện: To do good—To perform good deeds or whlesome deeds—To offer up deeds of goodness. 4) Nghiệp thiện: Deeds that are good. 5) Những lời Phật dạy về “Hành Thiện” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “To do good” in the Dharmapada Sutra: Những người tạo các thiện nghiệp, làm xong chẳng chút ăn năn, còn vui mừng hớn hở, vì biết mình sẽ thọ lấy quả báo tương lai—The deed is well done when, after having done it, one repents not, and when, with joy and pleasure, one reaps the fruit thereof (Dharmapada 68). ; (行善) I. Hành Thiện. Đối lại với Chỉ thiện. Tích cực tu hành thiện nghiệp là Hành thiện. Trái lại, không tạo các ác nghiệp như giết hại, trộm cướp..., một cách tiêu cực là Chỉ thiện. (xt. Chỉ Hành Nhị Thiện). II. Hành Thiện. Phát tâm Đại thừa, khuyên người dứt bỏ tâm hạnh độc ác xấu xa mà khởi tâm cầu vãng sinh Tịnh độ. Đây tức là Hành phúc trong 3 phúc. (xt. Tam Phúc).

hành thụ

2566指次第成行而不錯亂之樹林。阿彌陀經(大一二‧三四六下):「七重行樹皆是四寶。」阿彌陀經通贊疏卷中(大三七‧三三八下):「七重行樹者,七重寶樹行列聋中,長開異華,更無凋變,靈禽棲上,眾聖遊從也,故云七重行樹皆是四寶者。」 ; Hàng Thụ—Rừng cây thành hàng thành lối—Tree in rows—A avenue of trees. ; (行樹) Rừng cây mọc thành hàng, thẳng tắp từ đầu đến cuối. Kinh A di đà (Đại 12, 346 hạ) nói: Bảy lớp hàng cây đều do 4 thứ báu tạo thành . A di đà kinh thông tán sớ quyển trung (Đại 37, 338 hạ), giải thích: Bảy lớp cây báu mọc thành hàng trong cõi nước, hoa thơm thường nở, lá không héo rụng, chim quí đến đậu, chúng thánh dạo chơi, vì thế nói là 7 hàng cây đều do 4 thứ báu tạo thành .

hành triền

2567禪僧於行腳時所繫用之腳絆。又作行滕、腳絆。聯燈會要卷二十八雲居曉舜章(卍續一三六‧四五四上):「夜間脫襪打睡,早朝旋繫行纏。」 ; (行纏) Cũng gọi Hành tất (buộc đầu gối), Hành bán (buộc ống chân). Thiền tăng dùng vải buộc ống chân khi đi hành cước. Chương Vân cư Hiểu thuấn trong Liên đăng hội yếu quyển 28 (Vạn tục 136, 454), nói: Ban đêm cởi bí tất để ngủ, sáng ngày buộc ống chân lên đường .

hành trà

2559指分配茶水。即寺院中,按一定之法式,在會眾中分配茶水之作法;或亦指大眾共同喫茶。禪林行茶時,有一定之座位(行茶位)及喫茶之儀式。敕修百丈清規卷四頭首就僧堂點茶條(大四八‧一一三六中):「齋畢就坐,點茶頭首入堂炷香行茶。」〔敕修百丈清規卷七結制禮儀條、禪苑清規卷五僧堂內煎點條〕 ; (行茶) Nghi thức phân phối trà hoặc cùng uống trà với đại chúng. Trong Thiền lâm, khi hành trà, người tham dự có chỗ ngồi nhất định. Điều Đầu thủ tựu Tăng đường điểm trà trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1136 trung), nói: Thụ trai xong, người phụ trách việc hành trà vào Trai đường đốt hương pha trà . [X. điều Kết chế lễ nghi trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7; điều Tăng đường nội tiễn điểm trong Thiền uyển thanh qui Q.5].

Hành Trì

(行持, Gyōji): quyển thứ 30 trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏), là phần Thị Chúng (示眾) tại Hưng Thánh Tự (興聖寺) vùng Vũ Trị (宇治, Uji) vào năm 1241. Nội dung của thiên này trước hết nói về việc trong đời tận thế này, chúng ta cần phải hành trì mới tu chứng được; kế đến ghi cụ thể sự tích của chư vị Tổ sư ở Ấn Độ, Trung Quốc từ thời đức Thích Ca trở về sau, và cuối cùng là khuyên người học đạo nên thâm nhập pháp môn hành trì của chư vị Tổ sư.

hành trì

Ayatane (P). ; Conduct and keeping—Practice and continuance.

hành trình

Itinerary.

Hành Trạng

(行狀): là một thể loại văn chương ghi lại sơ lược tất cả những việc làm, sinh hoạt, quê quán, ngày tháng năm sinh và năm mất của một người nào đó; còn gọi là Hành Trạng Ký (行狀記), Hành Thuật (行述), Hành Thật (行實), Hành Nghiệp (行業), Hành Nghiệp Ký (行業記). Dưới thời nhà Hán thì gọi là Trạng, và từ thời nhà Nguyên trở về sau thì gọi là Hành Trạng. Nguồn gốc của Hành Trạng khởi đầu vào thời Đông Hán (東漢, 25-220), đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều (魏晉南北朝, 220-589) thì bắt đầu thịnh hành; được tìm thấy trong phần trích dẫn về hành trạng của chư vị hiền đi trước của Truyện Viên Thiệu (袁紹), Ngụy Chí (魏志) 6 thuộc Tam Quốc Chí (三國志); hay trong Truyện Vương Ẩn (王隱) của Tấn Thư (晉書) quyển 82, cho biết rằng Vương Ẩn lúc nhỏ rất thích học, có chí viết ký thuật, thường ghi chép lại những sự việc nhà Tấn cũng như hành trạng của chư vị công thần. Có một số ký thuật hành trạng nổi tiếng qua các triều đại của Trung Quốc. Tỷ dụ như dưới thời nhà Đường (唐, 618-907) có Đại Đường Cố Tam Tạng Huyền Trang Pháp Sư Hành Trạng (大唐故三藏玄奘法師行狀), 1 quyển, không rõ tác giả; Đổng Tấn Hành Trạng (董晉行狀) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824); Hàn Lại Bộ Hành Trạng (韓吏部行狀) của Lý Cao (李翱, 774-836), v.v. Thời nhà Tống (宋, 960-1279) có Tư Mã Ôn Công Hành Trạng (司馬溫公行狀) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101); Phó Anh Châu Khất Đan Hành Trạng (赴英州乞舟行狀) cũng của Tô Thức; Minh Đạo Tiên Sinh Hành Trạng (明道先生行狀) của Trình Di (程頤, 1033-1107); Hoàng Khảo Lại Bộ Chu Công Hành Trạng (皇考吏部朱公行狀) của Chu Hy (朱熹, 1130-1200); Trương Ngụy Công Hành Trạng (張魏公行狀) của Chu Hy; Triều Phụng Đại Phu Văn Hoa Các Đãi Chế Tặng Bảo Mô Các Trực Học Sĩ Thông Nghị Đại Phu Thụy Văn Chu Tiên Sinh Hành Trạng (朝奉大夫文華閣待制贈寶謨閣直學士通議大夫諡文朱先生行狀) của Hoàng Càn (黃乾, 1152-1221), v.v. Thời nhà Nguyên (元, 1206-1368) có Cao Phong Thiền Sư Hành Trạng (高峰禪師行狀) của Triệu Mạnh Phủ (趙孟頫, 1254-1322). Dưới thời nhà Minh (明, 1368-1662) thì có Thành Ý Lưu Công Cơ Hành Trạng (誠意伯劉公基行狀) của Hoàng Bá Sanh (黃伯生, ?-?); Tự Tự Tiên Thế Hành Trạng (自敘先世行狀) của Hoàng Tá (黃佐, 1490-1566); Viên Trung Lang Hành Trạng (袁中郎行狀) của Viên Trung Đạo (袁中道, 1570-1623), v.v. Thời nhà Thanh (清, 1616-1911) có Ngô Đồng Sơ Hành Trạng (吳同初行狀) của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682). Về hành trạng của Phật Giáo, trong Nghệ Văn Chí (藝文志) của Tân Đường Thư (新唐書) quyển 59 có Tăng Già Hành Trạng (僧伽行狀) do Tân Sùng (辛崇) soạn, 1 quyển; trong Thiên Tăng Hành (僧行篇) của Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集) quyển 23 có phần Chư Tăng Luy Hành Trạng (諸僧誄行狀). Trong Đại Tạng Kinh của Phật Giáo có Đại Đường Cố Tam Tạng Huyền Trang Pháp Sư Hành Trạng (大唐故三藏玄奘法師行狀, Taishō Vol. 50, No. 2052), 1 quyển; Huyền Tông Triều Phiên Kinh Tam Tạng Thiện Vô Úy Tặng Hồng Lô Khanh Hành Trạng (玄宗朝翻經三藏善無畏贈鴻臚卿行狀, Taishō Vol. 50, No. 2055), do Lý Hoa (李華) soạn, 1 quyển; Đại Đường Cố Đại Đức Tặng Tư Không Đại Biện Chánh Quảng Trí Bất Không Tam Tạng Hành Trạng (大唐故大德贈司空大辨正廣智不空三藏行狀, Taishō Vol. 50, No. 2056) do Triệu Thiên (趙遷) soạn, 1 quyển; Đại Đường Thanh Long Tự Tam Triều Cúng Phụng Đại Đức Hành Trạng (大唐青龍寺三朝供奉大德行狀, Taishō Vol. 50, No. 2057, không rõ tác giả), 1 quyển, v.v. Trong Kim Thạch Tụy Biên (金石萃編) quyển 134 có Truyền Ứng Pháp Sư Hành Trạng (傳應法師行狀); Tục Kim Thạch Tụy Biên (續金石萃編) quyển 17 có Chiêu Hóa Tự Chính Thiền Sư Hành Trạng (昭化寺政禪師行狀), v.v.

hành trạng

2555乃記述人一生行誼及其籍貫、生卒年月之文字,為文體的一種。又作行狀記、行述、行實、行業、行業記。關於行狀之源起,三國志魏志第六袁紹傳之注引用先賢行狀,又晉書卷八十二王隱傳記載,王隱少好學,有著述之志,每私錄晉事及功臣行狀。由此可推知魏晉時代已有行狀之用法。 至於佛家之行狀,新唐書卷五十九藝文志,有辛崇之僧伽行狀一卷,廣弘明集卷二十三僧行篇有諸僧誄行狀。大正新修大藏經第五十冊有唐代冥詳之大唐故三藏玄奘法師行狀、李華之玄宗朝翻經三藏善無畏贈鴻臚卿行狀、趙遷之大唐故大德贈司空大辨正廣智不空三藏行狀、作者佚名之大唐青龍寺三朝供奉大德行狀各一卷。金石萃編卷一三四有傳應法師行狀,續金石萃編卷六有中岳沙門法如行狀,卷十七有昭化寺政禪師行狀等。 ; (行狀) Cũng gọi Hành trạng kí, Hành thuật, Hành thực, Hành nghiệp, Hành nghiệp kí. Một thể văn ghi chép lại đức hạnh, công trạng, quê quán và năm tháng sống chết của một nhân vật nào đó. Về nguồn gốc của thể văn hành trạng thì trong phần chú thích về truyện Viên thiệu trong Tam quốc Ngụy chí 6 có dẫn dụng Hành trạng các Tiên hiền và truyện Vương ẩn trong Tấn thư quyển 28 thường nói về hành trạng của các công thần. Do đó có thể đoán biết rằng thể văn hành trạng đã được sử dụng từ thời Ngụy Tấn. Trong Phật giáo cũng có nhiều tác phẩm nói về hành trạng như: Tăng già hành trạng 1 quyển của Tân sùng, thu vào Văn nghệ chí trong Tân đường thư quyển 59, Chư tăng lụy hành trạng trong thiên Tăng hạnh của Quảng hoằng minh tập quyển 23, Đại đường cố tam tạng Huyền trang pháp sư hành trạng trong Đại chính tân tu Đại tạng kinh tập 50, Truyền ứng pháp sư hành trạng trong Kim thạch tụy biên quyển 134, Trung nhạc sa môn Pháp như hành trạng trong Tục kim thạch tụy biên quyển 6, Chiêu hóa tự Chính thiền sư hành trạng trong Tục kim thạch tụy biên quyển 17, v.v...

hành trụ toạ ngoạ

2554即四威儀。乃人類生活起居之四種基本動作,引申為日常之生活舉止。佛教為誡比丘、比丘尼慎其行狀,令勿放逸懈怠,故有三千威儀、八萬細行,以規定行、住、坐、臥之儀則。(參閱「四威儀」1728) ; (行住坐臥) Đi, đứng, ngồi, nằm, tức là 4 uy nghi. Để răn bảo các tỉ khưu, tỉ khưu ni phải thận trọng trong từng cử chỉ, không được buông thả, đức Phật đã qui định phép tắc ba nghìn uy nghi, tám muôn tế hành để mọi người thường phải lưu ý đến hành vi hàng ngày của mình. (xt. Tứ Uy Nghi).

hành trụ tọa ngọa

Walking, standing, sitting, lying - in every state. ; Ði Ðứng Nằm Ngồi (bốn uy nghi bao gồm hết mọi động tác của người tu hành dù xuất gia hay tại gia, lúc thiền định cũng như lúc bình thường)—Walking, Standing, Sitting and Lying.

hành tín

2555日本佛教用語。為日本淨土真宗表示其基本教義之慣常用語。一般「行」指成就佛道之修行、行業;「信」指信仰、信心。故行信又稱心行,為往生淨土及成就佛道之必要條件。自古以來,淨土教各派系中,除日本淨土真宗外,無論主張自力之聖道門或主張他力之淨土門皆兼重此二者,即認為修行之人必須發起菩提心而勤修菩提行,由是行信相資,方能成就所求、滿足所願。然淨土真宗之教義,於行與信二者之中,較側重「信」;蓋真宗認為眾生自身並無成佛之能力,故須仰賴對彌陀之信仰與信心,並以此一念之信心為往生淨土之正因。若於起信之後,復發動稱名念佛之口業,即唱念「南無阿彌陀佛」六字名號,此一行業即可視為對彌陀報恩之行業。如此之信與行,在淨土真宗,特稱為大信、大行。 ; Tu tập và tin tưởng—Act and faith—Doing and believing—Acting out one's belief. ; (行信) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Đặc biệt Tịnh độ chân tông thường dùng từ ngữ này để nói về giáo nghĩa cơ bản của tông mình. Thông thường, Hành chỉ cho sự tu hành hoặc hành nghiệp để thành tựu Phật đạo; còn Tín là chỉ tín ngưỡng, tín tâm. Vì thế, Hành tín còn được gọi là Tâm hạnh, là điều kiện tất yếu để vãng sinh Tịnh độ và thành tựu Phật đạo. Từ xưa đến nay, trong các hệ phái Tịnh độ giáo, ngoại trừ Tịnh độ chân tông Nhật bản, bất luận là chủ trương Tự lực Thánh đạo môn hay chủ trương Tha lực Tịnh độ môn đều xem trọng cả Hành lẫn Tín, tức cho rằng người tu hành phải phát tâm bồ đề và tu hạnh Tín thì mới có thể đầy đủ sở cầu, thành tựu sở nguyện. Nhưng giáo nghĩa của Tịnh độ chân tông thì coi trọng Tín hơn Hành . Bởi vì tông này cho rằng tự thân chúng sinh không có khả năng thành Phật, cho nên phải nhờ vào tín tâm đối với đức Phật A di đà, đồng thời, dùng tín tâm ấy làm chính nhân vãng sinh Tịnh độ. Sau khi đã phát khởi tín tâm, mà lại xưng niệm danh hiệu Phật A di đà nữa, thì điều đó có thể được coi là hành nghiệp báo ân Phật A di đà. Trong Tịnh độ chân tông, Tín và Hành ấy đặc biệt được gọi là Đại tín, Đại hành.

hành túc

Ví trí tuệ là mắt và sự tu hành là chân—As works are the feet, so wisdom is the eye.

Hành Tư

行思|Thanh Nguyên Hành Tư.

hành tư

2555(?~740)唐代僧。吉州安城(江西安福)人,俗姓劉。幼年出家,就六祖慧能學法,性貞諒。與南嶽懷讓並稱二大弟子,同嗣六祖之法。後住吉州青原山靜居寺,故號青原行思。門徒雲集,禪風大振,其流派相對於南嶽下而稱為青原下。其後又自此法系衍出雲門、曹洞、法眼等三系。開元二十八年示寂。僖宗賜諡「洪濟(一作弘濟)禪師」,塔名歸真。〔宋高僧傳卷九、祖堂集卷三、景德傳燈錄卷五、建中靖國續燈錄卷一、青原山志略卷二〕 ; (行思) (?-740) Vị Thiền tăng đời Đường, người An thành, Cát châu (An phúc, Giang tây), họ Lưu. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, sau đến cầu pháp nơi Lục tổ Tuệ năng. Sư cùng với thiền sư Nam nhạc Hoài nhượng là 2 đại đệ tử cùng nối pháp của ngài Lục tổ. Về sau, sư trụ trì chùa Tĩnh cư ở núi Thanh nguyên tại Cát châu, cho nên người đương thời gọi sư là Thanh nguyên Hành tư. Môn đồ rất đông, Thiền phong lừng lẫy, được gọi là dòng phái Thanh nguyên, song song với dòng phái Nam nhạc. Về sau, từ dòng Thanh nguyên lại khai sinh ra 3 pháp hệ là: Vân môn, Tào động và Pháp nhãn. Năm Khai nguyên 28 (740) sư tịch, vua Hi tông ban thụy hiệu là Hồng Tế Thiền Sư (có chỗ chép là Hoằng Tế Thiền Sư), hiệu tháp là Qui Chân. [X. Tống cao tăng truyện Q.9; Tổ đường tập Q.3; Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.1; Thanh nguyên sơn chí lược Q.2].

hành tư thanh nguyên thiền sư

Seventh Generation of Chinese Zen (First Generation after the Sixth Patriarch Hui-Neng)—Xing-Si-Quing-Yuan—Thiền Sư Hành Tư tại núi Thanh Nguyên, sanh năm 660 sau Tây Lịch, là một đệ tử xuất sắc của Lục Tổ Huệ Năng. Ông xuất gia từ thuở nhỏ. Sau nầy nghe có Lục Tổ Huệ Năng ở Tào Khê, sư liền đến tham học. Hành Tư hỏi Lục Tổ, “Phải làm việc gì để khỏi rơi vào những trạng thái phát triển tâm linh?” Tổ gạn hỏi lại, “Ông từng làm việc gì?” Hành Tư trả lời, “Tôi không thực hành tứ diệu đế.” Tổ nói lại, “Vậy rơi vào cái gì?” Hành tư đáp lại, “Tứ Thánh Ðế cũng chẳng làm, thì làm gì có rơi vào giai đoạn phát triển tâm linh nào?” Tổ thầm thán phục và hứa nhận Hành Tư. Dầu tại Tào Khê tăng chúng khá đông, Hành Tư được Tổ cho đứng đầu trong chúng. Một hôm Tổ gọi Hành Tư lại bảo, “Từ trước y pháp cả hai đều được thầy truyền cho trò, y để tiêu biểu làm tin, pháp để ấn tâm, nay không còn sợ người chẳng tin. Ta từ ngày nhận y đến nay đã gặp nhiều tai nạn khó khăn. Hơn nữa, đời sau lắm cạnh tranh. Y để lại Sơn Môn, ngươi đến một phương truyền bá pháp ta không cho đứt đoạn. Thiền Sư Hành Tư thị tịch năm 740 sau Tây Lịch—Xing-Si Quing-Yuan was born in 660 A.D., an eminent student of the Sixth Patriarch Hui-Neng. He left home when he was young. Upon hearing that the Sixth Patriarch Hui-Neng was preaching at T'ao-Xi, he traveled there to study with him. Xing-Si asked the Sixth Patriarch, “In all that I do, how can I avoid falling into stages of spiritual development?” The Sixth Patriarch said, “How do you practice?” Xing-Si said, “I don't even pratice the four noble truths.” The Sixth Patriarch said, “What stage have you fallen into?” Xing-Si said, “Without even studying the four noble truths, what stages could I have fallen into?” The Sixth Patriarch esteemed Xing-Si's ability. Although there were many in the congrgation, Xing-Si was selected as head monk. One day the Sixth Patriarch said to Xing-Si, “In the past, the robe and teaching have been passed down together, each generation of teacher and student passing them on in turn. The robe has been evidence of the transmission. The authentic teaching is passed from mind to mind. Now I have suitable heirs. Why worry about not having evidence of transmission? Since I received the robe I have encountered innumerable difficulties. Moreover, in future times, the competition for preeminence between Zen schools will be even greater. The robe remains at the Zen Mountain Gate. You must establish a separate assembly and expound the teaching. Don't allow my Dharma to be cut off. 6) Một hôm Thiền sư Thần Hội đến tham vấn, sư hỏi: “Ở đâu đến?” Thần Hội đáp: “Tào Khê đến.” Sư hỏi: “Ý chỉ Tào Khê thế nào?” Thần Hội chỉnh thân rồi thôi. Sư bảo: “Vẫn còn đeo ngói gạch.” Thần Hội hỏi: “Ở đây Hòa Thượng có vàng ròng cho người chăng?” Sư hỏi: Giả sử có cho, ông để vào chỗ nào?”—One day, He-Ze-Shen-Hui came to visit the master. Xing-Si said: “Where have you come from?” Shen-Hui said: “From Cao-Xi.” Xing-Si said: “What is the essential doctrine of Cao-Xi?” Shen-Hui suddenly stood up straight. Xing-Si said: “So, you're still just carrying common tiles.” Shen-Hui said: “Does the Master not have gold here to give people?” Xing-Si said: “I don't have any. Where would you go to find some?” 7) Có vị Tăng đến hỏi sư: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Sư đáp: “Gạo ở Lô Lăng giá bao nhiêu?”—A monk asked Xing-Si: “What is the great meaning of the Buddhadharma?” Xing-Si said: “What is the price of rice in Lu-Ling?” 8) Thiền sư hành Tư thị tịch năm 740 sau Tây lịch—Zen master Xing-Si died in 740 A.D.

hành tướng

2556指心(心王)及心所所具有之認識作用或所映現之影像狀態。心、心所以各自之性能,遊行於境相之上,又行於所對境之相狀,故稱為行相。最常見者,如散見於原始佛典中之「四諦十六行相」,即是小乘佛教用以觀悟四諦之理之修習內容。於此觀悟過程中,修行者對苦、集、滅、道四諦各自浮現四種影像於心而分別解了、觀念之。然對「行相」一詞之解釋,俱舍與唯識二家說法不同,稱為二種行相。在俱舍宗,係指映現於心之影像;在唯識宗,則指心與心所之認識作用。 (一)俱舍宗認可直緣心外之境,故以心、心所為能緣,以心外之境為所緣,其時,心與心所所浮現之影像即為行相。俱舍論記卷一末(大四一‧二六下):「言行相者,謂心、心所,其體清淨,但對前境,不由作意,法爾任運,影像顯現,如清池明鏡,眾像皆現。」同書卷四又進一步闡論其義,並謂「行」為行解之意,如了別之作用;「相」為相貌之意,如影像等,故以行解事物之相貌為行相。另據俱舍寶疏卷四載,能緣之心法於所緣之境,以品類不同,故行解於心上,亦生起品類互異之相,如鏡照物類,於鏡面上有種種像差別之相。俱舍論頌疏卷三亦舉例說明之(大四一‧八四三下):「如緣青境,心及心所皆帶青上影像,此識上相,名為行相。行謂行解,即能緣心也;相謂影像,即行上相也。行解之相,名為行相,依主釋也。」 (二)唯識宗不認可直緣心外之境,而主張一切影像必於心內顯現,以之為所緣,更生起能緣之相,即心內有能緣、所緣之二相,所緣之相稱為相分,能緣之相稱為見分,此見分即所謂之行相,是為見分行相,屬於心識之認識作用,而非影像等物。故由唯識宗之觀點而言,俱舍宗所說之行相實為相分行相,而迥異於唯識之見分行相。成唯識論述記卷三(大四三‧三一八下):「小乘人心外有境,即以為所緣,大乘說無故,以彼小乘行相為大乘相分,大乘心得自緣,別立自體分,即以為事,故以見分名行相。」〔成唯識論卷二、入阿毘達磨論卷下、成唯識論掌中樞要卷上、卷下、俱舍論要解卷一〕 ; Activity; performance; mental activity. ; 5) Hoạt động: Activity—Performance 6) Tác dụng nhận thức của tâm thức (hành là hành giải hiểu biết; tướng là tướng mạo, nếu hiểu được tướng mạo của sự vật thì gọi là hành tướng): Mental activity. ; (行相) Chỉ cho tác dụng nhận thức hoặc trạng thái của bóng dáng ánh hiện trong tâm và tâm sở. Về danh từ Hành tướng , giữa tông Câu xá và tông Duy thức có sự giải thích khác nhau. Tông Câu xá chủ trương tâm có thể trực tiếp duyên theo cảnh ngoài tâm, nên cho tâm và tâm sở là năng duyên, cho cảnh ngoài tâm là sở duyên. Khi duyên cảnh, cảnh hiện ra trong tâm và tâm sở tức là hành tướng. Câu xá luận kí quyển 1 phần cuối (Đại 41, 26 hạ), nói: Hành tướng nghĩa là thể của tâm và tâm sở thanh tịnh, khi đối trước cảnh không có tác ý, nhậm vận tự nhiên mà hiện ra hình tượng, giống như ao nước trong, tấm gương sáng, các hình bóng đều hiện rõ . Cũng Câu xá luận kí quyển 4 còn tiến thêm bước nữa mà nói rõ rằng: Hành nghĩa là hành giải, như tác dụng liễu biệt; Tướng nghĩa là tướng mạo, như hình tượng, cho nên lấy tướng mạo của sự vật được liễu biệt làm hành tướng. Nhưng tông Duy thức thì cho rằng tâm không thể trực tiếp duyên theo cảnh bên ngoài, mà tất cả ảnh tượng đều hiển hiện trong tâm và tâm lấy đó làm sở duyên, rồi sinh khởi tướng năng duyên. Tức là trong tâm có 2 tướng năng duyên và sở duyên. Tướng năng duyên gọi là kiến phần, tướng sở duyên gọi là tướng phần. Kiến phần chính là hành tướng thuộc về tác dụng nhận thức chứ không phải hình ảnh sự vật. Cho nên, nói theo quan điểm của tông Duy thức, cái mà tông Câu xá gọi là hành tướng thực ra là hành tướng tướng phần, khác xa với hành tướng kiến phần của tông Duy thức. Thành Duy thức luận thuật kí quyển 3 (Đại 43, 318 hạ), nói: Tiểu thừa cho rằng ngoài tâm có cảnh và lấy đó làm sở duyên; vì Đại thừa không chủ trương ngoài tâm có cảnh nên lấy hành tướng của Tiểu thừa làm tướng phần của Đại thừa. Đại thừa cho tâm có thể tự duyên nên lập riêng phần tự thể và lấy đó làm cảnh, vì vậy gọi kiến phần là hành tướng . [X. luận Thành duy thức Q.2; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, Q.hạ; Câu xá luận yếu giải Q.1].

hành tượng

2564乃將裝飾好之佛像以寶車載往城中遊行之宗教儀式。又稱巡城、行城。印度、西域、中國通常於佛誕日(農曆四月八日)舉行之。按我國自唐至宋初,一般多以二月八日為佛誕,後改採四月八日。然據大唐西域記卷一屈支國條記載,西域亦有於秋分舉行者。 關於行像之起源,據贊寧之大宋僧史略卷上記載,自從佛陀涅槃後,王臣多以不能親睹佛陀為憾事,遂立佛陀降生相,或作悉達太子巡城相。至於印度行像法儀之盛況,據高僧法顯傳記載,中印度摩竭提國巴連弗城年年常於建卯月(四月)八日行像,作四輪車縛竹成五層,有承攎椻戟,高二丈許,其狀如塔,以白岁纏上,然後彩畫諸天形像,以金銀琉璃裝飾其上,懸繒幡蓋,四邊作龕,皆有坐佛及菩薩立侍。計二十車,車車莊嚴各異。此日境內道俗群集,作倡伎樂。 我國行像之風始於東晉戴逵作行像五尊。自南北朝至於唐、宋,行像風氣漸次盛行全國。行像儀式之盛大,可見之於洛陽伽藍記卷三城南景明寺條(大五一‧一○一○中):「四月七日京師諸像皆來此寺。尚書祠曹錄像凡有一千餘軀。至八日節,以次入宣陽門,向閶闔宮前,受皇帝散花。于時金花映日,寶蓋浮雲,旛幢若林,香煙似霧,梵樂法音,聒動天地;百戲騰驤,所在駢比;名僧德眾,負錫為群,信徒法侶,持花成藪;車騎填咽,繁衍相傾。時有西域胡沙門見此,唱言佛國。」 元、明之後,典籍中已少見關於行像之記載,然近世西藏及五臺山等處,每年仍舉行行像儀式。至於大江南北,則行像之風俗已代之為浴佛儀式。〔觀佛三昧海經卷六觀四威儀品、卷九觀像品、佛祖統紀卷三十八、卷四十二、法苑珠林卷十六、歲時廣記卷二十、魏書釋老志第二十〕(參閱「佛誕日」2746) ; To take an image (of Buddha) in procession. ; Phong tục ở Tây Vực mỗi năm vào ngày Phật đản sanh, người ta tô điểm trang hoàng tượng Phật cho buổi lễ diễn hành trong kinh thành—To take an image of Buddha in procession; it was a custom observed on Buddha's birthday acording to the Records of the Western Lands (records of the Land of the Buddha). ; (行像) Cũng gọi Tuần thành, Hành thành. Nghi thức tôn trí tượng Phật đặt trên xe hoa, rước đi khắp các đường phố trong ngày Phật đản. Ở Ấn độ đời xưa nghi thức Hành tượng được tổ chức rất trọng thể. Cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện ghi, thì ở thành Ba liên phất nước Ma yết đà Trung Ấn độ, hàng năm có tổ chức nghi thức Hành tượng vào ngày mồng 8 tháng 4. Ban tổ chức làm 20 chiếc xe 4 bánh, trên mỗi xe có trang trí tháp bằng trúc 5 tầng, cao khoảng 2 trượng, treo những tấm vải trắng chung quanh, trên vải có vẽ hình tượng chư thiên bằng nhiều màu sắc, trang sức vàng bạc, lưu li, treo phan phướn cờ lọng, 4 phía đều có khám thờ tượng Phật ngồi và tượng các Bồ tát đứng hầu, mỗi xe được trang hoàng theo mỗi kiểu khác nhau. Vào ngày này kẻ tăng người tục tập họp khắp nơi, xướng ca trỗi nhạc cúng dường. Ở Trung quốc, phong tục Hành tượng bắt đầu từ đời Đông Tấn, đó là lễ rước tượng Ngũ tôn của ông Đới quì. Từ thời Nam Bắc triều đến đời Đường, Tống, nghi thức Hành tượng dần dần đã thịnh hành trên khắp nước. Điều Thành nam Cảnh minh tự trong Lạc dương già lam kí quyển 3 (Đại 51, 1010 trung), chép: Ngày mồng 7 tháng 4, tất cả tượng Phật ở kinh đô được cung nghinh về chùa Cảnh minh, gồm hơn 1.000 pho. Đến ngày mồng 8, lần lượt rước tượng vào cửa Tuyên dương, tới trước cửa chính của cung điện để vua tung hoa cúng dường. Lúc ấy hoa vàng lấp lánh như ánh mặt trời, lọng báu như mây, cờ phan như rừng, khói hương mờ mịt như sương, tiếng nhạc tiếng pháp vang dội trời đất; hàng trăm con ngựa đi song đôi; danh tăng đại đức gậy tích chạm nhau, tín đồ pháp lữ cầm hoa thành rừng, xe cộ nghẽn đường. Thời ấy có vị sa môn Tây vực thấy quang cảnh đó bảo là nước Phật . Từ sau đời Nguyên, Minh, trong các tư liệu đã ít thấy ghi chép về Hành tượng, nhưng gần đây ở Tây tạng và vùng núi Ngũ đài vẫn thấy cử hành nghi thức này. Còn tại các vùng Giang nam, Giang bắc, thì phong tục Hành tượng đã được thay thế bằng nghi thức tắm Phật. [X. phẩm Quán tứ uy nghi trong kinh Quán Phật tam muội hải Q. 6, phẩm Quán tượng Q. 9; Phật tổ thống kỉ Q.38, Q.42; Pháp uyển châu lâm Q.16; Tuế thời quảng kí Q.20; Ngụy thư thích lão chí Q.20]. (xt. Phật Đản Nhật).

hành tứ y

2552又作四依住、四依法、四依止法。律典規定出家之人應依如下四法,以長養其生活。(一)糞掃衣(梵 pāṃsukūla,巴 paṃsukūla),即穿著世人所棄弊垢之衣。修道之人,應將弊衣收拾淨洗,補湊穿著,如此則心無所戀,能成道業。(二)乞食(梵 piṇḍa-pāta,巴同),出家之人常以乞食自活其命。(三)樹下坐(梵 vṛkṣa-mūla,巴 rukkha-mūla-senāsana),出家之人,不宜營治舍宅,當於樹下或石窟中,方便居止,修習禪定。(四)陳棄藥(梵 pūtimukta-bhaiṣajya,巴 pūtimutta-bhesajja),出家之人若患病時,常用陳年腐朽之藥而調治之,病癒即止,不得貪樂新好藥物而預為積蓄。 除此四依所容許者外,出家人被容許擁有之餘物,於諸律典之記載不一致。巴利律藏(Vinaya-piṭaka)大品(Mahā-vagga)1,30 及 1,77 記載,糞掃衣之餘物,有亞麻衣(巴 khoma)、綿衣(巴 kappāsika)、野蠶衣(巴 koṣeyya)、褐衣(巴 kambala)、麻衣(巴 sāṇa)、紵衣(巴 bhaṅga)。乞食之餘物,有僧次食(巴 saṅgha-bhatta)、別請食(巴 uddesa-bhatta)、請食(巴 nimantana-bhatta)、行籌食(巴 salāka-bhatta)、十五日食(巴 pakkhika-bhatta)、布薩食(巴 uposathika-bhatta)、月初日食(巴 pāṭipadika-bhatta)。樹下坐之餘物,有精舍(巴 vihāra)、平覆屋(巴 aḍḍhayoga)、樓閣(巴 pāsāda)、樓房(巴 hammiya)、窟院(巴 guhā)。陳棄藥之餘物,有熟酥(巴 sappi)、生酥(巴 navanīta)、油(巴 tela)、蜜(巴 madhu)、糖(巴 phāṇita)。五分律卷十七記載,糞掃衣之餘物,有劫貝衣(綿衣)、欽婆羅衣(褐衣)、拘舍耶衣(野蠶衣)、他家衣。乞食之餘物,有僧前食、後食、請食。樹下坐之餘物,有大小屋、重屋。陳棄藥之餘物,有酥、油、蜜、石蜜。十誦律卷二十一記載,糞掃衣之餘物,有白麻衣、赤麻衣、褐衣、憍施耶衣、翅夷羅衣、欽跋羅衣、劫貝衣。乞食之餘物,有月生食、眾僧食、別房食、請食等。樹下坐之餘物,有溫室、講堂、殿樓、一重舍、閣屋、平覆屋、地窟、山窟、湮頭勒迦臥具、漫頭勒迦臥具、禪頭勒迦臥具、草敷葉敷等。陳棄藥之餘物,有四種消藥(酥、油、蜜、石蜜)、四種淨脂(熊脂、驢脂、豬脂、鱣脂)、五種根藥(舍利、薑、赤附子、波提鞞沙、昌蒲根)、五種果藥(訶梨勒、鞞醯勒、阿摩勒、胡椒、蓽茇羅)、五種鹽(黑鹽、白鹽、紫鹽、赤鹽、鹵土鹽)、五種湯(根湯、莖湯、葉湯、花湯、果湯)、五種樹膠藥(興渠、薩闍羅薩諦、掖諦、掖提諦、掖婆那)等。又摩訶僧祇律卷二十三載,糞掃衣之餘物,有欽婆羅衣、疊衣、芻摩衣、拘舍耶衣、舍那衣、麻衣、丘牟提衣。乞食之餘物,有說戒食、籌食、請食。樹下坐之餘物,有大舍、重樓、閣舍、門舍、窟舍。陳棄藥之餘物,有酥、油、蜜、石蜜、生酥、脂。〔四分律卷三十五、四分律刪補隨機羯磨卷上、四分律行事鈔資持記卷上一上、大乘義章卷十一〕 ; Xem Tứ y pháp. ; The four reliances of ascetic practictioners—See Tứ Y (A). ; (行四依) Cũng gọi Tứ y trụ, Tứ y pháp, Tứ y chỉ pháp. Bốn pháp của người xuất gia phải thực hành hàng ngày để nuôi lớn giới thân tuệ mệnh. Tứ y gồm có: 1. Phẩn tảo y (Phạm:Pàôsukùla,Pàli: Paôsukùla): Tức là lượm lấy những thứ y phục cũ rách, nhơ bẩn như đồ lau phân mà người đời đã vứt bỏ ngoài đường, đem giặt sạch và khâu may lại mà mặc. Người tu hành mặc như thế sẽ không sinh tâm tham luyến thì đạo nghiệp mau thành. 2. Khất thực (Phạm;Pàli:Piịđa-pàta): Thường đi xin ăn để nuôi sống thân mệnh. 3. Thụ hạ tọa (Phạm: Vfkwa-mùla, Pàli:Rukkla-mùla-senàsana): Ngồi dưới gốc cây hoặc trong hang đá, tạm thời nương ở để tu tập thiền định. 4. Trần khí dược (Phạm:Pùtimuktabhaiwajya,Pàli: Pùtimutta-bhesajja): Nếu ốm đau thì dùng thuốc mục nát lâu năm để điều trị; bệnh khỏi rồi, phải ngưng ngay, không được lấy thuốc mới để tích trữ.

hành uẩn

2567請參閱貞元新釋華嚴經疏 梵語 saṃskāra-skandha,巴利語 saṅkhāra-khandha。行,遷流、變化、造作之意;蘊,聚集、類別之意。佛教將一切有為法分類為五種,稱為「五蘊」,行蘊即其中之第四類,乃指具有造作、遷流性質之諸法所類聚者。俱舍宗將一切有為、無為之諸法概分為七十五法,其中,有四十四種心所與十四種不相應法等,共計五十八法,總稱為行蘊。此係於全部五蘊中,除去色、受、想、識等四蘊之外,將其餘一切諸行皆統攝於行蘊。然若依準「一切有為法皆為造作遷流者」之義而言,則不獨行蘊,即連其餘色、受等四蘊亦皆可稱為行蘊。惟俱舍宗極力反對此說,如普光之俱舍論記卷一即謂,色、受、想、識等四蘊雖亦屬造作遷流者,然因涵攝行之性質較少之故,故宜各別稱名,而行蘊涵攝行之性質較多之故,故得以稱為行。 行蘊之解釋及其涵攝之範圍,除上記之外,另有異說,如經部與大乘佛教即以六思身為行蘊。所謂六思身,即與六識相應之「思」,如眼觸所生之思、耳觸所生之思,乃至鼻、舌、身、意等諸觸所生之思。此一界說,範圍極為寬廣。〔大乘阿毘達磨集論卷一、大毘婆沙論卷七十四、卷七十五、俱舍論卷一、大乘法苑義林章卷五本〕(參閱「五蘊」1212) ; Saṇkhāra-kkhandha (P), 'du byed kyi phung po (P), Saṃskāra-skandha (S), Aggregate of volition, Aggregate of compositional factors Trong ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) và trong Thập nhị nhân duyên. ; Samskara (skt)—Hành uẩn, uẩn thứ tư trong ngũ uẩn. Hành động dẫn đến hậu quả một cách tất yếu—Aggregate of volition, the fourth of the five skandhas. Action which inevitably passes on its effects. ; (行蘊) Phạm: Saôskàra-skandha. Pàli: Saíkhàra-khandha. Hành nghĩa là đổi dời, biến hóa, tạo tác. Uẩn nghĩa là chứa nhóm, chia loại. Phật giáo chia tất cả pháp hữu vi làm 5 loại, gọi là Ngũ uẩn , trong đó, Hành uẩn là loại thứ 4, gồm các pháp có tính chất tạo tác, đổi dời. Tông Câu xá chia hết thảy pháp hữu vi, vô vi thành 75 pháp, trong đó, có 44 món tâm sở và 14 pháp bất tương ứng, cộng lại gồm 58 pháp, gọi chung là Hành uẩn. Có thuyết chủ trương, nếu tất cả các pháp hữu vi đều là những pháp tạo tác, đổi dời, thì chẳng riêng gì Hành uẩn, mà ngay cả sắc, thụ, tưởng, thức cũng đều có thể gọi là Hành uẩn. Nhưng tông Câu xá cực lực phản đối thuyết này, như Câu xá luận kí quyển 1 của ngài Phổ quang cho rằng 4 uẩn: Sắc, thụ, tưởng, thức tuy cũng thuộc các pháp tạo tác, đổi dời, nhưng so với Hành uẩn thì tính chất tạo tác, đổi dời ấy ít hơn, cho nên phải gọi bằng những tên khác nhau. Ngoài những điểm nói trên, còn có nhiều giải thích khác nữa về Hành uẩn. Như Kinh bộ và Phật giáo Đại thừa thì chủ trương 6 Tư thân là Hành uẩn. Sáu Tư thân tức là tâm sở Tư do tương ứng với 6 thức mà sinh ra, phạm vi của thuyết này rất rộng. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.1; luận Đại tì bà sa Q.74; Q.75; luận Câu xá Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5 phần đầu]. (xt. Ngũ Uẩn).

hành uẩn, ấm

Samskàra-skandha (S). Mental formation group.

hành vi

2561梵語 karma,巴利語 kamma。意譯為業。業有身、口、意三業,即身體之行、口中之語、心中之思等三者之總合。任何口中所言、心中所思者,皆為一種因,且終將次第產生結果,即是行為。此種行為可分為善之行為(善業)、惡之行為(惡業),及無記之行為(非善非惡業)。善惡業各有十種,即身三、口四、意三之十善業與十惡業。(參閱「善」4873、「惡」4944、「業」5494) ; Caryà (S). Conduct, behaviour. ; Deed—Act—Action. ; (行爲) Phạm: Karma. Pàli: Kamma. Dịch ý: Nghiệp. Những hành động của thân, lời nói của miệng, và ý nghĩ của tâm cấu tạo thành ba nghiệp nhân, sẽ mang lại nghiệp quả, tức là hành vi. Hành vi có 3 loại: Thiện (nghiệp thiện), ác (nghiệp ác) và vô kí (nghiệp không thiện không ác). (xt. Thiện, Ác, Nghiệp).

hành vi tốt

Good deeds

hành vi xấu

Bad deeds.

hành viên

2562(?~1020)日本平安中期僧。鎮西人。為人不慕權勢,致力於大眾教化。不論寒暑,經常披著鹿皮傳教,時人稱之革上人、皮聖。寬弘元年(1004),於京都建立行願寺(革堂),推行道路改建等社會福利事業,備受朝野人士之崇敬。寬仁四年示寂,世壽七十餘。〔日本紀略後篇卷十一、元亨釋書卷十四〕 ; (行圓) (?-1020) Vị tăng Nhật bản. Sống vào giữa thời Bình an, người Trấn tây. Sư là người không thích quyền thế, mà chỉ dốc sức vào việc giáo hóa đại chúng. Bất luận thời tiết nóng hay lạnh, lúc nào sư cũng mặc áo da hươu, vì thế người thời bấy giờ gọi sư là Cách thượng nhân (Thượng nhân mặc áo da), Bì thánh. Niên hiệu Khoan hoằng năm đầu (1004), sư lập chùa Hạnh nguyện (Cách đường, nhà da) ở Kinh đô (Kyoto) và làm nhiều việc phúc lợi xã hội, như sửa sang đường sá, v.v... được mọi người trong triều ngoài nội sùng kính.Năm Khoan nhân thứ 4 (1020) sư tịch, thọ hơn 70 tuổi. [X. Nhật bản kỉ lược hậu thiên Q.11; Nguyên hanh thích thư Q.14].

Hành Vũ

xem Vũ Hành.

hành vũ

Làm mưa: To rain, or produce rain. Hành Vũ, tên của một vị đại thần của vua Bình Sa Vương: Varsakara, name of a minister of king Bimbisara.

hành xá

2560為心所之名。為俱舍宗十大善地法之一,唯識宗十一善心所之一。略稱捨。指遠離惛沈、掉舉之躁動,住於寂靜,而不浮不沈,保持平等正直之精神作用或狀態。又此捨於五蘊門中,乃行蘊所攝,故稱行捨,以別於受蘊所攝之受捨。依據成唯識論卷六記載,此心所具有平等、正直、無功用等三種作用。然此三作用實為一念中之三用,僅就其顯著而立其先後之別而已。(參閱「十一善」326、「捨」4590) ; (行舍) Gọi tắt: Xả. Tên tâm sở. Chỉ cho tác dụng tinh thần bình đẳng, chính trực, xa lìa tâm tháo động như hôn trầm, trạo cử, an trụ trong trạng thái tĩnh lặng. Là một trong 10 Đại thiện địa pháp của tông Câu xá, một trong 11 Thiện tâm sở của tông Duy thức. Trong Ngũ uẩn, Xả này thuộc về Hành uẩn, cho nên được gọi là Hành xả để phân biệt với Thụ xả thuộc trong Thụ uẩn. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 6, thì Tâm sở này có 3 loại tác dụng: Bình đẳng, Chính trực và Vô công dụng. Nhưng 3 tác dụng này thực ra là 3 tác dụng trong một niệm, chỉ căn cứ theo sự rõ rệt của nó để phân biệt trước sau mà thôi. (xt. Thập Nhất Thiện, Xả).

hành xác

Self-mortification

hành xí

Ði cầu (nhà xí); nhà cầu nơi mà chúng ta đi, ẩn dụ thân người uế trược—To go to the privy; the privy to which one goes, metaphor of the human body as filthy.

hành xả

Upeksa 쯢 (S). Equanimity.

hành xứ

2560指觀行處,即觀心修行之對象。解脫道論卷三分別行處品列舉三十八行處:(一)十一切入,即地、水、火、風、青、黃、赤、白、空處、識處等十種「一切入」。(二)十不淨想,即掷脹想、青淤想、爛想、棄擲想、鳥獸食噉想、身肉分張想、斬斫離散想、赤血塗染想、蟲臭想、骨想等。(三)十念,即念佛、念法、念僧、念戒、念施、念天、念死、念身、念數息、念寂寂等。(四)四無量心,即慈、悲、喜、捨等。(五)四行,即觀四大、食不淨想、無所有處、非非想處等。 ; (行處) Đối tượng của sự tu hành quán tưởng.Phẩm Phân biệt hành xứ trong luận Giải thoát đạo quyển 3 liệt kê 38 hành xứ:1. Thập nhất thiết nhập: Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, không xứ, thức xứ... 2. Thập bất tịnh tưởng: Tưởng xác chết sình chương, bầm tím, nứt nẻ, vứt bỏ, chim thú đến ăn, thịt rữa ra, chém chặt lìa tan, máu me bê bết, dòi bọ rúc rỉa, xương trắng... 3. Thập niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên, niệm tử, niệm thân, niệm sổ tức, niệm tịch tĩnh... 4. Tứ vô lượng tâm: Từ, bi, hỉ, xả... 5. Tứ hạnh: Quán tứ đại, Thực bất tịnh tưởng, Vô sở hữu xứ, Phi phi tưởng xứ...

hành xử không sai lầm

To behave impeccably.

hành xử ðúng

To tackle in the right perspective.

hành yếu

The requirements for action; to do that which is most important.

hành ðạo

21) Ði theo chân lý của Phật: To walk in the way, follow the Buddha-truth. 22) Trịch vai phải, đi nhiễu vòng quanh hình tượng, đặc biệt là hình tượng Ðức Phật: to make procession round an image, especially of the Buddha, with the right shoulder toward it.

hành ðộng

Karma—Action—Deed—Act.

hành ðộng có chủ tâm

Willful action.

hành ðộng có chủ ý

To commit intentionally.

hành ðộng do tác lý

Volitional activities.

hành ðộng không phân biệt

Avikalpapracara (skt)—Deeds of non-discrimination.

hành ðộng với tâm rộng lượng và lòng từ bi

To act with kindness and love.

hành ðức

Tu tập đức hạnh—The virtue of performance—Discipline to perform viruous deeds.

hành đoan

2565(1254~1341)元代臨濟宗大慧派僧。浙江臨海人,俗姓何。號元叟。家世業儒,六歲隨母習儒學。及長,隨化城院之叔父茂上人剃髮,參徑山藏叟善珍而得法。大德四年(1300),住湖州(浙江)翔鳳山資福禪寺。八年,敕住中天竺萬壽寺,賜號「慧文正辯禪師」。未久,住靈隱景德寺,追賜「佛日普照」之號。至治二年(1322),住徑山興聖萬壽寺。其間,三度受賜金襴袈裟,並受歷代皇帝之皈依。至正元年八月四日示寂,世壽八十八。法臘七十六。編有慧文正辯佛日普照元叟端禪師語錄八卷。〔南宋元明禪林僧寶傳卷十、續傳燈錄卷三十六、增續傳燈錄卷三〕 ; (行端) (1254-1341) Vị Thiền tăng thuộc phái Đại tuệ, tông Lâm tế ở đời Nguyên, người huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang, họ Hà, hiệu Nguyên tẩu. Sư sinh ra trong một gia đình Nho giáo, lên 6 tuổi bắt đầu học Nho với thân mẫu. Lớn lên, sư theo người chú là Mậu thượng nhân xuất gia ở viện Hóa thành, rồi tham học ngài Tạng tẩu Thiện trân ở Kính sơn và đắc pháp. Năm Đại đức thứ 4 (1300), sư trụ trì Tư phúc Thiền tự ở núi Tường phụng thuộc Hồ châu (tỉnh Chiết giang). Năm Đại đức thứ 8 (1304), vua ra sắc chỉ cho sư ở chùa Trung thiên trúc vạn thọ và ban hiệu Tuệ Văn Chính Biện Thiền Sư . Không bao lâu, sư đến ở chùa Linh ẩn cảnh đức, được vua ban thêm cho hiệu Phật Nhật Phổ Chiếu . Năm Chí trị thứ 2 (1322), sư đến ở chùa Hưng thánh vạn thọ tại Kính sơn. Trong thời gian ấy, sư 3 lần được ban áo ca sa kim lan và được các Hoàng đế qui y. Ngày mồng 4 tháng 8 niên hiệu Chí chính năm đầu (1341) sư tịch, hưởng thọ 88 tuổi, 78 tuổi đạo. Tác phẩm: Tuệ văn chính biện Phật nhật phổ chiếu Nguyên tẩu đoan thiền sư ngữ lục 8 quyển. [X. Nam Tống Nguyên Minh thiền lâm tăng bảo truyện Q.10; Tục truyền đăng lục Q.38; Tăng tục truyền đăng lục Q.3].

hành đường

2559<一>佛教叢林中,每日用齋時,為大眾添飯菜、裝茶水之作務,稱為行堂。從事此項工作者,稱為行堂師、碗頭。 <二>指「行者」之居所。又作行者堂、行者寮、行者房、選僧堂。行者,禪林指未出家而住於寺內幫忙雜務之人。又六祖慧能於黃梅,從五祖弘忍受衣鉢之時,亦係行者之形;以其乃由行者轉而出家為僧,故行堂亦有題額作「選僧堂」。〔敕修百丈清規卷二訓童行條、禪林象器箋職位門行者條〕(參閱「行者」2557) ; (行堂) I. Hành Đường. Chỉ cho chức vụ của người trông nom các bữa ăn của chúng tăng trong tùng lâm. II. Hành Đường. Cũng gọi Hành giả đường, Hành giả liêu, Hành giả phòng, Tuyển tăng đường. Chỉ cho chỗ ở của hành giả. Hành giả là người chưa được xuất gia nhưng đến ở trong chùa làm công quả. Như ngài Lục tổ Tuệ năng đến Hoàng mai theo ngài Ngũ tổ Hoằng nhẫn, đến khi được Ngũ tổ truyền áo bát cho thì ngài Tuệ năng cũng vẫn còn là hình thức Hành giả. Vì Hành giả sẽ có thể xuất gia làm tăng, nên chỗ ở của Hành giả cũng còn được gọi là Tuyển tăng đường (Nhà lựa chọn tăng). [X. điều Huấn hành đồng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; điều Hành giả, môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Hành Giả).

hành đạo

2563<一>指排列成行以繞行禮拜。一般指繞佛、繞堂而言。古代印度禮法,凡遇尊敬禮拜之情形,則行右繞佛像或塔之禮法。通常右繞一周、三周、七周,乃至百千周。右繞之外,亦有左繞之說,然一般皆以右繞為常法。我國與日本,遇到各宗重要法會時,均有行道之舉。除繞行佛殿內、堂內等,更一面散花、誦經或唱梵唄。善導於轉經行道願往生淨土法事讚卷上,列舉出有關「散華行道」之詳細作法。又行道之時,迴繞廊道,稱為緣儀;繞旋庭院,稱為庭儀。據大比丘三千威儀經卷上載,繞塔行道之時,應持守下列事項:(一)低頭視地,(二)不得踩踏蟲類,(三)不得顧視左右,(四)不得於塔前地上吐唾,(五)不得與塔中住人言談。〔大智度論卷六十七、釋門歸敬儀卷下、南海寄歸內法傳卷三、大唐西域記卷二、法苑珠林卷三十七〕(參閱「右繞」1616) <二>指「經行」而言。即於坐禪之間,起身走動以舒緩身心之步行。(參閱「經行」5551) <三>梵語 īryāpatha。直譯為「威儀路」。或指托鉢行路之方式。此外亦泛指行、住、坐、臥等,比丘日常所應注意之四威儀。(參閱「四威儀」1728) <四>修行佛道之意。 ; To walk in the way, follow the Buddha-truth. ; (行道) I. Hành Đạo. Nghi thức xếp thành hàng một, đi nhiễu quanh tượng Phật hoặc tháp theo phía tay mặt (cũng có thuyết nói theo phía tay trái) từ một vòng, 3 vòng, 7 vòng, cho đến 100 vòng, 1.000 vòng, để tỏ lòng tôn kính. Đây là một trong những phép lễ bái của Ấn độ đời xưa. Tại Trung quốc và Nhật bản, trong các pháp hội quan trọng của các tông phái đều có nghi thức Hành đạo. Ngoài việc đi nhiễu trong điện Phật, quanh tháp, còn có rải hoa cúng dường và tán tụng kinh kệ. Trong Chuyển kinh hành đạo nguyện vãng sinh Tịnh độ pháp sự tán của ngài Thiện đạo có nói rõ về cách tán hoa hành đạo. Cứ theo kinh Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng, thì khi hành đạo nhiễu quanh tháp phải cúi đầu nhìn xuống đất, không được đạp lên côn trùng, không được nhìn ngó 2 bên, không được khạc nhổ trên đất và nói chuyện với người đứng trong tháp. [X. luận Đại trí độ Q.47; Thích môn qui kính nghi Q.hạ; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3; Đại đường tây vực kí Q.2; Pháp uyển châu lâm Q.37]. (xt. Hữu Nhiễu). II. Hành Đạo. Chỉ cho sự kinh hành, tức là khi ngồi thiền đứng dậy bước đi để thân tâm được thư thái. (xt. Kinh Hành). III. Hành Đạo. Phạm:Ìryàpatha. Hán dịch: Uy nghi lộ (đường uy nghi). Phép tắc của tỉ khưu cầm bát đi khất thực. Cũng chỉ chung 4 uy nghi: Đi, đứng, ngồi, nằm. (xt. Tứ Uy Nghi). IV. Hành Đạo. Tu hành Phật đạo. HÀNH ĐỒNG Cũng gọi Đồng hành, Đạo giả, Đồng thị, Tăng đồng. Chỉ cho những chú tiểu (điệu) hoặc sa Di còn nhỏ tuổi làm các việc lặt vặt trong chùa viện.

hành đồng

2561行,行者,乃為寺院服雜役者。行童,即指為寺院服雜役之青少年或小沙彌。又稱童行、道者、童侍、僧童。據睽車志載,朱三有子,年十三、四,傭於應天寺僧為行童。從容錄第二十一則(大四八‧二四○下):「雲巖掃地次(沙彌行童不得氣力),道吾云:『太區區生!』」

hành ấm

xem năm ấm.

Hành Ứng Huyền Tiết

(行應玄節, Gyōō Gensetsu, 1756-1831): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ (江戸, Edo), húy là Huyền Tiết (玄節), đạo hiệu Hành Ứng (行應), thụy là Tâm Giám Từ Chiếu Thiền Sư (心鑑慈照禪師), xuất thân vùng Thỉ Dã (矢野), Y Do (伊予, Iyo, thuộc Ehime-ken [愛媛縣]). Năm lên 19 tuổi, ông theo hầu Đề Châu Thiền Nhứ (提洲禪恕) ở Tự Tánh Tự (自性寺), vùng Trung Tân (中津, Nakatsu) Phong Tiền (豐前, Buzen). Sau khi vị này qua đời thì ông đến tham Thiền với Hải Môn Thiền Cách (海門禪恪). Năm 1779, ông lên tham dự lễ kỵ lần thứ 500 của Viên Nhĩ Biện Viên (圓爾辨圓) ở Đông Phước Tự (東福寺) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), nhân đó tham yết Thiên Nghê Huệ Khiêm (天猊慧謙) ở chùa này; và sau được ấn khả của Từ Trác (慈棹). Năm 1794, ông đến sống tại Long Đàm Tự (龍潭寺) vùng Y Do, rồi năm 1803 đến Đẳng Giác Tự (等覺寺).

hành, hạnh

Samskàras (S). Go, act, do, perform; action; conduct; functioning; the deed; whatever is done by mind, mouth or body, i.e. in thought, word, or deed. Mental formation; wholesome or unwholesome volitional activity. Karma formation.

Hành, trụ, toạ, ngọa

行住坐臥; J: gyō-jū-za-ga; nghĩa là đi-đứng-ngồi-nằm, cũng được gọi là bốn uy nghi (四威儀; tứ uy nghi);|Biểu thị này muốn nói rằng, hành giả tham thiền phải thiền trong tất cả hành động hằng ngày như đi, đứng, ngồi, nằm.|Ði-đứng-ngồi-nằm ở đây có nghĩa là: tâm niệm (chú tâm) tuyệt đối trong lúc thực hành bốn uy nghi và nói chung là trong lúc thực hành bất cứ việc gì, trong mọi hành động.|Câu chuyện sau đây của Ðại thiền sư Nhật Bản Nhất Hưu Tông Thuần (j: ikkyū sōjun, 1394-1481) nêu rõ sự quan trọng này:|Một hôm, một ông khách đến tham vấn: »Thỉnh Hoà thượng viết vài quy tắc cơ bản để đạt trí huệ.« Sư cầm bút lên viết ngay: »Tâm niệm.« Ông ta hỏi: »Chỉ vậy thôi sao, Hoà thượng còn gì viết thêm không?« Sư viết hai lần liên tiếp: »Tâm niệm, tâm niệm.« Ông khách bảo: »Chẳng thấy trí huệ sâu sắc cao cả gì ở đây.« Sư lại viết ba lần liên tiếp: »Tâm niệm, tâm niệm, tâm niệm.« Ông khách nổi cáu, hỏi: »Tâm niệm có nghĩa gì?« Sư trầm tĩnh đáp: »Tâm niệm là tâm niệm.«

Hào

毫; C: haó; J: gō;|1. Lông dài nhỏ và nhọn; lông măng; 2. Đầu mút của ngọn bút lông; Một phần ngàn của một ounce; 4. Lông tơ trên cây cối; 5. Một nguyên tử.

hào

Lông mềm—Soft hair.

hào hiệp

Gallant.

Hào li

(毫厘): mảy may, gang tấc, phần cực nhỏ. Trong Ngu Chi Truyện (虞荔傳) của Trần Thư (陳書) quyển 19 có đoạn rằng: “Phù an nguy chi đào, họa phước chi cơ, phỉ độc thiên thời, diệc do nhân sự. 'thất chi hào li, sai chi thiên lí'. Thị dĩ minh trí chi sĩ, cứ trọng vị nhi bất khuynh, chấp đại tiết nhi bất thất, khởi hoặc ư phù từ tai (夫安危之兆、禍福之機、匪獨天時、亦由人事。'失之毫釐、差以千里'。是以明智之士、據重位而不傾、執大節而不失、豈惑於浮辭哉, Phàm dấu hiệu an nguy, cơ duyên họa phước, chẳng phải riêng do cơ trời, cũng do con người. 'Mất chút mảy may, sai cả ngàn dặm.' Cho nên người có trí tuệ sáng suốt, dẫu ở vị trí trọng đại mà không nghiêng ngữa, cầm quyền hành to lớn mà vẫn không mất mác, liệu còn nghi ngờ gì nơi ngôn từ hư ảo chăng ?).” Hay trong phần Kinh Giải (經解) của (禮記) cũng có câu: “Quân tử thận thỉ, sai nhược hào li, mậu dĩ thiên lí (君子愼始、差若豪釐、繆以千里, trước hết người quân tử phải thận trọng, sai chút mảy may, lầm cả ngàn dặm).” Câu “ân thâm vị báo ư hào li (恩深未報於毫厘)” có nghĩa là ơn sâu chưa báo đáp được chút mảy may nào. ; 毫釐; C: haólí; J: gōri;| Một đơn vị rất nhỏ. Rất nhỏ. Số dây bằng tơ từ miệng tằm nhả ra với một độ dày được gọi là một Mịch (糸), Mười mịch là một hào (毫), 10 hào là một li (釐). Một từ ngữ chỉ cho sự nhỏ bé hoặc không quan trọng.

Hào li thiên lí

毫釐千里; C: haólí qiānlĭ; J: gōrisenri;|Sự lệch lạc dù nhỏ nhất lúc ban đầu sẽ dẫn đến sự lạc đường cả ngàn dặm.

Hào ly thiên lý 毫釐千里

[ja] ゴウリセンリ gōrisenri ||| The least divergence in the beginning will lead many miles astray. => Sự lệch lạc dù nhỏ nhất lúc ban đầu sẽ dẫn đến sự lạc đường cả ngàn dặm.

Hào ly 毫釐

[ja] ゴウリ gōri ||| A very tiny bit. Very slightly. Silk thread comes out of the silkworm's mouth at a thickness called a 糸. Ten 糸 are called one 毫, and ten 毫 are called one 釐. An expression of smallness or insignificance. => Một đơn vị rất nhỏ. Rất nhỏ. Số dây bằng tơ từ miệng tằm nhả ra với một độ dày được gọi là một Mịch, Mười mịch là một hào 毫, 10 hào là một ly. Một từ ngữ chỉ cho sự nhỏ bé hoặc không quan trọng.

hào lỗ ca minh vương

Xem Phẫn nộ vương.

hào mi

Lông trắng giữa hai chân mày của Phật—The white hair between Buddha's eyebrows.

Hào Nhiếp Tự

(毫攝寺, Gōshō-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Xuất Vân Lộ (出雲路派) thuộc Chơn Tông, hiện tọa lạc tại số 2-9 Shimizugashira-chō (清水頭町), Takefu-shi (武生市), Fukui-ken (福井縣); hiệu là Xuất Vân Lộ Sơn (出雲路山). Có nhiều thuyết khác nhau về sự sáng lập ngôi chùa này, nhưng vẫn chưa xác định rõ về nguồn gốc chùa như thế nào. Có thuyết cho rằng Thừa Chuyên (承專, Jōsen, tức Thanh Phạm Pháp Nhãn [清範法眼]) quy y theo Giác Như (覺如) ở Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), rồi cải đổi ngôi Phật các ở làng mình, lấy hiệu của Giác Như mà đặt tên cho chùa là Hào Nhiếp Tự. Sau đó chùa được dời về vùng Xuất Vân Lộ (出雲路, Izumoji), kinh đô Kyoto, và đệ tử của Giác Như là Thiện Tánh (善性, có thuyết cho là Thiện Nhập [善入]) được giao trọng trách lo việc chùa. Về sau, đến thời của cháu Thiện Tánh là Thiện Trí (善智), chùa gặp phải nạn binh hỏa, nên ông mới dựng một ngôi chùa khác ở Thanh Thủy Đầu (清水頭) mà ẩn cư. Ngôi chùa này chính là gốc của Hào Nhiếp Tự. Các ngôi đường xá hiện tại của chùa là kiến trúc được tái kiến vào năm 1884 (Minh Trị [明治] 17). Chùa có Chánh Điện, Đại Sư Đường, Đại Quảng Gian, Thư Viện, Khách Điện, Kinh Tàng, v.v. Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Như Lai, tương truyền là tác phẩm của Huệ Tâm (惠心). Ngoài ra chùa còn nhiều bảo vật khác.

hào nhoáng

Showy.

hào quang

Prākāsha (S), Halo. ; Halo.

hào quang của phật

Buddharansi (S), Buddha halo Hào quang quanh người Phật, có sáu màu như: xanh, vàng, đỏ, trắng, cam và màu tổng hợp những màu này.

hào tư bối nhĩ

5930(Fausb隶ll, Michael Viggo; 1821~1908)丹麥之印度學學者。曾任哥本哈根大學教授(1878~1902)。從事印度古代典籍之研究,尤致力於當時尚未被重視之巴利語聖典,對於巴利學之研究風氣頗具推展貢獻。一八五五年,豪斯貝爾以巴利文校訂法句經(巴 Dhammapada),並譯成拉丁文出版,又輯有法句經註(巴 Dhammapadaṭṭhakathā)之資料,爲其最初之學術研究;另有本生經(The Jātaka, 6 vols., 1877~1897)、經集(巴 Suttanipāta, 1884)等之校訂與翻譯著作之刊行。

hào tướng

Tước lông trắng giữa hai chân mày của Phật, một trong 32 tướng hảo—The white hair between Buddha's eyebrows, one of the thirty-two signs of a Buddha.

Hào 毫

[ja] ゴウ gō ||| (1) Long, very fine hair; down. (2) The tip of a writing brush. (3) A thousandth of an ounce. (4) The down on plants. (5) An atom. => 1. Lông dài nhỏ và nhọn; Một loại tiền tệ 2. Đầu mút của ngọn bút lông. 3. Một phần ngàn của một ounce. 4. Lông tơ trên cây cối. 5. Một nguyên tử.

hác

4335悉曇字???(haḥ)。乃摧魔菩薩之種子。共具四義:(一)一切法本不生之義,(二)因之義,(三)人我之義,(四)法我之義。由迷於一切法本不生之理,而為一切煩惱之因,煩惱之因遂起二種之我,所謂人我、法我。因一切外道諸天執我執法,欲調伏之,入於金剛藥叉三摩地,思惟此菩薩之一字真言,入於一切法本不生門,則離一切煩惱之因;煩惱既離,則證二種之無我,而顯真如恆沙之功德,超越三界九地妄心所起之諸惑雜染。〔理趣釋〕 ; (郝) Chữ Tất đàm (ha#). Chủng tử của bồ tát Tồi ma. Gồm có 4 nghĩa: 1. Tất cả pháp vốn chẳng sinh. 2. Nhân duyên. 3. Nhân ngã. 4. Pháp ngã. Vì không biết rõ tất cả các pháp vốn chẳng sinh nên sinh ra hết thảy phiền não, rồi do phiền não mà khởi lên nhân ngã và pháp ngã. Tất cả ngoại đạo và chư thiên đều chấp ngã, chấp pháp, muốn chế phục phiền não thì phải vào chính định Kim cương dược xoa, tư duy về Nhất tự chân ngôn của vị Bồ tát này, tiến vào cửa Tất cả pháp vốn không sinh , thì xa lìa được hết thảy phiền não, phiền não đã lìa thì chứng được nhân vô ngã và pháp vô ngã mà hiển bày hằng sa công đức của chân như, vượt ra ngoài 3 cõi. [X. Lí thú thích].

hách dịch

Authoritative.

hách liệt bố nam đặc

5932(Hillebrandt,Alfred;1853~1927)德國之印度學學者。任波蘭布勒斯旁大學教授(1888~1923),主講梵語與印歐比較語言學。出版有吠陀古典梵文學之原典,及研究論著多種,並從事印度神話學之解說。主要著作有:śāṅkhāyana-śrautasūtra, 1885~1899; āpastamba-gṛhyasūtra, 1882~1897; Mūdrārākṣasa, 1912;Varuṇa und Mitra, 1877; Vedische Mythologie, 3 vols., 1891~1902;Über die Anfänge der indischen Dramen, 1914; Aus Brahmanas und Upanischads, 1920.

hách định

5933(Hedin, Sven; 1865~1952)瑞典之地理學者,亦爲著名中亞探險家。西元一八八五年至一八八六年,旅行至波斯、美索不達米亞,成爲波斯探險團之一員,途經撒馬爾罕、喀什噶爾(1890~1891),復從烏拉山、帕米爾高原,橫越塔克拉馬干沙漠、青海等地,再經張家口而至北平(1893~1897);其後又至塔里木盆地、西藏中部之湖沼地帶探險(1899~1902),於羅布泊附近發現古代都市樓蘭之遺址(1901)。發掘蒐集許多古代文書及考古學遺物。其後越過喀喇崑崙山脈,通過喀什米爾、喀什噶爾,經由俄國返國。一九○五年,又由波斯至印度,進入西藏西北,並至印度河調查諸河川之水源、水脈,而於喜馬拉雅山北邊,發現許多與其平行之山脈,此一山系之發現,實具有重大意義。一九○八年經由日本回國。一九二七年組成西北學術探險團(The Sino-Swedish Expedition),復得瑞典、中國、印度學者之協助,而進行大規模之遠征。自東蒙古(熱河地方),經過新疆、波斯,再由西藏北部,跨越天山,從事大規模之考古、地質學、生物、人類、民俗、宗教等研究,成績斐然,對佛教文物之貢獻甚鉅。 主要著作有:Die geographisch-wissenschaftliche Ergebnissa meiner Reise in Zentralasien, 1894~1897, 1900; Scientific results of a journey in Central Asia 1899~1902, 6 vols., map 2 vols., 1904~1907; Southern Tibet, discoveries in former times compared with my own researches of 1906~1908, 9 vols., map 2 vols., 1917~1922; History of the expedition in Asia 1927~1935, 4 vols., 1943~1945.

hái quả

To pick the fruit.

Hám Phác Tánh Thông

(憨璞性聰, Kampaku Shōsō, 1610-1666): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu Minh Giác (明覺), tự Hám Phác (憨璞), xuất thân Diên Bình Thuận Xương (延平順昌), thuộc Huyện Mân (閩, tỉnh Phúc Kiến), họ là Liên (連). Năm 15 tuổi, ông đến nhập môn ở Thiên Vương Tự (天王寺) và 3 năm sau xuống tóc xuất gia. Từ 25 tuổi, ông đã đi ngao du đó đây, theo học kinh luận với Bổn Huy (本輝) ở Chi Đề Sơn (支提山) và thọ cụ túc với Đại Vân (大雲) ở Phổ Đà Nham (普陀巖), Nam Hải (南海, Tỉnh Triết Giang). Sau đó, ông đến tham Thiền với Mặc Uyên (默淵) ở Võ Lâm Sơn (武林山, Tỉnh Triết Giang), Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢), v.v. Cuối cùng ông đại ngộ dưới trướng của Nhĩ Mật Minh Phục (爾密明澓) ở Đông Sơn (東山) thuộc Phủ Thiệu Hưng (紹興府, Tỉnh Triết Giang), rồi được Ngư Đàm (魚潭) ở Ôn Châu (溫州, Tỉnh Triết Giang) ấn chứng cho và sau đó đắc pháp với Bách Si Hành Nguyên (百癡行元) ở Thái Bình Tự (太平寺), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Từ đó về sau, ông sống qua một số chùa như Quan Âm Tự (觀音寺) ở Cẩm Sơn (錦山), Hàng Châu, Pháp Hỷ Tự (法喜寺) ở Dư Hàng (餘杭, Tỉnh Triết Giang), Quảng Phước Viện (廣福院) ở Tiền Đường (錢唐, Tỉnh Triết Giang), Hải Hội Tự (海會寺) cũng như Diên Thọ Tự (延壽寺) ở Thuận Thiên (順天, Tỉnh Hà Bắc), An Quốc Tự (安國寺) ở Thiệu Võ (邵武, Tỉnh Phúc Kiến), v.v. Đến ngày 13 tháng 12 năm thứ 5 (1666) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông thị tịch, hưởng thọ 57 tuổi đời và 39 hạ lạp. Pháp từ của ông có hơn 20 người. Ông có để lại tác phẩm Minh Giác Thông Thiền Sư Ngữ Lục (明覺聰禪師語錄) 16 quyển. Phùng Phổ (馮溥) soạn bài tháp minh cho ông.

Hám Sơn Đức Thanh

(憨山德清, Kanzan Tokusei, 1546-1623): tự là Trừng Ấn (澄印), hiệu Hám Sơn (憨山), xuất thân Kim Tiêu (金椒), Kim Lăng (金陵, Nam Kinh), họ Thái (蔡). Năm 13 tuổi, ông theo học với Vĩnh Ninh (永寧) ở Báo Ân Tự (報恩寺) vùng Kim Lăng. Đến năm 19 tuổi, ông xuất gia và thọ Cụ Túc giới, rồi tham học Thiền với Vân Cốc Pháp Hội (雲谷法會) ở Thê Hà Tự (栖霞寺), kế đến tham vấn Pháp Quang (法光) ở Phục Ngưu Sơn (伏牛山), đạt được huyền chỉ sâu xa. Sau đó, ông chọn Ngũ Đài Sơn (五臺山) làm nơi tĩnh tu cho mình. Vào năm thứ 9 (1581) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông thiết lập đại hội trên Ngũ Đài Sơn, chiêu tập 500 vị đại đức tăng. Đến năm thứ 14 cùng niên hiệu trên, nhân dịp Thái Hậu quy y, bà cho sáng lập Hải Ấn Tự (海印寺) ở Lao Sơn (牢山) và ban tặng Đại Tạng Kinh; thế nhưng khi mắc tội với vua Thần Tông, ông cũng bị tống giam vào ngục thất ở Lôi Châu (雷州, Tỉnh Quảng Đông). Vào năm thứ 24, ông đến trú ở Tào Khê (曹溪), phục hưng các ngôi Thiền Đường nơi đây, rồi truyền giới, giảng kinh và chế ra quy cũ Thiền môn. Đến năm thứ 43, ông khai sáng Pháp Vân Thiền Tự (法雲禪寺) ở Ngũ Nhũ Phong (五乳峰). Vào năm thứ 2 (1622) niên hiệu Thiên Khải (天啓), ông trở về lại Tào Khê, và năm sau thì thị tịch, hưởng thọ 78 tuổi đời và 59 hạ lạp. Trước tác của ông có rất nhiều như bộ Ngữ Lục (語錄) 12 quyển, Mộng Du Toàn Tập (夢遊全集) 55 quyển, Quán Lăng Già Kinh Ký (觀楞伽經記), Hoa Nghiêm Cương Yếu (華嚴綱要), Lăng Nghiêm Thông Nghĩa (楞嚴通義), Viên Giác Kinh Trực Giải (圓覺經直解), Kim Cang Kinh Quyết Nghi (金剛經決疑), v.v. Ông chủ xướng pháp môn Niệm Phật và Khán Thoại Thiền, cùng với Châu Hoằng (袾宏), Chơn Khả (眞可), Trí Húc (智旭) được gọi là Tứ Đại Thích Gia (四大釋家, 4 vị tu sĩ vĩ đại) cuối thời nhà Minh. Ngô Ứng Thật (呉應實) và Tiền Khiêm Ích (錢謙益) soạn bài minh bia tháp cho ông và trong khoảng niên hiệu Thuận Trị (順治, 1644-1661) nhà Thanh, ông được ban tặng thụy hiệu là Hoằng Giác Thiền Sư (弘覺禪師).

Hám Sơn 憨山

[ja] カンザン Kanzan ||| Hanshan See Deqing 徳清. => (c: Hanshan). Xem Đức Thanh (c: Deqing 徳清).

Hám 憾

[ja] カン kan ||| Resent, bear a grudge, be remorseful, regret. => Phẫn nộ, mang mối ác cảm, rất hối hận, lòng thương tiếc.

Hán

漢; C: hàn; J: kan;|1. Tên một con sông ở Trung Hoa; 2. Một người, một thiếu niên, xuất phát từ cách gọi thông tục thời xưa »một người gốc Hán«; 3. Dân tộc Hán, chủng tộc của những người được đồng nhất với dân tộc Trung Hoa; 4. Một triều đại ở Trung Hoa. Tiền Hán từ 206 trước CN-8 sau CN. Hậu Hán từ 25-220 sau CN; 5. Nước Trung Hoa; 6. Trong ngôn ngữ thiền chỉ cho một người, một gã, một kẻ.

hán

Người Hán: Chinese. Sông Hán Giang: The River Han. Triều đại nhà Hán: The Han dynasty.

Hán Nguyệt Pháp Tạng

(漢月法藏, Kangetsu Hōzō, 1573-1635): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hán Nguyệt (漢月), tự Ư Mật (於密), sinh vào năm đầu niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), người Huyện Vô Tích (無錫縣), Lương Khê (梁溪, Tỉnh Giang Tô), họ Tô (蘇). Năm 15 tuổi, ông xuất gia tại Đức Khánh Viện (德慶院) thuộc Ngũ Mục Sơn (五牧山), rồi thọ Cụ Túc giới ở Vân Thê Tự (雲棲寺). Vào năm thứ 4 (1624) niên hiệu Thiên Khải (天啓), ông đến tham yết Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟) ở Kim Túc Tự (金粟寺), Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang) và đắc pháp với vị này. Năm sau, ông chuyển đến sống các nơi như Tam Phong Thanh Lương Viện (三峰清涼院) ở Hải Ngu (海虞, Tỉnh Giang Tô), Bắc Thiền Đại Từ Tự (北禪大慈寺) ở Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô), An Ổn Tự (安穏寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang); rồi đến năm thứ 2 (1629) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông dời đến Đặng Úy Thánh Ân Tự (鄧尉聖恩寺) ở Tô Châu. Sau đó, ông còn sống qua một số nơi khác như Cẩm Thọ Viện (錦樹院) ở Lương Khê Long Sơn (梁溪龍山), Tịnh Từ Tự (淨慈寺) ở Hàng Châu, Chơn Như Tự (眞如寺) ở Gia Hưng và Thánh Thọ Tự (聖壽寺) ở Tô Châu. Đến ngày 21 tháng 7 năm thứ 8 (1635) niên hiệu Sùng Trinh, ông thị tịch, hưởng thọ 63 tuổi. Ông có để lại một số tác phẩm như Quảng Lục (廣錄) 50 quyển, Ngữ Lục (語錄) 30 quyển, Tam Phong Tạng Hòa Thượng Ngữ Lục (三峰藏和尚語錄) 16 quyển, Hoằng Giới Pháp Nghi (弘戒法儀) 3 quyển. Môn nhân Thối Ông Hoằng Trữ (退翁弘儲) viết bản Niên Phổ, Hoàng Tông Hy (黃宗羲) soạn bài văn bia tháp cho ông.

hán nguỵ lưỡng tấn nam bắc triều phật giáo sử

5830民國初年湯用彤著。爲民國以來有關我國佛教史實之著述。計分二十章,內容起自佛教之初傳入,以迄南北朝末期佛教傳播情形。本書之寫法,考據與義理並重,一般史實與教義發展之敘述皆甚精詳,故頗爲學界所重。坊間有商務版及鼎文版。 ; (漢魏兩晋南北朝佛教史) Tác phẩm, 20 chương, do ông Thang dụng đồng soạn. Nội dung trình bày về lịch sử Phật giáo Trung quốc từ khi mới truyền vào cho đến thời Nam Bắc triều. Trong đó ghi chép rõ ràng những chứng cứ lịch sử và sự phát triển giáo nghĩa, rất được học giới coi trọng. Sách này có 2 loại bản in là Thương vụ bản và Đỉnh văn bản.

hán pháp bản nội truyện

5830凡五卷。撰著年代與撰者皆不詳。又作法本內傳。本書記述後漢明帝永平年間(58~75)佛教之傳入並與道教抗衡之事。計有明帝得夢求法品、請法師立寺功德品、與諸道士比較度脫品、明帝大臣等稱揚品、廣通流布品等五品。本書之完本後世未傳,其文散見於廣弘明集卷一、集古今佛道論衡卷一、法苑珠林卷十八、續集古今佛道論衡等。唐代道宣、智昇等謂本書乃漢魏時代之作品,然隋代以前之文獻並未載錄本書。又從本書內容判斷,乃南朝梁代天監年中(502~519)以後之作品。〔破邪論卷上、續高僧傳卷二十三曇無最傳、翻譯名義集卷一宗翻譯主篇〕 ; (漢法本內傳) Cũng gọi Pháp bản nội truyện. Tác phẩm, 5 quyển, được soạn vào thời nào và tên soạn giả đều không rõ. Sách này nói về việc Phật giáo lúc mới du nhập Trung quốc khoảng năm Vĩnh bình (58-75) đời Minh đế nhà Hậu Hán và về tình hình Phật giáo chống đỡ sự phê phán của Đạo giáo. Nội dung gồm 5 phẩm: - Minh đế đắc mộng cầu pháp. - Thỉnh pháp sư lập tự công đức. - Dữ chư đạo sĩ tỉ giảo độ thoát. - Minh đế đại thần đẳng xưng dương. - Quảng thông lưu bố. Đến nay bản hoàn chỉnh của sách này vẫn không thấy lưu truyền, chỉ thấy rải rác trong Quảng hoằng minh tập quyển 1, Tập cổ kim Phật Đạo luận hành quyển 1, Pháp uyển châu lâm quyển 18, Tục tập cổ kim Phật Đạo luận hành, v.v... Các ngài Đạo tuyên và Trí thăng cho rằng sách này là tác phẩm thời Hán Ngụy, nhưng trong các văn hiến từ đời Tùy trở về trước không thấy được đề cập tới. Nếu căn cứ vào nội dung mà phán đoán thì có thể sách này là tác phẩm từ khoảng năm Thiên giám (502- 519) đời Lương thuộc Nam triều trở về sau. [X. luận Phá tà Q.thượng; truyện Đàm vô tối trong Tục cao tăng truyện Q.23; thiên Tông phiên dịch chủ trong Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1].

hán triều

Han Dynasty.

hán trúc pháp lan

Xem Pháp Lan.

hán vũ đế

Han Wu-ti (C)Một Hoàng đế nhà Hán.

Hán 漢

[ja] カン kan ||| (1) A river in China. (2) A man, a boy, derived from an early colloquial usage of "a fellow from Han. (3) The race of people to whom the origin of China is most closely identified. (4) A dynastic period in China. The Former Han was from 206 BC-8 AD. The Latter Han was from 25-220 AD. (5) China. (6) In Chan language, a person, a guy, a fellow. => 1. Tên một con sông ở Trung Hoa. 2. Một người, một thiếu niên, xuất phát từ cách gọi thông tục thời xưa “một người gốc Hán”. 3. Dân tọc Hán, chủng tộc của những người được đông nhất với dân tộc Trung Hoa. 4. Một triều đại ở Trung Hoa. Tiền Hán từ 206 trước tl. - 8 sau tl. Hậu Hán từ 25-220 sau tl. 5. Nước Trung Hoa. 6. Trong ngôn ngữ Thiền, chỉ cho một người, một gã, một kẻ.

háo danh

To thirst after honor and fame.

háo hức

Enthusiastic.

Hát

喝; C: »Ho!«, »Hè!«; J: »Katsu!«;|Một tiếng hét không có ý nghĩa cụ thể, được các vị Thiền sư sử dụng làm phương tiện để hoằng hoá như một cây gậy, Phất tử. Tiếng hét này cũng được chư vị sử dụng để trình bày kinh nghiệm chứng ngộ của mình, sử dụng như một phương tiện chuyển hoá tất cả những văn tự ngôn ngữ bình thường. Như một cây gậy được vung lên đúng lúc, một tiếng hét hợp thời điểm có thể là một yếu tố dẫn thiền sinh đến kinh nghiệm Kiến tính.|Theo truyền thuyết thì người đầu tiên sử dụng tiếng hét để giáo hoá chúng là Mã Tổ Ðạo Nhất, một vị Thiền sư nổi danh với giọng hét như sấm. Tương truyền rằng, Thiền sư Bách Trượng nghe tiếng hét của Mã Tổ mà ù tai ba ngày. Cũng nổi danh không kém Mã Tổ trong việc sử dụng tiếng hét – và thêm vào đó là cây gậy (Bổng hát) – là sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. |Lâm Tế phân biệt bốn loại hét (tứ hát) sau: 1. Tiếng hét như bảo kiếm của vua Kim cương; 2. Tiếng hét như bốn vó của Kim mao sư tử đang vồ trụ đất; 3. Tiếng hét như cần câu quơ bóng cỏ và 4. Tiếng hét mà không có tác dụng của tiếng hét.|Lâm tế lục ghi lại rất nhiều trường hợp sư sử dụng tiếng hét. Sau đây là hai ví dụ (bản dịch của Thích Duy Lực):|»Tăng hỏi: ›Sư tuyên nói gia khúc tông phong ai? Nối pháp vị nào?‹ Sư đáp: ›Ta ở nơi Hoàng Bá ba lần hỏi Phật pháp, ba lần bị đánh.‹ Tăng do dự muốn nói. Sư bèn hét rồi nói rằng: ›Không lẽ hướng vào Hư không mà đóng đinh chăng?‹«.|»Tăng hỏi: ›Thế nào là đại ý Phật pháp?‹ Sư không đáp, dựng đứng Phất tử. Tăng bèn hét. Sư cũng hét. Lúc ấy, vị tăng do dự, sư bèn đánh.«

hát

Gīta (S), Singing.

hát giỏi

Geyajā (S), Skilful in song.

Hát thực 喝食

[ja] カツシキ katsushiki ||| The young attendant who announces mealtimes in a Chan/Sŏn/Zen monastery. => Vị thị giả thông báo giờ ăn trong thiền viện.

Hát 喝

[ja] カツ katsu ||| (1) To threaten, menace, intimidate. (2) To scold, reprove. (3) [Buddhism] A sudden shout given during a Chan dialog. Used as an expression of wordless reality, or used by teachers to shock, awaken, or scold students. Also written 大喝, 一喝, 喝破. => Có các nghĩa sau: 1. Cảnh báo, đe doạ, doạ dẫm. 2. Quát mắng, quở trách. 3. [Phật học] Tiếng thét bất ngờ trong cuộc tham vần thiền. Dùng để diễn tả thực tại vô ngôn, hoặc các thiền sư dùng để sách tấn, thức tỉnh hoặc quở trách môn đệ. Con viết đại hát, nhất hát, hát phá.

hâm mộ

To be fond of—To have admiration for.

Hân

欣; C: xīn; J: gon; |1. Mong muốn, hi vọng, mong mỏi, ao ước; 2. Vui lòng, hạnh phúc, thích thú.

hân

Vui thích (tên của một tâm sở đối lại với yếm hay chán ghét)—Delight—Joy—Elated—Elevated.

hân cầu

Tìm cầu vui thích—To seek gladly.

hân cầu tịnh ðộ

Cầu mong được vãng sanh Tịnh Ðộ—To seek rebirth in the Pure Land—See Yếm Ly Uế Ðộ.

hân giới

Cõi vui thích của chư Hiền Thánh—The joyful realm of saints and sages.

hân hoan

Joyful—Merry.

hân hạnh

To be honoured—To have the honour.

Hân lạc

欣樂; C: xīnlè; J: gongyō;|1. Mong cầu niềm vui; 2. Niềm hân hoan, hạnh phúc, khoái cảm (prasanna-citta).

Hân nhạo 欣樂

[ja] ゴンギョウ gongyō ||| (1) To seek after with pleasure. (2) Joy, happiness, delight (prasanna-citta). 〔法華經 T 262.9.18b26〕 => Mong cầu niềm vui. Niềm hân hoan, hạnh phúc, khoái cảm (s: prasanna-citta).

hân yếm

3325心所之名。欣,指令心欣慕功德之精神作用;厭,指厭背苦集無量過患之精神作用。入阿毘達磨論卷上(大二八‧九八二中):「欣謂欣尚於還滅品,見功德已,令心欣慕,隨順修善,心有此故,欣樂涅槃,與此相應,名欣作意;厭謂厭患於流轉品,見過失已,令心厭離,隨順離染,心有此故,厭惡生死,與此相應,名厭作意。」大毘婆沙論與順正理論列其爲善心所所攝。又於俱舍論,謂善心所屬於大善地法,乃自性唯善與遍一切之善心,具遍善之義,故不另立欣厭二心所。以欣厭二行相爲相違之心,於一心中不並起,不恆起,又不普於善心周遍相應,故不別立之。依成唯識論卷六載,欣與欲俱無瞋之一分,厭與慧俱無貪之一分,故無別體,在善心所中不別立。〔大毘婆沙論卷二十八、卷一四三、卷一九六、順正理論卷十一、俱舍論光記卷四〕

Hân 欣

[ja] ゴン gon ||| (1) To desire, hope for wish for, long for. (2) To be happy, happiness, enjoyment. => 1. Mong muốn, hy vọng, mong mỏi, ao ước. 2. Vui lòng, hạnh phúc, thích thú.

hãi hùng

Dreadful—Frightful.

hãn

Mồ hôi—Sweat.

hãn lật đà

2470梵語 hṛd 之音譯。又作肝栗大、干栗多、訶栗多、乾栗太、矣栗馱、污栗馱、乾栗陀多。或為 hṛdaya 之音譯,又作訖利馱耶、紇利陀耶、紇哩陀耶、乾栗馱耶、紇哩娜耶、紇哩娜野、紇利陀、紇伐耶。意譯作肉團心、真實心、堅實心。據楞伽阿跋多羅寶經卷一、楞伽阿跋多羅寶經註解載,肝栗大為自性第一義之心;猶如樹木之心,而非為念慮之心(念慮心之梵語為 citta,即質多)。又據法藏之入楞伽心玄義、金剛頂瑜伽略述三十七尊心要、大日經疏卷十七、菩提心義等所舉,皆以汗栗馱為自性真實心。 然據摩訶止觀卷一上載(大四六‧四上):「質多者,天竺音,此方言心,即慮知之心也。天竺又稱污栗馱,此方稱是草木之心也。又稱矣栗馱,此方是積聚精要者為心也。今簡非者,簡積聚、草木等心,專在慮知心也。」上述中以污栗馱指草木之心,或係誤解前述楞伽阿跋多羅寶經註解之說;且又別視矣栗馱為積聚之心,其說有誤,蓋污栗馱與矣栗馱二者為一。 另據大日經疏卷四、卷十二舉出,汗栗馱指肉團心,即是眾生之心臟。在密教中,以觀此肉團心為八葉蓮華,而成毘盧遮那身為本旨;故或謂不應將汗栗馱解釋為眾生之自性真實心。 此外,宗密之禪源諸詮集都序卷上之一,將心分為四種,即:(一)紇利陀耶(梵 hṛdaya),即肉團心,指身體中之心臟。(二)緣慮心,即眼、耳等八識。具有緣慮(思考)之作用。(三)質多耶(梵 cetaya),即集起心。指第八阿賴耶識積集種子而能生起現行。(四)乾栗陀耶(梵 hṛdaya),即堅實心、真實心。指真如之心,亦即如來藏心。故知宗密將紇利陀耶與乾栗陀耶視為截然不同之二種心,一指肉團心,一指真實心,其後圓覺經略疏鈔卷一、起信論疏筆削記卷一等皆引用其說。 然日本近代之學者認為,前述之紇利陀耶(梵 hṛdaya)係乾栗陀(梵 hṛd)之語尾加上 aya,二者實一,其原語有心、精神之義,為中性名詞。若將二者視為別種之語,且將紇利陀耶、乾栗陀耶分開而論,或為誤謬之說。蓋汗栗馱非緣慮心,將之喻為樹木之心,或係因此語為中性名詞而起之解釋。又據大日經疏卷十二、祕藏記等轉釋,汗栗馱為真實之心性,即如來藏心,而非為緣慮心之義。〔大日經義釋卷三、卷九、卷十二、翻譯名義集卷十六、般若心經祕鍵、寶篋印陀羅尼經祕略釋卷上、祕藏記私末鈔卷四〕(參閱「心」1395) ; Xem Nhục đoàn tâm. ; Hrd or Hrdaya (skt)—Càn Lật Ðà—The heart, core, mind, soul. ; (汗栗馱) Phạm: Hfd. Cũng gọi Can lật đại, Can lật đa, Ha lật đa, Càn lật thái, Hĩ lật đà, Ô lật đà, Càn lật đà đa. Phạm: Hfdaya. Dịch âm: Ngật lợi đà da, Hột lợi đà da, Hột lí đà da, Càn lật đà da, Hột lí na da, Hột lí na dã, Hột lợi đà, Hột phạt da. Dịch ý: Nhục đoàn tâm, Chân thực tâm, Kiên thực tâm. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 4, quyển 12, thì Hãn lật đà là chỉ cho nhục đoàn tâm, tức là quả tim thịt của chúng sinh, chứ không phải tâm tự tính chân thực của chúng sinh. Tông chỉ căn bản của Mật giáo là quán tưởng nhục đoàn tâm này là hoa sen 8 cánh trở thành thân Tì lô giá na. Còn Nhập lăng già tâm huyền nghĩa, Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu, Đại nhật kinh sớ quyển 17 và Bồ đề tâm nghĩa, v.v... thì đều cho Hãn lật đà là tâm tự tính chân thực của chúng sinh. Ngoài ra Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng phần 1 của ngài Tông mật chia tâm làm 4 loại: 1. Hột lợi đà da(Phạm:Hfdaya): Nhục đoàn tâm, tức là quả tim thịt trong thân thể. 2. Duyên lự tâm: Chỉ cho 8 thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na, a lại da, có tác dụng duyên lự (suy nghĩ). 3. Chất đa da(Phạm:Cetaya): Tâm tập khởi, tức là thức a lại da thứ 8 tích tập chủng tử sinh khởi hiện hành. 4. Càn lật đà da (Phạm:Hfdaya): Tâm chân thực, tức là tâm Như lai tàng. Như vậy, theo ngài Tông mật, Hột lợi đà da và Càn lật đà da là 2 loại tâm hoàn toàn khác nhau: Một chỉ cho nhục đoàn tâm, một chỉ cho chân thực tâm. Về sau, Viên giác kinh lược sớ sao quyển 1 và Khởi tín luận sớ bút tước kí quyển 1 đều trích dùng thuyết này. Nhưng, các học giả Nhật bản cận đại cho rằng Hfdaya (Hột lợi đà da) chính là chữ Hfd (Càn lật đà) được thêm vĩ ngữ Aya vào mà thành Hfdaya. Thực ra 2 chữ này chỉ là một và có nghĩa là tâm, tinh thần. Nếu đem phân tích làm 2 để giải thích thì e đó là thuyết sai lầm. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.3, Q.9, Q.12; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.16; Bát nhã tâm kinh bí kiện; Bảo khiếp ấn đà la ni kinh bí lược thích Q.thượng; Bí tàng kí tư mạt sao Q.4]. (xt. Tâm).

hãnh diện

To be proud.

hão huyền

Unreal—Vain.

hãy lại đây

, tỳ kheo! Ehi-bhikṣu (S), Come!O! Monk! Ehi-bhikkhu (P).

hãy tự biết mình

Know yourself.

hèn mọn

Ignoble—Humble—Mean—Despicable.

hèn nhát

Cowardly

hé môi

To utter one's lips.

hé mở

To half-open.

héo tàn

To fade—To wither—To shrivel up.

hê rô ca minh vương

(hê rô ca minh vương ) Hê rô ca, Phạm: Heruka. Tạng:Dges-pa rjo-rje. Trong Mật giáo, vị tôn này là hóa thân của đức Phật A súc (Phạm: Akwobhyabuddha). Hê rô ca minh vương còn có nhiều tên gọi khác như: Hô kim cương (Phạm: Hevajra), Giác đầu (Phạm:Buddhakapàla), Tối thắng (Phạm:Sambara), Thất vô tận (Phạm:Saptàkwara), Đại huyễn (Phạm: Mahàmàyà), v.v...… Hình tượng vị này phần nhiều là màu xanh, nhe răng, thè lưỡi, có ba mắt, mặc áo da hổ hoặc da rắn, đầu đội mũ, trên mũ có tượng Phật A súc, đầu nghiêng về phía trái, thường che chở chúng sinh, không để ác ma xâm hại. Tín ngưỡng Hê rô ca bắt đầu vào khoảng thế kỉ VIII Tây lịch, đến khoảng thế kỉ IX thì ngài Trí quang (Phạm:Jĩànapàda) có soạn Hê rô ca thành tựu pháp (Phạm: Heruku-sàdhana) của Kim cương giới và Thai tạng giới. Ở Tây tạng, vị tôn này cũng rất được sùng bái, đã có nhiều đền thờ Hê rô ca và trong Đại tạng kinh Tây tạng cũng có chép Thành tựu pháp Hê rô ca. Cứ đó mà suy, ta có thể biết, tín ngưỡng Hê rô ca đã rất thịnh hành ở khoảng thế kỉ VIII, đồng thời, có thể đã có quan hệ mật thiết với tín ngưỡng Văn thù. Thời gần đây, người ta đã tìm thấy nhiều pho tượng Hê rô ca ở Tây tạng và ở các vùng chung quanh. [X. Nebesky-Wojkowitz; Oracles and Demons of Tibet].

hên

To be lucky.

hên xui

Lucky and unlucky.

hình

Form, figure, apparence, the body. ; Form—Figure—Appearance—The body.

hình dung

See Hình dáng.

hình dáng

Appearance.

hình hài

Body and skeleton.

hình luật

Criminal law.

hình mạo

Form, apparence. ; Form—Appearance.

Hình mạo dục

xem Ba sự ham muốn.

hình mạo dục

The desire awakened on seeing a beautiful form. ; Dục về sắc đẹp hình tướng, một trong lục dục---The desire awakened on seeing a beautiful form, one of the six desires (lục dục).

hình ngay bóng thẳng

Nếu bạn muốn gặt quả vị Phật, bạn phải gieo chủng tử Phật—A straight mirror image requires a straight object. If you want to reap the “Buddhahood,” you must sow the Buddha-seed—Hình đẹp xấu thế nào, bóng hiện trong gương cũng như thế ấy, lời Phật dạy muôn đời vẫn thế, biết được quả báo ba đời, làm lành được phước, làm dữ mang họa là chuyện đương nhiên. Người trí biết sửa đổi hình, kẻ dại luôn hờn với bóng. Trước cảnh nghịch cảnh thuận cảnh, người con Phật chơn thuần đều an nhiên tự tại, chứ không oán trời trách đất—A mirror reflects beauty and ugliness as they are, the Buddha's Teachings prevail forever, knowing that requital spans three generations, obviously good deeds cause good results, evil deeds causes evil results. The wise know that it is the object before the mirror that should be changed, while the dull and ignorant waste time and effort hating and resenting the image in the mirror. Encountering good or adverse circumstances, devoted Buddhists should always be peaceful, not resent the heaven nor hate the earth—See Tam Báo.

hình như

To seem—To appear.

hình nộm

Mannequin.

hình pháp

See Hình Luật.

hình phạt khổ sai

penal servitude.

hình phạt năm cọc ở địa ngục

Pancavidha-bandhanam (P).

hình phục

3788形式完整,使用正色(指避免世俗之青、黃、赤、白、黑五色)之袈裟。勅修百丈清規卷二報本章(大四八‧一一一五下):「吾徒忝形服,預法系,遵其行,之爲律。」(參閱「袈裟」4784) ; (形服) Chỉ cho áo ca sa với hình thức hoàn chỉnh, sử dụng mầu sắc đúng như luật chế định (nghĩa là tránh những mầu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen mà người đời thường dùng). Chương Báo bản trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1115 hạ), nói: Môn đồ của ta mặc hình phục (ca sa) hoại sắc, dự vào dòng pháp, tuân thủ giới hạnh, đó là luật . [xt. Ca Sa].

hình sơn

3788即指肉身。又吾人之心性、吾人之一心乃祕藏於身中者,故佛書中多以「祕在形山」一語指吾人之心性。從容錄第九十二則(大四八‧二八 下):「雲門大師云:『乾坤之內,宇宙之間,中有一寶,祕在形山。』」 ; Thân hình, so sánh với một ngọn núi—The body, comparable to a mountain. ; (形山) Chỉ cho nhục thân (thân thịt) của người ta. Tâm tính con người được giấu kín trong nhục thân, cho nên kinh sách Phật giáo thường dùng từ ngữ Bí tại hình sơn (giấu trong Hình sơn) để chỉ tâm tính của mọi người. Tắc 92 trong Thung dung lục (Đại 48, 286 hạ), ghi: Đại sư Vân môn nói: Trong trời đất, giữa vũ trụ, có một bảo vật được giấu kín trong thân (bí tại hình sơn) .

Hình sơn 形山

[ja] ギョウサン gyōzan ||| A human body. HPC 7.232a => Thân thể con người.

hình sắc

3788<一>梵語 saṃsthāna-rūpa。有形之色。「顯色」之對稱。指色法中,質礙粗著,因觸而覺知其長短大小凹凸等者。計有八種:(一)長(梵 dīrgha),一面多生。(二)短(梵 hrasva),一面少生。(三)方(梵 caturaśra),四面齊等。(四)圓(梵 vṛtta),周遍一切處而生。(五)高(梵 unnata),中間凸出。(六)下(梵 avanata),中間拗凹。(七)正(梵 śāta),表面齊平。(八)不正(梵 viśāta),表面參差。說一切有部以此等諸色極微各別,各有別體;唯識大乘則以爲非實色。〔俱舍論卷一、瑜伽師地論卷一、大毘婆沙論卷十三、卷七十五、俱舍論光記卷一、成唯識論述記卷二本〕 <二>形體與色相。即指人畜等之顏色形貌。〔法華經卷二信解品、無量壽經卷上、分別善惡報應經卷下〕 ; Saṃsṭhāna-rŪpa (S)Có các loại: dài, ngắn, vuông, tròn, không ngay thẳng. ; Samsthànarùpa (S). The characteristics of form - long, short, square, round, high, low, straight, crooked. ; Samsthanarupa (skt)—Hiển sắc có hình hay tính chất đặc thù của hình thức như dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, thẳng, cong, vân vân—The characteristics of form (long, short, square, round, high, low, straight, crooked, etc). ; (形色) I. Hình Sắc. Phạm:Saôsthàna-rùpa. Đối lại với Hiển sắc. Sắc có hình tướng, tức chỉ cho những sắc pháp chất ngại, khi tiếp xúc có thể biết được. Hình sắc có 8 loại: 1. Trường (Phạm:Dìrgha, dài). 2. Đoản (Phạm:Hrasva, ngắn). 3. Phương (Phạm: Caturazra, vuông). 4. Viên (Phạm:Vftta, tròn). 5. Cao (Phạm: Unnata, cao). 6. Hạ (Phạm:Avanata, thấp). 7. Chính (Phạm:Zàta, ngay thẳng). 8. Bất chính (Phạm:Vizàta, không ngay thẳng). Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng cực vi của những Hình sắc này đều khác nhau và đều có thể tính riêng biệt. Nhưng tông Duy thức thì cho đây chẳng phải thực sắc mà sắc giả. [X. luận Câu xá Q.1; luận Du già sư địa Q.1; luận Đại tì bà sa Q.13, Q.75; Câu xá luận quang kí Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần đầu]. II. Hình Sắc. Hình thể và sắc tướng. Tức chỉ cho tướng mạo và mầu sắc của người và súc vật. [X. phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa Q.2; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Phân biệt thiện ác báo ứng Q.hạ].

Hình sắc 形色

[ja] ギョウシキ gyōshiki ||| (1) Shape and form (saṃsthāna; Tib. dbyibs kyi gzugs). (Visual) appearance. (2) Physical shape, such as roundness, squareness, long and short, etc. One of the three aspects of form, the other two being color 顯色 and position 表色. 〔瑜伽論 T 1579.30.280b5〕 => 1. Hình dạng và sắc thái (s: saṃsthāna; t: dbyibs kyi gzugs). Diện mạo. 2. Hình thể, như tròn, vuông, dài, ngắn v.v... Là một trong ba phương diện của sắc, hai phương diện kia là Hiển sắc 顯色và Biểu sắc表色.

hình sự

Criminal affairs.

hình thân

3788即指文字。蓋文字乃以形爲體,故稱之。楞伽經卷二(大一六‧四九四中):「形身者,謂顯示名句,是名形身。」 ; (形身) Chỉ cho văn tự. Văn tự lấy hình làm thể nên gọi là Hình thân. Kinh Lăng già quyển 2 (Đại 16, 494 trung), nói: Vì hiển bày danh cú nên gọi là Hình thân .

hình thức

Form.

hình thức bề ngoài

External practice—Formality—External form.

hình thức tinh tế

Subtle form.

hình tướng

Formal or spatial, as length and breadth, etc.

hình tướng công đức

3788極樂淨土二十九種莊嚴之中,屬十七種國土功德莊嚴之一。天親之淨土論謂(大二六‧二三○下)「淨光明滿足,如鏡日月輪」一語,即指此一德相。曇鸞之淨土論註卷上釋之爲(大四○‧八二八下):「此二句名莊嚴形相功德成就。佛本所以起此莊嚴功德者,見日行四域,光不周三方;庭燎在宅,明不滿十仞。以是故,起滿淨光明願,如日月光輪滿足自體。彼安樂淨土雖復廣大無邊,清淨光明無不充塞。」同書卷下又謂此一莊嚴之德用不可思議,凡往生極樂淨土之人、天,必得平等妙絕之色像,皆爲淨光之力用所致。蓋極樂淨土光明充塞周遍,猶如鏡與日月之通明,眾生一旦入於此土,則由此光明之德而得萬機平等之妙絕色相,如是之莊嚴即稱形相功德。 ; (形相功德) Công đức trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạc, loại thứ 17 trong 29 loại trang nghiêm Tịnh độ. Luận Tịnh độ của ngài Thiên thân (Đại 26, 230 hạ), nói: Ánh tịnh quang tràn đầy, sáng như vầng nhật nguyệt . Trong Tịnh độ luận chú quyển thượng (Đại 40, 828), ngài Đàm loan giải thích là: Hai câu trên đây gọi là trang nghiêm hình tướng công đức thành tựu. Cõi Tịnh độ tuy rộng lớn vô biên, nhưng ánh sáng thanh tịnh vẫn tràn khắp . Đức dụng của công đức trang nghiêm này không thể nghĩ bàn, phàm là trời hoặc người được sinh về Tịnh độ cực lạc thì tất cả đều được sắc tướng bình đẳng tuyệt diệu, do lực dụng của ánh sáng thanh tịnh tạo nên. Vì ở Tịnh độ cực lạc ánh sáng chiếu soi đều khắp, giống như gương, mặt trời và mặt trăng, cho nên chúng sinh một khi sinh về cõi này thì nhờ công đức thù thắng của ánh sáng ấy mà được sắc tướng tuyệt diệu bình đẳng, sự trang nghiêm đó gọi là Hình tướng công đức.

Hình tượng

[ja] ギョウゾウ gyōzō ||| (1) Sculptured image; portrait, carved statue (pratikrti). (2) Form, appearance, shape. (3) Human form. => 1. Ảnh tượng, chân dung, bức tượng (s: pratikrti). 2. Hình dáng, tướng mạo, hình dạng. 3. Hình dáng con người.

hình tượng

3788梵語 pratima。音譯鉢羅底麼。指佛、菩薩之肖像,泛指畫像、木像、金像、石像、泥錄像等。〔根本毘奈耶卷四十五、南海寄歸內法傳卷四〕 ; Pratimā (S). ; Pratimà (S). An image or likeness (of Buddha). ; Pratima (skt)—Hình tượng Phật—An image or likeness of Buddha. ; (形像) Phạm: Pratima. Dịch âm: Bát la để ma. Chân dung của chư Phật và Bồ tát. Chỉ chung cho các loại tượng vẽ, tượng gỗ, tượng đồng, tượng vàng, tượng đá, tượng đất, v.v...… [X. Căn bản tì nại da Q.45; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].

hình tượng mạn đồ la

3789指密教爲使觀想時心能方便統一,而圖繪、雕刻諸尊所成之曼荼羅。通常所說之曼荼羅,即指此。凡四種:(一)大曼荼羅,描繪諸尊。(二)三昧耶曼荼羅,描繪象徵諸尊之三昧耶。(三)法曼荼羅,又作種子曼荼羅,表諸尊之種子者。(四)羯磨曼荼羅,表諸(尊之所作、事業及一切動作、作用者。(參閱「曼荼羅」4400) ; (形像曼荼羅) Mạn đồ la của Mật giáo do vẽ hoặc chạm trổ hình tượng của chư tôn mà thành. Đây là phương tiện nhằm giúp hành giả tập trung tâm ý khi quán tưởng. Mạn đồ la gồm có 4 loại: 1. Đại mạn đồ la: Mạn đồ la vẽ hình tượng các vị tôn. 2. Tam muội da mạn đồ la: Mạn đồ la vẽ hình Tam muội da tượng trưng cho các vị tôn. 3. Pháp mạn đồ la(cũng gọi chủng tử mạn đồ la):Mạn đồ la tiêu biểu cho chủng tử của các vị tôn. 4. Yết ma mạn đồ la: Mạn đồ la tượng trưng cho sự nghiệp, động tác và tác dụng của các vị tôn. (xt. Mạn Đồ La).

hình tượng vẽ của bồ tát địa tạng

Earth Store Bodhisattva's image.

hình tượng vẽ của phật

Buddha's image.

hình tận thần bất diệt luận

3789請參閱 造立形像福報經 東晉廬山慧遠(334~416)撰。收於大正藏第五十二冊弘明集卷五沙門不敬不王者論第五。揭示人之形體雖會滅盡,然精神不隨之滅盡,且將輪迴不已。沙門不敬大王者論之前段,述及出家是爲斷除宿業、脫離輪迴之網,故不應順從世俗之軌範,本論即就此前提,以精神不滅之觀點,論證輪迴之存在,爲當時有關「神滅不滅」論爭重要文獻之一。(參閱「神滅不滅論爭」4257) ; (形盡神不滅論) Tác phẩm của ngài Tuệ viễn (334-416) ở Lô sơn đời Đông Tấn, được thu vào Hoằng minh tập quyển 5 trong Đại chính tạng tập 52. Nội dung của luận này nói về hình thể con người tuy sẽ diệt mất, nhưng tinh thần thì không diệt. (xt. Thần Diệt Bất Diệt Luận Tranh).

Hình đoạn 形段

[ja] ギョウダン gyōdan ||| Form, shape, outward manifest appearance. Way of being. => Hình dáng, hình thể, dáng dấp bên ngoài. Cách thế tồn tại.

hình ảnh

Nimitta (S). Sign, image, mark, outward appearance. Also hình tướng.

hình ảnh phản chiếu trong tâm

Patibhaga-nimitta (S).

hình ảnh thoáng qua

A faint glymse

hí hải nanh long ma thiên tuấn cốt

6438禪林用語。鶻,屬於鷹類;獰龍、俊鶻,皆比喻才智出眾之人物。禪家以此語喻指修行已達於海闊天空任運自在之境界者。嘉泰普燈錄卷二十七(卍續一三七‧一九四下):「即心即佛,鐵牛無骨,戲海獰龍,摩天俊鶻。西江吸盡未為奇,火裏生蓮香緐緐。」 ; (戲海獰龍摩天俊鶻) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Rồng dữ đùa giỡn dưới biển, chim cắt mạnh mẽ bay liệng trên trời. Rồng và chim cắt ví dụ người tài trí xuất chúng. Thiền tông dùng nhóm từ này để chỉ cho người tu hành đã đạt đến cảnh giới nhậm vận tự do, như giữa trời cao biển rộng. Gia thái phổ đăng lục quyển 27 (Vạn tục 137,194 hạ), nói: Tức tâm tức Phật, trâu sắt không xương, rồng dữ khuấy biển, cắt mạnh tung trời. Uống hết nước Tây giang chưa phải chuyện lạ; sen nở giữa lò than hồng, mùi thơm nhẹ thoảng .

hí hởn

Joyful—Full of joy.

Hí Khúc

(戯曲, Gikyoku): với ý nghĩa là ca khúc tạp hí, nó là tuồng diễn kịch viết nên với mục đích công diễn trước công chúng. Bên cạnh đó, nó còn là tác phẩm văn học được thể hiện qua hành động của cuộc nói chuyện với nhân vật.

hí khúc

6436凡是宗教,其儀式之原始型態大多含有戲劇之成分,最初係以獻神為目的,後則逐漸演變為布教之用途。然佛教略異於此種發展;原本以斷盡煩惱、捨離七情六慾為主旨之佛教,於原始佛教及部派佛教時代,排斥一切華麗之戲劇歌曲,至大乘佛教時代始大量採用印度各種神話、敘事詩、通俗文學等,同時以戲曲來宣揚佛教教義。在當時,不僅為宣揚教義而編作戲曲,於寺院演出,且經典亦多以當時之戲曲形式編纂。法華經、維摩經等,即為此類代表作;疑係模仿印度戲曲十種形式中之維有迦(梵 vyāyoga)所寫成。真正於佛教戲曲中占首位者,係馬鳴所作「舍利弗之所說」(梵 Śāriputraprakaraṇa)之斷片,此為印度戲曲文學最早期之作品。此作品於一九一一年從中央亞細亞吐蕃之貝葉寫本中被發現,原有九幕,內容係以舍利弗與目犍連改宗歸投釋尊之故事為骨幹。又傳為戒日王所作之「龍王之喜」(梵 Nāgānanda)五幕戲亦為著名之佛教戲曲。近代印度詩聖泰戈爾(Rabindranath Tagore)所作諸多戲曲作品中,「舞者之供養」(Naṭīrpūjā)、「真陀利」( Chaṇḍālikā)二作均取材於佛教經典中之故事。 中國戲曲在思想、題材、形式等各方面,受印度文學及佛教經典之影響甚大,如京戲中之「西遊記」、「目蓮救母」、「白蛇傳」等膾炙人口之名作,內容均充滿佛教之因果思想;另如佛曲、寶卷、變文及長篇之彈詞等講唱文學,亦受佛偈文體之影響而產生,尤以「佛所行讚」關於八王分舍利之一段,儼然戲曲形式之對白,更奠定了元人雜劇之基礎。然較具佛教文學價值者,以明、清之傳奇為多。其中最著名者為「勸善金科」、「歸元鏡」,前者為欽定戲曲,為源自盂蘭盆經之民間傳說|目蓮戲,故傳播至廣;後者全劇分為四十二分,係取華嚴經四十二字母之義,其中之曲白皆源自藏經之語錄,故可視為佛教之戲曲。其他以佛教為主題之著名傳奇尚有「彌勒記」、「茯苓山」、「享千秋」、「無底洞」等。又戲曲中之樂歌部分以佛教為主題者,最早為隋唐之樂府,如「普旡佛曲」、「日光明佛曲」等。刊行於明代永樂年間之「諸佛世尊如來菩薩尊者名稱歌曲」乃歌讚諸佛名稱之名曲,為散曲中最珍貴之資料,共計南北曲調四百餘種,二一七七首。其版本以永樂原刊為最早,永樂十五(1417)至十七年間曾頒行天下,令所有民眾讚誦,以得勸惡修善之功德。 除上述外,另如「天雨花」、「筆生花」、「安邦定國志」等著名彈詞,係源自佛偈之樣式體裁;鄭廷玉之「布袋和尚」、吳昌齡之「唐三藏西天取經」等雜劇,係將佛教高僧之事蹟加以改編而成。另如元代無名氏之「金水橋陳琳抱妝盒」雜劇,出典為六度集經卷二、大方便佛報恩經卷三之鹿女故事;李好古之「張生煮海」雜劇,出典為賢愚經卷八大施抒海品之故事。至二十世紀梅蘭芳所編之「天女散華」,取材於維摩經;尚小雲之「摩登伽女」,取材於摩登伽經,亦皆廣受歡迎。 日本古典戲曲中,較特殊者有聖德太子時代輸入之伎樂及舞樂,其後與民間之散樂互相結合,自此寺院之祭祀行事乃逐漸戲劇化。大抵而言,日本之能劇、文樂、歌舞伎劇等,皆經常以佛教故事為題材,或以佛教思想、讚歎佛德等內容為戲劇主幹。例如日本最偉大之戲曲作者近松門左衛門之三十篇歌舞伎腳本中,約有半數即屬於有關佛教之劇本。 於十六、七世紀時,日本產生所謂新興商人階級之黃金時代,戲曲亦隨之蓬勃發展。然至德川時代,幕府施行鎖國政策,商人或一般民眾頓顯志氣消損;復因寺院僧侶之墮落,漸失民眾之尊重,故當時之戲曲中,多以破戒無慚之僧侶為主角,此類劇作有:延命院日當、十六夜清心、法界坊等。明治維新後,佛教界以銳意革新之姿態因應新時代,於戲曲方面亦產生煥然一新之氣象,著名之作品有:坪內逍遙之「役の行者」、森鷗外之「日蓮辻說法」、長田秀雄之「大仏開眼」、武者小路觃篤之「仏陀と孫悟空」、倉田百三之「出家とその弟子」等。〔Sylvain Lévi: Le théâtre indien, 1890; Sten Konow: Das indische Drama, 1920; A.B. Keith: The Sanskrit Drama, 1924〕(參閱「寶卷」6745、「變文」6913) ; (戲曲) Những khúc điệu hát để vui chơi (Drama, Opera). Trong các nghi thức tông giáo ở thời đại nguyên thủy, phần nhiều có bao hàm thành phần hí kịch, ban đầu nhằm mục đích dâng hiến thần linh, nhưng về sau dần dần diễn biến thành phương tiện truyền giáo. Nhưng trường hợp Phật giáo thì hơi khác. Phật giáo vốn lấy việc đoạn trừ phiền não, xa lìa tham dục làm chủ yếu, nên Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái đã bài xích tất cả hí kịch, ca khúc. Đến Phật giáo Đại thừa mới dùng các loại thần thoại, thơ tự sự, văn học phổ thông, v.v...… để tuyên dương giáo nghĩa của Phật giáo, trong đó, nhiều tác phẩm được biên soạn theo hình thức hí khúc, như các kinh Pháp hoa, Duy ma là những tác phẩm đại biểu thuộc loại này, có lẽ đã soạn phỏng theo hình thức Duy hữu ca (Phạm:Vyàyoga) trong 10 hình thức về Hí khúc của Ấn độ. Tác phẩm đứng đầu trong thể loại hí khúc của Phật giáo là Xá lợi phất chi sở thuyết (Phạm: Zàriputraprakaraịa) do ngài Mã minh sáng tác, đây là tác phẩm sớm nhất trong nền văn học hí khúc Ấn độ. Tác phẩm này được tìm thấy vào năm 1911 trong bản viết tay trên lá bối ở Thổ phồn thuộc vùng Trung á, gồm có 9 màn, nội dung lấy việc ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên bỏ ngoại đạo về qui y đức Thế tôn làm nòng cốt. Vở hí khúc 5 màn Long vương chi hỉ (Phạm:Nàgànanda) tương truyền do vua Giới nhật sáng tác, cũng là hí khúc Phật giáo nổi tiếng. Thời cận đại, trong nhiều hí khúc do thi hào Rabindranath Tagore của Ấn độ sáng tác thì 2 tác phẩm Vũ giả chi cúng dường (Naỉìrapùjà) và Chân đà lợi (Chaịđàlikà) đều lấy tài liệu từ các sự tích trong kinh điển Phật giáo. Hí khúc Trung quốc chịu ảnh hưởng rất lớn về các mặt tư tưởng, đề tài, hình thức, v.v...… của văn học Ấn độ và kinh điển Phật giáo; các tác phẩm trứ danh như: Tây du kí, Mục liên cứu mẹ, Truyện rắn trắng, v.v...… nội dung đều mang đậm tư tưởng nhân quả của Phật giáo. Ngoài ra, văn học giảng xướng như: Phật khúc, bảo quyển, biến văn, trường thiên đàn từ, v.v...… cũng đều chịu ảnh hưởng thể văn kệ tụng của Phật giáo, nhất là đoạn Tám ông vua chia Xá lợi lấy sự tích trong Phật sở hành tán thì nghiễm nhiên là hình thức hí khúc đối thoại; đã đặt nền tảng cho tuồng hát về sau. Nhưng tương đối có giá trị về mặt văn học Phật giáo thì nhiều nhất là loại truyền kì ở các đời Minh, Thanh. Trong đó có 2 tác phẩm nổi tiếng nhất là Khuyến thiện kim khoa và Qui nguyên kính . Khuyến thiện kim khoa là do nhà vua đặt ra, bắt nguồn từ truyền thuyết dân gian trong kinh Vu lan bồn (tuồng Mục liên), nên được truyền bá rất rộng. Qui nguyên kính chia thành 42 phần, lấy ý nghĩa 42 chữ cái trong kinh Hoa nghiêm. Các khúc bạch trong đó đều bắt nguồn từ Ngữ lục trong Tạng kinh, cho nên có thể được coi là hí khúc Phật giáo. Ngoài ra, còn có các hí khúc truyền kì nổi tiếng lấy Phật giáo làm chủ đề như: Di lặc kí , Phục linh sơn , Hưởng thiên thu , Vô để động , v.v...… Bộ phận ca nhạc trong các hí khúc lấy Phật giáo làm chủ đề sớm nhất là nhạc phủ đời Tùy, Đường, như Phổ kí Phật khúc, Nhật quang minh Phật khúc, v.v...… Chư Phật Thế tôn Như lai Bồ tát Tôn giả danh xưng ca khúc được ấn hành vào khoảng năm Vĩnh lạc đời Minh là hí khúc nổi tiếng khen ngợi danh hiệu của chư Phật và là tư liệu quí giá nhất trong những hí khúc tản mạn gồm hơn 400 loại khúc điệu Nam Bắc với tổng số 2177 bài. Bản in sớm nhất của những hí khúc này đã được lưu hành tại Trung quốc từ khoảng năm Vĩnh lạc 15 (1417) đến năm 17 (1419). Ngoài ra, còn có các hí khúc trường thiên như: Thiên vũ hoa, Bút sinh hoa, là bắt nguồn từ thể tài kệ tụng trong kinh Phật. Các vở tạp kịch như: Bố đại hòa thượng của Trịnh đình ngọc, Đường Tam tạng tây thiên thủ kinh của Ngô xương linh, là lấy sự tích của các bậc cao tăng trong Phật giáo; Kim thủy kiều Trần lâm Bão trang hạp(Trần lâm ôm cái hộp đẹp ở cầu Kim thủy) của khuyết danh ở đời Nguyên, là lấy tích truyện nàng Lộc nữ trong kinh Lục độ tập quyển 2 và kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 3; Trương sinh chử hải(chàng Trương nấu biển) của Lí hiếu cổ, là lấy sự tích trong phẩm Đại thi trữ hải của kinh Hiền ngu quyển 8; đến các vở Thiên nữ tán hoa do Mai lan phương soạn ở thế kỉ XX, là lấy tài liệu trong kinh Duy ma; Ma đăng già nữ của Thượng tiểu vân là lấy sự tích trong kinh Ma đăng già, v.v...… đều là những vở kịch được hoan nghinh rộng rãi. Tại Nhật bản, trong các hí khúc cổ điển, đặc biệt có kĩ nhạc và vũ nhạc được truyền vào từ thời đại thái tử Thánh đức; về sau, những hí khúc ấy được kết hợp với tản nhạc của dân gian, từ đó, việc cúng tế trong các chùa viện dần dần được hí kịch hóa. Nói chung, nền ca, vũ, nhạc, kịch của Nhật bản thời bấy giờ đều thường lấy sự tích của Phật giáo làm đề tài, hoặc lấy tư tưởng Phật giáo mà nội dung là tán thán công đức của Phật làm nòng cốt. Chẳng hạn như trong 30 thiên ca vũ kĩ cước bản của tác giả hí khúc vĩ đại nhất ở Nhật bản là ông Cận tùng môn tả vệ môn, thì có khoảng phân nửa kịch bản có liên quan đến Phật giáo. Thế kỉ XVI, XVII ở Nhật bản được gọi là thời đại vàng son của giai cấp thương gia mới nổi lên, hí khúc cũng theo đó mà phát triển mạnh mẽ. Nhưng đến thời đại Đức xuyên, Mạc phủ thi hành chính sách đóng cửa, giới thương gia cũng như dân chúng bỗng thấy nhụt chí, mất hứng. Thêm vào đó là giới tăng sĩ trong các chùa viện bị tha hóa, mất dần uy tín trong nhân dân, cho nên nội dung các hí khúc lúc bấy giờ phần nhiều lấy các ông tăng phá giới không biết hổ thẹn làm nhân vật chính. Loại kịch tác này gồm có: Diên mệnh viện nhật đương, Thập lục dạ thanh tâm, Pháp giới phường, v.v...… Sau thời Minh trị duy tân, nhờ ý chí cách tân của giới Phật giáo để thích ứng với thời đại mới, nên hí khúc cũng theo đó mà rực rỡ hẳn lên. Những hí khúc nổi tiếng ở thời gian này gồm có: Dịch chi hành giải của Bình nội Tiêu dao, Nhật liên thuyết pháp của Lâm hạc ngoại, Đại Phật khai nhãn của Trường điền Tú hùng, Phật đà dữ Tôn ngộ không của Vũ giả Tiểu lộ, v.v...… [X. Sylvain Lévi: Le Théâtre indien, 1890; Sten Konow: Das indísche Drama, 1920; A.B. Keith: The Sanskrit Drama, 1924]. (xt. Bảo Quyển, Biến Văn).

hí luận

6438梵語 prapañca。謂錯誤無意義之言論。即違背真理,不能增進善法而無意義之言論。佛遺教經(大一二‧一一一二上):「汝等比丘!若種種戲論,其心則亂,雖復出家,猶未得脫。是故比丘!常急捨離亂心戲論,若汝欲得寂滅樂者,唯當善滅戲論之患,是名不戲論。」瑜伽師地論卷九十一(大三○‧八一五上):「此中能引無義思惟分別所發語言,名為戲論。何以故?於如是事勤加行時,不能少分增益善法,損不善法,是故說彼名為戲論。」 中論卷三觀法品分戲論為愛論與見論兩種。愛論謂於一切法取著之心,見論為於一切法作決定解。鈍根者起愛論,利根者起見論;在家者起愛論,出家者起見論;天魔起愛論,外道起見論;凡夫起愛論,二乘起見論。 佛性論卷三述及三種、九種戲論。三種為:(一)貪愛,(二)我慢,(三)諸見。九種為:(一)通計我,(二)約計是我,(三) 計我應生,(四)計我不更生,(五)計我有色應生,(六)計我無色應生,(七)計我有想應生,(八)計我無想應生,(九)計我非想非非想應生。 佛遺教經論疏節要說二種戲論:(一)於真實之理生戲論,(二)於世間之事生戲論。此外,中觀論疏卷一亦列舉五種戲論。〔中論卷一觀因緣品、大日經疏卷五〕(參閱「愛論見論」5463) ; Prapaca (S), Papaca (P), Discursive ideas,. ; Vain discussion. ; (戲論) Phạn: Prapaĩca. Những lời bàn luận sai lầm, trái với chân lí, không thể làm cho thiện pháp tăng trưởng. Kinh Phật di giáo (đại 12, 1112 thượng), chép: Này các tỉ khưu! Nếu hí luận nhiều thứ thì tâm trí rối loạn, tuy đã xuất gia mà chưa được giải thoát. Vì thế các ông phải bỏ ngay những sự hí luận làm tán loạn tâm trí, nếu các ông muốn được niềm vui vắng lặng, chỉ có cách diệt trừ cái hại lí luận . Luận Du già sư địa quyển 91 (Đại 30, 815 thượng), ghi: Những lời nói dẫn đến chỗ tư duy phân biệt một cách vô nghĩa, gọi là hí luận. Vì sao? Vì những lời nói ấy, dù có gắng sức tu hành, cũng không thể làm tăng thêm chút pháp lành nào, mà cũng chẳng thể làm giảm được pháp ác . Phẩm Quán pháp trong Trung luận quyển 3 chia Hí luận làm 2 loại: Ái luận và Kiến luận. Ái luận là tâm bám dính vào tất cả pháp; Kiến luận là tâm quyết định hiểu tất cả pháp. Người độn căn khởi lên Ái luận; người lợi căn khởi lên Kiến luận. Người tại gia khởi Ái luận, người xuất gia khởi Kiến luận; Thiên ma khởi Ái luận, ngoại đạo khởi Kiến luận; phàm phu khởi Ái luận, Nhị thừa khởi Kiến luận. Phật di giáo kinh luận sớ tiết yếu nêu lên 2 loại hí luận: 1. Đối với lí chân thực mà phát sinh hí luận.2. Đối với các sự việc thế gian mà phát sinh hí luận. Ngoài ra, luận Phật tính quyển 3 liệt kê 3 loại và 9 loại Hí luận, còn Trung quán luận sớ quyển 1 cũng nêu 5 loại Hí luận. [X. phẩm Quán nhân duyên trong Trung luận Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5]. (xt. Ái Luận Kiến Luận).

hí ma đát la vương

(hí ma đát la vương ) Hí ma đát la, Phạm: Himatala. Dịch ý: Tuyết sơn hạ(dưới núi Tuyết). Vua nước Đổ hóa la sống vào khoảng 600 năm sau đức Phật nhập diệt, ông rất kính tin Phật pháp và tôn trọng ngôi Tam bảo.Cứ theo điều Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 3, sau khi vua Ca nị sắc ca qua đời, trong nước có dòng hạ tiện là Ngật lợi da (Phạm: Krìta) xưng vương, xua đuổi chúng tăng, phá hủy chùa chiền, vua Hi ma đát la nghe biết những hành động tàn ác ấy của họ, liền đem quân tinh nhuệ vào vương thành, giết vua Ngật lợi da, đuổi các quan, chiếm thành rồi đem sáp nhập vào nước Đổ hóa la. Sau đó, vua cho xây dựng lại các chùa viện, cúng dường Tăng bảo, tận lực ủng hộ và phát triển Phật giáo.

hí vong thiên

6436又作戲忘念天、遊戲忘念天。此界天眾因耽著於戲樂,而忘失正念,由彼處退沒,故稱戲忘念天。瑜伽師地論卷五(大三○‧三○○下):「或有所得自體,由自所害,不由他害,謂有欲界天,名遊戲忘念。彼諸天眾或時耽著種種戲樂,久相續住。由久住故,忘失憶念。由失念故,從彼處沒。」或謂該天為三十三天,或夜摩天;或為欲界六天中,上之四天,諸說不一。〔大毘婆沙論卷一九九、俱舍論卷五、大乘阿毘達磨雜集論卷三、成唯識論卷四〕 ; (戲忘天) Cũng gọi Hí vong niệm thiên, Du hí vong niệm thiên. Tên cõi trời, trong đó, những người trời vì quá đam mê sự vui chơi, lâu ngày quên mất chính niệm (vong niệm) mà mệnh chung. Về vị trí của cõi trời này, có nhiều thuyết khác nhau: có thuyết cho đó là cõi trời Đao lợi; có thuyết cho là cõi trời Dạ ma; lại có thuyết cho rằng Hí vong thiên là các cõi Diêm ma thiên, Đâu xuất thiên, Hóa tự tại thiên và Tha hóa tự tại thiên trong 6 tầng trời của cõi Dục. [X. luận Đại tì bà sa Q.199; luận Câu xá Q.5; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.3; luận Thành duy thức Q.4].

hí độ

(hí độ ) Tức là nước Ấn độ. Hí độ là tên mà dân của các nước Hồ ở phương bắc đời xưa gọi nước Ấn độ. Cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3, chỉ có các nước Hồ ở phía Bắc Trung quốc gọi nước Ấn độ là Hí độ. Đây không phải tên phổ thông, nó cũng không mang một ý nghĩa đặc thù nào, vì nó chỉ là từ ngữ địa phương của người Hồ, chứ các nước vùng Tây vực không biết đến danh xưng này. Ngoài ra, Phạm ngữ tạp danh nói rằng: Ấn độ cũng được dịch là Hí nộ nê xá (Phạm: Sindhu-deza).

híp mắt

To close the eyes.

hít vào

Āna (S), Inhalation.

hòa

Ai (J). ; Harmony; peace; to blend, mix; with, unite with; respond, rhyme. ; 1) Hài hòa: Harmony 2) An hòa: Peace. 3) Hòa tan: To mingle—To mix. 4) Hòa điểm: To tie—Equality of scores. 5) Hòa hiệp: To unite with.

hòa duyệt

Xem Ba tư nặc vương.

hòa già la

Vyakarana (skt). 1) Pháp cú hay văn phạm—Grammar—Analysis. 2) Thọ Ký: Sự thọ ký của Đức Phật về sự hạnh phúc trong tương lai của đệ tử—Prediction od change of form, i.e. by the Buddha of the future felicity and realm of a disciple, hence Kaundinya is known as Vyakarana Kaundinya.

hòa giải

To reconcile—To conciliate—To mediate.

hòa hương hoàn

Một loại viên được làm bằng cách hòa trộn nhiều loại bột hương thơm, để ví với Phật pháp bao trùm vô số pháp—A pill compounded of many kinds of incense typifying that in the one Buddha-truth lies all truth.

hòa hảo

Agreement—Concord.

hòa hội

To blend—To unite.

hòa hợp

To blend, unite, be of one mind, harmonize. ; Phật dạy rằng trước khi làm bất cứ thứ gì, Tăng Ni và chúng tại gia phải đoàn kết và hòa hợp—To unite—To blend—To be in congruence with—United and harmonious—The Buddha taught that before doing anything else, all the monks, the nuns and layfollowers must be united and harmonious.

hòa hợp chúng

Four monks or more live in the same place and observe pure precepts together—Bốn vị Tăng trở lên, cùng ở một nơi, cùng giữ giới thanh tịnh thì gọi là một Hòa Hợp Tăng—See Lục Hòa in Vietnamese-English Section.

hòa hợp cú nghĩa

Samaraya (S) Kết hợp những nguyên lý của Thật, Đức, Nghiệp, Đồng, Dị cú nghĩa.

hòa hợp hải

Tăng chúng trong tự viện hòa hợp thành một thể, giống như nước biển chỉ thuần một vị—A monastery where all are of one mind as the sea is of one taste.

hòa hợp ly tán vô thường

xem ba loại vô thường.

hòa hợp tánh

Samagri (S).

hòa hợp tăng

A sangha, a monastery. ; Hòa hợp chúng—A samgha—See Lục Hòa in Vietnamese-English Section.

hòa khí

Atmosphere of harmony.

Hòa La Phạn

(和羅飯): từ gọi tắt của Bát Hòa La Phạn (缽和羅飯). Bát Hòa La (缽和羅、鉢和羅、盋和羅) là âm dịch của từ Phạn ngữ pravāraṇā (s.) và pavāraṇā (p.); còn có một số âm dịch khác như Bát Lợi Bà Thích Noa (鉢利婆刺拏), Bát Hòa Lan (缽和蘭、鉢和蘭); ý dịch là đầy đủ, vui vẻ, việc tùy ý, tùy theo ý của người khác mà tự thân mình nêu ra những sai phạm, Tự Tứ (自恣). Theo Sa Môn Huyền Ứng (玄應, ?-?), nhân vật sống dưới thời nhà Đường, đệ tử của Huyền Trang (玄奘, 602-664), tu sĩ của Đại Tổng Trì Tự (大總持寺) ở Trường An (長安), người biên soạn bộ Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa (一切經音義, 25 quyển), giải thích rằng sau An Cư là ngày Tự Tứ, tức nhằm vào Rằm tháng 7 (tại Việt Nam thường tổ chức vào ngày 16). Ngày này, món ăn cúng dường Tam Bảo được gọi là Hòa La Phạn, tức là món ăn Tự Tứ. Trong Vu Lan Bồn Kinh Tân Sớ (盂蘭盆經新疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 377) giải thích rõ rằng: “Thọ Bát Hòa La Phạn giả, lân mẫn thí chủ, vô trước vô tham, mỹ thực ố thực, bất sanh tăng giảm, cố danh nhất tâm (受缽和羅飯者、憐愍施主、無著無貪、美食惡食、不生增減、故名一心, người thọ nhận cơm Tự Tứ, phải biết thương xót thí chủ, không chấp trước không tham lam, thức ăn ngon hay thức ăn dở, không sinh cũng không giảm, nên gọi là nhất tâm).” Trong Tông Môn Niêm Cổ Vị Tập (宗門拈古彙集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1296 q.37) quyển 37 có câu: “Trai thời nhất Bát Hòa La Phạn, Thiền đạo thị phi tổng bất tri (齋時一缽和羅飯、禪道是非總不知, khi ăn một bát cơm Tự Tứ, Thiền đạo đúng sai thảy không hay).” Hay trong bài Nữ Tử Xuất Định (女子出定) của Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 11 có đoạn: “Xuất định mạn vân đàn chỉ gian, không lao thần lực bất tương quan, nhi kim quán khiết Hòa La Phạn, nhất nhật tam xan bão tiện nhàn (出定謾云彈指間、空勞神力不相關、而今慣喫和羅飯、一日三餐飽便閒, xuất định dối cho [trong khoảng] khảy móng tay, nhọc gì thần lực liên quan đây, như nay quen ăn cơm Tự Tứ, ba bữa một ngày no ngũ say).”

hòa mục

Concord—Harmony.

Hòa Nam

(s, p: vandana, 和南): ý dịch là Bạn Thê (畔睇), Bạn Đề (伴題), Bà Nam (婆南), Bàn Đàm (槃談), Bạn Đàm (伴談); âm dịch là kính lễ, cung kính, tôn kính.

hòa nam

Vandana (S) Homage, veneration. ; Vandana (skt)—Bà Nam—Bạn Đàm—Bạn Đề—Phiền Đạm—Bàn Đạm—Bàn Đồ Vị—Bàn Na Mị—Bạn Ể—Bạn Đàn Nam—Cúi đầu đảnh lễ hay lễ bái, lễ kính—Obeisance—Prostration—Bowing the head—Reverencing—Worshipping.

hòa nam thánh chúng

Reverence to the multitude of sages (usually announced at the end of any ceremony).

hòa nghị

To negotiate for peace.

hòa nhã

Affable.

Hòa phong

(和風, わふう, wafū): có hai nghĩa. (1) Kiểu Nhật, phong cách Nhật; đồng nghĩa với Hòa dạng (和様, わよう, wayō), Hòa thức (和式, わしき, washiki). (2) Gió ôn hòa, phần nhiều chỉ gió xuân. Như trong bài thơ Thượng Tị Nhật Từ Ty Lục Lâm Viên Yến Tập (上巳日徐司錄林園宴集) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Bạc y lâm tích thủy, xuy diện thọ hòa phong (薄衣臨積水、吹面受和風, áo mỏng bên sông nước, xáp mặt đón gió xuân).” Hay trong bài Xuân Vũ Tam Tuyệt Cú (春雨三絕句) của Lưu Cơ (劉基, 1311-1375) nhà Minh cũng có câu: “Xuân vũ hòa phong tế tế lai, viên lâm thủ thứ phát khô cai (春雨和風細細來、園林取次發枯荄, gió ấm mưa xuân nho nhỏ đến, vườn rừng lần lượt phát rễ khô).”

Hòa quang đồng trần

(和光同塵): vốn xuất xứ từ lời dạy của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh (道德經) rằng: “Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần (和其光、同其塵, hòa với ánh sáng ấy, đồng với bụi trần ấy)”; nghĩa là cùng với trần tục hợp lại với nhau, nhưng không tự lập dị. Theo Phật Giáo, từ này chỉ cho chư Phật, Bồ Tát vì cứu độ chúng sanh mà ẩn tàng ánh sáng trí tuệ, lấy phương tiện quyền giả của Ứng Hóa Thân (應化身) mà sanh ra nơi cõi trần thế đầy rẫy phiền não, khổ đau; cùng kết duyên với chúng sanh, dần dần dẫn dắt họ đến với Phật pháp, nhưng vẫn siêu trần thoát tục; như trường hợp Phổ Môn Thị Hiện của Bồ Tát Quan Âm (s: Avalokiteśvara, 觀音), v.v. Như trong Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀, Taishō Vol. 46, No. 1911) quyển 6 có dạy rằng: “Hòa quang đồng trần, kết duyên chi thỉ; Bát Tướng Thành Đạo, dĩ luận kỳ chung (和光同塵、結緣之始、八相成道、以論其終, hòa quang đồng trần, ban đầu kết duyên; Tám Tướng Thành Đạo, để luận chung cuộc).” Tuy nhiên, Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 375) quyển 6 lại đưa ra thuyết “hòa quang bất đồng trần (和光不同塵)” với ý nghĩa rằng chư Phật, Bồ Tát vì muốn đạt mục đích cứu độ chúng sanh nên cùng hòa hợp với chúng sanh nơi cõi trần thế, nhưng không bị ô nhiễm. Cho nên, Duy Ma Kinh Lược Sớ Thùy Dụ Ký (維摩經略疏垂裕記, Taishō Vol. 38, No. 1779) quyển 5 có dạy rằng: “Hòa quang bất đồng kỳ trần giả phương tiện hiện tật, cố viết hòa quang; nội vô hoặc nghiệp, cố bất đồng trần (和光不同其塵者方便現疾、故曰和光、內無惑業、故不同塵, hòa cùng ánh sáng mà chẳng đồng với bụi trần ấy, phương tiện hiện ra tật bệnh, nên gọi là hòa quang; trong không có nghiệp mê hoặc, nên không đồng trần).” Trong Quy Sơn Cảnh Sách Chú (溈山警策註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1239) lại có câu rằng: “Ẩn mai kỳ tích nhi hòa quang đồng trần, thao tàng hư danh nhi khử hoa vụ thật (隱晦其跡而和光同塵、韜藏虛名而去華務實, mai danh ẩn tích mà hòa quang đồng trần, giấu kín hư danh mà bỏ hoa lấy quả).” Hay trong Phạm Võng Kinh Trực Giải (梵網經直解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 697) cũng có đoạn rằng: “Chư Phật Bồ Tát, giáo hóa chúng sanh, tất nhiên ẩn Thánh hiện liệt, hòa quang đồng trần, dĩ đồng chúng sanh thân tướng sự nghiệp, như ảnh tùy hình, cửu hóa phương quy, sử kỳ giải thoát; thị cố giả thọ Tứ Đại huyễn thân, giả thọ Ngũ Uẩn hình mạng, nhi nhập lợi ích Tam Muội (諸佛菩薩、敎化眾生、必然隱聖現劣、和光同塵、以同眾生身相事業、如影隨形、久化方皈、使其解脫、是故假受四大幻身、假受五蘊形命、而入利益三昧, chư Phật Bồ Tát, giáo hóa chúng sanh, tất nhiên giấu sự Thánh thiện mà hiện ra sự yếu kém, hòa quang đồng trần, để cùng với thân tướng sự nghiệp của chúng sanh, như bóng theo hình, hóa độ lâu mới quy phục; cho nên mới giả thọ thân huyễn Bốn Đại, giả thọ hình hài Năm Uẩn, mà nhập vào lợi ích Tam Muội).”

hòa quang đồng trần

Giao tiếp gần gũi nhưng không nhiễm lấy những thói xấu: nguyên văn chữ Hán diễn đạt khái niệm này là “dữ cộng hòa quang bất đồng kỳ trần” (與共和光不同其塵). Về sau, quan điểm “hòa quang đồng trần” đã trở thành một trong các tôn chỉ của Đại thừa, với ý nghĩa đưa Chánh pháp vào đời sống thế tục để tiếp độ những kẻ lỗi lầm, trụy lạc. Có thể xem tư tưởng này là xuất phát từ đây.

hòa sơn

Tên của một vị Tăng trụ trì tại Hòa Sơn Tự ở Cát Châu, sư tịch năm 960 sau Tây Lịch—Ho-Shan, name of an abbot at Ho-Shan monastery in Chi-Chou, who died in 960 A.D.

Hòa Sơn Vô Ân

(禾山無殷, Kazan Muin, 884-960): xuất thân Huyện Liên Giang (連江), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Ngô (呉). Năm lên 7 tuổi, ông đến xuất gia với Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存). Sau khi thọ Cụ Túc giới xong, ông lên đường vân du đó đây, đến tham yết Cửu Phong Đạo Kiền (九峰道虔) ở Quân Dương (筠陽, Tỉnh Giang Tây), và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông được cung thỉnh đến trú trì Đại Trí Viện (大智院), Hòa Sơn, thuộc Cát Châu (吉州, Tỉnh Giang Tây) và bắt đầu cử xướng Thiền phong của mình. Ông đã từng quy y cho nhà họ Lý ở Giang Nam, rồi đến sống tại Tường Quang Viện (祥光院) ở Dương Châu (楊州, Tỉnh Giang Tô), Thúy Nham Viện (翠巖院) ở Giang Tây (江西). Đến năm đầu (951) niên hiệu Quảng Thuận (廣順), ông lại chuyển đến sống ở Hộ Quốc Tự (護國寺) thuộc Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và được ban cho hiệu là Trừng Nguyên Thiền Sư (澄源禪師). Ông thị tịch vào ngày mồng 2 tháng 3 năm đầu (960) niên hiệu Kiến Long (建隆), hưởng thọ 77 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Pháp Tánh Thiền Sư (法性禪師).

hòa thuận

Harmonious and compliant.

Hòa Thượng

(s: upādhyāya, p: upajjhāya, 和尚、和上): chỉ bậc xuất gia đức độ cao cả; còn gọi là Hòa Xà (和闍), Hòa Xã (和社), Cốt Xã (鶻社), Ô Xã (烏社), Ô Ba Đà Da (鄔波馱耶), Ô Ba Địa Da (摀波地耶), Ưu Ba Đà Ha (優婆陀訶), Úc Ba Đệ Da Dạ (郁波第耶夜), Phật Đà (佛佗). Ý dịch là Thân Giáo Sư (親敎師), Lực Sanh (力生), Cận Tụng (近誦), Y Học (依學), Đại Chúng Chi Sư (大眾之師). Hòa Thượng là bậc thầy mô phạm của người thọ giới, cho nên các tông Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Tịnh Độ, v.v., đều gọi là Giới Hòa Thượng (戒). Về sau, Hòa Thượng trở thành tôn xưng của trò đối với bậc thầy. Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch là Lực Sanh, ý chỉ rằng đệ tử nương vào thầy mà sanh đạo lực, nhưng nghĩa này không được lưu truyền rộng rãi. Trong giai vị Tăng Quan của Phật Giáo Nhật Bản có chức vị Hòa Thượng, Đại Hòa Thượng. Đặc biệt, vị trú trì của một chùa nào đó cũng được gọi là Oshō-sama (和尚様, Hòa Thượng Dạng), hay Oshō-san (和尚さん) mang nghĩa thông tục. Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 13 cho biết rằng: “Vân hà Sa Di, Sa Di Ni xuất gia thọ giới pháp ? Bạch Y lai dục cầu xuất gia, ưng cầu nhị sư, nhất Hòa Thượng, nhất A Xà Lê; Hòa Thượng như phụ, A Xà Lê như mẫu; dĩ khí bổn sanh phụ mẫu, đương cầu xuất gia phụ mẫu. Trước Ca Sa, thế trừ tu phát, ưng lưỡng thủ tróc Hòa Thượng lưỡng túc. Hà dĩ tróc túc ? Thiên Trúc pháp dĩ tróc túc vi đệ nhất cung kính cúng dường (云何沙彌、沙彌尼出家受戒法、白衣來欲求出家、應求二師、一和上、一阿闍梨、和上如父、阿闍梨如母、以棄本生父母、當求出家父母、著袈裟、剃除鬚髮、應兩手捉和上兩足、何以捉足、天竺法以捉足爲第一恭敬供養, Thế nào là Sa Di, Sa Di Ni xuất gia thọ giới pháp ? Hàng Bạch Y đến muốn cầu xuát gia, nên cầu hai vị thầy: một là Hòa Thượng, một là A Xà Lê; Hòa Thượng như cha, A Xà Lê như mẹ; để bỏ đi cha mẹ sanh minh ra, nên cầu cha mẹ xuất gia. Mang y Ca Sa, cạo bỏ râu tóc, nên lấy hai tay nắm chặt hai chân của Hòa Thượng. Vì sao vậy ? Pháp tắc của Ấn Độ cho rằng nắm chặt chân là cung kính cúng dường số một).”

hòa thượng

Dịch là Thân-Giáo-Sư, nghĩa là bổn sư xuống tóc cho người xuất gia trong Phật Giáo gọi là hòa thượng. ; Upàdhyàya (S). Most venerable monk. ; Dịch là Thân Giáo Sư, nghĩa là Bổn sư xuống tóc cho người xuất gia trong Phật giáo, gọi là Hòa thượng. ; Most Venerable. 1) Hòa Thượng: Từ dùng để chỉ một vị Tăng cao tuổi hạ—A general term for a senior monk. 2) Lực Sinh: Một vị Tăng cao hạ trong tự viện, nhờ vị nầy mà đạo lực của các đệ tử được sinh ra—A senior monk who is strong in producing or begetting strength in his disciples. 3) Ô Xã: Vandya (skt)—See Hòa Thượng (6). 4) Pháp Sư: Vị Tăng cao tuổi hạ và cũng là vị Pháp Sư—A senior monk and teacher of doctrine. 5) Tri Hữu Tội Tri Vô Tội: Một vị Tăng cao hạ, người có khả năng biện biệt tội không tội—A senior monk, a discerner of sin from not sin, or the sinful from the not-sinful. 6) Ưu Bà Đà Da: Upadhyaya (skt)—Người ta nói từ nầy xuất phát từ từ “Ô Xã” hay “Hòa Xã” được dùng ở Điền Quốc. Phạn Ngữ giảng giải là Ưu Bà Đà Da, một vị thầy thấp hơn thấp A Xà Lê—Teacher or preceptor. It is said to be derived from Khotan in the form of Vandya. The Sanskrit term used in its interpretation is Upadhyaya, a sub-teacher of the Vedas, inferior to an acarya. **For more information, please see Ưu Bà Đà Da in Vietnamese-English Section.

Hòa Thượng Địa Tạng

(地藏, Chizō): xem La Hán Quế Sâm (羅漢桂琛, Rakan Keichin, 867-928) bên dưới.

hòa tu cát

Vasuki (skt)—Vua của loài rồng hay cửu thủ long (rồng chín đầu)—Lord of nagas, name of a dragon king, with nine heads.

hòa tu cát long vương

Vàsuki-Nàgaràja (S). King of the Dragon. Also Cửu đầu long vương.

hòa tu mật đa

Vasumitra (skt)—Sư Thế Hữu, chủ trì Đại Hội Kiết Tập Kinh Điển lần thứ hai tại Kashmia vào khoảng đầu Tây Lịch—The head monk who presided the Second Council in Kashmia in about the first century AD.

Hòa Tán

(和讚, Wasan): một loại hình ca dao dưới hình thức tiếng Nhật gồm 75 điệu, dùng để tán thán chư Phật, Bồ Tát, giáo pháp và các vị tổ sư. Bài Chú Bổn Giác Tán (註本覺讚, Chūhonkakusan) của Lương Nguyên (良源, Ryōgen) sáng tác dưới thời Bình An trung kỳ là một tuyệt tác tối cổ. Về sau thì có Cực Lạc Quốc Di Đà Hòa Tán (極樂國彌陀和讚, Gokurakumidawasan), của Thiên Quán (千觀, Senkan), Cực Lạc Lục Thời Tán (極樂六時讚, Gokurakurokujisan) của Nguyên Tín (源信, Genshin), v.v., lấy trung tâm là Tịnh Độ Giáo mà sáng tác nên. Đến thời đại Liêm Thương thì có bài Tam Thiếp Hòa Tán (三帖和讚, Sanchōwasan) của Thân Loan (親鸞, Shinran) và các bài Hòa Tán của Thời Tông như Biệt Nguyện Tán (別願讚, Betsugansan) của Nhất Biến (一遍, Ippen) là tiêu biểu nhất; các bài này được lưu bố rộng rãi và đóng vai trò trung tâm ở các pháp hội. Ngoài ra vào thời Trung Đại còn có bài Hoằng Pháp Đại Sư Hòa Tán (弘法大師和讚, Kōbōdaishiwasan) và Tứ Tòa Giảng Hòa Tán (四座講和讚, Shizakōwasan) của Chơn Ngôn Tông, rồi Thái Tử Hòa Tán (太子和讚, Taishiwasan) của Thánh Đức Tông, v.v. Đến cuối thời Trung Đại thì phần nhiều các bài Hòa Tán đều có thêm niêm luật và được xướng họa. Về khúc tiết của chúng thì khác nhau tùy theo từng tông phái, nhưng chủ yếu bài nào cũng có âm điệu phách tiết cả. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều bài Hòa Tán do các cư sĩ tại gia làm nữa.

hòa tán

Wasan (J) Kệ tụng.

Hòa-ca-la-na

xem Thọ ký.

hòe nhai tự

See Hồng Phúc Tự.

hóa

Sadhya (S)Dạy dỗ khiến chuyển hóa. ; Transform, metamorphose. ; 1) Nairmanika (skt)—Biến đổi, giáo hóa, hướng dẫn vào đạo Phật—To transform—Metamorphose—Conversion by instruction into Buddhism—Magic power of transformation. 2) Hàng hóa: Goods—Wares.

hóa bồ tát

Một vị Phật hay Bồ Tát hóa thân thành một vị phàm Bồ Tát—A Buddha or bodhisattva transformed into a human bodhisattva—A bodhisattva in various metamorphoses.

hóa chuyển

To transform, convert (from evil to good, delusion to deliverance) ; To transform, convert from evil to good, from delusion to deliverance.

hóa chế nhị giáo

Luật Tông chia một đời giáo hóa của Đức Phật ra làm hai phần:Hóa Giáo và Chế Giáo—The twofold division of the Buddha's teaching into converting or enlightening and discipline, as made by Vinaya School. 1) Hóa Giáo: Giảng chung cho Tăng tục về lý nhơn quả—The Buddha's teaching on enlightening, explaining on the cause and effect. 2) Chế Giáo: Giảng về giới pháp cho hàng xuất gia—The Buddha's teaching on discipline, especially for monks and nuns.

hóa chế nhị môn

See Chế Hóa Nhị Giáo.

Hóa Chủ

(化主, Keshu): có nhiều nghĩa khác nhau: (1) Chỉ cho đức Phật, đấng chủ tôn giáo hóa chúng sanh. (2) Chỉ vị tăng cao đức. (3) Trong Phái Tân Nghĩa (新義派) của Chơn Ngôn Tông, là tiếng kính xưng của vị Quản Trưởng hay Trú Trì của một ngôi chùa nào đó. (4) Chỉ cho các Thiền tăng đi khất thực. Họ thường rời tự viện, giảng đạo cho mọi người và nhận vật phẩm bố thí cúng dường để góp phần trang trãi phí dụng cho chùa.

hóa chủ

1-Chủ giáo hóa the lord of transformation or conversion. 2-Chủ cuộc khuyến hóa: one who exhorts believers to give alms for worship, also an almsgiver. ; 1) Người chủ trì việc giáo hóa: The lord of transformation or conversion. 2) Đức Phật: The Buddha. 3) Người bố thí cúng dường: An Almsgiver. 4) Người khuyến hóa tín đồ để họ cúng dường Tam Bảo: One who exhorts believers to give alms for worship.

hóa cung điện

Cung điện hoan hỷ được giữ trên tay thứ 40 của Thiên Thủ Quan Âm—The magical palace, or, palace of joy, held in the fortieth left hand of Kuan-Yin of the thousand hands.

hóa cung điện thủ

Cánh tay thứ 40 của Thiên Thủ Quán Âm—The fortieth hand of the Kuan-Yin of the thousand hands—See Hóa Cung Điện.

hóa công

The merit of converting others. ; Ngoại đạo tin rằng có một đấng tạo hóa hay thượng đế đã tạo dựng lên vạn vật—Externalists believe that there exists a so-call “Creator” or “God.”

hóa công qui ký

Công đức hóa độ người khác sẽ trở thành công đức của chính mình vì sự tăng trưởng nơi trí tuệ và giải thoát; đây là giai đoạn thứ ba trong Quán Hạnh Ngũ Phẩm Vị của tông Thiên Thai—The merit of converting others becomes one's own (in increased insight and liberation); it is the third stage of merit of the T'ien-T'ai five stages of meditation and action.

hóa cảnh

Môi trường, điều kiện hay hoàn cảnh nơi Phật hóa độ chúng sanh—The region, condition, or environment of Buddha instruction or conversion. ** For more information, please see Hóa Độ.

hóa duyên

Begging appeals made to the public by priests. ; Nguyên nhân Phật và Bồ Tát giáng trần hóa độ chúng sanh—The cause of a Buddha's or bodhisattva's coming to the world, i.e. the transformation of the living.

hóa dại

To go (become) mad.

hóa dụ

Nirmita-upama (S)Thí dụ chỉ các pháp như vật do thần thông biến hóa ra.

hóa già

To become old.

hóa giải chướng duyên

To clear up (dissolve) obstructing conditions.

hóa giải nghi chấp

To dissolve (annihilate) the suspicion.

hóa giải trở ngại

To annihilate the barriers or hindrances.

hóa giải vô minh

To eliminate ignorance.

hóa hiện

Sự xuất hiện hay hình tướng của một vị Phật hay Bồ Tát nhằm cứu độ chúng sanh, có thể dưới bất cứ hình thức nào (đủ các loại hình tướng) tùy theo cứu cánh—The appearance or forms of a Buddha or bodhisattva for saving creatures may take any form required for that end.

hóa hành

Two lines of teaching. ; Giáo hóa bằng thuyết pháp và hành trì giới luật Phật—Conversion through preaching and observing Buddhist precepts. ** For more information, please see Hóa Chế Nhị Giáo (2).

hóa hạnh nhị giáo

The two lines of teaching, i.e. in the elements for conversion and admission.

hóa lão

See Hóa Già.

hóa lý

Lý biến hóa của sự vật, biến chuyển liên tục, không ngừng nghỉ—The law of phenomenal change, which never rests.

hóa lạc thiên

Nimmanarati (P)Tên một vị thiên Xem Như hóa ; Fifth of the six desire-heavens. ; Nirmanarati (skt)—Joy-born Heaven—Lạc Biến Hóa Thiên, tầng trời thứ năm trong lục dục thiên, khoảng 640.000 do tuần bên trên núi Tu Di, ở trên Đâu Suất Thiên, nhưng dưới Tha Hóa Tự Tại Thiên. Cõi trời nầy lấy 800 năm trên cõi người làm một ngày một đêm. Thọ mệnh của chư thiên ở đây là 8000 năm tuổi. Chư thiên trên cõi trời nầy có thân cao tám do tuần, thân thường tỏa hào quang, hướng vào nhau mà cười khi giao hoan, con được hóa sinh từ nơi đầu gối của nam nữ, mới sinh ra là bằng trẻ 12 tuổi nơi cõi người—The fifth of the six desire-heaven, 640,000 yojanas above Meru; it is next above the Tusita (fourth devaloka). A day there is equal 800 human years; life lasts 8,000 years; its inhabitants are eight yojanas in height, and ligh-emitting; mutual smiling produces impregnation and children are born on the knees by metamorphosis, at birth equal in development to human children of twelve.

hóa lạc thiên cõi

Nimmanaratidevaloka (P)Tên một cõi giới.

hóa lợi tập di ca

Kharismiga (skt)—Một vương quốc cổ nằm trên thượng nguồn sông Oxus, một phần của Tukhara—An ancient kingdom on the upper Oxus, which formed part of Tukhara, the Kharizm of Arabic geographers.

hóa mễ

Gạo của đàn na tín thí—Rice obtained by monastic begging and the oering of exhortation or instruction.

hóa nghi

Những nguyên tắc hay phương thức cứu độ do Phật đặt ra—The rules or methods laid down by the Buddha for salvation.

hóa nghi tứ giáo

l. Đốn giáo : Vì kẻ thượng căn thuyết pháp đốn tu đốn chứng, gọi là đốn giáo; 2. Tiệm giáo: vì kẻ trung hạ căn thuyết pháp từ cạn vào sâu từng lớp tiến lên, gọi là tiệm giáo ; 3. Bí mật giáo : dùng sức trí huệ bất khả từ nghì (bát nhã) khiến người nghe mỗi mỗi tự lãnh hi mà chẳng biết với nhau, gọi là bí mật giáo ; 4. Bất định giáo : dùng sức bát nhã khiến người nghe được hiểu khác nhau, chứng quả chẳng đồng, hoặc nghe tiểu pháp mà đắc đại quả, hoặc nghe đại pháp mà đắc tiểu quả, gọi là bất định giáo. Tứ giáo này là những nghi thức của Phật dùng để giáo hóa chúng sanh, nên gọi là hóa nghi. ; Bốn giáo pháp mà Phật dùng để giáo hóa chúng sanh tùy theo cơ nghi. 1. Đốn giáo: Vì kẻ thượng căn thuyết pháp đốn tu đốn chứng, gọi là Đốn giáo. 2. Tiệm giáo: Vì kẻ trung, hạ căn thuyết pháp từ cạn vào sâu từng lớp tiến lên, gọi là Tiệm giáo. 3. Bí mật giáo: dùng trí huệ bất khả tư nghì (Bát nhã) khiến cho người nghe mỗi mỗi tự lãnh hội mà chẳng biết với nhau, gọi là Mật giáo. 4. Bất định giáo: Dùng sức Bát nhã khiến người nghe được hiểu khác nhau, chứng quả chẳng đồng, hoặc nghe tiểu pháp mà đắc đại quả, hoặc nghe đại pháp mà đắc tiểu quả, gọi là Bất định giáo. Tứ giáo này là những nghi thức của Phật dùng để giáo hóa chúng sanh, nên gọi là hóa nghi. ; Tông Thiên Thai chia giáo pháp Phật ra làm bốn loại—T'ien-T'ai divided the Buddha's teaching into four modes of conversion or enlightenment: 1) Đốn: Direct or sudden. 2) Tiệm: Gradual. 3) Bí mật: Soteric. 4) Bất định: Variable.

hóa nguyên

Bắt đầu giáo pháp của Phật—The beginning of the Buddha's teaching.

hóa nhân

Chư Thiên hay Phật hiện thành hình người—A deva or Buddha transformed into human shape.

hóa nhân nữ

Một chúng sanh cõi trời trong lốt người nữ—A deva in female form.

hóa nhân thuyết

Những người có thể thuyết Phật pháp—Those who testified to Buddhism (were able to preach Buddhist doctrine)—See Ngũ Chủng Thuyết Nhân.

hóa nhân thuyết kinh

See Ngũ Chủng Thuyết Nhân.

hóa ni

Thần lực của Phật hay Bồ Tát, có thể hóa thân thành một ni sư—The power of a Buddha or bodhisattva, to be transformed into a nun.

hóa pháp

Pháp môn hóa đạo hay phương pháp giáo hóa—Instruction in the Buddhist principles—Theo Tông Thiên Thai, để hóa độ chúng sanh, Phật Thích Ca dùng bốn phương pháp—According to the T'ien Tai Sect, the Buddha utilized four methods to save sentient beings 1) Tụng: Nội dung giảng dạy căn cứ theo Tam Tạng Kinh Điển—Preaching in accordance with the Tripitaka Basket. 2) Thông: Nội dung giảng dạy thông suốt với các trình độ, mọi người đều hiểu được—Interrelated preaching. 3) Biệt: Nội dung giảng chỉ thích hợp với trình độ của một số người: Differentiated preaching. 4) Viên: Giáo lý tròn đầy hoàn thiện, chỉ trực tiếp vào thực tại—A complete, all-embracing preaching. ** For more information, please see Hóa Nghi.

hóa pháp tứ giáo

l. Tam-tạng giáo : bao gồm tam tạng : kinh, Luật, Luận ; 2. Thông giáo : là pháp cộng thông của tam thừa ; 3. Biệt giáo : là pháp riêng biệt chỉ đối với mật thừa; 4. Viên giáo : đối với người tối thượng căn thuyết pháp viên dung. Tứ giáo này là pháp môn của Phật dùng để giáo hóa chúng sanh, nên gọi là hóa pháp. ; Bốn loại giáo pháp mà đức Phật thường thuyết giảng: 1. Tam tạng giáo: Bao gồm tam tạng: Kinh, Luật, Luận. 2. Thông giáo: Là pháp cộng thông của Tam thừa. 3. Biệt giáo: Là pháp riêng biệt chỉ đối với một thừa. 4. Viên giáo: Đối với người tối thượng căn thuyết pháp viên dung. Tứ giáo này là pháp môn của Phật để giáo hóa chúng sanh, nên gọi là hóa pháp. ; Bốn giai đoạn hóa pháp của đức Phật—Four periods of the Buddha's teaching during his life time—See Hóa Pháp.

hóa phật

Nirmāṇa-Buddha (S)Ứng hóa Phật. ; Nirmàna-buddha (S). An incarnate, metamorphosed Buddha. ; Nirmanabuddha or Nairmanikabuddha (skt)—Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ thì hóa thân Phật hay thân Phật được hóa hiện tùy ý. Phật hay Bồ Tát có khả năng vô hạn về sự hiện biến—According to the Contemplation on the Infinite Life Sutra, an incarnate or metamorphosed Buddha—Buddhas and Bodhisattvas have universal and unlimited powers of appearance. ** For more information, please see Ngũ Thần Thông and Lục Thông.

hóa sanh

Upapaduka (S), Born by trans-formation. ; Một trong bốn hình thức sanh—Hóa sinh trực tiếp hay không dựa vào đâu bỗng nhiên mà sinh ra, không có cha mẹ. Bằng cách hóa sanh nầy, chư Bồ Tát từ cung trời Đâu Suất có thể xuất hiện trên trần thế bất cứ lúc nào tùy ý để cứu độ chúng sanh (chư Phật và chư Bồ Tát đều bắt nguồn từ sự hóa sanh kỳ diệu như vậy). Những hình thức hóa sanh như mối, A Tu La, Ngạ quỷ, chúng sanh địa ngục, cả chúng sanh trên Tịnh Độ, hay là thế giới mới khởi đầu (con người kiếp sơ). Đây là một trong bốn hình thức sanh sản của chúng sanh, không có cha mẹ, mà lớn lên tức thì—Aupapadaka—Aupapaduka (skt)—One of the four forms of birth—Direct metamorphosis or birth by transformation, without parentage—Transformational birth—Any form of existence by which required form is attained in an instant in full maturity. By this birth bodhisattvas residing in Tusita can appear on earth any time at will to save beings (the dhyani-buddhas and bodhisattvas are also of such miraculous origin)—Ethereal birth—Form of metamorphic birth, as with moths, asuras, hungry ghosts, and inhabitants of hells, and the Pure Lands, or first newly evolved world—One of the four forms of birth, which is by transforming, without parentage, attained in an instant in full maturity.

hóa sanh từ liên hoa

To spring to life from a lotus.

hóa sinh

Aupapàduka (S). Direct metamorphosis or birth by transformation. Alternation of life and death, or death and reincarnation.

hóa sắc thân

A Buddha's or bodhisatva's metamorphoses of body, or incarnation at will.

hóa tha

Giáo hóa người khác—To save others.

hóa tha thọ

Thân Phật trường thọ và vĩnh hằng để cứu độ chúng sanh (chúng sanh có thể tế độ thì nhiều vô hạn, nên đức đại bi của chư Phật cũng mãi mãi không dứt)—Buddha's long or eternal life spent in saving others, implying Buddha's powers of unlimited salvation.

hóa thuộc

Phật và Bồ tát có những quyến thuộc từ xưa đã định giáo hóa—The converted followers of a Buddha or bodhisattva.

hóa thành

xem càn-thát-bà thành. ; Thanh văn, Duyên giác ưa pháp Tiểu thừa, chẳng tin Đại thừa nên Phật phương tiện thuyết Niết bàn Tiểu thừa (Hóa thành) để an ủi được tạm yên, rồi mới bảo bỏ Hóa thành xu hướng Đại thừa để đạt đến Bảo sở (quả Phật). ; 1) Thành phố ảo tưởng trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa; là Niết bàn tạm thời và không hoàn toàn trong trường phái Tiểu thừa—The magic or illusion city in the Wonder Lotus Sutra; it typifies temporary or incomplete nirvana (the imperfect nirvana of Hinayana). 2) To transform into—To change into.

Hóa Thân

(s: nirmāṇa-kāya, j: keshin, 化身): nghĩa là thân biến hóa, là một trong 3 thân (Pháp Thân, Ứng Thân Và Hóa Thân) và 4 thân (Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân và Hóa Thân) của Phật. Nó còn được gọi là Ứng Phật, Ứng Thân Phật, Ứng Hóa Thân. Để cứu độ và giáo hóa chúng sanh, chư Phật và Bồ Tát đã hóa hiện ra 33 loại thân cũng như trăm ngàn ức loại thân khác nhau; cho nên có tên gọi “Thiên Bách Ức Hóa Thân (千百億化身).” Như trong Lục Tổ Pháp Bảo Đàn Kinh (六祖法寶壇經), Phẩm Sám Hối (懺悔品) thứ 6, có đoạn: “Hà danh Thiên Bách Ức Hóa Thân ? Nhược bất tư vạn pháp, tánh bổn như không, nhất niệm tư lường, danh vi biến hóa; tư lường ác sự, hóa vi Địa Ngục, tư lường thiện sự, hóa vi Thiên Đường, độc hại, hóa vi long xà, từ bi, hóa vi Bồ Tát, trí tuệ, hóa vi thượng giới, ngu si, hóa vi hạ phương, tự tánh biến hóa thậm đa, mê nhân bất năng tỉnh giác, niệm niệm khởi ác, thường hành ác đạo, hồi nhất niệm thiện, trí tuệ tức sanh, thử danh Tự Tánh Hóa Thân Phật (何名千百億化身、若不思萬法、性本如空、一念思量、名爲變化、思量惡事、化爲地獄、思量善事、化爲天堂、毒害、化爲龍蛇、慈悲、化爲菩薩、智慧、化爲上界、愚癡、化爲下方、自性變化甚多、迷人不能省覺、念念起惡、常行惡道、迴一念善、智慧卽生、此名自性化身佛, thế nào là Trăm Ngàn Ức Hóa Thân ? Nếu không tư duy vạn pháp, tánh vốn là không, một niệm tư lường, gọi là biến hóa; suy nghĩ việc ác, hóa thành Địa Ngục; suy nghĩ việc thiện, hóa thành Thiên Đường; độc hại thì hóa làm rồng rắn; từ bi thì hóa làm Bồ Tát; trí tuệ thì hóa thành cõi trên, ngu si thì hóa thành cõi dưới; tự tánh biến hóa rất nhiều, người mê chẳng thể tỉnh thức, mỗi niệm khởi ác, thường hành đường ác, trở về niệm lành, trí tuệ liền sanh; đây gọi là Tự Tánh Hóa Thân Phật).”

hóa thân

Sprul-sku (T), Tulku (T), Transformation body. ; Nirmana-kaya (S). Buddha's metamorphosic body. Avatar. ; To embody—Transformation body—Apparitional body—Buddha Nirmanakaya which may take any form at will—See Tam Thân (B) (3).

hóa thổ

Cõi nước nơi Phật hóa độ chúng sanh—The realm where the Buddha save sentient beings. 1) Cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà: The Pure Land of Amitabha Buddha. 2) Cõi Ta Bà của Phật Thích Ca: The Saha World of Sakyamuni Buddha.

hóa tiền

Trong Tịnh Độ, từ nầy có nghĩa là trước thời có kinh Quán Vô Lượng Thọ. Theo Thiên Thai thì từ nầy có nghĩa là trước thời có Kinh Pháp Hoa—In the Amitabha cult, this term means before the time of the Contemplation on the Infinite Life Sutra (the term means before its first sutra). With T'ien-T'ai cult or the Lotus School, this term means “before the Lotus.”

hóa tiền phương tiện

Tất cả hay từng phần phương tiện được giảng dạy cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh trước thời có Kinh Quán Vô Lượng Thọ—All the expedient, or partial, teaching suited to the conditions before the time of the Infinite Life Sutra (Wu-Liang-Shou-Ching).

hóa tiền tự

Lời mở đầu trong Quán Kinh Hóa Tiền của ngài Thiện Đạo—The preface to the “Quán Kinh Hóa Tiền” by Shan-Tao of the T'ang dynasty.

hóa trai

To beg for alms, for food.

hóa trang

To disguise oneself—To camouflage.

hóa tác

To transform into—To create—To make.

hóa tâm

Tâm trong hóa thân của Phật hay Bồ Tát, tâm có cái nhìn như thực—The mind in the transformation body of the Buddha or bodhisattva, which apprehends things in their reality.

hóa tích

Di tích (dấu vết) giáo hóa chúng sanh của Đức Phật—The trace or evidences of the Buddha's transforming teaching.

hóa tướng

Tướng hóa hiện của Phật và Bồ Tát được các Ngài dùng để hóa độ chúng sanh—The transformation form or body in which the Buddha or Bodhisattva converts the living.

hóa tướng tam bảo

Hóa tướng Tam Bảo theo Tiểu Thừa là thân Phật 16 bộ, pháp Phật, thập nhị nhân duyên, Tăng già, và các đệ tử của Ngài như A La Hán và Duyên Giác—Nirmanakaya Buddha in the Triratna forms. In Hinayana, these are the human 16-foot Buddha, his dharma as revealed in the four axioms and twelve nidanas, and his sangha, or disciples, such as arhats and pratyeka-buddhas.

hóa tục kết duyên

Vì cơ duyên hóa độ chúng sanh—For the sake of converting the people.

hóa đàn

Altar of transformation, i.e. a crematorium. ; Chỗ để thiêu hóa thi hài của vong nhân—The altar of transformation, i.e. crematorium.

Hóa đạo

(化道): giáo hóa đạo, hoằng truyền đạo pháp. Như trong Quốc Thanh Bách Lục (國清百錄, Taishō Vol. 46, No. 1934) quyển 2, phần Sa Chủ Hoàng Thái Tử Thỉnh Giới Sớ (少主皇太子請戒疏) thứ 14, có đoạn: “Ngưỡng duy hóa đạo vô phương, tùy cơ tế vật, vệ hộ quốc độ, cấp dẫn thiên nhân (仰惟化道無方、隨機濟物、衛護國土、汲引天人, ngưỡng mong hóa đạo khắp nơi, tùy cơ duyên độ vật, bảo vệ quốc gia, dẫn dắt trời người).” Hay trong Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 19, phần Ngự Giảng Kim Tự Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự (御講金字摩訶般若波羅蜜經序), lại có đoạn: “Tích Như Lai hóa đạo hoạch ngộ bất đồng, cố Pháp Nhãn vô sanh, căn tánh phi nhất (昔如來化道獲悟不同、故法眼無生、根性非一, xưa kia đức Như Lai hóa đạo, giác ngộ không giống nhau; cho nên con mắt pháp không sanh, căn tánh chẳng phải một).”

hóa đạo

Đạo hay con đường hướng dẫn và giáo hóa—The way of conversion—Transformation or development—To instruct and guide—See Tam Luân Hóa Đạo.

hóa đạo lực

Năng lực giáo hóa và dẫn dắt—Power to instruct and guide. ** For more information, please see Tam Lực.

Hóa Địa Bộ

(s: Mahīśāsaka, p: Mahiṃsāsaka, 化地部): âm dịch là Di Sa Tắc Bộ (彌沙塞部), còn gọi là Chánh Địa Bộ (正地部), Giáo Địa Bộ (敎地部), Đại Bất Khả Khí Bộ (大不可棄部), tên gọi của một trong 20 bộ phái của Tiểu Thừa. Tương truyền sau khi đức Phật diệt độ khoảng 300 năm, bộ phái này phân ra từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (說一切有部) của hệ Thượng Tọa Bộ (上座部). Về tên gọi của bộ phái này, trong Dị Bộ Tông Luân Luận (異部宗輪論) có ghi rằng: “Người chủ của bộ phái này là quốc vương, nhà vua thống nhiếp đất nước, giáo hóa hàng thứ dân trên đất, cho nên có tên là Hóa Địa. Nhà vua bỏ ngôi vua xuất gia, rộng tuyên Phật pháp, từ đó lấy tên là Hóa Địa Bộ. Pháp sư Chơn Đế (s: Paramārtha, 眞諦, 499-569) nói rằng: 'Chánh Địa Bộ vốn là thầy nhà vua, muốn chỉnh đốn đất nước, bèn bỏ ngôi vua để hoằng pháp, cho nên có tên là Chánh Địa'”. Về giáo nghĩa của Hóa Địa Bộ, Dị Bộ Tông Luân Luận chia làm hai phần là Bổn Tông Đồng Nghĩa (本宗同義) và Mạt Tông Dị Nghĩa (末宗異義); trong đó, Bổn Tông Đồng Nghĩa rất giống Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāṅghika, 大眾部), cho rằng không có quá khứ và tương lai, mà chỉ có hiện tại cũng như pháp vô vi. Từ đó, phái này lập ra 9 loại vô vi gồm Trạch Diệt (擇滅), Phi Trạch Diệt (非擇滅), Hư Không (虛空), Bất Động (不動), Thiện Pháp Chơn Như (善法眞如), Bất Thiện Pháp Chơn Như (不善法眞如), Vô Ký Pháp Chơn Như (無記法眞如), Đạo Chi Chơn Như (道支眞如), và Duyên Khởi Chơn Như (緣起眞如). Họ chủ trương thấy đạo nhất thời, hiện quán lý của Tứ Thánh Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-arya-sacca, 四聖諦) và cho rằng 5 thức có năng lực tạp nhiễm. Đối với chủ trương về 4 quả Sa Môn, họ cho rằng Quả Dự Lưu (s: srotāpatti-phala, p: sotāpatti-phala, 預流果) còn trở lui nữa, chỉ có Quả A La Hán (s: arhant-phala, p: arahant-phala, 阿羅漢果) thì bất thối. Trong khi đó, Mạt Tông Dị Nghĩa thì gần với học thuyết của Tát Bà Đa Bộ (s: Sarvāstivāda, 薩婆多部), chủ trương thật có quá khứ, tương lai. Từ Ân (慈恩) và Hiền Thủ (賢首) lấy chủ trương của Bổn Tông Đồng Nghĩa để lập nên Pháp Vô Khứ Lai Tông (法無去來宗), và lấy Mạt Tông Dị Nghĩa để hình thành Pháp Hữu Ngã Vô Tông (法有我無宗). Luật của Hóa Địa Bộ hành trì là Sa Di Tắc Bộ Hòa Hê Ngũ Phần Luật (彌沙塞部和醯五分律), 30 quyển.

hóa địa bộ

Mahisasakah (skt)—Sự lẫn lộn về trường phái nầy phần lớn do bởi có đến hai nhóm của trường phái đã thịnh hành ở hai giai đoạn khác nhau. Theo tài liệu Pali thì Chánh Địa Bộ là một trong hai mươi tông phái Tiểu Thừa, từ phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ mà tách ra riêng sau khi Phật nhập diệt được 300 năm. Bộ chủ của bộ phái nầy vốn là quốc vương, người đã giáo hóa nhân dân trong bờ cõi đất nước mình cai quản, nên gọi là hóa địa. Giáo pháp của phái bộ nầy cũng giống như Đại Chúng Bộ, cho rằng hiện tại là hữu thể, còn quá khứ và vị lai là vô thể. Giáo pháp bộ nầy cũng chủ trương không và vô ngã mà hiện quán nhất thời; thừa nhận tạp nhiễm sanh ra bởi năm thức. Tông phái còn đặt ra ra chín thứ vô vi (see Cửu Vô Vi Pháp). Vì phủ nhận hữu thể nơi quá khứ và vị lai nên tông phái nầy còn được gọi là Pháp Vô Pháp Lai Tông. Hóa Địa Bộ tin rằng A Lan Hán không còn bị thối chuyển, không có thân trung ấm giữa kiếp nầy với kiếp kế tiếp. Họ cũng cho rằng trong Tăng già có Phật, nên cúng dường cho chư Tăng sẽ có nhiều công đức hơn là chỉ cúng dường cho Đức Phật. Điều đáng chú ý là Hóa Địa Bộ về sau lại có quan điểm trái ngược với những người theo Hóa Địa Bộ lúc ban đầu. Những người Hóa Địa Bộ về sau nầy tin rằng có quá khứ, có vị lai và thân trung ấm—The confusion regarding this school is largely due to the fact that there were two groups of this school which were prominent at two different periods. According to Pali sources, Mahisasakah was one of the twenty Hinayana sects, an offshoot from Sarvastivadah school, supposed to have been founded 300 years after the nirvana. The name Mahisasakah is said to be that of a ruler who converted his land or people, or rectified his land. The doctrines of the school are said to be similar to those of the Mahasanghika, and to have maintain the reality of the present, but not of the past and future; also the doctrine of the void and non-ego; the production of taint by five perceptions; the theory of nine kinds of activity. It was called the school which denied reality to past and future. The Mahisasakas first believed that the Arhats were not subject to retrogression, and there was no antara-bhava, ot interim existence between this life and the next. The Sangha included the Buddha and therefore charities given to the former were more meritorious than those given to the buddha only. It is interesting to notethat the later Mahisasakas held views contrary to those held by the earlier followers of the sect. They believed in the existence of the past, the future and anatra-bhava.

hóa độ

Nirmāṇa-kṣetra (S). ; To help s.o. work out his own salvation. ; 1) Giáo hóa và cứu độ—To save—To rescue—To convert and transport—To transform other beings—See Hóa Cảnh. 2) Một trong ba loại quốc độ; đây là cõi nước của những người còn phải luân chuyển trong luân hồi sanh tử: One of the three kinds of lands or realms; it is any land or realm whose inhabitants are subject to reincarnation. 3) Cõi nước an trụ của biến hóa thân Phật, gồm hai loại: Any land which a Buddha is converting, or one in which the transformed body of a Buddha. These lands are of two kinds • Thanh tịnh như cõi trời Đâu Suất: Pure like Tusita heaven, and • Ô trược như cõi Sa Bà: Vile or unclean like this world. 4) Tông Thiên Thai thì cho rằng đó là cõi Tây Phương Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà: T'ien-T'ai defines the transformation realm of Amitabha as the Pure Land of the West. 5) Các tông phái khác thì cho rằng đó vừa là hóa độ mà cũng là báo độ: Other schools speak of the transformation realm as the realm on which depends the nirmanakaya. ** For more information, please see Nhị Độ and Ứng Độ.

hóc búa

Very difficult (hard).

hóc hiểm

Very dangerous.

hóng mát

To go outside for fresh air.

San hô—Coral.

hô hô

Raurava (skt)—Hiệu Kiếu địa ngục hay hỏa ngục nóng thứ tư—The fourth hot hell. ** For more information, please see Địa Ngục (A) (a) (4).

hô hấp

Thở ra thở vào—To exhale and inhale.

hô kim cang

Hevajra (S) Tên một vị thiên.

hô kim cang nhiếp quảng chú

Hevajra-pindarthatika (S).

hô kim cang tan-tra

Xem Vô thượng du già Tan-tra.

Hô kim cương tan-tra

S: hevajra-tantra;|Một Tan-tra được biên soạn trong thế kỉ thứ 9, được xếp vào hạng Vô thượng du-già tan-tra. »He-vajra« có thể dịch là »Hô, xin chào! Chân như tuyệt đối!« Tan-tra này được nhiều Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) tu luyện và là Tan-tra Phật giáo được nghiên cứu kĩ nhất tại Tây phương.

hô liên

Bình đựng hạt để tế lễ, đây là một loại đá quý—A sacrificial grain-vessel; described as a precious stone.

hô ma

See Hộ Ma.

Hô ma 呼魔

[ja] コマ koma ||| Transcription of the Sanskrit homa. See 護摩. => Phiên âm chữ Homa từ tiếng Sanskrit, Xem Hộ ma 護摩.

hô phong khiếu chỉ

3118禪林用語。處事能任運自在,不受阻礙。此語出自後漢名醫趙炳之故事。一日,趙炳欲渡河,乃呼叫船家,竟無人應答,趙炳遂長嘯而呼風,以斗笠代船渡至彼岸。後世禪師即以此典故,比喻學人參禪已達悟境,得自在解脫,處世靈活,不受任何羈絆。虛堂和尚語錄卷八(大四七‧一○四五上):「呼風嘯指,傍若無人;百數成群,不屬王化。」 ; (呼風嘯指) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Gọi gió huýt sáo. Tức là ứng xử tự tại, không bị trở ngại. Từ ngữ này có xuất xứ từ điển tích danh y Triệu bính đời Hậu Hán. Một hôm, Triệu bính muốn qua sông, gọi đò mãi mà không ai trả lời, ông liền hú gió, huýt sáo, lấy nón làm thuyền qua sông. Đời sau, Thiền tông dùng điển tích này để ví dụ người tham thiền đã tỏ ngộ thì được tự tại giải thoát, ứng xử linh hoạt, không bị ràng buộc. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 8 (Đại 47, 1045 thượng), nói: Hú gió huýt sáo tự do, dường như không người; số trăm thành đàn chẳng thuộc vương hóa .

hô tất lặc hãn

3119蒙古語 hobilghan,khubilghan,西藏語 sprul-sku,相當於梵語 nirmāṇa-kāya。又作呼畢爾罕。即「自在轉生」之意,亦即「再來人」之意。其詳意爲:身死之後,能不昧本性,寄胎轉生,復接其前生之職位。蓋凡夫末除妄念,唯有隨業轉生,不能得自在,常轉常迷而不自知;若已除淨妄念,證實法性,便不爲業轉,而能自主生死,自在轉生,隨緣度眾,故稱爲呼畢勒罕。 西藏黃教教祖宗喀巴之後,達賴喇嘛、班禪喇嘛及諸呼圖克圖等,皆以呼畢勒罕世世爲其傳人。又自在轉生之思想,係由輪迴受生與佛陀三身之信仰混合而成,然生生轉世爲同一名稱、同一職位之制度,乃西藏佛教之特色,據傳此制度源於西藏之原始宗教「棒教」。又經由呼畢勒罕轉生方式而接替其前生所遺職位之職稱,稱爲呼圖克圖。(參閱「呼圖克圖」3119、「活佛」3881) ; (呼畢勒罕) Mông cổ: Hobilghan, Khubilghan. Tạng: Sprul-Sku. Phạm: Nirmàịa-kàya. Cũng gọi Hô tất nhĩ hãn. Tự tại chuyển sinh hoặc chỉ cho người tái sinh, nghĩa là những người đã giác ngộ, sau khi bỏ thân này, có thể tùy ý chuyển sinh, tiếp nối chức vị đời trước. Người phàm tục chưa trừ vọng niệm, phải theo nghiệp chuyển sinh, càng chuyển càng mê mà không tự biết. Còn các bậc Thánh đã đoạn hết vọng niệm, chứng pháp tính chân thực, không bị nghiệp chuyển, tự làm chủ việc sống chết, tùy ý chuyển sinh, theo duyên độ chúng, cho nên gọi là Hô tất lặc hãn. Sau thời ngài Tông khách ba, Giáo tổ của Hoàng giáo Tây tạng, các vị Đạt lai lạt ma, Ban thiền lạt ma và Hồ đô khắc đồ, đều là những vị chuyển sinh của đời trước. Tư tưởng tự tại chuyển sinh là do sự kết hợp giữa tín ngưỡng Luân hồi thụ sinh và ba thân Phật mà thành. Nhưng chế độ đời đời chuyển sinh mà vẫn đồng nhất danh xưng, đồng nhất chức vị, thì đó là điểm đặc sắc của Phật giáo Tây tạng. Tương truyền chế độ này bắt nguồn từ Bổng giáo, một tông giáo nguyên thủy của Tây tạng. (xt. Hô Đồ Khắc Đồ, Hoạt Phật).

hô đồ khắc đồ

3119蒙古語 khutuktu,khutukutu。屬喇嘛教僧官之一又作胡圖克圖、胡土克圖、庫圖克圖。乃活佛制度中,經由高僧之轉生而受政府冊封接替其前生所遺職位之職稱。呼圖克圖之蒙古語詳譯之即爲「能了知前生後世,不墮輪迴,生死自如,死後還轉」,其藏語爲 sprul-sku(音譯珠孤,意即化身),亦爲「聖者」之意。根據清朝理藩院之檔冊,乾隆四十八年(1783),共計呼圖克圖一四八位,其中以達賴、班禪、哲布尊丹巴、章嘉,稱爲蒙藏佛教之四聖,而以達賴統領全局,班禪副佐達賴而領後藏,哲布尊丹巴領漠北蒙古(外蒙),章嘉領漠南蒙古(內蒙)。於西藏一地,除達賴與班禪之外,另有三十位,其中有一位爲女活佛,駐錫於羊卓湖畔薩丁噶鎮之桑廷寺,乃喇嘛教中唯一之女呼圖克圖。(參閱「活佛」3881) ; Hutuktu (skt)—Hồ Thổ Khắc Đồ—Danh hiệu của các vị Lạt Ma Phật Giáo Mông Cổ, những vị nầy cứ tiếp tục tái sinh, giữ chức vụ của mình để hoằng hóa chúng sanh—A chief Lama of Mongolian Buddhism, who is repeatedly reincarnated to keep the title and to save sentient beings. ; (呼圖克圖) Mông cổ: Khutuktu, khutukutu. Cũng gọi Hồ đồ khắc đồ, Hồ thổ khắc đồ, Khố đồ khắc đồ. Chức vị do chính phủ phong cho vị Cao tăng thuộc Lạt ma giáo Tây tạng sau khi chuyển sinh theo chế độ Hoạt Phật. Hô đồ khắc đồ là tiếng Mông cổ, có nghĩa là biết rõ kiếp trước kiếp sau, không bị luân hồi, sống chết tự do, sau khi chết có thể tái sinh . Tiếng Tây tạng có nghĩa là Sprul-Sku (Châu cô), nghĩa là Hóa thân, Thánh giả. Cứ theo tư liệu lưu trữ ở viện Lí phiên đời Thanh, thì đến năm Càn long 48 (1783) đã có tất cả 148 vị Hô đồ khắc đồ, trong đó, 4 vị: Đạt lai, Ban thiền, Triết bá tôn đan ba và Chương gia được gọi là Tứ thánh của Phật giáo Mông cổ, Tây tạng và được phân công: Ngài Đạt lai thống lãnh toàn bộ, ngài Ban thiền phụ tá ngài Đạt lai phụ trách vùng Hậu tạng, ngài Triết bá tôn đan ba phụ trách vùng Ngoại mông và ngài Chương gia phụ trách vùng Nội mông. Tại Tây tạng, ngoài 2 vị Đạt lai và Ban thiền, còn có 30 vị khác trong số đó có một vị Phật sống nữ trụ ở chùa Tang đình, thị trấn Tát đinh cát, bên bờ hồ Dương trác, là vị nữ Hô đồ khắc đồ duy nhất trong Lạt ma giáo. (xt. Hoạt Phật).

Hô-ma

呼魔 (麼); C: hūmó; J: koma;|Phiên âm chữ homa từ tiếng Phạn, Hộ-ma (護摩).

hôi

1) Mùi hôi: Smell bad—Stink. 2) Tro: Ash—Hot or fiery as ash. 3) Vôi: Lime.

hôi hà

2475<一>比喻煩惱。據雜阿含經卷四十三載,灰,指欲覺、恚覺、害覺等三惡不善覺;河,指欲愛、色愛、無色愛等三愛。此等覺愛煩惱,障閉眾生之心性,使其受到諸種苦惱,猶如置身於灰河中,受諸苦痛而隨流漂沒。 <二>地獄名。為十六遊增地獄之一。〔長阿含卷十九世記經地獄品〕(參閱「十六小地獄」383) ; Dòng nham thạch hay lửa, biến tất cả thành tro—A river of lava or fire, reducing all to ashes.

hôi nhân

2474即聚灰為人之形。係指難婚之女子為求成婚,所祭拜之偶像。據歡喜母成就法之說,女子難以成婚者,若作一灰人,加持一百零八遍,再每日拜此灰人七遍,則婚姻可成,萬無一失。此外,我國古時因久雨不歇,於祈晴祭拜時,亦有以灰人為祭拜之偶像。 ; Ngoại đạo dùng một hình tượng bằng tro hay đá vôi được làm để thờ phượng ngày bảy lần bởi người đàn bà mà hôn nhân bị trở ngại vì không được sủng ái—Heretics used an image of ash or lime made and worshipped seven times a day by a woman whose marriage is hindered by unpropitious circumstances.

hôi sa

2475即火化五蘊成灰燼之意。二乘之人於斷除三界煩惱而悟道後,以火光三昧燒化色身,滅絕心智,而入於空寂之涅槃界,稱為灰身滅智。其中,火化五蘊,即稱為灰沙。 ; Những vị Sa Môn tu khổ hạnh bằng cách phủ tro đầy mình, hay tự đốt thịt mình—Ascetics who cover themselves with ashes, or burn their flesh.

hôi sơn chủ bộ

Tông phái Hôi Sơn, một trong hai mươi tông phái Tiểu Thừa—Sect of Limestone hill dwellers, onr of the twenty Hinayana schools.

hôi sơn trụ bộ

2475小乘二十部之一。又作雞胤部、窟居部。乃佛陀入滅後二百年中,與一說部、說出世部同由大眾部所分出者。部義為:諸佛世尊皆是出世,一切如來無有漏法,諸如來語皆轉法輪,佛以一音說一切法,世尊所說無不如義,如來色聲實無邊際等。 關於「灰山住部」名稱之由來,據三論玄義誘蒙卷中載,此部眾所居住之山中,有石能作灰,依所居之處而立名,故稱為灰山住部。然異部宗輪論述記則以之為訛謬。〔異部宗輪論、十八部論〕(參閱「大眾部」852、「小乘二十部」928、「雞胤部」6643)

hôi thán tháp

2475即供奉佛荼毘後的遺灰之塔廟。略稱炭塔。關於此塔,或炭塔、灰塔並存,或視同一塔,諸經典中說法不一。如法顯傳、玄奘之大唐西域記卷六等,皆稱之為灰炭塔;然般泥洹經卷下等則認為應將炭塔與灰塔分開為二塔。 關於炭塔所在地之名稱,北傳漢譯經典中,長阿含經卷四、法顯傳、大唐西域記卷六均曾敘及塔之所在地,例如大唐西域記卷六載為尼拘盧陀林。此外,南傳佛典稱之為畢鉢羅樹林(巴 Pipphalī-vana),西藏佛典則稱為尼拘律樹林(梵 Nyagrodha-vana)。又塔之位置,或謂在拘尸城舊地附近,或謂在迦毘羅衛城附近。 據傳此塔頗為靈驗,若疾病之人祈請之,則可痊癒。在塔側有伽藍及數百座塔,其中一較大者,係阿育王所建。

hôi thân diệt trí

2475又作無餘灰斷、焚身灰智。略稱灰滅、灰斷。即將肉身焚燒成灰,將心智滅除之意。亦即將身心悉歸於空寂無為之涅槃界。此乃小乘佛教最終目的之無餘涅槃。據金光明經玄義卷上載,若斷盡三界之煩惱,即可證有餘涅槃,而焚身灰智則證入無餘涅槃。 蓋小乘雖以無餘涅槃為真涅槃,然大乘則視之為一種方便施設,須經八千六百四十二萬十千劫,而後於他方淨土蒙佛度化。〔金剛仙論卷九、肇論、維摩經玄疏卷五、止觀輔行傳弘決卷三之一、天台四教儀〕 ; Ngoại đạo khổ hạnh cho rằng phá hủy thân thể để diệt tâm mà đạt đến cảnh giới niết bàn—Destruction of the body and annihilation of the mind, for the attainment of nirvana.

hôi đầu thổ diện

Bôi tro lên đầu và bôi đất lên mặt (lối tu khổ hạnh của ngoại đạo)—To put ashes on the head and dust on the face.

hôi đầu độ diện

2476禪林用語。原指頭臉為灰土所污之意;於禪林中,藉以形容修行者悟道之後,為濟度眾生而甘願投身於群眾之中,不顧塵世之污濁。與「和光同塵」、「拖泥帶水」之意略同。然一般所謂之「灰頭土臉(面)」,則含有不光彩、顏面無光,或不事修飾、奔波勞頓的樣子。〔景德傳燈錄卷二十歸宗寺懷惲條、碧巖錄第四十三則、圜悟佛果禪師語錄卷二〕

Hôn

昏; C: hūn; J: kon;|1. Tối, u ám. Tình trạng lộn xộn, tối tăm, bối rối; 2. Bóng tối, sự mờ mịt, tính lơ đãng; 3. Buổi tối, bóng đêm.

hôn

Dusk, dull, confused. ; 1) Hoàng Hôn: Buổi chiều—Dusk. 2) Hôn Muội: Hôn Ám—Confused—Stupefied—Dull. 3) Hôn Nhân: To get married. 4) Hôn trầm: Confused—Stupified.

hôn chung

See Hôn Cổ.

hôn chung minh

3291指禪林中初更一點(即午後八時)所鳴之鐘聲。又轉指初更時刻。古叢林中由初夜至後夜,將之五分稱爲五更,每一更又五分即爲五點。又「夕鐘」、「昏鐘」、「晚鐘」、「入相鐘」皆爲其同義語,與「曉鐘」相對稱。昏鼓之後,敲打更點報時分,其後昏鐘分三遍鳴打,共擊一○八下。〔勅修百丈清規尊祖章、禪林象器箋唄器門〕 ; (昏鍾鳴) Đồng nghĩa: Tịch chung, Hôn chung, Vãn chung, Nhập tướng chung. Đối lại: Hiểu chung. Tiếng chuông được đánh vào 8 giờ tối, cũng chỉ cho thời điểm lúc canh một. Trong các tùng lâm thời xưa, khoảng thời gian từ lúc chập tối cho đến rạng sáng được chia làm 5 phần, gọi là năm canh, mỗi canh lại được chia làm năm phần, tức là 5 điểm. Sau Hôn cổ (tiếng trống lúc hoàng hôn) thì gõ canh để báo giờ, sau đó đánh ba hồi Hôn chung, tất cả 108 tiếng. [X. chương Tôn tổ trong Bách trượng thanh qui; môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hôn cổ

3291指黃昏所擊敲之鼓。日沒之時,四季各異,配合其時擊鼓。擊法與「曉鼓」(報知天明之鼓)相同,即由緩而急計三通,三通之後再擊殺聲三下。禪林象器箋唄器門:「初更一點已前,鳴鼓三通,此爲昏鼓。」勅修百丈清規法器章(大四八‧一一五六上):「更鼓早晚平擊三通。」一通爲一二○撾,三通爲三六○撾,表示一歲之日數。 ; Loại trống để đánh báo hiệu giờ khắc buổi tối (ba hồi trống mỗi hồi đánh 120 dùi)—The bell, or drum, at dusk. ; (昏鼓) Trống đánh vào lúc hoàng hôn (chạng vạng tối) để báo hiệu sắp tối. Tùy theo mỗi mùa mà thời gian đánh trống có khác. Cách đánh cũng giống như Hiểu cổ (trống đánh báo trời sáng) tức là đánh 3 hồi từ chậm rãi đến nhanh dần, cuối cùng đổ hồi; xong hồi thứ 3 thì chấm dứt bằng 3 tiếng. Môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Trước canh một đánh 3 hồi trống, đó là Hôn cổ . Chương Pháp khí trong Sắc tu Bách trượng thanh qui (Đại 48, 1156 thượng), nói: Trống báo canh, sớm, tối đều đánh 3 hồi . Một hồi có 120 tiếng, 3 hồi là 360 tiếng, tượng trưng cho số ngày trong một năm.

hôn cổ-hôn chung

The drum, or bell at dusk.

hôn hối

Tối ám—Obscure—Dark.

hôn kị

5449指尊宿(德高年長者)之誕生日,尤指尊宿示寂後之誕生日。於此日所設之齋供,稱爲愍忌齋。禪林象器箋第十六類報禱門:「善知識爲哀愍眾生,出生應世,故其誕生日曰愍忌。」

hôn lễ

The wedding ceremony—Marriage.

hôn miên cái

4578梵語 styāna-middha-āvaraṇa。又作睡眠蓋。全稱惛沈睡眠蓋。五蓋之一。惛眠,為惛沈及睡眠二煩惱之合稱;此二者能障慧蘊,故稱惛眠蓋。於五蓋中,僅此蓋與掉悔蓋(掉舉、惡作)為兩項所合成者,其餘三蓋(貪欲、瞋恚、疑)皆單一獨立,自成一蓋。惛沈與睡眠可合為一蓋之原因,依大毘婆沙論卷四十八所解,惛沈及睡眠同以瞢憒(目暗)、不樂、頻欠、食不平性、心羸劣性為所食(為資糧),同以光明之想為對治之法,俱令心性沈昧為其作用。即二者之所食、對治、作用皆相同。〔雜阿含經卷二十七、俱舍論卷二十一、大乘義章卷五本〕(參閱「五蓋」1194) ; Xem Thuỵ miên. ; (惛眠蓋) Phạm: Styàna-middha-àvaraịa. Cũng gọi là Thụy miên cái. Gọi đủ: Hôn trầm thụy miên cái. Tiếng gọi chung 2 phiền não Hôn trầm và Thụy miên. Vì hai phiền não này che lấp và chướng ngại trí tuệ nên gọi là Cái (che, đậy). Là một trong Ngũ cái. Trong Ngũ cái, Hôn miên cái và Trạo hối cái (Trạo cử, Ác tác) là hai món hợp làm một, vì tác dụng của chúng và cách đối trị đều giống nhau. [X. kinh Tạp a hàm Q.27; luận Câu xá Q.21; Đại thừa nghĩa chương Q.5 phần đầu]. (xt. Ngũ Cái).

hôn muội

Stupid.

hôn mê

To faint—To fall down in a faint—To lose consciousness.

hôn mặc đa

Kandat (skt)—Thủ đô của Tamasthiti, có lẽ là Kunduz, nhưng theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển thì Kundoot lại cách Jshtrakh 40 dậm về phía bắc—The capital of Tamasthiti, perhaps the modern Kunduz, but according to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, “Kundoot is about 40 miles north of Jshtrakh.

Hôn một 惛沒

[ja] コンボツ konbotsu ||| See 惛沈. => Xem Hôn trầm惛沈.

hôn ngụ tiền

3291埋葬死者時,於棺中所放爲備輪迴六道之旅費。一般爲銅錢六枚或以紙擬作錢型,今多用後者。佛教原無此種說法;此習俗係源始於我國漢代民間,於黃昏時將錢埋於墓穴,供死者之用,爲瘞錢之風習;以後遂爲日本沿用之,稱爲六道錢,又作六文錢、紙錢。 ; (昏寓錢) Cũng gọi Lục đạo tiền, Lục văn tiền, Chỉ tiền.Trước khi chôn cất người chết, thân nhân bỏ tiền vào quan tài để chuẩn bị lộ phí cho cuộc hành trình luân hồi trong 6 đường của họ. Loại tiền này thông thường là 6 đồng tiền đồng hoặc là tiền giả (giấy tiền vàng bạc), nay hầu hết dùng tiền giả. Phật giáo vốn không có phong tục này, mà nó đã bắt nguồn từ trong dân gian Trung quốc vào đời Hán. Thời ấy, khi hoàng hôn buông xuống, người dân Trung quốc thường đem tiền ra chôn ngoài mộ để cho người chết tiêu dùng, phong tục chôn tiền bắt đầu từ đó. Về sau người Nhật bản cũng làm theo.

hôn nhân

4473又作結婚。結夫婦之緣,即以性結合為基礎之兩性持續關係。其種類自未開化時代之亂婚、群婚,經過一夫多妻、多夫一妻之型態,而至今日一夫一妻之單婚制度。其他婚姻型態有族內婚、族外婚、掠奪婚、買賣婚、贈與婚等。依民法而言,以男女雙方之意願為基礎,而產生共同生活之關係,此係法律所允許之行為。其成立條件須根據戶籍法。其實質條件則兩者均須到達適婚齡,且無重婚、近親之情形。佛教教團,由於比丘、比丘尼有不淫戒,故禁止出家男女間之交往。若有破戒者,必被逐於教團之外。在家信徒則必遵守五戒之不邪淫戒,此即承認正當夫婦間之交往,夫婦以外之男女關係乃被禁止者。日本淨土真宗不立出家與在家之別,而承認婚姻關係之存在,例如親鸞自身即有妻惠信尼。明治以來其他各宗派亦多承認之。 ; To get married—Marriage.

hôn phu

Chú rễ—Bridegroom—Fiancé.

hôn phối

See Hôn nhân.

hôn thành

3290即昏昧之城,乃凡夫所棲止之處。南海寄歸內法傳卷一(大五四‧二○四下):「引四生於火宅,拔三有於昏城。」 ; The dim city, the abode of the common, unenlightened man. ; Thành lũy tối tăm, chỗ mà kẻ phàm phu hôn ám nương náu—The dim city, the abode of the common, unenlightened man. ; (昏城) Thành quách tối tăm, ví cho chỗ ở của phàm phu. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 204 hạ): Dẫn dắt 4 loài trong nhà lửa, cữu vớt 3 cõi trong Hôn thành .

hôn thê

Cô dâu—Bride—Fianceé.

hôn thú

Marriage certificate.

hôn thơ

See Hôn thú.

hôn thụy

Lethargy—See Hôn Trầm.

hôn thức

Dull, or confused, knowledge. ; Kiến thức hôn ám mê muội—Dull or confused knowledge.

hôn trung tự

5451位於北平宣武門外。又稱法源寺。唐貞觀十八年(644),太宗親征高麗,歸瘞陣亡忠骸於幽州,爲立此寺以追福。五代中沒入契丹,爲其首剎。明正統(1436~1449)年中重建,改名「崇福寺」,壯麗逾前。清雍正九年(1731)再建,易名「法源寺」。咸豐(1851~1861)年間,遭英法聯軍破壞,亂定後始重修。民國初年,中華佛教協進會,及佛教僧師範學堂均設其中。〔順天府志卷十六、燕都叢考卷三〕(參閱「法源寺」3414)

hôn trầm

4578梵語 styāna,巴利語 thīna。又作昏沈、惛、昏。指使身心沈迷、昏昧、沈鬱、鈍感、頑迷,而喪失進取、積極活動之精神作用。俱舍宗以惛沈為大煩惱地法之一,為引生一切染污心(不善心與有覆無記心)之心所;唯識宗則納為二十種隨煩惱之一,就其體性之假實問題而言,歷來有各種異說,然諸說中,以「惛沈之體性另有別體」之說法為正統說法。此心所以癡為根本而生起,癡以迷闇為性,故此心所以瞢重為性。屬十纏之一。與睡眠合為「惛沈睡眠蓋」,為五蓋之一。禪家以此為禪之障礙,比喻如黑暗塵坑、無明山鬼窟、蝦蟆窟裏,乃五十禪魔之一。〔成唯識論卷六、大毘婆沙論卷三十七、俱舍論卷四〕(參閱「五蓋」1194) ; Styāna (S), Thīna (P), Sloth Tác dụng khiến tâm nặng nề. Một trong 6 Đại tuỳ phiền não địa pháp. ; Thìna (S). To loose consciousness; to be in comma. ; Thina (p)—Dullness (thẩn thờ)—Idleness (ngầy ngật)—Sloth—Torpor—Sunk in stupor—To lose consciousness—Khi hành thiền, thỉnh thoảng trạng thái tâm của hành giả rơi vào một vùng nặng nề tối ám (mê mờ) và buồn ngủ, đây là vọng chướng hôn trầm—When practicing meditation, sometimes cultivators drift into a dark heavy mental state, akin to sleep, this is the delusive obstruction of drowsiness. ; (惛沈) Phạm: Styàna. Pàli: Thìna. Cũng gọi Hôn. Tác dụng tinh thần làm cho thân tâm mờ tối, bải hoải, nặng nề, đần độn, si mê, mất chí tiến thủ và những hoạt động tích cực. Là tên của Tâm sở (tác dụng của tâm).Tông Câu xá cho Hôn trầm là một trong những Đại phiền não địa pháp, là tâm sở sinh ra tất cả tâm ô nhiễm (tâm bất thiện và tâm hữu phú vô kí). Còn tông Duy thức thì xếp Hôn trầm vào một trong 20 Tùy phiền não. Về vấn đề thể tính của tâm sở này là thật hay giả thì xưa nay có nhiều thuyết khác nhau, nhưng trong đó, thuyết chủ trương Hôn trầm có thể tính riêng là chính thống. Tâm sở này lấy si làm gốc mà sinh khởi, si lấy mê muội làm tính, vì thế tâm sở này lấy mờ tối làm tính. Hôn trầm thuộc một trong 10 triền, hợp với Thùy miên thành Hôn trầm miên cái , là một trong Ngũ cái. Thiền tông cho Hôn trầm là loại phiền não làm chướng ngại thiền định, ví như hầm hố tối tăm, hang quỉ trong núi vô minh, như hang ếch nhái, là một trong 50 loại ma phá hoại thiền định. [X. luận Thành duy thức Q.6; luận Đại tì bà sa Q.37; luận Câu xá Q.4]. (xt. Ngũ Cái).

hôn trầm dã dượi

Xem Thuỵ miên.

hôn trầm thụy miên

Thinamiddham (p)—Sloth and torpor.

Hôn trầm 惛沈

[ja] コンジン konjin ||| (styāna). 'torpor,' 'depression.' One of the great defilement dharmas as listed in the Abhidharmakośa-bhāsya. One of the twenty secondary defilements (隨煩惱) in the doctrine of the Yogācāra school. The mental action of the mind becoming dim and sinking. Gloominess, melancholy. => (s: styāna). Một trong Đại phiền não địa pháp ghi trong A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận. Là một trong 20 tuỳ phiền não trong giáo lý Duy thức. Là tâm hành trở nên mê muội và chìm đắm. Sự u sầu, u uất.

hôn túy

Matta (skt)—Say lúy túy—Drunk—Intoxicated.

hôn ám

Dark, dim, gloomy, dusky.

hôn ước

Engagement.

Hôn 昏

[ja] コン kon ||| (1) Dark, gloomy. Muddled, obscure, confused. (2) Darkness, obscurity, vagueness. (3) Evening, dusk. => 1. Tối, u ám. Tình trạng lộn xộn, tối tăm, bối rối. 2. Bóng tối, sự mờ mịt, tính lơ đãng. 3. Buổi tối, bóng đêm.

Hùng bi

(熊羆): đồng nghĩa với hùng hổ (熊虎), nghĩa là gấu và cọp, tỷ dụ một người dũng mãnh, dũng sĩ thiện chiến. Vì vậy thường có từ “hùng bi chi sĩ (熊羆之士, người có sức mạnh oai dũng như con gấu, cọp).” Như trong Thư Kinh (書經), Khang Vương Chi Cáo (康王之誥) có câu: “Tắc diệc hữu hùng bi chi sĩ, bất nhị tâm chi thần, bảo nghệ vương gia (則亦有熊羆之士、不二心之臣、保乂王家, ắt sẽ có dũng sĩ hùng mạnh, trung thần một lòng tận lực, bảo vệ vương gia).” Trong Thi Kinh (詩經), phần Tiểu Nhã (小雅), Tư Can (斯干) có câu: “Đại nhân chiêm chi, duy hùng duy bi, nam tử chi tường, duy hủy duy xà, nữ tử chi tường (大人占之、維熊維羆、男子之祥、維虺維蛇、女子之祥, người lớn đoán rằng, là gấu là cọp, điềm lành con trai; là hổ mang là rắn, điềm lành con gái).” Cho nên nằm mơ thấy con gấu hay cọp, những con vật tượng trưng cho sức mạnh hùng dũng, đó là điềm lành báo mộng sanh con trai. Như trong Tam Quốc Chí (三國志) quyển 24 có câu: “Bệ Hạ thông đạt, cùng lý tận tánh, nhi khoảnh Hoàng Tử liên đa yểu thệ, hùng bi chi tường vị cảm ứng (陛下聰達、窮理盡性、而頃皇子連多夭折、熊羆之祥又未感應, Bệ Hạ thông đạt, xét cùng lý lẽ, nhưng trong chốc lát mà mấy Hoàng Tử liên tục chết yểu, điềm lành gấu cọp vẫn chưa cảm ứng).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng quyển 2, phần Bảo Thai, có câu: “Hùng bi ứng mộng thả cư do dự chi trung, xà hủy trình tường diệc tại cô nghi chi vức, duy kí bảo an chi nhị tự, cảm vong trí kính vu Tam Tôn (熊羆應夢且居猶豫之中、蛇虺呈祥亦在狐疑之域、惟冀保安之二字、敢忘致敬于三尊, gấu cọp ứng mộng sao còn do dự làm chi, rắn mang điềm tốt liệu mang nghi ngờ lưỡng lự, chỉ mong bình an trong hai chữ, dám quên kính ngưỡng đấng Tam Tôn).” Hoặc trong bài Diệm Khẩu Triệu Thỉnh Văn (焰口召請文) tương truyền do Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống trước tác cũng có câu nói về giấc mộng hùng bi: “Hoài thai thập nguyệt, tọa thảo tam triêu, sơ hân loan phụng hòa minh, thứ vọng hùng bi hiệp mộng (懷胎十月、坐草三朝、初欣鸞鳳和鳴、次望熊羆叶夢, mang thai mười tháng, nằm cỏ ba hôm, mới mừng loan phụng cùng vui, kế trông gấu beo báo mộng).”

hùng dã sơn

5836位於日本紀伊國東牟婁郡。以山中有熊野坐神社、熊野速玉神社、熊野夫須美神社等三宮鼎立,故又稱熊野三山、熊野三社、三御山、三熊野、熊野權現、熊野三所權現。熊野坐神社建於崇神帝十六年(82 B.C.),世稱熊野本宮,奉祀素盞鳴尊,或伊弉冊尊。熊野速玉神社建於景行帝五十九年(129),世稱熊野新宮,奉祀事解男神。熊野夫須美神社建於文應元年(1260),世稱那智山,或稱那智,奉祀速玉男神。三宮又各奉祀十二社,故又稱十二社權現。於平安朝時代,神佛之本地垂跡說盛行,本宮之本地爲阿彌陀如來,新宮爲藥師如來,那智爲十一面千手觀世音菩薩,崇信其掌握現在、當來二世利益之大權現(示現、化現),勢力頗盛。 此外,古來參詣(朝拜)熊野三所權現之風甚盛,稱爲熊野詣、御熊野詣。〔熊野權現金剛藏王寶殿造工日記、扶桑略記卷三十、百鍊抄卷五、日本書紀卷一、三代實錄卷二、日本紀略前篇卷十七〕 ; (熊野山) Cũng gọi Hùng dã tam sơn, Hùng dã tam xã, Tam ngự sơn, Tam hùng dã, Hùng dã quyền hiện, Hùng dã tam sở quyền hiện. Núi ở quận Đông mâu lâu, đảo Kỉ y, Nhật bản. Trong núi có 3 ngôi đền thờ thần (Thần xã), đứng đối nhau tạo thành thế chân vạc, đó là: Hùng dã tọa, Hùng dã tốc ngọc và Hùng dã phu tu mĩ: - Hùng dã tọa thần xã, được xây dựng vào năm Sùng thần đế 16 (82 tr. T.L.), đời gọi là Hùng dã bản cung, thờ Tố trản minh tôn hoặc Y trang sách tôn. - Hùng dã tốc ngọc thần xã, được kiến thiết vào năm Cảnh hành đế 59 (129), đời gọi là Hùng dã tân cung, thờ Nam thần Sự giải. - Hùng dã phu tu mĩ thần xã, được kiến tạo vào niên hiệu Văn ứng năm đầu (1260), đời gọi là Na trí sơn, hoặc Na trí, thờ Nam thần Tốc ngọc. Ba cung trên đây, mỗi cung đều có thờ 12 vị thần đất, vì thế cũng gọi là Thập nhị xã quyền hiện. Vào thời đại Bình an, thuyết Bản địa Thùy tích của Thần Phật rất thịnh hành. Bản địa của Bản cung là A di đà Như lai, Bản địa của Tân cung là Dược sư Như lai, Bản địa Na trí là bồ tát Quan thế âm 11 mặt, 1.000 tay. Phong tục lễ bái Hùng dã tam sở quyền hiện xưa nay rất phổ cập. [X. Hùng dã quyền hiện kim cương tạng vương bảo điện tạng tạo công nhật kí; Phú tang lược kí Q.30; Bách luyện sao Q.5; Nhật bản thư kỉ Q.1; Tam đại thực lục Q.2; Nhật bản kỉ lược tiền thiên Q.17].

hùng dã tỉ khâu ni

5837於日本,以繪圖解說而勸人信佛之比丘尼。又作歌比丘尼、勸進比丘尼、繪解比丘尼。起自室町時代末期。乃於一般庶民之間解說地獄、極樂淨土的繪圖而廣弘佛教之比丘尼。然至萬治年間(1658~1660)墮落爲賣笑者甚多。〔東海道名所記卷三、日次紀事二月條〕 ; (熊野比丘尼) Cũng gọi Ca tỉ khưu ni, Khuyến tiến tỉ khưu ni, Hội giải tỉ khưu ni. Những vị tỉ khưu ni ở trên núi Hùng dã, Nhật bản, vào cuối thời đại Thất đinh. Các tỉ khưu ni này thường dùng những bức tranh Địa ngục, Tịnh độ cực lạc để giải thích lí nghiệp báo trong Phật giáo mà khuyên người ta niệm Phật. [X. Đông hải đạo danh sở kí Q.3; điều Nhị nguyệt trong Nhật thứ kỉ sự].

hùng lại ba

5324爲西藏佛教寺院之僧職名稱。由「堪布」委任,負責扎倉內學經事務。 ; (雄賴巴) Chức vụ của vị tăng phụ trách việc học tập kinh điển trong Trát thương ở các chùa viện của Phật giáo Tây tạng, do vị Kham bố (Trụ trì) ủy nhiệm.

hùng nhĩ sơn

5835位於河南盧氏南方,與永寧(今洛寧縣)爲界。山之兩峰並峙如熊耳,故稱熊耳山。乃禪宗初祖菩提達磨之塔所。景德傳燈錄卷三菩提達磨章(大五一‧二二○上):「以化緣已畢,傳法得人,遂不復救之,端居而逝。即後魏孝明帝太和十九年丙辰歲十月五日。(中略)十二月二十八日葬熊耳山,起塔於定林寺。」〔大明一統志卷二十九、大清一統志卷一六二〕 ; (熊耳山) Núi nằm về phía nam huyện Lư thị, tỉnh Hà nam, Trung quốc. Núi này có 2 ngọn núi song song và dựng đứng như tai con gấu, cho nên gọi là Hùng nhĩ sơn (núi tai gấu). Tháp của sơ tổ Thiền tông Bồ-đề đạt ma được xây ở đây. [X. Đại minh nhất thống chí Q.29; Đại thanh nhất thống chí Q.162].

Hùng Nhĩ 熊耳

[ja] ユウジ Yūji ||| Mt. Xionger, the site of Bodhidharma's mausoleum. => Núi Hùng Nhĩ (Mt. Xionger), nơi có lăng mộ của Bồ-đề Đạt-ma.

Hùng Nhất Tiêu

(熊一瀟, ?-?): tự là Úy Hoài (蔚懷), Hán Nhã (漢若); xuất thân Đông Đàn (東壇), Huyện Nam Xương (南昌縣). Năm thứ 3 (1664) đời Khang Hy (康熙), ông đỗ Tiến Sĩ, từng làm các chức quan như Triết Giang Đạo Ngự Sử (浙江道御史), Thiên Thái Bộc Tự Thiếu Khanh (遷太僕寺少卿), Hữu Thông Chính (右通政), Thuận Thiên Phủ Phủ Y (順天府府伊), Hình Bộ Hữu Thị Lang (刑部右侍郞), Binh Bộ Đốc Bộ Thị Lang (兵部督捕侍郞), Sử Bộ Hữu Thị Lang (吏部右侍郞), Công Bộ Thượng Thư (工部尚書), Đại Thường Thị Khanh (大常寺卿), Đại Lý Thị Khanh (大理寺卿), Tả Phó Đô Ngự Sử (左副都御史), Công Bộ Hữu Thị Lang (工部右侍郞), Công Bộ Thượng Thư (工部尚書). Trước tác của ông có Phố Vân Đường Thi Văn Tập (浦雲堂詩文集).

hùng sư cổ tháp

5324位於廣東五華縣東四公里處,五華河畔塔崗上。建於明代萬曆四十年(1612),塔高三十五點五公尺,平面呈八角形,以方石砌成。外觀連塔頂計十層,塔內七層,有螺旋梯可達塔頂。每逢中秋設山歌醮時,由一歌手坐塔頂領唱,並邀請紫金、龍川等地歌手前來賽歌,以樸實美麗的口頭文學形式,留下不少膾炙人口之民間故事。

hùng thập lực

5835(1882~1968)湖北黃岡人。字子真。爲民國以來在佛學、儒學、西洋哲學三方面均能深刻體會,卓然成家之一代哲人。幼聰穎,家貧,十歲始從父學三字經、四書。踰年,父即病逝,從此惟自求上進,以讀王船山、顧亭林等諸先生書,有革命之志,遂不應舉。十七歲參加革命,先後成立日知會、群治學社、振武學社,策動革命。武昌起義成功,廁身仕途,後於袁世凱裁撤革命軍時亦遭遣散,乃歸鄉耕讚。後又一度任北伐軍參謀之職。年三十五時,忽悟革命黨人若不事身心修養,當無法撥亂反正,遂絕意仕途而獻身學術,致力講學,力主做人當反求諸己。 其後,赴南京「支那內學院」從歐陽漸學佛,深究大乘佛學,尤於唯識,窮研功深。然認爲佛教教說耽空溺寂,又對唯識論之分析宇宙事理,頗不以爲然,乃造「新唯識論」一書,以儒家易經中生生不息之義援入佛理中,自謂「遊乎佛儒之間,亦佛亦儒,非佛非儒」,而致力「融佛之空以入易之神」;要之,其學說概以儒家思想、易經哲學爲宗旨,而於佛法頗有微詞。太虛大師、印順法師、王恩洋等人均曾撰文評駁之,咸認其誤解佛理。 氏自三十五歲始,先後任教於北京大學、武昌大學、中央大學、樂山復性書院等。民國二十五年(1936)出版「佛家名相通釋」二卷,上卷依五蘊論,綜述法相體系,下卷依百法等論,綜述唯識體系,可視爲法相唯識學之小辭典,其中並涉及性相二宗法義,融有中印哲學;該書問世以來,稱譽於國際學界。平生與馬一浮、梁漱溟、林宰平等人過從甚密,又常與蔡元培、梁啟超、方東美、錢穆等當世名儒論學。門弟子中以唐君毅、牟宗三、徐復觀等人最著名。晚年所出版「體用論」一書,係根據「新唯識論」而改撰者。序文中謂該書既成,則新唯識論「無保存之必要」,可見其晚年見解,頗有不同於早年者。唯其肯定易經之思想價值,則未嘗稍變。五十七年五月病逝上海。所著除上記外,另有中國通史講話、讀經示要、十力語要、十力語要初續、破破新唯識論、因明大疏刪注、原儒、明心篇、乾坤衍等。 ; (熊十力) (1882-1968) Nhà học giả Trung quốc, người huyện Hoàng cương, tỉnh Hồ bắc, tự là Tử chân. Thưở nhỏ, ông thông minh đĩnh ngộ, nhà nghèo, 10 tuổi mới học Tam tự kinh, Tứ thư do cha dạy. Không bao lâu, cha ông mắc bệnh và qua đời, từ đó ông tự học để cầu tiến. Nhờ đọc các sách của Vương thuyền sơn, Cố đình lâm, v.v... mà ông nuôi chí cách mệnh. Năm 17 tuổi, ông tham gia phong trào và lần lượt thành lập: Hội Nhật tri, Học xã Quần trị, Học xã Chấn vũ để cổ động cách mạng. Sau cuộc khởi nghĩa Vũ xương thành công, ông chen chân vào quan trường. Nhưng khi Viên thế khải dẹp bỏ quân cách mệnh thì ông cũng bị đuổi. Ông về quê làm ruộng, đọc sách. Ít lâu sau, ông lại giữ chức tham mưu trong quân Bắc phạt. Năm 35 tuổi, ông chợt nhận ra rằng, nếu con người làm cách mệnh mà không tu dưỡng thân tâm, thì không thể mang lại sự yên vui chân chính. Từ đó ông thôi làm quan, hiến thân cho học thuật, ra sức giảng dạy, chủ trương tự phản tỉnh. Về sau, ông đến Nam kinh, vào viện Chi na nội học theo Âu dương tiệm học Phật, ông nghiên cứu giáo nghĩa Đại thừa rất sâu sắc, đặc biệt về Duy thức học. Ông soạn bộ luận Tân duy thức, chủ trương đem lí Không của Phật dung hợp với Thần của Dịch. Học thuyết của ông đại khái lấy tư tưởng Nho gia và triết học của kinh Dịch làm tông chỉ để ngầm phê phán Phật giáo. Đại sư Thái hư, pháp sư Ấn thuận và các ông Vương ân dương, v.v… đều soạn văn để phản bác, cho rằng họ Hùng đã có nhận thức sai lầm về Phật pháp. Năm 35 tuổi, ông lần lượt làm Giáo sư các trường: Đại học Bắc kinh, Đại học Vũ xương, Đại học Trung ương, Thư viện Phục tính ở Lạc sơn. Ông lâm bệnh và qua đời vào tháng 5 năm 1968 tại Thượng hải. Tác phẩm của ông gồm có: Phật gia danh tướng thông thích (2 quyển), Tân duy thức luận, Thể dụng luận, Trung quốc thông sử giảng thoại, Độc kinh thị yếu, Thập lực ngữ yếu, Thập lực ngữ yếu sơ tục, Phá phá tân duy thức luận, Nhân minh đại sớ san chú, Nguyên nho, Minh tâm thiên, Càn khôn diễn…...

Hùng Trạch Phiên Sơn

(熊澤蕃山, Kumazawa Banzan, 1619-1691): Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Bá Kế (伯繼); tự Liễu Giới (了介); hiệu Tức Du Hiên (息游軒); thông xưng là Thứ Lang Bát (次郎八); xuất thân kinh đô Kyoto; tên gọi Phiên Sơn (蕃山) vốn phát xuất từ Thôn Phiên Sơn (蕃山村), Bị Tiền (僃前, Bizen), nơi ông lui về ẩn cư. Năm 1634 (Khoan Vĩnh [寛永] 11), ông phục vụ cho Trì Điền Quang Trí (池田光致), Phiên chủ của Phiên Cương Sơn (岡山藩, Okayama-han), nhưng vì tu học chưa thuần thục, nên lấy lý do đó mà từ chức, rồi theo học với Trung Giang Đằng Thọ (中江藤樹, Nakae Tōju). Vào năm 1645 (Chánh Bảo [正保] 2), ông trở lại phục vụ cho Quang Trí và đã cống hiến những đối sách cứu nạn đói vào năm Minh Lịch (明曆) cũng như trị sơn, trị thủy, v.v. Sau đó, vào năm 1657 (Minh Lịch 3), ông lui về ẩn cư, chuyên tâm giảng dạy và trước tác ở kinh đô và các nơi khác; nhưng đến năm 1687 (Trinh Hưởng [貞享] 4), ông bị chính quyền Mạc Phủ kiêng kỵ vì phê phán chính trị, rồi bị cấm cố ở vùng Cổ Hà (古河, Koga), Hạ Tổng (下總, Shimōsa) và cuối cùng qua đời tại đây. Ông vốn là môn hạ của Đằng Thọ, nhưng Chu Tử Học hay Dương Minh Học, ông chẳng thuộc học phái nào cả; mà chủ trương thuyết gọi là Tâm Học (心學), cho rằng tâm là căn nguyên của vạn vật, đồng nhất với Thái Hư, và cần phải thể đắc đạo lý vốn có trong tâm này. Trước tác của ông có Tập Nghĩa Hòa Thư (集義和書), Tập Nghĩa Ngoại Thư (集義外書), Đại Học Hoặc Vấn (大學或問), Tam Luân Vật Ngữ (三輪物語), v.v.

Khela or Krida (skt). 1) Giởn chơi: To joke for passing time. 2) Vở kịch hay trò chơi thể thao: Play or sport. 3) Xem hát giải trí là những trò vui mà chư Tăng Ni không được tham gia: Take one's pleasure—Theatricals, which are forbidden to monks and nuns.

hý luận

Prapanca or Vikarsa (skt)—Ngôn luận phi lý vô nghĩa hay nói chuyện vô bổ không đâu vào đâu—To joke—To jest—Sophistry—Meaningless argument—Frivolous or unreal discourse—Talking vainly or idly.

Hý luận 戲論

[ja] ケロン keron ||| (Skt. prapañca; Tib. spros pa) {I} According to Nāgārjuna 龍樹, words which conceal and cover reality, which are nothing but subjective counterfeits, and lead further into ignorance and affliction (ant.→ deśanā). Specifically speaking, these are divided into four categories: (1) speech (vāc); (2) marks (nimitta); (3) concepts; and (4) discrimination (vikalpana). {II} Discrimination 分別. {III} Metaphysical speculation. {IV} Wasteful talk. Intellectual frivolity. => (s: prapañca; t: spros pa) I. Theo Long Thụ (s: Nāgārjuna 龍樹), là ngôn từ che phủ ngăn cách thực tại, không giá trị gì, chỉ là tưởng tượng hư giả, càng nhanh đưa đến vô minh và phiền não (ant.→ deśanā). Cụ thể có 4 loại: 1. Ngữ hý luận; 2. Tướng hý luận; 3. Tưởng hý luận; 4. Phân biệt hý luận. II. Sự phân biệt. III. Suy luận siêu hình. IV. Đàm thuyết vô ích, tri thức phù phiếm.

Hý luận trí 戯論智

[ja] ケロンチ keronchi ||| The wisdom of intellectual play. See 戲論. 〔瑜伽論T 1579.30.625a5〕 => Tri thức hý luận. Xem Hý luận戲論.

Hý luận 戯論

[ja] ケロン keron ||| See 戲論. => Xem Hý luận 戲論.

hý vong niệm thiên

See Hý Vong Thiên.

hý vong thiên

Hý Vong Niệm Thiên—Một trong sáu cõi trời dục giới, thiên chúng ở đây bị mọi trò vui chơi làm quên mất chân lý và chánh niệm—One of the six devalokas of the desire heavens, where amusement and laughter cause forgetfulness of the true and right.

Hý 戲

[ja] ケ ke ||| (1) To play, frolic, sport. (2) In the Chan school, to respond directly. (3) Intellectual play, frivolity. See 戲論. => 1. Chơi đùa, trêu chọc, nô đùa. 2. Trong Thiền tông, là lời đối đáp tức thì. 3. Tri thức phù phiếm, sự phù phiếm. Xem Hý luận戲論.

hăm dọa

To threaten—To intimidate—To menace.

hăm hở

With fervour (zeal).

hăng hái

Eagerness—Fervour—Ardour.

hơi thở

Pràna (S). Breath, life. Also sự sống. ; Breath span.

hơn

More than.

Sùnya (S). Empty, vacant; unreal, unsubstantial, untrue; space; humble; in vain. Hư is defined as that which is without shape or substantiality.

hư am

5267請參閱 虛堂和尚語錄 [1]請參閱 虛堂和尚語錄 [1]請參閱 虛堂集 [1]請參閱 虛堂和尚語錄 即南宋天童寺懷敞禪師。生卒年不詳。屬臨濟宗黃龍派,爲天童雪庵從瑾之法嗣。淳熙十四年(1187),日僧榮西來華參禪,於十六年住天童景德寺,隨侍於師。紹熙二年(1191),師傳法予榮西。後榮西返日,開創建仁寺。〔黃龍十世錄、五山文學新集卷三〕 ; (虛庵) Tức là thiền sư Hoài xưởng, thuộc phái Hoàng long, tông Lâm tế, sống vào đời Nam Tống, là đệ tử nối pháp của ngài Tuyết am Tòng cẩn ở chùa Thiên đồng. Năm Thuần hi 16 (1189) đời Nam Tống, vị tăng người Nhật bản tên là Vinh tây, đến chùa Cảnh đức trên núi Thiên đồng theo sư tu Thiền. Năm Thiệu hi thứ 2 (1191), sư truyền pháp cho sư Vinh tây. Sau, sư Vinh tây trở về Nhật, sáng lập chùa Kiến nhân. [X. Hoàng long thập thế lục; Ngũ sơn văn học tân tập Q.3].

Hư Am Hoài Sưởng

(虛庵懷敞, Kian Eshō, ?-?): vị tăng của Phái Hoàng Long (黃龍派) thuộc Tông Lâm Tế Trung Quốc, hiệu là Hư Am (虛庵). Ông nối dòng pháp của Thiên Đồng Tuyết Am Tùng Cẩn (天童雪庵從瑾), rồi đến sống tại Vạn Niên Tự (萬年寺) ở Thiên Thai Sơn. Vào năm thứ 14 (1187) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), Vinh Tây đến tham vấn Thiền với ông. Đến năm thứ 16 cùng niên hiệu trên, ông chuyển đến sống ở Thiên Đồng Cảnh Đức Tự (天童景德寺), làm vị Tổ đời thứ 23 của chùa này. Vinh Tây thường đi theo hầu hạ bên ông, và đến năm thứ 2 (1191) niên hiệu Thiệu Hy (紹熙), ông ấn chứng cho Vinh Tây.

hư am hoài sưởng

Koan Eshō (J) Tên một vị sư.

hư chu

5261(1196~1277)南宋禪僧。江都人,俗姓史。名普度。早歲雖習世典,然有出塵之志,其母知之,允入天寧寺出家。時畢將軍見而奇之,遂攜歸武林,禮東堂院祖信,居五年。後至靈隱寺參見鐵牛,受其印可,復遊方歷參諸德。淳佑初年,依制府趙信庵之請,住金陵半山寺,繼遷金山寺、鹿苑寺、拃山寺、承天寺。景定年間,因太傅賈魏公之奏,住中天竺寺,復得旨陞靈隱寺。至元十四年奉詔入徑山寺,同年四月二十四日示寂,世壽八十二。或謂師生於宋慶元五年(1199),而於至元十七年示寂。〔增集續傳燈錄卷四、續燈存稾卷四、五燈嚴統卷二十一〕 ; Hsu chou (C) Tên một vị sư.

hư cuống ngữ

Xem Vọng ngữ. ; Musàvado (S). Untrue or misleading talk, which is against the fourth precept.

Hư Cốc Hy Lăng

(虛谷希陵, Hikoku Kiryō, 1247-1322): vị Thiền Tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Phá Am (破庵) thuộc Lâm Tế Tông, hiệu là Hư Cốc (虛谷), tự là Tây Bạch (西白), xuất thân vùng Nghĩa Ô (義烏), Vụ Châu (婺州, Tỉnh Triết Giang), họ là Hà (何). Năm 19 tuổi, ông xuất gia rồi thọ Cụ Túc Giới ở Đông Dương Tư Thọ Viện (東陽資壽院). Ông đã từng đến tham yết Hư Chu Viễn (虛舟遠) ở Song Lâm Tự (雙林寺), rồi Đông Tẩu Trọng Dĩnh (東叟仲頴). Sau đó ông kế thừa dòng pháp của Tuyết Nham Tổ Khâm (雪巖祖欽), đến năm thứ 3 (1316) niên hiệu Diên Hựu (延祐), ông đến ở tại Kính Sơn, Hàng Châu. Ông được mời vào cung nội, rồi được Thế Tổ ban cho hiệu là Phật Giám Thiền Sư (佛鑑禪師), sau đó lại được ban tặng những danh hiệu khác như Đại Viên (大圓), Huệ Chiếu (慧照), Đại Biện (大辯). Đến ngày 12 tháng 4 năm thứ 2 niện hiệu Chí Trị (至治), ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi đời và 57 pháp lạp. Tương truyền ông có trước tác bộ Ngữ Lục, Bộc Nham Tập (瀑巖集). Ngu Tập (虞集) soạn bài minh cho tháp của ông.

hư dối

Xem vọng.

hư giả

5266請參閱 虛空藏菩薩經 「真實」之對稱。一般常將虛假不實、虛假諂偽連用。內懷虛假邪念,外現賢善精進之相,稱爲行爲虛假行,或虛假雜毒善。〔觀無量壽經疏卷四(善導)、大乘義章卷十二〕 ; Mithyà (S). Baseless, false.

Hư không

虛空; S: ākāśa; P: ākāsa;|Khái niệm quan trọng trong đạo Phật. Hư không được hiểu là »không gian« Có hai thứ không gian: 1. Không gian do sắc thể quy định mà thành và 2. Không gian vô cùng tận. Khái niệm đầu thuộc sắc thể (Ngũ uẩn), khái niệm sau là một trong sáu yếu tố (Giới, s: dhātu), không có tự tính nhưng lại là cơ sở của mọi sắc thể và của Tứ đại chủng là đất, nước, gió, lửa. Hư không (khái niệm thứ hai) là tính Không, rời mọi sắc thể, thường còn và không thể mô tả nghĩ bàn.|Quan điểm về hư không cũng có nhiều sai khác trong các tông phái Phật giáo. Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) quan niệm rằng, hư không không chịu dưới quy luật duyên khởi; nó không gây chướng ngại, xuyên suốt mọi vật và thường còn. Còn Trung quán tông (s: mādhyamika) thì cho hư không cũng bị tuỳ thuộc, vì nó có thể bị một vật khác »chiếm giữ«. Trong các phương pháp thiền định, hư không giữ một vai trò quan trọng: trong Bốn xứ thì xứ đầu tiên là Không vô biên xứ và trong mười Biến xứ (p: kasiṇa) thì hư không là biến xứ thứ chín.

hư không

5261梵語 ākāśa。音譯阿迦舍。<一>俱舍七十五法之一,唯識百法之一。亦爲「無爲法」之一,即說一切有部、經量部所說三無爲之一,大眾部、化地部所說九無爲之一,百法明門論、成唯識論卷二所舉六無爲之一,大乘五蘊論所舉四無爲之一,瑜伽師地論卷三、阿毘達磨雜集論卷二等所舉八無爲之一。經論中多以之作爲譬喻用,其義有五:(一)橫遍之義,北本涅槃經卷二十二德王品、淨土論(世親),皆以虛空譬喻廣大無邊際。(二)恆常之義,北本涅槃經卷三十七迦葉品,以虛空譬喻無變易之常性。(三)無礙之義,據北本涅槃經卷三十七迦葉品載,世間之中,無障礙處,名爲虛空。(四)無分別之義,即無親疏、遠近、愛憎之差別,北本涅槃經卷十六梵行品載,譬如虛空,無有父母兄弟妻子,乃至無有眾生壽命;一切諸法亦復如是,無有父母乃至壽命,菩薩摩訶薩見一切法亦復如是,其心平等如彼虛空。(五)容受之義,北本涅槃經卷十六梵行品載,譬如虛空,廣大無對,悉能容受一切諸法。又宗鏡錄卷六舉無障礙、周遍、平等、廣大、無相、清淨、不動、有空、空空、無得等十義以解說、比喻真如之理。此外,印度外道中,口力論師以虛空爲萬物之真因,由虛空生風,乃至生萬物,其後還沒虛空,稱爲涅槃。〔大毘婆沙論卷七十五、俱舍論卷一、卷六、外道小乘涅槃論、瑜伽師地論卷五十三、阿毘達磨藏顯宗論卷一、順正理論卷一、大乘義章卷二、俱舍論寶疏卷一〕(參閱「虛空無爲」5263) <二>空界之別稱。六界之一。指一切諸法存在之場所、空間。然於說一切有部中,虛空與空界則有所分別,以虛空非色,空界是色;虛空無見,空界有見;虛空無漏,空界有漏;虛空無爲,空界有爲。吾人所見之空爲空界,非爲虛空。但諸經中多將此兩者互用,不作分別。又說一切有部主張空界之色以明暗爲體,即爲實有,其他諸部則持否定之說。〔瑜伽師地論卷五十四、大毘婆沙論卷七十五、俱舍論卷一、法蘊足論卷十、順正理論卷二、大乘義章卷二、瑜伽論記卷十四下〕 ; Ākāsa (P), Ākāśa (S), Emptiness Không gian, Hư không vô vi. ; Sùnya (S). Empty, void, space; nothingness. ; (虛空) Phạm:Àkàza. Dịch âm: A ca xá. I. Hư Không. Chỉ cho pháp vô vi thanh tịnh, không bị chướng ngại. Là 1 trong 3 vô vi của Thuyết nhất thiết hữu bộ và Kinh lượng bộ, 1 trong 9 vô vi của Đại chúng bộ và Hóa địa bộ, 1 trong 6 vô vi của luận Bách pháp minh môn và luận Thành duy thức, 1 trong 4 vô vi của luận Đại thừa ngũ uẩn, 1 trong 8 vô vi của luận Du già sư địa và luận A tì đạt ma tạp tập, v.v... II. Hư Không. Khoảng không bao la, gồm có 5 nghĩa: Trùm khắp, thường hằng, không bị ngăn ngại, không phân biệt, dung nạp hết thảy muôn vật. Còn theo Tông kính lục quyển 6, thì Hư không có 10 nghĩa: Không chướng ngại, cùng khắp, bình đẳng, rộng lớn, vô tướng, thanh tịnh, bất động, hữu không, không không, vô đắc. [X. luận Đại tì bà sa Q.75; luận Câu xá Q.1, Q.6; luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, luận Du già sư địa Q.53; luận A tì đạt ma tạng hiển tông Q.1; luận Thuận chính lí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Câu xá luận bảo sớ Q.1]. (xt. Hư Không Vô Vi). III. Hư Không. Tên khác của Không giới. Chỉ cho khoảng không gian, nơi tồn tại của tất cả các pháp, 1 trong 6 giới. Tuy nhiên, cứ theo Thuyết nhất thiết hữu bộ, thì giữa hư không và không giới có sự khác nhau, bộ này cho rằng Hư không chẳng phải sắc, còn Không giới thì là sắc; Hư không không thấy được, Không giới thì thấy được; Hư không vô lậu, Không giới hữu lậu; Hư không vô vi, Không giới hữu vi. Cái không mà chúng ta thấy đó là không giới, chứ chẳng phải Hư không. Nhưng trong các kinh thì phần nhiều không phân biệt 2 từ này mà dùng thay cho nhau. Ngoài ra, Hữu bộ còn cho rằng sắc của Không giới lấy sáng, tối làm thể, là có thật. Nhưng các bộ phái khác thì không công nhận thuyết này. [X. luận Du già sư địa Q.54; luận Đại tì bà sa Q75; luận Câu xá Q.1; luận Pháp uẩn túc Q.10; luận Thuận chính lí Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Du già luận kí Q.14 phần dưới].

hư không cư

Xem không cư thiên. ; Abiding in space.

hư không dụ

Ākāśa-upama (S) Thí dụ chỉ các pháp như hư không.

hư không giới

Àkàsa-dhàtu (S). The visible vault of space.

hư không hoa

xem hoa đốm. ; Gaganakusuma (S), Gaganapushpa (S) , Flowers in the sky, Xem Không hoa.

hư không huệ bồ tát

5263虛空慧,梵名 Gagana-mati。又作共發意法輪菩薩、供養發意菩薩、纔發心轉法輪菩薩(梵 Sahacittotpāda-dharmacakra)。係密教胎藏界曼荼羅虛空藏院二十八尊之一。位於虛空藏菩薩右方第二列之第一位。密號法輪金剛。種子爲???(ca),乃變遷之義。三昧耶形爲蓮上金剛輪,此輪爲八輻輪,表八正道。關於其形像,身呈赤肉色,右手持蓮花,蓮上有八輻輪;左手仰掌,上立獨股金剛杵,獨股金剛乃示獨一法界阿字淨菩提之智。又不空羂索神變真言經卷九廣大解脫曼拏羅品載其左手持蓮花,蓮上豎輪;右手揚掌執摩尼珠,半跏趺坐。〔大日經卷一具緣品、大日經疏卷五、諸說不同記卷六〕 ; Gaganamati (S) Tên một vị Bồ tát.

hư không pháp thân

The Dharmakàya as being like space which enfolds all things, omniscient and pure.

hư không thiên

The four heavens of desire above Meru in space, from the Yama heaven upwards.

hư không thần

Sungata (S) Thuấn nhã đa Vị thần làm chủ bầu trời.

hư không trú

Àkàsa-pratisthita (S). Abiding in space.

hư không tạng

Kokuzo (J), Gaganagarbha (S), Ākāśagarbha (S) Xem Không Tạng Bồ tát.

hư không tạng bồ tát

5264虛空藏,梵名 Ākāśa-garbha(音譯阿迦捨蘗婆), Gagana-gañja(音譯誐誐曩彥惹),西藏名 Nan-mkhaḥi-sñiṅ-po, Nam-mkhaḥ-mdsod;即福、智二藏無量,等如虛空,廣大無邊之意。又作虛空孕菩薩。此菩薩流出無量之法寶,普施所欲者,利樂眾生。係密教胎藏界曼荼羅虛空藏院之主尊、現圖胎藏曼荼羅釋迦院之釋迦右方脅侍、金剛界曼荼羅賢劫十六尊之一。 (一)虛空藏院主尊,其形像,身呈肉色,頭戴五佛冠,右手屈臂持劍,劍緣有光焰;左手置於腰側,握拳持蓮,蓮上有如意寶珠,坐於寶蓮華上。其所持之寶珠、劍,即表福智二門。密號如意金剛。種子爲???(i)。三昧耶形爲慧刀。(二)釋迦院之脅侍,其形像,右手豎掌,屈食、中指,執白拂;左手覆拳安於臍,持蓮花,蓮上有綠珠;披天衣,立於一平敷之蓮華座,面稍向左。密號無盡金剛。種子爲???(ā)。三昧耶形爲蓮上綠珠。(三)金剛界賢劫十六尊之一,此菩薩位於外院方壇南方四尊之第三位,又稱金剛幢菩薩、寶幢菩薩。其形像,身呈白肉色,左手握拳,按於腰上;右手持蓮,蓮上有寶珠。密號富貴金剛、圓滿金剛。種子爲???(ā)。三昧耶形爲三瓣寶珠。印相爲金剛縛,即二食指作寶瓶狀,二拇指並豎。〔大方等大集經卷十四虛空藏品、虛空菩薩經、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷三、般若理趣經、大日經疏卷五、卷十、兩部曼荼羅義記卷三、卷四、現圖曼荼羅金剛界諸尊便覽卷二〕 ; Àkàsagarbha, Gaganagarbha Bodhisattva (S). The central Bodhisattva in the court of space in the garbhadhàtu group; guardian of the treasury of all wisdom and achievement. ; (虛空藏菩薩) Hư không tạng, Phạm: Àkàza-garbha (dịch âm: A ca xá nghiệt bà),Gagana-gaĩja (dịch âm: Nga nga nẵng ngạn nhạ). Tạng: Nam-mkha#i-sĩiị-po, Nammkha#-mdsod. Cũng gọi Hư không dựng bồ tát. Vị Bồ tát này có phúc tạng và trí tạng vô lượng, giống như hư không, rộng lớn vô biên, lại dùng vô lượng pháp bảo bố thí, làm lợi lạc hết thảy chúng sinh. Bồ tát này gồm có 3 tôn vị: 1. Hư không tạng bồ tát, là chủ tôn của viện Hư không tạng, thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Hình tượng vị này, thân mầu da người, ngồi trên hoa sen báu, đầu đội mũ Ngũ Phật, cánh tay phải co lại, cầm thanh kiếm có ánh lửa sáng; tay trái đặt ở cạnh sườn, cầm hoa sen, trên hoa sen có viên ngọc báu như ý. Ngọc báu và thanh kiếm của vị Bồ tát này biểu thị cho phúc môn và trí môn. Mật hiệu là Như ý kim cương, chủng tử là (i), hình Tam muội da là Kiếm tuệ. 2. Hư không tạng bồ tát, là vị thị giả đứng hầu trong viện Thích ca. Hình tượng của vị tôn này, mình mặc thiên y, đứng trên tòa sen nở, mặt hơi hướng về phía trái, bàn tay phải dựng thẳng, ngón trỏ và ngón giữa co lại, cầm phất trần trắng, tay trái nắm lại đặt ở chỗ rốn, cầm hoa sen, trên hoa sen có viên ngọc mầu xanh. Mật hiệu là Vô tận kim cương, chủng tử là (à), hình Tam muội da là ngọc mầu xanh trên hoa sen. 3. Hư không tạng bồ tát, là 1 trong 16 vị tôn thuộc Hiền kiếp của Kim cương giới (cũng gọi là bồ tát Kim cương chàng, bồ tát Bảo chàng) là vị thứ 3 trong 4 vị tôn ngồi ở phía nam của Phương đàn thuộc viện ngoài. Hình tượng vị này, mình mầu trắng, tay trái nắm lại chống vào eo, tay phải cầm hoa sen, trên hoa sen có ngọc báu. Mật hiệu là Phú quí kim cương, Viên mãn kim cương, chủng tử là (à), hình Tam muội da là ngọc báu có 3 cánh, ấn tướng là Kim cương phược, tức là 2 ngón trỏ làm thành hình bình báu, 2 ngón cái dựng đứng. [X. phẩm Hư không tạng trong kinh Đại phương đẳng đại tập Q.14; kinh Hư không bồ tát; kinh Kim cương đính du già lược xuất niệm tụng Q.3; kinh Bát nhã lí thú; Đại nhật kinh sớ Q.5; Q.10; Lưỡng bộ mạn đà la nghĩa kí Q.3, Q.4; Hiện đồ mạn đồ la Kim cương giới chư tôn tiện lãm Q.2].

hư không tạng bồ tát kinh

5266請參閱 虛空藏菩薩經 [1]請參閱 虛空藏求聞持法 [1]請參閱 虛空藏求聞持法 梵名 Ākāśagarbha-sūtra。全一卷。姚秦佛陀耶舍譯。又稱虛空藏經、虛空藏菩薩神咒經。收於大正藏第十三冊。本經述說佛陀住佉羅底翅山時,虛空藏菩薩從西方一切香集依世界之勝華敷藏佛所來詣,以神力變娑婆世界爲淨土,大眾兩手皆有如意摩尼寶珠,由其珠內流現種種寶。次說除病得福之諸陀羅尼,及念此菩薩可得憶持不忘之力用,並圓滿諸願。劉宋曇摩蜜多譯之虛空藏菩薩神咒經一卷、隋代闍那崛多譯之虛空孕菩薩經二卷,皆爲本經之同本異譯。〔出三藏記集卷二、開元釋教錄卷四〕 ; (虛空藏菩薩經) Phạm:Àkàzagarbha-sùtra. Cũng gọi Hư không tạng kinh, Hư không tạng bồ tát thần chú kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Phật đà da xá dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 13. Nội dung kinh này tường thuật về việc khi đức Phật đang ở núi Khư la để sí, thì bồ tát Hư không tạng từ nơi ở của đức Phật Thắng hoa phu tạng trong thế giới Nhất thiết hương tập y nằm về phương tây hiện đến, dùng thần lực biến thế giới Sa bà thành Tịnh độ, rồi biến trong 2 tay của đại chúng đều có hạt ma ni bảo châu như ý, từ trong hạt châu ấy tuôn ra các thứ báu. Kế đó là nói về các đà la ni trừ bệnh được phúc, về người niệm danh hiệu của vị Bồ tát này sẽ được trí nhớ dai, mọi ý nguyện được viên mãn. Các bản dịch khác của kinh này còn có: Kinh Hư không tạng bồ tát thần chú 1 quyển, do ngài Đàm ma mật đa dịch vào đời Lưu Tống, kinh Hư không dựng bồ tát 2 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].

hư không tạng bồ tát pháp

5265以虛空藏爲本尊所修之秘法。略稱虛空藏法。係依據不空所譯之大虛空藏菩薩念誦法而來,分褔德、智慧、音聲三種法。若依此法修行,可消除業報等障,增長福德,心神適悅,淨信大乘,利樂有情,心不退轉,世間出世間所有財寶悉皆獲得。〔行林卷四十三、祕鈔卷中、乳味鈔卷九〕 ; (虛空藏菩薩法) Gọi tắt: Hư không tạng pháp. Pháp tu này y cứ vào Đại hư không tạng bồ tát niệm tụng pháp do ngài Bất không dịch vào đời Đường. Nội dung chia làm 3 pháp: Phúc đức, Trí tuệ, Âm thanh. Nếu nương vào pháp này mà tu hành thì sẽ tiêu trừ được nghiệp báo chướng, tăng trưởng phúc đức, tâm thần an vui, có lòng tin thanh tịnh đối với Đại thừa, làm lợi lạc chúng sinh, tâm không thoái chuyển, được mọi thứ của báu trong thế gian và xuất thế gian. [X. Hạnh lâm Q.43; Bí sao Q.trung; Nhũ vị sao Q.9].

hư không tạng cầu văn trì pháp

5264全一卷。唐代善無畏譯。全稱虛空藏菩薩能滿諸願最勝心陀羅尼求聞持法。又稱虛空藏求聞持法經、虛空藏菩薩滿願最勝心陀羅尼經、求聞持經、求聞持儀軌、求聞持法、求聞持軌。收於大正藏第二十冊。係別出於金剛頂經成就一切義品。本書乃爲求聞持者,解說能滿諸願最勝心陀羅尼,及壇法、印法等。現行之求聞持法,即基於此經所修。〔開元釋教錄卷九、貞元新定釋教目錄卷十四〕 ; (虛空藏求聞持法) Gọi đủ: Hư không tạng bồ tát năng mãn chư nguyện tối thắng tâm đà la ni cầu văn trì pháp. Cũng gọi: Hư không tạng cầu văn trì pháp kinh, Hư không tạng bồ tát mãn nguyện tối thắng tâm đà la ni kinh, Cầu văn trì kinh, Cầu văn trì nghi quĩ, Cầu văn trì pháp, Cầu văn trì quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Thiện vô úy dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nghi quĩ này được rút ra từ phẩm Thành tựu nhất thiết nghĩa trong kinh Kim cương đính. Nội dung nói về đà la ni Năng mãn chư nguyện tối thắng tâm và Đàn pháp, Ấn pháp, v.v... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14].

hư không tạng kinh

Akṣagarbha sŪtra (S) Tên một bộ kinh.

hư không tạng viện

5264 請參閱 虛空藏求聞持法 [1]密教胎藏界曼荼羅十二大院之第十院。位於持明院下方。以虛空藏菩薩爲主尊,故稱虛空藏院。此院表悲智合一,包藏萬德,能從眾生授一切寶,兼具智德,而 以福德爲本。虛空藏菩薩之右手持劍表智德;左手持蓮花表福德。院內有二十八尊,中央爲虛空藏菩薩,其左右諸尊復分上下兩段羅列。上段爲十波羅蜜菩薩,右方即檀、戒、忍、進、禪五菩薩之福門,左方爲般若、方便、願、力、智五菩薩之智門。下段左方則有無垢逝、蘇婆呼、金剛針、蘇悉地羯羅、曼荼羅,下段右方爲共發意轉輪、生念處、忿怒鉤、不空鉤等菩薩。而右端千手觀音以蓮華部之觀音院爲因行所生之果德,左端金剛藏王菩薩以金剛部之金剛手院爲因行所生之果德。另有以千手、金剛藏二尊及其眷屬別開二院之說,以虛空藏爲佛部,與兩端二尊共於此院表胎藏界三部之德。〔大日經卷一具緣品、卷四密印品、不空羂索經卷九〕(參閱「胎藏界曼荼羅」3935、「曼荼羅」4400) ; (虛空藏院) Viện này thờ bồ tát Hư không tạng làm vị chủ tôn, là viện thứ 10 trong 12 viện lớn thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Viện Hư không tạng biểu thị cho Bi, Trí hợp nhất, hàm chứa muôn đức, có khả năng ban bố cho chúng sinh tất cả của quí báu, tuy có đầy đủ trí đức nhưng lấy phúc đức làm chính. Tay phải của bồ tát Hư không tạng cầm thanh kiếm tiêu biểu cho trí đức; tay trái cầm hoa sen tiêu biểu cho phúc đức. Trong viện có 28 vị tôn, chính giữa là bồ tát Hư không tạng, các vị tôn khác ở 2 bên tả hữu của Ngài chia làm 2 hàng trên và dưới. Hàng trên gồm có 10 vị bồ tát Ba la mật, 5 vị ở bên phải là: Đàn, Giới, Nhẫn, Thiền tượng trưng cho Phúc môn; 5 vị ở bên trái là: Bát nhã, Phương tiện, Nguyện, Lực, Trí tượng trưng cho Trí môn. Ở hàng dưới, phía bên trái gồm có các vị Bồ tát: Vô cấu thệ, Tô bà hô, Kim cương châm, Tô tất địa yết la, Mạn đồ la; hàng dưới, phía bên trái, gồm có các Bồ tát: Cộng phát ý chuyển luân, Sinh niệm xứ, Phẫn nộ câu, Bất không câu. Còn Thiên thủ Quan âm ở đầu bên phải lấy viện Quan âm của Liên hoa bộ làm nhân hạnh mà sinh ra quả đức; bồ tát Kim cương tạng vương ở đầu bên trái lấy viện Kim cương thủ của Kim cương bộ làm nhân hạnh mà sinh ra quả đức. Ngoài ra, còn có thuyết cho rằng 2 vị tôn Thiên thủ, Kim cương tạng và quyến thuộc của các Ngài được chia thành 2 viện khác nhau, cho bồ tát Hư không tạng thuộc về Phật bộ, cùng với bồ tát Kim cương tạng và Thiên thủ Quan âm ở 2 bên cùng ở trong viện này, đều tượng trưng cho đức của 3 bộ Thai tạng giới. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1, phẩm Mật ấn Q.4; kinh Bất không quyên sách Q.9]. (xt. Thai Tạng Giới Mạn Đồ La, Mạn Đồ La).

hư không vân hải minh môn

5263爲形容第十一地(已至佛果)菩薩智慧不可限量之用語。蓋初地菩薩得百法明門,二地以上菩薩則每地循次增爲十倍至第十地,每地各有不同等第之明門。然至第十一地之佛果後,所得之智慧,已不可限量,故比喻爲虛空、雲、海,而稱爲虛空雲海明門。大日經疏卷七(大三九‧六五七下):「至十一地畔,於虛空雲海明門中,一一皆見蓮華藏莊嚴世界。」 ; (虛空雲海明門) Từ ngữ dùng để mô tả trí tuệ không giới hạn của Bồ tát địa thứ 11 (Phật quả). Bồ tát Sơ địa chứng được Bách pháp minh môn, Bồ tát từ nhị địa trở lên thì mỗi địa tùy theo thứ tự tăng lên nhiều lần cho đến địa thứ 10, mỗi địa đều có số minh môn khác nhau. Nhưng sau khi đến địa thứ 11, tức là quả Phật, thì trí tuệ chứng được không thể hạn lượng, ví như hư không, mây, biển, cho nên gọi là Hư không vân hải minh môn. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 657 hạ) nói: Đến địa thứ 11, bằng minh môn (trí tuệ) hư không vân hải, Bồ tát sẽ thấy tất cả thế giới Liên hoa tạng trang nghiêm .

hư không vô biên siêu việt bồ tát

5263虛空無邊超越,梵名 Gaganānanta-vikrama,西藏名 Nam-mkhaḥ-la rnam-par ḥgro-ba。又稱越無量虛空菩薩、虛空無邊遊步金剛菩薩、虛空遊步執金剛菩薩。係密教胎藏界金剛手院第二行第四位之菩薩。密號廣大金剛。三昧耶形爲三股杵。種子爲???(hūṃ)。其形像,身呈黃白色,右手屈臂,開肘仰掌,指頭向右;左手向內置於胸前,持三股杵;豎右膝,交趺坐於赤蓮花上。衣之前端,繫於左肘而下垂。印相爲持地印。〔大日經卷一住心品、大日經疏卷一、諸說不同記卷四〕 ; (虛空無邊超越菩薩) Hư không vô biên siêu việt, Phạm: Gaganànanta-vikrama. Tạng: Nam-makha#-la rnam-par #gro-ba. Cũng gọi: Việt vô lượng hư không bồ tát, Hư không vô biên du bộ kim cương bồ tát, Hư không du bộ chấp kim cương bồ tát. Vị Bồ tát thứ 4 ở hàng thứ 2 trong viện Kim cương thủ thuộc Thai tạng giới của Mật giáo. Hình tượng vị Bồ tát này. Mình mầu vàng lợt, ngồi kết già trên hoa sen đỏ, cánh tay phải co lại, khuỷu tay dang ra và bàn tayngửa lên, đầu các ngón tay hường về bên phải, tay trái hướng vào trong để ngang ngực, cầm chày ba chĩa. Mật hiệu là Quảng đại kim cương, hình Tam muội da là chày 3 chĩa, chủng tử là (hùô), ấn tướng là Trì địa ấn. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.1; Chư thuyết bất đồng kí Q.4].

hư không vô biên xứ việt bồ tát

Gaganananta-vikrama (S) Tên một vị Bồ tát.

hư không vô cấu trì kim cang bồ tát

Gaganananta-Vajradhara (S) Tên một vị Bồ tát.

hư không vô cấu trì kim cương bồ tát

5262虛空無垢持金剛,梵名 Gaganāmala-vajradhara,音譯誐誐娜摩羅縛日囉汰洛;西藏名 Rdo-rje-ḥdsin nam-mkhaḥ dri-ma-med-pa。又稱虛空無垢執金剛菩薩。爲密教大日經說會曼荼羅內眷屬十九執金剛之一。此尊持大日如來金剛智印,表「五轉」中「因」之德,亦即菩提心體;以菩提心體離一切煩惱戲論,淨如虛空,故稱虛空無垢。又爲胎藏界金剛手院第二行東邊第一位之菩薩,密號離染金剛。種子爲???(hūṃ)。形像爲身呈肉色,右手屈臂仰掌,指端向右;左手豎拳,持獨股杵,置於左胸前,面向右方,坐於赤蓮花上。〔大日經卷一住心品、大日經疏卷一、諸說不同記卷四、胎藏界七集卷上〕 ; (虛空無垢持金剛菩薩) Hư không vô cấu trì kim cương, Phạm: Gaganàmala-vajradhara. Hán âm: Nga nga na ma la phạ nhật ra thải lạc. Tạng: Rdo-rje-#dsin nam-mkha# drima-med-pa. Cũng gọi: Hư không vô cấu chấp kim cương bồ tát. Vị Bồ tát thứ nhất ở hàng thứ 2 mé bên đông trong viện Kim cương thủ thuộc Thai tạng giới Mật giáo. Là một trong mười chín vị Chấp kim cương nội quyến thuộc của Hội Mạn đồ la nói trong kinh Đại nhật. Hình tượng vị tôn này, mình mầu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, cánh tay phải co lại, bàn tay ngửa lên, các đầu ngón tay hướng về bên phải; tay trái nắm lại, cầm chày một chĩa đưa lên để ở trước ngực phía trái, mặt hướng về bên phải. Mật hiệu là Li nhiễm kim cương, chủng tử là (hùô), ấn tướng là Kim cương trí ấn của Đại nhật Như lai, tượng trưng cho đức Nhân . .. trong Ngũ chuyển , cũng tức là thể của tâm Bồ đề. Vì thể của tâm Bồ đề lìa tất cả phiền não hí luận, trong sạch như hư không, nên gọi là Hư không vô cấu. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.1; Chư thuyết bất đồng kí Q.4; Thai tạng giới thất tập Q.thượng].

Hư không vô vi

xem Ba pháp vô vi.

hư không vô vi

5262梵語 ākāśāsaṃskṛta。<一>小乘說一切有部所立「三無爲」之一。虛空,即無礙;無爲,指離因緣造作,不爲生、住、異、滅四相所遷之實在法。虛空無爲,謂真空之理不爲惑染所障礙;即以無礙爲性,容受萬物而遍滿一切處。〔俱舍論卷一、俱舍論光記卷一、俱舍論寶疏卷一〕 <二>大乘唯識宗所立「六無爲」之一。謂真如離各種障礙,猶如虛空,故稱虛空無爲。成唯識論立六種無爲,以彼有部所立之虛空無爲,非實有之法,於佛證得之法性,爲六無爲相中之一 相。法性之體,離諸障礙,稱爲虛空無爲,非別有容受萬物之無爲虛空。故依有部之說法,則虛空之語直指大虛空。依唯識之說,認爲一者喻語,以法性之無爲,似大虛空,故稱虛空;一者法性即爲虛空,故稱虛空。〔成唯識論卷二、大乘百法明門論疏卷上〕 ; Ākāśasaṁkṛta (S) Lấy vô ngại làm tánh, dung chứa vạn vật, trùm khắp mọi nơi Lý chân không vô ngại.Xem Hư không. ; Àkàsa (S). One of the asamskrta dharmas, passive void or space; two kinds of space, or the immaterial, are named, the active and passive, or phenomenal and non phenomenal (i.e. noumenal) ; (虛空無爲) Phạm:Àkàzàsaôskfta. I. Hư Không Vô Vi. Lí chân không thanh tịnh, vô ngại, bao trùm muôn pháp, là 1 trong 3 pháp vô vi do Thuyết nhất thiết hữu bộ tiểu thừa thành lập. Hư không là vô ngại, Vô vi là pháp thực tại, lìa nhân duyên tạo tác không bị 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt làm cho đổi dời. [X. luận Câu xá Q.1; Câu xá luận quang kí Q.1; Câu xá luận bảo sớ Q.1]. II. Hư Không Vô Vi. Chỉ cho chân như xa lìa các chướng ngại, giống như hư không. Một trong 6 pháp vô vi do tông Duy thức thành lập Luận Thành duy thức lập 6 pháp vô vi, cho rằng Hư không vô vi do Hữu bộ thành lập chẳng phải là pháp có thật, rằng pháp tính mà đức Phật chứng được là một tướng trong 6 tướng vô vi. Thể của pháp tính xa lìa các chướng ngại, gọi là Hư không vô vi, chớ chẳng phải có cái hư không vô vi nào khác trùm khắp muôn vật. Bởi thế, theo lập thuyết của Hữu bộ, thì từ ngữ Hư không chỉ thẳng cho bầu hư không rộng lớn. Còn theo chủ trương của Duy thức thì hư không chỉ là ví dụ, vì vô vi của pháp tính giống như hư không bao la, nên gọi là Hư không vô vi. [X. luận Thành duy thức Q.2; Đại thừa bách pháp minh môn luận sớ Q.thượng].

hư ngụy

Vitatha (S). Unreal, deceptive; false, untrue; deceitful.

hư thụ tín thí tội

5261略稱虛受罪。即以虛偽立場接受信施之罪,或受虛偽施物之罪。又僧尼以破戒之身受檀越之施與,所犯之過罪,亦稱虛受信施罪。〔觀佛三昧海經卷五、梵網經卷下、毘尼母經卷二、目連問戒律中五百輕重事〕 ; (虛受信施罪) Gọi tắt: Hư thụ tội. Tội nhận lãnh của tín thí với tâm hư dối, hoặc tăng ni đã phạm tội phá giới mà còn nhận vật cúng dường của tín đồ. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q5; kinh Phạm võng Q.hạ; kinh Tì ni mẫu Q.2; Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự].

hư tâm

With humble mind or heart.

hư tâm hợp chưởng

5260梵語 saṃpuṭa。音譯三補吒。又稱空心合掌、空中合掌、虛合、虛心合。爲密教基本印契十二合掌之第二。即指頭相齊相合,兩掌中心稍微相離,掌心呈虛空之狀。蓋梵語 saṃpuṭa,乃「匣」之義,故知此印契係以形狀得名。〔大日經疏卷十三〕(參閱「十二合掌」336) ; Saṃputa (S) Một trong 12 cách chắp tay (chắp tay rổng ở giữa). ; (虛心合掌) Phạm: Saôpuỉa. Dịch âm: Tam bổ tra. Cũng gọi: Không tâm hợp chưởng, Không trung hợp chưởng, Hư hợp, Hư tâm hợp. Một kiểu chắp tay mà lòng 2 bàn tay tạo thành một khoảng trống. Đây là ấn thứ 2 trong 12 ấn khế hợp chưởng cơ bản của Mật giáo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).

hư vân

5268(1840~1959)湖南湘鄉人,俗姓蕭。名古巖,字德清。爲民國以來,傳法曹洞,兼嗣臨濟,中興雲門,匡扶法眼,延續溈仰,以一身而繫五宗法脈之禪宗大德。十九歲,於褔建鼓山湧泉寺依常開老人出家,次年依妙蓮和尚受具足戒。其後,四處行腳名山,參訪學道,行蹤遍及四川、西康、西藏、印度、錫蘭、緬甸等地。四十三歲發心朝拜五臺山,以報父母深恩,由普陀山法華庵起香,三步一拜,歷經三年,備受饑寒,三次大病,奄奄待斃,皆蒙文殊菩薩感應相救,終拜抵五臺顯通寺。 五十六歲,在江蘇高旻寺,因沸水濺手,致使茶杯落地,而頓斷疑根,徹悟本來。六十一歲嘗隨清末兩宮西幸,啟建祝聖護國消災法會。事畢即潛隱終南山,更名虛雲,號幻遊。後往檳榔嶼、馬六甲、吉隆坡、臺灣等地講經弘化。六十八歲於泰國講經時,曾入定九日,轟動泰京。其後曾爲護國祝聖禪寺入京請藏。亦曾說服滇軍協統李根源,消弭逐僧毀寺之禍。並調停漢藏糾紛,招撫盜匪,爲民除去戰禍。在滇中闡教十八年。九十歲始離滇返鼓山任住持。 一百零九歲時在香港弘法。後因懷抱護教救僧悲願,乃於次年返回大陸。民國四十年(1951),師一百一十二歲,春戒期間,共匪擾劫雲門,弟子妙雲被毆致死,師自身亦屢遭毒打,筋骨斷折,至於昏厥。未久病發,趺坐如故,止食九日,遂有神遊兜率、侍聽彌勒講經之事。匪徒訝其不死而懾伏,乃不再續擾。 晚年駐錫江西雲居山,曾拒任中共「中國佛教協會」會長。四十八年秋於雲居山示寂,世壽一百二十,僧臘一百零一。 綜其一生,凡淨、苦、孝、忍、定、捨、悲、異、方便、無畏、不放逸諸行,無不奉持。因嘆宗風淪墜,道場廢圯,律教無聞,乃發願振興十方叢林,重建古剎。其所興復之著名道場有:雲南華亭寺(雲棲)、雞足祝聖禪寺、曹溪南華叢林、福建鼓山湧泉寺、廣東曲江雲門禪寺、江西雲居真如禪寺等,所重建之大小寺院庵堂共八十餘處。每處皆於竣工時,覓一住持任之,然後悄然退隱。師雖爲禪宗巨匠,然亦每教人老實念佛。其所撰楞嚴經玄要、法華經略疏、遺教經註釋、圓覺經玄義、心經解等書,於雲門事變時,盡被奪去,今僅存法語、開示、書問、詩歌等文字,後人編爲「虛雲和尚法彙」一書。〔虛雲和尚法彙、虛雲老和尚事略(蘇芬)〕 ; (虛雲) Thiền sư Trung quốc, người làng Tương, tỉnh Hồ nam, họ Tiêu, tên Cổ nham, tự Đức thanh. Cuộc đời sư tiếp nối pháp mạch của 5 dòng Thiền: Tào động, Lâm tế, Vân môn, Pháp nhãn và Qui ngưỡng. Năm 19 tuổi sư theo ngài Thường khai lão nhân chùa Dũng tuyền, núi Cổ sơn, tỉnh Phúc kiến, xin xuất gia. Năm 20 tuổi sư y vào ngài Diệu liên thụ giới Cụ túc. Về sau, sư du phương tham học khắp các vùng Tứ xuyên, Tây khang, Tây tạng, Ấn độ, Tích lan, Miến điện, v.v... Năm 43 tuổi, sư phát tâm lên chiêm bái núi Ngũ đài để đền đáp ơn sâu của cha mẹ, bắt đầu từ am Pháp hoa ở núi Phổ đà, cứ 3 bước lạy 1 lạy, ròng rã trong ba năm, chịu đủ nỗi đói lạnh, ba lần bị bệnh nặng, tưởng như chờ chết, đều được bồ tát Văn thù cảm ứng cứu giúp. Cuối cùng, sư đến được chùa Hiển thông núi Ngũ đài. Năm 56 tuổi, sư ở chùa Cao mân tại tỉnh Giang tô, một hôm nhân bị nước sôi bắn vào tay làm cho tách trà rơi xuống đất, sư bỗng nhiên dứt gốc ngờ, triệt ngộ bản lai. Năm 61 tuổi, cuối đời Thanh, sư theo Lưỡng cung(chỉ cho vua và Thái hậu) đến phía tây mở pháp hội Chúc Thánh Hộ Quốc Tiêu Tai , rồi trở về ẩn tu ở núi Chung nam, đổi tên là Hư vân, hiệu Huyễn du. Sau, sư đến hoằng pháp ở đảo Penang, Mã lục giáp, Cát long pha (Kuala Lumpur), Đài loan, v.v... Năm 68 tuổi, lúc giảng kinh ở Thái lan, sư từng nhập định 9 ngày, gây xôn xao cả kinh đô Thái. Sư cũng từng thuyết phục quân Hiệp thống tỉnh Vân nam là Lí căn nguyên, chấm dứt việc đuổi tăng phá chùa, cũng như đã điều đình sự tranh chấp giữa Trung quốc và Tây tạng, trừ khử họa chiến tranh, khuyên dụ bọn trộm cướp trở về con đường lương thiện. Sư hoằng dương giáo pháp ở tỉnh Vân nam 18 năm. Năm 90 tuổi sư mới trở về trụ trì chùa Dũng tuyền ở núi Cổ sơn. Năm 109 tuổi, sư hoằng pháp ở Hương cảng. Sau, vì hoài bão bi nguyện hộ giáo cứu tăng nên năm sau sư trở về đại lục. Năm 1951, sư được 112 tuổi. Mùa xuân năm ấy, cộng sản Tàu đến quấy phá chùa Vân môn, đệ tử của sư là Diệu vân bị cộng sản đánh đến chết, chính sư cũng bị đánh đến hôn mê. Không bao lâu phát bệnh, sư ngồi kết già, nhịn ăn trong 9 ngày, cộng sản thấy sư không chết lấy làm lạ, từ đó không dám quấy nhiễu nữa. Cuối đời sư đến ở núi Vân cư tại tỉnh Giang tây. Trọn đời sư đã vâng giữ các hạnh thanh tịnh, khổ, hiếu, nhẫn, định, xả, bi, dị, phương tiện, vô úy, bất phóng dật. Sư thường than thở tông phong suy tàn, đạo tràng đổ nát, luật giáo không còn được nghe, sư phát nguyện chấn hưng, trùng tu các tùng lâm trong nước, tổng cộng hơn 80 ngôi lớn nhỏ như: Chùa Hoa đình (Vân thê) tại tỉnh Vân nam, Chúc Thánh thiền tự ở núi Kê túc, tùng lâm Hoa nam ở Tào khê, chùa Dũng tuyền ở núi Cổ sơn, tỉnh Phúc kiến, Vân môn thiền tự ở huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông, Chân như thiền tự ở núi Vân cư, tỉnh Giang tây, v.v... Mỗi nơi sau khi hoàn thành sư đều giao cho một vị làm trụ trì, sau đó lại đi nơi khác. Tuy là bậc cự phách trong Thiền tông nhưng sư cũng dạy người chân thật niệm Phật. Mùa thu năm 1959 sư thị tịch tại núi Vân cư, thọ 120 tuổi, pháp lạp 101. Lúc sinh thời sư từng soạn các bộ: Lăng nghiêm kinh huyền yếu, Pháp hoa kinh lược sớ, Di giáo kinh chú thích, Viên giác kinh huyền nghĩa, Tâm kinh giải, v.v... nhưng tất cả những tác phẩm trên đều đã bị cộng sản lấy đi hết trong vụ cướp phá chùa Vân môn năm 1951. Hiện nay chỉ còn Pháp ngữ, Khai thị, Vấn thư, Thi ca…... do người sau biên tập thành Hư Vân Hòa Thượng Pháp Vận . [X. Hư vân hòa thượng pháp vậng; Hư vân lão hòa thượng sự lược].

hư vân hoà thượng

Hsu Yun (C) Thiền sư Trung hoa, tịch năm 1959 thọ 120 tuổi.

hư vô

Empty, non exsistent, unreal, incorporeal, immaterial.

hư vô chủ nghĩa

5267(Nihilism)即對於既成之道德、習慣、制度、宗教或任何積極事物之真理性及價值性,加以否定之主義。虛無主義者雖有積極提倡社會革命運動者,然大多爲消極、無關心之逃避者,亦有陷入於追求剎那之快樂主義者,可說爲具有晦暗、絕望觀之頹廢意識之主義。 釋尊以否定「梵我」形而上學之原理爲前提,直視現實,以徹見現實,而謀取解決之道,故被婆羅門(彼等以梵我哲學爲正統)視同六師外道,攻擊爲虛無主義者。此乃因釋尊自現實之徹見,而產生一切存在皆無常、皆苦、皆無我之說法,尤其強調人生以有「死」而存在,故被誤解爲虛無主義者。實則,就釋尊之思想行爲及其教說所顯現者,並非如虛無主義者之從現實逃避,乃是直視現實,突破現實,超越現實,以解決人生痛苦之道。因之,佛教並非虛無主義。又就釋尊入滅之際,教誡弟子依「法」與依「自己」,可知釋尊所確切樹立之人生態度,乃認爲萬物所依據之「法」,與作爲主體之「自己」皆爲「空」,此一「空」並非與「有」相對之「無」,而是超越有無二邊之「空」,故空不可被誤解爲虛無主義之「無」。(參閱「空」3467) ; Nihilism (S), chī ta (T) Chủ nghĩa của người chấp không. ; (虛無主義) (Nihilism) Chủ nghĩa phủ định tất cả đạo đức, tập quán, chế độ, tôn giáo, hoặc chân lí, giá trị của bất cứ sự vật gì. Những người theo chủ nghĩa hư vô tuy có tích cực đề xướng cuộc vận động cách mạng xã hội, nhưng phần đông họ là những kẻ trốn tránh, tiêu cực không quan tâm. Cũng có những người rơi vào chủ nghĩa tìm cầu khoái lạc nhất thời. Có thể nói, đây là chủ nghĩa tối tăm, tuyệt vọng. Đức Phật Thích ca dùng nguyên lí phủ định Phạm ngã siêu hình làm tiền đề, nhìn thẳng vào hiện thực để thấu suốt hiện thực mà tìm con đường giải quyết, nên Ngài bị những người Bà la môn(chủ trương có Phạm ngã) xem đồng như Lục sư ngoại đạo và công kích là người theo chủ nghĩa hư vô. Đó là vì đức Phật thấu suốt hiện thực, nên Ngài biết rõ sự vật tồn tại đều là vô thường, khổ, vô ngã, nhất là nhấn mạnh con người nhờ có chết mà tồn tại, do đó mà Ngài bị hiểu lầm là người theo chủ nghĩa hư vô. Thực ra, qua tư tưởng, hành vi và giáo thuyết của đức Phật, thì Ngài không giống như những người theo chủ nghĩa hư vô, trốn tránh hiện thực, mà trái lại, Ngài nhìn thẳng vào hiện thực, thấu suốt hiện thực, siêu việt hiện thực để giải quyết vấn đề thống khổ của kiếp người. Vì thế, Phậtgiáo tuyệt nhiên chẳng phải là chủ nghĩa hư vô. Khi đức Phật sắp nhập diệt, Ngài căn dặn các đệ tử phải nương vào pháp và nương vào chính mình để đạt đến giải thoát. Từ đó, ta thấy thái độ của đức Phật đối với nhân sinh rất là khẩn thiết. Pháp mà muôn vật y cứ và chính mình , tức là chủ thể, đều là không . Nhưng cái không ở đây chẳng phải là không đối với có , mà là không siêu việt có và không , vì thế cái không này chẳng phải là cái không (vô) thông thường của chủ nghĩa hư vô. (xt. Không).

hư vô thân

5267即指證得涅槃妙理之法身。虛無,爲涅槃之異稱,以涅槃離一切差別相,故稱虛無。譬如佛身融通自在,離一切相,如光影,故稱爲虛無身。又往生極樂淨土之人,契入涅槃妙理,亦受自然虛無之身、無極之體。據吉藏所著無量壽經義疏載,以神通無所不至,故曰無極之體;色如光影,故云虛無之身。〔無量壽經卷上〕 ; (虛無身) Pháp thân đã chứng được diệu lí Niết bàn. Hư vô là tên khác của Niết bàn, vì Niết bàn xa lìa tất cả tướng sai biệt nên gọi là Hư vô. Thân Phật dung thông tự tại, lìa tất cả tướng, nên gọi là Hư vô thân. Người sinh về Tịnh độ cực lạc, khế nhập diệu lí Niết bàn, cũng được thân hư vô, thể vô cực. Cứ theo Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Cát tạng, thì nhờ thần thông không chỗ nào mà chẳng đến, nên gọi là Thể vô cực; sắc như ánh sáng, nên gọi là Thân hư vô. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].

hư vô tăng

5267指日本禪宗支派普化宗之徒。又稱虛妄僧、薦僧、菰僧、普化僧、莽蓾破裸、暮露、梵論、梵論子。因普化宗奉馬祖道一之法孫鎮州普化禪師爲開祖,故普化宗之徒又稱馬聖。虛無僧不著僧衣,頭戴藺笠,口吹尺八(古代樂器,長一尺八寸,即簫管),頸掛袈裟及方便囊,行乞諸方。 虛無,有空之意,或謂人名。以普化宗之徒遊歷四方,到處住宿,枕於草蓆(薦)上,故借用虛無之意而稱虛無僧。在日本鎌倉時代即有虛無僧之名,應仁(1467~1469)之頃有僧朗庵,人稱普化道者,常吹尺八自娛,後住京都妙安寺,其弟子遍及全國。其後,流浪者、亡命之徒亦多從之,宗風一時頗盛,然弊端叢出。明治四年(1871)十月,普化宗遭廢止,虛無僧之數大減,今已甚少。〔普化宗問答、諸宗評判記、七十一番歌合卷中、虛鐸傳記卷上、沙石集卷八〕(參閱「普化宗」4981) ; Komusō (J). ; (虛無僧) Cũng gọi Hư vọng tăng, Tiến tăng, Cô tăng, Phổ hóa tăng, Mãng lỗ phá khỏa, Mộ lộ, Phạm luận, Phạm luận tử. Từ ngữ gọi chung các vị tăng của phái Thiền Phổ hóa ở Nhật bản. Hư vô tăng không mặc áo pháp, đầu đội nón cói, miệng thổi ống sáo(Xích bát, một loại nhạc khí đời xưa, dài 1 thước 8 tấc Tàu), cổ khoác ca sa, vai mang một cái đãy, đi xin ăn khắp nơi. [X. Phổ hóa tông vấn đáp; Chư tông bình phán kí; Thất thập nhất phiên ca hợp Q.trung; Hư đạc truyền kí Q.thượng; Sa thạch tập Q.8]. (xt. Phổ Hóa Tông).

hư vọng

5260虛假、非真實之意。或略作妄。其義細別有三,即:(一)梵語 a-santa-bhāva,乃非實在之意。如妄法、妄境、妄有。(二)梵語 vitatha,即非理迷執之意。如妄識、妄心、妄念、妄執、妄情、妄分別等。(三)梵語 mṛṣā,乃虛誑之意。如妄語、妄言。〔法華經卷一方便品、瑜伽師地論卷三十六、成唯識論卷九〕 ; False Xem Vọng ngữ. Xem Bất khởi phát. ; Vitatha (S). Unreal and false; baseless; abhùta, non existent. ; (虛妄) Gọi tắt: Vọng. Hư giả, chẳng phải chân thực. Nếu phân biệt thì hư vọng có 3 nghĩa: 1. Không có thật, không tồn tại (Phạm: A-santa-bhàva). Như vọng pháp, vọng cảnh, vọng hữu, v.v... 2. Chấp mê một cách phi lí (Phạm: Vitatha). Như vọng thức, vọng tâm, vọng niệm, vọng chấp, vọng tình, vọng phân biệt, v.v...3. Hư dối (Phạm:Mfwà). Như vọng ngữ, vọng ngôn, v.v... [X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1; luận Du già sư địa Q.36; luận Thành duy thức Q.9].

hư vọng kiến

Prapaca-darśana (S), Papacadassana (P). ; Prapancadarsana (S). Pervaerted views (on the existence).

hư vọng luân

5261眾生以虛妄之業障而輪迴不已,恰如車輪之輾轉不止,故以輪喻之。凡生死輪迴,皆虛妄之惑業所感,其體非真,故稱虛妄。讚阿彌陀佛偈(大四七‧四二四上):「我從無始循三界,爲虛妄輪所迴轉。」 ; (虛妄輪) Bánh xe hư vọng quay chuyển không ngừng, ví dụ chúng sinh vì hoặc nghiệp hư vọng mà phải sinh tử luân hồi trong 6 đường không dứt. Kệ tán thán Phật A di đà (Đại 47, 424 thượng), nói: Từ vô thủy con nổi chìm trong ba cõi, Hư vọng luân quay mãi không ngừng .

hư vọng pháp

Unreal things or sensations.

hư vọng phân biệt

5261梵語 vitatha-vikalpa。略作妄分別。錯會事物之真相,而妄自思惟、識別(分別),稱爲虛妄分別。蓋萬法唯心造,心外無別體。然愚癡凡夫起妄心亂識,生種種分別,或執心外有實法,或執實我,此實我、實法之見,即爲遍計所執,不契真性,故稱虛妄分別。大乘阿毘達磨雜集論卷十四將虛妄分別分爲根本分別、相分別、相顯現分別、相變異分別、相顯現變異分別、他引分別、不如理分別、如理分別、執著分別、散亂分別等十種,並廣爲解說其相。〔正法念處經卷五、瑜伽師地論卷三十六、成唯識論卷七、卷八、辯中邊論卷上、梁譯攝大乘論釋卷五、辯中邊論述記卷上〕 ; Vitatha-vikalpa (S), AbhŪta-parikalpa (S), Discriminated opinion Sự phân biệt hư dối sai lầm không đúng chân tướng sự vật. ; Abhùta-parikalpa (S). Wrong opinion, discriminated opinion. ; (虛妄分別) Phạm: Vitatha-vikalpa. Gọi tắt: Vọng phân biệt. Sự phân biệt hư dối sai lầm không đúng với chân tướng của sự vật. Muôn pháp do tâm tạo, ngoài tâm không có pháp, nhưng phàm phu ngu si khởi vọng tâm loạn thức, sinh ra đủ thứ phân biệt hoặc chấp thực ngã, thực pháp, cái chấp này là biến kế sở chấp, không khế hợp với chân tính, nên gọi là Hư vọng phân biệt. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 14, chia Hư vọng phân biệt làm 10 loại là: Căn bản phân biệt, Tướng phân biệt, Tướng hiển hiện phân biệt, Tướng biến dị phân biệt, Tướng hiển hiện biến dị phân biệt, Tha dẫn phân biệt, Bất như lí phân biệt, Như lí phân biệt, Chấp trước phân biệt và Tán loạn phân biệt. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.5; luận Du già sư địa Q.36; luận Thành duy thức Q.7, Q.8; luận Biện trung biên Q.thượng; luận Nhiếp đại thừa Q.9 (bản dịch đời Lương); Biện trung biên luận thuật kí Q.thượng].

Hư Ðường Trí Ngu

虛堂智愚; C: xūtáng zhìyú; J: kidō chigu; 1185-1269;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, hệ phái Dương Kì. Sư nối pháp Thiền sư Vận Am Phổ Nham và là thầy của vị Thiền sư Nhật Bản danh tiếng là Nam Phố Thiệu Minh (j: nampo shōmyō). Trong sự việc gìn giữ tông Lâm Tế Nhật Bản trước sự suy tàn, các vị Ðại thiền sư tại đây như Nhất Hưu Tông Thuần (j: ikkyū sōjun), Bạch Ẩn Huệ Hạc (j: hakuin ekaku) – cả hai vị đều nằm trong hệ thống truyền thừa của Sư – thường nhắc đến phong cách, phương pháp hoằng hoá nghiêm chỉnh kỉ luật của Sư và tự xem mình là Pháp tự chính thống của Sư.

hư đường

Hsu tang (C), Kido (J), Hsu-T'ang (C), Xuatng (C), Kido (J) (1185-1269) Thiền sư Trung quốc thuộc dòng thiền Lâm Tế.

hư đường hoà thượng ngữ lục

5266凡十卷。又稱虛堂智愚禪師語錄、虛堂禪師語錄、虛堂錄、虛堂語錄。收於大正藏第四十七冊。爲臨濟宗之重要語錄。集錄臨濟宗楊岐派虛堂智愚之法語、偈頌、詩文。前七卷於虛堂在世時,其門人已刊行,後三卷則爲宋代咸淳五年(1269),妙源所輯集刊行。 ; (虛堂和尚語錄) Cũng gọi Hư đường Trí ngu thiền sư ngữ lục, Hư đường thiền sư ngữ lục, Hư đường lục, Hư đường ngữ lục. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Hư đường Trí ngu soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung ghi chép các pháp ngữ, kệ tụng, thi văn của thiền sư Hư đường Trí ngu, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế. Bảy quyển trước do các đệ tử ấn hành lúc ngài còn sống, 3 quyển sau thì do ngài Diệu nguyên biên tập và xuất bản năm Hàm thuần thứ 5 (1269) đời Tống.

Hư Đường Trí Ngu

(虛堂智愚, Kidō Chigu, 1185-1269): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hư Đường (虛堂) hay Tức Canh Tẩu (息耕叟), người Tứ Minh Tượng Sơn (四明象山). Năm 16 tuổi, ông theo xuất gia với Sư Uẩn (師蘊) ở Phổ Minh Tự (普明寺). Sau đó ông đi du phương tham học, gặp được Vận Am Phổ Nham (運庵普巖), có chỗ sở đắc và kế thừa dòng pháp của vị này. Tiếp theo ông còn đi tham vấn chư vị tôn túc khác, đến năm thứ 2 (1228) niên hiệu Thiệu Định (紹定), ông đến sống tại Hưng Thánh Tự (興聖寺). Về sau, ông được hai vua Lý Tông và Độ Tông nhà Tống quy y theo, vì vậy ông càng bố giáo mạnh mẽ hơn. Vào năm thứ 5 (1269) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳), ông thị tịch, hưởng thọ 85 tuổi. Trước tác của ông có Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục (虛堂和尚語錄) 10 quyển.

hư đường trí ngu

5266(1185~1269)宋代臨濟宗楊岐派禪僧。浙江象山人,俗姓陳。號虛堂、息耕叟。十六歲從普明寺師蘊出家。先後遊學於雪竇、淨慈等諸師之門下,至金山,見運菴普巖而有所得,遂爲法嗣,其後歷參諸方善知識。紹定二年(1229),初晉住興聖寺,後又歷住報恩、顯孝、瑞巖、延福、寶林、育王、淨慈、徑山諸剎。爲宋理宗、度宗歸依師,教化鼎盛。咸淳五年示寂,世壽八十五。有語錄十卷行世。〔增續傳燈錄卷四、佛祖綱目卷四十、續燈存稾卷四〕 ; (虛堂智愚) (1185-1269) Vị Thiền tăng thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người huyện Tượng sơn, tỉnh Chiết giang, họ Trần, hiệu Hư đường, tức Canh tẩu. Năm 16 tuổi, sư theo ngài Sư uẩn ở chùa Phổ minh xin xuất gia. Sau, sư tham học các ngài Tuyết đậu, Tịnh từ, nhưng không khế ngộ, sư bèn đến Kim sơn tham yết ngài Vận am Phổ nham và được nối pháp. Năm Thiệu định thứ 2 (1229), lần đầu tiên, sư trụ trì chùa Hưng thánh, sau lần lượt ở các chùa Báo ân, Hiển hiếu, Thụy nham, Diên phúc, Bảo lâm, Dục vương, Tịnh từ, Kính sơn...,… vua Lí tông, Độ tông nhà Tống đều qui y sư. Năm Hàm thuần thứ 5 (1269), sư thị tịch, thọ 85 tuổi. Tác phẩm: Hư đường Hòa thượng ngữ lục, 10 quyển. [X. Tăng tục truyền đăng lục Q.4; Phật tổ cương mục Q.40; Tục đăng tồn cảo Q.4].

Hư Đường Tập

(虛堂集, Kidōshū): 6 quyển, có lời bình xướng của Lâm Tuyền Tùng Luân (林泉從倫), san hành vào năm đầu (1295) niên hiệu Nguyên Trinh (元貞) nhà Nguyên. Nguyên văn là Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đơn Hà Thuần Thiền Sư Tụng Cổ Hư Đường Tập (林泉老人評唱丹霞淳禪師頌古虛堂集, Rinsenrōjinhyōshōtankajunzenjijukokidōshū). Đây là tập thâu lục 100 tắc tụng cổ của Đơn Hà Tử Thuần (丹霞子淳) nhà Tống để làm kim chỉ nam cho hàng hậu học biện đạo. Từ các bài tụng cổ được thâu lục trong Đơn Hà Ngữ Lục (丹霞語錄), mỗi tắc có lời dạy chúng của Lâm Tuyền Lão Nhân, rồi được thêm vào trước ngữ cho cổ tắc do Đơn Hà nêu lên, kế đến thêm vào tụng cổ của Đơn Hà, cuối cùng có lời bình xướng của riêng tác giả. Bộ này bắt chước hình thức biên tập của Bích Nham Lục (碧巖錄) và Tùng Dung Lục (從容錄).

hư đường tập

5266請參閱 虛堂和尚語錄 [1]凡六卷。全稱林泉老人評唱丹霞淳禪師頌古虛堂集。又作虛堂錄。宋代僧丹霞子淳撰,林泉從倫評唱,元成宗元貞元年(1295)刊行。收於卍續藏第一二四冊。係從倫摘取「丹霞子淳禪師語錄」卷下之頌古百則,重新編纂,加入示眾、著語、評唱等,以表達其宗乘見解,堪爲學人參學悟道之指南。內容包括青原圑級、石頭曹溪、藥山坐次、船子夾山、天寧夜半、天寧上堂、保壽上堂、三界唯心等公案古則。 ; (虛堂集) Cũng gọi Hư đường lục. Gọi đủ: Lâm tuyền lão nhân bình xướng Đơn hà Thuần thiền sư tụng cổ Hư đường tập. Tác phẩm, 6 quyển, do thiền sư Đơn hà Tử thuần soạn vào đời Tống, ngài Lâm tuyền Tòng luân bình xướng, ấn hành vào niên hiệu Trinh nguyên năm đầu (1295) đời vua Thành tông nhà Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 124. Nội dung gồm 100 cổ tắc công án như: Thanh nguyên giai cấp, Thạch đầu tào khê, Dược sơn tọa thứ, Thuyền tử giáp sơn, Thiên ninh dạ bán, Thiên ninh thướng đường, Bảo thọ thướng đường, Tam giới duy tâm, v.v...

hư độc

xem bốn thứ độc.

hư ảo

Illusory, unreal; utopian, chimerical. Chốn hư ảo: the land of fancy; utopia. Bày trò hư ảo: to create utopia.

Hưng Chánh Tự

(興正寺, Kōshō-ji): ngôi chùa bản sơn của Phái Hưng Chánh Tự (興正寺派) thuộc Chơn Tông, hiệu là Viên Đốn Sơn Hoa Viên Viện Hưng Long Đường (圓頓山花園院興隆堂), lãnh địa Lộc Uyển Viện (鹿苑院); hiện tọa lạc tại Shimogyō-ku (下京區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Chùa tách khỏi sự quản lý của Bổn Nguyện Tự và chính thức trực thuộc Phái Hưng Chánh Tự là vào năm 1876 (Minh Trị [明治] 9). Theo một số tư liệu như Cao Điền Khai Sơn Thân Loan Thánh Nhân Chánh Thống Truyện Đệ Tứ (高田親鸞聖人正統傳第四), v.v., vào tháng 9 năm 1212 (Kiến Lịch [建曆] 2), thể theo lời thỉnh cầu của Nguyên Hải (源海), Thân Loan kiến lập ngôi làng ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina); rồi đến năm 1218 (Kiến Bảo [建保] 6), Thuận Đức Thiên Hoàng (順德天皇, Juntoku Tennō, tại vị 1210-1221) đã ban sắc hiệu cho chùa hiệu là Hưng Long Chánh Pháp Tự (興隆). Vào năm 1602 (Khánh Trường [慶長] 7), khi Bổn Nguyện Tự phân lập thành Đông Tây, chùa tùng thuộc vào Tây Bổn Nguyện Tự.

hưng cừ

6281梵語 hiṅgu。為五辛之一。又作興瞿、興舊、興宜、形虞、形具。產於新疆和闐、西藏、印度、伊朗、阿富汗等地,為高達二公尺之草本植物。根粗如細蔓菁之根,色白,其臭如蒜,可供食用。若切斷莖枝,在斷口處會滲出液體,凝固後供作藥用,稱為阿魏藥,可驅除小蟲或除臭。又據玄應音義卷十九載,有以興渠為我國之蕓臺,實係誤傳。〔宋高僧傳卷二十九慧日傳〕(參閱「五辛」1099) ; (興渠) Phạm: Hiịgu. Cũng gọi Hưng cù, Hưng cựu, Hưng nghi, Hình ngu, Hình cụ. Một loại thực vật có mùi hôi như tỏi, sinh sản ở các vùng Hòa điền thuộc tỉnh Tân cương, Tây tạng, Ấn độ, Iran, A phú hãn, v.v... là một trong ngũ tân(hành, hẹ, tỏi, củ kiệu, hưng cừ). Đây là loài thực vật thân thảo cao 2 mét, củ giống như củ cải nhỏ, mầu trắng, ăn được. Nếu cắt ngang thân cây thì ngay ở chỗ cắt tiết ra một chất lỏng, sau khi đông cứng lại có thể dùng làm thuốc, gọi là A ngùy, diệt được sâu bọ và trừ mùi hôi. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 19, thì có người cho rằng hưng cừ là rau vân đài(củ cải dầu) của Trung quốc, nhưng thực ra không đúng. [X. truyện Tuệ nhật trong Tống cao tăng truyện Q.29]. (xt. Ngũ Tân).

Hưng Dương Thanh Nhượng

興陽清讓; C: xīngyōng qīngràng; J: kōoyō seijō; ?-?;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc dòng Quy Ngưỡng đời thứ năm, nối pháp Thiền sư Ba Tiêu Huệ Thanh. Sử sách chẳng viết gì về Sư ngoài những giai thoại nhỏ rải rác đây đó.|Một vị tăng hỏi Sư: »Phật Ðại Thông Trí Thắng ngồi tu mười kiếp ở đạo trường, Phật pháp không hiển hiện, không đắc Phật đạo, thế nghĩa là sao?« Sư bảo: »Hỏi thật hay.« Vị tăng hỏi: »Ðã ngồi tu ở đạo trường, sao lại không thành được Phật đạo?« Sư đáp: »Vì ông ấy không thành Phật.«

hưng dương thanh nhượng

Xingyang Qingrang (C), Koyō Seijō (J), Hsing-yang Ch'ing-jang (C), Xingyang Qingrang (C), Koyo Seijo (J) Tên một vị sư.

hưng giáo tự

6280位於陝西長安城南約三十公里處。為唐代樊川八大寺院之一。據大慈恩寺三藏法師傳卷十載,唐麟德元年(664)二月五日譯經三藏玄奘示寂於玉華寺,四月十四日葬於滻水之東。總章二年(669)四月八日奉高宗敕命改葬於樊川之北原,此乃該寺創建之始。中宗時賜予「大遍覺」之諡號。肅宗則賜塔額,命名為興教寺。 長慶元年(821)、太和二年(828),沙門曇景與義林相繼修葺之。今寺內有三座塔,最高而居中者為玄奘之舍利塔,兩側二小塔,係玄奘弟子窺基與圓測之塔。另有大雄殿、藏經樓、長方形敞亭等。由於清同治(1862~1874)年間本寺曾遭火災,故除三塔外其餘建築均係近代所建。民國七十三年(1984)十月,中日佛教界於此舉行玄奘大師示寂一千三百二十週年紀念法會。〔大唐三藏大遍覺法師塔銘绘序、宋高僧傳卷四、唐會要、長安志、長安古剎提要、大清一統志卷一八○、支那文化史蹟解說九(常盤大定、關野貞)〕 ; (興教寺) Chùa ở cách thành Trường an, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc về phía nam khoảng 30 km, được xây dựng vào đời Đường, là 1 trong 8 tự viện lớn ở Phiền xuyên vào thời đó. Cứ theo Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Quyển 10, thì ngài Tam tạng Huyền trang thị tịch ở chùa Ngọc hoa vào ngày mùng 5 tháng 2 niên hiệu Lân đức năm đầu (664) đời Đường, được an táng tại phía đông Sản thủy vào ngày 14 tháng 4. Đến ngày mùng 8 tháng 4 năm Tổng chương thứ 2 (669), vua Cao tông ban sắc dời di cốt của Ngài về để ở đồng bằng phía bắc Phiền xuyên và chùa Hưng giáo cũng được sáng lập từ đó. Thời vua Trung tông, ngài Huyền trang được ban thụy hiệu là Đại Biến Giác , còn vua Túc tông thì ban hiệu chùa là Hưng giáo tự. Niên hiệu Trường khánh năm đầu (821) và năm Thái hòa thứ 2 (828), 2 ngài Đàm cảnh và Nghĩa lâm nối tiếp nhau trùng tu. Hiện nay, trong chùa có 3 ngôi tháp, ngôi cao nhất ở chính giữa là tháp thờ xá lợi của ngài Huyền trang, còn 2 ngôi tháp nhỏ ở 2 bên là tháp thờ 2 vị đệ tử của ngài Huyền trang là các vị Khuy cơ và Viên trắc. Ngoài ra, còn có Đại hùng bảo điện, lầu để kinh, v.v... Khoảng năm Đồng trị (1862-1874) đời Thanh, chùa này từng bị hỏa hoạn, cho nên ngoại trừ 3 ngôi tháp, còn các kiến trúc khác đều mới được làm lại vào thời cận đại. Tháng 10 năm 1948, giới Phật giáo Trung quốc và Nhật bản đã tổ chức lễ kỉ niệm lần thứ 1320 ngày đại sư Huyền trang thị tịch tại chùa này. [X. Đại đường Tam tạng Đại biến giác pháp sư tháp minh tinh tự; Tống cao tăng truyện Q.4; Đường hội yếu; Trường an chí; Trường an cổ sát đề yếu. Đại thanh nhất thống chí Q.180; Chi na văn hóa sử tích giải thuyết 9 (Thường bàn Đại định, Quan dã trinh)].

hưng hoàn

6280(1634~?)明末曹洞宗僧。准郡人,俗姓袁。世稱古巖興莞禪師。師初生時,閉口拒不食乳,母焚香拜禱許以素食,方食之。年九歲,隨父禮嵩乳道密出家。越三年,聞道密示人參禪,遂日夜參究不捨。 清順治十三年(1656),往參睡翁依和尚於報恩寺,有所省悟,遂遍參諸方。後至天童道忞處得悟,乃歸禮檀度依和尚,並嗣其法。初於文殊寺弘法,後遷至湖心寺,大弘法化。卒年不詳。著有續近代尊宿錄行世。〔增訂佛祖道影卷三(虛雲)〕 ; (興莞) (1634-?) Vị Thiền tăng thuộc tông Tào động sống vào cuối đời Minh, người Hoài quận, họ Viên. Người đời gọi là Cổ nham Hưng hoàn thiền sư. Lúc mới sinh, thân mẫu sư phải đốt nhang khấn lạy, nguyện ăn chay, sư mới chịu bú. Năm lên 9 tuổi, sư theo thân phụ đến lễ ngài Tung nhũ Đạo mật xin xuất gia. Được 3 năm, sư nghe ngài Đạo mật dạy người tham thiền, sư cũng theo đó tham cứu ngày đêm không nghỉ. Năm Thuận trị 13 (1656), sư đến chùa Báo ân tham vấn hòa thượng Thụy ông y, có chỗ tỉnh ngộ. Sau đó, sư đến tham yết ngài Thiên đồng Đạo mân, rồi trở về lễ hòa thượng Đàn độ y và được nối pháp. Ban đầu, sư hoằng pháp ở chùa Văn thù, sau dời đến chùa Hồ tâm để mở rộng việc giáo hóa. Tác phẩm: Tục cận đại tôn túc lục. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.3 (Hư vân)].

hưng hoàng tự

6280位於江蘇省江寧縣。初有西涼僧道猛,於劉宋元嘉二十六年(449)至京師,居東安寺。泰始(465~471)初年,明帝於建陽門外創寺,令道猛任綱領,是為該寺之起源。道猛曾於寺中講成實論,序題之日,帝親自臨幸,公卿皆集,以致四遠學賓負帙而至。帝大喜,詔給月錢三萬,賜吏四人、白簿吏二十人及步輿各一乘。 其後,有道堅、慧鸞、慧敷、僧訓、道明、保誌等亦相繼住此,各舉法化。陳永定二年(558),法朗奉敕來住,講華嚴、大品、四論等,聽眾常踰千人,三論宗嘉祥大師吉藏亦在其中。興皇之名遂彰顯於天下。〔梁高僧傳卷七、卷十、續高僧傳卷七、卷十一、神仙傳卷四〕

Hưng Hoá Tồn Tưởng

興化存獎; C: xīnghuà cúnjiǎng; J: koke zon-shō; 830-888;|Thiền sư Trung Quốc, đắc pháp nơi Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Người thừa kế Sư là Thiền sư Nam Viện Huệ Ngung.|Sư học nơi Lâm Tế làm thị giả nhưng ngộ yếu chỉ nơi Thiền sư Ðại Giác, một môn đệ đắc pháp khác của sư Lâm Tế. Ở hội của Tam Thánh Huệ Nhiên, Sư làm Thủ toạ, thường nói: »Ta nhắm phương Nam đi hành cước, một phen gặp được đầu gậy, mà chẳng từng tìm ra một người hội Phật pháp.« Tam Thánh nghe được nói: »Ngươi đủ con mắt gì mà nói thế ấy?« Sư liền hét. Tam Thánh nói: »Phải là ngươi mới được.« Ðại Giác nghe chuyện này mong có ngày gặp thử tài.|Sau Sư đến Ðại Giác làm Viện chủ. Một hôm Ðại Giác hỏi: »Viện chủ! Ta nghe ông nói ›Nhắm phương Nam đi hành cước, một phen gặp được đầu gậy, mà chẳng từng tìm ra một người hội Phật pháp‹, ông y cứ vào đạo gì mà nói như thế?« Sư liền hét, Ðại Giác liền đánh, Sư lại hét, Ðại Giác lại đánh. Hôm sau, Sư đi ngang qua pháp đường, Ðại Giác gọi: »Viện chủ, ta vẫn còn nghi hai tiếng hét của ông hôm qua.« Sư lại hét, Ðại Giác lại đánh. Sư lại hét, Ðại Giác lại đánh. Sư bèn nói: »Tôi ở chỗ sư huynh Tam Thánh học được câu khách chủ, nay bị sư huynh bẻ gẫy rồi, xin cho tôi pháp môn an lạc.« Ðại Giác bảo: »Cái gã mù, đến trong ấy đã chịu thua, cổi áo nạp ra đánh đòn một trận.« Ngay đây, Sư ngộ pháp của Lâm Tế.|Sư dạy chúng: »Ta chỉ nghe ngoài hành lang hét, ở giá sau hét. Các ông chớ hét mù, hét loạn, dù cho hét được Hưng Hoá bay trụ đến giữa trời, lại phải rơi xuống tắt thở, đợi Hưng Hoá tỉnh dậy sẽ bảo ông ›chưa hiện tại‹. Vì cớ sao? Ta chưa từng nhằm màn lụa đỏ để chân châu, với những người các ông hét loạn trong hư không để làm gì?«|Sư cỡi ngựa, bị ngựa quăng té gẫy chân. Sư gọi: »Viện chủ! chuốt cho ta một cái chân cây« Viện chủ chuốt xong đem đến, Sư cặp vào khấp khểnh đi quanh viện, hỏi tăng chúng: »Các ngươi biết Lão tăng chăng?« Chúng đáp: »Làm sao mà không biết Hoà thượng.« Sư bảo: »Pháp sư què nói được đi chẳng được.« Sư đến pháp đường sai Tri sự đánh chuông gọi chúng. Chúng tụ họp, Sư bảo: »Lại biết Lão tăng chăng?« Chúng không đáp. Sư ném chân cây, ngồi thẳng thị tịch, thọ 59 tuổi.

hưng hoá tồn tưởng thiền sư ngữ lục

6279全一卷。又作興化語錄、廣濟大師語錄。唐末臨濟宗僧興化存獎撰,明永樂初年(1403?)刊行。收於卍續藏第一一八冊古尊宿語錄卷五。輯錄存獎與其師義玄之機緣問答、與後唐莊宗之應酬語、興化寺開堂示眾法語等,並於卷末附錄其校勘之臨濟慧照禪師塔記。 ; (興化存獎禪師語錄) Cũng gọi Hưng hóa ngữ lục, Quảng tế đại sư ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do thiền sư Hưng hóa Tồn tưởng soạn vào cuối đời Đường, ấn hành vào đầu năm Vĩnh lạc (1403?) đời Minh, được thu vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 5 trong Vạn tục tạng tập 118. Nội dung sách này gồm có: Cơ duyên vấn đáp giữa ngài Tồn tưởng và ngài Nghĩa huyền, lời đối đáp giữa ngài và vua Trang tông đời Hậu Đường, Pháp ngữ khai đường thị chúng ở chùa Hưng hóa. Ngoài ra, ở cuối quyển có chép thêm bài kí nói về tháp của thiền sư Lâm tế Tuệ chiếu do ngài hiệu đính.

hưng hoá đả trung

6279禪宗公案名。係唐代興化存獎禪師與某僧之機緣對話,於其中點出直取中道之意。五燈會元卷十一興化章(卍續一三八‧一九六下):「僧問:『四方八面來時如何?』師曰:『打中間底。』僧便禮拜。師曰:『昨日赴個村齋,途中遇一陣卒風暴雨,卻向古廟裏軃避得過。』」 興化藉此公案,謂吾人在東、西、南、北等四面八方中,應立於中央而不應偏向任何一方;藉以比喻修道者應遠離斷與常、有與無、苦與樂等各種兩端截然對立之差別見解,而直趨不偏不倚之中道。〔六祖壇經、碧巖錄第六則〕 ; (興化打中) Tên công án trong Thiền tông. Cơ duyên đối thoại giữa thiền sư Hưng hóa Tồn tưởng đời Đường với một vị tăng. Chương Hưng hóa trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 11 (Vạn tục 138, 196 hạ) ghi: Có vị tăng hỏi: Khi 4 phương 8 hướng đến thì thế nào? Sư đáp: Đánh ở khoảng giữa. Vị tăng liền lễ bái. Sư nói: Hôm qua vào trong thôn thụ trai, giữa đường gặp mưa to gió lớn, liền trú trong một ngôi cổ miếu . [X. Lục tổ đàn kinh; tắc 6 trong Bích nham lục].

hưng hóa tồn trang

Koke Zonsho (J), Xinghua Congjiang (C), Hsing-hua Ts'ung-chiang (C), Xinghua Congjiang (C), Koke Zonsho (J) Hưng Hóa Tồn Tương (830 - 888) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Lâm Tế Nghĩa Huyền.

Hưng Hóa Tồn Tương

(興化存奬, Kōke Zonshō, 830-888): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Khuyết Lí (闕里), họ là Khổng (孔). Ông kế thừa dòng pháp của Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄), và đã từng đến tham vấn Tam Thánh Huệ Nhiên (三聖慧然). Sau ông đến sống tại Hưng Hóa Tự (興化寺) ở Ngụy Phủ (魏府) và tuyên xướng tông phong của mình. Ông nổi tiếng là người hiệu đính bản Lâm Tế Lục (臨濟錄). Môn hạ của ông có Nam Viện Huệ Ngung (南院慧顒). Ông được ban cho thụy hiệu là Quảng Tế Đại Sư (廣濟大師). Vào năm đầu niên hiệu Văn Đức (文德), ông thị tịch, hưởng thọ 59 tuổi đời.

hưng hóa tồn tưởng

Xem Hưng Hóa Tồn Trang.

hưng khởi hành kinh

6280凡二卷。又作十緣經、嚴誡宿緣經。後漢康孟詳譯於興平元年至建安四年(194~199)間。收於大正藏第四冊。內容由孫陀利宿緣經、頭痛宿緣經、木槍刺腳因緣經、苦行宿緣經等十經組成,敘述佛陀一生中所受十難之因緣。〔歷代三寶紀卷四、大唐內典錄卷一〕 ; (興起行經) Cũng gọi Thập duyên kinh, Nghiêm giới túc duyên kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Khang mạnh tường dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 4. Nội dung kinh này nói về nhân duyên mà đức Phật phải chịu 10 tai nạn trong một đời, gồm có 10 kinh như: Kinh Tôn đà lợi túc duyên, kinh Đầu thống túc duyên, kinh Mộc thương thích cước nhân duyên, kinh Khổ hạnh túc duyên, v.v... [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.4; Đại đường nội điển lục Q.1].

hưng long

6281明末曹洞宗僧。古田(福建)人,俗姓陳。世稱遍照興隆禪師。幼習儒業,年二十五出家,依恆濤大心深究心宗。後遍參諸方,禮文覺禪師於北京,並蒙其印可,後歸閩地,承恆濤之命繼掌鼓山,弘法度迷,近悅遠來。生卒年不詳,後人為師立塔於鼓山。中丞余公嚮往師之道風,乃執弟子之禮,為師之語錄作敘行世。〔增訂佛祖道影卷三(虛雲)〕

hưng long thiền tự

6282位於臺灣臺南新營市。由沈祖、田水吉、王只三居士鳩資創建於民國十三年(1924),禮迎頌安法師任開山住持。三十七年十二月,頌安示寂後,由弟子微恭法師繼任住持,與師弟微頂法師合力策劃,將寺貌全部改造,原有之木造靈骨塔,改以鋼筋,又增建開山堂、廚室、水道;五十二年,增建規模宏大之大雄寶殿,擴建七寶塔,設置火葬場,並重建地藏王殿等。

hưng long tịnh tự

6282位於臺灣高雄左營區。創建於清康熙二十八年(1689)。歷任住持,代有興修,寺貌巍峩,殿宇堂皇,為臺灣南部著名古剎之一。中日戰爭時,被迫拆毀遷離,民國三十七年(1948)於現址重建,同年並建百靈寶塔一座。五十年天乙法師晉任住持,精心策劃,陸續增建,再復舊觀。現任住持為心淳法師。

hưng luân tự

6284位於韓國慶尚北道慶州市。又稱天鏡林興輪寺。新羅法興王十四年(527),舍人朴厭髑與王諮議,假藉伏法就刑,顯現奇瑞,令群臣對佛法生崇敬。國人葬之,並創立一寺,名為剌楸寺。二十一年,以天鏡林(五世紀時,阿道和尚弘法所在)之木材,大興土木,真興王五 年(544)落成,名為大興輪寺。後以真興王出家,王妃亦為比丘尼,皆住於該寺,故賜大王興輪寺之額,此為新羅寺剎之濫觴。 善德王五年(638),王以疾癒而深信佛法,塑成彌陀聖像及左右菩薩,並彩畫殿堂。永秀禪師時,在每月初五厭髑捐軀之日,於寺中修建法會。金堂安置十聖之泥塑像,東壁為我道、厭髑、惠宿、安含、義湘;西壁為表訓、蛇巴、元曉、惠空、慈藏等。景明王時(917~923)遭火災,靖和、脸繼二僧募緣重建之。壁間畫有普賢菩薩像。今於本寺更建一座新堂宇。〔三國遺事卷三、東國通鑑卷五、卷九、朝鮮佛教通史上編〕

Hưng Nhã

(興雅, Kōga, ?-1387): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nam Bắc Triều, húy là Hưng Nhã (興雅), hiệu Thiếu Tướng Tăng Chánh (少將僧正), Tể Tướng A Xà Lê (宰相阿闍黎); con của Đằng Nguyên Thật Bác (藤原實博). Ông thọ pháp Quán Đảnh với Long Nhã (隆雅) ở An Tường Tự (安祥寺, Anjō-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro); đến năm 1351 thì làm Quyền Luật Sư (權律師), năm 1357 là Quyền Thiếu Tăng Đô (權少僧都). Vào năm 1361, ông được thăng chức lên Đại Tăng Đô (大僧都) và trở thành trú trì đời thứ 24 của An Tường Tự. Năm 1370, ông được tiến cử chức Quyền Tăng Chánh (權僧正), rồi năm sau ông dâng lời tấu thỉnh xin truy tặng chức Đại Tăng Chánh (大僧正) cho Long Nhã và được hứa khả. Vào năm 1377, ông trao truyền dòng pháp cho Hựu Khoái (宥快) của Bảo Tánh Viện (寶性院) trên Cao Dã Sơn; từ đó trở về sau, Dòng An Tường Tự (安祥寺) được lưu bố rộng rãi trên Thánh địa này.

hưng phúc tự

6283位於日本奈良市法蓮寺町。日本法相宗大本山。又稱山階寺、藤原寺、中臣寺、觀世音寺。相對於元興寺「南寺」之稱而稱為「北寺」。本為藤原鎌足草創於山城(京都府)山階村陶原之私邸,然邸未成鎌足即歿。由嫡室鏡女王續建,此為山階寺之起源。未久移至飛鳥地方,稱為廄坂寺。 和銅三年(710),於建設平城京之同時,藤原不比等即於現址大加營建,且易名為興福寺。養老四年(720)制定「造興福寺佛殿三司」,成為藤原氏之族寺。光明皇后亦於此設置施藥院、悲田院。為奈良時期法相、俱舍教學之中心道場。 隨藤原氏之興榮,興福寺在社會、經濟方面,皆因而擴充,且擁有眾多莊園,置有武裝僧兵,稱為奈良法師,對社會頗具影響力,而為南都七大寺之一。

Hưng Phước Tự

(興福寺, Kōfuku-ji): ngôi đại bản sơn của Pháp Tướng Tông, tọa lạc tại Noboriōji-chō (登大路町), Nara-shi (奈良市), Nara-ken (奈良縣). Nguồn gốc của chùa là ngôi Sơn Giai Tự (山階寺, Yamashina-dera) do Đằng Nguyên Liêm Túc (藤原鎌足, Fujiwara-no-Kamatari) xây cho vợ mình là Kính Vương Nữ (鏡王女, Kagami-no-Ōkimi) vào năm thứ 8 (669) đời Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenji Tennō); sau đó chùa được dời về vùng Phi Điểu (飛鳥, Asuka) và lấy tên là Cứu Phản Tự (厩坂寺, Umayasaka-dera). Sau khi kinh đô được dời về vùng Bình Thành (平城, Heizei), chùa được chuyển về vị trí hiện tại, trở thành ngôi chùa của dòng họ Đằng Nguyên và lấy tên là Hưng Phước Tự. Các kiến trúc như Trung Kim Đường (中金堂), Bắc Viên Đường (北圓堂), Đông Kim Đường (東金堂), Ngũ Trùng Tháp (五重塔), Tây Kim Tháp (西金塔), Nam Viên Đường (南圓堂), v.v., lần lần được xây dựng. Rất nhiều tác phẩm thuộc dạng điêu khắc thời Thiên Bình (天平) vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay như tượng Thập Đại Đệ Tử, Bát Bộ Chúng, do Quang Minh Hoàng Hậu (光明皇后, Kōmyō Kōgō) phát nguyện cúng dường để cầu nguyện cho mẹ Quất Tam Thiên Đại (橘三千大) được siêu độ, được an trí tại Tây Kim Đường (西金堂). Đến thời đại Bình An, cùng với sự vinh quang của dòng họ Đằng Nguyên, chùa cũng trở nên hưng thịnh và được xếp vào một trong 7 ngôi chùa nổi tiếng vùng Nam Đô với nhiều trang viên tuyệt mỹ. Chùa đã kết hợp tư tưởng Thần Phật Tập Hợp để trở thành nhất thể với đền thờ Xuân Nhật Thần Xã (春日神社, Kasuga-jinja). Dưới thời đại Viện Chính (院政, Insei), thỉnh thoảng có xảy ra vài trận hỏa hoạn; đặc biệt trận phóng hỏa của Bình Trọng Hành (平重衡, Taira-no-Shigehira) vào năm thứ 4 (1180) niên hiệu Trị Thừa (治承) đã là cho ngôi già lam bị cháy rụi và phải mất 30 năm sau mới có thể tái thiết được. Trong lần này, các tượng Bất Không Quyên Sách Quan Âm (不空羂索觀音), Tứ Thiên Vương (四天王), v.v., do nhóm môn hạ của Khang Khánh (康慶, Kōkei), và tượng Di Lặc Phật (彌勒佛), Vô Trước (無著), Thế Thân (世親), v.v., do nhóm môn hạ của Vận Khánh (運慶, Unkei) làm nên. Đến thời đại Liêm Thương, chùa được ủy nhiệm chức Thủ Hộ tiểu quốc Đại Hòa (大和, Yamato) nên đã xác lập được quyền thống trị cả một tiểu quốc. Từ cuối thời Liêm Thương trở đi, chùa tự lập hóa với lực lượng tăng binh. Sau vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂, Ōnin-no-ran), uy thế của chùa dần dần suy yếu; nhưng đến thời Giang Hộ lại được ban cho đất đại khá nhiều. Đến thời Minh Trị Duy Tân, chùa công kích bởi làn song Phế Phật Hủy Thích; tuy nhiên sau đó thì từ từ hồi phục lại. Trong số các thư tịch ghi lại nguồn gốc của chùa, bản Hưng Phước Tự Duyên Khởi (興福寺緣起) là tối cổ, do Đằng Nguyên Lương Thế (藤原良世) viết vào năm thứ 3 (900) niên hiệu Xương Thái (昌泰), có ghi lại sự việc kiến lập các ngôi đường tháp, tạo dựng tượng Phật, xuất xứ những pháp hội, v.v.

Hưng Phước Tự Tấu Trạng

(興福寺奏狀, Kōfukujisōjō): bản tấu trạng do chúng môn đồ của phía Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) dâng lên triều đình thỉnh cầu cấm chế giáo đoàn Chuyên Tu Niệm Phật (專修念佛). Người viết bản thảo là Giải Thoát Phòng Trinh Khánh (貞慶, Jōkei). Bản trạng văn ghi tháng 10 năm 1205 (Nguyên Cửu [元久] nhị niên), nêu lên 9 điều sai trái và phê phán giáo đoàn Chuyên Tu Niệm Phật của Pháp Nhiên (法然, Hōnen). Tám tông phái lớn đương thời như Pháp Tướng, Thiên Thai, v.v., tất nhiên đã được sắc hứa của triều đình nên công nhiên hoạt động, riêng Pháp Nhiên thì lập ra một tông phái mới mà vẫn chưa có sự hứa khả (sai lầm thứ nhất), vẽ bức Nhiếp Thủ Bất Xả Mạn Trà La (攝取不捨曼荼羅) với tư tưởng cho rằng ánh quang minh của đức Di Đà không chiếu soi đến các học sinh của Hiển Tông cũng như hành giả của Chơn Ngôn; thể hiện sự khinh miệt trắng trợn đối với những nhà tu hành của Thánh Đạo Môn (sai lầm thứ hai). Phái này chỉ biết trọng thị Phật Di Đà, xem thường đấng giáo chủ Thích Ca (sai lầm thứ ba); bỏ đi các việc làm thiện như đọc tụng kinh điển, kiến lập chùa tháp, v.v. (sai lầm thư tư); rồi không lễ lạy các đền thờ, tông miếu (sai lầm xem thường Ngũ Linh Thần [五靈神] thư năm); phủ nhận đạo đức của thế gian và thiện căn ngoài việc niệm Phật, do đó không công nhận các hạnh vãng sanh (sai lầm thứ sáu). Họ chỉ biết lấy pháp môn miệng niệm hồng danh mà bỏ qua việc niệm Phật theo hình thứ quán niệm cũng như tâm niệm (sai lầm về quan niệm niệm Phật thứ bảy); thậm chí còn khuyến khích phá giới như phạm nữ sắc, ăn thịt, v.v. (sai lầm làm tổn hại chúng đệ tử Thích Tôn thứ tám); làm phá tan nguyên tắc Vương Pháp Phật Pháp và dấy sinh loạn lạc (sai lầm làm cho quốc gia loạn lạc thứ chín). Bản tấu trạng này đã nêu lên 9 điều sai lầm nghiêm trọng (bằng Hán văn) của giáo đoàn niệm Phật, thỉnh cầu đình chỉ pháp môn Chuyên Tu Niệm Phật, và xử phạt Pháp Nhiên cũng như chúng đệ tử ông. Khoảng 1, 2 năm sau đó, Pháp Nhiên cùng môn đệ bị lưu đày.

Hưng thiền hộ quốc luận

興禪護國論; J: kozen gokoku-ron;|Một tác phẩm của vị Thiền sư Nhật Bản Minh Am Vinh Tây (s: myōan eisai), người đầu tiên truyền Thiền học – có kết quả lâu dài – sang Nhật. Sư viết luận này để đáp lại sự phản bác, chống đối Thiền tông của những tông phái khác tại đây và trình bày trong luận này rằng, sự phát triển của Thiền tông tại đây chỉ làm cho nước Nhật ngày càng hưng thịnh. Hưng thiền hộ quốc luận là quyển sách nói về Thiền đầu tiên được viết tại Nhật.

hưng thiền hộ quốc luận

6285凡三卷。日僧榮西(1141~1215)著。為日本最早之禪書。榮西係將臨濟宗黃龍派之禪宗自中國傳至日本之第一人,雖受南都北嶺諸宗所迫害,然榮西未曾屈服,且以「鎮護國家、興禪護國」為旨趣,而著興禪護國論昭示於世,終令傳至日本之禪宗得以肇端。 本書內容分為十門,即:(一)令法久住門,(二)鎮護國家門,(三)世人決疑門,(四)古德誠證門,(五)宗派血脈門,(六)典據增信門,(七)大綱勸參門,(八)建立支目門,(九)大國說話門,(十)回向發願門等。〔扶桑禪林書目〕 ; Kozen gokoku-ron (J) Tên một bộ luận kinh. ; (興禪護國論) Tác phẩm, 3 quyển, do thiền sư Vinh tây (1141-1215) người Nhật soạn. Thiền sư Vinh tây là người đầu tiên truyền Thiền phái Hoàng long thuộc tông Lâm tế từ Trung quốc đến Nhật bản. Tuy bị các tông ở vùng Bắc lãnh Nam đô bách hại, nhưng ngài quyết không khuất phục, trái lại, dùng chỉ thú Trấn hộ quốc gia, hưng thiền hộ quốc để soạn luận, hầu xiển dương Thiền tông tại Nhật bản. Nội dung bộ luận này chia làm 10 môn: 1. Linh pháp cửu trụ môn. 2. Trấn hộ quốc gia môn. 3. Thế nhân quyết nghi môn. 4. Cổ đức thánh chứng môn 5. Tông phái huyết mạch môn. 6. Điển cứ tăng tín môn. 7. Đại cương khuyến tham môn. 8. Kiến lập chi mục môn. 9. Đại quốc thuyết thoại môn. 10. Hồi hướng phát nguyện môn. [X. Phú tang thiền lâm thư mục].

Hưng Thiện Duy Khoan

(興善惟寛, Kōzen Ikan, 755-817): xuất thân vùng Tín An (信安), Cù Châu (衢州, Tỉnh Triết Giang), họ Chúc (祝). Năm 13 tuổi, ông xuất gia rồi thọ giới Cụ Túc với Tăng Sùng (僧崇). Bên cạnh đó, ông theo học Luật và tu Chỉ Quán với Tăng Như (僧如), nhưng cuối cùng lại ngộ đạo với Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一). Vào năm thứ 6 (790) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông đến hành hóa vùng Mân Việt (閩越, Tỉnh Phúc Kiến), sau đó mở Đằng Nguyên Đạo Tràng (藤原道塲) ở Cối Kê (會稽, Tỉnh Triết Giang) và Hồi Hướng Đạo Tràng (回向道塲) ở Bà Dương (鄱陽, Tỉnh Giang Tây). Ông đã từng sống qua các chùa như Thiếu Lâm Tự (少林寺), Vệ Quốc Tự (衛國寺), Thiên Cung Tự (天宮寺), rồi đến năm thứ 4 (809) niên hiệu Nguyên Hòa (元和), ông nhận sắc chỉ trú trì Đại An Quốc Tự (大安國寺) ở Trường An (長安) và năm sau vào cung nội. Ông cũng từng lưu trú tại Hưng Thiện Tự (興善寺) ở Trường An. Môn đệ của ông có hơn ngàn người, trong đó có thi hào nổi danh Bạch Cư Dị (白居易) và đệ tử đắc pháp có 39 vị. Vào tháng chạp năm thứ 12 (817) niên hiệu Nguyên Hòa, ông thị tịch, hưởng thọ 63 tuổi đời và 39 hạ lạp, được ban cho thụy hiệu là Đại Triệt Thiền Sư (大徹禪師). Bạch Cư Dị soạn văn bia cho ông.

Hưng Thánh Tự

(興聖寺, Kōshō-ji): xem Quan Âm Đạo Lợi Viện Hưng Thánh Bảo Lâm Tự (觀音導利院興聖寶林寺) bên dưới.

hưng thánh tự

6282位於日本京都府宇治市。日本曹洞宗寺。山號佛德山。道元所開創,為日本最早之禪寺。本寺前身原為深草鄉谷口之舊極樂院,復建後改稱觀音導利院興聖寶林寺。後因道元前往越前永平寺,寺遂荒廢,故遷至現址,再度興修。本寺面臨宇治川而與平等院相望,環境幽靜。

hưng thánh vạn thọ tự

6282請參閱 鼓山神晏禪師語錄位於浙江餘杭西北約二十八公里處之徑山山麓。又稱徑山寺、能仁興聖萬壽禪寺、萬壽寺。唐代天寶三年(744),法欽禪師入山結茅,前臨海令吳某感其德,捨山中別墅為立精舍。法欽遂大弘牛頭宗禪法,大曆(766~779)年中賜額「徑山院」。五代後唐長興(930~933)年間,吳越錢氏整修,迎請全宰禪師主其事,更名「鎮國禪院」。宋時復更為今名,立為禪宗五山之首。歷代皆有高僧居住。寺內之建築物多為近代所重建。〔徑山志、大明一統志卷三十八、大清一統志卷二一七〕(參閱「徑山」4103)

hưng thế

6279請參閱 興化存獎禪師語錄 指佛之出世。諸佛出現於世間成佛,隨機示現生滅大法,拯救眾生出離苦海,故謂興世。四分律行事鈔資持記卷上一上(大四○‧一六五上):「今此且據娑婆所見,誕育王宮,厭世修行,降魔成佛,故云興世。」 ; (興世) Sự ra đời của đức Phật. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển thượng phần 1 (Đại 40, 165 thượng), nói: Nay theo sự hiểu biết của người ở thế giới Sa bà, thì Phật sinh ra trong cung vua, nhàm chán thế gian, xuất gia tu hành, hàng ma thành đạo, nên gọi là Hưng thế .

hưng triệt

6283<一>(1635~?)明末曹洞宗僧。濟南人,俗姓魏。世稱義雲興徹禪師。年十六即有出塵之志,遂禮報恩寺嵩乳道密出家。一日,偶見霜天一色,鴻雁飛鳴,頓覺前疑冰釋;復聞一尊宿舉「狗子無佛性」之話,乃得大悟。遂往參檀度依和尚,得嗣其法。檀度門下之傑出者中,以師為最。初開法於金峰,後遷住石頭,大弘禪風。卒年不詳。〔增訂佛祖道影卷三(虛雲)〕 <二>明代僧。雲南人,俗姓不詳。字大空。師事定堂和尚,苦行立禪,弘法化迷,為四眾所欽仰。其後,至蕩山閉關潛修,從印光和尚學楞嚴經。後入於獅子山示寂,生卒年與世壽均不詳。 <三>明末僧。江西人,俗姓劉。字犀照,號晶溪。二十歲出家,師事江州能仁寺之宏覺。每讀佛典,皆似宿所熟稔。一夕於靜坐中,突見大光明現於前,由此大悟。清康熙年間(1662~1722),繼能仁之席。後遊學上海,駐錫鐸菴,以善詩畫之故,士大夫登門求見者眾,名震一時。生卒年與世壽均不詳。

hưng trù

6284(1639~1695)明末僧。日本曹洞宗壽昌派之祖。金華浦陽人,俗姓蔣。字心越,號東剦。十歲落髮,後參謁翠微濶堂,居二年,濶堂問「狗子話」,師將啟口,濶堂一喝,如此反覆七、八次,他日又入室,濶堂喝出,遂釋平生之疑礙,濶堂乃付偈印證之,時年三十三。明亡清興之際,隱棲於西湖永福寺。 康熙十五年(1676)六月,應日本長崎興福寺住持澄一(明僧)之請而東渡,大弘法化。天和三年(1683),受水戶光圀之護持居於大德寺,更寺名為祇園寺。元祿五年(1692),在祇園寺開堂。師性聰慧,博通儒典,善於古琴,並工書、畫、篆刻。元祿八年(或九年)示寂,世壽五十七,著有東剦集一卷。〔續日本高僧傳卷一〕 ; (興5儔) (1639-1695) Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào cuối đời Minh, người huyện Phố dương, tự Tâm việt, hiệu Đông cao, Tổ của phái Thọ xương, tông Tào động, Nhật bản. Sư xuất gia năm 10 tuổi, sau đến tham yết ngài Thúy vi Khoát đường, ở 2 năm. Một hôm, ngài Khoát đường hỏi về thoại đầu Con chó có Phật tính không , sư toan mở miệng thì ngài Khoát đường hét một tiếng, cứ như thế đến 7, 8 lần. Ngày hôm sau, sư vào thất, ngài Khoát đường hét đuổi ra, bỗng nhiên sư dứt hết mối ngờ vực từ trước đến nay, ngài Khoát đường liền phó kệ ấn chứng, bấy giờ sư được 33 tuổi. Khi nhà Minh mất, nhà Thanh lên ngôi, sư ẩn cư ở chùa Vĩnh phúc tại Tây hồ. Năm Khang hi 15 (1676), nhận lời thỉnh của ngài Trừng nhất (vị tăng Trung quốc đời Minh) đang trụ trì chùa Hưng phúc tại Trường kì, Nhật bản, sư sang Nhật hoằng pháp. Năm 1683, sư đến ở chùa Đại đức, sau đổi tên là chùa Kì viên. Sư bản tính thông minh, ngoài nội điển sư còn tinh thông các sách nho học, giỏi về âm nhạc, thư pháp, hội họa và khắc chữ triện. Sư tịch vào năm 1695, thọ 57 tuổi. Tác phẩm: Đông cao tập.

Hưng tác

(興作): có hai nghĩa chính. (1) Hưng khởi chế tác, khởi sự tiến hành. Như trong Thuyết Uyển (說苑), phần Chí Công (至公) của Lưu Hướng (劉向, khoảng 77-6 ttl.) nhà Hán có câu: “Hưng tác Li Sơn cung thất, chí Ung tương kế bất tuyệt (興作驪山宮室、至雍相繼不絕, khởi công làm cung thất ở Li Sơn, cho đến đất Ung [Thiểm Tây, Cam Túc ngày nay] vẫn tiếp tục không dứt).” Hay trong Cựu Đường Thư (舊唐書), phần Kính Tông Kỷ (敬宗紀), lại có câu: “Đế tánh hảo thổ mộc, tự xuân chí đông hưng tác tương kế (帝性好土木、自春至冬興作相繼, nhà vua tính thích thổ mộc, từ mùa xuân đến mùa đông luôn khởi công làm liên tục).” (2) Bắt tay tiến hành. Như trong bài Lôi Phú (雷賦) của Trương Trọng Phủ (張仲甫, ?-?) nhà Đường có đoạn: “Ngũ Tinh bất nghịch, Lục Khí hợp độ, phát dương hòa, khải chập hộ, nông sự hưng tác (五星不逆、六氣合度、發陽和、啟蟄戶、農事興作, Năm Sao chẳng nghịch, Sáu Khí hợp nhau, phát khí ấm, tan mùa đông, việc nông tiến hành).”

hưng từ

6283清末民初僧。浙江天台人。字觀月,號天台觀月。宗奉天台,教弘淨土,其法緣普及滬、杭、甬一帶。於上海興建法藏寺,專弘教觀,每日講經念佛,數十年如一日。師嚴持戒律,篤實念佛,甘守淡泊,禪淨雙修,允為滬上第一尊宿。師更學通教觀,行解並進。民國二年(1912)編著「二課合解」,說解詳盡,流通極廣。另有「金剛經易知疏」行世。 ; (興慈) Danh tăng Trung quốc sống vào cuối đời Thanh, đầu thời Dân quốc, người huyện Thiên thai, tỉnh Chiết giang, tự Quán nguyệt, hiệu là Thiên thai Quán nguyệt. Sư tu học theo giáo pháp Thiên thai, nhưng lại hoằng dương Tịnh độ giáo, duyên pháp của sư phổ cập khắp vùng Thượng hải, huyện Hàng. Sư xây chùa Pháp tạng ở Thượng hải, chuyên hoằng dương giáo quán, hàng ngày giảng kinh niệm Phật, trong mấy mươi năm không hề thay đổi. Sư nghiêm trì giới luật, dốc lòng niệm Phật, sống đời đạm bạc, Thiền Tịnh song tu, thực là bậc tôn túc vào bậc nhất ở Thượng hải. Sư có tác phẩm: Nhị khóa hợp giải, Kim cương kinh dị tri sớ.

Hưng Viên

(興圓, Kōen, 1263-1317): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Liêm Thương, húy là Hưng Viên (興圓), hiệu Nghiêu Quang Phòng (堯光房), Truyền Tín Hòa Thượng (傳信和尚), xuất thân vùng Việt Hậu (越後, Echigo), họ Bình (平). Năm 1278, ông xuất gia, sau đó theo học các pháp môn của Hiển, Mật và Giới với Huệ Khải (惠顗) ở Kim Quang Viện (金光院), vùng Đông Sơn (東山, Higashiyama), Sơn Thành (山城, Yamashiro). Đến năm 1305, ông có chí muốn tái hưng Viên Đốn Giới của Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) và năm 1316 thì ẩn tu trong núi trong vòng 12 năm. Trong khoảng thời gian này, vào năm 1310, nhóm đệ tử của ông gồm Quang Tông (光宗), Viên Quán (圓觀), v.v., bắt đầu tiến hành An Cư Kiết Hạ ở Thần Tạng Tự (神藏寺) trong khuôn viên Tỷ Duệ Sơn. Ông phục hưng Viên Đốn Giới để làm luật nghi cho tăng chúng ở Nhất Hướng Đại Thừa Tự (一向大乘寺), và hình thành hệ thống pháp môn Giới Quán Đảnh từ thời Huệ Tầm (惠尋) trở đi. Mặt khác, ông còn tận lực tái tạo các ngôi nhà trên Tỷ Duệ Sơn. Trước tác của ông có Nhất Hướng Đại Thừa Tự Hưng Long Thiên Mục Tập (一向大乘寺興隆篇目集) 3 quyển, Viên Đốn Bồ Tát Giới Thập Trọng Tứ Thập Bát Hành Nghi Sao (圓頓菩薩戒十重四十八行儀鈔) 1 quyển, Giới Quán Đảnh Thập Lục Thiếp Khẩu Quyết (戒灌頂十六帖口決) 16 quyển, v.v.

hưu lưu tiên hoá thạch

6544鵂鶹仙指印度六派哲學中勝論派之祖優樓佉。據止觀私記卷十載,此仙於成劫末出世,服長生藥,變化成石,形如牛臥。在佛前八百年中,石消融如灰,門人皆稱入涅槃。(參閱「優樓佉」6412) ; (鵂鶹仙化石) Tiên Hưu lưu hóa đá. Tiên Hưu lưu tức là ông Ưu lâu khư, Tổ của học phái Thắng luận ở Ấn độ. Cứ theo Chỉ quán tư kí quyển 10, thì vị tiên này ra đời vào cuối kiếp Thành, uống thuốc trường sinh, hóa thành đá, như hình con bò nằm. Khoảng 800 năm trước khi đức Phật ra đời thì khối đá ấy tan thành tro, môn đồ đều cho rằng vị tiên ấy đã vào Niết bàn. (xt. Ưu Lâu Khư).

hưu lương

2162指修行僧於行腳途中所有之路銀,及親舊法緣所贈之物。景德傳燈錄卷十四藥山惟儼章(大五一‧三一二上):「汝卻須歸去,汝若歸鄉,我示汝箇休糧方。」 ; (休糧) Chỉ cho tiền bạc và vật dụng của vị tăng hành cước trên đường được mọi người tặng cho. Chương Dược sơn Duy nghiễm trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 312 thượng), nói: Ông nên trở về quê, nếu ông trở về, tôi sẽ chỉ cho ông phương pháp hưu lương .

Hưu trinh

(休禎): dấu hiệu tốt lành, điềm lành. Như trong Truyện Trần Phiên (陳番傳) của Hậu Hán Thư (後漢書) có đoạn: “Như thị thiên hòa ư thượng, địa hiệp ư hạ, hưu trinh phù đoan, khởi viễn hồ tai (如是天和於上、地洽於下、休禎符瑞、豈遠乎哉, như vậy trời hòa ở trên, đất hợp bên dưới, điềm lành tốt đẹp, liệu xa gì chăng ?).” Hay trong bài thơ Tống Lý Sách Kiêm Giản Hành Châu Lữ Bát Lang Trung (送李策兼簡衡州呂八郎中) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Thánh công điện viễn phục, thần vật ủng hưu trinh (聖功奠遠服、神物擁休禎, công của bậc thánh định yên bờ cõi xa, vật của thần ủng hộ điềm lành).”

Hưu Tĩnh

休靜; C: xiūjìng; J: kyūjō; K: hyujǒng (1520-1604);|Thiền sư sống vào triều đại Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn), được xem là một trong 5 nhân vật quan trọng của lịch sử Phật giáo Hàn Quốc. Thường được người Hàn Quốc gọi một cách cung kính là Tây Sơn Đại sư (西山大師). Sư là một bậc thầy và một nhà trứ tác uy tín, tương truyền đã truyền dạy cho hàng trăm đệ tử, trong đó một số đã thành những vị Thiền sư rất xứng đáng. Sư đóng vai trò chính trong việc củng cố phương thức nghiên cứu và thực hành Thiền Hàn Quốc để duy trì pháp môn nầy cho đến thời hiện đại. Điều làm cho Hưu Tĩnh được kính trọng nhất trong lịch sử Hàn Quốc nói chung là vai trò của sư trong việc sáng lập cũng như lĩnh đạo đội quân tăng lữ, đã đóng vai trò quyết định trong việc đẩy lui cuộc xâm lăng của quân đội Nhật Bản do tướng Tú Cát Phong Thần (秀吉豊臣; j: hideyoshi toyotomi) chỉ huy.|Thêm vào năng lực phi thường như một tướng lĩnh quân đội, Hưu Tĩnh còn là một Thiền sư kiệt xuất và là tác giả của rất nhiều bản kinh văn quan trọng, nổi bật nhất là cuốn Thiền gia quy giám (禪家龜鑑; k: sǒnga kwigam), một tác phẩm hướng dẫn thực hành Thiền quán, đã được chư tăng Hàn Quốc nghiên cứu cho đến ngày nay.|Cũng như hầu hết chư Tăng trong thời đại Triều Tiên, ban đầu sư cũng được học tập triết học Tân Nho giáo. Không thoả mãn với tinh thần nầy, sư lặn lội qua nhiều tòng lâm trên những rặng núi để tham học, và cuối cùng gia nhập tăng-già. Sau khi được thừa nhận là một bậc Đạo sư, sư được Hoàng hậu Munjǒng sắc phong Tăng thống Thiền tông. Không lâu sau, sư từ bỏ trọng trách nầy, trở về lại với đời sống du phương. Sách tấn các môn đệ mình tu tập và dạy cho chư tăng khắp các tự viện trong nước. Sư tịch lúc 85 tuổi, độ cho gần 1000 đệ tử và trong số đó có 70 tăng ni. Nhiều vị đã giữ vai trò nổi bật trong sự truyền thừa Phật giáo Triều Tiên (朝鮮).|Hưu Tĩnh cũng được nổi tiếng trong nỗ lực kế tục chương trình hợp nhất việc nghiên cứu và tu tập đạo Phật. Sư được xem là nhân vật trung tâm của sự phục hưng Phật giáo Triều Tiên. Dòng Thiền Cao li hiện đại đã được kế thừa từ sư thông qua 1 trong 4 vị đệ tử lớn: Duy Chính (惟政; k: yujǒng) và Nhan Cơ (彦機; ǒngi), Thái Năng (太能; k: t'aenǔng) và Nhất Thiền (一禪; k: ilsǒn), tất cả 4 vị nầy đều là những người phụ tá cho Hưu Tĩnh trong cuộc chiến tranh chống Nhật Bản.

hưu tĩnh

2162<一>唐代僧。生卒年不詳。居於京兆華嚴寺。為洞山良价之法嗣。因後唐莊宗之召請,而大振曹洞宗。敕諡「寶智大師」。〔祖堂集卷八、景德傳燈錄卷十七〕 <二>(1520~1604)韓國李朝時代僧。平安南道安州人,俗姓崔。字玄應。號清虛堂。因久住妙香山,世稱西山大師。師九歲喪母,翌年父歿,乃隨郡守李思曾上京就學,後依崇仁研讀經論,次參學於靈觀,隨侍三年。一夜,超脫文字之障礙,出家受具足戒,後歷遊諸山名剎。三十歲,參加明宗僧科復舊第一試及第,累進至禪教兩宗判事。明宗十二年(1557)解印綬,入金剛山,後經頭流山、智異山,移居妙香山,弟子滿堂。宣祖二十六年(1592)日本軍攻打朝鮮時,宣祖蒙塵於義州龍灣,師分遣弟子起義兵,屢樹軍功。祖還都後請隱,王賜號「國一都大禪師禪教都總攝扶宗樹教普濟登階尊者」。常往來於妙香、智異、楓岳諸山,道譽漸高。宣祖三十八年(1604)示寂,世壽八十五。示寂後,弟子鞭羊彥機撰行狀(清虛集卷末所載)、李延龜、張繼、李秉模、徐有鄰等皆為撰香山碑銘。其門派之盛,近古所未聞。嫡嗣松雲惟政與鞭羊彥機、逍遙太能、靜觀一禪,被稱為四大弟子,其後皆自成一派。著作有禪教釋、禪教訣、雲水壇、三家龜鑑(以上各一卷)、清虛堂集四卷等。其中,三家龜鑑主張儒、佛、道三教一致之說;清虛堂集為其詩文集,四卷本之外另有二卷本,由此文集可窺知師主張禪教不二、禪淨一致之要略。〔李朝宣祖實錄、朝鮮佛教通史、李朝佛教、朝鮮禪教史〕 ; (休靜) I. Hưu Tĩnh(?-?). Vị Thiền tăng Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào đời Đường, là đệ tử nối pháp của ngài Động sơn Lương giới. Sư trụ trì chùa Hoa nghiêm tại Kinh triệu, xiển dương tông Tào động. Sau khi sư thị tịch, được vua Trang tông nhà Hậu Đường ban thụy hiệu là Bảo Trí Đại Sư . [X. Tổ đường tập Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.17]. II. Hưu Tĩnh (1520-1604). Danh tăng Hàn quốc, sống vào đời Lí, người An châu, tỉnh Bình an nam, họ Thôi, tự Huyền ứng, hiệu Thanh hư đường, người đời gọi là Tây sơn đại sư. Năm sư lên 9 tuổi, mẹ mất; năm sau, cha qua đời, sư bèn theo quan Quận thú là Lí tư tằng lên kinh đô học tập. Sau sư học kinh luận nơi ngài Sùng nhân, kế đến theo hầu ngài Linh quán 3 năm. Một đêm, bỗng thoát li sự chướng ngại của văn tự, sư liền xuất gia thụ giới Cụ túc, rồi lần lượt tham phỏng các chùa nổi tiếng. Năm 30 tuổi, sư đậu kì thi Tăng khoa phục cựu lần thứ nhất do vua Minh tông chủ trì, rồi được tiến cử làm đến chức Thiền Giáo Lưỡng Tông Phán Sự . Năm Minh tông 12 (1557), sư trả ấn tín, rồi lần lượt vào các núi: Kim cương, Đầu lưu, Trí dị và Diệu hương khai đường thuyết pháp, người đến theo học rất đông. Năm Tuyên tổ 26 (1592), khi quân Nhật bản tiến đánh Triều tiên, vua Tuyên tổ phải chạy đến Long loan, Nghĩa châu, sư tụ họp đệ tử khởi nghĩa, lập nhiều chiến công. Sau khi Tuyên tổ trở về kinh đô, sư tâu xin lui về ẩn tu, vua ban hiệu cho sư là Quốc Nhất Đô Đại Thiền Sư Thiền Giáo Đô Tổng Nhiếp Phù Tông Thụ Giáo Phổ Tế Đăng Giai Tôn Giả . Năm Tuyên tổ 38 (1604) sư thị tịch, thọ 85 tuổi. Trong số các đệ tử của sư, có 4 vị nổi tiếng hơn cả được gọi là Tứ đại đệ tử, đó là: Tùng vân Duy chính, Tiên dương Ngạn cơ, Tiêu diêu Thái năng và Tĩnh quán Nhất thiền. Về sau, 4 vị này lập thành 4 chi phái. Sư có các tác phẩm: Thiền giáo thích, Thiền giáo quyết, Vân thủy đàn, Tam gia qui giám (mỗi loại 1 quyển), Thanh hư đường tập (4 quyển). [X. Lí triều Tuyên tổ thực lục; Triều tiên Phật giáo thông sử; Lí triều Phật giáo; Triều tiên thiền giáo sử].

Hưu Tịnh 休靜

[ja] キュウジョウ Kyūjō ||| Hyujŏng (1520-1604); a Chosŏn dynasty Sŏn monk who can be counted among the five most important figures in Korean Buddhist history; commonly known in Korea by the respectful title Sŏsan Taesa 西山大師. He was an influential teacher and writer, who is said to have guided hundreds of students, a number of whom turned into Sŏn masters in their own right. He played a major role in consolidating the forms of study and practice of Korean Sŏn which would, by and large, remain in place down to modern times. What has made Hyujŏng most respected in the broad view of Korean history was his role in the creation and guidance of an army of monks, which played a decisive role in the eventual repulsion of the Japanese invasion by the armies of Hideyoshi Toyotomi 秀吉豊臣. In addition to serving in this unusual capacity of military leader, Sŏsan was a first-rate Sŏn master and the author of a number of important religious texts, the most important of which is his Sŏnga kwigam 禪家龜鑑, a guide to Sŏn practice which is studied by Korean monks down to the present. Like most monks of the Chosŏn period, he had been initially educated in Neo-Confucian philosophy. Dissatisfied, he wandered through the mountain monasteries, eventually joining the sangha. Later, after making a name for himself as a teacher, he was made arbiter of the Sŏn school by queen Munjŏng. He soon resigned from this responsibility, returning to the itinerant life, advancing his Sŏn studies and teaching at monasteries all around Korea. He died at 85, leaving behind some 1000 disciples, 70 of whom were monks and nuns, and many of whom held a prominent role in the later transmission of Chosŏn Buddhism. Hyujŏng is also known for his efforts in the continuation of the project of the unification of Buddhist doctrinal study and practice. He is considered the central figure in the revival of Chosŏn Buddhism, and most major streams of modern Korean Sŏn trace their lineages back to him through one of his four main disciples: Yujŏng 惟政; Ŏngi 彦機, T'aenŭng 太能 and Ilsŏn 一禪, all four of whom were assistants to Sŏsan during the war with Japan. => (j: Kyūjō; k: Hyujŏng (1520-1604); Thiền sư sống vào triều đại Chosŏn, được xem là một trong năm nhân vật quan trọng của lịch sử Phật giáo Cao Ly. Thường được người Cao Ly gọi một cách cung kính là Tây Sơn Đại Sư. Ngài là một Pháp sư và là một nhà trứ tác uy tín, tương truyền Ngài đã truyền dạy cho hàng trăm đệ tử, trong đó một số đã thành Thiền sư rất xứng đáng. Ngài đóng vai trò chính trong việc củng cố phương thức nghiên cứu và thực hành thiền Cao Ly để sau này, duy trì pháp môn nầy cho đến thời hiện đại. Điều làm cho Ngài Hưu Tịnh được kính trọng nhất trong lịch sử Cao Ly nói chung là vai trò của Ngài trong việc lập ra cũng như lãnh đạo đội quân tăng lữ, đã đóng vai trò quyết định trong việc đẩy lui cuộc xâm lăng của quân đội Nhật Bản do tướng Quý Cát Phong Thần (j: Hideyoshi 秀吉豊臣) chỉ huy. Thêm vào năng lực phi thường như một tướng lãnh quân đội, Ngài Hưu Tịnh còn là một Thiền sư kiệt xuất và là tác giả của rất nhiều bản kinh văn quan trọng, nổi bật nhất là cuốn Thiền Gia Quy Giám, một tác phẩm hướng dẫn thực hành Thiền quán, đã được chư tăng Cao Ly nghiên cứu cho đến ngày nay. Cũng như hầu hết chư Tăng trong thời đại Chosŏn, ban đầu Ngài cũng được học tập triết học Tân Khổng giáo. Không thỏa mãn với tinh thần nầy, Ngài lặn lội qua nhiều tòng lâm trên núi để tham học, cuối cùng Ngài xuất gia. Sau khi được công nhận là Pháp sư, Ngài được Hoàng hậu Munjŏng sắc phong Tăng thống Thiền tông. Không lâu sau, Ngài từ bỏ trọng trách nầy, trở về lại với đời sống du phương. Sách tấn các môn đệ mình tu tập và dạy cho chư tăng khắp các tự viện trong nước. Ngài tịch vào lúc 85 tuổi, độ cho gần 1000 đệ tử, trong số đó có 70 tăng ni, có nhiều vị đã giữ vai trò nổi bật trong sự truyền thừa Phật giáo Chosŏn. Ngài Hưu Tịnh cũng được nổi tiếng trong nỗ lực kế tục chương trình hợp nhất việc nghiên cứu và tu tập đạo Phật. Ngài được xem là nhân vật trung tâm của sự phục hưng Phật giáo Chosŏn. Dòng Thiền Cao Ly hiện đại đã được kế thừa từ Ngài thông qua một trong bốn vị đệ tử lớn: Duy Chính (Yujŏng 惟政); Nhan Cơ (Ŏngi 彦機), Thái Năng (T'aenŭng 太能 ) và Nhất Thiền (Ilsŏn 一禪) , tất cả bốn vị nầy đều là những phụ tá cho Ngài Hưu Tịnh trong cuộc chiến tranh với Nhật Bản.

Hưu yết

休歇; C: xiūxiē; J: kyūgatsu;|Dừng nghỉ, chấm dứt, hoàn thành. Vượt qua.

Hưu yết 休歇

[ja] キュウガツ kyūgatsu ||| To stop, end, finish. Transcend. => Dừng nghỉ, chấm dứt, hoàn thành. Vượt qua.

hưu đồ

2162指僧侶,或佛陀。又作浮屠。漢書霍去病傳:「收休屠祭天金人。」此處之休屠即指僧侶。魏略西夷傳:「哀帝元壽元年,博士弟子景憲,受大月氏王使伊存口傳休屠經。」此處之休屠係指佛陀。「休屠經」即指佛經。另據阮元之說,佛教係始於西漢,初稱休屠,後稱浮屠、佛圖、佛陀,此皆一音之轉。〔魏書釋老志第二十〕(參閱「佛」2605、「浮圖」4161) ; (休屠) Cũng gọi Phù đồ. Chỉ cho đức Phật hoặc chúng tăng. Truyện Hoắc khứ bệnh trong Hán thư chép: Bắt Hưu đồ tế người Thiên kim . Hưu đồ ở đây chỉ cho chúng tăng. Ngụy lược Tây di truyện chép: Niên hiệu Nguyên thọ năm đầu đời vua Ai đế, Tiến sĩ Cảnh hiến được sứ giả của vua nước Đại nguyệt thị là Y tồn khẩu truyền Hưu đồ kinh . Hưu đồ ở đây chỉ cho đức Phật; còn Hưu đồ kinh tức là kinh Phật. Ngoài ra, theo thuyết của ông Nguyễn nguyên, thì Phật giáo được truyền vào Trung quốc từ thời Tây Hán, lúc đầu gọi là Hưu đồ, sau gọi là Phù đồ, Phật đồ, Phật đà, đều là từ một chữ Phạm mà dịch âm khác nhau. [X. Ngụy thư Thích Lão chí 20]. (xt. Phật, Phù Đồ).

hương

4005請參閱 首羅比丘見月光童子經 梵語 gandha,巴利語同。音譯爲乾陀。乃鼻根所嗅之物,鼻識所分別之對象之一。爲五境(五塵)、六境、十二處、十八界、七十五法、百法等之一。在品類足論卷一、法蘊足論卷十中,分有好香、惡香、平等香等三香。大毘婆沙論卷十三、俱舍論卷一中,則分爲好香、惡香、平等香、不平等香等四種香。 關於好、惡、平等之分類,大毘婆沙論卷十三由各種觀點加以論說,例如香給予心所起之快、不快、非快非不快,抑或香能否滋養、損害我人之五官,或非滋養非損害五官,以及產生香之成因是由福業、罪業,或由四大種勢力而來者等。又另對四香之中,等與不等之區別,是否可由香之力量保持平衡而滋養身體,或因不平衡而損害身體,或視香力之強弱而定等,凡此種種問題,亦均加以討論。此外,如瑜伽師地論卷三,對香亦舉出一種到十種之分類。 由富有香氣之樹脂或木片等所製之成品,即稱「香」。以其原料之不同而分類,有栴檀香(亦作檀香,有白檀香、赤檀香二種)、沈水香(亦作沈香,爲產於印度、南洋等香木之樹脂製成)、丁子香(即丁香)、鬱金香(鬱金即番紅花之花汁所壓製)、龍腦香(樟腦之一種,產於南洋之香木製成),以上稱爲五香,密教作壇時,將之與五寶、五穀一同埋入地中。其他尚有薰陸香(亦作乳香,似松脂)、伽羅、真盤(又作真那盤,爲含暗褐色之樹脂,或指黑沈香)、安息香(爲產於南洋之香木之樹皮脂汁凝固後所製,或是將樹脂磨成粉狀)等。 印度地屬熱帶,氣候炎熱,故易生體垢、惡臭,爲消除體垢與惡臭,遂將彼地盛產之香木煉製成香料,塗抹於身體,稱作塗香;或焚燒香料,以薰衣服與室內,稱作燒香、薰香。一般風俗習慣乃於寒天時燒香,而塗香則在寒天或熱天時均可,然塗香主要仍是用於熱天。 燒香、塗香亦爲供佛方法之一。依賢愚經卷三,迎請佛陀之儀禮有燒香之說。在法華經卷四亦謂,香、抹香(於道場、寺廟撒粉末之香,又作末香、粖香)、塗香、燒香等,爲十種供養中之數種供養。密教中亦有閼伽水、塗香、華鬘、燒香、飯食、燈明等六種供養,可依次配於六波羅蜜,如除去閼伽水,則爲五供養。此外,密教有將手腕塗香,而後觀想自己本具之五分法身者。 塗香或燒香時,所用香之種類因修法之類別(息災、增益、降伏)而有所不同。此外,又視所供奉尊像之部別,而有限用之香,即佛部用沈香,金剛部用丁子香,蓮華部用白檀香,寶部用龍腦香,羯磨部用薰陸香。然依毘尼母經卷五等謂,佛陀制定出家眾除療病外,不可塗香,故沙彌十戒中有禁止塗香之規定。 塗香時所用之香有香水、香油、香藥等。燒香時所用之香有丸香(圓形之香。在密教修護摩法時,將之投入爐中供養,以此象徵總集煩惱,並用智火燒盡貪、瞋等煩惱)、散香(粉末狀之香。密教將微細煩惱、精進、愚癡等比喻爲散香)、抹香(燒香所用粉末狀之香)、練香(攪拌所成之香)、線香(線狀之香)等。 抹香之外,亦有用香水撒布道場或灌浴佛像者。在密教中,以牛糞、淨好土、香水混合而成「香泥」,可供修法時塗壇之用。又火葬時,以香木爲薪材者,稱爲香薪。 燒香又稱焚香、拈香、捻香、告香、插香、炷香等。禪宗特別用拈香之稱,常於種種場合中拈香,如開堂之日,祈求聖壽萬歲之拈香,稱爲祝聖拈香;法會之時,爲出席之勅使祝福之拈香,稱爲勅使拈香;接嗣法燈所作之拈香,稱爲嗣法拈香;爲朝臣所作之拈香,稱爲臣僚拈香等皆是。此外,禪僧住職一寺,首次說法時,須把香獻至其師之前,而來報告自己已成嗣法者,此香稱爲信香;至於對向自己燒香者之答禮所拈之香,稱爲還香(又作答香);代理他人燒香,稱爲代香;齋食時對僧眾頒香,或巡堂時在諸尊前燒香,稱爲行香(行有頒與之意)。在我國,參拜寺院或納香資,均稱爲進香。 盛香之容器,稱爲香筥、香箱、香盒、香合;焚香之爐,稱爲香爐、薰爐、火爐;使香繼燃不絕之盤,稱爲香盤、常香盤;香爐之有把手者,稱爲柄香爐、手爐。又裝柄香爐、名香、如意之箱,稱爲香爐筥,此筥與戒體筥、居箱等,在法會時,同爲導師等所用(密教中爲大阿闍梨所用),在法儀等法會時,則由十弟子中之一人執持。 或以香來比喻佛法之功德,例如戒香、聞香、施香,或戒香、定香、慧香、解脫香、解脫知見香(五分法身,又作五分香),又如佛殿之稱爲香室、香殿等亦屬此類譬稱。此外,在日本,同於花道、茶道,而有所謂「香道」之盛行。〔法華經卷六法師功德品、陀羅尼集經卷十二、舊華嚴經卷四十九、新華嚴經卷六十七〕 ; Gandha (S). Fragrance; incense; the sense of smell, i.e. one of the sadayàtana, six senses. Incense is one of the Phật sứ Buddha's messenger to stimulate faith and devotion. Odour, olfactive object, scent ; (香) Phạm,Pàli:Gandha. Dịch âm: Càn đà. Cảnh sở duyên của tị căn (mũi ngửi), cũng là đối tượng phân biệt của tị thức(thức mũi), 1 trong 5 trần, 1 trong 6 cảnh, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới, 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Luận Phẩm loại túc quyển 1 và luận Pháp uẩn túc quyển 10, chia hương làm 3 loại: Hảo hương, ố hương, bình đẳng hương. Còn luận Đại tì bà sa quyển 13 và luận Câu xá quyển 1, thì chia hương làm 4 loại: Hảo hương, ố hương, bình đẳng hương, bất bình đẳng hương. Theo quan điểm của luận Đại tì bà sa quyển 13, thì hương mang lại cho người ta cái cảm giác khoan khoái (hảo hương), không khoan khoái (ố hương) hoặc chẳng phải khoan khoái chẳng phải không khoan khoái (bình đẳng hương); hoặc hương có thể bồi bổ hay gây hại cho 5 cảm quan của người ta, cho đến nguyên nhân phát sinh ra hương là do phúc nghiệp hay tội nghiệp, hoặc do thế lực của tứ đại, hoặc do sức của 4 loại hương này cân bằng hay không cân bằng mà nó có thể bồi bổ hoặc gây tổn hại cho thân thể. Do nhựa cây hoặc gỗ có mùi thơm được chế thành hương và tùy loại hương liệu khác nhau mà có: Chiên đàn hương, Trầm thủy hương, Đinh tử hương, Uất kim hương, Long não hương. Năm loại hương này Mật giáo thường sử dụng khi lập đàn. Ngoài ra, còn có Huân lục hương, Già la hương, Chân bàn hương, An tức hương, v.v... Trong Phật giáo hương thường được dùng trong pháp hội cúng dường hoặc để ví dụ công đức của Phật pháp như: Giới hương, văn hương, thí hương, hoặc giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương, v.v... [X. phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháp hoa Q.6; kinh Đà la ni tập Q.12; kinh Hoa nghiêm Q.49 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.67 (bản dịch mới)].

hương (quang trang) nghiêm

The one whose mind mediatates on Buddha becomes interpenetrated and glorified by Buddha-fragrance (and light).

hương ba ca nhĩ cư

4008西藏佛教迦爾居派兩大傳承之一。瓊波南交創立。於後藏香地區(今西藏日喀則東北一帶)勢力較大,故有此稱。其門徒建葭寺與桑定寺,形成該派之兩支系,格魯派始祖宗喀巴及其弟子克主杰格雷貝桑,皆曾先後從香巴迦爾居僧人學法。十四、五世紀後,逐漸衰微。 ; (香巴迦爾居) Một chi hệ lớn trong phái Ca nhĩ cư thuộc Phật giáo Tây tạng, do ngài Quỳnh ba nam giao sáng lập. Vì phái này có thế lực rất mạnh ở vùng Hương ba thuộc Hậu Tạng (nay là vùng Đông bắc Nhật khách tắc, Tây tạng) nên có tên như trên. Môn đồ của phái này chia ra thành 2 chi phái Giả tự và Tang định tự. Thủy tổ của phái Cách lỗ là ngài Tông khách ba và đệ tử là Khắc chủ kiệt cách lôi bối tang từng theo học giáo pháp của phái này. Sau thế kỉ XIV, XV, phái này suy vi dần.

hương bàn

4016焚香之盤。又作香臺、常香盤。以木或金屬作成之方形臺,盤中盛香作梵字形,常點火焚之。〔禪林象器箋器物門、安齋隨筆卷二〕 ; (香盤) Cũng gọi Hương đài, Thường hương bàn. Cái mâm dùng để đốt hương được làm bằng gỗ hoặc bằng kim loại, có hình dáng như cái đài vuông, trong mâm đựng đầy hương xếp thành hình các chữ Phạm để đốt. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên; An trai tùy bút Q.2].

hương bản

4011又作香板。禪林中用以警策修行之木板,形如寶劍。依使用目的之不同,而有諸多名稱,用以警策用功辦道者,稱爲警策香版;用以懲誡違規者,稱爲清規香版;用以警醒坐禪昏沈者,稱爲巡香香版;於禪七中使用者,稱爲監香香版。一般係由方丈、首座、西堂、後堂、堂主、維那、知客、糾察等職事所持用。〔金山共住規約〕 ; (香版) Thanh gỗ dùng để sách tiến sự tu hành trong tùng lâm, hình dáng giống như thanh bảo kiếm. Tùy theo mục đích sử dụng mà hương bản có nhiều tên gọi khác nhau: Dùng để thúc đẩy người dụng công tu đạo, gọi là Cảnh sách hương bản; dùng để trừng phạt người vi phạm thanh qui, gọi là Thanh qui hương bản; dùng để đánh thức người ngồi thiền ngủ gục, gọi là Tuần hương hương bản; sử dụng trong Thiền thất, gọi là Giám hương hương bản. Nói chung, các chức vụ Phương trượng, Thủ tọa, Tây đường, Hậu đường, Đường chủ, Duy na, Tri khách, Kiểm sát, v.v... đều có thể sử dụng Hương bản. [X. Kim sơn cộng trụ qui ước].

hương bỉ bối

Xem Ba la đề đề xá ni.

hương bỉ hối

Xem ba la đề xá ni.

hương ca sa

4013香染之袈裟。香,乃梵語 gandha(乾陀)之譯,係香樹名。即以乾陀樹皮所染成之黃赤色袈裟,原屬佛制壞色之一種,最早流行於印度,爲一般僧尼披著。後代則以青黃等非法純色與其併稱;於日本,用縠、織物等製成者,唯限於僧正以上所用。 ; (香袈裟) Ca sa nhuộm hương. Hương là dịch nghĩa từ tiếng Phạm Gandha(càn đà) là tên một loại cây thơm. Vỏ cây càn đà có mầu vàng sậm được dùng để nhuộm áo ca sa, là một loại hoại sắc được đức Phật cho phép các vị tỉ khưu sử dụng. (xt. Ca Sa).

hương chu

Incense-stick, joss-stick.

hương chất

Gandhaja (S), Fragrant substances.

hương cúc

Mardjaka (S) A lê thọ Tên một loài hoa.

hương căn

GandhamŪla (S), Fragrant root.

hương cảng phật giáo

4013香港原屬廣東新安縣,唐代時爲南海貿易、交通必經之地,古稱屯門。一八四二年,清廷割讓予英國,始爲英屬地。迄今,已爲國際知名之東方港口。此地最早之佛教史蹟爲唐代杯度禪師駐錫之道場,有杯度庵與靈渡寺,今仍有杯度洞、杯度井等遺蹟。當地幾乎與廣州同時有佛教之存在,惟不甚發達。 民國以來,佛教才正式傳入香港。民國五年(1916)先有佛學會之組織,次有盧家昌等人之設極樂院,茂峰法師之弘揚天台教義,其次有九年太虛大師之講經法會,影響漸廣。十四年,成立以宣揚密教爲主之「居士林」。其後更有藉開設素菜館以傳揚中國佛教者,如蟠桃天、衛樂園、小祇園等素食處,形成香港佛教發展中之特色。同時,新界各地原有之佛教寺院,亦逐漸恢復。無論僧侶、居士皆積極推動發展佛教,有「哆哆佛學社」專弘淨土,另有竹林禪院、鹿野苑之創建。又有張蓮覺居士之建東蓮覺苑與創辦女子佛學院等。一時素食、講經、弘法之風頗盛,遂有香港佛學會、香港佛教青年會之成立與「人海燈」月刊之發行。 民國二十五年,東華醫院舉辦香港有史以來第一次之「萬善眾緣水陸大會」,由禪宗泰斗虛雲和尚主持。至此,天台、淨土、禪宗、密宗,乃至法相等宗,皆於此地次第展開,不論弘法、修持、文化,或佛教學院之教育上,均奠定相當之基礎,呈現多樣性發展之佛教。此種現象一直至二次世界大戰爆發時爲止。 二次大戰結束後,香港漸恢復原來之繁華景象。旋以大陸赤化,遂有甚多僧侶流亡此地。其中定居下來者,多自創小型寺院或精舍以安居,乃形成頗多公寓式之寺院與精舍,此亦爲香港佛教特色之一。目前香港佛教之僧伽教育及一般社會事業方興未艾。能仁書院,爲佛教界所創辦之大學,另有寶覺中學、大光中學等普通中學,又有佛教圖書館、「內明」、「香港佛教」等雜誌,及慈幼院、安老院、佛教墓園、佛教醫院等事業均在日益發展中。此外,居士佛教方面,也有法相學會、金剛乘學會、法住學會等團體。 大體而言,由於香港居民多爲廣東人,故香港佛教在本質上是廣東佛教之延伸。然近數十年來,由於社會型態之變易,乃逐漸發展出一種與舊日廣東佛教不全相同之型態。〔香港佛教(張曼濤,佛光學報第二期)〕 ; (香港佛教) Hương cảng, xưa gọi là Đồn môn thuộc huyện Tân an, tỉnh Quảng đông, Trung quốc, vào đời Đường, Đồn môn là của ngõ giao thương với vùng Nam hải. Năm 1842, triều đình nhà Thanh cắt nhượng đất này cho nước Anh, từ đó trở thành bến cảng quốc tế nổi tiếng ở phương Đông. Theo lịch sử thì thiền sư Bôi độ là người đầu tiên truyền Phật giáo vào Hương cảng, đạo tràng hoằng pháp của ngài là am Bôi độ và chùa Linh độ. Ngày nay vẫn còn các di tích như động Bôi độ, giếng Bôi độ, v.v... Sự tồn tại của Phật giáo ở Hương cảng gần như đồng thời với sự tồn tại của Phật giáo ở Quảng châu, chỉ có điều là Phật giáo Hương cảng không được phát đạt lắm. Từ năm 1911 trở đi, Phật giáo mới chính thức được truyền vào Hương cảng. Đầu tiên, năm 1916, có tổ chức hội Phật học; kế đến, có nhóm các ông Lư gia xương, v.v... thiết lập viện Cực lạc, pháp sư Mậu phong hoằng dương giáo nghĩa Thiên thai. Năm 1920, có pháp hội giảng kinh của đại sư Thái hư, ảnh hưởng của Phật giáo từ đó dần dần lan rộng. Năm 1925, hội Cư sĩ Lâm được thành lập, chủ yếu là để tuyên dương Mật giáo. Sau lại có những người dựa vào việc mở tiệm cơm chay để truyền bá Phật giáo Trung quốc, như các nơi ăn chay Bàn đào thiên, Vệ lạc quốc, Tiểu kì viên, v.v... đã hình thành một đặc sắc trong việc phát triển Phật giáo tại Hương cảng. Đồng thời các chùa viện Phật giáo vốn đã có từ trước ở Tân giới cũng dần dần được khôi phục, không kể là tăng sĩ hay cư sĩ, tất cả đều tích cực vận động phát triển Phật giáo, như việc thành lập Đa đa Phật học xã , chuyên hoằng dương Tịnh độ giáo. Ngoài ra, Trúc lâm thiền viện, Lộc dã uyển cũng được xây dựng, rồi lại có cư sĩ Trương liên giác sáng lập Đông liên giác uyển và Nữ tử Phật học viện, v.v... song song với sự thành lập hội Phật học Hương cảng, hội Thanh niên Phật giáo Hương cảng và sự phát hành Nguyệt san Nhân hải đăng khiến cho phong trào giảng kinh, hoằng pháp khá sôi nổi. Năm 1936, Y viện Đông hoa tổ chức Đại hội vạn thiện chúng duyên thủy lục , lần đầu tiên, do hòa thượng Hư vân chủ trì. Đến thời đó, các tông Thiên thai, Tịnh độ, Thiền tông, Mật tông, Pháp tướng (...)… đều lần lượt mở rộng về mọi mặt như hoằng pháp, tu trì, văn hóa, giáo dục Phật giáo (...) tất cả tương đối đã vững chắc. Nhưng đến khi đại chiến thế giới lần thứ 2 bùng nổ, thì mọi hoạt động của Phật giáo Hương cảng cũng bị ngưng trệ. Sau khi đại chiến thứ 2 kết thúc, Hương cảng dần dần đã khôi phục được quang cảnh phồn hoa như xưa. Sau khi cộng sản chiếm trọn lục địa Trung quốc vào năm 1949, thì rất nhiều tăng sĩ chạy sang Hương cảng, trong đó phần đông đã xây cất chùa viện hoặc tinh xá để an cư, đây cũng là một đặc sắc khác của Phật giáo Hương cảng. Hiện nay việc giáo dục tăng già cũng như một số công tác xã hội của Phật giáo Hương cảng đang phát triển. Như thư viện Năng nhân biến thành trường Đại học do giới Phật giáo điều hành; ngoài ra, cũng có các trường Trung học phổ thông như trường Bảo giác, trường Đại quang, v.v... rồi đến thư viện Phật giáo và các tạp chí Nội Minh , Phật Giáo Hương Cảng , v.v..., viện Từ ấu, viện An lão, nghĩa trang Phật giáo, Y viện Phật giáo... đều được mở rộng. Còn về phương diện đoàn thể Phật giáo cư sĩ thì có các hội như: Hội pháp tướng học, hội Kim cương thừa học, hội Pháp trụ học, v.v... Tóm lại, do cư dân ở Hương cảng phần lớn là người Quảng đông, cho nên thực chất của Phật giáo Hương cảng là sự mở rộng của Phật giáo Quảng đông. Nhưng từ vài mươi năm gần đây, do hình thái xã hội biến đổi, nên Phật giáo Hương cảng cũng khác với Phật giáo Quảng đông ngày xưa. [X. Hương cảng Phật giáo (Trương mạn đào, Phật quang học báo kì 2)].

hương cảnh

Gandha-visaya (S).

hương cử

4016盛香之容器。又作香盒、香合、香函、香箱。通常爲木製加漆,亦有陶製與金屬製。形狀以平圓爲常見,有大香筥、小香筥之別。原是佛具之一,後世則用於茶席等之用,其形狀亦異於昔。〔勅修百丈清規卷上祝釐章聖節、禪林象器箋器物門〕 ; (香筥) Cũng gọi Hương hạp, Hương hợp, Hương hàm, Hương sương. Hộp đựng hương, thường được đóng bằng gỗ rồi sơn, cũng có loại làm bằng đất nung và kim loại. Hình dáng thường là hình tròn và lớn nhỏ có nhiều loại khác nhau. Hộp đựng hương vốn là vật dùng để cúng Phật, đời sau người ta dùng nó trong các tiệc trà và hình dáng của nó cũng khác xưa. [X. Thánh tiết, chương Chúc li trong Sắc tu Bách tượng thanh qui Q.thượng; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hương dược

4018其義有三:(一)即香物與藥之並稱,指普通之五香、五藥。(二)以香藥一詞,統稱五寶、五香、五藥、五穀等二十種物。(三)或將上舉二十種物調合爲一,稱爲香藥,爲密教灌頂所常用者。 ; (香藥) Có 3 nghĩa: 1. Chỉ chung cho 5 loại hương và 5 loại thuốc phổ thông. 2. Danh từ gọi chung 20 vật: 5 thứ báu vật, 5 loại hương, 5 loại thuốc và 5 loại hạt. 3. Chỉ cho hợp chất được điều hợp từ 20 loại kể ở trên, thường dùng cho pháp Quán đính của Mật giáo.

hương dục

4011唐代禪僧。濟陰(山東荷澤)人,俗姓李。生卒年不詳。初習老莊,已而寄心釋典,遂出家於滄州安定寺。後至五臺山,參謁神秀,洞徹心源,乃辭往郢州大佛山安禪,苦修力行,徒眾盈千,聲譽大彰,州將韓潤召之,以疾堅辭。臨終,命潔其身而坐化,世壽七十三。〔宋高僧傳卷八〕 ; The desire for fragrance, the lust of the nasal organ, one of the five desires.

hương giới

4012佛寺之稱。又稱香阜。古人詩中,多稱佛寺爲香界。孟浩然之題雲門山詩:「捨舟入香界,登閣憩旃檀。」高適之登慈恩寺浮圖詩:「香界泯群有,浮圖豈諸相?」 ; (香界) Cũng gọi Hương phụ. Từ ngữ gọi chung các chùa viện của Phật giáo, thường được dùng trong thi ca của người xưa. Trong bài thơ Đề núi Vân môn của nhà thơ Mạnh hạo nhiên có câu: Xả chu nhập hương giới, Đăng các khế chiên đàn . Nghĩa là: Rời thuyền vào chốn am mây Leo lên gác nghỉ, ngất ngây chiên đàn .

hương giới tự

4012位於河北宛平縣西北翠微山。始建於唐代,遼金時爲一大名剎,元時改稱平坡寺,明洪熙元年(1425)重建,改稱大圓通寺。崇禎末年毀於兵災。清康熙十七年(1678)重建,改稱聖感寺。清乾隆十三年(1784)又重建,始改名香界寺。規模宏大,殿宇共有五進,左院有乾隆行宮及花園,後院有藏經樓。

hương hoa

4015即香(梵 gandha)與花(梵 puṣpa)之並稱。又作華香。多爲供佛用。奉施香華,可得十種功德:(一)處世如花。(二)身無臭穢。(三)福香戒香,遍諸方所。(四)隨所生處,鼻根不壞。(五)超勝世界,爲眾歸仰。(六)身常香潔。(七)受樂正法,受持讀誦。(八)具大福報。(九)命終生天。(十)速證涅槃。在日本,謂自家所屬寺院,稱香花院或香火院。〔佛爲首迦長者說業報差別經、法苑珠林卷三十六〕 ; Incense and flowers. ; (香華) Cũng gọi Hoa hương. Gọi chung Hương (Phạm: Gandha) và Hoa (Phạm: Puwpa). Hương hoa dùng để cúng Phật. Người dâng cúng sẽ được 10 thứ công đức: 1. Cuộc đời tươi đẹp như hoa. 2. Thân thể thơm tho. 3. Hương phúc, hương giới tỏa khắp mọi nơi. 4. Dù sinh ở bất cứ nơi nào, căn mũi không hư hoại. 5. Vượt trên tất cả, được mọi người qui ngưỡng. 6. Thân thường không có mùi hôi 7. Được niềm vui trong chính pháp, thường thụ trì đọc tụng. 8. Đầy đủ các phúc báo. 9. Sau khi mệnh chung, được sinh lên các cõi trời. 10. Mau chứng quả Niết bàn. Tại Nhật bản, các chùa viện thuộc về gia đình riêng, gọi là Hương hoa viện hoặc Hương hỏa viện. [X. kinh Phật vị Thủ ca trưởng giả thuyết nghiệp báo sai biệt; Pháp uyển châu lâm Q.36].

hương hoả

4009原指燒香與燃燈火。引申爲寺廟中司香火之事者。釋門正統卷四(卍續一三○‧四一一上):「香火之嚴,於今爲盛。」續高僧傳卷一(大五○‧四二九中):「香火梵音,禮拜唱導。」又寺廟信徒眾多,俗稱爲香火鼎盛。 ; (香火) Chỉ cho nhang và đèn, hoặc người phụ trách việc thắp hương, đốt đèn trong các chùa viện. Thích môn chính thống quyển 4 (Vạn tục 130, 411 thượng), nói: Việc lễ bái, hương đèn, đến nay vẫn thịnh . Tục cao tăng truyện quyển 1 (Đại 50, 429 trung), nói: Hương hỏa, tụng kinh, lễ bái, xướng đạo . Ngoài ra, chùa viện nào có đông tín đồ đến lễ bái, người ta thường nói rằng chùa viện đó hương hỏa sầm uất.

hương hoả nhân duyên

4009古人盟誓之時,多設香火告神,我國佛徒沿用之;故謂彼此契合爲香火因緣,謂猶如結盟於宿世而逾分相愛。北齊書陸法和傳:「法和是求佛之人,尚不希釋、梵天王坐處,豈規王位?但於空王佛所,與主上有香火因緣,且主上應有報至,故相救援耳!」 ; (香火因緣) Chỉ cho sự kiện 2 người tâm đầu ý hợp, dường như đã kết lời thề từ đời trước nên ngày nay gặp nhau thì càng thân thiết nhau hơn. Từ ngữ này bắt nguồn từ tập tục của người xưa, mỗi khi lập lời thề ước, thường bày hương án để tế cáo thần minh. Truyện Lục pháp hòa trong Bắc Tề thư nói: Pháp hòa là người muốn được làm Phật, cho nên đối với ngôi vị trời Đế thích, trời Phạm vương còn chẳng mong cầu, huống chi là ngôi vua? Nhưng, khi ở chỗ đức Phật Không vương, Pháp hòa và Chúa thượng đã có Hương hỏa nhân duyên, vả lại, Chúa thượng chắc sẽ chịu báo, nên ngài sẽ đến cứu giúp! .

hương hoả xã

4009唐武宗會昌年間(841~846)所結之法社。白樂天(772~846)於詩文之外,又精通佛學,晚年自稱香山居士,虔信淨土,與洛陽佛光寺如滿等人共結香火社,專志念佛。唐武宗信奉道教,而香火社卻成立於武宗毀佛之前後,此法社之存在,意義深遠。〔舊唐書卷一六六白居易傳〕 ; (香火社) Hội đoàn niệm Phật, do cư sĩ Bạch lạc thiên (tức Bạch cư dị, 772-846) cùng với ngài Như mãn sáng lập vào khoảng năm Hội xương (841-846) đời vua Vũ tông nhà Đường, tại chùa Phật quang, Lạc dương, Trung quốc. Sự tồn tại của hội đoàn này có ý nghĩa rất sâu xa đối với việc Đường Vũ tông phá hủy Phật giáo. [X. truyện Bạch cư dị trong Cựu đường thư Q.116].

hương huệ bồ tát

Xem Hương Tượng Bồ tát.

hương hài nhi doanh

4012宋太祖誕生地。即應天禪院之別稱。相傳太祖生時,營中三日芳香四溢,洛中因稱應天禪院爲香孩兒營。〔談苑(孔平仲)〕

Hương Hải

香海; 1628-1715.|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Trúc Lâm Yên Tử. Không biết Sư thừa kế ai bởi vì hệ thống truyền thừa của Trúc Lâm Yên Tử bị thất lạc từ sau vị Tổ thứ ba là Huyền Quang.|Sư con nhà thế phiệt, tổ tiên làm quan triều đình. Sư thuở nhỏ đã thông minh tài trí, năm 18 tuổi thi đỗ Cử nhân, được triều đình phong làm tri phủ Triệu Phong (nay là tỉnh Quảng Trị). Năm 25 tuổi Sư bắt đầu học đạo, ba năm sau thì từ quan xuất gia rồi dong thuyền ra đảo Tim Bút La (Cù lao Chàm ở biển Ðà Nẵng) ở biển Nam Hải, cất am để tu. Tương truyền rằng ở đây ma quái kéo đến quấy nhiễu nhưng Sư đều đối trị được. Chúa Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền) nghe danh Sư cho mời về núi Quy Kính trụ trì. Bấy giờ có quan nội giám Gia quận Công, người Ðàng ngoài nhưng được chúa Nguyễn cho dạy trong nội cung. Gia quận Công hay lui tới nghe Sư giảng pháp. Vì thế mà có kẻ ganh ghét tâu với chúa Nguyễn là hai người âm mưu định trốn về Bắc. Chúa Nguyễn không có bằng cớ nhưng buộc Sư phải vào Quảng Nam ở. Vì chuyện đó mà Sư quyết chí về Bắc. Chúa Trịnh coi trọng sư thưởng nhiều vàng bạc, về sau cho đưa Sư về Sơn Tây, lúc này Sư đã 56 tuổi. Năm Canh Thìn 1700, Sư dời sang chùa Nguyệt Ðường, học trò theo học rất đông, nơi đây Sư làm hưng thịnh phái Trúc Lâm.|Sư thường dạy chúng như sau: »Ngộ được tự tính mình thì chúng sinh là Phật, mê tự tính của mình thì Phật là chúng sinh. Giữ được tự tính mình bình đẳng thì chúng sinh là Phật, để tự tính mình gian hiểm thì Phật là chúng sinh.« Lại nói: »(Có những kẻ) Chỉ muốn tránh chỗ huyên náo, bỏ nơi hoạt động, cố phá từng cái tướng, tách từng mảnh bụi của mọi vật thể để tìm hiểu biết. Làm như thế tuy chỗ tĩnh lặng cốt ngộ lí không, nhưng không biết đó cũng là cái lối làm chôn vùi chân tính, lấp mất chân giác… Nếu biết quay ánh sáng soi lại nơi mình bỏ ngoại cảnh mà xem tự tâm, thì Phật nhãn sáng suốt, bóng nghiệp tự tan, Pháp thân hiện ra, những vết trần tự diệt… Cái bản thể của tâm và chân tướng của tính, vốn lặng lẽ chẳng phải có, chẳng phải không, không có sinh cũng không có diệt. Ta tìm nó thì không thấy, bỏ nó thì vẫn chẳng rời. Nếu ta mê cái hiện lượng của nó thì khổ sở lầm lẫn lăng xăng, nếu ngộ được chân tính của nó thì tinh thông sáng suốt. Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, song chỉ có người chứng ngộ mới biết.«|Năm Ất Mùi Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), ngày 13 tháng 5, Sư mặc áo ca-sa ngồi kết già an nhiên thị tịch, thọ 88 tuổi. Chùa Nguyệt Ðường là một thiền lâm lớn nhất trong nước. Sư để lại 16 tác phẩm giải thích các kinh Pháp hoa, Kim cương, A-di-đà…

hương khẩu tỉ khâu

4007據大智度論載,有一比丘歸敬佛說,稱讚佛無量之功德,因而從口中生出妙香。大智度論卷十一(大二五‧一四四上):「阿輸伽王一日作八萬佛圖,雖未見道,於佛法中少有信樂,日日請諸比丘入宮供養,日日次第留法師說法。有一三藏年少法師,聰明端正,次應說法,在王邊坐,口有異香。王甚疑怪,謂爲不端,欲以香氣動王宮人,語比丘言:『口中何等?開口看之。』即爲開口,了無所有。與水令漱,香氣如故。王問:『大德!新有此香?舊有之耶?』比丘答言:『(中略)我昔於迦葉佛法中作說法比丘,常在大眾之中歡喜演說迦葉世尊無量功德諸法實相(中略)自是以來,常有妙香從口中出,世世不絕,恆如今日。』」〔釋門歸敬儀卷下〕 ; (香口比丘) Vị Tỉ khưu trong miệng thường bay ra mùi hương vi diệu. Luận Đại trí độ quyển 11 (Đại 25, 144 thượng), nói: Vua A du già một ngày vẽ 8 vạn tượng Phật, tuy chưa thấy đạo, nhưng đối với Phật pháp cũng có tâm tin ưa, hằng ngày thường thỉnh các vị tỉ khưu vào cung cúng dường và theo thứ tự thỉnh một vị Pháp sư ở lại nói pháp. Một hôm đến phiên vị Tam tạng pháp sư trẻ đẹp, thông minh được thỉnh, vị này khi thuyết pháp, trong miệng thường phát ra mùi thơm kì lạ, nhà vua rất ngạc nhiên và cho rằng vị này không đoan chính, muốn dùng mùi thơm để quyến rũ người trong cung vua, nên hỏi vị tỉ khưu rằng: Trong miệng của nhà ngươi có gì, há miệng cho ta xem?, vị tỉ khưu liền há miệng, nhưng chẳng có vật gì cả. Nhà vua lại sai lấy nước cho vị tỉ khưu súc miệng, súc miệng xong, mùi thơm vẫn bay ra như cũ. Vua hỏi: Đại đức! Mùi thơm này mới có hay đã có lâu rồi? Vị tỉ khưu đáp: (...) Thưở quá khứ, trong thời đức Phật Ca diếp, tôi là một tỉ khưu thuyết pháp, thường ở giữa đại chúng, vui mừng diễn nói công đức vô lượng của đức Phật Ca diếp và thực tướng các pháp (...), cho nên từ đó đến nay, trong miệng tôi vẫn thường phát ra mùi thơm vi diệu như thế . [X. Thích môn qui kính nghi Q.hạ].

hương kệ

4013又作燒香偈、燒香回向文。於佛前上香時所唱之偈文。禮佛儀式(卍續一二九‧一一八上):「(禮敬讚德,先須至於香臺,端身息慮,思念聖德,目睹尊容,雙膝著地,手擎香爐,而舉偈言)戒香、定香、解脫香,光明雲臺遍法界,供養十方無量佛,聞香普熏證寂滅。(此偈出華嚴經,是五分法身之香,今爲成頌故,文略慧香、解脫知見香)故知,向來行香之時均舉戒香等偈。觀佛三昧海經卷十(大一五‧六九五上):「願此華香,滿十方界,供養一切佛,化佛并菩薩,無數聲聞眾,受此香華雲,以爲光明臺,廣於無邊界,無邊作佛事。」諸宗派中有以此一偈頌爲香偈者,亦有取文意另造偈頌爲香偈者。〔釋氏要覽卷上、諸經要集卷三、集諸經禮懺儀卷上、法事讚私記卷上〕 ; (香偈) Cũng gọi Thiêu hương kệ, Thiêu hương hồi hướng văn. Bài kệ được xướng lên khi dâng hương trước đức Phật. Lễ Phật nghi thức (Vạn tục 129, 118 thượng), nói: Khi kính lễ tán thán công đức của Phật, trước phải đến đài hương, thân quì ngay thẳng, mắt nhìn tôn dung của Phật, lắng tâm tư duy, dứt hết tạp niệm, tay bưng lò hương, chỉ nghĩ tưởng đến công đức của Phật, rồi xướng bài kệ rằng: Hương giới, hương định, hương giải thoát, Đài mây soi sáng khắp pháp giới. Cúng dường mười phương vô lượng Phật. Người ngửi hương này chứng vô sinh. (Bài kệ này được trích từ kinh Hoa nghiêm, nhưng đã lược bớt phần hương tuệ và hương giải thoát tri kiến) . Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 10 (Đại 15, 695 thượng) ghi: Nguyện dâng hoa hương này. Khắp cõi nước mười phương. Cúng dường hết thảy Phật. Hóa Phật và Bồ tát. Cùng vô số Thanh văn. Thụ lãnh hương hoa này. Dùng làm đài quang minh. Soi sáng vô biên cõi. Làm Phật sự khôn cùng . Trong các tông phái, có tông dùng bài kệ trên đây làm kệ dâng hương, nhưng cũng có tông chỉ lấy ý văn, rồi soạn thành bài tụng khác. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng; Chư kinh yếu tập Q.3; Tập chư kinh lễ sám nghi Q.thượng; Pháp sự tán tư kí Q.thượng].

hương lâm

Korin (J), Hsianglin (C), Korin (J).

Hương Lâm Trừng Viễn

(香林澄遠, Kyōrin Chōon, 908-987): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người vùng Tuyến Trúc (線竹), Hán Châu (漢州, Tỉnh Tứ Xuyên). Ông theo Vân Môn Văn Yển (雲門文偃) tu tập, cuối cùng được yếu chỉ và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến sống ở Hương Lâm Viện (香林院) thuộc Thanh Thành Sơn (青城山), Ích Châu (益州, Tỉnh Tứ Xuyên), suốt 40 năm trường chuyên tâm cử xướng tông phong của Vân Môn, và tiếp độ chúng tăng tu tập. Vào ngày 13 tháng 2 năm thứ 4 (987) niên hiệu Ung Hy (雍熙), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi đời. ; 香林澄遠; C: xiānglín chéngyuǎn; J: kyōrin chōon, 908-987;|Thiền sư Trung Quốc. Sư và Ðộng Sơn Thủ Sơ là hai môn đệ trội nhất của Thiền sư Vân Môn Văn Yển. Môn đệ giỏi nhất của Sư là Thiền sư Trí Môn Quang Tộ.|Nơi Vân Môn, Sư làm Thị giả. Vân Môn mỗi khi tiếp Sư đều gọi: »Thị giả Viễn!« Sư ứng: »Dạ.« Vân Môn hỏi: »Ấy là gì?« Ðó là pháp duy nhất Sư học tại Vân Môn. Sau 18 (!) năm như vậy, Sư tỉnh ngộ. Sư từ giã đi, Vân Môn bảo: »Sao chẳng nói một câu hướng thượng?« Sư suy nghĩ. Vân Môn bắt ở thêm ba năm (!) nữa.|Sau đó Sư đến chùa Hương Lâm trụ trì và hướng dẫn học giả trên thiền đạo. Có vị tăng hỏi Sư: »Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?« Sư đáp: »Ngồi lâu sinh nhọc.«|Một hôm, Sư bảo chúng: »Lão tăng 40 năm mới dồi thành một khối.« Nói xong, Sư ngồi kết già thị tịch, thọ 80 tuổi.

hương lâm trừng viễn

Kyōrin Choon (J), Xianglin Chengyuan (C), Hsiang-lin Ch'eng-yuan (C), Kyorin Choon (J) (908 - 987), đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Vân Môn Văn Yển.

hương lâm tây lai ý

4011禪宗公案名。又作香林坐久成勞。碧巖錄第十七則(大四八‧一五七上):「僧問香林:『如何是祖師西來意?』林云:『坐久成勞。』」香林澄遠禪師以達磨九年面壁坐禪之典故而答僧之問,「坐久成勞」一語表面爲一嘲諷語,然實爲香林禪師特意說之反面語。香林之意,乃冀藉此一反面語而欲令其僧徹見各人腳下自具之心性,以無庸置喙於祖師西來之意云云。〔景德傳燈錄卷二十二、五燈會元卷十五〕 ; (香林西來意) Cũng gọi Hương lâm tọa cửu thành lao. Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên đối thoại giữa thiền sư Hương lâm với một vị tăng. Tắc 17 trong Bích nham lục (Đại 48, 157 thượng), chép: Vị tăng hỏi ngài Hương lâm:- Tổ sư từ Tây thiên đến là ý gì? Ngài Hương lâm trả lời: - Ngồi lâu sinh mệt. [X. Cảnh đức truyền tăng lục Q.22; Ngũ đăng hội nguyên Q.5].

hương lâu

4016釋尊之遺體火葬時,以香木堆積成臺,其高如樓,上置寶棺。大般涅槃經後分卷下(大一二‧九○八上、九○九下):「爾時一切大眾所集微妙香木積高須彌,芬馥香氣,普薰世界,相重密次,成大香樓。(中略)是時天人大眾,將欲舉棺置香樓上。(中略)漸漸荼毘,經于七日,焚妙香樓,爾乃方盡。」 ; (香樓) Gỗ thơm được xếp đống thành một cái lầu cao để đặt kim quan của đức Phật. Đại niết bàn kinh hậu phần quyển hạ (Đại 12, 908 thượng, 908 hạ), chép: Bấy giờ tất cả đại chúng thu góp những cây gỗ có mùi hương vi diệu, lan tỏa khắp thế giới, rồi xếp những cây gỗ ấy thành một cái lầu hương lớn, cao bằng núi Tu di. (...) Lúc ấy, đại chúng và trời, người, đưa kim quan của đức Thế tôn đặt trên lầu hương (...) dần dần đồ tì (đốt), suốt 7 ngày lầu hương vi diệu này mới cháy hết .

hương lô

4019又作火爐、薰爐。焚香之器皿,爲大乘比丘十八物之一,亦爲佛前與佛壇之三具足、五具足之一。一般備置者爲置香爐(又稱爲居香爐),最常見於印度古代之雕刻遺蹟;持於手上者爲柄香爐;用於跨越,以清淨身體,呈象形之狀者爲象爐(香象),亦可用於床飾與桌飾。自手持之小香爐至置於室外之大香爐,有各類形狀,如聞香爐、桶側香爐、襷香爐、四方香爐、火鉢香爐等。材料種類亦極多,有金、銀、銅、金銅、白銅、赤銅、青銅等金屬製品,亦有陶製、琉璃、象牙、紫檀製品等。置香爐中,以博山香爐爲著名,其水盤中央有一山形之蓋,當中有一細柱頂立,係漢代之大銅器,後世則用作佛具,於六朝、唐代,曾盛行一時。另有火舍香爐,類似密教法具之火舍,爲一三腳平淺器皿,附有半圓形之蓋,蓋上有桃形與雲形之透雕。此外尚有形如燈籠而無笠之金山寺香爐,與形狀普遍之鼎形香爐。鼎形香爐有三腳支架,兩側有耳,半球狀蓋,常附有獅子雕刻。無耳者稱三足香爐。較著者爲藏於日本正倉院之香印坐,有一平淺蓮瓣,色彩濃厚。另有法金剛院之陶製紇哩字香爐,蓋爲荷葉形,爐上有梵字透雕。〔釋氏六帖卷二十二、類聚名物考卷二五二、卷二五四、卷二五五、古今圖書集成考工典第二三六〕(參閱「柄香爐」3843) ; (香爐) Cũng gọi Hỏa lô, Huân lô. Lư hương, một khí cụ dùng để đốt hương, thường được bày ở trước Phật và Phật đàn. Là một trong 18 thứ vật dụng của tỉ khưu, một trong Tam cụ túc, Ngũ cụ túc. Lò hương được chế tạo bằng nhiều loại nguyên liệu, như vàng, bạc, đồng, đồng vàng, đồng bạch, đồng đỏ, đồng xanh, cũng có loại làm bằng sành, lưu li, ngà voi, gỗ, v.v... Loại lư hương được đặt cố định ở một chỗ gọi là Trí hương lô(cũng gọi là Cư hương lô), loại này thường thấy được điêu khắc ở các di tích tại Ấn độ đời xưa; loại lư hương có cán cầm ở tay gọi là Bính hương lô, loại dùng để bước qua cho thân thể được thanh tịnh gọi là Tượng lô (Hương tượng, có hình dáng con voi), loại này cũng có thể dùng để trang trí trên giường hay trên bàn. Từ loại lư hương nhỏ cầm tay, đến loại lư hương lớn đặt ở trước nhà, có nhiều kiểu dáng, như Văn hương lô, Dũng trắc hương lô, Cử hương lô, Tứ phương hương lô, Hỏa bát hương lô, v.v... Về Trí hương lô thì hương lô Bác sơn là nổi tiếng hơn cả, nắp đậy có hình quả núi, trên chóp núi có một trụ nhỏ. Đây là một khí cụ bằng đồng lớn được chế tạo vào đời Hán, đến thời Lục triều và đời Đườngđã trở nên thịnh hành. Ngoài ra, có Hương lô hỏa xá, giống như cái hỏa xá trong các pháp cụ của Mật giáo, bằng sành phẳng và nông, gồm 3 chân, có thêm cái nắp hình bán cầu, trên nắp có chạm hình quả đào và mây. Ngoài ra, Hương lô của chùa Kim sơn có hình dáng như lồng đèn, nhưng không có nắp và lư hương hình cái vạc có 3 chân, 2 quai, nắp hình bán cầu, thường có chạm sư tử, loại này tương đối phổ biến. Loại lư hương khá nổi tiếng hiện còn là Hương ấn tọa, có hình cánh sen, được cất giữ ở viện Chính thương tại Nhật bản; lư hương Ngột lí tự bằng sành, nắp hình lá sen, có khắc chữ Phạm, được tàng trữ ở viện Pháp kim cương. [X. Thích thị lục thiếp Q.22; Loại tụ danh vật khảo Q.252, Q.254, Q.255; Cổ kim đồ thư tập thành khảo công điển 236]. (xt. Bính Hương Lô).

hương mộc

4009出廁洗手後,除臭氣之木。以香材造之,懸於竿端,兩手摩擦使淨。普通削成八角形。〔禪林象器箋第二十八類器物門〕 ; (香木) Thanh gỗ thơm hình bát giác, được treo trên cọc trước nhà xí, sau khi vệ sinh, chà 2 tay vào gỗ thơm ấy để khử mùi hôi. [X. môn Khí vật loại 28 trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Hương Nghiêm

(香嚴): có hai nghĩa. (1) Tên vị thiên tử, đồng tử trong kinh điển Phật Giáo. Như trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển Hạ có câu: “Hữu chư thiên tử, giai hiệu Hương Nghiêm (有諸天子、皆號香嚴, có các thiên tử, đều hiệu Hương Nghiêm).” Hay trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 5 có đoạn Hương Nghiêm đồng tử bạch Phật rằng: “Kiến chư Tỳ Kheo, thiêu trầm thủy hương, hương khí tịch nhiên, lai nhập tỷ trung, ngã quán thử khí, phi mộc phi không, phi yên phi hỏa, khứ vô sở trước, lai vô sở tùng, do thị ý tiêu, phát minh vô lậu, Như Lai ấn ngã đắc Hương Nghiêm hiệu (見諸比丘、燒沉水香、香氣寂然、來入鼻中、我觀此氣、非木非空、非煙非火、去無所著、來無所從、由是意銷、發明無漏、如來印我得香嚴號, con thấy các Tỳ Kheo, đốt loại trầm hương, hương khí lặng lẽ, xông vào trong mũi, con quán khí này, chẳng gỗ chẳng không, chẳng khói chẳng lửa, đi không nơi bám, đến không chỗ theo, do vậy ý tiêu, phát sáng vô lậu, Như Lai ấn chứng cho con được hiệu là Hương Nghiêm).” Trong bài tán Tâm Nhiên có đề cập đến Hương Nghiêm đồng tử: “Hương Nghiêm đồng tử ngộ chơn thường, tỷ quán thiệt nan lường (香嚴童子悟眞常、鼻觀實難量, Hương Nghiêm đồng tử ngộ chơn thường, mũi quán thật khó lường).” (2) Tên của vị tăng sống vào thời nhà Đường, pháp hiệu là Trí Nhàn (智閑, ?-898); xuất thân vùng Thanh Sơn (青州, Sơn Đông), pháp từ của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐). (xin tham khảo thêm mục Hương Nghiêm Trí Nhàn) ; (香嚴): có hai nghĩa. (1) Tên vị thiên tử, đồng tử trong kinh điển Phật Giáo. Như trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển Hạ có câu: “Hữu chư thiên tử, giai hiệu Hương Nghiêm (有諸天子、皆號香嚴, có các thiên tử, đều hiệu Hương Nghiêm).” Hay trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 5 có đoạn Hương Nghiêm đồng tử bạch Phật rằng: “Kiến chư Tỳ Kheo, thiêu trầm thủy hương, hương khí tịch nhiên, lai nhập tỷ trung, ngã quán thử khí, phi mộc phi không, phi yên phi hỏa, khứ vô sở trước, lai vô sở tùng, do thị ý tiêu, phát minh vô lậu, Như Lai ấn ngã đắc Hương Nghiêm hiệu (見諸比丘、燒沉水香、香氣寂然、來入鼻中、我觀此氣、非木非空、非煙非火、去無所著、來無所從、由是意銷、發明無漏、如來印我得香嚴號, con thấy các Tỳ Kheo, đốt loại trầm hương, hương khí lặng lẽ, xông vào trong mũi, con quán khí này, chẳng gỗ chẳng không, chẳng khói chẳng lửa, đi không nơi bám, đến không chỗ theo, do vậy ý tiêu, phát sáng vô lậu, Như Lai ấn chứng cho con được hiệu là Hương Nghiêm).” Trong bài tán Tâm Nhiên có đề cập đến Hương Nghiêm đồng tử: “Hương Nghiêm đồng tử ngộ chơn thường, tỷ quán thiệt nan lường (香嚴童子悟眞常、鼻觀實難量, Hương Nghiêm đồng tử ngộ chơn thường, mũi quán thật khó lường).” (2) Tên của vị tăng sống vào thời nhà Đường, pháp hiệu là Trí Nhàn (智閑, ?-898); xuất thân vùng Thanh Sơn (青州, Sơn Đông), pháp từ của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐). (xin tham khảo thêm mục Hương Nghiêm Trí Nhàn)

hương nghiêm

4018<一>佛經中天子、童子之名。維摩詰所說經卷下(大一四‧五五二上):「有諸天子,皆號香嚴。」楞嚴經卷五載,香嚴童子白佛言(大一九‧一二五下):「見諸比丘,燒沈水香,香氣寂然來入鼻中,我觀此氣,非木非空,(中略)如來印我,得香嚴號。塵氣倏滅,妙香蜜圓,我從香嚴,得阿羅漢。」 <二>(?~898)唐代僧。法號智閑。青州(山東益都)人。生年不詳。初從百丈懷海出家,後謁溈山靈祐禪師,不契,泣涕辭去。偶於山中芟草,瓦礫擊竹作聲,廓然有省,乃悟溈山祕旨,因嗣其法。住於鄧州香嚴山,化法大行,淨侶千餘人,後世稱之爲香嚴禪師。師生性嚴謹,語喜簡直,有偈頌二百餘首,諸方盛行。後勅諡「襲燈大師」。〔景德傳燈錄卷十一、宋高僧傳卷十三〕 ; (香嚴) I. Hương Nghiêm. Tên một vị Thiên tử và Đồng tử trong kinh Phật. Kinh Duy ma cật sở thuyết quyển hạ (Đại 14, 552 thượng), nói: Có các Thiên tử đều hiệu là Hương nghiêm . Kinh Lăng nghiêm quyển 5 chép, đồng tử Hương nghiêm bạch đức Phật rằng (Đại 19, 125 hạ): Thấy các tỉ khưu đốt hương trầm thủy, mùi thơm lặng lẽ xông vào mũi, con quán mùi thơm ấy, chẳng phải từ gỗ ra, chẳng phải từ hư không đến (...…) đức Như lai ấn chứng cho con, hiệu là Hương nghiêm. Mùi trầm bỗng diệt, diệu hương bao trùm, con từ Hương nghiêm chứng A la hán . II. Hương Nghiêm(?-898). Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Thanh châu (Ích đô, Sơn đông), pháp hiệu Trí nhàn. Ban đầu, sư theo ngài Bách trượng Hoài hải xuất gia. Sau sư tham yết ngài Qui sơn Linh hựu, không khế hợp, sư rơi lệ từ biệt. Một hôm, sư đang phát cỏ ở trong núi, bỗng nghe viên sỏi bắn vào gốc tre phát ra tiếng mà thoắt tỉnh ngộ. Lúc đó, sư mới thấu suốt ý chỉ sâu xa trong lời dạy trước kia của ngài Qui sơn, nhờ thế được nối pháp của ngài. Về sau sư vào núi Hương nghiêm, Đặng châu, xiển dương Thiền pháp, đồ chúng tham học thường hơn nghìn người. Đời sau tôn xưng sư là Hương nghiêm thiền sư. Bản tính sư nghiêm cẩn, lời nói ngay thẳng giản đơn. Sư có làm hơn 200 bài kệ tụng, lưu truyền khắp nơi. Sư thị tịch vào năm 898, sau được vua ban thụy là Tập Đăng Đại Sư . [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.11; Tống cao tăng truyện Q.13].

hương nghiêm kích trúc

4019禪宗公案名。即香嚴智閑得悟之因緣。據景德傳燈錄卷十一載,智閑往依溈山靈祐,祐知其爲法器,欲激發之,一日謂之曰(大五一‧二八三下):「吾不問汝平生學解及經卷冊子上記得者,汝未出胞胎未辨東西時,本分事試道一句來!吾要記汝。」師進數語,皆不契機,復歸堂遍檢所集諸方語句,無一言可將酬對,於是盡焚之,泣辭溈山而去。抵南陽,睹忠國師遺蹟,遂憩止焉。一日,於山中芟除草木,以瓦礫擊竹作聲。俄失笑間,廓然省悟。遽歸沐浴,焚香遙禮溈山,贊云:「和尚大悲,恩逾父母。當時若爲我說卻,何有今日事耶?」〔五燈會元卷九、禪宗頌古聯珠通集卷二十五〕 ; (香嚴擊竹) Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về nhân duyên ngộ đạo của thiền sư Hương nghiêm Trí nhàn. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11, thì sư Trí nhàn đến tham học ngài Qui sơn Linh hựu, ngài Linh hựu biết sư là hàng pháp khí (người có thể dùng để truyền pháp cho) nên muốn nói khích. Một hôm, ngài bảo sư Hương nghiêm (Đại 51, 283 hạ): Ta không hỏi người về học giải và những gì ghi chép trong các kinh sách mà bình sinh ngươi đã đạt được, nhưng ta chỉ hỏi: Khi cha mẹ chưa sinh ra thì ngươi là ai, người hãy thử nói một câu xem nào? . Sư trả lời, nhưng không khế hợp, liền trở về liêu tìm khắp các câu nói của các bậc thầy mà sư đã học, nhưng không một lời nào có thể đối đáp được. Sư bèn đốt hết sách vở và nghẹn ngào từ biệt thiền sư Qui sơn. Đến Nam dương, sư thấy di tích của Quốc sư Tuệ trung, bèn dừng chân lập am tranh ẩn tu. Một hôm, sư đang phát cỏ, bỗng một viên sỏi bắn vào gốc tre phát ra tiếng, sư hoát nhiên tỉnh ngộ. Sư về am, tắm gội sạch sẽ, đốt hương từ xa lễ vọng về ngài Qui sơn và khen ngợi: Hòa thượng đại bi, ân đức hơn cả cha mẹ; khi ấy nếu ngài nói ra, thì làm sao con có được việc hôm nay? . [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.25].

hương nghiêm nguyên mộng

4019禪宗公案名。原夢,占夢、解夢之意。溈山靈祐禪師一日午睡夢醒,乃以所夢詢其二弟子仰山慧寂、香嚴智閑。仰山遂持一盆水與手巾前來,香嚴則奉上一杯茶水,溈山評之曰(大五一‧二六五下):「二子見解,過於鶖子。」蓋神通非關奇特玄妙,於禪者之眼目中,其要處乃在日常茶飯中之妙用。仰山、香嚴二子未直接解夢,而逕自奉以茶水、手巾等,實以午睡夢醒者而言,解夢乃爲多餘之事,自不如茶水、手巾之應時妙用。〔景德傳燈錄卷九溈山靈祐章、禪苑蒙求卷上〕 ; (香嚴原夢) Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về việc các ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch và Hương nghiêm Trí nhàn đoán giấc mộng của thiền sư Qui sơn Linh hựu. Nguyên mộng nghĩa là đoán mộng, giải mộng. Một hôm, thiền sư Qui sơn Linh hựu ngủ trưa nằm mộng, tỉnh dậy liền đem giấc mộng hỏi 2 vị đệ tử là các ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch và Hương nghiêm Trí nhàn, sư Ngưỡng sơn mang thau nước và khăn mặt đến, còn sư Hương nghiêm thì dâng tách trà. Ngài Qui sơn bình rằng (Đại 51, 265 hạ): Kiến giải của 2 đệ tử còn hơn cả Thu tử . [X. chương Qui sơn linh hựu trong cảnh đức truyền đăng lục Q.9; Thiền uyển mông cầu Q.thượng].

hương nghiêm quế

4019(1631~1708)清初臨濟宗僧。浙江嘉興人,俗姓陳。十一歲,投禮本縣之精嚴寺清隱房爾廉,習瑜伽教。二十六歲,就圓墓山剖受戒。三十歲,禮古隱庵一藏,參密雲圓悟之家風。四十一歲,遊嘉興普明寺,見費隱通容之法嗣石關凌,契機,翌年得法。康熙十六年(1677)繼普明寺之席,其後歷住涌卍院、太平院、精嚴寺。康熙四十七年示寂,世壽七十八。有語錄行世。〔普明香嚴禪師語錄、五燈全書卷九十二〕 ; (香嚴桂) (1631-1708) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đầu đời Thanh, Trung quốc, người huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang, họ Trần. Năm 11 tuổi, sư theo ngài Ẩn phòng Nhĩ liêm xuất gia ở chùa Tinh nghiêm, tu tập giáo pháp Du già. Năm 26 tuổi, sư y vào ngài Viên mộ Sơn phẫu thụ giới Cụ túc. Năm 30 tuổi, sư tham lễ ngài Nhất tạng ở am Cổ ẩn và tham cứu gia phong của ngài Mật vân Viên ngộ. Năm 41 tuổi, sư đến chùa Phổ minh tại Gia hưng yết kiến ngài Thạch quan lăng, đệ tử nối pháp của thiền sư Phí ẩn Thông dung rất khế cơ và năm sau đắc pháp. Năm Khang hi 16 (1677), sư thừa kế ngôi vị của thầy ở chùa Phổ minh, về sau, sư lần lượt trụ trì các viện Dũng vạn, Đại bình và chùa Tinh nghiêm. Năm Khang hi 47 (1708), sư thị tịch, thọ 78 tuổi. Sư có tác phẩm: Phổ minh Hương nghiêm thiền sư ngữ lục. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.92].

hương nghiêm thượng thụ

4018禪宗公案名。依無門關第五則(大四八‧二九三下):「香嚴和尚云:『如人上樹,口啣樹枝,手不攀枝,腳不踏樹。樹下有人,問西來意。不對即違他所問,若對又喪身失命。正恁蛱時,作蛱生對?』」此爲譬喻之公案。言人上樹,口啣樹枝,樹下人問其「何謂祖師西來意」,此時樹上人雖有手腳,卻全無用處。以此比喻自己本來之姿態,即無說之說,無作之作。故無門曰:「縱有懸河之辨,總用不著。說得一大藏教,亦用不著。若向者裏對得著,活卻從前死路頭,死卻從前活路頭。」〔景德傳燈錄卷十一、五燈會元卷九〕 ; (香嚴上樹) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc Thiền sư Hương nghiêm Trí nhàn khai thị đại chúng. Tắc 5 trong Vô môn quan (Đại 48, 293 hạ) chép: Hòa thượng Hương nghiêm dạy: Như người trên cây, miệng ngậm cành cây, tay không vin cành, chân không đạp lên cây. Lúc ấy, dưới đất có người hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ Tây thiên đến? Nếu không trả lời thì có lỗi với người hỏi, mà trả lời thì tan thân mất mạng. Vậy, ngay khi ấy phải làm sao? .

Hương Nghiêm Trí Nhàn

(香嚴智閑, Kyōgen Chikan, ?-898): ông theo xuất gia với Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), rồi sau đến tham vấn Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐). Ông bị Quy Sơn cật vấn câu liên quan đến bản lai diện mục khi cha mẹ chưa sinh ra như thế nào, nhưng ông không trả lời được, nên giã từ Quy Sơn, vào trong Bạch Nhai Sơn (白崖山) ở Nam Dương (南陽), dựng am tu nơi di tích của Huệ Trung Quốc Sư (慧忠國師). Có hôm nọ, khi ông đang quét dọn sân trước am, nhân nghe tiếng đá chạm loảng xoảng nơi khóm trúc, bỗng nhiên đại ngộ, và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Quy Sơn. Sau ông đến trú tại Hương Nghiêm Sơn (香嚴山) và cử xướng Thiền phong của mình. Ông thị tịch vào năm đầu (898) niên hiệu Quang Hóa (光化), được ban cho thụy hiệu là Tập Đăng Thiền Sư (襲燈禪師). ; 香嚴智閑; C: xiāngyán zhìxián; J: kyōgen chi-kan; ?-898;|Thiền sư Trung Quốc, ngộ đạo nơi Quy Sơn Linh Hựu. Câu chuyện »sáng mắt« của Sư được nhắc nhở nhiều trong giới thiền vì nó nêu rõ quan niệm »Bất khả tư nghị« và các phương pháp hoằng hoá đặc biệt của các vị Tổ sư.|Trước khi đến Quy Sơn, Sư đã đến học nơi Bách Trượng Hoài Hải, nổi danh là đã nghiên cứu nhiều kinh luận nhưng vẫn không đoạn triệt hồ nghi. Sau khi Bách Trượng tịch, Sư đến tham vấn Quy Sơn. Quy Sơn hỏi: »Ta nghe sư đệ ở chỗ Tiên sư Bách Trượng thông minh lanh lợi, nhưng ta không hỏi đệ về chỗ học bình sinh, cũng không hỏi về kinh sách. Giờ đây hãy nói thử một câu khi cha mẹ chưa sinh xem!« Sư mù mịt không biết đâu là đâu bèn rút lui vào thất, soạn hết sách vở đã học qua nhưng trọn không tìm được câu giải đáp. Sư than: »Bánh vẽ chẳng no bụng đói« và đến Quy Sơn xin lời giải. Quy Sơn bảo: »Nếu ta nói sư đệ sau này sư đệ sẽ mắng ta, vì ta nói là việc của ta, liên hệ gì đến sư đệ?« Sư đem sách vở ra đốt hết, tự nghĩ »Ðời này không học Phật pháp nữa, làm tăng thường lo cơm lo cháo để khỏi nhọc tâm.« Sư từ giã Quy Sơn đi thẳng đến di tích của Quốc sư Nam Dương Huệ Trung, cất am tại đây. Sư ngày ngày lấy chổi quét dọn sạch mộ của Quốc sư. Một hôm Sư quét lá, một viên sỏi bay đụng vào khóm tre vang lên một tiếng. Sư nghe vậy bỗng nhiên đại ngộ, tìm được câu trả lời Quy Sơn, phá lên cười và làm bài kệ sau:|一擊忘所知。更不假修治|動容揚古路。不墮悄然機|處處無蹤跡。聲色外威儀|諸方達道者。咸言上上機|Nhất kích vong sở tri|Cánh bất giả tu trị|Ðộng dung dương cổ lộ|Bất đoạ tiểu nhiên cơ|Xứ xứ vô tung tích|Thanh sắc ngoại uy nghi|Chư phương đạt đạo giả|Hàm ngôn thượng thượng cơ.|*Tiếng dội lùm tre quên sở tri|Có gì đối trị giả tu trì|Ðổi thay thần sắc nêu đường cổ|Nếp cũ tiêu điều chẳng trệ si|Chốn chốn dạo qua không dấu vết|Sắc thanh nào nhiễm được uy nghi|Mười phương đạt giả đều như vậy|Tối thượng là đây biết nói gì.|(Trúc Thiên dịch)|Sư trở về am thắp hương hướng về Quy Sơn bái lễ: »Hoà thượng từ bi hơn cha mẹ, khi trước nếu vì ta mà nói thì đâu có ngày nay.«|Sư hỏi chúng: »Ví như có người leo cây cao, dưới là vực thẳm. Người ấy miệng ngậm cành cây, chân không đạp chỗ nào, tay không bám vào đâu. Chợt có người đến hỏi ›ý của Tổ sư từ Ấn Ðộ sang‹, khi ấy phải làm sao?« Vị Thượng toạ bước ra thưa: »Chẳng hỏi khi đã leo lên cây, lúc chưa leo lên cây thế nào?« Sư cười rồi thôi.

hương nghiêm trí nhàn

Kyōgen Chikan (J), Hsiang-yen Chih-hsien (C), Xiangyan Zhixian (C), Kyogen Chikan (J) Tên một vị sư.

hương nghiêm tự

4019位於河南鄧縣西北之白崖山中。原爲唐代一行、虎茵二師所草創。後一行示寂於長安,肅宗親往送葬,山中突然飄香,經月餘不止,遂定寺名爲香嚴寺。其後,六祖慧能之法嗣南陽慧忠駐錫於此,其時稱香嚴長壽寺。慧忠入寂後亦葬於寺中。此外,溈山靈祐之法嗣香嚴智閑亦住於此。〔大明一統志卷三十〕(參閱「長壽寺」3603) ; (香嚴寺) Chùa ở trong núi Bạch nhai, phía tây bắc huyện Đặng, tỉnh Hà nam, Trung quốc, vốn do hai ngài Nhất hạnh và Hổ nhân sáng lập vào đời Đường. Sau ngài Nhất hạnh thị tịch ở Trường an, vua Túc tông đích thân đến dự lễ tang, lúc bấy giờ trong núi Bạch nhai bỗng có mùi hương bay tỏa, cả tháng không dứt, vì thế chùa được đặt tên là Hương nghiêm. Về sau, ngài Nam dương Tuệ trung là đệ tử nối pháp của Lục tổ Tuệ năng đến trụ trì chùa này, lúc đó chùa có tên là Hương nghiêm trường thọ tự. Khi ngài Tuệ trung thị tịch, cũng được an táng tại nơi này. Ngoài ra đệ tử nối pháp của thiền sư Qui sơn Linh hựu là Hương nghiêm Trí nhàn cũng từng trụ trì chùa này. [X. Đại minh nhất thống chí Q.30]. (xt. Trường Thọ Tự).

hương ngữ

4016拈香法語之略稱。即在禪林之法會、誦經之際,住持拈香時所說之法語。所謂拈,意即以指持取。以拈香之後講說法語,故稱拈香法語。法會之時,住持入堂之後,先拈香,次言七言一句或五言一句之法語;其次開陳當月佛事旨趣,並頌七言、五言等短偈,終以一喝成之。香語,有依當時狀況,與一己之見聞而提示者,亦有沿用古人成句者,今則逐漸口語化。〔賢愚經富那奇緣品卷六、禪林象器箋叢軌門〕 ; (香語) Gọi đủ: Niêm hương pháp ngữ. Pháp ngữ được tuyên thuyết khi niêm hương. Khi cử hành pháp hội, vị Trụ trì lên Tăng đường niêm hương, nói pháp ngữ, kế đến trình bày ý nghĩa Phật sự trong tháng và đọc các câu kệ ngắn. Cuối cùng kết thúc bằng tiếng hét. Hương ngữ có thể dựa theo tình hình đương thời, hoặc căn cứ vào những điều thấy nghe mà làm ra, cũng có khi dùng theo những câu đã có sẵn của người xưa, ngày nay dần dần đã trở thành câu nói bình thường. [X. phẩm Phú na kì duyên trong kinh Hiền ngu Q.6; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hương nhiễm

4012用以浸染袈裟的顏色之一。其色黃中帶赤,或稱茶褐色、木蘭色,爲袈裟之本色。以乾陀(梵 gandha,巴同)之汁染布而得此色,乾陀係屬枳殼科之香樹,故稱其色爲香染。或亦稱以此色染成之袈裟爲香染。 ; (香染) Cũng gọi Trà hạt sắt, Mộc lan sắc. Một loại mầu dùng nhuộm áo ca sa. Tức là mầu vàng sẫm (hoại sắc) do ngâm vỏ cây càn đà (gandha) với nước mà thành.

hương nhập

4005梵語 gandhāyatana。十二入之一,十二處之一。又作香處。即嗅於鼻者之總稱。(參閱「十二處」343) ; The sense of smell and its organ, the nose. ; (香入) Phạm: Gandhàyatana Cũng gọi Hương xứ. Từ gọi chung những mùi do mũi ngửi được. Một trong 12 nhập, một trong 12 xứ. (xt. Thập Nhị Xứ).

hương phòng

4011梵語 gandha-kuṭī,巴利語同。音譯作健陀俱知。又作香室、香殿、香臺、淨香房、香積殿、香庫院、清淨香臺。係指佛所住之房舍,後世則廣義指安置佛像之殿堂,以及附屬佛殿之僧房。據根本說一切有部毘奈耶雜事卷十四載,香房多建於僧院之中心,若行經其處,應念誦伽陀(頌)方可踏足前行,否則犯越法罪。〔毘奈耶雜事卷二十六〕 ; (香房) Phạm,Pàli:Gandha-kuỉì Dịch âm: Kiện đà câu tri. Cũng gọi Hương thất, Hương điện, Hương đài, Tịnh hương phòng, Hương tích điện, Hương khố viện, Thanh tịnh hương đài. Vốn chỉ cho phòng xá của đức Phật, nhưng đến đời sau thì chỉ chung cho điện đường thờ tượng Phật và phòng chúng tăng phụ thuộc điện Phật. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ Tì nại da tạp sự quyển 14 chép, thì Hương phòng phần nhiều được xây ở khoảng giữa Tăng viện, muốn đi qua nơi này thì phải tụng Già đà (kệ), nếu không sẽ phạm tội Việt pháp. [X. Tì nại da tạp sự Q.26].

hương quang phật

Gaṇḍaprabhāsa (S), Fragrant Light Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai. ; Gandhaprabhasa-buddha (S)

hương quang trang nghiêm

4010指念佛三昧之作用。念佛能莊嚴行者,譬如香氣之染人,故稱香光莊嚴。首楞嚴經卷五(大一九‧一二八上):「子若憶母,如母憶時,母子歷生不相違遠。若眾生心憶佛念佛,現前當來必定見佛,去佛不遠,不假方便,自得心開。如染香人,身有香氣,此則名曰香光莊嚴。」 ; (香光莊嚴) Tam muội niệm Phật có công năng trang nghiêm hành giả, ví như người được xông ướp mùi thơm. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19, 128 thượng), nói: Nếu con nhớ mẹ cũng như mẹ nhớ con, thì mẹ con đời đời không xa nhau. Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật và niệm Phật, thì hiện tại và đương lai nhất định được thấy Phật, cách Phật không xa; chẳng cần nhờ vào phương tiện nào khác, mà tâm tự khai ngộ. Như người được xông hương, thân có mùi thơm, đó gọi là Hương quang trang nghiêm .

hương quang tự

4010位於臺灣嘉義竹崎鄉。創建於清光緒元年(1875),原爲民間神廟,時稱玉山岩。曾遭二次震災,現有寺宇爲民國六十年(1971)所重建。六十三年,信眾禮請心志法師住持本寺,翌年改寺名爲香光寺。六十八年,悟因法師繼任住持。本寺設有香光尼眾佛學院,制定三藏部三年、專修部二年,研究部三年,前二部爲義務教育,研究部則隨個人意願。對信眾則設佛學研讀班,分初、中、高三級,採小班授課;又多次舉辦大專學佛營、兒童夏令營等,而於浴佛、盂蘭盆等重法會中,一併舉行信徒學藝賽、聯誼會等活動,以接引各類信眾。此外,於高雄設有分院(紫竹林精舍)。

Hương quốc

(香國): có hai nghĩa. (1) Tên cõi nước Phật, còn gọi là Hương Tích Quốc (香積國), Chúng Hương Quốc (眾香國), Chúng Hương Thế Giới (眾香世界); là quốc độ do Hương Tích Như Lai (香積如來) cư trú, nằm phương trên của thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆), cách khoảng 42 hằng hà sa cõi Phật. Thế giới này được thuyết rõ trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển Hạ, Phẩm Hương Tích Phật (香積佛品) thứ 10 rằng hết thảy đều lấy hương làm lầu đài, đi kinh hành trên đất hương, vườn nhà đều ngát hương; mọi người ăn hương khí, v.v. như trong Duy Ma Kinh Vô Ngã Sớ (維摩經無我疏, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 19, No. 348) quyển 11 có đoạn rằng: “Như chúng hương quốc, dĩ hương vi Phật sự, tức thế giới tất đàn, hoan hỷ nghĩa dã (如眾香國、以香爲佛事、卽世界悉檀、歡喜義也, như nước các loại hương, lấy hương làm Phật sự, là thế giới tất đàn, nghĩa là hoan hỷ).” (2) Đất nước hoa. Như trong bài thơ Mộc Tê (木犀) của Hứa Nguyệt Khanh (許月卿, 1217-1286) nhà Tống có câu: “Phân phong tại hương quốc, vu sĩ đắc hoàng thường (分封在香國、筮仕得黃裳, chia phong cho nước hoa, làm quan được áo vàng).”

hương quốc

4013佛國之名。又作香積國、眾香國、眾香世界。乃香積如來所住之國,爲娑婆世界上方過四十二恆沙河之佛土,是世界最香之國。其界一切皆以香作樓閣,經行香地,苑園皆香。其食香氣,周流十方無量世界。〔維摩詰所說經卷下香積佛品〕 ; (香國) Cũng gọi Hương tích quốc, Chúng hương quốc, Chúng hương thế giới. Đất nước của đức Hương tích Như lai. Cõi nước này ở phương trên, cách thế giới Sa bà 42 hằng hà sa cõi Phật, là thế giới mà trong đó tất cả lầu gác, đất đai, cho đến vườn, rừng, v.v... đều phát ra mùi hương vi diệu. Đồng thời, mùi thơm từ thức ăn ở cõi này đều bay khắp 10 phương vô lượng thế giới. [X. phẩm Hương tích Phật trong kinh Duy ma cật sở thuyết Q.hạ].

hương sát

4012僧寺之謂。香者,以香來譬喻佛法、或佛教建築物之功德,同於香殿、香室之香。剎者,梵語 kṣetra,本爲柱之義,指塔上部之露盤等附屬柱,其後引申爲寺塔、寺院。 ; (香刹) Chỉ cho chùa viện. Hương, ví dụ công đức của Phật pháp, hoặc công đức của những kiến trúc Phật giáo. Đồng nghĩa với Hương của Hương điện, Hương thất. Sát, Phạm: Kwetra, vốn là nghĩa cây cột thuộc phần lộ bàn trên đỉnh tháp, về sau, từ sát được dùng để gọi tháp và chùa, viện.

hương sát-chùa hương

An incense ksetra, i.e. a monastery.

hương sơn

Gandhamadāna (S) Núi Hương sơn, Hương túy sơn. ; Gandhamàdana (S). Incense mountain.

hương sơn tự

4008<一>位於河南洛陽西南十四公里,龍門山東崖。建立年代不詳。或云北魏熙平元年(516)所建。一說此地爲唐代日照三藏之墓所,其後應梁王之請,建立伽藍。中唐元和年中(806~820),馬祖道一之法嗣伏牛自在駐錫於此,與丹霞天然道交頻仍。唐朝大和六年(832),白居易重修本寺,以僧清閒爲寺主。寺中藏有大小乘經律論集五二七○卷,分爲六藏。白氏嘗請清閒、文暢等八長老及比丘眾百二十人慶讚供養,又募淨眾七人,日供齋粥香燭,順次誦讀十二部經,並與洛陽佛光寺如滿等人結香火社,盛修佛事。白氏所撰修香山寺記中云,龍門十寺觀遊之盛,以香山爲冠。會昌六年(846),白居易歿,亦葬於此,其後本寺漸衰頹。至清初,始奉勅重建於山腹之地。今有白居易墓,及不空和尚碑。〔白氏文集卷六十八、卷七十一、大明一統志卷二十九、大清一統志卷一六三、古今圖書集成職方典第四二八、第四三四〕 <二>位於北平市西北香山上。建於遼時。金大定二十六年(1186)改建,賜名「大永安寺」,別名甘露寺。依山勢原建有五層殿,兩旁尚有軒閣。被焚後,下層尚有石階及琉璃磚瓦砌成之花壇、石屏等遺蹟可尋。寺中以檜柏出名。清代各朝曾大規模建設,並修蓋無數臺榭牌坊、樓閣殿宇,定名爲靜宜園。然園中建築大多焚毀於咸豐十年(1860)之英法聯軍與光緒二十六年(1900)之八國聯軍。〔香山記(李景)〕 ; (香山寺) I. Hương Sơn Tự. Chùa ở sườn phía đông núi Long môn, cách huyện Lạc dương, tỉnh Hà nam, Trung quốc, 14 km về mạn tây nam. Chùa được sáng lập vào thời đại nào không được rõ. Có thuyết cho rằng nó được xây dựng vào niên hiệu Hi bình năm đầu (516) đời Bắc Ngụy. Lại có thuyết cho rằng nơi đây là phần mộ của ngài Tam tạng Nhật chiếu đời Đường, về sau do Lương vương kiến thiết thành già lam. Trong năm Nguyên hòa (806-820), đệ tử nối pháp của thiền sư Mã tổ Đạo nhất là ngài Phục ngưu Tự tại từng trụ ở chùa này. Năm Đại hòa thứ 6 (832) đời Đường, ông Bạch cư dị trùng tu và thỉnh ngài Thanh nhàn làm Trụ trì. Trong chùa có 5270 quyển Kinh, Luật, Luận chia làm 3 tạng Đại thừa, 3 tạng tiểu thừa. Hương sơn là 1 trong 10 ngôi chùa nổi tiếng ở Long môn thời bấy giờ. Về sau, chùa dần dần suy đồi. Mãi đến đầu đời Thanh mới được vua ban sắc trùng tu. Nay trong chùa có mộ của ông Bạch cư dị và bia của hòa thượng Bất không. [X. Bạch thị văn tập Q.68, Q.71; Đại minh nhất thống chí Q.29; Đại thanh nhất thống chí Q.163; Cổ kim đồ thư tập thành phương chức điển 428, 434]. II. Hương Sơn Tự. Chùa trên núi Hương sơn phía tây bắc thành phố Bắc bình, được sáng lập vào đời Liêu. Năm Đại định 26 (1186) đời Kim, chùa được xây dựng lại và được ban tên Đại Vĩnh An Tự , cũng gọi là Cam lộ tự. Chùa dựa theo thế núi, vốn có điện 5 tầng, 2 bên có hiên gác. Sau, chùa bị cháy, tầng dưới vẫn còn thềm đá và đàn hoa xếp bằng gạch lưu li. Chùa nổi tiếng về những cây bách. Các vua triều Thanh từng kiến thiết đại qui mô, sửa sang nhiều lầu gác, điện đường. Nhưng phần lớn các kiến trúc này đã bị liên quân Anh, Pháp đốt phá vào năm Hàm phong thứ 10 (1860) và liên quân 8 quốc gia vào năm Quang tự 26 (1900).

hương sơn vô v

ăn Thông Hsiang shan Wu wen T'sung (C) Tên một vị sư.

hương sơn vương

Gandhamadana-girirāja (S).

hương thang

4013摻入香料之湯水,稱爲香湯,用此以洗淨身體。古來四月八日佛誕日,即以香湯灌沐佛像,古時用五色香水,後則以甘草及木甘茶煎成甘茶代用。另洗袈裟亦用香湯。在禪宗所用之香湯,係以陳皮、茯苓、地骨皮、肉桂、當歸、枳殼、甘草等七種藥材煎成,稱爲七香湯。〔灌洗佛形像經、金光明最勝王經卷七、勅修百丈清規卷上報恩章佛降誕〕 ; A fragrant liquid made of thirty-two ingredients, used by the secret sect in washing the body at the time of initiation. ; (香湯) Nước nóng có pha hương liệu để tắm gội thân thể. Xưa nay vào ngày Phật đản, các chùa viện thường dùng hương thang để tắm tượng Phật. Thời xưa nước hương có đủ 5 vị, nhưng về sau chỉ dùng cam thảo và mộc cam trà. Thiền tông dùng 7 vị thuốc như: Trần bì, phục linh, địa cốt bì, nhục quế, đương qui, chỉ xác và cam thảo để nấu nước thơm, gọi là Thất hương thang. Ngoài ra, hương thang cũng được dùng để giặt ca sa. [X. kinh Quán tẩy Phật hình tượng; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.7; điều Phật giáng đản, chương Báo ân trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng].

hương thang kệ

4014布薩之際,頌畢香水偈,即作揖長跪於香湯之前,唱頌香湯偈。如偈云(大八二‧四三二上):「香湯熏沐澡諸垢,法身具足五分充;般若圓照解脫滿,群生同會法界融。」(參閱「香水偈」4009) ; (香湯偈) Khi Bố tát, đọc kệ Hương thủy xong, quì xuống, chắp tay, xướng bài kệ Hương thang. Kệ rằng (Đại 82, 432 thượng): Hương thang gột rửa sạch hồng trần. Pháp thân trọn đủ cả năm phần. Bát nhã chiếu soi tràn giải thoát. Pháp giới hàm dung thảy chứng chân. (xt. Hương Thủy Kệ).

hương thuỷ

4009梵語 gandha-vāri。指含有香氣之淨水。係混和諸種香而成,用於身體之灌沐或諸物之灑淨。如方廣大莊嚴經卷三(大三‧五五四下):「梵釋諸天等,在於虛空中,以手捧香水,灌灑於菩薩。龍王下二水,冷煖極調和,諸天以香水,洗浴於菩薩。」大日經疏卷五(大三九‧六二七上):「凡作綖,當擇上好細具縷,香水洗之,極令清淨。」皆其例。後有加持香水之作法,即以所加持之香水奉灌身體,或散道場,或灑諸物,用於灑淨等。然在密教中,香水主智德,故其所調之香亦因修法種類之異而不同。〔長阿含經卷一、舊華嚴經卷二十七、阿娑縛抄卷一胎灌記本〕(參閱「香」4005) ; (香水) Phạm:Gandha-vàri. Nước sạch có pha mùi thơm, dùng để rửa các vật cúng dường hoặc để tắm gội. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 3 (Đại 3, 554 hạ), nói: Trên hư không, các trời Phạm vương, Đế thích, rưới hương thủy lên thân Bồ tát . Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 627 thượng), nói: Khi làm tua mũ, nên chọn tơ thật tốt và mịn, rồi dùng hương thủy giặt cho thật sạch . Về sau, có phép gia trì hương thủy, nghĩa là dùng nước thơm đã được gia trì rưới lên thân thể, rảy trong đạo tràng, hoặc các vật phẩm dâng cúng. Trong Mật giáo, hương thủy chủ về trí đức, cho nên nước hương được điều chế cũng tùy theo các loại tu pháp mà có khác nhau. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Hoa nghiêm Q.27 (bản dịch cũ); Thai quán kí bản trong A sa phược sao Q.1]. (xt. Hương).

hương thuỷ hải

4009略稱香海。即注滿香水之大海。據佛教之傳說,世界有九山八海,中央是須彌山,其周圍爲八山八海所圍繞。除第八海爲鹹水外,其他皆爲八功德水,有清香之德,故稱香水海。〔俱舍論卷十一、華嚴經探玄記卷三、佛祖統紀卷三十一〕 ; (香水海) Gọi tắt: Hương hải. Biển nước thơm. Cứ theo truyền thuyết của Phật giáo, thì thế giới có 9 núi, 8 biển, núi Tu di ở giữa. Chung quanh núi Tu di có 8 núi, 8 biển bao bọc, trong đó, trừ biển thứ 8 là nước mặn, còn những biển kia đều chứa nước 8 công đức, rất trong mát và có mùi vị thơm tho, vì thế gọi là Hương hải thủy. [X. luận Câu xá Q.11; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Phật tổ thống kỉ Q.31].

hương thuỷ kệ

4009布薩之際,以香水洗手時所唱之偈。偈云(大八二‧四三二上):「八功德水淨諸塵,灌掌去垢心無染;執持禁戒無闕犯,一切眾生亦如是。」唱最末偈時,以右手持瓶,瀉於左手,洗淨兩手,復以淨巾拭之。 ; (香水偈) Bài kệ được đọc lúc lấy hương thủy rửa tay trước khi Bố tát. Bài kệ ấy là (Đại 82, 432 thượng): Nước tám công đức tẩy bụi nhơ. Tay rửa sạch rồi tâm vô nhiễm. Giữ gìn giới cấm không sai phạm. Nguyện khắp chúng sinh đều thanh tịnh . Lúc đọc câu kệ chót, tay phải cầm bình nước dội lên tay trái, rửa sạch hai tay, rồi lấy khăn sạch lau cho khô.

hương thuỷ tiền

4009唐宋時代,僧尼得度牒,所需納交官府之錢。始於肅宗,採納宰相裴冕之建議,凡欲出家爲僧尼者,先納錢,後許受戒出家。蓋以唐末安史亂後,兵疲民困,需藉僧尼之稅緡以助軍需之故。〔宋高僧傳卷八釋神會章〕(參閱「度牒」3779) ; (香水錢) Tiền do tăng ni nộp cho quan phủ để được cấp độ điệp. Vào cuối đời Đường, sau loạn An lộc sơn và Sử tư minh, binh lính đói khổ, nhân dân khốn quẫn, nên Tể tướng Bùi miện tâu vua Đường túc tông, đề nghị thu thuế của tăng ni, gọi là Hương thủy tiền, để giúp cho việc quân nhu. Tức là trong nước ai muốn xuất gia làm tăng ni thì phải nộp tiền trước, rồi mới được xuất gia thụ giới.[X. chương Thích thần hội trong Tống cao tăng truyện Q.8]. (xt. Độ Điệp).

hương tháp

4015即以香之粉末拌水爲泥,作成之小塔。其內安置經文,以之供養禮拜。(參閱「塔」5421) ; (香塔) Ngôi tháp nhỏ làm bằng bột hương trộn lẫn với bùn. Trong tháp tôn trí kinh văn để cúng dường lễ bái. (xt. Tháp).

hương thượng phật

Gandottama Buddha (S), Superior Fragrance Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai. ; Gandhotama-Buddha (S)

hương thất

Gandha-kuti (S). ; Gandhakutì (S). House of incense, i.e. where Buddha dwells, a temple.

hương thần

xem càn-thát-bà. ; 4012梵名 Gandharva。音譯作乾闥婆神。又作香陰神、尋香神、香音神、樂神。八部眾之一,爲帝釋天司雅樂之神名。因乾闥婆神食香,從身上放香之故。〔維摩經玄疏卷五〕(參閱「乾闥婆」4371) ; The gods of fragrance (and music), i.e. the Gandharvas who live on Gandhamàdana; the musicians ođ Indra. ; (香神) Phạm: Gandharva. Dịch âm: Càn thát bà thần. Cũng gọi Hương ấm thần, Tầm hương thần, Hương âm thần, Nhạc thần. Tên vị thần trông coi về âm nhạc của trời Đế thích, là một trong 8 bộ chúng. Thức ăn của thần Càn thát bà là hương và toàn thân ngài toát ra mùi thơm, vì thế gọi là Hương thần. [X. Duy ma kinh huyền sớ Q.5]. (xt. Càn Thát Bà).

hương thốn

4007以香之長度作爲衡量時間之單位。古時,叢林中每將線香切成一寸(約三公分)或二寸長,作爲測量坐禪時間之依準。 ; (香寸) Đơn vị thời gian được tính bằng độ dài của nén nhang. Thời xưa, trong tùng lâm, nén nhang thường được cắt ra làm 1 tấc(khoảng 3 cm) hoặc 2 tấc để làm tiêu chuẩn mà tính thời gian ngồi thiền.

hương thủy

Gandha-vari (S). ; Liquid scent, or perfume.

Hương Thủy Hải

(香水海): biển lớn bao bọc chung quanh chu vi của núi Tu Di (s, p: Sumeru, 須彌山), nước biển có đủ tám thứ công đức (lắng sạch, trong lạnh, ngọt ngon, nhẹ mềm, tươi mát, an hòa, trừ đói khát, nuôi lớn các căn) thù thắng. Hơn nữa, vị nước có mùi thơm phức tuyệt hảo, nên được gọi là Hương Thủy Hải. Như trong Nguyên Tẩu Hành Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (元叟行端禪師語錄, CBETA No. 1419) có câu: “Thống bách ức Hương Thủy Hải, vi nhất phước hải, vĩnh vĩnh vô cùng; tụ bách ức Tu Di Sơn, vi nhất thọ sơn, nguy nguy bất động (統百億香水海、爲一福海、永永無窮、聚百億須彌山、爲一壽山、巍巍不動, thâu cả trăm ức Biển Hương Thủy làm thành một biển phước, mãi mãi không cùng; tập trung trăm ức Núi Tu Di làm thành một núi thọ, sừng sững không động).”

hương thủy hải

The scented ocean surrounding Sumeru Tu di.

hương thủy tiền

Money given to monks.

hương thức

Gandhajā (S), Knowing odour.

hương ti

4010禪林中,司掌知時之職稱。古時於定香盤燒香,用以測知時刻;司此職者,即稱香司。 ; (香司) Chức vụ phụ trách việc báo giờ giấc trong Thiền lâm. Ngày xưa thường đốt hương để tính thời khắc, cho nên gọi chức vụ ấy là Hương ty.

Hương trai

(香齋): từ mỹ xưng của cỗ chay thanh tịnh, ngát hương thành kính, nhất tâm cúng dường. Như trong Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển 1 có bài tán: “Cát tường hội khải, Cam Lộ môn khai, cô hồn Phật tử giáng lâm lai, văn pháp phó hương trai, huýnh thoát luân hồi, u ám nhất thời khai (吉祥會啟、甘露門開、孤魂佛子降臨來、聞法赴香齋、迥脫輪回、幽暗一時開, cát tường hội mở, Cam Lộ cửa bày, cô hồn Phật tử giáng xuống đây, nghe pháp dự cỗ chay, mãi thoát luân hồi, u ám tỏa sáng khai).” Hay trong Tức Hưu Khế Liễu Thiền Sư Thập Di Tập (卽休契了禪師拾遺集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1408) có bài Đề Long Vương Thỉnh La Hán Trai Đồ (題龍王請羅漢齋圖) rằng: “Long Vương cung lí bão hương trai, độ thủy xuyên vân phí vãng lai, hà tợ lăng hư chấn Kim Tích, triêu du Nam Nhạc mộ Thiên Thai (龍王宮裏飽香齋、渡水穿雲費往來、何似凌虛振金錫、朝遊南嶽暮天台, trong cung Long Vương no cỗ chay, vượt nước xuyên mây nhọc đến đây, sao giống lướt không chấn Tích Trượng, sáng chơi Nam Nhạc tối Thiên Thai).”

Hương Trù

(香廚[厨]): từ mỹ xưng của Nhà Bếp (Nhà Trù) trong các tự viện Phật Giáo, cũng là từ gọi tắt của Hương Tích Trù (香積廚, Bếp Hương Tích). Từ “hương (香)” ở đây vốn phát xuất từ điển cứ “hương phạn (香飯)” trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển Hạ, Phẩm Hương Tích Phật (香積佛品) thứ 10: “Ư thị Hương Tích Như Lai dĩ chúng hương bát thạnh mãn hương phạn, dữ hóa Bồ Tát (於是香積如來以眾香缽盛滿香飯、與化菩薩, lúc bấy giờ Hương Tích Như Lai lấy các bình bát hương thơm bỏ đầy thức ăn thơm, đưa cho các Bồ Tát hóa hiện).” Như trong bài thơ Xã Tập Thiên Giới Tuần Công Phòng (社集天界循公房) của Cố Mộng Du (顧夢游, 1599-1660) nhà Thanh có câu: “Trượng tiền tằng bất hệ, tùy ý khất Hương Trù (杖錢曾不繫、隨意乞香廚, bạc tiền chưa từng buộc, tùy ý xin cơm chùa).” Trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1297) quyển 48 có đoạn: “Dạ minh liêm ngoại thiên phong tú, loan kính đài tiền vạn tượng thù, tảo túng diệt tích, bất lập tri thù, thùy vi Phật Điện, thùy thị Hương Trù (夜明簾外千峰秀、鸞鏡臺前萬象殊、掃蹤滅跡、不立錙銖、誰爲佛殿、誰是香廚, đêm sáng ngoài rèm ngàn núi đẹp, kính soi trước đài muôn cảnh sai, quét tung xóa tích, chẳng cần tiền bạc, ai là Điện Phật, ai là Bếp Chùa).”

hương trù

4016僧院之食廚。又作香積。此係出自維摩詰經取香積佛國香飯之典。(參閱「香積飯」4017) ; The fragrant kitchen, i.e. a monastery kitchen. ; (香厨) Cũng gọi Hương tích. Nhà bếp của Tăng viện. Danh từ này lấy điển tích cơm thơm ở cõi Phật Hương tích trong kinh Duy ma cật. (xt. Hương Tích Phạn).

hương trần

4016六塵之一。色、聲、香、味、觸、法,稱爲六塵,香爲其一,乃鼻識、鼻根所緣之對境。塵即染污之義,謂其能染污情識,使真性不能顯露。栴檀沈香、飲食之香、男女身上所有香,及一切好惡之香等,皆爲香塵。〔大明三藏法數卷二十八〕 ; The atom or element of smell, olfactive object. ; (香塵) Cảnh sở duyên của thức mũi và căn mũi. Một trong 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Trần nghĩa là bụi bậm nhiễm ô, vì nó hay làm cho tâm thức nhơ nhớp, khiến chân tính không hiển lộ ra được. Các loại hương từ chiên đàn, trầm hương, hương của các thức ăn uống, hương trên thân thể người nam, người nữ, cho đến tất cả những thứ mùi thơm, mùi hôi, v.v... đều là Hương trần. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.28].

hương tuyền tự

4012位於河南汲縣霖落山中。傍叢依嶂,架構宏偉。山中有泉,從石隙中滲出,泉色澄碧,其味香冽,宿負盛名,於元魏時稱霖落泉寺。其後北周武帝滅法,改之爲遊苑。至隋朝末年始復其寺觀,唐又重建之,乃易今名。金元以降,爲曹洞宗道場。盛時禪侶多達萬人,共住梵修,嚴整聞於四方。民國十八年(1929),馮玉祥毀佛驅僧,改爲學校。

hương tuý sơn

4016<一>香醉,梵名 Gandha-mādana,巴利名同。音譯作乾陀摩訶術、犍陀摩羅。又作香水山、香積山、香山。於佛教世界觀須彌山說中,此山爲閻浮提洲最北端之山,其南有大雪山(即須彌山),阿耨達池即在此兩山之間。此山中因有諸香氣,嗅之能令人醉,故稱香醉。據起世因本經卷一、起世經卷一閻浮洲品記載,香山之中,有無量緊那羅居之,常傳歌舞音樂之聲,另有各種樹木,可出種種香薰,爲大威德神居止之處。山中有雜色、善雜色二寶窟,由瑪瑙等七寶所成,縱廣各五十由旬,乾闥婆王與五百緊那羅女居之。二窟之北,復有大娑羅樹王、八千娑羅樹林、曼陀吉尼池等。歷來,印度婆羅門教徒相信此山之巔乃濕婆神(梵 śiva)之天界,其間有宮毘羅之神宮。今之印度人亦視之爲靈山。據經典所記載之位置、形狀等,此山或即今喜馬拉雅山(Himalayas)山脈中,馬納沙湖(梵 Mānasa)北岸聳出之開拉斯山(梵 Kailāsa)。〔觀佛三昧海經卷一、大樓炭經卷一、俱舍論卷十一、立世阿毘曇論卷二〕 <二>位於北平市西北,重巖積嶂,以幽靜著稱。山中有泉,其味甘冽,土人引以種植稻、蓮,具有異香,故山名又稱小清涼境。古有香山寺在此山中。(參閱「香山寺」4008) ; (香醉山) I. Hương Túy Sơn. Hương túy, Phạm, Pàli: Gandhamàdana. Dịch âm: Càn đà ma ha thuật, Kiện đà ma la. Cũng gọi Hương thủy sơn, Hương tích sơn, Hương sơn. Núi ở vùng cực bắc của châu Diêm phù đề. Núi này có các mùi hương làm cho người ta bị say, cho nên gọi là Hương túy. Cứ theo kinh Khởi thế nhân bản quyển 1, phẩm Diêm phù châu trong kinh Khởi thế quyển 1, thì có vô lượng Khẩn na la (thần âm nhạc) sống trong Hương sơn, thường tấu nhạc và múa hát, có các loại cây tỏa ra mùi thơm, cũng là chỗ ở của các vị thần Đại uy đức. Trong núi có 2 hang động Tạp sắc và Thiện Tạp sắc, do 7 thứ báu như mã não, v.v... tạo thành. Hang dài và rộng 50 do tuần, là nơi ở của vua Càn thát bà và 500 Khẩn na la nữ. Phía bắc 2 hang động này lại có Đại sa la thụ vương, rừng cây Bát thiên sa la và hồ Mạn đà cát ni. Từ xưa, tín đồ của Ấn độ giáo tin rằng trên đỉnh núi này là cõi trời của thần Thấp bà (Phạm:Ziva), trong đó có cung điện của thần Cung tì la. Cho đến nay, người Ấn độ vẫn cho núi Hương túy là núi thiêng. Cứ theo vị trí và hình dáng được mô tả trong kinh điển, thì núi này có lẽ là núi Kailàsa, đứng sừng sững trên bờ phía bắc hồ Mànasa trong dẫy núi Himalayas ngày nay. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.1; kinh Đại lâu thán Q.1; luận Câu xá Q.11; luận Lập thế a tì đàm Q.2]. II. Hương Túy Sơn. Cũng gọi Tiểu thanh lương cảnh. Núi ở mạn tây bắc của thành phố Bắc bình, Trung quốc, nổi tiếng là nơi thâm u tịch mịch. Trong núi có dòng suối, nước ngọt và mát. Thổ dân dẫn nước ấy vào ruộng để cấy lúa, trồng sen, có mùi thơm lạ, chính vì thế mà núi được gọi là Tiểu thanh lương cảnh. Thời xưa trong núi này có chùa Hương sơn. (xt. Hương Sơn Tự).

Hương Tích

(香積): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi của vị Phật ở thế giới của các loại hương thơm. Như trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển Hạ, Phẩm Hương Tích Phật (香積佛品) thứ 10, có đoạn: “Thượng phương giới phân quá tứ thập nhị Hằng hà sa Phật độ, hữu quốc danh Chúng Hương, Phật hiệu Hương Tích, kim hiện tại kỳ quốc hương khí, tỷ ư thập phương chư Phật thế giới nhân thiên chi hương, tối vi đệ nhất; bỉ độ vô hữu Thanh Văn, Bích Chi Phật danh, duy hữu thanh tịnh đại Bồ Tát chúng, Phật vi thuyết pháp; kỳ giới nhất thiết giai dĩ hương tác lâu các, kinh hành hương địa, uyển viên giai hương, kỳ thực hương khí, châu lưu thập phương vô lượng thế giới (上方界分過四十二恆河沙佛土、有國名眾香、佛號香積、今現在其國香氣、比於十方諸佛世界人天之香、最爲第一、彼土無有聲聞、辟支佛名、唯有清淨大菩薩眾、佛爲說法、其界一切皆以香作樓閣、經行香地、苑園皆香、其食香氣、周流十方無量世界, thế giới phương trên phân quá bốn mươi hai Hằng hà sa cõi Phật, có nước tên là Chúng Hương [các loại hương], đức Phật hiệu là Hương Tích, nay hiện tại hương khí của nước ấy, so sánh với hương của trời người trong thế giới của mười phương các đức Phật, tột cùng số một; quốc độ kia không có tên Thanh Văn, Bích Chi Phật, chỉ có chúng đại Bồ Tát thanh tịnh, Phật vì họ thuyết pháp; thế giới ấy tất cả đều lấy hương làm thành lầu gác, kinh hành nơi đất hương, vườn nhà đều ngát hương, họ ăn hương khí, cùng khắp mười phương vô lượng thế giới).” (2) Chỉ cõi nước Phật, tự viện Phật Giáo. Như trong bài thơ Thu Dạ Túc Công Phòng Hỷ Phổ Môn Thượng Nhân Tư Dương Tiện Sơn Chí (秋夜肅公房喜普門上人自陽羡山至) của Lưu Trường Khanh (劉長卿, 709-780) nhà Đường có câu: “Tảo vãng lai Hương Tích, hà nhân trú Ốc Châu (早晚來香積、何人住沃洲, sớm chiều đến Hương Tích, người nào sống Ốc Châu).” Hay trong bài thơ Quá Trung Phong Lễ Thương Công Tháp (過中峰禮蒼公塔) của Ngô Vĩ Nghiệp (吳偉業, 1609-1671) nhà Thanh cũng có câu: “Điểu đề hương tích tán, hoa lạc ảnh đường cô (鳥啼香積散、花落影堂孤, chim kêu chùa tan tác, hoa rụng bóng nhà đơn).” (3) Chỉ thức ăn của chúng tăng hay Đạo sĩ. Như trong bài thơ Lão Trần Đạo Nhân Tự Vân Mộng Bị Chiêu Tác Địa Thượng Chủ Giả Hựu Thường Thọ Nhất Quý Gia Cúng Chúc Chi Viết Tha Nhật Tất Lai Ngô Gia Tác Nhi Hí Tặng Tiểu Tụng (老陳道人自雲夢被召作地上主者又常受一貴家供祝之曰他日必來吾家作兒戲贈小頌) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Hạnh hữu thiên môn hương tích cúng, bất như tùy hỷ khử la trai (幸有千門香積供、不如隨喜去羅齋, may có ngàn nhà dâng cơm cúng, không bằng tùy hỷ bỏ mời ăn).” (4) Từ gọi tắt của Hương Tích Trù (香積廚, Bếp Hương Tích). Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3, phần Thỉnh Phật Văn (請佛文), có đoạn: “Sái phi phi chi pháp vũ, phiến táp táp chi từ phong, quảng khai Hương Tích chi trù, phổ hiến Tô Đà chi soạn (洒霏霏之法雨、扇颯颯之慈風、廣開香積之廚、普獻酥酡之饌, rưới lả tả ấy mưa pháp, quạt vù vù ấy gió từ, rộng mở Hương Tích bếp trời, cúng khắp Tô Đà cỗ lạt).” Hay trong Hoa Nghiêm Kinh Chú Sớ (華嚴經疏注, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 7, No. 234) quyển 4 lại có câu: “Hương Tích thế giới, xan hương phạn, nhi Tam Muội hiển; Cực Lạc Phật quốc, thính phong kha, nhi chánh niệm thành (香積世界、餐香飯、而三昧顯、極樂佛國、聽風柯、而正念成, Hương Tích thế giới, ăn cơm hương, mà Tam Muội tỏ; Cực Lạc Phật quốc, nghe gió lay, mà chánh niệm thành).”

hương tích

The Buddha of fragrance land.

hương tích cõi

Xem Hương Tích Phật.

hương tích phạn

4017又作香飯。指眾香國香積佛之香飯。維摩詰所說經香積佛品(大一四‧五五二中):「於是香積如來以眾香鉢盛滿香飯,與化菩薩。」 ; (香積飯) Cũng gọi Hương phạn. Cơm có mùi thơm vi diệu ở cõi nước Chúng hương của đức Phật Hương tích. Phẩm Hương tích Phật trong kinh Duy ma cật sở thuyết (Đại 14, 552 trung), nói: Lúc đó, đức Phật Hương tích lấy bát đựng đầy cơm thơm trao cho Hóa Bồ tát .

hương tích phật

4017又作香臺佛。爲住於上方眾香世界之佛名。香,係離穢之名,即宣散芬芳馥馨,指理中無上戒定慧之香;積,係聚集之義,即積聚諸功德。維摩詰所說經卷下香積佛品中,提及上方世界過四十二恆河沙佛土,有國名眾香,佛號香積,其國香氣比於十方諸佛世界人天之香,最爲第一。玄應音義卷四解釋香積之梵語爲 gandhālaya,音譯乾陀羅耶。〔維摩經略疏卷十〕 ; Gandhalaya (S), Sugandha-kuta (S) Hương Tích cõi, Hương Đài Phật Tên một vị Phật hay Như Lai. ; (香積佛) Cũng gọi Hương đài Phật. Đức Phật trụ ở thế giới Chúng hương thuộc phương trên. Hương chỉ cho hương giới, hương định, hương tuệ, xa lìa sự nhơ nhớp của thế gian. Tích nghĩa là tụ tập, chứa góp các công đức.Phẩm Hương tích Phật trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển hạ (Đại 14, 552 trung), nói: Ở phương trên, cách thế giới Sa bà 42 hằng hà sa cõi Phật, có cõi nước tên là Chúng hương, đức Phật ở cõi nước ấy tên là Hương tích. So với mùi hương của các cõi Phật trong 10 phương thế giới, thì mùi hương của cõi này vi diệu bậc nhất. Huyền ứng âm nghĩa quyển 4 giải thích Hương tích tiếng Phạm làGandhàlaya, dịch âm là Càn đà la da. [X. Duy ma kinh lược sớ Q.10].

Hương Tích Trù

(香積廚): Bếp Hương Tích. Xem Hương Tích bên trên và Hương Trù (香廚) bên dưới.

hương tích tự

4017<一>位於廣東省博羅縣西。隋代所建,唐代曾擴建。蘇軾遊香積寺詩引:「寺去縣七里,三山犬牙,夾道皆美田,麥禾甚茂,寺下溪水,可作碓磨。」 <二>位於江蘇泗州(即今江蘇宿遷)西之古寺名。創建於唐代龍朔年間(661~663)。又稱大聖寺、普光寺。後改稱普照寺。宋徽宗宣和六年(1124),宏智正覺禪師受請住此寺弘揚大法。永樂初年,一度重建。寺內現存靈瑞塔。〔宏智禪師廣錄卷一、卷九、大明一統志卷七、大清一統志卷九十四〕 <三>位於陝西長安縣南神禾原上。建於唐中宗神龍二年(706),爲紀念善導大師而建。入宋改稱開利寺。明代一度整修之,並恢復舊稱。寺中有座五層磚塔,由於兩次地震,以致塔頂至中段有大裂痕。迄今仍存,然以屢經兵火之擾,舊觀已泰半不存。王維嘗以「過香積寺詩」詠之曰:「不知香積寺,數里入雲峰。」 <四>位於四川省緜陽縣東之雲峰山。杜甫之涪城縣香積寺官閣詩:「寺下春江深不流,山腰官閣迥添愁。」 ; (香積寺) Chùa ở phía nam huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây, được xây dựng vào năm Thần long thứ 2 (706) đời vua Trang tông nhà Đường, để kỉ niệm đại sư Thiện đạo. Đến đời Tống, chùa được đổi tên là Khai lợi tự. Sang đời Minh chùa được trùng tu và khôi phục lại cảnh quan cũ. Chùa có tòa tháp gạch 5 tầng, qua 2 trận động đất, đỉnh tháp và vài tầng trên đã bị lở. Hiện nay vẫn còn nhưng cảnh quan không được như xưa.

hương tính sa la môn

4011香姓,梵名 Droṇa,巴利名 Doṇa。又作豆磨婆羅門、頭那婆羅門、屯屈婆羅門、突路拏婆羅門。佛陀入滅,遺骸舉行火葬後,諸國國王爭奪佛陀遺骨。此時,香姓婆羅門提議分遺骨爲八份,予八國建塔供養。眾從其議,爭端乃息。〔長阿含卷四遊行經、三卷本大般涅槃經卷下〕 ; (香姓娑羅門) Hương tính, Phạm: Droịa. Pàli:Doịa. Cũng gọi Đậu ma bà la môn, Đầu na bà la môn, Đồn khuất bà la môn, Đột lộ noa bà la môn. Người Bà la môn họ Hương, ông này đã đề nghị chia xá lợi của đức Phật làm 8 phần. Khi đức Phật nhập diệt, Kim thân của Ngài được đồ tì (hỏa thiêu), sau đó, vua các nước đều muốn thỉnh xá lợi về nước mình để phụng thờ, cho nên đã đưa đến sự tranh chấp. Bấy giờ Bà la môn họ Hương mới đề nghị chia xá lợi làm 8 phần cho 8 nước để xây tháp cúng dường. Mọi người đều hoan hỷ chấp thuận đề nghị ấy và cuộc tranh giành chấm dứt. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.4; kinh Đại bát niết bàn Q.hạ (bản 3 quyển)].

hương túy sơn

Xem Hương sơn.

hương tượng

4015<一>梵語 gandha-hastin,或 gandha-gaja。係指由鬢角可分泌有香氣液體之強碩大象而言,即指交配期之大象。據大毘婆沙論卷三十等載,此時期之象,其力特強,性甚狂暴,難以制伏,合十凡象之力僅可抵一香象之力。〔雜寶藏經卷二、注維摩經卷一〕 <二>又作象爐。於祕密灌頂之道場,所用之象形香爐;以之燒香,受灌頂時,受者入壇前之際,先跨越香象,以此薰身而得清淨。此外,日本淨土宗之傳法儀式中,亦用象形之香爐,稱爲觸香。〔乳味鈔卷十六〕 ; Gandhahastì (S). Fragrant elephant; one of the sixteen honoured ones of the Bhadra-kalpa. ; (香象) I. Hương Tượng. Phạm: Gandhahastin, gandha-gaja. Mùi thơm toát ra từ ngà con voi đực trong thời kì giao phối. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 30, thì thời kì này voi đực rất mạnh, tính hung bạo, khó chế phục, sức của nó mạnh bằng 10 con voi bình thường. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.1; Chú duy ma kinh Q.1]. II. Hương Tượng. Cũng gọi Tượng lô. Lò đốt hương hình con voi được dùng trong đạo tràng quán đính bí mật của Mật giáo. Lúc thụ quán đính, trước khi vào đàn, người thụ bước qua Hương tượng, nhờ mùi thơm xông lên mà thân được thanh tịnh. Ngoài ra, nghi thức truyền pháp của tông Tịnh độ Nhật bản cũng dùng lò hương hình con voi, gọi là Xúc hương. [X. Nhũ vị sao Q.16].

Hương Tượng Bồ Tát

(香象菩薩): xem Càn Đà Ha Đề (s: Gandha-hastin, 乾陀訶提) bên trên.

hương tượng bồ tát

4015梵名 Gandha-hastin。音譯作乾陀訶提菩薩、乾陀呵晝菩薩、健陀訶娑底菩薩。又作香惠菩薩、赤色菩薩、不可息菩薩。乃賢劫十六尊之一。列位於密教金剛界曼荼羅之外院方壇,南方四尊中之第一位菩薩。香,遍滿無礙之義;象,行足大力之義。二字合成,即諸行果滿。其形像,身呈白肉色,坐蓮華上,右拳在心前,手上持蓮,蓮上有香器,左拳置於腰上。密號大力金剛,或護戒金剛。此菩薩於諸大乘經屢見其名,如小品般若波羅蜜經卷九、無量壽經卷上、阿彌陀經等。〔道行般若經卷九、金剛界曼荼羅鈔卷下〕 ; Gandhahastin (S), Gandhahasti (S), Gandhahastin Bodhisattva Càng Đà la đề Bồ tát Tên một vị Bồ tát. ; (香象菩薩) Hương tượng, Phạm: Gandha-hastin. Dịch âm: Càn đà ha đề bồ tát, Càn đà ha trú bồ tát. Kiền đà ha sa để bồ tát. Cũng gọi Hương huệ bồ tát, Xích sắc bồ tát, Bất khả tức bồ tát. Vị Bồ tát thứ nhất trong 4 vị tôn phía nam trên phương đàn của viện ngoài trong Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là một trong 16 vị tôn của Hiền kiếp. Hương nghĩa là lan tỏa khắp mà không ngại; Tượng nghĩa là hạnh đầy đủ và có sức mạnh to lớn. Hương tượng biểu thị hạnh và quả đều viên mãn. Hình tượng vị Bồ tát này, thân mầu da trắng, ngồi trên hoa sen, tay phải nắm lại, cầm hoa sen để ở trước ngực, trên hoa có hộp hương, tay trái nắm lại đặt ở trên bẹn. Mật hiệu là Đại lực kim cương, Hộ giới kim cương. Trong các kinh Đại thừa như: Tiểu phẩm bát nhã quyển 9, Vô lượng thọ quyển thượng, A di đà, v.v... thường thấy danh hiệu của vị Bồ tát này. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.9; Kim cương giới mạn đồ la sao Q.hạ].

hương tượng độ hà

4015香象渡河,徹底截流;譬喻聽聞教法,所證甚深。諸經論每以兔、馬、香象三獸之渡河,譬喻聽聞教法所證深淺之別,謂兔渡河則浮,馬渡則及半,香象之渡河則徹底截流。今人亦謂評論文字透徹稱爲香象渡河。 ; (香象渡河) Hương tượng qua sông, chân nó đặt tận đáy nước, ví dụ người nghe giáo pháp, chứng được chỗ sâu xa. Trong các kinh luận thường nói về 3 con thú qua sông là thỏ, ngựa, hương tượng, để ví dụ chỗ chứng đắc có sâu, nông khác nhau khi nghe giáo pháp. Chẳng hạn như thỏ qua sông thì nổi, ngựa qua sông thì chìm phân nửa thân, còn hương tượng qua sông thì chân giẫm đến đáy nước. Người thời nay cũng cho rằng bình luận văn chương đến chỗ thấu triệt, gọi là Hương tượng độ hà.

hương tập

The name of the western-Buddha-land in which Àkàsa Bodhisattva Hư không tạng Bồ tát lives.

hương vi phật sứ

4014香能通達人之信心於佛,猶如佛之使者,故稱爲佛使。〔四分律刪繁補闕行事鈔訃請篇、四分律行事鈔資持記卷下〕 ; (香爲佛使) Mùi hương là sứ giả của Phật, vì mùi hương có khả năng thông đạt lòng tin của người đời đến đức Phật. [X. thiên Phó thỉnh trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ].

hương vương bồ tát

4010香王,梵名 Gandha-rāja,音譯作犍陀羅闍。又作香王觀音。香爲周徧義,王乃自在義,即自在度化徧法界眾生之義;爲觀音菩薩之部屬。據香王菩薩陀羅尼咒經所載,其畫像或大或小,身肉皆白,面貌端正,頭戴天冠,頸有瓔珞。右臂垂下,五指皆伸,施無畏手;其五指端各雨甘露,施於五道眾生,手下並畫黑鬼三五個。左臂屈肘,手持蓮花,置於胸前,此花係由其所趺坐之蓮花生出者。項背圓光,上有傘蓋。五色錦綺,以爲衣服;兩重珠條,絡於脐上,一爲赤色,一爲黃色。若爲求增益或滅罪,則奉此菩薩爲本尊,所修之法稱爲香王菩薩法。修法時,於其像前設置四寸方壇,供花、香等物,並燃油燈,於夜半起身,著淨衣,誦香王菩薩陀羅尼咒一千又八遍,若至破曉皆無昏睡,則求福之願即得滿足。 ; Gandha-Vajra (S) Kiền Đà La Đồ Bồ tát Tên một vị Bồ tát. ; (香王菩薩) Hương vương, Phạm: Gandha-ràja. Dịch âm: Kiền đà la xà. Cũng gọi Hương vương quan âm. Vị Bồ tát bản tôn trong pháp tu tăng ích, diệt tội, là quyến thuộc của bồ tát Quan âm. Hương nghĩa là lan tỏa khắp nơi; Vương nghĩa là tự tại. Hương vương biểu thị nghĩa tự tại hóa độ chúng sinh khắp pháp giới. Cứ theo kinh Hương vương bồ tát đà la ni chú, thì hình tượng vị Bồ tát này, thân mầu da trắng, ngồi kết già trên hoa sen, diện mạo đoan chính, đầu đội mũ trời, cổ đeo chuỗi ngọc, tay phải buông xuống, năm ngón duỗi thẳng như kết ấn Thí vô úy, tượng trưng cho mưa cam lộ từ năm đầu ngón tay tuôn xuống, để bố thí cho chúng sinh trong năm đường. Cánh tay trái co lại, cầm hoa sen đặt ở trước ngực, hoa sen này là từ tòa sen của Ngài ngồi hiện ra. Phía sau Bồ tát có vòng hào quang, trên có lọng che. Y phục của Ngài là gấm mịn 5 mầu, 2 cánh tay có buộc dây lụa mầu đỏ, mầu vàng đính châu ngọc. Pháp tu lấy vị Bồ tát này làm Bản tôn để cầu diệt tội, gọi là Hương vương bồ tát pháp. Khi tu pháp này thì thiết lập một đàn vuông 4 tấc ở phía trước tượng, dâng hương, đèn và phẩm vật cúng dường; nửa đêm hành giả thức dậy, y phục trang nghiêm thanh tịnh, tụng 1.008 biến thần chú Hương vương bồ tát, nếu đến sáng mà không buồn ngủ, thì những điều mong cầu đều được toại nguyện.

hương xà lê

4018北周僧。籍貫、生卒年皆不詳。梁初駐錫益州(四川灌縣)青城山飛赴寺,欣然有終老之志。時習俗每至三月三日,必往青城山遊賞,多將酒肉共相酣樂。香闍梨每前往勸喻,然不能斷。一年,香闍梨預飲,眾爭奉酒肴,隨得隨盡,俄而大吐,雞肉自口出即能飛鳴,羊肉自口出即馳走,魚脑鵝鴨游泳交錯,眾咸驚駭,誓斷辛殺。自此,青城山殺生酣飲之風遂革。示寂後,將葬,弟子怪棺太輕,開視不見屍骨,僅几杖而已。〔續高僧傳卷二十五、卷二十六〕 ; (香闍梨) Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Ngụy, trụ trì chùa Phi phó, núi Thanh thành, Ích châu (huyện Quán, tỉnh Tứ xuyên). Thời bấy giờ có tập tục hàng năm đến ngày mùng 3 tháng 3, dân chúng lên núi Thanh thành du ngoạn, mang theo rượu thịt để vui say. Hương xà lê thường đến khuyên răn nhưng họ vẫn không bỏ. Một năm nọ, vào dịp này, sư cũng đến tham dự tiệc rượu, mọi người tranh nhau chuốc rượu dâng thịt, dâng đến đâu hết đến đó. Ăn xong, sư kêu đau bụng, rồi nôn ra đủ thứ, nào thịt gà, thịt dê, cá, cua, ngỗng, vịt, sau đó biến thành những con vật chạy nhảy bơi lội lẫn lộn, khiến mọi người đều kinh hãi, phát nguyện không giết hại, không ăn thịt nữa. Từ đó, phong cảnh núi Thanh thành cũng đổi mới. Sau khi sư thị tịch, lúc di quan, các đệ tử lấy làm lạ vì quan tài rất nhẹ, mở ra thì không thấy nhục thân của sư, chỉ còn cây tích trượng mà thôi. [X. Tục cao tăng truyện Q.25, Q.26].

hương y

4011以香木染成之衣。又作香染、香袍裳、香服。香爲梵語 gandha(乾陀,香樹名)之意譯。即以乾陀香樹皮、樹汁所染之法衣。其色赤黃,原爲佛制壞色之一。於日本,除淨土宗之紫緋色外,尚有青黃等各種顏色,皆稱爲香衣。台密用赤而帶黃之色,臨濟宗用黃色,曹洞宗諸色並用。我國、日本等教團中,甚至歷代帝王頒贈之法衣,每以諸種顏色來分別僧眾之等級、階位。〔佛像標幟義圖說卷上、顯密威儀便覽卷上僧服集要〕 ; (香衣) Cũng gọi Hương nhiễm, Hương bào thường, Hương phục. Áo pháp được nhuộm bằng nước của vỏ cây càn đà(vỏ cây hương, có mùi thơm). (xt. Ca Sa, Hương Ca Sa).

hương âm thần

Xem Càn thát bà.

hương điện

4013又作香典、香錢、香資、香儀。奠者,薦之意。於佛前或亡者之靈前供奉之香物稱香奠。典者,購買物品之意;於靈前以金錢代替香物,稱爲香典。〔禪林象器箋錢財門〕 ; The incense hall, especially the large hall of the triratnà tam bảo. ; (香奠) Cũng gọi Hương điển, Hương tiền, Hương tư, Hương nghi. Dâng cúng hương hoa phẩm vật trước Phật hoặc trước bàn thờ vong linh.

hương đài phật

Xem Hương Tích Phật.

hương đài điện

Gaṇḍakuti (S) Tịnh thất của Thế tôn ở Tinh xá Kỳ hoàn.

hương đàn

Gandhadāru (S), Aloe-wood.

hương đình

4012禪家安置香爐之器具。其四面以薄紗圍之,前檐懸有香亭二字之扁額,中置大香爐,其形狀、式樣一如真亭,用之於葬儀。叢林中,尊宿之喪,於赴化壇之行列中,香亭排列於真亭之前。〔禪苑清規卷七尊宿遷化條、禪林象器箋卷二十器物門〕 ; (香亭) Chiếc khám nhỏ dùng để đặt lư hương, thường dùng trong nghi thức chôn cất. Hình dáng khám này giống như cái đình, 4 mặt được che bằng lụa mỏng, dưới rèm phía trước treo tấm biển đề 2 chữ Hương Đình , bên trong đặt một lư hương lớn. Khi cử hành tang lễ của bậc tôn túc trong tùng lâm, thì Hương đình được sắp hàng đi trước Chân đình (Khám đặt ảnh tượng bậc tôn túc). [X. điều Tôn túc thiên hóa trong Thiền uyển thanh qui Q.7; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hương đăng

4017謂焚香與燃燈。釋惠洪之詩:「一室香燈夢寢餘。」謝枋得之圓峰道院祠堂記:「朔望有齋饌,晨夕有香燈,如士大夫之奉家廟。」後世寺廟中掌管佛堂之焚香、燃燈等工作者,亦稱爲香燈。 ; (香燈) Hương và đèn, hoặc chỉ cho người trông coi việc đốt nhang, thắp đèn trong các chùa viện.

hương đường

GandhakŪtī (S), Hall of fragrances.

hương đức

Gandhaguṇa (S), Property of odour.

hương ấm

Xem Càn thát bà.

hương ấn

4011又作香篆。做成篆文形狀之香。古時,叢林中常燒此香以測知時間。 ; (香印) Cũng gọi Hương triện. Một loại hương được làm theo hình dáng chữ Triện. Thời xưa, trong tùng lâm thường đốt hương này để tính biết giờ khắc.

hươu

Xem Lộc.

Hướng

向; C: xiàng; J:; kō.|Có các nghĩa sau: 1. Có khuynh hướng về, tiến hành theo; 2. Phát tâm tu tập. Lúc mới phát nguyện tu tập; 3. Giai đoạn tu tập ở mức độ nhất định của một giai vị trước khi hoàn bị một giai vị đặc biệt. Ngược với thuật ngữ Quả (果) hoặc »hoàn bị«. Chẳng hạn như Tứ hướng (四向).

hướng

xem Bốn hướng.

Hướng dương

(向陽): có hai nghĩa. (1) Đối diện, hướng về phía mặt trời. Như trong Nhàn Cư Phú (閑居賦) của Phan Nhạc (潘岳, 247-300) nhà Tây Tấn có câu: “Nhương Hà y âm, Thời Hoắc hướng dương (蘘荷依陰、時藿向陽, rau Nhương Hà nương bóng râm, dâu Thời Hoắc hướng mặt trời).” (2) Tỷ dụ việc thọ nhận ơn ngộ. Có loại Hướng Nhật Quỳ (向日葵), hay Hướng Dương Quỳ (向陽葵), một giống quỳ một rò (nhánh) mọc thẳng, vào khoảng cuối Thu đầu Hạ nở hoa vàng. Tính nó thường cứ chầu hướng về mặt trời, nên có tên gọi như vậy. Người ta thường dùng làm tiếng để tỏ lòng kẻ dưới hướng mộ người trên.

hướng dẫn về thiền

man ngag (T), Meditation instructions,

hướng hoả

2264禪家於寒月時,坐於僧堂之爐邊取暖,稱為向火。據敕修百丈清規卷六大眾章日用規範條載,向火時,應先坐於爐圈上,然後轉身正坐,揖上下肩,不得使弄香匙火筋,不得撥火飛灰,不得聚頭說話,亦不得煨點心等物,及烘鞋、焙屩、烘衣裳等,更不得攬起衣服露出袴口,或吐唾及丟彈垢物於火內。由此可知向火時之規定。然四分律卷五十九,則舉出向火有五過,即:(一)令人無顏色,(二)令人無力,(三)令人眼闇,(四)令多人鬧集,(五)多說俗事。〔景德傳燈錄卷八南泉普願章、宗門統要續集卷四、禪林象器箋卷九〕 ; (向火) Ngồi cạnh lò than để sưởi ấm vào mùa đông. Cứ theo điều Nhật dụng qui phạm, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6, thì khi hướng hỏa(sưởi ấm) phải ngồi ngay thẳng gần lò sưởi, vái chào mọi người, không được đùa nghịch thìa xúc hương, đũa gắp lửa, không được bươi lửa làm cho tro bay, không được chụm đầu nói chuyện, không được nướng các vật để ăn, không được sấy giầy dép, hơ quần áo, cũng không được vén quần áo để lộ da thịt, không được khạc nhổ hay vứt bỏ vật dơ bẩn vào trong lửa. Nhưng theo luật Tứ phần quyển 59, thì hướng hỏa có 5 điều hại: 1. Làm cho người ta mất vẻ hồng hào. 2. Làm cho sức khỏe tổn giảm. 3. Làm cho mờ mắt. 4. Gây sự ồn ào. 5. Thường nói việc thế tục. [X. chương Nam tuyền phổ nguyện trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.8; Tông môn thống yếu tục tập Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên Q.9].

hướng hạ

2263指從本至末。乃「向上」之對稱。<一>禪林用語。於禪宗,轉大悟之境界,順應迷界而現自在之妙用者,稱為向下門,又稱順卍字。 <二>大乘起信論舉出如來藏心含攝真如與生滅二門,釋摩訶衍論更進而謂,生滅門有向上與向下二門,該書卷二(大三二‧六○五上):「於生滅門,有二種位。云何為二?一者向上門,二者向下門。」 <三>於密教中,為十二口傳之一。全稱迴文向下。下文迴置於上,即先引經文後作解釋,稱為向下。(參閱「十二口傳」331、「向上」2263) ; (向下) Đối lại: Hướng thượng. I. Hướng Hạ. Cũng gọi Hướng hạ môn, Thuận vạn (..) tự. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Từ cảnh giới đại ngộ mà hiển hiện sức diệu dụng tự tại, tùy thuận căn cơ để tiếp hóa người học; thuộc về môn lợi tha. II. Hướng Hạ. Tức là Hướng hạ môn được nói trong luận Ma ha diễn, là 1 trong 2 môn của Sinh diệt môn. III. Hướng Hạ. Gọi đủ: Hồi văn hướng hạ. Tức là trước hết dẫn văn kinh rồi sau mới giải thích. Một trong 12 cách khẩu truyền của Mật giáo. (xt. Thập Nhị Khẩu Truyền, Hướng Thượng).

hướng khứ

2264<一>向,趣向、歸向之意。向去,即指相信本來具有之佛性,而發心歸向之。 <二>今後之意。乃「向來」之對稱。一與「向後」同義。 <三>禪林中舉唱時,向於正位,稱為向去,而自正位來於偏位,則稱為卻來。〔祖堂集卷五德山宣鑑章、卷六石霜慶諸章、禪林象器箋卷六〕 ; (向去) I. Hướng Khứ. Phát tâm hướng về Phật tính xưa nay vốn có của chính mình. II. Hướng Khứ. Đối lại với Hướng lai. Đồng nghĩa với Hướng hậu. Nghĩa là sau này, từ nay về sau. III. Hướng Khứ. Đối lại với Khước lai. Hướng tới chính vị, gọi là Hướng khứ; từ chính vị hướng tới thiên vị, thì gọi là Khước lai. [X. chương Đức sơn Tuyên giám trong Tổ đường tập Q.5; chương Thạch sương Khánh chư trong Tổ đường tập Q.6; Thiền lâm tượng khí tiên Q.6].

hướng lai

2264為「向去」之對稱。即自昔日以來之意。祖堂集卷五船子德誠章載有「向來所議」一語。另於陶潛所著之挽歌詩中,有「向來相送人,各自還其家」 坏y,此皆為其例。(參閱「向去」2264) ; (向來) Đối lại với Hướng khứ. Nghĩa là từ xưa đến nay. Chương Thuyền tử Đức thành trong Tổ đường tập quyển 5 có từ ngữ Hướng lai sở nghị (những điều được bàn từ xưa đến nay). Ngoài ra trong bài thơ Vãn ca (thơ viếng người chết) của Đào tiềm có câu: Hướng lai tương tống nhân. Các tự hoàn kì gia . (Xưa nay cùng tiễn người. Rồi ai về nhà nấy). (Xt. Hướng Khứ).

hướng nhạc tự

2264為日本臨濟宗向嶽(岳)寺派之本山。位於山梨縣鹽山。於康曆二年(1380),由武田氏之外護而創立。拔隊得勝為開山第一世。武田氏滅亡後,繼由德川家康護持之。後屢遭火災及變故,而數度重建之。寺寶有達摩圖(南宋之畫)、銅磬、古書畫、名器等。

hướng sái ba

2264(1123~1194)原名達瑪扎。拉薩東郊蔡巴竹人。西藏佛教迦爾居派蔡巴迦爾居支派創始人。自幼即喜修定,及學習咒術,二十歲時出家,受比丘戒,改名尊追扎。南宋淳熙二年(1175),在蔡貢塘建寺,創立該支派。紹熙五年示寂,世壽七十二。

hướng thượng

2263<一>禪林用語。指由下至上、從末至本;反之,從上至下、從本到末,稱為向下。禪宗以自迷境直入悟境、上求菩提之工夫,稱為向上門,又稱逆卍字(即罴),屬於自利門;反之,自悟境順應而入迷境,示現自在之化他妙用,稱為向下門,又稱順卍字,屬於利他門。若未兼具向上門及向下門者,皆非真悟。於禪宗典籍中,此類用語散見於各處,如形容至極之大道、大悟之境界,稱為向上一路、向上道;探求佛道之至極奧理,稱為向上極則事、向上關棙子、向上事;謂真實而絕對之悟境世界,乃諸佛或歷來祖師所不宣說,而有待禪者親自去參究體得者,稱為向上一路千聖不傳;由凡夫之境界向上轉至諸佛之絕對境地,稱為向上轉去;師家命令學人,或禪者相互令對方提出更徹底之見解時,常以「向上更道」表示之;師家所用以接引、鎚鍊學人之第一義諦,稱為向上鉗鎚;能藉以直入諸佛究極境界之大力量、大機用,稱為向上一機;堪能徹底體得諸佛境界之人,稱為向上人、向上機;極悟之至極語句,稱為向上一句;極悟之至極宗旨,稱為向上宗乘。〔碧巖錄第十則、第十一則、第四十三則、從容錄第三十一則、第八十三則〕 <二>大乘起信論揭舉出自性清淨之如來藏心含攝真如與生滅二門,真如門即指真如之法體、絕對平等之理體,生滅門則指由實體之真如所產生之現象差別。釋摩訶衍論卷二謂,生滅門有二種位,一為向上門,二為向下門,如是向上向下二門共成生滅門之作用。 <三>為密教十二口傳之一。全稱迴文向上。為方便理解故,在一名詞之上所附加之注解文句,即是向上;於名詞之下所附加者,則為向下。(參閱「十二口傳」331) ; (向上) I. Hướng Thượng. Đối lại với Hướng hạ. Cũng gọi Hướng thượng môn, Nghịch vạn(..) tự. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Từ cảnh giới mê vọng nỗ lực cầu Bồ đề hướng tới cảnh giới giác ngộ giải thoát, thuộc về môn tự lợi. Từ ngữ Hướng thượng được thấy rải rác trong các sách vở của Thiền tông và tùy theo trường hợp mà được ghép chung với những từ khác để diễn đạt ý nghĩa, như: -Hướng thượng nhất lộ, Hướng thượng đạo: Biểu thị chỗ chí cực của đại đạo và cảnh giới đại ngộ. -Hướng thượng cực tắc sự, Hướng thượng quan lệ tử, Hướng thượng sự: Mô tả việc tìm cầu lí sâu xa rất mực của Phật đạo. -Hướng thượng nhất lộ, thiên thánh bất truyền: Hình dung cảnh giới giác ngộ chân thực tuyệt đối mà chư Phật và Tổ sư các đời không hề nói đến, chỉ do người tu thiền tự tham cứu mà thể nhận được thôi. -Hướng thượng chuyển khứ: Từ cảnh giới tương đối của phàm phu mà hướng tới cảnh giới tuyệt đối của chư Phật. -Hướng thượng cánh đạo: Khi vị thầy bảo đệ tử hoặc Thiền khách đưa ra kiến giải triệt để thì thường dùng từ này để biểu thị. -Hướng thượng kiềm chùy: Tức là Đệ nhất nghĩa đế mà vị thầy dùng để tiếp hóa và rèn luyện người học. -Hướng thượng nhất cơ: Chỉ cho lực lượng và cơ dụng mà người học nhờ đó có thể tiến thẳng vào cảnh giới rốt ráo của chư Phật. -Hướng thượng nhân, Hướng thượng cơ: Chỉ cho người có năng lực thể nhận cảnh giới của chư Phật một cách triệt để. -Hướng thượng nhất cú: Câu nói đưa đến cảnh giới giác ngộ cùng tột. -Hướng thượng tông thừa: Tức là yếu chỉ sâu xa cùng cực của Thiền tông. [X. tắc 10, 11, 43 trong Bích nham lục; Tắc 31, 83 trong Thung dung lục]. II. Hướng Thượng. Tức là Hướng thượng môn được nói trong luận Thích ma ha diễn quyển 2, là 1 trong 2 môn của Sinh diệt môn. III. Hướng Thượng. Gọi đủ: Hồi văn hướng thượng. Lời chú giải được ghi ở trên mỗi danh từ, là một trong 12 cách truyền khẩu của Mật giáo. (xt. Thập Nhị Khẩu Truyền).

hướng thượng nhất lộ

2263禪林用語。即指言絕意斷之正真大道。與「向上一著」同義。景德傳燈錄卷七盤山寶積章(大五一‧二五三中):「向上一路,千聖不傳;學者勞形,如猿捉影。」蓋此言絕意斷之正真大道,係千聖不傳之妙道,乃釋迦所不說,達摩所不傳,不由口出,不須思惟,超出言語心念之上,而自證自知之無上至真之道;以其超出言語心念之上,而達本還源,歸於寂靜之真如本體,故稱向上一路。〔碧巖錄第十二則〕 ; (向上一路) Đồng nghĩa với Hướng thượng nhất trước. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho Đại đạo chân chính tuyệt đối, dứt bặt ngôn ngữ, suy tư. Chương Bàn sơn Bảo tích trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7 (Đại 51, 253 trung), nói: Một con đường hướng thượng, nghìn Thánh không truyền, người học luống công, nhọc mình, như vượn bắt bóng . Vì con đường hướng thượng này là đạo mầu nhiệm, xa thẳm mà nghìn Thánh không truyền, là cái mà đức Thích ca không nói, ngài Đạt ma im lặng, vượt ngoài ngôn ngữ tâm niệm, đó là đạo vô thượng chí chân, chỉ tự chứng tự biết mà thôi. [X. tắc 12 trong Bích nham lục].

hướng tây

Apara (S), West.

hướng tú

2264西晉思想家。河內(河南)懷人。字子期。生卒年不詳。官至散騎常侍,為竹林七賢之一。好老莊之學,曾注解「莊子」一書,振發玄風。其後,郭象亦注述「莊子」而推廣之,然或謂郭象之注,大半以向秀之注述為準據。

hướng vị

xem Bốn hướng.

Hướng 向

[ja] コウ kō ||| (1) To tend toward, proceed toward. (2) To enter into religious practice. The point of departure in religious practice. (3) The period of practice within a certain level or stage before one has consummated that particular stage. As contrasted with the term 果, or "consummation." See, for example 四向. => Có các nghĩa sau: 1. Có khuynh hướng về, tiến hành theo. 2. Phát tâm tu tập. Lúc mới phát nguyện tu tập. 3. Giai đoạn tu tập ở mức độ nhất định của một giai vị trước khi hoàn bị một giai vị đặc biệt. Ngược với thuật ngữ Quả果, có nghĩa là "hoàn bị". Chẳng hạn như Tứ hướng 四向.

hưởng cốc triệt

6908(1606~1673)清代臨濟宗僧。湖南涓川人,俗姓黃。號響谷。二十三歲出家,後參訪天童山密雲圓悟,頗有頓豁。更歷參諸方叢林,師事江蘇龍池之萬如通微,受付囑大法,遂住金陵萬松寺。康熙十二年示寂,世壽六十八。著有響谷徹禪師語錄十卷。〔五燈全書卷七十二〕 ; (響穀徹) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Thanh, Trung quốc, người huyện Quyên xuyên, tỉnh Hồ nam, họ Hoàng, hiệu Hưởng cốc. Sư xuất gia năm 23 tuổi, sau tham học thiền sư Mật vân Viên ngộ ở núi Thiên đồng, có chỗ khế ngộ. Sư lại lần lượt tham phỏng khắp các tùng lâm, cuối cùng thờ ngài Vạn như Thông vi ở Long trì, Giang tô, làm thầy, được nối pháp của ngài và trụ trì chùa Vạn tùng tại Kim lăng. Năm Khang hi 12 (1673) sư thị tịch, thọ 68 tuổi. Sư có tác phẩm: Hưởng cốc Triệt thiền sư ngữ lục 10 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.72].

hưởng dụ

Pratiśrutka-upama (S) Thí dụ chỉ các pháp như tiếng vang từ hang sâu.

hưởng ý

Ghochamati (S).

hưởng đường

3048指禪林中安置祖師像及其牌位之堂室。又作饗堂。因係供祭享之用,故稱爲享堂。〔禪林象器箋殿堂門〕 ; (享堂) Ngôi nhà thờ hình tượng và bài vị của các bậc Tổ sư trong các chùa viện của Thiền tông. Vì ngôi nhà này là nơi tế tự, dâng lễ vật cúng dường Tổ sư nên gọi là Hưởng đường. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hưởng đường sơn thạch quật

6909又稱響堂山寺。分為南北兩窟,北響堂位於河南武安縣,南響堂位於河北磁縣,相距約十五公里。響堂山因洞內拂袖即能發出鑼鼓鏗鏘之聲而得名,又稱鼓山、石鼓山、滏山。窟內雕刻精美,聞名遐邇,與天龍山石窟同為北齊佛教文化之代表。 石窟約鑿建於北齊(550~575)。當時北齊有兩個政治中心,一為鄴都(今臨漳縣),一為晉陽(今太原市)。響堂地處兩都來往必經之地,山青水秀,風景優美,文宣帝高洋於此營造宮苑、鑿建石窟。後歷代均有增修。南北響堂共有石窟十六座,大小造像三千四百餘尊。石洞幽深,構思精巧,造像栩栩如生。石窟之附屬建築規模宏大,依山而建,層層疊疊,宏偉壯觀,為我國古代建築、雕刻、書法、繪畫、藝術之珍貴遺產。(參閱「石窟」2118) ; (響堂山石窟) Cũng gọi Hưởng đường sơn tự. Hang động ở núi Hưởng đường. Có Bắc Hưởng đường và Nam Hưởng đường. Bắc Hưởng đường nằm ở huyện Vũ an, tỉnh Hà nam, còn Nam Hưởng đường thì nằm ở huyện Từ, tỉnh Hà bắc, Trung quốc. Hai động cách nhau khoảng 15 km, được khai tạo vào khoảng những năm 550-557 đời Bắc Tề. Vì trong động này chỉ phất tay áo là có thể phát ra các thứ tiếng chiêng, tiếng trống vang vang nên có tên là Hưởng đường sơn (núi nhà tiếng vang), Cổ sơn (núi trống), Thạch cổ sơn (núi trống đá), Phũ sơn. Hưởng đường sơn (cả Nam và Bắc) có tất cả 16 động đá, với hơn 3.400 pho tượng lớn nhỏ. Cácđộng sâu thẳm, cấu trúc tinh xảo, đặc biệt là những pho tượng, trông rất sinh động, nổi tiếng gần xa. Ngoài ra, các kiến trúc phụ thuộc trong hang động cũng có qui mô hoành tráng, dựa theo thế núi, trùng trùng điệp điệp. Đây là di sản quí giá về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, thư pháp, hội họa, v.v... của Trung quốc cổ đại. (xt. Thạch Quật).

hạ

5277悉曇字???(ha)。又作呵、訶、㰤、歌。爲悉曇五十字門之一。爲與迦字等區別,古來稱之爲因業之賀字。瑜伽金剛頂經釋字母品(大一八‧三三九上):「賀字門,一切法因不可得故。」又大日經卷七釋說其字相字義謂,訶字門,一切諸法之因不可得,蓋梵語怛嚩(hetavas,爲 hetu 之複數),即因之義。蓋一切諸法無不由因緣生,此因緣亦由因緣生,輾轉而從緣,其最後爲無依,故以無住爲本。已本不生,因是法界,緣亦是法界,因緣所生之法亦爲法界。如阿字本不生而能生一切法,今賀字無因待而能爲諸法之因體。〔方廣大莊嚴經卷四、文殊問經字母品第十四、大日經卷二具緣品、卷六百字成就持誦品、不空羂索神變真言經卷十四〕 ; Hìna, Adharà (S). Below, lower, inferior, low; to descend, let down, put down. ; 1) Hina (p & skt)—Dưới thấp: Low—below—Inferior. 2) Hạ giải: Vui mừng khi chấm dứt ngày an cư kiết hạ, chư Tăng Ni được các thí chủ cúng dường mừng tuổi hạ—To make offerings in congratulation. 3) Mùa hè: Summer. ; (賀) Cũng gọi Ha, Ca. Chữ Tất đàm (ha). Một trong 50 chữ cái Tất đàm. Để phân biệt với chữ Ca, xưa nay gọi nó là chữ Hạ của nghiệp nhân. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 339 thượng), nói: Chữ Hạ, nhân của tất cả pháp bất khả đắc .Kinh Đại nhật quyển 7 giải thích chữ Hạ, cho rằng nó là nhân của tất cả các pháp bất khả đắc, bởi vì tiếng Phạm Đát phạ (hetavas, là số nhiều củahetu) nghĩa là nhân. Vì tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh, nhân duyên này cũng do nhân duyên sinh, cứ thế xoay vần cái này làm duyên sinh ra cái kia, cuối cùng không có chỗ nương, cho nên lấy vô trụ làm gốc. Vốn đã chẳng sinh, thì nhân là pháp giới, mà duyên cũng là pháp giới và pháp do nhân duyên sinh cũng là pháp giới. Như chữ A vốn chẳng sinh mà có thể sinh tất cả pháp, chữ Hạ ở đây không có nhân đối đãi mà có năng lực làm nhân thể của các pháp. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4; phẩm Tự mẫu thứ 14 trong kinh Văn thù vấn; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2, phẩm Bách tự thành tựu trì tụng Q.6 kinh Đại nhật; kinh Bất không quyển sách thần biến chân ngôn Q.14].

hạ an cư

Varṣā (P), Varṣāna (S), Vassa (P), Vassāna (P), Retreat season Nhập hạ, An cư kết hạ. ; Summer retreat. ; See Hạ Tọa.

hạ bát

713<一>依照鉢盂容量之大小,有上鉢(巴 ukkaṭṭha-patta)、中鉢(巴 majjhima-patta)、下鉢(巴 omaka-patta)之別,然諸說互異,如四分律卷九載,大者三斗,小者一斗半;十誦律卷四十三則載,上鉢可容三鉢他飯、一鉢他羹,餘可食物半羹,下鉢容一鉢他飯,半鉢他羹,餘可食物半羹,中鉢則居間。(參閱「鉢」5687) <二>四為禪家之食法。僧眾聽到用食之訊號(打板),各人同時自架上取下鉢盂。下鉢之法,有合掌低頭、問訊、提鉢等規定。禪苑清規卷一赴粥飯(卍續一一一‧四四○下):「先於食位就坐,候長版鳴,及打三下,即起身下鉢。」 ; (下鉢) I. Hạ bát. Bát cỡ nhỏ. Tùy theo dung lượng của bát mà có 3 loại khác nhau: Thượng bát (Pàli: Ukkaỉỉha-patta), Trung bát (Pàli: Majjhima-patta), Hạ bát (Pàli:Omakapatta). Cứ theo luật Tứ phần quyển 9, thì dung lượng của Hạ bát là một đấu rưỡi. (xt. Bát). II. Hạ bát. Phép ăn của Thiền gia. Điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 440 hạ), nói: Khi nghe hiệu thông báo giờ dùng cơm trước hết mọi người ngồi vào chỗ của mình, chờ đánh xong 3 hồi bảng thì đứng hạ bát (đến giá để bát lấy bát xuống).

hạ bối quán

Thiền quán theo lối Tịnh Ðộ. Theo Kinh Vô Lượng Thọ, những ai phạm phải tội ngũ nghịch và thập ác sẽ rơi vào các đường dữ của địa ngục; tuy nhiên, nếu khéo biết trì niệm hồng danh Phật A Di Ðà, họ vẫn được cứu độ. Họ vẫn thoát khỏi vô lượng kiếp luân hồi khổ sở và trong lúc lâm chung sẽ nhìn thấy Liên Hoa và bằng cách tưởng nghĩ đến một niệm Di Ðà sẽ được vãng sanh vào cõi nước Tịnh Ðộ của Ðức Phật A Di Ðà—A meditation of the Amitabha sect. According to the Infinite Life Sutra, those who have committed the five rebellious sins (ngũ nghịch) and the ten evils (thập ác) should have fallen into the lowest gati (be rebirth in the uninterrupted hells); however, if they invoke the name of Amitabha, they can still obtain salvation. They can still escape countless of reincarnation and suffering and on dying they will behold a lotus flower and by response of a single thought on the name of Amitabha, will enter the Pure Land of Amitabha.

Hạ Bổn Kỳ Giác

(榎本其角, Enomoto Kikaku, 1661-1707): hay Bảo Tỉnh Kỳ Giác (寶井其角), nhà thơ Haiku sống vào đầu thời đại Giang Hộ, họ chính là Trúc Hạ (竹下), họ của mẹ là Hạ Bổn (榎本); tên chính thức là Trúc Hạ Khản Hiến (竹下侃憲, Takeshita Tadanori); hiệu là Bảo Tấn Trai (寶晉齋); biệt hiệu là Loa Xá (螺舍), Cuồng Lôi Đường (狂雷堂), Tấn Tử (晉子), Bảo Phổ Trai (寶普齋); người vùng Cận Giang (近江, Ōmi). Ông xuống Giang Hộ, theo học với Ba Tiêu (芭蕉, Bashō), có cú phong rất sáng sủa. Sau khi Thầy qua đời, ông sáng lập ra phong cách Sái Lạc (洒落) và mở ra Phái Giang Hộ. Soạn tập của ông có Hoa Trích Tập (華摘集), Khô Vĩ Hoa (枯尾華), Ngũ Nguyên Tập (五元集), v.v.

Hạ bổng

下棒; C: xiàbàng; J: abō;|Lối khai thị trong Thiền tông, dùng gậy để đánh, xem như là sự khuyến khích trong công phu thiền.

hạ bổng

713禪林用語。在禪家,師徒機鋒問答時,師父棒打弟子或參學者稱為下棒。係師家基於慈悲之願,而以氣勢激勵弟子之接化方式。與「喝」具相同之意義;或與「喝」並稱為「棒喝」。(參閱「喝」4909) ; (下棒) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền gia, vị thầy dùng gậy đánh đệ tử hay người đến cầu học, gọi là Hạ bổng. Vì lòng từ bi mà bậc Sư phụ dùng phương thức này để tiếp hóa đệ tử; nếu cơ duyên của người học đã chín mùi, thì nhờ cái đánh ấy mà có thể tỉnh ngộ. Cùng ý nghĩa với Hát (hét), hoặc dùng song song với Hát mà gọi là Bổng hát (đánh, hét). (xt. Hát, Bổng Hát).

hạ chuyển

713<一>又稱下轉門,與「流轉」同義。指本覺為化他而向下;此係從果至因之義。又謂眾生之真如淨法無力,為雜染所薰,沈淪於苦界。釋摩訶衍論卷二(大三二‧六一○上):「諸染法有力,諸淨法無力,背本下下轉,名為下轉門。」〔大日經疏指心鈔卷一、釋摩訶衍論開解鈔卷七〕 <二>諸佛為化他而隨緣顯現六道,普現色身流入生死海中亦稱為下轉。 ; Luân hồi đi xuống. Những hành động đi ngược lại Phật tánh gây nên luân hồi đi xuống—The downward turn in transmigration—Acts which are against the primal true, or Buddha-nature cause transmigration. ; (下轉) I. Hạ chuyển. Cũng gọi Hạ chuyển môn. Cùng nghĩa với Lưu chuyển. Chỉ cho bản giác chuyển xuống, từ quả đến nhân. Cũng có nghĩa là pháp chân như trong sạch của chúng sinh không có năng lực, bị các pháp nhơ nhớp tiêm nhiễm lấn lướt, đến nỗi bị chìm đắm trong thế giới khổ đau. Luận Thích ma ha diễn quyển 2 (Đại 32, 610 thượng), nói: Các pháp nhơ nhớp mạnh mẽ, các pháp trong sạch yếu ớt, nên từ bản giác chuyển xuống, gọi là Hạ chuyển môn . [X. Đại nhật kinh sớ chỉ tâm sao Q.1; Thích ma ha diễn luận khai giải sao Q.7]. II. Hạ chuyển. Chư Phật tùy duyên hiển hiện đủ loại thân hình đi vào biển khổ sinh tử để hóa độ chúng sinh, cũng gọi là Hạ chuyển.

hạ chúng

4075參與一夏九旬安居之同行眾。即指共同參與夏安居(前後為期九十天)之同修大眾。 ; 712指下七眾。即沙彌、沙彌尼、學法女、出家男、出家女、優婆塞、優婆夷。若另加大僧、大尼,則合成九眾。 ; The seven lower orders of disciples. ; 1) Bảy chúng đệ tử đứng sau hàng Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni: The seven lower orders of disciples who are ranked below the monks and the nuns. 2) Chúng Tỳ Kheo vào ngày an cư kiết hạ: The assembly of monks at the summer retreat. ; (下衆) Chỉ cho 7 chúng dưới tỉ khưu và tỉ khưu ni. Tức là sa di, sa di ni, học pháp nữ, xuất gia nam, xuất gia nữ, ưu bà tắc, ưu bà di. ; (夏衆) Chỉ cho đại chúng cùng tu học trong 3 tháng kết hạ an cư.

hạ chủng

Gieo giống—To sow the seed—To preach—To teach. According to the Chinese Buddhism, there are three periods: 1) Gieo: To sow the Buddha's seed—When the seed of Budha's teaching is sown in the heart. 2) Quả thục: Chín—When it ripens. 3) Thoát: When it is stripped or harvested (when one abandons all things).

hạ cái tôn

4073(1885~1946)浙江上虞白馬湖人。名鑄,一字勉旃。早年留學日本。返國後,從事教育文化等事業。氏與弘一大師交往甚密,情同手足。弘一大師出家後,氏即虔心學佛,研究佛法。曾集資在白馬湖建晚晴山房,供養弘一大師。抗戰期間,參與上海熱心人士發起編印普慧大藏經,翻譯日文版南傳大藏經,先後譯出南傳經論二十餘種。又著有平屋雜文、文章作法,譯有愛的教育等。編有弘一大師遺書。

hạ cánh

4075又作夏解、夏末。即夏安居之終。其日期一說七月十五日(四分律刪繁補闕行事鈔卷上),另一說為八月十五日(大唐西域記卷八)。 ; (夏竟) Cũng gọi Hạ giải, Hạ mạt. Ngày kết thúc hạ an cư. Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng, thì ngày Hạ cánh là rằm tháng 7 âm lịch; còn cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8, thì là rằm tháng 8.

Hạ căn

下根; C: xiàgēn; J: gekon;|Căn cơ thấp kém. Chỉ người có nghiệp duyên nông cạn và đần độn, khó tu tập đạt giải thoát (như Độn căn 鈍根). Thường những ngưòi nầy cần có phương chước giáo hoá đặc biệt để trước mắt, họ có thể nắm bắt những điểm chính yếu của thế giới quan biểu hiện qua sự chiêm nghiệm về đạo Phật. Đó là thấp nhất trong ba căn cơ, hai hàng kia là Trung căn (中根) và Thượng căn (上根; theo kinh Niết-bàn 涅槃經).

hạ căn

Xem Độn căn. ; Those (born) with base character or of low capacity. ; Lamakindriya (p)—Low (dull) capacities—Low spiritual faculty—Sanh ra với căn tánh kém cõi hay khả năng hiểu được Phật pháp rất thấp—Those born with base characters or of low capacity to understand dharma.

hạ cự

712又稱下火。葬儀時,導師秉炬,表示火葬亡者之意。傳始於黃檗希運於母溺死時,秉炬夜照,唱偈引導之。敕修百丈清規卷上住持章遷化佛事條,亦舉出秉炬一項。舊說下炬即秉炬,然禪林象器箋喪薦門:「秉炬語長,下火語短;又下火一人行之,秉炬數人遞為之,(中略)秉炬佛事,語長而復數人行之,若用真火,移刻易燼,故刻木炬塗朱,擬火狀,或紅綿繒造花,著炬首而不點火。」 此外,「下炬引導集」係集錄下炬時所唱之偈文等。於下炬時所說之法語須具有五種要件:(一)德,語中須述及亡者之德。(二)死,須述及死之因緣。(三)哀,指哀悼之語。(四)活,須述及亡者生前之活動。(五)奠,追弔致祭之語。此五者稱為「下炬五要」。〔僧堂清規卷五尊宿喪法〕(參閱「秉炬」3467) ; (下炬) Cũng gọi Hạ hỏa. Nghi thức hỏa táng, có vị Đạo sư cầm đuốc. Tương truyền, Hạ cự bắt đầu từ thiền sư Hoàng bá Hi vận, khi mẹ ngài chết chìm dưới sông, ngài cầm đuốc soi sáng trong đêm tối, đọc pháp ngữ dẫn đường cho mẹ. Điều Thiên hóa Phật sự, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng, cũng có nêu ra mục Bỉnh cự. Các thuyết cũ cho Hạ cự tức là Bỉnh cự. Nhưng môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên thì cho rằng pháp ngữ của Bỉnh cự dài, pháp ngữ của Hạ cự ngắn. Lại nữa, Hạ hỏa chỉ một người làm, còn Bỉnh cự thì nhiều người lần lượt thay nhau làm. Ngoài ra, theo Hạ cự dẫn đạo tập thì bài pháp ngữ đọc lúc hạ cự phải có đủ 5 yếu tố sau đây: 1. Đức: Trong pháp ngữ phải nói đến đức hạnh của người quá cố. 2. Tử: Phải nói rõ nguyên nhân của cái chết.3. Ai: Những lời thương tiếc. 4. Hoạt: Phải tường thuật những hoạt động của người chết lúc sinh tiền. 5. Điện: Tế truy điệu người chết. [X. Tôn túc tang pháp trong Tăng đường thanh qui Q.5]. (xt. Bỉnh Cự).

Hạ Dã

(下野, Shimotsuke): tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa, nay thuộc Tochigi-ken (栃木縣).

hạ gian

713指寺堂僧房中之下等房間。面對堂宇,己身之左方為下間。法堂、方丈之西,僧堂之南,庫司之北,皆為下間。〔敕修百丈清規卷二住持日用章、禪林象器箋卷二〕(參閱「上間」721) ; (下間) Chỉ cho những gian phòng cấp thấp trong chùa, như các phòng ở phía tây Pháp đường và Phương trượng, ở phía nam Tăng đường, phía bắc Khố tư, v.v... đều là Hạ gian. [X. chương Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Thiền lâm tượng khí tiên Q.2]. (xt. Thượng Gian).

hạ giọng

To lower one's voice.

hạ giới

The lower, or human world. ; The lower world—The human world.

hạ hóa

(chúng sinh). Below, to transform all beings, one of the great vow of a bodhisattva, thượng cầu bồ đề above, to seek bodhi. ; To save those below.

hạ hóa chúng sanh

Một trong những hạnh của một vị Bồ Tát: Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh—Below, to transform all beings, one of the great vows of a Bodhisattva:Above, to seek Bodhi; below, to transform all beings.

Hạ hạ

下下; C: xiàxià; J: gege; S: mṛdu-mṛduka.|Bậc thấp trong hàng thấp kém nhất. Kinh văn Phật giáo thường định rõ những loại như phiền não, tái sinh ở cõi trời, căn cơ của chúng sinh… thành 9 loại, là 3 dạng của các bậc thượng, trung, hạ, lại chia thành ba thứ nữa, kết quả là 9.

Hạ hạ phẩm

下下品; C: xiàxiàpǐn; J: gegehon;|Bậc thấp trong hàng thấp kém nhất. Hạ hạ.

hạ khẩu thực

706四邪命食之一。下口,巴利語 adhomukha,本指臉部低下之意,故「下口食」引申為出家人不托鉢乞食而自耕作營生。大智度論卷三(大二五‧七九下):「有出家人合藥、種穀、植樹等不淨活命者,是名下口食。」(參閱「四食」1741) ; One of the four heterodox means of living, i.e. for a monk to earn his livelihood by bending down to cultivate the land, collect herbs etc. ; Một vị sư kiếm sống bằng cách cày cấy hay những phương pháp tà vạy khác. Một trong bốn cách sống tà mệnh của người xuất gia—A monk earns his living (livelihood) by bending down to cultivate the land. Oone of the four heterodox means of living of a monk. 1) Tăng Ni làm việc kiếm sống: A monk or nun earns his or her living by bending down to cultivate the land. 2) Bốc thuốc kiếm sống; tuy nhiên nếu bốc thuốc vì nhân đạo cứu người là đúng với lòng bi mẫn Phật dạy: Colect herbs for a living; however, collecting herbs to save human lives is in compliance with the Compassion which the Buddha had taught. 3) Xem thiên văn: Một lối sống tà mạng khác là xem thiên văn—Another wrong way of earning a living is to look up and telling or guessing as in astrology. 4) Nghênh Khẩu Thực (bói quẻ): Fortune-telling. ; (下口食) Hạ khẩu, Pàli: Adhomukkha. Một trong 4 cách mưu sinh không chân chính. Luận Đại trí độ quyển 3 (Đại 25, 79 hạ), nói: Người xuất gia sinh sống bất tịnh bằng cách pha chế thuốc thang, gieo trồng ngũ cốc, buôn bán hàng hóa v.v... gọi là Hạ khẩu thực . (xt. Tứ Thực)

hạ kim cương

4074為金剛界九會曼荼羅中,理趣曼荼羅西南隅之菩薩。以夏雲熾盛,能滋潤萬物,象徵其滋澤之德,故又作雲金剛、時雨金剛。〔理趣釋卷上、普賢金剛薩埵略瑜伽念誦儀軌〕 ; (夏金剛) Cũng gọi Vân kim cương, Thời vũ kim cương. Vị Bồ tát ngồi ở góc tây nam của mạn đồ la Lí thú trong 9 hội Mạn đồ la thuộc Kim cương giới Mật giáo. Vị Bồ tát này có đức thấm nhuần chúng sinh như mây mưa mùa hạ làm cho muôn vật tươi mát. [X. Lí thú thích Q.thượng; Phổ hiền kim cương tát đóa lược du già niệm tụng nghi quĩ].

hạ kinh

4075指夏安居期間所書寫之經典。又指於夏安居中所誦之經。 ; (夏經) Chỉ cho những bộ kinh được viết chép hoặc đọc tụng trong mùa kết hạ an cư.

hạ kiên

711指鄰接自己座位之次席。又作肩下、肩次。反之,鄰接自己座位之上席,稱為肩上(或上肩)。禪苑清規卷一赴粥飯(卍續一一一‧四四一下):「匙筯頭向上肩,鉢刷安下肩單外緣。」 ; (下肩) Cũng gọi Kiên hạ, Kiên thứ. Đối lại với Kiên thượng (hoặc Thượng kiên). Chỉ cho vị trí ở gần kề phía dưới chỗ ngồi của mình. Trái lại, nếu vị trí gần với chỗ ngồi của mình ở phía trên, thì gọi là Thượng kiên. Điều phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui (Vạn tục 111, 441 hạ), nói: Đầu đũa và thìa quay phía thượng kiên, cái cọ bát để ở riềm ngoài của hạ kiên .

hạ la ðà

Hrada (skt). 1) Hồ: A lake—A pool. 2) Tia sáng: A ray of light.

Hạ liệt

下劣; C: xiàliè; J: geretsu;|1. Thấp kém, thấp hơn, xấu hơn; 2. Xấu, thoái hoá (s: hīna, līna, lūha).

hạ liệt

Lamako (p)—Thấp kém—Tệ—Bad—Inferior—Low—Vile.

hạ liệt chuyển

711請參閱 彌勒受決經 請參閱 彌勒下生經 六種轉位之第五。指聲聞、緣覺二乘之證悟。下劣一詞,係相對於大乘而言;轉者,轉染得淨、轉迷得悟。林間錄卷下(卍續一四八‧三○八下):「第五下劣轉,謂二乘厭苦欣寂,證真擇滅,無勝堪能故。」(參閱「六種轉位」1307) ; (下劣轉) Vị thứ 5 trong 6 loại chuyển vị, chỉ cho sự chứng ngộ của hàng Nhị thừa: Thanh văn, Duyên giác. Hạ liệt (thấp kém) là nói đối lại với Đại thừa; Chuyển là chuyển nhiễm ô thành thanh tịnh, chuyển mê muội thành giác ngộ.Lâm gian lục quyển hạ (Vạn tục 148, 308 hạ), nói: Hàng hạ liệt chuyển không đủ khả năng tiến tới quả vị thù thắng . (xt. Lục Chủng Chuyển Vị).

Hạ liệt thừa

下劣乘; C: xiàlièshèng; J: geretsujō;|Một cách gọi Tiểu thừa.

hạ liệt thừa

The inferior, mean yàna, a scornful term for Hìnayàna. ; The inferior and mean yana.

hạ lưu

1) Low class. 2) Downstream.

Hạ Lạp

(夏臘, 夏臈): còn gọi là Tăng Lạp (僧臘), Pháp Lạp (法臘), Pháp Tuế (法歲), Pháp Hạ (法夏), Giới Lạp (戒臘), Tọa Lạp (坐臘), Tọa Hạ Pháp Lạp (坐夏法臘); chỉ cho số năm An Cư Kiết Hạ của vị Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘) sau khi thọ giới Cụ Túc. Mỗi năm từ ngày 16 tháng 4 cho đến ngày rằm tháng 7 âm lịch, trong vòng 3 tháng, các tòng lâm có tổ chức An Cư Kiết Hạ, lấy ngày cuối cùng của thời gian ấy làm ngày kết thúc của một năm; tức là ngày thọ thêm 1 tuổi. Cho nên, các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼), sau khi thọ giới xong, vào dịp kết thúc kỳ An Cư Kiết Hạ, sẽ được tăng thêm 1 tuổi nữa. Tùy theo tuổi Hạ ít nhiều mà phân làm Thượng Lạp (上臘), Trung Lạp (中臘) và Hạ Lạp (下臘), để phân định cao thấp, tôn ty thượng hạ. Người có tuổi Hạ cao nhất được gọi là Nhất Lạp (一臘), Cực Lạp (極臘), Lạp Mãn (臘滿). Trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 21 có đoạn: “Sở trú giả Pháp Lạp, cố cổ chi cao tăng, viết Thế Thọ, hựu viết Pháp Lạp; cái bất câu tuế niên, nhi dĩ sơ nhập thọ trì giới phẩm, tam nguyệt An Cư, giới thể vô khuy vi nhất lạp, do dĩ lạp bất dĩ niên, cố hữu niên cao nhi lạp thiểu giả, hữu đồng niên nhi kì thọ giả (所住者法臘、故古之高僧、曰世壽、又曰法臘、蓋不拘歲年、而以初入受持戒品、三月安居、戒體無虧爲一臘、由以臘不以年、故有年高而臘少者、有童年而耆壽者, Pháp Lạp của người cư trú, chư vị cao tăng xưa gọi là Thế Thọ, hay còn gọi là Pháp Lạp; vì không kể tuổi đời, mà lấy việc mới vào thọ trì giới phẩm, ba tháng An Cư, giới thể không bị thiếu là một Lạp, do vì lấy Hạ Lạp mà không lấy tuổi đời; cho nên có người tuổi đời cao mà Hạ Lạp ít, có người tuổi đời ít mà tuổi thọ cao).” Trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Hạ lại giải thích rõ rằng: “Hạ Lạp, tức Thích thị Pháp Tuế dã; phàm tự trưởng ấu, tất vấn, Hạ Lạp đa giả vi trưởng (夏臘、卽釋氏法歲也、凡序長幻、必問、夏臘多者爲長, Hạ Lạp là Pháp Tuế nhà Phật; phàm muốn biết thứ tự lớn nhỏ, cần phải hỏi, Hạ Lạp nhiều là lớn).” Hay trong Báo Ân Luận (報恩論, 卍 Xuzangjing Vol. 62, No. 1205) quyển Thượng có đề cập rằng: “Phàm xuất gia nhị chúng, Đông Hạ nhập Lan Nhã giảng học, Xuân Thu quy gia dưỡng phụ mẫu, cố tăng gia tự xỉ xưng Hạ Lạp, bất xưng niên (凡出家二眾、冬夏入蘭若講學、春秋歸家養父母、故僧家序齒稱夏臘、不稱年, phàm hai chúng xuất gia, mùa Đông và Hạ thì vào chùa tu học, đến mùa Xuân và Thu thì về nhà phụng dưỡng cha mẹ; nên tuổi tác của tăng sĩ được gọi là Hạ Lạp, không gọi là năm [tuổi đời]).” Trong Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳, q.16, Taishō Vol. 50, No. 2061) quyển 16, phần Đường Giang Châu Hưng Quả Tự Thần Thấu Truyện (唐江州興果寺神湊傳) cũng có đoạn: “Nguyên Hòa thập nhị niên cửu nguyệt cấu tật, nhị thập lục nhật nghiễm nhiên tọa chung vu tự, thập nguyệt thập cửu nhật môn nhân phụng toàn thân biếm vu tự Tây đạo Bắc phụ Nhạn Môn phần tả, nhược tăng Thuyên táng cận Quách Văn chi mộ dã, xuân thu thất thập tứ, Hạ lạp ngũ thập nhất (元和十二年九月遘疾、二十六日儼然坐終于寺、十月十九日門人奉全身窆于寺西道北祔雁門墳左、若僧詮葬近郭文之墓也、春秋七十四、夏臘五十一, vào tháng 9 năm thứ 12 [817] niên hiệu Nguyên Hòa, ông nhuốm bệnh, đến ngày 26 thì nghiễm nhiên ngồi thị tịch tại chùa; vào ngày 19 tháng 10, môn nhân đem toàn thân của ông an táng ở phía Tây chùa, sau hợp táng ở bên trái đồi Nhạn Môn, giống như vị tăng Đạo Thuyên an táng gần mộ của Quách Văn vậy; ông hưởng thọ 74 tuổi đời và 51 Hạ lạp).”

hạ lạp

713又作淺臈、下臘。與「上臈」對稱。指僧尼出家受戒後,其年數較少而居下位者。(參閱「法臘」3431) ; Inferior candles, junior monks. ; Tuổi của Tăng Ni được tính bằng số an cư kiết hạ mà các vị đã trải qua—Sau kiết hạ an cư, chư Tăng Ni nào đã nhập hạ đều được tăng một tuổi đạo. Quyền đi trước của Tăng Ni trong đoàn tùy thuộc vào tuổi hạ lạp—The age of a monk as monk, the years of his ordination, or the years a person has been a monk are counted by the number of summer retreats passed. To receive one's monastic age—To add to one's monastic age on the conclusion of the summer retreat—The precedence of monks and nuns in the Order is determined by the number of summer retreats they have attended. ; (下臘) Cũng gọi Thiển lạp. Đối lại với Thượng lạp. Chỉ cho những vị tăng, ni tuổi hạ còn thấp.(xt. Pháp Lạp).

hạ lệnh doanh

4074佛光山星雲大師創辦於民國五十八年(1969)七月,每年舉辦一期,每期一或二梯次;每梯次營期約二週,人數約二百餘位。學員為來自全省各所大專院校有志學佛之青年學生。目的在陶冶青年學子之身心並培養學佛之興趣。課程包括佛法概論、禪學研究、八宗綱要、諸經提要、佛教文學、佛教論典,以及梵唄等。迄今為止(1988),結業之學員已達三四千人,多成為今日佛教之護法,其中有加入佛學研究之行列,而成為頗負聲名之佛教學者,或因此披剃出家,成為佛門龍象者,如依空、慧嵩、依日、依筏等青年法師,皆為歷屆夏令營之學員。 除大專青年佛學夏令營外,並自民國六十八年,每年舉辦一次媽媽夏令營,即以有志學佛之婦女為對象,主要目的在以佛法之薰陶,健全婦女之身心、變化婦女之氣質,期使家庭和諧,社會安泰。在舉辦媽媽夏令營之同時,每年並舉辦兒童夏令營,對象為十至十二歲之兒童,營期七天。目的在培養兒童學佛之興趣,樹立兒童善惡因果之觀念,以造就國家未來之棟樑。 此外,國內外類似夏令營之暑期佛學活動亦不少,惟大多不以「夏令營」之名稱開辦之,其中經常舉辦且較具影響力者有中國佛教會與臺灣省分會之「佛學講座」、臺中李炳南居士之「明倫講座」、南投水里懺雲法師之「齋戒學會」、鳳山煮雲法師之「精進佛七」、臺北木柵東山高中之「中華文化佛學講座」、高雄宏法寺之「大專夏令營」及「佛教兒童文學講座」、香港佛教青年會之「香港夏令營」等。

hạ lộ phái

4075又作布頓派。西藏佛教派別之一。係十四世紀由布頓仁欽札巴所創,以日喀則附近之夏路寺(藏 Sha-lu)為中心。曾以傳授四本續灌頂及善講密經著稱一時。 ; (夏路派) Cũng gọi Bố đốn phái. Một trong những biệt phái của Phật giáo Tây tạng, do ngài Bố đốn nhân khâm trát ba sáng lập vào thế kỉ XIV lấy chùa Hạ lộ (Tạng: Sha-lu) gần vùng Nhật khách tắc làm trung tâm. Phái này nổi tiếng một thời nhờ việc trao truyền 4 bản Tục quán đính và thuyết giảng kinh điển Mật giáo một cách khéo léo, dễ hiểu.

hạ lộ tự

4075夏路,西藏名 Sha-lu。位於西藏日喀則東南約二十公里。於北宋元祐二年(1087)由喇嘛教僧人杰尊喜饒迥乃興建。夏路為西藏十三萬戶之一。十四世紀中,由當時喇嘛教著名僧人布頓仁欽札巴(1290~1364)主持寺務,加以擴建。後以夏路寺為中心,創立喇嘛教之夏路派。其主要建築為大殿,木架結構及斗拱,具有元代建築風格,為藏漢建築之混合體。寺內存有珍貴之元代壁畫及蒙古文文告。 ; (夏路寺) Hạ lộ, Tạng: Sha-lu. Vị trí chùa cách Nhật khách tắc Tây tạng khoảng 20 km về phía đông nam, do sư Kiệt tôn hỉ nhiêu quýnh nãi, thuộc Lạt ma giáo, sáng lập vào năm Nguyên hựu thứ 2 (1087) đời Bắc Tống. Vào thế kỉ XIV, ngài Bố đốn nhân khâm trát ba (1290-1364) trụ trì và xây cất rộng thêm. Về sau, ngài lấy chùa này làm trung tâm mà sáng lập phái Hạ lộ Lạt ma giáo. Tòa kiến trúc chính của chùa là Đại điện, kết cấu rường cột, đẩu củng theo phong cách kiến trúc đời Nguyên. Đây là kiểu kiến trúc hỗn hợp giữa kiến trúc Tây tạng và Trung quốc. Trong chùa còn có những bức bích họa đời Nguyên và văn bố cáo bằng tiếng Mông cổ rất quí.

hạ miến tôn

(hạ miến tôn ) (1885-1946) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Bạch mã hồ, huyện Thượng ngu, tỉnh Chiết giang, tự Miễn chiên. Lúc trẻ, ông du học ở Nhật bản, sau khi về nước, ông làm việc văn hóa, giáo dục. Ông kết giao với đại sư Hoằng nhất rất thân thiết, như tình anh em. Sau khi ngài Hoằng nhất xuất gia, ông dốc lòng học tập và nghiên cứu Phật pháp. Ông từng xây cất tịnh thất ở Bạch mã hồ cúng dường ngài Hoằng nhất. Trong thời gian kháng chiến, ông cùng với các nhân sĩ nhiệt tâm ở Thượng hải biên tập và ấn hành Đại tạng kinh Phổ tuệ, đồng thời, phiên dịch hơn 20 loại kinh luận Nam truyền theo bản dịch tiếng Nhật của Đại tạng kinh Pàli. Ngoài ra, ông còn có các tác phẩm: Bình ốc tạp văn, Văn chương tác pháp, Hoằng nhất đại sư di thư. Dịch phẩm: Ái đích giáo dục.

hạ mãn

See Hạ Mạt.

hạ mình

To demean –To humble oneself—To condescend.

hạ mạt

Sự kết thúc của kỳ an cư kiết hạ, nhằm ngày rằm tháng bảy âm lịch—The end of the summer retreat, the 15th of the 7th month, lunar calendar.

hạ nguyên

The fifteen of the tenth moon.

hạ ngục

To imprison—To put in prison.

Hạ ngữ

下語;; C: xiàyǔ; J: agyo;|Chỉ những lời dạy của một vị Thiền sư dành cho một vị đệ tử. Những lời văn của một vị thầy về một Ngữ lục nào đó hoặc một Công án cũng được gọi là hạ ngữ.

hạ ngữ

713禪林用語。其意有三:(一)針對禪宗公案或古則發抒己見。(二)師父對弟子開示之法語。(三)對經論之短評;義與著語、揀語相同。〔敕修百丈清規卷二住持日用章、景德傳燈錄卷十五洞山良价章、碧巖錄第十七則〕 ; Chỉ thị—To give instructions. ; (下語) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Có 3 nghĩa: 1. Dựa vào công án hoặc cổ tắc của Thiền tông mà làm nảy sinh kiến giải riêng của mình. 2. Lời nói pháp của thầy khai thị cho đệ tử. 3. Đồng nghĩa với các chữ: Trứ ngữ, Giản ngữ. Lời bàn ngắn gọn về kinh luận, tổ tắc, v.v... [X. chương Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; tắc 17 trong Bích nham lục].

hạ nại sa

Hamsa (skt)—Loài ngan hay ngỗng, cùng họ với loài vịt—A goose.

hạ phong

712即一般所說之放屁。佛制戒律之僧眾威儀法中,亦制有下風事法。昔時佛陀住於舍衛城,有不守律儀、多行惡事之六惡比丘(六群比丘),故意多食豆、麨(凡穀類磨成粉末者)、多飲酪漿,後坐於禪房中迭互放氣作聲,並以此聲調、氣息作弄禪房中長老。諸比丘遂請示佛陀,下風事應何如。摩訶僧祇律卷三十五(大二二‧五一四上):「不得故食多氣物,用作調戲。禪房中若急下風來者當制,若不可忍者,當向下坐,若下坐處有僧上座者,應還向上座。放氣時不得令大作聲擾亂此坐。」 ; (下風) Nghĩa đen là gió dưới, tức là đánh rắm. Khi chế giới luật, trong pháp uy nghi của chúng tăng, đức Phật cũng có dạy về việc hạ phong. Thủar xưa, khi Phật ở tại thành Xá vệ, có nhóm Lục quần tỉ khưu (6 tỉ khưu xấu) không giữ luật nghi, làm nhiều việc xấu xa, cố ý ăn nhiều đậu, bột, uống nhiều nước, sau ngồi trong Thiền phòng thay nhau đánh rắm thành tiếng, rồi dùng âm thanh ấy đùa bỡn, chọc tức các vị Trưởng lão. Do đó, các tỉ khưu mới xin Phật chỉ dạy về việc hạ phong phải như thế nào. Luật Ma ha tăng kì quyển 35 (Đại 22, 514 thượng), chép: Không được cố ý ăn nhiều thực phẩm dễ gây hạ phong để đùa giỡn. Trong Thiền phòng nếu bị hạ phong bức xúc thì phải cố nín, nếu nín không được thì nên xuống ngồi chỗ dưới cùng; nếu ở đó có vị Thượng tọa, thì lại nên trở về chỗ cũ. Khi xì hơi không được gây thành tiếng làm phiền nhiễu những tỉ khưu ngồi gần .

hạ phàm

To come into the world.

hạ phương thế giới

This world.

Hạ phẩm

下品; C: xiàpǐn; J: gebon;|Lớp dưới, bậc thấp, hạng dưới. Thường được dùng để so sánh năng lực của hành giả, như Hạ phẩm Bồ Tát (theo Du-già luận 瑜伽論).

hạ phẩm

The tree lowest of the nine classes born in the Amitàbha Pure Land. ; The lowest quality—Ba phẩm thấp nhất trong Cửu Phẩm Tịnh Ðộ của Ðức Phật A Di Ðà—The three lowest of the nine classes born in the Amitabha Pure Land: 1) Hạ phẩm thượng sanh: Người vào phẩm cao nhứt của hạ phẩm, những người gây tội tạo nghiệp, nhưng không hủy báng kinh điển và vào cuối đời mà chịu niệm Hồng danh A Di Ðà Phật—One who enters the Pure Land of Amitabha in the highest of the three lowest classes (those who committed all sins and karma except dishonoring the sutras; however, at the end of life, the person clasps his hands and say NAMO AMITABHA, that person will be born in the Pure Land Precious Lake). 2) Hạ phẩm trung sanh: Trung sanh của Hạ phẩm Tịnh Ðộ, những người phá giới, ăn cắp của Tăng chúng và lạm dụng giáo pháp; tuy nhiên vào cuối đời nghe được thần lực của Phật A Di Ðà mà tán thán bằng một niệm, sẽ được vãng sanh vào Hạ phẩm Trung sanh Tịnh Ðộ—One who enters the Pure Land of Amitabha in the middle of the three lowest classes (those who have broken all the commandments, even stolen from monks and abuse the law; however, at the end of life, the person hears of the great power of Amitabha and assents with but a thought, the person will be received into the paradise). 3) Hạ phẩm hạ sanh: Phẩm thấp nhứt trong Hạ phẩm Tịnh Ðộ, những ai bị rơi vào những đường dữ, nhưng chịu niệm hồng danh Phật A Di Ðà sẽ được thoát khỏi vô lượng kiếp tái sanh khổ sở, và vào cuối đời sẽ nhìn thấy Liên Hoa như ánh mặt trời, và chỉ bằng một niệm tán thán, người đó sẽ được vãng sanh vào Hạ Phẩm Hạ Sanh—One who enters the Pure Land of Amitabha in the lowest of the three lowest classes (those who should be fallen into the lowest gati because of their sins; however, by invoking the name of Amitabha they can escape countless ages of reincarnation and suffering, and on dying will behold a lotus flower like the sun, and by responding of a single thought, will enter the Pure Land).

hạ phẩm giới

711三種受戒之一。佛入滅後,無授戒法師時,自於菩薩尊前自誓受戒,稱為下品戒。菩薩瓔珞本業經卷下(大二四‧一○二○下):「佛子!受戒有三種受。(中略)三,佛滅度後,千里內無法師之時,應在諸佛菩薩形像前,胡跪合掌,自誓受戒,應如是言:『我某甲白十方佛及大地菩薩等,我學一切菩薩戒』者,是下品戒。」 ; (下品戒) Khi không có pháp sư truyền giới, mình đến trước tôn tượng Bồ tát, tự nguyện thụ giới, gọi là Hạ phẩm giới. Một trong 3 loại thụ giới. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển hạ (Đại 24, 1020 hạ) nói: Này các Phật tử! Thụ giới có 3 loại. (...) Ba là: Sau khi đức Phật nhập diệt, trong phạm vi một nghìn dặm, nếu không có pháp sư truyền giới, thì nên đối trước hình tượng chư Phật, Bồ tát, quì gối chắp tay tự nguyện thụ giới, nên nói như thế này: Con tên là..., bạch chư Phật 10 phương và đại địa Bồ tát, con xin tu học tất cả giới Bồ tát. Đó là Hạ phẩm giới .

hạ phẩm hạ sanh

Cấp thấp nhất trong Tịnh Ðộ—The lowest type of incarnated beings with corresponding to the karma—The lowest grade in the Pure Land.

hạ sinh

711謂菩薩自天上界降生於下界。過去現在因果經卷一(大三‧六二三下):「爾時菩薩語天子言:『(中略)我應下生閻浮提中,迦毘羅荥兜國,甘蔗苗裔,釋姓種族,白淨王家。』」同經又謂(大三‧六二四下):「爾時兜率天宮有一天子,作是念言:菩薩已生白淨王宮,我亦當復下生人間。」佛陀之八相成道中僅有第一降兜率與天界有關,其他皆與人間界有關。〔佛本行集經卷七俯降王宮品、三彌勒經疏〕(參閱「八相」289) ; Xem hạ phàm. ; (下生) Bồ tát từ trên cõi trời giáng sinh xuống hạ giới. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1 (Đại 3, 623 hạ), chép: Bấy giờ Bồ tát bảo Thiên tử rằng: Ta sẽ hạ sinh trong cõi Diêm phù đề, nước Ca tì la vệ, dòng dõi Cam giá, chủng tộc họ Thích, trong cung vua Bạch tịnh . Cũng kinh đã dẫn còn nói (Đại 3, 624 hạ): Bấy giờ ở cung trời Đâu suất có một vị thiên tử nghĩ rằng: Bồ tát đã sinh trong cung vua Bạch tịnh, ta cũng nên hạ sinh ở cõi người . Trong 8 tướng thành đạo của đức Phật, chỉ có tướng thứ nhất Đâu suất giáng thần là liên quan đến cõi trời, còn các tướng khác đều liên quan đến cõi người. [X. phẩm Phủ giáng vương cung trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 7; Tam di lặc kinh sớ]. (xt. Bát Tướng).

Hạ sinh kinh

下生經; C: xiàshēng jīng; J: geshō kyō;|Tên viết tắt của Di-lặc hạ sinh kinh (彌勒下生經).

hạ sĩ

A so-call disciple of Buddhism, but profits neither to self nor others.

hạ sấn

713指將布施之物供於佛前。下,意為安下、安奉;䞋,為梵語 dakṣīṇā(達䞋)之略稱。所施為財寶類時作「䞋」,以手受施時作「〖⿰扌親〗」,口發施事則作「嚫」。另據禪林象器箋錢財門載,獻上䞋財,稱為上䞋;安下䞋財,稱為下䞋。(參閱「達嚫」5677) ; (下嚫) Đem phẩm vật bố thí cúng dường trước Phật. Hạ nghĩa là kính cẩn đặt xuống; Sấn gọi tắt từ Đạt sấn (Phạm:Dakwìịa), nghĩa là những phẩm vật bố thí, cúng dường. Cứ theo môn Tiền tài trong Thiền lâm tượng khí tiên, thì dâng của bố thí lên gọi là Thượng sấn; đặt của bố thí xuống gọi là Hạ sấn.(xt. Đạt Sấn).

hạ tam ðồ

Ba đường dữ đi xuống (Ðịa ngục, ngạ quỷ, súc sanh)—The three lower path of the six destinations or gati (Hells, hungry ghosts and animals).

hạ thư

4075於夏安居時期書寫經文之謂。夏安居為樞要修行之時,不可懈怠,精進修行。或為夏安居之異稱。 ; (夏書) Những kinh văn được viết chép trong thời gian Hạ an cư. Cũng có thuyết cho rằng Hạ thư là tên gọi khác của Hạ an cư.

hạ thế

To come into the world.

hạ thủ

4074指夏安居之初日。其日期一說四月十六日(四分律刪繁補闕行事鈔卷上),另一說為五月十六日(大唐西域記卷八)。 ; First day of the summer retreat of the monk. ; Ngày đầu của kỳ an cư kiết hạ—The first day, or beginning, of the retreat. ; (夏首) Ngày đầu tiên của mùa kết hạ an cư. Theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng, thì Hạ thủ là ngày 16 tháng 4 âm lịch; còn theo Đại đường tây vực kí quyển 8 thì là ngày 16 tháng 5.

Hạ thủ 夏首

[ja] ゲシュ geshu ||| The first day of the summer retreat. => Ngày đầu tiên của kỳ an cư mùa hạ.

hạ thừa

712<一>指聲聞藏。為世親菩薩所說。〔攝大乘論釋卷一〕  <二>又作下馬。乘者下所乘之物以表敬意。佛世時,頻婆娑羅王屢至姞栗陀羅矩吒山聽聞佛陀說法,王為表示對佛陀之敬意,於山麓中路即下乘步行。至玄奘西行時,其處猶存有標示昔日頻婆娑羅王下乘步行處之窣堵波。大唐西域記卷九(大五一‧九二一上):「中路有二小窣堵波,一謂下乘,即王至此,徒行以進。一謂退凡,即簡凡人,不令同往。」至後世,寺院每援引此例,於山門外樹立「下乘、「下馬」等碑石;然此風多行於日本。〔法苑珠林卷三十九、釋氏六帖卷二十一、類聚名物考卷二二三、卷二二七〕 ; The lower yàna, i.e. Hìnayàna. ; The lower yana—Hinayana. ; (下乘) I. Hạ thừa. Chỉ cho Thanh văn tạng do bồ tát Thế thân soạn. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.1]. II. Hạ thừa. Cũng gọi Hạ mã. Xuống xe hoặc xuống ngựa để tỏ lòng tôn kính. Thời đức Phật còn tại thế, vua Tần bà sa la thường đến núi Cô lật đà la củ trả (núi Linh thứu) nghe Phật thuyết pháp. Khi còn cách chân núi một khoảng đường, nhà vua xuống xe đi bộ để tỏ lòng tôn kính đức Phật. Về sau, một ngôi tháp nhỏ được dựng lên ở đây để ghi dấu chỗ nhà vua xuống xe đi bộ. Khi ngài Huyền trang đến nơi này, ngôi tháp kỉ niệm ấy vẫn còn. Đại đường tây vực kí quyển 9 (Đại 51, 921 thượng), nói: Giữa đường có 2 ngôi tháp nhỏ: Một là Hạ thừa, ghi dấu chỗ vua Tần bà sa la đến đây, xuống xe đi bộ; một là Thoái phàm, nơi người thường đến đây phải lui lại, không được đi cùng với vua . Đời sau, ngoài cổng các chùa viện cũng theo lệ này mà dựng bia đá: Hạ thừa, Hạ mã... [X. Pháp uyển châu lâm Q.39; Thích thị lục thiếp Q.21; Loại tụ danh vật khảo Q.223, 227].

hạ triều

Hsia Dynasty Nhà Hạ.

hạ trung

4073指夏安居期間之九十日。據大唐西域記卷二載,我國以四月十六日至七月十五日為夏安居,分為前、中、後三期,共九十日,故有一夏九旬之稱。(參閱「安居」2398) ; Giữa mùa hè, giữa kỳ an cư kiết hạ, hay kỳ hạn 90 ngày an cư kiết hạ—During the summer, the middle of the summer; the rainy season spent by the monks of India in retirement.

hạ trần

713指惡道等下界之塵境。釋門歸敬儀卷上(大四五‧八五五上):「生身不徒委於下塵。」 ; The lower gati, the hells, hungry ghosts, animals. ; (下塵) Cõi bụi bặm. Chỉ cho hạ giới. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 855 thượng), nói: Không thể để cho tấm thân này bị đày ải mãi nơi hạ trần .

hạ tuần

The last ten days (decade) of a month.

hạ tưởng

4074明代書畫家。據明畫錄載,原姓朱,名昶,字仲昭,號玉峰。成祖永樂十三年(1415)登進士,後改姓夏,號自在居士。正統年中,仕至太常卿。善畫墨竹,師承陳繼、玉紱,時推第一,名馳絕域,世人爭以金購之,故有「夏卿一個竹,西涼十錠金」之譽。其所作竹,煙姿雨色,偃仰濃疏,尤精楷法,永樂時,其書法稱第一。〔明史卷二八六、明史稿卷二六○〕

hạ tọa

Junior monk. ; 1) Kỳ thiền định trong mùa an cư kiết hạ hay mùa mưa: The period of the summer retreat for meditation, known as varsas, the rains. 2) Vị Tăng có ít hơn 10 năm hạ lạp: A monk or nun who has less than ten years of renunciation.

hạ y

The lowest order of a monk's robes, that of five patches; lower garments.

hạ ðiền

Ploughing Festival.

hạ ðẳng

Inferior rank.

hạ ðịa

Phần dưới của 52 cấp phát triển Bồ tát—The lower region or the lower half of the fifty-two grades of bodhisattva development.

hạ ý thức

Subconscious.

hạ đường

To descend from the hall.

Hạ địa

下地; C: xiàdì; J: geji;|1. Cảnh giới hiện hữu bên dưới đối tượng của thế giới khách quan được nhận biết bởi hành giả (s: adhara-svābhūmi); 2. Trong sự phân chia các cõi trong tam giới thành 9 bậc (cửu địa 九地), hạ địa chính là ba cõi thấp cuối cùng; 3. Giai vị thấp nhất trong Bồ Tát Thập địa.

hạ địa

711梵語 adhara-svabhūmi。<一>三界分九地,境界優者為上地,劣者為下地。  <二>菩薩十地之位,因其高下而稱上地、下地。 <三>與上天相對之地,亦稱下地。 ; The lower regions of the cửu địa; also the lower half of the thập địa in the fifty two grades of bodhisattva development. ; (下地) Phạm: Adhara-svabhùmi. Cõi dưới, có 3 nghĩa: 1. Ba cõi chia ra 9 địa, cảnh giới tốt là thượng địa, cảnh giới xấu là hạ địa. 2. Vì Thập địa Bồ tát có cao, thấp khác nhau nên gọi là thượng địa hay hạ địa. 3. Các cảnh giới dưới cõi trời cũng gọi là hạ địa.

hạ địa thô khổ chướng

711又作下地麤苦障。乃「上地靜妙離」之對稱。屬無間道之三行相。指行者在三界九地,以有漏智斷修惑時,厭下地欣上地所作之觀法。即觀下地之粗、苦、障等三煩惱而厭之;觀上地之靜、妙、離等三解脫道而欣願之。此六種有漏行相,合稱六行觀。〔俱舍論卷二十四、大毘婆沙論卷六十四〕(參閱「六行觀」1263) ; (下地粗苦障) Đối lại với Thượng địa tĩnh diệu li. Người tu hành ở 3 cõi 9 địa, khi dùng trí hữu lậu để đoạn trừ Tư hoặc, thì quán 3 thứ phiền não Thô, Khổ, Chướng của hạ địa, thuộc đạo Vô gián mà sinh tâm nhàm chán hạ địa, nên quán 3 đạo giải thoát: Tĩnh, Diệu, Li của thượng địa mà sinh tâm mong cầu. Sáu hành tướng hữu lậu này hợp lại gọi chung là Lục hành quán. [X. luận Câu xá Q.24; luận Đại tì bà sa Q.64]. (xt. Lục Hành Quán).

hạc

Con hạc—A crane—An egret.

Hạc diễm, hạc diệm

(鶴燄, 鶴焰): lửa đuốc, lửa nến. Vì bệ cây nến đứng thẳng trang nghiêm như con hạc, nên có tên như vậy. Như trong bài Vịnh Trì Trung Chúc Ảnh (詠池中燭影) của Lương Nguyên Đế (梁元帝, tại vị 552-554) thời Nam Triều có câu: “Ngư đăng thả diệt tẫn, hạc diễm tạm đình huy (魚燈且滅燼、鶴焰暫停輝, đèn chài còn tắt ngúm, lửa nến tạm dừng cháy).” Hay trong bài thơ Thượng Nguyên Chế Thi (上元應制) của Hạ Tủng (夏竦, 985-1051) nhà Tống lại có câu: “Bảo phường nguyệt kiểu long đăng đạm, tử quán phong vi hạc diễm bình (寶坊月皎龍燈淡、紫館風微鶴燄平, chùa chiền trăng tỏ đèn heo hắt, lữ quán gió hiu đèn đứng yên).” Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3 có đoạn: “Hạc diễm huỳnh hoàng chiếu mê mông, Ngọc Đế tô du vạn hộc trung (鶴燄熒煌照迷曚、玉帝酥油萬斛中, lửa nến lập lòe chiếu sáng mơ, dầu bơ Ngọc Đế muôn hộc trong).” Hay tại Đại Chính Điện (大政殿) của Cố Cung bên Trung Quốc, vua Càn Long (乾隆, tại vị 1745-1796) nhà Thanh có đề hai câu: “Long tiên thúy niệu kim tiên vũ, hạc diễm hồng phiên bảo tướng hoa (龍涎翠嬝金仙宇、鶴焰紅翻寶相花, cỏ thơm yểu điệu tiên trời điện, lửa nến chuyển hồng tướng báu hoa).” Trong Đạo Môn Khoa Phạm Đại Toàn Tập (道門科範大全集) tập I của Đạo Giáo, phần Sanh Nhật Bổn Mạng Nghi (生日本命儀) có câu: “Đăng phân hạc diễm chi huy, hương tán long yên chi tuệ (燈分鶴焰之輝、香散龍煙之穗, đèn chia lửa nến rực soi, hương tỏa khói rồng ánh đuốc).”

Hạc giá

(鶴駕): cỗ xe hạc, cỡi hạc. Có mấy nghĩa khác nhau. (1) Căn cứ tác phẩm Liệt Tiên Truyện (列仙傳), phần Vương Tử Kiêu (王子喬) cho biết rằng xưa kia Vương Tử Kiêu, tức là Thái Tử Tấn của Chu Linh Vương (周靈王, ?-545 ttl.) thường cỡi hạc trắng đậu trên đỉnh núi của họ Câu (緱). Cho nên, về sau người ta thường gọi xa giá của Thái Tử là hạc giá. Như trong bài thơ Văn Hoa Kỷ Sự (文華紀事) của Lý Đông Dương (李東陽, 1447-1516) nhà Minh có câu: “Hạc giá tạm đình đương điện ngọ, long nhan nhất cố mãn trì xuân (鶴駕暫停當殿午、龍顏一顧滿墀春, xe hạc tạm dừng trước điện cổng, long nhan ngoảnh lại đầy thềm xuân).” (2) Cỗ xe của tiên nhân. Như trong bài Lão Thị Bi (老氏碑) của Tiết Đạo Hành (薛道衡, 540-609) nhà Tùy có đoạn: “Luyện hình vật biểu, quyển tích phương ngoại, nghê thường hạc giá, vãng lai Tử Phủ (鍊形物表、卷跡方外、蜺裳鶴駕、往來紫府, rèn hình thành vật, cuộn dấu ngoài xa, nghê thường cỡi hạc, tới lui Tử Phủ).” (3) Cách gọi khác của cái chết, từ giã cõi đời, cỡi hạc mà đi. Như trong bài Trịnh Thái Tử Bi Minh (鄭太子碑銘) của Lô Chiếu Lân (盧照鄰, 632-695) nhà Đường có đoạn: “Nghê tinh dương Hán, do tầm hủ cốt chi linh; hạc giá đình không, thượng yết tiên nhân chi mộ (霓旌揚漢、猶尋朽骨之靈、鶴駕停空、尚謁先人之墓, cờ tiên dương khắp, để tìm cốt mục vong linh, xe hạc dừng không, tham yết người xưa lăng mộ).” Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược (五燈會元續略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1566) quyển 4 có đoạn: “Ngọc mai phá tuyết, hồng diệp điêu sương, thích quan gia trừ đạm chi thần, nãi hạc giá tiên du chi nhật (玉梅破雪、紅葉凋霜、適官家除禫之辰、迺鶴駕仙遊之日, mai ngọc phá tuyết, lá đỏ khắc sương, đúng nhà quan tang hết lúc này, là cỡi hạc về tiên ngày ấy).” Hay trong bài Du Kim Hoa Động Thiên (遊金華洞天) của Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục (虛堂和尚語錄, Taishō Vol. 47, No. 2000) quyển 7 có đoạn: “Sưu sưu nhai lựu tĩnh biên văn, đáo thử tiên phàm chỉ xích phân, hạc giá triều chơn hà nhật phản, động môn chung nhật tỏa hàn vân (颼颼崖溜靜邊聞、到此仙凡咫尺分、鶴駕朝眞何日返、洞門終日鎖寒雲, vù vù khe nước nghe lắng trầm, đến chốn tiên phàm cách mấy phân, cỡi hạc quy chơn ngày nao lại, cửa động suốt buổi ngút mây hàn).”

hạc lâm

6889指世尊於印度拘尸那揭羅城跋提河畔入滅之娑羅樹林。又稱白鶴林、白林、鵠林。據大般涅槃經後分卷上所載,世尊入涅槃已,娑羅林乃垂覆寶牀,遮蓋如來,其時娑羅樹慘然變白,猶如白鶴。即以世尊入滅時,娑羅樹變成白色,猶如白鶴,故有此稱。又因世尊於此林入滅,故「鶴林」一詞亦轉用為「佛涅槃」之意。另據大般涅槃經義記卷一載,娑羅樹變白之原因有二說:(一)白色乃樹之死相,表示聖者之入滅。(二)白色為色之本,即意謂佛之涅槃乃歸返其本。此外,後世對僧園亦稱為鶴林,或稱鶴苑。〔北本大般涅槃經卷一、摩訶止觀卷一上、卷七上、大般涅槃經集解卷三、止觀輔行傳弘決卷一之一、廣弘明集卷二十〕(參閱「娑羅樹」4079) ; Hao lin (C)Tên một vị sư. Xem Huyền Tố. ; 1) Khu rừng Hạc Lâm, nơi Ðức Phật nhập diệt, ở giữa hai hàng cây Ta La, những cây nầy bỗng nở hoa trắng giống như những con hạc trắng nên có tên là “Hạc Lâm” (theo Kinh Niết Bàn thì khi Phật nhập Niết Bàn, rừng cây Sa La ở thành Câu Thi Na đều biến thành trắng giống như hạc trắng vậy)—Crane grove, a name for the place where Sakyamuni died, when the trees burst into white blossom resembling a flock of white cranes. 2) Hạc Lâm Tự: Tên của một tự viện nằm về phía bắc Ấn Ðộ—Crane-Garden Monastery, name of a monastery in northern India. ; (鶴林) Cũng gọi Bạch hạc lâm, Bạch lâm, Hộc lâm. Chỉ cho rừng Sa la song thụ ở gần sông Bạt đề, thành Câu thi na yết la, Ấn độ, là nơi đức Phật vào Niết bàn. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn hậu phần quyển thượng chép, thì khi đức Thế tôn vào Niết bàn, rừng Sa la rủ lá che thân Như lai, lá các cây Sa la biến thành trắng như chim hạc, bởi thế có tên Hạc lâm. Lại vì đức Thế tôn nhập diệt ở rừng này nên danh từ Hạc lâm được dùng để chỉ cho việc Phật vào Niết bàn. Ngoài ra, cứ theo Đại bát niết bàn kinh nghĩa kí quyển 1, thì có 2 thuyết về nguyên nhân cây Sa la biến thành màu trắng. 1. Màu trắng là tướng chết của cây, biểu thị sự nhập diệt của bậc Thánh. 2. Màu trắng là gốc của các màu, hàm ý đức Phật vào Niết bàn là trở về nguồn gốc. Đến đời sau, khu vườn của chúng tăng ở cũng được gọi Hạc lâm hoặc Hạc uyển. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.1 (bản Bắc); Ma ha chỉ quán Q.1 phần trên, Q.7 phần trên; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.3; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 1. Quảng hoằng minh tập Q.20]. (xt. Sa La Thụ).

Hạc Lâm Huyền Tố

(鶴林玄素, Gakurin Genso, 668-752): vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, pháp từ của Trí Uy (智威), vị tổ đời thứ 5 của Ngưu Đầu Tông, tự là Đạo Thanh (道清), họ Mã (馬), cho nên ông thông xưng là Mã Tố (馬素), xuất thân Diên Lăng (延陵), Nhuận Châu (潤州, Tỉnh Giang Tô). Ông xuất gia ở Trường Thọ Tự (長壽寺) vùng Giang Ninh (江寧, Tỉnh Giang Tô) và sau khi thọ Cụ Túc giới xong, ông sống ẩn cư. Đến cuối đời, ông theo hầu hạ Trí Uy ở U Thê Tự (幽棲寺), Thanh Sơn (青山), thân hình khắc khổ. Trong khoảng thời gian niên hiệu Khai Nguyên (開元, 713-742), thể theo lời thỉnh cầu của vị tăng Uông Mật (汪密), ông đến Kinh Khẩu (京口) và đáp ứng sự khẩn thỉnh của vị quan trong quận Vi Tiển (微銑), ông đến sống tại Hạc Lâm Tự (鶴林寺) thuộc Hoàng Hạc Sơn (黃鶴山), Nhuận Châu (潤州). Vào ngày 11 tháng 11 năm thứ 11 (752) niên hiệu Thiên Bảo (天寳), ông an nhiên thị tịch, hưởng thọ 85 tuổi. Tháp ông được dựng ở Tây Hoàng Hạc Sơn. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Luật Thiền Sư (大律禪師). Môn nhân của ông có Pháp Hải (法海), người biên tập bộ phận tối cổ của Lục Tổ Đàn Kinh Bản Đôn Hoàng. Lý Hoa (李華) soạn bia văn cho tháp của ông.

hạc lâm tự

6889位於江蘇鎮江黃鶴山下。舊名竹林寺,晉大興四年(321)創建,劉宋武帝微時曾棲息其中,既踐祚,乃大事增飾,改今名,稱鶴林律院。唐開元、天寶年間,有玄素禪師法照,得法於牛頭山智威,歸主其地,僧徒日眾,始改為禪寺,又稱古竹院。宋紹興年間重建,改稱報恩光孝禪寺;咸淳年間,僧慶清重修。明永樂、弘治、萬曆三朝均曾加以重建。重要建築有尚喜堂、天雨寶華堂、圓音堂等,其餘如積弩堂、濂溪祠、陸秀夫祠、丹徒宮、愛蓮池、曾布宅、米芾宅等,亦為具有歷史性之古蹟。 ; (鶴林寺) Tên cũ: Trúc lâm tự. Chùa ở chân núi Hoàng hạc, phủ Trấn giang, tỉnh Giang tô, được sáng lập vào năm Đại hưng thứ 4 (321) đời Tấn. Lúc còn hàn vi, vua Vũ nhà Lưu Tống từng đến ở nhờ chùa này; sau khi lên ngôi, vua liền cho xây cất lại rộng lớn hơn và đổi tên là Hạc lâm luật viện. Khoảng những năm Khai nguyên, Thiên bảo (713-755) đời Đường, có thiền sư Huyền tố Pháp chiếu về trụ trì chùa này, tăng đồ ngày càng đông, chùa được đổi là Thiền tự, cũng gọi Cổ trúc viện. Khoảng năm Thiệu hưng đời Tống, chùa được xây cất lại và đổi tên là Báo ân quang hiếu thiền tự. Khoảng năm Hàm thuần, ngài Thanh khánh trùng tu. Khoảng các năm Vĩnh lạc, Hoằng trị, Vạn lịch đời Minh, chùa nhiều lần được sửa sang lại và mở rộng thêm. Những kiến trúc chính như: Thượng hỉ đường, Thiên vũ bảo hoa đường, Viên âm đường v.v... Ngoài ra, còn những kiến trúc khác như: Tích nỗ đường, Liêm khê từ, Lục tú phu từ, Đơn đồ cung, Ái liên trì, Tăng bố trạch, Mễ phất trạch v.v... cũng được coi là những di tích lịch sử.

hạc lâm tự chí

6890凡四卷。明代明賢纂輯。明萬曆年間,許國誠、高一福修「京口三山全志」,以鶴林寺志一卷附之,時明賢亦撰本志,搜羅較前志完備。全志略分山川、建置、山界、田土、碑銘、古碣、高僧、人物、紀異付雜記、記序、疏文、說、詩等十四門。碑銘、古碣尤為文獻中之珍寶。此志初刻於明萬曆十年(1582),今收於中國佛寺志全集。

hạc lặc na

Haklenayaśas (S)Tổ thứ 23 trong 28 tổ Phật giáo ở Ấn độ. ; Haklenayasa (S). 23th Indian patriarch. ; See Hạc Lặc Na Dạ Xa.

hạc lặc na dạ xa

6890梵名 Haklena-yaśa。又稱鶴勒那、鶴勒。為西天付法藏第二十二祖(一說二十三祖)。月支國人,婆羅門種。二十二歲出家,三十餘歲遇摩奴羅尊者,受付囑大法。後至中印度行化,深得國王無畏海之敬信,又遇師子比丘,乃付法而示寂。其生卒年不詳。〔付法藏因緣傳卷六、摩訶止觀卷一上、景德傳燈錄卷二、佛祖統紀卷五〕 ; Haklenayasas or Padmaratna (skt)—The twenty-third patriarch—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Ðộ. ; (鶴勒那夜奢) Phạm: Haklena-yaza. Cũng gọi Hạc lặc na, Hạc lặc. Tổ thứ 22 (có thuyết nói thứ 23) của Thiền tông Ấn độ, người nước Nguyệt chi, thuộc dòng Bà la môn. Năm 22 tuổi, ngài xuất gia, năm 30 tuổi ngài gặp tôn giả Ma nô la và được phó chúc đại pháp. Ngài đến Trung Ấn độ giáo hóa, rất được vua Vô úy hải kính ngưỡng. Về sau, ngài truyền pháp lại cho đệ tử là tỉ khưu Sư tử, rồi thị tịch. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; Ma ha chỉ quán Q.1 phần trên; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.5].

hạc mạt

Homa (skt)—See Hộ Ma.

hạc thụ

See Hạc Lâm.

hạc tát la

Hasara (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Ðiển, Hạc Tát La là tên của thủ phủ thứ nhì của Tsaukuta, có lẽ bây giờ là Assaia Hazareh, nằm giữa Ghuznee và Kandahar thuộc A Phú Hãn—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Hasara is the second capital of Tsaukuta, perhaps modern Assaia Hazareh, between Ghuznee and Kandahar in Afghanistan.

hạc tất na

Hosna or Ghazna (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Ðiển của Giáo Sư Soothill, Hạc Tất Na là thủ phủ của Tsaukuta, bây giờ là Ghuznee, thuộc A Phú Hãn—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Ghazna is the capital of Tsaukuta , the present Ghuznee, or Ghazni in Afghanistan.

hạc uyển

See Hạc Lâm.

hạch miệng

Oral examination.

hạch sách

To insist upon—To demand.

hại

4083梵語 vihiṃsā。為心所之一。指欲損害他人之心,屬有部小煩惱地法之一,法相宗隨煩惱之一。與此相反之心,稱為不害(梵 ahiṃsā),即不損害他人之心,屬大善地法之一。(參閱「不害」983) ; Vihiṃsa (S), Hiṃsa (S), Harmfulness Làm tổn não người khác. Một trong 10 tiểu tùy phiền não. ; Himsa or Vihimsa (skt)—Harmful—Detrimental—Hurtful. ; (害) Phạm: Vihiôsà. Tâm muốn gây tổn hại cho người khác. Một trong những món tâm sở. Một trong những tiểu phiền não địa pháp thuộc Hữu bộ. Một trong những tùy phiền não thuộc tông Pháp tướng. (xt. Bất Hại).

hại giác

xem ba loại tư tưởng xấu ác. ; 4083又作惱覺。三覺之一,八覺之一。謂欲加害於他人之心。〔無量壽經疏卷上(淨影)〕 ; (害覺) Cũng gọi Não giác. Tâm muốn gia hại người khác. Một trong 3 giác, một trong 8 giác. [X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tịnh ảnh)].

hại sức khỏe

Harmful to health.

hại tưởng

Tư tưởng muốn hại người khác—The wish or thought to injure others. Trong Kinh Pháp Cú, câu 125, Ðức Phật dạy—According to the Dharmapada Sutra, verse 125, the Buddha taught: “Ðem ác ý xâm phạm đến người không tà vạy, thanh tịnh và vô nhiễm, tội ác sẽ trở lại kẻ làm ác như ngược gió tung bụi—Whoever harms a harmless person who is pure and guiltless, the evil falls back upon that fool, like dust thrown against the wind.”

hại vi chính pháp tông

4083又稱害為正法論。外道十六宗之一。執著以咒術嬈害生命而能生天之外道。法苑義林章卷一謂,諸婆羅門欲食肉,妄起此論,謂若為祀祠咒術時,無論能祀者、諸助伴者、所害者等,皆得生天。〔瑜伽師地論卷七、顯揚聖教論卷十〕 ; (害爲正法宗) Cũng gọi Hại vi chính pháp luận. Phái ngoại đạo chủ trương dùng chú thuật hại sinh mệnh có thể được sinh lên trời. Một trong 16 tông ngoại đạo ở Ấn độ.Pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 nói, các Bà la môn vì muốn ăn thịt nên đặt ra luận thuyết sai lầm này. Họ cho rằng nếu khi dùng chú thuật cúng tế, thì bất luận người tế, người trợ tế, con vật bị giết để làm đồ tế v.v... tất cả đều được sinh lên cõi trời. [X. luận Du già sự địa Q.7; luận Hiển dương thánh giáo Q.10].

Hại 害

[ja] ガイ gai ||| (1) To harm, injure, damage, kill. (2) Impede, obstruct. (3) That which is harmful. [Buddhism] (4) (vihimsā). 'Harming.' In the Abhidharmakośa-bhāsya one of the lesser defilement elements, in the doctrine of the Faxiang school, one of the twenty secondary defilements (隨煩惱). The mental action of taking pleasure in inflicting harm on sentient beings. In the doctrine of the Faxiang school, this element is provisionally established as an aspect of enmity (瞋). In the Abhidharmakośa-bhāsya, it has its own separate nature. => 1. Gây tổn hại, làm tổn thương, làm hại, giết hại. 2. Làm trở ngại, cản trở. 3. Những điều tai hại. [Phật học] 4. (vihimsā). Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, Hại là một trong các tiểu phiền não địa pháp. Theo Pháp tướng tông, Hại là một trong 20 tuỳ phiền não. Là tâm hành thích thú khi gây tổn thương đến các laòi hữu tình. Theo giáo lý Pháp tướng tông, yếu tố nầy được ghi nhận tạm thời như là một khía cạnh của Sân (瞋). Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, nó có tự tính riêng của nó.

hạn

Cố định: To fix. Giới hạn—Limit—Boundary.

hạn chế

To limit—To bound—Limitation—Restriction.

hạn li tốc li

2425觀世音菩薩和大勢至菩薩往昔為長那梵志之子時,分別名為早離、速離。據觀世音菩薩往生淨土本緣經載,阿僧祇劫前,於南天竺之摩涅婆吒國中,有一梵志(婆羅門志求生梵天者),名長那,其妻為摩那斯羅,生有二子,此兄弟二人以其早離父母之故,而取名為早離、速離。於兄七歲、弟五歲時母病歿,父遂再娶。時遇饑年,父北行至檀那羅山求食,繼母乃設計陷害二子,棄之於絕島上,二子悲痛之餘,遂發百願,願修菩薩道以利益十方國之眾生,發願畢即命終。父還,得知其子棄於孤島,遂往尋覓,然僅見白骨一堆,乃悲泣發五百願,以廣度諸惡眾生速成佛道,並願常住娑婆世界,說法教化。上述之長那梵志,即釋迦如來之前身,摩那斯羅為阿彌陀如來,而兄早離即觀世音菩薩,弟速離即大勢至菩薩。又檀那羅山即佛世時之靈山,絕島即補陀落山。

hạn phần

Hạn chế ý nghiệp, hay tu tập để hạn chế những lỗi lầm không cố ý—Limited, e.g. limited culpability by reason of accident, unintentional error.

hạn vân tự

2425位於日本神奈川縣。號金湯山,屬臨濟宗大德寺派。大永元年(1521,一說永正十六年,1519),北條氏綱依先考早雲庵宗瑞之遺言,再興當地之真覺寺(一說春閣寺),而命名為早雲寺,延請紫野大德寺宗清以天為開山第一世,而一切佛殿、法堂、眾寮等均仿傚大德寺之制。現今寺中尚保有方丈室、鐘堂、開山堂、書院等。〔小田原記、北條五代實紀卷三、本朝高僧傳卷四十四〕

hạng bình

Second-class honor.

hạng bình thứ

Third-class honor.

hạng thượng lưu

People of high class.

hạng thứ

Fourth-class honor.

hạng trung lưu

People of middle class.

hạng tối ưu

Suma-cum claud honor.

hạng ưu

First-class honor.

hạnh

Caryā (S), Carita (S), Caritra (S)Hạnh nguyệnĐộng tác, hành vi, sự thực hành thực tiễn những kiến giải ngôn thuyết để đạt đến giác ngộ. ; Acara (p & skt)—Behavior—Conduct—Manner of action. ; (行) Chỉ cho đức hạnh. Nết na còn ở trong tâm là đức, đã thực hành ra ngoài là hạnh, như độc hạnh là hạnh hơn người.

hạnh a la hán

Arahattaphala (S), Fruit of arahatship.

hạnh bất thoái

(行不退) Hạnh nghiệp đã đạt đến địa vị không lui sụt trên đường tu hành Phật đạo. Cùng với Niệm bất thoái , Vị bất thoái gọi chung là Tam bất thoái. Lại bậc Sơ địa được duy thức quán chân thực, bỏ tâm Nhị thừa, đối với hạnh lợi tha không còn lui sụt cũng gọi là Hạnh bất thoái. Ngoài ra, Tổ của tông Tịnh độ Nhật bản là ngài Nguyên không cho rằng công phu tu niệm Phật để vào cảnh giới không còn lui sụt gọi là Hạnh bất thoái.

hạnh chịu khổ

Dukkhata (P).

Hạnh Huệ Bồ Tát

(行慧菩薩) Phạm: Caritamati. Dịch âm: Tả lí đát la ma đế bồ tát, Nhạ lệ đát ra ma đế bồ tát. Cũng gọi Hành tuệ hạnh bồ tát, Tuệ bộ bồ tát. Cứ theo phẩm Cụ duyên và phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật, thì vị Bồ tát này ở trong viện Hư không tạng và xưa nay Ngài là đồng tôn vị với bồ tát Phẫn nộ câu quan thế âm. Cứ theo kinh Bất không quyên sách quyển 9 thì vị Bồ tát này ngồi bán già, tay trái cầm hoa sen nở, tay phải nắm lại áp vào ngực. Cứ theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật thì hình Tam muội da của vị tôn này là hoa sen xanh cắm trên bình báu xà cừ trong phong luân. Còn theo phẩm Mật ấn thì Ấn khế là hoa sen 8 cánh. Chân ngôn là: Na ma (Nama: qui mệnh) tam mạn đa (samanta, phổ biến) bột đà nam (buddhànàm, chư Phật) bát đàm na (padma, hoa sen) a la da (àlaya, tạng) sa ha (svàhà, thành tựu). [X. A xà lê sở truyền mạn đồ la). HÀO TƯ BỐI NHĨ (Fausbôll, Michael Viggo; 1821-1908) .. ... ... .. Nhà Ấn độ học, người Đan mạch. Ông từng dạy tại trường Đại học Copenhague (1878-1902), chuyên nghiên cứu các kinh điển của Ấn độ cổ đại, đặc biệt đối với Thánh điểnPàli mà thời đó vẫn chưa được xem trọng, ông đã có những cống hiến rất đáng kể. Năm 1855, ông hiệu đính kinh Pháp cú (Pàli: Dhammapada), dịch sang tiếng La tinh rồi xuất bản. Sau đó, ông sưu tập và nghiên cứu các tư liệu chú thích kinh Pháp cú (Dhammapadaỉỉhakathà), đây là công trình nghiên cứu học thuật đầu tiên của ông. Tiếp theo, ông còn hiệu đính, phiên dịch và ấn hành các kinh Bản sinh (The Jàtaka, 6 vols., 1877-1899), Kinh tập (Pàli: Suttanipàta, 1884), v.v...

hạnh huệ bồ tát

2566行慧,梵名 Caritamati。音譯作左里怛羅摩帝菩薩、惹〖⿰口 [⿰ (⿱匕 和) 隶]〗怛囉摩帝菩薩。大日經具緣品、祕密漫荼羅品等載其為虛空藏院中之菩薩。又稱為行慧行菩薩、慧步菩薩。古來此尊與忿怒鉤觀世音菩薩同尊。據不空羂索經卷九載,其形像為左手持開蓮華,右手握虛拳按胸,半跏趺坐。據祕密漫荼羅品載,三昧耶形為風輪中之硨磲寶上插青蓮華。此尊之印契,據大日經密印品載,為八葉蓮華印。真言為:南麼(namaḥ,歸命)三曼多(samanta,普遍)勃馱南(buddhānām,諸佛)鉢曇摩(padma,蓮華)阿羅耶(ālaya,藏)莎訶(svāhā,成就)。〔阿闍梨所傳曼荼羅〕 ; Caritamati (S)Huệ Bộ Bồ tátTên một vị Bồ tát.

hạnh khó làm

Difficult practice.

hạnh kiểm tốt

Good conduct.

hạnh lành

Good or right conduct—Good or right behavior—Good or right manners.

hạnh nghiệp ma vương

Abhisaṃkhāramāra (S)Một trong 5 loại Ma vương.

hạnh nguyện

2567指修行與誓願。又作願行。依據智顗之釋禪波羅蜜次第法門卷一上所載,若有願而無行,則猶如一人要度到彼岸,而不肯預備船筏一般,當知此人必常在此岸,而終不得度;菩薩雖發四弘誓願,若不修四行,亦復如是。此即言修行與誓願猶如鳥之二翼,若不能兼備,即不能到達所期之境。 ; Xem Hạnh. ; Action and vow, act and vow, resolve or intention; to act out one's vow, to vow. ; Vow—To act out one's vow. ; (行願) Cũng gọi Nguyện hạnh. Tu hành và thệ nguyện. Trong Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 1 phần trên, ngài Trí khải cho rằng nếu có nguyện mà không có hạnh, thì cũng giống như người muốn qua sông mà không chuẩn bị thuyền bè, chắc chắn người ấy sẽ không thể sang bờ bên kia được. Bồ tát tuy đã phát 4 thệ nguyện rộng lớn, nhưng nếu không tu 4 hạnh thì cũng giống như thế. Cho nên biết tu hành và thệ nguyện cũng như 2 cánh của con chim, nếu thiếu một thì chim không bay được, không đạt đến cảnh giới mong muốn.

hạnh ngộ

A happy meeting.

hạnh phúc

Maṅgala (S), Siva (P)Tư bà, Thấp Bà thiênMột trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili. ; Happiness—Welfare—Cái gì mang lại thoải mái là hạnh phúc—What can be borne with ease is happiness. 31) Hạnh phúc bình thường là thỏa mãn sự khao khát. Tuy nhiên, ngay khi điều mong muốn vừa được thực hiện thì chúng ta lại mong muốn một thứ hạnh phúc khác, vì lòng thèm muốn ích kỷ của chúng ta không cùng tận: Ordinary happiness is the gratification of a desire. However, as soon as the thing desired is achived the we desire something else or some other kind of happiness, for our selfish desires are endless. 32) Tiền không mua được hạnh phúc, hay sự giàu có thường không mang lại hạnh phúc. Kỳ thật, hạnh phúc thực sự chỉ tìm thấy trong nội tâm chứ không nơi của cải, quyền thế, danh vọng hay chiến thắng: Money cannot buy happiness, or wealth does not always conduce to happiness. In fact, real happiness is found within, and is not be defined in terms of wealth, power, honours, or conquests. 33) Ðức Phật đã nêu lên các loại hạnh phúc cho người cư sĩ tại gia: “Hạnh phúc có sức khỏe, có của cải, sống lâu, đẹp đẽ, vui vẻ, sức mạnh, tài sản và con cái, vân vân. Ðức Phật không khuyên chúng ta từ bỏ cuộc sống trần tục và rút lui về sống ẩn dật. Tuy nhiên, Ngài khuyên Phật tử tại gia, sự vui hưởng của cải không những nằm trong việc xử dụng cho riêng mình, mà nên đem phúc lợi cho người khác. Những cái mà chúng ta đang có chỉ là tạm bợ. Những cái mà chúng ta đang gìn giữ, rốt rồi chúng ta cũng bỏ chúng mà đi. Chỉ có những nghiệp sẽ phải theo chúng ta suốt nẻo luân hồi. Ðức Phật dạy về hạnh phúc của người cư sĩ như sau: “Sống nghèo về vật chất mà tinh thần thoải mái là hạnh phúc. Sống đời không bị chê trách là hạnh phúc, vì người không bị chê trách là phúc lành cho chính mình và cho người khác. Người đó được mọi người ngưỡng mộ và cảm thấy sung sướng hơn khi truyền cảm được làn sóng hòa bình sang người khác. Tuy nhiên, rất khó mà không bị mọi người chê trách. Vì thế người trí cao thượng nên cố sống dửng dưng với sự khen chê bên ngoài, cố đạt được hạnh phúc tinh thần bằng cách vượt qua lạc thú vật chất.” Sau đó Ðức Phật tiếp tục nhắc nhở chư Tăng Ni: “Hạnh phúc Niết Bàn là dạng thức hạnh phúc giải thoát khổ đau cao thượng nhất.”: The Buddha enumerates some kinds of happiness for a layman. They are the happiness of possession, health, wealth, longevity, beauty, joy, strength, property, children, etc. The Buddha does not advise all of us to renounce our worldly lives and pleasures and retire to solitude. However, he advised lay disciples to share the enjoyment of wealth with others. We should use wealth for ourselves, but we should also use wealth for the welfare of others. What we have is only temporary; what we preserve we leave and go. Only karmas will have to go with us along the endless cycle of births and deaths. The Buddha taught about the happiness of lay disciples as follows: “A poor, but peace life is real happiness. Leading a blameless life is one of the best sources of happiness, for a blameless person is a blessing to himself and to others. He is admired by all and feels happier, being affected by the peaceful vibrations of others. However, it is very difficult to get a good name from all. The wisemen try to be indifferent to external approbation, try to obtain the spiritual happiness by transcending of material pleasures.” Then the Buddha continued to remind monks and nuns: “Nirvana bliss, which is the bliss of relief from suffering, is the highest form of happiness.” 34) Những lời dạy của Ðức Phật về Hạnh Phúc trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Happiness in the Dharmapada Sutra:Hạnh phúc thay đức Phật ra đời! Hạnh phúc thay diễn nói Chánh pháp! Hạnh phúc thay Tăng già hòa hợp! Hạnh phúc thay dõng tiến đồng tu!—Happy is the birth of Buddhas! Happy is the teaching of the True Law! Happy is the harmony in the sangha! Happy is the discipline of the united ones! (Dharmapada 194). Sung sướng thay chúng ta sống không thù oán giữa những người thù oán; giữa những người thù oán, ta sống không thù oán—Oh! Happily do we live without hatred among the hateful! Among hateful men we dwell unhating! (Dharmapada 197). Sung sướng thay chúng ta sống không tật bệnh giữa những người tật bệnh; giữa những người tật bệnh chúng ta sống không tật bệnh—Oh! Happily do we live in good health among the ailing! Among the ailing we dwell in good health! (Dharmapada 198). Sung sướng thay chúng ta sống không tham dục giữa những người tham dục; giữa những người tham dục, chúng ta sống không tham dục—Oh! Happily do we live without greed for sensual pleasures among the greedy! Among the greedy we dwell free from greed! (Dharmapada 199). Sung sướng thay chúng ta sống không bị điều gì chướng ngại. Ta thường sống với những điều an lạc như các vị thần giữa cõi trời Quang-AÂm—Oh! Happily do we live without any hindrances. We shall always live in peace and joy as the gods of the Radiant Realm (Dharmapada 200). Thắng lợi thì bị thù oán, thất bại thì bị đau khổ; chẳng màng tới thắng bại, sẽ sống một đời hòa hiếu an vui và hạnh phúc—Victory breeds hatred, defeat breeds suffering; giving up both victory and defeat will lead us to a peaceful and happy life (Dharmapada 201). Nếu bỏ vui nhỏ mà được hưởng vui lớn, kẻ trí sẽ làm như thế—If by giving up a small happiness or pleasure, one may behold a larger joy. A far-seeing and wise man will do this (a wise man will leave the small pleasure and look for a larger one) (Dharmapada 290). 35) See Kinh Hạnh Phúc in Appendix E.

hạnh phúc bất diệt

Eternal happiness.

hạnh phúc của sự giải thoát

Vimutti-sukha (S).

hạnh phúc giải thoát

The bliss of freedom.

hạnh phúc trong tịnh lặng

The bliss of solitude.

hạnh phúc tràn trề

Intense happiness.

hạnh phúc trường cửu

Everlasting happiness.

hạnh phúc tương ðối

Relative happiness.

hạnh phúc tối thượng

Supreme happiness—Nirvana.

hạnh phúc vật chất

Material well-being.

Hạnh Tây

(幸西, Kōsai, 1163-1247): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, Tổ của Nhất Niệm Nghĩa (一念義), húy là Hạnh Tây (幸西), thường được gọi là A Ba Thánh Nhân (阿波上人), hiệu là Thành Giác Phòng (成覺房), Chung Hạ Phòng Thiếu Phụ (鐘下房少輔), hay Chung Bổn Phòng Thiếu Phụ (鐘本坊少輔), hoặc Kim Bổn Phòng Thiếu Phụ (金本坊少輔). Ông vốn là vị Tăng của Thiên Thai Tông trên Tỷ Duệ Sơn, nhưng đến năm 1198 thì quy y theo Nguyên Không (源空) và học Tịnh Độ Giáo. Vào năm 1204, ông ký tên vào bản Bảy Điều Răn Dạy, rồi năm 1207 nhân vụ pháp nạn năm Kiến Vĩnh (建永) ông bị lưu đày đến vùng A Ba (阿波, Awa), rồi đến năm 1227 lại bị lưu đày thêm lần nữa đến vùng Nhất Khi (壱崎, Ichizaki), có thuyết cho là vùng Y Do [伊予, Iyo]) trong vụ pháp nạn Gia Lộc (嘉祿). Vì ông cùng với nhóm Hành Không chủ xướng Nghĩa Nhất Niệm, nên xảy ra cuộc tranh luận trong nội bộ giáo đoàn của Nguyên Không, và bị nhóm Biện Trường (辨長) phê phán gắt gao. Về sau tương truyền ông đến bố giáo ở địa phương Lật Nguyên (栗原, Kurihara) thuộc vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa). Trước tác của ông để lại có Huyền Nghĩa Phần Sao (玄義分抄) 1 quyển, Kinh Sư Thiện Đạo Hòa Thượng Loại Tụ Truyện (京師善導和尚類聚傳) 1 quyển.

hạnh tây

3196(1163~1247)日本淨土宗僧。籍貫不詳。號成覺房,世稱成覺房幸西。初時於比叡山西塔修行,後以法然上人爲師。承元法難時,被流放至阿波,遂於關東大行教化,闡論一念往生之義,被尊爲一念義派之祖。寶治元年示寂,年八十五,或謂生卒年不詳。〔淨土法門源流章、法然上人傳記卷六下、淨土宗派承繼譜〕 ; (幸西) (1163-1247) Vị tăng người Nhật bản thuộc tông Tịnh độ, hiệu là Thành giác phòng, người đời sau gọi là Thành giác phòng Hạnh tây. Lúc đầu, sư tu hành ở Tây tháp núi Tỉ duệ, về sau, thờ ngài Pháp nhiên làm thầy. Thời pháp nạn Thừa nguyên, sư bị đày đến A ba. Tại đây, sư giáo hóa rất mạnh và đề xướng thuyết Nhất niệm vãng sinh, được tôn là Tổ của phái Nhất niệm. Niên hiệu Bảo trị năm đầu (1247) sư tịch, hưởng thọ 85 tuổi (nhưng cũng có thuyết cho rằng năm sinh, năm mất của sư không được rõ). [X. chương Tịnh độ pháp môn nguyên lưu; Pháp nhiên thượng nhân truyện kí Q.6 phần dưới; Tịnh độ tông phái thừa kế phổ].

hạnh vận

Good luck—Good fortune.

hạnh yểm ly

Hạnh chánh ngũ dục—The practice of disgust at the five desires.

hạnh ép xác

Penance.

hạnh đầu đà

Dịch là khổ hạnh. Người tu hành tự nguyện sống theo cuc sống gian nan khổ nhọc để mài dũa thân tâm, muốn nhờ hạnh này để giải thoát tất cả khổ, nói là dùng khổ để trừ khổ, gọi là khổ hạnh. ; Dịch là khổ hạnh. Người tu hành tự nguyện sống theo cuộc sống gian nan khổ nhọc để mài dũa thân tâm, muốn nhờ hạnh này để giải thoát tất cả khổ, nói là dùng khổ để trừ khổ, gọi là khổ hạnh.

hạo

Rộng lớn—Vast—Great.

hạo diệu

Vĩ đại và huyền diệu—Vast and mysterious.

hạo giám

6884五代宋初之僧。籍貫、生卒年均不詳。為雲門文偃之法嗣,居於岳州巴陵(湖南岳陽)新開寺,故稱巴陵顥鑑。善辯,有「鑑多口」之稱。〔景德傳燈錄卷二十二、聯燈會要卷二十六〕

hạo lâm

4164(1927~ ) 安徽合肥人,俗姓黃。法名圓證。年十四,披剃於江蘇東台義阡禪寺,禮厚寬和尚為師。民國三十四年(1945)春,於南京寶華山受具足戒。先後畢業於鎮江竹林、常州天寧二佛學院。大陸淪陷後來臺,曾住汐止彌勒內院,親近慈航法師多年。先後任義阡禪寺監院、善導寺維那、松山寺住持等職。曾赴美弘法,於紐約創建東禪寺。

Hạo thiên

(昊天): trời xanh; do vì trời cao rộng vô biên, từ đó nó ví cho ân đức vô cùng to lớn của cha mẹ; như trong Thi Kinh (詩經), chương Tiểu Nhã (小雅), Lục Nga (蓼莪) có câu: “Dục báo chi đức, hạo thiên võng cực (欲報之德、昊天罔極, muốn báo đức ấy, trời xanh vô tận).” Hay trong bài thơ Trách Cung (責躬) của Tào Thực (曹植) nhà Ngụy thời Tam Quốc cũng có câu: “Hạo thiên võng cực, sanh mạng bất đồ (昊天罔極、生命不圖, trời xanh vô tận, mạng sống chẳng lo toan).” Hoặc như trong Nhị Thập Niên Mục Đỗ Chi Quái Hiện Trạng (二十年目睹之怪現狀), hồi thứ 74 lại có đoạn rằng: “Khuy đắc tổ phụ phủ dưỡng thành nhân, dĩ hữu kim nhật, giá họa thiên võng cực chi ân, vô tùng bổ báo vạn nhất (虧得祖父撫養成人、以有今日、這昊天罔極之恩、無從補報萬一, may được ông nội nuôi nấng nên người, cho đến ngày nay; ơn tựa trời cao vô cùng ấy, chẳng báo đáp trong muôn một).”

hạp

To suit—To agree.

hạp nhau

To get along well.

Hạt

曷; C: hé; J: katsu; |Tại sao? Thế nào? Khi nào?

hạt

4908禪林用語。<一>又作 ; 3) See Hạt Bụi and Hạt Cát. 4) Ðui Mù: Blind. ; (喝) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là tiếng hét. Từ đời Đường trở về sau, các Thiền sư Trung quốc thường dùng tiếng hét hoặc để điểm hóa cho người học nhằm phá trừ chỗ thấy sai lầm tà chấp của họ, hoặc để diễn đạt cái trạng thái mà ngôn ngữ, tư tưởng không vươn tới được. Cứ theo Cổ tôn túc ngữ lục quyển 1 chép, thì thiền sư Mã tổ Đại tịch là người đầu tiên đã sử dụng tiếng hét. Khi thiền sư Bách trượng đến tham vấn, bị ngài Mã tổ hét cho một tiếng quá chát chúa đến nỗi tai Bách trượng bị điếc 3 ngày! Về sau, ngài Bách trượng dùng tiếng hét, ngài Hoàng bá thì dùng gậy đánh, còn ngài Lâm tế thì dùng cả đánh lẫn hét. Cứ theo Lâm tế lục khám biện, thì tiếng hét của ngài Lâm tế có 4 tác dụng: 1. Có lúc tiếng hét như thanh kiếm báu Kim cương vương(chặt đứt sự bám níu vào ngôn ngữ, văn tự). 2. Có lúc tiếng hét như con sư tử lông vàng ngồi xổm trên mặt đất(phá tiểu cơ, tiểu kiến). 3. Có lúc tiếng hét như dùng cần câu hua dưới bè cỏ (thử nghiệm người học hoặc khám biện sư gia). 4. Có lúc tiếng hét không có tác dụng của tiếng hét (chỉ cho tiếng hét hướng thượng thu về tất cả, có đầy đủ các tác dụng mà chưa dùng). Đây tức là Lâm tế tứ hát . Nhưng, nếu không hiểu tác dụng của tiếng hét mà cứ hét một cách loạn xạ thì chẳng có ích lợi gì. Về sau tiếng hét đã trở thành gia phong của tông Lâm tế và là phương pháp ứng cơ tiếp vật tuyệt kĩ của tông này, rất thịnh hành ở Trung quốc và Nhật bản. [X. điều Lâm tế trong Tông môn thống yếu tục tập Q.9; Nhân thiên nhãn mục Q.3]. (xt. Đức Sơn Bổng, Lâm Tế Tứ Hát).

hạt bộ ða

Adbhuta (skt)—Thần thông huyền diệu—Remarkable—Miraculous—Supernatural.

hạt bụi

Rajaḥ (S), Dust. ; A specks of dust.

hạt chuỗi

Mālā (S), trengwa (T), Bead Tràng hạt. Có 4 loại: 108 hạt, 54 hạt, 42 hạt và 21 hay 27 hạt. Còn có loại 36 hạt hay 18 hoặc 14 hạt.

hạt châu như ý

(như ý châu): Cũng gọi là ma-ni bảo châu, là hạt ngọc quý đặc biệt có thể giúp người sở hữu nó muốn gì được nấy (như ý), nên gọi là châu như ý.

hạt cát

A grain of sand.

hạt cải đầu kim

điều rất khó xảy ra, ví như khó gieo cho hạt cải nằm ngay trên đầu cây kim. Sanh ra được gặp Phật cũng rất khó như vậy.

hạt giống

Xem chủng tử.

hạt hoả

4909禪林用語。喝呼警火之意。指禪林中,於夜寢前點檢各寮,呼喝小心火燭。開福道寧禪師語錄之偈頌(卍續一二○‧二三九上):「夜深聞喝火皑聲。故經曰:『即時觀其音聲而得解脫。』」又據瑩山清規載,每晚二更二點後,振動火鈴,遶寺,呼「照顧火燭」,由三(山)門至方丈,還至庫下,打二更三點。〔禪林備用清規卷十日用清規條、禪林象器箋執務門〕 ; (喝火) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tiếng hô coi chừng hỏa hoạn. Trong Thiền lâm, trước khi đi ngủ, người Tuần liêu kiểm điểm các phòng, hô to để nhắc nhở mọi người coi chừng đèn lửa, đề phòng hỏa hoạn. Phần kệ tụng trong Khai phúc thiền sư ngữ lục (Vạn tục 120, 239 thượng), ghi: Đêm khuya nghe tiếng hát hỏa. Cho nên trong kinh nói: Ngay lúc đó quán xét âm thanh ấy mà được giải thoát .

hạt la hầu

Rohu (skt)—Một thành phố cổ và tỉnh Tukhara, nằm về phía nam sông Oxus—An ancient city and province of Tukhara, south of the Oxus.

hạt lũ sinh

6113禪林用語。瞎,謂盲目;屢,通「婁」,謂愚昧;生,指人。原指目盲愚癡之人,引喻為對法無見識者。又作瞎驢、瞎漢、屢生子、鈍屢生、禿屢生。臨濟錄示眾(大四七‧五○一下):「瞎屢生!爾向枯骨上覓什麼汁?」虛堂和尚語錄卷二(大四七‧九九七中):「師云:『明之則瞎。』僧云:『謝師指示。』師云:『屢生子!』」 ; Một kẻ mù quáng—A blind, stupid man. ; (瞎屢生) Cũng gọi Hạt lư (con lừa mù), Hạt hán (gã mù), Lũ sinh tử (gã ngu muội), Độn lũ sinh (gã ngu đần), Ngốc lũ sinh (gã ngu ngốc). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hạt:Mắt mù; Lũ:Ngu muội; Sinh:Người. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để dụ cho người ngu si, không có kiến thức. Mục Thị chúng (dạy mọi người) trong Lâm tế lục (Đại 47, 501 hạ), nói: Hạt lũ sinh! Đồ ngu si! Các ngươi tìm được gì trên bộ xương khô ấy? Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 2 (Đại 47, 997 trung), ghi: Sư nói: Sáng là mù. Tăng thưa: Xin thầy chỉ dạy. Sư nói: Lũ sinh tử(đồ ngu ngốc) .

hạt lư

5) Con lừa mù—A blind or folded donkey. 6) Ngu si: Stupid.

hạt lạt li

Harali (skt)—Vải dệt bằng một loại lông mịn—Cloth woven of fine hair.

hạt lạt li y

(hạt lạt li y ) Hạt lạt li, Phạm:Kàrali. Hạt lạt li là tên một loại vải dệt bằng lông dã thú. Hạt lạt li y là áo được may bằng loại vải này. Ngài Huyền trang du học Ấn độ, khi đến nước Kiện đà la thấy người ở đây mặc loại áo này. Nhưng đây không phải loại áo do tăng sĩ Phật giáo mặc. Đại đường tây vực kí quyển 2 (Đại 51, 76 trung), nói: Hạt lạt li y là áo được may bằng loại vải do dệt từ lông dã thú. Lông dã thú mềm mịn, xe thành sợi rất quí, dùng để may quần áo .

hạt lệ phiệt ða

Revata (skt)—Tên của một vị sư Ấn Ðộ—Name of an Indian monk.

hạt lợi nã

Harina (skt)—Những loại nai—Deer of several kinds.

hạt lợi sa phạt ðan na

Harsavardhana (skt)—Vua xứ Kanyakubja, vị hộ pháp Phật giáo vào khoảng những năm 625 sau Tây Lịch—King of Kanyakubja, protector of Buddhism about 625 A.D.

hạt ngọc

Pearl—Precious stone.

hạt sương

A dew-drop.

hạt tham

4910禪林用語。禪林中,職位身分較低者,出於尊長之前時,報道伺候在此。敕修百丈清規卷上住持章訓童行條(大四八‧一一二二上):「參頭進前插香,退身歸位,緩聲喝云:『參!』眾低聲同云:『不審。』齊禮三拜。」〔景德傳燈錄卷十趙州從諗章、卷二十六溫州瑞鹿寺本先禪師章、禪林象器箋叢軌門〕 ; (喝參) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Xướng lên cho đại chúng cùng tham. Điều Huấn đồng hành, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng (Đại 48, 1122 thượng), nói: Tham đầu tiến lên trước cắm hương rồi lui về chỗ của mình, chậm rãi hô lên: Tham! Đại chúng thấp giọng cùng nói: Xin vâng. Tất cả lễ 3 lễ . [X. chương Triệu châu Tùng thẩm trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.10, chương Ôn châu thụy lộc tự Bản tiên thiền sư Cảnh đức truyền đăng lục Q.26; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hạt thơm

Gandhabījā (S), Fragrant seeds.

hạt thực

4910禪林用語。喝,為唱之意。<一>禪林中,於僧堂行食事時,由行者向大眾唱報齋食之類別及進食之方法。如唱「淨粥」,即分配粥;唱「香湯淨水」,即分配湯;又如於食畢,清洗食器後,則唱「折水」。 <二>喝食行者之略稱。即司掌喝食之職稱。禪苑清規卷一赴粥飯條記載喝食之法,即喝食行者進入僧堂後,向聖僧、住持、首座依次問訊,待首座施食完畢,即行喝食;喝時須言語分明,名目若有差誤,則未完成受食之法,必須再唱。此外,喝食行者之職務亦不僅止於唱報食物,如敕修百丈清規卷下兩序章大坐參條載(大四八‧一一四三下):「喝食行者中立問訊,長聲喝云:『放參!』鳴堂前鍾三下,大眾下地,普同和南。」此職務本與年齡無關,然日本近世多以十歲左右而未得度之童子充任。又對於已剃髮之沙彌,而身著喝食之服者,稱之為「沙喝」;亦用以為沙彌、喝食二者之略稱。〔敕修百丈清規卷上住持章訓童行條、永平清規卷上赴粥飯法、瑩山和尚清規、類聚名物考卷一二四、禪林象器箋職位門、器物門〕 ; (喝食) Gọi đủ: Hát thực hành giả. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người giữ chức vụ xướng các món ăn của đại chúng trong Tăng đường vào lúc thụ trai. Cứ theo điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1, thì sau khi vào Tăng đường, Hát thực hành giả lần lượt lễ bái Thánh tăng, vái chào thưa hỏi các vị Trụ trì và Thủ tọa. Đợi vị Thủ tọa chú nguyện xong, mới tuần tự xướng: Tịnh chúc (cháo), Hương thang tịnh thủy (nước nóng) . Sau khi ăn xong, thì xướng: Chiết thủy (tráng bát). Tiếng xướng phải được rõ ràng, nếu xướng sai thì phải xướng lại. Ngoài ra, chức vụ này cũng kiêm nhiệm cả việc thông báo cho chúng tăng biết đã hết giờ tham thiền (phóng tham). Lại nữa, hành giả Hát thực vốn không giới hạn tuổi, nhưng thời gần đây, Nhật bản thường chọn chú tiểu 10 tuổi, chưa được cạo tóc phụ trách công việc này. Hoặc cũng có khi vị sa di giữ chức Hát thực và trong trường hợp ấy thì được gọi là Sa hát. Mà danh từ Sa hát cũng được dùng để gọi chung Sa di và Hát thực. [X. điều Huấn đồng hành, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. thượng; pháp Phó chúc phạn trong Vĩnh bình thanh qui Q. thượng; Oánh sơn hòa thượng thanh qui; Loại tụ danh vật khảo Q.124; môn Chức vị và môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hạt trai

See Hạt ngọc.

hạt xoàn

A diamond.

Hạt 曷

[ja] カツ katsu ||| Why? How? When? => Tại sao? Thế nào? Khi nào?

hả dạ

Content-Satisfied.

hả giận

To give way to anger.

hải

Sàgara (S). The ocean, the sea. ; Sagara (skt)—Biển—Sea—Ocean.

hải bình bảo tạng

Zen Master Hải Bình Bảo Tạng (1818-1862)—Thiền sư Hải Bình Bảo Tạng, một thiền sư nổi tiếng của Việt Nam vào tiền bán thế kỷ thứ 19, quê ở Phú Yên. Ngài xuất gia và thọ giới cụ túc với Thiền sư Tánh Thông Sơn Nhân tại chùa Bát Nhã trên núi Long Sơn, tỉnh Phú Yên. Khi Hòa Thượng Sơn Nhân thị tịch, ngài trở thành Pháp tử đời thứ 40 dòng Lâm Tế. Hầu hết cuộc đời ngài hoằng hóa tại miền Nam Trung Việt. Ngài thị tịch năm 1862—A Vietnamese famous monk from Phú Yên, South Vietnam. He left home and received complete precepts with Zen Master Tánh Thông Sơn Nhân at Bát Nhã Temple on Mount Long Sơn in Phú Yên province. When his master passed away, he became the Dharma heir of the fortieth generation of the Linn-Chih Zen Sect and spent most of his life to expand the Buddha Dharma in the southern parts of Central Vietnam. He passed away in 1862.

hải bảo tháp

4174又稱赫寶塔、黑寶塔。位於寧夏銀川市北郊,故俗稱北塔。據明代萬曆「朔方新志」載,於五世紀初,夏國國王赫連勃勃曾重修黑寶塔。清朝康熙五十一年(1712)及乾隆四十三年(1778)均因地震破壞再修。塔高五十三點九公尺,共十一層,為磚砌樓閣式建築。塔呈方形,每邊正中設有券門,並略向外凸出。塔之外形線條明朗,層次豐富,觚棱秀削,其獨特之藝術風格,為我國塔中僅見。塔室為方形,門東向,內有四道拱券通向四面。空間以樓板鋪隔,循木梯盤旋至第九層,極目遙望,巍巍賀蘭山,綿綿黃河水,塞上江南景色盡收眼底。

hải chàng tỉ khưu

(海幢比丘) Phạm: Sàgara-dhvaja. Vị thứ 6 trong 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham vấn. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.55].

hải châu

4169海底之寶珠。喻難得之事。南海寄歸內法傳卷一(大五四‧二○五下):「考其功也,實致為山之勞;覈其益焉,時有海珠之潤。」 ; Ocean pearls, things hard to obtain. ; Châu ngọc của biển cả, thường nằm sâu trong lòng biển, khó mà lấy được—Ocean pearls, things hard to obtain. ; (海珠) Ngọc báu dưới đáy biển, là vật hiếm có, ví dụ việc khó được. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 205 hạ), nói: Xét về công lao thì cao như núi, tính về lợi ích thì quí như hải châu .

hải chúng

4169集於叢林的一會眾僧之稱。又稱大海眾、清淨大海眾。任何姓氏種族出家皆稱釋氏,恰如百川入海,便滅本名,但有大海之名,眾僧一味和合,湛然而離差別相。〔釋氏要覽卷下〕 ; Ocean assembly, i.e. a great assembly of monks, the whole body of monks. ; Giáo hội của chư Tăng Ni được ví như Hải Chúng hay Hải hội, vì đây cũng là sự hội họp lớn của những người đồng lý tưởng giải thoát như chỉ một vị mặn của muối—Ocean assembly, i.e. a great assembly of monks, the whole body of monks. ; (海衆) Cũng gọi Đại hải chúng, Thanh tịnh đại hải chúng. Chỉ cho chúng tăng sống trong tùng lâm. Bất luận người thuộc chủng tộc nào, khi đã xuất gia thì đều mang chung họ Thích, cũng như trăm sông chảy về biển cả, tên sông không còn mà chỉ còn tên biển. Chúng tăng hòa hợp một vị, tịch lặng, không có tướng sai biệt.

hải giản quốc

4171華嚴經入法界品中,善財童子所參訪五十三善知識中彌勒菩薩之住國。此國位南天竺,臨近海岸,故稱海㵎國。六十華嚴經卷五十八(大九‧七六七下):「於此南方,有一國土,名曰海㵎。」〔華嚴經探玄記卷二十〕 ; (海㵎國) Nơi ở của bồ tát Di lặc, một trong 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham vấn, được chép trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm. Nước này ở Nam Thiên trúc, gần bờ biển nên có tên là Hải giản. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 58 (Đại 9, 767 hạ), nói: Ở phương Nam, có một nước tên là Hải giản . [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.20].

hải huệ

4171(?~1145)金熙宗時代之禪僧。籍貫不詳。師幼英敏,學不由師,竺漢之書過目成誦。初遊講肆,窮達性相之學,後入五臺山,坐禪十五年,一日歎謂大丈夫當以教化眾生為要,遂走訪燕京,遍歷禪寺,負有令名。金皇統二年(1142),英悼太子在上京會寧府(松江阿城縣南)宮側建大儲慶寺,翌年降旨請師為開山第一代,迎栴檀瑞像供養於寺內之積慶閣。師於皇統五年示寂,世壽不詳。熙宗與悼平皇后親奉師舍利,立塔五處,特諡「佛覺祐國大禪師」。〔佛祖歷代通載卷二十、釋氏稽古略卷四、大明高僧傳卷七〕 ; Sāgarajāna (S)Tên một vị sư.

hải hà

Sea and river.

Hải hội

海會; C: hăihuì; J: kai'e;|1. Theo truyền thống thiền, thuật ngữ nầy thường chỉ cho sự tụ hội rất đông tăng ni. Chùa hoặc tự viện; 2. Buổi lễ có nhiều vị cao tăng tham dự; 3. Thuật ngữ chỉ cho phần mộ hay lăng tẩm.

hải hội

4169請參閱 淨印法門經 請參閱 淨印法門經 <一>禪宗謂叢林僧眾。如百川之流入大海,眾僧會於叢林,稱為海會。  <二>謂諸尊聖眾之會聚。以海比喻其德高、數眾,故稱海會。華嚴經隨疏演義鈔卷一(大三六‧五下):「云被難思之海會者,以深廣故。謂普賢等眾,行德齊佛,數廣剎塵,故稱為海。」 <三>總墓之名,即取海眾同會一穴之義。又稱海會塔。(參閱「海會塔」4170) ; The assembly of the saints; also a cemetery. ; Chỗ ngồi hội họp của Thánh chúng, những vị có đức độ sâu rộng lớn như biển cả: The assembly of the saints, who have great virtues. Nghĩa trang: A cemetery. ; (海會) I. Hải Hội. Chúng tăng trong tùng lâm. Chúng tăng hội tụ trong tùng lâm như trăm sông chảy về biển cả, nên gọi là Hải hội. II. Hải Hội. Sự hội tụ của chư tôn Thánh chúng. Biển được dùng để ví dụ cho đức hạnh sâu rộng và sự đông đảo của các Ngài nên gọi là Hải hội. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 1 (Đại 36, 5 hạ) nói: Các vị Bồ tát như Phổ hiền v.v... hạnh đức ngang với Phật, nhiều như biển nên gọi là Hải . III. Hải Hội. Cũng gọi Hải hội tháp. Nơi thờ công cộng hài cốt của chúng tăng. (xt. Hải Hội Tháp).

hải hội liên hoa

Ocean-Wide Lotus Assembly.

hải hội tháp

4169又稱普同塔、普通塔。即眾僧納骨之石塔。海會者,喻大海能廣收眾流。其樣式多作五輪塔,前刻海會塔之文字,後方有孔,其上設蓋,下部之石龕可隨時納骨。〔禪林僧寶傳卷三十黃龍佛壽清禪師條、禪林象器箋殿堂門〕

hải hội tự

4169<一>位於浙江杭縣,為投子義青宣揚曹洞宗風之所。舊稱石佛智寺,又稱大乘石佛寺。係吳越王所建,北宋祥苻(1008~1016)年中改稱「積善海會寺」。後經數十年,曹洞之宗風大衰,僅依雲居道膺之後系保其命脈。其後義青參謁浮山之法遠,並受其衣鉢,於熙寧六年(1073)入海會寺大揚禪風。 <二>位於山西陽城縣東十五公里之大橋村。創建於唐代乾寧元年(894),初名郭谷院;唐昭宗改名「龍泉禪院」;金大定二十七年(1187),寺僧宗祐重修,改稱今名。背依樊山,面臨大川。佛殿、經堂計有六十餘間。寺內琉璃雙塔對峙,分別建於唐代末年、明嘉靖四十年(1561)。 <三>位於安徽桐城縣東約七十公里處之白雲山中。為楊岐方會之法嗣白雲守端(1025~1072)所開建。清代康熙、乾隆、道光、同治、光緒年間均有修葺。今尚存佛殿兩幢,宇閣軒昂,頗為壯觀。寺前瀕臨玉帶河,背依鳳凰峰,寺右有響水崖,飛泉盤旋,寺外竹林挺拔,寺內古松蒼勁。〔大明一統志卷十四、大清一統志卷七十六〕 <四>位於江西廬山南麓。創建於明代萬曆四十六年(1618),清代重修。殿宇宏敞,雕樑畫棟,雄偉壯觀。寺內之珍藏保存完整,有元代書法家趙子昂書寫之妙法蓮華經、心月和尚手鐫五百羅漢圖拓本,及普超僧以血書寫成之華嚴經,迄今保存完善。 <五>即今臺灣臺南開元寺之舊稱。(參閱「開元寺」5299) <六>位於臺灣基隆八堵。民國四十年(1951)由道源法師創建。寺名之由來,概取「蓮池海會」之意。專持淨土法門,並修講四分律。六十年,創設能仁佛學院。後由住持仁光主其事,並擴建諸堂舍。 <七>位於臺灣臺北縣新店。民國四十三年(1954)十月由普忍法師開山創建。曾陸續增建功德堂、大殿、靈塔、山門、齋堂等。

Hải hội 海會

[ja] カイエ kaie ||| (1) In the Chan tradition, this term usually refers to a gathering of monks or nuns. A temple, a monastery. (2) A meeting or gathering of venerable saints. (3) A term for a grave or tomb. => 1. Theo truyền thống thiền, thuật ngữ nầy thường chỉ cho sự tụ hội rất đông tăng ni. 2. Chùa hoặc tự viện. 3. Buổi lễ có nhiều vị cao tăng tham dự. 4. Thuật ngữ chỉ cho phần mộ hay lăng tẩm.

hải không trí tạng kinh

4168凡十卷。益州道士黎興、澧州道士方長撰。又作太上一乘海空智藏經。本經係偽作於唐代之道教經典。內分十品,採問答形式,記載元始天尊及海空智藏真士所講說之道教教理。然考其內容,係將佛教唯識之阿賴耶識及三性說融入道教之說法,故其內容及形式皆深受佛教影響。又佛、道二教於高宗顯慶三年(658)至四年,對於三性說展開一場論爭,故推定本經成書年代,應於顯慶四年之後。 ; (海空智藏經) Cũng gọi Thái thượng nhất thừa hải không trí tạng kinh. Gồm 10 quyển, do đạo sĩ Lê hưng ở Ích châu và đạo sĩ Phương trường ở Lễ châu soạn. Đây là bộ kinh của Đạo giáo được ngụy tác vào đời Đường. Sách này được soạn theo thể vấn đáp, chia làm 10 phẩm, nội dung nói về giáo lí Đạo giáo do các vị Nguyên thủy thiên tôn và Hải không trí tạng chân sĩ giảng thuyết. Nhưng xét ra thì sách này đã dung nhập thuyết A lại da và Tam tính của Duy thức Phật giáo vào giáo lí của Đạo giáo, cho nên cả nội dung và hình thức của kinh này đều đã chịu ảnh hưởng của Phật giáo rất sâu đậm. Khoảng năm Hiển khánh thứ 3 đến thứ 4 (658-659) đời Đường cao tông, giữa Phật giáo và Đạo giáo đã xảy ra cuộc tranh luận sôi nổi về thuyết Tam tính, cho nên niên đại biên soạn kinh này có thể suy đoán là sau năm Hiển khánh thứ 4 (659).

hải long vương

The Ocean-nàga, or Dragon King of the ocean. ; Vua của loài rồng biển (theo Kinh Phật Thuyết Hải Long Vương, ngày ấy Ðức Phật đang ở núi Linh Thứu, khi đại chúng đang quây quần, chợt thấy Hải Long Vương dẫn vô số quyến thuộc đến. Ðức Phật bèn giảng thuyết thâm pháp. Hải Long Vương hoan hỷ thỉnh Phật xuống Long cung để được cúng dường và được nghe thuyết pháp. Ðức Phật nhận lời, Long vương làm một tòa điện lớn, trang trí bằng thất bảo như lưu ly, xa cừ, xích châu, mã não, vân vân, chung quanh nạm vàng ròng. Lại cho làm con đường lót bằng toàn vàng bạc và lưu ly từ bờ biển đến Long cung để đón Ðức Thế Tôn và đại chúng. Ðức Thế Tôn dẫn vô lượng đại chúng đến Long cung, ngồi lên tòa sư tử trên đại điện rồi thuyết pháp để giáo hóa quyến thuộc của Long Vương)—The Ocean-Naga, or Dragon King of the Ocean.

hải long vương kinh

4173梵名 Sāgara-nāga-rāja-paripṛcchā。凡四卷。西晉竺法護譯。屬方等部經典。收於大正藏第十五冊。佛曾於王舍城靈鷲山,為海龍王說六度十德等菩薩之法,又為燕居阿須倫、無焚龍王、女寶錦等分別記莂,宣示女人及龍王、阿修羅等皆得成佛。全經分二十品。東晉慧遠嘗誦此經乞雨,感巨蛇之瑞,故爾後多用於請雨祈禱之時。〔梁高僧傳卷六、出三藏記集卷二、開元釋教錄卷二〕 ; Kinh mà Ðức Phật đã thuyết nơi thủy cung để cứu độ quyến thuộc của Long Vương—The sutra which the Buddha preached in the Ocean-naga's palace to save beings in the ocean. ; (海龍王經) Phạm:Sàgara-nàga-ràja-pripfcchà. Gồm 4 quyển, 20 phẩm do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, thu vào Đại chính tạng tập 15. Kinh này thuật lại việc đức Phật ở trên núi Linh thứu gần thành Vương xá, giảng nói cho Hải long vương nghe về các pháp tu của Bồ tát như Lục độ, Thập đức v.v... Ngoài ra, Phật còn nói rõ rằng phụ nữ, rồng, a tu la... đều được thành Phật, nên Ngài đã thụ kí cho a tu luân Yến cư, long vương Vô phần và Bảo cẩm nữ... Đời Đông Tấn, ngài Tuệ viễn thường tụng kinh này để cầu mưa, cảm đến long vương, cho nên đời sau phần nhiều tụng kinh này khi làm lễ cầu mưa. [X. Lương cao tăng truyện Q.6; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].

hải long vương nữ

4172海龍王之女,字寶錦,智慧利根,嘗與迦葉尊者問答大乘之深義,佛陀稱讚之,授記成佛。〔海龍王經女寶錦受決品〕 ; (海龍王女) Con gái của Long vương, tên là Bảo cẩm, trí tuệ lanh lợi, từng cùng với tôn giả Ca diếp đối đáp về nghĩa sâu xa của Đại thừa, cô được đức Phật khen ngợi và thụ kí. [X. phẩm Nữ bảo cẩm thụ quyết trong kinh Hải long vương].

hải long vương tự

4173屬日本真言律宗。位於奈良法華寺之東側,即日本天皇居所之東北隅。又稱隅寺、脅寺。天平三年(731),光明皇后將其父藤原不比之官邸改建為本寺。至今仍存有肇建時代之西金堂,另有鎌倉時期之講堂。本寺寺寶有文殊菩薩像、十一面觀音木像、聖武天皇帝宸翰、木造寺門敕額、木造五重塔、絹本著色毘沙門天像等,大多被列為日本國寶。

hải lưu

Sea current.

hải lộ thần

Xem A tu vân.

hải minh

4167(1597~1666)明代臨濟宗僧。又稱通明,世稱破山祖師。西蜀(四川)人,俗姓蹇。年十九出家,從慧法主聽楞嚴經,然屢咨疑不決,遂出蜀東遊,住於楚之破頭山,獨居苦參數年。一日,於行走之際,墮巖傷足,夜半翻身痛劇,頓有所省。遂往參博山雲門,復參天童密雲圓悟於金粟,機語相契,得嗣其法。崇禎二年(1629),出住於嘉禾(浙江)之東塔三年,復應四川銅梁之請,歷主岊岳、大峩、萬峰、中慶、鳳山、棲靈、祥符、無際、蟠龍、佛恩、雙桂等十餘剎,宣揚宗風。明末亂起,蜀川多變,師致力化導,出入腥穢中,迴護群生,獲救者數以萬億。清康熙五年示寂,世壽七十,法臘四十四。有破山明禪師語錄十二卷行世。〔五燈嚴統卷二十四、五燈全書卷六十五〕 ; (海明) (1597-1666) Cũng gọi Thông minh, Phá sơn tổ sư. Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đời Minh, người Tây thục (tỉnh Tứ xuyên), họ Kiển. Năm 19 tuổi, sư xuất gia, theo pháp chủ Tuệ học kinh Lăng nghiêm, nhưng có nhiều chỗ ngờ không giải quyết được, sư bèn rời Tây thục, đi đến đất Sở, lên ở núi Phá đầu, một mình khổ tham trong nhiều năm. Một hôm, đang đi, sư ngã (té) và bị thương ở chân, nửa đêm trở mình nghe đau đớn dữ dội liền có chỗ tỉnh ngộ. Sau đó ít lâu, sư đến tham vấn ngài Bác sơn Vân môn, rồi lại tham vấn ngài Mật vân Viên ngộ ở núi Thiên đồng, khế ngộ và được nối pháp. Năm Sùng trinh thứ 2 (1629), sư đến ở Đông tháp tại Gia hòa (tỉnh Chiết giang) trong 3 năm. Về sau, nhân lời thỉnh của tín chúng tỉnh Tứ xuyên, sư lần lượt trụ trì hơn 10 ngôi chùa như: Tiết nhạc, Đại nga, Vạn phong, Trung khánh, Phụng sơn, Thê kinh, Tường phù, Vô tế, Bàn long, Phật ân, Song quế... để hoằng dương Thiền pháp. Cuối đời Minh, loạn lạc nổi lên, Tây thục, Tứ xuyên nhiều biến động trong hoàn cảnh khó khăn ấy, sư vẫn ra sức hóa đạo quần sinh cứu giúp hàng vạn người. Năm Khang hi thứ 5 đời Thanh, sư tịch, hưởng thọ 70 tuổi, 44 tuổi đạo. Sư có tác phẩm: Phá sơn Minh thiền sư ngữ lục 12 quyển. [X. Ngũ đăng nghiêm thống Q.24; Ngũ đăng toàn thư Q.65].

hải môn quốc

4168華嚴經入法界品善財童子所參五十三善知識中第二海雲比丘(梵 Sāgara-megha)之住處。因此國近鄰南海,城門向海,故稱為海門國。〔華嚴經探玄記卷十八〕 ; (海門國) Nước Hải môn. Nơi ở của tỉ khưu Hải vân (Phạm: Sàgara-megha), vị thứ 2 trong 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham vấn được ghi trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm. Vì nước này ở gần Nam hải, cửa thành trông ra biển nên gọi Hải môn quốc. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18].

hải nguyệt nham

4164位於福建漳浦縣梁山東麓之寺院,距城四十公里。建於宋代。南為石礬塔,屹立於漳江入海之波濤中;北有老人峰,高聳入雲。岩窟係天然石洞,洞頂覆蓋一巨石,石長三十一公尺,寬十三公尺,依洞建寺,寺內石壁雕刻如來佛一尊,旭日朗照,稱為「日出窺禪」。中秋之夜約十二時半,月光投於岩下羊角潭,水光反射,恰照佛胸,稱為「月照禪心」。於寺前憑欄眺望,海天遼闊,煙波萬頃,頗為壯觀。岩間有石刻六十多處,以明代劉庭蕙所書「功德泉」為最。又「落伽境」之觀世觀音浮雕,工藝精緻,栩栩如生。「別有天」古樹蒼鬱,古稱洞天勝境。

hải ngạn

Sea shore.

hải ngạn quốc

4166華嚴經入法界品所說善財童子所參善知識五十三人中第三善住比丘(梵 Su-pratiṣṭhita)之住處。以該國位於濱海之地,故稱海岸國。〔華嚴經探玄記卷十八〕 ; (海岸國) Nước Hải ngạn. Nơi ở của tỉ khưu Thiện trụ (Phạm:Supratiwỉhita), là vị thứ 3 trong 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham vấn, được ghi trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm. Vì nước này ở gần bờ biển nên gọi là Hải ngạn quốc. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18].

hải ngự

Hai-yu (C).

hải ninh

Tên một ngôi chùa cổ tọa lạc tại làng Vĩnh Niệm, huyện An Hải, tỉnh Hải Phòng. Chùa trước đây được xây trên Kinh Bắc vào thời Hậu Lê. Vào năm 1931, chùa được dời về Hải Phòng, và được nhân dân địa phương cúng cho hội Ðồng Thiện, vì vậy mà chùa còn có tên là chùa Ðồng Thiện. Trong sân chùa có hai ngôi tháp ghi 40 bức ký họa ghi lại lịch sử xây dựng thành phố Hải Phòng—Name of an ancient temple, located in Vĩnh Niệm village, An Hải district. The previous temple was built in Kinh Bắc area during the late Lê dynasty. In 1931, it was moved to Hải Phòng, and then offered to Ðồng Thiện Association, therefore it was also called Ðồng Thiện Temple. In the courtyard of the temple, there are two stupas with 40 pictures illustrating the history of building of Hai Phòng City.

hải quýnh từ phong

Zen Master Hải Quýnh Từ Phong (1728-1811)—Vị sư Việt Nam, quê ở Bắc Ninh. Vào lúc 16 tuơåi, ngài đến chùa Liên Tông, đảnh lễ Thiền Sư Bảo Sơn Dược Tính. Ngài trở thành đệ tử của Bảo Sơn và Pháp tử đời thứ 40 dòng Lâm Tế. Hầu hết cuộc đời ngài hoằng pháp ở miền Bắc Việt Nam. Ngài thị tịch năm 1811, thọ 84 tuổi—A Vietnamese monk from Bắc Ninh. At the age of 16, he came to Liên Tông Temple to pay homage to Zen Master Bảo Sơn Dược Tính and became the latter's disciple. He was the 40th generation of the Linn Chih Zen Sect. He spent most of his life to expand the Buddha Dharma in North Vietnam. He passed away in 1811, at the age of 84.

hải sơn tự

4164位於臺灣臺東縣。創建於清光緒元年(1875),數經整修,迨至民國前十一年(1901),乃全部修畢,由月眉山靈泉寺德韞法師任第一代住持。民國四十三年(1954),修和法師晉任第四任住持,次第完成大雄寶殿、大慈講堂、倉庫、廚房、藏經樓等建築;並創辦幼稚園、念佛會、歌詠隊、佛學講座等佛化事業。

hải thanh

4168乃寬袍大袖之唐裝,為我國佛門緇素二眾禮佛時所穿之衣。又作大袍。係依黃袍之形式稍加修改而成;黃袍,乃隋代以後天子之袍服,衣袖寬闊,著之自在。又江蘇吳中之地每將廣袖之衣稱為海青;以僧袍之袖廣,故援引其名,稱為海青。此外,叢林中謂「海青」之名,乃取海貌之浩瀚深廣,能容萬物;取彼波浪之飄逸灑脫,自在無礙;取其色澤之青出於藍,代代更勝,意在鼓勵策進,不同凡俗。 佛教傳入中國,由於氣候、國情及實際需要等種種關係,原有之三衣不再適用,另製小褂、中褂、長褂及大袍。三衣僅於禮佛、誦經或集會時,披搭於大袍之外,並依實際情況僅擇一衣披搭。現今之海青顏色有二,一為黑色,乃一般緇素二眾禮佛時所穿;已受戒者,可於海青外加搭袈裟;未受戒者,僅著海青,不得披搭袈裟。一為黃色,為一寺之方丈或法會中之主法者所穿,一般大眾不得穿著。 小褂又稱短褂,即內著衣,包括褂衣及褂褲。中褂又稱羅漢褂,長至膝下小腿肚間,作務時穿之。長褂又稱長衫,為僧眾之常服,仿唐裝而於斜襟部分加以割截、縫綴,以表徵福田、百衲之意。 ; (海青) Cũng gọi Đại bào. Trang phục đời Đường, có vạt rộng, ống tay toang, là loại áo mà 2 chúng xuất gia và tại gia của Phật giáo Trung quốc mặc khi lễ Phật, tụng kinh. Hình thức áo này là từ áo hoàng bào được sửa đổi đôi chút mà thành. Hoàng bào là phục sức của nhà vua từ đời Tùy trở về sau, ống tay áo rộng rãi, mặc vào rất thoải mái. Ở vùng Ngô trung thuộc tỉnh Giang tô, người ta gọi áo có ống tay rộng là Hải thanh; vì ống tay áo của chư tăng cũng rộng nên mới dùng danh từ này. Ngoài ra, danh từ Hải thanh được dùng trong tùng lâm là lấy ý nghĩa biển cả mênh mông sâu rộng, có thể dung chứa muôn vật, những đợt sóng cuốn trào dào dạt, tự tại vô ngại; màu lam có từ màu xanh của nước biển, nhưng lại xanh hơn màu lam, mục đích nhằm khuyến khích sách tiến người mặc áo này phải khác với phàm tục. Phật giáo truyền vào Trung quốc, do điều kiện khí hậu, phong tục và nhu cầu thực tế, 3 tấm ca sa (áo pháp) vốn có không thể thích ứng được, nên phải may thêm các loại áo ngắn, áo vừa, áo dài và áo lễ (tay áo rộng). Ba tấm ca sa chỉ đắp khi lễ Phật, tụng kinh hoặc trai nghi, đắp bên ngoài áo lễ và tùy theo tình huống thực tế, chỉ đắp một trong 3 tấm. Ở Trung quốc hiện nay, Hải thanh có 2 màu:1. Màu đen: Loại áo phổ thông mà 2 chúng xuất gia và tại gia mặc khi lễ Phật; người đã thụ giới thì ngoài Hải thanh còn đắp thêm ca sa. 2. Màu vàng: Chỉ có vị Trụ trì chùa viện hoặc vị Pháp chủ trong pháp hội mặc áo này, còn đại chúng phổ thông không được mặc.

hải thanh tự a dục vương tháp

4168位於江蘇連雲市東南,花果山下大村水庫之濱。建於北宋天聖四年(1026)。為一座模仿樓閣式之磚塔,共有八面九層,高約三十五公尺。塔內有迴廊,一至八層建八邊形塔心磚柱,柱上有半圓形佛龕四個。第九層內無塔心柱和迴廊,壁上置磚造斗栱,構成八角形藻井。各層樓梯設於塔心柱內,上下銜接交錯而成。塔磚內曾發現木骨殘跡,足證建造之時已採用木骨結構。清康熙七年(1668)七月,山東郯城發生八點五級大地震,連雲損害頗大,然此塔巍然無損。

hải thử ngạn chiên đàn

uragasara (S), Santal Thứ chiên đàn rất quí. ; Santal Uragasàra (S).

hải triều aâm

AÂm thanh của hải triều được ví như tiếng thuyết pháp của Phật, oai mãnh và vang dội khắp như tiếng sóng biển (Hải Triều AÂm còn dùng để chỉ thanh danh của chư Phật và chư Bồ Tát tỏa rộng khắp muôn phương, ai nghe tới cũng nễ sợ như sự hùng vĩ của sóng biển. Sóng biển tuy vô niệm nhưng không trái thời, cũng giống như âm thanh thuyết pháp tụng kinh của chư Tăng Ni luôn luôn thích hợp với thời cơ)—The ocean tide voice, i.e. of the Buddha.

hải triều âm

4171<一>音之大者,譬如海潮;一般喻指佛菩薩優美之音聲;或指佛菩薩之應化。大寶積經卷四十菩薩藏會(大一一‧二三一下):「如來語言隨現而轉,不可思議,今當略說。舍利子!如來語者易解了語,易明識語,不高大語,(中略)梵天音語,海潮音語,雲雷音語,(中略)隨虛空量語,一切種妙成就語。」大佛頂首楞嚴經卷二(大一九‧一一○下):「佛興慈悲,哀愍阿難及諸大眾,發海潮音,遍告同會。」此係喻佛之音聲如同海潮。法華經卷七觀世音菩薩普門品(大九‧五八上):「妙音、觀世音、梵音、海潮音,勝彼世間音,是故須常念,念念勿生疑,觀世音淨聖,於苦惱死厄,能為作依怙。」此則喻觀世音菩薩之應化。上所引三經,大寶積經係說佛的百十語之一即海潮音語。唐朝道暹之法華經文句輔正記卷十謂,所謂海潮音,若有念者,菩薩即應而不過時,如潮之不過限。明代一如之法華經科註卷七(卍續四九‧二○五下):「稱俗照機,若熟若脫,時節不差,名海潮音。」此則表示對念觀音者之應化,時節不差,如同海潮之無念,不違其時,與大悲之音聲應時適機而說法相似。 梵文法華經之海潮音為 jala-dhara-garjita。jala-dhara,係「保持水者」之意,亦指雨雲、大洋;garjita 則為「響」之意。藏譯法華經中之海潮音為 ḥbrug-gisgra。ḥbrug 為雷鳴之意;sgra 為響之意,全句即指「雷之響聲」,此與海潮音之譯名不符。 <二>我國佛教界流行之梵唄腔調的一種。唱腔與流行於閩、臺間之鼓山調不同。 <三>民國以來最著名之佛教雜誌。由太虛、蔣作賓、陳元白、黃葆蒼等人所發起。初名「覺社叢書」,創刊於民國七年(1918)十月十日。原屬季刊,為研究及宣揚佛教之雜誌。發行五期之後,於民國九年改季刊為月刊,並改名為「海潮音」,意為「人海思潮中之覺音」。以「發揚大乘佛法真義,應導現代人心正思」為宗旨。為民國五十年以前,國內最受重視之佛教刊物。 該刊第一卷第一期之主編為太虛大師,其他歷屆編輯人員較著者有唐大圓、張化聲、法舫、芝峰、福善等人。民國三十七年,由大醒主編,以戰事之故,攜至臺灣發行。印順曾為社長,李子寬曾為發行人。現任(1988)發行人為妙然。社址設於臺北善導寺。 ; The ocean-tide voice. i.e. of the Buddha. ; (海潮音) I. Hải Triều Âm. Âm thanh vang rền của sóng triều ngoài biển, được dùng để ví dụ âm thanh của Phật và Bồ tát, hoặc chỉ cho sự ứng hóa của Phật và Bồ tát. Hội Bồ tát tạng trong kinh Đại bảo tích quyển 40 (Đại 11, 231 hạ), chép: Lời nói của Như lai tùy theo sự ứng hiện mà chuyển biến, chẳng thể nghĩ bàn, nay ta nói sơ qua như sau: Xá lợi tử! Lời nói của Như lai rõ ràng, dễ hiểu, dễ biết, dịu dàng (...) là tiếng nói Phạm thiên, tiếng hải triều, tiếng mây sấm (...) tiếng theo lượng hư không, là tiếng nói thành tựu bởi tất cả sự nhiệm mầu . Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 2 (Đại 19, 110 hạ) nói: Đức Phật khởi lòng từ bi, thương xót A nan và đại chúng, dùng tiếng như hải triều dạy bảo toàn thể chúng hội . Đây là ví dụ âm thanh của Phật giống như tiếng sóng triều ngoài biển. Phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 58 thượng) ghi: Diệu âm, Quan thế âm Phạm âm, Hải triều âm Vượt âm thanh thế gian, Vì thế nên thường niệm Niệm niệm chớ sinh ngờ, Quán thế âm tịnh thánh Trong khổ não đau thương Thường làm nơi nương tựa Đây là ví dụ sự ứng hóa của bồ tát Quán thế âm. II. Hải Triều Âm. Một điệu tán tụng (đọc canh) được lưu hành trong giới Phật giáo Trung quốc. III. Hải Triều Âm. Tạp chí Phật giáo Trung quốc, do các vị Thái hư, Tưởng tác tân, Trần nguyên bạch, Hoàng bảo thương v.v... sáng lập. Lúc đầu, tạp chí này có tên là Giác Xã Tùng Thư , số 1 được phát hành vào ngày 10 tháng 10 năm 1918, 3 tháng ra một kì, chuyên nghiên cứu và hoằng dương Phật giáo. Sau khi phát hành kì thứ 5, vào năm 1920, tạp chí quí san được đổi làm nguyệt san và lấy tên là Hải Triều Âm , nghĩa là tiếng nói thức tỉnh giữa trào lưu tư tưởng của loài người . Lấy việc phát huy nghĩa chân thực của Phật pháp Đại thừa để hướng dẫn nhân tâm và tư tưởng chân chính trong thời hiện đại làm tông chỉ. Đại sư Thái hư là vị chủ biên quyển 1 trong kì phát hành lần đầu tiên của tạp chí này. Tiếp theo, có những biên tập viên nổi tiếng như: Đường đại viên, Trương hóa thanh, Pháp phường, Chi phong, Phúc thiện v.v... Năm Dân quốc 37 (1948), sư Đại tỉnh làm chủ biên. Năm sau (1949) chiến tranh bùng nổ, tòa soạn tạp chí phải dời ra Đài loan, ngài Ấn thuận làm chủ nhiệm, Lí tử khoan là người phát hành. Năm 1988, tòa soạn được đặt tại chùa Thiện đạo ở Đài bắc và Diệu nhiên là người phát hành.

hải tràng tỉ khâu

4170梵名 Sāgara-dhvaja。華嚴經中善財童子所參訪五十三善知識之第六。〔華嚴經疏卷五十五〕

hải tràng tự

4170為廣東羊城(廣州)八景之一。相傳其地為漢朝千秋寺之舊址,至清康熙十一年(1672),尚可喜出資修建天王殿,其妻建大雄寶殿,總督許爾顯建二殿與後閣,巡撫劉秉權則建山門,全寺範圍因而大擴。寺內所植奇花異木甚多,其中之一株鷹爪樹,乃寺中珍貴植物之一。另有怪石,名「太湖石」,石形奇異,有「雲頭雨腳」與「猛虎回頭」兩種姿勢。「四大金剛」則為本寺著名塑像,每尊皆高達二公丈餘,氣魄雄偉,為不可多得之雕塑作品。

hải tràng tỳ kheo

Śāgāra-dhvaja (S)Vị thiện tri thức thứ sáu trong số 53 vị mà Thiện Tài đồng tử đã tham bái.

hải trích

4170佛壽四喻之一。又作海滴喻。謂一切諸大海水,若以滴計,雖然浩大,然猶可數盡其滴數;而佛之壽命,無有邊際,不可計量,遠非海滴所能比。金光明經卷一(大一六‧三三六上):「一切諸水,可知幾滴;無有能數,釋尊壽命。」(參閱「佛壽四喻」2744) ; (海滴) Cũng gọi Hải trích dụ. Giọt nước biển. Một trong 4 thí dụ về tuổi thọ của đức Phật. Những giọt nước biển tuy nhiều, nhưng vẫn có thể đếm được, còn tuổi thọ của Phật thì vô lượng vô biên không thể tính đếm được. Kinh Kim quang minh quyển 1 (Đại 16, 336 thượng), nói: Tất cả giọt nước biển, Đều có thể đếm số; Tuổi thọ của Thế tôn Không cách nào tính được (xt. Phật Thọ Tứ Dụ).

hải tạng

4174<一>譬喻佛之說法。佛法大海無美醜之別,亦不論有情、非情,一切盡包容其中,故以海藏喻之。〔八十華嚴經入法界品〕 <二>唐代僧。生平不詳。據續高僧傳卷二十一覺朗傳載,師識信堅正,宗仰律學,屢講四分,少有傳嗣。武德初年置十大德,以統籌管理僧眾,師在其中。後不知所終。 <三>(1628~1687)清代僧。安徽合肥人,俗姓孔。康熙二十六年示寂,世壽六十。〔敲空遺響卷二〕 ; (海藏) I. Hải Tạng. Ví dụ sự thuyết pháp của đức Phật. Biển Phật pháp rộng lớn không phân biệt tốt xấu, cũng không phân Hải Minh chia hữu tình hay vô tình, tất cả đều được Phật pháp dung chứa cho nên dùng biển để ví dụ. [X. phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển)]. II. Hải Tạng. Vị tăng Trung quốc sống vào đời Đường, năm sinh năm mất và quê quán đều không rõ. Theo truyện Giác lãng trong Tục cao tăng truyện quyển 21, thì sư kính tin Phật pháp một cách chân chính và bền chắc, hâm mộ Luật học, thường giảng luật Tứ phần, tuổi trẻ mà đã kế pháp vị. Đầu năm Vũ đức (618), triều đình cử 10 vị cao tăng lãnh đạo chúng tăng trong đó có sư.

hải tạng tự

4174位於甘肅武威縣城西北二公里處。創建於晉代,經歷代重修,現存主要為清代所建牌樓、山門、大雄寶殿。後院之靈均臺高約二十公尺,上有無量殿,為明代建築,尚存有成化二十三年(1487)所立之「重修古剎海藏禪寺勸緣信官檀越記」碑。據傳,靈均臺原為水中小島,寺建於臺上,故有「海藏」之稱。至清初,際善和尚拄杖募化,步行至京,請賜藏經,修藏經閣,正式定名海藏寺。寺之牌樓前額書「海藏禪林」四字,兩旁綠柳翳天,相傳每年夏秋之初,有青煙裊裊上昇為雲。寺為武威重要景觀,古柏參天,清流環繞,甚有佳趣。

hải vân tỉ khâu

4169梵名 Sāgara-megha。華嚴經入法界品所說善財童子所參善知識五十三人中之第二。住於海門國,常至海岸觀緣起大海,以及彼海上人法莊嚴遍布如雲,故從所觀,稱為海雲。〔華嚴經探玄記卷十八〕 ; (海雲比丘) Phạm: Sàgara-megha. Vị thứ 2 trong 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham vấn được ghi trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm. Vị tỉ khưu này ở tại nước Hải môn, thường đến bờ biển quán xét về duyên khởi biển cả và pháp của bậc thượng nhân ở biển ấy trang nghiêm rải khắp như mây, vì thế, theo cảnh sở quán mà gọi là Hải vân (mây biển). [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18].

hải vân tỳ kheo

Śāgāra-megha (S)Vị thiện tri thức thứ nhì trong số 53 vị mà Thiện Tài đồng tử đã tham bái.

Hải Vân Ấn Giản

(海雲印簡, Kaiun Inkan, 1202-1257): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hải Vân (海雲), người vùng Ninh Viễn (寧遠, Tỉnh Tứ Xuyên), họ Tống (宋). Năm lên 7 tuổi, ông được cha giảng nghĩa Hiếu Kinh cho nghe, sau ông theo xuất gia với Trung Quán Chiểu (中觀沼), đến năm 11 tuổi thọ Cụ Túc giới và chuyên tâm tham học. Khi thầy mình qua đời, ông đến tham yết Trung Hòa Chương (中和璋) ở Đại Khánh Thọ Tự (大慶壽寺), Yến Kinh (燕京, tức Bắc Kinh) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ban đầu, ông hóa đạo tại Nhân Trí (仁智) thuộc Hưng Châu (興州, Tỉnh Sơn Tây), sau đó từng sống qua các nơi như Hưng Quốc (興國) ở Lôi Dương (洡陽), Vĩnh Khánh (永慶) ở Hưng An (興安), cuối cùng trở về Đại Khánh Thọ Tự. Ông đã từng quy y cho triều đình nhà Nguyên, đến năm thứ 9 (1237) đời vua Thái Tông, ông được ban cho hiệu là Quang Thiên Trấn Quốc Đại Sĩ (光天鎭國大士). Vào năm thứ 11 cũng đời vua trên, ông lại quay về Đại Khánh Thọ Tự, rồi đến năm đầu (1242) đời vua Thoát Liệt Ca Na (脫列哥那), ông trả lời những vấn nạn của Hộ Tất Liệt (護必烈) và khẳng định rõ tính ưu việt của Phật Giáo hơn Đạo Giáo. Từ đó trở đi, thỉnh thoảng ông có trả lời những nan giải của triều đình, cho nên vua Định Tông cho ông nhậm chức Tăng Lục (僧錄). Tại Hạo Thiên Tự (昊天寺), ông làm lễ cầu nguyện cho quốc gia được thái bình, sau đó ông chuyển đến Thái Bình Hưng Quốc Tự (太平興國寺) ở Hòa Lâm (和林, Tỉnh Sơn Tây). Vào tháng giêng năm thứ 4 (1256) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐), ông vâng mệnh hoàng triều mở pháp hội tại Hạo Thiên Tự. Đến ngày mồng 4 tháng 4 nhuận năm thứ 5 (1257) cùng niên hiệu trên, ông thị tịch, hưởng thọ 56 tuổi, được ban cho thụy hiệu là Phật Nhật Viên Minh Đại Sư (佛日圓明大師).

hải vương

God of the seas.

hải ðăng

Giáo pháp Phật xuyên qua thế giới khổ đau tăm tối như ngọn hải đăng chiếu toàn nhân loại—Beacon light (Lighthouse)—The Dharma of the Buddha goes through a world of suffering and darkness like a beacon light to guide and illuminate mankind.

hải ðạo

Sea route.

hải ðức

Tám đức tánh (tánh chất) hay khả năng của biển—The eight virtues, or powers of the ocean. 1) Bao la: Vastness. 2) Hải triều đúng quy định: Tidal regularity. 3) Không dung chứa xác chết (tất cả xác chết của chúng hữu tình đều bị tấp vào bờ): Throwing out of the dead. 4) Chứa thất bảo: Containing the seven kinds of pearls. 5) Thâu nhiếp đại hà mà không hề tăng hải triều: Absorption of all rivers without increase. 6) Thâu nhiếp đại vũ mà không hề tăng hải triều: Absorption of all rain without increase. 7) Chứa kình ngư: Holding the most mighty fish. 8) Ðồng một vị mặn: Universal unvarying saltness.

hải ý bồ tát

4169為寶莊嚴土世界之菩薩,乃海意經之發起眾。海意經,全稱海意菩薩所問淨印法門經,凡十八卷,北宋惟淨等譯。此經係大方等大集經第五分海慧菩薩品之別譯。 ; (海意菩薩) Vị Bồ tát ở thế giới Bảo trang nghiêm. Vị Bồ tát này thay mặt đại chúng thưa hỏi đức Phật trong kinh Hải ý. Kinh Hải ý gọi đủ là kinh Hải ý Bồ tát sở vấn tịnh ấn pháp môn, gồm 18 quyển, do ngài Duy tịnh dịch vào đời Bắc Tống. Đây là kinh biệt dịch (biệt sinh) từ phẩm Hải tuệ Bồ tát trong kinh Đại phương đẳng đại tập phần 5.

Hải Đông

海東; C: hăidōng; J: kaitō;|Thuật ngữ mang ý tôn trọng do người Trung Hoa thường dùng để chỉ cho người Hàn Quốc. Thường được người Trung Hoa dùng để gọi tên các vị tăng Hàn Quốc hay những tác phẩm quan trọng của Hàn Quốc.

Hải Đông cao tăng truyện

海東高僧傳; C: hăidōng gāosēng zhuàn; J: kaitō kōsō den; K: haedong kosŭng jŏn|Sách của Giác Huấn (覺訓; k: kakhun)

hải đông cao tăng truyện

4167請參閱 新編諸宗教藏總錄 殘本二卷。高麗僧覺訓撰於一二一五年。收於大正藏第五十冊。內容記載有關朝鮮高僧之事蹟。全篇之組織不詳,現存本唯最初之二卷,卷一標「流通一之一」、卷二標「流通一之二」。卷一首附流通篇總敘(論曰),次為同卷之目次,共列舉順道、亡名、義淵、曇始、摩羅難陀、阿道(附載黑胡子、元表、玄彰傳)、法空、法雲等諸師之名,次揭出諸師之傳。卷二初列舉覺德(附載明觀)、智明(附載曇育)、圓光、安含(附載胡僧、漢僧、曇和、安和)、阿離耶跋摩、慧業、慧輪、玄恪(附載玄照、亡名二人)、玄遊(附載僧哲)、玄大等諸師之名,次記載以上諸師之傳。各傳末尾多附「贊曰」。可知其編制係模仿我國梁高僧傳之形式。又卷二末阿離耶跋摩以下諸人係轉載唐代義淨之大唐西域求法高僧傳。為朝鮮最古之官撰僧傳。〔朝鮮佛教通史上、朝鮮禪教史〕 ; (海東高僧傳) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Giác huấn, người Cao li, soạn vào năm 1215, thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung sách này ghi chép sự tích của các vị cao tăng Triều tiên, toàn bộ không rõ có bao nhiêu quyển, hiện chỉ còn 2 quyển đầu.Quyển 1 gồm có Tổng tự, kế đến là mục lục của quyển này và truyện của các ngài: Thuận đạo, Vong danh, Nghĩa uyên, Đàm thủy, Ma la nan đà; A đạo(có phụ thêm truyện của các vị Hắc hồ tử, Nguyên biểu, Huyền chương), Pháp không, Pháp vân v.v... Quyển 2 gồm truyện của các ngài: Giác đức (có phụ thêm truyện ngài Minh quán), Trí minh (phụ thêm truyện ngài Đàm dục), Viên quang, An hàm (có phụ thêm truyện của các vị tăng người Hồ, người Hán, Đàm hòa, An hòa), A li da bạt ma, Tuệ nghiệp, Tuệ luân, Huyền khác(có phụ thêm truyện của hai vị Huyền chiếu và Vong danh), Huyền du (có phụ thêm truyện ngài Tăng triết), Huyền đại v.v... Ở cuối mỗi truyện thường phụ thêm lời tán. Hình thức biên soạn của bộ sách này là phỏng theo bộ Lương cao tăng truyện của Trung quốc. Lại nữa, từ các vị A li da bạt ma trở xuống ở cuối quyển 2 là chép lại truyện của các vị trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện của ngài Nghĩa tịnh. Đây là bộ Cao tăng truyện xưa nhất của nước Triều tiên.

Hải Đông Cao tăng truyện 海東高僧傳

[ja] カイトウコウソウデン Kaitō kōsō den ||| Haedong kosŭng chŏn; (Lives of Eminent Korean Monks) T 2065.50.1015a-1023a. by Kakhun 覺訓. => (k: Haedong kosŭng chŏn; e: Lives of Eminent Korean Monks); của Giác Huấn (k: Kakhun 覺訓).

Hải Đông 海東

[ja] カイトウ kaitō ||| "East of the sea." A respectful term used by Chinese to refer to Korea. Often attached by Chinese in appellation to the names of Korean monks, or to major Korean writings. => Thuật ngữ mang ý tôn trọng do người Trung Hoa thường dùng để chỉ cho người Cao Ly. Thường được người Trung Hoa dùng để gọi tên các vị tăng Cao Ly hay những tác phẩm quan trọng của Cao Ly.

hải đạo sư thập dụ

4172據除蓋障菩薩所問經卷十二載,大海浩翰無邊,須靠海導師之導引,方能順流濟世;以之比喻菩薩於生死大海中做大導師,令眾生皆得遠離險難惡趣,證入真空涅槃。其十種善法為: (一)菩薩了悟一切善法而精進勤修,為諸佛、緣覺、聲聞及諸弟子之信順許可;譬如海導師得國王、宰輔及一切人民之信許。(二)菩薩以道行具足,而得一切聲聞、緣覺及諸天、人、龍、鬼、夜叉、乾闥婆等恭敬供養;譬如海導師得國王、宰輔及一切人民之恭敬供養。(三)菩薩能於生死險難中,為眾生方便指示引導,令其出一切煩惱惡道而得安穩;譬如海導師能於險難中,為人做指引,令其安穩。(四)菩薩善巧方便,為天、人、諸外道之依止處,令其得出生死大海、險難惡道;譬如海導師為諸孤露困苦者之依止處。(五)菩薩能為躭著生死之眾生施設方便,令其發菩提心以延續慧命;譬如海導師能供給有所須求之眾生,以濟其命。(六)菩薩善備福智之資糧,以攝受眾生發心行善,離生死而至智城;譬如海導師善備資糧,令商眾得以出險而安穩至其他城邑。(七)菩薩廣集諸佛無上最勝法寶之行,令眾生之善願皆獲得圓滿;譬如海導師於隨所止處,廣集財寶、資生等器物,以周濟匱乏之人。(八)菩薩於聖法之財,廣能積集,希求進取之心無有厭足;譬如海導師於一切濟生之善財,常生希取心而不自滿。(九)菩薩善自增益一切功德之法,能以慈愛之語導引眾生,令其出苦海而至涅槃岸;譬如海導師諳通水陸之路,能以慈愛之語攝受商眾而為先導,令其獲利。(十)菩薩了知一切法而至一切智城,以智能破惑顯理,城能防惡禦敵,故此殊勝能力,可引導眾生至一切智城;譬如海導師具足大能力,故能引導眾生至彼城邑。 ; (海導師十喻) Mười ví dụ chỉ cho vị Bồ tát. Cứ theo kinh Trừ cái chướng bồ tát sở vấn quyển 12 thì Bồ tát là vị Đại đạo sư trong biển lớn sống chết, dắt dẫn chúng sinh ra khỏi đường hiểm ác mà chứng vào Niết bàn chân không, cũng như trong biển cả mênh mông không bờ không bến, cần phải nương theo sự chỉ dẫn của vị Hải đạo sư mới có thể vượt qua muôn trùng sóng gió mà đến bờ yên vui. Kinh trên nêu ra 10 ví dụ như sau: 1. Bồ tát biết rõ tất cả thiện pháp và tinh tiến tu hành được chư Phật, các vị Duyên giác, Thanh văn và các đệ tử tin thuận, hứa khả, cũng như vị Hải đạo sư được quốc vương, đại thần và tất cả nhân dân tin tưởng. 2. Bồ tát vì đầy đủ đạo hạnh nên được tất cả các vị Thanh văn, Duyên giác và trời, người, rồng, quỉ, dạ xoa, càn thát bà cung kính cúng dường, cũng như vị Hải đạo sư được quốc vương, đại thần và hết thảy nhân dân cung kính cúng dường. 3. Bồ tát dùng các phương tiện dắt dẫn chúng sinh ra khỏi con đường hiểm ác phiền não mà được an ổn cũng như vị Hải đạo sư có khả năng dắt dẫn mọi người ra khỏi con đường nguy hiểm đến nơi an toàn. 4. Bồ tát dùng các phương tiện khéo léo làm nơi nương tựa cho trời, người và các ngoại đạo, khiến cho họ ra khỏi biển lớn sống chết; cũng như vị Hải đạo sư làm nơi nương tựa cho những người lênh đênh trong biển khổ. 5. Bồ tát có thể vì chúng sinh đắm đuối trong sinh tử, bày ra các phương tiện khiến họ phát tâm bồ đề để cho tuệ mệnh được sống còn; cũng như vị Hải đạo sư có thể cung cấp tất cả nhu cầu cho chúng sinh để cứu mệnh sống của họ. 6. Bồ tát có đầy đủ tư lương phúc đức và trí tuệ, giáo hóa chúng sinh phát tâm làm việc thiện để lìa sinh tử, đến Niết bàn; cũng như vị Hải đạo sư chuẩn bị đầy đủ lương thực giúp cho các người đi buôn ra khỏi nguy hiểm, đến được thành ấp an toàn. 7. Bồ tát tu hành theo pháp bảo vô thượng tối thắng của chư Phật để khiến cho thiện nguyện của chúng sinh đều được viên mãn; cũng như vị Hải đạo sư dừng lại ở bất cứ nơi nào cũng thu thập thêm của báu và đồ dùng cần thiết để chu cấp cho những người thiếu thốn. 8. Bồ tát đối với của báu Thánh pháp thường hay tích lũy, tâm mong cầu tiến thủ không nhàm chán; cũng như vị Hải đạo sư đối với tất cả tiền của chính đáng để giúp cho người nghèo khổ, thì thường sinh lòng mong cầu mà không tự cho là đủ. 9. Bồ tát thường tự mình tăng thêm tất cả các pháp công đức, thường dùng lời nói dịu hiền dắt dẫn chúng sinh, khiến họ ra khỏi bể khổ, đến bờ Niết bàn; cũng như vị Hải đạo sư biết rõ đường đi, thường dùng lời từ ái chỉ dẫn những người lái buôn khiến cho họ được lợi ích. 10. Bồ tát hiểu thấu tất cả pháp mà đến được thành lũy Nhất thiết trí, trí có khả năng phá hoặc hiển lí, thành có thể ngăn điều ác, phòng kẻ địch, cho nên năng lực thù thắng ấy có thể đưa chúng sinh đến được thành Nhất thiết trí; cũng như vị Hải đạo sư có đầy đủ năng lực, có thể dắt dẫn mọi người đến thành ấp an vui.

hải đảo

Dīpa (S), Island Ngọn đèn, Đăng.

hải đảo sơn

Xem Quang minh sơn.

hải để tứ bảo

4167據新華嚴經卷五十一載,海底有四種熾然光明大寶,性極猛熱,能飲縮由百川注入大海之無量大水,致使大海無有增減;以之比喻如來之大智慧海亦有四種大智慧寶,具足無量威德光明,能令眾生截愛欲之流,破除愚癡之暗。四寶即:(一)日藏光明大寶,以之比喻如來有滅除一切散善波浪之大智慧寶,以此寶之光明照觸諸菩薩,令其捨除一切散善波浪,持心一境而住於三昧。(二)離潤光明大寶,以之比喻如來有滅除一切法愛之大智慧寶,以此寶之光明照觸諸菩薩,令其捨離三昧之執著,而起廣大之神通。(三)火焰光光明大寶,以之比喻如來有慧光普照之大智慧寶,以此寶之光明照觸諸菩薩,令其捨離廣大之神通,而住於大明之加功用行。(四)盡無餘光明大寶,以之比喻如來有平等無邊功用之大智慧寶,以此寶之光明照觸諸菩薩,令其捨離大功用行,並息止一切之功用而入無餘之境。 ; (海底四寶) Bốn thứ của báu dưới đáy biển. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 51 (bản dịch mới) nói, thì dưới đáy biển có 4 thứ của báu rực rỡ sáng chói và tính rất nóng, có thể hút hết nước của vô lượng con sông lớn chảy vào biển cả mà biển không hề thêm bớt. Bốn của báu này ví dụ cho 4 loại trí tuệ của Như lai, đầy đủ vô lượng uy đức trang nghiêm, có thể khiến chúng sinh cắt đứt dòng ái dục, phá trừ ngu si tối tăm. Bốn của báu ấy là: 1. Nhật tạng quang minh đại bảo (của báu sáng chói như mặt trời): Ví dụ trí tuệ của Như lai soi rọi các Bồ tát khiến diệt trừ tất cả đợt sóng tán thiện, giữ tâm ở một cảnh mà an trụ nơi chính định. 2. Li nhuận quang minh đại bảo (của báu sáng chói lìa nhiễm): Ví dụ trí tuệ của Như lai diệt trừ tất cả pháp ái, chiếu soi các Bồ tát khiến xả bỏ sự đam mê trong định để phát khởi thần thông rộng lớn. 3. Hỏa diệm quang minh đại bảo(của báu sáng chói như ngọn lửa rực rỡ): Ví dụ trí tuệ của Như lai chiếu rọi các Bồ tát khiến xa lìa thần thông rộng lớn mà trụ trong đại công dụng hạnh. 4. Tận vô dư quang minh đại bảo (của báu sáng chói suốt hết không sót): Ví dụ trí tuệ của Như lai chiếu soi các Bồ tát khiến xả bỏ đại công dụng hạnh và chấm dứt tất cả sự công dụng mà vào cảnh vô dư.

Hải đức

海徳; C: hăi dé; J: kaitoku;|Đức rộng lớn mênh mông như biển.

hải đức

4171<一>乃出現於過去無數劫前之佛名。於諸佛最初出世時,海德佛曾為其師。龍樹之十住毘婆沙論卷五易行品載,過去無數劫有佛號海德,現在諸佛皆從彼發願,壽命無量,光明照無極,國土甚清淨,聞名定作佛;所具之佛德皆與彌陀佛之德相類。另於大乘寶月童子問法經中所載之寶生佛,歷來學者亦視之與海德佛為同一佛。日本淨土真宗則以之與久遠實成之阿彌陀佛同一。 <二>海之美德。於海八德經中舉出海之八種美德:(一)汪洋無涯,(二)海潮不愆期,(三)不容死臭,(四)有七寶珍珠,(五)五河俱入而無舊名,(六)霖雨注來亦無增減,(七)眾魚有巨身,(八)鹹味邊中如一。北本涅槃經卷三十七亦載有海之八不思議,新譯華嚴經卷四十二則列有海之十德,大略相同。 ; The eight virtues, or powers of the ocean, i.e. vastness, tidal regularity, throwing out of the dead, containing the seven kinds of pearls, absorption of all rivers, of all rains without increase, holding the most mighty fish, universal unvarying saltness. ; (海德) I. Hải Đức. Danh hiệu của vị Phật đã ra đời từ vô số kiếp ở thời quá khứ. Đức Phật này từng là thầy của các vị Phật ra đời sớm nhất. Cứ theo phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì ba sa quyển 5 của ngài Long thụ, thì vô số kiếp ở thời quá khứ có đức Phật hiệu là Hải đức, thọ mệnh vô lượng, hào quang chiếu sáng vô cùng, đất nước rất trong sạch, chư Phật ở hiện tại đều phát nguyện từ nơi Ngài, người được nghe danh hiệu của Ngài thì nhất định sẽ thành Phật; đức tướng của Ngài đầy đủ cũng như đức tướng của Phật A di đà. Trước nay các học giả đều cho rằng Phật Bảo sinh nói trong kinh Đại thừa Bảo nguyệt đồng tử vấn pháp là Phật Hải đức. Còn Tịnh độ chân tông của Nhật bản thì cho đức Phật này và bản địa của Phật A di đà là một. II. Hải Đức. Chỉ cho 8 thứ đức tốt của biển nói trong kinh Hải bát đức, đó là: 1. Mênh mông không bờ. 2. Thủy triều lên xuống đúng giờ. 3. Không chứa xác chết. 4. Có 7 báu trân châu. 5. Năm sông đều chảy vào mà không giữ tên sông cũ. 6. Mưa tầm tã mà nước biển không thêm bớt.7. Có nhiều loài cá to lớn. 8. Giữa biển và ven bờ cũng chỉ có một vị mặn. Kinh Niết bàn quyển 37 (bản Bắc) cũng có nói về 8 thứ bất tư nghị của biển, kinh Hoa nghiêm quyển 42 (bản dịch mới) thì liệt kê 10 đức của biển, đại khái đều giống nhau.

Hải đức 海徳

[ja] カイトク kaitoku ||| Virtues as vast as an ocean. => Đức rộng lớn mênh mông như biển.

hải ấn

4164(1840~1924)湖南沅江人,俗姓魯。字涵虛。幼時多病,十二歲依月泉法師出家,受戒後曾自修多年。後至日本,住高野山,專學禪密,年三十四,得阿闍黎位回國。後返湖南,住沅江景星寺,先後創辦佛學院、普通佛學研究所、佛教居士林、念佛社及蓮社十餘處。有禪海珍參一卷行世。 ; The ocean symbol, indicating the vastness of the meditation of the Buddha, the vision of all things. ; Còn gọi là Hải Ấn Ðịnh, tên của tam muội mà Phật đã sở đắc. Biển thiền định bao la của Phật mà tất cả các pháp đều hiện ra trong biển trí đó—The ocean symbol, indicating the vastness of the meditation of the Buddha, the vision of all things—See Hải Ấn Tam Ma Ðịa. ; (海印) (1840-1924) Vị tăng Trung quốc, người huyện Nguyên giang, tỉnh Hồ Nam, họ Lỗ, tự Hàm hư. Thủa nhỏ, sư nhiều bệnh, năm 12 tuổi y vào pháp sư Nguyệt tuyền xuất gia. Sau khi thụ giới, sư tự tu trong nhiều năm. Về sau, sư đến Nhật bản lên ở trên núi Cao dã, chuyên học Thiền và Mật giáo. Năm 34 tuổi, sư về nước và trở lại trụ trì chùa Cảnh tinh, huyện Nguyên giang, tỉnh Hồ nam, lần lượt sáng lập Phật học viện, Sở nghiên cứu Phật học phổ thông, Phật giáo cư sĩ lâm và hơn 10 Niệm Phật xã và Liên xã. Sư có tác phẩm: Thiền hải trân tham 1 quyển.

hải ấn tam ma ðịa

Trạng thái tập trung ở mức độ cao, được nói đến trong Kinh Hoa Nghiêm, trạng thái tâm như đại dương, một khi tĩnh lặng và không gợn sóng sẽ phản chiếu mọi vật trong vũ trụ, quá khứ, hiện tại và vị lai—A state of concentration of the highest level, mentioned in the Avatamsaka Sutra. The mind is likened to the ocean, which when calm and without a single wave, can reflect everything throughout the cosmos, past, present and future—See Hải Ấn.

hải ấn tam muội

4165梵語 sāgaramudrā-samādhi。又作海印定、海印三摩地、大海印三昧。華嚴家以此三昧為華嚴大經所依之總定。佛說法前,必先入定思惟法義,以及審查根機。如說法華時,入無量義處三昧;說般若時,入等持王三昧;說涅槃時,入不動三昧。華嚴經七處八會中,每一會均有別定,即第一會入如來藏三昧,乃至第八會入師子奮迅三昧。海印三昧即此七處八會所依之總定。海印者,約喻以立名,即以大海風止波靜,水澄清時,天邊萬象巨細無不印現海面;譬喻佛陀之心中,識浪不生,湛然澄清,至明至靜,森羅萬象一時印現,三世一切之法皆悉炳然無不現。華嚴大經即依此定中所印現之萬有而如實說,故稱此為海印定中同時炳現之說。〔舊華嚴經卷六賢首菩薩品、大方等大集經卷十五虛空藏菩薩品、華嚴經孔目章卷四、華嚴經探玄記卷四、華嚴五教章卷一〕 ; Śāgāramudrā-samādhi (S). ; Hải ấn là hải thượng ấn văn (Nghĩa là do ánh nắng mặt trời chiếu trên thành phố phản xạ hiện lên mặt biển, người hàng hải thường gặp thấy thành phố trên mặt biển, nhưng đến gần thì không thấy nữa), để dụ cho sức dụng biến hóa vô biên của tự tánh. Cái chánh định được hiển bày sức dụng này, gọi là Hải Ấn Tam Muội. ; See Ðại Hải Ấn. ; (海印三昧) Phạm: Sàgaramudrà-samàdhi. Cũng gọi Hải ấn định, Hải ấn tam ma địa, Đại hải ấn tam muội. Tên của tổng định nói trong kinh Hoa nghiêm. Trước khi đức Phật nói pháp, Ngài thường nhập định để tư duy về pháp nghĩa và xem xét căn cơ. Như khi nói Pháp hoa thì Ngài vào định Vô lượng nghĩa xứ; khi thuyết Bát nhã, Ngài vào định Đẳng trì vương; khi nói Niết bàn thì Ngài vào định Bất động. Trong 7 chỗ 8 hội của kinh Hoa nghiêm, mỗi mỗi hội đều có định riêng, tức hội thứ nhất, Phật vào định Như lai tạng, cho đến hội thứ 8, Ngài vào định Sư tử phấn tấn. Định Hải ấn này tức là định chung của cả 7 chỗ 8 hội. Hải ấn là lấy dụ đặt tên, tức là hình ảnh biển cả sóng lặng gió yên, nước trong phẳng lặng, muôn tượng sum la đều in trên mặt biển, ví dụ cho tâm Phật sóng thức không sinh, lắng yên trong sáng, hết thảy các pháp trong 3 đời đều hiện rõ ràng. Nội dung kinh Hoa nghiêm tức đã căn cứ vào vạn hữu hiện rõ như thực ở trong định này mà được nói ra. [X. phẩm Hiền thủ Bồ tát trong kinh Hoa nghiêm Q.6 (bản dịch cũ); phẩm Hư không tạng bồ tát trong kinh Đại phương quảng đại tập Q.15; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm kinh Thám huyền kí Q,4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].

hải ấn tam muội thập nghĩa

4165據宗鏡錄卷十八載,海印,喻之義;三昧,正定之義。海印三昧,即從喻以立名,亦即以大海之澄寂不動,印現萬象,比喻如來之智海,清淨湛然,一切眾生之心念、根欲,皆印現於如來三昧智中。海印三昧具有如下十義:(一)謂如來三昧法性平等,離諸名相,不加功用,而能顯現一切諸相,稱為「無心能現」。(二)謂如來三昧隨眾生之心而現種種相,此相如光如影,了不可得,稱為「現無所現」。(三)謂如來三昧於能現之智與所現之境,皆為一念圓融而十方普應,稱為「能現所現非一」。(四)謂如來三昧於能現之智與所現之境,雖十方普應不一,然皆本於一念,稱為「能現所現非異」。(五)謂如來三昧乃萬法現於自心,此為不來;其身相徧於法界,此為不去,稱為「無去來」。(六)謂如來三昧普遍包容,無法不備,眾生之世界,亦含容而不離於一心,稱為「廣大」。(七)謂如來三昧將一切世界攝於一心中,而不簡別巨細,皆能印現,稱為「普現」。(八)謂如來三昧於一切世界當念即現,無前無後,色相宛然,稱為「頓現」。(九)謂如來三昧於諸法相,無有不現之時,稱為「常現」。(十)謂如來三昧寂然不動,然為順應眾生,故於非應之中隨感而應;猶如明鏡,無心現物,而對像即現,稱為「非現現」。(參閱「海印三昧」4165) ; (海印三昧十義) Mười nghĩa của định Hải ấn. Đó là: 1. Vô tâm năng hiện: Pháp tính bình đẳng, lìa các danh tướng, không cần dụng công mà vẫn có năng lực hiện rõ hết thảy các tướng. 2. Hiện vô sở hiện: Tùy theo tâm của chúng sinh mà hiện tất cả các tướng; những tướng ấy như ánh chớp, như cái bóng hoàn toàn bất khả đắc. 3. Năng hiện sở hiện phi nhất: Trí năng hiện và cảnh sở hiện đều là một niệm viên dung, nhưng ứng khắp 10 phương. 4. Năng hiện sở hiện phi dị: Trí năng hiện và cảnh sở hiện tuy ứng khắp 10 phương dưới những dạng khác nhau, nhưng vốn ở trong một niệm. 5. Vô khứ lai: Muôn pháp hiện trong tự tâm, đó là bất lai (chẳng từ đâu đến) thân tướng của muôn pháp trùm khắp pháp giới, đó là bất khứ (chẳng đi đâu). 6. Quảng đại: Bao trùm khắp mọi pháp, hàm chứa cả thế giới của chúng sinh, nhưng chẳng lìa nhất tâm. 7. Phổ hiện: Tất cả thế giới đều hiển hiện trong một tâm. 8. Đốn hiện: Hết thảy thế giới đều hiện ngay trong một niệm, không trước không sau, sắc tướng rõ ràng. 9. Thường hiện: Tướng của hết thảy các pháp không lúc nào là không hiện. 10. Phi hiện hiện: Vì thuận theo chúng sinh nên ở trong trạng thái vắng lặng phi ứng, lại tùy cảm mà ứng một cách vô tâm, giống như gương sáng, vật đến hiện liền, nhưng không phân biệt. (xt. Hải Ấn Tam Muội).

Hải ấn tam muội 海印三昧

[ja] カイインサンマイ kaiin sanmai ||| (sāgara-mudrā-samādhi); The 'ocean seal samādhi.' The samādhi (deep concentration) that the Buddha entered at the time he delivered the Flower Ornament Scripture (華嚴經). All existences of the past, present and future are contained within the mind. The character yin 印 means "to duplicate", or "to reflect." Thus the meaning of a calmness of mind that like a great ocean, can reflect all things. In Huayan thought, all things are manifested according to this. => (s: sāgara-mudrā-samādhi) Định thâm diệu mà Đức Phật an trú khi ngài giảng kinh Hoa Nghiêm. Tất cả chúng sinh trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai đều bao gồm trong tâm nầy. Chữ Ấn có nghĩa là 'phản chiếu'. Như vậy, tâm an định giống như biển lớn, có thể phản chiếu mọi hiện tượng. Trong tư tưởng kinh Hoa Nghiêm, các pháp đều biểu hiện tuỳ theo tâm nầy.

Hải ấn tam-muội

海印三昧;; S: sāgara-mudrā-samādhi; C: hăi-yìn sānmèi; J: kaiin sanmai;|Định thâm diệu mà Đức Phật an trú khi ngài giảng kinh Hoa Nghiêm. Tất cả chúng sinh trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai đều bao gồm trong tâm nầy. Chữ Ấn có nghĩa là »phản chiếu«. Như vậy, tâm an định giống như biển lớn, có thể phản chiếu mọi hiện tượng. Trong tư tưởng kinh Hoa Nghiêm, các pháp đều biểu hiện tuỳ theo tâm nầy.

Hải Ấn tự

海印寺; C: hăiyìn sì; J: kaiinji;|Một trong những ngôi chùa lớn ở Hàn Quốc, xâu dựng đầu tiên năm 892. Là nơi chạm khắc mộc bản in Tam tạng kinh Hàn Quốc, vẫn còn được lưu trữ nơi đây. Hải Ấn tự vẫn là một trung tâm tu tập Thiền trong thời cận đại. Đây là nơi xuất thân của vị cao tăng đã viên tịch Sŏngch'ŏl. ; [ja] カイインジ Kaiinji ||| Haeinsa. One of the major Buddhist temples in Korea, first built in 892. The site of the carving of the Koryŏ woodblock Tripitaka, which is still housed there. Haein-sa is still an active Sŏn practice center in modern times, the home temple of the recently deceased Rev. Sŏngch'ŏl. => (j: Kaiinji ; k: Haeinsa) Một trong những ngôi chùa lớn ở Cao Ly, xâu dựng đầu tiên năm 892. Là nơi chạm khắc mộc bản in Tam tạng kinh Cao Ly, các mộc bản ấy vẫn còn lưu trữ nơi đây. Hải Ấn tự vẫn là một trung tâm tu tập Thiền trong thời cận đại. Đây là nơi xuất thân của vị cao tăng đã viên tịch Sŏngch'ŏl.

hải ấn tự

4165<一>位於福建金門太武山。又稱太武巖寺。始建於宋朝咸淳年間。明朝萬曆、永曆年間曾經二度重修。民國三十八年(1949),大陸淪陷之初,曾遭共黨隔海砲擊,致殿宇毀壞。四十九年,由國軍將士復建。此寺為金門佛教之信仰中心。寺內藏有光緒年間所製大鐘一口。六十三年,副總統嚴家淦曾題贈「海印寺」之匾額。 <二>位於韓國慶尚南道陝川郡伽耶山(牛頭山)。為韓國佛教三大寺之一。因藏有高麗藏板木,故被稱為韓國佛寺之法寶。創建於新羅哀莊王三年(802)。蓋王久生背瘡,適值順應、利貞二師入中國求法歸國,王依二師所教,終得治癒。王因是賜田二千五百結,並令二師建造此寺。後王又遣人至唐地請回大藏經,並建樓閣安置。高麗顯宗二年(1011)敕命雕刻大藏經,其板木於高宗十九年(1232)全部遭元兵焚燬。二十二年,高宗為求佛力折伏蒙古,發願再雕大藏經,歷經十五年始完工。其全部板木今藏於海印寺,總計有八六五二五片經板,即所謂之高麗藏。清康熙三十四年(1695)至同治年間,七次遭受火災,新羅、高麗時代之建築遺物悉歸烏有。唯收藏大藏經板木之舍倖免,實係不可思議事。全寺以大寂光殿為中心,有諸堂、諸門、三重石塔等建築。今之伽藍,多為同治年間所建者,規模不如昔時,寺僧亦僅三百餘人。

hảo

Good—Well—To be fond of.

hảo bản đa đồng

2343禪林用語。謂好的習字本其筆法皆類似,比喻師父與弟子間之程度、境界、格調等常相近似。從容錄第八十則(大四八‧二七八中):「濟云:『與我將蒲團來!』(好本多同)」 ; (好本多同) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là những người viết chữ đẹp, bút pháp của họ thường giống nhau. Thiền gia dùng từ ngữ này để dụ cho trình độ, cảnh giới, phong cách, v.v... giữa thầy và đệ tử phần nhiều giống nhau. Tắc 80 trong Thung dung lục (Đại 48, 278 trung), ghi: Lâm tế nói: Hãy mang bồ đoàn lại đây cho ta! (Hảo bản đa đồng) .

hảo bất tức lưu

2343禪林用語。又作好不鯽溜、好不唧令。此語含有嘲弄、嘲笑之意。不唧 ; (好不唧

hảo chiếu

2344指坐禪時所用之明鏡。謂以明鏡觀照,能防心神散亂。四分律行事鈔資持記卷下二之三(大四○‧三八七中):「好照,有說坐禪處多懸明鏡,以助心行,或取明瑩現像,或取光影交射。」 ; Good at shining—A mirror. ; (好照) Chỉ cho tấm gương được dùng trong lúc ngồi thiền. Nghĩa là sử dụng tấm gương sáng để quán chiếu có thể ngăn ngừa tâm thần tán loạn. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ, phần 2, tiết 3 (Đại 40, 387 trung), chép: Hảo chiếu, có thuyết cho rằng chỗ ngồi thiền phần nhiều thường treo tấm gương sáng để giúp tâm hạnh, hoặc dùng ngọc sáng để chiếu soi .

hảo hiệp

To be in accord (agreement).

hảo hạng

Good quality.

hảo kiên thụ

2344據大智度論卷十載,好堅樹生長於地中百年,枝葉具足,一日出土,達百丈之高,此樹出土之後,欲求大樹以庇蔭其身,是時,林中之神對好堅樹言,彼為世間最大之樹,世間諸樹皆應在其庇蔭之中。釋尊於無量阿僧祇劫皆在菩薩地之中,出生後,一日坐於菩提樹下金剛座處,了知一切諸法之實相而證悟成佛。時,釋尊自思何人可尊奉為師,是時,梵天王等諸天對釋尊言,佛為無上者,三世十方天地之中無有大過於佛者,一切人、天等皆應以佛為師,而恭敬供養之。故佛典中以好堅樹比喻釋尊之至高無上。〔往生論註卷下〕 ; (好堅樹) Cây Hảo kiên. Loại cây thần thoại dùng để ví dụ trí tuệ cao siêu của đức Thế tôn vô thượng. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 10, cây Hảo kiên sinh trưởng trong lòng đất đã 100 năm, cành lá đầy đủ, một hôm nứt đất vọt lên liền cao 100 trượng. Sau khi ra khỏi lòng đất, cây này muốn tìm một cây đại thụ để che chở cho mình, lúc ấy thần rừng nói với cây này rằng: Hảo kiên là cây lớn nhất thế gian, các cây khác đều được Hảo kiên che chở . Đức Thích tôn trong vô lượng kiếp ở Bồ tát địa, một khi ra đời là ngồi trên tòa Kim cương dưới gốc cây Bồ đề, thấy rõ thực tướng của tất cả các pháp mà chứng ngộ thành Phật. Bấy giờ đức Thích tôn tự nghĩ: Ai là người để mình tôn phụng làm thầy? . Lúc ấy, Phạm thiên vương liền nói: Phật là bậc Vô thượng, trong 10 phương 3 đời không ai hơn Ngài, tất cả người, trời đều tôn Phật làm thầy, cung kính cúng dường .

Hảo lạc 好樂

[ja] コウギョウ kōgyō ||| To delight in; take pleasure in; to hope for, wish for. 〔法華經 T 262.9.60b9〕 => Thích thú; thú vị; hy vọng, trông mong.

hảo lợi tiết

2344梵名 Holi。又稱灑紅節。為印度教紀念黑天(梵 Kṛṣṇa)之節日。最早源於古印度慶豐收之祭祀儀式。於每年印度曆第十二月頗勒寠拏月(梵 Phālguna,相當西曆二、三月)舉行。教徒成群結隊,興高采烈地唱歌、跳舞、跳篝火,並向路過之人群灑紅粉或紅水,故又稱灑紅節。

hảo sinh

2343禪林用語。係於敦促注意時所用之語。生,為語助詞。介石智朋禪師語錄小參條中有「諸人好生聽取」一語,石溪心月禪師語錄卷上有「好生觀」一語,此皆提醒別人專心注意之意。此外,「好生」一語,於宋代以來亦廣為一般人所用。〔圜悟佛果禪師語錄卷五、諸祖偈頌卷上之上〕 ; Love of the living—Love of life. ; (好生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sinh là trợ từ, Hảo sinh là từ ngữ dùng để khiến mọi người chú ý. Điều Tiểu tham trong Giới thạch Trí bằng thiền sư ngữ lục có câu: Chư nhân hảo sinh thính thủ (Mọi người hãy chú ý lắng nghe?). Trong Thạch khê Tâm nguyệt thiền sư ngữ lục quyển thượng có câu: Hảo sinh quan (Hãy chú ý xem!). Ngoài ra, từ đời Tống trở đi, từ Hảo sinh cũng được dùng rộng rãi. [X. Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục Q.5; Chư tổ kệ tụng Q. thượng phần trên].

hảo sự

A good business.

hảo thanh

Good voice (sound).

hảo thanh ðiểu

Chim có âm tốt, có thể là Ca Lăng Tần Già—A bird with a beautiful note, maybe a Kalavinka.

hảo tâm

Kindness—Kindheart.

hảo tướng

Good appearance, omen, or sign Hãy lại đây, Tỳ khiêu: Ehi, bhiksu. (S) Come! O! Monk! ; A good appearance (omen or sign).

Hảo ác 好惡

[ja] コウアク kōaku ||| Good things and bad things; likes and dislikes. 〔大智度論 T 1509.25.〕 => Điều tốt và điều xấu; yêu và ghét.

hảo ý

Good intention.

hảo ý quốc

Xem Cực lạc quốc.

Hảo 好

[ja] コウ kō ||| (1) Good, fine, desirable, attractive, beautiful, excellent (pranīta). (2) To like, to fancy, to desire, to love, to be fond of, to be addicted to. (3) Exceedingly, better, extremely. (4) Of good quality. (5) The secondary marks of the Buddha's physical body. => 1. Tốt, đẹp, đáng ưa, thu hút, tốt đẹp, ưu tú (s:pranīta). 2. Thích, mến, ham muốn, yêu thích, ưa thích, say mê. 3. Cực kỳ, cực độ. 4. Chất lượng tốt. 5. Các vẻ đẹp của thân Phật.

hấn

Gây hấn—To provike hostilities.

hấp

To suck up.

hấp dẫn

Attractive.

hấp thụ

To absorb—To receive.

hất hủi

To neglect.

hầu

Con khỉ—Monkey.

hầu hầu địa ngục

Hāhādhara (S).

hầu thời

Giờ Thân từ 3 đến 5 giờ chiều—The hours of the monkey, the time from 3:00PM to 5:00PM.

hầu trì

Xem Di hầu giang.

hẩm hiu

Unfortunate—Unlucky.

hậm hực

Displeased.

hận

3811梵語 upanāha。爲心所(心之作用)之名。七十五法之一,百法之一。俱舍宗特指由污穢心(不善心與有覆無記心)所起之心所(小煩惱地法)之一,唯識宗則認爲係隨煩惱之一。恨即指對忿怒之事永遠不忘,乃結怨之精神作用。據順正理論卷五十四所述恨與忿之差別(大二九‧六四六下):「如樺皮火,其相猛利,而餘勢弱,說名爲忿。如冬室熱,其相輕微,而餘勢強,說名爲恨。」故知恨雖不如忿怒之猛烈,但餘勢極強,歷久不滅。〔入阿毘達磨論卷上、成唯識論卷六、百法問答鈔卷一〕 ; ghét, ghê tởm:Pratigha (S). Anger, repugnance. ill-will. ; Thù ghét—Hate—Hatred—Annoyed—Vexed. ; (恨) Phạm: Upanàha. Tên tâm sở. Hận là đối với việc oán giận không bao giờ quên, là một trong 75 pháp của Câu xá, một trong 100 pháp của Duy thức.Tông Câu xá đặc biệt cho nó là một trong những tâm sở (Tiểu phiền não địa pháp) sinh khởi từ tâm ô uế (Tâm bất thiện và tâm hữu phú vô kí); còn tông Duy thức thì cho Hận là một trong những Tùy phiền não. Cứ theo luận Thuận chính lí quyển 54, thì Hận tuy không mãnh liệt bằng phẫn nộ, nhưng sức tàn dư của nó rất khó trừ diệt. [X. luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Thành duy thức Q.6; Bách pháp vấn đáp sao Q.1].

hận thù

Dvesa (S). Hatred. ; Hận—Hatred. Những lời Phật dạy về “Hận Thù” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings of “Hatred” in the Dharmapada Sutra: “Người kia lăng mạ tôi, đánh đập tôi, phá hại tôi, và cướp đoạt của tôi.” Ai còn ôm ấp tâm niệm ấy, thì sự oán hận không thể nào dứt hết—“He abused me, he beat me, he defeated me, he robbed me.” Hatred will never leave those who dwell on such thoughts (Dharmapada 3). “Người kia lăng mạ tôi, đánh đập tôi, phá hại tôi, và cướp đọat của tôi.” Ai bỏ được tâm niệm ấy, thì sự oán giận tự nhiên san bằng---“He abused me, he hit me, he defeated me, he robbed me.” Hatred will leave those who do not harbor such thoughts (Dharmapada 4). Ở thế gian nầy, chẳng phải hận thù trừ được hận thù, chỉ có từ bi mới trừ được hận thù. Ðó là định luật của ngàn xưa—In this world, hatred never destroys (eliminates) hatred, only love does. This is an eternal law (Dharmapada 5).

hận thù suốt kiếp

Enmities.

Hận 恨

[ja] コン kon ||| (upanāha). enmity, resentment. One of the lesser defilement elements listed in the Abhidharmakośa-bhāsya; one of the twenty secondary defilements (隨煩惱) in the doctrine of the Yogācāra school. The mental action of suffering due to the continual re-arising of the thought of a prior matter that aroused anger. An aspect of anger 瞋, rather than being an independent element. => (s: upanāha) Sự thù hằn, sự oán giận. Một trong những tiểu phiền não địa pháp được kê trong A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận; là một trong 20 tuỳ phiền não theo tông Duy thức. Là tâm hành khổ ưu do tâm sinh khởi tương tục một vấn đề đã có từ trước gây nên sân hận. Là một khía cạnh của Sân 瞋hơn là một yếu tố độc lập.

hậu

After, behind, later, posterior. ; (D) Hậu hỷ: Rộng rãi—Generous. (E) Sau: After—Behind—Posterior. (F) Về sau: Later.

hậu biên thân

xem thân gần cuối.

Hậu Bá Nguyên Thiên Hoàng

(後柏原天皇, Gokashiwabara Tennō, tại vị 1500-1526): vị Thiên Hoàng sống dưới thời đại Chiến Quốc, Hoàng Tử thứ nhất của Hậu Thổ Ngự Môn Thiên Hoàng (後土御門天皇, Gotsuchimikado Tennō, tại vị 1464-1500), tên là Thắng Nhân (勝仁, Katsuhito).

hậu bái

3804讚唄之一,與「始段唄」、「中唄」相對稱。乃法會結束前所唱之梵唄,其音爲高低屈曲之聲調。如諸經要集卷四(大五四‧三二下):「處世界如虛空,猶蓮華不著水;心清淨超於彼,稽首禮無上尊。」此四句亦載於阿育王所立八萬四千塔之每一塔中。唱頌後唄之風習普盛於唐代之顯教儀式,例如法華懺法之後必頌後唄。〔魚山聲明集〕 ; (後唄) Đối lại với Thủy đoạn bái, Trung bái. Bài kệ được tán tụng trước khi kết thúc Pháp hội, âm điệu trầm bổng du dương. Chư kinh yếu tập quyển 4 (Đại 45,32 hạ), ghi: Sống giữa đời như hư không, Giống hoa sen không dính nước, Tâm thanh tịnh vượt xa hơn, Cúi đầu lễ đấng Vô thượng . Bốn câu kệ này cũng được viết ở mỗi ngôi tháp trong 84.000 tháp do vua A dục xây dựng. Nghi thức tán tụng Hậu bái rất thịnh hành ở đời Đường, như sau khi tu pháp sám Pháp hoa đều có tụng tán Hậu bái. [X. Ngư sơn thanh minh tập].

hậu báo

3806三報之一。又稱後受業、順後次受業。謂於現世所造善惡之業,二生以後,受其果報。成實論卷八(大三二‧二九七中):「此世造業,過次世受,是名後報。以過次世故,名爲後。」〔慈悲水懺法卷中、大明三藏法數卷十一〕(參閱「三報」623) ; The retribution received in further incarnation (for theddeds done in this life) ; Future retribution—Quả báo của một hay nhiều đời sau tạo nên bởi cái nghiệp thiện ác của đời nầy. Ðời nay làm lành ác, mà qua đến đời thứ hai, thứ ba, hay lâu hơn nữa mới được hưởng phước lành, hay thọ lãnh quả báo ác. Hậu báo sớm muộn không nhứt định, nhưng chắc chắn là không thể nào tránh khỏi. Hễ tạo nghiệp, dù thiện hay dù ác, chắc chắn sớm muộn gì sẽ phải thọ lãnh quả báo. Chính vì thế mà cổ đức dạy:“Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu,” và “Giả sử bá thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong; nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ,” có nghĩa là lưới trời tuy thưa lồng lộng, nhưng một mảy lông cũng không lọt khỏi, và giả sử như trăm ngàn kiếp đi nữa thì nghiệp gây tạo vẫn còn, khi nhơn duyên đầy đủ thì báo ứng sẽ đến không sai. Có những trường hợp đáng chú ý mà người Phật tử phải hiểu rõ để tránh không bị hiểu lầm về luật nhân quả:làm dữ ở kiếp nầy mà vẫn được giàu sang, là vì kiếp trước đã từng làm phước, cúng dường, bố thí. Cái nhân dữ ở kiếp nầy vì mới gieo nên chưa thành ra quả ác; trong khi cái nhơn lành trong kiếp trước hay nhiều kiếp trước, vì đã gieo lâu, nên đã chín mùi, nên quả giàu sang phải trổ. Cũng như vậy, ăn ở hiền lành mà vẫn cứ nghèo cùng, hoặc luôn bị các điều khổ sở, hoạn nạn, vân vân, ấy là vì nhơn lành mới gieo trong kiếp nầy mà thôi, nên quả lành chưa trổ; còn bao nhiêu nhân ác kiếp trước, đã gieo lâu rồi nên quả dữ đã đến thời điểm chín mùi —The retribution received in the next or further incarnation for the deeds done in this life. Wholesome and unwholesome karma are created in this life, but sometimes the karma will pass through the second, third life, or even longer before one is able to reap the meritorious retributions or endure the evil consequences. Whether these future retributions are earlier or later is not absolute, but it is absolutely unavoidable. If there is action, whether it is good or evil, there will be consequences sooner or later. Ancient sages taught:“The heaven's net may be thin, but even a hair will not fall through,” and “supposing hundreds of thousands of lives have passed, but the karma created still remains; when destinies, circumstances come to fruition, the appropriate retributions will not be denied.” There are some noticeable situations which Buddhists should clearly understand to prevent any misunderstanding about the law of cause and effect:Those who commit evil in this life, yet continue to prosper; it is because they have only began to commit transgressions in this life. However, in the former lives, they have already formed wholesome merits, make offerings and charitable donations. The evil deeds of this life which have just been planted, have not had the proper time to form unwholesome consequences; while the wholesome deeds in the former lives planted long ago, have had the time to come to fruition in the present life. There are also other circumstances, where people practice good deeds, yet they continue to suffer, experience setbacks, misfortunes, etc. that is because they have just learned to practice wholesome conducts in the present life. Otherwise, in the former lives, they have created many unwholesome deeds. The wholesome deeds in this life have just been planted, have not had the proper time to grow into wholesome fruition. However, the wholesome and wicked deeds in the former lives which had been planted long long ago, have had the proper time to come to fruition in the present life. ; (後報) Cũng gọi Hậu nghiệp, Thuận hậu thứ thụ nghiệp. Quả báo sẽ phải nhận lãnh trong đời vị lai tùy theo nghiệp nhân thiện ác đã tạo ở đời hiện tại, là một trong 3 báo. Luận Thành thực (Đại 32, 297 trung), nói: Đời này tạo nghiệp, qua đời kế tiếp nhận lãnh, gọi là Hậu báo. Vì qua đời kế tiếp nên gọi là Hậu (sau) . [X. Từ bi thủy sám pháp Q.trung; Đại minh tam tạng pháp số Q.11]. (xt. Tam Báo).

hậu báo nghiệp

Apara-paryaya-vedaniya-karma (S)Nghiệp đời này, lâu về sau mới trả.

Hậu Bạch Hà Thiên Hoàng

(後白河天皇, Goshirakawa Tennō, tại vị 1155-1158): vị Thiên Hoàng trị vì vào cuối thời Bình An, hoàng tử thứ 4 của Điểu Vũ Thiên Hoàng (鳥羽天皇, Toba Tennō, tại vị 1107-1123), tên là Nhã Nhân (雅仁, Masahito). Một năm sau khi ông tức vị thì nảy sinh vụ loạn Bảo Nguyên (保元). Sau khi nhường ngôi vị lại cho Nhị Điều Thiên Hoàng (二條天皇, Nijō Tennō, tại vị 1158-1165), ông làm Nhiếp Chính trong suốt 34 năm với 5 đời vua. Vào năm 1169 (niên hiệu Hỷ Ứng [喜應] nguyên niên), ông làm Pháp Hoàng, chuyên tâm xây chùa, tạo tượng Phật và soạn bộ Lương Trần Bí Sao (梁塵秘抄).

hậu bối

Future generations.

hậu chu thế tông

3804(921~959)周太祖之養子。姓柴,名榮。略通書史,富有治才,即位後勵精圖治,取秦隴,平淮右,威鎮四方;又修禮樂,定制度,皆堪爲後世之法。然性素不喜佛,以佛教寺院僧尼乃構成國家財政上之負荷爲由,於顯德二年(955)下詔廢佛,禁度僧尼,不許私自出家,廢毀寺院三三三六所,所有鐘磬鐃鈸均被鑄成通錢,世稱「一宗之厄」、「一宗法難」。相傳帝下詔毀佛像時,鎮州有一銅製觀世音菩薩頗具靈驗,故詔下而無人敢毀,帝乃親往該寺,取斧鑱破菩薩胸部,觀者爲之戰慄。顯德六年,於北伐途中突發胸疽而亡,年僅三十九,在位六年。然其以國家權力完全支配佛教教團之政策卻爲後世所法,如宋代以後,僧官制度、寺院制度之整備即是。〔佛祖統紀卷四十二、佛祖歷代通載卷二十五〕 ; (後周世宗) (921-959) Vua Thế tông nhà Hậu Chu, con nuôi Chu thái tổ, họ Sài, tên Vinh. Vua có học qua sử sách, có tài cai trị. Sau khi lên ngôi, vua ra sức chăm lo việc nước, đánh chiếm đất Tần lũng, dẹp yên vùng Hoài tây, uy thế lừng lẫy 4 phương. Vua sửa lại lễ nhạc, qui định chế độ để làm khuôn phép cho đời sau. Thế tông vốn không ưa Phật giáo, cho rằng tăng ni và chùa viện Phật giáo là gánh nặng đối với nền tài chính của quốc gia, nên vào năm Hiển đức thứ 2 (955), ông xuống lệnh phế bỏ đạo Phật, cấm người xuất gia, phá hủy 3.336 chùa viện, tất cả pháp khí, bằng đồng như chuông, khánh v.v...… đều bị đem đúc thành tiền, lịch sử gọi biến cố này là Nhất tông chi ách hay Nhất tông pháp nạn . Tương truyền, khi vua ban lệnh phá hủy các tượng Phật, ở Trấn châu có tượng bồ tát Quan thế âm bằng đồng rất linh nghiệm, tuy đã có lệnh nhưng không ai dám phá, nhà vua đích thân đến chùa lấy búa bổ vào ngực của pho tượng Bồ tát, mọi người đứng xem đều run sợ. Đến năm Hiển đức thứ 6 (959), trên đường đi chinh phạt phương Bắc, trên ngực nhà vua bỗng sinh ra một cái nhọt rồi chết, lúc đó vua mới 39 tuổi, ở ngôi được sáu năm. [X. Phật tổ thống kỉ Q.42; Phật tổ lịch đại thông tải Q.25].

hậu cung dưỡng

3803「前供養」之對稱。密教修法時,於本尊加持、散念誦之後,供養六種供具,稱爲後供養。通常前供養乃供養修得之尊,後供養則供養性德之尊。行事供養(辦備供物而供養之,爲理供養之對稱)時,係將列於行者左方壇上之供具供養之。此乃沿襲自印度宴客之作法,印度之習俗,每宴請賓客,賓客欲告別時,主人必再度勸饌;依此,佛教乃有後供養之作法。〔準提陀羅尼經、觀自在菩薩如意輪念誦儀軌、甘露軍荼利菩薩供養念誦成就儀軌〕 ; (後供養) Đối lại với tiền cúng dường. Trong Mật giáo, khi tu pháp, tụng niệm xong rồi, thì dâng 6 món đồ cúng để cúng dường Bản tôn, gọi là Hậu cúng dường(cúng dường sau). Thông thường, Tiền cúng dường (cúng dường trước) là cúng dường tôn vị tu đắc, còn Hậu cúng dường là cúng dường tôn vị tính đức. Khi cúng dường, thì bày các món đồ cúng trên bàn bên trái của hành giả. Đây là theo phép đãi khách của người Ấn độ. Tập tục của họ mỗi khi mời khách dự tiệc, khi khách cáo từ, thì chủ phải mời khách ở lại để khoản đãi một lần nữa. Đó chính là ý nghĩa của Hậu cúng dường trong Mật giáo. [X. kinh Chuẩn đề đà la ni; Quán tự tại bồ tát như ý luân niệm tụng nghi quĩ; Cam lộ quân đồ lợi bồ tát cúng dường niệm tụng thành tựu nghi quĩ].

hậu di man sai phái

Xem Phệ Đàn Đa phái.

hậu duệ

Descendants.

hậu dạ

3804即後分之夜。乃晝夜六時之一。印度之夜間區分爲初中後三時,此爲其後分。相當於寅時,近於日出之時。彌勒菩薩所問經論卷三(大二六‧二四七中):「初夜後夜,精勤修行。」 ; Thời thứ ba và cũng là thời chót trong đêm (đêm chia làm ba thời sơ, trung, và hậu)—The third division of the night. ; (後夜) Cuối đêm. Ấn độ chia khoảng thời gian ban đêm làm ba thời: Sơ dạ, trung dạ, hậu dạ. Hậu dạ tương đương với giờ dần (3 đến 5 giờ sáng). Di lặc bồ tát sở vấn kinh luận quyển 3 (Đại 26, 247 trung), chép: Sơ dạ, hậu dạ tinh cần tu hành (đầu đêm, cuối đêm siêng năng tu hành).

hậu dạ kệ

3804密教之行者於後夜起床之際,或於後夜之修法、讀經之際,所唱頌之偈文。其偈文云(大一八‧三三七上):「白眾等各念,此時清淨偈。諸法如影像,清淨無瑕穢。取說不可得,皆從因業生。」 ; (後夜偈) Bài kệ đọc tụng vào cuối đêm. Khi thức dậy, hoặc lúc tụng kinh, tu pháp vào cuối đêm, hành giả Mật giáo thường tụng bài kệ sau đây (Đại 18, 337 thượng): Thưa đại chúng nên nhớ .Đây là kệ thanh tịnh; Các pháp như bóng dáng, Trong suốt không vết nhơ; Nắm bắt không thể được, Đều do nhân duyên sinh .

hậu giá

3804指禪林設於僧堂後方之洗面架,爲大眾之洗面處。正法眼藏卷五十六洗面章(大八二‧二○六下):「雲堂洗面處者在後架裡,後架在照堂之西。」其側多設廁所,故廁名亦與彼相混。幻住庵清規修葺治疊條(卍續一一一‧四九五下):「後架乃糞穢之聚。」禪林象器箋殿堂門上載:「廁亦有後架。」〔勅修百丈清規卷下大眾章日用軌範條、瑩山和尚清規〕 ; (後架) Cái giá để chậu rửa mặt đặt ở phía sau Tăng đường là nơi chúng tăng rửa mặt. Chương Tẩy diện trong Chính pháp nhãn tạng quyển 56 (Đại 82, 206 hạ), nói: Chỗ rửa mặt của chúng tăng ở Hậu giá, ở phía tây Chiếu đường . Phần nhiều Hậu giá được thiết trí gần chỗ nhà xí, cho nên thường gọi lẫn lộn nhà xí với Hậu giá. Điều Tu tập trị điệp trong Huyễn trụ am thanh qui (Vạn tục 111, 495 hạ), nói: Hậu giá là nơi chứa phẩn uế . Môn Điện đường Thiền lâm tượng khí tiên nói: Chỗ nhà xí cũng có hậu giá . [X. điều Nhật dụng quĩ phạm, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Oánh sơn hòa thượng thanh qui].

Hậu Hoa Viên Thiên Hoàng

(後花園天皇, Gohanazono Tennō, tại vị 1428-1464): vị Thiên Hoàng sống dưới thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi), con đầu của Trinh Thành Thân Vương (貞成親王), con nuôi của Hậu Tiểu Tùng Thiên Hoàng (後小松天皇, Gokomatsu Tennō, tại vị 1382-1412), tên là Sảng Nhân (彦仁, Bikohito).

hậu hán kỉ

3806凡三十卷。晉代袁宏撰。本書參考班固之世祖本紀、光武時功臣列傳載記,及崔實等之漢紀、馬日磾等之東觀漢紀,並仿荀悅之漢紀體例而成。佛教初傳中國時,最著名之故事爲後漢明帝之「感夢求法」。而本書約成於漢明帝之後二百年,書中對於「感夢求法」之記載乃同類記載中之最古、最信實之資料。 ; (後漢紀) Gồm 30 quyển do Viên hoành soạn vào đời Tấn. Sách này được phỏng theo thể lệ viết Hán kỉ của Tuân duyệt mà soạn thành. Tư liệu tham khảo gồm có các sách: Thế tổ bản kỉ của Ban cố, Công thần liệt truyệt thời Quang vũ, Hán kỉ của Thôi thực và Đông quan Hán kỉ của Mã nhật đê. Sách này được soạn khoảng 200 năm sau vua Minh đế nhà Hậu Hán, trong đó có ghi chép chuyện Cảm mộng cầu pháp của vua Minh đế. Trong các sách ghi chép câu chuyện này, thì Hậu Hán Kỉ là tư liệu xưa nhất và đáng tin cậy hơn cả.

hậu hữu

3803梵語 punar-bhava。未來之果報、後世之身心。即未證涅槃之有情眾生,於未來世所受之果報。「有」之一詞,含有果報存在之義。俱舍論卷二十六(大二九‧一三六下):「我生已盡,梵行已立,所作已辦,不受後有。」意謂阿羅漢已得盡智、無生智,以身心俱滅,故於未來不再受果報。此外,生死身之最後,亦稱後有,意同所謂之最後身,例如後有之菩薩、最後身之菩薩等,如悉達太子之身即屬之。〔長阿含卷十七布吒婆樓經、大毘婆沙論卷二十九、卷一○二、卷一九二、瑜伽師地論卷六十六〕 ; Punarbhāva (S), Renewed existence. ; Future karma; the person in the subsequent incarnation; also, the final incarnation of the arhat, or bodhisattva. ; Quả báo thời vị lai: Future karma. Thân đời sau: The person in the subsequent incarnation. Thân tái sinh cuối cùng của bậc A La Hán hay Bồ Tát: The final incarnation of the arhat, or bodhisattva. ; (後有) Phạm: Punar-bhava. Thân sau. Tức là quả báo của chúng sinh hữu tình phải lãnh nhận ở đời vị lai. Luận Câu xá quyển 26 (Đại 29, 136 hạ), nói: Đời ta đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không chịu hậu hữu . Ý nói: Bậc A la hán đã được Tận trí, Vô sinh trí, thân và tâm đều đã diệt, nên không còn chịu quả báo ở vị lai nữa. Ngoài ra, thân sinh tử cuối cùng cũng được gọi là Hậu hữu, như thân của thái tử Tất đạt đa. [X. Bố tra bà lâu trong Trường a hàm Q.17; luận Đại tì bà sa Q.29, Q.102, Q.192; luận Du già sư địa Q.66].

Hậu hữu 後有

[ja] グウ guu ||| (1) That which is later existent; that which will exist in the future; that which will be the result of the karma, the result of present activity (aparo bhavaḥ). Afterlife, rebirth. (2) The final existence before extinction. => 1. Sự hiện hữu trong đời sau; hiện hữu trong tương lai, là kết quả của nghiệp, kết quả của hành vi hiện tại (s: aparo bhavaḥ). Kiếp sau, tái sinh. 2. Sự hiện hữu cuối cùng trước khi tịch diệt.

hậu khuyến thỉnh

3806密教爲祈雨或難產所修之法會結束前所唱之梵唄。此係源自印度。其文爲:「諸有清淨婆羅門,能除一切諸惡業;如是等眾我歸依,擁護我身並眷屬。」 ; (後勸請) Khuyên mời sau. Bài kệ tụng tán được đọc trước khi kết thúc nghi thức lễ cầu mưa hoặc cầu cho sản phụ được an lành. Nghi thức này vốn của Ấn độ, sau được Mật giáo sử dụng. Bài kệ như sau. Có những Bà la môn thanh tịnh Trừ được hết tất cả nghiệp ác; Chúng con nguyện một lòng qui y, Xin che chở con và quyến thuộc .

hậu lai

The time to come—Future.

hậu linh

3806密教之修法,於供養終了,奉送本尊時所振之鈴。此係沿襲自印度,印度之風俗,賓客將拜別時,主人必奏樂歡送之。 ; (後鈴) Chuông sau. Tức là rung chuông để đưa rước Bản tôn trở về nguyện vị sau khi hoàn tất pháp tu trong Mật giáo. Phong tục Ấn độ, sau bữa tiệc, tân khách bái biệt, chủ nhà phải trỗi nhạc vui vẻ tiễn đưa. Nghi thức này sau được Mật giáo dùng theo.

hậu nghiêm kinh

Kogonkyo (J)Tên một bộ kinh. = Ghanavyuha Sutra. ; Ghanavyuha sùtra (S). Kògonkyô (J)

hậu nghiệp

Upapajjavedaniya (p)—Subsequently effective karma—Theo A Tỳ Ðạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), hậu nghiệp là loại nghiệp mà quả của nó, nếu có, sẽ phải trổ trong kiếp kế liền kiếp hiện tại; nếu không trổ sanh được trong kiếp liền kế tiếp ấy thì hậu nghiệp sẽ trở nên vô hiệu lực. Một thí dụ về quả trổ sanh trong kiếp kế liền sau kiếp hiện tại được kể như sau. Có người làm công cho nhà triệu phú nọ, một ngày rằm, sau khi làm việc cực nhọc ngoài đồng, chiều về thấy cả nhà đề thọ bát quan trai giới trong ngày ấy. Mặc dầu chỉ còn có nửa ngày, anh liền xin thọ giới và nhịn đói buổi chiều hôm đó. Bất hạnh thay, sáng hôm sau anh qua đời. Nhờ tâm trong sạch nghiêm trì bác quan trai giới, anh sanh lên cõi trời. Một thí dụ khác là vua A Xà Thế, con vua Bình Sa Vương, liền sau khi chết, tái sanh vào cảnh khổ vì đã mang trọng tội giết cha—According to the Abhidharma, subsequently effective karma is a karma which, if it is to ripen, must yield its results in the existence immediately following that in which it is performed; otherwise, it becomes defunct. An example of Upapajjavedaniya, a millionaire's servant returned home in the evening after his laborious work in the field, to see that all were observing the eight precepts as it was the full-moon day. Learning that he also could observe them even for half a day, he took the precepts and fasted at night. Unfortunately he died on the following morning and as a result of his good action was born as a Deva. Another good example of subsequently effective karma, Ajatasatru, son of King Bimbisara, was born, immediately after his death, in a state of misery as the result of killing his father.

hậu ngũ bách niên

Pratirupaka (skt). Thời kỳ 500 năm sau cùng: The last of the period of 500 years when strife would prevail. Thời Tượng Pháp, 500 năm sau ngày Phật nhập Niết Bàn: Symbol, formal, or image period, 500 years after the nirvana—See Tượng Pháp.

hậu nhất nhất thừa

3802指華嚴宗之小、始、終、頓、圓五教中最後之圓教,稱一乘教。關於一乘有三說:(一)就一相無盡門而言,唯有說明「無盡緣起,事事無礙」法門之圓教爲一乘教,即今之後一一乘。(二)就成佛不成佛門而言,闡說「一性皆成」之終教以上爲一乘教,即後三一乘。(三)就斷惑不斷惑門而言,闡說「本來成佛舊來成佛不斷惑」之頓、圓二教爲一乘教,此乃後二一乘。此等三說,通於智儼、法藏等華嚴宗諸祖之說。後一一乘多爲智儼、法藏所用,後三一乘多爲澄觀所用,後二一乘多爲宗密所用。然而關於後一一乘、後三一乘,古來即有異論。〔華嚴經探玄記卷一、五教章通路記卷三〕 ; (後一一乘) Cũng gọi nhất thừa giáo. Chỉ cho Viên giáo, là giáo sau cùng trong năm giáo (Tiểu, Thủy, Chung, Đốn, Viên) của tông Hoa nghiêm. Về nhất thừa có 3 thuyết: 1. Nhất tướng vô tận môn: Chỉ thuyết minh về Vô tận duyên khởi; sự sự vô ngại . 2. Thành Phật bất thành Phật môn: Thuyết minh Một tính đều thành . 3. Đoạn hoặc bất đoạn hoặc môn: Thuyết minh Vốn đã thành Phật không dứt hoặc . Trong 3 thuyết trên đây thì Nhất tướng vô tận môn là Viên giáo, tức là Hậu nhất nhất thừa. [X. Hoa nghiêm thám huyền kí Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.3].

hậu nhật phần

3802將日、夜各劃分爲三,日間可分爲初日分、中日分、後日分。夜間可分爲初夜、中夜、後夜。後日分,乃午後二時頃至六時頃。〔幻住庵清規日資條〕 ; (後日分) Phần cuối của ngày. Ngày được chia đều làm 3 phần: Sơ nhật phần, Trung nhật phần, Hậu nhật phần. Hậu nhật phần là khoảng thời gian từ 14 giờ đến 18 giờ trong ngày. [X. điều Nhật tư trong Huyễn am thanh qui].

hậu niệm

3804對初起一念而言,即後續之多念。如淨土宗謂初起信心之一念,後則念念相續,此稱後念相續。又於短促時間內,其先之瞬間稱前念,次之瞬間稱後念。往生禮讚偈(大四七‧四三九下):「前念命終,後念即生。」 ; (後念) Niệm sau. Niệm là khoảng thời gian cực ngắn, như trong chớp mắt. Cái chớp mắt trước gọi là Tiền niệm, cái chớp mắt sau gọi là Hậu niệm. Vãng sinh lễ tán kệ (Đại 47, 439 hạ), nói: Niệm trước mệnh chung, niệm sau vãng sinh .

Hậu Nại Lương Thiên Hoàng

(後奈良天皇, Gonara Tennō, tại vị 1526-1557): vị Thiên Hoàng sống dưới thời đại Chiến Quốc, Hoàng Tử thứ 2 của Hậu Bá Nguyên Thiên Hoàng (後柏原天皇, Gokashiwabara Tennō, tại vị 1500-1526), tên là Tri Nhân (知仁, Tomohito).

hậu phan đề hồ vị

3806又作後教五味。指涅槃經。天台宗以五時教判之第五時爲法華涅槃時,若以五味譬喻之,法華與涅槃同爲五味最後之醍醐味,法華在涅槃之前說,故稱前番醍醐味;而涅槃在法華之後說,故稱後番醍醐味。醍醐味者,即牛之乳、酪、生酥、熟酥、醍醐等五味中最後之味。五味恰如佛最初說華嚴,次說阿含、方等、般若,最後說法華涅槃,故天台宗以五味配五時,以牛比喻佛,五味比喻教。〔法華玄義卷十〕 ; (後番醍醐味) Cũng gọi Hậu giáo ngũ vị.Vị sau cùng trong 5 vị (nhũ, lạc, sinh tô, thục tô, đề hồ) được biến chế từ sữa bò, chỉ cho kinh Niết bàn. Trong phán giáo 5 thời của tông Thiên thai, thì kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn là thời thứ 5, được ví dụ với đề hồ trong 5 vị. Mà kinh Pháp hoa được tuyên thuyết trước, cho nên gọi là Tiền phiên đề hồ vị, còn kinh Niết bàn được tuyên thuyết sau, cho nên gọi là Hậu phiên đề hồ vị. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.10].

hậu pháp

The latter, or symbol, age of Buddhism—See Tượng Pháp.

hậu phương

In the rear.

hậu quang

3803佛菩薩之繪像或雕刻像上,背後所造立之光相,稱作後光,或光背、光焰。其形樣多依時代、地方、佛菩薩之種類而有種種不同,然可大別爲頭光與舉身光二種。若由佛像頭面周圍所發之光,以圓輪表示者,稱爲圓光或頭光;而由圓光所放射出之金線光芒,則稱線光或筋光。若由佛像全身所發射之光,稱舉身光、身光。其中,頭光與身光若以二重圓輪來表示,稱爲輪後光;若於輪後光之後,再附上船形之大光焰,則稱爲船後光、船形後光。又密教之明王等忿怒形之諸尊,多以火焰爲光背。此後光、光背之稱呼,大多用於雕刻之佛像上。〔觀無量壽經、廣弘明集卷十七、佛像圖彙卷五〕(參閱」光背」2179) ; Ánh hào quang sau bức tượng—The halo behind the image. ; (後光) Cũng gọi Quang bối, Quang diệm. Hào quang ở sau lưng tranh hoặc tượng Phật và Bồ tát. Tùy theo thời đại, địa phương và các loại tranh, tượng mà có nhiều thứ khác nhau, nhưng tựu trung có thể chia làm hai loại là: Đầu quang và Thân quang. Nếu hào quang ở đầu tượng Phật thì gọi là Đầu quang hoặc Viên quang; ở toàn thân tượng Phật thì gọi là Thân quang. Nếu Đầu quang và Thân quang có hai lớp vòng tròn thì gọi là Luân hậu quang. Nếu đàng sau Luân hậu quang lại thêm tia sáng lớn hình cái thuyền, thì gọi là Thuyền hậu quang, Thuyền hình hậu quang. Ngoài ra, tượng các vị Minh vương trong Mật giáo, có những ngọn lửa hừng hừng ở sau lưng, biểu thị sự phẫn nộ, cũng gọi là Hậu quang hay Quang bối. [X. kinh Quán vô lượng thọ; Quảng hoằng minh tập Q.17; Phật tượng đồ vựng Q.5]. (xt. Quang Bối).

hậu quả

Consequence.

hậu sanh

Ðiều kiện tái sanh của đời sau: The after condition of rebirth. Sanh sau: Later born. Thế hệ đời sau: The later, or younger generations. Tuổi trẻ: Youth.

hậu sinh

3803即未來之生。相對於「前生」、「今生」。又作來世、來生、後世。佛教立三世因果輪迴轉生,以今生爲前生之後生,而今生之苦樂多由前生之業因,後生之苦樂亦由今生之善惡業所造,故對今生之造業須謹慎行之,特別於淨土門期望證悟佛果者,更不可造次。〔法華經卷三藥草喻品、勝鬘經如來真實義功德章、往生禮讚偈〕 ; (後生) Cũng gọi Lai thế, Lai sinh, Hậu thế. Đối lại với Tiền sinh, Kim sinh. Sự sống ở đời sau. Theo thuyết nhân quả luân hồi trong ba đời của Phật giáo, thì sự khổ vui ở đời này là kết quả của nghiệp nhân đã tạo ra ở đời trước, sự khổ vui của đời sau là do nghiệp nhân thiện ác đã tạo tác trong đời này. Bởi thế, người ta phải hết sức thận trọng đối với những hành động của mình trong đời này. [X. phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa Q.3; chương Như lai chân thực nghĩa công đức trong kinh Thắng man; Vãng sinh lễ tán kệ].

hậu sinh bồ đề

3803謂於後世得生極樂淨土,而得菩提之果。(參閱「往生」3198) ; (後生菩提) Đời sau được sinh về Tịnh độ cực lạc, chứng quả Bồ đề. (xt. Vãng Sinh).

hậu sơn ngoại

3802乃天台宗四明知禮門下異解者之貶稱。與晤恩、源清等「前山外」相對稱。以其所解不純正,故又稱雜傳派。如淨覺仁岳、神智從義等,爲四明門下之法孫,而與四明之說法相背,卻同於前山外之主張。初,四明著觀經妙宗鈔,而其門下廣智、淨覺間有觀心、觀佛之爭論。其時四明立約心觀佛之義以解此爭論,然淨覺不悅,堅持自義,忤難四明之說。四明亦恐釀成後世憂患,故極力破斥,於是淨覺更作十諫書等抗辯之。四明歿後,其法孫希最聞淨覺之傲語而奮起辯駁,淨覺終於歎服。後四明之法孫繼忠門下之從義,亦以一家之教觀而違背四明之說,以空中無相之說責難寂光之有相,又主張以三千假諦破三千空中。故世稱後山外者,多以淨覺、從義二師爲代表。然此二師並非如晤恩、源清等前山外二師有師徒關係,故不可認其教權、傳承之關係。凡稱爲後山外者,都不得山家之正統,故以此貶稱之。〔佛祖統紀卷二十一諸師雜傳、釋門正統卷五〕 ; (後山外) Đối lại với Tiền sơn ngoại. Cũng gọi Tạp truyền phái. Sơn ngoại là tiếng chê bai những người đệ tử có kiến giải khác với, thậm chí phản bội, lời dạy của thầy tổ. Hậu sơn ngoại nguyên chỉ cho Tịnh giác Nhân nhạc và Thần trí Tòng nghĩa là đệ tử và pháp tôn của ngài Tứ minh Tri lễ thuộc tông Thiên thai, mà lại phản đối giáo thuyết của ngài Tứ minh và chủ trương quan điểm giống như phái Tiền sơn ngoại (chỉ cho Ngô ân và Nguyên thanh thuộc phái Sơn ngoại tông Thiên thai). Ngài Tứ minh soạn Quán kinh diệu tông sao, đệ tử và pháp tôn của ngài là Quảng trí và Tịnh giác có sự tranh luận về quán tâm và quán Phật. Bấy giờ, ngài Tứ minh lập nghĩa Ước tâm quán Phật để hóa giải sự tranh luận ấy, nhưng sư Tịnh giác không hài lòng, vẫn cố thủ quan điểm của mình và chống lại thuyết của thầy mình. Sợ gây thành mối họa cho đời sau, nên ngài Tứ minh cực lực bác bỏ quan điểm của Tịnh giác, do đó, Tịnh giác bèn viết 10 lá thư để biện hộ. Sau khi ngài Tứ minh nhập tịch, pháp tôn của ngài là sư Hi tối nghe lời lẽ ngạo mạn của Tịnh giác bèn ra sức biện bác, cuối cùng Tịnh giác phải thán phục. Về sau, pháp tôn của ngài Tứ minh là sư Tòng nghĩa, đệ tử của sư Kế trung, cũng chống lại thuyết của ngài Tứ minh. Cho nên người đời phần nhiều lấy Tịnh giác và Tòng nghĩa làm đại biểu cho phái Hậu sơn ngoại. Nhưng, 2 vị này không có quan hệ thầy trò như 2 vị thuộc phái Tiền sơn ngoại là Ngô ân và Nguyên thanh, cho nên không được thừa nhận mối quan hệ về giáo quyền và truyền thừa. Ngoài ra, từ ngữ Hậu sơn ngoại cũng được dùng để chỉ cho những người không phải là chính thống của Sơn gia. [X. Chư sư tạp truyện trong Phật tổ thống kỉ Q.21; Thích môn chính thống Q.5].

Hậu Tha Nga Thiên Hoàng

(後嵯峨天皇, Gosaga Tennō, tại vị 1242-1246): vị Thiên Hoàng sống giữa thời Liêm Thương, vị Hoàng Tử của Thổ Ngự Môn Thiên Hoàng (土御門天皇, Tsuchimikado Tennō, tại vị 1198-1210), tên là Bang Nhân (邦仁, Kunihito). Sau khi nhường ngôi cho Hậu Thâm Thảo Thiên Hoàng (後深草天皇, Gofukakusa Tennō, tại vị 1246-1259), ông làm Viện Chính.

hậu thiên

Hou-t'ien (C) Xem Truyền giới.

hậu thiện đạo

3806意指善導之再生或後身。善導滅後,慕其遺風者興起倡導淨土法門,尤以法照、少康二師大力提倡,世人乃以「後善導」稱美之。慈雲之西方略傳:「後有法照大師,即善導之後身。」宋高僧傳卷二十五少康傳(大五○‧八六七下):「時號後善導。」 ; (後善導) Hậu thân của ngài Thiện đạo. Sau khi ngài Thiện đạo thị tịch, vì mến mộ di phong của ngài, nên 2 vị Pháp chiếu và Thiếu khang đã tận lực hoằng dương pháp môn Tịnh độ của ngài. Bởi thế, 2 vị được người đời khen ngợi là Hậu Thiện Đạo. Tây phương lược truyện của ngài Từ vân nói: Sau có đại sư Pháp chiếu, tức là hậu thân của ngài Thiện đạo . Thiếu Khang truyện trong Tống cao tăng truyện (Đại 50, 867 hạ), nói: Bấy giờ, ngài được gọi là Hậu Thiện Đạo .

hậu thuyết

Học thuyết của đời sau, hay được nói về sau nầy:Spoken later, or after (a doctrine).Thuật ngữ của Nhân Minh (một trong ba chi “tôn, nhân, và dụ”): The predicate of the major premiss of a syllogism.

hậu thân

The body or person in the next stage of transmigration. ; Thân của kiếp sau—The body or person in the next stage of transmigration.

Hậu thân 後身

[ja] グシン gushin ||| (1) A body taken on after; an afterlife, subsequent rebirth. 〔倶舎論、 T 1558.29.26c23〕(2) An abbreviation for "final body" 最後身 the last body into which sages are reborn. => 1. Thân nhận được sau khi đầu thai; kiếp sau, thân tái sinh. 2. Viết tắt của “tối hậu thân” (e: final body" 最後身), là thân sau cùng mà một vị thánh thị hiện ra .

Hậu Thôn Thượng Thiên Hoàng

(後村上天皇, Gomurakami Tennō, tại vị 1339-1368): vị Thiên Hoàng Nam Triều của thời đại Nam Bắc Triều, Hoàng Tử thứ 7 của Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō, tại vị 1318-1339), mẹ là A Dã Liêm Tử (阿野廉子), tên là Nghĩa Lương (義良, Noriyoshi) hay Hiến Lương (憲良).

hậu thất nhật ngự tu pháp

3802爲日本真言宗之修法。每年一月八日至十四日,爲期七天,在宮中真言院爲祈求天皇康寧及國土安泰所舉行之儀式。明治之後,改在東寺真言院舉行。 ; (後七日禦修法) Pháp tu 7 ngày của tông Chân ngôn Nhật bản, cầu nguyện cho Thiên hoàng. Hàng năm, từ ngày mồng 8 đến ngày 14 tháng giêng, tông Chân ngôn cử hành lễ ở viện Chân ngôn trong nội cung, để cầu cho Thiên hoàng được mạnh khỏe, quốc dân được an vui. Từ thời Minh trị trở về sau, lễ cầu nguyện này được cử hành ở viện Chân ngôn của chùa Đông tự.

hậu thập di vãng sinh truyện

3804凡三卷。日本三善爲康編。收於大日本佛教全書。內容爲輯錄七十四位往生者之事蹟,爲研究日本鎌倉以前淨土教之主要史料。〔淨土真宗教典志卷三〕 ; (後拾遺往生傳) Gồm 3 quyển, do ngài Tam thiện Vi khang người Nhật bản biên soạn, thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư. Nội dung sách này ghi chép sự tích của 74 người được vãng sinh, là sử liệu chủ yếu cho việc nghiên cứu về Tịnh độ giáo của Nhật bản từ thời đại Liêm thương trở về trước. [X. Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.3].

hậu thế

The life after this; later generations, or ages. ; Ðời sau: The life after this. Những thế hệ về sau nầy: Later generations or ages.

hậu thế giả

3802又作遁世者、道心者。指希望死後能生於極樂淨土,故捨避世務而專修念佛、誦經,以蓄後世之資糧者。 ; (後世者) Cũng gọi Độn thế giả, Đạo tâm giả. Chỉ cho người xả bỏ tất cả việc đời mà chuyên tu niệm Phật, tụng kinh để chuẩn bị tư lương cho đời sau, mong cầu được sinh về Tịnh độ cực lạc.

Hậu Thổ

(后土): có nhiều nghĩa khác nhau: (1) Tôn xưng đối với đại địa, như trong chương Hy Công Thập Ngũ Niên (僖公十五年) của Tả Truyện (左傳) có đoạn rằng: “Quân lý Hậu Thổ nhi đái Hoàng Thiên (君履后土而戴皇天, người tuy đạp lên Thần Đất mà đội ông Trời).” (2) Chỉ Thần Thổ Địa, Thần Đất, Địa Thần (地神), đồng nghĩa với Địa Kỳ (地祗), hay chỉ cho nơi thờ tự Thần Thổ Địa. Như trong Chu Lễ (周禮), phần Xuân Quan (春官), Đại Tông Bá (大宗伯) có câu: “Vương đại phong, tắc tiên cáo Hậu Thổ (王大封、則先告后土, nhà vua phong chức, trước phải cáo Thần Thổ Địa).” Hay trong Hán Thư (漢書), phần Võ Đế Kỷ (武帝紀) lại có câu: “Trẫm cung tế Hậu Thổ Địa Kỳ, kiến quang tập vu linh đàn, nhất dạ tam chúc (朕躬祭后土地祇、見光集于靈壇、一夜三燭, Trẫm cung kính cúng tế Thần Thổ Địa, thấy ánh sáng tập trung nơi linh đàn, một đêm ba lần thắp nến sáng).” (3) Tên gọi khác của Thổ Công (土公), xem chú thích Thổ Công bên trên. (4) Tên gọi của một chức quan chuyên quản lý đất đai thời Thượng Cổ, như trong Tả Truyện, chương Chiêu Công Nhị Thập Cửu Niên (昭公二十九年) có giải thích rằng: “Ngũ Hành chi quan, thị vị Ngũ Quan …, Thủy Chánh viết Huyền Minh, Thổ Chánh viết Hậu Thổ (五行之官、是謂五官…水正曰玄冥、土正曰后土, quan Ngũ Hành được gọi là Ngũ Quan; … quan trông coi về thủy đạo là Huyền Minh, quan trông coi về đất đai là Hậu Thổ).” Trong dân gian Trung Quốc có câu chuyện Hậu Thổ Phu Nhân (后土夫人) cưới chàng họ Vi (韋). Trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806-820), khi tướng Cao Biền (高駢, 821-887) làm Tiết Độ Sứ (節度使) Hoài Nam (淮南), bộ tướng (呂用之) ngụy tạo ra điềm linh dị của Hậu Thổ Phu Nhân và khuyên Cao Biền nên cát cứ một phương. Như trong bài thơ Hậu Thổ Miếu (后土廟) của La Ẩn (羅隱, 833-909) nhà Đường có câu: “Cửu Thiên Huyền Nữ do vô Thánh, Hậu Thổ Phu Nhân khởi hữu linh (九天玄女猶無聖、后土夫人豈有靈, Cửu Thiên Huyền Nữ chẳng phải Thánh, Hậu Thổ Phu Nhân sao có linh)” để nói lên sự hôn mê, vô tri của Cao Biền lúc bấy giờ. Hậu Thổ còn có tên gọi khác là Thổ Hoàng (土皇), vị Địa Thần của Đạo Giáo, được liệt vào trong Tứ Ngự (四御). Thần hiệu của Hậu Thổ là Thừa Thiên Hiệu Pháp Khai Hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân (承天効法開皇后土元君), còn gọi là Địa Mẫu Nương Nương (地母娘娘), Hậu Thổ Nương Nương (后土娘娘). Trong điện thờ Tứ Ngự có thần tượng hay thần vị của Hậu Thổ. Tại Trung Quốc, kể từ thời nhà Đường trở đi, theo đà phát triển của thuật Phong Thủy, mỗi khi động thổ, thượng lương, về nhà mới, trấn trạch, làm cầu, đắp đường, v.v., người dân đều có thiết trai nghi dâng cúng tạ Hậu Thổ để cầu cho gia trạch bình an, cầu đường hanh thông, ban phước tiêu tai cát tường. Truyền thống này cũng được tìm thấy trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam. Tại Huế mỗi năm có 2 tháng để Cúng Đất là tháng 2 hoặc tháng 8 Âm Lịch. Trong lễ này, ngoài những lễ vật độc đáo như cua, trứng vịt luộc, rau muống luộc mắm nêm, v.v., còn có luộc một con gà kiến tuổi đã trưởng thành và con gà đó phải được chọn lựa kỹ lưỡng, đặc biệt đôi chân phải “đẹp”. Sau khi cúng đất xong, theo tục lệ cặp chân gà được đem đi nhờ thầy xem bói giò để biết thời vận trong gia đình, hoặc được đem treo ở chàng bếp cho khô.

hậu tiến

Underdeveloped—Backward.

hậu trần

3804因明用語。又作後說。與「前陳」對稱。指因明論式中,宗(命題)後段之賓詞。如於「聲無常」之命題中,無常爲後陳,聲爲前陳。後陳有差別(梵 viśeṣa)、法(梵 dharma)、能別(梵 viśeṣaṇa)等三名,此三者合稱「體之三名」,或「義之三名」。〔因明入正理論卷上本、因明論疏瑞源記卷二〕(參閱「體」6928) ; (後陳) Cũng gọi Hậu thuyết. Đối lại với Tiền trần. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho danh từ sau của Tông (mệnh đề) trong luận thức Nhân minh. Như trong mệnh đề Âm thanh là vô thường thì vô thường là Hậu trần, âm thanh là Tiền trần. Hậu trần có 3 tên gọi: 1. Sai biệt (Phạm:Vizewa). 2. Pháp (Phạm: Dharma). 3. Năng biệt (Phạm:Vizewaịa). Ba tên này được gọi chung là Thể chi tam danh (3 tên của thể) hoặc Nghĩa chi tam danh (3 tên của nghĩa). [X. luận Nhân minh nhập chính lí Q.thượng phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.2]. (xt. Thể).

hậu tâm

Post-mental state.

hậu tạ

To reward liberally.

hậu tế

Aparanta (S)Vị lai.

hậu vương sơn trụ bộ

Apararājagirika (S)Một trong 4 bộ phái của án đạt la phái.

hậu ðãi

To treat well.

hậu ðắc trí

Còn gọi là Phân Biệt Trí, tức là cái trí chân chánh, sâu kính, ngầm hợp chân như, trí sở đắc theo sau căn bản trí—Detailed or specific knowledge or wisdom succeeding upon or arising from fundamental knowledge (Căn bản trí)—See Phân Biệt Trí.

hậu ý

Good intent.

hậu đường

3805<一>後僧堂之略稱。南宋時,大叢林有前堂、後堂二僧堂(重雲堂)。現指僧堂中央聖僧左右之出入板的前方爲前堂(前板),後方爲後堂(後板)。 <二>爲後堂首座之略稱。 <三>結夏安居之時,代西堂指導大眾之職務。 ; (後堂) I. Hậu Đường. Gọi đủ: Hậu tăng đường. Đối lại: Tiền đường. Chỉ cho Tăng đường trong đại tùng lâm ở thời Nam Tống. Hiện nay chỉ cho dãy nhà ở phía sau Tăng đường. II. Hậu Đường. Gọi đủ: Hậu đường thủ tọa. III. Hậu Đường. Chức vụ thay Tây đường chỉ đạo đại chúng trong thời gian kết hạ an cư.

hậu đường thủ toà

3804禪林區分僧堂爲前堂、後堂,管理後堂之修行僧者稱後堂首座。與「前堂首座」相對稱,然前堂首座略稱爲首座,後堂首座則略稱後堂。勅修百丈清規卷四後堂首座條(大四八‧一一三一上):「位居後板,輔贊宗風,軌則莊端,爲眾模範。蓋以眾多,故分前後。齋粥二時過堂及坐禪,則後門出入。」〔禪林象器箋職位門〕 ; (後堂首座) Đối lại với Tiền đường thủ tọa. Gọi tắt: Hậu đường. Chức vụ của vị quản chúng ở Hậu đường. Điều Hậu đường thủ tọa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1131 thượng), nói: Vị Hậu đường thủ tọa ở Hậu bản, giữ giới nghiêm túc, uy nghi đoan trang; làm khuôn phép cho đại chúng. Bởi vì chúng đông nên chia Tiền, Hậu để ra vào trông coi 2 thời cơm cháo và giờ tọa thiền của đại chúng . [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hậu đắc trí

3804梵語 pṛṣṭha-labdha-jñāna。又作無分別後智、後得無分別智。無分別智之一。與「根本無分別智」(根本智)相對。即根本無分別智後所得之智。蓋此智乃根本智所引,能了達依他如幻之境,故稱如量智、權智、俗智。又根本智爲非能分別、非所分別,此智則爲所分別、能分別。於十波羅蜜中,與後之方便善巧等四波羅蜜相配。據無性攝大乘論釋卷八載,此智可別爲五種:(一)通達思擇,於真決定,於真現觀,故稱通達;由後得智思擇如是所得通達,即於中自內審察此事如是,故稱通達思擇。(二)隨念思擇,謂於後時隨念通達,念言「我曾通達是事」,故稱隨念思擇。(三)安立思擇,謂從此出,如所通達爲他宣說,故稱安立思擇。(四)和合思擇,謂以總相觀緣一切法,由此觀故進趣轉依,或轉依已,重起此觀,故稱和合思擇。(五)如意思擇,謂智現前,隨所思惟,一切如意,如令地等變成金等,故稱如意思擇。又此智與斷道有關,瑜伽師地論卷五十五(大三○‧六○六上):「後智思惟所緣故,令彼所斷(根本智斷),更不復起。又前智能進趣修道中出世斷道,第二智(後智)能進趣世、出世斷道,無有純世間道能永害隨眠。」〔唐譯攝大乘論釋卷八、佛地經論卷三、成唯識論卷十〕 ; (後得智) Phạm: Pfwỉha-labdha-jĩàna. Cũng gọi Vô phân biệt trí, Hậu đắc vô phân biệt trí. Đối lại: Căn bản trí, Căn bản vô phân biệt trí. Trí tuệ có được sau trí Căn bản vô phân biệt. Vì trí này là do trí căn bản dẫn dắt, có thể thấu suốt cảnh y tha như huyễn, cho nên gọi là Như lượng trí, Quyền trí, Tục trí. Lại trí căn bản không phải là năng phân biệt, sở phân biệt, còn trí này thì là sở phân biệt, năng phân biệt. Trong 10 Ba la mật, Hậu đắc trí được phối với Phương tiện, Nguyện, Lực và Trí. Cứ theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 8 của ngài Vô tính, thì trí này có thể chia làm 5 loại: 1. Thông đạt tư trạch(suy xét, chọn lựa, thông suốt): Hậu đắc trí suy xét, quyết định chọn pháp hiện quán chân thực, mà được thông suốt, tức là ở trong tâm tự xét việc ấy đúng như vậy. 2. Tùy niệm tư trạch(theo ý nghĩ mà suy xét lựa chọn): Tùy theo niệm thông suốt đó mà nghĩ rằng Mình đã từng thông suốt việc ấy . 3. An lập tư trạch: Đem chỗ mình đã thông suốt trình bày cho người khác biết. 4. Hòa hợp tư trạch: Dùng tướng chung quán xét duyên theo tất cả pháp mà tiến đến chuyển y, hoặc chuyển y rồi, lại khởi lên pháp quán này. 5. Như ý tư trạch: Trí hiện tiền tùy theo điều suy nghĩ sẽ được như ý, như nghĩ đất là vàng thì trở thành vàng, v.v...… [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.8 (bản dịch đời Đường); Phật địa kinh luận Q.3; luận Thành duy thức Q.10].

hậu đắc trí - phân biệt trí

Detailed, or specific, knowledge or wisdom succeding upon or arising from căn bản trí fundamental knowledge.

Hậu đắc trí 後得智

[ja] グトクチ gutokuchi ||| A posteriori wisdom. Wisdom attained after liberation that is used for the task of liberating other sentient beings. It is attained after having innate wisdom 根本智.〔二障義 HPC 1.802c; 起信論疏 1844.44.213c〕 => Trí huệ có được sau khi giác ngộ, được dùng trong việc cứu độ chúng sinh. Trí nầy đạt được sau căn bản trí 根本智.

Hậu đắc 後得

[ja] グトク gutoku ||| Attained after awakening. 〔二障義 HPC 1.802c〕 => Đạt được sau khi chứng ngộ.

hắc

Kāla (S), Black Thời điểm. ; Kàla, krsna (S). Black; dark. ; Màu đen: Kala or Krsna (skt)—Black—Dark. Mực: Ink.

hắc bạch

5379<一>爲黑業與白業之略稱,即指惡業與善業。(參閱「白業黑業」2099)[1] <二>爲曹洞宗之祖洞山良价所設立「洞山五位」中用以表示正位與偏位之圖色。洞山五位爲洞山良价於接引學人時所設立之權宜方法,即是將學道者之開悟過程分爲正中偏、偏中正、正中來、偏中至、兼中到等五種階段。其中,「正」即平等、絕對、真如之法,於圖形中以黑色表示之;「偏」,即差別、相對、生滅之法,於圖形中以白色表示之。五位中之正中偏,以圖形示之,即栉,此一階段之證悟係以現象界爲主,唯其所見之現象界已被認爲係絕對我之境界。五位中之偏中正,以圖形示之,即妪,此一階段不再強烈呈現分別見解,現象界之一切逐漸隱退。 自洞山五位之說漸受重視之後,於禪林中,尤以曹洞宗中遂常以黑白表示平等與差別、正與偏等各種相對之法,或僅以黑白二字表示區別、差別之義。如「黑白既分」一語,表示正位與偏位已然分別而又交互作用之位,於此之時,正中有偏(如正中偏),偏中有正(如偏中正),故又稱黑白交互。又如「黑白圈兒」一語,指五位中之兼中至與兼中到,其圖形分別爲○與●,亦有以此語統稱全部五位之形相者,此外,亦被用爲洞山五位之代用語。另如「黑白未分」一語,意義有二:(一)又作黑白未兆、黑白未交時,表示正偏之位未分之前,即學人之證悟情形尚未進入五位之各階段。(二)表示尚未顯現差別相之前,故又作陰陽未分以前、天地未開以前、朕兆未萌以前。〔洞山良价禪師語錄、洞上古轍卷上、解釋洞山五位顯訣卷中、人天眼目卷三〕(參閱「五位」1087、「洞山五位」3869) ; Black and white, evil and good; also the two halves of the month, the waning and waxing moon. ; 36) Hai phần trong tháng, phần trăng khuyết, và phần trăng đầy: The two halves of the month, the waning and the waxing. 37) Màu trắng và màu đen: Black and white. 38) Xấu và tốt: Evil and good. ; (黑白) I. Hắc Bạch. Gọi đủ: Hắc nghiệp, Bạch nghiệp. Chỉ cho ác nghiệp và thiện nghiệp. (xt. Bạch Nghiệp Hắc Nghiệp). II. Hắc Bạch. Hình tròn đen, trắng được dùng để giải thích 2 vị Chính và Thiên trong Động sơn ngũ vị của thiền sư Động sơn Lương giới, tổ khai sáng của tông Tào động. Ngài Động sơn Lương giới chia quá trình khai ngộ của người học đạo làm 5 giai đoạn: Chính trung thiên, Thiên trung chính, Chính trung lai, Thiên trung chí và Kiêm trung đáo. Trong đó, Chính là pháp chân như, bình đẳng, tuyệt đối, được tượng trưng bằng màu đen; Thiên là pháp sinh diệt, sai biệt, tương đối, được tượng trưng bằng màu trắng. Chính trung thiên trong Ngũ vị được tượng trưng bằng hình tròn , sự chứng ngộ ở giai đoạn này lấy hiện tượng giới làm chủ, nhưng hiện tượng giới được thấy ở đây đã được nhận là cảnh giới của Ngã tuyệt đối. Thiên trung chính trong Ngũ vị được tượng trưng bằng hình tròn , ở giai đoạn này, kiến giải phân biệt không còn vẻ mạnh mẽ nữa, tất cả hiện tượng giới đã dần dần mờ nhạt. Từ sau khi thuyết Động sơn ngũ vị được coi trọng, thì trong Thiền lâm, đặc biệt là tông Tào động, từ Hắc bạch được dùng chung với những từ ngữ khác, như: Hắc bạch vị phân, Hắc bạch kí phân, Hắc bạch giao hỗ, Hắc bạch khuyên nhi, v.v... Hắc bạch vị phân: Đen trắng chưa chia. Có 2 nghĩa: 1. Biểu thị vị Chính, Thiên khi chưa phân định, tức là sự chứng ngộ của người học vẫn chưa tiến đến giai đoạn Ngũ vị. Cho nên cũng gọi là Hắc bạch vị triệu, Hắc bạch vị giao thời. 2. Biểu thị Chính, Thiên chưa hiển hiện tướng sai biệt, nên cũng gọi là Âm dương vị phân, Thiên địa vị khai, Trẫm triệu vị manh. Hắc bạch kí phân: Đen trắng đã chia. Biểu thị Chính vị và Thiên vị đã phân biệt rõ ràng, nhưng vẫn tác dụng giao thoa lẫn nhau. Lúc đó là trong Chính có Thiên (tức Chính trung thiên), trong Thiên có Chính (tức Thiên trung chính), cho nên cũng gọi là Hắc bạch giao hỗ (đen trắng giao thoa nhau). Hắc bạch khuyên nhi: Chỉ cho Thiên trung chí và Kiêm trung đáo. Hình vẽ được tượng trưng bằng vòng tròn trắng và đen . Từ Hắc bạch khuyên nhi này là gọi chung toàn bộ hình tướng của Ngũ vị, đồng thời, cũng là từ ngữ được dùng thay cho Động sơn ngũ vị. [X. Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục; Động thượng cổ triệt Q.thượng; Giải thích Động sơn ngũ vị hiển quyết Q.trung; Nhân thiên nhãn mục Q.3]. (xt. Ngũ Vị, Động Sơn Ngũ Vị).

hắc ca sa

5383黑色袈裟。佛制規定袈裟禁用青、黃、赤、白、黑等五正色,而許以似青、似黑、木蘭等三不正色。故僧人不得穿著純黑色法衣,而所謂似黑,即指緇色,如黑泥之色。故一般僧人所著緇色法衣,又稱緇衣。〔釋門章服儀〕 ; (黑袈裟) Áo ca sa màu đen Luật Phật qui định cấm chúng tăng không được dùng 5 màu chính: xanh, vàng, đỏ, trắng và đen làm màu áo cà sa, mà chỉ được dùng màu bùn (truy sắc), màu vỏ già và màu hạt dẻ. Cho nên, áo chúng tăng mặc được gọi là truy y (áo màu bùn). [X. Thích môn chương phục nghi].

hắc chủng

Black race.

hắc cốc thượng nhân ngữ đăng lục

5381凡十八卷。日本了惠道光編錄。日本淨土宗開祖法然示寂後六十二年,即文永十一年(1274),由於同門之中已產生各種異說,故了惠道光乃據黑谷上人法然之行誼、開示等遺文編錄成書,以匡正當時風氣。全書分爲語燈錄十五卷與拾遺三卷。書中有漢語與和語兩部分,漢語部分包括漢語燈錄十卷(十七章)與拾遺上卷(三章);和語部分包括和語燈錄五卷(二十四章)與拾遺中下卷(八章)。其中,和語部分開版於元亨元年(1321),爲平假名刻本中最早之淨土教版,甚爲著名。 ; (黑谷上人語燈錄) Gồm 18 quyển, do sư Liễu huệ Đạo quang, người Nhật soạn. Sau khi ngài Pháp nhiên, tổ khai sáng của tông Tịnh độ Nhật bản, thị tịch được 62 năm, vào năm Văn vĩnh 11 (1274), do trong môn phái phát sinh các kiến giải khác nhau, nên sư Liễu huệ Đạo quang mới căn cứ theo các bài giảng và lời khai thị của ngài Hắc cốc thượng nhân (Pháp nhiên) mà soạn thành sách này để chỉnh đốn lại môn phong. Toàn bộ sách gồm Ngữ đăng lục 15 quyển và Thập di 3 quyển, trong đó, chia làm 2 phần: Chữ Hán và chữ Nhật. - Phần chữ Hán gồm Hán ngữ đăng lục (17 chương) và Thập di quyển thượng (3 chương). - Phần chữ Nhật gồm Hòa ngữ đăng lục 5 quyển (24 chương) và Thập di quyển trung, hạ (8 chương). Phần chữ Nhật được khắc in vào niên hiệu Nguyên hanh năm đầu (1321) là bản in Tịnh độ giáo sớm nhất trong các bản khắc chữ Nhật, do đó rất nổi tiếng.

hắc dạ thiên

5382梵名 Kālā-rātrī。又稱黑暗天、暗夜天。此尊位於密教之胎藏現圖曼荼羅外院閻摩天之西,爲閻摩王之后妃。據大日經疏卷十載,因黑夜之中有諸多恐怖、過患,故此尊之本誓乃加護眾生,消除恐怖、過患。形像呈肉色,右掌上仰,指端微屈,左手持杖,杖端爲圓環,內有人頭像,雙腿交叉而坐,面向左,仰視閻摩王。三昧耶形爲幢,又大日經祕密品載爲黑夜計都印。「計都」,即梵語「旗」之意。印契爲左手握拳,其食指、中指舒張。種子爲???(ka)。真言爲「歸命迦羅羅底里曳(kālarātriye,黑夜)娑縛賀(svāhā)」。〔大日經疏卷五、卷十六〕 ; Xem Hắc Dạ thần. ; (黑夜天) Phạm:Kàlà-ràtrì. Cũng gọi Hắc ám thiên, Ám dạ thiên. Vị tôn này được đặt ở phía tây Diêm ma thiên của viện ngoài trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, là vợ của vua Diêm ma. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 10, thì bản thệ của vị tôn này là cứu giúp chúng sinh thoát khỏi bóng tối của sợ hãi và âu lo. Hình tượng vị này màu da người, bàn tay phải ngửa lên, đầu các ngón hơi co lại, tay trái cầm gậy, đầu gậy là vòng tròn, trong đó có hình đầu người, ngồi tréo chân, ngoảnh mặt về phía trái, ngước nhìn vua Diêm ma. Hình Tam muội da là cây cờ. Theo phẩm Bí mật trong kinh Đại nhật thì ấn khế của vị tôn này là ấn Hắc dạ kế đô. Kế đô tức tiếng Phạm có nghĩa là cờ . Ấn tướng: Tay trái nắm lại, ngón trỏ, ngón cái duỗi ra. Chủng tử là (ka). Chân ngôn là: Qui mệnh Ca la la để lí duệ (Kàlaràtriye, hắc dạ) sa phạ hạ (svàhà). [X. Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.16].

hắc dạ thần

Kālaratri (S)Hắc Dạ thiên, ám Dạ thiênVị thần này là bà hậu hầu hạ vua Diêm La. ; Kalaratri (skt)—Còn gọi là Ám Hạ Thiên, Hắc Ám Thiên, hay Hắc Dạ Thiên, tiếng Phạn là Ca La Ca Ðể Mặc, một trong ba bà hoàng hậu của vua Diêm Ma, đây là vị Thần trông coi thế gian nửa đêm, lúc tối trời—One of the three queens of Yama, who controls midnight.

hắc hủy hoài châu

(hắc hủy hoài châu ) I. Hắc hủy hoài châu. Hắc hủy là rắn hổ mang có nọc rất độc. Hắc hủy hoài châu là rắn hổ mang ngậm ngọc báu, ngọc tuy quí nhưng hoàn toàn vô dụng. Trong Phật giáo, từ ngữ này được dùng để ví dụ người tu hành tuy hiểu Phật pháp mà không làm theo, hoặc làm không đúng, cho nên vẫn là phàm phu sinh tử. Ma ha chỉ quán quyển 7 phần dưới (Đại 48, 101 trung), nói: Tuy nghe pháp mà không tu, thì cũng giống như hổ mang (hắc hủy) ngậm ngọc, có ích gì đâu . II. Hắc hủy hoài châu. Ví dụ chúng sinh vì đời trước tạo các nghiệp nhân khác nhau, nên đời này chịu báo cũng khác nhau. Luận Đại trí độ quyển 10 nói: Có con rắn hổ mang miệng ngậm ngọc báu ma ni; lại có vị La hán đi khất thực không được. Rắn hổ mang nói ở đây, tuy đời trước là kẻ phá giới, nhưng còn có chút phúc đức, nên nay tuy rơi vào đường súc sinh mà vẫn có ngọc báu. Còn vị La hán tuy đi khất thực, mà ôm bát không trở về là vì đời trước không tạo phúc đức.

hắc luân thuân

5384禪林用語。又作黑鱗皴。指呈魚鱗形狀之黑拄杖。破菴祖先禪師語錄(卍續一二一‧四一七下):「萬化千變,惟有拄杖子,黑輪皴,沒思算!」 ; (黑輪皴) Cũng gọi Hắc lân thuân. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây gậy mầu đen có hình dáng sần sùi như vảy cá. Phá am tổ tiên thiền sư ngữ lục (Vạn tục 121, 417 hạ). nói: Muôn nghìn biến hóa, chỉ có cây gậy mun sần sùi vảy cá, chớ tính toán, suy tư!

hắc lĩnh

5384位於今阿富汗東部,喀布爾河(Kabul)支流卡瓦河(Kao)及畢齊河(Picha)上游處。又稱黑山。玄奘昔時遊印度,從迦畢試國(梵 Kapiśa)入濫波國(梵 Lampāka)時,即曾跋涉峻峭峰巖而越過黑嶺。大慈恩寺三藏法師傳卷二(大五○‧二二九中):「東進行六百餘里,越黑嶺,入北印度境,至濫波國。」大唐西域記卷二(大五一‧八七八中):「濫波國,周千餘里,北背雪山,三垂黑嶺。」 另據長阿含經卷十八閻浮提洲品、俱舍論卷十一載,雪山附近亦有稱爲黑山之山脈。又崑崙山脈與興都庫什山脈(Hindukush)間之喀喇崑崙山(Karakorum),其梵名 Kṛṣṇa-giri,亦係黑山之意。〔大唐西域記卷一、S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol. I;N.L. Dey: The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India〕 ; (黑嶺) Cũng gọi Hắc sơn. Núi nằm ở miền Đông A phú hãn (Afghanistan), thuộc thượng du sông Picha và sông Kao, chi nhánh của sông Kabul. Thủa xưa, ngài Huyền trang du học Ấn độ, khi đi từ nước Ca tất thí (Phạm:Kapiza) vào nước Lạm ba (Phạm: Lampàka), ngài đã từng vượt qua ngọn Hắc lãnh cheo leo này. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 2 (Đại 50, 229 trung), nói: Từ hướng đông đi hơn 600 dặm, vượt qua ngọn Hắc lãnh, vào biên giới Bắc Ấn độ, đến nước Lạm ba . Đại đường tây vực kí quyển 2 (Đại 51, 878 trung), ghi: Nước Lạm ba chu vi hơn nghìn dặm, phía bắc giáp Tuyết sơn, 3 mặt kia giáp với Hắc lãnh . Lại theo phẩm Diêm phù đề châu trong kinh Trường a hàm quyển 18, thì vùng phụ cận Tuyết sơn cũng có dãy núi gọi là Hắc sơn. Ngoài ra, núi Karakorum, tên Phạm là Kfwịa-giri, ở khoảng giữa dãy núi Côn lôn và dãy Hindukush, cũng có nghĩa là Hắc sơn. [X. Đại đường tây vực kí Q.1; S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol.I; N. L. Dey: The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India].

hắc lục tự minh vương

5378爲密教修六字經法,用於調伏法時,所供奉之本尊。又稱六字明王、六字天。修此法時,將此尊置於隱祕處。此尊全身呈青黑色,據大乘莊嚴寶王經卷四載,其形像有四臂,左手持蓮花,蓮花上有摩尼寶;右手持數珠;下二手則結一切王印。另據覺禪鈔等載,有六臂,左右第一手結印;第二手爲左持戟,右執刀;第三手爲左安月輪,右安日輪。身呈青黑色,面呈柔和相,頂上現蛇頭,右腳上縮,左腳立於蓮花上,光背有十二生肖動物。其種子爲???(ga),然因修六字經法所供奉之本尊有諸種異說,故此尊之種子亦有異說。三昧耶形有白拂、獨股、圓鏡等異說。據大乘莊嚴寶王經載,其印契爲「一切王印」,間有結大三股印者。據六字神咒王經載,真言爲「佉智佉住佉毘智緘壽緘壽多智婆智」,誦持此咒能止斷帝釋咒道、梵天咒道、四天大王咒道,及一切邪鬼咒方道術。(參閱「六字經法」1262) ; (黑六字明王) Cũng gọi Lục tự minh vương, Lục tự thiên. Vị Bản tôn của pháp tu Lục tự kinh trong Mật giáo. Khi tu pháp này phải thờ vị Bản tôn ở nơi kín đáo. Cứ theo kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương quyển 4, thì hình tượng vị tôn này màu xanh đen, có 4 tay, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có ngọc ma ni, tay phải cầm xâu chuỗi, hai tay dưới kết ấn Nhất thiết vương. Còn theo Giác thiền sao, thì vị tôn này có 6 tay, 2 tay trên đều kết ấn; 2 tay giữa, tay trái cầm cây kích, tay phải cầm dao; 2 tay dưới, tay trái cầm nguyệt luân, tay phải cầm nhật luân, nét mặt lộ vẻ nhu hòa, trên đỉnh đầu có đầu rắn, chân phải co lên, chân trái đứng trên hoa sen, vòng hào quang sau lưng có 12 con giáp, chủng tử là (ga). Tuy nhiên, về vị Bản tôn của pháp tu Lục tự kinh này có nhiều thuyết khác nhau, nên về chủng tử của vị tôn này cũng có nhiều thuyết bất đồng. Còn về hình tam muội da của vị này cũng có các thuyết khác nhau. Có thuyết cho là phất trần mầu trắng, có thuyết bảo là chày một chĩa, lại có thuyết cho là gương tròn. Về ấn khế, theo kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương là ấn Nhất thiết vương , cũng có khi kết ấn Đại tam cổ . Còn về chân ngôn, theo kinh Lục tự thần chú vương, là: Khư trí khư trụ khư tì trí giam thọ giam thọ đa trí bà trí . Thần chú này có năng lực ngăn trừ các chú của Đế thích, của Phạm thiên, của Tứ thiên đại vương và tất cả chú thuật của tà quỉ. (xt. Lục Tự Kinh Pháp).

hắc mạn mạn

5384禪林用語。原指水流廣遠,一片漆黑之意;於禪林中,轉指不明是非、善惡之無知狀態。碧巖錄第四十四則(大四八‧一八一中):「報君知,莫莽鹵,甜者甜兮苦者苦。(謝答話,錯下注腳,好與三十棒,喫棒得也未?便打。依舊黑漫漫)」 ; (黑漫漫) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên chỉ cho dòng sông rộng mênh mang, nhìn từ xa chỉ thấy như một vệt sơn đen. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho trạng thái vô tri không phân biệt được phải trái, thiện ác. Tắc 44 trong Bích nham lục (Đại 48, 181 trung), ghi: Báo cho ông biết, chớ có lỗ mãng, bạ đâu nói đó, ngọt ra ngọt, đắng ra đắng(Cảm ơn lời đáp, giải thích bậy bạ, đáng cho 30 gậy, được không? Liền đánh. Vẫn hắc man man như cũ) .

hắc nghiệp

Black karma, or evil deeds which produce like karmaic results. ; Một trong bốn loại nghiệp, ác nghiệp sinh khổ quả đen tối—One of the four kinds of karma, black karma, or evil deeds which produce like karmaic results—See Tứ Nghiệp.

hắc nguyên

Black venimous snake.

hắc nguyệt

xem tuần trăng tối. ; 5379梵語 kṛṣṇa-pakṣa,巴利語 kaṇha-pakkha。音譯訖哩史拏博乞史。又稱黑分、黑半。爲「白月」之對稱。即印度曆法中,每月之前十五日。印度以月之盈缺將每個月分爲黑月、白月兩部分,自滿月之翌日至新月前日之前半月,稱黑月;從新月至滿月之後半月,稱爲白月。故一個月相當於陰曆之十六日至次月之十五日間。又因月有大小,故黑月有十五或十四日。〔俱舍論光記卷十一、大唐西域記卷二〕(參閱「白月」2080) ; Krsnakarma (S). The darkening, or latter half of the month, the period of the waning moon. 2nd fortnight of a lunar month. ; Krsnapaksa (skt)—Nửa tháng trời tối hay nửa tháng sau tính theo âm lịch (theo Tây Vực Ký, từ ngày trăng bắt đầu khuyết đến ngày 30 trong tháng, gọi là “Hắc Phần.” Hắc phần có thể là 14 hay 15 ngày tùy theo tháng thiếu hay đủ)—The darkening or latter half of the month, the period of the waning moon. ; (黑月) Phạm: Kfwịa-pakwa. Pàli: Kaịha-pakkha. Dịch âm: Ngật lí sử noa bác khất sử. Cũng gọi Hắc phần, Hắc bán. Đối lại với Bạch nguyệt. Lịch pháp Ấn độ dựa theo sự tròn, khuyết của mặt trăng mà chia mỗi tháng làm 2 phần: Hắc nguyệt và Bạch nguyệt. Nửa tháng tính từ ngày 16 đến hết tháng gọi là Hắc nguyệt (tháng đen); nửa tháng tính từ ngày mồng 1 đến ngày rằm gọi là Bạch nguyệt (tháng trắng). Lại vì có tháng đủ, Minh Vương Hắc Lục Tự tháng thiếu nên Hắc nguyệt, có 15 ngày, hoặc 14 ngày. [X. Câu xá luận quang kí Q.11; Đại đường tây vực kí Q.2]. (xt. Bạch Nguyệt).

hắc ngột hoài châu

5383<一>黑

hắc nhân sấm

5377指北周武帝排佛所執之讖。帝甚信讖緯,時天下流傳「黑人當王」之讖言(預言),謂不久將由「黑人」統領天下,帝由是嫌惡黑色,遂敕改僧侶之法衣爲黃色。後有道士張賓、衛元嵩,聞帝欲皈依佛教,乃藉帝之性癖上奏,謂「黑」爲僧侶,「黃」指黃老之教,暗示佛教爲國之不祥宗教,道教始爲國之祥教。帝信讖緯,遂決意排佛,此謂之黑人讖。北周武帝之排毀佛教爲我國佛教史上三武法難之一。 ; (黑人讖) Lời sấm về người mặc áo màu đen. Đây là nguyên nhân đã khiến Vũ đế nhà Bắc Chu hủy diệt Phật giáo ở Trung quốc. Thời bấy giờ, trong dân gian có lời sấm truyền: Hắc nhân đương vương (người áo đen sẽ làm vua), rồi họ bàn nhau không bao lâu nữa, Hắc nhân sẽ thống lãnh cả nước. Vũ đế rất tin sấm vĩ, sợ mất ngôi vua, do đó, hiềm ghét màu đen, liền ra lệnh đổi áo pháp của chúng tăng thành màu vàng. Về sau, các đạo sĩ Trương tân và Vệ nguyên tung nghe nhà vua muốn qui y Phật giáo, bèn lợi dụng tính mê tín của vua mà tâu rằng: Đen là các sư Phật giáo, một tông giáo mang điềm chẳng lành cho quốc gia; còn vàng là Đạo sĩ của Đạo giáo (Hoàng lão) mang điềm tốt lành cho quốc gia. Vua nghe những dèm pha ấy nên quyết tâm phá hủy Phật giáo. Nạn Vũ đế diệt Phật là một trong Tam Vũ Pháp Nạn của lịch sử Phật giáo Trung quốc.

hắc nhĩ

Kṛṣṇakrna (P)Tên một vị thiên. ; Krsnakarna (S). A goddess.

hắc nhĩ thiên

5380梵名 Kṛṣṇa-karṇā。爲吉祥天(梵 Śrī-mahā-devī)之妹,其容貌醜陋,所至之處,能令一切功德耗損,乃予人災禍之神。以吉祥天生福,黑耳天生禍,故人若見吉祥天則喜,若遇黑耳天則憂;然吉祥、黑耳姊妹常相伴隨,故常以「黑耳吉祥」一詞比喻善惡、禍福相隨逐。 又修吉祥天法時,亦必修黑耳天法,以免除災害。其修法詳載於大隨求陀羅尼經。大隨求陀羅尼經(大二○‧六一七下):「持此隨求者,(中略)黑耳、吉祥天,(中略)及餘多類眾,彼等皆擁護。」此尊種子爲???(ka)。三昧耶形爲獨股杵。〔大日經卷一具緣品、卷二密印品、北本大般涅槃經卷十二、大日經疏卷十、俱舍論光記卷五〕(參閱「吉祥天」2238) ; (黑耳天) Phạm: Kfwịa-karịà. Vị nữ thần có dung mạo xấu xí, chuyên gieo rắc tai họa cho người. Là em ruột của Cát tường thiên (Phạm: Zrì-mahà-devì). Vì Cát tường thiên hay ban phúc, còn Hắc nhĩ thiên thì chuyên giáng họa, cho nên, nếu người ta thấy Cát tường thiên thì mừng, mà gặp Hắc nhĩ thiên thì lo. Nhưng 2 chị em Cát tường và Hắc nhĩ lại thường đi đôi với nhau, cho nên danh từ Hắc nhĩ Cát tường thường được dùng để ví dụ thiện ác, họa phúc luôn theo nhau như hình với bóng. Do đó, khi hành giả Mật giáo tu pháp Cát tường thiên thì, đồng thời cũng tu cả pháp Hắc nhĩ thiên, để trừ tai họa. Pháp tu này được ghi rõ trong kinh Đại tùy cầu đà la ni. Chủng tử của vị tôn này là (ka), hình Tam muội da là chày một chĩa. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1, phẩm Mật ấn Q.2; kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); Đại nhật kinh sớ Q.10; Câu xá luận quang kí Q.5]. (xt. Cát Tường Thiên).

hắc nhật

Darsa (S)Ngày mồng một lich Ấn độ.

hắc phong

Black wind, i.e. a dark storm. ; Gió bão đen tối—Black wind, i.e. a dark storm.

hắc pháp

xem bạch pháp. ; 5382指雜染邪惡之法。至於清淨之善法,則稱白法。亦有將佛之正法稱爲白法,或有漏之善法稱爲白法;外道等之邪法稱爲黑法,或有漏之不善法稱爲黑法。此外,黑、白有苦(不可意)、樂(可意)之意。又善法中之無漏善法,稱爲淨法;有漏之善法則稱白法。〔大方等大集經卷五十五、究竟一乘寶性論卷一、梁譯攝大乘論卷十一、卷十三〕(參閱「白法」2088) ; (黑法) Pháp đen. Đối lại với Bạch pháp (pháp trắng). Chỉ cho các pháp nhơ nhớp, hoặc các pháp hữu lậu bất thiện, hoặc các pháp tà ác xấu xa của ngoại đạo. Ngoài ra, Hắc cũng có nghĩa là khổ. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.55;luận Cứu cánh nhất thừa thực tính Q.1; luận Nhiếp đại thừa Q.11, Q.13 (bản dịch đời Lương)]. (xt. Bạch Pháp).

hắc phạn

5383以南天燭之葉汁染黑之飯。又作黑飰、烏飯、桐飯。禪宗每年陰曆四月八日之佛誕法會,均於佛前供養此種黑飯。敕修百丈清規卷下節臘章月分須知條(大四八‧一一五五上):「佛誕浴佛,庫司預造黑飯。」蓋南天燭爲草木之王,性通氣神,食之可延命長壽,此本爲道家所服食,稱爲青精飯。禪宗用於佛誕日,恐係基於延命思想而來。又南天燭一名楊桐,故有誤以桐飯係以梧桐葉染飯之說。〔禪林象器箋飲啖門、增廣本草綱目卷二十五〕 ; (黑飯) Cũng gọi Ô phạn, Đồng phạn. Cơm đen. Vì cơm được nấu bằng nước vắt từ lá của cây Nam thiên chúc nên có màu đen. Trong Thiền lâm, hàng năm đến ngày Phật đản mồng 8 tháng 4, đều dâng loại cơm này để cúng dường đức Phật. Điều Nguyệt phần tu tri, chương Tiết lạp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ (Đại 48, 1155 thượng), nói: Ngày Phật đản, Khố tư chuẩn bị làm cơm đen để cúng dường trong lễ tắm Phật . Cây Nam thiên chúc là chúa của loài thảo mộc, ăn vào, nó làm cho thần khí sảng khoái, và tuổi thọ tăng thêm. Đây vốn là thức ăn của Đạo gia và được gọi là Thanh tịnh phạn. Ngoài ra, cây Nam thiên chúc cũng có tên là Dương đồng, bởi thế, có nhiều người lầm cho Đồng phạn là cơm được nấu bằng nước vắt từ lá của cây ngô đồng. [X. môn Ẩm đạm trong Thiền lâm tượng khí tiên; Tăng quảng bản thảo cương mục Q.25].

hắc phần

Krsnapaksa (skt)—See Hắc Nguyệt.

hắc phẩm

5383不善法之謂。黑,爲染污不純之意;品,指品類。不善之法,其性染污不純,故稱黑品。又黑之意義,據大毘婆沙論卷一一四載,其除染污之外,尚有「不可意」之義。故黑品亦謂不可意之法。〔俱舍論卷十六、俱舍論光記卷十六〕 ; (黑品) Phẩm đen. Tức là pháp bất thiện. Hắc là nhiễm ô; phẩm là loại, pháp bất thiện có tính nhiễm ô, nên gọi là Hắc phẩm. Ngoài ra, cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 114, thì Hắc phẩm ngoài nghĩa nhiễm ô còn có nghĩa là pháp bất khả ý. [X. luận Câu xá Q.16; Câu xá luận quang kí Q.16].

hắc sa địa ngục

5381爲等活地獄中十六小地獄之一。此一地獄,熱風吹揚熱黑沙,燋爛此獄中之眾生,故稱黑沙地獄。據長阿含經卷十九地獄品、俱舍論卷十一等載,有情眾生於生前,身、口、意造不善業者,命終之後必墮於等活地獄。等活地獄之梵名爲 Saṃjīva,又稱想地獄,位於須彌山外二大金剛山之間,爲八大熱地獄之一,獄中眾生受諸苦逼身,數度悶死,尋又甦醒,猶如其本,故稱等活。等活地獄又包括十六小地獄,每一小地獄縱廣有五百由旬,其第一小地獄即是黑沙地獄。〔大毘婆沙論卷一七二、順正理論卷三十一〕 ; (黑沙地獄) Địa ngục cát đen. Nghĩa là địa ngục này có gió nóng thổi cát đen đến đốt cháy người chịu tội, là một trong 16 ngục nhỏ thuộc địa ngục Đẳng hoạt, Cứ theo phẩm Địa ngục trong kinh Trường a hàm quyển 19 và luận Câu xá quyển 11, thì các chúng sinh ở đời trước do đã tạo nhiều nghiệp ác, nên sau khi chết phải rơi vào địa ngục Đẳng hoạt (Phạm: Saôjìva, cũng gọi Tưởng địa ngục), là một trong 8 địa ngục Đại nhiệt, nằm ở khoảng giữa 2 quả núi Đại kim cương, phía ngoài núi Tu di. Địa ngục Đẳng hoạt bao gồm 16 địa ngục nhỏ, đứng đầu là địa ngục Hắc sa rộng 500 do tuần. [X. luận Đại tì bà sa Q.172; luận Thuận chính lí Q.31].

hắc sơn

5377<一>禪林用語。原爲俱舍論卷十一所載,南贍部洲之北,三處地方各有三重黑山,其地闇黑,爲惡鬼棲止之處;於禪林中轉喻執著情識與分別作用,有如陷於黑山之暗穴,無法動彈。碧巖錄第四十一則(大四八‧一七九中):「銀山鐵壁,擬議則髑髏前見鬼,尋思則黑山下打坐。」 <二>指位於阿富汗東部之黑嶺。(參閱「黑嶺」5384) ; Kālaparvata (S)Núi Hắc sơn. ; (黑山) I. Hắc Sơn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Núi đen tối. Cứ theo luận Câu xá quyển 11, ở phía bắc của châu Nam thiệm bộ có ba lớp Hắc sơn, nơi ấy tối tăm, là chỗ ở của ác quỉ. Thiền tông mượn từ ngữ này để ví dụ cho sự chấp trước và tình thức phân biệt, như sa vào hang tối của Hắc sơn không còn cách nào thoát ra được. Tắc 41 trong Bích nham lục (Đại 48, 179 trung), nói: Núi bạc vách sắt, nghĩ bàn thì quỉ trước mặt, suy tìm thì ngồi trong Hắc sơn . II. Hắc Sơn. Chỉ cho ngọn Hắc lãnh ở miền Đông nước A phú hãn. (xt. Hắc Lãnh).

hắc sơn phật tháp quần

5377位於阿富汗查拉拉巴德(Jalalabad)盆地西端,包括約三十處佛塔及十四所石窟。約創建於一世紀頃佛塔信仰時代,爲查拉拉巴德佛塔群中年代最久遠者,曾於塔中掘出貴霜王丘就卻(Kujura Kadphises I)以前之貨幣。多數塔已崩塌,僅數座塔仍保持原形,直徑達十五公尺,形制壯麗,塔身外圍未設列環狀佛龕。其中,第十塔又稱毘馬蘭第二塔,周長三十九公尺,於其內部中心掘出黃金製舍利容器,該容器呈圓筒形,外圍有浮雕像八尊,雕工精美,其中之一爲佛陀,容器上下緣鑲有紅寶石。或謂此器係於一世紀頃在犍馱羅所刻製者。 ; (黑山佛塔群) Quần thể tháp Phật và hang động ở cực tây thung lũng Jalalabad thuộc nước A phú hãn (Afghanistan), được sáng lập vào khoảng thế kỷ thứ I Tây lịch. Quần thể này gồm có khoảng 30 tháp Phật và 14 hang đá. Ở đây người ta đã đào được loại tiền tệ trước thời Khưu tựu khước (Kujura Kadphises I) thuộc vương triều Quí sương. Hiện nay, đa số tháp đã đổ nát, chỉ còn vài ngôi vẫn giữ được hình dạng ban đầu. Những ngôi tháp có đường kính 15m, cấu trúc tráng lệ, chung quanh thân tháp thiết trí khám hình vòng cung để thờ Phật. Ngôi tháp thứ 10 cũng gọi là Tỳ mã lan đệ nhị tháp, chu vi 39m, trong ruột tháp người ta đào được một chiếc bình đựng xá lợi bằng vàng, chung quanh có khắc 8 pho tượng hình nổi, nét chạm trổ rất tinh vi, đẹp đẽ, một trong 8 pho tượng ấy là tượng đức Phật, phía trên và phía dưới bình có nạm hồng ngọc. Có thuyết cho rằng chiếc bình đựng xá lợi này đã được chế tạo tại nước Kiện đà la vào khoảng thế kỷ I.

hắc sắc

5381梵語 kṛṣṇa。爲五色(青、黃、赤、白、黑)之一。在印度,教團中不得以五色爲法衣之色,認爲此五色爲華美之色。在密教以五色配合五佛、五智、五根、五力、五字、五大、五方、五轉等。黑色即???(ha,訶)字風大之色。黑色具有消除諸色、隱藏諸物之義,故以其作爲與調伏法相應之色。又據大日經疏記載,黑色爲五佛之中天皷雷音如來之色;且「黑」爲大涅槃義,即是如來究竟之慧,故又稱慧色。〔大日經疏卷六、卷十二〕(參閱「五色」1082) ; (黑色) Phạm: Kfwịa. Màu đen. Một trong 5 màu chính (xanh, vàng, đỏ, trắng, đen). Mật giáo đem 5 mầu phối hợp với 5 đức Phật, 5 trí, 5 căn, 5 lực, 5 chữ, 5 đại, 5 phương và 5 chuyển. Màu đen tức là chữ (ha), là màu của Phong đại. Màu đen có hàm nghĩa tiêu trừ các màu, giấu kín các vật, cho nên được coi là màu tương ứng với pháp Điều phục. Ngoài ra, theo Đại nhật kinh sớ, thì màu đen là màu của đức Thiên cổ lôi âm Như lai; hơn nữa, là nghĩa Đại niết bàn, tức là trí tuệ tột bậc của Như lai, vì thế cũng được gọi là Tuệ sắc. [X. Đại nhật kinh sớ Q.6, Q.12]. (xt. Ngũ Sắc).

hắc sắc hộ pháp

KalārŪpa (S), Dharma Protector Vị Hộ pháp hóa thân của Văn thù Sư lợi Bồ tát.

hắc thiên

5378<一>梵名 Kṛṣṇa。又稱吉栗瑟拏。爲印度教所崇奉大神之一。係毘濕奴之第八位化身。印度民族敘事詩摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata),記述其爲足智多謀之英雄。印度教經典薄伽梵歌(梵 Bhagavadgītā),稱其爲「最高之宇宙精神」。其形像及英勇事蹟,於印度民間文學、繪畫、音樂等藝術中,屢有述及。(參閱「吉栗瑟拏」2237) <二>梵名 Kālaḥ。爲大自在天之化身。或謂其爲嚕捺羅(梵 Rudra)之化身,或即爲大黑天。又據大日經疏卷二載,黑天梵音嚕捺羅,爲自在天眷屬。是則指黑天即爲嚕捺羅。然據廣理趣經卷三之記載,則黑天、嚕捺羅、大黑天三者各不相同。〔大日經疏卷十〕 ; Kṛṣṇakarna (S), Kṛṣṇapakṣa (S), Kṛṣṇa (S), Rudra (S)Cát Lật Sắt NoaTên một vị thiên. Tên một vị thần ở Ấn độĐại Hắc Thiên thần. ; Mahà-kàla (S). The black deva, a title of Siva. ; Mahakala (skt)—Còn gọi là Ðại Hắc Thiên Thần, quyến thuộc của Ðại Tự Tại Thiên, vốn tên Lô Nại La (Rudra), dịch là bạo ác, vị có tám tay ba mắt—The black-deva, a title of Siva, the fierce Rudra, a black or dark-blue deity with eight arms and three eyes. ; (黑天) I. Hắc Thiên. Phạm: Kfwịa. Cũng gọi Cát lật sắt noa. Hóa thân thứ 8 của Tì thấp nô, một trong những vị thần lớn của Ấn độ giáo. Cứ theo thiên anh hùng ca Mahàbhàratacủa Ấn độ, thì Hắc thiên là một vị anh hùng đa mưu túc kế. Còn kinh Bhagavadgìtàthì gọi vị thần này là Tinh thần tối cao của vũ trụ . (xt. Cát Lật Sắt Noa). II. Hắc thiên. Phạm:Kàla. Hóa thân của trời Đại tự tại. Có thuyết cho thần này là hóa thân của Rô nại la (Phạm:Rudra), hoặc là Đại hắc thiên. Còn Đại nhật kinh sớ quyển 2 thì cho rằng âm Phạm của Hắc thiên là Rô nại la, là quyến thuộc của Tự tại thiên, tức cho Hắc thiên chính là Rô nại la. Nhưng theo kinh Quảng lí thú quyển 3, thì Hắc thiên, Rô nại la và Đại hắc thiên là ba vị khác nhau. [X. Đại nhật kinh sớ Q.10].

hắc thiên sinh nhật tiết

5379印度教毘濕奴派之重要節日。於每年八月八日舉行,以紀念黑天(吉栗瑟拏)之誕辰。節日當天,教徒禁食,並於河中沐浴、油身,對黑天進行禮拜,誦讀「摩訶婆羅多」詩篇,以及對婆羅門布施等。 ; (黑天生日節) Lễ đản sinh của Hắc thiên được cử hành vào ngày 8 tháng 8 hàng năm, là lễ hội trọng yếu của phái Tì thấp noa thuộc Ấn độ giáo. Vào ngày lễ này, giáo đồ đều tuyệt thực, xuống sông tắm gội, thoa dầu lên mình rồi lễ bái Hắc thiên, đọc tập thơ: Ma ha bà la đa (Phạm:Mahàbhàrata) và bố thí các Bà la môn.

hắc thuỷ thành

5379蒙古語 khara-khoto。音譯卡拉荷多、哈拉荷多,黑色都城之意。位於河西走廊北端之大戈壁地區,黑水下流之綠洲東端,本爲西夏之地,後爲成吉思汗所滅。據傳爲西夏黑水鎮燕軍之地,馬可波羅之旅行記稱爲「亦集乃邑」,現已成爲乾燥荒涼之砂礫地,當時此地盛行農耕,爲通往東北喀喇崑崙山方面之要道。十九世紀末,俄國學者婆達寧(Grigorii Nikokaevich Potanin, 1835~1920)率領中、英、美諸國著名之探險家發掘調查此城,其遺蹟爲不等四邊形之城壁所圍繞,城壁以木筋磚造,四邊皆有城門,城內有寺院、佛塔等建築物遺蹟,城外有佛塔及回教寺院墳墓之遺蹟。由此一遺蹟發現大量之遺物、古文書。文書以漢文、西夏文爲多,亦有不少刊本;其次爲西藏文,又有少數回鶻、突厥、波斯等文字之資料。另有塑像、浮雕之佛像,及以麻、絹、紙描繪之圖像、幢畫、壁畫等,其中之木版畫、水墨畫顯示出中國之畫風。與佛教有關之繪畫、雕像則顯著傾向於西藏風味,值得與敦煌出土之遺品作比較研究。書籍中有骨勒茂才所撰「番漢合時掌中珠」(夏漢對譯字典),其他有文字音韻書、西夏法律集、詩文集等,乃研究西夏之重要資料。 ; (黑水城) Tiếng Mông cổ: Khara-khoto. Dịch âm: Ca lạp hà đa, Cáp lạp hà đa. Đô thành màu đen. Thành này ở khu vực Qua bích (Gobi), phía bắc tỉnh Hà tây, mạn đông hạ lưu sông Hắc thủy, Trung quốc, vốn là đất của Tây hạ, sau bị Thành cát tư hãn diệt. Đất này nằm trên trục lộ giao thông quan trọng suốt đến phía đông bắc của dãy núi Côn lôn, dân chúng ở đây chuyên sống bằng nghề nông. Vào cuối thế kỉ XIX, học giả người Nga là Grigorü Nikokaevich Potanin (1835- 1920) hướng dẫn một số nhà thám hiểm nổi tiếng thuộc các nước Trung quốc, Anh, Hoa kì, v.v...… đến khai quật vùng đất này và đã phát hiện thành Hắc thủy. Vách thành xây bằng gạch, 4 bên đều có cửa thành. Trong và ngoài thành còn có các di tích như: Chùa viện, tháp Phật, đền thờ và phần mộ của Hồi giáo. Ngoài ra người ta cũng tìm được nhiều di vật khác và các sách vở xưa. Những sách vở phần lớn là tiếng Hán, tiếng Tây hạ, kế đến là tiếng Tây tạng; cũng có số ít tư liệu bằng chữ Hồi hột, Đột quyết, Ba tư, v.v...…, trong đó có bộ Phồn Hán Hợp Thời Chưởng Trung Châu (Tự điển Hạ - Hán đối chiếu) do Cốt lặc mậu tài soạn. Về phần tranh, tượng thì có tượng Phật đắp bằng đất, chạm nổi, tranh Phật dệt bằng sợi gai, vẽ trên lụa, trên giấy, trên vách...… rõ ràng theo họa phong Trung quốc và Tây tạng. Tóm lại những di tích ở thành Hắc thủy là tư liệu quí báu cho việc nghiên cứu về nước Tây hạ cổ đại.

hắc thằng

Kalasutra (skt)—Hắc Thằng Ðịa Ngục—The black-rope, or black-bonds hell—See Ðịa Ngục (A) (a) (2).

hắc thằng địa ngục

5385黑繩,梵名 Kāla-sūtra,巴利名 Kāḷa-sūtra。又作黑耳地獄、黑地獄。據俱舍論頌疏卷八載,因其先以黑繩秤量肢體,其後方予斬鋸,故稱黑繩。又據長阿含經卷十九記載,其爲八熱(大)地獄之第二,位於等活地獄之下,眾合地獄之上。周匝圍繞十六小地獄,縱廣各五百由旬。獄卒捉罪人撲熱鐵上,以熱鐵繩縱橫劃之,隨繩痕或以斧截切,或以鋸解,或以刀屠,血肉散亂百千段。又左右有大鐵山,山上各建鐵幢,幢頭張鐵繩,驅罪人至鐵繩上,隨令墮熱鑊中炊煮。苦毒辛酸,不可稱計。若造殺生、偷盜等罪業,命終之後,即墮此處。〔起世經卷三、大智度論卷十六〕 ; KālasŪtra (S)Địa ngục có dây trói và cưa màu đen. ; Kàla-sùtra (S). The black-rope or black-bonds hell. ; (黑繩地獄) Hắc thằng, Phạm:Kàla-sùtra;Pàli: Kàơa-sùtra. Cũng gọi Hắc nhĩ địa ngục, Hắc địa ngục. Cứ theo Câu xá luận tụng sớ quyển 8, trong địa ngục này, dây sắt được dùng để đánh dấu trên thân thể của tội nhân rồi theo đó mà cưa xẻ, vì thế gọi là địa ngục Hắc thằng(địa ngục dây đen). Lại theo kinh Trường a hàm quyển 19, thì đây là ngục thứ 2 trong 8 địa ngục Nóng (Đại nhiệt) nằm ở dưới địa ngục Đẳng hoạt và trên địa ngục Chúng hợp. Bao quanh ngục này có 16 ngục nhỏ, mỗi ngục rộng 500 do tuần. Ngục tốt bắt tội nhân nằm trên sắt nóng, dùng dây sắt nóng, vạch ngang dọc trên thân thể, rồi cứ theo vết dây hoặc dùng búa chặt, hoặc lấy cưa xẻ, hoặc dùng dao mổ, máu thịt vung vãi, thân thể bị cắt trăm đoạn. Hai bên ngục còn có núi sắt lớn, trên mỗi núi có dựng cột sắt, ở đầu cột giăng dây sắt, ngục tốt lùa tội nhân lên trên dây sắt, rồi đuổi cho rơi vào vạc dầu sôi, khổ đau chẳng kể xiết. Đây là nơi chịu tội của những người gây nghiệp giết hại, trộm cướp, v.v...… [X. kinh Khởi thế Q.3; luận Đại trí độ Q.16].

hắc thị phạm chí

5379黑氏,梵名 Kāla。又稱師子王迦羅苾芻。爲住於香山之婆羅門。初修四禪,具足五通,善於飛行,講說經義。一日,閻羅王來聽法,預告梵志七日後壽命將盡,死墮地獄。梵志憂愁苦惱,後依香山諸善神之勸,至佛所出家,諸漏得盡,一時增壽。有「黑氏梵志經」一書,即敘說此黑氏梵志歸佛之因緣。〔有部毘奈耶藥事卷十七、翻梵語卷二〕 ; (黑氏梵志) Hắc thị, Phạm:Kàla. Cũng gọi Sư tử vương ca la bật sô. Người Bà la môn ở núi Hương sơn được nói đến trong kinh Hắc thị phạm chí. Lúc đầu, người này tu Tứ thiền, đầy đủ 5 thần thông, có thể bay trong hư không và giảng nói nghĩa kinh. Một hôm, vua Diêm la đến nghe pháp, báo trước 7 ngày nữa Phạm chí ấy sẽ mệnh chung và đọa vào địa ngục. Phạm chí lo buồn khổ não, sau đó, theo lời khuyên bảo của các thiện thần núi Hương sơn, ông đến chỗ Phật xin xuất gia, liền dứt hết các phiền não và tuổi thọ tăng thêm. [X. Hữu bộ tì nại da dược sự Q.17; Phiên Phạm ngữ Q.2].

hắc thủy thừa

Hei shui Cheng (C).

hắc tất dũng

5383禪林用語。<一>以黑色漆桶譬喻無明之膠固難破。又作漆桶。眾生累劫之無明,結習膠固,以致隱覆本具之佛性;恰如貯漆之桶,黑洞洞地不明一物。碧巖錄第一則(大四八‧一四○中):「一等是打葛藤,不妨與他打破漆桶。」又有以漆桶、漆桶輩,罵不解佛法真理之愚鈍者。〔碧巖錄第六十三則、大慧書卷上〕 <二>謂黑漆漆不見一物。以之譬喻超越一切差別對立之絕對境界。如淨和尚語錄卷下(卍續一二四‧四八七下):「平地起骨堆,慿空剜窟籠;驀透兩重關,拈卻黑漆桶。」又禪家所用「漆桶不會」一詞,亦有二義。一指分別妄想心重,不解事理;或指超絕思慮分別之宇宙盡法界。碧巖錄第五則(大四八‧一四四下):「舉雪峰示眾云:『盡大地撮來,如粟米粒大,拋向面前,漆桶不會,打鼓普請看!』」 ; (黑漆桶) Tiếng dùng trong thiền lâm. I. Hắc tất dũng: Thùng sơn đen. Cũng gọi Tất dũng: Thùng sơn. Thiền tông dùng từ ngữ này để ví dụ vô minh của chúng sinh đã kết tập từ vô thủy kiếp, nó dày đặc bền chắc như keo sơn, che lấp tính Phật sẵn có, cũng như cái thùng sơn màu đen chứa đầy sơn, đen kịt không còn rõ một vật gì. Tắc một trong Bích nham lục (Đại 48, 140 trung), nói: Tốt nhất hãy dẹp bỏ ngôn ngữ, văn tự (sắn, bìm), điều đó chẳng trở ngại gì việc phá tan bóng tối vô minh (phá thùng sơn) cho y . Ngoài ra còn có các từ như: Tất dũng, Tất dũng bối, được dùng để mắng những người ngu độn không hiểu chân lý của Phật pháp. II. Hắc tất dũng: Đen kịt, không thấy một vật gì. Thiền tông dùng từ này để ví dụ cảnh giới tuyệt đối, vượt ra ngoài tất cả sự đối đãi, sai biệt. Như tịnh hòa thượng ngữ lục quyển hạ (Vạn tục 124, 487 hạ), nói: Xếp đống xương trên đất bằng, khoét hang ở giữa hư không, vượt qua hai lớp cửa ải, vào thẳng cảnh giới tuyệt đối (Hắc tất dũng). Ngoài ra, Thiền gia còn dùng từ ngữ Tất dũng bất hội (thùng sơn không hiểu), cũng có hai nghĩa: Một là chỉ cho tâm vọng tưởng phân biệt, không hiểu được sự lí; hai là chỉ cho thế giới dứt bặt tư duy phân biệt. Tắc 5 trong Bích nham lục (Đại 48, 144 hạ), ghi: Cử: Tuyết phong dạy chúng rằng: Nắm cả trái đất như nắm hạt gạo, ném ra trước mặt, nếu không hiểu được thế giới tuyệt đối (Tất dũng bất hội), thì hãy đánh trống gọi mọi người đến xem! .

hắc tất thông

Black sap of the pine tree.

hắc vận

Ill-luck.

hắc xà

Dục vọng và phiền não được ví với con rắn độc—The black adder, or venomous snake, i.e. klesa, passion, or illusion.

hắc xỉ

Matutacandi (skt)—Loại quỷ La sát răng đen—Black teeth, name of one of the raksasi.

hắc xỉ la sát nữ

Makuta (S)Thi Hắc La sát nữTên một vị thiên.

hắc y

Y áo màu đen, một thời là y áo của chư Tăng Ni, để phân biệt với y áo của phàm nhân màu trắng—Black garments, or dark monastic clothes, at one time said to have been the garb of the monk to distinguish him from the ordinary people who wore white.

hắc y nhị kiệt

5381指南朝齊代之玄暢與法獻。據佛祖統紀卷三十六載,齊武帝永明元年(483),長干寺玄暢與法獻受敕爲僧主,分任江南、江北之事。以彼等爲著黑衣之僧人,故時人號稱黑衣二傑。又據梁高僧傳卷八之記載,則稱僧慧與玄暢號爲黑衣二傑。 ; (黑衣二杰) Hai nhà tài trí mặc áo đen. Chỉ cho hai ngài Huyền sướng và Pháp hiến ở đời Tề, Nam triều. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 36, vào niên hiệu Vĩnh minh năm đầu (483), ngài Huyền sướng và ngài Pháp hiến ở chùa Trường can được Tề vũ đế sắc làm tăng chủ, giao trách nhiệm trông nom việc tăng ở Giang nam và Giang bắc. Vì hai ngài mặc áo màu đen, nên người đương thời gọi là Hắc y nhị kiệt. Nhưng, theo Lương cao tăng truyện quyển 8, thì Hắc y nhị kiệt là gọi ngài Tăng tuệ và ngài Huyền sướng, chứ không phải ngài Pháp hiến.

hắc y tể tướng

5381南朝劉宋僧慧琳之綽號。慧琳於南北朝時,得宋文帝之寵信,與聞政治,以其著黑色僧衣,故時人稱之爲黑衣宰相。〔梁高僧傳卷七道潤傳之附傳、隆興佛教編年通論卷五〕 ; (黑衣宰相) Tể tướng áo đen, biệt hiệu của sư Tuệ lâm ở thời Lưu Tống thuộc Nam triều. Sư Tuệ lâm thời ấy, được Văn đế nhà Tống tin yêu, cho tham dự việc triều chính, vì sư mặc áo đen nên người đời gọi mỉa là Hắc y tể tướng. [X. phụ truyện của ngài Đạo nhuận trong Lương cao tăng truyện Q.7; Long hưng Phật giáo biên niên thông luận Q.5].

hắc ám

5384謂黑暗而無智慧之光。讚阿彌陀佛偈(大四七‧四二一上):「佛光照耀最第一,故佛又號光炎王,三塗黑闇蒙光啟,是故頂禮大應供。」〔摩訶止觀卷五上、南山戒疏卷二上〕 ; Dark, dim, dusky, murky. ; Black, dark, secluded, shut off; in darkness, ignorant. ; (黑闇) Tối đen, không có ánh sáng của trí tuệ. Kệ tụng tán Phật A di đà (Đại 47, 421 thượng), nói: Hào quang Phật sáng soi bậc nhất, Nên gọi Ngài là Quang viêm vương; Ba đường hắc ám nhờ chiếu rọi, Vì thế con đính lễ cúng dường . [X. Ma ha chỉ quán Q.5 phần trên; Nam sơn giới sớ Q.2 phần trên].

hắc ðạo

Black path—Ác đạo—Negative path.

hắc đậu pháp

5382禪林用語。黑豆,原爲黑色大豆;禪林以黑豆轉指文字。謂研究經典之文字言句法數,其態度綿密微細,有如計數黑豆一般;由於過分執著文字之字面意義,以致不明真實義。黑豆法即用以貶諷此種陷於文字經句之迷執態度。虛堂錄卷八(大四七‧一○四七下):「松源師祖臨示寂告眾云:『久參兄弟,正路上行者有,只不能用黑豆法。』」又唵(揞)黑豆,亦指執著經文之態度。此外,「黑豆勘定」亦用以貶諷僅依文獻研究佛教者。 ; (黑豆法) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Pháp đậu đen. Thiền gia dùng từ ngữ này để mỉa mai những người cố chấp văn tự, pháp số trong các kinh điển là người đếm đậu đen. Hư đường lục quyển 8 (Đại 47, 1047 hạ), nói: Tổ sư Tùng nguyên lúc sắp nhập tịch có dạy đại chúng rằng: Các huynh đệ tham thiền bấy lâu nay, là đang đi trên con đường chính, chớ nên dùng Hắc đậu pháp . Ngoài ra cũng có các từ ngữ đồng nghĩa như: Án hắc đậu , Hắc đậu khám định .

hắc đậu vị sinh nha thời

5382禪林用語。喻指全無形相前之本來姿態;即父母未生前之本來面目。曹山元證禪師語錄(大四七‧五三一下):「無語中有語,如云黑豆未生芽時,十方諸佛出身處。」 ; (黑豆未生芽時) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Khi đậu đen chưa nảy mầm. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho bản lai diện mục trước khi cha mẹ sinh ra. Tào sơn Nguyên chứng thiền sư ngữ lục (Đại 47, 531 hạ), nói: Có lời trong không lời, như nói đậu đen lúc chưa nảy mầm, là chỗ xuất thân của chư Phật 10 phương .

hắc đồ

5383蒙古喇嘛寺廟所屬之奴隸。舊制,朝廷封贈喇嘛時,輒撥給若干民戶,受其管轄,稱之爲黑徒。被撥之後,即喪失其平民之資格,並移轉其對於地方官署之義務,改屬喇嘛之寺廟,且終身成爲其所隸屬之奴隸。民國十九年(1930),蒙藏 e員會在南京議決解放黑徒之制,使其與平民同享平等待遇。 ; (黑徒) Người nô lệ trong các ngôi chùa Lạt ma ở Mông cổ. Theo chế độ xưa ở Mông cổ, khi triều đình phong tặng Lạt ma, thì thường cấp cho họ một số hộ dân. Sau khi bị cấp cho Lạt ma những người này mất hết tư cách công dân và được dời đến các vùng do Lạt ma cai quản, để làm nô lệ suốt đời. Năm Dân quốc 19 (1930), Mông Tạng Ủy Viên Hội ở Nam kinh đã đưa ra nghị quyết giải phóng Hắc đồ, trả lại tư cách công dân cho họ và cho họ được hưởng quyền bình đẳng.

hắt hơ hắt hãi

Panic-striken.

hắt hủi

To neglect.

hằm hằm

Angry—Furious.

hằn học

To bear a grudge.

hằng

Constant; perseverence; persistence. ; Luôn luôn, thường thường—Constant—Perseverance—Persistence.

hằng cảnh

3813(634~712)唐代僧。當陽人,俗姓文。於貞觀二十二年(648)剃度,初從文綱受律學。後入玉泉寺,從天台大師智顗修習止觀法門,並於寺之南創建龍興寺。唐代中宗(684~709)時,三度受詔入朝廷爲戒師。景龍三年(709),師奏請歸山,帝於林光宮觀門道場爲其設齋,李嶠、道俊、玄奘等均列席。著有順了義論、攝正法論、佛性論等。又嘗與實叉難陀等共譯八十華嚴經。先天元年示寂,世壽七十九。〔宋高僧傳卷五、佛祖統紀卷十、華嚴懸談會玄記卷三十八〕 ; (恒景) (634-712) Vị tăng sống vào đời Đường, người Đương dương, họ Văn. Năm Trinh quán 22 (648) sư xuất gia, theo ngài Văn cương học Luật. Về sau, sư theo ngài Trí khải thuộc tông Thiên thai tu tập pháp môn Chỉ quán và sáng lập chùa Long hưng. Thời vua Đường Trung tông (684-709), sư 3 lần được triệu thỉnh vào triều làm Giới sư. Năm Cảnh long thứ 3 (709), sư xin về núi, vua thiết trai tiễn đưa ở đạo tràng Quán môn tại cung Lâm quang, có sự tham dự của các vị Lí kiệu, Đạo tuấn, Huyền trang, v.v...…Niên hiệu Tiên thiên năm đầu (712) sư tịch, thọ 79 tuổi. Tác phẩm: Luận Thuận liễu nghĩa, luận Nhiếp chính pháp, luận Phật tính...… Sư còn dịch chung với ngài Thực xoa nan đà bộ kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển). [X. Tống cao tăng truyện Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.10; Hoa nghiêm huyền đàm hội huyền kí Q.38].

hằng cửu

Everlasting—Eternal.

hằng già

Sông Hằng Hà—The river Ganges—See Hằng Hà.

hằng già hà

Ganges (skt)—Sông Hằng Hà—The Ganges River—See Hằng Hà.

hằng già sa

Hằng Sa—Ganga-nadi-valuka (skt)—Hằng hà sa số—As the sands of Ganges, numberless.

hằng già ðạt

Gangadatta (skt)—Con trai của một trưởng giả giàu có và là một đệ tử của Ðức Phật—Son of a wealthy landowner and disciple of the Buddha.

hằng già ðề bà

Gangadevi (skt)—Hà Thiên, tên một vị nữ đệ tử của Ðức Phật (truyền thuyết cha mẹ bái lễ Thần sông Hằng mà sanh ra nàng nên có tên nầy) —Name of a female disciple of the Buddha.

hằng hà

3812梵名 Gaṅgā。又作恆迦河、恆伽河、殑伽河。意爲「由天堂而來」。爲印度三大河流之一。發源於西藏岡底斯山脈,在喜馬拉雅山頂四二○○公尺之高處,向東南奔流八百公里,於東孟加拉與布拉馬普得拉河會合,流入印度洋,流長約二七○○公里,兩岸約一五○○公里之地作爲神聖的朝拜地區,於河岸兩旁建築無數寺廟,各教教徒常至此巡禮。 印度教視爲聖河,傳說由仙人之祈求,恆河水自毘濕奴之腳尖流出,自天而降。佛教亦視爲福水,佛陀常至此宣說妙法。其流域一帶稱恆河平原,即印度大平原東半部。上流爲阿闥婆吠陀及梵書成立時代之印度文明中心,中流爲古奧義書時代之文明中心。至釋迦佛陀應世,恆河兩岸更是佛陀及弟子教化活動之重要區域。其地人口稠密,經濟繁榮,交通發達,物產豐富,故印度人視爲神聖之地。 玄應音義卷二十四謂,恆河之河沙至細,同水而流,以手掬水,沙滿手中,若急把沙,還隨水出。故諸經中屢見以恆河沙爲喻,喻難以算計之數。此河俗稱福水或福德吉河,一般認爲以河水沐身,可除罪垢,於今仍有爭相投水洗身之風俗。大智度論卷七(大二五‧一一四上):「四遠諸人經書,皆以恒河爲福德吉河,若入中洗者,諸罪垢皆悉除盡,以人敬事此河,皆共識知,故以恒河沙爲喻。」大唐西域記卷四窣祿勤那國條(大五一‧八九一中):「彼俗書記謂之福水,罪咎雖積,沐浴便除。輕命自沈,生天受福。死而投骸,不墮惡趣。揚波激流,亡魂獲濟。」〔長阿含卷十八世紀經、一切法高王經、金光明最勝王經卷三、大毘婆沙論卷五、慧琳音義卷二十七〕 ; Gaṇgā (S), Ganges River Tên một con sông lớn ở Ấn độ. ; Gangà (S). The river Ganges. ; Sông Hằng Hà, theo truyền thuyết chảy ra từ trung tâm lổ tai của Thần Ma Hê Thủ La, chảy vào hồ A Nậu Ðạt (mà ngài Huyền Trang ghi trong Tây Du Ký là Căng Già), chảy qua Ngưu Khẩu (có nơi nói là Sư Tử Khẩu, hay Kim Tượng Khẩu), đoạn chảy quanh hồ rồi đổ ra biển theo hướng đông nam. Hằng Hà là một con sông rất lớn và rất dài ở Ấn Ðộ. Dưới đáy và dọc theo hai bên bờ của con sông nầy có rất nhiều cát—Ganges, said to drop from the centre of Siva's ear into the Anavatapta lake, passing through an orifice called (variously) ox's mouth, lion's mouth, golden elephant's mouth, then round the lake and out to the ocean on the south-east. Ganges River (Gangha) is a very large and long river in India. The bed and banks of this river are covered with innumerable grains of sands. ; (恒河) Phạm:Gaígà. Cũng gọi Hằng ca hà, Hằng già hà, Căng già hà. Sông hằng là một trong 3 con sông lớn ở Ấn độ. Sông này bắt nguồn từ dãy núi Hi mã lạp sơn, chảy theo hướng đông nam 800 km, đến Đông Bengale nhập với sông Bố lạp mã phổ đắc lạp rồi chảy vào Ấn độ dương. Hằng hà dài khoảng 2700 km, hai bên bờ sông có vô số đền đài, chùa miếu. Ấn độ giáo coi sông Hằng là sông thiêng liêng. Truyền thuyết cho rằng do người tiên cầu đảo mà nước sông Hằng từ đầu ngón chân của thần Tì thấp nô ở trên trời chảy xuống. Phật giáo cũng xem sông này là sông phúc, khi còn tại thế, đức Phật cũng thường đến đây tuyên thuyết diệu pháp. Vùng thượng lưu sông Hằng là trung tâm văn minh Ấn độ ở thời đại A thát bà phệ đà và thời kì thành lập Phạm thư; vùng trung lưu là trung tâm văn minh của thời đại Áo nghĩa thư; còn vùng hạ lưu là đồng bằng rộng lớn của cả đông bộ Ấn độ. Đến thời đức Phật, hai bờ sông Hằng trở thành khu vực giáo hóa trọng yếu của Ngài và các vị đệ tử. Vùng này dân cư đông đúc, kinh tế phồn thịnh, giao thông tiện lợi, sản vật dồi dào, cho nên người Ấn độ coi nơi này là vùng đất Thánh. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 24 thì cát sông Hằng rất mịn, cùng chảy theo dòng, tay vục lấy nước thì cát đầy trong tay. Trong các kinh điển Phật giáo, cát sông Hằng được dùng để ví dụ cho số lượng không thể tính đếm được. Người đời gọi sông này là sông Phúc, hoặc sông Phúc đức tốt lành. Phổ thông tin rằng tắm nước sông Hằng có thể tiêu trừ tội lỗi. Luận Đại trí độ quyển 7 (Đại 25, 114 thượng), nói: Mọi người đều cho rằng sông Hằng là sông phúc lành, người tắm trong đó thì các tội lỗi đều trừ sạch hết . Đại đường tây vực kí quyển 4 (Đại 51, 891 trung), nói: Phong tục xứ ấy cho là sông phúc lành, tội lỗi tuy nhiều, tắm gội liền hết. Người chán đời đến đây trầm mình, sẽ được sinh lên cõi trời. Thi hài thả xuống sông, trôi theo dòng nước, linh hồn được cứu, thoát khỏi đường ác . [X. kinh Thế kỉ trong Trường a hàm Q.18; kinh Nhất thiết pháp cao vương; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.3; luận Đại tì bà sa Q.5; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27].

hằng hà môn

3813梵名 Gaṅgā dvāra。又作殑伽河門。由恆河山地轉入平原之地點。即現今哈德爾(Hardwar)。古來,此地所具滅罪生善之功德遠較恆河其餘諸處爲殊勝,故每年至此沐浴者不計其數。 大唐西域記卷四(大五一‧八九二中):「去城不遠,臨殑伽河有大天祠,甚多靈異。其中有池,編石爲岸,引殑伽水爲補,五印度人謂之殑伽河門,生福滅罪之所,常有遠方數百千人集此澡濯。樂善諸王建立福舍,備珍羞,儲醫藥,惠施鰥寡,周給孤獨。」 ; (恒河門) Phạm:Gaígà dvàra. Cũng gọi Căng già hà môn. Chỗ cửa sông Hằng chảy vào đồng bằng, tức là Hardwar hiện nay. Xưa nay, người ta tin rằng Hằng hà môn là nơi có công đức diệt tội sinh phúc thù thắng hơn các chỗ khác của sông Hằng, cho nên hằng năm số người đến đây tắm gội không thể nào đếm được. Đại đường tây vực kí quyển 4 (Đại 51, 892 trung), nói: Cách thành này không xa, gần sông Căng già có đền thờ trời rất linh dị. Trong đền có ao, xung quanh xếp đá làm bờ dẫn nước từ sông Hằng vào. Người khắp Ấn độ gọi đó là Căng già hà môn, là nơi sinh phúc diệt tội, thường có hàng trăm nghìn người từ các phương xa đến đây tắm gội. Những ông vua hiếu thiện lập nhà tập phúc ở đây cho mọi người ở, cung cấp thức ăn, thuốc thang cho những người quan quả cô độc .

hằng hà sa

3812梵語 gaṅgā-nadī-vāluka。即恆河之沙。又作恆邊沙、恆水邊流沙、江河沙、兢伽沙、恆沙、恆河沙數等。恆河沙粒至細,其量無法計算。諸經中凡形容無法計算之數,多以「恆河沙」一詞爲喻,例如大品般若經卷一序品(大八‧二一七中):「遍照東方如恒河沙等諸佛國土。」阿彌陀經(大一二‧三四七中):「如是等恒河沙數諸佛。」無量壽經卷上(大一二‧二六七中):「無量大聖,數如恒沙。」〔玄應音義卷二十四、翻譯名義集卷七〕 ; Gaṅgā-nadī-vālukā (S), Sand in the Ganges. ; cát sông hằng:Gangà-nadì-vàlukà (S). Sand of the Ganges. ; (恒河沙) Phạm:Gaígà-nadì-vàluka. Cũng gọi Hằng biên sa, Hằng thủy biên lưu sa, Giang hà sa, Căng già sa, Hằng sa, Hằng hà sa số. Cát sông Hằng. Hạt cát rất mịn, số lượng không thể đếm được. Trong các kinh, khi nói đến con số nhiều không thể tính toán được, thì thường dùng từ Hằng hà sa để ví dụ. Như: Phẩm Tựa của kinh Đại phẩm bát nhã quyển 1 (Đại 8, 217 trung), nói: Chiếu khắp các cõi nước của chư Phật ở phương Đông nhiều như cát sông Hằng . Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 267 trung), nói: Vô lượng Đại thánh, số như Hằng sa . [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].

Hằng hà sa số

xem số cát sông Hằng.

hằng hà sa số

Số nhiều vô kể—Numberless—Incalculable—Countless.

Hằng hà sa 恒河沙

[ja] ゴウガシャ gogasha ||| 恒河 means Ganges River, thus this term means "as numerous as the sands of the Ganges." Numberless, uncountable (Gangā-nadī-vālukā). => (c: henghesha) Hằng hà nghĩa là sông Hằng, nên thuật ngữ nầy có nghĩa là có nghĩa là nhiều như cát sông Hằng. Nhiều vô số, không tính được (s: Gangā-nadī-vālukā).

Hằng hà 恒河

[ja] ゴウガ goga ||| The Ganges river. (Gangā-mahā-nadī). => Sông Hằng (s: Gangā-mahā-nadī).

hằng hải

3813河北淶水人,俗姓閻。名清華,一字空生。保定軍校畢業,民國肇建,應 孫中山先生之召,在淮北成立革命軍。曾任旅長之職。袁氏竊國,棄官走宜興,依磬山宗鑑和尚剃度。民國十年(1921),應龍池山澄光寺悟深方丈之請,出任監院,後繼任住持。因王柏齡居士之請,重興揚州重寧寺。二十六年,日軍進逼淞滬蘇常,迫及宜興。師集僧俗千餘人,課以軍制,適有軍官謝生標避難至此,乃推其爲游擊司令,對抗日軍。後因糧盡援絕,壯烈成仁。世壽不詳。

hằng ngày

Everyday—Daily.

hằng sa

Numberless. ; Con ngỗng: Hamsa (skt)—A goose. Nhiều như cát sông Hằng: Ganga-nadi-valuka (skt)—As the sands of Ganges (numberless)—Countless.

Hằng sa 恒沙

[ja] ゴウジャ goja ||| "As numerous as the sands of the Ganges." An abbreviation of henghesha 恒河沙. => Nhiều như cát sông Hằng. Viết tắt của Hằng hà sa (c: henghesha ).

hằng sản

Real estate.

hằng thanh

3813(1943~ )臺灣臺南縣人。係我國第一位獲得美國佛學博士之比丘尼。畢業於東吳大學英文系,後至美國羅德島大學取得教育學碩士。民國六十四年(1975),在美國舊金山依宣化法師剃度出家。其後,又入威斯康辛大學攻讀佛學博士,以「永明延壽禪師禪淨思想的融合」爲論文,於七十三年得博士學位。曾任教於東吳大學英文系、佛光山普門中學,現任教於臺大哲學系、中華學術院佛學研究所。

hằng thuyết hoa nghiêm

3814謂如來演說華嚴圓教之法門,法爾常恆,永無間斷。全稱「法爾恆說之華嚴」,與「結集流傳之華嚴」相對稱。六十華嚴經卷四十七佛不思議法品謂,一切諸佛能於一身化現不可說不可說佛剎微塵數之頭,於一一頭化現不可說不可說佛剎微塵數之舌,於一一舌化出不可說不可說佛剎微塵數之差別音聲,令法界眾生皆聞;復於一一音聲中演說不可說不可說佛剎微塵數之修多羅藏,於一一修多羅藏演說不可說不可說佛剎微塵數之法,於一一法中有不可說不可說佛剎微塵數之文字句義。如是演說,盡不可說不可說佛剎微塵數之劫,是劫盡已,復更演說,如是次第,乃至盡一切世界微塵數,盡一切眾生心念數,如來化身所轉法輪無有窮盡。〔華嚴探玄記卷十五、華嚴經疏演義鈔卷五(澄觀)〕 ; (恒說華嚴) Gọi đủ: Pháp nhĩ hằng thuyết chi Hoa nghiêm. Đối lại: Kết tập lưu truyền chi Hoa nghiêm. Pháp môn Viên giáo Hoa nghiêm do đức Như lai diễn nói là pháp thường hằng, không bao giờ gián đoạn. Phẩm Phật bất tư nghị pháp trong kinh Hoa nghiêm quyển 47 (bản 60 quyển) nói rằng, tất cả chư Phật đều có thể từ một thân hóa hiện ra vô số đầu, trong mỗi đầu hóa hiện ra vô số lưỡi, từ mỗi lưỡi hóa hiện ra vô số âm thanh sai biệt, khiến chúng sinh trong khắp pháp giới đều nghe. Trong mỗi âm thanh diễn nói vô lượng tạng kinh, trong mỗi tạng kinh tuyên thuyết vô lượng pháp, trong mỗi pháp có vô lượng vô biên văn tự, cú nghĩa, nhiều bằng số bụi nhỏ bất khả thuyết. Diễn nói như thế, đến hết các kiếp nhiều như số bụi nhỏ trong các cõi Phật bất khả thuyết, các kiếp ấy hết rồi, lại tiếp tục giảng nói số kiếp khác, lần lượt như thế, cho đến cùng tận hết thảy thế giới nhiều như bụi nhỏ, cùng tận số tâm niệm của tất cả chúng sinh, mà hóa thân của Như lai thuyết pháp không bao giờ cùng tận. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15; Hoa nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao Q.5 (Trừng quán)].

hằng thuận chúng sanh

To accommodate and benefit all living beings—Ðây là hạnh nguyện thứ chín trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Hằng thuận chúng sanh là tùy thuận chúng sanh mọi loài mà thật hành cúng dường và cung kính như cha mẹ, hoặc như các bậc Bồ Tát hay Phật. Nếu chúng sanh bịnh thì chúng ta làm lương y; nếu chúng sanh lạc đường thì chúng ta vì họ mà chỉ cho con đường chánh; nơi đêm tối chúng ta vì họ mà làm đuốc sáng, người cần ăn chúng ta cho ăn; người cần uống chúng ta cho uống, vân vân. Tùy thuận chúng sanh là tùy thuận chư Phật, cúng dường chúng sanh là cúng dường chư Phật, làm cho chúng sanh hạnh phúc là làm cho chư Phật hoan hỷ—This is the ninth of the ten conducts and vows of Samantabhadra Bodhisattva. To accommodate and benefit all living beings means we will accord with and take care of all living beings, making offerings to all living beings as if we made offerings to all Buddhas, honors and serves them as if we honored and served all Buddhas and Bodhisattvas. We should be a good doctor for the sick and suffering, lead those who have lost their way to the right road, be a bright light for those in the dark night, give food to the hungry, give drink to the thirsty, and so on. If we accord with living beings, then we accord with and make offerings to all Buddhas. If honor and serve living beings, we then honor and serve the Thus Come Ones. If we make living beings happy, we are making all Thus Come Ones happy.

hằng thuận chúng sinh

3814普賢菩薩所發十大願之第九。謂隨順十方剎海所有眾生之種種差別,種種承事供養,如敬父母,奉師長,乃至敬奉如來,皆無所異。對眾生饒益平等,於病苦者作其良醫,於失道者示其正路,於闇夜者作其光明,於貧窮者令得伏藏。以大悲心隨順眾生,故能成就供養如來之功德,念念相續,永無窮盡。〔華嚴經普賢行願品卷四十〕 ; (恒順衆生) Thuận theo chúng sinh. Nguyện thứ 9 trong 10 nguyện rộng lớn của bồ tát Phổ hiền. Bồ tát Phổ hiền nguyện thuận theo chúng sinh trong mười phương quốc độ, cúng dường họ như phụng sự chư Phật, kính thờ sư trưởng và cha mẹ, hết thảy đều bình đẳng. Đối với người bệnh là thầy thuốc giỏi, với người lạc đường là đạo sư chân chính, với người trong đêm tối mang ánh sáng đến, với người nghèo cùng khiến được kho báu. Dùng lòng đại bi tùy thuận chúng sinh, cho nên, có thể thành tựu công đức cúng dường Như lai, niệm niệm tương tục, mãi mãi không cùng tận. [X. phẩm Phổ hiền hạnh nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.40]

hằng thường

Constant, regular. ; Thường hằng—Constant—Regular.

hằng thẩm tư lượng

3814乃法相宗所立八識中第七末那識之性質。亦即歷經三世,無有間斷,審查一切事理而思慮量度之意。於八識之中,獨有第七識有此作用。第八阿賴耶識雖亦有三世無間斷、恆常相續之性質,然無分別思慮之作用。第六識雖能審查思量,然有間斷,故無恆義。前五識則有間斷,又不具分別審思之作用。(參閱「末那識」1941) ; (恒審思量) Thẩm tra tất cả sự lý, suy xét, tính lường, không lúc nào gián đoạn. Đây là tính chất của thức Mạt na, thức thứ 7 trong 8 thức do tông Pháp tướng thành lập. Trong 8 thức, chỉ có thức thứ 7 là có tác dụng này. (xt. Mạt Na Thức).

hằng thủy

Sông Hằng—The river Ganges—See Hằng Hà.

hằng trụ ngũ niệm

3811西藏佛教迦當派中教誡派所依之教法。恆者,恆常之義。五念即:念師長爲皈依、念自身爲本尊、念語言爲誦咒、念眾生爲父母、念心性爲本空。 ; (恒住五念) Năm giáo điều mà chi phái Giáo giới thuộc phái Ca đương của Phật giáo Tây tạng hằng ghi nhớ. Đó là: 1. Sư trưởng là chỗ qui y. 2. Tự thân là Bản tôn. 3. Ngôn ngữ là thần chú. 4. Chúng sinh là cha mẹ. 5. Tâm tính vốn không. HÂN YẾM... .. Tên tâm sở. Hân nghĩa là ham thích, chỉ cho tác dụng tinh thần hâm mộ công đức. Yếm nghĩa là chán ghét, chỉ cho tác dụng tinh thần nhàm chán đau khổ. Theo luận Nhập a tì đạt ma thì Hân là ham thích Niết bàn, Yếm là chán ghét sinh tử và, cũng như luận Thuận chính lí, cho Hân yếm là Thiện tâm sở. Còn luận Câu xá thì cho rằng Thiện tâm sở thuộc về Đại thiện địa pháp, tự tính của nó trùm khắp tất cả tâm thiện rồi, cho nên không cần lập riêng 2 tâm sở Hân và Yếm nữa. Vì hành tướng của Hân (ham thích) và Yếm (chán ghét) mâu thuẫn nhau, không cùng khởi lên trong một tâm, cũng không thường hằng, vả lại, không tương ứng cùng khắp với tâm thiện, cho nên không lập riêng Hân yếm. Theo luận Thành duy thức quyển 6, thì Hân và Dục đều có một phần Vô sân, Yếm và Tuệ đều có một phần Vô tham, vì cùng chung một thể tính, nên trong tâm sở thiện không cần lập riêng (Hân, Yếm). [X. luận Đại tì bà sa Q.28, Q.143, Q.196; luận Thuận chính lí Q.11; Câu xá luận quang kí Q.4].

hằng tâm

Kindhearted—Generous.

Hằng Tịch

(恆寂, Kōjaku, 825-885): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, Tổ khai sơn Đại Giác Tự (大覺寺, Daikaku-ji), húy là Hằng Tịch (恆寂), tục danh là Hằng Trinh (恆貞), thông xưng là Đình Tử Thân Vương (亭子親王), Hoàng Tử thứ 2 của Thuần Hòa Thiên Hoàng (淳和天皇, Junna Tennō, tại vị 758-764); mẹ là Chánh Tử Nội Thân Vương (正子內親王). Vào năm 833, khi Nhân Minh Thiên Hoàng (仁明天皇, Nimmyō Tennō, tại vị 833-850) tức vị thì ông làm Hoàng Thái Tử, nhưng đến năm 842, do vụ biến loạn Thừa Hòa (承和) xảy ra do âm mưu của nhóm Đằng Nguyên Lương Phòng (藤原良房, Fujiwara-no-Yoshifusa), nên ông bị phế truất ngôi vị Hoàng Thái Tử. Sau đó, ông lui về nhan cư ở Thuần Hòa Viện (淳和院), rồi đến năm 849 thì xuất gia và thọ đại pháp của hai bộ Thai Mật với Chơn Như (眞如). Năm 876, khi mẹ ông là Hoàng Hậu Chánh Tử cải đổi ly cung Tha Nga Viện của Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823) để xây dựng Đại Giác Tự, ông trở thành vị Tổ khai sơn của chùa này.

Hằng 恒

[ja] ゴウ gō ||| Permanent; permanence (nitya). Always, continually. => Thường xuyên, sự vĩnh cữu (s: nitya). Luôn luôn, liên tục.

hẳn hoi

Properly—Correctly.

hẹn lần hẹn lựa

Empty promise—Practice whatever you can practice today. Do not put off until tomorrow what you can practice today because you may never have tomorrow:Hãy tu tập những gì ta có thể tu tập hôm nay, chớ đừng hẹn lần hẹn lựa đến ngày mai vì biết đâu mình sẽ chẳng bao giờ có ngày mai.

hết hy vọng

Without hope—To despair—To lose all hope.

hết hơi

To be out of breath.

hết kế

To be at the end of one's resourses.

hết lòng

To be devoted to—With all one's heart—Heartily—Wholehearted.

hết lòng tùy hỷ

Wholehearted rejoice.

hết nhẵn

All finished.

hết nói

To find nothing more to say.

hết phương

To be at the end of one's resources.

hết sức

To be exhausted—At the end of one's tether.

hết thế

See Hết phương.

hết thời

To be on the down grade.

hết tiệt

See Hết Nhẵn.

hề la sơn

6627醯羅,梵名 Hila。位於北印度烏仗那國之佛教聖地。相傳係釋尊過去世為聽聞半偈法而捨身之處。北本大般涅槃經卷十四聖行品中所載,釋尊於過去世在雪山修菩薩行時,聽聞帝釋天所化現之羅剎說半偈(大一二‧四五○上):「諸行無常是生滅法。」欲更求後半偈(大一二‧四五一上):「生滅滅已,寂滅為樂。」然羅剎欲食其血肉,始肯相告。彼求法心切,慨然應允。遂於聞得後半偈之後,由高樹上投身而下。該山之位置即今之印度西北境普尼爾(Bunir)溪谷附近。〔大智度論卷十二、大唐西域記卷三烏仗那國、T. Watters: On Yuan Chwang, vol.Ⅰ〕(參閱「雪山大士」4828) ; (醯羅山) Hê la, Phạm:Hila. Thánh địa Phật giáo ở nước Ô trượng na thuộc miền Bắc Ấn độ. Tương truyền đây là nơi đức Thích tôn, trong kiếp quá khứ, khi tu hạnh Bồ tát, đã xả thân để được nghe 2 câu sau của bài kệ: Các hành vô thường, Là pháp sinh diệt, Sinh diệt diệt rồi, Tịch diệt là vui. Núi này hiện nay ở gần thung lũng Bunir tại Tây bắc Ấn độ. [X. luận Đại trí độ Q.12; điều Ô trượng na quốc trong Đại đường tây vực kí Q.3; T.Watters: On yuan chwang, vol. I]. (xt. Tuyết Sơn Đại Sĩ).

hề la thành

6627醯羅,梵名 Hiḍḍa 或 Hila。為北印度那揭羅曷國之都府名。又作佛頭骨城。以供奉佛頂骨而聞名。或謂釋尊如來之髑髏骨、眼睛、僧伽胝袈裟、錫杖亦收在此處。醯羅城約當今阿富汗喀布爾河(Kābul)沿岸傑來拉拜(Jalālābād)之西約三公里,醯羅西北西九公里處。〔高僧法顯傳、大唐西域記卷二那揭羅曷國條、解說西域記、S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol.Ⅰ〕 ; (醯羅城) Hê la, Phạm: HiđđahoặcHila. Cũng gọi Phật đầu cốt thành. Thủ phủ của nước Na yết la hạt thuộc Bắc Ấn độ, cáchJalàlàbàdcủa A phú hãn hiện nay về phía tây khoảng 9 km. Có thuyết cho rằng xương đầu, mắt, ca sa, tích trượng của đức Phật được thờ tại đây. [X. Cao tăng Pháp hiển truyện; điều Na yết la hạt quốc trong Đại đường tây vực kí Q.2; Giải thuyết tây vực kí; S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol. I].

hề trọng tạo xa

4075禪宗公案名。指潭州大溈月庵善果禪師以奚仲造車之故事提撕學人。無門關第八則(大四八‧二九四上):「月庵和尚問僧:『奚仲造車一百輻,拈卻兩頭,去卻軸,明甚麼邊事?』」即謂奚仲(乃黃帝時發明造車術之人)曾造車一百輻,然而一一分離之,卻問當該如何?譬若行人只注重形式上之禮拜、苦行,而不能從心上下功夫,至臨命終時,四大分離,修行之功德亦亡滅,猶如拈卻兩頭,分離其軸,則亦無車之作用。〔續傳燈錄卷二十九、五燈會元卷二十〕 ; (奚仲造車) Tên công án trong Thiền tông. Hề trọng đóng xe. Hề trọng là người đời Hoàng đế nước Tàu, chế ra loại xe, mỗi bánh xe có 100 cái nan hoa. Thiền sư Nguyệt am Thiện quả ở núi Đại qui thuộc Đàm châu mới dùng sự tích này làm công án để mở bày cho người học.Tắc 8 trong Vô môn quan (Đại 48, 294 thượng) ghi: Hòa thượng Nguyệt am hỏi một vị tăng: Hề trọng đóng xe, bánh xe có 100 nan hoa, mỗi đầu nan hoa đều lắp vào cái trục xe. Nếu bỏ trục đi thì cái xe sẽ như thế nào? Ví người tu hành nếu chỉ chú trọng ở hình thức, mà không dụng công từ nơi tâm, thì cũng giống như những cái nan hoa xe không có trục xe, sẽ chẳng có tác dụng gì. [X. Tục truyền đăng lục Q.29; Ngũ đăng hội nguyên Q.20].

hệ

6670梵語 grantha。繫屬、繫縛之意。即將眾生束縛於迷惑之世界,使不得自由者。為煩惱之異名。三界之煩惱能將有漏之諸法各別繫縛於三界;因而,繫屬於三界即稱為界繫,或稱三界繫。分別言之,法繫在欲界者,稱為欲界繫;繫在色界者,稱為色界繫;繫在無色界者,稱為無色界繫。此乃就所繫之法而言。 大乘阿毘達磨雜集論卷七就能繫之定障舉出四種繫(又作四結、四身結、四縛),即貪欲身繫、瞋恚身繫、戒禁取身繫、此實執取身繫。蓋貪欲等四者,能使心神散亂,障礙定意性之身,故名為繫。又三界有漏之諸法,皆為貪等煩惱所縛,若斷除此縛,即為擇滅涅槃。此外,業亦有繫之作用。眾生由所造善惡之業而得三界之果報,繫縛於三界中,稱為業繫。繫屬於三界之善惡業,則稱繫業。〔大毘婆沙論卷五十二、卷一四五、俱舍論卷一、卷二、瑜伽師地論卷八十四、成唯識論卷五、成唯識論述記卷五本〕(參閱「界繫」3893) ; Gantha (S). ; To fasten, attach to, connect; think of, be attached to, fix the thoughts on; link; succession; system. ; 1) Cột trói: To fasten—To attach to. 2) Cột trói tư tưởng: To fix the thought on. 3) Ràng buộc: Connect—Bind—Involve—To be attached to. ; (繫) Phạm: Grantha. Lệ thuộc, trói buộc. Tên khác của phiền não.Phiền não trong 3 cõi thường trói buộc các pháp hữu lậu, do đó, các pháp phải lệ thuộc vào 3 cõi nên gọi là Giới hệ hoặc Tam giới hệ. Nói rõ hơn, như các pháp bị ràng buộc trong cõi Dục, gọi là Dục giới hệ; bị ràng buộc trong cõi Sắc, gọi là Sắc giới hệ; bị ràng buộc trong cõi Vô sắc, gọi là Vô sắc giới hệ. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 7, thì Hệ có 4 loại (cũng gọi Tứ kết, Tứ thân kết, Tứ phược): Tham dục thân hệ; Sân khuể thân hệ, Giới cấm thủ thân hệ và Thử thực chấp thủ thân hệ. Vì 4 loại này hay làm cho tâm thần tán loạn, gây chướng ngại định lực nên gọi là Hệ. Các pháp hữu lậu trong 3 cõi đều bị 4 thứ phiền não này trói buộc, nếu dứt trừ được sự trói buộc ấy thì đạt được Trạch diệt niết bàn. Ngoài ra, nghiệp cũng có tác dụng của Hệ. Chúng sinh do những nghiệp thiện ác đã tạo mà phải chịu quả báo trong 3 cõi, cũng tức là bị trói buộc trong 3 cõi, cho nên gọi là Nghiệp hệ. Còn nghiệp thiện ác lệ thuộc trong 3 cõi thì gọi Hệ nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.52; Q.145; luận Câu xá Q.1, Q.2; luận Du già sư địa Q.84; luận Thành duy thức Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần đầu]. (xt. Giới Hệ).

hệ châu

Chẳng biết trong áo của mình có buộc hạt châu, lại tưởng mình nghèo khốn mà đi xin ăn—A peral fastened in a man's garment, yet he, in ignorance of it, is a beggar.

hệ châu dụ

6671法華七喻之一。又作衣珠喻、衣內明珠喻。即衣裏繫有寶珠而自不覺知,仍四處奔走求衣食,比喻有大器者卻甘作小智之人。〔法華經卷四「五百弟子授記品」、法華文句卷八上〕「參閱「衣珠喻」2569、「法華七喻」3394) ; (繫珠喻) Cũng gọi Y châu dụ, Y nội minh châu dụ. Ví dụ hạt ngọc quí giấu trong chéo áo. Một trong 7 ví dụ của kinh Pháp hoa. Kinh Pháp hoa dùng ví dụ này để chỉ cho chúng sinh đã có sẵn tính Phật, nhưng vì ngu mê không biết nên cứ rong ruổi tìm cầu bên ngoài, như người có hạt ngọc quí giá trong chéo áo mà chẳng hay, cứ tha phương cầu thực. [X. phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa Q.4; Pháp hoa văn cú Q.8 phần trên]. (xt. Y Châu Dụ, Pháp Hoa Thất Dụ).

hệ duyên

6671謂心廣於世間諸事物懸繫思索。反之,一念乃一思而止。摩訶止觀卷一上(大四六‧一下):「圓頓者初緣實相,造境即中,無不真實,繫緣法界,一念法界,一色一香,無非中道。」 ; See Duyên. ; (繫緣) Tâm rong ruổi theo các cảnh thế gian. Ngưng lại thì thấy ngay thực tướng. Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên (Đại 46, 1 hạ), nói: Người tu viên đốn, vừa duyên thực tướng thì ngay nơi cảnh tức là Trung đạo, đều là chân thực. Khi tâm duyên pháp giới (Hệ duyên) thì một niệm là toàn thể pháp giới, một sắc một hương đều là Trung đạo .

hệ lư quyết

6672即指路邊繫縛驢之木棒。禪家轉喻學人雖領得一句一棒之玄機,然若執著於一語一句,則反受其拘束繫縛,欠缺活用之機法。臨濟錄(大四七‧四九七下):「羅漢辟支,猶如廁穢;菩提涅槃,如繫驢橛。」又喻指不貴重而無益之物。碧巖錄第一則(大四八‧一四○上):「梁武帝問達磨大師:『如何是聖諦第一義?』(是甚繫驢橛?)」〔景德傳燈錄卷十四船子德誠條、從容錄第八則、第十一則、第六十一則〕 ; (繫驢橛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho cái cọc buộc lừa ở bên đường. Thiền gia dùng từ ngữ này để ví dụ cho người học, tuy lãnh hội được cơ mầu nhiệm qua một câu, một gậy, nhưng nếu cố chấp một câu, một lời thì sẽ bị trói buộc như con lừa bị cột, không hoạt dụng được. Lâm tế lục (Đại 47, 497 hạ), nói: La hán Bích chi như thứ rác rưởi; Bồ đề Niết bàn như cọc buộc lừa . Ngoài ra, Hệ lư quyết còn được dùng để ví dụ vật vô giá trị. Tắc 1 trong Bích nham lục (Đại 48, 140 thượng), ghi: Lương vũ đế hỏi đại sư Đạt ma: Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa? (Đúng là cái cọc buộc lừa!)

hệ lụy

To be involved in.

hệ nam

2988(1050~1094)宋代臨濟宗僧。汀州(福建長汀)人,俗姓張。幼投金泉寺出家,道業專一,遍參諸方。後參謁湘西道林寺之雲居元祐(1027~1092),並嗣其法。後於廬山羅漢禪院宣揚禪旨,世稱羅漢系南。師因與臨濟宗黃龍派之祖黃龍慧南禪師(1002~1069)同名,道譽亦相若,且慧南乃元祐嗣法之師,於法系上,慧南為系南之祖,故叢林呼師為小南,尊稱慧南為老南。紹聖元年示寂,享年四十五。〔建中靖國續燈錄卷二十一、聯燈會要卷十六、五燈會元卷十八、禪林口實混名集卷下〕

hệ nghiệp

6671指繫屬於欲界、色界、無色界等三界之善惡業。大乘義章卷七「三界繫業義」謂繫業有四義:(一)就業體而言,有漏之業體屬於三界,故稱三界繫業。(二)就得果而言,有漏業受報之處必在三界,故稱三界繫業。(三)就業果相對而言,於三界中,業與果相縛,故稱三界繫業。(四)對惑而言,三界之善惡業為其當界之煩惱所緣縛,故稱三界繫業。 ; (繫業) Chỉ cho những nghiệp thiện ác trói buộc chúng sinh trong 3 cõi. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 7, thì hệ nghiệp trong 3 cõi có 4 nghĩa: 1. Đứng về phương diện nghiệp thể, thì nghiệp thể hữu lậu thuộc về 3 cõi. 2. Đứng về phương diện đắc quả, thì nơi chịu quả báo của nghiệp hữu lậu đều ở trong 3 cõi. 3. Đứng về phương diện nghiệp quả tương đối, thì ở trong 3 cõi nghiệp và quả ràng buộc nhau. 4. Đối với hoặc, nghiệp thiện ác trong 3 cõi bị phiền não ở các cõi ấy duyên theo và ràng buộc.

hệ niệm

6670謂將心念繫於一處而不思其他之意。又作係念、懸念、懸想。據大般若波羅蜜多經卷三二九(大六‧六八六中):「住空閑處,繫念思惟先所修行。」又觀無量壽經謂,眾生用心觀想佛時,應當一心繫念,諦觀彼佛。此外,一般俗稱憂慮為懸念,稱戀慕為懸想,皆為轉訛之用法。〔雜阿含經卷三十七、卷三十九、大寶積經卷四十七、玄應音義卷三、慧琳音義卷三、卷九〕 ; To keep in mind; to never forget; to memorize. ; Ràng buộc ý niệm theo một hướng nhất định, chẳng nghĩ gì khác (đêm ngày thường ràng buộc niệm, chớ nghĩ tới cảnh dục, ngược lại luôn nghĩ tới cảnh Tây Phương Cực Lạc)—To fix the mind, attention, or thought on—To think of—To be drawn to—Always think of the western paradise, not thinking of desires. ; (繫念) Cũng gọi Huyền niệm, Huyền tưởng. Để tâm chuyên chú vào một cảnh. Kinh Đại bát nhã ba la mật quyển 329 (Đại 6, 686 trung), nói: Ở nơi vắng vẻ, chuyên tâm (hệ niệm) quán tưởng những điều đã tu . Kinh Quán vô lượng thọ nói, khi chúng sinh dụng tâm quán tưởng Phật, thì cần phải nhất tâm hệ niệm quán đức Phật A di đà. [X. kinh Tạp a hàm Q.37, Q.39; kinh Đại bảo tích Q.47; Huyền ứng âm nghĩa Q.3; Tuệ lâm âm nghĩa Q.3, Q.9].

hệ niệm tư duy

To fix the thoughts on one thing.

hệ phược

Saṃyojana (P), Bandhana (S), Fetters Kiết trược, Phược, Kiết sử; Kết, Thằng thúc1- Thắt buộc lại, dây trói buộc. Có 5 mối kết: tham kết, nhuế kết, mạn kết, tật kết, kiên kết. Dục giới có 5 mối kết gọi là Ngũ hạ phần kết. Cõi Sắc giới và Vô sắc giới có 5 mối kết gọi là Ngũ thượng phần kết. Có 9 mối kết trói buộc lòng người: ái, nhuế, mạn, si, nghi, kiến, thủ kiến, kiên, tật đố. 2- Dây trói buộc chúng sanh vào vòng luân hồi là ham muốn đeo níu trong sắc giới (ruparaga) và ham muốn đeo níu trong Vô sắc giới (aruparapa). ; 1) Trói buộc (phiền não trói buộc thân tâm làm mất tự do): To fasten to—To tie—Tied to, e.g. things, or the passions. 2) Phiền não: Affliction.

hệ phược (phọc)

To fasten, tie; tied to. e.g. things, or the passions.

Hệ phược 繁縛

[ja] ハンバク hanbaku ||| To be entangled (by defilements, delusion. etc.) 〔二障義HPC 1.793a〕 => Bị vướng mắc vào (phiền não, nhiễm ô, mê vọng v.v...)

Hệ phược 繫縛

[ja] ケバク kebaku ||| (1) To bind up; tie down, restrain (saṃyoga). (2) The mind as bound up, impeded, restrained by the afflictions. The opposite of liberation 解脱 (Pali bandha). 〔二障義HPC 1.807a8〕 => 1. Trói buộc; cột lại, ngăn giữ (saṃyoga). 2. Tâm như bi gắn dính vào, bị ngăn ngại, bị câu thúc bởi phiền não. Ngược với giải thoát 解脱 (p: bandha).

hệ phọc

6671梵語 bandhana,巴利語同。拘束之意。又作結縛。指眾生之身心為煩惱、妄想或外界事物所束縛而失去自由,長時流轉於生死之中。據長阿含卷八眾集經所載,繫縛眾生之身心者有四,即貪欲、瞋恚、戒盜、我見等四煩惱。此外,印度數論學派立有自性縛、布施縛、變異縛等三種繫縛。〔鞞婆沙論卷二、金七十論卷中、大藏法數卷二十〕(參閱「四縛」1839、「繫」6670) ; (繫縛) Phạm, Pàli: Bandhana. Cũng gọi kết phược. Sự trói buộc. Chỉ cho thân tâm của chúng sinh bị các phiền não vọng tưởng hoặc những sự vật của thế giới bên ngoài ràng buộc mà mất tự do, mãi trôi lăn trong dòng sinh tử. Cứ theo kinh Chúng tập trong Trường a hàm quyển 8, thì có 4 thứ phiền não trói buộc thân tâm của chúng sinh là: Tham dục, sân khuể, giới đạo và ngã kiến. Ngoài ra, học phái Số luận (Phạm: Saôkhya) của Ấn độ có lập ra 3 thứ Hệ phược là: Tự tính phược, Bố thí phược và Biến dị phược. [X. luận Tì bà sa Q.2; luận Kim thất thập Q.trung; Đại tạng pháp số Q.20]. (xt. Tứ Phược).

hệ quán thế âm ứng nghiệm kí

6671全一卷。南朝陸杲(459~532)撰。本書在中國已散佚不傳,今日本京都青蓮院所存者為鎌倉中期之古寫本。日人牧田諦亮於一九七○年刊行六朝古逸觀世音應驗記の研究一書,其中收有本記,即依古寫本校訂而成。依該書之序,陸杲欲接續傅亮(374~426)之光世音應驗記(七條)、張演之續光世音應驗記(十條)而撰本記,於南齊和帝中興元年(501)完成,共計六十九條,然卷末二條係後人所添附者。 ; (繫觀世音應驗記) Có 1 quyển, do ông Lục cảo (459-532) soạn vào thời Nam triều. Sách này ở Trung quốc đã thất truyền. Hiện chỉ còn một bản chép tay vào khoảng giữa thời đại Liêm thương được cất giữ tại viện Thanh liên ở kinh đô (Kyoto) Nhật bản. Năm 1970, ông Mục điền Đế lượng, người Nhật đã xuất bản cuốn Lục triều cổ dật Quan thế âm ứng nghiệm kí chi nghiên cứu (Nghiên cứu tác phẩm Quan thế âm ứng nghiệm kí của thời Lục triều đã bị thất truyền). Theo bài tựa của sách này thì Lục cảo muốn tiếp nối sách Quang thế âm linh nghiệm kí (7 điều) của ông Phó lượng (374-426) và sách Tục quang thế âm ứng nghiệm kí (10 điều) của ông Trương diễn mà soạn sách này. Sách được hoàn thành vào niên hiệu Trung hưng năm đầu (501) đời Hòa đế nhà Nam Tề, gồm 69 điều, nhưng 2 điều cuối cùng là do người sau thêm vào.

Hệ thuộc 繫屬

[ja] ケイゾク kezoku ||| (1) To be bound up, fastened, tethered. (2) Relationship; be subject to, be inherent in, be affiliated with. => 1. Bị trói buộc, bị cột chặt, bị dẫn dắt. 2. Mối quan hệ; bị lệ thuộc; vốn thuộc về, vốn gắn liền với, lệ thuộc vào.

hệ thống

System.

hệ thống thế gian

Lokadhātu (S), World system Trong một hệ thống thế gian chỉ có một đấng chánh biến tri mà thôi.

hệ thống tâm thức

Cittàkalàpa (S). Mental system.

hệ thống tư tưởng thích hợp

A rational system of thoughts

hệ trước

6671即一心繫於事物而執著不離。凡夫執著於名聞利養資生之具,猶如為魔所束縛,若不執著,則脫離魔縛。〔雜阿含經卷三十四、北本大般涅槃經卷十七〕 ; See Duyên. ; (繫著) Tâm dính mắc vào ngoại cảnh. Phàm phu tham đắm danh lợi nên bị danh lợi trói buộc, không được tự do. [X. kinh Tạp a hàm Q.34; kinh Đại bát niết bàn Q.17 (bản Bắc)].

hệ trọng

Important—Vital.

hệ từ

Hsi-tzu (C), Ta-chuan (C), Commentary on the Appended Judgments Còn gọi là Tả truyện. Một trong 10 luận giải trong Thập Dực.

Hệ từ 繫辭

[ja] ケイジ Keiji ||| Xici The name of a section of the Yijing which is an explanation of the prognostics. Part of the Great Commentary 太傳. Kihwa 己和, in his commentary on the Yuanjue jing 圓覺經, quotes extensively from this section in explaining the meaning of the term "Mahāyāna." => Keiji (j); Xici (c); . Tên một chương trong kinh Dịch (c: Yijing) như là sự giải thích về sự tiên đoán. Là một phần trong Thái truyền (太傳 e: Great Commentary). Kỷ Hoà (k: Kihwa 己和), trong luận giải về kinh Viên Giác của sư, đã trích dẫn rất nhiều chương nầy để giải thích về ý nghĩa thuật ngữ 'Đại thừa'.

Hệ 繫

[ja] ケイ kei ||| (1) To attach to, to bind to. (2) Promise. (3) To continue, continuation. [Buddhism] (saṃyoga, avacara, avabaddha, grantha, bandha, dhāraṇa). To be tied, tethered, attached. Another term for 'defilement,' close in meaning to 縛. => 1. Vướng mắc, trói buộc. 2. Hứa hẹn 3. Tiếp tục, sự tương tục [Phật học] (s: saṃyoga, avacara, avabaddha, grantha, bandha, dhāraṇa). Bị trói buộc, bị cột vào, bị vướng mắc. Là tên gọi khác chỉ cho 'phiền não nhiễm ô', rất gần với nghĩa chữ Phược 縛.

hệt

Close resemblance.

Hỉ

喜; S, P: muditā;|Một trong Bốn phạm trú. Hỉ là niềm vui theo với hạnh phúc của người khác. Tu dưỡng tâm hỉ là nhằm đối trị tâm ganh ghét và nhằm xóa dần ranh giới giữa ta và người. Hỉ là một trong bốn tâm vô lượng của một đức Phật, đó là tâm đại hỉ khi thấy có ai rời bỏ được Khổ và Luân hồi.

hỉ

4899梵語 su-manas。即心中適悅之相。為五受之一,稱為喜受;又為二十二根之一,稱為喜根。依俱舍論卷三載,初靜慮、第二靜慮及欲界等,其心悅之行相粗動,具有喜貪,稱之為「喜」;第三靜慮之心悅,其行相安靜,已離喜貪,則稱為「樂」。成唯識論卷五則謂,初靜慮與第二靜慮之近分及欲界,其心悅稱為「喜」;而在初靜慮、第二靜慮之根本之心悅,既可稱為「喜」,亦可稱為「樂」。 經典中所謂「踊躍歡喜」等語,即表示聽聞佛陀說法時之狀態。大乘菩薩十地中之第一地,即是歡喜地。據世親十地經論卷二載,歡喜分為三種,有心喜、體喜、根喜。次舉九種:(一)敬歡喜,指恭敬三寶之喜。(二)愛歡喜,指樂觀真如法之喜。(三)慶歡喜,指自覺所悟殊勝之喜。(四)調柔歡喜,指遍益身心之喜。(五)踊躍歡喜,指遍益身心,滿足之喜。(六)堪受歡喜,指見己接近覺悟之喜。(七)不壞歡喜,指調伏、解說、論議時,心不動搖之喜。(八)不惱歡喜,指教化攝取眾生,慈悲調柔之喜。(九)不瞋歡喜,指眾生威儀不正亦能不怒之喜。〔大毘婆沙論卷一三九、卷一四二、大乘阿毘達磨雜集論卷七、俱舍論光記卷三、成唯識論述記卷五本、百法問答鈔卷一、唯識論同學鈔卷五之四〕(參閱「歡喜」6898) ; Rama (S), Joy. ; Priti, ànanda (S). Joy; glad; delighted; rejoyce; to like. ; (喜) Phạn: Su-manas. Sự vui mừng trong lòng. Một trong năm thụ, gọi là Hỉ thụ(cảm giác vui mừng) một trong 22 căn, gọi là Hỉ căn. Cứ theo luận Câu xá quyển 3, hành tướng vui mừng của tâm ở Sơ thiền, Nhị thiền và cõi Dục, thô động, có tính chất tham vui, gọi là Hỉ ; còn hành tướng vui mừng của tâm ở Tam thiền thì an tĩnh, đã lìa tính tham vui, nên gọi là Lạc . Nhưng luận Thành duy thức quyển 5 thì cho rằng: Sự vui mừng của tâm ở Sơ thiền, ở Cận phần định của Nhị thiền và ở cõi Dục gọi là Hỉ ; còn sự vui mừng của tâm ở Sơ thiền và ở Căn bản định của Nhị thiền thì gọi là Hỉ hoặc là Lạc . Từ ngữ Dũng dược hoan hỉ (vui mừng hớn hở) nói trong các kinh là mô tả thái độ vui mừng khi nghe đức Phật nói pháp. Địa thứ nhất trong 10 địa của Bồ tát Đại thừa là Hoan hỉ địa. Trong Thập địa kinh luận quyển 2, ngài Thế thân chia hoan hỉ làm 3 loại: Hữu tâm hỉ, Thể hỉ và Căn hỉ. Kế đó, ngài nêu ra 9 thứ:1. Kính hoan hỉ: Vui mừng cung kính Tam bảo. 2. Ái hoan hỉ: Vui mừng ưa thích quán pháp chân như. 3. Khánh hoan hỉ: Vui mừng tự biết chỗ sở ngộ thù thắng. 4. Điều nhu hoan hỉ: Niềm vui mừng được điều hòa lan khắp thân tâm. 5. Dũng dược hoan hỉ: Niềm vui đầy đủ, tràn khắp thân tâm. 6. Kham thụ hoan hỉ: Vui mừng khi thấy mình tiếp cận sự giác ngộ. 7. Bất hoại hoan hỉ: Vui mừng khi điều phục, giải thuyết, nghị luận mà tâm không dao động. 8. Bất não hoan hỉ: Vui mừng vì lòng từ bi nhu hòa, giáo hóa, nhiếp thụ chúng sinh.9. Bất sân hoan hỉ: Vui mừng vì khi thấy uy nghi chúng sinh không đúng đắn mà không sinh tâm giận dữ. [X. luận Đại tì bà sa Q.139, Q.142; luận Đạt thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7; Câu xá luận quang kí Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần đầu; Bách pháp vấn đáp sao Q.1; Duy thức luận đồng học sao Q.5 phần 4]. (xt. Hoan Hỉ).

hỉ duyệt - hỉ lạc

Pleased, delighted.

hỉ giác chi

4901梵語 prītisambodhyaṅga,巴利語 pītisambojjhaṅga。即得正法而歡喜。係三十七菩提分法中七覺支之一。又作喜等覺支、喜覺意、愛喜覺意。即心得善法,以喜為體而生之欣悅歡喜。〔雜阿含經卷二十六、正法眼藏菩提分法〕(參閱「七覺支」125) ; (喜覺支) Phạn: Prìtisambodhyaíga. Pàli:Pìtisambojjhaíga. Cũng gọi Hỉ đẳng giác chi, Hỉ giác ý, Ái hỉ giác ý. Niềm vui mừng khi đạt được chính pháp, là một trong 7 giác chi của 37 Bồ đề phần. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; Chính pháp nhãn tạng bồ đề phần pháp]. (xt. Thất Giác Chi).

hỉ giải phái

4901為西藏佛教迦當派之分支。喜解,又作希解、希結,意譯能寂滅。創祖為元初南印度大阿闍梨巴敦巴桑結(藏 Pha-dom-pa sans-rgyas),彼嘗經迦濕彌羅至阿里而五遊藏土,廣事教化,後以西藏隱士馬貢(藏 Rma-sgom)等為其法統之繼承人。本派學系出於超岩寺,立說要點在以密乘解脫人生之苦惱,說教演理,淺顯通俗,故流傳甚廣。其所崇奉之密典分為初、中、後三類,有除滅三燈、夜魔帝成就法等。三傳至媽只惹端尼師,行腳一生,開化更盛。(參閱「西藏佛教」2593、「迦當派」3967) ; (喜解派) Chi phái thuộc phái Ca đương của Phật giáo Tây tạng, do Đại a xà lê Ba đôn ba tang kết (Tạng: Pha-dom-pa sans rgyas) người Nam Ấn độ khai sáng vào đầu đời Nguyên. Hỉ giải cũng gọi là Hi giải, Hi kết, có nghĩa là năng tịch diệt. Phái này bắt nguồn từ chùa Siêu nham, chủ trương dùng Mật thừa để giải thoát những khổ não của kiếp người, vì chuyên về giảng giải giáo lí, thích ứng với trình độ phổ thông của mọi người, cho nên phái này lưu truyền rất rộng rãi. Những kinh điển Mật giáo mà phái này tôn sùng được chia làm 3 loại: Sơ, Trung, Hậu, gồm có các pháp tu như: Trừ diệt tam đăng, Dạ ma đế thành tựu, v.v...… Phái này truyền đến đời thứ 3 là ni sư Mụ chỉ nhạ đoan thì càng thịnh hơn. (xt. Tây Tạng Phật Giáo, Ca Đương Phái).

hỉ kiến

Priyadarsana (S). Joyful to see, beutiful; name of a kalpa hỉ kiến kiếp.

hỉ kiến thiên

Trayastrimsàs (S). The thirty three devas, or gods of Indra's heavens, on the summit of Meru.

hỉ kiến thành

Sudarsana (S). The city beautiful, the chief city, or capital, of the thirty three Indra heavens.

hỉ nhiêu gia mục thố

4901(1883~1968)西藏佛教學者。青海循化人。幼年於循化古雷寺出家,遊學於甘肅拉卜楞寺、青海塔爾寺。後入藏學經,獲拉然巴格西學位,擔任達賴十三世之經典侍講,主持拉薩版藏文大藏經編纂工作,任總校編。此外,曾任國立五所大學西藏文化講座講師、國民參政會參政員、蒙藏委員會副委員長等職。民國五十七年示寂,世壽八十六。

hỉ nhẫn

The "patience" of joy, achieved on beholding by faith Amitàbha and his Pure-Land; one of the tam nhẫn.

hỉ thụ

4900梵語 saumanasya-vedanā,巴利語 somanassa-vedanā。為五受之一。即於順境,其心適悅之感受;為受心所(領納對境之心所)各種作用之一。在欲界、初禪及第二禪中,凡與意識相應所起之心悅,稱為喜受。〔大集法門經卷下、俱舍論卷三、順正理論卷九〕(參閱「五受」1103、「喜」4899) ; (喜受) Phạn: Saumanasya-vedanà. Pàli: Somanassa-vedanà. Cảm giác vui thích trước cảnh thuận. Một trong 5 thụ. Trong cõi Dục, Sơ thiền và Nhị thiền, khi tâm vui thích khởi lên tương ứng với ý thức thì gọi là Hỉ thụ. [X. kinh Đại tập pháp môn Q.hạ; luận Câu xá Q.3; luận Thuận chính lí Q.9]. (xt. Ngũ Thụ, Hỉ).

hỉ thụ (thọ)

The sensation, or receptivity, of joy; to receive with pleasure.

hỉ tiếu thiên

4900請參閱 大悲空智金剛大教王儀軌經 請參閱 大悲空智金剛大教王儀軌經 梵名 Krīḍāpradoṣikā,巴利名 Khiḍḍāpadūsikā。音譯作幾陀波屠。又作喜戲笑懈怠天、戲笑懈怠天。為天界之一種。此天之天眾由於耽著於嬉戲,而自天界死沒。長部經一梵網經(巴 Brahmajāla-sutta)、二十四波梨經(巴 Pāṭika-suttanta)等,皆有關於此天之記載,謂此天長時間耽著於嬉笑戲事之喜樂法,因而憶念消失,乃自天界中死沒。〔長阿含大會經、阿㝹夷經、梵動經、大三摩惹經、梵網六十二見經、出曜經〕 ; (喜笑天) Phạn:Krìđàpradowikà. Pàli:Khiđđàpadùsikà. Dịch âm: Kỉ đà ba đồ. Cũng gọi Hỉ hí tiếu giải đãi thiên, Hí tiếu giải đãi thiên. Cõi trời trong đó thiên chúng ham mê sự vui chơi. Cứ theo kinh Phạm võng (Pàli: Brahmajàla-sutta) trong Trường bộ kinh 1 và kinh Nhị thập tứ ba lợi li:Pàỉikasuttanta), thì những người trời ở cõi này vì đam mê pháp hỉ lạc trong thời gian dài nên sự nhớ nghĩ bị tiêu mất mà mệnh chung. [X. kinh Đại hội, kinh A nâu di và kinh Phạm động trong Trường a hàm; kinh Đại tam ma nhạ; kinh Phạm võng lục thập nhị kiến; kinh Xuất diệu].

hỉ túc thiên

Tusita (S)

hỉ vô lượng tâm

4900喜無量,梵語 muditāpramāṇa,巴利語 muditā appamāṇa。四無量心之一。即見無量眾生離苦得樂而生喜悅之心。係為對治四障中之不欣慰而設者。〔大智度論卷二十〕(參閱「四無量」1777) ; Boundless joy on seeing others rescued from suffering. ; (喜無量心) Hỉ vô lượng, Phạm: Muditàpramaịà. Pàli: Mudità appamàịa. Tức là tâm vui mừng khi thấy vô lượng chúng sinh lìa khổ được vui. Một trong bốn vô lượng tâm. Tâm này được dùng để đối trị với tâm ích kỉ trong 4 chướng. [X. luận Đại trí độ Q.20]. (xt. Tứ Vô Lượng Tâm).

hỉ xá

4900<一>梵語 vyavasarga-rata。又稱淨捨、淨施。謂歡喜施捨財寶。主要指為供養三寶而施給金錢、物品等。〔大乘本生心地觀經卷四〕 <二>指四無量心(慈、悲、喜、捨)中之第三喜無量心、第四捨無量心。思惟無量之眾生離苦得樂,而入於喜等至(等至,為「定」之一名),稱為喜無量心;思惟自己對於無量之眾生,無愛亦無憎,而入於捨等至,稱為捨無量心。〔大智度論卷二十〕(參閱「四無量」1777) ; (喜捨) I. Hỉ Xả. Phạm: Vyavasarga-rata. Cũng gọi Tịnh xả, Tịnh thí. Vui vẻ xả bỏ tiền bạc và phẩm vật để cúng dường Tam bảo. [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.4].II. Hỉ Xả. Chỉ cho Hỉ vô lượng tâm và Xả vô lượng tâm trong Tứ vô lượng tâm(từ, bi, hỉ, xả). Nghĩ về vô lượng chúng sinh lìa khổ được vui mà vào Hỉ đẳng chí (Đẳng chí là một trong nhiều tên của Định), gọi là Hỉ vô lượng tâm. Tư duy về chính mình đối với vô lượng chúng sinh không thương cũng không ghét mà vào Xả đẳng chí, gọi là Xả vô lượng tâm. [X. luận Đại trí độ Q.20]

hỉ xả

Joyful giving.

hỉ đa ca văn

6219為一種古代印度之文字。悉曇字記(大五四‧一一八六上):「健馱羅國憙多迦文獨將尤異,而字之由,皆悉曇也。」關於此語,古來說法不一,日本十九世紀之悉曇學僧行智認為憙多迦乃健馱羅國都城之名,或為地名,或為該國以梵文相承之神名。 據悉曇要集記所載,「憙多迦」一詞乃略稱,其全名為「魯憙多頡沙羅」,是為樹皮,北天竺健馱羅國以此木皮書寫。此所謂「魯憙多頡沙羅」,其梵語為 rohita-kṣīra,可能是指 rohita 或 kṣīra 樹之皮。 今若以憙多迦之梵語為 kītaka,則其語意係指摩揭陀種族之詩人,或指由剎帝利種姓之父與毘舍(吠舍)種姓之母所生之頌讚者;而「文」,即文字之意,指此類詩人所用之文字。準此而言,悉曇字記中之「健馱羅國憙多迦文」,或可解釋為:摩揭陀種族之詩人移住於北方健馱羅國後,仍用原住地之文字。此外,「憙多迦」亦可視為梵語 kīkaṭa(憙迦多)之顛倒,意指住於印度北邊健馱羅國之人種所用之文字。 ; (憙多迦文) Một loại văn tự của Ấn độ đời xưa. Tất đàm tự kí (Đại 54, 1186 thượng), nói: Văn tự Hí đa ca của nước Kiện đà la đặc biệt khác, nhưng nguồn gốc chữ đều từ Tất đàm . Về nhóm từ Hí đa ca xưa nay có nhiều thuyết khác nhau. Ngài Hạnh trí người Nhật bản, một học giả về chữ Tất đàm ở thế kỉ XIX cho rằng: Hí đa ca là tên đô thành của nước Kiện đà la, hoặc là địa danh, hoặc là tên vị thần truyền bá tiếng Phạm ở nước này. Cứ theo Tất đàm yếu tập kí, từ ngữ Hí đa ca gọi đủ là Lỗ hí đa hiệt sa la (Phạm: Rohita-kwìra), nghĩa là vỏ câyRohitahoặc Kwìramà người nước Kiện đà la thuộc Bắc Thiên trúc dùng làm giấy để viết chữ. Nay nếu cho rằng tiếng Phạm của Hí đa ca làKìtakathì nghĩa của nó là chỉ cho thi nhân của chủng tộc Ma yết đà, hoặc chỉ cho người tán tụng mà cha là dòng Sát đế lợi và mẹ là dòng Tì xá (Phệ xá); còn Văn là chỉ cho văn tự do thi nhân này dùng, Như vậy, văn Hí đa ca của nước Kiện đà la mà Tất đàm tự kí nói, có thể được giải thích là: Sau khi dời đến ở nước Kiện đà la trên miền Bắc, thi nhân của chủng tộc Ma yết đà vẫn tiếp tục sử dụng văn tự của nguyên quán. Ngoài ra, Hí đa ca cũng có thể được xem là chữ đảo ngược của Kikaỉa (Hí đa ca), có nghĩa là loại văn tự được giống người ở nước Kiện đà la thuộc biên thùy phía Bắc Ấn độ sử dụng.

hỉ đa viện

4899日本天台宗寺院。位於川越市小仙波町。山號星野山無量壽寺,別稱北院。為日本天台宗八個檀林之一。相傳係淳和天皇天長七年(830),慈覺大師圓仁所創。永仁四年(1296),得尊海之中興,成為關東地區天台宗中心地。後曾一度荒廢,至慶長六年(1601),時值比叡山南光坊天海住寺,蒙受德川家康之保護,整修堂塔,後陽成天皇並賜以「東叡山」之額,門風大振。其後又增建東照宮(南鄰),祭祀德川家康。寬永元年(1624),德川家光於江戶營建寬永寺,喜多院遂以山號讓之,恢復「星野山」之舊號。其客殿、書院、庫裏、慈眼堂、鐘樓門、山門等,均為江戶初期建築。此外,院中藏有職人盡繪屏風(狩野吉信筆)、高麗本一切經、天海版一切經。〔輪王寺宮年譜、慈眼大師緣起卷一、東照宮御實記附錄第二十五〕 ; (喜多院) Cũng gọi Bắc viện, Tinh dã sơn Vô lượng thọ tự. Ngôi chùa của tông Thiên thai, nằm ở làng Tiểu tiên ba gần thành phố Xuyên việt, Nhật bản, tương truyền do đại sư Từ giác Viên nhân sáng lập vào năm Thiên trường thứ 7 (830) đời Thiên hoàng Thuần hòa, là một trong 8 ngôi chùa lớn của tông Thiên thai Nhật bản. Năm Vĩnh nhân thứ 4 (1296), chùa được ngài Tôn hải trung hưng và trở thành nơi trung tâm của tông Thiên thai ở vùng Quan đông. Về sau, đã có một thời gian chùa bị hoang phế, mãi đến năm Khánh trường thứ 6 (1601), ngài Thiên hải từ Tỉ duệ sơn đến trụ trì, được ông Đức xuyên Gia khang ủng hộ, ngài mới sửa sang lại chùa tháp, điện đường và được Thiên hoàng Dương thành ban bảng hiệu là Đông Duệ Sơn , chùa trở nên nổi tiếng. Về sau, ngài Thiên hải xây cất thêm Đông chiếu cung để thờ ông Đức xuyên Gia khang. Niên hiệu Khoan vĩnh, năm đầu (1624) ông Đức xuyên Gia quang sáng lập chùa Khoan vĩnh, lấy Hỉ đa viện làm sơn hiệu, từ đó, Hỉ đa viện được lấy lại tên cũ là Tinh Dã Sơn. Nhà khách, thư viện, nhà Từ nhãn, lầu chuông, sơn môn (Tam môn), v.v...… của viện này đều là những kiến trúc ở thời kì đầu của thời đại Giang hộ. Trong viện hiện còn cất giữ bức bình phong do ông Chức nhân tận vẽ (ông Thú dã Cát tín viết chữ), Đại tạng kinh (bản Cao li), Nhất thiết kinh (bản Thiên hải). [X. Luân vương tự cung niên phổ; Từ nhãn đại sư duyên khởi Q.1; Đông chiếu cung ngự thực kí phụ lục 25].

Hịch

(檄): là văn thư xưa kia cấp trên dùng để kêu gọi, triệu tập, hiểu dụ cấp dưới. Như trong Văn Tuyển (文選), Thiên Bạch Mã (白馬篇) có câu: “Vũ hịch tùng Bắc lai, lệ mã đăng cao đê (羽檄從北來,厲馬登高堤, Hịch truyền từ Bắc đến, ngựa gắng lên đê cao).” Như ở Việt Nam có bài Dụ Chư Tỳ Tướng Hịch Văn (諭諸裨將檄文, tức Hịch Tướng Sĩ) của Hưng Đạo Đại Vương (興道大王, 1232?-1300) là nổi tiếng nhất. Trong Công Văn Đàn Tràng của Phật Giáo Việt Nam có một số loại Hịch như: Hịch Thủy Văn (檄水文, văn cúng dưới nước khai mở bạt độ trầm luân), Phát Thành Hoàng Thổ Địa Hịch (發城隍土地檄, văn Hịch cáo Thành Hoàng Thổ Địa), Khai Tịch Hịch (開闢檄, Hịch cáo khai khẩn đất đai), Chiêu Sơn Thủy Hịch (召山水檄, văn Hịch cáo thần sông nước), v.v.

họ hàng

Relatives.

họ ngoại

Relation on the mother's side.

họ nội

Relation on the father's side.

họ Thích

tức là họ Thích-ca, dòng họ mà đức Phật đã đản sanh trong đó.

họa

1) Vẽ: To draw—To paint—To sketch. 2) Tai họa: Calamity—Misfortune—Woe. ; (họa ) Từ cảm thán, biểu thị sự ngạc nhiên, kinh ngạc.Trong Thiền tông, các vị Thiền sư, khi thình lình đại ngộ, thường dùng từ này để bày tỏ sự kinh ngạc bất ngờ, như những tiếng A! Ồ!... Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1099 hạ), ghi: Vị Thủ tọa vào Thiền đường đốt hương, tay đập vào hộp đựng hương phát ra tiếng, bỗng nhiên tỏ ngộ, liền ồ (họa) lên một tiếng . Bởi thế, trong Thiền lâm, những từ ngữ như: Họa địa nhất hạ Họa địa nhất thanh thường được dùng để biểu thị sự tỏ ngộ một cách triệt để. [X. tắc 81 phần Bình xướng trong Bích nham lục; Lư sơn liên tông bảo giám Q.10; Ngũ đăng hội nguyên Q.4].

họa bính sung cơ

(畫餅充飢) Vẽ bánh cho đỡ đói. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là ăn bánh vẽ trên giấy không làm cho người ta no được. Thiền tông dùng bánh vẽ để ví dụ sự vô dụng của văn tự, ngôn ngữ, người tu hành không thể nhờ cậy vào đó mà thoát khỏi sinh tử. [X. điều Hương nghiêm Trí nhàn trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.11].

họa chăng

Maybe—Perhaps.

họa chủng

Seeds of misfortunes.

họa hoằng

Rarely.

họa hình

To draw a picture.

họa hại

Misfortunes.

họa may

See Họa Hoằng.

họa phước

Misfortune and happiness.

họa thai

See Họa chủng.

họa thạch

Nét vẽ trên đá, văn hoa thường còn (giống như lòng sân hận hay ác nghiệp)—Sculpture in stone—A painting of a rock:though the water of the water-colour rapidly disappears, the painting remains. It is likened with the hatred or evil deeds.

họa thủy

Vẽ một đường qua nước (sẽ không để lại dấu vết gì, cũng giống như thân nầy niệm niệm không trụ)—Like drawing a line across water. It is likened our body which never lasts long.

họa tượng

Paintings of images.

họa vô đơn chí

Misfortunes never come singly

học

6214<一>指實地修行實踐。亦即研究真理,以斷妄惑。即修習戒、定、慧三者。雜阿含經卷十四(大二‧九五中):「彼比丘厭離欲、滅盡向,是名為學。」〔有部律破僧事卷七〕 <二>有學之略稱。指尚未斷盡妄惑,而仍須修習戒、定、慧之人。亦即證得阿羅漢果位以前之一切聖者。「有學」為「無學」之對稱,無學指已證阿羅漢果,無更可修學者。〔法華文句卷八上、法華義疏卷九(吉藏)〕 ; Siks (S) To study, learn, the process of acquiring knowledge; learning. ; Siks (skt). 1) (n) Learning—The process of acquiring knowledge. 2) (v) To learn—To study—To read. ; (學) I. Học. Tu hành thực tiễn. Nghĩa là nghiên cứu chân lí, tu tập giới, định, tuệ để đoạn trừ vọng hoặc. Kinh Tạp a hàm quyển 14 (Đại 2, 95 trung), nói: Tỉ khưu ấy xa lìa ái dục, diệt hết sự mong cầu, thế gọi là học . [X. Hữu bộ luật Phá tăng sự Q.7]. II. Học. Gọi đủ: Hữu học. Đối lại: Vô học. Chỉ cho bậc Thánh dưới quả vị A la hán chưa đoạn hết vọng hoặc, vẫn còn phải tu tập giới, định, tuệ. Trái lại, Vô học là chỉ cho những bậc Thánh đã chứng quả vị A la hán. [X. Pháp hoa văn cú Q.8 phần trên; Pháp hoa nghĩa sớ Q.9 (Cát tạng)].

học - vô học

One who is still learning, and one who has attained. Học is to study religion in order to get rid of illusion; vô học begins when illusion is cast off.

học giai

6217日本表示僧侶學識之階級。日本平安時代,參加奈良舉行之三會(維摩會、御齋會、最勝會等講經法會)而畢業者,稱為得業。奉敕擔任三會之講師,而尚未講經者,稱為擬講;已經開講者,稱為已講。 近代各宗派之學階制度大多參考古名,如淨土宗稱為勸學、已講、講師、擬講、得業;真宗本願寺派稱為勸學、司教、輔教、助教、得業;大谷派稱為講師、嗣講、擬講、學師(本為寮司);天台宗則稱為探題、已講、擬講、望擬講等。最高位之學階可以統領學徒,並有決定其出路之責任,故有時亦稱之為學職。本願寺派古來原僅設置能化職一人,「三業惑亂」以後即予廢置。大谷派之講師或嗣講,最初僅限一人,其後演變為可有數人擔任。〔釋家官班記卷下、諸宗階級卷上〕 ; (學階) Những cấp bậc được ấn định theo kiến thức về Phật học của giới tăng sĩ tại Nhật bản. Vào thời đại Bình an của Nhật bản, người tốt nghiệp 3 pháp hội giảng kinh (hội Duy ma, hội Ngự trai, hội Tối thắng) được tổ chức tại Nại lương (Nara) gọi là Đắc nghiệp. Người vâng mệnh vua đảm nhiệm chức Giảng sư trong 3 hội mà vẫn chưa được giảng kinh, gọi là Nghĩ giảng, đã giảng kinh, gọi là Dĩ giảng. Vào thời gần đây, chế độ Học giai của các tông phái phần nhiều cũng còn dùng các tên gọi xưa, như tông Tịnh độ có các danh từ Khuyến học, Dĩ giảng, Giảng sư, Nghĩ giảng, Đắc nghiệp; phái chùa Bản nguyện thuộc Chân tông thì dùng các từ Khuyến học, Tư giáo, Phụ giáo, Trợ giáo, Đắc nghiệp; phái Đại cốc thì có các chức Giảng sư, Tự giảng, Nghĩ giảng, Học sư (vốn là Liêu ti); tông Thiên thai thì dùng các từ Thám đề, Dĩ giảng, Nghĩ giảng, Vọng nghĩ giảng, v.v... Vị tăng có Học giai cao nhất mới được thống lãnh các học sinh, đồng thời có trách nhiệm quyết định con đường tiến thân của họ, vì thế cũng có khi gọi vị này là Học chức. Phái chùa Bản nguyện từ xưa đến nay vốn chỉ đặt ra một chức Năng hóa do một người đảm nhiệm, nhưng khi người này ba nghiệp không thanh tịnh (tức không còn đủ tư cách) thì thay người khác. Còn chức Giảng sư hoặc Tự giảng của phái Đại cốc lúc đầu chỉ do một người giữ, nhưng về sau thì có thể do nhiều người đảm nhiệm. [X. Thích gia quan ban kí Q.hạ; Chư tông giai cấp Q.thượng].

học giáo thành mê

6216三論宗形容修學佛所說之教法而產生謬解之情形。如小乘、權大乘等即是。三論宗嘉祥大師吉藏於三論玄義中,又稱此一情形為「學教起迷」。三論玄義(大四五‧一中):「言不會道,破而不收,說必契理,收而不破。學教起迷,亦破亦收,破其能迷之情,收取所惑之教。諸法實相,言忘慮絕,實無可破,亦無可收。」 ; Học giáo pháp của Phật mà vẫn nảy sinh những kiến giải sai lầm—To study the Buddha's teaching yet interpret it misleadingly, or falsely. ; (學教成迷) Cũng gọi Học giáo khởi mê. Đây là từ ngữ của tông Tam luận chỉ cho tình trạng tu học giáo pháp của đức Phật mà lại sinh ra hiểu lầm. Chẳng hạn như những kiến chấp của Tiểu thừa và Quyền thừa chính là Học giáo thành mê. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 1 trung), ghi: Nói không hợp đạo là phá chứ không thu; nói ắt khế lí là thu mà không phá. Học giáo khởi mê vừa phá vừa thu, phá trừ tình chấp năng mê, thu lấy giáo pháp sở hoặc. Nhưng thực tướng của các pháp thì dứt bặt nói năng suy nghĩ, thật không thể phá, cũng chẳng thể thu .

Học giả

學者; S, P: paṇḍita;|Là người học rộng; danh từ này dùng để chỉ những người am thông kinh sách nhưng chưa xác định gì về cấp bậc (Thánh quả) họ đã đạt được trong việc tu tập trực nhận chân lí.

học giả

Paṇḍita (S), pan di ta (P), Scholar, Người hiền trí. ; Saiksa (skt). 1) Học giả ngoài đời: Scholars. 2) Học giả trong đạo: Người vẫn còn tu học chứ chưa đạt được quả vị A La Hán—A student—One who is still under instruction, who has not yet reached the arhat position.

học giả phật giáo

Buddhist scholars.

học giới

6215菩薩欲成就六度所修六事之一。即攝律儀戒、攝善法戒、饒益有情戒等三聚淨戒。長時學戒,可成就戒波羅蜜,使其圓滿。(參閱「六成就」1266) ; (學戒) Chỉ cho Tam tụ tịnh giới: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiêu ích hữu tình giới. Vì Bồ tát muốn thành tựu 6 Ba la mật nên thực hành 6 việc trong đó, Học giới (tức Tam tụ tịnh giới) nếu được thực hành lâu dài thì có thể thành tựu Giới ba la mật một cách viên mãn. (xt. Lục Thành Tựu).

học huệ kiên cố

6217五五百年之一。又稱解脫堅固。佛陀入滅後,以五百年為一期,分五期以區分佛法盛衰之狀態,稱為五五百年。於第一之五百年中,具有智慧而證得解脫果之人甚多,故稱學慧堅固、解脫堅固。〔大方等大集經卷五十五〕(參閱「五五百年」1065) ; (學慧堅固) Cũng gọi Giải thoát kiên cố. Chỉ cho thời kì có rất nhiều người tu hành có đầy đủ trí tuệ, chứng được quả giải thoát. Tức là khoảng thời gian 500 đầu tiên sau khi đức Phật nhập diệt. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.55]. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).

học hành

To study and to practice.

học hạnh

Instruction and behavior.

học hải

6216南北朝北周僧。又稱曇顯。博通經藏,以慧學聞名。丞相宇文泰欽敬之,令其依大乘經典撰著菩薩藏眾經要及百二十法門。天和、建德年間(566~577)示寂,世壽不詳。〔續高僧傳卷一〕 ; (學海) Cũng gọi Đàm hiển. Vị tăng sống vào đời Bắc Chu thuộc Nam Bắc triều. Sư thông hiểu tạng Kinh, nổi tiếng về tuệ học, được Thừa tướng Vũ văn thái kính trọng. Thừa tướng thỉnh sư căn cứ vào các kinh điển Đại thừa để soạn thành Bồ tát tạng chúng kinh yếu và Bách nhị thập pháp môn. Sư tịch vào khoảng năm Thiên hòa, Kiến đức (566-577). [X. Tục cao tăng truyện Q.1].

học hải dũng trí thuỷ

6216比喻學解智辯,如水之湧瀉,一無阻礙。 ; (學海涌智水) Nước trí tuệ của biển học tuôn trào. Ví dụ sự biện luận của trí tuệ học hiểu giống như nước lũ cuồn cuộn, không gì có thể ngăn cản được.

học hỏi

See Học.

học hối

6216指犯殺、盜、淫、妄四波羅夷罪之一而後懺悔之比丘。犯此重罪者,即失比丘之資格,然若懺悔,則稱為學悔,終身列於比丘之最末。 ; Học sám hối, như khi một vị tăng phạm tội tìm cách sám hối—Studying to repent, as when a monk having committed sin seeks to repent. ; (學悔) Chỉ cho vị tỉ khưu phạm một trong 4 tội Ba la di (sát, đạo, dâm, vọng) sau đó sám hối. Người phạm trọng tội này đã mất tư cách của tỉ khưu, nhưng nếu sám hối thì được gọi là Học hối và suốt đời ngồi dưới các tỉ khưu khác.

học hỷ sư

Śikṣānanda (S) Thực xoa nan đà Tỳ kheo đời Đường.

học liêu

6217日本佛教用語。即佛教講學之寮舍。學生住宿其中而受學。係日本佛教諸大寺模擬官制大學寮制度而有之名稱。始於室町時代(1392~1573),江戶時代(1600~1867)於長谷寺、智積院、增上寺、寬永寺、本願寺等均建有寮舍,稱為學寮、勸學寮、勸學院,為研究宗學之處。〔日本書紀第二十九、延喜式第二十〕 ; (學寮) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Nơi chúng tăng cư trú để tu học Phật pháp. Đây là do các chùa lớn của Phật giáo Nhật bản phỏng theo chế độ Đại học liêu của nhà nước mà đặt tên. Bắt đầu từ thời đại Thất đinh (1392-1572), thời đại Giang hộ (1600-1867), các nơi như chùa Trường cốc, viện Trí tích, chùa Tăng thượng, chùa Khoan vĩnh, chùa Bản nguyện, v.v… đều có xây cất các Học liêu làm nơi nghiên cứu Tông học. [X. Nhật bản thư kỉ 28; Diên lịch thức 20].

học luật

To study law.

Học Lâm

(學林, Gakurin): (1) Tên gọi nơi chuyên dạy về học vấn cho Tăng lữ ở các tự viện. (2) Là nơi tập trung học vấn, được dùng với tên gọi như Trường Học, Trường Tư Thục, v.v.

học lóm

To learn by hearsay—To learn merely by listening and observing.

học lý thuyết

Academic study.

học lấy

To educate oneself.

học lữ

6216指有學問之僧侶。在日本,南都諸寺及高野山對於學僧,稱為學侶,意謂從事於學問之僧侶。高野山所謂三方,即指學侶、堂眾(或稱行人)、聖方。其中之學侶即指山中之清眾,專勤學道之學僧。(參閱「高野三方」4359) ; Fellow-students, the company of monks who are studying. ; Những vị Tăng cùng tu học với nhau—Fellow-students, the company of monks who are studying. ; (學侶) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho các vị tăng có học vấn. Từ ngữ này được các chùa ở Nam đô và ở núi Cao dã sử dụng. (xt. Cao Dã Tam Phương).

học nghề

To learn a trade.

học nhân

6214<一>梵語 śaikṣa,sacchiṣya,巴利語 sekha。尚須學習之人。為「有學人」之略稱。即佛教徒在修道階次中,尚有可修學者之泛稱。據中阿含卷三十福田經載,世間有學人(巴 sekha)、無學人(梵 aśikṣa,巴 asekha)二種福田人,學人有十八種,無學人有九種。此係將二十七聖分為有學、無學兩種。四教義卷六所揭之七聖,亦可視為上述二十七聖之簡化(大四六‧七三九上):「此七聖人復有二種不同,謂學、無學。前五種聖人悉是學人,後二種聖人是無學位也。言學人者,始從古法忍發得真智,自爾方有聖人也。有聖諦具有漏、無漏二種五陰,見聖迹故名為學人,於諦不推求故名無學人也。」即隨信行、隨法行、信解、見至、身證、慧解脫、俱解脫等七聖中,前五聖為發得真智,猶具有有漏與無漏二種五陰,尚有可修學者,相對於慧解脫、俱解脫二聖之無學,而稱為學人。(參閱「七聖」111、「賢聖」6180) <二>泛稱學習佛法之人。禪林中則指修禪者。又稱學道人、學道丈夫。從容錄第八則(大四八‧二三二上):「有學人問:『大修行底人,還落因果也無?』」景德傳燈錄卷十長沙景岑章(大五一‧二七四中):「學道之人不識真,只為從來認識神。無始劫來生死本,癡人喚作本來身。」此外,學佛道者自身真實之自己,稱為學人自己;即指本來之面目。〔黃檗斷際禪師宛陵錄、鎮州臨濟慧照禪師語錄、雲門匡真禪師廣錄卷上、續傳燈錄卷十九慧通章、黃檗山斷際禪師傳心法要〕 ; Student or disciple. ; (學人) I. Học Nhân. Phạm: Saikwa, Sacchisya. Pàli: Sekha. Gọi đủ: Hữu học nhân. Chỉ chung những người tu đạo trong Phật giáo còn trong giai đoạn học hỏi. Cứ theo kinh Phúc điền trong Trung a hàm quyển 30, thì trong thế gian có hai hạng Phúc điền nhân là Học nhân (Pàli: Sekha) và Vô học nhân (Phạm: Azikwa, Pàli: Asekha), Học nhân có 18 loại, Vô học nhân có 9 loại. Đây là chia 27 bậc Thánh làm 2loại Hữu học và Vô học. Hai mươi bảy bậc Thánh này lại được đơn giản hóa còn 7 bậc. Tứ giáo nghĩa quyển 6 (Đại 46, 739 thượng), nói: Trong bảy bậc Thánh này thì 5 bậc trước là Học nhân, còn 2 bậc sau là Vô học. Bắt đầu từ pháp nhẫn phát được chân trí mới có Thánh nhân, do 2 loại Ngũ ấm hữu lậu và Vô lậu mà thấy dấu vết Thánh nhân, nên gọi là Học nhân, còn đối với Thánh đế không tìm cầu nên gọi là Vô học nhân . Tức là trong 7 bậc Thánh: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Tuệ giải thoát và Câu giải thoát thì 5 bậc trước là phát được chân trí, vì còn có 5 ấm hữu lậu và 5 ấm vô lậu, còn phải tu học, nên gọi là Học nhân. Hai bậc sau là Thánh vô học. (xt. Thất Thánh, Hiền Thánh). II. Học Nhân. Cũng gọi Học đạo nhân, Học đạo trượng phu.Tiếng gọi chung những người tu học Phật pháp. Trong Thiền lâm thì chỉ cho người tham thiền. Tắc 8 trong Thung dung lục (Đại 48, 232 hạ) ghi: Có học nhân hỏi: Bậc đại tu hành còn rơi vào nhân quả không? . Chương Trường sa cảnh sầm trong Cảnh đức truyền đăng lục (Đại 51, 274, trung), nói: Bao người học đạo chẳng rõ chân Chỉ bởi xưa nay nhận thức thần; Sinh tử ngọn nguồn vô thủy kiếp. Kẻ si gọi đó bản lai thân . [X. Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục; Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục; Vân môn Khuông chân thiền sư quảng lục Q.thượng; chương Tuệ thông trong Tục truyền đăng lục Q.19; Hoàng bá sơn Đoạn tế thiền sư truyền tâm pháp yếu].

học phái

School—Sect.

học pháp nữ

Śikṣāmāna (S), Sikkhamana (P) Thức xoa ma na Sa di ni học giới 2 năm trước khi trở thành Tỳ kheo ni. ; Thức xoa ma na. Siksamàna (S) ; Siksamana (skt)—Thức Xoa Ma Na—A novice—An observer of the six commandments.

học pháp quán đỉnh

6216為密教修行者正式取得弟子位之儀式。又作受明灌頂、受法灌頂、持明灌頂、弟子灌頂。對一密教行者而言,表示許可其開始學習或受持密教教法之時,必行此一灌頂儀式,故與「傳法灌頂」相對稱。一般學習密法者,必先就阿闍梨受此灌頂,然後開始師資關係;若未受此灌頂即行密法授受,則為古來所嚴禁者,犯者即得「越三昧耶」之重罪。〔大日經疏卷三、護摩略記(慧琳)〕(參閱「灌頂」6853) ; (學法灌頂) Cũng gọi Thụ minh quán đính, Thụ pháp quán đính, Trì minh quán đính, Đệ tử quán đín . Đối lại với Truyền pháp quán đính. Nghi thức mà hành giả Mật giáo phải trải qua để được chính thức thừa nhận là một đệ tử. Khi một hành giả được chấp nhận cho học tập hoặc thụ trì giáo pháp của Mật giáo, thì trước tiên phải cử hành nghi thức quán đính này, để tạo mối quan hệ thầy trò giữa vị A xà lê và hành giả. Nếu chưa thụ pháp quán đính này mà đã cử hành lễ trao truyền Mật pháp thì đó là việc xưa nay bị nghiêm cấm, người vi phạm sẽ bị trọng tội Việt tam muội da . [X. Đại nhật kinh sớ Q.3; Hộ ma lược kí (Tuệ lâm)]. (xt. Quán Đính).

học phật đại bi tâm

6215學習佛之大慈悲心,共施救濟,以助其化。為真實僧寶所應具有之德。其救濟之方法與程度不一,就淨土門之究竟而言,其救濟即在於使眾生往生淨土。善導之觀經疏玄義分(大三七‧二四五下):「三乘等賢聖,學佛大悲心,長時無退者。」然三乘人中,菩薩之行兼攝自他二利,故行大悲心;聲聞、緣覺則唯自利而不利他,復因聲聞、緣覺不承認界外之淨土,故因之亦不勸人歸於淨土。準此而言,則似與上引觀經疏玄義分之說相矛盾。日僧良忠於觀經疏傳通記中,就此一問題提出三說,其一引法華論,謂應化之聲聞,內祕菩薩之行而外現聲聞之相,是為學佛大悲心之人。 ; (學佛大悲心) Học tập tâm đại từ bi của đức Phật để cứu giúp chúng sinh. Đây là một đức tính mà Tăng bảo cần phải có. Có nhiều cách và mức độ cứu giúp khác nhau. Đứng về phương diện rốt ráo của môn Tịnh độ mà nói, thì sự cứu giúp ấy là làm cho chúng sinh được vãng sinh Tịnh độ. Quán kinh sớ huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo (Đại 37, 245 hạ), nói: Các bậc Hiền thánh tam thừa, học tâm đại bi của Phật, mãi mãi không bao giờ thôi . Nhưng trong hàng Tam thừa, hạnh Bồ tát gồm cả lợi mình, lợi người, cho nên thực hành tâm đại bi; còn Thanh văn, Duyên giác thì chỉ lợi mình chớ không lợi người; vả lại, Thanh văn, Duyên giác không thừa nhận có Tịnh độ ở ngoài 3 cõi nên cũng không khuyên người sinh về Tịnh độ. Điều này có vẻ mâu thuẫn với quan điểm của ngài Thiện đạo trong Quán kinh sớ huyền nghĩa phần nói trên. Về vấn đề này, trong Quán kinh sớ truyền thông kí, ngài Lương trung của Nhật bản có nêu ra 3 thuyết, một trong 3 thuyết đó là dẫn luận Pháp hoa, cho rằng hàng Thanh văn ứng hóa, trong ẩn hạnh Bồ tát, ngoài hiện tướng Thanh văn, đó là người học tâm đại bi của Phật.

học rộng

Learned.

học sinh

6214指從事於研究學問之人。依南海寄歸內法傳卷三受戒軌則條載,原指在寺院中學習佛教以外之學問者,主要指少年。 日本原指大學寮之在籍者,其後則專指研究佛學、修學佛道之人。日本天台宗開祖最澄曾制有「學生式」之條款,定立止觀、遮那兩業學生十二年在山修學之法;真言宗則有金剛業學生、胎藏業學生。此外,渡海來我國遊學者稱為留學生、還學生。迨至後世,亦用於學問深具造詣之學匠。 ; A student or disciple. ; (學生) Người còn đang theo đuổi việc học vấn. Theo điều Thụ giới quĩ tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3, thì học sinh vốn chỉ cho các thiếu niên trong chùa viện đang học tập ngoại điển. Tại Nhật bản, học sinh vốn chỉ cho các sinh viên còn đang theo học ở các trường Đại học, về sau thì chuyên chỉ cho người nghiên cứu và tu học Phật đạo. Tổ khai sáng tông Thiên thai Nhật bản là ngài Tối trừng có đặt ra điều khoản Học sinh thức , qui định pháp Chỉ quán nghiệp học sinh và Giá na nghiệp học sinh phải tu học trong 12 năm tại các tùng lâm. Tông Chân ngôn thì có Kim cương nghiệp học sinh và Thai tạng nghiệp học sinh. Ngoài ra, các sư Nhật bản đến Trung quốc du học gọi là Lưu học sinh, Hoàn học sinh. Đến đời sau, danh từ học sinh cũng được dùng để chỉ cho những người có trình độ học vấn uyên thâm.

Học Sĩ

(學士): có mấy nghĩa. (1) Chỉ chung cho những người đọc sách bình thường. Như trong Bão Phác Tử (抱樸子), Phần Sùng Giáo (崇敎), của Cát Hồng (葛洪, 284-363) nhà Tấn, có câu: “Tỉnh văn chương ký bất hiểu, đỗ học sĩ như thảo giới (省文章旣不曉、睹學士如草芥, xét văn chương đã không hiểu, xem người đọc sách như cỏ rác).” (2) Giống như học giả. Như trong tác phẩm Thiếu Thất Sơn Phòng Bút Tùng (少室山房筆叢), phần Hoa Dương Bác Nghị Hạ (華陽博議下), của Hồ Ứng Lân (胡應麟, 1551-1602) nhà Minh, có đoạn: “Giới Phủ, Nguyên Hối tự thị học sĩ, bất đắc dĩ sở trường một chi (介甫、元晦自是學士、不得以所長沒之, Giới Phủ [tức Vương An Thạch, 1021-1086], Nguyên Hối [tức Chu Hy, 1130-1200] tự là học giả, không được để cho sở trường mất đi).” (3) Tên một chức quan. Từ thời Nam Bắc Triều (南北朝, 420-589) trở về sau, Học Sĩ được xem như là chức quan chuyên trách về soạn thuật văn học. Dưới thời nhà Đường (唐, 618-907), chức này được gọi là Hàn Lâm Học Sĩ (翰林學士), vì tiếp cận với Hoàng Đế, nên thỉnh thoảng có tham dự việc triều chính. Đến thời nhà Tống (宋, 960-1279), chức quan này được thiết định rõ ràng, chức quyền và địa vị cũng tương đồng với thời nhà Đường. Sang thời nhà Minh (明, 1368-1662) thì cho thiết lập các chức như Hàn Lâm Viện Học Sĩ (翰林院學士), Hàn Lâm Viện Thị Độc (翰林院侍讀), Thị Giảng Học Sĩ (侍講學士). Đến thời nhà Thanh (清, 1616-1911) thì đổi Hàn Lâm Viện Học Sĩ thành Chưởng Viện Học Sĩ (掌院學士). Trong Lịch Đại Tam Bảo Ký (歷代三寶紀, Taishō Vol. 49, No. 2034) quyển 1 có đoạn: “Khai Hoàng thập thất niên Phiên Kinh Học Sĩ thần Phí Trường Phòng (開皇十七年翻經學士臣費長房, năm Khai Hoàng 17 [597], thần Phí Trường Phòng, Học Sĩ Phiên Dịch Kinh Điển).” (4) Tên một loại học vị.

học thuyết

Doctrine—Teaching.

học thuyết bất diệt

Anirodhānutpāda (S), Doctrine of Immortality.

học thuật

Academic.

học thuộc lòng

To learn by heart—To memorize.

học thức

Learning—Knowledge.

học thức uyên thâm

Profound learning.

học tăng

6217又作學問僧。其義有二:(一)指研究佛教之僧侶。(二)指有學問之僧侶。 ; (學僧) Cũng gọi Học vấn tăng. Chỉ cho vị tăng nghiên cứu Phật giáo, hoặc vị tăng học giả có trình độ học vấn uyên bác.

học tượng

6215指學徒、學生。師稱師匠,故學生稱為學匠。又指有學問之僧侶。 ; (學匠) Chỉ cho học đồ, học sinh. Thầy gọi là Sư tượng, học trò gọi là Học tượng. Ngoài ra, cũng chỉ cho vị tăng có trình độ học vấn uyên thâm.

học uẩn

6218(1613~1689)明末臨濟宗僧。雲南洱海人,俗姓王。號知空。十四歲(一說十歲)出家於雞足山寂光寺,聽講修習法華、楞嚴、圓覺諸經。清順治五年(1648),於玉林軒之靜室中禮萬佛名經至第三卷,方舉稱南無二字,忽得大悟,遂往慑脷山參見水目無住,得其印許;復參禮開峰密行寂忍,呈所悟而得嗣其法。歷住楚雄府(雲南)福城寺、九臺山大方廣寺、廣通縣(雲南)仙羊院、淨樂院等諸剎。康熙二十八年五月示寂,世壽七十七。有語錄二卷及草堂集行世。〔知空蘊禪師語錄附行錄〕 ; (學蘊) (1613-1689) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở cuối đời Minh, người huyện Nhị hải, tỉnh Vân nam, họ Vương, hiệu Tri không. Năm 14 tuổi (có thuyết nói 10 tuổi), sư xuất gia ở chùa Tịch quang, núi Kê túc, nghe giảng và tu tập các kinh Pháp hoa, Lăng nghiêm, Viên giác, v.v... Năm Thuận trị thứ 5 (1648) đời Thanh, sư ở trong tịnh thất Ngọc lâm hiên lạy kinh Vạn Phật danh đến quyển thứ 3, vừa mới xướng lên 2 chữ Na mô thì bỗng nhiên đại ngộ, sư liền đến núi Lung can tham yết ngài Thủy mục Vô trụ và được ấn khả. Sau sư lại đến tham lễ ngài Mật hạnh Tịch nhẫn ở Khai phong, trình bày chỗ tỏ ngộ và được nối pháp. Sư từng trụ trì các chùa: Phúc thành ở phủ Sở hùng, tỉnh Vân nam, Đại phương quảng trên núi Cửu đài, viện Tiên dương ở huyện Quảng thông, tỉnh Vân nam, v.v... Năm Khang hi 28 (1689) sư tịch, thọ 77 tuổi.Sư có các tác phẩm: Ngữ lục 2 quyển, Thảo đường tập. [X. Tri không Uẩn thiền sư ngữ lục phụ hành lục].

học vô học

6216請參閱 大乘集菩薩學論 [1]梵語 śaikṣa-aśaikṣa,巴利語 sekha-asekha。「學」與「無學」之並稱。學,即有學,指雖已覺四諦之理,但因未斷煩惱,故仍須學習戒、定、慧三學者。在四向四果中,除最後之阿羅漢果外,其餘四向三果等七者皆為有學;相對於此,證得阿羅漢果者,已斷盡一切煩惱而無所學習,稱為無學。以上係小乘之說,大乘佛教則謂十地以前之菩薩皆為有學,佛果方為無學。法華文句卷八上(大三四‧一○七中〕:「研真斷惑名為學,真窮惑盡名無學。研修真理,慕求勝見,名之為學,學位在三果四向真無漏慧也。阿羅漢果研理已窮,勝見已極,無所復學,故名無學。」〔法華經卷二譬喻品、法華義疏卷九〕(參閱「阿羅漢」3692) ; (A) Học: Nghiên cứu chân lý để dứt được vọng hoặc—One who is still learning—One who is still studying religion in order to get rid of illusion. a) Ba quả đầu của Tứ Thánh Quả Tiểu Thừa—The first three stages of the Hinayana (see Tứ Thánh Quả): • Tu Đà Hoàn: Srota-apanna (skt)—Dự Lưu—Stream-entry. • Tư Đà Hàm: Sakradagamin (skt)—Nhất Lai—Once-Return. • A Na Hàm: Anagamin (skt)—Bất Lai—Non-return. b) Thập Trụ Bồ Tát trong Đại Thừa—The ten stages of Bodhisattva in the Mahayana—See Thập Trụ Bồ Tát. (B) Vô Học: Người không còn học nữa vì đã đoạn tận vọng hoặc và đạt thành giác ngộ—One who is no longer studying because he has cut off all illusions—One who has attained enlightenment. a) A La Hán hay Bất sanh trong Tiểu Thừa là bậc vô học: Arhat (Worthy of Offerings) or No-birth in the Hinayana. b) Phật là bậc vô học trong Đại Thừa: The Buddha in the Mahayana. ** For more information, please see Hữu Học, Vô Học, and Tứ Thánh Quả. ; (學無學) Phạm: Zaikwa-azaikwa. Pàli: Sekha-asekha. Tức là Hữu học và Vô học. Theo thuyết của Tiểu thừa thì Hữu học chỉ cho những bậc tuy đã giác ngộ lí Tứ đế, nhưng chưa dứt hết phiền não nên còn phải tu học giới, định, tuệ, tức là những bậc Thánh dưới quả A la hán đều là hữu học. Còn bậc Thánh, chứng quả A la hán, đã đoạn trừ tất cả phiền não, không còn tu học nữa, gọi là Vô học. Nhưng theo thuyết của Đại thừa thì bồ tát Thập địa trở xuống đều là Hữu học, còn Phật quả mới là Vô học. [X. phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa Q.2; Pháp hoa nghĩa sớ Q.9]. (xt. A La Hán).

học vụ

Educational affiars.

học xứ

6216梵語 śikṣāpada,巴利語 sikkhāpada。意謂所學之處。一般指戒律。即比丘、比丘尼學習戒律時,所遵循之戒條,如五戒、八戒、十戒等,稱為學處。南傳佛教稱戒、定、慧三學為三學處。另據菩薩地持經卷一所載,菩薩有七學處,即:自利、利他、真實義、力、成熟眾生、自熟佛法、無上菩提。此外,大日經卷六受方便學處品分顯密而說所學之體,又譯之為「學句」。〔法蘊足論卷一學處品、大毘婆沙論卷一二四、俱舍論卷十四、俱舍論光記卷十四〕 ; Sisapada (S) Điều cần phải học. ; (學處) Phạm: Ziksàpada. Pàli: Sikkhàpada. Những chỗ (điều) cần phải học. Chỉ chung cho giới luật. Tức là những giới điều mà tỉ khưu, tỉ khưu ni phải tuân thủ, như 5 giới, 8 giới, 10 giới, v.v... gọi là Học xứ. Phật giáo Nam truyền gọi giới học, định học, tuệ học là Tam học xứ. Còn theo kinh Bồ tát địa trì quyển 1, thì Bồ tát có 7 học xứ là: Tự lợi, lợi tha, chân thực nghĩa, lực, thành thục chúng sinh, tự thục Phật pháp và Vô thượng bồ đề. Ngoài ra, phẩm Thụ phương tiện học xứ trong kinh Đại nhật quyển 6 chia ra Hiển, Mật để nói về sở học và dịch là Học cú [X. phẩm Học xứ trong luận Pháp uẩn túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.124; luận Câu xá Q.14; Câu xá luận quang kí Q.14].

học xứ yếu tập

Xem Đại thừa Tập Bồ tát học luận.

học ăn học nói học gói học mở

To learn (good) manners.

Học đoạn 學斷

[ja] ガクダン gakudan ||| To eliminate afflictions through study of the Buddhist doctrine. The eliminate afflictions through practice. 〔起信論 T 1666.32.577c16〕 => Đoạn trừ phiền não nhờ nghiên cứu Phật pháp. Giải trừ phiền não thông qua sự tu tập.

học đòi

To imitate—To follow in a bad way.

học đạo

To learn the Truth.

Học Đạo Dụng Tâm Tập

(學道用心集, Gakudōyōjinshū): 1 quyển, do Đạo Nguyên viết vào năm 1234 tại Hưng Thánh Tự (興聖寺), về những vấn đề cần phải lưu tâm khi tu hành. Nó còn được gọi là Vĩnh Bình Sơ Tổ Học Đạo Dụng Tâm Tập (永平初祖學道用心集), được san hành ấn bản đầu tiên vào năm 1357.

học đạo dụng tâm tập

6217全一卷。全稱永平初祖學道用心集。日本曹洞宗之祖道元著。收於大正藏第八十二冊。本書內容係對初機參學者垂示修道之用心。共分第一「可發菩提心事」至第十「直下承當之事」等十章。道元示寂百餘年後,始與義雲和尚語錄共同開版,為日本曹洞宗禪籍開版之濫觴。 ; (學道用心集) Gọi đủ: Vĩnh bình sơ tổ học đạo dụng tâm tập. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo nguyên, Sơ tổ tông Tào động Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập 82. Nội dung, chỉ dạy phương pháp dụng tâm tu đạo cho những người sơ cơ. Tất cả có 10 chương, từ chương Khả phát bồ đề tâm sự thứ 1 cho đến chương Trực hạ thừa đương chi sự thứ 10. Hơn 100 năm sau khi ngài Đạo nguyên thị tịch, sách này mới được xuất bản cùng với Nghĩa vân hòa thượng ngữ lục. Đây là bộ sách mở đầu cho việc xuất bản các sách Thiền của tông Tào động Nhật bản.

học địa

6215指修學佛道時,尚殘留有餘地之修行境地。就小乘而言,由修戒、定、慧三學,而得須陀洹、斯陀含、阿那含、阿羅漢果,前三果是為有學,第四果為無學;其中,有學之階段即為學地。 ; (學地) Chỉ cho các giai vị của bậc Hữu học còn phải tu giới, định, tuệ để chứng các quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm và A na hàm trong 4 quả Thanh văn.

học định kiên cố

6216五五百年之一。又稱禪定堅固。佛陀入滅後,以五百年為一期,分五期以區分佛法盛衰之狀態,稱為五五百年。其中,第二之五百年中,修禪定之人甚多,故稱學定堅固、禪定堅固。〔大方等大集經卷五十五〕(參閱「五五百年」1065) ; (學定堅固) Cũng gọi Thiền định kiên cố. Sau khi đức Phật nhập diệt được chia làm 5 thời kì, mỗi thời kì 500 năm, để phân biệt trạng huống thịnh suy của Phật pháp. Trong khoảng thời gian 500 năm thứ 2, có rất nhiều người tu Thiền định, cho nên gọi là Học định kiên cố, Thiền định kiên cố. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.55]. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).

học đồ

6216又作學者、學人。指從師受業之人。於禪宗指學道修禪者。與學生、弟子、門人等語意相同。〔俱舍論卷一、大乘法苑義林章卷一本〕 ; A student or disciple. ; (學徒) Cũng gọi Học giả, Học nhân. Đồng nghĩa với Học sinh, Đệ tử, Môn nhân, v.v... Chỉ cho người theo thầy thụ học. [X. luận Câu xá Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu].

Học 學

[ja] ガク gaku ||| (1) To study, to learn. A student. A branch of learning. => Học, nghiên cứu. Học sinh. Một môn học.

họp sức

To join forces.

hỏa

Xem Lửa. ; Sikhin (S). Fire, flame. ; 1) Sao Hỏa (planet): Angaraka (skt)—Mars. 2) Lửa: Tejo (skt)—Fire—Flame. 3) Thi Khí: Lửa ngọn—Tên của vị Phật thứ 999—Fire in the sense of flame—The name of the 999th Buddha of the kalpa preceding this.

hỏa biện

Citrabhana (S) Một trong 10 Đại Luận sư chú thích bộ "Duy thức Tam Thập Luận" của ngài Thế Thân. ; Citrabhàna (S). Name. ; Citrabhanu (skt)—Một trong mười nhà văn lớn của Ấn Độ đồng thời với Ngài Thế Thân; tuy nhiên, sự kiện nầy không đáng được tin cậy lắm—One of the ten great writers of the Indian Dharmalaksana, a contemporary and colleague of Vasubandhu; however, this is still doubtful.

hỏa bạn

Hỏa đầu quân (người trông coi bếp núc) trong tự viện—The fire-tender in a monastic kitchen.

hỏa bản

Tấm gỗ treo trong nhà bếp, đánh lên để báo hiệu chư tăng Ni là cơm nước đã sẳn sàng—The “fire-board” or wooden plaque, hung in the kitchen, the striking of which warns the monks that the meal is ready.

hỏa châu

hạt châu quý chiếu ánh sáng rực rỡ, sắc như lửa cháy. ; Fire pearl, or ruby; the ball on top of a pagoda. ; Fire-pearls—Fire balls—Fire balloons—The ball on top of a pagoda.

hỏa chủng cư sĩ

Tên chỉ chung những người theo đạo Bà La Môn, thờ Thần Lửa—Brahmans, servers of the sacred fire.

hỏa cán bá ca sa

(hỏa cán bá ca sa ) Áo ca sa may bằng Hỏa cán bá. Hỏa cán bá (vải giặt lửa) là loại vải dệt bằng lông của con Hỏa thử (chuột lửa). Loại vải này không cháy, hễ bẩn thì bỏ vào lửa mà giặt. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 35, thì vào thời vua Minh đế nhà Ngụy, có sứ Tây vực đến dâng áo ca sa bằng Hỏa cán bá. Kinh Sơn hải và Bão phác tử nói rằng châu Viêm ở phương nam có núi Hỏa lâm (rừng lửa) cháy suốt đêm ngày, có loại cây sinh trưởng ở núi này không cháy, vỏ và hoa của nó có thể dùng làm vải. Ngoài ra, còn có loài thú Hỏa cán, hình dáng giống như loài chuột, thường ở trong lửa, lông của chúng dài và trắng, có thể dệt làm vải, khi bẩn bỏ vào trong lửa mà giặt thì lại trắng sạch như mới, cho nên gọi là Hỏa cán bá. Theo Bão phác tử, Hỏa cán bá có 3 loại: Vỏ cây, hoa, lông thú. Còn có thuyết cho rằng Hỏa cán bá được dệt bằng lông Hỏa kê (gà lửa). [X. kinh Đại bảo tích Q.109; Huyền ứng âm nghĩa Q.5; Nghĩa sở lục thiếp Q.22; Loại tụ danh vật khảo Q.259].

hỏa cẩu

The fiery dogs - which vomit fire on sinners in hell. ; Chó phun lửa trong địa ngục—A Fire-vomiting dog in the hell.

hỏa diệm sơn

Volcano.

hỏa diệm tam muội

A samàdhi entered into by the Buddha, in which he emitted flames to overcome a poisonous dragon. ; Hỏa Quang Tam Muội—Hỏa Sinh Tam Muội—Theo kinh Trường A Hàm, đây là Tam Ma Địa mà Phật vào, trong đó Ngài phóng hỏa để lướt qua độc long—According to the Long Agama, this is the samadhi entered into by the Buddha, in which he emitted flames to overcome a poisonous dragon.

hỏa diệu

Hỏa tinh, một trong cửu tinh, được đặt bày về phía nam của Kim Cang Viện trong Thai Tạng Giới—Mars, one of the nine luminaries, shown south of the Diamond Hall in the Garbhadhatu.

hỏa dạ

Hava (skt)—To call—To invoke.

hỏa giáo

Fire-worship(ping). pyrolatry.

hỏa giới

Hoả Viện hay là một trong bốn giới hay tứ đại (đất, nước, lửa, gió)—The realm of fire, or one of the realms of the four elements (earth, water, fire, and wind). ** For more information, please see Hỏa Viện.

hỏa giới chân ngôn

See Hỏa Giới Chú.

hỏa giới chú

Hỏa Giới Chân Ngôn hay là tên Đà La Ni của Đấng Bất Động Tôn—A dharani of Aryacalanatha.

hỏa giới định

Agni-dhatu-samadhi (skt)—Thiền quán vào giai đoạn cuối của thế giới bị tiêu hủy bằng lửa—The meditation on the final destruction of the world by fire.

hỏa hoản bố cà sa

Loại áo cà sa dùng lông của loài hỏa thử (chuột lửa) mà dệt, lửa chẳng thể đốt cháy được, khi áo dơ chỉ cần ném vào lửa mà giặt là sạch—An asbestos cassock; also a non-inflammable robe said to be made of the hair of the fire rat.

hỏa huyết đao

Tam Ác Đạo—The three devil destinies 1) Hỏa Đồ (đường lửa): Địa ngục—The hells—The fiery path or destiny. 2) Huyết Đồ (đường máu): Súc sanh—Animals—The bloody path or destiny. 3) Đao Đồ (đường đao): Ngạ quỷ—Hungry ghosts—The knife-sharp path or destiny.

hỏa huyết đao (đồ)

The hells, animals and hungry ghosts i.e. the fiery, bloody and knife-sharp destinies.

hỏa hà

River of fire.

hỏa khang

Hầm lửa—The fiery pit 1) Hầm lửa ngũ dục: The fiery pit of the five desires. 2) Hầm lửa lục đạo hạ: Ba đường dưới trong lục đạo—The fiery pit of the three destinies: • Địa Ngục: Hells. • Súc Sanh: Animals. • Ngạ Quỷ: Hungry ghosts.

hỏa khanh

The fiery pit (of the five desires ngũ dục); also that of the tree ill destinies - the hell, animals, hungry ghosts.

hỏa khách

Hỏa Điền—The monk who attends to the fire—See Hỏa Bạn.

hỏa la

Hora (skt)— 1) Thời giờ: Time. 2) Giờ: Hour—Hours. 3) Nói về chiêm tinh tử vi—Astrologically a horoscope. 4) Người ta nói đây là xứ mà Nhất Hành đã nghiên cứu về chiêm tinh—Said to be the country where I-Shing studied astronomy.

hỏa linh

Chuông lửa hay chuông cảnh báo cẩn thận với lửa—Fire-bell, in warning to be careful with fire.

hỏa luân

Whirling fire, e.g. fire whirled in a circle, the whole circle seeming to be on fire, emblem of illusion; a fire wheel. ; Alatacakra (skt)—Tuyền Hỏa Luân—Lửa cuộn tròn hay quay tít thành hình vòng tròn như như bánh xe lửa, biểu tượng của ảo tưởng—Whirling fire (fire whirled in a circle), the whole circle seeming to be on fire, the emblem of illusion—A fire-wheel—A wheel of fire, produced by rapidly whirling a fire-brand, a symbol of the unreality of the visible, since such a wheel does not exist.

hỏa luân ấn

A sign made by putting the double fists together and opening the index fingers to form a fire-sign, a triangle. ; Dấu ấn hình thành bằng cách chụm hai nắm tay với hai ngón trỏ chụm vào nhau làm thành một dấu tam giác lửa—A sign made by putting the double fists together and opening the index fingers to form the fire-sign, a triangle.

hỏa lò

The homa—The fire altar.

hỏa lô

The fire altar of the esoterics.

hỏa ngục

Àvìchi (S). Xem A tì. ; Fire hells.

hỏa nhứt thiết xứ

Một trong những pháp thiền quán (mười nhứt thiết xứ) trong giai đoạn cuối cùng khi thế giới bị lửa tàn phá—One of the meditations on the final destruction of all things by fire—One of the ten universals.

hỏa pháp

Hỏa lò dùng trong những mục tiêu hay nghi thức cúng tế huyền bí về lửa của Mật Tông—The homa or fire service of the esoterics for magical purposes.

hỏa phần địa ngục

The scorching hell, where sinners are burnt up. ; Tên khác của Tiêu Nhiệt Địa Ngục, nơi tội nhân bị lửa thiêu đốt—The scorching hell, where sinners are burnt up.

hỏa quang

Fire-light, flame. Hỏa quang định: the flame dhyàna by which the body is self-immolated. ; A fire flame—A fire light.

hỏa quang phật đảnh

Xem Quang Tụ Phật đảnh.

hỏa quang tam muội

Lửa Tam Muội—Một phép Thiền định khiến thân người phát ra lửa, cũng là đệ tứ thiền định—The flame samadhi, also styled the fourth dhyana. ** For more information, please see Hỏa Diệm Tam Muội.

hỏa quang tôn

See Hỏa Thiên.

hỏa quang định

Thiền định phát ra lửa để tự đốt thân khi nhập diệt—The flame dhyana by which the body is self-immolated.

hỏa sinh

Hỏa Sanh—The fire-dhyana—See Hỏa Định.

hỏa sinh tam muội

A flame-emitting samàdhi, the power to emit flame from the body for auto-holocaust, or other purposes. ; Lửa phát ra từ Tam Ma địa, dùng để tự thiêu hay các công dụng khác. Đặc biệt liên hệ với Bất Động Tôn và Chân Ngôn Du Già, kết hợp người tu với Ngài và năng lực của Ngài—A flame-emtting samadhi—The power to emit flames from the body for auto holocaust or other purposes. It is especially associated with Aryacalanatha and Shingon practice of the yoga which unites the devotee to him and his powers. ** For more information, please see Hỏa Diệm Tam Muội.

hỏa tai

chỉ khi kiếp tận xảy ra nạn lửa thiêu đốt đến tận cảnh trời Sơ thiền. Trong kinh Phật dạy rằng khi một đại kiếp sắp chấm dứt thì khởi lên một trận hỏa tai (nạn lửa), tiêu diệt thế giới đến tận cảnh giới Sơ thiền. Xem Ba tai kiếp lớn. ; The conflagration catastrophe, for world destruction. ; Một trong ba tai nạn lớn, hỏa tai thường xảy ra trong thời kỳ hoại diệt của một thế giới—One of the three major catastrophe, the conflagration catastrophe, for world destruction—The calamity of fire. ** For more information, please see Tam Tai.

hỏa thang

The hell of liquid fire.

hỏa thiên

Tên một vị trời. Xem Hỏa thần. ; The fire devas shown as the 12th group in the diamond court of Garbadhàtu. ; Hỏa Thần—Hỏa Thiên được trình bày trong nhóm thứ mười hai trong Kim Cang viện thuộc Thai Tạng Pháp Giới—The fire devas shown as the 12th group in the diamond court of the Garbhadhatu. ** For more information, please see Hỏa Thần. ; (火天) Phạm: Agni. Pàli: Aggi. Dịch âm: A kì ni, A nga na, Ác kì ni. Cũng gọi Hỏa tiên, Hỏa thần, Hỏa quang tôn.Vị thần trấn giữ phương Đông nam, một trong các vị thần Hộ pháp quan trọng của Mật giáo. Mật hiệu là Hộ pháp kim cương. Về hình tượng và vị trí của Hỏa thiên tùy theo các bộ mà có khác nhau. Trong Hiện đồ mạn đồ la của Thai tạng giới thì vị tôn này ngồi ở góc Đông nam của Ngoại viện. Hình tượng là vị tiên nhân ngồi trong ngọn lửa, có 4 tay, tay thứ 1 bên phải cầm Hỏa luân ấn, tay thứ 2 cầm chuỗi tràng; tay thứ 1 bên trái cầm bình đựng nước, tay thứ 2 cầm gậy tiên. Còn trong Mạn đồ la Kim cương giới, thì vị tôn này ngồi ở phía Tây của Kim cương Ngoại bộ và hình tượng là thân mầu da người, tay phải cầm Hỏa luân ấn, tay trái cầm gậy tiên. Cứ theo Thập nhị thiên cúng nghi quĩ, thì Hỏa thiên cỡi con dê mầu xanh, toàn thân rực lửa, có 4 tay, 2 tay bên phải, một tay cầm cây trúc mầu xanh, một tay cầm bình đựng nước; 2 tay bên trái, một tay đưa lên, một tay cầm chuỗi tràng, có 2 thiên nữ cầm hoa đứng hầu, 2 bên tả hữu đều có hình vị tiên khổ hạnh. Ngoài ra, khi tu pháp Hộ ma trong Mật giáo, trước hết phải lập đàn Hỏa thiên cúng dường vị tôn này, rồi sau mới cúng dường các vị tôn khác. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1; Lược bản du già hộ ma quĩ; kinh Dược sư thất Phật cúng dường nghi quĩ như ý vương; kinh Đà la ni tập Q.11; phẩm Hộ ma tăng ích trong kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.7; Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.20]. (xt. Bát Phương Thiên, Thập Nhị Thiên).

hỏa thiêu

Bhasmìkaroti (S). To incinerate.

hỏa thiểm thí

(hỏa thiểm thí ) Cũng gọi Hỏa quát thí. Ví dụ dùng đũa bằng gỗ để gắp lửa mà hiển bày phương tiện khéo léo của Bồ tát. Bồ tát thệ nguyện độ hết vô biên chúng sinh rồi sau mới thành Phật, nhưng chúng sinh chưa hết, Bồ tát đã tự thành Phật, cũng giống như dùng đũa gỗ gắp lửa để đốt củi, củi chưa cháy hết mà đũa đã cháy hết. Vì Bồ tát lấy lợi tha làm đầu mà tự lợi đã thành trước; khi tự lợi đã thành thì lợi tha tự tại, phương tiện ấy rất khéo léo, cho nên gọi là phương tiện thiện xảo. [X. luận Đại trí độ Q.18; Vãng sinh luận chú Q.hạ].

hỏa thần

Agni (S), Aggi (P), Fire A kì ni, A nghĩ ni, Hỏa Thiên Tên vị thần lửa trong kinh Vệ đà. ; Agni (S). Fire. Vedic fire god. ; Thần lửa ở Ấn Độ, được nói đến như vị thần thứ bốn mươi bốn trong đền thờ Bách Thần của Kinh Vệ Đà, trong đó Đại Phạm Thiên được xem như là đệ nhứt—The gods of fire in India, stated as numbering forty-four in the Verdic pantheon, with Mahabrahma as the first. ** For more information, please see Hỏa Thiên.

hỏa thử

Fire rat.

hỏa thực

Homa (skt)—Phép Hộ Ma hay phép cúng dường chư Tăng bằng cách đem các vật cúng ném vào lò lửa—Burnt offerings, as in the homa worship.

hỏa tinh

Angaraka (skt)—Sao Hỏa—The planet Mars.

hỏa trướng

Sổ sách ghi số gạo nấu và số người được phục vụ trong chùa—The kitchen account of the rice cooked and person served in a monastery.

hỏa trạch

The parable of the burning house; one of the seven parables in the Lotus sùtra. ; A burning house—Theo Kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy: “Ba cõi không an, dường như nhà cháy, sự khổ dẫy đầy, rất đáng sợ hãi.” Thật vậy, chúng ta thấy cuộc sống trên cõi đời nầy nào có được bình an lâu dài. Thảm cảnh xãy ra khắp nơi, binh đao, khói lửa, thiên tai, bão lụt, đói kém, thất mùa, xã hội thì dẫy đầy trộm cướp, giết người, hiếp dâm, lường gạt, vân vân không bao giờ thôi dứt. Còn về nội tâm của mình thì đầy dẫy các sự lo âu, buồn phiền, áo não, và bất an. Trong kinh Pháp Cú, câu 146, Đức Phật dạy: “Làm sao vui cười, có gì thích thú, khi ở trong cõi đời luôn luôn bị thiêu đốt? Ở trong chỗ tối tăm bưng bít, sao không tìm tới ánh quang minh?”—According to the Lotus Sutra, the Buddha taught: “The three worlds are unsafe, similar to a house on fire, sufferings are rampant, deserving to be fearful.” In fact, we can never experience peacetime on earth very long. Everywhere there are weapons, fires, natural disasters, floods, famine, loss of harvest, etc. Societies are filled with robberies, murders, rapes, frauds, deceptions, etc. All these continue without any foreseeable end. To speak of our individual mind, everyone is burdened with worries, sadness, depression, and anxieties, etc. In the Dharmapada Sutra, verse 146, the Buddha taught: “How can there be laughter, how can there be joy, when the whole world is burnt by the flames of passions and ignorance? When you are living in darkness, why wouldn't you seek the light?”

hỏa trạch dụ

Thí dụ về nhà lửa đang cháy, một trong bảy ngụ ngôn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, trong đó ông Trưởng giả dùng để dẫn dụ những đứa con vô tâm bằng những phương tiện xe dê, xe nai, xe trâu, đặc biệt là Bạch Ngưu Xa—The burning house, one of the seven parables in the Wonder Lotus sutra, from which the owner tempts his heedless children by the device of the three kinds of carts (goat, deer and bullock), especially the white bullock cart.

hỏa trạch tăng

Monks in a burning house, i.e. married monks. ; Vị Tăng trong nhà lửa hay vị Tăng mà vẫn còn có vợ con—Monks in the burning house (married monks).

hỏa táng

Agni-dagdha (S), dhyāyati (S), dhyāyeti (S), dhyāpayati (S), Jhapita (P), Cremation, Trà tỳ Xem Trà tỳ. ; Jhàpita (S). Cremation. Also trà tì. ; Jhapita (skt)—Người chết đem thiêu, còn lại tro cốt đem chôn, một trong bốn loại ma chay—Cremation, the relics being buried, one of the four methods of bury (Hỏa táng:Fire, Thủy táng:Water, Thổ táng:Ground, Lâm táng:Buried in the forest).

hỏa tôn

See Hỏa Thần.

hỏa tế

Agni-hotra (P) Tục xưa của Ện độ để sám hối tội lỗi.

hỏa tịnh

Purified—Thức ăn được làm sạch nhờ nấu chín bằng lửa—Food made clean by fire or cooking.

hỏa tốc

Very urgent—Most immediate.

hỏa tụ

Accumulated fires (of hell); accumulating one's own hell-fires; the body as a heap of fire, i.e. to be feared; the fire of angry passions. ; 1) Đống lửa: Accumulated fires. 2) Sự kết tụ hỏa địa ngục: Accumulated one's own hell-fires. 3) Thân như một cụm lửa đáng sợ, lửa giận hờn và dục vọng: The body as a heap of fire to be feared, the fire of angry-passions.

hỏa tụ phật đảnh

Xem Quang Tụ Phật đảnh. ; Quang Tụ Phật Đảnh—Phóng Quang Phật Đảnh. 1) Một trong những tiền kiếp tái sanh của Phật Thích Ca, tên Ấn Độ âm Hán là Đế Tụ La, Chước Yết La, Phạ Lý Để (mật hiệu là Thần thông Kim Cang): One of the incarnations of Sakyamuni, whose Indian name is given as Tejorasi-Cakravarti. 2) Một trong năm vị Phật Đảnh: One of the five kinds of Universal Wise Sovereign (Sakyamuni in the third court of the Garbhadhatu).

hỏa tụ tiên

Vị Thần bổn mệnh và vợ của ông ta bên trên Thai Tạng Pháp Giới—This genius and his wife are shown above Vaisramana in the Garbhadhatu.

hỏa từ pháp

Hỏa Pháp—The directions for the fire sacrifices in the Atharva-veda, the fourth veda.

hỏa viện

Hỏa Giới—Kim Cang Viêm—Sân lửa, một loại quán tưởng trong đó hành giả tự thấy mình đang bị lửa bao bọc (kết hỏa ấn thân xoay ba vòng về phía phải, lấy thân làm trung tâm để quán tưởng một đại hỏa viện vây quanh)—The “fire-court,” a kind of contemplation, in which the devotee sees himself encircled by fire—A kind of contemplation, in which devotee sees himself encircled by fire after circumambulating three times to the right while making the fire sign. ** For more information, please see Hỏa Giới.

hỏa xa

The fiery chariot (belonging to the hells). ; The fiery chariot of the hells.

hỏa xa địa ngục

Chúng sanh trong hỏa xa địa ngục thường bị đóng băng, rồi sau đó được đưa vào những chiếc xe bốc lửa làm thiêu rụi thân, cứ như thế mà trong một ngày phải chết đi sống lại đến 90 ức lần—Hells of the fire-chariot, and the fire-pit with its fiery wheels, the sufferer first freezes, then is tempted into the chariot which bursts into flames and he perishes in the fire pit, a process each sufferer repeats daily 90 kotis of times.

hỏa xà

Kundalini(S). ; Fire-vomitting serpents in the hells. ; Rắn phun lửa trong địa ngục—The fire-vomiting serpent in the hell.

hỏa xá

Một loại lư hương (lư nhang, đặc biệt, với hai vòng tròn nổi có nắp)—A kind of censer, made in two super-imposed circles with a cover.

hỏa điền

See Hỏa Bạn.

hỏa đàn

Fire altar, connected with homa or fire worship; stake; pyre; funeral pile. ; 1) Giàn lửa để thiêu xác: Fire altar. 2) Homa or fire worship.

hỏa đại

Tejodhātu (S), Fire element Một trong ngũ đại. ; Tejo-dhatù (S). Fire element. ; Một trong tứ đại (đất, nước, lửa, gió)—The element fire, one of the four elements (earth, water, fire, and wind).

hỏa đạo

Hỏa đồ hay địa ngục, một trong tam đồ ác đạo—The fiery way (the destiny of the hot hells, one of the three evil destinies).

hỏa đầu

Vị sư trông coi nhà trù trong tự viện—A monastery cook.

hỏa đầu kim cang

Một trong những vị Minh Vương—One of the Ming-Wang.

hỏa đỉnh sơn

Đỉnh gần núi Thiên Thai, nơi Tổ Sư Thiên Thai đã hàng phục được ma quân—A peak near T'ien-T'ai, where the founder of that school overcame Mara.

hỏa định

Một phép Thiền định khiến thân người phát ra lửa—The fire dhyana.

Hỏa đồ

xem Ba đường ác.

hỏa đồ

The hells of fire—See Hỏa Đạo.

Hỏa Đức Tinh Quân

(火德星君): (1) Dân gian thường gọi là Hỏa Thần Da (火神爺, Ông Thần Lửa), hay Hỏa Thiên Kim Cang (火天金剛), Xích Đế (赤帝), là con của vị trưởng bộ tộc thời cổ đại xa xưa. Ông là người phát hiện ra phương pháp khẻ đá châm lửa. Hoàng Đế (黃帝) biết được bèn phong cho ông làm quan chưởng quản về lửa, cũng ban cho tên là Chúc Dung (祝融). Dưới thời đại của Hoàng Đế, ở phương nam có một thị tộc tên Xí Vưu (蚩尤), thường vào gây rối ở Trung Nguyên; nhân đó, Hoàng Đế hạ lệnh cho Chúc Dung đem binh mã thảo phạt. Tuy nhiên Xí Vưu người nhiều thế mạnh, anh em lại rất đông, mỗi người đều mang áo da thú, đầu đội sừng trâu, trông rất hùng mạnh và ghê tợn. Chúc Dung chỉ biết dùng lửa làm vũ khí, đốt cháy quân đội của Xí Vưu. Địch quân tháo chạy, Chúc Dung đuổi đến tận Hoàng Hà (黃河), Trường Giang (長江) và cuối cùng đánh bại Xí Vưu. Sau khi trở về triều, Chúc Dung được Hoàng Đế ban cho chưởng quan phương Nam, cho nên tại đây ông đã giáo hóa dân chúng biết cách dùng lửa trong sinh hoạt hằng ngày, như dùng lửa để xua đuổi dã thú, muỗi, để chế tạo các đồ dùng kim thuộc; nhờ vậy cuộc sống của người dân được cải thiện hơn nhiều. Cảm kích trước ân đức đó, người dân tôn xưng ông là Xích Thần (赤帝, xích là màu đỏ, cũng có ý là lửa). Ông sống được hơn trăm tuổi, và sau khi qua đời, bá tánh lập Xích Đế Điện để tôn thờ và tưởng nhớ đến ân đức cao dày của ông. Lịch đại chư vị đế vương đều phong hiệu cho ông như Hỏa Thần (火神), Hỏa Đức Tinh Quân (火德星君). Như trong Thần Đản Phổ (神誕譜) có giải thích rằng: “Hỏa Đức Tinh Quân, vi Viêm Đế Thần Nông thị chi linh, tự chi vi Hỏa Thần, dĩ nhương hỏa tai (火德星君、爲炎帝神農氏之靈、祀之爲火神、以禳火災, Hỏa Đức Tinh Quân là linh của Viêm Đế Thần Nông, thờ làm Hỏa Thần để giải trừ hỏa tai).” Sử Ký (史記) ghi rõ rằng: “Hỏa Thần vi Chúc Dung, Chuyên Húc chi tử, danh Lê (火神爲祝融、顓頊之子、名黎, Thần Lửa là Chúc Dung, con của Chuyên Húc, tên là Lê).” Trong khi đó, Quốc Ngữ (國語) lại cho hay một thông tin thú vị khác: “Hỏa Thần vi Hồi Lộc (火神爲回祿, Thần Lửa là Hồi Lộc).” Hồi Lộc hay Hồi Lục (回陸), do vì xưa kia tại nước Sở có một người tên Ngô Hồi (吳回), làm quan trông coi về lửa, nên có thuyết cho rằng ông là Hồi Lộc. Vì vậy trong Tả Truyện (左傳) có đoạn rằng: “Trịnh nhương hỏa vu Hồi Lộc (鄭禳火于回祿, Trịnh cầu nguyện lửa nơi Hồi Lộc).” Và người thời nay gọi hỏa hoạn là “Hồi Lộc chi tai (回祿之災, tai họa Hồi Lộc).” (2) Là tên gọi khác của Táo Quân (竈君), vị thần chưởng quản Nhà Bếp. (3) Là tên gọi của một trong Ngũ Đức Tinh Quân (五德星君), gồm Đông Phương Mộc Đức Tinh Quân (東方木德星君), húy Trọng Hoa (重華); Nam Phương Hỏa Đức Tinh Quân (南方火德星君), húy Huỳnh Hoặc (熒惑); Tây Phương Kim Đức Tinh Quân (金德星君), húy Thái Bạch (太白); Bắc Phương Thủy Đức Tinh Quân (水德星君), húy Tứ Thần (伺晨); Trung Ương Thổ Đức Tinh Quân (土德星君), húy Địa Nhật Hầu (地日侯). (4) Là tên gọi của một trong Cửu Diệu (九曜), gồm Kế Đô Tinh Quân (計都星君), Hỏa Đức Tinh Quân (火德星君), Mộc Đức Tinh Quân (木德星君), Thái Âm Tinh Quân (太陰星君), Thổ Đức Tinh Quân (土德星君), La Hầu Tinh Quân (羅睺星君), Thái Dương Tinh Quân (太陽星君), Kim Đức Tinh Quân (金德星君), và Thủy Đức Tinh Quân (水德星君). Hằng năm vào ngày 23 tháng 6 Âm Lịch, dân gian vẫn thường hành lễ kỷ niệm Thánh đản của Hỏa Đức Tinh Quân. Trong Phật Giáo vẫn công nhận Hỏa Đức Tinh Quân là một vị thần. Từ thời nhà Tống (宋, 960-1279) trở đi, trước tượng thờ chính trong Chánh Điện của các Thiền viện đều có treo bài vị “Nam Phương Hỏa Đức Tinh Quân Thần (南方火德星君神).” Mỗi tháng vào ngày mồng 4 và 18, chư tăng tụng kinh hồi hướng để cầu nguyện cho già lam hưng thạnh, yên ổn, không bị hỏa hoạn. Tương truyền Hòa Thượng Đạo Tế (道濟, tức Tế Công [濟公]) của Linh Ẩn Tự (靈隱寺) đã từng thấy Hỏa Đức Tinh Quân hóa hiện người nữ vào chùa, bèn chạy đến trước mặt cô ta chận đường, liền bị quở trách là đùa giỡn với nữ nhân. Tế Công trở về phòng nhập định và kết quả chùa bị hỏa hoạn thảm khốc. Có hôm nọ Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (朱元璋, tại vị 1368-1398) ăn bánh nướng ở trong điện, ăn ngụm đầy cả miệng. Quan Nội Giám thấy vậy bèn chạy đi báo cho Quốc Sư Lưu Cơ (劉基) biết, nhân đó Quốc Sư có làm bài Thiêu Bính Ca (燒餠歌), trong đó có đề cập đến Hỏa Đức Tinh Quân rằng: “Hỏa phong đỉnh, lưỡng hỏa sơ hưng định thái bình; hỏa sơn lữ, Ngân Hà Chức Nữ nhượng Ngưu Tinh, Hỏa Đức Tinh Quân lai hạ giới, kim điện lâu đài tận Bính Đinh, nhất cá hồ tử Đại Tướng Quân (火風鼎,兩火初興定太平,火山旅,銀河織女讓牛星,火德星君來下界,金殿樓臺盡丙丁,一個鬍子大將軍, đỉnh gió lửa, hai lửa mới thành định thái bình; núi lửa chơi, Ngân Hà Chức Nữ nhường Sao Ngưu, Hỏa Đức Tinh Quân xuống hạ giới, điện vàng lâu đài thảy tiêu tan, còn một chòm râu Đại Tướng Quân).”

hỏa đức tinh quân

The ruler over the fire star, Mars. ; Hỏa Tinh, được coi như vì thống trị ngũ tinh (năm vì sao), bài vị được đặt ở phía nam các chùa và ngày thờ cúng vào các ngày mồng 4 hay 18; vị nầy cũng được coi như là Viêm Đế—The ruler over the five stars, Mars, whose tablet hangs in the southside of a temple and whose days of worship, to prevent conflagrations, are the fourth and eighteenth of each moon; he is identified with the ancient emperor Yen-Ti (Viêm Đế). ** For more information, please see Hỏa Diệu.

hỏa ấn

The fire sign, for which the a triangle pointing upwards is used; a triangular arrangement of fingers of the right hand with the left. ; Ấn tam giác (ba góc) đỉnh quay lên. Ấn tam giác bằng cách bện những ngón tay phải và trái vào nhau—The fire sign, for which a triangle pointing upwards is used; a triangular arrangement of fingers of the right hand with the left.

hỏi

To ask—To interrogate—To inquire—To question.

hỏi dò

To make inquiries.

hỏi thăm

To ask about someone.

hỏi đạo

To seek guidance in the dharma.

hỏng

To fail—To miss.

hối

4114心所之名。即懺悔自己所造之業。與「惡作」一詞同義。〔成唯識論卷七〕 ; Ksama, Ksamayati (S). ; 1) Hối hận: Ksama (skt)—To repent—To regret. 2) Hối thúc: To urge—To press—To hurry. 3) Ngày cuối của tháng: The last day of the moon—Night—Dark. ; (悔) Tên của tâm sở. Ăn năn những tội lỗi mình đã tạo ra. Cùng nghĩa với ác tác . [X. luận Thành duy thức Q.7].

hối cơ

5917唐代僧。又作晦璣。清河人,俗姓張。屬青原行思之法系。初參巖頭全奯,後師事玄泉山彥,得嗣其法。唐天祐年中(904~907)遊化至鄂州(湖北)黃龍山,節度使奉錢建寺,奏賜紫衣,賜號「超慧大師」,於寺大張法席,教化群迷。其生卒年不詳。〔祖堂集卷十二、景德傳燈錄卷二十三、五燈會元卷八、聯燈會要卷二十五〕

Hối Cơ Nguyên Hy

(晦機元熙, Maiki Genki, 1238-1319): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Phái Dương Kì, Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hối Cơ (晦機), xuất thân Nam Xương (南昌, Tỉnh Giang Tây), họ Đường (唐). Ông cùng với người anh Nguyên Linh (元齡) nỗ lực học tập để thi đỗ Tiến Sĩ, nhưng sau đó ông theo xuất gia với Tây Sơn Minh (西山明). Gặp lúc Vật Sơ Đại Quán (物初大觀) đến khai pháp ở Ngọc Kỷ (玉几), ông đến làm thị giả hầu hạ và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông đã từng sống qua ở Bách Trượng Sơn (百丈山), Tịnh Từ Tự (淨慈寺) và Ngưỡng Sơn (仰山). Vào ngày 17 tháng 8 nhuận năm thứ 6 (1319) niên hiệu Diên Hựu (延祐) đời vua Nhân Tông, ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi.

hối hả

To hurry.

hối hận

Kukṛtya (S), Remorse, Regret, Kukkucca (P). ; Hối hận có nghĩa là cảm thấy tiếc cho những hành động trong quá khứ. Hối hận cho những việc làm bất thiện hay không có đạo đức trong quá khứ là hối hận tích cực; tuy nhiên nếu hối tiếc cho những việc làm tốt trong quá khứ là hối hận tiêu cực—To regret—To repent—Regret can be either a wholesome or unwholesome or neutral mind. Regret is a mind which feels sorrow or remorse about past actions. Regret for negative past actions (non-virtuous) is a positive regret; however, regret for positive past actions (virtuous) is a negative regret.

hối lỗi

Repent, To. ; Khamàpanà (P). Asking for pardon.

hối ngự niệm tụng

4614請參閱 寶覺祖心禪師語錄日本佛教用語。略稱晦念誦。即於每月最後三日,在宮中真言院,為天皇御體安穩、寶祚綿延而修之念誦法。此法源於印度。唐天寶五年(746)不空三藏為玄宗皇帝於長生殿內道場,修瑜伽之祕法。日本仿之,承和元年(834),空海於宮中真言院修「後七日御修法」為其始例。(參閱「御修法」4560) ; (晦禦念誦) Gọi tắt: Hối niệm tụng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp niệm tụng do Thiên hoàng hành trì ở viện Chân ngôn trong cung, vào 3 ngày cuối cùng của mỗi tháng, để cầu cho vua được an ổn, quốc gia được vững bền. Pháp này bắt nguồn từ Ấn độ. Vào năm Thiên bảo thứ 5 (746) đời Đường, ngài Tam tạng Bất không tu bí pháp Du già ở điện Trường sinh trong cung để cầu cho vua Huyền tôn được trường thọ. Về sau, ở Nhật bản, vào niên hiệu Thừa hòa năm đầu (834) ngài Không hải cũng phỏng theo pháp này mà lập Hậu Thất Nhật Ngự Tu Pháp để hành trì ở viện Chân ngôn trong cung. (xt. Ngự Tu Pháp).

Hối Nham Trí Chiêu

(晦巖智昭, Maigan Chishō, thế kỷ thứ 12-13): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hối Nham (晦巖), còn gọi là Trí Thông (智聰), pháp từ của Triết Ông Như Diễm (浙翁如琰). Ông đã bỏ ra 20 năm đi du phương đó đây để thâu tập cương yếu tông phong của Ngũ Gia, đến cuối đời ông đem phân loại chỉnh lý và biên tập thành bộ Nhân Thiên Nhãn Mục (人天眼目) tại Thiên Thai Sơn Vạn Niên Tự (萬年寺), và vào năm thứ 15 (1188) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), ông biên lời tựa cho bộ này.

hối pháp - sám hối

Ksamayati (S). Repentance rites.

hối quá

4114懺悔罪過之意。指為減輕或消除罪業而於佛、僧之前,自述所犯身、口、意等三業之懺悔儀式。書寫儀式之程序者,謂懺儀,或作懺文。懺文視其所據之經典不同,而有法華懺文、金光明懺文之分。於舍利弗悔過經、文殊悔過經等,載有悔過之功德。另於廣弘明集卷二十八錄有梁陳諸帝依經悔過而作之文,如摩訶波若懺文、金剛波若懺文、勝天王般若懺文等十篇悔過文。於日本,舉行懺悔之儀式,依所奉佛像而有藥師悔過、吉祥悔過、阿彌陀佛悔過等之別。 ; Sám hối tội lỗi với Tam Bảo—To regret one's faults, or error. ; (悔過) Sám hối tội lỗi. Nghĩa là tự giãi bày trước Phật, Sư trưởng hoặc chúng tăng xin sám hối những sai lầm mà 3 nghiệp thân, khẩu, ý đã phạm để cầu giảm nhẹ hoặc tiêu trừ tội lỗi. Văn chép trình tự của nghi thức hối quá này gọi là Sám nghi hay Sám văn, những Sám văn được y cứ vào các kinh khác nhau mà soạn thành, nên mới có Pháp hoa sám văn, Kim quang minh sám văn… Quảng hoằng minh tập quyển 28 có chép 10 thiên văn Hối quá của các ông vua đời Lương, Trần theo các kinh mà sám hối rồi soạn ra như: Ma ha bát nhã sám văn, Kim cương bát nhã sám văn, Thắng thiên vương bát nhã sám văn, v.v... Còn ở Nhật bản thì nghi thức hối quá không nương theo kinh, mà căn cứ vào các tôn tượng được phụng thờ mà cử hành, cho nên có: Dược sư hối quá, Cát tường hối quá, A di đà Phật hối quá, v.v

hối sám pháp

Nghi thức phát lồ sám hối tội lỗi—The rules fo repentance and confession—See Tam Chủng Sám Hối, Tác Pháp Sám, Thủ Tướng Sám, and Vô Sanh Hối in Vietnamese-English Section.

hối sơn

4613(1610~1672)明末僧。江蘇太倉人,俗姓王。字愿雲(一作願雲)。幼即受佛法之薰陶。明亡後,依三昧剃度,不久即受具足戒,法號戒顯,別號晦山,又號罷翁。時年三十五。其後,參謁具德於杭州剦亭山顯寧寺,繼而赴江蘇高郵地藏院及西湖靈隱寺參學。並住持海藏菴、雲山真如寺、靈隱寺等,為具德之法嗣,南嶽下第三十六世。師以戒律精嚴、學問淵博,為世所稱許。平日除精研三藏外,尤善書墨散文。與同窗吳梅村互贈詩書,時相往來。康熙十一年示寂於剦亭山佛日寺,世壽六十三,戒臘二十八。著有禪門鍛鍊說、佛法本草、鷲峰集、現果隨錄、沙彌律儀毘尼日用合參等書。其中佛法本草、鷲峰集今已不傳。而禪門鍛鍊說則仿孫子兵法體裁,凡十三篇,為闡述鍛鍊禪眾方法之書。 ; (晦山) (1610-1672) Vị tăng sống vào cuối đời Minh, người huyện Thái thương, tỉnh Giảng tô, họ Vương, tự là Nguyện vân. Từ nhỏ sư đã được thấm nhuần Phật pháp. Sau khi nhà Minh diệt vong, sư y vào ngài Tam muội xuất gia, không bao lâu thụ giới Cụ túc, được đặt pháp hiệu là Giới hiển, biệt hiệu là Hối sơn, Bãi ông. Lúc đó sư đã 35 tuổi. Về sau, sư tham yết ngài Cụ đức ở chùa Hiển ninh, núi Cao đình tại Hàng châu và được nối pháp; kế đó, sư đến viện Địa tạng ở huyện Cao bưu, tỉnh Giang tô và chùa Linh ẩn ở Tây hồ tham học. Sư từng trụ trì am Hải tạng, chùa Chân như núi Vân sơn, chùa Linh ẩn, v.v... Sư nghiêm trì giới luật, học vấn uyên bác. Thường ngày, ngoài việc nghiên cứu Tam tạng, sư còn sáng tác và làm thơ xướng họa với ông Ngô mai thôn. Năm Khang hi 11 (1672) sư thị tịch ở chùa Phật nhật núi Cao đình, thọ 63 tuổi, pháp lạp 28. Tác phẩm của sư gồm có: Thiền môn đoán luyện thuyết, Phật pháp bản thảo, Thứu phong tập, Hiện quả tùy lục, Sa di luật nghi tì ni nhật dụng hợp tham…. Trong đó, Phật pháp bản thảo và Thứu phong tập hiện nay đã thất truyền. Còn Thiền môn đoán luyện thuyết là tác phẩm phỏng theo thể tài Binh pháp của Tôn tử, gồm 13 thiên, trình bày phương pháp rèn luyện các Thiền sinh.

hối thúc

To urge—To press.

hối tiếc

Anuseti (S).

hối tâm

Regret.

Hối Ðường Tổ Tâm

晦堂祖心; C: huìtáng zǔxīn; J: maidō soshin; 1025-1100; cũng được gọi là Hoàng Long Tổ Tâm;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế đời thứ 9. Sư là môn đệ của Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam. Kế thừa Sư là Thiền sư Tử Tâm Ngộ Tân.|Sư họ Ổ, quê ở Thuỷ Hưng Nam Hùng. Năm 19 tuổi bị mù mắt, cha mẹ nguyện cho xuất gia, mắt tự nhiên sáng lại. Sư tham thiền nhiều nơi, sau đến Hoàng Long học. Nhân đọc một đoạn trong Cảnh Ðức truyền đăng lục, Sư khế hội, được Thiền sư Huệ Nam Ấn khả. |Sư dạy một vị quan tên Tạ Cảnh Ôn: »Ba thừa mười hai phần giáo – giống như chỉ thức ăn cho người. Ðã nhờ đó nói thức ăn, cốt nơi mình nếm lấy. Chính mình nếm được, liền rõ biết mùi vị kia là mặn lạt cay đắng. Tổ Ðạt-ma từ Ấn Ðộ sang chỉ thẳng tâm người thấy tính thành Phật cũng lại như thế. Chân tính đã nhân văn tự mà bày, cốt tại chính mình thấy được. Nếu hay thấy được liền rõ biết trước mắt là chân là vọng, là sinh là tử. Ðã rõ biết chân vọng sinh tử, xem lại tất cả ngữ ngôn văn tự đều là lời nói hiển bày trọn không có nghĩa thật. Như nay không hiểu bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại thấy nghe hiểu biết. Vì chẳng biết như thật chỗ đến mé chân, nhận thấy cái nghe hiểu biết này làm cái sở kiến của chính mình. Ðâu chẳng biết cái thấy nghe hiểu biết này đều nhân tiền trần mà có phân biệt. Nếu không cảnh giới tiền trần thì cái thấy nghe hiểu biết này đồng với Lông rùa sừng thỏ, trọn không có chỗ nương.|Một vị quan tên Khí Tư hỏi Sư: »Khi người lâm chung có chỉ quyết chăng?« Sư đáp: »Có.« Ông thưa: »Xin được nghe lời này.« Sư bảo: »Ðợi Khí Tư chết liền nói.« Khí Tư đứng dậy kính trọng nói: »Việc này phải là Hoà thượng mới được.«|Ỷ Công, một vị quan ở Chương Giang đến viếng Sư, bàn về câu »Hội muôn vật làm chính mình và tình cùng vô tình chung một thể« trong Triệu luận. Sư liền lấy cây thước dằn giấy gõ con chó, lại gõ cái bàn, nói: »Con chó hữu tình nên đi, cái bàn vô tình vẫn ở, tình cùng vô tình đâu thành một thể.« Ỷ Công đáp không được, Sư bèn nói tiếp: »Vừa có suy nghĩ liền thành pháp dư, đâu từng ›Hội muôn vật làm chính mình?‹«|Niên hiệu Nguyên Phù năm thứ 3, ngày 16 tháng 11, Sư viên tịch, thọ 76 tuổi. Vua sắc phong là Bảo Giác.

Hối Ông Ngộ Minh

(晦翁悟明, Kaiō Gomyō, ?-?): vị tăng của Phái Đại Huệ (大慧派) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hối Ông (晦翁), tự xưng là Chơn Lãn Tử (眞懶子), xuất thân Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), pháp từ của Mộc Am An Vĩnh (木庵安永) ở Cổ Sơn (鼓山). Ông đã từng trú trì các nơi như Sùng Phước Tự (崇福寺) ở Tuyền Châu (泉州, Tỉnh Phúc Kiến), Tịnh Từ Tự (淨慈寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), v.v. Chính ông biên tập bộ Tông Môn Liên Đăng Hội Yếu (宗門聯燈會要, 30 quyển), và năm thứ 10 (1183) niên hiệu Hưởng Hy (淳熙), ông ghi thêm lời tựa cho bộ này tại Tiềm Quang Đường (潛光堂). Các cổ tắc công án của Phái Đại Huệ đều do ông biên tập nên, và sau này được dùng rất rộng rãi trong Thiền lâm. Cuốn Hối Ông Minh Thiền Sư Ngữ Yếu (晦翁明禪師語要, 1 quyển) được thâu lục vào trong Tục Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (續古尊宿語要).

Hối Đài Nguyên Kính

(晦臺元鏡, Maidai Genkyō, 1577-1630): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Hối Đài (晦臺), biệt hiệu là Trạm Linh (湛靈), xuất thân Kiến Dương (建陽, Tỉnh Phúc Kiến), họ Bằng (憑), sinh ngày 25 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Năm 28 tuổi, ông đến xuất gia làm đệ tử của Lệ Không Cảo (麗空杲) ở Hổ Khiếu Nham (虎嘯巖), sau đó tham học với Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經) ở Thọ Xương (壽昌) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đến trú tại Thư Lâm (書林), rồi đến năm đầu (1620) niên hiệu Thái Xương (泰昌), ông bắt đầu khai đường giáo hóa tại Nhất Chi Sơn (一枝山), Kiến Dương, nhưng lại quay về ẩn tu tại Võ Di Sơn (武夷山). Đến ngày 13 tháng 7 năm thứ 3 (1630) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông thị tịch, hưởng thọ 54 tuổi đời và 26 hạ lạp. Trước tác của ông có Đông Uyển Kính Thiền Sư Ngữ Lục (東苑鏡禪師語錄) 1 quyển. Hoàng Đoan Bá (黃端伯) soạn bài Võ Di Đệ Nhất Đại Thiền Tổ Đông Uyển Kính Công Đại Sư Tháp Minh Tinh Tự (武夷第一大禪祖東苑鏡公大師塔銘幷序).

hối đường mộc tê hương

4613禪宗公案名。又作晦堂木犀香。係宋代太史黃庭堅參謁晦堂祖心禪師而悟道之因緣。晦堂以木樨之花香為緣,示黃庭堅佛法無有隱藏,使其了悟佛陀之大慈大悲及諸法實相。五燈會元卷十七(卍續一三八‧三三六下):「往依晦堂,乞指徑捷處,堂曰:『祇如仲尼道,二三子以我為隱乎,吾無隱乎爾者,太史居常如何理論?』公擬對,堂曰:『不是!不是!』公迷悶不已。一日,侍堂山行次,時巖桂盛放,堂曰:『聞木樨華香麼?』公曰:『聞!』堂曰:『吾無隱乎爾。』公釋然,即拜之。」 ; (晦堂木樨香) Tên công án trong Thiền tông. Nhân duyên ngộ đạo của quan Thái sử Hoàng đình kiên đời Tống khi đến tham yết thiền sư Hối đường Tổ tâm. Ngũ đăng hội nguyên quyển 17 (Vạn tục 138, 336 hạ) ghi: … (Hoàng đình kiên) đến nương tựa ngài Hối đường xin chỉ dạy con con đường tắt . Ngài bảo: Trọng ni nói rằng vài ba người cho là ta có dấu diếm nhưng ta có dấu diếm ông điều gì đâu. Bình thường Thái sử nghĩ thế nào về câu này? Hoàng đình kiên định trả lời, ngài Hối đường nói: Chẳng phải! Chẳng phải! Hoàng đình kiên mờ mịt, không ngộ được. Một hôm, họ Hoàng theo hầu ngài Hối đường đi dạo núi, lúc ấy hoa quế (mộc tê) nở rộ, ngài Hối đường nói: ông có nghe mùi thơm của hoa quế không? Họ Hoàng đáp: Dạ có! Ngài Hối đường nói: Tôi có dấu ông điều gì đâu! Ngay câu nói ấy, Thái sử Hoàng đình kiên tỉnh ngộ, liền lễ bái .

Hối Đường Tổ Tâm

(晦堂祖心, Kaidō Soshin, 1025-1100): vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, con trai của nhà họ Ổ (鄔) ở Nam Hùng (南雄, Tỉnh Quảng Đông). Năm lên 10 tuổi, ông theo xuất gia với Huệ Toàn (慧全) ở Long Sơn Tự (龍山寺), rồi sau đó đến tham bái Tuyết Phong Văn Duyệt (雪峰文悅), Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Hoàng Long. Sau khi thầy qua đời, ông kế thừa thầy, làm trú trì trong vòng 12 năm, và đến năm thứ 3 (1100) niên hiệu Nguyên Phù (元符) thì thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi, được ban cho thụy hiệu là Bảo Giác Thiền Sư (寳覺禪師).

hối đường tổ tâm

Maidō soshin (J) Tên một vị sư. ; Hui-tang Tsuhsin (C), Kwaido Soshin (J) Tên một vị sư. ; See Tổ Tâm Hối Đường Hoàng Long.

Hối 悔

[ja] ケ、カイ ke, kai ||| (kaukrtya). 'remorse悔 ' 'regret.' Also written zhuihui 追悔. The name of a mental function that is classified as one of the four undetermined (nature) elements in the doctrine of the Faxiang school. Reflecting on one's own prior actions. => (s: kaukrtya) Còn viết là Truy hối (c: zhuihui 追悔). Là tên một tâm sở được xếp vào một trong Bốn pháp bất định tính theo giáo lý Pháp tướng tông. Ngẫm nghĩ về hành động đã làm từ trước.

Hống

吼; C: hŏu; J: kō, ku;|Có hai nghĩa: 1. Tiếng gầm rống như sư tử; tiềng gầm của sư tử; 2. Tiếng kêu la, tiếng kêu thất thanh.

hống hách

To use authority (show power) in a wrong manner—To domineer.

Hống 吼

[ja] コウ、ク kō, ku ||| (1) To roar like a lion; a lion's roar. (2) Yell, scream. => Có hai nghĩa: 1. Tiếng gầm rống như sư tử; tiềng gầm của sư tử. 2. Tiếng kêu la, tiếng kêu thất thanh.

hốt

4274原為古代大臣朝見天子時所執之手版,有備忘作用。用木、角或竹製成;禪林中,師家接化學人時用之。長三十八公分餘,形如人之脊骨,師家講解時常擊笏,以強調所講之句段,亦可於坐時用作拄杖,或用以擊打學人,破除其妄念、執著等。〔禪林象器箋器物門〕 ; See Hốt Nhiên. ; (笏) Vốn là tấm thẻ mỏng của các quan Đại thần thời xưa cầm ở tay mỗi khi vào chầu vua, được làm bằng gỗ, ngà, tre. Tấm thẻ này được dùng để ghi những việc sắp tâu lên vua cho khỏi quên. Trong Thiền lâm, Hốt được làm bằng gỗ, dài hơn 38 phân tây, hình dáng như cột xương sống của người. Khi lên tòa giảng, vị giảng sư thường gõ hốt để nhấn mạnh đoạn văn mình đang giảng, hoặc dùng để chống khi ngồi, cũng có thể dùng để đánh người học hầu phá trừ vọng niệm, chấp trước của họ. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hốt hoạt cốc khoái thiên

3205(1867~1934)日本曹洞宗學僧。東京人。幼名快夫。十歲出家,改名快天。明治十七年(1884),就學於曹洞宗大學林,接受曹洞宗專門教育,二十年三月畢業,對禪宗之研究,境界甚高。後於大正八年(1919)就任曹洞宗大學教務長,翌年升任曹洞宗大學校長。大正十四年得文學博士。十四年三月,曹洞宗大學昇格爲駒澤大學,即就任駒澤大學校長。昭和九年三月辭任,其後致力於曹洞宗之布教傳道。昭和九年七月,因腦溢血示寂,時年六十八。遺作甚多,計有禪學批判論、禪學講話、禪妙味、參禪道話、達磨與陽明、清新禪話、禪學思想史、朝鮮禪教史、和漢名士參禪集等十餘種。 ; (忽滑穀快天) (1867-1934) Danh tăng Nhật bản thuộc tông Tào động, người Đông kinh lúc còn nhỏ tên là Khoái phu, 10 tuổi xuất gia đổi tên là Khoái thiên. Năm Minh trị 17 (1884), sư vào học ở trường Đại học thuộc tông Tào động. Tháng 3 năm Minh trị 20 (1887), sư tốt nghiệp, nhờ công phu nghiên cứu Thiền tông đã đạt đến trình độ rất cao. Năm Đại chính thứ 8 (1919), sư giữ chức Giáo vụ trưởng trường Đại học của tông Tào động, năm sau làm Hiệu trưởng trường này. Năm Đại chính 14 (1925) sư đậu Tiến sĩ văn học. Tháng 3 năm Đại chính 14 (1925), trường Đại học tông Tào động được nâng cấp thành Đại học Câu trạch, sư vẫn giữ chức vụ Hiệu trưởng. Tháng 3 năm Chiêu hòa thứ 9 (1934), sư từ chức, để dốc sức vào việc truyền bá giáo nghĩa của tông Tào động. Tháng 7 năm Chiêu hòa thứ 9 (1934), do bị bệnh chảy máu não sư tịch, thọ 68 tuổi. Sư có các tác phẩm: Thiền học phê phán luận, Thiền học gỉảng thoại, Thiền diệu vị, Tham thiền đạo thoại, Đạt ma dữ Dương minh, Thanh tân thiền thoại, Thiền học tư tưởng sử, Triều tiên thiền giáo sử, Hòa Hán danh sĩ tham thiền tập.…

hốt lẫm

Khulm (skt)—Một vương quốc cổ nằm giữa Balkh and Kunduz—An ancient kingdom and city between Balkh and Kunduz.

hốt lộ ma

Shaduman (skt)—Một khu vực trong xứ Tukhara thời cổ, nằm về phía bắc của Wakhan—A district of ancient Tukhara, north of Wakhan.

hốt nhiên

Suddenly—All of a sudden.

hốt tất liệt

3204(Khubilai, 1215~1294)元朝第一代皇帝,蒙古帝國第五代皇帝。廟號世祖。忽必烈建立元朝之前,西藏各宗派爲擴大己派之勢力,已競先拉攏蒙古諸可汗,尤以迦爾瑪派與薩迦派最積極。薩迦派之八思巴終至成爲忽必烈之帝師,極受禮遇與信任,並受命統治西藏,建立特殊之政教合一體制。又自忽必烈起,元朝歷任帝王即位之前皆須由帝師喇嘛傳授戒律,而各代亦始終崇信薩迦派喇嘛教。〔元史卷四至卷十七世祖紀、新元史卷七至卷十二世祖紀、忽必烈汗(愛宕松男,1941)〕 ; Khubilai (C). ; (忽必烈) Khubilai (1212-1294). Hoàng đế đời thứ nhất của triều Nguyên và đời thứ 5 của Đế quốc Mông cổ. Miếu hiệu là Thế tổ. Trước khi Hốt tất liệt sáng lập triều Nguyên, các tông phái ở Tây tạng, vì muốn mở rộng thế lực của phái mình đã tranh thủ gây ảnh hưởng với các Khả hãn (vua) Mông cổ, nhất là phái Ca nhĩ mã và phái Tát ca tích cực hơn cả. Bát tư ba của phái Tát ca cuối cùng đã trở thành Quốc sư của Hốt tất liệt, rất được trọng đãi và tín nhiệm và vâng mệnh vua thống trị Tây tạng, xây dựng thể chế chính trị và tông giáo hợp nhất. Bắt đầu từ Hốt tất liệt, các bậc đế vương của triều Nguyên đều sùng kính phái Tát ca và trước khi lên ngôi phải được Quốc sư Lạt ma truyền trao giới luật. [X. Thế tổ kỉ trong Nguyên sử Q.14-17; Thế tổ kỉ trong Tân nguyên sử Q.7-12; Hốt tất liệt hãn (Ái đãng Tùng nam, 1941)].

Hốt 忽

[ja] コツ kotsu ||| (1) Instantly, immediately, suddenly. (2) To neglect, disregard. (3) Easy, simple, light. (4) To exhaust, be exhausted, become extinct, die out. (5) Vague, indistinct, formless. (6) Mindlessly, without attention; without intention. => 1. Ngay khi, tức thì, đột nhiên. 2. Không để ý, coi thường. 3. Thanh thoát, đơn giản, thư thái. 4. Làm rỗng, bị kiệt quệ, trở nên mai một, mất hẳn. 5. Lờ mờ, phảng phất, không có hình dáng rõ rệt. 6. Thiếu suy xét, vô ý, không chủ định.

hồ

1) Tại sao—Thế nào: Why—How. 2) Hồ nước: A lake. 3) Hồ tiêu: Pepper.

hồ bình

3938鳥頭之瓶。乃千手觀音四十手中,右面一手所持之物。其手稱胡瓶手或寶瓶手。相傳雪山之北有一胡國,其國人見金翅鳥形,始造此瓶,故稱胡瓶。轉輪聖王以此瓶置自身前,表自在之義。於密教中,若人欲求眷屬善和者,當修胡瓶法;其法以胡瓶置尊前,入水,念誦真言,灑於不和之眷屬,則諸眷屬得以和樂,如諸雜味合成一類。〔千光眼觀自在菩薩祕密法經、千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼、造像度量經續補〕 ; (胡瓶) Chiếc bình có hình đầu chim, là vật cầm ở tay bên phải trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Cánh tay ấy được gọi là Hồ bình thủ hoặc Bảo bình thủ (tay Hồ bình, tay bình báu). Tương truyền loại bình này do người nước Hồ ở phía bắc núi Tuyết phỏng theo hình con chim Kim sí (chim cánh vàng) mà chế ra, cho nên gọi là Hồ bình. Chuyển luân thánh vương đặt chiếc bình này ở trước mình, tượng trưng cho nghĩa tự tại. Trong Mật giáo, nếu muốn cầu sự hòa thuận trong gia đình, họ hàng thì tu pháp Hồ bình. Cách thực hành pháp tu này là: Rót nước vào Hồ bình rồi đặt ở trước Tôn tượng, tụng niệm chân ngôn xong, lấy nước ấy rưới lên những người họ hàng bất hòa, thì tất cả được hòa thuận yên vui, như nhiều vị hợp thành một vị. [X. kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp; Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni; Tạo tượng độ lượng kinh tục bổ].

hồ chủng tộc

3939即胡人之種族,但禪錄則用於指達磨門下之法孫。胡,本爲秦漢以前所用以稱匈奴者,其後又用以泛指一般塞外之民族。此外,亦以西天(印度)爲胡,而將達磨稱爲老胡,此即後世稱佛種族爲胡種族之因。碧巖錄第八則(大四八‧一四八中):「這般見解,謂之滅胡種族。」〔祖庭事苑卷一〕 ; 1) Chủng tộc ở miền Tây Á: Of West Asian race. 2) Từ dùng để chỉ Đức Phật trong một số kinh điển Trung Hoa: A term applied to the Buddha in some Chinese sutras. ; (胡種族) Dòng giống người Hồ. Vốn được dùng để chỉ dân Hung nô trước thời Tần Hán. Nhưng về sau dùng để chỉ chung những dân tộc ở ngoài biên thùy phía tây Trung quốc. Thiền tông thì dùng từ ngữ này để chỉ cho pháp hệ của Tổ Đạt ma. Tắc 8 trong Bích nham lục (Đại 48, 148 trung), nói: Hiểu biết như thế gọi là diệt giống người Hồ . Ngoài ra, Hồ chủng tộc cũng được dùng để chỉ cho người Ấn độ, vì thế Tổ Bồ đề đạt ma được gọi là Lão Hồ. [X. Tổ đình sự uyển Q.1].

hồ cư nhân

3938(1434~1484)明代學者。江西餘干人,字叔心。自幼志於經學,專修程頤、程顥及朱子之學,爲當時白鹿洞書院重要人物之一。平生以「主忠信」爲先,以「求放心」爲要。每言:「與吾道相似莫如禪學。」又謂:「學以爲己,勿求人知。」時人奉爲名言。著有居業錄四卷。氏雖以一生之待人處世、語默動靜契合禪道爲快慰事,然本於傳統儒學之立場而主張排斥佛教。〔明史卷二八二、明儒學案卷二〕

hồ cốc hoài

3937民國人。本名胡國偉。早年留學法國,主修新聞。創辦先聲報。曾任中國青年黨祕書長。皈依慈航法師。著有政治論文選集、巴黎心影、小紅等書及佛教散文。

hồ già-già liên-trì

Gaggara (P).

hồ kinh

Kinh điển của người Hồ—Hun classics.

hồ kính đức

Hu Jingde (C) Viên tướng của vua Đường Thái Tông, nhà Đường.

hồ loạn

3938禪林用語。即指苟且之意。如碧巖錄第一則之注語云(大四八‧一四○上):「胡亂指注。」又苟且參究,謂胡參或胡鑽亂撞。不依位次而坐則稱胡亂坐。妄加唱說言道,謂胡說、胡道,或胡說亂道。〔景德傳燈錄卷五、正法眼藏說心說性條、禪關策進諸祖法語節要〕 ; Hổn loạn—Disorderly—Without order. ; (胡亂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cẩu thả lộn xộn. Lời chú thích tắc 1 trong Bích nham lục (Đại 48, 140 thượng), nói: Hồ loạn chỉ chú (chú giải một cách cẩu thả lộn xộn). Ngoài ra, tham cứu một cách chiếu lệ gọi là Hồ tham hoặc Hồ toản loạn chàng (khua gõ lung tung). Ngồi không theo thứ bậc vị trí gọi là Hồ loạn tọa. Nói năng càn bậy gọi là Hồ thuyết, Hồ đạo, hoặc Hồ thuyết loạn đạo. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; điều Thuyết tâm thuyết tính trong Chính pháp nhãn tạng; Thiền quan sách tiến chư tổ pháp ngữ tiết yếu].

hồ lư giá na

Gorocana (skt)—Một chất nhuộm màu sáng được làm bằng nước tiểu hay mật bò—A bright yellow pigment prepared from the urine or bile of a cow.

hồ ma

3938原產於印度,今世界各地均有栽培。其種子扁平,顆粒甚小,有白色、黑色、茶色三種,從其色別,遂有白胡麻、黑胡麻、金胡麻之稱。其種子可製油,供作食油或髮油。於密教修法中,白胡麻乃息災護摩法之加持物。此外,於諸經論中,每以胡麻譬喻諸佛之微細、遍滿、無數之義。〔略出經卷一〕 ; (胡麻) Hạt vừng (mè), có 3 loại: Bạch hồ ma (vừng trắng), Hắc hồ ma (vừng đen), Kim hồ ma (vừng vàng). Hạt dẹt và rất nhỏ, có thể ép lấy dầu nấu ăn hoặc để bôi tóc. Trong Mật giáo, bạch hồ ma là vật để gia trì chú nguyện trong pháp Tiêu tai hộ ma. Ngoài ra, trong các kinh luận, hồ ma thường được dùng để ví dụ các nghĩa: Nhỏ nhiệm, trùm khắp, vô số, v.v... [X. kinh Lược xuất Q.1].

hồ mỵ

To impassion.

hồ nam

Xem Hà nam. ; Tỉnh Hồ Nam bên Trung Quốc—The province of Hunan in China.

hồ nam hải chúng

5060指廣集於湖南一帶,接受石頭希遷禪師教化之修行僧。石頭希遷為我國唐代南宗禪青原行思系統下之大禪師,天寶年間(742~755),於湖南衡山大揚宗風,遠近之修行僧雲集,成為當時湖南一地之教化中心,禪林間乃有「湖南海眾」一稱。與之相對者,為「江西雲衲」,即指廣集於江西一帶,接受馬祖道一教化之修行僧。馬祖道一為南宗禪南嶽懷讓系統下之大禪師,天寶年間至貞元四年(788)先後居於江西新開寺、西裏山、龔公山、開元寺、寶峰寺等道場闡揚禪旨,四方雲衲風從,而與湖南之石頭希遷同被譽為禪林雙璧。〔宋高僧傳卷九、卷十、景德傳燈錄卷六、卷十四、祖堂集卷四〕 ; (湖南海衆) Đối lại với Giang tây vân nạp. Chỉ cho số chúng tăng đông đảo tụ tập ở vùng Hồ nam để tiếp nhận sự giáo hóa của thiền sư Thạch đầu Hi thiên. Ngài Thạch đầu Hi thiên là một vị Thiền sư lớn thuộc hệ thống Thanh nguyên Hành tư của dòng Thiền Nam tông vào đời Đường ở Trung quốc. Vào khoảng năm Thiên bảo (742-755), ngài hoằng pháp ở Hoành sơn, tỉnh Hồ nam, nêu cao Thiền phong, chúng tăng từ khắp nơi tụ tập về đây tu học, Hoành sơn bỗng trở thành một trung tâm giáo hóa ở vùng Hồ nam lúc bấy giờ. Vì thế nên trong Thiền lâm mới có danh xưng Hồ nam hải chúng . [X. Tống cao tăng truyện Q.9. Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6, Q.14; Tổ đường tập Q.4].

hồ nam sương

Hu nan Shang (C).

hồ nghi

Vicikitsà (S). Septic doubt.

hồ ngữ

3939謂西域胡人之語言,或混同梵語而稱胡語。東晉道安論經論翻譯之得失時,指原文之梵語爲胡言、胡經。又出三藏記集則指漢譯經論之原文謂胡本。唐朝彥琮作辯正論,主張梵胡應加以明確分別。蓋我國歷代稱之爲胡語者,其義依時代而異:(一)秦漢之時,稱匈奴爲胡,故以匈奴語爲胡語。(二)東漢以後,廣指外夷爲胡,包括高昌、焉耆、龜玆、于闐、月氏、大夏、罽賓、印度等,而泛稱彼等所用之語爲胡語。(三)南北朝以後至隋唐之世,特指粟特(Sogdiana)之住民爲胡,而以粟特語爲胡語。又翻譯名義集卷一(大五四‧一○五六上):「胡梵音別,自漢至隋,皆指西域以爲胡國。唐有彥琮法師,獨分胡梵。葱嶺已西,並屬梵種。鐵門之左,皆曰胡鄉。」及宋高僧傳卷三之記載,大致係以雪山以北及其東部之地總稱爲胡,且因東漢至隋代之間,不立胡梵之別,故視梵語爲胡語之一。〔大唐西域記卷一〕 ; (胡語) Tiếng nói của người Hồ ở Tây vực, hoặc chỉ cho tiếng Phạm. Khi bàn về chỗ đúng, sai trong các kinh luận phiên dịch, thì ngài Đạo an đời Đông Tấn gọi nguyên văn tiếng Phạm là Hồ ngôn, Hồ kinh. Còn Xuất tam tạng kí tập thì gọi nguyên văn của các kinh luận Hán dịch là Hồ bản. Ngài Ngạn tông đời Đường viết luận Biện chính chủ trương tiếng Phạm, tiếng Hồ cần được phân biệt rõ ràng. Vì xưa nay cái mà Trung quốc gọi là Hồ ngữ, về nghĩa của nó cũng tùy theo thời đại mà có khác. Chẳng hạn như: 1. Thời Tần Hán: Gọi Hung nô là Hồ, vì thế cho tiếng Hung nô là Hồ ngữ. 2. Thời Đông Hán về sau: Gọi chung vùng đất bên ngoài biên thùy phía tây Trung quốc là Hồ, bao gồm: Cao xương, Yên kì, Cưu tư, Vu điền, Nguyệt chi, Đại hạ, Kế tân, Ấn độ, v.v... cho nên tiếng nói của các xứ này được gọi chung là Hồ ngữ. 3. Từ Nam Bắc triều đến thời Tùy Đường: Chỉ riêng dân cư vùng Túc đặc (Sogdiana) là Hồ và gọi tiếng Túc đặc là Hồ ngữ. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 1 (Đại 54, 1056 thượng), nói: Âm Hồ, âm Phạm khác nhau. Từ đời Hán đến đời Tùy đều gọi các nước Tây vực là nước Hồ. Đời Đường có pháp sư Ngạn tông phân biệt Hồ, Phạm rõ ràng như sau: Từ ngọn Thông lĩnh về phía Tây đều thuộc Phạm chủng, còn phía trái Thiết môn đều là quê hương giống Hồ .Theo Tống cao tăng truyện quyển 3, thì các vùng đất ở phía bắc và phía đông núi Tuyết gọi chung là Hồ. Trong khoảng thời gian từ đời Đông Hán đến đời Tùy, vì Hồ và Phạm không được phân biệt rõ ràng, nên Phạm ngữ được xem là một trong các thứ Hồ ngữ. [X. Đại đường tây vực kí Q.1].

hồ qua

(胡瓜): quả dưa chuột. Cách dùng này rất hiếm gặp, nhưng các từ điển Hán Việt hiện đại đều ghi rõ胡瓜 = 黃瓜(hoàng qua), nghĩa là dưa chuột.

hồ quị

To bow and kneel.

hồ quỵ

3938意即胡人之跪拜。又作胡跽。關於胡跪之相有種種異說:(一)謂胡跪乃胡人之敬相,跽即印度屈膝之相,是唯屈膝便稱胡跪。(二)或指長跪,謂雙膝著地,豎兩足以支身。(三)或指互跪,即右膝著地,豎左膝危坐。蓋古時印度、西域地方總稱爲胡,故胡跪乃意味一般胡人跪拜之敬儀。因之長跪、互跪亦共通而稱胡跪。然以經中所說右膝著地者爲正儀。〔金光明經卷二「四天王品」、釋門歸敬儀卷下、釋氏要覽卷二〕 ; See Hỗ Quỵ. ; (胡跪) Cũng gọi Hồ kị. Cách quì lạy của người Hồ. Có nhiều thuyết khác nhau: 1. Hồ quị là cách biểu tỏ lòng tôn kính của người Hồ, cách biểu tỏ này chỉ cần quì gối là đủ phép hồ quị. 2. Quì dài, tức là 2 đầu gối để sát đất, 2 bắp đùi dựng thẳng để đỡ thân thể. 3. Đầu gối bên phải đặt sát đất, đầu gối bên trái dựng thẳng. Trong 3 cách Hồ quị trên, cách thứ 3 được xem là đúng phép hơn cả. [X. phẩm Tứ thiên vương trong kinh Kim quang minh Q.2; Thích môn qui kính nghi Q.hạ; Thích thị yếu lãm Q.2].

hồ sàng

3938座床之一種。其形狀類似現今之椅子。本西戎所製,故有此稱。種類有二,其備機(有節者)而便於疊折者,稱摺疊椅;其單機者稱胡床,即禪床。風俗通載:「漢靈帝好胡服,京師皆作胡床,即今之交椅是。」附韻海云:「唐穆宗改胡床云繩床。」後世所稱之繩床即是由胡床演變而來。繩床有張繩、張板兩種。張板者即胡床之本來形態。 ; (胡床) Một loại ghế ngồi hình dáng giống ghế dựa hoặc ghế gấp hiện nay. Vốn do người Tây nhung (rợ ở phía tây Trung quốc) chế ra, nên gọi là Hồ sàng. Ghế có 2 loại: Bị cơ và Đơn cơ . Bị cơ gọi là Triệp ỷ (ghế gấp); Đơn cơ gọi là Hồ sàng, tức chỉ cho Thiền sàng. Theo sách Phong tục thông chép, thì vua Linh đế nhà Hán rất thích vật dụng của người Hồ, nên ở kinh đô có rất nhiều Hồ sàng. Lại theo sách Phụ vận hải chép, thì vua Mục tông nhà Đường đổi Hồ sàng gọi là Thằng sàng (giường dây).

hồ sơn đại phật tự

5060位於臺灣雲林斗六鎮。康熙六年(1667)林姓信徒於山中岩壁題「南無觀音佛祖」六字,朝夕膜拜,時傳靈異。雍正三年(1725)始建堂宇,朝拜者日眾。民國四十九年(1960),地方士紳敦聘明一、明戒二師來寺任住持,十年之中,增建講堂、客堂、客房,及宏偉之大雄寶殿。六十五年創辦慈音幼稚園。四周環境優美,使湖山岩成為雲林名勝之一。

Hồ Thích

(胡適, Koseki, 1891-1962): xuất thân Tích Khê (績溪, thuộc Tỉnh An Huy), tự là Thích Chi (適之). Năm 1910, ông sang du học tại Đại Học Columbia, Hoa Kỳ. Sau khi trở về nước, ông làm giáo sư Đại Học Bắc Kinh và nhấn mạnh về tính cần thiết của văn học Bạch Thoại. Trong thời gian 1938-1942, ông làm Đại Sứ Trung Hoa tại Mỹ. Vào năm 1948, sau Đệ Nhị Thế Chiến, trước cuộc nội loạn của Đảng Quốc Dân và Đảng Cộng Sản, ông lưu vong sang Hoa Kỳ; sau đó, ông trở về Đài Loan, làm Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Trung Ương, v.v., và cuối cùng qua đời tại đây. Ông có để lại một số trước tác như Trung Quốc Triết Học Sử Đại Cương (中國哲學史大綱, năm 1919), Bạch Thoại Văn Học Sử (白話文學史, năm 1928), v.v. Từ khoảng năm 1925 trở đi, ông bắt đầu phát biểu luận văn liên quan đến Thiền và nghiên cứu về Thiền của ông vẫn tiếp tục kéo dài cho đến cuối đời ông như chúng ta thấy qua bản di cảo Bạt Bùi Hưu Đích Đường Cố Khuê Phong Định Tuệ Thiền Sư Truyền Pháp Bi (跋裴休的唐故圭峰定慧禪師傳法碑), được san hành sau khi ông quá vãng. Đặc biệt, vào năm 1926, ông tiến hành điều tra các văn thư Đôn Hoàng tại Thư Viện Quốc Gia Paris, Thư Viện Anh Quốc London, phát hiện ra bản di văn có liên quan đến Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會) về bản Nam Dương Hòa Thượng Vấn Đáp Tạp Chưng Nghĩa (南陽和尚問答雑徴義) và trở thành nổi tiếng khi cho xuất bản tác phẩm Thần Hội Hòa Thượng Di Tập (神會和尚遺集). Ngoài ra, ông đã cùng với học giả Linh Mộc Đại Chuyết (鈴木大拙, Suzuki Daisetsu, 1870-1966) của Nhật Bản luận tranh về Thiền trong Hội Nghị Đông Tây Triết Học Gia lần thứ 2 được tổ chức tại Đại Học Hawaii vào năm 1949.

hồ thích

3939(1891~1962)安徽績溪人。字適之。曾留學美國。爲民國以來蜚聲中外之思想家。曾得三十五個名譽博士學位。歷任北京大學教授、文學院長、校長、中國公學校長、駐美大使、臺灣中央研究院院長等職。氏治學謹嚴,凡史學、國學、哲學、文學、外交、教育、禪學等皆兼容並治。又主張文學改革,提倡白話文運動,影響深遠。其中國哲學史大綱上卷爲我國哲學史著作之先驅。民國十五年(1926),於法國巴黎國立圖書館、英國大英博物館研究敦煌文獻,發現大量初期禪宗史之文獻。有關之研究論著有菩提達摩考、禪學古史考、跋曹溪大師別傳、神會和尚遺集、楞伽集考等專論。民國五十一年歿,世壽七十二。平生著述繁富,除上記外,另有嘗試集、白話文學史、水經注、四十自述等書,現有胡適文存四卷、胡適手稿十卷行世。其主要佛學研究論著,於其歿後,被彙編爲胡適禪學案一書。 ; (胡適) (1891-1962) Nhà học giả Trung quốc, người huyện Tích khê, tỉnh An huy, tự Thích chi, từng du học nước Mĩ. Ông là nhà tư tưởng nổi tiếng trong và ngoài nước từ thời Dân quốc đến nay, từng được tặng 35 văn bằng Tiến sĩ danh dự, lần lượt giữ các chức vụ như: Giáo sư Đại học Bắc kinh, Viện trưởng viện Văn học, Hiệu trưởng trường Công học Trung quốc, Đại sứ Trung quốc tại Mĩ, Viện trưởng viện Nghiên cứu Trung ương Đài loan… Học vấn của họ Hồ rất sâu rộng, phàm các môn Sử học, Quốc học, Triết học, Văn học, Ngoại giao, Giáo dục, Thiền học, v.v... đều thông suốt. Ông còn chủ trương cải cách văn học, đề xướng cuộc vận động văn Bạch thoại, ảnh hưởng rất to lớn. Ông là người tiên phong trứ tác loại sách Triết học sử Trung quốc. Năm Dân quốc 15 (1926), trong khi nghiên cứu văn hiến Đôn hoàng ở thư viện Quốc lập Ba lê nước Pháp và viện Bảo tàng Đại anh ở nước Anh, ông đã tìm thấy nhiều tư liệu về lịch sử Thiền tông Trung quốc ở thời kì đầu. Ông qua đời vào năm Dân quốc 51 (1962), thọ 72 tuổi. Những tác phẩm của ông gồm có: Bồ đề đạt ma khảo, Thiền học cổ sử khảo, Bạt tào khê đại sư biệt truyện, Thần hội hòa thượng di tập, Lăng già tập khảo, Thường thí tập, Bạch thoại văn học sử, Thủy kinh chú, Tứ thập tự thuật, Hồ thích văn tồn (4 quyển), Hồ thích thủ cảo (10 quyển), Trung quốc triết học sử đại cương….

hồ thích thiền học án

3939日本柳田聖山主編。爲胡適所撰中英文禪學著作之總集。內含菩提達磨考、荷澤大師神會傳、神會和尚語錄、中國禪學的發展、Ch③n Buddhism in China, its History and Method 等二十篇文章。卷首有柳田聖山所撰胡適博士與中國初期禪宗史之研究、胡適博士禪學年譜等二文。 ; (胡適禪學案) Tác phẩm, do Hồ thích soạn, Liễu điền Thánh sơn người Nhật bản thu tập. Nội dung sách này gồm 20 thiên nói về Thiền học, được viết bằng tiếng Anh và tiếng Hoa như: Bồ đề đạt ma khảo, Hà trạch đại sư thần hội truyện, Thần hội hòa thượng ngữ lục, Trung quốc thiền học đích phát triển, Ch’an Buddhism in China, its History and Method...… Ở đầu quyển có 2 bài: Hồ thích bác sĩ dữ Trung quốc sơ kì Thiền tông sử chi nghiên cứu, Hồ thích bác sĩ Thiền học niên phổ, do Liễu điền Thánh sơn soạn.

hồ thực kiện

Hujikan (skt)—Một vương quốc cổ nằm về phía tây nam của Balkh—An ancient kingdom south-west of Balkh.

hồ tô đa

Một loài bùa để chống lại những hơi độc—A charm, or incantation against evil vapours, etc.

hồ tử

1) Một từ mà người Trung Hoa dùng để chỉ rợ Hồ ở phương tây và phương bắc nước Tàu—Hun or Turk, term which Chinese people used to call people in the west and north of China. 2) Tên tiếng lóng của Tổ Bồ Đề Đạt Ma: A nickname for Bodhidharma.

hồ tử hốt

3937(1876~?)湖北沙市人。字瑞霖。法名妙觀。早年留學日本,曾任福建、湖南二省省長。民國八年(1919)因聽太虛大師說法而皈依三寶,並斷葷茹素。生平最崇拜太虛大師,武昌佛學院之興辦,氏亦爲創辦人之一。因久居故都,受蒙古喇嘛熏習,對密法興趣甚濃,民國十四年,大勇於慈因寺成立之「藏文學院」(後改爲留藏學法團),其經費悉由胡氏支助。學法團二十餘人之赴藏經費、生活費,亦由胡氏供給,對促進漢藏文化之溝通,貢獻頗大。民國十九年,聯合華北佛教信徒,成立「華北佛教居士林」,推廣華北佛教弘法事業。民國二十三年,因避寇亂,舉家遷入五臺山。後依喇嘛修餐石法。著有餐石日記。

hồ đạo nhân

Tăng sĩ từ trung Á hay Ấn Độ—Monks from cental Asia or India.

hồ đồng khí

3939又作沙張、沙鑼、䤬鑼、銅鼓、響銅。係爲直徑約六公分乃至三十餘公分,厚度約零點三公分,深度約三公分乃至十二公分左右之薄銅合金。其形扁平,似椀狀,爲讀經、念佛之際敲打所用。其起源不詳,然據宋史禮志第七十二、列傳第二五二所載,或係傳自夷戎之地,故有胡銅器之稱。〔禪林象器箋唄器門銅鑼條〕 ; (胡銅器) Cũng gọi Sa trương, Sa la, Đồng cổ, Hưởng đồng. Loại pháp khí bằng đồng, hình dáng giống cái chén, đường kính từ khoảng 6 đến hơn 30 phân tây, bề dày khoảng 3 phân và sâu từ 3 đến 12 phân, dùng để gõ lúc tụng kinh niệm Phật. Nguồn gốc không được rõ. Cứ theo Tống sử lễ thứ 72 và Liệt truyện 252 ghi, có lẽ khí cụ này đã được truyền từ vùng Di nhung (gọi chung các rợ Hồ), cho nên có tên là Hồ đồng khí. [X. điều Bái khí môn đồng la trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hồi

1) Hồi hoản: To cancel. 2) Trả lại: To give back—To return something. 3) Trở về: To return—To turn back—To revolve.

Hồi chuyển 廻轉

[ja] エテン eten ||| (1) to function variously. (2) Dancing. (3) Revolution, rotating, revolving. => 1. Thực hiện từng chức năng khác nhau theo từng lúc. 2. Sự nhảy múa. 3. Sự xoay vòng, luân phiên.

hồi cơ

3786又作回機。即迴轉機用之意。亦即指傳持佛心印者,迴轉自己之機用,而赴於三界六道輪迴苦界,以行救度眾生之方便利行。 ; (回機) Xoay chuyển cơ dụng. Chỉ cho người truyền trì tâm ấn Phật, xoay chuyển cơ dụng của chính mình mà đi vào 6 đường luân hồi trong 3 cõi để thực hành hạnh phương tiện lợi tha cứu độ chúng sinh.

hồi cư

To return to the homeland.

hồi cố

To look back.

hồi cốt

2306(Uigur)又作回紇。土耳其系種族,分佈於蒙古、甘肅、新疆之間。其全盛時期為八至九世紀,以外蒙古之鄂爾坤(Orkhon)河畔為據點,而進入中亞。該族最初為鐵勒之一部,在突厥統治之下,至隋代時獨立,後隸屬於唐。其後該族分裂為二:一為猖獗於宋、遼、金時代之甘州回鶻與沙洲回鶻,另一為西州回鶻(居東土耳其斯坦,即高昌之地),虔信摩尼教與佛教。 西元八世紀頃,西州回鶻使用起源於粟特(Sogd)文字之回鶻文字,且以此文字書寫佛典,現存經典有金光明經、法華經普門品、彌勒下生經、尊勝陀羅尼經、天地八陽神咒經等,由上述經典之跋文可知,彼等多重譯自藏文、吐蕃文、漢文等。〔宋史列傳第二四九〕 ; (回鶻) Uigur. Cũng gọi Hồi hột. Chủng tộc thuộc tộc Thổ nhĩ kì, sống rải rác ở các vùng Mông cổ, Cam túc, Tân cương. Từ thế kỉ VIII đến thế kỉ IX là thời kì toàn thịnh của bộ tộc này, họ lấy bờ sông Orkhon (Ngạc nhĩ khôn) ở Ngoại mông cổ làm cứ điểm để tiến vào vùng Trung á. Ban đầu, bộ tộc này là một phần của bộ tộc Thiết lặc, dưới sự cai trị của người Đột quyết, đến đời Tùy thì độc lập, rồi lại bị nhà Đường đô hộ. Về sau họ chia làm 2 nhánh: Cam châu Hồi cốt và Sa châu Hồi cốt. Bộ tộc này rất hung hãn, sống vào các thời Tống, Liêu, Kim. Tây châu Hồi cốt, sống ở vùng Tư thản, phía đông Thổ nhĩ kì, tức là nước Cao xương ngày xưa. Bộ tộc này sùng tín Ma ni giáo và Phật giáo. Khoảng thế kỉ thứ VIII, Tây châu Hồi cốt sử dụng loại văn tự có nguồn gốc từ văn tự Túc đặc (Sogd) và dùng thứ văn tự này để viết chép kinh Phật, những kinh điển hiện còn ấy gồm có: Kinh Kim quang minh, phẩm Phổ môn, kinh Pháp hoa, kinh Di lặc hạ sinh, kinh Tôn thắng đà la ni, kinh Thiên địa bát dương thần chú, v.v... Căn cứ vào lời Bạt của các kinh nói trên, người ta biết các kinh này phần nhiều được dịch lại từ các bản dịch Tây tạng, Thổ phồn và Hán, chứ không dịch trực tiếp từ tiếng Phạm. [X. Tống sử liệt truyện 249].

hồi gia

To go home.

hồi giáo

Islamism, Mahometism Thanh chơn giáo Tôn thờ thánh Allah, do ngài Mahomet (571 - 632) sáng lập. ; Mohammedanism.

hồi hưu

To retire on a pension.

hồi hương

To return to one's native land (homeland).

hồi hướng

3783<一>梵語 parīṇāma。又作回向、轉向、施向。以自己所修之善根功德,迴轉給眾生,並使自己趨入菩提涅槃。或以自己所修之善根,爲亡者追悼,以期亡者安穩。諸經論有關迴向之說甚多。 (一)依般若空之說,若了無迴向者、迴向法、迴向處之心相,方可謂真迴向。鳩摩羅什譯小品般若經迴向品(大八‧五四八中):「無有法能迴向法,是名正迴向阿耨多羅三藐三菩提。(中略)諸佛不許取相迴向故,(中略)是迴向取相分別故,名爲雜毒。」 (二)慧遠之大乘義章卷九分迴向爲三種:(1)菩提迴向,迴己所修之一切善法,以趣求菩提之一切種德。(2)眾生迴向,念眾生故,迴己所修一切善法,願以與他。(3)實際迴向,以己之善根迴求平等如實法性。 (三)於華嚴經疏卷二十六中,澄觀列舉十種迴向之名,而總括爲三:(1)菩提迴向,即迴因向果、迴劣向勝、迴比向證。(2)眾生迴向,即迴自向他、迴少向多、迴自因行向他因行。(3)實際迴向,即迴事向理、迴差別行向圓融行。除上述八種迴向外,迴世(世俗事)向出世(求佛道)、迴順理事行向理所成事二迴向則通於果(即菩提迴向)及實際迴向。 (四)依淨土宗之說,迴向有二:(1)往相迴向,迴施自己過去及今生之功德於眾生,而願共生淨土。(2)還相迴向,已生淨土後,生大悲心,再迴入此土教化眾生,以期共向佛道。 (五)道綽於安樂集卷下,解釋迴向有如下六種:(1)以所修諸業迴向阿彌陀佛,往生淨土,待得六通後,再返世間救度眾生。(2)迴因向果。(3)迴下向上。(4)迴遲向速。(5)迴施眾生悲念向善。(6)迴入去卻分別之心。〔無量壽經卷下、往生論註卷下、華嚴經探玄記卷八〕 <二>又作十迴向位,乃菩薩階位之一。(參閱「菩薩階位」5221) ; Pariṇāmayati (S), Dedication Xem Biến. ; Parinàmanà (S). To transfer, to dedicate to. ; Parinamana (skt)—To turn towards—To turn something from one person or thing to another—Transference of merit, especially of one's merits to another. (A) Ý nghĩa của hồi hướng—The meanings of Parinamana: 1) Demitting the good to all others—Dedication—Hồi hướng công đức thiện lành của một người hay một vật, đến cho một người hay một vật khác: Transfer of merit—To turn towards—To turn something from one person or thing to another 2) Hồi hướng công đức là mục tiêu hay hướng đi mà Bồ Tát và Phật đã tận tụy tu hành cứu độ chúng sanh. Đây là một trong những ý niệm đặc biệt nhất trong Phật Giáo Đại Thừa: Transference of merit—The goal or direction of bodhisattva or Buddha which devotes all merits to the salvation of others. This is one of the most outstanding ideas of Mahayana Buddhism. (B) Bài kệ hồi hướng—The gatha of parinama: Tụng kinh công đức thù thắng hạnh. Vô biên thắng phước giai hồi hướng. Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh Tốc vãng vô lượng quang Phật sát. Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu. Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ. Thế thế thường hành Bồ tát Đạo. Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung. Cửu phẩm Liên Hoa vi phụ mẫu. Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh. Bất thối Bồ tát vi bạn lữ. Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhứt thiết. Ngã đẳng dử chúng sanh. Giai cọng thành Phật đạo. I dedicate the merit and virtue of reciting sutras. With all its superior, limitless blessing. With all the universal vow that all beings in all realms. Will quickly go to the Land of the Buddha of Limitless Light (Amitabha). I vow to eradicate the three obstructions and all afflictions. I vow to obtain wisdom and to obtain true understanding. I make a universal vow that the obstacles of my offenses will be totally eliminated. And that in life after life we shall constantly practice the path of the Bodhisatvas. We vow that they will be born in the Western Pure Land. With the nine grades of Lotus flowers as parents. When the flowers open, they will see the Buddha and become enlightened to the unproduced. Anh the irreversible Bodhisattvas will be their companions I vow that merit and virtue from this. Will go everywhere and reach everyone. I and all other sentient beings. Will all realize the Buddha-path. ; (回向) I. Hồi Hướng. Phạm: Parìịàma. Cũng gọi Chuyển hướng, Thí hướng. Đem công đức thiện căn do chính mình tu được chuyển lại cho chúng sinh để cùng được lợi ích như mình, gọi là hồi hướng. Trong các kinh luận có nhiều thuyết nói về hồi hướng. 1. Theo thuyết Tính không của hệ tư tưởng Bát nhã, nếu hồi hướng mà không thấy có người hồi hướng, có pháp để hồi hướng, có nơi chốn để hồi hướng, thì mới được gọi là Hồi hướng chân thực. Phẩm Hồi hướng trong kinh Tiểu phẩm bát nhã do ngài Cưu ma la thập dịch (Đại 8, 548 trung), nói: Không có một pháp nào có thể gọi là pháp hồi hướng, mới được gọi là chính hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (…) Vì chư Phật dạy hồi hướng không được chấp tướng, (...), nếu hồi hướng mà còn chấp tướng thì gọi là Tạp độc 2. Đại thừa nghĩa chương quyển 9 của ngài Tuệ viễn chia hồi hướng làm 3 loại: a. Bồ đề hồi hướng: Đem tất cả thiện pháp mà mình tu hành để hướng cầu Bồ đề. b. Chúng sinh hồi hướng: Vì thương chúng sinh nên nguyện đem tất cả pháp lành mà mình tu được để ban cho họ. c. Thực tế hồi hướng: Đem thiện căn của mình hồi hướng để cầu pháp tính bình đẳng như thực. 3. Trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 26, ngài Trừng quán nêu ra 10 loại hồi hướng, nhưng thâu tóm lại còn 3 loại: a. Bồ đề hồi hướng: Xoay nhân hướng tới quả, xoay kém hướng hơn, xoay tỉ hướng chứng. b. Chúng sinh hồi hướng: Xoay mình hướng tới người, xoay ít hướng nhiều, xoay nhân hạnh của mình hướng tới nhân hạnh của người. c. Thực tế hồi hướng: Xoay sự hướng lí, xoay hạnh sai biệt hướng hạnh viên dung. Ngoài 8 loại hồi hướng trên đây, 2 loại còn lại là: Xoay thế (việc thế tục) hướng xuất thế (cầu Phật đạo) và Xoay thuận lí sự hạnh hướng lí sở thành sự. Hai loại Hồi hướng này thông cả quả Bồ đề hồi hướng và Thực tế hồi hướng. 4. Theo thuyết của tông Tịnh độ thì có 2 loại Hồi hướng: a. Vãng tướng hồi hướng: Đem công đức của mình ở đời quá khứ và đời hiện tại hồi hướng cho chúng sinh, nguyện cùng được sinh về Tịnh độ phương tây. b. Hoàn tướng hồi hướng: Sau khi đã vãng sinh Tịnh độ, phát tâm đại bi trở lại cõi Sa bà, giáo hóa chúng sinh, cùng hướng về Phật đạo. 5. Trong An lạc tập quyển hạ, ngài Đạo xước nêu ra 6 loại hồi hướng: a. Đem các công đức do mình tu được hồi hướng đức Phật A di đà cầu sinh về Tịnh độ, để sau khi được 6 thần thông, trở lại thế gian cứu độ chúng sinh. b. Hồi nhân hướng quả. c. Hồi hạ hướng thượng. d. Hồi chậm hướng nhanh. e. Hồi hướng cho chúng sinh bi niệm hướng thiện. g. Hồi hướng dứt hết tâm phân biệt. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.8]. II. Hồi Hướng.Cũng gọi Thập hồi hướng vị. Mười giai vị tu hành của Bồ tát. (xt. Bồ Tát Giai Vị).

hồi hướng các hạnh lành cầu về tịnh độ

To dedicate (transfer) all the merits and virtues towardrebirth in the Pure Land.

hồi hướng công đức

Paṭidāna (S), Dedication of merits. ; Patidàna (S). To transfer the merit to. Transferring merit.

hồi hướng lợi ích tha hành

3784又作回向利益他行、利益他迴向行。指迴施自己所得之功德,以利益其他眾生之行爲。乃往生淨土之五念門中第五迴向門之行業。五念門中,前四門乃自利之行業,唯此第五門爲利他之行業。其行相有往相迴向與還相迴向二種,前者即迴施自己過去及今生所修之功德於眾生,而願共生淨土;後者指已生淨土後,生大悲心,再迴入此土教化眾生,以期共向佛道。〔淨土論(世親)、往生論註卷下〕 ; (回向利益他行) Cũng gọi Lợi ích tha hồi hướng hạnh. Hạnh nguyện đem công đức của mình đã đạt được, hồi hướng làm lợi ích cho chúng sinh. Đây là hạnh nguyện của môn Hồi hướng thứ 5 trong 5 Niệm môn thuộc về việc vãng sinh Tịnh độ. Hành tướng của môn này có 2 loại: Vãng tướng hồi hướng và Hoàn tướng hồi hướng. [X. luận Tịnh độ (Thế thân); Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Hồi Hướng).

hồi hướng môn

3785爲五念門之一。又作回向門。即將自己之功德善根,迴向於一切眾生,以拔除眾生之苦惱,並願與眾生同生安樂淨土者,稱爲迴向門。往生論註卷下,將此修行門分爲往相、還相二種,即:(一)以己之功德迴施一切眾生,並願與眾生同生淨土者,稱爲往相迴向。(二)於往生淨土後,得奢摩他(止)、毘婆舍那(觀)之方便力成就,而又迴入娑婆世間,以教化眾生共向佛道者,稱爲還相迴向。〔無量壽經優婆提舍願生偈、往生論註卷下、往生禮讚〕(參閱「五念門」1109) ; (回向門) Đem công đức thiện căn của mình hồi hướng cho tất cả chúng sinh, cầu diệt trừ khổ não cho họ và nguyện cùng sinh về Tịnh độ an vui. Là một trong 5 Niệm môn. (xt. Ngũ Niệm Môn, Hồi Hướng).

hồi hướng phát nguyện tâm

3785又作回向發願心。爲三心之一。指行者以所修之善根功德,迴向於西方淨土,而發往生淨土之願心;屬自力三心之一。出自觀無量壽經。又迴轉自力之執情,向於他力本願之大道,而作得生之想者,亦稱迴向發願心;屬他力三心之一。(參閱「三心」532) ; (回向發願心) Tâm phát nguyện đem công đức thiện căn của mình tu được hồi hướng về Tịnh độ để cầu được vãng sinh. Là một trong 3 tâm tự lực nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Ngoài ra, xoay chuyển tình chấp tự lực hướng về bản nguyện tha lực của đức Phật A di đà mà phát khởi ý tưởng vãng sinh, thì cũng gọi là Hồi hướng phát nguyện tâm, thuộc một trong 3 tâm tha lực. (xt. Tam Tâm).

hồi hướng phước báu

Pattidāna (S).

hồi hướng tịnh độ

Transference of merits to the Pure Land—Sau khi niệm Phật, hành giả phải dùng tâm chí thành hồi hướng. Hành giả có thể nguyện phát tâm Bồ đề, một lòng quy mạng Đức A Di Đà, và sanh về cõi Tây phương Tịnh Độ. Sau đó hành giả dùng tâm chí thành lập lại lời nguyện thứ 18 trong Tứ Thập Bát nguyện của Đức A Di Đà như sau—After recitation with an utterly sincere mind, practictioner should transfer the merits by promising to develop the Bodhicitta (Bodhi mind) and earnestly taking refuge in Amitabha Buddha and seeking rebirth in the Pure Land, then making the 18th vow of Amitabha Buddha as follows:• “Nếu chúng sanh nào muốn về nước ta, hết lòng xưng danh cho đến mười lần, như không được sanh về, ta thề không thành Phật”—“If any sentient beings wishing to be reborn in my land, recite my name with utmost sincerity up to ten times, yet doesn't achieve rebirth, I will not become a Buddha.” • Sau khi lập lại lời nguyện của Phật xong, hành giả tự phát nguyện: “Con nguyện nương nhờ Phật lực, dứt trừ chướng ngại, tội diệt phước sanh, lúc lâm chung biết trước ngày giờ, cũng như được Phật và Thánh chúng tiếp dẫn vãng sanh, thượng phẩm thượng sanh, chóng ngộ Phật thừa cứu độ chúng sanh muôn loài.”—After repeating the 18th vow of Amitabha, practictioner should make a self-vow as follow: “I vow to seek the assistance of the Buddha's compassionate power to transgression and all other obstructions, at the same time to develop merits and virtues. I will have the ability to know in advance the day and time of my passing away, I will then be welcome and escorted by Amitabha Buddha and all saints, to swiftly awaken the Buddhahood and rescue all other sentient beings.”

hồi hướng viện

2305位於日本東京都墨田區東兩國。又稱國豐山無緣寺。屬於日本之淨土宗。日本明曆三年(1657),江戶大火,罹難者多達十萬七千餘人,為安葬死者,幕府乃建造此寺,供奉阿彌陀佛,以念佛超渡之。江戶末期,始辦角力練習會,後遂發展為「國技角力館」。

hồi hướng văn

3784又作回向文、回向偈。乃課誦或法會結束時,將讀經之功德迴向於自他或死者,使其成佛往生之文。例如法華經化城喻品所載之偈(大九‧二四下):「願以此功德,普及於一切;我等與眾生,皆共成佛道。」另如唐朝善導之觀經玄義分序偈(大三七‧二四六上):「願以此功德,平等施一切;同發菩提心,往生安樂國。」皆爲一般常唱誦之迴向文。迴向文除短句外,亦有長文者。〔無量壽經卷下、十二禮文(龍樹)、往生禮讚偈〕 ; (回向文) Cũng gọi Hồi hướng kệ. Bài kệ được đọc lúc kết thúc khóa lễ hoặc pháp hội, phát nguyện đem công đức tụng kinh, trì chú hồi hướng cho tất cả chúng sinh đều được vãng sinh thành Phật. Bài kệ trong phẩm Hóa thành dụ, kinh Pháp hoa (Đại 9, 24 hạ): Nguyện đem công đức này, Hướng về khắp tất cả, Đệ tử và chúng sinh, Đều trọn thành Phật đạo . Còn bài kệ trong bài tựa Quán kinh huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo (Đại 37, 246 thượng) là: Nguyện đem công đức này Bình đẳng thí tất cả, Cùng phát tâm Bồ đề Sinh về nước An lạc .

hồi hướng đà la ni

3785又作迴向輪陀羅尼、回向陀羅尼。以諸善根迴向一切眾生,而消滅彼等惡業重罪之陀羅尼。其真言爲:唵(oṃ,歸命)娑蛱囉娑蛱囉(smara smara,憶念憶念)微蛱曩(vimāna)沙囉(sara,堅牢)摩訶斫迦囉(mahā-cakra,大輪)嚩(va,種子)吽(hūṃ,種子)。〔守護經卷一、迴向輪經〕 ; (回向陀羅尼) Cũng gọi Hồi hướng luân đà la ni. Loại Đà la ni được trì tụng để hồi hướng thiện căn cho tất cả chúng sinh, cầu tiêu diệt các ác nghiệp trọng tội của họ. Đà la ni ấy là:Án (oô, qui mệnh) sa ma la sa ma la (smara smara, ức niệm ức niệm) vi ma nẵng (vimàna) sa ra (sara, kiên lao) ma ha chước ca ra (mahà-cakra, đại luân) phạ (va, chủng tử) hồng (huô, chủng tử). [X. kinh Thủ hộ Q.1; kinh Hồi hướng luân].

Hồi hướng 廻向

[ja] エコウ ekō ||| (1) To return (transfer) one's merit to another. (2) To return one's merit to the Buddha-nature, to the three Jewels, to True Thusness, etc. (3) To transfer the merit of chanting a sutra to a dead man so that he may rest in peace. (4) To tend toward; to go toward. => 1. Chuyển công đức mình có được cho người khác. 2. Chuyển công đức mình đến Phật tính, Tam bảo, Chân như v.v... 3. Đem công đức tụng kinh hồi hướng cho người chết để họ được an trú nơi cõi giới lành. 4. Hướng về, đi về phía.

Hồi hồi 廻廻

[ja] エエ e-e ||| (1) Go round and round. (2) Bright, brilliant, dazzling. (3) Again and again. (4) Large. => 1. Đi vòng vòng. 2. Rạng rỡ, chói loà, sáng chói. 3. Nhiều lần.

hồi hỗ bất hồi hỗ

2304為石頭禪之主要主張,即在禪理之基礎上糅合華嚴宗十玄緣起之說。回互,指事物間相互涉入,相依相存,無所區別,相當於華嚴宗之理事無礙、事事無礙;不回互,指事物各有分位,各住自性,獨立自存,相當於華嚴宗之理事各立、事事住位。回互不回互,則顯示回互中有不回互,不回互中亦含有回互,藉以說明相依相存與獨立自存之理。 在佛教之境界中,僅契合「性」、「理」之認識,並非最高之覺悟,尚須在「理」所衍生之一切事相上,覺知事物間仍表現為回互不回互之關聯。亦即能觀「事」之差別,又能觀由「理」統一之無差別,二者相互結合,方為最高境界。〔景德傳燈錄卷三十參同契〕 ; (回互不回互) Chủ trương trọng yếu của Thiền Thạch đầu, dung hợp Thiền lí với thuyết Thập huyền duyên khởi của tông Hoa nghiêm. Hồi hỗ nghĩa là muôn vật trong vũ trụ đan dệt với nhau, nương vào nhau mà tồn tại, không thể tách rời, tương đương với nghĩa Lí sự vô ngại, Sự sự vô ngại của tông Hoa nghiêm. Còn Bất hồi hỗ nghĩa là mỗi sự vật đều có vị trí riêng, mỗi mỗi trụ nơi tự tính của chính nó, tồn tại độc lập, tương đương với Lí sự các lập, Sự sự trụ vị của tông Hoa nghiêm. Hồi hỗ bất hồi hỗ là hiển bày trong Hồi hỗ có Bất hồi hỗ, trong Bất hồi hỗ cũng hàm có Hồi hỗ, dùng để nói về lí vạn vật nương vào nhau mà tồn tại, nhưng đồng thời cũng tồn tại một cách độc lập. Đối với cảnh giới của Phật giáo, sự nhận thức khế hợp với Tính và Lí không thôi thì chưa phải là sự giác ngộ tối cao, mà còn phải từ nơi tất cả sự tướng do Lí diễn sinh, biết rõ mối tương quan hồi hỗ bất hồi hỗ của muôn vật. Tức là quán xét thấy rõ Sự sai biệt và Lí vô sai biệt là một, hoàn toàn dung hợp với nhau: Đó mới là cảnh giới giác ngộ tối cao. [X. Tham đồng khế trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.30].

hồi hộp

To tremble with excitement.

hồi kinh

To come back to the capital.

hồi kị

2305指人死亡後每年之忌日。如三回忌、七回忌、五十回忌、百回忌等。此回忌之算法,係由人死亡之當日(即忌日)開始為一次(一回),故至二周年之忌日時,稱為三回忌;依此類推,可知六周年之忌日,稱為七回忌,九十九周年之忌日,稱為百回忌等。 ; (回忌) Ngày giỗ hằng năm của người chết. Về cách tính Hồi kị của Trung quốc, thì ngay ngày chết bắt đầu tính là lần thứ nhất (1 lần), bởi vậy, đến ngày giỗ tròn 2 năm, thì gọi là Tam hồi kị (giỗ lần thứ 3); cứ thế suy ra thì biết ngày giỗ tròn 6 năm, gọi là Thất hồi kị (giỗ lần thứ 7); ngày giỗ tròn 99 năm, gọi là Bách hồi kị (giỗ lần thứ 100), v.v

hồi kỵ

The days on which the day of death is remembered.

hồi loan tự

2306位於山西介休縣城西南綿山下。原稱空王靈溪寺。後因唐太宗欲登綿山禮佛,至此而回鑾,故僖宗賜名回鑾寺。五代時遭兵燹,宋建隆三年(962)重建,改稱「興國寺」,金天會至大定年間(1123~1189)於故址再次重建。大殿上有「大元國至大元年歲次戊申二十七日壬午丁未時重建」題記。明清時亦曾修葺。寺境中之龍槐、翠柏郁郁蔥蔥,曾被列為介休十景及綿山十景之首。

hồi long tự

3786位於臺灣桃園縣龜山鄉。據傳,清朝道光年間,新莊居民於塔寮坑工作時,發現石觀音像一尊,獻予賢固法師,法師即於現址構築草庵供奉。至民國十四年(1925),由義妙、素淨二尼師合力整建,定名迴龍寺。五十七年,皇定、能定二尼師同時晉山出任住持。

hồi lý hướng sự

To turn from theory to practice.

hồi lễ

2306即於接受他人之禮遇時,亦給予對方同等之對待者,稱為回禮。又作還禮、復禮。敕修百丈清規卷五遊方參請條(大四八‧一一四○上):「參頭領眾至客司,(中略)歸旦過,知客尋往回禮。」用以張貼回禮之通告之榜,稱為回禮榜。〔禪苑清規卷七請立僧條、禪林象器箋禮則門〕 ; Đáp lễ—To return or acknowledge a courteousy or gift. ; (回禮) Cũng gọi Hoàn lễ, Phục lễ. Đáp lại sự trọng đãi của người khác dành cho mình. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5, điều Du phương tham thỉnh (Đại 48, 1140 thượng), nói: Vị Tham đầu dẫn chúng đến Khách ti (nơi ở của vị Tri khách), (…) trở về. Sáng hôm sau, vị Tri khách đến hồi lễ . Tấm bảng dùng để dán tờ thông báo việc hồi lễ gọi là Hồi lễ bảng. [X. điều Thỉnh lập tăng trong Thiền uyển thanh qui Q.7; môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hồi môn

Dower—Marriage settlement in favour of daughter.

hồi ngộ

To turn and apprehend—To be converted to Buddhism.

hồi nhân chuyển quả

3785又作回因轉果。即迴轉因果之意。亦即轉迷開悟之意。即修正惡因惡果,使其轉變成善因善果者,是爲迴因轉果。入眾日用清規(卍續一一一‧四七三下):「合掌想念食畢,偈云:『飯食訖已色力充,威震十方三世雄;迴因轉果不在念,一切眾生獲神通。』」 ; (回因轉果) Xoay chuyển nhân ác quả ác thành nhân thiện quả thiện. Cũng có nghĩa là chuyển mê khai ngộ. Nhập chúng nhật dụng thanh qui (Vạn tục 111, 473 hạ), nói: Thụ trai xong rồi, chắp tay tưởng niệm: Ăn xong uy lực mạnh vô cùng, Chấn động mười phương đấng Đại hùng Hồi nhân chuyển quả tâm vô niệm Chúng sinh hết thảy được thần thông .

hồi nhân hướng quả

3785爲道綽之安樂集卷下所說六種迴向之一。即迴轉所修之因行,轉向所求之果。(參閱「六種迴向」1304) ; Chuyển từ nhân đến quả—To turn from cause to effect. ; (回因向果) Xoay nhân hạnh mình đang tu, hướng tới quả vị mình mong cầu. Là một trong 6 thứ hồi hướng nói trong An lạc tập quyển hạ của ngài Đạo xước. (xt. Lục Chủng Hồi Hướng).

hồi nào

When ?

hồi nãy

A moment ago—Just now.

hồi phong

2305日本天台宗修驗道之阿闍梨,巡迴禮拜比叡山諸峰之堂塔、神祠之修行方法。又稱回峰行、行門。修行此法之阿闍梨,稱為回峰行者、行門阿闍梨。 回峰一語,係出自金剛頂經一字頂輪王瑜伽一切時處念誦成佛儀軌。據傳回峰原為修驗道之祖師役小角所創,貞觀年中,相應和尚(831~918)承襲之,並加以整治行軌,由比叡山開始行回峰之行法,其後師資相承皆修行此法,以迄於今。另一說則謂,回峰係起源於最澄在京都東山仿設印度之靈山、祇園、雙林寺等三靈蹟,而巡迴禮拜之。 回峰行法係以不動明王為本尊,修日日不動立印之祕法,穿著檜笠、草鞋,累積山林中之苦行,證得三密加持之法驗,以廣施鎮護國家、濟世利民之法益。此行法以一千日為一期,若行滿五百日者,稱為白帶行者,此為下根之滿;行滿七百日者,稱為常行滿,此為中根之滿;行滿一千日者,稱為最上大滿行者、大行滿,此為上根之滿。大行滿之行者能進入清涼殿加持聖體,稱為玉體加持,此為行門中最榮譽者;又因行者能穿著草鞋入殿參拜,故稱為土足參內。回峰行法流行於室町時代,至德川時代大盛。〔北嶺回峰前加行次第、當山巡禮靈所法施記、巡禮所作次第、北嶺行門記〕 ; (回峰) Cũng gọi Hồi phong hành, Hành môn. Phương pháp tu hành bằng cách đi lễ bái chung quanh các chùa tháp, đền thờ trên núi Tỉ duệ của các vị A xà lê thuộc phái Tu nghiệm đạo, tông Thiên thai Nhật bản. Vị A xà lê tu hành theo cách ấy gọi là Hồi phong hành giả, Hành môn a xà lê. Danh từ Hồi phong có xuất xứ từ Kim cương đính kinh nhất tự đính luân vương du già nhất thiết thời xứ niệm tụng thành Phật nghi quĩ. Theo truyền thuyết, Hồi phong vốn do Tổ sư của phái Tu nghiệm đạo là ngài Dịch tiểu dác sáng lập, hòa thượng Tương ứng (831-918) kế thừa, đồng thời sửa lại phép tắc, từ đó núi Tỉ duệ bắt đầu thực hành pháp Hồi phong và thầy trò truyền thừa cho đến ngày nay. Còn có thuyết cho rằng Hồi phong bắt nguồn từ việc ngài Tối trừng phỏng theo 3 Thánh tích của Ấn độ là núi Linh thứu, tịnh xá Kì viên và chùa Song lâm mà thiết lập tại Đông sơn, Kyoto, để lễ bái. Pháp tu Hồi phong thờ Bất động minh vương làm Bản tôn, hành giả tu bí pháp Nhật nhật bất động lập ấn, đầu đội nón lá thông, chân mang giầy cỏ, tu khổ hạnh nhiều năm trong rừng núi, chứng nghiệm pháp Tam mật gia trì. Pháp tu này lấy 1000 ngày làm kì hạn, người tu được 500 ngày, gọi là Bạch đới hành giả (Hành giả đai trắng), là Mãn hạ căn; người tu đủ 700 ngày, gọi là Thường hành mãn, tức là Mãn trung căn; người tu đủ 1000 ngày, gọi là Tối thượng đại mãn hành giả, Đại hành mãn, tức là Mãn thượng căn. Hành giả Đại hành mãn có thể tiến vào điện Thanh lương gia trì Thánh thể, gọi là Ngọc thể gia trì, đó là người vinh dự nhất trong Hành môn. Ngoài ra, hành giả được mang giầy cỏ vào điện tham bái nên gọi là Thổ túc tham nội. Pháp tu Hồi phong được lưu hành ở thời đại Thất đinh, đến thời đại Đức xuyên thì cực thịnh. [X. Bắc lãnh hồi phong tiền gia hành thứ đệ; Đường sơn tuần lễ linh sở pháp thí kí; Tuần lễ sở tác thứ đệ; Bắc lãnh hành môn kí].

hồi phục

To recover—To recuperate.

hồi phục nan

3783迴伏,又作洄澓、迴復、洄洑、回復、回伏,爲水之旋流或逆流之意;引申爲輪迴或退轉之意。難,爲災難之意。迴伏難,即指輪迴之難,或退轉之難。亦即指於生死海中旋流輪迴之難,或指至佛果之途中,二乘等退轉之難。據十住毘婆沙論卷一載,眾生於生死大海中旋流洄澓,隨業往來,無有休止。另據法華玄義(會本卷三上)載,三世回復,猶如車輪,輪轉不停。〔十地經論卷四、往生論註卷下、慧琳音義卷十三〕 ; (回伏難) Hồi phục nghĩa là dòng nước xoáy hoặc dòng nước ngược, từ đó dẫn đến nghĩa luân hồi hoặc thoái chuyển. Nạn nghĩa là chướng nạn, tai nạn. Hồi phục nạn chỉ cho chướng nạn luân hồi, hoặc chướng nạn thoái chuyển. Cũng tức là chỉ cho chướng nạn luân hồi trong dòng nước xoáy của biển sống chết, hoặc chỉ cho chướng nạn trở lui của hàng Nhị thừa trên đường tiến đến quả Phật. Cứ theo luận Thập trụ tì bà sa quyển 1, thì chúng sinh luân hồi trong dòng nước xoáy của biển sống chết, theo nghiệp qua lại, không bao giờ dừng nghỉ. [X. Thập địa kinh luận Q.4; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Tuệ lâm âm nghĩa Q.13].

hồi quang biến chiếu

See Hồi quang phản chiếu in Vietnamese-Englishe Section.

hồi quang phản chiếu

2304禪林用語。又作迴光反照。指驀然回首,直下照見自心之靈性。臨濟錄(大四七‧五○二上):「儞言下便自回光返照,更不別求,知身心與祖佛不別。」景德傳燈錄卷三十石頭草庵歌(大五一‧四六一下):「住此庵,休作解,誰誇鋪席圖人買?迴光返照便歸來,廓達靈根非向背。」又「回光返照」亦含日落時餘暉反射之意。今轉而比喻人病危臨終之前,忽然發揮殘餘之生命力,精神頓時顯現旺盛之狀態。 ; To turn the light inwards on oneself, concern oneself withone's own duty. ; Hồi quang biến chiếu—Phản quang tự kỷ hay tự soi lại lấy mình—To turn the light inwards on oneself, or to concern oneself with one's own duty. ; (迴光返照) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tự chiếu soi lại tâm tính. Lâm tế lục (Đại 47, 502 thượng), ghi: Ngay nơi lời nói, ông tự hồi quang phản chiếu, không tìm cầu gì khác, thì biết được thân tâm mình không khác gì với Phật tổ . Thạch đầu thảo am ca trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30 (Đại 51, 461 hạ), nói: Ở am này, thôi giảng giải. Ai khoe hàng quán mua người vẽ? Hồi quang phản chiếu liền biết đường về. Rỗng suốt tính linh chẳng hướng ngoại .

hồi qui

To go back—To return.

hồi sinh

To come to life again—To resuscitate.

hồi sự hướng lý

To turn form practice to theory.

hồi thiện tự

2305位於臺灣桃園楊梅鎮。清光緒二十六年(1900),由雪滿法師開山創建。民國四十二年(1953),心妙法師晉任第三代住持,翌年全寺整修。五十二年增建納骨堂、藥師殿、安養堂、延壽堂等,費時數載,寺貌一新。 ; (回善寺) Chùa ở dưới ngọn Tích thúy, phía tây nam chân núi Thái thất Tung sơn, huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc, là đạo tràng của tông Tào động, cùng với các chùa Thiếu lâm và chùa Tung nhạc núi Thiếu thất là những chùa danh thắng ở Tung sơn. Cứ theo Tung sơn Hội thiện tự trùng tu Phật điện bi kí được khắc vào năm Khai bảo thứ 5 (972) đời Bắc Tống, thì chùa này vốn là Li cung, nơi nghỉ mát của vua Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy, về sau vua cúng để làm chùa. Khoảng năm Khai hoàn (581- 600) đời Tùy, chùa được đổi tên là chùa Thiện hội. Nhưng theo Thiện hội tự phù đồ minh, khắc vào tháng 7 năm Thần qui thứ 3 (520) đời Hậu Ngụy và Thiện hội tự bi, khắc vào năm Vũ bình thứ 7 (576) đời BắcTề, thì tên chùa Thiện hội đã có trước đời Tùy. Từ đời Đường các vị Thiền tăng về đây trụ trì mỗi ngày một đông. Như ngài Đạo an là môn hạ của Ngũ tổ Hoằng nhẫn thị tịch vào năm Cảnh long thứ 2 (708); ngài Tịnh tạng là đệ tử của Lục tổ Tuệ năng được người đời sau tôn là Tổ thứ 7, thị tịch vào năm Thiên bảo thứ 5 (746); ngài Cảnh hiền là đệ tử nối pháp của thiền sư Thần tú, thị tịch vào năm Khai nguyên 11 (723), v.v... Ngoài ra, vào đầu đời Đường, thiền sư Nhất hạnh và luật sư Nguyên đồng có thiết lập đàn giới Ngũ Phật chính tư duy ở chùa này, từ đó chùa trở nên hưng thịnh một thời, được gọi là Lạc vực đệ nhất, về sau suy vi dần. Đến khi ngài Thừa như từ chùa An quốc ở Thượng đô về trụ trì, chùa lại được phục hưng, hằng năm kiến lập giới đàn phương đẳng, giảng dạy giới luật. Vào năm Đại lịch thứ 2 (767), triều đình cho phép lập đàn giới Lưu li ở phía tây chùa, số người thụ giới hàng năm đạt tới hơn nghìn vị; thiền sư Triệu châu Tùng thẩm cũng thụ giới ở đây và tại đàn giới này, ngài Nguyên khuê truyền giới cho thần núi. [X. Kim thạch tụy biên Q.94, Q.95; Bồ đề đạt ma tung sơn sử tích đại quan; China văn hóa sử tích Q.2; Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ)].

hồi thí

3785迴轉己之功德而施於眾生,使往生淨土。其意有二:(一)自佛迴施予一切眾生。(二)自一眾生迴施予其他之眾生。〔往生論註卷下〕 ; See Hồi Hướng. ; (回施) Đem công đức của mình bố thí cho chúng sinh để họ được sinh về Tịnh độ. Hồi thí có 2 nghĩa: 1. Phật hồi thí cho tất cả chúng sinh 2. Chúng sinh này hồi thí cho chúng sinh khác. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].

hồi thí hướng thiện

3786將己之善根迴施予一切眾生,以期共同向善。(參閱「迴向」3784) ; (回施向善) Đem công đức thiện căn của mình ban bố cho tất cả chúng sinh để mong mọi người cùng nhau hướng thiện. (xt. Hồi Hướng).

hồi thú

Hồi tâm hướng theo đạo Phật—To turn from other things to Buddhism.

hồi thế hướng xuất thế

To turn from this world to what is beyond this world—To turn from the worldly to the unworldly.

hồi tiểu hướng đại

Chuyển từ tự lợi đến lợi tha—To turn from self-benefit to benefiting others.

hồi tránh luận

3786梵名 Vigraha-vyāvartanī(論破質疑之意)。全一卷。龍樹(梵 Nāgārjuna)著,漢譯係後魏毘目智仙與瞿曇流支於興和三年(541),在鄴都金華寺所譯出。收於大正藏第三十二冊。本論爲龍樹所著五部論之一,有七十二偈,每一偈均有龍樹所作之註釋。內容分二部分:一爲反對論者之質疑,二爲對質疑之批駁。前者乃對大乘教學「一切法空無自性」(緣起)之根本命題,加以反駁論難者;後者則係龍樹對此論難一一加以論破,而明一切法無自性,爲因緣所生之學說。以上論項有十種,其中最主要之部分爲有關無自性之闡述,以及自性(實體)成立不成立之論述,對反對論者之正理學派而言,本書可謂係正理學派與龍樹間之論諍。 ; Vivādaśamana śāstra (S) Tên một bộ luận kinh. ; (回諍論) Phạm: Vigraha-vyàvartanì.Tác phẩm,1 quyển, do ngài Long thụ (Phạm: Nàgàrjuna) soạn, 2 ngài Tì mục trí tiên và Cù đàm lưu chi dịch vào năm Hưng hòa thứ 3 (541) đời Hậu Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 31.Toàn bộ sách có 72 bài kệ, mỗi bài đều do chính tác giả chú thích. Nội dung gồm 2 phần: 1. Phần nghi ngờ chất vấn Luận giả. 2. Phần bác bỏ các điều nghi ngờ chất vấn ấy. Phần 1 nêu ra những điều nghi ngờ, chất vấn của đối phương về mệnh đề căn bản: Tất cả pháp không vô tự tính (duyên khởi) trong giáo lí Đại thừa. Phần 2 thuyết minh giáo nghĩa Tất cả pháp đều do nhân duyên giả hòa hợp mà sinh, không có tự tính để bác bỏ tất cả luận điểm của đối phương. Hai phần trên đây có 10 mục, nhưng chủ yếu nhất là nói rõ về lí Vô tự tính và tự tính (thực thể) thành lập hay không thành lập.

hồi tránh luận thích

Vigraha-vyāvartanī-vṛtti (S) Tên một bộ luận kinh.

hồi trì hướng tốc

3786迴轉萬劫所修成就之遲行,向一生即能成就之速行。(參閱「迴向」3784) ; (回遲向速) Xoay chậm hướng nhanh. Nghĩa là chuyển đổi hạnh tiệm tu tiệm ngộ thành hạnh đốn tu đốn ngộ (thay vì tu muôn kiếp mới thành tựu giác ngộ, thì chỉ tu trong một đời là thành tựu). (xt. Hồi Hướng).

hồi trước

Formerly—Previously.

hồi tài

3786又作回財。即施主先向寺院支借錢財以營辦追薦、供養等法事,於事後施主如數償還錢財,稱爲迴財。禪林象器箋第二十九類錢財門:「施主就寺修薦,或未納支費見錢,且借常住財營辦,後時施主如數償之,此言回財。」同類錢財門又載「回財」恐爲「回祭」之訛稱。(參閱「迴祭」3786) ; Payment by a donor of sums already expended at his request by a monastery. ; (回財) Trả lại tiền của. Môn Tiền tài trong Thiền lâm tượng khí tiên quyển 29 nói: Thí chủ đến chùa truy tiến hương linh, nếu chưa nộp chi phí, thì xin tạm mượn tiền của Thường trụ để sắm sửa, sau đó thí chủ phải trả lại đủ số, gọi là Hồi tài .

hồi tâm

3782又作回心。本意謂迴轉心意。即改變對世俗慾望之追求與邪惡之心,轉向善道,並從此皈依佛教,成虔誠之佛教徒。又將邪惡之心改爲向佛之心,即稱爲迴心懺悔;反自利之小乘而趨向大乘,稱爲迴心向大;反自力而信仰他力(佛、菩薩),則稱捨自歸他;自始即能直入大乘者,稱爲直入之根機;必須靠迴心轉意者,即稱迴心之根機。 迴心向大之說,出於大乘經典。法相宗於五性各別之立場,認爲定性之聲聞、緣覺等二乘,無迴心向大之可能;唯有不定性之二乘能迴心向大,入於無餘涅槃。對此,華嚴宗與天台宗於「一切皆成」之立場,主張二乘皆能迴心向大,以至成佛。而二乘迴心之時間,據北本涅槃經卷十一、卷二十一載,四果中之聲聞與緣覺必經八萬、六萬、四萬、二萬劫及一萬劫之漫長時間,方能成爲大乘菩薩。法相宗認爲不定性之二乘在入無餘涅槃之前,須將阿賴耶識中菩薩種性之種子迴心;復以根機不同,故須各以相當之時間始可至十信之初心。華嚴宗、天台宗等則言,未入無餘涅槃前之菩薩迴心,並無一定之時間;然一旦入無餘涅槃時,其發菩提心則有快、慢之分。 華嚴宗認爲依根機之利鈍及厭惡停於無餘涅槃之強弱心,其經過時間有所不同。關於此,法藏之起信論義記及慧遠、吉藏皆有異說。 華嚴宗於五教中,對始教分爲迴心與直進二種教,又於始、終、頓三教中,亦用此「迴心、直進」等語。〔法華經卷二譬喻品、卷三化城喻品、成唯識論卷十、華嚴五教章卷三、卷四〕 ; To repent. To turn the mind from evil to good. ; Hối cải mà quay về với Đại Thừa—To turn the mind or heart towards Mahayana—To regret—To repent. ; (回心) Xoay chuyển tâm ý. Tức chuyển đổi tâm tà ác chạy theo dục vọng thế gian, thành tâm hướng thiện và qui y Phật giáo. Chuyển đổi Tiểu thừa tự lợi hướng về Đại thừa lợi tha, gọi là Hồi tâm hướng đại. Xoay chuyển tự lực để tin vào tha lực (Phật, Bồ tát) gọi Xả tự qui tha. Người ngay từ đầu có thể vào thẳng Đại thừa, gọi là Trực nhập căn cơ, người phải nhờ sự hồi tâm chuyển ý, thì gọi là Hồi tâm căn cơ.

hồi tâm giới

3783爲圓頓戒之異名。又作梵網菩薩戒、菩薩金剛寶戒、一乘戒。即依法華經開顯之妙旨,而授受梵網經中所舉之十重戒與四十八輕戒。此戒係迴轉小乘心而趣向大乘道者所受之戒,故稱迴心戒。(參閱「圓頓戒」5411) ; Commandments bestowed on the converted or repentant. ; (回心戒) Tên khác của viên đốn giới. Cũng gọi Phạm võng bồ tát giới, Bồ tát kim cương bảo giới, Nhất thừa giới. Giới của những người thiện tâm Tiểu thừa hướng về Đại thừa lãnh thụ. Tức y theo diệu chỉ của kinh Pháp hoa mà truyền trao 10 giới nặng và 48 giới nhẹ nói trong kinh Phạm võng. (xt. Viên Đốn Giới).

hồi tâm hướng đại

3782梵語 mahāyānātiprativāhanārtha。又作回心向大。意即迴轉小乘之心而趣向大乘心,以求無上菩提。小乘唯求自利,遂致灰身滅智,由於身心皆滅,故歸於空寂而達涅槃;大乘則起二利之大心,證得萬德圓滿之佛果,乃真涅槃。小乘心較淺劣,必迴轉其心向大心,故稱爲迴心向大。〔楞伽阿跋多羅寶經卷二、法華經卷二譬喻品〕(參閱「迴心」3782) ; To turn from Hinayana to Mahayana. ; (回心向大) Phạm: Mahàyànàtiprativàhanàrtha. Xoay tâm Tiểu thừa hướng về tâm Đại thừa để cầu Vô thượng bồ đề. Hồi tâm hướng đại phát xuất từ kinh điển Đại thừa. Đứng trên lập trường 5 tính khác nhau, tông Pháp tướng cho rằng Nhị thừa định tính không có khả năng hồi tâm hướng đại, chỉ có Nhị thừa Bất định tính mới có thể hồi tâm hướng đại, vào Niết bàn Vô dư. Trái lại, tông Hoa nghiêm và tông Thiên thai đứng trên lập trường tất cả đều thành chủ trương Nhị thừa đều có khả năng hồi tâm hướng đại, cho đến thành Phật. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 11, quyển 21 (bản Bắc), thì Nhị thừa phải trải qua 1 vạn kiếp cho đến 8 vạn kiếp mới có thể trở thành bồ tát Đại thừa. Tông Pháp tướng cho rằng Nhị thừa Bất định tính, trước khi vào Niết bàn Vô dư, phải đem chủng tử của Bồ tát chủng tính trong thức A lại da hồi tâm và tùy theo căn cơ khác nhau mà thời gian cần để đạt đến giai vị Thập tín cũng khác nhau. Tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thì nói, Bồ tát hồi tâm trước khi vào Niết bàn Vô dư, không có thời gian nhất định. Nhưng một khi đã vào Niết bàn Vô dư thì sự phát tâm bồ đề có nhanh, chậm khác nhau. [X. phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa Q.2; luận Thành duy thức Q.10; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3, Q.4].

hồi tâm sám hối

Chuyển tâm từ xấu ác trở vể lương hảo—To turn the mind from evil to good—To repent.

hồi tâm trực tiến

3783指迴心教、直進教二種。又作回心直進。乃華嚴五教之第二始教中之區別。爲漸悟之機而施設者,稱迴心教;爲頓悟之機而施設者,稱直進教。〔華嚴五教章卷二、五十要問答卷上、卷下〕 ; (回心直進) Chỉ cho Hồi tâm giáo và Trực tiến giáo trong Đại thừa thủy giáo, thuộc 5 giáo pháp của tông Hoa nghiêm. Hồi tâm giáo: Giáo pháp được lập ra để độ căn cơ tiệm ngộ. Trực tiến giáo: Giáo pháp được đặt ra để độ căn cơ đốn ngộ. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Ngũ thập yếu vấn đáp Q.thượng, Q.hạ].

Hồi tâm 廻心

[ja] エシン eshin ||| 'Conversion.' To turn one's thought (toward a Buddhist end). (1) Refers to 廻心懺悔 'to turn one's thought (toward goodness) and repent (one's evil acts). (2) Refers to 廻心向大, 'to turn from Hīnayāna to Mahāyāna. (3) In the True Pure Land sect, converting from self-power 自力 belief to other-power belief 他力. => Hướng tâm về Phật đạo. Nói đến việc Hướng tâm về nẻo thiện, ăn năn việc ác đã làm (Hồi tâm sám hối 廻心懺悔). Chỉ cho sự chuyển hướng từ Tiểu thừa sang Đại thừa (Hồi tâm hướng đại廻心向大).Theo Tịnh độ tông, có nghĩa là chuyển từ niềm tin Tự lực 自力sang Tha lực他力.

hồi tưởng

To recall—To recollect.

hồi tế

3786請參閱 納經 又作回祭。與「迴財」同義。即先報請庫司營辦祭食,事後再償還其費用者,稱爲迴祭。勅修百丈清規卷六亡僧條(大四八‧一一四八上):「預報庫司造祭食,差人鋪排祭筵,鄉人法眷作祭文,納庫司錢回祭。」〔禪林象器箋第二十九類錢財門〕 ; (回祭) Cùng nghĩa với Hồi tài. (xt. Hồi Tài).

hồi tỉnh

To regain consciousness—To become conscious.

hồi tố

Retroactive.

hồi tự hướng tha

To turn from oneself to another.

Hồi tỵ 廻避

[ja] エヒ ehi ||| To avoid, to escape. => Tránh, trốn thoát.

hồi vật

3785又作回物。指信徒所布施之物。永平清規卷上典座教訓(大八二‧三二一上):「施主入院捨財設齋,亦當諸知事一等商量。(中略)回物、俵散同共商量,不得侵權亂職也。」 ; (回物) Vật phẩm do tín đồ bố thí. Điều Điển tọa giáo huấn trong Vĩnh bình thanh qui quyển thượng (Đại 82, 321 thượng) nói: Thí chủ đến chùa thiết trai, phải cùng nhau bàn bạc phân chia Hồi vật, không được lấn quyền loạn chức .

hồi xưa

Once upon a time—In former time.

hồi đáp

To answer—To reply.

hồi đại nhập nhất

3782謂迴轉方便之大乘心而歸入一佛乘。又作回大入一。據法華經卷二譬喻品所載,長者以羊車、鹿車、牛車等三車予其三子,復予以一大白牛車,以期三子自門內而出門外。此一譬喻中,長者喻指佛,三車喻指聲聞乘、緣覺乘、菩薩乘。 古來於此譬喻有二說:(一)三車中之牛車(即菩薩乘)乃同於大白牛車,即聲聞、緣覺等小乘轉入大乘後,必入於一乘。主張此說者稱爲三乘家,以三論宗之嘉祥、法相宗之慈恩代表之。(二)牛車有別於大白牛車,即聲聞、緣覺、菩薩等三乘法門乃同爲入於一佛乘之方便設施。主張此說者稱爲一乘家,以華嚴宗之賢首、天台宗之智者爲代表。〔華嚴五教章卷一〕 ; Trở về và gia nhập vào Nhất Thừa Giáo (Đại Thừa)—To turn to and enter the One Vehicle of Mahayana. ; (回大入一) Xoay chuyển tâm Đại thừa phương tiện trở về Nhất Phật thừa. Cứ theo phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa quyển 3, thì vị Trưởng giả đem 3 loại xe là xe dê, xe nai và xe trâu cho 3 người con, lại dành riêng một cỗ xe do trâu trắng lớn kéo để ở ngoài nhà chờ khi các con ra khỏi ngôi nhà đang cháy thì cho. Trong thí dụ này, vị Trưởng giả chỉ cho đức Phật, 3 xe chỉ cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Xưa nay có 2 thuyết về vấn đề này: 1. Xe trâu (tức Bồ tát thừa) với xe trâu trắng lớn là một, tức hàng Thanh văn, Duyên giác sau khi đã chuyển vào Đại thừa thì chắc chắn sẽ nhập vào Nhất Phật thừa. Ngài Gia tường tông Tam luận và ngài Từ ân tông Pháp tướng chủ trương thuyết này. 2. Xe trâu khác với xe trâu trắng lớn, tức hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đều là phương tiện để đi vào Nhất Phật thừa. Các ngài Hiền thủ thuộc tông Hoa nghiêm và ngài Trí khải thuộc tông Thiên thai chủ trương thuyết này. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].

Hồi đầu hoán diện 回頭換面

[ja] カイトウカンメン etokanmen ||| "When you turn your head, your face turns." A Chan saying. => “Khi quay đầu, mặt quay theo”. Thiền ngữ.

hồi đầu thị ngạn

2306回頭,表示醒悟、悔改。比喻作惡之人,一旦悔悟向善,即能得救。「苦海無邊,回頭是岸」為佛家勸人改過向善之常用語。其中之「苦海」,於佛教中指各種苦難之世界,亦即生死輪迴之三界六道。眾生沈淪於三界之苦惱中,渺無邊際,猶如沈沒於大海而難以出離,故以苦海為喻。 ; (回頭是岸) Quay đầu lại liền thấy bến bờ. Hồi đầu, biểu thị nghĩa tỉnh ngộ, hối cải. Ví dụ người làm ác, một lúc nào đó, biết ăn năn tỉnh ngộ mà hướng thiện thì được cứu vớt. Phật giáo thường dùng câu Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn (bể khổ mênh mông, quay đầu thấy bờ) để khuyên người ta hướng thiện. Bể khổ chỉ cho thế giới đầy dẫy các khổ nạn, cũng tức là vòng luân hồi sống chết trong 3 cõi 6 đường, chúng sinh chìm nổi trong đó khó thoát ra được.

Hồi 回

[ja] カイ ||| To turn, revolve. In Buddhism, often associated with the cyclical movement of saṃsāra. => Quay lại, trở về. Trong Phật giáo, từ nầy thường dùng chung trong nghĩa luân hồi.

Hồi 廻

[ja] エ e ||| (1) Upset, overturn, turn over, invert, reverse. (2) Return, turn back, turn to, give back. (3) To revolve. A turn. (4) Negate, deny. => 1. Lật đổ, đảo lộn, chuyển giao, đảo ngược, nghịch đảo. 2. Quay lại, trở lại, trở về, trả lại. 3. Làm quay tròn. Chỗ ngoặc. 4. Phản đối, phủ nhận.

hồn

Soul, spirit; mind, wits, faculties, conscious mind. ; 1) Tâm thức: Vijnana (skt)—Mind—Soul—Conscious mind. 2) Thần thức: Spirit—Soul (of the dead).

hồn bay phách lạc

Panmic (terror)-stricken.

hồn nhiên

Spontaneous—Natural.

hồn phách

Animus and anima; the spiritual nature or mind, and the animal soul. ; Tên gọi khác của tâm thân. Hồn là tâm thức, có diệu dụng nhưng không có hình hài, phách là hình thể và là chỗ cho tâm thức nương vào—Animus and anima—The spiritual nature or mind, and the animal soul; the two are defined as mind and body or mental and physical, the invisible soul inhabiting in the visible body, the former being celestial, the latter terrestrial.

hồn ra khỏi xác

To disembody the soul.

hồn thần

Tên gọi khác của tâm thức. Tiểu Thừa lập ra sáu thức, Đại Thừa lập ra tám thức nầy đối với nhục thể gọi là “hồn thần,” mà ngoại đạo gọi là “linh hồn”—Another name for “Consciousness.” Hinayana considered the six kinds of consciousness as “Vijnana.” Mahayana considered the eight kinds of consciousness as “Vijnana.” Externalists considered “vijnana” as a soul.

hồn thần tinh thức

5950指眾生之心識,亦泛指人之神識或物之精。又作精神、精靈、精識、魂神。無量壽經卷下(大一二‧二七六上):「改形易道,所受壽命或長或短,魂神精識,自然趣之。」又首楞嚴經卷一所謂之(大一九‧一○八下):「識精元明,能生諸緣。」與首楞嚴經義疏注經卷一之二之解釋(大三九‧八三七下):「第八瓈耶於諸識中最極微細,名爲識精。」則指第八識而言。 蓋此類魂神、精靈、魂魄、識精等用語,早爲我國古代經典所用,如淮南子之「天氣云魂,地氣爲魄。」春秋左氏傳之「心精靈,是謂魂魄。」儀 孝馫角均u出入之氣謂之魂,耳目聰明謂之魄,死者魂神去則魄離。」此外,古代又稱陽氣爲魂,陰氣爲魄,二氣和合爲人,故有人死則魂魄昇天之說。 佛教經典傳譯之時,常借此類用語泛指精神、心識;或作爲身心之異名,而統稱精神與形體。如諸經要集卷十九(大五四‧一七八下):「魂是靈,魄是屍,故禮以初亡之時,以己所著之衣,將向屍魄之上,以魂外出故,將衣喚魂,魂識己衣,尋衣歸魄。若魂歸於魄,則屍口纊動;若魂不歸於魄,則口纊不動。以理而言,故云招魂,不言喚魄。」 此外,首楞嚴義疏注經卷九之一謂,主肝爲魂,主肺爲魄。該書云(大三九‧九四九中):「又以此心內外精研,其時魂魄意志精神,除執受身,餘皆涉入,互爲賓主。(中略)主肝曰魂,主肺曰魄,主脾爲意,主腎爲志,主心爲精神,根身種子,皆爲第八所執受故。」故謂若肝、肺、心、腎、脾等五臟俱傷,則五神亦去。〔首楞嚴經卷九〕 ; (魂神精識) Cũng gọi Tinh thần, Tinh linh, Tinh thức, Hồn thần. Chỉ cho tâm thức của chúng sinh, cũng chỉ chung thần thức của con người hoặc tinh linh của loài vật. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 276 thượng), nói: Thay hình đổi nẻo, thọ mệnh dài ngắn, hồn thần tinh thức, tự nhiên hướng tới . Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 108 hạ), nói: Tinh thức sáng láng, sinh ra các duyên . Thủ lăng nghiêm nghĩa sớ chú kinh quyển 1 phần 2 (Đại 39, 837 hạ) giải thích: Thức A lê da thứ 8 nhỏ nhiệm nhất trong các thức, cho nên gọi là Tinh thức . Các danh từ thần hồn, tinh linh, hồn phách, thức tinh, v.v... đã được sử dụng rất sớm trong các sách vở của Trung quốc thời xa xưa. Như trong sách Hoài nam tử có câu: Khí trời là hồn, khí đất là phách . Truyện Tả thị xuân thu nói: Tâm tinh linh chính là hồn phách . Nghi lễ chú sớ thì nói: Hơi thở ra vào gọi là hồn, tính sáng tỏ linh lợi của tai mắt, gọi là phách, người chết thần hồn đi thì phách cũng lìa . Ngoài ra, thời xưa người ta cũng cho rằng khí dương là hồn, khí âm là phách, âm dương hòa hợp thì thành người, vì thế mà có thuyết chủ trương sau khi người ta chết thì hồn phách lên trời. Khi kinh điển Phật giáo được truyền dịch, các dịch giả thường mượn loại dụng ngữ này để chỉ chung cho tinh thần, tâm thức, hoặc dùng làm tên khác của thân tâm. Như Chư kinh yếu tập quyển 19 (Đại 54, 178 hạ), nói: Hồn là linh, phách là xác (chết) cho nên khi người mới chết, đem áo của họ mặc lúc còn sống, đặt lên xác chết, vì hồn đã ra khỏi xác, dùng áo gọi hồn, hồn biết áo mình, tìm về với phách. Nếu hồn về với phách, thì tờ giấy đậy miệng xác hơi động; còn nếu hồn không về, thì tờ giấy không động . [X. kinh Thủ lăng nghiêm Q.9].

hồn tế

5950爲日本神道祭祀先亡諸靈之行事。又作靈祭、盆祭、聖靈祭、精靈祭。我國道教有招魂法,密教則有去識還來法。魂祭乃日本基於佛教盂蘭盆會之說,與其祭祀祖先之舊俗混合而成之一種年中行事。蓋自推古天皇十四年(606)開始,寺院每年四月八日及七月十五日設齋;齊明天皇三年(657)七月,於飛鳥寺修盂蘭盆會,其後更行於宮中及諸大寺,繼而廣行於民間,至今不輟;特於中世(約十二世紀末至十六世紀末)以後,稱盂蘭盆會爲魂祭。(參閱「盂蘭盆」3454) ; (魂祭) Cũng gọi Linh tế, Bồn tế, Thánh linh tế, Tinh linh tế. Nghi thức cúng tế vong linh tổ tiên của Thần đạo Nhật bản. Hồn tế là một loại hành sự hàng năm được kết hợp giữa hội Vu lan bồn của Phật giáo và phong tục cúng tế tổ tiên của Thần đạo Nhật bản mà thành. Bắt đầu từ năm Suy cổ Thiên hoàng 14 (606), hàng năm vào ngày 8 tháng 4 và ngày rằm tháng 7, các chùa viện ở Nhật bản đều có thiết lễ Hồn tế. Tháng 7 năm Tề minh Thiên hoàng thứ 3 (675), chùa Phi điểu tổ chức lễ hội Vu lan bồn, về sau lại được mở trong cung vua và tại các chùa lớn; từ đó, lễ hội này được thực hành rộng rãi trong dân gian, cho mãi đến ngày nay. Đặc biệt từ thời Trung cổ (khoảng cuối thế kỉ XII đến cuối thế kỉ XVI) về sau, hội Vu lan bồn được gọi là Hồn tế. (xt. Vu Lan Bồn).

hồn vía

Soul and vital spirits.

Hồng

吽; C: hŏu; J: un;|Âm của chữ hūṃ trong tiếng Phạn, được xem như chủng tử chung của các thần. thường được dùng trong các Man-tra (s: mantra) và Đà-la-ni (s: dhāraṇī). Được cấu thành bởi 4 âm vị a अ, ha ह, u उ, và ma म.

hồng

2828悉曇字???(hūṃ)。又作 ; Aruna, rakta (S). Red. ; Aruna or Rakta (skt)—Rosy—Pink--Red. ; (吽) Tức là chữ (hùô), mẫu tự Tất đàm, là chủng tử chung của chư thiên. Chữ này là phỏng theo tiếng rống của bò, hổ, là chân ngôn được dùng trong nghi thức Phệ đà đời xưa, gồm các nghĩa: Ngờ vực, vâng theo, phẫn nộ, sợ hãi v.v... Mật giáo thì dùng chữ này làm tiếng uy hiếp đe dọa, là chủng tử chung của Kim cương bộ. Lại trong ba bộ thì chư thiên thuộc về Kim cương bộ, cho nên chữ Hồng cũng là chủng tử chung của chư thiên. Chữ Hồng do 4 chữ Hạ (ha), A, Ô, Ma hợp thành, là chủng tử Bồ đề tâm của tất cả Như lai, chân như diệu thể hằng sa công đức riêng của tất cả Như lai đều từ chữ này sinh ra. Bát nhã lí thú thích quyển thượng (Đại 19, 609 hạ), nói: Chữ Hồng này có đầy đủ nghĩa của 4 chữ và lấy chữ Hạ làm bản thể. Chữ Hạ từ chữ A sinh ra, mà chữ A thì có nghĩa là tất cả pháp chẳng sinh, do đó, tất cả pháp là bất khả đắc. Trong chữ Hồng có âm Ô, mà âm Ô thì có nghĩa tất cả pháp tổn giảm bất khả đắc. Trên đầu chữ Hồng có chấm hình bán nguyệt đó là chữ Ma, tức là nghĩa ngã của tất cả pháp bất khả đắc . Trong tác phẩm Hồng tự nghĩa cũng giải thích rõ nghĩa chữ Hồng, cho rằng chữ A biểu thị nghĩa Pháp thân, bao nhiếp tất cả lí chân như, pháp giới, pháp tính, thực tế; chữ Ha biểu thị nghĩa Báo thân, bao nhiếp cả giáo nội ngoại, đại tiểu, quyền thật, hiển mật; chữ Ô biểu thị nghĩa Ứng thân, bao nhiếp tất cả hạnh Tam thừa, Ngũ thừa; chữ Ma biểu thị nghĩa Hóa thân, bao nhiếp tất cả quả pháp. Hồng tự nghĩa (Đại 77, 407 hạ), nói: Một chữ Hồng này bao nhiếp tất cả nhân, hạnh, quả của hàng Tam thừa và nhân hạnh của Hiển giáo Nhất thừa, Bí mật Nhất thừa, v.v... Kế đến là nói chữ Hồng này bao nhiếp tất cả nghĩa lí nói rõ trong các kinh luận. [X. kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.10].

hồng anh

3862(1012~1070)宋代臨濟宗黃龍派僧。福建邵武人,俗姓陳。世稱英邵武。閱華嚴十明論,悟入宗要。聞黃龍慧南於黃檗山積翠寺宣說法要,遂前往依止,其後並入室嗣法。後遊西山,住於雙嶺。熙寧二年(1069),慧南示寂,乃於泐潭寺(江西)開法,世稱泐潭洪英。熙寧三年六月入寂,世壽五十九,法臘四十三。撰有泐潭英禪師語要一卷傳世。〔續傳燈錄卷十二、聯燈會要卷十四〕 ; (洪英) (1012-1070) Vị Thiền tăng thuộc phái Hoàng long tông Lâm tế đời Tống, người huyện Thiện vũ, tỉnh Phúc kiến, họ Trần, người đời gọi sư là Anh thiệu vũ. Lúc đầu, sư xem luận Hoa nghiêm thập minh mà ngộ nhập tông yếu. Sau nghe tin ngài Hoàng long Tuệ nam hoằng pháp ở chùa Tích thúy núi Hoàng bá, sư liền đến xin y chỉ và được nối pháp của ngài. Sau đó, sư đến Sơn tây, trụ ở Song lãnh. Năm Hi ninh thứ 2 (1069), ngài Tuệ nam thị tịch, sư bèn khai pháp ở chùa Lặc đàm (tỉnh Giang tây), người đời gọi sư là Lặc đàm Hồng anh. Năm Hi ninh thứ 3 (1070), sư tịch, thọ 59 tuổi, pháp lạp 43. Sư có tác phẩm: Lặc đàm Anh thiền sư ngữ yếu 1 quyển.

hồng anh đào tất

3863禪宗公案名。泐潭洪英於翠巖可真禪師會下時,可真嘗以「女子出定」公案接化之,其時會中無解意者,唯洪英叩膝退場,受其讚賞。禪苑蒙求卷上(卍續一四八‧一○六上):「翠巖真點胸,好問僧:『文殊是七佛之師,因甚麼出女子定不得?罔明從下方來,因甚出得女子定?』莫有對者,獨英邵武,方其問時,以手搯其膝而去,真笑曰:『賣匙箸客未在。』」此乃洪英、女子不相對待,立於自他不二之立場;洪英自打膝而去,係令女子出定,無他之作用。 ; (洪英搯膝) Tên công án trong Thiền tông, Hồng anh gõ đầu gối. Trong công án này, thiền sư Khả chân dùng sự tích cô gái xuất định để tiếp dẫn đại chúng. Thiền uyển mông cầu quyển thượng (Vạn tục 148, 106 thượng) ghi: Ngài Thúy nham Khả chân chỉ vào ngực, hỏi đại chúng: Văn thù là thầy của 7 đức Phật, vì sao không làm cho cô gái ấy xuất định được? Mà bồ tát Võng minh từ phương dưới đến, lại có thể làm cho cô gái xuất định được, tại sao? Trong chúng không ai đáp được, chỉ một mình Hồng anh ngay lúc đó lấy tay gõ vào đầu gối rồi đi ra. Ngài Khả chân liền cười và nói: Ông khách bán thìa (muỗng) đũa đã đi rồi! .

Hồng Chung

(鴻鐘、洪鐘): chuông lớn, chuông to; còn gọi là Phạn Chung (梵鐘), Đại Chung (大鐘), Kim Chung (金鐘), Kình Chung (鯨鐘), Đồng Chung (銅鐘), Phong Chung (豐鐘), Cảnh Chung (景鐘), Hoa Chung (華鐘), Cự Chung (巨鐘), Phù Chung (鳬鐘), Lương Chung (梁鐘), Chàng Chung (撞鐘), Điếu Chung (釣鐘), Bồ Lao (蒲牢), Hoa Kình (華鯨). Từ nguyên gốc của Hồng Chung là Phạn Chung, nghĩa là chuông, loại pháp khí Phật Giáo, được truyền từ Ấn Độ sang các nước Phật Giáo Đại Thừa như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, v.v. Tùy theo quốc gia chuông được tạo ra, chuông có tên gọi khác nhau như Trung Quốc Chung (中國鐘), Triều Tiên Chung (朝鮮鐘, hay Cao Lệ Chung [高麗鐘], Tân La Chung [新羅鐘]), Hòa Chung (和鐘, tức chuông Nhật Bản), v.v. Đối với trường hợp Nhật Bản, vẫn còn ký lục lưu lại trong Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀, Nihonshoki) cho biết rằng vào năm thứ 23 (562) đời Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō, tại vị 539?-571), chuông được Đại Bạn Hiệp Thủ Sảng (大伴狹手彦, Ōtomo-no-Sadehiko) mang từ vương quốc Cao Cú Lệ (高句麗) của Triều Tiên sang Nhật. Chuông được xem như là tối cổ của Nhật Bản, có bản khắc minh ghi trên chuông vào năm 698 (Mậu Tuất), là Phạn Chung của Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji) ở kinh đô Kyoto. Vai trò chính của Phạn Chung là dùng để thông báo tiến hành các Phật sự, nghi lễ, v.v.; và cũng được dùng để báo thức sớm tối. Cho nên trong bài kệ Nguyện Chuông buổi sáng có câu: “Hồng chung sơ khấu, bảo kệ cao ngâm, thượng triệt Thiên Đường, hạ thông Địa Phủ (洪鐘初叩、寶偈高吟、上徹天堂、下通地府, chuông to mới đánh, kệ báu ngâm cao, trên thấu Thiên Đường, dưới thông Địa Phủ).” Tiếng chuông đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống tâm linh của người dân bình thường cũng như tín đồ Phật Giáo. Theo như nghiên cứu cho thấy rằng trong bộ Toàn Đường Thi (全唐詩) cũng như Toàn Đường Thi Bổ Biên (全唐詩補編), có gần 1100 câu thơ về tiếng chuông, về Phạn Chung có 300 câu, cho ta thấy tầm quan trọng của tiếng chuông chùa như thế nào. Xin giới thiệu một số tác phẩm liên quan đến tiếng chuông như sau. Trong bài Trường Thọ Tự Xán Công Viện Tân Trứu Tỉnh (長壽寺粲公院新甃井) của Lý Kì (李頎, 690-751) có câu: “Tăng phòng lai trú cửu, lộ tỉnh mỗi đồng quan, bạch thạch bảo tân trứu, thương đài y cựu lan, không bình uyển chuyển hạ, trường cảnh lộc lô bàn, cảnh giới nhân tâm tịnh, tuyền nguyên kiến để hàn, chung minh thời quán đảnh, đối thử nhật nhàn an (僧房來徃久,露井每同觀。白石抱新甃,蒼苔依舊欄。空瓶宛轉下,長綆轆轤盤。境界因心淨,泉源見底寒。鐘鳴時灌頂,對此日閒安, tăng phòng đến đây ở, giếng nước ngày mỗi xem, đá trắng che mặt giếng, rêu xanh vẫn lan cùng, gàu nước buông thong thả, dây dài theo trục xoay, cảnh giới theo tâm lắng, suối nguồn tận đáy trong, chuông ngân dài quán đảnh, đối diện ngày an nhàn).” Trương Kế (張繼, ?-779) có làm bài Phong Kiều Dạ Bạc (楓橋夜泊) rất nổi tiếng: “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, giang phong ngư hỏa đối sầu miên, Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự, dạ bán chung thanh đáo khách thuyền (月落烏啼霜滿天,江楓漁火對愁眠,姑蘇城外寒山寺,夜半鐘聲到客船, trăng tà chiếc quạ kêu sương, lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ, thuyền ai đậu bến Cô Tô, nửa đêm nghe tiếng chuông Chùa Hàn San).” Như trong Vãn Đường Chung Thanh (晚唐鐘聲) của Phó Đạo Bân (傅道彬) có nêu một đoạn trong bài thơ Du Long Môn Phụng Tiên Tự (遊龍門奉先寺) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770): “Dĩ tùng Chiêu Đề du, cánh túc Chiêu Đề cảnh, âm hác sanh hư lại, nguyệt lâm tán thanh ảnh, thiên khuyết tượng vĩ bức, vân ngọa y thường lãnh, dục giác văn thần chung, linh nhân phát thâm tỉnh (已從招提遊,更宿招提境。陰壑生虛籟,月林散清影。天闕象緯逼,雲臥衣裳冷,欲覺聞晨鐘,令人發深省, từ độ thăm Chiêu Đề, lại luyến cảnh Chiêu Đề, hang tối vang tiếng vọng, rừng trăng bóng tỏ mờ, cổng trời bóng voi hiện, mây nằm áo lạnh băng, muốn dậy nghe chuông sớm, khiến người tỉnh thức sâu).” Hay trong San Hô Câu Thi Thoại (珊瑚鉤詩話) của Trương Biểu Thần (張表臣) có dẫn bài thơ của Thuyết Đỗ (說杜) là: “Chung khánh thanh tâm, dục sanh Duyên Giác (鐘磬清心,欲生緣覺, chuông khánh sạch lòng, chứng quả Duyên Giác).” Trong bài Kinh Thiếu Lâm Tinh Xá Ký Đô Ấp Thân Hữu (經少林精舍寄都邑親友) của Vi Ứng Vật (韋應物, 737-792) có câu: “Xuất hi thính vạn lại, nhập lâm trạc u tuyền, minh chung sanh đạo tâm, mộ khánh không vân yên (出巘聽萬籟,入林濯幽泉。鳴鐘生道心,暮磬空雲煙, ra hang vạn dây vướng, vào rừng rửa suối thiêng, chuông ngân sanh đạo tâm, khánh chiều mây khói quyện).” Lô Luân (盧綸, 739-799) có làm bài Thù Quý Đoan Công Dã Tự Bệnh Cư Kiến Ký (酬李端公野寺病居見寄): “Dã tự chung hôn sơn chánh âm, loạn đằng cao trúc thủy thanh thâm, điền phu tựu hướng hoàn y thảo, dã trĩ kinh phi bất quá lâm, trai mộc tạm tư đồng tĩnh thất, thanh luy dĩ giác trợ Thiền tâm, tịch mịch nhật trường thùy vấn tật, liệu quân duy thủ cổ phương tầm (野寺鐘昏山正陰,亂藤高竹水聲深。田夫就餉還依草,野雉驚飛不過林。齋沐暫思同靜室,清羸已覺助禪心。寂寞日長誰問疾,料君惟取古方尋, chùa hoang chuông chiều núi tỏa râm, dây leo trúc bám tiếng nước trầm, nông phu cất bước theo lối cỏ, gà đồng kinh hoảng bay qua rừng, chay tịnh ưu tư cùng tịnh thất, gầy xanh mới rõ ấy Thiền tâm, vắng lặng tháng ngày ai hỏi bệnh, khuyên người thôi chớ nhọc công tìm).” Hay trong bài Du Vân Tế Tự (遊雲際寺) của Chương Hiếu Tiêu (章孝標) có câu: “Vân lãnh phù danh khứ, chung chàng đại mộng tỉnh, mang mang sơn hạ sự, mãn nhãn tống lưu bình (雲領浮名去,鐘撞大夢醒。茫茫山下事,滿眼送流萍, mây núi phù danh bỏ, chuông ngân đại mộng tỉnh, mênh mang chuyện đời mặc, trước mắt bèo dạt trôi).” Trong bài Tặng Thiên Khanh Tự Thần Lượng Thượng Nhân (贈天卿寺神亮上人) của Triệu Hỗ (趙嘏, 806-853) có câu: “Ngũ khán xuân tận thử giang phần, hoa tự phiêu linh nhật tự huân, không hữu từ bi tùy vật niệm, dĩ vô tung tích tại nhân quần, nghênh thu nhật sắc diêm tiền kiến, nhập dạ chung thanh trúc ngoại văn, tiếu chỉ bạch liên tâm tự đắc, thế gian phiền não thị phù vân (五看春盡此江濆,花自飄零日自曛。空有慈悲隨物念,已無蹤跡在人群。迎秋日色簷前見,入夜鐘聲竹外聞。笑指白蓮心自得,世間煩惱是浮雲, năm bận đón xuân nơi bến sông, ngày nắng chói chan hoa phiêu bồng, không tâm từ bi theo vật nhớ, đã chẳng dấu tích chốn nhân quần, đón thu ngày mới trước thềm thấy, đêm về chuông vọng trúc ngoài vang, cười chỉ trắng sen lòng tự đắc, thế gian phiền não ấy phù vân).” Hay như trong bài Quá Hương Tích Tự (過香積寺) của Vương Duy (王維, 701-761) cũng có câu: “Bất tri Hương Tích Tự, sổ lí nhập vân phong, cổ mộc vô nhân kính, thâm sơn hà xứ chung, tuyền thanh yến nguy thạch, nhật sắc lãnh thanh tùng, bạc mộ không đàm khúc, an Thiền chế độc long (不知香積寺,數里入雲峰。古木無人逕,深山何處鐘。泉聲咽危石,日色冷青松。薄暮空潭曲,安禪制毒龍, nào hay Hương Tích Tự, mấy dặm trong mây rừng, cây xưa không người bước, núi sâu chuông chốn nào, tiếng suối ngâm lòng đá, ngày lên lạnh tùng xanh, chiều buông trên hồ vắng, tọa Thiền chế độc long).” Tại Tây Hồ, Hàng Châu có 2 ngôi danh lam là Tịnh Từ Tự (淨慈寺) và Linh Ẩn Tự (靈隱寺). Ở Tịnh Từ Tự có một Đại Hồng Chung rất nổi tiếng, nơi nhà bia an trí chuông có bút tích của vua Khang Hy với dòng chữ: “Nam Bình Vãn Chung (南屏晚鐘, Chuông Chiều Nam Bình).” Thi sĩ Trương Đại nhà Đường có làm bài thơ để diễn tả sự xuất thần nhập hóa của tiếng chuông chùa này như sau: “Dạ khí ổng Nam Bình, khinh phong bạc như chỉ, chung thanh xuất thượng phương, dạ độ không giang thủy (夜氣滃南屏、輕風薄如紙、鐘聲出上方、夜渡空江水, màn đêm trùm khắp Nam Bình, gió nhè nhẹ thổi như hình giấy manh, tiếng chuông vút tận trời xanh, buông vào đêm vắng sông thanh nghìn trùng).” Sau này dân gian vẫn có câu: “Ngọc Bình thanh chướng mộ yên phi, cam điện chung thanh lạc thúy vi (玉屏青嶂暮煙飛,紺殿鐘聲落翠微, Ngọc Bình mây khói chiều lặng bay, điện báu chuông chùa rụng sương chầy).” Về phía Việt Nam, cũng có khá nhiều bài thơ nói về tiếng chuông như trong bài của Đoàn Văn Khâm truy điệu Thiền Sư Chân Không: “Hạnh cao triều dã chấn thanh phong, tích trụ như vân mộ tập long, nhân vũ hốt kinh băng huệ đống, đạo lâm trường thán yển trinh tòng, phần oanh bích thảo thiêm tân tháp, thủy trám thanh sơn nhận tạ dung, tịch tịch Thiền quang thùy cánh khấu, kinh qua sầu thính mộ thiên chung (Trong triều ngoài nội kính gia phong, chống gậy đường mây quyện bóng rồng, cửa từ chợt hoảng rường cột đỗ, rừng đạo bùi ngùi cột thông long, cỏ biếc quanh mồ thêm tháp mới, non xanh nước thắm gởi thân trong, vắng vẻ cửa Thiền ai đến gõ, văng vẳng chuông chiều nát cõi lòng).” Hay như bài thơ của thi sĩ Dương Cự Nguyên người Tàu làm tặng tiễn chân Pháp Sư Phụng Đình của Việt Nam về nước như sau: “Cố hương Nam Việt ngoại, vạn lí bạch vân phong, kinh luận từ thiên khứ, hoa hương nhập hải phùng, lộ đào thanh phạm triệt, thận các hóa thành trùng, tâm đáo Trường An mạch, Giao Châu hậu dạ chung (Cố hương nam việt ấy, ngàn dặm mây trắng bay, cửa trời vắng kinh kệ, biển rộng hương hoa đầy, bóng cò in sóng bạc, thành quách lung linh xây, Trường An lòng tưởng nhớ, Giao Châu chuông canh chầy).” Tổ Giác Tiên (覺先, 1880-1936), người sáng lập ra An Nam Phật Học Hội Trung Việt, tổ sư khai sáng Chùa Trúc Lâm Huế có làm bài thơ: “Tuần diêm thanh khánh sao minh nguyệt, nhiễu thọ sơ chung khấu bích thiên (巡簷清磬敲明月,繞樹疏鐘扣碧天, tiếng khánh quanh nhà lay trăng sáng, cùng cây chuông sớm gõ trời xanh).” Cố Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997), nguyên trú trì và khai sơn Hồng Ân Ni Tự (鴻恩尼寺) tại Huế, cũng có lưu lại bài thơ ca ngợi về nét Thiền vị của chùa Trúc Lâm như sau: “Bước đến Trúc Lâm luống chạnh lòng, chuông chùa tiếng dội khắp rừng thông, trông lên bảo tháp mây quang đãng, ngó xuống ao sen cá vẫy vùng, cảnh tịnh soi tâm tâm cũng tịnh, nước trong trăng chiếu bóng thường trong, cảnh này nếu được đem thêu vẽ, tỏa rạng ngàn năm nét Đại Hùng.” Hòa Thượng Thạch Liêm (石濂, 1633-1702) có làm bài Vịnh Hà Trung Tự Thi (詠河中寺詩): “Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm cung, chung thanh điều đệ mãn hà phong, trúc li thảo kính phù lam yểm, thạch hác hà lâu đảo ảnh không, hầu thực hồng ngư xuy thủy thượng, đề yên thúy điểu lạc hoa trung, vương gia từ miếu âm sum xứ, huýnh hữu linh quang xạ hải Đông (綠柳垂垂隱梵宮、鐘聲迢遞滿河風、竹籬草徑浮嵐掩、石壑霞樓倒影空、候食紅魚吹水上、啼煙翠鳥落花中、王家祠廟陰森處、逈有靈光射海東, nép bóng chùa xưa liễu xanh non, tiếng chuông xa vẳng theo gió sông, lối cỏ bờ trúc mây khói phủ, hang đá lầu chiều bóng nghiêng lồng, đớp mồi cá nỗi trên dòng nước, chim xanh rộn hót giữa hoa hồng, vương gia miếu phủ nơi rừng thẳm, lóe sáng mù khơi rạng biển Đông).” Hơn nữa, tục ngữ dân gian Việt Nam thường có câu: “Đánh tan tục lụy hồi chuông sớm, gõ nát trần tâm tiếng mõ trưa”, hay “gió đưa cành trúc la đà, tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Sương, mịt mù khói toả ngàn sương, nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”, v.v.

hồng chung

Big bell. ; Great bell

hồng châu tông

3862馬祖道一(709~788)之門派。洪州爲江西南昌縣之通稱,其地有馬祖道一所住之開元寺、石門山寶峰寺、百丈懷海所住之百丈山大智壽聖寺,及黃龍慧南、晦機所住之黃龍山崇恩寺等名剎。馬祖一向住洪州,大揚禪風,故其門派稱洪州宗。主張一切之起心動念、揚眉瞬目等日常生活皆是佛性之顯現。其宗風相對於北宗所主張之日常分別動作皆虛妄,及牛頭宗之一切皆如夢、本來無事之觀點。後世以馬祖之法系爲禪宗之正系,而承繼荷澤宗之圭峰宗密則爲傍出。〔禪門師資承襲圖〕 ; (洪州宗) Một tông phái Thiền Trung quốc do thiền sư Mã tổ Đạo nhất (709-788) sáng lập. Vì ngài Mã tổ ở chùa Khai nguyên tại Hồng châu (huyện Nam xương, tỉnh Giang tô), xiển dương Thiền pháp rất hưng thịnh, vì thế môn phái của ngài được gọi là tông Hồng châu. Tông này chủ trương rằng tất cả những sinh hoạt thường ngày như: đi, đứng, ngồi, nằm, nhướng mày, chớp mắt, mặc áo, ăn cơm, v.v... đều là sự hiển hiện của tính Phật. Tông phong này khác với chủ trương của thiền Bắc tông và thiền Ngưu đầu. Đời sau cho pháp hệ của ngài Mã tổ là chính hệ, còn pháp hệ của ngài Khuê phong Tông mật thừa kế tông Hà trạch là chi hệ. [X. Thiền tông sư tư thừa tập đồ].

hồng chí

Great will.

hồng chủng

The red race.

hồng cáp la tất lợi

2829(1103~1165)南宋僧。北印度末光闥國人。棲止雞足山,誦諸佛密語,有大神通。紹興(1141~1148)年間,偕從弟三摩耶悉利等七人來中土,登清涼山禮文殊菩薩,並遊靈巖禮拜觀音菩薩。於濟南建文殊真容寺,留弟主之。又至棣州建三學寺居之。南宋乾道元年示寂,享年六十三。〔補續高僧傳卷一、佛祖歷代通載卷三十一、釋氏疑年錄卷八〕 ; (吽哈囉悉利) (1103-1165) Vị cao tăng người nước Mạt quang thát thuộc Bắc Ấn độ. Ngài ở tại núi Kê túc, tụng Mật ngữ của chư Phật, có thần thông lớn. Khoảng năm Thiệu hưng (1141-1148) ngài cùng với 7 vị sư khác trong đó có người em ruột là Tam ma da tất lợi đến Trung quốc, lên núi Thanh lương lễ bồ tát Văn thù và đến núi Linh nham lễ bái bồ tát Quan âm. Sau đó, ngài xây cất chùa Văn thù chân dung ở Tế nam, để người em ở lại trụ trì. Rồi ngài lại đến Lệ châu làm chùa Tam học và trụ trì tại đó. Niên hiệu Càn đạo năm đầu (1165) đời Nam Tông, ngài tịch thọ 63 tuổi. [X. Bổ tục cao tăng truyện Q.1; Phật tổ lịch đại thông tải Q.31; Thích thị nghi niên lục Q.8].

Hồng danh

(鴻名): tên to lớn, vĩ đại, trọng thể; hay danh hiệu linh thiêng. Như trong Khai Nguyên Nguyên Niên Xá Thư (開元元年赦書) của Tô Đĩnh (蘇頲, 670-727) nhà Đường có câu: “Hồng danh bất khả dĩ thâm cự, thạnh điển bất khả dĩ cố vi (鴻名不可以深拒、盛典不可以固違, tên vĩ đại không thể nào chối từ, lễ trọng thể không thể nào sai phạm).” Hay trong bài Hao Lí Khúc (蒿里曲) của Tôn Chi Úy (孫枝蔚, 1620-1687) nhà Thanh có câu: “Thiên tử hữu đạo trọng nhân mạng, hồng danh hách hách thùy vô cùng (天子有道重人命、鴻名赫赫垂無窮, thiên tử có đạo xem trọng mạng người, tiếng tăm lừng lẫy mãi không cùng).” Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục Tục Biên (淨土聖賢錄續編, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1550) quyển 3 có đoạn: “Phật duyên hạnh ngộ thức hồng danh, hỏa cấp Tây quy thử nhất sanh, bất hướng thử sanh bính lực khứ, bào thai tái nhập đọa vô minh (佛緣幸遇識鴻名、火急西歸此一生、不向此生拼力去、胞胎再入墮無明, duyên Phật may gặp biết hồng danh, gấp rút về Tây một kiếp nhanh, chẳng để một đời phí uổng sức, bào thai đọa nữa mãi vô minh).” Hay trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Luân Quán (地藏本願經綸貫, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 383) lại có câu rằng: “Kim phù chư Phật danh hiệu, danh thật giai chơn; cố tài cử hồng danh, vạn đức toàn bị, nhất xưng gia hiệu, chúng tội tề tiêu (今夫諸佛名號、名實皆眞、故纔舉鴻名、萬德全備、一稱嘉號、眾罪齊消, nay phàm danh hiệu của chư Phật, tên gọi chân thật; cho nên vừa mới xướng hồng danh thì muôn đức có đủ, xưng một thánh hiệu, các tội đều tiêu).”

hồng danh

Great name. ; Great fame

hồng danh bảo sám

Eighty-eight Buddhas repentance ceremony.

hồng giáo

3925即西藏喇嘛教之寧瑪派。因著紅色袈裟、戴紅帽,故稱紅教,或稱紅帽派;與新教(黃教)對立,故稱爲舊教,行於西藏之南部。西元七四七年,印度著名學者蓮華生上師(梵 Padmasambhava)受請至藏地,遍行全國,熱心布教。其教義以護持「菩提心」爲主,且以神通力驅除感化藏地之巫鬼派,藏人咸洗心歸誠,尊爲教主。弟子二十五人分化各地。不及三年,祕密佛教普及全藏,寺塔靈壇,巋然相望,西藏喇嘛教之基大定,蓮華生上師遂成爲西藏喇嘛教之開祖。其後經過種種變遷,產生許多分派,然此一派依然保持舊態,比其它諸派更不重戒行,其教主可以娶妻,認爲並不妨礙修道。從十四世紀宗喀巴提倡革新喇嘛教,創黃衣派起,此派勢力遂漸衰弱,現今教徒已不多。(參閱「西藏佛教」2593、「寧瑪派」5783) ; The red sect, i.e. the Zva-dmar, or Shama, the older Lamaistic sect of Tibet, who wear red clothes and hats. ; Hồng Y Phái—Phái Lạt Ma áo đỏ của Tây Tạng (giáo chủ được phép lấy vợ và kế truyền theo huyết thống). Môn phái nầy lưu hành ở phía nam Tây Tạng—The red sect, i.e. the Zva-dmar, or Shamar, the lder Lamaistic sect of Tibet, who wear red clothes and hats. This sect is popular in southern Tibet. ; (紅教) Cũng gọi: Cựu giáo, Hồng mạo phái. Đối lại với Tân giáo (Hoàng giáo). Tức phái Ninh mã thuộc Lạt ma giáo Tây tạng, do Thượng sư Liên hoa sinh (Phạm: Padmasambhava), một học giả trứ danh người Ấn độ sáng lập. Năm 747 Tây lịch, sau khi được mời đến Tây tạng, ngài đi khắp nơi trong nước, hết lòng truyền đạo. Giáo nghĩa của ngài lấy việc hộ trì tâm Bồ đề làm chính, và dẹp trừ đồng bóng, bùa chú, dị đoan đang mê hoặc người dân Tây tạng. Hai mươi lăm vị đệ tử của ngài chia nhau đi giáo hóa các địa phương chỉ trong vòng 3 năm, Mật giáo đã phổ cập khắp đất nước Tây tạng, chùa tháp, linh đàn, nguy nga tráng lệ. Đến đây, nền tảng của Lạt ma giáo Tây tạng đã được thiết lập vững chắc và Thượng sư Liên hoa sinh trở thành vị Tổ khai sáng của Lạt ma giáo Tây tạng. Về sau, Lạt ma giáo Tây tạng, chia ra nhiều chi phái, nhưng riêng phái Hồng giáo thì vẫn duy trì được trạng thái cũ, mặc dầu trải qua nhiều cuộc biến đổi. Tăng chúng của phái này đều mặc ca sa mầu đỏ, đội mũ mầu đỏ, cho nên gọi là Hồng giáo. So với các phái khác thì phái này lại không xem trọng giới hạnh. Giáo chủ phái này được lấy vợ, cho rằng việc ấy không trở ngại gì cho việc tu đạo. Nhưng từ khi ngài Tông khách ba thi hành chính sách đổi mới Lạt ma giáo, sáng lập phái Hoàng giáo (giáo phái mặc áo mầu vàng) vào thế kỉ thứ XIV, thì thế lực của phái Hồng giáo dần dần suy yếu, hiện nay tín đồ không còn được bao nhiêu. (xt. Tây Tạng Phật Giáo, Ninh Mã Phái).

hồng hào

To have a rosy complexion.

Hồng hưu

(洪庥): cùng nghĩa với hồng tỉ (洪庇), nghĩa là sự che chở, ơn mưa móc, sự tốt lành do trên ban xuống. Như trong bài Tán Hoa Sơ Hiến (散花初獻) của Bảo Phủ Quân Tiếu Khoa (鮑府君醮科) do Từ Vị (徐渭, 1521-1593) nhà Minh sáng tác có câu: “Kim tiếu chủ mỗ thâm hà hồng hưu, dự mông âm chất, kính dĩ tuế thần chi cát, cẩn trần tiếu lễ chi diên (今醮主某深荷洪庥、預蒙陰隲、敬以歲辰之吉、謹陳醮禮之筵, Hôm nay chủ lễ cúng là …, vốn mang nặng ơn mưa móc, được hưởng âm phúc, kính xin lấy ngày giờ tốt, thiết dọn lễ phẩm cúng dâng).” Tại chánh điện của Dũng Tuyền Tự (湧泉寺) thuộc Phúc Châu (福州), Phúc Kiến (福建), có câu đối rằng: “Phạm vũ khánh trùng tân, y cựu từ vân chiêm bảo tướng; linh tuyền thường bất hạc, vĩnh triêm pháp vũ mộc hồng hưu (梵宇慶重新、依舊慈雲瞻寶相、靈泉常不涸、永沾法雨沐洪庥, Phạm vũ đẹp lại mới, như cũ mây từ nhìn tướng báu; suối linh thường không cạn, mãi rưới mưa pháp tắm ơn dày).” Câu “cấu tiền nhân tỉ ấm chi hồng hưu (構前人庇廕之洪庥)” có nghĩa là nối tiếp ân huệ, ơn mưa móc (sự nghiệp) thường che chở của người đi trước.

hồng hồng

2829吽,原為牛、虎之叫聲,一般多用於密教,表示摧破、恐怖之聲;於禪林中,吽吽二字連用,即表示無法用文字言句詮釋之無分別境。臨濟錄勘辨(大四七‧五○四上):「師問杏山:『如何是露地白牛?』山云:「『吽吽!』」 ; (吽吽) Hồng vốn là tiếng rống của bò, hổ (cọp), Mật giáo dùng âm thanh này để biểu thị ý nghĩa trừ tà, dọa nạt. Trong Thiền lâm, 2 chữ Hồng hồng được dùng để biểu thị cho cảnh giới vô phân biệt, không thể dùng văn tự, ngôn ngữ để giải thích. Lâm tế lục, khám biện (Đại 47, 504 thượng), ghi: Sư hỏi Hạnh sơn: Thế nào là trâu trắng ở chỗ đất trống? Hạnh sơn đáp: Hồng hồng .

hồng kính

3864(1229~1301)元初學僧。雲南昆明人,俗姓李。弱年出家,爲大理國國師子雲之弟子。南宋寶祐元年(1253),蒙古忽必烈滅大理之段氏,段氏一族及僧侶多歸蒙古,師亦於寶祐二年至元京,停留二十五年,師事當世之大德四師,後嗣壇主之法。爾後透過壇主告帝南歸之意,遂賜名「洪鏡」。歸鄉後,入大理城東玉案山寺,翻譯圓覺等諸經及摩訶衍四絕論爲僰語,當地玄風之普及蓋以此爲端。師辯才滔滔不絕,時人稱雄辯法師。元至元二十七年(1290),世祖之皇孫甘剌麻受封爲梁王,鎮守雲南,師爲所重,德望漸高,四方來歸者達數萬人。大德五年十一月入寂,年壽七十三。荼毘,得五色舍利,並有諸異徵。〔滇釋紀卷一、新續高僧傳卷二、明季滇黔佛教考〕

Hồng liên

(s: padma, kōren, 紅蓮): hoa sen hồng, âm dịch là Bát Đầu Ma (鉢頭摩), nguyên sản ở vùng Đông Ấn Độ, Ba Tư (波斯). Trong 40 tay của Thiên Thủ Quan Âm (千手觀音, Quan Âm Ngày Tay), có 1 tay bên phải cầm hoa này, gọi là Hồng Liên Hoa Thủ (紅蓮華手, tay hoa sen hồng). Trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni (千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼, Taishō 20, 118) có đoạn rằng: “Nhược vi cầu sanh chư Thiên cung giả, đương ư Hồng Liên Hoa Thủ; chơn ngôn: 'án thương yết lệ tát phạ hạ' (若爲求生諸天宮者、當於紅蓮華手、眞言:唵商掲隷薩嚩賀, nếu có người vì cầu sanh lên cung điện của chư Thiên thì nên ở nơi cánh tay cầm hoa sen hồng; chơn ngôn là 'án thương yết lệ tát phạ hạ').” Trong bài kệ xưng tán Kinh Pháp Hoa có câu: “Lục vạn dư ngôn thất trục trang, vô biên diệu nghĩa quảng hàm tàng, Bạch Ngọc xỉ biên lưu Xá Lợi, Hồng Liên thiệt thượng phóng hào quang, hầu trung Cam Lồ quyên quyên nhuận, khẩu nội Đề Hồ trích trích lương, giả nhiêu tạo tội quá sơn nhạc, bất tu diệu pháp lưỡng tam hàng (六萬餘言七軸裝、無邊妙義廣含藏、白玉齒邊流舍利、紅蓮舌上放毫光、喉中甘露涓涓潤、口內醍醐滴滴涼、假饒造罪過山嶽、不須妙法兩三行, hơn sáu vạn lời bảy cuốn thành, vô biên nghĩa mầu rộng ẩn tàng, bên răng Ngọc Trắng tuôn Xá Lợi, trên lưỡi sen hồng phóng hào quang, trong cổ Cam Lồ rả rích nhỏ, trên miệng Đề Hồ giọt giọt tan, giả như tạo tội hơn núi cả, chẳng bằng diệu pháp vài ba hàng).”

hồng liên

Padma (S), Paduma (P), Paduma (P), Red lotus Ba đầu ma địa ngục, Ma đặc ma địa ngục; Liên hoa, Ba đầu ma liên hoa 1- Liên, liên hoa 2- Ba đầu ma: Tên một trong 8 loại địa ngục lạnh. 3- Ba đầu ma liên hoa: một loại hoa cõi trời Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.

hồng liên hoa

3926梵語 padma。音譯作鉢頭摩華。原產於東印度、波斯等國。千手觀音四十手中,其左面之一手持此華,稱紅蓮華手。千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼(大二○‧一一八中):「若爲求生諸天宮者,當於紅蓮華手。真言:唵商揭㘑薩嚩賀。」〔慧琳音義卷三〕 ; Padma (skt)—Bông sen đỏ—The red lotus. ; (紅蓮華) Phạm: Padma. Dịch âm: Bát đầu ma hoa. Hoa sen mầu hồng (đỏ lợt). Trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm, một trong những tay bên trái của Ngài cầm hoa này, gọi là Hồng liên hoa thủ. Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni (Đại 20, 118 trung), nói: Nếu người muốn cầu sinh lên các cõi trời, thì nên hướng về tay Hồng liên hoa. Chân ngôn là: Án thương yết lệ tát phạ hạ . [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.3].

hồng liên na lạc ca

Xem hồng liên địa ngục.

hồng liên đại hồng liên

Maha-padma (skt)—See Địa Ngục (b) (8).

hồng liên địa ngục

Padma-naraka (S) Hồng liên na lạc ca, Bát đặc ma, Bát đặc ma na lạc ca Địa ngục thứ bảy trong tám địa ngục lạnh. ; Pàdma-naraka (S). Red lotus hell, the seventh of the eight cold hells. where the flesh of the sufferers bursts open like red lotuses. ; Bát Đặc Ma Địa Ngục—Địa ngục được gọi theo tên “hồng liên,” là địa ngục thứ bảy trong bát hàn địa ngục, nơi mà da thịt của tội nhân vì quá lạnh mà nở toét ra như những cánh sen đỏ—The hell called after the name of the Padma (red lotus), the seventh of the eight cold hells, where flesh of the sufferers bursts open like red lotuses.

hồng lô thượng nhất điểm tuyết

3865禪林用語。又作紅爐上一點雪。於旺火盛燃之爐上的一片雪,比喻:(一)無常、虛幻。景德傳燈錄卷十四長髭曠章(大五一‧三一三上):「石頭曰:『汝見什麼道理便禮拜?』師(長髭)曰:『據某甲所見,如洪鑪上一點雪。』」 (二)不留痕跡,即沒蹤跡之境地。碧巖錄第六十九則(大四八‧一九八下):「透荊棘林,衲僧家,如紅爐上一點雪。」 ; (洪爐上一點雪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một lọn tuyết trên lò lửa đỏ. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để ví dụ sự vô thường, hư ảo hoặc chỉ cho cảnh giới vắng bặt, không dấu vết. 1. Vô thường, hư ảo. Chương Trường tì khoáng trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 313 thượng), ghi: Ngài Thạch đầu hỏi: Ông thấy đạo lí gì mà lễ bái? Trường tì đáp: Theo chỗ đệ tử thấy thì giống như lọn tuyết trên lò lửa . 2. Chỉ cho cảnh giới vắng bặt, không dấu vết. Tắc 69 trong Bích nham lục (Đại 48, 198), nói: Thấu suốt rừng gai gốc, ngôi nhà của nạp tăng giống như một lọn tuyết trên lò lửa đỏ .

hồng lô tự

6542寺,本為官衙之意。鴻臚寺為漢朝接應外國賓客之官衙。鴻臚寺之長官,秦代稱典客,漢代稱鴻臚卿,掌理接待外賓及凶喪儀慶等事。據唐書百官志第三十八所載,鴻臚寺設卿一人、少卿二人、丞二人,領典客、司儀二署。佛教初傳入中國時,來華傳法之西域沙門,被安置於鴻臚寺,由鴻臚卿指示其進退;演至後世乃稱僧尼之住處為「寺」。至唐代佛教盛行,於西域僧人有進贈鴻臚卿者,如菩提流志、善無畏、不空等諸師皆曾受追贈。〔漢書百官公卿表第七上、開元釋教錄卷九〕 ; (鴻臚寺) Tòa nhà dùng để tiếp khách nước ngoài của triều đình nhà Hán, Trung quốc. Vị quan đứng đầu Hồng lô tự, đời Tần gọi là Điển khách, đời Hán gọi là Hồng lô khanh, có nhiệm vụ quản lí, tiếp đón khách nước ngoài và các việc tang ma, chúc mừng, v.v... Cứ theo Đường thư Bách quan chí 38, Hồng lô tự đặt một vị Khanh, 2 vị Thiếu khanh, 2 vị Thừa, chuyên việc tiếp khách và điều khiển lễ nghi. Khi Phật giáo mới được truyền vào Trung quốc các vị sa môn Tây vực đến đây hoằng pháp, được mời an nghỉ ở Hồng lô tự, do vị Hồng lô khanh chỉ dẫn việc ăn ở, tới lui. Chính do đây mà đời sau gọi chỗ ở của Tăng ni là tự (chùa). Đến đời Đường, Phật giáo hưng thịnh, các vị sư Tây vực, như ngài Bồ đề lưu chí, Thiện vô úy, Bất không, v.v... đều đã được tặng chức Hồng lô khanh. [X. Hán thư bách quan công khanh biểu 7 phần trên; Khai nguyên thích giáo lục Q.9].

hồng nghê tứ duyên

3951據法集經卷二載,諸菩薩以善根業行之因緣,而有勝妙果報之不同,故立多種譬喻以顯明之,此虹蜺即爲其中之一喻。亦即虛空彩虹之生起,乃因地水火風四大因緣而生,此四大雖不至於虹蜺之中,然虹蜺卻因四大而有種種色相之顯現,故稱虹蜺四緣。即:(一)地大生黃,虹蜺之黃色,乃假「地大」而映現,此因土之色性本黃,而彩虹必依地而起,故稱地大生黃。(二)水大生青,虹蜺之青色,乃假「水大」照映而起,此因水之色性本青,而彩虹必因雨而有,故稱水大生青。(三)火大生赤,虹蜺之赤色,乃假「火大」而顯發,此因火之色性本赤,而彩虹必因日照而現,故稱火大生赤。(四)風大生輪,虹蜺隨處現起,初無實體,因假「風大」之力所持,而體如輪暈之相,此因風之體性乃本能之運動,故稱風大生輪。 ; (虹霓四緣) Bốn duyên cầu vồng. Cứ theo kinh Pháp tập quyển 2, thì do nhân duyên thiện căn hạnh nghiệp, mà các Bồ tát có quả báo thắng diệu khác nhau, cho nên trong kinh dùng nhiều thí dụ để nói rõ việc này, Hồng nghê (cầu vồng) chính là một trong các thí dụ ấy. Mầu sắc của cầu vồng sinh ra trong hư không là do nhân duyên 4 đại đất, nước, lửa, gió, 4 đại này tuy không có trong cầu vồng, nhưng nhờ có 4 đại mà cầu vồng mới hiển hiện. Bốn duyên: 1. Địa đại sinh hoàng: Mầu vàng là mầu của đất, từ đất ánh hiện, cho nên cầu vồng hẳn phải nương vào đất mà sinh khởi. 2. Thủy đại sinh thanh: Mầu xanh của cầu vồng là mầu của nước, do nước chiếu rọi mà sinh, vì thế cầu vồng hẳn phải nhờ mưa mà có. 3. Hỏa đại sinh xích: Mầu đỏ của cầu vồng là mầu của lửa, cũng là mầu của mặt trời, cho nên cầu vồng phải nhờ ánh sáng của mặt trời chiếu soi mới hiện. 4. Phong đại sinh luân: Cầu vồng tùy nơi mà hiện khởi, mới đầu không có thực, nhưng nhờ sức của gió giữ gìn, nên có hình tướng như bánh xe, đó là do thể tính của gió, vận động theo bản năng.

hồng nhan đa truân

Beautiful women often have many misfortunes.

hồng nhân

3863(?~901)〈一〉五代禪僧。浙江吳興人,俗姓吳。十九歲,禮開元寺無上大師落髮。二十二歲,入嵩山,受具足戒。謁雲巖,機緣不契,再參溈山,始悟。咸通七年(866),無上大師示寂,以眾請,繼師席。受吳越武肅王外護,賜號「法濟大師」。光化四年示寂,年壽不詳。〔祖堂集卷十九、宋高僧傳卷十二、景德傳燈錄卷十一、五燈會元卷九〕 〈二〉宋代僧。襄水(湖北)人,俗姓扈。嗣首山省念法緒,初隱南嶽,一缉自足。後遇湘陰豪右來遊,請主其邑之神鼎寺,師允諾之,然至寺則已敗毀,唯餘殘蹟。師遂清苦自持,居之十載,道侶漸聚,猶以破朽木床爲獅子座,踞以說法,其淡泊如此。而以年臘俱高,諸方尊之如古趙州。寂年八十餘,生卒年不詳。〔神鼎山第一代諲禪師語錄、續傳燈卷一、禪林僧寶傳卷十四〕

hồng như

3862(1592~1664)清初禪僧。雲南牟定人,俗姓鄧。字無住。早歲窮研金剛經,從海量大千出家,參謁徹庸周理,後住定遠福成寺飯眾,一夕,聞鐘聲得了明大事。後隨侍周理赴金陵請大藏經,參叩諸方,歷訪天童、六雪等諸尊宿。歸鄉後,創寶華寺於水目山,弘揚律學,宗風凜然,法席之盛冠絕一時。後囑法予門弟子非相普行,清康熙三年示疾,跏趺而入寂,世壽七十三。全身塔於水目山。遺稿有蒼山集、空明集、苦海慈航集、宗門語錄、南燈續燄等。〔滇釋紀卷二、新續高僧傳卷二十一〕 ; (洪如) (1592-1664) Vị Thiền tăng sống vào đầu đời Thanh, người Mâu định, tỉnh Vân nam, họ Đặng, tự Vô trụ. Lúc còn ít tuổi, sư đã nghiên cứu kĩ kinh Kim cương, theo ngài Hải lượng Đại thiên xuất gia, tham yết ngài Triệt dung Chu lí. Về sau, sư đến chùa Phúc thành, huyện Định viễn giữ việc trông coi về cơm nước cho chúng tăng, một đêm nghe tiếng chuông bỗng nhiên tỉnh ngộ. Sư từng theo hầu ngài Chu lí đến Kim lăng thỉnh Đại tạng kinh, rồi đi khắp nơi tham vấn các bậc tôn túc như Thiên đồng, Lục tuyết, v.v... Sau khi trở về quê, sư sáng lập chùa Bảo hoa ở núi Thủy mục. Ngoài việc xiển dương Thiền pháp, sư còn truyền bá Luật học, tông phong rạng rỡ, đạo tràng hưng thịnh một thời. Sau sư phó pháp cho đệ tử là Phi tướng Phổ hành. Năm Khang hi thứ 3 (1664) sư tịch, thọ 73 tuổi, đệ tử xây tháp thờ ở núi Thủy mục. Sư để lại các tác phẩm: Thương sơn tập, Không minh tập, Khổ hải từ hàng tập, Tông môn ngữ lục, Nam đăng tục diệm. [X. Điền thích kỉ Q.2; Tân tục cao tăng truyện Q.21].

hồng phúc

Vast happiness. ; 1) Đại hạnh phúc: Great happiness. 2) Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Chùa còn có tên là Chùa Hòe Nhai. Tương truyền chùa được xây vào thời nhà Lý, và đã trải qua các cuộc trùng tu vào những năm 1687, 1899, và 1952. Bên phải chùa có tháp Ấn Quang, được dựng lên để kỷ niệm Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu năm 1963. Chùa còn là Tổ Đình của Thiền phái Tào Động. Hiện Hòa Thượng Thích Đức Nhuận trụ trì chùa. Trong chùa có một số bia đá, đặc biệt là bia dựng năm 1703, ghi rõ vị trí chùa ở phường Hòe Nhai, tại Đông Bộ Đầu, nhờ thế mà các nhà sử học ngày nay xác định được vị trí quân đội Việt Nam chiến thắng quân đội Mông Cổ vào năm 1258. Trong chùa còn lưu giữ nhiều pho tượng bằng gỗ và đồng, đặc biệt là pho tượng kép bằng gỗ vào thời Hậu Lê. Theo sách Thiền Sư Việt Nam của Hòa Thượng Thích Thanh Từ: “Trong chùa có tượng vua Lê Hy Tông để tượng Phật trên lưng quỳ sám hối.”: Name of a temple, located in Ba Đình district, Hanoi City, North Vietnam. It is also called Hồng Phúc Tự. It was said that Hòe Nhai Temple was built in the Lý dynasty and rebuilt in 1687, 1899, and 1952. On the right side of the temple stands Ấn Quang stupa built to memorized Most Venerable Thích Quảng Đức who burnt himself in 1963. The temple is also considered the Patriarch House of the Tào Động Ch'an Sect. Most Venerable Thích Đức Nhuận is now Head or abbot of the temple. Hòe Nhai Temple has some famous stelae, especially the stele that was built in 1703, showing that the temple was situated in Hòe Nhai quarter, Đông Bộ Đầu. This important fact helped the historians locate the place where Vietnam Army won over Yuan army in 1258. The statue is placed in the Main Hall. A great deal of wooden and bronze statues have been conserved in the temple. The most extraordinary is a wooden double statue cast in the late Lê dynasty. According to Vietnam Ch'an Masters, composed by Ch'an Master Thich Thanh Từ, “the Buddha statue was placed on king Lê Hy Tông statue's back as the King kneeling in repentance.”

hồng phúc tự

6542位於貴州貴陽。乃貴陽之主要名勝,亦為西南之一大叢林。其大殿建築宏偉壯麗,重簷飛尖,畫棟雕樑,氣魄雄偉。

hồng phạm

Hung-fan (C) Tên một vị sư.

hồng phả lê sắc a di đà

3925即佛身及衣等悉帶有紅頗梨色之阿彌陀佛尊像。以西方阿彌陀佛配屬五大、五色,屬於火大、赤色,爲五佛之一。乃坐於紅蓮花上之紅色尊像,即阿彌陀佛結跏趺坐,頭上戴金剛五佛之寶冠,左右兩手結定印,威容端嚴。係一單獨之造像。此種佛畫甚多,間亦有木雕之像。〔守護國界主陀羅尼經卷二、無量壽如來觀行供養儀軌〕 ; (紅頗梨色阿彌陀) Tượng đức Phật A di đà có mầu pha lê hồng, ngồi kết già trên tòa sen hồng, đầu đội mũ báu ngũ Phật kim cương, 2 tay kết Định ấn, uy dung đoan nghiêm. Là một trong 5 đức Phật. Nếu phối hợp với 5 đại, thì vì đức Phật A di đà ở về phương Tây nên thuộc hỏa đại, nếu phối với 5 mầu thì Ngài thuộc về mầu đỏ. [X. kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà là ni Q.2; Vô lượng thọ Như lai quán hành cúng dường nghi quĩ].

hồng quan âm

3926西藏佛教密宗本尊之一。爲觀音之化身。 ; (紅觀音) Hóa thân của bồ tát Quan âm. Một trong các vị Bản tôn của Mật tông thuộc Phật giáo Tây tạng.

hồng quang tự

Honganji (J) Tên một ngôi chùa ở Nhật bổn cũa phái Chơn tông (Tịnh độ) cất từ thế kỷ 13.

hồng thủy

Flood.

Hồng trần

(紅塵): nguyên nghĩa là bụi đất nhìn như thể màu hồng dưới ánh mặt trời, từ đó nó có nghĩa là cuộc sống thế tục, hay chuyện đời phiền toái. Trong bộ Vĩnh Bình Quảng Lục 10 (永平廣錄, Eiheikōroku) của Thiền Sư Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253), vị tổ khai sáng ra Tào Động Tông (曹洞宗, Sōtō-shū) Nhật Bản, có mấy câu thơ rằng: “Tây lai tổ đạo ngã truyền Đông, câu nguyệt canh vân mộ cổ phong, thế tục hồng trần phi bất đáo, thâm sơn tuyết dạ thảo am trung (西來祖道我傳東、鉤月耕雲慕古風、世俗紅塵飛不到、深山雪夜艸庵中, Tổ đạo Tây lai ta truyền Đông, câu nguyệt cày mây nhớ cổ phong, bụi trần thế tục nào vướng lụy, thâm sơn đêm tuyết thảo am nằm).”

hồng trần

Red dust—Universe—World

Hồng Trắc

洪陟; C: hóngzhì; J: ōchoku; K: hongch'ŏk.|Tăng sĩ Hàn Quốc vào thời đại Tân La (e: silla); là người sáng lập trường phái Thật tướng sơn (實相⼭; k: silsangsan) của Phật giáo Hàn Quốc, là một trong Cửu sơn vào thời kì đầu của Phật giáo thiền Cao Li. Sư cùng sang Trung Hoa với người bạn là Đạo Nghĩa (道義; k: toŭi) tham học với Thiền sư Trí Tạng (智藏).

hồng trắc

3863新羅僧。朝鮮佛教禪門九山實相山派之祖。又稱洪直。憲德王(809~825 在位)時來唐,嗣西堂智藏之法。歸國後,於興德王三年(828)開創智異山實相寺,闡揚西堂之禪旨,蔚成實相山派,與北山(迦智山)之道義並稱。門弟子中較著者有片雲、秀徹。諡號「證覺大師」。〔祖堂集卷十七〕

Hồng Trắc 洪陟

[ja] コウチョク ōchoku ||| Hongch'ŏk (fl. 830); Silla period; the founder of the Korean Silsangsan (實相山) school, which was one of the original "nine mountains " schools in the early period of Korean Sŏn Buddhism. He studied in China together with his colleague Toŭi 道義 under the tutelage of the Chan master Zhizang 智藏. => (k: Hongch'ŏk). Tăng sĩ Cao Ly vào thời đại Tân La (Silla); là người sáng lập Thật tướng sơn 實相山của Phật giáo Cao Ly, là một trong Cửu sơn vào thời kỳ đầu của Phật giáo Thiền Cao Ly. Sư cùng sang Trung Hoa với người bạn là Đạo Nghĩa (k: Toŭi 道義) tham học với Thiền sư Trí Tạng (c: Zhizang 智藏).

hồng tuân

3864(530~608)隋朝律宗僧。相州(河南安陽)人,俗姓時。八歲出家,受具足戒後,專學律部,遊學各地。嘗從慧光之門人道雲學律要及華嚴,並參聽大論,又受法於鄴都道暉,復登座覆述講經,眾皆欣仰。其後修習大論、毘曇,與禪林之調順法,達十年之久。後又再次習律業,從學者有千人之多。承光五年(577),北齊爲北周所滅,師隱於白鹿巖。隋開皇七年(587),奉勅住大興善寺。十一年,爲十大德沙門之一,參與梵僧闍那崛多之譯場。十六年,勅爲「講律眾主」,在崇敬寺講四分律,使從來僅重視僧祇律之關內律學爲之一變;另又宣講法華經。大業四年五月,入寂於大興善寺,世壽七十九。門下有洪淵,法孫中較著名者有相部宗祖法礪。著有四分律大純鈔五卷。〔續高僧傳卷二十一、歷代三寶紀卷十二、開元釋教錄卷七〕 ; (洪遵) (530-608) Vị cao tăng thuộc Luật tông sống vào đời Tùy, người Tương châu (huyện An dương, tỉnh Hà nam), họ Thời. Sư xuất gia năm 8 tuổi, lớn lên, sau khi thụ giới Cụ túc, đi các nơi học về Luật. Sau, sư theo ngài Đạo vân học Hoa nghiêm và Đại luận, rồi lại thụ pháp nơi ngài Đạo huy ở Nghiệp đô. Về sau, sư tu tập Đại luận, Tì đàm và pháp điều thuận của Thiền, suốt 10 năm. Từ đó, sư bắt đầu dạy Luật, người theo học có tới hơn nghìn vị. Năm Thừa quang thứ 5 (577), Bắc Tề bị Bắc Chu tiêu diệt, sư ẩn cư ở núi Bạch lộc. Năm Khai hoàng thứ 7 (587) đời Tùy, sư vâng sắc lệnh của vua về trụ trì chùa Đại hưng thiện. Năm Khai hoàng 11 (591), sư là một trong 10 vị Đại đức sa môn tham dự vào Dịch trường của ngài Xà na quật đa, người Ấn độ. Năm Khai hoàng 16 (596), sư được phong hiệu là Giảng Luật Chúng Chủ , giảng luật Tứ phần ở chùa Sùng kính, khiến cho nền Luật học ở Quan nội xưa nay vốn chỉ coi trọng luật Tăng kì, nhờ đó được thay đổi. Ngoài ra, sư còn giảng kinh Pháp hoa. Năm Đại nghiệp thứ 4 (608), sư tịch, thọ 79 tuổi. Sư có tác phẩm: Tứ phần luật đại thuần sao 5 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.21; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.12; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].

hồng táo

Rose apple

hồng tú toàn

3862(1813~1864)廣東人。清宣宗(1821~1850)末年,率上帝會信徒起兵,自號天王。咸豐元年(1851)建號太平天國,以廣西永安(蒙山)爲首都,攻陷南京,勢力及於十六省,共歷十五年。因其禁止耶穌基督以外之一切信仰,致使佛教寺院、僧團、經典、佛像等遭受嚴重破壞。軍力所到之處,寺宇佛像焚燬殆盡,成爲時人反對太平軍之主要原因,曾國藩起兵時所發佈之檄文,即以之爲太平軍之一項重大罪行。

Hồng từ

(鴻慈): đại ân, ơn lớn. Như trong bài Nghĩ Lý Hồng Chương Trần Miêu Sự Triệp Tử (擬李鴻章陳苗事摺子) của Vương Khải Vận (王闓運) có câu: “Mi khu khỏa giáp, mạc đáp hồng từ (糜軀裹甲、莫答鴻慈, nát thân bọc giáp, chẳng đáp ơn sâu).” Hay trong Tứ Minh Nhân Nhạc Dị Thuyết Tùng Thư (四明仁岳異說叢書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 56, No. 948) lại có đoạn: “Phục vọng hồng từ, khúc tứ tinh sát, hạnh thậm hạnh thậm (伏望鴻慈、曲賜精察、幸甚幸甚, cúi mong đại ân, xét soi ban bố, may thay may thay).”

Hồng tự nghĩa

吽字義; C: hŏngzìyì; J: unjigi;|Ý nghĩa của chữ Hồng »Hūṃ«. 1 quyển, Không Hải (空海; j: kūkai) trứ tác năm 817. Một bản luận giải về linh tự hūm (Hồng tự 吽字), giải thích về mặt ngôn ngữ của hợp thể các âm vị h, a, ū and m (như được trình bày trong tác phẩm Lí thú thích 理趣釋 của Bất Không; s: amoghavajra). Ba âm nầy xem như có ý nghĩa chuẩn mực là Giải (解) đối với hàng phàm phu; và ý nghĩa rốt ráo là Thích (釋), cho các Đức Như Lai; và ý nghĩa bao quát, hợp thích (合釋), tổng hợp ý nghĩa chuẩn mực và rốt ráo. Theo ý nghĩa thông thường, âm ›h‹ là nguyên nhân (因; s: hetva), ›a‹ là mẹ của tất cả âm thanh (衆聲之母; A tự 阿字), ›u‹ là trừ diệt (tổn diệt 損減; s: ūna), và ›ṃ‹ là ›ngã‹ (我; s: ātman). Nghĩa rốt ráo của ›h‹ là: nguyên nhân ban đầu là không thể nắm bắt được; ›a‹ là cái tuyệt đối được định nghĩa trong Trung luận (中論; s: mādhyamikakārika), đó rõ là: biến khắp, nghĩa là âm ›a‹ biến khắp các âm thanh, thế nên có đặc tính hoàn toàn hiện hữu (有), vốn là không (空) và bất sinh (不生); ›u‹ có nghĩa Nhất thiết chư pháp tổn diệt bất khả cố (一切諸法損減不可故); và ›ṃ‹ biểu thị cho các pháp không có một tự thể thường hằng. Không Hải kết luận ›h‹ là thể của các pháp (Pháp thân 法身; s: dharma); ›a‹ là Báo thân (報身), ›ū‹ chỉ cho Ứng thân (應身), ›ṃ‹ là thân lịch sử (hoá thân 化身).

hồng tự nghĩa

2828全一卷。日僧空海撰。又作吽字釋、吽字真言。為日本真言宗十卷章之一,三部書之一。今收於大正藏第七十七冊。解說???(hūṃ,吽)字由???(a,阿)、???(ha,賀)、???(ū,污)、???(ma,蛱)等四字所合成,說明此字象徵菩提心,為金剛薩埵之種子,具有一切萬法之義。為解說吽字之字相(阿、賀、污、蛱等四字之解釋,為顯教之釋)與字義(密教之深祕釋)之必修聖典。 ; (吽字義) Cũng gọi Hồng tự nghĩa thích, Hồng tự chân ngôn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Không hải, vị tăng Nhật bản soạn, được đưa vào Đại chính tạng tập 77. Nội dung sách này giải thích về tự tướng (theo Hiển giáo) và tự nghĩa (theo thâm nghĩa của Mật giáo) của chữ (hùô). (xt. Hồng).

Hồng tự nghĩa 吽字義

[ja] ウンジギ Unjigi ||| Unjigi; 'The Meanings of 'Hūṃ'; 1 fasc., T 2430.77.404-408; by Kūkai 空海 in 817. A deconstruction of the gnostic syllable hūm 吽字, explained in terms of its component sounds h, a, ū and m (as given in Amoghavajra's 'Explaining the Guiding Principle' Yiliqushi 理趣釋 [T 1003]). These sounds are considered in terms of standard meaning 解, available to ordinary people; ultimate meaning 釋, known to the Tathāgatas; and a composite meaning 合釋 which synthesizes the standard and ultimate meanings. According to the standard meaning, 'h' is causes (hetva 因), 'a' is "the mother of all sounds" (衆聲之母; see also 阿字), 'ū' is lack (ūna 損減), and 'ṃ' is self (ātman 我). The ultimate meaning for 'h' is that first causes are unobtainable; 'a' is the absolute as defined in the Mādhyamikakārikas 中論 [T.1654], namely, it is all-pervasive just as 'a' pervades all sounds, and so is characterised as pure being 有, inherently null 空 and uncreated 不生; 'u' ultimately means that no thing is without (一切諸法損減不可故); and 'ṃ' stands for no thing having permanent self-existence. Kūkai concludes that 'h' is the body of dharmas 法身, 'a' is the body of reward 報身, 'ū' denotes emanated bodies 應身 and 'ṃ' is the historical body 化身. => j: Unjigi Ý nghĩa của chữ Hồng 'Hūṃ'. 1 quyển. Không Hải 空海 j: Kūkai trứ tác năm 817. Một bản luận giải về linh tự Hūm (Hồng 吽字), giải thích về mặt ngôn ngữ của hợp thể các âm vị H, A, ū và M (như được trình bày trong tác phẩm Lý thú thích 理趣釋 c: Yiliqushi của Bất Không, s: Amoghavajra). Ba âm nầy xem như có ý nghĩa chuẩn mực là Giải 解 đối với hàng phàm phu; và ý nghĩa rốt ráo là Thích, cho các Đức Như Lai; và ý nghĩa bao quát ( 合釋 hợp thích) tổng hợp ý nghĩa chuẩn mực và rốt ráo, âm 'H' là nguyên nhân (因 s: hetva ), 'A' là mẹ của các âm thanh 衆聲之母; xem A tự 阿字 ), 'U' là trừ diệt (ūna 損減 tổn diệt), và 'ṃ' là 'ngã' (我 s: ātman). Nghĩa rốt ráo của 'h' chỉ ra nguyên nhân ban đầu là không thể nắm bắt được; 'A' tuyệt đối được định nghĩa trong Trung luận Mādhyamikakārikas 中論, đó là, biến khắp, nghĩa là âm 'A' biến khắp các âm thanh, thế nên có đặc tính hoàn tòan hiện hữu, vốn là Không và Bất sinh; 'U' có nghĩa Nhất thiết chư pháp tổn diệt bất khả cố; và 'ṃ' biểu thị cho các pháp không có một tự thể thường hằng. Không Hải kết luận 'H' là thể của các pháp ( 法身Pháp thân s:dharmas); 'A' là thể của Báo thân(報身e: body of reward), 'ū' biểu thị cho ứng thân, 'ṃ' là thân lịch sử (hoá thân 化身 )

hồng tự quán

2829即密教修法中以「吽」字作觀之觀法。???(hūṃ,吽)為印度吠陀時代以來用於咒法之真言密語,於密教中,以此字含有多重深義及無量功德,故阿㗚如來、金剛薩埵、金剛波羅蜜、金剛軍荼利及胎藏界金剛手院之諸尊均以此字為其種子,乃密教各種密語中,特受重視者。據不空所譯金剛王菩薩祕密念誦儀軌載,行者觀想自身為金剛薩埵,在兩膝、心、舌及兩手觀想「吽」字,吽字遂騰放金光,照見法界。〔諸儀軌稟承錄卷五〕 ; (吽字觀) Pháp quán chữ (hùô, hồng), trong pháp tu của Mật giáo. Chữ Hồng là mật ngữ (chân ngôn) dùng trong chú pháp từ thời Phệ đà ở Ấn độ đến nay. Trong Mật giáo, chữ này bao hàm nhiều ý nghĩa sâu xa và có vô lượng công đức, cho nên đức A súc Như lai, Kim cương tát đỏa, Kim cương ba la mật, Kim cương quân đồ lợi và chư tôn trong viện Kim cương thủ thuộc Thai tạng giới, đều lấy chữ này làm chủng tử của mình. Cứ theo Kim cương vương bồ tát bí mật niệm tụng nghi quĩ do ngài Bất không dịch, thì hành giả quán tưởng tự thân là Kim cương tát đỏa, quán chữ Hồng ở 2 đầu gối, tim, lưỡi và 2 tay, chữ Hồng liền phóng ra ánh sáng vàng, chiếu khắp pháp giới. [X. Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.5].

hồng uẩn

3864(937~1004)宋代僧。湖南長沙人,俗姓藍。年十三,依開福寺僧智巴出家,習方技之書,尤工於診切,遂以醫技出名。太祖召見,賜紫方袍,號「廣利大師」。咸平初年,補右街首座,累至左街副僧錄。於宋景德元年入寂,世壽六十八。〔宋史卷四六一、新續高僧傳卷六十〕

hồng vận

good luck—Good fortune

hồng y

Cardinal.

hồng yển

3863(504~564)南朝陳代僧。會稽山陰(浙江紹興)人,俗姓謝。自幼風神穎秀,好讀書,神悟絕倫。少小出塵,從龍光寺綽法師學法,深究奧義。後開筵聚眾講成實論,聲譽大揚。又善詩畫,所作隸書,亦復文采洒落,一時無比,故時人稱其貌、義、詩、書爲四絕。梁簡文帝勸其返俗入仕,然師執志未從。後避亂,入縉雲,止於若耶雲門精舍。陳武帝定天下後,天嘉(560~563)初年,師於建康宣武寺敷席講經,學徒雲集,盛冠一時。撰有成實論疏數十卷、文集二十餘卷。於天嘉五年示寂,世壽六十一,葬於鐘山開善寺東岡。〔續高僧傳卷七〕 ; (洪偃) (504-564) Vị tăng sống vào đời Trần thuộc Nam triều, người Sơn âm, Cối kê (nay là huyện Thiệu hưng, tỉnh Chiết giang), họ Tạ. Sư thông minh từ thưở nhỏ, thích đọc sách, xuất gia học đạo nơi pháp sư Xước ở chùa Long quang, chuyên nghiên cứu giáo nghĩa. Sau, sư mở đạo tràng giảng luận Thành thực, đồ chúng đến nghe rất đông, tiếng tăm vang xa. Sư còn giỏi về thi họa, viết chữ lệ, văn chương phóng khoáng, ít ai sánh kịp, cho nên người thời bấy giờ gọi mạo, nghĩa, thi, thư của sư là Tứ tuyệt. Vua Giản đế đời Lương khuyên sư hoàn tục làm quan nhưng sư không chịu. Sau vì chạy loạn nên sư vào ở trong tinh xá Nhã da tại Tấn vân. Sau khi vua Vũ nhà Trần bình định được thiên hạ, sư mở đạo tràng giảng kinh tại chùa Tuyên vũ ở Kiến khang, người đến nghe rất đông, hưng thịnh một thời. Năm Thiên gia thứ 5 (564) sư tịch, thọ 61 tuổi. Tác phẩm của sư gồm: Thành thực luận sớ, Văn tập (mỗi thứ hơn 20 quyển).

hồng ân

Great mercy, blessing. ; Great favour.

Hồng 吽

[ja] ウン un ||| The Sanskrit syllable hūṃ, considered to be the generic seed of all deities. It is often used in mantras and dhāraṇīs. It is composed from the four phonemes a अ, ha ह, u उ, and ma म. => Âm của chữ hūṃ trong tiếng Sanskrit, được xem như chủng tử chung của các thần. thường được dùng trong các mantras và dhāraṇīs.Đươc cấu thành bởi 4 âm vị A अ, HA ह, U उ, và MA म

hổ

Vyaghra (skt)—A tiger.

hổ bào tuyền

3511<一>位於今浙江杭縣大慈山虎跑寺。虎跑寺本名大慈定慧禪寺,相傳唐元和十四年(819)寰中禪師居此,苦於無水,一日,忽有二虎跑地作穴,泉水隨即湧出,故稱虎跑泉,寺亦因此易名。泉水甘冽,向有「天下第三泉」之美稱,而龍井茶葉與虎跑水合稱雙絕。宋蘇軾詩:「道人不惜階前水,借與匏尊自在嘗。」即指此泉。泉西爲宋代高僧道濟之塔院遺址,山後有弘一法師塔,供奉法師部分遺骨。〔大明一統志卷三十八、大清一統志卷二一七〕 <二>位於江西九江縣南之廬山東林寺後,亦即於上方舍利塔之北方峰頂上。晉代慧遠與蓮社諸賢常至此峰頂遊賞,每爲水遠而苦,一日,忽有虎跑而自石中出泉,遂得虎跑泉之名。〔廬山記卷一〕 ; (虎跑泉) I. Hổ Bào Tuyền. Suối ở chùa Hổ bào, núi Đại từ, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang. Chùa Hổ bào tên cũ là Đại từ định tuệ thiền tự; tương truyền vào năm Nguyên hòa 14 (19) đời Đường, thiền sư Hoàn trung đến ở chùa này, rất khổ cực vì không có nước. Một hôm, bỗng có 2 con hổ đến đào đất làm hang, nước theo đó phun lên, vì thế có tên là suối Hổ bào và chùa Đại từ định tuệ thiền từ đó cũng được đổi lại gọi là chùa Hổ bào. Nước suối trong mát và ngọt, được xếp hạng là Suối thứ 3 trong thiên hạ . Phía tây suối còn lại nền một ngôi tháp thờ ngài Đạo tế, vị Cao tăng đời Tống và phía sau núi có tòa tháp thờ một phần di cốt của pháp sư Hoằng nhất. [X. Đại minh nhất thống chí Q.38; Đại thanh nhất thống chí Q.217]. II. Hổ Bào Tuyền. Suối ở phía bắc tháp Xá lợi trên đỉnh núi, đàng sau chùa Đông lâm, Lô sơn, mạn nam huyện Cửu giang, tỉnh Giang tây, Trung quốc. Tương truyền vào thời Đông Tấn, ngài Tuệ viễn cùng với các vị Hiền sĩ Liên xã thường đến ngọn núi này du ngoạn, nhưng rất khổ vì không có nước. Một hôm, có con hổ đến đào hang, nước bỗng từ đó phun lên nên gọi là Hổ bào tuyền (suối do hổ đào). [X. Lô sơn kí Q.1].

hổ bào định huệ tự chí

3511清代聖光撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。虎跑定慧寺,原稱大慈定慧禪寺,俗稱虎跑寺,位於今浙江杭縣大慈山。唐元和十四年(819),寰中禪師卓錫結菴於此。歷經宋元明三代,屢毀屢建。清雍正九年(1731)重修,咸豐十一年(1861)毀於兵火,同治六年(1867)重建。寺志原有康熙中本然深禪師手撰稿,毛奇齡作序,特見推許,惜毀於咸豐十一年頃。光緒二十六年(1896),住持聖光乃重輯,成稿本一帙,有宸恩、建置、山水諸門,每門後附歷代詠寺詩。

hổ huyệt lục

3510請參閱 虎丘紹隆禪師語錄 凡二卷。全稱大興心宗佛德廣通國師虎穴錄。又作悟溪和尚語錄、悟溪錄。日本臨濟宗僧悟溪宗頓(1416~1500)撰,宗柱重訂。收於大正藏第八十一冊。收錄龍寶山大德寺語錄、正法山妙心寺語錄、青龍山瑞泉寺語錄、示眾、法語、偈頌、道號、像贊、佛事、行狀、雜錄等。 ; (虎穴錄) Gọi đủ: Đại hưng tâm tông Phật đức quảng thông Quốc sư Hổ huyệt lục. Cũng gọi Ngộ khê hòa thượng ngữ lục, Ngộ khê lục. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Ngộ khê Tông đốn (1416-1500) thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, ngài Tông trụ trùng đính, được thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung sách này thu chép những Ngữ lục của ngài Ngộ khê Tông đốn khi ngài trụ tại các chùa: Diệu tâm núi Chính pháp, Đại đức núi Long bảo, Thụy tuyền núi Thanh long, gồm các tiết mục: Thị chúng, Pháp ngữ, Kệ tụng, Đạo hiệu, Tượng tán, Phật sự, Hành trạng, Tạp lục….

hổ hổ bà

Hahava (skt)—The fifth hell—See Địa Ngục (b) (5).

hổ hổ bà địa ngục

3511虎虎婆,梵名 Huhuva。八寒地獄之第五。又作虎虎凡地獄、嘔喉喉地獄、嘔睺睺地獄。此地獄之眾生受嚴切之苦,口不能開,唯發虎虎婆之苦聲,故稱此地獄爲虎虎婆。瑜伽師地論卷四(大三○‧二九七上):「又 ; (虎虎婆地獄) Hổ hổ bà, Phạm: Huhuva. Cũng gọi Hổ hổ phàm địa ngục, Ẩu hầu hầu địa ngục. Địa ngục thứ 5 trong 8 địa ngục lạnh. Chúng sinh trong địa ngục này chịu cái khổ rét buốt như cắt, không mở miệng được, chỉ rên hừ hừ, hòa hòa (hổ hổ bà). Luận Du già sư địa quyển 4 (Đại 30, 297 thượng), nói: Hát tích hỗ, Hác hác phàm, Hổ hổ phàm, ba địa ngục này dựa theo tiếng kêu khổ não khác nhau của tội nhân thốt lên mà đặt tên . [X. kinh Khởi thế Q.4; kinh Đại lâu thán Q.2; luận Câu xá Q.11; luận Đại trí Suối Hổ Bào ở Núi Đại Từ độ Q.16].

Hổ Kheo Thiệu Long

(虎丘紹隆, Kukyū Shōryū, 1077-1136): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người Huyện Hàm Sơn, Hòa Châu (和州, Tỉnh An Huy). Ban đầu ông xuất gia ở Phật Từ Viện (佛慈院) trong huyện, rồi đến tham học với Tịnh Từ Sùng Tín (淨慈崇信) ở Trường Lô (長蘆) cũng như một số Thiền tượng khác như Trạm Đường Văn Chuẩn (湛堂文準) ở Bảo Phong (寳峰), Tử Tâm Ngộ Tân (死心悟新) ở Hoàng Long (黃龍) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤). Ông theo hầu thầy suốt 20 năm trường, sau đó trở về cố hương, rồi bắt đầu khai đường thuyết pháp ở Khai Thánh Thiền Viện (開聖禪院) vùng Hòa Châu. Về sau, ông chuyển đến sống một số nơi khác như Chương Giáo Thiền Viện (彰敎禪院) ở Tuyên Châu (宣州, Tỉnh An Huy), Linh Nham Thiền Tự (靈巖禪師寺) ở Hổ Kheo Sơn (虎丘山) thuộc Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô). Chính trong khoảng thời gian này, ông đã cùng với Nhược Bình (若平) biên tập các ngữ lục của Khắc Cần. Vào ngày mồng 8 tháng 5 năm thứ 6 (1136) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), ông thị tịch, hưởng thọ 60 tuổi đời và 45 hạ lạp. Môn nhân Từ Thoại (嗣瑞) biên tập cuốn Hổ Kheo Long Hòa Thượng Ngữ Lục (虎丘隆和尚語錄) 1 quyển.

hổ khâu phái

3509臨濟宗楊岐派之支流。以紹隆爲開祖。紹隆住於虎丘山,故有此稱。紹隆與大慧宗杲共同師事楊岐方會之下三世孫圓悟克勤,宗杲之法系則稱大慧派。紹隆門風孤峻,得法者僅應庵曇華一人;法孫則有密庵咸傑、禾山心鑒等八人。密庵之下有破庵祖先、松源崇岳、曹源道生等高僧輩出,法道大興。元代以後,該門流更東傳日本。〔佛祖歷代通載卷三十、五燈會元卷十九、禪宗正脈卷十九〕 ; (虎丘派) Chi phái thuộc dòng Dương kì, tông Lâm tế, do thiền sư Thiệu long ở núi Hổ khâu khai sáng vào đời Tống. Thiệu long và Đại tuệ Tông cảo là đệ tử của ngài Viên ngộ Khắc cần (đời thứ 3 của phái Dương kì Phương hội), thành lập 2 chi phái lớn. Phái của thiền sư Tông cảo được gọi là phái Đại tuệ, phái của thiền sư Thiệu long được gọi là phái Hổ khâu, vì môn phong của phái này tuyệt hiểm nên chỉ có một người đắc pháp là sư Ứng am Đàm hoa, nhưng dưới sư Ứng am thì có 8 vị, trong đó 2 vị Mật am Hàm kiệt và Hòa sơn Tâm giám là xuất sắc nhất. Dưới ngài Mật am có nhiều vị cao tăng xuất hiện như: Phá am Tổ tiên, Tùng nguyên Sùng nhạc, Tào nguyên Đạo sinh, v.v... làm cho đạo pháp hưng thịnh. Từ đời Nguyên trở về sau, môn phái này được truyền sang Nhật bản. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.30; Ngũ đăng hội nguyên Q.19; Thiền tông chính mạch Q.19].

hổ khâu sơn

3509位於江蘇吳縣閶門外。又稱武丘山、虎邱山、海湧峰。春秋晚期吳王夫差葬父闔閭於此,相傳葬後三日,有白虎踞於墓上,故稱虎丘;一說該丘形如蹲虎,遂以外形而得名。 東晉太和三年(368),司徒王珣與弟司空王珉於此建二座別墅,後捨宅爲寺,稱爲虎丘山寺,而有東、西二寺之分。至唐代,因避太祖李虎之諱,改名武丘報恩寺。會昌(841~846)法難期間,寺遭損毀,後移至山頂重建而合爲一寺。北宋至道年間(995~997)重建,任職知州事之魏庠奏請改名雲巖禪寺。清康熙二十三年(1684),聖祖南巡,於山南建萬歲樓,四十六年,勅賜匾額,建御書亭,更寺名爲虎阜禪寺。 初於晉時,竺道壹、曇諦、岌法師等諸師相續入山弘揚教法,道壹並於東寺示寂。竺道生倡「一闡提可成佛」之說,遭世所擯時,亦遁入此山,未及十日,數百僧徒亦相隨而至。道生立石說法,獲石點頭感應,留下「生公說法,頑石點頭」之佳話。梁代僧旻,幼時在該處修學;復興三論宗之僧詮,晚年亦駐錫於此,並造立金像供奉於東寺。隋、唐二朝高僧頗多駐此山者,如智聚、慧嚴、僧瑗、齊翰等,其中,僧瑗於武后時住此,撰武丘名僧苑一卷。至宋代,禪風大盛,遂成爲禪僧之修行道場。及至紹隆(1077~1136)來住,僧眾雲集,道聲顯揚,遂形成虎丘派。 南宋紹興(1131~1162)年間,雲巖寺之規模宏偉,琳宮寶塔,重樓亭閣,被列爲五山十剎中之第九剎。又古人曾以「塔從林外出,山向寺中藏」、「紅日隱檐底,青山藏寺中」來描繪虎丘景色。虎丘高僅三十餘公尺,佔地二百餘畝,遠望之,僅是平地中之一小丘,然行至千人石、劍池之地,便覺氣勢雄偉,如置身絕巖縱壑間。白居易出任蘇州刺史時,常至此遊賞,山前河塘爲白居易所主持開鑿,河塘之白公堤,乃吳中第一勝景。 自隋迄清,虎丘寺曾七次興廢,劫後幸存者僅五代所建之雲巖寺塔及元代所建之斷梁殿,其餘皆後來所重 建。山中名勝有千人石、劍池、憨憨泉、試劍石、孫武子亭、白蓮池、二仙亭、第三泉、冷香閣、致爽閣、小吳軒、擁翠山莊等。〔梁高僧傳卷五、續高僧傳卷五、宋高僧傳卷四、卷十五、大明一統志卷八、讀史方輿紀要卷二十四、蘇州府志卷七、卷四十二〕(參閱「虎丘派」3510、「雲巖寺」5350) ; Hu-Ch'iu-Shan—Tên một tự viện ở Tô Châu, nơi phát xuất một tông phái Thiền, được Ngài Thiệu Long sáng lập—A monastery at Soo-Chou, which gave rise to a branch of he Ch'an school, founded by Shao-Lung. ; (虎丘山) Cũng gọi Vũ khâu sơn, Hải dũng phong. Núi ở huyện Ngô, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Vào cuối thời Xuân thu, vua Ngô phù sai chôn cất thân phụ là Hạp lư ở đây, tương truyền, sau khi chôn cất được 3 ngày thì có con hổ trắng đến ngồi ở trên mộ, vì thế gọi là Hổ khâu. Một thuyết khác thì cho rằng hình dáng núi này giống như con hổ ngồi, cho nên đặt tên Hổ khâu. Năm Thái hòa thứ 3 (368) đời Đông Tấn, quan Tư đồ Vương tuân và em là quan Tư không Vương dân xây cất 2 ngôi biệt thự ở đây, về sau biến 2 biệt thự này làm 2 ngôi chùa gọi là chùa Hổ khâu sơn Đông và Tây. Đến đời Đường, vì tránh tên húy của vua Thái tổ là Lí hổ nên đổi tên chùa là Vũ khâu báo ân tự. Thời kì pháp nạn Hội xương (841- 846) chùa bị phá hủy, sau được dời lên làm trên đỉnh núi và thu lại còn một chùa. Khoảng năm Chí đạo (995-997) đời Bắc Tống, chùa được xây dựng lại, quan Tri châu tên là Ngụy tường tâu xin đổi tên chùa là Vân nham Thiền tự. Đầu đời Tấn, các ngài Trúc đạo nhất, Đàm đế, pháp sư Ngập, v.v... lần lượt đến đây hoằng dương giáo pháp. Ngài Trúc đạo sinh đề xướng thuyết Nhất xiển đề thành Phật , bị giới Phật giáo đương thời phản đối kịch liệt, cũng lánh vào núi này với hàng trăm người đi theo. Tương truyền ở đây ngài Đạo sinh dựng đá nói pháp, đá cũng gật đầu, từ đó, đời truyền tụng giai thoại: Sinh công thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu (Ông Sinh nói pháp, đá ngu gật đầu). Ngài Tăng mân ở đời Lương lúc còn nhỏ cũng tu học tại đây; ngài Tăng thuyên, Tổ trung hưng tông Tam luận, lúc cuối đời cũng về núi này tĩnh tu. Đời Tùy, Đường có rất nhiều vị cao tăng về trụ ở núi này như các ngài: Trí tụ, Tuệ nghiêm, Tăng viện, Tề hàn, v.v...… Đến đời Tống, Thiền tông phát triển mạnh, chùa trở thành đạo tràng hoằng pháp của các vị Thiền tăng. Đến khi thiền sư Thiệu long (1077?-1136) về trụ trì, đại chúng theo học rất đông, từ đó hình thành phái Hổ khâu. Khoảng năm Thiệu hưng (1131-1162) đời Nam Tống, qui mô chùa Vân nham đã to lớn, nguy nga tráng lệ, được xếp vào hàng thứ 9 trong 10 ngôi chùa lớn nhất tại Giang tô. Nhìn từ xa, núi Hổ khâu chỉ là một cái gò đất nhỏ nổi lên giữa vùng đồng bằng, nhưng khi đến gần mới cảm thấy cái khí thế hùng vĩ, như đang đi giữa chốn núi cao rừng thẳm. Từ đời Tùy đến đời Thanh, chùa Hổ khâu đã qua 7 phen hưng phế, may mắn còn lại ngôi tháp chùa Vân nham được xây dựng vào đời Ngũ đại và điện Đoạn lương kiến trúc vào đời Nguyên, ngoài ra đều do đời sau làm lại. Những thắng cảnh trong núi Hổ khâu gồm có: Thiên nhân thạch, Kiếm trì, Hám hám tuyền, Thí kiếm thạch, Tôn vũ tử đình, Bạch liên trì, Nhị tiên đình, Đệ tam tuyền, Lãnh hương các, Trí sảng các, Tiểu ngô hiên, Ủng thúy sơn trang, v.v... [X. Lương cao tăng truyện Q.5; Tống cao tăng truyện Q.4, Q.15; Đại minh nhất thống chí Q.8; Độc sử phương dư kỉ yếu Q.24; Tô châu phủ chí Q.7, Q.42]. (xt. Hổ Khâu Phái, Vân Nham Tự).

Hổ Khâu Thiệu Long

虎丘紹隆; C: hǔqiū shàolóng; J: kukyū jōryū; 1077-1136;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế đời thứ 12, phái Dương Kì. Sư là pháp tự của Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần.|Sư quê ở Hàm Sơn, xuất gia lúc 9 tuổi, tu học dưới nhiều thầy rồi sau đó mới đến yết kiến Viên Ngộ. Viên Ngộ gặp Sư liền hỏi: »Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến do li kiến, kiến bất năng cập« (Thấy mà có tướng Thấy, cái Thấy đó chẳng phải là Tính thấy, cái Thấy mà do lìa tướng Thấy mới là cái Tính thấy siêu việt), rồi đưa nắm tay lên hỏi: »Thấy chăng?« Sư thưa: »Thấy.« Viên Ngộ bảo: »Trên đầu lại để đầu.« Sư nghe câu này bỗng tỉnh. Viên Ngộ quở: »Thấy cái gì?« Sư bèn thưa: »Tre dầy chẳng ngại nước chảy qua.« Viên Ngộ hài lòng.|Sau Sư đến Hổ Khâu dạy chúng. Nơi đây, đạo rất được mộ, chúng rất thịnh hành. Khoảng niên hiệu Thiệu Hưng, Sư có chút bịnh rồi tịch.

hổ khâu thiệu long

KokyŪ JōryŪ (J) Tên một vị sư.

hổ khâu thiệu long thiền sư ngữ lục

3510全一卷。又作虎丘隆和尚語錄。宋代臨濟宗僧虎丘紹隆(1077?~1136)撰,嗣端等編。明神宗萬曆二十年(1592)刊行。收於卍續藏第一二○冊。輯錄和州開聖禪院語、宣州彰教禪院語、平江府虎丘雲巖禪寺語、初祖贊、宋臨濟正傳虎丘隆和尚塔銘等。 ; (虎丘紹隆禪師語錄) Cũng gọi Hổ khâu Long hòa thượng ngữ lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hổ khâu Thiệu long thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Tống, ấn hành vào năm Vạn lịch 20 (1592), được thu vào Vạn tục tạng tập 120. Nội dung sách này gom chép các pháp ngữ ở Khai thánh thiền viện tại Hòa châu, Chương giáo thiền viện tại Tuyên châu, Hổ khâu Vân nham thiền viện tại phủ Bình giang; và các bài: Sơ tổ tán, Tống Lâm tế chính truyền Hổ khâu Long hòa thượng tháp minh, v.v

hổ khê nham

3512位於福建廈門玉屏山北。巖下有溪,相傳古時有虎棲息於溪畔石穴,因此得名,該山即稱虎溪山。山間巖石密佈,古榕盤屈,景色絕佳,渾然天成。明萬曆年間(1573~1620)林懋時於巖間鑿洞,建棱層石室,稱爲棱層洞,並於洞頂摩崖題刻「棱層」、「摹天」四字。 明清以來,先後有池顯方、胡真卿、李暲等人於此修建寺宇,頗具規模;寺本名「玉屏」,因廬山東林寺有「虎溪三笑」之故事,故亦稱東林寺。山門額題「海嶠東林」。又棱層洞朝東,最先看到月出,月光照於洞內羅漢與土虎之上,景色清幽,遂有「虎溪夜月」之稱。 ; (虎溪岩) Núi ở mạn bắc núi Ngọc bình, Hạ môn, Phúc kiến. Dưới chân núi có khe nước, tương truyền thời xưa có hổ ở trong hang đá gần khe nước ấy, vì thế núi có tên là Hổ khê. Trong núi toàn nham thạch, những gốc si già rễ quấn chằng chịt, cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp. Khoảng năm Vạn lịch (1573- 1620), Lâm mậu thời tạo thạch thất Lăng tằng, gọi là động Lăng tằng và trên vách động khắc 4 chữ: Lăng Tằng , Mô Thiên . Từ đời Minh, Thanh trở về sau, lần lượt có các nhân sĩ: Trì hiển phương, Hồ chân khanh và Lí chương xây dựng ngôi chùa lớn ại đây. Chùa vốn có tên là Ngọc bình, nhưng vì chùa Đông lâm ở Lô sơn có sự tích Hổ Khê Tam Tiếu nên chùa này cũng gọi là chùa Đông lâm. Trên cổng chùa có tấm biển đề là Hải Kiệu Đông Lâm . Cửa động Lăng tằng nhìn ra hướng đông, khi trăng hiện lên, ánh trăng dọi vào trong động, soi trên những pho tượng La hán và các con hổ bằng đất, tạo nên cảnh sắc tịch mịch, thanh u, kì thú tuyệt vời, nên có tên là Hổ Khê Dạ Nguyệt (Khe Hổ Đêm Trăng).

hổ khê tam tiếu

3511爲儒釋道人物之畫題。儒者陶淵明與道士陸修靜相攜訪問在廬山修行之高僧慧遠,歸途中三人談笑而行,送客之慧遠不覺間跨越其自我禁足之虎溪,三人因之相視大笑,此即虎溪三笑圖所繪之內容。後世視之爲儒釋道三教親和之象徵,此類畫題現存者以宋代石恪所繪爲最古。 虎溪三笑之說始自唐代,至宋代李龍眠(公麟,1049~1106)首作三笑圖,智圓並爲之作圖贊,成爲膾炙人口之美談;於大宋僧史略卷下、隆興佛教編年通論卷八、佛祖統紀卷二十六、卷三十六、釋氏通鑑卷三、釋氏資鑑卷二、釋氏稽古略卷二等書中皆有載述。 依史實言之,慧遠示寂於東晉安帝義熙十三年(417),陶淵明若逝世於劉宋元嘉四年(427),則二人爲同一時代之人,且淵明係潯陽人,地與廬山相近,二人之交遊未必不可能。 關於陸修靜之事蹟,依辯正論卷六、甄正論卷下、集古今佛道論衡卷一、續高僧傳卷二十三曇顯傳、佛祖歷代通載卷十等所述,修靜於梁敬帝紹泰元年(555),與曇顯對論佛道二教之優劣,時當慧遠示寂後一三八年。另據佛祖統紀卷二十六載,修靜逝世於劉宋泰始三年(467);又據道教類書之雲笈七籤本傳載,修靜逝世於劉宋元徽五年(477),享年七十二。故知慧遠與修靜之時代相去甚遠,二人交遊之說極牽強。 蓋自中唐以降,儒道佛三教融和之說漸趨流行,虎溪三笑一事或係好事者就三教融和說而虛構者。此外,日本在鎌倉時代之後期,亦開始流傳該類畫作。〔廬山記卷一、閑居編卷十六、鐔津文集卷十三、東林十八高賢傳、塵添壒囊鈔卷五〕 ; (虎溪三笑) Ba người đứng cười ở khe hổ. Sự tích về ngài Lô sơn Tuệ viễn với nhà Nho Đào uyên minh và đạo sĩ Lục tu tĩnh. Tương truyền, một hôm Đào uyên minh và Lục tu tĩnh đưa nhau lên Lô sơn thăm ngài Tuệ viễn, một vị cao tăng đời Đông Tấn. Lúc khách ra về, ngài Tuệ viễn tiễn chân, 3 người vừa đi vừa chuyện trò rất tâm đắc, đến nỗi vượt qua cây cầu bắc ngang khe nước mà ngài Tuệ viễn đã tự đặt giới hạn cho mình không bao giờ được vượt qua, bỗng có tiếng hổ gầm vang, 3 người cùng giật mình, lúc đó mới biết đã đi quá giới hạn ấn định, 3 người nhìn nhau phá lên cười. Sự tích này về sau trở thành một đề tài hội họa nổi tiếng, tượng trưng cho tư tưởng Tam giáo dung hòa. Truyền thuyết Hổ Khê Tam Tiếu bắt đầu từ đời Đường, đến đời Tống, Lí long miên (Công lân, 1049-1106) là người đầu tiên vẽ tranh Tam tiếu và ngài Trí viên làm bài tán, đã trở thành giai thoại kì thú đối với nhiều người. Trong các tác phẩm như: Đại Tống tăng sử lược quyển hạ, Long hưng Phật giáo biên niên thông luận quyển 8, Phật tổ thống kỉ quyển 26, quyển 36, Thích thị thông giám quyển 3, Thích thị tư giám quyển 2, Thích thị kê cổ lược quyển 2, v.v...… đều có chép giai thoại này. Nhưng theo sự thực lịch sử, thì ngài Tuệ viễn viên tịch vào năm Nghĩa hi 13 (417) đời vua An đế nhà Đông Tấn; Đào uyên minh nếu qua đời vào năm Nguyên gia thứ 4 (427) đời Lưu Tống, thì 2 người là cùng thời đại; hơn nữa, Uyên minh là người huyện Tầm dương, gần Lô sơn, thì việc giao du giữa 2 người là điều có thể chấp nhận được. Còn về Lục tu tĩnh, theo luận Biện chính quyển 6, luận Chân chính quyển hạ, Tập cổ kim Phật đạo luận hành quyển 1, truyện Đàm hiển trong Tục cao tăng truyện quyển 23, Phật tổ lịch đại thông tải quyển 10, v.v... thì vào niên hiệu Thiệu thái năm đầu (555) đời vua Kính đế nhà Tống, Lục tu tĩnh cùng với ngài Đàm hiển biện luận về sự hơn kém của Phật giáo và Đạo giáo, lúc đó ngài Tuệ viễn đã thị tịch được 138 năm. Còn theo Phật tổ thống kỉ quyển 26, thì Lục tu tĩnh mất vào năm Thái thủy thứ 3 (467) đời Lưu Tống. Và theo Vân cấp thất tiêm bản truyện trong Đạo giáo loại thư, thì Lục tu tĩnh tạ thế vào năm Nguyên huy thứ 5 (477) đời Lưu Tống, hưởng thọ 72 tuổi. Do đó mà biết rằng thời đại giữa ngài Tuệ viễn và đạo sĩ Lục tu tĩnh cách nhau rất xa, bởi thế, nếu nói giữa 2 người có sự giao du qua lại là điều rất miễn cưỡng. Từ đời Đường trở đi, xu thế Tam giáo dung hòa đã dần dần trở thành hiện thực, cho nên truyền thuyết Hổ Khê Tam Tiếu có lẽ đã dựa vào đó mà được hư cấu. Ở Nhật bản, vào hậu kì thời đại Liêm thương, loại họa phẩm này cũng bất đầu được lưu truyền. [X. Lô sơn kí Q.1; Nhàn cư biên Q.16; Đàm tân văn tập Q.13; Đông lâm thập bát cao hiền truyện; Trần thiêm ái nang sao Q.5].

hổ ngươi

Ashamed—Shameful—Humility and shame.

Hổ Nham Tịnh Phục

(虎巖淨伏, Kugan Jōfuku, ?-?): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hổ Nham (虎巖), xuất thân Chuẩn An (准安, Chuẩn An, Tỉnh Giang Tô), pháp từ của Hư Chu Phổ Độ (虛舟普度). Ban đầu, ông làm Thủ Tòa ở Trung Thiên Trúc Tự (中天竺寺) vùng Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), sau khai đường thuyết giáo tại Thạch Sương Tự (石霜寺) thuộc Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam) và cuối cùng đến trú tại Kính Sơn (徑山) ở Hàng Châu. Vào tháng giêng năm thứ 21 (1284) niên hiệu Chí Nguyên (至元), ông vào cung nội thuyết pháp cho triều thần nghe.

hổ phách

Asmagarbha (skt)—Hổ phách là một trong thất bảo—One of the saptaratna, amber, or yellow amber—See Thất Bảo.

Hổ Quan Sư Luyện

(虎關師錬, Kokan Shiren, 1278-1346): vị Tăng của Lâm Tế Tông, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời Nam Bắc Triều, Tổ đời thứ 15 của Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), Tổ đời thứ 15 của Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji); húy là Sư Luyện (師錬), thông xưng là Hải Tạng Hòa Thượng (海藏和尚); đạo hiệu là Hổ Quan (虎關), thụy hiệu Bản Giác Thiền Sư (本覺禪師); xuất thân vùng Kyoto, họ Đằng Nguyên. Ông đến tham Thiền với Trạm Chiếu (湛照) ở Đông Phước Tự vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro); rồi năm lên 10 tuổi thì thọ giới ở trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Vào năm 1291, ông theo học pháp với Quy Am Tổ Viên (規庵祖圓) ở Nam Thiền Tự, rồi năm 1293 thì đến sống ở Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) thuộc vùng Liêm Thương. Sau khi trở về Kinh Đô Kyoto, ông lại theo học Nho Giáo với vị quan Quản Nguyên Tại Phụ (菅原在輔), rồi tu thêm cả Mật Giáo, và có được tri thức rất rộng rãi về mọi mặt. Hơn nữa ông còn cảm hóa được vị Tăng du học trở về là Nhất Sơn Nhất Ninh (一山一寧). Đến năm 1312, theo lệnh của Hậu Phục Kiến Thượng Hoàng (後伏見上皇), ông đến sống ở Hoan Hỷ Quang Viện (歡喜光院). Năm sau, ông chuyển đến Tế Bắc Am (濟北庵) ở vùng Bạch Hà (白河, Shirakawa), và năm 1215 thì khai sáng ra Bản Giác Tự (本覺寺) ở vùng Y Thế (伊勢, Ise). Năm 1322, ông hoàn thành bộ Nguyên Hanh Thích Thư (元亨釋書) ở Tế Bắc Am, bộ sử thư Phật Giáo tối cổ của Nhật Bản. Năm 1232, ông làm trú trì của Đông Phước Tự, rồi năm 1239 thì làm trú trì Nam Thiền Tự, và đến cuối đời thì ông sống nhàn cư ở Hải Tạng Viện (海藏院) nơi Đông Phước Tự. Tác phẩm để lại của ông có Nguyên Hanh Thích Thư (元亨釋書) 30 quyển, Thập Thiền Chi Lục (十禪支錄), Tục Thập Thiền Chi Lục (續十禪支錄) 3 quyển, Tế Bắc Tập (濟北集) 20 quyển, Phật Ngữ Tâm Luận (佛語心論) 18 quyển, v.v.

hổ quan sư luyện

3512(1278~1346)日本臨濟宗僧。京都人,俗姓藤原。法名師鍊。幼時穎悟而好讀書,時人稱文殊童子。十歲,在比叡山出家,並受具足戒。其後,歷參南禪寺之規菴祖圓、圓覺寺之桃溪德悟、建仁寺之無隱圓範,及鎌倉之一山一寧、建長寺之約翁德儉等諸師,並繼承祖圓之法,不僅研究宗乘,亦通內外之學。 正和二年(1313)住於嵯峨,正和三年、文保元年(1317),相繼爲白河濟北庵與伊勢本覺庵之開山祖。嘉曆元年(1326),初於三聖寺弘法,後移住東福寺、南禪寺等地。正平元年示寂於海藏院,世壽六十九。 師擅長詩文,文才直追唐宋八大家。著有元亨釋書三十卷,濟北集二十卷、佛語心論十八卷、虎關十禪支和尚錄三卷、禪餘或問二卷、禪戒規一卷等。世稱海藏和尚,勅號虎關國師、本覺國師。門人有性海靈見、龍泉令淬、日田利涉、回塘重淵等。〔海藏和尚記年錄、延寶傳燈錄卷十一、本朝高僧傳卷二十七〕 ; (虎關師煉) (1278-1346) Vị Thiền sư Nhật bản, thuộc tông Lâm tế, người Kinh đô (Kyoto) họ Đằng nguyên, pháp danh Sư luyện. Sư thông minh dĩnh ngộ từ thủa nhỏ, rất thích đọc sách, người đương thời gọi sư là đồng tử Văn thù. Năm lên 10 tuổi, sư xuất gia và thụ giới Cụ túc ở núi Tỉ duệ. Về sau, sư lần lượt tham học các ngài: Qui am Tổ viên chùa Nam thiền, Đào khê Đức ngộ chùa Viên giác, Vô ẩn Viên phạm chùa Kiến nhân, Nhất sơn Nhất ninh ở Liêm thương, Ước ông Đức kiệm chùa Kiến trường, v.v... sau sư nối pháp ngài Tổ viên. Sư không những nghiên cứu sâu rộng nghĩa tông thừa mà còn thông suốt cả nội, ngoại điển. Sư rất giỏi về văn thơ, có thể sánh ngang với Bát đại gia thời Đường, Tống của Trung quốc. Năm Chính hòa thứ 2 (1313), sư trụ tại Tha nga; năm Chính hòa thứ 3 (1314) và niên hiệu Văn bảo năm đầu (1317), sư lần lượt sáng lập am Tế bắc ở Bạch hà và am Bảo giác ở Y thế. Niên hiệu Gia lịch năm đầu (1326), lúc đầu sư hoằng pháp ở chùa Tam thánh, sau dời đến ở chùa Đông phúc, chùa Nam thiền, v.v... Niên hiệu Chính bình năm đầu (1346) sư tịch, thọ 69 tuổi. Sư có các tác phẩm: Nguyên hanh thích thư 30 quyển, Tế bắc tập 20 quyển, Phật ngữ tâm luận 18 quyển, Hổ quan thập thiền chi hòa thượng lục 3 quyển, Thiền dư hoặc vấn 2 quyển, Thiền giới qui 1 quyển. Người đời gọi sư là Hải tạng hòa thượng, hiệu ban: Hổ Quan Quốc Sư, Bản Giác Quốc Sư. Đệ tử gồm các vị: Tính hải Linh kiến, Long tuyền Lệnh thốt, Nhật điền Lợi sa, Hồi đường Trọng uyên, v.v...…

hổ thẹn

(tàm quý): hai đức tính có thể giúp chúng ta xa lìa mọi điều xấu xa, tội lỗi. Khi ta làm một việc xấu, phải biết xấu hổ khi có người khác biết được, và tự thẹn với chính mình dù không có ai biết được. Như vậy gọi là biết hổ thẹn. Người không biết hổ thẹn thì bất cứ điều xấu xa nào cũng có thể thực hiện được. Còn người biết hổ thẹn thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù có bị người khác phát giác hay không, cũng luôn tự biết điều đã làm sai của mình để vĩnh viễn trừ dứt. ; See Hổ Ngươi.

hổ vĩ tự

3510位於臺灣雲林虎尾鎮。民國六年(1917),由日僧平井創建。臺灣光復後由戎淨、智妙等師接管。民國五十八年增建地藏殿,並設有念佛會。

hổn

See Hổn Độn.

hổn hển

To gasp for breath—To pant.

hổn độn

Mixed—Confused—Intermingled—Turbid—Chaotic—In disorder.

Hỗ

(岵): ngọn núi có nhiều cây cỏ. Trong bài Trắc Hỗ (陟岵) của Thi Kinh (詩經) có câu: “Trắc bỉ hỗ hề, chiêm vọng phụ hề (陟彼岵兮、瞻望父兮, Lên núi kia chừ, trông nhớ cha chừ)”; có nghĩa là khi người con đi làm ăn xa, thường leo lên núi cao để tưởng nhớ về người thân của mình như cha mẹ, anh em, v.v. Người xưa thường dùng chữ hỗ để ví cho người cha và nhớ đến cha được gọi là trắc hỗ (陟岵). Hơn nữa, trong bài Phụ Tiểu Tường (父小祥) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄) lại có câu: “Vô phụ hà hỗ mỗi hoài trắc hỗ chi bi (無父何怙每懷陟岵之悲, Không cha cậy ai mỗi lần nhớ lên núi buồn đau)”.Cho nên, câu “Ngưỡng kỳ hỗ sơn điện cố thiên niên (仰期岵山奠固千年)” có nghĩa là ngưỡng lên nhìn núi người cha vẫn còn vững chắc ngàn năm, tức người cha vẫn còn sống mãi với mình.

hỗ

Vyaghra (S).

hỗ dụng tội

1042指濫用佛、法、僧三寶之物。罪分四種,即:(一)三寶互用,以佛物作法物、僧物,或以法物作佛物、僧物,或以僧物作佛物、法物。(二)當分互用,例如檀越(施主)捐金欲造釋迦像,卻將之用於造彌陀像;又如某物本決定贈予甲寺之僧,卻將之贈予其餘他寺之僧。(三)像寶互用,例如用供養五分法身之物供養形像,又如用供養第一義諦僧之物供養剃髮染衣之僧。(四)一一互用,以堂宇等各受用物、田園等各係屬物、香燈等各供養物、飲食等各獻納物,一一相互濫用。〔四分律行事鈔資持記卷中一之四、梵網經菩薩戒本疏卷一〕 ; Tội lạm dụng dùng lẫn lộn các vật của Tam Bảo—The fault of transferring from one object of worship over to another a gift or duty—Theo Kinh Phạm Võng thì có bốn loại Hỗ Dụng Tội—According to the Brahma Net Sutra, there are four kinds 1) Tam Bảo Hỗ Dụng: Dùng tiền cúng dường đúc tượng Phật xài cho in kinh hay cho chư Tăng Ni: The fault of transferring gift given for an image of a Buddha to spend for publishing scriptures or expenditures of monks and nuns. 2) Đương Phần Hỗ Dụng: Dùng tiền của cúng để đúc tượng Thích Ca vào việc đúc tượng Di Lặc, hoặc dùng tiền cúng dường của chùa A đem cho chùa B—The fault of transferring gift given for an image of Sakyamuni to make one for Maitreya, or transferring gift given to Temple A to Temple B. 3) Tượng Bảo Hỗ Dụng: Dùng tiền cúng dường in kinh điển vào việc tạc tượng Phật hay Bồ Tát—The fault of transferring gift given for publishing scriptures to make image of Buddhas or Bodhisattvas. 4) Nhất Nhất Hỗ Dụng: Dùng lẫn lộn bừa bãi hay lạm dụng tài sản của nhà chùa—Misuse the property of the temple. ; (互用罪) Tội dùng lẫn lộn các vật của Tam bảo. Gồm có 4 loại: 1. Tam bảo hỗ dụng: Vật dùng để cúng Phật đem dùng vào việc Pháp và Tăng, hoặc vật dùng để làm việc Pháp lại đem cúng dường Phật và Tăng, hoặc là vật thuộc về Tăng lại đem cúng dường Phật và Pháp. 2. Đương phần hỗ dụng: Tiền bạc của tín đồ quyên góp để tạo tượng Phật Thích ca, lại đem dùng vào việc tạo tượng Phật A di đà, hoặc vật cúng cho chư tăng ở chùa này lại đem cúng cho chư tăng ở chùa khác. 3. Tượng bảo hỗ dụng: Vật dùng để cúng dường Ngũ phần pháp thân mà đem cúng dường hình tượng, hoặc vật dụng cúng dường tăng Đệ nhất nghĩa đế lại đem cúng dường cho phàm tăng. 4. Nhất nhất hỗ dụng: Những vật dụng để sửa chữa nhà cửa, những nông cụ, những vật cúng dường như: Hương, đèn, thức ăn, uống, v.v... không phân biệt mà sử dụng bừa bãi, lẫn lộn nhau. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung phần 1, đoạn 4; Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ Q.1].

hỗ khưu thiền sư

Hỗ Khưu Thiền sư là đệ tử của thiền sư Viên Ngộ. Sau khi xuất gia lúc còn trẻ, Hỗ Khưu theo tông phái Thiên Thai, nhưng ba năm sau, ông đã từ bỏ Thiên Thai để tu tập thiền định với thiền sư Viên Ngộ—Huguo, a disciple of Yuan-Wu. After entering monastic life as a young man, he studied T'ien-T'ai doctrines for three years, but gave up this pursuit to study under Zen master Yuan-Wu.

hỗ quỵ

1042行於印度、西域等地通俗敬儀之一。即左右兩膝交互跪地致敬。印度之習俗一般以左膝著地,佛教則以右膝著地,經中亦常有「偏袒右肩,右膝著地,一心合掌」之語。依釋門歸敬儀卷下載,互跪係啟請、悔過或授受等儀式中所採取之跪姿,以右膝拄地,右足脛離地,右趾拄地,又左膝斜叉於右膝上,左趾拄地,翹懸左膝及兩足足脛,曲身前就,故能心有專志,至誠請悔,為比丘所行之敬禮,然以此跪法極易疲累,故比丘尼行長跪禮(雙膝著地)即可。然後世所採之互跪法,右膝著地,右蹠承尻,左膝豎立,左蹠踏地,全身安定,毫無危懼之狀,已失其本儀。〔十誦律卷四十、四分律卷三十三、卷四十八、卷五十四、鼻奈耶卷三、根本薩婆多部律攝卷一、卷七、釋氏要覽卷中〕 ; Quỳ theo kiểu người Hồ, hai đầu gối xuống đất một lượt như kiểu quỳ ở Ấn Độ; ở Trung Hoa thì đầu gối trái được đặt xuống đất trước—The Hun way of kneeling or kneeling with both knees at once, as in India; in China the left knee is first placed on the ground, right knee up. ; (互跪) Một phép quì để tỏ lòng cung kính của người Ấn độ. Theo Thích môn qui kính nghi quyển hạ, thì Hỗ quị được thực hành trong các nghi thức thưa thỉnh, sám hối hoặc thụ giới,… khi quì thì đầu gối phải và các ngón chân phải đặt sát đất, đầu gối trái hơi nghiêng ép lên trên đầu gối phải, 5 ngón chân trái cũng sát đất, hơi cúi mình về phía trước, chuyên tâm chí thành thưa thỉnh sám hối. Nhưng tư thế quì này rất Hổ Quan Sư Luyện dễ bị mỏi mệt, cho nên các tỉ khưu ni có thể thực hành theo tư thế quì dài (2 gối sát đất). Nhưng người đời sau không quì theo tư thế này mà, trái lại, khi quì, đầu gối phải sát đất, đầu gối trái dựng đứng, toàn thân ngay thẳng.

hỗ sa già lam

Hamsa-samgharama (skt)—Còn gọi là Tăng Sa Già Lam hay Ưng sa Già Lam, có nghĩa là Dã Ngan Già lam (chùa ngỗng Hoang) trên Indrasailaguha, nơi mà chư Tăng Ni đã một lần thoát đói nhờ sự tự hy sinh thân mạng của một con ngỗng trời— “Wild goose monastery,” on Mount Indrasailaguha, whose inmates were once saved from starving by the self-sacrifice of a wild goose.

hỗ tương

Reciprocity—Mutual.

hỗ tương tác dụng

Interaction.

Hỗn dung

混融; C: hùnróng; J: konyū;|Trộn lẫn, hoà hợp nhau.

Hỗn dung 混融

[ja] コンユウ konyū ||| To be blended together. => Trộn lẫn, hoà hợp nhau.

hỗn hào

Impolite—Rude.

hỗn hợp

Mixed—Joint.

hỗn loạn

Confused—Disordered.

hỗn luân

5056禪林用語。又作渾淪、混淪、鶻淪、渾圇、囫圇、崑崙。原指天地未形成前,陰陽未分,暗黑不明,一團迷濛混濁之狀態;禪林中,轉指不分明、渾然一片,或物之不可分,又指無差別而平等之真性。最早出於列子天瑞篇;「氣形質具而未相離,故曰渾淪。」 臨濟慧照禪師語錄(大四七‧五○四上):「師見僧來,展開兩手,僧無語。師云:『會麼?』云:『不會。』師云:『渾崙擘不開,與爾兩文錢。』」其中「渾崙擘不開」一語,意謂渾崙山(崑崙山)擘分不開,表示一切人間之分別作為皆無施展之餘地,又為罵人無從著手之語。 蓋「渾崙」又用「崑崙」二字,故與「崑崙山」常相混用。崑崙山在西域,為傳說中之靈山,盛產美玉,黃河發源於此。又為傳說中西王母之住處。今新疆和闐南方、西藏北方聳立之山脈,稱為崑崙山。禪宗用此表示佛法之奧底、根本。虛堂錄卷三(大四七‧一○○五下):「一稱南無佛,皆已成佛道,若說到金輪水際崑崙山椒,功歸何所?」 ; (渾崙) Cũng gọi: Hồn luân, Hỗn luân, Cốt luân, Hốt luân, Côn lôn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho trạng thái tối tăm, mờ mịt, khi trời đất chưa hình thành, âm dương chưa phân định. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho một khối hỗn độn, không rõ ràng, không thể phân biệt, hoặc chỉ cho chân tính bình đẳng vô sai biệt. Thiên Thiên thụy trong sách Liệt tử ghi: Khí đã hình thành, chất đã có đủ, nhưng chưa tách rời nhau, cho nên gọi là Hồn luân . Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục (Đại 47, 504 thượng), chép: Sư thấy vị tăng vừa đến, sư liền dang 2 tay ra, vị tăng im lặng. Sư hỏi: Hiểu không? Vị tăng đáp: Thưa không! Sư nói: Một khối hỗn độn, mờ mịt tách không ra, cho ông 2 đồng tiền . Vì Hồn lôn cũng gọi là Côn lôn, nên thường được dùng lẫn lộn với núi Côn lôn . Núi Côn lôn ở Tây vực, có nhiều ngọc quí, là Linh sơn và cũng là chỗ ở của Tây vương mẫu trong truyền thuyết, sông Hoàng hà bắt nguồn từ đó. Núi Côn lôn nay là dãy núi ở phía nam Hòa điền thuộc tỉnh Tân cương và ở phía bắc Tây tạng. Thiền tông dùng núi này để biểu thị sự cao siêu, sâu kín của Phật pháp. Hư đường lục quyển 3 (Đại 47, 1005 hạ) ghi: Nếu nói đến Kim luân thủy tế, đỉnh núi Côn lôn, thì công qui về đâu? .

Hỗn tích

(混跡): trà trộn tung tích, dấu vết, không để lộ rõ ra; tức là hòa mình vào môi trường sống, không thể hiện hành tung của bậc Thánh, mai danh ẩn tích. Như trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 9 có câu: “Tổ ư Nghiệp Đô hóa đạo, Tứ Chúng quy y, phàm tam thập tứ niên, toại thao quang hỗn tích, biến dịch nghi tướng, nhân mạc chi trắc (祖於鄴都化導、四眾皈依、凡三十四年、遂韜光混跡、變易儀相、人莫之測, Tổ [Huệ Khả] hóa đạo ở Nghiệp Đô, Bốn Chúng quy y, được ba mươi bốn năm, bèn mai danh ẩn tích, thay đổi hình tướng, người đời không lường được).” Hay như trong Phật Pháp Kim Thang Biên (佛法金湯編, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1628) quyển 4, phần Lục Thùy (陸倕) có câu: “Pháp sư tự thuyết tánh Chu danh Bảo Chí, hỗn tích loạn từ, cư vô thường sở, y phục ẩm thực suyễn bác bất hằng, Tống Thái Thỉ trung xuất nhập Chung Sơn (法師自說姓朱名寶誌、混跡亂詞、居無常所、衣服飲食舛駁不恆、宋泰始中出入鍾山, Pháp sư [Lục Thùy] tự bảo họ là Chu, tên Bảo Chí, ẩn tích nói lung tung, sống nơi không cố định, áo quần, ăn uống xuề xòa chẳng bình thường; trong khoảng niên hiệu Thái Thỉ [466-471] nhà Tống, Pháp sư thường ra vào Chung Sơn).”

Hỗn độn

混沌; C: hùndùn; J: konton;|Thời kì hỗn mang nguyên sơ trong thuyết nguồn gốc vũ trụ Trung Hoa.

hỗn độn cung

4678諸供物混和而供之。又作雜和供。即修護摩法時,先以丸香,散香、香花、飯食、五穀、藥種等各別供之,而後混和殘餘之諸供,供養諸尊並十方世天。金剛頂瑜伽護摩儀軌(大一八‧九二二中):「獻聖眾所殘五穀、香花等,聚一器中,獻十方世天。」此外,於息災護摩之修法中,若供物較少時,可混和諸供物供之;若蘇油等較少時,亦可採此混沌供法。又用於雜和混沌供的供物之器具,稱為混沌箸。〔蘇悉地羯囉經卷下、乳味鈔卷七、卷二十〕 ; (混沌供) Cũng gọi Tạp hòa cúng. Những vật phẩm cúng dường được trộn lẫn với nhau. Khi tu pháp Hộ ma của Mật giáo, trước hết dâng hương viên, hương tán, hương hoa, cơm, ngũ cốc, thuốc, v.v... cúng riêng từng món, sau đó, trộn lẫn các thứ còn lại với nhau để cúng dường chư Tôn và chư Thiên ở 10 phương. Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ (Đại 18, 922 trung), nói: Dâng cúng chư Tôn rồi, các thứ còn lại như: Ngũ cốc, hương hoa, v.v... gom hết vào cái mâm để cúng dường chư Thiên trong 10 phương . Ngoài ra, khi tu pháp Hộ ma tức tai, nếu ít vật cúng quá, thì cũng có thể trộn lẫn các vật cúng với nhau. [X. kinh Tô tất địa yết la Q.hạ; Nhũ vị sao Q.7, Q.20].

Hỗn độn 混沌

[ja]コントン konton ||| The primordial chaos in early Chinese cosmogony. => Thời kỳ hỗn mang nguyên sơ trong thuyết nguồn gốc vũ trụ Trung Hoa.

hộ

瑜伽八十四卷十六頁云:護者:謂於他相續中愛故。 ; Xem Xả. ; To protect, guard, succour. ; Bảo hộ hay che chở—To protect—To guard.

hộ dã

Xem Tướng trạng sự vật.

hộ dưỡng định tư lương

瑜伽三十卷五頁云:云何護養定資糧?謂若成就戒律儀者、卽於是處,為令不退,住不放逸;如佛所誡如佛所許圓滿戒蘊學處差別,精進修行,常無懈廢。如是能於己所證得尸羅相應學道無退;亦能證得先所未證尸羅相應殊勝學道。如說成就戒律儀,如是成就根律儀,於食知量,初夜後夜覺寤瑜伽,正知而住。如是乃至成就所有沙門莊嚴,隨所獲得資糧所攝善法差別,皆能防護,令不退失。於後勝進善法差別,為速圓滿;為如所說,無增無減,平等現行;發生樂欲增上欣慕,恆常安住勇猛精進。是名護養定資糧。

hộ giới thần

6866守護佛制戒之善神。即受三歸依者有三十六部鬼神之王護持,受五戒者有二十五善神護持。灌頂經卷四(大二一‧五○四上):「是故我說是言,令清信士女勸受歸戒。歸有三十六鬼神之王,隨逐護助。戒有二十五神,營護左右門戶之上,辟除凶惡。」(參閱「二十五神」175) ; The five guardian-spirits of each of the five commandments. ; Chỉ năm vị Thiên Thần hộ trì năm giới luật (bảo vệ những người trì giới)—The five guardian spirits of each of the five commandments. ; (護戒神) Thiện thần thủ hộ giới luật của Phật và che chở những người lãnh thụ giới luật này. Kinh Quán đính quyển 4 (Đại 21, 504 thượng), nói: … Vì thế ta nói lời này, để khuyên các thiện nam, tín nữ có lòng tin trong sạch nên thụ Tam qui, Ngũ giới. Thụ Tam qui thì có vua của 36 quỉ thần thường theo giúp đỡ, giữ gìn; thụ ngũ giới thì có 25 vị thần luôn luôn ở 2 bên cửa để bảo vệ, diệt trừ những điều xấu ác . (xt. Nhị Thập Ngũ Thần).

hộ ma

6868梵語 homa。意即焚燒、火祭。又作護魔、戶摩、呼魔、呼麽。或意譯作火祭祀法、火供養法、火供養、火供、火法、火食。即於火中投入供物以作為供養之一種祭法。亦為密教一般修法中之重要行事,用以譬喻以智慧火焚燒迷心之意。原係印度古代供養火神阿耆尼(梵 Agni)以為驅魔求福之作法。蓋此法於印度太古印伊時代(Indo-Iranian Period)之宗教儀式即已產生,又於梨俱吠陀、夜柔吠陀、百道梵書(梵 Śatapatha-brāhmaṇa)等之早期文獻,亦有設立三種火壇而修法之記載,此外家庭經(梵 Gṛhya sūtra)中亦詳載種種複雜之護摩法,可知此法早已風行於重視祭典之印度。 於吠陀時代之諸神中,最重要者即阿耆尼,供養此神之祭式盛行於當時之事火婆羅門之間,彼等投供物於祭壇之爐中,待火焰上昇,則以為已達於諸神之口中,諸神依之得力以降伏諸魔,而予人類福祉,故又將火視為諸神之口,亦即天口(梵 devānāṃ mukha)。 此一祭法,後為密教所採用,並逐漸成為密教之重要修法。然密教之護摩與婆羅門教所行者,其意義有極大不同。據大日經疏卷十九、卷二十載,佛陀未成道前,不能了知火之自性,故依據吠陀典籍而說四十四種護摩法;至佛陀成道後,既已了知火之自性,則宣說十二種護摩法,此即真護摩,為如來一切智光之表徵。 密教所行之護摩,又可分為內外兩種,實際在護摩壇所行之修法,稱作外護摩。亦即行法時,具足本尊、爐、行者等三者,以為行者三密之表徵。其中,本尊不限於何種如來或明王,概視所宗之部門而定,用表行者之「意密」;爐代表行者之「口密」;行者自身則表「身密」。其行法方式,先擇地、造壇、設爐,口誦真言,投乳木、五穀等供物入於爐中,以淨行者之三密,並成就息災、增益、降伏等法。此一行法,皆於心外行事作法,故稱外護摩、事護摩。反之,不須採用實際作法,而以自身為壇場,於觀想中,以如來之智火燒除諸業煩惱,此種於心內作觀修法之護摩則稱內護摩;又因所作之觀乃屬「理法」之觀,故又稱理護摩。此種內護摩雖係密教獨特之作法,然推溯其源,恐亦萌於考西塔基奧義書(梵 Kauṣītaki-upaniṣad)中「內部祭火(梵 antara-agnihotra)」之說法而來者。內護摩通常又有五法之別,即:(一)息災法,觀想大日如來之本性。(二)增益法,觀想不空成就如來之本性。(三)敬愛法,觀想無量壽如來之本性。(四)鉤召法,觀想寶生如來之本性。(五)調伏法,觀想阿閦如來之本性。 若以世間、出世間二語之相對性而別,則出世間之護摩即指內護摩,世間外道之護摩則指外護摩。然於出世間護摩中,又有內外之別,即以「觀心」為內,而以「事相」為外。另於上記所說之外護摩,由於未能與內觀相應,無法成就「悉地」,故行外護摩時必同時修內護摩三平等觀,以期內外相應、事理相融,速疾成就悉地。由是,遂成「外護摩即內護摩」之真義,此不僅為密教外護摩之迥異於外道外護摩之處,亦為密教行者修護摩時之一大要訣。 若單就外護摩而言,於修法時,除上記所說之本尊、行者以外,另須於本尊前設一護摩壇,壇中央設置一爐,壇之四角置橛,四橛之頂端均繫金剛線。壇前安置禮盤、脅桌,脅桌上安放護摩木、塗香、柄香爐、加持物等。此修法通常有三種、四種、五種、六種等之別。(一)最普遍者為四種法,又稱四種護摩,即:(1)息災法(梵 śāntika),以佛部之尊為本尊,用圓形白色護摩壇、圓形爐,向北方吉祥坐,焚燒甘木。(2)增益法(梵 pāuṣṭika),以寶部之尊為本尊,用方形白色壇、方形爐,向東方半跏坐,焚燒果木。(3)敬愛法(梵 vaśīkaraṇa),以蓮華部之尊為本尊,用蓮花形赤色壇、蓮花葉形爐,向西方箕坐,焚燒花木。(4)降伏法(梵 abhicāraka),以金剛部之尊為本尊,用三角形黑色壇、三角形爐,向南方蹲踞,焚燒苦木。(二)三種法,又稱三種護摩,指息災、增益、降伏等三法,係與胎藏界三部內證相應之三種修法。(三)五種法,又稱五種護摩,指四種法之外另加鉤召法(以羯磨部之尊為本尊,用金剛形爐,向諸方半跏坐,焚燒刺木),係與金剛界五部五智之內證相應之修法。於五種法中,就其所生功德而言,每一法均含有其他四法之效益,稱為五法互具。以息災法為例,修行此法可除貪瞋煩惱或止息國家之災難,此為息災之意義。除貪瞋煩惱之闇時,又可增長定慧之功德或外在之諸種福德,此為增長之意義。諸種功德既得增長,則漸次可摧破無明、滅諸災殃,此為調伏之意義。依此等功德,而無戰亂諍鬥之事,並得諸佛菩薩之庇護,此為敬愛之意義。由此等功德,而諸善集生、萬法現集,此為鉤召之意義。其餘四法亦準此而互具功德。(四)六種法,又作六種護摩,即由上記五種法中之增益法開衍出延壽法,其修法方式僅略異於增益法。 於護摩法中,所焚之薪木特稱為護摩木。護摩之灰燼,稱火食灰。伐木之刀,稱為護摩刀。書寫有護摩法之旨趣、祈願內容之紙、板,可作護符之用,稱護摩札。行使護摩之堂屋,稱作護摩堂。〔大日經卷六世出世護摩品、大乘理趣六波羅蜜多經卷三、蘇悉地羯囉經卷下、大日經疏卷八、卷十五、百論疏卷上之中、慧琳音義卷四十一、希麟音義卷一〕 ; Homa (S) Dùng lửa trí huệ đốt cũi phiền nảo làm hoả chân lý tận trừ ma hại. Pháp tế tự của Mật giáo. ; Homa (S). Oblation, Ritual offering. ; Homa (skt). 1) Vốn chỉ việc đốt lửa tế trời của đạo thờ lửa Bà La Môn: Described as originally a burnt offering to Heaven (Brahmins). 2) Nghĩa của Hộ Ma theo Mật Giáo—The meanings of homa according to the esoterics: (A) Lễ tế lửa (của Mật Giáo). Mật giáo bắt chước phép tế lửa, dùng lửa tiêu biểu cho trí tuệ để đốt củi phiền não, và từ đó chuẩn bị thức ăn niết bàn. Có bốn loại lò—An oblation by fire (of esoteric sects). The esoterics adopted the idea of worshipping with fire, symbolizing wisdom as fire burning up the faggots of passion and illusion, and therewith preparing nirvana as food. (B) Phân loại Hộ Ma theo Mật giáo—Categories of homa according the esoterics: a) Tứ Hộ Ma—There are four kinds of braziers: • Lò hình bán nguyệt tượng trưng cho “Nhiếp Thiện Pháp” hay triệu tập thiện loại: Vasikarana (skt)—Phạ Thủy Ca La Nã—Semi-circular brazier for dominating, interpreted as calling down the good by means of enchantments. • Lò hình trăng tròn tượng trưng cho “Tức Tai Pháp” hay trừ tai ương: Santika (skt)—Phiếm Để Ca—Round brazier meaning to end calamities. • Lò hình vuông tượng trưng cho “Tăng Ích Pháp” hay làm tăng phúc: Pustika (skt)—Bố Sắt Trí Ca—Square brazier for prosperity. • Lò hình bát giác tượng trưng cho “Hàng Phục Pháp” hay hàng phục ác đảng: Abhicaraka (skt)—A Tỳ Già Lỗ Ca—Octagonal brazier meaning exorcising the evil. b) Ngũ Hộ Ma—Five kinds of braziers: See Ngũ Chủng Hộ Ma. 3) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của GS Soothill, Hộ Ma là tên của một thành phố nằm về biên giới phía tây của nước Ba Tư thời cổ, có lẽ bây giờ là Humoon—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Budhist Terms, composed by Professor Soothill, Homa is a city on the eastern frontier of Persia, perhaps the modern Humoon. ; (護摩) Phạm: Homa. Cũng gọi Hô ma. Dịch ý: Hỏa tế tự pháp (pháp cúng tế lửa), Hỏa cúng dường pháp, Hỏa cúng, Hỏa pháp, Hỏa thực. Pháp cúng tế bằng cách đốt các vật cúng để cúng dường là việc làm quan trọng trong các pháp tu của Mật giáo, hàm ý ví dụ dùng lửa trí tuệ thiêu đốt tâm mê muội. Pháp này nguyên là pháp cúng dường thần lửa A kì ni (Phạm: Agni) để trừ ma cầu phúc ở Ấn độ đời xưa. Trong nghi thức tông giáo ở thời đại Ấn Y (Indo-Iranian Period) của Ấn độ cổ đại đã có pháp này; trong các văn hiến ở thời kì đầu của Lê câu phệ đà, Dạ nhu phệ đà, Bách đạo phạm thư (Phạm: Zatapatha-bràhmaịa), v.v... cũng có nói đến việc thiết lập 3 loại hỏa đàn để tu pháp. Ngoài ra, trong kinh Gia đình (Phạm: Gfhya sùtra) cũng nói rõ về các loại pháp Hộ ma rất phức tạp. Trong các vị thần của thời đại Phệ đà, thần A kì ni là quan trọng nhất, nghi thức cúng tế vị thần này của những người Bà la môn thờ lửa ở thời bấy giờ đã rất thịnh hành, họ bỏ vật cúng vào trong lò lửa của đàn tế, chờ lửa bốc lên thì cho rằng các vật cúng đã đến được miệng của các thần, các thần nhờ đó mà được sức mạnh để hàng phục các ma và ban cho loài người phúc lành, bởi thế họ cho rằng lửa là miệng của các thần, cũng là miệng của trời (Phạm: Devànàô mukha). Pháp cúng tế này về sau được Mật giáo thu dụng và dần dần trở thành pháp tu quan trọng. Nhưng ý nghĩa pháp Hộ ma trong Mật giáo rất khác với nghi thức cúng tế của Bà la môn giáo. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 19, quyển 20, thì trước khi thành đạo, đức Phật chưa biết rõ tự tính của lửa, nên Ngài đã y cứ vào kinh điển Phệ đà mà nói 44 pháp Hộ ma. Nhưng sau khi thành đạo, đức Phật đã biết rõ tự tính của lửa, liền tuyên thuyết 12 pháp Hộ ma, biểu trưng cho ánh sáng Nhất thiết trí của Như lai. Đây mới là Hộ ma chân thực. Hộ ma của Mật giáo được chia làm 2 loại: Ngoại Hộ ma: Tu ở trong đàn Hộ ma, phải có đủ 3 thứ: Tượng Bản tôn, lư hương, hành giả, tượng trưng cho Tam mật (thân, khẩu, ý) của hành giả. Trong đó, tượng Bản tôn tượng trưng cho Ý mật, không hạn cuộc ở bất cứ đức Như lai nào hay vị Minh vương nào, chỉ tùy theo pháp tu mà quyết định; lư hương tượng trưng Khẩu mật, còn tự thân của hành giả thì tượng trưng cho Thân mật. Về phương thức thực hành thì trước hết là chọn đất, làm đàn, đặt lư hương, tụng chân ngôn, rồi bỏ các vật cúng như nhũ mộc, ngũ cốc, v.v... vào trong lư hương để thanh tịnh hóa Tam mật của hành giả hầu thành tựu các pháp Tức tai, Tăng ích, Hàng phục, v.v... Vì thực hành pháp này đều là những việc ở ngoài tâm, cho nên gọi là Ngoại hộ ma, Sự hộ ma. 2. Nội Hộ ma: không cần lập đàn, tượng Bản tôn và lư hương, mà chỉ lấy tự thân hành giả làm đàn tràng, trong tâm quán tưởng dùng lửa trí tuệ của Như lai đốt hết các nghiệp phiền não, vì pháp Hộ ma này thuộc về pháp quán của nội tâm, cho nên gọi là Nội hộ ma, lại vì pháp quán này thuộc về quán Lí pháp nên cũng gọi là Lí hộ ma. Pháp Nội hộ ma này tuy là pháp tu đặc biệt của Mật giáo, nhưng nếu xét về nguồn gốc, thì có lẽ nó đã từ thuyết Nội bộ hỏa tế (Phạm: Antara-agnizad) mà ra. Nội Hộ ma thông thường có 5 pháp: 1. Pháp tức tai: Quán tưởng bản tính đức Đại nhật Như lai. 2. Pháp tăng ích: Quán tưởng bản tính đức Bất không thành tựu Như lai. 3. Pháp kính ái: Quán tưởng Bản tính đức Vô lượng thọ Như lai. 4. Pháp câu triệu: Quán tưởng bản tính đức Bảo sinh Như lai. 5. Pháp điều phục: Quán tưởng bản tính đức A súc Như lai. Nếu phân biệt theo tính tương đối thế gian và xuất thế gian, thì pháp Hộ ma của xuất thế gian là Nội hộ ma, còn pháp Hộ ma của thế gian và ngoại đạo là Ngoại hộ ma. Tuy nhiên, trong pháp Hộ ma xuất thế gian cũng có nội ngoại khác nhau, tức lấy Quán tâm làm nội và lấy Sự tướng làm ngoại. Còn pháp Ngoại hộ ma, vì chưa tương ứng với nội quán, không thành tựu Tất địa , cho nên khi thực hành Ngoại hộ ma thì phải đồng thời tu quán Tam bình đẳng của Nội hộ ma, để mong nội ngoại tương ứng, lí sự dung hợp, mau thành tựu Tất địa; đó là nghĩa chân thực Ngoại hộ ma tức Nội hộ ma . Đây không những chỉ là chỗ khác biệt giữa Ngoại hộ ma của Mật giáo và Ngoại hộ ma của ngoại đạo, mà còn là một yếu quyết của hành giả Mật giáo khi tu pháp Hộ ma. Nếu chỉ nói riêng về Ngoại hộ ma, thì ngoài tượng Bản tôn, hành giả đã trình bày ở trên, khi tu pháp, còn phải lập một đàn Hộ ma ở trước tượng Bản tôn, ở chính giữa đàn đặt một lư hương, 4 góc đàn cắm 4 cây cọc, trên các đầu cọc đều buộc dây kim cương. Trước bàn đặt mâm lễ, mỗi cạnh mâm lễ kê một cái bàn, trên mỗi bàn để củi Hộ ma, hương bột, lư hương có cán cầm, vật gia trì, v.v...… Tu pháp này thông thường có 3 loại pháp, 4 loại pháp, 5 loại pháp, 6 loại pháp khác nhau: 1. Ba loại pháp, cũng gọi 3 loại Hộ ma. Chỉ cho 3 pháp: Tức tai, Tăng ích và Hàng phục. Ba pháp này tương ứng với nội chứng của 3 bộ Thai tạng giới. 2. Bốn loại pháp, cũng gọi 4 loại Hộ ma. Chỉ cho 4 pháp: Tức tai, Tăng ích, Kính ái và Hàng phục. Bốn pháp tu này được thực hành rộng rãi nhất. 3. Năm loại pháp, cũng gọi 5 loại Hộ ma. Là 4 loại pháp trên cộng thêm pháp Câu triệu. Năm pháp này tương ứng với nội chứng của 5 trí thuộc 5 bộ Kim cương giới. Nói về công đức của 5 pháp này thì mỗi pháp đều có hiệu quả của 4 pháp kia, gọi là Ngũ pháp hỗ cụ. Chẳng hạn như khi tu pháp Tức tai thì dứt được phiền não tham, sân hoặc tiêu trừ tai nạn, đó là ý nghĩa Tức tai. Khi đã dứt trừ phiền não tham, sân thì tăng trưởng được công đức giới, định, tuệ và các thứ phúc đức khác, đó là ý nghĩa Tăng ích. Khi công đức đã được tăng trưởng, thì dần dần phá vỡ vô minh, diệt trừ các tai ách, đó là ý nghĩa Điều (hàng) phục. Nhờ các công đức ấy mà được chư Phật, Bồ tát hộ trì, đó là ý nghĩa Kính ái. Nhờ những công đức nói trên mà các điều thiện sinh khởi, muôn pháp hiển hiện, đó là ý nghĩa Câu triệu. Bốn pháp kia cũng như thế. 4. Sáu loại pháp, cũng gọi 6 loại Hộ ma. Tức là 5 loại pháp nói trên thêm pháp Diên thọ (pháp này sinh ra từ pháp Tăng ích). Ngoài ra, củi đốt trong pháp Hộ ma, gọi là Hộ ma mộc, tro tàn gọi là Hỏa thực hôi, dao chặt củi gọi là Hộ ma đao. Tờ giấy hoặc thẻ gỗ viết chép mang nội dung cầu nguyện và chỉ thú của pháp Hộ ma, có thể dùng làm bùa hộ mạng, gọi là Hộ ma trát; phòng xá trong đó pháp Hộ ma được cử hành, gọi là Hộ ma đường. [X. phẩm Thế xuất thế hộ ma trong kinh Đại nhật Q.6; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.3; kinh Tô tất địa yết la Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.8, Q.15; Bách luận sớ Q.thượng phần giữa; Tuệ lâm ân nghĩa Q.41; Hi lâm ân nghĩa Q.1].

hộ ma mộc

6869密教修護摩法時爐中所焚之木。又稱護摩薪、護摩柴、火木。有段木、乳木二種。段木指松等之乾木,段段切之;乳木指桑等有濕氣之生木。爐中先積段木,其上置乳木。又依五種護摩作法之差異,所用護摩木之木種、取用部分、長度等,均有不同。如金剛頂瑜伽護摩儀軌謂息災法用甘木,增益法用果木,降伏法用苦木,鉤召法用刺木,敬愛法用花木。大日經疏卷八謂息災法用樹最上枝,增益法用樹中枝,降伏法用樹根。然現今多通用松、杉、檜。〔蘇悉地羯囉經卷下、一切如來大祕密王未曾有最上微妙大曼拏羅經卷三、蕤呬耶經卷下、牟梨曼荼羅咒經〕 ; (護摩木) Cũng gọi Hộ ma tân, Hộ ma sài, Hỏa mộcCủi dùng để đốt trong lò khi tu pháp Hộ ma của Mật giáo, có 2 loại: Đoạn mộc: Củi bằng gỗ thông khô, được chặt ra từng khúc. Nhũ mộc: Củi còn tươi, như cây dâu, v.v... Khi để củi vào lò để đốt thì đặt đoạn mộc ở dưới, rồi xếp nhũ mộc lên trên. Lại tùy theo cách tác pháp của 5 loại pháp Hộ ma mà củi và độ dài có khác nhau. Như Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ nói, pháp Tức tai dùng củi có vị ngọt, pháp Tăng ích dùng củi của cây ăn trái, pháp Hàng phục dùng củi có vị đắng, pháp Câu triệu dùng củi của loại cây có gai, pháp Kính ái dùng củi của loại cây có hoa. Đại nhật kinh sớ quyển 8 thì cho rằng pháp Tức tai dùng củi ngọn, pháp Tăng ích dùng củi cành, pháp Hàng phục thì dùng củi gốc. Hiện nay thường dùng gỗ thông, gỗ sam, gỗ cối. [X. kinh Tô tất địa yết la Q.hạ; kinh Nhất thiết Như lai đại bí mật vương vị tằng hữu tối thượng vi diệu đại mạn noa la Q.3; kinh Nhuy hi da Q.hạ; kinh Mâu lê mạn đồ la chú].

hộ ma trát

6871表示護摩法祈禱終了之物。一般信其含有除災、招福等神祕力量。有木札、紙札之分。木札於古代多用檜木,今用樅木或其他木料。於宗教學之立場觀之,乃基於靈物崇拜、咒物崇拜之思想,屬護符之一種。(參閱「護摩」6869) ; (護摩札) Tấm thẻ gỗ hoặc mảnh giấy ghi lời cầu nguyện, biểu thị sự cầu nguyện pháp Hộ ma đã hoàn thành. Phổ thông, người ta tin rằng Trát hộ ma có năng lực thần bí có thể trừ tai họa, mang lại phúc lành, cho nên thường được dùng làm bùa hộ mạng. Có 2 loại: Trát bằng gỗ và Trát bằng giấy. Trát bằng gỗ thời xưa thường dùng gỗ cối, nay thì dùng gỗ thông hoặc các loại gỗ khác. (xt. Hộ Ma).

hộ ma đàn

6872密教修護摩法所用之壇。又稱光明壇、護摩火壇、火壇、軍荼壇、火漫荼羅。「壇」為梵語 maṇḍala 之意譯,音譯漫荼羅、曼荼羅。即中央設火爐,焚燒供物以修護摩法之壇。就築壇之材料可分土壇、木壇。木壇行於我國及日本,印度則專用土壇,故經軌中唯說土壇法。 築土壇可依七日作壇法及水壇法,前者由預先擇地,經七日七夜之供養地神、掘地、清淨穢物以至畫諸尊曼荼羅;後者為急病、兵亂等緊急時所行之略儀,於一日中灑水淨地作壇。護摩壇中央掘火爐,爐緣外之壇地畫三重院,三重院之曼荼羅諸尊依息災、增益、降伏、鉤召、敬愛五種法而異,又常以三昧耶形示之。依金剛頂瑜伽護摩儀軌載,如為息災,則中院四方畫羯磨杵,四隅為蓮華,第二院四方畫四波羅蜜,四隅為內四供養,第三院四門畫四攝,四隅為外四供養,中畫八方天,曼荼羅最中央安置遍照尊。然畫法及聖位之分佈,亦據各經軌而有異說。 土壇之形狀、大小,依經軌有多種說法。形狀一般以息災護摩之壇為圓形,白或黃色;增益壇為方形,赤或黃色;降伏壇為三角形,黑色;鉤召及敬愛壇為半月形或八葉蓮華形,赤或雜色。其大小就縱橫之直徑,有四肘、三肘、二肘等說法。 木壇即以木作壇。壇之形狀亦依修法而異,一般多用方形之牙壇;大小亦不一。護摩爐外不畫三重院。壇四隅釘四橛,引五色絲。壇上布列閼伽、塗香、華鬘、火舍、飯食、燈明,及灑水、漱口、五瓶等諸器。壇上之裝飾及諸物之布列,依流派而不同。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷四、一字佛頂輪王經卷五護摩壇品、瑜伽大教王經卷六、慈氏軌卷下護摩品、護摩祕要鈔卷五〕 ; (護摩壇) Đàn, Phạm: Maịđala. Dịch âm: Mạn đồ la, Man đồ la. Cũng gọi Quang minh đàn, Hộ ma hỏa đàn, Hỏa đàn, Quân đồ đàn, Hỏa mạn đồ la. Đàn tu pháp Hộ ma của Mật giáo. Tùy theo nguyên liệu làm đàn có thể chia làm 2 loại: Thổ đàn (đàn đắp bằng đất) và Mộc đàn (đàn đóng bằng gỗ). 1. Thổ đàn: Đàn đắp bằng đất rất thịnh hành ở Ấn độ; có 2 cách lập, gọi là Thất nhật tác đàn pháp và Thủy đàn pháp. Cách thứ 1: Trước hết chọn địa điểm, cúng thần đất trong 7 ngày 7 đêm, sau đó đào đất, làm cho sạch sẽ, rồi vẽ Mạn đồ la chư tôn. Cách thứ 2: Trong tình hình khẩn cấp như dịch bệnh bộc phát, chiến tranh bùng nổ, v.v... thì nghi thức cần phải vắn tắt. Nghĩa là chỉ trong một ngày rưới nước làm cho đất sạch sẽ, rồi lập đàn Hộ ma, giữa đàn đào một cái lò, bên ngoài lò vẽ 3 lớp viện, các vị tôn trong Mạn đồ la của 3 lớp viện tùy theo các pháp: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục, Câu triệu, Kính ái mà có khác và thường được tượng trưng bằng hình Tam muội da. Cứ theo Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ, nếu tu pháp Tức tai thì ở 4 phương của viện chính giữa vẽ chày Yết ma, 4 góc vẽ hoa sen; 4 phương của viện thứ 2 vẽ 4 bồ tát Ba la mật (Kim cương ba la mật, Bảo ba la mật, Pháp ba la mật, Yết ba la mật), 4 góc vẽ 4 bồ tát Nội cúng dường (Hi, Man, Ca, Vũ), 4 cửa của viện thứ 3 vẽ 4 Nhiếp bồ tát (Kim cương câu, Kim cương tác, Kim cương tỏa, Kim cương linh), 4 góc vẽ 4 bồ tát Ngoại cúng dường (Hương, Hoa, Đăng, Đồ), chính giữa vẽ Bát phương thiên (8 vị trời thủ hộ 8 phương) ở chính giữa Mạn đồ la an vị tượng Biến chiếu tôn (đức Đại nhật Như lai). Tuy nhiên cách vẽ và phân bố các tôn vị cũng tùy theo các kinh và nghi quĩ mà có khác nhau. Về hình dáng và kích thước của Thổ đàn, cứ theo các kinh và nghi quĩ thì có nhiều thuyết, nhưng phổ thông thì đàn Hộ ma Tức tai là hình tròn, mầu trắng hoặc vàng; đàn Tăng ích là hình vuông, mầu đỏ hoặc vàng; đàn Hàng phục hình 3 góc, mầu đen; đàn Câu triệu và Kính ái là hình bán nguyệt, hoặc là hình 8 cánh sen, mầu đỏ hoặc tạp sắc. Còn về kích thước thì tùy theo đường kính lớn nhỏ mà có cao thấp khác nhau như: 4 khuỷu tay, 3 khuỷu tay, 2 khuỷu tay, v.v... 2. Mộc đàn: Hình dáng và kích thước cũng tùy theo pháp tu mà có khác nhau, nhưng phổ thông phần nhiều dùng đàn hình vuông. Bên ngoài lò Hộ ma không vẽ 3 lớp viện. Bốn góc đàn đóng 4 cây cọc, dùng những sợi tơ 5 mầu giăng trên các đầu cọc. Trên đàn bày nước hoa thơm (át già), hương xoa, tràng hoa, hỏa xá (lư hương), các thức ăn uống, đèn sáng, nước sái tịnh, nước súc miệng, 5 chiếc bình, v.v... Cách trang trí và sự sắp xếp các vật cúng trên đàn cũng tùy theo các phái mà có khác. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; phẩm Hộ ma đàn trong kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.5; kinh Du già đại giáo vương Q.6; phẩm Hộ ma trong Từ thị quĩ Q.hạ; Hộ ma bí yếu sao Q.5].

hộ ma đường

6871密教修護摩法之堂宇。本尊安置不動、愛染等明王,其前設護摩壇。 ; (護摩堂) Nhà để tu pháp Hộ ma của Mật giáo. Trong nhà này thường bài trí các tượng Bản tôn như: Bất động minh vương, Ái nhiễm minh vương. Phía trước tượng Bản tôn bày đàn Hộ ma.

Hộ ma 呼麼

[ja] コマ koma ||| Transcription of the Sanskrit homa. See 護摩. => Phiên âm chữ Homa từ tiếng Sanskrit, Xem Hộ ma 護摩.

hộ minh bồ tát

Prabhāpala (S) Hộ Minh Đại sĩ Tiền thân Phật Thích ca. Thuở Phật Ca Diếp ra đời Hộ Minh Bồ tát đến chầu và được thọ ký thành Phật Thích Ca tiếp nối Phật Ca Diếp.

hộ minh đại sĩ

Prabhpàla (S). Name. ; Prabhapala (skt)—Hộ Quang, tên của Phật Thích Ca khi Ngài còn ở trên cung trời Đâu Suất, trước khi giáng trần—Guardian of light or illumination, name of Sakyamuni when in the Tusita heaven before earthly incarnation.

Hộ Mạng

(護命, Gomyō, 750-834): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống vào khoảng hai thời đại Nại Lương và Bình An, húy Hộ Mạng (護命), thông xưng là Tiểu Tháp Viện Tăng Chánh (小塔院僧正), xuất thân Mỹ Nùng (美濃, thuộc Gifu-ken [岐阜縣]), họ Tần (秦). Năm 10 tuổi, ông theo Đạo Hưng (道興, Dōkō) ở Mỹ Nùng Quốc Phận Tự (美濃國分寺) học cách đọc âm Pháp Hoa Kinh (法華經), Tối Thắng Vương Kinh (最勝王經) và đến năm 766 thì thọ cụ túc gới tại giới đàn viện của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Sau đó, ông theo Vạn Diệu (萬耀, Manyō), Thắng Ngộ (勝悟, Shōgo) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) học về Pháp Tướng và sống tại một ngôi tháp nhỏ trong chùa. Năm 794, trong lễ hội cúng dường tại Nhất Thừa Chỉ Quán Viện (一乘止觀止院) trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), ông làm vị đạo sư tán hoa. Đến năm 805, ông làm giảng sư tại Tối Thắng Hội (最勝會) trong cung nội và sau đó được bổ nhiệm làm Luật Sư. Vào năm 816, khi Giới Đàn Đại Thừa được triều đình cho phép thành lập, ông đảm đương trách nhiệm Thượng Thủ Tăng Cang, rồi dâng thư xin từ chức Đại Tăng Đô và lui về ẩn cư tại Sơn Điền Tự (山田寺, Yamada-dera). Năm 823, khi Thuần Hòa Thiên Hoàng (淳和天皇, Junna Tennō) tức vị, ông lại được đãi ngộ với chức Đại Tăng Đô và năm 827 thì trở thành Tăng Chánh. Đến năm 830, ông dâng lên nhà vua bản Đại Thừa Pháp Tướng Nghiên Thần Chương (大乘法相研神章) và tận lực chấn hưng Pháp Tướng Tông. Trước tác của ông có rất nhiều như Đại Thừa Pháp Tướng Nghiên Thần Chương (大乘法相研神章) 5 quyển, Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Ký (大乘法苑義林章記) 3 quyển, Pháp Uyển Giải Tiết Chương Ký (法苑解節章記) 20 quyển, v.v.

hộ mệnh

Protection of life. ; Bảo vệ sinh mệnh—Protection of life.

hộ nguyệt

6865梵名 Candra-gupta。又稱月藏。為中印度那爛陀寺之沙門,與護法論師同代。事蹟不詳。嘗造辯中邊論之釋,說賴耶緣起論,倡本有種子之說。其書今不傳。〔大唐西域記卷九、成唯識論述記卷二末〕 ; (護月) Phạm: Candra-gupta. Cũng gọi Xứng nguyệt tạng. Vị Cao tăng ở chùa Na lan đà, Trung Ấn độ, sống đồng thời với luận sư Hộ pháp. Ngài từng chú thích luận Biện trung biên, thuyết minh về A lại da duyên khởi và đề xướng thuyết Chủng tử bản hữu. Nhưng tất cả các sách ấy hiện nay đã thất truyền. [X. Đại đường tây vực kí Q.9; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối].

hộ niệm

6866謂佛、菩薩、諸天等保護佛教徒,使不遭受各種障害。又佛菩薩經常守護佛教徒,如影隨形,不離片刻,使惡鬼等障害不能親近其身,故稱影護護念。又為立證佛說之教法為真實,諸佛菩薩立下誓證,謂若眾生信受奉行,將受無窮利益,此稱證誠護念。 ; To guard and care for, protect and keep in mind. ; 1) Bảo hộ ức niệm (khiến cái ác bên ngoài không xâm phạm thì gọi là hộ, khiến điều thiện ở bên trong được nẩy nở thì gọi là niệm): To guard and care for, protect and keep in mind. 2) Hộ niệm là phương thức tụng niệm của những người tu theo Tịnh Độ, giúp cho người quá vãng được vãng sanh Tịnh Độ. Thành viên trong gia đình người sắp chết cũng như bà con phải luôn bình tĩnh, buồn nhưng không khóc, từ lúc người ấy trở bịnh nặng cho đến lúc lâm chung. Chúng ta phải luôn nhớ rằng đây là giai đoạn của thân trung ấm, giai đoạn chuyển tiếp quan trọng nhứt trong kiếp chúng sanh. Đây là giai đoạn mà người lâm chung đang đứng trước ngã rẽ giữa quỷ, người, phàm Thánh. Trong giai đoạn nầy điều quan trọng nhất nên làm là cùng nhau hộ niệm. Dù cho người ấy đã có ý hướng sanh về cõi nào, có thể là cõi thiện; tuy nhiên, sự than khóc của người thân làm khơi dậy niệm luyến ái trong người ấy, do vậy người ấy có thể rơi trở về vòng sanh tử, uổng phí một đời tu—To conduct Supportive Recitation—Supportive Recitation is recitation performed by one or more Pure Land practitioners alongside a dying person, to assist him in achieving rebirth in the Pure Land. Family members and relatives of a dying person should remain calm, show sorrow without weeping or lamenting from the time that person becomes gravely ill until her or his last moments. We should always remember that this is the Bardo stage, the most important juncture in any being's life. This is the period where the dying person is standing in front of a crossroads which separate demons from humans, and the mundane from the transcendental. At this time the most important thing to do is to recite the supportive recitation together. Even though that person already set her or his mind on rebirth, may be an upward path; however, when the relatives weep and lament would arouse deep-seated feeling of love-attachment in that person, thus he or she will certainly sink in the cycle of births and deaths, wasting all her or his whole-life efforts in cultivation—See Supportive Recitation. 3) See Thiện Đạo Niệm Phật Chỉ Giáo. ; (護念) Phật, Bồ tát, chư thiên và các vị thiện thần thường nhớ nghĩ và che chở những người tin kính Tam bảo, khiến cho họ không bị các chướng nạn làm hại. Sự nhớ nghĩ che chở của các Ngài như bóng theo hình, không cách rời, làm cho ác quỉ không thể đến gần làm hại, vì thế gọi là Ảnh hộ hộ niệm. Lại nữa, để chứng minh cho giáo pháp do đức Phật nói ra là chân thực, chư Phật và Bồ tát bèn lập thệ nguyện, nếu chúng sinh tin nhận và làm theo giáo pháp này, thì sẽ được lợi ích vô cùng, đó gọi là Chứng thành hộ niệm.

hộ niệm tăng thượng duyên

6866又作護念得長命增上緣。為念佛行者所得五種增上緣之一。謂現生受佛菩薩之守護慈念,為得長壽之強力因緣。〔觀念法門〕(參閱「五種增上緣」1189) ; (護念增上緣) Cũng gọi Hộ niệm đắc trường mệnh tăng thượng duyên. Sức mạnh của nhân duyên hiện thế được Phật và Bồ tát thương nhớ che chở mà được sống lâu. Một trong 5 loại duyên tăng thượng mà hành giả niệm Phật có được. [X. Quán niệm pháp môn]. (xt. Ngũ Chủng Tăng Thượng Duyên).

Hộ Pháp

(護法): bảo hộ, hộ trì chánh pháp. Tương truyền đức Phật từng phái 4 vị Đại Thanh Văn, 16 vị A La Hán (阿羅漢) đến để hộ trì Phật pháp. Bên cạnh đó, lại có Phạm Thiên (梵天), Đế Thích Thiên (帝釋天), Tứ Thiên Vương (四天王, 4 Thiên Vương), Thập Nhị Thần Tướng (十二神將, 12 Thần Tướng), 28 bộ chúng, 13 phiên thần, 36 thần vương, 18 thiện thần chốn Già Lam, Long Vương, quỷ thần, v.v., nhân nghe đức Phật thuyết pháp mà thệ nguyện hộ trì Phật pháp. Những vị này được gọi là Thần Hộ Pháp, hay Hộ Pháp Thiện Thần (護法善神). Ngoài ra, các bậc đế vương, đàn việt, Phật tử đều là những người hộ pháp đắc lực. Trong số các Thần Hộ Pháp, có vị là thiện thần, nhưng cũng có vị là hung thần, ác thần. Họ có trách nhiệm bảo hộ chúng sanh, đầy đủ 4 công đức độ đời là làm cho tiêu trừ mọi tai họa, làm tăng trưởng ích lợi, tạo sự kính mến thương yêu, và hàng phục. Đặc biệt, Quan Vũ (關羽, tức Quan Thánh Đế Quân [關聖帝君]) cũng trở thành Thần Hộ Pháp, sau khi được Trí Khải Đại Sư (智顗大師, 538-397) dùng pháp Phật làm cho siêu độ và thoát khỏi thân quỷ. ; 護法; S: dharmapāla; P: dhammapāla;|1. Người bảo vệ chính pháp. Trong Kim cương thừa (s: vajrayāna), người ta tin rằng có một số thiên nhân chuyên bảo vệ chính pháp. Hành giả hành trì Nghi quỹ (s: sādha-na), tụng đọc Man-tra thì được các vị đó bảo hộ. Bên cạnh các vị Hộ Pháp chính thống như Ma-ha Ca-la (s: mahākāla, nghĩa là Ðại Hắc, 大黑) – được xem là một dạng xuất hiện của Quán Thế Âm – người ta còn kể thêm các vị Hộ Thế (護世; s: lokapāla), là các vị thần thệ nguyện theo Phật.|Ðối với hành giả của Kim cương thừa thì các vị Hộ Pháp chuyên trách bảo vệ họ trước những hiểm nguy và ảnh hưởng xấu liên quan đến chuyện tu học. Tuy nhiên các hành giả đó phải được chân truyền sự hỗ trợ từ vị thần bảo hộ, Hộ Thần (t: yidam) của mình. Vị Ðại Hắc (s: mahākāla), Hộ Pháp của tông Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) và Ðạt-lại Lạt-ma thường được trình bày như một vị thần cao lớn, da đen. Vị này có bốn trách nhiệm lớn đối với trở ngại khó khăn của người tu hành: điều phục, giúp đỡ, thu hút, huỷ diệt. Các vị Hộ Thế trong Phật giáo Tây Tạng được chinh phục – theo truyền thuyết – là nhờ công của Ðại sư Liên Hoa Sinh. Ðó là các vị thần của đạo Bôn (t: bon) đã được điều phục thành các vị phục vụ Phật pháp. Các vị đó thường là hiện thân của các lực lượng thiên nhiên. Người ta còn nhắc đến các vị Hộ Thế Tứ thiên vương. Các vị này xuất hiện từ lâu trong tranh tượng Ấn Ðộ và cũng được tôn thành Hộ Pháp.||H 27: Hộ Pháp.|2. Luận sư của Duy thức tông (s: vijñāna-vāda), sống trong thế kỉ thứ 6-7 sau Công nguyên, môn đệ của Trần-na (s: dignāga) và về sau trở thành viện trưởng của viện Na-lan-đà (s: nālandā). Sau đó Sư đến Giác Thành (bodh-gayā) và trở thành viện trưởng viện Ðại Bồ-đề (s: mahābodhi). Sư mất năm 32 tuổi. Hầu như mọi tác phẩm của Sư đều thất lạc cả.|Sư viết luận giải về Bách luận (s: śataśāstra) của Thánh Thiên (s: āryadeva), về Duy thức nhị thập tụng (s: viṃśatikāvijñap-timātratākārikā) của Thế Thân (s: va-subandhu). Tư tưởng luận giải của Sư còn được tìm thấy trong tác phẩm Thành duy thức luận của Huyền Trang. Hộ Pháp và các môn đệ nhấn mạnh tính »duy tâm« (s: citta-mātra) tuyệt đối của Duy thức học, cho rằng thế giới »không gì khác hơn là sự tưởng tượng.«|3. Hộ Pháp, Cao tăng Tích Lan (1865-1933), sáng lập hội Ðại Bồ-đề (mahābodhi society) năm 1891 nhằm phục hưng viện Ðại Bồ-đề tại Giác Thành. Sư là tăng sĩ đầu tiên của thời cận đại tự nhận mình là một người Vô gia cư (s: anāgārika; xem Khất sĩ). Năm 1925, Sư sáng lập hội Ðại Bồ-đề ở Anh, London.

hộ pháp

如六種阿羅漢中說。 ; 6867<一>謂保護、維持正法(即佛教)。傳說佛陀派請四大聲聞、十六阿羅漢等護持佛法。又梵天、帝釋天、四天王、十二神將、二十八部眾等善神聽聞佛陀說法後,皆誓願護持正法,此等諸神總稱為護法神,或稱護法善神。此外,人世之帝王及諸檀越,皆保護佛法之人,亦稱之為護法。又諸神以護法為目的,而現童子形服侍行者,並保護靈地者,稱為護法童子或護法天童。為調伏魔障,而祈禱法力(指神佛)附身,即稱護法依附。 <二>梵名 Dharmapāla。唯識十大論師之一。六世紀頃之人,為南印度達羅毘荼國(梵 Drāviḍa)大臣之子。本與王女有婚約,然於婚日落髮出家。精通大小乘教學,於摩揭陀國那爛陀寺廣布教化,學徒數千人。二十九歲退隱大菩提寺(梵 Mahābodhi),專事著述。三十二歲示寂。著有大乘廣百論釋論、成唯識寶生論、觀所緣論釋等。又玄奘所編譯之成唯識論十卷,係以護法之釋論為中心,另再合糅其他九論師之著作而成。〔大唐西域記卷五、卷九、大慈恩寺三藏法師傳卷三、南海寄歸內法傳卷四〕 ; Pāla (S), Hou-fa (C), Dharmapāla (S), Lokapala, Dhamma-pāla (P), Protector, Dharma Protector, Pháp Hộ, Đàm-ma-ba-la Đại sư, Đàm Quả (1)Đàm ma pa la (Pháp Hộ) tên một cao tăng hồi thế kỷ thứ 6 - 7, trụ trì học viện Nalanda, sau là trụ trì Tu viện Mahabodhi, ngài truyền pháp cho Giới Hiền luận sư, Giới Hiền luận sư truyền đạo cho Đường Huyền Trang. Ngài tịch năm 560, thọ 32 tuổi. (2) Đàm Quả, tên một vị Sa môn dịch kinh tại Lạc dương năm 207 đời Hậu Hán. ; Pàladharma, Dharmapàla (S). To protect or maintain the Buddha-truth. God protectors of the dharma. ; 1) Ủng hộ chánh pháp của Đức Phật: Dharma Guardian—Dharma protector—To protect and maintain the Buddha-truth. 2) Tên của ngài Dharmapala, người nam Ấn, một học giả nổi tiếng trong giới Phật học. Sanh ra sau khi Phật nhập Niết Bàn 1000 năm. Hộ Pháp nhìn nhận sự khác biệt giữa tướng (laksana) và tánh (svabhava) của các pháp, tức Chân, Như (Tathata). Ý kiến của ông được xem như là thuộc thế tục đế (lý thế luận) chứ không thuộc đệ nhất nghĩa đế (paramartha satya). Thế tục đế cho rằng sự và lý luôn luôn song hành và ta không bao giờ có thể phân biệt được chúng bằng cách tổng hợp, ý kiến như vậy không đúng hẳn là Đại Thừa mà gồm cả nửa phần Tiểu Thừa cho nên Pháp Tướng Tông được xem như là Bán Đại Thừa: Name of Dharmapala, native of south India, a famous scholar throughout the Buddhist world. He was born 1000 years after the Buddha's nirvana. Dharmapala recognized the distinction between the specific character (laksana) and the nature (svabhava) of dharma, i.e., Thusness (Tathata). His point of view was that of what is called the 'worldly truth' (laukika-satya) and not the 'highest truth' (paramartha-satya). The worldly truth assumes the fact and principle always go 'parallel' and can never be synthetically identified. Such a view is not quite Mahayanistic but is half Hinayistic, and on that account the Dharmalaksana school is generally classified as quasi-Mahayanistic. ; (護法) I. Hộ Pháp. Hộ trì chính pháp. Trời Phạm vương, trời Đế thích, 4 Thiên vương, 12 thần tướng, 28 bộ chúng, v.v... sau khi nghe đức Phật nói pháp, đều phát nguyện hộ trì chính pháp; các vị thần này được gọi chung là thần Hộ pháp hoặc thiện thần Hộ pháp. Vua chúa và những người tín đồ bảo hộ người tu theo Phật pháp cũng được gọi là Hộ pháp. Lại vì mục đích hộ pháp, các vị thiện thần hiện hình đồng tử hầu hạ người tu hành và bảo vệ linh địa, gọi là Hộ pháp đồng tử hoặc Hộ pháp thiên đồng. II. Hộ Pháp. Phạm: Dharmapàla. Cao tăng Ấn độ sống vào khoảng thế kỉ VI Tây lịch, con của quan Đại thần nước Đạt la tì đồ (Phạm: Dràviđa) thuộc Nam Ấn độ, là 1 trong 10 vị Đại luận sư Duy thức.Sư vâng mệnh cha mẹ kết hôn với một công chúa, nhưng vào ngày tổ chức hôn lễ thì sư cạo tóc xuất gia. Sư tinh thông giáo nghĩa Đại Tiểu thừa, đặc biệt về Duy thức học; sư giảng dạy ở chùa Na lan đà thuộc nước Ma kiệt đà, học trò có tới mấy nghìn người. Năm 29 tuổi, sư về ẩn ở chùa Đại bồ đề (Phạm: Mahàbodhi) chuyên việc trứ thuật. Sư tịch năm 32 tuổi. Tác phẩm: Đại thừa quảng bách luận thích luận; Thành duy thức bảo sinh luận, Quán sở duyên luận thích. [X. Đại đường tây vực kí Q.5, Q.9; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.3; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].

hộ pháp a la hán

顯揚三卷十二頁云:三、護法。謂成就如是輭根;雖不思自害;不放逸故,能不退失;若心放逸,卽可退失。不能練根,不能發起勝品功德。二解雜集論十三卷十頁云:護法阿羅漢者:謂鈍根性、若遊散,便可退失現法樂住。若不遊散,卽能不退。 ; 6867六種阿羅漢之一,九無學之一。即得阿羅漢果,於己所證得之法,心生愛樂而常護持者。〔俱舍論卷二十五〕(參閱「九無學」147) ; (護法阿羅漢) Bậc A la hán ưa thích và giữ gìn pháp mà mình đã chứng được. Một trong 6 bậc A la hán, 1 trong 9 bậc Vô học. [X. luận Câu xá Q.25]. (xt. Cửu Vô Học).

hộ pháp bồ tát

如憍賞彌國中說。

hộ pháp bồ tát bản sinh xứ

如達羅毗荼國中說。

Hộ Pháp Luận

(護法論, Gohōron): 1 quyển, do Trương Thương Anh (張商英, tức Vô Tận Cư Sĩ [無盡居士]) nhà Tống soạn, san hành vào năm thứ 7 (1171) niên hiệu Càn Đạo (乾道). Đây là luận thư phản bác đối với luận thuyết bài xích Phật Giáo của hàng Nho sĩ đương thời dựa trên cơ sở các điển tịch của hai tôn giáo Nho và Phật, bên cạnh đó, nó còn luận về việc ngụy tác Hóa Hồ Kinh (化胡經) của Vương Phù (王浮), dẫn chứng tác phẩm Đại Đồng Luận (大同論) của Vương Văn Khang (王文康) để đề xướng chủ thuyết điều hòa Tam Giáo và quét sạch tư tưởng cực lực muốn bài xích Phật Giáo. Tác giả Trương Thương Anh là vị Tướng Quốc (tức Tể Tướng) vào năm thứ 4 (1110) niên hiệu Đại Quán (貞觀) đời vua Huy Tông.

hộ pháp luận

6867全一卷。北宋張商英撰。收於大正藏第五十二冊。本論廣破歐陽修排佛之說,並駁斥韓愈、程伊川等之佛教觀,對照儒、道、釋三教之優劣,謂儒教治皮膚之疾,道教治血脈之疾,釋教治骨髓之疾,申明佛教之至理。〔佛祖歷代通載卷二十九、釋氏稽古略卷四、居士傳卷二十八〕 ; (護法論) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Trương thương anh soạn vào thời Bắc Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Nội dung luận này phản bác thuyết bài Phật của Âu dương tu và đả phá quan niệm sai lầm về Phật giáo của Hàn dũ, Trình y xuyên, v.v... So sánh giữa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo, Trương thương anh cho rằng Nho giáo trị bệnh ngoài da, Đạo giáo trị bệnh mạch máu, còn Phật giáo thì chữa bệnh trong xương tủy. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.29; Thích thị kê cổ lược Q.4; Cư sĩ truyện Q.28].

hộ pháp lục

6868凡十卷。明代宋濂著,雲棲袾宏輯錄,錢謙益校訂。宋濂曾三度閱大藏,儒門中以多聞總持著稱。本錄即輯錄其所作「金華文集」中有關護持三寶之文章,計收有塔銘、碑、記、序、誥、贊、銘、頌、偈、說、題跋等諸多種類。 ; (護法錄) Tác phẩm, 10 quyển, do ông Tống liêm soạn vào đời Minh, ngài Vân thê Châu hoành sưu tập, ông Tiền khiêm ích hiệu đính. Nội dung sách này thu chép những bài viết có liên quan đến việc hộ trì Tam bảo trong sách Kim hoa văn tập của ông Tống liêm, trong đó nhiều thể loại như: Tháp minh, Bi, Kí, Tự, Cáo, Tán, Minh, Tụng, Kệ, Thuyết, Đề bạt, v.v

hộ pháp thiện thần

6867護持佛法之善神。又作護法神、護法天。即對佛法信樂守護之梵天、帝釋、金剛力士、四天王、護世八方天、十羅剎女、十二神將、十六善神、二十八部眾、三十番神、三十六神王、伽藍十八善神等諸天、龍王、鬼神之總稱。坐禪用心記(大八二‧四一三中):「道場須清潔,而常燒香獻花,則護法善神及佛菩薩影向守護也。」〔蘇婆呼童子請問經卷中〕 ; (護法善神) Cũng gọi Hộ pháp thần, Hộ pháp thiên. Gọi chung các vị Thiện thần hộ trì Phật pháp. Đó là: Trời Phạm vương, trời Đế thích, lực sĩ Kim cương, 4 Thiên vương, trời Hộ thế trấn giữ 8 phương, 10 La sát nữ, 12 vị Thần tướng, 16 vị Thiện thần, 28 Bộ chúng, 30 Phan thần, 36 Thần vương, 18 vị Thiện thần bảo vệ già lam, các vua Rồng, Quỉ thần, v.v... Tọa thiền dụng tâm kí (Đại 82, 413 trung), nói: Đạo tràng phải thanh khiết, thường thắp hương dâng hoa, thì chư Phật, Bồ tát và các vị Thiện thần hộ pháp mới đến giữ gìn, che chở . [X. kinh Tô bà hô đồng tử thỉnh vấn Q.trung].

hộ pháp thần

Bốn vị thần hộ pháp thường thấy nơi cửa vào các chùa hay tự viện—Four Lokapalas, usually seen at the entrance to Buddhist temples or monasteries. ** For more information, please see Tứ Thiên Vương.

hộ phù

Bùa được dùng bởi trường phái Mật Tông—A charm used by the esoterics.

hộ quốc

The four Lokapàlas, or Ràstrapàlas, who protect a country. ; See Hộ Quốc Tứ Thiên Vương.

hộ quốc châu

6868即指仁王經。此經係佛陀為十六大國王說示守護佛果及國土之因緣;受持解說此經則國界無災難,故比喻仁王經為護國之寶珠。仁王護國般若羅蜜多經卷下奉持品(大八‧八四三下):「一切國土若有此經受持讀誦解說之處,(中略)令其國界無諸災難,刀兵疾疫一切皆除。」 ; (護國珠) Chỉ cho kinh Nhân vương. Nội dung kinh này đức Phật chỉ dạy 16 vị Quốc vương về nhân duyên hộ trì Phật pháp và bảo vệ quốc gia. Nếu thụ trì đọc tụng và giảng thuyết kinh này thì đất nước thanh bình, nhân dân an lạc, vì thế thí dụ kinh này là viên ngọc báu che chở quốc gia (Hộ quốc châu). Phẩm phụng trì trong kinh Nhân vương hộ quốc Bát nhã ba la mật đa quyển hạ (Đại 8, 843 hạ), nói: Tất cả quốc độ nếu thọ trì, đọc tụng, giải thuyết kinh này (…) thì những tai họa như chiến tranh, dịch bệnh, v.v... đều bị tiêu trừ .

hộ quốc kinh điển

6868請參閱 護國尊者所問大乘經包括鳩摩羅什所譯之仁王般若波羅蜜經二卷、曇無讖所譯之金光明經四卷、義淨所譯之金光明最勝王經十卷,及羅什所譯妙法蓮華經七卷。為鎮衛國家、繁榮社會之護國三部經(金光明經與金光明最勝王經係異譯本)。 依出三藏記集卷八梁武帝之注解大品序所載,仁王般若經乃係偽經,然近代於敦煌石室中發現有北魏永安三年(530)題記之古寫本。據傳佛陀入滅後八十年、八百年及八千年有破佛之行,俗眾支配僧眾,國家板盪;當此之時,舉國之人實修般若波羅蜜多經之護國品,則可救國勢之疲。吉藏、智顗、圓測、良賁皆有注疏。 金光明經促進護國四天王及大辯才天、大吉祥天之信仰,其正法正品論乃針對國家元首,廣說國家之利益厄難,為佛教信仰隨應現實要求之經典。智顗有金光明懺法一卷、玄義二卷、疏三卷。此經對日本佛教有極大影響,聖德太子創建四天王寺,特重鎮護國家之三部大經;聖武天皇即位,敕寫義淨所譯本,並於各地廣造國分寺,祈求國泰民安。 法華經中,觀世音普門品顯現對觀世音菩薩之信仰,此外,其神力品說佛陀入滅後之弘經及佛國土實現之理想,藥王菩薩品以下則敘述佛陀入滅後弘經之必要、弘經者之功德,及得諸菩薩、天神之擁護等,乃五濁惡世時守護國家最適合之經典。 ; (護國經典) Chỉ cho 3 bộ kinh điển nói về việc bảo hộ quốc gia. Đó là: 1. Kinh Nhân vương bát nhã ba la mật, 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch. 2. Kinh Kim quang minh, 4 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch. 3. Kinh Diệu pháp liên hoa, 7 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch. Ngoài ra, còn có kinh Kim quang tối thắng vương 10 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch, là bản dịch khác của kinh Kim quang minh.

Hộ Quốc Thủ Trừng

(護國守澄, Gokoku Shuchō, ?-?): nhân vật sống vào khoảng cuối thời nhà Đường, vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, pháp từ của Sơ Sơn Khuông Nhân (疎山匡仁). Ông có sống ở Hộ Quốc Viện (護國院), Tùy Châu (隨州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc), được ban cho hiệu là Tịnh Quả Đại Sư (淨果大師).

hộ quốc tôn giả sở vấn đại thừa kinh

6868凡四卷。宋代施護譯。略稱護國尊者所問經。收於大正藏第十二冊。記載佛陀於王舍城耆闍崛山為護國尊者說菩薩之法要。與收於大寶積經卷八十、卷八十一兩卷之護國菩薩會(隋代闍那崛多譯)為同本異譯。〔開元釋教錄卷七、卷九、至元法寶勘同總錄卷一〕 ; Rāṣṭrapālaparipṛcchā-sŪtra (S) Một bộ kinh trong Bảo tích bộ. ; Ràstrapàlapari-prcchà (S). Sùtra. ; (護國尊者所問大乘經) Gọi tắt: Hộ quốc tôn giả sở vấn kinh. Kinh, 4 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung này ghi chép việc đức Phật ở núi Kì xà quật, gần thành Vương xá, nói cho tôn giả Hộ quốc nghe về pháp trọng yếu của Bồ tát. Hội Hộ quốc bồ tát (do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy) trong kinh Đại bảo tích (quyển 80, 81) là bản dịch khác của kinh này. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.7, Q.9; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.1].

hộ quốc tứ thiên vương

Bốn vị Thiên vương hộ thế—The four Lokapalas, or Rastrapalas, who protect a country—See Hộ Thế Tứ Thiên Vương.

hộ quốc tự

6868<一>北平市名剎之一。原名崇國寺。元相托克托捨宅所建。明宣德年中賜名崇善寺,成化年中易名大隆善護國寺。其地名護國寺街,每月七、八二日有廟會,遊人喧鬧。寺內佛殿舊有托克托夫婦像,又有明代姚少師塑像,袈裟趺坐,形態瞿然。 <二>位於臺灣臺中霧峰鄉。創建於民國初年,初稱天禮堂,為龍華教在家居士之自修道場。五十三年(1964),廣化法師晉任住持,改稱護國寺,並重新整修,制訂規章,改住僧眾,弘揚正教。五十九年,如虛法師繼任住持,斥資購得該寺土地所有權,再度重建,寺貌煥然一新。

hộ thân

Protection of the body . ; To defend (protect) oneself—Protection of the body, for which the charm last named is used, and also other methods.

hộ thân pháp

6866為密教之修法。又作護身加持。即真言行者修法之初,為除去身心障礙,使之歸於清淨,成就所修之法,故結誦印言以加持其身心之作法。金剛界與胎藏界兩部通用之印相與真言有五種,稱為五護身,即淨三業印、佛部三昧耶印、蓮華部三昧耶印、金剛部三昧耶印、被甲護身印。其中,淨三業印總斷三業所犯罪垢,佛部、蓮華部、金剛部之三昧耶印分別淨身業、口業與意業,被甲護身印即著佛大慈悲之甲冑以防天魔惡人等障難之意。 此外,胎藏大法另有佛部三昧耶、法界生、轉法輪、金剛鎧、覽字觀等特殊之護身作法,金剛界大法則有淨地、淨身等。然現今流行之大法次第,一般係於此等特殊護身作法之前,先結誦淨三業等五種印言。〔菩提場所說一字頂輪王經卷二、十八契印、十八道念誦次第(空海)、胎藏界虛心記卷上、金剛界淨地記〕 ; (護身法) Cũng gọi Hộ thân gia trì pháp. Trước khi tu một pháp nào đó trong Mật giáo, hành giả phải kết ấn, tụng chân ngôn gia trì nơi thân tâm của chính mình, làm cho thanh tịnh để thành tựu pháp tu ấy. Về ấn tướng và chân ngôn mà 2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới thường sử dụng, thì gồm có 5 loại gọi là Ngũ hộ thân. Đó là: 1. Ấn Tịnh tam nghiệp: Diệt trừ các tội của 3 nghiệp. 2. Ấn Tam muội da của Phật bộ: Làm cho thân nghiệp thanh tịnh. 3. Ấn Tam muội da của Liên hoa bộ: Làm cho khẩu nghiệp thanh tịnh. 4. Ấn Tam muội da của Kim cương bộ: Làm cho ý nghiệp thanh tịnh. 5. Ấn Bị giáp hộ thân: Mặc giáp trụ từ bi rộng lớn của đức Phật để ngăn ngừa các chướng nạn do thiên ma và ác nhân gây ra. Ngoài ra, trong Đại pháp Thai tạng giới còn có các tác pháp hộ thân đặc biệt như: Tam muội da của Phật bộ, Pháp giới sinh, Chuyển pháp luân, Lãm tự quán, v.v...; còn trong Đại pháp Kim cương giới thì có các tác pháp Tịnh địa, Tịnh thân, v.v... [X. kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.2; Thập bát khế ấn; Thập bát đạo niệm tụng thứ đệ (Không hải); Thai tạng giới hư tâm kí Q.thượng; Kim cương giới Tịnh địa kí].

hộ thân phù

6866護身之靈符。又作護符、神符、靈符、祕符。即書寫佛、菩薩、諸天、鬼神等之形像、種子、真言之符札。將之置於貼身處,或吞食,可蒙各尊之加持護念,故有此名。符之種類極多,依祈願之意趣而有各種差別;而其作用亦多,可除厄難、水難、火難及安產等。 密教經典儀軌中,有關於護符之記事。據西藏新志載,藏民均身帶護符,以絲束經典一頁,置之金屬小匣,或藏於懷中。又以「旅人以馬」及「金剛繫犬」兩種畫品為護符,遇猛犬時,攜金剛繫犬圖,遇暴風雨時,飛散畫馬之紙,可免災難。此外,日本自平安時代亦盛行此風,如牛王寶印即為諸寺社所常用之一種。〔穢跡金剛禁百變法經、灌頂經卷一〕 ; (護身符) Cũng gọi Hộ phù, Thần phù, Linh phù, Bí phù. Bùa hộ thân. Tức những lá bùa trong đó có vẽ hình tượng hoặc viết chủng tử, chân ngôn của Phật, Bồ tát, chư thiên, quỉ thần, v.v... đeo trong mình hoặc nuốt vào bụng để mong được chư tôn gia trì hộ niệm. Có nhiều loại bùa hộ thân và tùy theo sự mong cầu mà tác dụng của chúng cũng khác, như: Trừ ách nạn, trừ nạn nước, nạn lửa, sinh nở được bình an, v.v... Trong các kinh và nghi quĩ Mật giáo cũng nói rất nhiều về Hộ thân phù. Cứ theo Tây tạng tân chí, thì dân chúng Tây tạng đều đeo bùa hộ thân. Chẳng hạn, họ dùng những sợi chỉ buộc một trang kinh lại để vào chiếc hộp nhỏ bằng kim loại rồi đeo trong người, hoặc dùng tranh vẽ Lữ nhân dĩ mã và Kim cương hệ khuyển làm hộ phù để trừ nạn mưa bão và chó dữ. Ngoài ra, Nhật bản vào thời đại bình an, phong tục đeo bùa hộ thân cũng thịnh hành, chẳng hạn như Ngưu vương bảo ấn cũng là một loại hộ thân phù. [X. kinh Uế tích kim cương cấm bách biến pháp; kinh Quán đính Q.1].

hộ thất

Retreats assistant.

Hộ Thần

護神; S: sādhita, iṣṭadevatā; T: yidam; E: deity; cũng có thể gọi là Thiên thần (天神);|Thần hộ vệ người tu tập trong hệ thống Tan-tra, Vô thượng du-già; là linh ảnh biểu hiện của một Nghi quỹ (s: sādhana). Những Hộ Thần này được tạo bằng sức mạnh quán tưởng của một người tu luyện Nghi quỹ (s: sādhaka, tantrika) và chỉ có người này mới thấy được »sự sống« của linh ảnh này. Hộ Thần là hình ảnh tưởng tượng, là những »thần hỗ trợ như ý« đi theo hộ vệ người đã tạo ra họ (s: sādhaka). Khi một người tu tập tạo ra một Hộ Thần, người ta có thể hiểu rằng, người ấy muốn Hộ Thần này truyền lại tất cả những năng lượng tiềm tàng trong nghi quỹ đang được tu luyện.|Những Hộ Thần thường được nhắc đến mang tên của những Tan-tra quan trọng nhất, đó là Bí mật tập (s: guhyasamāja), Cha-kra sam-va-ra (»Người chặn đứng bánh xe«, bánh xe đây là Vòng sinh tử), Hô kim cương (s: hevajra; còn được gọi là Hê-ru-ka; t: heruka) và Thời luân (s: kālacakra). Trong tranh tượng, các vị Hộ Thần thường được trình bày dưới hai dạng, tịch tịnh (s: śānta) và phẫn nộ (s: krodha). Trong cả hai trường hợp, những vị này luôn luôn cũng được diễn tả với một nữ nhân, một Du-già-ni (s: yoginī) trong tư thế giao phối (s: yuganaddha; t: yab-yum).|Trong Kim cương thừa tại Tây Tạng, Hộ Thần là một vị thần dành riêng cho mỗi người; vị này phải phù hợp với căn cơ và tâm lí của hành giả. Hộ Thần là dạng xuất hiện của Báo thân (s: saṃbhogakāya), phải được hình dung thành linh ảnh trong các Nghi quỹ – tức là phải được nhìn bằng nội quán. Hộ Thần có thể có những hình tượng hiền từ hoặc phẫn nộ khác nhau, mỗi vị thuộc về một vị Phật trong hệ thống Ngũ Phật. Tại Tây Tạng, những vị Hộ Thần phổ biến nhất là Quán Thế Âm (t: chen-resi), vị nữ thần Ða-la (s: tārā) và những vị được truyền trong các bộ Tan-tra cực kì bí mật như »Lợn kim cương« (金鋼母豬; Kim cương mẫu trư; t: dorje phagmo).|Khác với truyền thống Tan-tra của Ấn Ðộ giáo, Phật giáo Tây tạng không xem Hộ Thần là người chuyên trách bảo vệ mình, các vị chỉ là những biểu tượng nói lên tính cách riêng của mỗi hành giả và tính cách đó chính là phương tiện để chuyển hoá tâm thức. Hộ Thần cũng là mối nối giữa hành giả và dòng tu và giáo pháp của dòng đó.|Hộ Thần cũng được chia thành nhiều loại có tên khác nhau, mỗi loại có một tính chất riêng:|Nam Hộ Thần (chủ từ bi):|hiền từ: Bà-già-phạm (s: bhagavat);|nghiêm nghị: Không hành nam (s: ḍāka); |phẫn nộ: Hê-ru-ka (s: heruka).|Nữ Hộ Thần (chủ trí huệ): |hiền từ: Bà-già-bà-đề (s: bhagavatī)|nghiêm nghị và phẫn nộ: Không hành nữ (s: ḍākinī).|Các vị Nam và Nữ Hộ Thần cũng thường được trình bày trong tư thế giao phối (Yab-yum) như vị Nam Hộ Thần Cha-kra sam-va-ra và Nữ Hộ Thần Kim Cương Bhai-ra-va (s: vajrabhairava) và từ đó phát sinh ra nhiều biểu tượng cực kì phức tạp.

hộ thần

Iṣtadevatā (S), Sādhita (S), Yidam (T), Ishtadevata (S), Protector Tên một vị thiên.

Hộ thế giả

護世者; S, P: lokapāla;|Tên gọi chung của bốn vị Thiên vương, bốn vị thần thủ hộ thế giới.

hộ thế giả

The four Lokapàlas, each protecting one of the four quarters of space, the guardians of the world and of Buddhist faith. ; Bốn vị Thần canh giữ tứ phương hay chủ hộ của thế giới—The four Lokapalas or heaven kings—See Hộ Thế Tứ Thiên Vương.

hộ thế thần

Lokapāla(S, P).

hộ thế tứ thiên vương

6865又作護國四王、四大天王、四王。即持國(東方)、增長(南方)、廣目(西方)、多聞(北方)四天王。此四天王居須彌山四方之半腹,常守護佛法,護持四天下,令諸惡鬼神不得侵害眾生,故稱護世,又稱護國。〔長阿含卷十二大會經、增一阿含經卷九、金光明最勝王經卷六四天王護國品、阿育王經卷六〕 ; Bốn vị Thiên vương ở cõi Trời Tứ Thiên Vương, mỗi vị canh giữ một phương, ý nói Thần Hộ Pháp. Cõi Trời thứ nhứt nầy nằm giữa chừng núi Tu Di. Mỗi vị mỗi hướng, Bắc, Nam, Đông, Tây (Kinh Duy Ma Cật, phẩm Phương Tiện:“Hộ thế tứ thiên vương là những vị bảo vệ chúng sanh thoát khỏi sự tàn hại của các loài quỷ thần ác độc.”)—Four Heaven kings or Lokapalas of the Heaven of the Four Kings, each protecting one of the four quarters of space, the guardians of the world and of the Buddhist faith. This first-level heaven is halfway up Sumeru Moountain and in each of its directions, North, South, East, West. ** For more information, please see Tứ Thiên Vương. ; (護世四天王) Cũng gọi Hộ quốc tứ vương, Tứ đại thiên vương, Tứ vương. Bốn vị trời ở 4 phương lưng chừng núi Tu di để hộ trì Phật pháp và che chở chúng sinh trong 4 đại châu. Đó là: 1. Phương Đông: Trì quốc thiên vương. 2. Phương Nam: Tăng trưởng thiên vương. 3. Phương Tây: Quảng mục thiên vương. 4. Phương Bắc: Đa văn thiên vương. [X. kinh Đại hội trong Trường a hàm Q.12; kinh Tăng nhất a hàm Q.9; phẩm Tứ thiên vương hộ quốc trong kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.6; kinh A dục vương Q.6].

hộ thế tứ vương

Guardian Kings of Four Directions Tên một vị thiên.

hộ trì

Viharapala (skt)—Hộ trì tự viện hay Tam Bảo—Supporter—Guardian deity of a monastery.

hộ trì các căn

• Theo Kinh Sa Môn Quả trong Trường Bộ Kinh, Đức Phật đã dạy về một vị Tỳ Kheo Hộ Trì Các Căn—According to the Samannaphala Sutta in the Long Discourses of the Buddha, the Buddha taught about “a guardian of the sense-door.” • Thế nào là vị Tỳ Kheo hộ trì các căn? Khi mắt thấy sắc, Tỳ Kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện khởi lên, Tỳ Kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, thân cảm xúc, ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỳ Kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ nội tâm, không vẩn đục: How does a monk become a guardian of the sense-door? Here a monk, on seeing a visible object with the eye, does not grasp at its major signs or secondary characteristics. Because greed and sorrow, evil unskilled states, would overwhelm him if he dwelt leaving this eye-faculty unguarded, so he practises guading it, he protects the eye-faculty, develops restraint of the eye-faculty. On hearing a sound with the ear…; on smelling an odour with the nose…; on tasting a flavour with the tongue…; on feeling an object with the body…; on thinking a thought with the mind, he does not grasp at its major signs or secondary characteristics, he develops restraint of the mind-faculty. He experiences within himself the blameless bliss that comes from maintaining this Ariyan guarding of the faculties.

hộ trì phật

Buddha's supporter.

hộ trì tam bảo

Supporter of the Triple Gem.

hộ trợ

To help one another.

hộ tất na

Hupian (skt)—Theo Eitel trong trung Anh Phật Học Từ Điển, Hộ Tất Na là kinh đô của Vridjisthana, có lẽ là xứ láng giềng của vùng mà bây giờ gọi là Charekoor, nằm về phía bắc của Cabool—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Hupian is the capital of Vridjisthana, probably in the neighbourhood of the present Charekoor, to the north of Cabool.

hộ tống

To convoy—To escort.

hộ viên mãn

發智論二卷二十一頁云:云何護圓滿?答:無學根律儀。二解大毗婆沙論四十四卷十六頁云:云何護圓滿?答:無學根律儀。應知此中根是所護。由念慧力,護眼等根;不令於境,起諸過患。如鉤制象,不令奔逸。是故無學正念正知、名護圓滿。如伽他說:世間諸瀑流,正念能防護。若令畢竟斷,其巧唯正知。問:根律儀、根不律儀、各以何為自性?答:根律儀、以正念正知為自性。根不律儀、以失念不正知為自性。云何知然?經為量故。如契經說:天告苾芻:汝今不應自開瘡漏。苾芻答曰:我當覆之。天復語言:瘡漏非小,以何能覆?苾芻答曰:我當覆以正念正知。天曰:善哉。此為真覆。故知此二、是根律儀。覆護、律儀、義相似故。根不律儀、翻前而立。故是失念及不正知。如彼卷十六頁至十九頁廣說。

hộ vệ

To guard.

hộ đồng tử pháp thần

Vị thần bảo hộ trẻ em khỏi bị 15 quỷ dữ ám hại—Guardian or protector (spirit) who protects the young against the fiften evil spirits which seek to harm them.

hộc

đơn vị đo lường ngày xưa, mỗi hộc bằng 10 đấu. ; Drona (skt). 1) Cái hộc bằng gỗ để chứa đồ—A tub, or wooden vessel. 2) Cái Hộc dùng để đo lường: A measure of capacity—A square wooden vessel, a bushel.

hộc phạn

Dronodāna (S) Bào đệ thứ nhì của vua Tịnh Phạn, phụ thân của Bà ta và Bạt đề.

hộc phạn vương

4612斛飯,梵名 Droṇodana,音譯途盧檀那。又作穀淨王。約紀元前六世紀人。乃師子頰王(梵 Siṃhahanu)之子,淨飯王(梵 Suddhodana)之弟,釋尊之叔父。關於其子,依各經論所載,有數種說法:或謂阿尼婁馱、跋提梨迦二子;或謂摩訶男、阿尼婁馱二子;或謂加跋㮈黎女共三子;或謂提婆達多、阿難二人等。其他事蹟則不詳。〔起世經卷十、十二遊經、眾許摩訶帝經卷二、大方便佛報恩經卷三、五分律卷十五、有部毘奈耶破僧事卷二、大智度論卷三、彰所知論卷上、釋迦譜卷一〕 ; Dronodana (skt)—Tên tiếng Phạn là Đồ Lô Đàn Na, dịch là Cốc Tịnh, là con vua Sư Tử Giáp, là một trong những người em trai của Tịnh Phạn Vương, là cha của Đề Bà Đạt Đa và Mahanama, là chú của Đức Phật—One of the younger brothers of Suddhodana, a prince of Magadha, father of Devadatta and Mahanama, and uncle of Sakyamuni. ; (斛飯王) Hộc phạn, Phạm: Droịodana. Dịch âm: Đồ lô đan na. Cũng gọi Cốc tịnh vương. Một vị vua sống vào khoảng thế kỉ VI trước Tây lịch ở Ấn độ, là con của vua Sư tử Giáp (Phạm: Siôhahanu), em vua Tịnh phạn (Phạm: Suddhodana), chú ruột của đức Phật. Về những người con của vị vua này thì có nhiều thuyết, có thuyết cho rằng vua có 2 con là A ni lâu đà và Bạt đề lê ca, hoặc Ma ha nam và A ni lâu đà, hoặc Đề bà đạt đa và A nan đà. Lại có thuyết cho rằng vua có 3 người con là A ni lâu đà, Ma ha nam và một người con gái là Bạt nại lê. [X. kinh Khởi thế Q.hạ; kinh Thập nhị du; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.2; kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.3; luật Ngũ phần Q.15; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.2; luận Đại trí độ Q.3; luận Chương sở tri Q.thượng; Thích ca phổ Q.1].

hộc thực

4612斛,本為量器名,古謂十斗,今容五斗。以四角形大木盤盛大量飯食以供養三界萬靈,稱為斛食。盂蘭盆會即行斛食供養。〔救拔燄口餓鬼陀羅尼經、釋氏要覽卷上、敕修百丈清規卷七〕 ; (斛食) Hộc, nguyên là cái đồ dùng để đong lường, thời xưa 1 hộc là 10 đấu, nhưng nay 1 hộc chỉ có 5 đấu. Hộc thực là cái mâm lớn bằng gỗ hình vuông đựng nhiều thức ăn để cúng dường thần linh trong 3 cõi. Trong pháp hội Vu lan bồn thường sắp bày Hộc thực cúng dường. [X. kinh Cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đà la ni; Thích thị yếu lãm Q.thượng; Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7].

Hội

會; C: huì; J: e;|1. Kết hợp, hợp nhất; 2. Trở về, dàn xếp; 3. Triệu tập mọi người lại; 4. Cuộc hội họp, hội nghị, hội đồng; 5. Một hội chúng tu tập. Thuật ngữ gốc tiếng Phạn chỉ cho một cuộc hội nghị nhất thời là utsava; 6. Thời gian một Thiền sư lưu lại ở một thiền viện trước khi ra đi cũng gọi là Hội; 7. Đồ chúng của một vị thầy tu học cùng nhau; 8. Hiểu, nhận ra, lãnh hội; 9. Sự chào hỏi, chào mừng, thừa nhận; 10. Sự hợp nhất, kết hợp, liên hợp (hợp đồng合同); 11. Chúng đồng phận (衆同分), một pháp trong giáo lí Duy thức

hội

5473梵語 parṣad,巴利語 parisā。集會、合會之意。涅槃會、維摩會、法華會等,其「會」字即有集會之意。天台宗有「會三歸一」、「開會」之語,意謂將「爾前」分別之執情開除之,並令融會證入一乘之境地。又如「會通」、「和會」、「會釋」等語,爲疏通異說,合會一理之意。禪家所謂之「會得」,或單稱「會」,乃指冥合真諦之情態。碧巖錄第十八則(大四八‧一五七下):「國師良久云:『會麼?』」法眼文益禪師語錄(大四七‧五八八中):「恁麼會,又爭得?」 ; 1) Hiểu rõ: To apprehend—Skilled in. 2) Hội chúng: Assembly—Association—Society—Company. 3) Hội họp: To meet—To assemble—To collect—To unite. 4) Hội thoại: To associate—To communicate. ; (會) Phạm: Parwad. Pàli: Parisà. Gồm có những nghĩa sau đây. 1. Tập hội, hội họp, pháp hội, tức là đại chúng tập hợp lại để nghe thuyết giảng kinh pháp, như Niết bàn hội, Duy ma hội, Pháp hoa hội. 2. Dung hội, như Hội tam qui nhất và Khai hội của tông Thiên thai; nghĩa là khai trừ tình chấp phân biệt từ trước mà dung hội chứng nhập vào cảnh giới Nhất thừa. 3. Hội thông, Hòa hội, nghĩa là hợp vào một lí, như làm lời sớ giải, chú thích để hợp thông các thuyết khác nhau. 4.Trong Thiền tông có từ Hội đắc hoặc nói tắt Hội , nghĩa là liễu ngộ, hiểu thầm hợp với chân lí. Tắc 18 trong Bích nham lục (Đại 48, 157 hạ), ghi: Quốc sư im lặng hồi lâu rồi hỏi: Hội không? Pháp nhãn Văn ích thiền sư ngữ lục (Đại 47, 588 trung), nói Ông hiểu như thế, liệu được gì không?

hội bản

5474將各種同類之經文或注疏合成一本而流通之,稱爲會本。宋朝以後之刊行本多爲會本,例如十不二門指要鈔會本、妙宗鈔會本、華嚴大疏鈔會本等均屬之。 ; (會本) Tập hợp các kinh văn hoặc chú sớ cùng loại thành một bản để lưu thông, như Thập bất nhị môn chỉ yếu sao hội bản,Diệu tông sao hội bản, Hoa nghiêm đại sớ sao hội bản, v.v... Loại Hội bản phần nhiều được thực hiện từ đời Tống trở về sau.

hội chúng

Hội họp toàn thể những thành viên trong Tăng đoàn—To assemble the community, or company; to meet all.

hội diện

To meet face to face.

hội dịch

To assemble and explain the meaning; to comprehend and explain.

hội giả định li

5475謂相會者終必分離。佛遺教經(大一二‧一一一二中):「世皆無常,會必有離,勿懷憂也,世相如是。」即謂世事無常之意。〔北本大般涅槃經卷二〕 ; (會者定離) Có họp ắt có chia lìa. Ý nói sự vô thường ở thế gian. Kinh Phật di giáo (Đại 12, 1112 trung), nói: Thế gian đều vô thường, Hội hợp ắt chia li, Chớ ôm lòng lo buồn, Cuộc đời là như thế . [X. kinh Đại bát niết bàn Q.2 (bản Bắc)].

hội hiệp sở sanh khổ

xem ba loại khổ.

hội hạ

5474猶言門下、會中、會裡。指於說法之集會時,前往受教之人;或爲於師家處受學者之總稱,例如青原會下、南嶽會下。又跟隨一師習學受教亦稱會下。臨濟義玄禪師語錄之行錄(大四七‧五○四中):「師初在黃蘗會下,行業純一。」 ; Vị Tăng kém tuổi hạ trong giáo đoàn—The lower, or junior member of an assembly, or company. ; (會下) Cũng gọi Môn hạ, Hội trung, Hội lí. Chỉ chung cho những người đến nghe thuyết pháp, tu học hoặc tham thiền nơi một bậc thầy nào đó. Như Thanh nguyên hội hạ, Nam nhạc hội hạ, v.v... Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục chi hành lục (Đại 47, 504 trung), nói: Mới đầu sư ở trong hội của ngài Hoàng bá (Hoàng bá hội hạ), hạnh nghiệp thuần nhất .

hội khánh

Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong xã Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng vào năm 1741 dưới triều vua Lê Hiển Tông. Năm 1860, năm Tự Đức thứ 13, quân Pháp đốt hủy chùa. Năm 1868, Hòa Thượng Chánh Đắc xây lại, nhưng trong thời gian chiến tranh với quân Pháp chùa lại bị hư hại nặng nề. Năm 1917, giảng đường và tây lang được trùng tu, và về sau nầy đông lang và ngôi chánh điện cũng được trùng tu lại. Các pho tượng trong chánh điện đều được tạc bằng gỗ, sơn son thếp vàng, có ba tấm bao lam chạm tứ linh, cửu long và thập bát La Hán. Hai bên tường chánh điện có tượng thập bát La Hán và thập điện Diêm Vương. Các tác phẩm chạm trổ nầy được tạc vào những năm cuối thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ 20 do các nhóm thợ nổi tiếng ở Thủ Dầu Một như Trương Văn Can, Nguyễn Văn Ba, Sáu Nhồng thực hiện. Tượng La Hán bằng gỗ, mỗi tượng cao 76 phân, ngang 41 phân, cả bệ cao 1 mét 7. Tượng Diêm Vương cao 1 mét, ngang 63 phân—Name of a famous ancient pagoda located in Phú Cường village, Thủ Dầu Một, South Vietnam. It was built in 1741, under Emperor Lê Hiển Tông. In 1860, the thirteenth Tự Đức year, it was burnt down by the French army. Most Venerable Chánh Đắc had it rebuilt in 1868, but later it was damaged again during the wartime. In 1917, the auditorium and east compartment were rebuilt, and later the west compartment and the Main Hall were also rebuilt. All the statues placed in the Main Hall are cast in wood, gilded and painted in red. There are three carved drafts decorated with the images of the four sacred animals, the nine dragons and the Eighteen Arahats. On both walls of the Main Hal stand the statues of the Eighteen Arahats and Ten Halls of Yama of Hell. Created in the late years of the nineteenth century, these wooden carved masterpieces were completed by the famous engravers from Thủ Dầu Một town like Trương Văn Can, Nguyễn Văn Ba, Sáu Nhồng and workers of sugar and sugar-candy workshops. The statues of Eighteen Arahats, made of wood, each 0.76 meter high, 0.41 meter wide. Its pedestal is 0.10 meter high and the base is 1.7 meters high. The statue of Yama Hell is made of wood, 1 meter high and 0.63 meter wide.

hội kiến

To meet face to face—To interview.

hội kín

Secret meeting (society).

hội linh

Tên của một ngôi chùa cổ trong thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng từ lâu và được trùng tu năm 1914—Name of an ancient temple, located in Cantho City, Cantho province, South Vietnam. It was built a long time ago, and was rebuilt in 1914.

hội lợi câu tự tháp

(hội lợi câu tự tháp ) Tháp 5 tầng bằng đá hoặc bằng gỗ, ở chính giữa có viết chữ (hrì#, Hột lợi câu). Tháp tức là chữ Tông (Vaô), biểu thị cho cung điện pháp giới của quả vị Đại nhật thuộc Kim cương giới. Còn chữ Hột lợi câu thì biểu thị cho chủng tử căn bản của Vô lượng thọ Như lai ở phương Tây và chủng tử nhân vị của Vô lượng thọ tát đỏa. Vì thế chủng tử này có các nghĩa: Khéo hiện nhân quả không hai , Vào đại bi sinh Liên hoa tam muội , Trí diệu quan sát được phát hiện khi trụ nơi thức thứ 6 , Tích tập vô lượng công đức trong pháp giới , Cứu giúp tất cả chúng sinh .

hội nghị

Conference.

hội nghị giáo dục

Educational conference.

hội nhất lập ngũ

5473謂會通一乘之旨而立五性各別之說。爲法相宗解深密經所說。法華經、涅槃經等主張唯有一乘法,謂一切眾生悉修佛道成佛而無二乘三乘;然解深密經則謂唯有一乘謂佛,眾生根機實有或鈍或利等五性之差別。解深密經卷二(大一六‧六九五上):「一切聲聞、獨覺、菩薩皆共此一妙清淨道,皆同此一究竟清淨,更無第二。我依此故,密意說言,唯有一乘,非於一切有情界中無有種種有情種性,或鈍根性,或中根性,或利根性,有情差別。」 ; (會一立五) Hội thông yếu chỉ Nhất thừa mà lập thuyết Ngũ tính sai biệt. Đây là thuyết của kinh Giải thâm mật. Kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn, v.v... chủ trương chỉ có Nhất Phật thừa, chứ không có 2 thừa, 3 thừa, nhưng kinh Giải thâm mật thì cho rằng chỉ có Nhất thừa là Phật thừa, còn chúng sinh thì tùy theo căn cơ lợi, độn mà có 5 tính khác nhau. Kinh Giải thâm mật quyển 2 (Đại 16, 695 thượng), nói: Tất cả Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát đều cùng chung một đạo thanh tịnh mầu nhiệm này, đều cùng một đạo rốt ráo thanh tịnh này, chứ không có đạo nào khác. Nay căn cứ vào đó mà ngầm chỉ rằng: Chỉ có Nhất thừa, nhưng chẳng phải trong các cõi Hữu tình không có những chủng tính khác nhau: Hoặc căn tính đần độn, hoặc căn tính bậc trung, hoặc căn tính lanh lợi .

hội phước

Tên của một ngôi chùa cổ nổi tiếng tọa lạc trong ấp Phú Nhuận, xã An Mỹ, thị xã sa Đéc, tỉnh Sa Đéc, Nam Việt Nam. Chùa được bà Trần Thị Ngôn dựng từ năm 1842. Khởi đầu nó chỉ là một cái am nhỏ gọi là chùa Bà Định (vì bà Ngôn có pháp danh là Diệu Định). Năm 1847, bà Ngôn cầu thỉnh Hòa Thượng Giác Lâm đặt tên chùa là Hội Phước Tự. Năm 1848, bà thỉnh thầy Phổ Minh từ chùa Giác Lâm về trụ trì. Thầy Phổ Minh bắt tay xây chùa từ năm 1849 đến năm 1892 thì hoàn thành. Từ đó đến nay chùa đã được trùng tu nhiều lần—Name of a famous ancient pagoda, located in Phú Nhuận hamlet, An Mỹ village, Sa Đéc town, Sa Đéc province, South Vietnam. The pagoda was built in 1842. At first it was a small temple possessed by Ms. Trần Thị Ngôn and called Lady Định Pagoda. In 1847, Ms. Ngôn whose Dharma name is Diệu Định, worshipped the Buddhism and requested the Most Venerable Head of Giác Lâm Pagoda to name it Hội Phước Pagoda. In 1848 she requested Master Phổ Minh from Giác Lâm pagoda to head Hội Phước Pagoda. Master Phổ Minh began to build the pagoda from 1849 to 1892. It has been restored many times.

hội phước thiện

Benevolent agency

hội phật sư

6669日本佛教美術用語。又作繪師、繪畫師、佛畫師。平安中期以降,對佛畫專家之稱謂。據初例抄卷上載,繪佛師之列入僧綱,始於後冷泉天皇治曆四年(1068),有繪佛師教禪,於法成寺繪百二十一尊佛像,得後冷泉天皇之賞賜,乃敘入僧綱,任法橋之職。 繪佛師所畫者多以寺院為主,兼亦描繪世俗畫。以定豊、教禪、圓心、賴源等人為最著。 ; (繪佛師) Cũng gọi Hội sư, Hội họa sư, Phật họa sư. Tiếng dùng trong mĩ thuật Phật giáo Nhật bản, chỉ chung cho các vị sư chuyên vẽ tượng Phật từ giữa thời kì Bình an trở về sau. Cứ theo Sơ liệt sao quyển thượng, thì Hội Phật sư được xếp vào hàng Tăng cương. Việc này bắt đầu từ năm Trị lịch thứ 4 (1068) đời Hậu lãnh tuyền Thiên hoàng; bấy giờ có Hội Phật sư là ngài Giáo thiền, ở chùa Pháp thành, vẽ 121 tượng Phật, được Thiên hoàng ban thưởng và xếp vào hàng Tăng cương, giữ chức Pháp kiều. Đề tài hội họa chủ yếu của các Hội Phật sư phần nhiều là các tự viện, nhưng đôi khi cũng có những chủ đề thế tục. Các ngài Định phong, Giáo thiền, Viên tâm, Lại nguyên, v.v... là những Hội Phật sư nổi tiếng nhất.

hội quyển

6669日本佛教美術用語。指由文字與相關繪畫配合而成之卷本。又稱繪詞。凡本尊之奇瑞、高僧傳記、寺院緣起,均可為繪卷之內容。其中描繪某人之傳記,即稱畫傳。日本以藤原末期至鎌倉時代為繪卷盛行之巔峰時期,題材多與佛教有關,或以繪因果經及裝飾經等為此繪風之濫觴。 繪卷表達之形式頗多。依時間之先後,以連續性之形式而作者,以善財童子五十三參繪卷為最佳代表作。又表達教義者,如地獄草子、餓鬼草子等,即為此類之傑作。有關佛寺緣起之繪卷,以信貴山緣起為始,他如粉河寺、石山寺之名作亦頗多。此外,又有神社緣起、華嚴緣起、祖師繪傳等類作品。 ; (繪卷) Cũng gọi Hội từ. Tiếng dùng trong mĩ thuật Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho loại sách có hình thức giống như loại truyện bằng tranh. Phàm những điềm ứng nghiệm của Bản tôn, truyện kí của các bậc Cao tăng, duyên khởi của các chùa viện, v.v... đều có thể được dùng làm nội dung của Hội quyển. Trong đó, nếu vẽ lại truyện kí của một người nào đó, thì gọi là Họa truyện (truyện vẽ, truyện tranh). Tại Nhật bản, vào cuối thời kì Đằng nguyên đến thời đại Liêm thương là thời kì thịnh hành nhất của Hội quyển. Đề tài của Hội quyển phần nhiều có liên quan đến Phật giáo, hoặc vẽ kinh Nhân quả, hoặc dùng các bức tranh để trang nghiêm kinh, đó là khởi nguồn của phong cách vẽ này. Hình thức diễn đạt của Hội quyển rất phong phú. Dựa vào thứ tự thời gian mà được sáng tác nên Hội quyển có tính liên tục và rất mạch lạc. Hội quyển Thiện tài đồng tử 53 lần tham vấn là tác phẩm tiêu biểu đẹp nhất. Còn về mặt diễn đạt giáo nghĩa thì như Địa ngục thảo tử, Ngã quỉ thảo tử, v.v... là những kiệt tác về loại này. Những Hội quyển có liên quan đến duyên khởi các chùa Phật, thì như duyên khởi Tín quí sơn, Phấn hà tự, Thạch sơn tự … là những danh tác. Ngoài ra còn có nhiều loại tác phẩm về duyên khởi, như Thần xã duyên khởi, Hoa nghiêm duyên khởi, Tổ sư hội truyện, v.v

hội sơn

Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong thôn Cầu Ông Táng, xã Long Bình, huyện Thủ Đức, Thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Thiền sư Khánh Long xây vào cuối thế kỷ thứ 18, trên một ngọn đồi bên dòng sông Đồng Nai. Theo Gia Định Thành Thông Chí:“khi khách leo đồi du ngoạn, ngó xuống đại giang, có cảm tưởng như đã ra ngoài vòng thế tục.” Chùa có nhiều pho tượng gỗ quý từ thế kỷ thứ 19, trong đó có pho tượng của Bồ Tát Đại Thế Chí cao 1 mét 14, phần tòa sen và đế cao 34 phân, bề ngang giữa hai đầu gối là 44 phân. Bên ngoài chùa có tháp thờ Tổ Khánh Long, và trên bia tháp đề:“Hội Sơn Khai Thủy Lâm Tế thượng chánh tông. Đạo Thành Khánh Long Hòa Thượng Tổ Tháp.”—Name of an ancient temple, located in Cầu Ông Táng hamlet, Long Bình village, Thủ Đức district, Sài Gòn City, South Vietnam. It was built by Ch'an Master Khánh Long in the late eighteenth century, on a hill adjacent to the Đồng Nai river. According to Gia Định Thành Thông Chí, as visitors go up to the hill for sightseeings, they face the great river and have a feeling of being out of this world. There are many precious wooden statues conserved in the pagoda since the nineteenth century. Among them, the statue of Mahasthama-Bodhisattva is the oldest one, enshrined in the Main Hall. It is 1.14 meters high, the base and the lotus pedestal is 0.34 meter high, and the width between the two knees is 0.44 meter. Outside of the pagoda, stands the stupa of Patriarch Khánh Long. The stele of the stupa reads, “The stupa of Patriarch Khánh Long of the Original Lin-Chi Sect.”

hội tam quy nhất

5473又稱會三入一。即開三乘之方便歸入一乘之真實。係天台宗就法華經之教義所立之名目。天台宗謂,佛於法華以前之諸經,說聲聞、緣覺、菩薩等三乘,此係應未熟之根機而方便施設者,故未開顯真實以前爲權法;逮根機圓熟,則爲之開顯一乘,若隔歷之情執脫落時,則權即實,三即一,是爲唯一佛乘。如此開三乘會歸入一乘,稱爲會三歸一。與「開權顯實」、「廢權立實」其事相同,然開權顯實係就教體而立,廢權立實就教用而立,會三歸一則就所修之行而立。又於天台宗、華嚴宗,以羊、鹿、牛等三車比喻三乘,三車之外,別立大白牛車以爲一乘,故倡會三歸一之旨;然嘉祥、慈恩等三車家則以三乘中之菩薩乘爲佛乘,否認四車之說,而謂法華經係會聲聞、緣覺等二乘而歸入菩薩乘,稱爲「會二歸一」。〔法華經藥草喻品、法華經義記卷一(法雲)、法華玄義卷九下〕(參閱「開權顯實」5315、「開顯」5316) ; Quy tụ tam thừa về nhất thừa như lời thuyết giảng của Phật trong Kinh Pháp Hoa (trước kia Phật thuyết tam thừa chỉ là phương tiện để dẫn dụ chúng sanh mà thôi)—To unite the three vehicles in one, as in the Lotus sutra. ; (會三歸一) Cũng gọi Hội tam nhập nhất. Hợp 3 thừa phương tiện vào Nhất thừa chân thực. Từ ngữ này do tông Thiên thai căn cứ vào giáo nghĩa kinh Pháp hoa mà lập ra. Tông Thiên thai cho rằng trong các kinh trước Pháp hoa, đức Phật phương tiện nói 3 thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát để thích ứng với những căn cơ chưa thuần thục, cho nên những pháp phương tiện ấy gọi là Quyềnpháp. Đến khi căn cơ chúng sinh đã thuần thục viên mãn, thì Phật mở bày Nhất thừa. Nếu khi tình chấp ngăn che đã được trút bỏ thì Quyền tức Thực, 3 tức 1, đó là duy nhất Phật thừa, đã hợp 3 vào 1 nên gọi là Hội tam qui nhất. Cũng giống như Khai quyền hiển thực , Phế quyền lập thực , nhưng Khai quyền hiển thực là căn cứ vào giáo thể mà lập; Phế quyền lập thực căn cứ vào giáo dụng mà lập, còn Hội tam qui nhất thì căn cứ vào hạnh tu mà lập. Ngoài ra, các tông Thiên thai, Hoa nghiêm dùng 3 xe dê, nai, trâu, dụ cho 3 thừa và dùng xe trâu trắng lớn dụ cho Nhất thừa, do đó mà đề xướng tông chỉ Hội tam qui nhất. Nhưng các nhà chủ trương chỉ có 3 xe, như ngài Gia tường, Từ ân, thì phủ nhận thuyết trên và cho rằng Bồ tát thừa trong 3 thừa là Phật thừa, rằng kinh Pháp hoa là dung hội Thanh văn, Duyên giác vào Bồ tát thừa, gọi là Hội Nhị Qui Nhất . [X. phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.1 (Pháp vân); Pháp hoa huyền nghĩa Q.9 phần dưới]. (xt. Khai Quyền Hiển Thực, Khai Hiển).

hội thiện tự

5476位於河南登封縣嵩山太室之西南麓積翠峰下。屬曹洞宗,與少室山少林寺、嵩嶽寺等並稱爲嵩山之名剎。據北宋開寶五年(972)嵩山會善寺重修佛殿碑記所載,本寺原爲北魏孝文帝夏季之離宮,其後捐爲佛寺,隋開皇年間(581~600)改名爲會善寺。但據後魏神龜三年(520)七月會善寺浮圖銘、北齊武平七年(576)之會善寺碑等所載,會善寺之名自隋以前即存。下及唐代,四方禪僧來住者漸多。另據開元十五年(727)大唐嵩山會善寺故大德道安禪師碑(金石萃編卷七十七所收)記載,道安曾與慧能、神秀等人同在五祖弘忍座下習法,得禪要後,遊歷諸方,道譽頗高,屏居於會善寺,其後示寂於景龍二年(708);上記所說之「道安」,恐係宋高僧傳卷四所載之「慧安」,其法嗣中之淨藏爲慧能之弟子,亦即後人尊之爲七祖者,示寂於天寶五年(746)。並據嵩山會善寺故景賢大師身塔石記所載,景賢爲神秀之法嗣,道譽馳名,曾受中宗召見,開元十一年(723)示寂於本寺。 此外,唐初一行禪師及元同律師曾在本寺設立五佛正思惟戒壇,一時嚴淨,號稱洛域第一,其後衰微,至上都安國寺乘如再事復興,每年建立方等戒壇,宣講戒律。大曆二年(767),朝廷敕許於寺西建立戒壇院。此戒壇稱爲琉璃戒壇,年年受戒者多達數千人,趙州從諗亦受戒於此,元珪則在此戒壇授戒予嶽神。〔金石萃編卷九十四、卷九十五、菩提達磨嵩山史蹟大觀、支那文化史蹟卷二、禪宗史研究(宇井伯壽)〕

Hội thông

會通; C: huìtōng; J: etsū;|1. Hoà hợp và thống nhất những giáo lí (xung đột) khác nhau thành sự thông cảm hiểu biết rộng lớn và sâu sắc; 2. Xuyên qua, vượt qua sự vật.

hội thông

5476會合疏通之意。又作和會、融會、會釋。或單稱會。即會和疏通異說異義而調和其矛盾,以呈現其間真正之意義。蓋佛教廣對諸機,本有各種方便說法,復因流傳之時間久遠,地域廣大,其教說或有矛盾相違之處,故須究明其義旨,會合疏通,俾使見其一致。〔法華玄論卷九、華嚴經疏卷二〕 ; Giải quyết và thống nhất những tư tưởng dị biệt—To compare and adjust; compound; to bring into agreement; to solve and unify conflicting ideas. ; (會通) Cũng gọi Hòa hội, Dung hội, Hội thích hoặc gọi tắt là Hội. Dung hợp các thuyết, các nghĩa khác nhau để điều hòa sự mâu thuẫn giữa các thuyết hầu tìm ra ý nghĩa chân chính. Bởi vì Phật giáo vốn có nhiều phương tiện nói pháp để thích ứng với các căn cơ, trình độ; hơn nữa, do thời gian lưu truyền lâu dài, qua nhiều quốc độ, cho nên e có người cho rằng giáo thuyết ấy có chỗ mâu thuẫn, bởi vậy phải nghiên cứu rộng rãi giáo thuyết phương tiện, rồi điều hòa, dung hợp để tìm ra ý chỉ chân thực hầu đưa về một mối. [X. Pháp hoa huyền luận Q.9; Hoa nghiêm kinh sớ Q.2].

hội thông đại phật đảnh

Xem Đại Chuyển Luân Phật Đảnh.

Hội thông 會通

[ja] エツウ etsū ||| (1) To reconcile and unite various (conflicting) doctrines into a pervasive and inclusive understanding. (2) To pass through things. => 1. Hoà hợp và thống nhất những giáo lý (xung đột) khác nhau thành sự thông cảm hiểu biết rộng lớn và sâu sắc. 2. Xuyên qua, thông qua vật gì.

hội thương

To meet and to negotiate.

hội thọ

Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong thôn Mỹ Hưng, xã Thiện Tứ, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho, Nam Việt Nam. Chùa còn có tên là Tổ Đình Cái Cỏ. Tên nguyên thủy của nó là Kim Chương, đã ba lần được triều đình nhà Nguyễn ban bảng vàng “Sắc Tứ.” Lần thứ nhất là Sắc Tứ Kim Chương; lần thứ hai là Sắc Tứ Phổ Quang, và lần thứ ba là Sắc Tứ Thiên Tường Tự. Sau khi quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, Hòa Thượng Minh Giác (1794-1884) và đệ tử của ngài là Hòa Thượng Thiệu Lonïg(1835-1929) đã theo phu đồn điền rút về Mỹ Thiện (nay thuộc Cái Bè) lập chùa đổi hiệu là Hội Thọ Tự. Trước năm 1945, chùa Hội Thọ cũng quy mô và tráng lệ không kém chùa Kim Chương thuở trước. Khi thực dân Pháp trở lại, vì sợ chúng chiếm chùa làm đồn nên Tăng chúng và tín đồ đã thiêu hủy ngôi chùa rồi rút vào chiến khu. Hiện chùa còn giữ được bộ tượng thờ, nhiều bài vị và pháp khí của chùa cổ Kim Chương cùng ba ngôi bảo tháp của Hòa Thượng Minh Giác, Hòa Thượng Thiệu Long và Quảng Tục—Name of an ancient pagoda located in Mỹ Hưng hamlet, Thiện Tứ village, Cái Bè district, Mỹ Tho province, South Vietnam. It is also called Cái Cỏ Patriarch Temple. Its original name was Kim Chương Pagoda, being offered three times the gold board “Royal Recognisation” by the Nguyễn dynasty. The first time it was called Royal Recognized Kim Chương Pagoda; the second time, Royal Recognized Phổ Quang Pagoda; and the third time Royal Recognized Thiên Tường Pagoda. After the French colonist troops attacked and occupied the Gia Định rampart, Most Venerable Minh Giác (1794-1884) and his disciples, Most Venerable Thiệu Long (1835-1929) followed a group of plantation workers to arrive in Mỹ Thiện (now called cái Bè district, Mỹ Tho province) to build a pagoda that they named Hội Thọ. Prior to 1945, Hội Thọ Pagoda was as great and magnificient as Kim Chương Pagoda. When French colonist returned, monks, nuns as well as believers burnt the pagoda for fearing that the French troops would take it and serve as a barrack. After burning the pagoda, they withdrew into the guerilla base. The pagoda has still kept the pedestals of the statues, the tablets and worshipped implements and ritual appliances of Kim Chương Pagoda, as well as three precious stupas of Most Venerable Minh Giác, Most Venerable Thiệu Long and Most Venerable Quảng Tục. In the Main Hall, there is the statue of Amitabha Buddha, made of clay

hội thức

5474佛教之法會儀式。又指於日本日蓮宗祖師日蓮之忌日(每年十月十二、十三兩日)舉行之法會,又稱御會式、御命講。當日,日蓮宗寺院必以餅供養於祖師像前,其旁且飾以人造花,晝夜誦經說教,當夜信徒結萬燈圍立,叩擊太鼓,唱題參拜。此類法會尤以日蓮入寂之地的東京池上本門寺與杉並區堀內妙法寺更爲盛大。另亦稱報恩會、大會式、開山會、御影供等。 ; Phương thức hay quy luật của giáo đoàn—The manners, customs, or rules of an assembly, or community. ; (會式) Cũng gọi Ngự hội thức, Ngự mệnh giảng, Báo ân hội, Đại hội thức, Khai sơn hội, Ngự ảnh cúng. Nghi thức pháp hội được cử hành vào ngày giỗ Tổ sư Nhật liên của tông Nhật liên ở Nhật bản. Hằng năm vào các ngày 12, 13 tháng 10, các chùa viện thuộc tông Nhật liên dâng bánh cúng dường trước tượng Tổ sư, bên cạnh tượng trang hoàng hoa nhân tạo, ngày đêm tụng kinh thuyết pháp. Đêm hôm ấy, tín đồ kết vạn ngọn đèn, đứng quanh tượng, đánh trống lớn, xướng đề kinh, lễ bái. Đặc biệt ở chùa Bản môn ở Đông kinh, nơi ngài Nhật liên nhập tịch, pháp hội này được cử hành rất trọng thể.

hội toà

5476說法之場所。說法席上稱爲會上;若聚於會座聞法者,稱爲會下。又若將說法之場所與說法之聚會加以區別,則有「處」與「會」之分。例如六十華嚴(晉譯)中指出,由菩提道場乃至重閣講堂之七處,共有八度之會合,一般稱爲七處八會;在八十華嚴(唐譯)中,有七處九會之說。至於法華經則有靈山與虛空二處三度會合之說,一般稱爲法華二處三會。 ; (會座) Nơi thuyết pháp. Nếu phân biệt nơi thuyết pháp và chỗ nhóm họp để thuyết pháp, thì có chỗ và hội khác nhau. Như kinh Hoa nghiêm (60 quyển, bản dịch đời Tấn) chỉ ra rằng, 7 chỗ từ Bồ đề đạo tràng cho đến Trùng các giảng đường, có tất cả 8 lần hội họp, gọi là Thất xứ bát hội (7 chỗ 8 hội). Trong kinh Hoa nghiêm (80 quyển, bản dịch đời Đường) thì có thuyết Thất xứ cửu hội (7 chỗ 9 hội). Đến kinh Pháp hoa thì có thuyết 2 chỗ (Linh sơn và Hư không) 3 lần hội họp, thông thường gọi là Pháp hoa nhị xứ tam hội (2 chỗ 3 hội Pháp hoa).

Hội Trạch Chánh Chí Trai

(會澤正志齋, Aizawa Seishisai, 1782-1863): nhà Nho học sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ, Phiên sĩ của Phiên Thủy Hộ (水戸藩, Mito-han); tên là An (安). Ông theo học với Đằng Điền U Cốc (藤田幽谷), rồi làm Tổng Quản của Chương Khảo Quán (彰考館). Thông qua tác phẩm Tân Luận (新論), ông tuyên xướng Tôn Vương Nhương Di (尊王攘夷) và đã tạo ảnh hưởng to lớn đối với cuộc vận động chính trị cuối thời Mạc Phủ.

hội tuyền

5474(1874~1943)福建同安人,俗姓張。法名明性,別號印月,自署華滿,晚稱蓮生道人。年十九,依热門虎溪岩善溫法師出家,二十歲禮漳州龍溪南山崇福寺佛乘法師受具足戒,並依之學律,復請益於南普陀喜參法師。歷參印光、諦閑、幻人、月霞、道階諸師。嘗於南安雪峰寺講楞嚴經、臺灣基隆靈泉寺講金剛經、石井慧月精舍講大乘起信論。民國二年(1913)接任承天寺住持。後曾創辦優曇初級學林。十三年南普陀改爲十方道場後,膺選爲首任住持。抗日戰爭期間,師率宏船、開論等人南渡新加坡,並赴緬甸仰光、印尼等地弘法。繼蒞止馬來西亞檳城,建妙香林,大弘佛法。民國三十二年示寂於該地,享年七十。師一生曾創設閩南佛學院、楞嚴學舍、佛學研究社、佛教養正院,出版佛教公論月刊,對閩南佛教貢獻甚大。歷住南普陀寺、新加坡龍山寺、光明山普覺寺、檳榔嶼天公壇等。著有大乘起信論科註、佛學常識易知錄、普門品講義、阿彌陀經集講、金剛經講義等書。〔中國佛教近代史下冊(東初)〕 ; (會泉) (1874-1943) Danh tăng Trung quốc, người huyện Đồng an, tỉnh Phúc kiến, họ Trương, pháp danh Minh tính, biệt hiệu Ấn nguyệt, bút hiệu Hoa mãn, về già lấy hiệu là Liên sinh đạo nhân. Năm 19 tuổi, sư y vào ngài Thiện ôn ở núi Hổ khê tại Hạ môn, xuất gia. Năm 20 tuổi, sư lễ ngài Phật thừa ở chùa Sùng phúc tại Nam sơn, Long khê, Chương châu, thụ giới Cụ túc, đồng thời ở đây học luật, rồi hỏi đạo nơi ngài Hỉ tham tại Nam phổ đà. Sau đó, sư đi tham vấn các ngài Ấn quang, Đế nhàn, Huyễn nhân, Nguyệt hà, Đạo giai, v.v... Sư từng giảng kinh Lăng nghiêm ở chùa Tuyết phong tại Nam an, giảng kinh Kim cương ở chùa Linh tuyền tại Cơ long, Đài loan và giảng luận Đại thừa khởi tín ở tịnh xá Tuệ nguyệt tại Thạch tỉnh. Năm 1913, sư nhận chức trụ trì chùa Thừa thiên và sáng lập Học lâm Ưu đàm sơ cấp. Năm 1924, sau khi chùa Nam phổ đà được đổi làm Thập phương đạo tràng, sư được mời làm vị trụ trì đầu tiên. Trong thời kì chiến tranh chống Nhật, sư cùng với các vị Hoành thuyền, Khai luận, v.v... đến Tân gia ba, Ngưỡng quang Miến điện, Nam dương để hoằng pháp. Tiếp đó, sư đến Penang Mã lai, xây dựng Diệu hương lâm để mở rộng Phật pháp. Sư đã từng sáng lập Phật học viện Mân nam, Học xá Lăng nghiêm, Hội nghiên cứu Phật học, Viện Phật giáo dưỡng chính, xuất bản nguyệt san Phật giáo công luận; đối với nền Phật giáo Mân nam, sư đã có những cống hiến rất lớn. Năm 1943 sư tịch tại Penang, thọ 70 tuổi. Sư có các tác phẩm: Đại thừa khởi tín luận khoa chú, Phật học thường thức dị tri lục, Phổ môn phẩm giảng nghĩa, A di đà kinh tập giảng, Kim cương kinh giảng nghĩa. [X. Trung quốc Phật giáo cận đại sử tập hạ (Đông sơ)].

hội tôn

Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Nam Việt Nam. Chùa do Hòa Thượng Long Thiền xây cất vào giữa thế kỷ thứ 18 dưới triều chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765). Hòa Thượng vốn người Quảng Ngãi, tu học tại chùa Núi Đá, đã theo dân di cư vào vùng đất mới thuộc huyện Bình Đại, bên bờ sông Tiền, lập nên chùa Hội Tôn để hoằng dương Phật Pháp. Vị trụ trì kế tiếp là Hòa Thượng Khánh Hưng, phái Lâm Tế đời thứ 36 (ngài nguyên tu tại chùa Hưng Long và trụ trì chùa Đức Lâm) đứng ra trùng tu chùa vào đầu thế kỷ thứ 19, tôn tạo tượng Phật và pháp khí, đúc đại hồng chung năm 1805. Những vị Hòa Thượng trụ trì kế tiếp là chư Hòa Thượng Bảo Chất, Quảng Giáo, và Tâm Định. Ngài Tâm Định đã tổ chức trùng tu chùa vào cuối năm 1884. Năm 1886, ngài ra Huế để đúc một số tượng Phật và tượng Thập Điện Diêm Vương bằng đồng về thờ ở chùa. Kế tiếp là những vị Hòa Thượng trụ trì Chánh Hòa, Chơn Tịnh. Chùa hiện nay còn giữ một số bản gỗ khắc kinh chữ Hán, một số cổ vật của thế kỷ thứ 19. Trong vườn chùa có 15 bảo tháp. Chùa lại được trùng tu vào năm 1947. Đại hồng chung chùa được đúc năm 1805, trên chuông có khắc chữ Hán:“Gia Long, Ất Sửu niên, thập nhất nguyệt, kiến nhựt chú cúng, Hội Tôn Tự, thượng Khánh hạ Hưng chứng minh.” Giá trống và chuông được chạm đục từ gốc đại thọ trên một trăm năm—Name of a famous ancient pagoda located in Quới Sơn village, Châu Thành district, Bến Tre province, South Vietnam. The pagoda was built by Most Venerable Long Thiền in the middle of the eighteenth century in the reign of Lord Võ Vương Nguỹn Phúc Khoát (1738-1765). The Most Venerable was from Quảng Ngãi province. He entered the monkhood at Núi Đá Pagoda and followed the local people to move into the new land of Bình Đại district, adjacent to the bank of the River Tiền in order to found Hội Tôn Pagoda to propagate The Lord Buddha's Dharma. The next Head of the pagoda was Most Venerable Khánh Hưng of the thirty-sixth generations of theLin-Chi Ch'an Sect (he originally entered monkhood at Hưng Long pagoda but headed Đức Lâm pagoda). Most venerable Khánh Hưng did restore the pagoda in the early nineteenth century, decorate the Buddha statue and Dharma Objects as well as have the great bell cast in 1805. The Most Venerable Bảo Chất, Quảng Giáo, and Tâm Định were the successive heads of the pagoda. Most Venerable Tâm Định organised a reconstruction of the pagoda late in 1884. In 1886 he left for Huế to have some Buddha statues and those of the Ten Kings of Hell cast in bronze for worshipping in the pagoda. The successive Heads were Most Venerable Chánh Hòa, and Chơn Tịnh. At present, the pagoda still keeps sevaral wooden boards used in printing the Buddhist canonical books. Besides are some vestiges of the nineteenth century. In the pagoda garden stand fifteen precious stupas. Hội Tôn Pagoda was restored again in 1947. The pagoda still has the great bell cast in 1805. The Chinese characters carved on the bell read “Ritually inaugurated on the good day of the elventh month of Aát Sử year, in the Gia Long dynasty, under the recognition o f Most Venerable Khánh Hưng, Head of Hội Tôn Pagoda. There are also ancient thunder drum stand and bell support, made of one-hundred-year-old secular tree.

hội tương tế

Mutual aid association.

hội xương pháp nan

5474指唐武宗會昌年中所引起之廢佛事件。武宗素信道教,繼文宗之後即帝位,會昌元年(841)九月,召道士趙歸真等八十一人入宮,於三殿修金籙道修。十月,帝幸臨三殿,登九仙玄壇,親受法籙。二年六月,召衡山道士劉元靜入內,任銀青光錄大夫、崇玄館學士,與趙歸真共居宮中修法籙。三年三月,任命趙歸真爲左右街道門教授先生。時帝有廢佛之志,敕令兩街查錄有佛以來興廢之際,有何徵應事以進之,又令僧、道於麟德殿對論。沙門知玄登論座,陳理道教之根本,極辯貶道,帝色不悅。五年正月,帝於南郊建望仙樓,召集道士咨稟仙事。時趙歸真特蒙殊寵,昵近於帝,諫官數度上疏論之。歸真既知涉物論,乃薦羅浮山道士鄧元超,迎入宮中。於是,鄧元超、劉元靜等共圖毀釋,頻進拆寺之議,丞相李德裕亦慫恿之。四月有詔,祠部檢括天下之寺院和僧尼。寺凡四萬四千六百所,僧共二十六萬五千餘人。五月下詔,上都、東都各留寺四所,僧各三十人。又天下之州郡寺各留一所,上寺住二十人,中寺住十人,下寺住五人,餘者悉令還俗。又毀天下諸寺,其鐘、磬、銅像悉委鹽鐵使鑄錢,鐵像委本州鑄農具,金、銀、鮱石等像銷付度支,士庶所有之金、銀等像限一月納官。八月又下詔,以昭廢佛之意。六年三月帝因病崩,宣宗即位,捕歸真、元靜、元超等十二人。大中元年(847)三月,復天下之佛寺。世稱武宗毀釋爲會昌法難。〔宋高僧傳卷六、卷十二、大宋僧史略卷中、舊唐書卷十八、唐書武宗本紀第八〕 ; (會昌法難) Chỉ cho sự kiện phá bỏ Phật giáo vào niên hiệu Hội xương đời Vũ tông nhà Đường. Vua Vũ tông vốn tin Đạo giáo, sau khi lên ngôi, vào tháng 9 niên hiệu Hội xương năm đầu (841), vua cho triệu nhóm Đạo sĩ gồm 81 người do Triệu qui chân dẫn đầu vào cung để tu phép Kim lục đạo tu ở Tam điện. Tháng 10 năm ấy, vua đến Tam điện, lên Cửu tiên huyền đàn đích thân nhận pháp Lục. Tháng 6 năm Hội xương thứ 2 (842), vua cho triệu đạo sĩ Lưu nguyên tĩnh ở Hoành sơn vào cung, nhận các chức Ngân thanh quang lộc đại phu, Sùng huyền quán học sĩ và cùng với đạo sĩ Triệu qui chân ở lại trong cung để tu pháp Lục. Tháng 3 năm Hội xương thứ 3 (843), vua bổ nhiệm Triệu qui chân làm Tả hữu nhai đạo môn giáo thụ tiên sinh. Bấy giờ vua đã có ý định phế bỏ đạo Phật, nên ra lệnh cho Tả hữu nhai đạo môn tra xét lại sự hưng phế của đất nước từ khi có đạo Phật đến nay, xem có điều gì có thể trưng ra làm chứng cứ để tiến hành việc phá Phật, đồng thời, vua hạ lệnh cho Tăng sĩ và Đạo sĩ biện luận với nhau ở điện Lâm đức. Sa môn Tri huyền lên tòa, trình bày những điểm căn bản của Đạo giáo, rồi chê bai chỉ trích, nét mặt nhà vua không vui. Tháng 1 năm Hội xương thứ 5 (845), vua cho xây cất lầu Vọng tiên ở Nam giao, triệu tập các Đạo sĩ để hỏi về đạo Tiên. Bấy giờ đạo sĩ Triệu qui chân đặc biệt được vua tin yêu, kề cận bên vua, Gián quan đã mấy lần dâng sớ nói về việc này. Triệu qui chân biết được việc này, bèn tiến cử đạo sĩ Đặng nguyên siêu ở núi La phù và rước vào cung. Từ đó các Đạo sĩ bàn mưu tính kế diệt Phật, Thừa tướng Lí đức dụ cũng đồng lõa trong âm mưu đó. Tháng 4 năm ấy, vua hạ lệnh cho quan Từ bộ kiểm kê tất cả các chùa viện và tăng ni trong cả nước, có 44.600 ngôi chùa, hơn 265.000 vị tăng. Tháng 5 vua ra lệnh cho Thượng đô, Đông đô mỗi nơi giữ lại 4 ngôi chùa, mỗi chùa 30 vị tăng. Còn các châu quận trong nước mỗi nơi để lại một ngôi chùa, chùa lớn 20 vị tăng, chùa vừa 10 vị, chùa nhỏ 5 vị, còn bao nhiêu bắt phải hoàn tục. Các chùa còn lại đều bị phá hủy, chuông, khánh, tượng đồng đều giao cho quan Diêm thiết sứ đúc tiền, tượng sắt thì giao cho các quan địa phương đúc nông cụ, tượng bằng vàng, bạc, du thạch (loại đồng có mầu vàng), v.v... thì giao cho Độ chi (người tính toán việc xuất chi tiền bạc). Trong dân chúng, ai có tượng vàng, bạc hạn trong một tháng phải đưa nộp cho nhà nước. Tháng 8 năm ấy, vua ban chiếu chỉ tuyên bố rõ việc phá bỏ Phật giáo. Tháng 3 năm Hội xương thứ 6 (846), vua lâm bệnh và băng hà. Vua Tuyên tôn lên ngôi, ra lệnh bắt nhóm Qui chân, Nguyên tĩnh, Nguyên siêu… gồm 12 người giam vào ngục. Tháng 3 niên hiệu Đại trung năm đầu (847), vua cho khôi phục các chùa Phật trong nước. Người đời gọi sự kiện vua Vũ tông phế bỏ Phật giáo là Pháp nạn Hội xương. [X. Tống cao tăng truyện Q.6, Q.12; Đại tống tăng sử lược Q.trung; Cựu đường thư Q.18; Đường thủ Vũ tông bản kỉ 8].

Hội Yếu

(會要, Eyō): xem Tông Môn Liên Đăng Hội Yếu (宗門聯燈會要, Shūmonrentōeyō) bên dưới.

hội ái hữu

Friendly society.

hội ý

1) To comprehend—To understand. 2) To meet to discuss.

hội đàm

To converse.

hội đòi hỏi nữ quyền

Suffragetes

hội đắc

1) Gặp gỡ: To meet with. 2) Hiểu rõ: To comprehend—To understand.

hội đồ bản

6670印度貝葉本佛典之夾板裏與西藏紙本佛典之首尾頁上,繪有佛、菩薩、天部等畫像者,稱繪圖本。另於敦煌 出土經書中亦繪有觀世音菩薩像;又敦煌出土之古寫本佛名經中,於各行上部皆畫一小佛像。宋代志磐之佛祖統紀與惟白之文殊指南圖讚皆屬此類繪圖本。日本奈良朝之經卷,即有於經文之上欄繪圖者,如過去現在因果經繪,至平安朝則有見返繪(封面、封底裏之畫)、下繪(以淡色描繪圖案作底,以供寫經之用)等之寫經;通常日人稱之為繪入本。 ; (繪圖本) Bản có tranh vẽ. Tức là những bức tranh Phật, Bồ tát và chư thiên được vẽ kèm trong bản kinh Phật bằng lá bối của Ấn độ và ở trang đầu, trang cuối bản kinh bằng giấy của Tây tạng. Phật tổ thống kỉ của ngài Chí bàn và Văn thù chỉ nam đồ tán của ngài Duy bạch đời Tống đều thuộc loại này. Ở Nhật bản, vào thời đại Nại lương, bản kinh có vẽ tranh Phật, Bồ tát thì có kinh Quá khứ hiện tại nhân quả. Đến thời Bình an thì có lối vẽ Phản hội (vẽ ở bìa mặt và bìa sau), Hạ hội (dùng mầu lợt vẽ tranh ở cuối để làm phần cúng dường của người viết kinh), thông thường người Nhật bản gọi những loại này là Hội nhập bản. Ngoài ra, trong những kinh sách đào được ở Đôn hoàng, cũng có hình bản vẽ tượng của bồ tát Quan âm và ở phần trên mỗi dòng của bản kinh Phật danh chép tay xưa, đều có vẽ một hình tượng Phật nhỏ.

hội đồng

Council—Assembly—Meeting.

hội đồng trưởng lão

Kalonlama (T).

hội đồng tôn giáo

Yikstang (T).

hội đồng địa phương tru

tsegyad (T).

hội độc

5476請參閱 須摩提長者經 [1]於研討會上,問者與答者對坐,講者居於上位,以預定之題目反覆論難研討,此種研討學問之方法,稱爲會讀。所討論之題目,稱爲論題;決定問者、答者、講者人選之籤,稱爲會籤。

Hội 會

[ja] エ e ||| (1) To combine, unite. (2) Return, conclude. (3) To call people together. (4) A gathering, a meeting, an assembly. (5) A religious gathering. The original Sanskrit term for such a temporary meeting is utsava. (6) The time period that a Chan monk stays at one temple before leaving as also called a hui. (7) The disciples of one teacher gathering and practicing together. (8) Understanding, comprehension, perception. (9) Salutation, greeting, recognition. (10) Union, combination, fusion [合同]. (11) The consciousness-only dharma of the Power of Human Commonality [衆同分]. => 1. Kết hợp, hợp nhất. 2. Trở về, dàn xếp. 3. Triệu tập mọi người lại. 4. Cuộc hội họp, hội nghị, hội đồng. 5. Một hội chúng tu tập. Thuật ngữ gốc tiếng Sanskrit chỉ cho một cuộc hội nghị nhất thời là Utsava. 6. Thời gian một Thiền sư lưu lại ở một thiền viện trước khi ra đi cũng gọi là Hội (hui). 7. Đồ chúng của một vị thầy tu học cùng nhau. 8. Hiểu, nhận ra, lãnh hội. 9. Sự chào hỏi, chào mừng, thừa nhận. 10. Sự hợp nhất, kết hợp, liên hợp (hợp đồng合同). 11. Chúng đồng phận (衆同分), một pháp trong giáo lý Duy thức.

hột

Cái nút—A knot.

hột chuỗi

Akaṣa (S), Seed.

hột cải nạp tu di, tu di nạp hột cải

Hột cải rất nhỏ, Tu di rất lớn. Nơi thế giới tương đối, tu di nạp hột cải thì được, hột cải nạp tu di thì không được. Nhưng nếu vào thế giới tuyệt đối thì lớn nhỏ có thể dung nạp lẫn nhau. Đây chứng tỏ sau khi ngộ rồi thì chẳng phân biệt tương đối nữa.

hột lý

Hrih [Ha-Ra-I-Ah] (skt)—Hột Lý Câu—Chủng tử của Đức A Di Đà và Đức Quán Thế Âm (hột-lý hay “ha-ra-i-ah” là câu chân ngôn, tất cả cung điện, cây cối, ao báu, chim chóc ở cõi Cực Lạc đều do chữ Hột Lý nầy mà sanh ra)—A germ-word of Amitabha and Kuan-Yin.

hột lý câu

Hrih (skt)—See Hột Lý.

hột lộ tất nê

Hrosminkan or Semenghan (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Hột Lộ Tất Nê là một vương quốc cổ gần hai thành Kulm và Kunduz, thuộc vùng bắc Ấn Độ—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Hrosminkan is an ancient kingdom near Khulm and Kunduz, northern India.

hột lợi câu

3926悉曇字???(hrīḥ)。又作紇利、纈唎。密教視此爲金剛界阿彌陀佛之種子,又通觀音薩埵之種子。此係由賀(ha)、囉(ra)、伊(ī)、惡(aḥ)等四字合成之真言。據理趣釋卷下謂,賀,因業之義,即諸苦之因本於貪欲,故以之配爲貪欲;囉,火大之義,即瞋恚之火可燒善根之薪,故以之配瞋恚;伊,自在之義,即愚癡乃煩惱之王,故應於諸惑得自在,故以之配爲愚癡;惡,涅槃之義,即自性本即清淨。合此四字,意即貪、瞋、癡三毒之自性本來清淨妙蓮不染。又同書卷下載有紇利俱字之曼荼羅,即於東門畫天女形,表貪慾;南門畫蛇形,表瞋恙;西門畫豬,表愚癡;北門畫蓮華,表涅槃。如得入此輪壇,至無上菩提,一切諸惑皆不得染污。〔念佛醍醐祕要藏、真言念佛集卷上〕 ; (紇利俱) Cũng gọi Hột lợi, Hiệt lợi. Tức là chữ (hrì#) của mẫu tự Tất đàm, là chủng tử của đức Phật A di đà trong Kim cương giới và cũng là chủng tử của bồ tát Quan âm của Mật giáo. Chữ này do 4 chữ: (hạ), (ra), (ì), (a#) hợp lại với nhau mà thành chân ngôn. Cứ theo Lí thú thích quyển hạ nói, thì chữ Hạ nghĩa là nghiệp nhân, vì nhân của các nỗi thống khổ là tham dục, cho nên chữ này được phối với tham dục; Ranghĩa là hỏa đại, vì lửa tức giận có thể đốt cháy củi thiện căn, cho nên chữ này được phối với sân khuể; Ì nghĩa là tự tại, vì ngu si là vua của phiền não, cho nên chữ này được phối với ngu si; A# nghĩa là Niết bàn, tức tự tính vốn thanh tịnh. Hợp cả 4 chữ ấy lại thì có nghĩa là tự tính của 3 độc tham, sân, si xưa nay vốn trong sạch, mầu nhiệm như hoa sen không nhiễm. Cũng theo Lí thú thích quyển hạ, thì Mạn đồ la của chữ Hột lợi câu được phối trí như sau: Ở cửa đông vẽ hình Thiên nữ, tượng trưng tham dục; cửa nam vẽ hình rắn, tượng trưng sân khuể; cửa tây vẽ hình lợn (heo) tượng trưng ngu si; cửa bắc vẽ hoa sen, tượng trưng Niết bàn. Nếu vào được luân đàn này, thì sẽ đến Vô thượng bồ đề, tất cả các hoặc (phiền não) đều không làm nhiễm ô được. [X. Niệm Phật đề hồ bí yếu tạng; Chân ngôn niệm Phật tập Q.thượng].

hột lợi câu tự hương lô

3927修密教觀自在菩薩之心真言一印念誦法時,壇中安置書有悉曇字???(hrīḥ,紇利俱)之香爐。觀自在菩薩大悲智印周遍法界利益眾生薰真如法(大二○‧三三中):「其香爐含攝觀自在周遍法界之相。以何爲相?即其香印應作紇里二合文。智業不可得理,攝四種義,??? ??? ??? ???合成一字,其梵文???是也。」其形狀爲八葉蓮華座形,蓋上打有梵字「唵縛日羅達磨」字形之孔,上立一獨股杵,作爲取手,杵上有開敷八葉之蓮華,用表觀音薩埵之本誓。爐中盛???字形之香,自其一端點火,隨火所移,???字之香煙自成三昧耶形。復於此形之中,更觀本尊之形體,用表因位(觀音)之本誓而契證果德(彌陀),以祈滅除災禍,願生極樂。〔阿娑縛抄卷八十三聖觀音、密教法具便覽卷上〕 ; (紇利俱字香爐) Lò hương có vẽ chữ (hrì#, hột lợi câu), được đặt ở trong đàn khi tu pháp Tâm chân ngôn nhất ấn niệm tụng của bồ tát Quán tự tại trong Mật giáo. Quán tự tại bồ tát đại bi trí ấn chu biến pháp giới lợi ích chúng sinh huân chân như pháp (Đại 20, 33 trung), nói: Lò hương này hàm nhiếp các tướng trùm khắp pháp giới của bồ tát Quán tự tại. Tướng ấy như thế nào? Tức là hương ấn ấy phải hợp Hột , Lí làm một. Trí nghiệp là lí bất khả đắc, gồm có 4 nghĩa của 4 chữ: ghép lại thành một chữ, tức là chữ vậy…. Về hình dáng thì lò hương này giống như một tòa sen 8 cánh, trên nắp có đục các lỗ thành hình những chữ Án phạ nhật la đạt ma , phía trên nắp có cây chày một chĩa dựng đứng để cầm, trên đầu chày có hoa sen 8 cánh nở rộ, để tượng trưng cho bản thệ của bồ tát Quan âm. Trong lò đặt hương hình chữ, đốt lửa ở một đầu hương, lửa cháy đến đâu thì khói hương chữ tự kết thành hình Tam muội da. Từ trong hình này lại quán tưởng hình thể của Bản tôn, tất cả để biểu thị cho bản thệ của nhân vị (Quan âm) khế chứng với quả đức (Di đà) để cầu diệt trừ tai họa, nguyện sinh Cực lạc. [X. Thánh quan âm trong A sa phược sao Q.83; Mật giáo pháp cụ tiện lãm Q.thượng].

hột lợi câu tự tháp

3927石造或木造之五重塔,中心書有悉曇字???(hrīḥ,紇利俱)者。塔即???(vaṃ)字,表金剛界大日果位之法界宮殿。紇利俱字則表西方無量壽如來之根本種子,與因位無量壽觀音薩埵之種子。故此種子有「妙現因果不二」、「入於大悲悲生蓮華三昧」、「住第六識開見之妙觀察智」、「積集法界無量之功德」、「救濟一切眾生」等義。

hột lợi đà da

Hrdaya (skt)—Hãn Lật Đà—Hột Lý Đà Da—Hột Lý Na Da—Hột Lý Nãi Da—Chân thực tâm hay kiên thực tâm. Có chỗ nói là “nhục đoàn tâm hay hột lý đà da,” có chỗ lại cho là “kiên thực tâm hay can lật đà da.”—The heart—The mind—Some forms are applied to the physical heart, others somewhat discriminately to the tathagata-heart, or the true, natural, innocent heart.

hờ hững

Negligent—Careless—Indifferent.

hờn giận

To become angry and bear grudges.

hợp

2265<一>梵語 upanaya。因明用語。為古因明五支作法之第四支。即藉同喻(由正面說明之例證)與異喻(由反面說明之例證),將宗(命題)與因(理由)從正面和反面聯繫起來之作法。即命題肯定後之應用。以其僅具類比推理之功用,證明力極薄弱,故陳那於新因明三支作法中將合支改為普遍原則,納入喻(譬喻)支中,令其發揮演繹推理之功用,以增強喻支之證明力。〔因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕(參閱「五支作法」1069) <二>梵語 anvaya。因明用語。合作法之略稱。為組成同喻體之方法;即先說與因(理由)相同之屬性,後說與宗(命題)之後陳(述詞)相同之屬性,以表示同品中宗之後陳必隨逐因(說因宗所隨)。此因宗之述詞(大詞),其外延必大於或等於因(中詞)之外延。合作法乃存在於宗與因間邏輯必然性之表現形式,一旦顛倒運用,必發生邏輯錯誤而產生喻支之過。〔因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕(參閱「合作法」2266) ; Upanaya (S). ; 1) Thich hợp: Suitable—Comfortable—Agreeing with—In accordance with—In accord. 2) Hợp nhau: Hợp lại—To bring together—To unite. ; (合) I. Hợp. Phạm: Upanaya. Tiếng dùng trong Nhân minh. Là tác pháp dựa vào Đồng dụ và Dị dụ để liên kết Tông (mệnh đề) và Nhân (lí do), được ứng dụng sau khi đã khẳng định mệnh đề, là chi thứ 4 trong tác pháp 5 chi của Cổ nhân minh. Vì chi Hợp chỉ có công dụng so sánh suy lí, sức chứng minh của nó rất yếu ớt, cho nên trong tác pháp 3 chi của Tân nhân minh, ngài Trần na đã đổi chi Hợp làm nguyên tắc phổ biến và sáp nhập vào trong chi Dụ để phát huy công dụng diễn dịch suy lí hầu tăng cường sức chứng minh cho chi Dụ . [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Ngũ Chi Tác Pháp). II. Hợp. Phạm: Anvaya. Gọi đủ: Hợp tác pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. (xt. Hợp Tác Pháp).

Hợp (hiệp)

合; C: hé; J: gō; |1. Hợp nhất hoặc kết hợp hai thứ với nhau (s: samgati, samsarga, samnikarsa). Để cho hai vật trở thành một thể (s: sahā). Hoà hợp; 2. Sự phát sinh hoạt dụng đặc biệt của thức do sự tiếp xúc của cảnh trần, các căn và ý thức của tự ngã; 3. Xúc (觸); 4. Đồng ý, phù hợp với; 5. Sự hợp nhất nhân và duyên.|6. Trong Nhân minh học (因明; s: hetu-vidyā), Hợp là phần thứ 4 của Ngũ chi tác pháp.

Hợp bộ kim quang minh kinh

合部金光明經; C: hébù jīn guāngmíng jīng; J: gōbu konkōmyō kyō; S: suvarna-prabhasa-[uttama]-sūtra.|Kinh, 8 quyển. Bảo Quý (寶貴) và những người khác dịch vào khoảng đời Tuỳ.

Hợp bộ Kim quang minh kinh 合部金光明經

[ja] ゴウブコンコウミョウキョウ Gōbu konkōmyō kyō ||| Hebu Jin guangming jing; (Suvarna-prabhasa-[uttama]-sūtra). 8 fasc, translated by Baogui 寶貴 et. al. of the Sui dynasty T 664.16.359c-402a. Also see T 663, 665. => (s: Suvarna-prabhasa-[uttama]-sūtra). 8 quyển. Bảo Quý và những người khác dịch vào khoảng đời Tuỳ.

Hợp chưởng

合掌; C: hézhăng; J: gasshō; |Cử chỉ chắp hai bàn tay lại với nhau rồi đạt ngang ngực để tỏ lòng kính trọng. Ngữa hai bàn tay, hơi khum lại và đặt cạnh nhau.

hợp chưởng

2266梵語 añjali,巴利語同。又作合十。即合併兩掌,集中心思,而恭敬禮拜之意。本為印度自古所行之禮法,佛教沿用之。印度人認為右手為神聖之手,左手為不淨之手,故有分別使用兩手之習慣;然若兩手合而為一,則為人類神聖面與不淨面之合一,故藉合掌來表現人類最真實之面目。般若心經中之「不垢不淨」即為此意。關於恭敬合掌禮佛之文,廣見於諸經論中,如法華經方便品所舉之(大九‧九下)「恭敬合掌禮」,觀無量壽經所舉之(大一二‧三四五上)「合掌叉手,讚歎諸佛」等。又觀音義疏卷上載,我國以拱手為恭,印度以合掌為敬。合掌除表示衷心敬意外,亦表示返本還源,入於非權非實,事理契合之意。又大唐西域記卷二載,印度之禮法共有九等,合掌為其中之第四位。 關於合掌之形式,以密教而言,將左右兩手配於金剛界與胎藏界,或理與智、定與慧等,並將十指配於五大、十波羅蜜等。此外,大日經疏卷十三,舉出十二合掌之說,即:(一)堅實心合掌。(二)虛心合掌,又稱空心合掌。(三)未敷(開)蓮合掌。(四)初割蓮合掌。(五)顯露合掌。(六)持水合掌。(七)歸命合掌,又稱金剛合掌。(八)反叉合掌。(九)反脊(背)互相著合掌。(十)橫柱指合掌。(十一)覆手向下合掌。(十二)覆手合掌。此十二合掌,皆具有深奧之意義。〔法華經譬喻品、法苑珠林卷二十、禪林象器箋卷十〕(參閱「十二合掌」336) ; 1) Chấp mười ngón tay hay hai bàn tay vào nhau: To bring the ten fingers or two palms together. 2) Anjali (skt)—Chấp hay tay chào—Hay bàn tay chấp vào nhau—Hai bàn tay để bên nhau trong tư thế khất thực, nâng từ từ lên trán như một dấu hiệu khẩn khoản và tôn kính—Salutation with joined hands—Joining the palms together—The open hands placed side by side and slightly holowed (as if by a beggar to receive food; hence when raised to the forehead, a mark of supplication) reverence, salutation—For more information, please see Anjali in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (合掌) Phạm,Pàli:Aĩjali. Cũng gọi Hợp thập. Chắp tay cung kính lễ bái. Người Ấn độ cho rằng tay phải là tay thanh khiết, tay trái là tay bất tịnh, vì thế mà có thói quen phân biệt giữa 2 tay, nhưng nếu 2 tay chắp lại thì thanh khiết và bất tịnh là một. Cho nên chắp tay là biểu hiện cái bản lai chân thực nhất của con người. Trong các kinh luận có nhiều chỗ nói về chắp tay cung kính lễ Phật. Về hình thức chắp tay, nói theo Mật giáo, thì 2 tay phối với Kim cương giới và Thai tạng giới, hoặc lí và trí, định và tuệ, v.v... đồng thời, 10 ngón phối với Ngũ đại, Thập ba la mật. Ngoài ra, Đại nhật kinh sớ quyển 10, có nêu 12 kiểu chắp tay: 1. Hai lòng bàn tay sáp vào nhau. 2. Lòng bàn tay rỗng. 3. Hoa sen búp. 4. Hoa sen mới chớm nở. 5. Ngửa 2 bàn tay. 6. Như vụm bàn tay để lấy nước. 7. Chắp tay kim cương. 8. Mười ngón đan tréo nhau. 9. Lưng bàn tay dính vào nhau (tay mặt ngửa, tay trái úp). 10. Hai bàn tay ngửa, hai ngón giữa dính nhau, đầu các ngón còn lại hơi hé mở. 11. Úp 2 bàn tay hướng xuống. 12. Úp 2 tay. Mười hai kiểu chắp tay này đều có ý nghĩa sâu xa. [X. phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa; Pháp uyển châu lâm Q.20; Thiền lâm tượng khí tiên Q.10]. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).

hợp chưởng quan âm

2267為三十三觀音之一。此菩薩為立像,以其虛(空)心合掌之故,稱為合掌觀音。據法華經卷七普門品載,觀世音菩薩為度化眾生,而隨緣示現三十三身,其中之婆羅門身,即配當於此合掌觀音。(參閱「三十三觀音」514) ; (合掌觀音) Quan âm chắp tay, một trong 33 hóa thân của bồ tát Quan âm. Cứ theo phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7, thì bồ tát Quan âm tùy duyên thị hiện 33 thân để hóa độ chúng sinh, trong đó, thân Bà la môn được phối với Hợp chưởng Quan âm. (xt. Tam Thập Tam Quan Âm).

Hợp chưởng 合掌

[ja] ガッショウ gasshō ||| The gesture of joining one's palms and putting them to the breast as an expression of reverence. The open hands are placed side by side and slightly hollowed. => Cử chỉ chắp hai bàn tay lại với nhau rồi đạt ngang ngực để tỏ lòng kính trọng. Ngữa hai bàn tay, hơi khum lại và đặt cạnh nhau.

hợp cán

2265禪林用語。干,即有關、關係之意。指參與喪葬法事之有關人員,又稱合干人。〔敕修百丈清規卷三住持章遷化條〕 ; (合幹) Cũng gọi Hợp can nhân. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho người có liên quan đến nghi thức tống táng. [X. điều Trụ trì, chương Thiên hóa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3].

hợp dụng

In accordance with need—Suitable.

hợp hòa

In accord.

hợp hạ

2265禪林用語。指即時、即刻之意。與「直下」同義。碧巖錄第七十九則(大四八‧二○五下):「合下做箇圈繢子,教投子入來。」〔佛果圜悟真覺禪師心要卷上〕 ; (合下) Cũng gọi Trực hạ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là tức thời, tức khắc, liền, ngay. Tắc 19 trong Bích nham lục (Đại 48, 205 hạ), nói: Vẽ ngay (hợp hạ) một cái vòng tròn, rồi bảo Đầu tử bước vào . [X. Phật quả Viên ngộ thiền sư tâm yếu Q.thượng].

hợp liên hoa

Hoa sen búp. Mật giáo dùng để ví với tâm của phàm phu—A closed lotus flower. Esoteric Buddhism utilizes this term to indicate ordinary people's mind.

hợp lô

2268密教修護摩法時所用之護摩爐。又作合壇爐。此爐具備修息災、增益、降伏、敬愛等四法時所需之四種爐形,其爐內四方書有各方之種子,並於爐底繪各方之印契。於修息災、增益等四法時,使用此合爐,順其各方而修。據善無畏譯之尊勝儀軌卷下祈雨法品載,在合爐之四方書寫之種子字,即:東方為黃色方形???(a,阿)字,西方為青色半月形???(ha,訶)字,北方為白色圓形???(vaṃ,鍐)字,南方為赤色三角形???(raṃ,覽)字;爐底各畫印契,即:東方繪輪,北方為蓮花,南方為嚩日囉,西方為鉤。又於四種合爐法加上延命爐法,稱為五種法合爐。〔一字頂輪王經卷五護摩品〕 ; (合爐) Cũng gọi Hợp đàn lư. Lò hương Hộ ma dùng lúc tu pháp Hộ ma trong Mật giáo. Cứ theo phẩm Kì vũ pháp trong Tôn thắng nghi quĩ quyển hạ do ngài Thiện vô úy dịch, thì ở 4 phương của Hợp lư viết 4 chữ chủng tử như sau: 1. Phương Đông: Chữ (a) hình vuông mầu vàng. 2. Phương Tây: Chữ (ha) hình bán nguyệt mầu xanh. 3. Phương Bắc: Chữ (vaô) hình tròn mầu trắng. 4. Phương Nam: Chữ (raô) hình tam giác mầu đỏ. Ở đáy lò, mỗi phương đều có vẽ ấn khế, tức phương đông vẽ bánh xe, phương bắc vẽ hoa sen, phương nam vẽ phạ nhật ra và phương tây vẽ lưỡi câu. Khi tu 4 pháp: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục, và Kính ái thì phải dùng 4 loại lò này. Nếu thêm vào pháp Diên mệnh nữa, thì gọi là Ngũ chủng pháp hợp lư. [X. phẩm Hộ ma trong kinh Nhất tự đính luân vương Q.5].

hợp lý

Logical—Rational—Reasonable.

hợp lại

To come together.

hợp lệ

In accordance (agreement) with rules and regulations.

hợp lực

To join (combine) forces.

hợp nghi

Appropriate—Fitting—Suitable.

hợp nhứt

Fuse.

hợp pháp

Legal—Lawful.

hợp quần

To join—To unite.

hợp sát

2266指誦經將結束時,唱誦佛號所用之曲調。關於合殺之意義,有諸多異說。一說殺為梵語 ṣaṣ 之音譯,意譯為六。合六為十二,故稱合殺。以此表示晝夜二六時中不退念佛之意。然此說並無根據,其義亦不詳,故或為附會之語。 另一說則認為,合殺原係舞樂之曲調名,乃唐代之舞樂將終時,特以一曲調結束之,此曲調即稱合殺。蓋殺為散之義;曲調以漸縮合其聲而終,成為放散靜止之狀態,故稱為合殺。唐代崔令欽所著之教坊記中,即載有合殺之情形。在佛教中,則轉用合殺之名稱,以稱梵唄中之曲調,亦即稱誦經將結束時所用之曲調為合殺。此說傳入日本後頗為盛行,惟日本之用法與我國有異。 此外,合殺因係舞樂結尾之曲調,故亦引申為「畢竟」之義。如黃檗斷際禪師宛陵錄所舉,縱使學到三乘、四果、十地等階位,然「合殺」只向凡聖中坐;此處之「合殺」,即為畢竟之義。 ; (合殺) Âm điệu dùng để xướng tụng danh hiệu Phật khi thời kinh sắp kết thúc. Về ý nghĩa của Hợp sát có nhiều thuyết khác nhau: - Có thuyết cho rằng hợp sát là dịch âm từ chữ Waw của tiếng Phạm, dịch ý là lục (sáu), hợp lục là 12, vì thế gọi là Hợp sát. Dùng hợp sát này để biểu thị ý nghĩa niệm Phật ngày đêm 12 thời không lui sụt. - Thuyết khác thì cho rằng hợp sát nguyên là tên một điệu nhạc ở đời Đường, đặc biệt được dùng để kết thúc một bản nhạc. Vì sát nghĩa là tan ra, mà khi khúc điệu sắp được kết thúc thì âm thanh nhỏ dần, tạo thành trạng thái êm nhẹ, lan tỏa rồi dứt hẳn, vì thế gọi là Hợp sát. Trong Phật giáo, Hợp sát được chuyển dụng để gọi khúc điệu trong tán tụng rất thịnh hành ở Trung quốc, sau được truyền vào Nhật bản cũng rất phổ biến, nhưng cách sử dụng của Nhật bản có khác với Trung quốc. Ngoài ra, vì Hợp sát là khúc điệu để kết thúc bản nhạc nên cũng được chuyển dụng với nghĩa rốt cuộc . Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục nói, dẫu cho tu hành đến địa vị Tam thừa, Tứ quả, Thập thánh, v.v...… nhưng rốt cuộc (hợp sát) vẫn còn chấp trước phàm thánh.

hợp sơn

2265指一叢林之全體。又作全山、闔山。或指一山之全體僧眾。此外,集合於一寺修行之全體僧眾,稱為合山清眾,又作闔山清眾。 ; (合山) Cũng gọi Toàn sơn, Hạp sơn. Chỉ cho toàn thể tùng lâm, hoặc tất cả tăng chúng trong một sơn môn. Ngoài ra, toàn thể chúng tăng qui tụ lại ở một chùa để tu hành, gọi là Hợp sơn thanh chúng, hay Hạp sơn thanh chúng.

hợp thân

2266指天台宗化法四教中第二通教之佛身。蓋通教之佛身,乃於一佛之身上,顯現勝、劣二種應身,故稱合身。據大智度論卷三十四,舉出敷草座之佛身,及敷天綩綎之佛身二種,敷草座之佛身,即現丈六比丘像之劣應身,敷天綩綖之佛身,即現尊特身之勝應身。通教之佛雖稱為合身,然非指通教之機可見勝、劣二種應身,係指通教之中,雖屬鈍機,亦可見勝應身。即丈六比丘像之劣應身,應小乘之機而示現通教之勝應身。〔法華文句卷二〕 ; (合身) Thân Phật trong giáo nghĩa của Thông giáo thuộc 4 giáo hóa pháp do tông Thiên thai lập ra. Vì 2 Ứng thân Thắng và Liệt là từ thân này mà hiển hiện, thân này kết hợp 2 thân Thắng, Liệt nên gọi là Hợp thân. Luận Đại trí độ quyển 34 nêu 2 loại Ứng thân: Thân Phật hiện tướng tỉ khưu cao một trượng sáu ngồi trên tòa cỏ là Liệt ứng thân, thân tôn quí ngồi trên tòa nhung tơ của cõi trời là Thắng ứng thân. Tuy nhiên, đối với Hợp thân của Thông giáo thì Thắng ứng thân mà hàng độn căn thấy được, chỉ là Liệt ứng thân hiện tướng tỉ khưu cao 1 trượng 6 mà đức Phật thị hiện để thích ứng với căn cơ Tiểu thừa. [X. Pháp hoa văn cú Q.2].

hợp thủ khẩu

2266禪林用語。閉口之意。即不講無意義之語。蓋真實之佛法,非言語所能表詮詳盡,故若執著言語,則易成為修行佛道之障礙。碧巖錄第八則(大四八‧一四八下):「嘮嘮翠巖!(這野狐精,合取口好)」 ; (合取口) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ngậm miệng. Tức không nói lời vô ý nghĩa. Vì Phật pháp chân thực, ngôn ngữ không thể diễn đạt một cách tường tận, bởi thế, nếu chấp trước vào ngôn ngữ thì dễ trở thành chướng ngại cho việc tu đạo. Tắc 8 trong Bích nham lục (Đại 48, 148 hạ) ghi: Thúy nham lải nhải(con hồ li tinh này hãy ngậm miệng– hợp thủ khẩu) .

hợp thức hóa

To give legitimacy—To regularize.

hợp trung tri

2265根與境二者必須直接而無間隔的接觸,才能產生知覺,稱為合中知。為「離中知」之對稱。五根中,鼻、舌、身三根唯取所至之境,是為合中知;眼、耳二根則取不至之境,是為離中知;例如,鼻根取香境時,必須待香境接觸於鼻根時方有香、臭等之知覺,而眼根取色境時,則不須待接觸便能獲知。〔俱舍論卷二、俱舍論光記卷二〕(參閱「五根」1137) ; (合中知) Đối lại với Li trung tri. Căn và cảnh phải trực tiếp xúc chạm nhau thì mới có thể sinh ra sự nhận biết, gọi là Hợp trung tri. Trong 5 căn, thì 3 căn mũi, lưỡi, thân chỉ hay biết được khi cảnh chạm đến chúng, ấy là Hợp trung tri; còn 2 căn mắt và tai thì thấy nghe được cảnh mà không cần chạm vào cảnh, ấy là Li trung tri. Chẳng hạn như khi mũi(căn) ngửi mùi(cảnh) thì phải đợi khi mùi tiếp xúc với lỗ mũi mới nghe thơm hoặc hôi; còn khi mắt(căn)thấy sắc(cảnh) thì không cần đợi sắc chạm vào mắt vẫn có thể thấy được sắc ngay. [X. luận Câu xá Q.2; Câu xá luận quang kí Q.2]. (xt. Ngũ Căn).

hợp trí ấn

2267又作閉心戶印、閉心門印、闔心門印、闔智字印、闔智字陀羅尼印、如來堅固拳印、金剛拳三昧耶印、三昧耶金剛拳印、金剛入印。於密教中,此印可令如來之無漏寂靜智於行者自心之藏識中和合堅固,封閉心殿之門戶,使不散去。 密教行者修金剛界法時,由開心之印言,以開啟心殿之門戶,結誦入智之印明,並召入無漏智,為令其不散,故以此等印言加持,而封閉心門。所結之印契為二手作「外縛拳」,二拇指並入掌中,屈二食指之中節,指甲相合,二拇指之背相拄,即成二個金剛拳相合之印,故略出經卷一稱之為金剛拳大三摩耶印、金剛拳三昧耶契等。此印相自外形觀之,為二個???(vaṃ)字相合之形;於內則成圓狀,係心月輪,即???(a)字。故此印係表示金剛、胎藏兩部不二、色心一體之印;亦表示行者自心與諸佛冥合一體之義。以二食指封閉心殿之門,故稱閉心門印。真言為:縛日羅(vajra,金剛)母瑟底(muṣṭi,拳)鍐(vaṃ,縛)。〔理趣會普賢儀軌、蓮華部心儀軌〕 ; (合智印) Cũng gọi Bế tâm hộ ấn, Bế tâm môn ấn, Hạp tâm môn ấn, Hạp trí tự ấn, Hạp trí tự đà la ni ấn, Như lai kiên cố quyền ấn, Kim cương quyền tam muội da ấn, Tam muội da kim cương quyền ấn, Kim cương nhập ấn. Ấn này có năng lực làm cho trí vô lậu tịch tĩnh của Như lai hòa hợp với tự tâm của hành giả trong tàng thức một cách kiên cố không lay chuyển. Khi hành giả Mật giáo tu pháp Kim cương giới thì kết tụng ấn ngôn này để gia trì. Khi kết ấn này, 2 tay đan vào nhau, 2 ngón cái để vào lòng bàn tay, đốt giữa của 2 ngón trỏ co lại, đầu móng tay hợp vào nhau. Chân ngôn là: Phạ nhật la (Vajra, kim cương) mẫu sắt để (muwỉi, quyền) tông (vaô, phược). [X. Lí thú hội Phổ hiền nghi quĩ].

hợp tác

Cooperation.

hợp tác pháp

2266因明用語。為「離作法」之對稱。又作隨伴。略稱合。因明論式中,舉示同喻(由正面說明之例證)之體時,結合宗(命題)與因(理由),以確立宗義之作法。例如於「聲無常(宗),所作性故(因),諸所作(因同品)皆無常(宗同品),猶如瓶等(同喻)」之論式中,於同喻,結合因之「所作性」與宗之「無常」,凡有因義之處,必有宗義附隨。此合作法以「先因後宗」為定則(異喻則是先宗後因),即以既知之因,立論未知之宗,以為推論之順序。因明入正理論疏卷中(大四四‧一○九下):「母牛去處,犢子必隨;因有之處,宗必隨逐,此為合也。」〔因明論疏瑞源記卷三〕(參閱「先因後宗」2187、「先宗後因」2188) ; (合作法) Cũng gọi Tùy bạn. Gọi tắt: Hợp. Đối lại: Li tác pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, khi muốn nêu rõ Đồng dụ thể, thì phải kết hợp Tông (mệnh đề) với Nhân (lí do) để xác lập Tông nghĩa. Như: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì do sự động tác mà có ra. Phàm những gì do sự động tác mà có ra(Nhân đồng phẩm) đều là vô thường(Tông đồng phẩm). Đồng dụ: Như cái bình, v.v...… Trong luận thức trên, Nhân đồng phẩm và Tông đồng phẩm được kết hợp chặt chẽ với nhau. Nghĩa là bất cứ đâu có nghĩa của Nhân đều phải có nghĩa của Tông đi kèm. Và qui tắc nhất định của Hợp tác pháp là: Nhân trước Tông sau . [X. Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.3]. (xt. Tiên Nhân Hậu Tông, Tiên Tông Hậu Nhân).

hợp tự pháp

2266為密教文書記載法之一種。即取二字或三字之一部分,合成為一字之方法。如以灌頂二字為例,取灌與頂二字之部首或偏旁,合成為汀、羁等字。又如傳法二字,可合成為佉。

hợp đàn

2268又作即壇。全稱合壇護摩。為「離壇」之對稱。即合他壇而共修之意。亦即移請大壇之諸尊至護摩壇,同一壇而修本尊之供養法與護摩法。此係據金剛頂瑜伽護摩儀軌之意而立,一般之護摩法,大多依此行儀。此外,一爐具有四種爐形,並書寫各種子字於爐內四方,繪各方之印契於爐底,稱為合壇爐。若向此爐同時修息災、增益、降伏、敬愛等四法,則稱為合壇護摩。又供養法與護摩法分壇而行,稱為離壇。離壇依理智二門而立,合壇則依理智不二門而立。 ; United or common altar. ; (合壇) Gọi đủ: Hợp đàn hộ ma. Đối lại: Li đàn. Cũng gọi: Tức đàn. Khi tu pháp Cúng dường và pháp Hộ ma, rước thỉnh chư tôn của Đại đàn dời đến đàn Hộ ma, để hợp chung làm một đàn mà cúng dường Bản tôn. Ngoài ra, một lò hương phải có 4 loại hình và viết các chữ chủng tử ở 4 phương trong lò, vẽ ấn khế của mỗi phương dưới đáy lò, gọi là Hợp đàn lư. Nếu hướng vào lò này mà tu 4 pháp: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục, Kính ái cùng một lúc, thì gọi là Hợp đàn hộ ma. Còn pháp cúng dường và pháp Hộ ma được thực hành theo đàn riêng, thì gọi là Li đàn. Li đàn được thiết lập theo môn Lí và Trí, còn Hợp đàn thì được thiết lập theo môn Lí, Trí bất nhị.

hợp đồng thuyền

2265禪林用語。又作乘合船。即無身分差別而同乘一船之意。藉以比喻無凡聖、貴賤等差別見解之境地。景德傳燈錄卷五南陽慧忠章(大五一‧二四五上):「無影樹下合同船,琉璃殿上無知識。」 ; (合同船) Cũng gọi Thừa hợp thuyền. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cùng ngồi một thuyền mà không phân biệt thân phận, địa vị. Ví dụ cảnh giới không có cái thấy phân biệt về phàm thánh, sang hèn. Chương Nam dương Tuệ trung trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 245 thượng), nói: Cùng ngồi một thuyền dưới cây không bóng, không có tri thức trên điện Lưu li .

Hợp 合

[ja] ゴウ gō ||| (1) To unite, or combine two things (samgati, samsarga, samnikarsa). For two things to become one body (sahā). To harmonize. (2) The production of the special function of consciousness by the connection of objects, organs and self. (3) 'Contact' (觸). (4) To agree, to accord with. (5) The union of causes and conditions. (6) In hetu-vidyā 因明, the fourth of the five-part syllogism--'application.' => 1. Hợp nhất hoặc kết hợp hai thứ với nhau (samgati, samsarga, samnikarsa). Để cho hai vật trở thành một thể (s: sahā). Hoà hợp. 2.Sự phát sinh hoạt dụng đặc biệt của thức do sự tiếp xúc của cảnh trần, các căn và ý thức của tự ngã. 3. Xúc (觸). 4. Đồng ý, phù hợp với. 5. Sự hợp nhất nhân và duyên. 6. Trong Nhân minh (hetu-vidyā 因明), Hợp là phần thứ tư của Ngũ chi tác pháp.

hủy ái

Vibhāva-taṇhā (P), Vibhāva-tṛṣṇā (S), Vibhāva-taṇhā (P). ; Vibhavatrsnà (S). Craving for self-annihilation.

hứ ma đát la vương

3118呬摩呾羅,梵名 Himatala。意譯雪山下。爲睹貨邏國國王,生於佛陀滅度後六百年頃,虔信佛法而尊重三寶。據大唐西域記卷三摩揭陀國條載,護持佛法之迦膩色迦王去世後,國內之賤種「訖利多種」(梵 Krīta)稱王,斥逐僧眾,毀壞佛法。呬摩呾羅王聞知彼等惡行,即召募精銳,以富賈之身分潛入王城,襲殺訖利多王,放逐諸臣。其後,復建伽藍,布施僧寶,大力推行佛教信仰。

hứ độ

3117即印度。乃古代北方胡國對印度之稱謂。據南海寄歸內法傳卷三載,北方諸胡國,獨稱聖方之印度爲呬度,此名稱並非通俗之名,亦無特殊之意義,僅係該地區之方言,西方諸國若聞此名,多不知所指爲何。此外,據梵語雜名一書載,印度,亦譯作呬怒泥舍(梵 Sindhu-deśa)。

hứa chỉ tịnh

4790請參閱 南院國師語錄 【許止淨】(1879~1938)江西澎澤人。名業笏。民國二年(1913),因閱印光大師文鈔而皈依佛教,專心淨土,於二十五年求其親授菩薩戒。自 像{佛必禮,見僧必拜,恪守在家弟子身分,不存絲毫憍慢心。日有常課,精進修持。印光大師因其文筆超然,遂請其編觀世音菩薩本迹感應頌四卷,書中集錄大乘經典有關菩薩往劫本迹之事,及歷代名人筆記所載觀世音靈感事蹟。二十七年避難廬山黃龍寺,九月三日於病中夢見佛來,遍身瓔珞,相好光明,乃安詳示寂。

Hứa Do

(許由): tên của vị ẩn sĩ trong truyền thuyết cổ đại Trung Quốc, tự là Võ Trọng (武仲), bậc cao sĩ dưới thời nhà Nghiêu (堯). Theo Cao Sĩ Truyện (高士傳), phần Hứa Do của Hoàng Phủ Mật (皇甫謐, 215-282) nhà Tấn cho biết rằng, vua Nghiêu nghe tiếng ông, bèn lấy thiên hạ nhường ngôi cho. Nghe vậy, ông lui về ẩn cư nơi Dĩnh Thủy (潁水), dưới chân núi Ky Sơn (箕山). Vì mến mộ đức lớn của ông, nhà vua bèn mời đến phong cho làm chức Trưởng Quan Cửu Châu (九州). Hứa Do không muốn nghe đến chuyện danh lợi như vậy, bèn xuống bến sống Dĩnh Thủy mà rửa tai cho sạch. Lúc bấy giờ có nhà ẩn sĩ tên Sào Phủ (巢父), dẫn trâu xuống định cho trâu uống nước sông ấy; chợt thấy Hứa Do rửa tai, bèn hỏi nguyên do vì sao. Hứa Do đáp rằng: “Nghiêu dục chiêu ngã vi Cửu Châu trưởng, ố văn kỳ thanh, thị cố tẩy nhĩ (堯欲召我為九州長、惡聞其聲、是故洗耳, vua Nghiêu muốn mời tôi làm Trưởng Quan Cửu Châu, nghe như vậy thấy nhớp tai quá; nên rửa cho sạch).” Sào Phủ nghe vậy bèn bảo rằng: “Tử nhược xử cao ngạn thâm cốc, nhân đạo bất thông, thùy năng kiến tử; tử cố phù du, dục văn cầu kỳ danh dự, ô ngô độc khẩu (子若處高岸深谷、人道不通、誰能見子、子故浮游、欲聞求其名譽、污吾犢口, nếu ông sống nơi thâm sơn cùng cốc, chẳng bóng người qua lại, ai có thể thấy được ông chứ; do vì ông sống trôi nỗi, muốn nghe cầu danh dự ấy, nên làm dơ bẩn miệng trâu ta).” Bèn dẫn trâu lên trên đầu nguồn để cho trâu uống nước, vì sợ nước rửa tai dưới dòng chảy xuống sẽ làm nhớp miệng trâu. Trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, CBETA No. 1295) quyển 40 có câu kệ tụng của Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚, 1185-1269) rằng: “Kiến thuyết Hứa Do tằng tẩy nhĩ, khả lân Sào Phủ cánh tiên ngưu (見說許由曾洗耳、可憐巢父更鞭牛, nghe bảo Hứa Do từng tai rửa, thương thay Sào Phủ lại đuổi trâu).” Hoặc như trong Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō No. 2103) quyển 4 lại có câu đề cập đến chuyện rửa tai của Hứa Do: “Hứa Do tẩy nhĩ ư Ky Sơn, Trang Chu duệ vĩ ư Bộc Thủy (許由洗耳於箕山、莊周曳尾於濮水, Hứa Do rửa tai nơi núi Ky, Trang Chu kéo đuôi nơi sông Bộc).” Trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, đoạn Vân Tiên, Vương Tử Trực, Bùi Kiệm, Trịnh Hâm vô quán nước gặp một chủ quán có vẻ có tài, Vân Tiên bèn khuyên ông nên ra làm quan. Ông trả lời: “Quán rằng Nghiêu Thuấn thưở xưa, khó ngăn Sào Phủ, khôn ngừa Hứa Do.”

hứa khả

4790認許印可之意。密教中,指聽許修學一分密法,或傳法灌頂已,而給予師位之許可印信。如真言宗之許可作法,或淨土宗於宗脈相承之後,授予圓頓戒,給予許可狀等,又如於事相講傳之際,設許可灌頂壇(又稱許可壇)以行許可灌頂。〔儼避囉鈔卷十二、阿娑縛抄卷十四〕 ; (許可) Chấp nhận. Trong Mật giáo, chỉ cho sự chấp nhận cho tu học một phần Mật giáo, hoặc sau khi thụ pháp Quán đính, hành giả được trao ấn tín chấp nhận cho làm thầy. Như tác pháp hứa khả của tông Chân ngôn, hoặc như tờ giấy Hứa khả trong tông Tịnh độ được cấp cho đệ tử sau khi vị thầy đã trao giới Viên đốn. Ngoài ra, khi giảng truyền sự tướng, có thiết lập đàn Quán đính hứa khả(cũng gọi Hứa khả đàn) để thực hành pháp Quán đính hứa khả. [X. Nghiễm tị la sao Q.12; A sa phược sao Q.14].

hứa nguy văn

4790(1908~ )江西九江人。德國慕尼黑工業大學化學系特許工程師、西德明興工業大學自然科學博士。返國後,任職於各大工業研究所。曾獲近十種專利,對我國高分子化學研究風氣暨人才之培養頗有建樹。氏崇信佛教,公餘之暇,常研佛法,認為佛法完全符合科學,而科學則仍待佛法之指導,始能無害於人類。撰有「原子和無我」等,另有「論大乘的興起」等譯作。 ; (許巍文) (1908- ) Học giả Phật giáo Trung quốc, người huyện Cửu giang, tỉnh Giang tây. Ông là kĩ sư ngành hóa học của trường Đại học công nghiệp Mộ ni hắc, cũng là Tiến sĩ khoa học tự nhiên của trường Đại học công nghiệp Minh hưng, Tây đức. Sau khi về nước, ông đã cống hiến rất lớn cho công cuộc nghiên cứu ngành hóa học phân tử tại Trung quốc. Ông sùng tín Phật giáo, thường nghiên cứu Phật pháp. Ông cho rằng Phật pháp hoàn toàn phù hợp với khoa học và khoa học thì cần phải có sự chỉ đạo của Phật pháp mới không gây tai hại cho nhân loại. Tác phẩm: Nguyên tử và Vô ngã. Dịch phẩm: Luận đại thừa đích hưng khởi.

hứa địa sơn

4790(1893~1941)祖籍廣東揭揚,出生於臺灣臺南馬公廟。又因日據時期,寄籍福建龍溪,故每被誤為龍溪人。本名贊堃,又名叔丑。字地山。筆名落花生。畢業於燕京大學。後赴美國哥倫比亞大學研究宗教史、比較宗教學,獲文學碩士學位,以人類學、民俗學享譽學界。民國十四年(1925)轉入英國牛津大學,專攻梵文。為明了佛學思想之起源,曾前往印度考察佛教。歷任燕京、北京、清華、南開等大學教授及香港大學系主任等職。其文學作品每融入佛教意境,風格獨特,尤以散文、小說之浪漫寫實筆法,於我國現代文學史上占有一席之地,為五四運動中心人物之一。嘗在燕大講授「佛教文學」。晚年更潛心於佛教與道教之研究,有陳那以前中觀派與瑜伽派之因明、印度文學、佛藏子目引得、中國道教史、道藏子目引檢、道教史上編、扶箕迷信底研究、空山靈雨散文集等著作傳世。 ; (許地山) (1893-1941) Học giả Phật giáo Trung quốc, người Yết dương, tỉnh Quảng đông, tên là Tán khôn, cũng có tên là Thúc sửu, tự Địa sơn, bút hiệu Lạc hoa sinh. Ông tốt nghiệp Đại học Yên kinh, sau đến Đại học Colombia ở Hoa kì để nghiên cứu về lịch sử tôn giáo, tỉ giảo tôn giáo học, ông đậu bằng Thạc sĩ văn học và nổi tiếng về các môn Nhân loại học, Dân tục học. Năm 1925, ông chuyển đến Đại học Oxford, Anh quốc, chuyên nghiên cứu tiếng Phạm. Vì muốn biết rõ về nguồn gốc của tư tưởng Phật học, nên ông đến Ấn độ để khảo sát. Về sau ông lần lượt làm giáo sư các trường Đại học Yên kinh, Bắc kinh, Thanh hoa, Nam khai và chủ nhiệm hệ Đại học Hương cảng. Các tác phẩm văn học của ông thường dung nhập tư tưởng Phật giáo, có phong cách riêng, nhất là bút pháp tả chân lãng mạn trong văn xuôi, đã chiếm một địa vị quan trọng trong văn học sử cận đại của Trung quốc. Về sau, ông lại chuyên tâm nghiên cứu Phật giáo và Đạo giáo. Ông qua đời năm 1941, hưởng dương 49 tuổi. Tác phẩm của ông gồm có: Trần na dĩ tiền Trung quán phái dữ Du già phái chi Nhân minh, Ấn độ văn học, Phật tạng tử mục dẫn đắc, Trung quốc Đạo giáo sử, Đạo tạng tử mục dẫn kiểm, Đạo giáo sử thượng biên, Phù ki mê tín để nghiên cứu, Không sơn linh vũ tản văn tập.

Hữu

有; C: yŏu; J: u, yū; S, P: bhava;|1. Có, sở hữu; 2. Có, có được, tồn tại, xuất hiện, nằm ở, xảy ra, gồm có (s: asti, sat); 3. Được cấu tạo bởi, sự vật chất hoá, sự tạo thành, sự hoàn thành; 4. Sở hữu, quyền sở hữu, quyền được sở hữu; 5. Một vài, một người nào đó,…|[Phật học] 1. Đối nghịch với vô (無) hoặc không (空). Sự tồn tại, và sự tồn tại này được phân thành 3 loại: tồn tại ở thế gian: tương đãi hữu, giả danh hữu và pháp hữu (Tam chủng hữu 三種有); 2. Cưu-ma-la-thập thường dũng chữ Hữu (有) để dịch chữ bhavati từ tiếng Phạn, nhưng chữ Hữu 有 không thường được dùng để dịch chữ »yod pa« trong tiếng Tây Tạng, mà thường được dùng cho chữ »hgyur ba«. Nghĩa chính của chữ bhavati là trở thành, sinh ra, làm nên, cấu tạo.v.v… 3. Gồm có, sự cụ thể hoá, sự hình thành, sự hoàn thành (s: saṃbhava); 4. Xem những điều không hiện hữu là hiện hữu (s: samāropa); 5. Sở hữu, quyền sở hữu, vật sở hữu; 6. Một vài, một, một cái nào đó; 7. Hữu – chi phần thứ 10 trong 12 nhân duyên.

hữu

2426梵語 bhava,巴利語同。即存在、生存之義。於佛教典籍或各家主張中,「有」之使用範圍極廣,其意義與分類亦有多種不同之說法。據大毘婆沙論卷六十所舉,「有」之義有多種,然主要指有情眾生之異熟果體,及能招感此異熟果體之諸業。亦即由善惡之業因,能招感苦樂之果報,此種因果報應,相續而不亡失,故稱為「有」。又據俱舍論卷九、成唯識論卷八等所舉,能牽引當來果報之業,稱為「有」,此有即指「有支」,為十二因緣之一。 就諸法之存在與否而言,「有」係表示諸法之存在,為「無」、「空」之對稱。說一切有部認為,諸法存在,三世實有。然唯識家則以「依他起性」之諸法為「假有」,以「圓成實性」為「實有」,但此「實有」與說一切有部之「三世實有」等意義不同,乃指諸法之實性(真如)常存、遍存,無有生滅,故唯識家特稱之為妙有、真有。 此外,凡夫因執著色、無色二界為解脫之境界,常易於生起解脫之念,而妄求生於此二界,為遮止此一執情,故於此二界設立諸種之「有」,以顯示其非真解脫之境界;如稱色、無色二界之貪為「有貪」,稱煩惱為「有漏」,或稱無色界之愛為「有愛」等,皆為其例。 另關於「有」之種類,可分為下列數種:(一)三有,指三界,亦即指欲有、色有、無色有。(二)七有,指地獄有、餓鬼有、傍生有、天有、人有、業有、中有。(三)二十五有,包括:(1)地獄、惡鬼、畜生、阿修羅等四惡趣。(2)東勝身洲、南贍部洲、西牛貨洲、北俱盧洲等四洲。(3)四天王天、夜摩天、忉利天、兜率天、化樂天、他化自在天等六欲天。(4)初禪天、大梵天、第二禪天、第三禪天、第四禪天、無想天、五淨居天等色界諸天。(5)空無邊處天、識無邊處天、無所有處天、非想非非想處天等無色界諸天。(四)二十九有,即將上述二十五有中之五淨居天,細分為無煩天、無熱天、善見天、善現天、色究竟天等五天,總合為二十九有。 此外,初果之聖者,尚須於人界、天界間往返七次(各受生七次),合之則為十四生,而每一生復分為生有、中有,故共為「二十八有」,此二十八有又稱二十八生,為初果聖者受生之極度,故更無第二十九有可言。準此,若言「二十九有」者,則多表示事物之絕無者,猶如謂「六陰」、「十三入」、「十九界」等。 又以一切萬有因存在之狀態不同,而有諸種之分類,此總稱為「諸有」;而「諸有」廣大無邊猶如大海,故亦稱「諸有海」。於大智度論卷十二中,將存在之法分為三種,稱為三種有,即:(一)相待有,謂有大小、長短等相對之存在。(二)假名有,謂由眾多因緣集合而成者,如由四大假合之人等,係有假名而無實體者。(三)法有,謂由因緣而生之法,雖無自性,然非如兔角、龜毛等之有名無實,故稱法有。〔集異門足論卷四、大毘婆沙論卷一九二、俱舍論卷十九、順正理論卷四十五、成唯識論卷二、卷九、大智度論卷三、大乘義章卷八〕(參閱「十二因緣」337、「三有」548、「四有」1668、「無」5068) ; Bhāva (S), Becoming Tất cả quả báo sanh tử, tất cả mpháp hữu lậu có khả năng đưa tới nghiệp thiện ác trong vị lai. Một trong 12 nhân duyên trong Kinh Đại phương tiện (Trường A hàm 10). ; Bhàva (S). That which exists, the existing, existence; to have, possess, be. Process of existence. ; (有) Phạm,Pàli:Bhava. Nghĩa là tồn tại, sinh tồn. Trong kinh điển Phật giáo, phạm vi sử dụng của chữ Hữu rất rộng, rồi về ý nghĩa và sự phân loại của nó cũng có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 60, thì Hữu có nhiều nghĩa, nhưng chủ yếu thì chỉ cho quả thể dị thục của chúng sinh có tình thức và các nghiệp có khả năng chiêu cảm quả thể dị thục này, cũng tức là do nghiệp nhân thiện ác mà mang lại quả báo khổ vui. Vì loại nhân quả báo ứng này nối tiếp nhau không mất, nên gọi là Hữu . Còn luận Câu xá quyển 9 và luận Thành duy thức quyển 8, thì cho rằng nghiệp có khả năng đưa đến quả báo vị lai, gọi là Hữu , hữu này tức là chi Hữu trong 12 nhân duyên. Hữu biểu thị sự tồn tại của các pháp, đối lại với Vô , không tồn tại. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng các pháp tồn tại, 3 đời có thật; nhưng tông Duy thức thì chủ trương các pháp y tha khởi tính là Giả hữu , Viên thành thực tính là Thực hữu , nhưng ý nghĩa Thực hữu ở đây khác với ý nghĩa 3 đời thực có của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Tức Thực hữu này là chỉ cho Thực tính (chân như) của các pháp là thường tồn, cùng khắp. Vì thực tính ấy không sinh diệt nên tông Duy thức đặc biệt gọi Hữu này là Diệu hữu, Chân hữu. Ngoài ra, vì phàm phu chấp trước cõi Sắc và cõi Vô sắc là cảnh giới giải thoát, nên thường dấy sinh ý niệm giải thoát, vọng cầu sinh về 2 cõi này, vì muốn ngăn dứt tình chấp này nên trong Phật pháp lập ra các Hữu , để nói rõ ràng 2 cõi này không phải là cảnh giới giải thoát chân thực. Chẳng hạn như gọi Tham của cõi Sắc và cõi Vô sắc là Hữu tham , gọi phiền não là Hữu lậu , hoặc gọi Ái của cõi Vô sắc là Hữu ái …. Về chủng loại Hữu thì gồm có: 1. Ba hữu: Chỉ cho 3 cõi, cũng tức là Dục hữu, Sắc hữu và Vô sắc hữu. 2. Bảy hữu: Địa ngục hữu, Ngã quỉ hữu, Bàng sinh hữu, Thiên hữu, Nhân hữu, Nghiệp hữu, Trung hữu. 3. Hai mươi lăm hữu: -Bốn ác thú: Địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, A tu la. -Bốn châu: Đông thắng thần châu, Nam thiệm bộ châu, Tây ngưu hóa châu, Bắc câu lư châu. -Sáu tầng trời cõi Dục: Trời Tứ thiên vương, trời Dạ ma, trời Đao lợi, trời Đâu xuất, trời Hóa lạc, trời Tha hóa tự tại. Các tầng trời cõi Sắc: Trời Sơ thiền, trời Đại phạm, trời Nhị thiền, trời Tam thiền, trời Tứ thiền, trời Vô tưởng, trời Ngũ tịnh cư. Các cõi trời Vô sắc: Trời Không vô biên xứ, trời Thức vô biên xứ, trời Vô sở hữu xứ, trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ. 4. Hai mươi chín hữu: Tức là 25 Hữu nói trên cộng với 5 tầng trời của Ngũ tịnh cư: Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện kiến thiên, Thiện hiện thiên, Sắc cứu kính thiên. Ngoài ra, bậc Thánh Sơ quả còn phải 7 lần qua lại trong nhân gian và cõi trời, cộng lại thành 14 lần sinh, mỗi lần sinh lại chia làm Sinh hữu và Trung hữu, nên tổng cộng là 28 hữu, cũng gọi 28 sinh. Đây là số lần thụ sinh cao nhất của bậc Thánh Sơ quả, vì thế không có cái Hữu thứ 29. Lại vì trạng thái tồn tại của tất cả vạn hữu không giống nhau nên mới chia làm nhiều loại Hữu và được gọi chung là Chư hữu , Chư hữu vốn rộng lớn vô biên giống như biển cả nên cũng gọi là Chư hữu hải . Luận Đại trí độ quyển 12 chia các pháp tồn tại ra làm 3 Hữu: 1. Tương đãi hữu: Sự tồn tại (Hữu) có đối đãi, như lớn nhỏ, dài ngắn, v.v... 2. Giả danh hữu: Tức là Hữu do nhiều nhân duyên tập hợp lại mà thành, như thân người là do 4 đại giả hòa hợp mà có, là Hữu giả danh chứ không có thực thể. 3. Pháp hữu: Pháp do nhân duyên sinh, tuy không có tự tính, nhưng chẳng phải hữu danh vô thực như sừng thỏ, lông rùa… nên gọi là Pháp hữu. [X. luận Tập dị môn túc Q.4; luận Đại tì bà sa Q.192; luận Câu xá Q.19; luận Thuận chính lí Q.45; luận Thành duy thức Q.2, Q.9; luận Đại trí độ Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.8]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Tam Hữu, Tứ Hữu, Vô).

hữu ban

1615禪林集會時,大眾於法堂內之左右兩側依序列位,稱為兩班、兩序;位於右側之知事位,即稱右班,或東序。 ; (右班) Vị trí của vị Tri sự. Trong Thiền lâm, lúc hội họp, đại chúng theo thứ tự xếp hàng ở 2 bên trong Pháp đường, gọi là Lưỡng ban, Lưỡng tự. Vị trí của vị Tri sự ở bên phải nên gọi là Hữu ban hay Đông tự.

hữu bi bồ tát

Xem Lân Mẫn Bồ tát.

hữu biên

2460指有之邊際。邊,指偏於一方之極端。計執世間一切諸法,係假眾緣之和合而生,此和合之力能呈現諸法之作用,故稱為有邊。對此而言,計執諸法既假眾緣之和合而生,故無自性,以其無自性,則諸法之體非為實有,稱為無邊。蓋有邊、無邊乃論議有無之理時所用之語彙,散見於諸經論中。例如箭喻經所舉(大一‧九一七中):「世間有邊,世間無邊。」若執著有邊、無邊之人,極易落於偏狹不正之見解中,唯有捨棄有無二邊之見解,才能了知中道實相之理。〔雜阿含經卷十、入楞伽經卷五、中論卷四、瑜伽師地論卷三十六、大明三藏法數卷八〕 ; (有邊) Nghiêng hẳn về bên hữu (có). Nghĩa là chấp trước tất cả các pháp trong thế gian là do các duyên hòa hợp mà sinh, sức hòa hợp này có khả năng hiện bày tác dụng của các pháp, nên gọi là Hữu biên. Trái lại, chấp trước các pháp là do nhân duyên giả hòa hợp mà sinh, nên không có tự tính, đã không tự tính thì thể của các pháp chẳng phải có thực, gọi là Vô biên. Hữu biên, vô biên là các từ ngữ được sử dụng khi bàn về lí Hữu, Vô; những từ ngữ này được thấy rải rác trong các kinh luận. Như kinh Tiễn dụ (Đại 1, 917 trung), nói: Thế gian hữu biên, thế gian vô biên. Nếu người chấp trước hữu biên, vô biên thì rất dễ rơi vào kiến giải thiên lệch, hạn hẹp . [X. kinh Tạp a hàm Q.10; kinh Nhập lăng già Q.5; Trung luận Q.4; luận Du già sư địa Q.36; Đại minh tam tạng pháp số Q.8].

hữu biên vô biên luận

2460又作邊無邊等宗。為外道十六宗之一。即依止世間之諸種靜慮,而計執世間有邊、世間無邊、世間亦有邊亦無邊、世間非有邊非無邊等見解之宗派。〔瑜伽論記卷三之下〕(參閱「外道十六宗」1871) ; (有邊無邊論) Cũng gọi Biên vô biên đẳng tông. Tông phái chấp trước thế gian là hữu biên, là vô biên, cũng là hữu biên cũng là vô biên, chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên. Là một trong 16 tông phái ngoại đạo. [X. Du già luận kí Q.3 phần dưới]. (xt. Ngoại Đạo Thập Lục Tông).

hữu biểu nghiệp

(sắc) The manifested activities of body, mouth and mind (or will) in contrast with their vô biểu nghiệp unmanifested activities.

Hữu bạo lưu

有暴流; C: yŏubàoliú; J: ubōru;|Dòng chảy dữ dội của sự đắm chấp vào sự hiện hữu (s: bhava-ogha), thí dụ cho lòng tham và kiêu mạn có trong cõi sắc và vô sắc. Là một trong 4 dòng bạo lưu (Tứ bạo lưu 四暴流), tương đương với Hữu lậu (有漏).

Hữu bạo lưu 有暴流

[ja] ウボウル ubōru ||| The raging current of attachment to existence (bhava-ogha), exemplified by the greed and pride that appear in the form realms and formless realms. One of the four raging currents 四暴流, equivalent to "outflow of existence" 有漏. => Dòng chảy dữ dội của sự đắm chấp vào sự hiện hữu (s: bhava-ogha), thí dụ cho lòng tham và kiêu mạn có trong cõi sắc và vô sắc. Là một trong 4 dòng bạo lưu (Tứ bạo lưu 四暴流), tương đương với Hữu lậu.

Hữu bảo

有寶; C: yŏubăo; J: uhō; |Có được châu báu – tên của một kiếp (s: kalpa) trong kinh Pháp Hoa.

hữu bảo kiếp

Ratnavabhāṣā (S) - Một kỳ kiếp vị lai trong Bảo Sanh thế giới do Danh Tướng Như Lai (Phật hiệu của Ngài Tu bồ Đề trong vị lai) cai quản. - còn gọi là Bảo Minh kỳ kiếp: Ngài Phú la nâu (Purna) được Phật Thích Ca thọ ký vể vị lai sẽ thành Phật có hiệu này, cõi thế giới của Ngài là Thiện Tịnh, kỳ kiếp là Bảo Minh.

Hữu bảo 有寶

[ja] ウホウ uhō ||| (1) Possessing jewels--the name of a kalpa in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.21a21〕(2) A euphemism used in speaking about a sexual affair. => Có được châu báu—tên của một kiếp (s: kalpa) trong kinh Pháp Hoa.

Hữu Bộ

(s: Sarvāstivādin, 有部): gọi đủ là Thánh Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (聖根本說一切有部), Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (說一切有部), là một trong 20 bộ phái của Tiểu Thừa, âm dịch là Tát Bà A Tư Để Bà Địa (薩婆阿私底婆地), Tát Bà Đế Bà (薩婆帝婆), Tát Bà Đa (薩婆多), ý dịch là Nhất Thiết Hữu (說一切有), Nhất Thiết Ngữ (一切語); còn gọi là Hữu Bộ Tông (有部宗), Hữu Tông (有宗), là một bộ phái của Thượng Tọa Bộ. Bộ phái này chủ trương rằng các pháp trong ba đời là có thật. Đại bộ phận phái này phân bố ở các vùng Tây Bắc Ca Thấp Di La (s: Kaśmīra, p: Kasmīra, 迦濕彌羅), Kiền Đà La (s, p: Gāndhāra, Gandhāra, 犍陀羅) thuộc Ấn Độ ngày xưa; và đã một thời cực thịnh. Họ y cứ chủ yếu vào các luận thư A Tỳ Đạt Ma (s: Abhidharma, 阿毘達磨).

Hữu bộ

有部; C: yŏu bù; J: ubu; S: sarvāstivāda|Viết tắt của Thuyết nhất thiết hữu bộ (説一切有部).

hữu bộ

2442梵名 Sarvāsti-vādin。全稱聖根本說一切有部。為小乘二十部之一。音譯作薩婆阿私底婆地、薩婆帝婆、薩婆多。意譯作一切有、一切語言。又作有部宗、有宗。屬上座部之一派。主張三世一切法皆為實有,故稱有部。大多分布於古印度西北迦溼彌羅、犍陀羅等地,曾盛極一時。主要以阿毘達磨諸論書為依據。〔異部宗輪論、三論玄義〕(參閱「說一切有部」5919) ; Xem Hữu bộ tông. ; (有部) Phạm:Sarvàsti-vàdin. Dịch âm: Tát bà a tư để bà địa, Tát bà đế bà, Tát bà đa. Dịch ý: Nhất thiết hữu, Nhất thiết ngữ ngôn. Gọi đủ: Thánh căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ. Cũng gọi: Hữu bộ tông, Hữu tông. Bộ phái chủ trương tất cả pháp trong 3 đời đều có thật. Là một trong 20 bộ phái của Phật giáo Tiểu thừa. Bộ phái này lấy các bộ luận A tì đạt ma làm chỗ y cứ mà lập thuyết, cực thịnh một thời ở các vùng Ca thấp di la, Kiện đà la, v.v... thuộc miền Tây bắc Ấn độ đời xưa. [X. luận Dị bộ tông luân; Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ).

hữu bộ luật

2442凡五十卷。唐代義淨譯。全稱根本說一切有部毘奈耶(梵 Mūla-sarvāstivāda-vinaya)。收於大正藏第二十三冊。本書係由有部所誦之律藏七篇而成。內容係敘述說一切有部之戒律,分為四波羅夷法、十三僧伽伐尸沙法、二不定法、三十泥薩祇波逸底迦法、九十波逸底迦法、四波羅底提舍尼法、眾多學法、七滅諍法等八科。(參閱「根本說一切有部毘奈耶」4136) ; (有部律) Gọi đủ: Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da (Phạm:Mùla-sarvàstivàdavinaya). Luật, 50 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 23. Nội dung nói về giới luật của Thuyết nhất thiết hữu bộ, chia ra 8 khoa: Tứ ba la di pháp, Thập tam tăng già bà thi sa pháp, Nhị bất định pháp, Tam thập ni tát kì ba dật để ca pháp, Cửu thập ba dật để ca pháp, Tứ ba la đề đề xá ni pháp, Chúng đa học pháp và Thất diệt tránh pháp. (xt. Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tì Nại Da).

hữu bộ ni đá na

Xem Căn bản Thuyết Nhất thiết hữu bộ Ni đà na Mục đác ca.

hữu bộ tông

Sṛvastivāda (S), Sarvāstivāda (S) Nhứt thiết hữu bộ tông, Tát bà đa bộ, Tát bà đa sa bộ, Hữu bộ Một bộ phái thuộc Thượng tọa bộ, phát triển mạnh ở vùng Bắc Ấn vào đầu công nguyên.

Hữu bộ 有部

[ja] ウブ ubu ||| Sarvāstivāda. The 'Existence School.' An abbreviation of 説一切有部. => (s: Sarvāstivāda; e: Existence School). Viết tắt của Nhất thiết hữu bộ 説一切有部.

hữu bộ-nhất thiết hữu bộ

Sarvàstivàda (S). The schol of reality of all phenomena.

hữu chi tập khí

2428為三種習氣之一。有,指三有;支,為因之義。即三有之因的薰習氣分,能成為招感三界異熟果法之業種。與「業種子」、「異熟習氣」等同義。可分為招感人天之善果者與招感三惡趣之惡果者二種。成唯識論卷八(大三一‧四三中):「有支習氣,謂招三界異熟業種。有支有二:一有漏善,即是能招可愛果業。二諸不善,即是能招非愛果業。隨二有支所薰成種,令異熟果善惡趣別。」〔成唯識論述記卷八本〕(參閱「三種習氣」658) ; (有支習氣) Đồng nghĩa: Nghiệp chủng tử, Dị thục tập khí. Chủng tử nghiệp chiêu cảm quả Dị thục trong 3 cõi, do sự huân tập khí phần của nhân trong 3 cõi tạo thành. Có thể chia làm 2 loại: 1. Hữu chi tập khí thiện chiêu cảm quả thiện cõi người, cõi trời. 2. Hữu chi tập khí ác chiêu cảm quả báo 3 đường ác. Luận Thành duy thức quyển 8 (Đại 31, 43 trung), nói: Hữu chi tập khí nghĩa là nghiệp chủng chiêu cảm quả Dị thục trong 3 cõi. Hữu chi có 2: Một là hữu lậu thiện, có khả năng chiêu cảm nghiệp quả đáng ưa thích. Hai là chư bất thiện, có công năng chiêu cảm nghiệp quả không được ưa thích . [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.8 phần đầu] (xt. Tam Chủng Tập Khí).

hữu chấp thọ

Upatta (S) Có cảm thọ.

hữu chấp thụ

2440梵語 upātta。即有感覺之意。亦即被心、心所法所執持的眾生之身體。反之,則稱無執受、非執受。 俱舍宗認為有生命即有執受。此蓋以眾生之五根(眼、耳、鼻、舌、身)與色、香、味、觸等四境,合之為九界,共為心與心所法所執持,且亦為心與心所法之依處,故稱為有執受。此五根、四境即有情眾生之「有根身」,亦即有執受之依身,為眾生現在世之身體。有執受之「受」,意謂有根身能產生覺受(苦、樂等之感覺、感受)。 然唯識宗則除俱舍宗所說之覺受外,認為「執受」另有「安危共同」之義,即除「有根身」外,含藏於阿賴耶識中之種子亦為有執受,而與阿賴耶識同安共危。安,指善趣;危,指惡趣。種子及有根身之安危即是阿賴耶識之安危。相互之間,命運等同而休戚與共,故稱安危共同。據成唯識論述記卷三本載,執為攝、持之義;受為領、覺之義。若就覺受之義而言,則有根身為執受,種子及器界為非執受;此即上記俱舍論之觀點。然若就安危共同之義而言,則有根身及種子為執受,器界為非執受;此即唯識宗之主張。〔俱舍論卷二、卷三、瑜伽師地論卷六十六、成唯識論卷二、卷三、俱舍論光記卷二、百法問答鈔卷一〕 ; (有執受) Phạm:Upàtta. Đối lại: Vô chấp thụ. Có cảm giác, cảm thụ. Tức thân thể chúng sinh do tâm và tâm sở pháp nắm giữ. Tông Câu xá cho rằng có sinh mệnh thì có chấp thụ; vì 5 căn(mắt, tai, mũi, lưỡi,thân) của chúng sinh và 4 cảnh(sắc, hương, vị, xúc) cộng lại thành 9 phạm trù đều do tâm và tâm sở pháp nắm giữ, vả lại, cũng là chỗ nương tựa của tâm và tâm sở pháp, cho nên gọi là Hữu chấp thụ. Năm căn và 4 cảnh này là Hữu căn thân của chúng sinh hữu tình. Chữ Thụ trong Hữu chấp thụ nghĩa là Hữu căn thân có khả năng sinh ra giác thụ (cảm giác, cảm thụ khổ và vui, v.v...). Ngoài ý nghĩa giác thụ do tông Câu xá chủ trương, tông Duy thức cho rằng Chấp thụ còn có nghĩa là Cùng chung an nguy , tức là ngoài Hữu căn thân ra, chủng tử hàm chứa trong thức A lại da cũng là Hữu chấp thụ và cùng chung an nguy với thức A lại da. An chỉ cho đường thiện, nguy chỉ cho nẻo ác. Sự an nguy của chủng tử và Hữu căn thân tức là sự an nguy của thức A lại da. Vòng quanh trong 6 ngả, chúng cùng chung số phận, nên nói là cùng chung an nguy. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 3 phần đầu, thì Chấp nghĩa là nhiếp trì, Thụ nghĩa là lãnh thụ, cảm giác. Nếu nói theo nghĩa giác thụ của tông Câu xá thì Hữu căn thân là Chấp thụ, Chủng tử và Khí thế giới là Phi chấp thụ. Nhưng nếu nói theo nghĩa cùng chung an nguy của tông Duy thức thì Hữu căn thân và Chủng tử là Chấp thụ, còn Khí thế giới là Phi chấp thụ. [X. luận Câu xá Q.2, Q.3; luận Du già sư địa Q.66; luận Thành duy thức Q.2, Q.3; Câu xá luận quang kí Q.2; Bách pháp vấn đáp sao Q.1].

hữu chủ vật

2429指有一定所有者之財物。為「無主物」之對稱。若為有主物而擅取之,則形成偷,犯盜罪。有主物分為二類:(一)三寶物,即:(1)佛物,指佛像、舍利、佛之衣鉢、佛堂之帳座、佛身上之彩繪、七寶幡蓋、佛塔等物。(2)法物,指經論、祕方,及法受用物之軸帙、箱巾、函帕等。(3)僧物,又分為廣大、限局二種,前者有十方常住僧物、十方現前僧物;後者有眾僧物、別人物。(二)別類物,即除三寶物外,另有守護主之財物,如賊之施物、官物、狂人物、畜物、神物、鬼物、天物等。〔梵網經卷下、四分律卷一、摩訶僧祇律卷三〕(參閱「三寶物」703、「僧物」5736) ; Things that have an owner. ; (有主物) Đối lại: Vô chủ vật. Tài vật đã có người làm chủ. Được chia làm 2 loại: 1. Vật của Tam bảo: - Vật của Phật: Tượng Phật, xá lợi Phật, áo bát của Phật, màn trướng, tòa ngồi trong Phật đường, lụa là đắp trên thân Phật, phan lọng bằng 7 báu, tháp Phật, v.v... - Vật của Pháp: Kinh luận, bí chú, các vật dụng như trục cuộn kinh, khăn đậy rương kinh, vải phủ pho kinh, v.v... - Vật của Tăng: Chia làm 2 loại: a) Vật của tăng thường trụ trong 10 phương và vật của tăng hiện tiền trong 10 phương. b) Vật của chúng tăng và vật của cá nhân. 2. Các loại vật khác: Vật của người thủ hộ, vật của quan, vật của người điên cuồng, vật của súc sinh, vật của thần, vật của quỉ, vật của trời, v.v... [X. kinh Phạm võng Q.hạ; luật Tứ phần Q.1; luật Ma ha tăng kì Q.3]. (xt. Tam Bảo Vật, Tăng Vật).

hữu chức

2459日本僧官名。又作有職三綱。乃已講(三會之講師)、內供(任職於內道場之法師)、阿闍梨(糾正弟子行為之師)三職之總稱。

hữu công dụng

2429梵語 sābhoga。指假借身、口、意之動作,而修習無相觀。亦即不能任運修習無相觀,尚須藉方便加行者。若不假借身、口、意三者而修行,於自然而然之狀態下,任運自如者,則稱為無功用(梵 an-ābhoga)。 於菩薩十地之中,七地以前之菩薩,未能自然而然地修習無相觀,必須藉努力加行方可修習,故稱為有功用地。而八地以後之菩薩,則稱為無功用地。然若就佛果而言,則八地以上亦屬有功用,唯佛果為無功用。此外,天台宗以別教之初地以前,及圓教之初住以前為有功用,稱為初地初住證道同圓。〔十地經卷六、梁譯攝大乘論卷下、成唯識論卷九、華嚴經探玄記卷九、卷十三、四教義卷十一〕 ; (有功用) Phạm:Sàbhoga. Tạm mượn động tác của thân, khẩu, ý để tu tập vô tướng quán; tức là chưa có thể đạt đến chỗ không cần dụng công để tu tập mà vẫn còn phải nhờ vào phương tiện gia hạnh. Trái lại, nếu không cần nhờ vào thân, miệng, ý để tu hành, mà nhậm vận tự như, tùy thuận pháp tính mà tu tập thì gọi là Vô công dụng (Phạm: An-àbhoga). Trong 10 địa của Bồ tát thì Bồ tát ở 7 địa trước phải nổ lực gia hạnh để tu tập Vô tướng quán, nên gọi là Hữu công dụng địa; còn Bồ tát từ địa thứ 8 trở lên thì đã nhậm vận tự như nên gọi là Vô công dụng địa. Tuy nhiên, nếu nói theo Phật quả thì Bồ tát từ địa thứ 8 trở trên cũng thuộc về Hữu công dụng, chỉ có Phật quả là Vô công dụng. Ngoài ra, tông Thiên thai cho rằng Bồ tát trước Sơ địa của Biệt giáo và Bồ tát trước Sơ trụ của Viên giáo đều thuộc Hữu công dụng và được gọi chung là Sơ địa Sơ trụ chứng đạo đồng viên. [X. kinh Thập địa Q.6; luận Nhiếp đại thừa Q.hạ (bản dịch đời Lương); luận Thành duy thức Q.9; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.9, Q.13; Tứ giáo nghi Q.11].

hữu cú

2429於諸經論中,常採用肯定、否定、複肯定、複否定等四句來分類諸法之形式,或解釋各種義理,稱為「四句分別」;而於各種形式之四句分別中,若以「有」、「無」概念為分別之標準者,則稱「有無四句」,有無四句之第一句即為「有句」。蓋就有、無之義而言,可成立四句以分別諸法,即:(一)有句,即「有而非無」。(二)無句,即「無而非有」。(三)雙亦句(複肯定),即「亦有亦無」。(四)雙非句(複否定),即「非有非無」。(參閱「四句分別」1675) ; (有句) Trong các kinh luận, 4 câu: Khẳng định, Phủ định, Phức khẳng định, Phức phủ định thường được sử dụng để phân loại các pháp, hoặc để giải thích các nghĩa lí, gọi là Tứ cú phân biệt . Và trong Tứ cú phân biệt, nếu dùng khái niệm Hữu , Vô làm tiêu chuẩn để phân biệt thì gọi là Hữu vô tứ cú và câu thứ nhất trong Hữu vô tứ cú tức là Hữu cú . Nếu nói theo nghĩa Hữu, Vô thì có thể thành lập 4 câu để phân biệt các pháp, đó là: 1. Hữu cú: Tức là có chứ chẳng phải không. 2. Vô cú: Tức là không chứ chẳng phải có. 3. Song diệc cú(phức khẳng định): Tức là cũng có cũng không. 4. Song phi cú: (phức phủ định): Tức là chẳng phải có chẳng phải không. (xt. Tứ Cú Phân Biệt).

hữu căn thân

2438梵語 sendriya-kāya。即指人之身體。全稱有色根身。色,乃物質之意,即有形狀之物。根,即眼、耳、鼻、舌、身五根。五根又稱五色根,亦即指身體之五官及其機能。據成唯識論卷二、卷三載,五色根(即勝義根)及其依處(即扶塵根),總稱有根身。〔大毘婆沙論卷一一八、俱舍論卷五、卷十、成唯識論演祕卷三本、成唯識論述記卷三〕 ; (有根身) Phạm:Sendriya-kàya. Gọi đủ: Hữu sắc căn thân. Thân thể con người. Sắc nghĩa là vật chất, tức là vật có hình dáng; Căn tức 5 căn, hoặc cũng gọi là 5 sắc căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, quyển 3, thì 5 sắc căn (Thắng nghĩa căn) và chỗ nương tựa của chúng(tức Phù trần căn) gọi chung là Hữu căn thân. [X. luận Đại tì bà sa Q.118; luận Câu xá Q.5, Q.10; Thành duy thức luận diễn bí Q.3 phần đầu; Thành duy thức luận thuật kí Q.3].

hữu căn vô căn

2438即指有情與非情。根,指身根、眼根等,故凡具有身根、眼根等之有情眾生皆稱為有根。蓋能造之地、水、火、風等四大及所造之色、香、味、觸等四味,在眼、耳等五根之位時,其能造與所造兩者皆具有根,故有情稱為有根。反之,器世界之草、木、山、河等及屬於有情眾生之髮、毛、爪等非情物,因其能造與所造兩者皆離根,故稱為無根。 ; (有根無根) Chỉ cho loài hữu tình và vô tình. Căn chỉ cho thân căn, nhãn căn, v.v... cho nên phàm chúng sinh hữu tình có thân căn, nhãn căn… đều gọi là Hữu căn. Vì 4 đại năng tạo: Đất, nước, lửa, gió và 4 vị sở tạo: Sắc, hương, vị, xúc, khi ở vào vị trí 5 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, thì năng tạo và sở tạo của chúng đều có căn, nên gọi hữu tình là Hữu căn. Trái lại, những vật vô tình như: Cỏ, cây, núi, sông, v.v... thuộc về khí thế giới và tóc, lông, răng, móng, v.v... thuộc về chúng sinh hữu tình, thì năng tạo và sở tạo của chúng lìa căn, cho nên gọi là Vô căn.

Hữu cấu

有垢; C: yŏugòu; J: uku; |Có, bao gồm, hay dính mắc với nhiễm ô. Theo Bảo tính luận (寶性論, s: ratnagotravibhāga), dạng nhiễm ô nầy biểu thị dạng thức thấp (nhị thừa) của phiền não, khác với Hữu điểm (有點), chướng ngại liên quan đền hàng Bồ Tát.

Hữu cấu 有垢

[ja] ウク uku ||| To possess, contain, or be attached to defilement. In the Ratnagotravibhāga this form of defilement is indicated as a lower (two vehicle) form of defilement, as contrasted with the 有點 obstruction which is dealt with by bodhisattvas. (Skt. samala; Tib. dri ma daṅ bcas pa)〔寶性論T 1611.31.823b〕 => Có, bao gồm, hay dính mắc với nhiễm ô. Theo Thật tính luận (寶性論s: Ratnagotravibhāga), dạng nhiễm ô nầy biểu thị dạng thức thấp (nhị thừa) của phiền não, khác với Hữu điểm 有點, chướng ngại liên quan đền hàng Bồ-tát.

hữu da vô da

2438即心馳於有無二邊,而猶豫不定之義。一般多指欲界修所斷之無覆無記之智;然亦有用於形容狐疑之相者。 ; (有耶無耶) Tâm chạy theo 2 bên có không, nên do dự không quyết định. Nói chung, từ ngữ này thường được dùng để chỉ cho tâm vô phú vô kí mà người tu hành ở cõi Dục phải đoạn trừ; nhưng cũng có khi được dùng để bày tỏ sự hồ nghi.

hữu danh vô thật đế

2429謂世間之法唯有假名而無實體,然凡夫因癡迷而視其為實有,故依照世間一般之見解,於世法上設立假名,此稱為有名無實諦。又作世間世俗諦。蓋佛教主張因緣法,而反對世間有常恆不變之實體存在,故謂一切有為之法,皆為因緣和合假成,例如我、瓶、車等,皆係唯有其名而無恆常之實體者。據北本大般涅槃經卷十三載,有名無實者,即如我、眾生乃至旋火之輪及名句等諸種世法,皆屬此類有名無實之世俗諦。〔大乘法苑義林章卷二末〕(參閱「二諦」244) ; (有名無實諦) Cũng gọi Thế gian thế tục đế. Chỉ có tên giả không có thực thể. Các pháp thế gian vốn không có thực thể, nhưng người phàm phu si mê chấp là thật, cho nên thuận theo cái thấy biết thông thường của thế gian mà tạm đặt ra tên gọi cho các pháp ấy, gọi là Hữu danh vô thực đế. Phật giáo không thừa nhận sự tồn tại của một thực thể thường hằng bất biến, mà chủ trương rằng các pháp đều do nhân duyên giả hòa hợp mà thành, như cái ta, cái bình, chiếc xe, v.v... Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 13 (bản Bắc) thì Hữu danh vô thực có nghĩa là tất cả pháp thế gian như ta , chúng sinh, cho đến vòng lửa xoay tròn và danh cú, v.v... đều thuộc về Thế tục đế. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần cuối]. (xt. Nhị Đế).

hữu di thục

2447梵語 sa-vipāka。為「無異熟」之對稱。指能招感當來異熟之果者。據俱舍論卷三載,於二十二根中,憂根為有異熟,因其性為或善或惡之有記性,又為有漏法,故能招感當來異熟之果。眼、耳、鼻、舌、身五根,及男、女二根與命根等八根為無記性;未知當知、已知、具知等三根為無漏性,故此十一根皆為無異熟。其餘之十根,則通於有、無二異熟,即:意、喜、樂、捨四根於有記性、有漏性時為有異熟,於無記性、無漏性時為無異熟;苦根之有記性為有異熟,無記性為無異熟;信、勤、念、定、慧五善根之有漏性為有異熟,無漏性為無異熟。〔阿毘達磨發智論卷三、大毘婆沙論卷一四四、俱舍論光記卷三〕 ; (有异熟) Phạm:Sa-vipàka. Đối lại: Vô dị thục. Có năng lực chiêu cảm quả Dị thục ở vị lai. Cứ theo luận Câu xá quyển 3 thì trong 22 căn, Ưu căn là Hữu dị thục, vì tính của nó là tính hữu kí hoặc thiện hoặc ác, vả lại, nó là pháp hữu lậu nên có thể chiêu cảm quả Dị thục trong vị lai. Mười một căn kế tiếp là Nhãn căn, Nhĩ căn, Tị căn, Thiệt căn, Thân căn, Nam căn, Nữ căn, Mệnh căn (8 căn này có tính vô kí), Vị tri căn, Dĩ tri căn và Cụ tri căn(3 căn này thuộc tính vô lậu). Mười một căn trên đều là Vô dị thục. Mười căn còn lại thì chung cho cả Hữu dị thục và Vô dị thục, trong đó 4 căn Ý, Hỉ, Lạc, Xả khi ở tính hữu kí, tính hữu lậu thì là Hữu dị thục, còn khi ở tính vô kí, tính vô lậu thì là Vô dị thục; về Khổ căn thì tính hữu kí của nó làHữu dị thục và tính vô kí của nó là Vô dị thục; còn 5 thiện căn Tín, Cần, Niệm, Định, Tuệ thì tính hữu lậu của chúng là Hữu dị thục và tính Vô lậu của chúng là Vô dị thục. [X. luận A tì đạt ma phát trí Q.3; luận Đại tì bà sa Q.144; Câu xá luận quang kí Q.3].

Hữu duyên

有縁; C: yŏuyuán; J: uen; |1. Có đối tượng của thức (s: sālambana); 2. Duyên khởi. Có liên quan; 3. Những nhân duyên khác nhau; 4. Nguyên nhân gián tiếp phát sinh sự hiện hữu; 4. Người mà mình gắn bó.

hữu duyên

2457即有因緣關係之意。一般指於佛道有緣者。亦即指有聞法得解脫機緣之眾生。觀無量壽經(大一二‧三四四上):「有緣眾生,皆悉得見。」大方便佛報恩經卷七(大三‧一六一中):「佛世尊應現世間,引接有緣,有緣既盡,遷神涅槃。」 有緣為「無緣」之對稱。無緣指無因緣關係者。佛之「三不能」中,即有一項為「不能度無緣」,然此處之「不能度」,非為不願度或無能力度之意,而係指無緣者難以度化之意。又因緣可分為順緣、逆緣二種。順緣,指順境,即隨順行為之因緣;逆緣,指逆境,即違逆行為之因緣。 據安樂集卷下、觀經散善義等所舉,阿彌陀佛與淨土往生之教法,與此世界之眾生有深厚之因緣。此外,諸佛菩薩亦皆為一大事因緣而大發慈悲心,廣度有緣眾生。 蓋「有緣」一語,原指「法緣」而言,然亦廣為世人所引用,最常見者,即指人與人之間的友誼、愛情、親情等「情緣」而言;如「有緣千里來相會」、「千里姻緣一線牽」、「有緣何處不相逢」等,皆為其例。〔八十華嚴卷七十五入法界品、讚阿彌陀佛偈、往生禮讚〕 ; Those who have the cause, link, or connection, i.e. are influenced by and responsive to the Buddha. ; (有緣) Đối lại Vô duyên. Có mối quan hệ nhân duyên với nhau. Thông thường hữu duyên chỉ cho những người có duyên với Phật đạo, cũng tức là chỉ cho chúng sinh có cơ duyên nghe pháp được giải thoát. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 344 thượng), nói: Tất cả chúng sinh hữu duyên đều được thấy . Kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 7 (Đại 3, 161 trung), nói: Đức Phật Thế tôn ứng hiện ở thế gian, tiếp dẫn chúng sinh hữu duyên, khi chúng sinh hữu duyên đã hết, Ngài liền vào Niết bàn . An lạc tập quyển hạ và Quán kinh tán thiện nghĩa thì cho rằng đức Phật A di đà và giáo pháp vãng sinh Tịnh độ có nhân duyên rất sâu xa đối với chúng sinh của thế giới Sa bà này. Ngoài ra, chư Phật và Bồ tát cũng đều vì đại sự nhân duyên mà phát tâm từ bi rộng lớn, độ khắp chúng sinh hữu duyên. Danh từ Hữu duyên vốn chỉ cho pháp duyên , nhưng được người đời sử dụng rộng rãi để chỉ cho mối quan hệ hữu nghị, thân tình giữa người với người. Chẳng hạn như những câu: Hữu duyên thiên lí lai tương ngộ (có duyên nghìn dặm đến gặp nhau), Thiên lí nhân duyên nhất tuyến khiên (Sợi dây nhân duyên nghìn dặm dắt nhau), Hữu duyên hà xứ bất tương phùng (Có duyên thì nơi nào chẳng gặp nhau), v.v... [X. phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm Q.75 (bản 80 quyển); Tán A di đà Phật kệ; Vãng sinh lễ tán].

Hữu duyên 有縁

[ja] ウエン uen ||| (1) Possessing the objects of consciousness (sālambana). (2) Dependently arisen. Related. (3) The various causes of conditions. (4) The indirect causes which generate existence. (5) A person with whom one is bound up with. => 1. Có đối tượng của thức (s: sālambana). 2. Duyên khởi. 3. Có liên quan. 4. Nguyên nhân trực tiếp phát sinh sự hiện hữu. 5. Người mà mình gắn bó.

hữu dân tự

2764位於江西南昌。始建於南朝天監年間(502~519),後曾重建七次。初名上蘭寺,太清初年改為大佛寺,唐開元年間改開元寺,大中年間改上蘭院,宋咸平年間改承天寺,政和年間改能仁寺,明景泰年間改永寧寺,清順治年間改佑清寺,民國十八年(1929)定名佑民寺。寺內後殿有巨型銅佛,殿前有千佛缸,缸外裝飾有九十餘尊佛像。另有明萬曆年間所鑄銅鐘一口。本寺殿宇雄偉,為江西著名之古寺。

Hữu dư

有餘; C: yŏuyú; J: uyo; |1. Còn tàn dư. Dù đã giải thoát khỏi mọi phiền não và trói buộc, nhưng vẫn còn thân thể vật chất nhiễm ô. Thường thấy dùng trong dụng ngữ »Hữu dư niết-bàn« (有餘涅槃); 2. Cái khác, cái còn lại; người khác, vật khác.

hữu dư

còn tồn tại, vẫn còn sót lại, được dùng để chỉ hết thảy những sự vật và lý lẽ chưa đạt đến chỗ rốt ráo, cùng cực, cho nên đối nghĩa với vô dư. ; 2458<一>梵語 sopadhi-śeṣa。指未究竟至極,尚有餘存之義。乃「無餘」之對稱。大智度論卷二十三(大二五‧二二九下):「復有二種觀無常相,一者有餘,二者無餘。如佛說一切人物滅盡,唯有名在,是名有餘;若人物滅盡,名亦滅,是名無餘。」又於證得涅槃時,若仍餘有「依身」,則所證之涅槃稱為「有餘依涅槃」。又尚餘有無明煩惱者所往生之國土,稱為「有餘土」。此外,提倡未了之說者,則稱「有餘師」。如上所舉,諸經論中,冠有「有餘」之名相義理實不勝枚舉。〔大法鼓經卷下、大毘婆沙論卷三十二、卷三十六、俱舍論卷一〕 <二>梵語 śeṣavat。指推論(比量)之一種。即由現在之事實,推知過去之事實。如見江中新濁水四溢,當知上源必有大雨。金七十論卷上(大五四‧一二四六上):「比量有三:一者有前,二者有餘,三者平等。」(參閱「比量」1481) ; Sopadhiśeṣa (S) Chưa rốt ráo diệt tận. ; Something more; those who have remainder to fulfil, e.g. of karma; incomplete; extra; additional. ; (有餘) I. Hữu Dư. Phạm: Sopadhi-zewa. Đối lại: Vô dư. Chưa thật rốt ráo diệt hết mà vẫn còn sót lại một phần. Luận Đại trí độ quyển 23 (Đại 25, 229 hạ), nói: Lại có 2 loại quán tướng vô thường: Một là Hữu dư, hai là Vô dư. Như đức Phật dạy tất cả người, vật diệt hết, chỉ còn tên gọi, đó là Hữu dư. Nếu người, vật diệt hết, tên gọi cũng không còn thì đó là Vô dư . Ngoài ra, khi chứng được Niết bàn mà thân này vẫn còn, thì Niết bàn chứng được ấy gọi là Hữu dư y Niết bàn . Quốc độ mà người vẫn còn vô minh phiền não được sinh đến, gọi là Hữu dư độ . Người đề xướng ra học thuyết chưa rốt ráo, thì gọi là Hữu dư sư . [X. kinh Đại pháp cổ Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.32, Q.36; luận Câu xá Q.1]. II. Hữu Dư. Phạm:Zewavat. Tức từ sự thực hiện tại suy ra mà biết sự thực ở quá khứ. Một trong các phương pháp suy luận (tỉ lượng). Luận Kim thất thập quyển thượng (Đại 54, 1246 thượng), nói: Tỉ lượng có 3: Hữu tiền, Hữu dư và Bình đẳng . (xt. Tỉ Lượng).

hữu dư niết bàn

2459梵語 sopadhi-śeṣa-nirvāṇa。全稱有餘依涅槃。乃「無餘涅槃」之對稱。依,指依身,即人之身體。小乘佛教認為,雖斷卻一切生死原因之煩惱而證得涅槃,然因前世惑業所造成之果報身尚存,亦即生死之因已斷,尚有生死之果待盡者,稱為有餘涅槃。反之,已斷盡生死之因,又無生死之果,而達灰身滅智之究竟涅槃之境界者,稱為無餘涅槃。 大乘佛教之說法,則與小乘有異。於大乘義章卷十九中,以佛之應身、化身為有餘涅槃,以佛之真身為無餘涅槃。另據勝鬘寶窟卷下本載,小乘之生死因果皆盡時,稱為有餘涅槃,大乘之生死因果皆盡時,則稱為無餘涅槃。〔增一阿含經卷七、法華經卷二、勝鬘經、大毘婆沙論卷三十二、大智度論卷三十一、成唯識論卷十、天台四教儀〕 ; Sopadhiśeṣa-nirvāṇa (S), Savupadisesa-nibbhāna (P), Sopadhiśeṣa-nirvāṇa (S) ; Sopadhisesa-nirvàna (S) Nirvàna with the groups of existence still remaining. Incomplete nirvàna. ; (有餘涅槃) Phạm: Sopadhi-zewa-nirvàịa. Gọi đủ: Hữu dư y Niết bàn. Đối lại: Vô dư Niết bàn. Tuy đã dứt hết phiền não mà chứng được Niết bàn nhưng chưa rốt ráo, vì vẫn còn thân do hoặc nghiệp đời trước tạo thành. Tức là nhân sinh tử đã đoạn, nhưng quả sinh tử chưa dứt hết, nên gọi là Hữu dư Niết bàn. Trái lại, nhân sinh tử đã đoạn hết, quả sinh tử cũng không còn mà đã đạt đến cảnh giới Niết bàn cùng tột, thì gọi là Vô dư Niết bàn (khôi thân diệt trí). Đây là quan điểm của Phật giáo Tiểu thừa. Nhưng kiến giải của Phật giáo Đại thừa thì có hơi khác. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 19, thì Ứng thân và Hóa thân của Phật là Hữu dư Niết bàn, còn Chân thân của Phật là Vô dư Niết bàn. Thắng man bảo quật quyển hạ phần đầu thì cho rằng khi nhân quả sinh tử của Tiểu thừa diệt hết, gọi là Hữu dư Niết bàn; khi nhân quả sinh tử của Đại thừa trừ sạch, thì gọi là Vô dư Niết bàn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.7; kinh Pháp hoa Q.2; kinh Thắng man; luận Đại tì bà sa Q.32; luận Đại trí độ Q.31; luận Thành duy thức Q.10; Thiên thai tứ giáo nghi].

hữu dư niết bàn (cõi)

Sopadise-nibbana-dhātu (P), Pratiṣṭhita-nirvāṇa (C), Sepathesesanirvāṇa (S) Trạng thái Niết bàn đạt được lúc còn thân ngũ uẩn.

Hữu dư niết-bàn

有餘涅槃; C: yŏuyú nièpán; J: uyo nehan; S: sopadhiśeṣa-nirvāṇa;|1. Niết-bàn thực chứng được khi đang còn ở trong thế gian nầy. Cũng vậy, do thân thể còn lưu lại, nên được gọi là »Hữu dư niết-bàn«; 2. Sự chấm dứt các nguyên nhân luân hồi của hàng Bồ Tát; 3. Còn gọi là »niết-bàn tiểu thừa«, vì hàng Thanh Văn và Duyên Giác có thể chứng đắc được. Thuật ngữ đề cập đến sự biểu hiện của chân như tương ưng với sự chấm dứt mọi phiền não chướng. Là một trong »Tứ chủng niết-bàn« theo giáo lí Duy thức. »Hữu dư y niết-bàn«. Niết-bàn

Hữu dư niết-bàn 有餘涅槃

[ja] ウヨネハン uyo nehan ||| (1) Nirvāna attained while living in this world. Also, because the body is left, it is called "nirvāna with remainder." (2) The extinction of the causes of saṃsāra in a Bodhisattva. (3) Also called "lesser vehicle nirvāna", because it can be attained by śrāvakas 聲聞 and pratyekabuddhas 縁覺. The term refers to the manifestation of true thusness coincident with the extinction of the hindrances due to defilement. One of the "Four Kinds of Nirvāna" in Consciousness-only theory. "Nirvāna with something remaining to depend upon." => 1. Niết-bàn thực chứng được khi đang còn ở trong thế gian nầy. Cũng vậy, do vì thân thể còn lưu lại, nên được gọi là 'Hữu dư niết-bàn'. 2. Sự chấm dứt các nguyên nhân luân hồi của hàng bồ-tát. 3. Còn gọi là 'niết-bàn tiểu thừa', vì hàng Thanh văn và Duyên giác có thể chứng đắc được. Thuật ngữ đề cập đến sự biểu hiện của chân như tương ưng với sự chấm dứt mọi phiền não chướng. Là một trong 'Tứ chủng niết-bàn' theo giáo lý Duy thức. 'Hữu dư y niết-bàn'.

hữu dư sư

2459又稱有餘、餘師、有諸師、有人。即指正統派以外之論師,或不列於大家之學匠。在俱舍論、大毘婆沙論等論部中,主張正統論師之說為究竟真實義,其他論師之說則為未究竟之餘義,故稱他師為有餘師;有餘師之論說,稱為有餘師說、有餘說、有說;屬有餘師論說之部宗,稱為有餘部。〔大法鼓經卷下、勝鬘經、俱舍論卷六、卷十六、勝鬘寶窟卷中末〕(參閱「有餘」2459) ; (有餘師) Cũng gọi Hữu dư, Dư sư, Hữu chư sư, Hữu nhân. Các vị Luận sư không thuộc phái chính thống hoặc các học giả không được liệt vào hàng Đại gia. Các bộ luận Câu xá, Đại tì bà sa, v.v... cho rằng thuyết của các vị Luận sư chính thống thì nghĩa chân thực, rốt ráo, còn thuyết của các Luận sư khác thì nghĩa chưa được rốt ráo, vì thế gọi họ là Hữu dư sư. Ngoài ra, luận thuyết của Hữu dư sư gọi là Hữu dư sư thuyết, Hữu dư thuyết, Hữu thuyết. Còn các bộ tông thuộc về luận thuyết Hữu dư sư thì gọi là Hữu dư bộ. [X. kinh Đại pháp cổ Q.hạ; kinh Thắng man; luận Câu xá Q.6, Q.16; Thắng man bảo quật Q.trung phần cuối]. (xt. Hữu Dư).

Hữu Dư Y Niết Bàn

(s: sopadhiśeṣa-nirvāṇa, p: saupādisesa-nibbāna, 有余依涅槃): hay còn gọi là Hữu Dư Niết Bàn, là một trong 4 loại Niết Bàn, trong Tiểu Thừa Phật Giáo chỉ về trường hợp người đã diệt tận hết thảy phiền não và chứng đắc giác ngộ Niết Bàn, nhưng vẫn còn lưu lại nhục thân.

Hữu dư 有餘

[ja] ウヨ uyo ||| (1) The existence of remainder; although one has freed oneself from mental afflictions and tethers, physical defilements still remain. Often seen used in the expression "nirvana with remainder" 有餘涅槃. (2) Other, left over; someone, something other. => 1. Dù đã giải thoát khỏi mọi phiền não và trói buộc, nhưng vẫn còn thân thể vật chất nhiễm ô. Thường thấy dùng trong dụng ngữ “Hữu dư niết-bàn ”. 2. Cái khác, cái còn lại; người khác, vật khác.

hữu dị thục

Savipaka (S) Có khả năng chiêu cảm quả dị thục ở tương lai.

hữu dục

Xem Hữu tham.

hữu gián

2448為「無間」之對稱。間,間雜或間隔之義。有間,即指各種心識作用互相間雜,或指時間及空間上之間隔。如往生論註卷上所謂之「有間心」,又如日僧法然之「選擇本願念佛集」所說修雜行者對阿彌陀佛之憶念常間斷,故稱有間。凡此,皆含有時間間隔之意。 ; Interrupted, not continuous, not intermingled, opposite of vô gián. ; (有間) Đối lại: Vô gián. Chỉ cho tác dụng của các loại tâm thức xen tạp lẫn nhau, hoặc chỉ cho sự ngăn cách về phương diện thời gian và không gian. Trong Vãng sinh luận chú quyển thượng có từ ngữ Hữu gián tâm , tức chỉ cho tâm xen tạp, không chuyên nhất, hoặc chỉ cho sự ngăn cách về thời gian.

hữu gián vô gián đối

2448為淨土門於正行、雜行相對中,所立的五種得失之一。正行者,憶念無間斷,故稱無間;雜行者,憶念有間斷,故稱有間。〔選擇本願念佛集〕(參閱「正雜二行」2005) ; (有間無間對) Niệm Phật có gián đoạn đối lại với niệm Phật không gián đoạn, là 1 trong 5 cặp đối đãi để so sánh sự hơn kém giữa Chính hạnh niệm Phật và Tạp hạnh niệm Phật trong môn Tịnh độ. [X. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Chính Tạp Nhị Hạnh).

Hữu giáo

有教; C: yŏujiāo; J: ukyō; |Giáo lí chủ trương »ngã không pháp hữu«. »Thật thể« được công nhận. Thế giới hiện hữu khách quan vô thường và biến dịch, nhưng các pháp (法) hợp thành thế giới thay đổi nầy lại có một ngã thể.

hữu giáo

The realistic school as opposed to the không giáo teaching of unreality; especially (1) The Hìnayàna teaching of the Câu xá tông, Abhidharma-kosa school of Vasubhandu, opposed to the Thành thật tông Satya-siddi school of Harivarman; (2) The Mahà-yàna Pháp tướng tông Dharma-laksana school, also called Duy thức tông, founded in China by Hsuan tsang, opposed to the Tam luận tông Màdhyamika school of Nàgàrjuna.

hữu giáo vô nhân

2441謂唯有教法,而無實際行證之人。與「果頭無人」同義。天台宗之判教中,以三藏教的斷惑之位、通教之八地以上、別教之初地以上為有教無人。蓋於天台宗之藏、通、別三教,若就「行人稟教」(因)之觀點而言,既有教法亦有趨向極果修行之人,故稱「有教有人」;然若就「因成果滿」(果)之觀點而言,則僅有教法而實無證得極果之人,故稱「有教無人」。此係因三藏教之根機歷三大阿僧祇劫即可成為後教(通教、別教、圓教)之人,通教八地以上之人即可了知中道之理,別教初地以上之人同於圓教之初住位,故三教中之修行者,皆於「因」中即蒙受被接之利益,而皆被接入後教中,因此實際上並無證得三教極果之人。天台宗藉此以顯示藏、通、別三教為方便權教之意。 此外,淨土宗基於上述之說法,認為末法時期中,以自力修行之聖道門,因證果困難,故唯有教法,而無實證之人,此即有教無人;而以他力修行之淨土門,則易修易證,故為有教有人、有教有證。〔四教義卷十二、摩訶止觀卷三下、安樂集卷上、維摩經玄疏卷四、止觀輔行傳弘決卷三之四〕(參閱「果頭無人」3324) ; (有教無人) Đồng nghĩa với Quả đầu vô nhân. Chỉ có giáo pháp, chứ thực tế không có người tu hành chứng quả. Cứ theo phán giáo của tông Thiên thai thì giai vị đoạn hoặc của Tạng giáo, Bát địa trở lên của Thông giáo, Sơ địa trở lên của Biệt giáo đều là Hữu giáo vô nhân. Bởi vì, nếu nói theo quan điểm hành nhân bẩm giáo (người tu hành vâng theo giáo pháp) (Nhân), thì Tạng, Thông, Biệt giáo vừa có giáo pháp vừa có người tu hành hướng tới cực quả, cho nên gọi là Hữu giáo hữu nhân . Nhưng nếu nói theo quan điểm nhân hành quả mãn (nhân thành tựu, quả viên mãn) (Quả), thì chỉ có giáo pháp, chứ thực tế không có người chứng đắc cực quả, cho nên gọi là Hữu giáo vô nhân . Đó là vì căn cơ của Tạng giáo trải qua 3 đại A tăng kì kiếp mới trở thành hàng Hậu giáo (Thông giáo, Biệt giáo, Viên giáo), hàng Thông giáo từ Bát địa trở lên đã biết rõ lí Trung đạo, hàng Biệt giáo từ Sơ địa trở lên đồng với giai vị Sơ trụ của Viên giáo; bởi thế, những người tu hành trong 3 giáo nói trên, mặc dầu còn ở trong Nhân nhưng đã được lợi ích tiếp nhập vào trong Hậu giáo, do đó trên thực tế, không có người chứng đắc cực quả của 3 giáo ấy. Tông Thiên thai căn cứ vào đây để nói rõ ý nghĩa Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo đều là quyền giáo phương tiện. Ngoài ra, tông Tịnh độ cũng dựa theo quan điểm trên mà cho rằng trong thời mạt pháp, môn Thánh đạo tự lực tu hành rất khó chứng quả, nên chỉ là Hữu giáo vô nhân; còn môn Tịnh độ tu hành nhờ tha lực, thì dễ tu dễ chứng, cho nên là Hữu giáo hữu nhân, Hữu giáo hữu chứng. [X. Tứ giáo nghĩa Q.12; Ma ha chỉ quán Q.3 phần dưới; An lạc tập Q.thượng; Duy ma kinh huyền sớ Q.4; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3 phần 4]. (xt. Quả Đầu Vô Nhân).

Hữu giáo 有教

[ja] ウキョウ ukyō ||| The teaching that the self is empty but dharmas exist. "Substance" is recognized. The existent objective world is impermanent and changing, but the elements (dharmas 法) for the composition of this changing world do have a self-nature. => Giáo lý chủ trương rằng ngã không pháp hữu . 'Thực thể được công nhận'. Thế giới hiện hữu khách quan vô thường và biến dịch, nhưng các pháp (s: dharmas 法) hợp thành thế giới thay đổi nầy lại có một ngã thể.

hữu giải

2451為「空解」之對稱。即認為諸法為有而非無之見解。於摩訶止觀卷十下,即有「作此有解」一語。若執著諸法為有之見解者,則不易悟知中道實相之理。 ; (有解) Đối lại: Không giải. Kiến giải cho rằng các pháp là có chứ chẳng phải không. Trong Ma ha chỉ quán quyển 10 phần dưới có câu: Tác thử hữu giải (sinh khởi kiến giải cho rằng các pháp là có). Nếu người chấp trước kiến giải ấy thì sẽ không tỏ ngộ được lí Trung đạo thực tướng.

hữu giới

The realm of existence.

hữu hiếp

1616又作右脅臥、右脅師子臥、師子臥、獅子臥。即右脅向下,兩足相疊,以右手為枕,左手伸直,輕放身上之臥法,為比丘之正規臥法。印度以來,佛教徒一般皆採用此一臥法,而禁止左脅臥(淫欲相)、仰身臥(屬阿修羅之業)、伏臥(屬餓鬼之業)等臥法。〔中阿含卷二十長老上尊睡眠經、長阿含卷三遊行經〕 ; (右脅) Cũng gọi Hữu hiếp ngọa, Hữu hiếp sư tử ngọa, Sư tử ngọa. Tư thế nằm nghiêng bên phải, 2 chân duỗi ra chồng lên nhau, gối đầu lên tay phải, tay trái duỗi thẳng, đặt xuôi theo thân. Đây là cách nằm đúng phép của các vị tỉ khưu và phần đông tín đồ Phật giáo cũng áp dụng. Không được nằm nghiêng bên trái, vì đó là tướng dâm dục; không được nằm ngửa, vì đó là nghiệp A tu la, không được nằm sấp, vì đó là nghiệp ngã quỉ. [X. kinh Trưởng lão thượng tôn thụy miên trong Trung a hàm Q.20; kinh Du hành trong Trường a hàm Q.3].

hữu hành tướng

2431為心、心所之異稱。以心王、心所皆具有行相,故稱有行相。行相,謂心、心所法向於色境或聲境等,則色、聲之影像浮現於自體上,並加以分別之。俱舍論卷四(大二九‧二一下):「或名有行相,即於所緣品類差別等起行相故。」(參閱「心王」1398、「心所」1403、「行相」2556) ; (有行相) Tên khác của tâm vương, tâm sở. Hành tướng nghĩa là khi tâm, tâm sở tiếp xúc với đối tượng (cảnh), thì bóng dáng của đối tượng hiện lên ở trong tự thể và tâm liền phân biệt. Luận Câu xá quyển 4 (Đại 29, 21 hạ) chép: Gọi hữu hành tướng tức là đối với những cảnh sở duyên sai biệt mà khởi lên hành tướng . (xt. Tâm Vương, Tâm Sở, Hành Tướng).

hữu hình

Physical material. Thế giới hữu hình: physical, material world.

hữu hải

2439乃比喻三有、二十五有等生死迷界如無邊之大海。亦即比喻眾生沈沒於生死迷界中,而不得出離;猶如船舶漂泊於大海中,不能到達彼岸。俱舍論卷一之頌(大二九‧一中):「由惑世間漂有海。」俱舍論頌疏卷一(大四一,八一八上):「由煩惱惑,令有情世間漂在三有生死海中。」此外,有流、有獄、有輪等,皆為此種譬喻用語。(參閱「有流」2436、「有獄」2457、「有輪」2458) ; (有海) Ví dụ 3 hữu (3 cõi), 25 hữu (25 cõi) mông mênh như biển cả, trong đó, chúng sinh sống chết, nổi chìm trôi dạt không biết ngày nào thoát ra được. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 trung), nói: Do phiền não, hoặc nghiệp thế gian mà trôi dạt trong Hữu hải . (xt. Hữu Lưu, Hữu Ngục, Hữu Luân).

hữu hậu sinh tử

2435為七種生死之一。謂第十法雲地之菩薩,未斷最後一品之無明,故尚有一次之變易生死,稱為有後生死。〔翻譯名義集卷六〕(參閱「七種生死」115) ; (有後生死) Một lần sinh sau cùng. Bồ tát Pháp vân địa chưa đoạn được một phẩm vô minh cuối cùng nên còn phải chịu một lần biến dịch sinh tử nữa, gọi là Hữu hậu sinh tử. Một trong 7 loại sinh tử. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6]. (xt. Thất Chủng Sinh Tử).

hữu hỉ định

2443巴利語 sappītika-samādhi。禪定之境界分有喜、無喜等多種。於四禪中之初禪、二禪,及五種禪中之初禪、二禪、三禪等,均有此有喜定,此定為一種不散亂之禪定境地。〔清淨道論三〕 ; (有喜定) Pàli:Sappìtika-samàdhi. Cảnh giới thiền định có cảm thụ vui mừng (hỉ) và tâm không tán loạn, như Sơ thiền, Nhị thiền trong Tứ thiền và Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, v.v... trong 5 loại thiền. [X. luận Thanh tịnh đạo 3].

Hữu học

有學; C: yŏuxué; J: ugaku; |Bậc tu đạo chưa thành tựu, còn phải học và tiến bước trong Phật đạo, chưa đạt quả vị A-la-hán. Theo Phật giáo Tiểu thừa thì đây là bậc chưa đạt được quả vị thứ tư.

hữu học

2458梵語 śaikṣa,巴利語 sekha。又稱學人。即指為斷盡一切煩惱,而修學無漏之戒、定、慧,及擇滅之理者。亦即佛弟子雖能知見佛法,然尚有煩惱未斷,必須有待修行學習戒、定、慧等法,以斷盡煩惱,證得漏盡,以其尚有法可修學,故稱有學。在小乘之四向四果中,前四向三果之聖者為有學,惟證得阿羅漢果之聖者,以其無法可修學,故稱為無學。 有學共有十八類,稱為十八有學或十八學人,據中阿含卷三十福田經所舉,即:隨信行、隨法行、信解、見至、身證、家家、一間、預流向、預流果、一來向、一來果、不還向、不還果、中般、生般、有行般、無行般、上流般等十八類。此外,於成實論等經論中,尚有不同之分類。〔俱舍論卷二十四、成實論卷一、順正理論卷六十五、大乘法苑義林章卷五本〕(參閱「十八有學」351、「四向四果」1683、「無學」5138) ; Śaikṣa (S), Sekha (P), Sekhiyā (P). ; Saiksa (S). In Hìnayàna, those in the first three stages of training as arhat, the fourth and last stage being vô học those beyaond the need of further teaching or study. There are eighteen grades of saiksa. ; (有學) Phạm:Zaikwa. Pàli: Sekha. Cũng gọi Học nhân. Bậc còn phải tu tập giới, định, tuệ vô lậu và lí trạch diệt để dứt sạch tất cả phiền não, hầu chứng được Thánh quả, cho nên gọi là Hữu học. Trong Tứ hướng, Tứ quả của Tiểu thừa, bậc Thánh Tứ hướng và 3 quả vị trước là Hữu học, chỉ có bậc Thánh chứng quả vị A la hán mới được gọi là Vô học. Cứ theo kinh Phúc điền trong Trung a hàm quyển 30, thì Hữu học gồm có 18 loại, gọi là Thập bát hữu học hay Thập bát học nhân, đó là: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Gia gia, Nhất gián, Dự lưu hướng, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, Trung ban, Sinh ban, Hữu hành ban, Vô hành ban và Thượng lưu ban. Ngoài ra, trong các kinh luận như luận Thành thực, v.v... Hữu học còn được phân loại bằng nhiều cách khác nhau. [X. luận Câu xá Q.24; luận Thành thực Q.1; luận Thuận chính lí Q.65; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5 phần đầu] (xt. Thập Bát Hữu Học, Tứ Hướng Tứ Quả, Vô Học).

Hữu học 有學

[ja] ウガク ugaku ||| The "stage of learning." One who is still learning and progressing in the Buddhist path, who is not yet perfected, or not yet an arhat. In Hīnayāna Buddhism, one who has not yet attained the fourth stage. => Bậc tu đạo chưa thành tựu, còn phải học và tiến bước trong Phật đạo, chưa đạt quả vị A-la-hán. Theo Phật giáo Tiểu thừa, là bậc chưa đạt được quả vị thứ tư.

hữu hữu lực bất đãi duyên

2430為華嚴宗所立「因六義」之一。係依準唯識宗「種子六義」中之「性決定義」而立。即諸法緣起之「因」,具有引生果之全部力用,而不須借他緣之助力以引生果,稱為有有力不待緣。以如來藏而論:有,指如來藏之體不變;有力,則指其體不變而能隨緣顯現諸法,恰如淨鏡之顯現萬象;不待緣,乃指如來藏之體不變而能引生諸法,係以其「因」為全有力,故不須借助他緣之力。蓋諸法具有空、有二義,真如本體隨緣而顯現諸法,是為「有」之義,故謂之有有力不待緣。〔十地經論卷八、大乘阿毘達磨雜集論卷四、華嚴五教章卷四〕(參閱「因六義」2272) ; (有有力不待緣) Nhân của các pháp duyên khởi có đầy đủ lực dụng để sinh ra quả mà không cần nhờ sự giúp sức của các duyên khác. Là một trong 6 nghĩa của Nhân do tông Hoa nghiêm lập ra. Đứng về phương diện Như lai tạng mà luận, thì Hữu là thể Như lai tạng bất biến; Hữu lực là thể bất biến nhưng lại tùy duyên mà hiển hiện các pháp, giống như gương sạch hiện bày muôn tượng; Bất đãi duyên nghĩa là thể của Như lai tạng tuy bất biến nhưng lại có năng lực sinh ra các pháp mà không cần sự trợ lực của các duyên khác. Vì các pháp có 2 nghĩa Hữu và Không; bản thể chân như tùy duyên hiển hiện các pháp, đó là Hữu , cho nên gọi là Hữu hữu lực bất đãi duyên. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Nhân Lục Nghĩa).

hữu hữu lực đãi duyên

2430為華嚴宗所立「因六義」之一。係依準唯識宗「種子六義」中之「引自果義」而立。即諸法緣起之「因」,雖具有生果之力用,然尚須借他緣之助力以引生果,稱為有有力待緣。蓋諸法具有空、有二義,真如本體隨緣而顯現諸法,是為「有」之義,於生果有功能,是為有力;相待緣而生果,是為待緣。「因」即具備有、有力、待緣之義,故稱為有有力待緣。〔十地經論卷八、大乘阿毘達磨雜集論卷四、華嚴五教章卷四〕(參閱「因六義」2272) ; (有有力待緣) Nhân của các pháp duyên khởi tuy có lực dụng sinh ra quả, nhưng vẫn phải nhờ sự giúp sức của các duyên khác mới thành. Là một trong 6 nghĩa của Nhân do tông Hoa nghiêm lập ra. Các pháp có đủ 2 nghĩa Không và Hữu, trong đó, bản thể chân như tùy duyên hiển hiện các pháp là nghĩa Hữu; có công năng sinh ra quả là Hữu lực, nhờ duyên giúp sức mới sinh ra quả là Đãi duyên. Vì Nhân này có đủ các nghĩa Hữu, Hữu lực, Đãi duyên nên gọi là Hữu hữu lực đãi duyên. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Nhân Lục Nghĩa).

hữu không

2435為「空有」之對稱。有者,指現象界所羅列之萬物之相;空者,指一切現象存在之實體畢竟空無。有即是空(真空),稱為有空;空即是有(妙有),則稱為空有。 關於有、空二者之關係,據肇論第二不真空論載,雖有而無者,即所謂之「非有」;雖無而有者,即所謂之「非無」。又「有相為空性,而空性亦為有相」之說,及般若波羅蜜多心經中之「色即是空,空即是色」等諸說,皆為「有空不二」之境界,乃大乘無所得教義之真髓。〔維摩經入不二法門品、中觀論疏卷四、三論玄義卷二〕 ; Phenomenal and noumenal; the manifold forms of things exist, but things, being constructed of elements, have no per se reality. ; (有空) Đối lại: Không hữu. Hữu tức là Không(chân không), gọi là Hữu không; Không tức là Hữu(diệu hữu), thì gọi là Không hữu. Hữu chỉ cho tướng của muôn vật trong thế giới hiện tượng; Không chỉ cho thực thể tồn tại của tất cả hiện tượng. Về mối quan hệ giữa Hữu và Không thì luận Bất chân không trong Triệu luận nói rằng tuy có mà không tức phi hữu , tuy không mà có tức phi vô . Lại có thuyết cho rằng tướng Hữu là tính Không, mà tính Không cũng là tướng Hữu , cho đến các thuyết Sắc tức là không, không tức là sắc trong Bát nhã ba la mật đa tâm kinh, v.v... đều là cảnh giới Hữu không bất nhị , là cốt tủy của giáo nghĩa Vô sở đắc của Đại thừa.[X. phẩm Nhập bất nhị pháp môn trong kinh Duy ma; Trung quán luận sớ Q.4; Tam luận huyền nghĩa Q.2].

hữu không bất nhị

The phenomenal and the noumenal are identical, the phenomenal expresses the noumenal and the noumenal contains the phenomenal.

hữu khổ niết bàn

Upādhi-nirvāṇa (S), Upadhi-nibbhāna (P) Niết bàn của ngoại đạo, còn khổ bám theo. ; Upadhi-nirvàna (S).

Hữu kiến

有見; C: yŏujiàn; J: uken; |Tính chất có thể trông thấy được (s: sanidarśana); có thể thấy – đặc tính của vật chất, hay »sắc« (色). Khác với Vô kiến (無見).

hữu kiến

2431<一>梵語 astiva-niśrita,巴利語 atthitā。指執著於有之偏見。又作常見。即妄執世間萬物皆具有恆常不變的實體之見解,如認為吾人固定不變,我體常存;又如主張「人常為人,畜生常為畜生,貧富恆常不變動」等說法,皆屬有見。法華玄贊卷四本(大三四‧七二五中):「若有者,執我後身為有,常見也;若無者,執我後身為無,斷見也。」〔雜阿含經卷二、中阿含經卷二十六、法華經方便品、大智度論卷七、大毘婆沙論卷二○○、法華經義疏卷四〕 <二>梵語 sanidarśana。為「無見」之對稱。見,為眼觀照根色之義;以色眼有「見」,故稱有見。〔俱舍論卷二〕(參閱「常見」4526) ; Sanidarśana (S), Astivaniśrīta (S) Chấp kiến vạn vật có thực thể bất biến thường hằng Có thể thấy được. ; The visible; erronous view that things really exist; another meaning is sắc giới realm of form. ; (有見) I. Hữu Kiến. Phạm:Astiva-nizrita. Pàli:Atthità. Cũng gọi Thường kiến. Kiến giải vọng chấp muôn vật trong thế gian đều có thực thể thường hằng bất biến. Như chủ trương: Người thì mãi mãi là người, súc sinh thì vĩnh viễn là súc sinh, giầu nghèo thường hằng không thay đổi, v.v... đều thuộc loại Hữu kiến. Pháp hoa huyền tán quyển 4 phần đầu (Đại 34, 725 trung), nói: Hữu là chấp ngã có thân sau, thuộc về thường kiến; Vô là chấp ngã không có thân sau, thuộc về đoạn kiến . [X. kinh Tạp a hàm Q.2; kinh Trung a hàm Q.26; phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa; luận Đại trí độ Q.7; luận Đại tì bà sa Q.200; Pháp hoa kinh nghĩa sớ Q.4]. II. Hữu Kiến. Phạm: Sanidarzana. Đối lại: Vô kiến. Sắc cảnh do mắt có thể thấy được. [X. luận Câu xá Q.2]. (xt. Thường Kiến).

Hữu kiến 有見

[ja] ウケン uken ||| Visibility; visible (sanidarśana)--a characteristic of physical matter, or "form" 色. The opposite of 無見.〔瑜伽論 T 1579.30.279b3〕 => Tính chất có thể trông thấy được; có thể thấy, hữu hình đặc tính của vật chất, hay 'sắc 色'. Khác với Vô kiến 無見.

hữu kiết phược la sát nữ

Xem Lam Bà La sát nữ.

hữu kí pháp

2439為「無記法」之對稱。指善、惡二法。善、惡二法,其相顯明,可記別當來之果相,故稱有記法。亦即指具有可引異熟果的表象之法。〔大毘婆沙論卷五十一〕 ; (有記法) Đối lại: Vô kí pháp. Chỉ cho 2 pháp thiện, ác; tướng của 2 pháp này hiển bày rõ ràng, có thể cho biết trước quả tướng ở vị lai. Cũng tức là pháp có năng lực đưa đến quả Dị thục. [X. luận Đại tì bà sa Q.51].

hữu kết

2448有,生死之果報;結,可招感果報之煩惱。謂貪、瞋、癡等諸煩惱,能束縛人,而使住於生死境界之中,不得出離,故稱有結。法華經序品(大九‧一下):「盡諸有結,心得自在。」〔法華文句卷一上〕 ; The bond of existence, or mortal life. ; (有結) Hữu là quả báo sinh tử, Kết là phiền não chiêu cảm quả báo. Nghĩa là các phiền não tham, sân, si trói buộc con người, khiến phải ở trong cảnh giới sinh tử, không thể thoát ra được. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 1 hạ), nói: Khi hết các hữu kết thì tâm được tự tại .[X. Pháp hoa văn cú Q.1 phần trên].

hữu linh

Having souls, sentient beings, similar to hữu tình; possessing magical or spiritual powers.

hữu luân

2458乃比喻三有、二十五有等生死迷界猶如轉輪。亦即比喻眾生在生死迷界中,受因果業力牽引而輪迴不息;猶如車輪之旋轉,無有止盡。〔仁王般若經疏卷三、安樂集卷上〕 ; (有輪) Chỉ cho 3 hữu, 25 hữu là các cõi sinh tử mê vọng, trong đó chúng sinh bị nhân quả nghiệp lực kéo lôi nên luân hồi không dứt, giống như bánh xe quay tròn không ngưng nghỉ. [X. Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.3; An lạc tập Q.thượng].

Hữu lưu

有流; C: yŏuliú; J: uru; |Chân Đế (眞諦, s: paramārtha) dịch từ chữ āsrava trong tiếng Phạn, nghĩa là: có sự chảy thoát ra – bị phiền não, nhiễm ô, dính mắc thế tục, có định hướng mục đích. Về sau, Huyền Trang dịch là Hữu lậu (有漏).

hữu lưu

2436又作有暴流。為四流之一。有,謂因果不亡;流,謂流而不返。指色界與無色界之一切諸惑,但不包含見惑及無明惑;亦即指貪、慢等思惑。由此思惑,能使人流轉於色界與無色界,不能出離生死,故稱有流。〔增一阿含經卷二十三、俱舍論卷二十〕(參閱「四暴流」1831) ; (有流) Cũng gọi Hữu bạo lưu. Chỉ cho tất cả các hoặc trong cõi Sắc và cõi Vô sắc, nhưng không bao gồm Kiến hoặc và Vô minh hoặc. Một trong 4 lưu. Hữu là nhân quả không mất; Lưu là trôi đi không trở lại. Nghĩa là các hoặc này (Tư hoặc) làm cho con người sống chết, trôi lăn trong cõi Sắc và cõi Vô sắc không thoát ra được, cho nên gọi là Hữu lưu. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.23; luận Câu xá Q.20]. (xt. Tứ Bạo Lưu).

Hữu lưu thiện

有流善; C: yŏuliúshàn; J: uruzen; |Tính chất thiện có nhiễm bất tịnh. Hữu lậu thiện (有漏善).

Hữu lưu thiện 有流善

[ja] ウルゼン uruzen ||| Impure goodness. See youloushan 有漏善. 〔攝大乘論 T 1593.31.117c28〕 => Phần tinh tuý thanh tịnh. Xem Hữu lậu thiện (c: youloushan 有漏善).

Hữu lưu 有流

[ja] ウル uru ||| Having outflow–to be afflicted, defiled, worldly, goal-oriented. Paramārtha's 眞諦 translation of āsrava, later rendered by Xuanzang 玄奘 as 有漏. => Ngài Chân Đế (s: Paramārtha's 眞諦) dịch từ chữ āsrava trong tiếng Sanskrit, nghĩa là: có sự chảy thoát ra bị phiền não, nhiễm ô, dính mắc thế tục, có định hướng mục đích. Về sau, Huyền Trang dịch là Hữu lậu 有漏.

Hữu lượng

有量; C: yŏuliáng; J: uryō; |Nhận thức được; phân định được, như vô số hiện tượng trong thế gian được xác định bởi tri thức hiểu biết (s: parimita).

hữu lượng

Limited, finite; opposite of vô lượng measureless, boundless, infinite.

hữu lượng chư tướng

2448指有限量且能計算之諸種事相。廣義指迷界之諸法而言,狹義則指迷界之眾生。謂眾生在迷界中,心、身皆有限量而互異,故產生各各有別之諸種事相。蓋世間之一切事物,皆有限量,稱為有量;有量之事相,有相對的彼此之分,非為實體;而絕對平等,無彼此之限量的實體,則為無量。於諸經論中,常以「無量」一語讚歎諸佛之光明智慧。〔文殊問菩提經、大智度論卷八十二、讚阿彌陀佛偈〕 ; (有量諸相) Các sự tướng có hạn lượng và tính toán được. Theo nghĩa rộng, các tướng hữu lượng chỉ cho các pháp trong cõi mê, còn theo nghĩa hẹp thì chỉ cho chúng sinh trong cõi mê. Nghĩa là chúng sinh ở trong cõi mê, tâm, thân đều có hạn lượng và sai khác nhau, cho nên mới sinh ra các sự tướng bất đồng. Các sự tướng hữu lượng có chia ra cái này cái kia đối lập nhau, chẳng phải là thực thể. Còn thực thể tuyệt đối bình đẳng thì không có hạn lượng đây kia, nên là vô lượng. [X. kinh Văn thù vấn bồ đề; luận Đại trí độ Q.82; kệ tán Phật A di đà].

Hữu lượng 有量

[ja] ウリョウ uryō ||| To be conceptualized; to be delimited, as the myriad objects of the world are circumscribed by intellectual knowledge (parimita). 〔瑜伽論 T 1579.30.668c7〕 => Nhận thức được; phân định được, như vô số hiện tượng trong thế gian được định nghĩa bởi tri thức hiểu biết (s: parimita).

Hữu Lậu

(s: sāsava, p: sāsrava, 有漏): đối nghĩa với Vô Lậu (s: anāsrava, 無漏). Lậu (s: āsrava, 漏) nghĩa là chảy mất, rỉ rỏ ra, là tên gọi khác của phiền não (s: kleśa, p: kilesa, 煩惱). Con người do vì sai lầm, khổ quả vốn sanh ra từ phiền não, khiến cho họ cử trôi lăn mãi trong thế giới mê lầm, không bao giờ dừng nghỉ, khó có thể thoát ra biển sanh tử; nên goi là Hữu Lậu. Nếu đạt đến cảnh giới đoạn diệt phiền não, được gọi là Vô Lậu. Trong Tứ Thánh Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-arya-sacca, 四聖諦), Khổ Đế và Tập Đế thuộc về nhân và quả của mê lầm, là pháp Hữu Lậu; Diệt Đế và Đạo Đế là nhân và quả của giác ngộ, thuộc về pháp Vô Lậu. Các pháp Hữu Lậu cũng như Vô Lậu vốn ở trong nhân, quả tu hành, có vị trí vô cùng quan trọng. Có nhiều tên gọi khác về Hữu Lậu, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 1 có nêu lên một số như Thủ Uẩn (取蘊), Hữu Tránh (有諍), Khổ (苦), Tập (集), Thế Gian (世間), Kiến Xứ (見處), Tam Hữu (三有), v.v. Ngoài ra, còn có các danh xưng khác như Hữu Nhiễm (有染), Hữu Nhiễm Ô (有染污), Hữu Phú (有覆), Trần Cấu (塵垢), v.v. Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập Luận (另據大乘阿毘達磨雜集論, Taishō Vol. 31, No. 1606) quyển 3 nêu ra 6 loại Hữu Lậu, gồm: Lậu Tự Tánh (漏自性), Lậu Tướng Thuộc (漏相屬), Lậu Sở Phược (漏所縛), Lậu Sở Tùy (漏所隨), Lậu Tùy Thuận (漏隨順), Lậu Chủng Loại (漏種類). Như trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) có đoạn: “Tư duy Thất Giác Ý thời, Hữu Lậu tâm tận, tiện đắc giải thoát, hậu thành vô thượng chánh chân chi đạo (思惟七覺意時、有漏心盡、便得解脫、後成無上正眞之道, khi tư duy về Thất Giác Chi, tâm Hữu Lậu diệt tận, bèn được giải thoát, sau chứng được đạo vô thượng chánh chân).” Hay trong Du Già Sư Địa Luận Thích (瑜伽師地論釋, Taishō Vol. 30, No. 1580) lại có đoạn: “Khởi chư phiền não, phát Hữu Lậu nghiệp, luân hồi Ngũ Thú, thọ tam đại khổ (起諸煩惱、發有漏業、輪迴五趣、受三大苦, khởi các phiền não, sinh nghiệp Hữu Lậu, luân hồi Năm Đường, chịu ba khổ lớn).”

Hữu lậu

有漏; C: yŏulòu; J: uro; S: āsrava|Dịch sang tiếng Hán là »còn chảy ra«, nhưng đó là một thuật ngữ Phật học vay mượn mô phỏng theo Kì-na giáo (e: jainism), có nghĩa là sự hiện hữu của nghiệp tăng trưởng theo linh hồn (s: jīva). Trong Phật giáo, thuật ngữ nầy có thể được so sánh với ý niệm phiền não hoặc nhiễm ô, nên nó có nghĩa là »nhiễm ô«, »phiền não«, »bất tịnh«, »không hoàn thiện« v.v…; đồng nghĩa với Nhiễm (染) và Phiền não (煩惱). Sự nhiễm ô nầy liên đới trực tiếp với duyên của vô minh, khiến thức bị đánh lừa bởi ảo tướng của chủ thể và đối tượng, yêu và ghét. Tâm giải thoát thì vận hành không vướng nhiễm ô (vô lậu 無漏, s: anāsrava); do vậy, sự phân biệt giữa hữu lậu và vô lậu ương tự như sự khác biệt giữa phàm và thánh, hoặc giữa mê và ngộ; 2. Sự nhiễm ô kết hợp với trong sắc giới (hơn là kết hợp với Dục giới hay Vô sắc giới); Tam lậu (三漏).

hữu lậu

2452<一>梵語 sāsrava。為「無漏」之對稱。漏,梵語 āsrava,乃流失、漏泄之意;為煩惱之異名。人類由於煩惱所產生之過失、苦果,使人在迷妄的世界中流轉不停,難以脫離生死苦海,故稱為有漏;若達到斷滅煩惱之境界,則稱為無漏。在四聖諦中,苦諦、集諦屬於迷妄之果與因,為有漏法;滅諦、道諦則為覺悟之果與因,為無漏法。有漏、無漏之法,在修行之因、果當中,具有極重要之地位。 有漏之異稱有多種,據俱舍論卷一所舉,即取蘊、有諍、苦、集、世間、見處、三有等。此外,尚有有染、有染污、有覆、塵垢等異稱。另據大乘阿毘達磨雜集論卷三,舉出六種有漏,即:漏自性、漏相屬、漏所縛、漏所隨、漏隨順、漏種類。〔大毘婆沙論卷二十二、俱舍論卷二、順正理論卷一、卷四十九、俱舍論光記卷一、卷二、俱舍論寶疏卷一、卷二〕(參閱「六漏」1299、「有漏法」2453、「有漏無漏」2455) <二>為三漏之一,四漏之一。乃「欲漏」、「無明漏」之對稱。據俱舍論卷二十載,於色、無色二界之六十二種煩惱中,除十種癡煩惱(無明)外,其餘之五十二種煩惱,皆稱為有漏。〔大毘婆沙論卷四十七、卷四十八、大乘阿毘達磨雜集論卷七、俱舍論光記卷二十〕(參閱「三漏」646) ; Bhavāsrava (S), Bhavāsava (P), Sasrava (S), Desire for continuous existence, Có tập khí phiền não là hữu lậu Một trong Tam lậu. ; Àsràva (S). "Outflow, discharge"; unclean; impure; wordly; cankers, mental intoxicants. ; Có tập khí phiền não là hữu lậu. ; (有漏) I. Hữu Lậu. Phạm:Sàsrava. Đối lại: Vô lậu. Lậu, Phạm:Àsrava, nghĩa là thấm ra, rò rỉ, tên khác của phiền não. Phiền não sinh ra tội lỗi làm cho con người trôi lăn trong thế giới mê vọng không ngừng, khó có thể ra khỏi biển khổ sinh tử. Trong 4 Thánh đế thì Khổ đế, Tập đế thuộc về quả và nhân mê vọng, là pháp hữu lậu; Diệt đế, Đạo đế là quả và nhân giác ngộ, là pháp vô lậu. Pháp hữu lậu, vô lậu có vị trí rất quan trọng trong nhân và quả của sự tu hành. Cứ theo luận Câu xá quyển 1 thì Hữu lậu có nhiều tên gọi khác như: Thủ uẩn, Hữu tránh, Khổ, Tập, Thế gian, Kiến xứ, Tam hữu, Hữu nhiễm, Hữu nhiễm ô, Hữu phú, Trần cấu, v.v... Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 3 thì Hữu lậu có 6 loại: Lậu tự tính, Lậu tương thuộc, Lậu sở phược, Lậu sở tùy, Lậu tùy thuận và Lậu chủng loại. [X. luận Đại tì bà sa Q.22; luận Câu xá Q.2; luận Thuận chính lí Q.1, Q.49; Câu xá luận quang kí Q.1, Q.2; Câu xá luận bảo sớ Q.1, Q.2]. (xt. Lục Lậu, Hữu Lậu Pháp, Hữu Lậu Vô Lậu). II. Hữu Lậu. Đối lại: Dục lậu, Vô minh lậu. Chỉ cho 52 loại phiền não ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. [X. luận Đại tì bà sa Q.47, Q.48; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7; Câu xá luận quang kí Q.20]. (xt. Tam Lậu).

hữu lậu duyên

2456亦即以有漏法為緣取之對象。為「無漏緣」之對稱。據俱舍論卷十九載,在九十八隨眠中,滅、道二諦所斷之邪見、疑、無明等六惑屬於無漏緣,其餘之隨眠皆屬有漏緣之惑。亦即苦、集二諦下之惑及修惑屬於有漏緣,而滅諦下之四惑及道諦下之見取、戒禁取、貪、瞋、慢等五惑,因係重迷之惑,隨起於無漏緣之惑後,不能直接緣取無漏法,故皆屬於有漏緣。(參閱「無漏緣」5132) ; (有漏緣) Đối lại: Vô lậu duyên. Dùng pháp hữu lậu làm đối tượng để duyên theo. Cứ theo luận Câu xá quyển 19, trong 98 tùy miên thì 6 hoặc (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến) mà Đạo đế và Diệt đế đoạn trừ thuộc về Vô lậu duyên, các tùy miên còn lại đều là những hoặc thuộc về Hữu lậu duyên. Nghĩa là các Kiến hoặc và Tu hoặc của Khổ đế và Tập đế là thuộc về Hữu lậu duyên; còn 4 hoặc của Diệt đế và 5 hoặc (kiến thủ, giới cấm thủ, tham, sân, mạn) của Đạo đế, vì chúng là những phiền não mê lầm nhiều lớp, tùy theo các hoặc của Vô lậu duyên mà sinh khởi, chứ không thể trực tiếp duyên theo pháp vô lậu, nên đều thuộc về Hữu lậu duyên. (xt. Vô Lậu Duyên).

hữu lậu hành

2453<一>謂以有漏智(世俗智)行世俗之善惡等行為。亦即以有漏心所修之行法,稱為有漏行。如見道以前之修行,及修道位中之雜修靜慮之有漏心等均是。 <二>乃有為之異稱。有漏,指有漏法,亦即有為法;行,為造作之義。故此處之有漏行,係指造作之有為法;亦即指有為。 ; (有漏行) I. Hữu Lậu Hành. Đối lại: Vô lậu hành. Dùng trí hữu lậu(trí thế tục) mà thực hiện những hành vi thiện ác, v.v... của thế tục. Tức là những phương pháp tu hành được thực hiện bởi tâm hữu lậu, như sự tu hành của giai vị Kiến đạo trở xuống và tâm hữu lậu tu tập tĩnh lự trong giai vị Tu đạo. II. Hữu Lậu Hành. Tên khác của Hữu vi. Hữu lậu chỉ cho pháp hữu lậu, tức là pháp hữu vi; Hành nghĩa là tạo tác. Bởi thế, Hữu lậu hành ở đây là chỉ cho pháp hữu lậu hoặc hữu vi tạo tác.

hữu lậu nghiệp

2455為「無漏業」之對稱。指不離煩惱過非之諸善惡業。在黑白等四業中,以招欲界惡果之黑黑業、招色界善果之白白業及招欲界善果之黑白業等三業為有漏業;非黑非白業斷盡前三業,是為無漏業。〔俱舍論卷十六〕 ; (有漏業) Đối lại: Vô lậu nghiệp. Các nghiệp thiện, ác trong thế gian. Các nghiệp này đều do phiền não gây ra. Như trong 4 nghiệp hắc bạch thì 3 nghiệp: Hắc hắc nghiệp chiêu cảm ác quả trong cõi Dục, Bạch bạch nghiệp mang lại thiện quả trong cõi Sắc và Hắc bạch nghiệp mang lại thiện quả trong cõi Dục là các nghiệp hữu lậu, còn Phi hắc phi bạch nghiệp dứt hết 3 nghiệp nói trên, là nghiệp vô lậu. [X. luận Câu xá Q.16].

hữu lậu nhân

2452指招感三界果報之業因。如五逆、十惡、五戒、十善等,皆為有漏因。相當於四諦中之集諦。景德傳燈錄卷三菩提達磨章(大五一‧二一九上):「帝曰:『何以無功德?』師曰:『此但人天小果,有漏之因,如影隨形,雖有非實。』」(參閱「十善十惡」468、「五戒」1097、「五逆」1142、「四諦」1840) ; (有漏因) Nhân mang lại quả báo trong 3 cõi, tương đương với Khổ đế trong 4 đế, như các nhân ngũ nghịch, thập ác, ngũ giới, thập thiện… đều là nhân hữu lậu. Chương Bồ đề đạt ma trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51, 219 thượng) ghi: Vua hỏi: Vì sao không có công đức? Sư đáp: Đó chỉ là tiểu quả nhân thiên, nhân hữu lậu như bóng theo hình, tuy có nhưng chẳng phải thật . (xt. Thập Thiện Thập Ác, Ngũ Giới, Ngũ Nghịch, Tứ Đế).

hữu lậu pháp

2453為「無漏法」之對稱。指諸漏(煩惱)互相隨增(隨順增長)之法。亦即指四諦中苦、集二諦之法。漏,為漏泄之義,即指諸煩惱;此諸煩惱於苦、集二諦之相應法及其所緣之境中,互相隨順,互相增長,故稱苦、集二諦之法為有漏。至於緣滅、道二諦所生之諸漏,因其互不隨增,故滅、道二諦之法非有漏法。 據俱舍論光記卷一載,佛陀入滅後五百年中,炎羅縛蠋國有法勝論師,於所著之阿毘曇心論中,以「隨生」解釋有漏。其後,法救論師著作雜阿毘曇心論,以續補法勝之說。法救認為滅、道二諦雖亦能生諸漏,然此漏非有漏,故以「隨生」之「生」義為不當,而將之改為「隨增」,今隨增之說,即根據法救之說而來。隨增可分為二種:(一)相應隨增,即煩惱與其相應之心所互相隨順增長。(二)所緣隨增,即煩惱與其所緣之境互相隨順增長。 此外,據俱舍論卷一所舉,有漏之異稱有取蘊、有諍、苦、集、世間、見處、三有等多種,而有漏法則為世間三有中苦、集之因果的總稱。又同書卷二中,以十八界中之五根、五境、五識等十五界為有漏,其餘之意、法、意識三界,通於有漏與無漏。 關於有漏法之解說,諸部派有不同之看法,玆略述如下:(一)說一切有部以隨增為有漏之義,故認為苦、集二諦為有漏法。然自相續中的六識之煩惱,不與善及無覆無記之心俱起,此乃無隨增之義,故善及無覆無記之心不應為有漏法。(二)分別論者及大眾部之諸師以隨眠為不相應法,在所緣之境及相應法中不隨增,然以其相續現起之故,而認為善及無覆無記之心亦為有漏法。此外,諸師並認為,有部以五根等十五界為有漏,而佛身屬於十五界中,故佛身亦為有漏之說不當,而以佛永斷隨眠,其身即是無漏之說反駁之。(三)經部諸師認為自身中有有漏之種子,由此種子能生善及無覆無記之心,故此心即是有漏。(四)唯識大乘則破斥上述諸說,而以第七末那之我執為漏之體,凡與之俱轉者,皆稱為有漏法。亦即與六識相應之煩惱,雖有「漏」之義,然第七識為諸識之染淨依,恆常相續而不間斷,故以之為漏之體,而與之俱轉者,稱為有漏法。〔大毘婆沙論卷二十二、卷七十六、卷八十六、雜阿毘曇心論卷一、俱舍論卷十三、卷十九、順正理論卷一、卷四十九、成唯識論卷五、卷十、俱舍論光記卷二、卷十九、成唯識論述記卷五末、卷十末、法華經玄贊卷一〕(參閱「無漏法」5129) ; Asavatthaniyadhamma (P) Xem Tạp nhiễm. ; (有漏法) Đối lại: Vô lậu pháp. Chỉ cho các lậu (phiền não) tùy thuận tăng trưởng lẫn nhau. Tức là pháp Khổ đế và Tập đế trong Tứ đế. Các phiền não này đối với pháp tương ứng là Khổ đế, Tập đế và cảnh sở duyên của chúng tùy thuận tăng trưởng lẫn nhau, cho nên gọi pháp Khổ đế, Tập đế là Hữu lậu. Còn các lậu duyên theo Diệt đế và Đạo đế mà sinh khởi thì vì không tùy thuận tăng trưởng lẫn nhau, cho nên pháp Diệt đế, Đạo đế chẳng phải là pháp hữu lậu. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 1, thì sau khi đức Phật nhập diệt 500 năm, ở nước Viêm la phược chúc có luận sư Pháp thắng soạn luận A tì đàm tâm, đã dùng Tùy sinh để giải thích Hữu lậu. Về sau, luận sư Pháp cứu soạn luận Tạp a tì đàm tâm để bổ túc thêm cho thuyết của ngài Pháp thắng. Ngài Pháp cứu cho rằng Diệt đế và Đạo đế tuy cũng có thể sinh ra các lậu, nhưng lậu này chẳng phải hữu lậu, nên theo ngài thì nghĩa sinh trong Tùy sinh là không đúng, vì thế đổi Tùy sinh thành Tùy tăng . Thuyết Tùy tăng ngày nay chính là căn cứ vào thuyết của ngài Pháp cứu mà ra. Có thể chia Tùy tăng làm 2 loại: 1. Tương ứng tùy tăng: Tức là phiền não và tâm sở tương ứng với nó tùy thuận tăng trưởng lẫn nhau. 2. Sở duyên tùy tăng: Tức là phiền não và cảnh sở duyên của nó tùy thuận tăng trưởng lẫn nhau. Ngoài ra, theo luận Câu xá quyển 1 thì Hữu lậu có nhiều tên gọi khác nhau như: Thủ uẩn, Hữu tránh, Khổ, Tập, Thế gian, Kiến xứ, Tam hữu, v.v... Còn pháp hữu lậu thì là tên gọi chung cho nhân quả Khổ, Tập (Tập là nhân, Khổ là quả) trong 3 cõi thế gian. Cũng luận Câu xá quyển 2, cho rằng 15 giới(5 căn + 5 cảnh + 5 thức)trong 18 giới là hữu lậu, 3 giới còn lại(ý căn, pháp trần, ý thức) thì chung cho cả hữu lậu và vô lậu. Về sự giải thích pháp hữu lậu, các bộ phái có những quan điểm khác nhau như sau:1. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho Tùy tăng là nghĩa hữu lậu, nên thừa nhận Khổ đế, Tập đế là pháp hữu lậu. Nhưng trong sự tương tục, phiền não của 6 thức không cùng khởi với tâm thiện và vô phú vô kí, ở đây không có nghĩa Tùy tăng, cho nên tâm thiện và vô phú vô kí không phải là pháp hữu lậu. 2. Đại chúng bộ và các nhà phân biệt luận cho rằng Tùy miên là pháp bất tương ứng, không tùy tăng với cảnh sở duyên và pháp tương ứng, nhưng vì chúng tương tục hiện khởi nên thừa nhận tâm thiện và vô phú vô kí cũng là pháp hữu lậu. Ngoài ra, các vị Luận sư này đều nhận rằng thuyết của Hữu bộ cho 15 giới (5 căn, 5 cảnh, 5 thức) là hữu lậu, mà thân Phật cũng thuộc 15 giới nên thân Phật cũng là hữu lậu là không đúng và bác bỏ quan điểm này của Hữu bộ bằng thuyết Phật đã dứt hẳn Tùy miên nên thân Ngài là vô lậu . 3. Kinh lượng bộ cho rằng trong tự thân có chủng tử hữu lậu, do chủng tử này mà sinh ra tâm thiện và vô phú vô kí, cho nên tâm ấy là hữu lậu. 4. Duy thức Đại thừa thì bác bỏ các thuyết nói trên, mà cho rằng ngã chấp của thức Mạt na là thể của các lậu, bất cứ pháp nào cùng chuyển với nó thì đều gọi là pháp hữu lậu. Tức là phiền não tương ứng với 6 thức tuy có nghĩa là lậu , nhưng thức thứ 7 là chỗ nương dựa của các thức nhiễm tịnh, thường hằng tương tục mà không gián đoạn, là thể của các lậu , cho nên pháp nào cùng chuyển với nó thì gọi là pháp hữu lậu. [X. luận Đại tì bà sa Q.22, Q.76, Q.86; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Câu xá Q.13, Q.19; luận Thuận chính lí Q.1, Q.49; luận Thành duy thức Q.5, Q.10; Câu xá luận quang kí Q.2, Q.19; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1]. (xt. Vô Lậu Pháp).

hữu lậu quả

2453指由有漏因所招感之果報。如人間、天上乃至地獄等三界六道,皆為有漏之果報。相當於四諦中之苦諦。(參閱「四諦」1840) ; (有漏果) Quả báo do nhân hữu lậu mang lại, tương đương với Khổ đế trong Tứ đế. Ba cõi Sáu đường đều là quả báo hữu lậu.(xt. Tứ Đế).

hữu lậu thiền

2456又作有漏定、世間禪。為「無漏禪」之對稱。即有漏凡夫所修之禪定。亦即依欣上厭下有漏之六行觀而修之禪定。如四禪、四無色定、四無量心定等,皆為有漏禪。(參閱「有漏定」2453) ; (有漏禪) Đối lại: Vô lậu thiện. Cũng gọi: Hữu lậu thiện pháp. Thiện căn của phàm phu có được trước khi phát sinh trí vô lậu. Ngũ giới, Thập thiện và Thiện căn từ giai vị Kiến đạo trở xuống đều là Hữu lậu thiện. Nếu tu thiện pháp hữu lậu thì có thể mang lại quả báo hữu lậu trời, người…... Cứ theo luận Câu xá quyển 4, quyển 12, thì 4 cái thiện: Sinh đắc, Văn, Tư, Tu là Hữu lậu thiện. Sinh đắc thiện là cái thiện có đồng thời lúc mới sinh ra, còn 3 thiện Văn, Tư, Tu là nhờ nghe giáo pháp, suy nghĩ xem xét, thiền định quán hạnh mà được, 3 thiện này có năng lực sinh ra trí tuệ vô lậu. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần cuối]. (xt. Thiện).

Hữu lậu thiện

有漏善; C: yŏulòu shàn; J: urozen; |Tính thiện bất tịnh, tương đối, còn nhiễm ô bởi tâm thức có định hướng mục đích.

hữu lậu thiện

2454為「無漏善」之對稱。又作有漏善法。謂生起無漏智以前,凡夫所發之善根。如五戒、十善,及見道以前之善根皆是。若修有漏之善法者,能招感人、天等有漏之果報。據俱舍論卷四、卷十二載,生得、聞、思、修四善為有漏善。生得善,指與生俱來,自然而起之善。聞、思、修三善,即由聽聞教法、思惟審察、禪定觀行等三善,能生起無漏之智慧。〔成唯識論述記卷五末〕(參閱「善」4873) ; (有漏善) Cũng gọi Hữu lậu định, Thế gian thiền. Đối lại: Vô lậu thiền. Tứ thiền, Tứ vô sắc định, Tứ vô lượng tâm định, v.v... đều là Hữu lậu thiền. (xt. Hữu Lậu Định).

hữu lậu thiện (ác) pháp

Good (or evil) done in a mortal body is rewarded accordingly in the character of another mortal body.

Hữu lậu thiện 有漏善

[ja] ウロゼン urozen ||| Impure, relative, contaminated goodness that is not free from a goal-oriented awareness. => Bất tịnh, còn sự tương quan, tính thiện nhưng còn nhiễm ô, không tự tại khi hướng đến mục tiêu giải thoát.

hữu lậu thông

Abhijā ṛiddhi (S).

hữu lậu thế-tam giới

The world, or worlds of distress and illusion.

hữu lậu thức

2457為「無漏識」之對稱。唯識家以佛果之淨識為無漏識,而以因位至第十地之金剛無間道等為有漏識。然第六、第七識,於初地入見道時,可一分轉識得智,而住於妙觀察智及平等性智,至佛果時,則為全分得智,而成為無漏識;至於前五識及第八識,則係於初成佛果時方轉識得智,而為成事智,成為無漏識。故「妙觀、平等初地分得,大圓、成事唯佛果起」即成為唯識家之定說。〔成唯識論卷十〕 ; (有漏識) Đối lại: Vô lậu thức Chỉ cho thức của các hữu tình từ địa thứ 10 (Kim cương vô gián đạo) trở xuống. Cứ theo các nhà Duy thức thì chỉ có tịnh thức của Phật quả là vô lậu, còn tất cả thức của loài hữu tình đều hữu lậu. [X. luận Thành duy thức Q.10].

hữu lậu trí

2455梵語 sāsrava-jñāna。為「無漏智」之對稱。指煩惱未斷盡的世間智慧。又作俗智、世間智、世智、世俗智。此智慧雖觀緣一切有為、無為之法,然多以世俗之法為主,故又稱世俗智。又此智帶有有漏煩惱之過非,而無斷除一切迷理煩惱之力,一般多指凡夫外道之生得慧(與生俱來之慧),及聞、思、修三慧而言。〔俱舍論卷二十六、順正理論卷七十三、瑜伽師地論卷七十三〕 ; Sasrava-jāna (S). ; (有漏智) Phạm:Sàsrava-jĩàna. Đối lại: Vô lậu trí. Cũng gọi: Tục trí, Thế gian trí, Thế trí, Thế tục trí. Chỉ cho trí tuệ thế gian chưa dứt sạch phiền não. Trí tuệ này tuy quán duyên tất cả pháp hữu vi, vô vi, nhưng thường lấy pháp thế tục làm chính, nên cũng gọi là Thế tục trí. Trí này còn mang theo phiền não hữu lậu nên không có năng lực dứt trừ tất cả phiền não thuộc về mê lí. Thông thường, Hữu lậu trí là chỉ cho Sinh đắc tuệ (tuệ khi sinh ra đã có) và 3 tuệ Văn, Tư, Tu của phàm phu và ngoại đạo. [X. luận Câu xá Q.26; luận Thuận chính lí Q.73; luận Du già sư địa Q.73].

Hữu lậu tập đế

有漏集諦; C: yŏulòujídì; J: uroshūtai; |Sự thật về sự huân tập có nhiễm ô.

hữu lậu tịnh độ

2453指凡夫以有漏心修行,由此善業力所招感之淨土。此淨土不離煩惱之過非,故稱有漏;此淨土之相狀清淨,故稱淨土。唯識家以之為變化土之一種,即眾生以有漏之業因招感有漏心所變現之土;亦即佛為化益此土之眾生,而以成所作智變現與此類眾生相似並相應之土,以度化之,故此土就佛而言,稱為無漏相分;就眾生而言,則係因眾生有漏心之變作,故稱為有漏土。 唐代懷感即依上述唯識家之見解,解說西方極樂世界,並於所著之釋淨土群疑論卷一闡述阿彌陀佛之淨土,雖由佛之無漏心變現而為無漏,然凡夫之心為有漏,故不得直生此無漏之淨土;但凡夫可於佛所變現之無漏淨土上,由自己之有漏心變現相似於無漏之淨土,而往生其中。換言之,極樂淨土者,就佛之本土而論,為無漏之淨土;就凡夫之所變現及受用而論,則為有漏之淨土。 ; A purifying stage which, for certain types, precedes entry into Pure Land. ; (有漏淨土) Tịnh độ được chiêu cảm bởi sức thiện nghiệp do sự tu hành bằng tâm hữu lậu của phàm phu. Các nhà Duy thức cho cõi này là một trong những biến hóa độ, tức là cõi được biến hiện từ tâm hữu lậu của chúng sinh do nghiệp nhân hữu lậu chiêu cảm. Cũng tức là Phật dùng Thành sở tác trí biến hiện ra cõi nước tương ứng và giống với loại chúng sinh ở cõi này để hóa độ và làm lợi ích cho họ. Bởi thế đứng về phương diện Phật thì cõi này được gọi là Vô lậu tướng phần, còn đứng về phương diện chúng sinh, thì vì tâm hữu lậu của chúng sinh mà biến hiện ra, cho nên gọi là Hữu lậu độ. Cứ theo luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 1 của ngài Hoài cảm đời Đường, thì Tịnh độ do tâm vô lậu của Phật biến hiện ra là vô lậu, mà tâm của phàm phu là hữu lậu nên không được sinh về cõi này; nhưng phàm phu có thể do tâm hữu lậu của chính mình biến hiện ra Tịnh độ giống như Tịnh độ vô lậu để vãng sinh. Nói cách khác, Cực lạc tịnh độ nếu luận theo bản độ của Phật thì là Tịnh độ vô lậu, còn nói theo sự biến hiện và thụ dụng của phàm phu, thì là Tịnh độ hữu lậu.

hữu lậu tứ quá

2452有漏,即漏落三界受生死之義。據瑜伽師地論卷五十六載,有漏有四種過失,即:(一)不寂靜過失,謂眾生隨逐根塵,起諸妄想,顛倒散亂,而無禪定之功,不能斷惑證果。(二)內外變異過失,謂眾生由於內心亂想,加上外境遷流,心境相應,變異不停,以至於心隨境起,逐境生心,煩惱纏縛,不能解脫。(三)發起惡行過失,謂眾生由於煩惱妄惑,而造殺、盜、淫、妄等種種惡業,輪轉於生死中而無有出期。(四)攝受因過失,謂眾生由於造種種惡業之因,而攝取未來之苦果,如此輾轉輪迴,不能解脫。 ; (有漏四過) Bốn lỗi của hữu lậu. Hữu lậu nghĩa là rơi lọt vào đường sinh tử trong 3 cõi. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 56, thì Hữu lậu có 4 lỗi là: 1. Bất tịch tĩnh: Chúng sinh chạy theo căn trần, khởi các vọng tưởng, điên đảo tán loạn, không dụng công thiền định, cho nên không thể đoạn hoặc chứng quả. 2. Nội ngoại biến dị: Chúng sinh do trong tâm loạn tưởng, lại thêm cảnh ngoài đổi dời, tâm cảnh ứng nhau, thay đổi chẳng ngừng, tâm rong ruổi theo cảnh mà khởi, bị phiền não trói buộc, không thể giải thoát. 3. Phát khởi ác hạnh: Chúng sinh do phiền não vọng hoặc tạo các nghiệp ác như: Giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối… nên phải trôi lăn trong vòng sinh tử, khó có ngày ra khỏi. 4. Nhiếp thụ nhân: Chúng sinh do gây nhân ác nghiệp nên chuốc lấy quả khổ ở vị lai, cứ thế xoay vòng không thể giải thoát.

hữu lậu vô lậu

2455為有漏與無漏之並稱。漏,為漏泄之義,即指煩惱。有煩惱而輪迴生死,稱為有漏;無煩惱而能出離生死,稱為無漏。於各種煩惱之間,具有互相隨增(隨順增長)關係者,稱為有漏法;無互相隨增關係者,稱為無漏法。在四聖諦中,苦、集二諦為有漏法,滅、道二諦為無漏法。 關於有漏與無漏之分別,玆略述於下:世間凡夫有漏之身體,稱為有漏身;而無漏清淨之佛身,稱為無漏身。又修行有漏之六行觀,能招感人天三界之果報者,稱為有漏道、有漏路;而修行可證得涅槃道果之行法者,稱為無漏道、無漏路。以世俗之法為對象,所產生之智慧,稱為有漏智;而證知四諦之理,及見道以後的聖者之智慧,稱為無漏智。凡夫於見道之前所作之善,稱為有漏善;見道以後之聖者所作的無煩惱污穢之善,稱為無漏善。以有漏智所作之世俗行為,稱為有漏行;以無漏智所修之四諦觀行,稱為無漏行。以有漏道斷除煩惱,稱為有漏斷;以無漏道斷除煩惱,稱為無漏斷。有漏行能招感人、天等五道之有漏果,故稱為有漏因;無漏行可證得涅槃之無漏果,故稱為無漏因。又凡夫因修行六行觀,而住於四禪、四無色定、四無量心定等禪定中,稱為有漏定,或有漏禪;而聖者以無漏智所發得之禪定,稱為無漏定,或無漏禪,此無漏定生起於無漏九地(未至定、中間定、四根本定、下三無色定)中。 此外,唯識家將佛果之淨識稱為無漏識;將未成佛以前之識,稱為有漏識。然第六、第七識於初地入見道時,稍可轉識得智,故亦可成為無漏識。至於前五識與第八識,則係於初成佛果時,方能轉變為無漏識。又無漏之覺悟,其本來寂然者,稱無漏無為;因作用而起動者,稱無漏有為。〔大毘婆沙論卷二十二、卷一七三、俱舍論卷一、卷二、卷十三、順正理論卷一、卷四十九、成唯識論卷五、卷十、成唯識論述記卷五末、卷十末〕 ; (有漏無漏) Gọi chung hữu lậu và vô lậu, chỉ cho phiền não. Về sự phân biệt giữa hữu lậu và vô lậu có những điểm sau đây: Thân thể của phàm phu gọi là Hữu lậu thân, còn thân Phật thì thanh tịnh vô lậu, gọi là Vô lậu thân; tu 6 hành quán hữu lậu được quả báo trời, người trong 3 cõi, gọi là Hữu lậu đạo, Hữu lậu lộ, còn pháp tu chứng được đạo quả Niết bàn thì gọi là Vô lậu đạo, Vô lậu lộ. Nhờ vào pháp thế tục mà phát sinh trí tuệ, gọi là Hữu lậu trí, còn chứng biết lí 4 đế và trí tuệ của bậc Thánh từ giai vị Kiến đạo trở lên, gọi là Vô lậu trí. Phàm phu từ giai vị Kiến đạo trở xuống làm thiện, gọi là Hữu lậu thiện, còn điều thiện do bậc Thánh từ giai vị Kiến đạo trở lên đạt được, gọi là Vô lậu thiện. Hành vi thế tục do trí hữu lậu tạo tác, gọi là Hữu lậu hạnh, còn dùng trí vô lậu tu quán hạnh Tứ đế thì gọi là Vô lậu hạnh. Dùng đạo hữu lậu để đoạn trừ phiền não thì gọi là Hữu lậu đoạn; dùng đạo Vô lậu để đoạn trừ phiền não thì gọi là Vô lậu đoạn. Hạnh hữu lậu có thể chiêu cảm quả hữu lậu trời, người, v.v... trong 5 đường, cho nên gọi là Hữu lậu nhân; còn hạnh vô lậu thì có khả năng chứng quả vô lậu Niết bàn, cho nên gọi là Vô lậu nhân. Phàm phu nhờ tu 6 hạnh quán mà an trụ trong các định Tứ thiền, Tứ vô sắc định, Tứ vô lượng tâm định, v.v... gọi là Hữu lậu định, hoặc Hữu lậu thiền; còn thiền định do bậc Thánh dùng trí vô lậu mà phát được thì gọi là Vô lậu định, hay Vô lậu thiền. Định Vô lậu này sinh khởi ở trong 9 địa Vô lậu (Vị chí định, Trung gian định, Tứ căn bản định, Không vô biên xứ định, Thức vô biên xứ định và Vô sở hữu xứ định). Ngoài ra, theo tông Duy thức thì tịnh thức của quả Phật gọi là Vô lậu thức, còn thức khi chưa thành Phật thì gọi là Hữu lậu thức. Thức thứ 6, thứ 7 khi ở Sơ địa vào giai vị Kiến đạo đã chuyển một phần thức thành trí, thì cũng có thể đoạn được gọi là Vô lậu thức. Còn 5 thức trước và thức thứ 8 thì khi thành quả Phật mới có thể chuyển biến thành thức vô lậu. Sau hết, sự giác ngộ vô lậu xưa nay vốn vắng lặng, gọi là Vô lậu vô vi; nhưng khi do tác dụng mà khởi động thì gọi là Vô lậu hữu vi. [X. luận Đại tì bà sa Q.22, Q.173; luận Câu xá Q.1, Q.2, Q.12; luận Thuận chính lí Q.1, Q.49; luận Thành duy thức Q.5, Q.10; Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần cuối, Q.10 phần cuối].

hữu lậu đoạn

2456為「無漏斷」之對稱。即以有漏道斷除煩惱之意。亦即凡夫修有漏之六行觀,以斷除八地七十二品之修惑,稱為有漏斷。此為俱舍論之說。然大乘則認為,有漏道唯伏煩惱,而不能斷盡之。〔俱舍論卷二十二、卷二十三、卷二十四〕(參閱「有漏道」2456) ; (有漏斷) Đối lại: Vô lậu đoạn. Dùng đạo hữu lậu đoạn trừ phiền não. Tức là phàm phu tu 6 hành quán hữu lậu để đoạn trừ 72 phẩm Tu hoặc ở 8 cõi, đây là thuyết của luận Câu xá. Nhưng Đại thừa thì cho rằng đạo hữu lậu chỉ khắc phục phiền não chứ không thể dứt hết phiền não. [X. luận Câu xá Q.22, Q.23, Q.24]. (xt. Hữu Lậu Đạo).

hữu lậu đạo

2456梵語 sāsravamārga。又作世間道、世俗道、有漏路。為「無漏道」之對稱。有漏之修道,係能招感人天等三界果報之行法,故稱有漏道。即修觀欣上厭下之六行相,以斷下八地修惑之法。六行相,即粗行相、苦行相、障行相等無間道,與靜行相、妙行相、離行相等解脫道。即於無間道緣自地與下地之有漏法,作粗、苦、障等三行相中之任一行相;次於解脫道緣次上地之諸有漏法,作靜、妙、離等三行相中之任一行相,用以次第斷下八地七十二品之修惑。 此外,據俱舍論卷五所舉,有漏道之業具有異熟果、等流果、離繫果、士用果、增上果等五果。又文殊師利菩薩問菩提經論卷下載,六波羅蜜中之布施、持戒、忍辱、精進、禪定等五波羅蜜為有漏道,能成就世間果;般若波羅蜜為無漏道,能成就出世間果,因其已得出世間智故。〔大毘婆沙論卷六十四、卷一六二、成唯識論卷十、百法問答鈔卷七〕(參閱「六行觀」1263、「無漏道」5131) ; Sasrava-mārga (S). ; The way of mortal samsàra, in contrast with vô lậu đạo that of nirvàna. ; (有漏道) Phạm:Sàsravamàrga. Cũng gọi Thế gian đạo, Thế tục đạo, Hữu lậu lộ. Đối lại: Vô lậu đạo. Phương pháp tu hành có khả năng chiêu cảm quả báo người, trời trong 3 cõi. Tức là tu tập 6 hành quán: Ưa thích 3 hành tướng Tĩnh, Diệu, Li của cõi trên và chán lìa 3 hành tướng Thô, Khổ, Chướng của cõi dưới, để đoạn trừ 72 phẩm Tu hoặc của 8 cõi dưới. Ngoài ra, cứ theo luận Câu xá quyển 5 thì nghiệp Hữu lậu đạo có 5 quả là Dị thục quả, Đẳng lưu quả, Li hệ quả, Sĩ dụng quả và Tăng thượng quả. Còn theo Văn thù sư lợi bồ tát vấn bồ đề kinh luận quyển hạ, thì 5 Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định trong 6 Ba la mật là Hữu lậu đạo, có thể thành tựu quả thế gian, còn Bát nhã ba la mật là Vô lậu đạo, có công năng thành tựu quả xuất thế gian. [X. luận Đại tì bà sa Q.64, Q.162; luận Thành duy thức Q.10; Bách pháp vấn đáp sao Q.7]. (xt. Lục Hành Quán, Vô Lậu Đạo).

hữu lậu định

2453又作有漏禪、世間禪。世間乃有漏之別名。與有漏心相應之定,稱為有漏定。凡夫修有漏之六行觀,於下地觀粗、苦、障而厭離之,於上地觀靜、妙、離而欣求之,以此六行觀,能斷除下地之煩惱,而住於四禪、四無色等定中,此即為有漏定。於四禪等定中,依其性質可分為味定、淨定、無漏定等三種,其中,味定、淨定即屬有漏定。 此外,唯識家認為有漏定唯伏煩惱之現行,而不能斷種子。又法界次第卷上之下舉出,四禪、四無量心定、四空處定(四無色)皆為世間禪(大四六‧六七三上):「前來所明禪定,雖復深遠,而並是世間舊法。從初至後,厭下攀上,地地之中,都未有觀慧照了出世方便,故凡夫外道修得此十二門禪,不能發真悟道,是以生死無絕。」然四禪及下三無色定等,若聖者依之而發得無漏智時,則為無漏定。(參閱「三等至」630) ; (有漏定) Cũng gọi Hữu lậu thiền, Thế gian thiền. Định tương ứng với tâm hữu lậu. Hàng phàm phu tu 6 hành quán hữu lậu, đối với cõi dưới (cảnh giới thấp kém) quán 3 hành tướng thô, khổ, chướng để chán lìa, đối với cõi trên (cảnh giới vi diệu) quán 3 hành tướng tĩnh, diệu, li để mong cầu, 6 hành quán này có năng lực đoạn trừ phiền não ở cõi dưới và an trụ trong các định Tứ thiền, Tứ vô sắc, v.v... đây tức là Hữu lậu định. Về tính chất của định Tứ thiền có thể chia làm 3 loại: Vị định, Tịnh định và Vô lậu định, trong đó, Vị định và Tịnh định thuộc về Hữu lậu định. Ngoài ra, tông Duy thức cho rằng Hữu lậu định chỉ khắc phục được sự hiện hành của phiền não, chứ không có năng lực đoạn trừ chủng tử của phiền não. Còn Pháp giới thứ đệ quyển thượng phần sau thì cho rằng Tứ thiền, Tứ vô lượng tâm định, Tứ không xứ định (Tứ vô sắc) đều là thế gian thiền. Cũng sách đã dẫn (Đại 64, 673 thượng), ghi: Các thiền định đã nói từ trước, tuy cũng sâu xa nhưng đều là pháp cố hữu của thế gian. Từ đầu đến cuối, chán cõi dưới thích cõi trên, trong các cõi đều chưa có phương tiện xuất thế là quán tuệ để chiếu rọi, vì thế phàm phu ngoại đạo tu được 12 môn thiền này mà vẫn không thể phát chân ngộ đạo, nên sinh tử không dứt . Nhưng khi bậc Thánh vào định Tứ thiền và 3 Vô sắc định sau (Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ) mà phát được trí vô lậu thì những định ấy trở thành định Vô lậu. (xt. Tam Đẳng Chí).

Hữu lậu 有漏

[ja] ウロ uro ||| (1) (āsrava) Literally translated into Chinese as "having outflow," but is a term that is borrowed roughly into Buddhism from Jainism that referred to the presence of karmic accretions on the soul (jīva). In Buddhism it is comparable to the notion of defilement or pollution, and thus it means "contaminated," "defiled," or "impure," "stained," "flawed," etc., synonymous with 染 and 煩惱. This occurrence of this contamination is directly associated with the condition of ignorance which allows the consciousnesses to be tricked by the illusions of subject and object, like and dislike. The enlightened mind is able to operate without contamination (無漏, anāsrava), and thus, the distinction between "contaminated" and "uncontaminated" is analogous between that of mundane and sagely, or unenlightened and enlightened. (2) The contamination that is associated with the form realm (rather than the desire realm or formless realm); see 三漏. => 1. (s: āsrava) Dịch sang tiếng Hán là 'còn chảy ra', nhưng đó là một thuật ngữ Phật học vay mượn mô phỏng theo Kỳ-na giáo (Jainism), có nghĩa là sự hiện hữu của nghiệp tăng trưởng theo linh hồn (s: jīva). Trong Phật giáo, thuật ngữ nầy có thể được so sánh với ý niệm phiền não hoặc nhiễm ô, nên nó có nghĩa là 'nhiễm ô', 'phiền não', 'bất tịnh', 'không hoàn thiện' v.v...; Đồng nghĩa với Nhiễm 染và Phiền não 煩惱. Sự nhiễm ô nầy liên đới trực tiếp với duyên của vô minh khiến thức bị đánh lừa bởi ảo tướng của chủ thể và đối tượng, ưa và ghét. Tâm giải thoát thì vận hành không vướng nhiễm ô (vô lậu 無漏, s: anāsrava); do vậy, sự phân biệt giữa hữu lậu và vô lậu ương tự như sự khác biệt giữa phàm và thánh, hoặc giữa vô minh và giác ngộ. 2. Sự nhiễm ô kết hợp với trong sắc giới (hơn là kết hợp với Dục giới hay Vô sắc giới); xem Tam lậu 三漏.

hữu lậu, vô lậu

hữu lậu là còn phiền não, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì có sự lậu tiết, rỉ chảy, cảm xúc. Đó là nói những chúng sanh còn lưu chuyển trong ba cõi. Vô lậu là bậc đã dứt phiền não, Thánh nhân, thân tâm không bị níu kéo bởi ngoại duyên.

hữu môn

2435為天台宗所立四門之一。即觀諸法為有,以作為入道之法門。亦即觀因緣生滅諸法為有,破除十六知見等,並發起真無漏智,以了見「偏真之理」。於天台四教中之三藏教,如毘曇、俱舍等宗多側重有門。此外,法相宗之教義亦有此法門。〔大智度論卷三十一、四教義卷三、卷四、法華經玄義卷八下、卷九上〕(參閱「四門」1723) ; (有門) Quán các pháp là có để làm cửa vào đạo. Một trong 4 môn do tông Thiên thai lập ra. Tức quán xét các pháp nhân duyên sinh diệt là có, phá trừ 16 tri kiến… mà phát khởi trí vô lậu đích thực để thấu suốt lí thiên chân (chỉ thấy một bên). Các tông Tì đàm, Câu xá, v.v... thuộc Tam tạng giáo trong Thiên thai tứ giáo phần nhiều đặt nặng về Hữu môn. Ngoài ra, giáo nghĩa của tông Pháp tướng cũng có pháp môn này. [X. luận Đại trí độ Q.31; Tứ giáo nghĩa Q.3, Q.4; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8 phần dưới, Q.9 phần trên]. (xt. Tứ Môn).

hữu nghiêm

2460(1021~1101)宋代天台宗學僧。台州(浙江臨海)人,俗姓胡。號曇武。九歲時,依兄宗本出家,十四歲時受具足戒。其後,閱延壽禪師之心賦而有所悟。未久,往承天寺跟從神照本如修學天台之教觀。後居於赤城崇善寺數十年,大張法幢。紹聖年間辭退郡吏之請,而隱居靈鷲之東峰,結廬而居,自號樝庵。隱居二十餘年間,專修淨業,期安養往生,並作懷安養淨土詩八章,膾炙人口。建中靖國元年(1101)夏,定中見天神,又夢池中生大蓮華,並聞天樂鳴四方,乃作餞歸淨土詩,經七日而入寂,世壽八十一。著有玄義釋籤備檢、文句記箋難、止觀輔行助覽、或對各四卷、安樂行註、空品註、龍王法印經疏、阿彌陀佛禮文各一卷等。〔釋門正統卷六、佛祖統紀卷十三、卷二十八、釋氏稽古略卷四、淨土聖賢錄卷三〕 ; (有嚴) (1021-1101) Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Thiên thai, sống vào đời Tống, người Thai châu (huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang), họ Hồ, hiệu Đàm vũ. Năm lên 9, sư theo người anh tên là Tông bản xuất gia, năm 14 tuổi thọ giới Cụ túc. Về sau, nhân đọc Tâm kính lục của thiền sư Diên thọ mà có chỗ tỏ ngộ. Không bao lâu, sư đến chùa Thừa thiên theo ngài Thần chiếu Bản như học giáo quán Thiên thai. Sau đó, sư đến chùa Sùng thiện tại Xích thành hoằng dương giáo pháp trong mấy mươi năm. Khoảng năm Thiệu thánh, sư kết am tranh ẩn cư trên ngọn Đông phong núi Linh thứu, lấy hiệu là Tra am. Trong thời gian ẩn cư hơn 20 năm, sư chuyên tu tịnh nghiệp cầu vãng sinh an dưỡng. Mùa hạ niên hiệu Kiến trung tĩnh quốc năm đầu (1101), trong định sư thấy Thiên thần, lại nằm mộng thấy trong ao mọc đóa sen lớn, đồng thời nghe thiên nhạc trỗi khắp 4 phương, 7 ngày sau sư thị tịch, thọ 81 tuổi. Sư có các tác phẩm: Huyền nghĩa thích tiêm bị kiểm 4 quyển, Văn cú kí tiên nan 4 quyển, Chỉ quán phụ hành trợ lãm 4 quyển, An lạc hạnh chú 1 quyển, Không phẩm chú 1 quyển, Long vương pháp ấn kinh sớ 1 quyển, A di đà Phật lễ văn 1 quyển. [X. Thích môn chính thống Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.13, Q.28; Thích thị kê cổ lược Q.4; Tịnh độ thánh hiền lục Q.3]. HỮU NGHIỆM Do tu hành hoặc cầu nguyện mà có những hiện tượng linh nghiệm. Người hay hiển bày hiện tượng linh nghiệm ấy gọi là Hữu nghiệm giả.

hữu nghiệm

2461驗,證、效之義。由修法或祈禱等而產生之靈驗現象,稱為有驗。恆常顯示其靈驗者,即稱為有驗者。

hữu nghĩa vô nghĩa

2451因明用語。因明論式中,稱宗(命題)之後陳(述詞)為義。義為立(立論者)、敵(問難者)所共同認可者,稱為有義;不為立敵所共同認可者,稱為無義。(參閱「有體無體」2461) ; (有義無義) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, danh từ sau (Hậu trần) của Tông (mệnh đề) được gọi là Nghĩa. Nếu nghĩa được cả người lập luận và người vấn nạn (đối phương) cùng chấp nhận thì gọi là Hữu nghĩa; trái lại, nếu nghĩa không được cả đôi bên công nhận thì gọi là Vô nghĩa. (xt. Hữu Thể Vô Thể).

hữu ngục

2457乃比喻三有、二十五有等生死迷界猶如牢獄。亦即比喻眾生在生死迷界中,因煩惱、業、苦等輾轉不盡,而難以超出迷界;猶如牢獄之銅牆鐵壁,令人難以逃脫。〔梵網經菩薩戒本疏卷三〕 ; (有獄) Ví dụ 3 hữu (cõi), 25 hữu như lao ngục. Chúng sinh do phiền não mà tạo nghiệp, do tạo nghiệp mà phải chịu khổ sinh tử xoay vần trong 3 cõi, khó có thể ra khỏi, giống như tường đồng vách sắt của nhà ngục giam hãm con người, khó có thể trốn thoát. [X. Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ Q.3].

hữu ngữ

1616即指「道場疏」之文。禪林修法會時,開始與結束所讀誦之啟白文,一般皆先敘以「某州某寺某甲值某事諷某經」等,其次即為四六文之疏語,疏語之首必有「右伏以」三字,故疏語又稱右語。所謂右,即指前述之事緣、諷誦等;伏以,則於其下詳述其志趣、禱願等事。一般右語,皆以簡短駢儷之四六文撰成。法會時,由維那宣讀疏文,宣讀至右語時,住持須跪於香爐前,稱為右語跪爐。〔禪林象器箋卷十五文疏門〕 ; (右語) Văn sớ đạo tràng được đọc vào lúc mở đầu và kết thúc pháp hội trong Thiền lâm. Thông thường, trước hết nêu tỉnh, huyện, xã, chùa, người nào tên gì, cầu việc gì, tụng kinh gì, v.v..., kế đến là lời sớ bằng thể văn biền ngẫu. Vì lời mở đầu của sớ phải có 3 chữ Hữu phục dĩ , cho nên sớ ngữ cũng gọi là Hữu ngữ. Hữu là chỉ cho đoạn văn nói về các việc đã được trình bày ở trước (chữ Hán được viết theo hàng dọc, từ phải sang trái, cho nên Hữu ngữ (lời bên phải) tức chỉ cho đoạn văn trước); còn phục dĩ là nói về mục đích của sự cầu nguyện...… được trình bày ở phần sau. Khi có pháp hội, vị Duy na tuyên đọc văn sớ, lúc đọc đến Hữu ngữ thì vị Trụ trì phải quì xuống trước lư hương, gọi là Hữu ngữ quị lư. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.15].

hữu nhiễu

đi quanh một đối tượng nào đó theo chiều về bên phải. Theo phong tục thời cổ Ấn Độ, người ta đi vòng quanh theo chiều bên phải để tỏ lòng cung kính. Đi quanh Phật cả trăm ngàn vòng là muốn tỏ ý hết sức cung kính. Khi viếng các tháp Phật, người ta cũng đi quanh như vậy, gọi là nhiễu tháp. ; 1616梵語 pradakṣiṇa,巴利語 padakkhiṇa。音譯作鉢喇特崎拏。又作右旋、旋右、右遶。即以右向中央之尊像旋繞以表尊敬之意;即尊像在行者之右手邊。為表示禮敬之行道方式。印度自古即盛行此一禮法,以表示對佛、塔、尊宿等之敬意。無量壽經卷上(大一二‧二六七上):「稽首佛足,右遶三匝。」南海寄歸內法傳卷三旋右觀時章(大五四‧二二五中):「鉢喇字緣,乃有多義,此中意趣,事表旋行。特崎拏,即是其右,總明尊便之目,故時人名右手為特崎拏手,意是從其右邊,為尊為便,方合旋繞之儀。」 然右旋之古義甚多,依南山道宣之釋門歸敬儀卷下、義淨之南海寄歸內法傳卷三之說,則向尊者右手邊而旋,出於其左手邊,是為右繞;反之,即為左繞。另據道宣之關中創立戒壇圖經、道宣律師感通錄所載,則揭出「東迴左轉,南出而返」之說,是為左旋之意。道宣於不同之著作所提出之繞佛作法各異,頗令後世產生混淆之感。若依據四分律行事鈔資持記卷下三釋僧像篇所闡釋者,則知繞旋之時,本有繞佛與繞壇兩種之別,繞佛時本乎致敬,繞壇則便乎行事;致敬則必須右繞,以表示執侍之恭勤;行事則必須左繞,俾使尊卑上下合於倫序。禪林象器箋卷十禮則門:「忠按:禪林巡堂者,左遶而準遶壇儀;尋常行道者,右繞而準遶佛儀。」又慧琳音義卷二十一列出卍字形與白毫右旋之圖。準此可知,無論右繞、左繞,皆以尊者之左右為標準而繞行之。 右繞之時,或僅繞行一周,或三匝(稱右繞三匝)、七匝,乃至百匝、千匝不等,皆隨禮敬者之意。較常採用者為右繞三匝,據賢者五戒經載,旋塔三匝乃表示禮敬三尊,以期滅除三毒之意。釋氏要覽卷中亦謂,三匝表示三業,七匝表示七支。此外,有關右繞之功德,據提謂波利經所載,右旋繞佛可得下列五福:(一)於後世得端正美色之形相。(二)音聲清妙。(三)得以生天。(四)生於王家,其位尊貴。(五)終究能證涅槃。〔大智度論卷六十七、大唐西域記卷二、法苑珠林卷三十七、萬善同歸集卷二〕 ; (右繞) Phạm: Pradakwiịa. Pàli:Padakkhiịa. Dịch âm: Bát lạt đặc kì noa. Cũng gọi Hữu toàn, Toàn hữu. Đi vòng quanh, tay phải hướng về tôn tượng ở chính giữa để tỏ lòng tôn kính đối với Phật, tháp và các bậc tôn túc. Ở Ấn độ từ xưa đã thịnh hành phép lễ này. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 267 thượng), nói: Cúi đầu lễ chân Phật, đi hữu nhiễu ba vòng . Chương Toàn hữu quán thời trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 (Đại 54, 225 trung), nói: Chữ Bát lạt có nhiều nghĩa, 1 trong các nghĩa ấy là biểu thị sự đi vòng quanh. Còn Đặc kì noa tức là bên phải, biểu thị nghĩa tôn kính và thuận tiện, vì thế người thời bấy giờ gọi tay phải là tay Đặc kì noa; nghĩa là đi theo chiều bên phải của mình thì vừa tôn kính vừa thuận tiện, mới hợp với phép tắc Hữu nhiễu . Ngoài ra, cứ theo kinh Đề vị ba lợi thì đi hữu nhiễu quanh đức Phật được 5 điều phúc lợi, đó là: 1. Đời sau được hình tướng đoan chính, trang nghiêm. 2. Âm thanh trong trẻo, dịu dàng. 3. Sinh vào nhà vua, ở ngôi tôn quí. 4. Được sinh lên các cõi trời. 5. Cuối cùng chứng đạo quả Niết bàn. [X. luận Đại trí độ Q.67; Đại đường tây vực kí Q.2; Pháp uyển châu lâm Q.37; Vạn thiện đồng qui tập Q.2].

hữu nhiễu phật tháp công đức kinh

1616全一卷。唐代實叉難陀(652~710)譯。又作繞塔功德經。收於大正藏第十六冊。本經係佛應舍利弗之請,以偈宣說右繞佛塔之功德。初敘在家眾右繞塔可得夜叉鬼神等之親近供養、遠離八難、具妙色相、生於最尊之姓、儀容端正等功德。次敘出家眾右繞塔可得四念處、四正勤、四如意足、四諦、根、力、覺、道,永離貪瞋癡,證獨覺菩提等功德。〔開元釋教錄卷九、貞元新定釋教目錄卷十二〕 ; (右繞佛塔功德經) Cũng gọi Nhiễu tháp công đức kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thực xoa nan đà (652-710) dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung kinh này tường thuật về việc đức Phật theo lời thỉnh cầu của ngài Xá lợi phất, dùng kệ tuyên giảng về công đức hữu nhiễu tháp Phật. Trước hết, nói về chúng tại gia hữu nhiễu tháp Phật sẽ được các công đức như: Dạ xoa quỉ thần, v.v... gần gũi cúng dường, xa lìa 8 nạn, sắc tướng tốt đẹp, sinh trong dòng họ tôn quí, dung nhan xinh đẹp... Kế đến, nói về việc chúng xuất gia hữu nhiễu tháp Phật thì được các công đức: 4 niệm xứ, 4 chính cần, 4 như ý túc, 4 đế, căn, lực, giác, đạo, xa lìa tham sân si, chứng Độc giác bồ đề, v.v... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.12].

hữu nhân luận

2430即主張有實因而生實果之說,為一種偏見之論說。佛教以「無生」之本義,破此有因論。如楞伽經卷四(大一六‧五○七下):「夢幻及垂髮,野馬乾闥婆;世間種種事,無因而相現。折伏有因論,申暢無生義;申暢無生者,法流永不斷。」故於同經申暢無生之義,以破除有因論之說。 ; (有因論) Luận thuyết chủ trương có nhân thực sinh ra quả thực, là một loại luận thuyết thiên kiến. Phật giáo dùng nghĩa căn bản vô sinh để phá Hữu nhân luận này. Kinh Lăng già quyển 4 (Đại 16, 507 hạ), nói: Chiêm bao và ảo thuật. Sóng nắng Càn thát bà. Thế gian nhiều sự tướng. Không nhân mà vẫn hiện. Phá dẹp Hữu nhân luận. Giải rõ nghĩa vô sinh. Vô sinh được sáng tỏ. Dòng pháp mãi không dứt .

Hữu Nhất

有一; C: yŏuyī; J: uitsu; K: yuil, 1720-1799;|Thiền sư Triều Tiên. Sư nghiên cứu lịch sử và kinh điển từ lúc niên thiếu, xuất gia và bắt đầu tu thiền vào năm 18 tuổi. Sau đó sư dành thời gian tập trung nghiên cứu các kinh quan trọng đã trở thành thông dụng trong chương trình tu tập của tăng sĩ Triều Tiên như kinh Thủ Lăng Nghiêm, luận Đại thừa khởi tín, kinh Viên Giác. Sư trứ tác rất nhiều, trong số những tác phẩm quan trọng của sư là những luận giải về 4 bộ kinh luận nói trên.

Hữu Nhất 有一

[ja] ウイチ Uitsu ||| Yuil (1720-1799); Chosŏn Sŏn monk. He studied the histories and classics from a young age, entered the Buddhist order at the age of 18 to begin the practice of meditation. He subsequently spent time in concentrated study of the main Buddhist scriptures which had become customary for study in the Korean monks curriculum: The Śūraṃgama-sutra 首楞嚴經, the Awakening of Faith 大乘起信論, the Diamond Sutra 金剛經 and the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經. He wrote prolifically, and among some of his important works are commentaries to the above-mentioned four scriptures. => k: Yuil (1720-1799); Thiền sư Triều Tiên. Sư nghiên cứu lịch sử và kinh điển từ lúc niên thiếu, xuất gia và bắt đầu tu thiền vào năm 18 tuổi. Sau đó sư dành thời gian tập trung nghiên cứu các kinh quan trọng vốn thông dụng trong chương trình học của tăng sĩ Triều Tiên như Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Luận Đại thừa khởi tín, Kinh Viên Giác. Sư trứ tác rất nhiều, trong số những tác phẩm quan trọng của sư là những luận giải về bốn bộ kinh luận nói trên.

hữu ninh tự

2764西藏名 Dgon-lung byams-pa-gling。譯作郭隆慈氏洲。位於青海互助縣東約二十九公里紅崖子溝(湟水北岸支流)上流之喇嘛寺。建於明神宗萬曆三十二年(1604)。清雍正元年(1723),和碩特蒙古叛於青海,僧眾附逆,寺遂被毀,十年修復,賜名「佑寧寺」。數百年來,名僧輩出,著作如林,在近代黃教教史及西藏文學史上,均占重要地位,為西藏佛教格魯派湟中地區之著名古剎。 初第四世達賴喇嘛榮丹嘉穆錯(藏 Yon-tan rgya-mtsho,譯作功德海,1589~1616,蒙古人)遣棟約綽吉嘉穆錯(藏 Donyod chos-kyi rgya-mtsho,譯作不空法海)興建本寺,弘揚顯教。嗣後,章嘉(藏 Lcaṅ-skya)、土觀(藏 Tnu'u-bkvan)、嘉樣加巴多爾吉(藏 Jam-lbyans bzad-pa 1 ld-ije,譯作妙音笑金剛,1648~1721。即第一世嘉木樣,甘肅西南甘家灘人)又建密宗院(藏 Rgyud-pagrva-chan),遂成顯密雙備之寺。十八世紀中葉,松巴勘布(藏 Sum-pa mkhan-po)被選為法臺,住錫本寺,從事著述。而招集僧徒,繁衍本寺香火最力者為第一任住持大松巴(藏 Sun-pa)經師丹綽嘉穆錯(藏 Dam-chos rgya-mtsho,譯作聖教海、賢教海)。大通、互助、亹源一帶之寺院,大多為佑寧寺之分支,故本寺號稱湟北諸寺之母。 本寺以位於青海東北蒙古系土著(Monguor)區域內,故藏籍僧侶甚少,住持以下之僧徒,幾盡為土著,清代著名喇嘛如章嘉國師、土觀禪師,亦悉為土著。寺內通行語言即土語(蒙古語之一支)。僧眾之生活習慣與一般黃教喇嘛相同。寺中有五曩(家),即土觀曩、章嘉曩、松巴曩、卻藏曩及王曩等五呼圖克圖之僧舍。本寺現已毀。

hữu niệm

2432以具體之事物為修觀之對象,稱為有念。反之,體觀真如本性,稱為無念。在淨土門中,以凡夫之散亂心所修之散善,稱為有念;以將心集於一處所修之定善,稱為無念。蓋有念、無念二者,乃隨應眾生根機之不同而有差別,然若由有念進入無念時,則二者不二;如念佛往生,雖有念相,然若息慮凝心,入於念佛三昧之妙德時,則自然與無念相契合,此時有無為一,而達到「亦有念亦無念」之境界。(參閱「無念」5091) ; (有念) Đối lại: Vô niệm. Dùng sự vật cụ thể làm đối tượng để tu quán, gọi là Hữu niệm. Trong môn Tịnh độ, Tán thiện được gọi là Hữu niệm, còn Định thiện thì được gọi là Vô niệm. Hữu niệm hay Vô niệm tùy theo căn cơ của chúng sinh khác nhau mà có sự sai biệt. Nhưng khi từ Hữu niệm tiến vào Vô niệm thì Hữu niệm và Vô niệm không hai. Như niệm Phật vãng sinh, tuy có tướng niệm, nhưng khi lắng tâm dứt bặt vọng niệm mà vào được diệu đức của tam muội Niệm Phật, thì tự nhiên khế hợp với Vô niệm, lúc đó hữu vô là một, đạt được cảnh giới cũng hữu niệm cũng vô niệm . (xt. Vô Niệm).

hữu năng cú nghĩa

Sakti-padarthah (S) Hòa hợp Thật, Đức, Nghiệp cú nghĩa để quyết định nhân tạo quả.

hữu phi hữu

Sat-Asat (S). To be, not to be.

hữu pháp

2433<一>全稱有體法。為「無法」之對稱。指存在或實有之法。唯識家認為現在十八界之法有體性,故稱有體法;無為法亦含攝於有體法中。反之,過去、未來及龜毛免角等法無體性,故稱為無體法(無法)。北本大般涅槃經卷十(大一二‧四二二下):「本有今無,本無今有;三世有法,無有是處。」 <二>因明用語。因明論式中,將宗(命題)之主詞稱有法,述詞稱法,即宗之主詞含有述詞之法義。如立「聲為無常」之宗,「聲」即為宗之有法,「無常」為宗之法。因明入正理論疏卷上(大四四‧九八下):「初所陳,唯具一義,能持自體,義不殊勝,不得法名;後之所陳,具足兩義,能持復軌,義殊勝故,獨得法名。前之所陳,能有後法,復名有法。」 又就宗之主詞與述詞在各種不同之相對關係而言,有各種語意相對之異稱:(一)主詞為整個命題之主體,故稱為「體」;述詞則為能詮表、決定命題之意義者,故稱為「義」。(二)主詞為一命題之語意尚未確立前所須界定、區別而有待界定、區別之基本語詞,故稱為「所別」;述詞則為具有界定、區別全句命題語意之功能者,故稱為「能別」。如「聲為無常」之命題,「聲」於全句命題中,尚未賦予界定或特殊屬性之含義,而猶待界定、區別始具意義可言;一旦加上述詞之「無常」,則全句命題始具備語意上有所界定、區別之含義。(三)主詞為一命題中所先陳述之概念,故稱為「前陳」;述詞則為陳述於後之概念,故稱「後陳」。此前陳、後陳二名詞於因明中最常用來表示一命題之主詞、述詞兩項各別之概念。(四)主詞為一命題中所議論之對象,有待述詞為之顯示其特性、說明其類別,而並非其前另有一名詞待主詞去界定,故稱「自性」;述詞則必用來界定主詞之特性或表現其類別,故稱為「差別」。又於因明中,亦常連用主詞、述詞兩種以上之異稱者,如言「前陳自性」即是指主詞,言「後陳差別」即是指述詞。〔因明正理門論、因明入正理論〕 ; (有法) I. Hữu Pháp. Gọi đủ: Hữu thể pháp Đối lại: Vô pháp. Pháp tồn tại hoặc pháp có thực. Tông Duy thức cho rằng các pháp trong 18 giới hiện tại có thể tính, cho nên gọi là Hữu thể pháp; pháp vô vi cũng thuộc về Hữu thể pháp này. Trái lại, các pháp quá khứ, vị lai, lông rùa, sừng thỏ, v.v... không có thể tính, cho nên gọi là Vô thể pháp (Vô pháp). Kinh Đại bát niết bàn quyển 10 (Đại 12, 422 hạ), nói: Xưa có nay không, xưa không nay có, hữu pháp 3 đời, không có lí ấy . II. Hữu Pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho danh từ trước của Tông (mệnh đề) trong luận thức Nhân minh, còn danh từ sau của Tông thì gọi là Pháp. Hữu pháp là có thuộc tính mà Pháp là thuộc tính. Như nói âm thanh là Vô thường thì âm thanh (danh từ trước = hữu pháp) là một sự vật có cái thuộc tính vô thường, còn vô thường (danh từ sau = pháp) là cái thuộc tính ấy của âm thanh và của nhiều sự vật khác. Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển thượng (Đại 44, 98 hạ), nói: Danh từ trước (tiền trần) chỉ có một nghĩa, có tự thể cố định nên nghĩa không được rộng rãi, không được gọi là pháp . Còn danh từ sau (hậu trần) thì bao hàm cả 2 nghĩa (hữu pháp và pháp), vì nghĩa của nó rộng rãi như thế nên đặc biệt được gọi là pháp .

hữu pháp không

Svabhāva-śŪnyatā (S) Tự tánh không Các pháp chỉ do nhân duyên mà có, cho nên hiện có nhưng chẳng thiệt có.

hữu pháp sai biệt tướng vi quá

2434因明用語。又稱有法差別相違因(梵 dharmi-viśeṣa-viruddha)。因明三十三過中,因(理由)的四相違過之第四項。乃缺乏因三相中後二相所形成之過失。有法,指宗(命題)之前陳(主詞);差別,指宗前陳所含之意味;相違,相互矛盾、違反之意。於因明對論中,凡狡黠之論法,於宗之前陳隱含二種意許(存於內心而不表示於言語中之想法),立者(立論者)成立其一,而希望敵者(問難者)不成立;今立者所陳述之因(理由),於宜發生關係之同品不發生關係,反而關係到不應發生關係之異品,如是則缺乏因三相中之後二相,致令敵者所立之因為正確無過之因,而對立者自己反形成不利之局勢。〔因明入正理論、因明入正理論疏卷中末、因明入正理論疏瑞源記卷四、卷七〕(參閱「四相違」1734、「因明」2276) ; (有法差別相違過) Cũng gọi Hữu pháp sai biệt tương vi Nhân (Phạm: Dharmi-vizewa-viruddha). Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi do Nhân trái với ý nghĩa hàm súc trong Hữu pháp(danh từ trước), tức là lỗi thiếu 2 điều kiện (tướng) sau trong 3 điều kiện của Nhân. Đây là lỗi thứ 4 trong 4 lỗi tương vi của Nhân (lí do) trong 33 lỗi Nhân minh. Hữu pháp chỉ cho tiền trần (danh từ trước– chủ từ) của Tông (mệnh đề); sai biệt chỉ cho ý nghĩa hàm súc trong danh từ trước; tương vi tức là trái ngược nhau, mâu thuẫn. Khi lập luận thức Nhân minh, người lập luận khôn ngoan, bao giờ cũng có 2 ẩn ý trong danh từ trước của Tông, chỉ thành lập một, còn một để phòng hờ và hi vọng đối phương sẽ không thành lập ẩn ý ấy. Nhưng Nhân (lí do) trong mệnh đề của người lập luận không có quan hệ với đồng phẩm, trái lại, có quan hệ với dị phẩm, nên bị đối phương dùng Nhân chính xác đánh đổ. Như luận thức sau đây: Tông: Có một đấng thường còn. Nhân: Vì không có hình tướng. Dụ: Như hư không. Ý của người lập luận là muốn xác lập một đấng Tạo hóa thường hằng sinh ra muôn vật, nhưng có thể bị phản bác bằng một luận thức chính xác của đối phương: Tông: Đấng ấy của ông là thường còn, nhưng không tạo ra được vật gì cả. Nhân: Vì đấng ấy không có hình tướng. Dụ: Như hư không. Trong trường hợp này, người lập luận đã phạm lỗi trái ngược với ý nghĩa hàm súc mà mình chủ trương trong danh từ trước, tức là Hữu pháp sai biệt tương vi . [X. Nhân minh nhập chính lí luận; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung phần cuối; Nhân minh nhập chính lí luận sớ thụy nguyên kí Q.4, Q.7]. (xt. Tứ Tương Vi, Nhân Minh, Đông Phương Luận Lí Học).

hữu pháp tự tướng tương vi quá

2433因明用語。又稱有法自相相違因(梵 dharmi-svarūpa-viruddha)。因明三十三過中,因(理由)的四相違過之第三項。有法,指宗(命題)之前陳(主詞);自相,指宗前陳所陳述之事件;相違,互相矛盾、違反之意。於因明對論中,立者(立論者)所設之因與自己所立的宗有法所陳述者相衝突,不能使前陳所陳述之因成立,反而成為打消其成立之理由,敵者(問難者)遂用其因成立反對之宗,此稱為有法自相相違過。亦即以立者所設之因望其前陳時,缺乏因三相中後二相之過失。〔因明入正理論、因明入正理論疏卷中末、因明入正理論疏瑞源記卷四、卷七〕(參閱「四相違」1734、「因明」2276) ; (有法自相相違過) Cũng gọi Hữu pháp tự tướng tương vi Nhân (Phạm: Dharmi-svarùpa-viruddha). Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi do Nhân trái với danh từ trước, là lỗi thứ 3 trong 4 lỗi tương vi của Nhân(lí do) trong 33 lỗi Nhân minh. Hữu pháp chỉ cho danh từ trước (chủ từ) của Tông (mệnh đề); tự tướng chỉ cho sự kiện được trình bày trong phần danh từ trước; tương vi nghĩa là trái ngược nhau, là mâu thuẫn với nhau. Trong pháp Nhân minh, khi 2 bên biện luận, Nhân do người lập luận nêu ra trái với Hữu pháp của Tông do chính mình thành lập, khiến cho Nhân được trình bày ở phần danh từ trước không đứng vững và cái lí do được nêu ra cũng tiêu tan, giúp cho đối phương cơ hội dùng ngay Nhân ấy để phản bác. Đó là lỗi Hữu pháp tự tướng tương vi. Tức là người lập luận đã phạm lỗi thiếu 2 điều kiện (tướng) sau trong 3 điều kiện của Nhân. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung phần cuối; Nhân minh nhập chính lí thụy nguyên kí Q.4, Q.7]. (xt. Tứ Tương Vi, Nhân Minh).

Hữu pháp vô ngã tông

有法無我宗; C: yŏufă wúwǒ zōng; J: uhō muga shū; |Giáo lí của Nhất thiết hữu bộ cho rằng các pháp là có thật nhưng ngã thì không.

Hữu pháp vô ngã tông 有法無我宗

[ja] ウホウムガシュウ uhō muga shū ||| The Sarvāstivādin teaching that elements are real but the self is not real. => Giáo lý của Nhất thiết hữu bộ cho rằng các pháp là có thật nhưng ngã thì không.

hữu pháp ý hứa

2434因明用語。於因明論式中,立者(立論者)於宗(命題)之主詞(有法)隱含別種意見,稱為有法意許。如四相違過中之有法自相相違因與有法差別相違因,即係敵者(問難者)看破立者有法意許,而以立者自身之因(理由)、喻(譬喻)來反破立者之情況。(參閱「有法自相相違過」2434、「有法差別相違過」2434) ; (有法意許) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, khi người lập luận có chủ ý riêng ẩn chứa trong phần Hữu pháp (danh từ trước) của Tông, gọi là Hữu pháp ý hứa. Cũng như trường hợp các lỗi Hữu pháp tự tướng tương vi nhân và Hữu pháp sai biệt tương vi nhân, ở đây đối phương cũng đã khám phá ra Hữu pháp ý hứa(ẩn ý) của người lập luận, rồi dùng ngay Nhân(lí do), Dụ(ví dụ) của chính người lập luận để bác bỏ chủ trương của người lập luận. (xt. Hữu Pháp Tự Tướng Tương Vi Quá, Hữu Pháp Sai Biệt Tương Vi Quá).

Hữu Phù

(右符): phần nữa bên phải của thẻ ấn phù, thường được dùng để điều động quân đội hay bổ nhiệm hoặc bãi miễn chức vụ Trưởng Quan của châu quận thời xưa. Tả Phù (左符) và Hữu Phù hợp lại được gọi là bằng tín (憑信). Loại này thường được làm bằng tre, gỗ, đồng, v.v. Loại Hữu Phù có hình con cá có tên là Hữu Ngư (右魚). Như trong Đại Tông Triều Tặng Tư Không Đại Biện Chánh Quảng Trí Tam Tạng Hòa Thượng Biểu Chế Tập (代宗朝贈司空大辨正廣智三藏和上表制集, Taishō Vol. 52, No. 2120) quyển 4 có câu: “Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không phụng sắc như Hữu Phù đáo phụng hành (沙門大廣智不空奉敕如右符到奉行, Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không [705-774] vâng sắc chỉ như Hữu Phù đến vâng làm).” ; (右符): phần nữa bên phải của thẻ ấn phù, thường được dùng để điều động quân đội hay bổ nhiệm hoặc bãi miễn chức vụ Trưởng Quan của châu quận thời xưa. Tả Phù (左符) và Hữu Phù hợp lại được gọi là bằng tín (憑信). Loại này thường được làm bằng tre, gỗ, đồng, v.v. Loại Hữu Phù có hình con cá có tên là Hữu Ngư (右魚). Như trong Đại Tông Triều Tặng Tư Không Đại Biện Chánh Quảng Trí Tam Tạng Hòa Thượng Biểu Chế Tập (代宗朝贈司空大辨正廣智三藏和上表制集, Taishō Vol. 52, No. 2120) quyển 4 có câu: “Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không phụng sắc như Hữu Phù đáo phụng hành (沙門大廣智不空奉敕如右符到奉行, Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không [705-774] vâng sắc chỉ như Hữu Phù đến vâng làm).”

Hữu phú

有覆; C: yŏufù; J: ufuku; |Sự ngăn ngại, chướng ngại, sự cản trở; đặc biệt là sự cản trở tri giác thanh tịnh và chân chính.

Hữu phú vô kí

有覆無記; C: yŏufù wújì; J: ufuku muki; |Một trong các loại Vô kí (無記) gây chướng ngại cho sự giác ngộ, cùng với Vô phú vô kí (無覆無記). Là điều mặc dù không dứt khoát tốt hay xấu, nhưng có khía cạnh nhiễm ô làm ngăn ngại cho nhận thức trong sáng về thực tại, chẳng hạn như bốn biểu hiện quan niệm về ngã (Tứ kiến 四見) khi liên kết với mạt-na thức (s: nivṛta-avyākṛta, t: bsgribs la luṅ du ma bstan pa).

hữu phú vô kí

2460梵語 nivṛtāvyākṛta。又作有覆心、有覆。為無記之一種。其性染污,覆障聖道,又能蔽心,使心不淨,故稱有覆;然因其勢用弱,不能引生異熟果,故稱為有覆無記。至於不善等法,雖亦能障蔽聖道,然以其勢用強,可招感異熟果,故不稱為有覆無記。〔大毘婆沙論卷十二、卷五十一、卷一六一、成唯識論卷三、卷五、俱舍論卷四、卷十三、卷十九、大乘法苑義林章卷五本〕(參閱「無記」5107) ; (有覆無記) Phạm:Nivftàvyàkfta. Cũng gọi Hữu phú tâm, Hữu phú (che đậy).Một loại tâm nhiễm ô làm trở ngại Thánh đạo và có khả năng che lấp chân tính, cho nên gọi là Hữu phú. Nhưng vì thế lực của nó yếu kém, không thể sinh ra quả Dị thục, cho nên gọi là Hữu phú vô kí. [X. luận Đại tì bà sa Q.12, Q.51, Q.161; luận Thành duy thức Q.3, Q.5; luận Câu xá Q.4, Q.13, Q.19; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5 phần đầu]. (xt. Vô Kí).

Hữu phú vô ký 有覆無記

[ja] ウフクムキ ufuku muki ||| Impedimentary moral neutrality. One of the subdivisions of the class of moral neutrality 無記 among the hindrances 障 to enlightenment, and the complement of non-impedimentary moral neutrality 無覆無記. Something that although not determinable as good or evil, has the contaminated aspect of impeding pure perception of reality, for example, the four manifestations of the view of self 四見 that are associated with the manas consciousness 末那識. (Skt. nivṛta-avyākṛta, Tib. bsgribs la luṅ du ma bstan pa) 〔二障義HPC 1.790c〕 => Một trong các loại Vô ký 無記 gây chướng ngại cho sự giác ngộ, cùng với Vô phú vô ký 無覆無記. Là điều mặc dù không dứt khoát tốt hay xấu, nhưng có khía cạnh nhiễm ô làm ngăn ngại cho nhận thức trong sáng về thực tại, chẳng hạn như bốn biểu hiện quan niệm về ngã (Tứ kiến四見) khi liên kết với mạt-na thức (s: nivṛta-avyākṛta, t: bsgribs la luṅ du ma bstan pa).

Hữu phú 有覆

[ja] ウフク ufuku ||| An obstruction, obstacle, hindrance, esp. to pure and correct awareness. => Sự ngăn ngại, chướng ngại, sự cản trở; đặc biệt cho tri giác thanh tịnh và chân chính.

Hữu phần

有分; C: yŏufēn; J: ubun; |1. Có tướng trạng phân biệt, có sắc thân (s: sāvayava); 2. Tất cả, toàn thể (s: avayavin); 3. Cũng như là… (s: tanmayatā); 4. Sự phân biệt cõi giới mình đang hiện hữu – như là tam giới, lục thú.v.v… Mắc xích của chuỗi hiện hữu, là 3 dạng huân tập của tàng thức trong Nhiếp Đại thừa luận (攝大乘論, s: mahāyāna-saṃgrāha).

hữu phần

Bhāvanga (S), Life continuum Xem Đồng phận.

hữu phần thiền

2428有分,巴利語 bhavaṅgajjhāna。即無意識狀態下之禪定。與「無心定」同義。色界之無想定與無色界之滅盡定均屬之。(參閱「無心三昧」5075) ; (有分禪) Đồng nghĩa: Vô tâm định. Vô tưởng định ở cõi Sắc và Diệt tận định ở cõi Vô sắc. Tức là thiền định trong trạng thái vô ý thức. (xt. Vô Tâm Tam Muội).

hữu phần thức

2428為上座部所立九心輪之一。有,意即有情眾生之迷妄生存,即指涵蓋欲界、色界、無色界一切眾生之所有迷妄生存,或轉而直接指欲界、色界、無色界等三界;分,為因之義。有分識,即指成為三界生死的根本原因之識;此識周遍三界,相續不斷而恆常存在,故為三界眾生生死不已之根本因。早在部派佛教時代,上座部與分別論者等,皆稱此識為有分識,至大乘思想興起後,唯識宗以「阿賴耶識」為宇宙萬法之根本原因,遂根據上述上座部之說,而以有分識為阿賴耶識之異稱。〔梁譯攝大乘論釋卷二、成唯識論卷三、成唯識論述記卷四本〕 ; (有分識) Hữu chỉ cho sự sinh tồn của tất cả chúng sinh mê vọng trong 3 cõi(Dục, Sắc, Vô sắc); phần nghĩa là nguyên nhân. Hữu phần thức chỉ cho thức làm nguyên nhân căn bản của sự sinh tử luân hồi trong 3 cõi. Là một trong 9 tâm luân do Thượng tọa bộ lập ra. Thức này trùm khắp 3 cõi, tương tục không dứt và tồn tại thường hằng. Vào thời kì đầu của Phật giáo bộ phái, Thượng tọa bộ và các nhà phân biệt luận, đều gọi thức này là Hữu phần thức. Sau khi tư tưởng Đại thừa hưng khởi, tông Duy thức cho rằng thức A lại da là nguyên nhân căn bản sinh ra muôn pháp trong vũ trụ, rồi căn cứ vào thuyết của Thượng tọa bộ mà cho rằng Hữu phần thức là tên khác của thức A lại da. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (bản dịch đời Lương); luận Thành duy thức Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.4 phần đầu].

hữu phần vô mãn nhân

2428指菩薩修行階位中十信、十住、十行、十迴向、十地等五十位之人。因住此位者始覺智尚未圓滿,僅得分覺而非滿覺,故稱為有分無滿人。〔釋摩訶衍論卷四〕 ; (有分無滿人) Từ ngữ chỉ chung hàng Bồ tát Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa. Vì Bồ tát ở các giai vị này mới chỉ được Phần giác chứ chưa viên mãn trí thủy giác. [X. luận Thích ma ha diễn Q.4].

Hữu phần 有分

[ja] ウブン ubun ||| (1) 'Has discriminated aspects; has a body.' (sāvayava) (2) All, the whole (avayavin). (3) The same as that (tanmayatā). (4) The distinction of the realm of one's current existence--i.e. the three realms, six destinies, etc. The members of the chain of being, which are three kinds of permeation of the store consciousness in the Mahāyāna-saṃgraha.〔攝大乘論T 1595.31.〕 => 1. Có tướng trạng phân biệt, có sắc thân (s: sāvayava). 2. Tất cả, toàn thể (s: avayavin). 3. Đồng nghĩa với (s: tanmayatā). 4. Sự phân biệt cõi giới mình đang hiện hữu –như là tam giới, lục thú. v.v... Mắc xích của chuỗi hiện hữu, là 3 dạng huân tập của tàng thức trong Nhiếp Đại thừa luận ( 攝大乘論s: Mahāyāna-saṃgrāha).

hữu phật vô phật tính tướng thường trụ

2431意為不論佛陀出現世間與否,諸法之性相常住,無有變化、增減等。北本大般涅槃經卷二十一(大一二‧四九二上):「爾時,世尊告光明遍照高貴德王菩薩摩訶薩言:『涅槃之體,非本無今有。若涅槃體本無今有者,則非無漏常住之法。有佛無佛,性相常住。以諸眾生煩惱覆故,不見涅槃,便謂為無。菩薩摩訶薩以戒、定、慧勤修其心,斷煩惱已,便得見之。當知涅槃是常住法,非本無今有,是故為常。』」 另據大智度論卷六十五載,世間諸法之性,即諸法之實相;而諸法之實相,即指般若波羅蜜。若以常、無常等論探求諸法之實相,則為錯謬,然若入於法性之中探求之,則可得實相之理,由此可知,無論有佛無佛,諸法之性相常住而不失。〔大般若經卷五四七現世間品、大品般若經卷十二無作品、卷二十五具足品、小品般若經卷五相無相品、大智度論卷九十一、法華經文句卷九下〕 ; (有佛無佛性相常住) Bất luận là có Phật xuất hiện nơi thế gian hay không thì tính tướng của các pháp vẫn thường trụ, không thay đổi, không thêm bớt. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 21 (Đại 12, 492 thượng), nói: Bấy giờ, Phật bảo Đại bồ tát Quang minh biến chiếu cao quí đức vương rằng: Thể của Niết bàn chẳng phải xưa không mà nay có. Nếu thể của Niết bàn xưa không mà nay có thì chẳng phải là pháp vô lậu thường trụ. Cho dù có Phật hay không, tính tướng vẫn thường trụ; chỉ vì chúng sinh bị phiền não che lấp, không thấy được Niết bàn, nên cho là không. Bậc Đại bồ tát tinh tiến tu hành giới, định, tuệ, dứt sạch phiền não, chứng được Niết bàn . Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 65, cho rằng tính của các pháp thế gian chính là thực tướng của các pháp, mà thực tướng của các pháp tức là Bát nhã ba la mật. Nếu dựa vào Thường luận, Vô thường luận… để tìm cầu thực tướng các pháp thì đều sai lầm. Nhưng nếu thể nhập vào pháp tính mà tìm cầu thì sẽ đạt được lí thực tướng. Do đó mà biết là bất luận có Phật hay không Phật, tính tướng của các pháp vẫn thường trụ không mất. [X. phẩm Hiện thế gian trong kinh Đại bát nhã Q.547; phẩm Vô tác trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.12; phẩm Cụ túc trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.25; phẩm Tướng vô tướng trong kinh Tiểu phẩm bát nhã Q.5; luận Đại trí độ Q.41; Pháp hoa kinh văn cú Q.9 phần dưới].

hữu quyền

2460(?~1180)宋代臨濟宗楊岐派僧。臨安府昌化(位於浙江)人,俗姓祁。號伊菴(庵),世稱伊菴有權。十四歲出家,入靈隱之佛智端裕門下受業。其後,嗣道場寺無菴法全之法。曾住常州華藏寺(位於江蘇)。淳熙七年示寂。〔五燈會元卷二十、嘉泰普燈錄卷二十一、大明高僧傳卷七〕

hữu quý

2451即有慚愧心之意。亦即對自己之所做所為,產生反省、慚愧之心。遺教經(大一二‧一一一一中):「有愧之人,則有善法。」如此方能不斷的糾正自己之言行,以求新、求進步。 ; (有愧) Có lòng hổ thẹn đối với những việc làm sai trái của mình. Kinh Di giáo (Đại 12, 1111 trung), nói: Người biết hổ thẹn (hữu quí) thì có pháp lành .

hữu quýnh

2441(1824~1889)朝鮮禪僧。湖南玉果縣(全羅南道寶城郡)人,俗姓李。初名奉聞。號雪竇。自幼聰慧,嫻習儒典。十九歲,於長城府(全羅南道)白巖山白羊寺之正觀快逸門下得度。未久,在曹溪山之枕溟翰醒門下受具足戒。歷參諸長老宿德,後承嗣白巖道圓之法。其後,化導徒眾十餘年。李太王七年(1870),移住母岳山佛岬寺。二十六年,於楊州(京畿道)天磨山之奉印寺舉行禪門講會。同年八月,於龜巖寺小林窟示寂。世壽六十六,法臘四十六。為朝鮮近代佛門三傑之一。著有禪源溯流、楷正錄等。〔朝鮮佛教通史卷上、靈龜山雪竇大師行狀、東師列傳卷五〕 ; (有炯) (1824-1889) Vị Thiền tăng Triều tiên, người huyện Ngọc quả, Hồ nam, họ Lí, tên Phụng văn, hiệu Tuyết đậu. Sư thông minh từ thủa nhỏ, giỏi Nho học. Năm 19 tuổi, sư xuất gia làm đệ tử ngài Chính quán Khoái dật chùa Bạch dương, núi Bạch nham, phủ Trường thành, tỉnh Toàn la nam. Không bao lâu, sư y vào ngài Chẩm minh Hàn tỉnh ở núi Tào khê thụ giới Cụ túc, rồi lần lượt tham vấn các bậc Trưởng lão, Tôn túc, cuối cùng nối pháp của ngài Bạch nham Đạo viên. Về sau, sư giáo hóa đồ chúng hơn 10 năm. Năm Lí thái vương thứ 7 (1870), sư dời đến ở chùa Phật giáp núi Mẫu nhạc. Năm Lí thái vương 26 (1889), sư mở Thiền môn giảng hội ở chùa Phụng ấn, núi Thiên ma, Dương châu (Kinh kì). Tháng 8 cùng năm ấy, sư thị tịch trong động Tiểu lâm chùa Qui nham, thọ 66 tuổi, pháp lạp 46. Sư là một trong 3 vị tăng nổi tiếng của Phật giáo Triều tiên thời cận đại. Sư có các tác phẩm: Thiền nguyên tố lưu, Khải chính lục. [X. Triều tiên Phật giáo thông sử Q.thượng; Linh qui sơn Tuyết đậu đại sư hành trạng; Đông sư liệt truyện Q.5].

hữu quả

2433為有為法之別稱。有為法,謂因果生滅相續,必有結果,故稱「有為法」為有果。俱舍論頌疏卷一(大四一‧八一九中):「有為有果,無為無果。是故有為,名為有果。」(參閱「有為」2445) ; (有果) Tên gọi khác của pháp hữu vi, vì pháp hữu vi là pháp sinh diệt, có nhân có quả nối nhau, nên được gọi là Hữu quả. Câu xá luận tụng sớ quyển 1 (Đại 41, 819 trung), nói: Hữu vi có quả, vô vi không quả, vì thế hữu vi được gọi là Hữu quả . (xt. Hữu Vi).

hữu quốc tự

4269位於河南開封市內。俗稱鐵塔寺。五代晉天福年中(936~943)建於明德坊,初稱等覺禪林,宋乾德年中(963~967)遷此,慶曆年間(1041~1048)改名上方寺。明崇禎十五年(1642)因河水泛濫而失堂宇,後僅存鐵塔。清乾隆十六年(1751)曾修建之,並改稱今名。 鐵塔八角十三層。其外壁鑲以褐色琉璃磚;近似鐵色,故有此稱。塔身高約七十公尺,而初層每邊僅約四公尺餘,故呈極細長形。其四面均有入口,內有平面八角之小室,塔身以不同形制之琉璃磚砌築成各種仿木結構,壁面飾以陽刻雙佛龕、飛天、龍、花紋等之磚,雕工精細,為宋代琉璃磚雕藝術佳作。塔南八角亭內有宋金時期之銅佛一尊,高五公尺餘,重約一一八○○公斤,亦為珍品。〔大清一統志卷一五○、河南通志卷五十、支那文化史蹟解說卷五〕

Hữu sinh

有生; C: yŏushēng; J: ushō; |Một cuộc đời; được (tái) sinh ra trong thế gian nầy (s: utpāda; t: skyes pa).

Hữu sinh 有生

[ja] ウショウ ushō ||| To take a life; to be (re-)born into this world (Skt. utpāda; Tib. skyes pa). => Một cuộc đời; được (tái) sinh ra trong thế gian nầy (s: utpāda; t: skyes pa).

hữu sư trí

2438謂參訪名師,於受教後,依教修行而體悟之智慧。對此而言,無師指導而獨自體悟之智慧,稱為無師智。 ; (有師智) Đối lại: Vô sư trí. Trí tuệ có được nhờ học hỏi nơi các vị danh sư, thạc đức. Trái lại, Vô sư trí là trí tuệ tự mình thể ngộ được mà không do thầy chỉ dẫn.

Hữu sắc

有色; C: yŏusè; J: ushiki;|Có thể trạng, có hình tướng (s: rupin).

hữu sắc thiên

2430指色界之諸天;以有清淨微細之色法,故稱有色天。對此而言,無色界之諸天,稱為無色天。 ; (有色天) Đối lại: Vô sắc thiên. Chỉ cho các người trời ở cõi Sắc, vì các vị trời ở cõi này có sắc pháp nhỏ nhiệm thanh tịnh, nên gọi là Hữu sắc thiên.

Hữu sắc 有色

[ja] ウシキ ushiki ||| Having form, having shape (rupin). 〔二障義HPC 1.805c; 瑜伽論T 1579.30.290b9〕 => Có thể trạng , có hình tướng (s: rupin).

hữu sở duyên

2433為心王、心所之異稱。以心王、心所皆有所緣之境,故稱有所緣。所緣,謂心識攀緣寄託之境界,如眼識緣於色,耳識緣於聲等。而心識以外之物,則稱為無所緣,以其被心識攀緣,而不能自攀緣之故。〔俱舍論卷二、卷四〕(參閱「心心所」1397) ; Mental activity, the mind being able to climb, or reach anywhere, in contrast with the non-mental activities, which are vô sở duyên. ; (有所緣) Tên gọi khác của tâm và tâm sở, vì tâm và tâm sở đều có cảnh sở duyên nên gọi là Hữu sở duyên (có chỗ để duyên theo). Sở duyên là cảnh giới mà tâm thức duyên theo, nương dựa, như thức mắt duyên theo màu sắc, thức tai duyên theo âm thanh... Còn vật ở ngoài tâm thức, thì gọi là Vô sở duyên, bởi vì nó bị tâm thức vin theo, chứ nó không thể tự vin theo được. [X. luận Câu xá Q.2, Q.4]. (xt. Tâm Tâm Sở).

hữu sở y

2432 心王、心所之異稱。以心王、心所均有所依,故稱有所依。瑜伽師地論卷五十五舉出心、心所法之別名有有所緣、相應、有行、有所依等。有所依,即指一類之法,託眾所依而轉差別之意。又據成唯識論卷四載,諸心、心所皆有所依,其所依者,總為三種,即因緣依、增上緣依、等無間緣依。即於諸法中唯心、心所法具此三依,故稱為有所依。成唯識論了義燈卷四末(大四三‧七三九上):「問:『心、心所法起藉四緣,何故但說三種依耶?』解云:『所緣通內外,餘三唯在內故,但說三。』問:『餘識緣內外,不得說四依,第七唯內緣,何不說四依?』答:『三緣生識勝故,但說三依。緣依亦外緣,力微不說四。』」即於四緣中,除去所緣緣,以所餘之三緣為三依。〔俱舍論卷四〕(參閱「心心所」1397) ; (有所依) Tên khác của tâm, tâm sở, vì tâm, tâm sở đều có chỗ để nương gá nên gọi là Hữu sở y. Luận Du già sư địa quyển 55 có nêu các tên khác của tâm, tâm sở như: Hữu sở duyên, Tương ứng, Hữu hành, Hữu sở y, v.v... Hữu sở y chỉ cho pháp nương gá vào các pháp khác mà chuyển biến. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 4, thì các tâm, tâm sở đều có sở y, những sở y ấy gồm có 3: Nhân duyên y, Tăng thượng duyên y và Đẳng vô gián duyên y. Trong các pháp, chỉ có tâm, tâm sở pháp có đủ 3 sở y này, cho nên gọi là Hữu sở y. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 4 phần cuối (Đại 43, 739 thượng) ghi: Hỏi: Tâm, tâm sở pháp sinh khởi nhờ 4 duyên, tại sao chỉ nói có 3 thứ sở y? Đáp: Sở duyên duyên chung cho cả nội và ngoại, còn Nhân duyên, Đẳng vô gián duyên, Tăng thượng duyên thì thuộc nội, cho nên chỉ nói có ba . Hỏi: Các thức khác duyên nội, ngoại, thì không nói 4 y; thức thứ 7 chỉ duyên nội, tại sao cũng không nói 4 y? Đáp: Vì 3 duyên kia sinh thức mạnh hơn, nên chỉ nói 3 y; Duyên y cũng là duyên bên ngoài, sức yếu nên không nói 4 y . Tức là trong 4 duyên, trừ sở duyên duyên, còn 3 duyên kia là 3 sở y. [X. luận Câu xá Q.4]. (xt. Tâm Tâm Sở).

hữu sở đoạn giả

2433為等覺位之異稱。據南本與北本大般涅槃經梵行品所載,等覺位雖鄰近於妙覺位而稱為覺,然仍須斷一品微細之無明及習氣,故另立「有所斷者」之名,以別於妙覺位。(參閱「等覺」5175) ; (有所斷者) Tên khác của quả vị Đẳng giác. Cứ theo phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát Niết bàn (bản Nam và bản Bắc) thì giai vị Đẳng giác tuy đã gần với giai vị Diệu giác nên gọi là Giác, nhưng vẫn còn phải đoạn trừ một phẩm vô minh và tập khí rất nhỏ nhiệm, vì thế gọi là Hữu sở đoạn giả để phân biệt với giai vị Diệu giác. (xt. Đẳng Giác).

hữu sở đắc

2433 梵語 prāpti。為「無所得」之對稱。即無法體悟絕對平等、無二無別之真理,而有所執取;亦即分別有無、一異、是非等之二相,而有取捨之念,稱為有所得。若離開有、無等相對之觀念,而體悟空之真理,則稱為無所得。又有所得係以心於諸法中取相,為一種執著、分別、取相之心,故亦稱有所得心。〔大品般若經卷二十一、卷二十二、仁王經卷上(不空)、大智度論卷十八、卷六十、注維摩詰經卷八〕 ; Have attainment, strong point, forte. ; (有所得) Phạm:Pràpti. Đối lại: Vô sở đắc. Tâm chấp trước phân biệt có, không, một, khác, phải, trái, v.v... Nếu xa lìa quan niệm có, không tương đối mà thể ngộ được chân lí Không thì gọi là Vô sở đắc. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.21, Q.22; kinh Nhân vương Q.thượng (Bất không); luận Đại trí độ Q.18, Q.60; Chú duy ma cật kinh Q.8].

hữu sự

To have affairs, functioning, phenomenal, idem hữu vi pháp; occupied, engaged, employed, busy. Khi hữu sự: in case of need, of emergency, of necessity; if necessary, when required.

Hữu tham

有貪; C: yŏu tān; J: uton; |1. Mối bận tâm về tham dục trong cõi sắc và vô sắc. Xuất phát từ tham muốn sự liên tục sinh mệnh của mình; »tham đắm sự hiện hữu«; 2. Dính mắc với thế tục; 3. Theo Hữu bộ (s: sarvāstivāda), đó là tham đắm sự hiện hữu trong cõi giới cao hơn.

hữu tham

2442梵語 bhava-rāga,巴利語同。為「欲貪」之對稱。又作有欲。指於色、無色二界所起之貪欲。有,指色、無色二界之定及其依身;若於此二界常起定貪,產生愛著之貪煩惱,稱為有貪。 蓋色、無色二界之人,常執著於禪定而貪著之,以其愛著禪定之有,故稱有貪。又因凡人對此二界之人,每易生起解脫之情想,妄以此二界為解脫之界,為遮止此一情想,故於上二界立有貪之名,以彰顯其所緣之解脫非真解脫。〔俱舍論卷十九、順正理論卷四十五、俱舍論頌疏卷十九〕 ; Bhāvarāga (S) Hữu dục. ; (有貪) Phạm,Pàli:Bhava-ràga. Cũng gọi: Hữu dục. Đối lại: Dục tham. Tham đắm thiền định ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. Hữu chỉ cho định và thân sở y của định ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, nghĩa là người ở 2 cõi này thường có tâm tham đắm thiền định, sinh ra phiền não tham ái, chấp trước, cho nên gọi là Hữu tham. Vì phàm phu thế gian thường nghĩ rằng người ở 2 cõi này đã được giải thoát, lầm tưởng 2 cõi này là các nơi giải thoát, nên Phật giáo mới lập danh từ Hữu tham để ngăn dứt ý tưởng sai lầm ấy và nói rõ 2 cõi này chẳng phải là những nơi giải thoát chân thực. [X. luận Câu xá Q.19; luận Thuận chính lí Q.45; Câu xá luận tụng sớ Q.19].

hữu tham tâm

2442據俱舍論卷二十六載,與貪相應及貪所繫屬之心,稱為有貪心;而不與貪相應之餘善心及無覆心,稱為離貪心。 ; (有貪心) Tâm có tham. Cứ theo luận Câu xá quyển 26, thì tâm tương ứng với tham và lệ thuộc vào tham, gọi là Hữu tham tâm. Trái lại, các thiện tâm khác và tâm vô phú không tương ứng với tham, thì gọi là Li tham tâm (tâm lìa tham).

Hữu tham 有貪

[ja] ウトン uton ||| The affliction of desire in the form and formless realms. Originally the desire for the continuity of one's own self; 'attachment to existence.' (2) Attachment to this world. (3) In Sarvāstivāda 有部 thought, the desire existent in higher realms. => 1. Mối bận tâm về tham dục trong cõi sắc và vô sắc. Xuất phát từ tham muốn sự liên tục sinh mạng của mình; 'tham đắm sự hiện hữu'. 2. Dính mắc với thế tục. 3. Theo Hữu bộ (s: Sarvāstivāda 有部), đó là tham đắm sự hiện hữu trong cõi giới cao hơn.

hữu thiện thí hạnh

Vasudatta (S) = Bà tu đạt đa.

hữu thuận tự

2764位於熱河朝陽南塔街。清康熙三十八年(1699)破土,四十六年落成,後續有增建,占地萬餘平方公尺。寺中有佑順寺碑記,敘述建寺之經過。第一代住持綽爾濟喇嘛蘇住克圖大師,原住持白塔寺,因病來此靜i。康熙三十七年八月,清聖祖行圍木蘭時,因綽爾濟喇嘛之奏請,敕建此寺,並賜寺名及檀香佛像。主要殿宇有天王殿、藏經閣、大殿、更衣殿、東西配殿等。乾隆四十八年(1783),清高宗出古北口,由熱河至盛京謁陵時,途中曾駐蹕於此。現令之朝陽博物館即設於寺中。

hữu thân

Satkāya (S), Sakkāya (P), With body, ; Satkàya (S). Existing body. Hữu căn thân: the body with its five senses.

hữu thân căn

Sendhya-kāya (S) Thân người.

Hữu thân kiến

有身見; C: yŏushēn jiàn; J: ushin ken; S: satkāya-dṛṣṭi; P: sakkāya-diṭṭhi.|Kiến chấp về ngã, không thể vượt thoát ra khỏi ý niệm về »Ngã« và »Ngã sở«. Gọi tắt là Thân kiến (身見). Phiên âm là Tát-ca-da kiến (薩迦耶見). Đây là một trong Tứ kiến liên hệ đến mạt-na thức (末那識).

hữu thân kiến

2431 梵語 satkāya-dṛṣṭi,巴利語 sakkāya-diṭṭhi。音譯作薩迦耶見、颯迦耶見、薩迦邪見。意譯作虛偽身見、壞身見、移轉身見。為五見之一,十隨眠之一。即認為身為五蘊之集合,而五蘊之法體實有,故緣五取蘊,而執著於我及我所為實有等之妄見,稱為有身見。為說一切有部所立。(參閱「五見」1099、「薩迦耶見」6600) ; Satkāya-darśana (P), Sakkāya-dassana (P), Satkāya-dṛṣṭi (S), Sakkāya-diṭṭhi (P) Tát Ca da kiến Vọng kiến cho rằng có thật ngã và ngã sở trong thân, chấp thân thể là có thực. Một trong Thập sử. ; Satkàyadarsana (S). Believing in the existence of ego. ; (有身見) Phạm:Satkàya-dfwỉi. Pàli:Sakkàya-diỉỉhi. Dịch âm: Tát ca da kiến, Táp ca da kiến, Tát ca tà kiến. Dịch ý: Hư ngụy thân kiến, Hoại thân kiến, Di chuyển thân kiến. Cái thấy sai lầm cho rằng thân do 5 uẩn hợp thành có thực ngã và ngã sở (ta và của ta), vì pháp thể của 5 uẩn này là có thật. Một trong 5 kiến, một trong 10 Tùy miên. Vọng kiến này do Thuyết nhất thiết hữu bộ lập ra. (xt. Ngũ Kiến, Tát Ca Da Kiến).

Hữu thân kiến 有身見

[ja] ウシンケン ushin ken ||| The view of attachment to self that cannot be extricated from the notions of "I" 我 and "mine" 我所 (Skt. satkāya-dṛḍṭi; Pali sakkāya-diṭṭhi). Abbreviated as 身見. Transcribed as 薩迦耶見. This is one of the four views 四見 associated with the manas consciousness 末那識. => Kiến chấp về ngã, không thể vượt thoát ra khỏi ý niệm về 'Ngã và Ngã sở'(s: satkāya-dṛḍṭi; p: sakkāya-diṭṭhi). Gọi tắt là Thân kiến 身見. Phiên âm là Tát-ca-da kiến 薩迦耶見. Đây là một trong Tứ kiến liên hệ đến mạt-na thức.

hữu thượng sĩ

2426指等覺菩薩。為「無上士」之對稱。有上,謂於等覺位之上尚有佛果位之意。大乘菩薩修行階位中,等覺、妙覺為最後之兩階位;等覺位之菩薩仍有少許煩惱殘餘,即仍有惑未斷;故對無所斷之無上士(即妙覺位)而稱為有上士。(參閱「等覺」5175) ; (有上士) Đối lại: Vô thượng sĩ. Chỉ cho Bồ tát Đẳng giác. Trong các giai vị tu hành của Bồ tát Đại thừa, Đẳng giác và Diệu giác là 2 giai vị cuối cùng. Bồ tát Đẳng giác còn chút ít phiền não sót lại, tức là vẫn chưa dứt hết hoặc; cho nên đối với bậc Vô thượng sĩ (tức giai vị Diệu giác) đã dứt sạch phiền não mà gọi Bồ tát Đẳng giác là Hữu thượng sĩ. (xt. Đẳng Giác).

hữu thần

Theistic; theism; theist.

hữu thần giáo

Theism Tên một tông phái.

hữu thắng biên châu

Kaurava (P) Kiều lập ba Một trong hai Trung châu của Bắc câu lô châu.

hữu thắng thiên kinh

2443為中阿含經卷十九之第二小經經名。東晉瞿曇僧伽提婆譯。收於大正藏第一冊。內容敘述阿那律陀尊者為仙餘財主講說光天、淨光天、徧淨光天之因果差別。 ; (有勝天經) Bài kinh nhỏ thứ 2 trong Trung a hàm quyển 19, do ngài Cù đàm tăng già bà đề dịch vào đời Đông Tấn, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung bài kinh này thuật lại việc tôn giả A na luật đà giảng cho vị tài chủ Tiên dư nghe về nhân quả sai biệt ở các cõi Quang thiên, Tịnh quang thiên và Biến tịnh quang thiên.

hữu thế

Bhāva-sattva (S).

hữu thể

2461梵語 bhāva 或 sattva。指有實體者。為「無體」之對稱。如俱舍論所立之七十五法、成實論所立之八十四法、唯識論所立之百法,均係有體之法。其中包括有形之物質、無形之心識、因緣生之有為法、非因緣生之無為法等。(參閱「有體無體」2461) ; A thing, form, dharma, anything of ideal or real form; embodied things, bodies. ; (有體) Phạm:BhàvahoặcSattva. Đối lại: Vô thể Pháp có thể tính, như 75 pháp trong luận Câu xá, 84 pháp trong luận Thành thực, 100 pháp trong luận Duy thức. Các pháp này bao gồm vật chất có hình, tâm thức không hình, pháp hữu vi do nhân duyên sinh, pháp vô vi chẳng do nhân duyên sinh. (xt. Hữu Thể, Vô Thể).

hữu thể thí thiết giả

2461為二假之一。即於無名之法體上,施設假名之義。據宗鏡錄卷六十七載,聖教之所說雖有法體,然非我法,體本無名,乃隨緣施設,假名我法,故稱有體施設假。此外,若就諸法實相而論,則世間一切事物皆是有體施設假。〔成唯識論卷一〕(參閱「二假」210) ; (有體施設假) Tạm đặt tên giả trên pháp thể không tên. Một trong 2 giả. Cứ theo Tông kính lục quyển 67, thì những điều nói trong Thánh giáo tuy có pháp thể, nhưng chẳng phải ngã pháp, thể vốn không tên, tùy duyên bày đặt, tạm gọi là Ngã pháp, cho nên gọi đó là Hữu thể thi thiết giả. Ngoài ra, nếu theo thực tướng các pháp mà bàn, thì tất cả sự vật trong thế gian đều là Hữu thể thi thiết giả. [X. luận Thành duy thức Q.1]. (xt. Nhị Giả).

hữu thể vô thể

2461<一>為有體與無體之並稱。體,指實體。有體,即指有實體;無體,即指無實體。關於諸法之實體,說一切有部主張法體恆有;大乘法相宗則認為,在能依之相以外,另有所依之體,亦即諸法之遍、依、圓三性中,在依他起性之諸法之外,另有圓成實性之真如實體。至於華嚴、天台等法性宗,則主張能依之相即是所依之體,故在依他起性之諸法之相以外,無有圓成實性之真體。〔大乘入楞伽經卷一羅婆那王勸請品、大乘莊嚴經論卷四述求品、華嚴經探玄記卷一〕(參閱「體」6928) <二>因明用語。因明論式中,凡立者(立論者)與敵者(問難者)共同認可(共許)其為實有者,稱為有體;立、敵不共同認可(不共許)其為實有者,稱為無體。按一般常理,凡實際存在之事物即稱為有體,實際不存在者即稱為無體。然因明最重立、敵,故有體與無體之分,完全取決於立、敵雙方之主觀意見。不論事物之本身是否實際存在,只要立、敵雙方共許其為實有者,即稱之為有體;立、敵雙方不共許其為實有者,即稱之為無體。因明之有體、無體,因係取決於立、敵雙方之共許與否,故其為有或無,可隨立、敵而轉變。因明稱宗(命題)之前陳(主詞)為體,宗之後陳(述詞)為義。故就前陳而言,視立、敵之共許與否,稱之為有體或無體;就後陳而言,則依立、敵之共許與否,稱之為有義或無義。有體無體、有義無義之區別標準,完全與極成不極成之分別標準相同,故有體(義)即為極成體(義),無體(義)即為不極成體(義)。 有無體與有無義可分為四種:(一)立、敵雙方皆認可其為實有者,稱為兩俱有體,或兩俱有義。(二)立、敵雙方皆不認可其為實有者,稱為兩俱無體,或兩俱無義。(三)立者認可其為實有,而敵者不認可,則稱為自有他無體,或自有他無義。(四)敵者認可其為實有,而立者不認可,則稱他有自無體,或他有自無義。〔因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕(參閱「極成」5477) ; (有體無體) 1. Hữu Thể Vô Thể. Các pháp có thực thể và các pháp không có thực thể. Về thực tướng các pháp, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương pháp thể hằng hữu; tông Pháp tướng Đại thừa thì cho rằng ngoài tướng năng y, còn có thể sở y, tức là trong 3 tính Biến, Y, Viên, thì ngoài các pháp Y tha khởi ra, còn có chân như thực thể Viên thành thực. Còn các tông thuộc về pháp tinh như Hoa nghiêm, Thiên thai, v.v... thì chủ trương tướng năng y tức là thể sở y, cho nên ngoài tướng của các pháp Y tha khởi ra thì không có chân thể Viên thành thực. [X. phẩm La bà na vương khuyến thỉnh trong kinh Đại thừa nhập lăng già Q.1; phẩm Thuật cầu trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt.Thể). II. Hữu Thể Vô Thể. Tiếng dùng trong Nhân minh. Hữu thể, nghĩa là trong luận thức Nhân minh, bất cứ sự vật gì được nêu ra đều phải được người lập luận và người vấn nạn cùng công nhận là có thật. Vô thể, sự vật được nêu ra không được người lập luận và người vấn nạn công nhận là có thật. Theo lẽ thông thường, bất cứ sự vật gì tồn tại trên thực tế, thì gọi là Hữu thể, còn sự vật không tồn tại trên thực tế thì gọi là Vô thể. Nhưng trong Nhân minh, việc quyết định một sự vật là Hữu thể hay Vô thể thì hoàn toàn tùy thuộc vào ý kiến chủ quan của người lập luận và người vấn nạn. Bất luận là sự vật có tồn tại trên thực tế hay không, nhưng chỉ cần người lập luận và người vấn nạn cùng công nhận sự vật ấy là có thật thì gọi đó là Hữu thể, còn nếu đôi bên không công nhận là có thật thì gọi là Vô thể. Do đó, vấn đề Hữu thể, Vô thể trong Nhân minh hoàn toàn tùy theo quan điểm của người lập luận và người vấn nạn mà chuyển biến. Nhân minh gọi danh từ trước (tiền trần) của Tông (mệnh đề) là thể, danh từ sau (hậu trần) của Tông là nghĩa. Cho nên, nói theo danh từ trước thì có Hữu thể, Vô thể; nói theo danh từ sau thì có Hữu nghĩa, Vô nghĩa. Cái tiêu chuẩn phân biệt Hữu thể vô thể, Hữu nghĩa vô nghĩa hoàn toàn giống với tiêu chuẩn phân biệt Cực thành bất cực thành; bởi thế, Hữu thể, Hữu nghĩa tức là Cực thành thể, Cực thành nghĩa; còn Vô thể, Vô nghĩa tức là Bất cực thành thể, Bất cực thành nghĩa. Hữu thể vô thể và Hữu nghĩa vô nghĩa được chia làm 4 loại: 1. Lưỡng câu hữu thể hoặc Lưỡng câu hữu nghĩa: Người lập luận và người vấn nạn đều công nhận là có thật. 2. Lưỡng câu vô thể hoặc Lưỡng câu vô nghĩa: Người lập luận và người vấn nạn đều không công nhận là có thật. 3. Tự hữu tha vô thể hoặcTự hữu tha vô nghĩa: Người lập luận công nhận có thật, người vấn nạn không công nhận có thật. 4. Tha hữu tự vô thể hoặcTha hữu tự vô nghĩa: Người vấn nạn công nhận có thật, người lập luận không công nhận có thật. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Cực Thành).

Hữu thời

有時; C: yŏushí; J: uji; |1. Vào một lúc; một lúc nào đó, xảy ra đúng lúc; 2. »Hữu Thời«, nhan đề một tiểu luận nổi tiếng của Đạo Nguyên Hi Huyền trong tác phẩm Chính pháp nhãn tạng (正法眼藏, j: shōbōgenzō).

Hữu thời 有時

[ja] ウジ uji ||| (1) At one time; sometime; occurring in time. (2) "Being-Time;" the title of a famous essay by Dōgen contained in his Shōbōgenzō 正法眼藏. => Vào một lúc ; một lúc nào đó, xảy ra đúng lúc. 'Hữu Thời'; nhan đề một tiểu luận nổi tiếng của Đạo Nguyên trong Chánh pháp nhãn tạng (正法眼藏j: Shōbōgenzō ).

Hữu thủ

有取; C: yŏuqŭ; J: ushu; |Có dính mắc, chấp trước (s: sa-upādāna). Tương tự với nghĩa rộng và thường dùng với Hữu lậu (有漏).

hữu thủ

2428<一>梵語 hastin。為象之別名。據隋代吉藏之百論疏卷上之下載,象有七肢,以手為殊勝故,遂取名為「有手」。同書並以象及「有手」做譬喻,以分析、論證空理,欲使外道體悟本性為空,而不起有所得之煩惱,以得解脫。 <二>以「手」比喻信心,而稱具有信心為「有手」,具有信心之人為「有手之人」。大乘起信論義疏卷上之上(大四四‧一七五中):「信心如手,有手之人入海寶藏,隨意拾取;無手之人雖遇寶藏,不得拾取。」〔大智度論卷一〕 ; 1615印度自古以來,左手係用於如廁等不淨之行為,反之右手則代表神聖之手,多用以觸取清淨之物。於佛教中,隨各時代與宗派之別,所代表之含意亦不同。天台宗以合掌之姿勢表示「權實不二」,左手即象徵「權身五蘊」之應身佛;右手則象徵「實身五蘊」之報身佛。於禪宗之曹洞宗,歷來有所謂「正」、「偏」之說,右手即表示正位,象徵平等之理;左手則表示偏位,象徵差別之現象。於密教,在各種儀式、修法中,或結印契之時,每以右手代表智慧,屬於金剛界;左手則代表「理」、「定」,屬於胎藏界。大日經疏卷三(大三九‧六一二中):「左手是三昧義,右手是般若義,十指是十波羅蜜滿足義。」祕藏記本(大八六‧七中):「右手辨一切事,故名智,金剛界也。(中略)右手五指,金剛界五智。」 ; Hastin (S) Có tín tâm. ; (有手) I. Hữu Thủ. Phạm:Hastin. Tên khác của con voi. Cứ theo Bách luận sớ quyển thượng phần cuối của ngài Cát tạng đời Tùy, thì con voi có 7 chi, mà cái vòi (thủ) là thù thắng hơn hết, cho nên voi được gọi là Hữu thủ (có tay). Trong bộ sách này, voi và hữu thủ còn được dùng làm thí dụ để phân tích, luận chứng lí Không, khiến cho ngoại đạo thể ngộ bản tính Không, mà chẳng khởi phiền não có sở đắc để được giải thoát. II. Hữu Thủ. Có lòng tin. Thủ ví dụ lòng tin, người có lòng tin được gọi là Hữu thủ nhân. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ quyển thượng phần trên (Đại 44, 175 trung), nói: Lòng tin như tay (thủ), người có tay vào kho báu thì có thể tùy ý nhặt lấy; người không có tay, tuy vào kho báu cũng chẳng nhặt được gì . [X. luận Đại trí độ Q.1]. ; (右手) Tay phải. Ở Ấn độ, từ xưa đến nay tay trái thường được sử dụng để cầm nắm những vật bất tịnh như khi đại tiểu tiện…, trái lại, tay phải là tay tiêu biểu cho thần thánh, phần nhiều dùng để cầm nắm những vật thanh tịnh. Trong Phật giáo, tùy theo thời đại và sự sai biệt giữa các tông phái mà ý nghĩa tiêu biểu cũng khác nhau. Tông Thiên thai dùng tư thế chắp tay để biểu thị ý nghĩa Quyền, Thực bất nhị , trong đó, tay trái tượng trưng cho Ứng thân Phật Quyền thân ngũ uẩn , còn tay phải thì tượng trưng cho Báo thân Phật Thực thân ngũ uẩn . Trong Thiền tông thì như tông Tào động xưa nay có thuyết Chính , Thiên , tay phải biểu thị Chính vị, tượng trưng cho lí bình đẳng; tay trái biểu thị Thiên vị, tượng trưng cho hiện tượng sai biệt. Còn Mật giáo, trong nghi thức của các pháp tu, khi kết ấn khế, thì thường dùng tay phải tiêu biểu cho trí tuệ, thuộc về Kim cương giới; tay trái tiêu biểu cho lí và định , thuộc về Thai tạng giới. Đại nhật kinh sớ quyển 3 (Đại 39, 612 trung), nói: Tay trái tượng trưng cho tam muội, tay phải tượng trưng bát nhã , 10 ngón tượng trưng cho 10 ba la mật . Bí tạng kí, phần đầu (Đại 86, 7 trung), nói: Tay phải làm tất cả mọi việc, nên gọi là trí, thuộc Kim cương giới, (...) 5 ngón tay phải tượng trưng 5 trí của Kim cương giới .

Hữu thủ thức

有取識; C: yŏuqŭshì; J: ushushiki; |1. Ý thức chấp trước. Thức uẩn trong tình trạng hữu lậu (有漏) hoặc phiền não (煩惱); 2. Theo Duy thức tông, đó là thuật ngữ bao hàm chức năng hoà hợp của thức thứ 7 và thức thứ 8.

hữu thủ thức

2432指有煩惱之識。取,煩惱之總名。據俱舍論卷三十載,於命終時,有眾多之引業種子會牽引死者輪迴於六道中,而此有取識能明了重業、近起業、數習業等三種業種子,而先引其果,其餘則否。三種業種子,即:(一)重業種子,即重業所引之種子,如五逆罪等之業種。(二)近起業種子,即近起業所引之種子,如臨命終時遭逢善友或惡友等所引起之業種。(三)數習業種子,即數習業所引之種子,如平生所起之薰習業種等。 ; (有取識) Thức có phiền não. Thủ là tên gọi chung các phiền não. Cứ theo luận Câu xá quyển 30, thì lúc mệnh chung (hấp hối) có rất nhiều chủng tử dẫn nghiệp tụ tập lôi kéo người chết vào vòng luân hồi trong 6 đường. Khi ấy, Hữu thủ thức này rõ biết 3 loại chủng tử nghiệp mà đi đầu dẫn đến quả báo, còn các thức khác thì không. Ba loại chủng tử nghiệp đó là: 1. Chủng tử trọng nghiệp: Chủng tử do nghiệp nặng dẫn dắt, như chủng tử nghiệp của tội ngũ nghịch, v.v... 2. Chủng tử cận khởi nghiệp: Chủng tử do cận khởi nghiệp dắt dẫn, như chủng tử nghiệp dẫn khởi lúc hấp hối gặp bạn lành hoặc bạn ác. 3. Chúng tử sác tập nghiệp: Chủng tử do nghiệp tập quen dẫn khởi, như chủng tử nghiệp huân tập dẫn khởi lúc bình sinh.

hữu thức

Satva (S) Hữu tình Chúng sanh có tình thức. ; Perceptive beings, similar to hữu tình sentient beings.

hữu toàn

1616又作右迴、右繞。即向右迴旋。如佛眉間之白毫向右方旋繞,稱為眉間白毫相,為佛三十二相之一。觀無量壽經(大一二‧三四三中):「眉間白毫,右旋宛轉,如五須彌山。」此外,印度自古所盛行之禮法,從右為尊,以右向中央之佛、塔、尊宿、長者等繞旋,亦稱為右旋。(參閱「右繞」1616) ; (右旋) Cũng gọi Hữu hồi, Hữu nhiễu. Xoay vòng theo bên phải, giống như sợi lông trắng ở khoảng giữa 2 chân mày của đức Phật. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 trung), nói: Sợi lông trắng ở 2 chân mày của Phật uốn vòng theo chiều bên phải như 5 núi Tu di . Ngoài ra, khi đi vòng quanh bên phải, tay phải luôn hướng về phía tượng Phật, tháp Phật, các bậc Tôn túc, Trưỡng lão, v.v... cũng gọi là Hữu toàn. Đây là một trong những cách bày tỏ lòng tôn kính thịnh hành ở Ấn độ từ xưa. (xt. Hữu Nhiễu).

hữu tránh

2457梵語 sa-raṇa,巴利語同。為有漏之異稱。諍,煩惱之別稱。煩惱與善品相牴觸,損害自他之身,故稱諍。有,隨增之義。苦、集二諦之法,隨順煩惱而牴觸善品,故稱有諍。〔俱舍論卷一〕(參閱「有漏法」2453) ; (有諍) ¦Phạm,Pàli:Sa-raịa. Tên khác của Hữu lậu. Tránh là phiền não, Hữu là tùy tăng. Hữu tránh nghĩa là pháp Khổ đế và Tập đế thuận theo phiền não, va chạm với thiện phẩm, gây tổn hại đến thân mình và thân người, cho nên gọi là Hữu tránh. [X. luận Câu xá Q.1]. (xt. Hữu Lậu Pháp).

hữu tuỳ miên tâm

2458梵語 sānuśaya-citta。隨眠,即煩惱。有隨眠心,即指有煩惱之心。據俱舍論卷二十、俱舍論光記卷二十所說,可分為有染、無染二種:(一)有染有隨眠心,包括緣縛已斷、未斷二者:(1)有染隨增有隨眠心,謂隨眠未斷除,由於相應與所緣而具有隨增性。(2)有染不隨增有隨眠心,謂隨眠雖已斷除,尚有同伴性與心相應。(二)無染有隨眠心,謂隨眠必未永斷,唯據所緣縛隨增,以此無染心無「相應縛」,唯有所緣縛。 大毘婆沙論卷二十二列舉三家對有隨眠心之說法,例如一心相續論者謂,於此身中,若聖道末現前,則煩惱未斷盡,故心有隨眠;若聖道現前,則煩惱斷盡,故心無隨眠。亦即心之有隨眠與無隨眠雖有所差異,然其性則一,僅一心而已;猶如有垢衣與無垢衣雖有不同,然衣之性並無差別。〔阿毘達磨發智論卷一〕 ; (有隨眠心) Phạm:Sànuzaya-citta. Chỉ cho tâm phiền não. Tùy miên tức là phiền não. Cứ theo luận Câu xá quyển 20 và Câu xá luận quang kí quyển 20, thì Hữu tùy miên tâm được chia làm 2 loại: Hữu nhiễm hữu tùy miên tâm và Vô nhiễm hữu tùy miên tâm. 1. Hữu nhiễm hữu tùy miên tâm: Bao gồm cả Duyên phược đã dứt và Duyên phược chưa dứt. a) Hữu nhiễm tùy tăng hữu tùy miên tâm: Tùy miên chưa đoạn trừ, vì tương ứng với sở duyên mà có tính tùy tăng. b) Hữu nhiễm bất tùy tăng hữu tùy miên tâm: Tùy miên tuy đã bị đoạn trừ nhưng vẫn còn tính đồng bạn tương ứng với tâm. 2. Vô nhiễm hữu tùy miên tâm: Tùy miên chưa dứt hẳn, chỉ mới y cứ vào tùy tăng của Sở duyên phược, vì tâm vô nhiễm này không có Tương ứng phược mà chỉ có Sở duyên phược. Luận Đại tì bà sa quyển 22 có nêu ra quan điểm của 3 nhà đối với Hữu tùy miên tâm, trong đó, các nhà chủ trương nhất tâm tương tục cho rằng trong thân này nếu Thánh đạo chưa hiện tiền, thì phiền não chưa dứt hết, cho nên tâm có Tùy miên; nếu Thánh đạo hiện tiền thì phiền não đoạn tận, vì thế tâm không có Tùy miên. Tuy nhiên, tâm có Tùy miên và tâm không Tùy miên mặc dầu có sai khác, nhưng tính của chúng chỉ là một, giống như nhơ bẩn và không nhơ bẩn có khác nhau, nhưng áo thì không khác. [X. luận A tì đạt mà phát trí Q.1].

hữu tài ngạ quỷ

2439指三種餓鬼中之少財餓鬼與多財餓鬼。據盂蘭盆經疏卷下載,少財餓鬼,得食膿血,可分為三種:(一)鍼毛鬼,毛利如鍼,行便自刺。此鬼由於妄行針灸及傷刺畜生,但為求財而不盡心療疾,故招此報。(二)臭毛鬼,毛利而臭,自拔受苦。此鬼由於販賣豬羊,烹宰鵝鴨,湯爛刀剝,令彼等楚痛難堪,故招此報。(三)大癭鬼,咽垂大癭,僅食膿血。此鬼由於嫉妒他人,常懷瞋恨,故招此報。多財餓鬼,為多得淨妙飲食者,亦可分三種:(一)得棄鬼,常得祭祀所棄之食。此鬼由於罪多福少,少施多慳,故招此報。(二)得失鬼,常得巷陌所遺之食。此鬼由於常生慳心,對將失去之物,方捨得施之,故招此報。(三)勢力鬼,指夜叉、羅剎等,其所受之富樂同於人天。〔順正理論卷三十一〕(參閱「餓鬼道」6369) ; (有財餓鬼) Chỉ chung cho ngã quỉ Thiểu tài và ngã quỉ Đa tài trong 3 loại ngã quỉ. 1. Ngã quỉ Thiểu tài: Ngã quỉ này thường ăn máu mủ, có 3 loại: a) Châm mao quỉ: Loài quỉ có lông bén nhọn như kim, lúc đi thì lông tự đâm vào mình. Vì đời trước đâm chích làm thương tổn súc sinh, dối gạt làm nghề châm cứu để kiếm tiền chứ không hết lòng chữa bệnh, cho nên phải chịu quả báo này. b) Xú mao quỉ: Loài quỉ có lông bén nhọn và hôi thối, tự nhổ lông để chịu khổ. Vì đời trước buôn bán lợn dê, làm thịt ngỗng vịt, chém chặt nấu nướng, làm cho chúng đau đớn vô cùng, cho nên phải chịu quả báo này. c) Đại anh quỉ: Quỉ này có cái bướu lớn, chỉ ăn máu mủ. Vì đời trước ghen ghét với người, thường ôm lòng sân hận, cho nên phải chịu quả báo này. 2. Ngã quỉ Đa tài: Loài quỉ thường được nhiều thức ăn ngon, cũng có 3 loại: a) Đắc khí quỉ: Thường được thức ăn thừa do người cúng tế bỏ đi. Vì đời trước phạm nhiều tội, ít làm phúc, tham lam bỏn sẻn, không muốn bố thí, cho nên phải chịu quả báo này. b) Đắc thất quỉ: Thường được thức ăn thừa người ta vứt bỏ trong ngõ hẻm. Vì đời trước thường sinh tâm keo kiệt, chỉ cho người khác những vật mình vứt đi, cho nên phải chịu quả báo này. c) Thế lực quỉ: Chỉ cho quỉ Dạ xoa, La sát, v.v... Loại quỉ này hưởng sự giàu sang, vui sướng ngang với trời, người…. [X. luận Thuận chính lí Q.31]. (xt. Ngã Quỉ Đạo).

hữu tài thích

2439梵語 bahu-vrīhi,巴利語 bahu-bīhi。為六合釋之一。又作多財釋。即於梵文中,二語以上之複合詞,合成之結果,有形容詞之作用。據大乘法苑義林章卷一之解釋,有財釋,即不舉出自己之名字,而以自己所有之財物,做為名字的代用者;在梵文中,此種解釋之方法,稱為有財釋。例如,稱「長身之人」為「長身」,此「長身」即為其人之代稱。此釋有全分(全取)他名、一分(分取)他名二種:(一)全分他名,即沒有可以被複合形容詞所形容之語的語型,例如梵語 mahā-bāhuḥ(大臂),以其做為具有大臂之人(如那羅王)的代稱,故那羅王之代稱,即為「大臂」。(二)一分他名,即具有被複合形容詞形容之語的語型,例如梵語 mahābāhuḥ nalaḥ(有大臂之那羅王)。 在六合釋中,除有財釋外,其他五類之複合詞,亦具有形容詞作用之情形,例如三眼(梵 tri-locana),此為帶數釋,然其亦可解釋為具有三眼或具有三眼者之意,此種情形,自古以來稱為有財得名之帶數釋。〔俱舍論光記卷一、華嚴經探玄記卷三、大明三藏法數卷二十六、成唯識論了義燈卷一本〕(參閱「六合釋」1255) ; (有財釋) Phạm: Bahu-vrìhi. Pàli:Bahu-bìhi. Cũng gọi Đa tài thích. Cách giải thích một danh từ kép gồm 2 chữ trở lên, mà có tác dụng của hình dung từ. Là một trong Lục hợp thích. Cứ theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1, thì Hữu tài thích là không nêu tên chính mà dùng tài vật để thay thế; trong tiếng Phạm, cách giải thích này được gọi là Hữu tài thích. Chẳng hạn như người có thân cao, thì thân cao này được dùng để gọi thay cho tên của người ấy. Phương pháp giải thích này có 2 loại: Toàn phần tha danh (Toàn thủ tha danh) và Nhất phần tha danh (Nhất thủ tha danh). 1. Toàn phần tha danh: Hoàn toàn lấy hình dung từ kép làm tên gọi để thay cho loại danh từ không có hình dung từ kép miêu tả, như danh từ tiếng Phạm: Mahà-bahu (cánh tay lớn) được dùng để gọi thay cho người có cánh tay lớn. Chẳng hạn Na la vương có cánh tay lớn, thì Cánh tay lớn được dùng để gọi thay cho Na la vương. 2. Nhất phần tha danh: Lấy một phần hình dung từ kép làm tên gọi để thay cho loại danh từ có hình dung từ kép miêu tả, như danh từ tiếng phạm: Mahàbàhu nala (Na la vương có cánh tay lớn). Trong 6 hợp thích, ngoài Hữu tài thích ra thì những từ kép của 5 loại kia cũng có trường hợp có tác dụng của hình dung từ, chẳng hạn như Tam nhãn (Phạm: Trilocana), từ kép này thuộc về Đới số thích, nhưng cũng có thể giải thích là có 3 mắt hoặc người có 3 mắt , trường hợp này xưa nay được gọi là Đới số thích mang tên Hữu tài thích. [X. Câu xá luận quang kí Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Đại minh tam tạng pháp số Q.26; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1 phần đầu]. (xt. Lục Hợp Thích).

Hữu tác

有作; C: yŏuzuò; J: usa; |1. Có tác dụng. Có chức năng tạo tác (s: kārya); 2. Cái được tạo tác. Đồng nghĩa với Hữu tướng (有相), cái không phải tự vốn hiện hữu như thế. Nhận biết được tác dụng hoặc hoặt động; 3. Điều sinh ra do nhân duyên.

hữu tác

Xem hữu vi.

Hữu tác tứ đế

有作四諦; C: yŏuzuòsìdì; J: usa shitai; |Tứ diệu đế được giải thích theo ý nghĩa thông thường trong phạm vi luật nhân quả. Khác với Vô tác tứ đế (無作四諦).

Hữu tác tứ đế 有作四諦

[ja] ウサシタイ usa shitai ||| The Four Constructed Noble Truths. The Four Noble Truths explained in their ordinary sense in the context of the law of cause and effect. As contrasted with the Four Unconstructed Noble Truths 無作四諦. 〔二障義 HPC 1.797b16〕 => Tứ diệu đế được giải thích theo ý nghĩa thông thường trong phạm vi luật nhân quả. Khác với Vô tác tứ đế 無作四諦.

hữu tác vô tác

2431為有作與無作之並稱。意指有所造作及無所造作。據中阿含經卷十彌醯經載,佛之境界是無為無作,凡夫之境界則是有為有作。另據佛藏經卷上念僧品載,本來無所有之法,因有所得之人分別計著於有我、人、壽者、命者等相,憶想分別無所有之法,並自為議論,或說斷常,或說有作,或說無作等。又據聖冏之傳通記糅鈔卷五載,舊譯經論中,稱為有作無作;新譯經論中,則稱安立非安立。所謂安立,即有作之義;非安立,即無作之義。此外,有作即「有為」之意,亦即因緣所生之法。(參閱「安立」2395) ; (有作無作) Có tạo tác và không tạo tác. Cứ theo kinh Di hê trong Trung a hàm quyển 10, thì cảnh giới của Phật là vô vi vô tác, còn cảnh giới của phàm phu là hữu vi hữu tác. Phẩm Niệm tăng trong kinh Phật tạng quyển thượng cho rằng, xưa nay vốn không có pháp sở hữu, nhưng vì hạng người hữu sở đắc phân biệt chấp trước các tướng ngã, nhân, thọ giả, mệnh giả, rồi nhớ tưởng phân biệt pháp vô sở hữu mà bàn luận, hoặc cho là đoạn thường, hoặc cho là hữu tác, hoặc cho là vô tác…. Cứ theo Truyền thông kí nhữu sao quyển 5 của ngài Thánh cảnh, thì trong các kinh luận cựu dịch gọi là Hữu tác vô tác; còn các kinh luận tân dịch thì gọi là An lập phi an lập. Ngoài ra, hữu tác tức là hữu vi, cũng tức là pháp do nhân duyên sinh. (xt. An Lập).

Hữu tác 有作

[ja] ウサ usa ||| (1) Possessing function. Having creative function (kārya). (2) That which is created. Synonymous with youxiang 有相. That which is not self-so. To be aware of function or activity. (3) That which is produced by causes and conditions; "conditioned." => 1. Có tác dụng. Có chức năng tạo tác (s: kārya). 2. Cái được tạo tác. Đồng nghĩa với Hữu tướng 有相. Cái không phải tự vốn hiện hữu như thế. Nhận biết được tác dụng hoặc hoặt động. 3. Điều sinh ra do nhân duyên.

Hữu tâm

有心; C: yŏuxīn; J: ushin; |1. (Loài) có tâm ý – do vậy, là loài hữu tình (s: sa-citta; t: sems daṅ bcas pa), chúng sinh; 2. Hoạt động phân biệt của tâm chấp trước. Tâm niệm phân biệt của chúng sinh; 3. Tâm trong quan niệm là một cái gì đó có thể nắm bắt được.

hữu tâm vị

2428指心識起作用之時。為「無心位」之對稱。據瑜伽師地論卷十三所舉,無心睡眠位、無心悶絕位、無想定位、無想生位、滅盡定位與無餘涅槃界位等六位除外,餘皆為有心位。此外,唯識宗認為八識俱起,然因七、八二識恆常相續不斷,而前五識起作用時,必與第六識俱起,故唯識宗僅就第六識之起與不起,而論有心或無心。然俱舍宗不認可二心並起,故不論六識中任何一識起作用時,皆稱為有心位。〔成唯識論卷七〕(參閱「五位無心」1090) ; (有心位) Đối lại: Vô tâm vị. Chỉ cho lúc tâm thức khởi tác dụng. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 13, thì trừ 6 vị là Vô tâm thùy miên vị, Vô tâm muộn tuyệt vị, Vô tưởng định vị, Vô tưởng sinh vị, Diệt tận định vị và Vô dư Niết bàn giới vị ra, còn tất cả các vị khác đều là Hữu tâm vị. Ngoài ra, tông Duy thức cho rằng 8 thức cùng khởi, nhưng thức thứ 7, thứ 8 thường nối nhau không gián đoạn, còn lại 5 thức trước, lúc khởi tác dụng thì tất nhiên cùng khởi với thức thứ 6, vì thế tông Duy thức chỉ căn cứ vào thức thứ 6 có khởi hay không mà nhận định hữu tâm hay vô tâm. Nhưng tông Câu xá không thừa nhận 2 tâm cùng khởi một lúc, nên cho rằng bất cứ một thức nào trong 6 thức khởi tác dụng thì đều gọi là Hữu tâm vị. [X. luận Thành duy thức Q.7]. (xt. Ngũ Vị Vô Tâm).

Hữu tâm 有心

[ja] ウシン ushin ||| (1) (Something) possessing mind--therefore, sentient beings (Skt. sa-citta; Tib. sems daṅ bcas pa). (2) The discriminating activity of the mind of attachment. The discriminating thought of sentient beings. (3) The mind with a view of something to be grasped or attained. => (Loài) có tâm ý – do vậy, là loài hữu tình (s: . sa-citta; t: sems daṅ bcas pa). Việc phân biệt của tâm về chấp trước. Tâm niệm phân biệt của chúng sinh. Tâm trong quan niệm là một cái gì đó có thể nắm bắt được.

Hữu tình

有情; C: yŏuqíng; J: ujō; S: sattva; P: satta; dịch âm Hán Việt là Tát-đoá (薩埵), cũng được gọi là Chúng sinh (眾生), Hàm thức (含識);|Chỉ các giống có tình, có thức, nói chung là các loại động vật trong Ba thế giới.|Trước thời Huyền Trang, thuật ngữ nầy được dịch sang tiếng Hán là Chúng sinh (衆生), nhưng sau đó được địch là Hữu tình. Toàn thể chúng sinh.

hữu tình

1328指慈悲之慈。相當於佛教用語「彌勒」(梵 maitrī)一詞,此語乃由 mitra(友)字變化而來,即俗謂之友情。友情表示「無緣之慈悲」,無緣即無條件之意。無條件之友情,為佛教對「愛」之最高發揮。佛教之出世間即是超越血緣、地緣,出離家園與國家,超越骨肉血親之愛,超越國別地域之愛,對所有人皆平等奉獻無條件之友情,此即所有佛教徒必備之條件。 ; 2440梵語 sattva,巴利語 satta。音譯作薩多婆、薩埵嚩、薩埵。舊譯為眾生。即生存者之意。關於「有情」與「眾生」二語間之關係,諸說不一,或謂「有情」係指人類、諸天、餓鬼、畜生、阿修羅等有情識之生物。依此,則草木金石、山河大地等為非情、無情。而「眾生」則包括有情及非情二者。然另一說則認為「有情」即是「眾生」之異名,二者乃體一而名異,皆包括有情之生物及非情之草木等。此外,有情之異稱有「有識」(如有識凡夫)、「有靈」(如有靈之類)等多種。〔成唯識論述記卷一本、俱舍論寶疏卷一、玄應音義卷二十三〕(參閱「眾生」4748) ; Xem Tát đỏa Xem hữu thức. ; Sattva (S). Any sentient being. ; Sinh vật có hai thứ: động vật thuộc hữu tình, thực vật thuộc vô tình. Phật nói độ chúng sanh với cấm sát sanh đều là đối với chúng sanh hữu tình mà nói. ; (有情) Phạm:Sattva. Pàli:Satta. Dịch âm: Tát đa bà, Tát đóa phạ, Tát đóa. Cũng gọi: Hữu thức, Hữu linh. Dịch cũ: Chúng sinh. Loài có tình thức và có sự sống còn. Về mối quan hệ giữa Hữu tình và Chúng sinh có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng Hữu tình chỉ riêng cho những sinh vật có tình thức như loài người, các trời, quỉ đói, súc sinh, A tu la, v.v... còn những vật không có tình thức như cỏ cây, gạch đá, núi sông, đất liền, v.v... là loài vô tình. Còn chúng sinh thì bao quát cả 2 loại Hữu tình và Vô tình. Nhưng có thuyết lại cho rằng Hữu tình tức là tên khác của chúng sinh, cả 2 cùng một thể nhưng khác tên. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu; Câu xá luận bảo sớ Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. (xt. Chúng Sinh). ; (友情) Chỉ cho chữ Từ trong Từ bi, tương đương với chữ Từ trong chữ Từ thị (Di lặc, Phạm: Maitrì). Chữ Maitrì là do chữ Mitra (hữu = bạn bè) biến hóa mà ra, người đời gọi là Hữu tình (tình bè bạn). Hữu tình biểu thị lòng từ bi vô điều kiện (vô duyên từ). Trong Phật giáo, Hữu tình vô điều kiện là sự phát huy đến tột độ của chữ Ái (tình yêu) ở ngoài đời. Chữ Ái này vượt ra ngoài giới hạn huyết thống, địa phương, gia đình, quốc gia, không giới hạn trong tình thân cốt nhục vị kỉ, mà bình đẳng đối với tất cả mọi người. Đây là điều kiện tất yếu của tín đồ Phật giáo.

hữu tình duyên từ

2441又作眾生緣慈。為三緣慈悲之一。視一切之有情,如父母眷屬般之親緣而行慈悲對待,即稱為有情緣慈。(參閱「慈悲」5805) ; (有情緣慈) Cũng gọi Chúng sinh duyên từ. Coi tất cả loài hữu tình thân thiết như cha mẹ, quyến thuộc mà đối xử với họ bằng tâm từ bi bình đẳng, không phân biệt. Là một trong 3 duyên từ bi. (xt. Từ Bi).

hữu tình kim cang nữ bồ tát

Sattva-Vajri (S) Tên một vị Bồ tát.

hữu tình số

2441梵語 sattvākhyā。即含攝有情之類者。為「非有情數」之對稱。如六道輪迴中之眾生,即為有情數。而山河、大地、草木等,則係非有情數。至於化人(無感覺之有情)本身雖無感覺,然亦可屬有情數。 此外,據大毘婆沙論卷一三八載,則由品類足、識身足二者來解釋有執受之義,而認為有情數與「有根」、「異熟生」同義。〔大毘婆沙論卷十三、卷十五、卷六十、阿毘達磨順正理論卷一、俱舍論卷五、俱舍論光記卷一〕 ; (有情數) Phạm:Sattvàkhyà. Đối lại: Phi hữu tình số. Thuộc về loài hữu tình. Chúng sinh luân hồi trong 6 đường tức là Hữu tình số. Còn núi sông, đất đai, cây cỏ, v.v... thì thuộc về Phi hữu tình số. Đến như bản thân của người hóa (hữu tình không có cảm giác) tuy không có cảm giác nhưng cũng thuộc về Hữu tình số. Ngoài ra, luận Đại tì bà sa quyển 138 căn cứ vào 2 bộ luận Phẩm loại túc và Thức thân túc để giải thích nghĩa Hữu chấp thụ mà cho rằng Hữu tình số đồng nghĩa với Hữu căn , Dị thục sinh . [X. luận Đại tì bà sa Q.13, Q.15, Q.60; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.1; luận Câu xá Q.5; Câu xá luận quang kí Q.1].

hữu tình thế gian

2441又作假名世間、眾生世間、眾生世。為三種世間之一。指能居之正報;亦即指五陰所成之一切眾生。據摩訶止觀卷五上載,五陰世間有十種不同,眾生若招感之,則亦有十種之別;如有三途之罪苦眾生、人天之受樂眾生、無漏之真聖眾生、慈悲之大士眾生、常住之尊極眾生等分別。又善見律毘婆沙卷四,將眾生世間分為常、無常二種;俱舍論卷八、卷九、卷十,則明示有情世間之生、住、異、滅等現象。另依華嚴經文義綱目將眾生世間分為同生眾、異生眾二類。此外,往生論中舉出,淨土之眾生世間清淨,有八種莊嚴佛功德成就,及四種莊嚴菩薩功德成就。〔出曜經卷二十四、大智度論卷四十七、往生論註卷上、大乘義章卷六〕(參閱「三種世間」649) ; (有情世間) Cũng gọi: Giả danh thế gian, Chúng sinh thế gian, Chúng sinh thế. Chính báo của loài hữu tình, tức chỉ cho tất cả chúng sinh do 5 ấm tạo thành. Một trong 3 loại thế gian. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên, thì Ngũ ấm thế gian có 10 loại khác nhau, nên chúng sinh chiêu cảm cũng có 10 loại bất đồng. Chẳng hạn như chúng sinh chịu tội khổ trong 3 đường, chúng sinh hưởng vui sướng trên cõi trời, cõi người, v.v... còn Thiện kiến luật tì bà sa quyển 4 thì chia chúng sinh thế gian thành 2 loại: Thường và Vô thường; luận Câu xá quyển 8, quyển 9, quyển 10, đã nói rõ hiện tượng sinh, trụ, dị, diệt của Hữu tình thế gian. Hoa Nghiêm kinh văn nghĩa cương mục thì chia Chúng sinh thế gian thành 2 loại là Đồng sinh chúng và Dị sinh chúng. Ngoài ra, luận Vãng sinh nói rằng chúng sinh thế gian của cõi Cực lạc, có 8 thứ trang nghiêm thành tựu công đức của Phật và 4 thứ trang nghiêm thành tựu công đức của Bồ tát. [X. kinh Xuất diệu Q.24; luận Đại trí độ Q.47; Vãng sinh luận chú Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.6]. (xt. Tam Chủng Thế Gian).

Hữu tình 有情

[ja] ウジョウ ujō ||| (sattva). 'Sentient being.' Before Hsüan-tsang 玄奘, this term was written in Chinese as zhongsheng 衆生 but after his time was translated with this term. All living beings. => (s: sattva). Trước thời Huyền Trang, thuật ngữ nầy được dịch sang tiếng Hán là chúng sinh 衆生, nhưng sau đó, được địch là Hữu tình. Toàn thể chúng sinh.

Hữu tính

有性; C: yŏuxìng; J: ushō; |1. Tồn tại, hiện hữu; sự sống (s: asita, astitva); 2. Có tự tính. Có bản tính; 3. Người vốn sở hữu bản chất, khả năng thành Phật. Bản tính Thanh văn, Bích chi Phật và Bồ Tát, khác với loài không có được bản tính như thế.

hữu tính

2432具有出離解脫之性,稱為有性;而無出離解脫之性,惟樂欲生死,不欣求出離,稱為無性。無性即指「一闡提」,關於「一闡提」能否成佛之說,各宗派有不同之見解。〔北本大般涅槃經卷二十六、卷三十二、圓覺經〕(參閱「一闡提」85) ; To have the nature, i.e. to be a Buddhist, have the bodhi-mind, in contrast with vô tính absence of mind, i.e. the xiển đề icchanti, or unconverted. ; (有性) Đối lại: Vô tính. Có tính xuất li, giải thoát sinh tử, gọi là Hữu tính; trái lại, không có tính xuất li, giải thoát sinh tử thì gọi là Vô tính. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.26, Q.32 (bản Bắc); kinh Viên giác]. (xt. Nhất Xiển Đề).

Hữu tính 有性

[ja] ウショウ ushō ||| (1) Existent, existence; being (asita, astitva). (2) Having self-nature. That which has an original nature. (3) Persons possessing the nature capable of buddhahood. The natures of śrāvakas, pratyekabuddhas and bodhisattvas, as opposed to those who lack such a nature. => 1. Tồn tại, hiện hữu; sự sống (s: asita, astitva). 2. Có tự tính. Có bản tính. 3. Người vốn sở hữu bản chất có khả năng thành Phật. Bản tính Thanh văn, Bích chi Phật và Bồ-tát, khác với loài không có được bản tính như thế.

hữu tông

2432指主張諸法為「有」之宗派。又作有教。與主張一切皆空、般若皆空之「空宗」相對。佛教解釋宇宙萬有之立場,原不偏於有、空之任一者,然有宗之說,則偏於現實形相之有,此說以小乘之說一切有部(簡稱有部)為代表。其後有世親之教派與龍樹空觀之對峙,而一再產生空、有之論辯。大乘之有宗則以唯識為根本,屬法相宗。(參閱「空有論爭」3473、「說一切有部」5919) ; (有宗) Cũng gọi Hữu giáo. Đối lại: Không tông. Tông phái chủ trương các pháp có thật. Lập trường giải thích vũ trụ vạn hữu của Phật giáo vốn không nghiêng hẳn về bất cứ một bên nào, hoặc có hoặc không. Nhưng Hữu tông thì chấp có hình tướng hiện thực, mà đại biểu là Thuyết nhất thiết hữu bộ (gọi tắt là Hữu bộ) của Tiểu thừa. Về sau, hệ thống Hữu của ngài Thế thân được phát triển song song với hệ thống Không quán của ngài Long thụ và đã đưa đến cuộc tranh luận về Không, Hữu. Hữu tông của Đại thừa lấy Duy thức làm căn bản và đại biểu là tông Pháp tướng. (xt. Hữu Không Luận Tranh, Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ).

hữu tùy miên tâm

Samusaya-citta (S) Tâm có phiền não.

hữu tướng

2436梵語 sākāra。有形相之意。為「無相」之對稱。據大乘起信論、大日經卷七等所舉,有相,係指差別有形之事相。又具有生滅遷流之相者,亦稱有相,又稱有為法。另據法華經玄義卷十上載,以「有」之理得道者,若將其分為十地等之階級差別,以顯示其功德行相者,亦稱為有相。此外,如觀世俗之事相差別,稱為有相觀;修種種善事萬行,稱為有相善;明示位置,設立清淨形像之淨土,稱為有相士等等,皆係以事相之差別,而對無相之平等稱為有相者。 有相、無相二者,一般多以有相為淺義,無相為深義,然在密教中,則認為有相有淺略、深祕二義,即:(一)淺略之有相,謂凡夫所知之色心等諸法,事相顯了,心前現行,極易了知。(二)深祕之有相,謂一切法的各各之相,分明而住;此即以三密瑜伽之事相,作為深祕之有相之意。〔大日經疏卷一〕(參閱「有相無相」2437、「無相」5103) ; To have form, whatever has form, whether ideal or real. ; (有相) Phạm:Sàkàra. Đối lại: Vô tướng. Có hình tướng. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín và kinh Đại nhật quyển 7, thì hữu tướng chỉ cho tướng trạng sai biệt của các pháp hữu hình. Những gì có tướng sinh diệt đổi dời đều gọi là Hữu tướng hay Hữu vi pháp. Theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 10 phần trên, nếu dùng lí Hữu mà đắc đạo, rồi chia Hữu thành các cấp bậc khác nhau như Thập địa, v.v... để hiển bày công đức hành tướng của nó thì cũng gọi là Hữu tướng. Ngoài ra, quán xét sự tướng sai biệt của thế tục, gọi là Hữu tướng quán; tu muôn hạnh thiện gọi là Hữu tướng thiện; chỉ rõ vị trí, thiết lập Tịnh độ bằng hình tượng thanh tịnh, gọi là Hữu tướng độ, v.v... đều là căn cứ vào sự tướng sai biệt, đối với vô tướng bình đẳng mà gọi là Hữu tướng. Thông thường, phần nhiều cho nghĩa Hữu tướng là nông cạn, mà nghĩa vô tướng là sâu xa, nhưng Mật giáo thì cho rằng hữu tướng gồm có 2 nghĩa: Cạn hẹp và sâu kín. 1. Nghĩa cạn hẹp: Các pháp sắc tâm mà người thường nhận thấy hàng ngày, có sự tướng rõ ràng, hiện hành trước tâm, rất dễ biết rõ. 2. Nghĩa sâu kín: Tướng của tất cả pháp, mỗi mỗi đều rõ ràng mà an trụ, đây là dùng sự tướng của Tam mật du già làm ý nghĩa cho hữu tướng sâu kín. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1]. (xt. Hữu Tướng Vô Tướng, Vô Tướng).

hữu tướng an lạc hành

2436為「無相安樂行」之對稱。乃天台宗基於普賢觀經之說,及據南嶽慧思之四安樂行偈文而立。即認為理觀為無相安樂行,事誦為有相安樂行。亦即以散心誦念法華經,不入禪定三昧,於坐、立、行中,皆一心誦念法華經之文字,稱為有相安樂行。凡以此行而有成就者,得見普賢上妙之身。〔法華經安樂行義、萬善同歸集卷二〕(參閱「安樂行」2407、「無相安樂行」5104) ; (有相安樂行) Đối lại: Vô tướng an lạc hạnh. Pháp môn tu hành chỉ cần một lòng tụng niệm kinh Pháp hoa. Pháp môn này do tông Thiên thai căn cứ vào kinh Phổ hiền quán và văn kệ Tứ an lạc hạnh của ngài Nam nhạc Tuệ tư mà lập ra. Tông Thiên thai cho rằng lí quán là Vô tướng an lạc hạnh, còn sự tụng là Hữu tướng an lạc hạnh. Nghĩa là không cần vào thiền định tam muội, mà trong tất cả mọi lúc như đi, đứng, ngồi phải nhất tâm tụng niệm văn kinh Pháp hoa, như thế gọi là Hữu tướng an lạc hạnh. Nếu tu hạnh này mà thành tựu thì thấy được thân thượng diệu của bồ tát Phổ hiền. [X. Pháp hoa kinh an lạc hạnh nghĩa; Vạn thiện đồng qui tập Q.2]. (xt. An Lạc Hạnh, Vô Tướng An Lạc Hạnh).

hữu tướng chấp trước

2437有相,指差別有形之事相。若執著種種差別之事相,即稱為有相執。 ; (有相執著) Bám chặt vào những sự tướng sai biệt hữu hình.

hữu tướng giáo

2437又作三乘別教。為劉宋之慧觀及南齊之劉虬所立五時教之一。即謂佛陀成道之後,為三乘之人宣說差別之教門,如宣說阿含經等小乘教,以開演三乘有相之法。據三論玄義卷上載,三乘別教係為聲聞之人說四諦,為辟支佛說十二因緣,為大乘之人明示六度,此三乘人之行因有別,故得果各異,此即三乘差別有相之教門。〔大乘義章卷一〕(參閱「五時教」1136) ; The first twelve years of the Buddha's teaching, when he treated the phenomenal as real. ; (有相教) Cũng gọi Tam thừa biệt giáo. Giáo môn hữu tướng sai biệt mà đức Phật tuyên thuyết cho hàng Tam thừa sau khi Ngài thành đạo. Là một trong 5 thời phán giáo do ngài Tuệ quán đời Lưu Tống và ngài Lưu cầu đời Nam Tề thành lập. Cứ theo Tam luận huyền nghĩa quyển thượng, thì Tam thừa biệt giáo là nói Tứ đế cho hàng Thanh văn, nói 12 nhân duyên cho hàng Bích chi phật, chỉ dạy pháp Lục độ cho hàng Đại thừa; vì nhân hạnh của hàng Tam thừa này khác nhau nên chứng quả cũng bất đồng. Đó là giáo môn Hữu tướng sai biệt của Tam thừa. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.1]. (xt. Ngũ Thời Giáo).

hữu tướng liệt huệ cơ

2436為「無相勝慧機」之對稱。密教行者修有相三密(手結印契,口誦真言,心觀本尊)之行,藉以成就「即身成佛」之妙行;有相劣慧機即指修有相三密之行者。劣慧機,指根機劣鈍者,或指無信之眾生;此係就相對之無相勝慧機而言。又此機分為四種:(一)深智相應印明行,(二)事觀相應結誦行,(三)唯信作印誦明行,(四)隨於一密至功行。〔五輪九字明祕釋(日僧覺鍐)〕 ; (有相劣慧機) Đối lại: Vô tướng thắng tuệ cơ. Chỉ cho các hành giả Mật giáo có căn cơ yếu kém, chuyên tu hạnh tam mật hữu tướng (tay kết ấn khế, miệng tụng chân ngôn, tâm quán Bản tôn) để thành tựu diệu hạnh Tức thân thành Phật . Căn cơ này được chia làm 4 loại: 1. Thâm trí tương ứng ấn minh hạnh. 2. Sự quán tương ứng kết tụng hạnh. 3. Duy tín tác ấn tụng minh hạnh. 4. Tùy ư nhất mật chí công hạnh. [X. Ngũ luân cửu tự minh bí thích (Giác tông)].

hữu tướng nghiệp

Action through faith in the idea, e.g. of the Pure Land; the acts which produce such results.

hữu tướng quán

2437為「無相觀」之對稱。即觀世俗之事相差別。亦即取流轉、還滅、染淨等相,作為所觀之境,稱為有相觀。據成唯識論卷九載,於菩薩十地中,前四地菩薩因觀智未純熟,故觀真俗各別;第五地菩薩始證類無別真如,開啟事理不二之知見,得真俗合觀,然所修之觀猶多流轉、還滅、染淨等相,無相觀甚少;第六地菩薩多住於無相之行,雖有相觀少,無相觀多,然未能全脫流轉等相;第七地菩薩雖只有無相觀,然尚須加功用行以相續之。第八地菩薩入於無相觀中,不須加功用行,即可任運相續之。 ; (有相觀) Đối lại: Vô tướng quán. Quán xét sự tướng sai biệt của thế gian, tức dùng các tướng lưu chuyển, hoàn diệt, nhiễm tịnh... làm cảnh sở quán. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 9, trong 10 địa Bồ tát, thì Bồ tát 4 địa trước, vì trí quán chưa nhuần nhuyễn nên quán chân tục khác nhau; Bồ tát địa thứ 5 mới chứng loại vô biệt chân như, khơi mở tri kiến sự lí không hai, được chân tục hợp quán, nhưng pháp quán sở tu vẫn còn nhiều tướng lưu chuyển, hoàn diệt, nhiễm tịnh, nên sức quán hữu tướng thì mạnh, mà sức quán vô tướng thì yếu kém. Bồ tát địa thứ 6 thường an trụ nơi hạnh vô tướng, tuy sức quán hữu tướng yếu, sức quán vô tướng mạnh, nhưng cũng chưa hoàn toàn trút bỏ được các tướng lưu chuyển, hoàn diệt, nhiễm tịnh (...) Bồ tát địa thứ 7 tuy đạt được vô tướng quán nhưng vẫn còn phải gia công dụng hạnh mới được tương tục. Bồ tát địa thứ 8 đã hoàn toàn nhập vào vô tướng quán, không cần gia công dụng hạnh mà vẫn được tự nhiên tương tục.

hữu tướng tam mật

2436為「無相三密」之對稱。三密,指身密、口密(語密)、意密(心密)。有相三密,即指密教修行者手結印契,口誦真言,心觀本尊。行者藉著有相三密之實際行法,將自己之身口意三業轉成如來之身口意三密,藉三密之加持,而可成就「即身成佛」之妙行。反之,無相三密,則以眾生一切身之所作為身密,一切音聲為語密,一切思念為意密。(參閱「三密」606) ; (有相三密) Đối lại: Vô tướng tam mật. Tam mật chỉ cho Thân mật, Khẩu mật (Ngữ mật), Ý mật (Tâm mật). Hữu tướng tam mật tức là người tu hành Mật giáo, tay kết ấn khế, miệng tụng chân ngôn và tâm quán Bản tôn. Hành giả tu Hữu tướng tam mật để chuyển 3 nghiệp thân, khẩu, ý của mình thành 3 mật thân, khẩu, ý của Như lai, nhờ sự gia trì của 3 mật mà thành tựu diệu hạnh Tức thân thành Phật . Trái lại, Vô tướng tam mật thì lấy tất cả hành vi thuộc về thân của chúng sinh làm thân mật, tất cả âm thanh làm ngữ mật, tất cả tư niệm làm ý mật. (xt. Tam Mật).

hữu tướng tông

2437為法相宗之別名。又作相宗。乃「無相宗」(指三論宗)之對稱。本宗之祖師為唐代玄奘大師,宗旨係以心外之境為無,心內之法為有,並以阿賴耶識為根本識;立五位百法,分別有為、無為諸法之相,又以有教、空教、中道教三時,分判佛陀一代之聖教。此外,本宗因係唯識大乘,故又稱有相大乘。〔宋高僧傳卷四、選擇本願念佛集」(參閱「法相宗」3373) ; Realistic sect. Xem hữu giáo. ; (有相宗) Cũng gọi Tướng tông, Pháp tướng tông, Duy thức tông. Đối lại: Vô tướng tông. Tông phái chủ trương cảnh ngoài tâm là không, pháp trong tâm là có; Sơ tổ của tông này là đại sư Huyền trang đời Đường. Hữu tướng tông lấy thức A lại da làm thức căn bản, lập ra 5 vị 100 pháp để phân biệt tướng trạng của các pháp hữu vi, vô vi và dùng 3 thời: Hữu giáo, Không giáo, Trung đạo giáo để phân chia Thánh giáo do đức Phật nói trong một đời. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Pháp Tướng Tông).

hữu tướng vô tướng

2437為有相與無相之並稱。即有形相者,稱為有相;無形相者,稱為無相。有相亦即指有形相而能與他物區別者。又一般以會生滅變化之事物為有相,故有相亦稱有為法。無相為「有相」之對稱,然有時則指超越有、無二相之空而言。據大智度論卷六十一所舉,無相有假名相、法相、無相相等三種相,以此三相皆無所得,故稱無相。 又依據相對、差別之原理而立者,是為有相;而依據絕對、平等之空理而立者,是為無相。依此,而有所謂有相教、無相教;有相行、無相行;有相觀、無相觀;有相善、無相善等分別。 淨土宗將阿彌陀佛之西方淨土,以位置及清淨之形像表示之,稱為有相淨土。然若根據無色無形之空理,而認為宇宙之一切即是淨土者,則稱為無相淨土。 密宗對有相、無相二者,有深淺二種不同的解釋。(一)淺略者,謂以凡夫之認識,可以明確的指認諸法之形相者,是為有相;而諸法之本質為空,無形無色者,是為無相。(二)深祕者,謂一切萬法各自本來之形相,分明而住,是為有相;而在一相之中具足一切相,然又不留一相者,是為無相。 天台宗將安樂行分為有相、無相二種:(一)有相安樂行,即不入禪定三昧,一心誦念法華經文者。(二)無相安樂行,即以法華經之妙理,修一念三千之妙觀者。又禪宗主張教門為有相,禪門為無相。 此外,就諸佛之身相而言,若以佛身為三十二相、八萬四千之相好者,稱為有相佛;若以佛身為理體空寂、無色無形者,稱為無相佛。一般以諸佛之法身為無相,報應身為有相。然關於法身為有相或無相之說,諸師看法不一。 蓋一切萬法以其各自之性,形成宇宙中森羅萬象之面貌,然此種「有相」,因其生滅變化無常,本質為空,故非實有。若不執著此一有形之境界,則可入於涅槃之無相境界。然若以般若智慧觀照實相之真理者,則可超越有相、無相之別,而體達二者乃相即相入,圓融無礙之理。〔大寶積經卷五、大日經卷七、大乘起信論、十二門論觀相門、大智度論卷十八、法華經玄義卷十上、往生論註卷上、卷下、安樂集卷上、卷下〕

hữu tưởng

2448梵語 saṃjñin,巴利語 saññin。為「無想」之對稱。指具有感覺、認識、意志、思考等意識作用;或指具有此等作用之有情眾生。據法華經隨喜功德品所舉,眾生有有形、無形、有想、無想、非有想非無想等多種。於金剛經中亦有「若有想、若無想」一語。此外,有想又指有想天,係有想眾生所居之處。 ; To have thoughts, or desires, opp vô tưởng. ; (有想) Phạm: Saôjĩin. Pàli:Saĩĩin. Đối lại: Vô tưởng. Có cảm giác, nhận thức, ý chí tư duy hoặc chỉ cho hữu tình chúng sinh có đủ các tác dụng này. Cứ theo phẩm Tùy hỉ công đức trong kinh Pháp hoa, thì chúng sinh có nhiều loại như: Hữu hình, vô hình, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng phi vô tưởng, v.v... Trong kinh Kim cương cũng có câu: Nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng … Ngoài ra, Hữu tưởng cũng chỉ cho cõi trời Hữu tưởng, là nơi ở của loài chúng sinh có tư tưởng.

hữu tưởng chấp trước

2448認為人之感官所感知之事物為實有,而於諸事物固執不捨,稱為有想執著。 ; (有想執著) Chấp trước những sự vật mà cảm quan con nguời nhận biết là có thật, rồi cố bám níu lấy không chịu rời bỏ.

hữu tưởng luận

2449係認為眾生於未來死後仍保有感覺、認識、意志、思考等意識作用之見解。於古代印度外道所執六十二種錯誤見解中,屬於執著未來所起之常見。據瑜伽師地論卷六載,由四個四句構成十六種,故又稱十六種有想論、十六有想論。 初四句為想與色之相對,即:(一)有色有想,又作我有色死後有想論。即執著我為色法,並認為「我」死後仍有意識,除無想天外,存在於欲界及色界。(二)無色有想,又作我無色死後有想論。即執著我為「無色蘊」,於死後仍有意識,除無想天外,存在於欲界乃至無所有處。(三)亦有色亦無色有想,又作我亦有色亦無色死後有想論。即執著我為「五蘊」,於死後仍有意識,存在於全部欲界。(四)非有色非無色有想,又作我非有色非無色死後有想論。即認為我乃色、心俱非之我,且此非色非心之我乃常住而不壞滅者。 第二個四句,係想與邊、無邊之相對,即:(一)有邊有想,又作我有邊死後有想論。即執著我為色或非色,又以「我體」為有差別性、限度性,且其所依、所緣者亦有差別性、限度性,故為有邊(「邊」即邊際、有差別、有限性等之意),而死後亦有意識,存在於無想天以外之欲界及全部色界。(二)無邊有想,又作我無邊死後有想論。執著我為色或非色之法,又我可遍於一切處,故為無邊,於死後仍有意識,隨其所應而存在於全部欲界。(三)亦有邊亦無邊有想,又作我亦有邊亦無邊死後有想論。執著我為色法者,認為我之「量」隨所依身之卷舒而為有邊或無邊;執著我為非色之法者,則認為隨有量或無量之所依及所緣,為有邊或無邊;於死後仍有意識,隨其所應而存在於全部欲界。(四)非有邊非無邊有想,又作我非有邊非無邊死後有想論。否定我為有邊或無邊,而主張死後生於有想地。 第三個四句,即:(一)一想,又作我有一想、唯一想。即認為我於無色界四天中之下三天時,彼諸想僅依「意門」而流轉,故我僅有一想。(二)種種想,又作若干想、我有種種想。即認為我於欲界、色界時,彼諸想依「六根門」而轉,緣種種境,故我有種種想。(三)小想,又作我有小想。即執著我為小色、小無色,依小身、緣小境,故我為狹小。其中,以我為「小色蘊」者,謂我除無想天外,存在於欲界及色界;以我為「小無色蘊」(即受、想、行、識等四蘊之隨一)者,謂我除無想天外,存在於欲界乃至無所有處。(四)無量想,又作我有無量想。即執著我為無量之色蘊,或執著我為無量受、想、行、識之無色蘊。其中,執著我為色蘊者,謂我遍於一切處,以意識為「我所」,依無量身,緣無量境,與彼相合,故有無量想,存在於無想天以外之欲界、色界;執著我為無量之無色蘊者,謂我存在於無想天以外之欲界乃至無所有處。 第四個四句,即:(一)我純有樂,又作有樂有想。為色界四禪天中之下三禪天的「我」之受相。(二)我純有苦,又作有苦有想。為地獄界的我之受相。(三)我有苦有樂,又作有苦有樂有想。為鬼、畜生、人及欲界天的我之受相。(四)我無苦無樂,又作非有苦非有樂有想。為色界第四禪天以上的我之受相。此四項見解皆認為於此世、他世皆同,而以苦等之感受為客,「我體」於不明了之狀況下而流轉,於死後仍有意識。〔長阿含卷十四梵動經、大毘婆沙論卷一九九、大乘義章卷六〕(參閱「六十二見」1241、「常見」4526) ; (有想論) Luận thuyết cho rằng chúng sinh sau khi chết vẫn có các tác dụng ý thức như: Cảm giác, nhận thức, ý chí, tư duy, v.v... Đây là thường kiến trong 62 loại kiến chấp của ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 6, thì do 4 loại Tứ cú mà tạo thành 16 loại Hữu tưởng luận. Tứ cú thứ 1: Tưởng và Sắc đối đãi nhau. 1. Hữu sắc hữu tưởng (cũng gọi Ngã hữu sắc tử hậu hữu tưởng luận): Chấp trước Ngã là sắc pháp và cho rằng sau khi chết, Ngã vẫn có ý thức và tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, nhưng không tồn tại ở cõi trời Vô tưởng. 2. Vô sắc hữu tưởng (cũng gọi Ngã vô sắc tử hậu hữu tưởng luận): Chấp trước Ngã là vô sắc uẩn , sau khi chết vẫn có ý thức và tồn tại ở cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ, chỉ trừ cõi trời Vô tưởng. 3. Diệc hữu sắc diệc vô sắc hữu tưởng (cũng gọi Ngã diệc hữu sắc diệc vô sắc tử hậu hữu tưởng luận): Chấp trước Ngã là Ngũ uẩn , sau khi chết vẫn có ý thức và tồn tại ở khắp cõi Dục. 4. Phi hữu sắc phi vô sắc hữu tưởng (cũng gọi Ngã phi hữu sắc phi vô sắc tử hậu hữu tưởng luận): Tức cho rằng Ngã chẳng phải sắc chẳng phải tâm, thường trụ không hoại diệt. Tứ cú thứ 2: Tưởng và Biên, Vô biên đối đãi nhau. 1. Hữu biên hữu tưởng (cũng gọi Ngã hữu biên tử hậu hữu tưởng luận): Chấp trước Ngã là sắc hoặc chẳng phải sắc, cho thể của Ngã cũng như sở y, sở duyên của nó đều có tính sai biệt, tính giới hạn, sau khi chết cũng có ý thức và tồn tại ở cõi Dục, cõi Sắc, chỉ trừ cõi trời Vô tưởng. 2. Vô biên hữu tưởng (cũng gọi Ngã vô biên tử hậu hữu tưởng luận): Chấp trước Ngã là sắc pháp hoặc chẳng phải sắc pháp, trùm khắp tất cả mọi chỗ, sau khi chết vẫn có ý thức, tùy chỗ thích ứng mà tồn tại trong toàn bộ cõi Dục. 3. Diệc hữu biên diệc vô biên hữu tưởng (cũng gọi Ngã diệc hữu biên diệc vô biên tử hậu hữu tưởng luận): Nếu chấp trước Ngã là sắc pháp thì cho rằng lượng của Ngã tùy theo sự biến hiện của thân sở y mà là hữu biên hay vô biên; nếu chấp trước Ngã chẳng phải là sắc pháp thì cho rằng tùy theo sở y và sở duyên có hạn lượng hay không hạn lượng, mà hữu biên hoặc vô biên; sau khi chết vẫn có ý thức và tùy chỗ thích ứng mà tồn tại trong toàn bộ cõi Dục. 4. Phi hữu biên phi vô biên hữu tưởng (cũng gọi Ngã phi hữu biên phi vô biên tử hậu hữu tưởng luận): Không thừa nhận Ngã là hữu biên hay vô biên và chủ trương sau khi chết sinh về cõi Hữu tưởng. Tứ cú thứ 3: 1. Nhất tưởng (cũng gọi Ngã hữu nhất tưởng, Duy nhất tưởng): Tức cho rằng khi Ngã ở 3 tầng trời dưới trong 4 tầng trời cõi Vô sắc, thì các tưởng của Ngã chỉ nương vào ý môn mà lưu chuyển, cho nên Ngã chỉ có 1 tưởng. 2. Chủng chủng tưởng (cũng gọi Nhược can tưởng, Ngã hữu chủng chủng tưởng): Tức cho rằng khi Ngã ở cõi Dục, cõi Sắc thì các tưởng của Ngã nương vào lục căn môn mà chuyển, duyên theo nhiều cảnh, cho nên Ngã có nhiều thứ tưởng. 3. Tiểu tưởng (cũng gọi Ngã hữu tiểu tưởng): Chấp trước, Ngã là tiểu sắc, tiểu vô sắc, nương vào tiểu thân, duyên theo tiểu cảnh, cho nên là Ngã nhỏ hẹp. Trong đó, nếu cho ngã là tiểu sắc uẩn , thì Ngã tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, chứ không tồn tại ở cõi trời Vô tưởng. Còn nếu cho Ngã là tiểu vô sắc uẩn (tức bất cứ một uẩn nào trong 4 uẩn: Thụ, tưởng, hành, thức), thì trừ cõi trời Vô tưởng, Ngã tồn tại ở cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ. 4. Vô lượng tưởng (cũng gọi Ngã hữu vô lượng tưởng): Chấp trước Ngã là sắc uẩn vô lượng, hoặc chấp trước Ngã là vô sắc uẩn (thụ, tưởng, hành, thức) vô lượng. Trong đó, nếu chấp trước Ngã là sắc uẩn thì Ngã trùm khắp tất cả mọi chỗ, lấy ý thức làm Ngã sở nương vào vô lượng thân, duyên theo vô lượng cảnh, hợp cùng với sắc uẩn kia, cho nên có vô lượng tưởng, Ngã tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, chỉ trừ cõi trời Vô tưởng. Còn nếu chấp trước Ngã là vô sắc uẩn vô lượng, thì ngoài trừ cõi trời Vô tưởng, Ngã tồn tại ở cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ. Tứ cú thứ 4: 1. Ngã thuần hữu lạc (cũng gọi Hữu lạc hữu tưởng): Cảm thụ của Ngã ở các cõi trời Sơ thiền, Nhị thiền và Tam thiền cõi Sắc. 2. Ngã thuần hữu khổ (cũng gọi Hữu khổ hữu tưởng): Cảm thụ của Ngã ở địa ngục. 3. Ngã hữu khổ hữu lạc(cũng gọi Hữu khổ hữu lạc hữu tưởng): Cảm thụ của Ngã ở các cõi quỉ đói, súc sinh, người và các trời cõi Dục. 4. Ngã vô khổ vô lạc(cũng gọi Phi hữu khổ phi hữu lạc hữu tưởng): Cảm thụ của Ngã ở cõi trời Đệ tứ thiền cõi Sắc trở lên. Bốn loại kiến giải trên đây đều cho rằng đời này, đời khác giống nhau, các cảm giác như khổ, vui, v.v... là khách, còn Ngã thể thì lưu chuyển trong trạng thái mờ mịt, sau khi chết thì vẫn có ý thức. [X. kinh Phạm động trong Trường a hàm Q.14; luận Đại tì bà sa Q.199; Đại thừa nghĩa chương Q.6]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến, Thường Kiến).

hữu tưởng vô tưởng phi hữu tưởng phi vô tưởng

2449想,梵語 saṃjñā,指感受、觀念、概念、意識等心及心所之作用。有想,梵語 saṃjñin,巴利語 saññin。無想,梵語 a-saṃjñin,巴利語 a-saññin。非有想非無想,梵語 naiva-saṃjñin-nāsaṃjñin,巴利語 neva-saññināsaññin。又作想無想非想非無想。係依情之有無,而將眾生之所居分為有想、無想、非有想非無想三類。 據金剛般若波羅蜜經破取著不壞假名論卷上載,有想,即於空無邊處起空想,於識無邊處起識想之意;無想,即於無所有處離少想之意;非有想非無想,則為有頂所攝。此係將三種有情眾生,配以空無邊處、識無邊處、無所有處、有頂等無色界之四處。 此外,金剛般若經贊述卷上(大三三‧一三一上):「有想者謂七有想,無想者謂五無想,非想非無想者除前二,此依有宗釋。大乘解者謂,識處名有想,無所有處名無想,無少所有,第三非想者非前識處,故非非想者即非前無少所有處。」此係舉出有部宗與大乘之解釋,其中有部宗之解釋,或係於九有情居之中,分別以七識住為有想,無想天為無想,非想非非想處為非有想非無想之方式加以配置;而大乘之解釋,則係於無色界四處之中,將識無邊處配於有想、無所有處配於無想、非想非非想處配於非有想非無想。〔法華經卷六隨喜功德品、大般若經卷五七七、金剛般若波羅蜜經、金剛能斷般若波羅蜜經、金剛般若經疏、金剛般若疏卷二〕(參閱「九地」132、「九有情居」133) ; (有想無想非有想非無想) Cũng gọi Tưởng vô tưởng phi tưởng phi vô tưởng. Tưởng, Phạm:Saôjĩà: Cảm thụ, quan niệm, khái niệm, ý thức…. Hữu tưởng, Phạm: Saôjĩin. Pàli: Saĩĩin. Vô tưởng, Phạm: A-saôjĩin.Pàli: Asaĩĩin. Phi hữu tưởng phi vô tưởng, Phạm: Naiva-saôjĩin-nàsaôjĩin. Pàli:Neva-saĩĩinàsaĩĩin. Tùy theo loài chúng sinh có tưởng hay không có tưởng mà chia nơi hữu tình chúng sinh ở làm 3 loại là Hữu tưởng, Vô tưởng và Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Cứ theo luận Kim cương Bát nhã ba la mật phá thủ trước bất hoại giả danh quyển thượng, thì Hữu tưởng nghĩa là đối với Không vô biên xứ khởi không tưởng, đối với Thức vô biên xứ khởi thức tưởng; Vô tưởng nghĩa là đối với Vô sở hữu xứ lìa thiểu tưởng, còn Phi hữu tưởng phi vô tưởng thì thuộc về Hữu đính. Đây là phối hợp hữu tình chúng sinh với 4 cõi trời Vô sắc. Ngoài ra, theo sự giải thích của Đại thừa và Hữu bộ tông, nhất là của Hữu bộ tông, trong 9 nơi ở của hữu tình thì 7 Thức trụ được phối với Hữu tưởng, trời Vô tưởng là Vô tưởng, Phi tưởng phi phi tưởng xứ là Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Còn cách giải thích của Đại thừa thì trong 4 nơi thuộc cõi Vô sắc, Thức vô biên xứ được phối với Hữu tưởng, Vô sở hữu xứ phối với Vô tưởng, Phi tưởng phi phi tưởng xứ phối với Phi hữu tưởng phi vô tưởng. [X. phẩm Tùy hỉ công đức trong kinh Pháp hoa Q.6; kinh Đại bát nhã Q.577; kinh Kim cương bát nhã ba la mật; kinh Kim cương năng đoạn bát nhã ba la mật; Kim cương bát nhã kinh sớ; Kim cương bát nhã sớ Q.2]. (xt. Cửu Địa, Cửu Hữu Tình Cư).

hữu tất trước địa

1616為印度之敬禮法。即以右膝跪地,右趾尖觸地,使右股在空,又豎左膝於上,使左足蹠著於地。又作互跪、胡跪。據釋門歸敬儀卷下載,所謂互跪,即左右兩膝交互跪地,乃有所啟請之意,或用於悔過授受之儀式,多為比丘所用。若以兩膝據地,兩脛翹空,兩足趾拄地,挺身而立者,則稱長跪,多為比丘尼所用。法華經信解品(大九‧一六中):「偏袒右肩,右膝著地,一心合掌。」〔禪林象器箋卷十禮則門〕 ; (右膝著地) Cũng gọi Hỗ quị, Hồ quị. Quì gối bên phải, đầu các ngón chân phải chấm đất, đầu gối bên trái dựng đứng, bàn chân trái đạp đất. Là một trong những phép lễ kính của người Ấn độ. Phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 16 trung), nói: Trật áo trên vai bên phải, đầu gối bên phải đặt sát đất, một lòng chắp tay . [X. môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.10].

hữu tầm hữu tứ

2443巴利語 savitakka-savicāra。與尋、伺二心所相應之意。據俱舍論卷二載,十八界之法中,就尋、伺二法相應之有無,可分為四品,即:有尋有伺、無尋無伺、無尋唯伺、無伺唯尋。其中,眼等前五識,以行相粗外門轉,故與尋、伺恆常相應,是為有尋有伺。五根、五境之十色界,非相應法,故常不與尋、伺相應,是為無尋無伺。意界、意識界、法界等三界,通於有尋有伺、無尋唯伺、無尋無伺之三品。亦即在欲界及初靜慮中,意界、意識界及法界等三界,除尋、伺二法外,其餘之相應法常與尋、伺相應,故為有尋有伺。而在初靜慮及第二靜慮中間,此等之法唯與伺相應,故為無尋唯伺。第二靜慮以上乃至有頂地,此等之法不與尋、伺相應,故為無尋無伺。由此可知,欲界及初靜慮稱為有尋有伺地,初靜慮及第二靜慮中間稱為無尋唯伺地,第二靜慮以上稱為無尋無伺地。 此外,法界中之非相應法及靜慮中間之伺法,皆為無尋無伺。又尋法唯與伺法相應,故一切時中,皆為無尋唯伺。而在欲界與初靜慮中之伺法,唯與尋法相應,故為無伺唯尋。然於大毘婆沙論等經論中,尚有其他異說。〔大毘婆沙論卷五十二、卷九十、卷一四五、瑜伽師地論卷四、卷五十六、大乘阿毘達磨雜集論述記卷四、順正理論卷四、俱舍論卷十、俱舍論光記卷二〕 ; (有尋有伺) Pàli:Savitakka-savicàra. Pháp tương ứng với 2 tâm sở Tầm và Tứ.Cứ theo luận Câu xá quyển 2, thì trong 18 giới, nói về tương ứng hay không tương ứng với tầm, tứ, thì có thể chia làm 4 phẩm: Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm vô tứ, Vô tầm duy tứ (không có tầm chỉ có tứ) Vô tứ duy tầm (không có tứ chỉ có tầm). Trong đó, hành tướng của 5 thức trước (thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân) thì thô và chuyển biến ở bên ngoài, cho nên thường tương ứng với tầm, tứ, tức là Hữu tầm hữu tứ. Mười sắc giới (5 căn, 5 cảnh) không phải là những pháp tương ứng, cho nên thường không tương ứng với tầm, tứ, tức là Vô tầm vô tứ. Ba giới: Ý giới, ý thức giới và pháp giới thì chung cho cả 3 phẩm: Hữu tầm hữu tứ, vô tầm duy tứ và Vô tầm vô tứ. Tức là 3 giới này, trong cõi Dục và Sơ tĩnh lự, ngoại trừ 2 pháp tầm, tứ, còn các pháp tương ứng khác thì thường tương ứng với tầm, tứ, cho nên là Hữu tầm hữu tứ. Còn trong khoảng Sơ tĩnh lự và Tĩnh lự thứ 2 thì các pháp này chỉ tương ứng với tứ, cho nên là Vô tầm duy tứ. Từ Tĩnh lự thứ 2 trở lên cho đến Hữu đính địa, thì những pháp này không tương ứng với tầm, tứ, cho nên là Vô tầm vô tứ. Do đó, cõi Dục và Sơ tĩnh lự được gọi là Hữu tầm hữu tứ địa; khoảng giữa Sơ tĩnh lự và Tĩnh lự thứ 2 được gọi là Vô tầm duy tứ địa; còn từ Tĩnh lự thứ 2 trở lên được gọi là Vô tầm vô tứ địa. Ngoài ra, các pháp phi tương ứng trong pháp giới và pháp tứ của Tĩnh lự trung gian, đều là Vô tầm vô tứ. Còn pháp tầm thì chỉ tương ứng với pháp tứ, cho nên trong tất cả thời gian, đều là Vô tầm duy tứ. Pháp tứ thì trong cõi Dục và Sơ tĩnh lự chỉ tương ứng với pháp tầm, cho nên là Vô tứ duy tầm. Tuy nhiên, trong các kinh luận như luận Đại tì bà sa, v.v... còn có nhiều thuyết khác. [X. luận Đại tì bà sa Q.52, Q.90, Q.145; luận Du già sư địa Q.4, Q.56; Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận thuật kí Q.4; luận Thuận chính lí Q.4; luận Câu xá Q.10; Câu xá luận quang kí Q.2].

hữu tầm hữu tứ tam ma địa

2443梵語 savitarka-savicāra-samādhi,巴利語 savitakka-savicāra-samādhi。又作有覺有觀三昧。為三三昧之一。尋,尋求推度,即粗雜之精神作用;伺,伺察思惟,即精細之精神作用。與尋(覺)、伺(觀)二心所相應之定,即為有尋有伺三摩地。為初禪定及未至定所攝。〔俱舍論卷二十八、大智度論卷二十三〕(參閱「三三昧」521) ; (有尋有伺三摩地) Phạm:Savitarka-savicàra-samàdhi. Pàli:Savitakka-savicàra-samàdhi. Cũng gọi Hữu giác hữu quán tam muội. Thiền định tương ứng với 2 tâm sở Tầm (giác) và Tứ(quán), thuộc Sơ thiền và Vị chí định, là một trong 3 loại Tam muội. Tầm nghĩa là suy tính tìm cầu, tức là tác dụng tinh thần thô tạp; Tứ nghĩa là thẩm xét tư duy, là tác dụng tinh thần vi tế. [X. luận Câu xá Q.28; luận Đại trí độ Q.23]. (xt. Tam Tam Muội).

Hữu vi

有爲; C: yŏuwéi; J: ui; S: saṃskṛta; T: ḥdus byas; P: saṅkhāta; nghĩa là »được tạo tác« phụ thuộc, bị ảnh hưởng, đối nghĩa với Vô vi (無爲);|Chỉ tất cả những hiện tượng, vạn vật chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Ðặc điểm chính của những Pháp hữu vi này là Thành, Trụ, Hoại, Diệt. Vì thế nên tất cả những gì hữu vi đều trống rỗng (Không), Vô thường, không có tự tính; bám vào chúng là Khổ.|Trong Tiểu thừa (s: hīnayāna), người ta thường dùng những pháp hữu vi để giảng nghĩa tính chất vô thường của cuộc sống. Ðại thừa (s: mahāyāna) áp dụng danh từ hữu vi vào tất cả những hiện tượng vật chất, tâm lí của thế giới và con người. Ðây chính là nguồn gốc của giáo lí tính Không (s: śūnyatā) của Trung quán tông và học thuyết »Nhất thiết duy tâm tạo« của Duy thức tông.|Tuy nhiên, cách phân chia các pháp theo hữu vi, vô vi thay đổi theo từng tông phái (Pháp tướng tông, Câu-xá tông).|Kinh Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa có ghi lại (Kim cương tứ cú):|一切有爲法。如夢幻泡影|如露亦如電。應作如是觀|Nhất thiết hữu vi pháp|Như mộng huyễn bào ảnh|Như lộ diệc như điện|Ưng tác như thị quán.|*Các pháp hữu vi ấy|Như chiêm bao huyễn mị|Bọt bèo bóng chớp mù|Nên tưởng đều như vậy.

hữu vi

có tạo tác, chỉ chung cả việc có dụng ý tạo tác, có nhân duyên tạo tác. Đây đều là các pháp vô thường, khổ não. ; 2445梵語 saṃskṛta,巴利語 saṅkhata。謂有所作為、造作之意。又稱有為法。泛指由因緣和合所造作之現象;狹義而言,亦特指人的造作行為。亦即一切處於相互聯繫、生滅變化中之現象,而以生、住、異、滅之四有為相為其特徵。相對於此,永遠不變而絕對存在者,則稱為無為法。據俱舍論光記卷五載,因緣造作稱為「為」,色、心等法從因緣生,有因緣之造作,故稱為有為,因此有為亦為緣起法之別名。小乘著重以有為來說明人生無常,大乘則擴大為對世界一切物質現象與精神現象之分析,說明性空、唯心之理。 一般以五蘊為有為法。俱舍宗七十五法中,有為法佔七十二種;唯識宗百法中,有為法佔九十四種。大別之,有為法可分為:色法(物質)、心法(心)、非色非心法(不相應法)三種,稱為三有為。 有為法乃無常之法,於每一剎那皆在轉變、遷移,故又稱為有為轉變。復次,言有為法為無常者,係因凡有為法皆具有生、住、異、滅四相,此即上記所謂的有為法之四個基本特徵,稱為四有為相;此外,亦有將住、異二相合併為一,而立三有為相。 俱舍論卷一曾舉出有為法四種異稱:(一)世路:世,三世之意;路,即法,乃世所依者。謂過去法是世已行之法;現在法,是世正行之法;未來法,是世當行之法。故有為法為三世之所依,故稱為世路。又「世」含有「可破壞」之意,有為法乃可破壞之法,又為無常之所依,故稱為世路。(二)言依:言,指以音聲為其體之言語,乃「能詮之名言」與「所詮之實義」所賴以表顯、依存者。稱有為法為言依者,蓋以所詮之義,與能詮之名,俱墮於三世而行於三世,故稱為言依。(三)有離:離,永離之意,即指涅槃。一切有為諸法終將被捨離,而至涅槃,故稱為有離。(四)有事:事,因之義。有為諸法皆從因而生,故稱為有事。 又有為法須藉因果之關係始能成立,即凡為有為之法,必定會引生其果,故有為又稱有果。此外,另有「有剎那」之異稱,則在強調其剎那間生滅變遷之性質。〔俱舍論卷五、成唯識論卷二、俱舍論頌疏卷一、成唯識論述記卷二末、大乘義章卷二〕(參閱「五位七十五法」1089、「五位百法」1089、「四相」1732) ; Saṃskṛta (S), Saṇkhata (P), Conditioned Phụ thuộc Có tạo tác, có nhơn duyên tạo tác; những chi có tâm, có sắc. Trái nghĩa với Vô vi. Hữu vi pháp: sắc pháp (đất, nước, gió, lửa), phi sắc pháp (tâm, tâm số pháp). Hữu vi tướng: sanh, trụ, dị, diệt. ; Samskrta (S). Active, creative, productive, functioning, causative, effective. phenomenal, the process resulting from the law of karma, v. hữu tác; opposite of vô vi. The three active things tam hữu vi pháp are sắc material, or things which have form, tâm mental and phi sắc phi tâm neither the one nor the other. ; (有爲) Phạm: Saôskfta. Pàli:Saíkhata. Cũng gọi Hữu vi pháp. Pháp do tạo tác mà có. Chỉ chung cho các hiện tượng do nhân duyên hòa hợp mà được tạo ra. Cũng tức là tất cả hiện tượng trong quan hệ hỗ tương, sinh diệt biến hóa, lấy 4 tướng hữu vi sinh, trụ, dị, diệt làm đặc trưng. Ngược lại, pháp nào vĩnh viễn bất biến và tồn tại tuyệt đối thì gọi là Vô vi pháp. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 5, thì nhân duyên tạo tác gọi là Vi , còn các pháp sắc, tâm từ nhân duyên, có sự tạo tác của nhân duyên, cho nên gọi là Hữu vi, do đó, Hữu vi cũng là tên khác của pháp duyên khởi. Tiểu thừa chú trọng việc dùng hữu vi để nói rõ về lẽ vô thường của kiếp người, còn Đại thừa thì đi xa hơn mà đặt nặng việc phân tích tất cả hiện tượng vật chất và tinh thần trong thế giới để thuyết minh lí tính không, duy tâm. Phổ thông cho 5 uẩn là pháp hữu vi, còn trong 75 pháp của tông Câu xá thì pháp hữu vi chiếm hết 72 thứ; trong 100 pháp của tông Duy thức thì pháp hữu vi chiếm 94 loại. Nói một cách bao quát, pháp hữu vi có thể chia ra 3 loại gọi là Tam hữu vi, đó là: Sắc pháp (vật chất), Tâm pháp (tâm) và Phi sắc phi tâm pháp (pháp bất tương ứng). Pháp hữu vi là pháp vô thường, chuyển biến, đổi dời trong từng sát na, vì thế cũng gọi là Hữu vi chuyển biến. Sinh, trụ, dị, diệt (Tứ tướng hữu vi) là đặc trưng căn bản của các pháp hữu vi, cũng có thuyết hợp 2 tướng trụ, dị làm một mà lập Tam tướng hữu vi. Luận Câu xá quyển 1 có nêu 4 tên khác của pháp hữu vi: Thế lộ, Ngôn y, Hữu li và Hữu sự. 1. Thế lộ: Thế nghĩa là tam thế (3 đời); lộ tức là pháp, là chỗ nương tựa của đời (thế). Nghĩa là pháp quá khứ là đời đã qua rồi; pháp hiện tại là đời đang diễn ra; pháp vị lai là đời sẽ diễn ra. Bởi thế pháp hữu vi là chỗ nương tựa của 3 đời, cho nên gọi là Thế lộ. Thế cũng còn bao hàm ý nghĩa có thể phá hoại , pháp hữu vi là pháp có thể phá hoại, mà cũng là chỗ nương tựa của vô thường, cho nên gọi là Thế lộ. 2. Ngôn y: Ngôn chỉ cho lời nói lấy âm thanh làm thể, là pháp mà Danh ngôn năng thuyên và Thực nghĩa sở thuyên dựa vào để biểu hiện và tồn tại. Lí do tại sao pháp hữu vi được gọi là Ngôn y, là vì nghĩa sở thuyên và danh năng thuyên đều rơi vào 3 đời và hiện hành trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). 3. Hữu li: Li nghĩa là xa lìa vĩnh viễn, tức chỉ cho Niết bàn. Tất cả các pháp hữu vi cuối cùng sẽ bị lìa bỏ mà đến Niết bàn, cho nên gọi là Hữu li. 4. Hữu sự: Sự là nhân, nghĩa là các pháp hữu vi đều từ nhân mà sinh ra, cho nên gọi là Hữu sự. Lại nữa, pháp hữu vi phải nhờ quan hệ nhân quả mới thành lập được, như vậy, phàm là pháp hữu vi thì nhất định sẽ sinh ra quả, cho nên Hữu vi cũng được gọi là Hữu quả. Ngoài ra, Hữu vi còn có tên khác là Hữu sát na vì nó có tính chất sinh diệt đổi dời trong từng sát na. [X. luận Câu xá Q.5; luận Thành duy thức Q.2; Câu xá luận tụng sớ Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.2]. (xt. Ngũ Vị Thất Thập Ngũ Pháp, Ngũ Vị Bách Pháp, Tứ Tướng).

hữu vi chuyển biến

2447世上一切事物,皆無常住不變之固定實體,一切既由因緣而生,又隨因緣而滅,此種具有生滅變化之現象,稱為有為轉變。又以其無常輪轉不息,故稱無常轉變或有為無常。成唯識論卷二(大三一‧六上):「有為法因緣力故,本無今有,暫有還無,表異無為,假立四相。(中略)初有名生,後無名滅,生已相似相續名住,即此相續轉變名異,是故四相皆是假立。」由上所述,可知有為法由因緣而起,具有生、住、異、滅四相,以其轉變無常,故唯識家認為四相皆為權假而立,此即有為轉變之義。此外,據俱舍論卷四之詮釋,所謂轉變,即於相續流轉中,前與後相互變異;故有為法之四相,即具有轉變之義。 ; The permutation of activity, or phenomene, in arising, abiding, change, and extinction. ; (有爲轉變) Tất cả sự vật trong thế gian đều do nhân duyên sinh, rồi cũng theo nhân duyên mà diệt, sinh diệt chuyển biến không ngừng, gọi là Hữu vi chuyển biến. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 6 thượng), nói: Do sức nhân duyên của pháp hữu vi mà xưa không nay có, tạm thời có rồi lại không, muốn cho thấy khác với vô vi, mà giả lập 4 tướng (...); mới có gọi là Sinh, sau không gọi là Diệt, Sinh rồi giống nhau và nối nhau không dứt gọi là Trụ, sự nối nhau chuyển biến ấy gọi là Dị, vì thế 4 tướng đều là giả lập . Căn cứ vào những điều được trình bày trên đây, ta có thể biết pháp hữu vi do nhân duyên mà sinh, có đủ 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt, vì chúng chuyển biến vô thường nên các nhà Duy thức cho rằng 4 tướng đều là tạm thời giả lập, đó chính là nghĩa Hữu vi chuyển biến. Ngoài ra, theo sự giải thích trong luận Câu xá quyển 4, thì chuyển biến tức là sự biến đổi khác nhau giữa trước và sau trong quá trình lưu chuyển tương tục.

hữu vi công đức

2445指世間一切因緣所生之功德善法。對此而言,涅槃第一義諦則稱無為功德。趙州錄卷下十二時歌(卍續一一八‧一六七上):「日出卯,清淨卻翻為煩惱,有為功德被塵幔,無限田地未曾掃。」〔仁王經卷上(不空)〕 ; (有爲功德) Đối lại: Vô vi công đức. Chỉ cho tất cả công đức thiện pháp thế gian do nhân duyên sinh. Đối lại, Niết bàn đệ nhất nghĩa đế thì gọi là Vô vi công đức.Thập nhị thời ca trong Triệu châu lục (Vạn tục 118, 167 thượng) ghi: Mặt trời mọc vào lúc giờ Mão Thanh tịnh bỗng trở thành phiền não. Hữu vi công đức dính bụi trần Vô hạn ruộng đất chưa từng xáo . [X. kinh Nhân vương Q.thượng].

hữu vi giải thoát

2447為「無為解脫」之對稱。又作無學支。即無學阿羅漢正見相應之勝解。此勝解為心所有法中十種大地法之一,故稱有為;以此有為法之勝解,生起於無學阿羅漢之果體中,故稱有為解脫。可分為時解脫、不時解脫二種,而此二解脫又各有下列二種,即:(一)心解脫,即脫離貪愛之意。(二)慧解脫,即脫離無明之意。此心、慧二解脫於五分法身中,稱為解脫蘊。〔俱舍論卷二十五、大毘婆沙論卷二十八、卷一○一〕(參閱「解脫」5602) ; (有爲解脫) Cũng gọi: Vô học chi. Đối lại: Vô vi giải thoát. Thắng giải tương ứng với chính kiến của bậc Vô học A la hán. Thắng giải này là một trong 10 thứ Đại địa pháp thuộc Tâm sở hữu pháp, cho nên gọi là Hữu vi; lại vì thắng giải của pháp hữu vi này sinh khởi từ trong quả thể của bậc Vô học A la hán, cho nên gọi là Hữu vi giải thoát; chia làm Thời giải thoát và Bất thời giải thoát. Thời giải thoát và Bất thời giải thoát mỗi thứ lại đều có 2 loại: 1. Tâm giải thoát: Xa lìa tham dục. 2. Tuệ giải thoát: Xa lìa vô minh. Trong 5 phần pháp thân, Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát này được gọi là Giải thoát uẩn. [X. luận Câu xá Q.25; luận Đại tì bà sa Q.28, Q.101]. (xt. Giải Thoát).

hữu vi không

2447梵語 saṃskṛta-śūnyatā。為十八空之一。蓋一切有為諸法,皆為因緣之假和合而無自性,故稱有為空。北本大般涅槃經卷十六(大一二‧四六一中):「有為空者,有為之法悉皆是空。」〔摩訶般若波羅蜜經卷五、大智度論卷三十一、卷四十六〕(參閱「十八空」353) ; Saṃskāra-śŪnyatā (S) Pháp do nhân duyên sanh và pháp tướng của nhân duyên đều không. ; The unreality of the phenominal. ; (有爲空) Phạm:Saôskfta-zùnyatà. Tất cả các pháp hữu vi đều không có tự tính vì do nhân duyên giả hòa hợp mà thành. Là một trong 18 thứ không. Kinh Đại bát niết bàn quyển 16 (bản Bắc) (Đại 12, 461 trung), nói: Hữu vi không nghĩa là tất cả các pháp hữu vi đều là không . [X. kinh Ma ha bát nhã ba la mật Q.5; luận Đại trí độ Q.31, Q.46]. (xt. Thập Bát Không).

hữu vi niết bàn

2447為「無為涅槃」之對稱。即不具足常、樂、我、淨等四德。反之,若具足此四德,則稱無為涅槃。南本大般涅槃經卷三舉出涅槃八味,以之配於四德,即:(一)常,以常、恆二味配之。(二)樂,以安、快樂二味配之。(三)我,以不老、不死二味配之。(四)淨,以清淨、無垢二味配之。〔南本涅槃經卷三十二〕 ; (有爲涅槃) Đối lại: Vô vi Niết bàn. Niết bàn không có đủ 4 đức: Thường, lạc, ngã, tịnh. Trái lại, nếu đầy đủ 4 đức ấy thì gọi là Vô vi Niết bàn. Kinh Đại bát niết bàn quyển 3 (bản Nam) có nêu ra 8 vị của Niết bàn để phối với 4 đức: 1. Phối 2 vị thường, hằng với thường. 2. Phối 2 vị an, khoái lạc với lạc. 3. Phối 2 vị không già, không chết với ngã.4. Phối 2 vị trong sạch, không dơ với tịnh. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam)].

Hữu vi pháp

有爲法; C: yŏuwéi fă:; J: uihō; S: saṃskrta, saṃskrta-dharmāḥ; |1. Những hiện tượng biểu thị khác nhau được tạo ra như một tổng hợp của nhân và duyên. Những hiện tượng hình thành do nhân duyên, những gì sinh khởi, biến dịch và hoại diệt. Các pháp được tạo tác; 2. Các pháp hữu vi. Còn có nghĩa là năm uẩn: sắc, thụ tưởng, hành, thức, tất cả các yếu tố được tạo thành do các điều kiện (duyên; s: pratyaya); 3. Nhiễm ô, phiền não; 4. Những gì nhất thời và giả tạm.

Hữu vi pháp 有爲法

[ja] ウイホウ uihō ||| (saṃskrta, saṃskrta-dharmāh); 'conditioned existence.' (1) The various manifest phenomena that are created as the synthesis of causes and conditions. That which is created by cause and condition, and which arises, changes and ceases. Created things. (2) That which is conditioned. Also refers to the five skandhas of form, feeling, perception, impulse and consciousness, all of which are conditioned elements. (pratyaya) (3) Defilement, affliction. (4) That which is temporary or provisional. => (s: saṃskrta, saṃskrta-dharmāh); 1. Những hiện tượng biểu thị khác nhau được tạo ra như một tổng hợp của nhân và duyên. Những hiện tượng hình thành do nhân duyên, những gì sinh khởi, biến dịch và hoại diệt. Các pháp được tạo tác. 2, Các pháp hữu vi. Còn có nghĩa là năm uẩn: sắc, thụ tưởng, hành, thức, tất cả các yếu tố được tạo thành do các điều kiện (s: pratyaya). 3, Nhiễm ô, phiền não. 4. Những gì nhất thời và giả tạm.

hữu vi quả

2446為「無為果」之對稱。指由因緣和合之有為法所結之果。於五果中之士用、增上、等流、異熟等四果,即為有為果。〔俱舍論卷六、成唯識論卷八〕(參閱「五果」1112) ; The result or effect of action. ; (有爲果) Đối lại: Vô vi quả. Quả của pháp hữu vi do nhân duyên hòa hợp kết thành. Tức là 4 quả: Sĩ dụng, Tăng thượng, Đẳng lưu và Dị thục. [X. luận Câu xá Q.6; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Ngũ Quả).

hữu vi sinh tử

2446又作分段生死。為「無為生死」(變易生死)之對稱。係三界內之生死。六道眾生由於果報之不同,而於身形、壽命上各有不同之定限,此種有分段齊限之生死,稱為有為生死。(參閱「分段生死」1319) ; The mortal samsàra life of births and deaths, contrasted with vô vi sinh tử effortless mortality, e.g. transformation such as that of the Bodhisattva. ; (有爲生死) Cũng gọi Phần đoạn sinh tử. Đối lại: Vô vi sinh tử (Biến dịch sinh tử). Sự sống chết của chúng sinh trong 3 cõi. Chúng sinh trong 6 đường do quả báo bất đồng nên thân hình, thọ mệnh đều có hạn định khác nhau, loại sinh tử này có phần đoạn giới hạn, nên gọi là Hữu vi sinh tử. (xt. Phần Đoạn Sinh Tử).

hữu vi vô lậu

2447又作無漏有為。即指有為的無漏之法。俱舍宗認為四諦中,苦、集二諦為有為有漏法,滅諦為無為無漏法,道諦則雖為無漏法,然以具有生滅之性質,而凡有生滅者即屬有為法,故道諦又稱有為無漏法。此外,於七十五法中,色法中之無表色,心法中之第六識心王,心所有法中之十種大地法、十種大善地法、尋、伺,及心不相應行法中之得與生、住、異、滅四相等,共計二十九法,皆為有為無漏法。(參閱「七十五法」88、「四諦」1840) ; (有爲無漏) Cũng gọi Vô lậu hữu vi. Chỉ cho pháp hữu vi vô lậu. Luận Câu xá cho rằng Khổ đế, Tập đế trong Tứ đế là pháp hữu vi hữu lậu, Diệt đế là pháp vô vi vô lậu, còn Đạo đế thì tuy là pháp vô lậu, nhưng vì có tính chất sinh diệt nên thuộc về pháp hữu vi, do đó, Đạo đế cũng được gọi là pháp Hữu vi vô lậu. Ngoài ra, trong 75 pháp thì có 29 pháp là pháp Hữu vi vô lậu, đó là: Vô biểu sắc trong Sắc pháp, thức thứ 6 tâm vương trong Tâm pháp, 10 Đại địa pháp, 10 Đại thiện địa pháp, Tầm, Tứ trong Tâm sở hữu pháp, Đắc và 4 tướng Sinh trụ dị diệt trong Tâm bất tương ứng hành pháp. (xt. Thất Thập Ngũ Pháp, Tứ Đế). HỮU VÔ . Phạm: Bhava-abhava. Hữu và vô, chỉ cho sự tồn tại và sự không tồn tại. Trong Phật giáo, nếu cho rằng tất cả sự vật tồn tại đều là giả tướng tạm thời, gọi là Giả hữu (có giả); vì chúng theo nhân duyên mà sinh diệt, không có thực thể thường còn (ngã, tự tính), cho nên nói vô ngã, vô tự tính. Trái lại, nếu chấp tất cả là thường trụ bất biến (có thật) và tồn tại lâu dài, thì gọi là Hữu kiến, Ngã kiến. Nếu vượt qua loại Hữu kiến, Hữu ngã này thì hiểu rõ lí vô thường, vô ngã, không, v.v... Nhưng dứt khoát không thể xem vô ngã, vô thường, không, v.v... này là một thứ tư tưởng hư vô mà phải thấu suốt ý nghĩa chân thực của chúng. Tư tưởng hư vô bị Phật giáo xếp vào loại Hư vô không kiến , tư tưởng này và ngã kiến, hữu kiến đều là chấp trước nên phải phá trừ. Đức Phật chủ trương lí Trung đạo, có thể phá trừ sự chấp trước Hữu, Vô mà liễu ngộ lí Thực tướng. Do đó, chữ Vô trong Phật giáo là chỉ cho cái Không siêu việt Hữu, Vô. Trung luận của ngài Long thụ (Phạm:Nàgàrjuna, 150–250) đã trực tiếp phá tư tưởng Hữu , đồng thời làm sáng tỏ chân nghĩa Không , khiến cho người ta không còn lầm tưởng Không là hư vô mà rơi vào Không kiến và Hữu kiến. Hữu và vô vốn là 2 nghĩa của 1 pháp, tức là các pháp do nhân duyên mà sinh, thực sự tồn tại, đó là Hữu. Nhưng vì các pháp do nhân duyên sinh nên không có tự tính, đó là Vô. Nếu chấp trước bất cứ một nghĩa nào trong 2 nghĩa ấy đều dễ rơi vào kiến giải thiên lệch hẹp hòi, vì thế đức Phật chủ trương thuyết Trung đạo, để phá trừ sự chấp trước ở trên mà thể ngộ được nghĩa chân thực của các pháp. [X. kinh Tạp a hàm Q.12]. (xt. Hữu).

hữu vi vô thường

Activity implies impermanency.

Hữu vi 有爲

[ja] ウイ ui ||| Conditioned, compounded, created, caused, active, changing (Skt. saṃskṛta; Tib. ḥdus byas). 〔大般若波羅蜜多經 T 220.6.2a18〕 => Có điều kiện, có sự sắp xếp, được tạo tác, sinh thành, biến dịch. (s: saṃskṛta; t: ḥdus byas).

Hữu vô

有無; C: yŏuwú; J: umu; |1. Có và không (s: bhāva-abhāva; t: dṅos daṅ dṅ med). Khuynh hướng giải thích thực tại như là một hay là khác thuộc hai cực nầy là toát yếu căn bản của Phật pháp, và là một trong những ý nghĩa mở rộng nhất của thuật ngữ Trung đạo (中道); 2. Một cách diễn đạt ý niệm không (空) và hữu (有).

hữu vô

2444梵語 bhava-abhava。為有與無之並稱。指存在和非存在。有,即指一切存在之物,亦指其存在之方式與型態。無,係與「有」相對稱。在佛教中,若認為一切存在之物皆為一時之假相,稱為假有,以其隨因緣而生滅,故無固定不變之常住實體(我、自性),即無我、無自性之說;反之,若謂一切為不變之常住(實有),而永久存在,則為有見、我見。如能超越此種有見、我見,即可了知無常、無我、空等之理。然此無我、無常、空等,絕不可視為一種虛無思想,而須透徹了解其真義。 釋尊在世時,每遇對此理有誤解者,必灼然駁之。虛無思想被佛教置評為「虛無空見」,其與我見、有見同為執著,故皆須破除。釋尊主張一切皆有亦皆無,此乃中道之說法,能破除有、無二邊之執著,進而了悟實相之理。由此可知,佛教通常所謂之無,並非單純指相對於「有」之「無」,而係指超越於有、無二邊之空而論,為明示此點,佛教遂發展出一明確之體系,此即龍樹(梵 Nāgārjuna, 150~250)之「中論」。其書直破有之思想,並昭然揭示空之真義,使人不致再將空視同虛無思想,而陷於空見與有見之謬途。如能破除一切無、有、虛無等執著,而自其中躍出者,即能得到真正解脫,而自在無礙。 蓋有、無二者,本為一法之二義,即諸法由因緣而生,確實存在,是為有;而以諸法由因緣所生,故無自性,是為無。若執著其中任何一義,皆易落於偏狹不正之見解中,故佛陀主張中道之說,以破除有、無二邊之見解,如此方能體悟諸法之真實義。〔雜阿含經卷十二〕(參閱「有」2426、「無」5068)

hữu vô lực đãi duyên

2445為華嚴宗所立「因六義」之一。係依準唯識家「種子六義」中之「恆隨轉義」而立。蓋緣起之諸法,皆具空、有二義,真如本體隨緣而顯現之諸法,是為「有」之義;然此有係假有,而無自性,是為「空」之義。以「有」之義而言「因」之體,若欲引生果則必借他緣相助,無緣即不能生果,此生果之力用全屬於緣,稱為有無力待緣。例如如來藏,無始以來恆常隨逐無明之緣而生果,是為有而無力;又以隨逐而待他緣,故稱有無力待緣。〔十地經論卷八、大乘阿毘達磨雜集論卷四、華嚴五教章卷四〕(參閱「因六義」2272) ; (有無力待緣) Nhờ vào sức giúp đỡ của các duyên mà nhân có thể dẫn sinh ra quả. Là một trong 6 nghĩa của nhân do tông Hoa nghiêm căn cứ vào nghĩa hằng tùy chuyển trong sáu nghĩa chủng tử của tông Duy thức mà lập ra. Các pháp duyên khởi đều có 2 nghĩa Không và Hữu, bản thể chân như tùy duyên hiển hiện các pháp, ấy là nghĩa Hữu; nhưng Hữu này là giả hữu, không có tự tính, đó là nghĩa Không. Theo nghĩa Hữu mà nói về thể của nhân , nếu muốn dẫn sinh ra quả thì nhân ấy phải nhờ sự giúp đỡ của các duyên khác mới có thể sinh ra quả, bởi vì nhân ấy cũng là giả hữu, cho nên gọi là Hữu vô lực đãi duyên. Chẳng hạn, Như lai tạng từ vô thủy đến nay thường theo duyên vô minh mà sinh quả, đó là Hữu mà vô lực; theo mà đợi duyên khác nên gọi là Hữu vô lực đãi duyên. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Nhân Lục Nghĩa).

hữu vô nhị kiến

2444指有見與無見。據法華文句卷四下載,有見為常見,無見為斷見,由此二見可產生六十二種錯誤之見解。此外,若執著有之邊際,或執著無之邊際者,皆為不正之邊見,稱為有無二邊。〔法華經方便品、肇論〕(參閱「六十二見」1241) ; Bhàvàbhàva (S). Existence or non existence, being or non being; these two opposite views, opinions, or theories are the basis of all erroneous views etc. ; (有無二見) Hữu kiến và Vô kiến. Cứ theo Pháp hoa văn cú kí quyển 4 phần dưới thì Hữu kiến là thường kiến, Vô kiến là đoạn kiến, do 2 loại kiến này mà sinh ra 62 kiến giải sai lầm. Ngoài ra, nếu chấp trước Hữu hay chấp trước Vô, thì đều là thiên kiến, gọi là Hữu vô nhị biên. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; Triệu luận]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến).

hữu vô tà kiến

2445指有見與無見二者,皆非中道之正見。以其偏狹不正,故稱邪見。(參閱「常見」4526) ; (有無邪見) Hữu kiến và Vô kiến đều chẳng phải là chính kiến Trung đạo, mà là thiên lệch, hẹp hòi, bất chính, nên gọi Hữu vô tà kiến. (xt. Thường Kiến).

hữu vô tứ cú

2445佛教以外諸派學說,有關形上學方面之見解,可分成有、無、亦、非等四句。即:(一)有句,如執著必有我身,此即常見。(二)無句,如執著必無我身,此即斷見。(三)亦句,如執著我身亦有亦無,此即有無相違見。(四)非句,如執著我身非有非無,此即戲論見。〔華嚴經疏卷十六、大明三藏法數卷十八〕(參閱「四句分別」1675) ; (有無四句) Bốn câu liên quan đến siêu hình của các học phái ngoại đạo. Đó là: 1. Hữu cú: Chấp trước nhất định thân ta là có thật, thuộc về thường kiến. 2. Vô cú: Chấp trước thân này là không, thuộc về đoạn kiến. 3. Diệc cú: Chấp trước thân này cũng có cũng không, thuộc về Hữu vô tương vi kiến (quan điểm có, không trái nhau). 4. Phi cú: Chấp trước thân này chẳng phải có chẳng phải không, thuộc về Hí luận kiến. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.16; Đại minh tam tạng pháp số Q.18]. (xt. Tứ Cú Phân Biệt).

Hữu vô 有無

[ja] ウム umu ||| (1) Existence and non-existence (Skt. bhāva-abhāva; Tib. dṅos daṅ dṅ med). The tendency to interpret our reality as one or the other of these two extremes is a basic premise of Buddhism, and is one of the most important connotations of the term middle way 中道. (2) A way of expressing the notion of emptiness and existence 空有. => 1. Có và không (s: bhāva-abhāva; t: dṅos daṅ dṅ med). Khuynh hướng giải thích thực tại như là một hay là khác thuộc hai cực nầy là tóat yếu căn bản của Phật pháp, và là một trong những ý nghĩa mở rộng nhất của thuật ngữ Trung đạo. 2. Một cách diễn đạt ý niệm không空 và hữu有.

Hữu ái

有愛; C: yŏuài; J: uai; |1. Đắm chấp vào sự hiện hữu; tham muốn hiện hữu (p: bhava-taṇhā; s: bhava-priya); 2. Chỉ những dạng khác của tham chấp trong cõi sắc và vô sắc.

hữu ái

Bhavaṭṛṣṇā (S), Craving for existence Bhavataṇhā (P). ; Bhàvatrsnà (S). Craving for the existence.

hữu ái trụ địa

2449又作無色愛住地。指無色界之思惑。為五住地惑之一。無色界之煩惱中,除無明、見外,捨離色貪而愛著己身之煩惱,稱為有愛住地。愛,指貪愛,為思惑之一種。蓋思惑通於貪、瞋、癡、慢四者,然以貪愛潤生之義最強,故以「愛」表示思惑。又因思惑為一切煩惱之所依所住,且能生煩惱,故稱為住地。〔大乘義章卷五本〕(參閱「五住地惑」1091) ; (有愛住地) Cũng gọi Vô sắc ái trụ địa. Chỉ cho Tư hoặc trong cõi Vô sắc. Là một trong 5 Trụ địa hoặc. Trong các phiền não ở cõi Vô sắc, ngoại trừ Vô minh và Kiến, các phiền não khác tuy đã xa lìa Sắc tham nhưng còn chấp trước, ái nhiễm thân mình, nên gọi là Hữu ái trụ địa. Ái chỉ cho tham ái, là một trong các loại Tư hoặc. Tuy Tư hoặc chỉ chung cho cả 4 món tham, sân si, mạn, nhưng vì tham ái có ý nghĩa nhuận sinh mạnh nhất nên mới dùng Ái để biểu thị cho Tư hoặc. Ngoài ra, vì Tư hoặc là chỗ nương, chỗ trụ của tất cả phiền não, hơn nữa, lại có khả năng sinh ra phiền não, cho nên gọi là Trụ địa. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5 phần đầu]. (xt. Ngũ Trụ Địa Hoặc).

Hữu ái 有愛

[ja] ウアイ uai ||| (1) Attachment to existence; desire for existence (Pali bhava-taṇhā; Skt. bhava-priya). (2) The various forms of desire and attachment in the form and formless realms. => 1. Đắm chấp vào sự hiện hữu; tham muốn hiện hữu (p: bhava-taṇhā; s: bhava-priya). 2. Một dạng khác của tham chấp trong cõi sắc và vô sắc.

hữu ý

Mati; matimant (S). Possessing mind, intelligent.

Hữu điểm

有點; C: yŏudiăn; J: uten;|Nakamura định nghĩa thuật ngữ nầy đơn giản là »có nhiễm ô phiền não«, nhưng theo cách dùng trong Bảo tính luận (寶性論, s: ratnagotravibhāga), nó chỉ cho tập khí vi tế còn sót lại, việc chuyển hoá tập khí nầy là của hàng Bồ Tát, vượt qua phạm vi tu tập của hàng nhị thừa. Cách dùng trái ngược với Hữu cấu (有垢).

Hữu điểm 有點

[ja] ウテン uten ||| Nakamura defines this term simply as "possessing defilement," but in its usage in the Ratnagotravibhāga, it indicates a subtle remainder of habit energy, the removal of which is beyond the scope of the practices of the two vehicles, and thus can only be dealt with by bodhisattvas. (sāṅgana) Used in contrast to 有垢. 〔寶性論T 1611.31.823b〕 => Nakamura định nghĩa thuật ngữ nầy đơn giản là “có nhiễm ô phiền não”, nhưng theo cách dùng của nó trong Thật tính luận(s: Ratnagotravibhāga), nó chỉ cho tập khí vi tế còn sót lại, việc chuyển hoá tập khí nầy là của hàng Bồ-tát, vượt qua phạm vi tu tập của hàng nhị thừa (s: sāṅgana). Cách dùng trái ngược với Hữu cấu有垢.

hữu đãi

2435指人之身體。人體每有待於食物、衣服等之資養而生存,故稱有待。摩訶止觀卷四上(大四六‧三六上):「有待之身,必假資藉。」此外,有待之依身,指藉種種資緣以確立此身之義;有待轉變,指身體之轉變;有待不定,指身體之無常。蓋「有待」一詞,原出於莊子逍遙遊之「猶有所待者也」一句。〔梁高僧傳道安傳〕 ; (有待) Chỉ cho thân thể con người. Từ này vốn có xuất xứ từ câu Do hữu sở đãi dã (còn có chỗ tiếp đãi vậy) trong Tiêu dao du của ngài Trang tử. Thân thể còn cần có thức ăn, y phục, v.v... …mới sống còn được, nên gọi là Hữu đãi. Ma ha chỉ quán quyển 4 thượng (Đại 46,36 thượng), nói: Thân hữu đãi phải nhờ sự giúp đỡ . Ngoài ra, thân được sống còn là nhờ các duyên phụ trợ gọi là Y thân hữu đãi; sự chuyển biến của thân thể gọi là Hữu đãi chuyển biến, sự vô thường của thân thể gọi là Hữu đãi bất định. [X. truyện Đạo an trong Lương cao tăng truyện].

hữu đạo tánh lực phái

Dakṣinācaryāsakta (S), Dakṣinācarāsakta (S) Một tông phái ở Ấn vào thế kỷ 11.

hữu đạo tính lực phái

1616梵名 Dakṣiṇācāra Śākta。為印度教性力派之一支。係革除左道性力派不純弊風而立之派別。興起於十三世紀左右。奉吠壇多學派之商羯羅(梵 Śaṅkara, 700~750 頃)為派祖。(參閱「左道性力派」1899) ; (右道性力派) Phạm:Dakwiịàcàra Zàkta. Một chi phái thuộc phái Tính lực của Ấn độ giáo. Phái này nổi lên vào khoảng thế kỉ XIII, thờ Thương yết la (Phạm: Zaíkara, 700- 750) của học phái Phệ đàn đa làm thủy tổ, nhằm chấn chỉnh những tệ hại và sai lầm do phái Tả đạo tính lực gây ra. (xt. Tả Đạo Tính Lực Phái).

Hữu đỉnh

有頂; C: yŏudǐng; J: uchō;|Tầng trời thứ tư của Sắc giới (色界). Tầng cao nhất của của thế giới hữu hình (s: bhava-agra). Xem Hữu đỉnh thiên (有頂天).

hữu đỉnh hoặc

2443指有頂地之惑。又作非想之惑。據俱舍論卷二十四載,有頂地為三界九地中之最上地,於此地所起之惑,有見惑、修惑二種,其中,見惑於見道一時斷之,修惑則於修道時,先以六行觀斷除下八地之七十二品惑業,次以無漏智斷除有頂地九品惑業中之下八品,此時稱為阿羅漢向,最後斷除第九品之惑業時,稱為阿羅漢果。蓋此有頂惑,非無漏智不能斷除,因無漏智之勢力牢強,能治自地之惑及上地之惑,故能斷之。 ; (有頂惑) Cũng gọi Phi tưởng hoặc. Hoặc nghiệp ở cõi Hữu đính. Theo luận Câu xá quyển 24 thì cõi Hữu đính là cõi trên hết trong 3 cõi 9 địa, hoặc nghiệp ở cõi này có 2 loại là Kiến hoặc và Tu hoặc, trong đó, Kiến hoặc được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo, còn Tu hoặc được đoạn trừ ở giai vị Tu đạo. Tức là trước hết dùng 6 quán hạnh đoạn trừ 72 phẩm hoặc nghiệp ở 8 địa dưới, kế đến dùng trí vô lậu đoạn trừ 8 phẩm dưới trong 9 phẩm hoặc nghiệp ở cõi Hữu đính, lúc này gọi là A la hán hướng; sau cùng, khi đoạn trừ hoặc nghiệp phẩm thứ 9 thì gọi là A la hán quả. Hoặc nghiệp ở cõi Hữu đính, ngoài trí vô lậu ra không có cách nào đoạn trừ được, vì thế lực của trí vô lậu rất mạnh, có công năng phá trừ hoặc nghiệp ở tự địa và ở các địa trên.

Hữu đỉnh thiên

xem A-ca-ni-trá. ; 有頂天; C: yŏudǐngtiān; J: uchōten; S: akaniṣ-ṭha.|1. Tên gọi khác của Sắc cứu cánh thiên (色究竟天), là tầng thứ tư và là tầng cao nhất trong cõi Sắc; 2. Tên gọi khác của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tầng thứ tư và là tầng cao nhất trong cõi Vô sắc.

hữu đỉnh thiên

2443梵語 akaniṣṭha,巴利語 akaniṭṭha。音譯作阿迦尼吒。又稱色究竟天。乃色界四禪天之第九天,為有形世界之最頂峰,故稱有頂。此外,有頂天亦指無色界之第四天,即非想非非想處天,以其為三有(三界)之絕頂,故稱有頂。於現存之梵文法華經中,長行、重頌內皆以梵語 bhavāgra 作為有頂之意,而不用梵語 akaniṣṭha 一語。〔法華經卷一序品、大毘婆沙論卷七十四、俱舍論卷二十四、法華義疏卷二(吉藏)〕(參閱「非想非非想處天」3712) ; (有頂天) Phạm:Akaniwỉha. Pàli:Akaniỉỉha. Dịch âm: A ca ni tra. Cũng gọi Sắc cứu kính thiên. Tầng trời thứ 9 của Tứ thiền thiên thuộc cõi sắc, là đỉnh cao nhất của thế giới hữu hình. Ngoài ra, Hữu đính thiên cũng chỉ cho tầng trời thứ 4 của cõi Vô sắc, tức là cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vì tầng trời này là đỉnh cao nhất của 3 cõi nên gọi là Hữu đính. Trong văn xuôi cũng như văn vần của kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm hiện còn, đều dùng tiếng Phạm Bhavàgra (Hữu đính) chứ không dùng chữ Akaniwỉha. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; luận Đại tì bà sa Q.74; luận Câu xá Q.24; Pháp hoa nghĩa sớ Q.2 (Cát tạng)]. (xt. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên).

Hữu đỉnh thiên 有頂天

[ja] ウチョウテン uchōten ||| (akanistha); The 'Highest Heaven.' (1) Another name for 色究竟天, the fourth and uppermost heaven in the realm of form. (2) Another name for 'no-thought-no-non-thought Heaven, the fourth and uppermost heaven in the formless realm. => (s: akanistha) 1. Tên gọi khác của Sắc cứu cánh thiên 色究竟天, là tầng thứ tư và là tầng cao nhất trong cõi Sắc. 2. Tên gọi khác của cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng, tầng thứ tư và là tầng cao nhất trong cõi Vô sắc.

hữu đỉnh thiên-sắc cứu cánh thiên

Akanistha (S). The highest heaven of form, the ninth and last of the fourth dhỳna heavens.

Hữu đỉnh 有頂

[ja] ウチョウ uchō ||| The fourth heaven of the form realm 色界. The highest level of material existence (bhava-agra). See also 有頂天. => Tầng trời thứ tư của Sắc giới. Tầng cao nhất của của thế giới hữu hình (s: bhava-agra). Xem Hữu đỉnh thiên有頂天.

Hữu đối

有對; C: yŏuduì; J: utai;|Sự hiện hữu của một đối tượng bền chắc choán không gian và có hoặt dụng như một chướng ngại (s: pratigha). Đồng nghĩa với Hữu ngại (有礙) và phản nghĩa với Vô đối (無對).

hữu đối

2451梵語 sa-pratigha。為「無對」之對稱。對,為礙之意。有對,即法有礙之意。礙有二種,即障礙與拘礙。五根、五境及心、心所等諸法,受障礙而不生,或被所取所緣之境所拘礙而不能轉他境,稱為有對。 據俱舍論卷二載,有對可分三種,即:(一)障礙有對,謂由極微所成之五根、五境等十色法,互相障礙而不生,如手礙手,石礙石等,此種之二物不能同時於同處生,故稱障礙有對。(二)境界有對,謂六根、六識等十二界與法界一分之心所法,此十三界為所取之對境所拘束,不能於他境生起。如眼根與眼識及其相應之心所,於色境生起,被其自境拘束而於他境不得生起,各各根識亦被各境所拘束。又如施設論卷五所舉,魚之眼拘礙於水中,故於陸地上不起作用;人之眼拘礙於陸地上,故於水中不起作用。(三)所緣有對,謂六識與心所唯於自之所緣境而轉;亦即六識與心所被其所緣之法所拘束。上述之境界、所緣二者,皆為六境,惟依取境之功能而稱境界有對,依攀附之作用而稱所緣有對。〔大毘婆沙論卷七十六、卷一二八、雜阿毘曇心論卷一、成唯識論卷一、俱舍論光記卷二〕 ; Sapratigha (S). ; Pratigha; sapratigha (S). Resistance, opposition; opposing, opposite. ; (有對) Phạm: Sa-pratigha. Đối lại: Vô đối. Đối hàm ý là ngăn ngại. Hữu đối nghĩa là pháp có tính ngăn ngại. Ngại có 2 loại là chướng ngại và câu thúc. Chẳng hạn như các pháp 5 căn, 5 cảnh và tâm, tâm sở, v.v... bị chướng ngại nên không sinh khởi, hoặc các pháp ấy bị cảnh sở thủ sở duyên câu thúc nên chẳng thể chuyển biến đến cảnh khác. Cứ theo luận Câu xá quyển 2 thì Hữu đối có thể chia làm 3 loại: 1. Chướng ngại hữu đối: Nghĩa là 10 sắc pháp (5 căn + 5 cảnh) do cực vi tạo thành, ngăn ngại lẫn nhau nên không sinh, như tay ngăn ngại tay, đá ngăn ngại đá, v.v..., 2 loại vật này không thể cùng lúc phát sinh ở một chỗ, nên gọi là Chướng ngại hữu đối. 2. Cảnh giới hữu đối: Nghĩa là 6 căn, 6 thức và tâm sở pháp(một phần pháp giới) bị cảnh sở thủ trói buộc, không thể sinh khởi cảnh khác. Chẳng hạn như căn mắt, thức mắt và tâm sở tương ứng với chúng, đã sinh khởi cảnh sắc thì bị tự cảnh của chúng trói buộc nên không sinh khởi ở cảnh khác được, các căn thức khác cũng thế. Cũng như luận Thi thiết quyển 5 nói, mắt của cá chỉ thấy được ở dưới nước, trên đất liền thì vô dụng; mắt người ta cũng vậy, chỉ thấy được trên đất liền(nghĩa là bị đất liền trói buộc, ngăn ngại), chứ không thể khởi tác dụng ở dưới nước. 3. Sở duyên hữu đối: Nghĩa là 6 thức và tâm sở chỉ chuyển biến ở cảnh sở duyên của chúng; cũng tức là 6 thức và tâm sở bị pháp sở duyên của chúng trói buộc. Cảnh giới và sở duyên nói trên đây đều là 6 cảnh, nhưng nương vào công năng thủ cảnh mà gọi là Cảnh giới hữu đối và căn cứ vào tác dụng duyên theo phụ mà gọi là Sở duyên hữu đối. [X. luận Đại tì bà sa Q.76, Q.128; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thành duy thức Q.1; Câu xá luận quang kí Q.2].

hữu đối xúc

2451為「增語觸」之對稱。於六觸之中,與前五識相應的觸之心所,如眼觸、耳觸等五觸,稱為有對觸;而與第六意識相應之意觸,則稱為增語觸。此乃眼觸等五觸以有對之五根為所依,故稱有對觸;意觸則緣物之名而加以分別之,故稱增語觸。〔俱舍論卷十〕(參閱「有對」2451、「增語觸」5973) ; (有對觸) Đối lại: Tăng ngữ xúc. Trong 6 Xúc, tâm sở xúc tương ứng với 5 thức trước (nhãn xúc, nhĩ xúc, tị xúc, thiệt xúc, thân xúc), gọi là Hữu đối xúc; còn Ý xúc tương ứng với thức thứ 6 thì gọi là Tăng ngữ xúc. Vì 5 xúc nhãn, nhĩ, v.v... lấy 5 căn hữu đối làm chỗ nương tựa, cho nên gọi là Hữu đối xúc; còn Ý xúc thì duyên theo tên của sự vật mà phân biệt nên gọi là Tăng ngữ xúc. [X. luận Câu xá Q.10]. (xt. Hữu Đối, Tăng Ngữ Xúc).

Hữu đối 有對

[ja] ウタイ utai ||| The existence of a solid object that occupies space and can act as an obstruction (pratigha). Synonymous with 有礙 and opposite of 無對.〔瑜伽論 T 1579.30.279b1〕 => Sự hiện hữu của một đối tượng bền chắc choán không gian và có hoặt dụng như một chướng ngại (s: pratigha). Đồng nghĩa với Hữu ngại 有礙 và phản nghĩa với Vô đối 無對.

hữu động định

2439為「不動定」之對稱。於色界四定中,前三定為有動,第四定為不動。據俱舍論卷二十八載,前三定有八災患,即:尋、伺、四受(喜、樂、苦、憂)、入息、出息,此八災患如風般之擾動定水,故稱有動;而第四定中無此八災患,故稱不動。〔俱舍論光記卷二十八〕(參閱「四禪」1843) ; (有動定) Đối lại: Bất động định. Chỉ cho 3 thiền định (sơ thiền, nhị thiền, tam thiền) trong 4 định của cõi Sắc. Còn định thứ 4 thuộc về Bất động. Cứ theo luận Câu xá quyển 28, thì 3 thiền định trước có 8 nạn là Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc, Khổ, Ưu, Nhập tức (hít vào), Xuất tức (thở ra). Tám nạn này như gió nhiễu động mặt nước lặng yên (định), cho nên gọi là Hữu động; còn trong định thứ 4 không có 8 nạn trên nên gọi là Bất động. [X. Câu xá luận quang kí Q.28]. (xt. Tứ Thiền).

hữu đức nữ

2457為波羅奈城有德婆羅門之女。此女因見佛之相好,而生起淨信心,向佛請益深法,佛遂宣說諸法實相、空無自性之理,因此而有「有德女所問經」一卷流傳於世。 ; (有德女) Người con gái của Bà la môn Hữu đức ở thành Ba la nại, Ấn độ đời xưa. Cô gái này nhờ thấy tướng hảo của đức Phật mà sinh khởi lòng tin thanh tịnh, thưa hỏi Phật về pháp sâu xa mầu nhiệm, Phật liền giảng nói lí thực tướng các pháp tự tính không vô, do đó mà có kinh Hữu đức nữ sở vấn (1 quyển) lưu truyền ở đời.

hữu đức nữ sở vấn kinh

2457請參閱有德女所問經 全一卷。唐代菩提流志(572~727)譯於長壽二年(693)。又作有德女所問大乘經。收於大正藏第十四冊。本經旨在顯揚大乘思想,內容敘述佛陀為有德女講說十二因緣,並解說無明本無自性,凡愚迷倒,造業受苦;如來為隨順世間,乃假藉世間名字宣說第一義諦,欲令眾生悟解。有德女聞言,了知佛所轉法輪實為虛空法輪、出離法輪、無相法輪,而如實了悟諸法實相、空無自性,遂得佛授記,未來成佛。本經之同本異譯有梵志女首意經,為西晉竺法護譯於泰始二年至建興元年(266~313)頃。收於大正藏第十四冊。〔開元釋教錄卷二、卷九、貞元新定釋教目錄卷三、卷十四〕 ; (有德女所問經) Cũng gọi Hữu đức nữ sở vấn Đại thừa kinh.Kinh, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào năm 693, đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Mục đích của kinh này là làm sáng tỏ tư tưởng Đại thừa. Nội dung tường thuật việc người con gái Hữu đức thưa hỏi, đức Phật giảng nói về 12 nhân duyên và giải thích vô minh vốn không có tự tính, nhưng vì ngu si điên đảo nên phàm phu tạo nghiệp chịu khổ. Đức Như lai phương tiện tùy thuận thế gian, tuyên giảng Đệ nhất nghĩa đế, khiến cho chúng sinh liễu ngộ. Hữu đức nghe rồi, biết rõ pháp luân do đức Phật chuyển đúng là Hư không pháp luân, Xuất li pháp luân, Vô tướng pháp luân và hiểu rõ thực tướng của các pháp là không có tự tính, cho nên được đức Phật thụ kí trong vị lai sẽ thành Phật. Kinh này còn có bản dịch khác dưới nhan đề: Phạm chí nữ thủ ý kinh, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào khoảng năm 266- 313 đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.2, Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.3, Q.14].

Hữu 有

[ja] ウ、ユウ u, yū ||| 'Being', 'existence.' (1) To have, to possess. (2) There is, have, exist, occur, be located, happen, consist of (asti, sat). (3) Consist of; materialization, formation, completion. (4) Possession, ownership, property. (5) Some, one, a certain... [Buddhism] (1) The antithesis of 'nothingness' 無, or 'emptiness' 空 (kong). Existence, of which there are three types: real, provisional and mysterious (see 三種有). (2) Kumārajīva generally used the Chinese ideograph to translate the Sanskrit bhavati, but it was not generally used to translate the Tibetan equivalent yod pa (become), rather it was used for hgyur ba. The main meaning of bhavati is become, beget, make, form, etc. (3) To consist of; materialization, formation, completion (saṃbhava). (4) To consider that which is non-existent to be existent (samāropa). (5) Possession, ownership, property. (6) Some, one, a certain... (7) Becoming--the tenth precondition among the twelve limbs of conditioned arising. => 1. Có, sở hữu. 2. Có, có được, tồn tại, xuất hiện, nằm ở, xảy ra, gồm có (s: asti, sat). 3. Gồm có; sự vật chất hoá, sự tạo thành, sự hoàn thành. 4. Sở hữu, quyền sở hữu, quyền được sở hữu. 5. Một vài, một, một cái nào đó. [Phật học] 1. Đối nghịch với 'vô 無', hoặc 'không 空 (c: kong)'. Sự tồn tại , có 3 pháp tồn tại ở thế gian: tương đãi hữu , giả danh hữu và pháp hữu. 2. Cưu-ma-la-thập thường dũng chữ Hữu 有 để dịch chữ bhavati từ tiếng Sanskrit, nhưng chữ Hữu 有 không thể dùng để dịch chữ yod pa (e: become) trong tiếng Tây Tạng, đúng hơn, chữ Hữu 有 tương đương với chữ hgyur ba. Nghĩa chính của chữ bhavati là trở thành, sinh ra, làm nên, cấu tạo.v.v... 3. Gồm có, sự cụ thể hoá, sự hình thành, sự hoàn thành (s: saṃbhava). 4. Xem những điều không hiện hữu là hiện hữu (s: samāropa). 5. Sở hữu, quyền sở hữu, vật sở hữu. 6. Một vài, một, một cái nào đó. 7. Hữu - chi phần thứ 10 trong 12 nhân duyên.

hữu-phi hữu

Sat-asat (P), To be-not to be.

Hựu Khoái

(宥快, Yūkai, 1345-1416): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, húy là Hiền Vinh (賢榮), Thoại Nghiêm (瑞嚴), Hựu Khoái (宥快); hiệu là Tể Tướng Phòng (宰相房), Tánh Nghiêm Phòng (性嚴房); xuất thân vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro, thuộc Kyoto); con của Tả Thiếu Tướng Đằng Nguyên Thật Quang (左少將藤原實光). Ông theo xuất gia với Vinh Trí (榮智) ở Tá Cửu Gian Tự (佐久間寺), vùng Thường Lục (常陸, Hitachi). Sau ông theo hầu Tín Hoằng (信弘) ở Bảo Tánh Viện (寶性院) trên Cao Dã Sơn, học về Sự Tướng, Giáo Tướng cũng như Tất Đàm (悉曇), rồi kế thừa các dòng Trung Viện (中院), Tam Bảo Viện (三寶院), Tây Viện (西院) và Trì Minh Viện (持明院). Năm 1374, ông làm trú trì Bảo Tánh Viện; đến năm sau thì trước tác bộ Bảo Kính Sao (寶鏡抄) để phê phán Dòng Lập Xuyên (立川流). Vào năm 1375, ông theo học pháp với Hưng Nhã (興雅) ở An Tường Tự (安祥寺); đến năm 1406 thì giao Bảo Tánh Viện lại cho đệ tử Thành Hùng (成雄) và lui về ẩn cư tại Thiện Tập Viện (善集院). Ông rất tinh thông về Giáo Tướng, tự xưng là Bảo Môn Phái (寶門派), cùng với Thọ Môn Phái (壽門派) của Trường Giác (長覺), hình thành nên hệ thống giáo học của Cao Dã Sơn. Đệ tử phú pháp của ông có Hựu Tín (宥信), Thành Hùng (成雄), Khoái Nhã (快雅), Khoái Tôn (快尊), v.v. Trước tác của ông để lại có rất nhiều như Đại Nhật Kinh Khẩu Chi Sớ Sao (大日經口之疏鈔) 85 quyển, Tông Nghĩa Quyết Trạch Tập (宗義決擇集) 20 quyển, Bảo Kính Sao (寶鏡抄) 1 quyển, Nhị Giáo Luận Sao (二敎論鈔) 30 quyển, Tất Đàm Quyết Trạch Tập (悉曇決擇集) 5 quyển, v.v.

Hựu 祐

[ja] ユウ yū ||| (1) Help, assistance--from a god or a buddha. (2) To help, aid, assist. (3) Good fortune, blessings. => 1. Sự trợ giúp, sự phù hộ–từ thần thánh hoặc chư Phật. 2. Cứu giúp, hỗ trợ, giúp đỡ. 3. Vận may mắn, phước lành.

hỷ

Prīti (S), Piti (P), Pṛti (S), Joy Hỷ lạc nơi mình. Một trong thất bồ đề phần: ý, phân biệt, tinh tấn, khả, y, định, hộ Xem Nan đà. ; Priti or Ananda (skt). 1) Hỷ là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta xả bỏ đi những ưu phiền và khó chịu của cuộc sống hằng ngày của chúng ta—Joy—Glad—Delighted—Rejoice—To like—Joy is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we renounce all unpleasant things and sorrows in our daily life. 2) Theo Kinh Duy Ma Cật, khi ngài Bồ Tát Văn Thù đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật, có hỏi về lòng “hỷ” như sau—According to the Vimalakirti Sutra, when Manjusri Bodhisattva called on to enquire after Upasaka Vimalakirti's health, he asked Vimalakiriti about “Priti” as follows: • Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật: “Sao gọi là lòng hỷ của một vị Bồ Tát?”—Manjusri asked Vimalakirti: “What should be the joy (mudita) of a Bodhisattva?” • Duy Ma Cật trả lời: “Một vị Bồ Tát hễ có lợi ích gì đều hoan hỷ, không hối hận.”—Vimalakirti replied: A Bodhisattva should be filled with joy on seeing others win the benefit of the Dharma with no regret whatsoever.”

hỷ duyệt

See Hỷ Lạc.

hỷ giác chi

Prīti-saṁbhodhyaṅga (P), Pitisambo-jjhaṅga (P), Prītiyaṅga (S), Limb of Joy, Sự hoan hỷ khi đạt được chánh pháp. Một trong 37 phẩm trợ đạo. Một trong Thất giác chi. ; The third bodhyanga—See Hỷ Giác Phần.

hỷ giác phần

Priti-bodhyanga (skt)—Enjoyment of the state of truth—Hỷ giác phần còn là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta đạt được nhiều trạng thái định tĩnh cho tâm trí. Đây là giác chi thứ ba, giai đoạn mà vị Bồ Tát cảm thấy thích thú khi đạt được chân lý—Enjoyment of the state of truth is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we attain many kinds of balanced state. This is the third bodhyanga, the stage of joy on attaining the truth. ** For more information, please see Thất Bồ Đề Phần in Vietnamese-English Section.

hỷ giác phần tam muội

Prīti-saptabodhy-aṅga-samādhi (S) Một trong Thất giác phần Tam muội.

hỷ hoan

See Hỷ Lạc.

hỷ kiến

Priyadarsana (skt)—Hoan hỷ nhìn thấy—Joyful to see, beautiful name of a kalpa.

hỷ kiến bồ tát

Theo Kinh Pháp Hoa, phẩm Dược Vương, đây là tên gọi tắt của Bồ Tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến, là tiền thân của Bồ tát Dược Vương (ngài thường cúng dường Pháp Hoa mà đốt cả thân mình)—The Bodhisattva Beautiful, an incarnation of Bhaisajyaraja-samudgata.

hỷ kiến kiếp

Priyadarśana (S) Tên một kỳ kiếp trước kỳ kiếp hiện tại (Hiền kiếp) có Phật Vân Lôi Âm Vương cai quản.

hỷ kiến thiên

Cõi trời Đao Lợi, hay ba mươi ba tầng trời Đế Thích, trên đỉnh núi Tu Di—The Trayastrimsas, or thirty-three devas or gods of Indra's heaven, on the summit of Meru—See Đao Lợi Thiên.

hỷ kiến thành

Indra-priti (S) Nhơn Đà la Bạt đế Thành đô chỗ ngự của ngài Nhơn đà la (Đế Thích). ; Sudarsana (skt)—A Joy-To-Behold City—See Thiên Đế Thích Thành.

Hỷ kiến 喜見

[ja] キケン kiken ||| (1) To see joyfully. 〔法華經 T 262.9.36a22〕Often seen as the name of bodhisattvas and kings in the Mahāyāna scriptures. => 1. Nhìn, gặp gỡ một cách hân hoan. 2. Danh hiệu của các vị Bồ-tát và các vị vua trong các kinh Đại thừa.

hỷ lâm

The park of all delights.

hỷ lâm uyển

See Hoan Hỷ Viên.

hỷ lạc

Còn gọi là Hỷ Duyệt, hay Hỷ Hoan, do không phân biệt mà vui thích thì gọi là lạc; do phân biệt mà vui thích thì gọi là hỷ—Pleased—Delighted—See Ngũ Thọ.

hỷ lạc thiên

Xem Thường Túy thiên.

Hỷ lạc 喜樂

[ja] キガク kigaku ||| (1) Joy, delight, pleasure. (Pali abhinandati) 〔雜阿含經T 99.2.1a-373b〕(2) Joy 喜 and pleasure 樂. The positive feeling that is derived through the discrimination of the five senses is called pleasure 樂 whīe the positive feeling that is derived through the discrimination of the mental (sixth) consciousness is called joy 喜. => Có 2 nghĩa: 1. Niềm vui, sự vui thích, điều thú vị (p: abhinandati). 2. Hỷ và lạc, cảm giác lạc quan phát xuất từ sự phân biệt của 5 giác quan được gọi là lạc, trong khi niềm vui phát xuất từ sự cảm nhận từ tâm ý (thức thứ 6) được gọi là hỷ.

hỷ mã lạp nhã

Xem Ma la da.

hỷ mãn

RatiprapŪrṇa (S) Phật Thích Ca có thọ ký cho ngài Mục kiền Liên về sau Mục kiền Liên sẽ thành Phật có Phật hiệu này. Cõi thế của đức Phật này tên là cõi ý lạc, kỳ kiếp của ngài gọi là Hỷ mãn.

Hỷ mãn 喜滿

[ja] キマン kiman ||| To be filled with joy (moda). => Tràn đầy niềm vui (s: moda).

hỷ nhẫn

The patience of joy, achieved on beholding by faith Amitabha and his Pure Land, one of the three kinds of patience.

hỷ nộ

Joy and anger

hỷ sự

Happy occasion.

hỷ thọ

Saumanasya-vedanā (S), Somanassa- vedanā (P) Một trong ngũ thọ. Cảm thọ vui thích đối với thuận cảnh. ; Một trong năm thọ—One of the five vedanas or sensations—See Ngũ Thọ. 1) Niềm vui do tâm thuận cảnh:The sensation , or receptivity of joy. 2) Thụ nhận với niềm hân hoan vui thích:To receive with pleasure.

Hỷ thọ 喜受

[ja] キジュ kiju ||| The feeling of joy. One of five kinds of feeling 五受, as taught in the Abhidharmakośa-bhāsya and other texts. => Cảm giác vui thích. Một trong năm món thọ, như được đề cập trong A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận và trong những kinh văn khác.

hỷ tiếu giãi đãi thiên

Xem Hỷ Tiếu thiên.

hỷ tiếu thiên

Krīdāpradosika (S) Hỷ tiếu Giãi đãi thiên, Kỷ Đà Ba Đồ Thi6en chúng say đắm trước pháp hỷ lạc nên tư duy bị tiêu mất mà mệnh chung.

Hỷ Túc

xem cõi trời Đâu-suất.

Hỷ vô lượng

xem Bốn tâm vô lượng.

hỷ vương bồ tát

Pramodyarāja (S) Tên một vị Bồ tát.

hỷ xả

Vyavasargarata (S) Hỷ là tự mình hoan hỷ làm việc thiện, thấy người khác làm việc thiện cũng phát tâm tùy hỷ. Xả là xả bỏ, tất cả sự chướng ngại giải thoát của thân tâm đều xả bỏ hết. ; Hỷ là tự mình hoan hỷ làm việc thiện, thấy người khác làm việc thiện cũng phát tâm tùy hỷ. Xả là xả bỏ, tất cả sự chướng ngại giải thoát của thân tâm đều xả bỏ hết. ; Còn gọi là Tịnh Thí hay Tịnh Xả, vui mừng mà bố thí tiền của—Joyful giving—See Tịnh Thí.

Hỷ xả 喜捨

[ja] キシャ kisha ||| The joyful giving of one's assets to charity (Skt. vyavasarga-rata; Tib. rnam par gtoṅ ba la dgaḥ ba). Often interchangeable with the perfection of giving 布施. 〔法華經、T 262.9.34c28〕 (Skt. vyavasarga-rata; Tib. rnam par gtoṅ ba la dgaḥ ba). => Niềm vui khi bố thí tài sản quý báu. Thường dùng thay thế chữ bố thí 布施.

Hỷ 喜

[ja] キ ki ||| (1) To enjoy; enjoyment, satisfaction, happiness. Sometimes synonymous with 樂, but the pleasure that is derived through the discrimination of the five senses is called 樂 whīe the pleasure that is derived through the discrimination of the mental (sixth) consciousness is called 喜. (Skt. prīti; Pali pīti) (2) Blind pleasure which serves as a basis of delusion. (Skt. nandī; Pali nandi) => Có 2 nghĩa: 1. Vui thích, sự thích thú, sự toại nguyện, sự sung sướng. Có khi đồng nghĩa với lạc 樂, nhưng niềm vui phát xuất từ sự phân biệt của 5 giác quan được gọi là lạc, trong khi niềm vui phát xuất từ sự cảm nhận của tâm ý (thức thứ 6) được gọi là hỷ 2. Sự ham mê mù quáng được xem như căn bản mê lầm. Hý 戯 [ja] ケ ke ||| (1) Play, to play; to sport, to frolic, to joke. Fool around, be silly, act foolish. (2) An exclamation of regret. This character is a variant of 62-13 戲. Please see that entry for compounds. => 1. Sự đùa giỡn, chơi đùa; trêu chọc, nô đùa, bỡn cợt. Làm những trò ngớ ngẩn, khờ dại, hành động điên rồ. 2. Từ cảm thán, chỉ sự tiếc nuối Chữ nầy là biến thể của 戲. Xin xem thêm mục đó để rõ.

im bặt

Completely silent.

im lặng

•Giữ im lặng: Vacamyama (skt)—To keep still, calm, or silent. •Không nói: Restraining speech or voice—Without speaking. •Sự im lặng: Vacamtva (skt)—Silence.

im lặng cao quí

Noble Silence. •Chỉ nói khi cần thiết. Đức Phật không trả lời những câu hỏi về tự tồn, không tự tồn, thế giới vĩnh cửu, vân vân. Theo Đức Phật, người giữ im lặng là người khôn ngoan vì tránh được hao hơi tổn tướng cũng như những lời nói tiêu cực vô bổ—Speak only when necessary—Buddha Sakyamuni refrained from giving a definitive answer to many metaphysical questions of his time (questions of self-exists, not self-exists, if the world is eternal, or unending or no, etc)—According to the Buddha, a silent person is very often a wise person because he or she avoids wasting energy or negative verbiage. •Một hôm có người nói với Phật y sẽ nhập bọn các đệ tử của Ngài nếu Ngài đưa ra được những giải đáp sáng tỏ về các vấn đề như Phật sống mãi hay không, nếu thế thì cái gì sẽ xãy ra sau khi Ngài chết? Nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ là gì và vũ trụ rồi sẽ giống như cái gì trong tương lai? Tại sao loài người sống và cái gì xãy ra sau khi chúng ta chết? Vân vân và vân vân. Nếu người ấy hỏi để vấn nan Phật thì Ngài chỉ im lặng. Ví bằng Ngài thấy rằng người ấy hỏi để học thì Ngài sẽ trả lời như thế nầy: “Giả sử bạn bị trúng một mũi tên tẩm thuốc độc, có một y sĩ đến để nhổ mũi tên ấy ra khỏi thân thể của bạn và trị vết thương cho lành, trước tiên bạn có hỏi ông ta những vấn đề như mũi tên được làm bằng thứ gì, thuốc độc được chế bằng thứ gì, ai bắn mũi tên đó, và nếu y sĩ không trị vết thương, cái gì sẽ phải xãy ra, vân vân và vân vân; và từ chối chữa trị trừ phi y sĩ trả lời tất cả những vấn đề đó để thỏa mãn bạn? Bạn sẽ chết trước khi nhận được những giải đáp.” Trong thí dụ nầy, Phật khuyến cáo các người hỏi nếu là đệ tử của Ngài thì đừng nên phí mất thời gian về những vấn đề quá sâu xa ngoài tầm lãnh hội của một người thường, có thể sau thời gian dài tu tập theo nhà Phật thì tự nhiên sẽ thấu hiểu: One day a certain man said to the Buddha that he would join the band of his disciples if the Buddha would give clear answer to the questions: Would the Buddha ever die, and, if so, what would become of him after death? What was the first cause of the universe, and what was the universe going to be like in the future? Why do men live and what becomes of them after death? If the person asks because he wants to cause troubles for the Buddha, the Buddha will remain silent. If the person asks because he wants to study, the Buddha's answer was to the following effect: “Suppose you were shot by a poison arrow and a physician came to draw the arrow from your body and to dress the wound, would you first ask him questions as to what the arrow was made of, what the composition of the poison was., and who shot the arrow, and, if the physician did not dress the wound, what was going to happen, and such blissful questions, and refuse the treatment until the physician answered all the questions to your satisfaction? You would be dead before you obtained the answers.” In this parable the Buddha advised the questioner to become his disciple without wasting his time on problems which were too profound to be understood by an ordinary man, probably a long cultivation as a disciple of the Buddha he might come to understand. •Theo Triết Học Trung Quán, sự im lặng bí ẩn của Đức Phật đối với những câu hỏi có tính cách siêu hình căn bản nhất đã thúc đẩy Bồ Tát Long Thọ nghiên cứu tìm hiểu lý do tại sao Đức Phật lại giữ im lặng. Có phải Đức Phật chủ trương “Bất khả tri” như một số người Tây phương nghiên cứu Phật Giáo đã nghĩ? Nếu không thì vì lý do gì mà Ngài giữ thái độ im lặng? Qua một cuộc nghiên cứu đối với sự im lặng nầy, Long Thọ đã đặt ra biện chứng pháp. Có một số câu hỏi trứ danh mà Đức Phật cho là “Vô ký,” tức là những giải đáp mà Ngài cho rằng không thể diễn đạt. Trong những chú giải của Nguyệt Xứng về Trung Luận, Ngài đã từng nói về chuyện Đức Thế Tôn đã tuyên bố về mười bốn sự việc không thể thuyết minh được như sau—According to the Madhyamaka Philosophy, the mysterious silence of the Buddha on most fundamental questions of Metaphysics led him to probe into the reason of that silence. Was the Buddha agnostic as some of the European writers on Buddhism believe him to be? If not, what was the reason of his silence? Through a searching inquiry into this silence was the dialectic born. There are well-known questions which the Buddha declared to be avyakrta or the answers to which were inexpressible, Cadrakirti enumerates them in his commentary on the Madhyamaka Sastra that the Buddha announced fourteen things to be inexpressible: a)Thế giới phải chăng là—Whether the world is…: 1)Vĩnh hằng: Eternal. 2)Không vĩnh hằng: Not eternal. 3)Hoăc vừa vĩnh hằng vừa không vĩnh hằng: Both eternal and not eternal. 4)Hoặc chẳng phải vĩnh hằng mà cũng chẳng phải không vĩnh hằng: Neither eternal nor not eternal. b)Phải chăng thế giới là—Whether the world is… 5)Hữu biên: Finite. 6)Vô biên: Infinite. 7)Hoặc vừa hữu biên vừa vô biên: Both finite and infinite. 8)Hoặc chẳng phải hữu biên mà cũng chẳng phải vô biên: Neither finite nor infinite. c)Phải chăng sau khi Như Lai nhập diệt—Whether the Tathagata… 9)Ngài vẫn tồn tại: Exists after death. 10)Ngài không còn tồn tại: Does not exist after death. 11)Hoặc Ngài vừa tồn tại vừa không tồn tại: Either exists or does not exist after death. 12)Hoặc Ngài chẳng tồn tại mà cũng chẳng không tồn tại:Neither exists nor does not exist after death. d)Phải chăng linh hồn và thể xác—Whether the soul is. 13)Đồng nhất: Identical with the body. 14)Không đồng nhất: Different with the body.

im phăng phắc

Dead silence—Unbroken silence.

im thin thít

To keep silent.

im ỉm

Very silent.

In-đra-bu-ti

S: indrabhūti; »Nhà vua Tất-đạt giác ngộ«; |Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. In-đra-bu-ti là tên của ba nhà vua khác nhau của nước Ô-trượng-na (s: oḍḍiyāṇa), chuyện này nói về nhà vua thứ ba, sống trong thế kỉ thứ 9.||H 29: In-đra-bu-ti (indrabhūti)|In-đra-bu-ti có một cô em gái là La-kha Min-ka-ra (lakṣmīṅkarā), lúc lên bảy đã hứa làm vợ cho nhà vua Ja-len-đra (jalendra). Nhưng La-kha Min-ka-ra đã sớm từ bỏ đời sống thế gian, theo học Phật pháp. Theo gương cô em, In-đra-bu-ti nhường ngôi cho con, âm thầm tu tập thiền định trong một cung điện riêng. Sau 12 năm thiền quán, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi), quần thần không hề biết. Ngày nọ ông đến thăm con thì con ông cũng định đến thăm cha. Người con nghe tiếng gọi từ không trung, nhìn lên thấy ông đang lơ lửng trên trời. Ông tận dụng lúc này để giảng pháp cho con và quần thần nghe. Bài thánh đạo ca của ông như sau:|Nếu không có phép lành,|bất chợt và đúng lúc,|thì ngay người tu tập|không thể nào giác ngộ.|An lạc và Phật-đà|thật sự không gì khác.|Hãy cắt bỏ ràng buộc,|và trực nhận tự tính,|đầy phúc của thật tại.|Ông có để lại một tác phẩm về tu tập Tan-tra dưới tên Trí thành tựu pháp (s: jñānasiddhi).

inh tai

Deafening.

inh ỏi

Noisy—Loud.

Ja-lan-đa-ra

S: jālandhara hoặc jālandharipa; »Người được chọn của Không hành nữ«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ của thế kỉ thứ 9, 10. Ông là vị thầy nổi tiếng, có 10 đệ tử cũng trở thành Tất-đạt.|Ja-lan-đa-ra là người theo đạo Bà-la-môn ở thành Tur-khā-ra, nhàm chán thế gian đến mức bỏ hết đi đến một bãi thiêu xác, lang thang tại đó. Lúc ngồi dưới một gốc cây thì một Không hành nữ (s: ḍākinī) hiện ra, hỏi ông có muốn học Phật pháp, thực hành một Nghi quỹ (s: sādhana). Ông cầu khẩn xin học thì được giáo hoá như sau|Tập hợp mọi tri thức,|cả ba Thân khẩu ý,|đưa vào ba huyệt đạo,|cho lên đến đỉnh đầu,|rồi hãy tống vào cửa,|mở vào cõi Thanh tịnh.|Du-già sư trong sạch,|sẽ phát sinh Ðại lạc,|trong tính Không vô tận.|Cứ giữ sự giao phối,|tính Không và Ðại lạc.|»Ba huyệt đạo« chính là La-la-nā, tượng trưng cho trí phán đoán phân biệt, chủ nam tính; Ra-sa-nā, tượng trưng cho tâm trực giác, cảm xúc, chủ nữ tính và A-va-dhū-ti là huyệt đạo trung tâm, chấm dứt tại đỉnh đầu. Ja-lan-đa-ra thiền quán bảy năm liên tục và đạt yếu chỉ của Ðại thủ ấn, đó là Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Thánh đạo ca của ông như sau:|Muốn nhận được ân phúc,|hãy tập hợp tư duy,|của ba: Thân khẩu ý,|đưa vào ba huyệt đạo.

Ja-ya-nan-đa

S: jayānanda hoặc jayānanta; »Vua của bầy quạ«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ – có lẽ là đệ tử của A-đề-sa – sống trong thế kỉ thứ 11.|Ja-ya-nan-đa là quan đại thần của nhà vua, thuộc dòng Bà-la-môn xứ Bengal. Ông âm thầm tu tập một Tan-tra Phật giáo, đặc biệt là chuyên cúng dường bánh trái. Về sau nhà vua biết ông tu phép này, bắt giam vào ngục. Ðến giờ cúng dường thường lệ, bầy quạ đến chờ thức ăn không có, chúng bay từng đàn trên cung điện nhà vua, mổ đầu người qua kẻ lại. Trong số đó có người hiểu được tiếng chim, tâu lại vua. Vua nghe xong, truyền thả ông ra. Ông đọc bài kệ:|Nhờ phép lành Ðạo sư,|ta chứng thật viên mãn,|đạt tỉnh giác tự nhiên,|vốn tiên thiên sẵn có.|Ta, đại thần hỉ lạc,|hết phụng sự Luân hồi.|Vua chính là Tự tính,|đã thắng quân nhị nguyên,|đã xa rời dục lạc.|Hãy nghe, hỡi các người,|Khúc khải hoàn Cha-da.||H 30: Ja-lan-đa-ra (jālandhara) đang phối hợp từ bi và tính không|Chứng đạo ca của ông có những dòng:|Trong tâm thức đạt định,|đầy tỉnh giác, tri kiến,|đạt tự tâm thanh tịnh,|xa hẳn tâm phân biệt.|Chứng được lòng kiên cố,|vắng bóng các thành kiến,|và tư duy hỗn loạn.

Jam-gon Kong-trul

T: jamgon kongtrul [jammgon koṅsprul]; 1813-1899;|Một trong những Lạt-ma quan trọng của Phật giáo Tây Tạng trong thế kỉ 19. Mới đầu Sư theo giáo phái Bôn (t: bon), về sau tu học với dòng Ninh-mã (t: nyingmapa) và Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu). Các tác phẩm của Sư được gọi là »Ngũ báu«, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.|Năm 30 tuổi, Sư chấm dứt việc học hành sau khi được 60 Ðại sư giảng dạy và được công nhận là một Chu-cô (t: tulku) trong thời gian này. Vì đã có kiến thức về truyền thống của đạo Bôn và dòng Ninh-mã nên Sư bắt đầu sưu tầm tất cả những Ter-ma đang có sẵn. Sư chấm dứt công việc này năm 59 tuổi. Các Ter-ma sau được in ra 60 tập và là một trong năm kiệt tác của Sư, đời sau gọi là Ngũ báu. Sư cố gắng hết mình dung hoà tất cả những tông phái Phật giáo ở Tây Tạng và quan niệm rằng, tất cả những giáo lí đều bình dẳng, ngang hàng nhau. Ngoài ra Sư còn biên soạn nhiều sách hướng dẫn tu tập thiền định theo phương pháp của dòng Ca-nhĩ-cư (kagyupa). Ngày nay, những bộ sách này vẫn còn được sử dụng. Ảnh hưởng của Sư trên Phật giáo Tây Tạng còn phát rộng ra vì sau khi Sư tịch, nhiều vị tái sinh được công nhận là Chu-cô, trong đó Zhe-chen Kong-trul (1901-1960) và Pal-pung Kong-trul (1904-1953) là hai vị quan trọng nhất.

Jô-gi-pa

S: jogipa, yogipa;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) của Ấn Ðộ, sống khoảng thế kỉ thứ 9 hay theo một giả thuyết khác, khoảng thế kỉ thứ 11. |Ông là người tinh tiến nhưng kém hiểu biết, được thầy là Sa-va-ri-pa (s: śavaripa) cho nhập môn và truyền năng lực của Hộ Thần Hô Kim cương (s: hevajra) – nhưng ông thiền quán không có kết quả. Cuối cùng Sa-va-ri-pa khuyên nên đi hành hương đến 24 chỗ thiêng liêng và vừa đi vừa đọc thần chú của Kim cương Hê-ru-ka (s: vajra heruka). Jô-gi-pa nghe lời thầy, đi hành hương suốt 12 năm. Sau đó mọi tâm nhiễm ô đều biến mất, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Jô-gi-pa sống thêm 500 năm nữa để giáo hoá. Chứng đạo ca của ông như sau:|Khi ánh sáng tâm thức,|được quán sát liên tục,|sáng như tim ngọn đèn,|thì mọi thứ hiện tượng,|dù động hay bất động,|đều tan chảy vào trong,|không gian đó: Pháp giới.||H 31: Jô-gi-pa (jogipa) hành cước.|24 thánh địa mà Jô-gi-pa đã đến được nhắc nhiều trong những Tan-tra là:|1. Pūrnagiri (Paurṇagiri, Puri Lamalaya) tại vùng Bijapur, Karnataka, Nam Ấn Ðộ; 2. Oḍḍiyāṇa (Uḍḍiyāṇa, Oḍiyāṇa, Uryan, (Ô-trượng-na), thung lũng Swat tại miền Bắc nước Pakistan; 3. Jālandhara tại thung lũng Kangra, Himachal Pradesh; 4. Kāma-rūpa, gần Gauhati, Assam; 5. Arbuda (Apruta, Arbuta), đỉnh Abu tại Rajastan; 6. Godāvarī, nơi bắt nguồn của sông Deccan; 7. Rāmeśvaram ở Tamil Nadu; 8. Devīkoṭṭa, phía nam của Dinajpur, Tây Bengal. 9. Malava, tại Mālwa, Mādhya Pradesh; 10. Oḍra (Oṭre, Oṭi), miền Bắc Orissa; 11. Triśakune, tại Trisrotah; 12. Kośala với thủ đô là Śrāvastī; 13. Kaliṅga, phía Nam Orissa và Nordandhra với thủ đô là Daṇṭapurī; 14. Lampāka, thủ đô của Oḍḍiyāṇa, gần Mardan; 15. Kāñcī (Kāñcīka), Conjeevaram hoặc Kāñcīpuram, phía Tây Nam của Madras; 16. Himalāya (Himādri, Mimavat); đỉnh Ngân Sơn (kailāśa) hoặc Bhīmāsthān tại Peshawar hoặc đỉnh Nandādevī ở tỉnh Garhwal tiểu bang Uttar Pradesh; 17. Preṭapurī Tsaritra tại Tây Tạng hoặc gần biên giới Arunachal; 18. Gṛhadeva (Nepāla), vùng Paśupati tại Kathmandu; 19. Saurāṣṭra (Sourakhta), một vương quốc cổ, bao gồm Surat, Cambay và Kathiawar; 20. Survaṇadvīpa, tại Sumatra, Nam Dương; 21. Nagara, Nagarkoṭa hoặc Jvālamukhī (?), gần Jālandhara; 22. Sindhu, Nagara haṭha, miền đông của Karachi; 23. Maru (Maro, Marobalaraste), Ostrajasthan; 24. Kulānta (Kulāta, Kupānta).

ka la sai ma thích tinh xá

Kālaksemakasya-Skyasya-Vihāra (S)Tên một ngôi chùa.

Ka-la-lã

柯羅邏; C: kēluóluó; J: karara; S: kalala. |Giai đoạn đầu trong 5 thời kì con người được thụ thai.

Ka-la-lã 柯羅邏

[ja] カララ karara ||| The first of the five periods of human pregnancy (kalala). 〔攝大乘論 T 1593.31.116b〕 => (s: kalala). Giai đoạn đầu trong năm tiến trình con người được thụ thai.

Ka-la-pa

S: kālapa; »Người bảnh trai cuồng điên«; |Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) của Ấn Ðộ, sống khoảng cuối thế kỉ thứ 12 và thuộc dòng truyền thừa của Thời luân tan-tra (kālacakra-tantra).|Ka-la-pa là một người bảnh trai nổi tiếng, đi đâu ai cũng nhìn ngắm ông. Ðiều này làm phiền đến mức ông rút lui sống trên một bãi thiêu xác. Sau đó nhờ một vị Du-già sư (s: yogin) khai thị hướng dẫn vào một Nghi quỹ (s: sādhana), ông chuyên tâm thiền định và đạt thánh quả. Qua quá trình tu tập, ông nhận ra sự nhất thể, thấy sự khác biệt giữa mình và người chỉ là một sự nhầm lẫn. Ông trở lại thân thiện với mọi người – quá mức thân thiện đến nỗi người đời gọi ông là »cuồng.« Ông thi triển thần thông và khuyên dạy mọi người như sau:|Nguyên nhân mọi âu lo,|xuất phát từ nhầm lẫn:|mỗi người một ốc đảo,|đơn độc và cách biệt.|Nếu bạn muốn thoát khổ,|quán tâm thức hoạt động,|như một đoàn thiên nhân,|biến mất trong âm »A«|như một chiếc cầu vồng,|biến mất trong bầu trời.|Sinh, Tử và Già, Chết,|không còn gì uy lực,|với tên cuồng này nữa.|Hành động tràn qua y,|là niềm vui thanh tịnh.|Chứng thật và rốt ráo,|là niềm vui thanh tịnh.|Thiền quán vô lậu trí,|là niềm vui thanh tịnh.|Ðạt đích không mong cầu,|là niềm vui thanh tịnh.|Bài thánh ca của ông có những dòng:|Những con người thế gian,|sống cuộc đời lầm lạc,|họ gọi ta là cuồng.|Ta biết cách chữa trị,|căn bệnh lầm lạc đó,|là cam lộ thiêng liêng|giáo lí bậc Ðạo sư.

Ka-na Kha-la

S: kanakhalā;|Một Du-già ni tất-đạt (s: yoginī siddhā) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9.|Ka-na Kha-la là cô em gái của Mê-kha-la (s: me-khalā), xem chuyện kể chung với chị.|Bài ca ngộ đạo của Ka-na Kha-la như sau:|Ta đã tu Nhẫn nhục,|một phép tu bất hoại,|hạnh nguyện như kim cương.|Cưỡi trên dòng tâm thức,|rồi thi triển quyền năng,|trên xác thân con người.

Ka-na Ðề-bà

S: kāṇadeva; »Ðơn nhãn Ðề-bà«;|Một tên khác của Thánh Thiên, Tổ thứ 15 của Thiền tông Ấn Ðộ.

Ka-pa-la-pa

S: kapālapa hoặc kapa; »Người đeo sọ người«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 8, 9.|Ông là người làm thuê tại Rā-ja-pu-rī, có vợ năm con. Ngày nọ, vợ ông chẳng may chết sớm. Ông vừa mang vợ ra chỗ thiêu xác thì nghe tin năm đứa con mình cũng chết luôn. Ông trở về mang xác con để bên cạnh vợ, ngồi khóc thảm thiết. Ðúng lúc đó thì Ðạo sư Kan-ha-pa (s: kāṇhapa hoặc kṛṣṇācārya) đi ngang. Kan-ha-pa giảng cho ông đời sống vô thường và khuyên ông tu tập một Nghi quỹ (s: sādhana). Ka-pa-la-pa thú nhận ông bị sự sợ hãi cái chết xâm chiếm, xin Kan-ha-pa dạy cho phép đối trị cái sợ này. Kan-ha-pa cho phép ông vào Man-đa-la của Hô kim cương tan-tra và dạy phép thiền định. Vị này còn đưa cho ông sáu miếng xương đẽo từ tay chân của con ông, sọ người vợ được biến thành bình bát. Ông quán tưởng, xem sọ là tác nhân và tính Không là quả. Sau chín năm thiền định, ông đạt được sự giao phối của hai thứ thiền định đó và đọc bài kệ:|Ta, người mang sọ người,|đã chứng thật Tự tính,|mọi sự và sọ người.|Không còn ngần ngại nữa,|mọi hoạt động của ta.|Sau khi chứng ngộ, ông sống thêm 500 năm nữa để giáo hoá. Bài ca tán Chân như của ông như sau:|Thể tính phi nhị nguyên,|nguồn gốc mọi hiện tượng,|cũng là xương và sọ,|cũng là Ngã giả dối.|Tất cả những điều đó,|chẳng phải tìm mà ra.

kakushin

Kakushin (J), Shinchi (C), Shinji (C)(1207-1298) Thiền sư Nhật bản, người đã mang Vô môn quan và thiền Lâm Tế dòng Dương Kỳ ở Trung quốc du nhập về Nhật bản.

kala

Kala (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.

Kam-ba-la

S: kambala; »Du-già sư với áo choàng đen«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 8.|Ông là thái tử nước Kaṅ-ka-ra-ma, lúc phụ vương mất, lên nối ngôi cha. Thế nhưng mẹ ông khuyên ông nên bỏ ngôi báu thụ giới đi tu, ông nghe lời. Bà mẹ vẫn chưa vừa lòng, khuyên ông nên bỏ tu viện, ông nghe lời, trở thành một Du-già sư (s: yogin) lang thang khất thực. Bà mẹ thật ra là một Không hành nữ (s: ḍākinī), muốn thử lòng tuyệt đối vâng lời của ông để đưa vào phép luyện Tan-tra. Sau khi ông trở thành Du-già sư, người mẹ hiện ra, cho ông nhập môn tu luyện Cha-kra-sam-va-ra-tan-tra. Ông tu luyện 12 năm liên tục và đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Nghe lời vị Không hành nữ, ông tiếp tục du hoá. Ngày nọ, có một nhóm phù thuỷ muốn phá ông, họ lấy cắp và nuốt chửng chiếc áo choàng đen của ông. Ông thi triển thần thông biến phù thuỷ thành cừu cái và cạo đầu chúng. Lúc được hiện lại nguyên hình, nhóm phù thuỷ nghe lời, ủng hộ Phật pháp và nhả lại các mảnh áo cho ông. Ông vá chiếc áo lại, nhưng bây giờ nó ngắn hơn trước một chút. Ông được mệnh danh là »Du-già sư với áo choàng đen.« Chứng đạo ca của ông như sau:|Ðại dương sâu thăm thẳm,|chất chứa đầy ngọc quý,|phồn vinh thay, Long Vương.|Từ vô thuỷ, tất cả|là ánh sáng, âm thanh|của Pháp thân thường tại.|Quý thay, Du-già sư,|kẻ nhận thức Thật tại!

Kam-pa-ri-pa

S: kamparipa hoặc karmāri, karmāra; »Thợ rèn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 11.|Kam-pa-ri-pa sinh tại Hoa Thị thành (s: pāṭali-putra). Ông sống bằng nghề thợ rèn. Ngày nọ có một Du-già sư đến khất thực, Kam-pa-ri-pa mừng rỡ vì không ngờ vị này khất thực nơi nhà mình. Cùng vợ, ông tiếp đãi trọng hậu và được vị này khai thị, dạy cho ông quán tưởng về ba dòng năng lực tâm lí: »Hãy quán ống bệ, than và lửa trong tâm ngươi. Ống bệ là năng lực, ống khói là cảm thụ, tâm thức là lửa, khái niệm là than, miếng sắt là ba độc. Hãy dùng nó mà đánh tan Ba độc và miếng sắt sẽ trở thành Ðại lạc của Pháp thân bất nhị. Hãy biến quán tưởng thành hành động hàng ngày:|Hai tay thổi ống bệ,|bên mặt và bên trái,|quạt lửa than nóng lên,|mà đốt cháy khái niệm,|nằm trô trên ống khói.|Thổi lên ngọn lửa hồng,|của tri kiến, tỉnh giác,|đốt chảy tan miếng sắt,|của ba độc, năm tham,|đạt Pháp thân bất hoại.«|Ông nghe nghe lời và sau sáu năm thiền định, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Sau đó sản phẩm rèn của ông không làm mà tự xuất hiện. Bài chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Trên ống khói thân ta,|là than đen khái niệm,|Thổi ống bệ trái, mặt,|đốt lên ngọn lửa trí.|Miếng sắt của ba độc,|bị chảy thành như nước,|lấy pháp thân làm búa.|Kam-ba-ri giác ngộ!

Kan-ha-pa

S: kāṇhapa hoặc kṛṣṇācārya; »Thành tựu giả kiêu mạn«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong đầu thế kỉ thứ 8.|Kan-ha-pa là đệ tử của Ja-lan-đa-ra (s: jālandhara). Sau mười hai năm tu luyện, ông cho mình đã đạt đạo và đem đệ tử đi đấu phép với ma quân. Lúc đi trên nước, ông tự đắc nghĩ mình đã hơn thầy, vừa nghĩ tới đó ông mất hết thần thông và chìm xuống nước. Ja-lan-đa-ra lại hiện ra cứu ông và gửi ông cho một đệ tử thợ dệt nhờ giáo hoá. Thế nhưng đệ tử thợ dệt cũng không chữa nổi tính kiêu mạn của ông. Trên đường đi ông lại đấu phép với một cô bé trẻ tuổi, thua cuộc và sau đó lòng tự phụ mới tiêu tan, ông đạt Tất-địa và được bước vào cõi của các Không hành nữ (s: ḍākinī). Kệ tụng của ông như sau:|Xe không thể chạy được,|nếu không có bánh xe,|Hành bố thí phạm hạnh,|mà không có Ðạo sư,|chẳng đạt được Tất-địa.|Như con chim giang cánh,|với khả năng sẵn có,|nó bay vút lên cao.|Ðã nghe lời giáo hoá,|của Ðạo sư nghiệp định,|Du-già sư hài lòng.

Kan-ka-na

S: kaṅkaṇa; »Tất-đạt vương«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong khoảng thế kỉ thứ 11.|Ông là nhà vua xứ Viṣ-ṇu-na-gar, đời sống sung mãn không thiếu thứ gì. Ngày nọ, có một Du-già sư (s: yogin) đến khất thực và nhân dịp này khuyên ông: »Vua và Quốc vương là hai danh từ rỗng, chức vị bây giờ của ông là vô nghĩa. Tất cả chúng sinh đều phải chịu đựng khổ cực, kiếp này sang kiếp khác, một vòng xoay bất tận. Ngay cả sự hạnh phúc hiện tại của chư thiên cũng là khổ khi họ nghe là sắp phải chết. Rồi kiếp sau ông sẽ thế nào? Hãy quên đi những thú vui tạm thời, ngắn ngủi như sương sớm mai và hãy tu luyện một Nghi quỹ.«|Nghe như thế, ông liền hỏi có cách nào tu tập mà không phải mặc áo quần rách rưới, không phải đi khất thực. Vị Du-già sư khuyên ông nên tránh lòng kiêu mạn đó, đồng thời chỉ cho ông phép tu đặc biệt, quán ánh sáng vàng ngọc đeo trên tay mình chính là tâm thức thanh tịnh:|Quán ánh ngọc trên tay:|Tự tính trong tâm thành.|Quán màu sắc áo quần,|của lụa là, cung điện,|nó là hình ảnh hiện,|trong viên ngọc quý này.|Thế nhưng – tự tính ngọc,|không hề từng lay động.|Từ thiên hình vạn trạng,|của sum la hiện tượng,|sinh ra vô số lượng,|tư tưởng trong tâm mình.|Tâm thức lại chỉ là,|viên ngọc biết chiếu rọi.|Nhà vua nghe lời và chỉ sáu tháng sau, ông đạt Tất-địa. Người đời đặt tên ông là Kan-ka-na (kaṅkaṇa), có nghĩa »vòng ngọc« vì nhờ vòng ngọc đó mà ông chứng ngộ được. Ông sống đến 500 tuổi và giáo hoá cho vô số người. Ông dạy họ như sau:|Chứng ngộ được tính tâm,|đó là vua không khác.|Khi báo thân hiển hiện,|đó là vương quốc mình.|Vua sống trong vương quốc,|đó là lễ đăng quang.|Các ngươi muốn làm vua?|Hãy tu tập phép này.|Thánh ca của Kan-ka-na có những dòng:|Chứng ngộ: ngọc như ý,|chiếu tri kiến cao tột,|có sức mạnh diệu kì,|thành tựu mọi ước nguyện.|Ai đã nếm thử nó,|kẻ chứng đạt hoàn toàn.

Kan-ka-ri-pa

S: kaṅkāripa hoặc kaṅkali; »Người góa vợ ưu sầu«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ.|Ông là một sống người bình thường, rất yêu vợ. Ðến khi người vợ mất thì ông không thiết đến gì nữa, đau khổ gần như muốn chết. Một Du-già sư thấy vậy thương tình, đến thăm hỏi. Ông than với vị này: »Ông không thấy sao? Tôi mất người vợ yêu quý và cuộc đời của tôi như thế cũng chấm dứt. Tôi đau khổ như bị ai lấy cả hai tròng mắt ngay lúc này, không có ai trên đời khổ như tôi.« Vị Du-già sư nghe vậy khuyên ông: »Tất cả những gì được sinh ra đều phải chết, hợp rồi phải tan. Tất cả những hiện hữu trong Luân hồi đều là Khổ. Khổ là đặc tính của Vòng sinh tử. Tại sao ông lại buồn? Tại sao ông còn giữ cái thây này, một vật không khác gì tro đất? Tại sao ông không tu học Phật pháp để diệt khổ?«|Nghe những lời khai thị này ông mừng quá, cầu xin chỉ dạy. Vị Du-già sư khuyên ông quán hình ảnh vợ mình là một Không hành nữ (s: ḍākinī), không bằng xương thịt tạo thành mà là sự nhất thể của Ðại lạc và tính Không. Sau sáu năm quán niệm, ông đạt tri kiến tuyệt đối – Ðại thủ ấn tất-địa.|Chứng đạo kệ của ông như sau:|Không hành nữ, nữ hoàng,|chủ nhân của chính ta.|Tự tính thanh tịnh đã,|biến ra thành sắc thể,|Không gian trống rỗng đã|biến thành vật khả tri,|Ta không hề rời xa,|nhưng không phải của »Ta.«|Không thể diễn bày được,|không thể nào so sánh.

Kan-ta-li-pa

S: kantalipa, kanthapa, kantapa, kaṇtālipa, ka-nālipa, kandipa; »Người may vải vụn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là người vô giai cấp, sống bằng nghề vá áo, không bao giờ biết sung sướng là gì. Ngày nọ, ông vô ý đâm kim vào tay chảy máu. Buồn rầu về số phận của mình, ông tìm một nơi vắng vẻ suy tư. Một Không hành nữ (s: ḍākinī), hiện hình thành một người đàn bà, hỏi thăm ông. Ông thành thật kể lể đời sống mình và vị nữ thần cho hay rằng, nếu không thoát khỏi Vòng sinh tử thì kiếp này hay kiếp sau ông cũng chịu khổ như kim chích. Ông cầu xin được truyền một Nghi quỹ để theo đó tu tập. Nữ thần cho ông nhập môn Hô kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra), Quán đỉnh và dạy ông quán Bốn tâm vô lượng (Bốn phạm trú). Ông cố gắng tu tập nhưng tâm luôn trở lại nghề may của mình. Nữ thần bèn dạy ông cách biến tư duy thành phương pháp tu:|Vải vụn ví không gian,|Kim nhọn ví tỉnh giác,|Sợi chỉ ví lòng Từ,|may vá áo quần lại,|mặc cho loài hữu tình,|của thế gian ba cõi.|Nhờ phép thiền quán này mà Kan-ta-li-pa ngộ được tính Không của những yếu tố tạo ra thế giới hiện tượng và lòng Từ bi, thương xót tất cả những loài hữu tình dâng lên trong lòng ông. Ông chứng ngộ rằng, Từ bi và Không là một và đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Ta gom may ba cõi,|kim ta là Ðạo sư,|sợi chỉ là lòng Từ,|hãy nhìn chiếc áo quý,|của Du-già sư này!

kanha

Kanha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.

karmapa

Karmapa (T)Hóa thân đời thứ 17 của Hòa thượng Dusum Khyenpa, Tổ sư phái Karma Kagyu, Mật tông Tây tạng.

keo

Tên khác của chùa là Trần Quang Tự, tọa lạc tại thôn Dũng Nhuệ, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chùa được xây dựng năm 1608 bên bờ sông Hồng Hà, nên bị nước xoáy mòn dần. Năm 1930, Quận Công Nguyễn Quyên đã cúng dường đất để xây lại ngôi chùa. Trong chùa có đại hồng chung được đúc vào thời nhà Lê—Another name for Trần Quang Tự Temple, a famous ancient temple, located in Dũng Nhuệ hamlet, Duy Nhất village, Vũ Thư district, Thái Bình province. It was built in 1608 by the bank of the Red River, so it has gradually been eroded. In 1930, Duke Nguyễn Quyên donated his own land for rebuilding the temple. The great bell of the temple cast during the Lê dynasty.

keo kiệt

Stingy—Misery.

ketumbaraga

Ketumbaraga (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.

keà

Close to—Near to.

kha nguyệt

3888珂,玉之白者。以珂與月,譬指物之鮮白者。法華經嚴王品(大九‧六○下):「眉間毫相,白如珂月。」 ; (珂月) Kha là mầu trắng của ngọc, nguyệt là ánh sáng mặt trăng. Kha nguyệt dùng để ví dụ một vật có mầu trắng tươi mát. Phẩm Diệu trang nghiêm vương trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 60 hạ) nói: Tướng lông trắng giữa chân mày của đức Phật như kha nguyệt.

kha nhĩ bố lỗ khắc

3842(Colebrooke, Henry Thomas; 1765~1837)英國研究印度學之先驅。父爲東印度公司總督。早年隨從其父參與印度各種事業。其間曾修習梵文,研究印度社會法制、文化風俗。歷任加爾各答法院判事、加拿大福特威廉學院(Fort William College)名譽教授、孟加拉最高委員會委員等。此外,一七九四年以來在 Asiatic Researches 雜誌多次發表研究論文。一七九七年出版 Digest of Hindu Law on Contracts and Successions,係梵文翻譯的集大成之作。氏又博通吠陀、梵文學、哲學、耆那教學、比較語言學、古代法典、天文學、數學、地理學、植物學等,名聲極高。主要著作有:A Sanscrit Grammar, 1805; Essay on the Vedas, or Sacred Writings of the Hindus, 1805; Miscellaneous Essays, 3 vols. 1827; Essay on the Philosophy of the Hindus, 1833~1837.

kha nặc ô

3842(Konow Sten, 1867~1948)挪威之印度學學者。曾任奧斯陸(Oslod)、漢堡大學教授(1908~1919)。一九○六年任印度政府碑文調查委員,發掘出沙爾那斯(Sārnāth,鹿野苑遺蹟)一帶。對印度、中亞等地之古代方言、金石文等有特出之研究成果。一九○○年後,從事學術雜誌之編輯,先後有:La Norvege, 1907~1913; Epigraphia Indica,另於一九二二年以來編纂 Acta Orientica,功績甚著。主要著作有:Linguistic Survey of India, 1902~1922; Bashgali Dictionary, 1913; Das indische Drama, 1920; Kharoshthi Inscriptions, 1929; Saka Studies, 1932; Khotan-Sakische Grammatik, 1941.

khai

To open, begin, iinstitute, unfold, disclose; dismiss; write out; unloose.

khai bá nhĩ ách khẩu

5306(Khaibar 或 Khyber Pass)位於巴基斯坦西北部蘇里曼山區與阿富汗交界處,距其東南之白夏瓦(Peshāwar)數十公里。自古即爲中亞與印度間重要通道之一,入印度者多沿庫納河(Kunat)北上進入隘口。早期移民印度之雅利安人、入侵印度之希臘亞歷山大大帝及我國入印度求法之僧眾等多經由此隘口,而阿育王派遣往西方弘揚佛法之僧眾,亦多由此而出。第一次阿富汗戰爭(1838~1842)後,英軍屢次由此侵略巴基斯坦。現今有鐵路通過隘口,達於邊鎮蘭帝寇拓(Landi Kotal)。於隘口附近尚存有阿育王時代之佛教遺蹟,如卡菲兒寇特(Kafir Kot)、須普拉史都帕(Shipla Stupa)等。 ; (開伯爾隘口) Khaibar hoặc Khyber Pass. Cửa ải ở biên giới A phú hãn (Afghanistan) và vùng núi Tô lí mạn thuộc miền tây bắc Ba cơ tư thản (Pakistan). Cách Bạch hạ ngõa (Peshàwar) vài mươi cây số về phía đông nam. Đây là một trong những con đường giao thông quan trọng giữa Trung á và Ấn độ từ xưa đến nay, người muốn đến Ấn độ phần nhiều phải men theo phía bắc sông Khố nạp (Kunat) để vào ải. Thời xưa, những người Aryans di cư đến Ấn độ, Đại đế Á lịch sơn đại (Alexandre) của Hi lạp xâm lăng Ấn độ, chư tăng Trung quốc đến Ấn độ cầu pháp hay những vị tăng do vua A dục phái sang phương Tây hoằng dương Phật pháp, phần nhiều cũng đều phải qua cửa ải này. Sau cuộc chiến tranh A phú hãn lần thứ 1 (1838-1842) quân đội Anh đã nhiều lần vượt qua chỗ này đến xâm lược Pakistan. Hiện nay đã có đường sắtthông qua cửa ải đến vùng biên trấn Landi kotal. Vùng phụ cận cửa ải này vẫn còn những di tích Phật giáo của thời đại vua A dục, như Ca phi nhi khấu đặc (Kafir Kot), Tu phổ lạp sử đô phạ (Shipla Stupa), v.v...

khai bạch

To start from the bare ground; to begin the ceremony.

khai bảo tự

5314位於河南開封。寺建於北齊天保十年(559),初名獨居寺。唐代開元十七年(729),玄宗東遊至此,改名封禪寺。北宋太祖開寶三年(970),復改今名,太宗端拱年間於寺內建塔。今寺已廢。開封之祐國寺(鐵塔寺)當時即爲開寶寺之東院。

khai cam lộ môn

To open the ambrosial door, i,e. provide for hungry ghosts.

khai chẩm

5306禪林用語。又稱開被安枕。謂打開寢具就寢。起床則稱橋枕,以其使用木質之枕,故稱橋。又開枕鐘,係禪門於初更五點(午後十時)稍後,首由「辰司」報告時刻,繼由「堂行」於堂前敲板三通,「鐘司」隨後即鳴鐘十八聲,以報坐禪終了。此十八響鐘聲,稱開枕鐘、十八鐘、定鐘、初夜鐘。〔敕修百丈清規卷下大眾章日用軌範條〕 ; (開枕) Cùng gọi Khai bị an chẩm. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sắp đặt mền gối để ngủ nghỉ. Trong Thiền lâm, sau 10 giờ đêm vị Thần ti (chức vụ trông nom về giờ giấc) báo giờ, sau đó, vị Đường hành(chức vụ đi tuần tra) gõ 3 hồi bảng treo trước Thiền đường, rồi vị Chung ti(chức vụ chuyên việc thỉnh chuông)gióng 18 tiếng chuông để báo hiệu hết giờ tọa thiền, đồng thời, cũng để báo giờ Khai chẩm; 18 tiếng chuông này gọi là Khai chẩm chung, Thập bát chung, Định chung, Sơ dạ chung. [X. điều Nhật dụng quĩ phạm, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ].

khai chủng

5311請參閱 開福道寧禪師語錄(1912~ )臺灣高雄人,俗姓李。民國五十一年(1962)依隆道法師出家,同年於舊超峰寺受具足戒。五十七年隨中華佛教訪問團赴日本訪問,歸來後,發願將所住持之義永寺建成佛教宏法道場和觀光勝地。師在俗時,曾活躍於高雄婦女界、金融界,聲譽卓顯。 義永寺位於高雄市三民區,寺地由藍清泰居士所捐贈。寺前三面環水,清溪如帶,直通愛河,綠柳翠竹,夾岸而生,間以古木果樹,清幽雅靜。寺原僅茅屋數間,開山住持開證法師,因在外講學,曾暫由郭馬居士代管,後經公議,聘請開種法師住持。法師晉山後,精心擘劃,興建寮房、殿堂。寺境有高約十五公尺之觀音聖像,並辦有幼稚園一所。

khai chứng

5314(1925~ )臺灣高雄人,俗姓黃。年二十六,禮高雄元亨寺永達和尚出家。越二年,於臺南縣白河大仙寺受具足戒。未久即代師主持元亨寺,並開創義永寺。民國四十四年(1955),赴新竹獅頭山海會庵「臺灣律學研究院」,親炙白聖法師研習律學及楞嚴諸經。 師熱心於道場之開創和整建,所開創或整建弘化之道場,除前述者外,另有觀音寺、高雄宏法寺、前鎮念佛會、西甲念佛會、佳冬念佛會、臺南妙心寺(開山者爲心覺法師)、臺東金龍山紫雲寺。目前部分道場已交由弟子傳道、傳孝、傳燈等法師負責。師又致力於宏法事業,先後創辦佛學研究班、僑仁中學(後更名爲能仁工商)、慈恩幼稚園、慈恩圖書館、慈恩出版社、慈恩中醫診所、慈恩兒童之家等。師目前並擔任高雄生命線協會常務理事、臺東佛教支會理事長、高雄佛教分會常務理事等職。

khai cơ

5308請參閱 長房錄 或 歷代三寶紀 [1]請參閱 長房錄 或 歷代三寶紀創建寺院稱開基。又以財物支持寺院開創之人亦稱開基。開基常與開山互用。 ; (開基) Cũng gọi Khai sơn. Sáng lập chùa viện. Người bỏ tiền của để chi dùng vào việc sáng lập chùa viện, cũng gọi là Khai cơ.

khai cận hiển viễn

5307即開除執著於佛陀伽耶成道之佛爲近成之佛,而顯示久遠實成之本佛;即法華本門之開顯。此係天台宗對於法華經所作判釋之語。於法華經二十八品中,前十四品僅明十界皆成佛,未說釋尊爲久遠實成之佛,此垂迹示現之化儀,稱爲迹門。次於後十四品(本門)中,謂能說之釋尊,自五百億塵點劫之前已成佛;亦即開除以佛陀伽耶成道之佛爲近成之佛的執著,而顯示久遠實成之本地本佛,故稱開迹顯本。然佛身原無本迹二身之別,蕩除對於垂迹佛身之情執,迹門之釋尊即本地久遠之釋尊,此稱開近顯遠。故開近顯遠乃就時而言,其義即開迹顯本。〔法華經卷五如來壽量品、法華經玄義卷十下、法華經義記卷一、法華玄論卷一〕(參閱「本迹二門」1965、「開迹顯本」5308、「開顯」5316) ; (開近顯遠) Chủ trương phá trừ sự chấp trước cho rằng đức Phật mới thành đạo ở Phật đà già da(Bồ đề đạo tràng) mà hiển thị Bản Phật đã thành từ lâu xa. Trong 28 phẩm của kinh Pháp hoa, 14 phẩm đầu nói rõ về Tích môn, 14 phẩm sau thì trình bày về Bản môn. Nhưng thân Phật vốn không có Bản Tích riêng biệt, nên tông Thiên thai mới dùng từ ngữ Khai cận hiển viễn nhằm trừ sạch tình chấp cho rằng đức Phật mới thành Phật ở Bồ đề đạo tràng mà hiển bày đức Thế tôn đã thành Phật từ lâu xa rồi. Nói theo thời gian thì gọi là Khai cận hiển viễn; nói theo ý nghĩa thì gọi là Khai tích hiển bản. [X. phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa Q.5; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10 phần cuối; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.1; Pháp hoa huyền luận Q.1]. (xt. Bản Tích Nhị Môn; Khai Tích Hiển Bản, Khai Hiển).

khai diễn

To lecture, explain at length, expound.

khai dục

5307禪林用語。開浴室入浴之謂。據敕修百丈清規卷下兩序章兩序頭首條載,凡遇開浴,齋前掛開浴牌,寒月每五日一浴,暑天每日洗浴。聞開浴之鼓,眾僧先入浴,後乃知事及住持;後世則逆轉此順序。佛制有水湯浴、熱氣浴二種,禪宗則以溫湯沐浴。入浴之法,古時多爲浴槽外汲湯水沐浴之汲湯式;後爲全身入浴槽內沐浴之入湯式。入浴時,應靜肅,禁笑語。入浴之前向跋陀婆羅像燒香,唱(大八二‧七七六下)「若洗足時,當願眾生,具足神力;洗浴身體,當願眾生,身心無垢,內外光潔。唵跋折囉惱迦吒莎訶」之偈咒七遍。〔禪苑清規卷四浴主、禪林備用清規卷七知浴、卷十日用偈章〕 ; (開浴) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Mở nhà tắm để vào tắm gội. Theo điều Lưỡng tự đầu thủ, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ, thì vào những tháng trời lạnh, cứ 5 ngày tắm một lần, trời nóng thì tắm hàng ngày. Trước nhà Trai có treo bảng thông báo ngày và giờ tắm. Khi nghe trống khai dục thì chúng tăng vào tắm trước, sau đến Tri sự và Trụ trì. Nhưng đến đời sau thì thứ tự này được đổi ngược lại. Khi vào nhà tắm phải giữ im lặng, nghiêm túc, không được nói cười. Trước khi vào tắm, đến thắp hương trước tượng của ngài Bạt đà bà la, rồi đọc bài kệ (Đại 82, 776 hạ): Tắm gội thân thể Nguyện cho chúng sinh Thân tâm thanh tịnh Trong ngoài sáng sạch. Và xướng 7 biến chú: Án bạt chiết ra não ca tra sa ha. [X. điều Dục chủ trong Thiền uyển thanh qui Q.4; điều Tri dục trong Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.7; chương Nhật dụng kệ trong Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.10].

khai già

5313即開與遮。開,許可之意;遮,禁止之意。又作開制、遮開。爲戒律用語。即於戒律中,時或開許,時或遮止。小乘戒之戒法較嚴,並無開許;大乘戒法則本慈悲願行,與活用戒法之精神,時有開許,稱爲開遮持犯,爲大乘戒之特徵。如安住淨戒律儀之菩薩,見盜賊欲殺害眾生,造無間業,不忍此惡賊死後受大苦,以慈愍心,斷彼性命,此即開殺戒。〔瑜伽師地論卷四十一、梵網菩薩戒本疏卷一、四分律行事鈔卷中〕(參閱「持犯」3816) ; (開遮) Cũng gọi Khai chế, Già khai. Khai là cho phép; Già là cấm chỉ. Trong giới luật, có khi khai cho, có khi cấm chỉ. Giới của Tiểu thừa rất nghiêm, không có trường hợp tạm khai; còn giới pháp của Đại thừa thì lấy hạnh nguyện từ bi làm gốc, vì thế có lúc tạm khai theo tinh thần hoạt dụng của giới pháp, gọi là Khai già trì phạm, đây là đặc trưng của giới Đại thừa. [X. luận Du già sư địa Q.41; Phạm võng Bồ tát giới bản sớ Q.1; Tứ phần luật hành sự sao Q.trung]. (xt. Trì Phạm).

Khai giá 開遮

[ja] カイシャ kaisha ||| (1)開 refers to approval of activities, while 遮 refers to prohibition. Approval and disapproval in terms of moral discipline. (2) (Lit. `opening and closing') To break the rules when the situation calls for it. (For example, one lies to a hunter when he asks which way the deer went, because it is better in this case to lie then to contribute to the killing of an animal). => 1. Khai 開chỉ cho sự chấp thuận được làm một số việc, trong khi Giá (già) 遮là ngăn cấm. Khai và Già là những thuật ngữ trong Giới luật. 2. 'Mở và đóng'. Uyển chuyển vận dụng các điều giới trong một số tình huống. (Ví dụ, nói dối với người thợ săn khi họ hỏi về con hươu, tốt hơn là nên nói dối để tránh cho người thợ săn khỏi phải giết hại sinh vật).

khai giác

5315開發覺知之意,亦即開發自己本具之佛性,以證悟法之本源。〔八十華嚴經卷六〕 ; To reveal the Buddha-nature. ; (開覺) Khơi mở Phật tính sẵn có của mình để chứng ngộ nguồn gốc của pháp. [X. kinh Hoa nghiêm Q.6 (bản 80 quyển)].

khai giải

To expound, explain.

khai hiển

5315開,開除之意,即開除執著;顯,顯示之意,即顯示真義。此係天台宗對於法華經所作判釋之語。關於法華開顯之思想,於大智度論、法華論等印度諸師之述作中並未詮明,而我國則早於東晉竺法曠即倡法華「會三歸一」之旨,繼之有鳩摩羅什、吉藏、僧肇、法雲等續倡此義。天台大師智顗則基於上述諸師之思想,更倡「方便」即「真實」,而成完整之法華開顯思想體系。天台宗主張,佛陀講法華經前所說之一切經,均非真實之教法(未開顯),至法華經時,始顯示真實之教法。天台宗並針對法華經,就教法與佛身,分立開權顯實、開三顯一、開迹顯本、開近顯遠等。 另依法華經玄義之說,法華經有本、迹二門之開顯,即:(一)迹門之開顯,係就教法而言,即法華經前十四品爲開權顯實、開三顯一。因有人不知法華經以前之權教僅爲導入真實之方便,而執著於聲聞、緣覺、菩薩三乘之教,爲開除此執著,故明示三乘乃方便之化導,以顯示唯一真實 坐@乘實教,並說明方便即真實,故揭示三乘皆歸於一乘之理。(二)本門之開顯,即法華經後十四品爲開迹顯本、開近顯遠。係就釋迦牟尼佛之佛身而言,爲了開除執著於佛陀伽耶菩提樹下成道之佛爲近成之佛,而明示其乃爲現形垂迹,顯示其爲久遠實成之佛。〔法華經卷一方便品、卷四法師品、卷五如來壽量品、法華經玄義卷一上序、卷九下、法華玄義釋籤卷一、法華經義記卷一、卷二、卷三、卷八、法華玄論卷二、卷四、卷五〕(參閱「本迹二門」1965、「開廢會」5311) ; (開顯) Khai là khai trừ, tức phá trừ chấp trước; Hiển là hiển bày nghĩa chân thực. Đây là từ ngữ phán giáo kinh Pháp hoa của tông Thiên thai. Về tư tưởng khai hiển của kinh Pháp hoa, trong các tác phẩm của các luận sư Ấn độ, như luận Đại trí độ, luận Pháp hoa, v.v... chưa thấy được đề cập đến, còn ở Trung quốc thì đầu tiên có ngài Trúc pháp khoáng đời Đông Tấn đề xướng ý chỉ Hội Tam Qui Nhất, rồi đến các ngài Cưu ma la thập, Cát tạng, Tăng triệu, Pháp vân, v.v... tiếp tục phát huy ý chỉ này. Sau hết, Đại sư Trí khải tông Thiên thai lập thêm nghĩa phương tiện tức chân thực mà hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng Khai hiển của kinh Pháp hoa. Tông Thiên thai chủ trương tất cả giáo pháp đức Phật tuyên giảng trước thời Pháp hoa đều chưa phải là giáo pháp chân thực (chưa khai hiển), đến thời kinh Pháp hoa đức Phật mới hiển bày giáo pháp chân thực. Tông này cũng căn cứ vào giáo pháp và Phật thân mà lập thành các nghĩa: Khai quyền hiển thực, Khai tam hiển nhất, Khai tích hiển bản, Khai cận hiển viễn, v.v... Ngoài ra, theo Pháp hoa kinh Huyền nghĩa, thì kinh Pháp hoa có khai hiển Bản môn và khai hiển Tích môn như sau. 1. Khai hiển tích môn: Nói theo giáo pháp, thì 14 phẩm trước của kinh Pháp hoa là Khai quyền hiển thực, Khai tam hiển nhất. Vì có người không biết rằng giáo pháp trước kinh Pháp hoa chỉ là phương tiện tạm thời dắt dẫn đến chỗ chân thực nên chấp trước vào giáo pháp của Tam thừa. Muốn phá trừ sự chấp trước này, đức Phật nói rõ Tam thừa chỉ là phương tiện, Nhất thừa mới là chân thực, đồng thời thuyết minh phương tiện tức chân thực mà hiển bày lí Tam thừa đều qui về Nhất thừa. 2. Khai hiển bản môn: Nói theo thân Phật của đức Thích ca mâu ni, thì 14 phẩm sau của kinh Pháp hoa là Khai tích hiển bản, Khai cận hiển viễn. Nghĩa là phá trừ sự chấp trước cho rằng đức Phật mới thành đạo dưới gốc cây Bồ đề ở Phật đà già da(Bồ đề đạo tràng) để hiển bày lí đức Phật đã thành đạo từ kiếp sâu xa. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1, phẩm pháp sư kinh Pháp hoa Q.4. phẩm Như lai thọ lượng kinh Pháp hoa Q.5; bài tựa trong Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần trên; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.9 phần cuối; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Pháp hoa nghĩa kí Q.1, Q.2, Q.3, Q.8; Pháp hoa huyền luận Q.2, Q.4, Q.5]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Phế Hội).

khai hoá tự

5303位於浙江杭縣。據咸淳臨安志卷八十二載,北宋開寶四年(971),永明延壽爲鎮壓錢塘江之潮水,應吳越王錢俶之請而建寺,始稱壽寧院。據月輪山(開化寺屬之)六和塔下層內巨碑之文載,六和塔爲延壽初建,內藏舍利,後遭焚毀。南宋紹興二十二年(1152),禮部奉聖旨興工重建,臨安府轉運司協力完成。二十六年,僧智曇來此寺住持,不假官力,捨己衣鉢募淨財以建七層塔,成就院宇百間。隆興二年(1164),上賜「慈恩開化教寺」匾額,翌年(乾道元年),以智曇之功績,帝下聖旨賜與該寺特典。元明以後亦屢遭災厄,於明代嘉靖年間(1522~1566)燒毀,萬曆年間(1573~1619)再事重修,今存之六和塔乃於清代雍正十三年(1735)重建,光緒二十六年(1900)重修所遺存者。塔係八角十三層,錢塘之風光,可於塔上一覽無遺。〔浙江通志卷二二六、杭州志卷三十五、西湖勝蹟、杭州與西湖、支那文化史蹟解說卷四、支那の佛塔(村田治郎)(參閱「六和塔」1269) ; (開化寺) Chùa ở gần bờ sông Tiền đường, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, do ngài Vĩnh minh Diên thọ sáng lập vào năm Khai bảo thứ 4 (971) đời Bắc Tống, theo lời thỉnh cầu của Ngô Việt vương Tiền thúc, để trấn áp ngọn thủy triều của sông Tiền đường. Mới đầu chùa có tên là viện Thọ ninh. Trong viện có tháp Lục hòa, do ngài Diên thọ kiến tạo, trong tháp có thờ xá lợi, sau bị thiêu hủy. Năm Thiệu hưng 22 (1152), Lễ bộ vâng mệnh vua khởi công xây cất lại với sự góp sức của Ty chuyển vận phủ Lâm an. Năm Thiệu hưng 26 (1156) đời Nam tống, ngài Trí đàm về trụ trì chùa này, ra sức khuyết hóa, quyên góp tịnh tài để xây dựng tòa tháp 7 tầng và 100 gian nhà, viện. Năm Long hưng thứ 2 (1164), vua ban tấm biển Từ ân khai hóa giáo tự. Năm Long hưng thứ 3 (1165), do công lao của ngài Trí đàm, vua ban cho chùa nhiều kinh điển đặc biệt. Từ các đời Nguyên, Minh về sau, chùa cũng nhiều lần gặp nạn. Khoảng năm Gia tĩnh (1522-1566) đời Minh, chùa bị thiêu hủy và đến khoảng năm Vạn lịch (1573-1619) được sửa lại. Ngôi tháp Lục hòa hiện nay là ngôi tháp được xây cất lại vào năm Ung chính 13 (1735) và được trùng tu vào năm Quang tự 26 (1900) đời Thanh. Tháp có hình bát giác 13 tầng. Đứng trên tháp người ta có thể thấy toàn cảnh sông Tiền đường. [X. Chiết giang thông chí Q.226; Hàng châu chí Q.35; Tây hồ thắng tích; Hàng châu dữ Tây hồ, Chi na văn hóa sử tích giải thuyết Q.4; China đích Phật giáo (Thôn điền Trị lang)]. (xt. Lục Hòa Tháp).

khai huân

5310<一>五葷酒肉,雖爲佛子所禁食,然如患病,則許權便食用,稱爲開葷。〔十誦律卷二十六、摩訶僧祇律卷三十二、四分律卷四十二〕 <二>茹素者開始改食葷辛之時,稱爲開葷。又稱開齋。然古稱解素、開素,不稱開葷。 ; (開葷) I. Khai Huân. Tạm thời cho phép dùng Ngũ huân với mục đích chữa bệnh, gọi là Khai huân (cho phép ăn mặn). [X. luật Thập tụng Q.26; luật Ma ha tăng kì Q.32; luật Tứ phần Q.42]. II. Khai Huân. Cũng gọi Khai trai. Người trước kia ăn chay, nay đổi sang ăn mặn, gọi là Khai huân(bắt đầu ăn mặn). Nhưng ngày xưa gọi là Giải tố, Khai tố(bỏ ăn chay), chứ không gọi là Khai huân. KHAI KHẢI I. Khai Khải: Cũng gọi Khải kiến. Chỉ cho lúc bắt đầu cử hành nghi thức pháp hội: Điều Thánh tiết, chương Chúc lí, Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng ghi: Vào ngày lễ Chúc thánh, các chùa cần chuẩn bị kiến lập đạo tràng Kim cương vô lượng thọ, trong 1 tháng, hàng ngày chư tăng luân phiên lên điện, khai kinh(khai khải). II. Khai khải: Cũng gọi Khai bạch, Khải bạch, Biểu bạch. Đối lại: Kết nguyện. Nghi thức tác bạch trước Bản tôn về chỉ thú, những việc cầu nguyện và thời hạn tu pháp trong pháp hội của Mật giáo. Khai khải cũng chỉ cho ngày mở đầu của pháp hội. Ở Nhật bản, nghi thức này rất được coi trọng.

khai hóa

To transform the character by instruction; to teach.

khai hội

5309開,開除;會,會入。開除聲聞、緣覺、菩薩三乘之方便教,而歸入真實之一乘教法,稱爲開會。此係天台宗對於法華經所作判釋之語。開會有「法」開會與「人」開會二種。在理論上,一切教法皆爲一致,此稱法開會。依此而言,實際上沒有聲聞、緣覺、菩薩之區別,凡人均能成佛,稱爲人開會。五時說法中第四般若時,僅示法開會。第五法華涅槃時才明示人、法二開會。於人開會中,有開小善、會大善之同類開會,與開惡、會善之異類開會。前者爲種類開會,後者爲敵對開會。〔法華經卷一方便品、法華經玄義卷九下、法華經義記卷一、卷二、卷三、台宗二百題卷十三〕(參閱「開廢會」5311、「開顯」5316、「會三歸一」5474) ; (開會) Khai là khai trừ, Hội là hội nhập. Tức phá trừ sự chấp trước giáo pháp Tam thừa phương tiện mà hội nhập giáo pháp Nhất thừa chân thực. Đây là từ ngữ phán thích kinh Pháp hoa của tông Thiên thai. Khai hội gồm có 2 loại là Pháp khai hội và Nhân khai hội. Về phương diện lí luận thì tất cả pháp đều cùng một mối, gọi là Pháp khai hội; theo đó thì trên thực tế không phân biệt Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát hay phàm phu, tất cả đều có thể thành Phật, gọi là Nhân khai hội. Về Nhân khai hội lại có Đồng loại khai hội và Dị loại khai hội. Đồng loại khai hội là Khai tiểu thiện và Hội đại thiện, còn Dị loại khai hội là Khai ác, Hội thiện. Loại trước là Chủng loại khai hội, loại sau là Địch đối khai hội. Trong 5 thời thuyết pháp, thời thứ 4 là thời Bát nhã chỉ nói Pháp khai hội, đến thời thứ 5 là Pháp hoa Niết bàn mới chỉ bày rõ về Nhân và Pháp khai hội. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.9 phần cuối; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q1, Q.2, Q.3; Thai tông nhị bách đề Q.13]. (xt. Khai Phế Hội, Khai Hiển, Hội Tháp Lục Hòa Chùa Khai Hóa Tam Qui Nhất).

khai khải

5308<一>又作啟建。指法會儀式開始。敕修百丈清規卷上祝釐章聖節條(大四八‧一一一三中):「某月某日欽遇天壽聖節,某寺預於某月某日,啟建金剛無量壽道場,一月日逐日輪僧上殿,披閱金文,今辰開啟。」 <二>又作開白、啟白、表白。即於法會或修法之始,在本尊面前,告白所將舉行法會之旨趣、祈願事項、期限等之儀式作法。亦指法會之首日。於日本,特重此類儀式, 然多稱爲開白,而與「結願」相對稱。

khai kinh

5310<一>於本經之前,先立序說,即稱開經。而於本經之後,總括要旨作爲結論,稱爲結經。開經、結經並稱爲開結。如法華經之開經乃指無量義經,結經則指觀普賢經。〔註無量義經卷一〕 <二>翻開經文,稱爲開經。又稱開題、開軸。讀誦經文之前,一般先唱念「無上甚深微妙法,百千萬劫難遭遇;我今見聞得受持,願解如來真實義」,此偈即稱開經偈。 ; To perform the ritual before reciting litanies. ; (開經) I. Khai kinh: Đối lại: Kết kinh. Phần tự thuyết ở đầu 1 bộ kinh, gọi là Khai kinh. Còn phần cuối là phần kết luận tổng quát yếu chỉ của bộ kinh, thì gọi là Kết kinh. Khai kinh, kết kinh gọi chung là Khai kết. Như phần khai kinh của kinh Pháp hoa là chỉ cho kinh Vô lượng nghĩa, còn phần kết kinh thì chỉ cho phẩm Quán Phổ hiền. [X. Chú Vô lượng nghĩa kinh Q.1]. II. Khai Kinh. Cũng gọi Khai đề, Khai trục. Mở văn kinh để tụng đọc, gọi là Khai kinh. Thông thường, trước khi tụng văn kinh thì đọc bài kệ khai kinh: Pháp Phật cao siêu rất nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp dễ hay đâu. Con nay nghe thấy chuyên trì tụng Nguyện hiểu Như lai nghĩa thật sâu.

khai lô

5315古代禪宗寺院爲防寒月,於陰曆十月一日開啟寮房暖爐,稱爲開爐;該日即稱開爐日、開爐節。至次年陰曆二月一日關閉,稱爲閉爐。開爐之日,住持上堂說法,稱爲開爐上堂。〔禪苑清規卷四聖僧侍者爐頭直堂〕 ; (開爐) Ngày đầu tiên mở lò sưởi để sưởi ấm vào mùa đông trong các chùa viện Thiền tông Trung quốc thời xưa. Ngày Khai lô là ngày mồng 1 tháng 10 âm lịch, gọi là Khai lô nhật, Khai lô tiết. Đến ngày mồng 1 tháng 2 âm lịch năm sau thì đóng cửa lò sưởi, gọi là Bế lô. Ngày khai lô, vị Trụ trì thăng tòa thuyết pháp, gọi là Khai lô thướng đường. [X. điều Thánh tăng thị giả Lô đầu trực đường trong Thiền uyển thanh qui Q.4].

khai lạp sa sơn

5306梵名 Kailāsa,巴利名 Kelāsa-pabbata。傳說中位於喜馬拉雅山北之靈山。據敘事詩羅摩耶那(梵 Rāmāyaṇa, Ⅰ. 26)之記載,於此山中,有一馬那薩湖(梵 Mānasa),沙拉憂河(梵 Sarayū)自此湖流出後,環抱無鬥城(梵 Ayodhyā)而流入恆河。自古印度文學每敘述該山之壯麗。馬鳴(梵 Aśvaghoṣa)之佛所行讚(梵 Buddha-carita,Ⅰ. 21)亦云:「月光照射四方,一如開拉沙山之光輝。」 據經集註(巴 Suttanipāta Aṭṭhakathā, P. 223)之記載,此山爲喜馬拉雅山五峰之一。阿拉毘迦夜叉(梵 Ālāvika)左足置於馬索西拉塔拉山(梵 Massosilatāla),右足則置於相距六十由旬之此山山頂。 ; (開拉沙山) Phạm:Kailàsa. Pàli: Kelàsa-pabbata. Núi thiêng, truyền thuyết nói ở phía bắc Hi mã lập sơn. Cứ theo Tự sự thi La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa, I, 26), thì trong núi này có hồ Mã na tát (Mànasa), sông Sa lạp ưu (Phạm: Sarayù) bắt nguồn từ hồ này, sau khi chảy vòng quanh thành Vô đấu (Phạm: Ayodhyà) thì đổ vào sông Hằng. Trong văn học Ấn độ xưa thường mô tả vẻ tráng lệ của núi Khai lạp sa. Phật sở hành tán (Phạm: Buddha-carita, I, 21) của ngài Mã minh (Phạm: Azvaghowa) cũng nói: Ánh trăng chiếu rọi khắp 4 phương, rực rỡ như núi Khai lạp sa.

khai môn tiết

5307爲我國雲南瀾滄江下游傣族地區小乘佛教最盛大之淨居賧齋節日。傣語原稱豪瓦薩。傣曆九月十五日至十二月十五日期間爲關門節;關門節結束,即稱開門節。每逢此節日,信徒與一般群眾盛裝,以食物、鮮花、銀幣等獻佛,除慶祝淨齋期結束外,並藉以祈福,迎接豐收。 ; (開門節) Tiếng Thái: Hào ngõa tát. Ngày lễ tịnh trai lớn nhất tại khu vực người Thái theo Phật giáo Tiểu thừa sống ở hạ du sông Lan thương tỉnh Vân nam, Trung quốc. Theo lịch Thái, khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 9 đến 15 tháng 12 là tiết Quan môn (tiết đóng cửa), tiết Quan môn kết thúc, gọi là tiết Khai môn(tiết mở cửa). Mỗi lần gặp ngày lễ này thì tín đồ và quần chúng trang phục đẹp đẽ, đem thực vật, hoa tươi và tiền bạc dâng cúng Phật. Ngoài việc chúc mừng thời kì tịnh trai kết thúc, họ còn nhân dịp này để cầu phúc và mong được một vụ mùa bội thu.

khai mục sao

5304凡二卷。爲日僧日蓮五十一歲(1272)時,因龍口法難被流放佐渡時所著。收於大正藏第八十四冊。本書係作者於流放期間,省察其受難之緣由,並自外道、儒家而作諸教、諸學之比較、對照,而導入法華經究竟真理之五重相對(制定內外、大小、權實、本迹、種脫等,及教觀之五種相對判釋),爲一比較宗教學之著作。日蓮於書中陳述其信仰體驗,且深刻考察其受難之理由,並解答所以受此法難之疑惑,復就殉難布教發表激烈之言論。日蓮係一能忍難捨命之法華經行者,於其著作特強調以折伏爲實踐方法。本書與觀心本尊鈔共爲日蓮宗學之雙璧。 ; (開目鈔) Tác phẩm, 2 quyển, do sư Nhật liên người Nhật bản soạn vào năm 1272, được thu vào Đại chính tạng tập 84. Sách này được viết ra trong thời kì tác giả bị lưu đày, nội dung nói về sự thể nghiệm tín ngưỡng và khảo xét một cách sâu sắc về những lí do cùng giải đáp các nghi hoặc vì sao tác giả phải chịu pháp nạn Long khẩu. Đồng thời đem học thuyết của ngoại đạo và Nho gia để đối chiếu, so sánh với giáo học của các tông phái Phật giáo, đề xướng thuyết Ngũ trùng tương đối để giải thích giáo quán Nội ngoại, Đại tiểu, Quyền thực, Bản tích và Chủng thoát, nhằm đưa người ta vào chân lí rốt ráo của kinh Pháp hoa. Đây là một tác phẩm về Tỉ giảo tôn giáo học và cùng với Quán tâm bản tôn sao là 2 viên ngọc của tông Nhật liên.

khai ngoại học

5304准許學習外典(佛教以外之典籍)。爲伏邪教,及引導世間一切爲目的時,得允許讀誦外典,稱爲開外學。 ; (開外學) Cho phép học tập ngoại điển(sách vở ngoài Phật giáo) nhằm mục đích chế phục tà giáo, dắt dẫn thế gian về với chính đạo.

khai nguyên song tháp

5299即福建晉江開元寺之東西雙塔,爲我國聞名於世並富有歷史性之建築物。雙塔相距約二百公尺,全用花岡岩石砌成,然結構上仍保留宋代木構建築之特徵。雙塔屹立於風雨中,已歷時七百多年,雖歷盡滄桑,但雄姿依然。東塔名鎮國塔,建於唐代咸通六年(865),歷時十二年竣工,塔爲八角形,高四十八點四公尺。原爲木造,南宋時改爲磚塔,後改爲石塊建築。西塔名仁壽塔,建於五代梁貞明二年(916),歷時十年竣工,塔高四十四點六公尺。北宋時改爲磚塔,後亦改爲石塔。塔之每面有浮雕二幅,兩塔共一八○幅。兩塔之建築均受中亞文化之影響,綜合中西型式,極具藝術價值,昔時被譽爲「海內第一」、「世界第一塔」。〔溫陵開元寺志、釋氏稽古略卷三〕 ; (開元雙塔) Đông tháp và Tây tháp của chùa Khai nguyên ở huyện Tấn giang, tỉnh Phúc kiến, Trung quốc, là những kiến trúc lịch sử nổi tiếng. Hai ngôi tháp này cách nhau khoảng 200 mét. Đông tháp gọi là tháp Trấn quốc, được xây dựng vào năm Hàm thông thứ 6 (865) đời Đường, sau 12 năm mới hoàn thành. Tháp có hình bát giác, cao 48,4 mét, nguyên làm bằng gỗ, đến đời Nam Tống được xây lại bằng gạch và sau cùng bằng đá hoa cương. Tây tháp gọi là tháp Nhân thọ, được xây dựng vào năm Trinh minh thứ 2 (916) đời Hậu Lương, 10 năm sau mới hoàn thành, tháp cao 44,6 mét, làm bằng gỗ, đến đời Bắc Tống được xây dựng lại bằng gạch và sau cùng cũng được làm bằng đá hoa cương. Trên mặt của cả 2 tháp có tất cả 180 bức phù điêu. Kiểu kiến trúc của 2 tháp đều chịu ảnh hưởng văn hóa Trung á, kết hợp giữa hình thức Trung quốc và Tây vực, cho nên có giá trị nghệ thuật rất cao. Thời xưa 2 ngôi tháp này có tiếng là Hải nội đệ nhất, Thế giới đệ nhất tháp. Đến nay, tuy đã trải qua thời gian hơn 700 năm, qua bao tang thương biến đổi, nhưng 2 tòa tháp vẫn giữ được vẻ hùng vĩ như xưa. [X. Ôn lăng Khai nguyên tự chí; Thích thị kê cổ lược Q.3].

khai nguyên tam đại sĩ

5299指唐玄宗時東來之印度密宗三大師。即善無畏、金剛智及不空。開元四年(716),善無畏奉其師之命,經中亞至長安,唐玄宗禮爲國師。開元八年,金剛智率不空至京師,奉敕居於慈恩寺,傳揚龍樹菩薩之密教,並築壇度眾;時人稱善無畏、金剛智及不空爲開元三大士。(參閱「不空」975、「金剛智」3561、「善無畏」4892) ; (開元三大士) Chỉ cho 3 vị Đại sư của Mật tông Ấn độ đến Trung quốc vào niên hiệu Khai nguyên dưới triều vua Huyền tông nhà Đường, đó là các ngài: Thiện vô Úy, Kim cương trí và Bất không. (xt. Bất không, Kim Cương Trí, Thiện Vô Úy).

khai nguyên thích giáo lục

5302請參閱 開元釋教錄 請參閱 大唐開元釋教廣品歷章 凡二十卷。唐代智昇編於開元十八年(730)。又作開元錄、開元目錄、智昇錄。收於大正藏第五十五冊。全書分成前後兩部分,前半部稱「總括群經錄」(卷一至卷十),相當於代錄,係以時代別、譯者別,依序列舉自東漢明帝永平十年(67)至唐代開元十八年,凡六六四年間,一七六名譯經僧所譯大小乘經律論,共計二二七八部,七○四六卷。其中有關譯經之資料蒐羅綿密,包括譯經之異名、略名、卷數、存缺、原著者名、翻譯年代、場所,及翻譯關係者,所載譯經又有譯與失譯之別、單譯與重譯之別、大經與別生經之別等。此代錄部分係繼承歷代三寶紀、大唐內典錄而來。後半部稱「別分乘藏錄」(卷十一至卷二十),係仿自法經錄之分類整理目錄,相當於標準入藏目錄與現藏入藏目錄。別分乘藏錄係以經爲主,又分七類記載,即:(一)有譯有本錄(卷十一至卷十三),(二)有譯無本錄(卷十四至卷十五),(三)支派別行錄(卷十六),(四)刪略繁重錄(卷十七),(五)補闕拾遺錄(卷十七),(六)疑惑再詳錄(卷十八),(七)偽妄亂真錄(卷十八)。最後兩卷爲大、小乘之入藏目錄,總計入藏經典一○七六部,五○四八卷。蓋歷來所謂「一切經五千餘卷」之稱即出典於此。其中之「有譯有本錄」,將大乘經分般若、寶積、大集、華嚴、涅槃五大部,並注明單譯、重譯情況,爲後世之大藏經編目所遵循。智昇復將本書入藏目錄以千字文編號,預防混雜,編定「開元釋教錄略出」四卷,爲北宋以後雕印大藏經編號所依據。本書記事完備詳實,故後世經錄皆取爲範本。後世藏經組織亦大體依據本經錄,先大分爲經、律、論藏等部,更一一區別大小乘,大乘經中又以依五大部順序排列爲常例。唐代貞元十年(794)圓照作續編三卷,正名爲大唐貞元續開元釋教錄。〔宋高僧傳卷五、貞元新定釋教目錄卷十四、卷十九〕 ; (開元釋教錄) Cũng gọi Khai nguyên lục, Khai nguyên mục lục, Trí thăng lục. Tác phẩm, 20 quyển, do ngài Trí thăng soạn vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 55. Toàn bộ sách được chia làm 2 phần: I. Tổng quát quần kinh lục (từ quyển 1 đến quyển 10) tương đương với Đại lục. Phần này theo thứ tự thời gian phiên dịch, bắt đầu từ năm Vĩnh bình thứ 10 (67) đời Minh đế nhà Đông Hán, đến năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường khoảng 664 năm, có 176 dịch giả dịch được 2278 bộ kinh, luật, luận Đại Tiểu thừa, gồm 7046 quyển. Trong đó, những tư liệu liên quan đến những bộ kinh đã dịch được sưu tập rất đầy đủ, bao quát cả tên gọi khác, tên gọi tắt, số lượng quyển, kinh còn hay mất, tên tác giả, niên đại phiên dịch, nơi phiên dịch và những người có liên quan đến việc phiên dịch những bộ kinh đó. Ngoài ra, còn phân biệt những kinh có bản dịch và mất bản dịch, dịch một lần và dịch nhiều lần, Đại kinh và kinh Biệt sinh, v.v... Phần Đại lục này là do kế thừa các bộ Lịch đại Tam bảo kỉ và Đại đường nội điển lục mà có. II. Biệt phần thừa tạng lục (từ quyển 11 đến quyển 20), phần này phỏng theo cách phân loại mục lục của Pháp kinh lục, tương đương với các bộ Tiêu chuẩn nhập tạng mục lục và Hiện tạng nhập tạng mục lục. Phần Biệt phần thừa tạng lục này lấy kinh làm chính, chia ra 7 loại: 1. Hữu dịch hữu bản lục: Có tên người dịch, có bản dịch (quyển 11 đến 13). 2. Hữu dịch vô bản lục: Có tên người dịch, nhưng không có bản dịch (quyển 14 đến 15). 3. Chi phái biệt hành lục: Những bản kinh lưu hành riêng có tính chi phái (quyển 16). 4. San lược phồn trùng lục: Lược bỏ chỗ rườm rà trùng lập (quyển 17). 5. Bổ khuyết thập di lục: Thêm vào những chỗ còn thiếu sót (quyển 17). 6. Nghi hoặc tái tường lục: Giải thích lại một cách rõ ràng những chỗ nghi hoặc (quyển 18). 7. Ngụy vọng loạn chân lục: Mục lục các bản kinh được ngụy tạo (quyển 18). Còn 2 quyển cuối cùng là mục lục của 1076 bộ kinh điển Đại Tiểu thừa gồm 5048 quyển được đưa vào Tạng. Xưa nay có câu: Tất cả hơn 5000 quyển kinh là bắt nguồn từ đó. Trên đây, trong phần Hữu dịch hữu bản lục, các kinh Đại thừa được chia làm 5 bộ lớn là: Bát nhã, Bảo tích, Đại tập, Hoa nghiêm, Niết bàn và có chú thích rõ ràng về trường hợp dịch một lần hay dịch nhiều lần. Phương pháp này đã được những người biên tập mục lục Đại tạng kinh đời sau noi theo. Và để đề phòng sự lầm lẫn, ngài Trí thăng còn dùng Thiên tự văn để ghi số hiệu mục lục được nhập Tạng của bộ sách này và biên soạn thành Khai nguyên thích giáo lục lược xuất 4 quyển. Từ đời Tống trở về sau, bộ Lược xuất này là chỗ y cứ cho việc khắc in số hiệu của Đại tạng kinh. Khai nguyên thích giáo lục ghi chép các việc rất đầy đủ và rõ ràng, là khuôn mẫu cho các bộ Kinh lục và sự tổ chức Đại tạng kinh đời sau. Năm Trinh nguyên thứ 10 (794), ngài Viên chiếu soạn thêm 3 quyển để nối theo Khai nguyên thích giáo lục và lấy tên là Đại Đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục. [X. Tống cao tăng truyện Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14, Q.19].

Khai nguyên Thích giáo lục 開元釋教録

[ja] カイゲンシャクキョウロク Kaigenshaku kyōroku ||| Kaiyuan shijing lu The Record of Śākyamuni's teachings compiled during the K'ai-yüan period. Usually abbreviated as Kaiyuan lu 開元録. 20 fasc., by Zhisheng 智昇. T 2154.55.477-724; done in the 18th year of the Kaiyuan reign of the Tang empire (730 C.E.). This work is a gathering, record and commentary on the translations of scriptures and treatises by over one hundred and seventy-six translators, covering a period of more than 660 years (from the latter Han). It listed 1,076 extant works, including a total of 406 titles under the section of apocryphal scriptures, which are divided into those of doubtful authenticity and those considered definitely spurious. => (k: Kaigenshaku kyōroku; j: Kaiyuan shijing lu; e: The Record of Śākyamuni's teachings compiled during the K'ai-yüan period). Thường viết tắt là Khai nguyên lục 開元録, gồm 20 quyển của ngài Trí Thăng 智昇). Được biên soạn vào năm thứ 18 niên hiệu Khai Nguyên thuộc đời Đường (năm 730 stl.). Đây là tác phẩm sưu tập và ghi lại hết thảy những bản dịch kinh luận của hơn 176 dịch giả, bào gồm trong khoảng thời gian dài 660 năm (từ đời Hậu Hán). Liệt kê được 1,076 bản kinh hiện đang lưu hành, có tất cả 406 tên kinh ngụy tác, được phân loại thành loại nghi là xác thực và loại hoàn toàn giả tạo.

khai nguyên tự

5299請參閱 開元釋教錄唐玄宗於開元二十六年(738),敕令各郡建立開元寺,作爲官方之寺院,主要負責國家之祝典法儀;亦有從已有之寺院轉用爲地方官祈求國運儀式之場所。此種儀式不僅將佛教之恩惠賜予國民,更有誇示中央政府權威之意圖。 關於玄宗敕命全國建立開元寺之因緣,今已不可考,惟據「西安府城內元大開元寺興教碑」之碑文所載,知開元二十八年(疑爲二十六年之訛),玄宗曾與勝光法師於延慶殿對論「佛恩」問題,論後玄宗乃誓爲佛弟子,遂於天下之州府各置開元寺一所。然今已無文獻可考察當年全國各州府是否皆奉敕造寺,僅於舊唐書卷九有「天寶三年(744)四月,敕兩京及天下諸州鑄金銅天尊及佛像各一尊,置之開元寺」之記載。然於現今所存各種佛教史文獻,如唐代鑑真和尚(曾赴日本,後成爲日本律宗之祖)之東征傳,與來華留學之日僧圓載、圓仁、圓珍等人之旅行記中,則載有較具體之資料,如諸州開元寺之名稱,及部分有關之記事。另據大明一統志所列舉,當時留存者,有直隸真定府冀州開元寺、元氏縣開元寺、永平府開元寺、順德府開元寺、陝西西安府咸寧縣開元寺、福建泉州府溫陵開元寺、福州府閩縣開元寺、山東登州府開元寺、河南歸德府開元寺、寧陵縣開元寺、虞城縣開元寺、南陽府舞陽開元寺等十二處,已非往日盛況。 各地開元寺於唐宋時代,高僧輩出,如蘇州開元寺之元浩、辨秀,齊州開元寺之義楚,洪州開元寺之道一、棲隱,鄂州開元寺之玄晏等。其中以洪州開元寺之道一尤爲著稱,自大曆四年(769)駐錫該寺,闡弘南嶽懷讓之禪法,而成當代禪道之重鎮,世人尊稱爲「馬大師」。諸州之開元寺歷來興衰不一,雖經元明之重修,現存者不多。〔佛祖統紀卷三十四、釋氏稽古略卷三、古今圖書集成職方典第六十一、第一○四、第一一七、第二○○、第二七八、第三九五、第四五七、第五○七〕 <一>位於江蘇吳縣西南。爲三國時代孫權之乳母陳氏所建。初稱重元寺,通元寺。至唐代,改稱開元寺。晉代時,自海中漂來石佛二尊及佛鉢一只,今珍藏寺中。歷代以來,本寺先後有禪宗六祖慧能之法嗣印宗、荊溪湛然、長慶慧稜、黃龍楚南、清涼澄觀、慈雲遵式等宗門大德棲止之。〔開元寺志、大明一統志卷八〕 <二>位於福建晉江。建於武后垂拱二年(686),初名蓮華寺,後改興教寺、龍興寺。開元二十六年(738)奉敕改稱開元寺。歷五代至宋,創支院百餘所,元代賜名「開元萬歲禪院」。至正年間(1341~1398)遭祝融之災,明代洪武、永樂兩朝漸次重建,明末鄭芝龍又重修大雄寶殿、拜聖亭、山門外紫雲屏殿等,爲一包括東西兩翼之建築群。其中以東塔(鎮國塔)、西塔(仁壽塔)馳名遠近,爲我國聞名世界富有歷史性之建築。東塔始建於唐咸通六年(865),初爲本塔,南宋改爲磚塔,今之石塔乃南宋紹興二年(1132)至淳祐十年(1250)所重建,高四十八公尺餘。西塔始建於五代梁貞明二年(916),初爲木塔,北宋改爲磚塔,今之石塔爲紹定元年(1228)至嘉熙元年(1237)所重建,高四十四公尺餘,二塔均仿木構八角五層樓閣式之石構建築,上刻佛像,十分精美。大雄寶殿又稱百柱殿,採用重檐歇山式建築,爲明代遺構,殿上之斗栱有飛天樂使二十四尊,雕刻精緻。〔福建通志卷二六四、大清一統志卷三二八〕 <三>位於江西南昌新建縣之東。又稱上藍院。即唐代馬祖道一弘揚禪風之著名道場。道一得南嶽懷讓之心法後,先後駐錫建陽、南康、撫州、虔州等地之道場,建陽在今福建省,其餘皆在江西省。自大曆四年(769)開始,道一居止於本寺,繼續其接化生涯,當代另一禪門龍象石頭希遷則大多弘法於湖南一帶,世人每將「江西馬祖道一」與「湖南石頭希遷」並比爲禪界雙璧。由是,本寺亦成爲當時禪徒輻湊之名剎。本寺於宋代時改稱能仁寺,明代改稱永寧寺,至清代,又更名爲祐清寺(或佑清寺)。〔大明一統志卷四十九、大清一統志卷二三九、江西通志卷一一一〕 <四>位於陝西西安東大街西首。建於唐玄宗開元年中。玄宗於開元二十六年(738)敕令全國各大都市廣建開元寺,其中以本寺之規模最大,唯歷代失修,寺容殘破,已非舊觀。 <五>位於河南商丘縣城南。建於唐代。宋代更名寶融寺,又稱興隆寺。寺內有唐代書法家顏真卿所書之「八關齋會報德記」石幢。 <六>位於河南虞城縣舊縣城北。建於宋紹聖三年(1096),後徙地改建於今縣治之西南隅。 <七>位於廣東潮州。乃東南一大叢林。始建於唐開元二十六年(738),元代稱開元萬壽禪寺,明代以後稱開元鎮國禪寺。建築古雅,香火極盛。 <八>位於山西大同。(參閱「善化寺」4875) <九>位於臺灣臺南。爲著名的佛教古剎。原係明末延平郡王鄭成功嗣子鄭經爲奉養其母董氏所建之「北園別館」,創建於明永曆年間(1647~1661)。康熙二十八年(1689),巡道王祍宗、總鎮王化行等捐俸改建爲寺,時稱海會寺。此後,歷經乾隆年間之重修、擴建,迭改寺名爲榴環寺、榴禪寺、海靖寺,終定名爲開元寺,以迄於今。 寺內有鄭經所鑿之鄭經井一口,及鑿井時所掘出之海螺化石,及七絃竹一株,據云此竹爲明永曆三十四年移自河南臥龍崗,爲董氏親自種植者。寺中並珍藏有鄭成功親筆文件及其所用之餐器。此外,尚有臺灣最早鑄造之銅鐘一口,及後園之圓光三塔。塔建於民國二十年(1931),爲寺僧藏骨之所,今已成爲該寺之標幟。 本寺開山住持爲志中法師。後代住持之較著名者,有同治、光緒年間之榮芳、傳芳、玄精諸禪師。榮芳曾赴福建鼓山受戒,並赴少林寺習禪及武技,且精書畫,頗爲當時臺省人士所推崇。傳芳亦曾赴福州等地求法受戒,返臺後傳戒弘法,度眾甚多;至今約有末寺八十餘座,通稱爲傳芳和尚派下。玄精出家前,原擅道教方術,故任開元寺住持後,時顯靈異。臺灣光復後,繼任住持有證光、印明、眼淨等人。證光、眼淨二人先後興辦延平佛學院及開元佛學院,造就不少僧材。現任(1988)住持爲悟慈法師,創辦有開元幼稚園、開元育幼院、慈愛醫院,及慧光圖書室、開元禪學院等。 ; (開元寺) Vào năm Khai nguyên 26 (738), vua Đường Huyền tông của Trung quốc ban sắc cho các châu, quận xây chùa Khai nguyên để làm nơi cầu nguyện cho quốc thái dân an, do các quan địa phương chủ trì. Về lí do vua Huyền tông hạ lệnh cho toàn quốc xây dựng chùa Khai nguyên, thì ngày nay không thể khảo chứng được, nhưng theo văn bia Tây an phủ thành nội nguyên đại Khai nguyên tự hưng giáo, thì được biết vào năm Khai nguyên 28 (740, nghi là lầm, đáng lẽ là năm Khai nguyên 26-738), vua Huyền tông từng bàn luận với pháp sư Thắng quang về vấn đề Ơn đức Phật ở điện Diên khánh. Sau khi bàn luận, vua Huyền tông qui y làm đệ tử Phật và hạ lệnh cho các châu, phủ trên cả nước mỗi nơi xây dựng một ngôi chùa lấy tên là Khai nguyên. Nhưng nay không có tư liệu để khảo sát xem vào năm ấy các châu, phủ trong nước có tuân lệnh hay không, mà chỉ thấy trong Cựu đường thư quyển 9 có đoạn ghi: Vào tháng 4 năm Thiên bảo thứ 3 (744), vua ban sắc lệnh cho 2 kinh đô Trường an, Lạc dương và các châu trong nước đều đúc một pho tượng Thiên tôn và một pho tượng Phật bằng kim đồng để thờ ở chùa Khai nguyên. Tuy nhiên, trong các tư liệu về lịch sử Phật giáo, như Đông chinh truyện của hòa thượng Giám chân đời Đường, Lữ hành kí của các vị tăng người Nhật bản đến tu học ở Trung quốc là Viên tải, Viên nhân, Viên trân, v.v... đều có những ghi chép liên quan đến chùa Khai nguyên. Còn theo Đại minh nhất thống chí, thì vào đời Minh vẫn còn lại 12 ngôi chùa Khai nguyên rải rác ở 12 nơi là: Ở Kí châu, phủ Chân định, tỉnh Trực lệ, ở huyện Nguyên thị, ở phủ Vĩnh bình, ở phủ Thuận đức, huyện Hàm ninh, phủ Tây an, tỉnh Thiểm tây, ở Ôn lăng, phủ Tuyền châu, tỉnh Phúc kiến, ở huyện Mân, phủ Phúc châu, ở phủ Đăng châu, tỉnh Sơn đông, ở phủ Qui đức, tỉnh Hà nam, ở huyện Ninh lăng, ở huyện Ngu thành và ở Vũ dương phủ Nam dương... nhưng không còn thịnh như xưa. Vào đời Đường, Tống từ chùa Khai nguyên ở các nơi đã xuất hiện nhiều bậc cao tăng, như các ngài Nguyên hạo, Biện tú ở chùa Khai nguyên tại Tô châu, ngài Nghĩa sở ở chùa Khai nguyên tại Tề châu, các ngài Đạo nhất, Thê ẩn ở chùa Khai nguyên tại Hồng châu, ngài Huyền án ở chùa Khai nguyên tại Ngạc châu, v.v... Trong đó, ngài Đạo nhất của chùa Khai nguyên ở Hồng châu là nổi tiếng hơn cả. Tình trạng các ngôi chùa Khai nguyên ở các nơi không giống nhau, đến các đời Nguyên, Minh tuy được trùng tu, nhưng hiện nay không còn được bao nhiêu. [X. Phật tổ thống kỉ Q.34; Thích thị kê cổ lược Q. 3; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển 61, 104, 117, 200, 278, 395, 457, 507]. I. Khai Nguyên Tự. Chùa ở mạn tây nam huyện Ngô tỉnh Giang tô, Trung quốc, do nhũ mẫu của Ngô tôn quyền xây dựng vào thời Tam quốc. Mới đầu, chùa có tên là Trùng nguyên, Thông nguyên, đến đời Đường đổi tên là chùa Khai nguyên. Vào đời Tấn, có 2 pho tượng Phật và 1 bình bát bằng đá từ ngoài biển trôi vào, hiện nay còn được thờ trong chùa. Trải qua các đời, chùa này lần lượt có các vị cao đức thuộc các tông đến ở, như các ngài Ấn tông(đệ tử nối pháp của Lục tổ Tuệ năng), Kinh khê Trạm nhiên, Trường khánh Tuệ lăng, Hoàng long Sở nam, Thanh lương Trừng quán, Từ vân Tuân thức, v.v... [X. Khai nguyên tự chí; Đại minh nhất thống chí Q.8]. II. Khai Nguyên Tự. Chùa ở huyện Tấn giang, tỉnh Phúc kiến, được xây dựng vào năm Thùy củng thứ 2 (686) đời Vũ hậu của Trung quốc. Mới đầu, chùa có tên là Liên hoa, sau được đổi tên là Hưng giáo, Hưng long. Năm Khai nguyên 26 (738), vua ban sắc đổi tên là chùa Khai nguyên. Từ thời Ngũ đại đến đời Tống, hơn 100 viện phụ thuộc được xây dựng. Đời Nguyên, vua ban hiệu là Khai nguyên vạn tuế thiền viện. Khoảng năm Chính bình (1341-1398) chùa bị phá hủy. Trong những năm Hồng vũ và Vĩnh lạc, chùa dần dần được kiến thiết lại, cuối đời Minh, ông Trịnh chi long trùng tu Đại hùng bảo điện, đình Bái thánh, điện Tử vân bình, Tháp, v.v... Trong đó, có tháp Đông(tháp Trấn quốc) và tháp Tây(tháp Nhân thọ) là nổi tiếng hơn cả. Đây là những kiến trúc lịch sử của Trung quốc được thế giới biết đến. Đại hùng bảo điện cũng gọi là điện Bách trụ(điện trăm cột) được kiến trúc theo kiểu Trùng thiềm hiết sơn(có 2 lớp mái, mái dưới nhô ra, rường hơi cong), là kiến trúc đời Minh còn lại, trên đẩu cũng có chạm trổ 24 vị Phi thiên tấu nhạc, đường nét rất tinh vi. [X. Phúc kiến thông chí Q.264; Đại thanh nhất thống chí Q.328]. III. Khai nguyên Tự. Cũng gọi viện Thượng lam. Chùa ở phía đông huyện Tân kiến phủ Nam xương tỉnh Giang tây, Trung quốc. Đây là đạo tràng hoằng dương Thiền pháp nổi tiếng của đại sư Mã tổ Đạo nhất đời Đường. Vào đời Tống, chùa này được đổi tên là chùa Năng nhân, đến đời Minh đổi tên là chùa Vĩnh ninh, rồi sang đời Thanh chùa lại được đổi tên là chùa Hựu thanh. [X. Đại minh nhất thống chí Q.49; Đại thanh nhất thống chí Q.239; Giang tây thông chí Q.111]. IV. Khai Nguyên Tự. Chùa ở phía đông phủ Tây an tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, được sáng lập vào khoảng năm Khai nguyên đời vua Huyền tông nhà Đường. Trong số các chùa Khai nguyên do vua Huyền tông ban sắc xây dựng trên khắp nước, thì chùa này có qui mô lớn nhất, nhưng trải qua nhiều đời không được tu bổ nên cảnh chùa bị tàn phá, không còn như xưa. V. Khai Nguyên Tự. Chùa ở phía nam huyện Thương khưu, tỉnh Hà nam, Trung quốc, được xây dựng vào đời Đường. Đời Tống, chùa được đổi tên là Bảo dung, Hưng long. Trong chùa có một cột đá khắc hàng chữ Bát quan trai hội báo đức kí do nhà thư pháp Nhan chân khanh viết vào đời Đường. VI. Khai Nguyên Tự. Chùa ở huyện Ngu thành, tỉnh Hà nam, Trung quốc, được kiến thiết vào năm Thiệu thánh thứ 3 (1096) đời Tống. VII. Khai Nguyên Tự. Chùa ở phủ Triều châu, tỉnh Quảng đông, Trung quốc, được sáng lập vào năm Khai nguyên 26 (738) đời Đường. Là một tùng lâm lớn ở miền Đông nam, đời Nguyên gọi là Khai nguyên vạn thọ thiền tự; từ đời Minh về sau gọi là Khai nguyên trấn quốc thiền tự. Chùa có kiểu kiến trúc thanh nhã, cổ kính, việc lễ bái rất thịnh. VIII. Khai Nguyên Tự. Chùa ở huyện Đại đồng, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. (xt. Thiện Hóa Tự).

khai ngộ

To awaken, arouse, open up the intelligence and cring enlightenment.

Khai ngộ 開悟

[ja] カイゴ kaigo ||| (1) To uncover enlightenment. Great Awakening (artham prativibuddha). (2) To experience enlightenment (prativedayati). (3) To understand or comprehend a matter. To understand an experiential reality through reason (vyutpādayati). => 1. Giác ngộ giải thoát. Đại ngộ (s: artham prativibuddha). 2, Chứng ngộ (s: prativedayati). 3. Nhận thức hoặc hiểu được vấn đề. Nhận thức được thực tại thông qua suy luận (s: vyutpādayati).

Khai nhãn

開眼; J: kaigen;|Nghĩa là mở mắt; được dùng trong hai trường hợp:|1. Ðược dùng chỉ sự chạm mắt với cái tuyệt đối, Chân như, Phật tính lần đầu. Người lĩnh hội được đại ý Phật pháp thường được gọi là có Pháp nhãn (xem thêm Năm loại mắt);|2. Chỉ lễ an vị một tượng Phật. Người ta nói rằng, bức tượng hay hình của Phật chỉ »sống« khi có đủ hai con mắt. Trong buổi lễ khai nhãn, vị tăng trụ trì gắn mắt (tượng trưng) và nhấn mạnh sự tôn kính Phật tính vô tướng của mình được biểu hiện qua bức tượng này.

khai nhãn

Kaigen (J).

khai nhãn cung dưỡng

5309又作開光明、開光、開眼、開明。開佛眼目時所行之儀式。即新佛像、佛畫完成,而欲置於佛堂時,所舉行替佛像開眼之儀式。經過此儀式,佛像之神聖性乃被人接受。〔行持軌範卷二像塔開眼供養法、禪林象器箋垂說門、說法明眼論開眼品〕 ; (開眼供養) Cũng gọi Khai quang minh, Khai quang, Khai nhãn, Khai minh. Nghi thức khai quang điểm nhãn tượng Phật trong lễ an vị. Khi thay thế tượng Phật cũ bằng tượng Phật mới trên chính điện, phải cử hành nghi thức Khai nhãn cúng dường. [X. điều Tượng tháp Khai nhãn cúng dường pháp trong Hành trì quĩ phạm Q.2; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên; phẩm Khai nhãn trong luận Thuyết pháp minh nhãn].

khai nhãn niệu sàng

Mở mắt đái dầm, dụ cho hành vi ấu trĩ đáng chê cười. [i]Mật Am ngữ lục[/i] ghi: »行 棒 行 喝。 開 眼 尿 床。 – [i]Sử dụng phương tiện đánh hét cũng là hành vi ấu trĩ đáng chê cười[/i]«.

khai nhãn tác mộng

Mở to đôi mắt mà nằm mơ, tỷ dụ cho trạng thái lờ mờ, si mê. [i]Mật Am ngữ lục[/i] ghi: »一 出 一 入。 胡 餅 裏 呷 汁。 一 擒 一 縱。 開 眼 作 夢。 – [i]Một bên ra một bên vào, nước cốt trong bánh mè; một bên bắt một bên tha mở mắt như mộng[/i]«.

khai phong thiết tháp

5307位於河南開封城東北甘露寺側。鐵塔原稱爲靈感塔,於宋代仁宗慶曆四年(1044)毀於火災。其後,著名建築家俞皓以七色琉璃重建,稱爲琉璃塔。塔高三十二公尺,八角十三層,由於琉璃顏色似鐵,故稱鐵塔。鐵塔之琉璃磚每塊皆刻有飛天、坐佛、立僧、龍鳳、麒麟等各種細緻花紋,美不勝收,開封鐵塔乃成爲開封城之標誌。 ; (開封鐵塔) Tháp ở chùa Cam lộ, mạn đông bắc thành Khai phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc. Vốn có tên là tháp Linh cảm, năm Khánh lịch thứ 4 (1044) đời vua Nhân tông nhà Tống bị hỏa hoạn thiêu hủy. Sau đó, nhà kiến trúc trứ danh là Du hạo đã xây dựng lại bằng lưu li 7 mầu gọi là tháp Lưu li. Tháp có Tháp sắt ở Khai phong hình bát giác, 13 tầng, cao 32 mét, vì mầu Lưu li trông giống như sắt nên gọi là Thiết tháp. Trên mỗi khối lưu li của Tháp đều có khắc hoa văn Phi thiên, Phật, tăng, rồng, phượng, kì lân, v.v... rất tinh xảo và tuyệt mĩ. Đây là một thắng tích nổi tiếng của thành Khai phong.

khai phu hoa phật

Xem Khai Phu Hoa Vương Như Lai.

Khai phu hoa Phật 開敷華佛

[ja] カイフケブツ Kaifuke butsu ||| See 開敷華王如來. => (j: Kaifuke butsu). Xem Khai Phu Hoa Vương Như Lai 開敷華王如來.

khai phu hoa vương như lai

5311梵名 Saṃkusumita-rāja-tathāgata。音譯三句蘇弭多羅惹怛他誐多。又稱爲娑羅樹王華開敷佛、開敷華佛、華開敷佛。乃密教胎藏界曼荼羅中臺八葉院南方之如來。住於離垢三昧,以菩提心種子,長養大悲萬行,成就遍覺萬德開敷,故稱開敷華王如來。其形像,全身呈金色,普放光明,通肩披袈裟,右手仰掌向外,指端垂下,左手執袈裟之角,置於臍側。密號平等金剛。種子爲???(a)。三昧耶形爲五鈷金剛杵。真言爲「曩莫三曼多母馱喃鍐嚩莎訶」。〔大日經卷一具緣品、大毘盧遮那經廣大儀軌卷上、大日經疏卷四〕 ; Saṃkusu-mitarāja-tathāgata (S)Ta La Thọ Vương Hoa Khai Phu Phật, Khai Phu Hoa Phật, Hoa Khai Phu PhậtTên một vị Phật hay Như Lai. ; (開敷華王如來) Phạm:Saôkusumita-ràja-tathàgata. Dịch âm: Tam cú tô nhĩ đa la nhạ đát tha nga đa. Cũng gọi Sa la thụ vương hoa khai phu Phật, Khai phu hoa Phật, Hoa khai phu Phật. Đức Như lai ở phía nam viện Trung đài bát diệp trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Ngài trụ trong Tam muội Li cấu, dùng chủng tử tâm bồ đề trưởng dưỡng muôn hạnh đại bi, thành tựu Chính biến giác, muôn đức bừng nở, cho nên gọi là Khai phu hoa vương Như lai. Mật hiệu là Bình đẳng kim cương. Hình tượng của Ngài toàn thân mầu vàng, ngồi trên tòa sen hồng, phóng ánh sáng cùng khắp, đắp ca sa trùm kín 2 vai, bàn tay phải ngửa lên hướng ra ngoài, các ngón tay duỗi xuống, tay trái cầm góc áo ca sa đặt ở ngang rốn. Chủng tử là (a), hình Tam muội da là chày kim cương 5 chĩa. Chân ngôn là Nẵng mồ tam mạn đa mẫu đà nẫm tông phạ sa ha. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại Tì lô già na kinh quảng đại nghi quĩ Q. thượng; Đại nhật kinh sớ Q.4].

Khai Phu Hoa Vương Như Lai 開敷華王如來

[ja] カイフケオウニョライ Kaifukeō nyorai ||| Saṃkusumitarāja Tathāgata. One of the five buddhas 五佛 depicted in the maṇḍala of the garbhadhātu, he occupies the area south of the eight-petal dais. Abiding in the samādhi of freedom from stain 離垢三昧, he nurtures the seeds of bodhicitta till they mature into a myriad greatly compassionate practices and complete enlightenment. He then spreads virtue about the universe like flowers--therefore he is called the flower-spreading king tathāgata. His body emits light with a golden hue. => (k: Kaebuhwawang yŏrae; j: Kaifukeō nyorai; s: Saṃkusumitarāja Tathāgata). Một trong Ngũ Phật được mô tả trong Thai tạng giới Mạn-đà-la. Ngài chủ ở phương Nam với đài sen lớn tám cánh. An trú trong Ly cấu tam muội 離垢三昧, ngài nuôi dưỡng chủng tử Bồ-tát cho đến khi chín muồi thành vô số công hạnh đại từ bi và thanh tịnh đại giác ngộ. Nên ngài ban rãi đức hạnh đến khắp pháp giới như tán hoa – do vậy nên người được gọi là Khai Phu Hoa Vương Như Lai. Thân ngài phóng ra hào quang sắc vàng.

Khai phu 開敷

[ja] カイフ kaifu ||| To spread flowers (kusumita). 〔文殊師利所説摩訶般若波羅蜜經 232.8.730b7〕 => Rải hoa, tán hoa (kusumita).

khai pháp

Lần nói pháp đầu tiên của vị Trụ trì, sau khi vị này đắc đạo. Tiết Thiên Đồng Hàm Kiệt Thiền sư trong NĐHN q. 20 ghi: »未 半 載、 頓 明 大 事。 去 謁 此 庵、 分 座 連 雲、 開 法 妙 嚴。 後 遷 諸 巨 剎。 – [i]Chưa đầy nửa năm (ngài Đàm Hoa) đã thấu rõ việc sinh tử. Ngài đến yết kiến Thử Am, được phân toà giáo hoá ở Liên Vân, khai pháp ở Diệu Nghiêm, sau dời đến các chùa nổi tiếng[/i]«. ; To found a sect or teaching, e.g. as Buddha founded Buddhism; the method of opening, or beginning.

Khai pháp 開法

[ja] カイホウ kaihō ||| (1) To begin to expound the dharma; to found a sect or a teaching, as the Buddha did. (2) To expound the dharma.(3) The method of opening, or beginning. => 1. Bắt đầu thuyết giảng giáo pháp; lập tông chỉ như Đức Phật đã làm. 2. Giảng giải Phật pháp. 3. Phương pháp mở đầu.

Khai phát 開發

[ja] カイホツ kaihotsu ||| (1) To enlighten others. One who has been awakened (saṃcodaka). (2) That which is produced for others through diligent effort (anābhoga). (3) In the True Word Esoteric Sect, to unfold and manifest the Buddha-nature. => 1. Giác ngộ cho người khác. Người đã được tỉnh giác (s: saṃcodaka). 2. Được làm cho người khác phát sinh siêng năng tinh tấn (s: anābhoga). 3. Theo Chân ngôn tông, là khai mở và thể hiện Phật tánh.

khai phúc tự

(80) Chùa thuộc thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Thời Ngũ Đại Sở vương Mã Ân sáng lập. Con là Mã Hi Phạm lại xây Hội Xuân Viên. Đời Tống Thiền sư Đạo Ninh ở đây. ; 5310<一>位於陝西西安。唐代貞觀十九年(645)因設華嚴宗初祖杜順之墓塔,而建華嚴寺。明代改稱今名,嘉靖年間遭天災,萬曆年間重修。華嚴寺最初位於城外神禾原,據明代趙肠所撰「訪古遊記」,謂記錄杜順之傳記「杜順和尚行記碑」位於城內之開福寺;雍州金石志亦記述該碑存於開福寺。準此,則華嚴寺自城外被移建城內當可由此推定,唯移建之時期不明。 <二>位於湖南長沙。五代時楚王馬殷所建。其子馬希範又建會春園等。

khai phúc đạo ninh

Kaifuku Dōnei (J)Tên một vị sư.

khai phúc đạo ninh thiền sư ngữ lục

Gọi đủ: Đàm Châu Khai Phúc Thiền sư Đẳng Thập Cửu Đại Hoà thượng ngữ lục. Còn gọi: Đàm Châu Khai Phúc Báo Từ Thiền Tự Đạo Ninh Thiền sư ngữ lục, Khai Phúc Ninh Hoà thượng ngữ lục. Ngữ lục, 2 quyển, do Khai Phúc Đạo Ninh soạn vào đời Tống, Nguyệt Am Thiện Quả biên tập, được xếp vào [i]Tục Tạng kinh[/i] tập 120, trang 450. Nội dung bao gồm: Pháp ngữ khai đường tấn viện niêm hương, Thượng đường, Tiểu tham, Thùy thị, Kệ tụng, Di giới. Đầu quyển cuối quyển có phụ lục bài tựa và các văn sớ. Sách này được in lại vào niên hiệu Thuần Hi thứ 6 (1179) đời Tống. ; 5310凡二卷。宋代僧開福道寧撰,月菴善果編。全稱潭州開福禪寺第十九代寧和尚語錄。又稱潭州開福報慈禪寺道寧師語錄、開福寧和尚語錄。收於卍續藏第一二○冊。輯錄開堂晉院拈香法語、上堂、小參、垂示、偈頌、遺誡等,並於卷首、卷末附錄序、疏等文。宋孝宗淳熙六年(1179)重刊。 ; (開福道寧禪師語錄) Cũng gọi: Đàm châu Khai phúc báo từ thiền tự Đạo ninh sư ngữ lục, Khai phúc Ninh hòa thượng ngữ lục. Gọi đủ: Đàm châu Khai phúc thiền tự đệ thập cửu đại Ninh hòa thượng ngữ lục. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Khai phúc Đạo ninh soạn vào đời Tống, ngài Nguyệt am Thiện quả biên chép, được thu vào Vạn tục tạng tập 120. Nội dung ghi chép các pháp ngữ Khai đường, Niêm hương, Thướng đường, Tiểu tham, Thùy thị, Kệ tụng, Di giới, v.v... Đầu quyển và cuối quyển có lời tựa và sớ. Bộ ngữ lục này được in lại vào năm Thiền hi thứ 6 (1179) đời vua Hiếu tông nhà Tống.

khai phế câu thời

5311天台宗以開權、廢權同時而無前後之分,稱爲開廢俱時。此係天台宗對於法華經所作判釋之語。蓋天台宗爲明法華開顯之旨,遂就妙法蓮華經題號之「蓮華」二字,開立本門三喻及迹門三喻,「開廢俱時」一語,即從迹門開會之三喻而來。所謂迹門三喻,即:(一)爲蓮故華,比喻爲實施權。(二)華開蓮現,比喻開權顯實。(三)華落蓮成,比喻廢權立實。此三喻中,第二之華開蓮現與第三之華落蓮成,若依蓮華開敷之事實,則華開華落必有前後,即華先開而後落,然就教法會入之理而言,則開權、廢權係俱時而無先後。要之,開權顯實係就教法之體,廢權立實則就化導之用而說,二者皆開顯出權教之法體即是真實教 k之義,此即權實一體之妙法,故特以開廢俱時一語示顯其義。(參閱「蓮華三喻」6148) ; (開廢俱時) Khai quyền và Phế quyền cùng một lúc, không chia trước sau. Đây là lời phán thích kinh Pháp hoa của tông Thiên thai. Vì muốn nêu rõ ý chỉ Khai hiển của kinh Pháp hoa, nên tông Thiên thai căn cứ vào 2 chữ Liên Hoa trong đề kinh mà khai lập 3 dụ Bản môn và 3 dụ Tích môn. Khai phế câu thời là từ 3 dụ Tích môn khai hội mà ra. Ba dụ Tích môn là: 1. Vị liên cố hoa: Vì hạt nên có hoa, ví dụ vì thực mà lập quyền. 2. Hoa khai liên hiện: Hoa nở hạt hiện, ví dụ khai quyền hiển thực. 3. Hoa lạc liên thành: Hoa rụng hạt thành, ví dụ phế quyền lập thực. Trong 3 dụ trên, dụ thứ 2(hoa nở hạt hiện)và dụ thứ 3(hoa rụng hạt thành) nếu căn cứ vào sự thực mà nói, thì hoa nở hoa rụng phải có trước sau. Nhưng, nếu nói theo lí hội nhập của giáo pháp thì khai quyền và phế quyền xảy ra cùng lúc, chứ không có trước sau. Tóm lại, khai quyền hiển thực là nói theo thể của giáo pháp, mà phế quyền lập thực là nói theo dụng của sự giáo hóa, cả 2 đều hiển bày pháp thể của quyền giáo tức là nghĩa của giáo pháp chân thực. Đó là diệu pháp của quyền thực nhất thể, cho nên mới đặc biệt dùng từ ngữ Khai phế câu thời để nói rõ nghĩa ấy. (xt. Liên Hoa Tam Dụ).

khai phế hội

5311指法華經之「本迹二門」開會之三義。此係天台宗對於法華經所作判釋之語。乃天台大師智顗就佛陀之「教說」及「佛身」問題,於論及「真實」與「方便」之關係時所歸結之三種概念。法華經前十四品迹門,闡明開權顯實、廢權立實、會三歸一之旨,以釋說一切一佛乘之理;後十四品本門,闡明開迹 迹顯本、廢迹顯本、會迹歸本之旨,以釋說久遠本佛之事。開,開除,意爲除權教、迹門;廢,廢捨,意爲捨權教、迹門;會,會入,意指融會權教及迹門諸行,使之歸入實教及本門。 上記之開權顯實、開迹顯本係就教法之體而言,廢權立實、廢迹顯本係就化導之用而言,會三歸一、會迹顯本則就所修之行而論。法華經之前半部針對教法,說明權教(指法華經以前諸經所說之方便教)與真實教(指法華經)之關係。約「教」之本體而言開權顯實;即對於實教(法華經)而言,權教乃方便教,開除權教之執著即可現出真實教法。約引導眾生之方便而言廢權立實;既以開除權教之執著即可進入真實,則無權教之必要,故稱廢權立實。由實踐修行方面而言會三歸一;即聲聞、緣覺、菩薩等三乘,皆可會入一乘而成佛。法華本門針對佛身,亦可以開迹顯本、廢迹顯本、會迹歸本來闡明權實一體之妙法。 又法華經玄義卷九下,爲闡釋法華經之力用,於本迹二門各立十重,迹門十重,即:破三顯一、廢三顯一、開三顯一、會三顯一、住一顯一、住三顯一、住非三非一顯一、覆三顯一、住三用一、住一用三。此十重亦可與迹門十妙(智、說法、境、行、乘、感應、神通、位、眷屬、利益)相配當。本門十重,即:破迹顯本、廢迹顯本、開迹顯本、會迹顯本、住本顯本、住迹顯本、住非迹非本顯本、覆迹顯本、住迹用本、住本用迹。此十重亦可與本門十妙(本因妙、說法妙、本果妙、本國土妙、本感應妙、本神通妙、本壽命妙、本眷屬妙、本涅槃妙、本利益妙)相配當。此外,本迹二門之十重亦可與四悉檀(爲人悉檀、對治悉檀、世界悉檀、第一義悉檀)相配當。其配當之情形均詳載於法華經玄義。 天台宗並爲開顯法華之旨,就法華經之經題蓮華各立本門、迹門三喻,以蓮華之花、果同時,喻權實一體之妙法,稱爲蓮華三喻。 若就開、廢之關係,以言蓮華三喻,花開則將結實,此稱開;花落果實則熟,此稱廢;如此以開爲先,廢爲後。若立於理之觀點而言,權即實,故開廢乃同時存在,此即爲開廢俱時。〔法華經卷一方便品、卷四法師品、法華經玄義卷五上、卷七下、法華玄義釋籤卷一、法華玄義記卷一至卷三、法華文句卷三上、卷三下、卷四上、卷四下、法華玄論卷二、卷四、卷五〕(參閱「本迹二門」1965、「開廢俱時」5311、「蓮華三喻」6148) ; (開廢會) Chỉ cho 3 nghĩa khai hội của Bản môn và Tích môn trong kinh Pháp hoa theo sự phán thích của tông Thiên thai. Phần Tích môn trong 14 phẩm trước của kinh Pháp hoa nói rõ ý chỉ Khai quyền hiển thực, Phế quyền lập thực và Hội tam qui nhất để giải thích lí tất cả là Nhất Phật thừa. Phần Bản môn trong 14 phẩm sau là thuyết minh ý chỉ Khai tích hiển bản, Phế tích hiển bản và Hội tích qui bản để giải thích sự cửu viễn bản Phật(đã thành Phật từ lâu xa). Khai là khai trừ quyền giáo, tích môn; Phế là phế bỏ quyền giáo, tích môn, Hội là hội nhập quyền giáo và tích môn để trở về thực giáo và bản môn. Khai quyền hiển thực, Khai tích hiển bản nêu trên là nói theo thể của giáo pháp; Phế quyền lập thực, Phế tích hiển bản là nói theo dụng của sự hóa đạo; còn Hội tam qui nhất, Hội tích hiển bản thì nói theo sự tu hành. Đứng về phương diện bản thể của giáo pháp thì gọi là Khai quyền hiển thực, tức là đối với thực giáo mà nói thì quyền giáo là giáo pháp phương tiện. Trừ bỏ sự chấp trước đối với quyền giáo thì thực giáo có thể hiển hiện. Đứng về mặt phương tiện giáo hóa chúng sinh thì gọi là Phế quyền lập thực, tức là đã trừ bỏ sự chấp trước quyền giáo mà hội nhập thực giáo rồi thì không cần đến quyền giáo nữa. Nghĩa là đã đạt đến cứu kính thì không cần phương tiện nữa. Đứng về phương diện tu hành thực tiễn mà nói thì gọi là Hội tam qui nhất; tức là Tam thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đều có thể hội nhập Nhất thừa mà thành Phật. Bản môn Pháp hoa nhắm vào Phật thân cũng có thể dùng Khai tích hiển bản, Phế tích hiển bản và Hội tích hiển bản để xiển minh diệu pháp quyền thực nhất thể. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 9 phần cuối, về Bản môn, Tích môn mỗi môn lại lập 10 lớp để giải thích rõ lực dụng của kinh Pháp hoa như sau: - Mười lớp trong Tích môn: Phá tam hiển nhất, Phế tam hiển nhất, Khai tam hiển nhất, Hội tam hiển nhất, Trụ nhất hiển nhất, Trụ tam hiển nhất, Trụ phi tam phi nhất hiển nhất, Phú tam hiển nhất, Trụ tam dụng nhất và Trụ nhất dụng tam. Mười lớp này cũng có thể phối với Thập diệu của Tích môn. - Mười lớp của Bản môn: Phá tích hiển bản, Phế tích hiển bản, Khai tích hiển bản, Hội tích hiển bản, Trụ bản hiển bản, Trụ tích hiển bản, Trụ phi tích phi bản hiển bản, Phú tích hiển bản, Trụ tích dụng bản và Trụ bản dụng tích. Mười lớp này cũng có thể phối với Tập diệu của Bản môn. Ngoài ra, 10 lớp của Bản môn, Tích môn cũng có thể phối với Tứ tất đàn. Phương pháp phối hợp được nói rõ ràng trong Pháp hoa kinh huyền nghĩa. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1, phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa Q.4; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần trên, Q.7 phần dưới; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.1-3; Pháp hoa văn cú Q.3 thượng, Q.3 hạ, Q.4 thượng, Q.4 hạ; Pháp hoa huyền luận Q.2, Q.4, Q.5]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Phế Câu Thời, Liên Hoa Tam Dụ).

khai quan

Mở cửa. Quan: Chốt cửa. Chương Già-da-xá-đa Tổ thứ 18 trong CĐTĐL q. 2 ghi: »羅 多 聞 語 知 是 異 人。 遽 開 關 延 接。 – [i]La-đa nghe nói, biết là dị nhân vội mở cửa tiếp rước[/i]«.

Khai Quang

(開光): có nhiều loại Khai Quang khác nhau. Căn cứ vào tôn giáo mà có Khai Quang của Phật Giáo, Khai Quang của Đạo Giáo, Khai Quang của Âm Dương Sư (陰陽師), v.v.; như ở các đền thờ Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君) thường tiến hành nghi thức Quan Công Khai Quang (關公開光). Khai Quang của Phật Giáo lại chia thành Quần Khai Quang (群開光, Khai Quang cho nhiều hình tượng) và Đơn Độc Khai Quang (單獨開光, Khai Quang chỉ cho một tượng). Mỗi khi có tự viện nào lạc thành hay trùng tu, sau khi điêu khắc tượng Phật Bồ Tát xong, thường cung thỉnh chư tôn Thiền đức đến để tiến hành lễ Khai Quang Điểm Nhãn (開光點眼) cho các pho tượng đó. Đối với các tôn giáo, Khai Quang được xem như là một loại nghi thức vô cùng linh thiêng, quan trọng, tiếp dẫn linh tánh cũng như tiên khí vào trong tôn tượng. Nguồn gốc của nghi thức này phát xuất từ Đạo Giáo; lấy cái vô hình trong vũ trụ, có đủ linh tánh với pháp lực vô biên đem nhập vào trong thần tượng; cho nên sau khi đem thờ phụng thì tôn tượng ấy trở thành linh hiển. Nguyên lai, Phật Giáo không có nghi thức này, mà chỉ có nghi thức gia trì tượng Phật, so với nghi Khai Quang có khác nhiều. Nếu xét về phương pháp Khai Quang thần tượng theo Đạo Giáo, mọi việc đều thông qua vị Cao Công Pháp Sư (高功法師), chọn ngày giờ tốt để tiến hành nghi Khai Quang Điểm Nhãn. Nghi thức ấy gồm 12 loại khoa nghi: Thanh Tịnh (清淨), Thỉnh Thần (請神), Phát Chỉ (發旨), Phát Lịnh (發令), Thất Tinh (七星), Bát Quái (八卦), Nhập Thần (入神), Sắc Bút (敕筆), Sắc Kính (敕鏡), Sắc Kê (敕雞), Khai Quang (開光), Phát Hào (發毫). Khai Quang còn gọi là Khai Nhãn (開眼), Khai Minh (開明), Khai Quang Minh (開光明), Khai Nhãn Cúng Dường (開眼供養), Khai Nhãn Giới (開眼界), Khai Nhãn Căn (開眼根). Thiền Lâm Tượng Khí (禪林象器) quyển Thượng có ghi rằng: “Phàm tân tạo Phật Tổ Thần Thiên tượng giả, chư tông sư gia, lập địa sổ ngữ, tác bút điểm thế, trực điểm khai tha Kim Cang chánh nhãn, thử vi Khai Nhãn Phật sự, hựu danh Khai Thủy Minh (凡新造佛祖神天像者、諸宗師家、立地數語、作筆點勢、直點開他金剛正眼、此爲開眼佛事、又名開水明, phàm các tượng Phật, Tổ, Thần, chư Thiên mới tạo nên, các nhà Tông sư, đứng trên mặt đất nói vài lời, cầm cây bút theo tư thế điểm, điểm thẳng khai mở chánh nhãn Kim Cang của tượng; đây là Phật sự Khai Nhãn, còn gọi là Khai Thủy Minh).” Phật Giáo cho rằng chúng sanh từ vô thỉ kiếp cho đến nay, đã chịu biết bao nhiêu ô nhiễm của trần cấu, vô minh, nên không thể nào thấy rõ chân lý của các pháp, vì vậy cần phải khai mở trí tuệ bên trong mỗi chúng ta. Khai Quang cũng là một hình thức để tu chứng đạt đến tương ứng với Phật tâm, cầu thỉnh chư Phật Bồ Tát giáng lâm, ấn chứng cho Ứng Thân của tôn tượng, rót vào đó năng lượng đại từ đại bi, đại trí đại tuệ, Ngũ Nhãn Lục Thông, thông qua người tiến hành lễ Khai Quang. Do đó, hiệu quả của việc Khai Quang hoàn toàn liên quan đến vị Đạo Sư hành lễ, chứ không phải do nghi thức hay hình thức gì cả. Về tiến trình lễ Khai Quang, trước khi hành lễ, phải an trí tôn tượng một nơi cố định, trước tụng kinh và thần chú để cung thỉnh chư Phật, Bồ Tát an tọa; sau đó mới thỉnh chư vị cao tăng vì tôn tượng mà tiến hành Khai Quang, thuyết pháp. Hắc Cốc Đăng Ngữ Lục (黑谷燈語錄) quyển Trung có giải thích rằng: “Khai Nhãn giả, bổn thị Phật tượng điêu khai nhãn, thị sự Khai Nhãn, thứ tăng gia tụng Phật Nhãn Chơn Ngôn, tụng Đại Nhật Chơn Ngôn, nhi thành tựu Phật nhất thiết công đức, thử vị Khai Nhãn dã (開眼者、本是佛匠雕開眼、是事開眼、次僧家誦佛眼真言、誦大日真言、而成就佛一切功德、此謂開眼也, Khai Nhãn vốn là khai mở con mắt của tượng điêu khắc, việc đó là Khai Nhãn; kế đến chư tăng tụng Phật Nhãn Chơn Ngôn, tụng Đại Nhật Chơn Ngôn, để thành tựu hết thảy công đức, đây được gọi là Khai Nhãn vậy).” Thật ra, Khai Quang là một loại nghi thức thuyết pháp cử hành cho tượng Phật. Nghi thức cụ thể như sau: Trước hết vị chủ lễ cầm một cái khăn lông hướng về tượng Phật làm động tác lau chùi tôn tượng, rồi nói một câu kệ, tán tụng công đức của chư Phật Bồ Tát, như vậy được gọi là Khai Nhãn. Tiếp theo, vị ấy dùng cái kính hướng đối chiếu ngay chánh diện của tượng Phật, nói vài lời về ngôi tự viện hiện tại, nhân duyên hoàn thành tôn tượng. Sau đó, vị chủ lễ cầm cây bút Chu Sa (硃砂), lại nói một câu kệ ngữ khác, rồi cầm cây bút hướng về tôn tượng làm động tác “điểm”, hô vang một tiếng “khai (開, mở ra)”; khi nghi thức ấy đã xong, như vậy việc Khai Quang được xem như là hoàn tất. Khi Khai Quang, do vì công đức của chư Phật Bồ Tát không giống nhau, nên vị chủ lễ nói pháp ngữ cũng không thống nhất. Tại Trung Quốc, Pháp Hội Khai Quang được tiến hành đầu tiên vào năm thứ 5 (980) niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) nhà Bắc Tống. Truyền Pháp Đại Sư Thí Hộ (傳法大師施護), người nước Ô Điền Nẵng (烏塡曩) ở Bắc Ấn Độ, đã dịch bản Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai An Tượng Tam Muội Nghi Quỹ Kinh (佛說一切如來安像三昧儀軌經, Taishō Vol. 21, No. 1418) tại Dịch Kinh Viện (譯經院) của Thái Bình Hưng Quốc Tự (太平興國寺) thuộc Phủ Khai Phong. Dịch bản này ghi rõ toàn bộ quy trình tiến hành nghi thức Khai Quang Điểm Nhãn một cách chi tiết. Tại Nhật Bản, trong Điều Thiên Trí Thiên Hoàng Thập Niên Thập Nguyệt (天智天皇十年十月條, tháng 10 năm thứ 10 [671] đời Thiên Trí Thiên Hoàng [天智天皇, Tenji Tennō, tại vị 661-671]) của bộ Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀, Nihonshōki) có ghi lại Lễ Khai Nhãn cho trăm tượng Phật trong cung nội; rồi trong Điều Trì Thống Thiên Hoàng Thập Nhất Niên Thất Nguyệt (持統天皇十一年七月條, tháng 7 năm thứ 11 [697] đời Trì Thống Thiên Hoàng [持統天皇, Jitō Tennō, tại vị 690-697]) có ký lục cho biết rằng tại Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji) ở vùng Phi Điểu (飛鳥, Asuka) có tiến hành Hội Khai Nhãn. Vào ngày mồng 8 tháng 4 năm thứ 4 (752) niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo (天平勝寶), lễ Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật (大佛開眼會) được diễn ra tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), thành phố Nại Lương (奈良, Nara). Hiếu Khiêm Thiên Hoàng (孝謙天皇, Kōken Tennō, tại vị 749-758), Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749), Hoàng Thái Hậu và phi tần nội cung, cùng toàn thể quần thần bá quan văn võ đồng đến tham dự với khoảng hơn 1 vạn tăng sĩ hành lễ. Đặc biệt, lễ hội này do Bồ Đề Tiên Na (s: Bodhisena, 菩提僊那) chủ lễ, và điều khiển nhạc lễ thì do Phật Triết (佛哲, Buttetsu, ?-?, hay Phật Triệt [佛徹]), vị tăng sang Nhật Bản dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara), xuất thân vùng Lâm Ấp (林邑, Nam bộ Việt Nam, Huế-Phan Rang). Trong khoảng thời gian niên hiệu Khai Nguyên (開元, 713-741) nhà Đường, ông theo Bồ Đề Tiên Na sang Trung Quốc. Đến năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (天平), thể theo lời thỉnh cầu của vị tăng Nhật Bản sang nhà Đường là Lý Kính (理鏡) và vị Chánh Sứ Đa Trị Tỉ Quảng Thành (多治比廣成), ông cùng với thầy sang Nhật, đến trú tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Bồ Đề Tiên Na dạy Phật pháp, còn Phật Triệt chuyên tâm truyền dạy Nhã Nhạc Lâm Ấp cho nội cung triều đình Nhật, cùng là dạy các điệu múa Bồ Tát, Bạt Đầu, v.v., để cúng dường trong các lễ hội Phật Giáo. Trong lễ Hội Khai Nhãn năm 752 này, Phật Triệt điều khiển dàn nhạc gồm hơn 400 nhạc công và vũ công của Nhã Nhạc Viện (雅樂院) trong nội cung, diễn tấu Nhạc Lâm Ấp để cúng dường Tượng Đại Phật Tỳ Lô Giá Na (s: Vairocana, 毘盧遮那); lễ Hội kéo dài trong 3 tháng. Trong Chuẩn Đề Phần Tu Tất Địa Sám Hối Huyền Văn (准提焚修悉地懺悔玄文, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1482) có ghi lại sự huyền nhiệm của lễ Khai Nhãn như sau: “Hựu như Đinh Nguyên Công Tịnh Y Thiền Sư, vi cư sĩ thời, tằng vi dư y Bất Không dịch, tả Chuẩn Đề tượng ư Dược Sơn viên trung; Khai Quang chi nhật, hốt hữu cốt đổng gia, dĩ Chuẩn Đề Chơn Ngôn Phạn thư cựu hồng nha trục, Phạn thư cổ từ lư, đồng hương hạp, lai trợ trang diễn cúng dường giả, tinh cảm chiêu trung bất tư nghì sự (又如丁元公淨伊禪師、爲居士時、曾爲余依不空譯、寫准提像於藥山園中、開光之日、忽有骨董家、以准提眞言梵書舊紅牙軸、梵書古瓷罏、銅香盒、來助裝演供養者、幷感召中不思議事, lại như Đinh Nguyên Công Tịnh Y Thiền Sư, khi còn làm cư sĩ, từng theo bản dịch của Bất Không, vẽ tượng Chuẩn Đề trong vườn Dược Sơn; ngày lễ Khai Quang, chợt có một người chơi đồ cổ, lấy cuộn sách cũ kỹ ghi Chuẩn Đề Chơn Ngôn bằng tiếng Phạn, bình sứ có ghi tiếng Phạn, hộp đốt hương bằng đồng, đến giúp trang trí cúng dường, bèn cảm biết trong ấy việc không nghĩ bàn).” Trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, có lòng văn Sớ về Tạo Tượng Khai Quang (造像開光) như: “Tướng hảo trang nghiêm, dĩ tận quỳ khuynh chi khẩn; trai tu túc liệt, viên thân bộc hiến chi cung; ngung nhược hữu phu, nghiễm nhiên như tại. Thiết niệm: [Mỗ] thọ hạ liệt thân phạp đại nhân tướng, đổ Tử Ma chi sắc, hạt thắng kỳ thừa; vọng bạch hào chi quang, đồ thiết bi ngưỡng; thị dĩ kính vu [mỗ] tự thí tạo [mỗ] tượng nhất tôn, tạo công ký tất nhưng diên tăng kiến Khai Quang thực phước đạo tràng, [nhập Phật sự] phủ tu vi thiện, ngưỡng đáp hồng hưu. Phục nguyện: Ngộ chơn không tướng, hoạch pháp tánh thân; bị nhị nghiêm chi tư, biến du giác uyển; tiêu Ngũ Trược chi uế, hằng xử Tịnh Bang (相好莊嚴、已盡葵傾之懇、齋饈肅列、爰申曝獻之恭、顒若有孚、儼然如在、竊念[某]受下劣身乏大人相、睹紫磨之色、曷勝祇承、望白毫之光、徒切悲仰、是以敬于[某]寺施造[某]像一尊、造功既畢仍延僧建開光植福道塲、[入佛事]俯修微善、仰答洪休、伏願悟眞空相、獲法性身。備二嚴之資、遍遊覺苑、消五濁之穢、恆處淨邦, tướng tốt trang nghiêm, bày tận tấc lòng khẩn thiết; cỗ chay thiết đủ, chí thành dâng hiến cúng dường; vĩ đại đức tin, nghiễm nhiên hiện hữu. Thiết nghĩ: [Con…] thọ thân hạ liệt thiếu tướng đại nhân [bậc giác ngộ], thấy vàng ròng sắc tướng, sao khỏi ước mong; ngắm mày trắng hào quang, không sao buồn tủi; do vậy kính ngưỡng chùa …, tạo dựng tượng một pho, công trình hoàn tất, lại thỉnh chư tăng lập đạo tràng Khai Nhãn gieo phước; [phần Phật sự], cúi tu chút thiện, ngưỡng đáp hồng ân. Cúi mong: Ngộ chơn không tướng, đạt pháp tánh thân; đủ phước trí dáng hình, chơi khắp vườn giác; tiêu Năm Trược ô uế, thường trú Tịnh Bang).” Trong Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai An Tượng Tam Muội Nghi Quỹ Kinh có nêu một số câu Thần Chú dùng cho lễ Khai Quang như Chơn Ngôn Hiến Ứ Già Cúng Dường (眞言獻閼伽供養, cúng dường nước) là “Án, tát rị phạ bá ba ta phổ tra na hạ nẵng phạ nhật ra dã tát phạ hạ (唵薩哩嚩播波娑普吒那賀曩嚩日囉野薩嚩賀)”; Hương Du Chơn Ngôn (香油眞言, Chơn Ngôn cúng dường hương dầu) là “Án, tát rị phạ đát tha nga đa ca dã vĩ thú đà nhĩ ta phạ hạ (唵薩哩嚩怛他誐多迦野尾戍馱你娑嚩賀)”; Phật Nhãn Bồ Tát Chơn Ngôn Năng Trừ Nhất Thiết Cấu (佛眼菩薩眞言能除一切垢, Chơn Ngôn của Phật Nhãn Bồ Tát có thể trừ tất cả những dơ bẩn) là “Án, tát rị phạ ra tổ ba hạ ra noa ta phạ hạ (唵薩哩嚩囉祖波賀囉拏娑嚩賀)”; Quán Đảnh Chơn Ngôn (灌頂眞言) là “Án, tát rị phạ đát tha nga đa tỷ sân ca tam ma dã thất rị duệ hồng (唵薩哩嚩怛他誐哆鼻詵迦三摩野室哩曳吽)”; Trước Y Chơn Ngôn (著衣眞言, Chơn Ngôn mặc áo) là “Án, phạ nhật ra phạ ta tế ta phạ hạ (唵嚩日囉嚩娑細娑嚩賀)”; An Nhĩ Chơn Ngôn (安耳眞言, Chơn Ngôn an vị lỗ tai) là “Án, ca ra noa ma lộ đà ra noa hồng (唵迦囉拏摩路馱囉拏吽)”; An Phát Kế Chơn Ngôn (安髮髻眞言, Chơn Ngôn an vị tóc và búi tóc) là “Án, tát rị phạ chỉ ta a phạ đa ra noa hồng ta phạ hạ (唵薩哩嚩枳娑阿嚩哆囉拏吽娑嚩賀)”; An Chỉ Giáp Chơn Ngôn (安指甲眞言, Chơn Ngôn an vị ngón tay) là “Án, tát rị phạ thâu nẵng khư thế na nẵng ra nhã ta phạ hạ (唵薩哩嚩輸曩佉砌那曩囉惹娑嚩賀)”; An Tì Tu Chơn Ngôn (安髭鬚眞言, Chơn Ngôn an vị râu ria) là “Án, tát rị phạ ta ma tô rô đà ra noa hồng hồng hứ lăng (唵薩哩嚩娑摩酥嚕馱囉拏吽吽呬凌)”; Hiến Đồ Hương Chơn Ngôn (獻塗香眞言, Chơn Ngôn dâng cúng dầu hương) là “Án, phạ nhật ra hiến đệ ta phạ hạ (唵嚩日囉巘弟娑嚩賀)”; An Trang Nghiêm Chơn Ngôn (安莊嚴眞言) là “Án, phạ nhật ra bà ra noa vĩ bộ sắt ni ta phạ hạ (唵嚩日囉婆囉拏尾部瑟尼娑嚩賀)”; Bổn Tôn Tam Muội Chơn Ngôn (本尊三昧眞言) là “Án, hồng đát lạc ngật rị ác (唵吽怛落仡哩惡)”; Hiến Hoa Chơn Ngôn (獻花眞言) là “Án, phạ nhật ra bổ sắt bế hồng (唵嚩日囉補瑟閉吽)”; Hiến Hương Chơn Ngôn (獻香眞言) là “Án, phạ nhật ra độ bế (唵嚩日囉度閉)”; Đăng Chơn Ngôn (燈眞言) là “Án, phạ nhật ra nễ bế ta phạ hạ (唵嚩日囉禰閉娑嚩賀)”; Thực Chơn Ngôn (食眞言) là “Án, tân nỗ ba đán bát ra để ngật rị hận nẵng ta phạ hạ (唵賓努波旦缽囉底仡哩恨曩娑嚩賀)”; Khai Nhãn Quang Chơn Ngôn (開眼光眞言) là “Án, tác sô tác sô tam mãn đa tác sô vĩ thú đà nễ ta phạ hạ (唵作芻作芻三滿哆作芻尾戍馱你娑嚩賀)” và “Án, nễ đát ra ba tra lộ ba hạ ra noa hứ lăng (唵你怛囉波吒路波賀囉拏呬凌)”; Hộ Ma Chơn Ngôn (護摩眞言) là “Án, phạ nhật ra dụ thế ta phạ hạ (唵嚩日囉喻世娑嚩賀)”; Tức Tai Tăng Ích Chơn Ngôn (息災增益眞言) là “Án, phạ nhật ra bố sắt tra duệ ta phạ hạ (唵嚩日囉布瑟吒曳娑嚩賀)”; Hộ Thế Chơn Ngôn (護世眞言) là “Ấn, nại ra dã ta phạ hạ (印捺囉野娑嚩賀)”, v.v.

khai quang

Introducing the light, the ceremony of "opening the eyes" of an image, i.e. painting or touching in the pupil.

khai quyền hiển thật

5315開除權教之執著,顯示真實之義。「開」含開除、開發、開拓等義;開除乃除卻權執,開發乃由內機緣純熟而脫權執,開拓乃權即實而廣其體之義。即開除三乘之權便,顯示一乘真實之義。此係天台宗對於法華經所作判釋之語。謂法華經以前之諸經乃應未熟之機根而設,爲權便之法,實欲引眾生入真實之教;以權便之法顯真實之義,故稱開權顯實。然權實本不異,若開除此執著,則權實不二,趣歸一佛乘之真義。以上係就法華經前半部迹門之化儀而說。而後半部本門化儀之「開迹顯本」亦稱開權顯實,即破除迹權之執著,顯示本門之實義。若就法華經全經而言,前十四品爲開三顯一,後十四品爲開近顯遠之說,即前半部開除三乘教之方便,顯示一乘教之真實;後半部開除垂迹之近佛,顯示本地之實佛,而此二十八品總歸於開權顯實。又開三顯一係就「人」、「機」而論,相對於此,開權顯實乃針對「理」、「教」加以闡釋。〔法華經玄義卷五上、法華文句記卷八之三、天台四教儀集註卷上、法華玄論卷三、卷五〕(參閱「本迹二門」1965、「開三顯一」5298、「開近顯遠」5307) ; (開權顯實) Phá trừ sự chấp trước vào quyền giáo phương tiện của Tam thừa để hiểnbày nghĩa chân thực Nhất thừa. Đây là từ ngữ phán thích kinh Pháp hoa do tông Thiên thai lập ra. Khai nghĩa là khai trừ, khai phát, khai thác; khai trừ là trừ bỏ quyền chấp(chấp vào giáo pháp phương tiện tạm thời), Khai phát là do cơ duyên bên trong thuần thục mà lìa quyền chấp, khai thác là quyền tức thực mà mở rộng ý nghĩa về thể của nó. Giáo pháp do đức Phật thuyết giảng trước kinh Pháp hoa là giáo pháp phương tiện, nhằm thích ứng với những căn cơ chưa thuần thục, hầu dắt dẫn chúng sinh vào giáo pháp chân thực. Vì dùng phép phương tiện quyền giả (tạm thời) để hiển bày nghĩa chân thực, nên gọi là Khai quyền hiển thực. Tuy nhiên, quyền thực vốn chẳng khác nhau, nếu trừ bỏ được chấp trước này, thì quyền thực không hai, quay về với chân nghĩa Nhất Phật thừa. Trên đây là nói theo Hóa nghi Tích môn thuộc nửa bộ trước của kinh Pháp hoa. Mà Khai tích hiển bản thuộc Hóa nghi Bản môn của nửa bộ sau cũng gọi là Khai quyền hiển thực tức phá trừ chấp trước vào quyền giáo Tích môn, để hiển bày thực nghĩa Bản môn. Nếu nói theo trọn bộ kinh Pháp hoa, thì 14 phẩm trước là Khai tam hiển nhất, 14 phẩm sau là Khai cận hiển viễn, tức là nửa bộ trước trừ bỏ giáo pháp Tam thừa phương tiện, để hiển bày giáo pháp Nhất thừa chân thực; còn nửa bộ sau là trừ bỏ Cận Phật thùy tích(Phật mới thành), mà hiển bày Chân Phật bản địa(Phật đã thành từ lâu xa). Như vậy, tất cả 28 phẩm kinh Pháp hoa đều qui về Khai quyền hiển thực. Lại nữa, Khai tam hiển nhất là nói theo người, căn cơ, trái lại, Khai quyền hiển thực là nhằm giải thích lí, giáo. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 thượng; Pháp hoa văn cú kí Q.8 phần 3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Pháp hoa huyền luận Q.3, Q.5]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Tam Hiển Nhất, Khai Cận Hiển Viễn).

khai quýnh

(1634-1676) Thiền tăng đời Minh, họ Trương, hiệu Huệ Cung, người Thuận Đức, Quảng Đông, Trung Quốc. Nối pháp Thiền sư Tuyết Duy Thao Pháp, đời thứ 34 hệ Nam Nhạc. Trụ trì Nam Hải Bảo Tượng Lâm. Có ngữ lục truyền lại đời.

Khai Sĩ

(開士): tên gọi khác của Bồ Tát. Vị Bồ Tát hiểu rõ tất cả chân lý, có thể dẫn dắt chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, có thể tự khai mở giác ngộ, lại có thể khai mở tín tâm của người khác; nên có tên gọi như vậy. Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển 1 có đoạn rằng: “Kinh trung đa hô Bồ Tát vi Khai Sĩ, Tiền Tần Phù Kiên tứ Sa Môn hữu đức giải giả hiệu Khai Sĩ (經中多呼菩薩爲開士、前秦苻堅賜沙門有德解者號開士, trong kinh phần lớn gọi vị Bồ Tát là Khai Sĩ, vua Phù Kiên [338-385] nhà Tiền Tần ban tặng cho vị sa môn có đức độ và thông hiểu kinh điển là Khai Sĩ).” Trong Độ Thế Phẩm Kinh (度世品經, Taishō Vol. 10, No. 292) quyển 2 có câu: “Sử ngô bất ly chư Phật Thế Tôn cập chư Khai Sĩ, quyên trừ sanh tử trì dật chi nạn (使吾不離諸佛世尊及諸開士、蠲除生死馳逸之難, khiến ta chẳng rời chư Phật Thế Tôn cùng các vị Bồ Tát, dứt trừ nạn sống chết đuổi theo).” Hay trong Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư Ngữ Lục (了菴清欲禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1414) quyển 8 lại có đoạn: “Tam thế Thánh nhân, lịch đại Khai Sĩ, mạc bất tự thử nhi xuất; tam thiên uy nghi, bát vạn tế hạnh, mạc bất tự thử nhi sanh (三世聖人、歷代開士、莫不自此而出、三千威儀、八萬細行、莫不自此而生, ba đời Thánh nhân, lịch đại Bồ Tát, thảy đều từ đây mà ra; ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, thảy đều từ đây mà sanh).” ; (開士): tên gọi khác của Bồ Tát. Vị Bồ Tát hiểu rõ tất cả chân lý, có thể dẫn dắt chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, có thể tự khai mở giác ngộ, lại có thể khai mở tín tâm của người khác; nên có tên gọi như vậy. Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển 1 có đoạn rằng: “Kinh trung đa hô Bồ Tát vi Khai Sĩ, Tiền Tần Phù Kiên tứ Sa Môn hữu đức giải giả hiệu Khai Sĩ (經中多呼菩薩為開士、前秦苻堅賜沙門有德解者號開士, trong kinh phần lớn gọi vị Bồ Tát là Khai Sĩ, vua Phù Kiên [338-385] nhà Tiền Tần ban tặng cho vị sa môn có đức độ và thông hiểu kinh điển là Khai Sĩ).” Trong Độ Thế Phẩm Kinh (度世品經, Taishō Vol. 10, No. 292) quyển 2 có câu: “Sử ngô bất ly chư Phật Thế Tôn cập chư Khai Sĩ, quyên trừ sanh tử trì dật chi nạn (使吾不離諸佛世尊及諸開士、蠲除生死馳逸之難, khiến ta chẳng rời chư Phật Thế Tôn cùng các vị Bồ Tát, dứt trừ nạn sống chết đuổi theo).” Hay trong Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư Ngữ Lục (了菴清欲禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1414) quyển 8 lại có đoạn: “Tam thế Thánh nhân, lịch đại Khai Sĩ, mạc bất tự thử nhi xuất; tam thiên uy nghi, bát vạn tế hạnh, mạc bất tự thử nhi sanh (三世聖人、歷代開士、莫不自此而出、三千威儀、八萬細行、莫不自此而生, ba đời Thánh nhân, lịch đại Bồ Tát, thảy đều từ đây mà ra; ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, thảy đều từ đây mà sanh).”

khai sĩ

① Người thông đạt, tỏ ngộ. Chương Bát-nhã-đa-la, Tổ thứ 27 trong CĐTĐL q. 3 ghi: »祖 般 若 多 羅 者。 東 印 度 人 也。 既 得 法 已。 行 化 至 南 印 度。 彼 王 名 香 至。 崇 奉 佛 乘 尊 重 供 養 度 越 倫 等。 又 施 無 價 寶 珠。 時 王 有 三 子。 其 季 開 士 也。 – [i]Tổ Bát-nhã Đa-la là người Đông Ấn. Sau khi đắc pháp, Tổ đi hoá đạo đến Nam Ấn Độ. Vua nước Hương Chí phụng thờ Phật pháp, tôn trọng cúng dường hết mức và còn ban cho viên ngọc vô giá. Bấy giờ vua có 3 người con, người con út là bậc thông đạt[/i]«. ② Lời Thiền sư gọi các vị tăng tham thiền. [i]Phần Dương ngữ lục[/i] q. trung ghi: »普 告 諸 開 士、 同 明 第 一玄 – [i]Bảo chung cho các vị thiền tăng hãy cùng nhau sáng tỏ đệ nhất huyền[/i]«. ; 5298梵語 bodhisattva。音譯菩提薩埵。又作闡士。開,明達之意。指開正道,以引導眾生者;特指菩薩。蓋菩薩明解一切真理,能開導眾生悟入佛之知見,故有此尊稱。阿毘達磨識身足論卷一(大二六‧五三一上):「開士威力如來藏,三界照明慧眼道。」釋氏要覽卷上(大五四‧二六○下):「經中多呼菩薩爲開士,前秦苻堅賜沙門有德解者,號開士。」可知開士亦爲高僧之尊號。〔玄應音義卷四〕 ; The hero who is enlightened, or he opens the way of enlightenment, an epithet of the Bodhisattva; also applied to monks. ; (開士) Phạm: Bodhisattva. Dịch âm: Bồ đề tát đỏa. Cũng gọi Xiển sĩ. Từ tôn xưng các bậc cao đức, thông đạt. Khai là sáng suốt, chỉ cho người mở ra chính đạo để dắt dẫn chúng sinh, đặc biệt chỉ cho các vị Bồ tát. A tì đạt ma thức thân túc luận quyển 1 (Đại 26, 531 thượng) nói: Uy lực Khai sĩ tạng Như lai, mắt tuệ soi sáng khắp ba cõi. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 260 hạ) nói: Trong các kinh, phần nhiều gọi Bồ tát là Khai sĩ. Vua Phù kiên đời Tiền Tần, ban danh hiệu Khai sĩ cho các bậc sa môn có đức hạnh và trí tuệ. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.4].

khai sĩ nhập dục

5298禪宗公案名。又作開士悟水因。本則公案記述跋陀婆羅與十六開士(菩薩)沐浴時,因水悟道之因緣。碧巖錄第七十八則(大四八‧二○五上):「古有十六開士,於浴僧時,隨例入浴,忽悟水因,諸禪德作麼生會?他道妙觸宣明,成佛子住,也須七穿八穴始得。」上引中之「七穿八穴」謂逆順縱橫,自由自在。此公案乃據首楞嚴經卷五所載,跋陀婆羅與同伴十六開士於浴漕中沐浴,因水之浸潤性及透明性,得妙觸宣明,成佛子住,會得七穿八穴,四面八方攻破敵陣之活手段,能逆順縱橫,自由自在,不爲煩惱所縛。 ; (開士入浴) Cũng gọi Khai sĩ ngộ thủy nhân. Tên công án trong Thiền tông. Khai sĩ vào phòng tắm. Nhân duyên ngộ đạo của ngài Bạt đà bà la và 16 vị Khai sĩ (Bồ tát). Tắc 78 Bích nham lục (Đại 48, 205 thượng) ghi: Xưa có 16 vị Khai sĩ, đến giờ chư tăng tắm gội, các vị cũng lần lượt vào tắm, bỗng nhiên tỏ ngộ nhân duyên của nước. Chư thiền đức hiểu thế nào? Ngài Bạt đà bà la nói: Hiểu rõ được xúc trần là mầu nhiệm thì ngay lúc đó liền thành Phật. Cần phải trải qua nhiều thủ đoạn tung hoành ngang dọc mới rõ được chỗ này.

Khai sơn

(開山): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tức khai mở núi lập chùa. Xưa kia, đại đa số các tự viện đều được xây dựng ở những nơi núi non thâm u, nhàn tĩnh, nên gọi là khai sơn, hay khai cơ (開基). Như trong bài tựa của Sơn Ông Thiền Sư Văn Tập (山翁禪師文集) do Hoàng Tông Hi (黃宗羲, 1610-1695) nhà Thanh sáng tác, có đoạn: “Dư du Vân Môn chư tự, chí Bình Dương, Sơn Ông khai sơn kinh thỉ (余遊雲門諸寺、至平陽、山翁開山經始, ta ngao du các chùa ở Vân Môn, đến Bình Dương, Sơn Ông bắt đầu khai sơn cho đến nay).” Hay trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) lại có đoạn: “Đương Dương Huyện Ngọc Tuyền Sơn Cảnh Đức Thiền Tự vi Tùy Trí Giả Thiền Sư khai sơn đạo tràng (當陽縣玉泉山景德禪寺爲隋智者禪師開山道塲, Cảnh Đức Thiền Tự ở Ngọc Tuyền Sơn, Huyện Đương Dương là đạo tràng do Thiền Sư Trí Khải [538-397] nhà Tùy khai sơn).” (2) Là từ tôn xưng cho vị Tổ, trú trì đời đầu tiên của chùa. Như trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 14, phần Từ Biện Gián Pháp Sư Pháp Từ (慈辯諫法師法嗣), Pháp Sư Trạch Khanh (法師擇卿), có đoạn: “Nguyên Hựu nhị niên, sơ kiến Thọ Thánh Viện, thỉnh sư khai sơn (元祐二年、初建壽聖院、請師開山, vào năm thứ 2 [1807] niên hiệu Nguyên Hựu, ban đầu kiến lập Thọ Thánh Viện, cung thỉnh Pháp Sư làm Tổ khai sơn).” Hay trong Võ Lâm Tây Hồ Cao Tăng Sự Lược (武林西湖高僧事略, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1526), phần Ngũ Đại Vĩnh Minh Tiềm Thiền Sư (五代永明潛禪師), lại có đoạn: “Chu Hiển Đức nguyên niên, kiến Huệ Nhật Vĩnh Minh Tự, thỉnh sư cư chi, vi khai sơn thỉ Tổ (周顯德元年、建慧日永明寺、請師居之、爲開山始祖, vào năm đầu [954] niên hiệu Hiển Đức nhà Chu, kiến lập Huệ Nhật Vĩnh Minh Tự, cung thỉnh Thiền Sư đến ở, là vị Tổ khai sơn đầu tiên).” (3) Khai sáng học phái, tông phái nào đó, hay chỉ cho người khai sáng học phái, tông phái đó. ; 開山; J: kaisan;|Danh từ chỉ người khai sơn lập chùa. Người lập một trường phái riêng biệt được gọi là Khai sơn tổ sư.

khai sơn

Vốn chỉ cho việc khai núi lập chùa, bởi tự viện thời xưa phần nhiều lập nơi núi non u tịch, và vị Trụ trì đời thứ nhất của tự viện cũng được tôn xưng là Khai sơn. [i]Vân Cư Sơn Chí[/i] (142, hạ) ghi: »遂 立 志 開 山 弘 法、 立 寺 傳 教、 利 己 利 他、 濟 人 濟 世。 – [i]Sư liền lập chí khai sơn hoằng pháp, cất chùa truyền giáo, lợi mình lợi người, cứu giúp mọi người[/i]«. ; 5298本指開山建寺而言;因古代寺院多建於山谷幽靜處,故稱開山。且取其開闢寺基之意,又稱開基。而寺院第一代住持亦以開山尊稱之。開山又有勸請開山及創建開山之分,創建開山係親自開創寺院,並自任住持。勸請開山則雖親自開山建寺,然另請有德之僧任住持。此外,宗派之創始者亦稱爲開山、開祖、開山祖、開山祖師。〔佛祖統紀卷十四、禪林象器箋靈像門〕 ; Kaisan (J). ; To establish a monastery; to found a sect. ; (開山) Cũng gọi Khai cơ. Khai sơn vốn chỉ cho việc khai sáng chùa viện. Thời xưa các chùa viện thường được xây cất ở những nơi rừng núi tĩnh mịch, cho nên khai quang rừng núi để kiến thiết chùa viện, gọi là Khai sơn. Vị trụ trì đời thứ nhất của chùa viện cũng được tôn xưng là Khai sơn. Khai sơn lại có: Khuyến thỉnh khai sơn và Sáng kiến khai sơn. Sáng kiến khai sơn là tự khai sáng chùa viện và làm Trụ trì, còn Khuyến thỉnh khai sơn là tự mình đứng ra sáng lập chùa viện rồi thỉnh vị tăng có đức về làm Trụ trì. Ngoài ra, người sáng lập một tông phái cũng gọi là Khai sơn, Khai tổ, Khai sơn tổ, Khai sơn tổ sư. [X. Phật tổ thống kỉ Q.14; môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khai sơn kị

5298寺院於「開山」示寂紀念日所舉行之法會。我國自古即有。於日本,自禪宗傳入後,即爲各寺院所沿用。此外,於宗派開祖忌日所舉行之法會,稱祖師忌。〔敕劫修百丈清規卷上尊祖章開山歷代祖忌條〕

khai sơn kỵ

(開山忌) Ngày giỗ của vị Khai sơn chùa viện. Ngày xưa ở Trung quốc đã có ngày lễ này, thường được các chùa viện cử hành rất trọng thể. Còn ở Nhật bản thì mãi đến thời Thiền tông được truyền vào, các chùa viện mới làm theo. Ngoài ra, ngày giỗ các vị Tổ sáng lập tông phái thì gọi là Tổ sư kị. [X. điều Khai sơn lịch đại tổ kị, chương Tôn tổ, trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. thượng].

khai sơn lão điện

X. Chính Tông Tự.

khai sơn đường

5299奉祀本寺「開山」之堂。又稱祖師堂、祖堂、影堂、影室。常設於佛殿前面之西方,與東方伽藍堂相對峙。宋時,以禪林尊崇開山,故祖堂中唯置開山之像。然至後世亦於堂中安置歷代住持之牌位。〔白雲守端禪師廣錄卷一祖堂綱紀〕 ; (開山堂) Cũng gọi Tổ sư đường, Tổ đường, Ảnh đường, Ảnh thất. Ngôi nhà thờ tượng Tổ khai sơn bản tự, thường được xây dựng ở phía tây trước điện Phật và đốidiện với Già lam đường ở phía đông. Vào thời Tống, vì tôn sùng vị Khai sơn, nên trong Tổ đường chỉ đặt hình tượng vị Khai sơn. Nhưng đến đời sau trong Tổ đường cũng có thờ bài vị của các đời Trụ trì. [X. Tổ đường cương kỉ trong Bạch vân Thủ đoan thiền sư quảng lục Q.1].

khai tam hiển nhất

5298謂開除三乘(聲聞、緣覺、菩薩)之權執,以顯示一乘(佛乘)之實義。係天台宗對於法華經所作判釋之語。法華經前半部爲「迹門」之開顯,後半部爲「本門」之開顯。開三顯一即於跡門之化儀中,開除法華經以前諸經所說三乘權教之執著,顯示一乘真實之教;即開三乘教之方便,以顯一乘教之真實。然三乘與一乘之差別實由對機之未熟而起。蕩盡三一差別之妄執,三乘所行之道,即爲佛道;三乘之理教,亦即實相一乘之理教,故三乘實皆歸於一乘。〔法華經玄義卷九、法華玄義釋籤卷一、法華文句卷四、法華經義記卷一、卷八、法華玄論卷四〕(參閱「本迹二門」1965、「開權顯實」5315、「開顯」5316) ; To explain the three vehicles, and reveal the reality of the one method of salvation, as found in the Lotus sùtra. ; (開三顯一) Trừ bỏ quyền chấp Tam thừa để hiển bày thực nghĩa Nhất thừa. Đây là từ ngữ phán thích kinh Pháp hoa do tông Thiên thai đặt ra. Nửa bộ trước của kinh Pháp hoa là hiển bày Tích môn, nửa bộ sau là hiển bày Bản môn, Khai tam hiển nhất tức là trong phần hóa nghi của Tích môn, trừ bỏ sự chấp trước vào quyền giáo Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát)được tuyên thuyết trong các kinh trước thời Pháp hoa, để hiển bày giáo pháp chân thực Nhất thừa (Phật thừa). Nhưng sự sai khác của Tam thừa và Nhất thừa thực ra chỉ do căn cơ chưa thuần thục mà thôi. Nếu trừ bỏ được vọng chấp sai biệt, thì đạo do Tam thừa tu tập tức là Phật đạo, mà giáo lí của Tam thừa cũng tức là giáo lí của thực tướng Nhất thừa; bởi thế, Tam thừa rốt cục đều qui về Nhất thừa. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.9; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Pháp hoa văn cú Q.4; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.1, Q.8; Pháp hoa huyền luận Q.4]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Quyền Hiển Thực, Khai Hiển).

Khai Thiện Tự

(開善寺, Kaizen-ji): hiện tọa lạc trong núi Chung Sơn (鐘山, tức Tương Sơn [蔣山]) ở phía đông bắc của Huyện Thượng Nguyên (上元縣), Phủ Giang Ninh (江寧府), Tỉnh Giang Tô (江蘇省), ngôi chùa đứng hàng thứ 3 trong số 10 ngôi danh sát. Đây là ngôi chùa do vua Lương Võ Đế (梁武帝) xây dựng vào năm thứ 13 (514) niên hiệu Thiên Giám (天監) để truy điệu Bảo Chí (寳誌 [保誌]); sau đó đệ tử của Bảo Chí là Trí Tàng (智藏) vâng sắc mệnh trú trì chùa này. Chùa còn được gọi là Chung Sơn Tự (鐘山寺). Thể theo sắc mệnh trong khoảng thời gian niên hiệu Càn Phù (乾符, 874-879) nhà Đường, chùa có hiệu là Bảo Quang Viện (寳光院), sau đó trong khoảng thời gian niên hiệu Khai Bảo (開寳, 968-976) nhà Tống, chùa được đổi thành Khai Thiện Đạo Tràng (開善道塲). Đến khoảng thời gian niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (太平興國, 976-984), chùa lại đổi thành Thái Bình Hưng Quốc Tự (太平興國寺) và vào năm thứ 2 (1042) thì được liệt vào loại chùa Thập Phương Thiền Viện (十方禪院). Sau đó, vào đầu thời nhà Minh chùa được đổi tên là Tương Sơn Tự (蔣山寺), rồi đến năm thứ 14 (1381) là Linh Cốc Tự (靈谷寺) và lần này chùa được trùng tu trên quy mô lớn.

khai thiện tự

5309<一>位於南京市朝陽門外之鍾山。梁天監十三年(514)寶誌示寂,武帝詔有司葬於此地,並於其上建塔五級。帝親臨致奠,忽於雲間見大士,乃爲之立寺,令其弟子智藏居之,是爲開善寺。南朝陳時,智遠亦曾居此。至唐代乾符年中奉敕改稱寶公院。宋代開寶年中,更號開善道場。太平興國五年(980),與鍾山諸剎,合稱太平興國寺,該寺則爲其中之一支院,而廢其寺名。〔梁高僧傳卷十、續高僧傳卷五、卷十六、金陵梵剎志卷三、景德傳燈錄卷二十七、佛祖統紀卷三十七〕 <二>位於廣東潮陽。俗稱靈山寺。唐代元和年中,大顛禪師居之,名聞四方。韓愈往訪,叩問禪法,讚歎不已,留衣而別,今有留衣堂。 <三>位於臺灣苗栗南庄鄉。由陳榮盛等信眾發起籌建於民國十七年(1928)。爲獅頭山寺院群之一,與勸化堂、輔天宮合稱三絕。寺內珍藏自緬甸請回之二尺玉佛一尊,皎潔晶瑩,被視爲鎮寺之寶。該寺自六十五年開始,重修大殿,並擴增寮舍,寺觀煥然一新。 ; Chùa thuộc núi Chung Sơn, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Niên hiệu Thiên Giám thứ 13 (514) đời Lương, Bảo Chí thị tịch, vua Võ Đế ra lệnh an táng tại nơi này và xây tháp 5 tầng. Vua đích thân tiến cúng, bỗng thấy vị Đại sĩ trên mây bèn xây cất chùa, sai đệ tử của Bảo Chí là Trí Tạng trụ trì, ban tên là »Khai Thiện Tự«. Thời Trần Nam triều, Trí Viễn cũng từng ở đây. Khoảng niên hiệu Càn Phù (874-879) đời Đường phụng sắc đổi tên là »Bảo Công Viện«. Khoảng niên hiệu Khai Bảo (968-975) đời Tống lại gọi »Khai Thiện Đạo Tràng«. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 (980) cùng với các chùa ở Chung Sơn gọi chung là »Thái Bình Hưng Quốc Tự«, chùa này là một viện trong số đó nên tên chùa bị xoá bỏ. ; (開善寺) I. Khai Thiện Tự. Chùa ở núi Chung sơn, ngoài cửa Triều dương của thành phố Nam kinh, Trung quốc. Năm Thiên giám 13 (514) đời Lương, ngài Bảo chí thị tịch. Lương Vũ đế ban chiếu chỉ an táng ngài ở Chung sơn và xây một ngôi tháp 5 tầng, vua thân hành đến đặt móng, bỗng thấy trong đám mây có hình của Đại sĩ, vua liền cho lập chùa này và ban sắc cho đệ tử của ngài là sư Trí tạng trụ trì. Vào thời Trần thuộc Nam triều, ngài Trí viễn cũng từng ở chùa này. Trong năm Càn phù đời Đường, vua ban lệnh đổi chùa thành viện Bảo công. Sang đời Tống, trong năm Khai bảo, chùa được đổi tên thành Khai thiện đạo tràng. Đến năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980), Đạo tràng này cùng với các chùa viện khác ở Chung sơn được hợp lại mà gọi chung là Thái bình hưng quốc tự. Từ đó chùa này trở thành một chi viện ở Chung sơn và mất tên cũ. II. Khai Thiện Tự. Tục gọi: Linh sơn tự. Chùa ở Triều dương. Quảng đông, Trung quốc. Khoảng năm Thái nguyên đời Đường, Thiền sư Đại điên đến trụ tại chùa này. Ông Hàn dũ nghe danh ngài, đến bái kiến và tham vấn Thiền pháp, ông rất kính phục.

Khai Thiện Đạo Khiêm

(開善道謙, Kaizen Dōken, ?-?): tức Kiến Châu Tử (建州子, Kenshūsu), người vùng Kiến Ninh (建寧, Tỉnh Phúc Kiến). Ban đầu ông đến tham học với Viên Ngộ (圜悟), sau đi theo Diệu Hỷ (妙喜, tức Đại Huệ) ở Tuyền Nam (泉南, Tỉnh Phúc Kiến). Diệu Hỷ thường gọi Kiến Châu Tử là Đạo Khiêm (道謙).

khai thất

5307禪林用語。與入室同義。即師家開室允許大眾入室參問之意。入室乃從修行者立場說;開室則從師家方面說。〔禪林象器箋垂示門〕 ; (開室) Đồng nghĩa: Nhập thất. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vị thầy mở cửa thất cho phép đại chúng vào hỏi đạo. Nhập thất là nói về phía người học, còn Khai thất là nói về phía vị thầy. [X. môn Thùy thị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khai thị

Tuyên thuyết (nói pháp). Tiết Lương Sơn Quán Thiền sư trong NĐHN q. 18 ghi: »大 眾 雲 臻、 請 師 開 示。 – [i]Tăng nói: Đại chúng đã đến đông đủ, thỉnh sư nói pháp[/i]«.

khai thị ngộ nhập

Khai là khai phát, tức phá trừ vô minh, khai mở Như Lai tạng, thấy lí Thật tướng. Thị là hiện bày; hoặc chướng đã trừ thì Thể tri kiến hiện, pháp giới vạn đức hiện bày rõ ràng. Ngộ là chứng ngộ, sau khi Chướng trừ Thể hiện thì Sự (hiện tượng) Lí (bản thể) dung thông mà có chỗ ngộ. Nhập là chứng nhập, nghĩa là sự lí đã dung thông thì có thể tự tại vô ngại, chứng nhập biển trí tuệ. Phẩm Cơ Duyên trong [i]Kinh Pháp Bảo Đàn[/i] (Đại 48, 355 hạ) ghi: »汝 愼 勿 錯 解 經 意、 見 他 道 開 示 悟 入、 自 是 佛 之 知 見、 我 輩 無 分。 若 作 此 解、 乃 是 謗 經 毀 佛 也。 – [i]Ngươi nên cẩn thận, chớ hiểu lầm ý Kinh, nghe nói: Khai thị ngộ nhập bèn cho là tri kiến của Phật, còn mình thì chẳng có phần; nếu hiểu như thế là phỉ báng kinh Phật vậy[/i]«. ; 5304開,開發之意;即破除眾生之無明,開如來藏,見實相之理。示,顯示之意;惑障既除則知見體顯,法界萬德顯示分明。悟,證悟之意;障除體顯後,則事(現象)、理(本體)融通而有所悟。入,證入之意;謂事理既已融通,則可自在無礙,證入智慧海。 依法華經卷一方便品載,諸佛爲一大事因緣而出現世間,即爲令眾生開示悟入佛之知見而出現於世間。關於「開示悟入」之解釋,法華文句卷四上,以四位、四智、四門、觀心等四種不同立場,闡釋開示悟入之理,並一一配列之:(一)就四位而言,四位係指菩薩修行過程中之十住、十行、十迴向、十地等四大階段。(1)以「開」配當十住位;謂於此階位之初,能破除無明,開顯如來藏,而見實相之理。(2)以「示」配當十行位;謂於此階位,惑障既除,知見之體亦自彰顯,此「體」圓備萬德,故舉凡法界之眾德,無不一一顯示分明。(3)以「悟」配當十迴向位;謂於此階位,既已除障顯體,明了法界眾德,則必事理融通。(4)以「入」配當十地位;於此階位,事理既融,故自在無礙,任運自如,而入薩婆若(一切智)海。 (二)就四智而言,(1)以「開」配當道慧;謂於「實性」之中得以開發佛之智見。(2)以「示」配當道種慧;謂能了知十法界中諸道之種別,並了知解惑之相,一一皆爲佛之知見所顯示者。(3)以「悟」配當一切智;謂了知一切法之「一相寂滅」即了悟佛之知見。(4)以「入」配當一切種智;謂了知一切法之「一相寂滅相」而識知種種行類相貌,此即入於佛之知見。 (三)就四門而言,四門係指天台圓教所立之四法門。(1)以「開」配當空門;謂於空門所詮「一空一切空」之理中得以開發佛之知見。(2)以「示」配當有門;謂有門所詮「一有一切有」之理即顯示佛之知見。(3)以「悟」配當亦空亦有門;謂了達「一切亦空一切亦有」之理即體悟佛之知見。(4)以「入」配當非空非有門;謂證得「一切非空一切非有」之理即入於佛之知見。 (四)就觀心而言,此係由天台宗所說「一心三觀」中來直接闡釋此開示悟入之理。三觀,指空、假、中三觀。(1)謂了觀「心性三諦」之理不可思議,且此觀明淨,無有疑滯,故名爲「開」。(2)又此一觀境雖不可思議,然能於空、假、中之心中宛然分別而不濫,故名爲「示」。(3)謂空、假、中之心,即三而一,即一而三,故名爲「悟」。(4)空、假、中之三觀並非個別存其空、假、中三者,而係齊照空、假、中於一心之中,故名爲「入」。〔法華經論卷下、法華經義記卷三、法華經玄義卷五上、維摩經玄疏卷四、法華義疏卷三(吉藏)、法華經玄贊卷三末、天台四教儀集註卷上、台宗二百題卷十五〕 ; The four reasons for a Buddha's appearing in the world: to open up the treasury of truth; to indicate its meaning; to cause men to apprehend it; and to lead them into it. ; (開示悟入) Khai là khai phát, tức là phá trừ vô minh, mở Như lai tạng khiến chúng sinh thấy được lí thực tướng. Thị là hiển bày, vô minh đã trừ thì tri kiến thể hiện, muôn đức trong pháp giới hiển hiện rõ ràng. Ngộ là liễu ngộ, vô minh đã trừ, tri kiến đã hiển, thì sự (hiện tượng), lí(bản thể) dung thông, có chỗ tỏ ngộ. Nhập là chứng nhập, nghĩa là sự, lí đã dung thông thì được tự tại vô ngại, chứng nhập biển trí tuệ. Cứ theo phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa quyển 1, thì mục đích duy nhất của chư Phật xuất hiện nơi thế gian là để khơi mở cho chúng sinh ngộ vào tri kiến của Phật, tức là giác ngộ thành Phật. Pháp hoa văn cú quyển 4 thượng, đã đứng trên lập trường khác nhau của Tứ vị, Tứ trí, Tứ môn, Quán tâm, v.v... mà giải thích lí của Khai Thị Ngộ Nhập, đồng thời phối hợp 4 chữ này với 4 hạng mục vừa nêu ở trên. 1. Phối hợp với Tứ vị của Bồ tát. a) Khai phối hợp với Thập trụ vị: Ở giai vị này, Bồ tát có khả năng phá trừ vô minh, mở bày Như lai tạng mà thấy được lí Thực tướng. b) Thị phối hợp với Thập hạnh: Ở giai vị này hoặc chướng đã trừ, thể của tri kiến cũng tự hiển bày; thể này đầy đủ muôn đức, cho nên tất cả các đức của pháp giới đều hiển hiện rõ ràng. c) Ngộ phối hợp với Thập hồi hướng: Ở giai vị này, chướng đã trừ, thể đã hiện, muôn đức của pháp giới đã sáng tỏ, cho nên sự lí ắt dung thông. d) Nhập phối hợp với Thập địa: Ở giai vị này, sự lí đã dung thông, cho nên được tự tại vô ngại, nhậm vận tự nhiên mà hòa nhập vào biển nhất thiết trí (tát bà nhã). 2. Phối hợp với Tứ trí. a) Khai phối hợp với Đạo tuệ: Trong thực tính khai phát được tri kiến của Phật. b) Thị phối hợp với Đạo chủng tuệ: Biết rõ sự sai biệt của các đạo trong 10 pháp giới và biết rõ tướng của giải hoặc đều do tri kiến Phật hiển bày. c) Ngộ phối hợp với Nhất thiết trí: Biết rõ nhất tướng tịch diệt của tất cả pháp tức là liễu ngộ được tri kiến Phật. d) Nhập phối hợp với Nhất thiết chủng trí: Biết rõ nhất tướng tịch diệt tướng của tất cả pháp và biết được tướng mạo của các loại hành, tức là nhập vào tri kiến Phật. 3. Phối hợp với Tứ môn. a) Khai phối hợp với Không môn: Hiểu rõ lí Nhất không nhất thiết không trong Không môn là khơi mở được tri kiến Phật. b) Thị phối hợp với Hữu môn: Hiểu rõ lí Nhất hữu nhất thiết hữu trong Hữu môn tức hiển bày tri kiến Phật. c) Ngộ phối hợp với Diệc không diệc hữu môn: Thấu suốt lí Nhất thiết diệc không nhất thiết diệc hữu tức thể ngộ tri kiến Phật. d) Nhập phối hợp với Phi không phi hữu môn: Chứng được lí Nhất thiết phi không nhất thiết phi hữu tức là nhập vào tri kiến Phật. 4. Phối với Quán tâm. Sử dụng thuyết Nhất tâm tam quán của tông Thiên thai để trực tiếp giải thích lí khai thị ngộ nhập. Tam quán là Không quán, Giả quán và Trung quán. a) Quán rõ suốt Tâm tính tam đế không thể nghĩ bàn, pháp quán này trong sáng không trở ngại, cho nên gọi làKhai. b) Cảnh này quán này tuy không thể nghĩ bàn, nhưng tâm có thể quán không, Giả, Trung phân biệt rõ ràng không lẫn lộn cho nên gọi làThị. c) Tâm quán Không, Giả, Trung tức 3 mà 1, tức 1 mà 3, cho nên gọi là Ngộ. d) Ba quán Không, Giả, Trung chẳng phải là 3 quán cá biệt mà là quán chiếu Không, Giả, Trung trong cùng một tâm, cho nên gọi làNhập. [X. Pháp hoa kinh luận Q. hạ; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.3; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 thượng; Duy ma kinh huyền sớ Q.4; Pháp hoa nghĩa sớ Q.3 (Cát tạng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.3 phần cuối; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Thai tông nhị bách đề Q.15].

Khai thị 開示

[ja] カイジ kaiji ||| (1) To elucidate the teachings. Unveil, explain, guide. To enlighten; to cause someone to perceive reality. (2) To unveil that which is hidden. => Làm sáng tỏ giáo lý. Tiết lộ, hướng dẫn. Khiến cho người khác nhận được thực tại. Tiét lộ những gì còn đang ẩn mật.

khai tiên tự

Chùa nằm ở chân núi phía nam Lô Sơn tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, do Nam Đường Trung Chủ xây dựng. Sau núi có những ngọn núi lạ liền lạc như: Quy Bối (mu rùa), Hạc Minh (Hạc kêu), Song Kiếm (hai cây gươm). Đời Tống có Thiền sư Thanh Diệu của tông Vân Môn ở đây. Niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc thứ 2 (977), Vua hạ chiếu đổi tên chùa »Khai Tiên Hoa Tạng Tự«. Triều vua Nhân Tông, Thiền sư Thiện Xiêm mở pháp hội ở đây, đệ tử là Phật Ấn Liễu Nguyên là người kế thừa. Về sau các thiền sư của tông Vân Môn như: Trí Tuần, Hành Anh cùng nhau kế tiếp trụ trì. Niên hiệu Thiên Thuận thứ 1 (1457-1464) đời Minh, chùa dùng lại tên cũ. Niên hiệu Khang Hi thứ 16 (1707), Vua ban cho bảng hiệu »Tú Phong Tự«. ; 5305位於江西星子縣西八點六公里處之廬山南麓。係南唐李中主所創。山後有龜背、鶴鳴、雙劍、香爐、黃石巖等奇峰相連。其間,北有馬尾水,南有瀑布泉,爲廬山諸寺中最幽邃之地。宋代時,雲門之門下清耀曾住此,同門智寂之弟子照繼之。太平興國二年(977),詔改名爲開先華藏寺。仁宗時,善暹開法席,其門特顯。門人佛印了元承其席,後智珣、行英等雲門諸德相繼住之。明代天順初年恢復舊名。康熙四十六年(1707),賜「秀峰寺」匾額。其側崖有黃山谷之七佛偈、王陽明紀功之碑石。西側溪畔有五重之小石塔,門外有陰刻之觀音像巨碑,像之相好頗能現示宋代風格。〔禪林僧寶傳卷二十九、五燈會元卷十五、卷十六、卷十七、古今圖書集成職方典第八六七、第八七○、支那佛教史蹟評解卷二〕

khai trướng

5309將佛像、祖師像之幃帳揭開,供信徒禮拜,稱爲開帳。又作啟龕、開扉、啟帳。我國唐代即有開帳之例,後行於日本。日本一般寺院之佛像並不公開,須逢三、七、十、十二、二十、三十三、五十、六十年之週期日舉行法會時,始開帳供人參拜。又佛菩薩被迎往外地出巡之風尚,稱爲出開帳。日本善光寺古來即以此行事聞名。〔資治通鑑卷二四○、孝經樓漫筆卷四、三養雜記卷三〕 ; (開帳) Cũng gọi: Khải khám, Khai phi, Khải trướng. Mở bức màn che tượng Phật tượng Tổ sư để tín đồ lễ bái. Lệ khai trướng bắt đầu từ đời Đường ở Trung quốc, về sau mới thịnh hành tại Nhật bản. Nói chung, tượng Phật ở các chùa viện tại Nhật bản thường được che kín và chỉ khai trướng vào những dịp cử hành pháp hội định kì như 3 năm, 7 năm, 10 năm. 12 năm, 20 năm, 33 năm, 50 năm, 60 năm mà thôi. Ngoài ra, cũng có khi cung nghinh tượng Phật và Bồ tát rước quanh làng xã, gọi là Xuất khai trướng. [X. Tư trị thông giám Q.240; Hiếu kinh lâu mạn bát Q.4; Tam dưỡng tạp chí Q.3].

khai tâm

To open the heart; to develop the mind; to initiate into truth.

khai tâm nhãn

Mở sáng con mắt pháp, tỏ ngộ đạo lí Phật pháp. Tiết Giang Tây Mã Tổ trong TĐT q. 14 ghi: »江 西 馬 祖 嗣 讓 禪 師、 在 江 西。 師 諱 道 一、 漢 州 十 方 縣 人 也、 姓 馬、 於 羅 漢 寺 出 家。 自 讓 開 心 眼、 來 化 南 昌。 – [i]Mã Tổ Giang Tây nối pháp Thiền sư Hoài Nhượng ở Giang Tây. Sư huý là Đạo Nhất, người huyện Thập Phương thuộc Hán Châu, họ Mã, xuất gia nơi chùa La Hán. Được Hoài Nhượng mở sáng con mắt pháp, sư đến giáo hoá tại Nam Xương[/i]«.

khai tâm tự

5303位於韓國慶尚北道醴泉郡醴泉面南本洞。寺中有五重石塔,乃爲二重基壇、四角五層之石塔,建於高麗穆宗十二年(1009,即遼統和二十七年),被視爲高麗時代初期之新羅系石塔。其第一層之正面門上中心刻有仁王像,其雕刻手法與同時代遼之塼塔一致,故被推定係受遼之影響。 ; (開心寺) Chùa ở quận Lễ tuyền, tỉnh Khánh thượng bắc, Hàn quốc. Trong khu nội tự có ngôi tháp đá hình tứ giác, cao 5 tầng được xây dựng vào năm 1.009 và được xem là thuộc hệ thống tháp đá Tân la ở đầu thời đại Cao li. Phía trên cửa chính của tầng thứ nhất có khắc tượng Nhân vương, thủ pháp điêu khắc giống hệt như tháp gạch ở thời đại nhà Liêu, vì thế được cho là chịu ảnh hưởng của nghệ thuật điêu khắc đời Liêu.

khai tích hiển bản

5308又作發迹顯本。此係天台宗對於法華經所作判釋之語。天台大師智顗說明法華經旨趣之時,謂法華經有「本迹二門」之開顯,其本門之開顯,就佛身而言,乃開迹顯本。即開除以釋尊爲伽耶近成垂迹示現之權佛之情執,以顯示久遠實成之本地本佛。法華經玄義卷七下(大三三‧七七三上):「開迹中佛界十如,顯出本中佛界十如。」謂於迹門開「下九界」之權,以顯「佛界」之實。故於本門顯示佛界之本有久遠,令了知迹門所說,而明諸佛之本地。〔法華經卷五如來壽量品、法華文句卷九下、法華玄論卷一〕(參閱「本迹二門」1965、「開近顯遠」5307、「開顯」5316) ; (開迹顯本) Cũng gọi: Phát tích hiển bản. Phá trừ tình chấp Quyền Phật mới thành ở Phật đà già da để hiển bày Bản Phật vốn đã thành từ lâu xa. Đây là từ ngữ phán thích kinh Pháp hoa của tông Thiên thai. Theo đại sư Trí khải của tông Thiên thai, thì kinh Pháp hoa có Khai hiển Bản môn và Khai hiển Tích môn. Trong Khai hiển Bản môn, nói theo thân Phật thì là Khai tích hiển bản, mà ý nghĩa như đã nói ở trên. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 hạ (Đại 33, 773 thượng), nói: Phật giới thập như trong Tích môn hiển bày ra Phật giới thập như trong Bản môn, nghĩa là Tích môn đã khai trừ Quyền của 9 cõi dưới để hiển bày Thực của Phật giới. Cho nên Bản môn hiển thị lí Vốn đã có lâu xa của Phật giáo, khiến cho chúng sinh biết rõ những điều được nói trong Tích môn mà hiểu rõ bản địa của chư Phật. [X. phẩm Như lai thọ lượng kinh Pháp hoa Q.5; Pháp hoa văn cú Q.9 hạ; Pháp hoa huyền luận Q.1]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Cận Hiển Viễn, Khai Hiển).

khai tĩnh

5313開,開覺、開放二義;靜,靜睡、靜慮(坐禪)二義。(一)開覺靜睡。禪林晨朝鳴板,催促僧眾起床。有大小開靜之分,小開靜又稱開小靜,於五更四點之後,鳴庫前之板,此時行者先起床。大開靜又稱開大靜,於五更五點之後,庫前及諸堂之板齊鳴,令全寺之大眾起床。 (二)開放靜慮。禪家停止坐禪,或於課誦、粥飯、聽講、普請時,聽許散動,相對於止靜,而稱此時爲開靜。報開靜時,鳴開靜板。此開靜亦有大小之分,大開靜係就朝課、粥飯、晚課及臥單時所稱。小開靜,指止靜中之小休憩。又開靜所用之擊打法器及擊打方式,各宗派皆不同。〔敕修百丈清規卷下大眾章、禪林象器箋唄器門〕(參閱「止靜」1476) ; (開靜) Chỉ cho Khai giác tĩnh thụy và Khai phóng tĩnh lự. 1. Khai giác tĩnh thụy: Đánh bảng gọi chúng tăng thức dậy vào sáng sớm trong Thiền lâm. Khai tĩnh có Đại khai tĩnh và Tiểu khai tĩnh. Tiểu khai tĩnh cũng gọi là Khai tiểu tĩnh, tức đánh tấm bảng ở trước nhà kho gọi chúng tăng dậy vào lúc 4 giờ sáng. Giờ này các vị Hành giả dậy trước. Đại khai tĩnh cũng gọi là Khai đại tĩnh, tức là đánh bảng ở trước nhà kho và ở các chỗ khác vào lúc 5 giờ sáng để gọi tất cả đại chúng trong chùa đều dậy. 2. Khai phóng tĩnh lự: Đánh bảng báo hiệu hết giờ tọa thiền, hoặc cho phép nghỉ ngơi sau khóa tụng, bữa ăn, nghe giảng, làm việc, v.v..., đối lại với giờ Chỉ tĩnh nên gọi giờ này là Khai tĩnh. Khi báo giờ khai tĩnh thì đánh bảng khai tĩnh. Khai tĩnh cũng có Đại khai tĩnh và Tiểu khai tĩnh. Đại khai tĩnh là gọi theo các thời khóa buổi sáng, cơm cháo, buổi tối và khi đi ngủ. Tiểu khai tĩnh là tạm nghỉ ngơi một chút trong lúc chỉ tĩnh. Về các loại pháp khí và cách sử dụng để khai tĩnh thì trong các tông phái đều khác nhau. [X. chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. hạ; môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Chỉ Tĩnh).

Khai Tịch

(開闢): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Chỉ sự khai thỉ của vũ trụ. Thần thoại cổ đại cho rằng Bàn Cổ (盤古) là người khai thiên lập địa. Thái Bình Ngự Lãm (太平御覽) quyển 1 dẫn về Thượng Thư Trung Hầu (尚書中候), có câu: “Thiên địa khai tịch (天地開闢, trời đất khai mở).” Hay trong bài thơ Trung Đường Mai Lâm Thiên Hạ Chi Thạnh Dã Liêu Thân Bỉ Thuật Khải Hảo Du Giả (中塘梅林天下之盛也聊伸鄙述啟好遊者) của Diệp Thích (葉適, 1150-1223) nhà Nam Tống có câu: “Vấn thùy thỉ chủng thử, khởi tự khai tịch sơ (問誰始種此、豈自開闢初, hỏi ai trồng loại này, ngay từ buổi ban sơ).” (2) Khai phát, khai quật. Như trong Thi Kinh, chương Đại Nhã (大雅), phần Giang Hán (江漢) có câu: “Thức tịch tứ phương (式闢四方).” Trịnh Huyền (鄭玄, 127-200) nhà Hán giải thích rằng: “Mạng Chiêu Công sử dĩ vương pháp chinh phạt khai tịch tứ phương, trị ngã cương giới ư thiên hạ (命召公使以王法征伐開闢四方、治我疆界於天下, lệnh cho Chiêu Công lấy vương pháp mà chinh phạt và khai khẩn bốn phương, thống trị cương giới của ta khắp thiên hạ).” Hay như trong Thạnh Thế Nguy Ngôn (盛世危言), phần Công Pháp (公法) của Trịnh Quán Ứng (鄭觀應, 1842-1923) có đoạn: “Trung Quốc vị Ngũ Châu quan miện, khai tịch tối tiên (中國爲五洲冠冕、開闢最先, Trung Quốc vì quan lại của năm châu, việc khai khẩn được xem là đầu tiên hết).” (3) Khai sáng, sáng lập. Như trong Ngũ Tổng Chí (五總志) của Ngô Quýnh (吳炯, ?-?) nhà Tống có đoạn: “[Hoàng Đình Kiên] chí trung niên dĩ hậu, cú luật siêu diệu nhập thần, ư thi nhân hữu khai tịch chi công ([黃庭堅]至中年以後、句律超妙入神、於詩人有開闢之功, [thi sĩ Hoàng Đình Kiên, 1045-1105] từ thời trung niên trở về sau, câu và luật thơ siêu phàm, nhập thần, có công khai sáng đối với thi nhân).” Trong Tiên Giác Tập (先覺集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1619) có đoạn: “Nhất cơ nhất cảnh, nhất thoại nhất ngôn, khả dĩ khai tịch nhân thiên chánh nhãn, hiển dương Nho Phật tâm tông, Tiên Giác Tập chi sở do trước dã (一機一境、一話一言、可以開闢人天正眼、顯揚儒佛心宗、先覺集之所由著也, một cơ duyên một cảnh ngộ, một câu chuyện một lời nói, có thể khai sáng con mắt chân chánh của trời người, hiển dương tâm tông của Nho Phật, đó là nguyên do trước tác Tiên Giác Tập vậy).” Trong Chân Chánh Luận (甄正論, Taishō Vol. 52, No. 2112) quyển Trung có đoạn khác như: “Thiên địa khai tịch chi sơ, vạn vật trước hình chi thỉ, ngôn đạo sinh nguyên khí, nguyên khí sinh thiên địa, thiên địa sinh nhân cập âm dương, âm dương sinh vạn vật, thử nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật dã (天地開闢之初、萬物著形之始、言道生元氣、元氣生天地、天地生人及陰陽、陰陽生萬物、此一生二、二生三、三生萬物也, buổi ban sơ khi trời đất mới khai mở, lúc đầu tiên khi muôn vật thành hình, người ta bảo rằng đạo sinh ra nguyên khí, nguyên khí sinh ra trời đất, trời đất sinh ra con người và âm dương, âm dương sinh ra muôn vật, một này sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra muôn vật vậy).”

khai tổ

The founder of a sect, or clan.

Khai xiển 開闡

[ja] カイセン kaisen ||| To open and make clear; to explain well. 〔法華經 T 262.9.35b10〕 => Mở bày và làm cho sáng sủa; giảng giải rõ ràng.

Khai đàn

(開壇): tức khai mở đàn Mạn Trà La (s: Maṇḍala, 曼茶羅) để truyền pháp Quán Đảnh. Vị thầy tự khai đạo tràng, truyền pháp Quán Đảnh cho đệ tử được gọi là Khai Đàn A Xà Lê (開壇阿闍梨). Bên cạnh đó, nó còn có nghĩa là khai mở đàn tràng để tiến hành Kết Giới, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn, Giải Oan Bạt Độ, truyền thọ giới pháp, v.v. Như trong Thích Giáo Bộ Vị Khảo (釋敎部彙考, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1521) quyển 3, phần Liêu (遼), có đoạn: “Thái Khang ngũ niên, Thu cửu nguyệt Kỷ Mão, chiếu chư lộ, vô cấm tăng đồ khai đàn; Đông thập nhất nguyệt Đinh Sửu, chiêu Sa môn Thủ Đạo, khai đàn ư nội điện (太康五年、秋九月己卯、詔諸路、毋禁僧徒開壇、冬十一月丁丑、召沙門守道、開壇於內殿, vào năm thứ 5 [284] niên hiệu Thái Khang [vua Võ Đế nhà Tây Tấn], mùa Thu tháng 9 Kỷ Mão, hạ chiếu cho các nơi không được cấm chư tăng khai mở đàn tràng; đến mùa Đông tháng 11 Đinh Sửu, cho mời Sa môn Thủ Đạo, khai mở đàn tràng tại nội điện).” Hay trong bài tựa của Kim Cang Kinh Chú Thích (金剛經註釋, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 494) lại có đoạn: “Nhân thỉnh ư Như Lai, đắc từ bi chỉ, khai đàn thiết giảng, phàm tứ thập nhật cáo thành (因請於如來、得慈悲旨、開壇設講、凡四十日告成, nhân thỉnh cầu đức Như Lai, được ý chỉ từ bi, bèn khai đàn thuyết giảng, được bốn mươi ngày thì tuyên bố xong).”

khai đàn

5313謂開曼荼羅壇,行傳法灌頂。而自開道場,授弟子灌頂之師,稱爲開壇阿闍梨、開壇者。 ; (開壇) Mở đàn Mạn đồ la để truyền pháp quán đính. Vị thầy tự khai đạo tràng để trao pháp quán đính cho đệ tử, thì gọi là Khai đàn A xà lê, Khai đàn giả.

khai đường

5309禪林用語。原爲古代譯經院之儀式,每年聖誕(皇帝生日)日,必譯新經上進,以祝聖壽。前兩月時,諸官皆會集以觀翻譯;又於前一月,譯經使、潤文官再度會集,以新經上進,均稱開堂。其後,轉指新任命之住持,於入院之時,開法堂宣說大法,此爲禪剎之重要行事。其時,亦祈禱國泰民安、聖壽無疆,故亦稱開堂祝壽、開堂祝聖、祝國開堂。 開堂之儀式,先禮請德識卓越之僧一人任白椎師,迎至法座東單之上位,是爲照鑑開堂之師。官員等則對面而坐。其次迎引住持,先呈公文,舉法語畢,維那宣讀諸疏。其後住持乃舉手指法座,宣說法語,又登座拈香祝聖,帝師及官員等亦一一拈香畢,白椎師鳴椎一下云(卍續一一三‧一一八下):「法筵龍象眾,當觀第一義。」住持乃提示宗綱,致謝官員、諸山等。白椎師復鳴椎唱:「諦觀法王法,法王法如是。」其後住持以拄杖卓地一下,開始問話(問答折徵)。問答畢,儀式即可結束。 又「開堂和尚」爲我國傳戒法會中重要執事之一,有關戒子之受戒儀規、生活禮儀規矩等,皆由開堂和尚教導。〔祖庭事苑卷八、敕修百丈清規卷上住持章入院開堂祝壽條、禪林象器箋叢軌門〕 ; (開堂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên là nghi thức trong việc dịch kinh đời xưa. Hàng năm, đến ngày Thánh đản (sinh nhật của vua), viện Dịch kinh thường phải dâng một bộ kinh mới dịch lên để chúc thọ vua. Hai tháng trước đó, các quan nhóm họp để xem xét việc dịch kinh. Rồi trước ngày Thánh đản 1 tháng, các vị Dịch kinh sứ và quan nhuận văn lại nhóm họp để dâng bộ kinh ấy lên vua, gọi là Khai đường. Về sau, buổi tuyên thuyết đại pháp của vị Tân trụ trì trong lễ nhập tự cũng được gọi là Khai đường, đây là nghi thức quan trọng trong Thiền lâm. Trong lễ nhập tự, cũng có nghi thức cầu nguyện quốc thái dân an, Thánh hoàng muôn tuổi, cho nên cũng được gọi là Khai đường chúc thọ, Khai đường chúc thánh, Chúc quốc khai đường. Về nghi thức Khai đường thì trước hết cung thỉnh một vị tăng đức độ cao vời, kiến thức sâu rộng, giữ chức Bạch chùy sư, an tọa tại phía đông pháp tòa để giám sát việc khai đường. Các quan viên thì ngồi đối diện với pháp tòa. Kế đến nghinh thỉnh vị Trụ trì, sau khi trình công văn(những giấy tờ về việc bổ nhiệm Trụ trì) và tuyên nói pháp ngữ, vị Duy na đọc các lá sớ. Sau đó, vị Trụ trì đưa tay chỉ về phía pháp tòa, tuyên thuyết pháp ngữ, rồi thăng tòa niệm hương chúc mừng Thánh thọ. Khi Đế sư và các quan lần lượt niệm hương xong, Bạch chùy sư gõ một tiếng kiền chùy(cái kiểng) rồi nói (Vạn tục 113, 118 hạ): Chúng long tượng trong pháp hội, nên quán xét Đệ nhất nghĩa. Tiếp theo, vị Trụ trì nêu lên cương yếu của tông môn, cảm tạ các quan, chư sơn Thiền đức, Bạch chùy sư lại gõ chùy xướng rằng: Quán xét kĩ pháp của Pháp vương, pháp của Pháp vương là như thế. Sau cùng, vị Trụ trì dộng tích trượng xuống đất một tiếng, rồi bắt đầu vấn thoại (hỏi đáp giảng giải). Vấn đáp xong, kết thúc nghi thức Khai đường. Ngoài ra, Khai đường Hòa thượng là một vị Chấp sự quan trọng trong đàn truyền giới ở Trung quốc. Về các pháp tắc thụ giới, về các nghi lễ và qui củ sinh hoạt của giới tử, v.v... đều do Khai đường hòa thượng chỉ dạy. [X. Tổ đình sự uyển Q.8; điều Nhập viện khai đường chúc thọ, chương Trụ trì trong Bách trượng thanh qui Q. thượng; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khai đạo giả

The Way-opener, Buddha; any one who opens the way, or truth.

khai đạo y

5313爲心、心所產生作用時,所須依靠的三種緣之一。係法相宗討論有關心與心所彼此間依存的關係時所立之名相。又稱開避法、開導根、等無間緣依(梵 samanantara-pratyaya)、等無間依。心,又作心王,即精神作用之主體,如眼識、耳識乃至阿賴耶識等八識即是心王;心所,即附屬於心王並與之相應而起的心理活動或精神現象,如作意、受、想乃至忿、恨、嫉、慳等六類五十一種精神作用皆屬心所。 吾人之心識作用,念念相續,無有間隔,前一念滅謝時,後一念隨即生起,且於此前後念生滅之間具有密切的互倚關係,即前一念之心王成爲後一念之心王、心所生起時所須依靠之條件因緣。是知前一念之心王於滅謝之同時,既避開其現行位,復引導後念之心王、心所,故稱開導依。又以前念具有資助、生長後念心王、心所之功能,故有開導根之稱。復以前後念生滅之際,歷然相望,緊密相接,而無有間斷,故稱等無間緣依。 前念之心王開導、引生後念之心王、心所,其間有關同異類之引生關係,自印度之時即有難陀、安慧、護法等論師各持不同之見解。所謂同異類之引生關係,即於八識心王中,某一識之心王能否引生與之同類或異類之心王。(一)難陀 {爲眼、耳、鼻、舌、身等前五識必由第六意識所引生,而第六識自身既能前後相續,復能引生前五識,故第六識乃六識中之開導依;第七末那識及第八阿賴耶識僅能自類相續,而無法引生其他諸識。(二)安慧之主張,謂第六識以自類及第七、第八兩識爲開導依,第七識以自類及第六識爲開導依,第八識以自類及第六、第七兩識爲開導依。以上二師之見解雖有出入,然皆同意異類之心王可以互爲開導依。(三)護法則持相反看法,謂八識之心王限於各自不同之類,異類之心王無法互爲開導依,唯有相同之心王能生滅相續無間。〔成唯識論卷四、成唯識論述記卷五本、成唯識論了義燈卷四末〕 ; (開導依) Cũng gọi Khai tị pháp, Khai đạo căn, Đẳng vô gián duyên y (Phạm: Samanantara -pratyaya), Đẳng vô gián y. Danh từ này do tông Pháp tướng đặt ra. Một trong 3 loại duyên làm chỗ nương (y) cho tâm, tâm sở khi khởi tác dụng. Những hoạt động tâm thức của con người cứ niệm niệm nối nhau, không có gián đoạn, một niệm trước vừa diệt mất thì niệm sau liền sinh khởi, giữa khoảng niệm trước niệm sau sinh diệt này, có mối quan hệ rất mật thiết. Tức là tâm vương của một niệm trước mở đường và làm chỗ nương dựa(Khai đạo y)cho tâm vương, tâm sở của một niệm sau sinh khởi, vì thế gọi là Khai đạo y. Tâm vương của niệm trước mở đường dẫn sinh tâm vương, tâm sở của niệm sau, trong đó có mối quan hệ dẫn sinh đồng loại, dị loại. Về vấn đề này, giữa các vị Luận sư ở Ấn độ thời xưa như các ngài: Nan đà, An tuệ, Hộ pháp, v.v... đều có kiến giải khác nhau. 1. Ngài Nan đà cho rằng 5 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đều từ thức thứ 6 phát sinh, còn thức thứ 6 thì tự nó có công năng làm cho niệm trước niệm sau nối nhau, lại vừa có năng lực sinh ra 5 thức trước, vì thế thức thứ 6 là Khai đạo y(mở đường dẫn sinh)của cả 6 thức. Thức Mạt na thứ 7 và thức A lại da thứ 8 chỉ có năng lực tương tục chính mình, chứ không thể sinh các thứ khác. 2. Ngài An tuệ thì chủ trương: Thức thứ 6 lấy chính nó và thức thứ 7, thức thứ 8 làm khai đạo y, thức thứ 7 lấy chính nó và thức thứ 6 làm khai đạo y, thức thứ 8 lấy chính nó và thức thứ 6, thứ 7 làm khai đạo y. Ý kiến của 2 vị Luận sư trên tuy có khác nhau, nhưng đều đồng ý rằng các tâm vương khác loại có thể làm khai đạo y cho nhau. 3. Ngài Hộ pháp thì cho rằng 8 thức tâm vương đều tự giới hạn trong mỗi thức, cho nên tâm vương này không thể làm khai đạo y cho tâm vương khác. Kiến giải này của ngài Hộ pháp trái với quan điểm của 2 vị Luận sư trên. [X. luận Thành duy thức Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4 phần cuối].

khai đề

5314<一>解釋經論之題而說明該經之綱要者,稱爲開題。如大日經開題、金剛經開題等。與玄談、玄義之義相同。又重新書寫經文而加以供養講讚,稱爲開題供養。 <二>翻開經文。(參閱「開經」5310) ; (開題) I. Khai Đề. Đồng nghĩa: Huyền đàm, Huyền nghĩa. Giải thích tựa đề và nói rõ về những điểm cốt yếu của kinh luận, như Đại nhật kinh khai đề, Kim cương kinh khai đề, v.v... Ngoài ra, chép lại văn kinh và thêm phần tán thán cúng dường, gọi là Khai đề cúng dường. II. Khai Đề. Mở quyển kinh để tụng đọc. (xt. Khai Kinh).

Khai, thị, ngộ, nhập

開示悟入|tức là mở mắt (khai), hướng dẫn cho thấy (thị), thấy rồi thầm hiểu (ngộ) ý chỉ, ngộ rồi thì bước vào (nhập) Thánh đạo.

kham

To bear, sustain, be adequate to.

kham bố

4924原為西藏佛教中主持授戒者之稱號,其後舉凡深通經典之喇嘛,而為寺院或扎倉(藏僧學習經典之學校)之主持者,皆稱堪布。又為西藏地方政府僧官系統之職稱,如達賴、班禪之高級侍從,亦稱堪布,「基巧堪布」即管理布達拉宮宮廷事務之僧官。據清會典事例載,西陵永福寺設達喇嘛一人、德木齊格斯貴各一人、教習三人、班第二十人。又由駐京喇嘛派往伊犁之掌教堪布一人,派往四川懋功之廣法寺堪布一人,其熱河堪布達喇嘛二人、達喇嘛四人、副達喇嘛十一人、閒散喇嘛八人,盛京達喇嘛八人,錫哷圖庫倫札薩克達喇嘛一人,札薩克達喇嘛四人,西安廣仁寺達喇嘛一人,五臺山札薩克喇嘛一人、達喇嘛一人,歸化城札薩克達喇嘛一人,副札薩克達喇嘛一人、札薩克喇嘛六人,多倫諾爾札薩克達喇嘛一人、達喇嘛二人、副達喇嘛二人;額缺升轉,皆照駐京喇嘛之例。駐京呼圖克圖曾加國師禪師封號者,有左翼頭班章嘉呼圖克圖、二班敏珠爾呼圖克圖、右翼頭班噶勒丹錫哷圖呼圖克圖、二班濟隆呼圖克圖等,皆列於雍和宮總堪布避暑山莊普寧寺總堪布之上。 ; (堪布) Nguyên là tên gọi của người chủ trì việc truyền giới trong Phật giáo Tây tạng, nhưng về sau những vị Lạt ma tinh thông kinh điển, trụ trì các tự viện hoặc làm Hiệu trưởng các trường Phật học, thì đều được gọi là Kham bố. Từ ngữ này còn là tên một chức vụ thuộc hệ thống Tăng quan trong chính phủ địa phương tại Tây tạng, như vị hầu cận cao cấp của đức Ban thiền Lạt ma. Còn vị tăng quan trông coi các việc trong cung Bố đạt lạp thì được gọi là Cơ xảo kham bố.

kham nhẫn

4925梵語 kṣama。堪耐忍受身心之壓迫痛苦之意。南本大般涅槃經卷二十六(大一二‧七七九下):「不惜身命,堪忍眾難。」即表此意。又梵語 sahā(音譯娑婆),意譯為堪忍;堪忍世界即指娑婆世界。此因娑婆世界之眾生,忍受貪、瞋、癡三毒及諸苦惱,且諸菩薩為教化眾生而忍受勞倦,故稱堪忍世界。〔大方便佛報恩經卷五、南本大般涅槃經卷十一、悲華經卷五、法華經卷七妙音菩薩品、法華文句卷二下、法華經玄贊卷二、翻譯名義集卷七〕 ; Xem Ta bà. ; Sahà (S). To bear patiently endure. ; (堪忍) Phạm: Kwama. Nhẫn nại chịu đựng sự bức bách đau đớn của thân và tâm. Kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 26 (Đại 12, 779 hạ) nói: Không tiếc thân mệnh, kham nhẫn các nạn. Lại nữa, tiếng Phạm: Sahà(dịch âm: Sa bà), cũng được dịch là kham nhẫn. Thế giới Kham nhẫn là chỉ cho thế giới Sa bà, vì chúng sinh trong thế giới Sa bà nhẫn chịu 3 độc tham, sân, si và các nỗi khổ não, rồi các Bồ tát vì giáo hóa chúng sinh mà cũng nhẫn chịu mệt nhọc, cho nên gọi là thế giới Kham nhẫn. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.5; phẩm Diệu âm bồ tát kinh Pháp hoa Q.7; kinh Đại bát niết bàn Q.11 (bản Nam); kinh Bi hoa Q.5; Pháp hoa văn cú Q.2 hạ; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].

kham nhẫn thế giới

The Sahà world of endurance of suffering; any world of transmigration.

Kham nhẫn địa

địa vị ban sơ trong mười địa vị (Thập địa) của hàng Bồ Tát, cũng gọi là Hoan hỷ địa.

kham nhẫn địa

4925即菩薩十地中之初地,此為天台宗之說。為歡喜地之別名。據南本大般涅槃經卷十一聖行品載,修行者已得四念處,則住於堪忍地中,能堪忍貪欲、恚、癡,亦能堪忍寒熱、饑渴、蚊虻、蚤蝨、暴風、惡觸、種種疾病,及撾打楚撻等一切身心苦惱;以其一切皆能忍,故稱為堪忍地。〔涅槃經會疏卷十一、法華玄義卷四上〕 ; Endurance world. ; The stage of endurance, the first of the ten Bodhisattva stages. ; (堪忍地) Cũng gọi: Hoan hỉ địa. Địa đầu tiên trong 10 địa Bồ tát, theo thuyết của tông Thiên thai. Cứ theo phẩm Thánh hạnh trong kinh Niết bàn quyển 11 (bản Nam) thì người đã chứng được Tứ niệm xứ, ở trong Kham nhẫn địa, có thể chịu đựng được tham dục, sân hận, si mê, lạnh nóng, đói khát, muỗi mòng, rận rệp, giông bão, sự va chạm xấu ác, các chứng bệnh tật, sự hành hạ đánh đập và tất cả khổ não của thân tâm, vì chịu đựng được hết thảy nên gọi là Kham nhẫn địa. [X. Niết bàn kinh hội sớ Q.11; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4 thượng].

kham nhập bất không giáo

4924為天台宗所判化法四教中之第二教,即指通教。通教所談之理為幻有即空,未顯發不空(中道之理)之義。然通教有當通、前通、後通等三義。就其中後通之義,又稱為「被接」,意謂通教所對機根中之利根者,能斷見惑,去通教之行位,而入於其後之別教或圓教中。即以其能接續於後教,故稱被接。能接之後教為中道教,稱為不空;通教則由於被接而堪能通入不空之中道教,故稱堪入不空教。 ; (堪入不空教) Chỉ cho Thông giáo, tức giáo thứ 2 trong 4 giáo hóa pháp theo phán thích của tông Thiên thai. Lí của Thông giáo là Huyễn hữu tức không(có giả tức là không), chưa hiển phát được lí Bất không (Trung đạo). Nhưng thông giáo có 3 nghĩa: Đương thông, tiền thông và hậu thông. Hậu thông cũng gọi là Bị tiếp, nghĩa là người lợi căn trong Thông giáo có khả năng đoạn trừ Kiến hoặc, bỏ qua hành vị Thông giáo mà nhập ngay vào Biệt giáo hay Viên giáo. Hành giả Thông giáo có thể tiếp tục tiến đến các giáo sau, cho nên gọi là Bị tiếp. Các giáo sau là Trung đạo giáo, được gọi là Bất không. Thông giáo thì từ Bị tiếp mà có thể Kham nhập vào Trung đạo giáo Bất không, cho nên gọi là Kham nhập bất không giáo.

Kham năng

堪能; C: kānnéng; J: kannō; |Kĩ năng, tinh thông, tính linh hoạt, khả năng thích nghi (s: karmanya); thường dùng với từ gần đồng nghĩa Điều nhu (調柔). Khó đạt được loại khả năng nầy khi bị trói buộc bởi những phiền não thô trọng (麁重).

Kham năng 堪能

[ja] カンノウ kannō ||| Skill, mastery, flexibility, adaptability. (karmanya); often seen used together with its near-synonym diaorou 調柔. One is unable to experience this kind of flexibility when bound by the dense afflictions 麁重. 〔瑜伽論T 1579.30.657a〕 => Kỹ năng, tinh thông, tính linh hoặt, khả năng thích nghi (s: karmanya); thường dùng với từ gần đồng nghĩa Điều nhu ( 調柔c: diaorou). Khó đạt được loại khả năng nầy khi bị trói buộc bởi những phiền não thô trọng.

khan

Xem San. ; Xem kiên

khan tham

Xem San tham.

khang cư quốc

4536西域之古國。係土耳其系遊牧民族建立之王國。自錫爾河下游至吉爾吉斯(Kirgiz)平原,為其疆域中心地帶。據前漢書西域傳第六十六上載,康居有五小王分別治理蘇䪥城(史國)、附墨城(居霜儞迦國)、窳匿城(石國)、罽城(安國)、奧鞬城(貨利習彌國)。由此可知,至漢代時,康居領域已擴張至南方粟特(Sogdiana)、塔什罕(Tashkend)、火尋(Khiva,即花剌子模)。又魏書西域列傳第九十等所載康國、舌國,皆為康居國之後,故康居國於南北朝時代可能已滅亡。此國亦為我國早期佛教發源地之一。據出三藏記集卷二、梁高僧傳卷一載,東漢以後,康僧會、康巨、康孟詳、康僧鎧等僧侶先後至我國從事佛經之翻譯。上記二書皆以諸僧為康居人或其祖先為康居人。然上述諸僧或非游牧民族之康居國人,而為屬於南方粟特族之康國人,亦即撒馬爾干(Samarkand)地方之康國;蓋因當時西域人每以國名為姓,故康居國與康國易產生混淆現象。〔史記大宛列傳第六十三、唐書西域列傳第一四六、大唐西域記、西域之佛教第三章第二節(羽溪了諦)〕 ; (康居國) Tên một nước xưa ở Tây vực, do dân tộc du mục Thổ nhĩ kì kiến lập, chạy dài từ hạ lưu sông Tích nhĩ đến đồng bằng Kirgif. Cứ theo Tiền Hán thư Tây vực truyện 66, thượng, thì nước Khang cư có 5 vị tiểu vương chia nhau cai trị 5 thành là: Thành Tô giới,(nước Sử) thành Phụ mặc(nước Cư sương nễ ca), thành Dũ nặc(nước Thạch), thành Kế(nước An)và thành Áo kiện(nước Hóa lợi tập di). Căn cứ vào đó ta có thể biết được là đến đời Hán lãnh thổ nước Khang cư đã mở rộng đến vùng Túc đặc(Sogdiana), Tháp thập hãn (Tashkend) và Hỏa tầm (Khiva) ở phía nam. Lại cứ theo Ngụy thư tây vực liệt truyện 90, thì nước Khang, nước Thiệt đều có sau nước Khang cư, cho nên, vào thời Nam Bắc triều, nước Khang cư có thể đã bị diệt vong. Khang cư cũng là 1 trong những nơi phát xuất sớm nhất của Phật giáo Trung quốc. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 2 và Lương cao tăng truyện quyển 1, thì từ đời Đông Hán về sau, các vị danh tăng như: Khang tăng hội, Khang cự, Khang mạnh tường, Khang tăng khải, v.v... đã lần lượt đến Trung quốc phiên dịch kinh Phật đều là người Khang cư hoặc tổ tiên các ngài là người Khang cư. Tuy nhiên, có thể những vị danh tăng kể trên không phải là người nước Khang cư của dân tộc du mục mà là người nước Khang thuộc chủng tộc Túc đặc (Sogdiana) ở phía nam, cũng tức là nước Khang ở vùng Tán mã nhĩ can (Samarkand). Bởi vì thời bấy giờ người Tây vực thường dùng tên nước mình làm họ, cho nên dễ lẫn lộn giữa nước Khang cư và nước Khang. [X. Sử kí đại uyển liệt truyện 63; Đường thư tây vực liệt truyện 146; Đại đường tây vực kí; tiết 2 chương 3 trong Tây vực chi Phật giáo (Vũ khê Liễu đế)].

Khang Hy Tự Điển

(康熙字典, Kōkijiten): gồm 42 quyển. Thể theo sắc mệnh của vua Thánh Tổ (聖祖) nhà Thanh, nhóm Trương Ngọc Thư (張玉書), Trần Đình Kính (陳廷警) biên tập nên bộ này, trải qua 5 năm và đến năm 1716 (Khang Hy [康熙] thứ 55) thì hoàn thành. Số lượng chữ thâu tập trong bộ này bao gồm cả Cổ Văn là hơn 49.000. Từ đó về sau, nó trở thành tiêu chuẩn cho các bộ từ điển khác.

Khang Hữu Vi

(康有爲, Kō Yūi, 1858-1927): học giả, chính trị gia sống vào cuối thời nhà Thanh, tự là Quảng Hạ (廣夏), hiệu Trường Tố (長素), xuất thân Huyện Nam Hải (南海縣), Tỉnh Quảng Đông (廣東省). Ông trợ giúp vua Quang Tự (光緒) thực hiện chính sách Biến Pháp Tự Cường (變法自强), nhưng thất bại; sau đó, ông chủ trương Chế Độ Quân Chủ Lập Hiến để đối lập với cuộc vận động cách mạng của Tôn Văn (孫文). Ông rất tinh thông về Công Dương Học (公羊學) và có viết một số tác phẩm như Đại Đồng Thư (大同書), Khổng Tử Cải Chế Khảo (孔子改制考), v.v.

khang hữu vi

4535(1858~1927)廣東南海人。原名祖詒,字廣夏、更生,號長素。氏精於孔學,對佛學之奧旨亦多體會,其著作中,每多佛學思想,尤以「大同書」一書,可說完全脫胎於佛教之十法界觀。 ; (康有爲) (1858-1927) Học giả Trung quốc, người huyện Nam hải, tỉnh Quảng đông, vốn tên là Tổ di, tự Quảng hạ, Cánh sinh, hiệu Trường tố. Ông tinh thông Khổng học, mà đối với áo chỉ của Phật học ông cũng hiểu được một cách sâu sắc. Trong các trứ tác của ông thường bao hàm tư tưởng Phật học, nhất là tác phẩm Đại đồng thư có thể nói đã hoàn toàn thoát thai từ Thập pháp giới quán của Phật giáo.

khang khánh

4538日本七條佛師之第五代佛師,運慶之父。以彫造著名。與運慶及其弟子快慶,曾於東大寺造佛,活躍一時。作品有興福寺南圓堂之不空羂索觀音、四天王像等,其以傳統加上寫實之彫法,為鎌倉彫刻之先驅。〔東大寺續要錄造佛篇、元亨釋書卷二十六〕

khang lâm hãn

4536(Cummingham, Sir Alexander; 1814~1893)英國之工程師、考古學家。世稱印度考古學之父。從西元一八三四迄一八五四年,陸續挖掘出馬尼亞拉(Manikyala)、桑那斯(Sarnath)、比耳沙(Bhilsa)等處之印度遺蹟,並從事佛教史之研究。曾發表有關菩提伽耶大塔之論文。又調查喀什米爾之佛教建築,就阿爾雅系之建築式樣發表論文。又曾考證玄奘赴印度求法之路線。此外對北印度、中亞一帶之寶玉、印章、古錢等,皆有獨到之見解。一八七一年,受聘於印度考古調查局。著作有 Ancient Geography of India, 1871; The Stūpa of Bharhut, 1879; Coins of Ancient India, 1891; The Mahābodhi, 1892,及二十四篇考古學報告,為研究印度史學之重要資料。 ; (康林罕) Cunningham, Sir Alexander (1814-1893) Nhà Khảo cổ học người nước Anh, được đời tôn là cha đẻ của ngành khảo cổ học Ấn độ. Từ năm 1834 đến năm 1854, ông liên tiếp đào được những di tích của Ấn độ ở các khu vực Manikyala, Sarnath, Bhilsa, v.v... đồng thời bắt đầu nghiên cứu lịch sử Phật giáo. Ông viết nhiều bài nói về tòa Đại tháp ở Bồ đề già da (Buddha-Gayà) nơi đức Phật thành đạo, điều tra các kiến trúc Phật giáo ở Khách thập mễ nhĩ (Kashmir) và khảo chứng tuyến đường ngài Huyền trang đi Ấn độ cầu pháp. Ngoài ra, ông cũng còn tìm hiểu về các loại ngọc quí, ấn chương tiền cổ, v.v... của vùng Bắc Ấn và Trung á. Tác phẩm của ông gồm có: Ancient Geography of India, 1871; the Stùpa of Bharhut, 1879, Coins of Ancient India, 1891, TheMahàbodhi, 1892, Khảo cổ học báo cáo 24 thiên.

khang mạnh tường

4536東漢譯經家。其祖先為康居國人。以慧學稱名洛陽。獻帝興平元年至建安四年間(194~199),於洛陽譯舍利弗摩訶目犍連四衢經一卷、興起行經二卷、梵網經二卷、四諦經一卷,並與竺大力共譯修行本起經二卷,與曇果共譯中本起經二卷。生卒年不詳。〔出三藏記集卷二、卷十三、歷代三寶紀卷四、開元釋教錄卷一〕 ; (康孟詳) Nhà dịch kinh sống vào đời Đông Hán của Trung quốc. Tổ tiên của ngài là người nước Khang cư. Nhờ có trí tuệ học mà ngài nổi tiếng ở Lạc dương. Khoảng từ niên hiệu Hưng bình năm đầu đến năm Kiến an thứ 4 (194-199) đời vua Hiến đế, ngài dịch được các kinh: Xá lợi phất Ma ha mục kiền liên tứ cù 1 quyển, kinh Hưng khởi hành 2 quyển, kinh Phạm võng 2 quyển và kinh Tứ đế 1 quyển; đồng thời, dịch chung với ngài Trúc đại lực kinh Tu hành bản khởi 2 quyển và dịch chung với ngài Đàm quả kinh Trung bản khởi 2 quyển. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.13; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.1].

khang pháp lãng

4536晉代僧。中山(今河南省內,或作河北定縣)人。自幼出家,持戒精嚴。立誓前往印度瞻仰佛蹟、探覓遺經,邀集同學四人,自甘肅張掖出發,中途見一故寺,內有敗屋二間,屋中各有一人,一人誦經,一人患痢,屎尿縱橫。兩人雖比房而居,然各行其事,不相照料。師以悲愍之心,延留數日,悉心浣洗呵護。至第七日,見房中皆是香花,乃知神人化身。誦經和尚勸服四人勿須遠遊諸國,唯當自力行道,勿令失時。並預言法朗遊諸國,返後當作大法師。其後同行四人遂不復西行,師乃獨自往西邁行,遍遊諸國,研尋諸經後,復返中山開座傳法,闡揚法相之學,門人數百。後不知所終。其弟子呂韶思頗善禪數,每入定或數日不起;於師示寂後,刻木為像,朝夕禮拜。〔梁高僧傳卷四〕 ; (康法朗) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tấn, người Trung sơn (nay thuộc tỉnh Hà nam, có chỗ nói huyện Định, tỉnh Hà bắc). Sư xuất gia từ thủa nhỏ, giữ giới rất tinh nghiêm. Sư phát nguyện sang Ấn độ chiêm bái các Phật tích, tìm kiếm các kinh điển còn sót lại, rồi mời được 4 người đồng học cùng đi, bắt đầu từ huyện Trương dịch, tỉnh Cam túc. Giữa đường gặp ngôi chùa cũ, bên trong có 2 gian nhà đã hư nát, trong mỗi gian đều có 1 người, một người tụng kinh, một người bị bệnh kiết lị, phẩn giải bừa bãi. Hai người tuy ở sát phòng nhau nhưng việc ai nấy làm, chẳng hề quan tâm giúp đỡ lẫn nhau. Vì lòng từ bi thương xót, sư Pháp lãng lưu lại mấy ngày, hết lòng chăm lo, cọ rửa tắm giặt. Đến ngày thứ 7 bổng nghe bên trong phòng ngào ngạt mùi thơm, sư mới biết đó là thần nhân hóa hiện. Vị Hòa thượng tụng kinh khuyên 4 người không cần đi các nước xa xôi mà chỉ nên tự lực hànhđạo, chớ phí phạm thì giờ. Còn đối với sư Pháp lãng thì vị Hòa thượng đoán trước rằng sau khi đi các nước trở về sẽ trở thành vị Đại pháp sư. Sau đó, 4 người đồng hành quay trở lại, còn một mình sư tiếp tục cuộc hành trình, đi qua nhiều nước. Sau khi nghiên cứu tìm kiếm các kinh, sư lại trở về Trung sơn mở đàn truyền pháp, xiển dương giáo lí Pháp tướng, có hàng trăm người theo học. Sau khi sư thị tịch, vị đệ tử của sư là Lữ thiều tư khắc tượng sư bằng gỗ để thờ. [X. Lương cao tăng truyện Q.4].

khang tháp cơ phạt na

4537梵名 Kaṇṭhakīvana,巴利名 Kaṇṭakī-vana。為佛陀時代六大都市中之娑祇多市(巴 Sāketa)之林園。又稱提康達基伐那(巴 Tikaṇḍaki-vana)。據相應部經典四十七載,舍利弗(巴 Sāriputta)、目犍連(巴 Mogalāna)、阿那律(巴 Anuruddha)三人同住該一林園。舍利弗嘗與目犍連往訪阿那律,並問及關於有學、無學,求達上智之道,阿那律答以依四念處可至等語。此外,依增支部經典五‧一四四載,釋尊住於此林時,曾教導諸比丘,於好相起厭想,於厭相起好想等之五想。 ; (康塔基伐那) Phạm: Kaịỉhakìvana. Pàli: Kaịỉakì-vana. Cũng gọi: Đề khang phạt cơ đạt na (Pàli: Tikaịđaki-vana) Vườn cây ở thành phố Sa kì đa (Pàli: Sàketa) tại Ấn độ. Một trong 6 đô thị lớn ở thời đại đức Phật. Cứ theo Tương ứng bộ kinh 47, thì các ngài Xá lợi phất, Mục kiền liên và A na luật cùng trụ ở khu vườn này. Một hôm, ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên đến thăm ngài A na luật và hỏi về phương pháp mà bậc Hữu học, Vô học cầu đạt tới thượng trí, ngài A na luật bảo nương vào pháp Tứ niệm xứ thì có thể đạt tới. Ngoài ra, theo Tăng chi bộ kinh V. 144, thì đức Thích tôn từng dạy Ngũ tưởng quán cho các tỉ khưu ở vườn cây này.

khang thôn

4535為西藏佛教格魯派寺院中隸屬於扎倉下之一級組織,依僧人籍貫、地域而為劃分,組成僧團。如哲蚌寺中青海僧人入堪東康村,昌都僧人則入買巴康村。康村之主事者為吉根(即長老),設執事二人,即康村格幹、康村翁則。前者係康村之老師,凡屬該康村之僧徒,戒律與學問,統歸其監督指導;後者乃於康村中之大眾會合誦經時之引導者。其下復有歐涅、拉岡、卡太格根等基層執事人員。有屬於康村自己之財產。

Khang Tăng Hội

康僧會; ~ tk. 3|Cao tăng Việt Nam. Sư sinh tại Giao Chỉ, cha mẹ mất lúc lên mười, thông giỏi chữ Pā-li và chữ Hán, là người sáng tác các tác phẩm Phật giáo đầu tiên của Việt Nam như Lục độ yếu mục, Nê-hoàn phạm bối, chú giải sách An-ban thủ ý. Sư được xem là người khởi nguyên Thiền tông Việt Nam. Cuối đời, Sư đi Nam Kinh (Trung Quốc) và mất tại đây năm 280.

khang tăng hội

4537(?~280)三國時代譯經僧。交趾(越南北部)人,其先世出自康居國(今新疆北部)。世居印度,至其父因經商始移居交趾。十餘歲即喪雙親,服喪畢而出家。精通經律論三藏,後師事南陽韓林、潁川皮業、會稽陳慧等學僧,習漢譯佛典。三國吳赤烏十年(247)至建業,設像行道,終日燒香禮拜、誦經、坐禪,並至市托鉢,其矯異之行深惑市人,遂訴於吳主孫權,孫權召而詰之,後應孫權之請,於三七日內感得舍利,孫權感其威神,遂皈依之,並為之建立建初寺,傳道譯經,其地稱佛陀里,建業地方佛教因此得興,此為佛教傳入我國南方之嚆矢。梵唄(以一種印度旋律歌誦經典)亦經其傳入。晉太康元年示寂,世壽不詳。號為超化禪師。主要譯經有吳品經五卷、雜譬喻經二卷、六度集經九卷(今存八卷),並注解安般守意、法鏡、道樹等經。〔梁高僧傳卷一、出三藏記集卷十「十法句義經序」、元金陵新志〕 ; (康僧會) (?- 280) Vị cao tăng dịch kinh ở thời đại Tam quốc, người Giao chỉ (miền Bắc Việt nam), tổ tiên của sư gốc người nước Khang cư (nay là miền Bắc Tân cương), nhưng đời đờisống ở Ấn độ; đến đời thân phụ của sư vì theo nghề buôn bán nên mới dời đến ở Giao chỉ. Năm sư hơn 10 tuổi, cha mẹ đều mất, cư tang xong, sư xuất gia, tu hành tinh tiến, học thông kinh, luật, luận. Sau sư theo các ngài Hàn lâm ở Nam dương, Bí nghiệp ở Dĩnh xuyên và Trần tuệ ở Cối kê, luyện tập phiên dịch kinh Phật ra chữ Hán. Năm Xích ô thứ 10 (247) thời Ngô (Tam quốc), sư đến Kiến nghiệp, lập đạo tràng thờ tượng Phật, trọn ngày đốt hương lễ bái, tụng kinh, ngồi thiền và vào phố khất thực. Việc làm của sư khiến mọi người trong phố ngờ vực, bèn báo với Ngô tôn quyền, Tôn quyền cho triệu sư vào để hỏi. Nhưng sau khi nghe sư nói pháp và nhìn hình tướng uy thần của sư, Ngô tôn quyền vô cùng cảm mến, bèn xin qui y sư rồi cho xây chùa Kiến sơ để cúng dường sư làm nơi truyền đạo và dịch kinh. Phật giáo ở miền Nam Trung quốc nhờ đó mà bắt đầu hưng thịnh. Niên hiệu Thái khang năm đầu (280) sư thị tịch, thụy hiệu là Siêu Hóa Thiền Sư. Dịch phẩm: Ngô phẩm 5 quyển, kinh Tạp thí dụ 2 quyển, kinh Lục độ tập 9 quyển (nay còn 8 quyển) và Chú giải các kinh An ban thủ ý, Pháp kính, Đạo thụ, v.v... [X. Lương cao tăng truyện Q.1; bài Tựa kinh Thập pháp cú nghĩa trong Xuất tam tạng kí tập Q.10; Nguyên Kim lăng tân chí].

khang tăng khải

4538梵名 Saṃghavarman。音譯僧伽跋摩。三國時代譯經僧。相傳為印度人。然從其所冠之康姓,可推測或與中亞康居國有關。曹魏嘉平四年(252)至洛陽,於白馬寺譯出郁伽長者經二卷、無量壽經二卷、四分雜羯磨一卷等。昔來以無量壽經為康僧鎧所譯,然無量壽經之譯語與郁伽長者經頗不一致,故學者之間尚有異說。又卍續藏經中收有無量壽佛名號利益大事因緣經一卷,署名為曹魏康僧鎧譯,此亦有疑。〔梁高僧傳卷一曇柯迦羅傳、歷代三寶紀卷五、開元釋教錄卷一〕 ; (康僧鎧) Phạm: Saôghavarman. Dịch âm: Tăng già bạt ma. Vị tăng dịch kinh sống vào thời đại Tam quốc, tương truyền sư là người Ấn độ, nhưng căn cứ vào họ Khang ở trước tên ta có thể suy đoán nguồn gốc của sư có quan hệ nước Khang cư ở vùng Trung á. Vào năm Gia bình thứ 4 (252) đời Tào Ngụy, sư đến Lạc dương, trụ ở chùa Bạch mã, phiên dịch các kinh: Úc già trưởng giả 2 quyển, kinh Vô lượng thọ 2 quyển, Tứ phần tập yết ma 1 quyển, v.v... Nhưng lời dịch trong kinh Vô lượng thọ đối chiếu với văn dịch của kinh Úc già trưởng già không giống nhau, cho nên giữa các học giả cũng có người ngờ là kinh Vô lượng thọ không phải do sư dịch. Ngoài ra, trong Tục tạng kinh chữ Vạn (..) có thu kinh Vô lượng thọ Phật danh hiệu lợi ích đại nhân duyên 1 quyển, đề là Khang tăng khải đời Tào Ngụy dịch, điều này cũng khả nghi. [X. truyện Đàm kha ca la Lương cao tăng truyện Q.1; Lịch đại Tam bảo kỉ quyển 5; Khai nguyên thích giáo lục Q.1].

khang tăng uyên

4537東晉豫章山寺之僧。其祖先為西域人。生於長安,容止端正,志業弘深,深達空理,常誦放光、道行二般若經。東晉成帝時,與康法暢、支敏度等渡江遊化,然以清約自處,人多不識。後因殷浩問佛經深遠之理,師乃答以世書所談之性情之義,名聲始揚。又以其鼻高眼深,曾受瑯琊王茂所戲,師答以(大五○‧三四七上):「鼻者面之山,眼者面之淵,山不高則不靈,淵不深則不清。」時人遂譽之為機智名答。後於豫章山建寺,地甚幽美,以常讀梵經,遍考義理,特加講說,學徒來集者眾。後示寂於此寺。〔梁高僧傳卷四〕 ; (康僧淵) Danh tăng sống vào đời Đông Tấn, tổ tiên của sư là người Tây vực, sư sinh ra ở Trường an, Trung quốc. Sư có tướng mạo khôi ngô, đoan chính, chí nghiệp cao xa, hiểu sâu lí không, thường tụng kinh Phóng quang bát nhã và Đạo hành bát nhã. Thời vua Thành đế nhà Đông Tấn, sư cùng với các vị Khang pháp sướng, Chi mẫn độ, thường đi du hóa, nhưng vì sống thanh đạm nên ít người biết đến. Sau, nhân dịp ông Ân hạo hỏi về lí sâu xa trong kinh Phật, sư bèn dùng nghĩa tính tình trong sách ở ngoài đời để giải đáp, từ đó sư mới nổi tiếng. Lại do sư có mũi cao, mắt sâu, thường bị Vương mậu ở Lang gia đùa cợt, sư nói (Đại 50, 347 thượng): Mũi là núi của mặt, mắt là vực của mặt, núi không cao thì chẳng thiêng, vực không sâu thì chẳng trong, với câu nói này, người đương thời khen sư là cơ trí. Về sau, sư cất chùa trên núi Dự chương, phong cảnh rất yên tĩnh, đẹp đẽ, thường đọc kinh tiếng Phạm, thấu suốt nghĩa lí và giảng thuyết rõ ràng, nên học chúng tụ tập về rất đông. Sau, sư tịch ở chùa này. [X. Lương cao tăng truyện Q.4].

khang đạt khang đạt

Kunda-Kunda (S)Một trong những vị Luận sư của Kỳ Na giáo.

Khanh thương 鏗鏘

[ja] コウソウ kōsō ||| The tinkling of jade or metal pendants, often heard in Buddhist temples. A clear, resonant sound. => Tiếng kêu leng keng của cải bảng treo bằng đá quý hay kim loại, thường nghe trong các chùa Phật giáo. Là âm thanh rất trong và vang xa.

khao giá đả toả

5816請參閱 唯識二十論禪林用語。譬喻打破斷滅頑空之枷鎖,從煩惱執著之繫縛中解脫而出。續傳燈錄卷三十四密菴咸傑 飽]大五一‧七○四中):「將來敲枷打鎖則不無。」意即敲打枷鎖,使之解脫。〔五燈會元卷二十、五家正宗贊卷二、續古尊宿語要卷四、續指月錄卷二〕

khao xướng

5816爲禪門曹洞宗之家風。敲,指學人叩師家之門以問道;唱,指師家回答以接引之。學人、師家之間親密無隙,即稱敲唱俱行,係洞山良价三種綱要之一。宗門十規論(卍續一一○‧四四○上):「曹洞則敲唱爲用,臨濟則互換爲機,韶陽則函蓋截流,溈仰則方圓默契,如谷應韻,似關合符。」〔碧巖錄第四十二則〕(參閱「洞山三種綱要」3868)

khemabhirata

Khemabhirata (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.

khen tặng

Siloka (S).

khi la thị ca

Xem ba la di.

khinh an

5939梵語 prasrabdhi,巴利語 passaddhi。心所之名。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。即身心輕利安適,對所緣之境優游自適之精神作用。爲「惛沈」之對稱。俱舍宗列爲大善地法之一,唯識宗列爲善心所之一。此精神作用,主要在禪定中升起,使修習能持續進行。 據說一切有部之說,輕安有身輕安、心輕安二種,心堪忍之性與五識相應者,稱爲身輕安;與意識相應者,稱爲心輕安。說一切有部並認爲身輕安僅在有漏散位之中,心輕安則通於有漏與無漏、定位與散位。然依經部之說,身輕安乃輕安之風觸,而輕安之心所與前五識不相應;心輕安則爲思心所之差別,僅限於定位中。據成唯識論述記卷六末所載,輕安分爲有漏輕安、無漏輕安二種,有漏輕安遠離煩惱之粗重,無漏輕安遠離有漏之粗重,共使身心通暢溫和,隨所緣之境安適以轉,共在定位。〔大毘婆沙論卷四十二、俱舍論卷四、成唯識論卷六、品類足論卷三、俱舍論光記卷四〕 ; Passaddhi (P), Praśrabdhi (S), Tatra-majjhattata (S), Calmness 1- Yên tĩnh nơi mình. Tác dụng làm cho thân tâm nhẹ nhàng, an ổn. 2- Một trong thất bồ đề phần: ý, phân biệt, tinh tấn, khả, y, định, hộ. ; Prasrabhdi (S). Tranquility, calmness, serenity. ; (輕安) Phạm: Prasrabdhi. Pàli: Passaddhi. Đối lại: Hôn trầm. Tên tâm sở, là tâm thái nhẹ nhàng, an ổn trước cảnh sở duyên, 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Tông Câu xá cho Khinh an là 1 trong các Đại thiện địa pháp, còn tông Duy thức thì coi nó là 1 trong những tâm sở thiện. Khinh an thường khởi lên trong Thiền định, giúp sự tu tập được tiến hành liên tục. Theo Thuyết nhất thiết hữu bộ, thì Khinh an có 2 loại: Thân khinh an và Tâm khinh an. Thân khinh an là tính kham nhẫn của tâm tương ứng với 5 thức trước, Tâm khinh an là tính kham nhẫn của tâm tương ứng với thức thứ 6. Thuyết nhất thiết hữu bộ còn cho rằng Thân khinh an chỉ có trong hữu lậu và tán vị, còn Tâm khinh an thì có cả trong hữu lậu và vô lậu, tán vị và định vị. Nhưng theo Kinh bộ thì Thân khinh an là sự xúc chạm nhẹ nhàng, mà tâm sở khinh an không tương ứng với 5 thức trước; còn Tâm khinh an là sự sai biệt của tâm sở Tư, chỉ có trong Định vị. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 6 phần cuối, thì Khinh an chia làm 2 loại: Hữu lậu khinh an và Vô lậu khinh an. Trong 2 loại Khinh an này, tâm thái đều nhẹ nhàng, thoải mái, đều ở trong định vị. [X. luận Đại tì bà sa Q.42; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.6; luận Phẩm loại túc Q.3; Câu xá luận quang kí Q.4].

khinh an giác chi

Praśrabdhi-saṁbodhyaṅga (S), Praśrabdhiyaṅga (S), Limb of calmness Một trong Thất giác chi.

khinh cấu tội

5939爲重罪(波羅夷罪)之對稱。其罪雖輕,然污黷清淨之行,故稱輕垢罪。梵網經菩薩戒本疏卷四輕垢罪篇(大四○‧六三四中):「輕垢者,簡前重戒,是以名輕,簡異無犯,故亦名垢。又釋,黷污清淨行名垢,體非重過稱輕。」梵網經卷下列有四十八種輕垢罪。(參閱「四十八輕戒」1636) ; (輕垢罪) Đối lại: Trọng tội (tội Ba la di). Tội tuy nhẹ nhưng làm ô nhiễm hạnh thanh tịnh, nên gọi là Khinh cấu tội. Thiên Khinh cấu tội trong Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ quyển 4 (Đại 40, 634 trung), nói: Để phân biệt với các tội nặng nên gọi là Khinh; so với các tội nặng khác thì không phạm, nên gọi là Cấu; làm ô nhiễm hạnh thanh tịnh, gọi là Cấu; thể của nó không quá nặng, gọi là Khinh. (xt. Tứ Thập Bát Khinh Giới).

khinh mao

5938輕毛任隨風吹,忽東忽西,比喻心力劣弱而進退不定。十信位之菩薩,於佛道有進有退,故多以此喻之。釋摩訶衍論卷七(大三二‧六四九下):「十種信品立不定稱,所謂若值順當因緣,隨向善趣;若遇逆違因緣,應趣惡道。譬如輕毛,隨風所吹,東西轉故。」法華文句卷二上(大三四‧二一上):「六心已前輕毛菩薩,信根未立,其位猶退。」又因十信爲外凡之位,故稱信外輕毛。此外,十信以下之凡夫亦稱輕毛,同於毛道凡夫。〔仁王般若波羅蜜經卷下、觀經疏玄義分〕 ; (輕毛) Sợi lông nhẹ bay theo chiều gió thổi, lúc sang đông, lúc sang tây, dụ cho tâm lực của Bồ tát ở giai vị Thập tín còn yếu kém nên tiến thoái bất định. Luận Thích ma ha diễn quyển 7 (Đại 32, 649 hạ), nói: Phẩm vị Thập tín gọi là bất định, nghĩa là gặp duyên thuận thì hướng về đường thiện; trái lại, nếu gặp duyên nghịch thì sẽ đi vào nẻo ác, giống như sợi lông nhẹ, bị quấn theo chiều gió. Pháp hoa văn cú quyển 2 thượng (Đại 34, 21 thượng), nói: Bồ tát giai vị Thập tín, vì tín căn chưa vững chắc, nên còn thoái chuyển. Ngoài ra, vì Thập tín đã vượt qua giai đoạn phàm phu nên được gọi là Tín ngoại khinh mao, còn phàm phu dưới Thập tín thì gọi là Mao đạo phàm phu. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.hạ; Quán kinh sớ huyền nghĩa phần].

khinh trọng nhị nghiệp

5939據北本大般涅槃經卷三十一舉出,輕、重二業因人之智、愚差別,而有下列二種情形,即:(一)重業輕受,謂有智之人以智慧力修習梵行,則能使地獄重業於現世輕受。(二)輕業重受,謂愚癡之人以執著癡迷而增其業力,故使現世輕業於地獄重受。 ; (輕重二業) Hai nghiệp nhẹ và nặng. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 31 (bản Bắc), thì 2 nghiệp nhẹ và nặng là do người trí và ngu khác nhau, nên chịu quả báo cũng khác nhau, có 2 trường hợp như sau: 1. Trọng nghiệp khinh thụ(nghiệp nặng chịu báo nhẹ): Người trí dùng sức trí tuệ tu tập phạm hạnh thì có năng lực chuyển nghiệp nặng địa ngục thành quả báo nhẹ ở đời hiện tại. 2. Khinh nghiệp trọng thụ(nghiệp nhẹ chịu nặng): Người ngu vì si mê chấp trước mà tăng trưởng nghiệp lực khiến cho nghiệp ở đời hiện tại phải chịu quả báo nặng ở địa ngục trong đời sau.

khiêm ích

6520百濟律宗之鼻祖。於百濟聖王四年(526),為求律典,乃渡海轉至中印度常伽那大律寺,學梵文五載,洞曉竺語,深究律部,莊嚴戒體。後與梵僧倍達多三藏齎梵本阿曇藏五部之律文歸國,百濟王以羽葆皷吹迎於郊,安置於興輪寺,並召國內二十八位名僧,共譯律部七十二卷。後曇旭、惠仁二法師著律疏三十六卷獻予王,王乃作毘曇新律序,奉藏於台耀殿,將欲刻版廣佈,然未遑而逝。上記之阿曇藏疑與後世之毘曇同,或指阿毘曇藏,而與五部律文之關係則不明。又依印刷史而言,當時王欲刻版刊行阿曇藏之說,恐係訛誤。〔朝鮮佛教通史上編百濟聖王四年條〕 ; (謙益) Sơ tổ Luật tông ở nước Bách tế (Triều tiên) thời xưa. Năm Thánh vương thứ 4 (526), sư vượt biển đến chùa Đại luật ở Thường già na, Trung Ấn độ, học tiếng phạm 5 năm, nghiên cứu Luật điển để trang nghiêm giới thể. Sau, sư cùng với một vị tăng người Ấn độ là Tam tạng Bồi đạt đa mang 5 bộ Luật thuộc tạng A đàm bằng tiếng Phạm về nước, vua Bách tế với lễ nghi trọng thể ra ngoài thành tiếp rước những bộ Luật này về chùa Hưng luân, sau đó, vua triệu thỉnh 28 vị danh tăng trong nước cùng dịch Luật bộ 72 quyển. Về sau, các ngài Đàm húc và Huệ nhân soạn bộ Luật sớ gồm 36 quyển dâng lên vua, vua bèn viết bài tựa cho bộ sớ này, rồi cất giữ trong điện Thai diệu. Tạng A đàm nói trên có lẽ là Tì đàm ở đời sau? Hoặc chỉ cho tạng A tì đàm? Còn sự quan hệ giữa 5 bộ Luật với tạng A đàm cũng không rõ. [X. điều Bách tế Thánh vương tứ niên trong Triều tiên Phật giáo thông sử thượng biên].

khiên duy

6291請參閱 密行忍禪師語錄 [1]指馬鳴菩薩降伏鬼辯婆羅門之事。據大唐西域記卷八載,摩揭陀國波吒釐子城有一婆羅門,事鬼以求福,辯談亦借鬼力,故每不與人對面論談,唯垂帷酬對。馬鳴菩薩往見對論,致使婆羅門在帷中默然緘口,師乃疾褰其帷而屈之。 ; (褰帷) Chỉ cho việc bồ tát Mã minh vén màn hàng phục Bà la môn Quỉ biện. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8, thì trong thành Ba tra li tử ở nước Ma kiệt đà, có một Bà la môn thờ quỉ để cầu phúc, biện luận cũng nhờ sức quỉ, cho nên khi luận đàm thường che màn để đối đáp với người. Khi ngài Mã minh đến tranh luận, Bà la môn này ở phía sau màn cứ im lặng, ngài liền vén màn(khiên duy) hàng phục ông ta.

Khiên dẫn nhân 牽引因

[ja] ケンインイン ken'in'in ||| Inducing causes; one of the ten kinds of causes 十因 described in the Yogācārabhūmi-śāstra. Refers to the fact that good and evil actions result in the inducement of related causes in the experiential world.〔瑜伽論T 1579.30.501b〕 => Nguyên nhân gây ra; một trong 10 nhân mô tả trong Du-già sư địa luận. Đề cập đến kết quả của những hành vi thiện ác trong sự đưa đến những nguyên nhân liên quan trong thế giới thường nghiệm.

Khiên dẫn 牽引

[ja] ケンイン kenin ||| To pull, draw. In Buddhist texts usually refers to the action of causes bringing about their karmic fruits.(karṣaṇa) 〔瑜伽論T 1579.30.501b〕 => Lôi kéo, dẫn dắt. Trong kinh Phật, từ nầy thường có nghĩa là nghiệp nhân dẫn đến nghiệp qủa (s: karṣaṇa).

Khiên sinh 牽生

[ja] ケンショウ kenshō ||| Subtly produced (karma) or umanifestly produced karma. The Juedingcang lun 決定藏論 says: "何者牽生。内入業増不動外物而能得生。譬如世器。宿業牽故内入得生。" (T 1584.30.1033b10) . Also synonymous with 引業. => Những nghiệp vi tế hay vô biểu nghiệp, Quyết định tạng luận (決定藏論c: Juedingcang lun) nói: “Hà giả khiên sinh, nội nhập nghiệp tăng bất động ngoại vật nhi năng đắc sinh, thí như thế khí, túc nghiệp khiên cố nội nhập đắc sinh何者牽生。内入業増不動外物而能得生。譬如世器。宿業牽故内入得生”. Đồng nghĩa với Dẫn nghiệp 引業.

Khiên 牽

[ja] ケン ken ||| To pull, lead, draw, bring about, induce. Synonymous with 引. In Buddhist texts usually refers to the action of causes bringing about their karmic fruits. => Lôi kéo, dẫn đến, lôi cuốn, đưa đến, gây ra. Đồng nghĩa với dẫn 引. Trong kinh Phật, từ nầy thường có nghĩa là nghiệp nhân dẫn đến nghiệp quả.

khiêu thần tiết

5612西藏佛教宗教節日。每年藏曆十二月二十九日於拉薩布達拉宮及木鹿寺,分別舉行跳神驅鬼活動。於布達拉宮舉行者稱爲「宮內跳神」;木鹿寺舉行者稱「木鹿跳神」。屆時,由喇嘛扮成神佛鬼怪,繞行大昭寺,鳴槍吶喊驅祟,以示除舊歲、迎新年。 ; (跳神節) Lễ hội của Phật giáo Tây tạng, được cử hành hàng năm vào ngày 29 tháng 12 theo lịch Tây tạng ở cung Bố đạt lạp và chùa Mộc lộc tại Lạp tát (Lhasa), gọi là Cung nội khiêu thần và Mộc lộc khiêu thần. Đến giờ làm lễ, các vị Lạt ma hóa trang thành Thần linh, quỉ quái, đi nhiễu quanh chùa Đại chiêu, khua vang các thứ vũ khí hò hét inh ỏi, xua đuổi ma quỉ để tượng trưng cho việc tiễn đưa năm cũ, đón rước năm mới.

Khiếm

欠; C: qiàn; J: ketsu;|1. Không hoàn toàn; thiếu, vắng. Thất lạc; 2. Vết thương hay thương tích; 3. Ngáp, cử chỉ ngáp (s: vijrmbhita). Thường viết 缺.

Khiếm 欠

[ja] ケツ ketsu ||| (1) To be deficient; lack; absent. To lose. (2) A wound or injury. (3) To yawn; a yawn (vijrmbhita). Formerly written as 缺 (121-4). [Dictionary => 1. Không hoàn toàn; thiếu, vắng. Thất lạc. 2. Vết thương hay thương tích. 3. Ngáp, cử chỉ ngáp (s: vijrmbhita). Thường viết 缺.

Khiếp liệt 怯劣

[ja] コウレツ kōretsu ||| To flinch, waver, wince. To be frightened, be intimidated. (adina-manas, lina) => Ngần ngại, nao núng, ngượng ngùng. Khiếp sợ, bị hăm doạ (s: adina-manas, lina). [ja] ニン、イン nin, in ||| In this way; like this.

Khiết

潔; C: jié; J: ketsu;|1. Thanh tịnh, trong sạch, tinh khiết; 2. Đạo đức chính trực, uy nghi.

khiết bàn đà quốc

5817梵名 Khabandha。又作渴槃陀、喝槃陀、喝囉槃陀、漢盤陀。西域古王國之名。又稱大石國。此國周環二千餘里,都城以大石嶺爲基,背徙多河。國人性獷暴驍勇,然知淳信,敬崇佛法。有伽藍十餘所,僧徒五百餘人,習學小乘說一切有部之教說。此國開國者之父乃自日天而來,母爲漢土之人,故其王統稱爲漢日天種。其王族之容貌與中國相同,頭戴方冠,身著胡服。城中並有爲經部之祖童受論師所建之僧伽藍,臺閣高廣,佛像端嚴,係此國國王聞童受論師之盛名,興兵伐咀叉始羅國,得之以歸,施阿育王之故宮爲伽藍。城東南之大石崖有二石室,各有一羅漢於其中入滅盡定,形若羸人,膚骸不朽,其鬚髮恆長,故眾僧每年爲之剃髮易衣。關於此國之位置,約在新疆省塔什克爾安(Tush-kurghan, Sarikol,石城)之地,即所謂塞勒庫勒(Sariq-gol,黃谷)處。〔大唐西域記卷十二、大慈恩寺三藏法師傳卷五、洛陽伽藍記卷五、S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol Ⅱ; T. Watters: On Yuan Chwang, vol. Ⅱ〕

khiết già

5816梵語 khaḍga。<一>又作竭誐。意譯作刀、劍。爲求祈願成就時所用七物之一。大日經疏卷十一釋之,謂刀以鑌(利鐵)爲骨柄。蘇悉地羯囉經卷中成就諸物相品(大一八‧六二二下):「若欲成就刀法,先取鑌刀,量長兩肘,以小指齊,闊四指,無諸病疹,其色紺青,如桑施鳥翎。」〔大日經卷三悉地出現品、慧琳音義卷三十六、梵語雜名〕 <三>譯作犀牛。經論中以犀牛之一角比喻獨覺。〔玄應音義卷一〕(參閱「朅伽毘沙拏」5817) ; (朅伽) Phạm: Khaḍga. I. Khát già. Cũng gọi Kiệt nga. Dịch là dao, gươm. Một trong 7 vật được dùng khi cầu nguyện đã thành tựu. Phẩm Thành tựu chư vật tướng kinh Tô tất địa yết la quyển trung (Đại 18-622 hạ), nói: Nếu muốn thành tựu Đao pháp, thì phải dùng dao bằng thép, dài 2 khuỷu tay, rộng bằng 4 ngón út, nhẫn nhụi, mầu xanh biếc. [X. phẩm Tất địa xuất hiện kinh Đại nhật Q.3; Tuệ lâm âm nghĩa Q.36; Phạm ngữ tạp danh]. II. Khát Già. Con tê giác. Các kinh luận dùng sừng con tê giác để dụ cho Độc giác. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.1]. (xt. Khát Già Tì Sa Noa).

khiết già tì sa noa

(朅伽毘沙拏) Phạm: Khaḍga-viṣṇa. Cũng gọi Khư già tì sa noa, Khư già bà sa, Khát già bà sa, Hát già tì sa noa. Huyền ứng âm nghĩa quyển 24 giải thích: Khát già là con tê giác; Tì sa noa là sừng, chỉ cho một cái sừng của con tê giác. Một là Độc, vì thế Khát già tì sa noa được dùng để dụ cho bậc Thánh Độc giác (một mình giác ngộ, không có thầy chỉ dạy). Kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 51 (Đại 13, 338 thượng), nói: Nơi ấy không sinh không diệt, chẳng chứng chẳng tu, chẳng có chẳng không, chẳng bờ này chẳng bờ kia, chẳng tối chẳng sáng, chẳng phải phân biệt, chẳng phải không phân biệt, không thể suy lường. Đó là cảnh giới Khư già tì sa noa. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.15; Huyền ứng âm nghĩa Q.1].

khiết già tì sa nã

5817梵語 khaḍga-viṣāṇa。又作佉伽毘沙拏、佉伽婆沙、渴伽婆沙、喝伽毘沙拏。犀角之義。據玄應音義卷二十四載,朅伽,譯爲犀牛,毘沙拏,譯爲角,即指犀牛之一角;「一」即「獨」之意,故用此語比喻獨悟之獨覺聖者。大方等大集經卷五十一(大一三‧三三八上):「其處無生無滅、非證非修、非有非無、非此岸非彼岸、非闇非明、非可測、非分別非不分別,是名佉伽毘沙拏劫。」〔顯揚聖教論卷三、大日經疏卷十五、玄應音義卷一〕

khiết lam bà

5817又作朅藍波、呵羅。譯作強、伏剛強處。乃鬼之住處,爲一大丘壙,甚可怖畏,藥叉、羅剎等多住於其中。慧琳音義卷十八(大五四‧四二○中):「朅藍婆(上騫謁反,梵語也。唐云伏剛強處。不求字義,地名也。)」〔地藏十輪經卷四、玄應音義卷二十一〕 ; (朅藍婆) Cũng gọi Khát lam ba, A la. Cứng mạnh, nơi mai phục. Là chỗ ở của loài quỉ, một cái gò to lớn, hoang vắng, rất đáng sợ, phần nhiều Dạ xoa, La sát đều ở trong đó. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 18 (Đại 54, 420 trung), nói: Khát lam bà là nơi quỉ mai phục, không phải nghĩa chữ, mà là tên đất. [X. kinh Địa tạng thập luân Q.4; Huyền ứng âm nghĩa Q.21].

khiết trai

6105指按一定之法,清淨身心,使飲食、行為皆有節制。即持齋戒,止淫事,斷酒肉、五辛等。又稱精進潔齋、齋清淨、物忌。後漢書卷七十二楚王英傳,載有佛教傳入我國之初,楚王潔齋三月立誓之事,此係「潔齋」一詞最早為人應用之例。潔齋之行,通常行於:(一)書寫經文或作畫佛像時,則斷酒肉、五辛,沐浴、著淨衣。(二)對神佛祈願時,齋戒沐浴,斷身心之不淨。(三)修行者為持六根清淨,於山野修行時亦作潔齋。〔類聚名物考卷三十一〕 ; (潔齋) Cũng gọi Tinh tiến khiết trai, Trai thanh tịnh. Vật kị. Giữ gìn trai giới, dứt dâm dục, bỏ rượu thịt, kiêng ngũ tân, v.v... để cho thân tâm được trong sạch. Cứ theo truyện Sở vương anh trong Hậu Hán thư quyển 72, thì khi Phật giáo mới truyền vào Trung quốc, vua nước Sở đã phát nguyện khiết trai 3 tháng. Đây là trường hợp danh từ Khiết trai đã được sử dụng sớm nhất. Khiết trai thông thường được thực hành trong những dịp sau đây: 1. Khi biên chép văn kinh hay đắp vẽ tượng Phật, thì kiêng cữ rượu thịt, ngũ tân, tắm gội và mặc áo sạch. 2. Khi cầu nguyện trước thần, Phật thì giữ trai giới, tắm gội sạch sẽ, thân tâm thanh tịnh. 3. Người tu hành, để giữ cho 6 căn thanh tịnh, nên khi tu hành ở chốn núi rừng đồng nội cũng thực hành pháp khiết trai. [X. Loại tụ danh vật khảo Q.31].

khiết trà dưỡng sinh ký

(潔茶養生記) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Vinh tây (1141-1215), vị tăng Nhật bản chép. Nội dung dựa theo phong tục uống trà của Trung quốc, Ấn độ, viện dẫn các sách như: Tôn thắng đà la ni phá địa ngục pháp bí sao, Nhĩ nhã, Trà kinh, v.v... để nói về sự quan hệ giữa 5 tạng là gan, phổi, tim, lá lách, thận với 5 vị là chua, cay, ngọt, đắng, mặn... cho đến công hiệu của sự uống trà và kĩ thuật trồng cây trà, đồng thời, thuyết minh về phương pháp dưỡng sinh.

khiết địa la thụ

5816梵語 khadira,巴利語同。又作羯地羅、佉陀羅、軻黎羅、軻地羅、朅達羅、可梨羅、竭地洛迦、佉提羅迦。譯爲空破木、檐木、紫檀木。屬荳科。學名 Acacia catechu。產於印度奧立沙(Orissa)、喜馬拉雅山上五千尺之高處、緬甸等地。樹幹稍高,呈白色,木皮爲淡褐色,葉爲羽狀複葉,花或白或淡黃,花謝結蒴,長三、四寸,呈紐狀下垂。樹頗堅硬,可作護摩(火祭)之薪或護摩壇之橛,樹脂可製阿仙藥(catechu)。佛教之須彌說,謂七金山之第五稱爲朅地羅山,即因此山多生朅地羅樹而得名。〔陀羅尼集經卷三、卷十、有部毘奈耶卷三、大毘婆沙論卷一七三、俱舍論光記卷十一、慧琳音義卷二十五、玄應音義卷二十五〕 ; (朅地羅樹) Khát địa la, Phạm,Pàli:Khadira. Cũng gọi Cát địa la, Khư đà la, Kha lê la, Kha địa la, Khát đạt la, Khả lê la, Kiệt địa lạc ca, Khư đề la ca. Cây không phá, cây thiềm, cây đàn tía, thuộc họ cây đậu. Tên khoa học: Acacia catechu. Sinh sản ở vùng Orissa, Hi mã lạp sơn ở Ấn độ và ở Miến điện, v.v... Thân cây hơi cao, lá kép dáng như lông cánh chim, hoa mầu trắng hoặc vàng nhạt, hoa rụng, quả kết thành chùm, dài khoảng 3 tấc, rủ xuống như giải áo, cây rất cứng, nhựa cây có thể dùng làm thuốc A tiên (Catechu). Thuyết núi Tu di trong Phật giáo cho rằng núi thứ 5 của 7 núi vàng (Kim sơn) gọi là núi Khát địa la, vì núi này mọc nhiều cây Khát địa la nên có tên như thế. [X. kinh Đà la ni tập Q.3, Q.10; Hữu bộ tì nại da Q.3; luận Đại tì bà sa Q.173; Câu xá luận quang kí Q.11; Tuệ lâm âm nghĩa Q.25; Huyền ứng âm nghĩa Q.25].

khiết độc

xem bốn thứ độc.

Khiết 潔

[ja] ケチ ketsu ||| (1) pure, clear, clean. (2) Righteous, gallant. => 1. Thanh tịnh, trong sạch, tinh khiết. 2. Đạo đức chính trực, uy nghi.

khiếu hoán địa ngục

1619為八熱地獄之第四。叫喚,梵語 raurava,巴利語 roruva。又譯作㘁叫地獄、啼哭地獄、號叫地獄。墮於此地獄受苦之人,痛苦不堪,號泣叫喚,故稱叫喚地獄。長阿含經卷十九對此地獄描述甚詳,謂諸獄卒捉獄中罪人,擲入大鑊中煮沸之,又擲於大 ; Rovura (S), Rauvara (S), Hell of Shrieking, Địa ngục kêu gào, khóc lóc. ; (叫喚地獄) Khiếu hoán, Phạm: Raurava, Pàli: Roruva. Cũng gọi Dịch khiếu địa ngục, Đề khốc địa ngục, Hào khiếu địa ngục. Địa ngục kêu gào, 1 trong 8 địa ngục nóng. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 19, thì ngục tốt bắt các tội nhân trong ngục bỏ vào vạc nước sôi đun nấu, sau đó lại vớt ra và ném lên vỉ sắt để nướng, làm cho các tội nhân vô cùng đau đớn, kêu gào thảm thiết. Tuy trải qua những sự trừng trị khổ sở như thế, nhưng vì tội chưa hết nênkhiến cho tội nhân không chết hẳn, mà phải 3 lần chết đi sống lại để chịu khổ qua 16 địa ngục nhỏ nữa. Theo luận Du già sư địa quyển 4, thì tuổi thọ của chúng sinh ở địa ngục này rất dài lâu, mà một ngày đêm ở địa ngục này tương đương với 4.000 năm ở cõi trời Tri túc (Đâu suất). Như vậy, thời gian mà tội nhân phải chịu khổ trong địa ngục này, không thế tưởng tượng được. Những tội nhân lúc còn sống bắt nhốt người trong phòng kín rồi dùng lửa thiêu chết, hoặc hun đốt muỗi mòng, hoặc trộm cắp, gian dâm, uống rượu, v.v... sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục này. Ngoài ra, ngục thứ 5 trong 8 địa ngục nóng, gọi là địa ngục Đại khiếu hoán, tội nhân trong địa ngục này chịu các hình phạt còn đau đớn, nặng nề hơn địa ngục Khiếu hoán. Hai địa ngục này trong các kinh thường được gọi chung là Khiếu hoán Đại khiếu hoán. [X. kinh Đại lâu thán Q.2; kinh Khởi thế Q.2; luận Lập thế a tì đàm Q.8; luận Câu xá Q.11]. (xt. Bát Nhiệt Địa Ngục).

khiển hoàng

5942即爲除蝗蟲之害、求五穀豐收之祈禱。勅修百丈清規卷一祈禱條(大四八‧一一一五中):「由是謹發誠心,啟建遣蝗道場,每日命僧諷誦經咒。」 ; (遣蝗) Trừ sâu. Tức là cầu nguyện để diệt trừ (khiển) sâu bọ, khiến cho ngũ cốc được mùa. Điều Kì đảo trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 1 (Đại 48, 1115 trung), nói: Do đó, cần phát tâm thành, thiết lập đạo tràng khiển hoàng, hàng ngày thỉnh chư tăng trì tụng kinh chú.

khiển hoán

5942爲「發遣招喚」之略稱。指釋尊在娑婆世界告示眾生乘阿彌陀佛之願船往生極樂淨土,而阿彌陀佛亦自極樂淨土直來招喚。〔觀經疏散善義〕(參閱「發遣招喚」5164) ; (遣喚) Gọi đủ: Phát khiển chiêu hoán. Chỉ bảo và vời gọi. Đức Thế tôn chỉ dạy (phát khiển) chúng sinh nương theo thuyền đại nguyện của Phật A di đà mà sinh về Tịnh độ cực lạc; còn đức Phật A di đà cũng từ Tịnh độ cực lạc đến đây vời gọi và tiếp đón chúng sinh. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa]. (xt. Phát Khiển Chiêu Hoán).

khiển sử đắc

5942十種得戒緣之一。謂將受戒之比丘尼,容姿端麗者,若往精舍受戒之途中,有遇難之虞,佛則遣使,爲授具足戒。〔俱舍論卷十四〕(參閱「十種得戒緣」492) ; (遣使得) Trường hợp đắc giới do đức Phật phái người đến truyền. Một trong 10 duyên đắc giới. Người phụ nữ có nhan sắc xinh đẹp, trên đường đến nơi thụ giới tỉ khưu ni, sợ gặp tai nạn, nên Phật sai người(khiển sứ) đến thụ giới Cụ túc cho. [X. luận Câu xá Q.14]. (xt. Thập Chủng Đắc Giới Duyên).

Khoa phạm

(科範): khoa nghi, nghi thức, quy cách. Như trong Nghiễn Bắc Tạp Chí (硯北雜志) của Lục Hữu (陸友, ?-?) nhà Nguyên có đoạn: “Lô Sơn đạo sĩ Hoàng Khả Lập chi ngôn viết: 'Khấu Khiêm Chi, Đỗ Quang Đình chi khoa phạm, bất như Ngô Quân chi thi' (廬山道士黃可立之言曰、寇謙之、杜光庭之科範、不如吳筠之詩, Đạo sĩ ở Lô Sơn là Hoàng Khả Lập nói rằng: 'Khoa nghi của Khấu Khiêm Chi [365-448, đạo sĩ thời Nam Bắc Triều], Đỗ Quang Đình [850-933, đạo sĩ trứ danh nhà Đường], không như thơ của Ngô Quân [?-778, đạo sĩ trứ danh nhà Đường]').”

khoa văn

3923爲方便解釋經論而將內容分成數段,再以精簡扼要之文字標示各部分之內容,稱爲科文。又作科章、科節、科段、分科等。又科目全部以圖示者,稱科圖。一般係將經典區別爲序分、正宗分(本論部分)與流通分(說明該經之功德而勸人流通之部分),稱爲三分科經。將一經分成三部分之作法,在印度始於佛地經論卷一,在我國則始於苻秦道安之時。 序又分爲二種,即:(一)通序,指從「如是我聞」至該經所舉聽眾之經文部分(如「與大比丘眾千二百五十人俱」云云),乃共通於一切經典之體裁。(二)別序,指通序下之經文,依各經而異。又通序乃是使眾生起信之部分,故又稱證信序;別序則爲述說該經因緣之部分,故又稱發起序。然依善導之主張,「如是我聞」四字才是證信序,以下則皆爲發起序;而發起序之中相當於通序之部分,稱爲「化前序」;以上三者合稱三序。 通序又分六成就,即信(如是)、聞(我聞)、時(一時)、主(佛)、處(在……)、眾(與大比丘眾……)。所謂成就乃指在每一句子裏面,完全具備欲說之內容而言;佛教認爲佛經之通序必須具備上述六個條件。此外,亦有將主、處成就合一,而稱爲「五成就」者;亦有將聞成就分爲我、聞二成就者,則爲七成就。科文之法雖有其功能,然因過於複雜,難免受到非議。二十世紀以來,研究佛典之新方法興起,此種方式已逐漸不爲時人所採用。〔大乘起信論、法華經文句卷一、法華經玄贊攝釋第一〕 ; (科文) Cũng gọi Khoa chương, Khoa tiết, Khoa đoạn, Phân khoa. Giải thích các kinh luận bằng cách chia nội dung thành từng phần, từng đoạn, rồi tóm tắt chỗ cốt yếu của nội dung mỗi đoạn, như thế gọi là Khoa văn. Thông thường, mỗi bộ kinh được chia làm 3 phần: Phần tựa, phần chính tông và phần lưu thông, gọi là Tam phần khoa văn. Tại Ấn độ, phương thức chia 1 bộ kinh thành 3 phần bắt đầu từ Thập địa kinh luận quyển 1, còn ở Trung quốc thì bắt đầu từ ngài Đạo an ở đời Phù Tần. Phần tựa lại được chia làm 2: Tựa chung và Tựa riêng. 1. Tựa chung: Tất cả các kinh đều mở đầu bằng đoạn văn: Như thị ngã văn, v.v... cho đến dữ đại tỉ khưu chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu, v.v... Đây là phần tựa chung cho tất cả kinh điển do đức Phật nói ra. 2. Tựa riêng: Sau phần tựa chung là phần duyên khởi riêng của mỗi bộ kinh. Tựa chung là phần khiến chúng sinh phát khởi lòng tin nên cũng gọi là Chứng tín tự. Còn tựa riêng là phần trình bày về nhân duyên của bộ kinh ấy nên cũng gọi là Phát khởi tự. Nhưng theo chủ trương của ngài Thiện đạo thì 4 chữ Như thị ngã văn (Tôi nghe như vầy) mới là Chứng tín tự, còn từ đó trở xuống đều là phát khởi tự và phần tương đương với tựa chung trong Phát khởi tự gọi là Hóa tiền tự. Tựa chung cũng được chia làm 6 thành tựu, tức là Tín (như vầy), Văn(tôi nghe), Thời (một thời), Chủ(Phật), Xứ(ở...), Chúng(cùng với chúng tỉ khưu), v.v... Phần tựa chung trong các kinh của Phật giáo đều phải đầy đủ 6 đều kiện trên. Ngoài ra, cũng có chỗ hợp 2 thành tựu Chủ và Xứ làm một mà gọi là Ngũ thành tựu; lại có chỗ đem chia thành tựu Văn làm 2 là Ngã và Văn mà gọi là Thất thành tựu. Từ thế kỉ XX trở đi, trong Phật giáo đã có nhiều phương pháp mới để nghiên cứu, cho nên Khoa văn không còn được dùng nữa. [X. luận Đại thừa khởi tín; Pháp hoa kinh văn cú Q.1; Pháp hoa kinh huyền tán nhiếp thích 1].

Khoa văn 科文

[ja] カモン kamon ||| To break a sutra or treatise down into small sections for exegesis and analysis--a common practice in traditional East Asian Buddhist scholarship. => Phân chia kinh luận ra từng đoạn nhỏ để luận giải hoặc phân tích– một phương pháp thực hành phổ biến của giới học giả Phật giáo Á Đông.

Khoa điển

(科典): từ gọi chung của nghi thức Đạo Giáo. Khoa tức chỉ cho khoa nghi; điển là điển phạm, điển tịch. Đối với Đạo Giáo, khi tiến hành nghi thức cúng đàn tràng, thường tuân thủ theo những quy định mang tính điển tịch, khoa nghi của Đạo Giáo; và gọi chung đó là khoa điển. Trong bộ Kim Lục Trai Khải Đàn Nghi (金籙齋啟壇儀) do Đạo sĩ Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850-933) thời Đường Ngũ Đại biên soạn có đoạn rằng: “Đương ư danh sơn động phủ, cổ tích tiên hương, tinh bị tín nghi, án tuân khoa điển, tu kim bút bảo trai, bái thiên tạ quá (當於名山洞府、古跡仙鄉、精僃信儀、按遵科典、修金筆寶齋、拜天謝過, nay tại các danh sơn động phủ, cổ tích tiên hương, chuẩn bị thức nghi, tuân theo khoa điển, tu thiết lễ cúng chay, lạy Trời tạ quá).” Hay trong Thái Thượng Huỳnh Lục Trai Nghi (太上黃籙齋儀) quyển 1 có câu: “Y Huỳnh Lục giản văn linh tiên khoa điển, siêu độ tồn một (依黃籙簡文靈仙科典、超度存歿, nương vào khoa điển linh tiên văn ngắn gọn của Huỳnh Lục mà làm cho người còn và kẻ mất được siêu độ).”

Khoa 科

[ja] カ ka ||| (1) Actions, deportment. (2) Branch, department, division. (3) Fault, blame, charge, offense. (3) Gist, outline, main points. To edit. See next 科文 (kawen) . => 1. Động tác, dáng điệu, bộ tịch, thái độ, cách cư xử. 2. Chi nhánh, nghành. 3. Sự thiếu sót, sự khiển trách, trách nhiệm, sự vi phạm.

khoan dung

5977(Tolerance)容許不同意見、信仰與發表之自由,並且不予以對待上之差別標準,稱爲寬容。以宗教而言,即承認其他信仰之存在;以倫理而言,即認識人類之不完美性、弱小性,而不加以苛求,並以同情心包容之。在歐洲近代史中,宗教尖銳對立之情況動輒發生,最典型者,如基督教之根本觀念認爲真理僅爲絕對之唯一,而視其他教說爲邪教、邪說,故經常發生排除異端之宗教戰爭、宗教裁判;於裁奪之時,凡是異端必遭處刑。直至近代,漸有宗教之寬容性與諸教協同一致之主張。此類寬容之觀念與精神,在今日已成爲重要思潮之一;如以法律而言,現代之自由民主國家必皆保障思想、言論,及信教之自由,此即其明顯例證。 印度特別富於寬容精神,一概承認各種宗教與哲學之存在,認爲一切宗教與哲學皆爲同一真理之顯現;抱存此一精神者,特以大乘佛教爲然。佛陀常將各種異教視爲引導眾生之方便教法,故包容之;至密教,亦將世俗之道視爲佛教之一部分而予以肯定;另如智顗大師以法華經之一乘精神爲準則,而主張諸教(經)皆爲一乘。然佛教寬容態度之影響,於印度本土方面卻導致佛教之衰落,與現實妥協,而開始急遽密教化,乃至有左道密教等之產生;由是,其宗教型態亦淪爲雜亂信仰、混合宗教(Syncretism)。 在日本,佛教改革期之鎌倉時代諸師則不同於上記所說「肯定諸行」之寬容態度,轉而另創新氣象。例如法然、親鸞之念佛,道元之坐禪,日蓮之唱題等皆有特立獨行之主張,而舊佛教則強調持戒精進。尤以日蓮宗,特立法華經之絕對主義以折伏他經、他宗,並進而諫諭國家;然其折伏(非寬容)之道,亦不免失之矯枉過正,既忘失攝受(寬容)之理,更因而陷入偏狹之排他主義。故知寬容與非寬容間之界線與問題,實有待於重新評估與智慧之權衡。 ; Xem Bất nhuế.

khoan nhân

5976因明用語。因明「似因」之一。即能立法寬於所立法之因(理由)。於因明三支之中,宗(命題)爲「所立法」,因與喻(譬喻)爲能立法。因明三支作法規定,凡是「正因」(正確無誤之因),其能立法之範圍與所立法之範圍,二者之間有一定之關係,即能立法之範圍必須等於或窄於所立法之範圍。反之,若能立法寬於所立法,則「因同品」之範圍內不僅有「宗同品」,且亦有「宗異品」,致使能立法依轉於宗異品,而破壞因之第三相「異品遍無性」,如是,則所提出之「因」即屬似是而非之「似因」,而不足以作爲「宗」之論證。〔因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕 ; (寬因) Tiếng dùng trong Nhân minh. Nhân rộng. Tức phạm vi Nhân (lí do) của pháp năng lập rộng hơn phạm vi Nhân của pháp sở lập, là 1 trong những Tự nhân (lí do không đúng) của Nhân minh. Trong 3 phần (chi) Nhân minh, thì Tông (mệnh đề) là pháp sở lập, Nhân và Dụ là pháp năng lập. Theo qui định về 3 phần của Nhân minh, đã là Nhân chính xác thì giữa phạm vi của pháp năng lập và phạm vi của pháp sở lập có một sự quan hệ nhất định; nghĩa là phạm vi của pháp năng lập phải bằng hoặc hẹp hơn phạm vi của pháp sở lập. Trái lại, nếu pháp năng lập rộng hơn (Khoan nhân) pháp sở lập thì trong phạm vi của Nhân đồng phẩm không những chỉ có Tông đồng phẩm mà còn có cả Tông dị phẩm khiến cho pháp năng lập chuyển theo Tông dị phẩm mà phá hoại tướng thứ 3 của Nhân là Dị phẩm biến vô tính(tuyệt đối không có dị phẩm). Như vậy thì Nhân đề ra là Tự nhân(Nhân sai lầm) không thể biện chứng cho Tông. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại đề)].

khoan quảng bồ tát

Xem A ma đề Bồ tát.

Khoan Triêu

(寬朝, Kanchō, 916-998): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời đại Bình An (平安, Heian), Tự Trưởng đờithứ 19 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), trú trì đời thứ 50 của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), húy là Khoan Triêu (寬朝), thông xưng là Biến Chiếu Tự Tăng Chánh (遍照寺僧正) hay Quảng Trạch Ngự Phòng (廣澤御房), xuất thân vùng Kyoto, con của Đôn Thật Thân Vương (敦實親王), cháu của Vũ Đa Pháp Hoàng (宇多法皇, Uda Hōō). Năm 11 tuổi, ông theo xuất gia với Vũ Đa Pháp Hoàng, rồi đến năm 948 thì thọ pháp Quán Đảnh của Khoan Không (寬空, Kankū). Vào năm 967, ông tách ra ở riêng tại Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), sau đó trãi qua các chùa khác như Đông Đại Tự, Tây Tự (西寺, Sei-ji), rồi đến năm 981 thì nhậm chức Tự Trưởng của Đông Tự. Vào năm 989, vâng mệnh của Hoa Sơn Pháp Hoàng (花山法皇, Kazan Hōō), ông kiến lập Biến Chiếu Tự (遍照寺, Henshō-ji) ở ven hồ Quảng Trạch (廣澤) thuộc vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Chính dòng Quảng Trạch do từ đây mà phát xuất. Ông có để lại vài trước tác như Thành Tựu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Thứ Đệ (成就妙法蓮華經次第), Kim Cang Giới Thứ Đệ (金剛界次第), Bất Động Thứ Đệ (不動次第), Nhất Thừa Nghĩa Tư Ký (一乘義私記), v.v.

khoan triều

5977(916~998)日本真言宗僧。世稱遍照寺僧正、廣澤御房。爲宇多法皇之孫,從宇多法皇出家,於仁和寺之寬空阿闍棃處受兩部灌頂,頗受朝廷歸敬,曾任東寺之長者及大僧正。於嵯峨廣澤池畔建立遍照寺密教道場,開創廣澤流。爲真言聲明的中興之祖。長德四年示寂,世壽八十三。

khoan vĩnh tự

5975位於東京都台東區上野。爲日本天台宗門跡寺(顯貴出家所住止之寺院)。天台宗三山之一。山號東叡山圓頓院。沙門天海奉德川家康之命,改川越喜多院爲天台宗之關東總本山,號東叡山喜多院。寬永二年(1625),在相當於江戶城之鬼門地方(即現址)營造大伽藍,型制模倣比叡山延曆寺,其不忍池即琵琶湖之翻版,辯才天堂即倣竹生島,並倣京都東山清水寺觀音堂造立觀音堂,移來東叡山號,並倣延曆寺之以年號爲寺名,而稱寬永寺。後兼爲日光輪王寺之門跡。又與東京芝公園之增上寺同爲歷代將軍之靈廟,兩寺輪流行祭,並另行建築東照宮。元祿時代,以竹之台(今日本博物館前廣場)之中堂(琉璃殿)爲中心,盛極一時。子院有三十五處,遍佈上野山。明治元年(1868)因彰義隊之戰亂,寺宇多遭焚毀,僅存供奉天海與良源兩大師之慈眼堂、靈廟(於第二次世界大戰中燒毀)、東照宮、五重塔、本坊表門(黑門,移建於兩大師前)等,廣大之寺域大多變成爲上野公園,現今之本堂乃明治年間自喜多院移建而成者。〔日本高僧傳卷五十六、日光山志卷一〕

Khoái Xuyên Thiệu Hỷ

(快川紹喜, Kaisen Shōki, ?-1582): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào khoảng hai thời đại Chiến Quốc và An Thổ Đào Sơn, vị trú trì đời thứ 43 của Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), húy Thiệu Hỷ (紹喜), đạo hiệu Khoái Xuyên (快川), thụy hiệu Đại Thông Trí Thắng Quốc Sư (大通智勝國師), xuất thân vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino, thuộc Gifu-ken [岐阜縣] ngày nay). Ông kế thừa dòng pháp của Tông Thọ (宗壽) ở Diệu Tâm Tự vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), rồi trải qua sống ở các chùa như Nam Tuyền Tự (南禪寺, Nanzen-ji), Sùng Phước Tự (崇福寺, Sūfuku-ji) thuộc vùng Mỹ Nùng, và chính trong khoảng thời gian nầy ông làm trú trì Diệu Tâm Tự. Vào năm 1561, ông được Tướng Quân Võ Điền Tín Huyền (武田信玄, Takeda Shingen) ở Giáp Phỉ (甲斐, Kai) thỉnh đến trú trì Huệ Lâm Tự (惠林寺, Erin-ji). Đến năm 1582, khi dòng họ Võ Điền bị diệt vong, Huệ Lâm Tự bị Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) đốt cháy tan tành.

khoá già luận

6163為印度外道所立十八大經中「八論」之一。據百論疏卷上之下載,課伽論乃闡釋攝心法之論書。或謂其梵名為 Garga,然現代學者根據 Prasthānabheda,而謂其正確之梵名應為 Yoga。 ; (課伽論) Tác phẩm, 1 trong 8 luận, thuộc 18 bộ Đại kinh do ngoại đạo ở Ấn độ thành lập. Theo Bách luận sớ quyển thượng, thì Khóa già là bộ luận giải thích về phương pháp thu nhiếp tâm. Có thuyết cho rằng tên tiếng Phạm của bộ luận này làGarga, nhưng các học giả hiện đại căn cứ vào bộ Prasthànabheda mà cho rằng tên tiếng Phạm chính xác của nó làYoga.

khoá tụng

6163即佛教寺院定時念持經咒、禮拜三寶及梵唄歌讚等法事。且因祈望藉由課誦之中獲得功德,故又稱功課。金剛頂瑜伽中略出念誦經卷四舉出四種念誦之法,即:音聲念誦(出聲念)、金剛念誦(合口默念)、三摩地念誦(心念)及真實意念(如字義而修行)。而一般之課誦係指音聲念誦而言。 我國古代,初有經咒、梵唄等較為簡單之念誦,晉代後發展出懺法,繼有水陸、焰口等,唱念愈趨複雜。至唐代馬祖道一營建叢林,百丈懷海制定清規。宋代後,尤於明代之時,叢林中普遍形成朝暮課誦(又稱二時功課、二課、早晚課)之制。此後,早晚課與誦經、拜懺等法事,共同形成別具一格之寺院風尚。 關於課誦之起源,考法華經法師品之中,已有受持法師、讀經法師、誦經法師之記載。故推測我國課誦之風尚,係由西域等地之佛教譯經家所傳來。我國典籍中最早關於課誦之記載,可見之於吳書劉繇傳附記東漢笮融之事蹟中。歷代皇帝亦有提倡課誦者,如唐玄宗曾詔命不空誦仁王經,代宗敕命選二十七員沙門為國長誦佛頂咒;佛祖統紀卷五十三持誦功深條且列舉自東晉安帝至宋光宗歷七百餘年,道俗念誦佛經之特出事例十九起;可見課誦之普遍及其歷史之悠久。 關於課誦儀制,古印度係奉行「三啟」儀制,當時普遍諷誦馬鳴所作之讚佛詩歌(佛所行讚),故首先頌揚馬鳴所集之讚佛詩文,其次正誦佛經,後陳述迴向發願。全部過程為「節段三開」,故稱三啟。經了之時,大眾同聲念「蘇婆師多」或「娑婆度」(讚歎經文為微妙語之意)。我國古今法事念誦之基本儀制,亦為此「三啟」式念誦法;無論舉行任何法事,皆先安排讚(香讚或讚偈),次文(經咒本文、有關儀文等),末了迴向發願(或偈或文,或偈文兼舉)。惟後綴之大眾同聲念蘇婆師多或娑婆度,於我國念誦儀中少見,然亦有於法事文末稱「善」或「善哉」者。 我國之念誦儀制始創於東晉道安所制之僧尼軌範,其中定有常日六時行道、飲食唱食法,此即課誦齋粥儀。後世奉行朝暮課誦之制,當係導源於此。歷代典籍屢有課誦之記載,至明清之際,朝暮課誦漸趨定型;課誦之風遍及各宗派寺院與居家信徒,成為天下叢林必修定課。又日課定於朝暮二時,係因「朝暮不軌,猶良馬無罂」,故佛教徒以朝暮課誦作為自身之軌範。朝,指五更,於晨起盥洗畢,即上殿課誦,期思惟以清淨;暮,指日晡(午後二至四時)之時,功課禮誦,以期消除昏昧。 二時課誦之經文,皆為大乘藏經所攝,如楞嚴咒、大悲十小咒、阿彌陀經、懺悔文、蒙山施食及稱念佛號等。關於二時課誦程序、內容,隨諸方祖師立宗不同而互異。〔禪苑清規卷二念誦條、法苑珠林卷三十六、南海寄歸內法傳卷四、高僧法顯傳、中國佛教人物與制度課誦章(王新)〕 ; (課誦) Cũng gọi Công khóa. Các thời khóa tụng niệm kinh chú vào buổi sáng sớm và chiều tối tại các chùa viện Phật giáo. Hàng ngày thực hành các thời khóa tụng niệm để mong đạt được công đức nên cũng gọi là công khóa. Tại Trung quốc thời xưa, pháp tụng niệm lúc đầu rất đơn giản, chỉ có kinh chú và kệ tán. Nhưng từ sau đời Tấn đã phát triển thêm pháp sám hối. Kế đó, khi có nghi thức Thủy lục, Diệm khẩu thì việc xướng niệm ngày càng thêm phức tạp. Về nguồn gốc của khóa tụng thì trong phẩm Pháp sư của kinh Pháp hoa đã có ghi các danh xưng như: Thụ trì pháp sư, Độc kinh pháp sư, Tụng kinh pháp sư, v.v..., do đó có thể suy ra rằng nghi thức khóa tụng ở Trung quốc là do những nhà dịch kinh Phật từ các nước Tây vực truyền đến. Những ghi chép sớm nhất về khóa tụng trong các sách ở Trung quốc có thể thấy trong sự tích Trách dung đời Đông Hán được chép chung với truyện Lưu diêu trong Ngô thư. Vua chúa các đời cũng đề cao khóa tụng, như vua Đường Huyền tông ban sắc thỉnh Tam tạng Bất không tụng kinh Nhân vương, Đường Đại tông ra sắc lệnh chọn 27 vị sa môn tụng chú Phật đính cầu nguyện cho đất nước trường tồn, nhân dân an lạc. Điều Trì tụng công thâm trong Phật tổ thống kỉ quyển 53, có nêu ra 19 việc đặc biệt của đạo tục tụng kinh trong khoảng thời gian hơn 700 năm từ vua An đế đời Đông Tấn đến vua Quang tông đời Tống. Như vậy, ta có thể thấy khóa tụng đã rất phổ biến và có một lịch sử lâu dài rồi. Về nghi thức khóa tụng thì ở Ấn độ thời xưa thực hành nghi chế Tam khải, nghĩa là trước tiên ngâm tụng thơ văn tán thán đức Phật(Phật sở hành tán) do ngài Mã minh sáng tác, kế đến, chính thức tụng kinh Phật, sau cùng là văn hồi hướng, phát nguyện. Toàn bộ quá trình là mở ra 3 tiết đoạn, cho nên gọi là Tam khải. Khi tụng kinh xong, đại chúng đồng thanh niệm Tô bà sư đa hoặc Sa bà độ(khen ngợi văn kinh là những lời vi diệu). Nghi thức tụng niệm ở Trung quốc xưa nay cũng theo phép Tam khải này, chỉ thiếu phần đại chúng đồng niệm Tô bà sư đa hoặc Sa bà độ, nhưng lại có xướng Thiện hay Thiện tai. Nghi thức tụng niệm ở Trung quốc bắt đầu từ Tăng Ni Quĩ Phạm do ngài Đạo an chế định vào đời Đông Tấn, trong đó qui định hàng ngày có 6 thời hành đạo, khi ăn phải hiến cúng, tức là phép hiến trai. Đời sau thực hành 2 thời khóa tụng niệm sớm tối, tức đã bắt nguồn từ đây. Những kinh văn trì tụng trong 2 thời khóa đều là kinh Đại thừa, như chú Lăng nghiêm, chú Đại bi, kinh A di đà, văn Sám hối, Mông sơn thí thực, xưng niệm danh hiệu Phật, v.v... Còn về lịch trình và nội dung của 2 thời khóa thì tùy theo các tông phái mà có khác nhau. [X. điều Niệm tụng trong Thiền uyển thanh qui Q.2; Pháp uyển châu lâm Q.36; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Cao tăng Pháp hiển truyện; Trung quốc Phật giáo nhân vật dữ chế độ khóa tụng chương (Vương tân)].

khoái diêu cản bất cập

2895禪林用語。鷂,為鷹之一種,指隼鷹,飛行速度極快。快鷂趕不及,意謂快速之隼鷹雖拼命追趕也趕不著;在禪林中,轉指如電光石火般之禪機;又指光陰迅速。碧巖錄第十二則(大四八‧一五三上):「金烏急(左眼半斤,快鷂趕不及,火焰裏橫身),玉兔速(右眼八兩,姮娥宮裏作窠窟),善應何曾有輕觸?」 ; (快鷂趕不及) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Diêu là loài chim ưng nhỏ giống như chim cắt, bay rất nhanh. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho Thiền cơ loang loáng như ánh chớp, như tia lửa từ trong đá bắn ra, dù có bay nhanh như chim cắt thì đuổi cũng không kịp(cản bất cập); cũng chỉ cho thời gian trôi qua nhanh chóng. Tắc 12, Bích nham lục (Đại 48, 153 thượng) ghi: Ngày qua nhanh(mắt trái nửa cân, chim cắt đuổi không kịp, đặt ngang mình trong ngọn lửa đỏ); đêm chóng sáng(mắt phải 8 lạng, làm hang ổ trong cung Hằng nga), phải khéo ứng phó thế nào để khỏi bị khinh rẻ, xúc phạm?.

khoái khánh

2895日本鎌倉時代著名佛師。曾參與南都東大寺、興福寺之造佛。後鳥羽天皇文治五年(1189),造興福寺之彌勒菩薩像,將彌勒上生經納於彌勒像胎內。據傳東大寺南大門之二王、八幡神、地藏菩薩像、東大寺塔頭勸學院之地藏菩薩、近江膳所羅漢堂之釋迦坐像、丹波加佐郡金剛院之執金剛神像及深砂大將像等,皆為其所作。師之雕造技藝,勁美高超,風靡當時日本佛教美術界,頗能表現鎌倉時代雕刻藝術之精髓,而成為後世佛師之軌範。生卒年不詳,或謂歿於建長五年(1253)。

khoái lạc chủ nghĩa

Epicurism.

khoái lạc vô thoái lạc

2895念佛行者往生淨土所得十樂之一。為日本淨土真宗第六祖源信所立。蓋於彼西方極樂,壽命無量,無生、老、病、死、愛別離苦、怨憎會苦、求不得苦、五陰會苦等八苦;若有別願,雖生他方,是為自在之生滅,而非業報之生滅,故不苦唯樂。亦即往生極樂則得始終淨妙快樂而無退失之樂。〔往生要集卷上〕(參閱「十樂」498) ; (快樂無退樂) Niềm an vui không bao giờ mất. Một trong 10 niềm vui mà người niệm Phật vãng sinh Tịnh độ đạt được. Đây là thuyết của ngài Nguyên tín, Tổ thứ 6 của Tịnh độ Chân tông Nhật bản. Ở cõi Cực lạc bên phương Tây, con người sống lâu vô lượng, không có 8 nỗi khổ: Sinh, già, bệnh, chết, yêu thương phải chia lìa, oán ghét phải sống chung, mong cầu không được và 5 uẩn bức bách. Nếu có nguyện sinh ở phương khác thì đó là sống chết tự tại chứ chẳng phải do nghiệp báo, vì thế không có khổ mà chỉ là vui. Và niềm vui này vĩnh viễn không thay đổi, không thoái thất. [X. Vãng sinh yếu tập Q.thượng]. (xt. Thập Lạc).

Khoái lạc 快樂

[ja] ケラク keraku ||| (1) Joy, pleasure, enjoyment, satisfaction, with a special reference to religiously or spiritually attained joy (Skt. rati, sukha; Tib. bde ba). (2) Joy experienced in relation with material things. (3) The eternal joy of the Pure Land. => 1. Hân hoan, điều thú vị, sự thích thú, sự thoả mãn, với nghĩa đặc biệt đề cập đến sự đạt được niềm vui tâm linh (Skt. rati, sukha; Tib. bde ba). 2. Trải qua niềm vui trong nghĩa vật chất. 3. Niềm vui vĩnh cữu ở cõi Tịnh độ.

khoái mã

2895禪林用語。指優秀之馬,即跑得快之馬。凡快馬僅須一鞭即疾驅,稱為「快 馬一鞭」;在叢林中,轉指優秀學人僅聞師家之一言,即能徹底大悟。故「快馬」一語亦引申為優秀伶俐之根機。碧巖錄第三十八則載(大四八‧一七五下):「快人一言,快馬一鞭。」又快馬一見鞭影,即能察知而疾走,稱為「快馬見鞭影」;在叢林中,喻指優秀學人不待師家明言開示,即能默察其意而徹悟。 ; (快馬) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho con ngựa hay(ngựa chạy nhanh). Ngựa hay chỉ cần người cỡi đánh một roi là nó chạy, gọi là Khoái mã nhất tiên (ngựa hay một roi). Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho người đệ tử có căn cơ nhạy bén, chỉ cần một lời mở bày của thầy liền được triệt ngộ. Tắc 38 trong Bích nham lục (Đại 48, 175 hạ), nói: Khoái nhân nhất ngôn, Khoái mã nhất tiên(Người có căn cơ nhạy bén, chỉ cần nói một lời liền ngộ; ngựa hay chỉ cần đánh một roi liền chạy).

khoái tiện nan phùng

2895禪林用語。意謂千載難逢之好機會。碧巖錄第五十四則(大四八‧一八八中):「雲門問僧:『近離甚處?』僧云:『西禪。』門云:『西禪近日有何言句?』僧展兩手,門打一掌(據令而行,好打,快便難逢)。」 ; (快便難逢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cơ hội nghìn năm có một (rất khó gặp). Tắc 54 trong Bích nham lục (Đại 48, 188 trung) ghi: Ngài Vân môn hỏi vị tăng: -Ông vừa rời chỗ nào? Vị tăng trả lời: -Tây thiền. Ngài Vân môn hỏi: -Tây thiền gần đây có ngôn cú gì? Vị tăng dang 2 tay, ngài Vân môn đánh thật mạnh(theo lệnh mà làm, đánh mạnh, cơ hội nghìn năm khó gặp).

Khoái Toàn

(快全, Kaisen, ?-1424): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, húy là Khoái Toàn (快全), tự là Hiền Trí (賢智), xuất thân vùng Đơn Hậu (丹後, Tango, Kyoto). Ông theo hầu Hựu Tánh (宥性) ở Bảo Tánh Viện (寶性院) trên Cao Dã Sơn và chuyên tâm tu học. Sau đó, ông chuyển đến trú tại Thích Ca Văn Viện (釋迦文院) trong núi và chuyên tâm giảng cứu học tập. Trước tác của ông có Đại Sớ Truyền Thọ Sao (大疏傳受鈔) 18 quyển, Áo Sớ Do Lai Ký (奥疏由來記) 1 quyển, v.v.

Khoái 快

[ja] ケ ke ||| (1) Pleasure, enjoyment, comfortability; a good state of mind (sukha). Pleasant, agreeable, delightful, refreshing. (2) Quickly, fast, soon. Sharp, keen; sharply, keenly, acutely. (3) An indication of the future. => 1. Niềm vui thích, sự thích thú, thoải mái, tâm thái thanh thản (s: sukha). Làm thích ý, tán thành, làm say mê, làm tỉnh táo. 2. Nhanh chóng, mau, chẳng bao lâu. Bén nhọn, sắc bén; sắc nét, sắc sảo, sâu sắc. 3. Sắp, từ dùng trong thì tương lai.

khoán môn

(khoán môn ) Cửa cuốn, một lối kiến trúc thời cổ, kiến trúc Phật giáo cũng thu dụng. Phần trên cửa xây cuốn bằng gạch hoặc đá với hình bán cầu hoặc hình cung. Nếu cây cầu được xây cất theo kiểu này thì gọi là Củng kiều(cầu vòng cung).

Khoáng

曠; C: kuàng; J: kō;|1. Rất trong sáng và rõ ràng; 2. Hoang vu, trống không; 3. Bỏ hoang, bỏ quên; 4. Rộng mở, mênh mông, bao la, trống không, để trống; 5. Xa xăm, rộng dài; 6. Vô ưu, không bận tâm lo nghĩ.

khoáng dã thành

6666乃位於古印度摩竭陀與憍薩羅二國間之大城。據根本說一切有部毘奈耶卷四十七載,彼處原為大曠野,有五百群賊常殺害商旅,故兩界之行人絕跡。時影勝王聞知,即命大將消滅群賊。群賊哀求請活,大將慈心悲愍,乃於兩界中間築一新城,總集諸人共住,是為此城之由來。〔摩訶僧祇律卷十三、四分律卷三〕 ; (曠野城) Tòa thành lớn nằm giữa 2 nước Ma kiệt đà và Kiều tát la thuộc Trung Ấn độ thời xưa. Cứ theo Căn bản thuyết nhất hữu bộ Tì nại da quyển 47, thì thành này nguyên là nơi đồng không mông quạnh, có bọn cướp gồm 500 tên thường hay giết hại khách buôn, cho nên giữa 2 vùng này tuyệt nhiên không có dấu chân người qua lại. Bấy giờ Ảnh thắng vương nghe biết, mới sai Đại tướng tiêu diệt bọn cướp, chúng van xin tha mạng, vị Đại tướng vì lòng từ bi thương xót, xây dựng một tòa thành mới ở giữa 2 vùng, rồi chiêu tập dân chúng đến ở, đó là nguồn gốc của thành này. [X. luật Ma ha tăng kì Q.13; luật Tứ phần Q.3].

khoáng dã thần

6666梵名 Āṭavika 或 Āṭavaka。音譯阿吒薄俱、阿吒婆拘。又作曠野鬼神、曠野鬼、曠野夜叉。林人、林住之義。為十六藥夜叉神之一。佛教歷來修施食法,即以食物施與此神。在中國,於門上畫其形像,供食祭祀。南本大般涅槃經卷十五載,佛陀在世時,此鬼神住於曠野聚落,多食眾生,後雖受佛陀降伏教化,然猶仰血肉存活,故佛制戒隨有佛法修行者之處,悉當施彼飲食。觀佛三昧海經述其形相,謂此鬼神有一頸六頭六面,膝頭有兩面,全身生毛,狀如箭鏃,奮身射人,張眼焰赤,血出流下。又殑伽河之北那邏延天祠之東三十餘里有一塔,即佛陀昔時降伏曠野鬼神之遺蹟。 施諸餓鬼飲食及水法偈(大二一‧四六六下):「所有國土,一切餓鬼,先亡久遠,山川地主,乃至曠野,諸鬼神等,請來集此,我今悲愍,普施汝食。」 又此鬼神已受降伏,密放乃以之為消除惡獸、水火、刀兵等障難,及鎮護國土與眾生之善神。日本台密頗重視此尊,每於修鎮護國家之祕法時以之為主尊,稱為大元帥明王,其修法稱為大元帥法。〔金光明最勝王經卷九、觀佛三昧海經卷二、大唐西域記卷七〕 ; Xem Vô tỷ lực. ; (曠野神) Phạm:Àỉavika hoặcÀỉavaka. Dịch âm: A tra bạc câu, A tra bà câu. Dịch nghĩa: người rừng, ở rừng. Cũng gọi Khoáng dã quỉ thần, Khoáng dã quỉ, Khoáng dã dạ xoa. Thần ở đồng trống, 1 trong 16 thần Dược xoa. Trong Phật giáo xưa nay có pháp thí thực, tức là đem thức ăn bố thí cho thần này. Theo kinh Đại bát niết bàn quyển 15 (bản Nam), thì khi đức Phật còn tại thế, thần Khoáng dã ở trong làng xóm, đồng nội, ăn thịt nhiều chúng sinh, sau tuy được đức Phật giáo hóa, nhưng vẫn ăn thịt uống máu để sống còn, vì thế Phật chế giới, bất cứ chỗ nào có người tu hành Phật pháp đều phải bố thí thức ăn cho thần này. Theo kinh Quán Phật tam muội hải, thì loài qủi thần này có 1 cổ, 6 đầu, 6 mặt, đầu gối có 2 mặt, khắp mình mọc lông giống như các mũi tên sắt, hễ cử động thì lông bắn ra, trợn mắt đỏ ngầu, máu chảy ròng ròng. Ở phía bắc sông Hằng và cách đền thờ trời Na la diên về mạn đông có 1 ngôi tháp, tức là nơi mà ngày xưa đức Phật hàng phục và giáo hóa thần Khoáng dã. Mật giáo thờ thần Khoáng dã để tiêu trừ các chướng nạn như ác thú, nước lửa, đao binh, v.v... và coi họ như thiện thần giữ gìn đất nước và chúng sinh. Tông Thai mật của Nhật bản rất xem trọng thần Khoáng dã, thường thờ làm Bản tôn khi tu pháp Trấn hộ quốc gia và tôn xưng là Đại nguyên Súy minh vương. [X. kinh Kim quang tối thắng vương Q.9; kinh Quán Phật tam muội hải Q.2; Đại đường tây vực kí Q.7].

Khoáng kim 鑛金

[ja] コウキン kōkin ||| Gold ore; metal ore--a metaphor for sentient beings in the condition of ignorance. => Vàng quặng, kim loại thô - dụ cho chúng sinh còn trong vô minh.

Khoáng kiếp

曠劫; C: kuàng jié; J: kōgō;| Một thời gian dài. Từ xưa nay.

khoáng kiếp

6666曠,乃久遠之意;劫(梵 kalpa),乃古代印度表示極大時限之時間單位。謂久遠之時期,即無窮盡之彼時。碧巖錄第一則(大四八‧一四○下):「心有也,曠劫而滯凡夫;心無也,剎那而登妙覺。」 ; (曠劫) Khoáng là lâu xa, kiếp (Phạm:Kalpa) là đơn vị thời gian được người Ấn độ đời xưa dùng để chỉ cho thời hạn rất lớn, tức Khoáng kiếp là thời gian vô cùng tận. Tắc 1 Bích nham lục (Đại 48, 140 hạ), nói: Tâm hữu thì khoáng kiếp vẫn là phàm phu; tâm vô thì trong sát na chứng quả Diệu giác.

Khoáng kiếp 曠劫

[ja] コウ kō ||| (1) To be very clear and precise.(2) Waste, empty, void. (3) To vacate, to neglect. (4) Wide open, broad, vast, great empty, unoccupied. (5) Distant, far reaching. (6) Free from worry. [ja] コウゴウ kōgō ||| A long time. Since ancient times. => 1. Rất trong sáng và rõ ràng. 2. Hoang vu , trống không. 3. Bỏ hoang, bỏ quên. 4. Rộng mở, mênh mông, bao la, trống không, để trống. 5. Xa xăm, khó đến. 6. Không bận tâm lo nghĩ. Một thời gian dài. Từ xưa nay.

khoáng mạch

七蝨爲

Khoáng 鑛

[ja] コウ kō ||| Ore. Unrefined metal--a metaphor for sentient beings in the condition of ignorance. => Kim lọai thô – Dụ cho chúng sinh còn trong vô minh.

khoát nhiên đại ngộ

Sudden enlightenment.

khoảng

ca About.

khu khiển yết-ma

(驅遣羯磨), cũng gọi là khu xuất yết-ma, biện pháp áp dụng đối với vị tỳ-kheo có tội (thường là khi hình thức quở trách không có tác dụng), theo đó phải chịu sự trục xuất ra khỏi nơi ở.

khu long

6884指持戒之阿羅漢依恃戒力,驅逐迦濕彌羅國之毒龍。大毘婆沙論卷四十四(大二七‧二三○上):「昔此迦濕彌羅國中有一毒龍,名無怯懼,稟性暴惡,多為損害。去彼不遠,有毘訶羅數為彼龍之所嬈惱。寺有五百大阿羅漢,共議入定,欲逐彼龍,盡其神力,而不能遣。有阿羅漢從外而來,諸舊住僧為說上事。時外來者至龍住處,彈指語言:『賢面遠去。』龍聞其聲即便遠去。諸阿羅漢怪而問言:『汝遣此龍,是何定力?』彼答眾曰:『我不入定,亦不起通,但護尸羅,故有此力。我護輕罪,如防重禁,故使惡龍驚怖而去。』」〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上一〕 ; (驅龍) ..... Đuổi rồng độc hại. Chỉ cho việc vị A la hán nhờ vào sức giữ giới mà đuổi được con rồng độc ở nước Ca thấp di la. Luận Đại tì bà sa quyển 44 (Đại 27, 230 thượng), nói: Thủa xưa trong nước Ca thấp di la có con rồng độc, tên là Vô khiếp cụ (không khiếp sợ), bản tính hung ác, gây tổn hại cho nhiều người và thường đến Tì ha la số cách đó không xa để quấy nhiễu. Trong ngôi chùa ở vùng ấy có 500 vị A la hán cùng nhau bàn luận nhập định để đuổi rồng độc, mặc dầu dùng hết thần lực nhưng vẫn không đuổi được. Bấy giờ có 1 vị A la hán từ xa đến, các vị tăng trong chùa kể lại việc trên, vị A la hán liền đến chỗ rồng ở, khảy móng tay và nói rằng: Hiền giả hãy rời khỏi nơi này! Rồng độc nghe nói thế liền bỏ đi. Các vị A la hán kia lấy làm lạ, hỏi rằng: Nhờ định lực nào mà ngài có thể đuổi được con rồng ấy? Ngài đáp: Tôi không nhập định, cũng không khởi thần thông, tôi chỉ giữ giới mà có được sức ấy. Tôi giữ gìn giới nhẹ cũng như hộ trì giới nặng, nên khiến con rồng độc sợ hãi bỏ đi. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 1].

khu quỷ tiết

6884西藏佛教節日。每年傳小召時,於藏曆二月二十九日在拉薩魯布廣場舉行驅鬼之儀式。鬼名路恭(為一棒教徒,滅佛大臣,全名為恩蘭達札路恭〕。於節日當天,由喇嘛裝扮成半黑半白之面貌,眾人將之逐出郊外,扮鬼者須至桑耶寺住宿數日再潛回拉薩。 ; (驅鬼節) ........ Nghi thức đuổi quỉ của Phật giáo Tây tạng được cử hành vào ngày 29 tháng 2 hàng năm theo lịch Tây tạng tại quảng trường Lạp tát lỗ bố. Tên con quỉ là Lộ cung(gọi đủ là Ân lan đạt trát lộ cung), 1 môn đồ của Bổng giáo, chuyên phá hoại Phật giáo. Đúng vào ngày lễ này, lúc cử hành Tiểu triệu thì 1 vị Lạt ma hóa trang đeo mặt nạ nửa đen nửa trắng, bị mọi người đuổi ra khỏi thành, vị Lạt ma đóng vai giả quỉ này phải đến chùa Tang da ở lại vài ngày, rồi lại lén quay về Lạp tát (Lhasa).

khu tấn phạm giới

瑜伽七十卷九頁云:復次由三因緣,同梵行者應當和合驅擯犯戒。一、為護他故,二、彼不堪為上法器故,三、彼能令僧、無威德故。

Khu yếu 樞要

[ja] スウヨウ sūyō ||| (1) The key point; vital point; important point. (2) A commentary which is intended to elucidate the essentials of a sutra or some other canonical text, as in Kuiji's Cheng weishi lun shouyao 成唯識論樞要. => Điểm then chốt; điểm sinh động; điểm quan trọng. Luận giải với dụng ý làm sáng tỏ yếu điểm của kinh văn , như Thành Duy thức luận khu yếu (c: Cheng weishi lun shouyao 成唯識論樞要)của Khuy Cơ (Kuiji).

khu ô sa di

6884三沙彌之一。又稱逐蠅沙彌。指七歲至十三歲,能驅逐烏鳥、蠅等,不使掠奪比丘飲食之小沙彌。〔摩訶僧祇律卷二十九、五分律卷十七、四分律卷三十四〕 ; (驅烏沙彌) ........... Cũng gọi Trục dăng sa di(Sa di đuổi ruồi). Sa di đuổi quạ. Chỉ cho hạng sa di tuổi từ 7 đến 13, có thể xua đuổi chim quạ, ruồi nhặng, v.v... không để chúng tha hoặc làm bẩn thức ăn của các vị tỉ khưu. [X. luật Ma ha tăng kì Q.29; luật Ngũ phần Q.17; luật Tứ phần Q.34].

Khuy Cơ

(窺基, Kigi, 632-682): sơ tổ của Pháp Tướng Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Trường An (長安), Kinh Triệu (京兆) nhà Đường, họ là Úy Trì (尉遲), tự Hồng Đạo (洪道), còn được gọi là Linh Cơ (靈基), Thừa Cơ (乘基), Đại Thừa Cơ (大乘基), Cơ Pháp Sư (基法師), tục xưng là Từ Ân Đại Sư (慈恩大師), Từ Ân Pháp Sư (慈恩法師) và tông phái của ông được gọi là Từ Ân Tông (慈恩宗). Ông có tướng mạo khôi ngô, bẩm tánh thông tuệ, xuất gia lúc 15 tuổi, phụng sắc chỉ nhà vua làm đệ tử của Huyền Trang (玄奘, 602-664). Ban đầu ông đến xuất gia tại Quảng Phước Tự (廣福寺), sau chuyển đến Đại Từ Ân Tự (大慈恩寺), theo Huyền Trang học Phạn văn và kinh luận Phật Giáo. Năm 25 tuổi, ông tham gia dịch kinh, đến năm thứ 4 (659) niên hiệu Hiển Khánh (顯慶), khi Huyền Trang dịch bộ Duy Thức Luận (s: Vijñaptimātratāsiddhi-śāstra, 唯識論), ông cùng với ba vị Thần Phưởng (神昉), Gia Thượng (嘉尚), Phổ Quang (普光) cùng hiệu đính văn phong, nghĩa lý của bộ luận này. Huyền Trang còn sai ông diễn thuyết về Nhân Minh Chánh Lý Môn Luận (s: Nyāya-dvāra-tarka-śāstra, 因明正理門論) và Du Già Sư Địa Luận (s: Yogacārabhūmi, 瑜伽師地論) của Trần Na (s: Dignāga, Dinnāga, 陳那), vì vậy ông rất thông đạt tông pháp của Nhân Minh và Ngũ Tánh. Vào năm đầu (661) niên hiệu Long Sóc (龍朔), những bộ luận do Huyền Trang chủ dịch như Biện Trung Biên Luận (s: Madhyānta-vibhāga-ṭīkā, 辨中邊論), Biện Trung Biên Luận Tụng (s: Madhyānta-vibhāga-kārikā, 辨中邊論頌), Nhị Thập Duy Thức Luận (s: Viṃśatikāvijñapti-mātratā-siddhiḥ, 二十唯識論), Dị Bộ Tông Luân Luận (s: Samayabhedoparacanacakra, 異部宗輪論), A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận (s: Abhidharma-dhātu-kāya-pāda, 阿毘達磨界身足論), đều được ông chấp bút; và ngoại trừ A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận ra, ông đều ghi thuật ký cho các bộ luận này. Về sau, ông ngao du Ngũ Đài Sơn (五臺山), tuyên giảng đại pháp, rồi trở về Từ Ân Tự truyền thọ giáo nghĩa của thầy mình. Trước tác của ông rất nhiều cho nên người đương thời gọi ông là Bách Bản Sớ Chủ hay Bách Bản Luận Sư. Ông lấy Duy Thức Luận làm tông chỉ, nên còn được gọi là Duy Thức Pháp Sư. Vào năm đầu niên hiệu Vĩnh Thuần (永淳), ông thị tịch tại Phiên Kinh Viện (翻經院) của Từ Ân Tự, hưởng thọ 51 tuổi đời. Trước tác của ông có Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương (法苑義林章), Du Già Luận Lược Toản (瑜伽論略纂), Bách Pháp Minh Môn Giải (百法明門解), Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận Sớ (因明入正理論疏), Nhiếp Đại Thừa Luận Sao (攝大乘論鈔), Đối Pháp Luận Sao (對法論鈔), Thắng Tông Thập Cú Nghĩa Chương (勝宗十句義章), Pháp Hoa Kinh Huyền Tán (法華經玄贊), A Di Đà Kinh Thông Tán Sớ (阿彌陀經通贊疏), Quán Di Lặc Thượng Sanh Kinh Sớ (觀彌勒上生經疏), Kim Cang Bát Nhã Kinh Huyền Ký (金剛般若經玄記), Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh Tán (攝無垢稱經贊), v.v. ; 窺基; C: kuījī; 632-682;|Cao tăng Phật giáo Trung Quốc, đệ tử của Huyền Trang và cùng Huyền Trang sáng lập Pháp tướng tông.|Khuy Cơ đi tu từ năm 17 tuổi, năm 25 tuổi đã dịch kinh sách và tham gia dịch Thành duy thức luận (s: vijñaptimātratā-siddhi), một tác phẩm căn bản của Pháp tướng tông. Sư cũng viết một bài luận về tác phẩm này và hệ thống hoá mạch lạc giáo lí của thầy mình.

khuy cơ

6276(632~682)法相宗初祖。唐代京兆長安(陝西西安)人,俗姓尉遲。字洪道。又稱靈基、乘基、大乘基、基法師。或單稱基。俗稱慈恩大師、慈恩法師;其宗派則稱慈恩宗。 師貌魁偉,稟性聰慧。十七歲出家,奉敕為玄奘弟子,入廣福寺,後移住大慈恩寺,從玄奘習梵文及佛教經論。或謂師初拒玄奘之命而不斷世欲,行駕三車相隨,前車載經論,中車自乘,後車載家妓、女僕、食饌,遂有「三車法師」之稱,然此說恐為訛傳。 二十五歲參與譯經,顯慶四年(659),玄奘譯唯識論時,師與神昉、嘉尚、普光三師共同檢文、纂義,以議不合,玄奘乃遣出三師而獨留窺基,遂參糅十大論師之釋論而成一本,即成唯識論。玄奘又為師闡說陳那之因明正理門論及瑜伽師地論等,故師通達因明之學與五性之宗法。龍朔元年(661),玄奘主譯辯中邊論、辯中邊論頌、二十唯識論、異部宗輪論、阿毘達磨界身足論,皆由師筆受,除阿毘達磨界身足論外,皆作述記。後遊太行、五臺山,宣講大法,及返慈恩寺傳授玄奘之正義,著述甚多,時稱百本疏主,或百本論師;而以唯識論為宗,故又稱唯識法師。永淳元年寂於慈恩寺翻經院,世壽五十一,葬於樊川北原之玄奘塔側。 師之著作另有法苑義林章、瑜伽論略纂、百法明門解、因明入正理論疏、攝大乘論鈔、對法論鈔、勝宗十句義章,及法華經玄贊、阿彌陀經通贊疏、觀彌勒上生經疏、金剛般若經玄記、說無垢稱經贊等。〔成唯識論掌中樞要卷上、大慈恩寺三藏法師傳卷十、宋高僧傳卷四〕 ; Kuiji (J)Tên một vị sư. ; (窺基) (632-682) Cũng gọi: Linh cơ, Thừa cơ, Đại thừa cơ, Cơ pháp sư, Cơ, Từ ân đại sư, Từ ân pháp sư. Sơ tổ tông Pháp tướng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Trường an (Tây an, Thiểm tây), họ Úng trì, tự Hồng đạo. Sư có tướng mạo khôi ngô, bẩm tính thông tuệ. Năm 17 tuổi, sư vâng mệnh vua xuất gia làm đệ tử ngài Huyền trang ở chùa Quảng phúc. Sau, sư dời về chùa Đại từ ân, theo ngài Huyền trang học tiếng Phạm và kinh luận Phật giáo. Năm 25 tuổi, sư tham dự việc dịch kinh. Năm Hiển khánh thứ 4 (659), khi ngài Huyền trang dịch luận Duy thức, sư tham chước các bản luận thích của 10 vị Luận sư mà soạn thành 1 bản, tức là luận Thành duy thức. Ngài Huyền trang còn giảng dạy sư về luận Nhân minh chính lí môn của ngài Trần na và luận Du già sư địa của ngài Di lặc, vì thế sư rất thông thạo về Nhân minh học và tông pháp Ngũ tính. Niên hiệu Long sóc năm đầu (661), ngài Huyền trang chủ dịch các luận: Biện trung biên, Biện trung biên luận tụng, Nhị thập duy thức, Dị bộ tông luân, A tì đạt ma giới thân túc, v.v... đều do sư chấp bút. Trong các bộ luận trên, trừ bộ A tì đạt ma Giới thân túc luận ra, còn tất cả sư đều soạn Thuật kí. Sau, sư đến Thái hàng, Ngũ đài tuyên dương Đại thừa, rồi trở về chùa Từ ân truyền trao giáo pháp của ngài Huyền trang. Niên hiệu Vĩnh thuần năm đầu (682), sư thị tịch ở viện Dịch kinh, chùa Từ ân, thọ 51 tuổi, được an táng bên cạnh tháp ngài Huyền trang ở Phàn xuyên, Bắc nguyên. Những tác phẩm của sư gồm có: Pháp uyển nghĩa lâm chương, Du già sư địa luận lược toản, Bách pháp minh môn giải, Nhân minh nhập chính lí luận sớ, Nhiếp đại thừa luận sao, Đối pháp luận sao, Thắng tông thập cú nghĩa chương, Pháp hoa kinh tán, A di đà kinh thông tán sớ, Quán Di lặc thướng sinh kinh sớ, Kim cương bát nhã kinh huyền kí, Thuyết vô cấu xưng kinh tán. [X. Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng; Đại từ ân tự Tam tạng phápsư truyện Q.10; Tống cao tăng truyện Q.4].

Khuy Cơ 窺基

[ja] キキ Kiki ||| Kuiji (632-682). The most famous pupil of Xuanzang 玄奘. He wrote valuable notes to Xuanzang's Ch'eng wei-shih lun 成唯識論, and continued to transmit the Consciousness-only doctrine from Xuanzang. He lived most of his working life at Dacien temple 大慈恩寺, therefore he is commonly referred to as "Great teacher Cien" 慈恩大師. He is regarded as the first patriarch of the Faxiang 法相 sect in China. [Kuiji's Works] => Kiki (j); Kuiji (c); (632-682). Đệ tử kiệt xuất của ngài Huyền Trang. Người viết chú giải rất quan trọng về Thành Duy thức luận và kế tục sự nghiệp truyền bá Duy thức tông của ngài Huyền Trang. Sư dành phần lớn thời gian sống và làm việc của mình tại chùa Đại Từ Ân, nên Sư thường được gọi là Từ Ân Đại Sư. Sư được xem là Sơ tổ của Pháp tướng tông Trung Hoa.

khuyên hội

(圈圚) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho khuôn mẫu hoặc phương thức nhất định. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho cái phương tiện của thầy dùng lời nói, động tác để thử nghiệm và dẫn dắt người học. Tắc 16 Thung dung lục (Đại 48, 237 trung), nói: Phải và chẳng phải, hãy xem phương tiện(Khuyên hội)đè xuống nâng lên, khó anh khó em. Tắc 5 Bích nham lục (Đại 48, 145 trung), nói: Được mất, phải trái, cùng lúc buông bỏ hết, tự nhiên thấu suốt được phương tiện (Khuyên hội) của người.

khuyên luyến

(圈攣) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Khuyên(hoặc đọc là quyền)là chuồng nuôi muông thú; Luyên là sợi dây buộc mồi để thả câu. Thiền lâm dùng từ ngữ này để chỉ cho cơ pháp đặc biệt mà bậc thầy sử dụng để lôi kéo, nắm giữ người học có căn cơ cao, tính giác ngộ mạnh, giống như người buông câu dùng mồi ngon câu cá lớn; hoặc giống như người đi săn dùng cũi chắc chắn để nhốt mãnh thú, đó đều là những phép tắc phương tiện để ngăn ngừa thói quen ngông cuồng, nóng nảy của người học, thường thay đổi bất định mà mất tài năng. Trong những trườnghợp ấy, cái cơ pháp mà vị thầy thường dùng nhất là Viên tướng (tướng tròn), tức là dùng tay hoặc phất trần, cây như ý, gậy, v.v... vẽ 1 hình tròn trong hư không hoặc trên mặt đất, biểu thị cho chân lí tuyệt đối, dùng làm mồi dắt dẫn, tạo cơ khai ngộ cho người học. Tắc 33 Bích nham lục (Đại 48, 172 hạ), nói: Khi câu con ba ba lớn ngoài biển thì phải thả miếng mồi to và ngon (Khuyên luyên). [X. Bích nham sao; Phương ngữ giải, Bích nham lục].

Khuyến

勸; C: quàn; J: kan; |Có các nghĩa sau: 1. Ủng hộ, thuyết phục, khuyến khích; 2. Khuyên nhủ, giáo hoá; 3. Sự giúp sức, sự tiến bộ, sự tăng trưởng (s: samādāpayati).

khuyến

To exhort, persuade, admonish.

khuyến chuyển

The second, or exhortation turn of the Buddha's wheel.

khuyến duyên

6734從事勸進化緣之職稱,尤指刻印佛典之際,勸進喜捨淨財者。例如南宋湖州思溪圓覺禪院版大藏經之長阿含經卷二十二刊記上有「勸緣住持圓覺禪院傳法沙門懷深」等字,另如日本律宗戒學院所藏康元元年(1256)刊行之轉女身經刊記亦有「勸緣比丘藓持題」等字。 ; (勸緣) ..... Danh xưng các vị tăng chuyên đi khuyến hóa tín đồ góp tịnh tài cúng dường vào việc khắc in kinh điển. Như phần san kí của kinh Trường a hàm quyển 22 trong bản in Đại tạng kinh của Viên giác thiền viện ở Tư khê, Hồ châu, đời Nam tống, có hàng chữ Khuyến duyên Trụ trì Viên giác thiền viện Truyền pháp sa môn Hoài thâm. Lại như phần san kí của kinh Chuyển nữ thân được ấn hành vào năm 1256 và cất giữ ở viện Giới học thuộc Luật tông của Nhật bản, cũng có dòng chữ Khuyết duyên tỉ khưu Hốt trì đề, v.v...

khuyến giới nhị môn

6734<一>指勸門與誡門。教人行善,謂勸;制止惡行,謂誡。佛教教理兼具此雙重意義,稱勸門與誡門,或合稱勸誡二門。七佛通戒之偈頌:「諸惡莫作,眾善奉行,自淨其意,是諸佛教。」最能代表佛教勸誡二門之意義,亦即以眾善奉行為勸門,諸惡莫作為誡門。或以經藏為勸門,律藏為誡門。在印度,龍樹嘗為南印度憍薩羅國之娑多婆漢那王造勸發諸王要偈。〔法華經文句卷五下、中觀論疏卷一、大唐西域記卷十〕 <二>指勸信門與誡疑門。佛法唯信能入,故勸信,而誡其反對之疑惑。舊華嚴經卷六十(大九‧七八八上):「聞此法歡喜,信心無疑者,速成無上道。」新華嚴經卷十四(大一○‧七二中):「信為道元功德母,長養一切諸善法,斷除疑網出愛流。」 日本淨土宗於真實、虛假二心中,以真實心配於勸門,以虛假心配於誡門。或以勸進他力信仰為勸信,誡勗自力疑惑為誡疑。又以折伏魔法為誡,攝受正法為勸。〔選擇傳弘決疑鈔卷三〕 ; (勸誡二門) I. Khuyến Giới Nhị Môn. Khuyến môn và Giới môn. Khuyến là khuyên dạy người làm việc thiện; Giới là răn cấm người làm điều ác. Giáo lí Phật giáo có đủ 2 ý nghĩa này. Tiêu biểu nhất cho ý nghĩa khuyến giới của Phật giáo là bài kệ tụng tổng quát về giới luật của 7 đức Phật ở quá khứ: Chớ làm các điều ác Làm tất cả việc lành Giữ tâm ý trong sạch Là lời chư Phật dạy. Trong đó, làm tất cả việc lành là Khuyến môn, Chớ làm các điều ác là Giới môn. Có chỗ cho rằng Kinh tạng là Khuyến môn, mà Luật tạng là Giới môn. Ngày xưa, ở Ấn độ, ngài Long thụ đã soạn Khuyến phát chư vương yếu kệ để khuyên răn vua Sa đa bà hán na của nước Kiêu tát la. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.5 hạ; Trung quán luận sớ Q.1; Đại đường Tây vực kí Q.10]. II. Khuyến Giới Nhị Môn. Khuyến tín môn và Giới nghi môn. Chỉ có lòng tin mới vào được biển Phật pháp, vì thế khuyên vững niềm tin và răn dứt mối ngờ vực. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 60 (Đại 9, 788 thượng), nói: Được nghe pháp này mà vui mừng, sinh lòng tin không ngờ vực thì chóng thành đạo vô thượng. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 14 (Đại 10, 72 trung), nói: Tin là mẹ đẻ của vô lượng công đức, nuôi lớn tất cả pháp lành, cắt đứt lưới nghi ra khỏi sông ái. Tông Tịnh độ của Nhật bản đem tâm chân thực phối hợp với Khuyến môn, tâm hư giả phối hợp với Giới môn. Cũng có thuyết cho rằng khuyến tiến lòng tin vào tha lực là khuyến tín; răn ngừa sự nghi hoặc của tự lực là giới nghi. Lại nữa, chiết phục ma pháp là giới, nhiếp thụ chính pháp là khuyến. [X. Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao Q.3].

khuyến hoá

6732謂勸進轉化。即勸進眾生轉惡為善、轉迷成解、轉凡成聖。南本涅槃經卷十四(大一二‧六九五上):「若有眾生貪著五欲,於無量歲以妙五欲充足其情,然後勸化,令其安住阿耨多羅三藐三菩提。」〔撰集百緣經卷六須達多乘象勸化緣、大智度論卷三十三、俱舍論卷十二〕 ; (勸化) ..... Khuyến tiến chuyển hóa, nghĩa là khuyến tiến chúng sinh chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm thành Thánh. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 14 (Đại 12, 695 thượng), nói: Nếu có chúng sinh tham đắm 5 món dục lạc, thì hãy đem 5 dục vi diệu làm cho họ thỏa mãn, sau đó khuyến hóa, khiến họ an trụ nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. [X. Tu đạt đa thừa tượng khuyến hóa duyên trong kinh Soạn tập bách duyên Q.6; luận Đại trí độ Q.33; luận Câu xá Q.12].

khuyến hóa

To exhort to conversion, to convert.

khuyến học

6735日本淨土宗、真宗本願寺派、興正寺派等所用之最高學階。如本願寺派於文政七年(1824)設置勸學職十一人,由杳旭、慧航、性海等任之。 ; (勸學) ..... Tên chức vụ của những vị tăng có học vị cao thuộc các phái Bản nguyện tự, Hưng chính tự trong Tịnh độ tông và Chân tông của Phật giáo Nhật bản. Như vào năm Văn chính thứ 7 (1824), phái Bản nguyện tự đặt ra chức Khuyến học do 11 người đảm nhiệm, trong đó có các ngài Liễu húc, Tuệ hàng, Tính hải, v.v...

khuyến lặc

Kwanro-ku (C)Tên một nhà sư Cao ly truyền đạo Phật vào Nhật bản ở thế kỷ 6, 7 triều nữ vương Duy cổ Thiên hoàng (593 - 628).

Khuyến lệnh

勸令; C: quànlìng; J: kenryō; |Dạy dỗ và khuyến khích; thúc đẩy, ủng hộ.

Khuyến lệnh 勸令

[ja] カンリョウ kenryō ||| To teach and encourage; to push, exhort. Dạy dỗ và khuyến khích; thúc đẩy, ủng hộ.

khuyến môn

The method of exhortation or persuation, in contrast with prohibition and command.

khuyến phát

6734梵語 utsāhana。勸為獎勸之意,發為發起之意。依法華義疏卷十二之解釋,勸發即以諸勝事獎勸發起持經者之心。〔法華經文句卷十下、法華經玄贊卷十〕 ; Utsahana (S)Dùng những việc thù thắng khuyến khích phát khởi thiện tâm. ; (勸發) ..... Phạm:Utàhana. Khuyến là khuyến khích, phát là phát khởi. Theo sự giải thích trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 12, thì khuyến phát tức là dùng những việc thù thắng để khuyến khích mọi người phát khởi tâm trì tụng kinh Pháp hoa. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.10 hạ; Pháp hoa kinh Huyền tán Q.10].

khuyến phát chư vương yếu kệ

6734梵名 Ārya-nāgarjuna-bodhisattva suhṛllekha。全一卷。印度龍樹造,劉宋僧伽跋摩譯。收於大正藏第三十二冊。此書係龍樹菩薩寄予南方大國王娑多婆漢那之勸誡書。內容說明不淨觀、五欲過患,及遠離博奕等六污,其要旨在勸導修善以求究竟涅槃。本書之異譯本有劉宋求那跋摩譯之龍樹菩薩為禪陀迦王說法要偈、唐代義淨譯之龍樹菩薩勸誡王頌等,亦收於大正藏第三十二冊。〔南海寄歸內法傳卷四〕 ; (勸發諸王要偈) Phạm: Àrya-nagarjuna-bodhisattva suhfllekha. Tác phẩm, 1 quyển, do bồ tát Long thụ, người Ấn độ soạn, ngài Tăng già bạt ma dịch vào thời Lưu tống, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Đây là bộ sách khuyên răn mà bồ tát Long thụ gửi cho vua Sa đa bà hán na nước Kiêu tát la thuộc Nam Ấn độ. Nội dung nói về pháp quán bất tịnh, sự tai hại của 5 dục lạc và xa lìa lục uế nhiễm. Điểm cốt yếu của sách này là dạy người ta tu thiện để cầu Niết bàn rốt ráo. Sách này còn có các bản dịch khác như: - Long thụ bồ tát vị Thiền đà ca vương thuyết yếu kệ, do ngài Cầu na bạt ma dịch vào đời Lưu Tống. - Long thụ bồ tát khuyến giới vương tụng, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Cả 2 bản dịch trên cũng được thu vào Đại chính tạng tập 32. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].

khuyến phát phẩm

6734普賢菩薩勸發品之略稱。為法華經卷七第二十八品之品名。姚秦鳩摩羅什譯。收於大正藏第九冊。其內容說普賢菩薩自東方寶威德上王(梵 Ratnatejobyudgatarāja)佛國來此娑婆世界,聞佛陀說法,謂若成就四法,可於佛陀入滅後得法華經;普賢菩薩遂以諸勝事獎勸發起持經者之心。諸勝事即:問四法、現瑞相、說神咒、通經力、歎持經、說持經果報、護法等七事。 ; (勸發品) ........ Gọi đủ: Phổ hiền bồ tát khuyến phát phẩm. Phẩm thứ 28 trong kinh Pháp hoa quyển 7, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung phẩm này nói về việc bồ tát Phổ hiền từ cõi nước của Phật Bảo uy đức thượng vương (Phạm: Ratnatejobyudgataràja) ở phương đông đến thế giới Sa bà này, được nghe đức Phật Thích ca mâu ni nói rằng: Nếu thành tựu được 4 pháp thì sau khi Phật nhập diệt sẽ gặp được kinh Pháp hoa, bồ tát Phổ hiền bèn dùng 7 việc làm thù thắng để khuyến khích mọi người phát khởi tâm trì kinh. Bảy việc thù thắng ấy là: Hỏi về 4 pháp, hiện tướng lành, nói thần chú, sức thông suốt kinh (Pháp hoa), khen ngợi việc trì kinh, nói rõ quả báo của việc trì kinh, hộ pháp.

khuyến thiện trừng ác

6733又作勸善禁惡、懲惡勸善。即就諸惡莫作、眾善奉行之意而言。原人論序(大四五‧七○八上):「策萬行,懲惡勸善,同歸於治,則三教皆可遵行。」〔百論疏卷上之下、重開僧史略序〕 ; (勸善懲惡) ........... Cũng gọi khuyến thiện cấm ác, Trừng ác khuyến thiện. Khuyên làm các việc lành, răn cấm các điều ác. Bài tựa trong luận Nguyên nhân (Đại 45, 708 thượng), nói: Thúc dục muôn hạnh, trừng ác khuyến thiện, cùng đưa đến chỗ an vui, Tam giáo (Phật, Nho, Đạo) đều có thể làm như vậy. [X. Bách luận sớ Q.thượng phần cuối; Bài tựa Trùng khai tăng sử lược].

khuyến thỉnh

6735謂至誠請求佛菩薩來臨。據長阿含卷一大本經載,毘婆尸等過去七佛成道時,梵天嘗前往勸請三轉法輪。另於佛本行集經卷三十三梵天勸請品所載,釋尊成道時,梵天亦前來,以偈頌勸請佛陀轉法輪;佛於入涅槃時,諸弟子則勸請久住。 於合部金光明經卷二、十住毘婆沙論卷五等,勸請為四悔之一;於大乘三聚懺悔經、菩薩五懺法文等,勸請為五悔之一,與懺悔、隨喜、迴向等共為修菩薩行之要項。至後世,於法會時,先用外儀勸請諸佛菩薩降臨道場,次自行發願。然各宗派之用語不同。另如寺院落成時,無實際開山者,乃拜請本師或有德之僧擔任開山,此稱勸請開山。〔三卷本大般涅槃經卷上、賢愚經卷一、大毘盧遮那佛說要略念誦經、瑜伽師地論卷四十五、天台四教儀、往生禮讚偈〕 ; (勸請) Chí thành cầu thỉnh Phật và Bồ tát quang lâm. Cứ theo kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1, khi 7 đức Phật ở quá khứ như Phật Tì bà thi, v.v... thành đạo, thì Phạm thiên từng đến khuyến thỉnh Phật chuyển pháp luân. Còn theo phẩm Phạm thiên khuyến thỉnh trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 33, thì khi Phật Thích ca thành đạo, Phạm thiên cũng đến dùng kệ tụng khuyến thỉnh ngài chuyển pháp luân. Theo kinh Kim quang minh quyển 2 (Hợp bộ) và luận Thập trụ tì bà sa quyển 5, thì Khuyến thỉnh là 1 trong 4 hối; còn theo kinh Đại thừa tam tụ sám hối và Bồ tát ngũ sám pháp văn, thì Khuyến thỉnh là 1 trong 5 hối, cùng với sám hối, tùy hỉ và hồi hướng đều là những hạnh tu quan trọng của Bồ tát. Đến đời sau, khi cử hành pháp hội, trước hết dùng nghi thức khuyến thỉnh chư Phật, Bồ tát giáng lâm đạo tràng, sau đó tự mình phát nguyện. Ngoài ra, khi đức Phật sắp vào Niết bàn, các vị đệ tử xin Ngài trụ lâu nơi đời, thì gọi là khuyến thỉnh cửu trụ. Lại khi khánh thành chùa viện mà không có vị Khai sơn (người sáng lập chùa)thì bái thỉnh Bản sư (thầy tổ) hoặc vị tăng có đức hạnh đảm nhiệm Khai sơn, thì gọi là Khuyến thỉnh khai sơn. [X. kinh Đại niết bàn Q.thượng (bản 3 quyển); kinh Hiền ngu Q.1; kinh Đại tì lô giá na Phật thuyết yếu lược niệm tụng; luận

khuyến tiến

6734與「勸化」同義。謂勸誘策進,即勸化使入佛道。觀無量壽經(大一二‧三四一下):「發菩提心,深信因果,讀誦大乘,勸進行者。」善導之觀經序分義(大三七‧二六○上):「言勸進行者,此明苦法如毒,惡法如刀,流轉三有,損害眾生。今既善如明鏡,法如甘露,鏡即照正道以歸真,甘露即注法雨而無竭。欲使含靈受潤,等會法流,為此因緣,故須相勸。」 至後世引申指募化物資以造寺、建塔、鑄像等。此即自勸誘積聚自他之善根功德,轉為勸人喜捨淨財。而記載樂捐緣起與目的所使用之捐冊,則稱為勸進帳、勸化帳。於日本,中世紀以降十分盛行。〔法華經信解品〕 ; (勸進) ..... Đồng nghĩa: Khuyến hóa. Khuyên nhủ người ta gắng sức chuyển hóa mà trở về Phật đạo. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 341 hạ), nói: Phát tâm bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại thừa, khuyến tiến hành giả. Quán kinh tự phần nghĩa của ngài Thiện đạo (Đại 37, 260 thượng), nói: Cần phải khuyến tiến người tu hành, là vì khổ pháp như thuốc độc, ác pháp như dao, trôi lăn trong 3 cõi, tổn hại chúng sinh. Còn thiện thì như gương sáng, pháp như cam lộ, gương thì soi rọi chính đạo để trở về chân thực; cam lộ thì rưới mưa pháp không để khô kiệt, muốn cho hàm linh được thấm nhuần, đều gặp được dòng nước pháp, cho nên phải khuyến tiến lẫn nhau. Đến đời sau, khuyến tiến được chuyển thành nghĩa quyên góp tài vật để cất chùa, xây tháp, tạo tượng, đúc chuông, v.v... Đây tức là từ việc khuyên nhủ chứa góp công đức thiện căn của mình và người, chuyển thành nghĩa khuyến dụ mọi người hoan hỉ cúng tịnh tài để làm việc phúc lợi. Ngoài ra, quyển sổ dùng để ghi chép lí do và mục đích của việc quyên góp thì gọi là Khuyến tiến trướng, Khuyến hóa trướng. [X. phẩm Tín giải kinh Pháp hoa].

Khuyến trì

勸持; C: quànchí; J: kanji; |Ủng hộ và gìn giữ, tôn trọng, hành trì theo lời dạy trong một bộ kinh. Thuật ngữ nầy thường thấy ở phần kết thúc của một bộ kinh (theo Pháp hoa kinh 法華經).

khuyến trì phẩm

6733即法華經卷五第十三品之品名。姚秦鳩摩羅什譯。收於大正藏第九冊。前半品說藥王、大樂說等諸菩薩與得受記之五百阿羅漢等,誓願不惜身命奉持讀誦法華經;後半品說諸菩薩勸人受持是經,並令廣宣弘通。 ; (勸持品) Phẩm thứ 13 trong kinh Pháp hoa quyển 15, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung của nửa phẩm trước nói về các Bồ tát: Dược vương, Đại nhạo thuyết và 500 vị A la hán được thụ kí, thệ nguyện không tiếc thân mệnh phụng trì đọc tụng kinh Pháp hoa. Còn nửa phần sau thì nói về việc các Bồ tát khuyên mọi người thụ trì và hoằng dương rộng rãi kinh này.

Khuyến trì 勸持

[ja] カンジ kanji ||| The exhortation to preserve, revere, and follow the teachings of certain sutra. This is usually found close to the ending of a scripture. 〔法華經 T 262.9.35c27〕 => Ủng hộ và gìn giữ, tôn trọng, hành trì theo lời dạy trong một bộ kinh. Thuật ngữ nầy thường thấy ở phần kết thúc của một bộ kinh.

Khuyến Tu Tự

(勸修寺, Kanjū-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Sơn Giai (山階派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại Yamashinakanjujininōdō-chō (山科勸修寺仁王堂), Higashiyama-ku (東山區), Kyoto-shi (京都市). Căn cứ vào một số sử liệu như Khuyến Tu Tự Duyên Khởi (勸修寺緣起), thể theo bản nguyện của thân mẫu Đằng Nguyên Dận Tử (藤原胤子, Fujiwara-no-Inshi) và để cầu nguyện cho bà được siêu độ, vào năm 900 (niên hiệu Xương Thái [昌泰] thứ 3), Đề Hồ Thiên Hoàng (醍醐天皇, Daigo Tennō, tại vị 897-930) đã biến tư gia của Cung Đạo Di Ích (宮道彌益, Miyajii Yamasu) bên ngoại tộc thành ngôi già lam, và cung thỉnh Thừa Tuấn (承俊, Shōshun) làm Tổ khai sơn chùa. Vào năm 905 (niên hiệu Diên Hỷ [延喜] thứ 5), nơi đây trở thành chùa cấp định ngạch của triều đình, được phép độ tăng chúng hằng năm và trở thành đạo tràng của Chơn Ngôn cũng như Tam Luận. Đến năm 918 (năm thứ 18 cùng niên hiệu trên), từ khi Tế Cao (濟高) được bổ nhiệm về đây làm Trưởng Lại (長吏) đầu tiên, chùa trở nên cực thịnh. Chùa được sự bảo hộ hùng mạnh của Hoàng Thất, bao đời các bậc cự tượng lỗi lạc xuất hiện, từ đó vận của chùa ngày càng đi lên. Sau đó, vị Tổ đời thứ 7 của chùa là Giác Tín (覺信) lấy chùa làm cứ địa để khai sáng Dòng Khuyến Tu Tự (勸修寺流). Kể từ khi vị Hoàng Tử thứ 7 của Hậu Phục Kiến Thiên Hoàng (後伏見天皇, Gofushimi Tennō, tại vị 1298-1301) là Khoan Dận Thân Vương (寛胤親王) đến đây xuất gia, đời đời các vị Thân Vương đều được bổ nhiệm là Trưởng Lại ở đây, cứ như vậy kéo dào cho đến thời Minh Trị Duy Tân. Đến năm 1470 (niên hiệu Văn Minh [文明] thứ 2), chùa bị binh hỏa cháy tan tành, rồi được phục hưng như cũ; nhưng do vì không tuân mệnh của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), lãnh địa của chùa bị tịch thâu. Đến khi công trình xây dựng Thành Phục Kiến (伏見城, Fushimi-jō) thực hiện, trong khuôn viên chùa có đường thông ngang qua, các ngôi nhà bị dời đi nơi khác. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian niên hiệu Khoan Vĩnh (寛永), chùa được phục hưng lại. Đặc biệt, vào năm 1682 (niên hiệu Thiên Hòa [天和] thứ 2), Hoàng Tử thứ nhất của Linh Nguyên Thiên Hoàng (靈元天皇, Reigen Tennō, tại vị 1663-1687) là Tế Thâm Thân Vương (濟深親王) đến làm trú trì đời thứ 29 của chùa, vận chùa lại phát triển mạnh. Chùa hiện vẫn còn lưu giữ một số bảo vật như bức tranh thêu đồ hình Thích Ca Thuyết Pháp (tác phẩm thời nhà Đường), 3 bức Nhân Vương Kinh Lương Phần Sớ (仁王經良賁疏) tương truyền do tự tay Không Hải (空海, Kūkai) viết, v.v.

khuyến tu tự

6733日本真言宗山階派之大本山。位於京都東山山科區。相傳為日本醍醐天皇之敕願寺,由承俊律師開山。初為真言、三論兼修之道場。後為東密小野流一派勸修寺流之根據地。江戶時代復建,其書院風格為江戶初期書院建築典型之作。寺寶有刺繡釋迦如來說法圖,為華麗優美之傑作,另有仁王經良賁疏三帖(紙本墨書),皆為日本國寶。 ; Kanji (J)Tên ngôi chùa phái Sơn Giai, Mật tông Nhật bản.

khuyến tín giới nghi

6733佛法以信為能入之要門,亦為道之根源,故勸信而誡禁疑惑。舊華嚴經卷六十謂,聞此法而生歡喜,信心無疑者,能速成無上道。新華嚴經卷十四(大一○‧七二中):「信為道元功德母,長養一切諸善法,斷除疑網出愛流。」日本淨土真宗尤以信心為正因,能得報土往生與否,由信、疑而定,故勸誡特為殷切。 ; (勸信誡疑) [X. Khuyến Giới Nhị Môn II].

khuyến tướng chuyển

6733又作勸轉。世尊於鹿野苑說四諦之理,示三轉之相,即:示相轉、勸相轉、引證轉。勸相轉乃轉四諦理,勸勉世人:應遍知,即應知苦,苦乃一切生死之果報;應永斷,即應斷集,集乃生死之原因;應作證,即應證滅,滅乃滅生死苦果之涅槃;應修習,即應修道,道乃可得涅槃果之正道。意即勸修四諦,係對中根者所說;相當於修道(三道之一)。〔俱舍論卷二十四、法華經文句卷七下、三藏法數卷九〕(參閱「三轉法輪」694) ; (勸相轉) Cũng gọi Khuyến chuyển. Khuyến tướng chuyển là đức Thế tôn chuyển pháp luân nói lí Tứ đế ở vườn Lộc dã, khuyên người đời nên biết khổ, nên đoạn tập, nên chứng diệt và nên tu đạo. Tức khuyên tu Tứ đế, đây là nói theo hàng căn cơ bậc trung, tương đương với Tu đạo (1 trong 3 đạo). [X. luận Câu xá Q.24; Pháp hoa kinh văn cú Q.7 hạ; Tam tạng pháp số Q.9]. (xt. Tam Chuyển Pháp Luân).

Khuyến Tấn Trạng

(勸進狀, Kanjinjō):là những bản trạng văn khuyến hóa quyên góp tiền bạc để xây dựng hoặc tu sửa chùa chiền hay đền thờ.

khuyến đạo đệ nhất

6735指佛弟子優陀夷。謂勸發化導人,於佛弟子中以優陀夷為第一。增一阿含經卷三弟子品(大二‧五五七上):「善能勸導,福度人民,所謂優陀夷比丘是。」 ; (勸導第一) Chỉ cho ngài Ưu đà di, là người có duyên khuyến hóa bậc nhất trong hàng đệ tử của đức Phật. Phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 (Đại 2, 557 thượng), nói: Người có tài khuyến đạo khéo léo và dùng phúc thiện hóa độ mọi người chính là tỉ khưu Ưu đà di.

Khuyến 勸

[ja] カン kan ||| (1) To exhort, persuade, encourage. (2) To advise, teach. (3) Push, advance, increase (samādāpayati). => Có các nghĩa sau: 1. Ủng hộ, thuyết phục, khuyến khích. 2. Khuyên nhủ, giáo hoá. 3. Sự giúp sức, sự tiến bộ, sự tăng trưởng (s: samādāpayati).

khuyết bản kinh

(缺本經) Những kinh điển vốn đã được dịch ra chữ Hán, nhưng do sự lưu truyền qua nhiều đời nên bị thất lạc mà thiếu đi một số bản. Về số kinh khuyết bản thì trong Chúng kinh mục do ngài Ngạn tông soạn vào năm Nhân thọ thứ 2 (602) đời Tùy, liệt kê 402 bộ khuyết bản. Trong Vũ chu san định chúng kinh mục lục, do các ngài Minh thuyên, v.v... soạn vào niên hiệu Thiên sách vạn tuế năm đầu (695) đời Đường, liệt kê 450 bộ. Đến Khai nguyên thích giáo lục, do ngài Trí thăng biên soạn vào năm khai nguyên 18 (730) đời Đường, thì số kinh khuyết bản đột nhiên tăng lên 1.153 bộ. Còn trong Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục, do ngài Viên chiếu biên soạn năm Trinhnguyên 16 (808) đời Đường, thì liệt kê 1.148 bộ. Qua những tư liệu được trình bày ở trên, người ta nhận thấy: Chúng kinh mục lục của ngài Ngạn tông đời Tùy liệt kê có 402 bộ kinh khuyết bản; đến Khai nguyên lục đời Đường, kinh khuyết bản bỗng tăng lên tới 1.153 bộ, nhiều gấp 3 lần, nếu khảo chứng sự thật về con số ấy, thì rất đáng nghi ngờ; bởi vì các kinh điển bị cho là khuyết bản, thì sau đó lại tìm được, việc này thường xảy ra, vì thế, theo lí thì số lượng kinh khuyết bản chí giảm xuống chứ không thể thêm lên. Nhưng Khai nguyên lục lại tăng thêm gấp 3 lần, đó là vì khi biên soạn Lịch đại Tam bảo kỉ, ông Phí trường phòng tùy ý thêm tên người dịch vào các kinh mất tên dịch giả, kinh sao chép, v.v... làm thành ngụy mục lục, tuy rằng ngài Ngạn tông đời Tùy, khi khám định Chúng kinh mục lục, có loại bỏ một phần lớn các kinh không thuần nhất như kinh sao chép. Nhưng Khai nguyên lục lại sử dụng mục lục không đúng sự thực của Lịch đại Tam bảo kỉ và thêm tên các kinh khuyết bản, vì thế mà số kinh khuyết bản đã tăng lên nhiều. [X. chương 4, bộ 2 trong Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận].

khuyết dị dụ y

(缺異喻依) Tiếng dùng trong Nhân minh. Thiếu Dị dụ y, 1 lỗi Vô thể khuyết trong các lỗi thiếu sót thuộc Nhân minh cũ. Trong Nhân minh mới không thấy nói đến loại lỗi này. Thiếu Dị dụ y có 2 trường hợp: 1. Thiếu Tông dị phẩm, nên thiếu Dị dụ y không phạm lỗi. 2. Có Tông dị phẩm mà thiếu Dị dụ y thì phạm lỗi. [X. Nhân minh đại sớ lê trắc].

khuyết lậu

4281因守戒不嚴而犯過之謂。戒如堤防,可防過止惡,故謂不守戒為缺;因不守戒而過失漏於外稱為漏。〔法華經卷一方便品〕 ; (缺漏) ..... Do giữ giới không nghiêm túc mà phạm lỗi. Giới như con đê, có khả năng ngừa lỗi ngăn ác, cho nên không giữ giới là khuyết; vì không giữ giới nên tội lỗi phát sinh, gọi là lậu. [X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1].

khuyết quá

(缺過) Cũng gọi: Khuyết giảm quá, Khuyết giảm. Đối lại: Chi quá. Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi do sự trình bày không đầy đủ ý nghĩa. Tức là lỗi vì không có lời trình bày(ngôn trần)hoặc có lời trình bày mà nghĩa lí không đầy đủ, không bao quát. Lỗi này có thể chia làm 2 loại: 1. Vô thể khuyết: Chỉ mới trình bày phần Tông(mệnh đề)chứ chưa nói đến Nhân (lí do)và Dụ(đồng dụ và dị dụ). Tức là luận thức chưa đầy đủ, đối phương không hiểu được ý của người lập luận. Đây là thuyết Nhân minh cũ. 2. Hữu thể khuyết: Khi lấy ba tướng của Nhân làm pháp năng lập tuy nói 3 tướng, nhưng nếu thiếu 1 tướng đầu, hoặc thiếu 2 tướng sau, hay thiếu cả 3 tướng thì gọi là Tướng thiểu khuyết. Còn khi lấy Nhân và 2 Dụ(đồng dụ, dị dụ) làm Pháp năng lập, tuy có trình bày về thể của chúng nhưng thiếu 1, 2 hoặc cả 3 thì gọi là Nghĩa thiểu khuyết. Đây là thuyết của Nhân minh mới. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng].

khuyết vô

(缺無) Cũng gọi Khuyết vô quá. Tiếng dùng trong Nhân minh. Là lỗi thiếu 1 trong 3 chi(Tông, Nhân, Dụ)của luận thức Nhân minh. Khuyết vô và Khuyết quá có khác nhau. Khuyết quá (lỗi thiếu sót)chỉ là ý nghĩa sơ lược không đầy đủ, còn Khuyết vô là lỗi căn bản làm cho luận thức không tồn tại. Cho nên theo quy định của Nhân minh, lỗi Khuyết vô nghiêm trọng hơn lỗi Khuyết quá. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích].

khuyển trục khối

1507譬喻無知凡夫但見於果,而不求其因,如犬逐於塊,而不知追投之人。〔北本涅槃經卷二十五〕 ; (犬逐塊) Con chó đuổi theo cục đất. Từ ngữ này được dùng để thí dụ cho phàm phu không biết, chỉ thấy quả mà không thấy nhân, giống như con chó chỉ đuổi theo cục đất, chứ không biết đuổi theo người ném đất. [X. kinh Niết bàn Q.25 (bản Bắc)].

khuê cơ

K'uei-chi (C)(638-682), cùng thầy là ngài Huyền Trang đã hệ thống hóa giáo pháp Duy thức tông.

Khuê ly

(暌離): cách xa, rời xa, xa lìa. Như trong bài Tú Quy Hình Thi (繡龜形詩, Toàn Đường Thi, quyển 799) của (侯氏) nhà Đường có câu: “Khuê ly dĩ thị thập thu cường, đối kính na kham trùng lí trang, văn nhạn kỉ hồi tu xích tố, kiến sương tiên vị chế y thường (暌離已是十秋強、對鏡那堪重理妝、聞雁幾回修尺素、見霜先爲制衣裳, xa lìa vốn đã mười thu hơn, nhìn kính cần chi phấn sáp thơm, nghe nhạn bao lần mong thư tín, thấy sương vội vã chế y thường).” Hay trong Gia Đình Bảo Phiệt (家庭寶筏) do Biệt Tiều Cư Sĩ (別樵居士) ở Hán Dương (漢陽) biên soạn có đoạn: “Lưu lạc viễn phương, sử kỳ phụ mẫu khuê ly, thậm hoặc tử ư đố phụ chi thủ, luân ư dâm xướng chi gia (流落遠方、使其父母暌離、甚或死於妒婦之手、淪於淫娼之家, lưu lạc phương xa, khiến cho xa lìa cha mẹ, thậm chí chết trên tay người nữ đố kỵ, hay rơi vào nhà xướng hát bán dâm).”

khuê phong

2307位於陝西鄠縣東南,紫閣峰東面之山。其形如圭,山下有草堂寺,寺東又有小圭峰。唐朝華嚴宗第五祖宗密禪師,曾住草堂寺,寂後葬於圭峰,故後世咸以圭峰稱之。又江西鉛山縣鵝湖側亦有一圭峰。(參閱「宗密」3158) ; (圭峰) ..... Ngọn núi ở phía đông nam huyện Hộ, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, hình núi giống như hòn ngọc Khuê, phía dưới núi có chùa Thảo đường, phía đông chùa này có Tiểu khuê phong. Thiền sư Tông mật, vị tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm đời Đường, từng trụ trì chùa Thảo đường, sau khi ngài tịch được an táng ở Khuê phong, cho nên đời sau thường dùng chữ Khuê phong để gọi ngài. Ở bên cạnh Nga hồ, huyện Diên sơn, tỉnh Giang tây cũng có 1 ngọn núi tên là Khuê phong. (xt. Tông Mật).

khuê phong bi

2307指唐代圭峰禪師碑。圭峰禪師即華嚴宗第五祖宗密禪師,示寂後葬於陝西鄠縣東南之圭峰,唐大中九年(855),門人立碑,稱圭峰定慧禪師傳法碑。裴休撰書,柳公權篆額。〔宋高僧傳卷六、景德傳燈錄卷十三〕 ; (圭峰碑) ........ Tấm bia ghi lại sự nghiệp truyền pháp của thiền sư Khuê phong Tông mật đời Đường, vị tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm. Sau khi Thiền sư thị tịch, ngài được an táng ở núi Khuê phong, phía đông nam huyện Hộ, tỉnh Thiểm tây. Năm Đại trung thứ 9 (855) đời Đường, môn nhân của ngài dựng bia, gọi là Khuê phong Định tuệ thiền sư truyền pháp bi. Văn bia do ông Bùi hưu soạn và viết, còn những chữ triện trên trán bia là của ông Liễu công quyền. [X. Tống cao tăng truyện Q.6; Cảnh đức truyền đăng lục Q.13].

khuê phong tôn mật

Kuei feng Tsung mi (C), Keihō ShŪmitsu (J), Guifeng Zongmi (C)(780-841) Một thiền sư, là tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm.

Khuê Phong Tông Mật

(圭峰宗密, Keihō Sumitsu, 780-841): người Quả Châu (果州), Tỉnh Tứ Xuyên (四川省), ban đầu ông theo học Nho Giáo, sau chuyển sang Phật Giáo. Năm lên 15 tuổi, ông xuất gia, theo hầu hạ Đạo Viên (道圓), chẳng bao lâu sau gặp được Viên Giác Kinh (圓覺經) và Pháp Giới Quán Môn (法界觀門) của Đỗ Thuận (杜順), cho nên ông xác định được lập trường của mình. Năm lên 19 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới, sau đó vào năm 808 thể theo lời dạy của Đạo Viên, ông đến hầu hạ thầy của vị này là Kinh Nam Trương (荆南張, tức Nam Ấn), rồi tiếp theo học Thiền với Thần Chiếu (神照), học trò của Kinh Nam Trương, ở Báo Quốc Tự (報國寺), Lạc Dương (洛陽). Ngoài ra, vào năm 811 ông theo hầu hạ Thanh Lương Trừng Quán (清涼澄觀), chuyên tâm nghiên cứu về Hoa Nghiêm. Thông qua trước tác và giảng dạy, thanh danh của ông càng lên cao. Từ năm 821 trở đi, ông đến sống tại Thảo Đường Tự (草堂寺) thuộc Chung Nam Sơn (終南山), và chuyên tâm viết bộ Viên Giác Kinh Đại Sớ Sao (圓覺經大疏鈔), v.v. Vào năm 828, ông được vua Văn Tông (文宗) mời vào cung thuyết pháp, được ban cho Tử Y, và từ đó về sau ông quen thân với Bùi Hưu (裴休, 791-864), rồi viết nên cuốn Bùi Hưu Thập Di Vấn (裴休拾遺問) dưới hình thức trả lời các câu hỏi của nhân vật này. Ngoài ra còn có các trước tác khác như Khởi Tín Luận Chú Sớ (起信論注疏), Vu Lan Bồn Kinh Sớ (盂蘭盆經疏), Hoa Nghiêm Kinh Hạnh Nguyện Phẩm Sớ Sao (華嚴經行願品疏鈔), Chú Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn (注華嚴法界觀門), Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (禪源諸詮集都序), Nguyên Nhân Luận (原人論). Ông qua đời tại Thảo Đường Tự vào năm 841; Bùi Lâm soạn bản Khuê Phong Thiền Sư Bia Minh Tinh Tự (圭峰禪師碑銘幷序). ; 圭峰宗密; C: guīfēng zōngmì; J: keihō shū-mitsu; 780-841;|Thiền sư Trung Quốc dòng Hà Trạch Thần Hội và cũng là Tổ thứ 5 của Hoa nghiêm tông. Sư tìm cách phối hợp giáo lí của Hoa nghiêm tông và cách thực hành của các vị Thiền sư. Sư luận giải giáo lí của Hiền Thủ Pháp Tạng – Tổ thứ ba của Hoa nghiêm tông – bằng ngôn ngữ dễ hiểu hơn. Hoa nghiêm nguyên nhân luận của Sư là một trong những tác phẩm tiêu chuẩn mà những vị tăng ở Nhật Bản phải học qua.|Sư họ Hà, quê ở Quả Châu, lúc đầu quy y ở Toại Châu nơi Thiền sư Viên. Nhân dịp đọc kinh Viên Giác, Sư bỗng ngộ yếu chỉ. Sau khi đọc Hoa nghiêm sớ, Sư đến yết kiến Pháp sư Thanh Lương Trừng Quán và sau trở thành Tổ thứ năm của Hoa nghiêm tông. Danh tiếng của Sư lan tràn khắp nơi và vua Ðường Văn Tông ban cho Sư áo ca-sa tía (tử y). Ngày 6 tháng giêng năm Hội Xương, Sư ngồi thị tịch. Vua sắc phong là Ðịnh Huệ.|Một tác phẩm nổi tiếng khác của Sư là Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự cũng thường được nhắc đến, trong đó Sư phân chia Thiền thành năm thể loại, được gọi chung là Ngũ vị thiền.

Khuê Phong 圭峰, 圭峯

[ja] ケイホウ Keihō ||| Guifeng; The monastic title of Zongmi 宗密. => c: Guifeng; tên ngôi chùa của Tông Mật ( 宗密c: Zongmi ).

Khuê phạm

(閨範): chỉ quy phạm đạo đức người phụ nữ cần phải tuân thủ. Như trong bài Cố Diêm Châu Phòng Ngự Sử Vương Túng Truy Thuật Bi (故鹽州防禦使王縱追述碑) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường có câu: “Tảo di phương ư khuê phạm, nghi ưng đảo ư hà linh (早貽芳於閨範、宜應禱於河靈, sớm lưu tiếng thơm quy phạm, nên cầu đảo nơi thần linh).” Hay trong Ngọc Tao Đầu (玉搔頭), phần Thập Sầu (拾愁), của Lý Ngư (李漁, 1610-1680) nhà Thanh, cũng có đoạn: “Chỉ thị nhĩ tại gia trung, tu yếu cẩn thủ khuê phạm, cần tố nữ công, bất khả thiện xuất phòng môn, nhạ nhân đàm tiếu (只是你在家中、須要謹守閨範、勤做女工、不可擅出房門、惹人談笑, chỉ là ngươi ở trong nhà, nên cần thận trọng giữ gìn quy phạm đạo đức, siêng năng làm nữ công, không được tự ý ra khỏi cửa phòng, khiến cho người ta cười nói).”

Khuê Sơn 圭山

[ja] ケイセン Keisen ||| Guishan; a reference to Zongmi 宗密. => c: Guishan; tham khảo Tông Mật(宗密c: Zongmi)

Khuê Đường Cư Sĩ

(圭堂居士, Keidō Koji, khoảng thế kỷ 12-13): vị cư sĩ của Lâm Tế Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, không rõ truyền ký về ông ta như thế nào. Hiện tại chúng ta chỉ biết được rằng ông là người đã chia yếu nghĩa Phật pháp của bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏) do Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) trước tác thành 19 thiên và giải thích tường tận.

khuông nhân

2201唐末五代曹洞宗僧。生卒年不詳。又稱光仁。出家後,參謁香嚴智閑等人,後嗣洞山良价之法,住撫州(江西臨川)之疏山,建疏山寺,舉揚洞山宗風。世稱撫州疏山匡仁禪師,或稱疏山、疎山。因其身形矮小,容貌不揚,故被稱爲矮師叔、矬師叔,或矮闍黎。但卻因辯才無礙,常令他人無開口發言之機會,故又有「疏山嚙鏃」之稱。蓋「嚙鏃」為不得開口之意。〔宋高僧傳卷十三、景德傳燈錄卷十七、五燈會元卷十三〕

Khuông Việt

匡越; 933-1011|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 4, đắc pháp nơi Thiền sư Vân Phong. Kế thừa Sư là Thiền sư Ða Bảo.|Sư tên tục là Ngô Chân Lưu, quê ở làng Cát Lợi quận Thường Lạc. Thuở nhỏ Sư theo nghiệp nhà Nho nhưng lớn lên lại tu học Phật pháp. Sư thụ giáo nơi Thiền sư Vân Phong tại chùa Khai Quốc và triệt ngộ yếu chỉ Thiền nơi đây.|Danh Sư vang khắp tùng lâm, được vua Ðinh Tiên Hoàng mời vào cung hỏi đạo. Sư ứng đối rành rẽ, vua rất phục, ban cho chức Tăng thống. Ðến đời vua Lê Ðại Hành, Sư càng được kính trọng. Bao nhiêu việc về binh, nước, vua đều mời Sư vào cung tham vấn.|Sắp tịch, gọi Ða Bảo lại nói kệ:|木中原有火。有火火還生|若謂木無火。鑽遂何由萌|Mộc trung nguyên hữu hoả|Hữu hoả, hoả hoàn sinh|Nhược vị mộc vô hoả|Toản toại hà do manh.|*Trong cây sẵn có lửa|Có lửa, lửa lại sinh|Nếu bảo cây không lửa|Cọ xát làm gì sinh.|Ðọc xong, Sư ngồi Kết già thị tịch, thọ 79 tuổi.

khuất chi

Xem Dao Tần.

khuất huyễn bố

3192屈眴,梵語 kārpāsaka 譯爲第一布、第一好布,或大細布。係以木棉之花心紡織而成者。據釋氏六帖卷二十二布條載,唐代稱屈眴布爲第一布,乃紡木棉花之心而成,即達磨所傳之七條衣,內面爲碧色,原傳自師子尊者。宋高僧傳卷八慧能傳(大五○‧七五五中):「其塔下葆藏屈眴布鬱多羅僧,其色青黑,碧縑複裌,非人間所有物也。」〔六祖大師法寶壇經註、釋門正統卷八、禪林象器箋服章門〕 ; (屈眴布) Khuất huyến, Phạm:Kàrpàsaka. Hán dịch: Đệ nhất bố, Đệ nhất hảo bố, Đại tế bố. Loại vải rất mịn được dệt bằng sợi bông. Theo điều Bố(vải)trong Thích thị lục thiếp quyển 22, vào đời Đường, vải Khuất huyến được coi là vải tốt nhất được dệt bằng sợi bông, tức chỉ cho tấm áo ca sa 7 nẹp của Tổ Đạt ma, mặt trong có mầu xanh biếc, áo này vốn được truyền từ Tôn giả Sư tử. Truyện Tuệ năng trong Tống cao tăng truyện quyển 8 (Đại 50, 755 trung), nói: Dưới tháp Tổ có cất giữ tấm áo Uất đa la tăng bằng vải khuất huyến mầu xanh biếc, được may 2 lớp, nhân gian không có được. [X. Lục tổ đại sư Pháp bảo đàn kinh chú; Thích môn chính thống Q.8; môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Khuất khúc giáo 屈曲教

[ja] クツゴクキョウ kutsugokukyō ||| 'Gradually chipping away.' A teaching method of the Buddha, where he uses various expedient means according to people's abilities, to gradually break their attachments. One of the "two teachings of Dharma master Yin [印師]", the other being the direct teaching of the equality of all existences 平等教 (pingdeng jiao). => Một pháp môn của Đức Phật, dùng nhiều phương tiện tuỳ thuộc căn tính của chúng sinh để dần dần dẹp trừ chấp trước cho họ. Đó là một trong 'hai pháp môn của Pháp sư Ấn Sư (e: Dharma master Yin [印師])' phần kia là pháp môn thẳng tắt Bình đẳng giáo (平等教; c: pingdeng jiao)..

khuất lãng nã quốc

3192屈浪拏,梵名 Kurāṇa。爲七世紀頃西域古王國。又作屈浪那國、俱蘭國、俱蘭弩國。依大唐西域記卷十二所載,此國在睹貨邏國舊地,周長二千餘里,民風粗鄙暴戾,多不信佛法,伽藍、僧徒等數量極少,惟有國王性情淳厚,崇敬三寶。唐書西域列傳第一四六,載有此國於貞觀二十年(646)入貢金精之事。此國之位置,今依英國歷史地理學者裕爾(H. Yule, 1820~1889)之推定,當在今阿富汗境內科恰河(Kokcha)上游之庫朗(Kuran)。〔解說西域記、S. Beal: Buddhist Recordsof The Western World, vol. I〕 ; (屈浪拿國) Khuất lãng noa, Phạm:Kuràịa. Cũng gọi Khuất lãng na quốc, Câu lan quốc, Câu lan nỗ quốc. Tên 1 nước xưa ở Tây vực vào khoảng thế kỉ thứ VII. Theo Đại đường tây vực kí quyển 12, thì nước này nằm cở vùng đất cũ của nước Đổ hóa la, chu vi hơn 2000 dặm, dân chúng tính tình thô bỉ, bạo ngược, đa số không tin Phật pháp, chùa chiền, tăng đồ rất ít, chỉ có nhà vua là tính tình thuần hậu, sùng kính Tam bảo. Về vị trí nước này, theo ông H. Yule (1820-1889), nhà lịch sử học và địa lí học người Anh, thì vùng đất Kuran ở thượng du sông Kokeha nằm trong nội địa nước Afghanistan hiện nay chính là nước Khuất lãng noa (Phạm:Kuràịa) ngày xưa. [X. Giải thuyết Tây vực kí; S. Beal: Buddhist Records of the Western World, vol. I].

khuất lộ đa quốc

3193屈露多,梵名 Kulūta。北印度古國。依大唐西域記卷四所載,此國周長三千餘里,都城周長十四、五里,土壤肥沃,適於耕種,產珍藥、金、銀、銅等,伽藍二十餘所,僧徒千餘人,多學大乘,存有往昔如來說法之遺蹟,及無憂王所建之窣堵波。依英國考古學家康林罕(A. Cunningham)推定,此國故址當在今闍蘭達(Jāllandhar)東北,比亞斯河(Byās)上游之古廬(Kullu),那嘎(Nagar)即其都城。學者瓦特斯(T. Watters)則以有部毘奈耶藥事卷九所述之積集聚落,即屈露多國。〔釋迦方志卷上、A. Cunningham:The Ancient Geography of India;T.Watters:On Yuan Chwang, vol. I〕 ; (屈露多國) Khuất lộ đa, Phạm:Kulùta. Tên 1 nước xưa ở miền Bắc Ấn độ. Theo Đại đường Tây vực kí quyển 4, nước này chu vi hơn 3000 dặm, đô thành rộng 14 đến 15 dặm, đất đai phì nhiêu, thích hợp cho việc trồng trọt, sản xuất thuốc quí, vàng, bạc, đồng, v.v... Có hơn 20 ngôi chùa với hơn 1000 tăng đồ, phần nhiều tu học theo Đại thừa. Ở đây còn có di tích thuyết pháp của đức Như lai thủa xưa và tháp do vua A dục xây dựng. Theo sự suy định của ông A. Cunningham, nhà Khảo cổ học người Anh, thì vùng đất Kullu ở thượng du sôngByàs, phía đông bắcJàllandharhiện nay chính là đất cũ của nướcKulùtangày xưa và Nagar ngày nay chính là đô thành của nước ấy. Còn học giả T. Watters thì cho rằng Thôn làng Tích tập nói trong Hữu bộ tì nại da dược sự quyển 9 tức là nước Khuất lộ đa. [X. Thích ca phương chí Q.thượng; A. Cunmingham: The Ancient Geography of India; T. Watters: On Yuan Chwang, vol. I].

khuất ánh quang

3191(1881~1973)浙江臨海人。字文六。法名法賢。早年與秋瑾、徐錫麟等人參加革命,歷任浙江民政長、山東都督、省長等要職。北伐以後,退出政壇,專志學佛及救災慈善事業。先後皈依諦閑、大勇、班禪、白普仁、貢噶呼圖克圖等,顯密兼修,迭獲授記灌頂,佩金剛阿闍梨印。來臺後,曾與趙恆蘔等人組織菩提學會、修訂中華大藏經會等,從事弘揚密教及修藏事務。曾注釋心經、無量壽經、觀無量壽經、四加行大手印導引等書。

khuất đà ca ni ca da

3191巴利名 Khuddaka-nikāya。意譯小部。或意音合譯爲小尼迦耶。乃南傳巴利文五部經之第五。又作屈陀迦尼柯耶。係集輯長、中、相應、增支等四尼迦耶之傳說、偈頌、格言等而成,概爲短篇,故稱小部;或謂所收錄者以雜文(巴 khuddaka-pāṭha,小誦)爲始,乃稱小部。其內容諸說有異,據善見律毘婆沙卷一載,有:法句(巴 Dhamma-pada)、喻(巴 Apadāna)、嫗陀那(巴 Udāna)、伊諦佛多伽(巴 Itivuttaka)、尼波多(巴 Sutta-nipāta)、毘摩那(巴 Vimāna-vatthu)、卑多(巴 Peta-vatthu)、涕羅(巴 Thera-gāthā)、涕利伽陀(巴 Therī-gāthā)、本生(巴 Jātaka)、尼涕娑(巴 Niddesa)、波致參毘陀(巴 Paṭisambhidā)、佛種姓(巴 Buddha-vaṃsa)、若用藏(巴 Cariyā-piṭaka)等十四部;巴利文一切善見(Samantapāsādika)、巴利文長部經註(Sumaṅgala-vilāsinī)序、錫蘭所傳巴利三藏等,加小誦而爲十五部;緬甸所傳巴利三藏又增彌蘭陀問(巴 Milinda-pañha)、經集(巴 Sutta-saṃgaha)、?勒論(巴 Peṭakopadesa)、指導論(巴 Netti)等而爲十九部;暹羅(泰國)之巴利三藏中,僅有錫蘭所傳十五部中之八部,即:法句、喻、嫗陀那、伊諦佛多伽、尼波多、尼涕婆、波致參毘陀等。 今略說錫蘭之十五部:(一)小誦,有九篇,前四篇闡說新入佛道者所須修學之三歸、十學處等;後五篇輯錄儀式時所唱誦之禮讚,至今尚爲錫蘭教徒沿用。(二)法句,有二十六章四二三頌,爲佛教道德格言集,相當於漢譯本之法句經、法句譬喻經。(三)嫗陀那,有八品八十經,係以頌及長行讚美阿羅漢果、涅槃等。(四)伊諦佛多伽,有四章十一品,亦以頌及長行闡說行因得果之法,相當於玄奘譯之本事經。(五)尼波多,分爲五品,即:蛇品(巴 Uraga-vagga)、小品(巴 Cūḷa-vagga)、大品(巴 Mahā-vagga)、八品(巴 Aṭṭhaka-vagga)、波羅延品(巴 Pārāyana-vagga)等,前四品有五十四經,波羅延品有十六詩篇,內含最早期之經典。(六)毘摩那。(七)卑多,與毘摩那二者皆係闡釋業力思想的短篇之作,爲巴利聖典中較晚近之典籍。(八)涕羅。(九)涕利伽陀,與涕羅二者均爲輯錄長老及長老尼所作之頌,涕羅有一○七章,一二七九頌,涕利伽陀有七十三章,五二二頌。(十)本生,有五四六品,爲佛陀之本生故事,採錄不少佛教以外之傳說。(十一)尼涕婆,爲尼波多中小品之注釋書。(十二)波致參毘陀,屬論藏。(十三)喻,輯錄已得阿羅漢果之佛弟子、長老尼等之教說,乃巴利聖典中最晚出之典籍。(十四)佛種姓經,有二十五章,敘述過去十二劫中所出世之二十四佛的故事。(十五)若用藏,敘述佛陀過去世爲菩薩時修波羅蜜之故事。〔M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd. II.(Diebuddhische Literatur); Four Āgamas in Chinese(姊崎正治)〕 ; (屈陀迦尼迦耶) Pàli:Khuddaka-nikàya. Hán dịch: Tiểu bộ, Tiểu ni ca da. Cũng gọi: Khuất đà ca ni kha da. Bộ thứ 5 trong 5 bộ kinh bằng tiếng Pàli thuộc hệ thống kinh điển Nam truyền. Đại thể bộ kinh này do thu tập các truyền thuyết, kệ tụng, cách ngôn, v.v... trong 4 bộ Ni ca da: Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tương ứng bộ kinh và Tăng chi bộ kinh mà thành. Vì chỉ gồm những thiên ngắn nên gọi là Tiểu bộ; hoặc có chỗ cho rằng do thu chép những tạp văn (Pàli:Khuddka-pàỉha, Tiểu tụng) làm đầu nên gọi là Tiểu bộ. Về nội dung kinh này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1, thì Khuất đà ca ni ca da gồm 14 bộ: Pháp cú (Pàli:Dhamma-pada), Dụ (Pàli:Apadàna) Ẩu đà na (Pàli:Udàna), Y đế Phật đa già (Pàli:Ftivuttaka). Ni ba đa (Pàli:Sutta-nipàta), Tì ma na (Pàli: Vimàna-vatthu) Ti đa (Pàli: Petavatthu), Thế la (Pàli:Thera-gàthà), Thế lợi già đà (Pàli:Therì-gàthà), Bản sinh (Pàli:Jàtaka), Ni thế bà (Pàli:Niddesa), Ba trí tham tì đà (Pàli:Paỉisambhidà), Phật chủng tính (Pàli:Buddha-vaôsa) và Nhã dụng tạng (Pàli:Cariyà piỉaka). Còn trong bộ Nhất thiết thiện kiến (Pàli: Samantapàsàdika), bài tựa Trường bộ kinh chú (Pàli:Sumaígala-vilàsinì) và Tam tạngPàli của Tích lan thì thêm Tiểu tụng nữa mà thành 15 bộ. Tam tạng Pàli của Miến điện lại thêm Di lan đà vấn (Pàli: Milinda-paĩha), Kinh tập Pàli:Suttasaôgaha), Côn lặc luận (Pàli: Peỉakopadesa) và Chỉ đạo luận (Pàli: Netti) nữa mà thành 19 bộ. Tam tạngPàli Thái lan thì chỉ có 8 bộ trong 15 bộ do Tích lan truyền là: Pháp cú, Dụ, Ẩn đà na, Y đế Phật đa già, Ni ba đa, Ni thế bà và Ba trí tham tì đà. Nay nói qua về 15 bộ kinh của Tích lan như sau: 1. Tiểu dụng: Có 9 thiên, 4 thiên đầu nói về việc người mới vào đạo Phật cần phải tu học 3 qui y và 10 học xứ, 5 thiên sau thì ghi chép những nghi thức tán tụng. Cho đến nay, tín đồ Phật giáo của Tích lan vẫn noi theo nghi thức này. 2. Pháp cú: Có 26 chương, 423 bài tụng, các cách ngôn đạo đức Phật giáo, tương đương với kinh Pháp cú và Pháp cú thí dụ bản Hán dịch. 3. Ẩu đà na: Có 8 phẩm, 80 kinh, dùng văn vần(kệ tụng)và văn xuôi(trường hàng) khen ngợi quả A la hán và Niết bàn... 4. Y đế Phật đa già: Có 4 chương, 11 phẩm, cũng dùng văn vần và văn xuôi để nói rõ về pháp tu nhân đắc quả, tương đương với kinh Bản sự do ngài Huyền trang dịch. 5. Ni ba đa: Có 5 phẩm: Xà phẩm (Pàli: Uraga-vagga), Tiểu phẩm (Pàli:Cùơavagga), Đại phẩm (Pàli:Mahà-vagga), Bát phẩm (Pàli:Aỉỉhaka-vagga), Ba la diên phẩm (Pàli:Pàràyana-vagga); 4 phẩm đầu có 45 kinh, phẩm Ba la diên có 16 bài thơ, trong đó bao hàm những kinh điển ở thời kì sớm nhất. 6. Tì ma na. 7. Tì đa, cùng với Tì ma na đều là những thiên ngắn giải thích về tư tưởng nghiệp lực. So với các kinh khác trong Thánh điển Pàli, thì Tì đa và Tì ma na là những kinh xuất hiện muộn hơn. 8. Thế la: Thu chép những bài kệ của các vị Trưởng lão, gồm 107 chương, 1279 bài tụng. 9. Thế lợi già đà: Thu chép những bài kệ của các trưởng lão ni, gồm 73 chương, 522 bài tụng. 10. Bản sinh: Có 546 phẩm, viết về sự tích của bản sinh của đức Phật, ghi chép nhiều truyền thuyết ngoài Phật giáo. 11. Ni thế bà: Sách chú thích Tiểu phẩm trong Ni ba đa. 12. Ba trí tham tì đà: Thuộc về tạng Luận. 13. Dụ: Thu chép giáo thuyết của các vị đệ tử Phật và trưởng lão ni đã chứng quả A la hán, là những tác phẩm xuất hiện muộn nhất trong Thánh điểnPàli. 14. Phật chủng tính kinh: Có 25 chương, tường thuật sự tích của 24 vị Phật ra đời trong 12 kiếp quá khứ. 15. Nhã dụng tạng: Kể lại sự tích của đức Phật ở đời quá khứ khi còn là Bồ tát tu các hạnh Ba la mật. [X. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd.II. (Diebuddhische Literatur); FourÀgamas in Chinise (Tỉ kì Chính trị)].

khuất đà già a hàm

Kṣudrakāgama (P), Kṣudrakapiṭāka (S)Khuất đà già tạngKinh này chỉ có trong văn hệ Sanskrit và được xếp thành bộ thứ 5 trong Ngũ A hàm.

khuất đà già tạng

Xem Khuất đà già A hàm.

Khuất Đại Quân

(屈大均, 1630-1696): xuất thân Phiên Ngu (番禺) Quảng Đông (廣東); ban đầu ten là Thiệu Long (紹隆), tự là Ông Sơn (翁山), Giới Tử (介子). Vào cuối thời nhà Minh, gặp loạn lạc, ông xuống tóc xuất gia tu hành, họ Thích, tự Nhất Linh (一靈), hay Tao Dư (騷余). Về sau ông hoàn tục, lấy lại tên cũ. Ông có sở trường về thơ, chuyên về thể Ngũ Ngôn, cùng nổi danh với Trần Cung Duẫn (陳恭尹), Lương Bội Lan (梁佩蘭), xưng là Lĩnh Nam Tam Đại Gia (嶺南三大家). Ông còn có tài năng về vẽ hoa Lan, có bài thơ Họa Lan Sách (畫蘭冊). Trước tác của ông có Ông Sơn Thi Ngoại (翁山詩外), Dịch Ngoại (易外), Đạo Viên Đường Tập (道援堂集), Quảng Đông Tân Ngữ (廣東新語), v.v.

Khuất 屈

[ja] クツ kutsu ||| (1) Bend, bend over; give in, submit to, yield. (2) Lean over, crouch, bow, stoop. (3) Exhaust, be exhausted. (4) Be discouraged, disheartened, demoralized, broken. (5) Strong, fierce. => 1. Cong, khuất phục, nhượng bộ, cam chịu, chịu nhường. 2. Nghiêng về, cúi mình, cúi chào, hạ mình. 3. Kiệt sức, bị kiệt sức. 4. Chán nản, nản lòng, sa ngã, đuối lý lời tắc. 5. Kiên quyết, mãnh liệt.

khuếch am sư viễn

Kakuan Shion (J)Tên một vị sư.

khuếch nhiên vô thánh

5797禪宗公案名。爲菩提達磨與梁武帝所作之問答。或稱此一公案爲聖諦第一義、達磨廓然。廓然,指大悟之境地;此大悟之境界無凡聖之區別,既不捨凡,亦不求聖,稱爲廓然無聖。亦即廓然而無聖諦之意。碧巖錄第一則(大四八‧一四○上):「梁武帝問達磨大師:『如何是聖諦第一義?』磨云:『廓然無聖。』帝曰:『對朕者誰?』磨云:『不識。』」於上記之對答中,達磨係從了達天地一體之境地來穎解所謂之「聖諦」,因而以泯絕因果、萬物平等一如之見識答覆梁武帝,然梁武帝深囿於因果歷然、凡聖分明等教家之說,如中強毒,始終蔽覆於言語文句之思慮分別中,因此不僅無法領會達磨之意,反而愈加迷惑,如墮五里迷霧中。於後世之禪林,「廓然無聖」一語成爲禪旨之樞機,亦爲本則公案之關鍵。 雪竇重顯頌曰(大四八‧一四一上):「『聖諦廓然,何當辨的?對朕者誰,還云不識。因玆暗渡江,豈免生荊棘?闔國人追不再來,千古萬古空相憶。休相憶!清風匝地有何極?』師顧視左右云:『這裏還有祖師麽?』自云:『有,喚來與老僧洗腳。』」〔景德傳燈錄卷三菩提達磨條、傳法正宗記卷五、從容錄第二則、五燈會元卷一、神僧傳卷四〕 ; (廓然無聖) Cũng gọi Thánh đế đệ nhất nghĩa, Đạt ma khuếch nhiên. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa tổ Bồ đề đạt ma và vua Lương vũ đế. Khuếch nhiên(rỗng lặng)chỉ cho cảnh giới đại ngộ; cảnh giới đại ngộ này không phân biệt phàm thánh, không bỏ phàm cũng không cầu thánh, gọi là Khuếch nhiên vô thánh. Tắc 1 Bích nham lục (Đại 48, 140 thượng), ghi: Vua Lương vũ đế hỏi đại sư Đạt ma: - Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa? Ngài đáp: - Khuếch nhiên vô thánh. Vua hỏi: - Người đối trước trẫm là ai? Ngài Đạt ma trả lời: - Không biết! [X. điều Bồ đề đạt ma trong cảnh đức truyền đăng lục Q.3; Truyền pháp chính tông kí Q.5; Tắc 2 Thung dung lục; Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Thiền tăng truyện Q.4].

khuể kết

4105九結之一。眾生因瞋恚廣行不善,遂招未來生死之苦,流轉於三界而不能出離。結者,繫縛之義。為恚惑所繫縛,故不能離生死之苦。(參閱「結」5179)

khuể nộ

4105瞋恚忿怒之意,於貪、瞋、癡三毒中稱為瞋毒。無量壽經卷下(大一二‧二七四下):「言色常和,莫相違戾,或時心諍,有所恚怒。」

Khuể 恚

[ja] イ i ||| Anger--synonymous with 瞋 and commonly seen in the compound 瞋恚; one of the three poisons 三毒 and one of the six basic defilements 六煩惱. (Skt. krodha, dveṣa, krodhana; Pali dosa) => Giận--đồng nghĩa với Sân 瞋, thường thấy đi chung với nhau Sân khuể瞋恚; là một trong Tam độc và là một trong 6 căn bản phiền não (s: krodha, dveṣa, krodhana; p: dosa).

Khác thường. 殊稱

[[[Khắc 克 [ja] コク koku ||| (1) To be able to; competent, adequate. (2) To subdue; to improve. To overcome one's selfish desires. (3) To fix upon. => Có các nghĩa sau: 1. Có thể, có khả năng, thích đáng. 2. Khắc phục, cải tiến. 3. Ấn định (thời gian).

khác tạng

6444㲉,為鳥卵之通稱。人為無明煩惱所纏覆,猶如鳥之藏於卵虾內,故有此譬喻。勝鬘經(大一二‧二二一中):「此諦如來應等正覺初始覺知,然後為無明虾藏世間開現演說。」

khách bố nhĩ

, xứ Kabul (S).

khách trần

3774梵語 akasmāt-kleśa。又作客塵煩惱。即煩惱之義,此係相對於「自性清淨」一詞而立者。所謂煩惱,本非心性固有之物,乃因迷理而起,故稱爲客;又以煩惱能污染吾人之心性,猶如塵埃之染污萬物,故稱爲塵。以佛法真理而言,人性本即清淨無染,一無塵垢,然因外境現象紛沓,導致對境生迷而心生煩惱。注維摩經卷五(大三八‧三七八中):「心遇外緣,煩惱橫起,故名客塵。」 又以「塵」之一詞,本爲色體之極微細者,故以之喻客塵煩惱如塵埃般微小卻無所不在,遍佈三千大千世界,修道者需祛除此客塵方能成聖果。最勝王經卷一如來壽量品(大一六‧四○七上):「煩惱隨惑,皆是客塵;法性是主,無來無去。」此一說法,於小乘部派時代,即爲分別論者所主張,其後大乘佛教承襲此一思想,尤以如來藏系等大乘諸經論特重之,而強調眾生之心本爲自性清淨之如來藏,後受外境之流轉所染,遂衍生客塵煩惱。例如首楞嚴經卷一(大一九‧一○九下):「一切眾生不成菩提及阿羅漢,皆由客塵煩惱所誤。(中略)譬如行客投寄旅亭,或宿或食。食宿事畢,俶裝前途,不遑安住。若實主人,自無攸往。如是思惟,不住名客,住名主人;以不住者,名爲客義。又如新霽,清暘昇天,光入隙中,發明空中諸有塵相,塵質搖動,虛空寂然。如是思惟,澄寂名空,搖動名塵;以搖動者,名爲塵義。」即謂一切動搖不住之物皆爲客塵,而非實身實境,然凡愚之人則必以動者爲實有之身,以動者爲實有之境,遂於終始之間,念念隨其生滅,一味顛倒行事,遺失真性。既失其真,反認客塵爲自身,遂於輪迴之中自取流轉。 此外,佛性論卷四列舉一切客塵煩惱凡有九種,即:隨眠貪欲煩惱、隨眠瞋、隨眠癡、貪瞋癡等極重上心惑、無明住地、見諦所滅、修習所滅、不淨地、淨地惑。〔楞伽經卷七、維摩經卷中、大毘婆沙論卷四〕 ; Āgantukleśa (S), Akasmatkesa (S), External dirtPhiền não. ; Agantuklesa (S). External stains. ; (客塵) Phạm: Akasmàt-kleza. Cũng gọi Khách trần phiền não. Đối lại: Tự tính thanh tịnh. Tức là phiền não. Phiền não vốn chẳng phải là vật có sẵn trong tâm tính, nhưng là do mê lí mà khởi lên, cho nên gọi là Khách; làm cho tâm tính nhơ nhớp giống như bụi bặm làm bẩn đồ vật, cho nên gọi là trần. Bản tính chúng sinh vốn thanh tịnh, nhưng do những hiện tượng bên ngoài khiến cho đối cảnh sinh mê mà tâm dấy lên phiền não. Chú Duy ma kinh quyển 5 (Đại 38, 378 trung), nói: Tâm gặp duyên bên ngoài, phiền não liền nổi lên, nên gọi là Khách trần. Lại chữ trần(bụi) vốn là cái rất nhỏ bé của sắc thể, cho nên dùng nó để ví dụ cho phiền não như những hạt bụi không chỗ nào mà không có, cùng khắp cả ba nghìn đại thiên thế giới, người tu đạo cần phải trừ bỏ khách trần này mới có thể thành Thánh quả. Phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Tối thắng vương quyển 1 (Đại 16, 407 thượng), nói: Các hoặc phiền não đều là Khách trần; pháp tính là chủ, không có đi lại. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 109 hạ), nói: Tất cả chúng sinh không thể thành Bồ đề và A la hán là đều do Khách trần phiền não làm mê hoặc. Ngoài ra, theo luận Phật tính quyển 4, thì Khách trần phiền não gồm có 9 loại là Tùy miên tham dục phiền não, Tùy miên sân, Tùy miên si, Tham sân si đẳng cực trọng thượng tâm hoặc(Tâm do tham sân si làm mê hoặc nặng nề), Vô minh trụ địa, Kiến đế sở diệt, Tu tập sở diệt, Bất tịnh địa và Tịnh địa hoặc. [X. kinh Lăng già Q.7; kinh Duy ma Q. trung; luận Đại tì bà sa Q.4].

khách trần nhị nghĩa

3774據大佛頂首楞嚴經卷一舉客字與塵字,具有下列之義,即:(一)客義,謂見、思等惑皆由眾生不明外塵之境,而生種種妄想,若以智慧觀察惑體本空,則法性之理自然彰顯,惑亦無從生起。(二)塵義,謂微細之惑能染污清淨真性;猶如窗隙光流時,諸塵現起,此亦能亂虛空澄寂之性,然若以智慧光照,明了惑本空無,則空理現前,塵亦無有。(參閱「客塵」3774) ; (客塵二義) Hai nghĩa của khách và trần. Cứ theo kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 1 thì khách trần có 2 nghĩa sau đây: 1. Khách: Chúng sinh bị Hoặc làm mê lầm, không rõ cảnh trần bên ngoài, nên sinh ra các thứ vọng tưởng. Nếu dùng trí tuệ quán xét thể của Hoặc vốn không, thì lí của pháp tính tự nhiên hiện bày, Hoặc cũng không từ đâu sinh khởi được. 2. Trần (bụi): Hoặc(mê lầm)rất nhỏ nhiệm, hay làm nhơ nhớp chân tính thanh tịnh, giống như lúc ánh mặt trời chiếu qua khe của sổ thì bụi bặm hiện lên, bay lăng xăng làm rối loạn tính vắng lặng của hư không. Nhưng nếu dùng trí tuệ quán chiếu, thì lí Hoặc vốn không, trần cũng chẳng có. (xt. Khách Trần).

khách trần phiền não

Afflictions arising from external stains.

Khách trần phiền não 客塵煩惱

[ja] カクジンボンノウ kakujinbonnō ||| (āgantuka-kleśa) Same as above, definition #2. In this case kechen 客塵 means "accidental adhesion." Adventitious affllictions; defilements that are not inherent, but are something which adhere to, and taint the mind. External defilements which taint the originally pure mind. These are produced as a result of discriminatory thought. => (s: āgantuka-kleśa) Những phiền não nhiễm ô tạm thời, ngẫu nhiên; phiền não vốn không tự có, nhưng bám chắc và làm ô nhiễm tâm ý. Là những phiền não nhiễm ô bên ngoài làm vấy bẩn bản tâm vốn thường thanh tịnh. Đây là những sản phẩm như là kết quả của tâm phân biệt.

Khách trần 客塵

[ja] カクジン kakujin ||| (āgantuka, āgantukatva). (1) Accidental, fortuitous, by chance. Superficial, impermanent. (2) Accidental, external taint. Defilement, especially that which was not originally present, but came from without. It is temporary and is cleaned away by true wisdom, therefore the ideograph for 'guest' 客 is used; the defilements are subtle and numerous, thus the ideograph 'dust' 塵 (chen) is used. The ideograph for 'dust' also refers to the six sensory data-fields. => (s: āgantuka, āgantukatva). 1. Tình cờ, ngẫu nhiên, khả năng có thể. Ở bề ngoài, nhất thời, không lâu bền. 2. Phụ thuộc, không chủ yếu, sự ô uế bên ngoài. Sự nhiễm ô, đặc biệt là những điều vốn không hiện hữu, nhưng đến từ cõi không. Nó tạm thời và bị quét sạch ngay bởi trí tuệ, do vậy nên dùng chữ 'khách'. Sự nhiễm ô thì vi tế và vô cùng, nên được gọi là 'trần'. Chữ “trần cũng được chỉ cho sáu đối tượng của sáu giác quan.

khách tỉ nhĩ

4902(Kabīr, 1440~1518)印度宗教改革家、詩人,為印度教虔誠派領袖。生於波羅奈,初為織物工人,後受宗教之啟示,立志改革宗教,創立喀比爾派。喀比爾雖為羅摩難陀(梵 Rāmānanda)之弟子,繼承毘濕奴派之羅摩(梵 Rāma)崇拜,但其學說之特色則在綜合毘濕奴派與伊斯蘭教蘇非派之一神論,採取二元論之立場,認為一切個我現象皆發衍自同一根本原因,主張通過虔誠信仰而獲得神思,否定人種差別與種姓階級,反對歧視婦女,號召印度教徒與伊斯蘭教徒團結一致,以普遍之愛消除種姓壓迫。又排斥梵我一如之冥想的傳統生活態度,而力倡肯定現實,認為一切偶像崇拜、犧牲、巡禮、沐浴、苦行等皆無意義;更進一步主張各宗教並無差別、人神二者之關係為不一不異之說。其根本思想為謙虛自省與絕對皈依於唯一之神,並賴以得救,故極力排斥宗教之儀禮、虛飾、制約等,而強調人若能全然摒棄我執,即可顯出一神。其以興第語(Hindi)所寫之宗教詩文,迄今仍普遍流傳於民間。著有羅摩尼、大聖典(梵 Khās Granth)二十一卷等。〔Jules Bloch: Les mystiques de l' Inde médievale, Kabir, 1931、カビ|ルの詩と宗教─中世インドの考察試論(大類純)〕

khách uý nhĩ

4902(Cowell, Edward Byles; 1826~1903)英國印度學學者。初為印度加爾各答大學教授(1856~1864),後任牛津大學第一任梵文教授(1867~1903),刊行許多梵語原典(奧義書、古典文學、佛教聖典等)、巴利文原典,終身致力於翻譯工作。又蒐集佛典古寫本、古文書等資料,對於印度學之發展,貢獻極大。主要著作為 Kauṣītaki Upaniṣad, 1861; Maitrāyaṇiya Upaniṣad, 1870; Vikramorvaśīya(梵文戲曲:天女之戀)1851; Divyāvadāna(佛教因緣譚)1886; Buddhacarita(梵文敘事詩:佛陀的生涯)1893; Sarvadarśanasaṅgraha(印度哲學集成)1894,及本生集六卷。

khách vị

3773禪宗寺院賓客或新命住職之安息室,係於旦過寮之外別設之所。勅修百丈清規卷上住持章迎侍尊宿(大四八‧一一二二中):「侍者復燒香點湯,湯罷,兩序勤舊同送客位。」同書卷下大眾章遊方參請(大四八‧一一四○中):「住持遇名勝相看,就送客位回禮。」〔禪苑清規卷一、禪林象器箋殿堂門〕 ; (客位) Chỗ nghỉ ngơi của tân khách hoặc người mới nhậm chức trong các chùa viện Thiền tông, tức là một nơi riêng biệt ngoài Đán quá liêu. Điều Nghinh thị tôn túc, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng (Đại 48, 1122 trung) ghi: Thị giả lại thắp hương, rót trà, trà xong, các vị nguyên Tri sự, Tạng chủ, v.v... của Lưỡng tự cùng đưa khách về Khách vị. Điều Du phương tham thỉnh, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ (Đại 48, 1140 trung) ghi: Khi có bậc tôn túc đến thăm, Trụ trì tiễn chân về Khách vị để đáp lễ. [X. Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khách đầu hành giả

3775禪林職役名稱。略稱客行。於禪寺中,隸屬於知客(接待賓客之職稱),而受其使令以擔任職務之侍者。〔勅修百丈清規卷四方丈特爲新舊兩序湯、禪林象器箋卷八〕 ; (客頭行者) Gọi tắt: Khách hành. Tên chức vụ trong Thiền lâm, người phụ tá vị Tri khách (tiếp đãi tân khách). [X. điều Phương trượng đặc vị tân cựu lưỡng tự thang trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên Q.8].

Khách 客

[ja] キャク kyaku, kaku ||| (1) A guest; a visitor, as opposed to a host. (2) A traveler. (3) A guest in an inn or restaurant; or in a car or boat. (4) The past. (5) Objective, as opposed to subjective. [Buddhism] (1) That which comes from the outside; external. (2) The 'guest' (student) in a Zen dharma-battle. (3) Phenomena (事) as opposed to principle (理). (4) A visiting monk or nun. => 1. Người khách, ngược với người chủ. 2. Người đi du lịch. 3. Người trọ trong lừ quán hay trong khách sạn; người đi trên xe hoặc tàu thuyền. 4. Thời quá khứ. 5. Khách quan, ngược với chủ quan. [Phật học] 1. Những gì đến từ bên ngoài; ngoại cảnh. 2. Người khách trong một cuộc pháp chiến về thiền. 3. Hiện tượng (sự 事), ngược với lý ( 理). 4. Khách tăng hoặc ni.

khái cổ lục

5814全一卷。又作湛然禪師慨古錄。明代曹洞宗僧湛然圓澄(1581~1626)撰。收於卍續藏第一一四冊。圓澄慨嘆當時禪林規矩蕩然而漸趨腐敗墮落,恐因叢林自身之萎頓,而引致類於「三武」之法難,故列舉六祖以降,唐、宋時代活潑生動之機緣實例,懇切提撕,以喚起道心,重振宗風。由本書亦可略窺明末禪門之概況。 ; Còn gọi: Trạm Nhiên Thiền sư Khái Cổ lục. Lục, 1 quyển, do Trạm Nhiên Viên Trừng soạn vào đời Minh, được xếp vào [i]Tục Tạng kinh[/i] tập 114, trang 725. Viên Trừng cảm khái về quy củ tùng lâm thời ấy sao mà lỏng lẻo và dần dần tiến tới chỗ hỗn loạn, sa đoạ. Để ngăn ngừa sự suy sụp nhanh chóng của các tùng lâm dẫn đến sự huỷ diệt Phật pháp mà trên lịch sử sẽ xảy ra lần nữa, nên sư đưa ra những ví dụ có thực, các cơ duyên hoạt bát sinh động từ Lục Tổ cho đến thời đại Đường Tống và khẩn thiết kêu gọi đạo tâm, chấn chỉnh lại Tông phong. Sách này cho ta thấy được tình hình các tùng lâm vào cuối đời Minh. ; (慨古錄) Cũng gọi Trạm nhiên thiền sư Khái cổ lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trạm nhiên Viên trừng (1581-1626) thuộc tông Tào động soạn vào đời Minh, thu vào Vạn tục tạng tập 114. Ngài Viên trừng nhận thấy qui củ trong tùng lâm vào thời ấy quá lỏng lẻo, dần dần đi đến tình trạng hủ bại trụy lạc và sợ rằng sự suy đốn ấy có thể dẫn tới pháp nạn giống như thời Tam vũ, cho nên ngài viện dẫn những cơ duyên sống động của các Thiền sư từ đời Lục tổ đến hết đời Đường, Tống để kêu gọi phấn chấn đạo tâm, trùng hưng tông phong. Qua tác phẩm này, người ta có thể biết rõ tình hình của Thiền lâm vào cuối đời Minh.

khám

Còn gọi: Khám biện, khám nghiệm. Kiểm tra sự lãnh ngộ sâu cạn giữa các thiền gia. [i]Vô Môn Quan[/i] ghi: »待 我 去 與 爾 勘 過 這 婆 子。 – [i]Chờ ta đi kiểm tra bà già này cho ông[/i]«. ; 6910<一>指掘鑿岩崖為室,以安置佛像之所。據觀佛三昧海經卷四載,一一之須彌山有龕室無量,其中有無數化佛。又據大毘婆沙論卷一七七載,底沙佛至山上,入吠琉璃龕,敷尼師檀,結跏趺坐,入火界定。於現今各大佛教遺蹟中,如印度之阿旃多、伊羅拉,我國雲岡、龍門等石窟,四壁皆穿鑿眾多佛菩薩之龕室。後世轉為以石或木,作成櫥子形,並設門扉,供奉佛像,稱為佛龕;此外,亦有奉置開山祖師像。 <二>指放置死屍之棺。又稱龕棺、龕子、龕柩、龕船、靈龕。釋氏要覽卷下(大五四‧三○七下):「今釋氏之周身,其形如塔,故名龕。」收殮屍體入棺木,稱為進龕,或入龕(俗稱入棺);注以香油而鎖之,稱為鎖龕、封龕;將龕棺移至葬場,稱為移龕;在龕前所讀之文疏,稱為龕前疏;設於龕前之臨時屋舍,稱為龕前堂。〔敕修百丈清規卷三遷化條、持寶通覽卷中、禪林象器箋喪薦門、器物門〕 ; (龕) I. Khám. Chỗ đục khoét trên vách núi làm hang động để thờ Phật. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 4, thì trên núi Tu di có vô lượng khám thất, trong đó có vô số hóa Phật. Còn theo luận Đại tì bà sa quyển 177, thì đức Phật Để sa lên đỉnh núi vào khám Phệ lưu li, trải ni sư đàn(tọa cụ), ngồi kết già, nhập định Hỏa giới. Hiện nay, trong các di tích lớn của Phật giáo, như động đá A chiên đa, Y la lạp ở Ấn độ, các động Vân cương, Long môn... ở Trung quốc, trên 4 mặt vách động đều xoi đục khám thất để thờ Phật và Bồ tát. Đời sau, khám được làm bằng đá hoặc gỗ theo hình cái hòm, có cửa, trong đó thờ tượng Phật gọi là Phật khám, cũng có khi khám được dùng để thờ tượng Tổ sư khai sơn. II. Khám. Cũng gọi Khám quan, Khám tử, Khám cữu, Khám thuyền, Linh khám. Quan tài để xác chết. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 307 hạ), nói: Nay quan tài để tẩn liệm chư tăng có hình dáng giống như ngôi tháp, gọi là Khám. Thu liệm xác người chết vào quan tài, gọi là Tiến khám, hoặc Nhập khám (tục gọi Nhập quan); rưới dầu thơm vào rồi đóng nắp lại, gọi là Tỏa khám, Phong khám; dời quan tài đến nơi chôn cất, gọi là Di khám (Di quan); văn sớ đọc trước khám, gọi là Khám tiền sớ; dựng nhà tạm thời trước khám, gọi là Khám tiền đường. [X. điều Thiên hóa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3; Trì bảo thông giám Q. trung; môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khám biện

4390禪林用語。禪林師家判別修行者之力量,或學者探問師家之邪正。臨濟錄、雲門錄等有勘辨一項,內容即記錄師家與學人之勘辨問答。〔禪林類聚集卷六勘辨條〕 ; ① Thiền nhân thăm dò chỗ lãnh ngộ sâu cạn của đối phương. [i]Tông Môn Võ Khố[/i] ghi: »(福 嚴 置 和 尚) 首 造 洞 山 室 中 相 契。 眞 淨 舉 領 眾 立 僧。 久 之 又 至 四 祖 宣 和 尚 會 中。 時 時 到 五 祖 相 見。 祖 勘 辨 果 有 過 人 處。– [i](Hoà thượng Phúc Nghiêm Trí) ban đầu đến Động Sơn, cơ duyên khế hợp. Ngài Chân Tịnh bảo sư làm người đại diện chúng ra thưa hỏi. Ít lâu sau, sư lại đến pháp hội của Tứ Tổ Tuyên, cũng thường đến gặp Ngũ Tổ. Tổ thăm dò trình độ lãnh ngộ sâu cạn của sư quả có chỗ hơn người[/i]«. ② Một thứ phân loại trong ngữ lục Thiền tông, chuyên môn ghi chép những lời thăm dò chỗ lãnh ngộ sâu cạn của thiền nhân. Như trong [i]Lâm Tế lục[/i] có loại Khám biện. Chữ Biện cũng viết 辯. ; (勘辨) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bậc sư gia phán đoán và biện biệt năng lực của đệ tử, hoặc người học dò xét việc tà chính của vị thầy. [X. điều Khám biện trong Thiền lâm loại tụ tập Q.6].

khám phá

Nhìn thấu suốt tâm tư đối phương rồi so sánh, thí nghiệm và chất vấn họ, cũng tức là khám định xem đúng hay sai. Tắc 48, [i]Vô Môn Quan[/i] (Đại 48, 297 thượng) ghi: »撿 點 將 來、 二 俱 有 過。 且 道、那 裡 是 趙 州 勘 破 婆 子 處。 – [i]Kiểm điểm lại, cả hai đều có lỗi. Thử nói xem, đâu là chỗ Triệu Châu khám phá lão bà?[/i]«. ; 4389禪林用語。即看破、識透之意;看透了互相比較、試驗、質問之對手。亦即勘定事之是非。無門關第四十八則(大四八‧二九七上):「撿點將來,二俱有過。且道,那裏是趙州勘破婆子處?」〔碧巖錄第九十七則〕 ; (勘破) Tiếng dùng trong Thiền lâm. So sánh, thử nghiệm, chất vấn để hiểu rõ đối thủ, tức là xét định sự việc đúng sai. Tắc 48, Vô môn quan (Đại 48, 297 thượng) ghi: Hãy kiểm nghiệm xem, cả 2 đều lỗi. Lại nói: Triệu châu khám phá Bà tử thế nào? [X. Tắc 97 Bích nham lục].

khám quá

Tức là dùng cách xem xét, thử nghiệm, khiến cho chân tướng hiện rõ. Tắc 20, [i]Bích Nham lục[/i] (Đại 48, 160 thượng) ghi: »龍 牙 問 翠 微。 如 何 是 祖 師 西 來 意 (諸 方 舊 話 也 要 勘 過。) – [i]Long Nha hỏi Thuý Vi: Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? (Lời nói cũ của các nơi cũng cần xem xét thử nghiệm)[/i]«. ; 4390禪林用語。即加以審察試驗,使真相明晰。碧巖錄第二十則(大四八‧一六○上):「龍牙問翠微:『如何是祖師西來意?(諸方舊話也要勘過)』」 ; (勘過) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Xem xét, thử nghiệm để làm rõ chân tướng. Tắc 20 Bích nham lục (Đại 48, 160 thượng), nói: Long nha hỏi Thúy vi: Thế nào là ý của Tổ sư từ Tây trúc sang?(Những lời nói xưa của các bậc tôn túc cũng cần phải xét lại (Khám quá)).

khán

① Chuyên tâm xem xét, nghiên cứu tới lui một cơ ngữ nào đó của cổ nhân. Tiết Chân Như Phương Thiền sư trong NĐHN q. 12 ghi: »眞 州 眞 如 院 方 禪 師、 參 琅 邪、 唯 看 柏 樹 子 話。 – [i]Thiền sư Phương ở viện Chân Như thuộc Chân Châu đến tham học nơi ngài Lang Da, chỉ khán công án ›Cây bách‹[/i]«. ② Ra mắt, thăm hỏi. [i]Minh Giác ngữ lục[/i] q. 2 ghi: »師 在 明 州、 看 曾 學 士、 坐 次、 士 問: 曾 與 清 長 老 商 量 趙 州 勘 婆 子 話、 端 的 有 勘 破 處 麼? – [i]Sư ở Minh Châu, có lần ra mắt Học sĩ. Đang ngồi, Học sĩ hỏi: Ông thương lượng cùng Trưởng lão Thanh về công án ›Triệu Châu khám phá bà già‹, quả thật có chỗ khám phá không?[/i]«. Tiết Động Sơn Hoà thượng trong TĐT q. 6 ghi: »僧 問: 不 病 者 還 看 和 尚 不? 師 曰: 某 甲 看 他 則 有 分、 他 誰 彩 某 甲? – [i]Tăng hỏi: Người chẳng bệnh có hỏi thăm Hoà thượng không? Sư đáp: Ta hỏi thăm hắn thì có phần đúng hơn. Hắn nào có ngó ngàng gì đến ta?[/i]«. ③ Tiếp đãi, khoản đãi. Tiết Đan Hà Hoà thượng trong TĐT q. 4 ghi: »至 落 京 參 忠 國 師、 初 見 侍 者 便 問: 和 尚 還 在 也 無? 對 曰: 在、 只 是 不 看 客。 – [i]Sư đến Lạc Kinh để tham vấn Quốc sư Huệ Trung. Vừa gặp thị giả, sư liền hỏi: Hoà thượng có ở nhà không? Thị giả đáp: Có, nhưng chẳng tiếp khách[/i]«. [i]Vân Môn quảng lục[/i] q. hạ ghi: »客 來 須 看、 賊 來 須 打。 – [i]Khách đến cần phải tiếp đãi, trộm đến cần phải đuổi đi[/i]«. ④ Coi sóc, lo liệu. Tiết Động Sơn Hoà thượng trong TĐT q. 6 ghi: »因 兩 箇 僧 造 同 行、 一 人 不 安、 在 涅 槃 堂 裏 將 息、 一 人 看 他。 有 一 日、 不 安 底 上 座 喚 同 行 云: 某 甲 欲 得 去、 一 時 相 共 去。 – [i]Nhân có hai vị tăng cùng đi đến Động Sơn. Một người bị bệnh nằm nghỉ ở Niết-bàn đường, người còn lại coi sóc y ta. Một hôm, người bệnh gọi bạn đồng hành, bảo: Tôi muốn đi. Khi ấy cả hai cùng ra đi[/i]«. ⑤ Coi chừng, đề phòng, hàm ngữ khí dặn dò, cảnh tỉnh. Tiết Trung Thừa Lô Hàng Cư sĩ trong NĐHN q. 18 ghi: »中 丞 盧 航 居 士、 與 圓 通 擁 爐 次、 公 問: 諸 家 因 緣、 不 勞 拈 出。 直 截 一 句、 請 師 指 示。 通 厲 聲 揖 曰: 看 火! 公 急 撥 衣、 忽 大 悟。 – [i]Cư sĩ Trung Thừa Lô Hàng đang ngồi quanh lò sưởi với ngài Viên Thông. Cư sĩ bảo: Nhân duyên của các nhà chẳng nhọc đưa ra. Một câu thẳng tắt, thỉnh sư chỉ dạy? Thông vái chào và nghiêm giọng bảo: Coi chừng lửa! Cư sĩ vội vén áo, chợt đại ngộ[/i]«. Tiết Khâm Sơn Văn Thuý Thiền sư trong LĐHI q. 22 ghi: »同 安 不 是 好 心、亦 須 看 始 得。 – [i]Đồng An không có tâm tốt, cần phải đề phòng mới được[/i]«. ; 3896禪林用語。本指不出聲音之注視,或謂默讀,如看經、看書等。於禪宗語錄之對話中,常以「看」字爲語尾助詞,置於動詞之後,含有獎勵對方之意味。如龐居士語錄卷上(卍續一二○‧二九下):「靈曰:『還我一掌來!』士近前曰:『試下手看!』」 又「看取」一詞,或作語尾助詞,爲領會、理解之意。如建中靖國續燈錄卷二(卍續一三六‧二八上):「見得不在言之,未見者如今看取!」或作語首動詞,爲留意、持守不二之意,如「看取令行時」一語,即謂留意遵守祖師之金玉良言,而不可等閒視之。此外,於語錄中,以「看」爲語首動詞之同類用語,尚有「看方便」一詞,亦爲提醒對方用心注意之指示語。 ; (看) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho sự lưu tâm, chú ý trong im lặng, hoặc đọc thầm, như: Khán kinh(xem kinh), khán thư(xem sách), v.v... Trong các bộ Ngữ lục của Thiền tông, chữ Khán thường được dùng làm trợ từ đặt sau động từ có nghĩa là khuyên bảo. Bàng Cư sĩ ngữ lục quyển thượng (Vạn tục 120, 29 hạ) ghi: Trả tôi một chưởng nào! Sĩ tiến gần đến trước, nói: Thử xuống tay xem (Khán)!

khán bệnh

3897又作瞻病。即看護病人。梵網經卷下謂,布施病人所生之福德最大,在八福田中屬第一。在律中亦言,欲供養佛,宜先供養病人。另據四分律卷四十一所載,看病之法有五:(一)應知病人可食或不可食,可食之物則與之。(二)不賤惡病人之大小便唾吐。(三)有慈愍心,然非爲衣食等報酬。(四)應代爲準備湯藥。(五)爲病人說法,而令病人歡喜。〔增一阿含經卷二十四、十誦律卷二十八、四分律刪繁補闕行事鈔卷下、四分律行事鈔資持記卷下四瞻病篇〕 ; (看病) Cũng gọi Chiêm bệnh. Khán bệnh, thăm hỏi chăm sóc người bệnh. Kinh Phạm võng quyển hạ nói rằng, bố thí cho người bệnh là phúc đức lớn nhất trong 8 phúc điền. Trong luật cũng nói muốn cúng dường Phật thì trước hãy cúng dường người bệnh. Cứ theo luật Tứ phần quyển 41, thì có 5 cách chăm sóc người bệnh: 1. Phải biết thức ăn nào người bệnh ăn được, thức ăn nào không ăn được. 2. Không ghê tởm đồ đại tiểu tiện và khạc nhổ của người bệnh. 3. Có lòng từ bi thương xót, nhưng không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ được đền bù bằng cơm áo. 4. Phải chuẩn bị thuốc men cho người bệnh. 5. Nói pháp cho người bệnh nghe để họ vui vẻ. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.24; luật Thập tụng Q.28; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q. hạ; thiên Chiêm bệnh trong Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 4].

khán hảo tinh thái

Chú ý. Chương Báo Ân Khế Tùng Thiền sư trong CĐTĐL q. 24 ghi: »初 開 堂 升 座 欲 坐 乃 曰… 烈 士 鋒 前 少 人 陪。 雲 雷 擊 鼓 劍 輪 開。 誰 是 大 雄 獅 子 種、 滿 身 鋒 刃 但 出 來。 時 有 僧 始 出。 師 曰。 看 好 精 彩。 僧 擬 申 問。 師 曰。什 麼 處 去 也。 – [i]Lúc mới khai đường, lên toà sắp ngồi sư bèn nói: …Trước tài năng của liệt sĩ ít có người bồi tiếp, nghe tiếng trống vang rền liền rút kiếm khỏi bao, ai là loại sư tử dũng mãnh mũi nhọn đầy mình hãy bước ra đi! Khi ấy có vị tăng bước ra, sư nói: Hãy chú ý! Tăng định hỏi, sư nói: Muốn gì đây?[/i]«.

khán khán

Ngay tức thì, sắp sửa. Tiết Tiến Phúc Hưu Thiền sư trong NĐHN q. 20 ghi: »此 土 與 西 天、 一 隊 黑 漆 桶。 誑 惑 世 間 人、 看 看 滅 胡 種。 – [i]Trung Quốc với Tây Thiên là một lũ ngu si, mê hoặc thế gian, sắp diệt mất mạng mạch Phật pháp[/i]«.

khán kinh

3897針對諷經而言,不發聲而默讀經典稱爲看經。與後來之讀經同義。又禪宗主悟玄旨,每將看經一事揶揄爲摩弄文字,此於諸禪籍多處備載。然至後世,一般皆以看經一詞轉指日常勤行之異名。此外,施主請寺僧看經,終了時所布施之錢,稱看經錢;管理看經堂之役僧,稱爲看經堂首座;寺院揭示看經時日之板木,稱看經牌。〔禪苑清規卷三藏主、禪林象器箋文疏門〕 ; (看經) Đồng nghĩa: Độc kinh. Xem kinh, đọc thầm. Trong Thiền lâm, từ Khán kinh còn được dùng để chỉ cho những việc làm hàng ngày. Ngoài ra, thí chủ thỉnh chư tăng tụng kinh, khi tụng xong, thí chủ cúng dường tiền, gọi là Khán kinh tiền. Vị tăng trông nom nhà xem kinh, gọi là Khán kinh đường thủ tọa; tấm bảng treo trong chùa niêm yết ngày giờ tụng kinh, gọi là Khán kinh bài. [X. điều Tạng chủ trong Thiền uyển thanh qui Q.3; môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Khán kinh phái 看經派

[ja] カンキョウハ kankyōha ||| The textual study track. In the Chogye school of Korean Buddhism, monks and nuns generally pursue either this track, or that of concentration on meditation. => Theo lối nghiên cứu kinh văn. Theo tông Tào Khê (k: Chogye) thuộc Phật giáo Cao Ly, tăng ni thường theo hoặc lối nghiên cứu kinh văn nầy, hoặc chuyên tâm toạ thiền.

khán kinh tự

3897位於洛陽香山。爲龍門石窟群之一窟,建於唐代武則天時,一說係唐高宗李治所修造。相傳昔曾爲唐玄奘曬經之處。窟內洞頂雕有蓮花藻井,其上有飛天之浮雕,體態豐潤,衣帶飄揚,構圖優美,頗具凌空飛舞之韻律感。壁下有二十九尊浮雕,爲從摩訶迦葉到菩提達摩諸天竺祖師衣缉相承之形象,性格刻畫入微,生動有致。 ; (看經寺) Chùa ở quần thể hang động Long môn tại Hương sơn, Lạc dương, Trung quốc, đượckiến tạo vào đời Vũ tắc thiên đời Đường(có thuyết cho là do vua Đường Cao tông sáng lập). Tương truyền ngày xưa chùa này từng là nơi ngài Huyền trang phơi kinh. Trên trần nóc hang động có khắc hình hoa sen, phía trên khắc hình chư thiên đang bay, hình thái lả lướt, dải áo phấp phới, giống như bay múa giữa hư không, trông rất đẹp đẽ. Trên mặt vách động có chạm trổ hình tượng của 29 vị Tổ sư Thiên trúc, từ ngài Ma ha Ca diếp đến ngài Bồ đề Đạt ma, nét khắc tinh vi, thần thái trông như sống.

Khán kinh 看經

[ja] カンキョウ kankyō ||| To read and study the scriptures. To read them in quiet, as opposed to chanting aloud. To read the scriptures carefully and intently. => Đọc và nghiên cứu kinh điển. Đọc thầm, khác với tụng. Đọc kinh một cách chăm chú và kỹ lưỡng.

khán lương

3898叢林中,管理眾僧食糧之職役,隸屬典座之下。任此職者,稱爲看糧師。 ; (看糧) Chức vụ coi về lương thực của chúng tăng trong tùng lâm, dưới quyền vị Điển tọa (người phụ trách việc trông nom cơm cháo cho chúng tăng).

khán phường

3897日本佛教用語。留守寺院,稱爲看坊。此外,非住持而代理住持職務者,亦稱看坊。 ; (看坊) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Người giữ gìn chùa viện gọi là Khán phường. Ngoài ra, vị tăng không phải là Trụ trì nhưng thay vị Trụ trị mà giữ chức vụ này, cũng gọi là Khán phường.

khán thoại niệm phật

3897即以一句「阿彌陀佛」,或「念佛者是誰」爲公案,拈提參究,以求開悟;係看話禪之一種。又稱參究念佛、念佛公案。如將阿彌陀經「一心不亂」之語,分爲事理二義,憶佛念佛,稱爲事之一心;超越有無之念心,且斷除前後際,僅以阿彌陀佛四字爲話頭,以此拈提,即可速達見性成佛,此爲理之一心。在宋代,大慧宗杲主張看話禪,以爲心性開發之法門。當時,主張禪淨共修之風亦盛。真歇清了等人亦主張以阿彌陀佛四字作爲話頭,即可頓悟見性與往生,稱爲看話念佛。〔西方直指卷上一心不亂條、淨土指歸集卷上、諸家念佛集卷四、禪祖念佛集卷上〕 ; (看話念佛) Cũng gọi Tham cứu niệm Phật, niệm Phật công án. Tức là dùng câu A di đà Phật hoặc người niệm Phật là ai làm công án để tham cứu mà cầu khai ngộ. Đây là một loại thiền Khán thoại đầu. Vào đời Tống, ngài Đại tuệ Tông cảo chủ trương thiền Khán thoại đầu để làm pháp môn khơi mở tâm tính. Thời bấy giờ, chủ trương Thiền Tịnh song tu cũng thịnh hành. Ngài Chân hiết Thanh liễu cũng chủ trương dùng 4 chữ A di đà Phật làm thoại đầu, có thể đốn ngộ kiến tính và vãng sinh, gọi là Khán thoại niệm Phật. [X. điều Nhất tâm bất loạn trong Tây phương trực chỉ Q.thượng; Tịnh độ chỉ qui tập Q.thượng; Chư gia niệm Phật tập Q.4; Thiền tổ niệm Phật tập Q.thượng].

Khán thoại quyết định luận 看話決疑論

[ja] カンワケツギロン Kanwa ketsugiron ||| Kanhwa kyŏrŭi ron; Resolving Doubts About Observing the Hwadu, by Chinul 知訥. HPC 4.732-738. English translation by Robert Buswell in The Korean Approach to Zen. => (k: Kanhwa kyŏrŭi ron; e: Resolving Doubts About Observing the Hwadu), của Trí Nột (k: Chinul 知訥). Bản dịch tiếng Anh của Robert Buswell trong tác phẩm The Korean Approach to Zen.

Khán thoại thiền

看話禪; C: kànhuà-chán; J: kanna-zen;|Danh từ này được Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo nêu ra và sử dụng lần đầu. Khán thoại thiền là phương pháp quán Công án, xem công án là phương tiện quan trọng nhất để đắc đạo. Công án đã được sử dụng từ giữa thế kỉ thứ 10, nhưng chỉ thật sự hưng thịnh khi tập Bích nham lục của Thiền sư Viên Ngộ ra đời. Thiền sư Ðại Huệ rất đề cao vai trò quan trọng của công án và từ đây, quán công án trở thành phương pháp tu tập chính trong dòng thiền Lâm Tế.

khán thoại thiền

3898與「默照禪」相對稱。爲臨濟宗大慧宗杲之宗風。看,見之意;話,公案之意。即專就一則古人之話頭,歷久真實參究終於獲得開悟,此種禪風稱爲看話禪。此禪風先慧後定,與默照禪之先定後慧大異其趣。看話禪之起源可追溯至唐代趙州從諗之「狗子無佛性」爲始,而於唐末五代,拈提古則公案以摧破知覺情識之風極爲興盛。至宋代大慧宗杲則極力主張專門參看一則話頭,後之臨濟宗皆奉爲圭臬。爾後其風益盛,如明代中峰明本特爲揭櫫麻三斤、柏子樹、須彌山、平常心是道、雲門顧、趙州無等古公案,頗影響一代之禪風。明、清以至於今,此禪風猶未絕。此外,宋代以後,禪淨合習之思潮甚盛,以「阿彌陀佛」四字爲公案之風極盛一時,此亦爲看話禪之一種。〔天目中峰和尚廣錄卷一之下、憨山老人夢遊集卷二〕 ; Đối lại: Mặc chiếu Thiền. Thiền tham cứu công án, là Tông phong của ngài Đại Huệ Tông Cảo, tông Lâm Tế. Khán là tham cứu, thoại là công án. Tức là ở nơi một tắc thoại đầu của người xưa chân thật tham cứu dài lâu cho đến khi được khai ngộ. Thiền phong này trước huệ sau định, cùng Mặc chiếu thiền trước định sau huệ khác xa về chỉ thú. Nguồn gốc của Khán thoại thiền có thể nói bắt đầu từ công án »Con chó không Phật tính« của Triệu Châu Tùng Thẩm đời Đường. Đến cuối đời Đường đầu đời Ngũ Đại, việc sử dụng các tắc công án để phá trừ thói quen tình thức phân biệt rất là hưng thịnh. Đến đời Tống, Đại Huệ Tông Cảo cực lực chủ trương chuyên môn tham khán một tắc thoại đầu, về sau tông Lâm Tế tôn sùng làm khuôn phép. Càng về sau tông phong càng thịnh, như đời Minh, ngài Trung Phong Minh Bản đặc biệt đề xướng những công án xưa như: Ba cân gai, cây tùng trước sân, núi Tu-di, tâm bình thường là đạo, chữ »Cố« của Vân Môn, chữ »Vô« của Triệu Châu… Thiền phong ảnh hưởng lớn một thời. Từ đời Minh, Thanh cho đến nay, thiền phong này vẫn chưa dứt. Ngoài ra, từ đời Tống về sau, tư trào Thiền Tịnh hiệp tập rất thịnh, lấy 4 chữ »A-di-đà Phật« làm công án, đây cũng là một thứ Khán thoại thiền. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ; Kanna-zen (J).

khán trước tắc hạt

3897禪林用語。謂有所見則滯於其所見,故雖言「看」,然卻無異於瞎;乃禪林中常用以形容執著於一己見解之語彙。〔碧巖錄第六十二則〕 ; (看著則瞎) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Dính vào cái thấy thì mù. Nghĩa là còn thấy có chỗ thấy thì sẽ bị cái thấy trói buộc, cho nên tuy nói là khán (xem thấy), nhưng thực ra không khác gì mù. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ ra rằng nếu còn chấp trước vào kiến giải của mình thì không tỏ ngộ được. [X. tắc 62 trong Bích nham lục].

khán đãi

Lo liệu, coi sóc. Tiết Nhất Túc Giác Hoà thượng trong TĐT q. 3 ghi: »昨 者 母 親 下 世,只 有 姊,獨 自 無 人 看 待,争 拋 得? – [i]Trước kia mẫu thân tạ thế, chỉ còn người chị một mình không ai coi sóc, làm sao bỏ được?[/i]«.

Khán 看

[ja] カン kan ||| (1) To look at, to view. Observe. (2) To inquire, to question; to study (the scriptures). (3) To consider, to think. (4) To watch after, to guard. => 1. Xem, nhìn, quan sát. 2. Hỏi thăm, hỏi; nghiên cứu (kinh điển). 3. Suy xét, suy nghĩ. 4.Theo dõi, đề phòng.

kháng hành

Đối lập nhau. Tiết Mông Sơn Quang Bảo Thiền sư trong NĐHN q. 2 ghi: »師 曰: 眼 耳 緣 聲 色 時、 爲 復 抗 行、 爲 有 回 互? 澤 曰: 抗 互 且 置、 汝 指 何 法 爲 聲 色 之 體 乎? 師 曰: 如 師 所 說、 即 無 有 聲 色 可 得。 澤 曰: 汝 若 了 聲 色 體 空、 亦 信 眼 耳 諸 根、 及 與 凡 與 聖、 平 等 如 幻、 抗 行 回 互、 其 理 昭 然。 – [i]Sư nói: Khi mắt tai duyên theo thanh sắc là đối lập nhau hay là dung hợp nhau? Thiền sư Hà Trạch nói: Đối lập hay dung hợp tạm gác lại, ngươi hãy chỉ xem pháp nào là thể của thanh sắc? Sư nói: Theo như thầy nói thì không thật có thanh sắc. Hà Trạch nói: Nếu như ngươi biết rõ thể thanh sắc vốn không, cũng như các căn mắt tai, cho đến phàm thánh đều bình đẳng như huyễn thì đối lập hay dung hợp lí ấy quá rõ ràng[/i]«.

khánh

6273<一>中國古代樂器,以玉石所製,作板樣中曲,兩頭垂下(へ)字形,屬禮器之一。種類甚多,有玉磬、銅磬、鐵磬、編磬、笙磬、頌磬、歌磬、特磬等。 <二>今寺院中以銅製鉢盂形物,置於佛桌右側,於法會、課誦時由維那師以棓(木製之棒)擊鳴之法器。中國自宋代以後禪林多用之。其形狀有雲形、曲形、蝶形、蓮花形等,大小不定。就其性質而別,則有大磬、圓磬、匾磬、小手磬等。大磬為直徑三十至六十餘公分之磬;圓磬乃念誦所鳴,安置於臺上,由維那主之,凡住持或尊宿仕宦等禮佛,皆鳴三下;匾磬係以石製,形似雲板,懸於方丈廊外,有客見住持,知客鳴三下;小手磬,俗稱引磬,作椀狀,底部中央貫以紐,附木柄,以小鐵枹擊之,禮佛誦經皆鳴之,為起止之節。日本寺院所用之磬大致同於中國,惟以手磬稱為鈴,或以未滿一尺之磬稱為鈴。又以「磬」字作「鏧」,然其原因已不可考。〔敕修百丈清規卷八磬條、禪林象器箋唄器門、考信錄卷一、持寶通覽卷中〕 ; (磬) I. Khánh. Loại nhạc khí của Trung quốc đời xưa, được chế tạo bằng ngọc thạch có hình dạng giống như cái dấu mũ ^. II. Khánh. Pháp khí được làm bằng đồng để dùng trong các thời khóa niệm tụng trong các chùa viện ngày nay tại Trung quốc. Khánh mang nhiều hình dáng khác nhau như: hình mây, hình cong, hình bướm, hình hoa sen, v.v... lớn nhỏ không nhất định. Khánh cũng có nhiều loại như khánh lớn, khánh tròn, khánh nhỏ cầm ở tay, khánh biển. Khánh lớn có đường kính từ 30 đến 60 phân Tây; khánh tròn được đặt trên cái đế đánh khi tụng niệm và lễ Phật; khánh biển làm bằng đá, có hình dáng giống như bảng mây, treo ở ngoài hành lang phương trượng, khi có khách đến thăm vị Trụ trì thì Tri khách đánh 3 tiếng để báo hiệu; khánh nhỏ cầm ở tay tục gọi là Dẫn khánh, hình dáng giống như chiếc bát nhỏ, có gắn cán cầm bằng gỗ, dùng thanh sắt nhỏ để đánh, khi lễ Phật tụng kinh đều dùng khánh này để làm nhịp từ đầu đến cuối. Khánh được sử dụng trong các chùa viện ở Nhật bản đại khái cũng giống như tại Trung quốc, riêng có chiếc khánh nhỏ cầm tay thì được gọi là Linh(cái chuông nhỏ). [X. điều Khánh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.8; môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên; Trì bảo thông giám Q.trung].

khánh an cung

6018位於臺灣基隆。清嘉慶二十年(1815),由地方人士發起籌建。道光二十二年(1842)重新修建,香火日盛。民國前一年(1911)成立董事會,二次重建,後又毀於二次世界大戰。民國五十二年,由陳漢周發起第三次重修擴建,歷時七年餘,殿內雕樑畫棟,富麗堂皇,殿中兼供佛神。前任住持為文印法師。六十四年文印入寂後,由杜普真居士主持寺務迄今。

khánh chiêu

6018請參閱 鐵壁機禪師語錄 (963~1017)北宋僧。錢塘(浙江)人,俗姓胡。字子文。幼年出家於開化院,十三歲於會稽開元寺受具足戒。二十一歲禮謁奉先寺源清,學天台教法,凡十七年。源清示寂後,乃繼其講席。景德元年(1004),遷至梵天寺,宣講法華、止觀等,各百餘遍,大揚宗風。 初源清、洪敏等扶其師晤恩之光明玄義發揮記,作難辭二十條,四明知禮則撰釋難扶宗記以斥之。景德三年十月,師與智圓共撰辨訛,以支持晤恩之說。十二月,知禮更作問疑反詰之。如此與知禮往復五次,歷時七年,相互問難,此即世稱之天台宗山家、山外之諍,師即山外之代表者。其戒行清苦,深思敏辨,世所罕見。天禧元年示寂,世壽五十五。〔佛祖統紀卷十、釋門正統卷五、閑居編卷十五〕 ; (慶昭) (963-1017) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Tống, người huyện Tiền đường, tỉnh Chiết giang, họ Hồ, tự là Tử văn. Sư xuất gia từ thủa nhỏ ở viện Khai hóa, 13 tuổi, thụ giới Cụ túc ở chùa Khai nguyên tại Cối kê. Năm 23 tuổi, sư lễ ngài Nguyên thanh chùa Phụng tiên học giáo pháp Thiên thai suốt 17 năm. Sau khi ngài Nguyên thanh thị tịch, sư thừa kế pháp tòa của ngài. Niên hiệu Cảnh đức năm đầu (1004), sư đến chùa Phạm thiên giảng kinh Pháp hoa và Chỉ quán, mỗi loại hơn 100 lần, xiển dương tông phong, hưng thịnh một thời. Trước đó, các ngài Nguyên thanh, Hồng mẫn có viết Nạn từ nhị thập điều(Hai mươi điều vấn nạn) để đề cao tác phẩm Quang minh huyền nghĩa phát huy kí của thầy mình là ngài Ngô ân, còn ngài Tứ minh Tri lễ thì soạn Thích nạn phù tông kí để bác lại. Tháng 10 năm cảnh đức thứ 3 (1006). Khánh chiêu lại cùng với sư Trí viên soạn Biện ngoa(biện minh điêu sai trái) để bảo vệ thuyết của ngài Ngô ân. Đến tháng 12, ngài Tri lễ lại viết Vấn nghi để hỏi vặn lại. Trong 7 năm ròng, 2 bên cật vấn qua lại đến 5 lần. Đây là cuộc tranh luận kéo dài giữa các đệ tử Sơn gia và Sơn ngoại của tông Thiên thai mà sư Khánh chiêu là người đại diện cho phái Sơn ngoại. Sư giữ giới rất tinh nghiêm, tu hành cần khổ, nghĩ sâu, nhanh trí, biện bác lưu loát, hiếm thấy ở đời. Niên hiệu Thiên hi năm đầu (1017) sư tịch, thọ 55 tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.10; Thích môn chính thống Q.5; Nhàn cư biên Q.15].

Khánh Châu 慶州

[ja] キョウシュウ Kyōshū ||| Kyŏngju One time capital of Silla and home city of Wŏnhyo 元曉. => ( j: Kyōshū ; k: Kyŏngju) .Một thời là kinh đô của Tân La (k: Silla) và là quê hương của Nguyên Hiểu (元曉k: Wŏnhyo ).

khánh chư

(807-888) Thiền tăng đời Đường, họ Trần, người xứ Tân Cam, Lô Lăng (nay là huyện Tân Can tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Năm 13 tuổi, sư nương Thiền sư Hồng Tỉnh Tây Sơn Thiệu Giám cạo tóc xuất gia, năm 23 tuổi đến Tung Sơn thụ giới cụ túc, học giới luật. Về sau sư chuyên chí Thiền, làm Mễ đầu ở dưới hội của ngài Quy Sơn Linh Hựu, siêng năng phục vụ đại chúng. Sư còn đến Vân Nham Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa tỉnh Hồ Nam) yết kiến Đạo Ngô Tông Trí, ngay nơi lời nói khế cơ, từ đây đại ngộ. Ở Trường Sa, sư sống lẫn lộn cùng thế tục, mọi người đều chẳng biết. Động Sơn Lương Giới sai tăng đi tìm hỏi, sư mới lộ diện, đến núi Thạch Sương xiển dương Thiền tông, chư tăng tụ hội đến trên 500 vị. Sư ở Thạch Sơn 20 năm, sớm chiều cùng người học luận bàn vấn đáp. Thuỵ hiệu »Phổ Hội Đại Sư«. ; 6019(807~888)唐代僧。為禪宗青原行思之法系第四世。廬陵新淦(江西)人,俗姓陳。十三歲隨從紹鑾出家。二十三歲至嵩山受具足戒,學戒律。後專志於禪,投溈山靈祐門下,並領米頭執,為眾服勞,精勤不懈。次至潭州雲巖參謁道吾和尚(圓智),言下契機,從此洞悟。遂混俗於長沙,人莫能識。後以曹洞宗祖洞山良价遣僧訪尋,師始露面,遂住石霜山。其後道吾將示寂,以師為嫡嗣,乃親至石霜山訪之。迨道吾示寂,禪侶雲集石霜山達五百眾,師避之不得,由是晨夕與學侶扣擊問答。師止於石霜山二十年間,學眾有長坐不臥,屹若株杌者,世人稱之「石霜枯木眾」。唐僖宗聞師之道譽,遣使齎賜紫衣,師固辭不受。光啟四年示寂,世壽八十二,法臘五十九。敕諡「普會大師」。〔宋高僧傳卷十二、景德傳燈錄卷十五、五燈會元卷五、教外別傳卷十四、禪宗正脈卷五〕 ; (慶諸) (807-888) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, thuộc pháp hệ thứ 4 dòng Thanh nguyên Hành tư, người Tân kim (Giang tây) Lư lăng, họ Trần. Năm 13 tuổi, sư theo ngài Thiệu loan xuất gia, 23 tuổi đến Tung sơn thụ giới Cụ túc và học giới luật. Về sau, sư chuyên tâm tu Thiền, làm đệ tử ngài Qui sơn Linh hựu, lãnh chức Mễ đầu(người trông nom việc thóc gạo), hết lòng phục vụ đại chúng. Sau, sư tham yết Hòa thượng Đạo ngô ở Vân nham, Đàm châu và được khế ngộ, từ đó sống trà trộn với dân chúng ở vùng Trường sa, không ai biết đến. Về sau, Tổ của tông Tào động là Thiền sư Động sơn Lương giới cho người đi tìm, lúc đó sư mới lộ diện, rồi ở tại núi Thạch sương. Lúc ngài Đao ngô (Viên trí) sắp tịch, muốn phó chúc cho sư làm người nối pháp chính thức, bèn thân hành đến núi Thạch sương thăm sư. Đến khi ngài Đạo ngô thị tịch, 500 đồ chúng của ngài vân tập về núi Thạch sương. Sư tránh họ chẳng được, nên từ đó sư bắt đầu hoằng pháp và sớm chiều cùng với học chúng vấn đáp. Sư ở trên núi Thạch sương trong khoảng 20 năm, học chúng của sư có người ngồi hoài không nằm, cứ sừng sững như gốc cây, người đời gọi là Thạch sương khô mộc chúng (Chúng cây khô của Thạch sương). Vua Đường Hi tông nghe đạo hạnh của sư, sai sứ mang áo đỏ đến ban cho sư, sư cố từ không nhận. Năm Quang khải thứ 4 (888) sư thị tịch, thọ 82 tuổi, 59 tuổi đạo, thụy hiệu Phổ Hội Đại Sư. [X. Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Ngũ đăng hội nguyên Q.5; Giáo ngoại biệt truyền Q.14; Thiền tông chính mạch Q.5].

Khánh Diệu

(慶耀, Keiyō, ?-?): vị tăng của Thiên Thai Tự Môn Tông (天台寺門宗) Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời Bình An, húy Khánh Diệu (慶耀), thông xưng là Khánh Diệu Dĩ Giảng (慶耀已講), hiệu là Hương Tập Phòng (香集房), xuất thân vùng Phi Điểu (飛鳥, Asuka), Đại Hòa (大和, Yamato, thuộc Nara-ken [奈良縣]). Ông là văn nhân, cũng là người rất giỏi về Phạn văn. Năm 1073, khi Thành Tầm (成尋, Shōjin) sang nhà Tống, có mang theo sách của Khánh Diệu; sách này được người Tống khen ngợi, từ đó tiếng tăm của ông được mọi người biết đến. Đến năm 1076, ông theo Lại Hào (賴豪) đến đăng đàn thọ phép Quán Đảnh ở Đường Viện của Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji). Vào năm 1101, khi Bạch Hà Thượng Hoàng (白河上皇, Shirakawa Jōkō) mở đạo tràng giảng thuyết tại Điểu Vũ Ly Cung (鳥羽離宮), ông đảm đương các thư tịch. Trước tác của ông có Di Lặc Bồ Tát Họa Tượng Tập (彌勒菩薩畫像集) 1 thiếp.

Khánh Hỉ

慶喜; 1066-1142|Thiền sư Việt nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 14. Sư nối pháp Thiền sư Bản Tịch và truyền lại cho Thiền sư Pháp Dung.|Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, Long Biên, thuở nhỏ đã không thích ăn thịt cá. Lớn lên, Sư xuất gia tu học với Thiền sư Bản Tịch tại chùa Chúc Thánh.|Một hôm, trên đường đến nhà đàn việt thụ trai, Sư hỏi: »Thế nào là ý chính của Tổ sư – mà nghe dân gia bị đồng cốt làm mê hoặc?« Bản Tịch đáp: »Lời nói ấy đâu không không phải đồng cốt giáng thần?« Sư bảo: »Hoà thượng chớ chuyên nói đùa.« Bản Tịch đáp: »Ta không từng có mảy may nói đùa.« Sư nghe không hội, bèn từ biệt thầy ra đi.|Ðến chùa Vạn Tuế gặp Thiền sư Biện Tài, Biện Tài hỏi: »Ngươi từ đâu đến?« Sư thưa: »Con từ Bản Tịch đến.« Biện Tài bảo: »Thầy ấy cũng là Thiện tri thức của một phương, đã từng nói với ngươi câu gì?« Sư liền thuật lại chuyện cũ, Biện Tài bảo: »Ôi! Tịch sư vì ngươi đã nói tột rồi, chớ huỷ báng Bản sư không tốt.« Sư dừng lại suy nghĩ, Biện Tài bảo: »Ðâu không nghe nói: Khi đạt khắp cảnh đầy đủ, chẳng ngộ hằng trái xa.« Sư nghe vậy bỗng nhiên đốn ngộ, trở về Bản Tịch và được ấn khả.|Vua Lí Thần Tông mời Sư vào kinh, Sư ứng đối xứng hợp ý chỉ nên vua rất phục, phong chức Tăng lục, sau lại phong Tăng thống.|Ðệ tử Pháp Dung hỏi: »Liễu đạt sắc không, sắc là phàm hay là thánh?« Sư liền đọc bài kệ sau:|勞生休問色兼空。學道無過訪祖宗|天外覓心難定體。人間植桂豈成叢|乾坤盡是毛頭上。日月包含芥子中|大用現前拳在手。誰知凡聖與西東|Lao sinh hưu vấn sắc kiêm không|Học đạo vô quá phỏng Tổ tông|Thiên ngoại mích tâm nan định thể|Nhân gian thực quế khởi thành tùng|Càn khôn tận thị mao đầu thượng|Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung|Ðại dụng hiện tiền quyền tại thủ|Thuỳ tri phàm thánh dữ Tây Ðông?|*Uổng công thôi hỏi sắc cùng không|Học đạo gì hơn phỏng Tổ tông|Ngoài trời tìm tâm thật khó thấy|Thế gian trồng quế đâu thành tùng|Ðầu lông trùm cả càn khôn thảy|Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong|Ðại dụng hiện tiền tay nắm vững|Ai phân phàm thánh với Tây, Ðông.|Ngày 27 tháng giêng, niên hiệu Ðại Ðịnh năm thứ 3, Sư có chút bệnh rồi tịch, thọ 76 tuổi.

khánh hỉ

(1066-1142) Thiền tăng đời Lí, dòng Tì-ni-đa-lưu-chi đời thứ 14. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, Long Biên, miền Bắc Việt Nam. Khoảng niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự (1133-1138), Vua Lí Thần Tông mời sư vào kinh. Sư ứng đối xứng hợp ý chỉ, vua bái phong chức Tăng Lục, lại thăng chức Tăng Thống. Một hôm, đệ tử Pháp Dung hỏi: ‐ Liễu đạt sắc không, sắc là phàm hay là thánh? Sư ứng thinh đáp bài kệ: »勞 生 休 問 色 兼 空。 學 道 無 如 訪 祖 宗。 天 外 覓 心 難 定 體。 人 間 植 桂 豈 成 松。 乾 坤 盡 是 毛 頭 上。 日 月 包 含 芥 子 中。 大 用 現 前 拳 在 手。 誰 知 凡 聖 與 西 東。 – Lao sinh hưu vấn sắc kiêm không, học đạo vô như phỏng Tổ tông, thiên ngoại mích tâm nan định thể, nhân gian thực quế khởi thành tùng, càn khôn tận thị mao đầu thượng, nhật nguyệt bao hàm giới tử trung, đại dụng hiện tiền quyền tại thủ, thùy tri phàm thánh dữ tây đông. –[i]Uổng công thôi hỏi sắc cùng không, học đạo gì hơn phỏng Tổ tông, ngoài trời tìm tâm thật khó thấy, thế gian trồng quế đâu thành tòng, đầu lông trùm cả càn khôn thảy, hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong. Đại dụng hiện tiền tay nắm vững, ai phân phàm thánh với tây đông[/i]«. Theo: [i]Thiền Sư Việt Nam[/i] của HT. Thanh Từ. ; 6018<一>聽聞佛法,得到喜悅,稱為慶喜。狹義為「歡喜」之對稱。即念佛者具有信心,決定此世即可住於「正定聚」之不退位,因此充滿喜悅,稱為慶喜。(參閱「歡喜」6898) <二>梵名 Ānanda。音譯阿難、阿難陀。為佛陀十大弟子之一。於大般若經等處,多用慶喜之名,而少用阿難之名。(參閱「阿難」3694) ; Xem A nan đà. ; (慶喜) I. Khánh Hỉ. Do nghe Phật pháp mà vui mừng. Tức là người niệm Phật có đầy đủ lòng tin, quyết định ngay đời này có thể trụ nơi quả vị bất thoái của chính định tụ, nhờ đó mà tràn đầy niềm vui... (xt. Hoan Hỉ) II. Khánh Hỉ. Phạm:Ànanda. Dịch âm: A nan, An nan đà. Một trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật. Kinh Đại bát nhã phần nhiều dùng tên Khánh hỉ, chứ ít dùng tên A nan. (xt. A Nan).

Khánh Hữu 慶友

[ja] キョウユウ kyōyū ||| Nandimitra, the author of the Nandimitrāvadāna (法住記). His name is transcribed into Chinese as Nántímìduōluó 難提蜜多羅. He is considered as one of the eighteen arhats 十八羅漢. => (s: Nandimitra), tác giả của Pháp trú ký (s: Nandimitrāvadāna 法住記). Phiên âm tên ngài theo tiếng Hán là Nan-đề Mật-đa-la ( c: Nántímìduōluó 難提蜜多羅). Ngài được xem là một trong Thập bát La-hán.

khánh hỷ tôn giả

Xem A nan đà.

khánh khoái

Vui mừng, thích thú. Phần nhiều miêu tả tâm tình vui vẻ khoan khoái sau khi ngộ thiền. [i]Vô Môn Quan[/i] ghi: »透 得 過 者、 非 但 親 見 趙 州、 便 可 與 歷 代 祖 師、 把 手 共 行、 眉 毛 廝 結、 同 一 眼 見、 同 一 耳 聞、 豈 不 慶 快。 – [i]Ai lọt qua cửa này, chẳng những chính mắt thấy Triệu Châu mà còn thấy hết thảy Tổ sư nắm tay chung bước, thâm sâu giao kết, cùng một mắt thấy, cùng một tai nghe, há chẳng thú sao?[/i]«.

khánh khoái bình sinh

Cả đời thư thái, mô tả tâm thái vui vẻ thoải mái của người ngộ thiền. Đây là tập ngữ của nhà thiền. Tiết Thượng Phong Bản Tài Thiền sư trong NĐHN q. 18 ghi: »或 有 一 箇 半 箇、 不 求 諸 聖、 不 重 已 靈、 疋 馬 單 鎗、 投 虛 置 刃、 不 妨 慶 快 平 生。 – [i]Hoặc có một người ưu tú, chẳng cầu chư thánh, chẳng trọng tính linh, đơn độc lao vào chốn hiểm nguy, thật là thư thái cả đời[/i]«.

khánh khái

6614<一>為佛演說法華經後所示現的十種神力之一。謦咳係指欲言說之前,清潤喉嗓所發之聲。表示欲語之狀。據法華文句卷十下載,謦咳有二義:(一)謦咳事了,謂佛四十餘年之隱祕真實,由法華經之開權顯實而得伸暢,了無遺滯,為其出世之大事通暢,故作謦咳。(二)謦咳付他,謂佛欲以此法付於諸菩薩,使諸菩薩利導後世眾生,故作謦咳。〔法華義疏卷十一〕 <二>咳即欬。咳聲之輕者謂謦,重者謂咳。引申為談笑之義。 ; (謦咳) I. Khánh Khái. Tiếng hắng dặng. Một trong 10 thứ thần lực mà Phật thị hiện sau khi giảng nói kinh Pháp hoa. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 10 hạ, thì khánh khái có 2 nghĩa: 1. Khánh khái sự liễu: Tiếng hắng dặng biểu tỏ một sự việc đã hoàn thành. Sau hơn 40 năm đức Phật mới nói kinh Pháp hoa để khai quyền hiển thực, tiếng khánh khái sau thời pháp này của đức Phật là để đánh dấu một đại sự nhân duyên, hoài bão xuất thế của Ngài đã viên mãn. 2. Khánh khái phó tha: Tiếng hắng dặng của đức Phật bày tỏ ý muốn giao phó đại pháp này (kinh Pháp hoa) lại cho các vị Bồ tát để dắt dẫn làm lợi ích cho chúng sinh đời sau. [X. Pháp hoa nghĩa sớ Q.1]. II. Khánh Khái. Tiếng ho nhẹ gọi là khánh, tiếng ho mạnh gọi là khái. Khánh khái nghĩa là nói và cười.

Khánh sanh

(慶生): sanh ra vui vẻ, hân hoan. Đây là từ mỹ xưng hay kính xưng đối với bậc tôn kính, hàng ngũ xuất gia, v.v.; thay vì dùng từ “nguyên mạng sanh (元命生).” Như trong Cẩm Giang Thiền Đăng (錦江禪燈, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1590) quyển 12, phần Tăng Khánh (僧慶), có đoạn: “Ba Tây An Hán Trần thị tử, gia thế nghiệp Nho, khánh sanh hữu dị thụy, thập tam xuất gia, y Nghĩa Hưng Tự tịnh tu Phạm hạnh (巴西安漢陳氏子、家世業儒、慶生有異瑞、十三出家、依義興寺淨修梵行, sư là con nhà họ Trần ở An Hán, Ba Tây, gia đình theo Nho học, khi sanh ra có điềm lạ; năm 13 tuổi thì xuất gia, nương theo Chùa Nghĩa Hưng chuyên tu Phạm hạnh).”

Khánh Trúc

(慶竺, Keijiku, 1403-1459): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, vị Tổ đời thứ 19 và 21 của Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in), húy là Khánh Trúc (慶竺), hiệu là Hành Liên Xã (行蓮社), Đại Dự (大譽), xuất thân vùng Tokyo. Ông xuất gia theo Liên Dự (蓮譽) và học với pháp Thánh Thông (聖聰). Vào năm 1442, ông làm vị Tổ dời thứ 19 của Tri Ân Viện, và được trao tặng Hương Y. Ông đã từng làm lễ cầu nguyện trừ tai ương với trăm vạn biến niệm Phật, và chính ngôi chùa này đã trở thành ngôi chùa sắc nguyện của dòng dõi hoàng gia. Vào năm 1451, ông tiếp tục được bổ nhiệm làm trú trì đời thứ 21 của Tri Ân Viện, và đã tận lực tái hưng ngôi viện này.

Khánh Tộ

(慶祚, Keiso, 955-1019): học tăng của Thiên Thai Tự Tông Môn Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Bình An, húy Khánh Tộ (慶祚), thông xưng là Long Vân Phường Tiên Đức (龍雲坊先德), hiệu là Long Vân Phường (龍雲坊), xuất thân kinh đô Kyōto, con của Đại Ngoại Ký Trung Nguyên Sư Nguyên (大外記中原師元). Ông theo Dư Khánh (余慶, Yokei) ở Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji) vùng Cận Giang (近江, Ōmi) học giáo nghĩa của các tông Hiển Mật; đến năm 991 thì được thọ pháp Quán Đảnh. Vào năm 993, khi hai chúng môn đồ của Viên Nhân (圓仁, Ennin) và Viên Trân (圓珍, Enchin) đối lập nhau, ông chuyển đến Đại Vân Tự (大雲寺, Daiun-ji) ở vùng Nham Thương (岩岡), Sơn Thành (山城, Yamashiro) và sau đó trở về Viên Thành Tự. Từ đó, học chúng vân tập đến rất đông, vì vậy giáo học của Phái Tự Môn (寺門派) trở nên hưng thạnh. Đến năm 997, khi 5 bộ sách mới được gởi từ bên nhà Bắc Tống Trung Quốc sang, vâng mệnh triều đình, ông bình luận về nghĩa Long Nữ Thành Phật (龍女成佛). Vào năm 1017, mở hội Pháp Hoa Thập Giảng (法華十講) nhân ngày húy kỵ của Viên Trân. Trước tác của ông có Tây Phương Yếu Quán (西方要觀) 1 quyển, Pháp Hoa Long Nữ Thành Phật Quyền Thật Nghi Nạn (法華龍女成佛權實疑難) 1 quyển.

Khánh 磬

[ja] ケイ kei ||| (1) A stone chime shaped like a carpenter's square, hung from an apex. Often found in Buddhist temples. When struck it makes a beautiful sonorous sound. => Chuông bằng đá có hình dáng nhr thước vuông thợ mộc. Thường thấy trong chùa Phật giáo. Khi đánh lên, tạo ra âm thanh rất hay.

kháp táp

(榼

Khát

渇; C: kĕ; J: katsu; S: tarsa. |Khát nước, thèm muốn, thèm khát

Khát ngưỡng

渇仰; C: kĕyăng; J: katsugō;|Mong mỏi, trông mong, khao khát (s: tṛṣṭa). Sự ngưỡng mộ.

khát ngưỡng

5064熱切仰望之意。即指殷切之思慕與敬仰,如渴者之欲飲水。經典中常用以形容對佛、法之仰慕。中阿含卷九郁伽長者經(大一‧四七九下):「爾時,世尊為彼說法,勸發渴仰,成就歡喜。」法華經卷五如來壽量品(大九‧四三上):「諸比丘!如來難可得見,斯眾生等聞如是語,必當生於難遭遇之想,心懷戀慕,渴仰於佛,便種善根。」又如安樂集卷上(大四七‧四下):「聽者端視如渴飲,一心入於語議中,聞法踊躍心悲喜,如是之人應為說。」亦表示聞法之意,即指信前求道之心切。此外,由渴仰之念而頷首聞法,稱為渴仰首,為「解脫耳」之對稱。〔中阿含卷四十八牛角娑羅林經、大般涅槃經卷一、高僧法顯傳〕 ; (渴仰) Tưởng nhớ và kính ngưỡng một cách thiết tha, mong được trông thấy, như người khát muốn uống nước. Trong kinh điển, từ ngữ này thường được sử dụng để miêu tả sự ngưỡng mộ đối với Phật và pháp. Kinh Úc già trưởng giả trong Trung a hàm quyển 9 (Đại 1, 479 hạ), nói: Bấy giờ đức Thế tôn thuyết pháp cho người ấy nghe, khuyên phát tâm khát ngưỡng, thành tựu hoan hỉ. Phẩm Như lai thọ lượng kinh Pháp hoa quyển 5 (Đại 9, 43 thượng), nói: Này các tỉ khưu! Khó có thể được thấy Như lai, chúng sinh nghe những lời ấy ắt sẽ sinh ý tưởng khó gặp, ôm lòng luyến mộ, khát ngưỡng đối với Phật, liền gieo căn lành. [X. kinh Ngưu giác sa la lâm Trung a hàm Q.48; kinh Đại bát niết bàn Q.1; Cao tăng Pháp hiển truyện].

Khát ngưỡng 渇仰

[ja] カツゴウ katsugō ||| To hope for; thirst for; yearn for (tṛṣṭa). Admiration.〔法華經 T 262.9.43a5〕 => Mong mỏi, trông mong, khao khát (s: tṛṣṭa). Sự ngưỡng mộ.

khát tam ma lý minh phi

Ghasmari (S)Một trong 8 minh phi ở 8 hướng quanh ngài Hô Kim Cang, minh phi này ngự ở bắc.

khát thụ la thụ

5064渴樹羅,梵語 kharjūra。又作朅樹羅樹。與波斯棗同類,或謂即為波斯棗。屬棕櫚科,學名 Phoenix sylvestris。葉呈櫛齒狀,宛如椰榆之葉而較粗短,果實味美,大如指頭。其樹之汁液可釀酒,即渴樹羅漿(梵 kharjūra-rasa)。 根本說一切有部百一羯磨卷五列舉更藥八種漿,其中第八種為渴樹羅漿。據同書之注文所載(大二四‧四七八上):「形如小棗,澀而且甜,出波斯國,中方亦有,其味稍殊,其樹獨生,狀如耸櫚,其果多有漿,至番禺時,人名為波斯棗,其味頗與乾肃相似。」〔金光明最勝王經卷一、慧琳音義卷二十九〕 ; (渴樹羅樹) Khát thụ la, Phạm:Kharjùra. Tên khoa học: Phoenix sylvestris. Cây khát thụ la, thuộc họ cây cọ, lá hình răng lược, giống như lá dừa nhưng thô và ngắn, quả to bằng đầu ngón tay và ăn rất ngon. Nhựa cây có thể dùng để nấu rượu, gọi là rượu Khát thụ la (Phạm:Kharyùrarasa). Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma quyển 5 có nêu 8 loại nước thuốc, trong đó, loại thứ 8 là nước Khát thụ la. Cũng sách đã dẫn còn chú thích (Đại 34, 478 thượng): Quả khát thụ la giống như trái táo nhỏ, chát mà lại ngọt, nguồn gốc từ nước Ba tư. Trung quốc cũng có loại cây này nhưng vị hơi khác; cây này mọc lẻ loi, hình dáng giống như cây cọ, quả có nhiều nước, người ở huyện Phiên ngung gọi là táo Ba tư, vị nó rất giống với vị của quả hồng khô. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.29].

khát vọng ma vương

Xem Khát vọng.

khát ái

5064非常愛慕之意。比喻凡夫希求愛樂之迷情,如渴者之求水。添品妙法蓮華經卷三(大九‧一五四上):「彼丈夫受其義已,即行出家,住空閑處,專守一心,斷世渴愛,得五神通。」說無垢稱經卷一方便善巧品(大一四‧五六○下):「是身如陽焰,從諸煩惱渴愛所生。」說無垢稱經疏卷三本(大三八‧一○三九中):「如春陽炎,遙看似水,諸熱渴惱鹿,多奔趣之,非水水想,名渴愛生。諸有為身,從諸煩惱渴愛所生,亦復如是。」上引添品妙法蓮華經「渴愛」之梵語為 tṛṣṇā(巴 taṇhā,藏 sred-pa),有渴、欲望、貪欲、性愛等義,或譯為愛,乃十二緣起之一。〔華手經卷七毀壞品、卷八逆順品、維摩詰所說經卷上方便品、注維摩詰經卷二〕(參閱「愛」5457) ; Kàmatrsna (S). Sensuous craving. ; (渴愛) Phạm:Tfwịà. Pàli: Taịhà. Tạng:Red-pa. Dục vọng, tham dục, tính ái, ái(một trong 12 nhân duyên). Từ ngữ khát ái dụ cho tâm mong cầu thú vui yêu đương của phàm phu, giống như người khát đi tìm nước. Kinh Thiêm phẩm diệu pháp liên hoa quyển 3 (Đại 9, 154 thượng), nói: Bậc trượng phu hiểu được nghĩa này rồi liền xuất gia tu hành, ở nơi vắng vẻ, chuyên giữ một lòng, dứt tâm khát ái thế gian, chứng được 5 thần thông. Phẩm Phương tiện thiện xảo kinh Thuyết vô cấu xưng (Đại 14, 560 hạ), nói: Thân này như sóng nắng, từ các phiền não khát ái mà sinh. Thuyết vô cấu xưng kinh sớ quyển 3 phần đầu (Đại 38, 1039 trung), nói: Như sóng nắng mùa xuân, xa trông như nước, những con nai bị nóng khát bức não đều chạy đến đó, chẳng phải nước mà tưởng là nước. Thân hữu lậu này từ các phiền não khát ái mà sinh, cũng lại như thế. [X. phẩm Hủy hoại kinh Hoa thủ Q.7; phẩm Nghịch thuận kinh Hoa thủ Q.8; phẩm Phương tiện kinh Duy ma cật sở thuyết Q.thượng; Chú Duy ma cật kinh Q. 2]. (xt. Ái).

Khát 渇

[ja] カツ katsu ||| Thirst, desire, longing (tarsa). => Khát nước, thèm muốn, thèm khát (s: tarsa).

Khát-ga-pa

S: khaḍgapa; »Kiếm sĩ« còn được mệnh danh là »Kẻ trộm vô uý«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong khoảng đầu thế kỉ thứ 10. |Ông thuộc giới nông dân, nhưng lúc lớn lên sống bằng trộm cắp. Lần nọ, ăn trộm không được, ông buồn rầu trở về bãi đốt xác thì gặp một vị Du-già sư tên Cát-pa-ti (s: carpaṭi), ông hỏi: »Có phép lạ nào giúp ta ăn trộm mà không bị khám phá.« Vị Du-già sư nghe hỏi như thế bèn chỉ cách: »Trong thành nọ có một bảo tháp, trong đó có một tượng Quán Thế Âm. Ngươi hãy đến đó đi vòng quanh tượng liên tục ba tuần, sau đó sẽ có một con rắn xuất hiện và hãy nắm bắt lấy đầu của con rắn này.« Làm đúng như lời, ông bắt được con rắn nhưng ngay sau đó, con rắn biến thành lưỡi kiếm trí huệ. Chỉ một thời gian ngắn sau, ông đạt quả Tất-địa (s: siddhi). Kệ chứng đạo của ông như sau:|Nếu không có khí giới,|dù chống chọi bao nhiêu,|chiến sĩ luôn bại trận.|Mang theo thanh bảo kiếm,|»Lòng tỉnh giác bất tử«|thắng kẻ thù »Ba cõi«|lòng ta đầy an lạc!

Khâm Minh Thiên Hoàng

(欽明天皇, Kimmei Tennō, tại vị 539-571): người con thứ 4 của Kế Thể Thiên Hoàng (繼体天皇), tên là Thiên Quốc Bài Khai Quảng Đình (天國排開廣庭, Amekunioshiharaki Hironiwa), tức vị vào năm 539 (có thuyết cho là năm 531). Vào thời đại này, vua Thánh Minh (聖明) của Bách Tế (百濟, Kudara) sai sứ đem dâng hiến Phật điển và Phật tượng cho thiên triều Nhật. Đây được xem như là lần đầu tiên Phật Giáo được truyền vào Nhật.

Khâm Sơn Văn Thuý

欽山文邃; C: qīnshān wénsuì; J: kinzan bun-sui; |Thiền sư Trung Quốc, đệ tử của Ðộng Sơn Lương Giới.|Sư xuất gia lúc còn nhỏ và lúc đầu là bạn đồng hành với Tuyết Phong Nghĩa Tồn và Nham Ðầu Toàn Hoát. Cả ba đều đến Ðức Sơn tham thiền. Trong khi Nham Ðầu và Tuyết Phong trở thành hai vị môn đệ xuất sắc của Ðức Sơn thì Sư lại không chịu nổi cách dạy cực kì nghiêm khắc tại đây. Cảnh Ðức truyền đăng lục có ghi lại rằng có lần Ðức Sơn đánh Sư đến nỗi sinh bệnh. Sau Sư đến Ðộng Sơn và đốn ngộ nơi đây. Tương truyền rằng, Sư đến trụ trì Khâm sơn lúc mới 27 tuổi.|Bích nham lục có ghi lại cách hoằng hoá của Sư trong Công án 56. Một vị Thiền khách tên Cự Lương đến hỏi: »Khi một mũi tên phá ba cổng thì thế nào?« Sư bảo: »Dẫn ông chủ của ba cổng ra xem?« Lương Toại đáp: »Thế ấy thì biết lỗi, ắt cãi.« Sư bảo: »Lại đợi khi nào?« Lương nói: »Tên tốt bắn chẳng đến đích.« và ra đi. Sư liền gọi: »Xà-lê lại đây!« Họ Lương xoay đầu, Sư nắm đứng nói: »Mội mũi tên phá ba cổng hãy gác lại, thử vì Khâm Sơn bắn tên xem!« Họ Lương suy nghĩ, Sư liền đánh bảy gậy và nói: »Hãy cho gã này nghi ba mươi năm.«

Khâm Sơn Văn Thúy

(欽山文邃, Kinzan Bunsui, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, người Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), họ là Lục (陸). Khi đang còn ẵm trên tay, ông đã cùng với cha mẹ dời đến Huyện Tuyên Thành (宣城), Tỉnh An Huy (安徽). Hồi nhỏ ông đã đến lạy vị Tăng Chánh ở Trì Châu (池州) làm thầy, xuống tóc xuất gia và đăng đàn thọ giới. Sau đó, ông theo học pháp với Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益), được đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Sau ông đến trú tại Chỉ Quán Tự (止觀寺) vùng Cát Châu (吉州, thuộc Tỉnh Giang Tây), rồi vào năm thứ 2 (964) niên hiệu Càn Đức (乾德), ông chuyển đến sống tại Trường Khánh Tự (長慶寺) vùng Kim Lăng (金陵), rồi đến Thanh Lương Tự (清涼寺) và cuối cùng là Báo Từ Tự (報慈寺). Ông còn được gọi là Lôi Âm Giác Hải Đại Sư (雷音覺海大師).

khâm sơn văn thúy

Qinshan Wensui (C), Ch'in-shan Wen-sui (C), Qinshan Wensui (C), Kinzan Bunsui (J)Một thiền sư đời Đường.

khâm tỳ lạp

Kampilla (S)Một đô thành phương nam nước Ban xà la (Pancala) thời đức Phật.

khâu bảo quang

3520(1933~ )福建海澄人。僑居馬來西亞苎叻州。畢業於檳城鍾靈中學、英國喀比馬來西亞師範學院。二十四歲皈依竺摩法師,法名心海,號明智。熱心佛教弘法事業,對馬來西亞佛教之推展出力甚勤,曾任馬來西亞佛教總會祕書。

khâu tỉnh

1531指枯井。乃謂色身老朽,不堪使用,譬如丘墟之枯井。維摩經方便品(大一四‧五三九中):「是身如丘井,為老所逼。」〔維摩經略疏卷三〕

khâu tựu khước

1531(Kujurakara)又作邱就卻。月氏族五部翎侯中之貴霜翎侯。後攻滅其餘四翎侯,自立為王國,號貴霜王。侵安息,取高附地,又滅濮達、罽賓,悉有其國。年八十餘卒。子閻膏珍繼為王,後滅天竺。至閻膏珍之子迦膩色迦王繼位後,成為印度中部以北之共主。〔後漢書西域傳〕(參閱「月氏」1461、「迦膩色迦王」3976)

Khê Lam Thập Diệp Tập

(溪嵐拾葉集, Keiranshūyōshū): bộ tùng thư do Quang Tông (光宗, 1276-1350) của Thiên Thai Tông thâu tập, ghi lại những sự cố của Tông phái trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) thông qua truyền miệng, rồi chỉnh lý các thuyết từ xưa đến nay, và đưa vào tư tưởng của tác giả. Nguyên lai bộ này có 300 quyển, nhưng hiện tại phần được thâu lục vào trong quyển 76 của Đại Chánh Đại Tạng Kinh (大正大藏經, Taishō), chỉ có 113 quyển mà thôi. Trong đó, có hạng mục Thiền Tông Giáo Gia Đồng Dị Sự (禪宗敎家同異事), và có những ký sự liên quan đến Thiền Sư Đạo Nguyên (道元, Dōgen).

Khê lam thập diệp tập

溪嵐拾葉集; C: xīlán shíyè jí; J: keiran shūyō shū;|113 quyển, tuyển tập của phái Thai Mật Phật giáo Nhật Bản, được cao tăng học giả Quang Tông (光宗, j: kōshū) biên soạn vào giữa năm 1311 và 1348. Bao gồm hơn 300 tập, ấn bản trong Đại Chính tân tu Đại tạng kinh dựa vào sự phục hồi tập nầy bắt đầu vào năm 1968. Để nghiên cứu nội dung, xin xem Grapard (1998).

khê lam thập diệp tập

5514請參閱 觀心論 凡三百卷(現存一一六卷)。日僧光宗(1276~1347)著。收於大正藏第七十六冊。本書爲光宗於應長元年(1311)至貞和三年(1347)間之隨筆。書中除佛法以外,亦旁及醫學、歌道、兵法、耕作、算術等多方面之知識。爲研究日本一實神道之資料。 ; (溪嵐拾葉集) Tùy bút, 300 quyển (hiện còn 116 quyển), do sư Quang tông (1276-1347) người Nhật soạn từ niên hiệu Ứng trường năm đầu (1311) đến năm Trinh hòa thứ 3 (1347) mới xong, được thu vào Đại chính tạng tập 76. Nội dung ngoài Phật pháp ra, tác giả còn đề cập đến nhiều lĩnh vực như: y học, ca đạo, binh pháp, canh tác, toán học, v.v... Đây là tư liệu nghiên cứu về Thần đạo của Nhật bản.

Khê lam thập diệp tập 溪嵐拾葉集

[ja] ケイランシュウヨウシュウ Keiran shūyō shū ||| The Keiran shūyō shū; (Collection of Leaves Gathered in Tempestuous Brooks). 113 fasc. (T 2410.76.503ff), a compendium of Tendai esotericism 台密, compiled between 1311 and 1348 by the scholar-monk Kōshū 光宗. Originally extending over 300 fascicles, the edition in the Taishō canon is based on a reconstruction initiated in 1698. For a survey of its contents, see Grapard (1998). => (j: Keiran shūyō shū; e: Collection of Leaves Gathered in Tempestuous Brooks). 113 quyển, tuyển tập của phái Thai Mật Phật giáo Nhật Bản, được biên soạn vào giữa năm 1311 và 1348 do Cao tăng học giả Quang Tông (j: Kōshū 光宗). Bao gồm hơn 300 tập, ấn bản trong Đại Chính tân tu Đại tạng kinh dựa vào sự phục hồi tập nầy bắt đầu vào năm 1968. Để nghiên cứu nội dung, xin xem Grapard (1998).

Khí

氣; C: qì; J: ki;|1. Không khí, gió; 2. Hơi thở (s: vāta); 3. Năng lực vô hình của sự sống, có phần tương đương với prāṇa của Ấn Độ, là năng lực vật chất của vũ trụ. ; 棄; C: qì; J: ki;|1. Liệng bỏ, buông ra, thả ra; bỏ lại; quên đi, bỏ qua. Quăng bỏ, từ bỏ (s: vihāya, apana-yati). Dừng hẳn.

khí

6208<一>原為一切用具之總稱,即可供容盛物品或使用之具;於佛教經典中,常用以喻指堪受教法或善能弘法之機根,故又稱為根器。準此,接受佛法而信受之人,稱為法器、道器。受戒而遵守者,稱為戒器。反之,不堪為法器、道器之人,皆稱為非器。非器有五類:(一)邪見而無信者。(二)誹謗真理,沽名釣譽者。(三)執著文字而背道者。(四)行為鄙劣者。(五)住於方便法門而不知真義者。以上五種人稱為五人非器;於說法受戒時,將此五人簡別而摒棄之,稱為簡器。 <二>為器世間之略稱。指有情所依處之山河、大地等之世界。(參閱「器世間」6209) ; Ch'i (C), Ki (C), bindu (T), Breath, Trong tinh, khí, thần - những nguyên lý căn bản trong phép luyện thở của Đạo gia. ; A vessel, utensil, tool. ; (器) I. Khí. Tên gọi chung tất cả đồ dùng. Trong kinh điển Phật giáo, từ Khí thường được dùng để gọi những người có căn cơ hoằng pháp là Căn khí, có khả năng tiếp nhận và tin chịu Phật pháp là Pháp khí, Đạo khí; người tuân thủ giới luật, gọi là Giới khí, v.v... Trái lại thì gọi là Phi khí. Phi khí gồm có 5 loại: 1. Tà kiến, không tin Phật pháp. 2. Phỉ báng chân lí, mua chuộc tiếng khen. 3. Chấp trước văn tự, trái với ý đạo. 4. Hành vi thấp hèn. 5. Trụ vào phương tiện, không biết thực nghĩa. Năm hạng người trên gọi là Ngũ nhân phi khí. Khi thụ giới, thuyết pháp loại bỏ 5 hạng người này gọi là Giản khí. II. Khí. Gọi đủ: Khí thế gian. Nơi ở của các loài hữu tình. (xt. Khí Thế Gian).

khí công

Ch'i-kung (C), Qigong (C), Ch'i-kung (C).

khí giới

Xem Khí thế gian.

khí giới thuyết

6210華嚴經中五類說法之一。器界,指有情所依處之山河、大地、草木等世界。如來以不可思議之神力,能使草木、國土說法,稱為器界說。如華嚴經說菩提樹等能作佛事、極樂之樹林能宣說妙法等,即為器界說。〔華嚴經疏卷一、三藏法數卷二十〕 ; The supernatural power of the Buddha to make the material realm. ; (器界說) Khí giới là chỉ cho thế giới trong đó có núi sông, đất đai, cây cỏ, v.v... là nơi sinh sống của các loài hữu tình. Như lai dùng thần lực không thể nghĩ bàn khiến cho cây cỏ, đất nước diễn thuyết chính pháp, gọi là Khí giới thuyết. Là một trong 5 loại thuyết pháp của kinh Hoa nghiêm. Như kinh Hoa nghiêm nói, cây Bồ đề, rừng Cực lạc, v.v... đều có thể tuyên thuyết diệu pháp, đó tức là Khí giới thuyết. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Tam tạng pháp số Q.20].

Khí giới 器界

[ja] キカイ kikai ||| The natural world; the world of matter, where people live [器世間]. => Thế giới tự nhiên, thế giới vật chất nơi loài người đang sinh sống.

Khí hiềm

棄嫌; C: qìxián; J: kiken; |Trừ bỏ nghi ngờ; từ bỏ lòng căm ghét.

Khí hiềm 棄嫌

[ja] キケン kiken ||| To cast off doubt; to get rid of hatred. => Trừ bỏ nghi ngờ; từ bỏ lòng căm ghét.

khí lượng

6210本指器物之容量,引申指人之才識、度量。據最勝王經卷一載,世尊說法,無有分別,係隨眾生器量之多寡,並應其機緣而說。百論僧肇序(大三○‧一六八上):「有天竺沙門鳩摩羅什,器量淵弘,俊神超邈。」 ; Capacity. ; (器量) Vốn chỉ dung lượng của đồ vật, về sau danh từ này được dùng để chỉ cho tài trí và độ lượng của người ta. Cứ theo kinh Tối thắng vương quyển 1, thì đức Thế tôn không có phân biệt, tùy theo căn cơ và khí lượng của chúng sinh mà nói pháp. Lời tựa trong Bách luận của ngài Tăng triệu (Đại 30, 168 thượng) nói: Sa môn Cưu ma la thập, người nước Thiên trúc, khí lượng sâu rộng, thần trí siêu phàm.

khí ngũ cái

5049天台宗二十五方便五科之第三。即摒棄貪欲、瞋恚、睡眠、掉悔、疑等五蓋。蓋,即蓋覆之意,為煩惱之別名。此五種煩惱能蓋覆心神,令其昏闇,而不得開發定慧,故稱五蓋。其中,貪欲蓋起時,則思念五欲,心生醉惑;瞋恚蓋起時,則怨恨情結,心熱氣粗,忿怒相續;睡眠蓋起時,則心神昏沈,六識暗塞,此等皆使人忘失禪定正念。掉悔蓋起時,則雜起尋求伺察之心,遍緣諸法,其心躁動,且因憂慮為他人所毀訾,而起悔心,心中憂惱,蓋覆禪定,使其不得開發。即掉、悔二煩惱,合為一蓋。疑蓋起時,則疑自、疑師、疑法。疑自,即疑己身必非道器;疑師,即疑其師戒行甚粗,不契己意,何能深禪好慧,師而事之,將誤己身;疑法,即疑所受之法未必中理。此三疑非見諦障理之疑,而為障定之疑。 前記五蓋妨礙定慧,故應捨離。其法以不淨觀棄貪欲蓋,以慈悲觀棄瞋恚蓋,以精進策勵棄睡眠蓋,以數息觀棄掉悔蓋。對治疑蓋中之疑自,則念(大四六‧四五中):「我身即是大富盲兒,具足無上法身財寶,煩惱所翳,道眼未開,要當修治,終不放捨。」又念:「無量劫來,習因何定?豈可自疑,失時失利。人身難得,怖心難起,莫以疑惑而自毀傷。」若疑師,則念:「我今無智,上聖大人皆求其法,不取其人,(中略)常起恭敬三世如來。師即未來諸佛,云何生疑耶?」若疑法,則念:「我法眼未開,未別是非,憑信而已。佛法如海,唯信能入。」棄此五蓋,即能生起禪定正念。〔摩訶止觀卷四下、止觀輔行傳弘決卷四下、次第禪門卷二、止觀大意、四教義集註卷下末〕(參閱「五蓋」1194) ; (棄五蓋) Trừ bỏ 5 cái: Tham dục, sân khuể, thụy miên, điệu hối và nghi. Cái nghĩa là che đậy, là tên khác của phiền não. Năm loại phiền não này thường che lấp tâm tính, làm cho mờ tối, không khai phát được định tuệ, cho nên gọi là Ngũ cái. Khi tham dục dấy lên, thì nghĩ đến 5 dục, sinh tâm mê say; khi sân khuể dấy lên, thì tâm sinh oán giận, bừng bừng như lửa, luôn luôn bực tức; khi thụy miên (buồn ngủ) dấy lên, thì tâm thần mơ màng, sáu thức tối tăm, khiến người tu hành quên mất thiền định chính niệm; khi điệu hối dấy lên, thì tâm bồn chồn lo lắng, hối hận những điều lỗi lầm mà sinh sầu não; khi nghi dấy lên, thì ngờ mình, ngờ thầy, ngờ pháp. Ngờ mình tức là ngờ chính mình chẳng phải đạo khí; ngờ thầy là ngờ về giới hạnh của thầy, không hợp ý mình, sợ mình sẽ lầm; ngờ pháp tức là ngờ pháp mình đã tiếp nhận chưa chắc đã đúng chân lí. Tất cả 5 phiền não (5 cái) trên đây đều chướng ngại định tuệ, cho nên phải trừ bỏ. Nghĩa là dùng Bất tịnh quán trừ bỏ tham dục, dùng Từ bi quán trừ bỏ sân khuể, dùng hạnh Tinh tiến trừ bỏ thụy miên, dùng Sổ tức quán trừ bỏ Điệu hối. Còn phiền não Nghi có 3 cách quán tưởng để trừ bỏ 3 cái nghi mình, nghi thầy và nghi pháp. Nếu nghi mình thì nghĩ (Đại 46, 45 trung): Thân ta tức là đứa con đui mù giầu có, đầy đủ tài bảo pháp thân vô thượng, nhưng vì bị phiền não che đậy nên mắt đạo chưa mở, cần luôn luôn tu sửa. Lại nghĩ: Từ vô lượng kiếp đến nay, tập nhân đâu có cố định? Há lại tự nghi, mất thời gian, mất lợi lạc. Thân người khó được, chớ để nghi hoặc làm tổn thương mình. Nếu nghi thầy thì nghĩ rằng: Ta nay ngu si, bậc thượng thánh đại nhân đều cầu pháp, không chấp người, (...), thường khởi tâm cung kính Như lai 3 đời. Thầy tức là chư Phật vị lai, sao lại sinh tâm nghi?. Nếu nghi pháp thì nghĩ: Mắt pháp của ta chưa mở, chưa phân biệt phải trái, chỉ nhờ vào lòng tin mà thôi. Phật pháp như biển, chỉ có lòng tin mới có thể vào được. Trừ bỏ 5 phiền não (cái) này, thì liền sinh chính niệm thiền định. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4 hạ; Thứ đệ thiền môn Q.2; Chỉ quán đại ý; Tứ giáo nghi tập chú Q.hạ phần cuối]. (xt. Ngũ Cái).

khí phác

6210比喻眾生根機之用語。出於善導觀經疏定善義。器為曲木,朴為直木,器、朴均係未加工前之原木,故以之比喻眾生為定機或散機。此外或謂器為受法之器,朴則指原木。 ; (器樸) Danh từ được dùng trong Quán kinh sớ định thiện nghĩa của ngài Thiện đạo đời Đường. Khí là cây cong, Phác là cây thẳng. Khí và phác chỉ cho cây gỗ còn nguyên chưa gia công. Ngài Thiện đạo dùng danh từ này để ví dụ định cơ hay tán cơ của chúng sinh. Ngoài ra, có chỗ cho rằng Khí là đồ để thụ pháp, còn Phác là chỉ cho cây gỗ nguyên.

khí phác luận

6210凡三卷。日本時宗第七祖託何(或稱託阿)著。敘述時宗之教義。收於大正藏第八十四冊。本書分為聖淨難易、本懷非本懷、二尊二教等十五門,解說時宗教義,並將釋迦一代之教說,歸結於念佛一門。寶永三年(1706)刊行。安永五年(1776)再刻。 ; (器樸論) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Thác hà (Thác a), Tổ thứ 7 của Thời tông Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 84, ấn hành năm Bảo vĩnh thứ 3 (1706), khắc in lại vào năm An vĩnh thứ 5 (1776). Nội dung sách này trình bày về giáo nghĩa của Thời tông, chia làm 15 môn như: Thánh tịnh nan dị, Bản hoài phi bản hoài, Nhị tôn nhị giáo, v.v... và giải thích rõ ràng, rồi qui kết giáo thuyết một đời của đức Thích ca vào môn Niệm Phật.

khí thế gian

6209梵語 bhājana-loka。三世間之一。又作器世界、器界、器。指一切眾生所居之國土世界。相當於依正二報中之依報。即指眾生世間或有情世間而言,與「國土世間」、「住處世間」同義。以國土世界形如器物,能容受眾生,可變可壞,故稱器世間。 據大毘婆沙論卷一三四所載,於一劫中成器世間,十九劫中有情漸住;又器世間至色究竟天為止,其上為無色天。小乘以器世間為有情共業所感者,唯識大乘則以之為阿賴耶識頓變之境。此外,天親於淨土論中,稱阿彌陀佛淨土之莊嚴功德為器世間清淨,即因阿彌陀佛之淨土為如來本願力所建,故稱器世間,然不同於有情共業所感之有漏國土。〔大毘婆沙論卷一三三、俱舍論卷十一、成唯識論卷二、往生論註卷三、俱舍論光記卷十一、成唯識論述記卷三本、止觀輔行傳弘決卷五、華嚴經探玄記卷十七、華嚴經隨疏演義鈔卷一、百法問答鈔卷一、翻譯名義集卷七〕(參閱「世間」1524) ; The world as a vessel containing countries and peoples; the material world, a realm of things. ; (器世間) Phạm:Bhàjana-loka. Cũng gọi Khí thế giới, Khí giới, Khí. Chỉ cho đất nước là nơi sinh sống của tất cả chúng sinh, 1 trong 3 thế gian. Vì đất nước chứa đựng chúng sinh giống như đồ dùng chứa đựng các vật nên gọi là Khí, dễ biến đổi, dễ hư nát nên gọi là Khí thế gian. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 134, thì trong 1 kiếp Khí thế gian được tạo thành, trong 19 kiếp các loài hữu tình dần dần sinh trụ. Khí thế gian chỉ đến cõi trời Sắc cứu kính, phía trên đó là trời Vô sắc. Tiểu thừa cho rằng Khí thế gian do cộng nghiệp của chúng sinh chiêu cảm lấy, còn Duy thức Đại thừa thì chủ trương rằng Khí thế gian là do thức A lại da biến hiện. Ngoài ra, trong luận Tịnh độ của ngài Thiên thân, Tịnh độ trang nghiêm của Phật A di đà được gọi là Khí thế gian thanh tịnh, vì Tịnh độ này là do sức bản nguyện của Như lai kiến lập, cho nên gọi là Khí thế gian, nhưng khác với quốc độ hữu lậu do cộng nghiệp của chúng sinh chiêu cảm. [X. luận Đại tì bà sa Q.133; luận Câu xá Q.11; luận Thành duy thức Q.2; Vãng sinh luận chú Q.3; Câu xá luận quang kí Q.11; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.1; Bách pháp vấn đáp sao Q.1; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Thế Gian).

khí thế gian thanh tịnh

6209二種清淨之一。指阿彌陀佛淨土之莊嚴功德。眾生世間為果報中之正報,器世間則為彼眾生所依用之依報。於極樂淨土中,不論正報、依報,皆以「真實智慧無為法身之涅槃實相」一法句之妙理為體,其相超過三界而清淨無染,故謂眾生世間清淨、器世間清淨。極樂淨土二十九種莊嚴中,國土有清淨、量、性、形相、種種事、妙色、觸、三種(水、地、虛空)、雨、光明、妙聲、主、眷屬、受用、無諸難、大義門、一切所求滿足等十七種莊嚴,即為器世間清淨。〔淨土論(天親)、淨土論註卷下〕(參閱「二十九種莊嚴」170、「二種清淨」233) ; (器世間清淨) Chỉ cho Tịnh độ trang nghiêm của Phật A di đà. Chúng sinh thế gian là chính báo của chúng sinh, Khí thế gian là y báo của chúng sinh nương vào đó mà sống còn. Ở cực lạc Tịnh độ thì bất luận chính báo, y báo, đều lấy diệu lí thực tướng Niết bàn của pháp thân làm thể, thể ấy thanh tịnh vô nhiễm, vượt ra ngoài 3 cõi, nên gọi là Khí thế gian thanh tịnh. Trong 29 thứ trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạc thì về quốc độ có 17 thứ là: Thanh tịnh, lượng, tính, hình tướng, chủng chủng sự, diệu sắc, xúc, tam chủng(nước, đất, hư không), vũ(mưa), quang minh, diệu thanh, chủ, quyến thuộc, thụ dụng, vô chư nạn, đại nghĩa môn và nhất thiết sở cầu mãn túc. Đó là Khí thế gian thanh tịnh, một trong 2 thứ thanh tịnh. [X. luận Tịnh độ (Thiên thân); Tịnh độ luận chú Q.hạ]. (xt. Nhị Thập Cửu Chủng Trang Nghiêm, Nhị Chủng Thanh Tịnh).

khí thế gian thuyết pháp tam nghĩa

6209據華嚴經疏卷八所載,器世間之說法有下列三義:(一)約通力說,約,即依之義。謂佛以神通力,令諸世間無情之物皆能說法,是為約通力說。(二)約融通說,謂依報之土與正報之身,二者性本融通,身既能說法,土亦能說,即一說一切說之義,是為約融通說。(三)約顯理說,謂菩薩觸對諸境,皆能了知,如對色境時,即顯示質礙、緣生、無常等義,觸類而成教,是為約顯理說。 ; (器世間說法三義) Ba nghĩa của Khí thế gian thuyết pháp. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 8, thì Khí thế gian thuyết pháp có 3 nghĩa sau đây: 1. Ước thông lực thuyết(nương vào sức thần thông mà nói): Phật dùng sức thần thông khiến các vật vô tình của thế gian đều có khả năng thuyết pháp. 2. Ước dung thông thuyết(dựa vào sự dung thông mà nói): Bản tính của y báo(quốc độ)và chính báo(thân căn) dung thông nhau, cho nên thân có thể thuyết pháp, mà độ cũng có thể thuyết pháp. 3. Ước hiển lí thuyết(nhờ sự hiển rõ lí mà nói): Bồ tát tiếp xúc với cảnh đều có thể biết rõ, như lúc Bồ tát tiếp xúc sắc cảnh thì liền hiển bày các lí nghĩa: Chất ngại, duyên sinh, vô thường, v.v...

Khí thế gian 器世間

[ja] キセケン kiseken ||| The natural world (自然世界); the 'unborn' world. The world of the quality of things. The physical realm of one's existence. The non-sentient world. => Thế giới tự nhiên, thế giới hiện tượng. Lĩnh vực vật chất của sự hiện hữu. Thế giới vô tri giác.

khí thủ thiên

6209梵名 Karoṭapāṇi。密教胎藏界外金剛部眾之一天,為伊舍那天之眷屬。以其手執酒器,故又稱器酒天。 ; Karotapāni (S)Tên một vị thiên. ; (器手天) Phạm:Karoỉapàịi. Cũng gọi Khí tửu thiên. Tên một vị trời thuộc Kim cương bộ ngoài của Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, là quyến thuộc của trời Y xá na. Vì tay của vị trời này cầm bình rượu nên gọi là Khí tửu thiên.

khí thủ thiên hậu

6209梵名 Karoṭapāṇiṇī。密教胎藏界外金剛部眾之一天,為伊舍那天之眷屬。其與器手天共執酒器。 ; (器手天後) Phạm:Karoỉapàịiịì. Tên một vị trời thuộc Kim cương bộ ngoài trong Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, là quyến thuộc của trời Y xá na. Vị trời này cùng với Khí thủ thiên tay đều cầm bình rượu.

khí tông lộng tán

5049(?~650)西藏名 Khri-lde-sroṅ-bstan-sgam-po。又稱雙贊思甘普(藏 Sroṅ-bstan-sgam-po)、棄蘇農贊、松贊干布。唐時西藏國王,興隆西藏佛教。為妙音七汗之子。十六歲(一說十三歲)即位,性驍勇,多謀略。貞觀八年(634)遣使至長安朝貢,後率兵二十萬攻松州,為唐軍所敗,請婚於唐。貞觀十五年,娶唐宗室女文成公主,推行漢化,遣子弟入唐學習詩、書。其後並娶巴勒布國(今尼泊爾)公主波利庫姬(梵 Bhṛkuṭi)為妃(一說先娶)。二公主各攜來佛像及經卷等,西藏佛教因而大行。復遣端美三菩提(藏 Thon-mi-sam-bhoṭa)等赴南印度習梵語,傳譯禪經、百拜懺悔經、三法雲經等;並以梵語為本,參酌西藏語韻,新製文字,造聲字注釋及文法書。此外,復革新弊政,制定新刑法,廣行十善之法。高宗時,授駙馬都尉,封西海郡王。永徽元年去世。其生年不詳,或謂西元六○○年,另說謂六二七年。 後世傳說王乃觀世音菩薩化身,二妃與端美三菩提則分別被視為多羅菩薩、文殊菩薩之化身。棄宗弄讚王與乞㗚雙提贊王(藏 Khri-sroṅ-lde-btsan)、乞㗚徠巴贍王(藏 Khri-ral-pa-can),為西藏史上之護教三王。西藏觀音經(藏)即為遵照其遺命集錄而成之西藏佛教聖典。〔彰所知論卷上、大唐西域求法高僧傳卷上、唐書卷一九六上吐蕃傳上、新唐書卷二一六上吐蕃傳上、冊府元龜第九七九、蒙古源流第二、聖武記第五、蒙藏佛教史卷上、Obermiller: History of Buddhism by Bu-ston, Part. II;W.W. Rockhill: Tibet; Sarat Candra Das: Tibetan English Dictionary〕 ; (棄宗弄贊) (?-650) Tạng: Khri-lde-sroí-bstan-sgam-po. Cũng gọi Song tán tư cam phổ (Tạng: Sroí-bstan-sgam-po), Khí tô nông tán, Tùng tán can bố. Vua Tây tạng, sống cùng thời với nhà Đường ở Trung quốc, ông đã làm cho nền Phật giáo Tây tạng hưng thịnh. Ông lên ngôi năm 16 tuổi(có thuyết nói 13 tuổi), tính kiêu dũng, nhiều mưu lược. Năm 634, ông sai sứ đến Trường an triều cống, sau đưa 20 vạn quân đến tấn công Tùng châu, bị quân nhà Đường đánh bại, liền xin cầu hôn với nhà Đường. Năm 641, ông cưới công chúa Văn thành nhà Đường, muốn theo văn hóa Hán tộc, ông cho người trong Hoàng gia đến Trung quốc học tập. Về sau, ông lại cưới công chúaBhfkuỉicủa Nepal làm phi(có thuyết nói bà này được cưới trước). Hai vị công chúa khi về Tây tạng, mỗi người đều mang theo tượng Phật và kinh điển, đó là nguyên nhân đã làm cho Phật giáo Tây tạng hưng thịnh. Rồi ông lại sai đại thần Đoan mĩ tam bồ đề (Tạng: Thon-misam-bhoỉa) đến Nam Ấn độ học tiếng Phạm, truyền dịch kinh Thiền, kinh Bách bái sám hối, kinh Tam pháp vân. Đồng thời, ông lấy tiếng Phạm làm gốc, châm chướcchữ Tây tạng rồi chế ra văn tự riêng của Tây tạng và soạn các sách chú giải về thanh tự và văn pháp. Ngoài ra, ông ứng dụng pháp Thập thiện của Phật giáo để canh tân chính sách đã suy bại và chế định hình pháp mới cho Tây tạng. Truyền thuyết đời sau cho rằng Quốc vương là hóa thân của bồ tát Quan thế âm, 2 bà phi và ông Đoan mĩ tam bồ đề thì được coi là hóa thân của bồ tát Đa la, bồ tát Văn thù. Vua Khí tông lộng tán cùng với vua Khất lật song đề tán (Tạng:Khri-sroí-lde-bstan), vua Khất lật lai ba chiêm (Tạng:Khri-ral-pa-can) là 3 vị vua hộ giáo lớn nhất trong lịch sử Tây tạng. Tây tạng Quan âm kinh (Tạng), tức Thánh điển Phật giáo Tây tạng, là do tuân theo di mệnh của vua Khí tông lộng tán thu chép mà thành. [X. luận Chương sở tri Q.thượng; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Thổ phồn truyện thượng trong Đường thư Q.196 thượng; Thổ phồn truyện thượng trong Tân đường thư 216 thượng; Sách phủ nguyên qui 979; Mông cổ nguyên lưu 2; Thánh vũ kí 5; Mông Tạng Phật giáo sử Q.thượng; Obermiller: History of Buddhism by Bu-ston, Part II; W. W. Rockhill: Tibet; Surat Candra Das: Tibetan Enghish Dictionary].

khí ân

5049指捨棄世俗之恩愛。諸經要集卷四所引清信士度人經載,若欲出家者,本著俗服,辭拜父母尊親後,口中說偈道(大五四‧二九中):「流轉三界中,恩愛不能脫,棄恩入無為,真實報恩者。」說此偈已,即脫俗服。法苑珠林卷二十二鬄髮部亦曾引用上文。〔傳光錄卷上第十六祖〕 ; (棄恩) Chỉ sự xả bỏ ân ái thế tục. Chư kinh yếu tập quyển 4 dẫn lời kinh Thanh tín sĩ độ nhân, nói (Đại 54, 29 trung): Nếu người muốn xuất gia, vốn mặc áo thế tục, sau khi lạy từ cha mẹ tôn thân rồi, đọc bài kệ: Trôi lăn trong ba cõi Khó thoát khỏi ân ái Bỏ ân vào vô vi Mới thật là báo ân. Nói kệ xong, liền cởi bỏ áo thế tục. [X. Đệ thập lục tổ trong Truyền quang lục Q.thượng].

khí độc

xem bốn thứ độc.

Khí 器

[ja] キ ki ||| (1) A vessel, tool, implement, utensil. (2) Function, ability, capacity, capability, amount. (3) To use as a utensil. To use or employ people according to their capabilities. (4) To respect a person, especially for her/his abilities. => Có các nghĩa sau: 1. Vật để chứa các chất lỏng, dụng cụ, công cụ, đồ dùng. 2. Chức năng, khả năng, năng lực, thực chất. 3. Sử dụng như một dụng cụ. Dùng hoặc thuê mướn người theo năng lực của họ. 4. Kính trọng người, đặc biệt là khả năng của họ.

Khí 棄

[ja] キ ki ||| (1) Throw away, let go of, release; leave behind; forget, lose. (vihāya; apanayati) To cast off, to get rid of. To stop. => 1. Liệng bỏ, buông ra, thả ra; bỏ lại; quên đi, bỏ qua (vihāya; apanayati) Quăng bỏ, từ bỏ. Dừng hẳn.

Khí 氣

[ja] キ ki ||| (1) Air, wind. (2) Breath (vāta). (3) Invisible life-force, somewhat equivalent to the Indian prāṇa; the material force of the universe. => 1. Không khí, gió. 2. Hơi thở (s: vāta). 3. Năng lực vô hình của sự sống, có phần tương đương với Prāṇa của Ấn Độ, là năng lực vật chất của vũ trụ.

khích du trần

5696梵語 vātāyanacchidra-rajas。又作向遊塵、日光塵。即浮遊於日光之中,肉眼僅得辨認之塵。據俱舍論卷十二載,其最小者,相當於「極微」(梵 paramāṇu)之八二三五四三倍,其大者則僅相當於一指節之二四○一分之一。 小乘佛教如薩婆多部(說一切有部)認爲構成宇宙最基本最細微之元素爲「極微」。據薩婆多部之根本論書大毘婆沙論卷一三二、卷一三六載,極微雖無長短方圓等形狀,亦無青黃紅白等色彩,非肉眼所能見,然爲一實質存在之色法,一切物質均爲極微所組成,亦即將一切物質分析至最終不可再分析之元素即是極微。故極微於虛空中占有一定之方位空間,其存在之型態常以七個極微組爲一處,稱爲一微塵(梵 aṇu-rajas),即以一極微爲中心,再聚集四面及上下等六方各一極微,如是七極微共成一微塵;準此推之,聚集七微塵爲一金塵(梵 loha-rajas,又作銅塵、鐵塵),聚集七金塵爲一水塵(梵 ab-rajas),聚集七水塵爲一兔毛塵(梵 śaśa-rajas),聚集七兔毛塵爲一羊毛塵(梵 avi-rajas),聚集七羊毛塵爲一牛毛塵(梵 go-rajas),聚集七牛毛塵即爲一隙遊塵。 上記爲小乘佛教一般之色法概念,除薩婆多部外,如經量部等,所主張雖各有宗趣,然大抵相同。而大乘唯識之說,則以極微等皆爲「法處」所攝之假色,乃「意識」之所緣,並無實體或本質可言,而與薩婆多等小乘之說大異其趣。〔大毘婆沙論卷七十五、俱舍論卷二、順正理論卷三十二、成唯識論卷一、成唯識論述記卷二本〕 ; Vatayānacchidra-rājas (S)Hạt bụi nhỏ thấy lăng xăng trong tia náng xuyên qua khe hở. ; (隙游塵) Phạm:Vàtàyanacchidra-rajas. Cũng gọi Hướng du trần, Nhật quang trần. Những mảy bụi lởn vởn mà mắt thường có thể thấy được khi ánh sáng mặt trời xuyên qua các kẽ hở. Cứ theo luận Câu xá quyển 12, thì trong đó mảy bụi nhỏ nhất tương đương với 823.543 lần của một cực vi (Phạm:Paramàịu), còn mảy lớn nhất thì tương đương với 1 phần trong 2.401 phần của đốt ngón tay. Cứ theo Tát bà đa bộ (Thuyết nhất thiết hữu bộ) thuộc Phật giáo Tiểu thừa, thì cực vi là nguyên tố rất nhỏ, cơ bản nhất cấu tạo thành vũ trụ. Hình trạng của cực vi tuy không có dài ngắn, vuông tròn, cũng không có mầu sắc xanh vàng đỏ trắng, mắt thường không thể thấy được, nhưng nó là một sắc pháp có thực chất tồn tại, tất cả vật chất đều do cực vi tạo thành, cũng tức là đem phân tích tất cả vật chất đến nguyên tố cuối cùng không còn phân tích được nữa, thì đó chính là cực vi. Cho nên, trong hư không, cực vi chiếm một vị trí không gian nhất định, hình thái tồn tại của nó thường lấy 7 cực vi kết hợp ở một chỗ gọi là 1 vi trần (Phạm: Aịu-rajas), tức lấy 1 cực vi làm trung tâm, rồi tụ tập ở 6 phương(đông, tây, nam, bắc, trên, dưới), mỗi phương 1 cực vi, như vậy, 7 cực vi cộng lại thành 1 vi trần, cứ theo đó mà suy: 7 vi trần là 1 kim trần (Phạm:Loharajas, cũng gọi Đồng trần, Thiết trần), 7 kim trần là 1 thủy trần (Phạm:Ab-rajas), 7 thủy trần là 1 thố mao trần (Phạm:Zazarajas), 7 thố mao trần là 1 dương mao trần (Phạm: Avi-rajas), 7 dương mao trần là 1 ngưu mao trần (Phạm: Go-rajas), 7 ngưu mao trần là 1 khích du trần. [X. luận Đại tì bà sa Q.75; luận Câu xá Q.2; luận Thuận chính lí Q.32; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần đầu].

khó vào ví có núi bao bọc

Giridurga (S), Difficult accessing as surrounded by mountains.

khói thơm

Gandhapiśācikā (S), Smoke of burnt fragrant resin.

khô cảo chúng sinh

3844以草木於旱時缺乏雨水而行將枯槁,喻指惑染之凡夫無法益之滋潤,以致法身慧命瀕臨枯竭之狀態。妙法蓮華經藥草喻品(大九‧二○上):「猶如大雲,充潤一切枯槁眾生。」道宣述教誡律儀(大四五‧八六九中):「內乖菩薩之心,外闕聲聞之行;四儀既無法潤,乃名枯槁眾生。」 ; (枯槁衆生) Chúng sinh khô héo, ví dụ hạng người phàm phu bị tham sân si làm ô nhiễm, khiến cho pháp thân tuệ mệnh khô kiệt, giống như cây cỏ bị nắng hạn không phát triển được. Phẩm Dược thảo dụ kinh Diệu pháp liên hoa (Đại 9, 20 thượng), nói: Giống như đám mây lớn, che mát tất cả chúng sinh khô héo. Đạo tuyên thuật giáo giới luật nghi (Đại 45, 869 trung), nói: Bên trong thì trái với tâm Bồ tát, bên ngoài thì thiếu hạnh Thanh văn, bốn uy nghi không có, nên gọi là Khô cảo chúng sinh.

khô mộc

3844比喻無心之狀態;或只執著坐禪以求開悟,而無向下化他之功用。又於叢林中,對於只知終日坐禪而不飲不臥之禪者貶稱爲枯木眾。(參閱「枯木眾」3844) ; (枯木) Cây khô, ví dụ trạng thái vô tâm, hoặc chỉ bám chặt vào việc ngồi thiền cầu khai ngộ, chứ không có công dụng hóa độ người khác.

khô mộc chúng

3844乃初期曹洞宗禪者之特色,指唐朝石霜禪師會下之眾僧。據宋高僧傳卷十二慶諸傳載,堂中老宿長坐不臥,屹若椔杌,天下謂之石霜枯木眾。又景德傳燈錄卷十五石霜章載,師棲止石霜山二十年間,學眾有長坐不臥,屹若株杌,世人稱之爲枯木眾。從容錄第九十六則(大四八‧二八九下):「石霜一生置枯木堂,安枯木眾,往往常坐不臥,坐脫立亡者極多。」 ; (枯木衆) Chúng cây khô. Chỉ cho những vị tăng đệ tử của thiền sư Thạch sương Khánh chư thuộc tông Tào động đời Đường. Theo truyện Khánh chư trong Tống cao tăng truyện quyển 12, thì các vị lão túc trong Thiền đường ngồi mãi chẳng nằm, lù lù bất động như gốc cây, mọi người gọi là Thạch sương khô mộc chúng. Tắc 96 trong Thung dung lục (Đại 48, 289 hạ) ghi: Thiền sư Thạch sương một đời tạo dựng khô mộc đường, lập khô mộc chúng, trọn ngày thường ngồi chẳng nằm, có nhiều vị ngồi hoặc đứng mà hóa.

khô mộc long ngâm

3844禪宗公案名。又稱枯木裏龍吟。意謂絕滅一切妄念妄想,至大死一番處,便甦生還來,而得大自在。景德傳燈錄卷十一香嚴智閑章(大五一‧二八四中):「問:『如何是道?』師曰:『枯木龍吟。』」又碧巖錄第二則趙州至道無難頌(大四八‧一四二上):「髑髏識盡喜何立,枯木龍吟銷未乾。」〔宗門統要續集卷八、五燈會元卷十三、禪林僧寶傳卷一〕 ; (枯木龍吟) Cũng gọi Khô mộc lí long ngâm. Tên công án trong Thiền tông. Rồng ngâm nga trong cây khô, có nghĩa là dứt bặt tất cả vọng niệm, vọng tưởng, đến chỗ một phen chết đi rồi sống lại, lúc ấy mới được tự tại, giải thoát hoàn toàn. Chương Hương nghiêm Trí nhàn trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 284 trung) ghi: Hỏi: Thế nào là đạo? Sư đáp: Khô mộc long ngâm. [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.8; Ngũ đăng hội nguyên Q.13; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.1].

Khô Nhai Hòa Thượng Mạn Lục

(枯崖和尚漫錄, Kogaioshōmanroku): 3 quyển, còn gọi là Khô Nhai Mạn Lục (枯崖漫錄, Kogaimanroku), do Khô Nhai Viên Ngộ (枯崖圓悟) nhà Tống biên, san hành vào năm thứ 8 (1272) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳) nhà Nam Tống, thành lập vào năm thứ 4 (1263) niên hiệu Cảnh Định. Từ các bộ Truyền Đăng Lục, Viên Ngộ―pháp từ của Yển Khê Quảng Văn (偃溪廣文)―đã ghi chép tản mạn những điều mình thấy nghe được về các cơ duyên, pháp ngữ dạy chúng, v.v., để hình thành nên tác phẩm này. Trong bộ này có truyền ký, niêm tán, trước ngữ, v.v., hình như thiếu sự thống nhất, nhưng vẫn là phương tiện cần thiết để cảnh tỉnh người tham học.

Khô Nhai Mạn Lục

(枯崖漫錄, Kogaimanroku): xem Khô Nhai Hòa Thượng Mạn Lục (枯崖和尚漫錄, Kogaioshōmanroku) ở trên.

khô nhai mạn lục

3844請參閱 枯崖漫錄 凡三卷。又作枯崖和尚漫錄。宋代僧枯崖圓悟編,度宗咸淳八年(1272)刊行。收於卍續藏第一四八冊。本書撮要補正景德傳燈錄、嘉泰普燈錄等諸傳燈錄諸尊宿之應機接物、入道機緣、示眾法語等,或紀傳,或拈讚,或警語,隨其見聞而漫錄之,並無統一之編列次序。 ; (枯崖漫錄) Cũng gọi Khô nhai hòa thượng mạn lục. Tác phẩm, 3 quyển, do hòa thượng Khô nhai Viên ngộ biên chép vào đời Tống, ấn hành vào năm Hàm thuần thứ 8 (1272), được thu vào Vạn tục tạng tập 184. Nội dung sách này chủ yếu bổ sung cho những phần ứng cơ tiếp vật, cơ duyên nhập đạo, thị chúng pháp ngữ của các bậc tôn túc được ghi trong Cảnh đức truyền đăng lục, Gia thái phổ đăng lục, v.v..., hoặc kỉ truyện, hoặc niên tán, hoặc cảnh ngữ, tùy theo chỗ thấy nghe của tác giả mà ghi chép một cách tự do, chứ không theo thứ tự thống nhất.

Khô Nhai Viên Ngộ

(枯崖圓悟, Kogai Engo, ?-?): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Khô Nhai (枯崖), người vùng Phước Thanh (福清) thuộc Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), pháp từ của Yển Khê Quảng Văn (偃溪廣聞). Vào năm thứ 4 (1263) niên hiệu Cảnh Định (景定), tại Kính Sơn (徑山) ông đã biên tập các phần cơ duyên, thị chúng cũng như pháp ngữ của chư vị tôn túc để hình thành nên cuốn Khô Nhai Hòa Thượng Mạn Lục (枯崖和尚漫錄), và nó được san hành vào năm thứ 8 (1272) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳).

khô quy táng mệnh

3844禪林用語。謂略有才能而愛出風頭,以致身敗命亡。枯龜即老龜。大禹治黃河時,從洛水浮出一神龜,由於背殼有文字,故被捕殺。禪林遂根據此一典故,貶指愛出風頭者反遭喪命之險。從容錄第十則(大四八‧二三三中):「枯龜喪命因圖象,良駟追風累纏牽。」 ; (枯龜喪命) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Rùa già mất mạng, nghĩa là người có chút tài mà thích xông pha trước đầu sóng ngọn gió đến nỗi thân bại mạng vong. Tương truyền, khi vua Đại vũ trị thủy ở sông Hoàng hà, có con rùa thần nổi lên, vì trên lưng nó có vằn như những chữ sốnên rùa bị bắt giết. Thiền tông mượn điển tích này để ngụ ý chê bai những người thích khoe tài mà mất mạng. Tắc 10 trong Thung dung lục (Đại 48, 233 trung), nói: Rùa già mất mạng vì trên lưng có chữ, ngựa hay bị hàm thiết dây cương vì chạy nhanh.

khô quỷ tử để

3844禪林用語。謂一切意識泯絕之狀態。或喻指無想定、滅盡定;二者並稱二無心定。〔傳光錄第四十七祖禪師章〕(參閱「無想定」5124、「滅盡定」5509) ; (枯鬼死底) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quỉ chết khô. Trong Thiền tông, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho trạng thái dứt bặt ý thức. Hoặc là dụ cho Vô tưởng định, Diệt tận định, 2 định này gọi chung là Nhị vô tâm định. [X. chương Tổ sư thiền trong Truyền quang lục 47]. (xt. Vô Tưởng Định, Diệt Tận Định).

khô thiền

3845<一>又作枯槁坐禪。謂放下一切而無爲無待之絕對坐禪。  <二>以看話禪立場,訶罵默照禪之默默坐禪,一如枯木。 ; (枯禪) I. Khô Thiền. Cũng gọi Khô cảo tọa thiền. Pháp ngồi thiền tuyệt đối buông bỏ tất cả, để đạt đến cảnh giới vô vi, vượt ra ngoài vòng đối đãi. II. Khô Thiền. Danh từ này được các nhà chủ trương Khán thoại thiền(thiền tham cứu công án) dùng để mỉa mai những người chủ trương Mặc chiếu thiền, cho rằng ngồi lặng lẽ giống như gốc cây khô.

khôi hà

(灰河) I. Khôi Hà. Sông tro, ví dụ phiền não. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 43, thì Khôi chỉ cho 3 thứ giác xấu ác là: Dục giác, khuể giác, hại giác; Hà chỉ cho 3 thứ ái là: Dục ái,sắc ái,vô sắc ái. Những phiền não này ngăn che tâm tính chúng sinh, khiến phải chịu các thứ khổ não, cũng giống như trầm mình trong con sông tro, nổi chìm theo dòng nước, chịu bao nỗi khổ não đau xót. II. Khôi Hà. Tên địa ngục, là 1 trong 16 địa ngục Du tăng. [X. phẩm Địa ngục kinh Thế kí trong Trường a hàm Q.19]. (xt. Thập Lục Tiểu Địa Ngục).

khôi khoái

(魁膾): người làm nghề đao phủ. Các bản trước đây đều dịch là người hàng thịt, bán thịt hoặc băm thịt làm nem chả... Đó chỉ là suy đoán từ nghĩa của chữ khoái (膾). Trong Tạp A-tì-đàm tâm luận, quyển 3, xếp đây là nghiệp ác thứ 8 và giải thích như sau: 魁膾,指爲官操刀行刑之人。謂人本同類,彼雖犯法,理固當死,然習操刀之業以害其生,實爲惡行Khôi khoái, chỉ vi quan thao đao hành hình chi nhân. Vị nhân bản đồng loại, bỉ tuy phạm pháp, lý cố đương tử, nhiên tập thao đao chi nghiệp dĩ hại kỳ sanh, thật vi ác hạnh. – Khôi khoái, chỉ người giữ nhiệm vụ cầm đao hành hình. Là đồng loại với nhau, người kia tuy phạm pháp, theo lý phải [xử tội] chết, nhưng người làm quen theo nghiệp giết hại sanh mạng như vậy thật là hạnh xấu ác.) Như vậy, rõ ràng những cách dịch trước đây đều không đúng. Khôi khoái ở đây phải hiểu là người làm nghề đao phủ.

khôi sa

(灰沙) Tro cát. Đốt thân ngũ uẩn thành tro. Hàng Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) sau khi đoạn trừ hết sạch phiền não, dùng lửa Tam muội tự đốt sắc thân(Khôi sa), tâm trí dứt bặt, nhập vào cảnh giới Niết bàn vắng lặng, gọi là Khôi thân diệt trí.

Khôi sơn trụ bộ

灰山住部; S: gokulika;|Một bộ phái Phật giáo xuất phát từ Ðại chúng bộ (xem biểu đồ của các bộ phái cuối sách).

khôi sơn trụ bộ

Xem Kê Dẫn bộ. ; Xem kê dẫn bộ. ; (灰山住部) Cũng gọi Kê dận bộ, Quật cư bộ. Tên Bộ phái, 1 trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Sau đức Phật nhập diệt khoảng 200 năm, Khôi sơn trụ bộ, Nhất thuyết bộ và Thuyết xuất thế bộ đều từ Đại chúng bộ tách ra. Tông nghĩa của bộ này là: Chư Phật Thế tôn đều là các bậc xuất thế, Như lai không có pháp hữu lậu, mỗi lời nói của Như lai đều là chuyển pháp luân, Phật dùng 1 âm, nói tất cả pháp, pháp do Thế tôn nói đều đúng như thật, sắc thân và âm thanh của Như lai không có giới hạn. Về nguồn gốc của tên gọi Khôi sơn trụ bộ, theo Tam luận huyền nghĩa dụ mông quyển trung, thì đá ở trong núi mà bộ chúng này cứ trú có thể dùng để nung vôi(khôi) nên gọi là Khôi sơn trụ bộ, đây là đặt tên theo chỗ ở. Nhưng Dị bộ tông luân luận thuật kí thì cho thuyết này là sai lầm. [X. luận Dị bộ tông luân; luận Thập bát bộ]. (xt. Đại chúng Bộ, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ, Kê Dận Bộ).

khôi thán tháp

(灰炭塔) Gọi tắt: Thán tháp. Ngôi tháp thờ tro của đức Phật. Về ngôi tháp này, các kinh sách nói có khác nhau. Như Pháp hiển truyện và Đại đường tây vực kí quyển 6, đều gọi là Khôi thán tháp. Nhưng kinh Bát nê hoàn quyển hạ thì lại cho rằng nên chia làm 2 là Thán tháp và Khôi tháp. Còn về vị trí của tháp thì có thuyết cho rằng ở vùng phụ cận của đất cũ thành Câu thi, có thuyết nói ở vùng phụ cận thành Ca tì la vệ. Tương truyền Khôi thán tháp rất linh nghiệm, nếu người có bệnh đến tháp này cầu xin thì sẽ hết bệnh. Bên cạnh Khôi thán tháp còn có chùa và vài trăm ngôi tháp, trong đó có 1 ngôi tháp khá lớn do vua A dục xây dựng.

khôi thân diệt trí

(灰身滅智) Cũng gọi: Vô dư khôi đoạn, Phần thân khôi trí. Gọi tắt: Khôi diệt, Khôi đoạn. Đốt nhục thân thành tro, dứt bặt tâm trí, cũng tức là đưa thân tâm về cảnh giới Niết bàn vô vi tịch diệt. Đó là Niết bàn vô dư của Tiểu thừa. Cứ theo Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng, nếu dứt hết phiền não trong 3 cõi thì chứng được Niết bàn hữu dư, rồi đốt thân bặt trí thì chứng nhập Niết bàn vô dư. [X. luận Kim cương tiên Q.9; Triệu luận; Duy ma kinh huyền sớ Q.5; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3 phần 1; Thiên thai tứ giáo nghi].

Khôi thân diệt trí 灰身滅智

[ja] ケッシンメッチ keshinmecchi ||| The extinction of body and mind--all defilements. The highest goal of Hīnayāna Buddhism--a reference to "nirvāna-without-remainder." => Sự hoại diệt mọi phiền não—thân và tâm. Mục tiêu cao nhất của Phật giáo Tiểu thừa – có nghĩa là 'vô dư y niết-bàn '.

khôi đầu thổ diện

(灰頭土面) Cũng gọi Khôi đầu thổ kiểm. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Khôi đầu thổ diện vốn có nghĩa là đầu mặt dính tro bụi. Trong thiền lâm, nhóm từ này được dùng để chỉ cho người tu hành sau khi ngộ đạo, vì nguyện độ sinh, nên sống lẫn lộn trong đám đông, không quản ngại sự ô trược của trần thế. Cũng gần giống với ý nghĩa trong nhóm từ Hòa quang đồng trần(hòa ánh sáng vào bụi bặm). Nhưng thông thường Khôi đầu thổ diện là chỉ cho người thân thể dơ dáy, mặt mũi lem luốc, trôi nổi vất vả, hoặc chỉ cho người không trang điểm. [X. điều Qui tông tự Hoài uẩn trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.20; tắc 43 Bích nham lục; Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục Q.2].

Khôn

(坤): tên của quẻ Khôn (☷) trong 8 hay 64 quẻ dịch, tượng trưng cho đức nhu thuận, đại diện cho Thổ (土, đất), Hoàng Hậu, người mẹ, vợ, người nữ, đối xứng với Càn (乾). Khôn có nghĩa là thân (伸, làm cho phải lẽ), cũng có nghĩa là thuận (順, tùy thuận, thuận theo). Càn là hình tượng ánh sáng mặt trời chiếu rọi, mang tính tương đối; trong khi đó Khôn là hình tượng ánh sáng của đất. Càn có công năng của Trời sáng tạo nên vạn vật; Khôn thì thuận theo lẽ Trời, là công cụ của Trời hình thành nên vạn vật.

khôn

K'un (C)Quẻ thứ bảy trong bát quái.

Khôn duy

(坤維): có ba nghĩa. (1) Chỉ phương Tây Nam; do vì trong kinh dịch có câu: “Tây Nam đắc bằng (西南得朋, phía Tây Nam được bạn)”, nên lấy Khôn chỉ cho phương này. Như trong Văn Tuyển (文選), chương Trương Hiệp (張協), Tạp Thi (雜詩), có câu: “Đại Hỏa lưu Khôn duy, bạch nhật trì Tây lục (大火流坤維、白日馳西陸, sao Đại Hỏa trôi về Tây Nam, mặt trời dong ruổi về hướng Tây).” (2) Chỉ phương Nam. Như trong bài văn Quảng Châu Bảo Trang Nghiêm Tự Xá Lợi Tháp Bi (廣州寶莊嚴寺舍利塔碑) của Vương Bột (王勃, khoảng 650-676) nhà Đường có câu: “Thượng đương Tinh Kỷ, hạ liệt Khôn duy (上當星紀、下裂坤維, trên gặp Tinh Kỷ, dưới rẽ phương Nam).” (3) Chỉ phần chính giữa của đất trời. Như trong Tùy Thư (隋書), phần Lễ Nghi Chí (禮儀志) 1 có câu: “Tứ phương các y kỳ phương, Hoàng Đế cư Khôn duy (四方帝各依其方、黃帝居坤維, bốn phương đều nương vào phương ấy, Hoàng Đế sống ở chính giữa).”

Khôn hậu

(坤厚): chỉ cho đại địa sâu dày, hay chỉ riêng cho đại địa, đất, đối với trời. Như trong bài (代宋敏求知絳州謝到任表) của Tằng Củng (曾鞏, 1019-1083) nhà Tống có câu: “Cái phục ngộ Hoàng Đế Bệ Hạ càn cang độc đoán, khôn hậu kiêm dung (蓋伏遇皇帝陛下乾剛獨斷、坤厚兼容, cúi mong gặp Hoàng Đế Bệ Hạ trời cao độc nhất, đất dày khoan dung).” Hay trong Pháp Hoa Kinh Thọ Thủ (法華經授手, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 32, No. 623) quyển 10 có đoạn: “Kim Bồ Tát dĩ viên thông diệu thể ký năng minh chiếu, hựu năng thừa thọ hữu khôn đạo yên, khôn hậu tải vật, cố linh cầu giả tiện sanh hàm hoằng quang đại đoan chánh hữu tướng chi nữ dã (今菩薩以圓通妙體旣能明照、又能承受有坤道焉、坤厚載物、故令求者便生含弘光大端正有相之女也, nay Bồ Tát lấy thể mầu viên thông mới có thể chiếu sáng, lại có thể vâng chịu đạo của đất vậy; đất dày chứa vật, cho nên người cầu nguyện bèn sanh nữ nhân có tướng đoan trang, ánh sáng rực rỡ).”

Khôn nghi

(坤儀): có ba nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho đại địa. Như trong bài thơ Đáp Lô Kham (答盧諶) của Lưu Côn (劉琨, 270-317) nhà Tấn có câu: “Càn tượng đống khuynh, khôn nghi chu phú (乾象棟傾、坤儀舟覆, trời cao mái nghiêng, đất cả thuyền che).” Hay trong Cựu Đường Thư (舊唐書), phần Âm Nhạc Chí (音樂志) 3 lại có câu: “Đại hỉ khôn nghi, chí tai Thần Huyện (大矣坤儀、至哉神縣, lớn thay đại địa, to thay Thần Huyện [Trung Hoa]).” (2) Nhà tướng số lấy Ngũ Nhạc (五嶽, tức 5 ngọn núi lớn, gồm Đông Nhạc Thái Sơn [東嶽泰山] ở Thái An [泰安], Sơn Đông [山東]; nam nhạc hành sơn [南嶽衡山] ở Hành Sơn [衡山], Hồ Nam [湖南]; Tây Nhạc Hoa Sơn [西嶽華山] ở Hoa Âm [華陰], Thiểm Tây [陝西]; Bắc Nhạc Hằng Sơn [北嶽恆山] ở Đại Đồng [大同], Sơn Tây [山西]; và Trung Nhạc Tung Sơn [中嶽嵩山] ở Đăng Phong [登封], Hà Nam [河南]), Tứ Độc (四瀆, tức 4 con sông lớn, gồm Trường Giang [長江], Hoàng Hà [黃河], Hoài Hà [淮河] và Tế Thủy [濟水]) trên mặt đất tỷ dụ cho 5 giác quan và các bộ phận trên khuôn mặt con người; cho nên gọi dung mạo, bề ngoài của con người là khôn nghi. (3) Cũng như mẫu nghi thiên hạ, phần lớn được dùng để xưng tụng hoàng hậu, được xem như là tiêu biểu, mực thước cho người mẹ của thiên hạ. Như trong bài Úy Thái Hậu Biểu (慰太后表) của Vương An Thạch (王安石, 1021-1086) nhà Tống có câu: “Phương chánh khôn nghi chi vị, thượng đồng càn thí chi nhân (方正坤儀之位、上同乾施之仁, mới đúng mẫu nghi cương vị, trên giống trời ban lòng nhân).”

Khôn Nguyên

(坤元): đối xứng với Càn Nguyên (乾元), chỉ cho đức lớn sinh ra vạn vật của đại địa. Như trong Kinh Dịch có câu: “Chí tai Khôn Nguyên, vạn vật tư sanh, nãi thuận thừa thiên (至哉坤元、萬物資生、乃順承天, lớn thay Khôn Nguyên, muôn vật sanh ra, thuận theo mệnh trời).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) giải thích rằng: “Chí tai Khôn Nguyên giả, thán mỹ Khôn đức (至哉坤元者、歎美坤德, chí tai Khôn Nguyên nghĩa là ca ngợi đức tốt đẹp của Đất).”

khôn nhân

5707即指僧人。髡,去髮之意。佛教自教祖釋迦牟尼自身開始,凡欲出家,皆須剃除鬚髮,象徵誓願斷除一切煩惱與習氣等障難,故出家又稱爲剃度;而僧人以去髮之故,遂被稱爲髡人。 ; (髡人) Khôn nghĩa là cạo bỏ râu tóc. Khôn nhân chỉ cho tăng sĩ. Trong Phật giáo, từ đức Giáo chủ Thích ca trở xuống, nếu muốn xuất gia, đều phải cạo bỏ râu tóc để tượng trưng cho sự thệ nguyện dứt trừ tất cả phiền não tập khí.

khôn tàn

5708<一>清代僧。武陵(湖南常德)人,俗姓劉。字白禿,一字介丘。號石溪(石溪和尚),又號䒶壤、殘道者、菴住行人。捨科舉之途而剃髮出家,隱於金陵牛首山。擅長山水畫。生卒年不詳。髡殘,本作髡殘。〔清畫家詩史壬下、國朝書畫家筆錄卷四、國朝畫識卷十四〕 <二>清代僧。上元(江蘇江寧)人,俗姓艾。字石船。初習黃老之道,後遊歷四方。晚年,剃髮爲僧,居不二菴,世稱明明和尚。生卒年不詳。〔歷代畫史彙傳補編卷四〕

Khôn đạo

(坤道): có 3 nghĩa. (1) Chỉ thuộc tánh của đại địa. Như trong Dịch Kinh có câu: “Khôn dạo kỳ thuận hồ, thừa thiên nhi thời hành (坤道其順乎、承天而時行, tánh của đất vâng thuận vậy, theo mệnh trời mà thi hành đúng lúc).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Ngôn Khôn đạo nhu thuận, thừa phụng ư thiên dĩ lượng thời nhi hành (言坤道柔順、承奉於天以量時而行, bảo rằng tánh của đất là nhu thuận, có nghĩa rằng vâng theo mệnh trời để tính thời gian mà thi hành).” (2) Chỉ cho đức của người nữ. Như trong bài Lễ Bộ Hạ Sách Thái Thượng Hoàng Hậu Biểu (禮部賀冊太上皇后表) của Liễu Tông Nguyên (柳宗元, 773-819) nhà Đường có câu: “Mẫu nghi hữu quang, Khôn đạo khắc thuận (母儀有光、坤道克順, mẫu nghi tỏa sáng, đức nữ vâng thuận).” (3) Chỉ cho đạo của người nữ, hay chỉ cho phụ nữ.

Không

(s: śūnya, p: suñña, 空): cái không có thực thể cố định, thiếu tánh thực thể. Trong lịch sử số học, người Ấn Độ phát hiện đầu tiên con số zero (0, không). Từ con số không này, khái niệm số phụ (số âm) được xác lập. Nó được truyền vào Châu Âu thông qua Ả Rập, số học cận đại ra đời và khao học cũng như kỹ thuật tự nhiên cũng theo đó phát triển. Từ śūnya vốn dựa trên cơ sở của śūna, được hình thành từ tiếp đầu ngữ śū (=śvā, śvi, mở rộng, bành trướng), có nghĩa là không hư, rỗng không, khiếm khuyết, nội bộ trống rỗng, v.v. Ý nghĩa này có xuất hiện trong các điển tịch Phật Giáo thời kỳ đầu như: “Hãy phá đi kiến giải chấp trước về tự ngã, và quán sát thế gian là không (Kinh Tập [p: Suttanipāta, 經集] 1119)”; hay “Vào căn nhà trống vắng để trấn tĩnh tâm (Pháp Cú Kinh [p: Dhammapada, 法句經] 373)”, v.v. Đặc biệt, trong Tiểu Không Kinh (小空經) của Trung Bộ (p: Majjhimanikāya, 中部) 121, Trung A Hàm Kinh (中阿含經) quyển 49, có dạy rằng: “Giảng đường này không có bò, nếu nói về bò là không (thiếu khuyết). Tuy nhiên, có Tỳ Kheo; nếu nói về Tỳ Kheo thì chẳng phải là không (có cái còn lại).” Như vậy, cái khiếm khuyết và cái còn lại được xem như là không có. Từ đó, thực tiễn quán pháp gọi là “không” được hướng dẫn vào; Không Tam Muội (空三昧) đồng hành với Vô Tướng Tam Muội (無相三昧) và Vô Nguyện Tam Muội (無願三昧); ba loại Tam Muội này được gọi là Tam Giải Thoát Môn (三解脫門, Ba Cửa Giải Thoát). Đặc biệt, cách dùng này được phục hoạt trong Đại Thừa Phật Giáo thời Trung Kỳ trở đi và lấy chủ trương này để làm căn cứ. Lại nữa, Đại Không Kinh (大空經) của Trung Bộ 122, Trung A Hàm Kinh quyển 49, thể hiện rõ các tướng của Không như Nội Không, Ngoại Không và Nội Ngoại Không. Thêm vào đó, cũng có tư liệu nêu rõ mối quan hệ giữa Không và Duyên Khởi (緣起) như Tương Ưng Bộ (p: Saṁyuttanikāya, 相應部) 20.7, Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, kinh 1258). Cách dùng về Không trong Bộ Phái Phật Giáo cũng gần tương tự với Phật Giáo thời kỳ đầu, và trong giai đoạn như trình bày ở trên thì Không vẫn chưa đạt đến tư tưởng trung tâm của Phật Giáo. Khi Bát Nhã Kinh (般若經) xuất hiện, Không được phục hồi và chủ trương mạnh. Trong kinh này, Không thể hiện sự phủ định nghiêm khắc, bài trừ đến tận cùng hết thảy mọi cố định. Tác phẩm hình thành hệ thống lý luận Không này là Trung Luận (s: Mādhyamakakārikā, 中論) của Long Thọ (s: Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250), v.v. Long Thọ cho rằng hết thảy mọi tồn tại, vận động, cơ năng, yếu tố và các thứ khác, cũng như ngôn ngữ biểu hiện chúng, đều thành lập trên tính quan hệ phức tạp đa dạng hay Duyên Khởi; hơn nữa, tính quan hệ ấy lại mâu thuẩn lẫn nhau, phủ định liên tục để cùng nhau tồn tại. Việc này xảy ra ngay trong đời thường của chúng ta. Nơi đây, tự tánh (thực thể độc lập tồn tại với tự thân nó) theo cái nhìn thực thể về các yếu tố, v.v., hoàn toàn tiêu diệt mất, căn cứ cũng như thật thái của nó là Không, và mối quan hệ Duyên Khởi-Vô Tự Tánh-Không được xác lập; ngôn ngữ với tư cách là Giả thuộc loại quá độ cũng được công nhận. Phật Giáo từ thời Long Thọ trở về sau đã kế thừa tư tưởng Không Quán (空觀) này; không phải chỉ có Ấn Độ mà Đại Thừa Phật Giáo của Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, v.v., tất cả đều triển khai các thuyết theo ảnh hưởng này. Đặc biệt, ở Trung Quốc, xuất hiện tư tưởng “Đạo là không” (Lão Tử [老子] 40), “người thông với Đạo là vô tâm” (Trang Tử [莊子], chương Thiên Địa [天地]), “Đạo chẳng phải có, cũng chẳng phải không” (Trang Tử, chương Tắc Dương [則陽]), v.v. Cho đến Triệu Luận (肇論) giải thích về 3 loại Không là Bổn Vô (本無), Tâm Vô (心無) và Tức Sắc (卽色). Như vậy, Không ở đây có nghĩa là chẳng phải có cũng chẳng phải không có; hơn nữa, nó cũng vừa là có mà cũng vừa là không có. Nhìn thoáng qua, chúng ta thấy như có mâu thuẩn; nhưng đó là phản ánh rõ ràng trưng thực tính giới hạn cũng như tự kỷ mâu thuẩn của hết thảy tồn tại, ngôn ngữ, hiện thực, con người, thế giới, v.v. Đồng thời, Không cũng triệt để tương đối hóa đến bất cứ nơi đâu và thai nghén chí hướng nhắm đến tuyệt đối.

không

3467梵語 śūnya。與「有」相對。音譯爲舜若。意譯空無、空虛、空寂、空淨、非有。一切存在之物中,皆無自體、實體、我等,此一思想即稱空。亦即謂事物之虛幻不實,或理體之空寂明淨。自佛陀時代開始即有此思想,尤以大乘佛教爲然,且空之思想乃般若經系統之根本思想。 空可大別爲人空與法空兩者。人空,意謂人類自己無其實體或自我之存在;法空,則謂一切事物之存在皆由因緣而產生,故亦無實體存在。天台大師智顗與嘉祥大師吉藏皆以小乘佛教所說之空,係觀察分析一切事物而入空,故稱析空觀。相對於此,大乘佛教則針對小乘佛教之析空觀而另立體空觀,即觀一切存在事物的理法之當體即是空之法。 又小乘僅見「空」,而不見「不空」,故被稱爲「但空」。大乘則不僅見及一切存在悉爲空,且兼及不空之一面,故稱「不但空」、「中道空」。蓋作一切法皆空之觀者,稱爲空觀。空非虛無(偏空),觀空就是發現真實之價值,故真空就是妙有。反之,將「空」視爲虛無,則稱爲惡取空。茲列舉諸家所作空之分類如下: (一)二空:(1)依中論卷四觀邪見品及成唯識論卷一等說,分爲人空與法空。人空,意謂在有情個體之中無實我之存在,故人空又稱我空、眾生空、生空、人無我等。法空,意謂由因緣所生之一切法無實體之存在,故又稱法無我。小乘說人空而不說法空,大乘則主張人法二空(又作人法二無我、我法二空)。(2)依成實論卷十身見品之說,分爲析空與體空。析空,意謂將存在之事物分析至最後不可得時,則爲空。體空,則意謂一切存在之本身即是空,故不須分析,當體即空。小乘與成實宗主張析空,大乘則主張體空。(3)依三論玄義之說,分爲但空與不但空。但空,意謂僅偏於空而不知空之真義與妙有之境。不但空,意謂了知空之真義與承認妙有之境的中道空,此乃自觀一切法無自性而獲得之空。 (二)三空:(1)依辯中邊論卷中及顯揚聖教論卷十五等,法相宗認爲遍計所執性、依他起性、圓成實性等三性中之每一性均有空義,故謂之三空。即凡夫所妄執之境爲遍計所執性,該性本來空無,此即「無性空」。而由因緣所生之法即依他起性,與遍計所執性不同而非完全「無」,然亦非如眾生妄情所認爲之「有」,此即「異性空」。至於真如爲圓成實性,係由觀人、法二空所顯之自性,此爲「自性空」。(2)依金剛經纂要刊定記卷一之說,指人空、法空、俱空(人、法二空)等三空。 (三)四空:大集經卷五十四及大品般若經卷五等所說,指法法相空(法相空)、無法無法相空(無法相空)、自法自法相空(自法相空)與他法他法相空(他法相空)等四空。 (四)六空:(1)內空,謂眼、耳等六內處(六根)爲空,又作受者空、能食空。(2)外空,謂色、聲等六外處(六境)皆空,又作所受空、所食空。(3)內外空,又作身空、自身空。(4)空空,謂所觀之空亦是空,故又稱能照空。(5)大空,十方世界爲空,又作身所住處空。(6)第一義空,在諸法之外,無有所謂實相之自性,亦作勝義空、真實空、真境空。語出舍利弗阿毘曇論卷十六。 (五)七空:(1)相空,謂諸法之自相與共相均空,又作自相空。(2)性自性空,謂諸法之自性即空,又作自性空。(3)行空,謂五蘊遠離我及我所,而由因緣所生。(4)無行空,謂五蘊之中未曾有涅槃,又作不行空。(5)一切法離言說空,謂一切法無法以言語形容而爲空。(6)第一義聖智大空,由果位聖智所見之第一義空。(7)彼彼空,謂你我彼此互爲空,一般所說的「無」即相當於此空,爲淺義之空。語出四卷本楞伽經卷一。 (六)十空:指內空、外空、內外空、有爲空、無爲空、散壞空、本性空、無際空、勝義空、空空等十種。其中,有爲空,謂有爲法即空。無爲空,謂無爲法即涅槃爲空。散壞空,謂因緣假和合之物,終將離散與破壞,又作散空。本性空,謂自性爲空,又作性空。無際空,謂無始以來存在之一切法皆屬空,又作無始空、無前後空。語出大毘婆沙論卷八。 (七)十一空:指內空、外空、內外空、有爲空、無爲空、無始空、性空、無所有空、第一義空、空空、大空等十一種。其中,無所有空,謂由於一切法無自性,無法求得,故亦作不可得空。語出北本涅槃經卷十六。 (八)十六空:指內空、外空、內外空、大空、空空、勝義空、有爲空、無爲空、畢竟空、無際空、無散空、本性空、相空、一切法空、無性空、無性自性空等十六種。其中,畢竟空,謂諸法畢竟是空之窮極空。無散空,謂積集之善根不會散失,然並非執於善根之空,又作不捨離空、不捨空。相空,謂三十二相與八十種好皆爲空。一切法空,謂一切佛法爲空。無性空,謂由於人、法二空,故不可執著任何一物。無性自性空,謂無性與自性皆空。語出辯中邊論卷上。 (九)十八空:指內空、外空、內外空、空空、大空、第一義空、有爲空、無爲空、畢竟空、無始空、散空、性空、自相空、諸法空、不可得空、無法空、有法空。無法有法空等十八種。其中,諸法空,謂一切諸法皆空。無法空,謂過去、未來諸法皆空。有法空,謂現在諸法皆空。語出大品般若經卷三、大集經卷五十四、大智度論卷三十一。 此外,尚有十二空、十四空、十九空、二十空等諸種分類,而以十八空爲著。 我國在魏晉時代雖已傳譯道行、放光等諸般若經典,而尚未譯出中論等論著,加以當時清談之風極盛,故多有附會老莊思想以闡釋般若經所說之畢竟無所得空,惟立論有失「空」之實義。據出三藏記集卷八毘摩羅詰提經義疏序載,當時成立之本無異宗、即色宗、心無宗、識含宗、幻化宗、緣會宗等,皆係以上記之「格義」方式宣說般若性空之宗派。〔大般若波羅蜜多經卷四十四、北本涅槃經卷二十五、大智度論卷三十八、菩提心論、十八空論、大乘義章卷一至卷四、維摩經義記卷三、華嚴法界觀門、中觀論疏卷二末〕(參閱「本體」1983、「空有論爭」3473) ; Śunyata (S), ŚŪnya (S), Sua (P), Tongpanyi (T), KŪ (J), Nothingness, Emptiness Xem Cunyata. ; Sùnya (S). Empty, void, hollow, vacant, non existent. Sùnyatà (S).Vacuity, emptiness, non-existence, immateriality, perhaps spirituality, unreality, the false or illusory nature of all existence, the seeming giả being unreal. ; (空) Phạm:Zùnya. Dịch âm: Thuấn nhã. Dịch ý: Không vô, Không hư, Không tịch, Không tịnh, Phi hữu. Đối lại: Hữu. Tất cả vật tồn tại đều không có tự thể, thực thể, thực ngã... tư tưởng ấy gọi là Không. Nói cách khác, Không là sự hư huyễn không thực của sự vật, hoặc là sự rỗng lặng trong sáng của lí thể. Tư tưởng không đã có từ thời đại đức Phật còn tại thế, rõ ràng nhất trong Phật giáo Đại thừa sau này và là tư tưởng căn bản của hệ thống kinh Bát nhã. Không được chia ra thành các loại như sau: 1. Nhị không. a) Theo phẩm Quán tà kiến trong Trung luận quyển 4 và luận Thành duy thức quyển 1, thì Không được chia ra làm 2 loại là Nhân không và Pháp không. Nhân không nghĩa là trong cá thể của hữu tình không có thực ngã, cho nên Nhân không còn được gọi là Ngã không, Chúng sinh không, Sinh không, Nhân vô ngã, v.v... Pháp không nghĩa là tất cả các pháp do nhân duyên sinh không có thực thể tồn tại, cho nên gọi là Pháp vô ngã. Tiểu thừa chỉ nói Nhân không, chứ không nói Pháp không, còn Đại thừa chủ trương Nhân pháp nhị không(cũng gọi Nhân pháp nhị vô ngã, Ngã pháp nhị không). b) Phẩm Thân kiến trong luận Thành thực quyển 10, chia Không thành 2 loại là Tích không và Thể không. Tích không nghĩa là phân tích sự vật tồn tại đến khi không còn phân tích được nữa thì gọi là Không; còn Thể không có nghĩa là ngay bản thân của tất cả sự vật tồn tại đã là không rồi, đương thể tức không, chứ không cần phải phân tích nữa. Tiểu thừa và tông Thành thực chủ trương Tích không, còn Đại thừa thì chủ trương Thể không. c) Theo Tam luận huyền nghĩa, thì Không được chia làm Đãn không và Bất đãn không. Đãn không là chỉ chấp không, chứ không biết đến Chân không và Diệu hữu. Bất đãn không nghĩa là biết rõ Chân không và thừa nhận Diệu hữu, tức là Trung đạo không. 2. Tam không. a) Theo luận Biện trung biên quyển trung và luận Hiển dương thánh giáo, thì 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực đều có nghĩa không, vì thế gọi đó là Tam không. Cảnh mà phàm phu vọng chấp thuộc về tính Biến kế sở chấp, tính này xưa nay vốn không, cho nên gọi là Vô tính không. Pháp do nhân duyên sinh thuộc về tính Y tha khởi, khác với tính Biến kế sở chấp, nhưng không phải hoàn toàn Vô, mà cũng chẳng phải là Hữu như chúng sinh vọng chấp, đây tức là Dị tính không. Còn chân như là tính Viên thành thực, là tự tính do quán xét nhân và pháp đều không mà hiển hiện, đó là Tự tính không. b) Theo kinh Kim cương toản yếu san định kí quyển 1, thì Không có 3 thứ là Nhân không, Pháp không và Câu không. 3. Tứ không. Kinh Đại tập quyển 54 và kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 cho rằng Không có 4 loại: Pháp pháp tướng không, Vô pháp vô pháp tướng không, Tự pháp tự pháp tướng không, Tha pháp tha pháp tướng không. 4. Lục không. Theo luận Xá lợi phất a tì đàm quyển 16, thì Không có 6 loại: a) Nội không, cũng gọi Thụ giả không, Năng thực không nghĩa là 6 chỗ bên trong (6 căn) đều là không. b) Ngoại không, cũng gọi Sở thụ không, Sở thực không, nghĩa là 6 chỗ bên ngoài (6 cảnh) đều là không. c) Nội ngoại không, cũng gọi Thân không, Tự thân không. d) Không không: Cái Không bị quán chiếu(Sở quán) cũng là Không, vì thế còn gọi là Năng chiếu không. e) Đại không, cũng gọi Thân sở trụ xứ không, nghĩa là 10 phương thế giới đều là không. g) Đệ nhất nghĩa không, cũng gọi Thắng nghĩa không, Chân thực không, Chân cảnh không. Nghĩa là ngoài các pháp ra không có cái gì được gọi là tự tính của thực tướng. 5. Thất không. Cứ theo kinh Lăng già quyển 1 (bản 4 quyển), thì Không có 7 loại: a) Tướng không, cũng gọi Tự tướng không, nghĩa là tự tướng và cộng tướng của các pháp đều là không. b) Tính tự tính không, cũng gọi Tự tính không, nghĩa là tự tính của các pháp tức là không. c) Hành không, 5 uẩn xa lìa ngã và ngã sở, vì do nhân duyên sinh. d) Vô hành không, cũng gọi Bất hành không, nghĩa là trong 5 uẩn không hề có Niết bàn. e) Nhất thiết pháp li ngôn thuyết không: Tất cả các pháp không thể dùng lời nói để diễn tả, nên là không. g) Đệ nhất nghĩa thánh trí đại không: Đề nhất nghĩa không thấy được từ quả vị Thánh trí. h) Bỉ bỉ không: Mình, người, kia, đây đều là không; cái Không này là theo nghĩa hẹp. 6. Thập không. Luận Đại tì bà sa quyển 8 nêu ra 10 không: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Hữu vi không, Vô vi không, Tán hoại không, Bản tính không, Vô tế không, Thắng nghĩa không và Không không. 7. Thập nhất không. Theo kinh Niết bàn quyển 16 (bản Bắc), thì Không có 11 loại: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Hữu vi không, Vô vi không, Vô thủy không, Tính không, Vô sở hữu không, Đệ nhất nghĩa không, Không không, Đại không... Trong đó, Vô sở hữu không cũng gọi Bất khả đắc không. 8. Thập lục không. Theo luận Biện trung biên quyển thượng, thì Không có 16 thứ: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Đại không, Không không, Thắng nghĩa không, Hữu vi không, Vô vi không, Tất kính không, Vô tế không, Vô tán không, Bản tín không, Tướng không, Nhất thiết pháp không, Vô tính không và Vô tính tự tính không. 9. Thập bát không. Theo kinh Đại phẩm bát nhã quyển 3, kinh Đại tập quyển 54 và luận Đại trí độ quyển 31, thì Không có 18 loại: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Không không, Đại không, Đệ nhất nghĩa không, Hữu vi không, Vô vi không, Tất kính không, Vô thủy không, Tán không, Tính không, Tự tướng không, Chư pháp không, Bất khả đắc không, Vô pháp không, Hữu pháp không và Vô pháp hữu pháp không... [X. kinh Đại bát nhã ba la mật Q.44; kinh Niết bàn Q.25 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.38; luận Bồ đề tâm; luận Thập bát không; Đại thừa nghĩa chương Q.1 đến Q.4; Duy ma kinh nghĩa kí Q.3; Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Trung quán luận sớ Q.2 phần cuối]. (xt. Bản Thể, Không Hữu Luận Tranh).

Không A Di Đà Phật

(空阿彌陀佛, Kūamidabutsu) hay Không A (空阿, Kūa, 1156-1228): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng đầu thời kỳ Liêm Thương, hiệu là Không A (空阿), tục danh là Nguyên Thu Trạch (原秋澤, tên bị lưu đày), thường được gọi là A Không Vô Trí (空阿無智). Ông quy y theo Nguyên Không (源空) trên Tỷ Duệ Sơn và chuyên tâm tu pháp môn Xưng Danh Niệm Phật. Ông thường không sống ở một chỗ mà đi tuần du khắp vùng Kyoto, và tương truyền ông thường tập trung 48 vị Tăng có giọng hay lại mà niệm Phật. Vào năm 1227, nhân vụ pháp nạn Gia Lộc, ông bị lưu đày đến vùng Tát Ma (薩摩, Satsuma, thuộc phía Tây Kagoshima-ken [鹿兒島縣]), nhưng trước khi bị đưa đi thì ông đã qua đời.

không chú tâm

Amanasikāra (S), Inattention.

không chấp

Phá được ngã chấp, pháp chấp rồi, thấy vũ trụ vạn vật đều không, bèn chấp cái không này cho là tất cả đều không có, gọi là không chấp.

không có lý

Gaganaromantha (S), Nonsense.

không căn, hai căn

Những người có bộ phận sanh dục bất thường, hoặc không có dương vật, dương vật rất nhỏ, hoặc có cả dương vật lẫn âm vật nhưng cả hai đều nhỏ khác thường.

không cư thiên

3477梵語 āntarikṣavāsin。指居止於空中之「天」,如欲界六天中之夜摩天、兜率天、化樂天、他化自在天,及色界諸天。相對於此,四王天、忉利天等,居止於須彌山,稱爲地居天。〔大毘婆沙論卷一三四、俱舍論卷十一、阿毘達磨順正理論卷三十一〕 ; Antarikṣavasina (S)Hư không cưKhoảng không gian khỏi mặt đất. ; Devas dwelling in space, or the heavenly regions, i.e. the devalokas and rùpalokas. ; (空居天) Phạm:Àntarikwavàsin. Các tầng trời ở trên hư không. Như trời Dạ ma, trời Đâu suất, trời Hóa lạc, trời Tha hóa tự tại ở sáu tầng trời cõi Dục và các trời ở cõi sắc. Trái lại, trời Tứ thiên vương, trời Đao lợi, v.v... ở trên núi Tu di, thì gọi là Địa cư thiên(các trời ở trên mặt đất). [X. luận Đại tì bà sa Q.134; luận Câu xá Q.11; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.31].

không cần dụng công

Anābhoga (S)Không dụng công mà vẫn được.

Không Cốc Cảnh Long

(空谷景隆, Kūkoku Keiryū, 1393-1443?): vị tăng của phái Dương Kì và Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Tổ Đình (祖庭), hiệu Không Cốc (空谷), xuất thân Cô Tô (姑蘇, Tỉnh Giang Tô), họ Trần (陳). Ban đầu ông theo học đạo với Lại Vân Trí An (嬾智雲安), sau xuất gia với Thạch Am (石菴) và tu hành với vị này được hơn 7 năm, có chỗ tỉnh ngộ, được thầy ấn chứng cho và kế thừa dòng pháp. Từ đó, ông trú tại Bích Nham (碧巖), nhưng đến cuối đời ông lại chọn vùng đất Tu Cát Sơn (修吉山) ở Tây Hồ (西湖), dựng một cái thất, đặt tên là Chánh Truyền Tháp Viện (正傳塔院) và sống tại đây. Đến năm thứ 8 niên hiệu Chánh Thống (正統) nhà Minh, tự ông viết bài tháp minh cho mình, thọ 52 tuổi. Trước tác của ông có Thượng Trực Biên (尚直編), Thượng Lý Biên (尚理編), Không Cốc Tập (空谷集).

không cốc cảnh long

Kung ku Ching lung (C)Tên một vị sư.

Không Cốc Tập

(空谷集, Kūkokushū): 6 quyển, san hành vào năm thứ 22 (1285) niên hiệu Chí Nguyên (至元), nguyên văn là Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đầu Tử Thanh Hòa Thượng Tụng Cổ Không Cốc Tập (林泉老人評唱投子清和尚頌古空谷集, Rinsenrōjinhyōshōtōsuseioshōjukokūkokushū). Đầu Tử Nghĩa Thanh (投子義清) thâu lục 100 tắc cơ duyên của cổ nhân, thêm vào lời tụng cổ cho mỗi tắc, sau đó Đơn Hà Tử Thuần (丹霞子淳) còn thêm vào lời dạy chúng và trước ngữ, kế đến Lâm Tuyền Tùng Luân (林泉從倫) ghi lời bình xướng; cho nên đây là tác phẩm có sự kết hợp của 3 Thiền tượng nổi tiếng, cũng tương tợ như Bích Nham Lục (碧巖錄) và Tùng Dung Lục (從容錄). San bản của Nhật có bản do Nhất Trinh (一貞) ở Hạo Đài Tự (皓臺寺), Trường Khi (長崎, Nagasaki) san hành vào năm thứ 3 (1654) niên hiệu Thừa Ứng (承應) và bản do Liên Sơn Giao Dịch (連山交易) ghi lời chú và san hành trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Hòa (天和, 1681-1684). Như Bích Nham Lục (碧巖錄) và Tùng Dung Lục (從容錄), nó là tập công án không được lưu hành ngoài đời, mà chỉ phổ biến trong phạm vi Thiền môn thôi. Ngoài ra, Tổ Đình Cảnh Long (祖庭景隆) có cho rằng có bộ Không Cốc Tập 30 quyển, nhưng độ tin cậy không có.

không cốc tập

3476凡六卷。全稱林泉老人評唱投子青和尚頌古空谷集。係宋代僧投子義青集歷代諸師機緣一○○則,而一一作頌附之。其後,丹霞子淳加附示眾及著語。至元代僧林泉從倫,又作評唱,而合併刊行。本集與從容錄、碧巖錄等類似,皆係公案集。或謂明代僧祖庭景隆,亦作空谷集三十卷,然迄今下落不詳。 ; (空穀集) Gọi đủ: Lâm tuyền lão nhân bình xướng Đầu tử Thanh hòa thượng tụng cổ không cốc tập. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Đầu tử Nghĩa thanh biên tập vào đời Tống, Trung quốc. Nội dung gồm 100 tắc công án nói về cơ duyên của các Thiền sư qua các đời, trong mỗi tắc đều có phụ thêm bài tụng. Về sau, ngài Đơn hà Tử thuần phụ thêm lời Thị chúng và Trứ ngữ. Đến đời Nguyên, ngài Lâm tuyền Tòng luân lại viết lời Bình xướng và in chung thành 1 tập để lưu hành. Về hình thức, tập sách này cũng cùng 1 thể loại với Thung dung lục, Bích nham lục, v.v... Ngoài ra, vào đời Minh, ngài Tổ đình Cảnh long cũng soạn Không cốc tập 30 quyển, nhưng đến nay đã bị thất lạc.

Không Dã

(空也, Kūya, Kōya, 903-972): vị tăng sống giữa thời Bình An, vị tổ của Phái Không Dã Niệm Phật (空也念佛派, Kūyanembutsu-ha), tổ của pháp môn Odorinembutsu (踊り念佛, Niệm Phật Nhảy), húy là Không Dã, Hoằng Dã (弘也), Quang Thắng (光勝); không rõ xuất thân ở đâu. Khi tuổi thanh niên, dưới hình thức cư sĩ tại gia, ông đi khắp các tiểu quốc, làm các công việc xã hội như đắp đường, xây cầu cống, đào giếng, v.v. Khoảng độ hơn 20 tuổi, ông xuất gia ở Quốc Phận Tự (國分寺, Kokubun-ji) vùng Vĩ Trương (尾張, Owari), thọ giới Sa Di, lấy hiệu là Không Dã. Đến năm 938, ông lên kinh đô, lấy nơi đây làm trung tâm để tiến hành bố giáo pháp môn “miệng xưng niệm Phật”, không kể giàu nghèo sang hèn gì cả; từ đó ông được gọi là Thị Thánh (市聖, vị Thánh ngoài chợ) hay A Di Đà Thánh. Vào năm 948, ông có thọ giới với Diên Xương (延昌), vị Thiên Thai Tọa Chủ đương thời, ở Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) với giới danh là Quang Thắng, nhưng sau đó ông không bao giờ dùng đến tên này. Trong khoảng niên hiệu Ứng Hòa (應和, 961-964), khi bệnh dịch lưu hành khắp nơi, ông sáng kiến Tây Quang Tự (西光寺, tức Lục Ba La Mật Tự [六波羅蜜寺, Rokuharamitsu-ji]) để an trí tượng Thập Nhất Diện Quan Âm và cầu nguyện cho bệnh tật tiêu trừ. Ông được xem như là người khai sáng Tịnh Độ Giáo của Nhật Bản. Trước tác của ông có Di Đà Hòa Tán (彌陀和讚).

không dã

3470(903?~972)日本平安中期之淨土教布教僧。又稱弘也。籍貫不詳。二十餘歲入尾張之國分寺剃髮,自號空也。天性好遊訪,曾參詣諸國靈蹟,四處開路,架設橋樑,開鑿井池,修建寺宇,刻造佛像,書寫經文,並收山野之屍骸予以火葬,常唱彌陀名號以勸化民眾,故時人稱師爲阿彌陀聖、市聖、市上人。住播磨國揖保郡峰相寺,披閱大藏經數年,金人時來入夢教說難解之義。 又聞阿波之海中湯島有觀音靈像,遂前往修行數月,於腕上燒香,絕食不眠,終得拜見聖容。天曆二年(948)登比叡山,師事座主延昌,受大乘戒,法名光勝。天祿三年,於西光寺,自知入寂之期至,沐浴著淨衣,擎香爐而坐,向西瞑目而寂,世壽七十(一說七十六,或六十九,或八十三)。師於當時之貴族佛教時代,將淨土教弘揚於民間之功勳至鉅,後人欲紀念之,遂於寺中造師之立像,口吐數尊小佛像,作爲稱名念佛之表徵。〔元亨釋書卷十四、日本往生極樂記、空也上人繪詞傳〕 ; (空也) (903?-972) Danh tăng Nhật bản, thuộc tông Tịnh độ, sống vào giữa thời đại Bình an, hiệu Không dã, chuyên truyền bá Tịnh độ giáo. Năm 20 tuổi, sư xuất gia ở chùa Quốc phận tại Vĩ trương, sư thường đi tham bái Thánh tích ở các nước và mở đường bắc cầu, đào giếng, xây dựng và sửa chữa các chùa viện, khắc tạo tượng Phật, biên chép kinh điển, thu nhặt các thi hài ở nơi núi non hoang vắng đem hỏa thiêu. Sư thường niệm danh hiệu Phật A di đà để khuyến hóa dân chúng, cho nên người đương thời tôn sư là Thánh A di đà. Sư trụ tại chùa Phong tướng ở quận Ấp bảo, nước Bá ma, xem Đại tạng kinh trong nhiều năm, thỉnh thoảng nằm mộng thấy người vàng(Phật hoặc Bồ tát) đến giải thích những nghĩa khó hiểu trong các kinh. Sư nghe trên Thang đảo ở giữa biển A ba có linh tượng Quan âm, sư liền đến chiêm bái, ngày đêm thắp hương cầu nguyện, nhịn ăn, không ngủ, cuối cùng được bái kiến tôn dung của Bồ tát. Năm Thiên lịch thứ 2 (948), sư lên núi Tỉ duệ xin ngài Diên xương thụ giới Đại thừa, được ban pháp danh Quang thắng. Năm Thiên lộc thứ 3, sư ở chùa Tây quang, tự biết giờ viên tịch đã đến, sư liền tắm gội, thay đổi y phục, ngồi xếp bằng, tay bưng lư hương, mặt hướng về phía tây rồi thị tịch, thọ 70 tuổi(có các thuyết nói 76 tuổi, hoặc 69 tuổi, hoặc 83 tuổi). Công đức hoằng dương Tịnh độ giáo của sư rất lớn, nên hàng quí tộc Phật giáo đương thời tạo tượng sư đứng ở trong chùa, từ miệng tuôn ra nhiều tượng Phật nhỏ, biểu trưng cho sự thành tựu xưng danh niệm Phật của sư. [X. Nguyên hanh thích thư Q.14; Nhật bản vãng inh cực lạc kí; Không dã thượng nhân hội từ truyện].

không dã niệm phật

3470日本佛教用語。又作鉢叩。淨土宗僧空也之弟子「平定盛」經由其師之指導,邊叩瓢,邊念佛,此種念佛方式稱爲空也念佛。由於積聚念佛之功德得以往生極樂,因而心生歡喜。通常以和歌、和讚、念佛等附和節拍歡喜唱念,邊叩鉦或瓢簞,邊拍手相和,圍成圓形來回舞蹈。 ; (空也念佛) Cũng gọi Bát khấu (gõ bát). Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Phương pháp niệm Phật do sư Bình định thịnh thực hành theo sự chỉ dạy của sư phụ là ngài Không dã thuộc tông Tịnh độ Nhật bản. Phương pháp này là vừa gõ vào vỏ quả bầu khô, vừa niệm Phật, thông thường dùng các âm điệu hòa ca, hòa tán, phụ họa với nhịp phách, nhịp chiêng, vỗ tay, đi vòng quanh, nhảy múa và hoan hỉ niệm Phật. Nhờ công đức niệm Phật ấy sẽ được vãng sinh Tịnh độ cực lạc, do đó tâm sinh vui mừng.

Không Dã Thượng Nhân

空也上人; j: kūya shōnin, 903-972;|Tịnh độ tông

không dã thượng nhân

KŪya Shōnin (J)Tên một vị sư.

không gian

3482請參閱 義堂和尚語錄 <一>原始佛教以來,佛教以地、水、火、風、空、識等六大爲構成一切萬物存在之要素。其中地、水、火、風等四大爲生成萬物之元素,空大則爲萬物存在所需之空間。由於地、水、火、風、空之五大,一切萬物乃得以存在,此五大總稱爲色,具有變壞、質礙之性質。所謂變壞,即不停地變化,無一瞬間可爲常恆者;所謂質礙,即二個物質於同一時間不可能佔有同一空間。此種空間概念,視其根本則無異於今日。 然至大乘佛教,產生一種獨特之空間概念。華嚴經即謂,每一肢節之任何毛孔中皆有不可說不可說之諸佛剎海。維摩經亦有維摩於狹窄之病室設置三萬二千獅子座之記載。又說菩薩若處於解脫狀態,則以須彌山之高廣納於芥子中,須彌山並不變小,芥子亦不變大;以四大海水投入一毛孔中,亦不使魚、鱉、黿、鼉等任何水中生物稍感騷擾。 上述之空間觀念,對於已證得不可思議解脫之菩薩,乃爲可能之事。此種超越有(梵 asti)、無(梵 nāsti)二元之觀念可使吾人睜開慧眼,看見上述之空間。於佛教,此一思想之典型代表即華嚴宗之法界觀。然此「法界」並非由機械之因果法則、目的論之生物因果法則,或靜的相互關連法則等所支配下之現象世界。此種空間概念,於佛教特稱爲空、不生、無自性。 <二>指遠離聚落而適於修行之場所。又作空閑、空閑處、空屋。遺教經(大一二‧一一一一下):「當捨己眾、他眾,空閑獨處,思滅苦本。」(參閱「阿蘭若」3697)。 ; Gagana (S), SkyXem Hư không. ; Gagana (S). Sky. ; (空間) I. Không Gian. Khoảng không. Tức chỉ hư không hoặc khoảng trống giữa các vật. Phật giáo, từ thời Phật giáo nguyên thủy đến nay cho rằng 6 đại: đất, nước, lửa, gió, không, thức là những yếu tố cơ bản cấu thành sự tồn tại của muôn vật; trong đó, 4 đại đất, nước, lửa, gió, là những nguyên tố sinh thành muôn vật, còn Không đại là khoảng không gian cần thiết cho muôn vật tồn tại. Nhờ 5 đại này mà tất cả muôn vật mới tồn tại được, 5 đại này gọi chung là Sắc, có tính chất biến hoại, chất ngại. Biến hoại là biến đổi không ngừng, dù trong 1 nháy mắt cũng không trụ lại; còn chất ngại có nghĩa là 2 khối vật chất trong cùng một thời gian, không thể cùng chiếm hữu một không gian. Đến thời đại Phật giáo Đại thừa thì sản sinh một khái niệm rất đặc biệt về không gian như kinh Hoa nghiêm cho rằng trong bất cứ lỗ chân lông nào trên cơ thể đều có cõi nước của chư Phật, nhiều như nước biển, không thể tưởng tượng được; kinh Duy ma cũng nói trong căn thất chật hẹp của ngài Duy ma có thể đặt được 32 nghìn tòa Sư tử. Lại nói Bồ tát có năng lực đặt núi Tu di vào trong 1 hạt cải, mà núi Tu di không bị rút nhỏ lại và hạt cải cũng không phình ra to; đem nước 4 biển lớn rót vào trong một lỗ chân lông mà cũng không làm cho các loài cá, ba ba, tôm, cua... hay bất cứ sinh vật nào trong nước cảm thấy chao động hoặc chật chội. Khái niệm về không gian và những việc làm này chỉ có Bồ đã chứng được giải thoát bất tư nghị mới làm được. Và trong Phật giáo, khái niệm về không gian này đặc biệt được gọi là Không, Bất sinh, Vô tự tính... II. Không Gian. Cũng gọi Không nhàn, Không nhàn xứ, Không ốc. Nơi vắng vẻ cách xa làng xóm thích hợp cho việc tu đạo. Kinh Di giáo (Đại 12, 1111 hạ), nói: Hãy rời bỏ đồ chúng của mình và đồ chúng của người, một mình ở chốn không nhàn, thiền định tư duy, diệt trừ gốc khổ. (xt. A Lan Nhã).

không giáo

3480與「有教」相對。又作第二時教、唯說法空宗。爲法相宗所立三時教之第二。即闡說諸法皆空之理的教法。如諸般若經所主張「萬法皆空」之理即爲其主要教說。於判教中,爲慧觀與劉虬所立五教中之無相教、曇隱與自軌所立五教中之不真宗、賢首所立四教中之真空無相宗。大乘法苑義林章卷一(大四五‧二四九上):「諸說空經是第二時教,以隱密言總說諸法無自性故。」〔成唯識論述記卷一、大乘起信論義記卷上〕(參閱「三時教」596) ; The teaching that all is unreal. ; (空教) Cũng gọi Đệ nhị thời giáo, Duy thuyết pháp không tông. Đối lại: Hữu giáo. Giáo lí nói các pháp đều không, là thời giáo thứ 2 trong 3 thời giáo do tông Pháp tướng thành lập. Không giáo chủ trương Vạn pháp giai không như được nói trong các bộ kinh Bát nhã. Theo sự phán giáo của các ngài Tuệ quán và Lưu cầu, thì Không giáo là Vô tướng giáo trong 5 giáo; các ngài Đàm ẩn và Tự quĩ thì cho Không giáo là Bất chân tông trong 5 giáo. Còn ngài Hiền thủ phán lập 4 giáo, thì cho Không giáo là Chân không vô tướng tông. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương (Đại 45, 249 thượng) ghi: Các kinh nói về Không giáo là thời giáo thứ 2, vì đã dùng lời kín đáo để nói chung các pháp không tự tính. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. (xt. Tam Thời Giáo).

Không giáo 空教

[ja] キョウ kūkyō ||| The teaching that beings and elements both lack inherent existence. According to the Prajñāpāramitā sutras, if one investigates the five skandhas, one discerns that the basic nature of all elements is that of emptiness. => Giáo lý về sự hiện hữu và các pháp cả hai đều không tồn tại trên cơ sở tự tính. Theo kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, nếu ai quán sát ngũ uẩn thâm sâu, sẽ thấy rõ rằng bản chất cơ bản của các pháp là không.

không giả trung

3479法界之諸法,理體本來空寂,謂之空;森羅之諸法係由因緣而生,謂之假;非空非假,乃絕對之理,謂之中。空假中係天台宗所立之三諦三觀。就所觀不虛妄實相之理而言,空假中稱爲三諦;就能觀此理之智而言,則稱爲三觀。「空」以破一切法,「假」以立一切法,「中」以妙一切法。此三者爲一法之異名,故謂即空即假即中。(參閱「三諦」684) ; Unreality, reality, and the middle or mean doctrine; noumenon, phenomenon, and the principle or absolute which unites both. Không unreality, that things do not exist in reality; Giả reality, that things exist though in "derived" or "borrowed" form, consisting of elements which are permanent; Trung the "middle" doctrine of the Madhyamika school which denies both positions in the interests of the transcendental or absolute. Không dĩ phá nhất thiết pháp, Giả dĩ lập nhất thiết pháp, Trung dĩ diệu nhất thiết pháp. Sùnya (universality) annihilates all relativities, particularity establishes all relativities the middle path transcends and unites all relativities. ; (空假中) Chỉ cho Tam đế tam quán do tông Thiên thai lập ra. Lí thể của các pháp xưa nay vốn vắng lặng; gọi là Không; các pháp do nhân duyên sinh, gọi là Giả; lí thể tuyệt đối, chẳng phải không chẳng phải giả, gọi là Trung. Đứng về phương diện lí thực tướng sở quán mà nói, thì Không, Giả, Trung được gọi là Tam đế; còn đứng về phương diện trí năng quán mà nói, thì Không, Giả, Trung được gọi là Tam quán. Không để phá tất cả pháp, Giả để lập tất cả pháp, Trung để đạt lí vi diệu của tất cả pháp, Không, Giả, Trung thực ra chỉ là tên khác nhau của một pháp cho nên nói Tức không tức giả tức trung. (xt. Tam Đế).

không giả trung tam quán

3480爲從假入空觀、從空入假觀、中道第一義觀之合併略稱。乃天台宗所立。空觀,乃由常識之立場(假)而入宗教立場之真理(空);假觀,乃不停滯於空(空)而入佛智所照之世俗立場(假);中道觀,乃不執著空假二觀之大悲菩薩行。 住於從假入空觀者,定力多,遂不見佛性;住於從空入假觀者,慧力多,雖見佛性而不明了;故此二觀均爲方便觀。如能住中道正觀,則定慧力均等,而了見佛性。(參閱「三觀」706) ; (空假中三觀) Ba pháp quán Không, Giả, Trung do tông Thiên thai lập ra. Không quán là từ kiến thức thông thường (giả) mà tiến vào chân lí(không); Giả quán là không dừng lại ở nơi Không mà tiến vào Giả do trí Phật chiếu rọi; Trung đạo quán là hạnh Bồ tát đại bi không chấp trước Không quán, Giả quán. Hành giả trụ từ Giả quán vào Không quán, vì sức định nhiều nên chưa thấy tính Phật; hành giả trụ từ Không quán vào Giả quán, vì sức tuệ nhiều, tuy thấy tính Phật nhưng không rõ ràng. Bởi thế, Không quán và Giả quán đều là pháp quán phương tiện. Nếu trụ trong Trung đạo chính quán thì định và tuệ bằng nhau, có thể thấy được tính Phật rõ ràng. (xt. Tam Quán).

không giải

The interpretation (or doctrine) of ultimate reality.

không giải thoát môn

The gate of salvation, or deliverance by the realization of the immaterial, i.e. the ego and things are formed of elements and have no realities in themselves; one of the three deliverances.

không giới

The realm of space.

không giới sắc

3478指虛空界之色。空界,梵語 ākāśa-dhātu。據俱舍論卷一載,虛空之外,別有空界,爲眼可見,如諸門窗及口鼻等內外之竅隙;因係眼可見,故附「色」之名,稱爲空界色。 另據俱舍論光記卷一所說,空界色以青、黃、赤、白、雲、煙、塵、霧、影、光、明、闇等十二顯色中之影、光、明、闇爲體;然因影、光、明、闇亦隨青、黃、赤、白等四顯色而應現,故空界色亦攝於青、黃、赤、白中。又青、黃、赤、白即須彌四大洲各現於空中的純一之淨色,故空界色即空一顯色。 俱舍論卷一又謂(大二九‧六下):「故說空界,明闇爲體,應知此體不離晝夜,即此說名鄰阿伽色。」是知,空界色另有鄰阿伽色(梵 agha-sāmantaka)之譯名,意指鄰近阿伽之色。〔俱舍論釋論卷一、俱舍論光記卷一、俱舍論寶疏卷一下、玄應音義卷二十四〕(參閱「空一顯色」3470、「鄰阿伽色」6194) ; (空界色) Không giới, Phạm:Àkàza-dhàtu. Chỉ cho sắc trong cõi hư không, nghĩa là những khoảng không mà mắt có thể thấy được, tức các kẽ hở và lỗ hổng như khe cửa, khoảng không trong miệng và lỗ mũi, v.v..., vì mắt có thể thấy nên thêm danh từ sắc mà gọi là Không giới sắc. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 1, thì Không giới sắc lấy bóng, ánh sáng, sáng và tối trong 12 hiển sắc làm thể; nhưng vì bóng, ánh sáng, sáng và tối cũng theo 4 hiển sắc chính là xanh, vàng, đỏ, trắng mà hiển hiện, cho nên Không giới sắc cũng thuộc về xanh, vàng, đỏ, trắng. Lại xanh, vàng, đỏ, trắng là tịnh sắc thuần nhất của 4 đại châu hiển hiện trong hư không, nên Không giới sắc tức là Không nhất hiển sắc. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 6 hạ) còn nói: Vì thế không giới này lấy sáng tối làm thể, nên biết thể ấy không lìa ngày đêm, đây tức là Lân a già sắc. Do đó mà biết, Không giới sắc còn có tên là Lân a già sắc (Phạm: Agha-Sàmantaka), chỉ cho sắc gần với A già. [X. luận Câu xá luận thích Q.1; Câu xá luận quang kí Q.1; Câu xá luận bảo sớ Q.1 hạ; Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. Không Nhất Hiển Sắc, Lân A Già Sắc).

Không giới 空界

[ja] クウカイ kūkai ||| Space; limitless space; the universe (ākāśa-dhātu). (s: ākāśa-dhātu). => Không trung, không gian; không vô cùng; vũ trụ, vạn vật, tất cả mọi hiện tượng tồn tại trong không gian.

không hoa

xem hoa đốm. ; 3481梵語 khapuṣpa。指空中之華。全稱虛空華。又作空花、眼華、眼花。蓋空中原無華,然眼有病疾者因眼中有翳,常於空中妄見幻化之華;比喻本無實體之境界,由於妄見而起錯覺,以爲實有。故於自身中見有一常住之我,或於一切萬物中,妄見其有實體,則稱爲如見空華。此外,據大慈恩寺三藏法師傳卷四載,中印度烏荼國僧眾多修習小乘學,以爲大乘學非佛陀之教法,乃貶稱大乘學人爲空華外道。〔圓覺經、大日經住心品、成唯識論卷八、大乘起信論義記卷中〕 ; Flowers in the sky. ; Khapuspa (S). Flowers in the sky, spots before the eyes; muscos volitantes; illusion. ; (空華) Phạm: Khapuwpa. Cũng gọi Nhãn hoa. Gọi đủ: Hư không hoa. Hoa đốm trong hư không. Trong hư không vốn không có hoa, nhưng vì người đau mắt, trong mắt có màng nên thường thấy hoa đốm huyễn hiện trong hư không. Danh từ này được dùng để ví dụ cảnh giới vốn không có thực thể, nhưng vì vọng kiến sai lầm nên cho là có thực; rồi thấy trong thân mình có một cái ta thường trụ bất biến, trong muôn vật có thực thể; như thế gọi là thấy hoa giữa hư không. Ngoài ra, cứ theo Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4, thì tăng chúng ở nước Ô đồ thuộc Trung Ấn độ, phần nhiều tu học pháp Tiểu thừa, vì họ cho giáo pháp Đại thừa không phải của Phật, cho nên chê những người tu học pháp Đại thừa là Không hoa ngoại đạo. [X. kinh Viên giác; phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật; luận Thành duy thức Q.8; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung].

không hoa ngoại đạo

ŚŪnyapuṣpā (S), Suapuppha (P).

Không hoa 空華

[ja] ケ kūge ||| "sky-flowers." Illusory flowers seen in the sky as the result of an optical disorder. A metaphor used in East Asian texts such as the Awakening of Faith, Śūrangama-sūtra and Sutra of Perfect Enlightenment, to show the nature of discriminated ignorance. => Hoa hư huyễn được nhìn thấy trên bầu trời như là kết quả của sự rối loạn thị giác. Đây là ẩn dụ được dùng trong những kinh luận xuất phát từ Á Đông như Luận Đại thừa khởi tín. kinh Thủ Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác, để chỉ cho tính vô minh phân biệt.

không hành mẫu

Xem Đồ cát ni.

không hành nam

Ḍāka (S), khan-dro (T) Tên một vị thiên.

Không hành nữ

空行女; S: ḍākinī; T: khadroma;|Theo quan điểm dân gian Ấn Ðộ, Không hành nữ là các nữ thần trong thiên giới. Ðặc biệt trong Kim cương thừa, Không hành nữ được xem là gốc của sự cảm hứng và trong các tranh tượng, chư vị được vẽ như các nữ thần loã thể đáng sợ.||H 32: Kim cương không hành nữ (s: vajra-ḍākinī), đang ở tư thế đứng vòng cung (s: cāpasthāna). Trong Phật gia thì vị này thuộc về Ðiều hỉ quốc của Phật Bất Ðộng và thường được trình bày với tay cầm Kim cương chử và bình. Thỉnh thoảng bình được thay thế bằng một sọ người.|Trong Phật giáo Tây Tạng, nhiều tu sĩ xem Không hành nữ là thần bảo hộ, là người giải phóng năng lực của người tu tập và hoà nhập vào năng lực của chính mình. Danh hiệu Không hành nữ có nghĩa là vị nữ thần di chuyển trên bình diện thật tại cao nhất – theo tiếng Tây Tạng Kha-dro-ma, kha: không gian, dro: chuyển dịch, ma: nữ giới. Sự loã thể tượng trưng cho sự thật không bị che đậy.

không hành nữ

Khadroma (T), Ḍākinī (S)Tên một vị thiên Xem Đồ cát ni.

không hạnh

chỉ sự tu chứng tánh không, tức thật tánh của các pháp, vì tất cả các pháp đều do nhân duyên sanh, không hề có một thực thể nào tồn tại độc lập. ; The discipline or practice of the immaterial, or infinite, thus overcoming the illusion that the ego and all phenomene are realities.

Không Hải

(空海, Kūkai, 774-835): vị tổ sư khai sáng ra Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, xuất thân vùng Tán Kì (讚岐, Sanuki) thuộc Tứ Quốc (四國, Shikoku), cha là Tá Bá Trực Điền (佐伯直田), mẹ là A Đao (阿刀). Lúc lên 15 tuổi, ông theo người bác là A Đao Đại Túc (阿刀大足) lên kinh đô, năm 18 tuổi thì học hết các học vấn của Trung Quốc, nhưng vì ông có chí xuất gia nên cuối cùng bỏ học. Ông theo Đại Long Ngạc (大龍嶽) ở vùng A Ba (阿波, Awa, thuộc Tokushima-ken [德島縣]) và Thất Hộ Khi (室戸崎) ở vùng Thổ Tá (土佐, Tosa, thuộc Kōchi-ken [高知縣]) tu hành rất nghiêm mật. Ngoài ra, ông còn theo học các giáo học ở các chùa lớn đương thời vùng Nại Lương. Đến năm 24 tuổi, ông viết nên cuốnTam Giáo Chỉ Quy (三敎指歸), nhằm luận về những điểm hay dở của Nho Giáo, Đạo Giáo và Phật Giáo. Đó cũng chính là bức thư tuyên ngôn xuất gia của Không Hải. Với lòng quan tâm rất lớn đối với Mật Giáo, vào năm 804, lúc 34 tuổi, ông được cho đi theo cùng với Đằng Nguyên Cát Dã Ma Lữ (藤原吉野麻呂) sang nhà Đường. Giữa đường cả hai người gặp nhiều trắc trở trên biển cả, nhưng cuối cùng cũng đến được kinh đô Trường An.Năm sau từ tháng 5 đến tháng 12, ông theo hầu hạ Huệ Quả (惠果) ở Thanh Long Tự (青龍寺), và được thọ nhận lễ Quán Đảnh và kế thừa bí pháp từ vị này. Bên cạnh đó ông còn theo học pháp với Bát Nhã Tam Tạng (般若三藏), nhưng vì vào tháng 12 Huệ Quả viên tịch, nên tháng 10 năm sau (806), ông phải trở về nước, mang theo nhiều kinh luận và pháp cụ Mạn Trà La. Đến năm 36 tuổi, ông đến trú tại Cao Hùng Sơn Tự (高雄山寺) vùng Kyoto và bắt đầu thắp sáng ngọn đèn Chơn Ngôn Mật Giáo tại đây. Từ đó, ông được Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō) ủng hộ và chấp nhận cho phát triển Chơn Ngôn Tông. Thêm vào đó, ông còn giao tế với Tối Trừng (最澄, Saichō) của Thiên Thai Tông và đã từng truyền thọ pháp Quán Đảnh cho vị này cùng với đệ tử của ông. Đến năm 816, lúc 43 tuổi, ông đến khai sáng vùng Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan) và trãi qua quãng đời cuối cùng của ông tại nơi đây. Đến năm 823, lúc 50 tuổi, nơi đây đã trở thành đạo tràngcăn bản cho Chơn Ngôn Tông, và quần thể tháp đường cũng được kiến lập nên. Chính trong khoảng thời gian này, Không Hải đã bố giáo cho rất nhiều đệ tử, thuyết giáo cho rất nhiều người và xây dựng nên giáo đoàn của Chơn Ngôn Tông. Ông đã viết khá nhiều tác phẩm như Biện Hiển Mật Nhị Giáo Luận (辨顯密二敎論), Tức Thân Thành Phật Nghĩa (卽身成佛義), Thanh Tự Thật Tướng Nghĩa (聲字實相儀), Hồng Tự Nghĩa (吽字義), Bí Tạng Bảo Thược (秘藏寳鑰), Bát Nhã Tâm Kinh Bí Kiền (般若心經秘鍵), v.v., và hình thành nên giáo học của Chơn Ngôn Tông. Vào năm 936 (năm thứ 2 niên hiệu Thừa Hòa [承和]), ông thị tịch ở Cao Dã Sơn. Đến năm 921 (năm thứ 21 niên hiệu Diên Hỷ [妙喜]), ông được ban cho thụy hiệu là Hoằng Pháp Đại Sư (弘法大師, Kōbō Daishi). ; 空海; J: kūkai; 774-835, còn được gọi là Hoằng Pháp Ðại sư (j: kōbō daishi);|Cao tăng Nhật Bản, người sáng lập Chân ngôn tông (j: shingon) – dạng Mật tông tại Nhật. Sư tu học Mật tông tại Trung Quốc và về Nhật mở đạo trường tại núi Cao Dã (j: kō-ya), về sau trở thành trung tâm của Chân ngôn tông. Năm 17 tuổi, Sư đã viết luận về Nho, Lão và Phật giáo và tác phẩm Thập trụ tâm luận – Sư biên soạn bộ này dưới lệnh của Thiên hoàng – nói rõ đạo lí cơ bản của Chân ngôn tông.|Sư cũng mở trường dạy nghệ thuật và khoa học, chấp nhận mọi người theo học, dạy các môn học thế gian và siêu thế gian, kể cả đạo lí của Khổng Tử và Lão Tử. Sư cũng nổi danh trong các ngành khác như hội hoạ, điêu khắc và kĩ thuật.|Sư rất quan tâm đến việc học Phạn ngữ vì cho rằng chỉ với ngôn ngữ này, ý nghĩa của những Man-tra và Ðà-la-ni mới thể hiện trọn vẹn. Sư và các môn đệ cũng là những người đầu tiên kết hợp truyền thống Thần đạo (j: shintō) với Phật giáo và đưa các vị Tổ của Thần đạo lên hàng Bồ Tát.|Sư sinh trưởng trong một gia đình quý tộc. Năm 791, Sư vào một trường dạy Nho và cũng trong năm này, mới 17 tuổi, Sư viết Tam giáo chỉ quy, một bài luận về ba học thuyết thời bấy giờ là Phật, Khổng và Lão giáo. So sánh với đạo Phật, Sư nêu ra những giới hạn của Khổng, Lão. Theo Sư thì đạo Phật đã dung chứa những yếu tố của Khổng, Lão. Tác phẩm Thập trụ tâm luận (Mười bậc trên đường học đạo) của Sư được xem là quan trọng nhất, vượt xa năm tác phẩm Phật giáo khác cùng được trình cho nhà vua thời bấy giờ. Tác phẩm này bao gồm mười chương, trình bày mười cấp phát triển một ý thức giác ngộ. Sư là người đầu tiên tại Nhật dùng phương pháp so sánh một học thuyết với học thuyết khác để làm sáng tỏ một quan điểm. Mười bậc trên đường học đạo theo Thập trụ tâm luận của Sư gồm có:|Cấp 1 là thế giới như của súc sinh, thế giới không kiểm soát được tham dục, thế giới không hề có ý thức Giác ngộ;|Cấp 2 là Khổng giáo, là nơi thực hiện các đức hạnh thế gian, nhưng không quan tâm đến ý thức giác ngộ;|Cấp 3 là Lão giáo, mà các tín đồ tin tưởng nơi một tầng trời đầy hoan lạc bằng cách tu tập thiền định;|Cấp 4 là cấp của Thanh văn thừa của Tiểu thừa, tin vào tính Vô ngã vì cái ngã chỉ do Ngũ uẩn tạo thành;|Cấp 5 là cấp Ðộc giác Phật, là người đạt tri kiến về Mười hai nhân duyên, về sự vô thường, vô ngã và là người đã chấm dứt sự phát sinh của Nghiệp;|Cấp 6 là cấp của tông Pháp tướng (j: hossū-shū);|Cấp 7 là cấp của Tam luận tông, cấp 8 là cấp của Thiên Thai tông, cấp 9 là cấp của Hoa nghiêm tông và cấp 10 là Chân ngôn tông. Sư cho rằng chín cấp trước đều do »bệnh của tư tưởng« mà thành, chỉ có cấp 10 mới chứa đựng chân lí đích thật.

không hải

3479(774~835)日本真言宗開祖。讚岐(香川縣)人,俗姓佐伯直。十五歲至京都研習儒學,後入大學明經科,逐漸接觸佛教,十八歲發表聾瞽指歸(後易名爲三教指歸)批判儒釋道。延曆十二年(793)入佛門,師事和泉槙尾山寺之勤操,法名教海,後改爲如空,研究三論及大小乘教義。十四年,在東大寺戒壇院受具足戒,改名空海。十五年,曾於夢中感得大日經,然未能解悟。遂於二十三年來唐,在福州長溪縣登岸,北上歷訪長安諸大德,而於青龍寺之惠果阿闍梨處承續密宗之嫡傳,受傳法阿闍梨位灌頂,密號遍照金剛,成爲最早受習真言教學之日本人。 日本大同元年(806)歸返本國,翌年,在京都久米寺講授大日經,三年,勅許弘通真言宗。四年,入宮論說即身成佛之義,挫敗華嚴宗之道雄、天台宗之圓澄等諸碩德。弘仁元年(810),在於高雄山寺,補任東大寺別當之職。三年,修金剛界灌頂,授與最澄、和氣真綱等人,未久,再修胎藏界灌頂,授與最澄、賢榮等人,爲日本兩部灌頂之嚆矢。 弘仁七年,勅賜高野山之地以建寺宇。九年,賜師「傳燈大法師」之號,任內供奉十禪師之職。十年,寺院落成,號金剛峰寺。十四年,受賜東寺,與高野山同爲永久之密教道場。東寺之堂舍結構、佛像造形、年中行事、僧眾威儀等,悉倣唐朝青龍寺之風貌。 天長五年(828),創建綜藝種智院,教授道俗弟子諸學,確立密宗教學,該院亦爲日本最早之私立學校。 承和二年,於高野山入寂,世壽六十二,被尊爲日本真言宗高祖,諡號「弘法大師」,時人則多稱「高野大師」。 師之著作極豐,教義方面有辯顯密二教論、祕藏寶鑰、十住心論、付法傳、請來目錄、御遺告、即身成佛義、聲字義、吽字義、般若心經祕鍵等,另有大悉曇章與篆隸萬象名義(辭典)等。關於文學方面有文鏡祕府論、文筆眼心鈔、性靈集、高野雜筆集等。此外,師又長於書法,墨寶有風信帖、灌頂歷名、七祖贊、三十帖冊子等。亦曾指導密宗美術,對社會教化之功可謂既廣且深。〔元亨釋書卷一、高野春秋編年輯錄卷一、本朝高僧傳卷三、弘法大師正傳〕 ; KŪkai (J)Tên một vị sư. Tên một vị sư. Sơ tổ Cao dã phái, Mật tông Nhật bản. ; Like sky and sea; like space and the ocean for magnitude. Ocean of Emptyness. ; (空海) (774-835) Cao tăng Nhật bản, tổ khai sáng tông Chân ngôn, người Tán kì, huyện Hương xuyên, họ Tá bá trực. Năm 15 tuổi, sư đến kinh đô (Kyoto) nghiên cứu Nho học, sau đó sư vào Đại học khoa Minh kinh (chuyên nghiên cứu kinh điển), dần dần tiếp xúc với Phật giáo. Năm 18 tuổi, sư viết bài Lung cổ chỉ qui(sau đổi là Tam giáo chỉ qui) để phê phán Nho, Thích, Đạo. Năm Diên lịch 12 (793), sư xuất gia, thờ ngài Cần thao ở chùa Điên vĩ sơn tại Hòa tuyền làm thầy, pháp danh là Giáo hải, sau đổi là Như không. Sư ở đây nghiên cứu Tam luận và giáo nghĩa Đại, Tiểu thừa. Năm Diên lịch 14 (795), sư thụ giới Cụ túc tại đàn giới chùa Đông đại, đổi tên là Không hải. Năm Diên lịch 15 (796), trong giấc mộng, sư cảm được kinh Đại nhật, nhưng chưa hiểu tỏ. Năm Diên lịch 23 (804), sư đến Trung quốc tham yết các bậc danh đức tại Trường an, được A xà lê Huệ quả chùa Thanh long truyền pháp Quán đính A xà lê, mật hiệu là Biến chiếu kim cương. Sư là người Nhật bản đầu tiên được học giáo học Chân ngôn. Niên hiệu Đại đồng năm đầu (806) sư trở về Nhật bản. Năm sau (807), sư giảng kinh Đại nhật ở chùa Cửu mễ tại Kinh đô. Năm Đại đồng thứ 3 (808) vua ban sắc cho phép tông Chân ngôn được truyền bá rộng rãi. Năm Đại đồng thứ 4 (809), sư vào cung nói về nghĩa Tức thân thành Phật khiến các bậc thạc đức như Đạo hùng thuộc tông Hoa nghiêm, Viên trừng thuộc tông Thiên thai, v.v... đều phải bái phục. Niên hiệu Hoằng nhân năm đầu (810), sư trụ ở chùa Cao hùng sơn, được bổ nhiệm chức Biệt đương chùa Đông đại. Năm Hoằng nhân thứ 3 (813), sư tu pháp quán đính Kim cương giới và truyền cho các vị Tối trừng, Hòa khí Chân cương, v.v..., không bao lâu, sư lại tu pháp quán đính Thai tạng giới và truyền cho các vị Tối trừng, Hiền vinh, v.v..., là pháp quán đính đầu tiên của cả 2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới Mật giáo tại Nhật bản. Năm Hoằng nhân thứ 7 (816), vua sắc ban khu đất ở núi Cao dã để xây chùa. Năm Hoằng nhân thứ 9 (818), vua ban cho sư hiệu Truyền Đăng Đại Pháp Sư, giữ chức Nội cung phụng thập thiền sư. Năm Hoằng nhân thứ 10 (819), chùa trên núi Cao dã được khánh thành hiệu là Kim cương phong tự. Năm Hoằng nhân 14 (823), sư được vua ban cho Đông tự, cùng với núi Cao dã đều là Đạo tràng Mật giáo. Cách kết cấu điện đường, tạo hình tượng Phật, pháp hội hàng năm, uy nghi tăng chúng, v.v... của Đông tự đều được phỏng theo phong cách của chùa Thanh long ở Trung quốc. Năm Thiên trường thứ 5 (828), sư sáng lập viện Tông nghệ chủng trí, là ngôi trường học tư lập đầu tiên ở Nhật bản, giảng dạy Mật giáo cho các đệ tử xuất gia và tại gia. Năm Thừa hòa thứ 2 (835), sư thị tịch ở núi Cao dã, thọ 62 tuổi, được truy tôn là Cao tổ của tông Chân ngôn Nhật bản, thụy hiệu Hoằng Pháp Đại Sư, người đương thời thường gọi Cao dã đại sư. Tác phẩm của sư gồm có: Biện Hiển Mật nhị giáo luận, Bí tạng bảo thược, Thập trụ tâm luận, Phó pháp truyện, Thỉnh lai mục lục, Ngự di cáo, Tức thân thành Phật nghĩa, Thanh tự nghĩa, Hồng tự nghĩa, Bát nhã tâm kinh bí kiện, Đại Tất đàm chương và Triện lệ vạn tượng danh nghĩa (Từ điển), Văn kính bí phủ luận, Văn bút nhãn tâm sao, Tính linh tập, Cao dã tạp bút tập, Phong tín thiếp, Quán đính lịch danh, Thất tổ tán, Tam thập thiếp sách tử... [X. Nguyên hanh thích thư Q.1; Cao dã xuân thu biên niên tập Q.1; Bản triều cao tăng truyện Q.3; Hoằng pháp đại sư chính truyện].

không hầu

(箜篌), tên một loại đàn thời cổ, Phạn ngữ là vỵṇ, ngày nay không còn nữa. Loại đàn này thường có 23 dây, nhưng cũng có các loại được chế tạo với 22, 24 hoặc 25 dây. Đàn có xuất xứ từ Ấn Độ, về sau có lưu hành sang các nước vùng Tây Vực cho đến Trung Hoa vào thời Hán. Một số phù điêu trang trí trong các tháp cổ cũng như được phát hiện gần đây trong động Đôn Hoàng còn lưu giữ hình ảnh loại đàn này. ; 5880梵語 vīṇā,巴利語同。爲一種古代絃樂器。又作空侯、空古、江胡。佛典中,如法華經分別功德品、大般若波羅蜜多經卷四○○、北本涅槃經卷十一、華嚴經普賢行願品、大乘理趣六波羅蜜多經卷一、金剛頂勝初瑜伽普賢菩薩念誦法、大樂金剛薩埵修行成就儀軌、大乘集菩薩學論卷六等均載有此樂器名,又如有部毘奈耶破僧事卷四載,菩薩由於少食之故,脊骨羸屈猶如箜篌。印度阿摩羅婆提大塔(梵 Amarāvatī)欄楯之浮雕中,即有手抱箜篌彈奏之伎女像,敦煌千佛洞之繪畫中亦出現箜篌之圖像。 據史記卷十二孝武本紀中徐廣所作之注釋謂,武帝時,樂人侯調始造箜篌。隋書音樂志第十則謂箜篌乃西域所出,非華夏固有之樂器;流行於西涼、龜玆、天竺、疏勒、安國、高麗等地之箜篌,分爲豎箜篌、臥箜篌、鳳首箜篌等。希麟音義卷九亦謂箜篌本胡樂。又豎箜篌體曲面長,通常爲二十三絃,亦有二十二、二十四、二十五絃等,置於懷中兩手齊奏。臥箜篌則爲七絃,形如琵琶。鳳首箜篌之形如臥箜篌,而飾以鳳首。〔慧琳音義卷十、卷二十六、卷二十七、希麟音義卷一、卷二、卷六、淵鑑類函卷一八九、古今圖書集成樂律典第一一五、當麻曼荼羅搜玄疏卷七〕 ; (箜篌) Phạm,Pàli:Vìịà. Cũng gọi Không cổ, Giang hồ. Một loại đàn dây thời xưa. Trong các kinh điển Phật, như phẩm Phân biệt công đức kinh Pháp hoa, kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 400, kinh Niết bàn quyển 11 (bản Bắc), phẩm Phổ hiền hành nguyện kinh Hoa nghiêm, kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 1, Kim cương đính thắng sơ Du già Phổ hiền bồ tát niệm tụng pháp, Đại lạc kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ, luận Đại thừa tập bồ tát học quyển 6, v.v... đều có nói đến tên của loại nhạc khí này. Lại trong các bức phù điêu trên lan can của Đại tháp maràvati (A ma la bà đề) ở Ấn độ, có khắc hình tượng Thiên nữ ôm đàn không hầu mà gảy. Và trong các bức bích họa ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng, Trung quốc, cũng có vẽ hình đàn không hầu. Cứ theo phần chú thích về Hiếu vũ bản kỉ của Từ quảng trong Sử kí quyển 12, thì vào thời Vũ đế, nhạc nhân Hầu điều chế ra đàn Không hầu. Theo Tùy thư âm nhạc chí 10, thì đàn Không hầu có xuất xứ từ Tây vực, lưu hành ở các nước Tây lương, Cưu tư, Thiên trúc, Sớ lặc, An quốc, Cao li, v.v... Đàn Không hầu có nhiều loại như: Không hầu đứng, Không hầu nằm, Không hầu đầu phượng, v.v... Đàn Không hầu đứng có thân cong mặt dài, có 23 dây, cũng có loại 22, 24, 25 dây. Khi tấu nhạc thì đặt đàn vào lòng và 2 tay cùng gảy. Đàn Không hầu nằm thì có 7 dây, hình dáng giống như đàn tì bà. Đàn Không hầu đầu phượng giống như đàn Không hầu nằm, nhưng có trang sức đầu chim phượng. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.10, Q.26, Q.27; Hi lân âm nghĩa Q.1, Q.2, Q.6; Uyên giám loại hàm Q.189; Cổ kim đồ thư tập thành nhạc luật điển 115; Đương ma mạn đồ la sưu huyền kí Q.7].

không hữu

3471空與有之並稱。遮遣謂之空,建立謂之有。與「有無」同義。諸法依因緣而生,事屬存在,故謂有;諸法係因緣和合而生,本來無自性,故謂空。 空、有爲佛法兩大門系,爲破凡夫執相而立因緣生法爲空;再立唯識法相,勝義爲有。以凡夫執我、我相爲有,執無因果、涅槃爲空,故須空有兩遣方得真諦。 ; Unreal and real, non existent and existent, abstract and concrete, negative and positive. ; (空有) Đồng nghĩa: Hữu vô. Không và có. Không là trừ bỏ, Hữu là kiến lập. Các pháp do nhân duyên sinh, cho nên về mặt sự thì chúng tồn tại, vì thế gọi là Hữu. Nhưng các pháp do nhân duyên sinh không có tự tính, chỉ là có giả, nên gọi là Không. Đây là 2 hệ thống tư tưởng lớn của Phật giáo.

không hữu các cụ nhị nghĩa

3473謂真空與幻有各具有二種意義。諸法依因緣生起而無自性,謂之空;此空非「無見」、「斷見」之空,稱爲真空。諸法無性而緣生,謂之有;此有非「常見」、「有見」之有,稱爲幻有。據華嚴經疏卷十四載,即;(一)真空之二義:(1)真空能滅幻有,若幻有不滅,即非真空。(2)真空能成幻有,若滯礙而不成幻有,亦非真空。(二)幻有之二義:(1)幻有必遮覆真空,幻有若顯現,真空則隱蔽。(2)幻有必不礙真空,幻有終將自行隱滅而令真空徹現。 ; (空有各具二義) Chân không và huyễn hữu(có giả) mỗi pháp đều có 2 nghĩa: Các pháp nương vào nhân duyên mà sinh không có tự tính, gọi là Không, cái không này chẳng phải là cái không Vô kiến, Đoạn kiến, nên gọi là Chân không; các pháp tuy không tự tính nhưng do duyên mà sinh nên gọi là Hữu, Hữu này chẳng phải là cái hữu Thường kiến, Hữu kiến, nên gọi là Huyễn hữu (có giả). Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 14, thì 2 nghĩa của Chân không là: 1. Chân không có công năng diệt huyễn hữu, nếu huyễn hữu không diệt thì chẳng phải là chân không. 2. Chân không có công năng thành huyễn hữu, nếu trệ ngại mà không thành thì cũng chẳng phải là chân không. Hai nghĩa của Huyễn hữu là: 1. Huyễn hữu che lấp chân không, nếu huyễn hữu hiển hiện, thì chân không ẩn khuất. 2. Huyễn hữu chẳng trở ngại chân không, huyễn hữu cuối cùng sẽ ẩn diệt để cho chân không hiện rõ.

không hữu luận tranh

3473指大乘佛教在印度即發生二大教系,對於諸法體性究竟爲「空」或「有」,因主張不同而引起之論爭。龍樹、提婆之教系,主張諸法皆空;後之三論宗即承續此主張。無著、世親之教系,則主張諸法爲有,後推演成法相宗。於小乘佛教亦曾存在空有論爭,例如毘曇宗主張有,成實宗主張空。此外,其他小乘之分派多達二十餘部,且每每彼此立義,互爲論爭,而大乘佛教於印度僅此空有二派。 然於此二派祖師龍樹、提婆及無著、世親之時代,並未產生正面論爭,僅係二派之教義各有異趣而已,亦即龍樹、提婆主張消極之空論,無著、世親主張積極之有論。龍樹雖於中觀論、十二門論之中敘說真空、無相,然亦於十八空論一書中論述方便唯識與正觀唯識之區別,且於大智度論中述及積極之「有」論;而無著、世親雖於瑜伽、唯識中論述積極之「有」論,然兩人皆曾注解提婆之百論,而同屬百論十餘家注釋者之列,且無著亦曾撰順中論一書,以注釋龍樹之中觀論。故知,其時二派對於空、有,雖各有主張,然不僅未曾直接衝突,且兩派每能彼此涵融。 至世尊入滅後一千餘年,空、有二派各趨於發達,針對論空之中論、百論,其注釋家號稱七十師;針對論有之瑜伽論,其注釋亦多達十支,而唯識論之注釋者亦發展出十大論師。至護法與清辨時,就「依他起性」展開空有論爭,其後戒賢與智光亦就「三時教判」而起論爭。 護法於成唯識論卷八主張諸法皆由因緣所生,而將一切諸法分爲三性,即:遍計所執性,係妄情所現之法,故爲空;依他起性,諸法皆由因緣而生,故爲有;圓成實性,一切法之本體悉皆真實,故爲有。而清辨撰大乘掌珍論,揭示「有爲空、無爲空、畢竟皆空」之旨。蓋佛教哲學於宇宙論方面,大別有實相論與緣起論兩大觀點,並據之拈出觀心門與法相門兩大教法,綜上之說,是知護法係根據緣起論而立法相門,主張由因緣所生之諸法爲實有;清辨根據實相論而立觀心門,主張畢竟空。 二師之主張雖似相破,實係相成,益發彰顯「真空妙有」之佛教至理。故華嚴宗賢首大師法藏乃調和二宗之說,而於所著華嚴五教章卷四謂(大四五‧五○一上):「色即是空,清辨義立;空即是色,護法義存。二義鎔融,舉體全攝。」 又戒賢與智光亦就「三時教判」展開論爭,爭論之點即爲由護法、清辨而來之空有論。關於二師之師承,戒賢爲護法之弟子,屬有系;而空系之智光,其師承則有異說,有謂係戒賢之弟子,亦或係同名而相異之二人。二師於所立之三時教判,各執一說,如表所示。蓋二師教判論之爭論重點即爲空有論,戒賢以境空心有之中道爲第三時,而智光則以心境俱空爲第三時。 就此教判論,賢首大師以攝機之寬狹、言教之具闕、益物之大小、顯理之深淺等四門,分別批判二師之優劣,於所著大乘起信論義記卷上謂,前二門以戒賢所判爲優,後二門以智光所判爲勝:(一)就攝機之寬狹而言,戒賢之第三時可攝三乘之機,故較智光之獨攝菩薩乘爲寬。(二)就言教之具闕而言,戒賢之第三時具說大、小二乘教,而智光僅說大乘,獨闕小乘,故以戒賢所說爲勝。(三)就益物之大小而言,智光之第三時謂一切眾生悉得大乘之益,而戒賢僅論及二乘之定性及「無性有情」等問題,故以智光所說爲勝。(四)就顯理之深淺而言,戒賢雖謂「境空」而猶論「心有」,故所判立之義未盡未了;而智光判立心境俱空、緣生即空,故較爲殊勝。其後華嚴宗四祖澄觀則針對此教判論,作一較強烈之批判,於華嚴玄談中謂,就了義之程度而言,若將攝機之寬狹與益物之大小相比較,則攝機之寬不及益物之大;若將言教之具闕與顯理之深淺相比較,則言教之具不及顯理之盡;且二師之教判雖各有二了、二不了,然若探其究竟深意,則二種所謂了義亦皆不了。蓋賢首以性宗、相宗相融會(性相融會)爲主,澄觀則以性宗、相宗二者爲壁壘分明(性相決判),故對於二宗之批判有如是迥異之結論。 空有二宗傳入中國後,亦曾盛行。論空之三論宗於後秦之鳩摩羅什與隋代之吉藏時極爲興盛,至唐代後逐漸衰落;論有之法相宗於唐代玄奘時大盛。然兩派在中國佛教史上並無論爭之情形,此因鳩摩羅什、吉藏與玄奘等人,各處於不同時代,故無直接衝突之可能,且華嚴宗、天台宗之教理既主張空有之「相即無礙」,故亦不致產生偏執空有任何一端之固陋。 在日本,亦曾盛行空有論爭,於奈良朝時,三論、法相二宗並爲盛行,論爭亦盛。有關之論爭情形及雙方論點,可見之於三論大義鈔之記載,如:空有爭論、常無常爭論、五性爾非爾爭論、有性無性爭論、定不定爭論、變易生死爭論、教時爭論等。平安朝後,天台、真言等諸宗新興得勢;而三論、法相二宗衰落,自此亦不復見空有之論爭。〔佛地經論卷四〕(參閱「三性」563、「三時教」596、「中觀派」1037、「瑜伽派」5530) ; (空有論爭) Sự tranh luận giữa 2 hệ thống giáo lí chủ trương Không và Hữu trong Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ. Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ có 2 hệ thống giáo lí lớn, 1 của các ngài Long thụ và Đề bà; 1 của các ngài Vô trước và Thế thân. Hệ thống Long thụ- Đề bà chủ trương các pháp đềuKhông, về sau, tông Tam luận thừa kế chủ trương này. Còn hệ thống Vô trước - Thế thân thì chủ trương các pháp đều Hữu, về sau phát triển thành tông Pháp tướng. Nhưng ở thời đại các ngài Long thụ- Đề bà và Vô trước- Thế thân, sự tranh luận chính thức chưa xảy ra, chỉ có khác nhau về tông thú giáo nghĩa mà thôi, tức là các ngài Long thụ - Đề bà chủ trương cái Không tiêu cực, mà các ngài Vô trước - Thế thân thì chủ trương cái Hữu tích cực. Trong luận Trung quán và luận Thập nhị môn, tuy ngài Long thụ nói về Chân không, Vô tướng, nhưng trong luận Thập bát không, ngài cũng bàn về sự khác nhau giữa Duy thức phương tiện và Duy thức chính quán; rồi trong luận Đại trí độ, ngài cũng trình bày về nghĩa Hữu một cách tích cực. Còn các ngài Vô trước, Thế thân tuy trong luận Du già và Duy thức nói về Hữu tích cực, nhưng cả 2 vị đều đã chú giải Bách luận của ngài Đề bà, được liệt vào hàng hơn 10 nhà chú giải Bách luận; vả lại, ngài Vô trước còn soạn luận Thuận trung để chú giải luận Trung quán của ngài Long thụ. Bởi thế nên biết, lúc bấy giờ, đối với vấn đề Không và Hữu tuy mỗi phái có chủ trương riêng, nhưng chẳng những không trực tiếp xung đột mà còn dung hợp lẫn nhau. Đến hơn 1.000 năm sau khi đức Phật nhập diệt, 2 phái Không, Hữu đều có xu thế phát đạt. Đối với Trung luận, Bách luận chủ trương Không, đã có tới hơn 70 nhà chú thích các luận này. Đối với luận Du già chủ trương về Hữu cũng có hơn 10 nhà chú thích, còn luận Duy thức cũng xuất hiện 10 vị Đại luận sư chú thích. Đến thời các ngài Hộ pháp và Thanh biện căn cứ vào tính Y tha khởi mà mở ra cuộc tranh luận về Không và Hữu. Rồi về sau, các ngài Giới hiền và Trí quang lại dựa vào Tam thời giáo mà tranh luận về vấn đề này. Trong luận Thành duy thức quyển 8, ngài Hộ pháp chủ trương tất cả pháp đều do nhân duyên sinh và chia chúng làm 3 tính: 1. Tính Biến kế sở chấp: Pháp do vọng tình mà có, nên là không. 2. Tính Y tha khởi: Các pháp đều do nhân duyên sinh, nên là hữu. 3. Tính Viên thành thực: Bản thể của tất cả pháp đều chân thực, nên gọi là hữu. Còn ngài Thanh biện thì soạn luận Đại thừa chưởng trân nêu bày rõ yếu chỉ Hữu là Không, Vô là Không, rốt ráo là Không. Về phương diện vũ trụ luận, trong triết học Phật giáo có 2 hệ thống tư tưởng lớn là Thực tướng luận là Duyên khởi luận, đồng thời, căn cứ vào đó mà đề ra 2 pháp môn lớn là Quán tâm môn và Pháp tướng môn để tổng hợp cả 2 luận thuyết nói trên. Do đó nên biết, ngài Hộ pháp đã căn cứ vào Duyên khởi luận mà lập ra Pháp tướng môn, chủ trương các pháp do nhân duyên sinh là thực hữu; còn ngài Thanh biện thì căn cứ vào Thực tướng luận mà lập ra Quán tâm môn, chủ trương rốt ráo là không. Chủ trương của 2 ngài này có vẻ như mâu thuẫn nhau, nhưng thực ra là thành tựu cho nhau, mà hiển bày cái lí cùng tột của Phật giáo là Chân không diệu hữu. Cho nên, trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4, ngài Hiền thủ Pháp tạng thuộc tông Hoa nghiêm đã nói (Đại 45, 501 thượng): Sắc tức là không, thuộc giáo nghĩa ngài Thanh biện; Không tức là sắc, thuộc giáo nghĩa của ngài Hộ pháp. Hai giáo nghĩa dung hòa, bao nhiếp toàn thể. Lại các ngài Giới hiền và Trí quang cũng căn cứ vào Tam thời giáo phán mà tranh luận về vấn đề Không, Hữu. Ngài Giới hiền là đệ tử của luận sư Hộ pháp, thuộc hệ thống Hữu; còn ngài Trí quang thì chịu ảnh hưởng thuyết của luận sư Thanh biện nên chủ trương Không, đối với Tam thời giáo phán, mỗi vị đều có luận thuyết riêng. Ngài Giới hiền cho rằng Trung đạo cảnh không tâm hữu là thời thứ 3, còn ngài Trí quang thì chủ trương tâm cảnh đều không là thời thứ 3. Về sau, Đại sư Hiền thủ lần lượt phê phán sự hơn kém của 2 ngài qua 4 môn sau đây: 1. Sự thu nhiếp căn cơ có rộng và hẹp: Thời thứ 3 do ngài Giới hiền lập có thể thu nhiếp căn cơ của cả hàng Tam thừa, còn thời thứ 3 do ngài Trí quang lập thì chỉ thu nhiếp căn cơ Bồ tát mà thôi. Như vậy, phạm vi nhiếp cơ của thời thứ 3 do ngài Giới hiền lập rộng lớn hơn. 2. Về ngôn giáo có đủ và thiếu: Thời thứ 3 của ngài Giới hiền nói đủ cả giáo pháp Đại thừa, Tiểu thừa; còn ngài Trí quang thì chỉ nói về Đại thừa mà thôi, nên luận thuyết của ngài Giới hiền đầy đủ hơn. 3. Về sự ích lợi chúng sinh: Thời thứ 3 của ngài Trí quang cho rằng tất cả chúng sinh đều được sự ích lợi của Đại thừa; còn ngài Giới hiền thì chỉ bàn về Nhị thừa định tính và vấn đề vô tình hữu tình, v.v..., cho nên thuyết của ngài Trí quang là thù thắng hơn. 4. Về sự hiển bày nghĩa lí sâu cạn: Ngài Giới hiền tuy chủ trương cảnh không nhưng còn bàn về tâm hữu, vì thế nghĩa lí do ngài phán lập chưa rốt ráo; còn ngài Trí quang phán lập tâm, cảnh đều không, duyên sinh tức không, cho nên thù thắng hơn. Trong 4 môn trên, ngài Hiền thủ cho rằng trong 2 môn trước, giáo phán của ngài Giới hiền thù thắng hơn, còn trong 2 môn sau thì sự phán giáo của ngài Trí quang sâu sắc hơn. Về sau, tổ thứ 4 của tông Hoa nghiêm là ngài Trừng quán phê phán một cách mạnh mẽ về thuyết phán giáo này của 2 ngài Giới hiền và Trí quang. Trong Hoa nghiêm huyền đàm, ngài Trừng quán cho rằng, bàn về mức độ liễu nghĩa, nếu so sánh sự rộng hẹp của nhiếp cơ với sự ích lợi cho chúng sinh về Đại thừa, Tiểu thừa, thì sự rộng lớn của nhiếp cơ không bằng sự ích lợi cho chúng sinh về Đại thừa; nếu so sánh về ngôn giáo có đủ thiếu với sự hiển bày nghĩa lí sâu cạn, thì ngôn giáo đầy đủ không thù thắng bằng nghĩa lí được hiển bày đến chỗ cùng tận. Hơn nữa, sự phán giáo của 2 ngài, mỗi ngài tuy có 2 điểm hoàn toàn, 2 điểm chưa hoàn toàn, nhưng nếu xét đến chỗ rốt ráo thì tất cả đều chưa hoàn toàn. Vì ngài Hiền thủ lấy sự dung hội Tính tông và Tướng tông(Tính tướng dung hội) làm chủ yếu, còn ngài Trừng quán thì cho rằng giữa Tính tông và Tướng tông có sự phân cách rõ ràng(Tính tướng quyết phán), cho nên 2 ngài mới có sự kết luận khác nhau về 2 tông Không và Hữu. Sau khi Không tông và Hữu tông được truyền vào Trung quốc, cũng đã từng thịnh hành. Vào thời ngài Cưu ma la thập đời Hậu Tần và ngài Cát tạng đời Tùy, thì tông Tam luận chủ trương thuyết Không đã rất hưng thịnh, từ đời Đường về sau thì dần dần suy vi; còn thời ngài Huyền trang đời Đường, thì tông Pháp tướng chủ trương thuyết Hữu rất hưng thịnh. Nhưng, trong lịch sử Phật giáo Trung quốc, giữa 2 tông phái này đã không xảy ra tranh luận, đó là vì các ngài Cưu ma la thập, Cát tạng và Huyền trang đều ở vào các thời đại khác nhau, cho nên không thể có xung đột trực tiếp. Vả lại, giáo lí tông Hoa nghiêm, tông Thiên thai đã chủ trương thuyết Không và Hữu tương tức vô ngại, cho nên cũng không có sự thiên chấp về Không, Hữu. Tại Nhật bản, vào thời Nại lương, tông Tam luận và tông Pháp tướng đều thịnh hành và cũng có các cuộc tranh luận sôi nổi về nhiều vấn đề như: Không hữu, Thường vô thường, Ngũ tính nhĩ phi nhĩ, Hữu tính vô tính, Định bất định, Biến dịch sinh tử, Giáo thời, v.v... Từ thời Bình an trở về sau thì các tông Thiên thai, Chân ngôn, v.v... hưng thịnh, còn tông Tam luận và tông Pháp tướng thì suy vi, từ đó, cuộc tranh luận về Không và Hữu cũng chấm dứt. [X. Phật địa kinh luận Q.4]. (xt. Tam Tính, Tam Thời Giáo, Trung Quán Phái, Du Già Phái).

không hữu lực bất đãi duyên

3472爲華嚴宗用以說明「法界緣起」主要原理的「因六義」之一。係依準唯識宗「種子六義」中之「剎那滅」之義而立。即諸法緣起之「因」,其體性爲空,具有引生果之全部力用,而不須借助他緣之力,稱爲空有力不待緣。華嚴五教章卷四(大四五‧五○二上):「由剎那滅故,即顯無自性,是空也;由滅故,果法得生,是有力也;然此謝滅非由緣力,故云不待緣也。」此係以空有力不待緣與剎那滅之義相似,遂借「剎那滅」之義說明空有力不待緣。蓋剎那滅者,指剎那剎那生滅之法,能成爲他法生起之因;以剎那生滅,故無有自性而其體爲空;然由「滅」之故,能爲「因」以引生果,故謂之有力;又以此滅爲任運自然而滅,不須借助他緣之力即能引生果,故謂之不待他緣。 蓋諸法皆具空、有二義,真如本體隨緣而生諸法,是爲「有」之義;而此「有」係如幻之假有,非本來恆有,是爲「空」之義;承認其法具有生果之全力功能,是爲有力而不待緣;又以其體爲空,故稱空有力不待緣。〔十地經論卷八、大乘阿毘達磨雜集論卷四、華嚴經搜玄記卷三下〕(參閱「因六義」2272) ; (空有力不待緣) Nhân của các pháp duyên khởi thể tính là không, có toàn bộ lực dụng sinh ra quả mà không cần sự giúp sức của các duyên khác, gọi là Không hữu lực bất đãi duyên. Là 1 trong 6 nghĩa của nhân mà tông Hoa nghiêm dùng để thuyết minh nguyên lí Pháp giới duyên khởi. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 (Đại 45, 502 thượng), nói: Vì chỉ diệt trong sát na nên hiển bày vô tự tính: đó là không,;vì có diệt nên quả pháp sinh: đó là hữu lực; nhưng sự tàn diệt ấy chẳng phải do sức của duyên, cho nên gọi là Bất đãi duyên. Vì nghĩa của Không hữu lực bất đãi duyên giống với nghĩa của Sát na diệt, nên mượn nghĩa của Sát na diệt để thuyết minh Không hữu lực bất đãi duyên. Sát na diệt chỉ cho pháp sinh diệt trong từng sát na, có khả năng trở thành nhân sinh ra các pháp khác. Vì sinh diệt trong từng sát na nên không có tự tính mà thể là không; nhưng vì sự diệt này có năng lực làm nhân để sinh ra quả, cho nên gọi là hữu lực; lại vì sự diệt này là do tự nhiên mà diệt, chứ không nhờ bất cứ sự giúp sức nào của các duyên khác, cho nên gọi là Bất đãi duyên. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.3 hạ]. (xt. Nhân Lục Nghĩa).

không hữu lực đãi duyên

3472爲華嚴宗用以說明「法界緣起」主要原理的「因六義」之一。係依準唯識宗「種子六義」中之「果俱有」之義而立。即諸法緣起之「因」,其體性爲空,雖具有引生果之力用,然尚須借助他緣之力,稱爲空有力待緣。華嚴五教章卷四(大四五‧五○二上):「由俱有故方有,即顯是不有,是空義也。俱故能成有,是有力也。俱故非孤,是待緣也。」此係以空有力待緣與「果俱有」之義相似,故借「果俱有」之義以說明空有力待緣。 蓋諸法皆具空、有二義,真如本體隨緣而顯現諸法,是爲「有」之義;然此「有」係假有而非實有,是爲「空」之義;又以承認「因」之法具有引生果之功能,故謂之有力;然尚須借助他緣之力以引生果,故謂之待緣。要之,以「因」之法具有空、有力、待緣三義而立空有力待緣之義。〔十地經論卷八、大乘阿毘達磨雜集論卷四、華嚴經搜玄記卷三下〕(參閱「因六義」2272) ; (空有力待緣) Nhân của các pháp duyên khởi thể tính là không, tuy có đủ lực dụng sinh ra quả nhưng vẫn còn phải nhờ đến sự giúp sức của các duyên khác, gọi là Không hữu lực đãi duyên. Là 1 trong 6 nghĩa của nhân mà tông Hoa nghiêm dùng để thuyết minh nguyên lí Pháp giới duyên khởi. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 (Đại 45, 502 thượng), nói: Do câu hữu mới có hữu, tức hiển bày bất hữu, đó là nghĩa không. Do câu nên có thể thành hữu, đó là hữu lực. Vì câu chẳng phải đơn độc, đó là đãi duyên. Vì Không hữu lực đãi duyên giống với nghĩa quả câu hữu, cho nên mượn nghĩa của Quả câu hữu để thuyết minh Không hữu lực đãi duyên. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.3 hạ]. (xt. Nhân Lục Nghĩa).

không hữu nhị chấp

3472又作有無二見。指凡夫因妄想分別所生起之絕對皆有之有執,或絕對皆無之空執。二執皆係謬誤見解,有執,如執著有實我、實法;空執,如執著無善因善果與惡因惡果之事法、無涅槃之妙體等。 宗鏡錄卷四援引「唯識三性」之思想而列舉二種對治空有二執之法門,即:(一)以「情有理無」之空觀對治有執;亦即觀一切「遍計所執性」,於情則實有,於理則虛無,二者唯因虛妄而起,皆無體用,故應遣除。(二)以「理有情無」之有觀對治空執;亦即觀「依他起性」、「圓成實性」之法,於理則實有,於情則虛無,然理本爲實,故應存留有觀,以爲體用。 ; (空有二執) Cũng gọi Hữu vô nhị kiến. Vì vọng tưởng phân biệt nên sinh ra những kiến chấp sai lầm, như chấp tuyệt đối là có, hoặc chấp tuyệt đối là không. Tông kính lục quyển 4 viện dẫn tư tưởng ba tính của Duy thức mà đề ra 2 pháp môn để đối trị chấp Không và chấp Có như sau: 1. Dùng Không quán tình có lí không để đối trị chấp Có, nghĩa là quán xét tính Biến kế sở chấp về mặt tình thì thật có, nhưng về mặt lí thì không, cả 2 đều do hư vọng mà sinh khởi, đều không có thể và dụng, cho nên cần phải loại trừ. 2. Dùng Hữu quán lí có tình không để đối lại chấp Không. Nghĩa là quán xét tính Y tha khởi, tính Viên thành thực về mặt lí thì thật có, nhưng về mặt tình thì không, song, lí vốn là thật, có thể và dụng, cho nên cần phải tu Hữu quán.

không hữu nhị tông

3472指空宗與有宗。空宗,乃主張一切皆空、般若皆空之宗派;有宗,乃主張諸法爲「有」之宗派。小乘佛教中,俱舍宗屬於有宗,成實宗屬於空宗;大乘佛教中,法相宗屬於有宗,三論宗屬於空宗。(參閱「有宗」2432、「空宗」3477) ; (空有二宗) Chỉ cho Không tông và Hữu tông. Không tông chủ trương tất cả đều không, Hữu tông chủ trương các pháp là có. Trong Phật giáo Tiểu thừa thì tông Câu xá thuộc Hữu tông, còn tông Thành thực thuộc Không tông. Trong Phật giáo Đại thừa thì tông Pháp tướng thuộc Hữu tông, tông Tam luận thuộc Không tông. (xt. Hữu Tông, Không Tông).

Không hữu 空有

[ja] クウウ kūu ||| Empty and existent; emptiness and existence. Two ways of perceiving reality, also translated into Chinese as 有無. The view of existence is to see all phenomena as dependently originated 縁起, while the view of non-existence is to see them as originally lacking own-nature 本來無自性. 〔二障義 HPC 1.813c〕 => Không và có, hiện hữu và không hiện hữu. Hai cách để nhận thức về thực tại, được dịch sang tiếng Hán là Hữu Vô 有無. Quan niệm Hữu là nhìn thấy các hiện tượng là do duyên khởi, trong khi quan niệm Vô là nhìn các hiện tượng vốn xưa nay không tự tính (bản lai vô tự tính 本來無自性).

không không

ŚŪnyatā-śŪnyatā (S)Không đắm trước 3 món không nói trên. ; Unreality of unreality.

Không khước 空却

[ja] クウキャク kūkyaku ||| Annihilating; reducing to nothingness. => Thủ tiêu, huỷ diệt; giảm trừ cho đến hư không.

không kinh

The sùtras of unreality, or immateriality, i.e. the Prajnàpàramità

không kiến

3475梵語 śūnyatā-dṛṣṭi。指不承認三世因果之理,或執著於空法而全然否定諸法存在之妄見。據瑜伽師地論卷七載,空見有兩種,即:(一)外道之空見,諸外道不明因果有今世、後世等遲速之別,見行善者招感惡果,行惡者反得善果,便謂因果皆空,而無視於善惡業報之理。(二)教內之空見,即學佛者未明如來所說之甚深道理,聽聞般若等一切皆空之說,遂墮於諸法皆無之空見。執著空見之心,則起增上慢,違犯規矩,恣情縱欲,破壞正見、威儀、淨命等。故於無上依經卷上菩提品謂(大一六‧四七一中):「若有人執我見,如須彌山大,我不驚怪,亦不毀呰;增上慢人執著空見,如一毛髮作十六分,我不許可。」因諸見之中,空見之過最重,能壞一切,據摩訶止觀卷四上謂,若墮於此見,死後墮落三惡道,永劫沈淪。〔顯揚聖教論卷十、大乘法苑義林章卷一本、瑜伽論記卷二、摩訶止觀卷十下〕 ; ŚŪnyatā-dṛṣṭi (S)Kiến chấp sai lầm, không thừa nhận lý nhân quả ba đời, chấp trước vào pháp không. ; The heterodox view that karma and nirvàna are not real. ; (空見) Phạm:Zùnyatà-dfwỉi. Kiến giải sai lầm không thừa nhận lí nhân quả 3 đời, hoặc chấp trước pháp Không mà hoàn toàn phủ định sự tồn tại của các pháp. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 7, thì có 2 loại Không kiến: 1. Không kiến của ngoại đạo: Vì ngoại đạo không rõ nhân quả có sự mau chậm khác nhau ở đời này, đời sau, nên thấy người làm việc lành lại được quả ác, còn kẻ làm việc ác thì được quả lành, bèn cho rằng không có nhân quả, không thấy được lí của nghiệp báo thiện ác. 2. Không kiến của nội giáo: Người học Phật chưa hiểu rõ đạo lí sâu xa của Như lai, nghe thuyết Bát nhã chủ trương tất cả đều không bèn rơi vào kiến chấp sai lầm cho các pháp đều là không. Tâm chấp trước Không kiến thì khởi tăng thượng mạn, vi phạm giới luật buông thả theo ngũ dục, phá hoại chính kiến, uy nghi và đời sống thanh tịnh. Phẩm Bồ đề, kinh Vô thượng y (Đại 16, 471 trung), nói: Nếu có người chấp trước ngã kiến lớn như núi Tu di, ta không kinh lạ cũng không chê trách; nhưng kẻ tăng thượng mạn chấp trước không kiến, dù chỉ bằng 1/10 của một sợi tóc, thì ta cũng không chấp nhận. Vì trong các loại kiến chấp, lỗi của Không kiến là nặng nhất, nó có thể phá hoại tất cả. Theo Ma ha chỉ quán quyển 4, nếu chấp trước Không kiến, thì sau khi chết sẽ rơi vào 3 đường ác, chìm đắm mãi mãi. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.10; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu; Du già luận kí Q.2; Ma ha chỉ quán Q.10 hạ].

không kiến ngoại đạo

3476於古代印度外道之中,有否定因果,認爲吾人死後一切斷滅,全無靈魂、意識之存在,此類外道總稱空見外道,又稱空見論者。如六師外道之一的富蘭那迦葉。彼等所執著之妄見與斷見外道、無因外道等相同。 瑜伽師地論卷七(大三○‧三一一上):「空見論者,謂如有一若沙門、若婆羅門,起如是見,立如是論:無有施與、無有愛養、無有祠祀,廣說乃至世間無有真阿羅漢。復起如是見,立如是論:無有一切諸法體相。」 此類外道眼見行布施、慈愛等善行者竟招致惡果,行惡事者反招善果等現象,遂無視於善惡業報之理,生起諸法無體相,或一切皆空無之妄執。〔雜阿含經卷七、中阿含卷四十四分別大業經、大乘法苑義林章卷一本〕 ; (空見外道) Cũng gọi Không kiến luận giả. Ngoại đạo phủ định nhân quả, cho rằng người ta sau khi chết thì tất cả đều đoạn diệt, hoàn toàn không còn linh hồn, ý thức, như ngoại đạo Phú lan na ca diếp, 1 trong 6 phái ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Kiến chấp sai lầm của ngoại đạo này cũng giống như Đoạn kiến ngoại đạo, Vô nhân ngoại đạo. Luận Du già sư địa quyển 7 (Đại 30, 311 thượng), nói: Không kiến luận giả, nghĩa là 1 vị sa môn hoặc Bà la môn khởi lên kiến chấp hoặc lập luận rằng: không có sự ban cho, không có sự thương yêu nuôi nấng, không có sự cúng tế, cho đến nói thế gian không có bậc A la hán. Hoặc lại khởi lên Không kiến mà lập luận rằng: không có thể tướng của tất cả các pháp. Loại ngoại đạo này thấy người thực hành hạnh lành bố thí, thương xót, thì chuốc lấy quả ác, còn kẻ làm điều ác thì lại được quả thiện... bèn khởi vọng chấp rằng tất cả các pháp đều không, chẳng có nhân quả thiện ác chi hết! [X. kinh Tạp a hàm Q.7; kinh Phân biệt đại nghiệp trong Trung a hàm Q.44; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu].

không kiếp

3473四劫之第四。世界自成立至破壞之間,分爲成劫、住劫、壞劫、空劫等四 階段,稱爲四劫。空劫,即謂此時期之世界已壞滅,於欲界與色界之有情有色身者之中,唯存色界第四禪天,其他則全然虛空。又世界形成以前而萬物未生之時期,亦稱爲空劫。(參閱「四劫」1694、「劫」2811) ; Kali-yuga (S). Cosmic period of the chaos of the world. ; (空劫) Là thời kì thế giới đã hoàn toàn hoại diệt, chỉ còn hư không. Kiếp thứ tư trong 4 kiếp. Vào thời kì này chỉ còn chúng sinh hữu tình ở cõi Tứ thiền của cõi Sắc mà thôi; còn từ cõi Dục đến cõi trời Đệ tam thiền thì hoàn toàn là không. Ngoài ra, thời kì thế giới chưa hình thành, muôn vật chưa sinh, cũng gọi là Không kiếp. (xt. Tứ Kiếp, Kiếp).

không kiếp dĩ tiền

3475禪林用語。又作空劫已前。指此世界成立以前空空寂寂之時代。天地未開以前,了無善惡、迷悟、凡聖、有無等差別對待;亦即未分別生起森羅萬象以前之絕對的存在境界。於禪家,多用「如何是空劫以前自己」作爲話頭而參禪,與父母未生以前、空王以前、空王那畔、朕兆未萌以前、本來面目等,皆爲同類同語。 ; (空劫以前) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho thời kì trước khi thế giới này được thành lập. Khi trời đất chưa hình thành, hoàn toàn không có những sự phân biệt đối đãi, như thiện ác, mê ngộ, phàm thánh, hữu vô, v.v... cũng tức là cảnh giới tồn tại tuyệt đối trước khi muôn tượng sum la sinh khởi. Thiền tông thường dùng câu Thế nào là chính mình ở trước Không kiếp làm thoại đầu để tham thiền. Ngoài ra, đồng nghĩa với dụng ngữ này còn có: Trước khi cha mẹ sinh, Trước thời Không vương, Bờ bên kia của Không vương, Trước khi điềm lành xảy ra, Mặt mũi xưa nay...

không luân

3483<一>日本佛塔建築用語。指立於塔上之剎柱。於佛寺建築中,塔之「平頭」上有重重輪盤形建築,通常稱爲相輪、盤蓋或承露盤;然在日本,於三重、五重之塔中,僅留相輪之輪廓,亦即造立一種中空之輪,特稱爲空輪。相輪之輪數若固定爲九個輪相者,又稱爲九輪,中心以輪竿貫穿之。塔有三重、五重之別,此或緣自密教三部、五部曼荼羅之說;其九輪之相則緣自胎藏界九尊之說。又塔之外形,次第而上,呈現地、水、火、風、空等五大之形象,九輪在其最上部,故稱空輪。(參閱「承露盤」3254、「塔」5421) <二>四輪之一,位於風輪之下,包容器世間。(參閱「大地四輪」778) ; The wheel of space below the water and wind wheels of the world. ; (空輪) I. Không Luân. Chỉ cho lối kiến trúc trên nóc tháp Phật của Nhật bản. Không luân gồm có 9 hình tròn như bánh xe(luân)xếp lên nhau theo 1 khoảng cách nhất định. Trong kiến trúc tháp Phật, trên nóc tháp có hình luân bàn (hình cái mâm) nhiều lớp, thông thường gọi là Tướng luân(tướng bánh xe), Bàn cái(hình lọng)hoặc Thừa lộ bàn(hình mâm). Trên chóp những ngôi tháp 3 tầng, 5 tầng tại Nhật bản thường kiến trúc Tướng luân, nghĩa là dựng một cây trụ có gắn những hình bánh xe cao vút trong hư không, gọi là Không luân. Số bánh xe của Tướng luân nếu cố định thì là 9 cái, trong trường hợp này, Tướng luân hoặc Không luân cũng được gọi là Cửu luân. Tháp có 3 tầng, 5 tầng khác nhau, đây có lẽ đã được căn cứ theo thuyết trong Tam bộ, Ngũ bộ mạn đồ la của Mật giáo, còn tướng 9 bánh xe thì căn cứ theo thuyết Cửu tôn của Thai tạng giới. Lại thân tháp theo thứ tự cao dần lên tượng trưng cho 5 đại: Đất, nước, lửa, gió, không. Cửu luân ở trên nóc tháp tượng trưng cho Không đại, cho nên gọi là Không luân. (xt. Thừa Lộ Bàn, Tháp). II. Không Luân. Khoảng hư không bao gồm khí thế gian ở dưới Phong luân. Là 1 trong 4 luân. (xt. Đại Địa Tứ Luân).

không lí

The sùnya principle, or law, i.e. the unreality of the ego and phenomena.

Không Lộ

空露; ?-1119|Thiền sư Việt Nam, thuộc đời thứ 9 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông.|Sư sinh năm nào không rõ, chỉ biết là tịch năm 1119. Ông cha theo nghề chài lưới, đến đời Sư mới bỏ nghề, xuất gia theo Phật. Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), đời Lí Thánh Tông, Sư xuất gia với Thiền sư Hà Trạch, kết bạn với Thiền sư Giác Hải và Ðạo Hạnh. Sư có khuynh hướng tu Mật giáo, tương truyền rằng Sư có phép lạ như bay trong không trung, đi trên mặt nước, hàng phục cọp beo.|Ngày 3 tháng 6 năm Hội Trường Ðại Khánh thứ 10 (1119), đời Lí Nhân Tông, Sư viên tịch, môn đồ thu xá lợi thờ tại chùa Nghiêm Quang. Chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang (1167) nguyên ở hữu ngạn sông Hồng đã bị bão lụt huỷ hoại. Năm 1630 dân dựng lại chùa ở tả ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Vũ Nghĩa, tỉnh Thái Bình, được gọi là chùa Keo dưới.|Sư có để bài kệ Ngôn Hoài và bài thơ Ngư Nhàn sau:|Thơ Ngư Nhàn:|萬里青江萬里天。一村桑柘一村煙|漁翁睡著無人喚。過午醒來雪滿船|Vạn lí thanh giang, vạn lí thiên.|Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên.|Ngư ông thuỳ trước vô nhân hoán,|Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.|*Muôn dặm sông dài, muôn dặm trời,|Một làn dâu giá, một làn hơi.|Ông chài mê ngủ không người gọi,|Tỉnh giấc quá trưa tuyết đầy thuyền.|Kệ Ngôn Hoài (Ngô Tất Tố dịch):|擇得龍蛇地可居。野情終日樂無餘|有時直上孤峰頂。長嘯一聲寒太虛|Trạch đắc long xà địa khả cư|Dã tình chung nhật lạc vô dư|Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh|Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư|*Lựa nơi rồng rắn đất ưa người|Cả buổi tình quê những mảng vui|Có lúc thẳng lên lầu núi thẳm|Một hơi sáo miệng lạnh bầu trời.|Có sách cho rằng sư Không Lộ là Nguyễn Minh Không, nhưng theo Thiền sư Việt Nam của Thích Thanh Từ thì hai vị hoàn toàn khác nhau. Nguyễn Minh Không sinh năm 1076, mất năm 1141, là người trị bệnh hoá hổ cho Lí Thần Tông.

không ma

3484魔(梵 māra)能奪慧命,破壞道法、功德、善本等。空魔即撥無因果之空見惡魔,亦即否定一切善惡因果,或以爲諸法皆空之惡魔。楞嚴經卷九(大一九‧一四九上):「有空魔入其心腑,乃謗持戒,名爲小乘;菩薩悟空,有何持犯?其人常於信心檀越,飲酒噉肉,廣行淫穢。」 ; The demons who arouse in the heart the false belief that karma is not real. ; (空魔) ..... Ma, Phạm: Màra. Một loại ác ma chấp trước không kiến, cho các pháp đều không, bác bỏ tất cả nhân quả thiện ác, cướp đoạt tuệ mệnh, phá hoại đạo pháp, công đức, gốc lành, v.v... Kinh Lăng nghiêm quyển 9 (Đại 19, 149 thượng), nói: Có loại không ma nhập vào tim của người ấy, rồi chê bai người trì giới là Tiểu thừa; còn Bồ tát đã ngộ được tính không thì đâu có gì là trì và phạm? Cho nên người ấy thường lợi dụng lòng tin của tín đồ, ăn thịt uống rượu, làm các việc dâm uế.

Không Môn

(空門): cửa Không. Không (s: śūnya, p: suñña, 空) được xem như là giáo nghĩa tối cao của Phật Giáo, cho nên cửa nhà Phật được gọi là Không Môn. Cho nên người vào xuất gia trong các tự viện Phật Giáo được gọi là “Không Môn Tử (空門子)”. Như trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽) quyển Thượng có giải thích rõ rằng: “Trí Độ Luận vân: 'Niết Bàn hữu Tam Môn, nhất Không Môn, nhị Vô Tướng Môn, tam Vô Tác Môn; hà giả Không Môn ? Vị quán chư pháp, vô ngã ngã sở, chư pháp tùng nhân duyên sanh, thị danh Không; kim xuất gia nhân, do thử môn nhập Niết Bàn trạch, cố hiệu Không Môn Tử' (智度論云、涅槃有三門、一空門、二無相門、三無作門、何者空門、謂觀諸法、無我我所、諸法從因緣生、是名空、今出家人、由此門入涅槃宅、故號空門子, Trí Độ Luận dạy rằng: 'Niết Bàn có ba cửa, một là Cửa Không, hai là Cửa Vô Tướng, ba là Cửa Vô Tác; thế nào là Cửa Không ? Tức là quán các pháp không có ngã và ngã sở, các pháp từ nhân duyên sanh, nên gọi là Không; nay người xuất gia từ cửa này vào nhà Niết Bàn, nên được gọi là Không Môn Tử').” Hoặc ngoài thế gian gọi người vào xuất gia tu hành cửa Phật là “độn tích Không Môn (遁跡空門)”, có nghĩa là lánh xa trần thế và vào ẩn cư trong Thiền môn. Như trong tác phẩm Thiên Vũ Hoa (天雨花) hồi thứ 5 của Đào Trinh Hoài (陶貞懐) nhà Thanh có đoạn: “Bức đắc ngã, thử nhất thân, tẩu đầu vô lộ, nhân thử thượng, lai phi thế, độn tích Không Môn (逼得我、此一身、走投無路、因此上、來披剃、遁跡空門, bức bách tôi, một thân này, chạy cùng không lối thoát, nhân việc này, đến xuống tóc, xuất gia cửa chùa).” Tại Dũng Tuyền Tự (湧泉寺) của vùng Phúc Châu (福州), Phúc Kiến (福建) có câu đối rằng: “Tịnh địa hà tu tảo, Không môn bất dụng quan (淨地何須掃、空門不用關, đất sạch còn gì quét, cổng Không cửa nào cần).” Hay như trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, CBETA No. 1083) quyển hạ có câu: “Cát ái từ thân, tảo nhập Không môn nội, phỏng đạo tầm sư, chỉ vị siêu sanh tử, thử vãng hàn lai, bất giác vô thường, chí phản chiếu hồi quang, lai thọ cam lồ vị (割愛辭親、早入空門內、訪道尋師、只爲超生死、暑徃寒來、不覺無常、至返照回光、來受甘露味, cắt bỏ thân yêu, sớm nhập cửa Không ấy, học đạo tìm sư, chỉ vì vượt sanh tử, nóng đi lạnh đến, chẳng biết vô thường, lúc phản tỉnh hồi đầu, đến thọ cam lồ vị).”

không môn

3477<一>佛教教義以「空」爲極致,故稱佛門爲空門。  <二>三解脫門之一。諸法依因緣生起而無自性,謂之空;若證得此空性,則得解脫而趨入涅槃,故稱爲空門。大智度論卷十八,列舉人空、法空、有爲空、無爲空等觀空相之法門,以匡正世人對諸法所執持之「常」、「有」等固定不變之見解。又其餘二解脫門爲無相門、無願門。(參閱「三解脫門」644) <三>天台宗所謂進入佛教真理的四門之一。四門即:有門、空門、亦有亦空門、非有非空門。空門,乃觀諸法爲空而成就佛道之門。(參閱「四門」1723) ; (1)-The teaching which regards everything as unreal, or immaterial. (2)-The school of unreality, one of the four divisions made by Thiên Thai. (3)-The teaching of immateriality, the doorto nirvàna, a general name for Buddhism. ; (空門) I. Không Môn. Cửa không. Giáo nghĩa Phật giáo lấy tính Không làm chỗ tột cùng, cho nên cửa Phật gọi là Không môn. II. Không Môn. Các pháp nương vào nhân duyên mà sinh khởi, không có tự tính, gọi là không: nếu thể ngộ tính không ấy, thì được giải thoát mà vào Niết bàn, nên gọi là Không môn. Một trong 3 giải thoát môn. (xt. Tam Giải Thoát Môn). III. Không Môn. Pháp môn quán xét các pháp là không mà thành tựu Phật đạo. Là một trong 4 pháp môn tu hành do tông Thiên thai thành lập. (xt. Tứ Môn).

không môn tử

3477意即空門之子,乃世人對出家沙門之稱呼。釋氏要覽卷上(大五四‧二六一下):「涅槃有三門:一空門,二無相門,三無作門。何者空門?謂觀諸法無我、無所,諸法從因緣生,無作者、受者,是名空。今出家人由此門入涅槃宅,故號空門子。」 此外,我國古代僧人常自謙而稱空桑子。〔大智度論卷二十〕 ; (空門子) Hàm ý là con của cửa không. Chỉ cho những người xuất gia của Phật giáo. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 261 hạ), nói: Niết bàn có 3 môn: Không, Vô tướng và Vô tác. Thế nào là Không môn? Nghĩa là quán xét các pháp vô ngã, vô ngã sở, các pháp từ nhân duyên sinh, không có người tạo tác, không có người nhận lãnh, gọi là không. Nay người xuất gia do cửa này mà vào nhà Niết bàn, nên gọi là Không môn tử. Ngoài ra, chư tăng ở Trung quốc thời xưa thường tự nhún mà xưng là Không tang tử. [X. luận Đại trí độ Q.20].

không ngay thẳng

Xem Bất chánh.

không nhàn xứ

Xem A luyện nhã.

không như lai tạng

The Bhùtatathatà in its purity, or absoluteness.

Không Như Lai tạng 空如來藏

[ja] クウニョライゾウ kū nyoraizō ||| The tathāgatagarbha which is itself empty. 〔勝鬘經 T 353.12.221c16〕 => Như Lai tạng tự nó vốn là không.

không nhất hiển sắc

3467顯色,指顯然可見之色。空一顯色,如蒼蒼天空之青色,現於空中,純一而不雜餘色。蓋於須彌山說中,謂該山之四面由四寶構成,即北面爲黃金,東面爲白銀,南面爲琉瑠,西面爲頗梨;映照四大洲之天空,呈現北方之黃色,東方之白色,南方之青色,西方之赤色,純一而清淨,此稱空一顯色。唯識家以此色爲十三種顯色之一,俱舍家有一說以之爲二十一種顯色之一。 俱舍論光記卷一(大四一‧一六下):「妙高山四邊空中,各一顯色,名空一顯色,故正理三十四云:『空一顯色,謂見空中蘇迷廬山所現純色。』」此引文中之妙高山與蘇迷廬山皆係須彌山之異稱。 有關空一顯色之體,諸家所說不一:(一)識身足論卷十一,以青、黃、赤、白等四顯色爲其體。(二)阿毘達磨順正理論卷一,以空界色爲其體,而空界色以影、光、明、闇爲其體。(三)俱舍論光記卷一會通上記二說,謂此空界色雖以影、光、明、闇爲體,然影、光、明、闇係隨正顯色而應現者,故亦攝於青、黃、赤、白中。〔大毘婆沙論卷七十五、瑜伽師地論卷一、俱舍論卷一、卷十一、俱舍論寶疏卷一〕(參閱「顯色」6922) ; (空一顯色) Mầu sắc hiển hiện trong hư không, thuần nhất không lẫn lộn, như mầu xanh của bầu trời. Thuyết nói về núi Tu di cho rằng 4 mặt của núi này do 4 thứ báu cấu tạo thành, mặt bắc là vàng ròng, mặt đông là bạc trắng, mặt nam là lưu li, mặt tây là pha lê, phản chiếu lên khoảng hư không của 4 đại châu, hiện ra mầu vàng ở phương bắc, mầu trắng ở phương đông, mầu xanh ở phương nam, mầu đỏ ở phương tây, 4 mầu này thuần nhất thanh tịnh, không lẫn lộn, nên gọi là Không nhất hiển sắc. Tông Duy thức cho sắc này là 1 trong 13 thứ hiển sắc, tông Câu xá thì cho nó là 1 trong 21 thứ hiển sắc. Câu xá luận quang kí quyển 1 (Đại 41, 16 hạ), nói: Trong khoảng hư không ở 4 phía núi Diệu cao, mỗi phía đều có 1 hiển sắc, gọi là Không nhất hiển sắc. Núi Diệu cao là tên khác của núi Tu di. Về thể của Không nhất hiển sắc có nhiều thuyết khác nhau. Như luận Thức thân túc quyển 11 cho rằng 4 hiển sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng là thể của Không nhất hiển sắc. Luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 1 thì cho Không giới sắc là thể của Không nhất hiển sắc. [X. luận Đại tì bà sa Q.75; luận Du già sư địa Q.1; luận Câu xá Q.1, Q.11; Câu xá luận bảo sớ Q.1]. (xt. Hiển Sắc).

không nhất thiết xứ

Universal emptiness, or space; the samàdhi which removes all limitations of space.

không nhẫn

Patience attained by regarding suffering as unreal; one of the thập nhẫn.

không phá mộc

xem khư-đà-la.

không pháp

To regard everything as unreal, i.e. the ego, things, the dynamic, the static. The Nirvàna of Hìnayàna.

Không pháp 空法

[ja] クウホウ kūhō ||| The dharma of emptiness--thus, the principle, or teaching of emptiness (śūnya-dharma). 〔法華經 T 262.9.11a12〕 => Pháp không – Chẳng hạn, nguyên lý hay giáo lý về 'không' (śūnya-dharma).

không quán

3484指觀想一切諸法皆空之觀法。一切諸法,盡爲因緣所生,因緣所生之法本無自性而空寂無相;觀此空寂無相之理即爲空觀。佛教各宗派皆闡說「空」之教義,隨之即立觀空之法門;雖有淺深勝劣之別,然悉以捨遣對實有之執情爲目的。概言之,小乘佛教修習我空觀,斷除煩惱障;大乘佛教修習我、法二空觀,離煩惱、所知二障。 於天台宗,觀空之法有藏、通、別、圓四教之別:藏教分析諸法而觀空理,稱爲析空觀;通教不加分析,以諸法之當體如幻夢而直證入空,稱爲體空觀;別教於假、中二諦之外觀空,稱爲偏空觀;圓教觀假、中二諦即空,稱爲圓空觀。以修行者之機根有利、鈍之差別,故有此四種不同之觀法,然皆以空觀爲入理之門。〔止觀輔行傳弘決卷五之三、四教義卷一、三藏法數卷十、光明玄義拾遺記卷五〕(參閱「三觀」706) ; Meditation on the unreality of the ego and phenomena. ; (空觀) ..... Pháp quán tưởng tất cả pháp đều không. Tất cả pháp đều do nhân duyên sinh ra, pháp do nhân duyên sinh ra vốn không có tự tính, vắng lặng không tướng. Quán xét lí vắng lặng không tướng này tức là Không quán. Các tông Phật giáo đều nói rõ về giáo nghĩa Không, tùy theo nghĩa Không này mà lập ra pháp môn quán Không, tuy có sâu cạn, hơn kém khác nhau, nhưng mục đích đều là phá trừ tình chấp cho các pháp là có thật. Nói một cách khái quát, Phật giáo Tiểu thừa tu tập pháp quán Ngã không để đoạn trừ phiền não chướng, còn Phật giáo Đại thừa thì tu tập pháp quán Ngã, Pháp đều không để lìa phiền não chướng và sở tri chướng. Trong tông Thiên thai, Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo, Viên giáo mỗi giáo đều có pháp quán Không riêng biệt. Tạng giáo phân tích các pháp để quán lí không, gọi là Tích không quán; Thông giáo thì quán đương thể các pháp tức là Không, gọi là Thể không quán; Biệt giáo quán Không ngoài Giả đế và Trung đế, gọi là Thiên không quán, còn Viên giáo thì quán Giả đế, Trung đế tức là Không, gọi là Viên không quán. Vì căn cơ của người tu hành có nhạy bén và chậm lụt khác nhau cho nên có 4 pháp quán bất đồng này, nhưng đều lấy quán Không làm cửa để đi vào thực lí. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5 phần 3; Tứ giáo nghi Q.1; Tam tạng pháp số Q.10; Quang minh huyền nghĩa thập di kí Q.5]. (xt. Tam Quán).

Không quán 空觀

[ja] クウガン kūgan ||| "observing emptiness;" the meditative practice in which one observes the lack of inherent nature in all things. The observation of the emptiness of all things, based on the Buddhist principle that all things arise through the process of dependent co-origination. A common Mahāyāna explanation of the practice of the meditation on emptiness is that in which the two "hīnayāna" practitioners (śrāvaka and pratyekabuddha), meditating on the emptiness of self 我空 succeed in overcoming the hindrances of defilement 煩惱障, while bodhisattvas, contemplating the emptiness of dharmas as well as the emptiness of self 我法二空, succeed in overcoming the hindrance of the known 所知障. 〔二障義HPC 1.792c〕Nakamura includes an explanation of Tiantai specific connotations of this tersm. => Pháp thiền quán trong đó hành giả quán sát tính chất không hiện hữu trên cơ sở tự tính của các pháp. Sự quán sát tính không của các pháp dựa trên nền tảng các pháp sinh khởi thông qua tiến trình nhân duyên. Lối giải thích thông thường của Đại thừa về pháp không quán nầy là của hàng Nhị thừa (Thanh văn và Duyên giác), quán Ngã không để hàng phục phiền não chướng; trong khi hàng Bồ-tát quán Ngã pháp đều không để hàng phục sở tri chướng. Tác phẩm của Nakamura gó giải thích quan điểm đặc biệt của Tông Thiên Thai về thuật ngữ nầy.

không quân bình

Amadhyama (S), Immoderate.

không quả

Empty fruit; also fruit of freedom from the illusion that things and the ego are real.

không sinh

3471梵名 Subhūti 之意譯,巴利名同。音譯須菩提、蘇部底。又稱善現、善業。爲佛陀十大弟子之一,譽爲解空第一。古代印度舍衛國婆羅門之子,名負梨。端正殊妙,智慧聰明無能及者。初以惡性爲父母親屬所厭患,遂捨家入山林。山神引之詣佛,佛爲其說瞋恚之過患,師乃自悔責,懺悔罪咎,豁然得須陀洹果,未久證阿羅漢果。〔譬喻經卷一、維摩經文疏卷十三、大唐西域記卷四〕(參閱「須菩提」5361) ; The one who expounded vacuity or immateriality, i.e. Subhùti, Tu bồ Đề, one of the ten great pupils of Buddha. ; (空生) Phạm,Pàli:Subhùti. Dịch âm: Tu bồ đề, Tô bộ để. Cũng gọi: Thiện hiện, Thiện nghiệp. Một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật được tôn xưng là bậc có trí tuệ hiểu nghĩa Không bậc nhất, thuộc dòng dõi Bà la môn, tên là Phụ lê, người nước Xá vệ thuộc Ấn độ đời xưa. Ngài có thân tướng đoan nghiêm đẹp đẽ, trí tuệ thông minh không ai sánh kịp. Ban đầu vì tính tình xấu ác nên ngài bị cha mẹ và họ hàng chán ghét, bèn bỏ nhà vào chốn núi rừng. Một ngày kia, ngài được thần núi dẫn đến chỗ đức Phật. Phật liền nói sự tai hại của sân hận cho ngài nghe, ngài bèn ăn năn sám hối tội lỗi, bỗng nhiên chứng được quả Tu đà hoàn, không bao lâu lại chứng quả A la hán. [X. kinh Thí dụ Q.1; Duy ma kinh văn sớ Q.13; Đại đường tây vực kí Q.4]. (xt. Tu Bồ Đề).

không sắc

Formless and with form; noumena and phenomena.

không tam muội

ŚŪnyatā-samādhi (S). ; The samàdhi which regards the ego and things as unreal.

không thuỷ giáo

3476詮說空理之教。華嚴宗所立五教之中,第二爲大乘始教,此始教復分「空始教」與「相始教」二門。依般若、三論等經論,詮說諸法皆空,揭示真空無相之義者,稱爲空始教。依解深密、瑜伽等經論,從現象作用肯定諸法存在之唯識說,稱爲相始教。上記二教俱爲大乘之初門,故稱始教。〔大乘起信論義記卷上〕(參閱「五教十宗」1146、「始教」3139) ; (空始教) Giáo pháp giải thích về lí Không. Một trong 2 môn của Đại thừa thủy giáo do tông Hoa nghiêm thành lập. Theo kinh Bát nhã, Tam luận, v.v... thì giáo pháp nào nói rõ các pháp đều không, hiển bày nghĩa chân không vô tướng, thì gọi là Không thủy giáo. Theo kinh Giải thâm mật, luận Du già, v.v... thì thuyết Duy thức căn cứ vào tác dụng của hiện tượng mà khẳng định sự tồn tại của các pháp, gọi là Tướng thủy giáo. Hai phần giáo trên đây đều là cửa đầu tiên của Đại thừa nên gọi là Thủy giáo. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông, Thủy Giáo).

không thật

Xem Bất khởi phát.

không thối chuyển

(Bất thối chuyển): địa vị tu hành của hàng Bồ Tát khi không còn thối lui nữa, chỉ thẳng tiến dần đến mục đích là quả Phật.

không trần

3483外道觀空,必存空相而墮於空見,否定一切善惡因果,或以爲諸法皆空;此空見如一切世間之事法能染污真性,故謂之塵,屬於色、聲等六塵中之法塵,故稱空塵。亦即外道之空觀爲法塵而非正觀。摩訶止觀卷五下(大四六‧六五中):「觀心推畫,發一分細定,生一分空解,此是空見法塵,與心相應,何關無生。」 ; Sùnya as sub-material, ghostly, or spiritual, as having diaphanous form, a non-Buddhist view of the immaterial as an entity, hence the false view of a soul or ego that is real. ; (空塵) Chấp Không làm ô nhiễm chân tính. Ngoại đạo quán không, còn chấp trước tướng Không mà rơi vào Không kiến, phủ định tất cả nhân quả thiện ác, hoặc cho rằng các pháp đều không. Không kiến này cũng giống như tất cả sự pháp thế gian có khả năng làm ô nhiễm chân tính, vì thế gọi là Trần (bụi bặm), thuộc về pháp trần trong 6 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cho nên gọi là Không trần. Nghĩa là pháp quán Không của ngoại đạo thuộc về pháp trần chứ không phải chính quán. Ma ha chỉ quán quyển 5 hạ (Đại 46, 65 trung), nói: Quán tâm suy xét, phát được 1 phần định vi tế, sinh 1 phần hiểu biết về nghĩa không đó là pháp trần thuộc về Không kiến, tương ứng với tâm, chứ chẳng liên quan gì đến vô sinh.

không tuệ

(Trí tuệ không) trí tuệ có được do tu tập pháp quán không, thấy được thật tánh của tất cả các pháp chính là tánh không. ; The wisdom which beholds spiritual truth.

không tánh

Voidness.

không tâm

3471<一>觀察空理之心,稱爲空心。  <二>指否定因果之理而執著於空見之心。空見,即不承認三世因果之理,或執著於一切法皆空之謬見。摩訶止觀卷十上(大四六‧一三五下):「空心無畏,不存規矩,恣情縱欲,破正見、威儀、淨命,死皆當墮三惡道中。」(參閱「空見」3476) ; An empty mind, or heart; a mind meditating on the void, or infinite; a mind not entangled in cause and effect, i,e. detached from the phenomenal. ; (空心) I. Không Tâm. Tâm quán xét lí không. II. Không Tâm. Tâm chấp trước Không kiến mà bác bỏ lí nhân quả. Không kiến là kiến chấp sai lầm cho tất cả đều là không và không thừa nhận lí nhân quả 3 đời. Ma ha chỉ quán quyển 10 thượng (Đại 46, 135 hạ), nói: Không tâm chẳng sợ hãi, không giữ gìn giới luật, buông thả theo ngũ dục, phá hoại chính kiến, uy nghi, tuệ mệnh, sau khi chết sẽ rơi vào 3 đường ác. (xt. Không Kiến).

không tính

3477梵語 śūnyatā,巴利語 suññatā。音譯作舜若多。指空之自性、空之真理,乃真如之異名。依唯識家之說,真如爲遠離我、法二執之實體,故修空觀而離我法二執之處,真如實體即躍然而現,亦即依空而顯明實性,非謂真如之體爲空。又梵語之 śūnyatā,除譯爲空性外,經論中亦譯作無、空門(三解脫門之一)等。〔大日經住心品、成唯識論述記卷一本、卷七末〕 ; ŚŪnyatā (S), Suatā (P), Suatā (P), tong pa nyi (T), Emptiness Một trong 4 hành tướng của Khổ đế: Vô thường, Khổ, Không, Phi ngã. ; Sùnyatà (S). The nature of the Void, or immaterial, the Bhùtatathatà, the universal substance, which is not ngã pháp ego and things but while not Void is of the Void nature. ; (空性) ..... Phạm:Zùnyatà. Pàli:Suĩĩatà. Dịch âm: Thuấn nhã đa. Cũng gọi Vô, Không môn. Chỉ cho tự tính không, chân lí không, là tên khác của chân như. Theo tông Duy thức thì chân như là thực thể xa lìa ngã chấp và pháp chấp, cho nên tu không quán mà xa lìa ngã chấp và pháp chấp thì thực thể chân như mới hiển hiện, tức là nương vào Không mà hiển rõ thực tính, chứ chẳng phải thể của chân như là Không. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu, Q.7 phần cuối].

không tính vô cảnh tâm

3477又作一道無爲心。乃日僧空海所立十住心之第八。謂於真如實相之上,無相亦無境,故知自心不在內,不在外,不在兩中間,實不可得。〔十住心論卷八〕(參閱「一道無爲心」74) ; (空性無境心) Cũng gọi Nhất đạo vô vi tâm. Tâm thứ 8 trong 10 trụ tâm do ngài Không hải người Nhật bản lập ra. Nghĩa là thực tướng chân như, không tướng không cảnh, cho nên biết tự tâm chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, cũng chẳng ở khoảng giữa, là bất khả đắc. [X. luận Thập trụ tâm Q.8]. (xt. Nhất Đạo Vô Vi Tâm).

không tông

3477爲「有宗」之對稱。指主張一切皆空、般若皆空之宗派。大乘之般若思想即其代表,以宣揚中道之空觀爲主。從主張諸法皆空之龍樹、提婆之教系中,相對於小乘教俱舍宗之有宗而言,指成實宗;相對於大乘法相宗(唯識)而言,則指三論宗。 成實宗主張人、法皆空,所說之空義勝於有部宗、俱舍宗等之僅說人空。三論宗則主張空、有皆無,以「諸法皆無所得」之空爲宗義。又禪宗亦稱空宗,主張佛、魔皆空,以言語思辨爲閑葛藤而排遣之。此外,有稱佛教爲空宗者,以佛教主張諸法無我之故。〔大乘起信論義記卷上、原人論、宗鏡錄卷三十四〕(參閱「空有論爭」3473) ; ŚŪnyatāvāda (S)Một tên khác của Trung quán tông. ; The Sùnya sects, i.e. those which make the unreality of the ego and things their fundamental tenet. ; (空宗) ..... Đối lại: Hữu tông. Chỉ cho tông phái chủ trương tất cả đều không. Tông này lấy tư tưởng Bát nhã của Đại thừa làm chính yếu, dùng Không quán để tuyên dương lí Trung đạo. Theo Tiểu thừa giáo thì tông Câu xá là Hữu tông, tông Thành thực là Không tông. Theo Đại thừa giáo thì tông Pháp tướng (Duy thức) là Hữu tông, còn tông Tam luận là Không tông. Tông Thành thực chủ trương nhân, pháp đều không, cho nên nghĩa Không này thù thắng hơn, tông Câu xá chỉ chủ trương nhân không. Tông Tam luận thì chủ trương Không, Hữu đều không, lấy cái Không của các pháp đều vô sở đắc làm tông nghĩa. Lại Thiền tông, cũng gọi là Không tông, chủ trương Phật, ma đều không, cho rằng lời nói và sự suy nghĩ đều là sắn bìm, cần phải gỡ bỏ. Ngoài ra, Phật giáo cũng được gọi là Không tông, vì Phật giáo chủ trương các pháp vô ngã. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng; Nguyên nhân luận; Tông kính lục Q.34]. (xt. Không Hữu Luận Tranh).

không tướng

3478指諸法皆空之相狀,或指真空之體相。因緣生法,無有自性,即空之相狀。大智度論卷六(大二五‧一○七上):「因緣生法,是名空相,亦名假名,亦說中道。」另據玄奘譯之般若心經所說,諸法之空相乃不生不滅、不垢不淨、不增不減。又佛典中,性、相二字常爲同義字,故亦可作空性。 ; Voidness, emptiness, space, the immaterial, that which cannot be expressed in terms of the material. ; (空相) Chỉ cho tướng trạng của các pháp đều không , hoặc chỉ cho thể tướng chân không. Pháp do nhân duyên sinh không có tự tính, tức là tướng trạng của Không. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 25, 107 thượng), nói: Pháp do nhân duyên sinh, gọi đó là Không tướng, cũng gọi là Giả danh, cũng nói là Trung đạo. Còn theo Bát nhã tâm kinh do ngài Huyền trang dịch, thì tướng không của các pháp chẳng sinh chẳng diệt, không sạch không nhơ, chẳng thêm chẳng bớt. Lại tính và tướng thường được coi là đồng nghĩa, cho nên Không tướng cũng có thể gọi là Không tính.

không tướng như

Xem Thật tướng chân như.

không tưởng

Thinking of immateriality. Also, vainly thinking. or desiring.

không tạng bồ tát

Ākāśagarbha (S), Ākāśagarbha Bodisattva (S), Empty Store Bodhi Sattva, Kokuzo Bodhi Sattva (J)Hư Không Dựng Bồ tát, Hư Không TạngBồ tát của trí huệ, công đức, giúp chu toàn mọi tâm nguyện. Ngự phương Nam.

không tế

3483涅槃之異名。涅槃爲空寂之極處,故稱空際。又作實際。所謂空寂,乃遠離諸法相不生不滅之寂靜狀態。楞伽經卷三(大一六‧五○○中):「如如與空際,涅槃與法界。」其下註解:「如如即真如,空際即實際,涅槃即究竟大涅槃,法界即佛法界;此是一體異名。」(參閱「實際」5791) ; The region of immateriality, or nirvàna. ; (空際) Cũng gọi Thực tế. Tên khác của Niết bàn. Niết bàn là nơi (trạng thái)vắng lặng, xa lìa các pháp tướng, chẳng sinh chẳng diệt. Kinh Lăng già quyển 3 (Đại 16, 500 trung), nói: Như như và không tế, Niết bàn và pháp giới. Như như tức chân như, Không tế tức thực tế. Niết bàn tức Đại niết bàn cùng tột, pháp giới tức Phật pháp giới. Bốn danh từ này tuy khác tên nhưng cùng 1 thể. (xt. Thực Tế).

không tịch

3480謂遠離諸法相之寂靜狀態。依法華經卷二信解品所說,一切諸法皆悉空寂,無生亦無滅,無大亦無小,無漏亦無爲。維摩經卷上佛國品(大一四‧五三八上):「不著世間如蓮華,常善入於空寂行。」 吉藏於維摩經義疏卷二有所解釋,謂不著世間,即善能入於空寂而捨棄其心;亦即雖處於世間而常入空寂。又所謂善入,即出入自在而不乖離空寂之真義。 此外,於禪林,有「空寂靈知心」一語,意指排遣主客對待所顯現的靈妙之心。〔雜阿含經卷十、別譯雜阿含經卷十五、央掘魔羅經卷二、修行道地經卷五神足品、大乘本生心地觀經卷八觀心品、無量義經說法品、摩訶止觀卷四上、修習止觀坐禪法要、高麗國普照禪師修心訣〕 ; Immaterial; a condition beyond disturbance, the condition of nirvàna. ; (空寂) ..... Trạng thái vắng lặng xa lìa hình tướng các pháp. Theo phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa quyển 2, thì tất cả các pháp đều vắng lặng, không sinh cũng không diệt, không lớn cũng không nhỏ, vô lậu và vô vi. Phẩm Phật quốc kinh Duy ma quyển thượng (Đại 14, 538 thượng), nói: Như hoa sen chẳng nhiễm thế gian, thường khéo hòa vào hạnh không tịch. Trong Duy ma kinh nghĩa sớ quyển 2, ngài Cát tạng giải thích là: Không nhiễm (dính) thế gian tức là khéo hòa vào không tịch mà xả bỏ tâm nhiễm; cũng tức là tuy sống giữa thế gian mà vẫn thường vào không tịch. Còn khéo vào tức là xuất nhập tự tại mà chẳng lìa thực nghĩa không tịch. Ngoài ra, trong Thiền lâm có nhóm từ Không tịch linh tri tâm, tức chỉ cho tâm linh diệu hiển hiện khi đã dứt bặt mọi đối đãi. [X. kinh Tạp a hàm Q.10; kinh Tạp a hàm Q.15 (Biệt dịch); kinh Ương quật ma la Q.2; phẩm Thần túc kinh Tu hành đạo địa Q.5; phẩm Quán tâm trong kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán; phẩm Thuyết pháp kinh Vô lượng nghĩa; Ma ha chỉ quán Q.4 thượng; Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu; Cao li quốc Phổ chiếu thiền sư tu tâm quyết].

Không tịch 空寂

[ja] ジャク kūjaku ||| 'Void and tranquil.' (1) Emptiness and tranquility, commonly said of the Hīnayāna nirvāna. (2) Completely empty. The reality of the lack of inherent existence of all things. Emptiness. (vivikta) => 1. Trống không và yên tĩnh, lặng lẽ; thường được chỉ cho niết-bàn của Tiểu thừa. 2. Hoàn toàn rỗng không. Thực tế của sự không hiện hữu trên cơ sở tự tính của các pháp. Không (s: vivikta).

không tồn tại

Xem Vô hữu.

không tức thị sắc

3478梵語 śūnyatā va rūpam。「色即是空」之對句。指人間之物質、身體本係空無實體,而由地、水、火、風四大和合而成,故稱空即是色;四大若離散,則復歸空無,故稱色即是空。空即是色,並非析色見空,而係體達色之當體即空之故,空者亦非意味斷滅,即有即空方是真空。此真空既爲有,故必不異於有,以空即是有,而說空即是色。般若心經(大八‧八四八下):「觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄。舍利子!色不異空,空不異色;色即是空,空即是色。受、想、行、識亦復如是。」〔般若波羅蜜多心經疏(慧淨)、般若波羅蜜多心經幽贊卷下,註華嚴法界觀門〕(參閱「色即是空」2544) ; ŚŪnyatā-varŪpam (S). ; The immaterial is the material, sùnya is rùpa. ; (空即是色) Phạm:Zùnyatà va rùpam. Đối lại: Sắc tức thị không. Vật chất, thân thể ở nhân gian vốn không có thực thể, mà do 4 đại đất, nước, lửa, gió giả hòa hợp mà thành, cho nên gọi Không tức thị sắc; nếu 4 đại tan rã thì lại trở về không, nên gọi Sắc tức thị không. Không tức thị sắc chẳng phải phân tích sắc chất ra để thấy nó là không, mà là thể hội đương thể của sắc tức là không. Không này cũng chẳng phải là đoạn diệt, mà là tức hữu tức không(ngay cái có đó tức là không) mới là chân không. Chân không này đã là hữu, thì chắc chắn không khác với hữu, vì không tức là hữu, cho nên nói Không tức thị sắc. Bát nhã tâm kinh (Đại 8, 848 hạ), nói: Khi bồ tát Quán tự tại thể nhập vào Bát nhã ba la mật đa(trí tuệ đến bờ bên kia), Ngài thấy rõ 5 uẩn đều không, vượt qua tất cả khổ ách. Ngài nói: Này Xá lợi tử! Sắc chẳng khác không, Không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc. Thụ, tưởng, hành, thức cũng hệt như thế. [X. Bát nhã Ba la mật đa tâm kinh sớ (Tuệ tịnh); Bát nhã Ba la mật đa tâm kinh u tán Q.hạ; chú Hoa nghiêm pháp giới quán môn]. (xt. Sắc Tức Thị Không).

không vui

Amanāpa (S), Unpleasant (S, P).

không vân

3482又作空中雲。比喻物之不堅實。與「水月」爲同類用語。蓋空中之雲聚散無常、變幻莫測,世間諸法亦隨因緣而即起即滅,故以雲比喻之。維摩經觀眾生品(大一四‧五四七中):「如智者見水中月、(中略)空中雲。(中略)菩薩觀眾生爲若此。」新譯仁王經卷上(大八‧八三八下):「三世善惡,如空中雲。」 ; (空雲) ..... Cũng gọi Không trung vân. Đồng nghĩa: Thủy nguyệt. Mây tụ tán trong hư không ví dụ các pháp vô thường giả tạm. Các pháp trong thế gian tùy nhân duyên mà sinh diệt, giống như mây giữa hư không, hợp tan vô thường, biến hóa như huyễn, khó lường được. Phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duy ma (Đại 14, 547 trung), nói: Ví như người trí thấy bóng trăng trong nước (...), mây giữa hư không (...) Bồ tát quán xét chúng sinh cũng như thế. Kinh Nhân vương (bản dịch mới) quyển thượng (Đại 8, 838 hạ), nói: Thiện ác trong ba đời, như mây giữa hư không.

không vô

Unreality, or immateriality, of things, which is defined as nothing existing of independent or self-contained nature.

không vô biên xứ

3481梵名 Ākāśānantyāyatana,巴利名 Ākāsānañcāyatana。又作阿竭禪天、虛空知天、空知天、空無邊處地、空無邊處天、空處。乃四無色界之第一天,三界九地之一。指厭離形色之身,欣求虛空無邊,由加行入空無邊處定爲因,所得定地之果報。由於厭離形色故無色蘊,僅由受、想、行、識之四蘊而成「異熟生」。無色界雖無處所,然有果報之差別,故暫付「處」之名。俱舍論頌疏論本卷八(大四一‧八六四上):「修此定前,於加行位,厭有色身,思無邊空,作空無邊解,名空無邊處。」 據大毘婆沙論卷八十四載,初修空無邊處定者先應思惟牆上、樹上、崖上、舍上等諸虛空相,得此空相後,假想勝解,觀察照了無邊空相。以先思惟無邊空相而修加行,輾轉引起初無色定之故,稱空無邊處。〔法蘊足論卷八無色品、立世阿毘曇論卷七〕 ; Ākāśanantyātana (S). ; Akàsànantàyatana (S). Sphere of the infinity of space. ; (空無邊處) Phạm:Àkàzànantyàyatana. Pàli:Àkàsànaĩcàyatana. Cũng gọi: A kiệt thiền thiên, Hư không tri thiên, Không tri thiên, Không vô biên xứ địa, Không vô biên xứ thiên, Không xứ. Tầng trời thứ nhất trong 4 tầng trời của cõi Vô sắc, 1 trong 9 địa thuộc 3 cõi. Chúng sinh ở cõi trời này vì nhàm chán hình sắc nên không có sắc uẩn, chỉ có 4 uẩn thụ, tưởng, hành, thức mà hợp thành dị thục sinh. Cõi Vô sắc tuy không có xứ sở, nhưng có quả báo sai khác, cho nên tạm gọi là Xứ. Câu xá luận tụng sớ luận bản quyển 8 (Đại 41, 864 thượng), nói: Trước khi tu định này, ở giai vị gia hạnh, nhàm chán thân có sắc, suy nghĩ về chỗ không vô biên, có sự hiểu biết về không vô biên, gọi là Không vô biên xứ. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 84, thì người mới bắt đầu tu định Không vô biên xứ, trước hết, phải suy nghĩ về các tướng hư không trên tường, trên cây, trên vách núi, trên nhà, v.v..., sau khi được các tướng không ấy rồi, tạm thời giả tưởng thành thắng giải, quán xét rõ ràng tướng không vô biên. Vì trước hết suy nghĩ về tướng không vô biên rồi mới tu gia hạnh, dần dà đưa đến định Vô sắc đầu tiên nên gọi là Không vô biên xứ. [X. phẩm Vô sắc trong luận Pháp uẩn túc Q.8; luận Lập thế a tì đàm Q.7].

không vô biên xứ thiên

Ākāśanancayatana (S), Ākāsanancayatanam (P), Ākāśanantyātana (P), Sphere of boundless space Không xứCảnh trời thứ nhất cõi Vô sắc giới, nơi trống không, không bờ cõi.

không vô biên xứ định

3481梵語 ākāśānantyāyatana dhyāna。乃四無色定之一。又作空處定。意指超越色界之第四禪,滅除與眼識相應之諸色想、與耳、鼻、舌、身等四識相應之有對想及所有不善想,乃至滅除障礙定之一切想而思惟空無邊之定相。若於人界修得此定,死後當生於空無邊處。 法蘊足論卷八無色品(大二六‧四八八下):「初修業者,先應思惟,第四靜慮爲麤苦障;次應思惟空無邊處,爲靜妙離(中略)。彼若爾時,攝錄自心,令不散亂,馳流餘境,能令一趣,住念一緣,思惟修習空無邊處定相,如是思惟,發勤精進,勇健勢猛,熾盛難制,勵意不息,是名空無邊處定加行,亦名入空無邊處定。彼於此道,生已修習多修習故。(中略)又此定中,若受若想,乃至若慧等,名空無邊處定俱有諸法,如是諸法,亦名空無邊處定。」 又因四無色定之每一定,以其自體而言,皆稱爲根本定;接近根本定前之預備階段,稱爲近分定,或加行定。加行,事先的加功用行之意。故知空無邊處定可分爲加行、根本二定,尚存對「有」與「空」無邊之知解者,即是加行定;若已發得根本定,而入於空無邊之境界者,則無知亦無解。〔坐禪三昧經卷下、大智度論卷二十、禪法要解卷下、大乘義章卷十三、法界次第初門卷上之下〕(參閱「空無邊處」3481) ; Ākāśanantyātana-Samādhi (S)Vô biên hư không xứ định, Vô biên hư không xứ giải thoátBậc thiền định của người nhập cảnh trời Không vô biên xứ. ; the dhyàna, or meditation connected with the above, in which all thought of form is suppressed. ; (空無邊處定) Phạm:Àkàzàịantyàyatana dhyàna. Cũng gọi: Không xứ định. Định Không vô biên xứ. Định này ở trên Thiền định thứ tư của cõi Sắc, 1 trong 4 định Vô sắc. Ở cõi định này, hành giả diệt trừ các sắc tưởng tương ứng với nhãn thức, hữu đối tưởng và bất thiện tưởng tương ứng với nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức, cho đến diệt trừ tất cả tưởng làm chướng ngại định mà chỉ tư duy về định tướng Không vô biên. Nếu ở cõi người mà tu được định này thì sau khi chết sẽ được sinh lên Không vô biên xứ. Phẩm Vô sắc trong luận Pháp uẩn túc quyển 8 (Đại 26, 488 hạ), nói: Người bắt đầu tu tập, thì trước nên tư duy đệ tứ tĩnh lự (đệ tứ thiền) là thô khổ chướng; kế đến nên tư duy Không vô biên xứ là tĩnh diệu li (...). Khi người ấy tu tập như vậy, thì nhiếp phục được tâm mình, không để cho tán loạn, rong ruổi cảnh khác, ý chuyên 1 chỗ, niệm trụ 1 duyên, tư duy tu tập định tướng Không vô biên xứ. Tư duy như thế, siêng năng tinh tiến, gắng sức không dừng, đó gọi là gia hạnh của Không vô biên xứ định, cũng gọi là Vào không vô biên xứ định. Người ấy đối với định này đã nhiều đời tu tập (...). Lại trong định này hoặc thụ hoặc tưởng, cho đến hoặc tuệ, v.v... gọi là các pháp câu hữu của định Không vô biên xứ, các pháp này cũng được gọi là Không vô biên xứ định. Ngoài ra, mỗi định trong 4 định cõi Vô sắc, nói theo tự thể của các định này, đều gọi là định căn bản; giai đoạn dự bị trước khi tiếp cận định căn bản, gọi là Cận phần định, hoặc Gia hạnh định. Gia hạnh nghĩa là gia công dụng hạnh trước khi thực hiện một việc gì. Vì thế nên biết, Không vô biên xứ định có thể chia làm 2 loại là định gia hạnh và định căn bản; còn hiểu biết về hữu và không, hữu vô biên, không vô biên, thì gọi là định gia hạnh. Nếu được định căn bản mà nhập vào cảnh giới không vô biên, thì không còn biết, không còn hiểu. [X. kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; luận Đại trí độ Q.20; Thiền pháp yếu giải Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.13; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng phần cuối]. (xt. Không Vô Biên Xứ).

Không vô biên xứ định 空無邊處定

[ja] クウムヘンショジョウ kūmuhen shojō ||| See 空無邊處. => Xem Không vô biên xứ 空無邊處.

Không vô biên xứ 空無邊處

[ja] クウムヘンショ kūmuhen sho ||| The state of an advanced level of samādhi wherein all material existence is extinguished, and one only experiences the nature of limitless space. One is freed from all of the physical form of the desire and form realms, as well as the various intentions that exist in those realms. This is the first of the four formless concentrations 四無色定. 〔瑜伽論 T 1579.30.292b2〕 => Cảnh giới bậc cao của thiền định, trong đó mọi dạng hiện hữu vật chất đều không còn, chỉ trải qua trạng thái tự nhiên của hư không vô hạn. Chúng sinh ở đó không còn vướng vào sắc chất của dục giới và sắc giới, cũng như không còn những ý tưởng hiện hữu trong các cõi giới nầy. Đây là cảnh giới đầu tiên trong Tứ vô sắc định 四無色定.

không vô lực đãi duyên

3480爲華嚴宗用以說明「法界緣起」主要原理的「因六義」之一。係依準唯識宗「種子六義」中之「待眾緣」之義而立。即諸法緣起之「因」,其體性爲空,不具有引生果之力用,而須借助他緣之力以引生果,稱爲空無力待緣。華嚴五教章卷四(大四五‧五○二上):「是待眾緣義。何以故?由無自性故,是空也;因不生緣生故,是無力也;即由此義故,是待緣也。」此係以空無力待緣與待眾緣之義相似,故借待眾緣之義以說明空無力待緣。 蓋緣起之諸法,皆具空、有二義,真如本體隨緣而顯現諸法,是爲「有」之義;然此有爲假有,其體無自性,是爲「空」之義;又若以諸法乃因緣和合而生之果,無緣即不能生果,是知生果之力用全部借助於緣,則「因」無力而必須待於他緣之助力,是爲無力待緣之義;又以其體爲空,故稱空無力待緣。〔十地經論卷八、大乘阿毘達磨雜集論卷四、華嚴經搜玄記卷三下〕(參閱「因六義」2272) ; (空無力待緣) Nhân của các pháp duyên khởi thể tính là không, không đủ lực dụng để sinh ra quả, mà phải nhờ sự giúp sức của các duyên khác mới có thể sinh ra quả, gọi là Không vô lực đãi duyên. Là 1 trong 6 nghĩa của Nhân mà tông Hoa nghiêm dùng để thuyết minh nguyên lí pháp giới duyên khởi. Đây là theo nghĩa Đãi chúng duyên(đợi các duyên) trong 6 nghĩa chủng tử của tông Duy thức mà thành lập. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 (Đại 45, 502 thượng), nói: Đó là nghĩa đãi chúng duyên. Tại sao? Vì vô tự tính, đó là không. Vì nhân không sinh mà duyên sinh, đó là vô lực, cũng vì nghĩa này mà gọi là đãi duyên. Vì nghĩa không vô lực đãi duyên giống với nghĩa Đãi chúng duyên, cho nên mượn nghĩa của Đãi chúng duyên để thuyết minh Không vô lực đãi duyên. Các pháp duyên khởi đều có 2 nghĩa không và hữu, bản thể của chân như tùy duyên mà hiển hiện các pháp, đó là nghĩa hữu, nhưng cái hữu này là giả hữu(có giả), thể của nó không có tự tính, đó là nghĩa không. Vì quả của các pháp là do nhân duyên hòa hợp mà sinh, nếu không có duyên thì quả không thể sinh, cho nên biết rằng toàn bộ lực dụng sinh ra quả là nhờ nơi duyên, đó là nghĩa Vô lực đãi duyên; lại thể của nó là không nên gọi là Không vô lực đãi duyên. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.3 hạ]. (xt. Nhân Lục Nghĩa).

không vô ngã

Unreal and without ego.

Không vô ngã 空無我

[ja] ムガ kūmuga ||| Emptiness and no-self. The emptiness of all dharmas and the no-self of the five skandhas. => Không của các pháp và ngũ uẩn vô ngã.

Không vô 空無

[ja] クウム kūmu ||| Emptiness; non-existence.

không vương

3471<一>諸佛之別名。以諸佛親證諸法空性,寂靜無礙,聖果無匹而稱空王。依圓覺經載,佛爲萬法之王,故稱空王。〔諸經要集卷一「三寶部」敬佛篇念十方佛緣〕 <二>古佛名。又作空王佛。法華經授學無學人記品(大九‧三○上):「諸善男子!我與阿難等於空王佛所,同時發阿耨多羅三藐三菩提心。」空王佛乃空劫時期出現之佛,空劫之前則萬物未發生,故禪林中每以「空王以前」一語表示超越人類生命意識之境界,與「本來面目」、「父母未生以前」、「空劫以前」等爲同類用語。 ; The king of immateriality, or spirituality, Buddha which is lord of all things. ; (空王) I. Không Vương. Tôn hiệu của chư Phật, vì chư Phật đã thân chứng tính không của các pháp vắng lặng vô ngại, chúng sinh không ai sánh kịp, nên gọi là Không vương. Theo kinh Viên giác thì đức Phật là vua của muôn pháp, nên gọi là Không vương. [X. Niệm thập phương Phật duyên, thiên Kính Phật, bộ Tam bảo trong Chư kinh yếu tập Q.1]. II. Không Vương. Cũng gọi: Không vương Phật. Tên một vị cổ Phật, ra đời vào thời Không kiếp. Phẩm Thụ học vô học nhân kí trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 30 thượng), nói: Các thiện nam tử! Ta và A nan phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cùng một lượt ở nơi đức Phật Không vương. Trước thời đức Phật Không vương thì muôn vật chưa phát sinh, cho nên Thiền tông thường dùng nhóm từ Không vương dĩ tiền để biểu thị cảnh giới siêu việt ý thức của con người.

không vương pháp

Dharma-gahanàbhyudgata-ràja (S). A Buddha who is said to have taught absolute intelligence, or knowledge of the absolute.

không xứ

Xem Không vô biên xứ.

Không xứ định 空處定

[ja] クウショジョウ kūshojō ||| An abbreviation of 空無邊處定. => Viết tắt của Không vô biên xứ định 空無邊處定.

Không xứ 空處

[ja] ショ kūsho ||| (1) Empty place (countryside). (2) The formless realm. (3) The first stage of the formless realm, usually called the 空無邊處. => 1. Nơi trống không (miền quê). 2. Vô sắc giới. 3. Cõi giới đầu tiên của Vô sắc giới, gọi là Không vô biên xứ空無邊處.

không xứ-không vô biên xứ

Akàsànantyàyatana (S). The abode of infinite space the formless, or immaterial world.

không điểm

3484指附於梵字上之圓點,即‧(其音爲ṃ),有隨韻點畫之意。爲悉曇十二摩多之第十一。以???(a,阿)爲例,加圓點即成???(aṃ,暗)。蓋悉曇之空點,在梵語文典上稱爲隨韻(梵 anusvāra),意謂隨母音而鼻音化;而???可解爲梵語 aṃbara,意謂大空,故由此轉釋而稱該圓點爲空點。又???爲「阿字五轉」之一,依「東因發心」之義,配於發菩提心之位,故亦稱菩提點。大日經疏卷十四(大三九‧七二三上):「此阿上有點,是大空義,猶此菩提之心,離一切諸相,即名諸佛,是成菩提也。」 於密教中,以悉曇???字在音韻上之五種變化配上五方五佛、五智等,次第說明修行者之各種修證階次與方向,比即阿字五轉之義,其中,以東方之阿閦如來爲發菩提心之「因位」,循著「從因向果」之修證方向,稱爲東因發心。 又於空點之下加畫一半月形,成爲ー,此稱仰月點。其形在梵語文典中屬於隨鼻韻(梵 anunāsika),意謂隨母韻而鼻音化,故仰月點之用法與空點相同,半月形僅係裝飾而已。密教對附有空點之字,皆解釋作「大空」之義。〔理趣釋卷上、大日經疏卷七、卷九〕(參閱「仰月點」2170) ; (空點) Chỉ cho dấu chấm tròn thêm vào trên chữ Phạm, đọc là ô, nghĩa là tùy theo âm vận mà thêm dấu chấm. Ví dụ chữ Tất đàm (a), thêm dấu chấm vào thì thành (aô). Không điểm của Tất đàm trong tiếng Phạm gọi là Tùy vận (Phạm:Anusvàra), nghĩa là tùy theo mẫu âm mà đọc thành âm mũi. Còn thì có thể hiểu làAôbara, nghĩa là đại không, cho nên do sự giải thích này mà cái chấm tròn được gọi là Không điểm. Lại là 1 trong 5 lần chuyển biến của chữ , theo thuyết Đông nhân phát tâm, thì được phối hợp với giai vị Phát bồ đề tâm, cho nên nó cũng được gọi là Bồ đề điểm. Đại nhật kinh sớ quyển 14 (Đại 39, 723 thượng), nói: Trên chữ (a) này có dấu chấm tròn, đó là nghĩa đại không, giống như tâm bồ đề, lìa tất cả các tướng, nên gọi chư Phật là thành bồ đề. Mật giáo thường dùng 5 thứ biến hóa về mặt âm vận của chữ (a) Tất đàm phối hợp với 5 phương 5 Phật, 5 trí để nói rõ về thứ bậc và phương hướng tu chứng của hành giả, cũng giống như nghĩa 5 lần chuyển biến của chữ (a), trong đó, lấy A súc Như lai ở phương đông làm nhân vị phát tâm bồ đề, theo phương hướng tu chứng từ nhân hướng quả, gọi là Đông nhân phát tâm. Lại nữa, ở dưới Không điểm vẽ thêm 1 hình bán nguyệt, thành , gọi là Ngưỡng nguyệt điểm(chấm trăng ngửa). Trong tiếng Phạm, Ngưỡng nguyệt điểm thuộc về Tùy tị vận (Phạm:Anunàsika), nghĩa là tùy theo mẫu vận mà đọc thành âm mũi, vì thế cách dùng Ngưỡng nguyệt điểm cũng giống như Không điểm. Hình bán nguyệt chỉ là trang sức mà thôi, còn cả 2 chấm tròn đều là nghĩa Đại không. [X. Lí thú thích Q.thượng, Đại nhật kinh sớ Q.7, Q.9]. (xt. Ngưỡng Nguyệt Điểm).

không đáy

Agādha (P), Bottomless.

không đại

3471指虛空。又作空界。爲五大之一,六大之一。五大包括地、水、火、風、空等(屬色法),六大則係於五大之外再加「識」大(屬心法),皆爲構成有情或無情世界之基本元素;以其體性廣大,周遍於一切處,故謂之大。空界即內外之竅隙,如門窗、口鼻等處,亦爲能生長之因,與地、水、火、風四大,同屬色法。(參閱「六大」1251) ; Ākāśā-dhātu (S), Emptiness element. ; Akàsa-dhàtu (S). Space, one of the five elements (earth, water, fire, wind, space). Ethereal element. ; (空大) Cũng gọi Không giới. Chỉ cho hư không. Một trong 5 đại, 6 đại. Năm đại gồm: Đất, nước, lửa, gió, không (thuộc sắc pháp: vật chất), thêm Thức đại (thuộc tâm pháp: tinh thần)nữa thì thành 6 đại. Đây là những nguyên tố cơ bản tạo thành thế giới hữu tình hoặc vô tình. Vì thể tính của chúng rộng lớn, trùm khắp mọi nơi nên gọi là Đại. Không giới bao hàm hư không và những kẽ hở, lỗ hổng trong và ngoài thân như khe cửa, khoảng trống trong miệng, mũi, v.v... cũng như đất, nước, lửa, gió, Không giới là nhân sinh trưởng vạn vật và cùng thuộc sắc pháp. (xt. Lục Đại).

không đế

3483三諦之一,九諦之一。空諦、假諦、中道第一義諦之三諦說爲天台宗所盛倡,其中,空諦又作真諦、無諦。一切法從因緣生而自體不實,謂之空;諦者,審實不虛之理。中論卷四觀四諦品(大三○‧三三中):「眾因緣生法,我說即是無;亦爲是假名,亦是中道義。」 大乘法苑義林章卷二末,則立無常諦、苦諦、空諦、無我諦、有愛諦、無有愛諦、彼斷方便諦、有餘依涅槃諦、無餘依涅槃諦等九諦;其中之空諦即謂諸法之自性本空。(參閱「九諦」158、「三諦」684) ; (空諦) Cũng gọi Chân đế, Vô đế. Lí chân thực về nghĩa Không của các pháp, nghĩa là tất cả các pháp từ nhân duyên sinh không có tự thể chân thực. Là 1 trong 3 đế, 1 trong 9 đế. Phẩm Tứ đế trong Trung luận quyển 4 (Đại 30, 33 trung), nói: Pháp do nhân duyên sinh Ta nói tức là không Đó gọi là giả danh Cũng là nghĩa trung đạo. (xt. Cửu Đế, Tam Đế).

Không định

cũng gọi là pháp Tam-muội Không, đạt được nhờ quán sát tánh không của các pháp. Hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát đều có tu tập phép định này, nhưng chỉ có chư Phật mới đạt được phép định này đến mức rốt ráo.

không định-không tam muội

The meditation which dwells on the Void or the Immaterial.

không đụng chạm tới

Pāṇa (S), Untouchable.

Không 空

[ja] クウ kū ||| (1) Sky, space. (2) 'emptiness', 'non-existence', 'voidness.' (śūnyatā, śūnya); The opposite of 有--the negation of existence. As the rejection by the Buddha of this 'emptiness' being simply the mistaken view of 'nothingness' 虚無, this basic Buddhist teaching of emptiness is the negation of the two mistaken views of the acceptance of the real existence of a self 我, and the understanding of an eternal nature of the compositional elements (法) that make up the world or the self. Therefore, it is an 'emptiness of self and dharmas.' Among Hinayanists the Satyasiddhi sect 成實宗 and in Mahāyāna teachings the Mādhyamika 中觀派 and others strongly emphasized this teaching. Among the sutras, the Prajñāpāramitā sutras all especially emphasize this teaching. Among the various understandings of emptiness are 'analytical emptiness' and 'essential emptiness', as well as 'only emptiness' and 'not-only-emptiness' and so forth. As the teaching of emptiness is originally for the destruction of the attachment to false view, there is also the meaning of 'becoming empty'--to break attachment. => 1. Bầu trời, khoảng không gian. 2. 'Không' (s: śūnyatā, śūnya); ngược với Hữu 有- phủ nhận sự hiện hữu. Vì sự phủ nhận cái 'không' nầy của Đức Phật đơn giản chỉ vì cái hiểu sai lầm về 'hư vô' ('nothingness' 虚無), giáo lý cơ bản của Phật pháp về 'không' là phủ nhận cả hai cái hiểu sai lầm khi chấp nhận thực tại là Ngã và nhận thức về bản chất thường hằng của các pháp đã tạo nên thế giới hoặc là cái Ngã ấy. Do vậy, nó chính là 'Ngã không và pháp không'. Trong số đó, Thành thật tông thuộc Tiểu thừa, và giáo lý Trung quán tông thuộc Đại thừa và các phái khác đều nhấn mạnh đến giáo lý nầy. Trong các kinh, Kinh Bát-nhã hoàn toàn đặc biệt nhấn mạnh giáo lý nầy. Trong vô số lý giải về 'không' là: 'tích không' và 'thể không '; 'đản không' và 'bất đản không'. Vì giáo lý về 'không' vốn chỉ là để phá trừ sự dính mắc vào tà kiến, nên nó còn có nghĩa là 'không không'- để phá trừ luôn kiến chấp trên.

Không, Không tính

空,空性; S: śūnya (tính từ), śūnyatā (danh từ); nghĩa là »trống rỗng«, »rỗng tuếch«;|Khái niệm trung tâm của đạo Phật, quan trọng nhất và cũng trừu tượng nhất. Trong thời đạo Phật nguyên thuỷ, kinh điển đã nhắc rằng, mọi sự vật là giả hợp, Hữu vi (s: saṃskṛta), trống rỗng (s: śūnya), Vô thường (s: anitya), Vô ngã (s: anātman) và Khổ (s: duḥkha).|Trong Tiểu thừa, tính Không nhằm nói về thể tính của con người và được sử dụng như một tính từ (s: śūnya). Ðại thừa đi thêm một bước nữa, sử dụng Không như một danh từ (s: śūnyatā), xem Không là vạn sự, vạn sự là Không, tức mọi hiện tượng thân tâm đều không hề có tự tính (s: svabhāva). Mọi pháp đều chỉ là những dạng trình hiện (呈現; e: appearance; g: erscheinung), chúng xuất phát từ tính Không, là không. Tính Không vừa chứa tất cả mọi hiện tượng, vừa xuyên suốt các trình tự phát triển sự vật. Tuy thế, người ta cần phải tránh quan điểm hư vô (e: nihilism) dễ có khi luận về tính Không như vừa kể trên. Phải hiểu là sự vật không phải là không có, chúng có, nhưng chỉ là những dạng xuất hiện, là những trình hiện của một thể tính. Kể cả tư tưởng cũng là trình hiện của thể tính đó nên không thể dùng tư tưởng để tiếp cận ngược lại nó. Vì vậy tiếp cận tính Không là nội dung của các phép tu học, nhất là Thiền tông. Tính Không được Ðại thừa cho là thể tính tuyệt đối, tối thượng, không bị hạn lượng của nhị nguyên. Vì tính chất trừu tượng và chỉ nhờ trực ngộ mà thấy nên tính Không luôn luôn là đối tượng tranh luận trong các tông phái Phật giáo xưa nay.|Ðại thừa dùng ẩn dụ sau đây để minh hoạ sự khác biệt trong quan điểm của Tiểu thừa và Ðại thừa về tính Không: Tiểu thừa xem sự vật như một cái thùng trống rỗng, Ðại thừa phủ nhận luôn sự hiện hữu của cái thùng đó, chủ trương một quan điểm vô ngã tuyệt đối.|Trong bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, tính Không được xem là cái chung nhất của tất cả mọi hiện tượng mâu thuẫn lẫn nhau; kinh này cho rằng Sắc và Không không hề khác nhau (Ma-ha bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh).|Trung quán tông thì cho mọi sự vật đều trống rỗng, chúng chỉ dựa lên nhau mà có (Mười hai nhân duyên). Thể tính của toàn thế giới là Không, nó là »cái tĩnh lặng của thiên hình vạn trạng«. Tính Không là thể tính của mọi khái niệm, kể cả khái niệm »tính không« bao trùm ngôn ngữ. Vì vậy không thể dùng ngôn ngữ, dùng khái niệm nói về Không. Trung quán tông cho rằng, Tính Không có ba chức năng: nguồn gốc của tất cả mọi sinh thành của chúng sinh, của sự hoại diệt của chúng, đồng thời tạo cho chúng điều kiện thoát khỏi Luân hồi. Một khi con người dùng trí Bát-nhã kiến ngộ được Không là con người đạt Niết-bàn.|Ðối với Duy thức tông (s: yogācāra, vijñānavāda) thì mọi sự đều trống rỗng vì chúng chỉ xuất phát từ Tâm (s: citta). Trong trường phái này thì Tâm và tính Không là một.|Tại Tây Tạng, quan điểm tính Không cũng đóng một vai trò quan trọng trong khi truyền giáo lí Trung quán qua xứ này. Luận sư Ấn Ðộ Liên Hoa Giới (s: kamalaśīla) và Hoà thượng Ðại Thừa, đại diện của Thiền tông Trung Quốc tranh cluận nhau, liệu con đường giác ngộ chân lí phải qua từng cấp bậc (Tiệm ngộ) hay chỉ là một trực nhận bất ngờ (Ðốn ngộ). Cuối cùng, tại Tây Tạng, người ta chấp nhận con đường »từng cấp« và vì thế kể từ khoảng thế kỉ 11, người ta bắt đầu thiết lập nhiều phép tu và quan niệm triết học về tính Không, còn được ghi lại trong những tác phẩm gọi chung là Tất-đàn-đa (s: siddhānta). Tất cả mọi trường phái của Trung quán đều lấy quan điểm »hai chân lí« của Long Thụ làm gốc:|Chân lí quy ước (s: saṃvṛti-satya), có giá trị trong đời sống bình thường, có giá trị cho các hiện tượng do Mười hai nhân duyên tạo nên, nhưng thật ra chúng không tồn tại thật sự;|Chân lí tuyệt đối (s: paramārthasatya), là tính Không, là thể »nằm ngoài tồn tại hay không tồn tại«, là thể không thể nghĩ bàn – chỉ có thể thông đạt được qua sự trực nhận.|Tất cả các điểm khác nhau giữa các phái thuộc Trung quán là hiểu thế nào về hai chân lí đó và làm sao mà tiếp cận, trực ngộ được tính Không. Các phép tu của Phật giáo Tây Tạng dần dần không chỉ tự giới hạn nơi những quan điểm triết học mà còn đi sâu vào các phép Tan-tra để tiếp cận tính Không. Ðặc biệt là phép tu Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) và Ðại cứu kính (s: atiyoga; t: dzogchen) chỉ rõ cho hành giả cách thể nhập kinh nghiệm về tính Không. |Với thời gian, người ta có thể nhận ra một điểm khác biệt giữa Trung quán tông nguyên thuỷ và các giáo pháp Trung quán của Tây Tạng: nếu Trung quán chỉ nói tới tính Không bằng cách phủ nhận cái »đang là« thì các giáo phái này xem tính Không là một cái gì đó có tính chất khẳng định (e: positive) có thể nắm bắt được, tính Không này mang một tính chất »rộng mở«, có một mối liên hệ với Cực quang (s: ābhāsvara, ánh sáng rực rỡ, Na-rô lục pháp).

Không, Vô tướng và Vô tác

xem Ba môn giải thoát.

Khúc

曲; C: qŭ; J: koku, goku, kyoku; |1. Uốn cong, bị cong, vênh, khúc cong; 2. Làm cong, làm hư hỏng, bóp méo, làm xoắn; 3. Một đoạn đường cong; 4. Sai, trái; 5. Kĩ lưỡng, chính xác; 6. Một bài hát; 7. Dạy dỗ; thầy giáo.

khúc công

2426西藏佛教之供燈用具。一般為銅質,亦有金質、銀質、石質者。拉薩大昭寺釋迦牟尼佛像前陳列之金燈,不僅刻有精緻之圖案花紋,並鑲有藍寶石。供燈之種類,有百盞燈供、千盞燈供等。 ; (曲工) ..... Một loại đèn làm bằng đồng, vàng, bạc, đá, v.v... để thờ cúng trong các chùa của Phật giáo Tây tạng. Trước tượng Phật Thích ca mâu ni ở chùa Đại chiêu tại Lạp tát (Lhasa), Tây tạng, có cây đèn bằng vàng nạm đá quí mầu xanh lam, chạm trổ hoa văn rất đẹp để thờ. Đèn này có nhiều loại như đèn trăm chén (dầu), đèn nghìn chén...

khúc lục

2426為僧家所用之椅子、坐床。又作曲彔木、曲錄、曲祿、曲 ; (曲彔) Cũng gọi Khúc lục mộc, Khúc lộc, Khúc lốc, Khúc mộc, Viên ỷ, Giao ỷ, Tham ỷ. Ghế ngồi có ngai để dựa của chư tăng thời xưa. Người Trung quốc cổ đại chỉ trải chiếu ngồi trên đất chứ không có ghế. Đến khoảng cuối đời Hán và đầu Lưỡng Tấn (Đông Tấn, Tây Tấn) do sự quan hệ giữa người Hồ (các nước Tây vực) và người Trung nguyên nên loại ghế này mới được truyền vào Trung quốc và gọi là Hồ sàng (giường người Hồ). Thông thường, khúc lục được làm bằng gỗ, có 4 chân, mỗi cặp chân tréo nhau; vì hình dáng lưng dựa cũng giống như cái tay ngai nên gọi là Khúc lục. Trong Đại minh cao tăng truyện quyển 6 có từ ngữ Tọa khúc lục sàng(ngồi giường khúc lục), như vậy, Khúc lục cũng được dùng để chỉ cho cái giường. Ngoài ra, Tọa khúc lục sàng còn được dùng để thay thế cho sự hoằng dương Phật pháp của vị Trụ trì 1 ngôi chùa trong Thiền lâm. Chương Ứng am Đàm hoa thiền sư trong Gia thái phổ đăng lục (vạn tục 137, 139 hạ), nói: Hai mươi năm qua ngồi giường khúc lục, treo đầu dê, bán thịt chó, biết hắn có bằng cớ gì? Tuy nhiên, mỗi năm 1 lần tiết thiêu hương, ngàn xưa khiến người ta càng thêm hận. [X. Vân môn Văn yển thiền sư ngữ lục Q.thượng; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khúc mộc cứ vị

2426禪林用語。原指安坐於曲木(僧家所用之椅子)禪床上;後轉為臨住持位,以指導教化大眾之意。祖庭事苑卷三雪竇祖英集上(卍續一一三‧三三下):「韶陽雲門大師云:『諸方老禿奴,曲木禪床上坐,求名求利,問佛答佛,問祖答祖,痾屎送尿也,三家村裏老婆傳口令相似,識甚麼好惡?總似者般底水也難消!利刀斬卻百千萬億箇,有甚麼過!』」(參閱「曲彔」2426) ; (曲木據位) Cũng gọi Khúc mộc thiền sàng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ngồi yên trên chiếc ghế của chư tăng. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng với ý nghĩa lên chức Trụ trì để giáo hóa đại chúng. Tuyết đậu Tổ anh tập thượng trong Tổ đình sự uyển quyển 3 (Vạn tục 113, 33 hạ), ghi: Đại sư Vân môn ở Thiều dương nói: Các lão trọc ở khắp nơi ngồi trên giường khúc mộc(tức làm Trụ trì), cầu danh cầu lợi, hỏi Phật đáp Phật, hỏi Tổ đáp Tổ, đi ngoài đi giải, giống như bà già đã dốt lại lắm chuyện, biết cái gì tốt cái gì xấu? Tất cả đều như thế! Dao bén chém bỏ trăm nghìn vạn ức kẻ, có lỗi gì!. (xt. Khúc Lục).

khúc nữ thành

Kanyākubja (S)Một đô thành phương bắc nước Ban xà la (Pancala) thời đức Phật.

khúc pháp môn

2426指似是而非,令人迷惑之法門。或指不正之教法,不切實際之法門。 ; (曲法門) Pháp môn cong queo. Chỉ cho pháp môn tựa hồ như đúng, nhưng thực ra là sai, làm cho người ta mê lầm; hoặc chỉ cho giáo pháp bất chính không đúng với chân lí.

Khúc thuyết

曲説; C: qŭ shuō; J: kyokusetsu; |Quan niệm sai lệch. Khuynh hướng hay lí lẽ thiên lệch. Lời tuyên bố một chiều.

Khúc thuyết 曲説

[ja] キョクセツ kyokusetsu ||| An incorrect opinion or view. A biased or prejudiced argument; a one-sided statement. => Quan niệm sai lệch. Khuynh hướng hay lý lẽ thiên lệch. Lời tuyên bố nột chiều.

Khúc thành

曲成; C: qŭ chéng; J: kyokusei; |1. Hoàn chỉnh toàn bộ không một chút sơ suất; 2. Đưa sự việc đến chỗ hoàn mãn bằng cách lợi dụng sự biến chuyển theo hoàn cảnh (Kinh Dịch).

Khúc thành 曲成

[ja] キョクセイ kyokusei ||| (1) To perfect fully without any oversight. (2) To bring things to perfection by availing oneself to change and following conditions. (I-Ching). => 1. Hoàn chỉnh toàn bộ không một chút sơ suất. 2. Đưa sự việc đến chỗ hoàn mãn bằng cách lợi dụng sự biến chuyển theo hoàn cảnh (Kinh Dịch).

Khúc xỉ

曲齒; C: qŭchĭ; J: kyōshi; S: kūṭadantī|Một trong 10 vị La-sát nữ hộ pháp trong kinh Pháp Hoa. Thập La-sát nữ (十羅刹女).

Khúc xỉ 曲齒

[ja] キョウシ Kyōshi ||| Kūṭadantī. One of the ten rākṣasīs who protect the dharma in the Lotus Sutra. See 十羅刹女. 〔法華經 T 262.9.59a23〕 (s: Kūṭadantī). => Một trong 10 vị La-sát nữ hộ pháp trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập La-sát nữ.

khúc đinh

2426西藏佛教盛水之供器。即供水杯。有金質、銀質、銅質者,以七個為一套。內盛淨水,供奉於三寶前,每天換一次。此杯亦可盛花、果、糧等供品。 ; (曲丁) ..... Chén đựng nước cúng trong các chùa của Phật giáo Tây tạng. Loại chén này được làm bằng vàng, bạc, đồng, v.v... 1 bộ 7 cái, đựng nước cúng trước Tam bảo, mỗi ngày thay nước 1 lần. Chén này cũng có thể được dùng để đựng hoa quả, thức ăn... để dâng cúng.

Khúc 曲

[ja] コク、ゴク、キョク koku, goku, kyoku ||| (1) Bend, be bent, warped, twisted. (2) To make crooked, perverted, distorted, twisted. (3) A circular route or path. (4) Incorrect, wrong. (5) Minutely, exactly. (6) A song. (7) Teaching; a teacher. => 1. Uốn cong, bị cong, vênh, khúc cong. 2. Làm cong, làm hư hỏng, bóp méo, làm xoắn. 3. Một đoạn đường cong. 4. Sai, trái. 5. Kỹ lưỡng, chính xác. 6. Một bài hát. 7. Dạy dỗ; thầy giáo.

khư

2759悉曇字???(kha)。為悉曇五十字門之一,四十二字門之一。又作呿、渴、喀、吃。乃悉曇體文三十五字中,喉聲之第二。稱佉字門時,表入諸法虛空不可得、入般若波羅蜜門及教拔一切煩惱根本之義。如大日經疏卷七(大三九‧六五二上):「梵音佉字,是虛空義,世間共許虛空是無生無作法,若一切法本不生,離諸作,是畢竟如虛空相,今此空相亦復不可得也。」蓋佉是虛空義,故於「字相釋」時,為等虛空之聲;於「深祕釋」時,則為虛空不可得之義。凡一切法本不生,離諸作與作者,世間無有可以比喻者,唯虛空有部分相似,故以法性難解之空,比喻世間易解之空,故謂畢竟如虛空相。然恐世人聞諸法等虛空之說後,墮於畢竟空之見,故謂此空相亦不可得,以顯絕對之大空。此外,密教於其六大中,以佉字表空大種子。〔華嚴經普賢行願品卷三十一、佛本行集經卷十一、佛般泥洹經卷五、文殊問經字母品第十四、方廣大莊嚴經卷四、華嚴經入法界品四十二字觀門、瑜伽金剛頂經釋字母品、大智度論卷四十八〕 ; (佉) Cũng gọi: Khát, Khách, Khất. Chữ Tất đàm (kha) là 1 trong 50 chữ cái, 1 trong 42 chữ Tất đàm, thanh hầu thứ 2 trong 35 phụ âm Tất đàm. Chữ Khư biểu thị nghĩa vào các pháp hư không bất khả đắc, vào môn Bát nhã ba la mật và dứt hết tất cả phiền não căn bản. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 652 thượng), nói: Chữ Khư tiếng Phạm nghĩa là hư không, thế gian cũng cho rằng hư không là pháp không sinh, không tạo tác, nếu tất cả các pháp vốn không sinh, lìa mọi sự tạo tác, thì rốt cuộc cũng giống như tướng hư không, nay tướng hư không này cũng lại bất khả đắc. Bởi vì Khư nghĩa là hư không, cho nên, khi giải thích theo tướng chữ thì Khư là hư không; còn khi giải thích theo nghĩa sâu kín thì Khư là hư không bất khả đắc. Tất cả pháp vốn không sinh, lìa mọi sự tạo tác và người tạo tác, thế gian không thể lấy gì để ví dụ, chỉ hư không là có phần giống nhau, cho nên dùng cái không khó hiểu của pháp tính để ví dụ cái không dễ hiểu của thế gian. Nhưng sợ rằng sau khi nghe nói các pháp đồng như hư không, thì người đời lại rơi vào cái thấy không, vì thế mà nói cái tướng không ấy cũng bất khả đắc, nghĩa là lấy đại không để hiển bày tuyệt đối. Ngoài ra, trong 6 đại(đất, nước, gió, lửa, không, thức), Mật giáo lấy chữ Khư để biểu thị cho chủng tử Không đại. [X. phẩm Phổ hiền hạnh nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.31; kinh Phật bản hạnh tập Q.31; kinh Phật ban nê hoàn Q.5; phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù vấn; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4; Môn tứ thập nhị tự quán, phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm; phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính; luận Đại trí độ Q.48].

khư la khiên đà

Suraskandha (S)Vua loài A tu la.

khư la đế da sơn

2761佉羅帝耶,梵名 Kharādīya。地藏菩薩之淨土。又作佉羅提耶山、佉羅陀山、伽羅陀山。意譯騾林山。佛陀嘗於此山說地藏十輪經,故為地藏菩薩之住處。據慧琳音義卷十八所載,此山為七金山、十寶山之一,接近須彌,高四萬踰繕那。光味仙人亦居於此,學習驢脣仙所傳之玄象列宿法。〔地藏十輪經卷一、玄應音義卷二十一〕(參閱「佉陀羅山」2760) ; (佉羅帝耶山) Khư la đế da, Phạm: Kharàdìya. Cũng gọi Khư la đề da sơn, Khư la đà sơn, Gia la đà sơn. Hán dịch: Loa lâm sơn. Tên núi, ở gần núi Tu di, cao 40.000 du thiện na. Theo Tuệ lâm âmnghĩa quyển 18, thì núi này là 1 trong 7 núi vàng, đức Phật đã từng nói kinh Địa tạng thập luân ở đây, vì thế nơi này là chỗ ở của bồ tát Địa tạng, cũng là trú xứ của Quang vị tiên nhân. [X. kinh Địa tạng thập luân Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.21]. (xt. Khư Đà La Sơn).

khư lê

2760梵語 khārī 或 khāra,巴利語 khāri。又作佉利、佉梨、佉黎。譯作斛、十斛、石。為物之數量單位。雜阿含經卷四十八之一二七八經解說阿浮陀地獄中眾生之壽量(大二‧三五一下):「譬如拘薩羅國四斗為一阿羅,四阿羅為一獨籠那,十六獨籠那為一闍摩那,十六闍摩那為一摩尼,二十摩尼為一佉梨,二十佉梨為一倉,滿中芥子。若使有人百年取一芥子,如是乃至滿倉芥子都盡,阿浮陀地獄眾生壽命猶故不盡。」又楞伽阿跋多羅寶經卷一載有鉢他、阿羅、獨籠那、佉梨等名詞,於魏譯入楞伽經卷二及唐譯大乘入楞伽經卷一中,譯為一升、半升、一斛、十斛,即以十獨籠那為一佉棃,與雜阿含經五千百二十獨籠那為一佉棃之說不一致。〔小品般若經卷十曇無竭品、大樓炭經卷二泥犁品、大品般若經卷二十七法尚品、俱舍論光記卷十一、玄應音義卷二十四、翻譯名義集卷三〕 ; (佉棃) Phạm:KhàrìhoặcKhàra. Pàli:Khàri. Cũng gọi Khê lợi. Dịch ý: Hộc, Thập hộc, Thạch. Đơn vị tính số đong lường của Ấn độ thời xưa. Bài kinh thứ 1278 trong Tạp a hàm quyển 48, nói về thọ lượng của chúng sinh trong địa ngục A phù đà như sau (Đại 2, 351 hạ): Theo đơn vị đong lường ở nước Câu tát la thì 4 hộc bằng 1 a la, 4 a la bằng 1 độc lung na, 16 độc lung na bằng 1 xà ma na, 16 xà ma na bằng 1 ma ni, 20 ma ni bằng 1 khư lê, 20 khư lê bằng 1 thương (kho). Ví dụ trong kho này chứa đầy hạt cải, giả sử có người mỗi trăm năm lấy ra 1 hạt, cứ như thế cho đến khi lấy hết hạt cải trong kho mà thọ mệnh của chúng sinh ở địa ngục A phù đà vẫn chưa hết!. Trong kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 1, có nói đến những danh từ như: Bát tha, A la, Độc lung na, Khư lê, v.v... Trong kinh Nhập lăng già quyển 2 dịch vào đời Ngụy và kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 1 dịch vào đời Đường, thì từ khư lê đều được dịch là nhất thăng, bán thăng, nhất hộc, thập hộc, tức lấy 10 độc lung na làm 1 Khư lê, khác với kinh Tạp a hàm quyển 5 cho rằng 1120 độc lung na là 1 khư lê. [X. phẩm Đàm vô kiệt trong kinh Tiểu phẩm bát nhã Q.10; phẩm Nê lê trong kinh Đại lâu thán Q.2; phẩm Pháp thượng trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.27; Câu xá luận quang kí Q.11; Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].

khư lô sắt trá

2761<一>梵名 Kharoṣṭha 或 Kharoṣṭī。傳說中印度古代之仙人。又作佉路瑟吒、佉盧虱底、佉盧吒。略稱佉盧、迦留、盧吒。意譯作驢脣、強鵒鴻。據大方等大集經卷四十一載,賢劫初,瞻波城王之夫人貪色欲,至園中與驢得一兒,人身驢面,夫人驚而棄之。兒以福力故,止於空中而不墮,一羅剎婦名為驢神,見而憐愍,乃接取入雪山哺育。及長,福德莊嚴,號佉盧虱吒,其身端正,唯脣似驢,故稱驢脣仙人。此仙苦行修道,後為一切諸天龍神等說星辰日月之運用。〔阿毘曇毘婆沙卷五十一、大毘婆沙論卷一○一、翻譯名義集卷二、翻梵語卷五〕 <二>古代北印度葱嶺一帶所行之銘刻文字,傳為驢脣仙人所造,故稱佉盧虱吒書。或作佉盧書、佉樓書、驢脣文字、梵寐書、佉盧虱底書。此文字約於西紀前五百年頃,由波斯之阿喇美玆庫體(Aramäische Type)所起,復由波斯王大流士(Darius)三世強制推行,紀元前四世紀時傳入北印度。其時北印度正流行梵書(梵 Brāhmī),故此文字未為一般人所應用,而幾近消滅。此字母所寫之文書,係由右向左橫讀。其遺物方面有石刻、金屬板、容器、貨幣、寶石、樺皮等,多分布於古代犍陀羅之處(即今阿富汗東部、北部),阿育王亦曾使用此種文字。史坦因(A. Stein)首次於中央亞細亞探險之際,曾於和闐附近發現此種文字所刻之貨幣、革皮、木片等零星斷片。〔大毘婆沙論卷八十二、卷一○一、百論疏卷上之下、玄應音義卷十七、悉曇藏卷一〕 ; (佉盧虱咤) I. Khư Lô Sắt Tra. Phạm: Kharowỉha hoặc Kharowỉi. Cũng gọi: Khư lộ sắt na, Khư lô sắt để, Khư lô tra. Gọi tắt: Khư lô, Ca lưu, Lô tra. Hán dịch: Lư thần, Cường dục hồng. Tên một vị tiên trong truyền thuyết của Ấn độ cổ đại. Cứ theo kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 41, thì vào đầu kiếp Hiền, phu nhân của vua thành Chiêm ba tham đắm sắc dục, bà vào trong vườn giao hợp với lừa (lư) sinh được 1 con, thân người mặt lừa, bà ta sợ hãi đem bỏ đi, nhưng nhờ phúc lực đứa bé chỉ dừng lại ở giữa hư không chứ không rơi xuống. Lúc đó có 1 La sát nữ tên là Lư thần, trông thấy, động lòng thương xót, đưa đứa bé về núi Tuyết nuôi dưỡng và đặt tên là Khư lô sắt tra. Lớn lên, đứa bé rất xinh đẹp, phúc hậu, chỉ đôi môi là giống lừa, tu khổ hạnh thành tiên, nên gọi là Lư thần tiên nhân(vị tiên môi lừa). Sau, vị tiên này nói cho các trời và long thần nghe về sự vận hành của các vì tinh tú. [X. A tì đàm tì bà sa Q.51; luận Đại tì bà sa Q.101; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2; Phiên phạm ngữ Q.5]. II. Khư Lô Sắt Tra. Văn tự được khắc sâu vào đá lưu hành ở vùng Thông lãnh thuộc miền Bắc Ấn độ đời xưa. Theo truyền thuyết, lọai văn tự này do vị tiên Lư thần đặt ra, cho nên gọi là Khư lô sắt tra thư, hoặc Khư lô thư, Khư lâu thư, Lư thần văn tự, Phạm mị thư, Khư lô sắt để thư. Loại văn tự này do ông Aramaische Type, người Ba tư khởi xướng vào khoảng 500 năm trước Tây lịch, rồi lại do vua Ba tư là Darius đời thứ III bắt buộc phát triển, đến khoảng thế kỉ thứ IV trước Tây lịch thì loại văn tự này được truyền vào miền Bắc Ấn độ. Nhưng thời ấy, Bắc Ấn độ đang lưu hành Phạm thư (Phạm: Bràhmì), cho nên văn tự này không được mọi người sử dụng và gần như bị tiêu diệt. Cách viết loại chữ này là viết ngang từ phải sang trái, cách đọc cũng thế. Văn tự này được khắc trên đá, kim loại, bản gỗ, đồ dùng, tiền tệ, vỏ cây hoa, v.v..., được thấy rải rác ở vùng Kiện đà la đời xưa(nay là A phú hãn, phía đông và phía bắc). Vua A dục cũng sử dụng loại văn tự này. Lần đầu tiên thám hiểm vùng Trung á, ông A. Stein đã tìm thấy loại chữ này được khắc trên những đồng tiền, vỏ cây, phiến gỗ... ở gần Hòa điền. [X. luận Đại tì bà sa Q.82, Q.101; Bách luận sớ Q.thượng phần cuối; Huyền ứng âm nghĩa Q.17; Tất đàm tạng Q.1].

khư trá võng ca

2760梵語 Khaṭvāṅga。據唐代不空譯之一字奇特佛頂經卷中所載,佉吒網迦乃成就物之一種。另據諸儀軌稟承錄卷十載,佉吒網迦,指用以刺戳地之棒。又陀羅尼集經卷九則以之為髑髏杖(於頂端串以髑髏之杖)。此外,大力烏樞瑟摩明王經卷中之「佉吒望迦」則為其同義語。 ; (佉咤網迦) Phạm: Khaỉvàíga. Cũng gọi: Khư tra vọng ca. Cứ theo kinh Nhất tự kì đặc Phật đính quyển trung do ngài Bất không dịch vào đời Đường, thì Khư tra võng ca là một loại vật thành tựu. Còn theo Chư nghi quĩ bẩm thừa lục quyển 10, thì Khư tra võng ca là chỉ cho cây gậy dùng để cắm xuống đất. Lại theo kinh Đà la ni tập quyển 9, thì Khư tra võng ca là cây gậy đầu lâu(gậy có treo cái đầu lâu).

khư đà la

2760梵語 khadira。又作佉陀囉、佉達羅、劫陀羅、劫地羅、朅達羅、珂地羅、朅地洛迦、佉提羅迦、呵黎羅、軻黎羅、可黎羅等。略稱佉陀。為木名。在密教修法中,作為護摩木、金剛橛之用,材質堅硬。意譯為紫橿(畺)、檐(擔)木、堅硬木、 ; (佉陀羅) Phạm: Khadira. Cũng gọi: Khư đạt la, Kiếp đà la, Kiếp địa la, Khát đạt la, Kha địa la, Khát địa lạc ca, Khư đề la ca, Ha lê la, Kha lê la, Khả lê la. Gọi tắt: Khư đà. Tên một loại cây, gỗ nó cứng chắc nên được dùng làm cây hộ ma hoặc cọc kim cương trong pháp tu của Mật giáo. Tuệ lâm âm nghĩa quyển hạ gọi cây này là Khổ luyện mộc(cây xoan), e đã nhầm lẫn. Kinh Trường a hàm quyển 18 và Câu xá luận quang kí cũng có nói đến núi Khư đà la, vì trên núi này có rất nhiều cây Khư đà la nên lấy tên cây làm tên núi. Ngoài ra, người đời truyền tụng rằng trên núi Khư đà la có tượng vẽ của bồ tát Địa tạng. [X. kinh Tô tất địa Q.trung; kinh Đà la ni tập Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.9].(xt. Khư Đà La Sơn).

khư đà la sơn

2760梵名 Khadiraka。又作竭地洛迦山、竭達洛迦山、佉提羅迦山、伽陀羅山、軻犁羅山、軻地羅山。意譯檐木山、檐林山、空破山、旃山。七金山之一,位於須彌山與鐵圍山之間。山上有寶樹,其形類似佉陀羅,故以佉陀羅為山名。關於其位置,長阿含經卷十八世記經閻浮提洲品及其異譯起世經卷十、起世因本經卷十等記載,為七金山之一,位於最近須彌山處。俱舍論卷十一、順正理論卷三十一記載為七金山之第三位,瑜伽師地論卷二記載為第五位,梵文大事(Mahāvastu, vol.Ⅱ. p. 300)記載為第四位。 據善見律毘婆沙卷四載,七金山之第三為迦羅毘拘山(巴 Karavīka),或係佉陀羅山之別名。有部毘奈耶藥事卷十四記載佉達羅山(梵 Khadiraka),此山之梵名與佉陀羅山相同,然非同指一山。 又大乘大集地藏十輪經卷一、大方廣十輪經卷一等皆說有名佉羅帝耶山者,為牟尼仙之住處。慧琳音義卷十八將佉羅帝耶山與佉陀羅山視為同一山,謂佉羅帝耶山為七金山之一、十寶山之一,接近須彌,高四萬踰繕那,光味仙人居此。〔大樓炭經卷五災變品、舊華嚴經卷二十七、新華嚴經卷五十、華嚴經探玄記卷十四、俱舍論光記卷十一、翻梵語卷九、瑜伽論記卷一、玄應音義卷一〕 ; (佉陀羅山) Phạm: Khadiraka. Cũng gọi: Kiệt địa lạc ca sơn, Khát đạt lạc ca sơn, Khư đề la ca sơn, Già đà la sơn, Kha lê la sơn, Kha địa la sơn. Dịch ý: Thiềm mộc sơn, Thiềm lâm sơn, Không phá sơn, Chiên sơn. Tên núi nằm ở khoảng giữa núi Tu di và núi Thiết vi. Trên núi có nhiều cây quí, giống như cây Khư đà la, cho nên dùng tên cây để đặt tên núi. Một trong 7 núi vàng. Về vị trí của núi này, theo phẩm Diêm phù đề châu, kinh Thế kí trong Trường a hàm quyển 18, kinh Khởi thế quyển 10 và kinh Khởi thế nhân bản quyển 10, thì núi này ở gần núi Tu di nhất. Theo luận Câu xá quyển 10 và luận Thuận chính lí quyển 31, thì núi Khư đà la là núi thứ 3 trong 7 núi vàng; luận Du già sư địa quyển 2 thì cho là núi thứ 5; còn Đại sự (Phạm: Mahàvastu, vol. II. p.300) bằng tiếng Phạm thì cho là núi thứ 4. Theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 4, thì ngọn thứ 3 trong bảy núi vàng là Ca la tì câu sơn (Pàli:Karavìka), đây có thể là tên khác của núi Khư đà la. Trong Hữu bộ tì nại da dược sự quyển 14, có ghi Khư đạt la sơn (Phạm: Khadiraka), tên Phạm của núi này cũng trùng với núi Khư đà la, nhưng là 2 quả núi khác nhau. [X. phẩm Tai biến kinh Đại lâu thán Q.5; kinh Hoa nghiêm quyển 27 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.50 (bản dịch mới); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.14; Câu xá luận quang kí Q.11; Phiên phạm ngữ Q.9; Du già luận kí Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.1].

khư đồ la

Xem Đãm mộc.

khư-đà-la

phiên âm từ Phạn ngữ là khadira, tên một loại cây có gỗ rất rắn chắc, dịch nghĩa là kiên ngạnh mộc hay không phá mộc. Vì gỗ cây này rắn chắc nên than của nó là loại than đốt lên rất nóng.

khưu da tô đa

Heyasutta (P)Một trong 6 thể loại kinh điển của Kỳ Na giáo.

khưu tỉnh

(丘井) ..... Giếng khô. Ví dụ sắc thân già nua, giống như cái giếng trên gò cao khô cạn, không dùng được nữa. Phẩm Phương tiện kinh Duy ma (Đại 14, 539 trung), nói: Thân này như giếng khô, bị tuổi già bức bách. [X. Duy ma kinh lược sớ Q.3].

khưu tựu khước

(khưu tựu khước ) ........ Kujurakara. Tên của Linh hầu Quí sương trong 5 bộ Linh hầu của chủng tộc Nguyệt chi. Sau, Linh hầuKujurakaratiêu diệt 4 Linh hầu kia, tự lập vương quốc, hiệu là Quí sương vương. Kế tiếp, đánh chiếm nước An tức, lấy đất Cao phụ và diệt các nước Bộc đạt, Kế tân, v.v... Khưu tựu khước qua đời lúc hơn 80 tuổi, con là Diêm cao trân nối ngôi làm vua, về sau diệt nước Thiên trúc. Đến đời con của Diêm cao trân là Ca nị sắc ca sau khi lên làm vua thì trở thành một Đại vương thống trị cả miền Trung và miền Bắc Ấn độ. [X. Tây vực truyện trong Hậu Hán thư]. (xt. Nguyệt Chi, Ca Nị Sắc Ca Vương).

Khương Tăng Hội

(康僧會, Kōsōkai, ?-280): vị tăng dịch kinh dưới thời đại Tam Quốc, người Giao Chỉ (交趾, Bắc bộ Việt Nam), tổ tiên ông xuất thân nước Khương Cư (s: Sogdiana, 康居), nhưng đến thời cha ông thì dời sang Giao Chỉ để làm ăn buôn bán. Hơn 10 tuổi, ông đã để tang song thân và sau khi mãn tang thì xuất gia. Ông tinh thông tam tạng kinh luật, cùng các học tăng như Hàn Lâm (韓林) ở Nam Dương (南陽), Bì Nghiệp (皮業) ở Dĩnh Châu (潁), Trần Huệ (陳慧) ở Cối Kê (會稽), v.v., phiên dịch kinh điển Phật Giáo sang tiếng Hán. Vào năm thứ 10 (247) niên hiệu Xích Ô (赤烏) nhà Ngô thời Tam Quốc, ông đến Kiến Nghiệp (建業) bắt đầu hành đạo, suốt ngày thắp hương lễ bái tượng Phật, tụng kinh, ngồi Thiền, rồi ra chợ khất thực. Chính việc làm kỳ lạ của ông đã làm cho nhiều người cảm mến, bèn tâu lên vua nhà Ngô là Tôn Quyền (尊權); nhân đó nhà vua cho mời đến hỏi sự việc. Sau ông đáp ứng lời thỉnh cầu của Tôn Quyền, chỉ trong 21 ngày làm cảm ứng được xá lợi Phật, vì vậy nhà vua vô cùng kính phục thần thông của ông, bèn quy y theo, và lập nên Kiến Sơ Tự (建初寺) để cho ông truyền đạo dịch kinh. Nhờ vậy Phật Giáo ở địa phương Kiến Nghiệp trở nên hưng thạnh. Đây cũng là con đường truyền đạo từ phương Nam vào Trung Quốc, và chính Phạn bối cũng được truyền vào qua con đường này. Vào năm đầu niên hiệu Thái Khang (太康) nhà Tấn, ông thị tịch, không rõ thọ được bao nhiêu, được ban cho hiệu là Siêu Hóa Thiền Sư (超化禪師). Các kinh điển chủ yếu của ông dịch có Ngô Phẩm Kinh (呉品經) 5 quyển, Tạp Thí Dụ Kinh (雜譬喩經) 2 quyển, Lục Độ Tập Kinh (六度集經) 9 quyển (hiện tồn chỉ có 8 quyển), và chú giải một số kinh như An Ban Thủ Ý Kinh (安般守意經), Pháp Kính Kinh (法鏡經), Đạo Thọ Kinh (道樹經), v.v.

khương tăng hội

(Thế kỉ III) Thiền tăng người Giao Châu gốc Khương Cư (Sogdiane). Sư mồ côi cha mẹ từ lúc mười tuổi. Sau thời kì cư tang, sư xuất gia chăm học kinh điển, trở thành một tăng sĩ nổi danh thời ấy. Sư tính tình chân thật, hoà nhã và rất thông minh nên thông hiểu tam tạng, lục kinh, toán số, thiên văn, văn chương và chính trị. Sư sang Đông Ngô tuyên dương Phật pháp trong thời Ngô Tôn Quyền (229-252 TL). Ngô Tôn Quyền thấy sư thi thố nhiều phép lạ lấy làm tín phục, xây dựng chùa Kiến Sơ thỉnh sư ở. Từ đấy Phật giáo thạnh hành miền Giang Tả. Sư phiên dịch nhiều kinh chữ Phạn ra chữ Hán như: Lục Độ Kinh tập, viết bài tựa trong kinh An Ban Thủ Ý và biên tập chú sớ các kinh khác. Sư tịch vào khoảng niên hiệu Thiên Kỉ thứ 4 (280) nhà Ngô.

Khương Tăng Khải 康僧鎧

[ja] コウソウガイ Kōsōgai ||| Saṃgha-varman. Transliterated as 僧伽跋摩. Early translator of Buddhist texts among the most important of which were the Wuliangshou jing 無量壽經. => Saṃgha-varman. Phiên âm là Tăng-già Bạt-ma (僧伽跋摩). Là dịch giả kinh điển Phật giáo thời trước, trong số đó có bản kinh quan trọng nhất là Vô lượng thọ kinh (c: Wuliangshou jing 無量壽經).

khương yết la

6513梵語 kaṃkara,或 kaṅkara。為古代印度極大數之名稱。又作矜羯羅、甄迦羅、恆迦羅。印度古代表示大數之名數單位極多,其名稱及代表之數目,於諸經論所說略異。俱舍論卷十二列舉解脫經所說之六十數,依十進法,薑羯羅位列第十六。又新華嚴經卷四十五列舉一二二個大數,首以一百洛叉(十萬)為一俱胝,俱胝俱胝為一阿庾多,漸次轉倍,薑羯羅即位列第六。〔法華經卷六、道神足經卷四〕 ; (姜羯羅) ........ Phạm: Kaôkara, hoặc Kaíkara. Cũng gọi: Căng yết la, Châu ca la, Hằng ca la. Đơn vị số lượng rất lớn của Ấn độ đời xưa. Về danh xưng và số mục, các kinh luận nói có khác nhau. Luận Câu xá quyển 12 nêu số 16 nói trong kinh Giải thoát, theo pháp Thập tiến (decimal system) thì Khương yết la được xếp vào hàng thứ 16. Còn kinh Hoa nghiêm quyển 45 (bản dịch mới) nêu 122 số lớn, bắt đầu lấy 100 lạc xoa (100.000) làm 1 câu chi, câu chi câu chi là 1 a dữu đa, theo thứ tự thêm lên dần dần thì Khương yết la được xếp vào hàng thứ 6. [X. kinh Pháp hoa Q.6; kinh Đạo thần túc Q.4].

khương yết lê

3491梵語 śamkarī 之音譯。意譯小刀。或指鋸齒狀之小刀。爲密教所用法具之一。據大日經疏卷十六載,諸奉教使者皆作小刀印,而羌揭棃呈鋸齒形,故譯作「小刀」乃不正確之翻譯。然大日經疏演密鈔卷五十三則謂,羌揭棃非「鋸」,而係一種鋸齒狀之小刀。〔大日經卷五秘密漫荼羅品、大日經義釋卷十二、慧琳音義卷三十六〕 ; (羌揭梨) Phạm: Zamkarì. Con dao nhỏ, hoặc con dao nhỏ hình răng cưa, 1 trong những pháp cụ của Mật giáo. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 16, thì các sứ giả phụng giáo đều kết ấn dao nhỏ, còn Khương yết la thì có hình răng cưa, vì thế dịch Khương yết la là dao nhỏ e không được chính xác. Nhưng Đại nhật kinh sớ quyển 53 thì cho rằng Khương yết la chẳng phải là cái cưa, mà là 1 loại dao nhỏ có hình răng cưa. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong Đại nhật kinh sớ Q.5; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.63].

khước giác ta tử

3757禪林用語。又作卻較些子。些子,即些少、些細、僅有之意。意謂倒是那樣有幾分對;禪林中,常用於以一方面貶低之逆說方式來作肯定而讚歎之評語。碧巖錄第六十九則(大四八‧一九九上):「由基箭射猿,遶樹何太直?千箇與萬箇,是誰曾中的?相呼相喚歸去來,(一隊弄泥團漢,不如歸去好,卻較些子)曹溪路上休登陟。」 ; (却較些子) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ta tử nghĩa là chút ít, chỉ có chút ít, ý nói chỉ đúng một chút ít thôi. Trong Thiền lâm, nhóm từ này thường được dùng để làm lời bình mang tính chất vừa khen vừa chê. Tắc 69 Bích nham lục (Đại 48, 199 thượng), nói: Do cơ nhắm bắn vượn Quanh cây làm sao thẳng? Nghìn người cùng vạn người Đã ai từng trúng đích? Gọi nhau đi về thôi! (Một bọn đùa cục đất, tốt hơn hãy về đi, thì còn đúng chút ít) Đường Tào khê hãy dừng bước.

khước hoạt

Sống lại. Tiết Đầu Tử Đại Đồng Thiền sư trong NĐHN q. 5 ghi: »州 問: 大 死 底 人、 卻 活 時 如 何? 師 曰: 不 許 夜 行、 投 明 須 到。 – [i]Châu (Hoà thượng Triệu Châu) hỏi: Người đã chết đi, lúc sống lại thì sao? Sư đáp: Chẳng cho đi đêm, trước khi trời sáng phải đến[/i]«.

khước lai

3756又作卻回、卻來。爲「向去」之對稱。即指從絕對平等之世界退卻而至相對差別之世界。反之,篤信本有之佛性而發心歸向之,稱爲向去。又曾經一度任首座位之僧人,於退位之後,又被延請就首座位,稱爲卻來首座,又稱退位爲人。勅修百丈清規卷四前堂首座(大四八‧一一三○下):「雖大方尊宿,若住持能以禮致之,亦請充此職,謂之退位爲人。如文殊爲七佛師,猶助釋迦揚化,爲眾上首。」 ; (却來) Cũng gọi Khước hồi. Đối lại: Hướng khứ. Từ thế giới tuyệt đối bình đẳng trở lại thế giới tương đối sai biệt. Trái lại, tin tưởng vững chắc vào Phật tính sẵn có mà phát tâm qui hướng, thì gọi là Hướng khứ. Vị tăng đã từng giữ chức Thủ tọa, sau khi thôi việc, lại được thỉnh làm chức ấy lần nữa thì gọi là Khước lai thủ tọa hoặc Thoái vị vị nhân. Điều Tiền đường thủ tọa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1130 hạ), nói: Tuy là bậc tôn túc ở nơi khác, nhưng nếu vị Trụ trì hết lòng kính lễ ngài và thỉnh giữ chức này (Thủ tọa) thì gọi là Thoái vị vị nhân. Như ngài Văn thù là thầy của 7 đức Phật mà còn giúp đỡ đức Thích ca tuyên dương giáo hóa, làm bậc Thượng thủ trong đại chúng.

khước mê

3757又稱卻迷、大迷。與「悟後卻迷」、「大悟卻迷」爲同類之常用語。其義有二:(一)即謂大悟者之境界,並無悟之形跡,仍與凡人無所差別。此係就迷悟一體之立場而言;蓋迷與悟無二無別,迷外無悟,故「卻迷」之外亦別無「大悟」可言。(二)謂經由大悟之境界,趨入現實之眾生界,進行濟度眾生之事。蓋爲救度眾生之迷,大悟之人往往示現與眾生界相似之迷相。爲別於一般開悟前之迷,特稱此二類之迷爲卻迷。〔景德傳燈錄卷十七華嚴休靜章〕 ; (却迷) ..... Cũng gọi: Đại mê. Đồng nghĩa: Ngộ hậu khước mê, Đại ngộ khước mê. Khước mê có 2 nghĩa: 1. Trong cảnh giới của người đại ngộ không có dấu vết của ngộ, hệt như phàm phu không khác. Đây là nói theo lập trường mê ngộ nhất thể. Bởi mê và ngộ không hai, không khác, ngoài mê không ngộ, cho nên ngoài khước mê cũng chẳng có cái đại ngộ nào đáng nói. 2. Từ cảnh giới đại ngộ trở lại thế giới hiện thực của chúng sinh để làm việc cứu độ chúng sinh. Vì nhu cầu cứu độ cái mê của chúng sinh nên người đại ngộ thường thị hiện tướng mê giống như thế giới chúng sinh. Để phân biệt với cái mê thông thường trước khi khai ngộ, nên đặc biệt gọi cái mê với 2 nghĩa trên là Khước mê. [X. chương Hoa nghiêm hưu tĩnh trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.17].

khước quy

Còn gọi: Khước hồi, khước hành, khước lai. Trở về. Tiết Giang Tây Mã Tổ trong TĐT q. 14 ghi: »有 西 川 黃 三 郎、 教 兩 箇 兒 子 投 馬 祖 出 家。 有 一 年、 却 歸 屋 里。 大 人 纔 見 兩 僧、 生 佛 一 般 禮 拜。 – [i]Có Hoàng Tam Lang ở Tây Xuyên bảo hai đứa con trai theo Mã Tổ xuất gia. Đến một năm kia, hai ông tăng trở về thăm nhà. Đại nhân vừa nhìn thấy hai ông tăng giống in Phật sống liền lễ bái[/i]«.

khước thích

3756爲縫製袈裟之針法。又作卻刺。爲「直縫」之對稱。縫製一般衣服時,常自布之一面,一針一針,順固定方向縫起,如此之縫製方法,稱爲直縫。然直縫之衣,日久易於斷裂,且斷裂之時,常因一小處斷線而導致整片綻裂,佛陀遂制定比丘縫製袈裟時,應採卻刺之法,即每縫一針即回針返縫,不令布面有空針或跳針而過之情形,如此必堅實而耐久。止觀輔行傳弘決卷二之二(大四六‧一九○中):「言單縫者,不許卻刺,若卻刺者,即是大僧受持之衣。」 ; (却刺) Đối lại: Trực phùng. Cách khâu áo ca sa. Tức là khi khâu tới 1 mũi rồi, trở lại đặt mũi kim vào chỗ mũi kim trước mà khâu tiếp, như vậy mối chỉ sẽ nối tiếp liền nhau trên mặt vải(như lối khâu bằng máy ngày nay), chứ không có chỗ nào bỏ trống hay cách quãng. Phương pháp khâu này làm cho các mối chỉ bền chắc và chịu được lâu. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 2 phần 2 (Đại 46, 190 trung) chép: Nói khâu đơn tức không phải khước thích (khâu kép), nếu khâu theo phương pháp khước thích thì đó là áo của bậc đại tăng thụ trì.

khước vấn

Hỏi lại. Tiết Đạo Nhất, đời thứ 2 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 1 ghi: »有 講 僧 來 問 曰: 未 審 禪 僧 傳 持 何 法? 師 卻 問 曰: 座 主 傳 持 何 法? – [i]Có vị giảng sư đến hỏi: Chẳng hay Thiền sư truyền trì pháp gì? Sư hỏi lại: Giảng sư truyền trì pháp gì?[/i]«.

khước ôn hoàng thần chú kinh

3757請參閱 卻溫黃神咒經 全一卷。譯者不詳,或謂係唐代不空所譯。又作卻溫神咒經、卻,退卻避除之意;溫,指瘟疫毒氣。本經明示退卻毒害、消殃之法。收於卍續藏第三冊。乃佛陀遊王舍城竹林精舍說法時,毘耶離國(梵 Vaiśāli)疫氣流行,會中聽眾染疫者甚多,阿難因此而問避除瘟疫毒氣之法,佛陀遂爲其開示。謂有七鬼神常吐毒氣以害萬姓,若人得毒,則頭痛寒熱,百節欲解,苦痛難言;如欲平安,當誦持此經咒,即(卍續三‧三八八下):「南無佛陀耶,南無達磨耶,南無僧伽耶,南無十方諸佛,南無諸菩薩摩訶薩,南無諸聖僧,南無咒師,(某甲)今我弟子所說神咒,即從其願,如是神名,我今當說沙羅佉。三說沙羅佉已,便說咒曰:『夢多難鬼 阿佉尼鬼 尼佉尸鬼 阿佉那鬼 波羅尼鬼 阿毘羅鬼 波提梨鬼』(中略)疾去疾去,莫得久住。」謂能令一切病毒疫氣盡滅。或書寫七鬼神之名字,繫五色縷線,一一結其名字,安於門戶,則諸瘟鬼不敢進門,全家延年益壽,吉祥如意。 ; (却溫黃神咒經) Cũng gọi: Khước ôn thần chú kinh. Tác phẩm, 1 quyển, không rõ tên người dịch, có chỗ nói do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 3. Khước nghĩa là từ chối, trừ bỏ; Ôn chỉ cho ôn dịch, độc khí. Kinh này nói về việc diệt bỏ sự độc hại, tiêu trừ tai ương. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật đến thuyết pháp ở tinh xá Trúc lâm gần thành Vương xá, thì trong nước Tì da li (Phạm:Vaizàli) bệnh ôn dịch đang hoành hành, trong pháp hội, có nhiều thính chúng bị bệnh, nhân đó, ngài A nan mới thưa hỏi đức Phật về cách diệt trừ ôn dịch độc khí. Đức Phật dạy rằng có 7 loài quỉ thần thường phun khí độc để hại nhân dân, người bị nhiễm khí độc ấy thì nhức đầu và nóng lạnh, các khớp xương như muốn rã ra, đau đớn khó tả, nếu muốn được bình an thì nên tụng trì kinh chú này, khiến tất cả bệnh độc dịch khí đều tiêu diệt hết, nhà cửa an ổn, cát tường như ý.

Khả

可; C: kĕ; J: ka; |Có các nghĩa sau: 1. Có thể, có lẽ, có khả năng. Biểu hiện của trạng thái tiềm năng (s: sakya); 2. Tốt, đẹp. Ổn đáng.

khả chân

1604請參閱 新集藏經音義隨函錄 <一>(?~1064)宋代臨濟宗僧。福州(福建)長谿人。世稱真點胸。為石霜楚圓之法嗣。曾住隆興府(江西)翠巖山,故又稱翠巖可真。後遷潭州(湖南長沙)道吾山。以其辯才無礙,名聞遐邇。治平元年示寂。遺有翠巖真禪師語要一卷,收於續古尊宿語要。〔建中靖國續燈錄卷七、聯燈會要卷十四、嘉泰普燈錄卷三、五燈會元卷十二、續傳燈錄卷七、禪宗正脈卷十二、佛祖綱目卷三十六〕 <二>(1543~1603)明代僧。即紫柏達觀真可,吳江人,俗姓沈。四庫提要釋家類存目誤作「可真」。(參閱「達觀」5678) ; (可真) (?-1064) Vị Thiền tăng Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Trường kê, Phúc châu (tỉnh Phúc kiến). Sư là đệ tử nối pháp của Thiền sư Thạch sương Sở viên, từng trụ ở núi Thúy nham, phủ Long hưng (Giang tây), cho nên sư còn được gọi là Thúy nham Khả chân. Về sau, sư dời đến núi Đạo ngô ở Đàm châu (huyện Trường sa, tỉnh Hồ nam). Tài biện luận của sư lưu loát, trôi chảy nên tiếng đồn khắp gần xa. Sư có tác phẩm: Thúy nham Chân thiền sư ngữ yếu 1 quyển, được thu vào Cổ tôn túc ngữ yếu. [X. Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.7; Liên đăng hội yếu Q.14; Gia thái phổ đăng lục Q.3; Ngũ đăng hội nguyên Q.12; Tục truyền đăng lục Q.7; Thiền tông chính mạch Q.12; Phật tổ cương mục Q.36].

khả chân điểm hung

1604禪宗公案名。為宋代翠巖可真禪師開悟得法之公案。可真初投石霜楚圓座下時,楚圓欲勘驗之,乃問(卍續一四八‧一四○下):「如何是佛法大意?」可真答:「無雲生嶺上,有月落波心。」楚圓斥道:「頭白齒黃,猶作這見解!」可真聞言,垂淚求楚圓指示。楚圓道:「儞可問我。」可真即以前語問之,楚圓乃不疾不徐答:「無雲生嶺上,有月落波心。」可真聞其語,豁然點胸(明達大法,了無所滯)而開悟得法。禪林中遂以此一因緣而稱可真為「真點胸」。 蓋可真答 楚圓之問,與楚圓答可真之問,其語皆為「無雲生嶺上,有月落波心」,此語本即藉大自然雲、月之有無,或款款生嶺上,或漫漫落波心,皆所謂「法爾自然」之意,以之直指佛法真義,乃用表一切無非諸法實相,無須些許矯飾造作。然可真原雖知此中道理,奈何自信不足、所見未徹,待楚圓斥以「猶作這見解」,不禁驚惶淚下,打破從前所「知」,以為佛法另有境界道理。直至楚圓亦以同語答之,方才頓明玄旨,從此了無掛礙,真正超越「知」之層面而入於「悟」道之境。〔禪苑蒙求卷下〕 ; (可真點胸) Tên công án trong Thiền tông. Khả chân chỉ ngực. Công án này nói về sự khai ngộ đắc pháp của Thiền sư Thúy nham Khả chân đời Tống. Lúc đầu, sư theo hầu dưới tòa ngài Thạch sương Sở viên. Một hôm ngài Sở viên muốn xét nghiệm sư nên hỏi (Vạn tục 148, 140 hạ): Như thế nào là đại ý Phật pháp? Sư đáp: Đỉnh núi không mây, trăng chìm đáy nước. Ngài Sở viên quở rằng: Đầu bạc răng long mà còn hiểu như vậy sao? Nghe thế sư khóc lóc, xin ngài Sở viên chỉ dạy. Ngài bảo: ông cứ hỏi ta đi! Sư liền đem câu trước mà hỏi ngài. Ngài Sở viên thong thả đáp: Đỉnh núi không mây, trăng chìm đáy nước. Sư nghe lời ấy, hoát nhiên chỉ ngực(rõ suốt đại pháp, không còn chút gì vướng mắc) mà khai ngộ đắc pháp. Do nhân duyên này mà trong tùng lâm thường gọi Khả chân là Chân điểm hung. [X. Thiền uyển mông cầu Q. hạ].

khả hồng

1604生卒年不詳。五代人,活躍於後唐、後晉之際。初習儒業,後皈依佛教,博覽經籍。後唐長興二年(931)著手「新集藏經音義隨函錄」之著作,歷時十年而完成,凡三十卷。總集玄應音義、慧苑音義、慧琳音義、希麟音義等諸書,對古字、俗字等字形、點畫,述說尤為詳盡。 ; (可洪) Học giả Trung quốc, sống vào khoảng đời Hậu Đường đến đời Hậu Tấn thời Ngũ đại. Lúc đầu ông theo Nho học, sau qui y Phật giáo, đọc nhiều kinh sách. Bắt đầu từ năm Trường hưng thứ 2 (931) đời Hậu Đường, ông tham khảo các bộ Huyền ứng âm nghĩa, Tuệ uyển âm nghĩa, Tuệ lâm âm nghĩa, Hi lân âm nghĩa, v.v... mà soạn thành bộ Tân tập tạng kinh âm nghĩa tùy hàm lục (30 quyển), ròng rã 10 năm mới hoàn tất. Trong sách này, đối với loại cổ tự, tục tự, điểm họa, v.v... ông đều giải thích rất rõ ràng.

khả kiến bất đối sắc

1604可見,指肉眼可見者;不對色,指不具障礙之性者。於各種色法中,由極微細物質組成,肉眼可見,具有色彩,而無形體、不能障礙其他物質者。即指影、光、明、暗四者。 ; (可見不對色) Khả kiến là chỉ cho những gì mắt người có thể thấy được; Bất đối sắc là chỉ cho những cái không có tính ngăn ngại. Tức là loại sắc pháp do cực vi tạo thành, mắt thường có thể thấy, có mầu sắc nhưng không có hình thể, không làm chướng ngại các vật chất khác. Tức chỉ cho 4 sắc pháp: bóng, ánh mặt trời, sáng và tối...

khả kiến hữu đối sắc

1604可見,指肉眼可見者;有對,指由極微細物質組成而具有障礙之性者。可見有對色,即指色境。又作有見有對色。蓋色法有眼等五根、色等五境及無表色等十一種,其中,色境為可見有對色,眼等五根與聲等四境為不可見有對色,無表色為不可見無對色。如山河大地、草木器物等,具有色彩、形體,而能障礙其他物質者,皆為可見有對色。大智度論卷二十(大二五‧二一二上):「佛說三種色,(中略)有色不可見無對過色相者,是可見有對色;滅有對相者,是不可見有對色;不念異相者,是不可見無對色。」 ; (可見有對色) Cũng gọi Hữu kiến hữu đối sắc. Khả kiến chỉ cho những gì mắt thường có thể thấy được; Hữu đối chỉ cho những gì do vật chất rất nhỏ nhiệm tạo thành và có tính chướng ngại. Khả kiến hữu đối sắc tức chỉ cho sắc cảnh. Bởi vì sắc pháp gồm có 11 thứ(5 căn, 5 cảnh, vô biểu sắc), trong đó, Sắc cảnh là Khả kiến hữu đối sắc, 5 căn và 4 cảnh(thanh, hương, vị, xúc) là Bất khả kiến hữu đối sắc; còn Vô biểu sắc là Bất khả kiến vô đối sắc. Như núi, sông, đất đai, cỏ cây, v.v... có mầu sắc, hình tướng, có thể ngăn ngại các vật chất khác, đều là Khả kiến hữu đối sắc.

khả lậu tử

1606又作殼漏子、可漏。<一>即古代禪林之信封或書信袋。可漏,原指殼漏、卵殼,謂書狀或書信封入筒中,如蟲等之容身殼內。敕修百丈清規卷二、卷三之迎待尊宿、山門請新命齋、遺書、訃告、新首座特為後堂大眾茶等各條之式狀皆採用此一名詞,後世遂用於祭文、疏文、勸請文等。其格式如下: 〔禪林象器箋卷十五文疏門〕 <二>指人之肉體。含輕蔑之意。洞山禪師語錄(大四七‧五一五上):「師問僧:『離殼漏子,向甚麼處與吾相見?』」 ; (可漏子) Cũng gọi Xác lậu tử, Khả lậu. I. Khả Lậu Tử. Phong bì để thư tín trong Thiền lâm thời xưa. Khả lậu nguyên chỉ cho cái vỏ trứng, nghĩa là đơn từ, thư tín dán kín bỏ vào trong ống tre, giống như loài sâu bọ rút vào trong vỏ bọc, nên gọi là Khả lậu tử. Cách viết phong bì như sau: Thỉnh Hòa thượng Thiền sư Đường đầu ở... chức vụ... cẩn phong. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.15]. II. Khả Lậu Tử. Cái túi rách. Chỉ cho nhục thể của con người, hàm ý khinh miệt. Động sơn thiền sư ngữ lục (Đại 47, 515 thượng) chép: Sư hỏi vị tăng: Khi lìa bỏ cái túi rách(xác lậu tử)này rồi, thì ta sẽ gặp nhau ở đâu?.

khả quan

1606(1092~1182)宋代僧。江蘇華亭人,俗姓戚(一說傅)。字宜翁,號解空、竹庵。十六歲受具足戒,學天台。初依止南屏精微,後聞車溪擇卿禪師聲震江浙,負笈從之,得其法。南宋建炎初,住持嘉禾壽聖寺。紹興年間(1131~1162)轉住當湖德藏寺。講經餘暇,則補注楞伽經。其後移住祥符寺,因染疾退隱至當湖南林之竹庵。乾道七年(1171),應丞相魏把之請,住持北禪天台寺。淳熙七年(1180),受魏憲王請,為南湖延慶寺之主,未久,又歸隱當湖之竹庵。淳熙九年示寂,享年九十一。生前,大慧宗杲曾由徑山前來相與言談終日,譽之以「教海老龍」。其法嗣有北峰宗印、智行守旻、神辯清一等人。重要著作有:楞伽說題集解補注四卷、蘭盆補注、山家義苑各二卷、金剛通論、金剛事說(或金剛事苑)、圓覺手鑑、竹庵草錄各一卷等。〔佛祖統紀卷十五、卷二十五、釋門正統卷七、釋氏稽古略卷四、佛祖歷代通載卷二十一〕 ; (可觀) (1092-1182) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người huyện Hoa đình, tỉnh Giang tô, họ Thích(có thuyết nói họ Phó), tự Nghi ông, hiệu Giải không, Trúc am. Năm 16 tuổi, sư thụ giới Cụ túc, học giáo nghĩa Thiên thai. Mới đầu, sư y chỉ vào ngài Nam bình Tinh vi, sau nghe danh Thiền sư Trạch khanh ở Xa khê vang khắp vùng Giang tô, Chiết giang, sư liền đến theo học và được pháp của ngài. Đầu năm Kiến viêm đời Nam Tống, sư trụ trì chùa Thọ thánh ở Gia hòa, khoảng năm Thiệu hưng (1131-1162), sư chuyển sang ở chùa Đức tạng tại Đương hồ, ngoài giờ giảng thuyết, sư lại chú thích kinh Lăng già. Sau, sư dời đến ở chùa Tường phù, vì nhuốm bệnh nên sư lui về ẩn dật ở Trúc am tại Nam lâm, Đương hồ. Năm Càn đạo thứ 7 (1171) nhận lời thỉnh của Thừa tướng Ngụy bả, sư về trụ trì chùa Thiên thai ở Bắc thiền. Năm Thuần hi thứ 7 (1180), nhận lời thỉnh của Ngụy Hiến vương, sư làm viện chủ chùa Diên khánh ở Nam hồ, không bao lâu, sư lại về ẩn ở Trúc am tại Đương hồ. Năm Thuần hi thứ 9 (1182) sư thị tịch, thọ 91 tuổi. Đệ tử nối pháp có các vị: Bắc phong Tông ấn, Trí hành Thủ mân, Thần biện Thanh nhất, v.v... Tác phẩm của sư gồm có: Lăng già thuyết đề tập giải bổ chú 4 quyển, Lan bồn bổ chú 2 quyển, Sơn gia nghĩa uyển 2 quyển, Kim cương thông luận, Kim cương sự thuyết (hoặc Kim cương sự quyển), Viên giác thủ giám 1 quyển, Trúc am thảo lục 1 quyển... [X. Phật tổ thống kỉ Q.15, Q.25; Thích môn chính thống Q.7; Thích thị kê cổ lược Q.4; Phật tổ lịch đại thông tải Q.21].

khả thuỵ trai

1606日本曹洞宗寺。位於靜岡縣袋井市。應永十四年(1407),如仲天誾開山建立,其弟子一遵又建東陽軒。德川家康被武田信玄追討時,曾一度隱居此地,相傳德川曾酣睡於禮盤上,故改寺名為可睡齋,其後寺運騰達,名僧雲集,為東海道首屈一指之曹洞宗名剎。

Khả tri

可知; C: kĕzhī; J: kachi; |Hiển nhiên, rõ rệt; có thể thấy; có thể biết, đáng được biết.

Khả tri 可知

[ja] カチ kachi ||| Is evident; may be seen; knowable; should be known. => Hiển nhiên, rõ rệt; có thể thấy; có thể biết, đáng được biết.

khả trung

1604禪林用語。意指假若、恰好,或謂縱使、縱然、猶若等。乃唐宋時代之方言,禪林亦習用之,為禪僧言談中之慣用語。溈山警策(卍續一一一‧一四六下):「可中頓悟正因,便是出塵階漸。」方言藻謂:「可中,正適之辭,猶俗云恰好也。」 ; (可中) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là nếu, giả sử, giá như, nhược bằng, v.v... Là phương ngôn thông dụng ở đời Đường, Tống, Trung quốc. Các vị Thiền tăng cũng hay dùng từ này. Qui sơn cảnh sách (vạn tục 111, 146 hạ) ghi: Nếu (khả trúng) đốn ngộ chính nhân thì đó là bước đầu để dần dần ra khỏi trần lao.

khả tích hứa

1606禪林用語。又作可惜乎。「許」與「乎」均為語助詞。碧巖錄第三十八則(大四八‧一七五下):「穴云:『慣釣鯨鯢澄巨浸,卻嗟蛙步輺泥沙,陂佇思。』(可惜許,也有出身處,可惜放過)」

khả tòng

1605(1420~1483)明代曹洞宗僧。洛陽(河南)人,俗姓許。號無方,世稱無方可從禪師。從福元芘峰出家。先後參謁龍潭順密、縣超化宗等諸師,稍有契入。復至少室山參禮俱空契斌禪師,得承印記,並嗣其法,遂隱於郟鄏(洛陽西)定國寺,不久復開法於菩提寺。成化九年(1473),承繼少林法席。十八年,應鈞州(河南)之請,往住觀音寺。十九年六月示寂,世壽六十四,法臘四十。〔續燈正統卷三十七、五燈全書卷六十一、五燈會元續略卷一〕

khả tương

1606(1206~1290)宋元時代臨濟宗楊岐派破菴派僧。台州寧海(浙江)人,俗姓葛。號絕岸。為無準師範之法嗣。歷住嘉興府(浙江)流虹興聖禪寺、溫州(浙江)雁山能仁禪寺、越州(浙江)九巖慧雲禪寺、天台(浙江)護國廣恩禪寺、臨安府(浙江)崇恩演福禪寺、溫州江心龍翔興慶禪寺。宋度宗咸淳八年(1272)住於福州(福建)雪峰山崇聖禪寺,約十年,其後,辭謝院事,退居杭州寶壽寺,復受請重住雪峰崇聖禪寺。至元二十七年示寂,世壽八十五。遺骨奉歸雪峰,於西菴建塔。遺有絕岸和尚語錄一卷。〔繼燈錄卷三、增續傳燈錄卷四、續燈存稾卷四〕 ; (可湘) (1206-1290) Vị Thiền tăng thuộc dòng Phá am, phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, Nguyên, Trung quốc, người Ninh hải, Thai châu (Chiết giang), họ Cát, hiệu Tuyệt ngạn, đệ tử nối pháp của ngài Vô chuẩn Sư phạm. Sư từng ở các nơi như: Lưu hồng Hưng thánh thiền tự ở phủ Gia hưng (Chiết giang), Nhạn sơn Năng nhân thiền tự tại Ôn châu (Chiết giang), Cửu nham Tuệ vân thiền tự ở Việt châu (Chiết giang), Hộ quốc Quảng ân thiền tự tại Thiên thai (Chiết giang) Sùng ân Diễn phúc thiền tự ở phủ Lâm an (Chiết giang), Long tường Hưng khánh thiền tự ở Ôn châu. Năm Hàm thuần thứ 8 (1272), Sư trụ trì Sùng thánh thiền tự trên núi Tuyết phong thuộc Phúc châu (Phúc kiến) khoảng 10 năm. Sau đó, sư từ bỏ mọi việc trong viện, lui về sống ở chùa Bảo thọ tại Hàng châu, ít lâu sau, sư lại được thỉnh trở về Sùng thánh thiền tự. Năm Chí nguyên 27 (1290) sư tịch, thọ 85 tuổi, do cốt thờ ở Tuyết phong, tháp xây ở Tây am. Sư có tác phẩm: Tuyệt ngạn hòa thượng ngữ lục 1 quyển. [X. Kế đăng lục Q.3; Tăng tục truyền đăng lục Q.4; Tục đăng tồn cảo Q.4].

Khả ý

可意; C: kĕyì; J: kai; S: manojñā; T: yid du ḥoṅ ba;|Có các nghĩa sau: 1. Hài lòng, hấp dẫn, dễ chịu (s: manojñā; t: yid du ḥoṅ ba); 2. Điều đáng yêu (manāpa); 3. Mang lại, ban phát niềm vui; 4. Niềm vui, sự vui mừng, hạnh phúc.

Khả ý 可意

[ja] カイ kai ||| (1) Pleasing, attractive, agreeable (Skt. manojñā; Tib. yid du ḥoṅ ba). 〔二障義 HPC 1.800a〕 That which is likeable (manāpa). (3) To bring, or give joy. (4) Joy; joyfullness, bliss. => Có các nghĩa sau: (s: manojñā; t: yid du ḥoṅ ba). 1. Hài lòng, hấp dẫn, dễ chịu. 2. Điều đáng yêu (manāpa). 3. Mang lại, ban phát niềm vui. 4. Niềm vui, sự vui mừng, hạnh phúc.

Khả đắc

可得; C: kĕdé; J: katoku; S: upalabhyante; T: dmigs pa, yod pa.|Có thể đạt được, có thể được, có thể hiểu được, có thể lĩnh hội được.

khả đắc tương tự quá loại

1605因明用語。為古因明之祖足目所立因明「似能破」十四過類之第五。於因明論式中,敵者(問難者)對於立者(立論者)所舉正確的因(理由),強加非難其為過失之過誤。如對佛弟子所立「聲是無常(宗,命題),勤勇無間所發性故(因),猶如瓶等(喻,譬喻)」之量(論式),敵者欲破之,遂強言「電光是無常,不以勤勇所發為因,以可見故無常,聲亦不以勤勇無間所發為因」。 於上述對論中,佛弟子以「勤勇無間所發」之理由證明聲是無常,蓋「勤勇所發」者必是無常,未見勤勇所發而為常住者;然無常並非皆以勤勇所發為因,無常包含甚廣,勤勇無間所發僅為其因之一部分,如電光非勤勇所發亦不妨為無常。敵者不鑑此理而妄加非難,以「相似」之理由辯駁之,如此即犯可得相似之過誤。又「相似」一詞,指似真而非真之道理,即一般所謂之「似是而非」。〔因明正理門論本、因明入正理論疏瑞源記卷八〕(參閱「十四過類」415、「因明」2276) ; (可得相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi do người vấn nạn cố tình phản bác Nhân(lí do) chính xác của người lập luận. Là lỗi thứ 5 trong 14 lỗi Tự năng phá của Cổ nhân minh do Túc mục, Tổ khai sáng của Nhân minh, lập ra. Như đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là Vô thường Nhân: Vì do sự nỗ lực không ngừng mà phát ra Dụ: Như cái bình, v.v... Nhân(lí do)trong luận thức trên đây là đúng, nhưng người vấn nạn cố ý muốn phá nên nói bừa rằng Điện là Vô thường, chẳng phải vì sự nỗ lực không ngừng mà phát ra, nhưng vì có thể thấy được nên là Vô thường, âm thanh cũng chẳng phải vì sự nỗ lực không ngừng mà phát ra. Trong hình thức đối luận trên đây, đệ tử Phật viện lí do Vì sự nỗ lực không ngừng mà phát ra để chứng minh âm thanh là vô thường; bởi vì Những gì do sự nỗ lực mà có ra thì nhất định là vô thường. Nhưng tất cả những gì vô thường chưa hẳn đều lấy sự nỗ lực không ngừng mà có ra để làm Nhân. Phạm vi vô thường rất rộng, còn sự nỗ lực không ngừng mà phát ra chỉ là một phần của Nhân vô thường. Như điện tuy chẳng phải do sự nỗ lực không ngừng phát ra nhưng cũng là vô thường. Người vấn nạn không xét đến lí này, nên cố ý dùng lí do tương tự để phản bác, như thế là phạm loại lỗi Khả đắc tương tự. [X. Nhân minh chính lí môn luận bản; Nhân minh nhập chính lí luận sớ thụy nguyên kí Q.8]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).

Khả đắc 可得

[ja] カトク katoku ||| Obtainable, possible, knowable, apprehendable (Skt. upalabhyante; Tib. dmigs pa, yod pa). => (s: upalabhyante; t: dmigs pa, yod pa) Có thể đạt được, có thể được, có thể hiểu được, có thể lĩnh hội được.

Khả 可

[ja] カ ka ||| (1) May, can, might, able, --able. Sign of the potential mood (sakya). (2) Good, fine. Will do. => Có các nghĩa sau: 1. Có thể, có lẽ, có khả năng. Biểu hiện của trạng thái tiềm năng (sakya). 2. Tốt, đẹp. Ổn đáng.

Khải

啓; C: qǐ; J: kei;|Dạy, làm sáng tỏ, khai ngộ, soi sáng, giảng giải.

Khải bạch

啓白; C: qǐbái; J: keibyaku;|Lời thưa thỉnh đến chư Phật hay Bồ Tát.

Khải bạch 啓白

[ja] ケイビャク keibyaku ||| A report to the Buddha or a bodhisattva. => Lời thưa thỉnh lên chư Phật hay Bồ-tát.

khải châu

4855(1385~1438)西藏名 Mkhas-grub。意譯作賢善成就。全名 Mkhas-grub Dge-legs dpal-bzaṅ-po。或譯凱珠哥魯巴桑保、開魯克主傑。又作 Mkhas-rab(善巧之意)。係宗喀巴兩大弟子之一(另一為嘉曹傑),亦為第一世班禪喇嘛。出身于闐,為密咒系統昆卡塔西(藏 Kun-dgaḥ bkra-śis)之長子。年幼即聰慧多智,歷訪加姆林(藏 宀am-riṅ)、薩迦(藏 Sa-skya)諸寺,研習諸學。十七歲受沙彌戒,廿三歲隨薩迦派僧人仁達哇(藏 Reṅmdaḥ-ba)受具足戒,並研學中觀、量論、戒律、俱舍、般若等根本釋義,及一切性相之教說、四部怛特羅之要義等導論,及真言之學。另又跟從達爾麻仁欽(藏 Dar-ma rin-chen)、持律者拉格巴(藏 Grags-pa rgyal-mtshan)、詹喀爾巴(藏 宀jam-dkarba)、詹姆安哥母朱歐(藏 宀jam-dbyaṅs rgya-mtsho)等人聽聞顯密之法。明代永樂六年(1408),拜宗喀巴為師,每日聽宗喀巴講說俱舍、量論等性相之學,秘密集、時輪等之無上瑜伽,及怛特羅、顯密諸教之深甚釋、究竟生起之要義等,前後凡十個月。四十七歲,繼根敦珠巴,成為第二代甘丹座主(藏 Dgaḥ-ldan khri-pa)。其後八年間,於此法座上,普施法語。一四三八年示寂,世壽五十四。 師之學德聲譽極高,尤善辯論,屢次舉行論諍之會,致力掃除黃教內外異端。嘗將其師宗喀巴教說中之難解教義著成綱要書,另又建立諸多黃教僧院。其系統下之化身喇嘛至後代皆稱為班禪喇嘛,師則被尊為第一世班禪喇嘛。其得法弟子有:慧法護、霞爐善幢、堪勤福勝成、遍智勝光、具法善現、拔梭法幢、寶海慧、僅俄慧幢、剎廓瓦法稱、義成祥、漾絨瓦法自在稱、法護等。著作除顯密之諸論外,尚有傳記、書簡、聽聞錄、願文、禮贊等,數量極夥,合為六十餘部。今流通者,於顯教方面有:宗喀巴大師傳、現觀莊嚴論注疏、釋量論大疏、顯示甚深空真實義論、三律義建立論等,皆普遍為今西藏佛教學者所重視。另於密教方面有關於能怖金剛、勝樂論、歡喜金剛、時輪等各種修法及經典注釋。又有總貫諸部密教之「續部總建立論」等。〔西藏撰述佛典目錄、カイドゥブ傳、西藏仏教研究〕 ; (凱珠) (1385-1438) Tạng: Mkhas-grub. Dịch Hán: Hiền thiện thành tựu. Gọi đủ: Mkhas-grub Dge-legs dpalbzaí-po. Dịch âm: Khải châu ca lỗ ba tang bảo, Khai lỗ khắc vương kiệt. Cũng gọi:Mkhas-rab. Thiện xảo. Cao tăng Tây tạng, vị Ban thiền lạt ma đời thứ nhất, người nước Vu điền, một trong2 vị đệ tử lớn của ngài Tông khách ba, cũng là trưởng tử của ngài Côn ca tháp tây (Tạng: Kun-dga# bkra zis) thuộc hệ thống Mật chú. Sư thông minh từ thủa nhỏ, lần lượt học tập tại các chùa Gia mẫu lâm (Tạng: Íam-rin), Tát ca (Phạm: Sa-skya). Năm 17 tuổi, sư thụ giới Sa di; năm 23 tuổi, sư theo vị tăng thuộc phái Tát ca là ngài Nhân đạt oa (Tạng: Reímda#-ba) thụ giới Cụ túc, học Trung quán, Lượng luận, Giới luật, Câu xá, Bát nhã, các giáo thuyết về tính tướng, yếu nghĩa của 4 bộ Đát đặc la và Chân ngôn. Sau, sư lại theo các ngài Đạt nhĩ ma nhân khâm (Tạng: Dar ma rinchen), Lạp cách ba (Tạng:Grags-pa rgyalmtshan), Chiêm khách nhĩ ba và Chiêm mẫu an ca chu âu (Tạng: #jam dbyaís rgya-mtsho), v.v... học giáo pháp Hiển mật. Năm Vĩnh lạc thứ 6 (1408) sư thờ ngài Tông khách ba làm thầy. Trong 10 tháng hầu thầy, hàng ngày sư nghe ngài Tông khách ba giảng về Câu xá, Lượng luận, Bí mật tập, Thời luân, Đát đặc la và Hiển giáo, Mật giáo... Sư rất nổi tiếng về học vấn và đức hạnh, đặc biệt có tài biện luận, nhiều lần tổ chức các cuộc tranh luận, tận lực dẹp bỏ các mối dị đoan trong và ngoài Hoàng giáo. Sư từng biên soạn giáo thuyết khó hiểu của ngài Tông khách ba thành sách cương yếu; sư cũng xây dựng nhiều chùa viện Hoàng giáo. Các hóa thân Lạt ma dưới hệ thống của sư đến đời sau đều gọi là Ban thiền Lạt ma. Năm 47 tuổi, sư thừa kế ngài Căn đôn châu ba làm Tọa chủ đời thứ 2 của chùa Cam đan (Tạng: Dga#-ldan khri-pa), đến năm 1438 sư thị tịch, thọ 54 tuổi. Đệ tử đắc pháp của sư gồm có: Tuệ pháp hộ, Hà lô thiện chàng, Kham cần phúc thắng thành, Biến trí thắng quang, Cụ pháp thiện hiện, Bạt thoa pháp chàng, Bảo hải tuệ, Cẩn nga tuệ chàng, Sát khuếch ngõa pháp xứng, Nghĩa thành đường, Dạng nhung ngõa pháp tự tại xưng, Pháp hộ, v.v... Về các tác phẩm của sư thì có: Tông khách ba đại sư truyện, Hiện quán trang nghiêm luận chú sớ, Thích lượng luận đại sớ, luận Hiển thị thậm thâm không chân thực nghĩa, luận Tam tịnh nghĩa kiến lập, v.v... Ngoài ra, còn có Truyện kí, Thư giản, Thính văn lục, Nguyện văn, Lễ tán... tất cả hơn 60 bộ loại. [X. Tây tạng soạn thuật Phật điển mục lục; Tây tạng Phật giáo nghiên cứu].

khải kiến kì vũ sớ

4410遇久旱,舉行祈願降雨法會時所誦唱之疏。在祈雨法會期間,每日二次粥飯時,諷誦七遍大悲咒以祈求降雨。而法會之首日稱為啟建,特別莊嚴道場,諷誦楞嚴神咒,向觀世音菩薩祈禱,並宣讀疏文,此時所宣讀之疏文,即稱啟建祈雨疏。〔敕修百丈清規卷一〕

khải kiến kỳ vũ sớ

(啓建祈雨疏) Văn sớ được đọc trong pháp hội cầu mưa. Thời xưa, gặp những năm hạn hán kéo dài, người ta thường tổ chức lễ đảo vũ. Trong thời gian cử hành nghi lễ này, mỗi ngày vào 2 thời cơm cháo, tụng 7 biến chú Đại bi để cầu cho mưa xuống. Ngày đầu tiên của pháp hội gọi là Khải kiến, đặc biệt trang nghiêm đạo tràng, cầu nguyện bồ tát Quan thế âm, tụng thần chú Thủ lăng nghiêm và tuyên đọc văn sớ. Văn sớ được tuyên đọc vào ngày này gọi là Khải kiến kì vũ sớ. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1].

khải kiến thán phật

4410指授戒會第一日所舉行之讚佛儀式。係禺中(約上午十時左右)迎聖諷經終了,即由教授師勸請導師(啟請師、啟師)而舉行讚歎佛德之儀式。 ; (啓建嘆佛) Nghi thức tán Phật được cử hành vào ngày đầu tiên của pháp hội truyền giới. Trong ngày thứ nhất của lễ truyền giới, vào giờ Ngu trung(khoảng 10 giờ sáng), sau khi tụng kinh nghinh Thánh xong, Giáo thụ sư khuyến thỉnh Đạo sư(Khải thỉnh sư, Khải sư) cử hành nghi thức tán thán công đức của Phật.

khải mông thư

4411三藏典籍中,能啟發蒙昧,而生般若正智之書。經典中,諸如訓示教徒所須引用的句集之法句經、聚集因緣譚之賢愚經、雜寶藏經等,以及印度撰述如龍樹之菩提行經、勸發諸王要偈等,皆稱為啟蒙書。我國隋代智顗所著之修習止觀坐禪法要(小止觀)、唐代法藏之華嚴金師子章、宋代淨善之禪林寶訓等亦屬之。此外,日本良遍之觀心覺夢鈔、凝然之八宗綱要、三國佛法傳通緣起等,亦皆為啟蒙書。近代以來,此類著作頗多,如英國洪飛瑞斯(Ch. Humphreys)之「佛教」(Buddhism)一書亦廣受誦讀。 ; (啓蒙書) Những kinh sách có khả năng mở mang sự ngu tối và làm phát sinh chính trí bát nhã. Trong các kinh điển, những kinh thường được trích dẫn để dạy dỗ tín đồ như: Kinh Pháp cú, kinh Hiền ngu, kinh Tạp bảo tạng và những tác phẩm do ngài Long thụ của Ấn độ soạn thuật như: Bồ đề hành kinh, Khuyến phát chư vương yếu kệ, v.v... đều được gọi là Khải mông thư. Ở Trung quốc thì có các tác phẩm như: Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu(Tiểu chỉ quán)của ngài Trí khải đời Tùy, Hoa nghiêm kim sư tử chương của ngài Pháp tạng đời Đường, Thiền lâm bảo huấn của ngài Tịnh thiện đời Tống, v.v... đều thuộc loại sách này. Ngoài ra, tại Nhật bản, những sách như: Quán tâm giác mộng sao của ngài Lương biến, Bát tông cương yếu của ngài Ngưng nhiên, Tam quốc Phật giáo truyền thông duyên khởi, v.v... cũng đều là Khải mông thư. Rồi thời cận đại đến nay, những tác phẩm thuộc loại này cũng rất nhiều như cuốn Buddhism (Phật giáo) của ông Ch. Humphreys, người Anh, được lưu hành khá phổ biến.

khải sương thai

4411指設置戒壇。霜臺,原為執掌法律之處,即為御史臺之異稱。禪苑清規卷九(卍續一一一‧四六四上):「謝大戒詞(萬歲天寧之節,特啟霜臺)。」 ; (啓霜台) Cũng gọi: Ngự sử đài. Chỉ cho nơi thiết lập đàn giới. Sương đài vốn là nơi thi hành luật pháp, vì thế nơi đặt đàn giới gọi là Khải sương đài. Thiền uyển thanh qui quyển 9 (Vạn tục 111, 464 thượng), nói: Lời cảm tạ đại giới (nhân dịp chúc thọ Thánh hoàng vạn tuế, thiên hạ bình an, đặc biệt có thiết lập Khải sương đài).

khải thỉnh

Phạn ngữ: adhiesanā, adhiesita. ① Trước khi tụng kinh phải phụng thỉnh chư Phật. Trước khi tụng 5 hội của Kinh Lăng Nghiêm, phải xướng danh hiệu »Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát«. Người đứng đầu hội Lăng Nghiêm cử xướng »Nam mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát« và xướng văn gọi là Khải xướng. »Vọng hối lược Bố tát« của Thiền tông là mỗi tháng ngày mùng một, ngày rằm cử hành lễ Bố tát với nghi thức giản lược, sau bài văn sám hối phải xướng lên: »Nam mô quá khứ thất Phật, Nam mô Thích-ca Mâu-ni Phật, Nam mô Văn-thù Bồ Tát, Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát, Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Di-lặc tôn Phật, Nam mô Lịch đại Tổ sư Bồ Tát«, đây là Khải thỉnh, sau đó mới xướng Tứ hoằng thệ nguyện. Nhưng trong nghi thức an táng, lúc tụng chú Lăng Nghiêm không cử hành nghi thức khải thỉnh. ② Thưa thỉnh. Lăng Nghiêm Kinh Tông Thông q. 1 (Vạn Tục 117, 6 thượng) ghi: »阿 難 見 佛、 頂 禮 悲 泣、 恨 無 始 來 一 向 多 聞、 未 全 道 力。 殷 勤 啟 請 十 方 如 來 得 成 菩 提、 奢 摩 他 三 摩 提、 禪 那 最 初 方 便。 – [i]Gặp Phật, A-nan đảnh lễ rồi buồn thảm rơi lệ, hận rằng từ trước đến nay chỉ chuyên đa văn nên chưa tu hành để đầy đủ đạo lực, mới khẩn thiết nhiều lần thưa thỉnh về các phương tiện đầu tiên như: Xa-ma-tha, Tam-ma-đề, Thiền-na mà mười phương Như Lai nhờ đó được thành Chính giác[/i]«. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ; 4411梵語 adhyeṣanā, adhyeṣita。即諷經之前,奉請諸佛。如舉行楞嚴會之際,當唱楞嚴會上佛菩薩之名號。而楞嚴頭舉唱「南無楞嚴會上佛菩薩」及所唱之文,稱為啟唱。禪宗之「望晦略布薩」,係每月初一、十五日行略式之布薩會,於懺悔文之後,舉唱「南無過去七佛,南無釋迦牟尼佛,南無文殊菩薩,南無普賢菩薩,南無觀世音菩薩,南無彌勒尊佛,南無歷代祖師菩薩」等佛名,此即啟請,其後才 菪|弘誓願。然於葬儀中,誦楞嚴咒時並不行啟請之儀。 密教之啟請則是以印明啟白奉請之旨趣。即於金剛界法中,結誦道場觀、大虛空藏、小金剛輪等印言,具備輪壇後,為與道場所觀之本尊冥會一體之故,而於召請他方淨土之本尊聖眾時,先以印明啟白奉請之旨趣。〔佛母大孔雀明王經卷上、入楞伽經卷一請佛品、禪林象器箋諷唱門〕(參閱「平舉」1919、「勸請」6735) ; Adhyesana (S). ; (啓請) Phạm: Adhyewanà, adhyewita. Phụng thỉnh chư Phật trước khi tụng kinh. Như xướng: Na mô Lăng nghiêm hội thượng Phật Bồ tát trước khi tụng văn chú Thủ lăng nghiêm. Trong nghi thức Vọng hối lược Bố tát, tức là mỗi tháng vào ngày mồng 1 và ngày rằm, cử hành nghi thức Bố tát vắn tắt, thì sau khi đọc văn sám hối, xướng rằng: Na mô Quá khứ thất Phật, Na mô Thích ca mâu ni Phật, Na mô Văn thù bồ tát, Na mô Phổ hiền bồ tát, Na mô Quan thế âm bồ tát, Na mô Di lặc bồ tát, Na mô Lịch đại tổ sư bồ tát, v.v... đây là Khải thỉnh, sau đó mới xướng Tứ hoằng thệ nguyện. Nhưng trong nghi thức tống táng, thì khi tụng chú Lăng nghiêm, không cử hành nghi thức khải thỉnh. Mật giáo thì dùng khế ấn và chân ngôn để Khải thỉnh. Như trong pháp Kim cương giới, kết tụng ấn ngôn Đạo tràng quán, Đại hư không tạng, Tiểu kim cương luân, v.v... và chuẩn bị đầy đủ luân đàn xong, thì kết ấn ngôn để triệu thỉnh Bản tôn Thánh chúng ở các Tịnh độ phương khác, thầm hội nhất thể với Bản tôn của đạo tràng đang tu quán. [X. kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q. thượng; phẩm Thỉnh Phật kinh Lăng già Q.1; môn Phúng xướng trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Bình Cử, Khuyến Thỉnh).

khải định sớ

5482凡四卷。即唐代善導大師所著之觀無量壽經疏。收於大正藏第三十七冊。由於卷四之末有「今欲出此觀經要義楷定古今」之語,故世稱此疏爲楷定疏。其後,日僧顯意撰觀經疏楷定記三十六卷一書以注釋善導之楷定疏,世稱爲楷定記。 ; (楷定疏) Cũng gọi: Quán vô lượng thọ kinh sớ. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thiện đạo soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tạp 37. Do ở cuối quyển 4 có câu: Nay muốn nêu ra nghĩa trọng yếu của kinh này để định lại mẫu mực(Khải định)xưa nay, nên người đời gọi bộ Sớ này là Khải định sớ. Về sau, vị tăng người Nhật bản tên là Hiển ý soạn Quán kinh sớ Khải định kí để chú thích bộ Khải định sớ của ngài Thiện đạo gồm 36 quyển, người đời gọi là Khải định kí.

Khải 啓

[ja] ケイ kei ||| To teach, enlighten, open up, clarify, explain. => Dạy, làm sáng tỏ, khai ngộ, soi sáng, giảng giải.

Khảm

(坎): trong Kinh Dịch, Khảm là tên của một quẻ, là một trong Bát Quái (八卦), tượng trưng cho sự hiểm nạn, đại biểu cho nước, là quẻ của phương Bắc. Như trong Dịch Kinh (易經), Thuyết Quái Truyện (說卦傳), có giải thích rằng: “Khảm giả, thủy dã; chánh Bắc phương chi quái dã; Lao Quái dã; vạn vật chi sở quy dã (坎者、水也、正北方之卦也、勞卦也、萬物之所歸也, Khảm là nước; là quẻ của hướng chánh Bắc, là Lao Quái, là nơi quay về của vạn vật).” Trong tác phẩm Đào Hoa Phiến (桃花扇), phần Nhập Đạo (入道), của Khổng Thượng Nhiệm (孔尚任, 1648-1718) nhà Thanh, có đoạn: “Nữ hữu nữ giới, hạ hợp Khảm đạo, khoái hướng Bắc sơn chi Bắc, tu chơn học đạo (女有女界、下合坎道、快向北山之北、修眞學道, nữ có cảnh giới của người nữ, dưới hợp với phương Bắc, thích hướng phía Bắc của Bắc sơn, tu chơn học đạo).”

khảm

K'an (C)Quẻ thứ hai trong bát quái.

khảo tín lục

2508凡五卷。日僧景耀玄智撰。收於日本真宗全書雜部。係就佛門之日用行事、法式等考究其本據,詳述其緣由,計有三七七項。 ; (考信錄) Tác phẩm, 5 quyển, gồm 337 hạng mục, do ngài Cảnh diệu Huyền trí, người Nhật bản soạn, được thu vào Nhật bản Chân tông toàn thư tạp bộ. Nội dung tìm hiểu về căn cứ và lí do của những phép tắc và nghi thức được thực hành trong các chùa viện.

khảo đề lạp

2508梵名 Kauṭilya,或 Cāṇakya, Chāṇakya, Viṣṇugupta Kauṭaly。紀元前三、四世紀間之印度政治家。為孔雀王朝(梵 Maurya)旃陀羅笈多王(梵 Chandragupta)之宰相,信仰婆羅門教,長於權謀策術,王得以稱霸,其功不可沒。著作流傳至今者僅考提拉實利論(梵 Kautiliya Arthaśāstra),主要探討政治問題,內容廣泛,計有:學問、教育之意義、祕密偵探、都城、稅收、行政諸官、司法、諸法制、相續、國際政治、開戰與同盟、戰鬥、占領與和平、富國策等篇。為研究當時政治、社會狀態之珍貴文獻。

khảo đề lạp thật lợi luận

Kautiliya-Arthaśāstra (S)Luận của Vệ đà.

Khảo 考

[ja] コウ kō ||| (1) To think, plan, reflect on. (2) To inspect; examine. => 1. Suy xét, hoạch định, quán sát. 2. Xem xét kỹ; nghiên cứu.

Khất

乞; C: qǐ; J: kotsu;|Cầu, xin. Cầu xin của bố thí.

khất nhãn bà la môn

725對因位修行中之菩薩乞求施與眼目之惡婆羅門。賢愚經卷六、彌勒菩薩所問本願經、福蓋正行所集經卷七、巴利本生經、梵文本生鬘論等均載佛陀於過去因位為北印度富迦羅拔城(梵 Puṣkarāvatī)之須提羅大王時,曾應盲婆羅門之乞求,而施與眼目,此舍衛城之盲婆羅門即乞眼婆羅門。另於大智度論卷十二則記載舍利弗施眼之故事,舍利弗於六十劫中行菩薩道時,欲渡布施之河,有人來乞其眼,舍利弗初時不與,其人強索,舍利弗遂與一眼,乞者得眼,嗅之而嫌其臭,乃棄於地,並踐踏之,舍利弗遂自思惟如此人輩不可度,不如自調早脫生死。如是思惟,即於菩薩道退迴小乘。此蓋以舍利弗退菩提心之因緣,顯示菩薩布施行之廣大。〔阿育王息壞目因緣經、撰集百緣經卷四、六度集經卷四、大乘起信論義記卷下本〕 ; (乞眼婆羅門) Tên người Bà la môn đã xin con mắt của một vị Bồ tát. Cứ theo kinh Hiền ngu quyển 6, kinh Di lặc bồ tát sở vấn bản nguyện, kinh Phúc cái chính hạnh sở tập quyển 7, kinh Bản sinh (tiếngPàli) và luận Bản sinh man (tiếng Phạm), thì đời quá khứ, khi còn ở nhân vị tu hành, đức Phật là Đại vương Tu đề la ở thành Phú ca la bạt (Phạm:Puwkaràvatì) thuộc Bắc Ấn độ, đã bố thí đôi mắt cho người Bà la môn mù theo lời khẩn cầu của ông ta; Bà la môn mù ở thành Xá vệ này tức là Khất nhãn bà la môn. Ngoài ra, theo luận Đại trí độ quyển 12, thì ngài Xá lợi phất khi thực hành đạo Bồ tát trong 60 kiếp, muốn tu hạnh Bố thí ba la mật, lúc đó có người đến xin mắt, ban đầu Ngài ngần ngại không cho, người ấy năn nỉ, Ngài mới móc 1 con mắt để cho, người ấy ngửi mắt, chê hôi rồi ném xuống đất và lấy chân chà lên, Ngài liền tự nghĩ lũ người như thế không thể độ được, chi bằng ta tự tu để sớm thoát khỏi sinh tử. Nghĩ như thế rồi, ngài Xá lợi phất đang từ đạo Bồ tát rơi xuống hạnh Tiểu thừa. [X. kinh A dục vương tức hoại mục nhân duyên; kinh Soạn tập bách duyên Q.4; kinh Lục độ tập Q.4; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q. hạ phần đầu].

khất sái

726悉曇字嵖(kṣa)。悉曇五十字門之一,四十二字門之一。又作乞叉、吃灑、葛叉、剎、差、荼、羅、矩。大品般若經卷五取梵語 kṣaya(音譯乞叉耶,意譯盡)之義,解為「諸法盡不可得」;大方等大集經卷四、方廣大莊嚴經卷四解為「忍」(梵 kṣānti),出生無邊門陀羅尼經解為「剎那」(梵 kṣaṇika)、「無盡」(梵 akṣaya),二者均採聯想法,即聞 kṣa 之音時,則聯想含有此音之如上三字;文殊問經字母品則謂,稱乞灑(二合)字時,是一切文字究竟無言聲之義,此係梵語 akṣara(音譯惡剎羅)之轉釋。〔金剛頂經釋字母品、放光般若經卷四、大智度論卷四十八、悉曇字記〕 ; (乞灑) Cũng gọi Khất xoa, Cát xoa, Sát, Sai, Đồ, La, Củ. Chữ Tất đàm (Kwa). Một trong 50 tự môn (chữ cái), 1 trong 42 tự môn Tất đàm. Kinh Đại phẩm Bát nhã quyển 5, giải thích chữ Phạm:Kwaya(dịch âm: Khất xoa da, dịch ý: Tận) nghĩa là Chư pháp tận bất khả đắc (các pháp hết chẳng thể được). Kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 4 và kinh Đại phương quảng quyển 4, giải nghĩa Khất sái là Nhẫn (Phạm:Kwànti). Kinh Xuất sinh vô biên môn đà la ni giải thích Khất sái là Sát na (Phạm: Kwaịika), Vô tận (Phạm: Akwaya). Cho nên, khi nghe âmKwathì liên tưởng ngay đến cả 3 âm: Kwàịti, Kwaịika và Kwaya. Phẩm Tự mẫu của kinh Văn thù vấn thì bảo: Khi đọc chữ Khất sái thành 1 âm thì có nghĩa là tất cả văn tự rốt ráo không có lời nói, âm thanh. Đây là giải thích lại nghĩa chữ Phạm:Akwara(âm Hán: Ác xoa la). [X. phẩm Thích tự mẫu kinh Kim cương đính; kinh Phóng quang bát nhã Q.4; luận Đại trí độ Q.48; Tất đàm tự kí].

Khất sĩ

乞士|danh từ chỉ các vị Xuất gia học đạo, lang thang khất thực hằng ngày, dùng chung cho Phật đạo và ngoại đạo. Tại Ấn Ðộ, người ta thường dùng ba danh từ chỉ một người Khất sĩ, đó là Anāgārika (Vô gia cư), Bhikṣu (Tỉ-khâu), và Śramaṇa (Sa-môn, Du tăng). Ba từ này đều có thể hiểu là Khất sĩ, được dùng chung cho Phật đạo và ngoại đạo.

khất sĩ

723梵語 bhikṣu 之意譯,指比丘。比丘為杜絕一切生業以清淨活命,乃向信徒乞食,以之維持色身,故稱乞士。〔大智度論卷三、注維摩詰經卷一、慧琳 絡q卷二十七〕(參閱「比丘」1479) ; Daṇḍī (P), Daṇḍka (P), Mendicant Người cầm trượng. ; Bhiksu (S). Mendicant monk, Almsman. ; (乞士) Phạm: Bhikwu. Chỉ cho tỉ khưu. Các tỉ khưu không mưu sinh bằng bất cứ nghề nghiệp gì, mà chỉ đi xin ăn để duy trì sắc thân, sống cuộc đời thanh tịnh, cho nên gọi là Khất sĩ. [X. luận Đại trí độ Q.3; Chú duy ma cật kinh Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27]. (xt. Tỉ Khưu).

Khất thực

乞食; C: qǐshí; J: kotsujiki;|Cầu xin thực phẩm. Tiếng Hán còn gọi là Thác bát (托鉢). Tăng ni tự nuôi sống mình bằng cách khất thực từ nhà của cư sĩ. Có nhiều luật liên quan đến việc khất thực được ghi trong Luật tạng, như hạn định thời gian khất thực chỉ được đến khi đúng ngọ (12 giờ trưa) và chỉ khất thực trong giới hạn những nhu cầu căn bản để duy trì mệnh sống (s: pinda-cārika, bhaikṣya, pinda).

khất thực

724梵語 paiṇḍapātika,巴利語 piṇḍapāta。乃印度僧人為資養色身而乞食於人之一種行儀。又作團墮(即取置食物於鉢中之義)、分衛、托鉢、行乞等。係十二頭陀行之一。其原始意義有二,即:(一)自利,為杜絕俗事,方便修道。(二)利他,為福利世人,予眾生種福機會。故乞食屬僧人清淨之正命;若自作種種生計以養其身,則為邪命。 行乞之方法與威儀,據增一阿含經卷四十七及毘尼討要卷六載,入城行乞時,道側而行,左手持鉢,次第乞食;以維持生命為限,心不貪著,故得食時不喜,不得亦不憂,唯以除舊疾,養氣力為要。另據法集經卷一載,如來乞食有三意,即:(一)不貪珍味,美惡均等。(二)為破我慢,於富貴貧賤等家皆無揀擇。(三)慈悲平等,大作利益。又佛制以「過午不食」為律,此乃源於面貌極黑之迦留陀夷比丘,曾於日暮雷雨交加之時,入城乞食,一孕婦見而驚怖,誤以為鬼,以致胎墮;由此,佛遂立過午不食之制。 此外,寶雨經卷八載,菩薩以成就十種法而行乞食,稱為乞食十為。即:(一)為攝授諸有情故,菩薩見一切有情受諸苦惱,雖能成就微少善根,但為時不久,為欲攝益諸有情而行乞食。(二)為次第故,即入城邑聚落時,住於正念,具足威儀,諸根寂然,依次乞食,不捨貧窮家而入富貴家(唯除惡種類家、諸外道處)。(三)為不疲厭故,菩薩次第乞食時,不生厭離,亦不疲倦,於諸有情無所憎愛。(四)為知足故,以其不疲厭,遂能知足。(五)為分布故,若得食後,好壞食物皆當隨應受取,返己住處,先於如來像,或舍利塔前供養讚歎;復以所得食物分為四分,三分施與同梵行者、貧窮之人、惡道有情,所餘一分自食。(六)為不躭嗜故,謂菩薩雖食,而於食事無貪、無染,亦無愛著。(七)為知量故,受食唯為活命,不使身體羸弱,亦不令其過量;若極虛弱則影響修持,若極重則增長睡眠。(八)為善品現前故,菩薩如法行食,能令善品增長現前。(九)為善根圓滿故,以其勤修而無怠惰,故得圓滿菩提資糧。(十)為離我執故,由彼一切之善,能成熟菩提分法,遠離我執,遂能捨身肉,施與有情。我國自古則稱乞食為托鉢,托鉢時當心念威儀,專注於道,若無道心而僅存形式,則與一般乞者無異。 又據顯揚聖教論,比丘乞食,有五處不可往,以避嫌疑。(一)唱令家,歌唱曲令,但取歡娛,能亂禪定。(二)婬女家,其處行止不潔,聲名不正,色欲因緣為障道根本。(三)酤酒家,酒是起罪因緣,能生過失。(四)王宮,乃貴戚之處,嚴禁之所,非可干冒,故不可往。(五)旃陀羅,即屠者之家,此處殺心盛大,惱害眾生,見者傷慈,壞善根本,故不可往。〔中阿含經卷四十八牛角娑羅林經、五分律卷二十七、四分律行事鈔資持記卷中三之二、卷下三之四、釋氏要覽卷上〕 ; Paindapatika (S), Going for almsXem Thác bát. ; To beg for food, mendicate. ; (乞食) Phạm:Paiịđapàtika. Pàli: Piịđapàta. Cũng gọi Đoàn đọa, Phần vệ, Thác bát, Hành khất. Hành nghi của tăng sĩ Ấn độ, đi xin thức ăn của mọi người để nuôi dưỡng sắc thân, là 1 trong 12 hạnh đầu đà. Khất thực vốn có 2 ý nghĩa: 1. Tự lợi: Dứt bỏ tất cả các việc thế tục, làm phương tiện tu đạo. 2. Lợi tha: Tạo cơ hội cho chúng sinh gieo nhân phúc đức. Khất thực thuộc về chính mệnh của tăng sĩ, nếu tự kinh doanh, buôn bán để mưu sinh là tà mệnh. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 47 và Tì ni thảo yếu quyển 6 thì khi vào thành khất thực, phải đi sát bên lề đường, tay trái cầm bình bát, theo thứ tự khất thực, cốt để duy trì mệnh sống, tâm không tham đắm, cho nên khi được thức ăn không mừng, không được cũng không lo, chỉ lấy việc trừ bệnh đói, nuôi dưỡng khí lực làm chính. Lại theo kinh Pháp tập quyển 1, thì việc đức Như lai đi khất thực có 3 nghĩa: 1. Không tham đắm vị ngon: Ngon, dở đều bình đẳng. 2. Để phá trừ ngã mạn: không phân biệt nhà giàu, nghèo. 3. Từ bi bình đẳng: Làm lợi ích lớn cho chúng sinh. Tỉ khưu Ca lưu đà di có sắc mặt đen thui vào thành khất thực lúc gần tối, trời mưa gió sấm chớp, khi ấy có người đàn bà đang mang thai, trông thấy Ca lưu đà di tưởng lầm là quỉ, bà ta sợ hãi quá đến nỗi bị sẩy thai. Vì việc này mà đức Phật liền chế giới cấm khất thực sau giờ Ngọ. Theo kinh Bảo vũ quyển 8, thì Bồ tát đi khất thực là để thành tựu 10 pháp: 1. Nhiếp thụ chư hữu tình: Bồ tát thấy tất cả loài hữu tình chịu các nổi khổ não, tuy có thể thành tựu chút ít thiện căn, nhưng thời gian thực hành chẳng được bao lâu. Vì muốn thu nhiếp và làm lợi ích cho các hữu tình nên Bồ tát đi khất thực. 2. Thứ tự: Khi vào thành ấp, làng xóm, giữ gìn chính niệm, đầy đủ uy nghi, các căn tĩnh lặng, theo thứ tự khất thực, không bỏ nhà nghèo để đến nhà giầu (chỉ trừ các nhà hung ác và chỗ ở của các ngoại đạo). 3. Bất bì yếm(mỏi mệt, nhàm chán): Bồ tát khi theo thứ tự đi khất thực không sinh tâm nhàm chán, xa lìa, cũng không mỏi mệt, đối với các hữu tình, không có tâm thương, ghét. 4. Tri túc(biết đủ): Vì không mỏi mệt nhàm chán nên biết đủ. 5. Phân bố: Sau khi được thức ăn, dù ngon dù dở đều phải nhận lấy, rồi trở về chỗ mình ở, trước dâng lên cúng dường tượng đức Như lai hoặc trước tháp Xá lợi, rồi chia thức ăn mình xin được làm 4 phần, 3 phần thí cho những người đồng tu, những người nghèo cùng và những chúng sinh trong đường ác, phần còn lại thì mình ăn. 6. Bất đàm thị: Bồ tát tuy ăn nhưng đối với việc ăn không tham đắm, không nhiễm trước. 7. Tri lượng: Ăn cốt để sống, nếu ăn ít quá, thể lực suy yếu, sẽ ảnh hưởng đến việc tu trì, còn nếu ăn quá no thì dễ tăng trưởng sự ngủ nghỉ. 8. Thiện phẩm hiện tiền: Bồ tát ăn uống đúng như pháp, có thể làm cho các thiện căn hiện tiền thêm lớn. 9. Thiện căn viên mãn: Bồ tát siêng năng tu tập, không biếng nhác, nên được tư lương bồ đề viên mãn. 10. Li ngã chấp: Nhờ tất cả những thiện phẩm, thiện căn ấy mà thành tựu được thất bồ đề phần, xa lìa ngã chấp, có thể bỏ nhục thân bố thí cho hữu tình. Từ xưa, Trung quốc gọi khất thực là Thác bát, khi thác bát, phải lưu tâm đến uy nghi, chú ý đến đạo; nếu không có đạo tâm mà chỉ có hình thức thì chẳng khác gì những kẻ ăn xin tầm thường. Cứ theo luận Hiển dương thánh giáo, thì tỉ khưu khi đi khất thực có 5 chỗ không nên đến để tránh sự hiềm nghi. Đó là: 1. Nhà hát xướng: Nhà hát là chỗ vui chơi náo nhiệt, làm tán loạn tâm thiền định. 2. Nhà bán dâm: Mọi sinh hoạt ở đây đều không trong sạch, tiếng tăm không tốt, nhân duyên sắc dục là gốc của sự chướng đạo. 3. Nhà bán rượu: Rượu là nguyên nhân sinh ra lỗi lầm và tội ác. 4. Cung vua: Chỗ ở của quyền quí, chỗ nghiêm cấm mọi quan hệ, vì thế không nên đến. 5. Nhà Chiên đà la: Nhà đồ tể, nơi đây tâm sát sinh rất mạnh, não hại chúng sinh, nếu người trông thấy thì tổn thương lòng từ bi, hư hoại căn lành, vì thế không nên đến. [X. kinh Trung a hàm Q.4; kinh Thập bát ngưu dác sa la lâm; Ngũ phần luật Q.27; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung phần 3 đoạn 2; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 4; Thích thị yếu lãm Q.thượng].

khất thực thập lợi

724乞食有十種利益,即:(一)所用活命,自屬不屬他。(二)眾生施我食者,令住三寶,然後當食。(三)若有施我食者,當生悲心,我當勤行精進,令善住布施,作後乃食。(四)順佛之教行。(五)易滿易養。(六)行破驕慢之法。(七)招感三十二相中無見頂相之善根。(八)見我乞食,則其餘有修善法者亦當效我。(九)不與男女、大小有諸因緣事。(十)次第乞食,於眾生中生平等心。〔十住毘婆沙論卷十六、四分律刪繁補闕行事鈔卷下之三〕 ; (乞食十利) Khất thực có 10 điều lợi ích: 1. Thức ăn xin được dùng để nuôi thân mệnh. 2. Khi chúng sinh cho thức ăn, thì phải làm cho họ an trú nơi Tam bảo, rồi sau mới ăn. 3. Nếu có người cho thức ăn, thì phải khuyên họ tinh tấn tu tập hạnh bố thí, rồi sau mới ăn. 4. Thuận theo giáo hạnh của đức Phật. 5. Ăn uống giản dị. 6. Phá trừ kiêu mạn. 7. Chiêu cảm thiện căn Vô kiến đính tướng trong 32 tướng của Phật. 8. Thấy tỉ khưu đi khất thực, những người tu các thiện pháp khác cũng làm theo. 9. Không quan hệ với nam nữ, lớn nhỏ. 10. Khất thực phải theo thứ tự, có tâm bình đẳng đối với chúng sinh. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.16; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q. hạ phần 3].

khất thực tứ phần

725據寶雲經卷八載,佛制乞食之法,一日之中,必以七家為限,為無多貪之故。又比丘須將乞得之食物分作四分,故稱乞食四分。四分即:(一)一分奉同梵行者,同梵行者,即同修淨行之人。凡乞食時,必有同修之人看守房舍,或有老病等不便行履者,比丘得食歸時,則以一分奉之,令其飽滿,亦得安心修道。(二)一分與窮乞人,謂乞得食物時,遇有窮苦求乞之人,當起憐憫心,作自饑餓想,而以一分施之,令其飽滿,勸他修善。(三)一分與諸鬼神,即將乞得之食,以淨器盛貯一分,待日晡時,則燃香諷咒加持,普施一切鬼神,令其飽滿,出離苦趣,悉得解脫。(四)一分自食,謂比丘乞食,除前三分外,唯留一分,或多或少則自食之。食已,安心行道,庶不虛受信施。 ; (乞食四分) Thức ăn xin được đem chia làm 4 phần. Cứ theo kinh Bảo vân quyển 8, thì đức Phật chế pháp khất thực một ngày chỉ giới hạn trong 7 nhà và khi xin được thức ăn phải chia làm 4 phần như sau: 1. Một phần cúng dường những người đồng tu tịnh hạnh: Mỗi khi đi khất thực, tất phải có người ở lại trông nom phòng xá, hoặc có những người già cả bệnh hoạn không thể đi khất thực, khi tỉ khưu đi xin đượcthức ăn trở về, phải dành một phần cho các vị ấy, khiến họ no đủ và được yên tâm tu đạo. 2. Một phần cho những người nghèo khổ: Khi xin được thức ăn, gặp người nghèo khổ đến xin, tỉ khưu phải khởi tâm thương xót, chia cho họ một phần, rồi khuyên họ làm lành. 3. Một phần cho các quỉ thần: Để một phần thức ăn xin được vào cái chén hoặc đĩa sạch, đợi đến chiều tối, thắp hương, tụng chú cầu nguyện, rồi bố thí cho tất cả quỉ thần, khiến họ no đủ, ra khỏi các đường khổ não và đều được giải thoát. 4. Một phần để mình ăn: Tỉ khưu đi khất thực, trừ 3 phần nói trên, chỉ để lại một phần mình ăn. Ăn rồi, chuyên tâm tu đạo, để khỏi luống phí của tín thí.

khất vũ

724乃久旱之時,以宗教儀式祈求降雨之事。又稱祈雨、請雨。佛教中誦讀有關祈雨之海龍王經,即為乞雨之始。在我國和日本則更加上列隊、舞蹈等民俗信仰之祈雨儀式,惟內容仍以誦讀經典(或咒文)及修法等祈願為主。祈雨者若是出家比丘,應具律儀;若俗士應受八戒。作法之時,喫三白食,每日以香湯沐浴,著新淨青衣,於壇西面以青物為座。案上置大雲經,或二人、三人乃至七人更替誦讀,經聲不應間斷。祈雨法最早行於印度,中國自黃帝以降便有祈雨之說,如黃帝時赤將子為雨師;神農時有赤松子;漢時有沙門竺曇蓋讀海龍王經祈雨;晉時潯陽亢旱,慧遠法師讀海龍王經祈雨,俄而洪雨大作;唐貞觀年間大旱,玉泉寺水竭,沙門空藏祈請,泉水湧出,天雨亦沛然而降。日本、高麗等地亦有祈雨之說。〔大雲輪請雨經、大方等大雲經請雨品、海龍王經〕 ; (乞雨) Cũng gọi Kí vũ, Thỉnh vũ, Đảo vũ. Cầu mưa. Khi hạn hán lâu ngày, người xưa thường tổ chức lễ cầu mưa. Nghi thức này bắt nguồn từ kinh Hải long vương của Phật giáo. Tại Trung quốc và Nhật bản lại còn thêm các nghi thức cầu mưa theo tín ngưỡng dân gian như: Sắp hàng, nhảy múa, v.v..., nhưng vẫn lấy việc tụng kinh (hoặc trì chú)và tu pháp để cầu nguyện là chính. Người cầu mưa nếu là tỉ khưu thì phải đầy đủ luật nghi, nếu là cư sĩ thì phải thụ 8 giới. Khi tu pháp , chỉ được ăn cơm với sữa và phó mát, hàng ngày phải tắm gội bằng nước thơm, mặc áo mới mầu xanh sạch sẽ; ở mặt tây đàn đặt một tòa ngồi cũng được làm bằng vật mầu xanh. Trên bàn để kinh Đại vân, 2 người, 3 người cho đến 7 người thay phiên nhau đọc tụng, tiếng tụng kinh không được gián đoạn. Phép cầu mưa đã được thực hành sớm nhất ở Ấn độ. Ở Trung quốc thì từ đời Hoàng đế trở về sau mới có nghi thức cầu mưa. Như thời Hoàng đế có Xích tương tử làm thầy Khất vũ, thời Thần nông có Xích tùng tử, thời Hán có sa môn Trúc đàm cái tụng kinh Hải long vương cầu mưa; thời Tấn, có lần vùng Tầm dương nắng hạn, pháp sư Tuệ viễn cũng tụng kinh Hải long vương cầu mưa, chỉ trong chốc lát liền có trận mưa to. Khoảng năm Trinh quán đời Đường xẩy ra đại hạn, chùa Ngọc tuyền hết nước, sa môn Không tạng cầu mưa, nước từ suối vọt lên, mưa cũng trút xuống tràn đầy. Nhật bản, Cao li, Việt nam, v.v... cũng có tục cầu mưa. [X. kinh Đại vân luân thỉnh vũ; phẩm Thỉnh vũ trong kinh Đại phương đẳng đại vân; kinh Hải long vương].

khấu băng cổ phật

2422(844~928)五代梁僧。又稱扣冰澡(藻)先。福建新豐人,俗姓翁。母嘗夢一比丘,風神炯然,荷錫求宿,人謂為辟支佛。會昌四年,師誕生,香霧滿室,彌日不散。年十三出家,師事烏山興福寺行全,咸通六年(865)受具足戒。後往謁雪峰義存,雪峰與之交談數語而謂異日必為王者師。後居於江西鵝湖山,又歸溫嶺,結草庵而居,常有二虎侍於兩側。師夏著紙衣,冬則割冰以資沐浴,世人故稱之為扣冰古佛。後唐天成三年應閩王召請,居十日以疾辭歸鼓山。同年十二月示寂。諡號「妙應法威慈濟禪師」。〔五燈會元卷二、增訂佛祖道影卷四(虛雲)、禪林口實混名集卷上〕 ; (扣冰古佛) (844-928) Cũng gọi Khấu băng tảo tiên. Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Lương thời Ngũ đại, người huyện Tân phong, tỉnh Phúc kiến, họ Ông. Thân mẫu sư có lần nằm mộng thấy một vị tỉ khưu, sắc diện rực rỡ, chống tích trượng đến xin tá túc. Năm Hội xương thứ 4 (844), lúc sinh ra sư, sương thơm tỏa khắp phòng, suốt ngày không tan. Năm 13 tuổi, sư theo ngài Hạnh toàn ở chùa Hưng phúc núi Ô sơn xin xuất gia. Năm Hàm thông thứ 6 (865), sư thụ giới Cụ túc. Sau, sư đến tham yết ngài Tuyết phong Nghĩa tồn. Về sau, sư ở núi Nga hồ, tỉnh Giang tây, rồi lại về núi Ôn lãnh dựng am tranh để tu, thường có 2 con hổ hầu 2 bên. Mùa hạ sư mặc áo giấy, mùa đông thì phá băng để tắm gội, cho nên người đời gọi sư là Khấu băng cổ Phật(Phật cổ phá băng). Năm Thiên thành thứ 3 (928) đời Hậu Đường, sư nhận lời thỉnh của Mân vương vào cung, ở được 10 ngày sư viện cớ bệnh xin trở về Cổ sơn. Tháng 12 năm Thiên thành thứ 3 sư tịch, thọ 64 tuổi, được vua ban thụy hiệu Diệu Ứng Pháp Uy Từ Tế Thiền Sư. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.2; Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.4 (Hư vân); Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q.thượng].

khấu chiêm chi

Kou Qianzhi (C), Kou Ch'ien-chih (C), Kou Qianzhi (C)(365-448) Một Đạo gia thuộc Ngũ đấu mễ đạo. Nhờ những nỗ lực vận động của ông Đạo giáo được công nhận là quốc giáo. Ông cũng chính là người đã phát động cuộc thàm sát Phật tử trong 7 năm trời từ 438 - 445.

khấu độc lâu tri sinh xứ

1618佛世時,外道耆域叩打髑髏,聞聲即能測知此人所往生之處,乃至此人是男是女、由於何病而命終等生前事蹟。然佛陀以一羅漢之髑髏令叩之,則三叩不能知其往生處。蓋因羅漢已證無餘涅槃,不再輪迴受生。五分律卷二十(大二二‧一三四上):「耆域善別音聲本末之相,佛將至塚間,示五人髑髏。耆域遍叩白佛言:『第一叩者生地獄,第二叩者生畜生,第三叩者生餓鬼,第四叩者生人道,第五叩者生天上。』佛言:『善哉!皆如汝說。』復示一髑髏,耆域三叩,不知所之,白佛言:『我不知此人所生之處。』佛言:『汝應不知。何以故?此是羅漢髑髏,無有生處。』」此外,增一阿含經卷二十聲聞品亦有類似記載 A惟外道之名為「鹿頭梵志」。〔摩訶止觀卷七下〕 ; (叩髑髏知生處) Gõ đầu lâu biết được nơi vãng sinh. Thời đức Phật còn tại thế, có ngoại đạo Kì vực gõ đầu lâu nghe tiếng phát ra có thể đoán biết chỗ người ấy vãng sinh, thậm chí biết họ là nam hay nữ, vì bệnh tật gì mà chết và các sự tích lúc còn sống. Luật Ngũ phần quyển 20 (Đại 22, 134 thượng), nói: Kì vực phân biệt âm thanh rất giỏi, đức Phật đưa ông ta đến nghĩa địa, chỉ 5 cái đầu lâu của 5 người rồi bảo Kì vực gõ; gõ xong Kì vực bạch Phật: Người thứ nhất sinh địa ngục, người thứ 2 sinh súc sinh, người thứ 3 sinh ngã quỉ, người thứ 4 sinh cõi người, người thứ 5 sinh cõi trời. Đức Phật bảo Kì vực: Hay thay! Đều đúng như ông nói. Đức Phật lại chỉ một đầu lâu khác, Kì vực gõ 3 lần mà chẳng biết chỗ sinh đến, liền bạch Phật: Con không biết chỗ vãng sinh của người này! Đức Phật bảo Kì vực: Ông không biết được đâu. Vì sao? Vì đây là đầu lâu của bậc A la hán, không có chỗ sinh đến. Ngoài ra, phẩm Thanh văn của kinh Tăng nhất a hàm quyển 20 cũng ghi chép giống như vậy, chỉ khác là ngoại đạo tên là Lộc đầu phạm chí. [X. Ma ha Khấu Băng Cổ Phật chỉ quán Q.7 hạ].

khẩn ba ca quả

5895緊波迦,梵語 kimpaka。屬胡蘆科之一種毒草。學名爲 Trichosanthes palmata。又作甄波迦果。慧琳音義卷四十一載,此種果實生而端正,人見生愛,愚夫若觸之必死,故以之喻毒。正法念處經卷二十九則謂此果生於海渚,食之將醉七日。〔正法念處經卷六十八、玄應音義卷十一〕 ; (緊波迦果) Khẩn ba ca, Phạm: Kimpaka. Cũng gọi Chân ba ca quả. Tên khoa học: Trichosanthes palmata. Một loại quả có chất độc, thân thảo, thuộc họ bầu. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 41 nói rằng loại quả này rất đẹp, ai trông thấy cũng thích, nhưng nếu người nào đụng vào nó thì phải chết, vì thế nó được dùng để dụ cho chất độc. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 29 thì bảo loại quả này mọc ở bãi biển, ăn vào thì bị say trong 7 ngày. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.68; Huyền ứng âm nghĩa Q.11].

khẩn na la

5895梵名 Kiṃnara,巴利名 Kinnara。又作緊捺洛、緊拏羅、緊擔路、甄陀羅、真陀羅。或稱歌神、歌樂神、音樂天。kiṃ 爲疑問詞,nara 爲人之意;意譯作疑神、疑人、人非人。原爲印度神話中之神,後被佛教吸收爲八部眾之第七。華嚴經探玄記卷二載,此神形貌似人,然頂有一角,人見而起疑,故譯爲疑人、疑神。彼具有美妙的音聲,能歌舞。華嚴經疏卷五載其爲天帝之執法樂神。大乘諸經中,佛說法之聽眾中常列其名。於密教,爲俱毘羅之眷屬,於阿闍梨所傳曼荼羅圖位中,位居北方第三重。於現圖曼荼羅,在外金剛部北方,摩睺羅伽眾之北有二尊緊那羅,俱呈肉色,其中之一於膝上安置橫鼓,另一於膝前安置二豎鼓,俱作欲擊鼓之勢。 又觀世音菩薩爲濟度眾生,而順應各種機類示現三十二種形相(即三十二應),其中第二十九即爲「緊那羅應」。謂緊那羅若欲脫離緊那羅身,觀世音菩薩即於其前應現緊那羅身,爲其說法,使之成就。〔大樹緊那羅王所問經卷一、法華經卷一序品、起世經卷一、大智度論卷十七、注維摩詰經卷一、大日經疏卷六、慧琳音義卷十一〕 ; Kimnara (S), Kinnara (P)Một loại chúng sanh. Một loại thần có thân người đầu ngựa, ca múa hay, thường tấu pháp nhạc và ca múa cho Trời Đế Thích. Cũng là một trong bát bộ gồm: Thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu na, khẩn na la, ma hầu la già. Nghi nhân. ; Kinnaras (S). ; (緊那羅) Phạm: Kiônara. Pàli: Kinnara. Cũng gọi: Khẩn nại lạc, Khẩn noa la, Khẩn đảm lộ, Chân đà la. Dịch ý: Ca thần, Ca nhạc thần, Âm nhạc thần, Nghi thần, Nghi nhân, Nhân phi nhân. Vốn là vị thần trong thần thoại Ấn độ, sau được Phật giáo thu dụng và xếp vào bộ thứ 7 trong 8 bộ chúng. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 2, thì hình dáng vị thần này giống như người, nhưng trên đỉnh đầu có một cái sừng, khiến người thấy sinh nghi. Trong tiếng Phạm, chữ Kim có nghĩa là nghi vấn, nara nghĩa là người, vì thế Kiônasa được dịch là Nghi nhân, Nghi thần. Vị thần này có âm thanh hay và ca múa giỏi. Theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 5, thì vị thần này là Nhạc thần chấp pháp của Thiên đế. Trong các kinh Đại thừa, tên của vị thần này thường được nói đến trong số thính chúng nghe Phật nói pháp. Trong Mật giáo, vị thần này là quyến thuộc của Câu tì la. Trong bức tranh Mạn đồ la do ngài Thiện vô úy truyền thì vị thần được đặt ở lớp thứ 3 phía bắc. Còn trong Hiện đồ mạn đồ la thì Ngài được đặt ở phía bắc Kim cương bộ ngoài; phía bắc chúng Ma hầu la già có 2 vị Khẩn na la, thân mầu da người, một vị trên 2 bắp vế đặt cái trống nằm ngang, còn vị kia thì phía trước có để 2 cái trống đứng, cả 2 vị đều trong tư thế đang đánh trống. Ngoài ra, tùy theo các cơ loại, bồ tát Quan thế âm thường thị hiện 32 ứng thân để cứu độ chúng sinh, trong đó, ứng thân thứ 29 là Khẩn na la. Nghĩa là nếu Khẩn na la muốn trút bỏ được thân Khẩn na la, thì bồ tát Quan thế âm liền ứng hiện thân Khẩn na la ở trước để thuyết pháp cho nghe, khiến thành tựu nguyện vọng. [X. kinh Đại thụ khẩn na la vương sở vấn Q.1; luận Đại trí độ Q.17; Chú Duy ma cật kinh Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.11].

khẩn yết la đồng tử

Xem Căn Yết La đồng tử.

khẩu

Vag (S). ; Mukha (S).The mouth, especially the organ of speech.

khẩu an lạc hành

(口安樂行) Miệng không nói lỗi của người và của kinh điển. Là 1 trong 4 hạnh an lạc. Phẩm An lạc hạnh kinh Pháp hoa (Đại 9, 37 hạ), nói: Văn thù sư lợi! Sau khi Như lai diệt độ, trong thời mạt pháp muốn nói kinh này, nên trụ nơi hạnh an lạc, không nên nói lỗi của người và của kinh điển. (xt. Tứ An Lạc Hạnh).

khẩu hòa

Harmony of mouths or voices unanimous approval.

khẩu luân

(口輪) Cũng gọi Giáo giới luân, Chính giáo luân, Thuyết pháp luân. Giáo pháp do đức Phật nói có khả năng diệt trừ phiền não cho chúng sinh, khiến chúng sinh bỏ tà về chính, nương theo chính giáo mà tu hành, cho nên gọi là Khẩu luân. [X. Kim quang minh kinh văn cú Q.2; Đại minh tam tạng pháp số Q.8]. (xt. Tam Luân).

khẩu lực luận sư

(口力論師) Luận sư chủ trương hư không là nhân sinh ra muôn vật. Một trong các phái ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Cứ theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, thì Khẩu lực luận sư là phái thứ 19 trong 20 phái ngoại đạo, do chủ trương hư không là nhân sinh ra muôn vật, nên cho rằng hư không là nguồn gốc của vũ trụ, từ hư không sinh ra gió, từ gió sinh ra lửa, từ lửa sinh ra hơi ấm, từ hơi ấm sinh ra nước, nước đông lại, sau đó cứng chắc trở thành đất, đất sinh ra các loại cây cỏ, các loại cây cỏ sinh ra ngũ cốc, mệnh sống, v.v... Trong Chư thừa pháp số và Giáo thừa pháp số, ngoại đạo này được gọi là Nhân lực luận sư có lẽ đã lầm lẫn. Sự giải thích về từ ngữ Khẩu lực xưa nay không nhất định. Có chỗ cho rằng hư không giữa vũ trụ và hư không trong miệng có mối quan hệ tương đồng, đầu tiên sinh ra hư không, hư không sinh ra gió, giống như xoang miệng hà ra hơi; có chỗ lại cho rằng trời đất, vạn vật đều do Phạm thiên tạo ra, hư không sinh ra gió, gió sinh ra muôn vật chính là nghĩa từ xoang miệng Phạm thiên phát ra hơi. Cũng có chỗ giải thích rằng ngoại đạo này coi thức ăn là sinh mệnh, nghĩa là dùng Khẩu lực làm kế sinh sống, vì thế gọi là Khẩu lực luận sư. [X. Hoa nghiêm huyền đàm Q.8; Trung quán luận sớ Q.3 phần đầu].

khẩu mật

Vag-guhya (S)Một trong Tam mật.

khẩu nghiệp

xem ba nghiệp. ; Vacakarma (S), Vacī-kamma (P), Vacī-karma (S), Vāk-karman (S)Ngữ nghiệp. ; Vacì-karma (S). The work of the mouth; karma caused by speech. ; (口業) Phạm: Vàk-karman. Cũng gọi Ngữ nghiệp. Lời nói bày tỏ ý muốn của nội tâm, từ đó dẫn đến Vô biểu nghiệp. Một trong 3 nghiệp. Khẩu nghiệp chia làm 2: Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Về vấn đề này, quan điểm của Đại thừa và Tiểu thừa có khác nhau. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Ngữ biểu nghiệp lấy âm thanh làm thực thể, cho Vô biểu nghiệp cũng là thực sắc. Luận thành thực cho Ngữ biểu nghiệp là giả lập, Vô biểu nghiệp là phi sắc, phi tâm. Kinh bộ và Duy thức thì cho rằng Ngữ biểu nghiệp là âm thanh giả, lấy Tư do Ngữ nghiệp phát ra làm thể, Vô biểu nghiệp cũng là giả lập, lấy công năng thiện hoặc phát khởi bất thiện và công năng bất thiện hoặc ngăn thiện của chủng tử Tư làm thể. [X. luận Chúng sự phần A tì đàm Q.5; luận Câu xá Q.1, Q.13; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Đại tì bà sa Q.113; luận Thành thực Q.7; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Tam Nghiệp, Nghiệp).

khẩu nghiệp cung dưỡng

(口業供養) Chỉ cho công đức của miệng khen ngợi chư Phật và Bồ tát. Là một trong 3 nghiệp cúng dường. [X. Pháp hoa văn cú Q.2 phần cuối]. (xt. Khẩu Nghiệp).

khẩu nghiệp công đức

(口業功德) Chỉ cho công đức khẩu nghiệp của Phật A di đà, là 1 trong 8 thứ công đức của 29 thứ trang nghiêm ở Tịnh độ Cực lạc. Đức Phật trang nghiêm 3 nghiệp như khẩu nghiệp là để đối trị 3 nghiệp dối trá của chúng sinh, vì thế công đức khẩu nghiệp cũng có lợi ích của nó. Cứ theo Vãng sinh luận chú quyển hạ, nếu chúng sinh vì hủy báng chính pháp hoặc chê bai hiền thánh mà phải chịu khổ báo bị rút lưỡi, câm ngọng, v.v... mà được nghe danh hiệu và âm thanh thuyết pháp của đức Phật A di đà thì liền thoát khỏi sự trói buộc của khẩu nghiệp, vào nhà Như lai, rốt ráo được khẩu nghiệp bình đẳng, vì thế nên biết công đức của khẩu nghiệp chỉ cho cả danh thanh và âm thanh. Danh thanh là danh hiệu của Phật vang khắp 10 phương; còn âm thanh là tiếng thuyết pháp của Phật thông suốt pháp giới. [X. luận Tịnh độ (Thiên thân); Vãng sinh luận chú Q.thượng].

khẩu nghiệp cúng dường

The offering of the praise or worship of the lips.

khẩu nhẫn

Patience of the mouth, uttering no rebuke under insult or persecution.

khẩu phạt nghiệp

Vag-daṇḍa (S)Một trong Tam phạt nghiệp.

Khẩu quyết

口訣 (決); C: kŏujué; J: kuketsu; |Sự truyền miệng tinh yếu giáo pháp từ thầy cho đệ tử. Còn gọi Khẩu quyết (口決).

khẩu quyết

Orally transmitted decisions or instructions.

Khẩu quyết 口決

[ja] クケツ kuketsu ||| See 口訣. => Xem Khẩu quyết口訣

Khẩu quyết 口訣

[ja] クケツ kuketsu ||| The oral transmission of the inner kernel of the dharma from master to disciple. Also written 口決. => Sự truyền miệng tinh yếu giáo pháp từ thầy cho đệ tử. Còn gọi Khẩu quyết 口決.

Khẩu truyền

口傳; C: kŏuchuán; J: kuden; |Giáo pháp truyền miệng, khác biệt với giáo pháp lưu truyền bằng kinh điển, Sự mật truyền, khác với công truyền. Còn gọi là Khẩu quyết (口訣).

khẩu truyền

Oral transmission. ; (口傳) Cũng gọi Khẩu quyết, Khẩu thụ, Diện thụ, Diện thụ khẩu quyết. Vị thầy truyền pháp cho đệ tử bằng cách nói miệng. Ấn độ thời xưa xem cách ghi chép kinh Phật là việc làm coi thường thần thánh, vì thế chỉ dùng cách truyền khẩu. Sự truyền trao bí pháp của Mật giáo cũng là khẩu truyền, cho nên có từ ngữ Thập nhị khẩu truyền. Tông Thiên thai của Nhật bản cũng có các pháp môn khẩu truyền. [X. luận Phân biệt công đức Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.14; Cao tăng Pháp hiển truyện]. (xt. Thập Nhị Khẩu Truyền).

Khẩu truyền 口傳

[ja] クデン kuden ||| Oral transmission of the buddhadharma, as distinguished from written transmission. Secret transmission as distinguished from public transmission. Also expressed as 口訣. => Giáo pháp truyền miệng, khác biệt với giáo pháp lưu truyền bằng kinh điển, Sự mật truyền, khác với công truyền. Còn gọi là Khẩu quyết口訣.

khẩu truyện sao

(口傳鈔) ... ... .. Tác phẩm, 3 quyển, do vị tăng người Nhật là Giác như soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Sách này được viết bằng tiếng Nhật, nội dung gồm 21 điều pháp ngữ của Tổ sư Thân loan, người khai sáng Tịnh độ Chân tông của Nhật bản, có phụ thêm những kí lục của sư Như tín.

khẩu tứ

The four evils of the mouth, vọng ngữ lying, lưỡng thiệt double tongue, ác khẩu ill words and ỷ ngữ exageration.

khẩu xưng

Invocation. ; (口稱) Đồng nghĩa: Xưng danh. Miệng xưng niệm Na mô A di đà Phật. Nhờ phương pháp khẩu xưng này, đạt đến trạng thái nhất tâm bất loạn mà phát được Tam muội, gọi là Khẩu xưng tam muội. [X. Quán kinh tán thiện nghĩa (Thiện đạo); Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Niệm Phật, Xưng Danh).

khẩu xưng tam muội

The samàdhi in which with a quiet heart the individual repeats the name of Buddha, or the samàdhi attained by such repetition. ; (口稱三昧) Miệng xưng danh hiệu Phật, không xen lẫn niệm khác, nương theo đó mà niệm từng tiếng từng tiếng liên tục, một lòng chẳng rối loạn, thì phát sinh Tam muội.

khẩu đầu thiền

Mouth meditation, i.e. dependance on the leading oơđ others, inability to enter into personal meditation. ; (口頭禪) Cũng gọi Khẩu đầu tam muội. Thiền nói ở đầu môi, chót lưỡi, chứ không có công phu tu trì chân thực để thâm nhập Lí Thiền. Trong Thái căn đàm có câu: Chỉ giảng nói suông về Thiền, mà không tu luyện thực sự là Khẩu đầu thiền. [X. điều Thị chúng trong Thiền quan sách tấn của Thiền sư Hoàng ba Hi vận ở Quân châu].

Khắc

克; C: kè; J: koku;|Có các nghĩa sau: 1. Có thể, có khả năng, thích đáng; 2. Khắc phục, cải tiến; 3. Ấn định (thời gian).

khắc chu nhân

3082禪林用語。原指冥頑不知變通之人;於禪林中,專用於形容學者冥頑愚癡,執著於迷妄而不自知,終究無法自由自在的應對師家之機法。據呂氏春秋察今篇載,有渡江者,不慎將劍墜入江中,遂於舷邊以刀刻痕,謂痕記處乃墜劍之處,而欲由此尋劍,竟不知劍無法隨舟而行,世人遂有「刻舟求劍」之譏。「刻舟人」一詞即由此典故引申而來。〔槐安國語卷五〕 ; (刻舟人) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người khắc thuyền, từ ngữ này có xuất xứ từ câu chuyện Khắc chu cầu kiếm (Khắc thuyền tìm gươm) trong thiên Sát Kim của Lã thị xuân thu: Có người đi thuyền vô ý đánh rơi thanh gươm xuống sông, anh ta vội khắc lên man thuyền để đánh dấu chỗ gươm rơi. Khi thuyền cập bến, đậu lại, anh ta liền theo dấu ấy lặn xuống tìm gươm, mà không biết rằng thuyền đã đi đến nơi khác rồi và gươm không thể đi theo thuyền. Kết quả uổng công vô ích, còn bị người đời chê cười là ngu ngốc. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho người học mê vọng, chấp trước, đối với cơ pháp của thầy không biết dung thông tự tại. [X. Hoè an quốc ngữ Q.5].

khắc chung

3730剋者,乃必、期之義。又作克終。由因必得果,故稱剋;果爲事之修極,故稱終。此外,必定得果,稱爲剋果;必能證果,稱爲剋證、克證;必獲聖果,稱爲剋聖;必能得其實義、取其實體,稱爲剋實、克實。〔無量壽經卷上、華嚴經音義卷上、宗圓記卷三〕 ; (克終) Ấn định thời hạn để chứng quả. Khắc là nhất định, kì hạn, Chung là cuối cùng. Do nhân mà nhất định được quả, là khắc; quả là việc cuối cùng, là Chung. Tóm lại, nhờ nhân tu tập không ngừng nên cuối cùng nhất định sẽ chứng quả, gọi là Khắc chung. Ngoài ra, còn các từ đồng nghĩa với từ Khắc chung như: Khắc quả, khắc chứng, khắc thánh, khắc thực, v.v... [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Hoa nghiêm kinh âm nghĩa Q. thượng. Tông viên kí Q.3].

khắc cần

2785(1063~1135)宋代僧。四川崇寧人,俗姓駱。字無著。幼於妙寂院依自省出家。受具足戒後,於成都依圓明學習經論。後至五祖山參謁法演,蒙其印證。與佛鑑慧懃、佛眼清遠齊名,世有「演門二勤一遠」之稱,被譽為叢林三傑。政和初年至荊州,當世名士張無盡禮謁之,與之談論華嚴要旨及禪門宗趣。復受澧州刺史之請,住夾山靈泉禪院。時因樞密鄧子常之奏請,勅賜紫服及「佛果禪師」之號。政和末年,奉詔移住金陵蔣山,大振宗風。後居於金山,高宗幸揚州時,詔其入對,賜號「圜悟」,世稱圜悟克勤。後歸成都昭覺寺。紹興五年示寂,世壽七十三,諡號「真覺禪師」。弟子有大慧宗杲、虎丘紹隆等禪門龍象。曾於夾山之碧巖,集雪竇重顯之頌古百則,編成碧巖錄十卷,世稱禪門第一書,該書原為其弟子宗杲視為祕傳不授之書,以火焚燬,後世重刊。此外有圜悟佛果禪師語錄二十卷。〔大慧普覺禪師年譜、僧寶正續傳卷四、嘉泰普燈錄卷十一、五燈會元卷十九、佛祖統紀卷四十六、佛祖歷代通載卷三十、釋氏稽古略卷四、續傳燈錄卷二十五〕 ; (克勤) (1063-1135) Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người Sùng ninh, Tứ xuyên, họ Lạc, tự là Vô trước. Thủa nhỏ, sư y vào ngài Tự tỉnh xuất gia ở viện Diệu tịch, sau khi thụ giới Cụ túc, sư theo ngài Viên minh ở thành đô học tập kinh luận. Về sau, sư đến núi Ngũ tổ tham yết ngài Pháp diễn và được ấn chứng. Sư nổi tiếng ngang hàng với Cây Khát Thụ La các vị Phật giám Tuệ cần và Phật nhãn Thanh viễn, được người đời khen ngợi là 3 bậc kiệt xuất trong chốn tùng lâm đương thời. Đầu năm Chính hòa, sư đến Kinh châu, danh sĩ đương thời là ông Trương vô tận đến yết kiến, cùng sư đàm luận về yếu chỉ Hoa nghiêm và Thiền, sư lại nhận lời mời của quan Thứ sử Lễ châu đến trụ trì Thiền viện Linh tuyền ở Giáp sơn. Bấy giờ quan Khu mật là ông Đặng tử thường tâu xin vua ban cho sư áo đỏ và hiệu Phật Quả Thiền Sư. Cuối năm Chính hòa, sư vâng chiếu đến Tưởng sơn, Kim lăng, hoằng dương tông phong. Sau, sư trụ tại Kim sơn, được vua Cao tông ban hiệu Viên Ngộ, từ đó, người đời gọi sư là Viên ngộ Khắc cần. Sau, sư trở về chùa Viên giác ở Thành đô. Năm Thiệu hưng thứ 5, sư tịch, thọ 73 tuổi, thụy hiệu là Chân Giác Thiền Sư. Đệ tử ưu tú của sư có các vị Đại tuệ Tông cảo, Hổ khưu Thiệu long, v.v... là những bậc long tượng trong Thiền lâm. Sư có các tác phẩm: Bích nham lục 10 quyển, Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục 20 quyển. [X. Đại tuệ Phổ giác thiền sư niên phổ; Tăng bảo chính tục truyện Q.4; Gia thái phổ đăng lục Q.11; Ngũ đăng hội nguyên Q.19; Phật tổ thống kỉ Q.46; Phật tổ lịch đại thông tải Q.30; Thích thị kê cổ lược Q.4; Tục truyền đăng lục Q.25].

khắc cần phật quả

Ke chin Fo kuo (C)Tên một vị sưXem Phật Đăng Thủ Tuân.

khắc gia chi tử

2784禪林用語。原意謂能繼承父業之子;在禪林中,轉指能持守師教之弟子。從容錄第六則(大四八‧二三一上):「藥之作病,鑑乎前聖,病之作醫,必也其誰?白頭黑頭兮,克家之子;有句無句兮,截流之機。」 ; (克家之子) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người con có thể thừa kế nghiệp cha. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để chỉ cho người đệ tử có khả năng giữ gìn giáo pháp của thầy. Tắc 6 trong Thung dung lục (Đại 48, 231 thượng), nói: Thuốc để chữa bệnh, trông vào tiên Thánh Bệnh cần điều trị, biết nhờ ai đây? Đầu bạc đầu xanh chừ nhờ con nối dõi Có nói không nói chừ cơ pháp tuyệt dòng.

khắc hạ bột cường đặc lạp thánh

2783(Keshab Chandra Sen, 1838~1884)梵名 Keśavachandra Sena。十九世紀印度教改革派主要人物之一。加爾各答人。年二十入梵教會,於特朋特拉泰戈爾(Devendranath Tagore)領導下,致力於教會之推展工作。但彼倡導基督教義,主張激進改革印度社會制度,例如宣布廢除種姓階級制度、提倡婦女解放運動、振興教育等。其傾向於基督教及急進之作風與特朋特拉不合,遂於一八六六年,另立「印度梵教會(Brāhma Samāj of India)」。融合印度教、錫克教、基督教等教義,制訂新教義、教規,高唱「為上帝服務,即為人服務」,繼續從事社會改革工作。一八七○年,提出「印度殖民制度起源於神」之理論。關於當時婚姻制度,則主張打破繁瑣之傳統陋習,於一八七二年制立「婆羅門婚姻法(Brāhma Marriage Act)。」後因其女兒之婚姻違反自己所定教條,引起教會再分裂。對於後來印度宗教運動影響甚鉅。主要著作為 Lectures in India, 1901。〔J.N. Farquhar: Modern Religous Movements in India, 1929〕

khắc kì thủ chứng

2785又作剋期取證。克期,即限定期日之意。如結夏安居之時,限定期日,修行辦道,以期證得佛果。據圓覺經載,若無有他事因緣,即建道場,當立期限,若立長期為百二十日,中期為百日,下期為八十日,安置淨居。 ; 3730又作克期取證。剋期,即限定日期之意。意謂限定日期,辦道修行,以期得佛果。如圓覺經載,若建道場,當立期限,若立長期則爲一百二十日,中期爲一百日,下期爲八十日,安置淨居。〔圓通大應國師語錄卷上〕

khắc kỳ thủ chứng

(克期取證) Hạn định kì gian tu hành để chứng quả. Cứ theo kinh Viên giác, nếu muốn tu hành mau có kết quả, thì phải kiến lập đạo tràng ở nơi vắng lặng, đặt ra kì hạn ở trong đó tịnh tu. Nếu kì hạn dài thì 120 ngày, kì hạn vừa 100 ngày và kì hạn ngắn 80 ngày.

khắc lê khả túc

2786西藏名 Khri-gtsug lde-brtsan。又作可黎可足、徠巴贍(藏 Ral-pa-can)、熱巴中。西元八一五年至八三六(一說八三八)年在位之西藏王。文治武功極盛,曾擴張其領土為西藏史上版圖最大者。文化史上之成就有採行印度之度量衡、引入唐朝之史官制度以編纂實錄、致力振興佛教。其中尤以翻譯佛典與統一教義,具有不可磨滅之功,西藏大藏經(約於十四世紀完成)泰半於其時譯出,奠定大藏經之基礎,且欲將傳入西藏之各種佛教教義純粹化、簡明化,然對於外來文化之攝取較緩。此外每欲致力於佛教保護政策,而常感心有餘力不足,此皆因受到「棒教」一派傳統勢力之牽制。其後為弟朗達磨(藏 Glaṅ dar-ma,八三六年至八四一年在位,為彈壓佛教之王)暗殺。與棄宗弄讚王、乞㗚雙提贊王,並稱西藏護教三王。 ; (克黎可足) Tạng: Khri- gtsug lde- brtsan. Cũng gọi Khả lê khả túc, Lai ba thiệm (Tạng:Ral-pa-can), Nhiệt ba trung. Vua nước Tây tạng, ở ngôi từ năm 815 đến 836 (có thuyết nói 838), một vị vua văn võ kiêm toàn, có công mở mang lãnh thổ và cùng với Khí tông lộng tán, Khất lật song đề tán là 3 vị vua hộ trì Phật giáo mạnh nhất ở Tây tạng. Những thành tựu về mặt lịch sử văn hóa Tây tạng thời đó là nhờ nhà vua đã biết ứng dụng phép đo lường của Ấn độ, bắt chước chế độ Sử quan của triều Đường Trung quốc để biên soạn lịch sử đương thời. Ông tận lực chấn hưng Phật giáo, thành tích bất hủ của ông là việc phiên dịch kinh điển và thống nhất giáo nghĩa của Phật giáo, hơn phân nửa của Đại tạng kinh Tây tạng(hoàn thành vào khoảng thế kỉ XIV) đã được dịch vào thời kì này. Ngoài ra, nhà vua còn muốn thuần túy hóa các loại giáo nghĩa Phật giáo được truyền vào Tây tạng và tăng cường chính sách bảo hộ Phật giáo, nhưng không thực hiện được vì bị thế lực truyền thống của Bổng giáo hạn chế. Về sau, vua bị Lãng đạt ma (Tạng: Glaídar-ma) ám sát để cướp ngôi.

khắc phù liệu giản

2785即唐代禪僧克符對臨濟義玄之「四料揀」所作之頌。克符,為涿州(河北固安)人,以平居喜著紙衣,故世稱之紙衣道者、紙衣和尚,後參臨濟義玄之四料揀而省悟。所謂「四料揀」,乃臨濟義玄為提撕學人所設立之四種標準,即:奪人不奪境、奪境不奪人、人境俱奪、人境俱不奪等。臨濟之四料揀與曹洞宗之五位說(正偏五位,即:正中偏、偏中正、正中來、偏中至、兼中到)同盛行於叢林中。 克符參四料揀(簡)而省悟之機緣,詳載於禪苑蒙求卷下。其頌詞為(卍續一四八‧一四○上):「奪人不奪境,緣自帶誵訛,擬欲求玄旨,思量反責麼;驪珠光燦爛,蟾桂影婆娑,覿面無差互,還應置網羅。奪境不奪人,尋言何處真?問禪禪是妄,究理理非親;日照寒光澹,山遙翠色新,直饒玄會得,也是眼中塵。人境兩俱奪,從來正令行,不論佛與祖,那說聖凡情;擬犯吹毛劍,還如值木盲,進前求妙會,特地斬精靈。人境俱不奪,思量意不?,主賓言不異,問答理俱全;蹈破澄潭月,穿開碧落天,不能明妙用,淪溺在無緣。」(參閱「四料簡」1748) ; (克符料揀) Bài kệ tụng của Thiền sư Khắc phù đời Đường nói về Tứ liệu giản của ngài Lâm tế Nghĩa huyền. Ngài Khắc phù là người Trác châu (Cố an, Hồ bắc), bình thường thích mặc áo giấy, cho nên người đời gọi là Chỉ y đạo giả(ông đạo áo giấy), Chỉ y hòa thượng. Sau, sư nhờ tham cứu Tứ liệu giản của ngài Lâm tế Nghĩa huyền mà được tỉnh ngộ. Tứ liệu giản là 4 tiêu chuẩn do ngài Lâm tế Nghĩa huyền đề ra để tiếp dắt người học. Đó là: Đoạt người chẳng đoạt cảnh, Đoạt cảnh chẳng đoạt người; Người cảnh đều đoạt cả; Người cảnh đều chẳng đoạt. Những bài kệ tụng của ngài Khắc phù được nghi chép đầy đủ trong Thiền uyển mông cầu quyển hạ (Vạn tục 148, 140 thượng) là: Đoạt người chẳng đoạt cảnh: Duyên tự mắc sai lầm Toan mong cầu huyền chỉ Nghĩ lại đáng trách mà! Li châu dù xán lạn Cung quế bóng phôi pha Nhìn nhau không gì khác Đều vướng trong võng la (lưới). Đoạt cảnh chẳng đoạt người: Tìm lời chân ở đâu? Hỏi Thiền, Thiền là vọng Xét lí, lí không gần Mặt trời soi bóng lạnh Núi thẳm mầu thanh tân Lí huyền dù hiểu được Cũng chỉ mắt vương trần (vương bụi). Người cảnh đều đoạt cả: Xưa nay việc phải làm Bất luận Phật hay Tổ Nói chi Thánh với phàm Toan đọ cùng kiếm khách Lại gặp kẻ chẳng kham Tiến tới cầu diệu ngộ Chặt đứt bậc siêu phàm. Người cảnh đều chẳng đoạt: Suy nghĩ ý không cùng Chủ khách nói chẳng khác Hỏi đáp lí đều dung Dẵm nát đầm trăng lặng Mở bung khoảng trời trong Nếu không thành diệu dụng Chìm đắm mãi không thôi. (xt. Tứ Liệu Giản).

khắc thật thông luận

3730又作據實通論。乃「據勝爲論」之對稱。二種以上事物之比較,各有其優點;若僅舉其特長,別而論之者,稱爲據勝爲論;二物比較,各舉共通點而論者,則稱剋實通論。例如:某國爲農業國,某國爲工業國,各舉其特長而說者,乃爲據勝爲論。若從兩國共有之農業、工業等,對其現有之業務,剋其事實之共同點而論者,則稱爲剋實通論。(參閱「據勝爲論」6223) ; (克實通論) Cũng gọi: Cứ thực thông luận. Đối lại: Cứ thắng vi luận. Căn cứ vào sự thực của vấn đề để thảo luận. Khi so sánh 2 vấn đề, nếu chỉ nêu lên cái ưu điểm của một vấn đề để bàn, thì gọi là Cứ thắng vi luận. Còn nếu chọn lấy một điểm chung giữa 2 vấn đề để bàn, thì gọi là Khắc thực thông luận. Chẳng hạn như nước A là nước nông nghiệp, nước B là nước công nghiệp; khi so sánh 2 nước này, nếu chỉ nêu lên cái đặc điểm của mỗi bên mà bàn, thì gọi là Cứ thắng vi luận. Còn nếu chọn lấy một lợi điểm chung của nông nghiệp và công nghiệp để bàn, thì gọi là Khắc thực thông luận. (xt. Cứ Thắng Vi Luận).

khắc thức

3730剋,必之意;識,記之意。謂天神記錄人所做之善惡時,必無絲毫之夾雜。無量壽經卷下(大一二‧二七四下):「自然剋識,不得相離。」又同經卷下(大一二‧二七六中):「天神剋識,別其名籍。」 ; (克識) Khắc là chắc chắn, tất nhiên; Thức là ghi chép. Nghĩa là khi Thiên thần ghi chép những việc thiện, ác mà người ta đã làm thì chắc chắn một mảy may cũng không sai sót. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 276 trung) nói: Thiên thần khắc thức, phân biệt rõ tên tuổi và quê quán.

khắc tân xuất viện

2785禪宗公案名。唐代臨濟宗興化存獎禪師以靈活機法接引弟子克賓發憤向上,並期以開悟得法之故事。禪苑蒙求卷下(卍續一四八‧一三九上):「興化謂克賓維那曰:『汝不久為唱導之師。』賓曰:『我不入這保社。』化曰:『你會了不入,不會了不入。』賓曰:『總不與麼?』化便打,曰:『克賓維那,法戰不勝,罰錢鑽飯。』次日,興化入堂白槌曰:『克賓維那,法戰不勝,罰錢五貫,設鑽飯一堂,仍須出院。』」 此則公案中,興化對克賓是否具備教化資格之數次問答申辯中,克賓未能契悟,興化乃擊槌宣示克賓之失敗,克賓因此離開興化院(興化寺)。禪林乃以此一事緣,拈出「克賓出院」一語,以為後代禪徒參悟之古則。又克賓悟道之後,住持大行山,後又歸返興化寺,嗣興化存獎之法。〔天聖廣燈錄卷十四、五燈會元卷十一興化存獎章〕 ; (克賓出院) Khắc tân ra khỏi viện. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc thiền sư Hưng hóa Tồn tưởng thuộc tông Lâm tế đời Đường dùng cơ pháp linh hoạt tiếp dẫn đệ tử là Khắc tân. Thiền uyển mông cầu quyển hạ (Vạn tục 148, 139 thượng), nói: Ngài Hưng hóa bảo Duy na Khắc tân rằng: -Không bao lâu nữa, ông sẽ là bậc đạo sư. Sư Khắc tân thưa: -Con chẳng vào đoàn thể ấy đâu. Ngài Hưng hóa hỏi: -Ông hiểu mà chẳng vào hay không hiểu mà chẳng vào? Sư Khắc tân hỏi lại: -Đều không cho sao? Ngài Hưng hóa liền đánh và nói: -Duy na Khắc tân, pháp chiến bị thua rồi, phải bị phạt tiền thiết trai. Hôm sau, ngài Hưng hóa lên Tăng đường đánh kiền chùy bảo đại chúng rằng: Duy na Khắc tân pháp chiến bị thua rồi, phạt tiền 5 quan để thiết trai cúng dường chư tăng, nhưng vẫn phải ra khỏi Thiền viện.

khắc tư nhĩ thiên phật động

2783位於新疆拜城縣克孜爾鎮東南,木扎特河河谷北岸之懸崖上。共二三六窟,東西蜿蜒,長達兩公里,規模之大,僅次於敦煌石窟。拜城,為古代龜茲國故地,故此窟群亦稱為龜茲千佛洞。開鑿年代約在南北朝至晚唐時(四世紀迄八、九世紀)。 石窟形制主要有禮拜窟、講堂與僧堂,題裁內容屬小乘佛教藝術,崇拜釋迦牟尼佛和彌勒佛,其風格頗受巴米羊石窟藝術之影響;晚期則受到大乘佛教藝術之影響,並汲取敦煌石窟藝術之成分而有千佛、一佛二菩薩等題材之出現。其布局,於中後方鑿一方形石柱,將石窟分為前後兩室,前室左、右壁繪說法圖(佛傳之部分),正壁塑坐佛龕或大立像,窟頂則在菱形方格網中畫佛本生故事,一圖一景;後室則繪或塑涅槃像或有關之佛傳故事,及供養人像。其繪畫技巧上,著重明暗,暈染突出,特重人體結構,富於裝飾效果,色彩鮮艷而強烈,其晝風亦自印度、伊朗式而漸趨西域地方色彩之描繪,並揉合當地之生活習俗,格調一新,具有明顯之民族風格。然近代多遭外國盜竊者劫掠破壞,致使大量之塑像、壁畫被盜運國外,窟壁多已殘損,完整彩塑無一復存,實石刻藝術之一大劫難。 ; (克孜爾千佛洞) Quần thể động đá ở sườn núi trên bờ bắc sông Mộc trát, phía đông nam trấn Khắc tư nhĩ, huyện Bái thành, tỉnh Tân cương, Trung quốc. Quần thể hang động này được đục mở vào thời Nam Bắc triều đến cuối đời Đường (khoảng thế kỉ IV đến thế kỉ IX), có tất cả 236 hang động, địa thế quanh co, chạy dài tới 2 cây số, qui mô to lớn, chỉ đứng sau động Đôn hoàng mà thôi. Bái thành là đất cũ của nước Cưu tư đời xưa, vì thế quần thể hang động này cũng được gọi là Cưu tư thiên Phật động (Động Nghìn Phật ở nước Cưu tư). Những hang động chủ yếu gồm có hang lễ bái, giảng đường tăng đường. Nội dung đề tài điêu khắc thuộc nghệ thuật Phật giáo Tiểu thừa, sùng bái Phật Thích ca mâu ni và Phật Di lặc, phong cách ít nhiều chịu ảnh hưởng nghệ thuật hang động Ba mễ dương; thời kì cuối thì chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Phật giáo Đại thừa, đồng thời, hấp thu thành phần nghệ thuật hang động Đôn hoàng mà xuất hiện đề tài Thiên Phật (Nghìn Phật), Nhất Phật nhị Bồ tát(tượng Tam tôn), v.v... Về bố cục của quần thể hang động này, ở giữa tạc một cột đá hình vuông, chia hang động làm hai gian trước sau, trên mặt vách 2 bên gian trước vẽ hình đức Phật thuyết pháp, vách chính đắp khám Phật ngồi hoặc tượng Phật đứng, trên nóc động thì vẽ sự tích bản sinh của đức Phật, gian sau vẽ hoặc đắp tượng Phật nhập Niết bàn hoặc những tích truyện về đức Phật và tượng những người cúng dường. Thời gần đây, quần thể hang động này đã bị cướp phá rất nhiều và phần lớn các pho tượng, bích họa được đưa ra nước ngoài, những vách hang bị đập phá, không một bức ào còn nguyên vẹn, thật là một tai nạn lớn đối với nghệ thuật khắc đá.

khắc văn

2783(1025~1102)北宋禪僧。陝府閿鄉(河南陝縣)人,俗姓鄭。號雲庵。隨北塔廣公出家,居隆興府泐潭。初參黃龍慧南而不契機,復往香城(陝西朝邑)見順和尚,和尚反問黃龍之言句,師聞而當下大悟,方知黃龍用意。遂仍歸黃龍,並嗣其法。從此開堂說法,大為精進,又提攜天下衲子。崇寧元年十月十六日,為眾遺誡宗門大略而示寂,享年七十八。賜號「真淨」。建塔於泐潭新豐。〔五燈會元卷十七〕

khắc ân

2784(Kern, Johan Hendrik Caspar; 1833~1917)荷蘭之印度學學者及佛教學者。生於爪哇。師事韋伯(Weber)學習梵語,一八六五年以來,任萊頓(Leiden)大學教授。出版印度天文學之原典,並致力於爪哇古詩之研究,又將古典梵文學作品譯成荷文,且監修「印度研究」雜誌。特致力於佛教研究,其有名之著作有印度佛教史(Geschiedenis de van het Buddhisme in Indi⑽, 1881~1883)及 Manual of Indian Buddhism。一八九六年開始,與日本之南條文雄共同校訂出版妙法蓮華經(Saddharmapuṇḍarīka-sūtra)之梵文原典,其後並出版英譯本。另有佛傳梵文學作品本生鬘(Jātakamālā)之校訂出版(1891)。 ; (克恩) Kern, Johan Hendrik Caspar (1833-1917) Nhà Phật học và Ấn độ học người Hà lan. Ông sinh ở Java, Indonesia (cựu thuộc địa của Hà lan). Ông học tiếng Phạm với ông Weber. Từ năm 1865 trở đi, ông làm giáo sư Đại học Leiden và là Giám tu tờ tạp chí Nghiên cứu Ấn độ, đồng thời nghiên cứu thơ cổ Java, phiên dịch các tác phẩm Văn học cổ điển tiếng Phạm ra tiếng Hà lan. Năm 1891, ông hiệu đính và xuất bản tác phẩmJatakamàlà(Bản sinh man) và quyển Ấn độ Thiên văn học. Đầu năm 1896, ông hợp tác với ông Nam điều Văn hùng (người Nhật bản) hiệu đính và xuất bản kinh Diệu pháp liên hoa (Saddharmapuịđarìka-sùtra) tiếng Phạm, sau đó ấn hành bản dịch tiếng Anh của kinh này. Ông có các tác phẩm: Lịch sử Phật giáo Ấn độ (Geschiedenis de van hetBuddhisme in Indi, 1881-1883, Manual of Indian Buddhism.

Khắc 克

[ja] コク koku ||| (1) To be able to; competent, adequate. (2) To subdue; to improve. To overcome one's selfish desires. (3) To fix upon. => Có các nghĩa sau: 1. Có thể, có khả năng, thích đáng. 2. Khắc phục, cải tiến. 3. Ấn định (thời gian).

Khẳng định 肯定

[ja] コウテイ kōtei ||| Affirmation, consent, agreement. => Sự xác nhận, sự tán thành, sự thoả thuận.

Khẳng 肯

[ja] コウ kō ||| (1) A ligament. (2) To affirm, assent, consent. => 1. Dây chằng, dây ràng buộc. 2. Xác nhận, tán thành, thoả thuận.

khế bân

3768(1383~1452)明代曹洞宗僧。平陽(山西)垣曲人,俗姓王。字俱空,世稱俱空契斌禪師。依重興院無相法師出家,永樂十四年(1416),至少林寺,參謁凝然了改禪師,久而不契。一日,睹秦封古槐,豁然契悟,得證心印。正統十三年(1448),任嵩山院事。景泰三年示寂,享壽七十。〔續指月錄卷十四、續燈正統卷三十七、五燈會元續略卷一〕

khế cơ

Sự dạy bảo khai thị của tông sư khế hợp căn cơ, trình độ của người học gọi là khế cơ. ; Sự dạy bảo khai thị của Tông sư khế hợp căn cơ, trình độ của người học gọi là căn cơ.

Khế kinh

xem Tu-đa-la.

khế kinh

Xem Kinh. ; Sùtra (S). Buddhist scriptures. Also kinh, tu đa la.

khế kinh nhị nghĩa

3768據阿毘達磨大毘婆沙論卷一載,契,上契諸佛之理,下契眾生之機;經,法、常之義。即如來所說之契經,具有下列二義:(一)結集義,謂如來契經攝持眾義,冠有情之心,令其無所忘失;猶如結華鬘以冠眾生之首,久而無遺散。(二)刊定義,謂如來契經裁斷眾義,了別是非,去惡留善;猶如匠人以繩墨治彼眾材,斵邪歸正,去曲留直。 ; (契經二義) Hai nghĩa của Khế kinh. Cứ theo luận A tì đạt ma đại tì bà sa quyển 1, thì Khế nghĩa là trên khế với lí của chư Phật, dưới hợp với cơ của chúng sinh. Kinh là pháp, là thường. Khế kinh có 2 nghĩa như sau: 1. Nghĩa kết tập: Khế kinh của Như lai nhiếp trì nhiều nghĩa, thu tóm tâm của chúng sinh, khiến cho họ không quên mất; giống như kết vòng hoa trên đầu chúng sinh, lâu mà không rơi mất. 2. Nghĩa san định: Khế kinh của Như lai xét định mọi nghĩa, biết rõ phải trái, bỏ ác, lấy thiện; giống như người thợ mộc, dùng mực thước sửa chữa cây gỗ, loại bỏ chỗ cong queo, giữ lại chỗ thẳng thắn.

Khế kinh 契經

[ja] カイキョウ kaikyō ||| (sūtra). Scripture. The recorded sermons of Śākyamuni or another sage of similar status. One of the twelve genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Kinh điển. Ghi lại những lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hoặc các bậc thánh đã chứng ngộ. Một trong 12 thể loại của kinh tạng Phật giáo (十二部經Thập nhị bộ kinh).

khế nhĩ phỉ nhĩ

3768(Kirfel, Willibald; 1885~ )現代德國印度學學者,波昂大學教授。氏以語言學之立埸來闡釋印度宗教思想、文化史,成就甚大。主要著作有 DieKosmographieder Inder, 1920; Das Purāṇa Pañcalakṣaṇa, 1927; Die Religiondes Jainas, 1928; Bhāratavarṣa(Indien), Textgeschichtliche Darstellung zweitergeographischen Purāṇa-Texte nebst ]ber-setzung, 1931; Der Hinduismus, 1934; Die drei-köpfige Gottheit, 1948.

Khế phạm

xem Tu-đa-la.

khế phạm

3769經典之異名。契,即契理、契機二義。佛之經典,契理契機,乃轉迷開悟之法則規範,故稱爲契範。〔華嚴經探玄記卷一〕 ; Buddhist sùtras. ; (契範) Tên khác của kinh điển. Kinh Phật có 2 nghĩa: Khế lí, Khế cơ, là phép tắc và khuôn mẫu (Phạm) phá mê mở ngộ, vì thế gọi là Khế phạm. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1].

khế trá quốc

3767契吒,梵名 Kheḍa 或 Kaccha。中印度古國名。據大唐西域記卷十一載,此國人口殷盛,家屋富饒,無大君長,舉國隸屬摩臘婆國,國土物產等遂同其俗。國內有伽藍十餘所,僧徒千餘人,兼習大小二乘,此外另有天祠數十,外道眾多。其位置有下列數說,一說謂孟買北方之凱伊拉(Kāira),即契吒國昔時所在之地;一說指現今之喀基(Cutch),即契吒;另有謂康貝(Cambay),即契吒國舊地者。〔大慈恩寺三藏法師傳卷四、解說西域記、A. Cunningham: Ancient Geography of India; S. Beal: Buddhist Records of the Western World, vol. Ⅱ〕 ; (契咤國) Khế tra, Phạm: Kheđahoặc Kaccha. Tên một nước xưa thuộc Trung Ấn độ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11, thì nước này lệ thuộc nước Ma lạp bà, dân số đông đúc, sản vật dồi dào, nhà cửa khang trang giầu có. Trong nước có chừng hơn 10 ngôi chùa với trên 1000 vị tăng, tu học cả Đại thừa, Tiểu thừa. Ngoài ra, còn có vài mươi đền thờ trời, ngoại đạo rất đông. Về vị trí nước này có nhiều thuyết, có thuyết cho rằng vùng Khải y lạp (Kàira) ở phía bắc Bombay hiện nay là đất cũ của nước Khế tra ngày xưa; lại có thuyết bảo vị trí nước Khế tra là vùng Cutch ngày nay; còn thuyết khác thì cho rằng vùng Cambay hiện giờ tức là đất cũ của nước Khế tra, v.v... [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4; Giải thuyết tây vực kí; A. Cunningham: Ancient Geography of India; S. Beal: Buddhist Records of the Western World, Vol. II].

khế tung

3768(1007~1072)宋代雲門宗僧。藤州鐔津(廣西藤縣)人,俗姓李。字仲靈。自號潛子。七歲出家,十三歲得度剃髮,十九歲遊方。常頂戴觀音像,日誦其名號十萬聲。後得法於洞山曉聰禪師。師遍通內外典籍,善爲文,曾就宗密之教禪一致論加以闡述,而更強調儒佛一致說。針對韓愈等儒者之排佛,著有原教、孝論等輔教篇。此外,關於禪宗之法脈,撰有傳法正宗定祖圖、傳法正宗記等書。仁宗時,呈其著書,仁宗乃詔令入藏,並賜紫方袍與「明教大師」之號。熙寧五年於杭州靈隱寺示寂,享壽六十六。門人收其著作輯成鐔津文集二十卷。因契嵩居錢塘佛日山,故又稱佛日禪師。以師曾止於永安山之精舍,後人遂以「永安」稱之。〔傳法正宗記卷一、續傳燈錄卷五、鐔津明教大師行業記〕 ; Kaisu (J), Chi Sung (C), Kaisu (J)Tên một vị sư. ; (契嵩) (1007-1072) Vị Thiền tăng thuộc tông Vân môn, sống vào đời Tống, người Đàm tân, Đằng châu (nay là huyện Đằng, tỉnh Quảng tây), họ Lí, tự Trọng linh, hiệu Tiềm tử. Năm 7 tuổi, sư xuất gia, năm 13 tuổi được cho cạo tóc, năm 19 tuổi du phương. Sư thường cung kính lễ bái tượng bồ tát Quan âm, mỗi ngày tụng danh hiệu của Ngài 10 vạn biến. Về sau, sư đắc pháp nơi thiền sư Động sơn Hiểu thông. Sư giỏi cả nội, ngoại điển, viết văn hay, từng dựa vào luận thuyết Giáo Thiền nhất trí của ngài Tông mật mà bàn rộng thêm về nghĩa lí, nhấn mạnh thuyết Nho Phật nhất trí và soạn Nguyên giáo, Hiếu luận để phản bác luận điệu bài Phật của các nhà Nho nhưHàn dũ, v.v... Những tác phẩm của sư được vua Nhân tông ban chiếu thu vào Đại tạng, đồng thời ban áo đỏ và hiệu là Minh Giáo Đại Sư. Vì sư trụ ở núi Phật nhật tại Tiền đường nên cũng gọi là Phật nhật thiền sư. Sư cũng từng trụ ở tinh xá tại núi Vĩnh an, nên người đời sau gọi sư là thiền sư Vĩnh an. Năm Hi ninh thứ 5 (1072) sư tịch ở chùa Linh ẩn tại Hàng châu, thọ 66 tuổi. Tác phẩm của sư gồm có: Truyền pháp chính tông định tổ đồ, Truyền pháp chính tông kí, Nguyên giáo, Hiếu luận, các tác phẩm này sau được đệ tử biên tập thành Đàm Tân Văn Tập 20 quyển. [X. Truyền pháp chính tông kí Q.1; Tục truyền đăng lục Q.5; Đàm tân Minh giáo đại sư hành nghiệp kí].

Khế tuyến

xem Tu-đa-la.

khế đan

3766十世紀初,居於東北興安嶺東邊之黑龍江流域、蒙古中南部,後來侵入我國東北地方及北方等地,建立遼帝國之部族名。其國名亦稱契丹。該國自西元九○七年耶律阿保機建國至九代天祚帝爲止,共傳二一九年。國都爲上京臨潢府(東部蒙古林東)、東京遼陽府(東北遼陽)、中京大定府(熱河大名城)、南京折津府(北京)、西京大同府(大同),合稱五京。 契丹之固有宗教爲薩滿教,佛教則於建國之初受到獎勵而漸發達。遼太祖自我國招請僧侶,於龍化州建立開教寺、大廣寺,另於上京建天雄寺等諸寺院。此一政策可推測係漢人及其他定居農民遷移至契丹本土後,爲移民政策上之必要措施。遼太宗天顯十二年(937)取得河北、山西北部(即所謂燕雲十六州),故我國北方佛教遂傳入契丹。其後,世宗、穆宗、景宗之時,佛教益加發達。至聖宗、興宗、道宗三代之時,爲契丹佛教之最盛期。尤以遼道宗在位時,佛教興隆達於極點,道宗爲契丹第一位崇佛之帝,故遼史道宗紀贊有「一歲飯僧三十六萬,一日度僧三千」之記載。 由隋代靜琬開始之房山石經刻造,經唐末五代亂世而一度中斷,直至遼聖宗時乃再開板。興宗、道宗時繼續刻造,至道宗清寧三年(1057)爲止,共完成涅槃、華嚴、般若、寶積等四大部經。刻造事業悉由朝廷出資,故可說契丹大藏經之雕造亦爲國家事業。至清寧五年終於完成五○四八卷之大藏經。其後,此一契丹大藏經傳入高麗,而予高麗藏經之影響甚鉅。 契丹之佛教著作較著名者有行均之龍龕手鑑、希麟之續一切經音義十卷、覺苑之大日經義釋密鈔十卷、道[⿰厄 殳]之顯密圓通成佛心要集二卷、非濁之隨願往生集二十卷、三寶感應要略三卷。〔遼史、契丹國志、宋史新編卷一九二、契丹佛教文化史考(神尾弌春)、石經山雲居寺と石刻藏經(塚本善隆)、遼金の佛教(野上俊靜)〕 ; (契丹) Cũng gọi: Khiết đan, Khất đan. Tên một bộ tộc thời xưa. Vào đầu thế kỉ thứ X, bộ tộc này sống ở lưu vực Hắc long giang, trung nam bộ Mông cổ. Về sau, họ xâm nhập vào các vùng bắc và đông bắc của Trung quốc, kiến lập thành nhà Liêu và cũnglấy tên nước là Khế đan. Nước này có 5 kinh đô ở 5 nơi gọi là Ngũ kinh: Thượng kinh ở phủ Lâm hoàng (đông bộ Mông cổ), Đông kinh ở phủ Liêu dương (đông bắc Liêu dương), Trung kinh ở phủ Đại định (tên một tòa thành lớn ở Nhiệt hà), Nam kinh ở phủ Triết tân (Bắc kinh) và Tây kinh ở phủ Đạiđồng. Nước này được sáng lập vào năm 907 Tây lịch, trải 9 đời vua, trị vì cả thảy 219 năm. Tôn giáo cố hữu của Khế đan là Tát mãn giáo, tuy nhiên ngay từ thời kì đầu lập quốc, Phật giáo vẫn được phát triển. Vua Thái tổ nhà Liêu thỉnh các vị tăng Trung quốc đến xây các chùa Khai giáo, chùa Đại quảng ở châu Long hóa và chùa Đại hùng ở Thượng kinh. Vào năm Thiên hiển 12 (937), vua Thái tông lấy được tỉnh Hà bắc và bắc bộ tỉnh sơn tây, từ đó Phật giáo ở miền Bắc Trung quốc liền được truyền vào Khế đan. Về sau, dưới các đời vua Thế tông, Mục tông và Cảnh tông, Phật giáo càng phát triển mạnh, cho đến đời Thánh tông, Hưng tông và Đạo tông thì Phật giáo trở nên toàn thịnh, có thể gọi là thời Hoàng kim của Phật giáo Khế đan. Việc khắc Đại tạng kinh Khế đan được bắt đầu từ thời vua Thánh tông, đến thời vua Đạo tông thì hoàn thành vào năm Thanh ninh thứ 5 (1059), toàn bộ gồm 5048 quyển. Về sau, bộ Đại tạng kinh này được truyền vào Cao li và đã ảnh hưởng rất lớn đối với Đại tạng kinh Cao li. Các tác phẩm Phật giáo do những vị Cao tăng của Khế đan soạn, có rất nhiều bộ nổi tiếng như: Long khám thủ giám của ngài Hành quân, Tục nhất thiết kinh âm nghĩa 10 quyển của ngài Hi lân, Đại nhật kinh nghĩa thích mật sao 10 quyển của ngài Giác uyển, Hiển mật viên thông thành Phật tâm yếu tập 2 quyển của ngài Đạo trách, Tùy nguyện vãng sinh tập 20 quyển của ngài Phi trược, Tam bảo cảm ứng yếu lược 3 quyển, cũng do ngài Phi trược soạn. [X. Liêu sử; Khế đan quốc chí; Tống sử tân biên Q.192; Khế đan Phật giáo văn hóa sử khảo (Thần vĩ Nhất xuân); Thạch sơn kinh Vân cư tự dữ thạch khắc tạng kinh (Trủng bản Thiện long); Liêu kim chi Phật giáo (Dã thượng Tuấn tĩnh)].

khế ấn

3766<一>與「印契」同義。契印有手印與三昧耶形(諸尊所持之物)兩者,狹義而言,特指三昧耶形爲契印;廣義言之,則兩者共稱契印。菩提心論(大三二‧五七四中):「身密者,如結契印,召請聖眾。」 <二>指護摩壇上所畫的諸尊之三昧耶形;或指標幟火天內心之三昧耶形。通常於護摩爐之爐底,以泥作,或畫成。 ; (契印) I. Khế Ấn. Đồng nghĩa: Ấn khế. Khế ấn theo nghĩa hẹp chỉ riêng cho hình Tam muội da, nhưng theo nghĩa rộng thì chỉ cho thủ ấn và hình Tam muội da. Luận Bồ đề tâm (Đại 32, 574 trung), nói: Thân mật (1 trong Tam mật) như kết khế ấn, triệu thỉnh Thánh chúng. II. Khế ấn. Chỉ cho những hình Tam muội da của các vị tôn được vẽ ở trên đàn Hộ ma; hoặc chỉ cho hình Tam muội da tượng trưng nội tâm của Hỏa thiên. Thông thường khế ấn này được làm bằng đất, hoặc được vẽ dưới đáy lư Hộ ma.

khế ấn mạn đồ la

3767集繪密教諸尊契印三昧耶形之曼荼羅。爲四曼中之三昧耶曼荼羅。大日經疏卷六(大三九‧六四二上):「契印漫荼羅,亦於金剛座上置白蓮花,花上各表其物。」 ; (契印漫荼羅) Mạn đồ la vẽ các khế ấn và hình Tam muội da của các vị tôn trong Mật giáo. Là Tam muội da mạn đồ la trong 4 loại Mạn đồ la. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 642 thượng), nói: Trong mạn đồ la Khế ấn, trên tòa Kim cương cũng đặt hoa sen trắng, trên hoa mỗi vị tôn đều biểu trưng hình Tam muội da của mình.

Khế ấn 契印 (s: mūdra).

[ja] ゲイイン geiin ||| An encoded sign or gesture made with the hands that indicates some aspect of the Buddhist teaching (mūdra). Most commonly seen in the iconography of the Esoteric sect 密教. => Những ký hiệu hoặc động tác bằng tay biểu thị một vài phương diện của giáo pháp. Thường thấy trong các đồ hình của Mật giáo.

khể thủ

6117為佛教禮法之一。即以頭著地之禮。我國周禮所載之九拜中,稽首為最恭敬之行禮法。佛教之稽首,彎背曲躬,頭面著地,以兩掌伸向被禮拜者之雙足,故又稱為接足禮(接著對方之足)。此種以頭額觸地之禮拜,為印度之最高禮節。所謂接足作禮、頭面禮足、五體投地等即指此而言。在佛教中,稽首與歸命同義,若區別之,則稽首屬身,歸命屬意。〔四分律含注戒本疏卷一、大乘義章卷四、大乘起信論義記卷上、釋門歸敬儀卷下、玄應音義卷二十四、釋氏要覽卷中〕 ; (稽首) Cúi đầu chạm đất. Trong 9 phép lạy được chép trong sách Chu lễ của Trung quốc, thì khể thủ là phép lễ cung kính nhất. Khể thủ trong Phật giáo là khom lưng cúi mình, đầu mặt sát đất, duỗi 2 bàn tay hướng về 2 chân của người được lễ bái, vì thế gọi là Tiếp túc lễ. Khể thủ cùng nghĩa với qui mệnh, nhưng khể thủ thuộc về thân, còn qui mệnh thì thuộc về ý. [X. Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.4; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng; Thích môn qui kính nghi Q.hạ; Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Thích thị yếu lãm Q.trung].

Khể thủ 稽首

[ja] ケイシュ keishu ||| To worship by bowing one's head to the Buddha's feet. The highest form of respect in India. Same as dingli 頂禮. => Tôn kính bằng cách lạy cúi sát đầu dưới chân Phật. Đây là cách biểu hiện sự tôn kính tối cao của người Ấn Độ. Đồng nghĩa với Đảnh lễ (c: dingli 頂禮).

khố chủ

4099指禪林一般庫司之稱,亦為都寺、監寺、副寺三職之總稱。此外,亦有只稱都寺為庫主者。(參閱「庫頭」4100、「都寺」5290、「監寺」5847) ; (庫主) Tên chức vụ trông coi kho lẫm trong Thiền lâm, cũng là từ gọi chung cho cả 3 chức: Đô tự, Giám tự và Phó tự. Ngoài ra cũng có chỗ chỉ gọi Đô tự là Khố chủ. (xt. Khố Đầu, Đô Tự, Giám Tự).

khố luân

4099位於圖拉、哈拉二河之間,地當中俄要衝,為蒙古喇嘛教兼政治、經濟、交通及工業之中心。庫倫,蒙古名 Öngö,城圈之意,因四周徧植木柵以為堡壘,故稱之。西人稱其為 Urga(鳥爾绾),意即宮殿或貴族之帳幕。古蒙古人稱庫倫為「大寺廟地」。 清朝時依中俄北京條約,將庫倫闢為商埠,市街分三部,中為活佛宮殿所在,稱宮殿區,宮殿之建築,均壯麗宏偉,膜拜者甚眾;西為諸寺院所在,稱喇嘛區,又名西庫倫,或西營子;東為商場所在,稱買賣城,又名東庫倫,或東營子。 庫倫有「赤色英雄之都」之稱,初期庫倫哲布尊丹巴呼圖克圖(活佛)於清廷政治、經濟庇護之下,於貝加爾湖南邊百里之地,建一石造寺廟。康熙五年(1666)以該寺為中心而成為都市勃興之因。然民國十年(1921)後,活佛印璽移交政府,庫倫宗教地位遂大為削減。反宗教運動興起,將寺廟改成工廠、倉庫,高級喇嘛視同反叛份子,處以極刑;下級喇嘛則編為勞民。近年,庫倫積極整頓,有工業、教育等近代設施,人口遽增,從蘇俄之伊爾庫斯有鐵路通此。〔蒙古遊牧紀十六卷(張穆)、後出塞錄(龔之鑰)、近代蒙古史研究(矢野仁一)

khố lí

4100七堂伽藍之一。又作庫院、廚院、香積局、庫下、庫堂、庖廚、食廚。後來遂相對於殿堂,併稱廚房、僧房為庫裡。庫者,即貯物之所;裡者,即屋裡之意。為調度佛、菩薩之飲食、香花等供養物及住僧食物之房屋。 ; (庫裏) Cũng gọi Khố viện, Trù viện, Hương tích cục, Khố hạ, Khố đường, Bào trù, Thực trù. Nhà kho cất chứa các phẩm vật của chùa. Phòng bếp, phòng tăng cũng gọi chung là Khố lí để phân biệt với Điện đường.

khố mộc thổ lạt thiên phật động

4099又作庫木吐拉石庫。位於新疆庫車縣西南約三十公里渭干河出山口之東岸。開鑿時代約當唐初至宋初。共計九十九窟,窟內塑像泰半損毀,僅三十一窟壁畫保存較完整,主要為盛唐時期之作品。石窟存有漢文及龜玆文題記 ,壁畫內容有西方阿彌陀佛淨土等大乘佛教故事,及釋迦、彌勒等諸佛菩薩像。(參閱「千佛洞」737) ; (庫木吐喇千佛洞) Cũng gọi Khố mộc thổ lạp thạch khố. Quần thể hang động ở phía đông cửa sông Vị can, cách huyện Khố xa, tỉnh Tân cương, Trung quốc, về mạn tây nam khoảng 30 km. Những hang động này được đục mở khoảng từ đầu đời Đường đến đầu đời Tống. Tất cả có 99 hang động, những pho tượng đắp trong các động đã bị hư nát quá phân nửa, chỉ còn các bức bích họa trong 31 hang là được bảo tồn tương đối hoàn chỉnh, chủ yếu là những tác phẩm của thời thịnh Đường. Trong hang đá còn có bài kí bằng chữ Hán và chữ Cưu tư, các bích họa miêu tả cõi Tịnh độ của Phật A di đà ở phương Tây, các sự tích của Phật giáo Đại thừa và các tượng Phật, Bồ tát như Thích ca, Di lặc, v.v... (xt. Thiên Phật Động).

khố tử

4099又作庫司行者。為禪家司掌會計事務之行者。此職須擇有心力、能書算、律己嚴謹者任之。〔敕修百丈清規卷下兩序章東序知事副寺條、禪苑清規卷四庫頭條〕 ; (庫子) Cũng gọi Khố ti hành giả. Người phụ trách việc kế toán trong Thiền gia. Chức vụ này phải chọn người có tâm lực, có khả năng viết lách, tính toán, giữ mình nghiêm cẩn để đảm nhận. [X. điều Đông tự tri sự phó tự, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; điều Khố đầu trong Thiền uyển thanh qui Q.4].

khố ân

4099(Kuhn, Adalbert; 1812~1881)德國之印歐語言學、神話學學者。其代表著作為 Zuräḷtesten Geschichte der Indogermanischen Völker, 1845,透過印度‧日耳曼語族語言學解釋之考古學研究方法,而對印度古代文化、比較神話學、印度學、佛教原典等研究,有極重大之貢獻。一八五二年以來有 Zeitschrift für Vergleichende Sprachwissenschaft 雜誌之編纂刊行。此外尚有 Die Herkunft des Feuers und des Gottesgedankens, 1859; Mythologische Studien, 1886~1912 等名著問世。

khố đầu

4100禪林中,職掌出納者。本為東序六知事之一,後又稱副寺(又稱櫃頭、財帛),位在都寺之下,司掌寺內庶務之職,即管理日常之穀、錢、帛、米麥等之出入,職位低而任務重。據百丈清規告香圖所稱,古時於都寺之下有副寺三人,位於維那上一人,維那下二人,前者稱上副寺,後者稱下副寺。在副寺之下另設有知庫之職,後副寺亦兼其職,掌管山門之財政收支出納等。〔敕修百丈清規卷下兩序章東序知事副寺條、禪林象器箋職位門〕 ; (庫頭) Cũng gọi Phó tự, Quĩ đầu, Tài bạch. Chức vụ trông coi việc chi thu trong Thiền lâm, là 1 trong 6 vị Tri sự ở Đông tự, dưới chức Đô tự. Chức này tuy thấp nhưng nhiệm vụ lại rất quan trọng, vì phụ trách việc thu xuất hàng ngày như lúa gạo, tiền bạc, v.v... Cứ theo Bách trượng thanh qui cáo hương hồ, thì thời xưa dưới chức Đô tự còn có 3 vị Phó tự, 1 vị ở trên chức Duy na gọi là Thượng phó tự, 2 vị ở dưới chức Duy na gọi là Hạ phó tự. Dưới vị Phó tự còn đặt ra chức Tri khố, về sau vị Phó tự kiêm luôn chức này để quản lí việc chi thu, xuất nạp tài chính trong chùa. [X. điều Đông tự Tri sự Phó tự, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Chức vị môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khốc thị

4072指常啼菩薩為求般若,東行於一大城中涕泣之事。大品般若經卷二十七常啼品(大八‧四一九下):「為供養般若波羅蜜,及供養曇無竭菩薩故,在市肆上高聲唱言:『誰欲須人?誰欲須人?誰欲買人?』賣身不售,在一面立,憂愁啼哭上。」參閱「常啼菩薩」4530)

Khốn khổ 困苦

[ja] コンク konku ||| To be made subject to hardship, distress (Skt. duḥkhin; Pali dukkhita). 〔法華經 T 262.9.13a23〕 => Chịu đựng sự gian khổ, bất hạnh (Skt. duḥkhin; Pali dukkhita).

Khốn nguy 困厄

[ja] コンヤク konyaku ||| Distress, difficulty, dire straits. 〔法華經 T 262.9.58a12〕 => Nỗi đau khổ, sự khó khăn, tình cảnh khó khăn.

Khổ

苦; S: duḥkha; P: dukkha;|Khái niệm quan trọng của Phật giáo, là cơ sở của Tứ diệu đế. Khổ là một trong Ba tính của sự vật.|Không phải chỉ là những cảm thụ khó chịu mới là Khổ; Khổ dùng để chỉ tất cả mọi hiện tượng vật chất và tâm thức, xuất phát từ Ngũ uẩn, chịu dưới quy luật của sự thay đổi và biến hoại. Như thế tất cả những điều an lạc đang có cũng là khổ vì chúng sẽ hoại diệt. Khổ xuất phát từ Ái (s: tṛṣṇā) và con đường thoát khổ là Bát chính đạo.|Chân lí thứ nhất của Tứ diệu đế nói về tính chất của khổ như sau: »Sinh là khổ; già là khổ; bệnh là khổ; chết là khổ; lo lắng, than thở, buồn rầu, tuyệt vọng là khổ; không đạt gì mình ưa thích là khổ; nói tóm lại: mọi thứ dính líu đến Ngũ uẩn là khổ.«

khổ

3942梵語 duḥkha 之意譯。音譯作豆佉、諾佉、納佉。泛指逼迫身心苦惱之狀態。苦與樂乃相對性之存在,若心向著如意之對象,則感受到樂;若心向著不如意之對象,則感受到苦。清淨論道謂,苦具有嫌惡(du)與空虛(khaṃ)二義,即嫌惡,及無「常、樂、我、淨」之空虛狀態,稱之爲苦。在稱「苦、樂、捨(不苦不樂)」等三受之時,苦指身心所感之苦(廣義),配列於五受、二十二根之苦,而可分爲身感受之苦(狹義)與心感受之憂兩類。「一切行皆苦」乃佛教根本思想之一,亦爲四法印之一。苦之分類有多種,其大別如下: (一)二苦,起自一己身心之苦,稱爲內苦;受外界逼迫所產生之苦(如惡賊、天災等),稱爲外苦。 (二)三苦,對不如意之對象感受其苦,是爲苦苦。對所愛者之毀壞感受其苦,是爲壞苦。見世間一切無常而感受其苦,是爲行苦。以上三者相當於苦、樂、捨(不苦不樂)之順序。數論外道舉三苦爲:依內苦、依外苦(惡賊等)、依天苦(天災等)。 (三)四苦,指生苦(以有生,故有苦)、老苦、病苦、死苦四者。 (四)八苦,生老病死等四苦,再加上愛別離苦、怨憎會苦、求不得苦、五陰熾盛苦。 (五)十八苦,即老苦、死苦、憂苦、悲苦、苦苦、惱苦、大苦聚等七苦,再加上無明苦、行苦、識苦、名色苦、六入苦、觸苦、受苦、愛苦、取苦、有苦、生苦等十一苦,合爲十八苦。 (六)老、病、死等三種身苦,與貪、瞋、癡等三種心苦,可爲佛教所立「身心之苦」的典型代表。其中,臨命終時,其苦有如千百隻刀割裂身子,稱爲風刀苦。 此外,諸經論所舉苦的分類甚多,如瑜伽師地論卷四十四即有百十苦之說。〔北本大般涅槃經卷十二、佛地經卷五、舍利弗阿毘曇論卷十二、大智度論卷十九〕 ; Duḥkha (S), Dukkha (P)(du:khổ; kha:chịu đựng) 1- Trong Tứ diệu đế: Khổ (duhkha), Tập (samudaya), Diệt (nirodha), Đạo (marga). 2- Một trong 4 hành tướng của Khổ đế: Vô thường, Khổ, Không, Phi ngã. ; Dukkha (S). Bitterness; unhappiness, suffering, pain, distress, misery; difficulty. ; (苦) Phạm: Du#kha. Dịch âm: Đậu khư, Nặc khư, Nạp khư. Sự khổ não trong thân tâm. Khổ và vui tồn tại trong tương đối, nếu tâm duyên theo đối tượng vừa ý thì cảm thấy vui, nếu tâm duyên theo đối tượng trái với ý thì cảm thấy khổ. Theo luận Thanh tịnh đạo thì khổ có đủ 2 nghĩa hiềm ố (du) và không hư (khạm), tức hiềm ố(chán ghét) và trạng thái không có thường, lạc, ngã, tịnh gọi là Khổ. Khổ có nhiều thứ: 1. Hai khổ: Khổ trong và khổ ngoài. Khổ phát sinh từ thân tâm mình gọi là khổ trong; khổ từ bên ngoài đưa đến như giặc cướp, thiên tai, v.v... gọi là khổ ngoài. 2. Ba khổ: Khổ khổ, Hoại khổ và Hành khổ: Trước những đối tượng trái ý mà cảm thấy khổ, gọi là khổ khổ. Trước sự hủy hoại của những thứ mình yêu thích mà cảm thấy khổ, gọi là Hoại khổ. Thấy tất cả thế gian nay còn mai mất mà cảm thấy khổ, gọi là Hành khổ. 3. Bốn khổ: Chỉ cho 4 thứ sinh khổ(vì có sinh nên có khổ), già khổ, bệnh khổ, chết khổ. 4. Tám khổ: Sinh, già, bệnh, chết, thương yêu chia lìa, oán thù gặp gỡ, mong cầu không được và 5 ấm xí thịnh. 5. Mười tám khổ: Khổ gồm 18 loại như sinh, tử, ưu, bi, khổ, não, đại khổ tụ, vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh... 6. Ba khổ về thân và tâm: Già, bệnh, chết(thân), tham, sân, si(tâm). Ngoài ra, các kinh luận còn nêu ra rất nhiều loại khổ, như luận Du già sư địa quyển 44 nêu ra 110 thứ khổ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); kinh Phật địa Q.5; luận Xá lợi phất a tì đàm Q.12; luận Đại trí độ Q.19].

khổ báo nghiệp

Xem Thuận khổ thọ nghiệp.

khổ bản

The root of misery, i.e. desire.

khổ chí

Desperate resolution.

khổ căn

The source, root, origin of dukkha.

khổ cảnh

Apàya (S). State of suffering.

khổ cụ

3945即生起苦之因緣,乃泛指通於有漏、無漏,有爲、無爲等,一切使苦生起或存續之直接因與間接緣。此外,亦特指地獄所用之道具。〔成唯識論卷六〕 ; (苦具) Chỉ chung cho tất cả nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho các khổ dấy sinh, như các pháp hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi, v.v... Ngoài ra, cũng đặc biệt chỉ cho những dụng cụ trong địa ngục dùng để trừng trị tội nhân. [X. luận Thành duy thức Q.6].

khổ diệt

Dukkha-ksaya (S). Extinction of pain or affliction. Suppression, uprooting, cessation of dukkha.

khổ diệt đạo thánh đế

Xem Đạo Thánh đế.

khổ diệu đế

Dukkha Ariyasacca (S).

khổ duyên

The causation of dukkha.

khổ giới

3946有情生存之世界(三界六道),充滿苦,故有「苦界」之稱。觀無量壽佛經疏卷二(大三七‧二五八上):「閻浮總惡,未有一處可貪;但以幻惑愚夫,飲斯長苦。言此濁惡處者,正明苦界也。」 ; (苦界) Thế giới trong đó các loài hữu tình đang sống, đầy dẫy các khổ. Vô lượng thọ kinh sớ quyển 2 (Đại 37, 258 thượng), nói: Cõi Diêm phù toàn là xấu ác(khổ giới), không có một chỗ nào đáng tham đắm; nhưng vì phàm phu ngu si chấp trước nên phải chịu khổ triền miên.

Khổ hoạn 苦患

[ja] クゲン kugen ||| Suffering, affliction, distress. 〔法華經 T 262.9.43c26〕 => Đau khổ, phiền não, thất vọng.

khổ hà

Misery deep as a river.

Khổ hạ 苦下

[ja] クゲ kuge ||| Within the condition of suffering. 〔攝大乘論T 1595.31.167b29〕 => Trong điều kiện của cái khổ.

khổ hạnh

3943梵語 duṣkara-caryā 或 tapas。即斷除肉體欲望,堪忍諸種難忍之苦行。主要指印度諸外道爲求生天而行諸苦行。佛教之苦行,稱爲頭陀。依北本大般涅槃經卷十六載,諸外道之苦行有自餓法、投淵赴火、自墜高巖、常翹一腳、五熱炙身、常臥於灰土、棘刺、編椽、樹葉、惡草、牛糞等之上;又有受持牛戒、狗雞雉戒、以灰塗身、長髮爲相等諸多苦行法。而現今印度教徒猶有修此類慘痛之苦行,以期生天者。 釋尊修苦行六年,日食一麻一麥,終乃覺悟苦行非聖道,縱受天報,仍在輪迴,未得解脫,故斷然中止苦行。然佛本生譚及諸經論所載之種種勤苦修行,或施捨國城妻子,或抉眼與人,或割肉餵鷹,或投身飼虎,或截頭首、捐髓腦等,所謂六波羅蜜之行,乃屬菩薩利他大悲之聖行,自不同於外道無益之苦行。至後世,佛教中之布施、慈悲等,以佛道爲目的之難行、荒行,均稱苦行。又寺內之淨人,亦稱苦行。景德傳燈錄卷二十七(大五一‧四三三中):「本寺廚中有二苦行,曰寒山子、拾得。」〔大智度論卷八、卷十六、大慈恩寺三藏法師傳卷四、法苑珠林卷八十三〕 ; Duskaracaryā (S), Yati (C), AsceticĐể thanh lọc thanh t6am bằng cách từ bỏ quần áo, vật thực, chỗ ở. Có 12 hạnh: - mặc y rách - mặc y 3 mảnh - chỉ ăn đồ khất thực - chỉ ăn ngày một lần - kiêng những thức ăn khác - chỉ ăn một phần - sống nơi cô tịch - sống dưới gốc cây - sống ngoài trời - sống chỗ tự có sẵn - chỉ ngồi, không nằm. ; Duskara-carya (S). Undergoing difficulties, hardships, or sufferings; also Talpas, burning, torment; hence asceticism, religious austerity, mortification. ; (苦行) Phạm: Duwkara-caryà hoặc Tapas. Hạnh chịu đựng những cái khó chịu đựng để đoạn trừ dục vọng của thể xác. Chủ yếu chỉ cho các ngoại đạo ở Ấn độ vì muốn cầu sinh lên cõi trời nên thực hành các khổ hạnh. Trong Phật giáo, khổ hạnh được gọi là hạnh Đầu đà. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 16 (bản Bắc), thì khổ hạnh có nhiều cách như nhịn đói, gieo mình xuống vực sâu, nhảy vào hố lửa, trèo lên núi cao rồi đâm đầu xuống, thường đứng một chân, nướng thân trên lửa, luôn nằm trên tro đất, gai nhọn, cỏ độc, phân bò, v.v... Ngoài ra, còn có rất nhiều phép khổ hạnh như giữ giới bò, giới chó, giới gà, lấy tro trát vào mình, để tóc dài, v.v... Hiện nay, tín đồ Ấn độ giáo còn tu theo loại khổ hạnh này để cầu sinh lên cõi trời. Đức Thích ca tu khổ hạnh 6 năm, hàng ngày chỉ ăn chút ít vừng (mè) và lúa mạch, cuối cùng Ngài nhận ra rằng khổ hạnh chẳng phải Thánh đạo, cho dù có được sinh lên cõi trời thì cũng vẫn còn trong vòng luân hồi, chưa được giải thoát, nên Ngài chấm dứt lối tu khổ hạnh. Trong Phật bản sinh đàm và các kinh luận cũng nói đến việc tu hành cần khổ như bố thí vợ con, đất nước, hoặc khoét mắt cho người, hoặc lóc thịt nuôi chim ưng, hoặc đưa thân cho cọp đói, hoặc cắt đầu bỏ tủy não, v.v... nhưng đó là 6 hạnh Ba la mật thuộc về Thánh hạnh đại bi lợi tha của Bồ tát, hoàn toàn khác với khổ hạnh vô ích của ngoại đạo. Đến đời sau, bố thí, từ bi trong Phật giáo và những việc khó làm lấy Phật đạo làm mục đích, đều gọi là khổ hạnh. Rồi những tịnh nhân trong chùa cũng gọi là khổ hạnh. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 27 (Đại 51, 433 trung); nói: Trong nhà bếp của chùa này có 2 người khổ hạnh, đó là Hàn sơn và Thập đắc. [X. luận Đại trí độ Q.8, Q.16; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.83].

khổ hạnh giả

Ascetic.

khổ hạnh luận sư

3944印度古代二十種外道之一。以修苦行爲涅槃之正因者。此類外道認爲果皆是由過去之罪業所定,若現世以享樂爲事,則輪迴不止,故主張以受苦償罪,用以換得死後之安樂。又外道小乘涅槃論並以裸形外道、尼犍子等爲此類外道之別派。〔北本涅槃經卷十六、百論卷上〕 ; (苦行論師) Ngoại đạo cho sự tu khổ hạnh là nhân chủ yếu để đạt được Niết bàn. Một trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Ngoại đạo này cho rằng quả báo ở đời hiện tại là do tội nghiệp của quá khứ quyết định, nếu đời hiện tại lấy việc hưởng lạc làm chính thì luân hồi không dứt, cho nên chủ trương lấy sự chịu khổ để đền tội, hầu đổi lấy sự an vui sau khi chết. Theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn thì ngoại đạo khỏa hình và Ni kiền tử là những phái khác của Khổ hạnh luận sư. [X. kinh Niết bàn Q.16 (bản Bắc); Bách luận Q.thượng].

Khổ hạnh lâm

xem rừng Khổ hạnh.

khổ hạnh lâm

3944梵名 Tapovana,巴利名同。佛陀修苦行六年之地。昔稱優樓頻螺(巴 Uruvelā),即今印度佛陀伽耶大塔南側五百餘公尺之處,目支鄰陀村(梵 Mucilinda,巴 Mucalinda)之東,然至今僅存雜木一叢。〔佛本行集經卷二十五、方廣大莊嚴經卷七、大唐西域記卷八摩揭陀國條〕 ; Dongosiri (S), Tapovana (S), Dukarakrya (S)Ở thôn Ưu lâu tần loa (Urvela), cách 500 km về phía đông Đại Tháp Phật đà Gia la, đông thôn Mục chi lân đà (Mucilinda) xưa la Urvela.Khu rừng gần làng Ouroubilva, nơi có con sông Nairanjani (Lilani), bên tháp núi Vương xá (Radjagriha), nơi đây đức Phật cùng 5 anh em Kiều trần như đã tu khổ hạnh 6 năm ; Uruvilvà-kàsyapa (S). The forest near Gàya where Sàkyamuni underwent regorous ascetic discipline. ; (苦行林) Phạm,Pàli: Tapovana. Rừng khổ hạnh ở cách Đại tháp Phật đà già da về phía nam hơn 500 mét và phía đông thôn Mục chi lân đà (Phạm: Mucilinda, Pàli: Mucalinda), Ấn độ. Ngày xưa, nơi này được gọi là Ưu lâu tần loa (Pàli:Uruvelà) là nơi đức Phật tu khổ hạnh trong 6 năm, nhưng nay chỉ còn 1 rừng cây tạp. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.25; kinh Đại phương quảng trang nghiêm Q.7; điều Ma kiệt đà quốc trong Đại đường tây vực kí Q.8].

Khổ hạnh lâm 苦行林

[ja] クギョウリン kugyōrin ||| A forest inhabited by worldrenunciant religious practitioners (śramaṇa). Also refers specifically to Uruvelā forest, where Śākyamuni carried out his ascetic practices prior to his awakening. => Khu rừng nơi cư ngụ của các vị tu sĩ từ bỏ thế gian (s: śramaṇa). Cũng đề cập đến rừng Uruvelā, nơi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni thực hành lối tu khổ hạnh trước khi được chứng ngộ.

khổ hạnh lục sư

3943指印度古代行自餓、投淵、赴火、自坐、寂默、持牛狗戒等方法以期得未來樂報之六種外道。(參閱「苦行外道」3944) ; (苦行六師) Sáu thứ ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa, chủ trương những phương pháp khổ hạnh nhịn đói, gieo mình xuống vực, nhảy vào lửa, ngồi im lặng, giữ giới bò, giới chó, v.v... để cầu được quả báo sinh lên cõi trời. (xt. Khổ Hạnh Ngoại Đạo).

khổ hạnh ngoại đạo

3944指印度古代以苦行求取未來樂果之外道。依彼等之說,謂於人世必受苦、樂二種,其因概由過去所定,則在現世早受其苦,死後終享其樂;即宿作外道之部類。尼乾子苦行外道爲眾所皆知,其教祖勒沙婆又稱苦行仙。然強調苦行者,並不限於尼乾子,其他有關此類之外道甚多。外道小乘涅槃論載有四種,即裸形外道論師、苦行論師、行苦行論師、尼犍子論師。苦行之方法亦甚多,由北本涅槃經卷十六、百論卷上、三藏法數卷二十七等書,摘出下列六種:(一)自餓外道,彼等不羨飲食,長忍飢虛,執此苦行以爲得果之因。(二)投淵外道,彼等入寒深淵,忍受凍苦,執此苦行以爲得果之因。(三)赴火外道,彼等身常炙熱,及熏鼻等,甘受熱惱,執此苦行以爲得果之因。(四)自坐外道,彼等常自裸形,不拘寒暑,坐於露地,執此苦行以爲得果之因。(五)寂默外道,彼等以屍林塚間爲住處,寂默不語,執此苦行以爲得果之因。(六)牛狗外道,彼等自謂由前世牛狗中而來,故持牛狗戒,齕草噉污,唯望生天,執此苦行以爲得果之因。外道六師中之第四阿耆多翅舍欽婆羅、第六尼犍陀若提子均屬苦行外道。〔維摩經卷上〕 ; (苦行外道) Ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa, chủ trương tu khổ hạnh để cầu quả báo an vui ở đời vị lai. Theo các ngoại đạo này, con người ở đời hiện tại đều nhận lãnh khổ và vui, mà nguyên nhân là do quá khứ quyết định. Cho nên ở đời hiện tại hãy chịu khổ đau để sau khi chết được hưởng vui sướng. Đây là chủ trương của ngoại đạo Túc tác. Theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, thì có 4 thứ ngoại đạo khổ hạnh: Khỏa hình ngoại đạo luận sư, Khổ hạnh luận sư; Hành khổ hạnh luận sư và Ni kiền tử luận sư. Còn những phương pháp khổ hạnh do các ngoại đạo trên đây thực hành là: Nhịn đói, nhịn khát, nướng thân trên lửa và hơ lỗ mũi, gieo mình xuống vực sâu khi trời rét, khỏa thân ngồi ngoài trời, bất chấp nắng mưa, ngồi im lặng giữa chỗ nghĩa địa, giữ giới bò, giới chó, ăn cỏ, ăn phân, v.v... Những ngoại đạo này tin rằng thực hành các phương pháp khổ hạnh như trên, sau khi chết sẽ được sinh lên cõi trời để hưởng thụ sự vui sướng! [X. kinh Duy ma Q.thượng].

khổ hạnh thích ca

3945畫題,佛傳畫之一種。爲佛陀隨婆羅門學者,於山中修苦行之像。畫像中之佛陀,兩眼下陷,肋骨明晰可見。 ; (苦行釋迦) Đề tài của một bức tranh vẽ hình đức Phật Thích ca tu khổ hạnh trong rừng. Hình tượng đức Phật trong bức họa này 2 mắt sâu lõm, thân thể gầy gò, chỉ còn da bọc xương.

khổ hạnh tu

dkaḥ thub (T), Tāpa-saṃvara (S), Tapas (S), Tāpa-saṃvara (S), dkaḥ thub (T), Ascetic practice

Khổ hạnh 苦行

[ja] クギョウ kugyō ||| (1) The practice of austerities, especially for the purpose of attaining liberation. This method of aiming toward salvation was widely practiced in India at the time of Śākyamuni, and was the primary method he practiced before his revision of his worldview. Still practiced today in India (Pali tapa; Skt. tapas), it is believed that self inflicted suffering has the effect of raising the consciousness to the extent that one may have an awakening experience. In its usage in Buddhist texts, the term often refers to the incomplete practices of non Buddhists (外道). (2) A reference to the twenty dhuta 二十頭陀 . (3) The practice of renunciation of worldly possessions 放棄. => Lối tu tập khắc khổ, đặc biệt nhằm mục đích giải thoát. Phương pháp tìm cầu sự giải thoát nầy được thực hành rộng rãi ở Ấn Độ vào thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và đây là lối tu ban đầu trước khi Ngài điều chỉnh lại cái nhìn về thes giới. Lối tu nầy ngày nay vẫn còn được thực hành ở Ấn Độ (Pali tapa; Skt. tapas), họ tin rằng bản ngã chịu đựng gian khổ sẽ có tác dụng phát khởi tâm thức đến mức có thẻ đạt được giác ngộ. Trong cách dùng thuật ngữ nầy trong kinh văn Phật giáo, thường được chỉ cho lối tu tập không hoàn thiện của hàng ngoại đạo. 2. Đề cập đến 12 hạnh đầu đà 二十頭陀 (s: dhuta). 3. Lối tu tập xả bỏ sở hữu ở thế gian (phóng khí 放棄).

Khổ hải

(苦海): biển khổ, có mấy nghĩa khác nhau. (1) Phật Giáo chỉ cho phiền não và khổ nạn giữa cuộc đời. Như trong bài Tịnh Nghiệp Phú (凈業賦) của vua Võ Đế (武帝, tại vị 502-549) nhà Lương thời Nam Triều có đoạn: “Luân hồi hỏa trạch, trầm nịch khổ hải, trường dạ chấp cố, chung bất năng cải (輪迴火宅、沉溺苦海、長夜執固、終不能改, luân hồi nhà lửa, chìm đắm biển khổ, đêm dài chấp chặt, rốt cuộc chẳng đổi).” (2) Tỷ dụ cho cảnh khổ vô cùng tận. Như trong bài thơ Túc Thạch Ung Tự (宿石瓮寺) của Lô Luân (盧綸, 739-799) nhà Đường có câu: “Hồi chiêm tướng hảo nhân thùy lệ, khổ hải ba đào hà nhật bình (迴瞻相好因垂淚、苦海波濤何日平, ngoảnh nhìn tướng tốt mà rơi lệ, biển khổ sóng cồn ngày nào yên ?).” Hay có bài tán đức Bồ Tát Quán Thế Âm rằng: “Quan Âm Bồ Tát diệu nan thù, thanh tịnh trang nghiêm lũy kiếp tu, thiên xứ hữu cầu thiên xứ ứng, khổ hải thướng tác độ nhân chu (觀音菩薩妙難酬、清凈莊嚴累劫修、千處有求千處應、苦海常作度人舟, Quan Âm Bồ Tát thật nhiệm mầu, thanh tịnh trang nghiêm bao kiếp tu, ngàn cõi có cầu ngàn cõi ứng, biển khổ làm thuyền cứu người qua).” Trong bài cảnh tỉnh khuyên tu niệm Phật tương truyền của Đại Sư Ấn Quang (印光, 1861-1940) cũng có câu: “Khổ hải thao thao nghiệp tự chiêu, mê nhân bất thức bán phân hào, kim sanh bất bả Di Đà niệm, uổng tại nhân gian tẩu nhất tao (苦海滔滔業自招、迷人不識半分毫、今生不把彌陀念、枉在人間走一遭, biển khổ mênh mông nghiệp tự chiêu, người mê chẳng biết một chút nào, đời nay không trú Di Đà niệm, uổng tại nhân gian một kiếp mau).”

khổ hải

3946指各種苦難之世界,亦即生死輪迴之三界六道。眾生沈淪於三界之苦惱中,渺茫無際,猶如沈沒於大海難以出離,故以廣大無邊之海爲喻。又以有情生死流轉其中,無法超拔,故稱苦輪海,或略稱輪海。依大乘本生心地觀經卷二(大三‧二九八中):「一切眾生煩惱業障都不覺知,沈淪苦海,生死無窮。」〔楞嚴經卷四、法華經壽量品、千手陀羅尼經〕 ; The ocean of misery, its limitlessness. Trầm luân khổ hải: to wallow, drown oneself in the sea of sorrow. ; (苦海) Biển khổ. Chỉ cho thế giới có nhiều khổ nạn, cũng tức là 3 cõi 6 đường, sống chết vòng quanh. Chúng sinh chìm đắm trong sự khổ não của 3 cõi, mông mênh mờ mịt, không bờ không bến, giống như ngụp lặn trong biển lớn khó thoát ra được, cho nên dùng biển cả vô biên để ví dụ. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 2 (Đại 3, 298 trung), nói: Tất cả chúng sinh đều không biết rõ phiền não nghiệp chướng nên phải chịu chìm đắm trong biển khổ, sống chết không cùng tận. [X. kinh Lăng nghiêm Q.4; phẩm Thọ lượng kinh Pháp hoa; kinh Thiên thủ đà la ni].

khổ hồ liên căn khổ

3946禪林用語。苦瓜一物,從根至莖,通體皆苦;叢林乃引申事物之徹頭徹尾不變其性。五燈會元卷九無著文喜章(卍續一三八‧一六六下):「(文)殊乃說偈曰:『苦瓠連根苦,甜瓜徹蔕甜;修行三大劫,卻被老僧嫌。』」 ; (苦瓠連根苦) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quả mướp đắng(khổ qua)đến cả rễ cũng đắng. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để diễn tả một sự vật từ đầu đến cuối không biến đổi tính chất của nó. Chương Vô trước văn hỉ trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 9 (Vạn tục 138, 166 hạ), ghi: Văn thù bèn nói kệ: Khổ hồ liên căn khổ Điềm qua triệt đới điềm Tu hành tam đại kiếp Khước bị lão tăng hiềm. (Mướp đắng, đắng tận rễ Dưa ngọt, ngọt cả dây Tu hành ba đại kiếp Còn bị lão tăng rầy).

khổ khí

3947指受苦之身體。亦即受地獄、餓鬼、畜生、阿修羅等四惡趣苦之眾生。 ; (苦器) Chỉ cho thân chúng sinh chịu khổ trong 4 đường ác: Địa ngục ngã quỉ, súc sinh, A tu la.

khổ không

3945指有漏果報苦諦四行相(苦、空、無常、無我)之前二者。有漏之果報,具有三苦八苦之性,故稱爲苦;男女一異等皆因緣所生滅,而無固定不變之實相,故稱爲空。 ; Misery and unreality, pain and emptiness. ; (苦空) Chỉ cho Khổ và Không trong 4 hành tướng (Khổ, không, vô thường, vô ngã) của Khổ đế thuộc quả báo hữu lậu. Quả báo hữu lậu có đủ tính của 3 khổ, 8 khổ, v.v... cho nên gọi là Khổ; nam nữ, một khác, v.v... đều do nhân duyên sinh diệt, chứ không có thực tướng cố định bất biến, cho nên gọi là Không.

khổ không vô thường vô ngã

3946爲有漏果報之四相,即四諦十六行相中苦諦之四行相,乃緣觀苦諦之境而起之四種觀解。又作無常苦空非我、非常苦空非我。中阿含經卷二十一說處經(大一‧五六五下):「此因緣起及因緣起法,思念稱量,善觀分別無常苦空非我。」觀無量壽佛經之第二觀(大一二‧三四二上):「八種清風從光明出,鼓此樂器,演說苦空無常無我之音。」〔大乘義章卷三「四諦義」、法界次第初門卷中之下〕(參閱「四諦」1840) ; (苦空無常無我) Cũng gọi Vô thường khổ không phi ngã, Phi thường khổ không phi ngã. Bốn tướng của quả báo hữu lậu, tức là 4 hành tướng của Khổ đế trong 16 hành tướng của Tứ đế, là 4 thứ quán giải(quán xét và hiểu rõ) nhờ quán cảnh của Khổ đế mà phát khởi. Kinh thuyết xứ trong Trung a hàm quyển 21 (Đại 1, 565 hạ), nói: Nhân duyên khởi này và pháp do nhân duyên khởi, phải nhớ nghĩ, suy lường, quán sát và khéo phân biệt vô thường khổ không phi ngã. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.3; pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung, phần hạ].

khổ khổ

xem ba tướng khổ ; 3946梵語 duḥkha-duḥkhatā。三苦之一。有情之身心,本來即苦,更加以飢渴、疾病、風雨、勞役、寒熱、刀杖等眾苦之緣而生之苦,故稱爲苦苦。〔大乘義章卷三、法界次第初門卷中之下、摩訶止觀卷七上、大明三藏法數卷十二〕(參閱「三苦」590) ; Dukkha-dukkhata (S). ; Dukkha-dukkhatà (S). The pain or painfulness of pain; pain produced by misery or pain; suffering arising from external circumstances, e.g. famine, storm, sickness, torture etc. Suffering sensation caused by bodily pain. ; (苦苦) Phạm: Du#kha-du#khatà. Thân tâm của loài hữu tình xưa nay vốn dĩ là khổ rồi, nay lại chịu thêm những cái khổ khác như đói khát, tật bệnh, gió mưa, nhọc nhằn, nóng rét, dao gậy, v.v..., cho nên gọi là Khổ khổ. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.3; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.7 thượng; Đại minh tam tạng pháp số Q.12]. (xt. Tam Khổ).

Khổ khổ 苦苦

[ja] クク kuku ||| Ordinary suffering, concrete suffering, physical suffering. The direct suffering that one experiences in sickness, exhaustion, hunger, etc. One of the three kinds of suffering 三苦. (Skt. duḥkhaduḥkhatā, Tib. sdug bsṅal gyi sdug bsṅal) 〔顯揚論, T 1602.31.551a〕 => Cái khổ thông thường, cái khổ cụ thể, khổ về thể xác. Cái khổ trực tiếp mà con người trải qua như bệnh tật, kiệt sức, đói khát...Là một trong Ba loại khổ (Tam khổ 三苦) (s: duḥkhaduḥkhatā; t: sdug bsṅal gyi sdug bsṅal).

khổ loại trí

3947梵語 duḥkhe'nvaya-jñānam。八智之一。即觀三界之四諦,所發十六心之一。緣觀色界、無色界之苦諦所得之無漏智;以其類於觀欲界之苦諦所得之苦法智,故稱苦類智。〔大明三藏法數卷三十一〕(參閱「見道」3000) ; Dukhenraya-jānam (S)Trí vô lậu chứng dược do quán khổ đế của cõi sắc và vô sắc. Một trong Thập lục tâm do quán Tứ đế mà phát sanh. ; The wisdom which releases from suffering in all worlds. ; (苦類智) Phạm: Du#khe’nvaya-jĩànam. Trí vô lậu đạt được nhờ quán xét Khổ đế của cõi Sắc và cõi Vô sắc. Để phân biệt với Khổ pháp trí do quán xét Khổ đế của cõi Dục mà đạt được, cho nên gọi là Khổ loại trí. Một trong 8 trí. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.31]. (xt. Kiến Đạo).

khổ loại trí nhẫn

3948梵語 duḥkhe'nvaya-jñāna-kṣāntiḥ。八忍之一。即觀三界之四諦,所發十六心之一。緣觀色界、無色界之苦諦,得苦類智之前位時,所起之無間道智。苦類智屬於果,即解脫道;苦類智忍屬於因,即無間道。(參閱「見道」3000) ; Dukhenraya-jānam-kṣānti (S)Một trong Thập lục tâm do quán Tứ đế mà phát sanh. Trí vô gián đạo phát ra trước khi chứng khổ loại trí. ; (苦類智忍) Phạm:Du#khe’nvaya-jĩàna-kwànti#. Trí vô gián đạo phát khởi trước khi chứng được Khổ loại trí. Khổ loại trí thuộc về quả, tức là giải thoát đạo; còn Khổ loại trí nhẫn thuộc về nhân, tức là vô gián đạo. Một trong 8 nhẫn. (xt. Kiến Đạo).

khổ luân

3947生死之苦果流轉不息,迴轉如輪,故稱爲苦輪。如勝天王般若經卷一,即以「苦輪不息」喻指眾生由貪愛之故,遂於六道中流轉不息。〔仁王般若波羅蜜經卷上、佛遺教經、三卷本大般涅槃經卷下〕 ; The wheel of suffering, i.e. reincarnation. ; (苦輪) Quả khổ sinh tử trôi lăn không dừng, quay vòng như bánh xe, nên gọi là Khổ luân (bánh xe khổ). Kinh Thắng thiên vương bát nhã quyển 1, dùng từ ngữ Khổ luân bất tức(bánh xe khổ quay vòng không dừng) để ví dụ chúng sinh vì tham ái mà bị trôi lăn mãi trong 6 đường. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng; kinh Phật di giáo; kinh Đại bát niết bàn Q.hạ (bản 3 quyển)].

khổ nghiệp

The karma of suffering.

khổ ngôn

3945勸勉、告誡他人之言語,即苦口婆心之言。法華經信解品(大九‧一八上):「如是苦言,汝當勤作。又以軟語,若如我子。」 ; Bitter words, words of rebuke. ; (苦言) Lời nói ân cần, tha thiết khuyên răn, dạy bảo người khác. Phẩm Tín giải kinh Pháp hoa (Đại 9, 18 thượng), nói: Lời nói thiết tha như thế, ngươi nên làm theo. Lại dùng lời dịu hiền như khuyên dạy con ta.

khổ nhân

Dukkha-nidàna (S). The cause, source of pain.

Khổ nhân 苦因

[ja] クイン kuin ||| Causes of suffering; those activities which bring about painful results; insufficient awareness of the law of cause and effect. => Nguyên nhân của khổ, những hành vi mang đến kết quả đau khổ; không nhận thức tường tận về luật nhân quả.

khổ não

Soka (S). Misery and trouble; distress, sorrow, grief, annoyance.

Khổ não 苦惱

[ja] クノウ kunō ||| Suffering, distress (Skt. duḥkha; Pali dukkha). 〔法華經 T 262.9.13a18〕 => Đau khổ, phiền não, thất vọng (s. duḥkha; p: dukkha).

khổ nạn

Distress, misery, affliction.

khổ pháp thí

Dukkha-dharmajānam (S)Quán khổ đế ở dục giới mà phát sinh trí huệ sáng suốt.

khổ pháp trí

3945梵語 duḥkhe dharma-jñānam。八智之一。緣觀欲界之苦諦所得之無漏智,稱爲苦法智。所證得苦諦之法理,稱法智。依俱舍論頌疏卷二十三(大四一‧九四六中):「苦忍無間緣,欲界苦諦,次生法智,名苦法智。」(參閱「見道」3000、「苦智」3947) ; Dukkha-dharma-jnàna (S). The knowledge of the law of suffering and the way of release. ; (苦法智) Phạm: Du#khe-dharma-jĩànam. Trí vô lậu do quán xét Khổ đế của cõi Dục mà chứng được, nên gọi là Khổ pháp trí. Một trong 8 trí. Câu xá luận tụng sớ quyển 23 (Đại 41, 946 trung), nói: Khổ nhẫn vô gián duyên với Khổ đế của cõi Dục phát sinh pháp trí, gọi là Khổ pháp trí. (xt. Kiến Đạo, Khổ Trí).

khổ pháp trí nhãn

Dukkhadharma-jāna-kṣānti (S)Quán khổ đế mà phát sinh 16 loại tâm.

khổ pháp trí nhẫn

3945梵語 duḥkhe dharma-jñāna-kṣāntiḥ。八忍之一。亦即觀三界之四諦,所發十六心之一。於緣觀欲界之苦諦而得苦法智之前位時,所起之無漏法智忍(即無間道智)。忍即信;信理而不疑之智,是爲得苦法智之因,稱爲苦法智忍。(參閱「見道」3000、「苦智」3947) ; Duhkhe-dharma-jāna-kṣānti (S)Một trong Thập lục tâm do quán Tứ đế mà phát sanh. ; Dukkha-dharma-jnàna-ksànti (S). ; (苦法智忍) Phạm: Du#khe dharma-jĩànakwànti#. Pháp trí nhẫn vô lậu(tức là trí vô gián đạo) phát khởi trước khi chứng được Khổ pháp trí. Một trong 8 nhẫn, cũng tức là 1 trong 16 tâm. Nhẫn tức là tin; trí là tin vào lí mà không nghi ngờ; trí này là nhân để đạt được Khổ pháp trí, cho nên gọi là Khổ pháp trí nhẫn. (xt. Kiến Đạo, Khổ Trí).

khổ phược (phọc)

The bond of suffering

khổ qua hoà thượng hoạch ngữ lục

3943又作畫譜。明末道濟(石濤)撰。全書共十八章,凡五千餘言,言簡意賅,對國畫之理論,發前人所未發。然因道濟學問淵博,才思活潑,於儒釋道三家之經典術語得心應手,拈之即來,創造了許多屬於他個人之獨特語彙,故歷來都評之爲晦澀難解。 ; (苦瓜和尚畫語錄) Cũng gọi Họa phổ. Tác phẩm, 18 chương, do ngài Đạo tế (Thạch đào) soạn vào cuối đời Minh, Trung quốc. Nội dung bàn về hội họa, phát huy nhiều ý kiến mới mẻ mà trước đó chưa ai làm được, văn từ giản dị, ý tứ sâu xa. Đạo tế là người học vấn sâu rộng, tư tưởng hoạt bát, sử dụng thành thạo những thuật ngữ của Phật, Nho và Lão. Ngoài ra, tác giả còn sáng tạo nhiều từ ngữ độc đáo, nên có phần khó hiểu.

khổ quả

3945從惡業生,而使身心受苦之果報。總言之,生死之果報皆爲苦;分別之,則如天上者爲樂果,如地獄者爲苦果,如人界者則苦樂並存。 ; The physical and mental suffering resulting from evil conduct (chiefly in previous existences) ; (苦果) Quả báo do nghiệp ác sinh ra khiến cho thân tâm chúng sinh chịu khổ não. Nói chung thì quả báo sinh tử đều là khổ. Nếu phân biệt thì cõi trời là lạc quả, cõi địa ngục là khổ quả, còn cõi người thì gồm cả khổ quả và lạc quả.

Khổ sự 苦事

[ja] クジ kuji ||| A disatisfactory situation; a situation of suffering. 〔二障義HPC 1.792b〕 => Tình trạng bất như ý, hoàn cảnh đau khổ.

khổ thánh đế

Dukkhadatya (S), Dukkha-ariya-sacca (S)Khổ đế.Xem Dukkha Ariyasacca.

Khổ thánh đế 苦聖諦

[ja] クショウタイ kushōtai ||| The noble truth of suffering; see 苦諦. => Chân lý về khổ. Xem Khổ đế苦諦.

khổ thọ

Dhukha-vedanā (S)Sự cảm nhận khổ não (S), Unpleasant feeling Sự biết khổ do lục căn trong qua lục trần ngoài tiếp xúc cảnh không thuậnMột trong ngũ thọ

khổ thụ

3945梵語 duḥkha-vedanā。三受之一,五受之一。受者,領納外境之義。境有順、違、俱非三境,故受有苦、樂、捨三受。逼迫身心,領納違情之境而起苦惱之感者,稱爲苦受。其爲三受之一者,係指於身心所領納的逼迫不悅之感受;其爲五受之一者,僅指於身所領納的逼迫不悅之感受。〔成唯識論卷九、四念處卷一〕(參閱「三受」559、「五受」1103) ; (苦受) Phạm: Du#kha-vedanà. Sự cảm nhận khổ não. Một trong 3 thụ, 1 trong 5 thụ. Thụ nghĩa là nhận lãnh cảnh bên ngoài. Cảnh có 3 loại: Thuận, nghịch, không thuận không nghịch, nên thụ cũng có 3 thụ là khổ, vui, chẳng khổ chẳng vui. Thân tâm bị bức bách, lãnh nhận cảnh trái ý, nên phát sinh cảm giác khổ não, gọi là Khổ thụ. [X. luận Thành duy thức Q.9; Tứ niệm xứ Q.1]. (xt. Tam Thụ, Ngũ Thụ).

khổ thụ (thọ)

Dukkha-vedana (S). Sensation ođ pain, suffering, misery.

khổ trách ngu si bổng

3946濟宗八棒之一。臨濟禪以棒喝爲接化學人之要法,其中,師家爲打破修行僧之愚癡迷妄,乃痛下其棒,稱爲苦責愚癡棒。 ; (苦責愚痴棒) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây gậy dùng để đánh người ngu si. Một trong 8 gậy của tông Lâm tế. Tông Lâm tế dùng gậy làm phương pháp chủ yếu tiếp hóa người học, vị thầy dùng gậy đánh người học là nhằm phá trừ mê vọng, giúp họ tỏ ngộ.

khổ trí

3946梵語 duḥkha-jñāna。十智之一。了苦諦道理之智,即緣苦諦而作「苦、空、無常、無我」之四行相,其惑斷除時所得之無漏智。依品類足論卷一(大二六‧六九四上):「謂於五取蘊,思惟非常、苦、空、非我,所起無漏智。」又大毘婆沙論卷一○六(大二七‧五四八中):「緣苦聖諦,四行相轉,故名苦智。」亦即入於見道之時,以世俗智緣苦諦之境,至第二剎那,與法智共生之智,稱爲苦智。其中,於第一剎那之後無間,緣觀欲界苦諦之境,所生起之無漏法智忍,稱爲苦法智忍;於其無間,所生起之無漏法智,稱爲苦法智。〔俱舍論卷二十六、顯揚聖教論卷二〕 ; Dukha-jāna (S). ; Dukkha-jnàna (S). ; (苦智) Phạm: Du#kha-jĩàna. Trí vô lậu chứng được sau khi dứt trừ mê hoặc nhờ quán xét 4 hành tướng khổ, không, vô thường, vô ngã. Một trong 10 trí. Luận Phẩm loại túc quyển 1 (Đại 26, 694 thượng) ghi: Nếu suy tư quán xét 5 thủ uẩn là phi thường, khổ, không, phi ngã thì sẽ phát sinh trí vô lậu. Luận Đại tì bà sa quyển 106 (Đại 27, 548 trung), nói: Duyên theo Khổ thánh đế, 4 hành tướng chuyển nên gọi là khổ trí. Cũng tức là hành giả khi vào giai vị Kiến đạo, dùng trí thế tục duyên theo cảnh Khổ đế, đến sát na thứ 2 thì trí cùng sinh với pháp trí, gọi là Khổ trí. [X. luận Câu xá Q.26; luận Hiển dương thánh giáo Q.2].

khổ tâm

Mental anguish; worry, care; annoyance.

khổ tân-bến khổ

The deep ford or flood of misery which must be crossed in order to reach enlightenment.

khổ tính

The nature of misery; a sorrowful spirit.

khổ tưởng

3947十想之一。又作苦思想。五陰之身常爲諸苦所逼迫,若能觀一切有爲法之無常,則智慧生而眾苦得滅,稱爲苦想。常與三苦、八苦等相配合。〔廣義法門經、大智度論卷二十三〕 ; Duḥkha-saṃjā (S)Sự nhận ra cái khổ. ; Dukkha-samjnà (S). Perception of the dukkha. ; (苦想) Cũng gọi Khổ tư tưởng. Quán tưởng về khổ. Một trong 10 tưởng. Thân 5 ấm thường bị các khổ bức bách, nếu quán tưởng tất cả pháp hữu vi đều là vô thường, thì trí tuệ phát sinh, tất cả khổ đều diệt, gọi là Khổ tưởng. [X. kinh Quảng nghĩa pháp môn; luận Đại trí độ Q.23].

khổ tận cam lai

Every cloud has a silver lining.

khổ tập

Samudaya-arya-satya (S). Arising, coming together, collection, multitude. The second of the four noble truths, that of "accumulation" that misery is intensified by craving or desire and the passions, which are the cause of reincarnation.

khổ tập diệt đạo

The four noble truths: i.e. dukkha pain; samudaya causes of pain; nirodha the extinguishing of pain and reincarnation; the way to such extinction.

Khổ tập diệt đạo 苦集滅道

[ja] クシュウメツドウ kujumetsudō ||| Suffering, origination, cessation, path (duhkha, samudaya, nirodha, mārga). The Four Noble Truths => Khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt trừ nguyên nhân cái khổ ấy, và con đường đưa đến sự diệt khổ (s: duhkha, samudaya, nirodha, mārga). Tứ đế (四諦).

khổ tập đế

Dukkhasamudaya-ariasacca (P), Noble truth of the origin of dukkha.

khổ tế

3947巴利語 dukkhassanta。即苦的最終之際,亦即受生死苦最後之身。法華經序品(大九‧二下):「若人遭苦,厭老病死,爲說涅槃,盡諸苦際。」〔中阿含經卷十五〕 ; Dukkhassanta (S)Ranh giới giữa khổ và Niết bàn hay giới hạn cuối cùng của khổ. ; The limit of suffering, i.e. entrance to nirvana. ; (苦際) Pàli: Dukkhassanta. Thân chịu khổ sinh tử cuối cùng, cũng tức là ranh giới giữa sinh tử và Niết bàn. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 2 hạ), nói: Nếu người bị khổ, nhàm chán già, bệnh, chết thì hãy vì họ mà nói Niết bàn, khiến dứt khổ tế. [X. kinh Trung a hàm Q.15].

khổ uẩn

Saṇkhāradukkhata. ; Xem khổ ấm.

khổ võng

The net of suffering.

khổ vực

The region of misery, i.e. every realm of reincarnation.

khổ ách

3942謂苦患與災厄。般若心經(大八‧八四八下):「照見五蘊皆空,度一切苦厄。」 ; The obstruction caused by pain, or suffering. ; (苦厄) Khổ hoạn và tai ách. Bát nhã tâm kinh (Đại 8, 848 hạ), nói: Soi thấy 5 uẩn đều không, vượt qua tất cả khổ ách.

khổ đạo

3947三道之一。生死流轉之因果(十二緣起)可賅攝於惑道、業道、苦道等三種道類中,其中,苦道涵攝識、名色、六入、觸、受、未來之生、老死等七支。道者,能通之義。惑、業、苦三道互立相通,從惑起業,從業感苦,從苦復起惑,展轉相通,生死不絕,故稱苦道。此即三界六道生死之果報。〔顯揚聖教論卷一、金光明玄義卷上〕 ; The path of suffering; from illusion arises karma, from karma suffering, from suffering illusion, in a vicious circle. ; (苦道) Khổ do mê lầm(Hoặc) mà tạo nghiệp (Nghiệp), vì tạo nghiệp mà phải chịu quả khổ (Khổ). Cái quả khổ ấy gọi là Khổ đạo, 1 trong 3 đạo. Trong 12 nhân duyên, Khổ đạo bao gồm 7 chi: Thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ (thuộc quả báo hiện tại), sinh và lão tử(thuộc quả báo vị lai). [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.1; Kim quang minh huyền nghĩa Q.thượng].

khổ đế

3947梵語 duḥkha-satya,巴利語 dukkha-sacca。四諦之一。又稱苦聖諦(梵 duḥkhārya-satya)。指聖者如實審察三界有漏之苦果(有情及器世間),如三苦、五取蘊苦、八苦等。在婆沙諸論中謂,此有漏諸果中,或生樂,或生非苦非樂(未必所生皆苦);此即說一切有部之諸師以樂受爲實有,而以苦多樂少爲苦諦之義;然經部則謂,諸蘊中全無樂受可言。成實論卷六行苦品第七十九(大三二‧二八二中):「此三受皆苦諦攝,若實是樂,苦諦云何攝?又苦爲真實,樂相虛妄。何以知之?以觀苦心能斷諸結,非樂心也,故知皆苦。」此即主張三界皆苦之說。 另據顯揚聖教論卷十五載,由於苦受、樂受、捨受等三受之相各有差別,故建立三苦之相,即苦苦之相、壞苦之相、行苦之相。亦即就有漏法「非可意」的苦受之運轉而言,其體性爲苦,故苦受必然即是苦;就「可意」的樂受之運轉而言,於其壞滅之時,必感受苦,故樂受亦爲苦;就「不可意非不可意」的捨受之運轉而言,亦不免有生滅遷流之時,聖者觀之,生起苦怖之心,故捨受亦爲苦。由此三苦之相觀之,是知一切有漏之法皆爲苦。 又大乘阿毘達磨雜集論卷六(大三一‧七一九下):「所謂生苦乃至怨憎會苦,能顯苦苦,順苦受法,苦自相義故。愛別離苦、求不得苦,能顯壞苦,已得未得,順樂受法,壞自相義故。略攝一切五取蘊苦,能顯行苦,不解脫二無常所隨不安隱義故。(中略)生苦乃至求不得苦,是世俗諦苦,世間智境界故,略攝一切五取蘊苦,是勝義諦苦。」又瑜伽師地論卷五十五,於順苦樂、不苦不樂諸行中,由自相差別而建立世俗諦,由共相一味之苦而建立勝義諦。〔增一阿含經卷十七、順正理論卷五十七、顯揚聖教論卷二、俱舍論光記卷二十二〕 ; Dukkha-sacca (P), Duḥkhāryasatya (S), Dukkharya-satya (S)Trong Tứ diệu đế: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế. ; Dukkha-àrya-satyam (S). The first of the four noble truths, that of suffering. ; (苦諦) Phạm: Du#kha-satya. Pàli: Dukkha-sacca. Cũng gọi Khổ thánh đế (Phạm: Du#khàrya-satya). Chỉ cho sự thật về các khổ trong 3 cõi, như 3 khổ, 8 khổ, v.v... Là 1 trong 4 đế. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng cảm nhận vui là có thật và lấy khổ nhiều vui ít làm nghĩa của Khổ đế, nhưng Kinh bộ thì chủ trương rằng trong các uẩn hoàn toàn không có cảm giác vui nào đáng nói. Phẩm Hành khổ trong luận Thành thực quyển 6 (Đại 32, 282 trung), nói: Ba thụ (khổ, vui, không khổ không vui)đều thuộcKhổ đế; nếu thật có vui, thì tại sao nói khổ đế? Khổ là chân thực mà vui là hư vọng. Vì sao biết? Vì quán tâm khổ mới đoạn trừ được các phiền não, chứ chẳng phải quán tâm vui mà đoạn trừ được, cho nên biết tất cả đều là khổ. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 (Đại 31, 719 hạ) nói: Sinh khổ cho đến oán thù gặp gỡ khổ là hiển bày khổ khổ, thuận theo pháp khổ thụ, là nghĩa tự tướng của khổ. Yêu thương chia lìa khổ, mong cầu không được khổ là hiển bày Hoại khổ, thuận theo pháp lạc thụ, là nghĩa tự tướng của Hoại. Tóm thu tất cả khổ của 5 thủ uẩn là hiển bày Hành khổ, là nghĩa bất an ổn. (...) Sinh khổ cho đến mong cầu không được khổ là khổ của Thế tục đế, vì là cảnh giới của trí thế gian, còn thu tóm tất cả khổ của 5 uẩn là khổ của Thắng nghĩa đế. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.17; luận Thuận chánh lí Q.57; luận Hiển dương thánh giáo Q.2; Câu xá luận quang kí Q.22].

Khổ đế 苦諦

[ja] クタイ kutai ||| The truth of suffering (duḥkhasatya): the realization byh Śākyamuni that existence as we normally perceive it cannot but be dissatisfactory. One of the Four Noble Truths 四諦. Also written 苦聖諦. => Chân lý về khổ (s: duḥkhasatya). Sự thực chứng bởi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni , rằng hiện hữu mà chúng ta nhận thức vốn không gì khác hơn là sự bất như ý. Là một trong Tứ đế. Còn gọi là Khổ thánh đế苦聖諦.

khổ đọa xứ

Apāya-mukha (S), Way to deprivation.

khổ ấm

3946又作苦蘊。其義有二:(一)苦之所集,(二)指個人之存在。因個人之有情身心乃由三苦、八苦等所集而成,故稱爲苦陰。釋門歸敬儀卷上(大四五‧八五五上):「形則縛於俗習,苦陰常纏。」 ; The body with its five skandhas. ; (苦陰) Cũng gọi Khổ uẩn. Chỉ cho chỗ tụ tập của các nỗi khổ hoặc chỉ cho sự tồn tại của con người. Vì thân tâm của hữu tình do 3 khổ, 8 khổ tụ họp lại mà thành nên gọi là Khổ ấm. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 855 thượng), nói: Thân bị các tập tục trói buộc, khổ ấm thường bao vây.

Khổ 苦

[ja] ク gŭ ||| (1) Sorrow, suffering, affliction, pain, anxiety, uncomfortableness. The first of the Four Noble Truths (2) Conditioned existence, "dharmas with outflow" (āsravadharma); manifest existence. => 1. Nỗi đau buồn, đau khổ, phiền não, đau đớn, lo âu, bực bội. Chân lý đầu tiên trong Tứ diệu đế (s: duḥkha). 2. Pháp hữu vi, pháp vô lậu (s: āsravadharma), pháp hiện hành.

khổng ca ninh bảo

1376請參閱 華嚴孔目章 (1092~1158)西藏名 Kun-dgaḥ sñiṅ-po。全稱 Sa-skya-pa Kun-dgaḥ sñiṅ-po。簡稱 Sa-chen。又作貢噶寧波。意譯慶喜藏。為西藏佛教薩迦派第二世,係薩迦派祖師袞曲爵保(藏 Dkon-mchogrgyal-po)之子。幼有神童之譽,通曉諸學,從聖父受大悲空智金剛灌頂。十一歲時依聖母指示,隨巴利翻譯官巴利羅窄婆(藏 Ba-ri lo-tsā-ba)學習諸教。又從達磨新浦(藏 Darma-sñiṅ-po)等諸學僧習俱舍、中論、因明及祕密真言法。亦隨翻譯官瑪羅窄婆(藏 Mallo-tsā-ba)研習勝樂法、空行法、成就法、作法集等,而成為其繼承者。並從喇嘛僧苦難卡不巴(藏 Gnam-khaḥu-pa)習得吉祥四面主尊之成就法與祕義。其後就薩迦派主座,宣布教法,化導眾生。被尊稱為薩欽(薩迦寺大 v)。一一五八年入寂,世壽六十七。〔蒙古佛教史〕

khổng giáo

Confucianism.

Khổng mục chương 孔目章

[ja] コウモクショウ Kōmokushō ||| KongMu zhang; see Huayan kongmuzhang 華嚴孔目章. => (c: KongMu zhang); xem Hoa nghiêm Khổng mục chương (c: Huayan kongmuzhang 華嚴孔目章).

khổng phu tử

K'ung Fu Tse (C), Confucius.

khổng thanh giác

1376(1043~1121)白雲宗之創始者。宋代河南登封人。自稱孔子後裔。從汝州龍門山寶應寺海慧出家,遍歷諸方,止於舒州浮山,宴坐二十年,後至杭州靈隱寺後山白雲庵創白雲新義,以華嚴經為根本要典,主張儒釋道三家一致,重視忠孝慈善,晨夕持誦禮拜供養,躬耕自活,不沾葷酒。政和六年(1116),著證宗論排斥禪宗,覺海愚禪師訴之於朝,力論其偽,遂坐罪流放恩州(廣東)。宣和三年入寂,弟子慧能歸遺骨於杭州,建塔於餘杭南山之普安寺。著有初學記、三教篇、正行集、十地歌等。〔佛祖統紀卷四十六、卷五十四〕

khổng tước

tên một loài chim, dịch từ Phạn ngữ là maỷra, dịch âm là ma-do-la (摩由羅). ; MayŪra (S)Một loài chim. ; Maurya (S). Name of a dynasty.

khổng tước kinh âm nghĩa

1379請參閱 孔雀明王經 凡三卷。日僧觀靜撰。為唐朝不空所譯佛母大孔雀明王經之註釋書。收於大正藏第六十一冊。全書分成述大意、釋題目、入文解釋等三門。述大意中簡述經旨,釋題目再分顯、祕兩種,以顯密二教之立場解釋「佛母大孔雀明王經」八字。其次入文解釋則將附於經首之「讀誦佛母大孔雀明王經前啟請法」與經之本文加以註解。註解之語凡千四百六十,解說其字音字義或有關之事項。全書對各語解釋之精粗差別極其顯著。所引書目極多,計百三十部,舉凡經典、密部、論部、史傳、中國撰述、日本撰述、外典等皆引用之。〔釋教諸師製作目錄卷二、錄內啟蒙卷十五〕 ; (孔雀經音義) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Quán tĩnh người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 61. Đây là sách chú thích bộ kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương do ngài Bất không dịch vào đời Đường. Nội dung chia làm 3 môn: Đại ý, Giải thích tên kinh, Giải thích kinh văn. Phần Đại ý nói về yếu chỉ của kinh; phần Giải thích tên kinh chia làm 2 mục: Hiển, Mật, giải thích 8 chữ: Phật mẫu đại khổng tước minh vương kinh, tiếp đó là Giải thích phần chính văn một cách rất rõ ràng. Những sách được dùng để tham khảo và dẫn dụng gồm 130 bộ kinh điển: Mật bộ, Luận bộ, Sử truyện, các tác phẩm của Trung quốc và Nhật bản, v.v... [X. Thích giáo chư sư chế tác mục lục Q.2; Lục nội khải mông Q.15].

Khổng tước kinh 孔雀經

[ja] クジャクキョウ Kujaku kyō ||| ; see Kŏngquè míngwáng jīng => Xem Khổng tước minh vương kinh孔雀明王經..

khổng tước minh hộ kinh

Moraparitta sutta (P)Tên một bộ kinh.

khổng tước minh vương

1377梵名 Mahā-mayūrī-vidyā-rājñī。音譯摩訶摩瑜利羅闍。又作孔雀王、佛母孔雀大明王。依大孔雀明王畫像壇場儀軌所載,孔雀明王呈一面四臂之相,手持蓮花、俱緣果、吉祥果、孔雀尾,跨乘金色孔雀王。所持四物中,蓮花表敬愛,俱緣果表調伏,吉祥果表增益,孔雀尾表息災。此明王為毘盧遮那如來之等流身,具有攝取、折伏二德,故有二種座,白蓮座表示攝取慈悲之本誓,青蓮座表示降伏之意。又現圖胎藏界曼荼羅中,孔雀明王位於蘇悉地院南端第六位,肉色二臂,右手持孔雀尾,左手持蓮花,坐赤蓮花座。密號佛母金剛,三昧耶形為孔雀羽。〔孔雀王咒經、大孔雀咒王經卷上、胎藏界七集卷中〕 ; MahāmayŪrividyā-rajni (S)Tên một vị thiên. ; (孔雀明王) Phạm:Mahà-mayùrì-vidyà-ràjĩì. Dịch âm: Ma ha ma du lị la xà. Cũng gọi: Khổng tước vương, Phật mẫu khổng tước đại minh vương. Vị Minh vương thứ 6 ngồi ở đầu cực nam của viện Tô tất địa trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Cứ theo Đại khổng tước minh vương họa tượng đàn tràng nghi quĩ, thì hình tượng vị tôn này hiện tướng 1 mặt 4 cánh tay, cỡi chim khổng tước(chim công) mầu vàng ròng, các tay lần lượt cầm hoa sen, quả câu duyên, quả cát tường, lông đuôi chim công, tượng trưng cho 4 pháp tu: Hoa sen tượng trưng pháp Kính ái, quả câu duyên tượng trưng pháp Điều phục, quả cát tường tượng trưng pháp Tăng ích và lông đuôi chim công tượng trưng pháp Tức tai. Vị Minh vương này là thân Đẳng lưu của đức Tì lô giá na Như lai, có đủ 2 đức nhiếp thủ và chiết phục, cho nên có 2 loại tòa ngồi: Tòa sen trắng biểu thị bản thệ từ bi nhiếp thủ, còn tòa sen xanh thì biểu thị đức chiết phục. Trên đây là theo Đại khổng tước minh vương họa tượng đàn tràng nghi quĩ, còn trong Hiện đồ mạn đồ mạn đồ la Thai tạng giới thì hình tượng vị tôn này mầu da người, có 2 tay, ngồi trên tòa sen đỏ, tay phải cầm lông đuôi chim Khổng tước(chim công), tay trái cầm hoa sen, mật hiệu là Phật mẫu kim cương, hình Tam muội da là lông cánh chim Khổng tước. [X. kinh Khổng tước vương chú; kinh Đại khổng tước chú vương Q.thượng; Thai tạng giới thất tập Q.trung].

khổng tước minh vương kinh

1377孔雀明王,梵名 Mahāmayūrī-vidyārājñī。凡三卷。全名佛母大金耀孔雀明王經。唐代不空譯。又作佛母大孔雀明王經、孔雀經。收於大正藏第十九冊。敘述阿難陀眼見莎底(梵 Svati)新比丘之足被黑蛇所囓而幾將悶絕,故求佛陀大悲救護。佛陀乃教阿難陀口誦「佛母明王大陀羅尼」,即可使之得救。此外並謂諸神仙、星宿、藥叉、過去佛等,亦說依此陀羅尼可遠離一切恐怖,獲得福德。同本異譯有梁代僧伽婆羅譯孔雀王咒經二卷、唐代義淨譯大孔雀咒王經三卷。 密教修法中之孔雀明王經法,即依據本經而來。 ; (孔雀明王經) Khổng tước minh vương, Phạm: Mahàmayùrì-vidyàràjĩì. Gọi đủ: Phật mẫu đại kim diệu khổng tước minh vương kinh. Cũng gọi: Phật mẫu đại khổng tước minh vương kinh, Khổng tước kinh. Kinh, 3 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này tường thuật việc ngàiA nan đà thấy tân tỉ khưu tên Sa để (Phạm:Svati) bị rắn hổ mang cắn ở chân, gần chết, nên cầu Phật từ bi cứu hộ. Đức Phật liền dạy ngài A nan đà tụng đại đà la ni Phật mẫu minh vương thì cứu được tỉ khưu Sa để. Ngoài ra, kinh này còn nói các vị thần tiên, tinh tú, Dược xoa, chư Phật quá khứ, v.v... nhờ tụng đà la ni này mà xa lìa tất cả sự sợ hãi và được phúc đức. Kinh này cũng có các bản dịch khác như: -Kinh Khổng tước vương chú, 2 quyển, do ngài Tăng già bà la dịch vào đời Lương. -Kinh Đại khổng tước chú vương, 3 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Pháp tu Khổng tước minh vương trong Mật giáo là y cứ vào kinh này.

khổng tước minh vương kinh pháp

1378密教修法之一。又稱孔雀經法。即為息災、請雨、止雨、消除病惱、安產等,依據佛母大金耀孔雀明王經或孔雀明王儀軌,以孔雀明王為本尊所修之祕法。修法時,先於中央安置四臂孔雀明王像,大壇上安置羯磨杵、梵篋(插孔雀尾),中瓶插三或五枝孔雀尾,並置金剛盤與火舍(香爐之一種),內焚環香,不斷燃薰,以為供養。另設護摩壇、聖天壇、十二天壇。護摩壇一日三座,聖天壇後夜、日中二座,十二天壇初夜一座,各修其法。〔大孔雀咒王經卷下、孔雀明王畫像壇場儀軌、阿娑縛抄卷六十九〕 ; (孔雀明王經法) Cũng gọi: Khổng tước kinh pháp. Một pháp tu trong Mật giáo y cứ vào kinh Phật mẫu đại kim diệu khổng tước minh vương hoặc Khổng tước minh vương nghi quĩ, thờ Khổng tước minh vương làm Bản tôn để cầu mưa, cầu tạnh mưa, sinh nở được an ổn và tiêu trừ tai nạn, tật bệnh, v.v... Khi tu pháp, trước hết, tôn trí tượng Khổng tước minh vương 4 tay ở chính giữa, trên đại đàn đặt chày Yết ma, hộp kinh Phật bằng tiếng Phạm(có cắm lông đuôi chim Khổng tước = chim công), trong bình cắm 3 hoặc 5 cái lông đuôi chim Khổng tước, đồng thời đặt mâm kim cương và lư hương (hỏa xá), trong đó đốt hoàn hương liên tục để cúng dường. Ngoài ra, còn thiết đàn Hộ ma, đàn Thánh thiên, đàn Thập nhị thiên. Đàn Hộ ma 1 ngày 3 tòa; đàn Thánh thiên cuối đêm 1 tòa, giữa trưa 1 tòa; đàn Thập nhị thiên đầu đêm 1 tòa, mỗi đàn, mỗi tòa đều tu pháp kinh Khổng tước minh vương. [X. kinh Đại khổng tước chú Q.hạ; Khổng tước minh vương họa tượng đàn tràng nghi quĩ; A sa phọc sao Q.69].

Khổng tước minh vương kinh 孔雀明王經

[ja] クシャクミョウオウキョウ Kujaku myōō kyō ||| The Kongque mingwang jing; Skt. Mahāmāyūrī-vidyārājñī; Tib. rig sngags kyi rgyal mo rma bya chen mo [To.559, P.178]; (Sutra of the Great Peahen, Queen of Mantras), abbr. Peacock Sutra 孔雀經. An early work of Buddhist magic, derived from the peacock-protecting devotion (mora-paritta) found in the Theravādin ātānāṭiya-suttanta; the third and most widely propagated text of the Pañcarakṣā corpus. The earliest and shortest Chinese translations, which appeared in the 4th century CE, explain that the great Peacock mantra has long been used by the sages for self-protection; one of these versions (T 987) adds that it was preached by Buddha in order to save the life of Svāti 吉祥, a young monk who was bitten by a snake. Kumārajīva's version (T 988) adds a Mahāyāna-style congregation and brief ritual details, which are further elaborated in Saṅghavarman's version (T 984). These two versions and those of Yijing and Amoghavajra (T 985, 982) generally conform to the Sanskrit latest texts, though Amoghavajra's rendition removes the ritual instructions to separate manuals (T 983a, 983b). The extant Chinese translations are: (1) 1 fasc. (T 986.19.477-479), Sutra of the Great Gold-coloured Peahen Queen 大金色孔雀王呪經, tr. in the 4th cent. CE. (2) 1 fasc. (T 987.19.479-481), Sutra of the Great Gold-coloured Peahen Queen 大金色孔雀王呪經, tr. in the 4th cent. CE. (3) 1 fasc. (T 988.19.481- 488) Sutra of the Peahen Queen Spell 孔雀王呪經, tr. Kumārajīva 鳩摩羅什. (4) 2 fasc. (T 984.19.446-459), Sutra of the Peahen Queen Spell 孔雀王呪經 tr. Saṅghavarman 僧伽婆羅 in 516 CE. (5) 3 fasc. (T 985.19.459-477), Sutra of the Great Peahen Queen Spell 大孔雀呪王經 tr. Yijing 義淨. (4) 3 fasc. (T 982.19.415-439) Sutra of the Mother of Buddhas, the Great Peahen Queen of Mantras 佛母大孔雀明王經 tr. Amoghavajra 不空. Source for the Ritual Procedure for Making an Icon and Altar of Great Peahen, Queen of Mantras 大孔雀明王畫像壇場儀軌 (T 983a) and Sanskrit Book of the Mantras etc. from the Peahen Sutra 孔雀經眞言等梵本 (T 983b). For a brief history of the Chinese versions see de Visser (1980), pp.196-201. A romanized Sanskrit edition was published by Takubo (1972). The strong influence of Indian folk religion on this text, evident in the names and dwelling-places of the twenty-eight great yakṣa generals (mahāyakṣa-senāpati), has been studied by Sircar (1972). BGBT4/86-9. => (c: Kongque mingwang jing; Skt. Mahāmāyūrī-vidyārājñī; Tib. rig sngags kyi rgyal mo rma bya chen mo;e: Sutra of the Great Peahen, Queen of Mantras), Viết tắt là Khổng tước kinh (e:Peacock Sutra 孔雀經). Là bản kinh cổ điển về thần thông theo đạo Phật, xuất phát từ sự phát tâm hộ pháp của loài Khổng tước (s: mora-paritta), được tìm thấy trong kinh văn thuộc Thượng toạ bộ (s: ātānāṭiya-suttanta); là bản kinh thứ ba được truyền bá rộng rãi nhất trong Ngũ vị lục (Pañcarakṣā corpus). Bản dịch sớm nhất và ngắn gọn nhất bằng Hán văn ra đời vào thế kỷ thứ bốn giảng giải rằng Chú đại khổng tước đã được các bậc đạo sư dùng từ lâu để tự hộ thân; một trong những bài kệ nầy giải thích thêm rằng kinh nầy do Thế tôn giảng để cứu mạng sống cho vị tu sĩ trẻ Cát Tường (s: Svāti 吉祥) bị rắn cắn. Bản dịch của Cưu-ma-la-thập bổ sung thêm lễ nghi pháp hội theo truyền thống Đại thừa và những nghi tiết vắn gọn lại được trình bày tỉ mỉ trong bản dịch của Tăng-già Bà-la (s: Saṅghavarman's). Hai bản dịch nầy và hai bản khác của Nghĩa Tịnh (c : Yijing 義淨) và Bất Không Kim Cương (s: Amoghavajra 不空) thường phù hợp với bản tiếng Sanskrit đang lưu hành, mặc dù bản dịch của Bất Không Kim Cương đã chuyển những chỉ dẫn nghi tiết sang những khoa nghi riêng biệt. Các bản dịch Hán văn hiện đang lưu hành gồm có: 1. Đại quang sắc Khổng tước vương chú kinh (大金色孔雀王呪經e: Sutra of the Great Gold-coloured Peahen Queen ); 1 quyển; dịch vào thể kỷ thứ 4. . (T 986.19.477-479). 2. Đại quang sắc Khổng tước vương chú kinh (大金色孔雀王呪經e: Sutra of the Great Gold-coloured Peahen Queen ); 1 quyển; dịch vào thể kỷ thứ 4. . (T 987.19.479-481). 3. Khổng tước vương chú kinh; 1 quyển; Cưu-ma-la-thập dịch. 4. Khổng tước vương chú kinh; 2 quyển; Tăng-già Bà-la (s: Saṅghavarman) dịch năm 516. 5. Khổng tước chú vương kinh; 3 quyển; Nghĩa Tịnh dịch. 6. Phật mẫu Khổng tước minh vương kinh. Bất Không dịch. Là nguồn gốc của Đại Khổng tước minh vương hoạ tượng đàn tràng nghi quỹ và Không tước kinh chân ngôn đẳng Phạn bản. Về lịch sử tốm tắt các bản dịch Hán văn, xin xem tác phẩm của de Visser (1980). Bản tiếng Sanskrit dạng chữ La tinh đã được Takubo ấn hành năm 1972. Sự ảnh hưởng sâu rộng của kinh nầy trong tín ngưỡng dân gian Ấn Độ được thấy rõ qua danh tánh và trụ xứ của 28 vị đại tướng dạ-xoa, được trình bày trong nghiên cứu của Sircar (1972).

khổng tước thỉ

1378比喻問答乖違,猶如問天而答地。百喻經卷三(大四‧五五○下):「有二小兒入河遨戲,於此水底得一把毛。一小兒言:『此是仙鬚。』一小兒言:『此是羆毛。』爾時河邊有一仙人。二小兒諍之不已,詣彼仙所,決其所疑。而彼仙人尋即取米及胡麻子,口中含嚼,吐著掌中,語小兒言:『我掌中者,似孔雀屎。』」蓋以此仙人答非所問,而為人嗤笑,後人乃以孔雀屎一詞比喻浮漫虛說或問答乖違。 ; (孔雀屎) Phân chim công, ví dụ hỏi đáp trái ngược nhau, như hỏi trời mà đáp đất. Kinh Bách dụ quyển 3 (Đại 4, 550 hạ), nói: Có 2 đứa trẻ, xuống sông tắm và đùa giỡn, nhặt được 1 nắm lông ở dưới đáy sông, một đứa nói: Đây là râu tiên, đứa kia bảo: Đâu phải, đây là lông gấu. Hai đứa trẻ cứ thế cãi nhau mãi. Bấy giờ, bên bờ sông có 1 vị tiên, 2 đứa trẻ liền đến xin vị tiên ấy giải quyết cho ai đúng, ai sai. Vị tiên bèn lấy 1 nhúm gạo và hạt mè (vừng) bỏ vào miệng nhai, rồi nhả ra trong lòng bàn tay và bảo 2 đứa trẻ rằng: Cái chất sền sệt trong lòng bàn tay ta giống như cứt chim Khổng tước. Vị tiên này trả lời không đúng với câu hỏi nên bị người chê cười. Do đó, về sau, từ ngữ Khổng tước thỉ được sử dụng để chỉ cho những lời nói phù phiếm, bông lông, hoặc hỏi một đường trả lời một nẻo.

khổng tước toà

1378梵語 mayūrāsana。五部座之一。為密教佛母孔雀明王及蓮華部主阿彌陀佛等所坐者。孔雀為瑞鳥,形貌嚴麗,且具種種色,故以之為座,表示轉大法輪之義。另於現圖兩界曼荼羅中,鳩摩羅天亦坐於孔雀座。〔金剛頂瑜伽略出念誦經卷一、大孔雀明王畫像壇場儀軌、金剛頂經大瑜伽祕密心地法門義訣卷上〕(參閱「五部座」1158) ; (孔雀座) Phạm:Mayùràsana. Tòa khổng tước. Tòa ngồi của Phật mẫu khổng tước minh vương và của đức Phật A di đà chủ bộ Liên hoa. Bản kinh Khổng tước minh vương tiếng Phạm Khổng tước(chim công) là loài chim tượng trưng cho điềm lành, hình dáng rất đẹp và lông có nhiều mầu, vì thế tòa ngồi được làm theo hình dáng loài chim này để biểu thị nghĩa chuyển đại pháp luân. Ngoài ra, trong Mạn đồ la Thai tạng giới và Kim cương giới, trời Cưu ma la cũng ngồi trên tòa Khổng tước. [X. kinh Kim cương đính du già lược xuất niệm tụng Q.1; Đại khổng tước minh vương họa tượng đàn tràng nghi quĩ; Kim cương đính kinh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết Q.thượng]. (xt. Ngũ Bộ Tòa).

khổng tước tòa

Mayurāsana (S).

khổng tước vương

MayŪrarāja (S)Xem Khổng Tướng Minh Vương.

khổng tước vương chú kinh

K'ung-ch'ueh-wang-chou ching (C)Tên một bộ kinh.

khổng tước vương triều

1376請參閱 大金色孔雀王咒經 或孔雀王雜神咒經 古印度王朝。自西元前三一七年至前一八○年頃,計歷一三七年。西元前三二七年,希臘亞歷山大大帝(Alexandros)遠征印度,其時,摩揭陀國(梵 Magadha)之難陀王朝(梵 Nanda)稱霸北印度恆河平原一帶。旃陀羅笈多王(梵 Chandragupta)趁機而起,平定北印度,建都於摩揭陀國巴連弗城(梵 Pāṭaliputra),創建孔雀王朝(梵 Maurya),建立印度史上中央集權統一之大帝國。至其孫阿育王時,為該王朝之鼎盛時期,對外,與埃及、希臘諸國建交,對內,則以「法」為治國之政治理想,並於國內建設各種福利事業。阿育王皈依佛教,在其保護獎勵之下,佛教普及全印度,並傳播至叟那世界(中央亞細亞之希臘人殖民地)、楞伽國(錫蘭島)、金地國(緬甸)等地。此時佛教教團分裂為上座部(梵 Theravāda)與大眾部(梵 Mahāsaṅghika)。阿育王雖厚護佛教,然亦未排斥其他宗教,故耆那教與婆羅門教在其寬容政策下,亦逐漸興盛發展。前者又分裂成白衣派、空衣派;後者則整備教學,完成作為吠陀聖典補助文獻之諸經。阿育王歿後,孔雀王朝亦因而失勢。西元前一八○年頃,將軍弗沙蜜多羅(梵 Puṣyamitra)叛上弒君,印度旋又陷於分裂之狀態。 ; (孔雀王朝) Triều vua thời xưa ở Ấn độ trị vì được 137 năm (từ năm 317-180 trước Tây lịch). Năm 327 trước Tây lịch, Đại đế Á lịch sơn đại (Alexandre) người Hi lạp, xâm lược Ấn độ. Thời bấy giờ, vương triều Nan đà (Phạm: Nanda) nước Ma kiệt đà (Phạm: Magadha), xưng bá ở vùng đồng bằng sông Hằng, Bắc Ấn độ. Vua Chiên đà la cấp đa (Phạm:Chandragupta), thừa cơ nổi lên, bình định Bắc Ấn độ, đặt thủ đô ở thành Ba liên phất (Phạm:Pàỉaliputra), nước Ma kiệt đà, sáng lập vương triều Khổng tước (Phạm:Maurya), dựng nên một đại đế quốc trung ương tập quyền thống nhất trong lịch sử Ấn độ. Đến thời vua A dục (Phạm: Azoka) cháu của vua Chiên đà la cấp đa là thời cực thịnh của vương triều này. Về mặt đối ngoại, vua A dục đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước Ai cập, Hi lạp, còn đối nội thì vua dùng Pháp (Phạm: Dharma) làm lí tưởng chính trị để sửa sang việc nước, đồng thời, xây dựng các cơ sở phúc lợi trong nước. Vua A dục qui y Phật giáo nên dưới sự ủng hộ của vua, Phật giáo đã được phổ cập không những trên toàn cõi Ấn độ, mà còn được truyền bá đến vùng Trung á, các nước Tích lan, Miến điện, v.v... Vào thời kì này, giáo đoàn Phật giáo chia làm Thượng tọa bộ (Phạm:Theravàda) và Đại chúng bộ (Phạm: Mahàsaíghika). Vua A dục tuy sùng tín Phật giáo nhưng không hề bài xích các tôn giáo khác, cho nên, dưới chính sách khoan dung của vua, Kì na giáo và Bà la môn giáo cũng dần dần hưng thịnh, phát triển. Sau khi vua A dục băng hà, thế lực của vương triều Khổng tước cũng mất dần. Khoảng năm 180 trước Tây lịch, tướng quân Phất sa mật đa la (Phạm:Puwyamitra) làm phản, giết vua, không bao lâu Ấn độ lại rơi vào tình trạng phân chia.

khổng tước vương tạp thần chú kinh

1377全一卷。又作佛說大金色孔雀王咒經、大孔雀王雜神咒經、大孔雀王神咒經。東晉帛尸黎蜜多羅重譯。收於大正藏第十九冊。內容包括:皈依三寶、發願文、吉祥比丘之故事、佛說咒賊經、法華神咒經、毘沙門天、羅剎女等所說之咒、大涅槃經咒等。本經與唐代義淨所譯之佛說大孔雀咒王經三卷內容略同。本經收於高麗大藏經者,譯者佚名,收於元、明本者,譯者為帛尸黎蜜多羅。〔開元釋教錄卷四、貞元新定釋教目錄卷六〕 ; (孔雀王雜神咒經) Cũng gọi: Phật thuyết đại kim sắc khổng tước vương chú kinh, Đại khổng tước vương tạp thần chú kinh, Đại khổng tước vương chú kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bạch thi lê mật đa la dịch lại vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung bao gồm: Qui y Tam bảo, văn Phát nguyện, sự tích của tỉ khưu Cát tường, kinh Phật thuyết chú tặc, kinh Pháp hoa thần chú, Tì sa môn thiên, La sát nữ chú, Đại niết bàn kinh chú. Kinh này và kinh Phật thuyết đại khổng tước chú vương, 3 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường nội dung hơi giống nhau. Trong bản Đại tạng kinh Cao li, kinh này mất tên người dịch, còn trong các bản Đại tạng đời Nguyên, đời Minh thì dịch giả kinh này là ngài Bạch thi lê mật đa la. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.6].

khổng tướng minh vương

Mahā-mayŪri-vidyā (S)Khổng Tước Vương, Ma ha Ma du lợi La xàTên một vị thiên.

khổng tử

K'ung-tzu (C), K'ung-fu-tzu (C), Confucius (551-479 B.C.E.) Người sáng lập trường phái minh triết dầu tiên của Trung quốc và có một ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống người dân ở các nước Trung quốc, Nhật bản, Triều ti6en, Việt nam, etc... cho mãi đến thế kỷ 20.

khởi

Abhyudaya (S), Rise Phát khởi. ; Utpàda (S). To rise, raise, start, begin; uprising.

khởi chỉ xứ

4322即指廁所。禪林象器箋殿堂門:「起止處者,正屙糞之處也。」毘尼母經卷六(大二四‧八三八中):「上廁有二處,一者起止處,二者用水處。用水處坐起褰衣,一切如起止處無異。」 ; (起止處) Chỉ cho nơi đại tiểu tiện(nhà xí). Môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Khởi chỉ xứ là nơi đại tiện. Kinh Tì ni mẫu quyển 6 (Đại 24, 838 trung), nói: Nhà xí có 2 nơi: Một là Khởi chỉ xứ(nơi đại tiện), hai là Dụng thủy xứ(nơi tiểu tiện). Khi vào Dụng thủy xứ cũng phải vén áo hệt như khi vào Khởi chỉ xứ.

khởi cốt

4324收遺骨安置寢殿之佛事稱為安骨;其後入塔時所行之佛事稱為起骨。〔敕修百丈清規卷六亡僧入塔條〕 ; (起骨) .... . Đặt di cốt của vị tăng đã mất vào trong tháp. Theo điều Vong tăng nhập tháp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6, thì thu nhặt di cốt đặt trong tẩm điện gọi là An cốt; sau đó đưa vào trong tháp gọi là Khởi cốt.

Khởi cổ

(起鼓): bắt đầu đánh trống; đồng nghĩa với khởi canh (起更), tức báo cho biết thuộc canh nào; vì thời xưa người ta thường dùng trống để báo canh. Như trong hồi thứ 97 của Tây Du Ký (西游記) có đoạn: “Tiệm tiệm thiên vãn, thính đắc lâu đầu khởi cổ, hỏa giáp tuần canh (漸漸天晚、聽得樓頭起鼓、火甲巡更, dần dần trời tối, nghe trên đầu lầu gióng trống, lính vệ tuần canh).”

khởi diệt

4324謂事物之生與滅。因緣和合則生起,因緣離散則滅謝。維摩經問疾品(大一四‧五四五上):「應作是念,但以眾法合成此身;起唯法起,滅唯法滅。」 ; Rise and extinction, birth and death, beginning and end. ; (起滅) ..... Sự sinh, diệt của các pháp. Khi nhân duyên hòa hợp thì các pháp sinh khởi, khi nhân duyên li tán thì các pháp hoại diệt. Phẩm Vấn tật kinh Duy ma (Đại 14, 545 thượng), nói: Phải nghĩ như vầy: Thân này là do các pháp hợp thành, khởi chỉ là pháp khởi, mà diệt cũng chỉ là pháp diệt.

khởi giả

4324請參閱 大乘起信論義疏 十六神我之一。外道中執持我見之人,計度自能起後世罪福之業,故稱起者。〔大智度論卷三十五、大乘義章卷六〕 ; (起者) Người chấp chặt ngã kiến, cho rằng chính mình là người có thể khởi động nghiệp tội phúc ở đời sau, cho nên gọi là Khởi giả. Một trong 16 loại thần ngã trong ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. [X. luận Đại trí độ Q.35; Đại thừa nghĩa chương Q.6].

khởi hiển cánh

4325日本日蓮宗之用語。又作起顯終。即謂起因、顯說、終了等。即法華經之本化法門起因於法師品、寶塔品,顯說於壽量品,終於神力品。起顯竟之語,乃是以上三品之約要。(參閱「本跡二門」1965) ; (起顯竟) Cũng gọi Khởi hiển chung. Tiếng dùng của tông Nhật liên Nhật bản. Chỉ cho Khởi nhân, Hiển thuyết và Chung liễu của pháp môn Bản hóa trong kinh Pháp hoa. Tức là pháp môn Bản hóa trong kinh Pháp hoa khởi nhân (bắt đầu) ở phẩm Pháp sư và phẩm Bảo tháp, hiển thuyết (trình bày rõ ràng)ở phẩm Thọ lượng và chung kết ở phẩm Thần lực.

khởi hành

4323由菩提心之中,發起身、口、意三業之行。於身─禮拜恭敬;於口─稱名讚歎,於意─憶念觀察。發起此三業之行,通常有五念門與五正行之說,前者指禮拜、讚歎、作願、觀察、回向等五者,後者指讀誦、觀察、禮拜、稱名、讚歎供養等。若具至誠之心,起身口意三業之行,可於現世得親緣等之利益,而於未來當得往生淨土之願。〔往生禮讚偈、觀無量壽經疏卷四〕 ; (起行) Những hạnh được phát khởi bằng 3 nghiệp thân, miệng, ý. Do tâm bồ đề mà phát khởi các hạnh nghiệp như thân thì lễ bái cung kính, miệng thì xưng niệm danh hiệu và tán thán Phật, ý thì quán xét nhớ nghĩ. Nếu phát khởi 3 hạnh nghiệp thân, miệng, ý với lòng chí thành tha thiết, thì ngay đời hiện tại được nhiều lợi ích và trong vị lai sẽ được sinh về cõi Tịnh độ cực lạc. [X. Vãng sinh lễ tán kệ; Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.4].

khởi hành nhất tâm

4323修起行之時,思念專一,不起妄想之謂,即不起虛妄顛倒之心,以分別諸法之相。(參閱「一心」21) ; (起行一心) Khi tu khởi hạnh, tâm niệm phải chuyên nhất, không khởi vọng tưởng, nghĩa là không khởi tâm hư vọng điên đảo để phân biệt tướng trạng của các pháp. (xt. Nhất Tâm).

khởi khám

4325由宅第送棺木至墓地之謂。起龕過程所行之儀式,稱為起龕佛事;率眾進行起龕佛事者,稱為起龕師。據敕修百丈清規卷六亡僧條所載,於葬儀之當日,遠近鳴報大鐘一○八聲,眾集之後,起龕師拈香說法語,維那唱念誦文。讀誦大悲咒之後,鼓鈸鳴三通以表勸請,至此即可排列出喪,而於行列中唱誦十佛之名直至葬場。 ; (起龕) Đưa quan tài từ nhà đến nơi chôn cất. Nghi thức khởi khám, gọi là Khởi khám Phật sự; người điều khiển việc khởi khám, gọi là Khởi khám sư. Theo điều Vong tăng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6, vào ngày cử hành nghi thức tống táng, đánh 108 tiếng chuông lớn để thông báo xa gần. Sau khi chúng tăng tập họp rồi, vị Khởi khám sư niệm hương, nói pháp ngữ, vị Duy na xướng văn tụng niệm. Sau khi tụng chú Đại bi, đánh 3 hồi trống để bày tỏ sự khuyến thỉnh, sau đó mọi người xếp hàng để di quan; xếp hàng xong, vừa đi vừa niệm danh hiệu Phật cho đến tận nơi chôn cất.

khởi lòng đại bi

Bring forth a heart of great compassion, to.

khởi quán sinh tín

4325此乃世親的淨土論說法之一。指一心觀想淨土的莊嚴美好,從而生出信心。 ; (起觀生信) Một lòng quán tưởng cảnh giới Tịnh độ trang nghiêm đẹp đẽ, từ đó phát sinh tín tâm. Pháp này được nói trong luận Tịnh độ của ngài Thế thân.

khởi sự tâm

4323凡夫所未能去除之心有三,起事心為其一。於四住地所起之煩惱粗強,能發起業事,故稱起事心。此心能障佛之化身。菩薩修習伏結之道,可伏除此心而得化身。〔大乘義章卷十九、大乘法苑義林章卷七本,宗鏡錄卷八十九〕(參閱「三心」532) ; (起事心) Những phiền não thô, mạnh, dấy lên ở Tứ trụ địa, có khả năng phát khởi nghiệp sự, cho nên gọi là Khởi sự tâm. Một trong 3 tâm phàm phu. Tâm này hay làm chướng ngại hóa thân Phật. Bồ tát tu tập chiết phục kết sử thì có thể trừ diệt tâm này. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.19; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7 phần đầu; Tông kính lục Q.89]. (xt. Tam Tâm).

khởi thi quỉ

To resurrect a corpse by demoniacal influence and cause it to kill another person.

khởi thi quỷ

4322又作起屍鬼。行毘陀羅法所用之鬼名。毘陀羅為印度古代之咒法,誦此咒能使死屍起而殺人。〔法華文句卷十下〕(參閱「毘陀羅鬼」3851) ; (起尸鬼) ........ Tên một loài quỉ. Ở Ấn độ thời xưa, có pháp chú gọi là Tì đà la, khi tụng pháp chú này có thể khiến xác chết đứng dậy đi giết người. [X. Pháp hoa văn cú Q.10 hạ]. (xt. Tì Đà La Quỉ).

khởi tháp cung dưỡng

4324建塔以作供養之謂。又作建塔供養。印度自古即有起塔供養之風俗,諸經中亦多次論及起塔供養之功德。佛滅度後,香姓婆羅門將佛舍利分為八份,遮羅頗等諸國人受持後乃起塔供養之。百年後,據云阿育王將所得佛舍利再細分為八萬四千,並建八萬四千寶塔以供養之。我國有關起塔供養之記載甚多,較早者如廣弘明集卷十七所載,仁壽元年(601)以降,隋文帝嘗於諸州建舍利塔。另有「吳越國王錢弘俶敬造八萬四千寶塔 己卯歲記」之記銘,與若干現存的鑄銅寶篋印塔,復於長安草堂之寺跡發現「姚秦三藏法師鳩摩羅什舍利塔」之刻銘。此外,入寂僧之供養塔亦極多,金石萃編中即有多數舍利塔銘,例如東魏天平三年(536)之王方略須彌塔記(卷三十)、北齊河清四年(565)之宋曇思等造塔記(卷三十三)、唐貞元十五年(799)之皇帝降誕日為國建無垢淨光塔銘并序(卷一○四)、南漢大寶六年(963)之西鐵塔銘(卷一二二)等。〔長阿含卷四遊行經、無上依經卷上校量功德品、經律異相卷六〕 ; (起塔供養) Cũng gọi Kiến tháp cúng dường. Xây tháp để cúng dường. Sau khi đức Phật diệt độ, Bà la môn Hương tính đem chia xá lợi của ngài làm 8 phần cho 8 nước. Sau khi nhận được phần xá lợi, các nước mang về xây tháp để thờ. Khoảng 100 năm sau, vua A dục lại đem những phần xá lợi ấy chia nhỏ ra làm 84.000 phần rồi xây cất 84.000 ngôi bảo tháp để cúng dường. Tại Trung quốc, việc xây tháp cúng dường được ghi chép trong sách vở và các văn bia cũng rất nhiều. Cứ theo Quảng hoằng minh tập quyển 17, từ niên hiệu Nhân thọ năm đầu (601), vua Văn đế nhà Tùy đã cho xây tháp xá lợi ở các châu. Đây là tư liệu nói về việc xây tháp sớm nhất ở Trung quốc. Tương truyền, Ngô việt vương Tiền hoằng thúc cũng tạo 84.000 tháp... [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.4; phẩm Giáo lượng công đức trong kinh Vô thượng y Q.thượng; Kinh luật dị tướng Q.6].

khởi tháp lục ý

4324為華嚴經疏卷二十八所舉六種建造佛塔之意義,即:(一)為表人勝,如來為三界之至尊,最勝無比,故建塔以表彰之,令人瞻禮而歸敬。(二)令生淨信,建造佛塔為令一切眾生瞻仰頂禮,而生崇重正信之心。(三)令心歸向,建造佛塔為令一切眾生心有所向,而敬慕歸依。(四)令供養生福,建造佛塔為令一切眾生至心恭敬供養,以植福田。(五)為報恩行願,建造佛塔非為己身之利益,乃為答報四恩(即國王、父母、師友、檀越之恩),而完成無邊之行願。(六)令生福滅罪,建造佛塔非為種植己身之福,乃為令一切眾生凡瞻仰頂禮者,無不生一切福而滅一切罪。 ; (起塔六意) Sáu ý nghĩa của việc xây dựng tháp Phật. Theo kinh Hoa nghiêm quyển 28, việc kiến tạo tháp Phật có 6 ý nghĩa là: 1. Biểu thị sự thù thắng: Đức Như lai là bậc chí tôn trong 3 cõi, không ai sánh kịp, cho nên xây tháp để tượng trưng cho sự chí tôn ấy, khiến mọi người chiêm bái mà phát tâm qui kính. 2. Khiến sinh lòng tin trong sạch: Xây dựng tháp Phật để cho chúng sinh chiêm ngưỡng đính lễ mà sinh tâm chính tín tôn trọng. 3. Khiến sinh tâm hướng về: Kiến tạo tháp Phật là để khiến cho tâm của chúng sinh có chỗ hướng về mà ngưỡng mộ qui y. 4. Khiến cúng dường sinh phúc: Xây dựng tháp Phật để khiến cho chúng sinh dốc lòng cung kính cúng dường, gieo hạt giống thiện vào ruộng phúc. 5. Vì hạnh nguyện báo ân: Kiến tạo tháp Phật không phải vì sự lợi ích của riêng mình, mà vì báo đáp 4 ân (ân cha mẹ, ân thầy bạn, ân nhà nước, ân tín đồ) để hoàn thành hạnh nguyện vô biên. 6. Khiến sinh phúc diệt tội: Xây cất tháp Phật không phải vì phúc lợi của riêng mình, mà cho tất cả chúng sinh chiêm ngưỡng đính lễ được sinh phúc,diệt tội. KHỞI THẾ KINH ........ Kinh, 10 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này nói về nguồn gốc, trạng thái, sự tổ chức và quá trình hoại diệt của thế giới, chia ra 12 phẩm: Diêm phù châu, Uất đàn việt châu, Chuyển luân thánh vương, Địa ngục, Chư long kim sí điểu, A tu la, Tứ thiên vương, Tam thập tam thiên, Đấu chiến, Kiếp trụ, Thế trụ và Tối thắng. Kinh này có tất cả 6 bản dịch, nhưng hiện nay chỉ còn 4 bản, tức ngoài bản kinh này ra còn 3 bản kia là: - Kinh Khởi thế nhân bản, do ngài Đạt ma cấp đa dịch vào đời Tùy. - Kinh Đại lâu thán, do 2 ngài Pháp lập, Pháp cự dịch vào đời Tây Tấn. - Kinh Trường A hàm quyển 18-22, do 2 ngài Phật đà da xá và Trúc phật niệm cùng dịch vào đời Đông Tấn. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.7; Khai nguyên thích giáo lục Q.2, Q.4, Q.7].

khởi thế kinh

4322凡十卷。隋代闍那崛多譯。收於大正藏第一冊。其內容敘述世界之組織、狀態、起源、成壞等過程。分閻浮洲品、鬱單越洲品、轉輪聖王品、地獄品、諸龍金翅鳥品、阿修羅品、四天王品、三十三天品、鬥戰品、劫住品、世住品、最勝品等十二品。本經共有六種譯本,然現存者僅四種,除本經外,餘三者為起世因本經(隋代達磨笈多譯)、大樓炭經(西晉法立、法炬共譯)、長阿含經卷十八至卷二十二(東晉佛陀耶舍、竺佛念共譯)。〔出三藏記集卷二、大唐內典錄卷七、開元釋教錄卷二、卷四、卷七〕

khởi thỉnh

4325又稱起誓。立誓乞求神佛的照鑑與冥護之意,亦含有違背則將受罰之意。將誓文記於紙上稱為起請文。 ; (起請) Cũng gọi: Khởi thệ. Lập thệ nguyện cầu xin Thần, Phật soi xét và ủng hộ; hoặc khi mình làm việc gì sai quấy thì xin nhận chịu trách phạt của các Ngài.

khởi thỉnh văn

4325又作起誓文、起誓狀、誓文、誓紙、誓詞。於神佛之前立誓,且祈請證明,如或違誓,則請責罰。日本佛教界極盛行書寫此類起請文之風氣。 ; (起請文) Cũng gọi: Khởi thệ văn, Khởi thệ trạng, Thệ văn, Thệ chỉ, Thệ từ. Lời văn thệ nguyện được ghi trên giấy, đọc tước Thần, Phật để cầu xin chứng minh, nếu sai lời thề nguyền thì xin nhận sự trách phạt. Loại văn khởi thỉnh này rất thịnh hành trong giới Phật giáo Nhật bản.

khởi tánh

Lakshana (S).

khởi tâm

Xem Móng tâm.

khởi tâm lập hành

4322發起菩提心,修成萬行之意。安樂集卷上(大四七‧一二下):「在此起心立行,願生淨土,此是自力。」即謂欲於今世得見無量壽佛者,應發無上菩提之心,將所修萬行之功德,迴向願生彼國,即得往生。然同集卷下又謂,此心(菩提心)難起,縱令發得此心,終須修信、進、念、戒、定、慧、捨、護法、發願、迴向等十種行,方能進詣菩提。 ; (起心立行) Phát khởi tâm bồ đề, tu tập muôn hạnh. An lạc tập quyển thượng (Đại 47, 12 hạ), nói: Ở ngay nơi này, khởi tâm lập hạnh, nguyện sinh Tịnh độ, đó là tự lực. Tức là nếu muốn ngay đời này được thấy Phật Vô lượng thọ, thì phải phát tâm vô thượng bồ đề, đem công đức tu tập muôn hạnh, hồi hướng nguyện sinh về Tịnh độ, liền được vãng sinh. Nhưng cũng sách trên, quyển hạ, lại nói: Tâm bồ đề khó phát, dù có phát được rồi, cũng phải tu 10 hạnh là: Tín, tiến, niệm, giới, định, tuệ, xả, hộ pháp, phát nguyện và hồi hướng, thì mới có thể tiến đến quả vị Bồ đề.

khởi tâm lập đức

4322發起菩提心而成立功德之意。安樂集卷上(大四七‧一二中):「言易行道者,謂以信佛因緣,願生淨土,起心立德,修諸行業。」 ; (起心立德) Phát khởi tâm bồ đề, tạo lập công đức. An lạc tập quyển thượng (Đại 47, 12 trung), nói: Đạo dễ làm(Dị hành đạo) có nghĩa là đem lòng tin Phật mà nguyện sinh về Tịnh độ, khởi tâm lập đức, tu các hạnh nghiệp.

khởi tín

The uprise or awakening of faith.

khởi tín luận

Śraddhotpada śāstra (S). ; Sraddhotpàda-sàstra (S). Treatise on Awakening of the Faith.

khởi tín luận nghĩa kí huyễn hổ lục

4323請參閱 大乘起信論疏 請參閱 大乘起信論筆削記 請參閱 大乘起信論裂網疏 請參閱 大乘起信論義記 凡五卷。日本華嚴宗僧鳳潭撰。為法藏所撰大乘起信論義記之注疏。大乘起信論之注疏本極多,其中以大乘起信論義記為最重要,然該書其後被宗密會合起信論重新出刊,而於會本中大加增削。鳳潭憤慨於宗密之竄改義記,遂作本書以抨擊之。書中所舉論證,多為起信論之學者所重視。

khởi tín luận nghĩa ký huyễn hổ lục

(起信論義記幻虎錄) Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Phượng đàm thuộc tông Hoa nghiêm Nhật bản soạn. Đây là sách chú sớ bộ Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí của ngài Pháp tạng. Luận Đại thừa khởi tín có rất nhiều bản chú sớ, trong đó, bộ Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí là quan trọng hơn cả. Nhưng sau, vì ngài Tông mật đem hợp chung lại với luận khởi tín sửa đổi và thêm bớt rất nhiều rồi xuất bản, nên ngài Phượng đàm mới soạn bộ sách này để phê phán và kích bác. Những luận chứng trong sách này rất được các học giả nghiên cứu luận Khởi tín xem trọng.

khởi tín luận nhất tâm nhị môn đại ý

4323請參閱 大乘起信論 全一卷。南朝陳代智愷撰。收於卍續藏第七十一冊。為真諦所譯大乘起信論之注疏。智愷曾參與真諦之譯場,故頗能探得起信論之奧旨。本書即以極短之篇幅,闡釋起信論中「一心」、「二門」之大意。一心,指如來藏心;二門,指心真如門、心生滅門,均為大乘佛教中心思想之重要理論。 ; (起信論一心二門大意) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đờiTrần thuộc Nam triều, được thu vào Vạn tục tạng tập 71. Đây là bản chú sớ luận Đại thừa khởi tín do ngài Chân đế dịch. Nội dung sách này giải thích rõ ý chỉ sâu xa của Nhất tâm và Nhị môn trong luận Đại thừa khởi tín. Nhất tâm chỉ cho tâm Như lai tạng. Nhị môn chỉ cho tâm chân như môn và tâm sinh diệt môn. Đây là lí luận quan trọng về tư tưởng trung tâm của Phật giáo Đại thừa.

khởi tín nhị môn

4323又作真生二門。大乘起信論說明眾生之如來藏心時,分為心真如門與心生滅門二門;心真如門係從眾生心之本體方面而說明,心生滅門則從眾生心之現象方面說明之。即:(一)真如之理體不生不滅,不增不減,遠離差別之相,稱為心真如門。(二)心隨緣生滅,生起染淨差別之相,稱為心生滅門。然此二者,非異非一,此乃不生不滅之如來藏心,由無明妄緣之薰染,生起染淨差別之相,而非另有別體;如大海之水,風平則浪靜,風來則水動,動靜雖殊,其體一如。〔大乘義章卷三末〕 ; Two characteristics of mind in the Sraddhotpàda-sàstra, as eternal and phenominal. ; (起信二門) Cũng gọi Chân sinh nhị môn. Chỉ cho 2 môn tâm chân như và tâm sinh diệt được nói trong luận Đại thừa khởi tín. 1. Tâm chân như môn: Môn này đứng về phương diện bản thể của tâm chúng sinh để thuyết minh lí thể của chân như chẳng sinh chẳng diệt, không thêm không bớt, xa lìa tướng sai biệt của các pháp. 2. Tâm sinh diệt môn: Môn này căn cứ vào phương diện hiện tượng của tâm chúng sinh để thuyết minh tâm theo duyên mà sinh diệt, sinh khởi các tướng nhiễm tịnh khác nhau. Nhưng 2 môn này vốn chẳng phải khác chẳng phải một, đây là tâm Như lai tạng không sinh không diệt, chỉ vì huân nhiễm vọng duyên vô minh, mà sinh ra tướng nhiễm tịnh sai biệt, chứ không có thể riêng; giống như nước trong biển cả, hễ gió lặng thì sóng yên, mà gió thổi thì nước động, động tĩnh tuy khác nhau, nhưng thể của nước thì là một. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần cuối].

khởi tử nhân

To raise the newly died to slay an enemy.

khởi tử nhân chú

4322誦咒使新死之屍起立,以殺害所怨者之魔咒,為印度古代之咒法。五分律卷二十六(大二二‧一七四中):「諸比丘學起死人咒,佛言不聽,犯者偷蘭遮。」(參閱「毘陀羅鬼」3851) ; (起死人咒) ........... Chú thuật có năng lực sai khiến tử thi mới chết đứng dậy giết hại kẻ thù, đây là chú pháp của Ấn độ đời xưa. Luật ngũ phần quyển 26 (Đại 22, 174 trung), nói: Các tỉ khưu học chú khiến người chết đứng dậy, đức Phật cấm chỉ và bảo tỉ khưu nào học sẽ phạm tội Thâu lan gia. (xt. Tì Đà La Quỉ).

khởi đan

4324禪林用語。起離自己坐禪之位,引申為禪僧離寺而去。又作抽單、暫暇。禪僧於解夏後,往往起單以赴其他僧堂。此外亦因自身性行不良,或師家不足為其所依者,故起單而去。後世有以起單為請假,乃謬誤之解;叢林中,若有事暫假外出,不超過十五日即回,此稱為請假,若超過十五日,則稱為起單,須再行掛搭之儀方可歸山。〔敕修百丈清規卷七月分須知條、禪林象器箋叢軌門〕 ; (起單) Cũng gọi Trừu đơn, Tạm hạ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Rời khỏi chỗ ngồi thiền của mình; từ ý ấy, Khởi đơn cũng có nghĩa là vị Thiền tăng lìa chùa ra đi. Sau lễ giải hạ(kết thúc 3 tháng an cư), Thiền tăng khởi đơn đến Thiền viện khác. Ngoài ra, hoặc vì mình hạnh kiểm không tốt, hoặc vì vị thầy không đủ tư cách để mình nương dựa, nên khởi đơn đi nơi khác. Đời sau, có người hiểu lầm Khởi đơn là xin phép đi nghỉ. Trong tùng lâm, khi có việc cần xin tạm nghỉ để ra khỏi chùa, không quá 15 ngày, thì gọi là Thỉnh giả(xin tạm nghỉ), còn nếu hơn 15 ngày thì gọi là Khởi đơn. Trong trường hợp này, khi trở về, phải làm lại nghi thức quải đáp, mới được phép ở. [X. điều Nguyệt phần tu tri trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khủng bố

4105梵語 bhaya。「何者應恐怖?」此一問題在南傳經典增支部Ⅱ之Ⅰ中即說是現世之罪(如偷盜他人之物而受王之刑法)。「吾人應恐怖現世之罪報;吾人該恐怖罪報,應養成恐怖罪報之習性,如此,才能從一切罪報中解脫。」上述經義教吾人欲避免犯罪,須預先考慮罪報之恐怖。其後之大乘佛教則認為:罪乃無法避免者,犯罪之後,恐怖之感即接踵而至,若非請求諸佛攝受其恐怖,或將自己絕對投入於一特定人格者之懷抱,令自己進入無我之境界,此外則別無拔除恐怖之法。上述思想之起源,係從藉坐禪修行進入無畏(梵 abhaya)境界之結果而產生。推究原因而言,恐怖乃因愚癡心而生起;心有罣礙,執有我法而患得患失,即無往而不恐怖。經中說恐怖有五種:(一)惡名畏,(二)不活畏,(三)死畏,(四)惡道畏,(五)大眾威德畏。(參閱「五怖畏」1110) ; Xem Sợ hãi.

Khủng 恐

[ja] キョウ、ク kyō, ku ||| (1) Fearful, apprehensive. To fear. Lest. (2) Danger, risk; signs, chance, maybe. => 1. Sợ hãi, e sợ. Sợ. E rằng. 2. Nguy hiểm, liều lĩnh; dấu hiệu, khả năng có thể, có lẽ.

khứ hành

1602指離穢土之行,即為往生淨土而修之各種行持;或指以往生淨土為目的之實踐行為。去,即行。善導將眾生往生諸佛淨土之共通行門,稱為「通去行」;而將往生一佛國土之行,稱為「別去行」。〔觀經疏卷一、卷二(善導)、觀經玄義分觀門義鈔卷三〕 ; (去行) Chỉ cho việc hành trì tu niệm để sinh về Tịnh độ, hoặc chỉ cho hành vi thực tiễn nhằm mục đích vãng sinh Tịnh độ. Khứ tức là hành. Ngài Thiện đạo gọi pháp môn tu hành chung của chúng sinh cầu sinh về Tịnh độ của chư Phật, là Thông khứ hành, còn gọi pháp môn tu hành cầu vãng sinh Tịnh độ của 1 đức Phật là Biệt khứ hành. [X. Quán kinh sớ Q.1, Q.2 (Thiện đạo); Quán kinh huyền nghĩa phần quán môn nghĩa sao Q.3].

khứ lai kim

1602即指過去、未來、現在之三世。與「過現未」一詞同義。經中常以此類用語泛指一切有為諸法生滅變化過程之時間。 ; (去來今) Cùng nghĩa với từ ngữ Quá hiện vị. Chỉ cho 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Trong kinh thường dùng từ ngữ này để chỉ cho quá trình sinh diệt biến hóa của tất cả các pháp hữu vi.

khứ lai tha quốc trần cảnh

1603禪林用語。謂遠離自己之故鄉而流浪他方,禪林中以之比喻捨離自心而向外求佛。 ; (去來他國塵境) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lìa bỏ quê hương cũ của mình mà lưu lạc nơi các phương khác. Trong Thiền lâm, dùng nhóm từ này để chỉ cho những người bỏ tự tâm để tìm cầu Phật bên ngoài.

khứ lai thật hữu tông

1603印度古代外道十六宗之一。又作古來實有宗、去來有實論。即主張過去、未來亦如現在之實有者之外道。大乘法苑義林章卷一(大四五‧二四九下):「去來實有宗,(中略)有去、來世,猶如現在,實有非假。」印度古代六派哲學中之勝論學派及時論外道皆主張此說。小乘佛教中,如說一切有部宗亦主張此說。〔瑜伽師地論卷六、顯揚聖教論卷九〕 ; (去來實有宗) Cũng gọi Cổ lai thực hữu tông, Khứ lai hữu thực luận. Một trong 16 tông phái ngoại đạo ở Ấn độ thời xưa. Tông phái này chủ trương quá khứ, vị lai cũng có thực như hiện tại. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 (Đại 45, 249 hạ), nói: Khứ lai thực hữu tông (...) cho rằng đời quá khứ, đời vị lai, giống như hiện tại, là có thực, chứ không phải giả. Trong 6 phái triết học của Ấn độ cổ đại, thì học phái Thắng luận và ngoại đạo Thời luận đều chủ trương thuyết này. Còn trong Phật giáo Tiểu thừa thì Thuyết nhất thiết hữu bộ cũng chủ trương thuyết này. [X. luận Du già sư địa Q.6; luận Hiển dương thánh giáo Q.9].

Khứ lai 去來

[ja] コライ korai ||| (1) To go away (gati). (2) Going and coming (gamana-āgamana). (3) Past and future (gata-āgata-parīkṣā). (4) To call at someone's home. => Có các nghĩa sau: 1.Ra đi (s: gati). 2. Đi và đến (s: gamana-āgamana). 3. Quá khứ và tương lai (s: gata-āgata-parīkṣā). 4. Ghé thăm nhà ai.

khứ lịch tạc thực

1603日本佛教用語。謂去年之曆與昨日之食。係日本日蓮宗對天台宗教理之評語。謂同是根據法華經而立宗,然天台宗僅能救度像法之世,無法救度今日末法之世,使世人蒙受利益,故有如去曆昨食之無用。〔上野殿御返事(日蓮)、觀心本尊得意鈔、法華初心成佛鈔〕 ; (去曆昨食) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Lịch năm ngoái và thức ăn ngày hôm. Đây là lời của tông Nhật liên Nhật bản dùng để phê bình giáo lí của tông Thiên thai. Tông Nhật liên cho rằng giáo pháp của tông Thiên thai chỉ cứu độ được chúng sinh ở đời tượng pháp, chứ không cứu độ được chúng sinh ở đời mạt pháp như ngày nay, để cho thế gian hiện tại được lợi ích, cho nên mới ví giáo pháp của tông Thiên thai như tấm lịch cũ và thức ăn hôm qua, là những thứ vô dụng. [X. Thượng dã điện ngự phản sự (Nhật liên); Quán tâm bản tôn đắc ý sao; Pháp hoa sơ tâm thành Phật sao].

khứ niêm giải phọc

1603禪林用語。謂去除身上之粘縛;於禪林中,轉指解去煩惱執著,以達自在無礙之境。碧巖錄三教老人序(大四八‧一三九下):「若見水即海,認指作月,不特大慧憂之,而圜悟又將為之去粘解縛矣!」 ; (去粘解縛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cởi bỏ những vướng mắc, ràng buộc của thân. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để chỉ cho sự diệt trừ các phiền não, chấp trước, hầu đạt đến cảnh giới tự tại, vô ngại. Bài tựa trong Bích nham lục (Đại 48, 139 hạ), nói: Nếu người thấy nước cho là biển, nhận ngón tay là mặt trăng, thì đó không phải là nỗi lo riêng của ngài Đại tuệ, đến ngài Viên ngộ cũng sẽ vì họ mà giải trừ sự vướng mắc, ràng buộc vậy.

khứ thử bất viễn

1601意即阿彌陀佛去此不遠;言極樂淨土雖離此西去十萬億佛土,然由法味觀念上觀之,則去此座不遠。觀無量壽經(大一二‧三四一下):「爾時世尊告韋提希:『汝今知不?阿彌陀佛去此不遠,汝當繫念諦觀彼國淨業成者。』」據懷感之釋淨土群疑論卷六所舉,去此不遠之義有十:(一)佛力不遠,謂若得佛力之加持,即可直見淨土。(二) 方便不遠,謂若觀想方便之定善觀,即可直見淨土。(三)應現不遠,謂阿彌陀佛即住立空中,若聞除苦惱法之聲,則即刻應化顯現。(四)自心不遠,謂若了達是心是佛、是心作佛之理,則理境相融,淨土即自心。(五)守護不遠,謂佛常至修行者之處。(六)有緣不遠,謂有緣眾生皆得見佛。(七)本願不遠,謂依彌陀之本願力,憶想者必得成就。(八)來迎不遠,謂臨終時,佛、菩薩來迎行人,故於娑婆世界即可見彌陀。(九)往生不遠,謂於一彈指間即可往生。(十)不放逸不遠,謂專心修行而不放逸,即為近佛。此外,善導亦作三種解說,觀經疏卷二(大三七‧二五九上):「言阿彌陀佛不遠者,(中略)即有其三,一明分齊不遠,從此超過十萬億剎,即是彌陀之國;二明道里雖遙,去時一念即到;三明韋提等及未來有緣眾生,注心觀念,定境相應,行人自然常見。」〔觀無量壽經義疏卷本〕 ; (去此不遠) ... ... ... .. Phật A di đà ở cách đây không xa. Trong kinh nói Tịnh độ cực lạc ở phương tây cách thế giới Sa bà này 10 vạn ức cõi Phật, nhưng về mặt pháp vị quán niệm thì không xa. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 341 hạ), ghi: Bấy giờ đức Thế tôn bảo bà Vi đề hi: Bà có biết không, Phật A di đà cách đây không xa, bà nên chuyên tâm quán tưởng nước kia thì tịnh nghiệp sẽ thành. Theo luận thích Tịnh độ quần nghi quyển 6 của ngài Hoài cảm, thì Khứ thử bất viễn có 10 nghĩa: 1. Phật lực bất viễn: Nếu được Phật lực gia trì thì có thể thấy ngay cõi Tịnh độ. 2. Phương tiện bất viễn: Nếu dùng định thiện làm phương tiện quán tưởng, thì có thể thấy ngay Tịnh độ. 3. Ứng hiện bất viễn: Đức Phật A di đà trụ ở giữa hư không, nếu nghe được lời cầu xin diệt trừ khổ não thì Ngài hiện thân trong khoảng khắc. 4. Tự tâm bất viễn: Nếu rõ suốt tâm là Phật, thì cảnh tức Tịnh độ, tâm cảnh dung thông nhau, Tịnh độ tức là tự tâm. 5. Thủ hộ bất viễn: Phật thường đến chỗ người tu hành. 6. Hữu duyên bất viễn: Chúng sinh có duyên đều được thấy Phật. 7. Bản nguyện bất viễn: Nương theo sức bản nguyện của Phật A di đà mà nhớ tưởng thì sẽ được thành tựu. 8. Lai nghinh bất viễn: Lúc lâm chung, Phật và Bồ tát đến đón, cho nên người tu hành có thể được thấy Phật A di đà ngay tại thế giới Sa bà. 9. Vãng sinh bất viễn: Trong khoảng khảy móng tay liền được sinh về Tịnh độ. 10. Bất phóng dật bất viễn: Chuyên tâm tu hành không buông lơi, thì tức là gần Phật. [X. Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ phần đầu].

khứ tại

(k. ng) Trợ từ cuối câu, biểu thị hành động tất sẽ phát sinh, mang tính báo trước sự việc sắp xảy ra. NĐHN q. 11 ghi: »這 漢 向 後 亂 作 去 在。 – [i]Gã này về sau ắt sẽ làm loạn[/i]«. Thông thường »khứ tại« được đặt ở cuối câu và dùng cặp với trợ từ biểu thị thời gian như: dĩ hậu (về sau), tha thời hậu nhật (mai kia mốt nọ), tam thập niên hậu (30 năm sau), hướng hậu (về sau)…

khứ tựu

① Hành vi cử chỉ, ý tưởng tình niệm, hàm nghĩa chê bai. [i]Vân Môn quảng lục[/i] q. thượng ghi: »更 有 一 般 底、如 等 閑 相 似、聚 頭。 舉 得 箇 古 人 話、識 性 記 持 妄 想 卜 度、道 我 會 佛 法 了 也。 只 管 說 葛 藤、取 性 過 日。 更 嫌 不 稱 意。 千 鄉 萬 里 拋 卻 父 母 師 資、作 這 去 就。 這 箇 打 野 榸 漢。 有 什 麼 死 急 行 腳 去! – [i]Có một bọn giống như kẻ rảnh rang, dụm đầu lặp lại lời người xưa, dùng ý thức ghi nhớ, vọng tưởng đoán mò, nói ta đã hội Phật pháp rồi; cứ nói dây dưa, tùy thích qua ngày. Có kẻ cho rằng chưa phải, nên đi ngàn muôn dặm bỏ cả cha mẹ sư trưởng để thực hiện ý tưởng này. Cái gã du phương này, sao mà nôn nóng hành cước đến thế![/i]«. ② Quy củ, lễ độ. [i]Văn Ích ngữ lục[/i] ghi: »有 一 行 者 隨 法 師 入 佛 殿。 行 者 向 佛 而 唾、 法 師 云: 行 者 少 去 就、 何 以 唾 佛? 行 者 云: 將 無 佛 處 來 與 某 甲 唾。 法 師 無 對。 – [i]Có một hành giả theo Pháp sư vào điện Phật. Hành giả nhổ nước bọt vào tượng Phật. Pháp sư quở: Hành giả thiếu lễ độ, sao nhổ nhằm Phật. Hành giả đáp: Chỗ nào không có Phật hãy đem lại đây cho tôi nhổ. Pháp sư không đáp được[/i]«.

Khứ tựu 去就

[ja] キョシュウ kyoshū ||| (1) Course of action. (2) To stop and go, advance and retreat. Doing and not doing. => Có hai nghĩa: 1. Tiến trình hành động. 2. Dừng và đi, tiến và dừng. Làm và nghỉ.

khứ uế chú

1603又作去穢真言。入廁前後所唱之真言有五,其中去穢咒為「唵 跋折羅曩伽陀 娑訶」。〔洞上伽藍雜記〕 ; (去穢咒) ........ Cũng gọi Khử uế chân ngôn. Câu chú trừ khử sự ô uế được đọc sau khi vào nhà xí. Văn chú là: Án bạt chiết la nẵng già đà sa ha. [X. Động thượng già lam tạp kí].

khứ uế phục

1603為袈裟之別名。袈裟具有眾多功德,能令眾生去除婬、怒、癡等塵垢,令無瑕疵,故稱去穢服。〔大淨法門經〕 ; (去穢服) ........ Tên khác của áo ca sa. Ca sa có rất nhiều công đức, có khả năng khiến chúng sinh trừ bỏ sự nhớp nhúa của trần tục như dâm, nộ, si, v.v... cho nên gọi là Khử uế phục. [X. kinh Đại tịnh pháp môn].

Khứ 去

[ja] コ, キョ ko, kyo ||| (1) To leave, to go away. To pass. To separate from; be free from. (2) The past; the past tense. (3) One of the four tones in spoken Chinese. (4) To throw away, discard. (5) In Chan language, 去 often serves to strengthen the meaning of the verb, or give the verb an imperative tone. => Có các nghĩa sau: 1. Rời khỏi, đi khỏi. Đi qua. Tách rời ra; thoát khỏi. 2. Quá khứ, thời quá khứ. 3. Một trong 4 âm của tiếng Trung Hoa . 4. Liệng bỏ, thải hồi. 5. Trong Thiền ngữ, khứ thường giúp làm mạnh thêm nghĩa của động từ, hoặc tạo cho động từ có ý mệnh lệnh.

khứu giác

Ghayāna-kicca (S), Gandrendriya (S), Organ of smell.

khử niêm giải phược

Gỡ niêm mở trói. Thiền tông mượn từ này làm thuật ngữ để chỉ cho việc dẹp trừ phiền não chấp trước nhằm đạt đến cảnh giới tự tại vô ngại. Bài tựa Tam Giáo Lão Nhân trong BNL (Đại 48, 139 hạ) ghi: »若 見 水 即 海、 認 指 作 月、 不 特 大 慧 憂 之、 而 圓 悟 又 將 爲 之 去 黏 解 縛 矣! – [i]Nếu thấy nước bảo là biển, cho ngón tay là mặt trăng, thì chẳng riêng Đại Huệ âu lo, mà Viên Ngộ còn phải gỡ niêm mở trói cho họ![/i]«.

ki bà đa

Revata (S)Ly bà đa1- Ly bà đa, tinh tú 2- Tên một vị thanh văn, đệ tử đức Phật. 3- Tên một vị Thượng tọa thành Hoa thị thời vua A dục. 4- Tên một vị tăng nước Ô trường (Udyana), Bắc Ấn.

Ki-la Ki-la-pa

S: kilakilapa; »Người mồm to bị đuổi«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không biết sống trong thế kỉ nào.|Ông thuộc giai cấp thấp kém trong thành Bhi-ra-li-ra, là người không nói lời dịu dàng, hay khích bác gây sự. Ðiều này xuất phát từ khẩu Nghiệp của các đời trước. Người ta ai cũng ghét ông và vì thế ông rút về sống trên một bãi thiêu xác. Nơi đó ông gặp một Du-già sư và vị này sẵn lòng chỉ cho ông một Nghi quỹ (s: sādhana) để tu tập. Ông được đưa vào những yếu chỉ bí mật của Bí mật tập hội (s: guhya-samāja-tantra) và được dạy phép quán tưởng như sau:|Lời mình hay lời người,|tất cả là âm thanh;|hãy tinh tiến quán tưởng,|mọi âm không hề khác.|Rồi hãy quán thêm rằng,|lời mình từ tính Không,|mênh mông như bầu trời,|đến như ngàn tiếng sấm,|rồi rơi xuống như hoa.|Nhờ chuyên tâm quán tưởng, ông không còn thấy âm thanh của người khác đối với mình hằn học nữa. Rồi ông mất luôn âm thanh của tiếng nói mình trong khoảng bao la bất tận của tính Không. Tất cả mọi hiện tượng và thanh âm hiện lên đối với ông dưới dạng Ðại thủ ấn và ông đạt giải thoát. Kệ ngộ đạo của ông như sau:|Trong bầu trời Pháp giới,|sức diệu dụng thanh tịnh,|biến ra ngàn tiếng sấm.|Toàn thế giới hiện tượng,|trước hư vọng giả dối,|nay trở thành Tỉnh giác:|Tâm thức đạt  Ba thân

Ki-ra Pa-la-pa

S: kirapālapa; »Người chinh phục hối hận«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào. Có sách cho rằng ông là đệ tử của Lu-i-pa (s: lūipa). Ðời sống ông có vẻ giống cuộc đời vua A-dục.|Ông là nhà vua trị vì vương quốc Gra-ha-ra. Ông cho quân đi chiếm đánh và cướp bóc các nước lân bang, thế nhưng ông không hề biết nỗi khổ của chiến tranh. Ngày nọ trong cuộc chiến với một nước gần đó, thấy tận mắt chiến tranh, ông tỏ lòng hối hận. Ông đem phân phát của cải cho dân nghèo và xin tu tập với một vị Du-già sư.|Vị Du-già sư dạy ông Quy y tam bảo, thụ giới Bồ Tát và trau dồi bốn tâm vô lượng (Bốn phạm trú). Ông tinh tiến xin học tập một pháp mà chỉ trong đời này đạt Phật quả. Vị Du-già sư bèn hướng dẫn ông vào Cha-kra sam-va-ra tan-tra, truyền lực và dạy ông phép thiền tạo tác và thiền thành tựu. Vì ông còn vướng đến chuyện chiến chinh, Du-già sư dạy ông như sau:|Chúng sinh trong ba cõi,|ví như đội binh mã.|Trong thức vô biên xứ,|sinh vô số anh hùng,|thống nhất chúng làm một,|đánh tan quân giặc cướp.|Ca khúc ca khải hoàn,|trên đỉnh cao của Tâm.|Cần phải quán như vậy.|Sau mười hai năm, nhà vua đắc đạo, đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Ngày nọ, các nàng hoàng hậu và quần thần thấy hào quang chiếu rực, họ biết ông đã thành tựu viên mãn và cúng lạy ông. Ông khuyên:|Hãy ham muốn mang lại,|cho tất cả hữu tình,|cả bốn vô lượng tâm.|Hãy giận dữ chống lại,|mỗi một tên ma quỷ,|quấy rối trong tâm thức.|Ông sống thêm 700 năm nữa để giáo hoá. Bài ca chứng đạo của ông như sau:|Lúc nào còn vô minh,|ta còn bị trói buộc,|trong cái Ta và Người.|Lúc chớp nhoáng chứng ngộ,|mọi tư tưởng gãy đổ,|khi đó »Phật« cũng là,|danh từ vô ý nghĩa.|Khi chứng được tâm thức,|trong khoảng không vắng lặng,|thì Thật tại trở thành,|bất định, vô cấu trúc.

kim

Hiranya (S). Gold, any precious metal, semen. Kim means metal, gold, money. ; 1) Kim Tinh: Sukra (skt)—Venus. 2) Vàng hay quý kim: Hiranya (skt)—Y Lại Nã—Gold or any precious metal. 3) Bây giờ: Now—The present—At present. 4) Màu sặc sỡ: Suvarna (skt)—Tô Phạt Thích—Of a good or beautiful colour—Golden—Yellow.

kim ba

The moonlight.

kim biện

1222(?~1697)清代僧。番禺(廣州)人,俗姓麥。字樂說。嘗從梁之佩學科舉應試之文,頗有文名。其後之佩入道,每以梵典禪理導之,忽有所省,因隨行腳僧至匡廬,參天然硚禪師,從之剃染,順治十七年(1660)受具足戒於雷峰。及今釋開丹露禪院,迎硚公開創法席,師匡維甚力,遂嗣其法。康熙七年(1668),分座丹露。迨硚公示寂,始主海雲寺,未久遷至海幢寺,後再移駐福州長慶寺。以康熙三十六年入寂,年壽不詳。有四會語錄,梵網經註疏等行世。〔海雲禪藻集卷一〕 ; (今辯) (?- 1697) Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Thanh, người Phiên ngung (Quảng châu), họ Mạch, tự Nhạo thuyết. Sư từng theo học ông Lương chi bội và rất nổi tiếng về văn chương. Về sau, ông Chi bội nghiên cứu về đạo Phật, thường đem lí Thiền và kinh Phật dạy cho sư, nhờ đó sư được tỉnh ngộ. Sau sư theo 1 vị tăng hành cước đến Khuông lư, tham yết thiền sư Thiên nhiên thị, xin xuất gia. Năm Thuận trị 17 (1660), sư thụ giới Cụ túc ở Lôi phong. Khi ngài Kim thích mở Thiền viện Đan lộ, rước thiền sư Thiên nhiên thị về khai pháp tòa, sư cũng theo thầy tận lực phú trì và về sau được nối pháp. Năm Khang hi thứ 7 (1668) sư được thiền sư Thiên nhiên thị phân tòa thuyết pháp ở Thiền viện Đan lộ. Sau khi ngài Thiên nhiên thị nhập tịch, sư trụ trì chùa Hải vân, không bao lâu, sư dời đến ở chùa Hải chàng, sau lại về chùa Trường khánh ở Phúc châu. Sư tịch năm Khang hi 36 (1697). Sư có các tác phẩm: Tứ hội ngữ lục, Phạm võng kinh chú sớ.

kim bà la hoa

3582又作金波羅華。據佛祖統紀卷五載,釋尊在靈山會上接受梵王所獻之金色波羅花,於拈花之際,唯獨迦葉破顏微笑,在無言之中悟知佛意。有關金婆羅華,爲何種植物不詳。一說爲瞻蔔,有梵語 svarṇa 之異稱,即金色華。婆羅,係略去首字「S」之語,即梵語、漢語並舉,故稱金婆羅華。另一說指波羅奢樹,波羅奢譯作赤色樹,其花赤色,有梵語 kanaka 之名,即金之意。而此婆羅,即略去「奢」字之語,含有金色之波羅奢華之意。 ; (金婆羅華) Cũng gọi Kim ba la hoa. Tên 1 thứ hoa mà Phạm vương dâng cúng đức Phật trên hội Linh sơn. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 5, thì khi đức Thế tôn đưa cành hoa Kim bà la lên, giữa đại chúng chỉ có một mình ngài Ca diếp mỉm cười, ngộ được ý chỉ của Phật. Về hoa Kim bà la không rõ thuộc loại thực vật nào. Có thuyết cho nó là hoa Chiêm bặc (Phạm:Svarịa), Hán dịch là Kim sắc hoa(hoa mầu vàng ròng). Như vậy, Kim bà hoa là tên gọi do ghép chữ Hán (Kim) và tiếng Phạm (Bà la, phiên âm của Svarịa lược bỏ chữ S ở đầu). Ngoài ra, có thuyết nói Kim bà la là chỉ cho cây Ba la xa (Hán dịch: Xích sắc thụ, nghĩa là cây có hoa mầu đỏ). Tên tiếng Phạm của Ba la xa là Kanaka, nghĩa là vàng (Kim). Như vậy, Kim bà la tức là cây Ba la xa(lược bớt chữ Xa ở cuối) có hoa mầu vàng (Kim).

kim bình sế thiêm

3585清代對確定西藏佛教大活佛轉世(呼畢勒罕)之抽籤法。高宗乾隆五十七年(1792),爲使達賴、班禪等活佛轉世問題不致發生流弊或糾紛,特頒發兩金瓶(金奔巴瓶),一置北京雍和宮,一置拉薩大昭寺,凡在理藩院註冊之西藏佛教蒙、藏大活佛,如章嘉呼圖克圖、哲布尊丹巴、達賴、班禪等轉世時,均須將所尋得各靈童之姓名及生年月日,用滿、漢、藏文並繕於象牙籤上,置金瓶中,由理藩院尚書在雍和宮或由駐藏大臣在大昭寺監督抽籤決定,此後遂成定制。〔世界佛教通史(聖嚴)〕 ; (金瓶掣簽) Cách rút thẻ để xác định Phật sống chuyển thế (Hô tất lặc hãn) của Phật giáo Tây tạng và Mông cổ. Để tránh cho vấn đề các Phật sống Đạt lại, Ban thiền chuyển thế khỏi phát sinh những tệ nạn và tranh chấp, nên vào năm Càn long 57 (1792) đời Cao tông nhà Thanh, nhà vua ban phát 2 kim bình (bình bằng vàng), 1 bình đặt ở cung Ung hòa tại Bắc kinh và 1 bình đặt tại chùa Đại chiêu ở Lạp tát (Lhasa), kinh đô của Tây tạng. Khi các Phật sống của Phật giáo Mông cổ, Tây tạng như: Chương gia hô đồ khắc đồ, Triết bố tôn đan ba, Đạt lại, Ban thiền, v.v... chuyển thế, thì tên họ được ghi vào sổ ở viện Lí phiên(viện trông nom các việc ở nước thuộc địa). Sau đó, muốn tìm xem linh đồng(trẻ thiêng) nào mới sinh ra là tiền thân của các Phật sống nói trên, thì phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng và năm sinh của những linh đồng tìm được, bằng tiếng Mãn châu, Hán, Tây tạng, trên các tấm thẻ(tiêm)ngà voi được để vào trong kim bình, rồi cho quan Thượng thư viện Lí phiên ở Ung hòa tại Bắc kinh, hoặc do quan Đại thần ở chùa Đại chiêu tại Tây tạng, giám sát việc rút thăm để quyết định linh đồng thừa kế, việc này về sau trở thành 1 định chế. [X. Thế giới Phật giáo thông sử (Thánh nghiêm)].

Kim Bắc Hồng Xuyên

(今北洪川, Imakita Kōsen, 1816-1892): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào giữa hai thời đại Giang Hộ và Minh Trị, húy Tông Ôn (宗溫), đạo hiệu Hồng Xuyên (洪川), hiệu Thương Long Quật (蒼龍窟), Hư Chu Tử (虛舟子), xuất thân vùng Nhiếp Duật (攝津, Settsu, thuộc Osaka), con trai thứ ba của Kim Bắc Thiện Tạng (今北善藏). Năm lên 14 tuổi, ông theo học Nho Giáo với Đằng Trạch Đông Hạt (藤澤東畡). Đến năm 1840, ông xuất gia, theo hầu Thừa Diễn (承演) ở Tướng Quốc Tự (相國寺, Sōkoku-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), và đến năm 1842 thì kế thừa dòng pháp của vị nầy. Năm 1847, ông đến tham Thiền với Nghi Sơn Thiện Lai (儀山善來) ở Tào Nguyên Tự (曹源寺) vùng Cương Sơn (岡山, Okayama), Bị Tiền (僃前, Bizen), rồi đến năm 1859 thì chuyển đến sống ở Vĩnh Hưng Tự (永興寺). Vào năm 1875, ông đến trú tại Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), tuyên xướng chủ trương Nho Thiền Nhất Trí, và khuyến hóa tu tập Thiền cho tầng lớp cư sĩ tại gia. Dòng pháp từ của ông có Thích Tông Diễn (釋宗演). Trước tác của ông có Thiền Hải Nhất Lan (禪海一瀾), Thương Long Quảng Lục (蒼龍廣錄), Khuyến Thiện Dư Lục (勸善余錄), Ẩm Đề Hồ (飲醍醐), v.v.

Kim bảng

(金榜): bảng vàng, thường đi chung với kim bảng đề danh (金榜題名) có nghĩ là bảng vàng ghi tên người thi đỗ. Như trong bài thơ Dung Trai Tứ Bút (容齋四筆), phần Đắc Ý Thất Ý Thi (得意失意詩) của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống có câu: “Động phòng hoa chúc dạ, kim bảng quải danh thì (洞房花燭夜、金榜掛名時, đêm động phòng hoa chúc, lúc bảng vàng nêu tên).” Hay trong bài Lý Viên Tùng Thoại (履園叢話), phần Khoa Đệ (科第), Cầu Thiêm (求籤) của Tiền Vịnh (錢泳, 1759-1844) nhà Thanh cũng có câu: “Hoài dựng sanh nam dĩ hữu kỳ, hậu lai kim bảng quải danh thì (懷孕生男已有期、後來金榜掛名時, mang thai sanh trai đã có kỳ, mai sau bảng vàng nêu tên khi).”

kim bề

3589又作金錍、金籌、金箄。指金所作之箸。密教之灌頂時,阿闍梨以之加持受法者之眼,以表去除其無智之翳膜。金篦原爲古代印度之醫師用以抉除盲人眼膜之工具,後爲密教所引用。其形狀類似獨股杵而兩端圓頭。〔北本大般涅槃經卷八、法華經玄義卷八下、金剛錍論、涅槃經會疏卷八、大日經義釋演祕鈔卷七〕 ; (金篦) Cũng gọi Kim tì, Kim trù, Kim bế. Chiếc đũa bằng vàng, có hình dáng giống như cây chày 1 chĩa 2 đầu tròn. K i m bề vốn là 1 dụng cụ của người thầy thuốc ở Ấn độ đời xưa, dùng để lột bỏ màng mắt của người mù. Về sau, Mật giáo cũng sử dụng, khi cử hành lễ Quán đính, vị A xà lê dùng Kim bề chú nguyện vào mắt của người thụ pháp, biểu thị ý nghĩa trừ bỏ màng tối tăm của hành giả. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8 hạ; luận Kim cương ti; Niết bàn kinh hội sớ Q.8; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn bí sao Q.7].

kim cang

Dorje (T), Vajra (S ; Vajra (skt)—Diamond or adamantine—Biểu tượng năng lực tâm linh vô thượng được so sánh với viên ngọc quý nhất, kim cương với sự trong suốt và sáng ngời của nó, các màu khác được phản chiếu trong ấy, mà nó vẫn giữ được tính không màu sắc của nó. Nó có thể cắt đứt được mọi vật rắn khác, trong khi một một thứ gì có thể cắt đứt được nó—The symbol of the highest spiritual power, which is compared with the gem of supreme value, the diamond, in whose purity and radiance other hues are reflected while it remains colorless, and which can cut every other material, itself is being cut by nothing. (A) Nghĩa của Kim Cang—The meanings of Vajra: 1) Kim Cang chùy của vua Trời Đế Thích: The thunderbolt of Indra, often called the diamond club. 2) Biểu tượng của mặt trời: A sun symbol. 3) Một trong thất bảo: One of the seven precious stones (saptaratna). (B) Ba đặc tánh của Kim Cang—Three special natures of diamond: 1) Cứng rắn: Solid—Firm. 2) Chiếu sáng: Bright—It has brilliance. 3) Sắc bén: Sharp—It is piercing—Trong Phật giáo, kim cang có thể cắt đứt mọi phiền não, khiến cho chúng sanh có được đại trí để tiến đến tâm Bồ đề—In Buddism, vajra can cut off all afflictions of living beings so that they can open great wisdom and advance to bodhi-mind.

kim cang bát nhã ba la mật kinh

Xem Kim Cang Bát nhã Ba la mật Kinh.

kim cang bát nhã ba la mật đa

Vajracchedika Prajnaparamita—See Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa in Appendix A (6).

kim cang bát nhã bộ

Ser chin (T).

kim cang bát nhã luận

Vajraccedikā-prajāpāramitā śāstra (S)Năng đoạn Kim cang bát nhã Ba la mật kinhMột trong 5 bộ luận (Du già luận, Phân biệt Du già luận, Biện trung luận, Kim Cang bát nhã luận) Bồ tát Di lặc từ cõi trời Đâu suất giáng xuống giảng cho ngài Vo Trước.

kim cang băng ga la

Vajrapingala (S)Tên một vị thiên.

kim cang bạo ác bồ tát

Xem Kim cang Nha Bồ tát.

kim cang bảo bồ tát

Vajraratna (S)Kim Cang Thai Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang bảo giới

Nhất Tâm Kim Cang Bảo Giới hay Đại Thừa giới trình bày trong Kinh Phạm Võng—The Mahayana rules according to the Brahma Net sutra. ** For more information, please see Bốn Mươi Tám Giới Khinh.

kim cang bảo tạng

Vajraratnakośa (S)Tên một vị Bồ tát. ; Theo Kinh Niết Bàn, Bảo Tạng Kim Cang gồm Niết Bàn và Bồ Đề tâm, là nguồn tâm của mọi chúng sanh—According to the Nirvana Sutra, the “Diamond” treasury, i.e. nirvana and the pure bodhi-mind, as the source of the mind of all sentient beings.

kim cang bảo đới

Vajramadika (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang bất hoại

1) Tánh chất bất hoại của kim cương: The indestructibility of the diamond. 2) Kim Cang thân bất hoại của Đức Phật: The diamond indestructible body of the Buddha.

kim cang bất không bồ tát

Xem Kim Cang Nghiệp Bồ tát.

kim cang bồ tát

There are several Vajra-bodhisattvas: 1) Kim Cang Nhân Bồ Tát: Vajrahetu bodhisattva. 2) Kim cang Thủ Bồ Tát: Vajrapani bodhisattva. 3) Kim Cang Bảo Bồ Tát: Vajraratna bodhisattva. 4) Kim Cang Tạng Bồ Tát: Vajragarbha bodhisattva. 5) Kim Cang Châm Bồ Tát: Vajrasuci bodhisattva. 6) Kim Cang Tướng Bồ Tát: Vajrasena bodhisattva. 7) Kim Cang Tác Bồ Tát: Vajrapasa bodhisattva. 8) Kim Cang Câu Bồ Tát: Vajrankusa bodhisattva. 9) Kim Cang Hương Bồ Tát: Vajradhupa bohisattva. 10) Kim Cang Quang Bồ Tát: Vajratejah bodhisattva. 11) Kim Cang Pháp Bồ Tát: Vajradharma bodhisattva. 12) Kim Cang Lợi Bồ Tát: Vajratiksna bodhisattva.

kim cang bộ

Vajrapani (skt)—Nhóm Kim Cang trong Kim Cang Giới hay Thai Tạng Giới (các vị tôn tay cầm chày Kim Cang nêu cao trí của Đức Như Lai, 13 vị tôn trong Kim Cang Thủ bên trái của Đức Đại Nhật Như Lai) —Groups of the same in the Vajradhatu or Garbhadhatu mandalas.

kim cang bộ bồ tát

Vajrapani-bodhisattva (skt)—Kim Cang Bộ Tát Đỏa—Vị Bồ Tát trong Kim Cang Bộ như Bồ tát Phổ Hiền—Vajrapani-bodhisattva, especially P'u-Hsien (Samantabhadra).

kim cang ca bồ tát

Vajragita (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang cam lộ

Vajramrita (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang châm

Vajrasena (skt)—Kim kim cang—The straight vajra.

kim cang châm bồ tát

Xem Trang Nghiêm Kinh luận.

kim cang chúng

Quyến thuộc của chư Kim Cang Thần—The retinue of the Vajradevas.

kim cang chử

Xem Kim cang. ; Chày Kim Cang rất bén—The Vajra or thunderbolt. It is generally sharp as such, but has various other forms. 1) Một loại vũ khí của binh lính Ấn Độ: The Vajra is also interpreted as a weapon of Indian soldier. 2) Mật giáo và những tông phái khác dùng Kim Cang Chử như một biểu tượng của trí tuệ và sức mạnh để chặt đứt phiền não và khắc phục ma chướng: It is employed by the esoteric sects, and others, as a symbol of wisdom and power over illusion and evil spirits. 3) Độc Cổ Kim Cang Chữ: Khi thẳng thì Kim Cang Chử được gọi là “Độc Cổ”—When straight as a sceptre it is one limbed vajra. 4) Tam Cổ Kim Cang Chử: Khi có ba chia thì gọi là “tam cổ”—When it has three prongs, it is called “three-pronged” vajra. 5) Ngũ Cổ Kim Cang Chử: Khi có năm chia thì gọi là “ngũ cổ”—When it has five prongs, it is called “five-pronged” vajra. 6) Cửu Cổ Kim Cang Chử: Khi có chín chia thì gọi là “cửu cổ”—When it has nine prongs, it is called “nine-pronged” vajra.

kim cang cung bồ tát

Xem Kim Cang ái Bồ tát.

kim cang cát la

Vajrakala (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang câu

Xem Kim Cang Diện thiên.

kim cang câu bồ tát

Vajrankuśah (S)Kim Cang Diện thiên, Kim Cang Trư Đầu thiên, Trư Đầu thiênTên một vị Bồ tát.

kim cang câu nữ bồ tát

Vajrankusi (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang câu vương

The Vajra Hook King.

kim cang cú chân tủy tập tế sơ

Vajrapadaśara saṃgraha panjika (S)Tên một bộ luận kinh.

kim cang diên thiên

Vajramukha (S), Vajrakuśah (S)Kim Cang Trư diện thiên, Kim Cang Trư đầu thiên, Kim cang CâuTên một vị thiênXem Kim Cang Câu Bồ tát.

kim cang diệt định

Xem Kim Cang dụ định. ; Kim cang diệt định là giai đoạn sau cùng của Bồ Tát với trí tuệ bất hoại—Diamond meditation, the last stage of a bodhisattva, characterized by firm and indestructible knowledge, penetrating all reality.

kim cang diệu hoa bồ tát

Xem Kim Cang Hoa Bồ tát.

kim cang dạ xoa

Vajrayakṣa (S)Phẩn nộ vương; Kim Cang Dạ xoa Minh VươngTên một vị thiên. Có 3 mặt, 4 tay, trụ phương bắc. ; Vajrayaksa (skt). 1) Vị Thần Hộ Pháp thường được đặt ngay cổng của các chùa. Kim Cang Dạ Xoa hay Phẫn nộ Minh Vương, là một trong năm vị Minh Vương, người hộ trì Phật pháp, nhưng lại là kẻ thù của ma quỷ. Vị nầy có ba mặt sáu tay hay một mặt bốn tay, trụ tại phương Bắc, là vị Phẫn Nộ Tôn Bất Không Thành Tựu Như Lai ở phương Bắc trong ngũ trí Như Lai (ngũ Phật) của Kim Cang Giới—The guardian spirits represented on the temple gates. One of the five kings of hells or messengers and manifestation of Vairocana. The fierce maharaja as an opponent of evil, he is one of the guardians of Buddhism. He has either three faces and six arms, or one face and four arms. He is a fierce guardian of the north in the region of Amoghasiddhi in the Vajradhatu—See Ngũ Phật. 2) Vị Bồ Tát có răng nanh: A Bodhisattva with the fangs.

kim cang dạ xoa minh vương

Xem Kim Cang Dạ xoa.

kim cang dụ định

Vajrapama-samādhi (S)Kim Cang Tam muội, Kim Cang diệt định. ; Vajra-meditation—See Kim Cang Định and Kim Cang Tam Muội.

kim cang dụ định bồ tát

Vajropama-samādhi (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang giác bồ tát

Xem Kim Cang Lợi Bồ tát.

kim cang giác hoa thị nữ bồ tát

Xem Kim Cang Hoa Bồ tát.

kim cang giới

Vajradhātu (S)Kim cang giới mạn đà laMạn đà la này của Ngũ trí Như lai như sau: - trung ương: đức Đại nhật Như lai, tượng trưng pháp giới thể tánh trí - phương đông: đức A súc Bất động Như lai, tương trưng đại viên cảnh trí - phương tây: đức Vô lượng quang A di đà Như lai, tương trưng diệu quan sát trí. - phương bắc: đức Bất Không Thành Tựu Như lai, tương trưng thành sở tác trí. - phương nam: đức Bảo Sanh Như lai, tương trưng bình đẳng tánh trí. ; Vajradhatu (skt). • Kim Cang giới là một phần tử của vũ trụ; nó là TRÍ ĐỨC bất hoại của Đức Tỳ Lô Giá Na; nó khởi lên từ trong Thai Tạng Giới—The Diamond or Vajra realm, element of the universe; it is the wisdom of Vairocana in its indestructibility and activity; it arises from the Garbhadhatu (the womb of all things). • Kim Cang Giới được diễn dịch là “Trí” giới—Vajradhatu is interpreted as the realm of intellection. • Kim cang giới tiêu biểu cho thế giới tâm linh của sự toàn giác: The Vajradhatu represents the spiritual world of complete enlightenment. • Mật Giáo coi Kim Cang Giới là Pháp Thân, trong khi Hiển Giáo thì coi nó như là Hóa Thân: The esoteric Dharmakaya doctrine as contrasted with the exoteric Nirnamakaya. • Kimg Cang Giới là yếu tố thứ sáu của tâm, nó biểu hiệu bằng một hình tam giác mũi chúi xuống và mặt trăng tròn tượng trưng cho trí tuệ hay sự hiểu biết—It is the sixth element of “Conscious mind,” and is symbolized by a triangle with the point downwards and by the full moon, which represents “wisdom” or “understanding.” • Kim Cang Giới tương ứng với “quả.”—Vajradhatu corresponds to fruit or effect. • Kim Cang giới là vũ trụ được nhìn như là sự thể hiện của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na mà hình ảnh của Ngài được phản chiếu trong tâm của mọi chúng sanh: Vajradhatu is the universe viewed as the manifestation of Vairocana Buddha whose image is reflected in the heart of every being.

kim cang giới mạn đà la

Vajradhātu-maṇḍala (S)Xem Kim cang giới.

kim cang giới ngũ bộ

Five divisions of the Vajradhatu represented by five Dhyani-Buddhas: 1) Trung Đài Đại Nhựt Như Lai: Vairocana in the center. 2) Đông Độ A Súc Bệ Phật: Aksobhya in the east. 3) Nam Phương Bảo Sanh Phật: Ratnasambhava in the south. 4) Tây Phương A Di Đà Phật: Amitabha in the west. 5) Bắc Phương Bất Không Thành Tựu: Amoghasiddhi or Sakyamuni in the north. ** For more information, please see Ngũ Phật

kim cang giới thai tạng giới

Vajradhatu and Garbhadhatu (skt). (I) Kim Cang Giới: Vajradhatu (skt)—See Kim Cang Giới. (II) Thai Tạng Giới: Garbhadhatu (skt). 1) Thai Tạng Giới là kho chứa mọi lý luận của trí: Garbhadhatu is the womb or store of the Vairocana reason or principles of the wisdom. 2) Nơi tồn chứa tất cả mọi LÝ LUẬN của Tỳ Lô Giá Na bất hoại trí—The womb or store of the Vairocana reason or principles of the Vairocana's indestructible wisdom—The womb or store of all things. 3) Thai Tạng Giới được diễn dịch như là chất liệu căn bản của Kim Cang Giới—Garbhadhatu is interpreted as the substance underlying the Vajradhatu (realm of intellection). 4) Thai Tạng Giới tương ứng với nhân: Garbhadhatu corresponds to the cause.

kim cang hiệp chưởng ấn

Vajrapradama-mudrā (S).

kim cang hoa bồ tát

Vajrapuspa (S)Kim Cang Diệu Hoa Bồ tát, Kim Cang Giác Hoa Thị Nữ Bồ tát, Kim Cang Hoa Bồ tát, Kim Cang Tán Bồ tát, Diệu Hoa Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang hoan hỷ bồ tát

Xem Kim cang Tiếu Bồ tát.

kim cang huy bồ tát

Xem Kim Cang Quang Bồ tát.

kim cang huệ

Trí tuệ thấu rõ lý của thực tướng mà phá vỡ chư tướng hay trí tuệ ảo giác—Diamond-wisdom, which by its reality overcomes all illusory knowledge.

kim cang hy bồ tát

Vajralasi (S)Kim Cang Hy Hý Đại Thiên Nữ, Vajra-Lasye (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang hy hý đại thiên nữ

Xem Kim Cang Hy Bồ tát.

kim cang hương bồ tát

Vajradhupa (S)Kim Cang Thiên Hương Bồ tát, Kim Cang Phần Hương Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang hống ca la

Vajrahumkara (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang hộ bồ tát

Vị Bồ Tát bảo hộ che chở cho con người với lòng đại bi như một chiếc nón sắt bao bọc—The Bodhisattva Vajra pala, who protects men like a helmet and surrounds them like mail by his great pity.

kim cang hỷ bồ tát

Vajraśadhu (S)Kim Cang Xưng Bồ tát, Kim Cang Thiên Tai Bồ tát, Hoan Hỷ Vương Bồ tát, Ma ha Duyệt ý Bồ tát, Diệu Tát Đỏa Thượng thủ Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang hỷ duyệt

Xem Kế Lị Cát La Bồ tát.

kim cang khí trượng

Vajrayudha (S)Tên một vị thiên.

kim cang khẩu

Vajramukhi (S). ; Lời nói hay giáo thuyết xuất ra từ kim khẩu của Phật bền vững như kim cương bất hoại—Diamond mouth (of a Buddha)—The diamond-like firmness of the Buddha doctrine.

kim cang kim sắc

Vajrahera (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang kinh

Xem Kim Cang Bát nhã Ba la mật Kinh. ; Vajracchedika-prajnaparamita-sutra—Kim cang Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Kinh, tóm lược cô đọng của Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, trước tiên được dịch sang Hoa ngữ bởi ngài Cưu Ma La Thập, sau đó có nhiều bản dịch khác—The Diamond Sutra, a condensation of the Prajnaparamita; first translated into Chinese Kumarjiva, later by others. ** For more information, please see Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa.

kim cang la đồng tử

Xem Căn Yết La đồng tử.

kim cang linh

Vajraghanta (S)Tên một vị Bồ tát. ; Chuông Kim Cang có công dụng làm tăng sự chú tâm và phấn chấn người nghe—The diamond or vajra bell for attracting the attention of the objects of worship, and stimulating all who hear it.

kim cang linh bồ tát

Vajravesa (S)Biến Nhập Bồ tát, Nhiếp Nhập Bồ tát, Triệu Nhập Bồ tátTên một vị Bồ tát. ; Vajra-ghanta (skt)—Vị Bồ Tát tay cầm chuông trong Kim Cang Mạn Đồ La—A Bodhisattva holding a bell in the Vajradhatu mandala.

kim cang liên hoa bồ tát

Xem Kim Cang Pháp Bồ tát.

kim cang luân

Xem Kim Cang Lợi. ; 1) Kim Cang Pháp Luân: Bánh xe Pháp Kim cang—The diamond or vajra wheel. 2) Kim Cang Thừa: Vajrayana (skt)—Symbolical of the esoteric sects. 3) Kim luân của tầng đất thấp nhất: The lowest of the circles beneath the earth.

kim cang luân sơn

See Kim Cang Vi Sơn.

kim cang luân tọa

See Đại Nhân Đà La Tọa.

kim cang lợi

Vajracakra (S)Kim Cang LuânTên một vị Bồ tát.

kim cang lợi bồ tát

Vajra-tiksna (S)Kim Cang Thọ Trì Bồ tát, Ma ha diễn Bồ tát, Ma ha Khí trượng Bồ tát, Kim Cang Thậm thâm Bồ tát, Kim Cang Giác Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang lực

Sức mạnh như kim cương, sức mạnh không ai chống nổi—Vajra-power—Irresistible strength.

kim cang lực sĩ

Xem Kim Cang ThủXem Kim Cang Thủ Bồ tát. ; See Kim Cang Thần, Kim Cang Dạ Xoa, and Kim Cang Mật Tích.

kim cang minh vương bồ tát

Xem Minh Vương Chí Cao Bồ tát.

kim cang môn

Cổng Kim Cang trong Thai Tạng Mạn Đồ La—The diamond door of the Garbhadhatu mandala.

kim cang mạn

Xem Kim cang Thực thiên.

kim cang mạn đồ la

See Kim Cang Giới, and Kim cang Giới Ngũ Bộ.

Kim Cang Mật Tích

(s: Guhyapāda-vajra, 金剛密跡): còn gọi là Mật Tích Kim Cang (密跡金剛), Mật Tích Lực Sĩ (密跡力士), Kim Cang Thủ Dược Xoa (金剛手藥叉), Kim Cang Lực Sĩ (金剛力士), Kim Cang Mật Tích Đại Quỷ Thần Vương (金剛密跡大鬼神王); là loại quỷ thần có thần lực, thuộc thần thủ hộ của Phật Giáo, là một trong 20 vị trời, do Tỳ Sa Môn Thiên (s: Vaiśravaṇa, p: Vessavaṇa, 毘沙門天) thống quản. Nguyên lai vị này là thị giả của Tỳ Nữu Thiên (s: Viṣṇu, 毘紐天). Vị trí của Mật Tích Kim Cang thấp hơn Đế Thích Thiên và Tỳ Sa Môn Thiên, hiện hình tướng giận dữ, tay cầm Chày Kim Cang (s: vajra, 金剛杵, Kim Cang Chử); thống lãnh 500 Kim Cang Lực Sĩ (s: Vajradhāra, 金剛力士, thần Dạ Xoa), chủ yếu phòng thủ cửa ra vào cõi trời. Vị này cư trú tại Khoáng Dã Thành (曠野城, tức A La Tỳ Quốc [s: Alāvī, p: Ālavī, 阿羅毗國]); sau khi đức Thích Tôn thành đạo, thường theo hầu bên Ngài, chịu trách nhiệm bảo vệ Phật, hàng phục ngoại đạo cũng như quỷ thần. Phật Giáo Đại Thừa tôn thờ Mật Tích Kim Cang như là Bồ Tát hóa thân. Tương truyền, trong thời quá khứ, vị này có tên là Thái Tử Pháp Ý (法意), từng thệ nguyện bảo vệ cho ngàn vị huynh trưởng, cho đến khi nào những người này thành Phật mới thôi. Một trong những huynh trưởng đó là Thái Tử Pháp Niệm (法念), tức là Phạm Thiên. Nhân vì bảo hộ cho đức Phật lâu dài, Phật Giáo thời kỳ đầu cũng tín phụng, Mật Tích Kim Cang đã lãnh thọ nhiều giáo pháp từ Ngài. Mật Tông kính ngưỡng Mật Tích Kim Cang là hóa thân của Bồ Tát Kim Cang Thủ (s: Vajra-pāṇi, Vajra-dhara, 金剛手). Hình tượng vị này thường đứng thủ hộ hai bên phải trái ngay cổng tự viện Phật Giáo, vị mở miệng (dạng A [阿]) và vị ngậm miệng (dạng Hồng [吽]), ở trần với gân cốt rắn chắc nỗi cộm, hung dữ. Trong Thiên Thủ Quan Âm Tạo Thứ Đệ Pháp Nghi Quỹ (千手觀音造次第法儀軌, Taishō Vol. 20, No. 1068) có đoạn rằng: “Mật Tích Kim Cang Sĩ, xích hồng sắc cụ tam nhãn, hữu trì Kim Cang Chử, tả thủ quyền an yêu (密跡金剛士、赤紅色具三眼、右持金剛杵、左手拳安腰, Mật Tích Kim Cang Sĩ, màu đỏ hồng đủ ba mắt, tay phải cầm Chày Kim Cang, tay trái nắm chặt để ngang lưng).” Hay trong Phật Nhập Niết Bàn Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Ai Luyến Kinh (佛入涅槃密跡金剛力士哀戀經, Taishō Vol. 12, No. 394) lại có đoạn rằng: “Mâu Ni Thế Tôn tại Câu Thi Na Thành Ta La lâm gian, Bắc thủ nhi ngọa, sơ nhập Niết Bàn thời, Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ, kiến Phật diệt độ bi ai áo não (牟尼世尊在拘尸那城娑羅林間、北首而臥、初入涅槃時、密跡金剛力士、見佛滅度悲哀懊惱, đức Mâu Ni Thế Tôn tại Thành Câu Thi Na, trong rừng Ta La, nằm xoay mặt về hướng Bắc, khi mới nhập Niết Bàn, Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ, thấy Phật diệt độ thì buồn rầu áo não).”

kim cang mật tích

Xem Kim Cang ThủXem Kim Cang Thủ Bồ tát. ; Mật Tích Kim Cang—Mật Tích Lực Sĩ—Kim Cang Lực Sĩ—Kim Cang Thủ—Chấp Kim Cang—Những vị tay cầm chày kim cang thể hiện đại uy ủng hộ Phật pháp. Đức Đại Nhật Như Lai lấy các vị Kim Cang Mật Tích nầy làm nội quyến; lấy các vị Phổ Hiền, Văn Thù làm đại quyến hay ngoại quyến. Cũng như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lấy các vị Thanh Văn như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên…, làm nội quyến, lấy các vị Bồ Tát làm đại quyến—The deva-guardians of the secrets of Vairocana, his inner or personal group of guardians in contrast with the outer or major group of P'u-Hsien, Manjusri, etc. Similarly, Sariputra, or Maudgalyayana, the sravakas, etc., are the inner guardians of Sakyamuni, the Bodhisattvas being the major group.

kim cang nghiệp bồ tát

Vajra-karman (S)Kim Cang Tỳ Thủ Bồ tát, Kim Cang Yết ma Bồ tát, Kim Cang Bất Không Bồ tát, Thiện Biến Nhất Xứ Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang ngữ bồ tát

Vajrabhāṣā (S)Vô Ngôn Bồ tát, Kim Cang Niệm Tụng Bồ tát, Năng Thọ Tất Địa Bồ tát, Kim Cang Thượng Tất Địa Bồ tát, Kim Cang Ngữ ngôn Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang ngữ ngôn

See Kim Cang Niệm Tụng.

kim cang ngữ ngôn bồ tát

Xem Kim Cang Ngữ Bồ tát.

kim cang nha bồ tát

Vajradamstra (S)Kim Cang Tồi Phục Bồ tát, Ma ha Phương tiện Bồ tát, Thậm Khả Bố Úy Bồ tát, Kim Cang Thượng Bồ tát, Kim Cang Bạo ác Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang nhi

Kani-krodha (S)Kim Cang Đồng TửTên một vị thiên.

kim cang nhật bồ tát

Xem Kim Cang Quang Bồ tát.

kim cang niệm tụng

Kim cang Ngữ Ngôn—Niệm thầm—Silent repetition.

kim cang niệm tụng bồ tát

Xem Kim Cang Ngữ Bồ tát.

kim cang nữ sử

Vajraduti (S)Tên một vị thiên.

kim cang oai đức bồ tát

Xem Kim Cang Quang Bồ tát.

kim cang phan

Vajraketu (skt)—Cờ treo trên cột đầu rồng—A flag hung to a pole with a dragon's head.

kim cang phan bồ tát

Vajraketu Bodhisattva (skt)—Vị Bồ Tát cầm cờ, một trong 16 vị Bồ Tát trong nhóm Kim Cang Giới—The flag-bearer, one of the sixteen in the Vajradhatu group.

kim cang phong

Vajranila (S)Tên một vị thiên.

kim cang phong lâu các nhất thiết du già du kỳ kinh

Vajrasekkhara-vimana-sarva-yogāyoni sŪtra (S)Du già Du kỳ kinh, Du kỳ kinhTên một bộ kinh.

kim cang pháp bồ tát

Vajradharma (S)Kim Cang Nhãn Bồ tát, Kim Cang Liên Hoa Bồ tát, Thiện Thanh Tịnh Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang pháp giới cung

Cung điện của Thai Tạng Giới, nơi trụ của Đức Đại Nhật Như Lai (kim cương là thực tướng của Như Lai, pháp giới là trí thể của thực tướng. Pháp thân của Đức Đại Nhật Như Lai trụ ở trí thể của thực tướng)—The palace or shrine of Vairocana in the Garbhadhatu.

kim cang phần hương bồ tát

Xem Kim Cang Hương Bồ tát.

kim cang phật

Vajra-buddha (skt)—Đức Đại Nhật Như Lai, có lúc chỉ Đức Thích Ca Mâu Ni như là hóa thân của chân lý, trí tuệ và thanh tịnh—Vairocana, the Sun-Buddha; sometimes applied to Sakyamuni as embodiment of the Truth, of Wisdom, and of Purity.

kim cang phật tử

Con của Kim Cang Phật hay con của Đức Đại Nhật Như Lai, từ dùng để chỉ những người mới được làm phép gia nhập vào Mật Giáo—Son of the Vajra-buddha, i.e. of Vairocana, a term applied to those newly baptized into the esoteric sect.

kim cang quang

Vajraprabhā (S)Tên một vị thiên.

kim cang quang bồ tát

Vajra-tejas (S)Kim Cang Nhật Bồ tát, Kim Cang Quang Minh Bồ tát, Kim Cang Oai Đức Bồ tát, Tối Thắng Quang Bồ tát, Ma ha Quang Diệm Bồ tát, Kim Cang Huy Bồ tát, Tối Thắng Quang Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang quang minh bồ tát

Xem Kim Cang Quang Bồ tát.

kim cang quyền

Vajramusti (S)Tên một vị thiên. ; Nắm tay Kim Cang hay hai tay nắm lại và để ngay trước ngực (có bốn loại quyền: nắm tay thông thường, để ngón cái nằm thẳng, đặt ngón cái vào lòng bàn tay, nắm tay lại với nhau)—Vajra-fist—The hands doubled together on the breast.

kim cang quyền bồ tát

Một trong những vị Bồ Tát trong nhóm Kim Cang—One of the Bodhisattvas in the Diamond group.

kim cang quán

Phép Kim Cang quán là phép quán xuyên qua chân lý—The diamond insight or vision which penetrates into reality.

kim cang quân đồ lợi

Vajrakundali (S).

kim cang sách bồ tát

Xem Kim Cang Tác Bồ tát.

kim cang sát

Vajraksetra (skt)—Tên gọi các chùa hay tự viện—Buddhist monastery or building.

kim cang sư

Vajra-guru (S)Những tu sĩ Mật tông chứng đắc và hiện hoá thân để cứu độ chúng sanh.

kim cang tam muội

Xem Kim cang định. ; Vajravimbopama (skt)—Tam muội thông suốt các pháp giống như Phật tánh chân như. Đây là loại tam muội cao nhất mà người tu Phật có thể đạt được. Nhờ tam muội nầy mà người tu có thể đoạn diệt cái hình thức vi tế nhất của phiền não—A samadhi on the idea that all things are of the same Buddha-nature. This is the highest samadhi attainable by the Buddhist yogin who by this destroys the subtlest form of the klesa. ** For more information, please see Kim Cang Định.

kim cang thai bồ tát

Xem Kim Cang Bảo Bồ tátXem Kim cang tạng Bồ tát.

kim cang thiên

Vajragoda (S)Tên một vị Bồ tát. ; Vị Trời hộ pháp trong nhóm Kim Cang Giới—The vajra-deva in the Vajradhatu group.

kim cang thiên hương bồ tát

Xem Kim Cang Hương Bồ tát.

kim cang thiên tai bồ tát

Xem Kim Cang Hỷ Bồ tát.

kim cang thuấn noa

Vajrachinna (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang thuỷ bồ tát

Vajradaka (S)Kim Cang Thệ Thuỷ Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang thân

xem thân kim cang. ; Kiên Thân (thân kiên cố)—Chân Thân (thân chân thật)—Thân kim cang bất hoại của Phật—Golden body—The diamond body, the indestructible body of Buddha.

kim cang thê bồ tát

Xem Kim Cang ái Bồ tát.

kim cang thôn phục

Vajrabhaksani (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang thương kiệt la bồ tát

Vajra-sṛnkhala (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang thượng bồ tát

Xem Kim cang Nha Bồ tát.

kim cang thượng tất địa bồ tát

Xem Kim Cang Ngữ Bồ tát.

kim cang thần

Xem Kim Cang Trì Bồ tát. ; 1) Vị Thần hộ pháp (bảo hộ chư Tăng)—The guardian spirits of the Buddhist order. 2) Tượng hộ pháp lớn nơi cổng các tự viện: The large idols at the gate (entrance) of Buddhist monasteries. ** For more information, please see Kim Cang Thủ, Kim Cang Dạ Xoa, and Kim Cang Mật Tích.

kim cang thậm thâm bồ tát

Xem Kim Cang Lợi Bồ tát.

kim cang thể

Thân thể bền vững như kim cương, nói về công đức của Phật thân (thân của Như Lai là thể kim cương. Mọi thứ ác đều đã cắt đứt, mọi điều vui sướng đều đã huân tập)—The diamond body, that of Buddha and his merit.

kim cang thệ thuỷ bồ tát

Xem Kim Cang Thuỷ Bồ tát.

kim cang thọ trì bồ tát

Xem Kim Cang Lợi Bồ tát.

kim cang thủ

Xem Kim Cang Tát Đỏa. ; Vajrapani (skt)— 1) Vị Thần tay cầm Kim Cang Chùy: A holder (protector) of the vajra. 2) Hình ảnh hay dấu hiệu Kim Cang Chùy: Any image or symbol of a Vajra. ** For more information, please see Đại Thắng Kim Cang and Kim Cang Mật Tích.

kim cang thủ bồ phật

Vajirapāṇi (S).

kim cang thủ bồ tát

Vajrapāni (S), Channa Dorje (T), Vajirapāṇi (P)Chấp Kim cang Bồ tát, Bí Mật Chủ Bồ tát, Kim Cang Thủ Dược Xoa Tướng, Kim Cang Lực sĩ, Kim Cang Mật tích, Chấp Kim cang, Chấp Kim cang thần, Mật Tích Lực sĩ, Kim Cang Tát đõaVị thần tay cầm dùi kim cang hộ vệ Phật pháp.

kim cang thủ dược xoa tướng

Xem Kim Cang Thủ Bồ tát.

kim cang thủ trì kim cang bồ tát

Vajrahasta-vajradhāra (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang thủy

Vajrodaka (S)Thệ thủyTên một vị thiên. - Thệ thủy: Loại nước thơm, trong sạch mà hành giả Mật giáo uống lúc thọ phép quán đảnh, tiêu biểu cho thệ nguyện không lui sụt tâm bồ đề. ; Nước Kim Cương, tên một thứ nước mà người thọ giới phải uống khi làm nghi thức quán đảnh trong Mật Giáo—Diamond or Vajra-water, drunk by a person who receives the esoteric baptismal rite.

kim cang thừa

Tantrayāna (S), dorje tek pa (T), Vajrayāna (S), Diamond WayChân ngôn giáo. ; Vajrayana (skt)—Tên khác của tông phái Chân Ngôn, giáo pháp sắc bén như kim cương. Kim Cang Thừa thường được gọi đơn giản là Phật Giáo Tây Tạng và nó được chia ra làm bốn tông phái chính: Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa và Gelugpa—The Diamond Vehicle, another name of the Shingon. The Vajrayana is simply often called Tibetan Buddhism, and it is divided into four main sects: Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa and Gelugpa. 1) Nyingmapa: Giáo phái Nyingmapa là giáo phái cổ nhất của Phật giáo Tây Tạng, được ngài Liên Hoa Sinh hay Đạo sư Rinpoche sáng lập vào thế kỷ thứ 8 dưới triều vua Trisong Detsen: The Nyingmapa sect is the oldest Tibetan Buddhism, founded by Padmasambhava or Guru Rinpoche in the 8th century under the reign of King Trisong Detsen (742-797). 2) Kagyupa: Phái Kagyupa được thành lập bởi Marpa Chokyi Lodoe, một dịch giả Tây Tạng nổi tiếng vào thế kỷ 11 và vị đại đệ tử của ngài là ngài Milarepa vào thế kỷ thứ 12: The Kagyupa sect was founded by Marpa Chokyi Lodoe (1012-1099), a famous Tibetan translator in the 11th century and his outstanding disciple Milarepa (1040-1123) in the 12th century. 3) Sakyapa: Phái Sakyapa được vị dịch giả Tây Tạng là Drogmi Sakya Yeshe sáng lập vào thế kỷ thứ 11: The Sakyapa sect was founded by the Tibetan translator Drogmi Sakya Yeshe (992-1074) in the 11th century. 4) Gelugpa: Phái Gelugpa là phái trẻ nhất và đông nhất trong các phái Tây Tạng, được ngài Tông Khách Ba hay Je Rinpoche sáng lập vào thế kỷ thứ 14: The Gelugpa sect, the youngest and largest among the schools of Tibetan Buddhism, was founded by Thongkhapa (1357-1419) or Je Rinpoche in the 14th century.

kim cang thực thiên

Vajramala(h) (S)Kim cang Ẩm thực thiên, Nghiêm Kế Đại tướng, Man Tỳ Na Dạ Ca Bồ tát, Kim cang Tên một vị thiên.

kim cang tiếu bồ tát

Vajrahasa (S)Ma ha Tiếu Bồ tát, Ma ha Hy Hữu Bồ tát, Kim Cang Hoan Hỷ Bồ tát, Lạc Sanh Hoan Hỷ Bồ tát, Kim Cang Vi Tiếu Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang tiễn bồ tát

Xem Dục Kim cang Bồ tát.

kim cang toà

Xem Kim cang tọa.

kim cang tràng bồ tát

Gagana-gaja (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang trì bồ tát

Vajradhāra (P), Dorje Chang (T)Chấp Kim Cang thần, Kim Cang Thần, Kim Cang Lực Sĩ The name of the dharmakaya Buddha. Many of the teachings of the Kagyu lineage came from Vajradhara.

Kim Cang Trí

(s: Vajrabodhi, j: Kongōchi, 金剛智, 671-741): con thứ 3 của vua Iśanavarma miền Trung Ấn, xuất gia ở tu viện Nālandā (娜爛陀寺, Na Lan Đà Tự), học cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Đến năm 31 tuổi, ông được Bồ Tát Long Trí (龍智) truyền trao cho Mật Giáo thuộc hệ Kim Cang Đảnh Kinh (金剛頂經) tại Nam Ấn; sau đó, ông đi qua Tích Lan, Mathura và đến Trung Quốc bằng đường biển. Tại Trường An (長安) và Lạc Dương (洛陽), ông chuyên tâm truyền bá Mật Giáo. Ông có dịch bộ Lược Xuất Niệm Tụng Kinh (略出念誦經) 4 quyển thuộc loại Kim Cang Đảnh Kinh, dùng chú pháp của Mật Giáo như phép cầu mưa, cho nên được triều đình rất kính phục. Ông là người có công trong việc làm cho Mật Giáo cắm sâu gốc rễ tại Trung Quốc dưới thời nhà Đường. Ông được kính ngưỡng như là vị tổ phú pháp thứ 5 và tổ truyền trì thứ 3 của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản.

kim cang trí

Vajrabodhi (S)Bạt nhựt la Bồ đề, Kim Cang Trí tam TạngĐệ tử ngài Long Trí Bồ tát. Xem Nagabodhi Xem Kim Cang tâm. ; 1) For more information, please see Tự Giác Thánh Trí. 3) Kim Cang Trí Pháp Sư—Dharma Master Vajrabodhi: • Tên của một vị sư người Tây Ấn, đến Trung Quốc vào khoảng năm 619 sau Tây Lịch, dưới thời nhà Đường; người ta nói ông chính là người đầu tiên giới thiệu Du Già Luận và là sơ tổ của Mật Tông tại Trung Quốc, nhưng có thuyết lại cho rằng chính A Mục Khư Bạt Triết La mới chính là Sơ Tổ Mật Tông Trung Quốc—Name of an Indian monk who came to China around 619 A.D., during the T'ang dynasty; he is said to have introduced the Yogacara system and founded the esoteric school, but this is attributed to Amoghavajra. • Kim Cương Trí (Vajrabodhi 663-723): Ông là người Nam Ấn, học đạo tại Na Lan Đà. Năm 15 tuổi ông sang Tây Ấn và học tập Nhân Minh Luận trong bốn năm với Pháp Xứng (Dharmakirti), nhưng trở về Na Lan Đà để thọ đại giới. Trong sáu năm, ông chuyên học Luật (Vinaya) và trung Quán Luận (Madhyamika) với Santabodhi, ba năm kế đó ông nghiên cứu Du Già Luận (Yogacara) của Vô Trước, Duy Thức Luận (Vijnaptimatra) của Thế Thân và Biện Trung Biên Luận (Madhyanta-vibhanga) của An Huệ (Sthiramati) với Jinabhadra tati Ca Tỳ La Vệ, vùng Bắc Ấn. Rồi bảy năm sau nghiên cứu Kim Cang Đảnh (Vajra-sekhara) và các kinh Mật giáo khác với Long Trí (Nagabodhi) ở Nam Ấn. Sau cùng, ông đáp thuyền theo đường Nam Hải đến Lạc Dương vào năm 720. Ông dịch thuật nhiều kinh điển quan trọng của Mật giáo, như Kim Cang Đảnh, vân vân. Năm 741, trong lúc ở Trường An, ông được phép trở về Ấn Độ nhưng mất trên đường về Lạc Dương: Vajrabodhi came from South India, became a novice at Nalanda. At the age of fifteen he went to West India and studied logic for four years under Dharmakirti, but came again to Nalanda where he received full ordination at twenty. For six years he devoted himself to the study of Discipline (Vinaya) text and the Middle Doctrine (Madhyamika) under Santabodhi; for three years he studied the Yogacara by Asanga, the Vijnaptimatra by Vasubandhu and the Madhyanta-vibhanga by Sthiramati under Jinabhadra, at Kapilavastu, North India; and for seven years he studied the Diamond Head (Vajra-sekhara) and other mystical texts under Nagabodhi, in South India. At last, he sailed to the southern sea and reached Lo-Yang, China, in 720. He translated several important mystical texts, such as the Vajra-sekhara. In 741, while in Ch'ang-An, he obtained permission to return to India, but on his way he died in Lo-Yang.

kim cang trí tam tạng

Xem Kim Cang Trí. ; Vajrabodhi (skt)—Bạt Viết La Bồ Đề—See Kim Cang Trí (2).

kim cang trí đăng bồ tát

Xem Kim Cang Đăng Bồ tátXem Kim Cang Đăng Bồ tát.

kim cang trư diện thiên

Xem Kim Cang Diện thiên.

kim cang trư đầu thiên

Xem Kim Cang Câu Bồ tát Xem Kim Cang Diện thiên.

kim cang trượng

See Kim Cang Chử.

kim cang tuyến

VajrasŪtra (S)Chỉ ngũ sắc (trắng, đỏ, vàng, xanh đen; năm màu tượng trưng năm trí của năm đức Phật; còn tượng trưng cho năm pháp: tín, tấn, niệm, định huệ, quán).

kim cang tuệ

Diamond wisdom—See Kim Cang Huệ.

kim cang tác

Vajrapasa (skt)—Dây thòng lọng kim cang trong tay của Bất Động Minh Vương—The diamond lasso or noose in the hand of the subduer of demons (Arya-achlanatha-raja) and others.

kim cang tác bồ tát

Vajrapasah (S)Kim Cang Sách Bồ tátTên một vị Bồ tát. ; Kim Cang Tác Bồ Tát trong Kim cang Giới Mạn Đồ La, người mang lưới từ bi quấn lấy tâm hồn của chúng sanh hữu tình—Vajrapasa-bodhisattva in the Vajradhatu mandala, who carries the snare of compassion to bind the souls of the living.

kim cang tán bồ tát

Xem Kim Cang Hoa Bồ tát.

Kim Cang Tát Đỏa

(s: Vajra-sattva, 金剛薩埵): từ vajra, âm dịch là Phược Nhật Ra (嚩日囉), nghĩa là kim cang (金剛); sattva có âm dịch là tát đỏa (薩埵), nghĩa là dũng mãnh, hữu tình. Cho nên Kim Cang Tát Đỏa là từ kết hợp của ý dịch và âm dịch. Nó còn được gọi là Kim Cang Thủ (金剛手), Kim Cang Thủ Bí Mật Chủ (金剛手祕密主), Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ (執金剛祕密主), Trì Kim Cang Cụ Tuệ Giả (持金剛具慧者), Kim Cang Thượng Thủ (金剛上首), Đại Nhạo Kim Cang (大樂金剛), Tô La Đa Kim Cang (蘇羅多金剛), Nhất Thiết Như Lai Phổ Hiền (一切如來普賢), Phổ Hiền Tát Đỏa (普賢薩埵), Phổ Hiền Kim Cang Tát Đỏa (普賢金剛薩埵), Kim Cang Thắng Tát Đỏa (金剛勝薩埵), Kim Cang Tạng (金剛藏), Chấp Kim Cang (執金剛), Bí Mật Chủ (祕密主), Kim Tát (金薩). Từ Kim Cang Tát Đỏa tượng trưng cho tâm bồ đề kiên cố bất hoại, cũng như diệu lý gọi là phiền não tức bồ đề (煩惱卽菩提). Trong Mật Giáo, danh xưng này có 4 ý nghĩa khác nhau: (1) Chỉ vị Tổ truyền pháp thứ 2 của Mật Giáo. Hệ Mật Giáo là do Đại Nhật Như Lai (s: Mahāvairocana, 大日如來) truyền cho Kim Cang Tát Đỏa. Vị này nguyên là vị thượng thủ của các thần Chấp Kim Cang (執金剛) trong hàng quyến thuộc của Đại Nhật Như Lai. Trong Đại Nhật Kinh (大日經) gọi vị này là Kim Cang Thủ (金剛手) hay Bí Mật Chủ (祕密主); trú tại Kim Cang Pháp Giới Cung (金剛法界宮). Tương truyền Ngài đã kết tập hai bộ kinh điển do đức Đại Nhật Như Lai thuyết về sự thể nghiệm tâm linh của bản thân, và hai bộ ấy vẫn còn an trí tại miền Nam Thiên Trúc. (2) Là một trong 37 đấng chủ tôn của Kim Cang Bộ Viện (金剛部院) trong Kim Cang Giới Mạn Trà La (金剛界曼荼羅), an vị ở phía trước đức A Súc Như Lai (阿閦如來) trong vòng nguyệt luân ở phương Đông; chủ về đức của phát bồ đề tâm; là một trong 4 vị thân cận của A Súc Như Lai. Vị này đầu đủ hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) để làm cho đầy đủ hết thảy chúng sanh, khiến cho tất cả Bồ Tát thọ dụng Trí Tam Ma Địa (三摩地智). Hơn nữa, vị Bồ Tát này thể hiện bồ đề tâm thanh tịnh vốn có của chúng sanh, đồng thể mà khác tên với Bồ Tát Phổ Hiền. Mật hiệu của vị này là Chơn Như Kim Cang (眞如金剛), Đại Dũng Kim Cang (大勇金剛), Dũng Tấn Chấp Kim Cang (勇進執金剛). Chủng tử của vị này có Tam Muội Da Hình (三昧耶形), Tôn Hình (尊形); hoàn toàn khác nhau trong các hội như Thành Thân Hội (成身會), Tam Muội Da Hội (三昧耶會), Vi Tế Hội (微細會), Cúng Dường Hội (供養會), v.v. Trong Thành Thân Hội, hình Tam Muội Da của vị này là Ngũ Cổ Chử (五股杵, Chày Năm Đầu). Hình tượng Bồ Tát, tay phải cầm Ngũ Cổ Chử, biểu thị khả năng phá tan 10 thứ phiền não, tròn đầy 10 Ba La Mật; hoặc biểu thị Tam Muội của 5 vị Phật. Tay trái Ngài cầm Kim Cang Linh (金剛鈴), để làm kinh động vô minh của tất cả chúng sanh. (3) Là đấng chủ tôn của 17 vị trong Kim Cang Giới Mạn Trà La Lý Thú Hội (金剛界曼荼羅理趣會), an vị ở trung ương của đồ hình Mạn Trà La, là Chánh Pháp Luân Thân (正法輪身) của A Súc Như Lai. Ngài là tượng trưng cho đức tánh vọng thể của 4 phiền não, gồm Dục (欲), Xúc (觸), Ái (愛) và Mạn (慢); thể hiện cho yếu chỉ phiền não tức bồ đề tâm. Cho nên, vị này cùng với 4 Bồ Tát khác như Kim Cang Dục (金剛欲), Kim Cang Xúc (金剛觸), Kim Cang Ái (金剛愛), Kim Cang Mạn (金剛慢), đồng thời hiển hiện tướng Ngũ Bí Mật Kim Cang (五祕密金剛). Hình Tam Muội Da của vị này cũng là Ngũ Cổ Chử. Về hình tuợng của Ngài, toàn thân có màu trắng, đội mũ báu Ngũ Trí, tay trái cầm cái Linh, đặt trên bắp đùi trái, biểu thị nghĩa “đại ngã mạn” vui mừng. Tay phải cầm Ngũ Cổ Chử, biểu thị khai mở mầm mống Ngũ Trí Bồ Đề (五智菩提) vốn có của chúng sanh. Thông thường, trong Mật Giáo khi tu Phổ Hiền Pháp (普賢法), Ngũ Bí Mật Pháp (五祕密法), Phổ Hiền Diên Mạng Pháp (普賢延命法), v.v., đều lấy vị này làm đấng bổn tôn. (4) Là đấng chủ tôn của Đại Trí Kim Cang Bộ (大智金剛部) trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La Kim Cang Bộ Viện (胎藏界曼荼羅金剛部院); chủ về đức tánh hàng phục, lấy việc phá tan các ác chướng làm thệ nguyện. Về hình tượng của vị này, toàn thân có màu da, đầu hơi nghiêng về bên phải; trong lòng bàn tay phải có Tam Cổ Chử (三股杵).

kim cang tát đỏa

Vajrasattva (S), Dorje Sempa (T)Kim Cang Thủ, Thủ Bí Mật Chủ, Thượng Thủ Bồ tát, Thắng Tát Dỏa Bồ tát, Tạng Bồ tát, Trì Kim Cang Cụ Huệ Giả Bồ tát, Phổ Hiền Tát Đỏa Bồ tát Xem Kim cang Tát đoả Bồ tátXem Kim Cang Thủ Bồ Phật. ; Vajrasattva-mahasattva (skt)—Kim Cang Thủ. 1) Bí Mật Chủ Phổ Hiền, vị tổ thứ hai trong tám vị tổ Chân Ngôn, vị tổ thứ nhất là Đức Đại Nhật Như Lai: A form of P'u-Hsien (Samantabhadra), reckoned as the second of the eight patriarchs of the Shingon, Vairocana was the first. 2) Các vị Chấp Kim Cang Thần, hay các vị Bồ Tát, đặc biệt chỉ ngài Kim Cang Nguyệt Luân ở Đông độ của Kim Cang Mạn Đồ La: All vajra-beings, or vajra-bodhisattvas; especially those in the moon circle in the east of the Diamond mandala. 3) Ngài Nhất Thiết Nghĩa Thành Tựu Bồ tát (tiền thân của Đức Phật Thích Ca): Sakyamuni in a previous incarnation as a vajrasattva. 4) Tất cả chúng hữu tình đều là “Kim cang Tát Đỏa” vì tất cả đều có Phật tính: All beings are vajrasattva, because of their Buddha-nature. 5) Tất cả những người sơ cơ tín hành đều là Kim Cang tát Đỏa: All beginners in the faith and practice are vajrasattva. 6) Tất cả quyến thuộc của Ngài A Súc Bệ Phật đều là Kim Cang Tát Đỏa: All the retinue of Aksobhya are vajrasattva. 7) Bất cứ vị Đại Phổ Hiền (bất cứ ai thành tựu mười thệ nguyện lớn đều là trưởng tử Như Lai, và đều được gọi là Phổ Hiền) nào cũng đều là Kim Cang Tát Đỏa: Any Great P'u-Hsien is a vajrasattva.

kim cang tâm

Diamond Mind Kim Cang trí. ; Cái tâm lớn của Bồ Tát bền vững và bất hoại như kim cương—Diamond heart, that of a bodhisattva, i.e. infrangible, unmoved by illusion.

kim cang tâm điện

Bất Hoại Kim Cang Quang Minh Tâm Điện hay Kim Cang Giới Mạn Đà La, nơi trụ của Phật Tỳ Lô Giá Na—The shrine of the indestructible diamond-brillant heart—The Vajradhatu (mandala) in which Vairocana dwells.

kim cang tướng bồ tát

Vajrasena (S)Tên một bộ kinh.

kim cang tạng

Vajragarbha (skt). 1) Kho Tạng Kim Cang: The Diamond treasury. 2) Vị Bồ Tát trong Kinh Lăng Già: The Bodhisattva in the Lankavatara sutra.

kim cang tạng bồ tát

Vajragarbha (S)Kim Cang Thai Bồ tátTên một vị Bồ tát. ; Vajra Treasury Bodhisatva.

kim cang tạng vương

1) Kiếp kế tiếp của Kim cang Tạng Bồ Tát: A form of the next entry of the Vajra Treasury Bodhisattva. 2) Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: Sakyamuni Buddha.

kim cang tạng vương bồ tát

Aṣṭottara-satabhujavajradhara (S)Nhất Bách Bát Tý Kim Cang Tạng Vương Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang tần na dạ ca

Vajranajaka (S)Tên một vị thiên.

kim cang tịch tĩnh

Vajrasanti (S)Tên một vị thiên.

kim cang tọa

Vajrasāna (S)Kim cang toà. ; Vajrasana (skt). 1) Kim Cang Tòa nơi Đức Phật ngồi khi đắc Chánh Đẳng Chánh Giác—Bodhimanda—Buddha's seat on attaining enlightenment—The Diamond throne. 2) Dáng vẻ lúc ngồi: The posture or manner of sitting.

kim cang tỏa bồ tát

Vajra-sphota (S)Kim Cang Liên tỏa Bồ tát, Liên Tỏa Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang tồi phục bồ tát

Xem Kim cang Nha Bồ tát.

kim cang tử

Rudraksa (skt)—Hạt kim cang để làm chuỗi—A seed similar to a peachstone used for beads. ** For more information, please see Ác Xoa, and Ác Xoa Tụ.

kim cang tự

Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong ấp Bình Cang, xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, Nam Việt Nam. Chùa Kim cang được dựng lên vào giữa thế kỷ thứ 17 và đã được trùng tu nhiều lần. Trong chùa hiện còn bản Kinh Kim Cang bằng chữ Hán được khắc trên gỗ—Name of a pagoda located in Bình Cang hamlet, Bình Thạnh village, Thủ Thừa district, Long An province, South Vietnam. Kim Cang Pagoda was built in the middle of the nineteenth century and has been rebuilt many times. The copies of the Diamond Sutra in Chinese character, engraved in wood, has still been kept in the pagoda.

kim cang tự tại bồ tát

Vajravasani (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang tỳ thủ bồ tát

Xem Kim Cang Nghiệp Bồ tát.

kim cang vi sơn

1) Núi Thiết Vi bao quanh thế giới: The concentric iron mountains about the world. 2) Núi Tu Di: The Sumeru. 3) Kim Sơn, tên của một ngọn núi trong huyền thoại: Golden Mountain, name of a fabulous mountain.

kim cang vi tiếu bồ tát

Xem Kim cang Tiếu Bồ tát.

kim cang viêm

See Hỏa Giới and Hỏa Viện.

kim cang võng bồ tát

Vajrapanjaram (S)Thượng Phương Kim Cang Võng Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang vũ bồ tát

Vajranṛta (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang vương

Cái thù thắng (mạnh nhất và tốt nhất) của kim cang—The Vajra-king, i.e. the strongest, or finest, e.g. a powerful bull.

kim cang vương bảo giác

Ngọc Ma Ni nẩy nở trong Vô Thượng Giác, đức hiệu của Như Lai Chánh Giác—The diamond royal-gem enlightenment, i.e. that of the Buddha.

kim cang vương bồ tát

Vajrarāja (S)Tên một vị Bồ tát. ; Một trong 16 vị Bồ Tát trong Kim Cang Giới—The Diamond King Bodhisattva, one of the sixteen bodhisattvas in the Diamond realm.

kim cang xưng bồ tát

Xem Kim Cang Hỷ Bồ tát.

kim cang y thiên

Vajravasin (S)Kim cang áiTên một vị thiên. Tên một vị Bồ tát.

kim cang yết ma bồ tát

Xem Kim Cang Nghiệp Bồ tát.

kim cang ái

Vajrakamar (S)Tên một vị Bồ tát. Xem Kim Cang Y thiên.

kim cang ái bồ tát

Vajrarāga (S)Kim Cang Cung Bồ tát, Kim Cang Thê Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang điều phục thiên

Vajrajaya (S)Tượng Đầu thiên, Bảo đao Tỳ na dạ ca, Tượng Đầu đại tướng, Tối thắng Kim cangXem Tối thắng Kim cang.

kim cang đoạn

Vajracchedika (skt)—Cắt đứt Kim Cang, một đoạn văn ngắn trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa—Diamond cutter, a short paragraph in the Perfection of Wisdom Sutra (Prajnaparamita Sutra)—See Kinh Kim Cang in Appendix G.

kim cang đài

Diamond Lotus.

kim cang đàm

Hỏa Viện—Giới Ấn—Mật Phong Ấn—Vòng tròn lửa ngăn cấm sự xâm nhập của ma quỷ—Diamond-blaze, acircle of fire to forbid the entry of evil spirits. ** For more information, please see Hỏa Ấn, Hỏa Giới, and Hỏa Viện.

kim cang đăng bồ tát

Vajraloka (S)Kim Cang Trí Đăng Bồ tát, Kim Cang Quang Minh Bồ tát, Kim Cang Trí Đăng Bồ tátTên một vị Bồ tát.

kim cang đại trượng

Vajramahādaṇḍa (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang đại ác

Vajrabhairava (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang đảnh

1) Vương miện Kim Cang: The vajra (diamond) apex or crown. 2) Tên gọi chung các kinh của Mật Giáo: A general name of the esoteric doctrine and sutras of Vairocana.

kim cang đảnh kinh

Vajrakesekhara sŪtra (S)Tên một bộ kinh. ; Kim Cang Đảnh Kinh là kinh chính của Kim cang Đảnh Tông, một trong ba bộ kinh chính của Chân Ngôn Giáo—Vajra-crown sutra, the authority for the Vajra-Crown sect, one of the three main sutras of the Shingon.

Kim Cang Đảnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương Kinh

(s: Sarvatathāgatatattvasaṃgrahanāmamahāyāna-sūtra, t: De-bshin-gregs-thams-cad-kyi de-kho-na-ñid bsdus-papa-shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi mdo, c: Chin-kuang-ting-i-ch'ieh-ju-lai-chên-shih-shê-ta-hsien-chêng-ta-chiao-wang-ching, j: Kongōchōissainyoraishinjitsusetsudaijōgenshōdaikyōōkyō, 金剛頂一切如來眞實攝大乘現證大敎王經): còn gọi là Kim Cang Đảnh Du Già Chơn Thật Đại Giáo Vương Kinh (金剛頂瑜伽眞實大敎王經), Kim Cang Đảnh Kinh (金剛頂經), Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Kinh (攝大乘現證經), Đại Giáo Vương Kinh (大敎王經), 3 quyển, hiện còn, Taishō 18, 207, No. 865, Bất Không (不空, 705-774) dịch vào năm 753.

kim cang đỉnh kinh nghĩa quyết

Vajraśekkhara-sŪtra (S).

kim cang đỉnh như lai chân thực nhiếp đại thừa hiện chứng đại giáo vương kinh

Pratyutpaābhisaṃbuddha-mahātantrarāja-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.

kim cang định

Vajra-samādhi (S), Diamond Samādhi Kim cang Tam muội. ; Vajrasamadhi (skt)—Kim Cang Dụ Định—Kim Cang Tam Muội—Thiền định của Bồ tát ở ngôi tối hậu. Người tu hành và đắc phép thiền định nầy sẽ được trí bền vững, sắc bén và bất hoại như kim cương, có thể cắt đứt tất cả phiền não và tà kiến thiên lệch—Vajra-meditation—Samadhi as a state of great stability, that of the last stage of the Bodhisattva, characterized by firm, indestructible knowledge, penetrating all reality; attained after all remains of illusion and wrong views have been cut off. ** For more information, please see Kim Cang Tam Muội.

kim cang đồ hương bồ tát

Vajragandha (S)Phược Nhật La Kiện ĐàTên một vị Bồ tát.

kim cang đồng nữ

Vajrakaumari (S)Tên một vị Bồ tát.

kim cang đồng tử

Vajrakumāra (S)Tên một vị thiên. ; Xem Kim Cang Nhi. ; Vajrakumara (skt). 1) Kim Cang Sứ Giả của chư Phật và chư Bồ Tát: A Vajra-messenger of the Buddhas or Bodhisattvas. 2) Hóa thân của Đức Phật A Di Đà thành một đứa trẻ tay cầm kim cương chùy, mặt có vẻ phẫn nộ: An incarnation of Amitabha in the form of a youth with fierce looks holding a vajra.

kim cang ẩm thực thiên

Xem Kim cang Thực thiên.

kim cang ẩn mộc

Vajravikṛti (S)Tên một vị thiên.

Kim cang 金剛

[ja] コンゴウ kongō ||| (vajra) (1) An extremely hard material, which is identified with the diamond or the essential substance of gold; often used as an trope for something hard and indestructible. 'Adamantine.' (2) The vajra, or thunderbolt; it is generally shaped as such, but has other forms. Also, any one of the beings represented with the vajra is called a vajra. (3) An abbreviation of jingangchu 金剛杵 a diamond pounder,' a ritual object in esoteric Buddhism made mainly of iron and copper. (4) An abbreviation for jinganglishi 金剛力士, one who handles a 金剛杵. (5) The thunderbolt of Indra, often called The 'diamond club.' Usually considered as one of the sapta-ratna. (6) An abbreviation of "adamantine absorption" 金剛喩定, 金剛三昧. => 1. Một kim loại rất cứng, như kim cương hoặc vàng ròng, thường dùng như phép tu từ chỉ cho cái gì cứng chắc không phá hoại được. 'Rắn chắc như kim cương.' 2. s: vajra. Tiếng sét, thường có hình dáng như vậy, nhưng có hình thái khác. Cũng vậy, bất kỳ loài chúng sinh nào được biểu tượng bằng vajra đều được gọi là một vị Kim cang. 3. Viết tắt của Kim cang chử (c: jingangchu 金剛杵), là cái chày bằng kim cang, là một pháp khí trong nghi lễ của Mật tông Phật giáo được làm bằng đồng hoặc sắt. 4. Viết tắt của Kim cang lực sĩ (c: jinganglishi 金剛力士), vị tay cầm Kim cang chử. 5. Sấm sét của Indra, thường được gọi là 'Kim cang hội'. Thường được xem là một trong bảy loạii kim loại quý (s: sapta-ratna). 6. Viết tắt của Kim cương dụ định 金剛喩定, Kim cương tam muội 金剛三昧.

Kim chi

(金枝): cành vàng, từ quý xưng con cháu đế vương, đặc biệt chỉ cho con gái nhà quyền quý; vì vậy thường xuất hiện từ “kim chi ngọc diệp (金枝玉葉, cành vàng lá ngọc).” Trong Dật Chu Thư (逸周書), phần Võ Cảnh (武儆), có đoạn: “Vương cáo mộng, Bính Thìn xuất kim chi (王告夢、丙辰出金枝, nhà vua báo cho biết giấc mộng rằng vào giờ Bính Thìn sinh ra cành vàng).” Hay trong Hưởng Thái Miếu Nhạc Chương (享太廟樂章), phần Hy Tông Vũ (懿宗舞) lại có câu: “Kim chi phồn mậu, ngọc diệp diên trường (金枝繁茂、玉葉延長, cành vàng sum sê, lá ngọc dài tốt).” Trong Lịch Triều Thích Thị Tư Giám (歷朝釋氏資鑑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 76, No. 1517) quyển 12 cũng có đoạn: “Kim chi nhi chi chi đĩnh tú, ngọc diệp nhi diệp diệp tương thừa, pháp luân đại chuyển ư Chi Na, đế nhật trường huy ư Chấn Đán (金枝而枝枝挺秀、玉葉而葉葉相承、法輪大轉於支那、帝日長輝於震旦, cành vàng mà cành cành tươi tốt, lá ngọc mà lá lá liền nhau, xe pháp vận chuyển nơi Chi Na [Trung Hoa], trời vua sáng tỏ chốn Chấn Đán [Trung Hoa]).” Trong bài hát Giọt Lệ Đài Trang có câu: “Ngày xưa ai lá ngọc cành vàng, ngày xưa ai quyền quý cao sang.”

kim chi ngọc diệp

Gold branches and jade leaves—Noble.

kim châm song toả

3582<一>又作金針雙鏁。指密教現圖胎藏曼荼羅中之金剛針(梵 Vajra-sūci)與金剛鏁(梵 Vajra-śṛṅkhalā)(鎖)二菩薩。大日經中以此二菩薩爲一對。大日經疏卷五(大三九‧六三三上):「次於部母之右置大力金剛針。(中略)是一相一緣堅利之慧,用此貫徹諸法無所不通,故名金剛針也。(中略)次於執金剛之左,置金剛商羯羅,譯云金剛鏁。其印持連鏁,兩頭皆作拔折羅形。(中略)以此智印,攝持一切剛強難化眾生,使不退於無上菩提,故以爲名也。」(參閱「金剛針菩薩」3556、「金剛鏁菩薩」3578) <二>又作金鍼雙鎖。比喻事與理、差別與平等乃相即爲一。針,係用於縫合兩片布,亦即表、裏融通無礙之義。瑞州洞山良价禪師語錄(大四七‧五二六上):「金針雙鎖備,挾路隱全該。」 ; (金針雙鏁) I. Kim Châm Song Tỏa. Chỉ cho 2 vị Bồ tát: Kim cương châm (Phạm: Vajra-sùci) và Kim cương tỏa (Phạm: Vajra-zfịkhalà) trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 633 thượng), nói: Kế đến, ở bên phải Bộ Mẫu đặt Đại lực Kim cương châm. (...) Vị Bồ tát này dùng trí tuệ nhất tướng nhất duyên bền chắc sắc bén thấu suốt các pháp cho nên gọi là Kim cương châm. (...) Rồi bên trái Chấp kim cương đặt Kim cương thương yết la (Hán dịch: Kim cương tỏa). Vị Bồ tát này cầm ấn tướng nhiều cái vòng móc liền nhau, 2 đầu có hình cây chày kim cương (...). Ngài dùng trí ấn này thu nhiếp tất cả chúng sinh ương ngạnh khó dạy, làm cho họ không thoái tâm Bồ đề vô thượng, vì thế gọi là Kim cương tỏa. (xt. Kim Cương Châm Bồ Tát, Kim Cương Tỏa Bồ Tát). II. Kim Châm Song Tỏa. Cây kim dùng để khâu cho 2 miếng vải dính lại, tượng trưng ý nghĩa trong và ngoài dung thông vô ngại. Nhóm từ này ví dụ sự và lí, sai biệt và bình đẳng tương tức nhau, cùng 1 thể. Thụy châu Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục (Đại 47, 526 thượng), nói: Có kim châm song tỏa, đường may bao quát hết.

kim các tự

3586<一>位於山西五臺山南臺西北。爲五臺山著名佛寺之一。據廣清涼傳卷上載,五臺山中,今之北臺即古代之中臺,中臺即南臺。故或謂本寺位於五臺山之中臺。唐開元二十四年(736),由道義草創,不久代宗命澤州僧道環起工事。時大興善寺不空亦資助此舉,大曆二年(767)落成,代宗勅賜予不空,作爲密教弘布之道場。大曆五年(770),始稱金閣寺。以該寺鑄銅爲瓦,塗金於瓦上,飾佛閣爲金閣,故稱金閣寺。今寺內大部分建築物,如大殿、講堂等,係清朝後所建造。寺內有代宗李豫之像,雖經後人重裝,仍不失唐風。寺內布局,幾經重修,仍以觀音閣爲主體。山門前石獅雄健,庭院內高閣聳立。閣身二層,寬七間,深六間,四周圍廊,閣內供奉高十七公尺之觀音銅像,觀音兩側,二十四諸天環侍。閣背面有毘盧殿、彌陀殿、觀音殿、地藏殿、菩薩殿、藥王殿等,塑像滿布,有近千尊之多,最後爲大雄寶殿。 <二>位於日本京都市北區北山。爲本名鹿苑寺之俗稱。又作鹿園寺。號北山。屬日本臨濟宗。應永四年(1397)開始建造,十五年足利義滿歿後,改其別邸之北山亭爲禪寺,而請夢窻疎石開山,立名鹿苑寺,蓋取印度鹿野苑之名而來。金閣共三層,下層爲宸殿造,中層爲武家造,上層則爲唐式之變化,臨於水池。該寺佇於林泉之中,可眺望衣笠山,爲室町時代建築之代表。昭和二十五年(1950)一度燒毀,後又依原式重建。 ; (金閣寺) I. Kim Chàng. Loại cờ phan treo ở điện Phật để trang trí. Loại cờ phan này phổ thông được may bằng gấm hoặc bằng lụa mầu vàng, hình trụ dài. II. Kim Chàng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho luân cái trên đỉnh tháp. (xt. Thừa Lộ Bàn).

Kim cương

金剛; S: vajra; T: dorje (rDo-rje); cũng gọi là Kim cương chử (金剛杵), Kim cương chùy (金剛鎚);|Trong Ấn Ðộ giáo, Kim cương có nghĩa là »sấm sét«, một vũ khí của Ðế Thích (s: indra). Trong đạo Phật, Kim cương không phải là một vũ khí mà là biểu tượng của sự bất hoại. Ðó là biểu tượng của Chân như, của tính Không (s: śūnyatā), của thể tính hằng tồn tại của hiện tượng. Như Kim cương, tính Không không thể bị huỷ hoại vì chưa hề sinh thành. Tính Không cũng trong sáng rực rỡ thanh tịnh như Kim cương, mặc dù tính Không là gốc của thiên hình vạn trạng hiện tượng.||H 33: Kim cương chử|Tính Không là gốc mọi vật nhưng không phải là một »vật«, như Thiền tông hay nói. Mọi hiện tượng đều khác nhau, nhưng chúng là Không, tính Không với chúng tương đồng, không hề khác. Ðó là một kiến giải không thông qua suy luận mà »hiểu« được, chỉ được trực nhận trong một trạng thái giác ngộ.|Tại Tây Tạng Kim cương (chử) được viết là Dor-je (rDo-rje), là »chúa tể loài đá«, là biểu tượng »dương tính« của đạo giác ngộ, là khía cạnh Phương tiện (s: upāya). Ngược lại, chuông đồng (t: drilbu) là biểu tượng của »âm tính« và là khía cạnh trí Bát-nhã. Hai mặt này biểu tượng tính nhị nguyên của toàn thể thế giới hiện tượng. Tính nhị nguyên này sẽ tự hoại diệt trong thiền định.|Một trong năm Phật gia có thuộc tính cơ bản là tính bất hoại của Dor-je. Vị thầy nắm vững và truyền dạy các phương tiện của Kim cương thừa được gọi là Kim cương đạo sư (t: dorje lopon).||H 34: Kim cương phổ chử (金剛普杵; s: viśvava-jra)|Một pháp khí có tính chất gần giống với Kim cương, cũng có tính thiêng liêng của kim khí là truỷ thủ (Phur-bu). Truỷ thủ thường dùng để đối trị ma quỷ (tượng trưng cho sự giận giữ) và được Liên Hoa Sinh (s: padmasambhava) sử dụng khi giáo hoá Tây Tạng.|Tâm thức huyền bí của chư Phật, của trí huệ vô thượng, được tượng trưng bằng tính kiên cố vĩnh viễn, bằng ánh sáng rực rỡ và sự trống rỗng, của tự tính Kim cương bất hoại, như hư không. Thật diệu kì, nhìn được tận mặt của Chân như.

kim cương

3532<一>梵語 vajra,巴利語 vajira。音譯作伐闍羅、跋闍羅、跋折 飽、嚩日囉、伐折羅、跋日羅。即金中最剛之義。經論中常以金剛比喻武器及寶石,較常用於比喻武器。以金剛比喻武器,乃因其堅固、銳利,而能摧毀一切,且非萬物所能破壞。以金剛比喻寶石,及取其最勝之義。 (一)以金剛比喻武器,如帝釋天及密迹力士所持之武器,稱爲金剛杵;其不爲任何物所破壞,而能摧破一切,猶如金剛。故經論中常出現金剛堅固、金剛不壞、金剛身、金剛頂、金剛界、金剛心、金剛堅固之信心等辭彙。又金剛般若經疏論纂要卷上載,真諦以六種金剛之色,比喻般若(智慧)之體用,即:(1)青色能消除災厄,以喻般若能消除業障。(2)黃色隨人之所須,以喻無漏之功德。(3)赤色對日而生出火光,以喻智慧對本覺而生出無生之智火。(4)白色能澄清濁水,以喻般若能清除疑濁。(5)空色令人行坐於空中,以喻般若之慧能破除法執,而令人住於真空之理。(6)碧色能消除諸毒,以喻智慧能淨除三毒。此皆以金剛之堅固、非萬物所能破,來比喻般若之體;以金剛之銳利、能破萬物,來比喻般若之用。 於密教,金剛一詞亦常用於武器方面,如獨鈷(即獨股形狀之金剛杵或金剛鈴)、三鈷、五鈷等,多作爲諸尊之三摩耶形,乃諸尊之本誓或內證之德的表徵,具有摧破眾生之煩惱、去除惑業之障難、驚覺眾生等各種含義,此外亦以之爲諸尊所住三摩地之標幟。又持金剛杵之力士,稱爲執金剛,略稱金剛。寺院中之四天王像,俗稱爲四大金剛。 (二)以金剛比喻寶石,因金剛石透明無色,且光耀璀璨,一經日光照射,即顯現出各種光耀之色彩,於夜中亦能放出螢光,而爲諸寶中之最勝者。經論中亦以金剛寶石來比喻菩薩所證得之金剛三昧;以取其最勝之義。然經論中較少用此譬喻。 此外,據金剛頂疏卷一之說,世界之金剛有不可破壞、寶中之寶、戰具中之勝等三義。另據北本涅槃經卷二十四、大乘義章卷九等舉出,金剛有能破、清淨、體堅、最勝、難測、難得、勢力、能照、不定、主、能集、能益、莊嚴、無分別等十四德。〔大日經疏卷一、卷十五、金剛般若波羅蜜經疏、金剛般若經贊述卷上、金剛仙論卷一、祕密曼荼羅十住心論卷十、梵語雜名、慧苑音義卷上、希麟音義卷七〕(參閱「金剛二義」3534) <二>爲金剛草履之略稱。即指由藺或藁做成之草履。(參閱「金剛草履」3555) ; Vajra (S). The thunderbolt of Indra, often called the diamond club. The diamond, synonym of hardness, indestructibility, power, the least frangible of minerals. Chùy kim cương, Trí chử, chùy trí tuệ. Vajra (S). Diamond mace. Chấp kim cương thần. Vajrapàni CS). God holding a vajra, protector of the Law. ; See Kim Cang. ; (金剛) I. Kim Cương. Phạm:Vajra. Pàli:Vajira. Hán âm: Phạt xà la, Bạt xà la, Bạt chiết la, Phạ nhật ra. Vật cứng chắc và sắc bén nhất trong các vật chất. Trong các kinh luận, Kim cương thường được dùng để ví dụ vũ khí và đá quí. 1. Dùng kim cương ví dụ vũ khí: Tính kim cương cứng chắc, bén nhọn, có khả năng phá hủy tất cả các vật, nhưng không bị các vật khác phá hoại, như thứ vũ khí của trời Đế thích và Lực sĩ Mật tích cầm ở tay, gọi là Kim cương chử(chày kim cương). Cũng do ý nghĩa ấy mà trong các kinh luận thường có những từ như: Kim cương kiên cố, Kim cương bất hoại, Kim cương thân, Kim cương đính, Kim cương giới, Kim cương tâm (lòng tin bền chắc như kim cương). Trong Kim cương bát nhã kinh sớ luận toản yếu quyển thượng ngài Chân đế dùng 6 mầu của kim cương để dụ cho thể và dụng của bát nhã (trí tuệ) như sau: 1. Mầu xanh có khả năng tiêu trừ tai ách, dụ chobát nhã có năng lực tiêu trừ nghiệp chướng. 2. Mầu vàng tùy thuận những điều mong cầu của người, dụ cho công đức vô lậu. 3. Mầu đỏ đối với mặt trời có thể phát sinh ánh sáng như lửa, ví dụ trí tuệ đối với bản giác có thể sinh ra lửa trí vô sinh. 4. Mầu trắng có khả năng làm cho nước đục lắng trong, ví dụ Bát nhã có công năng thanh lọc những vẩn đục về nghi ngờ. 5. Mầu không có thể làm cho người ta đi đứng trong hư không, ví dụ trí tuệ Bát nhã có công năng phá trừ pháp chấp, khiến cho người an trú trong lí chân không. 6. Mầu xanh biếc có khả năng tiêu trừ các thứ độc hại, dụ cho trí tuệ có năng lực trừ sạch 3 độc (tham, sân, si). Trên đây đều dùng tính cứng chắc của kim cương để ví dụ Thể của Bát nhã; dùng tính bén nhọn của kim cương để dụ cho Dụng của Bát nhã. Trong Mật giáo, Kim cương cũng thường được dùng để ví dụ vũ khí, như kim cương độc cổ chử (cây chày kim cương có hình 1 chĩa, tam cổ, ngũ cổ, v.v... Các loại vũ khí này thường được dùng làm hình Tam muội da, biểu trưng cho bản thệ hoặc đức nội chứng của các vị tôn, bao hàm các nghĩa: Phá trừ phiền não, tiêu diệt nghiệp chướng và thức tỉnh chúng sinh... Ngoài ra, các thứ vũ khí này còn được dùng làm tiêu biểu cho các loại Tam ma địa trong đó các vị tôn an trụ. Vị lực sĩ cầm chày kim cương gọi là Chấp kim cương, gọi tắt là Kim cương, còn tượng Tứ thiên vương trong các chùa viện thường được gọi là Tứ đại Kim cương. 2. Dùng kim cương ví dụ đá quí: Vì đá kim cương trong suốt không mầu, sáng chói, khi mặt trời chiếu qua thì liền hiện các mầu sắc rực rỡ, ban đêm cũng phát ra ánh sáng, cho nên đá kim cương được coi là quí nhất trong các thứ bảo vật; vì vậy, trong các kinh luận, đá quí kim cương cũng được dùng để ví dụ cho Kim cương tam muội của hàng Bồ tát. Ngoài ra, cứ theo Kim cương đính sớ quyển 1, kim cương có 3 nghĩa: Không thể phá hoại, vật báu trong các vật báu, chiến cụ tốt nhất trong các loại chiến cụ. Còn theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản Bắc) và Đại thừa nghĩa chương quyển 9, thì kim cương có 14 tính chất quí: Phá được tất cả vật khác, trong sạch, cứng chắc, tốt nhất, vô giá, khó được, có sức công phá mạnh, chiếu sáng, không định, đứng đầu, năng tập năng ích và vô phân biệt. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.15; Kim cương bát nhã ba la mật kinh sớ; kim cương bát nhã kinh tán thuật quyển thượng, Kim cương tiên luận Q.1; luận Bí mật mạn đồ la thập trụ tâm Q.10; Phạm ngữ tạp danh; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng; Hi lân âm nghĩa Q.7]. (xt. Kim Cương Nhị Nghĩa). II. Kim Cương. Gọi đủ: Kim cương thảo lí. Dép cỏ đan bằng cói hoặc rơm. (xt. Kim Cương Thảo Lí).

kim cương ba la mật bồ tát

3544請參閱 一切如來金剛壽命陀羅尼經 金剛波羅蜜,梵名 Vajra-pāramitā,音譯嚩日囉波羅蜜;或 Sattva-vajrī,音譯薩怛囉嚩日離,意譯有情金剛女、勇猛金剛女。西藏名 Sems-dpaḥi-rdo-rje。密教金剛界三十七尊中,四波羅蜜菩薩之一。位居中央月輪中大日如來之東方。此尊係阿閦佛入金剛波羅密三昧所流出之身,即表以堅固如金剛之菩提心之德供養大日如來。密號堅固金剛,種子爲???(hūṃ),爲菩提心、能破之義。此尊之三昧耶形、形像,於金剛界曼荼羅各會中皆不同,於成身會,三昧耶形爲五股杵;形像爲黑青色天女形,左手執蓮,蓮上有梵篋,右手觸地;真言爲「唵 薩怛 嚩嚩日哩 吽」。於三昧耶會,三昧耶形爲蓮花上有三股杵,真言爲「嚩日囉 室哩 吽」。於微細會,形像爲左手持蓮,蓮上有鈴。於供養會,形像爲兩手持蓮,蓮上有五股杵。〔金剛頂經卷中、略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、諸佛境界攝真實經卷中〕 ; (金剛波羅蜜菩薩) Kim cương ba la mật, Phạm: Vajrapàramità. Hán âm: Phạ nhật ra ba la mật; Phạm: Sattva-vajrì, Hán âm: Tát đát ra phạ nhật li. Hán dịch: Hữu tình kim cương nữ, Dũng mãnh kim cương nữ. Tạng: Sems-dpa#i-rdo-rje. Vị Bồ tát ngồi ở phía đông đức Đại nhật Như lai trong vòng tròn trung ương trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới, 1 trong bốn bồ tát Ba la mật. Vị Bồ tát này do đức Phật A súc sinh ra khi Ngài ở trong Tam muội Kim cương ba la mật, biểu thị ý nghĩa đem tâm bồ đề bền chắc như kim cương cúng dường đức Đại nhật Như lai. Mật hiệu là Kiên cố kim cương, chủng tử là (hùô). Trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới, hình tượng và hình Tam muội da của vị tôn này đều khác nhau: Trong hội Thành thân hình tượng của vị tôn này là hình thiên nữ mầu xanh thẫm, tay trái cầm hoa sen, trên hoa có Phạm khiếp (hộp đựng kinh chữ Phạm), tay phải chạm đất; hình Tam muội da là chày 5 chĩa; chân ngôn là: Án tát đát phạ phạ nhật lí hồng. Trong hội Vi tế, hình tượng vị tôn này là tay trái cầm hoa sen, trên hoa có linh (chuông nhỏ); trong hội Cúng dường thì 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có cái chày 5 chĩa. [X. kinh Kim cương đính Q.trung; Lược thuật kim cương đính du già phân biệt Thánh vị tu chứng pháp môn; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung].

kim cương bàn

3572密教法具之一。指修法時放置金剛鈴與三種金剛杵(獨股、三股、五股)之金屬臺。一般作心臟形,具有三足。金剛盤之名未見於諸經軌中,僅見於日本空海所撰御請來目錄中「金剛盤子一口」一詞,該盤與今所用者是否相同,則難以確知。〔乳味鈔卷一、卷十六〕 ; (金剛盤) Chỉ cho cái mân hình trái tim, làm bằng kim loại có 3 chân, dùng để đặt linh (chuông nhỏ) kim cương và 3 loại chày kim cương (1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa)khi tu pháp. Đây là 1 trong những pháp cụ của Mật giáo. Tên gọi Kim cương bàn không thấy trong các kinh và nghi quĩ, mà chỉ thấy câu Kim cương bàn tử nhất khẩu trong bộ Ngự thỉnh lai mục lục do ngài Không hải người Nhật bản soạn. Cái mâm này có giống với cái mâm được sử dụng hiện nay hay không thì không thể biết chắc được. [X. Nhũ vị sao Q.1, Q.16].

kim cương bát nhã ba la mật kinh

3553 梵名 Vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra。全一卷。後秦鳩摩羅什譯。略稱金剛般若經、金剛經。收於大正藏第八冊。內容闡釋一切法無我之理。自古講說此經者特多,尤以禪宗六祖慧能以來更受重視。本經經文,從「如是我聞」至「果報亦不可思議」爲前半,自「爾時須菩提白佛言」至卷終爲後半,據歷代學者之研究,其前後經文之語句與文意有顯著之異處。僧肇謂前半係說眾生空,後半則說法空。智顗與吉藏則謂,前半係佛爲前會眾所說,後半係佛爲後會眾所說;前半爲利根所說,後半爲鈍根所說。 異譯本有五種:(一)北魏菩提流支譯(同題)。(二)陳‧真諦譯(同題)。(三)隋代達磨笈多譯之金剛能斷般若波羅蜜經(略稱金剛能斷經)。(四)唐代玄奘譯之能斷金剛般若波羅蜜多經(大般若波羅蜜多經卷五七七能斷金剛分)。(五)唐代義淨譯之能斷金剛般若波羅蜜多經(略稱能斷金剛經)。本經普遍流傳於中國。現有西藏譯、蒙古譯、滿州譯、英譯、法譯、德譯,及日譯等數種譯本。梵本以義大利孔茲(Conze)出版者爲最新版本。本經之注疏極多,較重要者有無著之金剛般若波羅蜜經論三卷、論頌一卷、論釋三卷、僧肇之金剛般若波羅蜜經注一卷、慧遠之金剛般若波羅蜜經疏一卷、智顗之金剛般若波羅密疏一卷、窺基之金剛般若波羅蜜經贊述二卷、慧能之金剛般若波羅蜜解義二卷。〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷八、廣弘明集卷二十二、開元釋教錄卷四〕 ; (金剛般若波羅蜜經) Phạm:Vajracchedikà-prajĩàpàramità -sùtra. Gọi tắt: Kim cương bát nhã kinh, Kim cương kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Nội dung kinh giải thích rõ lí tất cả pháp vô ngã. Đại khái có thể chia làm 2 phần: Phần đầu từ Tôi nghe như vầy đến quả báo cũng chẳng thể nghĩ bàn. Phần sau từ Bấy giờ, ngài Tu bồ đề bạch Phật rằng đến cuối quyển. Cứ theo sự nghiên cứu của các học giả qua nhiều thời đại thì câu văn và ý nghĩa trong phần đầu và phần cuối của kinh hiển nhiên có những chỗ khác nhau. Ngài Tăng triệu cho rằng phần đầu là nói về Chúng sinh không, phần sau là nói vềPháp không. Còn các ngài Trí khải và Cát tạng thì cho rằng phần đầu là Phật nói cho thính chúng trong hội trước; phần cuối là nói cho thính chúng trong hội sau; phần đầu nói cho hàng lợi căn, phần cuối nói cho hàng độn căn. Từ xưa đã có rất nhiều nhà giảng nói kinh này, nhất là từ ngài Lục tổ Tuệ năng trở về sau thì kinh này lại càng được coi trọng. Kinh này có 5 bản dịch khác: 1. Bản do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào thời Bắc Ngụy(cùng tựa đề). 2. Bản do ngài Chân đế dịch vào đời Trần (cùng tựa đề). 3. Kim cương năng đoạn bát nhã ba la mật kinh(gọi tắt: Kim cương năng đoạn kinh) do ngài Đạt ma cấp đa dịch vào đời Tùy. 4. Năng đoạn kim cương bát nhã ba la mật đa kinh(tức là phần Năng đoạn kim cương trong kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 577)do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. 5. Năng đoạn kim cương bát nhã ba lamật đa kinh(gọi tắt: Năng đoạn kim cương kinh) do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Hiện nay có các bản dịch Tây tạng, Mông cổ, Mãn châu, Anh, Pháp, Đức, Nhật, v.v... Nguyên bản tiếng Phạm được ấn hành mới nhất là bản của ông Khổng tư (Conze) người Ý. Kinh này có rất nhiều tác phẩm chú sớ, quan trọng hơn cả thì có: Kim cương bát nhã ba la mật kinh luận 3 quyển, Luận tụng 1 quyển, Luận thích 3 quyển của ngài Vô trước, Kim cương bát nhã ba la mật kinh chú 1 quyển của ngài Tăng triệu, Kim cương bát nhã ba la mật kinh sớ 1 quyển của ngài Tuệ viễn, Kim cương bát nhã ba la mật sớ 1 quyển của ngài Trí khải; Kim cương bát nhã ba la mật kinh tán thuật 3 quyển của ngài Khuy cơ; Kim cương bát nhã ba la mật giải nghĩa 2 quyển của ngài Tuệ năng. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Quảng hoằng minh tập Q.22; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].

kim cương bát nhã ba la mật kinh luận

3553 梵名 Vajracchedikā-prajñāpāramitopadeśa。凡三卷。天親菩薩造,北魏菩提流支譯。又作金剛般若經論、金剛般若論。收於大正藏第二十五冊。本書爲無著所造之金剛般若經論頌之注釋書,與唐代義淨所譯之能斷金剛般若波羅蜜多經論釋係同本異譯。然無著別造有隋代達磨笈多所譯之金剛般若論(又作金剛般若波羅蜜經論,二卷或三卷),故本書所注釋之金剛般若經論頌傳爲無著所造,恐係二者混淆之誤傳。〔開元釋教錄卷六、卷七、卷九、至元法寶勘同總錄卷八〕 ; (金剛般若波羅蜜經論) Phạm: Vajracchedikà-prajĩapàr= amitopadeza. Cũng gọi Kim cương bát nhã kinh luận, Kim cương bát nhã luận. Tác phẩm, 3 quyển, do bồ tát Thiên thân soạn, ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 25. Đây là sách chú thích bộ Kim cương bát nhã kinh luận tụng của ngài Vô trước. Bộ Năng đoạn kim cương bát nhã ba la mật đa kinh luận thích do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường là cùng bản tiếng Phạm với bộ này. Nhưng ngài Vô trước còn soạn 1 bộ sách khác có tên là: Kim cương bát nhã luận (cũng gọi: Kim cương bát nhã ba la mật kinh luận, 2 quyển hoặc 3 quyển) do ngài Đạt ma cấp đa dịch vào đời Tùy. Bởi thế, sách này chú thích bộ Kim cương bát nhã kinh luận tụng của ngài Vô trước thì e đã truyền lầm giữa 2 bộ. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.6, Q.7, Q.9; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.8].

kim cương bát nhã ba la mật đa kinh

Vajra-prajna-paramita sùtra (S).

kim cương bát nhã kinh sớ

3555 <一>全一卷。隋代天台大師智顗(531~597)講述。又稱金剛經疏、金剛般若疏、金剛般若波羅蜜經疏。收於大正藏第三十三冊。本書爲現存最古之金剛般若經疏。乃智顗根據鳩摩羅什譯金剛經所講述之注釋書,然講述於何時何處則不明。本書採用五重玄義之釋義,並以序、正、流通等三分解釋經文,然書中難以圓融之點甚多,而不見智顗特有之解釋風格,故恐係後人假藉之作,或智顗初期所述,而由旁人筆錄。〔智證大師請來目錄、東域傳燈目錄卷上、諸宗章疏錄卷一〕 <二>凡二卷(或一卷)。唐代智儼(602~668)述。又稱金剛般若波羅蜜經略疏、金剛般若經略疏。收於大正藏第三十三冊。書成於龍朔三年(663)之後。爲唐代所盛行金剛般若經注釋書之一。智儼爲華嚴宗之二祖,本書即立於華嚴教學「同教一乘」之立場,由其宗趣之三種般若(實相般若、觀照般若、文字般若)等觀之,可窺見其獨特之見解。〔新編諸宗教藏總錄卷一〕 ; (金剛般若經疏) I. Kim Cương Bát Nhã Kinh Sớ. Cũng gọi Kim cương kinh sớ, Kim cương bát nhã sớ, Kim cương bát nhã ba la mật kinh sớ. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải (531- 597) tông Thiên thai soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Đây là bộ sách chú thích kinh Kim cương bát nhã xưa nhất hiện còn. Nội dung giải thích kinh Kim cương theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập và sử dụng phương pháp Ngũ trùng huyền nghĩa để chú giải và chia kinh văn làm 3 phần: Tựa, Chính tông, Lưu thông. Tuy nhiên, trong sách có rất nhiều điểm không được viên dung, cũng không đúng với phong cách giải thích của ngài Trí khải, cho nên, có lẽ đã cho người đời sau mượn danh, hoặc do ngài Trí khải giảng, người khác ghi chép. [X. Trí chứng đại sư thỉnh lai mục lục; Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng; chư tông chương sớ lục Q.1]. II. Kim Cương Bát Nhã Kinh Sớ. Cũng gọi Kim cương bát nhã ba la mật kinh lược sớ, Kim cương bát nhã kinh lược sớ. Tác phẩm, 2 quyển (hoặc 1 quyển), do ngài Trí nghiễm (602-668) soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 33. Là 1 trong những bộ sách chú thích Kim cương bát nhã thịnh hành ở đời Đường. Ngài Trí nghiễm là Tổ thứ 2 của tông Hoa nghiêm, cho nên ngài đã đứng trên lập trường Đồng giáo nhất thừa của Hoa nghiêm mà giải thích kinh Bát nhã. Nếu nhận xét theo quan điểm của tông Hoa nghiêm về Thực tướng bát nhã, Quán chiếu bát nhã và Văn tự bát nhã thì ta mới thấy được cái kiến giải độc đáo của ngài Trí nghiễm. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].

kim cương bát nhã tập nghiệm kí

3554請參閱 金剛般若經疏 請參閱 金剛般若經疏 或 金剛經義疏 請參閱 金剛般若波羅蜜經 凡三卷。唐代孟獻宗撰於開元六年(718)。又稱金剛般若經集驗記。收於卍續藏第一四九冊。爲受持金剛般若經之各種靈驗譚。本書部分由蕭瑀之金剛般若靈驗記、唐臨之冥報記、郎余令之冥報拾遺等抄出,並加入作者實際見聞之事蹟而成。內容分六篇:救護篇、延壽篇、滅罪篇、神力篇、功德篇、誠應篇等。 金剛經由後秦鳩摩羅什至唐代義淨,共有六種譯本,因其僅有一卷,便於流傳誦持,故一向與般若心經廣爲流行。而金剛經讀誦者靈驗功德尤著,僧俗間誦持極盛,成爲指導我國佛教徒實際信仰生活之重要經典。由上所述,可知隋唐時代金剛經受持之普及。本書爲有關金剛般若經之靈驗記中現存最古者,亦爲研究初唐佛教信仰之珍貴資料。

kim cương bát nhã tập nghiệm ký

(金剛般若集驗記) Cũng gọi Kim cương bát nhã kinh tập nghiệm kí. Tác phẩm, 3 quyển, do ông Mạnh hiến tông soạn vào năm Khai nguyên thứ 6 (718) đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 149. Nội dung sách này nói về những sự linh nghiệm của việc thụ trì kinh Kim cương bát nhã, chia làm 6 thiên: Thiên Cứu hộ, thiên Diên thọ, thiên Diệt tội, thiên Thần lực, thiên Công đức và thiên Thành ứng. Trong đó, một phần được sao chép ra từ các sách Kim cương bát nhã linh nghiệm kí của Tiêu vũ, Minh báo kí của Đường lâm, Minh báo thập di của Lang dư lệnh, v.v... và một phần do tác giả thấy nghe trong thực tế mà ghi lại. Sách này là bộ Linh nghiệm kí về kinh Kim cương bát nhã xưa nhất hiện còn, cũng là tư liệu quí giá để nghiên cứu tín ngưỡng Phật giáo vào thời Sơ Đường.

Kim cương Bát-nhã ba-la-mật kinh ngũ gia giải thoát nghi 金剛般若波羅蜜經五家解説誼

[ja] コンゴウハンニャハラミツキョウゴケカイセツギ Kongō hanyaharamitsukyō goke kaisetsugi ||| Kihwa's commentary to the redaction of five famous East Asian scholars on the Diamond Sutra 金剛經. This includes the commentaries by (1) Zongmi 宗密; the Jingang jing shoulun zuanyao 金剛經疏論纂要. (2) Huineng 慧能 the Jingang jing jieyi 金剛經解義. (3) Shuanglin fu 雙林傅, the . (4) Yefu Daochuan 冶父道川. (5) Yuzhang Zongjing 豫章宗鏡. Interwoven with these commentaries and the text of the sutra itself is Kihwa's own sub-commentary. Kihwa also writes a substantial introduction to this piece, in which he makes powerful argument for a balanced approach to religious practice, including both sitting meditation 禪 and scriptural study 教. HPC 7.10-107. => (k: Kŭmgang panya p'aramilgyŏng ogahae sŏrŭi; j: Kongō hanyaharamitsukyō goke kaisetsugi. Luận giải của ngài Kỷ Hòa về năm bản chú giải về Kinh Kim Cương của năm học giả nổi tiếng Á Đông, gồm: 1. Kim cương kinh sớ luận toản yếu (c: Jingang jing shoulun zuanyao 金剛經疏論纂要) của Tông Mật (c: Zongmi 宗密). 2. Kinh Kim Cương giải nghĩa (c: Jingang jing jieyi 金剛經解義) của Huệ Năng (c: Huineng 慧能). 3. Lương triều Đại sư tụng Kim Cương Kinh (c: Liangzhao fu dashi song jingang jing 梁朝傅大師頌金剛經) của Song Lâm Phó (c: Shuanglin fu 雙林傅). 4. Bản của Dã Phụ Đạo Xuyên (c: Yefu Daochuan 父道川). 5. Bản của Dự Chương Tông Cảnh (c: Yuzhang Zongjing 豫章宗鏡. Xen kẽ với những luận giải và kinh văn là lời bình của ngài Kỷ Hòa. Ngài còn viết lời giải thích rất giá trị về bộ luận nầy, trong đó ngài tạo ra một lý lẽ rất mạnh về sự quân bình trong sự tu tập giữa Thiền và Giáo.

Kim cương Bát-nhã ba-la-mật kinh 金剛般若波羅蜜經

[ja] コンゴウハンニャハラミツキョウ Kongō hannyaharamitsu kyō ||| The Chinese title of the Kumārajīva translation of the Vajracchedika Prajñāpāramitā-sūtra. Usually abbreviated as 金剛經, 'Diamond Sutra.' Alternate Chinese translation titles are Jingang nengduan panruo boluomi jing 金剛能斷般若波羅蜜經 and Foshuo nengduan jingang panruo boluomi jing 佛説能斷金剛般若波羅密經, which are more faithful to the original title in Sanskrit. Six Chinese translations survive of this popular short Prajñāpāramitā sutra, listed here by translator (Taishō reference) and date: (1) Kumārajīva 鳩摩羅什 (T235.8.748c-752c), 403 CE; Bodhiruci (T 236.8.752c-761c), 509 CE; Paramārtha (T 237.8.762a-766c), 562CE; Dharmagupta (T 238.8.766c-771c), 605 CE; Xuanzang (T 220[9]), 648 CE; and Yijing (T 239.8.771c-775b), 703 CE. The Bodhiruci translation actually consists of two separate versions of the sutra, presumably either of differing Sanskrit manuscripts, or translated at different times in his career. The Kumārajīva version was the first and most popular of the translations, as evidenced by the fact that it is his text that is used by later commentators. However, as is typical of Kumārajīva's translations, it is somewhat freer in style compared with other Chinese renditions of the Sanskrit. Later translations, by contrast, were much more literal. Most notable is Dharmagupta's, which breaks with Kumārajīva's text entirely and translates very literally. The exegetical tradition regarding this sutra is extensive in the Chinese Canon, including both native treatises and treatises of Indian origin translated into Chinese. In the Taishō gempan Daizōkyō, texts directly related to the Vajracchedika Prajñāpāramitā-sūtra include T 1510-15, T 1698-1704. Due to the combinationn of its brevity and popularity, the Diamond Sutra has been translated into English many times, from both Chinese and Sanskrit. => (k: Kŭmgang panyap'aramilgyŏng; j: Kongō hannyaharamitsu kyō) Bản dịch tiếng Hán kinh Vajracchedika Prajñāpāramitā-sūtra của ngài Cưu-ma-la-thập. Thường gọi tắt là Kinh Kim Cương Kinh 金剛經 (e: Diamond Sutra). Tên gọi khác tiếng Hán là Kim cương năng đoạn Bát-nhã ba-la-mật kinh (c: Jingang nengduan panruo boluomi jing 金剛能斷般若波羅蜜經) và Phật thuyết năng đoạn Kim cương Bát-nhã ba-la-mật kinh (c: Foshuo nengduan jingang panruo boluomi jing 佛説能斷金剛般若波羅密經), rất trung thành với tên kinh từ tiếng Sanskrit. Có 6 bản dịch bản kinh thuộc hệ Bát-nhã ngắn gọn và thông dụng bằng tiếng Hán còn lưu hành, được xếp theo dịch giả và thời gian dịch (theo Đại Chính tân tu Đại tạng kinh Taishō). Của Cưu-ma-la-thập (s: Kumārajīva 鳩摩羅什 (T235.8.748c-752c), năm 403. Của Bồ-đề Lưu-chi (s: Bodhiruci (T 236.8.752c-761c), năm 509. Cuae Chân Đế (s: Paramārtha (T 237.8.762a-766c), năm 562. Của Đạt-ma cấp-đa (s: Dharmagupta (T 238.8.766c-771c), 605. Của Huyền Trang (c: Xuanzang (T 220[9]), năm 648. Của Nghĩa Tịnh (c: Yijing (T 239.8.771c-775b), 703. Bản của ngài Bồ-đề Lưu-chi gồm hai bản gốc của nguyên tác, hoặc có thể đoán là hai bản kinh tiếng Sanskrit khác nhau, hoặc là dịch vào hai thời kỳ trong sự nghiệp dịch kinh của ngài. Bản của ngài Cưu-ma-la-thập là bản dịch đầu tiên và thông dụng nhất, qua bằng chứng thực tế là bản kinh của ngài được nhiều tác giả sau nầy dùng để chú giải. Tuy nhiên, vì theo đặc trưng lối dịch của ngài Cưu-ma-la-thập, có chút thoáng đạt trong văn phong hơn so với các tác giả Trung Hoa dịch từ tiếng Sanskrit. Các bản dịch sau nầy, trái lại, dịch sát theo nguyên văn hơn. Nổi tiếng nhất là bản dịch của ngài Đạt-ma cấp-đa (s: Dharmagupta), hoàn toàn khác với bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập và dịch rất sát nghĩa. Các tác phẩm chú giải về kinh nầy khà nhiều trong Hán tạng. Trong Đại Chính tân tu Đại tạng kinh Taishō gempan Daizōkyō, các Kinh văn liên quan đến kinh Vajracchedika Prajñāpāramitā-sūtra được ký hiệu T 1510-15, T 1698-1704. Do sự cấu trúc của kinh rất chặt chẽ và thông dụng, nên Kinh Kim Cương đã được dịch sang Anh ngữ rất nhiều bản, từ bản gốc tiếng Hán và tiếng Sanskrit.

Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh

金剛般若波羅密多經; S: vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra; dịch đủ là Kim cương năng đoạn bát-nhã ba-la-mật-đa kinh;|Một bài Kinh quan trọng của bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, được lưu truyền rộng rãi vùng Ðông Á. Kinh chỉ rõ, mọi hiện tượng thân tâm không phải là thể của thật tại, chúng chỉ là biểu hiện của tâm. Hành giả phải quán chiếu hoạt động của tâm thức và hiểu rằng tâm vốn »trống rỗng, vô ngã, tịch tịnh«. Kinh được gọi là »Kim cương« vì nó »sắc bén như kim cương, cắt sạch (能斷; năng đoạn) mọi khái niệm và đưa hành giả đến bờ Giác ngộ«. Tương truyền rằng, Lục tổ Huệ Năng nhân nghe người tụng kinh này mà giác ngộ.

Kim cương bí mật thiện môn đà-la-ni kinh 金剛祕密善門陀羅尼經

[ja] コンゴウヒミツゼンモンダラニキョウ Kongō himitsu zenmon darani kyō ||| The Jingang mimi shanmen tuoluoni jing; 1 fasc. (T 1138a.20.581-583). An alternative translation of the Shanfafangbiantuoluonijing 善法方便陀羅尼經. => (k: Kongō himitsu zenmon darani kyō; c: Jingang mimi shanmen tuoluoni jing); 1 Tên gọi khác bản dịch Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh (c: Shanfafangbiantuoluonijing 善法方便陀羅尼經).

kim cương bảo bồ tát

3579金剛寶,梵名 Vajra-ratna,音譯嚩日囉囉怛那。西藏名 Rdo-rje-rin-chen。又稱金剛胎菩薩。 <一>密教金剛界三十七尊中,十六大菩薩之一,南方寶生如來四親近之一。位居金剛界曼荼羅南方月輪中寶生如來前方。密號大寶金剛、如意金剛、庫藏金剛。此尊之種子、形像,於各會中皆不同,如於成身會中,種子爲???(oṃ),三昧耶形爲有火焰之三瓣寶;形像爲身呈肉色,左手與願,右手承寶;印相爲二拳之面相合,以二食指作寶形;真言爲「唵  嚩日囉 囉怛那 唵」。據略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門載,由金剛寶菩薩之加持,能證得無染智。 <二>大日如來四親近之一。位居金剛界曼荼羅四印會中南方月輪內。代表四種智印中之三昧耶智印。形像爲右手作與願印,左手持寶珠置於胸前;印相爲金剛針印;真言爲「薩縛目捺藍銘不栗夜薄縛睹」。此菩薩爲寶生如來下轉之身,象徵發菩提心後之萬行攝持萬法。〔金剛頂經卷一、瑜伽瑜祇經一切如來內護摩金剛軌儀品、金剛頂瑜伽三十七尊出生義、金剛頂蓮華部心念誦儀軌〕 ; (金剛寶菩薩) Kim cương bảo, Phạm: Vajra-ratna. Hán dịch: Phạ nhật ra ra đát na. Tạng:Rdorje-rin-chen. Cũng gọi Kim cương thai Bồ tát. I. Kim Cương Bảo Bồ Tát. Vị Bồ tát ngồi ở phía trước đức Bảo sinh Như lai trong vòng tròn phương nam trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 37 vị tôn Kim cương giới, 1 trong 16 vị Đại bồ tát. Mật hiệu là Đại bảo kim cương, Như ý kim cương, Khố tạng kim cương. Về hình tượng và chủng tử của vị tôn này, trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng là thân mầu da người, tay trái kết ấn Dữ nguyện, tay phải cầm vật báu, chủng tử là (oô), hìnhTam muội da là vật báu 3 hạt ngọc có ngọn lửa cháy; ấn tướng là 2 nắm tay hợp lại, dùng 2 ngón trỏ làm thành hình báu. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra ra đát na án. Cứ theo Lược thuật kim cương đính du già phân biệt thánh vị tu chứng pháp môn, thì nhờ có sự gia hộ của bồ tát Kim cương bảo mà hành giả chứng được trí vô nhiễm. II. Kim Cương Bảo Bồ Tát. Vị Bồ tát ngồi trong vòng tròn phía nam trong hội Tứ ấn thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, đại biểu cho Trí ấn tam muội da trong 4 loại Trí ấn. Là 1 trong 4 vị Bồ tát thân cận đức Đại nhật Như lai. Hình tượng vị tôn này là tay phải kết ấn Dữ nguyện, tay trái cầm viên bảo châu đặt ở trước ngực. Ấn tướng là ấn Kim cương châm; chân ngôn là: Tát phược mục nại lam minh bất lật dạ bạc phược đổ. Vị Bồ tát này là thân chuyển xuống của đức Bảo sinh Như lai, tượng trưng cho vạn hạnh thu nhiếp muôn pháp sau khi phát tâm bồ đề. [X. kinh Kim cương đính Q.1; phẩm Nhất thiết Như lai nội hộ ma kim cương nghi quĩ trong kinh Du già du kì; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa; Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ].

kim cương bảo giới

3578<一>謂戒法堅固不壞,因受持戒法可破除煩惱迷妄,功德堅固無比,故將戒法比喻爲堅利之金剛。〔心地觀經卷三〕 <二>指梵網經所說之大乘菩薩戒。又作一心金剛戒。即本有無作之一心性戒,一得而永不失,具有無比之大用。梵網經卷下(大二四‧一○○三下):「金剛寶戒是一切佛本源,一切菩薩本源。」又金剛寶戒爲日本天台宗所立圓頓戒(十重四十八輕戒)之異名,此戒係最澄依我國天台智者大師之說而設。(參閱「圓頓戒」)5411) ; (金剛寶戒) I. Kim Cương Bảo Giới. Giới pháp bền chắc không hư hoại. Nhờ thụ trì giới pháp mà phá trừ được phiền não mê vọng, công đức bền chắc như kim cương, không có gì sánh kịp. [X. kinh Tâm địa quán Q.3]. II. Kim Cương Bảo Giới. Cũng gọi Nhất tâm kim cương giới. Chỉ cho giới Bồ tát Đại thừa nói trong kinh Phạm võng. Tức là Nhất tâm tính giới (giới Bồ tát) vốn có, không do tạo tác; một khi đã thụ trì thì không bao giờ mất, có lực dụng rất lớn, không giới nào khác sánh bằng. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1003 hạ), nói: Kim cương bảo giới là cội nguồn của tất cả chư Phật và Bồ tát. Ngoài ra, Kim cương bảo giới cũng là tên khác của Viên đốn giới (10 giới trọng và 48 giới khinh) do ngài Tối trừng người Nhật căn cứ vào thuyết của đại sư Trí khải tông Thiên thai Trung quốc mà lập ra. (xt. Viên Đốn Giới).

kim cương bảo toà

3579原指釋尊在菩提樹下成道時之高座,後世亦泛指說法、說戒師及講會之導師等的高床座。(參閱「金剛座」3552、「高座」4358) ; (金剛寶座) Nguyên chỉ cho cái tòa của đức Phật ngồi khi Ngài thành đạo ở gốc cây Bồ đề. Đời sau, bảo tọa cũng được dùng để chỉ chung cho tòa ngồi của Thuyết pháp sư, Thuyết giới sư và Đạo sư trong các pháp hội. (xt. Kim Cương Tọa, Cao Tọa).

kim cương bảo tạng

3579梵語 vajra-ratna-kośa。乃比喻大涅槃及眾生心地之淨菩提心,猶如金剛堅固之寶藏。此堅固之菩提心能成就一切如來之功德,縱然流轉六道,爲三惑所纏縛,亦絕不受破壞。〔大般涅槃經後分卷上、大日經疏卷一、卷二〕 ; The Diamond treasury, i.e. nirvàna and the pure bodhi-mind, as the source of the mind of all sentient beings. ; (金剛寶藏) Phạm: Vajra-ratna-koza. Kho báu bền chắc như kim cương, ví dụ cho Đại niết bàn và tâm bồ đề trong sạch của chúng sinh. Tâm bồ đề trong sạch, bền chắc này có khả năng thành tựu tất cả công đức của Như lai, mặc dầu trôi lăn trong 6 đường, tham sân si trói buộc, nhưng không bao giờ bị phá hoại. [X. kinh Đại bát niết bàn hậu phần Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.2].

kim cương bất hoại

3535比喻如金剛之堅固不壞。經論中常見金剛不壞之身、金剛不壞勝地等語,均係取其堅固不壞之義。 ; (金剛不壞) Kim cương không hư nát. Trong kinh luận thường thấy những câu như Kim cương bất hoại thân, Kim cương bất hoại thắng địa, v.v... đều có nghĩa là bền chắc không hư nát giống như kim cương.

kim cương bất hoại thân

The diamond indestructible body, the Buddha.

kim cương bề hiển tính lục

3574請參閱 金剛錍顯性錄 凡四卷。宋代孤山智瞗]976~1022)集。全稱金剛錍論顯性錄。收於卍續藏第一○○冊。本書係唐代僧荊溪湛然所著金剛錍論之注釋書。天台宗山外派孤山智圓,於書中公然對四明知禮之山家派挑起論爭。古來山外派學者之論著中所談義理較爲偏謬,向爲山家派所駁斥,然本書對於金剛錍之釋義,堪稱優越,甚至山家派亦屢加引用。

kim cương bề luận

3574請參閱 金剛錍論 全一卷。又稱金剛錍、金錍論。唐代僧荊溪湛然(711~782)著。收於大正藏第四十六冊。金剛錍係治療盲人眼膜之器具,引申爲開啟眾生迷惑之心眼。此論以法華經的一切有情、無情皆成佛之思想與大乘起信論之唯識思想爲根本,而主張一切草木皆可成佛,並以涅槃經「佛性如空」之立場,對「瓦石非佛性」之說加以反駁。又依據天台之教理,謂法、報、應三身皆具足佛性。本論論及佛性之真義,謂不但一切有情具有佛性,即連草木亦有佛性。此種「非情佛性說」不見於智顗之著述,可知此係湛然別創之思想,其後且成爲宋代天台教義之特色。

kim cương bồ tát

Vajra-bodhisattvas (S).

kim cương bộ

3557爲密教金剛界五部之一,或胎藏界三部之一。爲手持金剛杵以標幟如來智德之諸尊所組成之部。蓋諸佛之智慧能摧破諸煩惱,而此部以銳利、不壞之金剛比喻如來智慧能破之德,故以此智含攝一切如來之大智門。 於胎藏界曼荼羅十三大院中,位列中臺大日左方之金剛手院、除蓋障院、部分外金剛部院等均屬此部;部主爲降三世明王,部母爲忙莽雞菩薩。於金剛界曼荼羅五智五佛之中,東方之大圖鏡智屬於此部;部主爲阿閦如來,部母爲金剛波羅蜜菩薩,有金剛薩埵、金剛王、金剛愛、金剛嬉等四親近,此外二十天中之東方五天、千佛中之東方二五○尊、十六尊中之東方四尊等均攝於此部。於身、口、意三密中,此部配屬意密,種子爲???(hūṃ,吽),三昧耶形爲五股杵,尊形爲金剛薩埵。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、蘇悉地羯囉經卷上、瑜伽瑜祇經序品、大日經疏卷五、祕藏記〕 ; The various groups in the two mandalas, each having a chủ or head. ; (金剛部) Bộ được tổ thành bởi các vị tôn tay cầm chày kim cương tiêu biểu cho trí đức của Như lai. Là 1 trong 5 bộ Kim cương giới, hoặc 1 trong 3 bộ Thai tạng giới của Mật giáo. Vì trí tuệ của chư Phật có năng lực phá trừ các phiền não mà Bộ này thì dùng tính chất bén nhọn, chẳng hư hoại của kim cương để ví dụ cho đức trí tuệ năng phá của Như lai, cho nên dùng trí này bao hàm tất cả môn đại trí của Như lai. Trong 13 viện lớn của Mạn đồ la Thai tạng giới, thì viện Kim cương thủ, viện Trừ cái chướng và 1 phần viện Kim cương bộ ngoài bên phía trái của Đại nhật Như lai ở Trung đài đều thuộc Bộ này. Bộ chủ là Minh vương Hàng tam thế, bộ mẫu là bồ tát Mang mãng kê. Trong Ngũ trí Ngũ Phật của Mạn đồ la Kim cương giới, thì Đại viên kính trí ở phía đông thuộc về Bộ này; bộ chủ là A súc Như lai; bộ mẫu là bồ tát Kim cương ba la mật, có 4 vị Bồ tát thân cận là: Kim cương tát đỏa, Kim cương vương, Kim cương ái và Kim cương hí. Ngoài ra, 5 vị trời ở phương đông trong 20 vị trời, 250 vị tôn ở phương đông trong 1.000 vị Phật, 4 vị tôn ở phương đông trong 16 vị tôn, v.v... đều thuộc Bộ này. Trong Tam mật thân, khẩu, ý, Bộ này được phối với Ý mật, chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là chày 5 chĩa, hình tượng là Kim cương tát đỏa. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; kinh Tô tất địa yết ra Q.thượng; phẩm Tựa kinh Du già du kì; Đại nhật kinh sớ Q.5; Bí tạng kí].

kim cương bộ chủ

3557即金剛部之上首。金剛界、胎藏界各有金剛部,然對部主各持異說。據攝無礙經、五部陀羅尼問答偈讚宗祕論(空海)之說,金剛界之金剛部主爲阿閦如來。於胎藏界,依大日經疏卷五之說以金剛薩埵(執金剛)爲該部上首;攝大儀軌卷二以金剛手菩薩爲金剛部上首;祕藏記則以降三世明王爲部主,執權管領該部。又金剛部母即指司掌能生之德之尊。金剛界之金剛部母爲金剛波羅蜜菩薩,胎藏界之金剛部母爲忙莽雞菩薩。 ; (金剛部主) Vị tôn đứng đầu bộ Kim cương. Kim cương giới và Thai tạng giới của Mật giáo đều có bộ Kim cương, nhưng về vị bộ chủ của mỗi bộ thì có nhiều thuyết khác nhau. Theo kinh Nhiếp vô ngại và luận Ngũ bộ đà la ni vấn đáp kệ tán tông kí(Không hải), thì bộ chủ Kim cương bộ thuộc Kim cương giới là A súc Như lai. Còn bộ chủ Kim cương bộ thuộc Thai tạng giới thì theo Đại nhật kinh sớ quyển 5, là Kim cương tát đỏa(Chấp kim cương). Theo Nhiếp đại nghi quĩ quyển 2, bồ tát Kim cương thủ là bộ chủ của Kim cương bộ; Bí tạng kí thì cho rằng Minh vương Hàng tam thế là bộ chủ của Kim cương bộ. Ngoài ra, Kim cương bộ mẫu là chỉ cho vị tôn chủ về đức năng sinh. Kim cương bộ mẫu của Kim cương giới là bồ tát Kim cương ba la mật, còn Kim cương bộ mẫu của Thai tạng giới là bồ tát Mang mãng kê.

kim cương ca bồ tát

3568金剛歌,梵名 Vajra-gītā,音譯嚩日囉擬多、嚩日囉霓帝。西藏名 Rdo-rje-glu。密教金剛界三十七尊中,內四供養之一。位居中央大月輪中之西南隅。又稱金剛歌詠大天女。密號無畏金剛、妙音金剛。 此尊之種子、形像,於各會中皆不同,如於成身會,種子爲???(gīḥ),一切法無造作之義;三昧耶形爲金剛箜篌;形像爲身呈白肉色,天女形,左手執箜篌,右手彈之;印相爲二拳側面相合,由臍部上至口部而散開;真言爲「唵 嚩日囉 儗帝儗」。於三昧耶會,種子爲???(khya),義爲歌頌大空乘教而樂之;三昧耶形爲蓮花上有六絃琵琶;印相爲「金剛合掌」,由臍部至口部而上仰散開;真言爲「戌路怛囉燥契」。於供養會,形像爲兩手持蓮,蓮上有箜篌。 據略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門之說,由金剛歌菩薩加持,可得如來微妙音聲,聞者無厭。又此菩薩自大日如來流出,以歌詠供養司掌智慧門說法之無量壽如來。〔大教王經卷四、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 ; (金剛歌菩薩) Kim cương ca, Phạm:Vajra-gàtà, Tạng: Rdo-rje-glu. Hán âm: Phạ nhật ra nghĩ đa, Phạ nhật ra nghê đế. Cũng gọi: Kim cương ca vịnh đại thiên nữ. Vị Bồ tát ngồi ở góc tây nam trong vòng tròn trung ương, là 1 trong 4 vị Bồ tát nội cúng dường trong 37 vị tôn của Kim cương giới Mật giáo, mật hiệu là Vô úy kim cương, Diệu âm kim cương. Chủng tử và hình tượng của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì chủng tử là (gì#), nghĩa là tất cả pháp không tạo tác; hình tượng là hình Thiên nữ, thân mầu da trắng, tay trái cầm đàn không hầu, tay phải trong tư thế gảy đàn; hình Tam muội da là cây đàn không hầu kim cương; ấn tướng là 2 cạnh nắm tay sáp lại với nhau đặt ở trước rốn, dần dần nâng lên ngang miệng thì 2 nắm tay xòe ra. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra nghĩ đế nghĩ. Trong hội Tam muội da, thì chủng tử là (khya) nghĩa là ca tụng thừa giáo đại không và lấy đó làm vui; hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa có cây đàn tì bà 6 dây; ấn tướng là ấn Kim cương hợp chưởng, đặt dưới rốn, khi nâng lên đến ngang miệng thì mở ra và ngửa bàn tay lên. Chân ngôn là: Tuất lộ đát ra táo khế. Còn trong hội Cúng dường thì hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có đàn không hầu. Cứ theo Lược thuật kim cương đính du già phân biệt thánh vị tu chứng pháp môn, thì nhờ sự gia hộ của bồ tát Kim cương ca mà hành giả có được âm thanh mầu nhiệm của Như lai, làm cho người nghe không nhàm chán. Ngoài ra, vị Bồ tát này là từ trong đức Đại nhật Như lai lưu xuất ra, đem lời ca tiếng hát cúng dường đức Vô lượng thọ Như lai là vị Phật chủ về Trí tuệ môn thuyết pháp. [X. kinh Đại giáo vương Q.4; kinh Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương châm bồ tát

3556金剛針,梵名 Vajra-sūci,音譯嚩日囉蘇脂。西藏名Rdo-rje-khab。密教現圖胎藏界曼荼羅虛空藏院外列南方第三位之菩薩。又稱大力金剛針菩薩。針者,利智之義,因此尊能以如金剛般銳利之智貫達一切諸法,故稱金剛針。密號精進金剛,種子爲???(hūṃ),三昧耶形爲獨股杵;形像爲身呈肉色,左手豎掌,屈食指、中指、無名指而持蓮,蓮上立獨股杵,仰右掌,指端向右,微屈食指、中指、無名指,跏坐於白蓮花上;真言爲「南麼三曼多伐折羅赧 薩婆達麼 儞吠達儞 伐折囉素旨 嚩囉泥 莎訶」。大日經卷一具緣品、卷五祕密漫荼羅品則以此尊爲金剛部院金剛薩埵之眷屬,而不入虛空藏院。〔大日經疏卷五、卷十、大日經義釋卷七、秘藏記、諸說不同記卷六〕 ; (金剛針菩薩) Kim cương châm, Phạm: Vajra-sùci. Hán âm: Phạ nhật ra tô chi. Tạng:Rdo-rje-khab. Cũng gọi Đại lực kim cương châm bồ tát. Vị Bồ tát bày ở vị trí thứ 3 phía nam bên ngoài viện Hư không tạng trên Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Châm, nghĩa là trí tuệ bén nhọn. Vị tôn này có khả năng thấu suốt tất cả các pháp bằng trí tuệ bén nhọn như kim cương, cho nên gọi là Kim cương châm. Mật hiệu là Tinh tiến kim cương, chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là chày 1 chĩa. Hình tượng vị tôn này thân mầu da người, ngồi kết già trên hoa sen trắng, bàn tay trái dựng thẳng, ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út co lại cầm hoa sen, trên hoa có cây chày 1 chĩa dựng đứng; bàn tay phải ngửa lên và hướng về bên phải, các ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út hơi co lại. Chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết la noản tát bà đạt ma nễ phệ đạt nễ phạt chiết ra tố chỉ phạ ra nêsa ha. Phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 và phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật quyển 5, cho vị tôn này là quyến thuộc của Kim cương tát đỏa thuộc viện Kim cương bộ, chứ không thuộc viện Hư không tạng. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.10; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.6].

kim cương châm luận

3556梵名 Vajrasūcī。法稱(梵 Dharmakīrti)造,宋代法天譯。收於大正藏第三十二冊。本書基於佛教的立場,批判吠陀時代以來印度之階級制度。除引用婆羅門教經典之文獻而加以反駁外,並提倡人間平等,爲一部簡明之論書。本書之梵文原本現存,西元一八二九年英國東方學者荷吉森(B.H. Hodgson)出版梵文原本及英譯本。此外另有德譯本、西藏譯本。又本書漢譯本、西藏譯本皆指爲法稱所作,而梵本之序及跋皆謂此書爲馬鳴(梵 Aśvaghoṣa)所撰述。〔至元法寶勘同總錄、奧義全書卷八、S. Lévi: Journal Asīatique, 1908〕 ; (金剛針論) Phạm:Vajrasùcì. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp xứng (Phạm:Dharmakìrti) soạn, ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung luận này, ngài Pháp xứng đã đứng trên lập trường Phật giáo để phê phán chế độ giai cấp của Ấn độ từ thời đại Phệ đà trở về sau và chủ trương mọi người đều bình đẳng. Trong luận có trích dẫn kinh điển của Bà la môn giáo để phản bác. Đây là 1 bộ luận ngắn gọn, lời văn rất sáng sủa và nguyên bản tiếng Phạm hiện vẫn còn. Năm 1829, nhà học giả Đông phương học người Anh là ông Hà cát lâm (B.H. Hodgson) đã xuất bản nguyên văn tiếng Phạm và bản dịch tiếng Anh. Ngoài ra, còn có bản dịch tiếng Đức, bản dịch tiếng Tây tạng. Các bản dịch tiếng Hán và tiếng Tây tạng đều cho rằng luận này là do ngài Pháp xứng soạn, nhưng trong lời Tựa và lời Bạt bản tiếng Phạm đều bảo sách này là tác phẩm của ngài Mã minh (Phạm: Azvaghowa). [X. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục; Áo nghĩa toàn thư Q.8; S. Lévi: Journal Asiatique, 1908].

kim cương chân luận

Vajrasāci (S)Tên một bộ luận kinh. Do ngài Pháp Xứng biên soạn.

kim cương chủy

Vajrakilaya (S), Diamond dagger.

kim cương chử

3542梵語 vajra。音譯嚩日囉、伐折囉、跋折羅、???躭囉、伐闍羅。原爲古代印度之武器。由於質地堅固,能擊破各種物質,故冠以金剛之名。密教中,金剛杵象徵摧滅煩惱之菩提心,爲諸尊之持物或修法之道具。於曼荼羅海會之金剛部諸尊皆持金剛杵。真言行者亦常攜行,蓋以此杵象徵如來金剛之智用,能破除愚癡妄想之內魔與外道諸魔障。 最初金剛杵尖端甚銳利,直至用爲法具,其形狀已改變許多。有金、銀、銅、鐵、石、水晶、檀木、人骨等多種質料,長八指、十指、十二指、十六指、二十指不等,形狀有獨股、二股、三股、四股、五股、九股、人形杵羯磨金剛、塔杵、寶杵等,而以獨股、三股、五股最爲常見,分別象徵獨一法界、三密三身、五智五佛等。獨股杵、三股杵、五股杵、寶杵、塔杵合稱「五種杵」。其中,獨股杵爲最古之形式,其鋒頗長,爲密迹金剛力士所持。此外,千手觀音四十手中之金剛杵手及金剛藏王菩薩一百零八臂中之一手亦持獨股杵。於五種金剛杵中,以獨股杵與蓮華部相應,置於大壇之西方,其獨鋒象徵獨一法界。三股杵與羯磨部相應,置於大壇之北方。通常稱「嚩日囉」者,一般係指三股杵。五股杵又稱五智金剛杵、五峰金剛杵、五峰光明、五股金剛,其五峰係表五智五佛,其中之一鋒象徵佛之實智,其餘四鋒則爲四佛權智之標幟。〔北本大般涅槃經卷三、陀羅尼集經卷二、慈氏菩薩略修愈誐念誦法卷下、金剛頂經卷二、陀羅尼門諸部要目、大日經疏卷六〕 ; (金剛杵) Phạm:Vajra. Hán âm: Phạ nhật la, Phạt chiết ra, Bạt chiết la, Nga đam ra, Phạt xa la. Chày kim cương. Vốn là loại vũ khí của Ấn độ đời xưa. Do tính chất cứng chắc của nó có thể đánh phá các loại vật chất khác, giống như kim cương, cho nên gọi là Kim cương chử. Trong Mật giáo, Kim cương chử tượng trưng cho tâm bồ đề phá trừ phiền não, là vật mà chư tôn vị cầm ở tay hoặc là đạo cụ tu pháp. Các vị tôn thuộc Kim cương bộ trong Hải hội Mạn đồ la đều cầm Kim cương chử. Hành giả Chân ngôn cũng thường mang theo bên mình. Bởi vì Kim cương chử tượng trưng cho trí dụng kim cương của Như lai, có công năng phá trừ ma ngu si vọng tưởng bên trong và các ma chướng ngoại đạo bên ngoài. Lúc ban đầu, đầu của Kim cương chử rất bén nhọn, nhưng khi được dùng làm pháp cụ thì hình dáng của nó đã thay đổi nhiều.Về chất liệu có nhiều loại, như: bằng vàng, bạc, đồng, sắt, đá, gỗ chiên đàn, xương người, v.v...; về độ dài thì có các loại như: dài 8 ngón tay, 10 ngón, 12 ngón, 16 ngón, 20 ngón, v.v... Về hình dáng cũng có nhiều loại như: Chày 1 chĩa, 2 chĩa, 3 chĩa, 4 chĩa, 5 chĩa, 9 chĩa, chày kim cương yết ma hình người, chày hình tháp, hình báu, v.v... Trong đó, thường thấy nhất là các loại chày 1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa, lần lượt tượng trưng cho Nhất pháp giới, Tam mật tam thân, Ngũ trí ngũ Phật, v.v... Chày 1 chĩa, chày 3 chĩa, chày 5 chĩa, chày báu và chày hình tháp được gọi chung là Ngũ chủng chử. Trong đó, chày 1 chĩa là hình thức xưa nhất, mũi nhọn rất dài, là vật cầm tay của Lực sĩ Kim cương Mậttích. Ngoài ra, tay Kim cương chử trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm và 1 trong 108 tay của bồ tát Kim cương tạng vương cũng cầm chày 1 chĩa. Trong 5 loại chày Kim cương thì chày 1 chĩa tương ứng với Liên hoa bộ, được đặt ở phía tây Đại đàn, 1 chĩa tượng trưng cho Nhất pháp giới. Chày 3 chĩa tương ứng với Yết ma bộ, được đặt ở phía bắc Đại đàn. Thông thường gọi Phạ nhật ra là chỉ cho chày 3 chĩa. Còn chày 5 chĩa cũng gọi là Ngũ trí kim cương chử, Ngũ phong kim cương chử, Ngũ phong quang minh, Ngũ cổ kim cương... Năm chĩa biểu thị Ngũ trí Ngũ Phật, trong đó, 1 chĩa tượng trưng cho Thực trí của Phật, còn 4 chĩa kia thì tiêu biểu cho Quyền trí của 4 vị Phật. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.3 (bản Bắc); kinh Đà la ni tập Q.2; Từ thị bồ tát lược tu dũ nga niệm tụng pháp Q.hạ; kinh Kim cương đính Q.2; Đà la ni môn chư bộ yếu mục; Đại nhật kinh sớ Q.6].

Kim cương chử 金剛杵

[ja] コンゴウショ kongōsho ||| A weapon of ancient India. A mallet that is made of such hard metal that it will smash anything to smithereens. Metaphorically, the vajra-mallet can destroy all ignorance and affliction (vajra-vara). => Một vũ khí thời cổ đại Ấn Độ. Là cái chày làm bằng kim loại cứng có thể làm vỡ tan những gì chạm phải. Qua phép ẩn dụ, Kim cương chử có thể phá tan mọi vô minh phiền não (s: vajra-vara).

kim cương câu bồ tát

3566金剛鉤,梵名 Vajrāṅkuśaḥ,音譯嚩日囉矩捨、縛日羅矩捨。西藏名 Rdo-rje lcags-kyu。密教金剛界三十七尊中,四攝菩薩之一。位居曼荼羅第一重之東門。密號普集金剛、召集金剛、鉤引金剛。此尊以堅固猛利之菩提心,拔引眾生出離惡趣,猶如漁夫以鉤捕魚;出自中央大日如來之下轉門,司掌攝取眾生之德,並召集一切賢聖降臨道場,表示攝取眾生之德。種子爲???(jaḥ),即因緣法悉攝入不生之義。 三昧耶形、真言,於各會中皆不同,如於成身會中,三昧耶形爲金剛鉤,形像爲身呈黑色,左手作拳置於腰部,右手執鉤;真言爲「唵 嚩日囉 矩捨 弱」。於三昧耶會,三昧耶形爲蓮花上之三股鉤,真言爲「阿夜呬 弱」。於微細會,形像爲右手持三股鉤,左手在腰部握拳伸食指。於供養會,形像爲兩手持蓮,蓮上有三股鉤。〔金剛頂經卷二、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 ; (金剛鈎菩薩) Kim cương câu, Phạm: Vajràikuza#. Tạng:Rdo-rje lcags-kyu. Hán âm: Phạ nhật ra củ xả, Phược nhật la củ xả. Vị Bồ tát ngồi ở cửa Đông, lớp thứ nhất của Mạn đồ la Kim cương giới. Là 1 trong 4 vị Nhiếp bồ tát thuộc 37 vị tôn của Kim cương giới Mật giáo. Mật hiệu là Phổ tập kim cương, Triệu tập kim cương, Câu dẫn kim cương. Vị tôn này dùng tâm bồ đề bền chắc, mạnh mẽ cứu vớt và dẫn dắt chúng sinh ra khỏi đường ác, giống như ngư phủ dùng lưỡi câu để câu cá. Vị tôn này là từ môn hạ chuyển của đức Đại nhật Như lai lưu xuất, chủ về đức nhiếp thủ chúng sinh và triệu tập tất cả Hiền Thánh giáng lâm đạo tràng. Chủng tử là (ja#), nghĩa là các pháp nhân duyên đều vô sinh. Về hình Tam muội da và chân ngôn, thì trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, thì hình Tam muội da là lưỡi câu kim cương, hình tượng là thân mầu đen, tay trái nắm lại để ở chỗ thắt lưng, tay phải cầm lưỡi câu. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra củ xả nhược. Trong hội Tam muội da, thì hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa có lưỡi câu 3 chĩa. Chân ngôn là: A dạ hi nhược. Trong hội Vi tế, hình tượng là tay phải cầm lưỡi câu 3 chĩa, tay trái nắm lại, ngón trỏ duỗi ra và đặt ở cạnh sườn. Trong hội Cúng dường, thì hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có lưỡi câu 3 chĩa. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương câu nữ bồ tát

3566金剛鉤女,梵名 Vajrāṅkuśī,音譯嚩日羅句尸、縛日羅句尸。西藏名 Rdo-rje lcags-kyu-ma。於密教現圖胎藏界曼荼羅金剛手院中,第一行上方第二位之菩薩。此尊以般若之鉤召集眾生,施與殊勝之智慧。密號召集金剛,種子爲???(hūṃ)、???(aḥ),三昧耶形爲三股鉤(一說三股鉾);形像爲身呈肉色,右手屈臂仰掌置於腋下,指尖向下,拇指張開,食指稍開,左手持三股鉤,豎立左膝,面向右而下視,坐於赤蓮花上;印相爲大鉤召印,二手內縛,豎右食指而彎屈作鉤狀;真言爲「忿怒歸命戰拏摩訶路灑拏 ; (金剛鈎女菩薩) Kim cương câu nữ, Phạm: Vajràíkuzì. Hán âm: Phạ nhật ra cú thi, Phược nhật la cú thi. Tạng: Rdo-rje lcags-kyu-ma. Vị Bồ tát ở ngôi thứ 2 phía trên hàng thứ nhất trong viện Kim cương thủ, trên Hiện đồ Mạn đà la Thai tạng giới Mật giáo, mật hiệu là Triệu tập kim cương. Vị tôn này dùng trí tuệ bát nhã để triệu tập chúng sinh, cho họ trí tuệ thù thắng, giống như ngư phủ dùng lưỡi câu để câu cá. Hình tượng vị tôn này thân mầu da người, cánh tay phải co lại bàn tay ngửa đặt ở ngang ngực gần sát nách, 5 đầu ngón hướng xuống dưới; ngón cái giang thẳng, ngón trỏ hơi xòe ra, tay trái cầm lưỡi câu 3 chĩa, đầu gối trái dựng đứng, mắt hướng về bên phải và nhìn xuống, ngồi trên hoa sen đỏ. Ấn tướng là ấn Đại câu triệu, nghĩa là 2 mu bàn tay đâu lại với nhau, 10 ngón tay đan nhau rồi nắm lại cho các ngón tay nắm trong 2 lòng bàn tay(nội phược), ngón trỏ của tay phải dựng đứng, rồi hơi co lại làm thành hình cái móc câu. Chủng tử là (hùô), (a#), hình Tam muội da là móc câu 3 chĩa(có thuyết nói là cây mâu 3 chĩa). Chân ngôn là: Phẫn nộ qui mệnh chiến noa ma ha lộ sái noa hàm. Vị tôn này không thấy được ghi trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, mà chỉ thấy được ghi trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2 và Thanh long tự nghi quĩ quyển trung. Đây có lẽ đã do người đời sau căn cứ vào đoạn văn nói về quyến thuộc của bồ tát Kim cương bát đỏa trong phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật quyển 5, mà thêm vào.

kim cương cửu dụ

3532北魏菩提流支譯之金剛般若波羅蜜經中將一切有爲法作九種譬喻,謂一切有爲法,猶如星、翳、燈、幻、露、泡、夢、電、雲。即:(一)星喻,謂星宿於夜間即顯明朗,而晝時爲日光所照,皆隱而不現;以此譬喻眾生昏迷,執著諸見而自以爲明了,若以正智之心照之,則眾偏見皆滅。(二)翳喻,謂人目有障翳,則見空幻之花等幻相;以譬喻眾生爲無明覆障,則見一切有爲虛妄之境界。(三)燈喻,謂燈因膏油而焰燒無窮;以譬喻眾生之妄識,依貪愛諸種境界而生生不絕。(四)幻喻,謂諸種幻化之事,無而忽有,體本不實,此皆因幻師咒術之力而假作種種形相;以譬喻世間之山河大地,皆是虛妄幻化,此因眾生惑業之力,故而妄有種種境界。(五)露喻,謂露沾於草木而不久留,爲風所吹須臾即落;以譬喻眾生之幻身,雖於世間短暫留住,然爲無常風所吹時,則倏忽變滅。(六)泡喻,泡,水泡。謂水泡因渧(水點)、水、風三者和合而成;以譬喻眾生因根、境、識三法和合,而有苦樂受用之境。(七)夢喻,謂晝緣諸境,夜則感夢,惟因想而生,本無實體;以譬喻眾生緣念過去而造作諸事,境雖已滅,然緣想即現,一切有爲之法,亦皆因妄想而成,猶如夢境。(八)電喻,謂雷電之光,剎那不住;以譬喻一切現在諸法,猶如電光,倏忽變滅。(九)雲喻,謂雲能降雨澤,然又能變現無常;以譬喻眾生之阿賴耶識含藏諸法,能持未來種種境界而變現不定。 ; (金剛九喻) Kinh kim cương bát nhã ba la mật do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào thời Bắc Ngụy, dùng 9 hiện tượng ví dụ cho tất cả pháp hữu vi để nói rõ sự vô thường, hư ảo của các pháp. Đó là: 1. Tinh dụ(ví dụ như sao): Ban đêm các vì sao sáng tỏ, nhưng ban ngày bị ánh sáng mặt trời lấn át nên đều ẩn mất; ví dụ chúng sinh hôn mê, chấp trước, cho sự thấy biết của mình là sáng suốt, nhưng nếu dùng chính trí soi rọi thì những thiên kiến kia đều bị tiêu diệt. 2. Ế dụ(ví dụ như mắt có màng): Khi mắt bị đau, có màng che mờ, thì thấy những hình ảnh hư huyễn như hoa đốm; ví dụ cho chúng sinh bị vô minh che lấp, chỉ thấy được những cảnh tượng hữu vi hư vọng. 3. Đăng dụ (ví dụ như đèn): Đèn nhờ dầu mà được đốt sáng không bao giờ tắt; ví dụ vọng thức của chúng sinh nương vào các cảnh giới tham ái nên đời đời sống chết không dứt. 4. Huyễn dụ(ví dụ như huyễn): Các việc huyễn hóa, chợt có chợt không, thể vốn chẳng thực, đó đều do sức chú thuật của huyễn sư(người làm trò ảo thuật) tạo ra; ví dụ cho núi, sông, đất đai ở thế gian đều là hư vọng huyễn hóa do sức hoặc nghiệp của chúng sinh giả hiện mà thôi. 5. Lộ dụ(ví dụ như sương móc): Những giọt sương móc đọng trên cây cỏ chẳng được bao lâu, lúc bị gió thổi thì chỉ trong nháy mắt là tan biến, rơi rụng hết; ví dụ thân giả tạm của chúng sinh, sống ở thế gian đã ngắn ngủi, nhưng bất cứ lúc nào bị ngọn gió vô thường ào đến thì vụt biến mất ngay. 6. Bào dụ(ví dụ như bọt nước): Bọt nước do giọt nước, nước và gió hòa hợp mà thành; ví dụ chúng sinh do 3 pháp căn, cảnh, thức hòa hợp nên có cảnh thụ dụng khổ vui. 7. Mộng dụ(ví như nằm mơ): Ngày theo các cảnh, đêm cảm thấy mộng, mộng do vọng tưởng mà sinh, vốn không có thực thể; ví dụ chúng sinh nghĩ về quá khứ tạo tác các việc, cảnh tuy đã diệt, nhưng tưởng đến liền sinh; tất cả pháp hữu vi cũng đều do mộng tưởng mà thành, giống như cảnh trong giấc mộng. 8. Điện dụ(ví dụ như ánh chớp): Ánh sáng của tia chớp, biến diệt trong chốc lát, ví dụ tất cả các pháp hiện tại, giống như ánh chớp, biến diệt trong khoảnh khắc. 9. Vân dụ(ví dụ như mây): Mây hay làm mưa, nhưng lại biến hiện vô thường, ví dụ thức A lại da của chúng sinh hàm chứa các pháp, có năng lực nắm giữ các cảnh giới ở vị lai và biến hiện một cách vô định.

kim cương danh

3539西藏語 rdo-rje-miṅ。意爲金剛果德之名號,即指已成就身祕密金剛體之佛菩薩果德之名號。又作金剛名號、金剛號、密號、灌頂名。金剛頂經卷一(大一八‧二○八上):「一切如來於一切義成就菩薩摩訶薩,以金剛名,號金剛界。」秘藏記即載有金剛界三十七尊之金剛名。又真言行者入灌頂道場拜見曼荼羅,受灌頂時,彼身即成金剛之身,故亦受金剛名。金剛頂經卷三(大一八‧二一九上):「以金剛名,灌以此心真言,(中略)金剛某甲若與弟子授名號,應加係用呼之已。」〔不空羂索神變真言經卷二十八、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一〕 ; (金剛名) Tạng:Rdo-rje-mií. Cũng gọi Kim cương danh hiệu, Kim cương hiệu, Mật hiệu, Quán đính danh. Chỉ cho danh hiệu về quả đức của Phật và Bồ tát đã thành tựu thể kim cương bí mật của thân. Kinh Kim cương đính quyển 1 (Đại 18, 208 thượng), nói: Tất cả các đức Như lai đối với Đại bồ tát đã thành tựu hết thảy nghĩa đều đặt tên là Kim cương, hiệu là Kim cương giới. Trong Bí tạng kí có ghi danh hiệu Kim cương của 37 vị tôn thuộc Kim cương giới. Ngoài ra, khi hành giả Chân ngôn vào đạo tràng quán đính bái kiến Mạn đồ la, nhận quán đính, thì thân của vị ấy liền thành thân kim cương, cho nên cũng được nhận danh hiệu Kim cương. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1].

kim cương diện thiên

3550金剛面,梵名 Vajrāṅkuśaḥ。又稱金剛豬頭天、金剛豬面天、豬頭天。密教金剛界曼荼羅外金剛部北方第一位之天部。外金剛部二十天之一,五類天中四地下天之一。種子爲???(ku),義爲大空不生智。三昧耶形爲三股鉤。其形像於金剛界曼荼羅各會中皆不同,於成身會,爲身呈黑色(一說赤肉色),豬頭人身,左手握拳置於腰,右手持三股鉤,坐於荷葉座上;印契爲右手握拳,豎食指如鉤狀;真言爲「唵(oṃ)嚩日羅矩捨(vajrāṅkuśa,金剛鉤)娑嚩賀(svāhā)」。又此尊相當於大教王經卷十所列水居諸天眾中之嚩囉賀(梵 Varāha)。〔祕藏記、金剛界七集卷下、金剛界曼荼羅鈔卷上〕 ; (金剛面天) Kim cương diện, Phạm: Vajràíkuza#. Cũng gọi Kim cương trư đầu thiên, Kim cương trư diện thiên, Trư đầu thiên. Vị tôn thuộc Thiên bộ, ngồi ở vị trí thứ nhất, phía bắc, viện ngoài của Kim cương bộ trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 20 vị trời, chủng tử là (ku) nghĩa là trí đại không bất sinh, hình Tam muội da là móc câu 3 chĩa. Hình tượng của vị tôn này trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, thì hình tượng vị tôn này là thân mầu đen(có thuyết nói là mầu đỏ), thân người, đầu lợn (heo), tay trái nắm lại đặt ở chỗ thắt lưng, tay phải cầm móc câu 3 chĩa, ngồi trên tòa hình lá sen. Ấn khế là tay phải nắm lại, ngón trỏ dựng đứng rồi hơi co lại ở đầu ngón, làm dáng cái móc câu. Chân ngôn là: Án(oô) phạ nhật la củ xả (vajràíkuza, móc câu kim cương) sa phạ hạ (svàhà). Vị tôn này tương đương với vị tôn Phạ ra hạ ( Phạm:Varàha) trong các vị trời ở dưới nước nói trong kinh Đại giáo vương quyển 10. [X. Bí tạng kí, Kim cương giới thất tập Q.hạ; Kim cương giới mạn đồ la sao Q.thượng].

kim cương duệ bồ tát

3573位列密教胎藏界金剛手院第三行上方第二位之菩薩。又稱金剛悅菩薩。密號叉迅金剛,種子爲???(hūṃ),三昧耶形爲三股杵;形像爲身呈肉色,左手下覆如拳,食指鉤屈置於腰側而執蓮,蓮上有三股杵,屈右臂而側豎掌,屈無名指、小指安置胸前,豎立右膝,交足而坐於赤蓮花上,裙腰之一端垂於左脛上,面向右方下視。此尊相當於不空羂索經卷九所載之執金剛名聞菩薩。 此菩薩之名未見於大日經具緣品及阿闍梨所傳曼荼羅(善無畏作),而初見於玄法寺儀軌卷二及青龍寺儀軌卷中。古來皆以 Khyāti-vajra 爲其梵名,音譯佉也都縛日羅,乃說金剛之義。或謂金剛銳係金剛說之誤寫,應指大日經卷五祕密漫荼羅品所說金剛部院金剛薩埵之眷屬「名稱金剛」。〔祕藏記〕 ; (金剛銳菩薩) Cũng gọi Kim cương duyệt bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở ngôi thứ 2, hàng thứ 3 phía trên trong viện Kim cương thủ thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, mật hiệu là Xoa tấn kim cương. Hình tượng của vị tôn này là thân mầu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, chân trái xếp bằng, chân phải co lại, đầu gối dựng đứng, cánh tay trái hơi co, bàn tay úp xuống, nắm lại, để ở chỗ cạnh sườn và cầm hoa sen, trên hoa sen có chày 3 chĩa; cánh tay phải co lại, bàn tay nghiêng và dựng thẳng, có ngón vô danh, ngón út, đặt ở trước ngực, mặt hướng về bên phải và nhìn xuống. Chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là cây chày 3 chĩa. Vị tôn này tương đương với bồ tát Chấp kim cương danh văn nói trong kinh Bất không quyên sách quyển 9. Tên của vị Bồ tát này không thấy ghi trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật cũng như trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, mà chỉ thấy ghi trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2 và Thanh long tự nghi quĩ quyển trung. Xưa nay đều cho rằng tên tiếng Phạm của bồ tát Kim cương nhuệ là Khyàti-vajra, âm Hán là Khư dã đô phạ nhật la và Hán dịch là Thuyết kim cương. Có chỗ cho rằng Kim cương nhuệ (..) là viết lầm từ chữ Kim cương thuyết (..), tức chỉ cho Danh xưng kim cương, là quyến thuộc của Kim cương tát đỏa của viện Kim cương bộ nói trong phẩm Bí mật mạn đồ la của kinh Đại nhật quyển 5. [X. Bí tạng kí].

kim cương dạ xoa

Vajrayaksa (S). One of the five đại minh vương vidyàràja, fierce guardian of the north in the region of Amoghasiddhi, or Sàkyamuni, also styled the Bodhisattva with the fangs.

kim cương dạ xoa minh vương

3542金剛夜叉,梵名 Vajra-yakṣa,音譯嚩日囉藥乞灑。爲密教五大明王之一,係北方不空成就如來之教令輪身。又稱金剛焰口明王、大黑明王、金剛噉食明王、金剛盡明王。因其能噉食一切惡業之眾生,故稱金剛焰口;因其身爲黑色,故稱大黑;因其能吞盡惡有情,故稱金剛盡。密號噉食金剛、調伏金剛、護法金剛;種子爲???(hūṃ),爲恐怖之義,或???(haḥ)或???(vaṃ);三昧耶形爲羯磨輪,表事業成辦之義;或有說三昧耶形爲牙、鈴、五股杵、劍等。形像爲身青黑色,呈忿怒相,三面六臂,頭上有馬王之髻,正面有五目,左、右二面各有三目,三面皆開口;右方之第一手執五股杵,第二手執箭,第三手持劍;左方之第一手執五股鈴,第二手持弓,第三手持金輪,立左足,舉右足,二足下皆踏蓮,以珠寶嚴飾遍身,火焰燃如劫火。真言爲「唵 麼賀藥乞叉 嚩日囉娑怛嚩 弱 吽鑁  斛 鉢羅吠捨吽」。又金剛藥叉瞋怒王息災大威神驗念誦儀軌載,此尊爲金剛手虛空庫菩薩所現;而以此尊爲本尊之修法,即金剛夜叉法,主要爲調伏、息災時所修之法。〔仁王護國般若波羅蜜多經道場念誦儀軌卷上、理趣釋卷下、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷三、瑜伽瑜祇經大金剛焰口降伏一切魔怨品〕 ; (金剛夜叉明王) Kim cương dạ xoa, Phạm: Vajra-yakwa. Hán âm: Phạ nhật ra dược khất sái. Cũng gọi: Kim cương diệm khẩu minh vương, Đại hắc minh vương, Kim cương đạm thực minh vương, Kim cương tận minh vương. Minh vương Kim cương dạ xoa, là giáo lệnh luân thân của đức Như lai Bất không thành tựu ở phương bắc. Một trong 5 vị Đại minh vương của Mật giáo. Vì vị Minh vương này có thể ăn thịt hết tất cả chúng sinh xấu ác nên gọi là Kim cương diệm khẩu, Kim cương tận; vì thân Ngài mầu đen nên gọi là Đại hắc. Hình tượng vị tôn này thân mầu xanh thẫm, hiện tướng phẫn nộ, có 3 mặt, 6 tay, trên đầu có búi tóc hình bờm ngựa chúa. Mặt chính giữa có 5 mắt, 2 mặt 2 bên đều có 3 mắt, 3 mặt đều há to miệng. Tay thứ 1 bên phải cầm chày 5 chĩa, tay thứ 2 cầm mũi tên, tay thứ 3 cầm thanh kiếm; tay thứ 1 bên trái cầm linh(chuông nhỏ)5 chĩa, tay thứ 2 cầm cái cung, tay thứ 3 cầm bánh xe vàng. Chân phải đứng thẳng, chân trái dơ lên, dưới 2 chân đều giẫm trên hoa sen, toàn thân trang sắc bằng châu báu, lửa bốc cháy hừng hừng. Mật hiệu là Đạm thực kim cương, Điều phục kim cương, Hộ pháp kim cương; chủng tử là (hùô), nghĩa là khủng bố, hoặc là (ha#) hoặc (vaô); hình Tam muội da là bánh xe yết ma, biểu thị nghĩa thành tựu sự nghiệp, có thuyết cho rằng hình Tam muội da là tấm thẻ bằng ngà(dùng làm hiệu lệnh), chuông nhỏ, chày 5 chĩa, thanh kiếm, v.v... Chân ngôn là Án ma hạ dược khất xoa phạ nhật ra sa đát phạ nhược hồng tông hộc bát la phệ xả hồng. Ngoài ra, theo Kim cương dược xoa sân nộ vương tức tai đại uy thần nghiệm niệm tụng nghi quĩ, thì vị tôn này là do bồ tát Kim cương thủ hư không khố thị hiện. Còn pháp tu thờ vị tôn này làm Bản tôn để tu, gọi là Kim cương dạ xoa pháp. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ Q.thượng; Lí thú thích Q.hạ; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; phẩm Đại kim cương diệm khẩu hàng phục nhất thiết ma oán trong kinh Du già du kì].

kim cương dụ định

3560梵語 vajropamā-samādhi。指如金剛一般堅利之定。又作金剛三昧、金剛滅定、金剛心、頂三昧。定,其體堅固,其用銳利,可摧毀一切煩惱,故以能破碎諸物之金剛比喻之。此乃三乘學人之末後心,亦即小乘聲聞或大乘菩薩於修行即將完成之階段,欲斷除最後煩惱所起之定;生起此定可斷除極微細之煩惱而各得其極果,於聲聞之最高悟境可達阿羅漢果,於菩薩則得佛果。 一般稱斷煩惱之階位爲無間道,而由此證得真理之階位稱爲解脫道,遂以起金剛喻定相當於無間道,由此得阿羅漢果或佛果亦相當於解脫道,故能起金剛喻定之無間道,亦稱爲金剛無間道。〔大毘婆沙論卷二十八、大智度論卷四十七、俱舍論卷二十四、成唯識論卷十〕 ; Vajravimbopama-samādhi (S). ; Vajravimbopana-samàdhi (S). A mode of samàdhi. ; (金剛喻定) Phạm: Vajropamà-samàdhi. Cũng gọi Kim cương tam muội, Kim cương diệt định, Kim cương tâm, Đính tam muội. Chỉ cho Thiền định bền chắc, sắc bén như kim cương, có năng lực phá trừ tất cả phiền não, cũng như kim cương có thể hủy hoại hết thảy vật chất khác. Tức là Thiền định của hàng Tiểu thừa Thanh văn hoặc Đại thừa Bồ tát tu tập vào giai đoạn sắp hoàn tất việc đoạn trừ các phẩm phiền não cuối cùng, cũng là tâm sau rốt của người tu theo Tam thừa. Tu tập định này có khả năng dứt trừ các phiền não cực nhỏ nhiệm, mà chứng ngộ quả vị cao tột, như hàng Thanh văn có thể đạt đến quả A la hán, Bồ tát thì chứng được quả Phật. Thông thường, gọi các thứ bậc đoạn trừ phiền não là Vô gián đạo, mà gọi các vị từ đó chứng được chân lí là Giải thoát đạo; bởi thế, sinh khởi Kim cương dụ định tương đương với Vô gián đạo, từ đó mà được quả A la hán hoặc quả Phật thì tương đương với Giải thoát đạo. Cho nên, Vô gián đạo có khả năng sinh khởi Kim cương dụ định, cũng gọi là Kim cương vô gián đạo. [X. luận Đại tì bà sa Q.28; luận Đại trí độ Q.47; luận Câu xá Q.24; luận Thành duy thức Q.10].

Kim cương dụ định 金剛喩定

[ja] コンゴウユジョウ kongō yujō ||| The "diamond-like samādhi," or "adamantine absorption." (vajra-upama-samādhi) A state of deep meditative trance where all of the most subtle defilements are destroyed, which is the final stage of bodhisattva practice. Also called "vajra-samādhi 金剛三昧." Mahāyāna schools state that this is the highest meditative state attainable in Hīnayāna--the highest attainment of the arhat. In Mahāyāna it is considered to be the same as "equal enlightenment 等覺." In Yogācāra, this state of concentration occurs in the consummating stage of practice 究竟道. 〔二障義HPC 1.805a7〕 => (j: kŭmgang yujŏng; j: kongō yujō; e: diamond-like samādhi/adamantine absorption; s: vajra-upama-samādhi) Trạng thái thiền định rất sâu, mọi phiền não vi tế đều được tiêu trừ. Là cảnh giới thiền định chứng đắc rốt ráo của Bồ-tát đạoKim cương dụ định Còn gọi là Kim cương tam muội (s: vajra-samādhi 金剛三昧). Các tông phái Đại thừa cho rằng đây là cảnh giới cao tột nhất mà hàng Tiểu thừa không thể chứng đắc được–cảnh giới chứng đắc cao nhất là A-la-hán–Trong Đại thừa, định nầy được xem tương đương với Đẳng giác 等覺. Theo Duy thức, trạng thái định nầy có được trong giai vị Cứu cánh đạo究竟道.

kim cương giới

3545梵語 vajra-dhātu。音譯作嚩日囉馱睹。西藏語 rdo-rje-dbyiṅs。與「胎藏界」相對,二者合爲密教根本兩部。略稱金界。密教視宇宙中一切皆爲大日如來所顯現,表現其智德方面者稱爲金剛界;表現其理性(本來存在之永恒悟性)方面者稱爲胎藏界。如來內證之智德,其體堅固,不爲一切煩惱所破,猶如金剛寶石之堅固,不爲外物所壞,故金剛界具有智、果、始覺、自證等諸義。反之,如來之理性存在於一切之內,由大悲輔育;猶如胎兒在母胎內,亦如蓮花之種子蘊含在花中,是故譬之以胎藏,故胎藏界具有理、因、本覺、化他等諸義。又金剛界若配以五智,即分爲佛、金剛、寶、蓮華、羯磨等五部;胎藏界爲導他之教,若配以大定、大悲、大智三德,則分爲佛、蓮華、金剛三部。 若據金剛頂經所說,將金剛界以圖繪表示,稱爲金剛界曼荼羅;若據大日經之說,將胎藏界以圖繪表示,稱爲胎藏界曼荼羅。以上兩界合稱真言兩部,或稱金胎兩部,爲密教最根本之二面。若視爲彼此對立,則稱兩部相對;若視爲兩界一體,則稱兩部不二。於此,日本東密主張兩部原本互相不二,故不另立「不二之法」;但台密另立不二之法,稱爲蘇悉地法。此外,於色、心二法之中,金剛界配屬心法;於地、水、火、風、空、識等六大之中,金剛界配屬識大。此界代表性之印契爲五股杵印。其傳承系譜,一般多以爲:大日如來─金剛薩埵─龍猛─龍智─金剛智─不空。〔金剛頂經卷一、大日經義釋演密鈔卷七、十住心論卷十〕(參閱「曼荼羅」4400) ; Vajradhàtu (S). The diamond, or vajra, element of the universe; it is the trí, wisdom, of Vairocana in its indestructibility and activity; it arises from the Garbhadhàtu, thai tạng giới, the womb or store of the Vairocana lý, reason or principles, of such wisdom. Sphere of the indestructible mind. ; (金剛界) Phạm:Vajra-dhàtu Hán âm: Phạ nhật ra đà đô. Tạng:Rdo-rje-dhyiís. Đối lại: Thai tạng giới. Gọi tắt: Kim giới. Theo quan điểm của Mật giáo, hết thảy muôn vật trong vũ trụ đều do đức Đại nhật Như lai hiển hiện, trong đó, phần biểu hiện về mặt trí đức của Ngài gọi là Kim cương giới, còn phần biểu hiện về mặt lí tính của Ngài thì gọi là Thai tạng giới. Đây là hai bộ căn bản của Mật giáo. Trí đức nội chứng của Như lai, thể rất bền chắc, không bị phiền não làm hoen ố, phá hoại, giống như kim cương cứng chắc, không bị các vật khác làm hư nát, vì thế, Kim cương giới có đủ các nghĩa: Trí, quả, thủy giác, tự chứng, v.v...… Trái lại, lí tính của Như lai tồn tại ở trong tất cả, do đại bi nuôi đỡ, giống như thai nhi trong bụng mẹ hoặc như một hột sen ẩn chứa trong hoa sen, cho nên ví như Thai tạng; do đó, Thai tạng giới bao hàm các nghĩa: Lí, nhân, bản giác, hóa tha, v.v...… Nếu phối hợp Kim cương giới với 5 trí thì chia làm 5 bộ là: Phật bộ, Kim cương bộ, Bảo bộ, Liên hoa bộ và Yết ma bộ; nếu phối hợp Thai tạng giới với 3 đức: Đại định, đại bi, đại trí, thì chia làm 3 bộ là: Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ. Theo kinh Kim cương đính, nếu Kim cương giới được biểu hiện bằng tranh vẽ, thì gọi là Mạn đồ la Kim cương giới. Còn theo kinh Đại nhật, nếu Thai tạng giới được biểu hiện bằng tranh vẽ, thì gọi là Mạn đồ la Thai tạng giới. Kim cương giới và Thai tạng giới gọi chung là Chân Ngôn lưỡng bộ hoặc là Kim Thai lưỡng bộ, là 2 mặt căn bản nhất của Mật giáo. Nếu 2 bộ được xem như là đối lập nhau, thì gọi là Lưỡng bộ tương đối; còn nếu được xem là 1 thể thì gọi là Lưỡng bộ bất nhị. Về vấn đề này, Đông Mật của Nhật bản chủ trương 2 bộ vốn bất nhị, cho nên không lập riêng pháp bất nhị, nhưng Thai Mật thì lập riêng pháp bất nhị gọi là pháp Tô tất địa. Ngoài ra, trong 2 pháp sắc, tâm thì Kim cương giới thuộc tâm pháp; trong 6 đại đất, nước, lửa, gió, không, thức thì Kim cương giới thuộc thức đại. Ấn khế chung của Kim cương giới là ấn Ngũ cổ chử (ấn chày 5 chĩa). Về phổ hệ truyền thừa của Kim cương giới, thì bắt đầu từ đức Đại nhật Như lai, rồi lần lượt đến các ngài: Kim cương tát đỏa, Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Bất không v.v...… [X. kinh Kim cương đính Q.1; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn bí sao Q.7; luận Thập trụ tâm Q.10]. (xt. Mạn Đồ La).

kim cương giới mạn đồ la

3546梵名 Vajra-dhātu-maṇḍala。又作西曼荼羅、果曼荼羅、月輪曼荼羅。爲密教兩部曼荼羅之一。金剛頂經爲其基礎。現圖金剛界曼荼羅爲九個曼荼羅會所組成,故又稱九會曼荼羅、金剛九會、金剛界九會曼荼羅。九會之中,前七會爲金剛界品,其中之前六會爲大日如來之自性輪身,第七會爲大日如來之正法輪身;後二會(即第八會、第九會)爲降三世品,皆爲大日如來之教令輪身,總稱金剛界曼荼羅。圖相以上端爲西方,縱橫等分爲三,故共有九會。 圖繪中央爲成身會,若依準「從果向因」的下轉門之意義,第一會即是成身會,其下向左依順序爲:(一)成身會,又稱羯磨會。爲四種曼荼羅中之大曼荼羅。以五圓輪排列成十字,相當於五佛,中央爲大日如來,其周圍爲四波羅蜜菩薩,四方各有一月輪,內各置一佛,故有「四方四佛」之語,四佛亦以同形式排列,各有四親近菩薩,故共有十六菩薩;另有內外八供養菩薩、四攝菩薩、密教護持之諸天及賢劫千佛等圍繞,共有一○六一尊,圖示佛果之實相。(二)三昧耶會,又稱羯磨會。爲四種曼荼羅中之三昧耶曼荼羅。係諸尊各以器杖、印契等象徵其本誓之三昧耶來表示之形式。即中央月輪中安置由瓔珞、風輪等莊嚴而成之多寶塔,象徵大日如來之三昧耶身,塔身下橫置五股金剛杵,代表五智顯現之三昧耶形。四方四佛之三昧耶形依次爲:東方阿閦佛爲豎金剛杵,南方寶生佛爲寶珠,西方彌陀佛爲蓮花,北方不空成就佛爲羯磨。其餘十六大菩薩、八供養菩薩、四攝菩薩等亦各皆以三昧耶形表示之。共有七十三尊,位置大致與成身會相同。(三)微細會,又稱羯磨會、金剛微細會。爲四種曼荼羅中之法曼荼羅。即諸尊相互入於各自之三昧耶身,以顯「一尊具足諸尊之德」之義,故此曼荼羅表示諸尊各具五智無際智等重重微細之智用。共有七十三尊。(四)供養會,又稱大供養會。爲四種曼荼羅中之羯磨曼荼羅。此會呈現諸尊相互供養之儀,故諸尊之形像,除五佛外,其餘十六大菩薩、四攝菩薩、八供養菩薩等,皆左手作拳,右手持蓮花,其上安置三昧耶形。共有七十三尊。(五)四印會,此會表示「四曼不離」之義,即賅攝四曼於一會。其圖式,中央爲大日如來,東西南北四方各安置金剛薩埵、觀音、虛空藏、毘首羯磨等四尊,大圓輪之四隅安置四波羅蜜菩薩之三昧耶形(五股杵、寶珠、蓮花、羯磨),及金剛嬉、鬘、歌、舞等四菩薩之三昧耶形(三股杵、花鬘、箜篌、羯磨)。圖中之大日如來象徵四曼之所依,四波羅蜜菩薩則依次象徵四曼。共有十三尊。(六)一印會,此會表示四曼之諸尊皆歸於不二性海之義。其圖式,呈現大日如來一尊之單純圖樣,是密教修法中,特於修大日一尊法所用。大日如來安坐於圖中之大月輪,頭戴五佛寶冠,身著白色天衣,住於智拳印中。象徵五智圓滿獨一法身之義。(七)理趣會,又稱薩埵會、普賢會。此會表示大日如來現金剛薩埵之身而以正法化導眾生之義。其圖式,中央爲頭戴五智寶冠之金剛薩埵,四方安置欲、觸、愛、慢等四金剛,四隅安置意生、計里吉羅、愛樂、意氣等四金剛女;外院則安置四攝菩薩及金剛嬉、鬘、歌、舞等內四供養菩薩。然此會之內外四供養菩薩之位置獨與其他諸會相反,係表示內外無礙融會之義。共有十七尊。(八)降三世羯磨會,略稱降三世會。此會表示大日如來現忿怒之身以降伏剛強難化之眾生。其圖式,中央之大日如來住於智拳印中,示現降伏四魔之形。四方四佛及十六大菩薩亦皆交拳現忿怒相,尤以金剛薩埵呈三面八臂之降三世忿怒明王之相更爲特異。外金剛部之四隅安置金剛夜叉、軍荼利、大威德、不動等四大明王;或謂安置色、聲、香、味等四明妃。共有七十七尊。(九)降三世三昧耶會,此會表示大日如來降伏大自在天之本誓之義。此會之尊數與諸尊之排列與上會降三世會全然相同,惟其三昧耶形之安置相異;蓋以降三世會乃表現諸尊事業具足之身相,而此會則表現諸尊內證之德。圖中金剛薩埵之三昧耶形爲八輻輪,乃一摧破之具,象徵眾生本具之堅固清淨菩提心,圖中之大自在天則象徵根本無明,故此會呈現以自性清淨之智光來驅除行者心內塵垢之儀相。 若依「從因向果」之上轉門而言,其意義係表示菩薩修行之次第,或真言行者斷除惑障及開發心地之次第,即:(一)第一會乃顛倒順逆而指降三世三昧耶會,即降三世明王自現三昧耶形,降伏貪瞋癡三毒,以去除成道之障難。(二)由三昧耶形變現爲羯磨身,現大忿怒之相,左足踩踏大自在天,象徵斷除煩惱障,右足踩踏烏摩妃,象徵斷除所知障,此即降三世羯磨會。(三)既於前二會斷除三毒二障,則得般若之理趣,如是欲、觸、愛、慢等象徵內外心境之十七尊皆示現本初不生之體(般若波羅蜜多),此即理趣會。(四)成就五相成身觀時,行者自身即爲本尊大日如來之體,乃賅攝一切諸尊於一體,此即一印會。(五)須得四佛加持,始能決定成佛之義,其時四佛現前,圍繞大日如來,此即四印會。(六)諸尊皆以寶冠、花鬘等禮獻予大日如來,呈現諸佛供養之儀,此即供養會。(七)顯現他受用身,而有現智身、見智身、四明等,顯示遍入微細金剛中之禪定之相,此即微細會。(八)於道場觀中,結如來拳印,由種子字而轉變爲三昧耶形,此即三昧耶會。(九)復由三昧耶形轉變成威儀具足之毘盧遮那如來羯磨身,此即羯磨會。 全部九會共有一四六一尊,即佛體一○三六尊,菩薩二九七尊,忿怒身四尊,執金剛神四尊,外金剛部一二○尊。又除上記各會之次第外,另有多種說法,其中有表示「自證化他折伏攝受不二」之曼荼羅者,其次第爲第一薩埵會(理趣會)、第二降三世會、第三降三世三昧耶會、第四四印會、第五供養會、第六羯磨會(微細會)、第七一印會、第八成身會(羯磨會)、第九三昧耶會;此一次第係表示由自證出於化他,復由化他歸於自證之意。〔尊勝佛頂修瑜珈法軌儀卷下大灌頂曼荼羅品、金剛頂瑜伽經十八會指歸、現圖曼荼羅金剛界諸尊便覽卷一、兩部曼荼羅義記卷四、卷五〕 ; (金剛界曼荼羅) Phạm: Vajra-dhàtu-maịđala Cũng gọi: Tây mạn đồ la, Quả mạn đồ la, Nguyệt luân mạn đồ la. Một trong 2 bộ Mạn đồ la của Mật giáo, nền tảng là kinh Kim cương đính. Hiện đồ Mạn đồ la Kim cương giới gồm 9 hội Mạn đồ la cấu tạo thành, vì thế còn được gọi là Cửu hội mạn đồ là, Kim cương cửu hội, Kim cương giới cửu hội mạn đồ la. Trong 9 hội, thì 7 hội trước là phẩm Kim cương giới, trong đó 6 hội đầu là Luân thân tự tính của đức Đại nhật Như lai, hội thứ 7 là Luân thân chính pháp của Ngài; hội thứ 8 và thứ 9 thuộc phẩm Hàng tam thế, đều biểu thị Luân thân giáo lệnh của đức Đại nhật Như lai. Cả 9 hội trên đây, gọi chung là Mạn đồ la Kim cương giới. Bức vẽ của Mạn đồ la này lấy phía trên làm phương Tây, 2 chiều ngang và dọc đều chia làm 3 phần, tổng cộng có 9 ô tức thành 9 hội. Trong hình vẽ này, nếu căn cứ vào ý nghĩa Hạ chuyển môn(môn hướng xuống) Từ quả hướng xuống nhân, thì hội thứ nhất ở chính giữa là hội Thành thân, từ đó, theo thứ tự hướng xuống đi theo phía bên trái như sau: 1. Hội Thành thân, cũng gọi là Yết ma: Đại mạn đồ la trong 4 loại mạn đồ la. Hội này dùng 5 cái vòng tròn, bày xếp theo hình chữ..., trong mỗi vòng tròn vẽ 1 đức Phật; vòng ở chính giữa là đức Đại nhật Như lai, chung quanh Ngài là 4 vị bồ tát Ba la mật; ở 4 phương đều có nguyệt luân(vòng mặt trăng), trong mỗi nguyệt luân vẽ 1 vị Phật, mỗi vị Phật có 4 Bồ tát thân cận, tổng cộng có 16 Bồ tát; ngoài ra, còn có 4 bồ tát Nội cúng dường, 4 bồ tát Ngoại cúng dường, 4 vị Nhiếp bồ tát, các vị trời hộ trì Mật giáo và 1.000 đức Phật ở kiếp Hiền v.v...… tổng cộng có 161 vị tôn vây chung quanh đức Đại nhật Như lai. Hình vẽ của hội Thành thân này được biểu thị cho thực tướng của quả Phật. 2. Hội Tam muội da, cũng gọi họi Yết ma: Tam muội da mạn đồ la trong 4 loại Mạn đồ la. Là hình thức các vị tôn dùng như vật cầm tay, ấn khế, v.v... để tượng trưng cho bản thệ của các Ngài; chẳng hạn tháp Đa bảo tượng trưng cho thân Tam muội da của đức Đại nhật Như lai, cây chày kim cương 5 chĩa được đặt ngang dưới thân tháp, là hình Tam muội da biểu thị cho 5 trí hiển hiện. Hình Tam muội da của 4 vị Phật ở 4 phương theo thứ tự là: Phật A súc phương Đông là chày kim cương dựng đứng, Phật Bảo sinh phương Nam là bảo châu, Phật A di đà phương Tây là hoa sen, Phật Bất không thành tựu phương Bắc là Yết ma. Còn các vị Bồ Tát cũng đều dùng hình Tam muội da để tượng trưng bản thệ của các Ngài. Hội Tam muội da có tất cả 73 vị tôn mà vị trí được sắp xếp đại khái cũng giống như hội Thành thân. 3. Hội Vi tế, cũng gọi hội Yết ma, hội Kim cương vi tế: Pháp mạn đồ la trong 4 loại mạn đồ la. Tức thân Tam muội da của chư tôn đều hòa nhập vào nhau để hiển bày nghĩa Đức tính của một vị tôn có đầy đủ đức tính của các vị tôn, cho nên Mạn đồ la này biểu thị chư tôn đều có đầy đủ trí dụng vi tế của 5 trí. Hội này tổng cộng có 73 vị tôn. 4. Hội Cúng dường, cũng gọi hội Đại cúng dường. Là Yết ma mạn đồ la trong 4 loại mạn đồ la. Hội này trình bày nghi thức chư tôn cúng dường lẫn nhau, cho nên, ngoại trừ 5 đức Phật, còn có các vị Bồ tát khác đều nắm tay trái, tay phải cầm hoa sen, trên hoa đặt hình Tam muội da. Hội này cũng có tất cả 73 vị tôn. 5. Hội Tứ ấn: Biểu thị nghĩa Tứ mạn bất li, tức hội này bao quát tất cả 4 loại mạn đồ la. Hình vẽ là: Đức Đại nhật Như lai ở chính giữa, 4 phương vẽ 4 vị: Kim cương tát đỏa, Quan âm, Hư không tạng và Tỳ thủ yết ma; ở 4 góc của 4 vòng tròn lớn vẽ hình Tam muội da(chày 5 chĩa, bảo châu, hoa sen, yết ma) của 4 bồ tát Ba la mật và hình Tam muội da(chày 3 chĩa, tràng hoa, đàn không hầu, yết ma) của 4 Bồ tát: Kim cương hí, Kim cương man, Kim cương ca, Kim cương vũ. Đức Đại nhật Như lai trong bức vẽ tượng trưng cho chỗ nương tựa của 4 loại mạn đồ la, còn 4 bồ tát Ba la mật thì theo thứ tự tượng trưng cho 4 loại mạn đồ la. Hội này tổng cộng có 13 vị tôn. 6. Hội Nhất ấn: biểu thị nghĩa chư tôn của 4 loại mạn đồ la đều qui về tính hải bất nhị. Hình vẽ chỉ đơn thuần biểu hiện có 1 vị tôn: Đức Đại nhật Như lai, đặc biệt được dùng trong phép tu Đại nhật. Đại nhật Như lai an tọa trong Đại nguyệt luân ở giữa bức vẽ, đầu đội mũ báu Ngũ Phật, mình mặc áo trời mầu trắng, trụ trong ấn Trí quyền, tượng trưng nghĩa Pháp thân duy nhất đầy đủ 5 trí. 7. Hội Lí thú, cũng gọi hội Tát đỏa, hội Phổ hiền. Hội này biểu thị nghĩa Đại nhật Như lai hiện thân Kim cương tát đỏa đem chính pháp giáo hóa chúng sinh. Trong bức vẽ, Kim cương tát đỏa đầu đội mũ báu Ngũ trí ngồi ở chính giữa, 4 phương là 4 vị Kim cương: Dục, Xúc, Ái, Mạn và ở 4 góc là 4 vị Kim cương nữ: Ý sinh, Kế lí cát la, Ái lạc và Ý khí. Viện Ngoài thì vẽ 4 vị Nhiếp bồ tát và 4 vị bồ tát Nội cúng dường là: Kim cương hí, Kim cương man, Kim cương ca và Kim cương vũ. Nhưng vị trí của các bồ tát Nội cúng dường, Ngoại cúng dường của hội này đặc biệt khác với các hội khác, đó là biểu thị nghĩa Nội, Ngoại dung hợp, không ngăn ngại. Hội này có tất cả 17 vị tôn. 8. Hội Hàng tam thế yết ma, gọi tắt là hội Hàng tam thế: Biểu thị nghĩa Đại nhật Như lai hiện thân giận dữ để hàng phục những chúng sinh ương ngạnh khó dạy. Trong bức vẽ, đức Đại nhật Như lai an trú trong ấn Trí quyền, ngự ở chính giữa, hiện tướng hàng phục 4 loài ma(Ngũ ấm ma, Phiền não ma, Tử ma, Thiên ma). Bốn phương là 4 vị Phật và 16 vị Bồ tát cũng đều nắm tay và hiện tướng giận dữ, nhất là Kim cương tát đỏa thị hiện thân hình đặc biệt khác lạ, đó là tướng Minh vương phẫn nộ hàng tam thế với 3 mặt 8 tay. Ở 4 góc của Kim cương bộ ngoài, vẽ 4 vị Đại minh vương: Kim cương dược xoa, Quân đồ lợi, Đại uy đức và Bất động, hoặc vẽ hình tướng 4 bà vợ của 4 vị Đại minh vương là; Sắc, Thanh, Hương, Vị. Hội này tổng cộng có 77 vị tôn. 9. Hội Hàng tam thế tam muội da: Biểu thị nghĩa bản thệ của đức Đại nhật Như lai là hàng phục trời Đại tự tại. Cách bài trí chư tôn trong hội này hoàn toàn giống với hội Hàng tam thế ở trên, chỉ có vị trí của hình Tam muội da là khác nhau mà thôi. Bởi vì hội Hàng tam thế thì biểu hiện thân tướng đầy đủ sự nghiệp của chư tôn, mà hội này thì biểu hiện đức nội chứng của chư tôn. Trong bức vẽ, hình Tam muội da của Kim cương tát đỏa là bánh xe có 8 găm(nan hoa), là một khí cụ dùng để phá dẹp, tượng trưng cho tâm bồ đề thanh tịnh kiên cố sẵn có của chúng sinh. Còn trời Đại tự tại trong bức vẽ thì tượng trưng cho căn bản vô minh, bởi thế, hội này biểu hiện uy nghi dùng ánh sáng của trí tuệ thanh tịnh xua tan bóng tối vô minh ô nhiễm trong nội tâm của hành giả. Nếu nói theo môn thượng chuyển Từ nhân hướng tới quả, thì ý nghĩa của các hội là biểu thị thứ tự tu hành của Bồ tát hoặc của hành giả Chân ngôn, tức là thứ tự đoạn trừ hoặc chướng và khai phát tâm địa như sau: 1. Hội thứ nhất, đảo ngược thứ tự mà chỉ cho hội Hàng tam thế tam muội da, tức là Minh vương Hàng tam thế tự hiện hình Tam muội da, hàng phục 3 độc tham, sân, si để dẹp trừ chướng nạn gây trở ngại cho việc hành đạo. 2. Do hình Tam muội da biến làm thân Yết ma, hiện tướng đại phẫn nộ, chân trái đạp lên trời Đại tự tại, tượng trưng đoạn trừ phiền não chướng; chân phải đạp lên Ô ma (vợ của trời Đại tự tại), tượng trưng đoạn trừ sở tri chướng. Đây tức là hội Hàng tam thế yết ma. 3. Hai hội trước đã trừ 3 độc, 2 chướng, mà ngộ được lí thú Bát nhã. Như vậy, tất cả 17 vị tôn bao gồm Dục, Xúc, Ái, Mạn, v.v... tượng trưng cho tâm trong, cảnh ngoài đều thị hiện cái thể của Bát nhã ngay từ ban đầu vốn chẳng sinh. Đây tức là hội Lí thú. 4. Khi pháp quán Ngũ tướng thành thân được thành tựu, thì tự thân hành giả tức là thể của bản thôn Đại nhật Như lai, thu nhiếp tất cả chư tôn vào 1 thể duy nhất. Đây tức là hội Nhất ấn. 5. Hành giả phải được sự gia hộ của 4 vị Phật, thì mới có thể quyết định thành Phật, lúc ấy, 4 vị Phật hiện ra trước, vây quanh Đại nhật Như lai. Đây tức là hội Tứ ấn. 6. Các vị tôn đều dâng mũ báu, tràng hoa, v.v... cúng dường đức Đại nhật Như lai để biểu hiện nghi thức cúng dường chư Phật. Đây tức là hội Cúng dường. 7. Do chư tôn hiển hiện Tha thụ dụng thân mà có Hiện trí thân, Kiến trí thân, Tứ minh, v.v... để hiển bày tướng vào khắp trong Thiền định kim cương vi tế. Đây tức là hội Vi tế. 8. Trong Đạo tràng quán, kết ấn Như lai quyền, từ văn tự chủng tử mà chuyển biến thành hình Tam muội da. Đây tức là hội Tam muội da. 9. Lại từ hình Tam muội da chuyển biến mà thành thân yết ma của Tì lô giá na Như lai. Đây tức là hội Yết ma. Toàn thể 9 bộ tổng cộng có 1461 vị tôn, gồm 136 vị Phật, 297 vị Bồ tát, 4 vị tôn hiện thân giận dữ, 4 vị thần Chấp kim cương và 120 vị tôn thuộc Kim cương bộ ngoài. Ngoài thứ tự của các hội được sắp xếp như trên ra, còn có nhiều thuyết khác, trong đó có thuyết Mạn đồ la biểu thị Tự chứng hóa tha chiết phục nhiếp thụ bất nhị được sắp xếp theo thứ tự như sau: Thứ nhất hội Tát đỏa(hội Lí thú), thứ hai hội Hàng tam thế, thứ ba hội Hàng tam thế tam muội da, thứ tư hội Tứ ấn, thứ năm hội Cúng dường, thứ sáu hội Yết ma(hội Vi tế), thứ bảy hội Nhất ấn, thứ tám hội Thành thân(hội Yết ma), thứ chín hội Tam muội da. Thứ tự này biểu thị ý nghĩa từ tự chứng đi đến hoá tha, rồi từ hoá tha trở về tự chứng. [X. phẩm Đại quán đính mạn đồ la trong Tôn thắng Phật đính tu du già pháp nghi quĩ Q.hạ; Kim cương đính du già kinh thập bát hội chỉ qui; Hiện đồ mạn đồ la Kim cương giới chư tôn tiện lãm Q.1; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.7, Q.5].

Kim cương giới ngũ Phật 金剛界五佛

[ja] コンゴウカイゴブツ kongōkai gobutsu ||| The five buddhas of the vajradhātu. See 五佛. => Năm Đức Phật thuộc Kim cương giới (s: vajradhātu). Xem Ngũ Phật 五佛.

kim cương giới tam thập thất tôn

3546謂密教金剛界曼荼羅成身會安置之三十七尊。又稱塔中三十七尊。包括:(一)五佛,即大日如來、阿閦如來、寶生如來、無量壽如來、不空成就如來。(二)四波羅蜜,乃大日如來之四親近,由大日如來所生,表四佛之定德。即金剛波羅蜜菩薩、寶波羅蜜菩薩、法波羅蜜菩薩、羯磨波羅蜜菩薩。此四波羅蜜菩薩分別爲阿閦、寶生、無量壽、不空成就等四佛之能生養育之母。(三)十六大菩薩,即:(1)阿閦如來之四親近:金剛薩埵、金剛王菩薩、金剛愛菩薩、金剛喜菩薩,(2)寶生如來之四親近:金剛寶菩薩、金剛光菩薩、金剛幢菩薩、金剛笑菩薩,(3)無量壽如來之四親近:金剛法菩薩、金剛利菩薩、金剛因菩薩、金剛語菩薩,(4)不空成就如來之四親近:金剛業菩薩、金剛護菩薩、金剛牙菩薩、金剛拳菩薩。(四)八供養菩薩,有內外之分。內四供養乃大日如來爲供養四佛而流出者,即嬉、鬘、歌、舞四菩薩。外四供養乃四佛爲供養大日如來而流出者,即香、華、燈、塗香四菩薩。(五)四攝菩薩,乃從大日如來心中流出,將一切眾生引入曼荼羅,表授給果地之法的化他之德,即鉤、索、鏁、鈴四菩薩。 有關三十七尊之出生,經說不一,理趣釋及祕藏記等,如上述,謂由大日如來生四波羅密,由四波羅蜜生出四佛。金剛頂經、金剛頂瑜伽三十七尊出生義、菩提心論等,謂由大日如來生四佛,由四佛生四波羅蜜。略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門則說三十六尊皆由大日如來生出。又依祕藏記所載,內四供養乃四佛爲供養大日如來所流出者,外四供養乃大日如來爲供養四佛所流出。又十六大菩薩主慧德,故稱慧門十六尊;四波羅蜜、八供、四攝等十六尊主定德,故稱定門十六尊。〔大乘入楞伽經卷七、諸佛境界攝真實經卷下、金剛頂瑜伽中略出念誦經、瑜伽瑜祇經、金剛頂瑜伽經十八會指歸、金剛頂瑜伽略述三十七尊心要、金剛頂蓮華部心念誦儀軌、金剛頂大教王經疏卷一〕 ; (金剛界三十七尊) Cũng gọi: Tháp trung tam thập thất tôn. Ba mươi bảy vị tôn được bày xếp trong hội Thành thân, thuộc Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo. Đó là: 1. Năm đức Phật: Đại nhật Như lai, A súc Như lai, Bảo sinh Như lai, Vô lượng thọ Như lai, Bất không thành tựu Như lai. 2. Bốn vị bồ tát Ba la mật: Tức 4 vị thân cận đức Đại nhật Như lai, từ Đại nhật Như lai sinh ra, biểu thị đức Định của 4 đức Phật, đó là: Bồ tát Kim cương ba la mật, bồ tát Bảo ba la mật, bồ tát Pháp ba la mật và bồ tát Yết ma ba la mật. Bốn vị Bồ tát này theo thứ tự là mẹ sinh ra và nuôi nấng 4 đức Phật: A súc, Bảo sinh, Vô lượng thọ và Bất không thành tựu. 3. Mười sáu vị Đại bồ tát: - Bốn vị thân cận A súc Như lai: Kim cương tát đỏa, bồ tát kim cương Vương, bồ tát kim cương Ái và bồ tát kim cương Hỷ. - Bốn vị thân cận Bảo sinh Như lai: Bồ tát kim cương Bảo, bồ tát kim cương Quang, bồ tát kim cương Chàng và bồ tát kim cương Tiếu. - Bốn vị thân cận Vô lượng thọ Như lai: Bồ tát kim cương Pháp, bồ tát kim cương Lợi, bồ tát kim cương Nhân, bồ tát kim cương Ngữ. - Bốn vị thân cận Bất không thành tựu Như lai: Bồ tát kim cương Nghiệp, bồ tát kim cương Hộ, bồ tát kim cương Nha, bồ tát kim cương Quyền. 4. Tám vị bồ tát Cúng dường, chia ra Nội và Ngoại: - Bốn vị Nội cúng dường: Bồ tát kim cương Hi, bồ tát kim cương Man, bồ tát kim cương Ca và bồ tát kim cương Vũ. Bốn vị Bồ tát này do đức Đại nhật Như lai sinh ra để cúng dường 4 vị Phật. - Bốn vị Ngoại cúng dường: Bồ tát kim cương Hương, bồ tát kim cương Hoa, bồ tát kim cương Đăng và bồ tát kim cương Đồ hương. Bốn vị Bồ tát này do 4 vị Phật sinh ra để cúng dường đức Đại nhật Như lai. 5. Bốn vị Nhiếp bồ tát: Bồ tát kim cương Câu, bồ tát kim cương Sách, bồ tát kim cương Tỏa và bồ tát kim cương Linh. Bốn vị Bồ tát này từ trong tâm đức Đại nhật Như lai lưu xuất, có nhiệm vụ nhiếp hóa dẫn dắt tất cả chúng sinh vào Mạn đồ la, biểu thị đức hóa tha, trao cho pháp quả địa (quả vị). Về vấn đề xuất sinh của 37 vị tôn, thì theo Lí thú thích và Bí tạng kí, như đã nói ở trên, cho rằng từ Đại nhật Như lai sinh ra 4 bồ tát Ba la mật, từ 4 bồ tát Ba la mật sinh ra 4 vị Phật. Tuy nhiên, còn có các thuyết khác, như kinh Kim cương đính, Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa và luận Bồ đề tâm, v.v... thì cho rằng từ Đại nhật Như lai sinh ra 4 vị Phật, rồi từ 4 vị Phật sinh ra 4 bồ tát Ba la mật. Còn Lược thuật kim cương đính du già phân biệt Thánh vị tu chứng pháp môn thì cho rằng 36 vị tôn đều do Đại nhật Như lai sinh ra. Lại theo Bí tạng kí thì 4 bồ tát Nội cúng dường là do 4 vị Phật sinh ra để cúng dường đức Đại nhật Như lai, còn 4 bồ tát Ngoại cúng dường thì do đức Đại nhật Như lai sinh ra để cúng dường 4 vị Phật. Ngoài ra, 16 vị Đại bồ tát chủ về Tuệ đức, nên gọi là Tuệ môn thập lục tôn; còn 4 bồ tát Ba la mật, 8 bồ tát Cúng dường và 4 Nhiếp bồ tát thì chủ về Định đức, nên gọi là Định môn thập lục tôn. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.7; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng; kinh Du già du kì; Kim cương đính du già kinh thập bát hội chỉ qui; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu; Kim cương đính liên hoa bộ tâm lược thuật nghi quĩ; Kim cương đính đại giáo vương kinh sớ Q.1].

kim cương hi bồ tát

3571金剛嬉,梵名 Vajra-lāsī, Vajra-lāsye,音譯嚩日囉邏西。西藏名 Rdo-rje-ḥdsin-ma。密教金剛界三十七尊中,內四供養之一。乃位居中央大月輪中東南隅之菩薩。又稱金剛嬉戲大天女。由此尊加持,於受用法圓滿快樂,得受用智自在。密號普敬金剛。 此尊之種子、形像,於各會中皆不同,如於成身會,種子爲???(haḥ),諸法離因果之義;三昧耶形爲左曲之三股鉤;形像爲身呈黑色,天女形,二手握拳各置於腰側,頭向左稍低;真言爲「唵 嚩日囉 邏細 護」。於三昧耶會,種子爲???(ti),如如三昧平等大樂之義;三昧耶形爲豎跋折羅(金剛杵)置於蓮花上;印相爲外縛拳,豎二拇指偃之;真言爲「摩訶 囉底」。於供養會,形像爲兩手持蓮,蓮上豎立三股杵。 此菩薩自大日如來流出以供養東方阿閦如來,阿閦如來司掌金剛堅固的菩提心之德,故以適悅形之菩薩供養之。〔大教王經卷四、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、諸佛境界攝真實經卷下、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 ; (金剛嬉菩薩) Kim cương hi, Phạm:Vajra-làsì, Vajralàzye. Hán âm: Phạ nhật ra la tây. Tạng: Rdo-rje- #dsin-ma. Cũng gọi Kim cương hi hí đại thiên nữ. Vị Bồ tát ngồi ở góc đông nam trong nguyệt luân trung ương. Một trong 4 bồ tát Nội cúng dường thuộc 37 vị tôn của Kim cương giới Mật giáo. Mật hiệu la Phổ kính kim cương. Chủng tử, hình tượng của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì chủng tử là (ha#), nghĩa là các pháp lìa nhân quả; hình Tam muội da là lưỡi câu 3 chĩa cong về phía trái; hình tượng là Thiên nữ, thân mầu đen, 2 tay đều nắm lại và để ở 2 bên cạnh sườn, đầu hơi cúi và hơi hướng về bên trái. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra la tế hộ. Trong hội Tam muội da, chủng tử là (ti), nghĩa là tam muội đại lạc như như bình đẳng; hình Tam muội da là chày kim cương dựng đứng trên hoa sen; ấn tướng là Ngoại phược quyền(10 ngón tay đan nhau rồi nắm lại ở bên ngoài), 2 ngón cái dựng thẳng. Chân ngôn là: Ma ha ra để. Trong hội Cúng dường, hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa sen dựng chày 3 chĩa. Bồ tát này từ Đại nhật Như lai sinh ra để cúng dường đức A súc Như lai ở phương đông, vì A súc Như lai chủ về đức của tâm bồ đề bền chắc như kim cương nên dùng vị Bồ tát có hình tướng vui vẻ để cúng dường Ngài. Nhờ sự gia bị của vị tôn này mà hành giả được đầy đủ về pháp thụ dụng và được tự tại về trí thụ dụng. [X. kinh Đại giáo vương Q.4; kinh Kim cương đính lược xuất du già trung niệm tụng Q.2; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương hoa bồ tát

3562金剛華,梵名 Vajra-puṣpā,音譯嚩日囉補澀閉、嚩日囉補瑟波。西藏名 Rdo-rje-me-tog。密教金剛界三十七尊之一,外四供養之一。位居金剛界曼荼羅外院方壇之西南隅。又稱金剛散華菩薩、金剛妙華菩薩、金剛覺花侍女菩薩。密號妙色金剛、清淨金剛。 此尊之種子、形像等,隨金剛界各會而有異,如於成身會,種子爲???(oṃ),一切法流注無生滅之義;三昧耶形爲盛花器;形像爲捧鮮花之淺黃色天女;印相爲二手作金剛拳,上仰而散開,如捧獻之狀;真言爲「唵 嚩日囉 補澀篦 唵」。於三昧耶形會,種子與成身會相同;三昧耶形爲蓮花上有散花;印相爲外縛拳,由縛而仰開;真言爲「破邏誐弭」。於微細會,形像爲跪坐之天女,手捧蓮葉,葉上有未敷之蓮花。 此尊係自南方寶生如來流出,以供養大日如來。寶生如來司掌萬德開敷之德,故以妙花供養之。〔金剛頂經卷二、大教王經卷四、諸佛境界攝真實經卷下、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 ; (金剛華菩薩) Kim cương hoa, Phạm: Vajra-puwpà. Hán âm: Phạ nhật ra bổ sáp bế, Phạ nhật ra bổ sắt ba. Tạng:Rdo-rje-me-tog. Cũng gọi Kim cương tán hoa bồ tát, Kim cương diệu hoa bồ tát, Kim cương giác hoa thị nữ bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở góc tây nam trong Phương đàn của viện Ngoài thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, 1 trong 4 vị bồ tát Ngoại cúng dường thuộc 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Diệu sắc kim cương, Thanh tịnh kim cương. Chủng tử và hình tượng của vị tôn này trong các hội Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì chủng tử là (oô), nghĩa là tất cả pháp lưu chú không sinh diệt; hình tượng là hình Thiên nữ, thân mầu vàng lợt, tay cầm hoa tươi; hình Tam muội da là giỏ đựng đầy hoa; ấn tướng là 2 tay kết Kim cương quyền, sau đó ngửa lên vàxòe ra như dáng đang dâng hiến. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra bổ sáp bề án. Trong hội Tam muội da thì chủng tử của vị tôn này cũng giống như hội Thành thân, hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa có rải hoa, ấn tướng là 2 tay kết ấn Ngoại phược quyền (2 tay chắp, 10 ngón đan vào nhau rồi nắm lại), sau đó mở ra và ngửa lên. Chân ngôn là: Phá la nga nhị. Trong hội Vi tế, hình tượng là hình Thiên nữ ngồi quì, tay bưng lá sen, trên lá sen có hoa sen búp(chưa nở). Vị tôn này là Bảo sinh Như lai sinh ra để cúng dường đức Đại nhật Như lai. Bảo sinh Như lai chủ về muôn đức mở bày nên dùng hoa đẹp để cúng dường. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Đại giáo vương Q.4; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương huệ

3571指通達實相之理而破除諸相之智。維摩經卷中不二品(大一四‧五五○下):「達罪性則與福無異,以金剛慧決了此相。」維摩經注卷八(卍續二七‧二五二下):「什曰:『金剛置地下至地際,然後乃止;實相慧要盡法性,然後乃止也。』肇曰:『金剛慧,實相慧也。』」 於密教,則指體達「阿字本不生」妙理之慧,此慧遠離動轉,猶如堅固不壞之金剛。(參閱「阿字本不生」3615) ; (金剛慧) Chỉ cho trí tuệ thông suốt lí thực tướng mà phá trừ các tướng. Phẩm Bất nhị kinh Duy ma quyển trung (Đại 14, 550 hạ) nói: Thấu suốt được tính của tội thì không khác gì với phúc, dùng trí tuệ kim cương(kim cương tuệ)mà rõ suốt tướng tội phúc này. Duy ma kinh chú quyển 8 (Vạn tục 27, 252 hạ), ghi: Ngài Cưu ma la thập nói: Kim cương lún sâu đến tận lòng đất rồi mới dừng; tuệ thực tướng phải rõ suốt đến cùng tột pháp tính rồi mới dừng. Còn ngài Tăng triệu thì nói: Kim cương tuệ tức là thực tướng tuệ. Trong Mật giáo, Kim cương tuệ chỉ cho trí tuệ thông đạt được diệu lí Chữ A vốn chẳng sinh, trí tuệ này không lay chuyển, cứng chắc như kim cương không hư hoại. (xt. A Tự Bản Bất Sinh).

kim cương hương bồ tát

3551金剛香,梵名 Vajra-dhūpā,音譯嚩日囉杜閉。西藏名Rdo-rje-bdug-pa。爲密教金剛界三十七尊中,外四供養之一。位居金剛界曼荼羅外院方壇東南隅。又稱金剛燒香菩薩、金剛焚香菩薩。密號無礙金剛、速疾金剛、端嚴金剛。此尊之種子、形像等,於金剛界曼荼羅各會中皆不同,於成身會,種子爲???(aḥ),係遠離諸煩惱之義;三昧耶形爲寶香爐;形像爲黑色天女形,兩手持香爐;真言爲「唵 嚩日囉 度篦 婀」。於三昧耶會,三昧耶形爲蓮上之燒香器,真言爲「鉢囉訶邏儞儞」。於微細會,形像爲跪坐之姿勢,兩手持蓮形之有柄香爐。於供養會,兩手持蓮,蓮上有香爐;真言爲「唵 薩嚩怛他誐多 度波 布惹 咩伽 三母捺 薩發囉拏 三摩曳 吽」。此尊係東方阿閦佛爲供養中央大日如來所流出之身。阿閦佛主堅固菩提心,而以適悅無礙之智爲本誓;因香表適悅無礙智,故以香供養。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、金剛頂經卷二、略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門、諸佛境界攝真實經卷下、大教王經卷四〕

kim cương hỉ bồ tát

3560金剛喜,梵名 Vajra-sādhu,音譯嚩日囉娑度。西藏名Rab-tu-dgaḥ-baḥi rgyal-po,意爲歡喜王。係密教金剛界三十七尊中,東方四親近之第四。乃居於東方月輪中阿閦如來後方之菩薩。又作金剛稱菩薩、金剛善哉菩薩、歡喜王菩薩。別名摩訶悅意菩薩、妙薩埵上首菩薩、金剛首菩薩。由此尊之加持,於諸善法渴仰無厭,見微善即稱美讚歎。密號善哉金剛、讚歎金剛、安樂金剛。 此尊之種子、形像等於各會皆不同,於成身會,種子爲???(saḥ),義爲諦觀不生不滅常住堅固之理;三昧耶形爲二拳相並,各舒食指作彈指狀;形像爲身呈肉色,二手握拳當胸;真言爲「唵 嚩日囉 沙度 索」。於三昧耶會,種子爲???(dhu),表顯法界三昧自證之大喜;印相爲外縛拳,以二食指作彈指狀;真言爲「娑度娑度」。於供養會,形像爲兩手持蓮,蓮上有寶。於微細會,形像爲左手握拳,右手作彈指狀。 金剛喜菩薩象徵阿閦如來的菩提心之德,此德愛憐一切眾生而救濟之,示現自他俱得喜悅之相。〔金剛頂經卷一、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 ; (金剛喜菩薩) Kim cương hỉ, Phạm: Vajra-sadhu Hán âm: Phạ nhật ra sa độ. Tạng:Rab-tu-dga#-bahi rgyal-po (vua Hoan hỉ). Cũng gọi: Kim cương xưng bồ tát, Kim cương thiện tai bồ tát, Hoan hỉ vương bồ tát, Ma ha duyệt ý bồ tát, Diệu tát đỏa thượng thủ bồ tát, Kim cương thủ bồ tát. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở phía sau đức A súc Như lai trong nguyệt luân ở phương đông trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Thiện tai kim cương, Tán thán kim cương, An lạc kim cương. Chủng tử và hình tượng của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì chủng tử là (sa#), nghĩa là quán xét lí thuờng trụ kiên cố bất sinh bất diệt; hình Tam muội da là 2 tay nắm lại đặt ngang nhau, mỗi nắm tay duỗi ngón tay trỏ làm như dáng khảy móng tay; hình tượng mầu da người, 2 tay nắm lại để trước ngực. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra sa độ sách. Trong hội Tam muội da, chủng tử là (dhu), biểu hiện tâm đại hoan hỉ do tự chứng Pháp giới tam muội; ấn tướng là Ngoại phược quyền (2 tay chắp lại, 10 ngón đan vào nhau rồi nắm lại), 2 ngón trỏ trong tư thế khảy mỏng tay. Chân ngôn là: Sa độ sa độ. Trong hội Cúngdường, hình tượng 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có vật báu. Trong hội Vi tế, hình tượng là tay trái nắm lại, tay phải trong tư thế khảy móng tay. Bồ tát Kim cương hỉ tượng trưng cho cái đức bồ đề tâm của A súc Như lai, đức này thương xót và cứu giúp tất cả chúng sinh, cho nên biểu hiện tướng mình, người đều được vui mừng. Nếu được vị Bồ tát này gia hộ thì hành giả sẽ sinh tâm khao khát những pháp lành mà không nhàm chán, dù thấy một việc thiện nhỏ, cũng liền khen ngợi, tán thán. [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Lược thuật kim cương đính du già phân biệt Thánh vị tu chứng pháp môn; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương hợi mẫu

3539爲西藏佛教密宗本尊神。爲上樂金剛之明妃。頭現豬形,女身。其塑像爲與上樂金剛相抱之形。係迦爾居派修密宗時尊奉之主要本尊。 ; (金剛亥母) Vị thần bản tôn trong pháp tu của phái Ca nhĩ cư thuộc Mật tông Tây tạng, là Minh phi của Thượng lạc kim cương. Hình tượng của vị thần này là thân người đàn bà, đầu lợn (heo) cùng với Thượng lạc kim cương đang ôm nhau. KIM CƯƠNG HƯƠNG BỒ TÁT Kim cương hương, Phạm: Vajra-dhùpà. Hán âm: Phạ nhật ra đỗ bế Tạng:Rda-rje-bdug-pa. Cũng gọi Kim cương thiêu hương bồ tát, Kim cương phần hương bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở góc đông nam trên Phương đàn của viện Ngoài thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, là 1 trong 4 vị bồ tát Ngoại cúng dường thuộc 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Vô ngại kim cương, Tốc tật kim cương, Đoan nghiêm kim cương. Chủng tử và hình tượng của vị tôn này trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì chủng tử là (a#), nghĩa là xa lìa các phiền não. Hình tượng là hình Thiên nữ, mình mầu đen, 2 tay cầm lư hương có cán; hình Tam muội da là lư hương báu. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra độ bề a. Trong hội Tam muội da, hình Tam muội da là lư hương trên hoa sen; chân ngôn là: Bát ra ha la nễ nễ. Tronghội Vi tế, hình tượng của vị tôn này ở tư thế ngồi quì, 2 tay cầm lư hương có cán, hình hoa sen. Trong hội Cúng dường, 2 tay cầm hoa sen, trên hoa sen có lư hương. Chân ngôn là: Án tát phạ đát tha nga đa độ ba bố nhạ dương già tam mẫu nại tát phát ra noa tam ma duệ hồng. Vị tôn này từ thân A súc Như lai ở phương đông lưu xuất để cúng dường Đại nhật Như lai. Đức Phật A súc chủ về tâm bồ đề bền chắc và lấy trí hoan hỉ vô ngại làm bản thệ; vì hương thơm biểu trưng cho trí tuệ này nên dùng hương để cúng dường. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; kinh Kim cương đính Q.2; Lược thuật Kim cương đính du già phân biệt Thánh vị tu chứng pháp môn; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; kinh Đại giáo vương Q.4].

kim cương khẩu

3535請參閱 一切如來金剛三業最上祕密大教王經 金剛,爲諸寶中之最勝者。金剛口乃比喻如來之口舌殊勝,有如金剛。瓔珞本業經卷上(大二四‧一○一一上):「爾時,釋迦牟尼佛以金剛口告敬首菩薩。」 ; Diamond-mouth, that of Buddha. ; (金剛口) Miệng kim cương. Ví dụ lời nói của đức Như lai chắc thật như kim cương. Kinh Anh lạc bản nghiệp quyển thượng (Đại 24, 111 thượng) nói: Lúc bấy giờ, đức Phật Thích ca mâu ni dùng lời nói chắc thật như kim cương(kim cương khẩu) để chỉ dạy bồ tát Kính thủ.

kim cương khởi ấn

3555密教印明之一。又作覺起印、起印、驚覺佛印、驚覺印、驚覺一切如來印、發悟契、發悟一切佛大契、普請驚覺一切聖眾印。印,印相;明,真言。即以智金剛之加持力,驚覺入於金剛定之一切聖眾,奉請彼等至道場護念行者之印明。爲行者於修法之際,觀想諸佛之後所結誦之印明。結印之時,二手作金剛拳,鉤結二小指,豎二食指,指頭相拄,並舉三次。其中,鉤結二小指,表「理左智右」、法身無礙涉入之義;三度舉動食指,表驚覺入定諸佛,令彼出定之義,即先驚覺道場內之聖眾,次驚覺三千大千世界之聖眾,後驚覺十方不可說界極微數之聖眾。結此印時,所念誦之真言爲「唵嚩日囉底瑟吒」。另據略出經卷一之說,則謂此印明乃行者由臥寢起身時所結誦之印明,即行者常觀想自身爲普賢金剛身,故於寢息時,應觀想入於金剛三昧;於起身時,應觀想自金剛三昧起,即於此時結誦金剛起印。〔諸佛境界攝真實經卷上、教王經卷上、金剛頂蓮華部心念誦儀軌、金剛王菩薩祕密念誦儀軌、金剛頂多羅菩薩念誦法、金剛頂義訣卷上〕 ; (金剛起印) Cũng gọi Giác khởi ấn, Khởi ấn, Kinh giác Phật ấn, Kinh giác ấn, Kinh giác nhất thiết Như lai ấn, Phát ngộ khế, Phát ngộ nhất thiết Phật đại khế, Phổ thỉnh kinh giác nhất thiết Thánh chúng ấn. Ấn tướng và chân ngôn dùng để đánh thức tất cả Thánh chúng đang nhập định Kim cương hầu phụng thỉnh các Ngài đến đạo tràng hộ niệm cho hành giả. Lúc hành giả tu pháp, sau khi quán tưởng chư Phật rồi thì kết tụng ấn minh này. Ấn tướng là 2 tay kết Kim cương quyền, 2 ngón út móc vào nhau, 2 ngón trỏ dựng đứng, đầu ngón tay chạm nhau, đưa lên 3 lần. Trong đó, 2 ngón út móc vào nhau biểu thị ý nghĩa Lí bên trái, Trí bên phải, Pháp thân vô ngại dung hợp với nhau; ba lần cử động ngón trỏ biểu thị ý nghĩa thức tỉnh chư Phật đang nhập định để thỉnh các Ngài xuất định. Tức là trước hết đánh thức Thánh chúng trong đạo tràng, kế đến đánh thức Thánh chúng trong 3 nghìn đại thiên thế giới, sau cùng đánh thức Thánh chúng nhiều như số bụi nhỏ trong bất khả thuyết thế giới ở 10 phương. Khi kết ấn này thì niệm chân ngôn: Án phạ nhật ra để sắt tra. Ngoài ra, theo kinh Lược xuất quyển 1, thì đây là ấn minh mà hành giả kết tụng lúc thức dậy, tức là hành giả thường quán tưởng thân mình là thân kim cương Phổ hiền, vì vậy, khi đi ngủ, phải quán tưởng là mình vào định Kim cương và khi thức dậy phải quán tưởng là ra định Kim cương. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.thượng; kinh Giáo vương Q.thượng; Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ; Kim cương vương bồ tát bí mật niệm tụng nghi quĩ; Kim cương đính kinh Đa la bồ tát niệm tụng pháp; Kim cương đính nghĩa quyết Q.thượng].

Kim cương kinh

金剛經|Tên gọi tắt của Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh.

kim cương kinh

Vajra-prajna-paramita sùtra. (S). Diamond sutra.

Kim cương kinh chú 金剛經註

[ja] コンゴウキョウチュウ Kongōkyō chū ||| Commentary to the Diamond Sutra by Yefu Daochuan 冶父道川. One of the five commentaries on the Diamond Sutra found in the O ka hae sŏrŭi 五家解説誼. Z 461.24.536-565. => (k: Kŭmganggyŏng chu. j: Kongōkyō chū; e: Commentary to the Diamond Sutra) của Dã Phụ Đạo Xuyên (c: Yefu Daochuan 冶父道川). Là một trong Năm luận giải về Kinh Kim Cương có trong Ngũ gia giải thoát nghi (k: O ka hae sŏrŭi 五家解説誼).

kim cương kinh cưu di

3565全一卷。又稱金剛般若經鳩異。唐代段成式撰。收於卍續藏第一四九冊。所謂「鳩異」,即彙集遺逸異說者。全書收錄唐代中期以降,張齊丘、王孝廉等僧俗二十一人受持金剛經之靈驗譚,並倣「金剛經靈驗記三卷」之形式而成,著於開成元年(836)。爲研究唐代中期有關金剛經信仰之重要資料。 ; (金剛經鳩异) Cũng gọi Kim cương bát nhã kinh cưu dị. Tác phẩm, 1 quyển, do ông Đoàn thành thức soạn vào niên hiệu Khai thành năm đầu (836) đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 149. Cưu dị nghĩa là sưu tập những truyện linh dị đã bị thất lạc. Sách này phỏng theo hình thức của bộ Kim cương kinh linh nghiệm kí 3 quyển, mà ghi chép những việc linh nghiệm của 21 vị tăng tục thụ trì kinh Kim cương từ giữa đời Đường về sau như: Trương tề khâu, Vương hiếu liêm, v.v.. sách này là tư liệu có giá trị để nghiên cứu về tín ngưỡng kinh Kim cương ở thời kì giữa đời Đường.

Kim cương kinh giải nghi 金剛經解義

[ja] コンゴウキョウカイギ Kongōkyō kaigi ||| The Jingang jing jieyi; (Huineng's 慧能 commentary to the Diamond Sutra), Z 459.24.517-535. It is one of the five redacted commentaries included in Kihwa's 己和O ka hae sŏrŭi 五家解説誼. => (k: Kŭmganggyŏng haeŭi; j: Kongōkyō kaigi; c: Jingang jing jieyi). Luận giải của ngài Huệ Năng về Kinh Kim Cương.

kim cương kinh giải nghĩa

3565<一>凡二卷。唐代曹溪六祖慧能述。又稱金剛經注解、金剛經口訣、六祖解義、六祖口訣。收於卍續藏第三十八冊。乃鳩摩羅什所譯金剛般若經之注釋書。卷首題「金剛般若波羅蜜經序」,卷上由第一法會因由分至第十一無爲福勝分,卷下由第十二尊重正教分至第三十二應化非真分。序中指出,所謂金剛即佛性,般若即大智慧,波羅蜜即到彼岸、離生滅相,而經則爲成佛之道;欲使眾生遠離生滅之相,破除謬想愚癡,以達涅槃妙境而得大智慧,故說成佛之道。所述詞句簡明而易解。 <二>凡二卷。清代徐槐廷述。收於卍續藏第九十二冊。乃鳩摩羅什所譯金剛般若經之注釋書。書之內容,首爲黃樂之序、徐槐廷述金剛經源流;其次列舉彙纂引用書目、誦經要法六則;再次以註、論、講三段分釋本文,「註」以解釋經文中之字句,「論」以辨析論斷經文之精要,「講」則倣效如來之口氣以演發金剛般若之大義;末爲彙解、總解,謂金剛經爲佛祖傳心祕旨,以清淨爲體,發心爲用,而以如如不動爲究竟。 ; (金剛經解義) I. Kim Cương Kinh Giải Nghĩa. Cũng gọi Kim cương kinh chú giải, Kim cương kinh khẩu quyết, Lục tổ giải nghĩa, Lục tổ khẩu quyết. Kinh sớ, 2 quyển, do Lục tổ Tuệ năng ở Tào khê giảng thuật vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 38. Đây là sách chú thích kinh Kim cương bát nhã theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập. Ở đầu quyển đề: Kim cương bát nhã ba la mật kinh tự. Quyển thượng từ phần Pháp hội nhân do thứ 1 đến phần Vô vi phúc thắng thứ 11. Quyển hạ từ phần Tôn trọng chính giáo thứ 12 đến phần Ứng hóa phi chân thứ 32. Bài tựa ở đầu quyển thượng có giải thích rằng: Kim cương tức là tính Phật, Bát nhã tức là Đại trí tuệ, Ba la mật tức là đến bờ kia, lìa tướng sinh diệt, Kinh là con đường dẫn đến quả Phật. Vì muốn khiến cho chúng sinh lìa tướng sinh diệt, phá trừ vọng tưởng ngu si, để đạt đến diệu cảnh Niết bàn, được Đại trí tuệ, cho nên chỉ ra con đường dẫn đến quả Phật. Lời văn trình bày trong bộ sớ giải này gọn gàng, sáng sủa và dễ hiểu. II. Kim Cương Kinh Giải Nghĩa. Kinh sớ, 2 quyển, do ông Từ hòe đình soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 92. Là sách chú thích kinh Kim cương bát nhã theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập. Về nội dung, trước hết là lời tựa của ông Hoàng lạc và phần nói về nguồn gốc kinh Kim cương của Từ hòe đình, kế đến là liệt kê, xếp loại những sách được dùng để tham khảo và trích dẫn 6 nguyên tắc về yếu pháp tụng kinh; tiếp theo là chia làm 3 phần Chú, Luận và Giảng để giải thích chính văn. Chú là giải thích các câu và chữ trong văn kinh, Luận là phân tích và đoán định ý nghĩa cốt yếu trong văn kinh, còn Giảng thì bắt chước khẩu khí của Như lai để diễn bày nghĩa rốt ráo của kinh Kim cương bát nhã; cuối cùng là giải thích theo từng loại và giải thích tổng quát. Trong phần này, soạn giả cho rằng kinh Kim cương là yếu chỉ bí mật tâm truyền của Phật và Tổ, lấy thanh tịnh làm thể, phát tâm làm dụng và lấy như như bất động làm cứu cánh.

kim cương kinh lục thí

3564請參閱 金剛般若波羅蜜經 請參閱 金剛經解義 指金剛經中六種顯示人類色身爲空、無常之譬喻。即如夢、如幻、如泡、如影、如露、如電等,此六種事物皆於瞬間生起又消失,故以之比喻人身之遷流變化無實。金剛經(大八‧七五二中):「一切有爲法,如夢幻泡影,如露亦如電,應作如是觀。」(參閱「譬喻」6809) ; (金剛經六譬) Sáu thí dụ trong kinh Kim cương. Tức là: Như chiêm bao, như ảo thuật, như bọt nước, như bóng sáng, như sương móc và như tia chớp. Sáu thí dụ này nhằm nói lên tính chất không, vô thường của tất cả pháp hữu vi. Kinh Kim cương ( Đại 8, 752 trung) Tất cả pháp hữu vi Như chiêm bao trò dối Như bọt nước bóng sáng Như sương móc ánh chớp Nên quán xét như thế. (xt. Thí Dụ).

kim cương kinh nghĩa sớ

3565請參閱 金剛經解義 請參閱 金剛般若經疏 凡四卷。又稱金剛般若經義疏、金剛般若疏。隋代吉藏撰,約成書於文帝開皇九至十七年(589~597)。收於大正藏第三十三冊。全書分爲十科,前九科闡述金剛經要意,第十科隨文注解。所述旁徵博引,極爲詳盡。 ; (金剛經義疏) Cũng gọi: Kim cương bát nhã kinh nghĩa sớ, Kim cương bát nhã sớ. Kinh sớ, 4 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào khoảng năm Khai hoàng 9-17 (589-597) đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Nội dung chia làm 10 khoa, 9 khoa trước trình bày về ý nghĩa trọng yếu của kinh Kim cương, khoa thứ 10 giải thích chính văn. Lời văn rõ ràng, đầy đủ, có trích dẫn nhiều tư liệu.

Kim cương kinh sớ luận toản yếu 金剛經疏論纂要

[ja] コンゴウキョウソロンサンヨウ Kongōkyō soron sanyō ||| The Jingang jing shoulun zuanyao; Zongmi's 宗密 commentary to the Diamond Sutra), (two fascicles). Redacted by Zixuan. T 1701.33.154-169 and Z 460.24.535-?. One of the five commentaries on the Diamond Sutra included in Kihwa's 己和O ka hae sŏrŭi 五家解説誼. => (k: Kŭmganggyŏng soron ch'anyo; j: Kongōkyō soron sanyō; c: Jingang jing shoulun zuanyao). Do ngài Tông Mật (c: Zongmi's 宗密) luận giải về Kinh Kim Cương. Hai quyển. Zixuan biên tập. Là một trong 5 luận giải về Kinh Kim Cương trong bộ Ngũ gia giải thoát nghi (k: O ka hae sŏrŭi 五家解説誼) của ngài Kỷ Hòa (k: Kihwa's 己和).

kim cương kinh tán thuật

3566凡二卷。唐代窺基撰。全稱金剛般若經贊述。收於大正藏第三十三冊。乃鳩摩羅什所譯金剛般若經之注釋書。玄奘譯之大般若波羅蜜多經第九會「能斷金剛波羅蜜多經」與上述羅什所譯,爲同本異譯。而窺基雖爲玄奘門下,卻依用羅什之金剛般若經,此可謂異例;本書乃以法相宗之立場,而注釋般若空觀;就此而言,堪爲一重要之注釋書。 ; (金剛經贊述) Gọi đủ: Kim cương bát nhã kinh tán thuật. Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Là sách chú thích kinh Kim cương bát nhã theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập. Trong bộ sách này, ngài Khuy cơ đứng trên lập trường của tông Pháp tướng để giải thích Không quán của Bát nhã, cho nên đây là bộ chú sớ rất quan trọng để tìm hiểu về quan niệm Không của các nhà Duy thức.

Kim cương kinh 金剛經

[ja] コンゴウキョウ Kongō kyō ||| The popular short title of the Diamond Sutra 金剛般若波羅蜜經. => (k: Kŭmgang kyŏng; j: Kongō kyō. Tên gọi tắt thông dụng của Kim cương Bát-nhã ba-la-mật kinh (e: Diamond Sutra 金剛般若波羅蜜經).

kim cương kết già

3561即半跏坐。又作金剛跏。爲禪坐法之一。守護國界經卷二(大一九‧五三○上):「當以身作金剛結跏,謂以右腳壓左髀上,端身正坐。」〔一字頂輪王經卷四〕(參閱「半跏趺坐」1596) ; (金剛結跏) Cũng gọi Kim cương già. Ngồi bán già. Một trong những tư thế ngồi thiền. Kinh Thủ hộ quốc giới quyển 2 (Đại 19, 530 thượng), nói: Phải ngồi theo tư thế Kim cương kết già, nghĩa là chân phải gác lên vế trái, giữ thân ngay thẳng. [X. kinh Nhất tự đính luân vương Q.4]. (xt. Bán Già Phu Tọa).

kim cương linh

3567密教法具之一。又作金鈴。其中西藏密教所用者又稱藏鈴。爲督勵眾生精進與喚起佛、菩薩之驚覺所振搖之鈴。即於修法中,爲驚覺、勸請諸尊,令彼等歡喜而振搖之。其柄呈金剛杵形,以柄之樣式而有獨股鈴、三股鈴、五股鈴、寶鈴、塔鈴等五種之別,稱五種鈴,與五種杵共置於修法大壇上各相應之位置。於修法終了,爲奉送諸尊而振之鈴,稱爲後鈴。蓋「鈴」表示說法之義,若以五種指五智,此五種鈴即象徵五智五佛說法之外用。又天息災所譯之微妙曼荼羅經卷五,列舉九股鈴(忿怒變化明王鈴)及七股鈴(金剛忿怒明王鈴)。〔諸佛境界攝真實經卷下、攝大儀軌卷一〕 ; (金剛鈴) Cũng gọi Kim linh. Cái linh(chuông nhỏ có quả lắc)dùng để đốc thúc chúng sinh tinh tiến tu tập và cung thỉnh chư Phật, Bồ tát xuất định, giáng lâm đàn tràng để gia hộ hành giả trong khi tu pháp. Là 1 trong những pháp cụ của Mật giáo. Cán linh để cầm là hình chày Kim cương, cho nên căn cứ vào hình dáng của cán mà có 5 loại linh khác nhau: Linh 1 chĩa, Linh 3 chĩa, Linh 5 chĩa, Linh báu và Linh hình tháp. Năm loại linh này và 5 loại chày đều được đặt ở các vị trí tương ứng trên Đại đàn tu pháp. Cái linh được dùng để tiễn chư tôn khi tu pháp xong, gọi là Hậu linh. Linh biểu thị cho ý nghĩa thuyết pháp, bởi thế, nếu dùng 5 loại linh để chỉ cho 5 trí, thì 5 loại linh này tượng trưng cho cái dụng thuyết pháp bên ngoài của 5 trí 5 Phật. Ngoài ra, kinh Vi diệu Mạn đồ la quyển 5 do ngài Thiên tức tai dịch, có nêu 2 loại linh là Linh 9 chĩa(linh của Minh vương Phẫn nộ biến hóa) và Linh 7 chĩa (linh của Minh vương Kim cương phẫn nộ). [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Nhiếp đại nghi quĩ Q.1].

kim cương linh bồ tát

3567爲密教金剛界三十七尊之一,四攝菩薩之一。位居金剛界曼荼羅外院方壇之北方。又稱徧入菩薩、攝入菩薩、召入菩薩。密號解脫金剛、歡喜金剛,種子爲???(hoḥ),一切歡喜之義。 此尊之三昧耶形、真言,於各會中皆不同,如於成身會中,三昧耶形爲金剛鈴;形像爲身呈青色,左手握拳置於腰前,右手伸拇指、食指,餘指彎屈,置於胸前;真言爲「唵 嚩日囉吠捨 斛」。於三昧耶會,三昧耶形爲蓮花上之三股鈴,真言爲「健吒 噁噁」。於微細會,形像爲兩手各持金剛鈴。此尊象徵確實攝取眾生而歡喜雀躍,猶如漁夫捕獲魚蝦時,歡喜而振鈴。 金剛鈴菩薩之梵名爲 Vajrāveśa,音譯嚩日囉吠捨。西藏名 Rdo-rje-dbab-pa。然梵語 āveśa 爲「徧入」之義而無「鈴」之義,金剛頂經卷二即將 Vajrāveśa 譯作「堅金剛入」。又金剛鈴之正確梵語應爲三昧耶會之真言中的 vajra-gaṇṭā。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、諸佛境界攝真實經卷下、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 ; (金剛鈴菩薩) Kim cương linh, Phạm: Vajràveza. Hán âm: Phạ nhật ra phệ xả. Tạng:Rdo-rje-dbab-pa. Cũng gọi là Biến nhập bồ tát, Nhiếp nhập bồ tát, Triệu nhập bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở phía bắc Phương đàn ở viện Ngoài trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 4 Nhiếp bồ tát, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Giải thoát kim cương, Hoan hỉ kim cương, chủng tử là (ho#), nghĩa là tất cả đều vui mừng. Hình Tam muội da và chân ngôn của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, hình Tam muội da là cái linh kim cương; hình tượng là mầu xanh, tay trái nắm lại đặt ở chỗ cạnh sườn, tay phải duỗi ngón cái, ngón trỏ và các ngón khác co lại để ở trước ngực. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra phệ xả hộc. Trong hội Tam muội da thì hình Tam muội da là cái linh 3 chĩa ở trên hoa sen; chân ngôn là: Kiện tra á á. Trong hội Vi tế, hình tượng vị tôn này là 2 tay đều cầm linh kim cương. Vị tôn này tượng trưng cho sự chân thực, vui mừng hớn hở khi nhiếp thủ chúng sinh, giống như khi ngư phủ bắt được cua cá. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương luân

3573<一>指密教。密教稱爲金剛乘,輪者即謂法輪,故謂之金剛輪。蓋密教以自教最爲殊勝,教法堅利如金剛。 <二>指地層最底之金輪。據俱舍論卷十一載,器世間由三輪組成,風輪位居最下層,其量廣無數,厚十六「洛叉」;次上爲水輪,僅厚八洛叉;其餘凝結爲金,即爲金輪,上有九山、八海、四洲等。水金輪之極際即稱金輪際。〔無量壽如來行供養儀軌〕 <三>指釋迦成道之金剛座。此座上達地面,下據金輪,故得此名。 ; The diamond or vajra wheel, symbol of the esoteric sects. ; (金剛輪) I. Kim Cương Luân. Chỉ cho Mật giáo. Mật giáo được gọi là Kim cương thừa, còn luân nghĩa là Pháp luân, vì thế gọi là Kim cương luân. Mật giáo tự cho giáo pháp của mình là thù thắng hơn cả và giáo pháp ấy cứng chắc như kim cương. II. Kim Cương Luân. Chỉ cho kim luân ở đáy của địa tầng trên cùng. Cứ theo luận Câu xá quyển 11, Khí thế gian được cấu tạo thành bởi 3 lớp: Phong luân là lớp dưới cùng, bề mặt rất rộng, dày 16 lạc xoa; trên đó là Thủy luân, bề dày chỉ có 8 lạc xoa, lớp 1 trên cùng là Kim luân, bề mặt ngưng kết thành vàng, trên Kim luân có 9 núi, 8 biển, 4 châu. Chỗ tận cùng của Kim luân gọi là Kim luân tế. [X. Vô lượng thọ Như lai hành cúng dường nghi quĩ]. III. Kim Cương Luân. Chỉ có tòa kim cương nơi đức Thích ca ngồi khi thành đạo. Tòa này ở trên mặt đất, còn đế tòa được đặt trên Kim luân.

kim cương lợi bồ tát

3541金剛利,梵名 Vajra-tīkṣṇa,音譯嚩日囉底乞灑拏。西藏名 Rdo-rje-ral-gri。又稱金剛受持菩薩。別名摩訶衍菩薩、摩訶器杖菩薩、文殊師利薩、金剛藏菩薩,金剛甚深菩薩、金剛覺菩薩。<一>密教金剛界三十七尊之一,十六大菩薩之一,西方無量壽如來四親近之一。位居金剛界曼荼羅西方月輪中無量壽如來之右方。由此尊之加持,能以般若波羅蜜之劍,斷自他無量雜染結使諸苦。密號般若金剛、除罪金剛。此尊之種子、形像等,於金剛界曼荼羅各會中不同,於成身會,種子爲???(dhaṃ),爲大空法界智之義;三昧耶形爲利劍;形像爲身呈金色,左手持花,花上有篋,右手持利劍;真言爲「唵 嚩日囉 底乞瑟拏 淡」。於三昧耶會,種子爲???(da),爲不取不捨中道妙慧之義;真言爲「耨佉 砌那」。於供養會,形像爲兩手持蓮,蓮上有利劍;真言爲「唵 薩嚩怛他孽多 鉢囉枳惹 波羅蜜多 避 涅賀㘑薩都薩都努弭 摩訶具沙努霓 淡」。此菩薩爲無量壽如來下轉攝取之身,表徵以智慧之利劍給與眾生之德。身爲金色,示佛智成滿之相,左手之梵篋,示定中存佛智;右手之利劍,示佛智猛利、斷惑除障。〔金剛頂經卷一、大教王經卷三(施護譯)、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、卷三、諸佛境界攝真實經卷中〕 <二>爲仁王般若經所舉五大力菩薩中西方之尊。手持金剛劍,放金色光護國。劍表能斷自他俱生之障。 ; (金剛利菩薩) Kim cương lợi, Phạm: Vajra-tìkwịa. Hán âm: Phạ nhật ra để khất sái noa Tạng:Rdo-rje-ral-gri. Cũng gọi Kim cương thụ trì bồ tát, Ma ha diễn bồ tát, Ma ha khí trượng bồ tát, Văn thù sư lợi bồ tát, Kim cương tạng bồ tát, Kim cương thậm thâm bồ tát, Kim cương giác bồ tát. I. Kim Cương Lợi Bồ Tát. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở bên phải đức Vô Lượng thọ Như lai trong nguyệt luân phía tây trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 16 vị Đại bồ tát, 1 trong 37 vị tôn thuộc Kim cương giới. Mật hiệu là Bát nhã kim cương, Trừ tội kim cương. Hình tượng và chủng tử của vị tôn này trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng của vị tôn này có thân mầu vàng ròng, tay trái cầm hoa, trên hoa có hộp kinh, tay phải cầm thanh gươm sắc bén; chủng tử là (dhaô), nghĩa là trí pháp giới đại không; hình Tam muội da là thanh gươm sắc. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra để khất sắt noa đạm. Trong hội Tam muội da chủng tử của vị tôn này là (da), nghĩa là trí tuệ Trung đạo vi diệu không lấy không bỏ; chân ngôn là: Nậu khư thiết na. Trong hội Cúngdường, hình tượng của vị tôn này là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có thanh gươm sắc. Chân ngôn là: Án tát phạ đát tha nghiệt đa bát ra chỉ nhạ ba la mật đa tị niết hạ lệ tát đô tát đô nỗ nhĩ ma ha cụ sa nỗ nghê đạm. Vị Bồ tát này là thân hạ chuyển(thân hoá độ chúng sinh)của đức Như lai Vô lượng thọ, tượng trưng cái đức ban gươm trí tuệ sắc bén cho chúng sinh. Thân Ngài mầu vàng ròng là biểu thị tướng thành tựu Phật trí viên mãn; tay trái cầm hộp kinh tượng trưng cho việc giữ gìn trí Phật ở trong định; tay phải cầm gươm sắc biểu thị ý nghĩa dùng trí Phật đoạn trừ hoặc chướng. Nếu được sự gia hộ của vị Bồ tát này, thì hành giả có thể dùng gươm Bát nhã ba la mật dứt trừ phiền não tạp nhiễm của mình và người. [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Đại giáo vương Q.3 (bản dịch của ngài Thí hộ), kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2, Q.3; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung]. II. Kim Cương Lợi Bồ Tát. Vị Bồ tát ngồi ở phía tây trong 5 vị Đại lực bồ tát nói trong kinh Nhân vương bát nhã. Vị Bồ tát này tay cầm thanh gươm kim cương, phóng ra ánh sáng rực rỡ che chở cho đất nước. Gươm biểu thị ý nghĩa có năng lực đoạn trừ nghiệp chướng câu sinh(sinh ra đã có rồi) của mình và người khác.

kim cương lực

Vajra-power, irresistible strength.

kim cương lực sĩ

3534梵名 Vajrapāṇibalin 之意譯。音譯婆闍羅波尼婆里卑。其義有二:(一)指金剛力士爲一人。據大寶積經卷九金剛力士會所載,往昔轉輪聖王勇郡有千子及法意、法念二王子,法意曾誓言,若千位太子成佛時,當爲金剛力士,親近於佛,聞諸佛祕要密迹之事。當時之勇郡王即過去之定光如來,千位太子即賢劫中之千佛,法意王子即金剛力士,名爲密迹,故又稱密迹金剛力士、密迹力士,或稱爲那羅延,以其具有大力之故。 (二)指金剛與力士二者。據大日經真言藏品所載,金剛,係指不可越守護神,又稱難勝金剛;力士,係指相向守護神,又稱對面金剛。此二尊即一般所稱之「二王尊」,爲安置於寺門兩側之金剛神。亦有於寺門立「右弼金剛」與「左輔密迹」者,右弼即那羅延(天),以此天之神有大力能驅逐一切鬼神;左輔即密迹金剛力士。於印度,則風行安置諸天及藥叉神等,以守護伽藍。如毘奈耶雜事卷十七(大二四‧二八三上):「給孤長者施園之後(中略),佛言:『長者!於門兩頰應作執杖藥叉,次傍一面作大神通變。』」〔大日經密印品、陀羅尼集經卷十二〕(參閱「二王尊」191、「那羅延天」3029) ; Xem Kim cương thần. ; (金剛力士) Phạm:Vajrapàịibalin. Hán âm: Bà xà ba la ni bà lí ti. I. Kim Cương Lực Sĩ. Vương tử Pháp ý con vua Dũng quận ở đời quá khứ. Cứ theo Hội Kim cương lực sĩ trong kinh Bảo tích quyển 9, thủa xưa, Chuyển luân Thánh vương tên là Dũng quận có 1.000 người con và 2 vương tử là Pháp ý và Pháp niệm; Pháp ý nguyện rằng khi nào 1.000 vị Thái tử thành Phật, thì mình sẽ là Kim cương lực sĩ, ở gần bên Phật, nghe những pháp bí yếu của chư Phật. Vua Dũng quận lúc bấy giờ chính là đức Định quang Như lai trong quá khứ, 1.000 vị Thái tử tức là 1.000 đức Phật trong kiếp Hiền, còn vương tử Pháp ý chính là Kim cương lực sĩ, tên là Mật tích, cho nên cũng gọi là lực sĩ Kim cương Mật tích. Lực sĩ Mật tích, hoặc gọi là Na la diên,vì ngài có sức rất mạnh. II. Kim Cương Lực Sĩ. Chỉ cho Kim cương và Lực sĩ. Cứ theo phẩm Chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật, thì Kim cương là chỉ cho thần thủ hộ Bất khả việt, còn gọi là Nan thắng kim cương; Lực sĩ là chỉ cho thần thủ hộ Tương hướng, cũng gọi là Đối diện kim cương. Hai vị thần thủ hộ này thường được gọi là Nhị Vương Tôn, là những thần Kim cương thờ ở 2 bên cửa chùa. Cũng có nơi lập Hữu bật Kim cương và Tả phụ Mật tích. Hữu bật tức là trời Na la diên, vì vị thần trời này có sức rất mạnh, xua đuổi được tất cả quỉ thần. Còn Tả phụ tức là lực sĩ Kim cương Mật tích. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật; kinh Đà la ni tập Q.12]. (xt. Nhị Vương Tôn, Na La Diên Thiên).

Kim cương lực sĩ 金剛力士

[ja] コンゴウリキシ kongō rikishi ||| Vajra-warriors. Also called zhijingang 執金剛 and jingangye 金剛夜. Supernatural beings who protect the buddhadharma and whose weapon is the Vajra-mallet 金剛杵. => (k: Kŭmgang yŏksa; j: kongō rikishi; e:Vajra-warriors). Còn gọi là Chấp kim cương và Kim cương dạ. Vị thần hộ trì Phật pháp, tay cầm vũ khí là Kim cương chử (e: Vajra-mallet 金剛杵).

kim cương man bồ tát

3580金剛鬘,梵名 Vajra-māla,音譯嚩日囉摩犂。西藏名 Rdo-rje-ḥphreṅ-ba。密教金剛界三十七尊之一,內四供養之一。位居金剛界曼荼羅中央大月輪中之西南隅。係大日如來爲供養寶生如來而流出之身,寶生如來司掌福智萬行之德,故以金剛寶鬘瓔珞供養之。密號妙嚴金剛,表示華鬘莊嚴之義。 此尊之種子、形像,於各會中皆不同,如於成身會,種子爲???(traṭ),如如無垢無高下之義;三昧耶形爲金剛寶鬘;形像爲身呈白黃色,天女形,二手執華鬘橫於胸前;印相爲二拳繫鬘,自額部垂至頂後;真言爲「唵 嚩日囉 摩黎 怛囉吒」。〔金剛頂經卷二、大教王經卷四、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 ; (金剛鬘菩薩) Kim cương man, Phạm: Vajra-màla. Hán âm: Phạ nhật ra ma lê. Tạng: Rdo-rje-#phreí-ba. Vị Bồ tát ngồi ở góc tây nam trong nguyệt luân trung ương trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 4 vị bồ tát Nội cúng dường, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Diệu nghiêm kim cương, nghĩa là dùng tràng hoa để trang nghiêm. Bồ tát này do đức Đại nhật Như lai sinh ra để cúng dường Bảo sinh Như lai; Bảo sinh Như lai chủ về đức muôn hạnh phúc trí cho nên dùng chuỗi anh lạc kim cương để cúng dường Ngài. Hình tượng và chủng tử của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng của vị tôn này là hình Thiên nữ, mình mầu vàng nhạt, 2 tay cầm vòng hoa nâng ngang ngực, chủng tử là (traỉ), nghĩa là không cáu bẩn, không cao thấp; hình Tam muội da là vòng hoa báu kim cương; ấn tướng là 2 tay nắm lại trong tư thế đang vắt vòng hoa từ trán rủ xuống sau ót. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra ma lê đát la tra. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Đại giáo vương Q.4; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương minh vương bồ tát

3542金剛明王,梵名 Vidyottama,音譯尾儞也多麼,意譯明王至高。爲密教胎藏界曼荼羅蘇悉地院最右端之菩薩。密號持明金剛,種子爲???(ka);形像爲身呈肉色,二手合掌,屈小指、無名指,指甲相合,開食指,拇指合併向下,置於胸前,坐於赤蓮花上;真言爲「唵 嚩日囉 尾儞也羅惹 莎訶」。〔諸說不同記卷六、祕藏記、胎藏界七集卷中〕 ; (金剛明王菩薩) Kim cương minh vương, Phạm: Vidyottama. Hán âm: Vĩ nễ dã đa ma. Hán dịch: Minh vương chí cao. Vị Bồ tát ngồi ở ngoài cùng phía bên phải trong viện Tô tất địa trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Trì minh kim cương. Hình tượng vị tôn này mình mầu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, chắp tay, ngón út và ngón áp út co lại, móng tay tiếp sát nhau, 2 ngón trỏ mở ra, 2 ngón cái hợp lại, để ở trước ngực và hướng xuống dưới; chủng tử là (ka); chân ngôn là: Án phạ nhật ra vĩ nễ dã la nhạ sa ha. [X. Chư thuyết bất đồng kí Q.6; Bí tạng kí; Thai tạng giới thất tập Q.trung].

kim cương mật tích

Vajrapàni (S). The deva-guardians of the secrets of Vairocana, his inner or personal group of guardians, in contrast with the outer or major group of Phổ Hiền, Văn Thù, etc.

kim cương na la diên thân

3542那羅延,梵語 nārāyaṇa。意指佛、菩薩之勝身。因佛、菩薩之身堅固勇猛,猶如金剛之堅硬,不爲任何外物所壞;而其力強,復如那羅延天之力大無窮,故稱之爲金剛那羅延身。〔大寶積經卷十〕(參閱「那羅延天」3029) ; (金剛那羅延身) Na la diên, Phạm:Nàràyaịa. Thân thù thắng của Phật, Bồ tát. Vì thân của Phật và Bồ tát cứng chắc, giống như kim cương, không một vật gì khác làm hư hoại được. Còn sức mạnh của các Ngài thì cũng giống như sức mạnh của trời Na la diên, thế nên gọi là Kim cương na la diên thân. [X. kinh Đại bảo tích Q.10]. (xt. Na La Diên Thiên).

kim cương nghiệp bồ tát

3564金剛業,梵名 Vajra-karman,音譯縛日羅羯磨、嚩日囉羯磨。西藏名 Las-thams-cad-kyi rdo-rje。<一>密教金剛界三十七尊中,十六大菩薩之一,北方四親近之一。位居北方月輪中不空成就如來之前方。別名金剛毘首、金剛羯磨、善遍一切處、金剛不空。此尊以虛空中庫藏之珍寶救濟眾生而令無匱乏,於十方如來一切諸佛微塵剎海普心供養。密號善巧金剛、辦事金剛。 種子、形像於諸會中皆不同,如於成身會中,種子爲???(kaṃ),即諸作業皆入大空之義;三昧耶形爲十字羯磨;身呈肉色,二手合掌高舉至頂上;真言爲「唵 嚩日羅 羯磨 劍」。於三昧耶會,種子爲???(tvaṃ),即如如、離言之作業,遍於法界而最勝第一之義;三昧耶形爲蓮花上有十字羯磨;真言爲「蘇縛始 怛鍐」。於供養會,形像爲兩手持蓮,蓮上有羯磨杵;印相作外縛拳而置於頭頂;真言爲「唵 薩嚩怛他誐多 度播冥伽 三母捺囉 薩發囉拏 布惹 羯迷 迦囉 加茑」。此菩薩爲不空成就如來下轉之身,象徵成辦自他事業之德。〔諸佛境界攝真實經卷中、瑜伽瑜祇經〕 <二>居於密教金剛界曼荼羅四印會之東方月輪內,大日如來四親近之一。象徵四種智印中之羯磨智印。形像爲左手握拳置於腰部,右掌置於胸前,掌心有羯磨;印相作外縛拳而置於頭頂,以二中指入於掌中,指面相合,二小指及食指立起相合;真言爲「阿尾儞野馱縛帝銘薩怛縛薩縛怛他蘗檐失者尾儞野地蘗摩散縛羅參忿擔」。在成身會、羯磨會、供養會、降三世會等諸會中,皆稱此尊爲業波羅蜜菩薩。〔金剛頂經卷二、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、卷三、大教王經卷三〕 ; (金剛業菩薩) Kim cương nghiệp, Phạm: Vajrakarman. Hán âm: Phạ nhật ra yết ma. Tạng: Las-thams-cad-kyi rdo-rje. I. Kim Cương Nghiệp Bồ Tát. Cũng gọi Kim cương tì thủ, Kim cương yết ma, Thiện biến nhất thiết xứ, Kim cương bất không. Vị Bồ tát ngồi ở phía trước đức Bất không thành tựu Như lai trong nguyệt luân phương bắc trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 6 vị Đại bồ tát, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Thiện xảo kim cương, Biện sự kim cương. Chủng tử và hình tượng của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, thì chủng tử là (kaô), nghĩa là mọi sự tạo tác đều nhập vào đại không, hình Tam muội da là yết ma chữ thập (..); hình tượng là thân mầu da người; 2 tay chắp lại đưa lên đỉnh đầu. Chân ngôn là: Án phạ nhật la yết ma kiếm. Trong hội Tam muội da, chủng tử là (tvaô), nghĩa là mọi sự tạo tác đều như như, lìa lời nói, trùm khắp pháp giới và tối thắng bậc nhất; hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa có yết ma chữ thập; chân ngôn là: Tô phược thủy đát tông. Trong hội Cúng dường, hình tượng vị tôn này là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có yết ma chữ thập; ấn tướng là Ngoại phược quyền(2 tay chắp lại, 10 ngón đan vào nhau rồi nắm lại) đưa lên đỉnh đầu. Chân ngôn là: Án tát phạ đát tha nga đa độ bá minh già tam mẫu nại ra tát phát ra noa bố nhạ yết mê ca la gia lạc. Vị tôn này là thân hóa độ chúng sinh của đức Bất không thành tựu Như lai, tượng trưng cho đức tự lợi, lợi tha. Ngài đem kho báu trong hư không cứu giúp chúng sinh khiến không còn thiếu thốn và mở lòng rộng lớn cúng dường tất cả chư Phật Như lai nhiều như bụi nhỏ ở khắp 10 phương. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; kinh Du già du kỳ]. II. Kim Cương Nghiệp Bồ Tát. Vị Bồ tát thân cận đức Đại nhật Như lai ngồi trong nguyệt luân phương đông thuộc hội Tứ ấn trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Vị tôn này tượng trưng cho trí ấn yết ma trong 4 loại trí ấn. Hình tượng vị tôn này là tay trái nắm lại để ở chỗ thắt lưng, bàn tay phải ngửa ra đặt trước ngực, trong lòng bàn tay có yết ma; ấn tướng là Ngoại phược quyền đặt trên đỉnh đầu, 2 ngón giữa để trong lòng bàn tay, mặt ngón tay sáp nhau, 2 ngón út và 2 ngón trỏ dựng đứng tiếp hợp nhau. Chân ngôn là: A vĩ nễ dã đà phược đế minh tát đát phược tát phược đát tha nghiệt đảm thất giả vĩ nễ dã địa nghiệt ma tán phược la tham phẫn đảm. Trong các hội: Thành thân, Yết ma, Cúng dường, Hàng tam thế, v.v..., vị tôn này đều được gọi là Nghiệp ba la mật bồ tát. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2, Q.3; kinh Đại giáo vương Q.3].

kim cương ngữ bồ tát

3570金剛語,梵名 Vajra-bhāṣa,音譯嚩日囉婆沙。西藏名 Rdo-rje brjod-pa。密教金剛界三十七尊中,十六大菩薩之一,西方無量壽如來四親近之一。位居西方月輪中、無量壽如來之後方。又稱金剛語言菩薩、無言菩薩。別名金剛念誦菩薩、能授悉地菩薩、金剛上悉地菩薩。由此尊加持,得以六十四種法音遍至十方,眾生皆成法益。密號性空金剛、妙語金剛。 此尊之種子、形像,於各會中皆不同,如於成身會,種子爲???(raṃ),無垢清淨業之義;三昧耶形爲舌中三股杵形;形像爲身呈肉色,左手握拳置於腰部,右手持如來舌置於胸前;印相爲二手作金剛拳,並舉至口部即上仰散開;真言爲「唵 嚩日囉 婆灑 ; (金剛語菩薩) Kim cương ngữ, Phạm: Vajra-bhàwa. Hán âm: Phạ nhật ra bà sa. Tạng:Rdo-rje brjod#-pa. Cũng gọi Kim cương ngữ ngôn bồ tát, Vô ngôn bồ tát, Kim cương niệm tụng bồ tát, Năng thụ tất địa bồ tát, Kim cương thượng tất địa bồ tát. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở phía sau đức Vô lượng thọ Như lai trong nguyệt luân phương tây. Là một trong 16 vị Đại bồ tát, 1 trong 37 vị tôn của Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Mật hiệu là Tính không kim cương, Diệu ngữ kim cương. Chủng tử, hình tượng của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như tronghội Thành thân, chủng tử của Ngài là (raô), nghĩa là nghiệp thanh tịnh vô cấu, hình Tam muội da là chày 3 chĩa đặt trên cái lưỡi; hình tượng Ngài là thân mầu da người, tay trái nắm lại đặt ở chỗ thắt lưng ngang bụng, tay phải cầm lưỡi Như lai để ở trước ngực; ấn tướng là 2 tay kết kim cương quyền, đưa lên đến miệng thì mở ra và ngửa lên. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra bà sái lam. Trong hội Tam muội da, chủng tử của vị tôn này là (da), nghĩa là dùng lời nói ban phát cho tất cả; hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa có cây chày 3 chĩa hình cái lưỡi; ấn tướng là Ngoại phược quyền(2 bàn tay chắp, 10 ngón đan xen kẻ nhau rồi nắm lại)với 2 ngón trỏ làm thành hình hoa sen búp, 2 ngón cái dính vào 2 ngón trỏ. Chân ngôn là: Bát ra để nhiếp na. Trong hội Vi tế, hình tượng vị tôn này là tay trái nắm lại để ở chỗ cạnh sườn ngang rốn, bàn tay phải duỗi ra để ở trước ngực. Trong hội Cúng dường, hình tượng vị Bồ tát này là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa sen có cây chày 3 chĩa. Vị tôn này tượng trưng cho đức nội chứng, vì chúng sinh nói pháp của Vô lượng thọ Như lai. Thân mầu da người biểu thị ý nghĩa tu hành và chứng quả hợp nhất; mầu da người là do mầu trắng và mầu đỏ hợp thành, mầu trắng biểu thị cho đức thanh tịnh sẵn có, mầu đỏ biểu thị cho việc tu hành tinh tiến. Còn lưỡi Như lai biểu thị cho đức thuyết pháp luận nghĩa. Nếu vị tôn này gia hộ thì hành giả có được 64 thứ pháp âm vang rền khắp 10 phương, khiến cho chúng sinh đều được sự lợi ích của chính pháp. [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2, Q.3; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu].

kim cương ngữ ngôn

3570指不出聲而默誦經文。略作金剛語。據守護國界經卷二載,以身作「金剛結跏」,齒唇相合,不作言聲,而以心默念,即謂金剛語。攝真實經卷下(大一八‧二八一中):「持真言時,住心凝寂;口習真言,唯自耳聞,勿令他解。心中觀想一一梵字,了了分別,無令錯謬。持習之時,不遲不速,是即名爲金剛語言。」 ; (金剛語言) Gọi tắt: Kim cương ngữ. Tụng kinh thầm lặng, không phát ra tiếng. Cứ theo kinh Thủ hộ quốc giới quyển 2, thì thân ngồi trong tư thế Kim cương kết già, răng và môi khép kín, không phát ra tiếng, chỉ niệm thầm trong tâm, gọi là Kim cương ngữ. Kinh Nhiếp chân thực quyển hạ (Đại 18, 281 trung), nói: Lúc trì tụng chân ngôn, nên giữ tâm lắng lặng; miệng khẽ đọc, chỉ một mình nghe, không để người khác biết. Trong tâm quán tưởng từng chữ Phạm, phân biệt rõ ràng, không được nhầm lẫn, chẳng chậm chẳng mau, đó gọi là Kim cương ngữ ngôn.

kim cương nha bồ tát

3537<一>金剛牙,梵名 Vajra-daṃṣṭra,音譯嚩日囉能瑟吒羅。西藏名 Rdo-rje-mche-ba。密教金剛界三十七尊中,十六大菩薩之一,北方不空成就如來四親近之第三。位居金剛界曼荼羅北方月輪中不空成就如來之左方。又稱金剛藥叉、金剛摧伏菩薩。別名摩訶方便菩薩、甚可怖畏菩薩、金剛上菩薩、金剛暴惡菩薩、摧伏魔菩薩。此尊表不空成就如來之一德,即表如來守護眾生,噉食眾生煩惱惑業之大悲本誓。由此尊加持故,能摧天魔一切諸障,能贏無始煩惱怨敵。密號猛利金剛、調伏金剛、護法金剛。此尊之形像、種子等,於金剛界曼荼羅各會中不同,於成身會,種子爲???(hūṃ),表諸因業悉入大空之義;三昧耶形爲橫杵上二利牙;形像爲身白黃色,二手握拳向外當胸;真言爲「唵 嚩日囉 藥乞叉 吽」。於三昧耶會,種子爲???(kṣa),表噉盡煩惱義;三昧耶形爲蓮花上有半三股杵,其形如牙;真言爲「設咄嚕 薄乞叉」。於供養會,形像爲二手持蓮,蓮上有二半股杵;真言爲「唵 薩嚩怛他蘗多 茏迦 入嚩攞 薩發囉拏 布惹 羯迷 跋囉跋囉」。於微細會,形像爲二拳向內,左手作牙印,右手拇指、食指相捻。〔諸佛境界攝真實經卷中、金剛頂經卷二、大教王經卷四(施護譯)〕 <二>密教胎藏界金剛部院二十一尊中居第三行上方第五位之菩薩。密號調伏金剛,種子爲???(hūṃ),爲摧破、恐怖之義;三昧耶形爲蓮上有半三股杵;形像爲身呈肉色,左手當腰持蓮花,右手豎掌向前,屈中指、無名指,披著天衣,坐於黃蓮花上;印相爲金剛藥叉大悲三昧耶印;真言爲「曩莫三曼多沒馱南 伽尾波羅 設咄嚕 烏吽 娑嚩賀」。〔諸說不同記卷四、胎藏界七集卷上〕 ; (金剛牙菩薩) I. Kim Cương Nha Bồ Tát. Kim cương nha, Phạm: Vajra-daôwỉra. Hán âm: Phạ nhật ra năng sắt tra la. Tạng: Rdo-rje-mche-ba. Cũng gọi Kim cương dược xoa, Kim cương tồi phục bồ tát, Ma ha phương tiện bồ tát, Thậm khả bố úy bồ tát, Kim cương thượng bồ tát, Kim cương bạo ác bồ tát, Tồi phục ma bồ tát. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở bên trái đức Bất không thành tựu Như lai trong nguyệt luân phương bắc trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là một trong 16 vị Đại bồ tát, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Mãnh lợi kim cương, Điều phục kim cương, Hộ pháp kim cương. Hình tượng, chủng tử của vị tôn này trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng của vị tôn này là thân mầu vàng lợt, 2 tay nắm lại hướng ra bên ngoài đặt ở trước ngực, chủng từ là (hùô), biểu thị ý nghĩa tất cả các nghiệp nhân đều hòa nhập vào đại không; hình Tam muội da là 2 chiếc răng sắc trên cây chày nằm ngang. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra dược khất xoa hồng. Trong hội Tam muội da thì chủng tử là (kwa), biểu thị ý nghĩa trừ (nuốt) hết phiền não; hình Tam muội da là nửa cái chày 3 chĩa giống như chiếc răng, đặt trên hoa sen; chân ngôn là: Thiết đốt rô bạc khất xoa. Trong hội Cúng dường, hình tượng vị tôn này là hai tay cầm hoa sen, trên hoa sen có hai nửa cây chày; chân ngôn là: Án tát phạ đát tha nghiệt đa lộ ca nhập phạ la tát phát ra noa bố nhạ yết mê bạt ra bạt ra. Trong hội Vi tế, hình tượng vị tôn này là 2 tay hướng vào trong, tay trái kết Nha ấn, ngón cái, ngón trỏ của tay phải bấm vào nhau. Nếu được bồ tát Kim cương nha gia hộ, thì hành giả có thể phá dẹp tất cả chướng ngại do thiên ma tạo ra và diệt trừ được hết thảy phiền não oán địch từ vô thủy. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; kinh Kim cương đính Q.2; kinh Đại giáo vương Q.4 (ngài Thí hộ dịch)]. II. Kim Cương Nha Bồ Tát. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 5, hàng thứ 3 ở phía trên, trong 21 vị tôn của Kim cương bộ thuộc Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Điều phục kim cương. Hình tượng vị tôn này mình mầu da người, mặc áo trời, ngồi trên hoa sen vàng, tay trái đặt ngang thắt lưng, cầm hoa sen, cánh tay phải co lại, bàn tay dựng thẳng hướng về phía trước, co ngón giữa và ngón áp út. Chủng tử là (hùô), nghĩa là phá dẹp, khủng bố; hình Tam muội da là nửa cây chày 3 chĩa đặt trên hoa sen, ấn tướng là ấn Kim cương dược xoa đại bi tam muội da; chân ngôn là: Nẵng mạc tam mạn đa một đà nam già vĩ ba la thiết đốt rô ô hồng sa phạ hạ. [X. Chư thuyết bất đồng kí Q.4; Thai tạng giới thất tập Q.thượng].

kim cương nhị nghĩa

3533金剛,乃金中最銳利者,故經論中多取其作譬喻。如金剛仙論卷一、金剛般若經疏論纂要卷上等所舉,皆以金剛之堅利譬喻般若之體用,即:(一)「堅」義,謂金剛之堅,萬物不能碎壞;以喻般若之體,真常清淨,不變不遷,爲煩惱所不能亂,邪魔所不能動,此即實相般若。(二)「利」義,謂金剛之利,能碎壞萬物;以喻般若之用,能斷除惑執,照五蘊皆空,而度諸苦厄,此即觀照般若。(參閱「金剛」3532) ; (金剛二義) Hai đặc tính của kim cương thường được các kinh luận dùng để ví dụ cho Thể và Dụng của Bát nhã. 1. Cứng chắc: Sự cứng chắc của kim cương không một vật nào có thể phá hoại được, ví dụ Thể của Bát nhã chân thường thanh tịnh không hề biến đổi, không bị phiền não nhiễu loạn, tà ma không thể lay động, đó là Thực tướng Bát nhã. 2. Bén nhọn: Sự bén nhọn của kim cương có thể phá vỡ muôn vật, ví dụ Dụng của Bát nhã có công năng dứt trừ hoặc chấp, thấu suốt 5 uẩn đều không, vượt qua tất cả khổ ách, đó là Quán chiếu bát nhã. (xt. Kim Cương).

kim cương nộ mục bồ tát đê mi

3545上句以金剛童子之怒目,形容人之威勢;下句以菩薩之慈祥容貌,形容人之慈善。金剛現怒目身以降伏惡人,菩薩則現慈眉貌以攝取善人。 ; (金剛怒目菩薩低眉) Kim cương nộ mục nghĩa là đồng tử Kim cương trợn mắt, hình dung cái uy thế của người, đầy vẻ phẫn nộ để hàng phục kẻ ác. Còn Bồ tát đê mi nghĩa là Bồ tát lim dim đôi mắt, miêu tả vẻ hiền từ của người để nhiếp hóa người thiện lương.

kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì kinh

Vajrasekharavimàna sarva yogayogi sùtra (S). Sùtra. Also du kì kinh.

Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kỳ kinh 金剛峯樓閣一切瑜伽瑜祇經

[ja] コンゴウホウロウカクイチサイユカユギキョウ Kongōbu rōkaku issai yuga yugi kyō ||| The Jingangfeng louge yiqie yujia yuqi jing (Pavilion of Vajra Peak and all its Yogas and Yogins). 2 fasc. (T 867.18.253-269), abbr. Yogin Sutra 瑜祇經, attr. Vajrabodhi 金剛智. A possibly apocryphal work which was widely circulated in esoteric circles during the Tang, thereafter becoming one of the five basic texts 五部祕經 of the Japanese esoteric tradition. It is the only primary source for the cult of the Lust-Drenched Mantra King 愛染明王 and several single-divinity maṇḍalas 別尊曼茶羅: the maṇḍala of Vajrayakṣa 金剛夜叉曼茶羅, the maṇḍala of the Five Great Space-Store Bodhisattvas 五第虚空藏曼茶羅, the 37-divinity meditation maṇḍala of the Lust-Drenched One 愛染曼茶羅, the maṇḍala of Great Victorious Vajra 大勝金剛曼茶羅, and the maṇḍala of Buddhalocanā 佛眼曼茶羅. Japanese commentaries include: Method of Practice 金剛峰樓閣一切瑜祇經修行法 (T 2228) and Shinjaku's 眞寂 Personal Notes 瑜祇總行私記 (T 2229). For a full, annotated Dutch tr. see Vanden Broucke (1990); see also Goepper (1993) for an Eng. tr. of chapter 5, The Lust-Drenched King 愛染王分 (T 867.18.256a-257b). => (k: Kŭmkangpong nugak ilch'e yuga yugi kyŏng; j: Kongōbu rōkaku issai yuga yugi kyō; c: Jingangfeng louge yiqie yujia yuqi jing; e: Pavilion of Vajra Peak and all its Yogas and Yogins). Hai quyển. Kim Cương Trí (s: Vajrabodhi 金剛智) dịch. Có thể đây là một bộ kinh ngụy tạo lưu truyền rộng rãi trong Mật giáo vào đời Đường, sau trở thành một trong 5 bộ kinh căn bản (Ngũ bộ Mật kinh 五部祕經) của Mật tông Nhật Bản. Đây là nguồn gốc chủ yếu để thờ cúng Ái nhiễm minh vương (e: the Lust-Drenched Mantra King 愛染明王) và các Biệt tôn Mạn-đà-la (e: single-divinity maṇḍalas 別尊曼茶羅): Kim cương dạ xoa Mạn-đà-la (e: maṇḍala of Vajrayakṣa 金剛夜叉曼茶羅); Ngũ đệ hư không Mạn-đà-la (e: Five Great Space-Store Bodhisattvas 五第虚空藏曼茶羅); Ái nhiễm Mạn-đà-la (e: maṇḍala of the Lust-Drenched One 愛染曼茶羅); Đại thắng Mạn-đà-la (e: maṇḍala of Great Victorious Vajra 大勝金剛曼茶羅); Phật nhãn Mạn-đà-la (e: Buddhalocanā 佛眼曼茶羅). Luận giải tieng Nhật Bản gồm có: Kim cương phong lâu các nhất thiết du kỳ kinh tu hành pháp 金剛峰樓閣一切瑜祇經修行法 của An Nhiên (c: Annen 安然), cuốn Du kỳ tổng hành tư ký 瑜祇總行私記 của Chân Tịch (j: Shinjaku's 眞寂). Chủ giải đầy đủ bằng tiếng Đức, xem bản của Vanden Broucke (1990); về bản tiếng Anh phẩm thứ năm Ái nhiễm vương kinh (e: Lust-Drenched King 愛染王分), xem ấn bản của Goepper (1993).

kim cương pháp bồ tát

3544金剛法,梵名 Vajra-dharma,音譯嚩日囉達磨。西藏名Rdo-rje-spyan,爲金剛眼之義。又稱金剛眼菩薩。別名善利薩埵、金剛蓮華菩薩、善清淨菩薩、金剛妙眼菩薩、觀世自在菩薩。<一>密教金剛界三十七尊中,十六大菩薩之一,西方無量壽如來四親近之一。位居西方月輪中無量壽如來之前方。經由此尊之加持,可證得諸法本性清淨之理。其密號爲清淨金剛、正法金剛、蓮華金剛。此尊之種子、形像等,於金剛界曼荼羅各會中皆不同,於成身會,種子爲???(hrīḥ),爲遠離貪瞋癡三毒之義;三昧耶形爲開敷之蓮花或蓮花上立獨股金剛杵;其形像爲全身呈肉色,左手持蓮花,右手作開勢;真言爲「唵嚩日囉達磨訖哩」。於三昧耶會,種子爲???(ra),爲自性清淨無垢三昧之義;真言爲「薩嚩迦哩」。 <二>密教金剛界曼荼羅四印會中,位居西方月輪內之菩薩。爲大日如來四親近之一。表徵四種智印中之法智印。形像略同於成身會之相。真言爲「涅瑟鉢羅半左縛吉悉弟薄嚩覩薩縛怛他蘗跢麼達喻銘阿惹演擔」。此菩薩係表示無量壽如來爲教化眾生所顯現的「下轉之身」,故宣說本性清淨之理,以開導眾生;以其所說之法乃由正智而說,故又喻稱爲金剛眼。〔金剛頂經卷一、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、卷三、諸佛境界攝真實經卷中〕 ; (金剛法菩薩) Kim cương pháp, Phạm: Vajra-dharma. Hán âm: Phạ nhật ra đạt ma. Tạng:Rdo-rje-spyan. Hán dịch: Kim cương nhãn. Cũng gọi Kim cương nhãn bồ tát, Thiện lợi tát đỏa, Kim cương liên hoa bồ tát, Thiện thanh tịnh bồ tát, Kim cương diệu nhãn bồ tát, Quán thế tự tại bồ tát. I. Kim Cương Pháp Bồ Tát. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở phía trước đức Vô lượng thọ Như lai trong nguyệt luân ở phương tây, trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 16 vị Đại bồ tát, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới, mật hiệu là Thanh tịnh kim cương, Chính pháp kim cương, Liên hoa kim cương. Hình tượng, chủng tử của vị tôn này trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng của Ngài là thân mầu da người, tay trái cầm hoa sen, tay phải xòe ra; chủng tử là (hrì#), nghĩa là xa lìa 3 cái độc hại là tham, sân, si; hình Tam muội da là hoa sen nở rộ, hoặc là chày kim cương 3 chĩa dựng trên hoa sen; chân ngôn là: Án phạ nhật ra đạt ma ngật lí. Trong hội Tam muội da, chủng tử là (ra), nghĩa là tự tính thanh tịnh vô cấu tam muội; chân ngôn là: Tát phạ ca lí. Nếu được sự gia hộ của vị Bồ tát này, thì hành giả có thể chứng được lí bản tính của các pháp vốn thanh tịnh. II. Kim Cương Pháp Bồ Tát. Vị Bồ tát ngồi trong nguyệt luân ở phía tây trong hội Tứ ấn thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, là 1 trong 4 vị Bồ tát thân cận của đức Đại nhật Như lai, tượng trưng cho Pháp trí ấn trong 4 loại Trí ấn. Hình tượng của vị tôn này đại khái cũng giống với hình tượng của bồ tát Kim cương pháp trong hội Thành thân đã nói ở trên. Chân ngôn là: Niết sắc bát la bán tả phược cát tất đệ bạc phạ đổ tát phược đát tha nghiệt đá ma đạt dụ minh a nhạ diễn đảm. Vị Bồ tát này là thân hóa độ chúng sinh của đức Vô lượng thọ Như lai, vì thế tuyên nói lí bản tính thanh tịnh để mở tỏ cho chúng sinh. Vì pháp do Ngài nói là từ chính trí mà ra, cho nên cũng gọi là Kim cương nhãn (mắt kim cương). [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2, Q.3; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung].

kim cương pháp giới cung

3543略稱法界宮、法界宮殿。意即金剛法界之宮殿。指大日如來說大日經、金剛頂經等之會場。據大日經疏卷一載,金剛法界宮可依淺略、深祕二義釋之:(一)淺略釋,謂金剛法界宮爲古佛成菩提處,亦即指摩醯首羅(梵 Maheśvara,意譯大自在)之天宮。(二)深祕釋,謂法界遍一切處皆稱爲金剛法界宮。「金剛」比喻實相之智;「法界」指廣大金剛之智體,即如來之實相智身;「宮」指真實功德所莊嚴之處。故十界之依正色身皆爲法界宮,不限於大日經說法之會場。要言之,淺略釋爲他受用身以下所應現之國土,深祕釋爲法身所住之境界,此乃「即事而真」之土。〔大日經卷一住心品、大毘盧遮那經供養次第法卷下、十住心論卷十〕 ; The palace or shrine of the Vairocana in the Garbhadhàtu. ; (金剛法界宮) Gọi tắt: Pháp giới cung, Pháp giới cung điện. Chỉ cho hội trường, nơi đức Đại nhật Như lai tuyên thuyết kinh Đại nhật, kinh Kim cương đính v.v... Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, Kim cương pháp giới cung có 2 nghĩa nông cạn và sâu kín. 1. Nghĩa nông cạn: Kim cương pháp giới cung là nơi đức Phật thành đạo Bồ đề thủa xưa, tức cũng chỉ cho cung trời Ma hê thủ la (Phạm:Mahezvara, dịch ý là Đại tự tại). 2. Nghĩa sâu kín: Khắp mọi nơi trong pháp giới đều là Kim cương pháp giới cung. Kim cương ví dụ trí Thực tướng; Pháp giới chỉ cho trí thể kim cương rộng lớn, tức là Thực tướng trí thân của Như lai; Cung là nơi được trang nghiêm bằng công đức chân thực. Bởi thế, y chính sắc thân trong 10 cõi đều là Pháp giới cung, chứ không phải chỉ giới hạn ở nơi hội trường tuyên thuyết kinh Đại nhật. Nói tóm lại, theo nghĩa nông cạn, thì Kim cương pháp giới cung là đất nước ứng hiện của Tha thụ dụng thân trở xuống; còn theo nghĩa sâu kín, thì đó là cảnh giới của Pháp thân an trú, là cõi nước tức sự mà chân. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1; Đại tì lô giá na kinh cúng dường thứ đệ pháp Q.hạ; luận Thập trụ tâm Q.10].

kim cương phật

Vajra-Buddha, Vairocana (S). Sun-Budda, Đại nhật.

kim cương phật tử

3540又作金剛弟子、金剛資。指修行金剛乘者,亦即指修行真言密教之佛弟子。或指真言密教之修行者,蒙受灌頂,並受金剛名者。 ; (金剛佛子) Cũng gọi Kim cương đệ tử, Kim cương tư. Chỉ cho những người tu hành Kim cương thừa, tức là những đệ tử Phật tu hành theo Chân ngôn Mật giáo. Hoặc chỉ cho những hành giả chân ngôn Mật giáo đã nhận lễ Quán đính và danh hiệu Kim cương.

kim cương quang bồ tát

3539金剛光,梵名 Vajra-tejas,音譯嚩日羅帝惹。西藏名Rdo-rje-gzi-brjid。爲密教金剛界三十七尊中,十六大菩薩之一,南方寶生如來四親近之一。位居金剛界曼荼羅南方月輪中,寶生如來之右方。又稱金剛日菩薩、金剛光明菩薩。別名金剛威德菩薩、最勝光菩薩、摩訶光焰菩薩、金剛輝菩薩。此尊表寶生如來光明之德,彼以一切如來之福德大威光,遍照有情界,破無智之暗。密號威德金剛、威光金剛。此尊之種子、形像等,於金剛界曼荼羅各會中不同,於成身會,種子爲???(aṃ),爲諸法本不生之光明朗無邊際之義;三昧耶形爲日輪;形像爲身呈肉色,左手握拳,右手持日輪形;真言爲「唵 嚩日囉 諦惹 暗」。於三昧耶會,種子爲???(ta),三昧耶形爲蓮花上有日輪,真言爲「嚕褒儞庾多」。於微細會,形像爲兩手捧日輪於胸前。於供養會,形像爲兩手持蓮,蓮上有日輪形;真言爲「唵 那莫 薩嚩怛他誐多 蘇哩曳毘喻 嚩 日囉 帝爾儞 入嚩攞 以翊」。〔金剛頂經卷一、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、卷三、金剛頂瑜伽略述三十七尊心要〕 ; (金剛光菩薩) Kim cương quang, Phạm: Vajra-tejas. Hán âm: Phạ nhật ra đế nhạ. Tạng:Rdo-rje-gzi-brjid. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở bên phải đức Bảo sinh Như lai trong nguyệt luân phương nam trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 16 vị Đại bồ tát, 1 trong 37 vị tôn thuộc Kim cương giới. Cũng gọi: Kim cương nhật bồ tát, Kim cương quang minh bồ tát, Kim cương uy đức bồ tát, Tối thắng quang bồ tát, Ma ha quang diệm bồ tát, Kim cương huy bồ tát. Mật hiệu là Uy đức kim cương, Uy quang kim cương, tượng trưng cho đức sáng lạn của Bảo minh Như lai, chiếu rọi khắp cõi hữu tình, phá tan bóng tối vô minh. Về chủng tử và hình tượng của vị tôn này, trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng vị tôn này là thân mầu da người, tay trái nắm lại thành quyền, tay phải cầm hình mặt trời; chủng tử là (aô), nghĩa là các pháp vốn chẳng sinh, ánh sáng chiếu soi vô hạn lượng; hình Tam muội da là mặt trời; chân ngôn là: Án phạ nhật ra đế nhạ ám. Trong hội Tam muội da, chủng tử của vị tôn này là (ta); hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa sen có mặt trời. Chân ngôn là: Rô bao nễ dữu đa. Trong hội Vi tế, hình tượng của vị tôn này là 2 tay bưng vầng mặt trời để ở trước ngực. Trong hội Cúng dường, hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa sen có hình mặt trời. Chân ngôn là: Án na mạc tát phạ đát tha nga đa tô lí duệ tì dụ phạ nhật ra đế nhĩ nễ nhập phược la dĩ dực. [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1, Q.3; Kim cương đính du già trung lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu].

kim cương quyền

3552又作金剛如來拳、忿怒拳、堅牢金剛拳印。乃四種拳之一,六種拳之一。即以拇指入於掌中,四指緊握作拳狀,表識大金剛智。爲金剛界曼荼羅所用。(參閱「六種拳印」1304、「四種拳」1811) ; Vajra-fist, the hands doubled together on the breast. ; (金剛拳) Cũng gọi: Kim cương Như lai quyền, Phẫn nộ quyền, Kiên lao kim cương quyền ấn. Ấn tướng này biểu trưng cho thức Đại kim cương trí, được dùng trong Mạn đồ la Kim cương giới. Một trong 4 loại Quyền ấn, 1 trong 6 loại Quyền ấn của Mật giáo. Khi kết ấn này, ngón cái co vào trong lòng bàn tay, còn 4 ngón kia nắm lại thành quyền. (xt. Lục Chủng Quyền Ấn).

kim cương quán

3581比喻止觀觀法之成就堅利,猶如金剛。依天台宗之解釋,止觀即定、慧二法。止,謂止息一切外境與妄念,而貫注於特定之對象;觀,謂隨之生起正智慧以觀此一對象。此觀法能照破迷闇,止息散亂,三障、四魔等悉皆滅除,故謂之金剛觀。摩訶止觀卷五上(大四六‧四九上):「此金剛觀,割煩惱陣,此牢強足,越生死野。」 ; The diamond insight or vision which penetrates into reality. ; (金剛觀) Ví dụ pháp quán Chỉ quán, khi thành tựu, sẽ cứng chắc và sắc bén như kim cương. Theo sự giải thích của tông Thiên thai thì Chỉ và Quán tức là 2 pháp Định và Tuệ. Chỉ nghĩa là ngăn dứt tất cả vọng niệm và ngoại cảnh, chuyên chú tâm vào 1 đối tượng đặc biệt nào đó; Quán nghĩa là dùng chính trí quán xét đối tượng ấy. Pháp quán này có năng lực chiếu phá sự mê tối, ngăn dứt tán loạn, hết thảy 3 chướng 4 ma đều bị diệt trừ, vì thế gọi là Kim cương quán. Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng (Đại 46, 49 thượng), nói: Pháp quán kim cương này dẹp tan giặc phiền não, đôi chân mạnh mẽ này, vượt qua cánh đồng sinh tử.

kim cương quân

3547印度人。事蹟不詳。據華嚴經傳記卷一載,此人嘗注釋世親所著之十地經論,凡一萬二千頌。該書後翻譯成三十餘卷。是知乃世親以後出世者。〔華嚴經探玄記卷一、解深密經疏卷一〕 ; (金剛軍) Cao tăng người Ấn độ, sự tích về ngài không được rõ. Cứ theo Hoa nghiêm kinh truyện kí quyển 1, vị này từng chú thích bộ Thập địa kinh luân gồm 12.000 bài tụng, do ngài Thế thân soạn. Bộ sách chú thích này về sau được phiên dịch thành hơn 30 quyển. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Giải thâm mật kinh sớ Q.1].

kim cương sách bồ tát

3552 金剛索,梵名 Vajra-pāśa。音譯作嚩日羅播捨菩薩。爲密教金剛界三十七尊四攝菩薩之一。列位於成身會曼荼羅第一重之南門月輪中。密號爲等引金剛、慈引金剛。阿闍梨所傳曼荼羅中之金剛羂索菩薩與此尊同體。此尊以大慈悲心之索牽引眾生入於佛道,故主「牽引眾生」之德。 略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門(大一八‧二九○下):「從引入方便羂索三摩地智,流出金剛羂索光明,遍照十方世界。(中略)受用三摩地智故,成衛護功德戶金剛羂索菩薩形,住南門月輪。」〔三卷本大教王經卷二〕 ; (金剛索菩薩) Kim cương sách, Phạm: Vajra-pàza. Hán âm: Phạ nhật la bá xả bồ tát. Vị Bồ tát ngồi trong nguyệt luân ở cửa Nam, lớp thứ nhất của hội Thành thân thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 4 Nhiếp bồ tát trong 37 vị tôn của Kim cương giới, mật hiệu là Đẳng dẫn kim cương, Từ dẫn kim cương. Vị tôn này là đồng thể với Bồ tát Kim cương quyên sách trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền. Ngài dùng sợi dây (sách) tâm đại từ bi dắt dẫn chúng sinh vào Phật đạo, vì thế, Ngài chủ về đức dắt dẫn chúng sinh. Trong Lược thuật kim cương đính du già phân biệt Thánh vị tu chứng pháp môn (Đại 18, 290 hạ) nói: Từ trí Dẫn nhập phương tiện quyên sách Tam ma địa mà buông ra ánh sáng kim cương quyên sách, chiếu khắp 10 phương thế giới (...) Vì thụ dụng trí tam ma địa nên thành tựu thân hình bồ tát Kim cương quyên sách, trụ trong nguyệt luân ở cửa Nam để giữ gìn ngôi nhà công đức. [X. kinh Đại giáo vương Q.2 (bản 3 quyển)].

kim cương sám

3580指基於金剛般若波羅蜜經所行之懺法。有關此懺法之懺文,據廣弘明集悔罪篇載,有梁武帝之金剛般若懺文。蓋金剛經乃禪宗特別重視之經典,據蔣之奇之楞伽阿跋多羅寶經序載,自五祖以後,金剛經已取代四卷之楞伽經而受重視。此外,另由唐代孟獻忠之金剛般若集驗記、段成式之金剛經鳩異、著者不詳之受持感應錄、感應傳、王起隆之新異錄、周克復之持驗記,及清代王澤泩之感應分類輯要、淨慧之靈驗傳、六如之瑞應編等論著,亦可推知歷代對金剛經信仰之普及。故金剛懺法之流行,乃勢所必然。 ; (金剛懺) Pháp sám hối được thực hành dựa theo kinh Kim cương bát nhã ba la mật. Về bản văn của pháp sám này, theo thiên Hối tội trong Quảng hoằng minh tập, thì có Kim cương bát nhã sám văn của vua Lương Vũ đế. Kinh Kim cương là bộ kinh đặc biệt Thiền tông coi trọng và từ thời Ngũ tổ trở về sau, qua các đời, tín ngưỡng kinh Kim cương đã rất phổ cập. Chính vì thế mà kim cương sám pháp cũng được lưu hành rộng rãi.

kim cương sát

3545 寺之異名。又稱金剛淨剎。係以金剛比喻寺廟之功德,故稱之。僧史略卷上(大五四‧二三七上):「案靈裕法師寺誥,凡有十名寺。(中略)七曰金剛剎。(剎土堅固,道人所居)」 ; Vajraksetra (S). A Buddhist monastery. ; (金剛刹) Cũng gọi là Kim cương tịnh sát. Tên khác của chùa viện Phật giáo. Vì kim cương được dùng để ví dụ cho công đức của chùa (sát) nên gọi là Kim cương sát. Tăng sử lược quyển thượng (Đại 54, 237 thượng), nói: Xét trong bài văn Tự cáo (nói về các chùa) của pháp sư Linh dụ, thì chùa gồm có 10 tên gọi (...). Kim cương sát (chỗ ở kiên cố, nơi người tu hành cư trú) là tên thứ 7.

kim cương sơn

3535位於韓國江原道淮陽府東方,臨日本海,爲韓國第一名勝。相傳爲華嚴經中法起菩薩之住處,故世人尊爲靈山。全山分內、外、海、新等四金剛區,山中有數十寺。內金剛有高麗太祖所創正陽寺、新羅文武王所創表訓寺、新羅法興王時真表所創長安寺。外金剛有神溪寺,係新羅時代之古塔,亦爲本山最早之寺。全山以朝鮮三十一本山之榆岾寺(新金剛)爲最著名。 ; (金剛山) Núi ở phía đông phủ Hoài dương, tỉnh Giang nguyên, Hàn quốc, gần biển Nhật bản, là cảnh đẹp bậc nhất của nước này. Tương truyền, núi này là chỗ ở của bồ tát Pháp khởi trong kinh Hoa nghiêm, cho nên người đời tôn xưng là Linh sơn. Toàn núi được chia làm 4 khu Kim cương: Nội, Ngoại, Hải, Tân và có mấy chục ngôi chùa. Trong khu Nội kim cương có chùa Chính dương do vua Thái tổ nước Cao li sáng lập, chùa Biểu huấn do vua Văn vũ nước Tân la xây dựng và chùa Trường an do ngài Chân biểu kiến thiết dưới triều vua Pháp hưng nước Tân la. Khu Ngoại kim cương có chùa Thần khê, vốn là ngôi tháp cổ ở thời đại Tân la, cũng là một Bản sơn có sớm nhất. Khu Tân kim cương có chùa Du hỗ là nổi tiếng nhất của núi này, mà cũng là nổi tiếng nhất trong 31 ngôi chùa Bản sơn của nước Triều tiên.

kim cương tam muội

3534<一>爲能通達一切諸法之三昧(即定)。因其堅固能斷破一切煩惱,猶如金剛堅固能摧破他物,故稱金剛三昧。涅槃經卷二十四(大一二‧五○九中):「菩薩摩訶薩!修大涅槃,得金剛三昧,安住是中,悉能破散一切諸法。」〔楞嚴經卷六、大日經疏卷五、大智度論卷四十七〕 <二>日本遊方僧。曾入唐。籍貫不詳。又稱三昧。根據唐代段成式撰之酉陽雜俎卷三及續酉陽雜俎卷二所載,師來唐後,轉赴中印度,見諸寺多畫玄奘之麻屩及匙筯,每齋日膜拜。並遊那爛陀寺。歸唐後,元和十三年(818),與蜀僧廣昇詣峨眉山。其他事蹟及寂年世壽均不詳。爲日本文獻上所記錄最初之入竺者。或謂師別號爲法道。〔入竺日本僧金剛三昧傳考〕 ; Xem Kim cương định. ; (金剛三昧) Tam muội (chính định) có năng lực thông suốt tất cả các pháp. Vì định này bền chắc như kim cương, có thể phá trừ tất cả phiền não, cho nên gọi là Kim cương tam muội. Kinh Niết bàn quyển 24 (Đại 12, 509 trung), nói: Bậc Đại bồ tát tu Đại niết bàn, chứng được Kim cương tam muội; an trụ trong Tam muội này, có thể phá tan tất cả các pháp. [X. kinh Lăng nghiêm Q.6; Đại nhật kinh sớ Q.5; luận Đại trí độ Q.47].

Kim cương tam muội bổn tánh thanh tịnh bất hoại bất diệt kinh 金剛三昧本性清淨不壞不滅經

[ja] コンゴウサンマイホンショウショウジョウフエフメツキョウ Kongōsanmai honshoushoujō fuefumetsu kyō ||| The Jingang sanmei benxing qingjing buhuai bumie jing; T 644.15.697a-699b. => (k: Kŭmgangsammae ponsŏngch'ŏngjŏng pugoebumyŏl kyŏng ; j: Kongōsanmai honshoushoujō fuefumetsu kyō; c: Jingang sanmei benxing qingjing buhuai bumie jing).

kim cương tam muội kinh

3534<一>西藏名 Rdo-rjeḥi tiṅ-ṅe-ḥdsin-gyi chos-kyi yi-ge。全一卷(或二卷)。北涼時代(397~439)譯。譯者佚名。收於大正藏第九冊。其內容係闡釋諸法空、真如、如來藏等,計分八品:第一序品、第二無相法品、第三無生行品、第四本覺利品、第五入實際品、第六真性空品、第七如來藏品、第八總持品。本經雖僅一卷,然已賅攝諸大乘思想,堪爲菩薩出世度人之法寶。本經之西藏本乃譯自漢本。又本經之注釋書有明代圓澄之金剛三昧經注解四卷、新羅元曉之金剛三昧經論三卷、清代誅震之金剛三昧經通宗記十二卷。〔敦煌劫餘錄卷七(陳垣)〕 <二>全一卷。譯者佚名。又稱金剛三昧本性清淨不壞不滅經、金剛清淨經。收於大正藏第十五冊。 ; (金剛三昧經) I. Kim Cương Tam Muội Kinh. Tạng: Rdo-rje#i tií-íe- (dsin-gyi chos-kyi yige Kinh 1 quyển (hoặc 2 quyển) được dịch vào thời Bắc Lương (397-439), mất tên người dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung giải thích các pháp Không, Chân như, Như lai tạng, v.v... và được chia làm 8 phẩm: Phẩm Tựa, phẩm Vô tướng, phẩm Vô sinh hành, phẩm Bản giác lợi, phẩm Nhập thực tế, phẩm Chân tính không, phẩm Như lai tạng và phẩm Tổng trì. Kinh này tuy chỉ có 1 quyển, nhưng đã bao quát các tư tưởng Đại thừa, xứng đáng làm pháp bảo cho Bồ tát ra đời độ người. Bản dịch Tây tạng của kinh này là dịch từ bản chữ Hán. Về sách chú thích kinh này thì có: Kim cương tam muội kinh chú giải, 4 quyển, của ngài Viên trừng đời Minh, Kim cương tam muội kinh luận, 3 quyển, của ngài Nguyên hiểu người Tân la, Kim cương tam muội kinh thông tông kí, 12 quyển, của ngài Tru chấn đời Thanh. [X. Đôn hoàng kiếp dư lục Q.7 (Trần viên)]. II. Kim Cương Tam Muội Kinh. Cũng gọi Kim cương tam muội bản tính thanh tịnh bất hoại bất diệt kinh, Kim cương thanh tịnh kinh. Có 1 quyển, mất tên dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 15.

Kim cương tam muội kinh luận 金剛三昧經論

[ja] コンゴウサンマイキョウロン Kongō sanmaikyō ron ||| The commentary on the Kŭmgang sammaegyŏng 金剛三昧經 (T 273), 3 fasc., By Wŏnhyo 元曉. T 1730.34.961a-1008a. As of 2/99, an English translation was in progress by Robert Buswell. => (k: Kŭmgang sammaegyŏng non; j: Kongō sanmaikyō ron; Ba quyển. Luận giải Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉).

Kim cương tam muội kinh 金剛三昧經

[ja] コンゴウサンマイキョウ Kongōsanmaikyō ||| Kŭmgangsammaegyŏng; Vajrasamādhi-sūtra. T 273.9.365-372. An East Asian sutra with Chan tendencies. Topics include the Two Entrances (二入) and āmala (ninth) consciousness. This text, like the Diamond Sutra, is primarily an exercise in the deconstruction of reified Buddhist concepts. Translated into English in Buswell (1992) . => (k: Kŭmgang sammaegyŏng; j: Kongōsanmaikyō; s: Vajrasamādhi-sūtra). Một bộ kinh xuất phát từ các quốc gia vùng Đông Nam Á có khuynh hướng của thiền tông. Nội dung đề cập đến Nhị nhập (二入) và A-ma-la thức (s: āmala; thức thứ 9). Kinh nầy cũng như Kinh Kim Cương, chủ yếu là một sự thể hiện tính bất hoại của ý niệm về vật chất trong Phật học. Buswell dịch sang tiếng Anh (1992) .

Kim cương tam muội 金剛三昧.

[ja] コンゴウザンマイ kongō zanmai ||| The adamantine absorption (vajra-samādhi). A state of medative concentration that penetrates effortless through all matters, and is compared to a vajra, or diamond. (2) The final state of concentration attained at the end of the bodhisattva path in which all defilements are completely extinguished. See 金剛喩定. => (s: vajra-samādhi). Trạng thái thiền định thâm nhập dễ dàng mọi cảnh giới không cần dụng công, tương đương như sấm sét (s: vajra) hoặc kim cương. Cảnh giới thiền định chứng đắc rốt ráo của Bồ-tát đạo, khi mọi phiền não hoàn toàn trừ sạch. Xem mục từ Kim cương dụ định 金剛喩定.

kim cương thiên

The vajra-devas twenty in number in the Vajradhàtu group.

kim cương thuỷ

3536梵語 vajrodaka。音譯作跋折囉鄔陀迦。西藏語 rdo-rje-chu。又稱金剛誓水、誓水。於密教中,受灌頂之際須立誓約;金剛水即指當時受者所飲之水。大日經疏卷五載,金剛水乃以香水調和鬱金、龍腦、旃檀等種種妙香,並以真言加持。受灌頂者於一切眾聖之前飲之,自誓其心,令不退大菩提願。〔大教王經卷三(施護譯)、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷四、陀羅尼集經卷四〕 ; (金剛水) Phạm: Vajrodaka. Hán âm: Bạt chiết la ô đà ca. Tạng:Rdo-rje chu. Cũng gọi Kim cương thệ thủy, Thệ thủy. Loại nước dành cho hành giả Mật giáo uống khi phát lời thệ nguyện trong lễ thụ Quán đính, gọi là Kim cương thủy. Đại nhật kinh sớ quyển 5 nói rằng, Kim cương thủy là nước trong được điều chế bằng các thứ hương liệu như uất kim(nghệ), long não, chiên đàn, v.v... rồi đọc chân ngôn gia trì. Người thụ Quán đính uống nước ấy trước mặt tất cả Thánh chúng và tự thệ không bao giờ lui sụt nguyện Đại bồ đề. [X. kinh Đại giáo vương Q.3 (ngài Thí hộ dịch); kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; kinh Đà la ni tập Q.4].

kim cương thân

3541梵語 vajra-saṃhatana-kāya。全稱金剛不壞身。以金剛之堅固比喻如來法身之不壞。大寶積經卷五十二(大一一‧三○七中):「如來身者,即是法身、金剛之身、不可壞身、堅固之身。」〔長阿含經卷四、金光明最勝王經卷一如來壽量品、北本大般涅槃經卷三〕 ; The diamond body, the indestructible body of Buddha. ; (金剛身) Phạm: Vajra-saôhatana-kàya. Gọi đủ: Kim cương bất hoại thân. Kinh Đại bảo tích quyển 52 (Đại 52, 37 trung), nói: Thân Như lai tức là Pháp thân; thân kim cương là thân bền chắc không hư hoại. Nghĩa là Pháp thân của Như lai được ví như kim cương, không thể hư nát. [X. kinh Trường a hàm Q.4; phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang minh tối thắng vượng Q.1; kinh Đại bát niết bàn Q.3 (bản Bắc)].

Kim cương thượng vị đà-la-ni kinh 金剛上味陀羅尼經

[ja] コンゴウジョウミダラニキョウ Kongō jōmi daranikyō ||| The Jingang shangwei tuoluonijing; Skt. Vajramaṇḍa-dhāraṇī; Tib. rdo rje snying po'i gzungs [To.139]; (Dhāraṇī of the Adamantine Essence). (1) 1 fasc. (T 1344.21.850-854), Dhāraṇī of the Adamantine Flavour 金剛上味陀羅尼經, trans. Buddhaśānta 佛陀扇多 . (2) 1 fasc. (T 1345.21.855-858), Dhāraṇī of the Adamantine Place 金剛場陀羅尼經, trans. Jñānagupta 闍那崛多. (3) Dhāraṇī of the Adamantine Maṇḍala of Vast Purity 金剛壇廣大清淨陀羅尼經, trans. Tanqian 曇倩 in the 8th century. On this extracanonical version, see Ueyama (1972). => (k: kŭmkangsangmitaranikyŏng; j: Kongō jōmi daranikyō; c: Jingang shangwei tuoluonijing; s: Vajramaṇḍa-dhāraṇī; t: rdo rje snying po'i gzungs; e: Dhāraṇī of the Adamantine Essence). 1. Kim cương thượng vị đà-la-ni kinh. Một quyển. Phật-đà-phiến-đa (s: Buddhaśānta 佛陀扇多) dịch. 2, Kim cương tràng đà-la-ni kinh. Hai quyển. Xà-na-quật-đa (s: Jñānagupta 闍那崛多) dịch. 3. Kim cương đàn quảng đại thanh tịnh đà-la-ni kinh. Đàm Sảnh (c: Tanqian 曇倩) dịch vào thế kỷ thứ tám.

kim cương thảo lí

3555 請參閱 金剛般若集驗記 請參閱 金剛經義疏 請參閱 金剛般若波羅蜜經論 請參閱 金剛般若波羅蜜經論 古代日本僧人所著用的草履之一。又稱金藏草鞋。或單稱金剛。種類繁多,有藁金剛、藺金剛、菅金剛、板金剛等,較現在之草履略大。蓋取金剛堅固不壞之義,故稱金剛草履。據日僧法然上人行狀畫圖卷三十四載,上人一生不乘馬、車輿,皆踏金剛草履步行。〔同翼贊卷三十四、類聚名物考卷二四○藁金剛條〕 ; (金剛草履) Cũng gọi: Kim cương tạng thảo hài, hoặc gọi tắt là Kim cương. Một trong các loại giầy cỏ do các vị tăng Nhật bản thời xưa sử dụng. Có rất nhiều loại: Cảo kim cương (giầy rơm), Lận kim cương(giầy cỏ cói), Gian kim cương(giầy cỏ may), Bản kim cương(giầy bằng ván gỗ), v.v... So với giầy cỏ hiện nay thì Kim cương thảo lí hơi lớn hơn. Vì lấy theo nghĩa kim cương bền chắc không hư hoại nên gọi là kim cương thảo lí. Cứ theo Nhật tăng Pháp nhiên thượng nhân hành trạng họa đồ quyển 34, thì ngài Pháp nhiên cả đời chẳng cỡi ngựa, ngồi xe, mà chỉ mang giầy cỏ kim cương đi bộ. [X. Đồng dực tán Q.34; điều Cảo kim cương trong sách Loại tụ danh vật khảo Q.24].

kim cương thần

Vajradhàra, Vajrapàni (S). The guardian spirit of the Buddhist order; the large idols at the entrance of Buddhist monastery. Also chấp kim cương thần, kim cương lực sĩ.

kim cương thể

3580比喻身體堅固,猶如金剛,係指佛身功德而言。據月光童子經載,如來之身功德如金剛,已斷盡諸惡而積聚萬善;相好光明,無神器能比喻之;永除五道之冥闇,得無上正真之獨明。新譯仁王經卷中(大八‧八三七中):「世尊導師金剛體,心行寂滅轉法輪。」〔金光明最勝王經卷一如來壽量品〕 ; The diamond body, that of Buddha, and his merits. ; (金剛體) Thân thể bền chắc ví như kim cương, chỉ cho công đức của thân Phật. Theo kinh Nguyệt quang đồng tử, công đức của thân Phật như kim cương, đã dứt sạch các điều ác và tích tụ muôn hạnh lành; tướng tốt sáng chói, không thần khí nào sánh kịp; đã phá tan bóng tối của 5 đường, hiển bày ánh sáng vô thượng chính chân. Kinh Nhân vương (bản dịch mới) quyển trung (Đại 8, 837 trung), nói: Thế tôn đạo sư kim cương thể, tâm hành tịch lặng chuyển pháp luân. [X. phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1].

kim cương thủ

Vajrapàni (S). A holder of the vajra, a protector, any image with this symbol. Kim cương thủ bộ, group of the same in the kim and thai mandalas. Kim cương thủ Bồ tát, Vajrapàni-Bodhisattva, especially Phổ Hiền Samantabhadra.

kim cương thủ bồ tát

3536金剛手,梵名 Vajra-pāṇi(音譯伐折羅播尼)或 Vajra-dhara(音譯伐折羅陀羅)。西藏名 Lag-na rdo-rje。又稱執金剛菩薩、祕密主菩薩、金剛手藥叉將。廣指執持金剛杵之菩薩、亦特用以稱密迹金剛力士。如胎藏界曼荼羅金剛手院之諸尊皆稱金剛手;又增一阿含經卷二十二載,密迹金剛力士在如來之後,手執金剛杵。又大日經疏卷一載,淺略義之金剛手,指夜叉,因其執金剛杵常侍衛佛,故稱金剛手;深義之金剛手,則指表大日如來身語意三密之金剛薩埵。理趣釋卷上以此菩薩即普賢,因普賢親由毘盧遮那佛之二手掌受五智金剛杵之故。而不空所譯之八大菩薩曼荼羅經則在八大菩薩中並列普賢及金剛手,並述金剛手菩薩右手執金剛杵,左手安於胯,頂戴五佛冠,身青色,半跏坐;真言爲「唵鑁囉嚩娑嚩訶」。〔入楞伽經卷八、大教王經卷一(施護譯)、師子莊嚴王菩薩請問經、大乘八大曼拏羅經〕 ; (金剛手菩薩) Kim cương thủ, Phạm: Vajra-pàịi. Hán âm: Phạt chiết la bá ni, hoặcVajradhara (Hán âm: Phạt chiết la đà la). Tạng:Lag-na rdo-rje. Cũng gọi: Chấp kim cương bồ tát, Bí mật chủ bồ tát, Kim cương chủ dược xoa tướng. Chỉ cho các vị Bồ tát cầm chày kim cương trong viện Kim cương thủ thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị Bồ tát náy cũng đặc biệt được dùng để gọi Lực sĩ Kim cương mật tích, như kinh Tăng nhất a hàm quyển 22 nói, Lực sĩ Kim cương mật tích cầm chày kim cương đứng ở phía sau đức Như lai. Đại nhật kinh sớ quyển 1 thì nói, Kim cương thủ theo nghĩa nông cạn là chỉ cho Dạ xoa cầm chày kim cương, thường theo hầu đức Phật; còn theo nghĩa sâu xa thì chỉ cho Kim cương tát đỏa, biểu thị cho tam mật thân, ngữ, ý của đức Đại nhật Như lai. Lí thú thích quyển thượng thì cho rằng vị Bồ tát này chính là bồ tát Phổ hiền, vì ngài Phổ hiền đích thân tiếp nhận chày kim cương từ tay đức Phật Tì lô giá na. Nhưng trong kinh Bát đại bồ tát mạn đồ la do ngài Bất Không dịch, thì trong 8 vị Bồ tát có 2 bồ tát Phổ hiền và Kim cương thủ khác nhau; bồ tát Kim cương thủ thân mầu xanh, ngồi bán già, đầu đội mũ Ngũ Phật, tay phải cầm chày kim cương, tay trái để ở chỗ thắt lưng; chân ngôn là: Án tông ra phạ sa phạ ha. [X. kinh Nhập lăng già Q.8; kinh Đại giáo vương Q.1 (ngài Thí hộ dịch); kinh Sư tử trang nghiêm vương bồ tát thỉnh vấn; kinh Đại thừa bát đại mạn noa la].

kim cương thủ bồ tát hàng phục nhất thiết bộ đa đại giáo vương kinh

Bhùtadàmara tantra (S). Sùtra.

Kim cương thủ Bồ-tát hàng phục nhất thiết bộ đa đại giáo vương kinh 金剛手菩薩降伏一切部多大教王經

[ja] コンゴウシュボサツゴブクイッサイブタダイキョウオウキョウ Kongōshu bosatsu gobuku issai buta daikyōō kyō ||| The Jingangshou pusa jiangfu yiqie buduo dajiaowangjing; Skt. Bhūtaḍāmara-mahātantrarāja; Tib. 'byung po 'dul ba shes bya ba'i rgyud kyi rgyal po chen po [To.747, P.404]; (Vajrapaṇi Bodhisattvās Exorcist of the Bhūtas: Great King of Tantras). 3 fasc. (T 1129.20.548-563), abbr. Bhūtaḍamāra-tantra 降伏部多經, trans. Fatian 法天. BGBT4/146-7. => (k: Kŭmgangsu posal kangbok ilch'e puta taegyowang kyŏng; j: Kongōshu bosatsu gobuku issai buta daikyōō kyō; c: Jingangshou pusa jiangfu yiqie buduo dajiaowangjing; Skt. Bhūtaḍāmara-mahātantrarāja; Tib. 'byung po 'dul ba shes bya ba'i rgyud kyi rgyal po chen po; e: Vajrapaṇi Bodhisattvās Exorcist of the Bhūtas: Great King of Tantras). 3 quyển. Viết tắt là Hàng phục bộ đa kinh (c: Bhūtaḍamāra-tantra 降伏部多經). Pháp Thiên (c: Fatian 法天) dịch.

kim cương thủ hàng phục nhất thiết bộ đại giáo vương kinh

BhŪtī dāmara tantra (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.

kim cương thủ trì kim cương bồ tát

3536金剛手持金剛,梵名 Vajra-hasta-vajra-dhara,音譯嚩日囉呵窣堵嚩日囉馱洛。位於密教現圖胎藏界曼荼羅金剛手院等一行第三位之菩薩。此尊與金剛部母之忙莽雞(梵 Māmakī)同體。主金剛部能生之德。密號堅固金剛、秘密金剛,種子爲???(triṃ)、???(hūṃ),三昧耶形爲三股(一說五股)金剛杵;形像爲身白黃色,左手向內,持三股杵,右手施願,面微向右,坐於赤蓮花上;印相爲持地印,真言爲「忿怒歸命吽吽吽吽發吒髯髯娑嚩賀」。〔大日經疏卷五、諸說不同記卷四〕(參閱「忙莽雞菩薩」2422) ; (金剛手持金剛菩薩) Kim cương thủ trì kim cương, Phạm: Vajra-hasta-vajra-dhara. Hán âm: Phạ nhật ra ha tốt đổ phạ nhật ra đà lạc. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 3 hàng thứ 1 trong viện Kim cương thủ trên Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, mật hiệu là Kiên cố kim cương, Bí mật kim cương. Vị tôn này đồng thể với bồ tát Mang mãng kê (Phạm: Màmakì) của Kim cương bộ mẫu và chủ về đức năng sinh trong Kim cương bộ. Hình tượng là thân mầu vàng nhạt, ngồi trên hoa sen đỏ, tay trái hướng vào trong, cầm cây chày 3 chĩa, tay phải kết ấn Thí nguyện, mặt hơi hướng về bên phải; chủng tử là (triô), (hùô), hình Tam muội da là chày kim cương 3 chĩa(có thuyết nói 5 chĩa); ấn tướng là ấn Trì địa; chân ngôn là: Phẫn nộ qui mệnh hồng hồng hồng hồng phát tra nhiêm nhiêm sa phạ hạ. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Chư thuyết bất đồng Q.4]. (xt. Mang Mãng Kê Bồ Tát).

Kim cương thủ 金剛手

[ja] コンゴウシュ Kongōshu ||| (1) Vajrapāṇi, a esoteric divinity who carries a Vajra-mallet 金剛杵. (2) A reference to Vajrasattva 金剛薩埵. => j: Kongōshu ; s: Vajrapāṇi Vị thần hộ pháp Mật tông tay cầm chày kim cương (s: Vajra-mallet 金剛杵). Đề cập đến Kim cương tát-đỏa (s: Vajrasattva 金剛薩埵).

kim cương thủy

Diamond or vajra water, drunk by a prince on investiture, or by a person who receives the esoteric baptismal rite.

Kim cương thừa

金剛乘; S: vajrayāna;|Một trường phái Phật giáo xuất hiện trong khoảng thế kỉ thứ 5,6 tại Bắc Ấn Ðộ. Kim cương thừa bắt nguồn từ Ðại thừa (s: mahāyāna) và được truyền qua Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản (riêng bộ Vô thượng du-già không được truyền sang Trung Quốc và Nhật).|Xuất phát từ Phật giáo Ðại thừa, nhưng trường phái này lấy thêm những phương pháp tu học huyền bí, có tính chất bí truyền. Thường thường các phái này được hướng dẫn bằng một vị Ðạo sư, kinh sách của họ trình bày nhiều phép tu luyện được gọi là Tan-tra. Kim cương thừa hay sử dụng Man-tra và có ảnh hưởng mạnh nhất tại Tây Tạng. Vì hay sử dụng Man-tra, Phật giáo Tây Tạng cũng gọi Kim cương thừa là Chân ngôn thừa (s: man-trayāna).|Giáo pháp của Kim cương thừa mang tính chất Mật giáo, bao gồm các yếu tố của phép Du-già và các tôn giáo thiên nhiên của Ấn Ðộ trộn lẫn với tư tưởng Phật giáo. Quan trọng nhất là ảnh hưởng từ Tây Bắc Ấn Ðộ với nhiều biểu tượng về Cực quang (s: ābhāsvara, ánh sáng rực rỡ) cũng như ảnh hưởng của Bắc Ấn về việc tôn thờ giới tính.|Trong thời gian đầu, giáo pháp này chỉ được khẩu truyền, và đến giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 10 mới được hệ thống hoá và kết tập hoàn chỉnh. Các tác phẩm quan trọng nhất của Kim cương thừa là Bí mật tập hội (s: guhyasamājatantra) và Thời luân tan-tra (s: kālacakratantra) cũng sinh ra trong thời gian này. Các kinh sách quan trọng nhất của Kim cương thừa được gồm trong các Tan-tra cũng như các bài thánh đạo ca của các vị Tất-đạt (s: siddha), là các bài diễn tả kinh nghiệm của phép tu Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā).|Lúc Kim cương thừa truyền qua Tây Tạng thì cũng là lúc giáo pháp này đã có một chỗ đứng vững chắc trong Phật giáo nói chung. Muốn lĩnh hội Kim cương thừa, hành giả phải có một kiến giải sâu xa về giáo pháp của bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, giáo pháp theo cách luận giải của Long Thụ (s: nāgārjuna) và Vô Trước (s: asaṅga). Vì vậy Bát-nhã ba-la-mật-đa cũng được gọi là »Nhân thừa« (因乘) và Kim cương thừa được gọi là »Quả thừa« (果乘). Trong Kim cương thừa, có một yếu tố quan trọng khác là vai trò của một vị Ðạo sư, vị này Quán đỉnh và truyền lực, hướng dẫn đệ tử thiền quán, chú tâm vào một Nghi quỹ (s: sādhana) nhất định. Trong các phép này, sử dụng Man-tra, quán Man-đa-la và và bắt Ấn là những phương tiện quan trọng. Trong Kim cương thừa, Kim cương chử (s: vajra; t: dorje) biểu hiện sự giác ngộ, đạt được sự nhất thể của vũ trụ, vượt lên mọi nhị nguyên thông thường.

kim cương thừa (thặng)

Vajrayàna (S). The diamond vehicle, another name of Chân ngôn tông.

kim cương thừa giáo

3551爲密教之異稱。金剛乘,梵名 Vajra-yāna,意爲金剛不壞之乘;音譯跋日羅衍。又稱金剛一乘、金剛一乘甚深教、金剛一乘最極祕密教、金剛智慧一乘教、最上金剛祕密乘教。對其他之大、小乘教而言,密教認爲自教最爲殊勝,其教法堅利如金剛,故特稱爲金剛乘教。〔瑜伽瑜祇經卷一、金剛頂瑜伽略述三十七尊心要〕(參閱「密宗」4477) ; (金剛乘教) Kim cương thừa, Phạm: Vajra-yàna. Hán âm: Bạt nhật la diễn. Cũng gọi Kim cương nhất thừa, Kim cương nhất thừa thậm thâm giáo, Kim cương nhất thừa tối cực bí mật giáo, Kim cương trí tuệ nhất thừa giáo, Tối thượng kim cương bí mật thừa giáo. Tên gọi khác của Mật giáo. Đối với Đại thừa và Tiểu thừa hiển giáo, Mật giáo tự cho pháp của mình là thù thắng nhất, vả lại bền chắc, sắc bén như kim cương, cho nên gọi là Kim cương thừa giáo. [X. kinh Du già du kì Q.1; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu]. (xt. Mật Tông).

Kim cương thừa 金剛乘

[ja] コンゴウジョウ kongō jō ||| The Adamantine Vehicle, or Diamond Vehicle the school of esoteric Buddhism 密教 in India. => (s: vajrayāna). Mật tông Phật giáo Ấn Độ. Mật giáo 密教.

kim cương thực thiên

3550金剛食,梵名 Vajra-mālaḥ。密教金剛界外金剛部二十天之一,五類天中之虛空天之一。位居外金剛部南方之中央。又稱金剛飲食天、金剛食持鬘、鬘毘那夜迦、嚴髻大將。種子爲???(ma),三昧耶形爲花鬘。其形像於金剛界曼荼羅各會中皆不同,於成身會,爲白肉色象頭人身,左手握拳置於腰,右手持花鬘,坐於荷葉座上;於微細會,右手持花鬘,左手持劍;於供養會,兩手持鬘。真言爲「唵 嚩日囉麼邏 娑嚩賀」。此尊即大教王經卷十所列虛空行諸天中之作甘露(梵 Madhu-kara),號爲金剛鬘(梵 Vajra-māla)者。〔賢劫十六尊、祕藏記、金剛界七集卷下〕 ; (金剛食天) Kim cương thực, Phạm: Vajra-màla#. Cũng gọi Kim cương ẩm thực thiên, Kim cương thực trì man, Man tì na dạ ca, Nghiêm kế đại tướng. Vị tôn ngồi ở chính giữa phương nam của Kim cương bộ ngoài thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 20 vị trời của bộ này, một trong 5 loại trời ở hư không. Hình tượng của vị tôn này trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng mầu da người, đầu voi mình người, ngồi trên lá sen, tay trái nắm lại thành quyền để ở dưới bụng chỗ thắt lưng, tay phải cầm tràng hoa. Trong hội Vi tế, tay phải cầm tràng hoa, tay trái cầm thanh kiếm. Trong hội Cúng dường, hai tay đều cầm tràng hoa. Chủng tử là (ma), hình Tam muội da là tràng hoa. Theo kinh Đại giáo vương quyển 10, thì vị tôn này chính là Tác cam lộ (Phạm: Madhu-kasa) trong các vị trời đi trong hư không, hiệu là Kim cương man (Phạm: Vajra-màla). [X. Hiền kiếp thập lục tôn; Bí tạng kí; Kim cương giới thất tập Q.hạ].

kim cương ti hiển tính lục

(金剛錍顯性錄) Gọi đủ: Kim cương ti luận hiển tính lục. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Cô sơn Trí viên (976-1022) biên tập vào đời Tống, được đưa vào Vạn tục tạng tập 100. Đây là sách chú thích bộ luận Kim cương ti của ngài Kinh khê Trạm nhiên đời Đường. Trong bộ sách này, ngài Cô sơn Trí viên thuộc phái Sơn ngoại tông Thiên thai đã công nhiên dấy lên cuộc tranh luận với ngài Tứ minh Tri lễ thuộc phái Sơn gia. Xưa nay những nghĩa lí được bàn giải trong các tác phẩm của phái Sơn ngoại thường là thiên lệch lầm lẫn, luôn bị các học giả của phái Sơn gia bài bác. Nhưng sách này giải thích nghĩa lí trong luận Kim cương ti rất ưu việt, đến cả phái Sơn gia cũng thường dẫn dụng và xem trọng.

kim cương ti luận

(金剛錍論) Cũng gọi Kim cương ti, Kim ti luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Kinh khê Trạm nhiên (711-782) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Kim cương ti là dụng cụ để lột màng mắt chữa bệnh cho người mù, từ đó dẫn đến nghĩa tượng trưng cho sự khai mở con mắt trí tuệ cho chúng sinh mê tối. Luận này dựa vào tư tưởng tất cả hữu tình, vô tình đều thành Phật trong kinh Pháp hoa và tư tưởng Duy thức của luận Đại thừa khởi tín làm căn bản mà chủ trương tất cả cỏ cây đều có thể thành Phật; đồng thời; căn cứ vào lập trường Phật tính như không trong kinh Niết bàn để phản bác thuyết cho rằng gạch đá không có tính Phật. Luận này bàn về nghĩa chân thực của Phật tính, cho rằng không những tất cả loài hữu tình có Phật tính, mà ngay cả cỏ cây cũng có Phật tính. Thuyết Vô tình có Phật tính này không thấy trong các tác phẩm của ngài Trí khải, vì thế nên biết tư tưởng này đã do ngài Trạm nhiên đề xướng và về sau trở thành đặc sắc của giáo nghĩa tông Thiên thai đời Tống.

kim cương tiên luận

3538請參閱 金剛仙論 凡十卷。北魏菩提流(留)支譯。又稱金剛仙記、仙記。收於大正藏第二十五冊。本書係注解天親之金剛般若波羅蜜經論。關於本書之作者,據本書卷末載(大二五‧八七四下):「彌勒世尊但作長行釋,論主天親既從無障礙比丘邊學得,復尋此經論之意,更作偈論,廣興疑問,以釋此經,凡有八十偈。及作長行論釋,復以此論轉教金剛仙論師等。此金剛仙轉教無盡意,無盡意復轉教聖濟,聖濟轉教菩提留支,迭相傳授,以至於今,始(疑作殆)二百年許,未曾斷絕故。」知金剛般若經之義釋,自彌勒以來,經無著(無障礙)、天親、金剛仙、無盡意、聖濟、菩提流支等次第轉教,其中,金剛仙、無盡意、聖濟等之事蹟雖不詳,惟既題爲金剛仙論,即可視同金剛仙所造。然此書處處引用我國譯經家之說,顯然非梵本之翻譯。或謂係菩提流支所作,如吉藏之金剛般若經義疏卷一、圓測之仁王經疏卷上末、開元釋教錄卷十二等均以本書爲菩提流支所造。然窺基之金剛般若經贊述卷上則謂本論中所述定性二乘迴心之義、真識緣起之說均非天親門下所好,而認爲金剛仙乃我國南方吳人。〔東域傳燈目錄卷上〕 ; (金剛仙論) Cũng gọi Kim cương tiên kí, Tiên kí. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 25. Đây là sách chú giải bộ Kim cương bát nhã ba la mật kinh luận của ngài Thiên thân. Về tác giả của luận này, ở cuối quyển có ghi (Đại 25, 874 hạ): Di lặc Thế tôn giải thích bằng văn xuôi, Luận chủ Thiên thân học được từ tỉ khưu Vô chướng ngại, nghiên cứu suy tìm ý của bộ kinh luận này, rồi làm kệ luận, nêu lên nhiều nghi vấn. Để giải thích những nghi vấn đó, nên làm 80 bài kệ và soạn luận thích bằng văn xuôi, rồi truyền dạy cho luận sư Kim cương tiên. Luận sư Kim cương tiên truyền dạy cho ngài Vô tận ý, ngài Vô tận ý truyền cho đến nay đã gần 200 năm mà chưa hề dứt tuyệt. Qua quá trình truyền thừa như trên, trong đó, về sự tích của các ngài Kim cương tiên, Vô tận ý, Thánh tế, v.v... tuy không được rõ, nhưng nhan đề của luận này là Kim cương tiên luận, thì có thể được xem như đã do ngài Kim cương tiên soạn. Tuy nhiên, trong luận này có nhiều chỗ trích dẫn thuyết của các nhà dịch kinh ở Trung quốc, thì rõ ràng luận này đã không phải được dịch từ tiếng Phạm. Kim cương bát nhã kinh nghĩa sớ quyển 1 của ngài Cát tạng, Nhân vương kinh sớ quyển thượng phần cuối của ngài Viên trắc, Khai nguyên thích giáo lục quyển 12, v.v... đều cho rằng luận Kim cương tiên là do ngài Bồ đề lưu chi soạn. Nhưng Kim cương bát nhã kinh tán thuật quyển thượng của ngài Khuy cơ thì cho rằng ý nghĩa hồi tâm của hàng Nhị thừa định tính và thuyết Chân thức duyên khởi nói trong luận Kim cương tiên đều xa lạ với các môn hạ của ngài Thiên thân, bởi thế, ngài Khuy cơ đã đoán định rằng Kim cương tiên là người nước Ngô ở miền Nam Trung quốc. [X. Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng].

kim cương tiếu bồ tát

3552金剛笑,梵名 Vajra-hāsa,音譯嚩日囉賀娑。西藏名 Rdo-rje-ḥdsum。密教金剛界三十七尊中,十六大菩薩之一,南方寶生如來四親近之一。位居金剛界曼荼羅南方月輪中寶生如來之後方。又稱摩訶笑菩薩、摩訶希有菩薩、金剛歡喜菩薩、金剛微笑菩薩、金剛咲菩薩、樂生歡喜菩薩。由此尊之加持,一切眾生若聞若見,則心生踊躍,受法利樂。密號喜悅金剛、歡喜金剛,種子爲???(haḥ),爲二障全消殄、歡喜笑悅之義。此尊之三昧耶形、形像等,於金剛界曼荼羅各會中皆不同,於成身會,三昧耶形爲二隻三股杵間有口露齒像;形像爲身呈肉色,二手揚於耳側,握拳作印耳背之勢;真言爲「唵 嚩日囉 賀娑 郝」。於三昧耶會,三昧耶形爲蓮花上有橫金剛杵;真言爲「呵呵 吽 壑」。於供養會,形像爲兩手持蓮,蓮上有三股杵;真言爲「唵 娜莫 薩嚩怛他誐多 摩訶 必哩底 鉢羅母儞耶 迦黎 驃嚩日囉 賀西 郝」。此菩薩表寶生如來之一德,即授眾生萬善萬行,表示與眾生共歡喜大笑之相。〔金剛頂經卷一、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、卷三、諸佛境界攝真實經卷中、三卷本大教王經卷二、略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 ; (金剛笑菩薩) Kim cương tiếu, Phạm:Vajra-hàsa. Hán âm: Phạ nhật ra hạ sa. Tạng: Rdo-rje-#dsum. Cũng gọi Ma ha tiếu bồ tát, Ma ha hi hữu bồ tát, Kim cương hoan hỉ bồ tát, Kim cương vi tiếu bồ tát, Lạc sinh hoan hỉ bồ tát. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở phía sau đức Bảo sinh Như lai trong nguyệt luân ở phương nam trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, mật hiệu là Hỉ duyệt kim cương, Hoan hỉ kim cương. Là 1 trong 16 vị Bồ tát, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Hình tượng, hình Tam muội da của vị tôn này trong các hội của Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng của Ngài là thân mầu da người, 2 tay nắm lại thành thế quyền ấn đưa lên ngang tai; hình Tam muội da là giữa 2 cây chày 3 chĩa có hình cái miệng cười; chủng tử là (ha#), nghĩa là 2 chướng (phiền não, sở tri)dứt sạch, mừng rỡ vui cười; chân ngôn là: Án phạ nhật hạ sa hác. Trong hội Tam muội da, hình Tam muội da là chày kim cương đặt ngang trên hoa sen; chân ngôn là: Ha ha hồng hác. Trong hội Cúng dường, hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa sen có chày 3 chĩa; chân ngôn là: Án na mạc tát phạ đát tha nghiệt đa ma ha tất lí để bát la mẫu nễ da ca lê phiếu phạ nhật ra hạ tây hác. Vị Bồ tát này tượng trưng cho đức của Bảo sinh Như lai, là trao cho chúng sinh muôn hạnh muôn điều thiện và cùng vui cười mừng rỡ với họ. Nhờ sự gia bị của vị Bồ tát này, nếu chúng sinh nào nghe danh hiệu hoặc thấy hình tượng của Ngài thì đều được sự lợi lạc trong chính pháp. [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1, Q.3; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; kinh Đại giáo vương Q.2 (bản 3 quyển); Lược thuật kim cương đính du già phân biệt thánh vị tu chứng pháp môn; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương toà

3552請參閱 瑜祇經 梵語 vajrāsana。又作金剛齊。指佛陀成道時所坐之座,位於中印度摩揭陀國伽耶城南之菩提樹下。以其猶如金剛一般堅固不壞,故稱金剛座。據大唐西域記卷八載,菩提樹垣正中有金剛座,昔賢劫初成時,與大地俱起,據三千大千世界中,下極金輪,上侵地際,金剛所成,周百餘步,賢劫千佛坐之而入金剛定,故稱金剛座。又唐代義淨撰之南海寄歸內法傳卷三經行少病條(大五四‧二二一下):「經云觀樹經行。親在金剛座側,但見真迹,未覩圓基耳。」可見當時已衰廢,現今之金剛座係後代模造,真正之聖蹟早已埋沒於大塔下。〔大乘本生心地觀經卷三、大智度論卷三十四、大毘婆沙論卷三十、卷八十三、俱舍論卷十九〕 ; (金剛座) Phạm: Vajra-sana. Cũng gọi Kim cương tề. Chỉ cho cái tòa đức Phật ngồi lúc Ngài thành đạo dước gốc cây Bồ đề, ở phía nam thành Già da, nước Ma kiệt đà, Trung Ấn độ. Vì tòa này cứng chắc giống như kim cương không hư hoại, cho nên gọi là Kim cương tọa. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8, ở gốc cây Bồ đề có tòa Kim cương. Thủa xưa, khi kiếp Hiền mới hình thành thì tòa này có cùng một lúc với quả đất; trong Tam thiên đại thiên thế giới, tòa này dưới đến Kim luân, trên đến mặt đất, do kim cương tạo thành, chu vi hơn 100 bước, nghìn đức Phật trong kiếp Hiền ngồi trên tòa này mà vào định Kim cương, vì thế gọi là tòa Kim cương. Điều Kinh hành thiểu bệnh trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 do ngài Nghĩa tịnh soạn vào đời Đường (Đại 54, 221 hạ), nói: Chính tôi đã đến bên cạnh tòa kim cương, nhưng chỉ thấy dấu vết, chứ không thấy nền cũ nữa. Như vậy chứng tỏ tòa kim cương vào thời ngài Nghĩa Tịnh đến Ấn độ đã bị hư hoại, còn tòa Kim cương hiện nay là do người đời sau mô phỏng tạo thành. [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.3; luận Đại trí độ Q.34; luận Đại tì bà sa Q.30, Q.83; luận Câu xá Q.19].

kim cương toả bồ tát

3577金剛鏁,又作金剛鎖。<一>金剛鏁,梵名 Vajra-sphoṭa,音譯嚩日囉薩普吒。西藏名 Rdo-rje-lcags-sgrog。密教金剛界三十七尊之一,四攝菩薩之一。位居金剛界曼荼羅第一重之西門。又稱金剛連鎖菩薩。此尊以大慈悲之誓願,閉鎖一切惡趣之門,使眾生安住菩提而不退。象徵確實攝取眾生之德。密號堅持金剛、妙住金剛,種子爲???(vaṃ),縛不可得之義。 此尊之三昧耶形、印相,於各會中皆不同,如於成身會,三昧耶形爲金剛鎖,形像爲身呈肉色,左手握拳,右手執鎖;印相爲二拳相背,二小指、二食指相鉤如連鎖;真言爲「唵 嚩日囉 薩普吒 鍐」。於三昧耶會,三昧耶形爲三股鎖,真言爲「係 薩普吒 鍐」。於供養會,形像爲兩手持蓮花,花上有鎖。〔金剛頂經卷二、大教王經卷四、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 <二>金剛鏁,梵名 Vajra-śṛṅkhalā,音譯嚩日囉尸哩佉羅。西藏名 Rdo-rje lu-gu-rgyud-ma。密教現圖胎藏界曼荼羅金剛手院中列於上方第五位。又稱金剛商竭羅菩薩。密號堅持金剛、堅固金剛,爲表示繫留縛住之義;種子爲???(hūṃ)或???(vaṃ);三昧耶形爲金剛鎖;形像爲身呈淺黃色,豎右手屈中指、無名指,鉤屈食指、小指,持金鏁;左手仰拳叉腰,豎立右膝,面向右方,交足趺坐於赤蓮花上。此菩薩表示金剛部之智慧,縛住一切眾生,斷滅煩惱、所知二障。又於大日經中,以金剛鏁菩薩與金剛針菩薩列爲一對。〔大日經疏卷五、卷六、諸說不同記卷四〕(參閱「金針雙鎖」3582) ; (金剛鏁菩薩) I. Kim Cương Tỏa Bồ Tát. Kim cương tỏa, Phạm: Vajra-sphoỉa. Hán âm: Phạ nhật ra tát phổ tra. Tạng:Rdo-rje-lcags-sgrog. Cũng gọi Kim cương liên tỏa bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở cửa tây của lớp thứ 1 trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 4 Nhiếp bồ tát, 1 trong 37 vị tôn thuộc Kim cương giới. Với tâm đại từ bi, vị tôn này thệ nguyện đóng khóa (tỏa) tất cả cửa ác thú, khiến chúng sinh an trụ nơi Bồ đề không trở lui. Ngài tượng trưng cho đức nhiếp thụ chúng sinh. Mật hiệu là Kiên trì kim cương, Diệu trụ kim cương, chủng tử là (vaô), nghĩa là trói buộc không thể được. Hình Tam muội da, ấn tướng, hình tượng của Bồ tát này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, hình Tam muội da là chiếc khóa kim cương; hình tượng là thân mầu da người, tay trái nắm lại thành quyền, tay phải cầm khóa; ấn tướng là 2 nắm tay đâu lưng vào nhau, 2 ngón út 2 ngón trỏ móc lấy nhau như cái khóa; chân ngôn là: Án phạ nhật ra tát phổ tra tông. Trong hội Tam muội da, hình Tam muội da là chiếc khóa 3 chĩa; chân ngôn là: Hệ tát phổ tra tông. Trong hội Cúng dường, hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa để cái khóa. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Đại giáo vương Q.4; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa]. II. Kim Cương Tỏa Bồ Tát. Kim cương tỏa, Phạm:Vajra-zfíkhalà. Hán âm: Phạ nhật ra thi lí khư la. Tạng: Rdo-rje lu-gu-rgyud-ma. Cũng gọi Kim cương thương kiệt la bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở ngôi thứ 5 phía trên trong viện Kim cương thủ của Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Kiên trì kim cương, Kiên cố kim cương, biểu thị ý nghĩa giữ gìn chắc chắn. Hình tượng vị tôn này là thân mầu vàng nhạt, ngồi trên hoa sen đỏ, chân trái xếp bằng, đầu gối phải dựng đứng, mặt hướng về bên phải; tay phải đưa lên, co ngón giữa và ngón vô danh, ngón trỏ và ngón út cong lại thành hình cái móc, cầm chiếc khóa; nắm tay trái ngửa lên chống vào cạnh sườn. Chủng tử là (hùô) hoặc (vaô), hình Tam muội da là cái khóa kim cương. Vị Bồ tát này tiêu biểu cho trí tuệ của kim cương bộ, giữ gìn hết thảy chúng sinh, khiến họ dứt trừ phiền não chướng và sở tri chướng. Ngoài ra, trong kinh Đại nhật, bồ tát Kim cương tỏa và bồ tát Kim cương châm được bày đối nhau. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.6; Chư thuyết bất đồng kí Q.4]. (xt. Kim Cương Song Tỏa).

Kim cương tràng trang nghiêm Bát-nhã ba-la-mật-đa giáo trung nhất phần 金剛場莊嚴般若波羅蜜多教中一分

[ja] コンゴウジョウショウゴンハンニャハラミツタキョウチュウイチブン ongōjō shōgon hannya haramitta kyōchū ichibu ||| The Jingangchang zhuangyan banruoboluomiduo jiaozhong yifen; Skt. Śrī-vajramaṇḍālamkāra-nāma-mahātantrarāja; Tib. pal rdo rje snying po rgyan shes bya ba'i rgyud kyi rgyal po chen po ; (Tantra of the Vajra Essence Ornament (A Part of the Prajñāparamitā Doctrine)) To.490, P.123]; 3 fasc. (T 886.19.511-514), tr. Dānapāla 施護. A partial translation of one of the two extended recensions of the Rishukyō 理趣經. Dānapāla's version corresponds to the final section of the Tibetan version. [ast91] BGBT4/220. [py] Jīngāngchăng zhuāngyán bānruòbōluómìduō jiàozhōng yīfēn (k: Kŭmgangjang changŏm panyap'aramilta kyojung ilbun; j: ongōjō shōgon hannya haramitta kyōchū ichibu; c: Jingangchang zhuangyan banruoboluomiduo jiaozhong yifen; => s: Śrī-vajramaṇḍālamkāra-nāma-mahātantrarāja; Tib. pal rdo rje snying po rgyan shes bya ba'i rgyud kyi rgyal po chen po; e: Tantra of the Vajra Essence Ornament (A Part of the Prajñāparamitā Doctrine). 3 quyển. Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch. Một phần bản dịch của một trong hai bản đầy đủ đã được chỉnh lại từ Lý thú kinh (s: Rishukyō 理趣經). Bản dịch của ngài Thi Hộ tương đương với phẩm sau cùng của bản tiếng Tây Tạng.

Kim cương tràng đà-la-ni kinh 金剛場陀羅尼經

[ja] コンゴウジョウダラニキョウ Kongōjō darani kyō ||| The Jingangchang tuoluoni jing 1 fasc. (T 1345.21.855-858); alternative translation of the Jingang shangwei tuoluonijing 金剛上味陀羅尼經. => (k: Kongōjō darani kyō; c: Jingangchang tuoluoni jing). 1 quyển . Tên gọi khác của kinh Kim cương thượng vị đà-la-ni kinh (c: Jingang shangwei tuoluonijing 金剛上味陀羅尼經).

kim cương trì bồ tát

3545金剛持,梵名 Vajra-dhara,音譯嚩日囉陀羅。西藏名Rdo-rje ḥdsin-pa。略稱金剛持。係密教現圖胎藏界曼荼羅金剛手院中,第二行第六位之菩薩。密號爲常定金剛,種子爲???(hūṃ),三昧耶形爲獨股杵。形像爲身呈白黃色,右手屈肘,掌向上,持直立獨股杵之下端;左手亦握獨股杵,置於左胸,著天衣,坐於赤蓮花上。胎藏圖像之執金剛杵金剛與此尊同,惟右手所持之獨股杵周圍有火焰。其印相爲金剛部之通印,即持地印;其真言爲一切持金剛之真言,即「南麼 三曼多伐折羅赧 ; (金剛持菩薩) Kim cương trì, Phạm: Vajra-dhara. Hán âm: Phạ nhật ra đà la. Tạng:Rdo-rje #dsin-pa. Gọi tắt: Kim cương trì. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí 6 hàng thứ 2 trong viện Kim cương thủ trên Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Thường định kim cương. Hình tượng vị tôn này thân mầu vàng lợt, mặc áo trời, ngồi trên hoa sen đỏ, khuỷu tay phải co lại, bàn tay ngửa lên, cầm đầu dưới của chày 1 chĩa dựng thẳng đứng, tay trái cũng cầm chày 1 chĩa đặt ở trước ngực; chủng tử (hùô), hình Tam muội da là chày 1 chĩa. Ấn tướng của vị tôn này là ấn Trì địa; chân ngôn là: Na ma tam mạn đa phạt chiết la noản hồng hồng hồng phát tra phát tra phát tra nhiêm nhiêm sa ha (Nama# samanta-vajràịàô hùô hùô hùô phaỉ phaỉ phaỉ jam jam svàhà). [X. Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.4].

kim cương trí

3561<一>梵語 vajra-prajñā。音譯縛日羅般若。西藏語 rdo-rje-śes-rab。指堅固不壞之智體,爲大圓鏡智之別名。此智能破除煩惱習氣,猶如金剛之摧毀諸物,故稱金剛智。據金剛頂瑜伽略述三十七尊心要說,就「因位」而言,指行者初發之信心;就果位而言,則象徵阿閦如來。〔菩提心論、大日經疏卷一、瑜祇經義述第一〕 <二>(671?~741)梵名 Vajrabodhi。音譯跋日羅菩提。爲印度密教付法第五祖,中國密教初祖。出身南印度婆羅門(另說爲中印度王子)。十歲出家於那爛陀寺。二十歲受具足戒,廣習大小乘經律論。三十一歲,從南印度龍智學習密教。繼善無畏東來之後三年,於唐開元七年(719),攜弟子不空由海路經錫蘭、蘇門答臘至廣州,建立大曼荼羅灌頂道場,化度四眾。八年,入洛陽、長安,從事密教經典之翻譯,並傳授灌頂之祕法。譯有金剛頂經、瑜伽念誦法、觀自在瑜伽法第八部十一卷。與善無畏、不空並稱「開元三大士」。本擬歸返印度,然因病示寂於洛陽廣福寺,世壽七十一(一說七十,或謂年壽不詳)。諡號「大弘教三藏」。門弟子另有一行、慧超、義福、圓照等。〔開元釋教錄卷九、宋高僧傳卷一、佛祖統紀卷四十〕 ; Vajramati (S). The indestructible and enriching diamond wisdom of the Buddha. ; (金剛智) I. Kim Cương Trí. Phạm:Vajra-prajĩà. Hán âm: Phược nhật la bát nhã. Tạng:Rdo-rje-zes-rab. Chỉ cho trí thể bền chắc không hư hoại, là tên khác của Đại viên kính trí. Vì trí này có công năng phá trừ phiền não tập khí, giống như kim cương phá hủy các vật, cho nên gọi là Kim cương trí. Cứ theo Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu, đứng về mặt Nhân vị(giai vị tu nhân)mà nói, thì Kim cương trí chỉ cho tín tâm mới phát của hành giả, còn về mặt Quả vị(giai đoạn chứng quả)thì Kim cương trí tượng trưng cho A súc Như lai. [X. luận Bồ đề tâm; Đại nhật kinh sớ Q.1; Du già kinh nghĩa thuật đệ nhất]. II. Kim Cương Trí (671-741). Phạm: Vajrabodhi. Hán âm: Bạt nhật la bồ đề. Tổ phó pháp thứ 5 của Mật giáo Ấn độ, Sơ tổ Mật giáo Trung quốc, thuộc dòng dõi Bà la môn ở miền Nam Ấn độ(có thuyết cho rằng sư là 1 vương tử ở Trung Ấn độ). Năm 10 tuổi, sư xuất gia ở chùa Na lan đà, 20 tuổi thụ giới Cụ túc, thông suốt kinh luật luận Đại thừa, Tiểu thừa. Năm 31 tuổi, sư theo ngài Long trí học Mật giáo ở Nam Ấn độ. Năm Khai nguyên thứ 7 (719) đời Đường, sau khi ngài Thiện vô úy đến Trung quốc được 3 năm, sư dẫn đệ tử là Bất không theo đường biển qua các đảo Tích lan, Sumatra, rồi đến Quảng châu, Trung quốc, kiến lập đạo tràng Đại mạn đồ la quán đính, hóa độ 4 chúng. Năm Khai nguyên thứ 8 (720), sư đến Lạc dương, Trường sa, phiên dịch kinh điển Mật giáo và truyền trao bí pháp Quán đính. Sư và ngài Thiện vô úy cùng với Bất không được tôn xưng là Khai Nguyên Tam Đại Sĩ(ba vị Bồ tát thời Khai nguyên). Sư tịch vào năm 741 ở chùa Quảng phúc tại Lạc dương, thọ 71 tuổi(có thuyết nói 70, hoặc cho là không rõ tuổi thọ), thụy hiệu là Đại Hoằng Giáo Tam Tạng. Đệ tử có các vị: Nhất hạnh, Tuệ siêu, Nghĩa phúc, Viên chiếu, v.v.. Các dịch phẩm gồm 8 bộ 11 quyển như: kinh Kim cương đính, Du già niệm tụng pháp, Quán tự tại du già pháp, v.v... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Tống cao tăng truyện Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.40].

kim cương trí tam tạng

Vajrabodhi (S). Name. Also Kim cương trí.

Kim Cương Trí 金剛智

[ja] コンゴウチ kongōchi ||| (1) Adamantine wisdom, or diamond-like wisdom. The wisdom of the Buddha that is more sharp and more hard than anything that in comes into contact with. 〔二障義HPC 1.801b〕 (2) Vajrabodhi (671-741). Indian monk, translator and ritual master acknowledged as one of the eight patriarchs of the doctrine 傅授八祖 in Shingon lineages. Born into the Brāhmaṇa caste, he joined Nālanda monastery 那爛陀寺 at age 10. There, he is said to have studied Yogācara and mainstream texts such as the Madhyāntavibhāgaṭīka 辯分邊論, later becoming preceptor to the Pallava king Narasiṃhavarma Rājasiṃha II. His esoteric studies began in 702 after meeting Nagabodhi 龍智, an expert in the vajrayoga of the Tattvasaṃgraha 金剛頂. Vajrabodhi received initiation and continued to be his disciple for the next seven years. while on a pilgrimage to Laṅka 楞伽山, a mysterious vision inspired him to propagate the doctrine in China. Taking the sea route, he briefly sojourned in Śrivijaya; on the last leg of the trip, he lost the massive Sanskrit text of the Tattvasaṃgraha 金剛頂經 during a storm which destroyed much of the accompanying fleet. He arrived in Canton in 720 and proceeded to Loyang 洛陽. There he began performing rituals, initiating disciples and translating esoteric texts. In 723, he wrote down the first chapter of the Tattvasaṃgraha from memory, the 'Abridged, Recitable Vajra Summit Yoga' 金剛頂瑜伽中 略出念誦經 (T 766). The emperor Xuanzong 玄宗 lent his support to this proselytising and was later initiated into the esoteric doctrine by Vajrabodhi. From 723 onwards Vajrabodhi resided at the Zisheng temple 資聖寺, translating and composing a substantial number of esoteric texts, most of which were completed between 731 and 736. He passed away shortly before a planned return to India in 741. His most prominent disciple was Amoghavajra 不空金剛, who continued his work as author, imperial patron and propagator of the esoteric doctrine. => (k: kŭmgangji; j: kongōchi) Trí huệ kim cương, hoặc trí huệ rắn chắc như kim cương. Trí huệ chư Phật cứng chắc và bén nhọn hơn bất cứ vật gì khi tiếp xúc với nó. Vajrabodhi (671-741). Tăng sĩ Phật giáo Ấn Độ. Dịch giả và Pháp sư được công nhận là tám vị tổ của giáo lý Truyền thọ bát tổ trong Chân ngôn tông. Ngài sinh trong gia đình Bà-la-môn, ngài vào Tu viện Na-lan-đà vào lúc 10 tuổi. Ở đó, ngài được nghiên cứu về Du-già hành tông và những Kinh văn chủ đạo như Biện phân biên luận (s: Madhyāntavibhāgaṭīka 辯分邊論), sau đó trở thành người dạy đạo cho vua Narasiṃhavarma Rājasiṃha II nước Pallava. Những nghiên cứu về Mật tông của ngài bắt đầu từ năm 702 sau khi gặp ngài Long Trí (s: Nagabodhi 龍智), là một thượng thủ trong pháp Kim cương du-già thuộc Kim cương đỉnh (s: Tattvasaṃgraha 金剛頂). Kim cương Trí được truyền pháp điểm đạo và tiếp tục làm đệ tử ngài Long Trí trong 7 năm sau. Trong một lần ngài đi chiêm bái núi Lăng-già, một thị kiến ẩn mật khuyến khích ngài truyền bá Phật pháp sang Trung Hoa. Theo đường biển, ngài lưu trú tạm thời tại Śrivijaya; vào cuối cuộc hành trình, ngài bị mất bộ kinh đồ sộ Kim cương đỉnh kinh (s: Tattvasaṃgraha 金剛頂經) trong một cơn bão đã phá hủy nhiều thứ của đoàn tùy tùng. Ngài đến Quảng Đông năm 720 và đến Lạc Dương. Ở đó ngài bắt đầu thiết lập đàn tràng, truyền phép điểm đạo chi đệ tử và dịch những kinh điển Mật giáo. Từ năm 723, ngài viết lại phẩm thứ nhất của Kinh Kim cương đỉnh theo trí nhớ, đó là bản kinh Kim cương đỉnh du-già trung lược xuất niệm tụng kinh. Hoàng đế Huyền Tông 玄宗 hỗ trợ cho sự truyền bá tông phái mới nầy và sau đó được truyền thụ phép điểm đạo Mật tông với ngài Kim Cương Trí. Từ năm 723 về sau, ngài cư ngụ tại chùa Tư Thánh tự (c: Zisheng temple 資聖寺), phiên dịch và biên soạn chủ yếu rất nhiều kinh luận Mật tông, phần lớn hoàn thành vào giữa năm 731 và 736. Ngài viên tịch không lâu trước dự định trở về Ấn Độ năm 741. Đệ tử nổi bật của ngài là Bất Không Kim cương (s: Amoghavajra 不空金剛), tiếp tục sự nghiệp biên soạn và phiên dịch của ngài, làm quốc sư của triều đình và truyền bá Mật tông.

kim cương trượng

3541爲密教執金剛神所持之金剛杵。或指日本「修驗道」之修行者所持之杖。相傳係從密教法具中之獨股杵演變而成者,象徵堅固不拔之信念。以白木作成八角或四角形,高同於人的身長。〔修驗宗法具祕決精註卷上金剛杖條〕 ; (金剛杖) Cây gậy kim cương, vật cầm của thần Chấp kim cương trong Mật giáo. Tương truyền, gậy này là do cây chày 1 chĩa trong các pháp cụ của Mật giáo diễn biến mà thành, tượng trưng cho niềm tin vững chắc không lay chuyển. Gậy kim cương được làm bằng gỗ trắng với hình 8 góc hoặc 4 góc và cao bằng thân người. Ngoài ra, Kim cương trượng cũng chỉ cho cây gậy của hành giả phái Tu nghiệm đạo ở Nhật bản.

kim cương tuyến

3572梵語 vajra-sūtra。密教中,灌頂時授與受者之絲線,或修法壇(曼荼羅)上金剛橛(壇上四隅所立之柱)間的張索,稱爲金剛線。由五色絲搓合而成,並在兩線頭之結合處作三個金剛結,故有此稱。廣義而言,金剛線泛指以上兩者;若嚴格區分,則前者稱爲金剛線、護身線、神線,後者稱爲壇線。 五色即白、赤、黃、青、黑等色,分別代表五佛中之大日佛、寶幢佛、華開敷佛、無量壽佛、鼓音佛的五智;又表示以信、進、念、定、慧等五法貫攝一切教門。 據大日經疏卷五載,當挑選上好之絲作金剛線,先用香水洗淨,再由清淨之童女搓合之,其次,依五佛之真言次第加持一色,最後以成辦諸事之真言總加持之。又曼荼羅上所用之線,造法亦同。〔大日經具緣品、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷四、陀羅尼集經卷四、大日經疏卷十五〕 ; (金剛綫) Phạm:Vajra-sùtra. Sợi chỉ ngũ sắc, 2 đầu nối kết lại bằng 3 nút kim cương, dùng để trao cho người nhận Quán đính; hoặc chỉ cho sợi dây giăng giữa các cây cọc kim cương ở 4 góc trên đàn tu pháp của Mật giáo. Theo nghĩa rộng thì Kim cương tuyến là chỉ chung cho 2 loại dây vừa nói ở trên. Còn nếu phân biệt kỹ hơn thì loại trước gọi là Kim cương tuyến, Hộ thân tuyến, Thần tuyến; loại sau gọi là Đàn tuyến. Năm mầu là: trắng, đỏ, vàng, xanh và đen theo thứ tự biểu trưng cho 5 trí của 5 đức Phật là: Phật Đại Nhật, Phật Bảo Chàng, Phật Hoa Khai Phu, Phật Vô Lượng Thọ và Phật Cổ Âm. Năm mầu cũng còn biểu thị 5 pháp: Tín, Tiến, Niệm, Định và Tuệ. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 thì phải chọn tơ thật tốt để làm Kim cương tuyến, trước hết rửa sạch tơ bằng nước thơm, rồi do một đồng nữ thanh tịnh se lại, sau đó, y theo thứ tự chân ngôn của 5 đức Phật mà gia trì vào mỗi mầu. Cuối cùng là chú nguyện gia trì chung bằng chân ngôn Thành biện chư sự. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; kinh Đà la ni tập Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.15].

kim cương tuệ

Diamond wisdom, which by its reality overcomes all illusory knowledge.

kim cương tát đoá

3575梵名 Vajra-sattva。其梵名前半 vajra,音譯嚩日囉,即金剛之義;梵名後半 sattva,音譯薩埵,爲勇猛、有情等義。故「金剛薩埵」爲梵名前半之意譯與後半之音譯所併成。西藏名 Rdo-rje sems-dpaḥ,義爲金剛勇猛心。又稱爲金剛手、金剛手祕密主、執金剛祕密主、持金剛具慧者、金剛上首、大樂金剛、蘇羅多金剛、一切如來普賢、普賢薩埵、普賢金剛薩埵、金剛勝薩埵、金剛藏、執金剛、祕密主、金薩。 「金剛薩埵」一語,象徵「堅固不壞之菩提心」與「煩惱即菩提之妙理」。此名稱於密教中,所指有四:(一)指密教傳法之第二祖。密教係由大日如來傳金剛薩埵,金剛薩埵原爲大日如來內眷屬中諸執金剛之上首,乃大日經之對告眾,於大日經中多稱金剛手或祕密主,居於金剛法界宮。親蒙大日如來之教勅後,結誦傳持密乘,成爲付授密法第二祖。釋尊入滅後七、八百年間,龍猛(龍樹)菩薩開南天鐵塔面受密乘,而得傳至人間。 (二)爲金剛界曼荼羅中,金剛部院三十七尊之一。位於東方月輪中阿閦如來之前方,主東方「發菩提心」之德,乃阿閦如來四親近之一。具普賢行以滿足一切眾生,令一切菩薩受用三摩地智。又此菩薩表示眾生本有之淨菩提心,與普賢菩薩同體異名。密號爲真如金剛、大勇金剛、勇進執金剛。其種子、三昧耶形、尊形,在成身會、三昧耶會、微細會、供養會等各會中互不相同。於成身會中,其三昧耶形爲五股杵。形像爲身呈肉色,菩薩形,右手執五股杵,表示能摧毀十種煩惱,滿足十波羅蜜,或表示五佛之三昧;左手持金剛鈴,以驚動一切眾生之無明。 (三)爲金剛界曼荼羅理趣會中,十七尊中之主尊。位於曼荼羅之中央,爲阿閦如來之正法輪身。以欲、觸、愛、慢等四煩惱之妄體爲別德,以示煩惱即淨菩提心之妙趣,故與金剛欲、金剛觸、金剛愛、金剛慢等四菩薩同時顯現五祕密金剛之相。種子爲???(oṃ)或???(hūṃ),三昧耶形爲五股杵。其形像,全身呈白色,戴五智寶冠,左手持鈴,置於左腰上,表示適悅的「大我慢」之義;右手執五股杵,表示開啟眾生本有的五智菩提之芽。通常密教修普賢法、五祕密法、普賢延命法等,皆以此尊爲本尊。 (四)爲胎藏界曼荼羅金剛部院「大智金剛部」之主尊。主「折伏門」之 德,以摧破惡障爲本誓。種子爲???(va)或???(hūṃ)。其形像,全身呈肉色,頭部略傾向右側,右手臂彎曲,稍舉向上,掌面向上,五指微曲,掌中橫置三股杵;左手臂亦彎曲,略舉向上,握拳置胸前,掌背對右手。 此外,據大教王經卷八載,於降三世羯磨會中之金剛薩埵,顯現三面八臂的降三世明王之形相,爲阿閦如來之教令輪身。蓋此尊係奉如來之教勅,欲降伏剛強難化之大自在天眾,遂現明王之相。 雖有上記各種之金剛薩埵,然於密教中,常以金剛薩埵作爲菩提心,或經由菩提心而上求佛果者之總代表。又大日如來爲覺者之總體,金剛薩埵爲迷者之總體,故於密教修法中,若將大日與金剛薩埵二尊之種子交互而用時,即表示融會二尊之本譬,及「生佛不二」之義。 於西藏喇嘛教,通常將金剛薩埵視爲阿提佛陀(即本初佛)而崇拜之。亦有視之爲五智如來中的阿閦如來之化身,謂其住於白蓮臺上,主東方之淨土。於各種圖像、造像中,有往往妃(藏 Yum)爲伴之圖像造型頗爲奇特。〔大日經卷一具緣品、卷七增益守護清淨行品、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、卷四、諸佛境界攝真實經卷中、理趣釋卷上、大日經疏卷五、E. Schlagintweit: Buddhism in Tibet〕 ; (金剛薩埵) Phạm:Vajra-sattva. Tạng: Rdo-rje sems-dpa#. Cũng gọi: Kim cương thủ, Kim cương thủ bí mật chủ, Chấp kim cương bí mật chủ, Trì kim cương cụ tuệ giả, Kim cương thượng thủ, Đại lạc kim cương, Tô la đa kim cương, Nhất thiết Như lai Phổ hiền, Phổ hiền tát đỏa, Phổ hiền Kim cương tát đỏa, Kim cương thắng tát đỏa, Kim cương tạng, Chấp kim cương, Bí mật chủ, Kim tát. Kim cương tát đỏa tượng trưng cho diệu lí: Tâm bồ đề bền chắc không hư hoại và Phiền não tức Bồ đề. Trong Mật giáo, Kim cương tát đỏa chỉ cho 4 vị: I. Kim Cương Tát Đỏa. Tổ truyền pháp thứ 2 của Mật giáo. Mật giáo là do đức Đại nhật Như lai truyền cho bồ tát Kim cương tát đỏa, là vị Bồ tát đương cơ trong kinh Đại nhật. Ngài là bậc Thượng thủ trong các vị Chấp kim cương thuộc nội quyến thuộc của Đại nhật Như lai. Trong kinh Đại nhật, Ngài thường được gọi là Kim cương thủ hoặc Bí mật chủ, ngồi trong cung Kim cương pháp giới. Sau khi đích thân nhận giáo sắc của đức Đại nhật Như lai, Ngài kết tụng truyền trì Mật thừa, trở thành Tổ thứ 2 truyền trao Mật pháp. Sau khi đức Thích tôn nhập diệt khoảng 7,800 năm, bồ tát Long mãnh (Long thụ) mở tòa tháp sắt ở Nam thiên trực tiếp nhận lãnh Mật thừa từ nơi bồ tát Kim cương tát đỏa để turyền đến nhân gian. II. Kim Cương Tát Đỏa. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở phía trước đức A súc Như lai, trong nguyệt luân ở phương đông thuộc viện Kim cương bộ, là 1 trong 37 vị tôn trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, mật hiệu là Chân như kim cương, Đại dũng kim cương, Dũng tiến chấp kim cương. Hình tượng, chủng tử, hình Tam muội da của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng của Ngài là mình mầu da người, hình Bồ tát, tay phải cầm chày 5 chĩa, biểu thị nghĩa phá dẹp 10 thứ phiền não, đầy đủ 10 ba la mật, hoặc biểu trưng tam muội của Ngũ Phật; tay trái cầm linh(chuông nhỏ) kim cương, để thức tỉnh tâm vô minh của tất cả chúng sinh, hình Tam muội da là cây chày 5 chĩa. Vị Bồ tát này chủ về đức phát tâm bồ đề của A súc Như lai, có đầy đủ hạnh Phổ hiền để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh và khiến cho hết thảy Bồ tát được thụ dụng trí Tam ma địa. Ngoài ra, vị Bồ tát này còn biểu thị cho tâm bồ đề thanh tịnh sẵn có của chúng sinh, là cùng thể nhưng khác tên với bồ tát Phổ hiền. III. Kim Cương Tát Đỏa. Vị Bồ tát chủ tôn trong hội Lí thú, ngồi ở chính giữa Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Hình tượng của vị tôn này toàn thân mầu trắng, đội mũ báu Ngũ trí, tay trái cầm linh, để bên hông trái, biểu thị ý nghĩa vui thích đại ngã mạn; tay phải cầm cây chày 5 chĩa, tượng trưng cho nghĩa khai phát mầm bồ đề Ngũ trí sẵn có của chúng sinh. Chủng tử là (oô) hoặc (hùô), hình Tam muội da là chày 5 chĩa. Vị Bồ tát này là thân Chính pháp luân của đức A súc Như lai, lấy thể hư vọng của 4 phiền não: Dục, xúc, ái, mạn làm đức riêng để hiển bày chỉ thú mầu nhiệm: Phiền não tức là tâm bồ đề thanh tịnh, bởi thế, cùng với 4 vị bồ tát Kim cương Dục, Kim cương Xúc, Kim cương Ái và Kim cương Mạn đồng thời hiển hiện 5 tướng Kim cương bí mật. Thông thường, khi tu pháp Phổ hiền, pháp Ngũ bí mật, pháp Phổ hiền diên mệnh, v.v... đều thờ vị Bồ tát này làm Bản tôn. IV. Kim Cương Tát Đỏa. Vị Chủ tôn của bộ Đại Trí Kim Cương trong viện Kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn này chủ về đức Chiết phục môn, lấy việc phá dẹp ác chướng làm bản thệ. Hình tượng của Ngài toàn thân mầu da người, ngồi trên tòa sen, đầu hơi nghiêng về phía bên phải, cánh tay mặt co lại, hơi giơ lên, lòng bàn tay ngửa, hơi co 5 ngón, cây chày 3 chĩa đặt ngang giữa bàn tay; cánh tay trái cũng co lại, hơi nâng lên, nắm lại thành quyền để ở trước ngực, lưng bàn tay đối diện với tay phải. Ngoài ra, theo kinh Đại giáo vương quyển 8, trong hội Hàng tam thế yết ma, Kim cương tát đỏa hiện tướng Hàng tam thế Minh vương với 3 mặt, 8 tay, là Luân thân giáo lệnh của đức A súc Như lai. Vị Bồ tát này vâng lãnh giáo sắc của Như lai hàng phục trời Đại tự tại ương ngạnh, khó dạy, cho nên phải hiện hình tướng Minh vương. Tuy Kim cương tát đỏa có các nghĩa được trình bày ở trên, nhưng trong Mật giáo, Kim cương tát đỏa thường được xem là tâm Bồ đề, hoặc đại biểu chung cho những người từ nơi tâm Bồ đề tiến lên cầu quả Phật. Lại nữa, Đại nhật Như lai là tổng thể của giác, Kim cương tát đỏa là tổng thể của mê, cho nên trong pháp tu của Mật giáo, nếu khi chủng tử của Đại nhật Như lai và Kim cương tát đỏa được đắp đổi dùng lẫn cho nhau, thì đó là biểu thị ý nghĩa dung hợp bản thệ của 2 Ngài và ý nghĩa Chúng sinh và Phật không hai. Thông thường, Lạt ma giáo Tây tạng sùng bái Kim cương tát đỏa và tôn Ngài là A đề Phật đà(tức Phật Bản Sơ). Đồng thời, Ngài cũng được xem là hóa thân của đức A súc Như lai trong Ngũ trí Như lai ngồi trên đài sen trắng, là chủ của Tịnh độ ở phương Đông. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; phẩm Tăng ích thủ hộ thanh tịnh hạnh trong kinh Đại nhật Q.7; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1, Q.4; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; Lí thú thích Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.5; Buddhism in Tibet (E. Schlagintweit)]. KIM CƯƠNG TÁT ĐỎA THUYẾT TẦN NA DẠ CA THIÊN THÀNH TỰU NGHI QUĨ KINH ... .. Gọi tắt: Tần na dạ ca thiên nghi quĩ kinh. Kinh 4 quyển, do ngài Pháp hiền (?-101) dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung tường thuật về việc trời Tần na dạ ca(trời Hoan hỉ) thành tựu được lợi ích cho tất cả chúng sinh và pháp chú trớ (cầu nguyện) của vị trời này tương ứng với 4 pháp: Tức tai, Tăng ích, Kính ái và Điều phục.

kim cương tát đoá thuyết tần na dạ ca thiên thành tựu nghi quỹ kinh

3575凡四卷。宋代法賢(?~1001)譯。略稱頻那夜迦天儀軌經。收於大正藏第二十一冊。內容敘述頻那夜迦天(歡喜天)得成就一切眾生之利益,及此天相應於息災、增益、敬愛、調伏等四種法之咒咀法。

kim cương tát đỏa

Vajrasattva (S). Another name of Samantabhadra Bodhisattva according to Tantrism. Also Kim cương thủ.

Kim cương Tát-đoá

金剛薩埵; S: vajrasattva;|Tên của một vị Bồ Tát. Trong Kim cương thừa, đây là hiện thân của nguyên lí và khả năng lọc sạch thân tâm. Ðó là khả năng loại trừ ô nhiễm và biếng nhác trên đường tu học. Người ta xem Kim cương Tát-đoá là một dạng của Báo thân (Ba thân). Trong tranh tượng, Kim cương Tát-đoá được vẽ màu trắng, tượng trưng cho sự hoà nhập của Ngũ phật vào thân này. Tay mặt của Kim cương Tát-đoá cầm Kim cương chử, tay trái dựa trên một chuông đồng, tượng trưng lòng từ bi. Kim cương Tát-đoá có Man-tra dài trên 100 âm được các trường phái Tây Tạng tụng đọc nhằm thanh lọc thân tâm.||H 35: Kim cương Tát-đoá với Ấn »tay làm dấu vajrahūṃ« (s: vajrahūṃkāra-mudrā). Tay bắt chéo trước ngực là biểu hiện của Ðại lạc (mahāsukha) khi vượt qua giới nhị nguyên.

Kim cương tát-đóa 金剛薩埵

[ja] コンゴウサッタ Kongōsatta ||| Vajrasattva, who, according to the Esoteric school, received the transmission of the teachings from Mahāvairocana 大日如來. => (k: Kongōsatta, s: Vajrasattva) Theo Mật giáo, là vị nhận được sự truyền thụ giáo pháp từ Đại nhật Như Lai (s: Mahāvairocana 大日如來).

kim cương tâm

3536比喻信心堅固不動;猶如金剛之堅硬,不被任何物質所破壞。例如菩薩之大心堅固不動,稱爲金剛心。於淨土宗,則指堅信彌陀本願之心。〔大智度論卷四十五〕 ; Diamond heart, that of the Bodhisattva, i.e. infrangible, unmoved by illusion. ; (金剛心) Tín tâm của Bồ tát bền vững không hề bị lay chuyển, giống như kim cương cứng chắc không bị các vật khác phá hoại, cho nên gọi là tâm kim cương. Đối với tông Tịnh độ thì Kim cương tâm là chỉ cho lòng tin vững chắc vào bản nguyện của đức Phật A di đà. [X. luận Đại trí độ Q.45].

Kim cương tâm vị 金剛心位

[ja] コンゴウシンイ kongōshin'i ||| A term for the state of the final stage of the ten bhūmis, also known as the adamantine absorption 金剛喩定. => Thuật ngữ chỉ cho cảnh giới của giai vị cuối cùng của Thập địa, còn gọi là Kim cương dụ định 金剛喩定.

Kim cương tâm 金剛心

[ja] コンゴウシン kongōshin ||| (1) The diamond-mind, or adamantine mind. The hardness and sharpness of the vajra as metaphor for the wisdom of the bodhisattva, which penetrates everything and is incorruptible. (2) A term for the state of the final stage of the ten bhūmis, also known as the adamantine absorption 金剛喩定. (3) In the True Pure Land sect 淨土眞宗 the mind of deep faith in other-power 他力. => (k: kŭmgangsim; j: kongōshin) Tâm kim cương. Sự cứng chắc, bén nhọn của kim cương được ví như trí huệ của hàng Bồ-tát, xuyên thủng mọi thứ và không thể biến hoại. Thuật ngữ chỉ cho cảnh giới của giai vị cuối cùng của Thập địa, còn gọi là Kim cương dụ định 金剛喩定. Theo Tịnh độ Chân tông, đó là tâm tin chắc vào tha lực.

kim cương tòa (sàng)

Vajràsana, Bodhimanda (S). Buddha's seat on attaining enlightenment, the diamond throne. Also a posture or manner of sitting.

kim cương tú hữu

3529(1927~ )日本佛教學者。埼玉縣人。東京大學文學部印度哲學科畢業。曾於昭和三十三年(1958)至錫蘭留學兩年。一九七九年,任東洋大學文學部教授、東京外語大學講師。一生精深之宗教思想體系係透過西洋哲學、基督教等素養而來。著有佛教の國家觀、密教の哲學等書。

kim cương tướng bồ tát

3557金剛將,梵名 Vajra-sena,音譯嚩日囉制那。爲密教胎藏界曼荼羅蘇悉地院中,右方第二位之菩薩。以將爲軍隊之首領,故密號首領金剛;種子爲???(hūṃ),係降伏之義;形像爲身呈肉色,兩手掌向外併攏,無名指、小指交叉,拇指、食指、中指伸直向下,置於胸前,坐於赤蓮花上;真言爲「唵 縛日羅 制那沙訶」。又此菩薩於大日經、阿闍梨所傳曼荼羅(善無畏作)之中皆未列,故恐係依後世阿闍梨所附加者。〔玄法寺儀軌卷二、青龍寺儀軌卷中、諸說不同記卷六〕 ; (金剛將菩薩) Kim cương tướng, Phạm: Vajra-sena. Hán âm: Phạ nhật ra chế na. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ hai phía bên phải trong viện Tô tất địa thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Thủ lãnh kim cương. Hình tượng vị tôn này mầu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, 2 bàn tay sáp vào nhau ngửa lên và hướng ra ngoài, ngón vô danh và ngón út tréo nhau, ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa duỗi thẳng hướng xuống dưới, đặt ở trước ngực. Chủng tử là (hùô), nghĩa là hàng phục; chân ngôn là: Án phạ nhật la chế na sa ha. Trong kinh Đại nhật cũng như trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô uý truyền, không thấy ghi vị Bồ tát này, bởi thế, có lẽ đã do các vị A xà lê đời sau thêm vào. [X. Huyền pháp tự nghi quĩ Q.2; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Chư thuyết bất đồng kí Q.6].

kim cương tạng

3577<一>菩薩處胎經卷七出經品所說八藏之第七。此藏明示等覺菩薩修因證果之法門。三藏法數卷三十一謂,金剛藏者,乃佛所說等覺菩薩修因感果法,以其破惑之智最爲堅利,能斷極後微細無明之惑,故稱等覺菩薩爲金剛心。(參閱「八藏」315) <二>金剛藏王菩薩之略稱。(參閱「金剛藏王菩薩」3577) ; (金剛藏) I. Kim Cương Tạng. Tạng nói về pháp môn tu nhân chứng quả của hàng bồ tát Đẳng giác. Là tạng thứ 7 trong 8 tạng nói trong phẩm Xuất kinh của kinh Bồ tát xử thai quyển 7. Theo Tam tạng pháp số quyển 31, thì Kim cương tạng là pháp tu nhân cảm quả của hàng bồ tát Đẳng giác do đức Phật chỉ dạy, vì trí tuệ phá trừ hoặc chướng của hàng Bồ tát này rất bền chắc sắc bén, có khả năng đoạn diệt phẩm vô minh nhỏ nhiệm cuối cùng, nên bồ tát Đẳng giác được gọi là Kim cương tâm. (xt. Bát Tạng). II. Kim Cương Tạng. Tiếng gọi tắt của bồ tát Kim cương tạng vương. (xt. Kim Cương Tạng Vương Bồ Tát).

kim cương tạng bồ tát

3577金剛藏,梵名 Vajra-garbha,音譯縛日囉孽囉婆。又意譯金剛胎。西藏名 Rdo-rje-sñiṅ。爲密教賢劫十六尊之一。位居金剛界曼荼羅微細會、供養會等外院方壇北方四尊中之第三位。密號持教金剛、立驗金剛,種子爲???(va);三昧耶形爲四個獨股杵作井狀,表示萬智攝於四智中;形像爲身呈青白色,左手握拳,右手持青蓮花,花上有獨股杵;印相爲外縛拳立於火輪,或外縛五股印;真言爲「唵嚩日囉 孽羅婆野 娑縛賀」。 蓋此菩薩爲賢劫十六尊之一,其名常出現於諸大乘經典中,於華嚴經第六會十地品,特舉爲上首。十地經論卷一(大二六‧一二四上):「何故名金剛藏?藏即名堅,其猶樹藏,又如懷孕在藏,是故堅如金剛,名金剛藏。是諸善根,一切餘善根中,其力最上,猶如金剛,亦能生成人天道行,諸餘善根所不能壞,故名金剛藏。」 此菩薩於大日經卷一具緣品、諸佛境界攝真實經卷上及無量壽供養儀軌中,皆名爲金剛薩埵;於文殊寶藏陀羅尼經中,則指文殊菩薩;於理趣釋卷下,指虛空藏;於略出念誦經卷三,爲金剛寶、金剛利之異名;於三卷本教王經卷二,稱爲金剛寶。又據陀羅尼集經卷七載,金剛藏爲金剛薩埵之化身。〔金剛頂經卷三、賢劫十六尊、華嚴經疏卷三十一、金剛頂大教王經疏卷二〕 ; Vajragarbha-Bodhisattva (S). The bodhisattva in the Lankàvatàra-sùtra ; (金剛藏菩薩) Kim cương tạng, Phạm: Vajra-garbha Hán âm: Phạ nhật ra nghiệt ra bà. Cũng gọi Kim cương thai. Tạng:Rdo-rje-sĩií. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 3 trong 4 vị tôn ở phía bắc Phương đàn của viện Ngoài thuộc hội Vi tế và hội Cúng dường của Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 16 vị tôn của kiếp Hiền, mật hiệu là Trì giáo kim cương, Lập nghiệm kim cương. Hình tượng của vị tôn này là hình mầu xanh nhạt, tay trái nắm lại thành quyền (nắm tay), tay phải cầm hoa sen xanh, trên hoa có cây chày 1 chĩa; chủng tử là (va), hình Tam muội da là 4 cây chày 1 chĩa xếp thành hình cái giếng, biểu thị ý nghĩa muôn trí được thu nhiếp vào trong 4 trí; ấn tướng là ấn Ngoại phược(2 tay chắp lại, 10 ngón đan xen kẽ nhau rồi nắm lại)trên vòng lửa, hoặc là ấn Ngoại phược 5 chĩa. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra nghiệt la bà dã sa phược hạ. Vì là 1 trong 16 vị tôn của kiếp Hiền, nên danh hiệu của vị Bồ tát này thường thấy trong các kinh Đại thừa, như trong phẩm Thập địa của hội thứ 16 kinh Hoa nghiêm, đặc biệt Ngài được tôn làm bậc Thượng thủ. Thập địa kinh luận quyển 1 (Đại 26, 124 thượng), nói: Vì sao gọi là Kim cương tạng? Tạng nghĩa là cứng chắc, hệt như lõi cây, cũng giống như thai trong bụng, cứng chắc như kim cương, cho nên gọi là Kim cương tạng. Trong tất cả các thiện căn, lực dụng của thiện căn này là hơn hết, lại có khả năng sinh thành đạo hạnh trời người, không bị các thiện căn khác hủy hoại, vì thế gọi là Kim cương tạng. Trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1, trong kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực quyển thượng và trong Vô lượng thọ cúng dường nghi quĩ, vị Bồ tát này đều được gọi là Kim cương tát đỏa; trong kinh Văn thù bảo tạng đà la ni thì Bồ tát này là chỉ cho bồ tát Văn thù; trong Lí thú thích quyển hạ thì chỉ cho bồ tát Hư không tạng; trong kinh Lược xuất niệm tụng quyển 3 thì Kim cương tạng là tên khác của Kim cương bảo và Kim cương lợi; trong kinh Giáo vương (bản quyển 3) quyển 2 thì vị Bồ tát này được gọi là Kim cương bảo. Còn kinh Đà la ni tập quyển 7 thì cho rằng Kim cương tạng là hóa thân của Kim cương tát đỏa. [X. kinh Kim cương đính Q.3; Hiền kiếp thập lục tôn; Hoa nghiêm kinh sớ Q.31; Kim cương đính đại giáo vương kính sớ Q.2].

kim cương tạng vương bồ tát

3577金剛藏王,梵名 Aṣṭottaraśatabhujavajradhara,音譯阿瑟吒多羅舍多部惹縛日羅馱落。密教胎藏界曼荼羅虛空藏院中最右端之菩薩。全稱一百八臂金剛藏王。略稱金剛藏。此尊形像身呈青黑色,作十六面(或作二十二面,其中一面爲佛面),有一○八臂,表示對治百八煩惱,手持一○八種破除煩惱之武器,如獨股杵、輪、索、劍、鉤、梵篋、棒、花形杵等,坐於寶蓮花中。 此菩薩於虛空藏院中,與千手千眼觀自在菩薩相對安置,代表虛空藏菩薩福智二門中之智德。「金剛」一詞,意謂第八識大圓鏡智本有不壞之義;「藏」之一詞,即謂此識中含藏萬法之義;「王」之一詞,則謂此識安住於行者之心中。密號祕密金剛,種子爲???(hūṃ),三昧耶形爲五股杵,其印相爲金剛羅闍一切見法印,真言爲「唵 跋折路波婆夜 莎訶」。或謂係金剛薩埵之變化身,又釋迦亦爲金剛薩埵之變化身,故釋迦與金剛藏王能變之體,可謂同一。 此菩薩之名未見於大日經與大日經疏中,而初見於玄法寺儀軌卷二、青龍寺儀軌卷中;古來皆以之爲陀羅尼集經卷七中「金剛藏」之同尊。又依理趣釋卷下、大教王經卷二等所說,以金剛藏爲虛空藏菩薩之灌頂名號,金剛藏與虛空藏同體。〔祕藏記〕 ; (金剛藏王菩薩) Kim cương tạng vương, Phạm: Awỉottarazatabhujavajradhara. Hán âm: A sắt tra đa la xá đa bộ nhạ phạ nhật la đà lạc. Gọi đủ: Nhất bách bát tí kim cương tạng vương. Gọi tắt: Kim cương tạng. Vị Bồ tát ngồi ở đầu cực hữu trong viện Hư không tạng trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Bí mật kim cương. Hình tượng vị tôn này thân mầu xanh sẫm, ngồi trên hoa sen báu, có 16 mặt(hoặc 22 mặt, trong đó có 1 mặt là mặt Phật), 18 tay, tượng trưng ý nghĩa đối trị 18 phiền não, tay cầm 18 thứ vũ khí như: Chày 1 chĩa, bánh xe, vòng dây, thanh gươm, móc câu, Phạm khiếp(hộp kinh), gậy, chày hình hoa, v.v...… biểu thị cho nghĩa phá dẹp phiền não; chủng tử là (hùô); hình Tam muội da là chày 5 chĩa, ấn tướng là Kim cương la xà nhất thiết kiến pháp ấn; chân ngôn là: Án bạt chiết lộ ba bà dạ sa ha. Trong viện Hư không tạng, vị Bồ tát này được đặt đối diện với bồ tát Thiên thủ thiên nhãn quán tự tại, đại biểu cho đức trí trong 2 môn Phúc, Trí của bồ tát Hư không tạng. Kim cương tượng trưng cho nghĩa thức thứ 8 là Đại viên kính trí vốn có, không hư hoại; Tạng biểu thị ý nghĩa thức thứ 8 bao hàm muôn pháp, còn Vương có nghĩa là thức thứ 8 an trú trong tâm của hành giả. Hoặc có thuyết cho rằng Phật Thích ca và bồ tát Kim cương tạng vương là thân biến hóa của Kim cương tát đỏa, cho nên Phật Thích ca và Kim cương tạng vương có thể được xem như cùng một thể năng biến. Tên của vị Bồ tát này không thấy trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ, mà mới được thấy trong các bộ Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2 và Thanh long tự nghi quĩ quyền trung. Xưa nay đều cho rằng vị tôn này chính là bồ tát Kim cương tạng được nói trong kinh Đà la ni tập quyển 7. Ngoài ra, Lí thú thích quyển hạ và kinh Đại giáo vương quyển 2 cho rằng Kim cương tạng là danh hiệu quán đính của bồ tát Hư không tạng, rằng Kim cương tạng là cùng thể với Hư không tạng. [X. Bí tạng kí].

Kim Cương Tạng 金剛藏

[ja] コンゴウゾウ Kongōzō ||| Vajragarbha bodhisattva, one of the bodhisattvas of the Esoteric school, who is also the fourth of the twelve bodhisattvas to appear as interlocutor in the Yuanjue jing (圓覺經). (2) The 'diamond store', referring to a wisdom that has the immutable quality of a diamond. => 1. Bồ-tát Kim cương tạng, là một trong các vị Bồ-tát thuộc Mật tông, cũng là vị Bồ-tát thứ tư xuất hiện như là đương cơ trong Kinh Viên Giác (c: Yuanjue jing 圓覺經). 2. Đề cập đến trí huệ có vô số phẩm chất như kim cương.

kim cương tịnh sát

3557爲伽藍之德稱。金剛,比喻功德堅利;淨剎,謂清淨之土。四分律刪繁補闕行事鈔卷下三(大四○‧一四一中):「入寺踐金剛淨剎法。」行事鈔資持記卷下三(大四○‧四○九中):「金剛,堅利之寶;伽藍,福業之地。故以喻焉。」 ; (金剛淨刹) Chỉ cho già lam (chùa), là nơi chứa góp công đức. Kim cương ví dụ cho công đức bền chắc; tịnh sát là cõi thanh tịnh. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 141 trung), nói: Vào chùa thực hành pháp kim cương tịnh sát. Hành sự sao tư trì kí quyển 3 phần cuối (Đại 40, 49 trung), nói: Kim cương cứng chắc sắc bén; già lam là nơi gieo trồng phúc đức, cho nên dùng kim cương để ví dụ.

kim cương tọa

Xem Kim cương tòa.

kim cương tồi toái thiên

3567請參閱 一切如來金剛壽命陀羅尼經 密教金剛界外金剛部二十天之一,五類天中之虛空天。位居外金剛部東方之中央。又稱傘蓋毘那夜迦。略稱爲金剛摧天。種子爲???(gu)、???(go),乃一切法無行之義。三昧耶形爲傘蓋。形像爲身呈肉色,象頭人身,二手持寶傘蓋(亦有左手安於腰者),坐於荷葉座上。印相爲左手舒五指,掌心向下;右手作拳,以食指抵住左手掌心,呈傘狀。真言爲「唵 嚩日囉 愚 娑嚩賀」。 此尊係大日如來爲攝取諸毘那夜迦而現之應同身,持傘蓋表示覆護眾生;又以能摧破諸障難之義,故名金剛摧碎,相當於宋譯大教王經卷十所列虛空行諸天中之末度末多天(梵 Madhu matta)。又末度末多天之號爲「金剛舜拏」,梵語 chinna(舜拏)乃摧碎之義。另於賢劫十六尊一書中列舉金剛摧碎天之真言「縛日羅 遇拏」,梵語爲 vajra-gūḍha,當爲此尊之梵名,而 gūḍha 有隱蔽之義,與祕藏記中所謂傘蓋(毘那夜迦)之義相近。於西藏譯本中以 glaṅ-poḥi sna(象鼻)代替 chinna。〔蘇婆呼童子請問經卷上、大聖歡喜雙身毘那夜迦天形像品儀軌〕 ; (金剛摧碎天) Cũng gọi Tản cái tì na dạ ca. Gọi tắt: Kim cương tồi thiên. Vị trời ngồi chính giữa phương đông thuộc Ngoại kim cương bộ trong Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 20 vị trời của Ngoại kim cương bộ thuộc Kim cương giới, 1 trong 5 loại trời ở hư không. Hình tượng vị tôn này thân mầu da người, mình người, đầu voi, ngồi trên tòa bằng lá sen, 2 tay cầm tàn (lọng) báu(có thuyết nói tay trái đặt ở chỗ thắt lưng). Ấn tướng làtay trái duỗi thẳng 5 ngón, lòng bàn tay hướng xuống; tay phải nắm lại, ngón trỏ chống vào lòng bàn tay trái tạo thành hình cái tàn; chủng tử là (gu), (go), nghĩa là tất cả pháp vô hành; hình Tam muội da là cái tàn, chân ngôn là: Án phạ nhật ra ngu sa phạ hạ. Vị tôn này là thân do đức Đại nhật Như lai hóa hiện để thu nhiếp các Tì na dạ ca, cầm lọng là biểu thị cho sự che chở chúng sinh và có năng lực phá dẹp các chướng ngại, cho nên gọi là Kim cương tồi toái. [X. kinh Tô bà hô đồng tử thỉnh vấn Q.thượng; Đại thánh hoan hỉ song thân Tì na dạ ca thiên hình tượng phẩm nghi quĩ].

Kim cương tồi toái đà-la-ni 金剛摧碎陀羅尼

[ja] コンゴウザイサイダラニ Kongō zeizui darani ||| The Jingang cuisui tuoluoni; Skt. Vajravidāraṇa-dhāraṇī; Tib. rdo rje rnam par 'joms pa shes bya ba'i gzungs [To.750/949, P.406/574]; (Dhāraṇī of the Vajra Obliteration). 1 fasc. (T 1416.21.931-932), trans. Maitrībhadra 慈賢. Prefixed by a brief discussion, absent in an alternate version, Dhāraṇī of the Smashing Vajra 壤相金剛陀羅尼經 (T 1417) . Formerly confused with the Vajrasūkṣmāpratihatadhāraṇī [To.753/955, P.309/580]. BGBT4/148. => (j: Kongō zeizui darani; c: Jingang cuisui tuoluoni; Skt. Vajravidāraṇa-dhāraṇī; Tib. rdo rje rnam par 'joms pa shes bya ba'i gzungs; e: Dhāraṇī of the Vajra Obliteration). 1 quyển. Từ Hiền (s: Maitrībhadra 慈賢) dịch. Danh hiệu đứng trước thường được lược bỏ của tên kinh Nhương tướng kim cương đà-la-ni kinh (e: Dhāraṇī of the Smashing Vajra 壤相金剛陀羅尼經). Trước đây thường nhầm lẫn với Vajrasūkṣmāpratihatadhāraṇī.

kim cương tử

3535<一>又稱金剛珠。爲金剛樹之果實。金剛樹,梵語 akṣa,音譯惡叉;或 rudrākṣa,音譯嗚嚕捺囉叉。金剛子貫穿後,可作爲數珠之用,於念誦不動尊等金剛部諸尊時用之。慧琳音義卷三十五(大五四‧五四二下):「嗚嚕捺囉叉,(中略)西方樹木子,核文以排核,大小如櫻桃顆。或如小彈子,有顆紫色,此名金剛子,堪作數珠,金剛部念誦人即用此,珠甚堅硬。」〔典籍便覽〕 <二>指金剛之佛弟子,乃對接受密教金剛界曼荼羅入壇灌頂者之通稱。 ; Rudràksa (S). A seed similar to a peach-stone used for beads, especially in invoking one of the kim cương; also a vajra-son. ; (金剛子) I. Kim Cương Tử. Cũng gọi Kim cương châu. Hạt của cây kim cương. Cây kim cương, Phạm: Akwa, Hán âm: Ác xoa; hoặcRudràkwa, Hán âm: Minh ru nại ra xoa. Sau khi xâu lại, hạt kim cương có thể được dùng làm tràng hạt khi tụng niệm chư tôn thuộc Kim cương bộ Mật giáo như Bất động minh vương, v.v...… Tuệ lâm âm nghĩa quyển 35 (Đại 54, 542 hạ), nói: Minh ru nại ra xoa là loại cây bên phương Tây, quả nứt thì hạt lộ ra, lớn bằng hạt anh đào, hoặc cỡ viên đạn nhỏ, mầu đỏ tía, rất cứng chắc, đó gọi là Kim cương tử, dùng làm tràng hạt khi tụng niệm Kim cương bộ. [X. Điển tịch tiên lãm]. II. Kim Cương Tử. Danh từ gọi chung những hành giả Mật giáo vào đàn tiếp nhận, Quán đính Mạn đồ la Kim cương giới.

kim cương vi sơn

3560梵名 Cakravāḍaparvata,巴利名 Cakkavāḷa-pabbata。又作鐵圍山、輪圍山、金剛山。即圍繞於須彌四洲之外海,由鐵所成之山。以鐵性堅固,故稱金剛。(參閱「鐵圍山」6878) ; (金剛圍山) Phạm: Cakravàđaparvata. Pàli:Cakkavàơa-pabbata. Cũng gọi Thiết vi sơn, Luân vi sơn, Kim cương sơn. Dãy núi sắt bao bọc biển ngoài cùng của 4 châu Tu di. Do tính chất của sắt cứng chắc nên gọi là Kim cương. (xt. Thiết Vi Sơn).

kim cương võng

3569梵語 vajra pañjaraṃ。密教十八契印之一。爲加持而結於上方之印契與真言,屬軍荼利明王五種結界之一。又作上方金剛網、虛空網、虛空結、天網、天結。在修法之時,從道場上空召請本尊聖眾由車輅降下進入道場,更於上方結界。無上方結界時,有天魔伺機擾亂之虞。由無量之三股金剛杵流出無邊之威焰,橫豎相接而成網,故稱金剛網。又以此網覆蓋於上方虛空界,故稱虛空網。由於加持印言而在上方覆金剛不壞之網,使諸作障者無法生起障難,而得以急速成就悉地。所謂作障者,在外爲天魔等;在內爲行者心中之無明煩惱。以軍荼利明王三平等之本誓對治煩惱,結護淨菩提心而使其堅固。其印相以二拇指捻二食指下節之側而成。誦真言三遍,隨誦隨以印於頂上右旋便散。其真言爲:唵(oṃ,皈命)尾娑普羅(visphala,普廣)捺羅乞灑(drakṣa)縛日羅(vajra,金剛)苏惹羅(pañjara,網)吽(hūṃ,恐怖)發吒(phaṭ,破壞)。〔無量壽供養儀軌〕 ; (金剛網) Phạm: Vajra-paĩjaraô. Cũng gọi: Thượng phương kim cương võng, Hư không võng, Hư không kết, Thiên võng, Thiên kết. Ấn khế và chân ngôn dùng để kết và gia trì phương trên. Một trong 18 loại khế ấn của Mật giáo, 1 trong 5 loại kết giới thuộc Minh vương Quân đồ lợi. Khi tu pháp, hành giả triệu thỉnh Bản tôn Thánh chúng ngồi xe lớn từ trên hư không đi xuống đạo tràng, rồi kết giới ở phương trên; nếu không kết giới, thì Thiên ma sẽ rình cơ hội để quấy nhiễu. Từ vô lượng cây chày kim cương 3 chĩa phát ra vô số ngọn lửa mạnh, ngang dọc xen nhau kết thành mạng lưới kim cương (kim cương võng), che trùm khắp hư không nên gọi là Hư không võng. Nhờ sự gia trì của ấn ngôn này mà Thiên ma cũng như phiền não vô minh trong tâm, không thể gây chướng nạn và hành giả mau chóng thành tựu Tất địa. Ấn tướng là: 2 ngón tay cái bấm vào mé đốt dưới của 2 ngón trỏ. Tụng 3 biến chân ngôn: Án (oô, qui mệnh) vĩ sa phổ la (visphala, rộng khắp) nại la khất sái (drakwa) phạ nhật ra (vajra, kim cương) hồng nhạ la (paĩjara, lưới) hồng (hùô, sợ hãi) phát tra (phá hoại), vừa tụng vừa xoay ấn về phía bên phải của đỉnh đầu, rồi xả ấn. [X. Vô lượng thọ cúng dường nghi quĩ].

kim cương vũ bồ tát

3569金剛舞,梵名 Vajra-nṛta,音譯嚩日囉涅哩多、嚩日囉儞哩帝曳。西藏名 Rdo-rje-gar。密教金剛界三十七尊中,內四供養之一。位居金剛界曼荼羅中央月輪東北隅。係由大日如來爲供養不空成就佛,由住於神通舞戲三摩地而流出之尊;不空成就佛以精進門事業爲主,故以舞戲事業供養之。密號神通金剛、妙通金剛。 此尊之種子、形像,於各會中皆不同,如於成身會,種子爲???(kṛṭ),無作無染、周遍平等之義;三昧耶形爲十字形之一股杵;形像爲身呈青色或白綠色,天女形,左手舒五指置於左股,右手舒五指置於胸前,表示舞勢;印相爲雙拳相並向下即散開,狀如香雲遍布;真言爲「唵 嚩日羅 涅㗚帝 訖哩吒」。於三昧耶會,種子爲???(ji),三昧耶形爲蓮上之十字跋折羅(金剛杵);印相爲外縛拳(手印的印母之一)在胸前與兩肩旋舞,而於頂部作「金剛合掌」;真言爲「薩嚩 布而」。於微細會,形像爲左手垂右膝上,右手豎食指與小指,屈餘指置於胸前。於供養會,形像爲兩手持蓮,蓮上有寶珠。〔諸佛境界攝真實經卷下、大教王經卷四、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 ; (金剛舞菩薩) Kim cương vũ, Phạm: Vajra-nfta. Hán âm: Phạ nhật ra niết lí đa, Phạ nhật ra nễ lí đế diệu. Tạng:Rdo-rje-gar. Vị Bồ tát ngồi ở góc đông bắc trong nguyệt luân trung ương trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 4 Bồ tát cúng dường, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Thần thông kim cương, Diệu thông kim cương. Vị tôn này là thân do đức Đại nhật Như lai từ trong Tam ma địa (chính định) thần thông ca múa hóa ra để cúng dường đức Phật Bất không thành tựu; Phật Bất không thành tựu lấy sự nghiệp Tinh tiến môn làm chủ cho nên đem việc ca múa cúng dường Ngài. Hình tượng và chủng tử của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì mình mầu xanh hoặc mầu lục nhạt, hình Thiên nữ; tay trái duỗi 5 ngón đặt trên đùi bên trái, tay phải duỗi 5 ngón để trước ngực, biểu thị tư thế đang múa; chủng tử là (kfỉ), nghĩa là vô tác vô nhiễm, chu biến bình đẳng; ấn tướng là 2 tay nắm lại rồi hướng xuống dưới và mở ra, giống như áng mây giăng khắp. Chân ngôn là: Án phạ nhật la miết lật đế ngật lí tra; hình Tam muội da là cây chày 1 chĩa hình chữ (..). Trong hội Tam muội da, chủng tử là (ji), hình Tam muội da là chày kim cương hình chữ thập trên hoa sen, ấn tướng là Ngoại phược quyền (2 tay chắp, 10 ngón đan vào nhau, rồi nắm lại), xoay ở trước ngực và 2 vai, sau đó chuyển lên đỉnh đầu kết ấn Kim cương hợp chưởng. Chân ngôn là: Tát phạ bố nhi. Trong hội Vi tế, hình tượng vị tôn này là tay trái buông trên gối phải; tay phải đặt ở trước ngực, ngón trỏ và ngón út dựng đứng, các ngón khác co lại. Trong hội Cúng dường, hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có bảo châu. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Đại giáo vương Q.4; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương vương

The vajra-king. i.e. the strongest, or finest, e.g. a powerful bull.

kim cương vương bồ tát

3537<一>金剛王,梵名 Vajra-rāja,音譯嚩日囉邏惹。西藏名Gdon-mi-za-baḥi rgyal-po,爲不空王之義。爲密教金剛界三十七尊中,東方阿閦如來四親近之第二。位居東方月輪阿閦如來右方之菩薩。又稱金剛藏菩薩、金剛鉤王菩薩、不空王菩薩。別名金剛請引菩薩、妙覺菩薩、最上菩薩。此尊表阿閦如來之一德,示得自在、一切皆歸服之相。本誓爲以四攝法鉤召一切有情。密號自性金剛、執鉤金剛。此尊之種子、形像等,於金剛界曼荼羅各會中不同,於成身會,種子爲???(jaḥ),義即一切緣生之法,歸於不生滅之理;形像爲身呈肉色,二手腕交叉抱於胸前,二手作金剛拳;印相爲鉤召印,表上迎一切如來以自利,下引一切眾生以利他,即於自利利他之願行無礙自在,故得金剛王之名;真言爲「唵 ?日囉 囉惹 弱」。於三昧耶會,種子爲???(sa),真言爲「阿囊耶 娑縛」。於供養會,形像爲兩手持蓮,蓮上有雙立三鈷鉤;真言爲「唵 薩嚩怛他誐 多 薩嚩怛麼 涅哩耶怛那 布惹 薩發囉拏 羯磨 吃哩 弱」。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、卷三、瑜伽瑜祇經、金剛頂瑜伽略述三十七尊心要、金剛頂蓮華部心念誦儀軌〕 <二>密教胎藏界金剛手院中,居第三行持妙金剛菩薩左方。密號自在金剛、執鉤金剛;形像爲身呈淺綠色,二手握拳豎食指,交腕抱於胸前,披天衣,衣帶向上飄,跏坐於伏蓮上;三昧耶形爲雙鉤;真言爲「唵 嚩日囉 囉惹 弱」。〔祕藏記、諸說不同記卷四〕 ; (金剛王菩薩) I. Kim Cương Vương Bồ Tát. Kim cương vương, Phạm: Vajra-ràja. Tạng:Gdon-mi-za-ba#i rgyal-po (Bất không vương). Cũng gọi Kim cương tạng bồ tát, Kim cương câu vương bồ tát, Bất không vương bồ tát, Kim cương thỉnh dẫn bồ tát, Diệu giác bồ tát, Tối thượng bồ tát. Vị Bồ tát thân cận, ngồi phía bên phải đức A súc Như lai trong nguyệt luân ở phương đông, trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 37 vị tôn của Kim cương giới, mật hiệu là Tự tính kim cương, Chấp câu kim cương. Hình tượng, chủng tử, v.v... của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng là mình mầu da người, 2 cổ tay giao nhau ở trước ngực, 2 tay nắm lại thành kim cương quyền, chủng tử là (ja#), nghĩa là tất cả pháp duyên sinh đều trở về lí không sinh diệt; ấn tướng là Câu triệu, biểu thị ý nghĩa trên cầu quả Phật, dưới hóa độ chúng sinh, tức là đối với hạnh nguyện tự lợi, lợi tha được tự tại vô ngại, vì thế được gọi là Kim cương vương. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra la nhạ nhược. Trong hội Tam muội da, chủng tử là (sa); chân ngôn là (A nang da sa phạ). Trong hội Cúng dường, hình tượng của Ngài là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có 2 cái móc 3 chĩa, chân ngôn là Án tát phạ đát tha nga đa tát phạ đát ma niết lí da đát na bố nhạ tát phát ra xoa yết ma ngật lí nhược. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1, Q.3; kinh Du già du kì; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu; Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ]. II. Kim Cương Vương Bồ Tát. Vị Bồ tát ngồi ở hàng thứ 3 bên phía trái bồ tát Trì diệu kim cương trong viện Kim cương thủ trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Tự tại kim cương, Chấp câu kim cương. Hình tượng vị tôn này làmình mầu lục nhạt, ngồi kết già trên hoa sen úp, 2 tay nắm lại thành quyền, ngón trỏdựng đứng, 2 cổ tay giao nhau để ở trước ngực, khoác áo trời, giải áo gió thổi tung lên phấp phới. Hình Tam muội da là 2 cái móc; chân ngôn là: Án phạ nhật ra la nhạ nhược. [X. Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.4].

kim cương y thiên

3540金剛衣,梵名 Vajra-vāsin,音譯嚩日囉縛始。全稱金剛衣服天爲密教金剛界外金剛部二十天之一,五類天中虛空行天之一。位列金剛界曼荼羅外金剛部西方。又稱弓箭毘那夜迦天、頂行大將。種子爲???(va),義爲諸法離縛著;三昧耶形爲弓箭;形像爲白肉色之象頭人身,左手持弓,右手持箭,作射箭之勢,坐於荷葉座上;真言爲「唵 嚩日囉 嚩施 娑嚩 賀」。此尊之大悲,如胎內胞衣,有爲子防寒溫之用,故稱金剛衣。又大教王經卷十舉虛空行天之諸天主,謂其中之最勝天號金剛愛。據此記載,則金剛衣即金剛愛。蓋金剛愛之梵名爲 Vajra-vaśin,恐係被誤寫爲 Vajra-vāsin,遂譯爲金剛衣。〔祕藏記、金剛界七集卷下〕 ; (金剛衣天) Kim cương y, Phạm: Vajra-vàsin. Hán âm: Phạ nhật ra phạ thủy. Gọi đủ: Kim cương y phục thiên. Cũng gọi: Cung tiễn tì na dạ ca thiên, Đính hành đại tướng. Vị trời ngồi ở phía tây của Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 5 loại trời đi trong hư không, 1 trong 20 vị trời thuộc Ngoại kim cương bộ của Kim cương giới Mật giáo. Hình tượng vị tôn này là đầu voi thân người, mình mầu da người, ngồi trên tòa làm bằng lá sen, tay trái cầm cung, tay phải cầm tên, trong tư thế đang bắn. Chủng tử là (va), nghĩa là các pháp lìa sự trói buộc, dính mắc; hình Tam muội da là cung tên. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra phạ thi sa phạ hạ. Lòng đại bi của vị tôn này như cái nhau ở trong thai, có công dụng ngăn ngừa sự lạnh nóng cho con, nên gọi là Kim cương y(áo kim cương). Ngoài ra, kinh Đại giáo vương quyển 10 nói rằng: Vị trời thù thắng nhất trong các vị trời đi trên hư không tên là Kim cương ái. Như vậy thì Kim cương y tức là Kim cương ái. Bởi vì, tên tiếng Phạm của Kim cương ái làVajra-vazin, có lẽ đã bị viết lầm thành Vajra-vàsin, mà dịch là Kim cương y. [X. Bí tạng kí; Kim cương giới thất tập Q.hạ].

kim cương ái bồ tát

3563金剛愛,梵名 Vajra-rāga,音譯縛日羅羅伽、嚩日囉邏誐。西藏名 Rdo-rjeḥi,意爲金剛弓。密教金剛界三十七尊中,東方阿閦四親近之一。即東方月輪中,居於阿閦如來左方之菩薩。又稱金剛弓菩薩、金剛妻菩薩。別名能調伏者、魔羅諸欲菩薩、摩訶安樂菩薩。密號大悲金剛、離樂金剛、離愛金剛。 此尊之種子、形像於各會皆不同,如於成身會中,種子爲???(hoḥ),義爲生佛不二、自他歡喜;三昧耶形爲雙立五股杵;形像爲身呈肉色,二手橫舉一箭;真言爲「唵 跋折囉 阿囉伽 護」。於三昧耶會,種子爲???(kha),三昧耶形爲蓮花上有二跋折羅(金剛杵),真言爲「阿斛 蘇法」。於微細會,形像爲左弓右箭作射形。於供養會,印相作外縛拳而置於左胸;形像爲兩手持蓮,蓮上有三股杵。此菩薩象徵阿閦如來之一德,即由於發菩提心而自在憐愛眾生。〔金剛頂經卷一、瑜伽瑜祇經、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 ; (金剛愛菩薩) Kim cương ái, Phạm:Vajra-ràga. Hán âm: Phạ nhật la la già, Phạ nhật ra la nga. Tạng:Rdo-rje#i. Cũng gọi Kim cương cung bồ tát, Kim cương thê bồ tát, Năng điều phục giả, Ma la chư dục bồ tát, Ma ha an lạc bồ tát. Vị Bồ tát ở bên trái đức A súc Như lai trong vòng tròn ở phương đông, trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Đại bi kim cương, Li lạc kim cương, Li ái kim cương. Về chủng tử và hình tượng của vị tôn này thì trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, hình tượng của vị tôn này có thân mầu da người, 2 tay nâng mũi tên nằm ngang; chủng tử là (ho#), nghĩa là chúng sinh và Phật chẳng phải hai, mình người vui vẻ; hình Tam muội da là 2 cây chày 5 chĩa dựng song song. Chân ngôn là: Án bạt chiết ra a ra già hộ. Trong hội Tam muội da, chủng tử là (kha), hình Tam muội da là trên hoa sen có 2 bạt chiết ra(chày kim cương);chân ngôn là: A hộc tô pháp. Trong hội Vi tế thì hình tượng vị tôn này tay trái cầm cung, tay phải cầm tên trong tư thế đang bắn. Trong hội Cúng dường, hình tượng vị tônnày là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa sen có chày 3 chĩa; ấn tướng là ngoại phược quyền (10 ngón tay đan vào nhau rồi nắm lại)đặt ở ngực trái. Vị Bồ tát này tượng trưng cho sự phát tâm bồ đề mà tự tại thương xót chúng sinh của đức A súc Như lai. [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Du già du kì; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương điều phục thiên

3572金剛調伏,梵名 Vajra-jaya,音譯縛日羅惹野。西藏名Rdo-rje rnam-par rgyal-ba,義爲金剛勝。密教金剛界外金剛部二十天之一,五類天中虛空天之一。又稱象頭天、抱刀毘那夜迦、象頭大將。位居外金剛部北方之中央。種子爲???(ja),形像於金剛界各會中大同小異,如於成身會,爲象頭人身,坐於荷葉上,左手執劍,右手握拳置於腰部;三昧耶形爲劍,或歡喜團;印相爲左拳置於腰,右手作刀印;真言爲「唵 嚩日羅 惹野 娑嚩賀」。據大聖歡喜雙身毘那夜迦天形像品儀軌載,此天屬四方毘那夜迦之一,又稱金色伽那鉢底;左手持白琉璃珠,右手執寶棒。又此天即大教王經卷十所列虛空行諸天中之持勝天,號爲最勝金剛。〔賢劫十六尊、祕藏記〕 ; (金剛調伏天) Kim cương điều phục, Phạm: Vajrajaya. Hán âm: Phạ nhật la nhạ dã. Tạng: Rdo-rje rnam-par rgyal-ba. Cũng gọi: Tượng đầu thiên, Bão đao tì na dạ ca, Tượng đầu đại tướng. Vị tôn ngồi ở chính giữa, phía bắc của Kim cương bộ ngoài thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 20 vị trời thuộc Kim cương giới, chủng tử là (ja). Hình tượng của vị tôn này trong các hội thuộc Kim cương giới có hơi khác nhau. Như trong hội Thành thân, là đầu voi mình người, ngồi trên lá sen, tay trái cầm gươm, tay phải nắm lại đặt ở chỗ thắt lưng, hình Tam muội da là hình thanh gươm hoặc là Hoan hỉ đoàn (tên 1 loại bánh); ấn tướng là tay trái nắm lại để ở cạnh sườn, tay phải kết ấn dao. Chân ngôn là: Án phạ nhật la nhạ dã sa phạ hạ. Cứ theo Đại thánh hoan hỉ song thân tì na dạ ca thiên hình tượng phẩm nghi quĩ, thì Kim cương điều phục thiên là 1 trong các Tì dạ ca ở 4 phương, cũng gọi là Kim sắc già na bát để, tay trái cầm hạt ngọc lưu li trắng, tay phải cầm gậy báu. Vị trời này tức là trời Trì thắng, hiệu là Tối thắng kim cương, 1 trong các vị trời đi trên hư không nói trong kinh Đại giáo vương quyển 10. [X. Hiền kiếp thập lục tôn; Bí tạng kí].

Kim cương đàn quảng đại thanh tịnh đà-la-ni kinh 金剛壇廣大清淨陀羅尼經

[ja] コンゴウダンコウダイショウジョウダラニキョウ Kongōdan kōdai shōjō tarani kyō ||| The Jingangtan guangda qingjing tuoluoni jing; a non-canonical alternative translation of the Jingang shangwei tuoluonijing 金剛上味陀羅尼經. => (k: Kŭmgangt'an kwangdae ch'ŏngchŏng tarani kyŏng; j: Kongōdan kōdai shōjō tarani kyō; c: Jingangtan guangda qingjing tuoluoni jing. Bản dịch khác của kinh Kim cương thượng vị đà-la-ni kinh 金剛上味陀羅尼經.

kim cương đăng bồ tát

3573金剛燈,梵名 Vajrālokā,音譯嚩日囉路計、嚩日囉路迦。西藏名 Rdo-rje-snaṅ-ma。密教金剛界三十七尊中,外四供養之一。位居金剛界荼羅外院方壇之西北隅。又稱金剛光明菩薩、金剛智燈菩薩、燈菩薩。即以智慧之燈光普照法界,除無明之癡暗。密號普照金剛、除暗金剛,種子爲稖(dīḥ),一切法無取捨之義。 此尊之三昧耶形、形像,於各會中皆不同,如於成身會,三昧耶形爲寶蠟燭;形像爲身呈白色,天女形,兩手持燒爐;印相爲二手作金剛拳,豎二拇指作針狀;真言爲「唵 嚩日羅路計 儞」。於三昧耶會,三昧耶形爲蓮花上有蠟燭;印相爲外縛拳,豎二拇指作針狀;真言爲「素 帝惹 仡哩」。於微細會,形像爲跪姿,右手持蓮花,花上有蠟燭。於供養會,形像爲兩手持蓮花,花上有蠟燭。此菩薩乃西方無量壽如來爲供養大日如來所流出之身,以無量壽佛司掌智慧門之故,即以智慧燈供養。〔金剛頂經卷二、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、諸佛境界攝真實經卷下、金剛頂瑜伽略述三十七尊心要〕 ; (金剛燈菩薩) Kim cương đăng, Phạm: Vajràlokà. Hán âm: Phạ nhật ra lộ kế, Phạ nhật ra lộ ca. Tạng: Rdo-rje-snaí-ma. Cũng gọi: Kim cương quang minh bồ tát, Kim cương trí đăng bồ tát, Đăng bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở góc tây bắc của Phương đàn, viện ngoài, trên Mạn đồ la kim cương giới Mật giáo. Một trong 37 vị tôn của Kim cương giới, 1 trong 4 vị Bồ tát Ngoại cúng dường. Vị Bồ tát này dùng ánh sáng của đèn trí tuệ soi khắp pháp giới, phá trừ vô minh tối tăm cho chúng sinh. Mật hiệu là Phổ chiếu kim cương, Trừ ám kim cương; chủng tử là (dì#), nghĩa là tất cả pháp không thủ xả. Hình Tam muội da và hình tượng của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình Tam muội da là cây nến báu; hình tượng là hình Thiên nữ, thân mầu trắng, 2 tay cầm lò hương; ấn tướng là ấn Kim cương quyền, 2 ngón cái dựng đứng làm hình cây kim. Chân ngôn là: Án phạ nhật la lộ kế nễ. Trong hội Tam muội da, thì hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa có cây nến; ấn tướng là Ngoại phược quyền (2 tay chắp, 10 ngón đan xen kẽ nhau rồi nắm lại), 2 ngón cái dựng thẳng thành hình cây kim. Chân ngôn là Tố đế nhạ ngật lí. Trong hội Vi tế, thì hình tượng vị tôn này ở tư thế đang quì, tay phải cầm hoa sen, trên hoa có cây nến... Vị Bồ tát này là do Phật Vô lượng thọ ở phương Tây thị hiện ra để cúng dường đức Đại nhật Như lai. Vì Phật Vô lượng thọ chủ về Trí tuệ môn, cho nên dùng đèn trí tuệ để cúng dường. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu].

kim cương đỉnh

3558爲密教金剛界諸經、諸會之總稱。金剛有堅固、利用二義。堅固,比喻實相不思議之理體常住不壞;利用,比喻如來之智用銳利,能摧破惑障,顯證極理;頂,則有最勝、尊上之義。即謂此金剛教於諸大乘法中最勝無上,猶如人身之頂部。 蓋金剛頂原係如來智德之譬喻,而金剛界十八會之說法乃開顯佛智之法門,故對其會座與經典冠以金剛頂之名。若更深究之,金剛頂亦指眾生本有之清淨菩提心體,此本有之菩提心常住不壞,能成滿諸德,實爲無上尊勝者。〔金剛頂經疏(慈覺)卷一〕 ; The diamond apex or crown, a general name of the esoteric doctrines and sùtras of Vairocana. Kim cương đỉnh kinh is the authority for the Kim cương đỉnh tông. ; (金剛頂) Danh từ gọi chung các kinh, các Hội thuộc Kim cương giới trong Mật giáo. Kim cương có 2 nghĩa: Cứng chắc và sắc bén. Cứng chắc ví dụ cho lí thể của thực tướng bất tư nghị, thường trụ bất hoại; sắc bén ví dụ cho trí dụng của Như lai, có công năng phá trừ phiền não chướng ngại, chứng ngộ chân lí tột cùng. Đính có nghĩa tốt đẹp nhất, tôn quí nhất. Tức giáo nghĩa Kim cương là tôn quí nhất trong pháp Đại thừa, cũng giống như phần đỉnh đầu của con người. Kim cương đính vốn ví dụ cho trí đức của Như lai, mà sự thuyết pháp trong 18 hội thuộc Kim cương giới là pháp môn mở bày trí tuệ của Phật, vì thế, trước tên gọi của các pháp hội và kinh điển thuộc Kim cương giới đều có kèm thêm danh từ Kim cương đính. Ngoài ra, đứng về phương diện sâu xa mà nói, thì Kim cương đính cũng chỉ cho tâm thể bồ đề thanh tịnh sẵn có của chúng sinh, thường còn không hư hoại, có khả năng thành tựu viên mãn các công đức. Tâm thể ấy là tối tôn, tối thắng, vô thượng. [X. Kim cương đính kinh sớ (Tứ giác) Q.1].

Kim cương đỉnh du già Kim cương tát đóa ngũ bí mật tu hành niệm tụng nghi quỹ 金剛頂瑜伽金剛薩埵五祕密修行念誦儀軌

[ja] コンゴウチョウユカコンゴウサツタゴヒミツシュギョウネンショウギキ Kongōchō yuga Kongōsatta gohimitsu shugyō nenjugiki ||| The Jingangding yujia Jingangsaduo wumimi xiuxing niansong yigui; (Recitation Manual for the Cultivation of the Five Mysteries of Vajrasattva, from the Vajraśekhara Yoga). 1 fasc. (T 1125.20.535-539), attributed to Amoghavajra 不空;. See the study of this text in Astley (1988). SKIK mb 6 => (k: Kŭmgangjŏng yuga kŭmgang salt'a opimil suhaeng yŏmsong ŭigwe; j: Kongōchō yuga Kongōsatta gohimitsu shugyō nenjugiki; e: Jingangding yujia Jingangsaduo wumimi xiuxing niansong yigui; e: Recitation Manual for the Cultivation of the Five Mysteries of Vajrasattva, from the Vajraśekhara Yoga). 1 quyển. Được cho là ngài Bất Không (s: Amoghavajra 不空) dịch. Xem bản nghiên cứu về Kinh văn nầy của Astley (1988).

kim cương đỉnh du già kinh thập bát hội chỉ qui

Vajraśekkhara-yogā-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.

kim cương đỉnh du già trung lược xuất niệm tụng kinh

3558請參閱 略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門經 請參閱 金剛頂一切如來真實攝大乘現證教王經 請參閱 略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門經 請參閱 金剛頂瑜伽中發阿耨多羅三藐三菩提心論 凡四卷。唐代金剛智譯。收於大正藏第十八冊。略稱略出經、略出念誦經。乃摘自十萬頌廣本金剛頂經之精要,故稱略出經。與金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教王經俱爲密宗重要之依據經典。內容大要爲對灌頂受法弟子說灌頂入壇者之資格,明示真言持誦之時、處及持誦入定等之法;其次敘述自一切如來之心次第出生三十七尊,略說五相成身觀及灌頂法;並言明入壇灌頂之儀則、灌頂護摩之法等。〔開元釋教錄卷九、貞元新定釋教目錄卷十四〕 ; (金剛頂瑜伽中略出念誦經) Gọi tắt: Lược xuất kinh, Lược xuất niệm tụng kinh. Kinh, 4 quyển, do ngài Kim cương trí dịch vào đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 18. Kinh này là phần tinh yếu được rút ra từ 10 vạn bài tụng của kinh Kim cương đính (bản đầy đủ), vì thế gọi là kinh Lược xuất. Kinh này cùng với kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương đều là những kinh điển trọng yếu của Mật giáo. Nội dung kinh này nói về tư cách của người và đàn để truyền trao pháp Quán đính; chỉ rõ thời gian, nơi chỗ trì tụng chân ngôn và phép trì tụng, nhập định, v.v... Kế đến, nói về việc 37 vị tôn theo thứ tự sinh ra từ tâm của tất cả Như lai. Nói sơ lược về pháp quán Ngũ tướng thành thân, pháp Quán đính, đồng thời, nói rõ về nghi thức vào đàn Quán đính và phép hộ ma Quán đính, v.v... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14]. KIM CƯƠNG ĐÍNH DU GIÀ TRUNG PHÁT A NẬU ĐA LA TAM MIÊU TAM BỒ ĐỀ TÂM LUẬN Gọi tắt: Kim cương đính phát Bồ đề tâm luận, Phát bồ đề tâm luận, bồ đề tâm luận, Du già tổng trì giáo môn thuyết bồ đề tâm quán hành tu trì nghĩa. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Là bộ luận trọng yếu của Mật tông. Nội dung luận này lập 3 môn: Hành nguyện, Thắng nghĩa và Tam ma địa để trình bày về hành tướng của tâm bồ đề. Trong đó, dùng Hành nguyện bồ đề tâm đem lại lợi ích yên vui cho tất cả chúng sinh hữu tình, dùng thắng nghĩa Bồ đề tâm quán xét tất cả pháp không tự tính; dùng Tam ma địa quan sát tướng trạng của Hành, tức chỉ cho các pháp quán Nhật nguyệt luân và Ngũ tướng thành thân. Phổ thông, mọi người đều cho rằng luận này do ngài Long thụ soạn, nhưng trong luận có nhiều chỗ trích dẫn kinh Đại nhật, Đại nhật kinh cúng dường pháp, Đại nhật kinh sớ, v.v... do đó ta có thể suy đoán là tác phẩm này được soạn vào thời ngài Nhất hạnh(Tổ sư của Mật tông)đời Đường trở về sau. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].

Kim cương đỉnh du già trung lược xuất niệm tụng kinh 金剛頂瑜伽中略出念誦經

[ja] コンゴウチョウユガチュウリャクジュツネンショウキョウ Kongōchō yuga chū ryakujutsu nenju kyō ||| The Jingangding yujia zhong lüechu niansong jing (Sutra for Recitation Abridged from the Vajraśekhara Yoga). 4 fasc. (T 866.18.233-253), abbr. Sutra abridged for Recitation 略出念誦經, 略出經, composed and tr. by Vajrabodhi 金剛智. A collection of translations and various practices from the Tattvasaṃgraha (T 882). Takahashi (1982) has also identified the Sarvavajrodaya [To.2516, P.3339] as the source for at least thirty passages, several of which are also found in the Vairocana-abhisaṃbodhi (T 848). A six-fascicle version was discovered by Shūjō Shikī in 1981, and a Japanese translation and study of this version has been published by the Kongōchōgyō Kenkyūkai (1989-93). For an account of various traditions concerning this text, see the partially extant Chinese commentary by Amoghavajra 不空, Certain Meanings 金剛頂大瑜伽祕密心地法門義訣 (T 1798). => (k: Kŭmgangjŏng yuga chung yakch'ul nyŏmsong kyŏng; j: Kongōchō yuga chū ryakujutsu nenju kyō; c: Jingangding yujia zhong lüechu niansong jing; e: Sutra for Recitation Abridged from the Vajraśekhara Yoga). Bốn quyển. Viết tắt là Lược xuất niệm tụng kinh (e: Sutra abridged for Recitation 略出念誦經, 略出經), do ngài Kim cương Trí (s: Vajrabodhi 金剛智) phiên dịch và biên soạn. Là tập hợp các bản dịch và các pháp tu tập từ kinh Tattvasaṃgraha (T 882). Takahashi (1982) đã đồng nhất bản Sarvavajrodaya [To.2516, P.3339] với ít nhất 30 đoạn, một ssố đoạn được tìm thấy trong Vairocana-abhisaṃbodhi (T 848). Bản dịch gồm 6 quyển được phát hiện bởi Shūjō Shikī năm 1981, và bản dịch tiếng Nhật Bản và nghiên cứu bản dịch nầy đã được Kongōchōgyō Kenkyūkai ấn hành (1989-93). Về các bản dịch khác nhau về kinh nầy, xin xem một phần của bản luận giải bằng tiếng Hán hiên đang lưu hành Kim cương đỉnh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghi quyết 金剛頂大瑜伽祕密心地法門義訣 (T 1798). của ngài Bất Không (s: Amoghavajra 不空).

kim cương đỉnh du già trung phát a nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm luận

3559全一卷。唐代不空譯。收於大正藏第三十二冊。略稱金剛頂發菩提心論、發菩提心論、菩提心論、瑜伽總持教門說菩提心觀行修持義。乃密宗所依據之重要論部。立行願、勝義、三摩地等三門,記述菩提心之行相。以行願菩提心利益安樂無餘有情界;勝義菩提心觀一切法無自性;而以三摩地觀「行」之相,即指日月輪觀及五相成身觀等。此論依三摩地之法,故得悟諸佛之法身而證「法界體性智」。 一般皆謂本論係龍樹菩薩所作,然文中多處引用大日經、大日經供養法及大日經疏等之文句,由此推測或係唐代密宗祖師一行以後之著作。〔貞元新定釋教目錄卷十五〕

Kim cương đỉnh du già trung phát A-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề tâm luận 金剛頂瑜伽中發阿耨多羅三藐三菩提心論

[ja] コンゴウチョウユカチュウホツアノクタラサンミョウサンボダイシンロン Kongōchō yuga chū hotsu anokutarasammyakusambodai shin ron ||| The Jingangding yujia zhong fa anouduoluo sanmiaosanputi xin lun (Treatise on Stirring the Anuttarasamyaksaṃbodhicitta in the Vajraśekhara Yoga). 1 fasc. (T 1665.32.572-575), abbreviated as Treatise on the Bodhicitta 菩提心論, attributed to Amoghavajra 不空. Japanese commentaries (T 2291-2295), [Z.95.689]. For an Eng trans. see Kiyota (1978). => (j: Kongōchō yuga chū hotsu anokutarasammyakusambodai shin ron; k: Jingangding yujia zhong fa anouduoluo sanmiaosanputi xin lun; e: Treatise on Stirring the Anuttarasamyaksaṃbodhicitta in the Vajraśekhara Yoga). 1 quyển. Tên gọi tắt của Bồ-đề tâm luận (e: Treatise on the Bodhicitta 菩提心論), được xem là của ngài Bất Không (s: Amoghavajra 不空). Các luận giải tiếng Nhật Bản số hiệu (T 2291-2295), [Z.95.689]. Về bản dịch tiếng Anh, xem ấn bản của Kiyota (1978).

kim cương đỉnh kinh

3559請參閱 金剛頂一切如來真實攝大乘現證教王經 請參閱 心要 即闡說密教金剛界法門之經典,與大日經並稱爲二部經。收於大正藏第十八冊。有廣、略兩種,現僅存略本。譯本有三種:(一)唐代不空所譯之金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教王經,凡三卷。爲一般所用最廣泛者。(二)唐代金剛智所譯之金剛頂瑜伽中略出念誦經,又稱略出經,凡四卷。開元十一年(723)譯出,故可推定原本或成書於七世紀末之南印度。(三)北宋施護所譯之一切如來真實攝大乘現證三昧教王經,凡三十卷。所謂金剛頂,即諸經中最高之意。所謂略出,係自十萬頌之廣本略出其精要。爲求加快證入佛、菩薩之境地,故於該經詳述密教獨特之祕密修行儀軌。梵本今已不存。 金剛頂經由十四處十八會之說法而成,後龍樹菩薩於南天竺之鐵塔內,自金剛薩埵受持該經十萬頌,再傳至龍智、金剛智。然於金剛智搭船東來我國之途中遇到風暴,經典大部流失,傳譯弘布者僅爲其中極少部分。相傳金剛頂經有四種:一爲法爾恆說本,二爲塔內安置本,三爲十萬頌廣本,四爲四千頌略本,即十八會中初會四大品。〔金剛頂瑜伽十八會指歸、金剛頂經大瑜伽秘密心地法門義訣卷上〕 ; (金剛頂經) Bộ kinh nói về pháp môn Kim cương giới của Mật giáo. Kinh này cùng với kinh Đại nhật được gọi chung là Nhị bộ kinh, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Kinh này có 2 loại: Loại đầy đủ và loại tóm lược, hiện chỉ còn loại tóm lược và có 3 bản dịch khác nhau: 1. Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương kinh 3 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, là bản được lưu truyền rất rộng. 2. Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng kinh, cũng gọi Lược xuất kinh, 4 quyển, do ngài Kim cương trí dịch xong vào năm Khai nguyên 11 (723) đời Đường. Do đó, ta có thể suy đoán là nguyên bản đã được soạn vào cuối thế kỉ VII ở Nam Ấn độ. 3. Nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng tam muội giáo vương kinh, 30 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Bắc Tống. Nội dung các bản kinh này trình bày về những nghi quĩ tu hành rất đặc biệt và bí mật của Mật giáo, khiến cho hành giả có thể mau chóng chứng nhập cảnh giới Phật, Bồ tát. Bản tiếng Phạm hiện nay không còn. Kinh Kim cương đính được nói trong 18 hội ở 14 chỗ. Sau, bồ tát Long thụ mở tháp sắt ở miền Nam Thiên trúc, được ngài Kim cương tát đỏa trao cho 10 vạn bài tụng của kinh này, rồi truyền lại cho ngài Long trí, Kim cương trí. Nhưng ngài Kim cương trí trên đường đáp thuyền đi Trung quốc gặp gió bão, nên phần lớn kinh điển đã bị trôi mất, phần còn lại được phiên dịch và lưu bố hiện nay chỉ là một phần nhỏ trong đó mà thôi. Tương truyền, kinh Kim cương đính có 4 loại: 1. Bản pháp nhĩ hằng thuyết. 2. Bản an trí trong tháp. 3. Quảng bản (bản đầy đủ) 10 vạn bài tụng. 4. Lược bản (bản rút bớt) 4 nghìn bài tụng, tức phẩm Tứ đại thuộc hội đầu trong 18 hội. [X. Kim cương đính du già thập bát hội chỉ qui; Kim cương đính kinh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết Q.thượng].

Kim cương đỉnh kinh du già thập bát hội chỉ quy 金剛頂經瑜伽十八會指歸

[ja] コンゴウチョウキョウユカブンシュシリボサツホウイチホン Kongōchōgyō yuga Monjushiri bosatsuhō ippon ||| The Jingangdingjing yujqie Wenshushīipusa fa yipin; Skt. Trailokyavijaya-mahākalparāja; Tib. mkhas pa chen po grags pa rgyal mtshan la btsod pa [To.482]; (A Chapter of the Mañjuśrī Method from the Vajraśekhara Yoga). An important text for the mantra of Five Syllable Mañjuśrī, Arapacana 五字文殊. Three Chinese translations are extant: (1) 1 fasc. (T 1171.20.705-709), A Chapter of the Mañjuśrī Method from the Vajraśekhara Yoga 金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品, abbreviated as Method of the Five Syllable Spell 五字咒法, Chapter on the Method of Mañju[śrī] and as 文殊法一品, trans. Amoghavajra 不空. (2) 1 fasc. (T 1172.20.709-710), Victorious Aspect of Mañjuśrī's Five-Syllable Mantra, from the Three Worlds Conqueror Scripture of the Vajraśekhara Yoga 金剛頂超勝三界經説文殊五字眞言勝相, also known as the Secret Essence Mantra of Mañjuśrī Bodhisattva 文殊室利菩薩祕密心眞言, trans. Amoghavajra 不空. (3) 1 fasc. (T 1173.20.710), Five-syllable Essential Dhāraṇī of Bodhisattva Mañjuśrī from the Vajraśekhara Yoga 金剛頂經曼殊室利菩薩五字心陀羅尼品, abbreviated as Essential Dhāraṇī of Five-Syllable Mañju[śrī] 曼殊五字心陀羅尼經, trans. Vajrabodhi 金剛智. [ja] コンゴウチョウキョウユカジュウハチエシキ Kongōchōgyō yuga jūhachi e shīki ||| The Jingangdingjing yujia shiba hui zhigui (Synopsis of the Eighteen Assemblies in the Vajraśekhara Yoga). 1 fasc. (T 869.18.284-287), abbr. Synopsis of the Eighteen Assemblies 十八會指歸, composed by Amoghavajra 不空 shortly after his voyage to India in the mid-8th century CE. A short account of a massive corpus of esoteric literature, known in its entirety as the Vajraśekhara 金剛頂經. This corpus is said to consist of 18 texts or "assemblies" 會 totaling 100,000 ślokas, and is headed by a fundamental work called the Tattvasaṃgraha 眞實攝經, here said to consist of the fundamental work, whose contents are described in some detail. The remainder of the account is occupied by much shorter summaries of the remaining 17 assemblies. Several of the assemblies have since been identified with independently circulated texts, although these texts are generally larger and more evolved than indicated by Amoghavajra. Eastman (1981) has tentatively established the identity of the Vajraśekhara and eighteen mahāyoga texts found in an edition of the rNying ma rgyud 'bum, a large collection of esoteric works associated with the rNying ma pa 寧瑪流. It has also been shown by Tanaka-Ki (1984) that the ninth text, the Samāyoga, combines the practices and six families (Vajrasattva-kula, Vairocana-kula, Heruka-kula, Vajrasūrya-kula, Padmanarteśvara-kula, Paramāśva-kula) of preceding assemblies. According to Tanaka-Ki (1987) and de Jong (1980), the assemblies so far identified (partially or otherwise) with known texts are as follows: 1. Sarvatathāgatatattvasaṃgraha 一切如来眞實攝教王 (T 865, 882); 4. (part P.115, T.1040); 6. Śrīparamādya 大安樂不空三昧耶眞實瑜伽 (part P.119, T.244); 7. Śrīparamādya 普賢瑜伽 (part P.119, T.1121); 8. Śrīparamādya 勝初瑜伽 (part P.119, T.244); 9. Sarvabuddhasamāyogaḍākinījālasaṃvara 一切佛集會拏吉尼戒網瑜伽 (part P.8, P.9, To.366, T.1051); 10. Mahāsamaya 大三昧耶瑜伽 [possibly T.868]; 13. Mahāsamayatattva-tantrarāja 三昧耶眞實瑜伽 (T 883); 15. Guhyasamāja-tantra 祕密集會瑜伽 (T 885); 16. Advayasamatā-kalparājā 無二平等瑜伽 (T 887). => (k: Kŭmgangjŏnggyŏng yuga sippalhoe; j: Kongōchōgyō yuga jūhachi e shīki; c: Jingangdingjing yujia shiba hui zhigui; e: Synopsis of the Eighteen Assemblies in the Vajraśekhara Yoga). Một quyển. Viết tắt là Thập bát hội chỉ quy (e: Eighteen Assemblies 十八會指歸). Ngài Bất Không (s: Amoghavajra 不空) soạn ngay sau cuộc hành trình của ngài đến Ấn Độ vào giữa thế kỷ thứ 8. Là tập tóm tắt rất ngài sao lục của kinh văn Mật giáo, được biết đến một cách toàn triệt như Kim cương đỉnh kinh (s: śekhara 金剛頂經). Tập ao lục nầy được biết gồm 18 bộ kinh hoặc là 18 'hội', tổng cọng gồm 100.000 câu (s: ślokas), được mở đầu bởi bộ kinh căn bản là Chân thật nhiếp kinh (s: Tattvasaṃgraha 眞實攝經), trong kinh bao gồm nhiều kinh văn rất cơ bản, nội dung được trình bày khá chi tiết. Phần còn lại của tác phẩm nầy chứa đựng những tóm tắt ngắn gọn của 17 hội. Một vài hội đã được đồng nhất với những bản kinh riêng lẽ đang so sánh lưu hành, mặc dù những bản kinh nầy đồ sộ và thiết thực hơn bản của ngài Bất Không (s: Amoghavajra 不空). Năm 1981, ông Eastman đã thử đối chiếu Chân thật nhiếp kinh (s: Tattvasaṃgraha 眞實攝經) với 18 hội (s: mahāyoga) được tìm thấy trong ấn bản rNying ma rgyud 'bum, là một sưu tập đồ sộ về Mật giáo kết hợp với Dòng Ninh Mã (t: rNying ma pa; 寧瑪流). Bộ nầy cũng được trình bày bởi Tanaka-Ki (1984) với Kinh văn thứ 9, Samāyoga, phối hợp với phép tu và Lục bộ (Vajrasattva-kula, Vairocana-kula, Heruka-kula, Vajrasūrya-kula, Padmanarteśvara-kula, Paramāśva-kula) trong các hội trước. Theo According to Tanaka-Ki (1987) và De Jong (1980), các hội được xem là giống nhau (từng phần hoặc khác) với những Kinh văn đã được lưu hành như sau: Nhất thiết Như Lai chân thật nhiếp giáo vương kinh (s: Sarvatathāgatatattvasaṃgraha 一切如来眞實攝教王 (T 865, 882); Hàng tam thế kim cương du già (s: Trailokyavijaya-mahākalparāja 降三世金剛瑜伽) (part P.119, T.244). Đại an lạc bất không tam muội da chân thật du già (s: Śrīparamādya 大安樂不空三昧耶眞實瑜伽 (part P.119, T.244). Phổ Hiền du già (s: Śrīparamādya 普賢瑜伽) (part P.119, T.1121). Thắng sơ du già (s: Śrīparamādya 勝初瑜伽 (part P.119, T.244). Nhất thiết Phật tập hội noa kiết ni giới võng du già (s: Sarvabuddhasamāyogaḍākinījālasaṃvara 一切佛集會拏吉尼戒網瑜伽 (part P.8, P.9, To.366, T.1051). Đại tam muội da du già (s: Mahāsamaya 大三昧耶瑜伽) T.868. 13. Tam muội da chân thật du già (s: 三昧耶眞實瑜伽 (T 883). 15. Bí mật tập hội du già (s: Guhyasamāja-tantra 祕密集會瑜伽 (T 885). 16. Vô nhị bình đẳng du già (s: Advayasamatā-kalparājā 無二平等瑜伽) (T 887).

Kim cương đỉnh kinh Mạn-thù-thất-lợi Bồ-tát ngũ tự tâm đà-la-ni chú

[ja] コンゴウチョウキョウマンシュシツリボサツゴジシンダラニホン Kongōchōkyō manjushiri bosatsu goji shindarani hon ||| The Jingangdingjing manshushīi pusa wuzi xintuoluoni pin; an alternative translation of the Jingangdingjing yujqie Wenshushīipusa fa yipin 金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品. => (k: Kŭmgangjŏnggyŏng mansusilli posal oja simtarani p'um ; j: Kongōchōkyō manjushiri bosatsu goji shindarani hon; c: Jingangdingjing manshushīi pusa wuzi xintuoluoni pin); là tên gọi khác của bản dịch Kim cương đỉnh kinh du già Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát pháp nhất phẩm (c: Jingangdingjing yujqie Wenshushīipusa fa yipin 金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品).

Kim cương đỉnh kinh 金剛頂經

[ja] コンゴウチョウキョウ Kongōchō kyō ||| The Jingangding jing (Skt. Vajraśekhara-sūtra), which is, along with the Mahāvairocana-sūtra 大日經one of the two main scriptures of esoteric Buddhism 密教. The so-called short version of this text was translated into Chinese three times. (1) During the Tang by Amoghavajra 不空 as Jingangding yiqie rulai zhenshi shedasheng xianzheng dajiaowang jing 金剛頂一切如來眞實攝大乘現證大教王經 (3 fasc.) which is the most popular version. (2) During the Tang by Vajrabodhi 金剛智 as Jingangzhi suoyi zhi jingangding yuqie zhong lüechu niansong jing 金剛智所譯之金剛頂瑜伽中略出念誦經, abbreviated as 出經 (4 fasc.). (3) During the Northern Song by Dānapāla 施護 as Yiqie rulai zhenshi shedasheng xianzheng sanmei jiaowangjing 一切如來眞實攝大乘現證三昧教王經 (13 fasc.) => (j: Kongōchō kyō; c: Jingangding jing; s: Vajraśekhara-sūtra). Kinh nầy cùng với Đại Nhật kinh là một trong hau bôn kinh chủ yếu của Mật giáo. Bản được gọi là tóm tắt của kinh đã dịch sang tiếng Hán trong ba lần: Ngài Bất Không (s: Amoghavajra 不空) dịch vào đời Đường với tên Kim cương đỉnh nhất thiết Như Lai chân thật quán nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương kinh (c: Jingangding yiqie rulai zhenshi shedasheng xianzheng dajiaowang jing 金剛頂一切如來眞實攝大乘現證大教王經). Ba quyển, là bản dịch thông dụng nhất. Ngài Kim cương Trí dịch vào đời Đường, có tên Kim cương Trí sở dịch chi Kim cương đỉnh du già trung lược xuất niệm tụng kinh (c: Jingangzhi suoyi zhi jingangding yuqie zhong lüechu niansong jing 金剛智所譯之金剛頂瑜伽中略出念誦經). Viết tắt là Xuất kinh 出經. Bốn quyển. Ngài Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch vào thời Bắc Tống, có tên Nhất thiết Như Lai chân thật nhiếp Đại thừa hiện chứng tam muội giáo vương kinh (c: Yiqie rulai zhenshi shedasheng xianzheng sanmei jiaowangjing 一切如來眞實攝大乘現證三昧教王經). Mười ba quyển.

kim cương đỉnh liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quỹ

3559請參閱 曼殊五字心陀羅尼品 全一卷。唐代不空譯。又作金剛界儀軌、蓮華部心念誦儀軌、蓮華部心儀軌、蓮華部心軌、蓮華部儀軌。收於大正藏第十八冊。內容記述金剛界曼荼羅諸尊之念誦供養法,依序明示成身會、羯磨會、三昧耶會、供養會等諸尊之印契真言;古來多以此儀軌配於廣本金剛頂經初品六會之曼荼羅。又不空所傳譯之金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教王經二卷即此儀軌之同本異譯。〔貞元新定釋教目錄卷十五〕 ; (金剛頂蓮華部心念誦儀軌) Cũng gọi Kim cương giới nghi quĩ, Liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ, Liên hoa bộ tâm nghi quĩ, Liên hoa bộ tâm quĩ, Liên hoa bộ nghi quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Bất không phiên dịch vào đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 18. Nội dung nói về nghi thức niệm tụng, cúng dường các vị tôn trong Mạn đồ la Kim cương giới; theo thứ tự nói rõ ấn khế, chân ngôn của các vị tôn trong hội Thành thân, hội Yết ma, hội Tam muội da, hội cúng dường, v.v... Xưa nay, phần nhiều phối hợp nghi quĩ này với Mạn đồ la của 6 hội trong phẩm đầu kinh Kim cương đính(bản đầy đủ). Ngoài ra, kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương, 2 quyển, do ngài Bất không dịch, là cùng bản tiếng Phạm với nghi quĩ này. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15]. KIM CƯƠNG ĐÍNH NHẤT THIẾT NHƯ LAI CHÂN THỰC NHIẾP ĐẠI THỪA HIÊN CHỨNG ĐẠI GIÁO VƯƠNG KINH Cũng gọi: Kim cương đính du già chân thực đại giáo vương kinh, Kim cương đính đại giáo vương kinh, Kim cương đính kinh, Tam quyển bản đại giáo vương kinh, Giáo vương kinh, Nhiếp Đại thừa hiện chứng kinh. Kinh, 3 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Một trong 5 bộ kinh bí mật. Đây là kinh biệt dịch nói về Đại mạn đồ la thứ nhất trong 6 Mạn đồ la của hội đầu trong 18 hội thuộc kinh Kim cương đính 10 vạn bài tụng (bản đầy đủ), là Thánh điển căn bản của Mật tông. Thông thường, khi nói tắt Kim cương đính kinh tức là chỉ cho kinh này. Nội dung kinh này nói sơ lược về việc đức Như lai vào chính định Kim cương trong Kim cương giới, việc xuất sinh 37 vị tôn thuộc Kim cương giới, lễ tán Như lai, nghi thức và pháp tắc kiến lập Đại mạn đồ la Kim cương giới, phép hướng dẫn đệ tử vào Mạn đồ la và nói về Yết ma mạn đồ la, Tam muội da mạn đồ la, Pháp mạn đồ la, v.v...… Ngoài ra, cùng tên với kinh này còn có bản 2 quyển, cũng do ngài Bất không dịch, là cùng bản tiếng Phạm với Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ. Lại nữa, kinh Nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng tam muội đại giáo vương, 30 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Bắc Tống, thì là toàn bộ của hội đầu trong 18 hội kinh Kim cương đính (bản đầy đủ), cũng gọi Tống dịch giáo vương kinh, Tam thập quyển đại giáo vương kinh, Đại giáo vương kinh. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].

Kim cương đỉnh nghi quỹ 金剛頂義訣

[ja] コンゴウチョウギケツ Kongōchō giketsu ||| The Jingangding yijue; an abbreviation of the title of the 金剛頂大瑜伽祕密心地法門義訣. => (j: Kongōchō giketsu; c: Jingangding yijue). Viết tắt của Kim cương đỉnh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết (金剛頂大瑜伽祕密心地法門義訣).

kim cương đỉnh nhất thiết như lai chân thật nhiếp đại thừa hiện chứng đại giáo vương kinh

3558凡三卷。唐代不空譯。收於大正藏第十八冊。又稱金剛頂瑜伽真實大教王經、金剛頂大教王經、金剛頂經、三卷本大教王經、教王經、攝大乘現證經。乃五部祕經之一,爲金剛頂經廣本十萬頌十八會之中,初會六曼陀羅之第一大曼陀羅之別譯經,係密宗之根本聖典,故一般單說「金剛頂經」時多指本經。又不空另譯出與本經同名之二卷本,爲金剛頂蓮華部心念誦儀軌之同本異譯者,亦收於大正藏第十八冊。 內容略說金剛界如來入金剛三摩地、出生金剛界三十七尊、禮讚如來、建立金剛界大曼荼羅之儀則、引弟子入曼荼羅之法,並說羯磨曼荼羅、三昧耶曼荼羅、法曼荼羅等。而北宋施護所譯之一切如來真實攝大乘現證三昧大教王經三十卷,則爲金剛頂經廣本十八會中初會之全部,又稱宋譯教王經、三十卷大教王經、大教王經。〔貞元新定釋教目錄卷十五〕

kim cương đỉnh nhất thiết như lai chân thực nhiếp đại thừa hiện chứng đại giáo vương kinh

Vajraśekkhara-sarvatathāgatatatt-vasaṃgraha-mahāyāna-pratyutpannābhisam-buddha-mahā-tantrarāja-sŪtra Tên một bộ kinh.

Kim cương đỉnh nhất tự đỉnh luân vương du già nhất thiết thời xứ niệm tụng thành Phật nghi quỹ. 金剛頂經一字頂輪王瑜伽一切時處念誦成佛儀軌

[ja] コンゴウチョウキョウイチジチョウリンオウユカイチサイジショネンショウジョウブツギキ Kongōchōgyō ichiji chōrinnō yuga issaiji shonenju jōbutsu giki ||| The Jingangdingjing yizi dinglunwang yujia yiqie shindlevel="" chu niansong chengfo yigui (Ritual Procedure of Becoming Buddha through Recitation, Anytime, Anywhere, by the Yoga of the One-syllable Wheel-Turning Ruler from the Vajraśekhara). 1 fasc. (T 957.19.320), abbr. Anywhere-Anytime Procedure 時處軌. tr. Amoghavajra 不空. Ritual text centered on Ekākṣarabuddhoṣṇīṣa 一字頂輪王, composed entirely in verse (kārikā). 20th c. commentary by Wang Hongyuan 王弘願, Abbreviated Notes KI (mb) 5 => (k: Kŭmgangjŏnggyŏng ilja chŏngyunwang yuga ilch'esich'ŏ nyŏmsong sŏngpul ŭigwe; j: Kongōchōgyō ichiji chōrinnō yuga issaiji shonenju jōbutsu giki; c: Jingangdingjing yizi dinglunwang yujia yiqie shindlevel chu niansong chengfo yigui; e: Ritual Procedure of Becoming Buddha through Recitation, Anytime, Anywhere, by the Yoga of the One-syllable Wheel-Turning Ruler from the Vajraśekhara). Một quyển. Viết tắt là Thời xứ quỹ (e: Anywhere-Anytime Procedure 時處軌). Ngài Bất Không (s: Amoghavajra 不空) dịch. Là nghi thức tập trung vào Nhất tự đỉnh luân vương, được soạn toàn bộ bằng kệ tụng. Có bản chú giải của Vương Hoằng Nguyện (Wang Hongyuan 王弘願). Bản tóm lược là Kim cương đỉnh kinh nhất tự đỉnh luân vương du già nhất thiết thời xứ niệm tụng thành Phật nghi quỹ lược chú 金剛頂經一字頂輪王瑜伽一切時處念誦成佛儀軌略注.

Kim cương đỉnh siêu thắng tam giới kinh thuyết Văn-thù ngũ tự chân ngôn thắng tướng. 金剛頂超勝三界經説文殊五字眞言勝相

[ja] コンゴウチョウチョウショウサンカイキョウセツブンシュゴジシンゴンショウソウ Kongōchō chōshō sangaikyō setsu bunshu goji Shingon shōsō ||| The Jingangding chaosheng sanjiejing shuo wenshu wuzi zhenyan shengxiang (T 1172.20.709-710); an alternative translation of the Jingangdingjīng yujqie Wenshushīi pusa fa yipin 金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品. => (k: Kŭmgangjŏng ch'osŭng samgye kyŏng sŏl munsu oja chin'ŏn sŭngsang; j: Kongōchō chōshō sangaikyō setsu bunshu goji Shingon shōsō; c: Jingangding chaosheng sanjiejing shuo wenshu wuzi zhenyan shengxiang). . Tên gọi khác của bản dịch Kim cương đỉnh kinh du già Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát pháp nhất phẩm (c: Jingangdingjīng yujqie Wenshushīi pusa fa yipin 金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品).

Kim cương đỉnh tông 金剛頂宗

[ja] コンゴウチョウシュウ kongōchōshū ||| The Jingangding zong/Kongōchō shū, one of the two major branches of the True Word sect 眞言宗, the other being the Dari zōng/Dainichi shū => (k: kŭmkangchŏngchong; j: kongōchōshū; c: Jingangding zong/Kongōchō shū), là một trong hai nhánh của Chân ngôn tông (e: True Word sect 眞言宗), nhánh kia là Đại Nhật tông (c: Dari zōng/Dainichi shū 大日宗).

Kim cương đỉnh đại du già bí mật tâm kim cương địa pháp môn nghi quyết 金剛頂大瑜伽祕密心地法門義訣

[ja] コンゴウチョウダイユカヒミツシンチホウモンギケツ Kongōchō daiyuga himitsushin chi hōmen giketsu ||| The Jingangding dayujia mimi xin di famen yijue (1 fasc. (T 1798.39.808-823), abbr. 金剛頂義訣, composed by Amoghavajra 不空. Said to be a record of Vajrabodhi's 金剛智 commentary on his redaction of the Tattvasaṃgraha (T 866). An account of the text's revelation from the Iron Stupa 鐡塔 and its transmission to China is also given. Only the first of three fascicles is now extant. For a partial Eng. tr. see Orzech (1995); for textual and historical studies see Endō (1987). => (k: Kŭmkangjŏng taeyuga pimil simjipŏmmun ŭigyŏl; j: Kongōchō daiyuga himitsushin chi hōmen giketsu; c: Jingangding dayujia mimi xin di famen yijue). Một quyển, viết tắt là Kim cương đỉnh nghi quyết 金剛頂義訣, do ngài Bất Không (s: Amoghavajra 不空) soạn. Tương truyền đây là ghi chép lại luận giải của ngài Kim cương Trí về kinh Tattvasaṃgraha (T 866). Một số kinh điển phát hiện được từ Tháp sắt (e: Iron Stupa 鐡塔) và được truyền sang Trung Hoa cũng được đề cập. Chỉ còn một trong ba bộ đầu tiên là còn lưu hành. Về bản tiếng Anh, xem ấn bản của Orzech (1995); về nguyên tác và lịch sử nghiên cứu, xem ẩn bản của Endō (1987).

kim cương định

Vajrasamàdhi (S). Diamond meditation, that of the last stage of a Bodhisattva, characterized by firm, indestructible knowledge, penetrating all reality: attained after all remains of illusion have been cut off.

kim cương đồ hương bồ tát

3562金剛塗香,梵名 Vajra-gandhā,音譯嚩日囉健陀、縛日囉巘題。西藏名 Rdo-rje-dri。密教金剛界三十七尊中,外四供養之一。居於外院方壇之東北隅。此尊以香塗身,去熱惱而得清淨爽快。密號清涼金剛、勝淨金剛,種子爲???(gaḥ),即無造作之義。 此尊之三昧耶形、形像等於各會皆不同,如於成身會之中,三昧耶形爲蓮花上之塗香器;形像呈青色天女形,左手持塗香器,右手作塗香之態;印相係二手各作拳,開掌塗胸;真言爲「唵 嚩日囉 巘帝 虐」。於微細會,形像爲右手握拳,左手持塗香器。於供養會,兩手持蓮,蓮上有塗香器;真言爲「唵 薩嚩怛他誐多 巘陀 布惹 咩伽 三母捺囉 薩發囉拏 三摩曳 吽」。 此菩薩係北方不空成就如來爲供養大日如來所流出之身,不空成就即釋迦佛,出現於穢土,爲利益眾生而親近濁亂境界,故以塗香供養大日如來。〔大教王經卷四、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷二、諸佛境界攝真實經卷下、金剛頂瑜伽三十七尊出生義〕 ; (金剛塗香菩薩) Kim cương đồ hương, Phạm: Vajragandhà. Hán âm: Phạ nhật ra kiện đà, Phược nhật ra nghiễn đề. Tạng:Rdo-rje-dri. Vị Bồ tát ngồi ở góc đông bắc Phương đàn viện Ngoài thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 4 vị bồ tát Ngoại cúng dường thuộc 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Thanh lương kim cương, Thắng tịnh kim cương, chủng tử là (ga#), nghĩa là không tạo tác. Hình tượng và hình Tam muội da của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, hình tượng vị tôn này là Thiên nữ, thân mầu xanh, tay trái cầm hộp hương xoa, tay phải ở trong tư thế đang xoa hương; hình Tam muội da là hộp hương xoa ở trên hoa sen; ấn tướng là 2 tay đều nắm lại rồi mở ra và dùng bàn tay xoa hương vào ngực. Chân ngôn là Án phạ nhật ra nghiễn đế ngược. Trong hội Vi tế, thì tay phải vị tôn này nắm lại, tay trái cầm hộp hương xoa. Trong hội Cúng dường, thì 2 tay cầm hoa sen, trên hoa đặt hộp hương xoa. Chân ngôn là: Án tát phạ đát tha nga đa nghiễn đà bố nhạ dương già tam mẫu nại ra tát phát ra noa tam ma duệ hồng. Vị Bồ tát này do Bất không thành tựu Như lai ở phương bắc thị hiện ra để cúng dường đức Đại nhật Như lai. Bất không thành tựu Như lai tức là Phật Thích ca, vì làm lợi ích chúng sinh mà xuất hiện ở cõi nhơ nhớp vẩn đục, nên dùng hương xoa để cúng dường. [X. kinh Đại giáo vương Q.4; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm Q.2; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương đồng tử

3561梵名 Kani-krodha。又作金剛兒。密教胎藏界曼荼羅金剛部院第三行上方第五位之尊。或謂係阿彌陀佛之化身,或謂與烏蒭沙摩明王爲同體之尊。呈忿怒形,身爲肉色,高舉左腳,伸展兩臂,左手持金剛杵,右手向下結施無畏印,右足踏於蓮花上,頭部有圓光,髮呈上揚之火燄狀;密號事業金剛;種子爲???(hūṃ);三昧耶形爲三股杵或獨股杵;真言爲「吽 嚩日羅 俱摩羅 迦尼 度尼 吽 吽泮吒」。此尊於諸儀軌中有多種形像,身爲黃色者稱爲黃童子;身爲青色者,稱爲青童子。 另有自大海中涌出之形像,身爲吠琉璃色,六臂三目,頭戴寶冠,左足踏寶山上之蓮花,右足沒於海中,即所謂青童子,然未見於大日經及胎藏界諸儀軌中。由於聖迦抳忿怒金剛童子菩薩成就儀軌經卷上謂金剛童子爲金剛薩埵之化身,後代之阿闍梨或依其說而添加此尊於金剛薩埵之曼荼羅中。 以此尊爲本尊所修之息災、調伏等法,稱爲金剛童子法,修之可得末法利益、現悉地相、現金剛兒身、見諸佛、得財寶、除怖畏、得聞持等諸功德。〔聖迦抳忿怒金剛童子菩薩成就儀軌經卷中、金剛童子持念經、無量壽佛化身大忿迅俱摩羅金剛念誦瑜伽儀軌法〕 ; Vajrakumàra (S). Kim cương sứ giả, a vajra messenger of the Buddhas or bodhisattvas; also an incarnation of Amitàbha in the form of a youth with fierce looks holding a vajra. ; (金剛童子) Phạm: Kani-krodha. Cũng gọi: Kim cương nhi. Vị tôn ngồi ở vị trí thứ 5, hàng thứ 3 phía trên, thuộc viện Kim cương bộ trong Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, mật hiệu là Sự nghiệp kim cương. Có thuyết nói vị tôn này là hóa thân của Phật A di đà, hoặc cho là đồng thể với Minh vương Ô sô sa ma. Hình tượng vị tôn này thân mầu da người, hiện tướng phẫn nộ, chân trái giơ cao, 2 tay giang rộng, tay trái cầm chày Kim cương, tay phải kết ấn Thí vô úy(ban cho sự can đảm)hướng xuống phía dưới, chân phải đạp lên hoa sen, đầu có vòng ánh sáng, tóc dựng lên tua tủa trông như ngọn lửa bốc cháy. Chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là chày 3 chĩa hoặc chày 1 chĩa. Chân ngôn là: Hồng phạ nhật la câu ma la ca ni độ ni hồng hồng phấn tra. Trong các Nghi quĩ, hình tượng vị tôn này có nhiều loại: Thân mầu vàng thì gọi là Hoàng đồng tử, thân mầu xanh thì gọi là Thanh đồng tử…. Ngoài ra, vị tôn này còn có hình tượng đang từ trong biển cả vọt lên, thân mầu phệ lưu li, có 6 tay 3 mắt, đầu đội mũ báu, chân trái đạp hoa sen trên núi báu, chân phải chìm dưới mặt biển, hình tượng này được gọi là Thanh đồng tử, nhưng không thấy ghi trong kinh Đại nhật và các nghi quĩ của Thai tạng giới. Trong kinh Thánh ca ni phẫn nộ Kim cương đồng tử bồ tát thành tựu nghi quĩ quyển thượng có nói, đồng tử Kim cương là hóa thân của Kim cương tát đỏa, có lẽ căn cứ vào thuyết đó mà các vị A xà lê đời sau đã thêm đồng tử này vào Mạn đồ la của Kim cương tát đỏa. Nếu thờ vị tôn này làm bản tôn mà tu các pháp Tức tai; Điều phục v.v...… thì gọi là pháp Kim cương đồng tử. Tu theo pháp này thì được các công đức như: Lợi ích trong đời mạt pháp, hiện tướng tất địa, hiện thân Kim cương nhi, thấy chư Phật, được của báu, không còn sợ hãi, được ghi nhớ lâu không quên v.v...… [X. kinh Thánh ca ni phẫn nộ Kim cương đồng tử bồ tát thành tựu nghi quĩ Q.trung; kinh Kim cương đồng tử trì niệm; Vô lượng thọ Phật hóa thân đại phẫn tấn câu ma la kim cương niệm tụng du già nghi quĩ pháp].

kim cốt

Xá lợi của Đức Phật—Golden bons, i.e. Buddha's relics.

kim cổ

3585金屬製之鼓,或謂以黃金所作之鼓,乃召集眾人時所敲擊之器具。經典中列有金鼓、銀鼓、銅鼓等。自古以來金鼓與鉦、鐃被視爲相同之物;然在日本,兩面之鐃稱爲金鼓,單面者則稱爲鉦、伏鉦、鉦鼓。〔賢愚經卷十須達起精舍品、金光明最勝王經卷二夢見金鼓懺悔品、大唐西域記卷四、類聚名物考卷三一七〕 ; (金鼓) Trống làm bằng kim loại. Có chỗ nói trống chế tạo bằng vàng ròng. Là khí cụ dùng để đánh khi triệu tập đông người. Trong kinh có nói đến các loại trống như: Kim cổ(trống vàng)ngân cổ(trống bạc)đồng cổ(trống đồng), v.v... Xưa nay kim cổ, chiêng và nạo bạt được coi là một. Nhưng tại Nhật bản, nạo bạt 2 mặt được gọi là Kim cổ, một mặt thì gọi là Chinh, Phục chinh, Chinh cổ. [X. phẩm Tu đạt khởi tinh xá trong kinh Hiền ngu Q.10; phẩm Mộng kiến kim cổ sám hối trong kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.2; Đại đường tây vực kí Q.4; Loại tụ danh vật khảo Q.317].

Kim cổ kinh 金鼓經

[ja] コンクキョウ Konkukyō ||| Jingu jing An alternative name for the Suvarna-prabhāsa-sūtra (金光明經). => (k: Kŭmgogyŏng; j: Konkukyō; c: Jingu jing. Tên gọi khác của Kim quang minh kinh (s: Suvarna-prabhāsa-atarmarva-sūtra 金光明經).

Kim cổ 金鼓

[ja] コンク konku ||| 'A metal drum', also 'crocodile's mouth;' a metal plate hung above the entrance to the main hall of a temple, where worshippers can sound it by means of ropes attached to it. (2) An abbreviation of the Suvarna-prabhāsa-atarmarva-sūtra (金光明經). => 'Trống vàng', còn gọi là 'Miệng cá sấu'. là một tấm bảng bằng kim loại treo trước cổng chính dẫn vào chính điện của ngôi chùa, có thể gõ nhờ một sợi dây treo. Viết tắt của Kim Quang Minh kinh (s: Suvarna-prabhāsa-atarmarva-sūtra 金光明經).

Kim dung

(金容): dung mạo màu vàng ròng, tức thân Phật, là tôn xưng đối với thần Phật. Như trong Đại Đường Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện (大唐大慈恩寺三藏法師傳, Taishō Vol. 50, No. 2053) quyển 5 có đoạn: “Hướng mông Đại Thánh giáng linh, thân huy pháp hóa, nhĩ thừa diệu thuyết, mục kích kim dung (向蒙大聖降靈、親麾法化、耳承妙說、目擊金容, ngưỡng mong Đại Thánh giáng linh, thương bày giáo pháp, tai nghe tuyên thuyết, mắt thấy dung vàng).” Hay trong bài Ưu Điền Tượng Minh (優填像銘) của Giang Tổng (江總, 519-594) nhà Tùy có đoạn: “Hào quang thử ngộ, pháp tướng kim phùng, mâu vân xỉ tuyết, nguyệt mạo kim dung (毫光此遇、法相今逢、眸雲齒雪、月貌金容, hào quang nay gặp, pháp tướng tương phùng, mắt mây răng tuyết, dáng nguyệt dung vàng).” Hoặc trong Đôn Hoàng Biến Văn Hối Lục (敦煌變文匯錄), phần Duy Ma Cật Kinh Bồ Tát Phẩm Biến Văn (維摩詰經菩薩品變文), cũng có câu: “Kim dung hiện nhi nhật nguyệt tàng huy, thần lực trình nhi càn khôn chấn động (金容現而日月藏暉、神力呈而乾坤振動, dung vàng hiện mà trời trăng tỏ rạng, thần lực bày mà càn khôn chấn động).” Bên cạnh đó, trong hồi thứ 58 của Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義) lại có đoạn: “Đệ tử phụng sư mạng, đặc khẩn kim dung đại phát từ bi, cứu viện vô cô sinh linh (弟子奉師命、特懇金容大發慈悲、救援無辜生靈, đệ tử vâng mạng thầy, khẩn cầu dung vàng mở tâm từ bi lớn, cứu độ những sinh linh vô tội).”

kim gia

1221今之師家。與今師、一家等語同義。各派之末徒,以過去之舊師不明本派奧旨,今之祖師則善能顯彰一宗之微意,故美稱之為今家。如法華玄義釋籤卷三下、四教義卷五等之說今家、一家者,乃指天台智顗。觀經玄義分傳通記卷三與往生論註記卷二所說之今家、今師等,則指善導大師。 ; Trường phái mà mình đang theo—The present school—My school or sect. ; (今家) Đồng nghĩa với Kim sư, Nhất gia. Chỉ cho bậc thầy hiện tại. Vì các môn đồ cho rằng Tổ sư hiện tại có khả năng làm sáng tỏ ý chỉ sâu xa mầu nhiệm của tông phái mình hơn các bậc thầy quá khứ, cho nên tôn xưng ngài là Kim gia. Danh từ Kim gia, Nhất gia được dùng trong Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 3 phần cuối, Tứ giáo nghĩa quyển 5, v.v...… là chỉ cho đại sư Trí khải tông Thiên thai. Còn những từ Kim gia, Kim sư nói trong Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí quyển 3 và trong Vãng sinh luận chú kí quyển 2 thì chỉ cho đại sư Thiện đạo.

kim giới quang minh tự

3528位於日本京都市左京區黑谷町。 爲淨土宗之大本山。號紫雲山。又稱黑谷堂、新黑谷、白河禪房。淨土宗祖法然從比叡山西塔之黑谷遷移至此結草庵,成爲念佛道場,其後大建伽藍。豐臣、德川兩氏爲其外護,寺區因而擴大。寺寶有法然上人之「一枚起請文」真跡,及相傳爲惠心僧都(即源信)所繪絹本著色之三折屏風(中間爲「山越阿彌陀」三尊像,左右各爲地獄圖、極樂世界圖),爲鎌倉時期之佛畫傑作,明治三十年(1897)勅定爲日本國寶。 ; (金戒光明寺) Cũng gọi: Hắc cốc đường, Tân hắc cốc, Bạch hà thiền phòng. Chùa ở phường Hắc cốc, khu Tả kinh, thành phố Kyoto, Nhật bản. Là Đại bản sơn của tông Tịnh độ, hiệu là Tử vân sơn. Tổ của tông Tịnh độ là ngài Pháp nhiên từ Hắc cốc ở Tây tháp núi Tỷ duệ đến đây cất am tranh lập đạo tràng niệm Phật, về sau, đạo tràng này đã trở thành ngôi đại già lam. Nhờ sự ngoại hộ của 2 họ Phong thần và Đức xuyên mà khu vực chùa này được mở rộng thêm. Hiện trong chùa còn giữ được các bảo vật như: Một áng văn khởi thỉnh của Pháp nhiên thượng nhân và 3 tấm bình phong(chính giữa là tượng Tam tôn Sơn Việt A Di Đà, bên trái là cảnh địa ngục, bên phải là cảnh thế giới Cực lạc)bằng lụa nhuộm mầu, tương truyền do ngài Tăng đô Tâm huệ (tức là ngài Nguyên tín) vẽ, được coi là kiệt tác của thời đại Liêm thương. Năm Minh trị 30 (1897) vua ban sắc xác định là quốc bảo của Nhật bản.

kim hà

See Kim Sa Hà.

kim khu

See Kim Thân.

kim khẩu

3521爲尊稱佛口之用語。即強調佛陀親自說教之亳無過誤,且饒益有情,故稱金口說、金口說法、金口直說、金口所說等。或謂佛具有金色之身相,故其口業之說法稱爲金口所說。又比喻佛之說法,如金剛之堅固,無法摧破,故亦稱金言。 ; The golden mouth of the Buddha, a reference inter alia to kim cương khẩu the diamond like firmness of his doctrine. ; The golden mouth of the Buddha. ; (金口) Miệng vàng, tiếng tôn xưng miệng của đức Phật. Lời thuyết pháp từ cửa miệng đức Phật phát ra không có mảy may lầm lỗi, làm lợi ích cho chúng sinh, vì thế gọi là Kim khẩu thuyết, Kim khẩu thuyết pháp, Kim khẩu trực thuyết, Kim khẩu sở thuyết, v.v... Có thuyết cho rằng Phật có thân tướng mầu vàng ròng, nên lời thuyết pháp từ miệng của Ngài gọi là Kim khẩu sở thuyết. Lại nữa, lời thuyết pháp của Phật chắc thật như kim cương, không thể phá hoại được, nên cũng gọi là Kim ngôn.

kim khẩu quỷ

Châm khẩu quỷ—Quỷ có cổ nhỏ như cây kim—Needle-mouth ghosts, with mouth so small that they cannot satisfy their hunger or thurst.

kim khẩu tương thừa

3521金口,佛親自說教之意;相承,師資次第依法傳承之意。天台宗有金口相承、今師相承、九祖相承等三種相承之說,其中之金口相承又稱金口祖承,係指自迦葉尊者至師子尊者,並二十三祖之相承。〔摩訶止觀卷一上〕 ; (金口相承) Kim khẩu nghĩa là lời thuyết pháp của chính đức Phật; tương thừa nghĩa là chư tổ lần lượt truyền pháp cho nhau. Tông Thiên thai có 3 thuyết về Tương thừa: Kim khẩu tương thừa, Kim sư tương thừa, Cửu tổ tương thừa. Trong đó, Kim khẩu tương thừa cũng gọi là Kim khẩu tổ thừa, là chỉ cho sự truyền nối của 23 vị tổ, từ ngài Ma ha Ca diếp đến Sư tử tôn giả. [X. Ma ha chỉ quán Q.1 thượng].

Kim khẩu 金口

[ja] コンク konku ||| "Golden mouth." The mouth of the Buddha-thus, the dharma preached by the Buddha. => Ví cho miệng của Đức Phật, giáo pháp được Đức Phật thuyết giảng.

Kim kinh

(金經): kinh điển vàng ngọc. Kinh (s: sūtra, p: sutta, 經), âm dịch là Tu Đa La (修多羅), ý dịch là Khế Kinh (契經), Chánh Kinh (正經), Quán Kinh (貫經); là từ gọi chung cho tất cả Phật pháp, hay chỉ cho một loại trong 9 hoặc 12 phần giáo. Từ này còn dùng để chỉ cho các kinh điển của Đạo Giáo. Như trong bài thơ Thù Điền Dật Nhân Du Nham Kiến Tầm Bất Ngộ (酬田逸人遊岩見尋不遇) của thi nhân Trần Tử Ngang (陳子昂, 661-702) nhà Đường có câu: “Thạch tủy không doanh ác, kim kinh bí bất văn (石髓空盈握、金經祕不聞, nhũ đá rỗng nắm trọn, kinh vàng linh chẳng nghe).” Hay trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 26, bài thơ Đề Sư Tử Am (題獅子菴), có đoạn: “Sát can cao thụ thạch khê đông, bán yểm tùng vân thúy sắc nồng, nhật ngọ kim kinh phương bãi độc, nhất thanh sư hống bạch vân trung (剎竿高豎石溪東、半掩松雲翠色濃、日午金經方讀罷、一聲獅吼白雲中, đầu sào cao vút khe đá đông, xanh biếc sắc màu che mây tùng, quá trưa kinh vàng vừa đọc hết, tiếng gầm sư tử mây trắng trong).” Hoặc trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) lại có câu: “Quá khứ hiện tại cập vị lai, nhất thiết hữu tình Tam Giới biến, ngã kim thích huyết tả kim kinh, cúng phụng từ vương khất thùy giám, phù đồ thất cấp tánh trung quang, Di Đà nhất cú tâm đầu niệm, đồng sanh Cực Lạc ly khổ luân (過去現在及未來、一切有情三界遍、我今刺血寫金經、供奉慈王乞垂鑒、浮圖七級性中光、彌陀一句心頭念、同生極樂離苦輪, quá khứ hiện tại và tương lai, hết thảy hữu tình Ba Cõi khắp, con nay chích máu viết kinh vàng, dâng cúng đức từ xin chứng giám, bảy tầng tháp báu hiện hào quang, Di Đà mọtt câu trong tâm niệm, cùng sanh Cực Lạc thoát luân hồi).”

kim kê

3590據傳爲棲於天上金雞星之雞,其後金雞一詞,轉變爲禪宗用語。相傳此雞於天上報曉,則地上群雞亦應之而鳴。祖庭事苑卷五(卍續一一三‧六七上):「人間本無金雞之名,以應天上金雞星故也!天上金雞鳴則人間亦鳴。」人天眼目卷三載,有關洞山五位之正中偏之語,汾陽善昭云(大四八‧三一四上):「玉兔既明初夜後,金雞須唱五更前。」投子義青禪師語錄卷上云(卍續一二四‧二二九下):「正中來,火裏金雞坐鳳臺,玄路倚空通陌上,披雲鳥道出塵埃。」前者以正中偏之靜中有動之本覺,比喻爲金雞,後者將無始本覺佛性如來藏心之正中來,比喻爲火中鳳臺上之金雞。景德傳燈錄卷六江西馬祖條之夾注(大五一‧二四五下):「西天般若多羅記達磨云:『震旦,闊無別路,要假姪孫腳下行,金雞解銜一顆米,供養十方羅漢僧。』」此係比喻菩提達磨爲金雞,銜來一顆粟,落在漢土,繁榮了六祖慧能門下之南嶽懷讓、青原行思等姪孫,禪法遂流布於天下。〔隨州大洪山淳禪師語錄、續傳燈錄卷十一紹珍條、卷十三清照條、卷二十有瑞條、宗門無盡燈論卷上〕 ; The golden cock (or fowl) with a grain of millet in its beak, a name for Bodhidharma. ; Gà vàng và hạt thóc trong miệng. Đem gà vàng ví với lời sấm của Tổ Bồ Đề Đạt Ma—The golden cock or fowl, with a grain of millet in its beak, a name for Bodhidharma. ; (金鶏) Con gà đậu trên sao Kim kê trong truyền thuyết. Về sau, danh từ Kim kê được chuyển thành dụng ngữ của Thiền tông. Tổ đình sự uyển quyển 5 (Vạn tục 113, 67 thượng), nói: Nhân gian vốn không có tên Kim kê, đó là ứng theo sao Kim kê trên trời mà gọi. Hễ khi nào kim kê trên trời gáy, thì các con gà dưới đất cũng gáy theo. Nhân thiên nhãn mục quyển 3 chép, về từ ngữ Chính trung thiên trong Động sơn ngũ vị, thiền sư Phần dương Thiện chiêu nói (Đại 48, 314 thượng): Ngọc thố(mặt trăng) sáng lòa sau canh một, Kim kê phải gáy trước canh năm. Đầu tử nghĩa thanh thiền sư ngữ lục quyển thượng (Vạn 124, 229 hạ) nói: Chính trung lai, trong lửa kim kê ngồi trên đài phượng, đường huyền nương hư không vượt qua ngõ hẹp, đường chim rẽ mây ra khỏi trần ai. Câu trước ví dụ kim kê là bản giác trong tĩnh có động của Chính trung thiên, câu sau ví dụ vô thủy bản giác Phật tính Như lai tạng tâm của Chính trung lai là kim kê trên đài phượng ở trong lửa. Phần giáp chú(chú thích ở bên cạnh) điều Giang tây Mã tổ trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 6 (Đại 51, 245 hạ) chép: Tổ Bát nhã đa la ở Tây thiên bảo ngài Đạt ma rằng: Đất Trung hoa rộng bao la, nhưng không có con đường nào khác; phải nhờ chân của con cháu mà đi, kim kê biết ngậm một hạt thóc, cúng dường La hán tăng 10 phương. Ở đây ví dụ ngài Bồ đề đạt ma là kim kê, ngậm một hạt thóc bay đến bỏ trên đất Hán, về sau làm cho con cháu của Lục tổ Tuệ năng như các ngài Nam nhạc Hoài nhượng, Thanh nguyên Hành tư, v.v...… phồn thịnh, nhờ đó mà Thiền pháp được truyền bá khắp trong nước. [X. Tùy châu Đại hồng sơn Thuần thiền sư ngữ lục; điều Thiệu trân trong Tục truyền đăng lục Q.11; luận Tông môn vô tận đăng Q.thượng].

kim lai

The present and the future.

kim lan cà sa

See Kim Lan Y.

kim lan y

3590即以金縷織成之袈裟。又作金襴袈裟、金縷袈裟、金色衣、黃金岁衣、金色岁衣。印度早已行之。賢愚經卷十二載,佛陀之姨母摩訶波闍波提嘗手織金色之岁,欲贈如來,如來因使憍曇彌施捨眾僧,眾僧不取,後爲彌勒所披著。中阿含經卷十三、雜寶藏經卷五、大毘婆沙論卷一七八、大唐西域記卷六均有記載此事。長阿含經卷三、佛般泥洹經卷下則載述佛陀欲般涅槃時,阿羅漢弟子福貴獻予佛陀黃金岁衣,佛陀乃爲之宣說妙法。又大唐西域記卷九、景德傳燈錄卷一載,佛陀以姨母所獻之金色袈裟傳於迦葉。另法苑珠林卷三十五引王玄策之西域志載於裟羅雙樹林邊,見金色袈娑覆於釋迦佛像,則此袈裟當係佛陀入滅後所製,非復前述之彌勒或迦葉所傳持者。要之,以金色袈裟覆於佛像之說,最遲始於唐中葉(八世紀頃)。至於我國僧侶披著金襴衣之記載,散見於宋高僧傳卷二十八、佛祖歷代通載卷三十、廬山蓮宗寶鑑序等書中。〔菩薩瓔珞經卷一、付法藏因緣傳卷一〕 ; Kim Sắc Y—Kim Lan Cà Sa—Áo cà sa dệt bằng sợi vàng—A kasaya or robe embroidered with gold; a golden robe. ; (金襴衣) Cũng gọi Kim lan ca sa, Kim lũ ca sa, Kim sắc y, Hoàng kim điệp y, Kim sắc điệp y. Ca sa dệt bằng tơ vàng. Kinh Hiền ngu quyển 12 chép, di mẫu của đức Phật là bà Ma ha ba xà ba đề tự tay dệt tấm lụa mầu vàng rồi may ca sa dâng cúng Phật, nhưng Ngài không nhận và bảo Bà dâng cúng chúng tăng, chúng tăng cũng không dám nhận, sau đó ngài Di lặc nhận lấy. Việc này cũng được ghi trong kinh Trung a hàm quyển 13, kinh Tạp bảo tạng quyển 5, luận Đại tì bà sa quyển 178 và Đại đường tây vực kí quyển 6. Kinh Trường a hàm quyển 3 và kinh Phật ban nê hoàn quyển hạ thì chép, khi đức Phật sắp vào Niết bàn, có người đệ tử của một vị A la hán tên là Phúc quí dâng cúng đức Phật 1 tấm cà sa bằng tơ vàng, Ngài nhận rồi nói diệu pháp cho ông nghe. Nhưng Đại đường tây vực kí quyển 9 và Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 thì ghi: Đức Phật đem áo ca sa mầu vàng do bà Di mẫu dâng cúng truyền cho ngài Ca diếp. Pháp uyển châu lâm quyển 35 nói, khi đến rừng Sa la, Vương huyền sách có thấy tấm ca sa vàng phủ trên tượng Phật Thích ca. Như vậy, tấm ca sa này được may sau khi đức Phật nhập diệt, chứ không phải tấm ca sa do ngài Di lặc hoặc Ca diếp truyền trì như đã nói ở trên. [X. kinh Bồ tát anh lạc Q.1; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.1].

Kim Linh

(金鈴): linh vàng. Linh (s: ghaṇṭā, 鈴) là một loại pháp khí dùng đánh lên trước bàn Phật khi tụng kinh; được chế bằng loại đồng xanh, đồng đỏ. Loại pháp khí này còn có tên là Kim Cang Linh (金剛鈴), Kim Linh, hình như cái chuông, bên trong có treo quả cầu đồng. Trong Mật Giáo, khi tu pháp, Linh được dùng để làm kinh động, tỉnh giác chư tôn, hay khiến cho chư vị hoan hỷ. Cho nên Linh có 3 nghĩa là làm kinh động tỉnh giác, làm cho hoan hỷ, và thuyết pháp. Khi làm cho Linh kêu vang để cúng dường chư tôn, được gọi là Chấn Linh (振鈴). Linh có 5 loại là Độc Cổ Linh (獨鈷鈴), Tam Cổ Linh (三鈷鈴), Ngũ Cổ Linh (五鈷鈴), Bảo Linh (寶鈴), Tháp Linh (塔鈴). Kim Cang Linh là hình Tam Muội Da (三昧耶) của Kim Cang Linh Bồ Tát (金剛鈴菩薩). Như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, CBETA No. 1565) quyển 20 có câu: “Giải mãnh hổ hạm hạ kim linh, kinh quần động chúng; thủ thương long huyệt lí minh châu, quang thiên chiếu địa (解猛虎頷下金鈴、驚群動眾、取蒼龍穴裏明珠、光天照地, tháo dưới cằm hổ dữ kim linh, kinh động quần chúng; lấy châu sáng trong huyệt rồng xanh, sáng tỏ trời đất).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) cũng có câu: “Thượng lai chấn động Kim Linh, hô chiêu nhữ đẳng quỷ chúng, nhiên thả nhữ đẳng tùng Địa Ngục trung xuất, nghiệp đạo trung lai, sạ văn luy bạt chi thanh, tất khởi kinh hoàng chi niệm (上來振動金鈴、呼召汝等鬼眾、然且汝等從地獄中出、業道中來、乍聞鏍鈸之聲、必起驚惶之念, nhân nay chấn động Kim Linh, mời gọi quỷ chúng các người, như vậy các người từ trong Địa Ngục ra, từ trong nghiệp đạo đến, vừa nghe tiếng não bạt, tất khởi niệm kinh hoàng).”

Kim Liên

(金蓮): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Hoa sen bằng vàng. Như trong bài thơ Nam Triều (南朝) của Lý Thương Ẩn (李商隱, khoảng 813-858) nhà Đường có câu: “Thùy ngôn quỳnh thọ triêu triêu kiến, bất cập kim liên bộ bộ lai (誰言瓊樹朝朝見、不及金蓮步步來, ai bảo cây quỳnh sáng sáng thấy, chẳng bằng sen vàng bước bước đi).” (2) Chỉ cho bàn chân bó nhỏ lại của người nữ theo tục lệ ngày xưa. Như trong bài Hòa Hàn Trí Quang Thị Lang Vô Đề (和韓致光侍郎無題) 2 của Ngô Dung (吳融, ?-?) nhà Đường có câu: “Ngọc trứ hòa trang ấp, kim liên trục bộ tân (玉箸和妝裛、金蓮逐步新, đũa ngọc cùng áo kép, gót vàng theo bước xinh).” (3) Chỉ cho tòa sen, tòa ngồi của Phật hình hoa sen. Như trong bài Thất Ngôn (七言) thứ 9 của Lữ Nham (呂岩, 798-?) nhà Đường có câu: “Thủy trung bạch tuyết vi vi kết, hỏa lí kim liên tạm tạm sanh (水中白雪微微結、火裏金蓮漸漸生, trong nước tuyết trắng nho nhỏ kết, lửa rực đài sen dần dần sinh).” (4) Chỉ hoa đăng. Như trong tác phẩm Tuyên Hòa Di Sự (宣和遺事) có câu: “Kim liên vạn trản, tản hướng thiên cù (金蓮萬盞、撒向天街, hoa đăng muôn ngọn, tung khắp không gian).” Trong Chỉ Nguyệt Lục (指月錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 83, No. 1578) quyển 31 có đoạn: “Kim liên tùng địa dũng, bảo cái tự thiên thùy, vi thị thần thông diệu dụng, vi thị pháp nhĩ như nhiên (金蓮從地湧、寶蓋自天垂、爲是神通妙用、爲是法爾如然, sen vàng từ đất vọt, lọng báu tự trời buông, đó là thần thông diệu dụng, đó là pháp vốn tự nhiên).” Hay trong Ảnh Hưởng Tập (影響集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1209), bài Tịnh Độ Thi (淨土詩), có đoạn: “Nhất cú Di Đà tận lực xưng, Tam Đồ Bát Nạn tổng siêu thăng, trì danh diệt tội kim liên hiện, bi nguyện toàn bằng Phật lực tăng (一句彌陀盡力稱、三塗八難總超升、持名滅罪金蓮現、悲願全憑佛力增, một câu Di Đà tận lực xưng, Ba Đường Tám Nạn thảy siêu thăng, trì danh diệt tội sen vàng hiện, bi nguyện toàn nhờ Phật lực tăng).”

kim liên

Chin-lien (C). ; 1) Hoa sen vàng: Golden lotus bloom. 2) Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong làng Nghi Tàm, xã Quảng An, huyện Từ Liên, Hà Nội, Bắc Việt Nam. Nguyên xưa là chùa Đống Long, dựng từ thời nhà Trần (1225-1413) trên một nền nhà cũ, nơi công chúa Từ Hoa, con gái vua Lý Thần Tông ra đời. Về sau chỗ nầy lập trại trồng dâu nuôi tằm nên gọi là làng Nghi Tàm. Năm 1639, chùa được tu sử lại, gọi là chùa Đại Bi, đến năm Lê Cảnh Hưng thứ 32 (1771), lại được trùng tu, và chùa được mang tên Kim Liên từ đó. Vào năm 1792, chùa lại được trùng tu và nhiều lần về sau nầy nữa. Chùa hiện nay được coi như là di sản kiến trúc thời Tây Sơn. Cổng tam quan của chùa có kiến trúc gỗ độc đáo, đượm dáng vẻ cung đình. Nổi bậc còn có những bức chạm trỗ hình rồng và hoa nổi trên mặt gỗ hết sức tinh xảo: Name of an ancient temple, located in Nghi Tàm hamlet, Quảng An village, Từ Liêm disrict, Hanoi, North Vietnam. Its old name was Đống Long Temple, built in the Trần dynasty (1225-1413) on an old floor of a house where Princess Từ Hoa, King Lý Thần Tông's daughter, was born. The house was once turned into a plantation for growing mulberry and silk worms. This is why the village is called Nghi Tàm. In 1639, the temple was repaired and renamed Đại Bi. In the thirty-second Lê Cảnh Hưng year (1771), it was rebuilt again, and given the present name, Kim Lien Temple. In 1792, it was restored on the larger scale and has been resconstructed many times. At present, Kim Liên Temple is an architectural artistic vestige of the Tây Sơn dynasty. The three-entrance gate is of distinctive wooden structure styled Vietnamese royal palace. Distinguished from the three-entrance structure are the skillfully carved wooden bas-reliefs representing the image of flowers and dragons.

kim liên tịch truyền

Zen Master Kim Liên Tịch Truyền (1745-1816)—Thiền sư Kim Liên, người Việt Nam, quê ở Thượng Phước, Bắc Việt. Ngài xuất gia từ thuở bé tại chùa Vân Trai. Sau dó ngài đến chùa Liên Tông và trở thành đệ tử của ngài Từ Phong Hải Quýnh. Hầu hết cuộc đời ngài hoằng pháp tại miền Bắc Việt Nam. Ngài thị tịch năm 1816, thọ 70 tuổi—A Vietnamese Zen master from Thượng Phước, North Vietnam. He left home and stayed at Vân Trai Temple when he was very young. Later he went to Liên Tông Temple and became a disciple of Zen Master Từ Phong Hải Quýnh. He spent most of his life to expand the Buddha Dharma in North Vietnam. He passed away in 1816, at the age of 70.

kim liên tự

3587位於日本京都四條坊城。又作四修道場。號錦綾山太平興國金蓮寺。日本時宗四條派本山。有一本堂,大正十五年(1926)遷至鷹峰。延慶元年(1308),後伏見上皇爲祈求皇后之安產,遂由淨阿上人開創本寺。寺內藏有一遍上人行狀繪傳二十卷。

kim long tự

3589請參閱 金剛錍論 位於韓國慶尚北道聞慶郡。號雲達山雲峰寺,爲朝鮮三十一本山之一。係新羅真平王九年(587),雲達所創建,其後沿革不詳。朝鮮中宗(1506~1544)時,芙蓉靈觀中興之,仁祖二年(1624)慧聰亦重修之。今山內有大成菴、養真菴、華藏菴、金仙臺、兜率菴,與山外分寺,計有四十九寺。〔朝鮮佛教通史上編、朝鮮寺剎三十一本山寫真帖〕

Kim Luân

(金輪): (1) Nơi sâu tận cùng của thế giới là Phong Luân (風輪), Phong Luân này nương vào hư không, dày 16 ức do tuần, kiên cố như kim cang. Trên Phong Luân có Thủy Luân (水輪), sâu 8 ức do tuần. Trên Thủy Luân có Kim Luân, dày 3 ức 2 vạn do tuần, bề ngang 12 ức 3450 do tuần, được hình thành từ kim cang hình vòng tròn; nên gọi là Kim Luân. Trên Kim Luân này lại có chín núi tám biển, gọi là Địa Luân (地輪). Từ mặt nước cho đến Kim Luân, sâu đến 8 vạn do tuần; do vậy ta mới biết Địa Luân rất dày. Như vậy Kim Luân này còn có nghĩa là đại địa, vũ trụ, thế giới. (2) Là tên gọi của một trong 7 loại báu do Chuyển Luân Thánh Vương (轉輪聖王) cảm đắc được. Vòng tròn báu này có 4 loại khác nhau là vàng, bạc, đồng, sắt, từ đó sanh ra sự khác nhau giữa Kim Luân Vương (金輪王), Ngân Luân Vương (銀輪王), Đồng Luân Vương (銅輪王) và Thiết Luân Vương (鐵輪王). (3) Là tên gọi tắt của Kim Luân Thánh Vương (金輪聖王). Tắc Thiên Võ Hậu nhà Đường tự xưng là Kim Luân Thánh Thần Hoàng Đế (金輪聖神皇帝). Như trong Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 28 có câu: “Minh ngân cổ ư bảo phường, chuyển Kim Luân ư hương địa, pháp lôi kinh mộng huệ nhật huy lãng, đạo tục bức thấu, viễn nhĩ tất tập (鳴銀鼓於寶坊、轉金輪於香地、法雷驚夢、慧日暉朗、道俗輻湊、遠邇畢集, gióng trống bạc nơi phòng báu, chuyển xe vàng chốn đất thơm, sấm pháp tỉnh mộng, trời tuệ sáng ngời, đạo tục tụ hội, xa gần vân tập).” Hay như trong Mục Am Văn Khang Thiền Sư Ngữ Lục (穆菴文康禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1415) lại có đoạn: “Càn khôn đồng thọ, nhật nguyệt tề minh, Kim Luân ngự nhi hải nhạc an, ngọc chúc điều nhi thiên vận tự (乾坤同壽、日月齊明、金輪御而海嶽安、玉燭調而天運序, càn khôn cùng thọ, trời trăng sáng trong, xe vàng hiện cho biển núi yên, đèn ngọc điều cho vận trời thuận).” Hoặc như trong Hạt Đường Huệ Viễn Thiền Sư Quảng Lục (瞎堂慧遠禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1360) quyển 2 cũng có câu: “Du hý Tam Muội, ứng tiếp vạn cơ, cao củng Kim Luân vạn thừa chi tôn, thượng niệm Linh Sơn nhất ngôn chi phó (游戲三昧、應接萬機、高拱金輪萬乘之尊、尚念靈山一言之付, rong chơi Tam Muội, ứng tiếp cơ duyên, sùng kính xe vàng vạn cỗ tôn nghiêm, mãi nhớ Linh Sơn một lời phó chúc).”

kim luân

3588<一>梵語 kāñcana-maṇḍala。構成器世界之風、水、金等三輪之一,或空、風、水、金等四輪之一。又作金性地輪、地輪、地界。古代印度之宇宙論主張,在世界最下爲虛空,虛空之上有風輪(梵 vāyu-maṇḍala),風輪之上復有水輪(梵 jala-maṇḍala),水輪之上復有金輪。由有情之業力所感,搏擊水輪,於其上結成金。山、海、島嶼等現實世界,即存立於金輪之上。金輪之最下端,稱爲金輪際。〔長阿含經卷十八、大毘婆沙論卷一三三、瑜伽師地論卷二、俱舍論卷十一〕(參閱「三輪」679、「四輪」1837) <二>金輪寶之略稱。又作輪、輪寶(梵 cakra-ratna)。指轉輪聖王手持金剛作之輪寶(輪形武器,屬七寶之一)。傳說隨著輪寶之轉動,所向之處悉皆歸伏。持金輪寶之轉輪聖王,稱爲金輪王,亦略稱金輪。又千手觀音四十手中,持金輪之手,稱金輪手。〔雜阿含經卷二十七、長阿含卷六轉輪聖王修行經、雜譬喻經〕(參閱「輪寶」6187) ; Kācana-maṇdala (S)Một trong tam luân, 3 lớp vật chất, cấu tạo thành thế giới. ; The metal circle on which the earth rests, above the water circle which is above the wind (or air) circle which rests on space. ; 1) Nơi thấp nhất của thế giới là phong luân; phong luân dựa vào hư không (bề dầy là 16 ức do tuần, bền vững như kim cương). Trên phong luân có thủy luân (sâu 8 ức do tuần). Trên thủy luân có kim luân (dầy 3 ức 2 vạn do tuần do có hình bánh xe nên gọi là kim luân). Trên kim luân là địa luân (gồm 9 núi 8 biển)—The metal circle on which the earth rests, above the water circle which is above the wind or air circle which rests on space. 2) Kim Luân là một trong bảy báu vật của Chuyển Luân Thánh Vương—The cakra or wheel or disc, emblem of sovereignty, one of the seven precious possessions of a Cakra-King—See Tứ Luân (D). ; (金輪) I. Kim Luân. Phạm: Kàĩcana-maịđala. Cũng gọi Kim tính địa luân, Địa luân, Địa giới. Một trong 3 luân(phong thủy kim), hoặc 1 trong 4 luân (không phong thủy kim). Vũ trụ luận của Ấn độ đời xưa cho rằng lớp dưới cùng của thế giới là hư không, trên hư không có phong luân (Phạm: Vàyumaịđala), trên phong luân lại có thủy luân (Phạm:Jala-maịđala), trên thủy luân lại có kim luân. Do sức nghiệp của loài hữu tình khuấy động thủy luân, nên trên mặt thủy luân kết thành kim luân(lớp vàng rất dày). Các thế giới hiện thực như: Núi, biển, đảo, v.v... đều kiến lập và tồn tại trên kim luân. Phía dưới cùng của kim luân gọi là Kim luân tế(mé kim luân). [X. kinh Trường a hàm Q.18; luận Đại tì bà sa Q.133; luận Du già sư địa Q.2; luận Câu xá Q.11]. (xt.Tam Luân, Tứ Luân). II. Kim Luân. Gọi đủ: Kim luân bảo. Cũng gọi: Luân, Luân bảo (Phạm: Cakra-ratna). Vũ khí hình bánh xe làm bằng kim cương(một trong 7 thứ báu)là vật cầm tay của vua Chuyển luân Thánh vương. Truyền thuyết cho rằng tùy theo luân bảo chuyển động xoay về hướng nào thì nơi ấy đều qui phục. Chuyển luân Thánh vương cầm Kim luân bảo gọi là Kim luân vương (gọi tắt là Kim luân). Trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm, tay cầm Kim luân được gọi là Kim luân thủ. [X. kinh Trường a hàm Q.27; kinh Chuyển luân Thánh vương tu hành trong Trường a hàm Q.6; kinh Tạp thí dụ]. (xt. Luân Bảo).

kim luân bảo

Gakra-ratna (S).

kim luân phật đảnh

See Đại Thắng Kim Cang.

kim luân phật đảnh tôn

Đại Xí Thạnh Quang—The Great Blazing Perfect Light.

kim luân tế

3588請參閱 如意寶珠轉輪祕密現身成佛金輪咒王經 於佛教之世界觀中,謂大地之底層乃金輪之邊緣。俱舍論卷十一記載,金輪爲銜接於大地之下,厚三億二萬由旬,直徑十二億三千四百五十由旬之黃金層。金光明最勝王經卷八之中,金輪即金剛輪(以金剛鋪成之地表)。於日本,金輪際一詞則引申爲事物之極限與根柢,又引申爲「無論如何」之意。〔大寶積經卷一二○、金光明經卷二、付法藏因緣傳卷一〕(參閱「金剛輪」3573) ; (金輪際) Chỉ cho bờ mé kim luân là lớp dưới cùng của quả đất theo thế giới quan Phật giáo. Theo luận Câu xá quyển 11, thì Kim luân là lớp vàng dưới cùng của quả đất, dày 320.000 do tuần, đường kính 1.23.450 do tuần. Kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 8 cho rằng Kim luân tức là Kim cương luân (mặt đất được trải bằng kim cương). Ở Nhật bản, từ Kim luân tế chỉ cho giới hạn cùng cực của sự vật. Ngoài ra, Kim luân tế còn được dùng với ý nghĩa Bất luận như thế nào. [X. kinh Đại bảo tích Q.120; kinh Kim quang minh Q.2; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.1]. (xt. Kim Cương Luân).

kim luân vương

Xem Chuyển luân thánh vương. ; A Golden-wheel (cakra) king—See Tứ Luân (D).

Kim luân 金輪

[ja] コンリン konrin ||| "Metal wheel" "gold wheel." (1) From Buddho-Indian mytho-cosmology. Above the primordial void are three layered wheels, which eventually give support to the earth. The lowest is the "wind wheel." This is followed by the water wheel and metal wheel. (kāñcana-maṇḍala) (2) As an abbreviation of 金輪寶, the first of the seven treasures of the wheel-turning sage kings In this case there are four wheels (cakra, or rings, which are made of gold, silver, copper and iron. The "wheel turning King" takes his name from the fact that he takes the uppermost wheel and on it distributes the four great continents and their respective contents. This thousand-spoked golden wheel treasure, originally a symbol of the ruling authority of the Wheel Turning King is borrowed into Buddhism, where it is used to symbolize the authority of the King of the Dharma (the Buddha), and his exposition of true reality comes to be referred to as "turning the wheel of the dharma." Because of this, in Buddhist iconography and art, the Buddha is depicted as having the physical marks of thousand spoke wheels on the palms of his hands and the undersides of his feet. (3) The Golden Wheel Sage King. => 1. Theo huyền thoại về cấu tạo vũ trụ của Phật giáo Ấn Độ, tầng trên của bầu thái không là tam luân, là để bảo trì cho trái đất. Vòng thấp nhất là Phong luân (e: wind wheel), lên trên là Thủy luân (e: water wheel), và Kim luân (e:metal/gold wheel; s: kāñcana-maṇḍala). 2. Viết tắt của Kim luân bảo 金輪寶, là món đầu tiên trong Thất bảo ( luân 輪, tượng 象, mã 馬, châu 珠, chủ tạng thần 主藏臣, ngọc nữ玉女, chủ binh thần 主兵臣) của Chuyển luân thánh vương (轉輪聖王). Trong trường hợp nầy, có bốn thứ luân (s: cakra; e: ring) làm bằng vàng, bạc, đồng và sắt. Vị Chuyển luân thánh vương sẽ có tên gọi theo vòng kim loại mà vị ấy cầm trên tay, và theo đó mà phân phái về bốn châu và danh xưng của từng vị. Bánh xe báu bằng vàng với ngàn vòng nầy, vốn là biểu tượng uy quyền thống trị của Chuyển luân thánh vương được du nhập vào Phật giáo, biểu tượng cho uy đức của đấng Pháp vương (Đức Phật), và sự chỉ bày Chân như được gọi là 'Chuyển pháp luân'. Do vậy, trong nghệ thuật tranh tượng Phật giáo, Đức Phật được miêu tả lòng bàn tay và bàn chân có ngàn bánh xe. 3. Chỉ cho Kim luân thánh vương (e: Golden Wheel Sage King).

Kim Lô

(金爐): lò vàng dùng để đốt giấy tiền vàng bạc khi dân chúng đến tham bái. Tạo hình bên ngoài Kim Lô ở Miếu Thành Hoàng (城隍廟) lấy màu hồng làm chính. Trên đỉnh lò có tòa nhà lục giác ba tầng: tầng thứ nhất lên đến đỉnh lò, mỗi góc đều có hình con rồng bay; tầng thứ hai lên đến đỉnh lò, mỗi góc có hình con chim phụng bay; tầng thứ ba, mỗi góc đều có hình hoa. Kim Lô và Hương Lô (香爐, lò hương) hoàn toàn khác nhau về chức năng. Lò Hương chủ yếu để cắm hương. Lò Hương cỡ lớn thì có điêu khắc hình con rồng trên đó và được đúc bằng đồng. Trong khi đó, Kim Lô chủ yếu dùng để đốt các loại giấy tiền vàng mã và hầu hết mỗi đền miếu đều có. Loại Kim Lô ở các đền miếu được chế tạo bằng gốm sứ. Như trong Phật Mẫu Khổng Tước Tôn Kinh Khoa Thức (佛母孔雀尊經科式, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1479) có đoạn: “Giới Định chơn hương, phần khí xung thiên thượng, thí chủ kiền thành, nhiệt tại kim lô phóng, khoảnh khắc nhân uân, tức biến mãn thập phương, tích nhật Da Du, miễn nạn trừ tai chướng (戒定眞香、焚氣衝天上、施主虔誠、爇在金爐放、頃刻氛氤、卽遍滿十方、昔日耶輸、免難除災障, Giới Định chơn hương, khí đốt xông trời đất, thí chủ lòng thành, hơi nóng trong lò tỏa, khoảnh khắc hòa hài, tức cùng khắp mười phương, xưa kia Da Du, hết nạn trừ tai chướng).” Hay trong Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1248) lại có đoạn: “Thần minh chi sum vệ, tuyên Phật Đảnh chi bí thuyên, tường yên tiêu cổ triện ư kim lô, bảo diệm thổ Đàm Hoa ư ngọc chúc (神明之森衛、宣佛頂之秘詮、祥煙銷古篆於金爐、寶燄吐曇花於玉燭, thần minh ấy hộ vệ, tuyên Phật Đảnh bao bí ngữ, mây lành nung triện cổ nơi lò vàng, lửa báu tuôn hoa Đàm nơi nến ngọc).” Trong Pháp Hoa Kinh Trì Nghiệm Ký (法華經持驗記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1541) quyển Hạ, phần Tống Thích Ngộ Ân (宋釋晤恩) có đoạn rằng: “Ung Hy tam niên bát nguyệt, mộng ủng nạp Sa Môn, chấp kim lô phần hương, tam nhiễu kỳ thất, tự ngôn Tổ sư quán đảnh, lai thử tương nghênh, mộng giác do văn dị hương, diện Tây hiệp chưởng nhi hóa (雍熙三年八月、夢擁衲沙門、執金爐焚香、三遶其室、自言祖師灌頂、來此相迎、夢覺猶聞異香、面西合掌而化, vào tháng 8 niên hiệu Ung Hy thứ 3 [986], Ngộ Ân mơ thấy vị Sa Môn ôm y bá nạp, tay cầm lò vàng xông hương, ba lần nhiễu quanh thất của ông, tự bảo là Tổ sư quán đảnh, đến đây nghinh đón, khi tỉnh mộng mà vẫn nghe có mùi hương lạ, ông mặt hướng về phương Tây chấp tay mà đi).”

kim lăng khắc kinh xứ

3583位於南京市延齡巷,乃以刻印流通佛典爲目的之佛教文化機構。創始者楊文會有感於清末兵亂,經典多軼失,遂與同志十餘人四處勸募,著手佛典之開版流通。同志中江都鄭學川(其後出家,法號妙空)首於揚州東鄉之磚橋雞園創設江北刻經處;文會則於南京從事刻經。另於同治十二年(1873),刊行極樂世界依正莊嚴圖、十一面大悲觀音像等。後於南京北極閣建屋,收藏數年來所刻之經版。光緒八年(1882),於元墓山香雲海覓求藏版之地,然因經費不足而告中止。光緒十二年,文會渡海至英國,三年後返國,得日本縮刻大藏經,因是閉戶誦讀。十六年,至北京蒐尋藏外古德逸書,並通過日本佛教學者南條文雄,由日本尋回我國失軼之隋唐佛教著述,如中論疏、百論疏、成唯識論述記等,刻印流通。廿三年,於南京城北延齡巷開設藏版及流通處,即金陵刻經處之創始。三十三年,於刻經處開辦佛學學堂,稱祇園精舍,養成振興佛教之士。未滿兩年,因經費不足而中止。乃閉讀大日本續藏經,然認爲其混雜,遂詳訂書目,彙編大藏輯要。宣統三年(1911),文會罹疾,臨終委託陳樨庵、陳宣甫、歐陽漸等三人開版大藏輯要所揭典籍,又召集佛學研究會同仁,共商金陵刻經處之維持。文會歿後,陳樨庵等人繼續經營,從事刻經。國民革命軍至南京後,刻經事業一度終止。中日事變後,難民居於刻經處,若干經版散軼。民國四十一年文會之孫楊立生、楊雨生與徐平軒、趙樸初等人獲得南京、上海佛教界之護持,成立金陵刻經處護持委員會。其中,徐平軒主其事,呂澄任輔佐。另有中國佛教協會之經濟援助,故計劃擴充業務,加以周叔迦等人之外護,遂擴大刻經處所,整修破損屋宇及所藏經版,版架幾達九百個,又整頓文會藏書一六○○種。民國四十三年以後,由於中國佛教協會之助,更進一步收集散於全國各地之經版,計有江北刻經處二二九○○個,重慶羅漢寺一四三九○個,蘇州瑪瑙經房三八○○個,北平、天津兩刻經處二二六○○個,所收經版共達十二萬版以上,又置刻工二十人,補刻散軼經版,與玄奘著譯書之新刻。應刻經之需要,養成經典的新摺、刻工,致力蒐集散軼經版類,並置英文世界佛教大百科事典之中國編纂所支部。〔楊仁山居士遺著第一冊、楊仁山居士事略(徐文霨)、中國佛教史卷四(蔣維喬)〕 ; (金陵刻經處) Cơ sở khắc in và phát hành kinh sách Phật giáo nằm ở đường Diên linh, thành phố Nam kinh Trung quốc. Vào cuối đời nhà Thanh, xã hội loạn lạc, binh lửa liên miên vì thế kinh điển của Phật giáo phần nhiều thất tán. Do lòng thương cảm, ông Dương văn hội cùng với hơn 10 người khác khuyến hóa khắp nơi để khắc bản lưu thông kinh Phật. Trong số hơn 10 người ấy có ông Trịnh học xuyên(về sau xuất gia, pháp hiệu Diệu không) ở Giang đô, sáng lập, Giang bắc khắc kinh xứ ở Chuyên kiều Kê viên tại làng Đông thuộc Dương châu; ông Dương văn hội thì thành lập cơ sở khắc kinh tại Nam kinh. Vào năm Đồng trị 12 (1873), ấn hành bức tranh Cực lạc thế giới y chính trang nghiêm, tượng Đại bi Quan âm thập nhất diện. Về sau, xây một tòa nhà ở Nam kinh để cất giữ những bản kinh đã được khắc trong mấy năm qua. Năm Quang tự 12 (1886), ông Dương văn hội sang Anh quốc, 3 năm sau về nước, thỉnh được bộ Súc loát Đại tạng kinh(Đại tạng kinh rút gọn) của Nhật bản, từ đó ông đóng cửa đọc tụng. Năm Quang tự 16 (1890), ông đến Bắc kinh sưu tầm sách của các bậc Cổ đức chưa được đưa vào Đại tạng nhưng đã bị thất tán và thông qua một học giả Phật giáo người Nhật là ông Nam điều Văn hùng, ông đã thỉnh được những tác phẩm Phật giáo thời Tùy, Đường từ Nhật bản đưa về Trung quốc, như các bộ: Trung luận sớ, Bách luận sớ, Thành duy thức luận thuật kí, v.v... và khắc bản lưu thông. Năm Quang tự 23 (1897), ông sáng lập Kim Lăng Khắc Kinh Xứ để cất giữ và phát hành kinh sách, là nơi ấn hành kinh điển Phật đầu tiên. Năm Quang tự 33 (1900), ông mở trường Phật học tại nơi khắc kinh, gọi là Tinh xá Kì viên, nhằm đào tạo nhân tài cho việc chấn hưng Phật giáo sau này. Nhưng chưa đầy 2 năm thì phải tạm ngưng vì thiếu kinh phí. Ông lại đóng cửa đọc Đại Nhật bản tục tạng kinh, ông nhận thấy bộ Tục tạng kinh này rất lộn xộn, nên ông sửa đổi mục lục các sách, mà biên soạn thành Đại Tạng Tập Yếu. Năm Tuyên thống thứ 3 (1911), ông mắc bệnh, lúc lâm chung, ông ủy thác cho 3 người: Trần tê am, Trần tuyên phủ và Âu dương tiệm khắc bản các kinh sách được ghi trong Đại tạng tập yếu, rồi lại triệu tập những người trong hội Nghiên cứu Phật học, cùng nhau duy trì Kim Lăng Khắc Kinh Xứ. Sau khi ông Dương văn hội qua đời, các ông Trần tê am, v.v... tiếp tục công việc khắc kinh. Sau khi chiến tranh Trung Nhật bùng nổ, việc khắc kinh phải đình chỉ và một số bản kinh đã bị mất. Năm Dân quốc 41 (1951), được sự giúp đỡ của giới Phật giáo ở Nam kinh và Thượng hải, cháu của ông Dương văn hội là các ông Dương lập sinh, Dương vũ sinh, cùng với các ông Từ bình hiên và Triệu phác sơ, thành lập Hội Ủy viên hộ trì Kim lăng khắc kinh xứ. Trong đó, ông Từ bình hiên là chủ trông coi mọi việc, có ông Lữ trừng phụ tá. Ngoài ra, cũng nhờ sự viện trợ kinh tế của Hiệp hội Phật giáo Trung quốc và sự ngoại hộ của ông Chu thúc ca, v.v... Hội này thực hiện kế hoạch bổ sung nghiệp vụ và mở rộng cơ sở khắc kinh, sửa sang những căn nhà dột nát và các bản kinh đã bị hư hại, tổng cộng đã có 900 bản khắc được tàng trữ. Từ năm Dân quốc 43 (1953) trở đi, nhờ sự hộ trợ của hiệp hội Phật giáo Trung quốc, hội lại tiến thêm một bước thu tập tất cả các bản kinh tản mạn trên khắp nước, tổng cộng được trên 12 vạn bản, tuyển 20 thợ khắc kinh để khắc cho đủ các bản kinh đã bị thất lạc và khắc những bản mới những kinh sách do ngài Huyền trang soạn dịch. Để đáp ứng nhu cầu khắc kinh, Hội đã làm ra các bản khắc mới, đào tạo thợ khắc, tận lực sưu tập các loại bản kinh đã bị thất tán, đồng thời, đặt chi bộ Trung quốc biên soạn sở để soạn bộ Thế Giới Phật Giáo Đại Bách Khoa Sự Điển bằng tiếng Anh. [X. Dương nhân sơn cư sĩ di trứ, tập thứ 1; Dương nhân sơn cư sĩ sự lược (Từ văn úy); Trung quốc Phật giáo sử Q.4 (Tưởng duy kiều)].

kim lăng phạm sát chí

3583凡五十三卷。明代葛寅亮撰。明萬曆三十五年(1607),南京僧錄司刊,天啟七年(1627)補刊序文本。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。金陵爲南朝之故都,兩晉佛法隆盛,南朝諸帝王多崇奉佛教,廣建佛剎,所謂四百八十寺者,多在故都。歷經戰亂,寺多毀敗。朱明開國,建都於此,招提重建,共得大寺三所、次大寺五所、中寺三十二所、小寺一二○所、最小者百餘所。然以道里迢遠,且山林荒僻,人迹未涉,方域莫辨,而爲邑史所忽。明萬曆間,葛寅亮乃撰金陵梵剎志,共計五十三卷,仿楊衒之洛陽伽藍記而體裁不同,不僅述寺觀,亦兼述祠政。首錄御製集、欽錄集,三卷以下則分述各寺,四十九卷爲南藏目錄,五十卷以下載各寺之公費、資財等之條例。體例謹嚴,搜羅完備,爲考金陵佛剎遺址及六朝佛教史之重要文獻。 ; (金陵梵刹志) Tác phẩm, 53 quyển, do ông Cát dần lượng soạn vào đời Minh. Năm vạn lịch 35 (1607), ti Tăng lục ở Nam kinh ấn hành; năm Thiên khải thứ 7 (1627), in thêm lời tựa, được thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vậng san, tập thứ 1. Nội dung sách này bắt chước theo Lạc dương già lam kí của Dương huyễn chi nhưng thể tài thì khác, để ghi chép về chùa Phật, Đạo quan (nhà thờ của Đạo giáo) và đền miếu ở Kim lăng, Kinh đô của các triều đại Nam triều và nhà Minh. Quyển đầu ghi chép về Ngự chế tập, Khâm lục tập, từ quyển thứ 3 đến quyển 48 lần lượt nói về các chùa, quyển 49 là mục lục Nam tạng, từ quyển 50 trở đi là ghi chép về điều lệ như công phí, tài sản của các chùa. Sách này bố cục chặt chẽ, tư liệu sưu tập rất hoàn bị, là văn hiến trọng yếu để khảo sát về các di tích chùa Phật ở Kim lăng cũng như lịch sử Phật giáo thời Lục triều.

kim lăng thanh lương viện văn ích thiền sư ngữ lục

3584全一卷。唐代僧法眼文益(885~958)撰,明代僧語風圓信、郭凝之編。又作大法眼文益禪師語錄、大智藏大導師語錄、清涼文益禪師語錄、文益錄、法眼錄。收於大正藏第四十七冊。集錄法眼文益之略傳,及其住崇壽院、報恩禪院、清涼禪院等處之開堂、上堂、示眾、問答、機緣、舉古、代古、偈頌等。文益接引後進,懇切提撕,不行棒喝,自本書所錄語要即可窺其宗風。卍續藏第一一九冊亦收錄本語錄,卷首附題「五家語錄法眼宗」,卷末附語錄風圓信、郭凝之所撰之五家語錄序二篇。 ; (金陵清凉院文益禪師語錄) Cũng gọi Đại pháp nhãn Văn ích thiền sư ngữ lục, Đại trí tạng đại đạo sư ngữ lục, Thanh lương Văn ích thiền sư ngữ lục, Văn ích lục, Pháp nhãn lục. Tác phẩm, 1 quyển, do thiền sư Pháp nhãn Văn ích (885-958) soạn vào đời Đường, các ngài Ngữ phong Viên tín và Quách ngưng chi biên tập vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này thu chép lược truyện về ngài Pháp nhãn Văn ích và các mục Khai đường, Thướng đường, Thị chúng, Vấn đáp, Cơ duyên, Cử cổ, Đại cổ, Kệ tụng, v.v... của ngài khi trụ tại viện Sùng thọ, viện Báo ân thiền, viện Thanh lương thiền, v.v... Qua những lời chỉ dạy trong bộ ngữ lục này, ta có thể thấy được tông phong của ngài Pháp nhãn Văn ích, ngài dắt dẫn người học đời sau bằng lòng khẩn thiết nhắc nhớ chứ không dùng phương pháp đánh hét. Ở đầu quyển có thêm phần Ngũ gia ngữ lục Pháp nhãn tông, cuối quyển chép thêm 2 bài tựa về Ngũ gia ngữ lục do 2 ngài Ngữ phong Viên tín và Quách ngưng chi soạn.

kim lưu

3531指印度恆河之支流尼連禪河(梵 Nairañjanā,今法爾古河)。又稱尼連禪江、尼連江水。釋尊放棄苦行時,曾至此沐浴,淨身後接受牧女乳糜之供養,後至河對岸畢鉢羅樹下,端坐思惟,得成正覺。無量壽經卷上(大一二‧二六六上):「現五濁剎,隨順群生。示有塵垢,沐浴金流。」〔方廣大莊嚴經卷七苦行品、大唐西域記摩揭陀國條〕(參閱「尼連禪河」1891、「兩河」3071) ; (金流) Cũng gọi Ni liên thiền giang, Ni liên giang thủy. Chỉ cho sông Ni liên thiền (Phạm: Nairaĩjanà, tức là sông Nhĩ pháp cổ ngày nay), là 1 chi nhánh của sông Hằng tại Ấn độ. Sau khi bỏ lối tu khổ hạnh, đức Thích tôn xuống sông này tắm gội thân thể sạch sẽ, rồi tiếp nhận bát sữa do 1 cô gái chăn bò cúng dường, sau đó, Ngài đến dưới gốc cây Tất bát la, đối diện bờ sông, đoan tọa tư duy, đạt thành chính giác. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng), nói: Thị hiện vào cõi 5 trược ác để tùy thuận chúng sinh, thị hiện có cáu bẩn, nên tắm gội ở Kim lưu. [X. phẩm Khổ hạnh, kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.7; điều Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí]. (xt. Ni Liên Thiền Hà, Lưỡng Hà).

kim mao quỷ

Ghosts with needle hair, distressing to themselves and others.

kim mao sư tử

The lion with golden hair on which Manjusri rides; also a previous incarnation of Buddha. ; 1) Sư tử lông vàng mà ngài Văn Thù Sư Lợi cỡi—The lion with golden hair on which Manjusri rides. 2) Sư Tử lông vàng cũng là tiền thân của Đức Phật: A previous incarnation of the Buddha.

kim mao thố giác

Kimō tokaku (J)Lông rùa sừng thỏ.

kim minh

3529(1914~ )福建莆田人,俗姓鄭,名清泉。又名至心。十六歲禮龜山福清寺香林和尚出家。年二十四,於福清寺受具足戒。畢業於莆田東山書院,並曾隨慈航法師研習因明、唯識。後赴馬來西亞弘法,先後於麻六甲創立香林覺苑(1946)、香林學校(1951),又與金星、竺摩二法師合籌馬來西亞佛教總會(1958)。現任馬來西亞佛教總會主席、馬來西亞佛學考試委員會主席、馬來西亞佛教青年總會宗教導師、香林學校及香林幼稚園董事長、香林覺苑住持等。著有國民型華文小學適用佛學課本(十冊)、佛法與人生社會的關係、佛陀的教育、道德教育等書。 ; (金明) (1914- ) Vị tăng Trung quốc thời hiện đại, người huyện Bồ điền, tỉnh Phúc kiến, họ Trịnh, tên Thanh tuyền, Chí tâm. Năm 16 tuổi, sư lễ hòa thượng Hương lâm chùa Phúc thanh, núi Qui sơn cầu xuất gia. Năm 24 tuổi, sư thụ giới Cụ túc tại chùa Phúc thanh. Sư tốt nghiệp tại thư viện Đông sơn, Bồ điền. Sau đó, theo pháp sư Từ hàng nghiên cứu nhân minh, Duy thức. Sau, sư đến Mã lai á hoằng pháp, lần lượt sáng lập Hương lâm giác uyển (1946), Hương lâm học hiệu (1951) ở Malacca và cùng với 2 pháp sư Kim tinh, Trúc ma thành lập Tổng hội Phật giáo Mã lai (1958). Sư từng đảm trách các chức vụ Chủ tịch Tổng hội Phật giáo Mã lai, Chủ tịch hội Ủy viên khảo thí Phật học Mã lai, Đạo sư tôn giáo của Tổng hội Thanh niên Phật giáo Mã lai, Giám đốc trường Hương lâm và vườn trẻ Hương lâm, Trụ trì Hương lâm giác uyển. Sư có các tác phẩm: Quốc dân hình hoa văn Tiểu học thích dụng Phật học khóa bản (10 tập), Phật pháp dữ nhân sinh xã hội đích quan hệ; Phật đà đích giáo dục, Đạo đức giáo dục.

Kim môn

(金門): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Từ gọi tắt của Kim Mã Môn (金馬門), tên của một cung môn dưới thời nhà Hán, là nơi dành cho các học sĩ chờ đợi chiếu chỉ của nhà vua ban xuống. Như trong Sử Ký (史記), phần Cốt Kê Liệt Truyện (滑稽列傳) có giải thích rằng: “Kim Mã Môn giả, hoạn thự môn dã; môn bàng hữu đồng mã, cố vị chi viết Kim Mã Môn (金馬門者、宦署門也、門傍有銅馬、故謂之曰金馬門, Kim Mã Môn là cổng [chờ] nhậm chức làm quan; bên cửa có con ngựa bằng đồng, nên gọi nó là Cổng Ngựa Vàng).” (2) Chỉ cho gia đình phú quý, giàu sang, quý phái. Như trong Ngụy Thư (魏書), Truyện Thường Cảnh (常景傳) có đoạn: “Phù như thị, cố ỷ các kim môn, khả an kỳ trạch, cẩm y ngọc thực, khả di kỳ hình (夫如是、故綺閣金門、可安其宅、錦衣玉食、可頤其形, phàm như vậy, cho nên gác lụa cổng vàng, có thể làm yên nhà cửa; áo gấm cơm ngọc, có thể nuôi dưỡng thân hình).” Trong Truyện Kiều cũng có câu rằng: “Chẳng sân ngọc bội, thời phường kim môn.” (3) Chỉ cho cổng lớn được trang sức bằng vàng. Như trong hồi thứ 65 của Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義) có câu: “Ngọc điện kim môn lưỡng phiến khai, nhạc thanh tề tấu hạ dao đài (玉殿金門兩扇開、樂聲齊奏下瑤臺, điện ngọc cổng vàng hai cánh khai, tiếng nhạc cùng tấu dưới ngọc đài).”

kim môn

Golden door (gate).

kim ngân

Gold and silver.

kim ngôn

Golden words, i.e. those of Buddha. ; Lời vàng của Phật—Golden words, i.e. those of Buddha.

Kim Ngưu

(金牛, Kingyū, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, pháp từ của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一), xuất thân vùng Trấn Châu (鎮州, Tỉnh Hà Bắc). Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) có ghi lại những hành trạng kỳ đặc của ông.

kim ngọc

Gold and jade.

kim nhân

3520又作金神。本指金銅之像,後因佛身常敷以金色,故金人又指佛,或佛像。佛教傳入中國之情形,曾有多種議論。據載,西漢武帝元狩二年(121 B.C.),曾由西方獲得金人而禮拜之。又東漢永平十年(67),明帝因夢金人,故遣使至月氏國,請回佛像、經典、僧伽等,此即爲金人之傳入。佛教初傳時,有關金人之名詞與性格的看法,大多留傳至今。〔佛祖統紀卷三十四、歷代三寶紀卷一、廣弘明集卷一、魏書釋老志第一一四、史記卷一一一衛將軍驃騎列傳、漢書列傳第二十五、後漢書西域傳第七十八〕 ; Buddha; an image of Buddha of metal, or gold. ; Tượng Phật bằng kim loại hay bằng vàng—A image of Buddha of metal or gold. ; (金人) Cũng gọi Kim thần. Vốn chỉ cho những tượng người được đúc bằng vàng, về sau, vì thân Phật có mầu vàng ròng nên kim nhân cũng chỉ cho thân Phật hoặc tượng Phật. Sự du nhập Phật giáo vào Trung quốc cũng có liên quan đến sự tích Kim nhân. Như năm Vĩnh bình thứ 10 (67) đời Đông Hán, vua Minh đế nằm mộng thấy Kim nhân, nên sai sứ đến nước Nguyệt thị thỉnh tượng Phật, kinh điển và chư tăng về Trung quốc, đó tức là Kim nhân được truyền vào và sự tích này được lưu truyền mãi đến ngày nay. [X. Phật tổ thống kỉ Q.34; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.1; Quảng hoằng minh tập Q.1; Ngụy thư Thích lão chí thứ 114; Vệ tướng quân Phiêu kị liệt truyện trong Sử kí Q.111; Hán thư liệt truyện thứ 25; Hậu Hán thư Tây vực truyện thứ 78].

kim nông

3585(1687~?)清代書畫家。浙江仁和人。字壽門,號吉金,又號冬心、司農吉金、蓮身居士、龍梭仙客、心出家盦粥飯僧、昔耶居士、金二十六郎。平生嗜奇好古,收儲金石之文不下千卷,詩格高簡,工於書法、繪畫。中年信佛,晚年更誠,嘗爲援鶉居士寫金剛經一卷,刻之棗木,精裝千本,普施海內外名勝禪林。此外,所繪之五色祥雲白衣觀音極爲著名,時人譽爲神品。享年七十餘。著有冬心集。〔清史稿卷五○九、清史列傳第七十一〕 ; (金農) (1687-?) Nhà thư họa Trung quốc, sống vào đời Thanh, người huyện Nhân hòa, tỉnh Chiết giang, tự Thọ môn, hiệu là Cát kim, Đông tâm, Tư nông Cát kim, Liên thân cư sĩ, Long thoa tiên khách, Kim nhị thập lục lang, Tích da cư sĩ. Bình sinh, ông thích những cái hay lạ của thời xưa, thu thập có tới ngàn quyển sách nói về tượng vàng, bia đá. Phong cách thơ của ông thanh cao giản dị và ông cũng rất giỏi về thư pháp, hội họa. Tuổi trung niên ông tin Phật, về già càng chí thành, từng viết cho cư sĩ Viên thuần 1 quyển kinh Kim cương, Viên thuần khắc in 1000 bản, đóng rất đẹp, rồi đem cúng dường khắp các Thiền lâm ở trong và ngoài nước. Ngoài ra, bức tranh Quan âm áo trắng ngồi trên áng mây 5 sắc do ông vẽ rất nổi tiếng, người đương thời khen là Thần phẩm. Ông mất năm hơn 70 tuổi. Ông có tác phẩm: Đông tâm tập.

kim năng

1222(1930~ )臺灣新竹人。法名定寂。年三十二禮妙廣法師披剃,四十五歲時受具足戒於臺北樹林吉祥寺。曾任公務員、民眾服務社理事等職。現任中國佛教會常務監事兼財務委員會主任委員、中華倫理教育學會理事、聖靈寺住持等職。師熱心於地方公益事業,並經常參加黨政活動,以溝通佛教與黨政之關係。

kim phong sơn tự

3581位於日本奈良縣吉野郡金峰山,爲金峰山修驗本宗之本山(原屬天台宗)。役小角所開創之修驗道,於平安中期,由於神佛和合之思想而繁榮。尤以聖寶、日藏等高僧,益受皇室尊崇,藤原道長亦曾朝山參拜。其實力之盛,可與高野山僧眾一爭長短,僧坊總計百餘數。源義經亦曾入山,後由於迎接後醍醐天皇,遂於此立一吉野朝。江戶時代由日光輪王寺管轄,一度衰頹不振,然亦爲修驗道之中心道場。其本堂藏王堂與 仁王門同爲康正二年(1456)所重建者。

kim phược pháp

(金縛法) Cũng gọi Bất động kim phược pháp, Bổng phược pháp. Pháp bí mật dùng để trói người của phái Tu nghiệm đạo Nhật bản. Pháp này nương vào uy lực của Minh vương Bất động mà trói buộc chân tay thân thể của người, khiến cho người ấy không cử động được.

kim phật

See Kim Nhân.

kim phọc pháp

3589又作不動金縛法、棒縛法。即依不動明王之威力,將人之手足身體全身縛緊,令其不能動彈之祕法。此法爲日本修驗道行者所傳。

kim quang

Golden light. ; Golden light.

kim quang minh

Ánh sáng vàng chói sáng—The golden light.

Kim Quang Minh Kinh

(s: Survarṅaprabhāsottama-sūtrendrarāja-sūtra, t: Ḥphags-pa gser-ḥod-dam-pa mdo-sdeḥi dbaṅ-poḥi rgyal-po-shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi mdo, c: Chin-kuang-ming-ching, j: Konkōmyōkyō, 金光明經): 4 quyển, hiện còn, Taishō 16, 335, No. 663, Đàm Vô Sấm dịch.

Kim quang minh kinh

金光明經; S: suvarṇaprabhāsa-sūtra;|Kim quang minh tối thắng vương kinh

kim quang minh kinh

3524梵名 Suvarṇaprabhāsottama-sūtra。與法華經、仁王經同爲鎮護國家之三部經。若誦讀此經,國家皆可獲得四天王之守護。本經重點在壽量品以下之四品,壽量品係記敘王舍城之信相菩薩懷疑佛之壽命僅有八十歲時,四方四佛即現身說明佛壽之長遠。懺悔品、讚歎品則謂金鼓光明之教法、金光明懺法之功德。此後之諸品則敘說四天王鎮護國家及現世利益之信仰。西域諸國對四天王之崇拜,以及中國金光明懺法之流行,均因信仰本經所致。 本經譯本有五種:(一)金光明經,四卷,北涼曇無讖譯。(二)金光明帝王經,七卷(或六卷),陳‧真諦譯。(三)金光明更廣大辯才陀羅尼經,五卷,北周耶舍崛多(一說闍那崛多)譯。(四)合部金光明經,八卷,隋代寶貴等糅編。(五)金光明最勝王經(略稱最勝王經),十卷,唐義淨譯。其中(一)(四)(五)收於大正藏第十六冊。(二)(三)之譯本,於諸藏中除聖語藏存有真諦譯之金光明經序及第一卷外,餘皆不傳。此外亦有日譯本與梵本(兩種)之刊行。又本經之注疏較重要者有真諦之金光明經疏十三卷、智顗之金光明經玄義二卷、金光明經文句六卷、吉藏之金光明經疏一卷、宗曉之金光明照解二卷。〔出三藏記集卷二、開元釋教錄卷一、卷六、卷十一、佛祖統紀卷二十五〕 ; Suvarṇaprabhā-sottama-sŪtra (S), Suvarṇapra-bhāsa-sŪtra (S) Kim quang minh tối thắng vương kinhMột bộ kinh trong Phương Quảng bộ. ; Suvarnaprabhàsa-sùtra (S) ; Suvarna-prabhasa-uttamaraja (skt)—Kim Quang Minh Kinh được dịch sang Hoa ngữ vào thế kỷ thứ sáu và hai bản dịch khác về sau nầy (có 3 bản dịch: Đàm Vô Sám đời Bắc Lương, Nghĩa Tịnh đời Đường, Thiên Thai Trí Giả). Kinh được sơ tổ tông Thiên Thai là ngài Trí Giả dịch và dùng cho tông phái mình—Golden Light Sutra, translated in the sixth century and twice later, used by the founder of T'ien-T'ai. ; (金光明經) Phạm:Suvarịaprabhàsottama-sùtra. Kinh, 4 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương được thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung kinh này chủ yếu nói về việc chư thiên và các thiẹn thần hộ vệ quốc gia. Những bản dịch khác của kinh này còn có: 1. Kinh Kim quang minh đế vương, 7 quyển (hoặc 6 quyển), do ngài Chân đế dịch vào đời Trần thuộc Nam triều. 2. Kinh Kim quang minh cánh quảng đại biện tài đà la ni, 5 quyển, do ngài Da xá quật đa(có thuyết nói do ngài Xà na quật đa) dịch vào đời Bắc Chu. 3. Kinh Hợp bộ kim quang minh, 8 quyển, do các ngài Bảo quí, v.v.. hợp biên vào đời Tùy. 4. Kinh Kim quang minh tối thắng vương(gọi tắt là kinh Tối thắng vương), 10 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Trong các bản dịch trên đây, chỉ có các bản (3) (4) được thu vào Đại chính tạng tập 16, còn các bản (1) (2), không thấy được truyền. Ngoài ra, còn có các bản dịch tiếng Nhật và nguyên bản tiếng Phạm cũng được ấn hành. Về phần chú sớ của kinh này, quan trọng hơn cả thì có: - Kim quang minh kinh sớ, 13 quyển, của ngài Chân đế. - Kim quang minh huyền nghĩa, 2 quyển, của ngài Trí khải. - Kim quang minh văn cú, 6 quyển, cũng của ngài Trí khải. - Kim quang minh kinh sớ, 1 quyển, của ngài Cát tạng. - Kim quang minh chiếu giải, 2 quyển, của ngài Tông hiểu. [X. Xuất tam tạng kí tập Q. 2; Khai nguyên thích giáo lục Q.1,6,11; Phật tổ thống kỉ Q.25].

kim quang minh kinh huyền nghĩa

3525凡二卷。隋代智顗口述,門人灌頂筆錄。略稱金光明玄義、光明玄義、光明玄。收於大正藏第三十九冊。爲天台五小部之一。就曇無讖所譯之金光明經敘說其玄義,共立釋名、出體、明宗、論用、教相等五重。釋名分教義釋、觀行釋二章,前者順說三德、三寶、三大乘、三菩提、三佛性、三識、三涅槃、三身、三般若、三道等十種三法,後者則爲逆說,以經之題名詳細解說。其次,各依經義、經文而以法身、法性爲體,以佛果爲其宗,以滅惡生善爲其力用。自五代末年以來,此書有廣略二種,廣本有釋名下之觀行釋,略本則無,時有慈光晤恩者,撰金光明經玄義發揮記以注解略本,而視廣本乃後人所偽作;此即山家、山外兩派論諍之發端。注書除晤恩之金光明經玄義發揮記(缺)外,尚有洪敏之金光明經玄義義記(缺)、智圓之金光明經玄義表微記一卷、知禮之金光明經玄義拾遺記六卷。〔佛祖統紀卷二十五、閱藏知津卷三十五、卷三十九〕 ; (金光明經玄義) Gọi tắt: Kim quang minh huyền nghĩa, Quang minh huyền nghĩa, Quang minh huyền. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Trí khải giảng vào đời Tùy, đệ tử là ngài Quán đính biên chép, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Nội dung giải thích nghĩa sâu kín của kinh Kim quang minh, bản dịch của ngài Đàm vô sấm, qua 5 phần: Thích danh, xuất thể, minh tông, luận dụng và giáo tướng. Phần thích danh chia làm 2 chương là Giáo nghĩa thích và Quán hành thích. 1. Giáo nghĩa thích: Theo mặt thuận, nói về 10 thứ Tam pháp: Tam đức, Tam bảo, Tam Đại thừa, Tam bồ đề,Tam Phật tính, Tam thức, Tam Niết bàn, Tam thân, Tam bát nhã và Tam đạo. 2. Quán hành thích: Theo mặt nghịch, giải thích tên kinh một cách chi tiết rõ ràng. Kế đến, đều y theo nghĩa kinh, văn kinh mà lấy pháp thân, pháp tính làm thể, lấy Phật quả làm tông, lấy diệt ác sinh thiện làm lực dụng. Từ những năm cuối thời Ngũ đại trở đi, bộ sớ này có 2 bản là quảng và lược, quảng bản có chương Quán hành thích trong phần Thích danh, còn lược bản thì không có. Lúc bấy giờ có ngài Từ quang Ngộ ân, soạn Kim quang minh huyền nghĩa phát huy kí để chú thích lược bản và xem quảng bản là do người đời sau ngụy tác; đây chính là đầu mối phát sinh ra cuộc tranh luận giữa 2 phái Sơn gia và Sơn ngoại. Về sách chú giải bộ sớ này gồm có: Kim quang minh kinh huyền nghĩa phát huy kí (đã thất truyền)của ngài Ngộ ân, Kim quang minh kinh huyền nghĩa nghĩa kí(thất truyền) của ngài Hồng mẫn, Kim quang minh kinh huyền nghĩa biểu vi kí, 1 quyển, của ngài Trí viên, Kim quang minh kinh huyền nghĩa thập di kí, 6 quyển, của ngài Tri lễ. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25; Duyệt tạng tri ân Q.35, 39].

kim quang minh kinh huyền nghĩa thập di kí

3525凡六卷。宋代知禮於天聖元年(1023)撰述。又作金光明玄義拾遺記、光明玄義拾遺記、光明玄拾遺記。收於大正藏第三十九冊。本書係隨文解釋智顗之金光明玄義,並破斥廣本觀心釋偽造說,抨擊孤山智圓之金光明玄義表微記有詞鄙、義疏、理乖、事誤等四失。〔佛祖統紀卷二十五、閱藏知津卷三十九、諸宗章疏錄卷二〕

kim quang minh kinh huyền nghĩa thập di ký

(金光明經玄義拾遺記) Cũng gọi Kim quang minh huyền nghĩa thập di kí, Quang minh huyền nghĩa thập di kí, Quang minh huyền thập di kí. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Tri lễ soạn vào niên hiệu Thiên thánh năm đầu (1023) đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Nội dung sách này giải thích văn nghĩa của bộ Kim quang minh huyền nghĩa do ngài Trí khải soạn, đồng thời bác bỏ thuyết ngụy tạo, Quán tâm thích trong quảng bản và công kích bộ Kim quang minh huyền nghĩa biểu vi kí của ngài Cô sơn Trí viên vì 4 lỗi: Lời thô, nghĩa cạn, lí trái và sự lầm. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25; Duyệt trạng tri tân Q.39; Chư tông chương sớ lục Q.2].

Kim quang minh kinh huyền nghĩa 金光明經玄義

[ja] コンコウミョウキョウゲンギ Konkōmyōkyō gengi ||| The Jin guangming jing xuanyi; By Zhiyi and Guanding.T 1783.39.1a-12a. => (j: Konkōmyōkyō gengi ; c: Jin guangming jing xuanyi); của ngài Trí Khải (智顗c: Zhiyi) và Quán Đảnh (灌頂 ).

kim quang minh kinh sớ

3526全一卷。隋代吉藏(549~623)撰。收於大正藏第三十九冊。爲曇無讖所譯金光明經四卷之注釋書。本書將金光明經十八品中分爲精簡之三科節:第一序品爲序說分,第二壽量品至第十七捨身品爲正說分,第十八讚佛品流通分。此外又闡釋金光明經之大旨,說明金光明經之力用,並讚歎持守該經之功德等。本書之注釋,文簡義顯,爲金光明經重要古注之一。雖不如天台大師智顗之金光明經玄義及金光明經文句之詳細,然亦可窺見吉藏之獨特見解。智顗將金光明經判立爲五時教中之第三時,攝於方等部中;吉藏則將之攝於究竟大乘菩薩藏,屬於頓教。本書之撰述,約於吉藏六十歲左右。〔東域傳燈目錄卷上、諸宗章疏錄卷一〕 ; (金光明經疏) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cát tạng (549-632), soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Sách này giải thích bộ kinh Kim quang minh 4 quyển do ngài Đàm vô sấm dịch. Nội dung chia 18 phẩm của kinh Kim quang minh làm 3 phần: - Phần tự thuyết: Phẩm tựa thứ nhất. - Phần chính thuyết: Từ phẩm Thọ lượng thứ hai đến phẩm Xả thân thứ 17. - Phần lưu thông: Phẩm tán Phật thứ 18. Ngoài ra, còn giải thích rõ về đại ý, lực dụng và tán thán công đức của kinh Kim quang minh; lời văn ngắn gọn, ý nghĩa sáng sủa, là bộ chú sớ quan trọng cho việc nghiên cứu kinh Kim quang minh. So với các bộ Kim quang minh kinh huyền nghĩa và Kim quang minh kinh văn cú của đại sư Trí khải tông Thiên thai, thì sách này tuy không được tỉ mỉ và rõ ràng bằng, nhưng người ta cũng không thể phủ nhận những kiến giải độc đáo của ngài Cát tạng. Chỗ khác nhau nữa là ngài Trí khải xếp kinh Kim quang minh vào Phương đẳng bộ thuộc thời thứ 3 trong 5 thời phán giáo, còn ngài Cát tạng thì xếp kinh này vào tạng Cứu cánh Đại thừa bồ tát, thuộc Đốn giáo. Ngái Cát tạng soạn bộ sớ này lúc ngài khoảng 60 tuổi. [X. Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng; Chư tông chương sớ lục Q.1].

kim quang minh kinh văn cú

3524凡六卷。隋代智顗口述,門人灌頂筆錄。略稱金光明文句、光明文句。收於大正藏第三十九冊。爲天台五小部之一。隨文解釋北涼曇無讖所譯之金光明經,並排斥江北及江南諸師三分科經之分法,而自「如是我聞」至壽量品之「悉來聚集信相菩薩摩訶薩室」爲序分(一品半),自「爾時四佛」至空品爲正宗分(三品半),四王品以後爲流通分(十三品)。注疏有知禮之金光明經文句記十二卷、從義之金光明文句新記七卷、明得之金光明經文句科一卷等。〔佛祖統紀卷二十五、閱藏知津卷三十五、卷三十九〕 ; (金光明經文句) Gọi tắt: Kim quang minh văn cú, Quang minh văn cú. Tác phẩm, 6 quyển, do đại sư Trí Khải giảng vào đời Tùy, đệ tử là ngài Quán đính biên chép, thu vào Đại chính tạng tập 39. Nội dung sách này giải thích kinh Kim quang minh do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương, Trung quốc, đồng thời, bài xích cách chia kinh này làm 3 khoa của các nhà chú giải kinh ở Giang bắc và Giang nam. Còn về phần mình, trong bộ sớ này, ngài Trí khải chia kinh Kim quang minh ra như sau: - Phần tựa: Từ câu Tôi nghe như vầy đến đoạn Tất cả đều đến nhóm họp trong thất của Đại bồ tát Tín tướng trong phẩm Thọ lượng (1 phẩm rưỡi). - Phần chính tông: Từ câu Bấy giờ, 4 đức Phật đến hết phẩm Không (3 phẩm rưỡi). - Phần lưu thông: Từ phẩm Tứ vương về sau (13 phẩm). Về sách chú thích bộ sớ này thì có: Kim quang minh kinh văn cú kí, 12 quyển của ngài Tri lễ, Kim quang minh kinh văn cú tân kí, 7 quyển của ngài Tòng nghĩa, Kim quang minh kinh văn cú khoa 1 quyển của ngài Minh đắc. [X. Phật tổ thống kỉ Q,25; Duyệt tạng tri tân Q.35, 39].

kim quang minh kinh văn cú kí

3525凡十二卷。宋代知禮撰述。又作金光明文句記、光明文句記。收於大正藏第三十九冊。本書隨文解釋智顗之金光明經文句。其初,知禮之師義通宣講金光明經文句時,門徒競錄所聞成卷,然曠遠之旨羈絆不宣,經論援證謬誤亦不少,以致知禮有所感慨,遂援舉所領大義,又借智圓之金光明文句索隱中之俗書故實以爲裨助,撰述此書。至十七品,未竟而入寂。最後之讚佛品由其門人廣智追補。〔佛祖統紀卷二十五、新編諸宗教藏總錄卷一、閱藏知津卷三十九〕

kim quang minh kinh văn cú ký

(金光明經文句記) Cũng gọi Kim quang minh văn cú kí, Quang minh văn cú kí. Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Tri lễ soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Nội dung giải thích bộ Kim quang minh kinh văn cú của đại sư Trí khải. Mới đầu, thầy của ngài Tri lễ là hòa thượng Nghĩa thông, tuyên giảng Kim quang minh kinh văn cú, các đệ tử ganh nhau ghi chép thành sách những điều mình đã nghe, nhưng lại không nói lên được cái ý chỉ cao xa sâu rộng, phần dẫn chứng các kinh luận cũng sai lầm không ít. Vì thế, ngài Tri lễ mới căn cứ vào đại nghĩa mà mình đã lãnh hội được và tham khảo bộ Kim quang minh văn cú sách ẩn của ngài Trí viên mà soạn thành sách này. Nhưng đến phẩm thứ 17 thì ngài Tri lễ viên tịch, đệ tử của ngài là sư Quảng trí tiếp tục soạn thêm phẩm Tán Phật. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25; Tân biên chư tông giáo tạng mục lục Q.1; Duyệt tạng tri tân Q.39].

Kim quang minh kinh 金光明經

[ja] コンコウミョウキョウ Konkōmyōkyō ||| Jinguangming jing; the Suvarna-prabhāsa-(uttama)-sūtra. A text primarily regarded as a scripture for state protection, which offers a wide variety of instruction on Buddhist practices such as expression of faith and repentance, as well as basic doctrine, such as the five skandhas, dependent origination, emptiness and so forth. There are five Chinese translations, as well as various commentarial works available. The three primary translations are (1) by Dharmakṣema 曇無讖 of the Northern Liang (金光明經; T 663.16.335-357, 4 fascicles in eight chapters); (2) By Baogui 寶貴 et. al. of the Sui dynasty (合部金光明經; T 664.16.359-402; 8 fasc.); (3) by Yijing 義淨 of the Tang dynasty (金光明最勝王經; T 665.16.403-457, 10 fascicles in 31 chapters). Though the first translation is incomplete, it has famous commentaries attached. The merit of this sutra is that wherever it is worshipped, the four Guardian Gods (護四王) protect the state and benefit the people. One of the three 'state protecting sutras' in Japan, along with the Lotus Sutra 法華經 and Sutra of the Benevolent King 仁王經. See also T 1783-1787. => (j: Konkōmyōkyō; c: Jinguangming jing; s: Suvarna-prabhāsa-(uttama)-sūtra). Bộ kinh chủ yếu được xem như là pháp bảo trấn quốc. Kinh đề ra những lời giáo huấn đa dạng về tu tập Phật pháp như biểu hiện tín tâm và sám hối cũng như những giáo lý căn bản như ngũ uẩn, lý duyên khởi, tánh không v.v...Có 5 bản dịch tiếng Hán, cũng như có nhiều luận giải có giá trị. Ba bản dịch chính là: 1. Kim quang minh kinh. Ngài Đàm Vô Sấm (s: Dharmakṣema 曇無讖) đời Bắc Lương dịch. Tám phẩm trong 4 quyển. 2. Hiệp bộ Kim quang minh kinh 合部金光明經. Ngài Bảo Quý (c: Baogui 寶貴) và những người khác dịch vào đời Tùy. Tám quyển. 3. Kim quang minh tối thắng vương kinh 金光明最勝王經. Ngài Nghĩa Tịnh (c: Yijing 義淨 ) dịch vào đời Đường. Ba mươi mốt phẩm trong tám quyển. Mặc dù bản dịch thứ nhất chưa hoàn chỉnh, nhưng có rất nhiều luận giải theo bản kinh nầy. Công đức của kinh nầy là bất kỳ kinh được thờ phụng nơi đâu, thì Tứ thiên vương sẽ hộ trì lãnh thổ ấy và khiến cho dân được an lạc. Đây là một trong ba 'pháp bảo trấn quốc' ở Nhật Bản, cùng với Kinh Pháp Hoa và Nhân vương kinh (e: Benevolent King 仁王經)

kim quang minh nữ

Phu nhân của Kim Quang Đồng Tử—Wife of Golden Light Drum—See Kim Quang Đồng Tử.

kim quang minh sám pháp

3526請參閱 金光明懺法 即依金光明經所修之懺悔法。又作金光明三昧懺。略稱金光明懺。其儀則,依據國清百錄卷一所載,首先莊嚴道場,安置唱經座,設列幡華,佛座之左爲功德天座,右爲四王天座,諸座各燒香散華。行者日日洗浴,身著新淨衣,手執香爐,一心頂禮十方常住一切三寶;其次三請諸佛、菩薩、聖僧、諸天、諸神,一心虔述建懺之意,三唱寶華琉璃世尊、金光明經、功德天,自歸後方,共坐食,儀成。此係午前之法,其他則唯專唱誦金光明,凡七日七夜。 宋代遵式曾依據金光明最勝王經,撰述金光明懺法補助儀,設立十科,詳明其軌式如下:嚴淨道場方法、清淨三業方法、香華供養方法、召請咒方法、讚歎述意方法、稱三寶及散灑方法、禮敬三寶方法、修行五悔方法、旋繞自歸方法、唱誦金光明典方法等。此外,宋代知禮亦撰有金光明最勝懺儀,以說明其行儀。〔佛祖統紀卷八、卷十、佛祖歷代通載卷二十七、大明高僧傳卷二、續釋氏稽古略卷一〕 ; (金光明懺法) Cũng gọi: Kim quang minh tam muội sám. Gọi tắt: Kim quang minh sám. Nghi thức sám hối theo kinh Kim quang minh. Ngài Tuân thức đời Tống đã y cứ vào kinh Kim quang minh tối thắng vương mà soạn Kim quang minh sám pháp bổ trợ nghi, đặt ra 10 khoa, nói rõ về nghi thức này như sau: Trang nghiêm đạo tràng, thanh tịnh 3 nghiệp, cúng dường hương hoa, trì chú triệu thỉnh, tỏ ý tán thán, kính lễ Tam bảo, tu hành ngũ hối, đi nhiễu và tự qui, đọc tụng kinh Kim quang minh v.v... Ngoài ra, ngài Tri lễ đời Tống cũng có soạn Kim quang minh tối thắng sám nghi, nói rõ nghi thức lễ tụng. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8, 10; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27; Đại minh cao tăng truyện Q.2; Tục thích thị kê cổ lược Q.1].

Kim quang minh tối thắng vương kinh

金光明最勝王經; S: suvarṇaprabhāsotta-ma-rāja-sūtra; cũng được gọi tắt là Kim quang minh kinh;|Tên của một bộ kinh Ðại thừa. Kinh này đóng một vai trò quan trọng tại Nhật vì nói đến một số quan điểm chính trị của đạo Phật, được giới quý tộc tại đó coi trọng.|Kinh này bắt đầu với sự giảng nghĩa về tính chất của một vị Phật, một vị không chỉ tồn tại, xuất hiện dưới nhân dạng mà cũng là sự biểu hiện của nguyên lí vũ trụ. Phật ở trong mỗi chúng sinh và tất cả chúng sinh đều thụ hưởng, cảm nhận được lòng từ bi vô biên của Phật. Ngoài ra kinh này cũng dạy rằng, cánh cửa của các cõi Phật luôn luôn mở rộng tiếp độ chúng sinh bởi vì mỗi chúng sinh đều là Phật. Phương cách để đạt được mục đích trên chính là sám hối và hành động vị tha; một câu chuyện quan trọng được kể lại trong kinh này là việc một đức Phật thời xa xưa hiến thân mình cho một con sư tử đói.|Một điểm quan trọng của kinh này là trí Bát-nhã (s: prajñā), một loại trí biết phân biệt thiện ác: Mỗi người, từ vua chúa đến thường dân đều phải theo ánh sáng của nội tâm này.|Khía cạnh chính trị được nêu ra rõ nhất trong phẩm nói về luật pháp và trong đó, kinh này nói rằng, chính quyền và tôn giáo được thống nhất bằng Phật pháp. Tất cả những luật pháp của nhân thế đều nên có mục đích cao nhất là thái bình. Một vương tử cũng phải bị trừng phạt nếu ông ta vi phạm pháp luật; nhưng nếu ông ấy cai trị liêm chính, tuân hành nghiêm chỉnh pháp luật thì tạo rất nhiều thiện nghiệp, công đức vô biên. Ðất nước nào phổ biến và tuân theo những lời dạy trong kinh này được các Thiên vương và chư Thiên (s: deva) hộ vệ.|Trong thời Nại Lương (nara, tk. 8), kinh này được phổ biến rộng tại Nhật, đặc biệt rất được các nhà cầm quyền bấy giờ quý trọng – quý trọng đến mức độ chư vị muốn lập một vương quốc theo gương kinh này dạy.

kim quang minh tối thắng vương kinh

3523請參閱 金光明懺法 請參閱 金光明經文句 請參閱 金光明經玄義 請參閱 金光明經玄義捨遺記 請參閱 金光明最勝王經疏 凡十卷三十一品。唐代義淨譯。略稱最勝王經。收於大正藏第十六冊。此經乃金光明經之別譯本。爲金光明經之譯本中最後出而最完備者。本經敘說金光明懺法之功德,且敘述由四天王之鎮護國家和現世利益之信仰。廣爲我國、日本所重視。古來,本經之注疏頗多,較重要者有,隋吉藏之金光明經疏一卷、隋智顗之金光明經文句六卷與金光明經玄義二卷、唐慧沼之金光明最勝王經疏十卷等。(參閱「金光明經」3524) ; Chin-kuang-ming tsui-sheng-wang ching (C)Xem Kim quang minh kinh. ; (金光明最勝王經) Gọi tắt: Tối thắng vương kinh. Kinh, 10 quyển, 31 phẩm, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Đây là bản dịch sau cùng trong các bản dịch kinh Kim quang minh và được coi là hoàn bị nhất. Nội dung kinh này nói về công đức của pháp sám Kim quang minh, về Tứ thiên vương trấn hộ quốc gia và những lợi ích trong đời hiện tại mà chư Thiên mang lại. Kinh này rất được Trung quốc và Nhật bản xem trọng. Sách chú sớ của kinh này rất nhiều, nhưng quan trọng hơn cả thì có: Kim quang minh kính sớ, 1 quyển, của ngài Cát tạng đời Tùy, Kim quang minh kinh văn cú 6 quyển và Kim quang minh kinh huyền nghĩa, 2 quyển, của ngài Trí khải đời Tùy, Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ, 10 quyển, của ngài Tuệ chiểu đời Đường. (xt. Kim Quang Minh Kinh).

kim quang minh tối thắng vương kinh sớ

3524凡十卷。唐代慧沼(?~714)述。又作金光明疏。收於大正藏第三十九冊。金光明最勝王經現存之譯本有三:北涼曇無讖譯、隋代寶貴等糅編、唐代義淨譯。本書乃根據義淨之譯本所作之注釋書。旨在闡釋金光明經之起因、名稱、宗、體,以及金光明經之說法時間、受持本經之利益,並逐一依文會釋。本書之特徵有二:(一)其立場爲三乘、五姓各別等法相宗教學之基礎。(二)強調金光明最勝王經符合唐代流行之護國思想。 ; (金光明最勝王經疏) Cũng gọi: Kim quang minh sớ. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Tuệ chiểu (?-714) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Đây là sách chú thích kinh Kim quang minh tối thắng vương theo bản dịch của ngài Nghĩa tịnh. Nội dung giải thích về duyên khởi, đề kinh, tông, thể, thời gian nói kinh Kim quang minh và lợi ích của sự thụ trì kinh này. Sách này có 2 đặc điểm: 1. Lập trường của sách này được xây dựng trên nền tảng của giáo học tông Pháp tướng như: Tam thừa, Ngũ tính các biệt. 2. Nhấn mạnh tư tưởng hộ quốc được lưu hành ở đời Đường phù hợp với kinh Kim quang minh tối thắng vương.

Kim quang minh tối thắng vương kinh 金光明最勝王經

[ja] コンコウミョウサイショウオウキョウ Konkōmyō saishōō kyō ||| Jinguangming zuishengwang jing; 10 fascicles in 31 chapters, trans. by Yijing 義淨 of the Tang dynasty, T 665.16.403-457. For more information on this text, see 金光明經. => (j: Konkōmyō saishōō kyō; c: Jinguangming zuishengwang jing); 10 quyển , gồm 31 phẩm. Ngài Nghĩa Tịnh (c: Yijing 義淨) dịch.

kim quang phật sát

Cảnh giới thấp nhất của Phật Giới—The lowest of the Buddha-ksetra.

kim quang tự

Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Kim Quang ban đầu có tên là Tường Quang, là một ngôi chùa do dì của Vua Thành Thái là bà Nguyễn Thị Lựu xây dựng năm 1871. Bốn năm sau khi lên ngôi, vua Thành Thái đã sắc tứ biển ngạch đổi tên là Kim Quang Tự, và cấp tiền để phụng thờ tiên tổ. Hoàng Thái Hậu Từ Minh, thân mẫu của vua Thành Thái ban tiền để thếp vàng tượng Phật và mở rộng nhà Tăng cũng như hậu liêu. Sau cơn bão lịch sử năm 1904, chùa bị hư hại nặng, nên nhà vua cấp tiền trùng tu, qui mô chùa lại một lần nữa đổi mới. Năm 1962, sư Bích Phong chùa Qui Thiện đôn đốc trùng tu. Năm 1963 sư Toàn Lạc xây cổng tam quan, trùng tu bình phong, làm cho cảnh chùa trở nên uy nghi hơn. Chùa Kim Quang gắn liền với họ ngoại của vua Thành Thái. Ảnh của hai vị vua Thành Thái và Duy Tân đã được thờ trên án thờ phía sau chùa. Chùa Kim Quang là nơi lưu niệm của hai vì vua yêu nước—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple's original name was Tường Quang. It was built in 1871 by one of king Thành Thái's aunts, Mrs. Nguyễn Thị Lựu. In 1892, four years after he came to the throne, king Thành Thái officially recognized the temple and renamed it Kim Quang, and allotted land for the use of the temple to keep up worship services. The Từ Minh, the king's mother, granted money for the statues to be gilted and the staff house as well as the house enlarged. After the historic storm in 1904, the temple was badly damaged, so the king granted money for an overall reconstruction. The structure of the temple once more changed for the better. In 1962, Venerable Bich Phong from Qui Thiện temple supervised the reconstruction of the temple. In 1963, Venerable Toàn Lạc built the three-entrance gate, restored the screen wall, giving the temple a more impressive appearance. Kim Quang temple was closely linked with the maternal family of king Thành Thái. Portraits of king Thành Thái and king Duy Tân were positioned on the altar in the back room of the temple. Kim Quang temple is also a souvenir to the above two patriotic kings.

kim quang đồng tử

Kim Quang Minh Cổ—Người trẻ tuổi dòng Thích Ca trong thành Ca Tỳ La Vệ, có thân hình đẹp đẽ như ánh kim quang, xuất gia và gia nhập Tăng đoàn của Đức Phật—Golden Light Drum—A youth of the Sakya tribe in Kapilavastu, who had a beautiful golden light body, left home and joined the Order.

kim quy

Con rùa vàng mà cả thế giới phải tựa vào—The golden tortoise on which the world rests. ** For more information, please see Kim Luân.

Kim sa

(金沙、金砂): cát có màu vàng, bột phấn vàng. “Kim sa dụng tử (金沙用子)” có nghĩa là người dùng bột phấn vàng, tức chỉ cho người cao sang, quyền quý.

kim sa

Cát vàng—Golden sand.

kim sa hà

Một dòng sông tưởng tượng ở Niết Bàn—An imaginary river in the Nirvana.

kim sa luân tam muội

3528由修禪定所得五種功德之一。修習禪定,破除煩惱有淺深次第,可分爲五:地輪三昧、水輪三昧、風輪三昧、金沙輪三昧與金剛輪三昧。金沙輪三昧之禪定,其特色爲觀想肚臍上方,使心定靜不散亂。此處金係譬喻真,沙譬喻無著。行者若發見思真慧,無染無著,得三道果,猶如金沙,故稱金沙輪三昧。若菩薩得此三昧,即入三賢十地位中,能破一切塵沙煩惱。〔次第禪門卷三上〕(參閱「五輪三昧」1200) ; (金沙輪三昧) Một trong 5 thứ công đức do tu thiền định mà có được. Trình tự tu tập thiền định, phá trừ phiền não từ cạn đến sâu, có thể chia làm 5 lớp: Địa luân tam muội, Thủy luân tam muội, Phong luân tam muội, Kim sa luân tam muội và Kim cương luân tam muội. Đặc sắc của thiền định Kim sa luân tam muội là quán tưởng ở phía trên rốn, khiến cho tâm định tĩnh không tán loạn. Ở đây, Kim (vàng) ví dụ cho chân thực, Sa(cát) ví dụ cho không đắm trước. Nếu hành giả phát được chân tuệ kiến tư(trí tuệ chân thực phá trừ được Kiến hoặc, Tư hoặc), không đắmkhông dính, thì chứng được quả Tam đạo(Chứng đạo, Trợ đạo, Bất trụ đạo), giống như cát vàng, nên gọi là Kim sa luân tam muội. Khi Bồ tát chứng được tam muội này, thì liền bước lên địa vị Tam hiền, Thập thánh, phá được hết thảy trần sa phiền não. [X. Thứ đệ thiền môn Q.3 phần trên]. (xt. Ngũ Luân Tam Muội).

kim suý điểu

Xem ca lâu la.

kim sát

A golden pagoda; the nine golden circles on top of a pagoda. ; 1) Kim Tháp: A golden pagoda. 2) Cửu Kim Luân đặt trên đỉnh tháp: The nine golden circles on top of a pagoda.

Kim sí điểu

金翅鳥; S: garuḍa;|Ca-lâu-la

kim sí điểu

xem chim cánh vàng. ; 3581請參閱 華嚴金師子章 梵語 suparṇa,或 suparṇin。音譯蘇鉢剌尼。意譯羽毛美麗者。又譯食吐悲苦聲。係印度神話之鳥,被視同迦樓羅鳥(梵 garuḍa,蘗嚕拏)。又作妙翅鳥、項癭鳥。爲印度教毘濕奴神所跨乘。於佛教中,爲八部眾之一,翅翮金色,兩翼廣三三六萬里,住於須彌山下層。據長阿含經卷十九載,此鳥有卵生、胎生、濕生、化生四種,常取卵胎濕化之諸龍爲食。〔大樓炭經卷三、卷四、菩薩從兜術天降神母胎說廣普經卷七、文殊師利菩薩根本大教王經金翅鳥王品、法華文句卷二下、華嚴經探玄記卷二、俱舍論光記卷八、慧苑音義卷上〕(參閱「迦樓羅鳥」3974) ; (金翅鳥) Phạm: Suparịa, hoặc Suparnin. Hán âm: Tô bát lạt ni. Cũng gọi: Diệu sí điểu, Hạng anh điểu. Loài chim trong thần thoại Ấn độ, thần Tỳ thấp nô trong Ấn độ giáo thường cỡi loài chim này. Trong Phật giáo, chim này là 1 trong 8 bộ chúng, lông cánh vàng, 2 cánh rộng 3.360.000 dặm, trụ ở tầng dưới núi Tu di. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 19, loài chim này có 4 thứ: Đẻ trứng, đẻ bọc, đẻ dưới nước và tự nhiên sinh, thường bắt rồng để ăn. [X. kinh Đại lâu thán Q.3, 4; kinh Bồ tát tòng đâu suất thiên giáng thần mẫu thai thuyết quảng phổ Q.7; phẩm Kim sí điểu vương trong kinh Văn thù sư lợi bồ tát căn bản đại giáo vương; Pháp hoa văn cú Q.2 hạ; Hoa nghiêm thám huyền kí Q.2; Câu xá luận quang kí Q.8; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].(xt. Ca Lâu La Điểu).

kim sí điểu vương

xem chim cánh vàng.

Kim sí điểu vương kinh 金翅鳥王經

[ja] コンジチョウオウキョウ konjichōō kyō ||| (T 1276.21.325-329); abbreviated title of the Wenshushīi pusa genben dajiaowangjing jinchi niaowang pin 文殊師利菩薩根本大教王經金翅鳥王品. => (k: Kŭmsijowang kyŏng; j: konjichōō kyō). Viết tắt của Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát căn bản đại giáo vương kinh Kim sí điểu vương phẩm (c: Wenshushīi pusa genben dajiaowangjing jinchi niaowang pin 文殊師利菩薩根本大教王經金翅鳥王品).

Kim sí điểu 金翅鳥

[ja] コンジチョウ konjichō ||| A translation of the Sanskrit garuḍa. See 迦樓羅. => Hán dịch chữ Garuḍa từ tiếng Sanskrit. Xem Ca-lâu-la 迦樓羅.

Kim sơn

(金山): núi vàng, từ này được dùng để ví dụ cho thân Phật; như trong Phẩm Tựa của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) có câu: “Thân sắc như kim sơn, đoan nghiêm thậm vi diệu (身色如金山、端嚴甚微妙, thân màu như núi vàng, đoan nghiêm thật vi diệu).” Hay trong Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 27, phẩm Hướng Bồ Đề Thọ (向菩提樹品), còn có câu: “Thử tất thiên quang tân nhật xuất, uy đức chiếu diệu như kim sơn, lân mẫn nhất thiết chư thiên nhân, tạm đáo thọ vương như sư tử (此必千光新日出、威德照耀如金山、憐愍一切諸天人、漸到樹王如師子, đây ắt hào quang trời mới mọc, oai đức chiếu tỏa như núi vàng, thương xót hết thảy các trời người, tạm đến dưới cây như sư tử).” Hoặc trong Đại Phương Đẳng Đà La Ni Kinh (大方等陀羅尼經, Taishō Vol. 21, No. 1339) quyển 1, lại có đoạn: “Thế Tôn thân sắc như kim sơn, do như nhật quang chiếu thế gian, năng bạt nhất thiết chư khổ não, ngã kim khể thủ đại pháp vương (世尊身色如金山、猶如日光照世間、能拔一切諸苦惱、我今稽首大法王, Thế Tôn thân màu như núi vàng, giống như mặt trời chiếu thế gian, có thể bạt trừ các khổ não, con nay cúi lạy đấng pháp vương).” Kim sơn còn chỉ cho núi vàng bảy tầng ở chung quanh Tu Di Sơn (s, p: Sumeru, 須彌山).

kim sơn

Metal or golden mountain, i.e. Buddha, or the Buddha's body. ; 1) Núi Thiết Vi hay Tu Di: Metal or golden mountain or Sumeru. 2) Thân Phật: The Buddha's body. ** For more information, please see Thất Kim Sơn. 3) Tên một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Kim Sơn trước đây tên là Bửu Sơn, rồi Ngọc Sơn. Không ai biết chùa được xây dựng từ đời nào, nhưng hiện nay tại sân Bảo Tàng Cổ Vật Huế vẫn còn một tấm bia đá chùa Bửu Sơn đề năm 1667. Năm 1904, cơn bão lớn đã làm cho chùa sụp đổ. Qua năm 1908, vua Duy Tân cho đem tượng Phật và pháp khí về chùa Thiên Mụ. Trên nền cũ chỉ dựng lại một nhà từ đường để thờ những vị Tăng quá cố. Vào khoảng cuối thập niên 1970s, chùa được tái thiết, vẫn tọa lạc trên ngọn đồi tròn thuộc làng Bảo Hựu, cuối một dãy đồi thấp về phía tây của Huế—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple was first named Bửu Sơn, then Ngọc Sơn. No one knows when the temple was built; however, there is still a stele of the temple positioned in the yard of the Museum of Historic Antiques of Huế which dated 1667. In 1904, a big storm badly damaged the temple. In 1908, king Duy Tân ordered to dismantle the temple and to transfer Buddha statues and ritual instruments to Thiên Mụ temple. On the old side, only a worhsip house was built for the worship of the dead monks. In the 1970s, the temple was rebuilt on the the round hill at Bảo Hựu village, at one end of a range of low hills west of Huế.

kim sơn chí

3521凡十卷。清朝盧見曾撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。金山舊未有志,明朝正德年間(1506~1521),進士京口張萊始與焦與之北顧共編「三山志」,筆殊雅潔。後廬陵之胡經又撰輯金山志。清康熙二十年(1681),住持行海撰「金山龍遊禪寺志略」四卷,闡釋頗詳。乾隆(1736~1795)初年,閩人劉名芳亦曾撰志,務在增廣。諸家之志,各有所偏,亦各有所重。乾隆二十七年(1762),德州盧見曾參考諸志,核證群書,補缺訂訛,別撰新志十卷,分門爲六:山水、建置、碑刻、方外、雜識、藝文。光緒年間(1875~1908),沙門秋崖弘啟道場,並博採群書、搜羅碑碣以補本書,輯爲續志二卷。

kim sơn hoạt phật

3522(1852~1935)民國奇僧。陝西終南人,俗姓董。法名覺棟,號妙善。依止終南山竹林寺本照和尚出家。宣統元年(1909),受具足戒於山西臥龍寺。後曾在鎮江金山寺掛單數十年,時以神通遊戲,濟度世人,故時人稱之爲金山活佛。民國十八年(1929),赴緬甸仰光弘化,二十四年,示寂於該地,世壽八十四。師濟世弘化,不拘形迹,常以洗澡水、鼻涕、口水治人疾病,且常爲動物說法。平素念佛,每以特殊聲調唱念「誰念南無阿彌陀佛」八字,誦持大悲咒,常入禪定。雖不甚講究威儀,然所行實融匯禪、淨、密三家精神,以實踐菩薩道,故頗爲當時佛子所推崇。樂觀之金山活佛神異錄及煮雲之金山活佛等書,推介甚詳。 ; (金山活佛) (1852-1935) Vị thánh tăng ở chùa Kim sơn sống vào thời Dân quốc, người huyện Chung nam, tỉnh Thiểm tây, họ Đổng, pháp danh Giác đống, hiệu là Diệu thiện. Ngài y chỉ vào hòa thượng Bản chiếu xuất gia ở chùa Trúc lâm, núi Chung nam. Niên hiệu Tuyên thống năm đầu (1909) ngài thụ giới Cụ túc ở chùa Ngọa long, tỉnh Sơn tây, sau đó trụ ở chùa Kim sơn tại Trấn giang mấy mươi năm. Bấy giờ ngài thường dùng thần thông du hí tế độ người đời nên được tôn xưng là Phật sống Kim sơn. Năm Dân Quốc 18 (1929) ngài đến thủ đô Ngưỡng quang của Miến điện hoằng pháp 24 năm. Ngài hoằng hóa giúp đời không câu nệ hình thức, thường dùng nước tắm rửa, nước mũi, nước miếng để chữa bệnh cho người và nói pháp cho động vật. Khi niệm Phật, ngài thường dùng âm điệu đặc biệt xướng niệm 8 chữ Thùy niệm Nam mô A di đà Phật(Ai niệm nam mô A di đà Phật?), tụng trì chú Đại bi, thường vào Thiền định. Tuy không chú trọng về uy nghi lắm, nhưng cử chỉ của ngài rất phù hợp với tinh thần Thiền, Tịnh và Mật tông, nên rất được Phật tử đương thời kính trọng. Ngài tịch ở Miến điện năm 1935 thọ 84 tuổi.

kim sơn mục thiều

3523(1876~1958)日本佛教學學者。畢業於高野山大學。曾任該校教授。著有弘法大師の佛教觀、祕藏寶鑰の大綱、真言密教の教學、真言密教の教理史、大日經の研究、弘法大師の信仰觀等。 ; (金山穆韶) (1876-1958) Học giả Phật giáo Nhật bản, tốt nghiệp Đại học Cao dã sơn và làm giáo sư ở trường này. Ông có các tác phẩm: Hoằng pháp Đại sư đích Phật giáo quan, Bí tạng bảo thược đích đại cương, Chân ngôn Mật giáo đích giáo học, Chân ngôn Mật giáo đích giáo lí sử, Đại nhật kinh đích nghiên cứu, Hoằng pháp đại sư đích tín ngưỡng quan.

kim sơn tự

3521<一>位於江蘇鎮江郊外之金山。相傳爲東晉元帝(或謂明帝)時所創建。前臨長江,與焦山、北固山同爲江南文人雅好遊歷之處,自宋代以後,才廣爲世人熟知。梁武帝天監四年(505),曾於本寺啟建水陸懺法。宋真宗咸平(998~1003)初年,帝派遣內侍藍繼宗勅賜大藏經,大中祥符五年(1012),改稱「龍遊寺」。先後有曇穎、懷賢、佛印、義天、善寧了心等高僧住此。宋徽宗時,一度改爲道觀,易名「神霄玉清萬壽宮」。至南宋淳熙年間,縕衷重修之。清代康熙、乾隆兩帝先後至此參訪。康熙二十五年(1686)易名爲「江天寺」,然金山寺之寺號仍極流行。現存天王殿、大雄寶殿、五觀堂、藏經閣等,諸堂整然。於寺內另有一座高約四十八公尺之八角七層塔,爲本寺著名建築之一。〔佛祖歷代通載卷二十七、卷二十九、古今圖書集成職方典第七三四〕(參閱「江天寺」2472) <二>位於韓國全羅北道金提郡。爲百濟法王元年(599)所開創之名剎。新羅統一時代景德王六年(747),真表律師再建此寺,以彌勒菩薩爲本尊,以瑜伽論、唯識論爲所依之經典;金山寺遂成爲朝鮮半島法相宗立教開宗之根本道場。當時所造之石造舍利塔、六重石塔等今皆存,而新羅全盛時代之藝術風貌仍然殘存。再建後之大寂光殿觀音畫像爲朝鮮壁畫中之代表作。三層彌勒殿之建築樣式,爲他處所無,於建築史之地位極爲重要。其所供奉高約十一點八公尺之彌勒像,號稱朝鮮第一大銅像。 ; (金山寺) I. Kim Sơn Tự. Chùa ở Kim sơn, ngoại ô huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Tương truyền chùa được sáng lập vào đời vua Nguyên đế(có thuyết nói vua Minh đế) nhà Đông Tấn. Mặt chùa nhìn ra Trường giang (sông Dương tử), cùng với Tiêu sơn, núi Bắc cố đều là những thắng cảnh mà các văn nhân vùng Giang nam thường đến du ngoạn, nhưng từ đời Tống về sau chùa mới được nhiều người biết đến. Năm Thiên giám thứ 4 (505), vua Vũ đế nhà Lương lập đàn Sám pháp Thủy lục ở chùa này. Đầu năm Hàm bình (998-1003), vua Chân tông nhà Tống sai quan Nội thị là Lam kế tông ban Đại tạng kinh cho chùa, năm Đại trung tướng phù thứ 5 (1012) đổi tên là chùa Long du. Lần lượt có các vị cao tăng như: Đàm dĩnh, Hoài hiền, Phật ấn, Nghĩa thiên,Thiện ninh Liễu tâm, v.v... trụ trì chùa này.Thời TốngHuy tông, chùa bị dùng làm Đạo quan và đổi tên là Thần tiêu ngọc thanh Vạn thọ cung. Đến khoảng năm Thuần hi đời Nam Tống, chùa được ngài Ôn trung sửa lại. Đời Thanh, 2 vua Khang hi và Càn long đều đến thăm chùa này. Năm Khang hi 25 (1686), chùa được đổi tên là chùa Giang thiên, nhưng người ta vẫn quen gọi hiệu chùa Kim sơn. Hiện nay, chùa vẫn còn đầy đủ các kiến trúc như: Đại hùng Bảo điện, điện Thiên vương, Ngũ quan đường, lầu chứa kinh và 1 tòa tháp nổi tiếng, hình bát giác, 7 tầng, cao khoảng 48m. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.27, 29; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 734]. (xt. Giang Thiên Tự). II. Kim Sơn Tự. Chùa ở quận Kim đề, tỉnh Toàn la bắc, Hàn quốc, được sáng lập vào niên hiệu Bách tế Pháp vương năm đầu (599). Đây là ngôi chùa nổi tiếng ở Hàn quốc. Năm Cảnh đức vương thứ 6 (747), luật sư Chân biểu đã xây dựng lại chùa này, thờ đức Di lặc làm Bản tôn, dùng các bộ luận Du già, Duy thức làm cơ sở cho việc hoằng pháp. Từ đó, chùa trở thành đạo tràng căn bản của tông Pháp tướng tại bán đảo Triều tiên. Tòa pháp xá lợi bằng đá và ngôi tháp 6 tầng bằng đá khác được kiến tạo vào thời ấy đến nay vẫn còn. Bức tranh Quan âm trong điện Tịch quang được trùng tu là tác phẩm đại biểu cho nghệ thuật bích họa của Triều tiên. Kiểu kiến trúc của điện Di lặc 3 tầng, hiếm thấy ở các nơi khác, đã chiếm một địa vị quan trọng trong lịch sử kiến trúc. Tượng đức Di lặc cao khoảng 11,8m thờ ở điện Di lặc là pho tượng đồng lớn nhất ở Triều tiên.

kim sơn vương

Phật, đặc biệt là Phật A Di Đà—Buddha, especially Amitabha.

kim sư tổ thừa

1221天台三相承之一。又作今師相承。即以智顗為宗師,立其次第相承,則南嶽慧思為父師,北齊慧文為祖師,龍樹為曾祖師。〔摩訶止觀卷一之上、止觀輔行傳弘決卷一之一〕 ; (今師祖承) Cũng gọi Kim sư tương thừa. Tiếng dùng của tông Thiên thai, một trong Tam tương thừa. Tức là sự truyền thừa từ bồ tát Long thụ đến đại sư Trí khải. Ngài Trí khải là Tông sư, lập thành thứ tự truyền thừa của tông Thiên thai như sau: Ngài Tuệ tư ở Nam nhạc là Phụ sư, ngài Tuệ văn đời Bắc Tề là tổ sư, ngài Long thụ là Tằng tổ sư. [X. Ma ha chỉ quán Q.1 thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 1].

kim sắc

Golden coloured. ; Có màu vàng—Golden coloured.

kim sắc ca diếp

3528即摩訶迦葉(梵 Mahā-kāśyapa)。彼身有金色之光,爲頭陀行第一,故又稱大飲光、金色頭陀、金色尊者。乃付法藏之第一祖,古來禪家即以迦葉「拈花微笑」之故事傳誦不絕。(參閱「迦葉」3969) ; Name for Mahàkàsyapa, as he is said to have, ẩm quang, swallowed light, hence his golden hue. ; Tên của Ngài Đại Ca Diếp. Ngài có tên Kim Sắc Ca Diếp do bởi tương truyền ngài nuốt ánh sáng, nên thân tỏa ra kim sắc—Name of Mahakasyapa, as he is said to have swallowed light, hence his golden hue. ; (金色迦葉) Cũng gọi Đại ẩm quang, Kim sắc đầu đà, Kim sắc tôn giả. Tức là ngài Ma ha Ca diếp (Phạm:Mahàkàzyapa), 1 trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật. Vì toàn thân Ngài phát ra ánh sáng vàng chói nên gọi là Kim sắc. (Xt. Ca Diếp).

Kim sắc giới

(金色界): hay kim sắc thế giới (金色世界), thế giới có sắc màu hoàng kim. Nó còn là tên gọi thế giới thanh tịnh của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利). Bộ Triều Dã Quần Tải (朝野羣載) 16 có đoạn rằng: “Phụng thỉnh kim sắc thế giới Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vi Yết Ma A Xà Lê (奉請金色世界文殊師利菩薩爲羯磨阿闍梨, phụng thỉnh Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi của thế giới có sắc màu hoàng kim làm Yết Ma A Xà Lê)”.

kim sắc khổng tước vương

3528爲千手觀音之眷屬,護持行者之善神。二十八部眾之一。其形像爲黃金色,左手執寶幢,幢上有孔雀鳥,呈細妙色,宣說無量之妙言。真言爲「唵具光苏吒沙羅迦羅放光苏吒沙羅迦羅周遍吽羅迦唵苏吒娑婆訶」。〔千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經、千手觀音造次第法儀軌、佛像圖彙卷四〕(參閱「二十八部眾」173) ; The golden-hued peacock king, protector of travellers, in the retenue of the 1,000 hands Quán Âm. ; Vị Thiên Thần hỗ trợ người tu hành, là quyến thuộc của Thiên Thủ Quán Âm—The golden-hued peacock king, protector of travellers, in the retinue of the 1,000-hand Kuan-Yin. ; (金色孔雀王) Vị Thiện thần giữ gìn che chở người tu hành, là quyến thuộc của bồ tát Thiên thủ Quán âm, 1 trong 28 bộ chúng. Hình tượng của vị thần này là thân mầu vàng ròng, tay trái cầm cờ báu, trên cờ có con chim khổng tước(chim công) mầu sắc rực rỡ, thốt ra vô lượng âm thanh vi diệu. Chân ngôn là: Án cụ quang bạn tra sa la ca phóng quang bạn tra sa la ca la chu biến hồng la ca án bạn tra sa bà ha. [X. kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni; Thiên thủ Quán âm tạo thứ đệ pháp nghi quĩ; Phật tượng đồ vậng Q.4]. (xt. Nhị Thập Bát Bộ Chúng).

kim sắc nữ

3527佛世時波羅奈國王之女。據經律異相卷三十四載,王之夫人生一女,身黃金色,頭髮紺青。年十六,父母欲爲之求婿,女言須得身相與其相同者;然於該國中覓索不得。時佛在舍衛國,舍衛國商人至波羅奈國,言國中有其人。王聞而歡喜,使商人迎其人。商人即作書與佛,說此女端正無比,願佛娶之。時佛在祇洹精舍,爲數千比丘說法,持書人直至佛所呈書。佛陀預知書中所說,取而裂之,並作書報知金色女,說無常生死之苦。女得書後,深自思惟,即得五神通,遂至佛所禮敬。 ; Công chúa Kim Sắc Nữ, người mà người ta nói rằng đã ưng chịu Thái Tử Tất Đạt Đa vì màu da của Ngài giống màu da “kim sắc” của bà—The princess of Varanasi, who is said to have ben offered in marriage to Sakyamuni because he was of the same colour as herself. ; (金色女) Con gái vua nước Ba la nại sống vào thời đại đức Phật. Cứ theo kinh Luật dị tướng quyển 34, hoàng hậu nước Ba la nại sinh 1 người con gái thân mầu vàng chói, mái tóc xanh biếc. Năm 16 tuổi, vua cha định gả chồng, cô cho biết phải lựa chọn người có thân tướng mình vàng ròng như cô thì mới ưng thuận; nhưng khắp trong nước không tìm được ai. Bấy giờ, có người lái buôn từ Xá vệ đến tâu với vua nước Ba la nại rằng ở nước ông ta có người như vậy. Nhà vua mừng rỡ và nhờ ngay lái buôn đi rước người ấy về. Người lái buôn liền viết thư cho Phật, nói cô gái ấyxinh đẹp không ai sánh bằng và xin Phật hãy lấy cô ta làm vợ! Lúc đó, đức Phật ở tại tinh xá Kì viên, đang thuyết pháp cho mấy nghìn vị tỉ khưu, người đưa thư đến thẳng chỗ Phật trình lên. Đức Phật đã biết trước trong thư nói gì rồi, nên Ngài xé bỏ và viết thư nói cho Kim sắc nữ hiểu về nỗi khổ của sinh tử vô thường. Sau khi xem thư, Kim sắc nữ tự suy tư sâu sắc, đạt được 5 thứ thần thông, liền đến kính lễ đức Phật.

kim sắc thế giới

3528爲文殊菩薩之淨土名。據新華嚴經卷十二如來名號品載,過東方十佛剎微塵數之世界,即有一金色世界,其佛號爲不動智,該世界有文殊師利菩薩。又據宋高僧傳卷二十一法照傳載,法照曾遇一老人,老人謂(大五○‧八四四上):「師先發願於金色世界,奉覲大聖,今何不去?」又有關文殊菩薩之淨土,另有不同之說法,如文殊師利佛土嚴淨經卷下、大寶積經卷六十文殊師利授記會載,文殊菩薩自往昔那由他阿僧祇劫以來,發十八種大願,嚴淨佛國,當來成佛,稱爲普現如來,其佛土在南方,號離塵垢心世界、無垢世界、清淨無垢寶寘世界。〔悲華經卷三諸菩薩本授記品、法華經卷四提婆達多品、朝野群載卷十六〕 ; The golden-hued heaven of Manjusri. ; Cõi trời Kim Sắc hay cõi Tịnh Độ của ngài Văn Thù Sư Lợi—The golden coloured heaven of Manjusri. ; (金色世界) Tịnh độ của bồ tát Văn thù. Cứ theo phẩm Như lai danh hiệu trong kinh Hoa nghiêm quyển 12 (bản dịch mới), trải qua các thế giới nhiều như số bụi nhỏ của 10 cõi Phật ở phương đông, có 1 thế giới tên là Kim sắc, đức Phật ở thế giới ấy hiệu là Bất động trí và trong thế giới ấy có bồ tát Văn thù sư lợi. Về Tịnh độ của bồ tát Văn thù, còn có nhiều thuyết khác nhau. Theo kinh Văn Thù sư lợi Phật độ nghiêm tịnh quyển hạ và hội Văn thù sư lợi thụ kí trong kinh Đại bảo tích quyển 60, thì đã qua bao nhiêu na do tha a tăng kỳ kiếp từ thủa xa xưa đến nay, bồ tát Văn thù đã phát 18 đại nguyện làm cho cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh, trong đời vị lai sẽ thành Phật, hiệu là Phổ hiện Như lai, cõi Phật ấy ở phương nam, hiệu là Li trần cấu tâm thế giới, Vô cấu thế giới, Thanh tịnh vô cấu bảo trí thế giới. [X. phẩm Chư Bồ tát bản thụ kí kinh Bi hoa Q.3; phẩm Đề bà đạt đa kinh Pháp hoa Q.4; Triều dã quần tải Q.16].

kim sắc vương

Tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—A previous incarnation of the Buddha.

kim sắc y

See Kim Lan Y.

kim thai

See Kim Cang Giới Thai Tạng Giới.

kim thai lưỡng bộ

3531指密教之金剛界、胎藏界兩部。略稱兩部。於「一心法界」之上,立理平等與智差別二門,以顯其理智之應用無窮。詮說智差別之經軌爲金剛頂部,詮說理平等之經軌爲胎藏部。金剛頂部以金剛頂經爲根本經典,依此所畫之曼荼羅,稱爲金剛界曼荼羅;胎藏部以大日經爲根本經典,依此所畫之曼荼羅,稱爲胎藏界曼荼羅。金剛界即智差別門,以金剛表之,象徵如來實智之堅寶,又稱智界;胎藏界即理差別門,以蓮花表之,象徵眾生本有之理性蘊含於大悲萬行之中,又稱理界。又金剛界爲除障成身,自受法樂之行相,即轉九識而成就五智,故立五部;胎藏界爲化度利生,他受法樂之行相,故立三部,開大定、大智、大悲三門,以引攝眾生。 有關兩部之三昧耶形,諸說各異,如:(一)金剛界以塔爲三昧耶形,胎藏界以窣堵波爲三昧耶形。(二)金剛界以多寶塔爲三昧耶形,始藏界以五輪塔爲三昧耶形。(三)兩部同以五輪塔爲三昧耶形。又金剛界大日如來之種子爲???(vaṃ,鍐),係五智融通之故;胎藏界大日如來之種子爲???(aḥ,惡),係方便爲究竟之故。而???(hūṃ)爲金剛界之種子,???(a,阿)爲胎藏界之種子。金剛界以字門之末字爲種子,表示「從本垂迹」之義;胎藏界以字門之首字爲種子,顯示「從因至果」之義。另有一說則謂,???字爲胎藏界大日如來理法身之種子,???字爲金剛界大日如來智法身之種子,此二字即可代表金、胎兩部。又金剛界曼荼羅以月輪表示而用圓形,胎藏界曼荼羅以蓮花表示而用方形,兩者之理趣互異。 金剛界與胎藏界雖各立詮說,然理之外無智,智之外無理,色、心本不二;離金剛界別無胎藏界,離胎藏界別無金剛界,故金、胎兩部一體不二。金、胎兩部乃一體而不可分之說,始於密宗七祖惠果,其門人日僧空海將師之旨意傳入日本,真言宗遂產生兩部不二說,如東密之主張;台密則主張兩部對立,故於金、胎兩部外另立蘇悉地部,因蘇悉地經融合理、智,詮說兩部一體不二之旨,蘇悉地部之曼荼羅稱爲雜曼荼羅。〔大日經疏卷三、金剛頂大教王經疏卷一〕 ; (金胎兩部) Gọi tắt: Lưỡng bộ. Chỉ cho 2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới của Mật giáo. Ở trong Nhất tâm pháp giới lập 2 môn Lí bình đẳng và Trí sai biệt để hiển bày sự ứng dụng vô cùng của Lí và Trí. Những kinh điển, nghi quĩ nói rõ về trí sai biệt gọi là Kim cương đính bộ; những kinh điển, nghi quĩ thuyết minh về Lí bình đẳng thì gọi là Thai tạng bộ. Kim cương đính bộ lấy kinh Kim cương đính làm căn bản và Mạn đồ la được căn cứ vào bộ kinh này mà vẽ ra, gọi là Mạn đồ la Kim cương giới. Thai tạng bộ lấy kinh Đại nhật làm căn bản, Mạn đồ la được căn cứ vào bộ kinh này mà vẽ ra, gọi là Mạn đồ la Thai tạng giới. Kim cương giới cũng gọi là Trí giới, tức Trí sai biệt môn, được biểu thị bằng kim cương, là vật báu cứng chắc, tượng trưng cho thực trí của Như lai. Thai tạng giới cũng gọi là Lí giới, tức Lí sai biệt môn, được biểu hiện bằng hoa sen, tượng trưng cho Lí tính mà chúng sinh vốn có sẵn bao hàm trong muôn hạnh đại bi. Kim cương giới là hành tướng trừ chướng thành thân, tự thụ pháp lạc, tức chuyển 9 thức mà thành tựu 5 trí, cho nên lập 5 bộ; còn Thai tạng giới là hành tướng hóa độ lợi sinh, tha thụ pháp lạc, cho nên lập 3 bộ, mở 3 môn: Đại định, Đại trí, và Đại bi để nhiếp dẫn chúng sinh. Về hình Tam muội da của 2 bộ, các thuyết đều khác nhau, như: 1. Kim cương giới lấy tháp làm hình tam muội gia, Thai tạng giới lấy tốt đổ ba làm hình Tam muội da. 2. Kim cương giới lấy tháp Đa bảo làm hình Tam muội da, Thai tạng giới lấy tháp Ngũ luân làm hình Tam muội da. 3. Cả 2 bộ đều lấy tháp Ngũ luân làm hình Tam muội da. Về chủng tử thì: Chủng tử của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới là (vaô), nghĩa là 5 trí dung thông; chủng tử của Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới là (a#), nghĩa là phương tiện tức cứu cánh. Còn (hùô) là chủng tử của Kim cương giới, (a) là chủng tử của Thai tạng giới. Kim cương giới lấy chữ cuối của tự môn làm chủng tử, biểu thị ý nghĩa từ bản lập tích; Thai tạng giới lấy chữ đầu của tự môn làm chủng tử, biểu thị ý nghĩa từ nhân đến quả. Còn có thuyết nói chữ là chủng tử Lí pháp thân của Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới, chữ là chủng tử Trí pháp thân của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới. Hai chữ này đại biểu cho Kim cương bộ và Thai tạng bộ. Lại nữa, Mạn đồ la Kim cương giới biểu thị bằng nguyệt luân nên dùng hình tròn; còn Mạn đồ la Thai tạng giới thì được biểu trưng bằng hoa sen nên dùng hình vuông, Lí thú của 2 bộ này khác nhau. Kim cương giới và Thai tạng giới, tuy mỗi giới có lập cách giải thích riêng, nhưng ngoài lí thì không có trí và ngược lại, ngoài trí cũng không có lí, sắc và tâm vốn không hai; lìa Kim cương giới thì không có riêng Thai tạng giới, mà lìa Thai tạng giới thì cũng không có riêng Kim cương giới, cho nên Kim cương bộ và Thai tạng bộ là cùng một thể, không hai. Thuyết Kim cương bộ và Thai tạng bộ là cùng một thể bất khả phân, được bắt đầu từ ngài Huệ quả, tổ thứ 7 của Mật tông, đệ từ ngài là sư Không hải, người Nhật, truyền ý chỉ này của ngài về Nhật bản, từ đó, tông Chân ngôn Nhật bản liền phát sinh thuyết Lưỡng bộ bất nhị do Đông Mật chủ trương, nhưng Thai Mật thì chủ trương Lưỡng bộ đối lập, cho nên ngoài Kim cương bộ và Thai tạng bộ, còn lập thêm Tô tất địa bộ, vì kinh Tô tất địa dung hợp Lí và Trí, thuyết minh ý chỉ Lưỡng bộ nhất thể bất nhị, nên Mạn đồ la của Tô tất địa bộ được gọi là Tạp mạn đồ la. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3; Kim cương đính đại giáo vương kinh sớ Q.1].

Kim thiềm

(金蟾): có hai nghĩa. (1) Con cóc sắc màu vàng kim. Như trong bài thơ Đề Bắc Bình Chiểu (題北平沼) của Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850-933) nhà Tiền Thục có câu: “Bảo chi thường tại tri thùy đắc, hảo giá kim thiềm nhập thái hư (寶芝常在知誰得、好駕金蟾入太虛, nấm báu ở đó ai biết được, khéo cỡi cóc vàng lên không trung).” Hay trong bài thơ Thường Nga Đồ (嫦娥圖) của Hà Cảnh Minh (何景明, 1483-1521) nhà Minh lại có câu: “Ngọc vũ quỳnh lâu bế tảo thu, kim thiềm ngân sắc đề hàn dạ (玉宇瓊樓閉早秋、金蟾銀兔啼寒夜, nhà ngọc lầu son đóng sớm thu, cóc vàng màu bạc khóc đêm lạnh).” (2) Tên gọi khác của mặt trăng. Truyền thuyết thần thoại cho rằng trong mặt trăng có con cóc, nên gọi như vậy. Như trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 11, có câu: “Kim thiềm sơ xuất hải, hà xứ bất phân minh (金蟾初出海、何處不分明, mặt trăng ló khỏi biển, chốn nào chẳng sáng soi).”

Kim Thánh Thán

(金聖嘆, Kin Seitan, 1608-1661): nhà bình luận văn nghệ sống vào khoảng cuối thời nhà Minh và đầu nhà Thanh, xuất thân Huyện Ngô (呉縣), Tỉnh Giang Tô (江蘇省), tên là Nhân Thoại (人瑞), hiệu Thánh Thán (聖嘆). Ông có viết sách bình luận về Thủy Hử Truyện (水滸傳), Tây Sương Ký (西廂記), v.v.

kim thân

The golden body, that of Buddha. ; Thân Kim Sắc của Đức Phật—The golden body or person, that of Buddha—The whole body of the Buddha.

kim thích

1222(1614~1680)清代曹洞宗僧。浙江仁和人,俗姓金。一名性因,又作恬因。字澹歸。號甘蔗生、茅坪衲僧、借山野衲。原為崇禎年間之進士,明亡後,遂為僧,參天然硚禪師得曹洞心法,粗衣蔬食,超然本色。初居丹露禪院,暮年以請藏歸吳。康熙十七年(1678),結茅於平湖。十九年,示疾,秋八月端坐說偈而化,世壽六十七,法臘二十九,弟子奉舍利建塔於匡廬。所撰疏註甚多,另有徧行堂正續集。〔宗統編年卷三十二、憺園文集卷三十二〕 ; (今釋) (1614-1680) Vị thiền tăng Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào đời Thanh, người huyện Nhân hòa, tỉnh Chiết giang, họ Kim, tên là Tính nhân, Điềm nhân, tự là Đạm qui, hiệu là Cam giá sinh, Mao bình nạp tăng, Tá sơn Dã nạp. Khoảng năm Sùng trinh, sư thi đậu Tiến sĩ, sau khi nhà Minh mất, sư xuất gia làm tăng, tham học thiền sư Thiên nhiên thị và được truyền tâm pháp. Sư rất đạm bạc nhưng bản sắc siêu việt hơn người. Lúc đầu sư ở thiền viện Đan lộ, năm Khang hi 17 (1678), sư cất am tranh ẩn cư tại Bình hồ. Năm Khang hi 19 (1680) sư thị tịch, thọ 67 tuổi, 29 tuổi hạ, đệ tử xây tháp thờ sư ở Khuông lư. Sư để lại tác phẩm: Biến hành đường chính tục tập. [X. Tông thống biên niên Q.32; Đạm viên văn tập Q.32].

kim thóc như lai

1) Kim Thóc Như Lai: Hạt thóc vàng Như Lai—The golden grain Tathagata. 2) Danh hiệu của Duy Ma Cật trong một tiền kiếp: A title of Vimalakirti in a previous incarnation.

kim thương viên chiếu

3531(1896~ )日本佛教學者。一九二○年畢業於東京大學文學部印度哲學科。曾任東北大學教授、研究科主任。著有吠檀多哲學の研究、印度古代精神史、印度中世精神史、印度精神文化之研究、三論玄義(譯注)、法華經之形成與發展,並參與西藏大藏經總目錄附索引、西藏撰述佛典目錄等之編纂工作。 ; (金倉圓照) (1896-) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản. Năm 1920, ông tốt nghiệp khoa Triết học Ấn độ thuộc bộ Văn học trường Đại học Đông kinh. Ông từng làm giáo sư và Chủ nhiệm khoa Nghiên cứu của trường Đại học Đông bắc. Ông tham gia biên soạn Tây tạng Đại tạng kinh tổng mục lục phụ sách dẫn, Tây tạng soạn thuật Phật điển mục lục, v.v... Ông có các tác phẩm: Phệ đàn đa triết học đích nghiên cứu, Ấn độ cổ đại tinh thần sử, Ấn độ trung thế tinh thần sử, Ấn độ tinh thần văn hóa chi nghiên cứu, Tam luận huyền nghĩa (dịch chú), Pháp hoa kinh chi hình thành dữ phát triển.

kim thạch văn

3523金屬所製之雕刻、器物及石雕、石碑、瓦磚等,其上所刻之銘文或文章稱爲金石文。印度阿育王時代之石柱、磨崖法勅、山琦(梵 Sāñchī)等浮雕皆有刻銘。菩提伽耶之石碑亦甚著名。西藏遍境之石面上多刻有觀音六字咒。我國自北魏以來即有石佛之刻銘、石碑、石經、瓦磚等。日本自古有法隆寺金堂藥師如來像之光背銘、奈良藥師寺之佛足石歌碑。此外,尚有梵鐘、佛具、擬寶珠等之刻銘,與石碑(板碑)、印章、瓦當、瓦經等,皆可補足史書所缺之資料。 ; (金石文) Bài văn được khắc trên kim loại, trên đá, bia đá, hoặc trên gạch, ngói, v.v... gọi là Kim thạch văn. Như trên các cột đá, sườn núi ở Ấn độ xưa, vua A dục đã từng cho khắc các bài Pháp sắc, các bài minh. Ở Tây tạng, 6 chữ thần chú Quan âm được khắc trên đá ở khắp nơi trong nước. Tại Trung quốc, từ đời Bắc Ngụy về sau, rất nhiều bộ kinh được khắc trên đá, thường gọi là Thạch kinh. Tóm lại, Kim thạch văn rất phổ biến tại các nước theo Phật giáo nói chung. Ngoài ra, còn có bài minh được khắc trên hồng chung, Phật cụ, các bia đá, ấn chương, ngõa kinh(kinh khắc trên mặt viên ngói), thạch kinh, v.v... đều là những tư liệu giá trị giúp rất nhiều cho công trình nghiên cứu lịch sử.

kim thất thập luận

3520梵名 Sāṅkhya-kārikā。凡三卷。梁‧真諦譯。又作僧佉頌、僧佉論、迦毘羅論。收於大正藏第五十四冊。本書爲數論外道破斥佛教之論書,因其內容涉及佛教,故雖爲外教之典籍,亦被收在佛教藏經中。本論有頌與長行;作者不詳,或謂係外道迦毘羅仙人(梵 Kapila)所造,頌爲自在黑(梵 Īśvara-kṛṣṇa)所造,長行爲天親所釋。有關本書之書名,經論說法不一,據成唯識論述記卷一末、卷四末載,自在黑造七十行頌,金耳國王賜金賞之,彼爲彰顯令譽,遂稱之爲金七十論。 一九二二年,薛爾瑪(Vishmu Prasad Śarma)出版梵本之釋及本頌,其英譯本則早於一八八七年由柯爾布魯克(Henry Thomas Colebrooke)所出版。本論之注疏較重要者有宗朗之金七十論解二卷、曉應之金七十論備考三卷、智幢之金七十論疏三卷。〔歷代三寶紀卷十、開元釋教錄卷七〕 ; Sankhya-kārikā (S)Tên một bộ kinh. ; (金七十論) Phạm:Sàíkhya-kàrikà. Cũng gọi Tăng khư tụng, Tăng khư luận, Ca tì la luận. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Đây là bộ sách của ngoại đạo Số luận bài bác Phật giáo, nhưng vì nội dung có đề cập đến Phật giáo nên cũng được đưa vào Đại tạng kinh. Luận này gồm có các bài tụng (văn vần)và trường hàng(văn xuôi). Có thuyết cho rằng tác giả luận này là ngoại đạo Ca tì la tiên nhân (Phạm:Kapila), hoặc cho rằng phần kệ tụng do Tự tại hắc (Phạm: Ìzvara-kfwịa) soạn, phần trường hàng do ngài Thiên thân chú thích. Về tên gọi của luận này, có nhiều thuyết khác nhau. Theo Thành duy thức luận thuật ký quyển 1 phần cuối, quyển 4 phần cuối, thì Tự tại hắc soạn 70 bài tụng, được vua nước Kim nhĩ ban thưởng vàng bạc, vì muốn đề cao vinh dự ấy nên ông đặt tên là Kim thất thập luận. Nguyên văn kệ tụng và phần chú thích của bản tiếng Phạm đã do ông Tiết nhĩ mã (Vishum Prasad Zarma) ấn hành vào năm 1922; còn bản dịch tiếng Anh của luận này thì đã được ông Kha nhĩ bố lỗ khắc (Henry Thomas Colebrooke) xuất bản vào năm 1887. Những sách chú sớ của luận này có: Kim thất thập luận giải, 2 quyển, của ngài Tông lãng, Kim thất thập luận bị khảo, 3 quyển, của ngài Hiểu ứng, Kim thất thập luận sớ, 3 quyển, của ngài Trí chàng. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.10; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].

Kim thằng

(金繩): dây thừng bằng vàng. Trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 14, có đoạn: “Ngân Giác Đại Vương khuyến đạo: 'Một sự, ngã môn hoàn hữu Thất Tinh Kiếm, Ba Tiêu Phiến hòa Hoảng Kim Thằng tam kiện bảo bối, bất như phái nhân đáo Áp Long Động thỉnh lão mẫu thân nhất khối lai cật Đường Tăng nhục (銀角大王勸道∶沒事、我們還有七星劍、芭蕉扇和幌金繩三件寶貝、不如派人到壓龍洞請老母親一塊來吃唐僧肉, Ngân Giác Đại Vương khuyên rằng: 'Không được. Chúng ta đã có ba thứ bảo bối là Kiếm Thất Tinh, Quạt Ba Tiêu, Lưới Thừng Vàng; chi bằng phái người đến Áp Long Động thỉnh mẹ già thân chinh đến đây ăn thịt Đường Tăng').” Hay trong Phật Thuyết Đảnh Sanh Vương Nhân Duyên Kinh (佛說頂生王因緣經) quyển 5 cũng có đoạn: “Hựu Thiện Pháp Đường đạo lộ hồi hoàn, thanh tịnh nghiêm sức kim sa bố địa, xúc xứ biến sái Chiên Đàn hương thủy, kim thằng giao lạc thùy kim linh đạc dĩ giới đạo trắc (又善法堂道路回環、清淨嚴飾金沙布地、觸處遍灑旃檀香水、金繩交絡垂金鈴鐸以界道側, lại trở về nơi con đường của Thiện Pháp Đường, trong sạch, được trang trí với cát vàng rãi khắp mặt đất, các nơi đều được rưới khắp nước hương Chiên Đàn, thừng vàng buộc chặt nhau treo linh, mỏ vàng để làm ranh giới hai bên đường).” Ngoài ra, trong Thiền Môn Đối Liễn Đại Toàn (禪門對聯大全) còn có câu: “Kim thằng khai giác lộ, bảo phiệt độ mê tân (金繩開覺路、寶筏渡迷津, thừng vàng mở đường giác, bè báu vượt sông mê).”

kim thế tông

3523(1123~1189)金朝第五代皇帝。姓完顏,名雍。在位期間,致力於結束戰爭、恢復秩序、整備財政等,號稱金之全盛時期。大定二年(1162),於燕京興建大慶壽寺,另於山西省孟縣建立慈氏院及清涼院二寺。八年,於東京(遼寧遼陽)創建清安禪寺,度五百人爲僧。二十四年,興建仰山棲隱寺,度一萬人爲僧。更重建燕京昊天寺。二十六年,行幸大永安寺,頒賜二千畝田、七千株粟、二萬貫錢。後人稱爲小堯舜。 ; (金世宗) (1123-1189) Vị hoàng đế thứ 5 của triều Kim, Trung quốc, họ Hoàn nhan, tên là Ung. Trong thời gian ở ngôi, ông đã làm việc hết sức mình để kết thúc chiến tranh, khôi phục trật tự, chỉnh bị tài chính, v.v... nên có thể nói đây là thời kì toàn thịnh của triều Kim. Năm Đại định thứ 2 (1162), vua sáng lập chùa Đại khánh thọ ở Yên kinh, viện Từ thị, viện Thanh lương ở huyện Mạnh, tỉnh Sơn tây. Năm Đại định thứ 8 (1168), vua xây dựng thiền viện Thanh an ở Đông kinh (nay là huyện Liêu ninh, tỉnh Liêu dương), cho 500 người xuất gia làm tăng. Năm Đại định 24 (1184), vua xây chùa Thê ẩn ở Ngưỡng sơn, cho độ 10.000 người làm tăng và kiến thiết lại chùa Hạo thiên tại Yên kinh. Năm Đại định 26 (1186), vua vi hành đến chùa Đại vĩnh an, ban cho chùa 2.000 mẫu ruộng, 7.000 cót thóc, 20.000 quan tiền. Người đời sau gọi nhà vua là Tiểu Nghiêu Thuấn.

kim thời

Present time.

kim thủy

Golden water, i.e. wisdom. ; Nước vàng, ám chỉ trí tuệ—Golden water, i.e. wisdom.

Kim Tinh

(金精): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho khí ở phương Tây, như trong Văn Tuyển (文選), phần Di Hành (彌衡) có câu: “Thể Kim Tinh chi diệu chất hề, hợp Hỏa Đức chi minh huy (體金精之妙質兮、合火德之明輝, thể Kim Tinh là chất mầu chừ, cùng với ánh sáng của Hỏa Đức).” Lý Thiện (李善) chú rằng: “Tây phương vi Kim, mao hữu bạch giả, cố viết Kim Tinh (西方爲金、毛有白者、故曰金精, phương Tây là Kim, lông có màu trắng, nên gọi là Kim Tinh).” (2) Chỉ nước Tần, như trong bài Cao Tổ Tứ Thủy Đình Bi Minh (高祖泗水亭碑銘) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán, có câu: “Dương uy trảm xà, Kim Tinh tồi thương (揚威斬蛇、金精摧傷, dương oai chém rắn, nước Tần hết thương).” (3) Chỉ cho sao Thái Bạch (太白), như trong bài Ai Giang Nam Phú (哀江南賦) của Dữu Tín (庾信, 513-581) thời Bắc Chu có câu: “Địa tắc thạch cổ sơn minh, thiên tắc Kim Tinh động tú (地則石鼓山鳴、天則金精動宿, đất ắt trống đá núi vang, trời tất Thái Bạch chuyển sao).” (4) Tên một loại thuốc tiên trong truyền thuyết của Đạo Giáo, như trong bài thơ Nhập Cổ Lãi Kinh Tùng Môn Quán Thạch Kính Miến Hoài Tạ Khang Lạc (入彭蠡經松門觀石鏡緬懷謝康樂) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Thủy Bích hoặc khả thái, Kim Tinh bí mạc luận (水碧或可采、金精秘莫論, Ngọc Bích còn lấy được, Kim Tinh chớ luận bàn).” (5) Chỉ mặt trăng (nghĩa trong bài), như trong Sơ Học Ký (初學記) có dẫn phần Hà Đồ Đế Lãm Hi (河圖帝覽嬉) câu: “Nguyệt giả, Kim chi tinh dã (月者、金之精也, mặt trăng là Kim Tinh).” Hay như trong Lữ Bạc Đồ Giang (旅泊塗江) của Trần Đào (陳陶, khoảng 812-885) cũng có câu: “Đoạn sa nhạn khởi Kim Tinh xuất, cô lãnh viên sầu mộc khách quy (斷沙雁起金精出、孤嶺猿愁木客歸, cát sụt nhạn biến mặt trăng hiện, đỉnh non vượn sầu dã nhân về).” (6) Tên gọi khác của Cam Cúc (甘菊, tức Thu Cúc), như trong (小園賦) của Dữu Tín thời Bắc Chu có câu: “Vân khí ấm vu tùng thi, Kim Tinh dưỡng vu Thu Cúc (雲氣蔭于叢蓍、金精養于秋菊, khí mây che rợp bụi lá, Kim Tinh dưỡng nơi Thu Cúc).” Nghê Phan (倪璠, ?-?) nhà Thanh chú dẫn trong Ngọc Hàm Phương (玉函方) rằng: “Cam Cúc, cửu nguyệt thượng Dần nhật thái, danh viết Kim Tinh (甘菊、九月上寅日採、名曰金精, Cam Cúc, hái vào ngày Dần đầu tháng 9, tên gọi là Kim Tinh).”

kim tinh

3586指如來之髮。大集經卷六(大一三‧三七下):「不以惡事加眾生,故得髮色金精相。」〔往生要集指麾鈔卷十二〕 ; Sukra (S)Thái Bạch tinh. ; 1) Sukra (skt)—The planet Venus. 2) Tóc của Phật: The Buddha's hair. ; (金精) Chỉ cho tóc của đức Phật. Kinh Đại tập quyển 6 (Đại 13, 37 hạ), nói: Không làm những việc độc ác gây hại cho chúng sinh, nên được mái tóc màu vàng ròng(kim tinh). [X. Vãng sinh yếu tập chỉ huy sao Q.12].

Kim tinh 金星

[ja] キンセイ kinsei ||| Venus. => Sao Kim (Venus).

Kim Tiên

(金仙): có hai nghĩa. (1) Chỉ đức Phật. Trong Phật Pháp Kim Thang Biên (卍 Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1628 佛法金湯編) quyển 11 cho biết rằng: “Tuyên Hòa nguyên niên đế cảm ư Lâm Linh Tố chi thuyết, chiếu cải Phật vi Đại Giác Kim Tiên, tăng vi Đức Sĩ, tự vi cung quán (宣和元年帝惑於林靈素之說、詔改佛爲大覺金仙、僧爲德士、寺爲宮觀, vào năm đầu [1119] niên hiệu Tuyên Hòa [đời vua Huy Tông nhà Tống], nhà vua cảm được lời nói của Đạo sĩ Lâm Linh Tố, bèn hạ chiếu đổi Phật thành Đại Giác Kim Tiên, tăng là Đức Sĩ, chùa là cung quán).” Như trong bài thơ Dữ Nguyên Đan Khâu Phương Thành Tự Đàm Huyền Tác (與元丹丘方城寺談玄作) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Lãng ngộ tiền hậu tế, thỉ tri Kim Tiên diệu (朗悟前後際、始知金仙妙, biết rõ trước sau thảy, mới hay Phật vi diệu).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3, phần Thất Hiến Tổng Văn (七獻總文), cũng có câu: “Cửu long thân thổ dục Kim Tiên, vạn cổ Tào Khê vô tận duyên (九龍親吐浴金仙、萬古曹溪無盡綠, chín rồng phun nước tắm Kim Tiên, vạn cổ Tào Khê vô tận duyên).” (2) Tên gọi khác của thần tiên. Hai người con gái của vua Duệ Tông (睿宗, tại vị 684-690, 710-712) nhà Đường xuất gia làm nữ Đạo sĩ, một người được phong là Kim Tiên Công Chúa (金仙公主), người kia là Ngọc Chân Công Chúa (玉眞公主). Nhà Phật cũng gọi những tiên nhân ngoại đạo tu hành tinh tấn là Kim Tiên.

kim tiên

Golden rsi, or immortal, i.e. Buddha; also Taoist genii. ; 1) Thần Tiên: Golden rsi or immortal. 2) Người tu Tiên (đạo Lão): Taoist genii. 3) Tiếng tôn xưng để gọi Đức Phật: A venerable term for Buddha. 4) Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Tuy không phải là tổ đình của một hệ phái nào nhưng chùa Kim Tiên là một ngôi chùa được xây dựng rất sớm ở Huế. Hòa Thượng Bích Phong là vị sư đầu tiên trùng tu chùa Kim Tiên vào khoảng thế kỷ 17. Sau đó chùa trở thành phế tích, chỉ còn là một mái thảo am. Đến khoảng giữa triều Gia Long, Hòa Thượng Đức Hóa tái thiết lại mái thảo am. Mấy mươi năm sau, dưới triều Tự Đức, chùa được Hòa Thượng Thánh Thông Nhất Trí, một Tăng Cang của triều đình tại chùa Thiên Mụ trùng tu chùa trên qui mô rộng lớn hơn, và giao cho Hòa Thượng Tâm Chính Hải Từ trụ trì. Năm 1888, Hòa Thượng Hải Từ với sự trợ giúp của Hòa Thượng Diệu Giác đã tái thiết ngôi chùa lần nữa. Năm 1930, chùa được Hòa Thượng Thanh Đức Tâm Khoan, Tăng Cang chùa Diệu Đế trùng tu lần nữa. Sau đó Hòa Thượng Hưng Mãn Trừng Gia trùng tu lại chánh điện, tái thiết phương trượng, xây dựng lại Tăng xá, hậu liêu. Ngày nay, dù chùa đã trải qua nhiều cuộc trùng tu nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính—Name od an old temple in Huế, Central Vietnam. Though it is not a temple that has relations with a certain venerable patriarch of a Buddhist sect, Kim Tiên was one of the oldest temples in Huế. Most Venerable Bích Phong was the first monk who rebuilt the temple in the seventeenth century. Sometime later, the temple became a ruin, only a thatched small temple survived. In the middle of King Gia Long'' reign, Most Venerable Đức Hóa Đạo Thành rehabilitated the thatched temple in a small structure. Several decades later, during the reign of king Tự Đức, the temple was rebuilt on a larger scale by Most Venerable Tánh Thông Nhất Trí, who was a royal-recognized monk of Thiên Mụ Temple. In 1888, with the help of Most Venerable Diệu Giác, Most venerable Tâm Chính Hải Từ rebuilt the temple again. In 1930, Most Venerable Thanh Đức Tâm Khoan, a royal-recognized monk from Diệu Đế temple rebuilt the temple again. Though it has been rebuilt so many times, it still maintains its ancient architectural style.

kim tiên nhơn

Xem Kim Tịch Phật.

kim tiền tỉ khâu

3589又作金財比丘。釋迦住世時,舍衛國一大長者之子,生時手握兩錢,故稱爲金財。及長出家,得羅漢道,遂稱金財比丘。金財比丘乃過去九十一劫毘婆尸佛出世時之一貧人。是時,毘婆尸佛與眾僧遊行國界,諸豪富長者子等施設飯食,供養佛及弟子眾。唯此一貧人因乏財貨,乃以賣薪所得兩錢供養佛,由是九十一劫間恆手握兩錢而生,且隨取隨在,更無窮盡。〔賢愚經卷二金財因緣品〕 ; (金錢比丘) Cũng gọi Kim tài tỉ khưu. Vị tỉ khưu này là con của một đại trưởng giả ở nước Xá vệ khi đức Phật còn tại thế. Tương truyền, khi sinh ra, 2 tay ngài nắm 2 đồng tiền vàng, nên gọi là Kim tài. Khi lớn lên, ngài xuất gia, chứng quả A la hán, vì thế gọi là Kim tiền tỉ khưu. Vào thời quá khứ, cách nay 91 kiếp, khi đức Phật Tì bà thi ra đời, tỉ khưu Kim tiền lúc ấy là một người nghèo khổ; bấy giờ đức Phật Tì bà thi và chúng tăng du hành trong nước, các con của trưởng giả giàu có sắm sửa thức ăn cúng dường Phật và chúng đệ tử, duy có người nghèo này vì không có tài vật nên chỉ cúng Phật 2 đồng tiền do kiếm củi bán mà có. Nhờ công đức ấy mà suốt thời gian 91 kiếp hễ sinh ra là có 2 đồng tiền nắm trong tay và cứ cần là có, không bao giờ hết. [X. phẩm Kim tài nhân duyên trong kinh Hiền ngu Q.2].

kim tiền tịnh

Jatarapadikappa (P)Một trong 10 hành vi mà các tỳ kheo thành Phệ xa ly (Vesali) chủ trương là thích hợp giới luật.

kim tri kiến

3529(1931~ )韓國佛教學者。出生於全羅南道靈岩郡。畢業於日本東京大學印度哲學科,並得該校文學博士學位。以研究韓國華嚴宗之均如大師而飲譽學界。均如大師在韓國華嚴思想史上之地位,由氏之研究始重新被肯定。氏現任國立江原大學教授、國立韓國精神文化研究院講師,並任大韓傳統佛教研究院院長等職。

kim tràng

3587<一>爲懸掛於佛殿之裝飾品。以黃色錦緞或一般絲織品製成,呈長筒形。  <二>於日本,稱塔頂上之輪蓋爲金幢。(參閱「承露盤」3254)

kim tràng phái

3587臺灣民間宗教齋教三派之一。開祖王佐(左)塘(1538~1629,一說 1564~1629),法號普明,河北人,早年於河北通州開設道場,萬曆六年(1578),王氏自覺心地開悟,通徹三迴九轉之理,著有寶經十二部及九蓮經一部。二十八年,得神宗崇信,建齋堂八十一所。二祖董應亮,曾化度蔡文舉,蔡氏即世人所稱之蔡阿公,爲臺灣金幢派之教祖。天啟二年(1622),文舉於福建莆田創立樹德堂,爲福建齋教之始。道光(1821~1850)初年,文舉派下之蔡權入臺,於臺南創建慎德堂、慎齋堂,金幢派自此傳布臺灣。 該教派不禁婚娶,素食亦僅限於一定時日,稱爲持「花齋」,其教義有濃厚之神仙道教思想。金幢派所依經典有懸華寶懺三卷、九蓮經四卷、鑰匙經六卷、多羅經九卷、十五件法寶一卷等十餘種,諸經所示教義,係綜合儒釋道三教思想,又特重道家神仙術、精氣神之修鍊。齋堂前堂奉祀觀世音菩薩,長案奉祀三官大帝,下棹燭臺一對,香爐一座,後堂稱爲家鄉,奉祀教祖繪相。門徒禮拜合掌以左拇指壓右拇指,即左善右惡,善指壓惡指,行跪拜禮,五體投地。朝夕禮拜奉香茶,持誦「荼懺」求懺悔。初入門皈依受戒後,由師傳授內經三十六字持誦。門徒等級分上恩、叔公、管前、本管、首領、船頭、會首、護法、眾生等九級,初入門者稱眾生。祭佛法會稱爲辦供,期日一定。另有依多羅經所列祭儀,開三乘九品法會,與龍華派之過公場大致相同。〔臺灣的齋教由來(庭嘉,現代佛教學術叢刊第八十七冊)〕(參閱「齋教」6549)

kim trượng

Đức Phật lấy cây gậy và mảnh áo xé (thụ ký việc chia thành 18 bộ Tiểu Thừa trong giấc mơ của vua Tần Bà Sa La thấy một chiếc áo bị xé làm 18 mảnh, một cây gậy vàng gẫy thành 18 đoạn. Ông lo sợ bèn hỏi Đức Phật. Đức Phật nói: “Sau khi ta diệt độ hơn 100 năm sẽ có vị vua tên A Dục uy danh lẫy lừng. Lúc ấy về Luật thì chia làm 18 môn phái khác nhau, nhưng cứu cánh vẫn là tu giải thoát)—The golden staff broken into eighteen pieces and the skirt similarly torn, seen in a dream by king Bimbisara (eighteen divisions of Hinayana as in a dream of King Bimbisara).

kim trần

Loha rājas (S).

kim tàng thổ

(金藏土) Phạm: Kàĩcana-garbhà mftikà. Cũng gọi Kim thổ tàng, Thổ trung hữu kim. Khối đất có chứa vàng bên trong, ví dụ trong tính Y tha khởi có tính phân biệt và tính chân thực. Cứ theo luận Nhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) quyển trung, thì có 3 loại pháp là: Phần nhiễm ô, phần thanh tịnh và phần vừa nhiễm ô vừa thanh tịnh. Tính phân biệt trong tính Y tha khởi là phần nhiễm ô, tính chân thực trong tính Y tha khởi là phần thanh tịnh, còn chính tính Y tha khởi thì là phần vừa nhiễm ô vừa thanh tịnh. Cũng như trong Kim tàng thổ có 3 pháp: Địa giới, Kim, Thổ. Trong Địa giới, khi Thổ (đất) hiển hiện tức là hiện tướng hư vọng; khi Kim (vàng) hiển hiện tức là hiện tướng chân thực, vì thế trong địa giới có 2 phần là Thổ và Kim. Như cùng 1 bản thức(thức A lại da), khi nó chưa được tôi luyện bằng lửa trí vô phân biệt thì nó(thức A lại da) từ tính hư vọng phân biệt mà hiển hiện, còn tính chân thực thì không hiện. Trái lại, khi nó đã được tôi luyện bởi lửa trí vô phân biệt, thì nó từ tính chân thực thành tựu mà hiển hiện, còn tính hư vọng phân biệt thì không thể hiển hiện. Cho nên thức của tính hư vọng phân biệt (tức là tính Y tha)có 2 phần: Phần vừa nhiễm ô vừa thanh tịnh(của tính Y tha)dụ cho Địa giới, phần nhiễm ô(tính phân biệt của Y tha)dụ cho Thổ trong Địa giới, còn phần thanh tịnh(tính chân thực của Y tha) thì dụ cho Kim trong Địa giới. Ngoài ra, trong Nhiếp đại thừa luận bản quyển trung, ngài Huyền trang đời Đường dịch Sở tri tướng phần là Kim thổ tàng, còn Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti) thì dịch là Thổ trung hữu kim. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.5 (bồ tát Thế thân soạn, ngài Huyền trang dịch); Nhiếp đại thừa luận thích Q.5 (bồ tát Vô tính soạn, ngài Huyền trang dịch)].

kim tì la

3529<一>巴利名 Kimbila。爲佛弟子,釋迦族人。據中阿含卷十七長壽王本起經載,釋尊至般那蔓闍寺林(巴 Pācīnavaṃsadāya),時有阿那律陀、難提、金毘羅三人共和合住,能修梵行。師常獨坐,行禪定。又增一阿含經卷三弟子品(大二‧五五七中):「獨處靜坐,專意念道,所謂金毘羅比丘是。」 <二>梵名 Kumbhīra。又作金毘囉、禁毘羅、俱毘羅、俱吠嚕、軍毘羅、宮毘羅。譯作蛟龍、龍王、鱷魚。中印度王舍城之守護神,藥師十二神將之一,般若守護十六善神之一。主領夜叉,誓願守護佛法,爲夜叉神王之上首。據金毘羅童子威德經載,佛於忉利天歡喜園中放大光明,顯現金毘羅童子形,身長千尺,千頭千臂,降伏魔王,令眾生遠離三途之苦,成世間之大醫王,以訶梨勒果救療諸種之病患等。〔大雲經請雨品第六十四、灌頂經卷十二、藥師琉璃光如來消災除難念誦儀軌、藥師如來本願經、大孔雀咒王經卷中、大寶積經卷三十六、大日經疏卷二〕 ; (金毗羅) I. Kim Tì La. Pàli:Kimbila. Đệ tử của đức Phật, thuộc dòng họ Thích ca. Cứ theo kinh Trường thọ vưong bản khởi trong Trung a hàm quyển 17, thì khi đức Thích tôn đến khu rừng Ban na man xà tự (Pàli:Pàcìnavaôsadàya), bấy giờ có 3 vị: A na luật đà, Nan đề và Kim tì la cùng hòa hợp ở chung tu hành phạm hạnh. Phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 (Đại 2, 557 trung), nói: Thường tĩnh tọa tư duy, chuyên tâm niệm đạo, đó là tỉ khưu Kim tì la. II. Kim Tì La. Phạm: Kumbhìra. Cũng gọi Cấm tì la, Câu tì la, Câu phệ rô, Quân tì la, Cung tì la. Hán dịch: Giao long(thuồng luồng), Long vương(chúa rồng), Ngạc ngư (cá sấu). Vị thần hộ vệ thành Vương xá, Trung Ấn độ, 1 trong 12 vị thần tướng của đức Dược sư Như lai, 1 trong 16 vị thiện thần giữ gìn che chở Bát nhã, thống lãnh chúng Dạ xoa, thệ nguyện hộ trì Phật pháp. Cứ theo kinh Kim tì la đồng tử uy đức, thì Phật ở trong vườn Hoan hỉ trên cung trời Đao lợi, phóng hào quang rực rỡ, hiện hình đồng tử Kim tì la, cao nghìn thước, nghìn đầu, nghìn tay, hàng phục ma vương, cứu chúng sinh thoát khỏi các khổ trong 3 đường, thành bậc Đại y vương của thế gian, dùng quả ha lê lặc cứu chữa các chứng bệnh... [X. phẩm Thỉnh vũ thứ 64 trong kinh Đại vân; kinh Quán đính Q.12; Dược sư lưu li quang Như lai tiêu tai trừ nạn niệm tụng nghi quĩ; kinh Dươc sư Như lai bản nguyện; kinh Đại khổng tước chú vương Q.trung; kinh Đại bảo tích Q.36; Đại nhật kinh sớ Q.2].

kim tì la trúc lâm

3530梵名 Kimbilā-veṇuvana,巴利名 Kimbilā-veḷuvana。金毘羅,又作金婆羅、欽婆羅。所在地不明,或謂係恆河河畔之金毘羅城。漢譯經典中或謂即王舍城夜叉之石窟,亦有言爲佛陀之居處。依雜阿含經卷四十八載,有金婆羅鬼神,居於王舍城金婆羅山石室中。十誦律卷三十六(大二三‧二六○上):「佛在王舍城耆闍崛山上欽婆羅夜叉石窟中住,早起著衣持鉢入王舍城乞食,食後還耆闍崛山,入欽婆羅夜叉石窟中坐禪。爾時,調達勤作方便欲害佛,即雇四惡健人,往上耆闍崛山,共持大石,到欽婆羅夜叉石窟上,待佛經行時。佛晡時從石窟出,在石窟前陰中經行。時四惡人共調達推石欲擲佛上。爾時,欽婆羅夜叉深敬念佛,見已以兩手接石擲著餘處。」據此,則金毘羅係石窟之名,然巴利語經典則屢見金毘羅竹林之名稱,如相應部經典五四‧一○及增支部經典五‧二○一、七‧五六等即載有「一時,佛居於金毘羅竹林,其時尊者金毘羅至釋尊所在處。」據此,則金毘羅恐非特定之名稱,或因竹林中有一金毘羅尊者居於彼處,故稱金毘羅竹林;或因夜叉之名而有此稱,然詳情未知。另雜阿含經卷二十九(大二‧二○八下):「一時,佛住金毘羅聚落金毘林中。」據此,則金毘羅係村落之名。〔相應部經典三五‧二○一〕

kim tì la đà ca tì la

3530爲千手觀音之眷屬,護持行者之善神。二十八部眾之一。略稱金毘羅陀、金毘羅王。據千手觀音造次第法儀軌載,其形像爲身呈白紅色,左手握寶弓,右手持寶箭;佛像圖彙卷四所載列者則係左手持寶珠。真言爲「唵嚩悉儞阿利夜三曼他娑婆訶。」〔千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經〕(參閱「二十八部眾」173)

kim tích vật ngữ tập

1221凡三十一卷。日本傳說、故事集。成書於平安朝末期。相傳著者為宇治大納言源隆國,故該書又作宇治大納言物語。復因每卷開頭皆有「今昔」之字,故書名稱今昔物語集。一至五卷為印度部分,六至十卷為中國部分,十一至三十一卷為日本部分,總計千餘則故事。內容包括佛教故事與世俗故事,前者係說明佛教信仰之功德與因果報應之思想;後者則敘述歷史人物之逸事與孝子、烈婦等道德故事。此外,尚有文藝愛情、生靈、怪物、狐狸、仙人、盜賊等各種傳奇故事。每一則故事皆含有通俗處世教訓之寓言。 此物語係相對於當時廣泛流傳有關貴族社會生活之物語及正統王朝文學之日記類而撰,故為了解當時逐漸抬頭的武士與庶民生活、思想之重要資料,且為後世鎌倉時代之宇治拾遺物語與古今著聞集等說話文學之創作根源。今昔物語集係受到印度本生譚文學與旁迦坦特拉寓言集(梵 Pañcatantra)等民間故事之影響,對於後世文學之流傳,具有極重要之地位,若以其集說話文學之大成的性質而言,則更具世界文學之價值,故被視為文學素材之寶庫。

kim túc như lai

3584過去佛之名,指維摩居士之前身。古來即盛傳此說。或謂出自發迹經、思惟三昧經,而此二經均無漢譯本,亦不見載於經錄。淨名玄論卷二(大三八‧八六六中):「復有人釋云:『淨名、文殊皆往古如來,現爲菩薩。如首楞嚴云:文殊爲龍種尊佛;發迹經云:淨名即金粟如來。』」隋吉藏維摩經義疏卷一(大三八‧九一五上):「有人言:文殊師利本是龍種上尊佛,淨名即是金粟如來。相傳云:金粟如來出思惟三昧經,今未見本。」〔寂照堂谷響集卷一、祖庭事苑卷三〕 ; (金粟如來) Danh hiệu của một vị Phật ở đời quá khứ, tiền thân của cư sĩ Duy ma cật. Thuyết này đã thịnh hành từ xưa, hoặc nói có xuất xứ từ kinh Tư duy tam muội và kinh Phát tích, nhưng 2 bộ kinh này đều không có bản Hán dịch, vả lại cũng không thấy được ghi trong các bộ mục lục của kinh. Tịnh danh huyền luận quyển 2 (Đại 38, 866 trung), nói: Tịnh danh, Văn thù đều là các đức Phật quá khứ, nay hiện thân là Bồ tát. Như kinh Thủ lăng nghiêm nói: Văn thù là Phật Long chủng tôn; kinh Phát tích thì nói: Tịnh danh tức là Kim túc Như lai. Duy ma kinh nghĩa sớ quyển 1 của ngài Cát tạng (Đại 38, 915 thượng) chép: Có người nói: Văn thù sư lợi vốn là Phật Long chủng thượng tôn, Tịnh danh tức là Kim túc Như lai. Tương truyền Kim túc Như lai có xuất xứ từ kinh Tư duy tam muội, nhưng đến nay không thấy bản kinh này. [X. Tịch chiếu đường cốc hưởng tập Q.1; Tổ đình sự uyển Q.3].

Kim tướng

(金相): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho hình thức hoàn mỹ. Như trong bài Hà Nam Phủ Tham Quân Quách Quân Thần Đạo Bi Minh (河南府參軍郭君神道碑銘) của Nhan Chơn Khanh (顏眞卿, 709-785) nhà Đường có câu: “Gia truyền ngọc thọ, nhân vịnh kim tướng (家傳玉樹、人詠金相, nhà truyền cây ngọc, người vịnh tướng đẹp).” (2) Chỉ cho các tượng Phật, Bồ Tát dát vàng. Như trong bài thơ Tịnh Lạc Cung (淨樂宮) của Vương Thế Trinh (王世貞, 1526-1590) nhà Minh có câu: “Mạt pháp khai kim tướng, chơn vương đắc bảo phù (末法開金相、眞王得寳符, mạt pháp bày vàng tướng, vua hiền được báu bùa).” Trong Ngũ Phương Tiện Niệm Phật Môn (五方便念佛門, Taishō Vol. 47, No. 1962) có đoạn: “Niệm Phật chi thời đế quán Như Lai ngọc hào kim tướng, ngưng nhiên tịch tĩnh liễu lượng động triệt, danh Ngưng Tâm Thiền (念佛之時諦觀如來玉毫金相、凝然寂靜了亮洞徹,名凝心禪, khi niệm Phật, quán rõ tướng vàng lông ngọc của Như Lai, lắng đọng tĩnh lặng, sáng soi thấu triệt, đó gọi là Thiền Lắng Tâm).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 23, phần Đàm Châu Báo Từ Khai Phước Tấn Anh Thiền Sư (潭州報慈開福進英禪師), lại có đoạn: “Kim triêu tứ nguyệt bát, ngã Phật giáng sanh thần, đầu đầu kim tướng hiện, xứ xứ pháp tràng tân, bất tẩy thế, bất tẩy trần, quán mộc Như Lai diệu sắc thân, thùy tín nhị thiên niên hậu sự, Ưu Đàm trùng trưởng nhất chi xuân (今朝四月八、我佛降生辰、頭頭金相現、處處法幢新、不洗體、不洗塵、灌沐如來妙色身、誰信二千年後事、優曇重長一枝春, sáng nay mồng tám tháng tư, ngày Phật ta giáng trần, đầu đầu tướng vàng hiện, chốn chốn cờ pháp tung, chẳng rửa thân, chẳng rửa bụi, tắm rửa Như Lai sắc mầu thân, ai tin hai ngàn năm sau nữa, Ưu Đàm lớn mạnh một cành xuân).”

kim tạng

Golden-treasury, i.e. the Buddha-nature in all the living. ; Kim Tạng là tạng chứa châu báu vàng bạc, như là Phật tánh trong mỗi chúng sanh—Golden treasury, i.e. the Buddha-natue in all the living.

kim tạng vân

The first golden-treasury cloud when a new world is completed, arising in the quang âm thiên àbhàsvara heaven and bringing the first rain. ; Khi Hiền Kiếp mới hình thành, giữa bầu trời Quang Âm đầy mây kim sắc (sắc vàng), mang lại trận mưa đầu tiên—The first golden treasury cloud when a new world is completed, arising in the abhasvara heaven and bringing the first rain.

kim tạng độ

3589梵語 kāñcana-garbhā mṛttikā。其內藏金之土塊。又作金土藏、土中有金。係用以比喻依他起性之存有分別性與真實性。據梁譯攝大乘論卷中載,法有三種,即染污分、清淨分、染污清淨分;於依他起性中之分別性爲染污分,依他起性中之真實性爲清淨分,依他起性則爲染污清淨分。譬如於金藏土中,有地界、金、土三法。地界中,顯現土時,即顯現虛妄之相;顯現金時,即顯現真實之相。故地界有二分;如同本識,當其未經無分別智之火燒鍊時,該識由虛妄之分別性顯現,真實性則不顯;若由無分別智之火燒鍊時,該識由成就之真實性顯現,虛妄分別性則不顯,故虛妄分別性之識(即依他性)有二分,譬如依他性(染污清淨分)爲地界,依他性之分別性(染污分)爲地界中之土,依他性之真實性(清淨分)爲地界中之金。又唐玄奘譯攝大乘論本卷中所知相分譯爲金土藏,翻譯名義大集(梵 Mahāvyutpatti)則譯爲土中有金。〔攝大乘論釋卷五(世親造,玄奘譯)、攝大乘論釋卷五(無性造玄奘譯)〕

kim tịch phật

Kanakamuni (S), Koagamāna (P)Kim Tiên nhơn, Ca na già Mâu ni, Ca na mâu ni Phật, Câu na hàm Phật; Koagamana (P)Trong Hiền Kiếp (đại thiên niên kiếp) này, đức Ca la ca tôn đại Phật là Phật thứ nhất, đức Kim Tịch Phật là Phật thứ nhì, Ngài Ca Diếp Phật là Phật thứ ba, đức Thích Ca là Phật thứ tư, đức Di Lặc là Phật thứ năm. Kim Tịch Phật thuở chưa xuất gia có cha là Đại Đức (Yannadatta), mẹ là Thiên Thăng (Uttara), ở Thanh tịnh thành (Sobbavati), sau khi đắc đạo có thị giả là An Hòa (Sotthija).

kim tử đại vinh

3521(1881~1976)日本佛教學學者。畢業於真宗大學。曾任大谷大學名譽教授。著有佛教概論、佛教の諸問題、彼岸の世界、日本佛教史觀、教行信證講讀、歸依と行善、華嚴經概說等。 ; (金子大榮) (1881-1936) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản, tốt nghiệp Đại học Chân tông, từng là giáo sư danh dự của trường Đại học Đại cốc. Ông có các tác phẩm: Phật giáo khái luận, Phật giáo chư vấn đề, Bỉ ngạn đích thế giới, Nhật bản Phật giáo sử quan, Giáo hành tín chứng giảng độc, Qui y dữ hành thiện, Hoa nghiêm kinh khái thuyết...

kim tự

3527(The Golden Temple)位於印度旁遮普省西北之阿穆利薩(Amritsar)。又作黃金寺。印度錫克教最大之寺廟,爲錫克教之聖地與活動中心。原名哈蒙底兒(Harmandir)、達巴沙希卜(Darbar Sāhib)。以寺頂及寺門皆鎦金而得名。係錫克教第五祖阿爾瓊(Arjan Mal, 1563~1606)於一五八九至一六○一年創建。一說係四祖拉姆達斯(Rām Dās, 1534~1581)所建。寺內珍藏錫克教經典「聖典教書」(Granth Sāhib)。蘭季特辛格執教時曾重加修葺。

kim tự kinh

3527指以金泥(將金粉溶成接著劑)書寫之佛典。漢譯佛典、西藏譯及西夏文佛典等,皆有金字經。據載,南朝陳代慧思(515~577)之南嶽思大禪師立誓願文中有金字書寫之般若經。日本奈良朝有官設之金字經所。金字經一般通行於中國、朝鮮、日本,最常使用者爲將金字書寫於紺紙(藍染)之上,稱爲紺紙金泥。另亦有使用紫紙或白紙者。西藏經典係於紺紙上敷以黑漆,其上則以金泥、銀泥隔行交替書寫。 ; (金字經) Kinh Phật được viết bằng kim nhũ. Trung quốc, Tây tạng, Tây hạ, v.v... đều có các bản kinh được viết theo loại này. Cứ theo tư liệu ghi chép, thì trong Nam nhạc Tư đại thiền sư lập thệ nguyện văn của ngài Tuệ tư (515-577) đời Trần thuộc Nam triều, có bản kinh Bát nhã viết bằng kim nhũ. Còn ở Nhật bản, vào thời đại Nại lương có cơ sở viết kinh bằng kim nhũ do nhà nước thiết lập. Nói chung, Kim tự kinh phổ cập ở Trung quốc, Triều tiên, Nhật bản thường dùng giấy màu xanh sậm ánh đỏ (cám) để viết chữ bằng kim nhũ, gọi là Cám chỉ kim nê. Cũng có khi sử dụng giấy màu đỏ tươi hoặc màu trắng.Kinh điển Tây tạng thì viết bằng kim nhũ trên giấy màu xanh biếc.

kim tự tháp

Pyramid.

kim tỳ la

Kumbhira (skt)—Kim Ba La-Cấm Tỳ La. 1) Cá Sấu—A crocodile—Alligator. 2) Vua Dạ Xoa, quy-y và trở thành vị hộ pháp: A Yaksa-king, who was converted and became a guardian of Buddhism.

kim tỳ la đà

Xem Oai như vương. ; Xem Oai như vương.

kim tỳ la đà ca tỳ la

Kampilla (skt)—Kim Tỳ La Thần—Kim Tỳ La Đại Tướng. 1) Quyến thuộc của Thiên Thủ Quán Âm: The retinue of 1,000-hand Kuan-Yin. 2) Kim Tỳ La Tỳ Kheo: Một vị sư Ấn Độ: An Indian monk.

kim tỳ la đá ca tỳ la

Xem Oai như vương.

kim viên

1222天台宗將釋尊一代說法之次第判為五時,而以第五時法華經所說之圓教,稱為今圓;於前四時大乘經所說之圓教,稱為昔圓。 ; Thuật ngữ mà tông Thiên Thai dùng để chỉ “viên giáo” của Pháp Hoa, so với Tích Viên trước đó—A T'ien-T'ai term indicating the “perfect” teaching, that of the Lotus, as compared with the old “perfect” teaching which preceded it. ; (今圓) Chỉ cho Viên giáo. Tông Thiên thai chia giáo pháp đức Phật nói trong 1 đời theo thứ tự làm 5 thời và gọi Viên giáo nói trong kinh Pháp hoa là Kim viên, còn gọi Viên giáo nói trong các kinh Đại thừa của 4 thời trước là Tích viên.

kim văn

Modern literature.

kim xu

Kim khu, Thể vóc màu vàng ròng, như kim thân

Kim Xuyên

(今川, Imagawa): tên gọi của một dòng họ, chi tộc của họ Túc Lợi (足利), Thủ Hộ Đại Danh của vùng đất Tuấn Hà (駿河, Suruga), sau đó làm Đại Danh Chiến Quốc cả vùng Đông Hải. Quê hương gốc của dòng họ này là vùng Kim Xuyên (今川), Quận Phan Đậu (幡豆郡), tiểu quốc Tam Hà (三河, Mikawa).

kim xí điểu vương

Garuda, garula (S). The king of birds with golden wings, companion of Vishnu. Also Ca lâu la, thần điểu. ; Garuda-raja (skt)—Ca Lâu La Vương. 1) Vua của loài chim Kim Xí (Loài chim thù thắng nhất trong các loài chim Kim Xí), bạn đồng hành của thần Visnu—The king of birds, with golden wings, companion of Visnu. 2) Kim Xí Điểu Vương còn được dùng để ví với các bậc đại nhân, trong khi tiểu nhân được ví với loài quạ: Garuda-raja or king of birds are used to compare with the great people, while the crow are used to compare with the wicked people. 3) Kim Xí Điểu Vương còn để chỉ Đức Phật: The king of birds is a symbol of the Buddha.

Kim âu

(金甌): có hai nghĩa chính. (1) Cái bồn, cái chậu bằng vàng. (2) Tỷ dụ cho sự bền vững của biên cương đất nước, từ đó cũng được dùng chỉ cho đất nước. Như trong bài từ Chá Cô Thiên (鷓鴣天) của Thu Cấn (秋瑾, 1875-1907) nhà Thanh có câu: “Kim âu dĩ khuyết tổng tu bổ, vị quốc hi sinh cảm tích thân (金甌已缺總須補、爲國犧牲敢惜身, nước non đã khuyết nên tu sửa, vị quốc hy sinh đâu tiếc thân).” Hay trong bài thơ Nam Bắc Sử Cảm Ngộ (南北史感遇) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường cũng có câu: “Binh vi Lương điện kim âu phá, hỏa phát Trần cung ngọc thọ tồi (兵圍梁殿金甌破、火發陳宮玉樹摧, binh vây Lương điện nước nhà nát, lửa phát Trần cung cây ngọc tan).”

kim ô

The sun.

kim điện đại tự

3584位於四川峨嵋山金頂,其後爲金頂正殿。金頂正殿古名永明華藏寺,瓦、柱、門、窗、壁等,皆以銅及合金鑄成,爲峨嵋諸寺之首。殿旁有一鐵塔,高聳入雲,塔中珍藏舍利子甚多,大小如珍珠,相傳其中有一光澤照人之舍利子爲唐三藏之舍利子。寺中並有乾隆頒賜之玉璽,上刻有九龍。 ; (金殿大寺) Chùa ở Kim đính, núi Nga mi, tỉnh Tứ xuyên, Trung quốc, về sau gọi là Kim đính chính điện. Ngày xưa Kim đính chính điện có tên là Vĩnh minh Hoa tạng tự, ngói, cột, cửa ra vào, cửa sổ, tường vách, v.v...… đều được đúc bằng đồng và hợp kim, là ngôi chùa đứngđầu trong các ngôi chùa ở núi Nga mi. Bên cạnh chính điện có 1 tòa tháp sắt, cao chót vót, trong tháp có thờ rất nhiều hạt xá lợi, lớn bằng hạt trân châu. Tương truyền trong đó có 1 hạt sáng bóng soi thấy hình người, là hạt xá lợi do Tam tạng Huyền trang mang từ Ấn độ về. Trong chùa còn có ấn ngọc, trên khắc 9 con rồng, do vua Càn long ban tặng.

kim đường

3582設於伽藍中心以安置本尊之佛殿。由於堂內敷以金色,故稱金堂;或謂於堂內安奉金色之佛像,且其莊嚴而金碧燦爛,故有此稱。又金堂爲一山伽藍中最主要之建築,極盡莊嚴之美。若於大叢林,或有二至三宇金堂。有關金堂之稱,依參天台五臺山記卷一、三國遺事卷三所載,我國與朝鮮三國時代已有其名(一說我國則無此用例)。日本平安朝中期專用此稱,至禪宗東傳日本,乃稱爲佛殿,又單稱本堂。 ; (金堂) Tức là điện Phật được thiết lập ở chính giữa già lam để thờ tượng Bản tôn. Vì bên trong điện Phật được trang trí bằng mầu vàng ròng nên gọi là Kim đường(nhà vàng); hoặc cho rằng trong điện thờ tượng Phật bằng vàng ròng, mầu sắc chói lọi, rực rỡ, nên gọi là Kim đường. Kim đường là kiến trúc đẹp đẽ trang nghiêm nhất trong già lam. Trong các tùng lâm lớn có thể có đến 2 hoặc 3 Kim đường. Về danh xưng kim đường, theo Tham Thiên thai sơn ngũ đài sơn kí quyển 1 và Tam quốc di sự quyển 3, thì ở Trung quốc và Triều tiên vào thời Tam quốc đã có danh xưng Kim đường rồi(có thuyết nói Trung quốc không dùng danh xưng này). Còn ở Nhật bản, vào giữa thời Bình an, chuyên gọi nơi thờ Bản tôn là Kim đường, đến khi Thiền tông truyền vào thì mới gọi là Phật điện, hoặc Bản đường.

kim đại vương

3521爲千手觀音之眷屬,護持行者之善神。二十八部眾之一。其形像,據安置於日本京都三十三間堂者,爲左手握拳安於腰間,右手持獨鈷杵。然千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經所列舉之二十八部眾,並無此神。〔佛像圖彙卷四〕(參閱「二十八部眾」173) ; Vị Thần bảo hộ khách lữ hành, Thiên Thủ Quán Âm—Protector of travellers, shown in the train of the 1,000-hand Kuan-Yin. ; (金大王) Vị thiện thần giữ gìn che chở người tu hành, quyến thuộc của bồ tát Thiên thủ Quán âm, 1 trong 28 bộ chúng. Theo pho tượng để ở tòa nhà 33 gian tại Kyoto, Nhật bản, thì tay trái của vị tôn này đặt ở giữa chỗ thắt lưng, tay phải cầm cây chày 1 chĩa. Nhưng trong 28 bộ chúng được liệt kê trong kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni, thì không thấy có vị thần này. [X. Phật tượng đồ vựng Q.4]. (xt. Nhị Thập Bát Bộ Chúng).

kim đạo tâm

1222又作青道心、襖道心。指初發心出家,而資歷尚淺、修行未熟之修道者。 ; (今道心) Cũng gọi Thanh đạo tâm, Áo đạo tâm. Chỉ cho người mới phát tâm xuất gia, đạo hạnh chưa cao, sự tu hành chưa thuần thục.

kim đề

Kanthaka-asvaraja (skt)—Tên của con ngựa Kiến Trắc mà Đức Phật đã cỡi đi trong đêm xuất gia—Name of the steed on which Sakyamuni left his home.

kim đỉnh tự

3584位於新疆伊寧東北三點六公里處,爲著名之喇嘛廟。又稱固爾扎寺。相傳建於明末清初,因寺頂鋪黃金,故稱金頂寺,後爲準噶爾部落所毀。乾隆二十七年(1762),曾築小堡於此,後亦遭毀,今僅存一高約三公尺,周圍七○○公尺之土臺。於此曾發現有獸面形狀之琉璃殘磚及西藏佛像等。

kim địa

A Buddhist monastery. ; Kim Điền—Tự viện Phật giáo (do tích trưởng giả Tu Đạt lấy vàng mua Kỳ Viên)—A Buddhist monastery.

kim địa quốc

3526梵名 Suvarṇa-bhūmi,巴利名 Suvaṇṇa-bhūmi。位于今緬甸仰光以南,馬來半島西海岸之古國。依據善見律毘婆沙卷二所載,阿育王曾派遣大德須那迦(巴 Sonaka)、绷多羅(巴 Uttara)共赴此國,爲之宣說梵網經,得道果者有僧三千五百,尼一千五百。關於此國之位置,弗格森(J. Fergusson)認爲係今之打端(Thaton),費爾(Phayre)則謂係今仰光東北八十點五公里左右之庇古(Pegu),然蓋格(W. Geiger)懷疑上述二說,而謂此國乃今印度恆河支流桑河(Son)沿岸之喜拉尼雅伐哈(梵 Hiraṇyavāha)。〔島史第八章、大史第十二章、賢愚經第七大劫賓寧品、翻譯名義集卷七、W. Geiger: The Mahāvaṃsa; T. Watters: On YuanChwangs, vol.Ⅱ; P. Bigandet: The Life or Legend of Gaudama, vol. Ⅱ〕 ; Suvarnabhumi (skt)—Một nước về phía nam thành Hoa Tử, vua A Dục đã gửi đoàn truyền giáo Phật giáo đến hoằng pháp tại đây—A country south of Sravasti, to which Akosa sent missionaries. ; (金地國) Phạm: Suvarịa-bhùmi. Pàli:Suvaịịa-bhùmi. Tên một nước xưa nằm về mạn nam thủ đô Ngưỡng quang của Miến điện và phía tây bờ biển bán đảo Mã lai hiện nay. Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2, thủa xưa vua A dục đã từng phái các Đại đức Tunaca (Pàli:Sonaka) và Uất đa la (Pàli:Uttara) đến nước này truyền đạo. Các ngài đã truyền giảng kinh Phạm võng và có 3.500 vị tăng, 1.500 vị ni được đạo quả. Về vị trí nước này, theo ông Phất cách sâm (J. Ferguson), thì nay là vùng Đả đoan (Thaton), ông Phí nhĩ (Phayre) thì cho là vùng Tì cổ (Pegu) cách Ngưỡng quang (Ranngoon) về phía đông bắc khoảng 80,5km hiện nay; nhưng ông Cái cách (W. Geiger) hoài nghi 2 thuyết trên và cho rằng nước này là vùng Hỉ lạp ni nhã phạt ha (Phạm:Hiraịyavàha) ở ven bờ sông Tang (Son) chi nhánh của sông Hằng bên Ấn độ hiện nay. [X. Đảo sử chương 18; Đại sử chương 12; phẩm Đại kiếp tân ninh trong kinh Hiền ngu Q.7; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; The Mahàvaôsa (W. Geiger); On Yuan Chwang, vol.II (T. Watters); The Life or Legend of Gaudama, vol. II (P. Bigandet).

Kim Đồng Ngọc Nữ

(金童玉女): còn gọi là Tiên Đồng Tiên Nữ (仙童仙女), có ba nghĩa khác nhau: (1) Thuật ngữ của Đạo Giáo chỉ cho những đồng nam đồng nữ hầu hạ các tiên nhân. (2) Từ chỉ cho những hài nhi hay thanh niên nam nữ thanh tú, dễ thương, không bị tà nhiễm thế tục. Như trong bài Trương Sanh Chử Hải (張生煮海) của Lý Hảo Cổ (李好古, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Kim Đồng Ngọc Nữ ý đầu cơ, tài tử giai nhân thế hãn hy (金童玉女意投機,才子佳人世罕稀, Kim Đồng Ngọc Nữ ý dịp may, tài tử giai nhân đời hiếm thay).” (3) Tên gọi của một loại người giấy nam nữ người ta thường dùng đặt trước hai bên phải trái bàn linh để hầu hạ người chết.

kim đồng phật

3586以銅鑄成,其外鍍金之佛菩薩像。自印度以來,佛像大多以銅或銅合金(多爲青銅)鑄成。其起源係因佛身爲金黃色,故仿鑄成黃銅之像。據增一阿含經卷二十八載,波斯匿王以如來之形體黃如天金,故以紫磨金造成五尺之如來像。另據大唐西域記卷十二載,玄奘曾自印度攜回三尊全金之佛像。近時在印度犍馱邏地方發掘出迦膩色迦王朝時代製作之金銅像斷片,可推知昔時印度、西域等地亦盛行金銅鎔鑄之法。 我國最早有關鑄作金銅像之記載爲東漢獻帝之時,笮融大起浮屠寺,作黃金塗佛。另據晉書帝紀第十載,東晉恭帝深信浮屠之道,嘗鎔貨幣千萬以造丈六金像,親迎至瓦官寺。其後歷代有關鑄造金銅佛像之記載與遺品甚多。〔往五天竺國傳、梁高僧傳卷五道安、卷十三法悅、大唐西域記卷八、廣弘明集卷二、卷十五至卷十七、後漢書卷七十三〕 ; (金銅佛) Tượng Phật, Bồ tát đúc bằng đồng, bên ngoài mạ vàng. Từ Ấn độ đến Trung quốc và các nước Phật giáo khác, phần lớn tượng Phật đều được đúc bằng đồng. Về nguồn gốc, theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 28, vì hình thể Như lai có mầu vàng như vàng ở cõi trời, nên vua Ba tư nặc cho đúc tượng Như lai bằng vàng ròng cao 5 thước. Còn theo đại Đường tây vực kí quyển 12, khi từ Ấn độ trở về Trung quốc, ngài Huyền trang có thỉnh về 3 pho tượng bằng vàng. Thời cận đại, ở vùng Kiện đà la, Ấn độ, người ta có đào được những mảnh tượng Phật bằng kim đồng đúc vào thời vương triều Ca nị sắc ca, nhờ đó mà biết được là thời xưa Ấn độ, Tây vực, v.v... đã thịnh hành phương pháp nấu và đúc kim đồng. Còn ở Trung quốc, ghi chép sớm nhất về việc đúc tượng kim đồng là vào thời vua Hiến đế nhà Đông Hán. Thời ấy, ông Trách dung xây cất chùa Phật rất lớn và đúc tượng Phật bằng vàng ròng. Còn theo Tấn thư Đế kỉ thứ 10, thì vua Cung đế nhà Đông Tấn rất kính tin đạo Phật, nhà vua từng cho nấu chảy hàng nghìn vạn đồng tiền vàng để đúc tượng Phật cao 1 trượng 6, rồi đích thân vua rước tượng đến chùa Ngõa quan. Từ đó về sau, trải qua các đời, có rất nhiều tư liệu nói về việc đúc tượng Phật bằng kim đồng và cũng không ít di phẩm hiện còn đến ngày nay. [X. Ngũ thiên trúc quốc truyện Q.5, Q.13; Đại đường tây vực kí Q.8; Quảng hoàng minh tập Q.2, Q.15-17; Hậu Hán thư Q.73].

kim đới thành

Xem Di thê la thành.

Kim 金

[ja] コン kon ||| Gold (suvarṇa, hiraṇya) which is a symbol for enlightenment, and one of the seven jewels 七寶. => Vàng (s: suvarṇa, hiraṇya), biểu tượng cho sự giác ngộ và là một trong bảy thứ kim loại quý (Thất bảo 七寶).

Kinh

經; S: sūtra; P: sutta; còn gọi là Khế kinh, dịch theo âm là Tu-đa-la;|Tên gọi của các bài giảng của đức Phật, nằm trong tạng thứ hai của Tam tạng (s: tripiṭaka). Tất cả các bộ kinh được gộp chung trong Kinh tạng (s: sūtra-piṭaka).||H 36: Một tập kinh được viết trên lá bối. Hai mặt của tập kinh được ép lại bằng hai tấm gỗ – thường được trang trí rất đẹp – và hai sợi chỉ luồn qua. Các chữ của kinh được viết gắn lên những đường gân song song của lá dừa, vì vậy phía trên đầu của một hàng chữ luôn luôn là một đường thẳng (xem Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh, nguyên bản Phạn ngữ).|Ngày nay, kinh được dịch ra nhiều tiếng trên thế giới, kể cả những tiếng Tây phương. Mới đầu kinh được ghi lại bằng tiếng Pā-li hay Phạn, dần dần được dịch ra chữ Hán và Tây Tạng và các ngôn ngữ khác. Kinh ghi lại những gì chính đức Phật giảng dạy. Khởi đầu bộ kinh ta hay nghe câu »Tôi nghe như vầy…« (如是我聞; Như thị ngã văn). Câu này tương truyền xuất phát từ A-nan-đà, một đệ tử của Phật. A-nan-đà là người có trí nhớ phi thường, đã thuật lại những lời Phật nói trong buổi Kết tập lần thứ nhất ngay sau khi Phật diệt độ. Sau câu này, thường thường kinh kể lại buổi nói chuyện đó gồm có người tham dự, nơi chốn, thời gian. Sau đó là những lời khai thị của Phật, có khi là những cuộc đối thoại sinh động. Thường thường lối hành văn của kinh giản đơn, dễ hiểu, có tính giáo khoa. Kinh hay lấy những thí dụ và so sánh, ẩn dụ. Có khi kinh nhắc lại quá đầy đủ các yếu tố trong bài giảng làm người đọc thấy rất trùng điệp. Mỗi một kinh là một bài riêng biệt, xử lí một vấn đề riêng biệt. Các kinh Tiểu thừa được viết bằng văn hệ Pā-li, trong Bộ kinh (p: nikāya). Các bộ này trong văn hệ chữ Phạn (sanskrit) có tên là A-hàm (s: āgama). Kinh Ðại thừa được viết bằng văn hệ chữ Phạn, nhưng ngày nay phần lớn cũng đã thất lạc, chỉ còn bản dịch bằng chữ Hán hoặc Tây Tạng. Các kinh Ðại thừa có thể được xem là phát khởi giữa thế kỉ thứ nhất và thứ sáu. Các kinh này cũng bắt đầu bằng câu »Tôi nghe như vầy…« và ghi rõ danh xưng, nơi chốn thời gian.|Trong »rừng« kinh sách Phật giáo người ta có thể phân biệt hai hướng sau đây:|1. Kinh dựa trên Tín tâm (s: śraddhā), nói về thế giới quan Phật giáo, quan niệm Bồ Tát cũng như nhấn mạnh lên lòng thành tâm của người nghe. Hướng này có lẽ xuất xứ từ Bắc Ấn. Trong những bộ kinh này, ta thấy rất nhiều điều huyền bí, cách mô tả trùng trùng điệp điệp. Kinh nhắc lại các vị Phật và Bồ Tát thi triển nhiều thần thông, qua vô lượng thế giới, không gian và thời gian. Các vị Phật và Bồ Tát được biến thành các Báo thân (Ba thân) đầy quyền năng. Khuynh hướng này xuất phát từ Ðại thừa, vừa muốn đáp ứng tinh thần tín ngưỡng của Phật tử, vừa phù hợp với giáo pháp căn bản của mình là tính Không (s: śūnyatā), cho rằng mọi biến hiện trong thế gian chẳng qua chỉ là huyễn giác. Qua đó thì các thần thông cũng như toàn bộ thế giới hiện tượng chỉ là Ảo ảnh.|2. Kinh có tính triết học, lí luận dựa trên quan điểm chính của Ðại thừa là tính Không. Xuất xứ các kinh này có lẽ từ miền Ðông của Trung Ấn. Các loại kinh này được nhiều luận sư giảng giải khác nhau và vì vậy mà xuất phát nhiều trường phái khác nhau.|Các kinh độc lập quan trọng của Ðại thừa là: Diệu pháp liên hoa (s: saddharmapuṇḍarīka), Nhập Lăng-già (s: laṅkāvatāra), Phổ diệu (hay Thần thông du hí; s: lalitavistara), Chính định vương (s: samādhirāja), Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (s: sukhāvatī-vyūha), Hiền kiếp (s: bhadrakalpika), Phạm võng (s: brahmajāla), Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm (s: buddhāvataṃsaka), Thắng Man (s: śrīmālādevī), A-di-đà (s: amitābha), Quán vô lượng thọ (s: amitāyurdhyāna), Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrti-nirdeśa), Thủ-lăng-nghiêm tam-muội (s: śūraṅgama).

kinh

5547梵語 sūtra。音譯作修多羅、素怛纜、蘇怛羅。一般譯爲契經、正經、貫經。佛教聖典可總括爲經、律、論三藏,經藏乃其中之一。又於原始佛教經典之基本型態中,經亦爲九部經之一,十二部經之一。 關於經(修多羅)之名義,列舉如下:(一)釋尊演說之教理,本稱「法」(達磨),即教法之意。後世以之爲教理綱要書,而稱爲「經」(修多羅)。修多羅原爲婆羅門教之用語,後爲佛教採納,逐漸演變而指冗長之文,取其「連綴文義不散」之意。 (二)據瑜伽師地論卷二十五、佛地經論卷一、大乘法苑義林章卷二、華嚴經疏卷一等所舉,修多羅原意爲「線」、「條」、「絲」等,引申其義爲「貫穿攝持」。以眾生由教之攝持,而不散流於惡趣;義理由教之貫穿,而不散失隱沒,故稱聖教爲契經。又據雜阿毘曇心論卷八,舉出修多羅五義:(1)出生,即出生諸義。(2)泉涌,即義味無盡。(3)顯示,即顯示諸義。(4)繩墨,即辨諸邪正。(5)結鬘,即貫穿諸法。 (三)據注維摩詰經卷一、大般涅槃經集解卷一、無量壽經義疏卷上等所舉,經含有「貫穿」、「攝持」、「恆常」等義;亦即經爲「貫穿諸法而歷古今恆常不斷」之義。又智顗之法華經玄義卷八上,舉出修多羅之「有翻、無翻」二說。於無翻(以含義多,故不翻譯)說中,引列上述之五義;於有翻說中,則舉出「經」、「契」、「法本」、「線」、「善語教」五譯,而以「經」爲正譯。 蓋「經」可分廣義、狹義兩方面。先就廣義而論:釋尊所說之一切教法均稱「經」;經所闡揚、詮釋之教,稱經法、經教。記載經教之書籍,稱經典。然佛典通常所稱之「經」,多係就其狹義而言:(一)經、律、論三藏中之經,一般又分成大乘經、小乘經二種。據緣山三大藏總目錄所舉,大乘經分類爲般若、寶積、大集、華嚴、涅槃、重譯及單譯,麗藏收有五二一部二一六四卷;小乘經分類爲阿含、單譯二種,麗藏收有二四○部六一四卷。又大正新修大藏經總將大小乘經典分類爲阿含、本緣、般若、法華、華嚴、寶積、涅槃、大集、經集、密教等十部,共收一四六○部四二二五卷。上述諸經大多爲佛之自說,其中亦含有弟子等之所說。又經之開始有「如是我聞」一語,顯示此等經係於釋尊入滅後不久,由結集而成者。(二)九部經、十二部經中之契經,即以散文記載佛陀直說之教法。然九部經、十二部經之分類,及契經一詞之含意,歷來亦有多種說法。根據我國印順法師所著「原始佛教聖典之集成」之說,認爲:(1)自意義而言,契經係指經典結集時之「貫穿攝持」義。(2)自體裁而言,契經係指經典結集後,其中之「長行」部分。(3)自內容而言,契經係指雜阿含經(相當於南傳佛教之相應部)之長行部分。而近世一般學者多主張九部、十二部之部類分別,其一一部類在定義、性質上之界定難以定準,其中以契經而言,較受教界、學界所普遍認可者即如上記之「貫穿」義、「佛陀直說」義、「賅通廣(經藏)狹(九部或十二部經之一)二義」義。(三)泛指小乘三藏以外之大乘經,如大智度論卷三十三(大二五‧三○六下)載:「諸經中直說者名修多羅,所謂四阿含、諸摩訶衍經,及二百五十戒經。出三藏外亦有諸經,皆名修多羅。」上引中之「三藏」即指小乘三藏。 迄今爲止,部派佛教中,結集編纂一部派之典籍成書者,僅見於南方上座部之南傳大藏經。另如北傳之漢譯經典,則係混合四阿含經與諸部派經典而成者。除上記部派佛教經典外,自西曆紀元前後,有般若經等諸大乘經典,由大乘教徒編成。至西曆後四世紀左右,復成立維摩經、阿彌陀經、法華經、大集經、華嚴經、涅槃經、解深密經等。其後又有大日經、金剛頂經等密教經典出現。上述大乘經亦採用釋尊說法之形式,即於經首書有「如是我聞」之句。 現存大藏經中收存最多經典者,爲漢譯及藏譯兩種。又大藏經雖包含經、律、論三藏,然經爲其中之根本,且經之部帙亦爲多數,故大藏經又稱一切經。〔大智度論卷二、成實論卷一、大毘婆沙論卷一、卷一二六、四阿鋡暮抄解卷上、法華經義記卷一、仁王護國般若經疏卷一(智顗)、觀經疏卷一(善導)〕(參閱「九部經」145、「十二部經」344、「大藏經」893、「修多羅藏」4040) ; Suttam (P), Suttanta (P), Discourse, Kyo (J), SŪtra (S), Sutta (P)Khế kinh, Trường hàng Thể loại văn xuôi, trực tiếp ghi chép giáo thuyết của Phật Xem Sutra. ; Sùtra (S), Sutta (P). Threads, threaded together, classical works; canons; scriptural text; scripture. ; 1) Gai: Thorns. 2) Sutras (skt)—Sutta (p)—Prayer book—Nghĩa đen của tiếng Phạn là “sợi chỉ xâu các hạt châu.” Kinh là Thánh Thư của Phật giáo, tức là những cuộc đối thoại có định hướng, những bài thuyết pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni. Người ta nói có hơn vạn quyển, nhưng chỉ một phần nhỏ được dịch ra Anh ngữ. Các kinh Tiểu Thừa được ghi lại bằng tiếng Pali hay Nam Phạn, và các kinh Đại Thừa được ghi lại bằng tiếng Sanskrit hay Bắc Phạn. Đa số các tông phái Phật giáo được sáng lập theo một kinh riêng từ đó họ rút ra uy lực cho tông phái mình. Phái Thiên Thai và Pháp Hoa (Nhật Liên Tông ở Nhật—Nichiren in Japan) thì dùng Kinh Pháp Hoa; Tông Hoa Nghiêm thì dùng Kinh Hoa Nghiêm. Tuy nhiên, Thiền Tông không liên hệ với kinh nào cả, điều nầy cho phép các thiền sư tự do sử dụng các kinh tùy ý khi các thầy thấy thích hợp, hoặc có khi các thầy không dùng bộ kinh nào cả. Có một câu quen thuộc trong nhà Thiền là “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền,” nghĩa là không theo ngôn ngữ văn tự, giáo lý biệt truyền ngoài kinh điển. Điều nầy chỉ có nghĩa là với Thiền Tông, chân lý phải được lãnh hội trực tiếp và không theo uy thế của bất cứ thứ gì ngay cả uy thế của kinh điển—Literally sutra means a thread on which jewles are strung. The sutras are Buddhist scriptures, that is, the purported dialogues and sermons of sakyamuni Buddha. There are said to be over ten thousand, only a fraction of which have been translated into English. The so-called Hinayana were originally recorded in Pali, the Mahayana in Sanskrit. Most Buddhist sects are founded upon one particular sutra from which they derive their authority. The T'ien-T'ai and Lotus Sects from the Lotus sutra; the Hua-yen from the Avatamsaka Sutra. The Zen sects, however, is associated with no sutra, and this gives Zen masters freedom to use the scriptures as and when they see fit or to ignore them entirely. There is a familiar statement that Zen is a special transmission outside the scriptures, with no dependence upon words and letters. This only means that for the Zen sect, truth must be directly grasped and not taken on the authoriry of any thing, even the sutras. ; (經) .. Phạm:Sùtra. Hán âm: Tu đa la, Tố đát lãm, Tô đát la. Hán dịch: Khế kinh, Chính kinh, Quán kinh. Tất cả giáo pháp do đức Phật giảng nói được ghi chép, giữ gìn và truyền lại cho đời sau. Là 1 trong 3 tạng Thánh điển của Phật giáo, 1 trong 9, hoặc 12 thể tài kinh. Về danh nghĩa của kinh, có những giải thích như sau: Giáo lí do đức Phật giảng nói vốn được gọi là Pháp(Đạt ma), nghĩa là giáo pháp, đời sau ghi chép lại làm sách giáo lí cương yếu mà gọi là Kinh(Tu đa la). Tu đa la vốn là tiếng dùng của Bà la môn giáo, về sau được Phật giáo thu dụng, với hàm ý là xâu kết những văn nghĩa lại không để tản mạn rời rạc. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 25, Phật địa kinh luận quyển 1, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 2, Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1, v.v... thì nghĩa gốc của chữ Tu đa la là sợi dây, sợi chỉ, sợi tơ, với hàm nghĩa xuyên suốt, thu nhiếp lấy, giữ gìn, tức có nghĩa chúng sinh nhờ giáo pháp thu nhiếp, giữ gìn, nên không rơi vào đường ác. Nghĩa lí được giáo pháp xâu kết lại không bị tản mạn mất mát, cho nên Thánh giáo được gọi là Khế kinh. Còn theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 8, thì Tu đa la có 5 nghĩa là: 1.Xuất sinh: Sinh ra các nghĩa lí. 2.Tuyền dũng: Ý vị, nghĩa lí không cùng tận. 3.Hiển thị: Hiển bày các nghĩa lí. 4. Thằng mặc: Biện biệt các pháp tà chính. 5.Kết man: Xâu kết các pháp. Lại cứ theo Chú duy ma cật kinh quyển 1, Đại bát niết bàn kinh tập giải quyển 1. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng, v.v... thì Kinh hàm có các nghĩa: Xâu suốt, thu nhiếp, giữ gìn, thường hằng, v.v... nghĩa là Kinh xâu suốt các pháp, xưa nay thường hằng không gián đoạn. Trong Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 8 phần trên, ngài Trí khải có nêu ra 2 thuyết về Kinh là: Hữu phiên và Vô phiên. Trong thuyết Vô phiên(cho rằng vì quá nhiều nghĩa nên không phiên dịch) thì trưng ra 5 nghĩa đã nêu ở trên. Còn trong thuyết Hữu phiên thì nêu ra 5 cách dịch: Kinh, Khế, Pháp bản, Tuyến, Thiện ngữ giáo, trong đó lấy Kinh làm nghĩa chính. Kinh có 2 nghĩa rộng và hẹp. Về nghĩa rộng, Kinh chỉ cho tất cả giáo pháp do đức Phật diễn nói; giáo nghĩa mà Kinh xiển dương, giải thích thì gọi là Kinh pháp, Kinh giáo; sách vở ghi chép kinh giáo thì gọi là Kinh điển. Về nghĩa hẹp, Kinh chỉ cho Kinh tạng, 1 trong 3 tạng Kinh, Luật, Luận. Thông thường, Kinh là chỉ cho Khế kinh trong 9 thể tài hoặc 12 thể tài, tức dùng văn xuôi ghi chép những giáo pháp do đức Phật trực tiếp nói ra. Nhưng về cách chia loại 9 thể tài, 12 thể tài cũng như ý nghĩa của danh từ Khế kinh xưa nay cũng có nhiều thuyết. Nguyên thủy Phật giáo Thánh điển chi tập hành của pháp sư Ấn thuận cho rằng: - Về ý nghĩa: Khế kinh mang ý nghĩa xâu kết, giữ gìn khi kinh điển được kết tập. - Về thể tài: Khế kinh chỉ cho phần văn xuôi trong kinh điển sau khi được kết tập. Nói chung, phần đông các học giả thời cận đại đều cho rằng khó có thể giới hạn, định nghĩa hoặc xác quyết mỗi thể loại kinh, nhưng đều thừa nhận Khế kinh hàm có các nghĩa: Xuyên suốt, đức Phật trực tiếp nói ra, nghĩa rộng chỉ cho Kinh tạng, nghĩa hẹp chỉ cho kinh Tạp a hàm(1 trong 9 hoặc 12 thể tài kinh). Kinh cũng chỉ cho các kinh Đại thừa ngoài 3 tạng của Tiểu thừa. Luận Đại trí độ quyển 33 (Đại 25, 306 hạ), ghi: Trong các kinh, những giáo pháp do đức Phật trực tiếp nói ra gọi là Tu đa la, như 4 bộ A hàm, các kinh Đại thừa và 250 giới kinh. Ngoài Tam tạng ra cũng có các kinh gọi là Tu đa la. Tam tạng vừa nói trên, tức chỉ cho Tam tạng của Tiểu thừa. Cho đến nay, trong Phật giáo bộ phái, việc kết tập, biên soạn kinh điển của mỗi bộ phái chỉ thấy trong Đại tạng kinh Nam truyền của Thượng tọa bộ Nam phương. Còn các kinh điển Hán dịch Bắc truyền thì hỗn hợp 4 bộ kinh A hàm và kinh điển của các bộ phái mà thành. Ngoài các kinh điển của các bộ phái Phật giáo nói trên, vào khoảng trước hoặc sau kỷ nguyên Tây lịch xuất hiện những kinh điển Đại thừa như: Kinh Bát nhã, v.v... do tín đồ của Đại thừa giáo biên tập thành. Đến khoảng thế kỉ thứ IV, lại thành lập kinh Duy ma, kinh A di đà, kinh Pháp hoa, kinh Đại tập, kinh Hoa nghiêm, kinh Niết bàn, kinh Giải thâm mật, v.v... Sau đó, lại có các kinh điển Mật giáo như: Kinh Đại nhật, kinh Kim cương đính, v.v... ra đời. Các kinh Đại thừa nói trên cũng sử dụng hình thức đức Phật nói pháp, tức ở đầu kinh có ghi câu: Như thị ngã văn (Tôi nghe như vầy). Trong Đại tạng hiện còn thì kinh Hán dịch và Tạng dịch là nhiều hơn cả. Đại tạng kinh tuy bao gồm 3 tạng Kinh, Luật, Luận, nhưng trong đó Kinh là căn bản và cũng chiếm đa số, vì thế Đại tạng kinh cũng được gọi là Nhất thiết kinh. [X. luận Đại trí độ Q.2; luận Thành thực Q.1; luận Đại tì bà sa Q.1, 126; Tứ A hàm mộ sao giải Q.thượng; Pháp hoa kinh nghĩa ký Q.1; Nhân vương hộ quốc Bát nhã kinh sớ Q.1 (Trí khải); Quán kinh sớ Q.1 (Thiện đạo)]. (xt. Cửu Bộ Kinh, Thập Nhị Bộ Kinh, Đại Tạng Kinh, Tu Đa La Tạng).

kinh 108 cảm thọ

Aṭṭhasatapariyaya sutta (P), Sutra on One Hundred Eight Feelings.

kinh a di đà

Amitābha sŪtra (P)Một trong ba bộ kinh nền tảng của tịnh độ tông ở Đông nam Châu á. Kinh này còn có tên là Sukhavati-Vyuha. Kinh A di đà Trung quốc có 3 bản dịch: - bản dịch của Cưu-ma-la-thập cuối đời Tần (Ch'in) vào năm 402. Bản dịch của Gunabhadra năm 455. Bản dich của Tăng Sáng năm 650. Hiện nay còn lưu truyền hai bản dịch đầu. Hai bộ kinh nền tảng khác của Tịnh độ tông là: - Trường kinh A di đà và Kinh Thiền định (Meditation Sutra) viết dưới dạng thảo luận giữa đức Phật và Xá lợi Phất cùng những chư tăng khác ở Kỳ viên tịnh xá (Jetavana). Kinh này mô tả phước báu của Phật A di đà và mô tả nước cực lạc. - Tiểu kinh A di đà là phần Phật thuyết kinh A di đà cho ngài A nan ở Kỳ viên, thành Xá vệ. ; Sukhavati Vyuha Sutra—Một trong ba bộ kinh chủ yếu của trường phái Tịnh Độ. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán tự—Sutra of Amitabha—Short form of Amitabha Sutra. One of the three basic sutras of the Pure Land sect. It was translated into Chinese by Kumarajiva. This is the short form of Amitabha Sutra. ** See Kinh A Di Đà trong phần Appendix A.

kinh a di đà bổn nguyện

Longer Sukhavativyuha Sutra—Longer Amitabha Sutra—See Tây Phương Cực Lạc và Kinh A Di Đà.

kinh a di đà tiểu bổn

Sukhavati-vyuha (skt)—Kinh A Di Đà Tiểu Bổn là một bản toát yếu hay trích yếu của Đại phẩm Đại Vô Lượng Thọ Kinh (Sukhavati-Vyuha). Bộ chót trong số ba kinh, Quán Vô Lượng Thọ Kinh (Amitayr-dhyana-sutra) cho chúng ta biết nguyên lai của giáo lý Tịnh Độ do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết. Nguyên do Đức Phật thuyết Kinh A Di Đà là khi thái tử A Xà Thế nổi loạn chống lại vua cha là Tần Bà Sa La và hạ ngục nhà vua nầy. Hoàng hậu Vi Đề Ha cũng bị giam vào một nơi. Sau đó Hoàng Hậu thỉnh Đức Phật chỉ cho bà một chỗ tốt đẹp hơn, nơi không có những tai biến xãy ra như vậy. Đức Thế Tôn liền hiện thân trước mặt bà và thị hiện cho thấy tất cả các Phật độ, và bà chọn quốc độ của Đức Phật A Di Đà coi như là tối hảo. Phật bèn dạy bà cách tụng niệm về quốc độ nầy để sau cùng được thác sanh vào đó. Ngài dạy bà bằng giáo pháp riêng của Ngài, và đồng thời giảng giáo pháp của Phật A Di Đà. Đức Phật đã căn dặn ngài A Nan như sau: “Này A Nan! Hãy ghi nhớ bài thuyết pháp nầy và lặp lại cho đại chúng ở Kỳ Xà Quật nghe. Thuyết giáo nầy, ta gọi đấy là Kinh A Di Đà.” Đối tượng của bài thuyết pháp nầy của Phật là sự tôn thờ Phật A Di Đà, và từ đó chúng ta cũng thấy rằng giáo thuyết của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cuối cùng cũng không khác với giáo thuyết của Phật A Di Đà. Kinh A Di Đà Tiểu Bổn là giáo tụng chính yếu của tông Tịnh Độ. Theo Tịnh Độ tông, việc chuyên tâm niệm Phật là cần thiết để đào sâu đức tin, vì nếu không có đức tin nầy thì không bao giờ có sự cứu độ trọn vẹn—The smaller text of Sukhavati-vyuha is a résumé or abridged text of the larger one. The last of the three texts, the Amitayur-dhyana Sutra, tells us the origin of the Pure Land doctrine taught by Sakyamuni Buddha. The reason for the Buddha to preach this sutra was from the following story, Ajatasatru, the prince heir-apparent of Rajagriha, revolted against his father, King Bimbisara, and imprisoned him. His consort, Vaidehi, toow was confined to a room. Thereupon the Queen asked the Buddha to show her a better place where no such calamities could be encountered. The World-Honored One appeared before her and showed all the Buddha lands and she chose the Land of Amitabha as the best of all. The Buddha then taught her how to meditate upon it and finally to be admitted there. He instructed her by his own way of teaching and at the same time by the special teaching of Amitabha. That both teachings were one in the end could be seen from the words he spoke to Ananda at the conclusion of his sermons. “Oh Ananda! Remember this sermon and rehearse it to the assembly on the Vulture Peak. By this sermon, I mean the name of Amitabha." ” From this we can see that the object of the sermon was the adoration of Amitabha. Thus, we see that Sakyamuni Buddha's teaching was after all not different from that of Amitabha. The smaller Sakhavati-vyuha is the main text for reciting of the Pure Land Sect. With the Pure Land, the devotional repetition of the Buddha's name is a necessary action of the pious to deepen the faith, without which salvation will never be complete. ** For more information, please see Kinh A Di Đà in Appendix A.

kinh a dục vương

Asokaraja Sutra (skt)—Kinh nói về vua A Dục, vị vua thứ ba của triều đại Mauryan của xứ Ma Kiệt Đà, thuộc Trung Ấn. Một quân vương Phật tử đã cải từ Ấn giáo sang đạo Phật sau cuộc trường chinh—The sutra written about the life of King Asoka, a Buddhist ruler and the third king of the Maurya Dynasty of Magadha, in central India. He converted from Hinduism to Buddhism after a long period of war and conquest.

kinh a hàm

Agamas (for Hinayana).

kinh a lan nhã xứ

Araa sutta (P), Sutra on The Wilderness.

kinh a ma trú

Ambattha sutta (P).

kinh a nan nhứt dạ hiền giả

Ananda-bhaddekarattasuttam (P).

kinh a nậu lâu đà

Anuruddha suttam (P), Sutra To Anuruddha.

kinh a nậu lâu đà trưởng lão a-nậu-lâu-đà

Anuruddha-samyutta sutta (P), Ven. Anuruddha.

kinh a súc

Xem A súc Phật quốc Kinh.

kinh a súcphật quốc sát chư bồ tát học thành phẩm

Xem A súc Phật quốc Kinh.

kinh a thị đa vấn

Ajita-manava-puccha (P), Sutra on Ajita's.

kinh a-sá-nang-chi

Atanatiya suttanta (P)Tên một bộ kinh.

kinh aggivacchagotta

Aggivacchagottasut-tam (P).

kinh an trú tầm

Vitakkasanthāba suttam (P), Sutra on The Relaxation of Thoughts Tăng thượng tâm kinh.

kinh assalayana

, (MN93), Assalayanasuttam (P).

kinh ba minh vacchagota

Tevijjavaccha-gotasuttam (P).

kinh bhaddali

, (MN65), Bhaddalisuttam (P).

kinh biến

5558全稱佛經變相。爲描繪經典所記述情景之圖畫。以唐代寺院壁畫爲主。唐代張彥遠所著歷代名畫記卷三之長安慈恩寺條:「塔北殿前靵間,吳畫菩薩;殿內,楊庭光畫經變。」爲其例。其種類甚多。例如:維摩變、千鉢文殊、金剛經變、本行經變、彌勒變、華嚴變、除災患變、法華變、日藏月藏變、業報差別變、十輪經變、藥師變、寶積經變、楞嚴經變相、智度論色偈變等。諸書之中,以歷代名畫記所存有關經變之記事最多。其他,除散見於諸書外,尚有現存遺品若干。以下略述經變中之較著名者: (一)維摩變:歷代名畫記卷三長安薦福寺條:「西廊菩提院,吳畫維摩詰本行變。」同書長安安國寺條:「殿內維摩變,吳畫。」同書洛陽敬愛寺條:「大殿內東西面壁畫,劉行臣描維摩詰、盧舍那。」同書洛陽聖慈寺條:「維摩詰並諸功德,楊廷光畫。」同書卷六劉宋袁倩條:「又維摩詰變一卷,百有餘事,運思高妙,六法備呈,置位無差。若神靈感會,精光指顧,得瞻仰威容,前使顧陸知慙,後得張閻駭歎。」此外,如宋代黃休復之茅亭客談卷四所載,益州大聖慈寺創興於開元中,其周迴廊廡皆累朝名畫,東廊有維摩居士堂,係李唐之洪度所畫,其筆絕妙。又如唐代段成式之寺塔記所載,平康坊菩薩寺之佛殿內槽東壁有維摩變。維摩變之遺品留傳迄今者,有敦煌千佛洞第一、五十二、七十四、八十四、一一七、一四九窟之維摩文殊法論壁畫,以及山西龍門古陽洞之浮彫、日本奈良縣法隆寺之五重塔內有維摩文殊法論之塑像。 (二)千鉢文殊:歷代名畫記卷三長安慈恩寺條:「(塔)西壁千鉢文殊,尉遲畫。」此變相圖或依據大乘瑜伽金剛性海曼殊室利千鉢大教王經所說而畫者。遺品有敦煌千佛洞第六、七十二窟之壁畫,於同窟出土品中亦有畫軸。 (三)淨土經變:歷代名畫記卷三長安光宅寺條:「(佛)殿內,吳生、楊廷光畫,又尹琳畫西方變。」同書長安淨土院條:「小殿內,吳畫神、菩薩、帝釋,西壁西方變,亦吳畫。」同書長安安國寺條:「(殿內)西壁西方變,吳畫。」同書洛陽敬愛寺條:「(大殿)西壁西方佛會,趙武端描。十六觀及閻羅王變,劉阿祖描。(中略)(東禪院殿內)東壁西方變,蘇思忠描,陳慶子成(色)。」同書長安雲花寺條:「小佛殿,有趙武端畫淨土變。」同書洛陽大雲寺條:「佛殿上菩薩六軀、淨土經變、閣上婆叟仙,並尉遲畫。」同書洛陽昭成寺條:「香爐兩頭淨土變、藥師變,程遜畫。」此外,李白之金銀泥畫淨土變相讚(大四七‧一七九中):「金銀泥畫西方淨土變相,蓋憑翊郡秦夫人,奉爲亡夫湖州刺史韋公之所建也。(中略)八法功德波動青蓮之池,七寶香華光映黃金之地。清風所拂,如生五音,百千妙樂,咸疑動作。」凡此,或係指觀經曼陀羅之類;十六觀者,或指觀經曼陀羅外緣之十六正觀。遺品有敦煌千佛洞第八、十四、十九b、三十一、三十三、三十四、四十四、五十一E、五十三B、七十、一一四窟之壁畫與畫軸、日本法隆寺壁畫、當麻曼陀羅等畫軸。 (四)金剛經變:歷代名畫記卷三長安淨土院條:「院內次北廊向東塔院內西壁,吳畫金剛變,工人成色,損。次南廊,吳畫金剛經變,及郗后等,並自題。」或係依金剛般若經描繪者。遺品無。 (五)金光明經變:歷代名畫記卷三長安淨土院條:「(小殿內)東南角,吳弟子李生畫金光明經變。」遺品見於敦煌千佛洞第一三五窟之壁畫、日本法隆寺金堂玉蟲廚子密陀繪等之投身餓虎圖,此係依據金光明經捨身品之經變。 (六)本行經變:歷代名畫記卷三長安菩提寺條:「(佛殿)東壁,董諤畫本行經變。」同書長安化度寺條:「楊廷光、楊仙喬畫本行經變。」同書長安大雲寺條:「(塔)外邊四面,楊契丹畫本行經。」同書洛陽聖慈寺條:「西北禪院,程遜畫本行經變。」此類變相圖或係根據佛本行經或佛本行集經等,以描繪佛傳或佛本生譚。於元開所著唐大和上東征傳一書中,記述餘姚郡育王塔云:「一面薩埵王子變,一面捨眼變,一面出腦變,一面救鴿變。」於吳越錢弘俶之八萬四千塔,鑄有尸毘王、慈力王、薩埵王子、月光王之本生,敦煌千佛洞第十七b之降魔圖、第六十三、一三八窟六師外道降伏圖之壁畫,山西雲崗石窟第六窟佛傳圖之浮彫等,均係與本生或佛傳有關係之經變。 (七)彌勒變:歷代名畫記卷三長安西塔院條:「彌勒下生變,韓幹正畫,細小稠鬧。」同書卷八隋代董伯仁條:「周明帝畋遊圖、雜畫臺閤樣、彌勒變、弘農田家圖、隋文帝上廄名馬圖,代代相傳。」此類變相可視爲依據彌勒下生經之龍華會圖,或依彌勒上生經之兜率天宮等圖。遺品有敦煌出土之下生圖。 (八)華嚴變:歷代名畫記卷三長安懿德寺條:「中三門東西華嚴變並妙。」同書洛陽敬愛寺條:「西禪院北壁華嚴變,張法受描。(中略)山亭院十輪經變、華嚴經,並武靜藏畫。」另於敦煌千佛洞第八、一○二、一一七、一一八F、一六八窟之壁畫華嚴七處九會圖亦爲重要之遺品。 (九)除災患變:歷代名畫記卷三洛陽天宮寺條:「天宮寺三門,吳畫除災患變。」此或係根據除恐災患經之經變。 (十)法華變:歷代名畫記卷八隋代展子虔條:「法華變白麻紙、(中略)朱買臣覆水圖,並代代相傳。」遺品有敦煌千佛洞第七十四、八十一、一一七、一二○F、一六八窟之壁畫以及其他。又歷代名畫記卷三洛陽敬愛寺條所云:「(大殿內)法華太子變,劉茂德成」者,是否屬法華經之經變則不詳。 (十一)日藏月藏變:歷代名畫記卷三洛陽敬愛寺條:「禪院內西廊壁畫,開元十年(722),吳道子描日藏月藏經變,及業報差別變。(中略)其(中門)日藏月藏經變,有病龍,又妙於福先寺者。」此經變或與大方等大集經之日藏分及月藏分有關,其中之病龍或指日藏分三歸濟龍品所說者。 (十二)業報差別變:即前項所引歷代名畫記卷三敬愛寺條所述者,或係佛爲首伽長者說業報差別經之經變。 (十三)十輪經變:歷代名畫記卷三洛陽敬愛寺條:「東禪院殿內十輪變,武靜藏描。(中略)殿內則天真山亭院十輪經變、華嚴經,並武靜藏畫。」此係根據地藏十輪經等所繪之經變;敦煌千佛洞出土等之地藏十王圖,或係源於此一經變而轉變成者。 (十四)藥師變:歷代名畫記卷三洛陽昭成寺條:「香爐兩頭淨土變、藥師變,程遜畫。」此係與藥師瑠璃光如來本願功德經等藥師如來有關係之經變。遺品有敦煌出土之畫軸等。 (十五)寶積經變:歷代名畫記卷七梁儒童條:「釋迦會圖、寶積經變,代代相傳。」此或係舊寶積經(大寶積經之普明菩薩會)之經變。 (十六)楞嚴經變相:據宋代黃休復所著之茅亭客談卷十小童處士條所載,宋以前有張、杜二人善畫佛像、羅漢,有童君與前輩不相上下;童君畫有慈氏如來、十六羅漢於海雲山寺,於大聖慈寺三學院有楞嚴經變。其所繪變相是否依據首楞嚴三昧經不詳,然歷代名畫記卷五晉衛協條:「詩北風圖,(中略)又有小列女楞嚴七佛。」其圖若屬經變,則無疑必依據首楞嚴三昧經者。 (十七)楞伽變相:景德傳燈錄卷三弘忍傅(大五一‧二二二下):「其壁本欲令處士盧珍繪楞伽變相。」此或係楞伽經之經變。 (十八)智度論色偈變:唐代段成式所著寺塔記之平康坊菩薩寺條:「食堂東壁上,吳道玄畫智度論色偈變,偈是吳自題,筆跡遒勁,如磔鬼神毛荠。」智度論或係大智度論,色偈一詞則語意不明。 (十九)消災經:據段成式之寺塔記菩薩寺條所記載,該寺佛殿內槽後壁面有吳道玄畫消災經之事,樹石古嶮。此消災經或指熾盛光大威德消災吉祥陀羅尼經,然難確定。 (廿)地獄變:據段成式之寺塔記常樂坊趙景公寺條載,南中三門內之東壁上,有吳道玄所畫地獄變相,構圖陰怪。又佛祖統紀卷四十亦載該寺之地獄變,都人咸觀,皆懼罪修善,兩市屠沽不售,而爲之轉業。敦煌千佛洞亦發現此種變相之斷片。 ; (經變) Gọi đủ: Phật kinh biến tướng. Những bức tranh vẽ theo những cảnh tượng đã được miêu tả trong kinh. Có rất nhiều loại Kinh biến như: Duy ma biến, Thiên bát Văn thù, Kim cương kinh biến, Bản hạnh kinh biến, Di lặc biến, Hoa nghiêm biến, Trừ tai hoạn biến, Pháp hoa biến, Nhật tạng nguyệt tạng biến, Nghiệp báo sai biệt biến, Thập luân kinh biến, Dược sư biến, Bảo tính kinh biến, Lăng nghiêm kinh biến tướng, Trí độ luận sắc kệ biến, Tịnh độ kinh biến, Kim quang minh kinh biến, Lăng già biến tướng, Địa ngục biến... Về hình thức cũng như nội dung và tác giả của các bức tranh Kinh biến trên đây đều được ghi chép đầy đủ trong Lịch đại danh họa kí, 3 quyển, của Trương ngạn viễn đời Đường. (xt. Biến Tướng).

kinh biệt giải thoát

Pratimoksa sutra (skt)—Kinh Biệt Giải Thoát là cốt lõi của Tạng Luật. Đây là phần cổ xưa nhất của Luật Tạng bằng tiếng Ba Li—Pratimoksa sutra is the nucleus of the Vinaya-pitaka. It is the oldest part of the Pali Pitaka—See Cụ Túc Giới Tỳ Kheo in Vietnamese-English Section, and Pratimoksa and Pratimoksa-sutra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

kinh brahmayu

, (MN91), Brahmayu suttam (P).

kinh buông xả

Vimutti sutta (P), Sutra on Release.

kinh bà la môn

Brāhmaṇa sutta (P), Sutra To Unnabha the Brahman.

kinh bát châu tam muội

Pratyutpannabuddhasammukha-Vasthitasamadhi-Sutra—Kinh nói về trạng thái tâm linh được dùng để quán tưởng các vị Phật hay quán chư Phật hiện tiền Tam muội. Kinh được Ngài Chi Lô Ca Sám dịch sanh Hán tự—The sutra shows ways of contemplations of any Buddhas. The sutra was translated into Chinese by Lokaksema.

kinh bát nhã ba la mật

Xem Ma ha Bát nhã Ba la mật đa kinh.

kinh bát nhã ba la mật đa tâm kinh

Prajnaparamitahrdaya-Sutra—Bát Nhã Ba La Mât Đa Tâm Kinh hay gọi tắt là Tâm Kinh, là phần kinh ngắn nhất trong 40 kinh tạo thành Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Đây là một trong những kinh văn quan trọng nhất trong Phật giáo Đại thừa. Kinh được nhấn mạnh về tánh không. Kinh thường được các Phật tử tụng thuộc lào trong các tự viện. Một trong những câu nổi tiếng trong kinh là “Sắc bất dị không, không bất dị sắc” (hình thức chỉ là hư không, hư không chỉ là hình thức), một công thức được lập đi lập lại trong nhà thiền. Toàn bộ văn kinh của Bát Nhã Ba La Mật có nghĩa là “trí huệ đáo bỉ ngạn.” Kinh được Ngài Huyền Trang dịch sang Hán tự—The Heart of the Prajna-Paramita-Sutra or Heart Sutra, the shortest of the forty sutras that constitute the Prajanparamita-sutra. It is one of the most important sutras of Mahayana Buddhism. The sutra is especially emphasized on emptiness (Shunyata). It is recited so frequently in the temple that most Buddhists chant it from memory. One of the most famous sentences in the sutra is “Form is no other than emptiness; emptiness is no other than form,” an affirmation that is frequently referred to in Zen. The Prajna-Paramita Heart Sutra literally means “the wisdom that leads to the other shore.” The sutra was translated into Chinese by Hsuan-Tsang. ** See Bát Nhã Tâm Kinh trong phần Appendix A.

kinh bát thánh

Atthakanagarasuttam (P).

kinh bát đại nhân giác

Sutra on the Eight Awakenings of Great People. (A) Lịch sử và công năng của Kinh Bát Đại Nhân Giác—History and usage of the Sutra on the Eight Awakenings of Great People: a) Sa môn An Thế Cao, người Parthia, dịch từ Phạn sang Hán vào khoảng năm 150 sau Tây Lịch (đời Hậu Hán) tại Trung Tâm Phật Giáo Lạc Dương . Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch từ Hán sang Việt vào khoảng thập niên 70s. Nguyên văn bản kinh bằng Phạn ngữ không biết còn lưu truyền tới ngày nay hay không. Kinh nầy thích hợp với cả hai truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa—Shramana An Shi Kao, a Partian monk, translated from Sanskrit into Chinese in about 150 A.D. (during the Later Han Dynasty). Most Venerable Thích Thanh Từ translated from Chinese into Vietnamese in the 1970s. The original text of this sutra in Sanskrit is still extant to this day. This sutra is entirely in accord with both the Theravada and Mahayana traditions. b) Kỳ thật, từng điều trong tám điều giác ngộ của các bậc vĩ nhân trong kinh nầy có thể được coi như là đề tài thiền quán mà hàng Phật tử chúng ta, đêm lẫn ngày hằng giữ thọ trì, chí thành tụng niệm ghi nhớ, tám điều giác ngộ của các bậc vĩ nhân—In fact, each of the eight items in this sutra can be considered as a subject of meditation which Buddhist disciples should at all times, by day and by night, with a sincere attitude, recite and keep in mind eight truths that all great people awaken to. c) Tám Chơn Lý mà chư Phật, chư Bồ Tát và các bật vĩ nhân đã từng giác ngộ. Sau khi giác ngộ, các vị ấy lại tiến tu vô ngần từ bi đạo hạnh để tăng trưởng trí huệ. Dùng thuyền Pháp Thân thong dong dạo chơi cõi Niết Bàn, chỉ trở vào biển sanh tử theo đại nguyện cứu độ chúng sanh. Các bậc nầy lại dùng tám Điều Giác Ngộ để khai lối dắt dìu chúng sanh, khiến cho ai nấy đều biết rành sự khổ não của tử sanh sanh tử, để từ đó can đảm xa lìa ngũ dục bợn nhơ mà quyết tâm tu theo Đạo Thánh—Eight Truths that all Buddhas, Bodhisattvas and great people awaken to. After awakening, they then energetically cultivate the Way. By steeping themselves in kindness and compassion, they grow wisdom. They sail the Dharma-body ship all the way across to Nirvana's other shore, only to re-enter the sea of death and rebirth to rescue all living beings. They use these Eight Truths to point out the right road to all beings and in this way, help them to recognize the anguish of death and rebirth. They inspire all to cast off and forsake the Five Desires, and instead to cultivate their minds in the way of all Sages. d) Nếu là Phật tử phải nên luôn trì tụng kinh nầy, hằng đêm thường trì tụng và nghĩ tưởng đến tám điều nầy trong mỗi niệm, thì bao nhiêu tội lỗi thảy đều tiêu sạch, thong dong tiến vào nẻo Bồ Đề, nhanh chóng giác ngộ, mãi mãi thoát ly sanh tử, và thường trụ nơi an lạc vĩnh cửu—If Buddhist disciples recite this Sutra on the Eight Awakenings, and constantly ponder its meaning, they will certainly eradicate boundless offenses, advance toward Bodhi, quickly realize Proper Enlightenment, forever be free of death and rebirth, and eternally abide in joy. (B) Hình thức của kinh—The form of the sutra: Xét về phương diện hình thức thì kinh văn rất đơn giản. Kinh văn rất cổ, văn thể của kinh thuộc loại kết tập như Kinh Tứ Thập Nhị Chương và Kinh Lục Độ Tập. Tuy nhiên, nội dung của kinh rất sâu sắc nhiệm mầu—The form of the sutra is very simple. The text form is ancient, just like the Forty-Two Chapters and the Sutra on the Six Paramitas. However, its content is extremely profound and marvelous. (C) Nội dung của kinh—The content of the Sutra: 1) Điều Giác Ngộ thứ nhất—The First Awakening: • Đời vô thường quốc độ bở dòn—The world is impermanent, countries are perilous and fragile. • Tứ đại khổ không—The body's four elements are a source of pain; ultimately, they are empty. • Năm ấm vô ngã có còn chi đâu—The Five Aggregates (Skandhas) are not me. • Đổi đời sanh diệt chẳng lâu—Death and rebirth are simply a series of transformations. • Giả dối không chủ lý mầu khó tin—Misleading, unreal, and uncontrollable. • Tâm là nguồn ác xuất sanh—The mind is the wellspring of evil. • Thân hình rừng tội mà mình chẳng hay—The body is the breeding ground of offenses. • Người nào quán sát thế nầy—Whoever can investigate and contemplate these truths, • Lần hồi sanh tử sớm chầy thoát ra—Will gradually break free of death and rebirth. 2) Điều Giác Ngộ thứ hai—The Second Awakening: • Tham dục nhiều, khổ thiệt thêm nhiều—Too much desire brings pain. • Nhọc nhằn sanh tử bao nhiêu—Death and rebirth are tiresome ordeals. • Bởi do tham dục, mà chiêu khổ nầy—They stem from our thoughts of greed and desire. • Bớt lòng tham dục chẳng gây—By reducing desires. • Thân tâm tụ tại vui nầy ai hơn—We can realize absolute truth and enjoy independence and well-being in both body and mind. 3) Điều Giác Ngộ thứ ba—The Third Awakening: • Đắm mê trần mải miết chẳng dừng—Our minds are never satisfied or content with just enough. • Một bề cầu được vô chừng—The more we obtain, the more we want. • Tội kia thêm lớn có ngừng được đâu—Thus we create offenses and do evil deeds. • Những hàng Bồ Tát hiểu sâu—Bodhisattvas do not make mistakes. • Nhớ cầu tri túc chẳng lâu chẳng sờn—Instead, they are always content. • Cam nghèo giữ đạo là hơn—Nurture the way by living a quiet life in humble surroundings. • Lầu cao trí huệ chẳng khờn dựng lên—Their sole occupation is cultivating wisdom. 4) Điều Giác Ngộ thứ tư—The Fourth Awakening: • Kẻ biếng lười hạ liệt trầm luân—Idleness and self-indulgence will be our downfall. • Thường tu tinh tấn vui mừng—With unflagging vigor, • Dẹp trừ phiền não ác quân nhiều đời—Great people break through their afflictions and baseness. • Bốn ma hàng phục như chơi—They vanquish and humble the Four Kinds of Demons. • Ngục tù ấm giới thảnh thơi ra ngoài—And they escape from the prison of the Five Skandhas. 5) Điều Giác Ngộ thứ năm—The Fifth Awakening: • Ngu si là gốc khổ luân hồi—Stupidity and ignorance are the cause of death and rebirth. • Bồ Tát thường nhớ không ngơi—Bodhisattvas are always attentive to. • Nghe nhiều học rộng chẳng lơi chút nào—And appreciative of extensive study and erudition. • Vun bồi trí tuệ càng cao—They strive to expand their wisdom. • Biện tài đầy đủ công lao chóng thành—And refine their eloquence. • Đặng đem giáo hóa chúng sanh—Teaching and transfoming living beings. • Niết bàn an lạc còn lành nào hơn—Nothing brings them greater joy than this. 6) Điều Giác Ngộ thứ sáu—The Sixth Awakening: • Người khổ nghèo lắm kết oán hờn—The suffering of poverty breeds deep resentment. • Không duyên tạo tác ác đâu sờn—Wealth unfairly distributed creates ill-will and conflict among people. • Bồ Tát bố thí, ai hơn kẻ nầy, lòng không còn thấy kia đây—So, Bodhisattvas practice giving and treat friend and foe alike. • Ít khi nhớ đến buồn gây thuở nào. Dù nguời làm ác biết bao, một lòng thương xót khổ đau cứu giùm—They neither harbor grudges nor despite evil-natured poeple. 7) Điều Giác Ngộ Thứ Bảy—The Seventh Awakening: • Năm dục gây lầm lỗi ngất trời. Tuy người thế tục ngoài đời—Great people, even as laity, are not blightly by worldly pleasures. • Mà lòng không nhiễm vui chơi thế tình, ba y thường nhớ của mình, ngày nào sẽ được ôm bình ngao du—Instead, they constantly aspire to take up the three precepts-robes and blessing-bowl of the monastic life. • Chí mong lìa tục đi tu, đạo gìn trong sạch chẳng lu không mờ—Their ideal and ambition is to leave the household and family life to cultivate the way in immaculate purity. • Hạnh lành cao vút kính thờ, thương yêu tất cả không bờ bến đâu—Their virtuous qualities are lofty and sublime; their attitudes toward all creatures are kind and compassionate. 8) Điều Giác Ngộ Thứ Tám—The Eighth Awakening: • Tử sanh hoài đau khổ vô cùng—Rebirth and death are beset with measureless suffering and afflictions, like a blazing fire. • Phát tâm dõng mãnh đại hùng—Thus, great people make the resolve to cultivate the Great Vehicle. • Quyết lòng độ hết đồng chung Niết bàn—To rescue all beings. • Thà mình chịu khổ muôn vàn, thay cho tất cả an nhàn thảnh thơi—To endure endless hardship while standing in for others. • Mọi người đều được vui tươi, đến bờ giác ngộ rạng ngời hào quang—To lead everyone to ultimate happiness. ** For more information, please see Bát Đại Nhân Giác.

kinh bản mẫu

5550巴利名 Suttanta-mātikā。錫蘭大寺派巴利七論中之法集論(Dhammasaṅgaṇi),於卷首所揭出之四十二門,稱爲經本母。係與卷首所揭之論本母同爲分別觀察諸法之標準。四十二門:(一)明分法、無明分法。(二)電光喻法、金剛喻法。(三)愚法、賢法。(四)黑法、白法。(五)苦行法、非苦行法。(六)增語法、增語道法。(七)詞法、詞道法。(八)施設法、施設道法。(九)名、色。(十)無明、有愛。(十一)有見、無有見。(十二)常見、斷見。(十三)邊見、無邊見。(十四)前際見、後際見。(十五)無慚、無愧。(十六)慚、愧。(十七)惡言、惡友。(十八)善言、善友。(十九)入罪善巧、出罪善巧。(廿)入定善巧、出定善巧。(廿一)界善巧、作意善巧。(廿二)處善巧、緣起善巧。(廿三)處善巧、非處善巧。(廿四)質直、柔和。(廿五)堪忍、可樂。(廿六)和順、供養。(廿七)不護根門、食不知量。(廿八)能護根門、於食知量。(廿九)失念、不正知。(卅十)念、正知。(卅一)思擇力、修習力。(卅二)止、觀。(卅三)止相、勤勵相。(卅四)勤勵、不散亂。(卅五)观戒、观見。(卅六)具戒、具見。(卅七)淨戒、淨見。(卅八)見清淨、如見精進。(卅九)於順厭處之厭、厭者之如理精勤。(四十)於善法不喜足、於精勤不被遮止。(四十一)明、解脫。(四十二)盡智、無生智。法集第三總說品,即以上述四十二門解釋一切法。〔南方上座部論書解說、B.C. Law: A History of Pāli Literature, vol. Ⅱ〕 ; (經本母) ... ... .. Pàli:Suttanta-màtikà. Bốn mươi hai môn được nêu ở đầu quyển của luận Pháp tập (Dhammasaígaịi) trong 7 bộ luận bằng tiếngPàli của phái Đại tự ở Tích lan. Kinh Bản mẫu này và Luận Bản mẫu nêu ở đầu quyển đều là tiêu chuẩn để phân biệt và quan sát các pháp. Bốn mươi hai môn ấy là: 1. Minh phần pháp, Vô minh phần pháp. 2. Điện quang dụ pháp, Kim cương dụ pháp. 3. Ngu pháp, Hiền pháp. 4. Hắc pháp, Bạch pháp. 5. Khổ hạnh pháp, Phi khổ hạnh pháp. 6. Tăng ngữ pháp, Tăng ngữ đạo pháp. 7. Từ pháp, Từ đạo pháp. 8. Thi thiết pháp, Thi thiết đạo pháp. 9. Danh, Sắc. 10. Vô minh, Hữu ái. 11. Hữu kiến, Vô hữu kiến. 12.Thường kiến, Đoạn kiến. 13.Biên kiến, Vô biên kiến. 14.Tiền tế kiến, Hậu tế kiến. 15. Vô tàm, Vô quí. 16. Tàm, Quí. 17. Ác ngôn, Ác hữu. 18. Thiện ngôn, Thiện hữu. 19. Nhập tội thiện xảo, Xuất tội thiện xảo. 20. Nhập định thiện xảo, Xuất định thiện xảo. 21. Giới thiện xảo, Tác ý thiện xảo. 22. Xứ thiện xảo, Duyên thiện xảo. 23. Xứ thiện xảo, Phi xứ thiện xảo. 24. Chất trực, Nhu hòa. 25. Kham nhẫn, Khả nhạo. 26. Hòa thuận, Cúng dường. 27. Bất hộ căn môn, Thực bất tri lượng. 28. Năng hộ căn môn, Ư thực tri lượng. 29. Thất niệm, Bất chính tri. 30. Niệm, Chính tri. 31. Tư trạch lực, Tu tập lực. 32. Chỉ, Quán. 33. Chỉ tướng, Cần lệ tướng. 34. Cần lệ, Bất tán loạn. 35. Khuyết giới, Khuyết kiến. 36. Cụ giới, Cụ kiến. 37. Tịnh giới, Tịnh kiến. 38. Kiến thanh tịnh, Tri kiến tinh tiến. 39. Ư thuận yếm xứ chi yếm, Yếm giả chi như lí tinh cần. 40. Ư thiện pháp bất hỉ túc, Ư tinh cần bất bị giá chỉ. 41. Minh, Giải thoát. 42. Tận trí, Vô sinh trí. Phẩm Tổng thuyết trong Pháp tập 3, giải thích hết thảy pháp bằng 42 môn nói trên. [X. Nam phương Thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; B.C. Law: A History of Pàli Literature, vol.II].

kinh bất khả tư nghì

Acintita sutta (P), Sutra on Unconjecturability.

kinh bất đoạn

, (MN111), Anupadasuttam (P).

kinh bất đồng lợi ích

, (MN106), Ananja-sappayasuttam (P).

kinh bẫy mồi

, (MN25), Nivapasuttam (P)Tên một bộ kinh.

kinh bố-sá-bà-lâu

Pottapada sutta (P).

kinh bồ đề hành kinh

Bodhicaryavatara Sutra—Kinh nói về “Đi vào con đường Giác Ngộ” được Ngài Long Thọ soạn—Entering the Path of Enlightenment, composed by Nagarjuna.

kinh bồ đề vương tử

Bodhiraja-kumarasuttam (P).

kinh bổn

Sutra (skt)—Kinh điển trong Tam Tạng được Đức Phật thuyết giảng—The sutras in the Tripitaka are the sermons attributed to the Buddha. **For more information, please see Kinh.

kinh bổn sanh

Jātaka sutta (P), Jātaka sŪtra (S)Kinh ghi chép những chuyện tiền thân của đức Phật. ; Jataka—Kinh nói chi tiết về tiền thân Đức Phật, các đệ tử cũng như những kẻ chống phá Ngài. Kinh chỉ bày những hành động trong tiền kiếp ảnh hưởng thế nào đến những hoàn cảnh của cuộc sống hiện tại theo đúng luật nghiệp quả—Narratives of birth stories detail past (previous) lives of the Buddha and of his followers and foes. The sutra shows how the acts of previous lives influence the circumstances of the present life according to the law of karma.

kinh bổn sự

Itvritaka—Narratives of past lives of the Buddha's disciples.

kinh bộ

Sautràntika (S). Buddhist sect. Also kinh lượng bộ, thuyết độ bộ.

kinh bộ pali

Nikàya (P). The Pali canon.

kinh ca la la ma

Kalakarama suttanta (P).

kinh ca tỳ la vệ

Kathavatthu sutta (P), Sutra on Topics of Conversation.

kinh canki

Canki sutta (P), Sutra With Canki.

kinh catuma

, (MN67), Catumasuttam (P).

kinh chiến thắng vẽ vang

Xem Kinh Thí dụ.

kinh chiếu sáng

Pabhassara sutta (P), Sutra on Luminosity.

kinh chiều

Banka (J), Evening Sutra recitation.

kinh chuyển luân thánh vương sư tử hống

Cakkhavatti-Sihanada suttanta (P).

kinh chánh tri kiến

Sammādiṭṭhi sutta (P), Sutra on Right View.

kinh chân nhân

, (MN113), Sappurisasuttam (P).

kinh châu

4312自古為南北交通之要衝,位於湖北長江北岸,北接漢水流域。歷代祖師於此駐錫宏傳佛法者多人,如慧遠之弟慧持辭別道安後即至荊州之上明寺留錫。鳩摩羅什之師卑摩羅叉南下入此地弘揚十誦律。劉宋曇摩密多亦曾住於此地之長沙寺譯經,復於翻譯之餘發揚禪風。天台智顗大師於梁大同四年(538)出生於此地,後於隋開皇年間在此創立玉泉寺,宣說摩訶止觀等法門。 ; (荊州) Vùng đất nằm ở bờ Bắc sông Dương tử, tỉnh Hồ bắc, phía bắc tiếp giáp lưu vực Hán thủy. Là khu vực trọng yếu trên trục lộ giao thông giữa 2 miền Nam, Bắc Trung quốc thời xưa. Ngày xưa, vùng này từng là nơi hoằng truyền Phật pháp của nhiều đời Tổ sư, như ngài Tuệ trì, em của ngài Tuệ viễn, sau khi từ biệt ngài Đạo an, đã đến hoằng pháp ở chùa Thượng minh tại Kinh châu. Thầy của ngài Cưu ma la thập là ngài Ti ma la xoa đã đến đây hoằng dương luật Thập tụng. Ngài Đàm ma mật đa đời Lưu Tống đến trụ ở chùa Trường sa tại vùng này để dịch kinh và hoằng truyền Thiền pháp. Đại sư Thiên thai Trí khải đã sinh ra ở đây vào năm Đại đồng thứ 4 (538) đời Lương và về sau sáng lập chùa Ngọc tuyền, tuyên thuyết pháp môn Ma ha chỉ quán, v.v...

kinh chúng tập

Sangiti Sutta (p).

kinh chư phật sở hộ niệm

Xem Tiểu Vô lượng thọ Kinh.

kinh chưa thuần hóa

Abhāvita sutta (P), Sutra on Untamedness.

kinh chủng đức

Sonandaṇḍa Suttra (P).

kinh con rắn

Ahina sutta (P), Sutra about a Snake.

kinh cung dưỡng

5551書寫經典送人,或書寫經畢,欲置入經藏時所行之法會。又作開題供養、書寫供養、一切經供養。又經屬三寶中之法寶,供養經即供養法寶。經供養法會時,須唱誦如下誓言(大九‧三六上):「我等當起大忍力,讀誦此經,持說書寫,種種供養,不惜身命。」我國最早舉行經供養者,乃南朝梁武帝大通五年(531)二月,武帝幸臨同泰寺,開金字般若波羅蜜經題,特設道俗五萬餘人之無遮大會,其時皇太子並奉嚫五經及七寶經函以行供養;此一行事遂成後世經供養之起源。〔法華經卷四勸持品、佛祖統紀卷三十七〕 ; (經供養) Cũng gọi Khai đề cúng dường, Thư tả cúng dường, Nhất thiết kinh cúng dường. Pháp hội được cử hành khi chép kinh xong làm lễ đưa kinh vào tạng hoặc ấn tống cho mọi người. Kinh thuộc về Pháp bảo trong Tam bảo, vậy cúng dường kinh tức là cúng dường Pháp bảo. Khi cử hành pháp hội cúng dường kinh, phải xướng tụng lời thệ như sau (Đại 9, 36 thượng): Chúng con phải khởi sức đại nhẫn, thụ trì, đọc tụng, viết chép kinh này và cúng dường mọi thứ, kể cả thân mệnh! Tại Trung quốc, pháp hội cúng dường kinh đã được mở rất sớm. Tháng 2 năm Đại thông thứ 5 (531) đời Lương Vũ đế thuộc Nam triều, Vũ đế đến chùa Đồng thịnh, viết đề kinh Bát nhã ba la mật bằng chữ vàng và lập Đại hội Vô già cho hơn 5 vạn người cả tăng lẫn tục tham dự, lúc bấy giờ Hoàng thái tử phụng hiến các pho Ngũ kinh và Thất bảo kinh để làm việc cúng dường. Đây chính là nguồn gốc của các pháp hội cúng dường kinh ở đời sau. [X. phẩm Khuyến trì kinh Pháp hoa Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.37].

kinh cô khởi

Phúng Tụng—Gatha—Verses containing ideas not expressed in prose.

kinh căn bản tư duy

Sariraka-mimamsa sŪtra (S)Kinh Phệ đà (Bà la môn).

kinh căn tu tập

Indriyabhāvana suttam (P), Sutra on The Development of the Faculties.

kinh cồ đàm di

Gotami sutta (P), Sutra To Gotami.

kinh cứu la đàn đầu

KŪṭadanta sutta (P).

kinh dhananjani

(MN97), Dhananjanisuttam (P).

kinh di bộ tông luân luận

Samayabhedo Sutra—Kinh được soạn bởi Ngài Thế Hữu vào khoảng 100 năm sau khi Phật nhập diệt, sau được Ngài Huyền Trang dịch ra Hoa ngữ, nói về thời kỳ phân rẽ thành hai phái của Phật giáo là Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ—The sutra was composed by Vasumitra about 100 years after the death of the Buddha, later was translated into Chinese by Hsuan-Tsang. The sutra mentioned about the first division of Buddhism into two divisions: The Theravada (elder monks or intimate disciples) and Mahasanghika (general body of disciples).

kinh diệu nghiêm

Xem Kinh Trang Nghiêm.

kinh diệu pháp liên hoa

Saddharma-puṇḍarīka sŪtra (S), Hokkyo (J)Do Ngài Cưu ma la thập dịch ra chữ Hán khoảng năm 400 được phái Thiên thai tông và Pháp hoa tông dùng làm kinh tạng chính. Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa. ; Saddharma-pundarika-Sutra (skt)— Wonderful Law Lotus Flower—The Lotus of the True Law—Thời gian giữa Đại Hội Kết Tập lần thứ nhì và thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch, văn hóa Đại Thừa phát triển tại Ấn Độ và sự phổ biến một số kinh điển quan trọng. Sau đó là hàng trăm kinh điển Đại Thừa được viết bằng tiếng Phạn xuất hiện. Liên Hoa Kinh, được viết vào thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch, một trong những kinh chính của Phật giáo Đại thừa vì nó chứa đựng những ý tưởng chủ yếu của Đại thừa, ý tưởng về bản chất siêu việt của Phật và việc phổ cứu chúng sanh. Trong nhiều phương diện, kinh Pháp Hoa được xem là kinh căn bản của truyền thống Phật giáo Đại Thừa. Kinh nầy ảnh hưởng rất lớn đến thế giới Phật tử Đại Thừa, không những chỉ ở Ấn Độ mà còn tại các xứ khác như Trung Hoa, Nhật Bản, và Việt Nam, qua các tông Thiên Thai, Nhật Liên và những tông khác. Hơn nữa, kinh nầy dẫn giải con đường từ bi vô lượng, cũng như cốt lõi hướng đi căn bản của truyền thống Đại Thừa, đó là tâm đại từ bi. Phật giáo Đại thừa coi Kinh Liên Hoa là bộ kinh chứa đựng toàn bộ học thuyết của Phật. Kinh nầy được Phật thuyết giảng trên núi Linh Thứu. Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh lớn trong giáo pháp của Phật. Ý nghĩa của kinh nầy là Đức Phật đã gom tam thừa Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát về một thừa duy nhất là Phật Thừa. Trong kinh nầy Đức Phật đã giải thích rõ ràng về nhiều phương pháp đạt tới đại giác như Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, v.v. chỉ là những phương tiện được đặt ra cho thích hợp với trình độ của từng người. Thật ra chỉ có một cỗ xe duy nhất: Phật thừa dẫn đến đại giác cho chúng sanh mọi loài. Kinh Pháp Hoa tiêu biểu cho giai đoạn chuyển tiếp từ Phật giáo Tiểu Thừa sang Đại Thừa. Phần lớn kinh được dùng để chứng minh rằng Đức Phật đã giảng giáo pháp Tiểu Thừa cho lớp người đầu óc thấp kém, vì đối với những người nầy không thể giải bày toàn bộ chân lý được. Các Phật tử Tiểu Thừa được Phật khuyên nên hành trì ba mươi bảy phẩm trợ đạo, hay các phép tu dẫn đến sự giác ngộ để rũ sạch phiền não, nên hiểu rõ Tứ Diệu Đế, luật Nhân Quả và nhận thức Nhân Không hay Vô Ngã, để qua đó có thể đạt được niết bàn. Sau đó Đức Phật nhấn mạnh rằng những người nầy cần nỗ lực thêm nữa ở đời sau, tạo được những công đức và phẩm hạnh cần thiết của một vị Bồ Tát để chứng đắc Phật quả. Kinh được Ngài Dharmaraksa dịch ra Hán văn năm 268 và Cưu Ma La Thập dịch năm 383. Chúng ta nên nhớ rằng Kinh Pháp Hoa, nguyên đã được ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch thành bảy quyển gồm 27 phẩm. Pháp Hiển, tìm kiếm một phẩm nữa nên du hành sang Ấn Độ vào năm 475. Khi đến Khotan, ông tìm thấy phẩm về Đề Bà Đạt Đa. Đề Bà Đạt Đa là anh họ và cũng là kẻ phá hoại Phật. Ông trở về, và yêu cầu Pháp Ý, người Ấn, phiên dịch phẩm nầy. Phẩm nầy về sau được phụ thêm vào bản kinh trước. Do đó kinh Pháp Hoa hiện thời có 28 phẩm. Năm 602 hai vị Jnanagupta và Dharmagupta cũng dịch bộ kinh nầy sang Hán văn—The period between the Second Council and the first century B.C., Mahayana literature developed in India, and the emergence of a number of important texts. After that, hundreds of Mahayana sutras were composed in Sanskrit. Sutra of the Lotus Flower, sutra of the Lotus of the Good Dharma, written in the first century A.D., one of the most important sutras of Mahayana Buddhism because it contains the essential teachings of Mahayana, including the doctrines of the transcendental nature of the buddha and of the possiblity of universal liberation. In many ways, the Lotus is the foundation sutra of the Mahayana tradition. It has great influence in the Mahayana Buddhist world, not only in India, but also in China, Japan, and Vietnam, where it is the favorite text of the T'ien-T'ai, Nichiren and some other schools. Moreover, it expounds the way of great compassion, the lotus sutra represents the essence of the Mahayana tradition's fundamental orientation, which is great compassion. It is considered in the Mahayana as that sutra that contains the complete teaching of the Buddha. The Lotus Sutra is a discourse of the Buddha on Vulture Peak Mountain. Dharma Flower Sutra or the Maha Saddharma-pundarika Sutra, or the Lotus Sutra, is one of the greatest sutras taught by the Buddha. Its significance is that the Buddha united all three vehicles of Sravaka-Yana (Sound-Hearer Vehicle), Pratyeka-Buddha-Yana, and Bodhisattva-Yana and said there is only one vehicle and that is the vehicle of Buddhahood. In it the Buddha shows that there are many methods through which a being can attain enlightenment such as shravaska, pratyekabuddha and bodhisattva, etc. These are only expedients adapted to varying capabilities of beings. In reality, there is only one vehicle: Buddhayana (Buddha vehicle), which leads all beings to enlightenment, including Mahayana and Hinayana. The Saddharma-pundarika sutra represents the period of transition from Hinayana to Mahayana Buddhism. A large part of this sutra is devoted to proving that Hinayana Buddhism was preached by the Buddha for the benefit of people of lower intelligence, to whom the whole truth was not divulged. Hinayana Buddhists were adivised to practise the thirty-seven limbs of enlightenment in order to rid themselves of moral impurities, to comprehend the Four Noble Truths and the Law of Causation, and to realize the absence of soul or individuality whereby they can reach a place of rest or nirvana. The Buddha then advises those who had reached perfection in these attainments, to exert themselves further in their future existences in order to acquire the merits and virtues prescribed for the Bodhisattvas for the attainment of Buddhahood. The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva. We should bear in mind that the Lotus Sutra was originally translated into Chinse by Dharmaraksa in 268 and Kumarajiva in 383 in seven volumes of twenty-seven chapters. Fa-Hsien, in quest of another chapter, started for India in 475 A.D. When he reached Khotan, he found the chapter on Devadatta, a treacherously acting cousin of the Buddha. He eturned and requested Fa-I, an Indian monk, to translate it. This translation was later added to the earlier text. Thus, there are twenty-eight chapters in the present text. In 601A.D., Jnanagupta and Dharmagupta also translated this sutra into Chinese. ** For more information, please see Diệu Pháp Liên Hoa and Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.

kinh duy ma cật

Vimalakīrti-nirdeśa sŪtra (S), Amrapali (S)Kinh Tịnh Danh, Duy Ma Cật sở thuyết Kinh, Bất Khả tư nghị giải thoát KinhKinh có 14 phẩm gồm thành 3 quyển. Bổn chánh bằng tiếng Phạn do Ngài Cưu ma la thập dịch ra chữ Hán vào thế kỷ thứ 5. ; Vimalakirtinirdesa-Sutra—Kinh Duy Ma Cật là một bộ kinh Đại thừa quan trọng, đặc biệt cho Thiền phái và một số đệ tử trường phái Tịnh Độ. Nhân vật chính trong kinh là Ngài Duy Ma Cật, một cư sĩ mà trí tuệ và biện tài tương đương với rất nhiều Bồ Tát. Trong kinh nầy, Ngài đã giảng về Tánh Không và Bất Nhị. Khi được Ngài Văn Thù hỏi về Pháp Môn Bất Nhị thì Ngài giữ im lặng. Kinh Duy Ma Cật nhấn mạnh chỗ bản chất thật của chư pháp vượt ra ngoài khái niệm được ghi lại bằng lời. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán tự—The Vimalakirti Sutra, a key Mahayana Sutra particularly with Zen and with some Pure Land followers. The main protagonist is a layman named Vimalakirti who is equal of many Bodhisattvas in wisdom and eloquence. He explained the teaching of “Emptiness” in terms of non-duality. When asked by Manjusri to define the non-dual truth, Vimalakirti simply remained silent. The sutra emphasized on real practice “The true nature of things is beyond the limiting concepts imposed by words.” The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva.

kinh duy tử

5554又稱經衣、經帷衣、曳覆曼荼羅。爲死者所穿之淨衣。在衣上書寫經文、陀羅尼或佛名,即連罪孽深重者,亦可以得到解脫。此一風氣流行於日本,真言宗約自鎌倉時代開始,於麻、木棉、紙布上書寫真言(陀羅尼)或種子(悉曇文字)、名號、經文等,並加蓋朱印。以上作法隨各宗派之習慣而別。 ; (經帷子) ........ Cũng gọi Kinh y, Kinh duy y, Duệ phú mạn đồ la. Loại áo thanh tịnh có viết văn kinh, thần chú hoặc danh hiệu Phật lên trên để mặc cho người chết. Người ta tin rằng sau khi chết nếu được mặc loại áo này, thì dù tội nghiệp sâu nặng đến đâu cũng được giải thoát. Tập tục này lưu hành ở Nhật bản, bắt đầu từ tông Chân ngôn vào khoảng thời đại Liêm thương. Về sau được phổ cập nhưng tùy theo tập quán của mỗi phái mà có khác nhau.

kinh duyên giác

Paccaya sutta (P), Sutra on Requisite Conditions.

kinh dược sư

Bharadvaja sutta (P), Sutra About Bharadvaja.

kinh dược sư lưu ly quang bản nguyện công đức

Bhaisaya-guru-vaiduryaprabhasapurvapranidhanavisesavistara—Kinh nhấn mạnh về những công đức của Đức Dược Sư Như Lai và khuyên chúng sanh hãy tin tưởng vị Phật nầy để được vãng sanh Thiên đường Đông Độ; tuy nhiên, kinh không phủ nhận Tây phương Cực Lạc. Kinh được Ngài Huyền Trang dịch sang Hán tự—The Medicine Buddha Sutra—The sutra stresses on the merits and virtues of Bhaisaya-Guru and encourages sentient beings to have faith in this Buddha so that they ca be reborn in the Eastern Paradise; however, the sutra never denies the Western Paradise. The Sutra was translated into Chinese by Hsuan-Tsang—See Mười Hai Lời nguyện của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Phật.

kinh dị

Frightened.

kinh dịch

I-ching (C), Yijing (C), Yi-king (C)Tên quyển sách minh triết Kinh Dịch. Sơ đồ Kinh Dịch gồm tám quẻ (Bát quái). Sự kết hợp của những quẻ này hình thành 64 quẻ bát quái.

kinh esukari

, (MN96), Esukarisuttam (P).

kinh ganaka moggalana

Ganaka-Moggalla-nasuttam (P), Sutra to Ganaka-Moggallana.

kinh gia

5553指誦出佛陀所說教法,並將之結集成經典之佛弟子。在佛陀諸弟子中,阿難與迦葉等當其大任。一般而言,經典以最初「如是我聞」等作爲序分,最終以「作禮而去」等作爲流通分,中間之正宗分有「佛告阿難」等說明語,此均爲經家所言。此外,論家則是著作論書,宣揚佛法,闡明經義之人,如印度之龍樹、世親等菩薩,皆爲論家。又釋家乃指解釋經論文字意義之大德,如道綽、善導等人皆是;釋家另有一義,指佛陀之家姓或入於佛門者。 ; One who collected or collects the sùtras, especially Ananda, who according to tradition recorded the first Buddhist sùtras. ; Người kết tập kinh điển, như Ngài A Nan, theo truyền thống được ghi lại thì chính ông là người đầu tiên đã kết tập kinh điển Phật giáo—One who collected or collects the sutras, especially Ananda, who according to tradition recorded the first Buddhist sutras. ; (經家) ..... Chỉ cho các vị đệ tử tụng lại giáo pháp của Phật đã nói để kết tập thành kinh điển. Đây là chỉ cho các ngài A nan và Ca diếp. Thông thường, trong 1 bộ kinh, lấy câu đầu tiên Tôi nghe như vầy làm phần Tựa, ở giữa lấy câu Phật bảo A nan làm phần Chính tông và cuối cùng lấy câu làm lễ mà lui ra làm phần Lưu thông. Đó là những lời Kinh gia. Ngoài ra, Luận gia là những người soạn các bộ luận để xiển dương nghĩa lí trong kinh, tuyên dương Phật pháp, như các vị bồ tát Long thụ, Thế thân ở Ấn độ, v.v... Lại còn thích gia là chỉ cho các bậc Đại đức giải thích ý nghĩa văn tự của các kinh luận như các ngài Đạo xước, Thiện đạo, v.v... Thích gia còn được dùng để chỉ cho những người thuộc dòng họ Thích của Phật hoặc những người tu theo đạo Phật để phân biệt với Đạo gia, Nho gia, v.v...

kinh gia đình

Kula sutta (P), Sutra On Families.

kinh giác

6927 請參閱 靈驗記 請參閱 懸記 [1]謂驚動覺醒。有二義,一謂諸佛令眾生於不覺與昏眠中覺醒,一謂勸請諸佛從定而起,以救護眾生。大日經疏卷九載,諸佛驚覺眾生,因一切眾生皆在無明中昏睡不覺,故如來以誠言感動之,使得醒悟。金剛頂瑜伽千手千眼觀自在菩薩修行儀軌經卷上載,瑜伽行者由結印、誦驚覺真言,請一切如來出定。同時思惟:我身少慧少福,沈沒於苦海,今仗託諸佛威神力,惟願不捨大悲本願,慈悲矜愍觀察護念拔濟我。彼一切如來即以各神力加持護念,瑜伽行者自獲無量福聚,身心自在。此即真言行者驚覺諸佛,乞請救護之意。此外,又有驚覺顯教之佛菩薩,令入密教之義。〔金剛頂經卷上、祕藏記〕 ; (驚覺) Kinh là giật mình, Giác là tỉnh thức. Có 2 nghĩa: - Chư Phật làm cho chúng sinh từ trong bất giác và mê muội mà tỉnh thức. - Khuyến thỉnh chư Phật xuất định để cứu độ chúng sinh. Đại nhật kinh sớ quyển 9 nói, chư Phật kinh giác chúng sinh, vì hết thảy chúng sinh đều ngủ say trong vô minh bất giác, cho nên Như lai dùng lời thành khẩn khiến họ cảm động mà tỉnh ngộ. Kinh Kim cương đính du già Thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ quyển thượng nói, hành giả Du già kết ấn, tụng chân ngôn để kinh giác, khuyến thỉnh tất cả Như lai xuất định, đồng thời, tư duy: Thân con ít phúc tuệ, chìm đắm trong biển khổ, nay nhớ sức uy thần của chư Phật, cúi xin không bỏ bản nguyện đại bi, thương xót cứu giúp cho con. Tất cả chư Phật liền dùng thần lực gia trì hộ niệm, khiến hành giả được vô lượng phúc đức, thân tâm tự tại. [X. kinh Kim cương đính Q.thượng, Bí tạng kí].

kinh giáo

The teaching of the sùtras. ; The teaching of the sutras—See Kinh Lượng Bộ.

kinh giáo giới channa

, (MN144), Channovadasuttam (P).

kinh giáo giới cấp cô độc

, (MN143), Anathapindikovadasuttam (P).

kinh giáo giới la hầu la ở am bà la

Ambalatthikarahulovada sutta (P), Sutra on Advice to Rahula at Amballatthika.

kinh giáo giới la hầu la ở rừng am-ba-la

Ambalatthika Rahulovada suttanta (P).

kinh giáo giới la lầu la am bà bá lâm

Ambalatthika Rahulovada suttanta (P)Tên một bộ kinh trong Trường bộ kinh 61.

kinh giáo giới nandaka

, (MN146), Nandākovada-suttam (P).

kinh giáo giới phú lâu na

, (MN145), Punnovada-suttam (P).

kinh giáp

5551又作梵夾。刻經文於貝多羅葉,夾以厚板,以繩結之,故稱爲梵筴。夾,或爲筴之誤;筴,同策之義。 ; (經夾) ..... Cũng gọi Phạm giáp. Sau khi viết kinh văn (tiếng Phạm) vào lá bối, xếp những lá ấy thành tập, rồi dùng 2 tấm ván gỗ kẹp lại và lấy dây cột chặt, gọi là Phạm giáp. Chữ giáp (..) này e là viết lầm của chữ giáp ( ) có bộ trúc; cùng nghĩa với chữ sách (..).

kinh giả

1) Bậc uyên thâm và có khả năng thuyết giảng thông suốt kinh luật: One who expounds the sutras and sastras. 2) Bậc uyên thâm và giảng giải thông suốt kinh Pháp Hoa: One who keeps the teaching of the Lotus Sutra.

kinh giải thâm mật

Samdhinirmocana-Sutra—Đây là kinh điển căn bản của Pháp Tướng Tông, nội dung nói về tư tưởng của trường phái Duy Thức. Mọi hiện tượng đều là trạng thái của tâm thức. Các đối tượng chỉ tồn tại qua quá trình trí tuệ, chứ không tồn tại như vốn có. Kinh được Ngài Huyền Trang dịch sanh Hán tự —This is the basic sutra for the Dharmalaksana sect. The sutra based on the central notion of the Yogachara, everything experienceable is mind only. Things exist only as processes of knowing, not as objects. The sutra was translated into Chinese by Hsuan-Tsang.

kinh giới

Sùtras and commandments; the sùtras and morality, or discipline. The commandments found in the sùtras. The commandments regarded as permanent and fundamental. ; Kinh và giới luật,hay những giới luật được tìm thấy trong kinh điển. Những giới luật được coi là căn bản bất hư—Sutras and commandments; the sutras and morality or discipline. The commandments found in the sutras. The commandments regarded as permanent and fundamental.

kinh giới phân biệt

Dhātu-vibhaṅga sutta (P), Sutra on An Analysis of the Properties.

kinh giới thuyết

Dhātukatha (P)Một tập trong 7 tập của bộ Thắng Pháp Tạng.

kinh gopaka moggalana

Gopaka- Moggallana-suttam (P), Sutra on Moggallana the Guardsman.

kinh gò mối

Vammika-sutta (P).

kinh hiền kiếp

Bhadrakapika-sŪtra (S).

kinh hiền ngu

Bālapandita suttam (P), Sutra on The Fool and the Wise Person.

kinh hoa nghiêm

Avataṃsaka sŪtra (S), GaṇḍavyŪha sŪtra (S), Kegonkyo (J), Phal chen (T), Ho-yen-King (C), Flower Adornment sŪtraĐại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh Được Phật giảng sau khi giác ngộ cho chư Bồ tát dưới cây bồ đề. Kinh bị thất lạc và được Tổ Long Thọ tìm được vào thế kỷ 7. Kinh gốc tiếng Phạn không còn, hiện chỉ còn bộ dịch từ tiếng Tàu. Bản dịch chữ Hán cũ nhất là bản dịch vào thế kỷ 5. Bản chữ Tàu do ngài Buddhabhadra (Giác Hiền) dịch xong khoảng năm 418. Ngài Đỗ Thuận, thế kỷ 7, truyền bà kinh này thành lập phái Hoa nghiêm Tông. ; Avatamsaka (skt)—Flower Ornament Sutra—Nhan đề Phạn ngữ của Hoa Nghiêm là Avatamsaka, nhưng Pháp Tạng trong bản chú giải kinh Hoa Nghiêm bộ 60 quyển nói nguyên ngữ chính là Gandavyuha. Avatamsaka có nghĩa là “một tràng hoa” trong khi nơi chữ Gandavyuha, thì ganda là “tạo hoa” hay một loại hoa thường và “vyuha” là “phân phối trật tự” hay “trang sức.” Hoa Nghiêm có nghĩa là trang hoàng bằng hoa. Hoa Nghiêm là một trong những bộ kinh thâm áo nhất của Đại Thừa, ghi lại những bài thuyết pháp của Đức Phật sau khi Ngài đã đạt giác ngộ viên mãn. Gandavyuha là tên phẩm kinh kể lại công trình cầu đạo của Bồ Tát Thiện Tài Đồng Tử. Bồ Tát Văn Thù hướng dẫn Đồng Tử đi tham vấn hết vị đạo sư nầy đến vị đạo sư khác, tất cả 53 vị, trụ khắp các tầng cảnh giới, mang đủ lốt chúng sanh. Đây là lý thuyết căn bản của trường phái Hoa Nghiêm. Một trong những kinh điển dài nhất của Phật giáo, cũng là giáo điển cao nhất của đạo Phật, được Đức Phật thuyết giảng ngay sau khi Ngài đại ngộ. Người ta tin rằng kinh nầy được giảng dạy cho chư Bồ tát và những chúng hữu tình mà tâm linh đã phát triển cao. Kinh so sánh toàn vũ trụ với sự chứng đắc của Phật Tỳ Lô Giá Na. Kinh cũng nhấn mạnh rằng mọi sự vật và mọi hiện tượng đồng nhất thể với vũ trụ. Sau khi khảo sát về nội dung của Kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy kinh khởi đầu bằng những bản kinh độc lập và về sau được tập hợp thành một dòng thơ, mỗi thể tài được trình bày trong các kinh đó đều được xếp loại theo từng thể và được gọi chung là Hoa Nghiêm—The Garland Sutra—The Sanskrit title is Avatamsaka, but it is Gandavyuha according to Fa-Tsang's commentary on the sixty-fascile Garland Sutra. Avatamsaka means a 'garland,' while in Gandavyuha, ganda means 'a flower of ordinary kind,' and vyuha 'an orderly arrangement' or 'array.' Gandavyuha means 'flower-decoration.' Avatamsaka is one of the profound Mahayana sutras embodying the sermons given by the Buddha immediately following his perfect enlightenment. The Gandavyuha is the Sanskrit title for a text containing the account of Sudhana, the young man, who wishing to find how to realize the ideal life of Bodhisattvahood, is directed by Manjusri the Bodhisattva to visit spiritual leaders one after another in various departments of life and in various forms of existence, altogether numbering fifty-three. This is the basic text of the Avatamsaka school. It is one of the longest and most profound sutras in the Buddhist Canon and records the highest teaching of Buddha Sakyamuni, immediately after enlightenment. It is traditionally believed that the sutra was taught to the Bodhisattvas and other high spiritual beings while the Buddha was in samadhi. The sutra has been described as the “epitome of Budhist thought, Buddhist sentiment, and Buddhist experiences” and is quoted by all schools of Mhayana Buddhism. The sutra compares the whole Universe to the realization of Vairocana Buddha. Its basic teaching is that myriad things and phenomena are the oneness of the Universe, and the whole Universe is myriad things and phenomena. After examining the sutra, we find that there were in the beginning many independent sutras which were later compiled into one encyclopaedic collection, as the subject-matters treated in them are all classified under one head, and they came to be known as Avatamsaka.

kinh hoàng

Terrified—Scared—Consternated.

kinh hoảng

See Kinh hoàng.

kinh hy hữu vị tằng hữu pháp

, (MN123), Acchariyabbhutadhammasuttam (P).

kinh hàng ma

, (MN50), Maratajjaniyasuttam (P).

Kinh hành

經行; J: kinhin;|Ði qua lại để dãn gân cốt sau một buổi Toạ thiền. Trong tông Lâm Tế (j: rinzai) ở Nhật, các thiền sinh đi nhanh, dáng điệu mạnh bạo. Trong tông Tào Ðộng (j: sōtō) thì người ta đi rất chậm.

kinh hành

đi chậm rãi và nhiếp tâm, chung quanh điện Phật hoặc sân chùa, am, tịnh thất, thường vào những giờ nhất định trong ngày. Kinh hành được vận dụng như một trong các phương pháp tu tập hằng ngày. ; 5551梵語 caṅkramana,巴利語 caṅkamana。意指在一定的場所中往復回旋之行走。通常在食後、疲倦時,或坐禪昏沈瞌睡時,即起而經行,爲一種調劑身心之安靜散步。據大比丘三千威儀經卷上所載,適於經行之地有五,即閑處、戶前、講堂之前、塔下、閣下。另據四分律卷五十九所說,時常經行能得五利:(一)能堪遠行,(二)能靜思惟,(三)少病,(四)消食,(五)於定中得以久住。〔十誦律卷五十七、南海寄歸內法傳卷三、大唐西域記卷八〕 ; Cankramanna (S). ; Cankramana (S). To walk about when meditating to prevent sleepiness. To meditate in walking. ; Cankrama (skt). 1) Hành thiền bằng cách đi tới đi lui để tránh buồn ngủ (có thể đi trong sân nhà, sân chùa, hay quanh Phật điện): Meditative walking by walking up and down. To walk about when meditating to prevent sleepiness. 2) Tập dưỡng thân phòng bệnh trong hành lang tự viện: Exercise to keep in health; the cankramana was a place for such exercise, i.e. a cloister, a corridor. ; (經行) Phạm: Caíkramana. Pàli: Caíkamana. Đi vòng quanh một cách nhàn tản trong một nơi nhất định để giữ cho thân tâm được điều hòa, an tĩnh. Kinh hành thường được thực hiện sau khi ăn cơm, lúc mỏi mệt hoặc khi ngồi thiền bị hôn trầm buồn ngủ. Theo kinh Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng, thì có 5 chỗ thích hợp cho việc kinh hành, đó là: Nơi vắng vẻ, trước sân nhà, trước giảng đường, quanh tháp, dưới gác. Luật Tứ phần quyển 59 nói, kinh hành được 5 điều lợi ích: 1. Có sức chịu đựng cuộc đi xa. 2. Có thể yên lặng suy tư. 3. Ít bệnh tật. 4. Tiêu hóa thức ăn dễ dàng. 5. An trụ lâu trong thiền định. [X. luật Thập tụng Q.57; Nam hải ký qui nội pháp truyện Q.3; Đại đường tây vực kí Q.8].

kinh hành sanh

Sankharuppatisuttam (P).

kinh hãi

Uttāsī (P), Uttrasita (S), Fright Uttāsī (P), Utrāsī (P). ; Uttrasita (S). Fearful, fright. ; To be frightened.

kinh hạ sanh di lặc thành phật

Maitreyavyakarana Sutra—Kinh ghi lại rằng sau thời Phật Thích ca nhập diệt thì thế giới Ta Bà bước vào một thời kỳ không có Phật. Hiện thời Đức Di Lặc đang thuyết pháp trên cung trời Đâu Suất, Ngài sẽ xuất hiện và thành Phật trong hội Long Hoa. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán tự—The sutra mentioned that after the historical Buddha sakyamuni's Nirvana, the whole Saha world entered a period without any Buddha (a Buddhaless period). At this time, the Buddha-to-be is still preaching in the Tushita. He will descend and become the Buddha in the “Long Hoa” assembly. The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva.

kinh hạnh con chó

Kukkuravatika sutta (P), Sutra on The Dog-duty Ascetic.

kinh hạnh phúc

Maṅgala sutta (P), Sutra on Protection Kiết tường Kinh.

kinh hậu nghiêm

Ghanavyaha-sŪtra (S).

kinh hỏa tụ khí

Aggikkhandhopama suttantakatha (P).

kinh hồn

Frightened out of one's wits.

kinh hữu học

, (MN53), Sekhasuttam (P)Tên một bộ kinh.

kinh kadaraka

, (MN90), Kadarakasuttam (P).

kinh khu rừng

, (MN17), Vanapatthasuttam (P).

kinh khê

Tức Trạm Nhiên Đại Sư, vị tổ thứ chín của tông Thiên Thai ở Trung Hoa—Ching-Ch'i, thorn stream, name of the ninth T'ien-T'ai patriarch Chan-Jan.

Kinh Khê Trạm Nhiên

(荆溪湛然, Keikei Tannen, 711-782): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, tổ thứ 9 của Thiên Thai Tông Trung Quốc, người vùng Kinh Khê (荆溪), Thường Châu (常州, tức Nghi Hưng, Giang Tô), họ Thích (戚), cả nhà đều theo Nho Giáo, chỉ mình ông thích Phật pháp. Năm 17 tuổi, ông học Thiên Thai Chỉ Quán (天台止觀) với Kim Hoa Phương Nham (金華芳巖), đến năm 20 tuổi theo làm môn hạ của Tả Khê Huyền Lãng (左溪玄朗), dốc chí học tập giáo quán Tông Thiên Thai. Năm 38 tuổi, ông xuất gia ở Tịnh Lạc Tự (淨樂寺) vùng Nghi Hưng (宜興), rồi đến Việt Châu (越州) học luật với Đàm Nhất (曇一) và sau đó giảng Chỉ Quán ở Khai Nguyên Tự (開元寺), Quận Ngô (呉郡). Sau khi thầy mình qua đời, ông kế thừa pháp tịch, tự nhận trách nhiệm trùng hưng Thiên Thai Tông, đưa ra thuyết “vô tình hữu tánh (無情有性)”, chủ trương các loài cỏ cây, sỏi đá đều có Phật tánh. Ông đã từng sống qua các chùa Lan Lăng (蘭陵), Thanh Lương (清涼), và khi ông đến nơi đâu thì chúng theo học rất đông, tiếng tăm vang khắp. Trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Bảo (天寳) và Đại Lịch (大曆), các vua Huyền Tông, Túc Tông, Đại Tông đều ưu ái thỉnh vào cung, tuy nhiên ông cáo bệnh không đi. Đến cuối đời, ông đến trú tại Thiên Thai Quốc Thanh Tự (天台國清寺). Vào năm thứ 3 niên hiệu Kiến Trung (建中), ông thị tịch tại đạo tràng Phật Lũng (佛隴), thọ 72 tuổi đời và 43 hạ lạp. Đệ tử Lương Túc (梁肅) soạn văn bia. Ông là vị tổ trung hưng của Thiên Thai Tông, được người đời gọi là Kinh Khê Tôn Giả (荆溪尊者), Diệu Lạc Đại Sư (妙樂大師) hay Ký Chủ Pháp Sư (記主法師). Đệ tử của ông có 39 người như Đạo Thúy (道邃), Phổ Môn (普門), Nguyên Hạo (元皓), Trí Độ (智度), Hành Mãn (行滿), v.v. Bình sinh ông soạn thuật rất nhiều như Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa Thích Thiêm (法華經玄義釋籤) 10 quyển, Pháp Hoa Văn Cú Ký (法華文句記) 10 quyển, Chỉ Quán Phổ Hành Truyền Hoằng Quyết (止觀普行傳弘決) 10 quyển, Chỉ Quán Sưu Yếu Ký (止觀捜要記) 10 quyển, Chỉ Quán Đại Ý (止觀大意) 1 quyển, Kim Cang Phê Luận (金剛錍論) 1 quyển, Pháp Hoa Tam Muội Bổ Trợ Nghi (法華三昧補助儀) 1 quyển, Thủy Chung Tâm Yếu (始終心要) 1 quyển, Thập Bất Nhị Môn (十不二門) 1 quyển, v.v.

kinh không gì chuyển hướng

, (MN60), Apannakasuttam (P).

kinh không uế nhiễm

Ananganasuttam (P) (MN5).

kinh khất thực thanh tịnh

Piṇḍapata-parisuddhi suttam (P).

kinh khởi thế nhân bổn

Agganna sutta (P).

kinh khủng

Dreadful—Fearful—Frightened.

kinh kim cang

Vajira sutta (P), Diamond sŪtra Prajāpā-ramitā sŪtra (S). ; See Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa.

kinh kim cang bát nhã ba la mật

Vajraprajā-pāramitā-sŪtra (S).

kinh kim cang bát nhã ba la mật đa

Vajracchedika-Prajna-Paramita (skt)—Kinh Kim Cang, một trong những kinh thâm áo nhứt của kinh điển Đại Thừa. Kinh nầy là một phần độc lập của Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa. Kinh Kim Cang giải thích hiện tượng không phải là hiện thực, mà chỉ là những ảo giác hay phóng chiếu tinh thần riêng của chúng ta (Bất cứ hiện tượng và sự vật nào tồn hữu trong thế gian nầy đều không có thực thể, do đó không hề có cái gọi là “ngã”). Chính vì thế mà người tu tập phải xem xét những hoạt động tinh thần của hiện tượng sao cho tinh thần được trống rỗng, cởi bỏ và lắng đọng. Nó có tên Kim cương vì nhờ nó mà chúng sanh có thể cắt bỏ mọi phiền não uế trược để đáo bỉ ngạn. Kinh được kết thúc bằng những lời sau: “Sự giải bày thâm mật này sẽ gọi là Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa. Vì nó cứng và sắt bén như Kim Cương, cắt đứt mọi tư niệm tùy tiện và dẫn đến bờ Giác bên kia.” Kinh đã được Ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Hán tự—Sutra of the Diamond-Cutter of Supreme Wisdom, one of the most profound sutras in the Mahayana, an independent part of The Vairacchedika Prajanparamita Sutra. The Diamond Sutra shows that all phenomenal appearances are not ultimate reality but rather illusions or projections of one's mind (all mundane conditioned dharmas are like dreams, illusions, shadow and bubbles). Every cultivator should regard all phenomena and actions in this way, seeing them as empty, devoid of self, and tranquil. The work is called Diamond Sutra because it is sharp like a diamond that cuts away all necessary conceptualization and brings one to the further shore of enlightenment. The perfection of wisdom which cuts like a diamond. The sutra ends with the following statement: “This profound explanation is called Vajracchedika-Prajna-Sutra, for the diamond is the gem of supreme value, it can cut every other material (thought) and lead to the other Shore.” The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva—A gatha of the Diamond Sutra states: *Nhứt thiết hữu vi pháp, Như mộng huyễn bào ảnh, Như lộ, diệc như điện, Ưng tác như thị quán. *All phenomena in this world are Like a dream, fantasy, bubbles, shadows; They are also like dew, thunder, and lightening; One must understand life like that.

kinh kim cang phong lâu cát nhất thiết du già kỳ

Vajraśekkharavimana-sarvayogāyogi sŪtra (S)Du kì Kinh, Kim Cang Phong lầu các Nhứt thiết du già chỉ Kinh = Du kì kinh.

kinh kim cang đảnh

Vajraśekkharatan-trarāja sŪtra (S), Kongochokyo (J)Kim cang đỉnh Kinh.

kinh kim cang đảnh nhất thiết như lai chân thật nhiếp đại thừa hiện chứng đại giáo vương kinh

Sarva-tathagatatattvasamgrahama-Hayanabhisamayamahakaparaya—Kinh điển căn bản của Mật giáo, nói về các nghi thức đặc thù Mật giáo. Kinh được Ngài Bất Không dịch sang Hán tự—This is the basic sutra of the Tantric Buddhism, stressed on special tantric rituals. The sutra was translated by amoghavajra.

kinh kim quang minh

Suvarnaprabhasa-Sutra—Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương—Kinh Đại thừa cho rằng đọc tụng sẽ được sự hộ trì của Tứ Thiên Vương. Chính vì thế mà thời trước kinh đóng một vai trò quan trọng trong việc du nhập đạo Phật vào Nhật bản. Kinh nhấn mạnh tới khía cạnh chánh trị của đạo Phật, và vì lý do đó nó được nhiệt liệt hưởng ứng bởi giai cấp lãnh đạo Nhật. Ý tưởng chánh của kinh là đức trí năng phân biệt thiện ác. Mọi người từ lãnh đạo đến tiện dân đều phải tuân theo “ánh sáng bên trong” ấy. Kinh được Ngài Nghĩa Tịnh dịch sang Hán tự—Suvarnaprabhasa-sutra (skt)—The Sutra of Golden Light—Golden Light Supreme King Sutra, A Mahayana sutra mentioned that those who recite it will receive the support and protect from the four heavenly kings. That was why it played a major role in establishing Buddhism in Japan. It stressed the political aspect of Buddhism and thus was highly regarded by the Japanese ruling class. The main theme of the sutra is the virtue of wisdom (inner light) which discriminates good and evil. Each person from the ruler to those in the lowest state, must follow this “inner light.” The sutra was translated into Chinese by I-Ching.

kinh kitagiri

, (MN70), Kitagirisuttam (P).

kinh kiên cố

Kevadha sutta (P).

kinh kosambiya

, (MN48), Kosambiyasuttam (P).

kinh kệ

See Kinh điển.

kinh liên đới

Book of Relations.

kinh lomasakangiya nhứt dạ hiền giả

, (MN134), Lomasakangiyabhaddekarattasuttam (P).

kinh luân

To adminster—To manage.

kinh luận

The sutras and sastras—See Kinh Luật Luận.

kinh luận nghị

Upadesa—Thuyết về Lý Luận—Discussions of doctrine.

kinh luận thích

5557指經、論、釋三者。經爲佛陀所說之教法;論爲印度學者祖述(或解釋)經所說者;釋則闡釋經論之深義,而由中國或日本等學者所解釋者。此外另有經釋(經與釋)、論釋(論與釋)等稱。 ; (經論釋) Danh từ gọi chung Kinh, Luận, Thích. Kinh là giáo pháp do đức Phật nói ra; Luận là do chư vị Tổ sư các đời soạn thuật để làm sáng tỏ ý nghĩa của giáo pháp; còn Thích là lời giải thích ý nghĩa sâu xa của Kinh, Luận. Ngoài ra, cũng có Kinh thích (kinh và thích), Luận thích(luận và thích), v.v...

kinh luật dị tướng

5552凡五十卷。寶唱撰。梁天監十五年(516)成書。收於大正藏第五十三冊。本書係將散見於經、律中之希有異相集錄而成,屬於百科全書之一種。梁武帝初命僧旻抄錄異相,後命寶唱主其事,復以僧豪、法生等輔翼之,增補完成。書中將內容分爲天、地、佛、菩薩、聲聞、國王、王夫人、太子、王女、長者、優婆塞、優婆夷、外道仙人、梵志、婆羅門、賈客、居士、庶人、鬼神、雜獸畜生、地獄等二十一部門,摘選菁萃,集錄而成,爲一部以類相從,便於索覽之佛教故事集成。以下簡述書中各部內容:(一)天部,敘述日、月、星、雨等三界諸天。(二)地部,敘述山、樹、河、海等自然現象。(三)佛部,計有佛陀出家、成道、涅槃及舍利塔等。(四)菩薩部,又分爲自行、外化、隨機現身、出家諸菩薩。(五)聲聞部,敘述聲聞無學僧、聲聞不測淺深僧、聲聞學人僧、聲聞現行惡行僧、沙彌僧、尼僧等分類。(六)國王部,收錄修持轉輪聖王、菩薩道、聲聞道之國王與王后。(七)太子部,其分類與國王部相同。(八)長者部,分爲得道、雜行等兩部。(九)優婆塞、優婆夷部。(十)外道仙人部,分爲外道仙人、梵志、婆羅門。(十一)居士、庶人等部,分爲居士、賈客、男、女等。(十二)鬼神部,分爲阿修羅、緊那羅等。(十三)畜生部,分爲獸、蟲、禽等三部分,其後並列舉二十九種動物名稱。(十四)地獄部,論述八大地獄與十八地獄之情形。〔歷代三寶紀卷十一、大唐內典錄卷四、開元釋教錄卷六〕 ; (經律異相) Tác phẩm, 50 quyển, do ngài Bảo xướng chủ biên, các ngài Tăng mân, Tăng hào, Pháp sinh phụ giúp biên soạn, hoàn thành vào năm Thiên giám 15 (516) đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 53. Sách này có thể được xem là 1 loại Bách khoa toàn thư. Nội dung lựa chọn ghi chép những câu chuyện cổ rải rác trong các kinh, luật gồm 21 loại chia làm 14 bộ như sau: 1.Thiên bộ: Nói về mặt trời, mặt trăng, các vì sao và mưa gió... 2. Địa bộ: Nói về những hiện tượng tự nhiên như núi sông, cây cỏ... 3. Phật bộ: Nói về việc xuất gia, thành đạo, nhập Niết bàn và tháp xá lợi của đức Phật. 4. Bồ tát bộ: nói về việc xuất gia, tự lợi, hóa tha và tùy cơ hiện thân của hàng Bồ tát. 5. Thanh văn bộ: Phân loại nói về Thanh văn vô học tăng, Thanh văn bất trắc thiển thâm tăng, Thanh văn học nhân tăng, Thanh văn hiện hành ác hạnh tăng, Sa di tăng, Ni tăng, v.v... 6. Quốc vương bộ: Nói về việc các Quốc vương và Hoàng hậu tu tập đạo Bồ tát, đạo Thanh văn và pháp của Chuyển luân Thánh vương. 7. Thái tử bộ: Nói về việc tu tập của Thái tử và Công chúa. 8. Trưởng giả bộ: Chia làm 2 bộ là Đắc đạo và Tạp hành. 9. Ưu bà tắc, Ưu bà di bộ. 10. Ngoại đạo tiên nhân bộ: Gồm 3 bộ là Ngoại đạo tiên nhân, Phạm chí và Bà la môn. 11. Cư sĩ, thứ nhân bộ: Gồm cư sĩ, thương gia và nam nữ. 12. Quỉ thần bộ: Gồm A tu la, Khẩn na la... 13. Súc sinh bộ: Chia làm 3 bộ loại là loài thú 4 chân, loài sâu bọ và loài chim. Về sau nêu thêm tên 29 loài động vật. 14. Địa ngục bộ: Nói về 8 địa ngục lớn và 18 tầng địa ngục. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.11; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].

kinh luật luận

Sùtras, Vinaya, Abhidharma sàstras, the three divisions of the Buddhist canon. ; Sutras, Vinaya, Abhidharma sastras (skt)—Tam Tạng Kinh Điển Phật—The three divisions of the Buddhist canon. 1) Kinh: Sutra (skt)—See Kinh and Kinh Bổn. 2) Luật: Vinaya (skt)—See Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 3) Luận: Sastra (skt)—See Abhidharma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá in Vietnamese-English Section.

kinh lô-già

Lohicca sutta (P).

kinh lăng già

Leng-kia-King (C)Xem Lankavatara sutra. ; Lankavatara Sutra (skt)—Kinh Lăng Già là giáo thuyết triết học được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết trên núi Lăng Già ở Tích Lan. Có lẽ kinh nầy được soạn lại vào thế kỷ thứ tư hay thứ năm sau Tây Lịch. Kinh nhấn mạnh về tám thức, Như Lai Tạng và “tiệm ngộ,” qua những tiến bộ từ từ trong thiền định; điểm chính trong kinh nầy coi kinh điển là sự chỉ bày như tay chỉ; tuy nhiên đối tượng thật chỉ đạt được qua thiền định mà thôi. Kinh có bốn bản dịch ra Hán tự, nay còn lưu lại ba bản. Bản dịch đầu tiên do Ngài Pháp Hộ Đàm Ma La sát dịch giữa những năm 412 và 433, nay đã thất truyền; bản thứ nhì do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào năm 443, gọi là Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh, gồm 4 quyển, còn gọi là Tứ Quyển Lăng Già; bản thứ ba do Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang Hán tự vào năm 513, gồm 10 quyển, gọi là Nhập Lăng Già Kinh; bản thứ tư do Ngài Thực Xoa Nan Đà dịch vào những năm 700 đến 704 đời Đường, gọi là Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh, gồm 7 quyển, nên còn gọi là Thất Quyển Lăng Già. Đây là một trong những bộ kinh mà hai trường phái Du Già và Thiền tông lấy làm giáo thuyết căn bản. Kỳ thật bộ kinh nầy được Tổ Bồ Đề Đạt Ma chấp thuận như là bộ giáo điển được nhà Thiền thừa nhận. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tiên đoán rằng, “về sau nầy tại miền nam Ấn Độ sẽ xuất hiện một vị đại sư đạo cao đức trọng tên là Long Thọ. Vị nầy sẽ đạt đến sơ địa Bồ Tát và vãng sanh Cực Lạc.”—A philosophical discourse attributed to Sakyamuni as delivered on the Lanka mountain in Ceylon. It may have been composed in the fourth of fifth century A.D. The sutra stresses on the eight consciousness, the Tathagatha-garbha and gradual enlightenment through slow progress on the path of meditative training; the major idea in this sutra is regarding that sutras merely as indicators, i.e. pointing fingers; however, their real object being only attained through personal meditation. There have been four translations into Chinese, the first by Dharmaraksa between 412-433, which no longer exists; the second was by Gunabhada in 443, 4 books; the third by Bodhiruci in 513, 10 books; the fourth by Siksananda in 700-704, 7 books. There are many treatises and commentaries on it, by Fa-Hsien and others. This is one of the sutras upon which the Zen and Yogacara schools are based. In fact, this was the sutra allowed by Bodhidharma, and is the recognized text of the Ch'an School. In the Lankavatara Sutra, Sakyamuni Buddha predicted, “In the future, in southern India, there will be a great master of high repute and virtue named Nagarjuna. He will attain the first Bodhisattva stage of Extreme Joy and be reborn in the Land of Bliss.”

kinh lăng nghiêm

Surangama Sutra (skt)—Tên đầy đủ là Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm, là bộ kinh thâm sâu nguyên tác bằng tiếng Phạn, được viết vào thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch. Kinh Lăng Nghiêm được ngài Paramartha (Chơn Đế) đem sang Trung quốc và được thừa tướng Vương Doãn giúp dịch vào khoảng năm 717 sau Tây Lịch (có người nói rằng vì vụ dịch kinh không xin phép nầy mà hoàng đế nhà Đường nổi giận cách chức thừa tướng Vương Doãn và trục xuất ngài Chơn Đế về Ấn Độ). Bộ kinh được phát triển và tôn trọng một một cách rộng rãi ở các nước Phật Giáo Đại Thừa. Cùng với các vấn đề khác, kinh giúp Phật tử tu tập Bồ Tát Đạo. Kinh còn nói đầy đủ về các bước kế tiếp nhau để đạt được giác ngộ vô thượng. Kinh cũng nhấn mạnh đến định lực, nhờ vào đó mà đạt được giác ngộ. Ngoài ra, kinh còn giải thích về những phương pháp “Thiền Tánh Không” bằng những phương thức mà ai cũng có thể chứng ngộ được—Also called the Sutra of the Heroic One. This profound writing, originally in sanskrit, written in the first century A.D. The sutra was brought to China by Paramartha and translated into Chinese with the assistance of Wang Yung about 717 A.D. (some said that it was angered the T'ang Emperor that this had been done without first securing the permission of the government, so Wang-Yung was punished and Paramartha was forced to return to India)—It is widely developed and venerated in all the Mahayana Buddhist countries. Among other things, the sutra helps Buddhist followers exercising Bodhisattva magga. It deals at length with the successive steps for the attainment of supreme enlightenment. It also emphasizes the power of samadhi, through which enlightenment can be attained. In addition, the sutra also explains the various methods of emptiness meditation through the practice of which everyone can realize enlightenment.

Kinh Lượng Bộ

(s: Sautrāntika, 經量部): hay Tăng Già Lan Đề Ca (s: Saṃkrāntika, 僧伽蘭提迦), còn gọi là Tu Đa La Luận Bộ (修多羅論部), Thuyết Độ Bộ (說度部), Thuyết Chuyển Bộ (說轉部), Thuyết Kinh Bộ (說經部), Kinh Bộ (經部); là một trong 20 bộ phái của Phật Giáo Tiểu Thừa, là bộ phái phân liệt từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, 說一切有部). Vị tổ khai sáng ra phái này là Cưu Ma La Đà (s: Kumāralabdha, 鳩摩羅駄, còn gọi là Đồng Thọ [童受]), xuất thân nước Đát Xoa Thỉ La (呾叉始羅) của Ấn Độ vào thế kỷ thứ 3. Trước tác của ông có Dụ Man Luận (喩鬘論), Si Man Luận (癡鬘論), Hiển Liễu Luận (顯了論), v.v. Thất Lợi La Đa (s: Śrīlāta, 室利羅多) thuộc thế ký thứ 4 là vị tổ Trung Hưng của phái này. Trong khi Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ xem trọng luận thư thì Kinh Lượng Bộ lại xem trọng kinh thư hơn, lấy kinh là chánh lượng, nên có tên gọi như vậy. Bộ phái này lập ra Nhị Nguyên Luận tâm và vật, phủ định thuyết vạn vật thật có của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, công nhận chỉ có Tứ Đại và tâm là thật có, do Tứ Đại và tâm nương nhau mà thành, khiến cho sanh tử của cá thể tương tục, không đoạn. Bên cạnh đó, họ còn chủ trương chỉ có hiện tại là thật tại, quá khứ từng trãi qua thực tại, và tương lai là cái thực tại có được mà chưa đến, cái không tồn tại trong hiện tại là một loại tồn tại có chủng tử. Đây chính là nguồn gốc của thuyết Duy Thức Chủng Tử (唯識種子) sau này. Giáo nghĩa của bộ phái này có nhiều yếu tố của Phật Giáo Đại Thừa, được xem như là cơ sở cho Phật Giáo Trung Quán (中觀) về sau. Vị tổ khai sáng ra Kinh Lượng Bộ có trước tác Dụ Man Luận, khéo dùng hình thức thí dụ để thuyết pháp, nên được gọi là Thí Dụ Sư (譬喩師). Cho nên, sau này thí dụ trở thành một đặc trưng lớn của phái này, cũng được xem như là cơ sở của văn học thí dụ của Phật Giáo Đại Thừa.

Kinh lượng bộ

經量部; S: sautrāntika;|Một nhánh của Tiểu thừa xuất phát từ Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) khoảng 150 năm trước Công nguyên. Như tên gọi cho thấy (sautrāntika xuất phát từ sūtrānta, có nghĩa là Kinh phần, chỉ Kinh tạng của Tam tạng), bộ này chỉ đặt nền tảng trên Kinh tạng (s: sūtra-piṭaka) và phản bác Luận tạng (s: abhidharmapiṭaka) cũng như quan điểm »Nhất thiết hữu« (tất cả đều hiện hữu, đều có) của Nhất thiết hữu bộ.|Kinh lượng bộ cho rằng có một thức tinh vi hơn thức thông thường, từ đó đời sống con người sinh ra và chính thức đó sẽ tái sinh. So sánh với Ðộc Tử bộ (s: vatsīputrīya) – là bộ phái cho rằng có một tự ngã thật sự, sống kiếp này qua kiếp khác – thì Kinh lượng bộ cho rằng, chỉ có thức là luân chuyển trong Vòng sinh tử và với cái chết thì bốn uẩn còn lại (Ngũ uẩn; s: pañcaskandha) chìm lắng trong thức đó. Quan điểm về sự tồn tại của thức này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra).|Kinh lượng bộ còn cho rằng, mỗi một hiện tượng thật sự chỉ hiện hữu trong một khoảnh khắc cực nhỏ – được gọi là Sát-na (s: kṣaṇa) – và mỗi quá trình chỉ là tiếp nối những khoảnh khắc đó, mỗi quá trình thông qua thời gian chỉ là Ảo ảnh. Kinh lượng bộ xem Niết-bàn (s: nirvāṇa) là sản phẩm của sự phủ nhận (e: negation) của tư duy, là sự tịch diệt.

kinh lượng bộ

5554梵名 Sautrāntika。又作僧迦蘭提迦(梵 Saṃkrāntika)、修多羅論部、說度部、說轉部、說經部(梵 Sūtra vādin)、經部。爲小乘二十部派之一。係從說一切有部分出之部派,此派開創者鳩摩羅馱(梵 Kumāralabdha,又稱童受)爲三世紀末之北印度呾叉始羅國人,著有喻鬘論、癡鬘論、顯了論等。四世紀之室利羅多(梵 Śrīlāta)爲此派中興之祖。一切有部重視論書,而經量部卻重視經書,並將經視爲正量,故稱經量部。 此部派立心物二元論,否定有部所主張之萬物實有說,認爲只有四大與心爲實在,並由於四大與心之相輔相成,而令個體之生死相續不斷。又主張唯有現在爲實在,而過去僅屬曾經實在者,未來則是未來才得實在者,至於現在不存在者僅爲一種種子之存在而已。此即後世唯識種子說之起源。又此宗派之教義,含有許多大乘佛教之要素,皆可視爲後來中觀佛教之基礎。此派開祖鳩摩羅馱作喻鬘論,善用譬喻說法,故被稱爲譬喻師,此後,譬喻即成爲此派之最大特徵,並被視爲後來大乘佛教譬喻文學(梵 aupamya)之基礎。〔十八部論、異部宗輪論〕(參閱「印度佛教」2215) ; SŪtratika (S), Sautrantikah (S).Thuyết độ bộ, Thuyết chuyển bộMột trong 20 bộ phái Tiểu thừa Tu đa la luậnXem Tăng ca lan đa bộ. ; Sautràntika, an important Hìnayàna school, which based its doctrine on the sùtras alone. ; Sautrantika or Santrantivadin (skt)—Thuyết Độ Bộ—Thuyết Chuyển Bộ—Giáo thuyết trong kinh điển (một trong 18 bộ của Tiểu Thừa. Sau khi Đức Phật nhập diệt 400 năm, nó được tách ra từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Trong số Tam Tạng chỉ có bộ nầy dùng kinh làm chính lượng nên gọi là Kinh Lượng Bộ, người khai sáng ra bộ nầy là Cưu Ma La Đà (bộ phái nầy chỉ lấy Kinh làm chính lượng, chỉ dùng kinh điển để chứng minh). Bộ nầy cho rằng có sự chuyển thực thể từ kiếp nầy sang kiếp khác. Theo các Phật tử của phái nầy thì trong ngũ uẩn của con người, chỉ có một uẩn vi tế nhất chuyển từ kiếp nầy sang kiếp khác, trái với Chánh Lượng Bộ cho rằng toàn bộ 'pudgala' đều được chuyển đi. Phái nầy cũng tin rằng mỗi người đều có một khả năng tiềm ẩn trở thành Phật, đây vốn là chủ thuyết của giáo phái Đại Thừa. Do những quan điểm đó nên bộ phái nầy được xem là một cầu nối giữa Thanh Văn Thừa (thường được gọi là Tiểu Thừa) và Đại Thừa—The teaching of the sutras, an important Hinayana school, which based its doctrine on the sutras alone, the founder of this division is Kumara-labha. This school believed in the transmigration of a substance (sankranti) from one life to another. According to its followers, of the five skandhas of an individual, there is only one subtle skandha which transmigrates, as agianst the whole of the pudgala of the Sammitiyas. It also believed that every man had in him the potentiality of becoming a Buddha, a doctrine of the Mahayanists. On account of such views, this school is considered to be a bridge between the Sravakayana (often called the Hinayana) and the Mahayana. ; (經量部) ........ Phạm:Sautràntika. Cũng gọi Tăng ca lan đề ca (Phạm: Saôtràntika), Tu đa la luận bộ, Thuyết độ bộ, Thuyết chuyển bộ, Thuyết kinh bộ (Phạm:Sùtra vàdin), Kinh bộ. Một chi phái tách ra từ Thuyết nhất thiết hữu bộ, do ngài Cưu ma la đà (Phạm: Kumàralabdha, cũng gọi Đồng thụ), người nước Đát xoa thủy la thuộc miền Bắc Ấn độ sáng lập vào cuối thế kỉ III. Ngài Thất lợi la đa (Phạm:Zrìlàta) trung hưng vào cuối thế kỉ IV. Là 1 trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Vì phái này coi trọng Kinh và cho Kinh là Chính lượng nên gọi là Kinh lượng bộ. Bộ phái này lập Tâm vật nhị nguyên luận, phủ định thuyết Vạn vật thực hữu của Hữu bộ, mà chủ trương chỉ có Tứ đại và Tâm là thật có, cả 2 nương vào nhau mà thành tựu và tồn tại, khiến cho sự sống chết của mỗi cá thể nối nhau không dứt. Phái này cho rằng chỉ có hiện tại thật có, còn quá khứ, vị lại thì không thật, vì quá khứ là thực tại đã qua, vị lai là thực tại chưa đến, còn hiện tại cũng chỉ là sự tồn tại của một thứ chủng tử mà thôi. Đây chính là nguồn gốc thuyết Chủng tử của Duy thức đời sau. Giáo nghĩa của bộ phái này hàm chứa nhiều yếu tố của Phật giáo Đại thừa, có thể được coi là nền tảng của Trung quán... Tổ sư khai sáng của phái này là ngài Cưu ma la đà soạn luận Dụ man, khéo dùng thí dụ trong lúc thuyết pháp, cho nên được tôn xưng là Thí dụ sư, sau đó, thí dụ trở thành đặc trưng lớn nhất của phái này và được xem là nền móng của văn học Thí dụ (Phạm:Aupamya) trong Phật giáo Đại thừa sau này. [X. Thập bát bộ luận; Dị bộ tông luân luận]. (xt. Ấn Độ Phật Giáo).

kinh lạc đạo

Agati sutta (P), Off-Course Sutra.

kinh lễ sáu phương

Worship in the Six Directions Sutra—See Kinh Lễ Sáu Phương in Appendix A (7).

kinh ma ha ca diếp bản sanh

Mahānarada-kassapa-jātaka (P).

kinh ma ha tăng chỉ luật

Mahasanghika-Vinaya—Sau khi Phật nhập diệt 100 năm thì cộng đồng Phật giáo thời bấy giờ chia làm hai phái, Thượng Tọa và Đại Chúng. Bên Đại Chúng Bộ đã tự kết tập thành bộ luật Ma Ha Tăng Chỉ, nói về chi tiết những giới luật của chư Tăng Ni. Kinh được Ngài Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển dịch sang Hán tự—100 years after the Buddha's nirvana, Buddhist community was divided into two divisions: Theravada and Mahasanghika. The Theravada wanted to keep the same rules since the Buddha's time; however, the Mahasanghika, the majority, believed proposed five points which laid foundation for the Mahasanghika-Vinaya: 1) Một vị A La Hán vẫn còn bị cám dỗ: An arhat is still subject to temptation. 2) Một vị A La Hán vẫn còn dấu vết của sự ngu dốt: An arhat is still not yet free from ignorance. 3) Một vị A La Hán vẫn còn nghi ngờ về học thuyết: An arhat is still subject to doubts concerning the teaching. 4) Một vị A La Hán có thể tu hành giác ngộ nhờ sự giúp đở của tha lực: An arhat can make progress on the path to enlightenment through the help of others. 5) Một vị A La hán có cơ may được cứu rỗi bằng việc lập đi lập lại những âm thanh: An arhat can advance on the path through utterance of certain sounds. ** This sutra was translated into Chinese by Buddhabhadra and Fa-Hsien.

kinh ma đăng già

Matangi-Sutra—Kinh đặc trọng tâm vào câu chuyện về một phụ nữ tên Ma Đăng Già, thuộc giai cấp thấp nhất trong xã hội Ấn Độ, đã được Phật Thích Ca thu nhận làm đệ tử. Trong nầy, Đức Phật cũng giảng tỉ mỉ rằng mọi giai cấp đều bình đẳng. Kinh được Ngài Trúc Luật Viêm và Chi Khiêm dịch sang Hán tự—The sutra stressed on the story of a lady named Matangi, she belonged to the lowest class in Indian society. In this sutra, the Buddha also expounded clearly on the “Equality” of all classes. The sutra was translated into Chinese by Chu-lu-Yen and Chih-Ch'ien.

kinh ma-ha-li

Mahāli sutta (P).

kinh magandiya

Magandiya suttam (P), Sutra To Magandiya.

kinh makhadeva

, (MN83), Makhadeva-suttam (P).

kinh mã

5553以般若心經與馬圖並印於紙上,而作爲祈安會或盂蘭盆會的供養之用(施於鬼神)。於唐代時,即流行以紙馬添加酒脯等,獻與神廟,並火化之,以供鬼神之用。至宋、元以降,此風愈盛。明永樂(1403~1424)年間,蘄水人薛均於巴河鎮任府尹時,雖平生清苦,餘財無多,猶製成紙馬之版模數副以貽子孫,所印出者即名聞一世之「巴河薛舖紙馬」,時人咸樂求之。至後世,此風多行於禪宗寺院。〔博異志(鄭還古)、宋史禮志第七十七〕(參閱「紙錢」4277) ; (經馬) ..... Tờ giấy có in Tâm kinh Bát nhã và hình con ngựa cúng quỉ thần trong lễ cầu an hoặc trong pháp hội Vu lan bồn, cúng xong đốt đi. Tập tục này thịnh hành ở đời Đường và tiếp tục mãi đến các đời Tống, Nguyên về sau. [X. Bác dị chí (Trịnh hoàn cổ); Tống sử lễ chí thứ 77]. (xt. Chỉ Tiền).

kinh mật hoàn

Madhupindika suttam (P), Sutra on The Ball of Honey.

kinh mộc

5549<一>讀經時用以擊打節拍之木。又作音木。[1] <二>以檜或杉木削成薄片,其長約三十八公分,寬約一公分,其上書寫經文,下款書寫亡者之名,通常爲消除罪障或追薦亡靈而用者。 ; (經木) I. Kinh Mộc. Cũng gọi Âm mộc. Cái phách bằng gỗ dùng để gõ nhịp khi tụng kinh. II. Kinh Mộc. Thanh gỗ thông, dài khoảng 38 phân, rộng 1 phân, phần trên viết văn kinh, phần dưới viết họ tên người chết, thường được sử dụng trong lễ truy tiến vong linh.

kinh mộc lưu

5550日本佛教用語。又作經流。於經木上寫亡者之戒名、法名,放入水中流走,稱爲經木流。係爲日本大阪四天王寺,於春秋兩祭與盂蘭盆會所舉行之儀式。(參閱「經木」5550) ; (經木流) Cũng gọi Kinh lưu. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Trên tấm gỗ có viết văn kinh, ghi họ tên và pháp danh của người chết, rồi thả xuống sông cho trôi đi, gọi là Kinh mộc lưu. Nghi thức này được cử hành ở chùa Tứ thiên vương thuộc huyện Đại phản của Nhật bản vào dịp lễ hội Vu lan bồn. (xt. Kinh Mộc).

kinh na tiên tỳ kheo

Sutra on Questions of King Milinda—See Milindapanha.

kinh nalakapana

, (MN68), Nalakapana-suttam (P).

kinh nghi

To fear and to suspect.

kinh nghiệm

Anubhava (skt)—Experience—Sự hiểu biết xuất phát từ sự quan sát của cá nhân hay thực nghiệm; ấn tượng của tâm chứ không từ ký ức—Experience means knowledge derived from personal experiment; impression on the mind not from memory.

kinh nghiệm bây giờ

Immediate experience.

kinh nghĩ như thế nào

(MN104).

kinh ngoã

5550日本佛教用語。又稱瓦經。埋經之一種。即刻佛經文字於瓦面,爲留傳後世而埋置土中者,有令法久住之意。 ; (經瓦) ..... Cũng gọi Ngõa kinh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Văn kinh được khắc trên những viên ngói rồi đem chôn xuống đất để lưu truyền cho đời sau, với niềm mong muốn Phật pháp được tồn tại lâu đài.

kinh nguyệt thượng nữ kinh

Candrottaradarikapariprccha-Sutra—Kinh nói về nàng Nguyệt Thượng, con gái của ông trưởng giả Duy Ma Cật (không phải là Cư Sĩ Duy Ma Cật). Nàng được đức Phật thọ ký rằng trong một kiếp tương lai sẽ trở thành một vị Phật. Kinh được Ngài Xà Na Quật Đa dịch sang Hán tự—The sutra mentioned about Candrottara, a daughter of a rich old man named Vilamakirti (not the layman Vilamakirti). She was predicted by the Buddha that she would become a Buddha in a future life. The sutra was translated into Chinese by Jnanaguptaad.

kinh nguyệt đăng tam muội

Samadhirajacandrapradipa-Sutra—Kinh ghi lại một cuộc đối thoại giữa một người trẻ tuổi tên là Nguyệt Đăng và Đức Phật Thích Ca, trong đó Đức Phật chỉ bày cách quán tánh “Bình Đẳng” cho tất cả mọi vật. Kinh cũng nhấn mạnh về bản chất đồng nhất của mọi sự vật, mọi vật tồn hữu đều không có thực thể, giống như giấc chiêm bao hoặc như ảo tưởng. Nhận chân được như vậy là đạt tới cảnh giới giác ngộ vậy. Kinh được Ngài Na Liên Đề Da Xá dịch sang Hán tự—The sutra mentioned a dialogue between a young person named Candragupta and the Buddha Sakyamuni. In which the Buddha taught about “Emptiness or Sunyata” in all things. The sutra also emphasized on the essential identity of all things, everything exists without its own reality, it is like a dream or illusion. To realize this means to reach the realm of enlightenment. The sutra was translated into Chinese by Narendrayasas.

kinh ngũ uẩn hộ

Khaṇḍaparitta (S).

kinh người làm xe ngựa

Rathakara (Pacetana) sutta (P), Sutra on The Chariot Maker Kinh Ngườì bệnh Gilana sutta (P), Sutra on Sick People.

kinh ngạc

Surprised—Amazed—Stupified—Astounded.

kinh nhiều cảm thọ

Bahuvedaniyasuttam (P).

kinh nhân cách hóa

Lakkhana sutta (P), Sutra on Characterized Action Kinh Tướng.

kinh nhơn duyên

Nidana—Narratives of the past which explain a person's present state.

kinh nhơn vương bát nhã ba la mật

Karunikaraja-Prajnaparamita-Sutra—Kinh nhấn mạnh đến “Trí huệ Phật” trong việc duy trì an ninh phúc lợi trong quốc gia. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Hán tự—The sutra stressed on the “Buddha wisdom” for rulers to maintain security and welfare for the country. The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva.

kinh nhất dạ hiền giả

Bhaddekaratta suttam (P), Sutra on An Auspicious Day.

kinh nhất thiết chư phật sở hộ niệm kinh

Xem Tiểu Vô lượng thọ Kinh.

kinh nhập tức xuất tức niệm

Ānāpānasati sutta (P), Sutra on Mindfulness of Breathing An Ban Thủ ý.

kinh nhị thập tứ ba lợi

Patikasuttanta (P)Kinh Ba lê.

kinh những điều chưa nói

Abhasita sutta (P), Sutra on What Was Not Said Tên một bộ kinh.

kinh niên

Chronic—Lasting for a long time.

kinh niết bàn

Nirvāṇa sŪtra (S), Nibbana sutta (P), Sutra on Unbinding.

kinh niệm xứ

Satipatthana sutta (P), Sutra of Frames of Reference and Foundations of Mindfulness.

kinh nên hành trì hay không nên hành trì

, (MN114), Sevitabha-asevitabhasuttam (P).

kinh nói cho dân nagaravinda

, (MN150), Nagaravindeyyasuttam (P).

kinh năm và ba

(MN102).

kinh nước mắt

Assu sutta (P), Sutra on Tears.

kinh pháp

The doctrines of the sùtras as spoken by the Buddha.

kinh pháp cú

Dharmapada (S), Dhammapada (P), Verses on Dhamma Có 423 câu chia thành 153 cú, 26 chủ đề. Kinh Pháp cú do do Phật giảng dạy ở nhiều thời điểm và nơi chốn khác nhau. Kinh này do Pháp Cứu Luận sư (400 - 300 B.C.) sưu tập, sư Duy Để Nan (Vighna) dịch sang chữ Hán hồi thế kỷ thứ 3.

kinh pháp hoa

Śuddharmapundarikam (S).

kinh pháp hạnh

Dhammacariya sutta (P), Sutra on Wrong Conduct.

kinh pháp môn căn bản

MŪlapariyaya sutta (P), Sutra on The Root Sequence.

kinh pháp quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni

The Vast, Great, Perfect, Full, Unimpeded, Great Compassion Hear Dhāraṇī.

kinh pháp trang nghiêm

, (MN89), Dhammaceti-yasuttam (P).

kinh phân biệt

5548巴利名 Sutta-vibhaṅga。巴利文律藏三大部之一。又作經分律。主要內容爲戒之條文、說明成立之因緣、條文字句之解釋及條文運用之實例等。包括說明比丘二百二十七戒之大分別(巴 Mahā-vibhaṅga,又作比丘分別),及說明比丘尼三百十一戒之比丘尼分別(巴 Bhikkhunī-vibhaṅga)。大分別係包括四波羅夷、十三僧殘、二不定、三十捨墮、九十二波逸提、四波羅提提舍尼、七十五眾學、七滅諍;比丘尼分別則總括八波羅夷、十七僧殘、三十捨墮、百六十六波逸提、八波羅提提舍尼、七十五眾學、七滅諍。(參閱「巴利律藏」1384) ; Vibhaṅga (S), The Book of Analysis Vibhājya (P)1- Một tập trong 7 tập của bộ Thắng Pháp Tạng. 2- Phân biệt: Sự phân tích chia chẻ các pháp. ; (經分別) ........ Pàli:Sutta-vibhaíga. Cũng gọi Kinh phân luật. Một trong 3 bộ luật lớn trong tạng Luật Pàli. Nội dung của bộ luật này chủ yếu nói về những điều khoản của văn giới, nhân duyên thành lập, giải thích tự cú và trường hợp vận dụng điều văn, v.v... Sách gồm 2 phần là Đại phân biệt (Pàli:Mahà-vibhaíga, cũng gọi Tỉ khưu phân biệt) và Tỉ khưu ni phân biệt (Pàli:Bhikkhunì-vibhaíga). Đại phân biệt: Bao gồm 4 pháp Ba la di, 13 pháp Tăng tàn, 2 pháp Bất định, 30 pháp Xả đọa, 92 pháp Ba dật đề, 4 pháp Ba la đề đề xá ni, 75 pháp Chúng học và 7 pháp Diệt tránh. Tỉ khưu ni phân biệt: Bao gồm 8 pháp Ba la di, 17 pháp Tăng tàn, 30 pháp Xả đọa, 166 pháp Ba dật đề, 8 pháp Ba la đề đề xá ni, 75 pháp Chúng học và 7 pháp Diệt tránh. (xt. Ba Li Luật Tạng).

kinh phân biệt cúng dường

, (MN142), Dakkhinavibhangasuttam (P).

kinh phân biệt sáu xứ

, (MN137), Salaya-tanavibhangasuttam (P)Tên một bộ kinh.

kinh phân biệt về sự thật

, (MN141), Sacca-vibhangacitta suttam (P)Phân biệt thánh đế kinh.

kinh phù-di

Bhumija sutta (P), Sutra To Bhumija.

kinh phúng tụng

Sangiti sutta (P).

Kinh Phương đẳng

chỉ kinh điển Đại thừa. Xem Phương đẳng.

kinh phạm thiên cầu thỉnh

, (MN49), Brahma-nimantanikasuttam (P).

kinh phạm võng

Brahmajala suttanta (P), Brahma Net sŪtra, Brahmajala sŪtra (S) Tương đương kinh Phạm động (Trường A hàm).

kinh phần

SŪtravibhaṅga (S), Suttavibhaṅga (P)Kinh Phân biệtPhần đầu của Tạng Luật.

kinh phật danh

Buddha name sŪtra Tên một bộ kinh. Bồ đề Lưu Chi đời Nguyên dịch có 11.093 tên vị Phật. Kinh tam thiên Phật danh ghi đến 3.000 danh vị Phật.

kinh phật sự

Buddhavaṃsa (S), Chronicle of the Buddhas Pháp hệ Phật Kinh; Phật chủng tánhThơ kễ về sự tích 24 vị cổ Phật từ Phật Nhiên đăng đến Phật Ca Diếp và cách các đức Phật chuyển pháp luân.

kinh phật thuyết như vậy

Xem Như thị ngữ Kinh.

kinh phổ môn

Samantamukuha (S).

kinh phổ pháp

Samatadharma (S.

kinh potaliya

, (MN54), Potaliya-suttam (P).

kinh quyển

5551記載經文之卷帙,稱爲經卷。一般指經典,或佛典。法華經卷四所謂之「經卷」係指書籍而言,爲梵語 pustaka 之意譯。我國至北宋時代始有折本之製作,在此之前,佛典皆爲卷帙。現今仍有將卷帙插在經卷架上,或放置佛前,或置於導師的禮盤上之習慣。又因佛典爲黃色紙料及塗以赤色之軸所製成,故又稱黃卷赤軸,此一名稱自北宋時代開始流行,然其遺品殊少存留者。此外,誦讀經典之桌子,稱爲經桌。於石上書寫經文,稱爲經石;納經卷於塚中,稱爲經塚。通常將經文書寫入經帙,而後納進經筥、經筐、經筒或經櫃等加以保存。 ; (經卷) Phạm: Pustaka. Cuộn (trục) giấy có chép văn kinh, về sau chỉ chung cho kinh sách. Danh từ Kinh quyển trong kinh Pháp hoa quyển 4 là chỉ cho sách vở. Tại Trung quốc, mãi đến thời Bắc Tống mới có kinh bản xếp. Kinh Phật được viết trên giấy màu vàng, trục sơn màu đỏ, nên cũng gọi Hoàng quyển xích trục (quyển vàng trục đỏ). Ngoài ra, cái bàn dùng để đọc tụng kinh điển, gọi là Kinh trác; kinh được viết trên đá, gọi là Kinh thạch; kinh được chôn trong đất, gọi là Kinh trủng.

kinh quán niệm hơi thở

Xem Kinh Nhập tức Xuất tức niệm.

kinh quán vô lượng thọ

Amitāyus sŪtra (S), Kammuryojukyo (J).

kinh quán vô lượng thọ phật

Amitāyus Dhyāna sŪtra (S), Kammuryojhkyo (J)Thập lục quán Kinh, Quán KinhLà bộ kinh căn bản của Tông Tịnh độ do ngài Tam tạng pháp sư Cương lương da xá dịch hồi thế kỷ thứ V.

kinh quỹ

5557貯經書、道具、眾僧衣服之器。其在僧堂者,稱爲函櫃;在眾寮者,稱爲經櫃。眾寮是看經之所,故作經櫃。〔敕修百丈清規卷下大眾章亡僧抄剳衣鉢條、節臘章眾寮結解特爲眾湯條〕 ; 5552指密教之經典及儀軌。密教中,師門相承,口耳相傳,均須以之爲依據,故稱經軌。 ; (經軌) ... .. Chỉ cho kinh điển và các nghi quĩ của Mật giáo. Trong Mật giáo, thầy trò truyền thừa giáo pháp, lập đàn tu luyện, v.v... đều phải căn cứ vào kinh điển, nghi quĩ để thực hành. ; (經櫃) ..... Cái hòm (rương) dùng để đựng kinh sách, đạo cụ và y phục của chúng tăng được đặt trong Chúng liêu. Nếu nó được đặt trong Tăng đường thì gọi là Hàm quĩ. Vì Chúng liêu là nơi chư tăng xem kinh nên gọi là Kinh quĩ. [X. điều Vong tăng sao đáp y bát, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; điều Chúng liêu kết giải đặc vị chúng thang, chương Tiết lạp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ].

kinh sa môn quả

Samanna-phala sutta (P).

kinh saleyyaka

Saleyyaka sutta (P), Sutra on The Brahmins of Sala.

kinh samanamandika

(MN78).

kinh sandaka

, (MN76), Sandakasuttam (P).

kinh sangarava

, (MN100), Sangaravasuttam (P).

kinh sela

, (MN92), Sela sutta (P).

kinh sinh thánh giả

5551指小乘聖者,彼等須經欲界、色界之生,方能臻至涅槃之境。此類聖者可分欲界經生、色界經生兩種。(一)欲界經生,例如預流果之極七返有、一來向之家家、一來果等聖者均屬之。此等聖者猶須經歷欲界之生,然目睹欲界苦惱多生,乃起強烈之厭離心,因而得不還果,不必再生於色界、無色界,即可直接般涅槃。(二)色界經生,此等聖者猶須經歷色界之生,例如七種不還中之上流般之樂定聖者,然因不覺色界之苦,其厭離之心亦低落,故仍須再生於無色界始可般涅槃。〔大毘婆沙論卷五十三、俱舍論卷二十四〕 ; (經生聖者) Chỉ cho bậc Thánh Tiểu thừa còn phải sinh vào cõi Dục, cõi Sắc rồi mới đạt được cảnh giới Niết bàn. Kinh sinh Thánh giả có 2 loại: 1. Dục giới kinh sinh: Như các bậc Thánh Cực thất phản hữu của quả Dự lưu, Gia gia của Nhất lai hướng, Nhất lai quả, v.v... Các bậc Thánh này còn phải sinh vào cõi Dục, nhưng khi thấy cõi này có quá nhiều khổ não, liền sinh tâm chán lìa một cách mạnh mẽ, nhờ thế mà được quả Bất hoàn, không phải sinh vào cõi Sắc, cõi Vô sắc nữa mà vào thẳng Niết bàn. 2. Sắc giới kinh sinh: Các bậc Thánh này còn phải sinh vào cõi Sắc, như bậc Thánh Lạc định thuộc Thượng lưu ban trong 7 loại Bất hoàn, vì không biết nỗi khổ ở cõi Sắc nên không sinh tâm nhàm chán mãnh liệt, bởi vậy phải sinh vào cõi Sắc rồi mới nhập Niết bàn. [X. luận Đại tì bà sa Q.53; luận Câu xá Q.24].

kinh song tầm

Dvedhavitakka sutta (P), Sutra on Two Sorts of Thinking.

kinh soạn tập bá duyên

Avadāna cataka (S)Gồm 100 bài kinh Phật giảng về nhơn duyên thí dụ, về tiền nhơn hậu quả của đệ tử. Một bộ kinh trong Phương Quảng bộ.

kinh subha

, (MN99), Subhasuttam (P).

kinh sám

5558誦經禮懺之略稱。誦經有種種功德,禮懺可消除罪業,故爲佛教徒常見之修行方式。今謂出家人專以替信徒誦經禮懺爲業者,稱之爲趕經懺。 ; (經懺) ..... Tức là tụng kinh và lễ sám. Tụng kinh có nhiều công đức, lễ sám tiêu trừ được tội nghiệp, cho nên Tụng kinh lễ sám trở thành phương thức tu hành thường nhật của tín đồ Phật giáo. Ngày nay, người xuất gia chuyên lấy việc tụng kinh lễ sám thay cho tín đồ làm sự nghiệp, gọi là Cản kinh sám.

kinh sáu sáu

Chachakka suttam (P), Sutra on The Six Sextets.

kinh sáu thanh tịnh

, (MN112), Chabbi-sodhanasuttam (P).

kinh sùng kính

Bhakti sŪtra (S).

kinh sơ chuyển pháp luân

Dhamma-cakkappacattana suttanta (P).

kinh sơn đạo khâm

Ching shan Tao Chin (C).

kinh sư

5553<一>通曉經典或善於讀誦經文、諷吟梵唄之僧。在印度,原指通曉經典之僧侶。四分律卷十三第二十九單提法條,解釋教化之語中,列舉讚偈、多聞、法師、持律、坐禪等五項,與此文相應之巴利律藏所列舉者爲:bhāṅaka(說者)、bahussuta(多聞者)、suttantika(經師)、vinaya-dhara(持律者)、dhamm-kathika(說法者)。此外,同書卷三十八自恣揵度載有「通阿含」、卷五十房舍揵度載有「法師者」,巴利律藏中與此二者相當之處皆載爲 suttantika。善見律毘婆沙卷十四亦舉出學律眾(巴 vinaya-gaṇa)、學阿毘曇眾(巴 abhidhammika-gaṇa)、學修多羅眾(巴 suttantika-gaṇa)之語。由此可知漢譯之法師、通阿含、學修多羅等,皆相當於巴利語 suttantika,意指通曉三藏中之經藏者。然據南海寄歸內法傳卷四讚詠之禮(大五四‧二二七上):「令一經師昇師子座讀誦少經。」可推知印度已有用以指善於讀誦經文者。 所謂經師,在我國專指巧於諷誦經文者。梁高僧傳卷十三慧忍傳(大五○‧四一四下):「齊文宣感夢之後,集諸經師,乃共忍斟酌舊聲,詮品新異,製瑞應四十二契。」同書卷十三亦設經師一科,列舉晉代帛法橋以下,至南齊慧忍等十一位經師之傳,並詳述經師之沿革。〔辯正論卷三隋文帝條、續高僧傳卷三十雜科聲德篇〕 <二>對於從事書寫經典之人,亦稱爲經師,在日本天平時代則稱爲經生,此種經生並未入僧籍。至後世,轉稱裱潢經卷者爲經師。 ; A teacher of the sùtras, or canon in general. ; (經師) ..... I. Kinh Sư. Vị sư thông hiểu kinh điển hoặc giỏi đọc tụng, ngâm vịnh kinh văn. Khi giải thích về sự giáo hóa, pháp Đơn đề thứ 29 trong luật Tứ phần quyển 13 có nêu ra 5 hạng mục là tán kệ, đa văn, pháp sư, trì luật và tọa thiền. Những từ này theo thứ tự tương ứng với:Bhàịaka(thuyết giả), bahussuta(đa văn giả),suttantika (kinh sư),vinaya-dhara(trì luật giả) vàdhammakathika(thuyết pháp giả)được nêu trong tạng Luật Pàli. Trong chương Tự tứ, luật Tứ phần quyển 38, có từ thông A hàm, chương Phòng xá trong luật Tứ phần quyển 50, có từ pháp sư giả, trong tạng LuậtPàli, tiếng tương đương với 2 từ ngữ trên đây là:Suttantika. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 14, cũng nêu lên các từ như: Học luật chúng (Pàli: Vinaya-gaịa), học A tì đàm chúng (Pàli: Abhidhammika-gaịa), học Tu đa la chúng (Pàli:Suttantika-gaịa), v.v... Do đó có thể biết các từ ngữ pháp sư, thông A hàm, học Tu đa la, v.v... đều tương đương với chữ Suttantika, nghĩa là người thông hiểu tạng Kinh trong 3 tạng. Nhưng mục Tán vịnh lễ trong Nam hải ký qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 227 thượng), nói: Thỉnh một vị Kinh sư lên tòa Sư tử đọc tụng kinh văn. Như vậy, Ấn độ cũng dùng danh từ Kinh sư để chỉ cho người giỏi tán vịnh kinh văn như ở Trung quốc. Truyện ngài Tuệ nhẫn trong Lương cao tăng truyện quyển 13 (Đại 50, 414 hạ), nói: Sau khi vua Văn tuyên nhà Tề cảm điềm lành trong mộng, triệu tập các vị Kinh sư cùng nhau xem lại các thanh điệu xưa, giải thích những điều mới lạ, mà soạn thành bộ Thụy ứng tứ thập nhị khế. Trong Lương cao tăng truyện quyển 13 cũng đặt ra một khoa Kinh sư, kể lại truyện tích của 11 vị Kinh sư từ ngài Bạch pháp kiều đời Tấn đến ngài Tuệ nhẫn đời Nam Tề, đồng thời, tường thuật về sự phát triển của Kinh sư. [X. điều Tùy văn đế trong luận Biện chính Q.3; thiên Tạp khoa thanh đức trong Tục cao tăng truyện Q.30]. II. Kinh Sư. Những người chuyên việc viết chép kinh điển cũng được gọi là Kinh sư, vào thời đại Thiên bình ở Nhật bản, các vị Kinh sư được gọi là Kinh sinh, vì chưa được nhận vào Tăng tịch. Đến đời sau, danh từ Kinh sư được chuyển dụng để chỉ cho những người trang hoàng kinh điển.

kinh sợ hãi và khiếp đảm

Bhayabherava suttam (P), Sutra on Fear and Terror.

kinh tam bảo

Ratna sutta (P).

kinh tam minh

Tevijjā sutta (P).

kinh thanh tịnh

Pāśadika suttanta (P).

kinh thi

Shi-ching (C), Book of Songs Do Khổng Phu Tử san định.

kinh thiên sứ

, (MN130), Devaduta suttam (P).

kinh thiện sinh

Sunakkhatta sutta (P), Sutra To Sunakkhatta.

kinh thuyết la hầu la

Ghulovada sŪtra (S).

kinh thánh chủng

Aliyavasani sŪtra (S)Tên một bộ kinh.

kinh thánh cầu

, (MN26), Ariyapariyesana-suttam (P).

kinh tháp

5555<一>指收藏經書之塔。塔內所收之經文、偈頌、陀羅尼等,稱爲法舍利。[1] <二>即以經文書寫成之塔形。又作經曼荼羅。據書史會要卷六所載,北宋僧法暉於政和二年(1112)以細字書寫經文,形成一塔。其字爲正體書,每字大小僅如半芝麻粒,其上共寫法華、楞嚴等十部經,自塔頂至底部,層級鱗次,毫末不差。 ; (經塔) I. Kinh Tháp. Cây tháp dùng để cất chứa kinh điển. Kinh văn, kệ tụng, đà la ni, v.v... được để vào trong tháp gọi là Tháp Xá lợi. II. Kinh Tháp. Cũng gọi là Kinh mạn đồ la. Kinh văn được viết thành hình dáng ngôi tháp. Cứ theo Thư sử hội yếu quyển 6, thì vào năm Chính hòa thứ 2 (1112) đời Tống, ngài Pháp huy đã dùng kiểu chữ nhỏ, viết văn kinh thành hình 1 tòa tháp. Chữ viết ngay thẳng, mỗi chữ chỉ bằng nửa hạt vừng (mè), trên tháp này viết 10 bộ kinh: Pháp hoa, Lăng nghiêm, v.v... theo thứ tự từ nóc đến chân tháp, mỗi tầng 1 bộ, không sai mảy may.

kinh thân hành niệm

Kayagatasatisuttam (P).

kinh thí dụ

Asivisopama suttanta (P), Apadāna (P) Apadana suttra (S)Sự nghiệp anh hùng, Kinh Chiến thắng vẽ vangMột trong 15 tập trong Tiểu a hàm kễ về sự chiến đấu để đạt đến giác ngộ của chư Phật và 559 vị Tỳ kheo và Tỳ kheo ni.

kinh thôn tiên

, (116), Isigilisutta (P).

kinh thư

Shu-ching (C), Book of Writing Do Khổng Phu Tử san định.

kinh thập cửu đại điển tôn

Xem Kinh Đại điển tôn.

kinh thập thượng

Dasuttara suttanta (P).

kinh thập địa

DashabhŪmika sŪtra (S).

kinh thể tam trần

5558指聲塵、色塵、法塵三者。(一)聲,如於佛世時,聞金口之聲而得道者,是以聲塵爲經。(二)色,於佛滅後,由經卷紙墨而傳持者,是以色塵爲經。(三)法,內心思惟自法而契於理,是不由他教,不由紙墨,唯以法塵爲經。耳識利者依於聲,眼識利者依於色,意識利者依於法。〔法華玄義卷八上〕 ; (經體三塵) Chỉ cho Thanh trần, Sắc trần và Pháp trần, 3 trần cảnh này được dùng làm kinh thể. 1. Thanh trần: Khi đức Phật còn tại thế, Ngài thuyết pháp giáo hóa, các đệ tử nghe lời nói từ kim khẩu của Ngài mà được ngộ đạo, đó là lấy Thanh trần làm Kinh thể. 2. Sắc trần: Sau khi Phật nhập diệt, giáo pháp của Ngài nói ra được ghi chép thành kinh quyển để truyền lại cho đời sau, đó là lấy Sắc trần làm Kinh thể. 3. Pháp trần: Trong tâm tư duy tự pháp mà khế hợp với lí, đây không do người khác dạy, không do giấy mực kinh quyển, đó là lấy Pháp trần làm Kinh thể. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.8 phần trên]. KINH TÔNG ..... I. Kinh Tông. Tông chỉ của 1 bộ kinh. Còn kinh thể là phần nội dung của kinh văn trước sau nhất quán. Như dùng phòng nhà làm ví dụ thì Kinh tông là rường cột, mà Kinh thể là những nguyên liệu cấu thành. Tông Thiên thai cho rằng kinh Pháp hoa lấy nhân quả làm tông, lấy lí thực tướng làm thể. Tịnh độ Chân tông của Nhật bản thì cho rằng kinh Vô lượng thọ lấy bản nguyện làm tông, lấy danh hiệu làm thể. [X. kinh Đại thừa du già kim cương tính hải mạn thù thất lợi thiên tí thiên bát đại giáo vương Q.1; luận Du già sư địa Q.81; Vãng sinh luận chú Q.thượng]. II. Kinh Tông. Những tông phái căn cứ vào Kinh để lập tông nghĩa. Trái lại, các tông phái y cứ vào Luận để lập tông thì gọi là Luận tông. Chẳng hạn như tông Hoa nghiêm, lấy kinh Hoa nghiêm làm văn cứ, cho nên gọi là Kinh tông. (xt. Kinh Luận Thích).

kinh thủ

A copier of classical works.

kinh thủ lăng nghiêm

ŚŪraṃgama sŪtra (S)Lăng Nghiêm Kinh, Thủ lăng già ma KinhNguyên tên là: Đại Phật đỉnh Như lai mật nhơn tu chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh Thủ lăng nghiêm Kinh. Cũng còn gọi là Đại Phật đỉnh Thủ lăng nghiêm Kinh. Kinh dạy phép Thủ lăng nghiêm Tam muội. Phật giảng tại thành Xa vệ, nhà sư Ấn độ tên Bát lạt mật đế nhà Đường dịch ra chữ Tàu.

kinh thứ tám

Aṭṭhaka sutta (P), Eightfold Sutra.

kinh thừa

SŪtrayāna (S).

kinh thừa tự pháp

, (MN3), Dhammadayada-sutta (P).

kinh tiểu không

Kāyagatāsati sutta (P), Culasunnata suttam (P), Sutra on Mindfulness Immersed in the Body.

kinh trang nghiêm

KaraṇḍavyŪha sŪtra (S)Kinh Diệu Nghiêm.

kinh tràng

5557請參閱 觀無量壽經疏 刻有經文之石柱。又作石幢。一般多使用八角形之石柱,其上刻以佛頂尊勝陀羅尼經。此風盛行於唐朝中期至五代遼金之頃,尤以北部地方更盛,所傳留之遺品不少。後再傳至朝鮮、日本。 ; (經幢) ..... Cũng gọi Thạch chàng. Cây cột đá trên có khắc văn kinh. Thông thường là cột đá hình bát giác khắc kinh Phật đính tôn thắng đà la ni. Phong tục này thịnh hành ở Trung quốc từ khoảng giữa đời Đường đến đời Ngũ đại Liêu, Kim. Về sau, truyền đến Triều tiên, Nhật bản. Hiện nay rất nhiều di tích Kinh chàng còn được tìm thấy ở miền Bắc Trung quốc.

kinh tránh phân biệt

(MN139).

kinh trương trảo

, (MN74), Dighanakha-suttam (P).

kinh trạm xe

Ratha-vinita sutta (P), Sutra on Relay Chariots.

kinh trủng

5553又作經塚。將書寫完成之經典置於筒中埋在地下,稱爲經冢。此乃爲保護經典使傳諸永世之意,亦爲自己祈願或爲祖先亡靈祈福之作法。方法是在方形石垣中,以土覆之,使成一冢,並於內部設石室,其內塞滿木炭,經筒即安置於石室內。經冢之形狀或爲圓形,或爲方形。冢上或置寶篋印式,或置牌位形之石塔。藏於冢中之物,除納置經卷之經筒,或刻寫經文之經瓦、經石外,每有懸佛、水瓶、獨鈷杵、鏡等並收於石室中。所納藏之經文種類不一,然多爲法華經、彌勒經、阿彌陀經、無量壽經、般若心經等。 ; (經冢) Khi kinh được viết xong đem bỏ vào ống rồi chôn xuống đất, gọi là Kinh trủng(gò kinh). Việc làm này bày tỏ ý muốn bảo tồn kinh điển được lưu truyền lâu dài ở đời, hoặc để cầu phúc cho mình, cầu siêu cho vong linh tổ tiên. Cách làm là dùng đá xếp thành căn phòng, để các ống kinh ở trong rồi lấp đầy bằng than củi, bên ngoài phủ đất kín thành một cái gò cao, hình tròn hoặc hình vuông. Trên nóc gò đất đặt Bảo khiếp ấn(cái hộp nhỏ trong có để văn chú bằng tiếng Phạm), hoặc một tháp đá hình bài vị. Ngoài những vật như những viên ngói, những tấm đá trên có viết văn kinh ra, trong kinh trủng, còn có tranh tượng Phật, bình đựng nước, chày 1 chĩa, tấm gương, v.v... Những bộ kinh được cất giữ trong căn nhà bằng đá (Kinh trủng) này phần nhiều là kinh Pháp hoa, kinh Di lặc, kinh A di đà, kinh Vô lượng thọ, Bát nhã tâm kinh, v.v...

kinh tu-bà

Śubha sutta (P)Tu bà Kinh.

kinh tuỳ phiền não

, (MN128), Upakkilesa-suttam (P).

kinh tán

5562即讚歎經典之偈頌。現存之梵文經讚中,有法華經讚(梵 Saddharmapuṇḍarīka-stava)及讚般若波羅蜜偈。其中,法華經讚存於日本河口慧海自西藏攜回之梵文法華經寫本之首部,其內容係以首盧迦(梵 śloka)調二十頌所組成,末尾書有「阿遮利耶羅睺羅跋陀羅造」(梵 kṛtir ācārya-Rāhulabhadrasya)等字。另有存於荻原雲來、土田勝彌兩位所校之改訂梵文法華經,與岡教遂之梵文日譯法華經者。 梵語 stava(藏 bstod-pa)即讚賞、讚頌之意。讚般若波羅蜜偈,存於拉津陀擸拉密特羅(梵 Rajendralala Mitra)所出版之八千頌般若(梵 Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā)之首部,亦以首盧迦調二十一頌所組成,其中有一寫本,其上書有「是羅睺羅跋陀羅之作」(梵 kṛtir iyaṃ Rāhulabhadrasya)等字。 至於我國及日本之經讚,在淨土法事讚卷末收有般若讚文、阿彌陀經讚文,及法照之新無量觀經讚、新阿彌陀經讚。於新編諸宗教藏總錄卷一,則錄有智圓、淨源、靈鑑之盂蘭經禮讚文各一卷。此外,於東域傳燈目錄卷上,及諸宗章疏錄卷一中,亦載有法藏之華嚴讚禮一卷十首、吉藏之觀世音經贊、作者不詳之法華經讚頌、石上大納言之淨名經 棫它U一卷。〔大智度論卷十八、中觀論疏卷十末(吉藏)〕 ; (經贊) ..... Phạm:Stava. Những bài kệ tụng tán thán kinh điển. Trong các bài Kinh tán bằng tiếng Phạm hiện còn, thì có Pháp hoa kinh tán (Phạm: Saddharmapuịđarìka-stava) và Tán Bát nhã ba la mật kệ. Trong đó, Pháp hoa kinh tán được ghi trong phần đầu bản viết tay kinh Pháp hoa bằng tiếng Phạm do ngài Hà khẩu Tuệ hải, người Nhật bản, mang từ Tây tạng về. Nội dung gồm 20 bài tụng theo điệu Thủ lô ca (Phạm:Zloka), ở cuối sách có dòng chữ: A già lợi da La hầu la bạt đà la tạo (Phạm:Kftir àcàrya-Rahulabhadrasya). Ngoài ra còn 1 số kệ tán trong kinh Pháp hoa bằng tiếng Phạm do các ông Địch nguyên Vân lai, Thổ điền Thắng di hiệu đính và trong kinh Pháp hoa bản dịch tiếng Nhật bản của ông Cương giáo toại. Kệ tán Bát nhã ba la mật hiện còn thì được chép trong phần đầu của Bát thiên tụng bát nhã (Phạm: Awỉasàhasrikaprajĩàpàramità), do ông Rajendralata Mitra xuất bản, gồm 21 bài tụng cũng theo điệu Thủ lô ca, trong đó có 1 bản chép tay, trên có ghi dòng chữ: Thị la hầu la bạt đà la chi tác (Phạm: Kftir iyaô Rahulabhadrasya)... Về kinh tán của Trung quốc và Nhật bản, thì trong Tịnh độ pháp sự tán quyển cuối có ghi Bát nhã kinh tán, A di đà kinh tán văn và Tân vô lượng thọ quán kinh tán, Tân A di đà kinh tán của ngài Pháp chiếu. Trong Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục quyển 1, thì ghi Vu lan bồn kinh lễ tán văn, 1 quyển, của các ngài Trí viên, Tịnh nguyên và Linh giám. Ngoài ra, Đông vực truyền đăng mục lục quyển thượng và Chư tông chương sớ lục quyển 1, cũng chép Hoa nghiêm tán lễ (1 quyển), gồm 10 bài tụng của ngài Pháp tạng, Quán thế âm kinh tán(1 quyển), của ngài Cát tạng, Pháp hoa kinh tán tụng (1 quyển), không rõ tác giả, Tịnh danh kinh tán (1 quyển) của Thạch thượng Đại nạp ngôn... [X. luận Đại trí độ Q.18; Trung quán luận sớ Q.10 phần cuối (Cát tạng)].

kinh tâm hoang vu

, (MN16), Cetokhila-suttam (P).

kinh tâm vương

Citta sŪtra (S).

kinh tê giác

Khaggavisana sutta (P), Sutra on A Rhinoceros Horn.

kinh tông

5552<一>經宗即經典主要之宗旨,或指根本的主張而言。而所謂「經體」者,係指始終一貫經文之內容。如以房屋爲喻,則經宗爲房屋之柱樑,經體爲其他之構成材料。例如,天台宗認爲,法華經係以因果爲宗,實相之理爲體。日本淨土真宗認爲,無量壽經以本願爲宗,以名號爲體。〔大乘瑜伽金剛性海曼殊室利千臂千鉢大教王經卷一、瑜伽師地論卷八十一、往生論註卷上〕 <二>根據「論」所立之宗派,稱爲論宗;反之,依據「經」所立之宗派,則稱經宗。例如,華嚴宗係以華嚴經爲本據,故稱經宗。(參閱「經論釋」5557) ; The sùtra school, any school which bases its doctrines on the sùtras, e.g. Thiên Thai, or Hoa Nghiêm, in contrast to schools based on the sastras, luận, or philosophical discourses.

kinh tư lương

, (MN15), Anumanasuttam (P).

kinh tư sát

, (MN47), Vīmamsaka-suttam (P).

Kinh tạng

經藏; S: sūtra-piṭaka; P: sutta-piṭaka;|Tạng thứ hai của Tam tạng (s: tripiṭaka). Kinh tạng chứa tất cả những bài giảng do chính Phật Thích-ca thuyết. Kinh tạng viết bằng văn hệ Phạn ngữ gồm có bốn A-hàm, bằng văn hệ Pā-li của Thượng toạ bộ có năm bộ, Bộ kinh.

kinh tạng

5557<一>指經、律、論三藏中之經藏。(參閱「經」5548)[1] <二>又作經樓、經堂、經庫、法藏、輪藏、轉輪藏、藏經閣、法寶殿。即指收藏經文之建築物。於印度、中國、朝鮮等,早已有建造經藏之事蹟,例如十不二門指要鈔卷上之記載,於杭州一州之內,即有十所經藏之設立,此係由於吳越王篤信佛教,乃命匠造立之。宋代之後,以大藏經之多次開版,隨而促成經藏之廣泛設立。於日本,造於古代之遺構極多,如法隆寺之經樓(奈良)及校倉造之經庫等均屬之。自鎌倉時代,經藏之構造有所變更,即於堂宇中心置放經箱,並做一迴轉之設計,稱爲輪藏;即從轉法輪或轉讀之意而來者。經文如此輪轉,雖未誦讀,然亦有功德可言。經藏之制於南北朝時即已設立,輪藏之制亦早在梁朝善慧大士傅翕時即已有之。〔大唐西域記卷三、廣弘明集卷二十二、釋門正統卷三塔廟志〕(參閱「佛教圖書館」2700) ; Sutta-piṭāka (P), SŪtra-piṭāka (S), Suttapiṭaka (P)Một trong tam tạng kinh điển: Kinh tạng- Luật tạng- Luận tạng, gồm 5 phẩm: Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tiểu bộ kinh, Tương Ưng bộ kinh, Tăng chi bộ kinh. ; The sùtra-pitaka. Baskket of sùtras. ; (經藏) ..... I. Kinh Tạng. Chỉ cho tạng kinh trong 3 tạng Kinh, Luật, Luận. (xt. Kinh). II. Kinh Tạng. Cũng gọi Kinh lâu, Kinh đường, Kinh khố, Pháp tạng, Luân tạng, Chuyển luân tạng, Tàng kinh các, Pháp bảo điện. Chỉ cho những tòa nhà cất chứa kinh điển. Cứ theo Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển thượng, thì trong một châu ở Hàng châu có thiết lập 10 sở Kinh tạng do Ngô việt vương kiến tạo. Từ đời Tống về sau, do Đại tạng kinh được ấn hành nhiều lần, nên Kinh tạng cũng theo đó mà được thiết lập ở khắp nơi trong nước. Ở Nhật bản hiện nay còn rất nhiều Kinh tạng được kiến trúc từ đời xưa, như Kinh lâu(thời Nại lương) ở chùa Pháp long và các Kinh khố được xây dựng theo kiểu Hiệu thương. Từ thời Liêm thương, hình thức cấu tạo Kinh tạng có thay đổi, tức là ở giữa Kinh đường có thiết lập Luân tạng, theo nghĩa chuyển pháp luân hoặc chuyển độc. Tức là nếu không có thì giờ hoặc người không biết chữ để tụng, đọc kinh văn, thì cứ quay Luân tạng nhiều vòng cũng được công đức như người tụng kinh. Tại Trung quốc, Kinh tạng đã được thiết lập vào thời Nam Bắc triều, mà Luân tạng cũng đã có từ thời Đại sĩ Thiện tuệ Phó hấp đời Lương. [X. Đại đường tây vực kí Q.3; Quảng hoằng minh tập Q.22; Thích môn chính thống Q.3 Tháp miếu chí]. (xt. Phật giáo Đồ Thư Quán).

kinh tạng pháp sư

Suttantika (P). Master of the Sutta-pitaka.

kinh tạng đường chủ

5557禪林中管理經藏之職稱。堂主之上有藏主,然藏主不居藏殿,而由堂主守經,其職責與眾僧之借閱書籍有直接之關係,故常在藏殿。〔禪林象器箋卷六職位門〕 ; (經藏堂主) Chức vụ vị tăng trông nom Kinh tạng trong tùng lâm. Trên Đường chủ có Tạng chủ, nhưng Tạng chủ không ở trong Tạng điện mà do Đường chủ có trách nhiệm quản lí kinh điển, phải thường xuyên có mặt ở Tạng điện để trực tiếp trông coi và cho chúng tăng mượn kinh sách để đọc. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.6].

kinh Tạp hoa

tên gọi khác của kinh Hoa nghiêm. Từ điển Phật học của Đinh Phúc Bảo viết: 萬行譬如華, 以萬行莊嚴佛果,謂之華嚴。百行交雜,謂之雜華。 (Vạn hạnh thí như hoa, dĩ vạn hạnh trang nghiêm Phật quả, vị chi Hoa nghiêm, bách hạnh giao tạp, vị chi Tạp hoa. - Vạn hạnh ví như hoa, dùng vạn hạnh trang nghiêm quả Phật nên gọi là Hoa nghiêm, trăm hạnh giao tạp nên gọi là Tạp hoa.)

kinh tất cả lậu hoặc

Sabbasava sutta (P), Sutra on All the Fermentations.

kinh tất cả đều bị thiêu đốt

Adittapariyaya sutta (P), All-burnt Suttra.

kinh tập

5555巴利名 Sutta-nipāta。屬南方上座部經藏(小部)之巴利語經典。因其他各經分別有其獨自之特徵,故均有其特定之名稱,唯有本集乃是由雜多之經所集成,故稱經集。本集之形式,有長短不同之詩集,間亦有散文。內容分爲蛇品、小品、大品、義品、彼岸道品等五章,係原始佛教聖典中最古老之作品。尤其是義品、彼岸道品兩章乃最早獨立流通者,故可謂爲佛教最古老之聖典。 五章之中,蛇品(巴 Uragavagga)有十二經;其中之「蛇經」反覆喻說比丘之修行應如蛇之蛻換舊皮而捨棄彼此兩岸之分別;另一「犀角經」則收有著名之詩,喻說修行者應如獨角犀之獨立修行。小品中收集較短之諸經而成,計有十四經。大品則收集較長之十二經,其中之出家經(大品第一經)、精勤經(大品第二經)、那落迦經(大品第十經)等三經係保存有關佛陀傳記之最早資料者。又大品第九經說明四姓平等之理,第十二經則以簡單之形式說明緣起之理。至於義品(巴 Atthakavagga)之名,解爲八偈品,如窟八偈經(第二經)、瞋怒八偈經(第三經),大部分均爲八偈合成之經;計由十六經構成,相當於漢譯之「義足經」(亦有十六經)。彼岸道品(巴 Pārāyanavagga),全章富有統一性,內容係十六學童請教佛陀,佛陀答覆之十六節,加前之序偈、後之結語二節,計有十八節。 根據日本學者水野弘元在南傳大藏經卷二十四所揭出,關於經集與其他經、律、論及漢譯經典之關係如下:經集之偈與漢譯義足經相當者共二三六偈(已扣除重覆者),此外,梵文大事,及雜阿含經、佛本行集經、有部律、中阿含經、大智度論、四分律等十餘部漢譯經中,均各有二十餘偈與經集之偈頌相當。總計經集一一四九偈中與其他經、律、論相當者共有五七○餘偈。本集迄今已有多種文字之譯本及校訂本,校訂本有:Dines Andersen and Helmer Smith (Sutta-nipāta)new ed.(P.T.S., London 1948),英譯本有:S.B.E. vol. X, part Ⅱ(Tr. by V. Fausb隶ll)1881; S.B.B. 15(Woven Cadences of Early Buddhist, Tr. by E.M. Hare)1945; Hos. 37(Buddha's Teachings, Tr. by Lord Chalmers)1932,德譯本有:K.E. Neumann(Die Re den Gotamo Buddho's)München 1905; Nyāna-tiloka(Das Wort des Buddha) Leipzig 1923,日譯本則有國譯大藏經經部第十三冊(立花俊道)、釋迦牟尼聖訓集(荻原雲來)、南傳大藏經卷二十四(水野弘元)等多種。〔善見律毘婆沙卷一、Nyānatiloka: Das Wort des Buddha; R. Hoernle: The Sutta Nipāta in a Sanskṛit Version from Eastern Turkestan(J.R.A.S. 1916); M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd. Ⅱ〕 ; Sutta-nipāta (P), Group of Discourses Một trong 15 quyển của Tiểu a hàm, gồm 72 bài kinhXem Kinh Tạng. ; (經集) ..... Pàli:Sutta-nipàta. Tập kinh tiếngPàli thuộc tạng Kinh (Tiểu bộ) của Thượng tọa bộ Nam phương, do nhiều bài kinh nhỏ hợp thành. Hình thức kinh tập gồm có những bài thơ kệ dài ngắn khác nhau xen lẫn những bài văn xuôi. Nội dung chia làm 5 phẩm: Xà phẩm, Tiểu phẩm, Đại phẩm, Nghĩa phẩm và Bỉ ngạn đạo phẩm, trong đó, Nghĩa phẩm và Bỉ ngạn đạo phẩm là 2 phẩm được lưu hành rất sớm, có thể nói đây là tác phẩm xưa nhất trong Thánh điển Phật giáo nguyên thủy. - Phẩm Xà(Pàli:Uragavagga) có 12 kinh, trong đó Xà kinh ví dụ tỉ khưu tu hành phải xa lìa sự phân biệt bờ bên này bờ bên kia, giống như con rắn lột bỏ da cũ; còn kinh Tê giác thì gồm các bài nổi tiếng nói về người tu hành cần phải độc lập như con tê giác 1 sừng. - Tiểu phẩm có 14 bài kinh ngắn. - Đại phẩm có 12 bài kinh dài, trong đó, kinh Xuất gia, kinh Tinh cần và kinh Na lạc ca là những tư liệu sớm nhất ghi chép về truyện đức Phật còn được bảo tồn; bài kinh thứ 9 nói về lí 4 tính bình đẳng, bài kinh thứ 12 thuyết mình về lí duyên khởi. - Nghĩa phẩm (Pàli: Atthakavagga): gồm 16 kinh được gọi là phẩm Bát kệ vì phần lớn những bài kinh trong phẩm này đều do 8 bài kệ hợp thành, như: kinh Quật bát kệ(kinh thứ 2), kinh Sân nộ bát kệ(kinh thứ 3). Phẩm này tương đương với kinh Nghĩa túc trong Hán dịch (cũng có 16 kinh). - Bỉ ngạn đạo phẩm (Pàli: Pàràyanavagga) nội dung gồm có 18 tiết, tiết đầu tiên là bài tựa, tiết cuối cùng là lời kết thúc, 16 tiết còn lại thì nói về việc đức Phật trả lời cho 16 thiếu niên về những điều họ thưa hỏi. Trong Đại tạng kinh Nam truyền quyển 24, nhà học giả Nhật bản là ông Thủy dã Hoằng nguyên có cho biết về mối quan hệ giữa Kinh tập với Kinh, Luật, Luận khác và các kinh điển Hán dịch như sau: Kinh tập và Kinh nghĩa túc Hán dịch có 236 bài kệ tương đương(đã trừ những bài kệ trùng lặp), ngoài ra, bộ Đại sự bằng tiếng Phạm và trong hơn 10 bộ kinh, luật, luận Hán dịch như: Kinh Tạp a hàm, kinh Phật bản hạnh tập, luật Hữu bộ, kinh Trung a hàm, luận Đại trí bộ, luật Tứ phần, v.v... mỗi bộ đều có hơn 20 bài kệ tương đương với những bài kệ tụng trong Kinh tập. Trong tổng số 1149 bài kệ tụng trong các Kinh, Luật, Luận khác, hiện nay Kinh tập đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như: Bản dịch tiếng Anh có: S.B.E. vol. X, part II (Tr. by V. Fausbôll) 1881; S.B.B.15 (Woven Cadences of Early Buddhist, Tr. by E.M. Hare) 1945; Hos. 37 (Buddha’s Teachings, Tr. by Lord Chalmers) 1932. Bản dịch tiếng Đức có: K.E. Newmann (Die Reden Gotamo Buddho’s) München 1905; Nyàna-tiloka (Das Wort des Buddha) Leipzig 1923. Bản dịch tiếng Nhật có: Quốc dịch Đại tạng kinh Kinh bộ tập 13(Lập hoa Tuấn đạo), Thích ca mâu ni Thánh huấn tập (Địch nguyên Vân lai), Nam truyền Đại tạng kinh quyển 24(Thủy dã Hoằng nguyên). Ngoài ra còn có bản hiệu đính của: Dines Andersen anh Helmer Smith (Suttanipàta) new ed. (P.T.S., London 1948). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Nyànatiloka: Das Wort des Buddha; R. Hoernle: The Sutta nipàta in a Sanskfit Version from Eastern Turkestan (J.R.A.S. 1916); M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd. II].

kinh tập chú

Sutta-nipāta atthakattha (P)Tập bộ kinh.

kinh tập yếu

SŪtrasamuccaya (S)Chủ kinh yếu tập, Tập kinh luậnMột trong những tác phẩm của ngài Shantideva, phái Trung Quán, thế kỳ VII.

kinh tệ túc

Payasi suttanta (P).

kinh tịnh danh

Xem Kinh Duy ma cật.

kinh tịnh mặc hành

Moneya sŪtra (S).

kinh tối

Bansan (J).

kinh tổng thuyết và biệt thuyết

Uddesa-vibhaṅga sutta (P), Sutra on An Analysis of the Statement.

kinh tổng thuyết vô biệt thuyết

Uddesa-vibhangasuttam (P).

kinh tứ

5554盛經之箱,引伸爲通達經典之人。釋氏要覽卷中(大五四‧二九三上):「經笥、法將,並五印度學人,稱奘法師。」大唐西域記卷十二(大五一‧九四六中):「聲馳萬里,印度學人咸仰盛德,既曰經笥,亦稱法將。」 ; (經笥) Nguyên chỉ cho cái rương chứa kinh, sau được dùng để chỉ cho người thông suốt kinh điển. Thích thị yếu lãm quyển trung (Đại 54, 293 thượng), nói: Kinh tứ, Pháp tướng là lời những người học ở Ấn độ tôn xưng pháp sư Huyền trang. Đại đường tây vực kí quyển 12 (Đại 51, 946 trung), ghi: Tiếng tăm vang xa muôn dặm, người học Ấn độ đều kính ngưỡng danh đức, cho nên gọi là Kinh tứ, cũng gọi là Pháp tướng.

kinh từ bi

Mettā sutta (P), Sutra on Good Will.

kinh tự hoan hỷ

Sampasadaniya suttanta (P).

kinh tỳ kheo

Bhikkhu sutta (P), Sutra on Monks.

kinh tỳ kheo ni

Bhikkhuni sutta (P), Sutra on The Nun.

kinh vacchagotta về lửa

Aggi-Vacchagotta sutta (P), Sutra To Vacchagotta on Fire Tên một bộ kinh.

kinh vacchagotta về tam minh

(MN71).

kinh vasettha

, (MN98), Vasetthasuttam (P).

kinh veranjaka

Veranjaka sutta (P), Sutra on Veranjaka Sutra.

kinh vu lan bồn

Ullambana-sŪtra (S).

kinh ví dụ con chim cáy

, (MN66), Latukiko-pamasuttam (P).

kinh ví dụ con rắn

Alaggadupamasutttam (P).

kinh ví dụ cái cưa

Kakacupama sutta (P), Sutra on The Simile of the Saw.

kinh ví dụ tấm vải

Vatthupama sutta (P), Sutra on The Simile of the Cloth.

kinh vô lượng thọ

Amitābha-vyŪha sŪtra (S)Tên một bộ kinh. Đại A di đà kinh, Di đà đại bổn, Đại vô lượng thọ kinh.

kinh vô ngã tướng

Anāgata-bhayani suttas (P), Sutra on Future Dangers, Anattālakkhaṇa-sutta (S), Sutra on the Not-self Characteristic Anattālakkhaṇa-sutta (P).

kinh vô thường

Anicca sutta (P), Sutra on Impermanence.

kinh vô thủy

Anamataggapariyaya katha (S)Tên một bộ luận kinh.

kinh vô tránh phân biệt

Anaravibhanga-suttam (P).

kinh vô uý

Abhaya sutta (P), Sutra on Fearlessness.

kinh vương

5550即諸經中之王。顯、密教經典中,皆有自稱經王者,亦有被讚歎爲經王者。如法華經卷四法師品、卷六藥王菩薩本事品、金光明經卷一序品、大乘本生心地觀經卷八囑累品等皆有自稱經王之說。羅睺羅跋陀羅之法華經讚(梵 Saddharmapuṇḍarīka-stava)則讚歎法華經爲經王。若於西藏譯大藏經中,號稱爲「怛特羅王」(梵 tantra-rāja)者亦不乏其例,如吉祥祕密金剛怛特羅王、吉祥寶鬘怛特羅王、吉祥智慧心髓大瑜祇母怛特王中王。 ; (經王) Vua trong các Kinh. Trong các kinh Hiển giáo cũng như Mật giáo, thường có kinh tự xưng là Kinh vương hoặc được khen ngợi là Kinh vương. Như phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa quyển 4, phẩm Dược vương bồ tát bản sự kinh Pháp hoa quyển 6, phẩm Tựa kinh Kim quang minh quyển 1, phẩm Chúc lụy trong kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 8, v.v... đều tự xưng là Kinh vương. Trong Đại tạng kinh Tây tạng, cũng có nhiều kinh dùng hiệu xưng Đát đặc la vương (Phạm: Tantra-ràja), như: Cát tường bí mật kim cương đát đặc la vương, Cát tường bảo man đát đặc la vương, Cát tường trí tuệ tâm tủy đại du kì mẫu đát đặc vương trung vương.

kinh vương tử bồ đề

(MN85).

kinh vương tử vô úy

(MN58).

kinh vị tằng hữu pháp

AdbhŪtadharma sŪtra (S)A phù đà đạt ma kinh, Vị tằng hữu Kinh.

kinh xuất gia

Pabbaja sutta (P), Sutra on The Going Forth.

kinh xà ni sa

Janavasabha suttanta (P)Tên một bộ kinh.

kinh ái dục

Kāma sŪtra (S).

kinh ái sanh

Piyajatika sutta (P), Sutra From One Who Is Dear.

kinh đa giới

, (MN115), Bahudhātukasuttam (P).

kinh điều ngự địa

DantabhŪmi suttam (P), Sutra on the "Tamed Stage".

Kinh điển

(經典): tức giáo pháp do đức Phật tuyên thuyết, về sau tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難) và chư tôn đức khác kết tập giáo pháp ấy. Ban đầu thì dùng văn chương truyền khẩu, sau đó ghi lại bằng văn chương; phàm văn cú, thư tịch đều gọi là kinh điển. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 1, Phẩm Tựa (序品), có đoạn rằng: “Thánh chúa sư tử, diễn thuyết kinh điển, vi diệu đệ nhất (聖主師子、演說經典、微妙第一, sư tử chúa các bậc Thánh, diễn thuyết kinh điển, vi diệu số một).” Hay trong bài văn Tô Châu Trùng Huyền Tự Pháp Hoa Viện Thạch Bích Kinh Bi (蘇州重玄寺法華院石壁經碑) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường cũng có đoạn: “Phật Niết Bàn hậu, thế giới hư không, duy thị kinh điển, dữ chúng nhân câu (佛涅槃後、世界空虛、惟是經典、與眾生俱, sau khi Phật nhập Niết Bàn, thế giới [trống rỗng như] hư không, chỉ có kinh điển, cùng mọi người tồn tại).” Hoặc như trong Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474), phần Tùy Châu Đại Hồng Sơn Toại Thiền Sư Lễ Hoa Nghiêm Kinh Văn (隨州大洪山遂禪師禮華嚴經文), lại có đoạn: “Nhãn trung thường kiến như thị kinh điển, nhĩ trung thường văn như thị kinh điển, khẩu trung thường tụng như thị kinh điển, thủ trung thường thư như thị kinh điển, tâm trung thường ngộ như thị kinh điển, nguyện sanh sanh thế thế, tại tại xứ xứ, thường đắc thân cận Hoa Tạng nhất thiết thánh hiền (眼中常見如是經典、耳中常聞如是經典、口中常誦如是經典、手中常書如是經典、心中常悟如是經典、願生生世世、在在處處、常得親近華藏一切聖賢, trong mắt thường thấy kinh điển như vậy, trong tai thương nghe kinh điển như vậy, trong miệng thường tụng kinh điển như vậy, trong tay thường chép kinh điển như vậy, trong tâm thường ngộ kinh điển như vậy, nguyện đời đời kiếp kiếp, nơi nơi chốn chốn, thường được gần gủi hết thảy thánh hiền của thế giới Hoa Tạng).” Hòa Thượng Phước Hậu (1862-1949), từng là Tăng Cang và Trú Trì Chùa Báo Quốc-Huế, có để lại bài thơ rất thâm thúy rằng: “Kinh điển lưu truyền tám vạn tư, học hành không thiếu cũng không dư, đến nay tính lại đà quên hết, chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.”

kinh điển

5551即佛陀所宣說教法,經阿難等結集之,初以口傳,後以文字記載,舉凡文句、書籍,均稱爲經典。無量壽經卷上(大一二‧二六六中):「菩薩經典,究暢要妙。」法華經卷一序品(大九‧二下):「聖主師子,演說經典,微妙第一。」 ; The discourses of Buddha, the sùtra-pitaka. ; Tipitaka (skt)—Những bài thuyết giảng của Đức Phật Thích Ca. Tam tạng Kinh Điển bao gồm Kinh, Luật và Luận. Phật Giáo Nguyên Thủy thừa nhận kinh điển được ghi lại bằng tiếng Ba Li (Nam Phạn). Phật giáo Đại Thừa thừa nhận kinh điển được ghi lại bằng tiếng Bắc Phạn—Canon—Buddhist Sutras—The discourses of Buddha—Canon—Three baskets in Pali recognized by Theravada school. Sutras were written down in Sanskrit recognized by the Mahayana school, including the sutras (kinh), Tantras (luật), and the Commentary (luận). ; (經典) Giáo pháp do đức Phật tuyên thuyết, lúc đầu chỉ được truyền miệng, về sau mới dùng văn tự ghi chép thành sách, gọi là Kinh điển. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 trung), nói: Kinh điển của Bồ tát, cùng suốt mầu nhiệm. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 2 hạ), nói: Bậc Thánh chúa như sư tử, diễn nói các kinh điển, thực vi diệu đệ nhất.

kinh điển đại thừa

Mahayana sutras.

kinh đoạn giảm

Sallekha sutta (P), Sutra on Effacement.

kinh đô đại phật

3048日本京都市東山方廣寺之本尊。天正年間(1573~1592),豐臣秀吉所立,係木刻金漆之盧舍那佛坐像,高約二十公尺。慶長元年(1596)地震,佛殿、金像悉皆崩壞;十七年,秀吉之子秀賴再以銅鑄釋迦坐像。其後又因地震而破損,遂以其殘餘部分鑄錢,世稱大佛錢。今所安置者,乃天保年間(1830~1844)中尾張國所造之半身木像,然已不復舊觀。 ; (京都大佛) Tượng Phật bản tôn Tì lô giá na ngồi, cao 28m, bằng gỗ, sơn son, thếp vàng, do ông Phong thần Tú cát tạo lập vào khoảng năm Thiên chính (1573-1592), thờ ở chùa Phương quảng, Đông sơn, thành phố Kinh đô (Kyoto), Nhật bản. Niên hiệu Khánh trường năm đầu (1596), vùng Đông sơn bị động đất, điện Phật và tượng này đều bị đổ. Đến năm Khánh trường 17 (1613), ông Tú lại là con ông Tú cát đúc 1 pho tượng Phật Thích ca ngồi bằng đồng, nhưng về sau nạn động đất lại làm cho tượng bị hư nát, nhà nước bèn gom những mảnh vụn còn lại dùng để đúc tiền, người đời gọi là tiền Đại Phật. Tượng đang thờ hiện nay là tượng bán thân bằng gỗ, do ông Trung vĩ Trương quốc tạc vào khoảng năm Thiên bảo (1830-1844), nhưng không còn giữ được phong cách xưa.

kinh đương lai bố úy

Anāgatabhayani sŪtra (S).

kinh đường

5554保存大藏經之殿堂,即經藏。乃收藏經典之府庫。(參閱「經藏」5557) ; Sutra Hall. ; (經堂) Cũng gọi Kinh tạng. Nơi cất giữ Đại tạng kinh. (xt. Kinh Tạng).

kinh đại bi tâm đà la ni

Mahakaruna Dharani Sutra—A Sutra of the Esoteric Buddhist tradition—The Teaching of the powerful effect of the Avalokitesvara Maha-Bodhisattva Great Compassion Mantra.

kinh đại bát niết bàn

Mahaparinirvana-Sutra—Kinh thuyết về Phật nhập diệt và nhữõng giáo lý của Ngài, còn gọi là Kinh Thiên Đường. Kinh cũng bàn về lý thuyết bản tánh Phật vốn có ở mọi thực thể. Kinh được Ngài Đàm Vô Sám dịch sang Hán tự—Maha Parinirvana Sutra—Great Nirvana—The sutra or sermon of the Great Decease or passing into final Nirvana—A long sutra containing a description of the Buddha's passing and his teaching—The Paradise Sutra. The sutra also deals with the doctrine of Buddha-nature, which is immanent in all beings. The sutra was translated into Chinese by Dharmaksema.

kinh đại bảo tích bất động như lai hội

Xem A súc Phật quốc Kinh.

kinh đại bổn

Mahāpadana sutta (P).

kinh đại bửu tích

Maha Ratnakuta Sutra—Kinh được ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang Hoa ngữ, là một trong những kinh điển xưa nhất của Phật Giáo Đại Thừa. Trong Đại Bảo Tích, tư tưởng Trung Đạo được triển khai. Kinh cũng nói về trí huệ siêu việt (Bát Nhã Ba La Mật Đa trong trường Kinh A Di Đà)—Tạng kinh điển rất quan trọng gồm 6000 trang trong chín quyển chứa đựng hầu hết những giáo điển trọng đại của Đại Thừa nhằm đưa chúng sanh đến chỗ Giác Ngộ Tối Thượng của Phật quả—The sutra was translated into Chinese by Bodhiruci, one of the oldest sutras of Mahayan. In the Ratnakuta, the thought of the Middle Way is developed. It also contains sutras on transcendental wisdom (Prajan Paramita Sutra and Longer Amitabha Sutra)—A very important sutra (6000 pages in nine volumes) which contains almost all the most critical teaching of the Mahayana Tradition (Great Vehicle) to carry sentient beings to the Ultimate Enlightenment of Buddhahood.

kinh đại ca chiên diên nhứt dạ hiền giả

Kaccanabhaddekarattasuttam (P).

kinh đại duyên

Mahānidana suttanta (P), Sutra on The Great Causes Discourse Tương đương Kinh Đại duyên Phương tiện (Trường A hàm).

kinh đại hội

Mahāsamaya suttanta (P)Tên một bộ kinh.

kinh đại không

Mahasunnatasuttam (P).

kinh đại lạc kim cang bất không chân thật tam ma đà

Adhyardhasatika-Prajnaparamita-Sutra—Còn được gọi là “Lý Thú Kinh” hoặc “Bát Nhã Lý Thú Kinh.” Đây là tinh yếu giáo lý của Mật Tông, dạy cách tu hành thành Phật ngay trong đời nầy. Kinh được Ngài Bất Không dịch sang Hán tự—Also called “The Interesting Sutra” or “The Interesting Prajna Sutra.” It stressed on the essence of the Tantric schools that taught how to practice and become a Buddha in this very life. The sutra was translated into Chinese by Amoghavajra.

kinh đại nghiệp phân biệt

Mahakamma-vibhangasuttam (P).

kinh đại nhựt

Mahāvairocanabhisaṃbodhi sŪtra (S), Mahāvairocana Sutra (S).

kinh đại niết bàn

Xem Kinh Đại Bát Niết bàn. ; Maha-Parinirvana Sutra—Great Nirvana Sutra—See Kinh Đại Bát Niết Bàn.

kinh đại niệm xứ

Mahā-satipatthana sutta (P), Sutra on The Great Frames of Reference (The Great Discourse on the Foundations of Mindfulness).

kinh đại phương quảng giác quả tạp hoa nghiêm

Mahāvaipulya-Buddhanda-vyŪha sŪtra (S)Kinh Hoa NghiêmTên một bộ kinh.

kinh đại phương quảng hoa nghiêm

MahaVaipulya-Avatamsaka-Sutra—Buddhavatamsaka Sutra—Kinh điển Đại Thừa gồm những giáo lý căn bản của trường phái Hoa Nghiêm, nhấn mạnh ý tưởng về “Sự thâm nhập tự do lẫn nhau” của tất cả mọi sự vật. Kinh cũng dạy rằng nhơn tâm là cả một vũ trụ và đồng nhất với Phật. Do đó, tâm, Phật, và chúng sanh không sai khác. Trường phái Thiền đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh nầy của học thuyết Đại thừa. Kinh được Ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch sang Hán tự—The Sutra of the Garland of Buddhas. Mahayana sutra that constitutes the basis of the teachings of the Avatamsaka school (Hua-Yen), which emphasizes above all “mutually unobstructed interpenetration.” The sutra also teaches that the human mind is the universe itself and is identical with the Buddha. Indeed, the mind, Buddha and all sentient beings are one and the same. This aspects of the Mahayana teaching was especially stressed by the Chinese Zen. The sutra was translated into Chinese by Buddhabhadra.

kinh đại phương quảng phật hoa nghiêm

Buddhavatamsaka-Mahāvaipulya sŪtra (S)Hoa Nghiêm Kinh.

kinh đại phẩm

Mahāvagga-suttan (P), Sutra on The Great Chapter.

kinh đại sự

Mahāvastu sŪtra (S, P)Phật Bản Hạnh Tập kinh dị bảnKinh ghi cuộc đời đức Phật.

kinh đại thiện kiến vương

Mahāsudassana suttanta (P).

kinh đại thừa

Mahayana sutras—Trong số các bộ kinh của Đại Thừa, có chín kinh sách được xem là quan trọng nhất. Các bộ kinh nầy được gọi là các kinh Phương Quảng (Vaipulya sutras)—Among the Mahayanist sutras, nine texts are regarded as the most important. These are called the Vaipulya sutras: 1) Bát Thiên Tụng: Astasahasrika-prajna-paramita. 2) Diệu Pháp Liên Hoa: Sadharma-pundarika. 3) Lăng Già: Lankavatara. 4) Phổ Diệu: Lalitavistara. 5) Kim Quang Minh: Suvarna-prabhasa. 6) Hoa Nghiêm: Gandavyuha. 7) Như Lai Mật: Tathagata-guhyaka. 8) Tam Muội Vương: Samadhi-raja. 9) Thập Địa Tự Tại: Dasabhumisvara.

kinh đại tập

Great Heap Sutra.

kinh đại tỳ lô giá na thành phật thần biến gia trì kinh

Mahavairocanabhisambodhivikur-Vitadhisthanna-vaipulya-Sutrendra-Raja-Nama-Dharmaparyaya—Đây là một trong những kinh điển căn bản của Phật giáo Mật tông, còn được gọi là Kinh Đại Nhựt Như Lai. Kinh được các Ngài Thiện Vô Úy và Nhứt hạnh cùng dịch sang Hán tự—This is one of the fundamental sutras in Tantric Buddhism. It is also called “Mahavairocana Sutra.” The sutra was translated into Chinese by Subhakarasimha and I-hsing.

kinh đại vô lượng thọ

The Great Infinite Life Sutra.

kinh đại điển tôn

Mahāgovinda suttanta (P)Tên một bộ kinh. Kinh Thập Cửu Đại Điển Tôn.

kinh đạo

Giáo thuyết của kinh—The doctrine of the sutras.

kinh đạo diệt tận

5557佛陀之教法稱爲「經」,故以「經道滅盡」喻指佛之教法衰微滅盡。無量壽經卷下(大一二‧二七九上):「當來之世,經道滅盡,我以慈悲哀愍,特留此經,止住百歲。」 ; (經道滅盡) ........... Giáo pháp của đức Phật đến thời suy đồi diệt hết. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 279 thượng), nói: Đời vị lai giáo pháp diệt hết, ta mở lòng từ bi thương xót chúng sinh, nên đặc biệt lưu truyền kinh này ở đời 100 năm nữa.

kinh đạt ma đa la thiền kinh

Yogacharabhumi-Sutra—Đây là kinh điển do Đạt Ma Đa La và Phật Đại Tiên biên soạn để phổ biến về phương pháp thiền định cho các trường phái Tiểu thừa vào thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch. Kinh được Ngài Phật Đà bạt Đà La dịch sang Hán tự. Kinh chia làm năm phần—This sutra is composed by Dharmatrata and Buddhasena in the 5th century AD on the methods of meditation for the Hinayana. The sutra was translated into Chinese by Buddhabhadra. The sutra was divided into five parts: 1) Mười bảy vùng đất đánh dấu sự tiến bước trên đường đại giác với sự trợ giúp của giáo lý Tiểu thừa Yogachara. Đây là phần quan trọng nhất: The seventeen stages presenting the progression on the path to enlightenment with the help of the Yogachara teaching, this is the most important part. 2) Những lý giải về những vùng đất khác nhau ấy: Interpretations of these stages. 3) Giải thích các kinh điển làm chỗ dựa cho giáo điều về các vùng đất Yogachara: Explanation of these sutras from which the Yogachara doctrine of the stages draws support. 4) Các phạm trù chứa đựng trong các kinh điển ấy: Classifications contained in these sutras. 5) Các đối tượng của kinh điển Phật giáo (kinh, luật, luận): Topics from the Buddhist canon (sutra, Vinaya-pitaka, Abhidharma).

kinh đầu

5557 【經論→】請參閱 往生論 請參閱 大藏經目錄 或 眾經目錄 禪林中掌管經卷圖書之職稱。又禪院中,爲補修大藏經而至街坊誦讀經典,向人募捐之僧,亦稱經頭;若所誦讀者爲般若經,則稱般若頭;誦讀華嚴經、法華經,則稱華嚴頭、法華頭。〔禪苑清規卷四街坊水頭炭頭華嚴頭〕 ; (經頭) ..... Tên một chức viên chuyên trông nom kinh sách trong Thiền lâm, hoặc chỉ cho những vị tăng đến các khu phố tụng kinh quyên tiền về tu chỉnh Đại tạng kinh. Nếu vị nào tụng kinh Bát nhã thì gọi là Bát nhã đầu, tụng kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa thì gọi Hoa nghiêm đầu, Pháp hoa đầu. [X. điều Nhai phường Thủy đầu Thán đầu Hoa nghiêm đầu trong Thiền uyển thanh qui Q.4).

kinh đế thích sở vấn

Sakkapaha-suttanta (P), Sutra on Sakka's Questions Thích Đề Hoàn Nhân vấn kinh.

kinh đề

5558即經典之標題。又作首題。一般而言,梵文佛典不論經、律、論,皆於卷首置歸敬序,其次爲本文,至末尾始揭示標題。西藏譯佛典,初列梵名及西藏譯名,次有歸敬序及本文,終則附有西藏譯名及翻譯校訂等後記。漢譯佛典則大多省略歸敬序,而於本文之前置首題及譯題,後面則設尾題。 在經題中,不論大小乘,一般皆冠有「佛說」二字,如佛說大集法門經、佛說無量壽經、佛說首楞嚴三昧經等。此外,吉藏之金剛般若疏卷一謂,經題有二種,一爲具足,一爲不具足。以金剛般若爲例,具足者,應稱爲「佛說金剛般若」;不具足者,則謂「金剛般若」。在日本,有以受持經題即可得功德之說,如日蓮宗即是。〔淨名玄論卷二(吉藏)、大乘四法經釋(敦煌本)〕 ; (經題) ..... Cũng gọi Thủ đề. Tên của 1 bộ kinh. Nói chung, các sách Phật bằng tiếng Phạm, bất luận là kinh, luật, luận, ở đầu quyển đều có bài tựa qui kính, kế đến là phần chính văn, cuối cùng mới nêu tên sách. Các sách Phật Tạng dịch, trước hết ghi tên kinh bằng tiếng Phạm và tên Tây tạng dịch, kế đến là bài tựa qui kính và phần chính văn, cuối cùng có phụ thêm tên Tây tạng dịch và lời bạt nói về việc phiên dịch và hiệu đính, v.v... Về kinh điển Hán dịch thì phần nhiều lược bỏ bài tựa qui kính, mà đặt thủ đề và dịch đề ở trước phần chính văn và vĩ đề đặt ở phía sau. Ở trước tên kinh, dù là kinh Đại thừa hay kinh Tiểu thừa, thông thường đều có 2 chữ Phật thuyết như: Phật thuyết Đại tập pháp môn kinh, Phật thuyết Vô lượng thọ kinh, Phật thuyết Thủ lăng nghiêm tam muội kinh, v.v... Ngoài ra, trong Kim cương bát nhã kinh sớ quyển 1, ngài Cát tạng nói có 2 loại kinh đề: Đầy đủ và gọi tắt. Như: Phật thuyết Kim cương bát nhã là đầy đủ, còn Kim cương bát nhã là gọi tắt. [X. Tịnh danh huyền luận Q.2 (Cát tạng); Đại thừa tứ pháp kinh thích (bản Đôn hoàng)].

kinh địa tạng

Ksitigarbhapranidhana-Sutra—Kinh Địa Tạng, nói về một vị Bồ Tát ở vào thời kỳ vô Phật, tức là thời kỳ giữa lúc Phật Thích Ca nhập diệt và Phật Di Lặc ra đời. Trong thời ký nầy không có một vị Phật nào cả; tuy nhiên, thế giới Ta Bà vẫn có Bồ Tát Địa Tạng với bổn nguyện rộng lớn là cứu độ mọi chúng sanh đau khổ của địa ngục. Kinh được Ngài Thật Xoa Nan Đà dịch sang Hán tự—Earth Store Sutra mentioned about the Buddhaless period, the period from the time the nirvana of the historical Buddha until the time the coming Buddha Maitreya descends. In this period, ther is no Buddha; however, the Saha world still has Earth-Store Bodhisatva who vows to save all beings in hells. The sutra was translated into Chinese by Siksananda.

kinh đồng

5554又作如法經筒。爲安置經卷之容器,多以木刳成圓筒形、八角形,附上金銀泥繪之花紋,若埋於地中者,爲避免腐朽,每鍍以金銀,或改以鐵、陶、石等製之。元魏僧慧思惟恐佛教於末法時期滅亡,希望五十六億年後彌勒佛出現世間之前,佛教經典猶能獲得妥善保存與流傳,遂有經筒之製作,相傳此係發現於慧思所作之願文中,然其詳細事例則未經考證。 日本普遍流行經筒之製造,其原因乃是爲先靈追祈冥福及與眾生結緣,其中最著名者,以藤原道長於寬弘四年(1007)在奈良金峰山所埋者爲最古。此外,於日本歷代中,以鎌倉、足利時代最爲盛行。於後世出土之經筒,形狀不一,早期之經筒高約二十公分至三十公分,口徑爲十五公分者很多,製作精巧;其後被發掘出來者,外形較小,形式亦較樸素。質料有青銅、銅、銅板、白銅、鐵、陶、石、瓦、素陶、土製等多種,蓋子有多種形狀,很多經筒在蓋面加上銘刻。(參閱「經冢」5553) ; (經筒) ..... Cũng gọi Như pháp kinh đồng. Những ống hình tròn hoặc hình bát giác phần nhiều làm bằng gỗ, bên ngoài có vẽ hoa văn bằng mực kim nhũ, nếu chôn xuống đất, thì mạ vàng, bạc, hoặc đổi làm bằng sắt, sứ, đá, v.v... để khỏi bị mục nát. Ngài Tuệ tư ở thời Nguyên Ngụy, sợ rằng thời mạt pháp Phật giáo sẽ bị diệt mất, cho nên ngài chế tạo Kinh đồng để cất giữ kinh văn, với niềm hy vọng 5.600.000 năm sau, trước khi Phật Di lặc ra đời, các kinh điển Phật giáo vẫn được bảo tồn nguyên vẹn và lưu truyền tốt đẹp. Tương truyền, điều này được thấy trong văn phát nguyện của ngài, nhưng sự thật về việc này chưa khảo chứng được rõ ràng. Ở Nhật bản, cách chế tạo Kinh đồng được lưu hành phổ biến, lí do là để cầu siêu cho vong linh và kết duyên với chúng sinh. Trong đó, những Kinh đồng nổi tiếng và xưa nhất là những Kinh đồng do Đằng nguyên Đạo trường chôn ở núi Kim phong tại huyện Nại lương vào năm Khoan hoằng thứ 4 (1007). Ngoài ra, tại Nhật bản, Kinh đồng được thịnh hành nhất là thời đại Liêm thương và thời Túc lợi. Đời sau người ta đào được những Kinh đồng với nhiều hình dáng khác nhau. Kinh đồng ở thời kỳ đầu cao khoảng 20 đến 30 phân Tây, đường kính trên miệng rộng nhất là 15 phân, chế tạo rất khéo. Còn những Kinh đồng ở thời kì sau thì hình ngoài nhỏ hơn, kiểu dáng cũng sơ sài hơn. Chất liệu cũng có nhiều loại, hoặc bằng đồng, đồng xanh, đồng vàng, sắt, sứ, đá, v.v... Nắp Kinh đồng cũng có nhiều hình dạng và trên nhiều nắp có khắc chữ. (xt. Kinh Trủng).

kinh ưu ba đế sa môn

Upatisa-pasine sŪtra (S).

kinh ưu bà li

, (MN56), Upāli sŪtra (S).

kinh ưu đàm bà la sư tử hống

Udumbarika-Sihanada suttanta (P)Tên một bộ kinh.

kinh ương quật ma la hộ

Aṅgulimālaparitta (S)Tên một bộ kinh.

kinh ước nguyện

, (MN6), Akankheyya-suttam (P).

kiêm

Cả hai—Both—Also.

kiêm hành lục độ phẩm

4053指天台觀行五品中之第四品。法華經分別功德品就如來入滅後之弟子,說五品之功德,其中之第四品即兼行六度品;蓋此品除修正觀外,又兼行布施、持戒、忍辱、精進、禪定、般若等六度以助觀心,故稱兼行六度品。〔大明三藏法數卷二十、天台四教儀集註卷下〕(參閱「五品弟子位」1118) ; (兼行六度品) Chỉ cho phẩm thứ 4 trong 5 phẩm quán hạnh của tông Thiên thai. Phẩm Phân biệt công đức kinh Pháp hoa, đối với các vị đệ tử sau khi đức Như lai nhập diệt mà nói về công đức của 5 phẩm quán hạnh, trong đó, phẩm thứ 4 tức là phẩm Kiêm hành lục độ. Nội dung phẩm này, ngoài việc tu chính quán ra, còn tu cả Lục độ là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, Thiền định và Bát nhã để giúp cho việc quán tâm, vì thế gọi là phẩm Kiêm hành lục độ. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.20; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ]. (xt. Ngũ Phẩm Đệ Tử Vi).

kiêm kế bồ tát

Suvarnacuda (S)Tên một vị Bồ tát.

kiêm lưỡng dụng trung

4053對於「乃至」一詞的解釋方法之一。如舉一至一百之數,僅取一與百兩端之數,而省略其中間之數。(參閱「乃至」125)

kiêm lợi

4053自利而利人,是為人我兼利。此乃大乘菩薩之基本精神。〔無量壽經卷上、摩訶止觀卷五上〕 ; Cả hai cùng có lợi (cả mình lẫn người đều được lợi lạc)—Mutual benefit; to benefit self and others. ; (兼利) Lợi mình và lợi người, đây là tinh thần cơ bản của Bồ tát Đại thừa. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].

Kiêm đái (đới)

兼帶; C: jiāndài; J: kentai;|Dùng một việc cho hai hay nhiều mục đích.

Kiêm đái 兼帶

[ja] ケンタイ kentai ||| The use of one thing for two or more purposes. => Dùng một việc cho hai hay nhiều mục đích.

kiêm đãn đối đới

4053天台宗五時判教中,前四時之名目。第一華嚴時,圓教兼別教而說,故謂「兼」。第二阿含時,但說藏教,故謂「但」。第三方等時,藏、通、別、圓四教相對而說,故謂「對」。第四般若時,圓教挾帶藏、通、別之三者而說,故謂「帶」。法華玄義卷一上(大三三‧六八二中):「當知華嚴兼,三藏但,方等對,般若帶。此經無復兼但對帶,專是正直無上之道,故稱為妙法也。」 ; (兼但對帶) Tên gọi chung 4 giáo trước trong 5 thời phán giáo của tông Thiên thai. Thời thứ 1 là thời Hoa nghiêm, nói gồm cả Viên giáo và Biệt giáo, cho nên gọi là Kiêm. Thời thứ 2 là thời A hàm, chỉ nói về Tạng giáo, cho nên gọi là Đãn. Thời thứ 3 là thời Phương đẳng, nói chung cả 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên đối nhau, cho nên gọi là Đối. Thời thứ 4 là thời Bát nhã, nói về Viên giáo kèm theo Tạng, Thông, Biệt, cho nên gọi là Đới(đeo theo). Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1 thượng (Đại 33, 682 trung), nói: Nên biết Hoa nghiêm là Kiêm, Tam tạng là Đãn, Phương đẳng là Đối, Bát nhã là Đới. Kinh này (Pháp hoa) thì không kiêm, không đãn, không đối, không đới, mà chỉ nói về đạo chính chân vô thượng, cho nên gọi là Diệu pháp.

kiêm đản đối đới

Bốn thời kỳ đầu của giáo thuyết Phật Đà được tông Thiên Thai định nghĩa là Kim Đản Đối Đới (bốn thời kỳ nầy đều nói về tướng)—The first four of the five periods of Buddha's teaching defined by the T'ien-T'ai sect. 1) Kim: Thời Hoa Nghiêm nói về Viên Giáo và Biệt Giáo—Combined teaching, including the complete and differentiating doctrines, the period of Avatamsaka Sutra. 2) Đản: Thời A Hàm chỉ nói về Tạng Giáo Tiểu Thừa—Sole, i.e. Hinayana only, that of Agamas. 3) Đối: Thời Phương Đẳng, bốn giáo Tạng Thông Biệt Viên được thuyết giảng đối chiếu với nhau—Comparative, all four forms of doctrines being compared, the period of the Vaipulya Sutras. 4) Đới: Thời Bát Nhã Viên giáo được hé mở để hoàn thiện những giáo thuyết ở Tạng Thông Biệt—Inclusive, that of the Prajna, when the perfect teaching was revealed as the fulfilment of the rest.

Kiên

堅; C: jiān; J: ken; S: kathina|Có các nghĩa sau: 1. Cứng, mạnh, rắn, chắc, không linh động; 2. Sự cứng rắn có thể thấy được nơi tảng đá. Phẩm chất đặc biệt của địa đại; 3. Nhất định, kiên quyết. Duy trì; 4. Tôi luyện, củng cố, tăng cường; 5. Áo giáp; 6. Nặng.

kiên

Drdha, sthìra (S). Firm, fimly fixed, reliable. ; 1) Vai: Shoulder. 2) Kiên định: Drdha (skt)—Firm—Firmly fixed—Reliable.

kiên chí

Persevering—Constant—Patient

Kiên chấp

堅執; C: jiānzhí; J: kenshū; |Chấp cứng, chấp chặc.

Kiên chấp 堅執

[ja] ケンシュウ kenshū ||| Rigid attachement; to hold firmly to. 〔瑜伽論T 1579.30.622a〕 => Chấp cứng, chấp chặc.

kiên cung tiễu lí

Dùng đòn gánh quải hành lí và treo giày, rồi gánh trên vai; chỉ tăng nhân du phương hành cước. Tiết Thắng Nhân Hoặc Tĩnh Thiền sư trong NĐHN q. 18 ghi: »肩 筇 峭 履、 乘 興 而 行。 掣 釣 沉 絲、 任 性 而 住。 – [i]Tăng nhân hành cước theo sở thích mà đi, thăm dò bậc thiện tri thức hễ khế hợp thì ở[/i]«.

Kiên cố

堅固; C: jiāngù; J: kengo; |Có các nghĩa sau: 1. Vững chắc, kiên định; 2. Có một khuynh hướng cố hữu về tính vĩnh cửu (s: anitya-asāra-saṃjñā); 3. Tồn tại cụ thể (s: dhrdha-sāra); 4. Không giảm bớt, không lui sụt, không tái phạm; 5. Dứt khoát.

kiên cố

Firm and sure. ; Vững chắc không thay đổi hay không bị lay chuyển—Firm and sure.

kiên cố huệ

Trí huệ không gì lay chuyển được—Strong in wisdom.

kiên cố kinh

4447後秦佛陀耶舍、竺佛念共譯。收於大正藏第一冊長阿含經卷十六。此經敘及佛在那難陀城之時,有長者子名堅固,三次乞請於佛,期佛能敕諸弟子為不信佛之婆羅門長者子、居士示現神足,顯上人法,令此等人信服。佛則告示(大一‧一○一中):「我但教弟子,於空閑處,靜默思道,若有功德當自覆藏,若有過失當自發露。」並解說為何不令弟子顯現神足、上人法之原因。 ; (堅固經) Kinh, do ngài Phật đà da xá và ngài Trúc phật niệm cùng dịch vào đời Hậu Tần, Trung quốc, được thu vào Trường a hàm quyển 16 trong Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này tường thuật việc khi đức Phật ở tại thành Na nan đà, có 1 trưởng giả tên là Kiên cố, 3 lần xin đức Phật cho phép các vị đệ tử được thị hiện thần túc và pháp thượng nhân để khiến cho các trưởng giả Bà la môn tin phục. Đức Phật liền bảo trưởng giả Kiên cố rằng (Đại 1, 101 trung): Ta chỉ dạy các đệ tử của ta ở những nơi vắng vẻ, tĩnh lặng để tư duy về đạo, nếu có công đức thì nên tự dấu đi, còn nếu phạm lỗi lầm thì phải tự bày tỏ. Sau đó, đức Phật giải thích lí do vì sao Ngài không cho phép các đệ tử thị hiện thần thông và pháp thượng nhân.

kiên cố lâm

4446即娑羅樹林。娑羅,梵語 śāla,巴利語 sāla,意譯為堅固,於慧苑音義卷下則以為譯作高遠較正確。堅固林,又稱為堅林、雙樹林、鶴林、四枯四榮樹。翻譯名義集卷三謂,此樹冬夏不凋而堅固,因以為名。佛陀在拘尸那揭羅城跋提河邊,將入涅槃時,其臥床四周各有同根娑羅樹一雙,此林即為佛陀涅槃之處。〔玄應音義卷二〕(參閱「娑羅樹」4079) ; The grove of Sàla trees, in which Sàkyamuni died. ; Rừng cây Sa La nơi Đức Phật nhập diệt (vì rừng cây Sa La không hề tàn dù hạ hay dù đông nên gọi là Kiên Cố Lâm)—The grove of Sala trees, in which Sakyamuni died. ; (堅固林) Tức là Sa la thụ lâm. Sa la, Phạm:Zàla.Pàli:Sàla. Dịch ý: Kiên cố. Cũng gọi: Kiên lâm, Song thụ lâm, Hạc lâm, Tứ khô tứ vinh thụ. Theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ,Zàla dịch là Cao viễn thì chính xác hơn. Còn Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 3, thì cho rằng loại cây này cứng chắc, mùa hạ mùa đông không thay đổi, nên gọi là kiên cố (Zàla). Tại thành Câu thi na yết la, bên bờ sông Bạt đề, lúc đức Phật sắp vào Niết bàn, chỗ đặt giường nằm của Ngài, ở 4 góc đều có câyZàla. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.2]. (xt. Sa La Thụ).

kiên cố nữ

4446昔佛在祇樹給孤獨園,說女人欲發大心,應離諂曲、嫉妒、貪瞋、邪偽等諸過,堅固優婆夷即於佛前合掌,發願言:我欲利益眾生故,而發大菩提心,修菩薩行。佛並為之授記。〔堅固女經〕 ; (堅固女) Tên một người Ưu bà di, phát tâm bồ đề, tu hạnh Bồ tát. Thủa xưa, lúc đức Phật ở tại vườn cây của thái tử Kì đà và ông Cấp cô độc nói về việc người nữ muốn phát tâm rộng lớn, thì phải xa lìa các lỗi nịnh hót, ghen ghét, tham lam, tà ngụy, v.v... Khi ấy, ưu bà di Kiên cố liền ở trước đức Phật chắp tay phát nguyện rằng: Con vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh, nên phát tâm đại bồ đề, tu hạnh Bồ tát. Phát nguyện xong, ưu bà di Kiên cố được đức Phật thụ kí. [X. kinh Kiên cố nữ].

kiên cố nữ kinh

4446全一卷。又稱牢固女經。隋代那連提耶舍(517~589)譯於開皇二年(582)。收於大正藏第十四冊。內容引述堅固女優婆夷為不斷絕佛種與一切智種,並為利益一切眾生,乃發無上菩提心願,而非為無始無際流轉生死之恐怖;故經中基於大乘之立場,主張修行應以廣利眾生之大丈夫事為志,而排斥聲聞、緣覺、辟支佛等小乘羅漢之見地。〔歷代三寶紀卷十二、大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷七〕 ; (堅固女經) Cũng gọi Kiên lao nữ kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Na liên đề da xá (517-589) dịch vào năm Khai hoàng thứ 2 (582) đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này kể lại việc ưu bà di Kiên cố vì muốn làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh không đoạn dứt hạt giống Phật và hạt giống Nhất thiết trí, nên phát tâm vô thượng bồ đề, không sợ sinh tử lưu chuyển trong 3 cõi. Kinh này đứng trên lập trường của Đại thừa, chủ trương người tu hành phải lập chí của bậc đại trượng phu làm lợi ích rộng lớn cho hết thảy chúng sinh, đồng thời, chê bai chỗ thấy biết của Tiểu thừa, La hán, Thanh văn, Duyên giác, Bích chi Phật... [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].

kiên cố pháp thân

4446禪宗公案名。又作大龍敗壞法身、大龍法身。為宋代僧大龍山智洪弘濟答一僧之問,顯示色身之外,法身無可覓者。碧巖錄第八十二則(大四八‧二○八上):「僧問大龍:『色身敗壞,如何是堅固法身?』龍云:『山花開似錦,澗水湛如藍。』」此蓋以山花澗水之當體即實相,表示五蘊假和合之身即金剛不壞之法身。〔五燈會元卷八、禪宗頌古聯珠通集卷三十五〕 ; (堅固法身) Cũng gọi Đại long bại hoại pháp thân, Đại long pháp thân. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc thiền sư Trí hồng Hoằng tế đời Tống ở núi Đại long, trả lời câu hỏi của một vị tăng. Tắc 82 Bích nham lục (Đại 48, 208 thượng) chép: Tăng hỏi Đại long: Sắc thân rữa nát, thế nào là pháp thân kiên cố? Đại long đáp: Hoa núi nở như gấm, nước khe trong như gương. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.8; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.35].

kiên cố thân tâm bồ tát

Xem Kiên Cố ý Bồ tát.

kiên cố trưởng giả

4446梵名 Muktā-sāra。又稱堅固解脫長者。略稱堅固。為善財童子遍求法門,遊行南方所參訪五十五善知識之第四十六位。華嚴經入法界品(大一○‧八七八上):「爾時,善財(中略)於一面立,白言:『聖者!我已先發阿耨多羅三藐三菩提心,而未知菩薩云何學菩薩行、修菩薩道?我聞聖者善能誘誨,願為我說。』長者答言:『善男子!我得菩薩解脫,名無著清淨念。我自得是解脫已來,法願充滿,於十方佛所,無復悕求。善男子!我唯知此淨念解脫。』」(參閱「五十三參」1048) ; Muktasara (S)Vị thiện tri thức thứ 46 trong số 55 vị mà Thiện Tài đồng tử tham bái. ; (堅固長者) Phạm:Muktà-sàra. Cũng gọi: Kiên cố giải thoát trưởng giả. Gọi tắt: Kiên cố. Vị thiện tri thức thứ 46 trong số 55 vị thiện tri thức ở phương nam mà Đồng tử Thiện tài đến tham vấn trên đường cầu pháp. Phẩm Nhập giới kinh Hoa nghiêm (Đại 10, 878 thượng), chép: Bấy giờ, Thiện tài (...) đứng ở 1 bên bạch rằng: Thánh giả! Tôi đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nhưng chưa biết học hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát như thế nào? Tôi nghe Thánh giả có thể dạy bảo, xin Ngài dạy cho. Trưởng giả đáp: Thiện nam tử! Tôi được pháp giải thoát của Bồ tát, tên là Thanh tịnh niệm vô trước. Từ khi tôi được giải thoát đến nay, pháp nguyện đầy đủ, nơi chư Phật 10 phương, không còn mong cầu. Thiện nam tử! Tôi chỉ biết pháp tịnh niệm giải thoát này.

kiên cố tuệ

Strong in wisdom.

kiên cố xá lợi

4446指不能破壞之佛的真實法身。妙法蓮華經憂波提舍卷上(大二六‧三上):「名一切諸佛堅固舍利者,謂如來真實法身,於此修多羅不敗壞故。」 ; (堅固舍利) Chỉ cho pháp thân chân thực của Phật không thể bị phá hoại. Diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá quyển thượng (Đại 26, 3 thượng) chép: Nói xá lợi kiên cố của tất cả chư Phật, có nghĩa là pháp thân chân thực của Như lai không thể bị phá hoại.

kiên cố ý

Firm-willed, name of a Bodhisattva in the Garbhadhàtu. ; Ý chí vững chắc không gì lay chuyển được—Firm-willed.

kiên cố ý bồ tát

4446堅固意,梵名 Dṛḍhādhyāśaya,音譯涅哩荼地也捨也、地利呾地也舍夜。西藏名 Lhag-paḥi bsam-pa brtan-pa。又作堅固惠菩薩、堅固菩薩、堅固深心菩薩、堅意菩薩。密教胎藏界地藏院九尊之一。位於胎藏界曼荼羅地藏院第八尊,亦即介於除蓋障菩薩與持地菩薩之間。其形像,身呈肉色,右手持開敷蓮花,花上有火焰乘載羯磨金剛,左手握拳向上置膝上,坐於赤蓮花上。種子為???(ṇaṃ),表示內證堅固不壞。三昧耶形為蓮上十字金剛。又堅固,名地大;意,指地大之心德,合此三字而詮顯地藏菩薩之內證。此尊利益眾生逾越其他諸尊,故密號超越金剛。〔大日經疏卷五、攝大儀軌卷中、胎藏界曼荼羅尊位現圖鈔〕 ; Dṛdhadhyasaya (S)Niết Rị Đồ Địa Dã Xá Dã, Kiên Cố Thân Tâm Bồ tátTên một vị Bồ tát. ; Kiên Cố Ý Bồ Tát trong Thai Tạng Giới—Firm-Willed Bodhisattva in the Garbhadhatu. ; (堅固意菩薩) Kiên cố ý, Phạm:Dfđhàdhyàzaya. Dịch âm: Niết lí đồ địa dã xá dã, Địa lợi đát địa dã xá dạ. Tạng: Lhag-pa#i bsam-pa brtan-pa. Cũng gọi: Kiên cố huệ bồ tát, Kiên cố bồ tát, Kiên cố thâm tâm bồ tát, Kiên ý bồ tát. Vị tôn thứ 8 ngồi ở khoảng giữa bồ tát Trừ cái chướng và bồ tát Trì địa, là 1 trong 9 tôn vị của viện Địa tạng trong Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Hình tượng của vị tôn này, thân mầu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, tay phải cầm hoa sen nở, trên hoa sen có ngọn lửa yết ma kim cương, tay trái nắm lại, ngửa lên, đặt trên đầu gối. Chủng tử là (ịaô), biểu thị nội chứng kiên cố không hư hoại. Hình Tam muội da là 10 chữ kim cương trên hoa sen. Ngoài ra, Kiên cố còn chỉ cho địa đại, Ý chỉ cho tâmđức của địa đại. Ba chữ Kiên cố ý hợp lại là hiển bày đức nội chứng của bồ tát Địa tạng. Vị tôn này làm lợi ích cho chúng sinh hơn hẳn các vị tôn khác, cho nên có mật hiệu là Siêu việt kim cương. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Nhiếp đại nghi quĩ Q.trung; Thai tạng giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao].

Kiên cố 堅固

[ja] ケンゴ kengo ||| (1) Solid, firm. (2) Possessing an inherent tendency towards permanence (anitya-asāra-saṃjñā). (3) Concretely existent (dhrdha-sāra). (4) Unrelenting, non-retreating, non-backsliding. (5) Definitely. => Có các nghĩa sau: 1. Vững chắc, kiên định. 2. Có một khuynh hướng cố hữu về tính vĩnh cửu (s: anitya-asāra-saṃjñā). 3. Tồn tại cụ thể(s: dhrdha-sāra). 4. Không giảm bớt, không lui sụt, không tái phạm. 5. Dứt khoát.

kiên dà

Kimnara (S). Human head bird.

kiên dục

Kanpila (S).

kiên gan

Persevering—Patient.

kiên huệ

4448梵名 Sāramati。音譯娑囉末底。據大乘法界無差別論疏卷上所載,為中印度那爛陀寺之僧,佛示寂後七百年之剎帝利種,少聰叡逸群,遍學世典。出家學道後,所習大小乘教,慧解踰明,無不綜練,然與大乘思想較契合。所著究竟一乘寶性論、法界無差別論,皆顯大乘真實究竟之說。大唐西域記卷十一伐臘毘國條載,師遊止伐臘毘國,與德慧並稱於世,共製阿折羅論,闡揚法理。然德慧年代比佛示寂後九百年左右之世親還晚,故與前項所載堅慧之生存年代有出入。 又另有諍論,即此堅慧是否與撰「法界無差別論」之堅慧、撰「入大乘論」之堅意(梵 Sthiramati,或作 Sāramati)為同一人。關於此諍論,或謂前二者為同一人,或依梵名相同而謂三者為同一人。〔大唐西域記卷九摩揭陀國條、華嚴經傳記卷一〕 ; Saramati (S)Tên một vị sư Ấn độ thế kỷ V.

kiên huệ (tuệ)

Sthiramati (S). Of firm mind, or wisdom. An early Indian monk of the Mahàyàna.

kiên huệ bồ tát

Kien-Hoei (C), Sthirambodhi (S)Một trong 10 đại luận sư của Duy Thức Tông. Chân ngôn của Ngài là: Namo Samanta Buddhanam Jĩanodbhava Svaha (Nam ma ta mạn đa bột đà nam ngữ noa ốt bà phược sa ha = Qui mạng Phổ biến Chư Phật Trí sanh Thành tựu)Xem Kiên ý Bồ tát.

kiên hành thiên tử

4444即牽日輪、月輪二車之天子,比喻甚為疾速。法苑珠林卷一(大五三‧二七三中):「彼天捷疾不及日月二輪,二輪捷疾不及堅行天子。」 ; (堅行天子) Vị Thiên tử kéo xe mặt trời, mặt trăng, ví dụ sự việc rất nhanh chóng. Pháp uyển châu lâm quyển 1 (Đại 53, 273 trung), nói: Sự nhanh chóng của vị trời kia không sánh kịp mặt trời mặt trăng, sự nhanh chóng của mặt trời mặt trăng không sánh kịp thiên tử Kiên hành.

kiên hạ

Vai kề vai—Shoulder by shoulder—One next to another.

kiên hắc chiên đàn

Santal-kalanusarin (S)Thứ chiên đàn rất quí. ; Kalànusàrin (S). Very precious sandalwood.

kiên hữu

Chúng sinh thâm căn cố đế cho rằng vạn vật ở thế gian là có thật, Phật gia gọi đó là »kiên hữu«, nghĩa là chấp trước vào »hữu« một cách ngoan cố. [i]Tử Bách lão nhân tập[/i] q. 1 ghi: »眾 生 㬵 固 于 根 塵 之 習,久 積 成 堅,卒 不 易 破, 故 諸 佛 菩 薩 先 以 空 藥 治 其 堅 有 之 病。– [i]Chúng sinh dính chặt vào thói quen của căn trần, tích chứa lâu ngày thành cứng chắc, cuối cùng không dễ gì phá vỡ, cho nên chư Phật Bồ tát trước tiên lấy thuốc không để trị bệnh chấp có[/i]«.

kiên kết

bỏn sẻn

kiên lao

Firm and stable; that which is stable, the earth. ; Chỉ sự vững chắc của đất—Firm and stable; that which is stable, the earth.

kiên lao tâm

4445指堅固之正信心。以正信為堅牢而不破,故稱為堅牢心。本行集經卷六(大三‧六八一上):「正信是法明門,不破堅牢心故。」 ; (堅牢心) Chỉ cho tâm chính tín bền vững, không chuyển lui. Kinh Bản hạnh tập quyển 6 (Đại 3, 681 thượng), nói: Chính tín là cửa đưa đến trí tuệ sáng suốt, hiểu thấu các pháp, nhờ đó mà lòng tin bền vững, không gì phá hoại được.

kiên lao địa thiên

4445梵名 Pṛthivī。音譯比里底毘、鉢羅體吠、畢哩體微。又作堅牢、堅固地神、堅牢地神、地神天、堅牢地祇、持地神、地天。色界十二天之一。乃主掌大地之神。據大唐西域記卷八載,釋迦牟尼佛成道時,第一地神由地湧出,降伏諸魔,第二地神再出,為佛明證。方廣大莊嚴經卷九降魔品亦載,佛剛成道,地神為作證明,從地湧出,曲躬恭敬,捧盛滿香花之七寶瓶供養。 密教胎藏界曼荼羅安列男女二天,男天身赤肉色,戴寶冠,左手捧鉢,鉢中有鮮花,右掌向外安置胸前,坐圓座,三昧耶形為寶瓶,種子為???(pṛ);女天居男天左側(或後方),身白肉色,戴寶冠,右手安置胸前,左手置於股上,亦坐圓座。金剛界曼荼羅成身會則是白色女身形,開兩臂抱持圓輪,寶冠中有半月,種子為???(aṃ),三昧耶形為方形或寶瓶。 此神原係印度太古時代崇祀之神,梨俱吠陀、阿闥婆吠陀等讚頌彼為具有偉大、堅固、不滅性、群生繁育、土地繁生等諸德之女神,梨俱吠陀更以之為諸神之母,而尊稱為地母(梵 Bhūmī),金光明最勝王經卷八載為堅牢地神(梵 Dṛḍhā-pṛthivī-devatā),即由其堅固之德而來,其後,佛教尊為菩薩而崇祀之。 新華嚴經卷一世主妙嚴品說微塵數之主地神,列舉普德淨華主地神、堅福莊嚴主地神、妙華嚴樹主地神、普散眾寶主地神、淨目觀時主地神、妙色勝眼主地神、香毛發光主地神、悅意音聲主地神、妙華旋髻主地神、金剛嚴體主地神等。密教為求福、鎮地、國土豐饒,而修之供養法,即稱地天供或土公供。〔雜阿含經卷十五、佛本行集經卷二十九、大日經卷一具緣品、五分律卷十五、大毘婆沙論卷一八三、大日經疏卷四、青龍寺儀軌卷下、祕藏記、諸說不同記卷九〕 ; Dṛthivi (S)Địa thiên, Địa Thần thiên, Trì Địa thầnTên một vị thiên. Một trong 12 vị trời ở Sắc giới. ; (堅牢地天) Phạm:Pfthivì. Dịch âm: Tỉ lí để tì, Bát la thể phệ, Tất lí thể vi. Cũng gọi: Kiên lao, Kiên cố địa thần, Kiên lao địa thần, Địa thần thiên, Kiên lao địa kì, Trì địa thần, Địa thiên. Vị thần coi về đất đai. Một trong 12 vị trời ở cõi Sắc. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8, khi đức Phật Thích ca thành đạo, có vị Địa thần thứ 1 từ dưới đất vọt lên để hàng phục các ma, rồi đến vị Địa thần thứ 2 xuất hiện để minh chứng sự thành đạo của Ngài. Phẩm Hàng ma trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 9 cũng chép: Đức Phật vừa thành đạo thì Địa thần từ dưới đất vọt lên để chứng minh, cúi mình cung kính, bưng chiếc bình làm bằng 7 thứ báu, trong đó đựng đầy hương hoa, dâng cúng dường Phật. Trong Mạn đồ la Thai tạng của Mật giáo có vẽ 2 vị Kiên lao địa thiên nam và nữ. Vị Địa thiên nam ngồi trên tòa tròn, thân mầu đỏ, đội mũ báu, tay trái bưng bát, trong bát có hoa tươi, tay phải đặt ở trước ngực, bàn tay hướng ra ngoài, hình Tam muội da là bình báu, chủng tử là (pf). Vị Địa thiên nữ ở bên trái(hoặc phía sau)vị Địa thiên nam, cũng ngồi trên tòa tròn, thân mầu trắng, đội mũ báu, tay phải để trước ngực, tay trái đặt trước bụng. Trong hội Thành thân của Mạn đồ la Kim cương giới thì vị tôn nữ này 2 cánh tay ôm một vòng tròn, trong mũ báu có hình bán nguyệt, chủng tử là (aô), hình Tam muội da là hình vuông hoặc bình báu. Vào thời thái cổ, tại Ấn độ, vị thần này rất được tôn sùng. Các sách Lê câu phệ đà, A thát bà phệ đà, v.v... đều ca tụng vị nữ thần này có đủ các đức tính vĩ đại, kiên cố, bất diệt, nuôi dưỡng quần sinh, sinh trưởng đất đai... Lê câu phệ đà còn cho vị thần này là mẹ của các thần và tôn xưng là Địa mẫu (Phạm:Bhùmì). Kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 8 cho rằng tên gọi Kiên lao địa thần (Phạm:Dfđhà-pfthivì-devatà) là do cái đức bền chắc của vị thần này mà ra, về sau vị thần này được Phật giáo tôn làm Bồ tát và thờ cúng. Phẩm Thế chủ diệu nghiêm trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) nói có vô lượng vô số Chủ địa thần như: Phổ đức tịnh hoa chủ địa thần, Kiên phúc trang nghiêm chủ địa thần, Diệu hoa nghiêm thụ chủ địa thần, Phổ tán chúng bảo chủ địa thần, Tịnh mục quan thời chủ địa thần, Diệu sắc thắng nhãn chủ địa thần, Hương mao phát quang chủ địa thần, Duyệt ý âm thanh chủ địa thần, Diệu hoa toàn kế chủ địa thần, Kim cương nghiêm thể chủ địa thần, v.v... Trong Mật giáo, pháp tu cúng dường để cầu cho đất nước phồn vinh, giữ yên quốc thổ, thì gọi là Địa thiên cúng hoặc Thổ công cúng. [X. kinh Tạp a hàm Q.15; kinh Phật bản hạnh tập Q.29; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; luật Ngũ phần Q.15; luận Đại tì bà sa Q.183; Đại nhật kinh sớ Q.4; Thanh long tự nghi quĩ Q.hạ; Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.9].

kiên lao địa thiên nghi quỹ

4445全一卷。又作地天儀軌。唐代善無畏譯於開元五年至二十三年(717~734)。收於大正藏第二十一冊。內容敘述禮拜恭敬供養堅牢地天及功德天,並誦其真言,結其根本身印者,能增益壽命,精進勤行,得大辯才、大智慧,及無量福德,並圓滿諸事業。又列示其他種種能獲得福報之作法。本儀軌雖將堅牢地天與功德天並舉,然主要在述說堅牢地天利益人天之事。 ; (堅牢地天儀軌) Cũng gọi Địa thiên nghi quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Thiện vô úy dịch vào năm Khai nguyên thứ 5-23 (717- 734), thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung trình bày nghi thức lễ bái cung kính cúng dường Kiên lao địa thiên và Công đức thiên; đồng thời, nói về cách tụng chân ngôn và kết ấn Căn bản thân của vị trời này, v.v... Nếu tu hành tinh tiến thì sẽ được đại biện tài, đại trí tuệ, được tăng thêm tuổi thọ, công đức vô lượng và mọi sự nghiệp đều viên mãn. Nghi quĩ này tuy nói về Kiên lao địa thiên và Công đức thiên, nhưng chủ yếu là trình bày việc làm lợi ích cho trời, người của Kiên lao địa thiên.

kiên lao địa thần

The earth-goddess, or deity, or spirits. ; Còn gọi là Kiên Lao Địa Thiên, hay Kiên Lao Địa Kỳ, tên của vị Nữ Thần Đại Địa, tức là đất vững bền và Thần kiên cố—The earth-goddess, or deity, or spirit.

kiên mãn bồ tát

DhṛtiparipŪrṇa (S)Vị Bồ tát được thọ ký thành Phật vị lai tiếp theo Phật Hoa Quang. ; Dhrtiparipùrna (S). The firm and complete Bodhisattva. ; Dhrtiparipurna (skt)—Vị Bồ Tát kiên cố viên mãn, về sau thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Phật—The firm and complete bodhisattva, who is to be Buddha Padma-vrsabha-vikramin, attending on Padmaprabha.

kiên ngạnh mộc

xem khư-đà-la.

kiên nhẫn

Persevering—Patient.

kiên nhẫn ba la mật

Khantipāramitā (P), Perfection of Forbearance Sằn đề Ba la mật, Nhẫn (nhục) Ba la mật.

kiên pháp

4447指修習捨棄身、命、財三種,而得堅固不壞之法。修道者忘卻身命、棄捨財寶等,而獲得無極之身、無窮之命、無盡之財,此三種天地焚而不燒,劫數盡而不盡,故稱堅法。維摩詰所說經卷上(大一四‧五四三上):「當觀五欲無常,以求善本,於身、命、財而修堅法。」 菩薩瓔珞本業經卷上列舉六種堅法:(一)信堅,別教菩薩於十住位修習空觀,知一切法皆為真諦而無毀壞。(二)法堅,別教菩薩於十行位修習空觀,知一切法皆為俗諦而無毀壞。(三)修堅,別教菩薩於十回向位修習中觀,知一切法皆為中諦而無毀壞。(四)德堅,別教菩薩於十地位修習中觀,破一分無明,顯一分三德而不毀壞。(五)頂堅,別教等覺菩薩居十地之頂,破惑顯德而不毀壞。(六)覺堅,別教妙覺果佛覺了一切法皆為中道而不毀壞。 ; Ba việc bảo đảm cho những người tín tâm vào tái sanh (ý nói nếu quên đi thân mệnh, vứt bỏ của cải thế tục mà tu đạo thì sẽ có được cái thân vô cực, cái mệnh vô cùng, và cái tài vô tận)—The three things assured to the faithful in reincarnation. 1) Thân tướng hảo: Người tu đạo sẽ được cái thân vô cực—A good body. 2) Trường Thọ: Mệnh vô cùng—A long life. 3) Tài sản vô biên: Tài vô tận—Boundless wealth. ; (堅法) Pháp bền chắc không hư nát. Người tu hành xả bỏ thân mệnh và tài sản quí báu thì đạt được thân vô biên, mệnh vô cùng, tài sản vô tận. Ba thứ ấy cho dù trời đất có bị thiêu hủy thì nó cũng không bị mất, kiếp số có cùng tận thì nó cũng không hết, vì thế nên gọi là Kiên pháp. Kinh Duy ma cật sở thuyết quyển thượng (Đại 14, 543 thượng), nói: Nên quán 5 dục vô thường để cầu gốc thiện; đối với thân mệnh, của cải, nên tu kiên pháp. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng nêu 6 loại Kiên pháp: 1. Tín kiên: Bồ tát Biệt giáo ở giai vị Thập trụ tu tập Không quán, biết tất cả pháp đều là Chân đế, nên không bị hủy hoại. 2. Pháp kiên: Bồ tát Biệt giáo ở giai vị Thập hạnh tu tập Không quán, biết tất cả pháp đều là Tục đế, nên không bị hủy hoại. 3. Tu kiên: Bồ tát Biệt giáo ở giai vị Thập hồi hướng tu tập Không quán, biết tất cả pháp đều là Trung đế, nên không bị hủy hoại. 4. Đức kiên: Bồ tát Biệt giáo ở giai vị Thập địa tu tập Trung quán, phá 1 phần vô minh, hiển 1 phần tam đức, nên không bị hủy hoại. 5. Đính kiên: Bồ tát Đẳng giác của Biệt giáo ở bậc cao nhất trong Thập địa, phá hoặc, hiển đức, nên không bị hủy hoại. 6. Giác kiên: Quả Phật Diệu giác của Biệt giáo, biết rõ tất cả đều là Trung đạo, nên không bị hủy hoại.

kiên phục

4444請參閱 堅心正意經梵名 Kanpila。為佛陀弟子之一,無量壽經同聞眾中可見其名。堅伏在大阿彌陀經中稱為裢脾坻,在莊嚴經中稱為緊鼻哩。〔淨土三部經音義卷一、無量壽經會疏卷一〕 ; (堅伏) Phạm: Kanpila. Một trong những vị đệ tử của đức Phật được nói đến trong kinh Vô lượng thọ. Trong kinh Đại A di đà, Kiên phục được gọi là Chân bề để. Còn trong kinh Trang nghiêm thì Ngài được gọi là Khẩn tị lí. [X. Tịnh độ tam bộ kinh âm nghĩa Q.1; Vô lượng thọ kinh hội sớ Q.1].

kiên quyết

Firm—Determined.

kiên tham

Grudging and greed.

kiên thân

See Kim Cang Thân.

Kiên thật tâm

堅實心; C: jiānshíxīn; J: kenjitsushin; |Tâm chân thật mà tất cả chúng sinh đều vốn có. Chân tâm; tâm như chính từ chân tánh. Một trong bốn dạng tâm.

kiên thật tâm hợp chưởng

4448請參閱 堅心正意經 請參閱 堅心正意經 梵語 neviṇa。音譯寧尾拏。密教十二種合掌之第一。略稱堅實合掌。即合兩掌,令掌中心不虛空,十指端之間稍微相離。〔大日經疏卷十三〕(參閱「十二合掌」336)

Kiên thật tâm 堅實心

[ja] ケンジツシン kenjitsushin ||| The real mind which all sentient beings are endowed with. The mind of true thusness; the mind as it is in its true nature. One of the four kinds of mind 四心. => Tâm chân thật mà tất cả chúng sinh đều vốn có. Chân tâm; tâm như chính từ chân tánh. Một trong bốn dạng tâm (Tứ tâm四心).

kiên thắng pháp giới toà

4448指密教胎藏大日如來之法座。係須彌座之異稱,為須彌山形之臺座。金剛頂義決卷上(大三九‧八一四中):「放雜色寶光成妙顯山,名堅勝法界座種也,今人共號為須彌座者,從此立名,非是須彌盧山四寶所成者。此妙座高顯,猶如彼山,故以喻之。」 ; (堅勝法界座) Cũng gọi Tu di tọa. Tòa ngồi có hình dáng núi Tu di của đức Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới Mật giáo. Kim cương đính nghĩa quyết quyển thượng (Đại 39, 814 trung), nói: Tòa ngồi này phóng ra ánh sáng báu nhiều mầu sắc, tạo thành núi Diệu cao (núi Tu di) gọi là Kiên thắng pháp giới tọa. Tòa báu này cao lớn, hình dáng giống như núi Tu di, nên người sau gọi là Tu di tọa.

kiên thệ sư tử

4448即釋尊之本生。釋尊於因位時,曾為一獅子,名堅誓。據報恩經卷七、賢愚經卷十三堅誓師子品所載,堅誓師子,身毛金色,見一辟支佛,威儀清淨,常來親近,聽聞誦經。時有大獵師,喜獅子金毛,欲剝其皮獻予國王,遂用計,偽作沙門,入山坐一樹上,獅子見之以為真比丘,來舔舐其足,獵師趁機以毒箭射之;獅子中箭欲搏之,忽作是念:此是沙門,披壞色衣(袈裟),乃三世之佛、賢聖之標幟,故不可起惡心。至喪身命,終不起惡心。 ; Sư Tử Kiên Thệ, hay thệ nguyện xả thân của sư tử khi đã ngộ đạo. Đức Thích Ca Mâu Ni trong tiền kiếp khi còn ở nhân vị đã nói về công đức của áo cà sa cho sư tử Kiên Thệ lông vàng nghe. Nghe xong sư tử bèn thể nguyện xả thân—The firmly vowing lion, i.e. Sakyamuni in a previous incarnation. ; (堅誓師子) Sư tử Kiên thệ, tiền thân của đức Thích ca khi còn ở nhân vị tu hạnh Bồ tát, được ghi trong truyện Bản sinh. Cứ theo kinh Báo ân quyển 7 và phẩm Kiên thệ sư tử trong kinh Hiền ngu quyển 13, ở đời quá khứ, đức Thích ca từng làm thân sư tử, tên là Kiên thệ. Sư tử Kiên thệ có bộ lông mầu vàng rực rỡ, thấy 1 vị Bích chi Phật, uy nghi thanh tịnh, thường đến gần nghe Ngài tụng kinh. Bấy giờ có người thợ săn thấy sư tử có bộ lông quí, muốn giết để lột da dâng lên vua. Anh thợ săn liền dùng mưu, ngụy trang làm vị sa môn, vào núi ngồi dưới 1 gốc cây; sư tử trông thấy, ngỡ là vị tỉ khưu thật, liền đến liếm chân anh thợ săn, anh ta thừa cơ dùng tên tẩm thuốc độc bắn vào sư tử. Bị trúng tên độc, sư tử muốn vồ lấy anh thợ săn, nhưng nó chợt nghĩ: Đây là vị sa môn mặc áo hoại sắc (ca sa), là hình ảnh của chư Phật 3 đời, là tiêu biểu của Hiền thánh, ta quyết không sinh tâm ác, dù phải bỏ mạng.

kiên thứ

3492又作肩下、下肩。於禪林中,指身分、資歷、職位等之下位,即依上位者之肩而列於下位。勅修百丈清規卷五謝掛搭條(大四八‧一一四二上):「副參趲向前,接聯參頭肩次,伺住持至。」相對於此,則稱肩上、上肩。(參閱「上肩」716) ; (肩次) Cũng gọi Kiên hạ, Hạ kiên. Đối lại: Kiên thượng, Thượng kiên. Chỉ cho những người có cương vị, tuổi hạ và chức vụ thấp trong Thiền lâm, tức y theo vai vế, địa vị trên mà sắp đặt địa vị dưới. Điều Tạ quải đáp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1142 thượng), nói: Phó tham đến trước, tiếp theo là Tham đầu, Kiên thứ, tất cả đều chờ vị Trụ trì tới. (xt. Thượng Kiên).

kiên thực

Kiên thật—Firm and solid.

kiên thực tâm

Tâm kiên thật không gì có thể thay đổi hay lay chuyển được—Firm heart.

kiên thực tâm hợp chưởng

(堅實心合掌) Phạm: Neviịa. Dịch âm: Ninh vĩ noa. Gọi tắt: Kiên thực hợp chưởng. Hai bàn tay chắp lại thật sát nhau. Là cách chắp tay thứ nhất trong 12 cách chắp tay của Mật giáo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).

kiên toà

4447即兩腳併攏蹲坐,而臀不著地。或為「賢坐」之訛誤;蓋賢坐,即並腳蹲坐,臀不著地。(參閱「賢坐」6178) ; (堅座) Kiểu ngồi xổm, tức ngồi 2 chân chụm lại, mông không chạm sát đất. Kiên tọa có thể đã viết lầm từ Hiền tọa. (xt. Hiền Tọa).

kiên trì

To persevere.

kiên trí

Firm knowledge or wisdom; a name of vajrapàni. ; 1) Trí huệ không có gì có thể thay đổi hay lay chuyển được: Firm knowledge or wisdom. 2) Tên của Kim Cang Thần: Name of Vajrapani—See Vajrapani in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

kiên tuệ

See Kiên Ý. ; (堅慧 ) Phạm: Sāramati. Dịch âm: Sa ra mạt để. Cao tăng Ấn độ, thuộc dòng dõi Sát đế lợi, trụ ở chùa Na lan đà, miền Trung Ấn độ. Thủa nhỏ, ngài đã thông minh mẫn tiệp, rất giỏi ngoại điển. Sau khi xuất gia, ngài học tập cả giáo lí Đại Tiểu thừa, thông hiểu sâu sắc, nhưng khế hợp với tư tưởng Đại thừa hơn. Theo điều Phạt lạp tì quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 11, ngài đến ở nước Phạt lạp tì, tại đây, ngài cùng với ngài Đức tuệ soạn chung luận A chiết la để xiển dương giáo lí. Nhưng, theo Đại thừa pháp giới vô sai biệt luận sớ quyển thượng, thì ngài Kiên tuệ ra đời vào khoảng 700 năm sau đức Phật nhập diệt, còn ngài Đức tuệ thì xuất sinh khoảng 900 năm sau đức Phật nhập diệt(tức khoảng hậu bán thế kỉ V đến tiền bán thế kỉ VI), cho nên rất khác với niên đại của ngài Kiên tuệ ở trên. Ngoài ra, còn điểm gây tranh cãi nữa là: Phải chăng ngài Kiên tuệ này và ngài Kiên tuệ soạn bộ luận Pháp giới vô sai biệt cùng với ngài Kiên ý (Phạm:Sthiramati, hoặc Sàramati) soạn bộ luận Nhập đại thừa cùng là 1 người? Về điểm này, có thuyết cho rằng 2 vị là 1 người, có thuyết căn cứ vào tên chữ Phạm giống nhau mà cho cả 3 người là 1. Ngài có các tác phẩm: Luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính, luậnPháp giới vô sai biệt. [X. điều Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí Q.9; Hoa nghiêm kinh truyện kí; Đại thừa pháp giới vô sai biệt luận sớ Q.thượng].

kiên tuệ bồ tát

Xem Kiên ý Bồ tát.

kiên tâm

A grudging, mean heart.

kiên tâm chính ý kinh

4444全一卷。又作堅意經、堅心經、堅經。東漢安世高譯於建和二年至建寧三年(148~170)。收於大正藏第十七冊。內容記述佛陀對阿難之十餘項訓誡,如修持忍辱為先,可滅除萬惡;又如在一日半日等較短時間,乃至剎那間聽聞佛法,亦可得無量福報等。又三國吳之支謙亦譯有此經,惜已佚失。〔眾經目錄卷三(法經)、開元釋教錄卷十五、貞元新定釋教目錄卷二十四〕 ; (堅心正意經) Cũng gọi: Kiên ý kinh, Kiên tâm kinh, Kiên kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào năm Kiến hòa thứ 2 đến năm Kiến ninh thứ 3 (148-170) đời Đông Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này ghi lại 10 điều mà đức Phật răn dạy ngài A nan, như tu trì nhẫn nhục làm đầu, có thể diệt trừ muôn điều ác; hoặc trong thời gian ngắn 1 ngày, nửa ngày, cho đến khoảng 1 sát na nghe Phật pháp cũng có thể được vô lượng phúc báo, v.v... Bản dịch khác của kinh này còn có bản do ngài Chi khiêm dịch vào thời Ngô đời Tam quốc, nhưng rất tiếc đã bị thất lạc. [X. Chúng kinh mục lục Q.3 (Pháp kinh); Khai nguyên thích giáo lục Q.15; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.24].

kiên vong bà luận

3492爲印度外道所立十八大經中「八論」之一。據百論疏卷上之下載,肩亡婆論乃簡擇諸法是非之論書,或謂此書即梵名 Mīmāṃsā 之印度古代論書,然現代學者乃根據 Prasthānabheda,而謂「肩亡婆」實爲「眉亡娑」之訛誤。 ; (肩亡婆論) Tên 1 bộ luận thuộc 8 luận trong 18 Đại kinh của ngoại đạo Ấn độ. Cứ theo Bách luận sớ quyển thượng phần dưới, thì luận Kiên vong bà là bộ luận lựa chọn các pháp thị phi, hoặc có thuyết cho rằng đây là bộ luận của Ấn độ cổ đại với tên Phạm làMimàôsa; song các học giả hiện tại thì căn cứ vào bộPrasthànabhedamà cho rằng Kiên vong bà thực ra là đã viết lầm từ Mi vong sa.

kiên ý

4448梵名 Sthiramati。音譯悉恥羅末底。印度人。著有入大乘論二卷,其中引用龍樹、提婆、羅睺羅、拘摩羅陀等諸師之說,北涼道秦法師將其譯為漢文。由此可推測師繼龍樹、提婆等後出,約為西元第四世紀中人;或認為乃與堅慧同一人。又英譯大明三藏聖教目錄等,以其梵名與印度之堅慧相同。〔歷代三寶紀卷九、開元釋教錄卷四、華嚴經傳記卷一〕(參閱「堅慧」4448) ; Sthiramati (skt)—Còn gọi là Kiên Tuệ—Firm mind, also called firm wisdom. 1) Tâm ý hay trí tuệ kiên cố không gì có thể thay đổi hay lay chuyển được: Firm mind or wisdom. 2) Bồ Tát Sa La Mạt Để, thuộc Phật Giáo Đại Thừa, xuất hiện sau khi Đức Phật nhập diệt khoảng 700 năm: Name of Sthramati Bodhisattva, an early Indian monk of the Mahayana, about 700 years after the Buddha's nirvana. 3) Bồ Tát Tất Xỉ La Mạt Để, soạn bộ Nhập Đại Thừa Luận: Sthiramati Bodhisattva who composed The Commentaries on Entering Mahayana. ; (堅意) Phạm:Sthiramati, hoặcSàramati. Dịch âm: Tất sỉ la mạt để. Danh tăng Ấn độ, sống vào khoảng thế kỉ IV, sau các ngài Long thụ, Đề bà, v.v... Ngài có soạn bộ luận Nhập Đại thừa, 2 quyển, trong đó có trích dẫn thuyết của các ngài Long thụ, Đề bà, La hầu la, Câu ma la đà, v.v... Ngoài ra, Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục (bản dịch tiếng Anh) ghi tên Phạm của ngài làSàramati, giống với tên Phạm của ngài Kiên tuệ, vì thế có thuyết cho rằng ngài và ngài Kiên tuệ chỉ là một người. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1]. (xt. Kiên Tuệ).

kiên ý bồ tát

Sthiramati (S)An Huệ Bồ tát, Tất sĩ la mạt thể, Kiên Tuệ Bồ tát, Kiên Huệ Bồ tát, An Tuệ Bồ tátSư Ấn độ thế kỷ IV.

kiên định

To be determined.

Kiên 堅

[ja] ケン ken ||| (kathina). (1) Hard, strong, solid, firm, rigid. (2) The hardness that can be seen in a rock. The special quality of the element earth. (3) Determined, obstinate. To maintain. (4) To harden, solidify, strengthen. (5) Armor. (6) Heavy. => Có các nghĩa sau: 1. Cứng, mạnh, rắn, chắc, không linh động. 2. Sự cứng rắn có thể thấy được nơi tảng đá. Phẩm chất đặc biệt của địa đại. 3. Nhất định, kiên quyết. Duy trì. 4. Tôi luyện, củng cố, tăng cường. 5. Áo giáp. 6. Nặng.

kiên-khan

Matsara, lobha (S). Grudging, sparing, stingy, avaricious.

kiêng

Xem Chay tịnh. ; To abstain from—To forbear—To be on a diet.

kiêng chay

Virati (S). Abstinence.

kiêng cữ

Abstinence—Forbearance—Abstention---To abstain.

kiêng dè

To economize—To save.

kiêng nể

To have regard and consideration for—To respect.

kiêng thịt

To abstain from eating meat.

kiêng tránh

To abstain

kiêu

6062梵語 mada,巴利語同。音譯末陀。心所名。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。謂不對他人,而僅對自己之種性、色力、財位、智才等有所染著,使心高舉之精神作用。即對自己之長處產生傲慢自大之心理。反之,對他人心起高慢,則稱慢。依俱舍宗,憍乃小煩惱地法之一;於唯識宗,則為小隨煩惱之一,係以貪愛之一分為體,離貪而別無相用。成唯識論卷六(大三一‧三三下):「云何為憍?於自盛事,深生染著,醉傲為性。」又憍有八種:(一)盛壯憍,因元氣盛而具。(二)性憍,因血統尊貴而具。(三)富憍,因財物豐盈而具。(四)自在憍,因行為自由而具。(五)壽命憍,因己命長壽而具。(六)聰明憍,因世智辯聰而具。(七)行善憍,因利人善行而具。(八)色憍,因容貌端莊而具。〔大毘婆沙論卷四十二、卷四十三、俱舍論卷四、卷二十一、法華文句卷六〕 ; Mada (S)Cống cao, kiêu ngạo. Một trong 10 tiểu tùy phiền não. ; Boastful, bragging; self-indulgent; indulgent. ; 1) Sự kiêu ngạo (cậy vào sự việc trôi chảy hay tài của mình mà sanh lòng kiêu ngạo): Arrogant—Haughty—Proud—Boastful—Bragging—Self-indulgent—Indulgent. 2) Tưới nước: To sprinkle—To water. ; (憍) Phạm,Pàli:Mada. Hán âm: Mạt đà. Tâm kiêu căng ngạo mạn, tự cao tự đại đối với mọi người. Tên tâm sở, là 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Theo tông Câu xá, Kiêu là một trong Tiểu phiền não địa pháp; còn tông Duy thức thì cho nó là 1 trong Tiểu tùy phiền não, lấy 1 phần tham ái làm thể, lìa tham không có tướng dụng riêng biệt. Luận Thành duy thức quyển 6 (Đại 31, 33 hạ), nói: Thế nào là Kiêu? Nghĩa là đối với sự thịnh vượng của mình, tâm sinh nhiễm trước, lấy cao ngạo làm tính. Kiêu có 8 thứ: 1. Thịnh tráng kiêu: Do khí lực cường tráng mà sinh kiêu 2. Tính kiêu: Do dòng dõi tôn quí mà sinh kiêu. 3. Phú kiêu: Do giầu có, lắm tiền của mà sinh kiêu. 4. Tự tại kiêu: Vì việc làm mình được tự do mà sinh kiêu. 5. Thọ mệnh kiêu: Nhân sống lâu mà sinh kiêu. 6. Thông minh kiêu: Cây có trí thức thông thái mà sinh kiêu. 7. Hành thiện kiêu: Ỷ vào việc làm lợi cho người khác mà sinh kiêu. 8. Sắc kiêu: Do thấy dung mạo mình đẹp đẽ mà sinh kiêu. [X. luận Đại tì bà sa Q.42, Q.43; luận Câu xá Q.4, Q.21; Pháp hoa văn cú Q.6].

kiêu căng

Màna (S). Pride. Also kiêu, kiêu mạn, mạn.

kiêu khang

Hầm hố của ngã mạn cống cao—The pit of pride and arrogance.

kiêu khanh

The pit of pride and arrogance.

kiêu mạn

6063梵語 adhi-māna,巴利語同。指自高傲物之心態。俱舍宗以憍為小煩惱地法之一,慢為不定地法之一、十隨眠之一。唯識宗則以憍為隨煩惱之一,慢為根本煩惱之一。二者之別,在憍以染著自法為先,令心傲逸無所顧性,即對自己之長處產生傲慢自大之心理;慢以稱量自、他德類之差別,心自舉恃,凌懱於他,即對他人心起高慢。若憍慢生,則長養一切雜染之法,心不謙下,由此則生死輪轉,受無窮苦。大方等大集經卷二十(大一三‧一三八上):「永斷習氣,摧憍慢山,拔生死樹。」又無量壽經卷下(大一二‧二七三中):「謙敬聞奉行,踊躍大歡喜;憍慢弊懈怠,難以信此法。」日本淨土真宗即根據無量壽經,而確認憍慢眾生難信彌陀之本願。〔法華經安樂行品、大毘婆沙論卷四十三、俱舍論卷四、成唯識論卷六、大乘義章卷五〕 ; Mada (S), Infatuation, Pride. ; Arrogance and pride. ; Kiêu mạn là tên một loại phiền não, một trong ngũ thượng phần kết—Arrogance and pride, a kind of klesa, one of the five higher bonds of desire—See Ngũ Thượng Phần Kết. ; (憍慢) Phạm,Pàli:Adhi-màna. Chỉ cho tính tự cao tự đại, khinh người ngạo vật. Tông Câu xá cho Kiêu là 1 trong những Tiểu phiền não địa pháp, Mạn là 1 trong những Bất định địa pháp, 1 trong 10 Tùy miên. Còn tông Duy thức thì cho Kiêu là 1 trong các Tùy phiền não, Mạn là 1 trong những Căn bản phiền não. Sự sai khác giữa Kiêu và Mạn là ở chỗ Kiêu là tâm lí hợm mình, tự cao tự đại, còn Mạn là tâm lí cống cao ngạo mạn, khinh thường và lấn lướt người khác. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 trung), nói: Người khiêm cung nghe pháp vâng làm, tâm sinh vui mừng hớn hở; còn kẻ kiêu mạn lười biếng, khó tin được pháp này. Tịnh độ Chân tông của Nhật bản căn cứ vào đây mà xác định rằng chúng sinh có tâm Kiêu mạn khó tin được bản nguyện của đức Phật A di đà. [X. phẩm An lạc hành kinh Pháp hoa; luận Đại tì bà sa Q.43; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.5].

Kiêu mạn 憍慢

[ja] キョウマン kyōman ||| Conceit; pride, arrogance. To look down on others (Skt. māna, adhimāna; Pali māna). Also see the character 慢 by itself. => Tự phụ; kiêu hãnh, kiêu ngạo. Xem thường người khác (s: mānaadhimāna; p: māna).

kiêu ngạo

See Kiêu.

kiêu phạm ba đề

6062梵名 Gavāṃpati,巴利名 Gavaṃpati。佛弟子之一。又作憍梵跋提、笈房鉢底、伽婆跋帝、伽梵波提、伽傍簸帝、迦為拔抵、憍恆鉢、房鉢底。意譯牛跡、牛司、牛主、牛王、牛鋵、牛相。曾受舍利弗(梵 Śāriputra)之指導。因其於過去世,摘一莖之禾,有數顆穀粒墮地,遂於五百世中受生牛身,故尚遺有牛之習性,食後常如牛之虛哺咀嚼,故有「牛相比丘」之稱。由於其態度鈍重,因而表現恬淡無爭之寬宏氣度。釋尊憐憫其常遭人毀謗,而墮於眾苦,乃命住忉利天宮尸利沙園修習禪定。佛陀入滅後,迦葉等諸尊者結集法藏時,遣人至天宮將其迎回,師始知世尊及舍利弗等已入滅,未久,亦歸寂。〔增一阿含經弟子品、大方廣如來不思議境界經、佛本行集經卷三十六、五分律卷十五、摩訶僧祇律卷三十二、大智度論卷二十七、阿育王傳卷四、法華經義記卷一、法華玄贊卷一、慧琳音義卷八〕 ; Gavampati (skt)—Còn gọi là Ca Phạm Ba Đề, Cấp Phòng Bát Để, Kiêu Phạm Bát Đề, Kiều Phạm Ba Đề, hay Kíp Phòng Bát Để, dịch là Ngưu Thi hay Ngưu Vương, là tên một vị Tỳ Kheo có cái miệng cứ nhai tới nhai lui như trâu nhai lại vì tội của đời quá khứ (theo Pháp Hoa Huyền Nghĩa, tiếng Phạn Gavampati dịch là Ngưu Vương. Ngài do ở đời quá khứ có ngắt một nhánh lúa ném xuống đất, nên trong 500 đời phải làm kiếp trâu để đền bù, nay tuy mang thân người, nhưng có hình tướng và tiếng nói giống như loài trâu)—Interpreted as chewing the cud; lord of cattle, etc. (with the feet and cud-chewing characteristic of an ox) A man who became a monk, born with a mouth always ruminating like a cow because of former oral sins; he had spilled some grains from an ear of corn he plucked in a former life. ; (憍梵波提) Phạm: Gavàôpati. Pàli:Gavaôpati. Cũng gọi Kiêu phạm bạt đề, Cấp phòng bát để, Già sa bạt đế, Già phạm ba đề, Già bàng pha đế, Ca vi bạt để, Kiêu hằng bát, Phòng bát để. Hán dịch: Ngưu tích, Ngưu ti, Ngưu chủ, Ngưu vương, Ngưu tướng. Một trong những vị đệ tử của đức Phật. Vì trong đời quá khứ xa xưa, Ngài Kiêu phạm ba đề ngắt 1 bông lúa, có mấy hạt thóc rơi xuống đất, nên phải chịu sinh làm thân trâu trong 500 kiếp, nay vẫn còn thói quen, sau khi ăn thường nhai đi nhai lại như trâu, nên có tên là Ngưu tướng tỉ khưu và từng được tôn giả Xá lợi phất dạy bảo. Vì cử chỉ của Ngài chậm chạp, nên biểu hiện ra phong cách điềm đạm, khoan hòa và độ lượng, không tranh cãi với ai. Đức Thế tôn thương Ngài thường bị diễu cợt mà buồn khổ, nên bảo Ngài trụ trong vườn Thi lợi sa ở cung trời Đao lợi để tu tập Thiền định. Sau khiđức Phật nhập diệt, lúc các tôn giả Ca diếp, v.v... kết tập pháp tạng, mới sai người lên Thiên cung thỉnh Ngài trở về nhân gian, bấy giờ Ngài mới biết đức Phật và tôn giả Xá lợi phất đã nhập diệt. Không bao lâu, Ngài cũng nhập diệt. [X. phẩm Đệ tử kinh Tăng nhất a hàm; kinh Đại phương quảng Như lai bất tư nghị cảnh giới; kinh Phật bản hạnh tập Q.36; luận Ngũ phần Q.15; luật Ma ha tăng kì Q.22; luận Đại trí độ Q.27; A dục vương truyện Q.4; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.1; Pháp hoa huyền tán Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.8].

kiêu quý

6105澆,薄之意;季,末之意。即人情、風俗、道德浮薄之時代。又作澆世、澆末。全稱澆季末法。大乘起信論義記卷上(大四四‧二四六下)有「末代澆時,傳化不易」之語,意謂於此風俗澆薄之末世,弘傳佛法,教化眾生,甚為困難。

kiêu thi

See Kiêu Thi Ca.

kiêu thi ca

6062梵名 Kauśika。忉利天(三十三天)之主。又稱憍支迦。為帝釋天之異名。據大智度論卷五十六載,帝釋天昔為摩伽陀國之婆羅門,姓憍尸迦,名摩伽,以此因緣故稱憍尸迦。時其與知友三十二人共修福德智慧,命終皆生於須彌山頂第二天上,而摩伽為天主,其餘三十二人為輔臣,因有三十三人,故稱三十三天。〔雜阿含經卷四十、北本大般涅槃經卷三十三、大毘婆沙論卷七十二〕(參閱「帝釋天」3776) ; Kausika or Kusika (skt). 1) Còn gọi là Kiêu Chi Ca, họ của Đế Thích (trong Đại Trí Độ Luận, theo Kinh Tạp A Hàm: “Vị Tỳ Kheo lại bạch với Đức Phật rằng: Bạch Thế Tôn, do duyên gì mà ngài Đế Thích Đề Hoàn lại có tên là Kiêu Thi Ca? Đức Phật nói với vị Tỳ Kheo rằng: Ngài Thích Đề Hoàn ấy khi còn là người có họ là Kiêu Thi Ca. Vì nhơn duyên ấy mà ngài có tên là Kiêu Thi Ca.”)—Kausika, of the family of Kusika, family name of Indra. This story is mentioned in the Maha-Prajna Sastra. 2) Có người cho rằng Đức Phật A Di Đà cũng có họ Kiêu Thi Ca: One account says Amitabha was of the same family name. ; (憍尸迦) Phạm: Kauzika. Cũng gọi Kiêu chi ca. Tên khác của Đế thích thiên, vị trời đứng đầu cõi Đao lợi thiên (cõi trời 33). Cứ theo luận Đại trí độ quyển 56, trời Đế thích xưa kia là 1 người Bà la môn ở nước Ma già đà, họ là Kiêu thi ca, tên là Ma già, vì nhân duyên ấy mà gọi là Kiêu thi ca. Bấy giờ, Kiêu thi ca và 32 người bạn cùng tu phúc đức trí tuệ, sau khi mệnh chung đều được sinh lên tầng trời thứ 2 trên đỉnh núi Tu di, Ma già làm chủ cõi trời này, còn 32 người bạn kia là phụ tá. Vì cõi trời này có 33 vị trời nên gọi là Tam thập tam thiên. [X. kinh Tạp a hàm Q.40; kinh Đại bát niết bàn Q.33 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.72]. (xt. Đế Thích Thiên).

kiêu thưởng di

Kausambi (skt)—Một thành phố cổ nằm bên bờ sông Hằng, nằm bên dưới Doab. Có nhiều người cho rằng đây là vùng Kusia gần Kurrah, nhưng Kusia bây giờ là làng Kosam nằm bên bờ nhánh sông Jumna, khoảng 30 dậm bên trên vùng Allahabad—An ancient city on the Ganges, in the lower part of Doab. It has been identified by some with Kusia near Kurrah, but is the village of Kosam, on the Jumna, 30 miles above Allahabad.

kiêu thưởng di quốc

6064憍賞彌,梵名 Kauśāmbī,巴利名 Kosambī。為中印度之古王國。係十六大國之一,六大都市之一。又作憍餉彌國、憍閃毘國、俱睒彌國、俱參毘國、拘睒彌國、拘參毘耶國、拘藍尼國、鳩睒彌國、拘深國、句參國。意譯為不靜國、不甚靜國、藏有國。又作跋蹉國(梵 Vatsā,巴 Vaṃsa)、越蹉國、拔沙國、嚩蹉國。此國之周圍六千餘里,土地肥沃,氣候暑熱,盛產粳稻、甘蔗,風俗剛猛。有伽藍十餘所,僧徒皆學小乘教。都城內有十大精舍,中有優填王(鄔陀衍那王)所造之刻檀佛像。佛陀住世時,此國與摩揭陀、舍衛等國對峙,威震西方。都城內亦有具史羅長者舊園、世親撰唯識論之故塼室,及無著作顯揚聖教論之故蹟。自城外東北行七百餘里可至迦奢富羅城,護法曾於此降伏外道。 關於其位置有諸異說,康林罕(A. Cunningham)將大唐西域記所說從鉢邏耶伽至憍賞彌之距離五百餘里,修改為五十餘里,而推定其位於阿拉哈巴都(Allahabad)西北閻牟那河(Jumna)畔之柯薩村(Kosām)。史密斯(V.A. Smith)依大唐西域記及大慈恩寺三藏法師傳卷三所載之距離與方向,推定其位於阿拉哈巴都之西南,印度鐵道之蘇都那站(Sutna)附近。〔中阿含卷五十五持齋經、增一阿含經卷二十四、法句譬喻經卷一、仁王般若波羅蜜經卷下受持品、大般涅槃經卷中(法顯)、大方等大集經卷五十六、五分律卷六、十誦律卷三十、善見律毘婆沙卷十三、大毘婆沙論卷一八三、高僧法顯傳、大唐西域記卷五、翻梵語卷八、翻譯名義集卷七、A. Cunningham:The Ancient Geography of India〕 ; (憍賞彌國) Kiêu thưởng di, Phạm:Kauzàmbì,Pàli: Kosambi. Cũng gọi Kiêu hướng di quốc, Kiêu thiểm tì quốc, Câu thiểm di quốc, Câu tham tì quốc, Câu tham tì da quốc, Câu lam ni quốc, Cưu thiểm di quốc, Câu thâm quốc, Cú tham quốc. Hán dịch: Bất tĩnh quốc, Bất thậm tĩnh quốc, Tàng hữu quốc. Còn gọi Bạt sa quốc (Phạm:Vatsà,Pàli:Vaôsa), Việt sa quốc, Phạ sa quốc. Tên 1 Vương quốc thời cổ Ấn độ, 1 trong 16 nước lớn, 1 trong 6 đô thị lớn ở Trung Ấn độ. Nước này chu vi hơn 6000 dặm, đất đai phì nhiêu, khí hậu nóng bức, trồng nhiều lúa tám cánh và mía; tính người cứng cỏi. Có hơn 10 ngôi già lam, chúng tăng đều tu học theo giáo pháp Tiểu thừa. Ở kinh đô có 16 tinh xá lớn, trong đó có pho tượng Phật bằng gỗ chiên đàn do vua Ưu điền (Ô đà diễn na vương) tôn tạo. Thời đức Phật còn tại thế, nước này hùng mạnh ngang với các nước Ma yết đà, Xá vệ, v.v... tiếng tăm lừng lẫy đến tận phương tây. Trong thành này cũng có các di tích như: Khu vườn của trưởng giả Cụ sử la, căn nhà gạch là nơi ngài Thế thân soạn luận Duy thức và cũng là nơi ngài Vô trước soạn luận Hiển dương thánh giáo. Từ bên ngoài kinh đô đi về hướng đông bắc hơn 700 dặm thì đến thành phố Ca xa phú la, là nơi ngài Hộ pháp từng hàng phục ngoại đạo. Về vị trí nước này có nhiều giả thuyết khác nhau: Ông Khang lâm hãn (A. Cunningham) cho rằng khoảng cách từ Bát la da già đến Kiêu thưởng di là hơn 50 dặm (Đại đường tây vực kí nói hơn 500 dặm)và suy đoán rằng vị trí nước này nằm ở thôn Kha tát (Kosàm) gần bờ sông Diêm mâu na (Jumna) về mạn tây bắc A lạp cáp ba đô (Allahabad). Nhưng ông Sử mật tư (V.A. Smith) thì căn cứ vào khoảng cách và phương hướng nói trong Đại đường tây vực kí và Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 3, mà suy đoán rằng vị trí nước này nằm ở phía tây nam Allahabad, gần trạm xe lửa Sutna ở Ấn độ. [X. kinh Trì trai trong Trung a hàm Q.55; kinh Tăng nhất a hàm Q.24; kinh Pháp cú thí dụ Q.1; phẩm Thụ trì trong kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.hạ; kinh Đại bát niết bàn (Pháp hiển); kinh Đại phương đẳng đại tập Q.56; luật Ngũ phần Q.6; luật Thập tụng Q.30; Thiện kiến luật tì bà sa Q.13; luận Đại tì bà sa Q.183; Cao tăng Pháp hiển truyện; Đại đường tây vực kí Q.5; Phiên Phạm ngữ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; The Ancient Geography of India (A. Cunningham)].

kiêu trần na

Kaundinya (skt)—See Kiều Trần Như.

kiêu trần như

6063梵名 Kauṇḍinya,巴利名 Koṇḍañña。佛陀於鹿苑初轉法輪時所度五比丘之一,乃佛陀最初之弟子。又稱阿若憍陳如、阿若拘鄰、憍陳那、阿若憍憐、居鄰、居倫。意譯為初知、已知、了教、了本際、知本際。據增一阿含經弟子品載,憍陳如為佛陀聲聞弟子之一,寬仁博識,善能勸化,將養聖眾,不失威儀,為最早受法味而思惟四諦者。又據佛本行集經卷二十五載,悉達多太子出家求道之初,憍陳如與另外四人受淨飯王之命親侍苦行之太子,後見太子廢苦行,遂與其他四人離去,至釋尊成道始受教化。其後事蹟不詳,僅知其為教團中最長老,常居上座。另佛所行讚轉法輪品(大四‧三○中):「以彼知法故,名阿若憍憐;於佛弟子中,最先第一悟。」〔佛本行集經卷三十四、中本起經卷上、北本大般涅槃經卷四十、阿羅漢具德經、方廣大莊嚴經卷十一、大毘婆沙論卷九十三、慧琳音義卷十八〕 ; Kaundinya (skt)—See Kiều Trần Như. ; (憍陳如) Phạm: Kauịđinya. Pàli: Kondĩĩa. Cũng gọi A nhã kiêu trần như, A nhã câu lân, Kiêu trần na, A nhã kiêu lân, Cư lân, Cư luân. Hán dịch: Sơ tri, Dĩ tri, Liễu giáo, Liễu bản tế, Tri bản tế. Là 1 trong 5 vị tỉ khưu được độ khi đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên ở vườn Nai. Một trong những vị đệ tử đầu tiên của đức Phật. Cứ theo phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm, Kiêu trần như là 1 trong những đệ tử Thanh văn của đức Phật, là người có lòng nhân từ và sự hiểu biết sâu rộng, có khả năng giáo hóa, tiếp dắt đại chúng, không mất uy nghi, là người đầu tiên thụ pháp vị và tư duy Tứ đế. Lại theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 25, khi thái tử Tất đạt đa mới xuất gia cầu đạo, thì ngài Kiêu trần như cùng với 4 vị khác vâng mệnh vua Tịnh phạn đi theo và gần gũi giúp đỡ Thái tử tu khổ hạnh, về sau, thấy Thái tử bỏ lối tu khổ hạnh, ngài Kiêu trần như và 4 vị kia bỏ đi, đến khi đức Thế tôn thành đạo thì các vị ấy mới được giáo hóa. Về sau, ngài là bậc Trưởng lão trong giáo đoàn. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.34; kinh Trung bản khởi Q.thượng; kinh Đại bát niết bàn Q.40 (bản Bắc); kinh A la hán cụ đức; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.11; luận Đại tì bà sa Q.93; Tuệ lâm âm nghĩa Q.18].

kiêu tát la

Kosala (skt)—See Kiều Tát La

kiêu tát la quốc

6065憍薩羅,梵名 Kośalā, Kauśala,巴利名 Kosalā。又作拘舍羅國、嬌薩羅國、居薩羅國、拘薛羅國、高薩羅國、俱婆羅國。意譯無鬥戰國、工巧國。為印度二古王國之名。<一>中印度古王國,為印度十六大國之一。位在迦毘羅衛國之西北,婆羅奈國之北方。即法顯傳所謂之「拘薩羅國」,又稱北憍薩羅。其國都為舍衛城(梵 Śrāvastī),佛陀曾前後居止二十五年,經常於此開示佛法。此國穀稼豐饒,風俗淳厚,少僧徒,外道甚多,有祇樹給孤獨園等聖蹟。〔仁王護國般若波羅蜜多經卷上、有部毘奈耶破僧事卷八、分別功德論卷二、大唐西域記卷六、慧琳音義卷六、卷十五、卷二十六、翻譯名義集卷七〕(參閱「舍衛國」3504) <二>南印度古王國。位在摩揭陀國之南,相當於現今德干高原之北部。大唐西域記稱此國屬中印度境;然古來多將此地歸屬南印度。即法顯傳所謂之「達嚫國」(梵 Dakṣiṇā),又稱南憍薩羅、大憍薩羅。龍樹菩薩曾住此國,為娑多婆訶王(梵 Sadvaha)所歸敬,王於此國西南跋邏末羅耆釐山營造五層大伽藍。此國風俗剛猛,人性勇烈,邪正兼信,王亦崇敬佛法,伽藍百餘所,僧徒皆研習大乘教法,天祠七十餘所,異道雜居。 有關此國之位置有諸異說。康林罕(A. Cunningham)謂此國位於古代之維達巴(Vidarbha),首都那格坡爾(Nagpur)或查大(Chanda),即現今貝拉爾(Berar)之哥德瓦那(Gondwāna)地方。又格蘭脫(Grant)及弗格遜(J. Fergusson)則認為此國位於現今之乍哈提斯加爾(Chhattisgarh),其都城為威拉加爾(Wairagarh)。其它另有不同之說法。〔大慈恩寺三藏法師傳卷四、大唐西域記卷十、玄應音義卷二十二、慧琳音義卷十、A. Cunningham: The Ancient Geography of India〕 ; (憍薩羅國) Kiêu tát la, Phạm:Kozàlà, Kauzala. Pàli:Kosalà. Cũng gọi Câu xá la quốc, Kiều tát la quốc, Cư tát la quốc, Câu tiết la quốc, Cao tác la quốc, Câu bà la quốc. Hán dịch: Vô đấu chiến quốc, Công xảo quốc. I. Kiêu Tát La Quốc. Cũng gọi Bắc Kiêu tát la. Một Vương quốc xưa thuộc Trung Ấn độ, nằm về mạn tây bắc Ca tì la vệ, phía bắc nước Ba la nại, Pháp hiển truyện gọi là Câu tát la quốc, là 1 trong 16 nước lớn ở Ấn độ vào thời đức Phật còn tại thế. Kinh đô của nước này là thành Xá vệ (Phạm:Zrà-vasti), là nơi đức Phật đã thuyết pháp giáo hóa trong suốt 25 năm. Nước này thóc lúa dồi dào, nhân dân sung túc, phong tục thuần hậu, nhưng chúng tăng ít, ngoại đạo nhiều. Ở nước này, khi ngài Pháp hiển đến (thế kỉ IV), vẫn còn di tích vườn cây của thái tử Kì đà và trưởng giả Cấp cô độc. [X. kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.thượng; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.8; luận Phân biệt công đức Q.2; Đại đường tây vực kí Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.6, Q.15, Q.26; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Xá Vệ Quốc). II. Kiêu Tát La Quốc. Cũng gọi Nam Kiêu tát la, Đại Kiêu tát la. Tên 1 Vương quốc xưa thuộc Nam Ấn độ, nằm về phía nam nước Ma kiệt đà, tương đương với Bắc bộ cao nguyên Decan hiện nay. Đại đường tây vực kí cho Vương quốc này thuộc Trung Ấn độ, nhưng xưa nay phần nhiều đều nhận vùng đất này thuộc Nam Ấn độ. Pháp hiển truyện gọi là Đạt thấn quốc (Phạm:Dakwiịà). Bồ tát Long thụ đã từng ở tại nước này và rất được vua Sa đà bà ha (Phạm:Sadvaha) tôn kính. Nhà vua đã cho xây cất 1 ngôi đại già lam 5 tầng trên núi Bạt la mạt la kì li ở phía tây nước này. Nước này mạnh mẽ, tính người dũng cảm, có hơn 100 ngôi già lam, chúng tăng đều nghiên cứu, học tập theo giáo pháp Đại thừa. Có hơn 70 ngôi đền thờ trời, các đạo khác ở lẫn lộn. Về vị trí nước này có nhiều thuyết khác nhau.Ông Khang lâm hãn (A.Cunningham) cho rằng nước này là Duy đạt ba (Vidarbha) đời xưa, kinh đô là Na cách pha nhĩ (Nagpur) hoặc Tra đại (Chanda), tức là vùng Ca đức ngõa na (Gondwàna) thuộc Bối lạp nhĩ (Berar) hiện nay. Còn các ông Cách lan thoát (Grant) và Phất cách tốn (J.Fergusson) thì cho rằng nước này là đất Sạ cáp đề tư gia nhĩ (Chhattisgarh) hiện nay, kinh đô là Uy lạp gia nhĩ (Wairagarh). [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4; Đại đường tây vực kí Q.10; Huyền ứng âm nghĩa Q.22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.10; The Ancient Geography of India (A. Cunningham)].

Kiêu tứ 憍恣

[ja] キョウシ kyōshi ||| Arrogant selfishness. 〔法華經 T 262.9.42c28〕 => Tích ích kỷ tự cao. Kiêu xa 憍奢 [ja] キョウシャ kyōsha ||| To be proud, arrogant, haughty. => Kiêu hãnh, ngạo mạn, kiêu kỳ. [ja]キョウシカ Kyōshika ||| Kauśika; the name of Indra 因陀羅 when he took human form.

kiêu xa

Proud and luxurious

kiêu xa da

Kauseya (skt)—Cao Thế Da—Kiêu Xá—Vải làm bằng lụa thô—Cloth made of wild silk.

kiêu xa da y

6063憍奢耶,梵語 kauśeya,巴利語 kosseyya,係指野蠶之繭。以野蠶之絲作衣,稱為憍奢耶衣,即絹衣。又作憍賒耶衣、高世耶衣、憍施耶衣、憍舍耶衣、俱舍衣。意譯為蟲衣、蠶衣。在七佛經中作「憍尸衣」。諸律之中,三十捨墮法之第十一有憍奢耶敷具之戒。十誦律卷七載有佛陀制此戒之因緣,謂拘睒彌比丘作新憍奢耶敷具,想乞綿、縷、衣、繭等,然線、縷價貴,因須多殺蠶始成。比丘數數乞,致使諸居士厭患而呵責(大二三‧四七下):「諸比丘乞綿、乞縷、乞衣、乞繭,擘治引貯,多事多務,妨廢讀經、坐禪、行道,是中我等失利供養,是難滿、難養、無厭足人。」佛陀聞悉,乃制定不能以新憍奢耶作敷具之戒,若作之,則犯尼薩耆波逸提罪。其中,關於敷具之解說,於薩婆多毘尼毘婆沙卷五謂敷具乃指三衣,然南海寄歸內法傳卷二衣食所須條則謂敷具非指三衣。〔四分律卷七、五分律卷五、有部毘奈耶卷二十、摩訶僧祇律卷九、大般涅槃經集解卷二、大唐西域記卷二、玄應音義卷一、卷十、慧琳音義卷二十五〕 ; (憍奢耶衣) Kiêu xa da, Phạm: Kauzeya, Pàli: Kosseyya. Cũng gọi Cao thế da y, Kiêu thi da y, Kiêu xá da y, Câu xá y. Hán dịch: Trùng y, Tàm y. Loại áo được may bằng tơ tằm hoang (không phải tằm nuôi trong nhà), tức là áo lụa. Kinh Thất Phật gọi là Kiêu thi y. Trong các bộ luật, pháp thứ 11 trong 30 pháp Xả đọa là giới cấm may phu cụ(đồ trải để ngồi, nằm, v.v...) bằng Kiêu xa da. Luật Thập tụng quyển 7 có nói về lí do đức Phật chế giới này như sau: Các tỉ khưu ở nước Câu diệm di may phu cụ mới bằng Kiêu xa da, muốn xin sợi bông và tơ tằm, nhưng tơ tằm giá đắt vì phải giết nhiều tằm mới có. Các tì khưu ấy thường đến nhà cư sĩ để xin, đến nỗi các cư sĩ chán ghét và trách mắng rằng (Đại 23, 47 hạ): Các tỉ khưu xin sợi bông, xin tơ tằm, xin vải, xin chỉ về may áo, làm phu cụ, may không hết thì tích trữ, bận rộn cả ngày, bỏ bê việc tụng kinh, tọa thiền, hành đạo, cúng dường các vị ấy thực không lợi ích gì, họ là những người không biết thế nào là đủ. Đức Phật nghe biết việc ấy liền chế giới cấm các tì khưu dùng Kiêu xa da làm phu cụ mới. Nếu dùng thì phạm tội Ni tát kì ba dật đề. [X. luật Tứ phần Q.7; luật Ngũ phần Q.5; Hữu bộ tì nại da Q.20; luật Ma ha tăng kì Q.9; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.2; Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.1, Q.10; Tuệ lâm âm nghĩa Q.25].

kiêu đàm di

6064梵名 Gautamī,巴利名 Gotamī。即佛陀之姨母摩訶波闍波提,亦為釋種中一般女子之通稱。又作喬答彌、俱曇彌、瞿曇彌、瞿夷、裘夷。憍曇,乃印度剎帝利種族之一姓;彌,為憍曇之女聲。以摩訶波闍波提為佛陀之姨母,故稱為憍曇彌。法華玄贊卷九本(大三四‧八一八上):「梵云喬答摩,此云日炙種,亦云甘蔗種,男聲中呼佛,是釋迦姓之本望也。今云喬答彌,於女聲中,呼日炙、甘蔗種,是佛母故,以彌聲呼。」〔中本起經卷下、十二遊經、法華義疏卷七(吉藏)、慧琳音義卷二十五、慧苑音義卷上〕(參閱「摩訶波闍波提」6078、「瞿曇」6580) ; Gautami (skt)—See Ma Ha Ba Xà Ba Đề in Vietnamese-English Section. ; (憍曇彌) Phạm: Gautamì. Pàli:Gotamì. Cũng gọi Kiều đáp di, Câu đàm di, Cù đàm di, Cù di, Cầu di. Tức là bà Ma ha ba xà ba đề, dì của đức Phật, cũng là từ gọi chung của những người phụ nữ trong dòng họ Thích. Kiêu đàm là 1 trong những họ thuộc dòng Sát đế lợi ở Ấn độ; Di là tiếng gọi người phụ nữ thuộc họ Kiêu đàm. Vì bà Ma ha ba xà ba đề là dì của đức Phật, cho nên gọi là Kiêu đàm di. Pháp hoa huyền tán quyển 9 phần đầu (Đại 34, 818 thượng), nói: Tiếng Phạm là Kiều đáp di, Hán dịch là Nhật chích chủng, cũng gọi là Cam giá chủng. Nay gọi là Kiều đáp di là chỉ cho người phụ nữ trong họKiều đáp thuộc dòng Nhật chích, là dì của Phật. [X. kinh Trung bản khởi Q.hạ; kinh Thập nhị du; Pháp hoa nghĩa sớ Q.7 (Cát tạng); Tuệ lâm âm nghĩa Q.25; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Cù Đàm).

Kiêu 憍

[ja] キョウ kyō ||| 'haughtiness,' arrogance (Skt. mada; Tib. rgyags pa). One of the lesser defilement elements as explained in the Abhidharmakośa-bhāsya. One of the twenty secondary defilements 隨煩惱 in the doctrine of the Yogācāra school. The mental action of haughtiness and conceit, delighting in one's own assets, position, ability, learning, etc. The defilement of 'pride' [慢] arises upon an awareness of others, while this affliction arises without necessarily noticing others. (s: mada; t: rgyags pa). => Tính ngạo mạn, kiêu căng. Là một trong các tiểu phiền não địa pháp được đề cập trong A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận. Là một trong 20 tuỳ phiền não theo giáo lý Duy thức. Đó là tâm hành ngạo mạn và tự phụ, ham thích của cải, địa vị, tài năng, học vấn, v.v... Phiền não 'mạn' phát sinh khi có đối tượng, còn Kiêu sinh khởi trong tâm không cần có đối tượng.

Kiêu-tát-la

憍薩羅; S: kośala; P: kosala; hoặc Câu-tát-la, cách dịch theo âm Hán Việt;|Vương quốc Ấn Ðộ trong thời Phật Thích-ca. Kiêu-tát-la là vương quốc có thế lực nhất tại Bắc Ấn Ðộ cho đến thế kỉ thứ 3 thì bị nước Ma-kiệt-đà (magadha) xâm chiếm. Ðức Phật hay đến Xá-vệ (s: śrāvastī), kinh đô của Kiêu-tát-la, lưu trú tại Kì viên (jetavana)

Kiêu-tát-la 憍薩羅

[ja] キョウサツラ Kyōsatsura ||| See 憍薩羅國. => Xem Kiêu-tát-la quốc憍薩羅.

Kiều Bổn Độc Sơn

(橋本獨山, Hashimoto Dokusan, 1869-1938): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Minh Trị (明治, Meiji) và đầu thời Chiêu Hòa (昭和, Shōwa), vị trú trì đời thứ 128 của Tướng Quốc Tự (相國寺, Sōkoku-ji), húy Huyền Nghĩa (玄義), đạo hiệu Độc Sơn (獨山), hiệu Đối Vân Quật (對雲窟), Nam Uyển Quật (南苑窟), xuất thân vùng Niigata (新潟). Ban đầu ông theo học hội họa, đến năm 1890 xuất gia với Nga Sơn (峨山). Ông trú tại Tăng Đường của Thiên Long Tự (天龍寺, Tenryū-ji) và kế thừa dòng pháp của Nga Sơn. Vào năm 1900, ông làm trú trì Lộc Vương Viện (鹿王院). Đến năm 1911, ông làm trú trì Tướng Quốc Tự, và Quản Trưởng của Phái Tướng Quốc Tự (相國寺派). Trước tác của ông có Đối Vân Lục (對雲錄) 2 quyển, Họa Thiếp (畫帖) 1 quyển.

kiếm

1) Lưỡi Kiếm: A sword (a two-edged sword). 2) Tìm kiếm: To search for—To look for.

kiếm ba

Kampa or Bhukampa (skt)—Chấn Địa Thiên—Deva of earthquakes.

kiếm chuyện

To find fault with—To seek/pick a quarrel with.

kiếm chác

To make profit

Kiếm hạ phân thân

劍下分身; C: jiànxiàfēnshēn; J: kengebun-shin;|Phân thân thành hai phần với một nhát kiếm. Một ẩn dụ chỉ một câu nói của một vị Thiền sư với khả năng cắt đứt vô minh, khai ngộ đệ tử.

Kiếm hạ phân thân 劍下分身

[ja] ケンゲブンシン kengebunshin ||| To cut a body in half with a single swing of a sword. A metaphor for the single word of the Zen master which eliminates the delusion of the trainee, leading him to awakening. => Cắt thân thể thành hai chỉ dưới một nhát kiếm. Dụ cho dưới một lời của Thiền sư mà cóa thể dứt sạch mọi mê mờ , khiến hành giả được giác ngộ.

kiếm luân pháp

Một hệ thống kiếm xoay để hàng phục ma quân—A system of revolving swords for subduing demons.

kiếm lâm địa ngục

Asipattra (skt)—Một trong mười sáu tiểu địa ngục, địa ngục rùng kiếm—One of the sixteen small hells, the hell of the forest of swords, or sword-leaf trees.

kiếm ma xá đề

Kiếm Ma Xá Đế. 1) Ma quân: A spirit or demon. 2) Con đẻ của dục vọng không kềm chế được: The ungovernable, son of Kama (Love and Lust).

kiếm sơn

Kiếm Lâm Địa Ngục, and Địa Ngục in Vietnamese-English Section.

kiếm thụ địa ngục

See Kiếm Lâm Địa Ngục.

kiếm trí huệ

Khaḍga (S)Xem Đao đại tuệ.

kiếm trí tuệ

Prajnàkhadga (S). Sword of wisdom.

Kiếm đạo

劍道; J: kendō;|Nghệ thuật đánh kiếm của Nhật Bản với cả hai tay. Thời trung cổ, nhiều kiếm sĩ Nhật thường tham thiền để đạt được sự bình tĩnh tuỳ cơ ứng biến và ngược lại, nhiều Thiền sư Nhật cũng là kiếm sĩ tuyệt luân.|Trạch Am Tông Bành, một vị Thiền sư danh tiếng người Nhật viết rất hay về kiếm đạo trong một bài luận. Sư so sánh tâm trạng của một thiền tăng và một kiếm sĩ như sau: »Nếu hiểu Kiếm đúng đắn thì không phải chỉ Thiền, mà quy luật của thiên địa cũng như tất cả những quy luật của vũ trụ đều là Kiếm đạo; và ngược lại – nhìn theo Thiền thì không chỉ Kiếm đạo, mà là tất cả vạn vật đều là những làn sóng trên biển Thiền. Nói rõ ràng hơn: Sự hợp nhất của Kiếm và Thiền tương ưng một cấp bậc mà trên đó Thiền và Kiếm đều chẳng có nhưng chúng ta lại chẳng tìm được một vật không phải Thiền, không phải Kiếm.«

kiếm đạo

Kendō (J), Kedo (C).

kiếm ấn

5959密教表示刀劍之印。可分:(一)不動明王劍印,係劍在鞘中之形,右手擬劍,左手擬鞞。(二)大日劍印,有二種: (1)金界三昧耶會大日印,又作毘盧遮那金剛界自在契、五佛灌頂印、寶冠印等。印相作外縛拳而以二中指合立,屈上指節作劍形,伸二食指附於二中指背部。(2)開塔印,二手虛心合掌(手印的印母之一),屈二食指之中節,橫相拄,以二拇指並壓二食指之上節,二拇指之間稍開如劍形。(三)文殊劍印,爲文殊菩薩之三昧耶形利劍之印。於文殊供養法中,又稱金剛利劍印、金剛利妙印、金剛智劍印。此外,大慧刀印,亦稱劍印,係如來身會印契真言之一。〔大日經密印品、聖觀自在觀行軌、祕鈔問答卷十〕 ; (劍印) ..... Loại ấn tướng trong Mật giáo biểu thị dao kiếm, chia ra 3 loại: 1. Bất động minh vương kiếm ấn: Ấn tướng có hình thanh kiếm ở trong bao kiếm, tức là tay phải làm hình kiếm, tay trái làm bao kiếm. 2. Đại nhật kiếm ấn, có 2 thứ: a) Kim giới tam muội da hội Đại nhật ấn, cũng gọi Tì lô giá na Kim cương giới tự tại khế, Ngũ Phật quán đính ấn, Bảo quan ấn. Ấn tướng này, 2 tay đan vào nhau và nắm lại, 2 ngón giữa dựng đứng, hợp lại, đốt tay trên co lại làm hình thanh kiếm, 2 ngón trỏ duỗi ra đặt trên lưng 2 ngón giữa. b) Khai tháp ấn: Hai tay chắp lại, giữa lòng bàn tay để rỗng, đốt giữa của 2 ngón tay trỏ co lại, 2 đầu ngón tay chống nhau, 2 ngón cái đè lên đốt trên của 2 ngón trỏ, khoảng giữa 2 ngón cái hơi mở ra giống như hình thanh kiếm. 3. Văn thù kiếm ấn: Ấn kiếm hình Tam muội da của bồ tát Văn thù. Trong pháp cúng dường ngài Văn thù, ấn này còn được gọi là Kim cương lợi kiếm ấn, Kim cương lợi diệu ấn, Kim cương trí kiếm ấn. Ngoài ra, còn có Đại tuệ đao ấn, cũng gọi Kiếm ấn, là một ấn khế chân ngôn của hội Như lai thân. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật, Thánh Quán tự tại quán hành quĩ; Bí sao vấn đáp Q.10].

Kiến

見; S: dṛṣṭi hoặc darśana; P: diṭṭhi hoặc dassa-na;|Nghĩa là »thấy« nhưng được sử dụng nhiều cách khác nhau như sau:|a) Kiến dịch từ chữ Dṛṣṭi ngoài nghĩa »thấy« ra cũng có nghĩa là quan niệm, kiến giải; nếu danh từ Dṛṣṭi đứng một mình thì phần lớn được hiểu là »tà kiến« quan niệm sai lầm. Người ta phân biệt nhiều loại tà kiến và chia chúng ra nhiều nhóm khác nhau theo hệ số như 2, 3, 4, 5, 7, 10 và 16 kiến, trong đó hệ thống Nhị kiến, Tam kiến, Tứ kiến và Thất kiến quan trọng hơn hết:|Nhị kiến: 1. Hữu kiến, cho tất cả là có thật và 2. Vô kiến, tà kiến thiên về không, hư vô.|Tam kiến: 1. Cho rằng sự việc xảy ra không có nguyên nhân, 2. Cho rằng đời sống tuyệt đối vô ích và 3. Vô kiến, tin tưởng vào một quan điểm hư vô.|Tứ kiến: 1. Nhất, nghĩa là chỉ có một, tất cả đều như nhau; 2. Dị, tất cả đều khác nhau, không cái nào giống cái nào; 3. Thường kiến, cho rằng tất cả đều thường còn, vĩnh viễn; 4. Ðoạn kiến, không thường còn.|Thất kiến: 1. Ngã kiến, tin có một tự Ngã (s: ātman); 2. Phủ nhận quy luật nhân quả (Nghiệp; s: karma); 3. Thường kiến, tin nơi sự trường tồn bất biến; 4. Ðoạn kiến, tin vào sự huỷ diệt; 5. Giới cấm thủ kiến, bám giữ nơi Giới luật; 6. Quả đạo kiến, nhận lầm một ác nghiệp là một thiện nghiệp; 7. Nghi kiến, nghi ngờ về các chân lí do Phật tuyên giảng.|b) Kiến dịch từ chữ darśana và được dùng chung với một danh từ khác như Kiến đạo (s: darśana-mārga)…; chỉ cách nhìn dựa trên lí luận minh triết, có khả năng loại bỏ Ái, đoạn được Nghi hoặc. Nhờ chính kiến mà hành giả có thể hiểu được Tứ diệu đế, từ bậc Tuỳ pháp hành (s: dharmānusārin) hoặc Tuỳ tín hành (s: śraddhānusārin) trở thành một bậc Dự lưu (s: śrotāpanna).

kiến

2990梵語 dṛṣṭi 或 darśana。音譯達利瑟致。觀視、推度之義。指由眼所見或推想,而對某事產生一定之見解。意謂見解、思想、主義、主張。有正見、邪見等。 大毘婆沙論卷九十五謂「見」有觀視、決度、堅執、深入四義,及照矚、推求二義。又依俱舍論卷二、卷二十六所載,「見」分五染污見、世間正見、有學正見、無學正見等八種。五染污見指身見、邊見、邪見、見取見、戒禁取見;世間正見指生得慧、聞慧、思慧、修慧等有漏慧;有學正見指有學身中之各種無漏見;無學正見指無學身中之各種無漏見。蓋俱舍宗以此等皆為慧之性,先審慮而後決度,故稱為見。其中,五染污見為不正見,其餘皆屬正見;前者係由上舉見之四義及二義,故稱為見。 又世友論師以眼取色境,有觀照之作用,故主張眼根能見,稱為根見家,是說一切有部之正義。大眾部及成實論卷四主張眼識能見,稱為識見家,大乘則取根識和合見之義。復次,唯識家廣稱八識心王及心所能緣之行相為見分,或相當於觀視之義。 經論中多依推度之義,將「見」分為二見、七見、十見等各種類別。(一)二見:有見與無見,或斷見與常見。此乃五見中之邊見。(二)七見:(1)邪見,否定因果之理。(2)我見,執實我之見。(3)常見,執於身心常住不變。(4)斷見,執於身心斷滅。(5)戒盜見,又作戒禁取見,執著不正確之戒律。(6)果盜見,執著由邪行所得之結果為正確。(7)疑見,懷疑真理。(三)十見:五見加貪見、恚見、慢見、無明見、疑見等,則成為十見。 此外,非佛教之錯誤見解,有四見、六十二見(梵網經所說)等。四見,乃網羅一切外道之說,即所謂四句分別。如:世界是常住、世界是無常、亦常住亦無常、非常住非無常等四者,此皆錯誤之見解。又主張邪因邪果、無因有果、有因無果、無因無果等四種錯誤之見解,亦稱四見。〔北本大般涅槃經卷二十五、卷二十七、十卷本楞伽經卷一、大智度論卷七、大乘起信論、品類足論卷三、大毘婆沙論卷十三、卷四十九、成實論卷十、雜阿毘曇心論卷一、成唯識論卷六、成唯識論述記卷三上、大乘義章卷六、華嚴孔目章卷二〕(參閱「一水四見」27、「二見」198、「十隨眠」499、「五見」1099、「因果」2293) ; Darśana (S), Dassana (P), Dṛṣṭi (S), Diṭṭhi (P),View Kiến giải.Nghĩa là: Xem xét tinh tường. Có 5 loại kiến: thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới kiến, tà kiến Xem huệ Xem Tỳ bà sa luận. ; Darsana, Disti (S). Seeing, discerning, judgement, views, opinions. Sight, intuition. ; (A) Nghĩa của Kiến—The meanings of “Kiến.” 1) Giáo lý: Theory—Doctrine. 2) Kiến lập: • Kiến lập cơ sở: To found—To set up—To establish—To build a school, a market, a house, etc. • Kiến lập môn phái: To found or to set up a school of thought or practice. 3) Kiến Giải (thấy): Darsana (skt)—Nại Lạt Xả Nang—Suy nghĩ tìm tòi để hiểu rõ mà chọn lựa (khẳng định sự lý, kể cả ý nghĩa chính đáng và không chính đáng)—Seeing—Discerning—Views—Opinions—Judgment—Thinking—Reasoning—Discriminating—Selecting truth. 4) Niềm tin: Belief. 5) Thấy: Seeing—Thấy bằng—Seeing by: a) Cái thấy của phàm phu—The seeing of ordinary people: Dassanam (p)—Darsana (skt). • Quan sát: Observing. • Chú ý: Noticing. • Khảo sát: Examining. • Trầm ngâm suy tưởng: Contemplating. b) Cái thấy của bậc Thánh nhân—The seeing of saintly people: Darsayati (p)—Drisdarsam (skt). • Thấy bằng trực tâm: Seeing with the mind. • Thấy bằng trực giác: Seeing by divine intuition. (B) Phân Loại Kiến—Categories of “Kiến.”—For more information, please see Nhị Kiến, Ngũ Kiến Thô Thiển, Ngũ Kiến Vi Tế, Tà Kiến and Hữu Kiến. ; (見) .. Phạm: Dfwỉi hoặc Darzana. Dịch âm: Đạt lợi sắc trí. Xem xét, suy tính. Chỉ cho cái thấy biết nhất định đối với một sự vật nào đó mà mắt thấy hoặc suy tưởng. Kiến có chính kiến, tà kiến. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 95, thì Kiến có 4 nghĩa: Xem xét, tính lường quyết đoán, nắm chắc và thâm nhập; hoặc có 2 nghĩa: Nhìn kĩ, tìm cầu. Còn luận Câu xá quyển 2, quyển 26 thì cho rằng Kiến được chia làm 8 loại. Năm kiến nhiễm ô, chính kiến thế gian, chính kiến hữu học và chính kiến vô học: Năm kiến nhiễm ô chỉ cho thân kiến, biến kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ kiến. Chính kiến thế gian chỉ cho sinh đắc tuệ, văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ, thuộc tuệ hữu lậu. Chính kiến hữu học chỉ cho các loại kiến vô lậu trong thân hữu học; còn chính kiến vô học thì chỉ cho các loại kiến vô lậu trong thân vô học. Bởi vì tông Câu xá cho các loại kiến này đều là tính của tuệ, trước xem xét, tính lường rồi sau mới quyết đoán, cho nên gọi là Kiến. Trong đó, 5 kiến nhiễm ô là bất chính kiến, còn lại đều thuộc chính kiến. Luận sư Thế hữu cho rằng mắt tiếp lấy sắc cảnh, có tác dụng quán chiếu, cho nên chủ trương căn mắt thấy, đây là nghĩa chính thống của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Còn Đại chúng bộ và luận Thành thực quyển 4 thì chủ trương thức mắt thấy, gọi là thức thấy; Đại thừa thì cho rằng căn và thức hòa hợp thì mới thấy được. Ngoài ra, tông Duy thức gọi là hành tướng của 8 thức tâm vương và tâm sở năng duyên là Kiến phần, hoặc tương đương với nghĩa xem xét. Trong các kinh luận thường căn cứ vào nghĩa suy tính mà chia Kiến thành các loại như: Nhị kiến, Thất kiến, Thập kiến, v.v... 1. Nhị kiến: Hữu kiến và vô kiến, hoặc đoạn kiến và thường kiến. Đây thuộc Biên kiến trong 5 kiến. 2. Thất kiến: -Tà kiến: Phủ định lí nhân quả. -Ngã kiến: Thấy có thực ngã. -Thường kiến: Chấp trước thân tâm thường trụ bất biến. -Đoạn kiến: Chấp trước thân tâm đoạn diệt. -Giới đạo kiến(cũng gọi Giới cấm thủ kiến): Chấp trước những giới luật không chính đáng. -Quả đạo kiến: Chấp trước kết quả do tà hạnh đạt được là chân chính. -Nghi kiến: Nghi ngờ đối với chân lí. 3. Thập kiến: Năm kiến thêm vào Tham kiến, Khuể kiến, Mạn kiến, Vô minh kiến và Nghi kiến nữa thì thành Thập kiến. Ngoài ra, những kiến giải sai lầm của ngoại đạo thì có 4 kiến, 62 kiến(theo kinh Phạm võng), chẳng hạn như chủ trương tà nhân tà quả, không có nhân quả, có nhân không quả, không nhân không quả, v.v... đều là những kiến giải sai lầm. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.25, Q.27 (bản Bắc); kinh Lăng già Q.1 (bản 10 quyển); luận Đại trí độ Q.7; luận Đại thừa khởi tín; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Đại tì bà sa Q.13, Q.49; luận Thành thực Q.10; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thành duy thức Q.6; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.6; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.2]. (xt. Nhất Thủy Tứ Kiến, Nhị Kiến, Thập Tùy Miên, Ngũ Kiến, Nhân Quả).

kiến chánh

1) Thấy đúng theo Chánh Pháp: Seeing correctly. 2) Tên của một đệ tử Đức Phật, nghi ngờ về hậu thế: Name of a disciple of the Buddha who doubted a future life.

kiến chánh kinh

Một vị đệ tử của Phật tên là Kiến Chánh, nghi ngờ về hậu thế. Nhân đó Phật đã đưa ra nhiều thí dụ để bác bỏ những thiên kiến mê chấp (đoạn kiến và thường kiến) của Tỳ Kheo Chánh Kiến—A Bodhisattva name “Correct Vision,” a disciple of the Buddha who doubted a future life, to whom the Buddha is said to have delivered the contents of the Correct Vision Sutra.

kiến chân

2997<一>以空慧徹見真理。無量壽經卷下(大一二‧二七四上):「慧眼見真,能渡彼岸。」無量壽經義疏卷下(大三七‧一一○中):「慧眼勝也,照空實慧,見理名眼,能見真空,故名見真。除捨有相,達到平等無相彼岸,名度彼岸。」〔無量壽經連義述文贊卷下、梁書卷四十七江紑傳〕 <二>(1173~1262)日僧親鸞。敕諡「見真大師」。(參閱「親鸞」6293) ; Tattva-dris (skt)—Perceiving truth—Thấy được chân tánh tuyệt đối của vạn hữu—To behold truth or ultimate reality. ; (見真) ..... I. Kiến Chân. Nhờ không tuệ thấy suốt chân lí. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 thượng), nói: Mắt tuệ thấy chân lí, vượt qua bờ bên kia. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ (Đại 37, 110 trung), ghi: Mắt tuệ thấy chân không, gọi là Kiến chân; xả bỏ hữu tướng, vượt qua bờ vô tướng bên kia, gọi là Độ bỉ ngạn. [X. Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.hạ; truyện Giang phụ trong Lương thư Q.47] II. Kiến Chân(1173-1262). Cao tăng Nhật bản, tên Thân loan. Vua ban thụy hiệu là Kiến Chân Đại Sư. (xt. Thân Loan).

Kiến Châu Tử

(建州子, Kenshūsu): xem Khai Thiện Đạo Khiêm (開善道謙, Kaizen Dōken, ?-?) bên trên.

kiến chí

2992梵語 dṛṣṭi-prāpta。又作見到、見得。見,指無漏之智慧。意謂以殊勝之智慧,而達至證見真理。七聖之一,十八有學之一,二十七賢聖之一。即俱舍論中,受教之利根者,人於斷情意煩惱位(修道位)時之名稱。以利根者自見法而得理,故稱見得;以得由因之見而至果之見,故稱見至。反之,鈍根者依信殊勝,而得信解。〔大毘婆沙論卷五十四、卷九十三、俱舍論卷二十三、卷二十五、阿毘達磨順正理論卷六十四、瑜伽師地論卷二十六、大乘義章卷十七〕(參閱「七聖」111、「二十七賢聖」169、「十八有學」351) ; Sācī (S). ; (見至) Phạm:Dfwỉi-pràpta. Cũng gọi Kiến đáo, Kiến đắc. Kiến chỉ cho trí tuệ vô lậu. Kiến chí nghĩa là dùng trí tuệ vô lậu để đạt đến chân lí. Là 1 trong 7 bậc Thánh, 1 trong 18 bậc Hữu học, 1 trong 27 Hiền thánh. Cứ theo luận Câu xá thì những người căn cơ nhạy bén ở giai vị Tu đạo, có khả năng tự thấy pháp đạt được lí mà chứng quả, cho nên gọi là Kiến chí. Trái lại, những người căn cơ chậm lụt thì nương vào lòng tin thù thắng mà hiểu biết chân lí. [X. luận Đại tì bà sa Q.54, Q.93; luận Câu xá Q.23; Q.25; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.64; luận Du già sư địa Q.26; Đại thừa nghĩa chương Q.17]. (xt. Thất Thánh, Nhị Thập Thất Hiền Thánh, Thập Bát Hữu Học).

kiến chí bổ la thành

3781建志補羅,梵名 Kāñcipura。古代南印度達羅毘荼國(梵 Drāviḍa)之都城。又作建志城。依大慈恩寺三藏法師傳卷四所載,此城即達磨波羅(唐言護法)菩薩本生之處。又建志城即印度南海之口,向僧伽羅國水路行三日即到。此地相當於今之何地不詳,或謂即今馬德拉斯(Madras)西方四十八公里帕拉爾河(Palār)畔之康傑維拉姆(Conjeveram),另一說謂內格巴塔姆(Negapatam)爲昔之建志補羅城。〔大唐西域記卷十、解說西域記、A. Cunningham: Ancient Geography ofIndia; T. Watters: On Yuan Chwang, vol. Ⅱ〕 ; (建志補羅城) Kiến chí bổ la, Phạm:Kàĩcipura. Cũng gọi Kiến chí thành. Kinh đô của nước Đạt la tì đồ (Phạm: Dràviđa) thuộc Nam Ấn độ đời xưa. Cứ theo Đại tứ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4, thành này là nơi sinh của bồ tát Đạt ma ba la (Hộ pháp). Thành này là cửa biển Nam của Ấn độ; từ đây, đi đường biển mất 3 ngày thì đến nước Tăng già la. Có thuyết cho rằng thành này chính là vùng Khang kiệt duy lạp mẫu (Conjeveram) ở bên bờ sông Phạ lạp nhĩ (Palàr) cách Mã đức lạp tư (Madras) hiện nay về phía tây 48 km. Lại có thuyết khác cho rằng Nội cách ba tháp mẫu (Negapatam) hiện nay chính là thành Kiến chí bổ la ngày xưa. [X. Đại đường tây vực kí Q.10; Giải thuyết tây vực kí; Ancient Geography of India; T. Watters: On Yuan Chwang, Vol. II].

kiến chí bộ la

Kancipura (skt)—Kiến Chí Thành—Kinh đô của Dravida, bây giờ là Conjevaram, khoảng chừng 48 dậm về phía tây nam Madras—Capital of Dravida, the modern Conjevaram, about 48 miles south-west of Madras.

kiến chính

See Kiến Chánh.

kiến chư phật độ nguyện

3004為彌陀四十八願中之第四十願。又作樹中見土願、隨意得見十方國土願、普見佛土願、隨意照見願。即極樂淨土之菩薩,隨意欲見十方佛土,由寶樹中皆得明了照見之願。 於現存無量壽經之五種異譯本中,僅魏譯之無量壽經及唐譯之無量壽如來會尚存本願願文,而漢、吳、宋三譯本則缺。此外,於梵本則將本願列為第三十八願,而謂由樹中現出者為莊嚴之具。〔無量壽經卷上〕 ; (見諸佛土願) Cũng gọi Thụ trung kiến độ nguyện, Tùy ý đắc kiến thập phương quốc độ nguyện, Phổ kiến Phật độ nguyện, Tùy ý chiếu kiến nguyện. Nguyện cho chúng sinh ở Tịnh độ Cực lạc, nếu muốn thấy cõi Phật trong 10 phương, thì đều theo ý được thấy rõ ràng từ trong các cây báu. Là nguyện thứ 40 trong 48 điều nguyện của đức Phật A di đà. Trong 5 bản dịch khác nhau của kinh Vô lượng thọ hiện còn, thì chỉ có bản dịch kinh Vô lượng thọ đời Ngụy và bản dịch Hội Vô lượng thọ Như lai đời Đường là còn văn nguyện của điều nguyện này, còn 3 bản dịch đời Hán, Ngô và Tống đều thiếu. Ngoài ra, trong nguyên bản tiếng Phạm, nguyện này được xếp vào điều nguyện thứ 38 và cho rằng cảnh hiện ra từ trong cây báu là dùng để trang nghiêm cõi Cực lạc. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].

kiến chướng

Các loại tà kiến dấy lên gây chướng ngại cho Bồ Đề Tâm—The obstruction of heterodox views to enlightenment.

kiến chấp

chỉ những quan điểm, định kiến sai lầm, cố chấp và vướng mắc vào chỗ thấy biết hiện có của mình, cho đó là tuyệt đối và không chấp nhận mọi quan điểm khác. Do kiến chấp mà người ta không thể nhận biết Chánh pháp. ; View-attachment.

kiến cái

Chỉ cho tà kiến vọng thức, vì nó hay che đậy chân tính. X. Kiến triền.

kiến giả

2997指見惑。惑之體虛妄而非實有,故稱之為假。(參閱「見惑」2997) ; (見假) ..... Chỉ cho Kiến hoặc.Vì thể của Hoặc là hư dối không thật có, cho nên gọi là Giả. (xt. Kiến Hoặc).

kiến giải

Xem Kiến. ; Samakhya (skt)—Comprehension—Understanding.

kiến hiệu

Effective.

kiến hoá môn

Pháp môn giáo hoá của Phật Tổ gây dựng. Nhà thiền cho rằng Kiến hoá môn chẳng phải là diệu pháp đốn ngộ, mà chỉ là pháp môn phương tiện nhằm thích nghi với số đông căn cơ trung hạ. [i]Pháp Diễn ngữ lục[/i] q. thượng ghi: »况 第 一 義 本 來 清 凈、 不 受 諸 塵、 如 何 說 得? 同 道 方 知。 今 日 放 過 一 著、 向 建 化 門 中、 別 作 箇 解 話 會。 – [i]Huống là đệ nhất nghĩa xưa nay thanh tịnh, chẳng dính các trần, làm sao nói được? Chỉ có kẻ đồng đạo mới biết. Hôm nay cởi mở một phen, ở trong Kiến hoá môn (pháp môn phương tiện) thông qua lời giải thích để lãnh hội[/i]«.

kiến hoặc

Gọi đầy đủ là "kiến đạo sở đoạn hoặc", Phạn ngữ: darśana-mārga-prahātavyānuśaya. Cũng gọi là kiến phiền não, kiến chướng, kiến nhất xứ trụ địa, đều dùng để chỉ những chỗ mê lầm mà người tu tập phải trừ dứt. Theo Câu-xá tông (Tiểu thừa) thì kiến hoặc có 88 loại, gọi là kiến hoặc bát thập bát sử, tức là những phiền não căn bản mà người kiến đạo sẽ dứt trừ hết. Kể chi tiết ra thì gồm có: ngũ lợi sử (thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến), ngũ độn sử (tham, sân, si, mạn, nghi) hợp thành thập sử hay thập hoặc. Người kiến đạo quán xét Ba cõi, tu tập theo Bốn thánh đế nên trừ bỏ được các kiến hoặc theo từng trình tự không giống nhau, như quán xét tu tập Khổ đế trong Dục giới liền trừ được 10 kiến hoặc (thập sử); khi quán xét tu tập theo Tập đế và Diệt đế thì lần lượt trừ được mỗi giai đoạn là 7 kiến hoặc (thất sử, gồm thập sử kể trên trừ ra thân kiến, biên kiến và giới cấm thủ kiến trong ngũ lợi sử); đến khi tu tập theo Đạo đế liền trừ được 8 kiến hoặc (bát sử, gồm thập sử kể trên trừ ra thân kiến và biên kiến trong ngũ lợi sử), cộng cả thảy là 32 kiến hoặc (10+7+7+8), gọi là tam thập nhị sử . Khi tu tập Bốn thánh đế ở các cõi Sắc giới và Vô sắc giới cũng trừ được số kiến hoặc như ở Dục giới, nhưng có khác là không có sân, nên còn lại 7 kiến hoặc (thay vì 8), nhân cho Bốn thánh đế thành 28 kiến hoặc (nhị thập bát sử), cộng chung hai giai đoạn tu tập ở Sắc giới và Vô sắc giới trừ dứt được 56 kiến hoặc (ngũ thập lục sử). Như vậy cộng chung số kiến hoặc phải trừ dứt trong Ba cõi là 88 kiến hoặc (32+56), gọi chung là bát thập bát sử 。Tuy nhiên, cách liệt kê các kiến hoặc không giống nhau ở các tông phái, chúng ta chỉ cần hiểu kiến hoặc là những nhận thức sai lầm gây ra phiền não, làm che mờ tâm thức. ; 2997見道所斷惑(梵 darśana-mārga-prahātavyānuśaya)之略稱。又作見煩惱、見障、見一處住地。指在見道時所斷滅之惑。修道時所斷滅之惑,則稱修惑(或思惑)。俱舍宗以執迷於四諦理之迷理惑為見惑,執迷於現象事物之迷事惑為修惑。唯識宗以見惑為後天之煩惱,稱為分別起,係因邪師或邪教等誘導,而於心上生起者;修惑為與生俱來,而自然產生之先天性煩惱,稱為俱生起(表一)。此外,以見思二惑為空觀能斷之煩惱,故天台宗立此二惑,而與塵沙惑、無明惑並稱三惑。其中,見思惑因對三界內之事物而起,能招感三界之生死(即迷的生存),故稱界內惑。並以其共通三乘所斷之煩惱,故亦稱通惑。 (一)據小乘俱舍宗,見惑凡八十八種,稱為見惑八十八使(表二)。即見道所滅之根本煩惱有五利使(身見、邊見、邪見、見取見、戒禁取見)、五鈍使(貪、瞋、癡、慢、疑)等十惑。於見道觀三界之各四諦,其所斷之見惑各各不同,即於欲界苦諦所斷有十使;集、滅二諦所斷各有七使(除五利使中之身見、邊見、戒禁取見);道諦所斷有八使(除五利使中之身見、邊見),共斷三十二使。於色界、無色界各四諦所斷皆如欲界,然各諦之下又除瞋使,故各斷二十八使。色界、無色界共計斷五十六使,故三界共計斷八十八使。復次,十惑中,小乘以貪、瞋、癡、慢四者通於見修二道所斷,疑與五見,則唯為見所斷,說修惑有八十一種,稱為修惑八十一品(表三)。即修道時所滅之根本煩惱計有十種,在欲界有貪、瞋、癡、慢,在色界、無色界各有貪、癡、慢。若以此十種配合九地,更依煩惱之強弱來分,則由上上品至下下品九種,共為八十一品。見惑八十八使與十種修惑,合稱九十八隨眠。 (二)大乘唯識宗以十惑中之貪、瞋、癡、慢、身見、邊見六者通於見修二道所斷,其餘四者唯為見所斷,而說見惑有一一二種,即欲界之四諦下各有貪、瞋、癡、慢、疑、身見、邊見、邪見、見取見、戒禁取見等十惑,共為四十惑;色界、無色界各四諦下各除瞋,而為九惑,合為七十二惑,故三界合計一一二惑。修惑有十六種,即於欲界有貪、瞋、癡、慢、身見、邊見等六惑;色界、無色界則各除瞋而為五惑,合為十惑,三界合計十六惑。見思二種,總計共有一二八根本煩惱(表四)。〔俱舍論卷十九、成唯識論卷六、雜阿毘曇心論卷四、瑜伽師地論卷八十六、阿毘達磨順正理論卷六十五、成唯識論述記卷六下、成唯識論了義燈卷五末、摩訶止觀卷五下、俱舍論光記卷十九〕(參閱「九十八隨眠」126、「見道」3000、「修惑」4047) ; Darśanamārga-prahatavyanuśaya (S)Kiến đạo sở đoạn hoặcNhững phiền não được đoạn diệt khi đạt đến giai vị kiến đạo. Chấp thật cái kiến giải sai làm là kiến hoặc. ; Wrong views. ; Chấp thật cái kiến giải sai lầm là kiến hoặc. ; Các loại phiền não và cám dỗ khởi lên từ tà kiến—Perplexities or illusions and temptations arise from false views or theories—Delusive views—Delusions of views. ; (見惑) ..... Tên đầy đủ: Kiến đạo sở đoạn hoặc (Phạm: Darzana-màrga-prahàtavyànuzaya). Cũng gọi Kiến phiền não, Kiến chướng, Kiến nhất xứ trụ địa. Chỉ cho những phiền não được đoạn diệt khi tiến lên giai vị Kiến đạo. Còn những phiền não được đoạn diệt khi đạt đến giai vị Tu đạo, thì gọi là Tu hoặc (hay Tư hoặc). Tông Câu xá cho Kiến hoặc thuộc về mê lí, tức là lầm chấp lí Tứ đế, còn Tu hoặc thì thuộc về mê sự, tức là lầm chấp các sự vật hiện hữu. Còn tông Duy thức thì cho Kiến hoặc là các phiền não sinh khởi ở nơi tâm do sự dẫn dắt của tà sư hay tà giáo, gọi là Phân biệt khởi; còn Tu hoặc là những phiền não tự nhiên, sinh ra đã có, gọi là Câu sinh khởi(xem biểu đồ 1). Đồ Biểu 1: Tông Câu Xá

kiến hoặc tư hoặc

Ảo tưởng đưa đến tà kiến—Illusory or misleading views and thoughts: 1) Kiến Hoặc: Các loại vọng kiến, phân biệt tà vạy, gây ra những mê hoặc—Delusions in the visible world. 2) Tư Hoặc: Lấy tình cảm mê chấp tham, sân, si, mà nghĩ cảm về vạn hữu trên thế gian—Illusions in the mental or moral world. ** For more information, please see Tam Hoặc.

kiến huệ

Do sự tu tập thiền định mà được phát trí tuệ về các thứ kiến chấp—The wisdom of right views, arising from dhyana meditation.

kiến hành

chỉ chung các loại ngã kiến, tà kiến... khiến hành giả không thể nhận thức được chân lý, nên cũng gọi là kiến hoặc. ; 2993眾生二種根性之一。指不隨他人教語,任由己意而行者。反之,隨順他人教語而行者,稱為愛行。眾生機品雖有萬差之別,大抵不過此二類。又「行」乃有為法之總名,特取以為煩惱之別稱,舉凡身見等五見,乃至六十二見、九十六見等惡見,亦稱見行。〔北本大般涅槃經卷十五、大智度論卷二十一〕(參閱「愛行見行」5458) ; Rational behaviour—See Ái Hành. ; (見行) Không nghe theo lời dạy bảo của người khác, chỉ làm theo ý mình. Một trong 2 loại căn tính của chúng sinh. Trái lại, làm theo những lời dạy bảo của người khác, thì gọi là Ái hành. Căn tính của chúng sinh tuy có thiên sai vạn biệt, nhưng đại khái thì không ngoài 2 loại này. Ngoài ra, Hành là tên gọi chung của pháp hữu vi, đặc biệt được dùng để chỉ riêng cho những phiền não; như 5 kiến, 62 kiến cho đến 96 thứ tà kiến cũng gọi là Kiến hành. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.15 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.21]. (xt. Ái Hành Kiến Hành).

kiến hỉ

Vui mừng. [i]Tông Môn Võ Khố[/i] ghi: »師 (指 宗 杲) 在 寶 峰 時、 元 首 座 極 見 喜。 – [i]Sư (chỉ Tông Cảo) khi ở Bảo Phong, Nguyên Thủ toạ rất vui mừng[/i]«.

kiến khổng trước tiết

2991禪林用語。即應機說法之意。原謂欲填補孔穴,需以大小與孔穴相若之楔子打入,以期相應而允當;於禪林中,轉指應機說法之意,即師家接引學人時,按照學人各自不同之根機而採取不一之做法。虛堂錄卷二(大四七‧九九八上):「師云:『嵓頭雖則見孔著楔,累他羅山,坐在起滅不停處。』」

Kiến kết

xem Ba kết.

kiến kết

2999九結之一。結,繫縛、結縛之義,為煩惱之異名。見結,即指邪見之煩惱。眾生於身見、邊見、邪見等妄起執著,廣為不善之行,如殺、盜、婬、妄等,由此遂招感未來生死之苦,流轉於三界而不能出離。故稱此類由邪曲見解而來之煩惱為見結。(參閱「結」5179) ; Sakkāyadiṭṭhi (P), View of a self Thân kiếnMột trong ba mối trói buộc mà người đạt quả Tu đà hườn có được là dứt hết mối lầm nơi bản ngã, không còn thấy có mình có người. ; The bond of heterodox views. ; Phiền não do tà kiến gây ra khiến chúng sanh lăn trôi trong luân hồi sanh tử, một trong cửu kết—The bond of heterodox views, which fastens the individual to the chain of transmigration, one of the nine attachments. ** For more information, please see Cửu Kết and Cửu Phược.

kiến liên quán tự tại

3003為密教四十觀音之一。又作紫蓮觀音。即千手觀音從持紫蓮花之手所化現之菩薩。據千光眼祕密法經載,若人欲見諸如來者,當以此觀音為本尊而修紫蓮法。其形像為右手執紫蓮花,左手仰上,置於心前。其他之相好與「與願觀自在」相同。其契印為蓮華合掌(手印的印母之一),作開花之勢。真言:唵(oṃ)縛日羅達磨(vajra dharma,金剛法)乳耄羅娑鉢納麼(nīlorasapadma?,紫蓮花)薩縛勃馱(sarva buddha,一切佛)枳攘曩(jñāna,知)娑乞芻毘耶(sākṣibhyas,見)娑縛賀(svāhā)。(參閱「四十觀音」1647) ; (見蓮觀自在) Cũng gọi Tử liên Quan âm. Vị Bồ tát được hóa hiện ra từ tay cầm hoa sen đỏ tím(tử liên) của Ngài Quan âm nghìn tay. Là 1 trong 40 tôn vị Quan âm của Mật giáo. Cứ theo kinh Thiên quang nhãn bí mật pháp, nếu ai muốn thấy đức Như lai thì nên thờ vị Quan âm này làm Bản tôn mà tu pháp Tử liên. Về hình tượng của vị Bồ tát này, thì tay phải cầm hoa sen đỏ tím, tay trái ngửa lên đặt ở trước ngực. Còn các tướng hảo khác của Ngài cũng giống với bồ tát Dữ nguyện Quán tự tại. Ấn khế là ấn Liên hoa hợp chưởng(chắp tay hình hoa sen nở). Chân ngôn là: Án(oô) phạ nhật la đạt ma (vajra dharma, kim cương pháp), nhũ mạo la sa bát nạp ma (nilorasapadma, tử liên hoa), tát phạ bột đà (sarva buddha, nhất thiết Phật) chỉ nhương nẵng (jĩàna, tri) sa khất sô tì da (sàkwibhyas, kiến) sa phạ hạ (svàhà). (xt. Tứ Thập Quan Âm).

kiến lung đả lung

3004禪林用語。原意謂一見他人編造籠子,遂見異思遷,而尾隨模仿;在禪林中,轉指修行者毫無主見或謀略,常附隨對方之作為而作為。 ; (見籠打籠) ........... Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thấy người ta đan lồng mình cũng bắt chước làm theo. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho người tu hành chẳng có chút chủ kiến nào, chỉ làm theo những việc của người khác.

kiến luận

3003二種戲論之一。為「愛論」之對稱。指於一切法作決定之見解。亦即謬於見解且執著不捨,稱為見論。三論宗嘉祥大師以利根者、出家人、外道、二乘等四類人易起見論,而以鈍根者、在家人、天魔、凡夫等四類人易起愛論。〔中觀論疏卷一〕(參閱「愛論見論」5463) ; (見論) Đối lại: Ái luận. Cứ khư khư cho sự thấy biết sai lầm của mình là đúng. Là 1 trong 2 loại hí luận. Đại sư Gia tường thuộc tông Tam luận cho rằng 4 loại người như: lợi căn, xuất gia, ngoại đạo và Nhị thừa, dễ khởi ra kiến luận; còn 4 loại người như: độn căn, tại gia, thiên ma và phàm phu thì dễ khởi ra ái luận. [X. Trung quán luận sớ Q.1]. (xt. Ái Luận Kiến Luận).

kiến lập

Vyavasthāna (S), Establishment An lập. ; Samaropa (skt). • Xây dựng—Thành lập—Sáng lập—To build—To establish—To errect—To set up—To found a school, sect, thought or practice. • Sự khẳng định hay sự thiết lập lý trí, trái lại với đối lập: Assertion, or theory-making. Samaropa stands against refutation (apavada).

kiến lập giả

3780即別教從空入假之假觀;爲天台宗所說。又稱施設假。其初以空觀蕩破諸法,更爲大悲,施化建立假,故稱建立假,以別於從假入空之虛妄假。〔光明玄義卷下之一、法華玄義釋籤卷一之一〕

kiến lập sai biệt hành

Prabhadapracārā (S). ; Prabhedapracàra (S). Individualizing side of the existence.

kiến lập trí

Pratisthàpikabuddhi (S). ; Pratishthapikabuddhi (skt)—Cái trí nhờ đó một mệnh đề được thiết lập—The intelligence whereby a proposition is set up.

Kiến lập 建立

[ja] ケンリツ konryū ||| (1) Foundation, groundwork, base, basis (prathisthā). (2) Decide, confirm. (3) Raise, set up, establish, posit, form, advance, create, build. (4) To manifest, express, appear. (5) To establish a temple. => 1. Sự sáng lập, nền tảng, cơ sở (s: prathisthā). 2. Quyết định, xác quyết. 3. Dựng lập, thiết lập, thành lập, đặt, tổ chức, tiến hành, tạo hành, xây dựng. 4. Biểu hiện, biểu lộ, xuất hiện. 5. Dựng lập một ngôi chùa.

kiến lậu

Ảo tưởng tà kiến cho rằng những thứ giả hợp là có thật—The illusion of viewing the seeming as real.

kiến minh

2995(1206~1289)高麗僧。慶尚北道慶州章山郡人,俗姓金。字晦然,後改名一然。十四歲從陳田大雄出家受具足戒,三十一歲,住包山無住寺得悟,受「三重大師」號,四十一歲再加禪師號,後移南海定林社。五十四歲加大禪師號。元宗二年(1261),奉王命於京師禪月社開堂,後繼仁弘社法席,住此十一年,學徒雲集。忠烈王三年(1277),奉詔住雲門寺,大振玄風,述法要於闕下,九年受「國尊」、「圓徑沖照」等號。十年入義興華山麟角寺,叢林之盛,無可比者。十五年七月示寂,享年八十四。諡號「普覺」。著有普覺國師語錄二卷、大藏須知錄三卷、祖庭事苑三十卷、禪門拈頌事苑三十卷等。〔高麗史卷二十九、朝鮮佛教通史卷下、朝鮮禪教史〕 ; (見明) (1206-1289) Vị Thiền tăng Cao li, người quận Chương sơn, Khánh châu, tỉnh Khánh thượng bắc, họ Kim, tự Hối nhiên, sau đổi là Nhất nhiên. Năm 14 tuổi, sư theo ngài Trần điền Đại hùng xuất gia thụ giới Cụ túc. Năm 31 tuổi, sư tu tập tại chùa Vô trụ ở Bao sơn, được tỏ ngộ, sau dời về Định lâm xã Nam hải. Năm 54 tuổi, sư được ban hiệu Đại Thiền Sư. Năm 1261, sư vâng mệnh vua khai đường giảng pháp ở Thiền nguyệt xã tại kinh đô, kế tiếp sư mở đạo tràng ở Hoàng nhân xã và ở đây 11 năm, người đến theo học rất đông. Năm 1277, vua Trung liệt sắc lệnh sư trụ trì chùa Vân môn, đại chấn tông phong, dạy pháp yếu nơi cung vua. Năm 1283, sư được ban các hiệu Quốc Tôn, Viên Kính Xung Chiếu. Năm 1284, sư ở chùa Lân giác tại Hoa sơn, Nghĩa hưng, hoằng dương Thiền pháp, tùng lâm hưng thịnh, không đâu sánh bằng. Năm 1289, sư tịch, thọ 84 tuổi, thụy hiệu Phổ giác. Sư có các tác phẩm: Phổ giác quốc sư ngữ lục 2 quyển, Đại tạng tu tri lục 3 quyển, Tổ đình sự uyển 30 quyển; Thiền môn niêm tụng sự uyển 30 quyển. [X. Cao li sử Q.29; Triều tiên Phật giáo thông sử Q.hạ; Triều tiên Phật giáo sử].

kiến mục khứu tị

2992為傳說中樹立於閻魔王身側之標幟。杖頭有赤白雙童之首,係混合閻魔王經常攜帶之檀荼幢與俱生神(察知人間善惡二業之神)之說而來,用以表示鉅細無遺之探索。 ; (見目嗅鼻) Mắt thấy mũi ngửi. Chỉ cho cây cờ cắm bên cạnh vua Diêm ma. Theo truyền thuyết, đầu cây cờ này có 2 đầu người đỏ và trắng, đó là do sự kết hợp giữa cây cờ Đồ đàn của vua Diêm ma với thần Câu sinh(thần xét biết nghiệp thiện ác của nhân gian)mà ra. Cây cờ này tượng trưng cho sự xem xét tinh tường của vua Diêm ma.

kiến nghiệt

Chỉ cho tà kiến vọng thức, vì nó làm tổn hại việc tỏ ngộ chân tính. X. Kiến triền.

kiến nghị

Motion.

Kiến Nhân Tự

(建仁寺, Kennin-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Kiến Nhân Tự thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, tọa lạc tại Komatsu-chō (小松町), Higashiyama-ku (東山區), Phố Kyoto (京都), tên núi là Đông Sơn (東山). Vào năm 1202 (năm thứ 2 niên hiệu Kiến Nhân [建仁]), thể theo lời phát nguyện của Thổ Ngự Môn Thiên Hoàng (土御門天皇, Tsuchimikado Tennō, 1195-1231), thí chủ Tướng Quân Nguyên Lại Gia (源賴家, Minamoto-no-Yorriie, 1182-1204) đã mời Vinh Tây (榮西, Eisai) đến làm tổ khai sơn và lấy niên hiệu mà đặt tên chùa. Vào năm 1205 (năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Cửu [元久]), chùa được hoàn thành, trở thành đạo tràng tu tập cho cả 3 tông Thiên Thai, Chơn Ngôn và Thiền. Về sau, vào năm 1265, kể từ thời Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) làm trú trì trở đi, nơi đây trở thành ngôi Thiền tự rất hưng thạnh, được liệt vào hàng Ngũ Sơn (五山, 5 ngôi chùa danh tiếng); và đến thời kỳ Thất Đinh (室町, Muromachi) thì có rất nhiều vị danh tăng rất giỏi về văn chương xuất hiện. Từ ngày thành lập về sau, chùa này đã mấy lần bị hỏa hoạn, đặc biệt là vào năm 1552 (năm thứ 21 niên hiệu Thiên Văn [天文]), do vì binh loạn nên chùa bị cháy hoàn toàn. Kiến trúc chùa hiện nay do Huệ Quỳnh (慧瓊, Ekei) của An Quốc Tự (安國寺, Ankoku-ji) phục hưng, gồm Sắc Sứ Môn (勅使門, thời đại Liêm Thương hậu kỳ), Phương Trượng (方丈, khoảng năm 1487), Điện Phật (佛殿, khoảng thời gian niên hiệu Minh Hòa [明和, 1764-1772]). Bảo vật của chùa có rất nhiều như các tranh Phong Thần, Lôi Thần của Biểu ốc Tông Đạt (俵屋宗達, Tawaraya Sōtatsu), tranh Trúc Lâm Thất Hiền Đồ (竹林七賢圖) của Hải Bắc Hữu Tùng (海北友松, Kaihō Yūshō) cũng như bút tích của Nhất Sơn Nhất Ninh (一山一寧, Issan Ichinei), v.v.

Kiến Nhân tự

建仁寺; J: kennin-ji;|Một ngôi chùa lớn của tông Lâm Tế tại Nhật, nơi Thiền sư Minh Am Vinh Tây (j: myōan eisai) được cử làm vị trụ trì đầu tiên năm 1202. Trên khu vực của chùa này người ta còn tìm thấy những di tích của những tông phái Phật giáo khác trong thời gian thành lập chùa này tại Kinh Ðô (kyōto). Nhiều vị trụ trì chùa này có quan hệ với Thiên Thai tông (j: tendai) và Chân ngôn tông (j: shingon) và phương pháp giáo hoá, hướng dẫn môn đệ tu tập của những vị này đều bị ảnh hưởng qua sự liên hệ này. Chùa Kiến Nhân được xếp vào Ngũ sơn của Kinh Ðô.

kiến nhân tự

3780日本臨濟宗建仁寺派之大本山。位於京都市,乃京都五山之一。建仁二年(1202),明庵榮西於幕府之保護下創建本寺,初爲天台、真言兼修之道場,至十一世道隆之時始易爲正式修禪之道埸。屢遭大火,天正年間(1573~1591),安國寺惠瓊乃再度興建。本寺之勅使門爲鎌倉建築,方丈爲室町初期之建築,佛殿爲江戶建築。此外尚有鐘樓、開山堂、影堂等。原有塔頭七十餘座,今僅餘十餘座。 ; Kennin-ji (J)Tên một ngôi chùa. ; (建仁寺) Chùa ở Kinh đô (Kyoto), Nhật bản, do ngài Minh am Vinh tây sáng lập vào năm Kiến nhân thứ 2 (1202), dưới sự bảo hộ của Mạc phủ, là Đại bản sơn của phái chùa Kiến nhân thuộc tông Lâm tế. Mới đầu, chùa này là đạo tràng của tông Thiên thai và tông Chân ngôn, đến ngài Đạo long đời thứ 11 mới chính thức đổi làm đạo tràng tu Thiền. Chùa đã nhiều lần bị hỏa hoạn. Khoảng năm Thiên chính (1573-1591), có ngài Huệ quỳnh ở chùa An quốc mới đến xây cất lại. Cổng Sắc sứ của chùa là kiến trúc đời Liêm thương, nhà phương trượng là kiến trúc đầu thời đại Thất đinh, điện Phật là kiến trúc của thời Giang hộ. Ngoài ra, chùa còn có lầu chuông, Khai sơn đường, Ảnh đường, v.v... và 70 tòa tháp mà nay chỉ còn lại hơn 10 tòa.

kiến nhất thiết nghĩa phật

Vision of All Meaning Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai. ; Sarvarthadaria-Buddha (S)

kiến nhứt thiết nghĩa phật

Sarvarthadaria-Buddha (S).

kiến phi kiến

The visible and invisible; phenomenal and noumenal. ; Những cái dễ thấy dễ biết và những điều sâu sắc huyền diệu—The visible and the invisible—Phenomenal and noumenal.

kiến pháp

2995<一>阿含經典有兩類見法。(一)與「現法」同義,即於現在世之意。雜阿含經卷六(大二‧四○上):「出家學道,增加精進,修諸梵行,見法自知作證。」(二)指知見一切行無常、一切法無我、涅槃寂滅。雜阿含經卷十(大二‧六六中):「彼必堪能為我說法,令我知法見法。」〔雜阿含經卷十三、卷三十四、中阿含卷七象跡喻經〕 <二>指密教行者對於所願成就之相,住於無染無著清淨真實之心,諦觀實相,並善能通達其實義。大日經卷三悉地出現品(大一八‧一九中):「爾時,金剛手白佛言:『世尊!惟願復說此正等覺句、悉地成就句,諸見此法善男子、善女人等,心得歡喜,受安樂住,不害法界。』」 蓋行者雖口誦真言,修真言行,然心中了知,此真言雖從緣起,而實無作,從本以來本是法界,無生無滅,非淨非染,法體如是,但以方便而自淨其心;又了知真言之體即同於法界,亦同於大空,自然能得無相三昧。依此修學而通達種種法門與世間、出世間事乃同一法界,不可分析使成別體,即能得悉地見法成就,深得法喜,住安樂行,現法樂住。以其與法界無二無別,亦無增減,故無妨礙。〔大日經疏卷十一、大日經義釋演密鈔卷八〕 ; (見法) ... .. I. Kiến Pháp: 1. Đồng nghĩa với Hiện pháp, chỉ cho pháp hiện tại. Kinh Tạp a hàm quyển 6 (Đại 2, 40 thượng), nói: Xuất gia tu hành thường phải tinh tiến tu các phạm hạnh, đối với Kiến pháp tự biết tự chứng. 2. Chỉ cho sự thấy biết tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngã, Niết bàn là vắng lặng. Kinh Tạp a hàm quyển 10 (Đại 2, 66 trung), nói: Chư Phật ắt vì chúng con mà nói pháp, khiến cho chúng con biết pháp, thấy (kiến) pháp. [X. kinh Tạp a hàm Q.13, Q.34; kinh Tượng tích trong Trung a hàm Q.7]. II. Kiến Pháp: Chỉ cho người tu hành Mật giáo đối với sở nguyện thành tựu, an trụ nơi tâm chân thực thanh tịnh không nhiễm trước, thấy rõ thực tướng và thông đạt thực nghĩa. Phẩm Tất địa xuất hiện kinh Đại nhật quyển 3 (Đại 18, 19 trung), nói: Lúc bấy giờ, bồ tát Kim cương thủ bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Kính xin Ngài giảng nói về Chính đẳng giác và về Tất địa thành tựu, khiến các thiện nam tử, thiện nữ nhân, thấy pháp ấy rồi tâm được hoan hỉ, thụ an lạc trụ, không tổn hại pháp giới. Bởi vì hành giả tuy miệng tụng chân ngôn, tu hạnh chân ngôn, nhưng trong tâm biết rõ, chân ngôn ấy tuy theo duyên khởi, mà thực ra là không tạo tác, từ xưa đến nay vốn là pháp giới, không sinh không diệt, chẳng sạch chẳng dơ, pháp thể như như, đồng với đại không, tự nhiên được tam muội vô tướng. Nương vào đó mà tu hành thì thông suốt được các pháp môn và các việc thế gian, xuất thế gian là đồng nhất pháp giới, không thể tách rời, liền được Tất địa Kiến pháp thành tựu, được niềm pháp hỉ sâu xa và được hiện pháp lạc trụ. [X. Đại nhật kinh sớ Q.11; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn bí sao Q.8]

kiến phân biệt

Drishtivikalpa (skt)—Các thứ kiến giải dựa vào sự phân biệt nhị biên về hiện hữu –Views based on the dualistic discrimination of existence.

kiến phược

Phiền não do tà kiến (cho những thứ giả hợp là có thật) gây ra, trói buộc con nguời vào vòng sanh tử—The bond of the illusion of heterodox opinions which binds men and robs them of freedom (mistaking the seeming for the real). ** For more information, please see Cửu Kết and Cửu Phược.

kiến phần

2991唯識宗所立四種心法(心識之作用)之第二種。又作能取分。即指諸識之能緣作用,為認識事物之主體;亦即能照知所緣對境(即相分,為認識之對象)之主體作用。「見」即見照、心性明了之義,謂能照燭一切諸法及解了諸法義理,如鏡中之明,能照萬象。見分有五義:(一)證見名見,即根本智見分。(二)照燭名見,此通於根、心(即眼、耳等六根、六識),以根、心俱有照燭義之故。(三)能緣名見,此通於內三分(自證分、證自證分、能緣自證分),以內三分俱皆能緣之故。(四)念解名見,以念解所詮義理之故。(五)推度名見,以能量之心推度一切境界之故。〔佛地經論卷三、成唯識論卷二、成唯識論述記卷三本〕(參閱「四分」1663) ; The part of drsti or subjective perception. ; (見分) ... .. Cũng gọi Năng thủ phần. Chỉ cho tác dụng năng duyên của 8 thức tâm vương, là chủ thể nhận biết sự vật; cũng tức là tác dụng chủ thể soi sáng các đối cảnh sở duyên(tức Tướng phần– đối tượng của nhận thức). Là 1 trong 4 phần vị của tâm pháp do tông Duy thức thành lập. Kiến nghĩa là kiến chiếu, soi sáng tất cả pháp, như tấm gương chiếu rọi muôn tượng. Kiến phần có 5 nghĩa: 1. Chứng kiến danh kiến: Kiến phần của trí căn bản, tức trí căn bản tự chứng tự thấy nên gọi là Kiến. 2. Chiếu chúc danh kiến: Nghĩa này thông cả căn, tâm(tức 6 căn 6 thức), vì căn, tâm có đủ nghĩa soi sáng nên gọi là Kiến. 3. Năng duyên danh kiến: Nghĩa này thông cả Tự chứng phần,Chứng tự chứng phần và Tự chứng phần năng duyên, vì 3 phần này đều là năng duyên nên gọi là Kiến. 4. Niệm giải danh kiến: Hiểu và nhớ được nghĩa lí nói ra một cách rõ ràng nên gọi là Kiến. 5. Suy đạc danh kiến: Vì tâm có khả năng suy lường tất cả cảnh giới nên gọi là Kiến. [X. Phật địa kinh luận Q.3; luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Tứ Phần).

kiến phật

2993依觀佛三昧或口稱三昧,得見佛之相好色身。關於所見之佛身,據大乘起信論所載,二乘及凡夫依分別事識,見佛之應身;諸菩薩依業識,見佛之報身。八十華嚴經卷五十八更列安住世間成正覺佛無著見、願佛出生見、業報佛深信見、住持佛隨順見、涅槃佛深入見、法界佛普至見、心佛安住見、三昧佛無量無依見、本性佛明了見、隨樂佛普受見等十種見佛。見佛,多指感見佛之色身,然領解佛心、證悟佛法亦可稱為見佛。得見佛之益,必能滅罪生善,證得妙果。〔般舟三昧經卷上行品、大佛頂首楞嚴經卷五、觀無量壽經、大智度論卷二十九、十住毘婆沙論卷十二、釋摩訶衍論卷五、大乘起信論義記卷下本、觀念法門〕 ; Beholding Buddha; to see Buddha. Hìnayàna sees only the nirmànakàya or body of incarnation, Mahàyàna sees the spiritual body, or body in bliss, the sambhogakàya. ; Thấy báo thân và ứng thân của Phật—Beholding Buddha—To see Buddha. 1) Hàng phàm phu và nhị thừa, do cái biết phân biệt nên chỉ thấy được ứng thân của Phật: Due to clinging to discrimination, ordinary people and Hinayana see only the nirmanakaya or body of incarnation of the Buddha. 2) Bồ Tát và Đại Thừa, không còn phân biệt nên thấy cả ứng thân và báo thân Phật: Bodhisattvas and Mahayana, without clinging to discrimination, see both the body of incarnation (nirmanakaya) and the spiritual body or body in bliss (sambhogakaya) of the Buddha. 3) Những người không có duyên lành (không trồng căn lành) ở kiếp trước không thấy cả hai thứ ứng thân và báo thân: Those who did not cultivate good roots in their past lives, see neither nirmanakaya nor sambhogakaya of the Buddha. ; (見佛) Thấy Phật. Nếu nương vào Quán Phật tam muội hoặc Khẩu xưng tam muội mà tu hành thì sẽ được thấy sắc thân tốt đẹp của Phật. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín, thì hàng Nhị thừa và phàm phu nương theo Phân biệt sự thức mà thấy Ứng thân của Phật, còn hàng Bồ tát thì nương Nghiệp thức mà thấy Báo thân của Phật. Kinh Hoa nghiêm quyển 58 (bản 80 quyển) liệt kê 10 loại Kiến Phật: An trụ thế gian thành chính giác Phật vô trước kiến. Nguyện Phật xuất sinh kiến, Nghiệp báo Phật thâm tín kiến, Trụ trì Phật tùy nguyện kiến, Niết bàn Phật thâm nhập kiến, Pháp giới Phật phổ chí kiến, Tâm Phật an trụ kiến, Tam muội Phật vô lượng vô y kiến, Bản tính Phật minh liễu kiến và Tùy nhạo Phật phổ thụ kiến. Kiến Phật thường chỉ cho sự cảm thấy sắc thân của Phật, nhưng lãnh hội tâm Phật, chứng ngộ pháp Phật cũng có thể gọi là Kiến Phật. Thấy được Phật ắt có thể diệt tội sinh phúc, chứng được diệu quả. [X. phẩm Hành trong kinh Ban chu tam muội Q.thượng; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.5; kinh Quán vô lượng thọ; luận Đại trí độ Q.29; luận Thập trụ tì bà sa Q.12; luận Thích ma ha diễn Q.5; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần đầu; Quán niệm pháp môn].

kiến phật quán tự tại

2993密教四十觀音之一。又稱青蓮觀音。即千手觀音從持青蓮花之手所化現之菩薩。據千光眼祕密法經載,若欲往生十方淨土者,當以此觀音為本尊而修青蓮法。其形像為右手執青蓮花,左手顯掌,置於胸前。其他之相好與「與願觀自在」相同。印契為蓮華合掌(手印的印母之一),作開花之勢。真言為:唵(oṃ)縛日羅達磨(vajradharma,金剛法) ; (見佛觀自在) Cũng gọi Thanh liên Quan âm. Vị Bồ tát được hóa hiện từ bàn tay cầm hoa sen xanh của Ngài Quan âm nghìn tay. Là 1 trong 40 tôn vị Quan âm của Mật giáo. Cứ theo kinh Thiên quang nhãn bí mật pháp, nếu người nào muốn sinh về Tịnh độ trong 10 phương thì nên thờ vị Quan âm này làm Bản tôn mà tu phápThanh liên. Hình tượng của Ngài là tay phải cầm hoa sen xanh, tay trái ngửa lên đặt ở trước ngực. Còn các tướng hảo khác thì cũng giống như bồ tát Dữ nguyện Quán tự tại. Ấn khế là Liên hoa hợp chưởng(chắp tay kiểu hoa sen nở). Chân ngôn là: Án(oô) phạ nhật la đạt ma (vajradharma, Kim cương pháp) ninh la bát nạp ma (nìlapadma, thanh liên hoa) ôn bá đa (ugata, sinh) bột đà vĩ sái doanh (buddhavisaye, Phật quốc) sa phạ hạ (svàhà).

kiến phật tổ như sinh oan gia

Thấy Phật Tổ như gặp kẻ thù. Nhà thiền cho rằng, đối với sự mê tín chấp trước Phật Tổ cần phải phá trừ, vì thế mới có các phương tiện như: không lễ Phật Tổ, quở Phật mắng Tổ. Phần »Năm vị Tì kheo Hành Cái trong pháp hội Phật Hải chùa Linh Ẩn cầu pháp ngữ« trong MANL ghi: »見 佛 祖 如 生 冤 家、 聞 禪 道 如 風 過 樹。 – [i]Thấy Phật Tổ như gặp kẻ thù, nghe Thiền đạo như gió thổi qua cây[/i]«.

kiến phọc

The bond of the illusion of heterodox opinions, i.e. of mistaking the seeming for the real which binds men and robs them of freedon.

kiến quá vu sư phương kham truyện thụ

3001禪林用語。謂弟子之智見超越師家之時,方具備授予師法之資格。禪林中,師家接引弟子時,如弟子之見解、智慧不凡,頗有超越乃師之處,則師家常以此語表示對此弟子之激賞、首肯。如溈仰宗之祖溈山靈祐即曾以此語表示對弟子仰山慧寂之嘉賞。另如以「德山棒」馳名叢林之德山宣鑒與其弟子巖頭全豁之機緣語句中,亦以此語表示師徒間彼此坦然相對、惺惺相惜之意。碧巖錄第十一則(大四八‧一五一下):「見與師齊,減師半德;智過於師,方堪傳授。」〔景德傳燈錄卷十六、聯燈會要卷七〕 ; (見過于師方堪傳授) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tri kiến của đệ tử phải hơn thầy mới đủ tư cách được thầy truyền pháp cho. Trong Thiền lâm, nhóm từ trên đây là lời của vị thầy bày tỏ sự tán thưởng và thừa nhận một đệ tử có kiến giải, trí tuệ siêu phàm, vả lại còn có chỗ vượt trội hơn thầy. Hoặc được dùng để biểu thị mối tương quan giữa thầy và trò cư xử với nhau một cách thản nhiên tự tại. Tắc 11, Bích nham lục (Đại 48, 151 hạ), nói: Sự thấy biết ngang với thầy thì đức mới bằng nửa của thầy; trí tuệ vượt hơn thầy thì mới đủ sức lãnh nhận giáo pháp của thầy. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.16; Liên đăng hội yếu Q.7].

kiến quản sao

3002見管,即現在管理之意;鈔,即紙幣之意。即指現前所有之錢財。反之,支出之錢財,則稱為支鈔。禪林象器箋第二十九類錢財門:「幻住菴清規,亡僧唱衣,云:『除支外,見管無。』」〔敕修百丈清規卷三唱衣條〕 ; (見管鈔) Đối lại: Chi sao. Chỉ cho tiền bạc hiện có. Kiến quản nghĩa là hiện đang quản lí; Sao nghĩa là tiền giấy. Còn Chi sao là tiền xuất ra. Môn Tiền tài, loại 29, trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Huyễn trụ am thanh qui, theo phép Xướng y, sau khi tường trình về các phí khoản cho đám tang, nói đến tài vật của vị tăng quá cố rằng: Ngoài khoản chi ra (Chi sao), không còn gì hết (Kiến quản vô). [X. điều Xướng y trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3].

kiến quốc

To found (build up) a state.

kiến sâm lậu

3002為曹洞宗之祖洞山良价所立洞山三滲漏(見滲漏、情滲漏、語滲漏)之一。意謂修行者猶有我見,法見不空,則難以去除法執之境地,而不能徹見諸法實相。人天眼目卷三(大四八‧三一九上):「一、見滲漏,機不離位,墮在毒海,妙在轉位也。」(參閱「洞山三滲漏」3868) ; (見滲漏) ........ Còn ngã kiến, pháp kiến thì không thể thấu suốt được thực tướng của các pháp. Là 1 trong 3 sấm lậu do ngài Động sơn Lương giới lập. Nhân thiên nhãn mục quyển 3 (Đại 48, 319 thượng), nói: Kiến sấm lậu, cơ chẳng lìa vị, rơi vào biển độc, diệu ở chuyển vị. (xt. Động Sơn Tam Sấm Lậu).

kiến sơ

Tên của một ngôi chùa tọa lạc tại làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Theo Thiền Uyển Tập Anh và Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, chùa được xây vào trước năm 820 bởi Thiền Sư Cẩm Thành người huyện Tiên Du. Trước kia sư tu ở chùa Phật Tích, sau được một ông phú hộ họ Nguyễn mời về Kiến Sơ lập chùa. Đến năm 820, bên Tàu là đời nhà Đường, có Thiền Sư Vô Ngôn Thông, trụ trì chùa Hòa An, thuộc tỉnh Quảng Châu, Trung Quốc, sang nước ta, đến làng Phù Đổng, được Thiền Sư Cảm Thành tôn làm Thầy, mời ở lại trụ trì chùa Kiến Sơ. Từ đó Kiến Sơ trở thành trung tâm của Thiền Phái Vô Ngôn Thông. Hiện tại trong chùa vẫn còn tượng Lý Công Uẩn và mẹ ông ở hai bên điện thờ Tam Bảo. Trong điện thờ Tổ có gác chuông với kiến trúc nổi bậc và chiếc khánh bằng đá cổ, đường kính 2 mét 3, chiếu cao sáu tấc, bề dầy 17 phân. Kiến Sơ là một trong những ngôi chùa cổ của Việt Nam được xây cất trước thế kỷ thứ 5, chùa đã được trùng tu nhiều lần—Name of a temple, located in Phù Đổng village, Gia Lâm district, Hà Nội province, North Vietnam. According to Thiền Uyển Tập Anh and Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, the temple was built before 820 by Ch'an Master Cẩm Thành from Tiên Du district. He previously practised Buddhism at Phật Tích Pagoda, then was requested by a rich landlord, whose last name was Nguyễn, to move to Kiến Sơ temple and built it. In 820, during the T'ang dynasty, Ch'an Master Wu Yun T'ung, Head of Hòa An Temple in Kuang-Chou province, in China, arrived in Vietnam. He went to Phù Đổng village and later became Ch'an Master Cẩm Thành's teacher. He, then, was invited to stay and appointed to be head of Kiến Sơ Temple. Since then, the temple has become the center of the Wu-Yun-T'ung Sect. At present, the statues of Lý Công Uẩn and his mother are placed on the left and right sides of the temple's Buddhist Trinity. Inside the Patriarch Hall is a remarkably architectural bell tower and an old stone gong, 2.3 meters wide, 0.60 meter high, 0.17 meter thick, has still been kept in the temple. Kiến Sơ is one of the most ancient temples in Vietnam which was constructed before the fifth century. It has been rebuilt many times—See Cảm Thành.

kiến sơ tự

Chùa ở làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại ô Hà Nội, Việt Nam. Chùa nằm bên phải đền Xung Thiên Thần Vương, tục gọi là đền đức Thánh Gióng. Chùa nguyên là gia trạch của một người hào phú họ Nguyễn ở làng Phù Đổng đem dâng cúng làm chùa và rước Thiền sư Cảm Thành đến trụ trì; không bao lâu Thiền sư Vô Ngôn Thông đến đây và chùa trở thành Tổ đình của thiền phái Vô Ngôn Thông. ; 3781位於建鄴(江蘇江寧)城外之聚寶門外,爲江南最早建立之寺院。又稱聚寶山、報恩寺。吳赤烏十年(247),康僧會至吳都建業(南京)弘揚佛教時,吳王孫權信服其教法而創建本寺,並建阿育王塔,據傳係阿育王八萬四千塔中之一。此地亦稱佛陀里。由此因綠,江南佛教遂興。康僧會曾於此編譯六度集經等經,並注安般守意、法鏡、道樹三經。孫皓大毀佛寺時,僅存本寺,號天子寺。西晉永嘉年間,西域僧帛尸黎蜜多羅曾於本寺譯出孔雀王經等密教經典。後歷經宋、齊、梁、陳等南朝諸國,隨朝代之更迭,亦幾經更名爲長慶寺、奉先寺、天禧寺、大報恩寺等,直至明代皆爲江南佛教中心道場之一。東晉孝武帝初年,支曇籥奉勅住此,製六言梵唄。梁代僧祐幼時就本寺僧範出家,並住此弘揚律學。齊永明十年(492),明徹就僧祐受誦律,亦住此寺弘諸大乘經論。此外,竺慧達、竺法曠,及禪宗法眼宗匡逸、玄則、法安等高僧皆曾住此弘法。明成祖曾賜一磁製塔,塔有八角八稜九層,五彩燦爛,炫人眼目,惜燬於太平天國兵火中,今僅存遺墟。〔出三藏記集卷十三、梁高僧傳卷一、卷十一、卷十三、續高僧傳卷六〕 ; (建初寺) Cũng gọi Tụ bảo sơn, Báo ân tự. Chùa ở bên ngoài Tụ bảo môn, ngoại thành Kiến nghiệp(nay là huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô), Trung quốc, do vua nước Ngô là Tôn quyền sáng lập vào năm Xích ô thứ 10 (247). Đây là ngôi chùa đầu tiên ở vùng Giang nam. Vào năm Xích ô thứ 10 (247), ngài Khang tăng hội đến Kiến nghiệp (Nam kinh), là kinh đô nước Ngô, hoằng dương Phật giáo, được vua nước Ngô là Tôn quyền tin phục nên xây dựng chùa này và tháp A dục vương, tương truyền đây là 1 trong 84.000 tòa tháp của vua A dục. Từ đó, vùng này được gọi là Làng Phật(Phật đà lí). Ở chùa này, ngài Khang tăng hội biên dịch kinh Lục độ tập, chú thích các kinh An ban thủ ý, Pháp kính và Đạo thụ. Đến đời Tây Tấn, ngài Bạch thi lê mật đa la, người Tây vực, cũng ở chùa này dịch kinh điển Mật giáo như kinh Khổng tước vương, v.v... Đời Đông Tấn, ngài Chi đàm thược sáng tác Lục ngôn Phạm bái. Đời Lương, có ngài Tăng hựu giảng dạy Luật học ở đây. Năm Vĩnh minh thứ 10 (492) đời Tề ngài Minh triệt hoằng dương các kinh luận Đại thừa. Vào các đời Tống, Tề, Lương, Trần thuộc Nam triều và qua đời Tùy, chùa đã nhiều lần được đổi tên là chùa Trường khánh, chùa Phụng tiên, chùa Thiên hi, chùa Đại báo ân, v.v... Cho mãi đến đời Minh, chùa này vẫn còn là 1 trong những đạo tràng trung tâm của Phật giáo vùng Giang nam. Các vị cao tăng như: Khang tăng hội, Trúc tuệ đạt, Tăng hựu, Trúc pháp khoáng, Minh triệt và các bậc Thiền sư như: Khuông dật, Huyền tắc, Pháp an, v.v... thuộc tông Pháp nhãn, đều đã từng trụ trì chùa này để hoằng dương giáo pháp; nhờ nhân duyên ấy mà nền Phật giáo Giang nam được hưng thịnh và vững bền. Vua Thành tổ nhà Minh có ban sắc xây 1 tòa tháp bằng gốm, hình 8 góc, có 9 tầng, với 5 mầu sắc rực rỡ, khiến người xem lóa mắt, nhưng rất tiếc tòa tháp này đã bị phá hủy trong cuộc chiến loạn thời Thái bình thiên quốc do Hồng tú toàn và Dương tú thanh khởi xướng từ năm 1851 đến 1864, nay chỉ còn lại nền tháp. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.13; Lương cao tăng truyện Q.1, Q.11, Q.13; Tục cao tăng truyện Q.6].

kiến sắc văn thanh

2992禪林用語。詳稱為「見色明心聞聲悟道」。見色明心,謂徹見自己本具之心性,即藉五官中眼之機緣而透見本性;聞聲悟道,乃憑耳之機緣而悟道。此語係源自禪林中之兩則公案:唐代靈雲禪師因睹桃花而明心見性,禪林 乃有「靈雲見桃明心」之公案;香嚴智閑禪師因偶聞擊竹之聲而豁然悟道,與靈雲之見桃明心,同為禪林中之美談,故傳之久遠,甚為後代禪徒所樂道。 碧巖錄第七十八則(大四八‧二○五中):「莫只守一窠一窟,一切處都是觀音入理之門,古人亦有聞聲悟道,見色明心。」(參閱「香嚴擊竹」4019、「靈雲」6939) ; (見色聞聲) Nói đủ: Kiến sắc minh tâm, văn thanh ngộ đạo. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thấy sắc sáng lòng, nghe tiếng ngộ đạo. Nghĩa là nhờ mắt thấy sắc mà thấu suốt được nguồn tâm, do tai nghe tiếng mà ngộ được Thánh đạo. Từ Kiến sắc văn thanh bắt nguồn từ 2 công án trong Thiền tông, đó là: Linh vân kiến đào minh tâm và Hương nghiêm kích trúc ngộ đạo. Vào đời Đường, thiền sư Linh vân nhân thấy hoa đào nở rộ bỗng thấu suốt tâm tính của mình. Thiền sư Hương nghiêm Trí nhàn thì nhân nghe viên sỏi bắn vào gốc tre phát ra tiếng mà hoát nhiên ngộ đạo. Hai công án này đều nổi tiếng, cho nên được truyền tụng đến ngày nay và rất được người đời ưa thích. Tắc 78, Bích nham lục (Đại 48, 205 trung), ghi: Chớ bám dính vào hang ổ, tất cả chỗ đều là cửa đưa vào lí Quan âm, cổ nhân cũng có người nghe tiếng mà ngộ đạo, thấy sắc mà sáng lòng.

kiến sở đoạn

2994梵語 darśana-prahātavya。於見道所斷者之意。又作見道所斷、見斷。與修所斷及非所斷,並稱為三斷。據俱舍論卷二、卷十九、俱舍論光記卷二載,八十八隨眠及其相應俱有之法,與四相、隨行之得等,皆為見所斷。然於見道十五心中,隨順次見四諦之理的分別,故所斷者亦不同,即:見道之苦諦所斷,稱為見苦所斷;集諦所斷,稱為見集所斷;滅諦所斷,稱為見滅所斷;道諦所斷,稱為見道所斷。 此外,唯識家將隨眠分為分別起、俱生起二種,見道所斷即屬於分別起。另據大乘阿毘達磨雜集論卷四所載,分別所起之染污之見、疑、見處、疑處,及於見等所發之身語意業與一切惡趣等之蘊、界、處等,為見所斷。此與俱舍論所舉之義稍有不同。又俱舍家以見所斷之惑為八十八使(隨眠),唯識家則認為見惑有一一二種。〔成唯識論卷六、卷八、卷九、大毘婆沙論卷五十一、卷八十六、俱舍論卷三、阿毘達磨順正理論卷六、大乘法苑義林章卷二末〕(參閱「三斷」687、「見惑」2997) ; Darśana-heya (S)Người ở giai đoạn trừ 88 tùy miên và các ác pháp câu hữu. ; (見所斷) Phạm: Darzana-prahàtavya. Cũng gọi: Kiến đạo sở đoạn, Kiến đoạn. Những phiền não ở giai vị Kiến đạo phải đoạn. Một trong Tam đoạn. Cứ theo luận Câu xá quyển 2, quyển 19 và Câu xá luận quang kí quyển 2, thì 88 tùy miên và pháp tương ứng của chúng, cùng với 4 tướng, v.v... đều là Kiến sở đoạn. Nhưng trong 15 tâm Kiến đạo, tùy theo thứ tự thấy lí Tứ đế khác nhau mà chỗ đoạn trừ có bất đồng, tức thấy lí Khổ đế mà đoạn, gọi là Kiến khổ sở đoạn; thấy lí Tập đế mà đoạn, gọi là Kiến tập sở đoạn; thấy lí Diệt đế mà đoạn, gọi là Kiến diệt sở đoạn; thấy lí Đạo đế mà đoạn, gọi là Kiến đạo sở đoạn. Tông Duy thức chia Tùy miên làm 2 loại là: Phân biệt khởi và Câu sinh khởi; Kiến đạo sở đoạn thuộc về Phân biệt khởi. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 4, thì Kiến, Nghi, Kiến xứ, Nghi xứ nhiễm ô do chỗ phân biệt mà khởi, cho đến thân, ngữ, ý nghiệp do các Kiến phát sinh, cùng với Uẩn, Giới, Xứ của tất cả đường ác đều thuộc về Kiến sở đoạn. Nghĩa này hơi khác với nghĩa được nói trong luận Câu xá. Ngoài ra, tông Câu xá cho các hoặc (phiền não) Kiến sở đoạn là 88 sử(Tùy miên), còn tông Duy thức thì nói Kiến hoặc có 112 loại. [X. luận Thành duy thức Q.6, Q.8, Q.9; luận Đại tì bà sa Q.51, Q.86; luận Câu xá Q.3; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.6; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần cuối].(xt. Tam Đoạn, Kiến Hoặc).

kiến sở đoạn nghiệp

Parsanahuya-karma (S)Nghiệp bất thiện, chiêu cảm đường ác.

kiến thanh

3781請參閱 大覺禪師語錄 印度古代外道之種類。建,即大日經所舉三十種外道中之建立淨外道與不建立無淨外道兩種。前者建立一切法,依之而修,並自謂所作即是淨法;後者則相反,謂凡有所建立者,即非究竟之法,遂故行不淨,遠離於淨。聲,即聲顯外道、聲生外道、非聲外道三種。聲顯外道,謂聲之體爲本有而常住者,以其待緣而顯聲可知。聲生外道,謂聲本無,以緣而生,生已,即爲常住者。非聲外道,反對以上聲顯、聲生之說,而謂聲無常、不遍存。〔大日經疏卷一〕(參閱「建爪」3780) ; (建聲) Chủng loại ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Kiến, tức là 2 loại ngoại đạo: Kiến lập tịnh ngoại đạo và Bất kiến lập vô tịnh ngoại đạo trong 30 thứ ngoại đạo được nói trong kinh Đại nhật. Kiến lập tịnh ngoại đạo thì kiến lập tất cả pháp rồi y theo đó mà tu hành, tự cho rằng những gì mình làm đều là Tịnh pháp. Trái lại, Bất kiến lập vô tịnh ngoại đạo thì cho rằng phàm những pháp được kiến lập đều chẳng phải pháp rốt ráo, vì thế thực hành những pháp bất tịnh, mà xa lìa pháp thanh tịnh. Thanh, tức là 3 loại ngoại đạo: Thanh hiển ngoại đạo, Thanh sinh ngoại đạo và Phi thanh ngoại đạo. Thanh hiển ngoại đạo chủ trương âm thanh vốn có sẵn và thường trụ, nhưng đến khi phát âm mới hiển rõ ra cho ta nghe được. Thanh sinh ngoại đạo thì cho rằng âm thanh vốn không có, chỉ sau khi phát âm mới có và từ đó cứ tồn tại mãi. Còn Phi thanh ngoại đạo thì phản đối luận thuyết của cả Thanh hiển và Thanh sinh mà chủ trương âm thanh là vô thường không tồn tại. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1]. (xt. Kiến Trảo).

kiến thiết

See Kiến Tạo.

kiến thành công án

2993禪林用語。又作現成公案。為不假造作而現成之公案,即如實公案之意。碧巖錄第九則(大四八‧一四九上):「舉僧問趙州:『如何是趙州?』州云:『東門、西門、南門、北門。』」圜悟禪師之著語謂此為現成公案,意謂趙州所答之東、西、南、北四門即是現成公案,而無須另借其他之指示安排。蓋一切諸法本法爾自然,顯現成就佛性,不待造作工夫,皆已成公府案牘。即謂佛法於山川、草木、萬物之上歷歷現成。〔景德傳燈錄卷十二陳尊宿章〕 ; (見成公案) Cũng gọi Hiện thành công án. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Công án không nhờ tạo tác mà hiện thành, tức là công án như thực. Tắc 9, Bích nham lục (Đại 48, 149 thượng) chép: Tăng hỏi Triệu châu: Thế nào là Triệu châu? Triệu châu đáp: Cửa đông, cửa tây, cửa nam, cửa bắc. Thiền sư Viên ngộ bình luận: Lời đáp 4 cửa đông, tây, nam, bắc của ngài Triệu châu là công án hiện thành, không cần vay mượn một sự chỉ bày an bài nào khác. Bởi vì tất cả các pháp vốn tự nhiên như thế, tự hiển hiện Phật tính, không cần công phu tạo tác, đều tự thành công án. Nghĩa là Phật pháp hiện thành rõ ràng trên núi sông, cây cỏ và muôn vật. [X. điều Hối tích tàng dụng trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.12].

kiến thần kiến quỷ

Cố làm ra vẻ huyền bí, làm điều giả dối, xằng bậy. Tiết Kính Sơn Trí Sách Thiền sư trong Tục Truyền Đăng Lục q. 30 ghi: »往 豫 章 謁 典 牛… 及 造 門、 典 牛 獨 指 師 曰: 甚 處 見 神 見 鬼 來? – [i](Sư) đến Dự Chương ra mắt Điển Ngưu… Vừa mới đến cửa, Điển Ngưu chỉ ngay sư, hỏi: Làm điều giả dối xằng bậy ở đâu rồi đến đây?[/i]«.

kiến thố phóng ưng

① Lúc đi săn thấy dấu vết con thỏ liền thả chim ưng ra đuổi bắt. Thiền tông dùng cụm từ này làm thuật ngữ để chỉ cho sự khơi gợi chuẩn xác và nhanh chóng của thiền sư trong lúc tiếp hoá người học. Tắc 27, [i]Bích Nham lục[/i] (Đại 48, 167 trung) ghi: »垂 示 云: 問 一 答 十。 舉 一 明 三 見 兔 放 鷹。 因 風 吹 火。 – [i]Dạy rằng: Hỏi một đáp mười, nêu một rõ ba, thấy thỏ thả ưng, nhân gió thổi lửa[/i]«. ② Hành động hồ đồ, chưa thực ngộ, chỉ mới nắm bắt ngôn từ đã tưởng mình thấy pháp rồi hạ thủ công phu lầm lẫn. NĐHN q. 12 ghi: »老 僧 恁 麼 舉 了、只 恐 你 諸 人 見 兔 放 鷹、 刻 舟 求 劍。 – [i]Lão tăng đã nêu như thế, chỉ sợ các ông hồ đồ thấy thỏ mới thả ưng, khắc be thuyền tìm gươm[/i]«. ; 2994禪林用語。原謂做事時,善能見機行事,靈活運作,猶如遊獵之時,一見兔之蹤跡,即刻放出飛贗追逐之;在禪林中,轉指師家之臨機接待學人,善能應機說法,隨機應變,善巧靈活。碧巖錄第二十七則(大四八‧一六七中):「垂示云:『問一答十,舉一明三,見兔放鷹,因風吹火。』」 ; (見兔放鷹) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Khi thấy dấu vết của thỏ thì thả chim ưng ra đuổi bắt. Trong Thiền lâm, cụm từ này được dùng để chỉ cho bậc thầy, khi tiếp dắt người học, theo cơ nói pháp, tùy thời ứng biến, khéo léo linh hoạt. Tắc 27, Bích nham lục (Đại 48, 167 trung), nói: Hỏi một đáp mười, nêu một rõ ba, thấy thỏ thả chim, nhân gió thổi lửa.

kiến thủ

Dṛsṭy-upādāna (S)Chấp trước những kiến giải sai lâm do tà tâm phân biệt sanh khởi. ; Clinging to heterodox views. ; Kiến chấp tà vạy, một trong tứ thủ—Clinging to heterodox views, one of the four kinds of clinging. ** For more information, please see Tứ Thủ.

kiến thủ kiến

2994梵語 dṛṣṭiparāmarśa。乃執著於身見、邊見、邪見等非理之見。全稱見等取見。略稱見取。係四取之一,五見之一,十隨眠之一。有漏劣法為聖者所斷,故執此劣法為勝者,稱為見取。此以染污之慧為體,唯分別起,能障苦及不淨之無顛倒解為業。另據大明三藏法數卷三十之「七見」項載,見取見又作戒盜見,指不知如來之正戒,妄執牛戒、狗戒等外道、不正之戒法,而誤以為可達涅槃之戒行,此種執著即稱見取見。〔大毘婆沙論卷四十九、俱舍論卷十九、顯揚聖教論卷一、阿毘達磨順正理論卷四十七、瑜伽師地論卷八、成唯識論卷六〕(參閱「七見」98、「十隨眠」499、「五見」1099、「四取」1704) ; Dṛṣṭi-paramarsa-dṛṣṭi (S), Dṛṣṭiparamarsa (S), Uddhacca (P), Restlessness, Anuddhatya (S)Trạo cử, Kiến đẳng thủ kiến Cố chấp vào ý kiến của mình, tự cho là đúng hơn cả. Chấp trước những kiến giải phi lý. Một trong Thập sử. ; Drstiparàmarsa (S). To hold heterodox doctrines and be obsessed with the sense of the self. ; Drstiparamasra (skt). • Những tranh cãi do chấp vào ý kiến cố chấp vào thiên kiến của mình, một trong ngũ Kiến—Wrong views caused by attachment to one's own erroneous understandings—To hold heterodox doctrines and be obsessed with the sense of the self. • Kiến thủ kiến (khư khư bảo thủ ý kiến của mình)—Conservative standpoint: Lối nầy là khuynh hướng của những người giữ lấy ý mình và chống lại sự thay đổi. Không ý thức được sự sai quấy, mà vẫn giữ ý, không thèm nghe người khác; hoặc vì tự ái hay vì cứng đầu ngang ngạnh cứ tiếp tục giữ cái sai cái dở của mình. Chẳng hạn như ở Việt Nam người ta có thói quen đốt giấy vàng mã theo phong tục của Trung Hoa trong đám tang. Kỳ thật, đám tang theo nghi thức Phật giáo thật đơn giản. Thân bằng quyến thuộc tề tựu về tụng Kinh A Di Đà để hộ niệm cho người chết thoát khổ. Phật tử, nhất là chư Tăng Ni thích được hỏa táng hơn là địa táng vì cách nầy vừa đở tốn kém lại vừa hợp vệ sinh hơn. Hơn nữa, theo thời gian đất chôn sẽ tăng một cách đáng kể làm giảm đi đất dành cho sự canh tác và xây cất các công thự tiện ích khác—That is the tendency of those who maintain their point of view or resist and oppose change. For example, there are some out-dated customs still practiced in Vietnam such as using Chinese money papers and burning them at funeral ceremonies. In fact, Buddhist funeral rites are simple. Relatives and friends recite the Amitabha Sutra to help free the dead from suffering. Buddhists, especially monks and nuns, prefer cremation to burial, since the first mode is more economic, and hygienic than the second one. Moreover, with time, the burial grounds would extend considerably, reducing thus the land reserved for cultivation and other utilities. ** For more information, please see Ngũ Kiến Thô Thiển and Ngũ Kiến Vi Tế. ; (見取見) Phạm: Dfwỉiparàmrza. Gọi đủ: Kiến đẳng thủ kiến. Gọi tắt: Kiến thủ. Chấp trước sự thấy biết sai lầm, trái với chính lí. Một trong 4 thủ, 1 trong 5 kiến, 1 trong 10 tùy miên. Nghĩa là cố chấp những pháp hữu lậu, hạ liệt mà bậc Thánh đoạn trừ cho là tối thắng. Loại cố chấp này lấy tuệ ô nhiễm làm thể, do phân biệt mà sinh khởi, gây chướng ngại và làm ô nhiễm sự hiểu biết chân chính. Cứ theo mục Thất kiến (7 kiến giải) trong Đại minh tam tạng pháp số quyển 30, thì Kiến thủ kiến còn được gọi là Giới đạo kiến, chỉ cho ngoại đạo không biết giới chân chính của Như lai, chấp bậy giới bò, giới chó, lầm tưởng những giới pháp bất chính ấy là giới hạnh có thể đạt được Niết bàn. Loại chấp trước này gọi là Kiến thủ kiến. [X. luận Đại tì bà sa Q.49; luận Câu xá Q.19; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.47; luận Du già sư địa Q.8; luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Kiến, Thập Tùy Miên, Ngũ Kiến, Tứ Thủ).

kiến thủ sứ

The trials of delusion and suffering from holding heterodox doctrines.

kiến thức

Learning—Knowledge.

kiến thức phàm phu

Worldly knowledge.

kiến thức phân biệt của phàm phu

Kiến thức biện biệt của phàm phu, phân biệt ta và người, đúng và sai—Differentiating knowledge—For ordinary beings, it is the everyday mind continually making distinction between self and others, right and wrong—Provisional wisdom.

kiến thức rộng

Wide knowledge.

kiến tranh

Cố chấp nơi ý kiến sai lầm của mình mà tranh cãi—Wrangling on behalf of heterodox views; striving to prove them.

Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục

(建中靖國續燈錄, Kenchūseikokuzokutōroku): 3 quyển, còn gọi là Tục Đăng Lục (續燈錄, Zokutōroku), do Phật Quốc Duy Bạch (佛國惟白) nhà Tống biên tập, san hành vào năm đầu (1101) niên hiệu Kiến Trung Tĩnh Quốc (建中靖國), là bộ Truyền Đăng Lục kế tiếp Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) và Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄). Sau khi biên tập hoàn thành, Duy Bạch đem bộ này dâng lên cho Hoàng Đế Huy Tông (徽宗) đương thời, cho nên nó được lấy tên niên hiệu lúc bấy giờ là Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục. Tác phẩm này phân biệt rõ 5 môn: Chánh Tông, Đối Cơ, Niêm Cổ, Tụng Cổ, Kệ Tụng; thâu tập các tiểu sử, ngữ cú đối cơ, Cổ Tắc Công Án, kệ tụng, v.v., của chư vị tôn sư để làm gương sáng cho hậu nhân noi theo. Đặc trưng nổi bật của bộ này là có thêm vào những lời dạy của chư vị Thiền sư thuộc Vân Môn Tông.

kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục

3780凡三十卷,另有目錄三卷。宋代僧佛國惟白編。收於卍續藏第一三六冊。書成於徽宗建中靖國元年(1101),故冠以此年號。本書係繼景德傳燈錄、天聖廣燈錄之後,依禪門法脈相續之次第,編列師資略歷、機緣語句、古則公案、偈頌等而成,全書大別爲正宗、對機、拈古、頌古、偈頌等五門,而於臨濟、雲門諸師之語所錄較詳備。 ; (建中靖國續燈錄) Tác phẩm, 33 quyển, trong đó có 3 quyển mục lục, do ngài Phật quốc Duy bạch biên soạn vào đời Tống, hoàn thành vào niên hiệu Kiến trung tĩnh quốc năm đầu (1101), được thu vào Vạn tục tạng tập 136. Sách này tiếp theo các bộ Cảnh đức truyền đăng lục và Thiên thánh quảng đăng lục. Nội dung nghi chép về thứ tự truyền thừa, tiểu sử, cơ duyên ngữ cú, cổ tắc công án, kệ tụng, v.v... của các Thiền sư. Toàn sách chia làm 5 môn là: Chính tông, Đối cơ, Niêm cổ, Tụng cổ và Kệ tụng. Trong đó, ngữ lục của các tông Lâm tế, Vân môn được ghi chép đầy đủ và rõ ràng hơn.

kiến trì thành

Kancipura (S)Địa danh.

kiến trí thân

2997為密教金剛界法中所結誦之印明。智身,指智法身。即於結誦此印明之前,先結誦現智身之印言,觀現普門總德之金剛薩埵(即智法身),將之引入行者內心,為使智法身與五相觀所成之理法身冥會不二,故於行者自身內,明確觀見智法身,即稱見智身。其印契為:二手外縛,二拇指並入掌中;此印係屬月輪印,二拇指代表金剛薩埵。真言為:唵(oṃ,歸命)縛日羅薩怛縛(vajrasattva,金剛薩埵)涅哩捨也(dṛiṣya,見)。即我見金剛薩埵之意。〔諸儀軌稟承錄卷十三〕 ; (見智身) ... ... .. Ấn và minh(thần chú)được kết tụng trong pháp Kim cương giới của Mật giáo. Trí thân chỉ cho Trí pháp thân. Trước khi kết tụng ấn minh này, phải kết tụng ấn minh của Hiện trí thân, quán tưởng Kim cương tát đỏa(tức Trí pháp thân) của Hiện phổ môn tổng đức, rồi đưa dẫn vào trong tâm của hành giả, khiến Trí pháp thân và Lí pháp thân thầm hợp làm một, do đó, trong tự thân hành giả quán thấy Trí pháp thân một cách rõ ràng, cho nên gọi là Kiến trí thân. Ấn khế này là 2 tay đan lại với nhau ở ngoài, 2 ngón cái đều đặt trong lòng bàn tay. Ấn này thuộc về ấn Nguyệt luân, 2 ngón cái tượng trưng Kim cương tát đỏa. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la tát đát phạ (vajrasattva, Kim cương tát đỏa) niết lí xả dã (dfiwya, kiến). [X. Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.13].

Kiến Trường Tự

(建長寺, Kenchō-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Kiến Trường Tự thuộc Lâm Tế Tông, hiện tọa lạc tại số 8 Yamanouchi (山之內), Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣); tên núi là Cự Phước Sơn (巨福山), tên chính thức của chùa là Cự Phước Sơn Kiến Trường Hưng Quốc Thiền Tự (巨福山建長興國禪寺). Tượng thờ chính là Diên Mạng Địa Tạng (延命地藏). Chùa được Tướng Quân Bắc Điều Thời Lại (北條時賴, Hōjō Tokiyori) xây dựng vào năm 1253 (Kiến Trường 5) để cho Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師, tức Lan Khê Đạo Long [蘭溪道隆, Ranke Dōryū]) từ bên nhà Nam Tống Trung Quốc sang trú trì. Tên chùa được lấy theo niên hiệu năm ấy là Kiến Trường (建長), và Thiền Sư trở thành Tổ khai sơn đầu tiên của chùa. Mối quan hệ của Thời Lại với Đại Giác Thiền Sư cũng giống như mối thâm giao giữa Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) với Phật Quang Quốc Sư (佛光國師, tức Phật Quang Tổ Nguyên [佛光祖元, Bukkō Sogen]). Sau khi Thời Lại qua đời, Đại Giác Thiền Sư mất đi thế chủ đạo, rồi bị lưu đày đến một tiểu quốc xa xôi. Ông có viết bộ Tọa Thiền Luận (坐禪論), truyền bá Thiền Lâm Tế chính thống của Trung Quốc cho hàng võ sĩ cũng như dân chúng Liêm Thương, và đến 66 tuổi thì qua đời. Từ đó về sau, Kiến Trường Tự cũng đã trãi qua biết bao phen thạnh suy; song cũng có rất nhiều cao tăng từ Trung Quốc sang, cọng thêm những du học tăng từ bên Trung Quốc trở về, đều có đến lưu trú tại đây; nên chùa trở thành nguồn gốc của Thiền Tông Nhật Bản, và đứng đầu trong 5 ngôi chùa lớn vùng Liêm Thương. Chùa đã từng gặp mấy lần hỏa tai, quần thể kiến trúc hiện tại của chùa gồm Sơn Môn, Điện Phật, Đường Môn (唐門), Pháp Đường (法堂), Tây Lai Trung Môn (西來中門), Chiêu Đường (昭堂, tức Lễ Đường [禮堂]), Khai Sơn Đường (開山堂), Phương Trượng (方丈), Thiền Đường (禪堂), v.v. Trong khuôn viên chùa có Tháp Khai Sơn, mộ của Đại Ứng Quốc Sư (大應國師), mộ Hoàng Tử Hậu Tha Nga Viện (後嵯峨院), mộ Phật Đăng Quốc Sư (佛燈國師), v.v.

Kiến Trường tự

建長寺; J: kenchō-ji;|Một ngôi chùa thuộc tông Lâm Tế (j: rinzai) tại Nhật Bản. Vị trụ trì đầu tiên của chùa này là Lan Khê Ðạo Long, một vị Thiền sư Trung Quốc sang Nhật hoằng hoá. Chùa này nằm tại Liêm Thương (j: kamakura), được xếp vào Ngũ sơn của nơi này. Kiến Trường tự là một trong những nơi mà Thiền Lâm Tế còn được truyền bá một cách thuần tuý theo truyền thống.

kiến trường tự

3781日本臨濟宗建長寺派本山。位於鎌倉市山之內。北條時賴皈依宋僧蘭溪道隆後,即模仿我國杭州徑山興聖萬福寺之式樣,於建長三年(1251)創建之。建長五年竣工,遂以年號爲寺名,成爲將軍家之祈願所,後勅爲定額寺,且成爲鎌倉五山之第一道場。名僧無學祖元、一山一寧等人先後住於此,遂成爲宣揚宗學與研究我國各類學問之主要道埸,天下學僧於焉聚集。至室町時代一度荒廢,後受北條氏、德川氏之外護,雖曾數次遭遇大火,然又一再振復。今有分院七、八所。其開山堂(昭堂)爲室町禪宗之建築。佛殿(本堂)與唐門爲江戶初期之建築。係一擁有三門、法堂、方丈、禪堂之巨剎。 ; (建長寺) Chùa ở thành phố Liêm thương, Nhật bản, do Bắc điều Thời lại sáng lập vào năm Kiến trường thứ 3 (1251). Là bản sơn của phái Kiến trường tự thuộc tông Lâm tế. Chùa này được kiến trúc phỏng theo kiểu mẫu chùa Hưng thánh vạn phúc ở Kính sơn, Hàng châu, Trung quốc. Sau vua ban sắc đổi tên là chùa Định ngạch, do đó, chùa này trở thành đạo tràng bậc nhất trong 5 đạo tràng ở Liêm thương. Các bậc danh tăng như các ngài Vô học Tổ nguyên, Nhất sơn Nhất ninh, v.v... lần lượt trụ ở chùa này, từ đó chùa trở thành tùng lâm chủ yếu để xiển d ư ơ n g Thiền pháp và nghiên cứu các loại học vấn của Trung quốc, học tăng từ khắp nơi trong nước đều qui tụ về đây. Đến thời đại Thất đinh, đã 1 độ chùa bị hoang phế, về sau nhờ sự giúp đỡ của họ Bắc điều và họ Đức xuyên nên mặc dầu đã nhiều lần chùa bị cháy nhưng đều được trùng tu. Hiện nay chùa có 7, 8 phân viện. Khai sơn đường(Chiếu đường)là kiến trúc của Thiền tông thời Thất đinh. Phật điện(Bản đường)và Đường môn là những kiến trúc thuộc thời kì đầu Giang hộ.

kiến trược

Dṛṣṭi-kaṣāyaḥ (S),View turbidity. ; Drsti-kasaya (skt)—Tà kiến khởi lên làm vẩn đục Chánh Pháp, một trong ngũ trược—Wrong views which cause corruption of doctrinal views, one of the five corruptions. ** For more information, please see Ngũ Trược.

kiến trảo

3780印度古代外道之種類。建,即大日經所舉三十種外道中之建立淨外道與不建立無淨外道兩種。前者建立一切法,依之而修行,自謂即是淨法;後者相反,謂凡有所建立者,即非究竟之法,遂故行不淨,遠離於淨。爪,即長爪梵志外道,乃舍利弗之舅,嘗自誓盡其一生必讀盡十八種大經,遂終生不剪爪,時人稱爲長爪梵志。以上二者合稱建爪。〔大智度論卷一、大日經疏卷一、卷二〕 ; (建爪) Các loại ngoại đạo đời xưa ở Ấn độ. - Kiến, chỉ cho 2 loại ngoại đạo: Kiến lập tịnh ngoại đạo và Bất kiến lập vô tịnh ngoại đạo trong 30 loại ngoại đạo được nói đến trong kinh Đại nhật. -Trảo, chỉ cho ngoại đạo Trường trảo Phạm chí, là cậu của ngài Xá lợi phất. Ông này từng thề là trong một đời phải đọc cho hết 18 loại Đại kinh, trọn đời không cắt móng tay. Cho nên người đương thời gọi ông là Trường trảo phạm chí(Phạm chí có móng tay dài). [X. luận Đại trí độ Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.2].

kiến trọc

3003梵語 dṛṣṭi-kaṣāya。五濁之一。指末世時,眾生執住於諸惡見,而濁亂世間。如有見、無見乃至六十二見等。其體為身見、邊見、邪見、見取見、戒禁取見等五見。菩薩地持經卷七以今世若法壞法滅之後,像法漸起,邪法轉生,即稱見濁。(參閱「五見」1099、「五濁」1201) ; Drsti-kasàya (S). Wrong view. Corruption of doctrinal views. ; See Kiến Trược. ; (見濁) ..... Phạm:Dfwỉi-kawàya. Cái thấy vẩn đục. Một trong 5 trược. Vào thời mạt kiếp, chúng sinh có những tư tưởng xấu xa, làm vẩn đục cuộc đời và rối loạn thế gian. Như thấy có, thấy không cho đến 62 thứ kiến giải sai lầm. Thể của Kiến trược gồm 5 kiến là: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến. Kinh Bồ tát địa trì quyển 7 cho rằng vào thời này(mạt kiếp) Chính pháp hoại diệt, Tượng pháp bắt đầu, tà kiến phát sinh, gọi là Kiến trược. (xt. Ngũ Kiến, Ngũ Trược).

kiến tu

Kiến hoặc và tu hoặc (kiến hoặc là mê hoặc về nghĩa lý mà bậc kiến đạo phải dứt bỏ; tu hoặc là mê hoặc về sự việc mà người tu phải loại trừ)—Wrong views and wrong views in practice (heterodoxy).

kiến tuệ

The wisdom of right views, arising from dhyàna meditation. ; See Kiến Huệ.

kiến tánh

Kenshō (J) Tham thiền đến chỗ cùng tt, trong sát na tự tánh bỗng hiện, liễu chứng các pháp vô sanh, gọi là kiến tánh, cũng gọi là ng pháp vô sanh. ; Tham thiền đến chỗ cùng tột, “Ồ” lên một tiếng, trong sát na tự tánh bỗng hiện, liễu chứng các pháp vô sanh, chẳng phải có năng kiến sở kiến. ; Nhìn thấy được Phật tánh hay nhìn thấy bản tánh thật của chính mình. Về mặt từ nghĩa, “kiến tánh” và “ngộ” có cùng một ý nghĩa và chúng thường được dùng lẫn lộn với nhau. Tuy nhiên khi nói về sự giác ngộ của Phật và chư tổ, người ta thường dùng chữ “ngộ” hơn là “kiến tánh” vì ngộ ám chỉ một kinh nghiệm sâu hơn. Đây là một câu nói thông dụng trong nhà Thiền—To behold the Buddha-nature within oneself or to see into one's own nature. Semantically “Beholding the Buddha-nature” and “Enlightenment” have virtually the same meaning and are often used interchangeably. In describing the enlightenment of the Buddha and the patriarchs, however, it is often used the word “Enlightenment” rather than “Beholding the Buddha-nature.” The term “enlightenment” implies a deeper experience. This is a common saying of the Ch'an (Zen) or Intuitive School.

kiến tánh thành phật

Kenshō Jōbutsu (J). ; Thấy được tự tánh và thành Phật—To see one's own nature and become a Buddha—To behold the Buddha-nature to reach the Buddhahood or to attain enlightenment.

kiến tâm kiến tánh

Seeing (beholding) the Mind, beholding the Nature.

Kiến tính

見性; C: jiànxìng; J: kenshō;|Tức là trực nhận thấy tính; một danh từ chỉ sự trực nhận thấy chân lí. Như tất cả ngôn ngữ thì danh từ này cũng không chính xác và có thể tạo sự hiểu lầm vì kinh nghiệm kiến tính không có tính nhị nguyên, không có người nhìn (kiến) và không có »tính« được nhìn (xem cuộc đối thoại của Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác với Lục tổ Huệ Năng).|Kiến tính đồng nghĩa với Giác ngộ và cũng được sử dụng như nhau. Nhưng thông thường, danh từ Giác ngộ được dùng để chỉ sự giác ngộ của một vị Phật, vị Tổ và kiến tính để chỉ các kinh nghiệm nếm vị giác ngộ ban đầu, cần được tu tập rèn luyện thêm.

kiến tính

2994指徹見自心之佛性。黃檗斷際禪師宛陵錄(大四八‧三八六中):「即心是佛。上至諸佛,下至蠢動含靈皆有佛性,同一心體。所以達摩從西天來,唯傳一法。直指一切眾生本來是佛,不假修行。但如今識取自心,見自本性,更莫別求。」〔景德傳燈錄卷六中邑洪恩條、續傳燈錄卷十九勝因崇愷條〕(參閱「見性成佛」2994) ; To behold the Buddha-nature within oneself, a common saying of the Thiền or Intuitive school. ; See Kiến Tánh. ; (見性) ... .. Thấy rõ tính Phật trong tâm mình. Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục (Đại 48, 389 trung), nói: Tức tâm là Phật. Trên từ chư Phật, dưới tất cả côn trùng nhỏ nhít, đều có tính Phật, cùng một tâm thể. Cho nên, ngài Đạt ma từ Tây thiên đến, chỉ truyền một pháp, chỉ thẳng tất cả chúng sinh xưa nay là Phật, chẳng cần tu hành. Chỉ cần hôm nay thấy rõ được tâm tính của chính mình, chớ tìm cầu gì khác. [X. điều Trung ấp Hồng ân trong Cảnh đức truyền đăng lục. Q.6; điều Thắng nhân Sùng khải trong Tục truyền đăng lục Q.19]. (xt. Kiến Tính Thành Phật).

kiến tính thành phật

2994禪宗基本思想之一。提倡成佛作祖或求生淨土,應不執外修、不假外求,而以般若智慧,覺知自心真性即可達到目的之一種修行教義。即當下衝破煩惱生死之疑團迷雲,獨露一己本來面目,悟得覺體圓明之本源。六祖大師法寶壇經機緣品(大四八‧三五六下):「汝之本性猶如虛空,了無一物可見,是名正見;無一物可知,是名真知。無有青黃長短,但見本源清淨,覺體圓明,即名見性成佛。」 蓋本來之自性,無形、無相、無根、無本、無住處,悟得此理,即是真知見,是時,已無異於佛,故稱見性成佛。禪宗將佛性與智慧均視為人心所固有,因而不以讀經、坐禪、禮佛、戒律等修習形式為重,而提倡修心為成佛之行。〔黃檗斷際禪師宛陵錄、圜悟佛果禪師語錄卷十六〕 ; (見性成佛) Thấy tính thành Phật. Thiền tông chủ trương muốn thành Phật thành Tổ, không nên bám chặt vào sự tu hành bề ngoài, không cần tìm cầu gì bên ngoài, mà dùng trí tuệ Bát nhã thấy suốt chân tính của tâm mình thì có thể giác ngộ. Tức là ngay khi phá tan màn vô minh của phiền não sinh tử, rõ suốt bản lai diện mục của mình thì liền ngộ được nguồn gốc của giác thể tròn sáng. Phẩm Cơ duyên trong Lục tổ pháp bảo đàn kinh (Đại 48, 356 hạ), nói: Bản tính của ông giống như hư không, một vật cũng không thể thấy, gọi là Chính kiến; không một vật có thể biết, gọi là Chân tri, không có xanh, vàng, dài, ngắn, mà chỉ thấy bản nguyên thanh tịnh, giác thể viên minh, gọi là Kiến tính thành Phật. [X. Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục; Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục Q.16].

kiến tư

Views and thoughts, in general kiến tư hoặc tư, illusory or misleading views and thoughts; kiến refers partly to the visible world, but also to views derived therefrom, e.g. the ego, with the consequent illusion; tư to the mental and moral world also with its illusion. ; Views and thoughts—See Kiến Hoặc and Tư Hoặc.

kiến tư giới

The realm of view and thought.

kiến tư hoặc

2995見惑與思惑之並稱。三惑之一。略稱見思。即迷於界內事、理之見惑與修惑。見修二惑為三界分段生死之因,天台一家將此二惑並稱為見思。其中,迷於界內之理者,稱為見惑;迷於界內之事者,稱為思惑。藏、通二教至極果,別教至第七住,圓教至第七信時盡斷之。 天台四教儀謂,見思惑有見修、四住、染污無知、取相惑、枝末無明、通惑、界內惑等七種異名。其中,見思乃稱見道所斷之見惑與修道所斷之修惑,故稱見修。見,指見一處住地;思,指欲愛等三住地之惑,總稱四住。又相對無明等不染污無知,稱見思為染污無知。相對塵沙取涅槃之相、無明取二邊之相,稱見思取六道生死之相為取相惑。相對無明之根本惑,稱見思為枝末無明。又以塵沙、無明為菩薩所斷之別惑,見思為三乘人所通斷,故稱通惑。相對無明等界外之惑,見思唯潤增有漏之業,招三界之生死,故稱界內惑。又解釋見思之語,有從解得名與當體受稱之別。所謂從解得名,即就能斷之智解,而立所斷之名,即能斷之無漏智生起,照見四諦之理時,其所斷之惑稱為見惑;其後再度思惟四諦之理而斷者,稱為思惑。所謂當體受稱,係就惑之當體而立名,即煩惱本無實體,乃見為假有之虛妄不實之法,故稱見惑;貪、瞋等之煩惱緣五塵、六欲之事相,經思惟而留之於心,故稱思惑。〔法華經玄義卷四上、卷五上、摩訶止觀卷五下、止觀輔行傳弘決卷五之五、卷七之一、觀音玄義記卷一、天台四教儀集註卷中、卷下〕 ; (見思惑) Gọi tắt: Kiến tư. Danh từ gọi chung Kiến hoặc và Tư hoặc, là 1 trong 3 hoặc. Kiến hoặc và Tư hoặc là nhân của phần đoạn sinh tử trong 3 cõi, mê về lí gọi là Kiến hoặc, mê nơi sự gọi là Tư hoặc. Muốn đoạn trừ hết 2 loại hoặc này thì Tạng giáo, Thông giáo phải đến Cực quả, Biệt giáo đến Thất trụ, Viên giáo đến Thất tín. Theo Thiên thai tứ giáo nghi thì Kiến tư hoặc có 7 tên khác là: Kiến tu, Tứ trụ, Nhiễm ô vô tri, Thủ tướng hoặc, Chi mạt vô minh, Thông hoặc và Giới nội hoặc. Trong đây, Kiến tu, tức chỉ cho Kiến hoặc do giai vị Kiến đạo đoạn trừ và Tu hoặc do giai vị Tu đạo đoạn trừ. Tứ trụ, chỉ cho Nhất xứ trụ địa của Kiến và Tam trụ địa của Tư. Nhiễm ô vô tri, chỉ cho Kiến tư. Thủ tướng hoặc, nghĩa là Kiến tư nắm giữ tướng sinh tử trong 6 đường. Đối lại với căn bản vô minh mà gọi Kiến tư là Chi mạt vô minh. Kiến tư do hàng Tam thừa cùng đoạn trừ, cho nên gọi là Thông hoặc. Kiến tư chỉ tăng trưởng nghiệp hữu lậu và chiêu cảm sinh tử trong 3 cõi, nên gọi là Giới nội hoặc. Ngoài ra, Kiến tư còn có 2 cách giải thích khác nhau: 1. Tòng giải đắc danh: Căn cứ vào trí giải năng đoạn mà lập ra tên gọi sở đoạn. Nghĩa là khi trí vô lậu năng đoạn sinh khởi, soi lấy lí Tứ đế, thì phiền não sở đoạn được gọi là Kiến hoặc; sau đó lại tư duy về lí Tứ đế một lần nữa để đoạn trừ, gọi là Tư hoặc. 2. Đương thể thụ xưng: Dựa vào đương thể của phiền não mà đặt tên. Nghĩa là phiền não vốn không có thực thể, Kiến là pháp hư vọng không có thật, cho nên gọi là Kiến hoặc. Những phiền não tham, sân, v.v... duyên theo sự tướng 5 trần, 6 dục, rồi qua tư duy mà lưu lại trong tâm thức, nên gọi là Tư hoặc. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.thượng, Q.5 thượng; Ma ha chỉ quán Q.5 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5 phần 5, Q.7 phần 1; Quan âm huyền nghĩa kí Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung, Q.hạ].

kiến tướng

Chuyển Tướng—Theo Khởi Tín Luận, do cái nghiệp tướng thứ nhất mà chuyển hóa thành các tướng có thể thấy được—The state or condition of visibility, which according to the Awakening of Faith, arises from motion.

kiến tường tự

Kenchō-ji (J).

kiến tại phật

2992又作現在佛。僧侶尊稱帝王之語。據林間錄卷上所引歐陽修之歸田錄載,宋太祖初臨幸相國寺,至佛像前,問可拜否,僧錄贊寧奏曰(卍續一四八‧二九五下):「不拜。」問其故,曰:「見在佛不拜過去佛。」遂為定制。 ; (見在佛) Cũng gọi Hiện tại Phật. Tiếng tôn xưng của giới tăng sĩ Trung quốc thời xưa đối với vua chúa. Cứ theo Lâm gian lục dẫn lời trong Qui điền lục của Âu dương tu, chép rằng vua Thái tổ nhà Tống lần đầu đến chùa Tướng quốc, đứng trước tượng Phật, hỏi có nên lễ bái không? Tăng lục Tán ninh tâu rằng (Vạn tục 148, 295 hạ): Không nên bái. Vua hỏi: Vì sao? Đáp: Phật hiện tại không lạy Phật quá khứ. Từ đó, câu nói ấy trở thành định chế.

kiến tạo

To build—To errect—To construct.

kiến tịnh địa

Xem Càn Huệ Địa.

kiến võng

3003比喻十六知見、六十二見等諸種邪見,猶如網羅,束縛吾人之身。八十華嚴卷三十七(大一○‧一九三下):「所謂業為田,識為種,無明闇覆,愛水為潤,我慢溉灌,見網增長。」〔法華文句卷四下〕 ; The net of heterodox views, or doctrines. ; Lưới bủa của tà kiến (trói buộc không cho thân tâm ta giải thoát khỏi luân hồi sanh tử)—The net of heterodox views, or doctrines, which binds men and rob them of freedom. ; (見網) Lưới tà kiến. Tức là các loại tà kiến giống như tấm lưới trói buộc chúng sinh. Đó là 16 tri kiến, 62 kiến. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 37 (Đại 10, 193 hạ), nói: Nghiệp là ruộng nương, thức là hạt giống, vô minh che phủ, nước ái thấm nhuần, được ngã mạn bón tưới, nên lưới kiến thêm lớn. [X. Pháp hoa văn cú Q.4 hạ].

kiến văn

Seeing and hearing, i.e. beholding Buddha with the eyes and hearing his truth with the ears. ; 1) Thấy và nghe—Experience—Knowledge—Learning—Seeing and hearing. 2) Thấy Phật bằng mắt và nghe Phật pháp bằng chính tai của mình—Beholding the Buddha with the eyes and hearing his truth with the ears.

kiến văn giác tri

3003乃心識接觸外境之總稱。即眼識之用為見,耳識之用為聞,鼻舌身三識之用為覺,意識之用為知。大日經疏卷一(大三九‧五八二上):「如來五眼,以菩提心畢竟淨故;以一切種觀一切法,了了見聞覺知,無所罣礙,能持如是金剛印。」又據瑜伽師地論卷二載,依見聞覺知之別,言說有依見言說、依聞言說、依覺言說、依知言說四種。〔雜阿含經卷十三、中阿含經卷四十九、大乘阿毘達磨雜集論卷一、大智度論卷四十、瑜伽師地論卷五十六、成唯識論述記卷八〕 ; (見聞覺知) ........... Thấy nghe hay biết. Tiếng gọi chung những tác dụng của tâm thức khi tiếp xúc với các đối tượng bên ngoài. Thấy là tác dụng của thức mắt, nghe là tác dụng của thức tai, hay (giác) là tác dụng của 3 thức mũi, lưỡi, thân, biết là tác dụng của thức ý. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 582 thượng), nói: Ngũ nhãn (5 mắt) của Như lai bắt nguồn từ tâm Bồ đề rốt ráo thanh tịnh, dùng Nhất thiết chủng trí quán xét tất cả pháp, cho nên Kiến văn giác tri của Như lai đều rõ ràng không bị ngăn ngại. Ngoài ra, theo luận Du già sư địa quyển 2, thì tùy theo sự thấy nghe hay biết mà có 4 cách nói: Tùy theo mắt thấy mà nói, tùy theo tai nghe mà nói, tùy theo cảm giác mà nói, tùy theo sự biết mà nói, v.v... [X. kinh Tạp a hàm Q.13; kinh Trung a hàm Q.49; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Đại trí độ Q.40; luận Du già sư địa Q.56; Thành duy thức luận thuật kí Q.8].

kiến văn nghi

3003見,所見;聞,所聞;疑,雖無見聞而心疑其有。此三者戒律學上稱為三根。據四分律刪繁補闕行事鈔卷上之二載,若有人舉罪者,不得輒信舉罪人語,須先喚所告之人對僧訓答,問為自己所見或從他人所見、在何處見、犯何種罪等見聞疑三根。 ; (見聞疑) Thấy, nghe, ngờ. Tiếng gọi chung 3 tác dụng thấy, nghe, ngờ, trong giới luật học gọi 3 tác dụng này là Tam căn. Nghĩa là mắt thấy người phạm tội, tai nghe người phạm tội và tuy không thấy không nghe nhưng tâm nghi ngờ người phạm tội. Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 2, nếu có người tố cáo người khác phạm tội thì không được vội tin lời người tố cáo ngay, mà phải gọi cả người bị tố cáo đến trước chúng tăng để đối chất. Trước hết, hỏi người tố cáo về 3 căn là: chính mắt mình trong thấy người kia phạm tội hay nghe người khác mách bảo mà thấy, thấy người phạm tội ở đâu và đã phạm tội gì? Sau đó, hỏi người bị cáo xem có đúng không.

kiến vương trai

Lễ cúng Trai Tăng ba ngày sau khi có người chết, khi mà vong linh người chết đang chầu Diêm Vương (Lễ Kiến Diêm Vương)—The service on the third day when the deceased goes to see King Yama.

kiến xứ

The state of wrong views, i.e. the state of transmigration, because wrong views give rise to it, or maintain it. ; Ngay nơi tà kiến khởi sanh luân hồi—The state of wrong views—The state of wrong views gives rise to transmigration.

kiến ái

Views and desires, e.g. the illusion that the ego is a reality and the consequent desires and passions; the two are the root of all suffering. ; Tất cả mọi mê hoặc về lý như ngã kiến tà kiến, cũng như tất cả mọi mê hoặc về tham, sân, si đều là gốc rễ của khổ đau phiền não—Views and desires are the root of all suffering, i.e. the illusion that the ego is a reality and the consequent desires and passions. ** For more information, please see Kiến Hoặc Tư Hoặc and Tam Hoặc.

kiến ái phiền não

2999見煩惱與愛煩惱之並稱。又作見著二法。見煩惱,指我見、邪見等一切迷理之惑;愛煩惱,指貪欲、瞋恚等一切迷事之惑。蓋見乃分別之煩惱障,凡以慧之作用推度境者均稱為見,如染污諸見、世間正見、有學正見、無學正見,其中,染污諸見為見煩惱所攝。又愛乃俱生之煩惱障,凡貪染之心均稱為愛,迷事之惑中,以愛著為一切苦之本,故以愛總該其餘。〔大乘起信論、大智度論卷七、卷二十一、瑜伽師地論卷八十九、四教義卷四、成唯識論述記卷九末、法界次第初門卷上之上〕 ; (見愛煩惱) Cũng gọi Kiến trước nhị pháp. Danh từ gọi chung Kiến phiền não và Ái phiền não. Kiến phiền não chỉ cho tất cả phiền não mê lí như ngã kiến, tà kiến, v.v... Còn Ái phiền não thì chỉ cho tất cả phiền não thuộc mê sự như tham dục, sân hận, v.v... Kiến là phiền não chướng do phân biệt mà có, hễ dùng tác dụng của tuệ mà suy tính đối tượng thì đều gọi là Kiến, như 5 kiến nhiễm ô, chính kiến thế gian, chính kiến hữu học, chính kiến vô học, trong đó 5 kiến nhiễm ô thuộc Kiến phiền não. Còn Ái là phiền não chướng câu sinh(sinh ra đã có), hễ tâm tham nhiễm thì đều gọi là Ái; trong các phiền não mê sự, thì ái trước là gốc của mọi khổ đau, vì thế Ái bao gồm tất cả các phiền não khác. [X. luận Đại thừa khởi tín; luận Đại trí độ Q.7, Q.21; luận Du già sư địa Q.89; Tứ giáo nghĩa Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.9 phần cuối; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng].

kiến điên đảo

To see things upside down; to regard illusion as reality. ; Mắt nhận biết ngoại cảnh điên đảo hư ảo mà cho là thực, một trong ba điên đảo—To see things upside down—To regard illusion as reality, one of the three subversions (subverters). ** For more information, please see Tam Điên Đảo.

kiến đà ca

Kanthaka (skt)—Ngựa “kiền trắc” mà Thái tử Tất Đạt Đa đã cỡi ra khỏi kinh thành để xuất gia (người ta nói con ngựa nầy là hóa thân của Đế Thích)—The horse on which Sakyamuni rode when he left home.

kiến đào lục

2996凡四卷。全稱圓滿本光國師見桃錄。又作本光國師語錄、靈雲見桃錄。日本臨濟宗僧大休宗休(1468~1549)撰。收於大正藏第八十一冊。集錄正法山妙心寺語錄、大龍山臨濟寺語錄、青龍山瑞泉寺語錄、偈頌、像贊、道號頌、立地、拈香、秉炬、掩壙、預請秉炬等,卷末附錄宸翰、同門疏等。 ; (見桃錄) Tên đầy đủ: Viên mãn Bản quang quốc sư kiến đào lục. Cũng gọi Bản quang quốc sư ngữ lục, Linh vân kiến đào lục. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Đại hưu Tông hưu (1468-1549) thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung thu chép các bản ngữ lục như: Chính pháp sơn Diệu tâm tự ngữ lục, Đại long sơn Lâm tế tự ngữ lục, Thanh long sơn Thụy tuyền tự ngữ lục và các bài kệ tụng, Tượng tán, Đạo hiệu tụng, Lập địa, Niêm hương, Bỉnh cự, Yêm khoáng, Dự thỉnh bỉnh cự, v.v... Ở cuối quyển có phụ thêm Thần hàn, Đồng môn sớ...

kiến đãi

Tiếp đãi, chiêu đãi. Tiết Quán Âm Viện Tùng Hiển Thiền sư trong CĐTĐL q. 25 ghi: Tăng hỏi: »僧 問: 如 何 是 觀 音 家 風。 師 曰: 眼 前 看 取。 曰: 忽 遇 作 者 來 作 麼 生 見 待。 師 曰: 貧 家 只 如 此 未 必 便 言 歸。 – [i]Tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Quán Âm? Sư đáp: Hãy xem trước mắt. Hỏi: Chợt gặp bậc Thầy tài giỏi đến làm sao tiếp đãi? Sư đáp: Nhà nghèo chỉ có thế, chưa chắc ăn nói hoạt bát mà người ta quy phục[/i]«.

kiến đại

2990七大之一。見大,為眼根之見性。色性周遍於法界,見性與之相同,亦周遍於法界,故稱為見大。〔首楞嚴經卷三、大明三藏法數卷三十〕(參閱「七大」91) ; Visibility (or perceptibility) as one of the seven elements of the universe. ; Kiến tính bao trùm khắp pháp giới, một trong thất đại như sắc tính bao trùm khắp pháp giới—Visibility or perceptibility as one of the seven elements of the universe. ; (見大) ... .. Tính thấy của mắt. Một trong 7 đại. Tính của sắc cùng khắp pháp giới, tính thấy của mắt cũng giống như thế, cho nên gọi là Kiến đại. [X. kinh Thủ lăng nghiêm Q.3; Đại minh tam tạng pháp số Q.30]. (xt. Thất Đại).

Kiến đạo

Dùng con mắt trí tuệ chân chánh, kiến giải ngay thật mà nhận ra tính chất khổ, bất tịnh của cuộc đời, và sự an lạc, giải thoát trong đời sống đạo hạnh. Đây là chỗ chứng đắc đầu tiên của người tu học, so trong bốn mức độ chứng đắc lần lượt là: Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo và Phật đạo. Do tỉnh giác về cuộc sống mà có thể Kiến đạo. Do Kiến đạo mà có thể khởi sự Tu đạo. Do Tu đạo mà được trí huệ Vô học đạo, tức là quả vị A-la-hán. Do được Vô học đạo mà tiếp tục tu hành các thánh hạnh để được Phật đạo, tức là quả vị Như Lai.

kiến đạo

3000梵語 darśana-mārga。又作見諦道、見諦。為修行之階位。與修道、無學道合稱為三道。即指以無漏智現觀四諦,見照其理之修行階位。見道以前者為凡夫,入見道以後則為聖者。其次,見道後更對具體之事相反覆加以修習之位,即是修道,與見道合稱有學道。相對於此,無學道又作無學位、無學果、無學地,意指既入究極之最高悟境,而達於已無所學之位。依小乘佛教,以修三賢、四善根等之準備修行(七方便)為始者,能生無漏智,而趨入見道。大乘則以初地為入見道,故稱菩薩之初地為見道,第二地以上為修道,至第十地與佛果方可稱無學道。密教以始生淨菩提心之位,稱為見道。以無漏智明白判斷道理者,稱為決擇(決斷簡擇),見道為決擇之一部分,故稱為決擇分。 又悟入涅槃之境界或欲達到涅槃之聖道皆是正性,故特稱見道為正性。又因所有之聖道皆令離煩惱,稱為離生,見道令離異生(凡夫)之生,故特稱見道為離生;是故見道又稱正性離生、正性決定(決定必趣涅槃之意)。見道所斷(又作見道斷、見所斷)之煩惱,略稱見惑;修道所斷(又作修道斷、修所斷)之煩惱,略稱修惑。 (一)在一切有部,現觀見道苦、集、滅、道四諦之無漏智有二種,即能斷見惑之無間道智與證斷四諦真理之解脫道智。以其所觀察之對象,復可分為八忍八智之十六心,即觀欲界苦諦所得之苦法智忍(無間道之智)、苦法智(解脫道之智),觀色界、無色界苦諦所得之苦類智忍、苦類智;觀欲界集諦所得之集法智忍、集法智,觀上二界集諦所得之集類智忍、集類智;觀欲界滅諦所得之滅法智忍、滅法智,觀上二界滅諦所得之滅類智忍、滅類智;觀欲界道諦所得之道法智忍、道法智,觀上二界道諦所得之道類智忍、道類智。以此十六心(剎那)現觀諦理,稱為聖諦現觀。其中以前十五心屬於見道,特稱見道十五心;道類智已一度觀遍四諦法,故屬於修道之範圍(如表)。對於三界九地之修惑,修道各分上上品、上中品,乃至下下品等九品,合為八十一品,乃指斷修惑之修道過程。對於次第證者而言,見道為預流向,故於第十六心(道類智)證初果(預流果);然對異生位(凡夫位)之超越證者而言,彼等以世俗智修有漏之六行觀,業已斷除修惑之一部分,故應其程度可於第十六心證得初果、第二果(一來果),或第三果(不還果)。修道,則指以上之果位乃至阿羅漢向之間之階段。 無學道,即證得阿羅漢果位,依其能力根機之高低,可分退法乃至不退法等七種阿羅漢,此外再加獨覺、佛,或慧解脫、俱解脫二者,稱為九無學。再者,無學之人可完成無學正見乃至無學正定等八聖道,以及無學解脫、無學正智等十種無漏法(十無學支)。又鈍根者於見道稱為隨信行,於修道稱為信解,於無學道稱為時解脫;利根者於見道、修道、無學道則分別稱為隨法行、見至、不時解脫。 (二)經量部或成實論,以八忍八智之十六心全屬見道,故主張十六心見道(又作十六心見諦)之說。而犢子部認為每一諦皆具有法智、法忍、類智三心,故主張十二心見道之說,至於第十三心,則指最後之道類智於前剎那再續起者,或於一剎那之際,再觀所有四諦之心,故第十三心以後為修道。此外,大眾部立頓現觀之說,即於一剎那間遍觀四諦,或立一時頓現觀說,先總括而觀,其次詳觀,故生二剎那之悟境;相對於此,有部說漸現觀。 (三)唯識宗分見道為真見道、相見道二種。真見道證唯識理,可引生根本無分別智,證悟真如之理,為斷煩惱障、所知障之分別隨眠煩惱之位。以上謂一心真見道說(又作頓證頓斷說),以此為正義。相見道證唯識相,為於真見道後生後得無分別智,再觀真如理之位,分為三心相見道與十六心相見道二種。三心相見道,即作三心,觀非安立諦(觀二空真如,非觀四諦差別)之境,即:(1)觀察自己之肉體,體證我空。(2)體證法空,證諸法皆無實體。(3)觀察自他之所有有情及一切物,而體悟我空與法空之理。十六心相見道,即作十六心,觀安立諦(觀四諦之別相)之境。三心相見道含攝於真見道,故稱三心真見道說(又作漸證漸斷說)。見道行人已斷見惑,得無分別智,然仍殘留餘障,故須於修道位再經數度修習無分別智,依序斷除十重障,以至於第十金剛無間道斷盡煩惱障與所知障之種子,而證得無學果。以上三道若配合五位,則見道當配於通達位,修道當配於修習位,無學道當配於究竟位。〔俱舍論卷二十三、大毘婆沙論卷三、卷五十四、卷七十五、成實論卷一、卷十五、雜阿毘曇心論卷五、阿毘達磨順正理論卷七十三、成唯識論卷六、卷九、瑜伽師地論卷五十五、顯揚聖教論卷十七、大乘阿毘達磨雜集論卷九、大乘法苑義林章卷二末〕(參閱「三道」644、「四向四果」1683、「有學 」2458、「見惑」2997、「阿羅漢」3692) ; Darśana-mārga (S)Một trong Tam đạo, ba giai vị của hàng Thanh văn và Bồ tát. ; The way or stage of beholding the truth (of no reincarnation), i.e. that of the sràvaka thanh văn and the first stage of the bodhisattva. The second stage is tu đạo cultivating the truth; the third vô học đạo completely comprehending the truth without further study. ; 1) Con đường của sự thấy biết chân lý: Darsanamarga (skt)—Ditthimagga (p)—The path of insight. 2) Ditthapada (p)—Thấy được chân lý chấm dứt luân hồi sanh tử, như các bậc Thanh Văn và Sơ Địa Bồ Tát (bậc đã thấy được chân lý)—Theory, the way or stage of beholding the truth, i.e. that of the Sravakas and the first stage of Bodhisattva (one who has seen the Truth). ** For more information, please see Tam Đạo (B). ; (見道) ..... Phạm: Darzana-marga. Cũng gọi: Kiến đế đạo, Kiến đế. Chỉ cho giai vị tu hành dùng trí vô lậu quán xét Tứ đế để thấy rõ chân lí. Là 1 trong 3 đạo. Từ Kiến đạo trở về trước là phàm phu, từ Kiến đạo trở về sau là bậc Thánh. Kế đến, hành giả đã đạt được giai vị Kiến đạo, đối với sự tướng lại tiếp tục tu tập một cách cụ thể thì gọi là Tu đạo, cùng với Kiến đạo gọi chung là Hữu học đạo. Đối lại là Vô học đạo, hay còn gọi là Vô học vị, Vô học quả, Vô học địa, nghĩa là đã giác ngộ cùng tột, rốt ráo không còn gì để học. Theo Phật giáo Tiểu thừa, tu Tam hiền, Tứ thiện căn (Thất phương tiện) có thể phát sinh trí vô lậu mà tiến vào Kiến đạo. Còn Đại thừa thì cho Sơ địa là vào Kiến đạo, cho nên gọi là Bồ tát sơ địa là Kiến đạo, địa thứ 2 trở lên là Tu đạo, đến địa thứ 10 là quả vị Phật mới có thể gọi là Vô học đạo. Mật giáo thì cho giai vị mới phát tâm tịnh Bồ đề là Kiến đạo, gọi trí vô lậu phán đoán đạo lí rõ ràng là Quyết trạch(quyết đoán lựa chọn), Kiến đạo là 1 phần của quyết trạch, cho nên gọi là Quyết trạch phần. Ngoài ra, Thánh đạo đạt đến Niết bàn là chính tính, cho nên Kiến đạo được gọi là Chính tính. Lại vì Thánh đạo đều xa lìa phiền não, gọi là Lí sinh, Kiến đạo xa lìa sinh tử của Dị sinh(phàm phu), cho nên gọi Kiến đạo là Li sinh, do đó, Kiến đạo cũng được gọi là Chính tính li sinh, Chính tính quyết định(quyết định đạt Niết bàn). Phiền não do Kiến đạo đoạn trừ gọi là Kiến hoặc. Những phiền não do Tu đạo đoạn trừ gọi là Tu hoặc. Về vấn đề này, các bộ phái giải thích có khác nhau. 1. Nhất thiết hữu bộ cho rằng trí vô lậu của Kiến đạo hiện quán Tứ đế(Khổ, Tập, Diệt, Đạo)có 2 loại: Trí vô gián đạo đoạn kiến hoặc và Trí giải thoát đạo chứng đoạn chân lí Tứ đế. Về đối tượng được quán xét thì có thể chia làm 16 tâm gồm 8 nhẫn và 8 trí; tức là Khổ pháp trí nhẫn(trí vô gián đạo) và Khổ pháp trí(trí giải thoát đạo)do quán xét Khổ đế ở cõi Dục mà được. Khổ loại trí nhẫn và Khổ loại trí do quán xét Khổ đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mà được. Tập pháp trí nhẫn và Tập pháp trí do quán xét Tập đế ở cõi Dục mà được; Tập loại trí nhẫn và Tập loại trí do quán xét Tập đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mà được. Diệt pháp trí nhẫn và Diệt pháp trí do quán xét Diệt đế ở cõi Dục mà được. Diệt loại trí nhẫn và Diệt loại trí do quán xét Diệt đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mà được. Đạo pháp trí nhẫn và Đạo pháp trí do quán xét Đạo đế ở cõi Dục mà được. Đạo loại trí nhẫn và Đạo loại trí do quán xét Đạo đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mà được. Dùng 16 tâm trên đây mà quán xét rõ lí Tứ đế, gọi là Thánh đế hiện quán. Trong đó, 15 tâm trước thuộc về Kiến đạo, đặc biệt được gọi là 15 tâm Kiến đạo. Còn Đạo loại trí thì thuộc phạm vi Tu đạo (xem đồ biểu). Đối với Tu hoặc trong 3 cõi 9 địa, thì Tu đạo đều chia làm 9 phẩm: Thượng thượng phẩm, Thượng trung phẩm, cho đến Hạ hạ phẩm, tổng cộng thành 81 phẩm, đó là quá trình Tu đạo đoạn trừ Tu hoặc. Còn nói về thứ lớp tu chứng thì Kiến đạo là Dự lưu hướng, cho nên ở tâm thứ 16(Đạo loại trí) chứng Sơ quả(quả Dự lưu). Nhưng đối với những người tu chứng vượt qua vị Dị sinh (vị phàm phu) mà nói, thì những người ấy dùng trí thế tục tu 6 hành quán hữu lậu, nghiệp đã dứt, đoạn trừ 1 phần Tu hoặc, cho nên xét về trình độ của họ có thể ở nơi tâm thứ 16 chứng được quả thứ 1, quả thứ 2(quả Nhất lai), hoặc quả thứ 3(quả Bất hoàn) Tu đạo là giai đoạn ở khoảng giữa tính từ các quả vị kể trên cho đến A la hán hướng. Vô học học chứng quả A la hán, tùy theo năng lực và căn cơ hơn kém, có thể chia làm 7 loại A la hán, từ Thoái pháp A la hán cho đến Bất thoái pháp A la hán. Ngoài ra, lại thêm Độc giác, Phật, hoặc Tuệ giải thoát và Câu giải thoát nữa, thì gọi là Cửu vô học. Người độn căn ở giai vị Kiến đạo gọi là Tùy tín hành, ở giai vị Tu đạo, gọi là Tín giải, ở giai vị Vô học đạo gọi là Thời giải thoát. Còn những người lợi căn, thì ở các giai vị Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo lần lượt được gọi là Tùy pháp hành, Kiến chí và Bất thời giải thoát. 2. Kinh lượng bộ và luận Thành thực cho rằng 16 tâm (tức 8 nhẫn 8 trí) hoàn toàn thuộc về Kiến đạo. Còn Độc tử bộ thì cho rằng 12 tâm trước thuộc Kiến đạo, 4 tâm sau thuộc Tu đạo. 3.Tông Duy thức chia Kiến đạo làm 2 loại là: Chân kiến đạo và Tướng kiến đạo. Chân kiến đạo chứng lí Duy thức, có khả năng dẫn sinh trí căn bản vô phân biệt, chứng ngộ lí chân như. Còn Tướng kiến đạo thì chứng ngộ tướng Duy thức, là giai vị sau Chân kiến đạo phát sinh Hậu đắc trí vô phân biệt mà quán lí chân như, chia làm 2 loại là: Ba tâm tướng kiến đạo và 16 tâm tướng kiến đạo. Ba tâm Tướng kiến đạo: 1.Quán xét sắc thân của chính mình mà thể chứng ngã không. 2.Thể chứng pháp không, thấu suốt các pháp đều không có thực thể. 3.Quán xét hữu tình và tất cả các vật thuộc mình và người khác mà thể ngộ lí Ngã không và pháp không. Mười sáu tâm Tướng kiến đạo tức là 4 đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo; mỗi đế đều có 4 loại: Pháp trí nhẫn, pháp trí, loại trí nhẫn, loại trí, tổng cộng 16 tâm, quán xét biệt tướng của Tứ đế, đoạn trừ hết chủng tử của phiền não chướng và sở tri chướng mà chứng ngộ vị Vô học. [X. luận Câu xá Q.23; luận Đại tì bà sa Q.3, Q.54, Q.75; luận Thành thực Q.1, Q.15; luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.73; luận Thành duy thức Q.6, Q.9; luận Du già sư địa Q.55; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.9; Đại thừa pháp uyển châu lâm Q.2 phần cuối]. (xt. Tam Đạo, Tứ Hướng Tứ Quả, Hữu Học, Kiến Hoặc, A La Hán). Đồ Biểu: 8 ĐẾ 16 TÂM

kiến đạo sở đoạn hoặc

Xem Kiến hoặc.

kiến đảo

xem ba sự điên đảo.

kiến đẳng thủ kiến

Xem Kiến thủ kiến.

kiến đế

Chứng ngộ chân lý—The realization of correct views. 1) Bậc Thánh chứng quả Dự Lưu trong Tiểu Thừa: The Hinayana stage of one who entered the stream of holy living. 2) Bồ Tát Kiến Địa trong Đại Thừa (trên bậc sơ địa): The Mahayana stage after the first Bodhisattva stage.

kiến địa

Còn gọi: Kiến xứ. Quan niệm, nhận thức về thiền pháp. Khai thị Duy-na Như trong DTNL q. 3 ghi: »總 而 言 之、 只 是 見 地 未 徹、 劄 腳 未 隱、 道 念 輕 微 故 爾。 – [i]Nói tóm lại, chỉ vì kiến giải chưa thấu suốt, lập trường chưa vững, đạo niệm ít ỏi nên mới như thế[/i]«. Phần »Tục Nghệ Ngôn« trong NHQL q. 30 ghi: »投 子 芙 蓉 之 後 能 振 洞 上 一 宗 者、 天 童 覺 眞 歇 了 也。 二 師 見 處 親 切、 而 高 行 碩 德 俱 能 不 愧 古 人。 – [i]Sau ngài Đầu Tử và Phù Dung, người có khả năng làm hưng thạnh tông Tào Động là hai vị Thiên Đồng Giác và Chân Hiết Liễu. Nhận thức của hai vị rất phù hợp, tương ưng với thiền pháp, và có đức hạnh cao thượng không hổ với người xưa[/i]«. ; 2992梵語 darśana-bhūmi。菩薩十地中之第四地。相當於聲聞乘之預流果。菩薩乘者於此位斷盡三界八十八使之見惑,發真無漏智,見四諦之真理,即四諦十六心中第十六心之道類智。據大品般若經卷六發趣品載,菩薩住此位應受行不捨之十法:不捨阿蘭若住處、少欲、知足、不捨頭陀功德、不捨戒、穢惡諸欲、厭世間心順涅槃心、捨一切所有、心不沒、不惜一切物。(參閱「十地」419) ; Darśana-bhŪmi (S)Một trong Tam thừa cộng Thập địa ghi trong kinh Đại Bát nhã. ; The stage of insight, or discernment of reality, the fourth of the ten stages of progress toward Buddhahood, agreeing with the dự lưu quả of Hìnayàna. ; Thấy được chân lý Tứ Đế, vị thứ tư trong thập địa, tương đương với quả vị “Dự Lưu” trong Tiểu Thừa—The stage of insight—The discernment of reality of the four Noble Truths, the fourth in the ten stages of progress toward Buddhahood, agreeing with the fruit of stream-entry of Hinayana. ** For more information, please see Thập Địa Bồ Tát Tam Thừa. ; (見地) ..... Phạm: Darzana-bhùmi. Địa thứ 4 trong Thập địa bồ tát, tương đương với quả Dự lưu của Thanh văn thừa. Hành giả tu tập Bồ tát thừa ở giai vị này dứt hết 88 Kiến hoặc trong 3 cõi, phát sinh chân trí vô lậu, thấy rõ chân lí Tứ đế, tức là Đạo loại trí, tâm cuối cùng trong 16 tâm của Tứ đế. Cứ theo phẩm Phát thú trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 6, Bồ tát ở giai vị này phải thực hành 10 pháp bất xả (không bỏ): Không bỏ nơi ở vắng vẻ, ít muốn, biết đủ, không bỏ công đức đầu đà, không bỏ giới cấm, chán nghét các ham muốn, tâm nhàm chán thế gian ưa thích Niết bàn, bỏ tất cả vật sở hữu, tâm không đắm đuối, không tiếc mọi vật. (xt. Thập Địa).

kiến độc

xem bốn thứ độc. ; The poison of wrong views. ; Chất độc hay sự độc hại của tà kiến—The poison of wrong views.

kiến ẩn quán tự tại

3004密教四十觀音之一。即千手觀音從其執寶篋之手所化現之菩薩。又稱寶篋觀音。據千光眼祕密法經載,若欲見地中伏藏者,應修寶篋法。其形像為左手執寶篋,右手作開篋蓋狀。其他相好與「與願觀自在」相同。印契為:左手上仰,右手覆於左手之上。真言為:唵(oṃ)縛日羅達磨(vajradharma,金剛法)斫具數(cakṣu,本眼)伽咜耶(ghatāya,開)阿鉢羅底訶哆耶(apratihatāya,無障礙)娑縛賀(svāhā)。 ; (見隱觀自在) Cũng gọi Bảo khiếp Quan âm. Vị Bồ tát được hóa hiện từ tay cầm Bảo khiếp(hộp báu)của ngài Quan âm nghìn tay. Là 1 trong 40 vị tôn Quan âm của Mật giáo. Theo kinh Thiên quang nhãn bí mật pháp, nếu muốn thấy kho báu được cất dấu trong lòng đất, thì nên tu pháp Bảo khiếp. Về hình tượng của vị Bồ tát này, thì tay trái cầm Bảo khiếp, tay phải ở tư thế mở nắp Bảo khiếp; còn các tướng hảo khác thì giống với ngài Dữ nguyện Quán tự tại. Về ấn khế, thì tay trái ngửa lên, tay phải úp lên tay trái. Chân ngôn là: Án (oô) phạ nhật la đạt ma (Vajradharma, Kim cương pháp) chước cụ sổ (cakwu, bản nhãn) già đà da (ghatàya, khai) a bát la để ha đá da (aprtihatàya, vô chướng ngại) sa phạ hạ (svàhà).

kiến, văn, giác, tri

Tức là trong lục căn: mắt chủ sự kiến, tai chủ sự văn, mũi, lưỡi và thân chủ sự giác, ý chủ sự tri (biết). Nói chung là kiến, văn, giác, tri.

Kiến-chí

S: sāñcī;|Một thành phố Trung Ấn. Giữa thế kỉ thứ 3 trước và thế kỉ 1 sau Công nguyên, người ta xây dựng nhiều thánh tích Phật giáo nơi đây. Tất cả các dạng Bảo tháp sau này đều xuất phát từ đây.

Kiếp

劫 (刧); C: jié; J: kō; S: kalpa; P: kappa; dịch trọn âm là Kiếp-ba (劫波);|Một khái niệm Phật giáo nhằm chỉ một thời gian rất dài. Một thời kiếp được biểu diễn như sau: cứ trăm năm có người dùng một tấm khăn lụa chùi một khối đá lập phương mỗi bề một dặm (1,6 km = 1dặm), thì lúc khối đá mòn hết, đó là một kiếp. Mỗi kiếp có bốn giai đoạn sinh, thành, hoại, diệt của các thế giới. Trong giai đoạn sinh thành của thế giới, sinh vật bắt đầu sinh sôi nẩy nở. Trong giai đoạn hai, các thiên thể (mặt trời, mặt trăng) được sinh ra, sinh vật phát triển và bắt đầu có dạng đời sống xã hội. Trong giai đoạn hoại diệt, các yếu tố lửa, nước và gió phá huỷ toàn bộ thế giới.|Bốn giai đoạn nói trên hình thành một đại kiếp (s: mahākalpa), mỗi đại kiếp gồm 20 tiểu kiếp hợp lại. Mỗi tiểu kiếp lại được chia ra thành những thời kì sắt, đồng, bạc, vàng. Trong thời gian một tiểu kiếp thành hình, thọ mệnh của con người cứ kéo dài thêm, cứ mỗi trăm năm thêm một tuổi, cho đến lúc con người thọ 84000 năm. Thân thể con người cũng cao lớn đến 8400 bộ. Trong giai đoạn hoại diệt của một tiểu kiếp, đó là giai đoạn của chiến tranh, bệnh dịch, thiếu ăn lan tràn, thì thọ mệnh con người ngắn dần, chỉ còn 10 năm. Thân người lúc đó chỉ còn một bộ.

kiếp

hay kiếp-ba, phiên âm từ Phạn ngữ kalpa, chỉ một quãng thời gian rất dài, hầu như không thể tính đếm. Trong kinh luận có nhiều chỗ giải thích khác nhau về quãng thời gian này. Như có lần Phật dạy: “Như có quả núi lớn ở gần thành ấp, người dân ở đó cứ một trăm năm lại đến dùng một tấm vải quất vào quả núi, cho đến khi quả núi ấy mòn sạch đi vẫn chưa hết một kiếp.” Như vậy có thể hình dung thời gian một kiếp là rất lâu. ; 2811梵語 kalpa,巴利語 kappa。音譯劫波、劫跛、劫簸、羯臘波。意譯分別時分、分別時節、長時、大時、時。原為古代印度婆羅門教極大時限之時間單位。佛教沿之,而視之為不可計算之長大年月,故經論中多以譬喻故事喻顯之。 婆羅門教認為世界應經歷無數劫,一說一劫相當於大梵天之一白晝,或一千時(梵 yuga),即人間之四十三億二千萬年,劫末有劫火出現,燒燬一切,復重創世界;另一說則以為一劫有四時:(一)圓滿時(梵 kṛtayuga),相當於一百七十二萬八千年。(二)三分時(梵 tretāyuga),相當於一百二十九萬六千年。(三)二分時(梵 dvāyuga),相當於八十六萬四千年。(四)爭鬥時(梵 kaliyuga),相當於四十三萬二千年。四者凡四百三十二萬年。據稱現正處於爭鬥時。此外,根據上記「一劫四時」之說法,婆羅門教並認為四時相較,時間上愈形短少,人類道德亦日趨低落,若爭鬥時結束即為劫末,世界即將毀滅。 佛教對於「時間」之觀念,以劫為基礎,來說明世界生成與毀滅之過程。有關劫之分類,諸經論有各種說法。大智度論卷三十八謂劫有二種,一為大劫,二為小劫;妙法蓮華經優波提舍分五種劫,即夜、晝、月、時、年;大毘婆沙論卷一三五以劫有中間劫、成壞劫、大劫三種;俱舍論卷十二謂有壞劫、成劫、中劫、大劫等四種;彰所知論卷上分劫有中劫、成劫、住劫、壞劫、空劫、大劫等六種;瑜伽師地論略纂卷一下載有九種劫,即:(一)日月歲數。(二)增減劫,即是饑、病、刀小三災劫,稱為中劫。(三)二十劫為一劫,即梵眾天劫。(四)四十劫為一劫,即梵前益天劫。(五)六十劫為一劫,即大梵天劫。(六)八十劫為一劫,即火災劫。(七)七火為一劫,即水災劫。(八)七水為一劫,即風災劫。(九)三大阿僧祇劫。 諸經論中又有小劫、中劫、大劫之名目,小劫、中劫同為梵語 antara-kalpa 之譯,大劫則為梵語 mahā-kalpa 之譯。鳩摩羅什譯之法華經中,皆稱小劫,而法意所譯之提婆達多品中則稱中劫;二者皆同為 antara-kalpa 之譯。又大樓炭經卷五以刀兵等三災為三小劫,而起世經卷九稱之為三種中劫。立世阿毘曇論卷九以八十小劫為一大劫,大毘婆沙論卷一三五則以八十中劫為一大劫;此等差異,均可視為 antara-kalpa 之異譯。 蓋「劫」字原表示時限,其中雖有多種分別,但長時之「劫」常用於說明世界之成立及破壞之過程。前述大毘婆沙論中,分劫為中間劫、成壞劫及大劫等三種,俱舍論等分壞劫、成劫、中劫、大劫等四種,彰所知論分為中劫等六種,即是其例。依大毘婆沙論卷一三五載,中間劫亦有減劫、增劫、增減劫等三種:減劫者,從人壽無量歲減至十歲之間;增劫者,人壽十歲增至八萬歲之間;增減劫者,人壽十歲增至八萬歲,又從八萬歲減至十歲之間。此三種劫在說明住劫二十中劫之差別,即住劫二十中劫之中,第一劫為減,第二十劫為增,中間十八劫為增減劫,各中劫之時量皆相等。此即最初減劫中有情福勝,故下減較緩,最後增劫中有情福劣,故上增亦緩,中間十八劫中,上下交替間有緩有疾,故此三劫時量相等。以上為小乘之說。又依瑜伽師地論卷二、大乘阿毘達磨雜集論卷六、瑜伽師地論略纂卷一等,大乘立二十中劫之各劫皆有增減,故不必如大毘婆沙論所說之三種劫,即以各中劫為唯一之增減劫。另如優婆塞戒經卷七所說,從十歲增至八萬歲,從八萬歲減還至十歲,如是增減滿十八反,稱為中劫。是為異說。 中劫中定有刀兵災、疾疫災、饑饉災等三災出現,稱為小三災。關於三災出現之時限,有不同之說法。依大毘婆沙論卷一三四載,於各中劫中之減劫,人壽每減至十歲,三災即出現。刀兵災者,是時人心瞋毒增上,相見即興強猛傷害之心,手所執者皆成利刃,各逞兇狂,互相殘害,經七日七夜方止;疾疫災者,繼刀兵災之後,非人吐毒,疾病流行,遇輒命終,難可救療,都不聞有醫藥之名,時經七月七日七夜方止;疾疫災後起饑饉災,天龍忿責,不降甘雨,由此饑饉,人多命終,經七年七月七日七夜乃止。 上舉小三災,又稱三種中劫。若依大毘婆沙論所說,一劫中三災並起,則住劫二十中劫中,各具小三災。若依立世阿毘曇論所說,於別劫中次第起一災,則第一劫為疾疫劫(梵 rogāntara-kalpa),第二劫為刀兵劫(梵 śastrāntara-kalpa),第三劫為饑饉劫(梵 durbhikṣāntara-kalpa),以至第十九劫為疾疫劫。住劫中有如上二十中劫,壞劫、空劫、成劫亦各有二十中劫,合為八十中劫。壞、空、成三劫中雖無減增之別,但由於其時量等同住劫,故準彼而各有二十中劫。八十中劫為一大劫,一大劫即總括成、住、壞、空等四劫,是一期世界之始末。 壞劫時,器世間壞,有火、水、風等三災,稱為大三災,以別於前說之小三災。其中,火災由七日輪出現而起,風吹猛焰,初禪以下悉被焚燒。水災由雨霖而起,第二禪以下悉被浸沒。風災由風之相擊而起,第三禪以下悉被飄散。其次第初以火災壞滅七回,再以水災壞滅一回;水災之後復有七火。如此水災滿七次,更起七火,之後起一風災,第三禪以下器世界均被飄散。總計有八次七火災,一次七水災,一次風災,即所謂六十四轉大劫。以故,初禪以下之器世界,每經一大劫即遭一次破壞,第二禪則每經八大劫遭一次破壞,第三禪則每六十四大劫遭一度破壞。色界中,唯第四禪不為三災所壞。故初禪大梵天之壽量為六十中劫,即一大劫(除空劫二十劫),第二禪天壽量八大劫,第三禪天壽量六十四大劫。此中一大劫稱火災劫,七火災劫稱水災劫,七水災劫稱風災劫。 又積大劫之數為十百千,乃至積數至阿僧祇,則稱一阿僧祇劫(梵 asaṃkhyeya-kalpa),累積至三,稱為三阿僧祇劫。但其時量之計算復有多種異說,大毘婆沙論卷一七七列舉四說,一說如前,一說積中劫至阿僧企耶為一阿僧祇劫,一說積成劫,一說積壞劫。菩薩地持經卷九謂劫有二種,一者日月、晝夜、時節、歲數無量,故稱阿僧祇;二者大劫無量,故稱阿僧祇。後者與婆沙之正義相同,前者乃就歲數劫而言。 總之,劫之時量悠長,算數所難計量。雜阿含經卷三十四有芥子劫(梵 sarṣapopama-kalpa)、磐石劫(梵 parvatopama-kalpa)之譬喻,大藏法數卷三十二有草木、沙細、芥子、碎塵、拂石等五大劫之名,皆說明劫之時量悠久無限。又依吉爾得斯(R.C. Childers)之巴利文辭典載,劫有空及不空二種。不空劫又有堅劫(梵 sāra-kalpa)、醍醐劫(梵 maṇḍa-kalpa)、妙劫(梵 vara-kalpa)、堅醍醐劫(梵 sāra-maṇḍa-kalpa)、賢劫(梵 bhadra-kalpa)等五種差別。三劫三千佛緣起、大乘本生心地觀經卷一等,則說過去莊嚴劫、現在賢劫、未來星宿劫等三劫,其中各有千佛出世。此外,八十華嚴卷二以大海之水量比喻劫數之多,稱為劫海。〔中阿含經卷二、長阿含經卷一、起世因本經卷九、立世阿毘曇論卷七、俱舍論卷九、順正理論卷三十二、大智度論卷七、法華玄論卷五、法華經玄贊卷二末、大日經疏卷二、俱舍論光記卷十二、華嚴經探玄記卷十五、瑜伽論記卷一下、四分律疏飾宗義記卷十末、止觀輔行傳弘決卷一之一、佛祖統紀卷三十、法苑珠林卷一〕 ; Kàlpa (S). A kalpa, aeon, age, world cycle. ; Là thời gian rất dài. ; Kalpa (skt). (I) Nghĩa của Kiếp—The meanings of Kalpa: 1) Một khoảng thời gian rất dài: Aeon—Life—An infinitely long time. 2) Khoảng thời gian một ngày một đêm trên cõi Trời Phạm Thiên (tương đương với 4 tỷ 320 triệu năm): The length of a day and night of Brahma (4.320.000.000 years). 3) Khoảng thời gian từ lúc vũ trụ được thành lập, đến hoại diệt rồi lại được thành lập: A period of time between the creation and recreation of a world or universe. 4) Lấy áo trời vỗ vào một tảng đá dài 40 dậm, cứ mỗi trăm năm lại vỗ một lần, cứ thế cho đến khi áo trời rách nát, tiểu kiếp vẫn chưa hết—To pass a heaven cloth over a solid rock 40 li in size once in a hundred years, when finally the rock has been thus worn away a kalpa will not yet have passed. (II) Phân loại Kiếp—Categories of Kalpas: (A) Phân loại theo Phương cách, có ba loại—Methodologically speaking, there are three types of kalpas: 1) Tiểu Kiếp: Small kalpa—See Tiểu Kiếp. 2) Trung Kiếp: Middling Kalpa—See Trung Kiếp. 3) Đại Kiếp: Mahakalpa—See Đại Kiếp. (B) Phân loại theo sự cấu tạo vụ trụ—Có bốn loại kiếp—Categories based on the formation of the universe—The kalpa is divided into four parts: 1) Thành Kiếp: The period of world formation. 2) Trụ Kiếp: The period of world-continuation (stability or development). 3) Hoại Kiếp: The period of the world-dissolution. 4) Không Kiếp: The period of void. ; (劫) .. Phạm: Kalpa Pàli:Kappa. Hán âm: Kiếp ba, Kiếp bả, Kiếp pha, Yết lạp ba. Hán dịch: Phân biệt thời phần, Phân biệt thời tiết, Trường thời, Đại thời, Thời. Vốn là đơn vị thời gian rất dài của Bà la môn giáo ở Ấn độ đời xưa, về sau Phật giáo dùng theo và coi đó là thời gian không thể tính toán được bằng năm tháng. Có thuyết nói 1 kiếp tương đương với 1 ngày ở cõi trời Đại phạm, hoặc 1.000 thời (Phạm:Yuga), tức là bốn mươi ba ức hai nghìn vạn năm (243.000.000 năm) ở nhân gian, cuối kiếp có nạn lửa xảy ra, đốt cháy hết tất cả, sau đó thế giới được thành lập lại. Thuyết khác thì cho rằng 1 kiếp có 4 thời: 1. Viên mãn thời (Phạm: Kftayuga), tương đương với 1.728000 năm. 2. Tam phần thời (Phạm: Tretàyuga), tương đương với 1.296.000 năm. 3. Nhị phần thời (Phạm: Dvàyuga), tương với 864.000 năm. 4. Tranh đấu thời (Phạm: Kaliyuga), tương đương với 432.000 năm. Tất cả 4 thời gồm có 4.320.000 năm. Theo thuyết này thì thời gian chúng ta đang sống đây thuộc về thời Tranh đấu. Ngoài ra, căn cứ vào thuyết 1 kiếp có 4 thời nói trên, Bà la môn giáo cho rằng so sánh 4 thời với nhau, thì về mặt thời gian càng ngày càng ngắn đi, thân hình con người thấp bé dần và đạo đức mỗi ngày mỗi sa sút, nếu thời Tranh đấu kết thúc thì là mạt kiếp, thế giới sắp bị hủy diệt. Quan niệm về thời gian của Phật giáo lấy Kiếp làm cơ sở để thuyết minh quá trình hình thành và hủy diệt của thế giới. Về vấn đề phân loại các Kiếp, trong kinh luận có nhiều thuyết khác nhau: - Luận Đại trí độ quyển 38, cho rằng Kiếp có 2 loại: Đại kiếp và Tiểu kiếp. - Diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá chia Kiếp làm 5 loại: Dạ, Trú, Nguyệt, Thời, Niên(đêm, ngày, tháng, giờ, năm). - Luận Đại tì bà sa quyển 135 cho rằng Kiếp có 3 loại: Trung gian kiếp, Thành hoại kiếp và Đại kiếp. - Luận Câu xá quyển 12 nêu 4 loại: Hoại kiếp, Thành kiếp, Trung kiếp và Đại kiếp. - Luận Chương sở tri quyển thượng chia Kiếp thành 6 loại: Trung kiếp, Thành kiếp, Trụ kiếp, Hoại kiếp, Không kiếp và Đại kiếp. - Du già sư địa luận lược toản quyển 1 phần cuối nói có 9 loại Kiếp: 1. Nhật nguyệt tuế số(số ngày tháng năm). 2. Tăng giảm kiếp(tức Tiểu tam tai kiếp (đói, kém, tật bệnh, đao binh), gọi là Trung kiếp. 3. Hai mươi kiếp là 1 kiếp, tức Phạm chúng thiên kiếp. 4. Bốn mươi kiếp là 1 kiếp, tức Phạm tiền ích thiên kiếp. 5. Sáu mươi kiếp là 1 kiếp, tức Đại phạm thiên kiếp. 6. Tám mươi kiếp là 1 kiếp, tức Hỏa tai kiếp. 7. Bảy hỏa tai kiếp là 1 kiếp, tức Thủy tai kiếp. 8. Bảy thủy tai kiếp là 1 kiếp, tức Phong tai kiếp. 9. Ba đại a tăng kì kiếp. Trong các kinh luận còn có những tên gọi Tiểu kiếp, Trung kiếp, Đại kiếp. Tiểu kiếp, Trung kiếp đều được dịch từ tiếng PhạmAntara-kalpa, còn Đại kiếp thì được dịch từ tiếng Phạm Mahà-kalpa. Trong kinh Pháp hoa do ngài Cưu ma la thập dịch, đều gọi là Tiểu kiếp, nhưng trong phẩm Đề bà đạt đa do ngài Pháp ý dịch thì gọi là Trung kiếp. Kinh Đại lâu thán quyển 5 cho 3 tai ách: Binh đao, bệnh tật, đói kém là 3 tiểu kiếp, kinh Khởi thế quyển 9 thì gọi là 3 Trung kiếp. Luận Lập thế a tì đàm cho 80 tiểu kiếp là 1 Đại kiếp; luận Đại tì bà sa thì cho 80 trung kiếp là 1 Đại kiếp. Những sai biệt này đều có thể được xem là do sự phiên dịch khác nhau từ tiếng Phạm Antarakalpamà ra. Chữ Kiếp vốn biểu thị thời hạn, trong đó, tuy có nhiều loại khác nhau, nhưng Kiếp biểu thị thời gian dài thì thường được dùng để thuyết minh sự sinh thành và hoại diệt của thế giới. Như đã trình bày ở trên, luận Đại tì bà sa chia Kiếp làm 3 loại: Trung gian kiếp, Thành hoại kiếp và Đại kiếp; luận Câu xá chia làm 4 loại kiếp: Hoại kiếp, Thành kiếp, Trung kiếp và Đại kiếp, v.v... đều nói về sự thành hoại của thế giới. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 135, Trung gian kiếp cũng có 3 loại là: Giảm kiếp, Tăng kiếp và Tăng giảm kiếp. - Giảm kiếp: Thời gian từ lúc con người sống lâu vô lượng tuổi giảm xuống dần đến lúc chỉ còn 10 tuổi. - Tăng kiếp: Thời gian từ lúc con người chỉ sống có 10 tuổi tăng dần lên đến 80.000 tuổi. - Tăng giảm kiếp: Thời gian con người chỉ sống có 10 tuổi tăng lên đến 80.000 tuổi, rồi lại từ 80.000 giảm xuống đến 10 tuổi. Ba loại kiếp trên nói về sự sai khác của 20 Trung kiếp trong kiếp Trụ, tức là trong 20 Trung kiếp của kiếp Trụ, thì kiếp thứ 1 là kiếp giảm, kiếp thứ 20 là kiếp tăng, còn 18 kiếp ở khoảng giữa là kiếp tăng giảm, thời gian của mỗi Trung kiếp đều bằng nhau. Sở dĩ như vậy là vì trong kiếp giảm đầu tiên, chúng sinh còn nhiều phúc đức nên sự giảm xuống còn tương đối chậm, trong kiếp tăng cuối cùng chúng sinh còn ít phúc đức nên sự tăng lên cũng chậm, còn trong 18 kiếp trung gian, thì thời gian luân lưu có chậm có nhanh, vì thế mà thời gian của 3 kiếp này bằng nhau. Trên đây là luận điểm của Tiểu thừa. Nhưng, theo luận Du già sư địa quyển 2, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 và Du già sư địa luận lược toản quyển 1, thì Đại thừa lập mỗi kiếp của 20 Trung kiếp đều có tăng giảm, cho nên không cần chia ra 3 thứ kiếp như luận Đại tì bà sa, tức cho mỗi Trung kiếp là tăng giảm kiếp duy nhất. Còn kinh Ưu bà tắc giới quyển 7 thì cho rằng từ 10 tuổi tăng lên đến 80.000 tuổi, lại từ 80.000 tuổi giảm còn 10 tuổi, cứ tăng giảm như thế đủ 18 lần, gọi là Trung kiếp. Trong Trung kiếp nhất định có 3 tai ách xảy ra, gọi là Tiểu tam tai(đao binh, tật bệnh, đói kém). Thời gian xuất hiện của 3 tai ách này có nhiều thuyết khác nhau. Theo luận Đại tì bà sa quyển 134, thì vào kiếp giảm của mỗi Trung kiếp, mỗi khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 10 tuổi, thì 3 tai ách liền xuất hiện. Theo luận Đại tì bà sa, trong 1 kiếp, tam tai cùng khởi lên thì trong 20 Trung kiếp của kiếp Trụ đều có tiểu tam tai. Theo luận Lập thế a tì đàm, trong mỗi kiếp lần lượt xảy ra 1 tai ách, thì kiếp thứ nhất là kiếp Tật dịch (Phạm: Rogàntara-kalpa), kiếp thứ 2 là kiếp Đao binh (Phạm: Zastràntara-kalpa), kiếp thứ 3 là kiếp Cơ cận (Phạm: Durbhikwàntara-kalpa), cho đến thứ 19 là kiếp Tật dịch. Trong kiếp Trụ có 20 Trung kiếp như trên, trong các kiếp Hoại, kiếp Không, kiếp Thành... cũng đều có 20 Trung kiếp, cộng chung lại là 80 Trung kiếp. Trong 3 kiếp Hoại, Không, Thành tuy không có sự tăng giảm khác nhau, nhưng do thời gian của chúng bằng với kiếp Trụ, cho nên đều có 20 Trung kiếp. Tám mươi Trung kiếp là 1 Đại kiếp, 1 Đại kiếp bao gồm 4 kiếp Thành, Trụ, Hoại, Không, là 1 chu kì sinh thành và hoại diệt của thế giới. Thời kì kiếp Hoại, khí thế gian hư hoại, có 3 tai ách xảy ra là: Lửa, nước, gió, gọi là Đại tam tai, để phân biệt với Tiểu tam tai đã nói ở trên. Trong đó, nạn lửa khởi lên thì 7 mặt trời xuất hiện, gió thổi, lửa cháy dữ dội, từ cõi Sơ thiền trở xuống đều bị thiêu rụi. Nạn nước xảy ra do mưa dầm dề, từ cõi Nhị thiền trở xuống đều bị ngập lụt. Nạn gió khởi lên do cuồng phong, từ cõi Tam thiền trở xuống đều bị thổi tan. Theo thứ tự, đầu tiên thế giới bị nạn lửa hủy diệt 7 lần, kế đến bị nạn nước hủy diệt 1 lần, sau nạn nước lại có 7 lần nạn lửa. Đủ 7 lần nạn nước như thế rồi, lại xảy ra thêm 7 lần nạn lửa nữa, sau đó khởi lên 1 lần nạn gió, khí thế giới từ cõi trời Tam thiền trở xuống đều bị thổi tan. Tính chung có 8 x 7 = 56 lần nạn lửa, 7 lần nạn nước, 1 lần nạn gió, tức là 64 chuyển đại kiếp. Như vậy, khí thế giới từ cõi Sơ thiền trở xuống, cứ trải qua 1 đại kiếp thì bị phá hoại 1 lần; cõi Tam thiền thì cứ mỗi 64 đại kiếp lại 1 lần bị phá hoại. Trong cõi Sắc, chỉ có cõi trời Tứ thiền không bị tam tai phá hoại. Tuổi thọ của trời Đại phạm ở cõi Sơ thiền là 60 Trung kiếp, tức 1 Đại kiếp (trừ 20 kiếp của kiếp Không), tuổi thọ của trời Nhị thiền là 8 đại kiếp, tuổi thọ của trời Tam thiền là 64 đại kiếp. Trong đây, 1 đại kiếp gọi là Hỏa tai kiếp. 7 hỏa tai kiếp gọi là Thủy tai kiếp, 7 Thủy tai kiếp gọi là Phong tai kiếp. Số tích lũy của Đại kiếp là một triệu, nhân lên cho đến A tăng kì thì gọi là 1 A tăng kì kiếp (Phạm: Asaôkhyeya-kalpa), nhân đến 3, gọi là A tăng tì kiếp. Nhưng sự tính toán về lượng thời gian của nó có nhiều thuyết khác nhau. Luận Đại tì bà sa quyển 177 nêu ra 4 thuyết: Thuyết thứ 1 như trên, thuyết thứ 2 là nhân Trung kiếp đến A tăng xí da là 1 A tăng kì kiếp, thuyết thứ 2 là nhân với Thành kiếp, thứ 4 là nhân với Hoại kiếp. Kinh Bồ tát địa trì quyển 9 nói rằng kiếp có 2 thứ: 1. Ngày tháng, ban ngày ban đêm, thời tiết, số năm vô lượng nên gọi là A tăng kì. 2. Đại kiếp vô lượng nên gọi là A tăng kì. Thuyết thứ 1 nói theo kiếp số năm, tháng; thuyết thứ 2 giống với nghĩa chính thống của luận Đại tì bà sa. Tóm lại, thời lượng lâu dài của kiếp, toán số cũng khó lường tính được. Kinh Tạp a hàm quyển 34 có những thí dụ như Giới tử kiếp (Phạm: Sarwapopama-kalpa), Bàn thạch kiếp (Phạm: Parvatopama-kalpa). Đại tạng pháp số có tên gọi của 5 Đại kiếp là: Thảo mộc(cây cỏ),Sa tế(cát mịn), Giới tử (hạt cải), Toái trần(bụi nhỏ)và Phất thạch (lau tảng đá)... để nói về thời lượng lâu dài vô hạn của kiếp. Theo từ điển tiếngPàli của ông Cát nhĩ đắc tư (R.C. Childers) thì Kiếp có 2 loại Không và Bất không. Bất không kiếp lại có 5 thứ khác nhau: 1. Kiên kiếp (Phạm:Sàra-kalpa). 2. Đề hồ kiếp (Phạm: Maịđa-kalpa). 3. Diệu kiếp (Phạm:Vara-kalpa). 4. Kiên đề hồ kiếp (Phạm:Sàra-maịđakalpa). 5. Hiền kiếp (Phạm:Bhadra-kalpa). Tam kiếp tam thiên Phật duyên khởi và kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 1, nói có 3 kiếp: Quá khứ trang nghiêm kiếp, Hiện tại hiền kiếp, Vị lai tinh tú kiếp, trong mỗi kiếp đều có 1.000 đức Phật ra đời. Ngoài ra, kinh Hoa nghiêm quyển 2 (bản 80 quyển), dùng lượng nước của biển cả để ví dụ cho số nhiều của số kiếp, gọi là Kiếp hải. [X. kinh Trung a hàm Q.2; kinh Trường a hàm Q.1; kinh Khởi thế nhân bản Q.9; luận Lập thế a tì đàm Q.7; luận Câu xá Q.9; luận Thuận chính lí Q.32; luận Đại trí độ Q.7; Pháp hoa huyền luận Q.5; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2 phần cuối. Đại nhật kinh sớ Q.2; Câu xá luận quang kí Q.12; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15; Du già luận kí Q.1 phần cuối; Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.10 phần cuối; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 1; Phật tổ thống kỉ Q.30; Pháp uyển châu lâm Q.1].

kiếp ba

Kàlpa (S). Aeon, age. The period of time between the creation and recreation of a world or universe; also "the kalpas of formation thành existence trụ, destruction hoại, and non-existence không, which four as a complete period are called mahàkàlpa đại kiếp. Each great kàlpa is subdivided into four asankhyeya-kàlpa a tăng kỳ kiếp, numberless, incalculable: (1)-kàlpa of destruction, samvarta, hoại kiếp; (2)-kàlpa of utter annihilation, or empty kàlpa, samvarta-siddha không kiếp; (3)-kàlpa of formation, vivarta, thành kiếp; (4)-kàlpa of existence, vivarta-siddha, trụ kiếp. Each of the four kàlpas is subdivided into twenty antara-kàlpas, tiểu kiếp, or small kàlpas. Each small kàlpa is divided into a period of increase tăng and decrease giảm. ; Kalpa (skt)—See Kiếp.

kiếp ba bôi

2815梵語 kapāla。又稱劫波羅、髑髏杯、髑髏器。係密教本初佛(梵 Ādi-Buddha)、伊舍那天(梵 Īśāna)、毘舍闍鬼(梵 Piśāca)等左手所持之器皿。據略本瑜伽護摩軌、十二天供儀軌等載,伊舍那天乘坐黃牛,左手持劫波杯,杯內盛血,右手則持三戟槍。又伊舍那天手持盛血之劫波杯,意謂欲飲盡生死流轉之血。或有誤傳,指劫波杯即以劫波樹(梵 kalpataru)所造之杯。〔大日經卷三普通真言藏品、H.V. Glasenapp: Der Buddhismus〕 ; (劫波杯) ........ Phạm:Kapàla. Cũng gọi Kiếp ba la, Độc lâu bôi, Độc lâu khí. Cái chén được cầm ở tay trái của Phật Bản sơ (Phạm:Àdi-Buddha), của trời Y xá na (Phạm:Izàna) và của quỉ Tì xá xà (Phạm: Pizaca) trong Mật giáo. Cứ theo Lược bản du già hộ ma quĩ, Thập nhị thiên cũng nghi quĩ v.v... thì trời Y xá na ngồi trên lưng con bò vàng, tay trái cầm cái chén Kiếp ba đựng máu, tay phải thì cầm cây thương 3 mũi. Tay trời Y xá na cầm chén Kiếp 3 đựng máu là tượng trưng ý nghĩa muốn uống hết máu sinh tử lưu chuyển của chúng sinh. Có chỗ lầm cho rằng Kiếp ba bôi là cái chén được làm bằng gỗ cây Kiếp ba (Phạm:Kalpataru). [X. phẩm Phổ môn chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật Q.3; Der Buddhismus (H.V.Glasenapp)].

kiếp ba thụ

2815梵語 kalpataru。又稱劫樹。意譯如意樹。為生於帝釋天所居喜林園中之樹名。劫波,即時間之義。關於此樹名稱之由來,據金剛頂經卷四載,劫波樹能應時產生一切所需之物,如衣服、莊嚴之飾物、日常用具等,故有此稱。另一說則謂,由此樹之花開花謝而可測知晝夜時間,故稱為劫波樹。此外,在印度常有長者將香花、瓔珞等寶物掛於樹上,普施大眾之風習;所用以懸掛寶物之樹即稱為劫樹或寶樹,此一風習或係模仿喜林園劫波樹能產生種種寶物之說而形成者。又密教金剛界法在供養會中,須結寶樹之印契,並誦其真言,以示供養劫樹之意。〔六波羅蜜經卷三〕 ; Kalpataru (S). A tree in Indra's garden bearing fruit according to the seasons. ; (劫波樹) Phạm: Kalpataru. Cũng gọi Kiếp thụ. Hán dịch: Như ý thụ. Loại cây mọc trong vườn Hỉ lâm của trời Đế thích. Kiếp ba nghĩa là thời gian. Cứ theo kinh Kim cương đính quyển 4, cây kiếp ba có thể tùy thời sinh ra tất cả những vật cần dùng như: Y phục, đồ trang sức, vật dụng hàng ngày. Lại có thuyết cho rằng căn cứ vào lúc hoa nở, hoa tàn của cây này mà biết được thời gian ngày, đêm, cho nên gọi là cây Kiếp ba. Ngoài ra, tại Ấn độ còn có phong tục treo các thứ quí báu như hương hoa, anh lạc trên cây để bố thí cho mọi người. Cây dùng để treo vật báu gọi là Kiếp thụ hoặc Bảo thụ. Phong tục này có lẽ đã phỏng theo thuyết về cây Kiếp ba trong vườn Hỉ lâm nói trên. Còn trong hội Cúng dường của Pháp kim cương giới trong Mật giáo thì phải kết ấn khế và tụng chân ngôn Bảo thụ để biểu thị nghĩa cúng dường Kiếp thụ. [X. kinh Lục ba la mật Q.3].

kiếp bất hạnh

A wretched life

kiếp bố la

Karpura (skt)—Hương long não—Camphor, described as dragon-brain scent.

kiếp bố thản na quốc

2814劫布坦那,梵名 Kapotana。西域之古國名。意譯作曹國。唐時,位於颯秣建國(今撒馬爾干)附近,風俗與颯秣建國相同。其地勢,東西長而南北狹,包括曹、西曹、中曹三部族,係土耳其族住地。〔大唐西域記卷一〕 ; (劫布坦那國) Kiếp bố thản na, Phạm:Kapotana. Hán dịch: Tào quốc. Tên một nước xưa tại Tây vực, gần với nước Táp mạt kiến(nay là Tản mã nhĩ can). Về địa thế, chiều đông tây rộng, chiều nam bắc hẹp, gồm 3 bộ tộc: Tào, Tây tào và Trung tào, thuộc dân tộc Thổ nhĩ kì, phong tục cũng giống như phong tục nước Táp mạt kiến. [X. Đại đường tây vực kí Q.1].

kiếp bố đảm

Kapotana or Kebudhana (skt)—Vương quốc cổ, bây giờ là Kebud, về phía Bắc của Samarkand—An ancient kingdom, the modern Kebud, north of Samarkand.

kiếp bối thụ

2815劫貝,梵語 karpāsa,巴利語 kappāsa。又作劫波育樹、劫波娑樹、劫貝娑樹、古貝樹、迦波羅樹。意譯作時分樹。學名 Gossypium hebaceum,屬於棉之一種。原產於東亞細亞,印度德干地方栽培甚廣,我國、希臘等地亦有之。其絮可製成布衣,其衣稱劫貝衣(梵 karpāsaka),種子可榨油。據四分律卷三十九載,劫貝衣與拘舍衣、欽跋羅衣等,俱為十種衣之一。此衣相當於俱舍釋論卷九所說之毛古貝,及俱舍論卷十二所說之毛岁。〔起世經卷一、摩訶僧祇律卷二十八、善見律毘婆沙卷十四、玄應音義卷十四、卷十七〕 ; (劫貝樹) Kiếp bối, Phạm: Karpàsa, Pàli: Kappasa. Cũng gọi: Kiếp ba dục thụ, Kiếp ma sa thụ, Kiếp bối sa thụ, Cổ bối thụ, Ca ba la thụ. Hán dịch: Thời phần thụ. Tên khoa học: Gosapium hebaceam. Một loại cây bông vải được trồng ở các miền đông châu Á, xứ Decan, Ấn độ, Trung quốc, Hi lạp, v.v... bông của nó được kéo thành sợi làm vải may áo, hạt của nó dùng để ép lấy dầu. Cứ theo luật Tứ phần quyển 39, thì áo kiếp bối (áo may bằng vải dệt từ bông của cây Kiếp bối), áo câu xá, áo khâm bạt la, v.v... đều là 1 trong 10 loại áo. Áo này tương đương với Mao cổ bối nói trong Câu xá thích luận quyển 9 và Mao điệp trong luận Câu xá quyển 12. [X. kinh Khởi thế Q.1; luật Ma ha tăng kì Q.28; Thiện kiến luật tì bà sa Q.14; Huyền ứng âm nghĩa Q.14, Q.17].

Kiếp bối 劫具

[ja] コウグ kōgu ||| See 劫波婆. =>Xem mục từ Kiếp-ba-bà 劫波婆.

kiếp con người ngắn ngủi

The shortness of our lifespan on earth.

Kiếp cụ

劫具; C: jiéjù; J: kōgu;|Kiếp-ba-bà (劫波婆).

kiếp diệm

Kalpa-flames—See Kiếp Hỏa.

Kiếp diệm (diễm)

劫焰; C: jiéyàn; J: kōen;|Kiếp hoả.

kiếp giảm

thường được giải thích là từ khi tuổi thọ con người được 84.000 năm, cứ qua một trăm năm thì giảm đi một tuổi, cho đến lúc chỉ còn là 10 tuổi thì gọi là một kiếp giảm.

Kiếp hoả

劫火; C: jiéhuǒ; J: kōka;|Tai hoạ lớn vào thời kì cuối cùng, thiêu cháy sạch toàn vũ trụ. Mọi sinh vật ở phía dưới cõi Sơ thiền (初禪天) đều bị tiêu huỷ (s: yuga-anta-agni).

kiếp hoả

2814梵語 kalpāgni,巴利語 kappaggi。又作劫盡火、劫燒(梵 kalpa-dāha)。指壞劫時所起之火災。於佛教之世界觀中,謂世界之成立分為成、住、壞、空四劫,於壞劫之末必起火災、水災、風災,火災之時,天上出現七日輪,初禪天以下全為劫火所燒。法華經卷四見寶塔品(大九‧三四上):「假使劫燒,擔負乾草,入中不燒,亦未為難。」大智度論卷二十七(大二五‧二六一上):「諸阿羅漢、辟支佛,(中略)智慧力薄,如世間火;諸佛力大,如劫盡火。」 又火災中燒盡一切物之情況,稱為劫火洞然。禪林中,常以劫火中是否尚有殘餘未被燃燒之物,作為禪話提示之一。景德傳燈錄卷十一大隨法真章(大五一‧二八六上):「益州大隨法真禪師,僧問:『劫火洞然,大千俱壞,未審此箇還壞也無?』師云:『壞!』」〔長阿含卷二十一世記經三災品、中阿含卷二「七日經」,法華經卷五如來壽量品、新華嚴經卷十、大毘婆沙論卷一三二、俱舍論卷十二〕(參閱「壞劫」6653) ; (劫火) Phạm:Kalpàgni. Pàli:Kappaggi. Cũng gọi Kiếp tận hỏa, Kiếp thiêu (Phạm: Kalpa-dàha). Nạn lửa khởi lên trong kiếp Hoại. Theo thế giới quan của Phật giáo, thì sự thành lập thế giới chia làm 4 kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không. Ở cuối kiếp Hoại, nạn lửa nạn nước và nạn gió chắc chắn xảy ra. Trong thời kì nạn lửa, trên trời có 7 mặt trời xuất hiện, từ cõi trời Sơ thiền trở xuống đều bị kiếp hỏa thiêu đốt. Phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4 (Đại 9, 34 thượng), nói: Giả sử trong kiếp thiêu, ôm cỏ khô nhảy vào lửa mà không bị cháy cũng chưa phải là khó. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 261 thượng), nói: Các vị A la hán, Bích chi phật (...) sức trí tuệ yếu ớt như lửa của thế gian, còn sức trí tuệ của chư Phật thì mạnh mẽ như lửa của kiếp tận. Lại nạn lửa trong kiếp hỏa đốt cháy tất cả mọi vật gọi là Kiếp hỏa đỗng nhiên. Thiền tông thường lấy việc trong kiếp hỏa có vật gì còn sót lại chưa bị thiêu đốt không, để làm thoại đầu. Chương Đại tùy Pháp chân trong Cảnh đức truyền đăng lục (Đại 51, 286 thượng), nói: Có vị tăng hỏi thiền sư Đại tùy Pháp chân ở Ích châu rằng: Kiếp hỏa đỗng nhiên, cả đại thiên thế giới đều hoại, chẳng hay cái ấy có hoại không? Sư đáp: Hoại!. [X. phẩm Tam tai, kinh Thế kí trong Trường a hàm Q.21; kinh Thất nhật trong Trung a hàm Q.2; phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa Q.5; kinh Hoa nghiêm Q.10 (bản dịch mới); luận Đại tì bà sa Q.132; luận Câu xá Q.12]. (xt. Hoại Kiếp).

kiếp hôi

Kiếp tro, thời kỳ chỉ toàn những tro, ngay sau sự tàn phá của kiếp hỏa—Kalpa-ash, the ash after the fire kalpa of destruction.

Kiếp hải

劫海; C: jiéhăi; J: kōkai;|Một »biển kiếp«, số lượng kiếp rất nhiều.

kiếp hải

The ocean of kalpa, i.e. their great number. ; Số lượng kiếp rất nhiều, ví như lượng nước biển—The ocean of kalpas, great in number.

Kiếp hải 劫海

[ja] コウカイ kōkai ||| An ocean of kalpas--a vast number of eons. 〔華嚴經、 T 278.9.407c8〕 => Số lượng kiếp rất nhiều- ví như nước trong đại dương.

kiếp hỏa

Kalpagni (S), Kalpa fire. ; The fire in the kalpa of destruction. ; Kiếp Diệm—Kiếp Tận Hỏa—Kiếp Thiêu—Hỏa tai trong thời hoại kiếp, một trong đại tam tai (kiếp hỏa tai sẽ đốt hết từ mặt đất cho đến cõi sơ thiền)—The fire in the kalpa destruction, one of the three great calamities.

kiếp hỏa thiêu đáy biển, gió thổi núi đụng nhau

Là hình dung bản thể của đại Niết bàn như như bất động, kiếp hỏa chẳng thể thiêu hủy, gió bão chẳng thể lay động.

Kiếp hỏa 刧火

[ja] コウカ kōka ||| The conflagration at the end of the age that consumes the physical universe. All existences below the first meditation heaven 初禪天 are said to be annihīated (yuga-anta-agni). => Tai họa lớn vào thời kỳ cuối cùng, thiêu cháy sạch toàn vũ trụ. Mọi sinh vật ở phía dưới cõi Sơ thiền đều bị tiêu hủy (s: yuga-anta-agni).

Kiếp khôi

劫灰; C: jiéhuī; J: kōkai;|Tro còn lại sau Kiếp hoả (劫火).

Kiếp khôi 劫灰

[ja] コウカイ kōkai ||| The ashes remaining after the kalpa-ending conflagration 劫火. => Tro còn lại sau Kiếp tận hỏa刧盡火 .

kiếp không chi hậu

2815禪林用語。劫空,與「空劫」同義。佛教認為世界之生滅過程分為成、住、壞、空等四劫,其中,空劫係指世界已壞滅殆盡,於欲、色二界之中,唯色界之第四禪天尚存,其他則全入於長時期之空虛中;於禪林中,乃以「空劫之後」一語表示盡未來際之意。從容錄第八十三則(大四八‧二八○下):「妙藥何曾過口?神醫莫能捉手。若存也,渠本非無;至虛也,渠本非有。不滅而生,不亡而壽,全超威音之前,獨步劫空之後。」反之,「劫空之前」一語則表示天地未開以前、父母未生以前;一般多用於形容一切分別對待之情識尚未形成以前之狀態,即喻指自己本來之面目、眾生本具之清淨佛性。 ; (劫空之後) Kiếp không, đồng nghĩa với không kiếp. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sau kiếp Không. Kiếp không là chỉ cho thời kì thế giới hoàn toàn bị tiêu diệt. Thiền tông thường dùng từ ngữ Sau kiếp Không để chỉ cho khoảng thời gian đến tận cùng vị lai. Tắc 83, Thung dung lục (Đại 48, 280 hạ), nói: Thuốc hay chưa từng qua miệng, thầy giỏi chẳng cần bắt mạch. Nếu là tồn tại, thì hắn vốn chẳng phải không; nếu là rỗng không thì hắn vốn chẳng phải có. Chẳng diệt mà sinh, chẳng chết mà sống, hoàn toàn vượt trước Phật Uy âm, một mình đi mãi đến sau kiếp Không. Trái lại, từ ngữ Kiếp không chi tiền (trước kiếp Không)biểu thị khi trời đất chưa có, lúc cha mẹ chưa sinh, thì được dùng để miêu tả cái trạng thái trước khi tất cả tình thức phân biệt đối đãi vẫn chưa hình thành. Đây là ví dụ chỉ cho bản lai diện mục của chính mình, Phật tính thanh tịnh sẵn có của chúng sinh.

kiếp kinh

Kalpa sŪtra (S)Kinh Bà la môn giáo (kinh Phệ đà), khoảng 400 - 200 BC.

kiếp kiếp

Generations after generations.

kiếp luân hồi

In Samsara.

kiếp ma sa đà vương

Xem Ban túc vương.

kiếp người

Human life (condition). Những lời Phật dạy trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Human Life in the Dharmapada Sutra: 1) Được sinh làm người là khó, được sống còn là khó, được nghe Chánh pháp là khó, được gặp Phật ra đời là khó—It is difficult to obtain birth as a human being; it is difficult to have a life of mortals; it is difficult to hear the Correct Law; it is even rare to meet the Buddha (Dharmapada 182). 2) “Mùa mưa ta ở đây, đông hạ ta cũng ở đây,” đấy là tâm tưởng của hạng người ngu si, không tự giác những gì nguy hiểm—Here I shall live in the rainy season, here in the winter and the summer. These are the words of the fool. He fails to realize the danger (of his final destination) (Dharmapada 286). 3) Người đắm yêu con cái và súc vật thì tâm thường mê hoặc, nên bị tử thần bắt đi như xóm làng đang say ngủ bị cơn nước lũ lôi cuốn mà không hay—Death descends and carries away that man of drowsy mind greedy for children and cattle, just like flood sweeps away a sleeping village (Dharmapada 287). 4) Một khi tử thần đã đến, chẳng có thân thuộc nào có thể thế thay, dù cha con thân thích chẳng làm sao cứu hộ—Nothing can be saved, nor sons, nor a father, nor even relatives; there is no help from kinsmen can save a man from death (Dharmapada 288).

kiếp người hữu hạn

Human life is limited.

kiếp người mong manh ngắn ngủi

Human life is uncertain and ephemeral.

kiếp nầy và nhơn quả

Kiếp nầy và nhơn quả theo Kinh Nhân Quả—Present life and cause and effect according to Cause and Effect Sutra. 1) Kiếp Nầy Canh Cô Quạnh Quẻ Cũng Vì Kiếp Trước Hay Hãm Hại Người Khác: Being all alone in this life is the consequence of harming other people with a wicked mind in previous life. 2) Kiếp Nầy Câm, Điếc, Đui Mù Cũng Vì Kiếp Trước Hay Phỉ Báng (Người Tụng Đọc) Kinh Điển Đại Thừa: Being dumb, deaf, or blind in this life is the consequence of slandering (people who read or recite) Mahayana sutras in previous life. 3) Kiếp Nầy Chẳng Tu Còn Đợi Đến Kiếp Nào ? If we do not cultivate in this life, then when will we do so ? 4) Kiếp Nầy Có Xe Có Ngựa Vì Tiền Kiếp Hay Sửa Cầu Vá Lộ: Having the previlege to ride on a horse or travel in luxurous sedan cars in this life is the consequence of one's contribution made to public welfare by building the bridges and repairing the roads in his previous life. 5) Kiếp Nầy Con Cháu Đầy Đàn Cũng Nhờ Tiền Kiếp Hay Phóng Sanh Lợi Vật: Having so many children and grandchildren in this life is the consequence of setting free birds, animals as well as doing good deeds to other beings in previous life. 6) Kiếp Nầy Được Kính Trọng Nể Vì Cũng Nhờ Tiền Kiếp Hay Kính Trọng Nể Vì Người Khác: Being respectful in this life is the consequence of paying respect to other people in previous life. 7) Kiếp Nầy Hay Gây Hờn Chuốc Não Cho Người, Kiếp Sau Sẽ Bị Cọp Beo Rắn Hãm Hại: To create hatred and afflictions to other people in this life, next life will be harmed by tigers, bears or snakes. 8) Kiếp Nầy Hay Nói Thị Phi, Kiếp Sau Câm Điếc Không Ra Một Lời: Frequent gossip in this life, will be born dumb and deaf in the next life. 9) Kiếp Nầy Giàu Có Với Quần Là Áo Lụa Cũng Vì Tiền Kiếp Hay Cúng Dường Vải Và Áo Cho Chư Tăng Ni: Being so rich as to wear in silk fabrics or in satin dress in this life is the consequence of one's offerings of robes to the monks and nuns in his previous life. 10) Kiếp Nầy Hại Người Để Hưởng Lợi Thì Kiếp Sau Làm Thân Trâu Ngựa Để Đền Trả Và Cuối Cùng Bị Giết Làm Thịt: To benefit oneself by bringing harm to others, next life will become a buffalo or a horse to pay retribution and at the end of the life will be killed for meat. 10) Kiếp Nầy Hạnh Phúc Vì Kiếp Trước Không Làm Khổ Người Khác: Being happy in this life is the consequence of not causing physical or mental harm or damage to any being in previous life. 11) Kiếp Nầy Hay Khinh Miệt Người, Kiếp Sau Sanh Vào Chỗ Hạ Tiện Cho Người Miệt Khinh: To look down upon other people in this life, will be reborn in the mean and poor family and looked down by other people in the next life. 12) Kiếp Nầy Hay Ly Gián Đố Kỵ Kẻ Khác, Kiếp Sau Hôi Thúi Không Ai Tới Gần: To be jealous of others or to cause disputes among other people, will have a body with bad odour (nobody dares to come near) in the next life. 13) Kiếp Nầy Không Đau Ốm Bịnh Hoạn Cũng Nhờ Kiếp Trước Hay Giúp Đở Thuốc Men Cho Người Nghèo: Being free from illness in this life is the consequence of donating medicines to the poor in previous life. 14) Kiếp Nầy Không Tin Phật Pháp, Kiếp Sau Câm Điếc Để Không Nghe Gì: Don't believe in the Buddhist doctrines in this life, will be dumb and deaf (not be able to read and hear) in the next life. 15) Kiếp Nầy Làm Thân Làm Tôi Tớ Người Cũng Vì Kiếp Trước Hay Hành Hạ Tôi Tớ Hay Nợ Nần Không Trả: Working as a servant in this life is the consequence of ill-treating servants or not paying debts in previous life. 16) Kiếp Nầy Làm Thân Trâu Ngựa Cũng Vì Kiếp Trước Ác Độc Và Giựt Nợ: Becoming a cow or horse in this life is the consequence of wicked deeds and not paying debts in previous life. 16) Kiếp Nầy Lường Gạt Giựt Tiền Chùa, Kiếp Sau Phải Làm Thân Trâu, Bò, Heo Chó Để Đền Trả: To deceive the monks and nuns to get the money from the temple in this life, will become a buffalo, a cow, a pig or even a dog to pay retribution in the next life. 17) Kiếp Nầy Ngược Đãi Súc Vật, Kiếp Sau Sanh Thân Súc Vật Đền Trả: To maltreat animals, will be reborn as animals to pay retribution in the next life. 18) Kiếp Nầy Nhà Cao Cửa Rộng Nhờ Tiền Kiếp Hay Cúng Dường Gạo Thóc Cho Chùa: Being so rich as to be able to live in luxurious life is the consequence of offerings rice to the temples in previous life. 19) Kiếp Nầy No Cơm Ấm Áo Vì Tiền Kiếp Hay Giúp Đở Người Nghèo: Being sufficient with food and dress in this life is the consequence of giving alms to the poor in one's previous life. 20) Kiếp Nầy Nói Xấu Người Tu, Kiếp Sau Mang Thân Làm Thằn Lằn Tắc Lưỡi Mỗi Đêm: To slander the monks and nuns (not to slander the Triratna) in this life, will be reborn as a lizard to click the tongue every night. 20) Kiếp Nầy Phú Quí Thịnh Vượng Vì Tiền Kiếp Hay Xây Chùa Cất Miễu Cũng Như Dựng Nhà Chẩn Tế: Being sufficient with luck, nobility and prosperity in this life is the consequence of one's generous offerings made in the construction of the temples and monasteries as well as building of the shelters for the needy in previous life. 21) Kiếp Nầy Thấy Nạn Mà Cười, Kiếp Sau Hoạn Nạn Triền Miên Một Đời: To feel happy when seeing the misfortunes of others in this life, will be in constant troubles and sicknesses in the next life. 22) Kiếp Nầy Thấy Nguy Không Cứu, Kiếp Sau Phải Mang Thân Tù Đày: To refuse to rescue others when they are in danger, will have the bad fate of staying in prison in the next life. 23) Kiếp Nầy Thông Minh Đại Trí Cũng Nhờ Tiền Kiếp Hay Tụng Kinh Niệm Phật: Being full of great intelligence and wisdom in this life is the consequence of praying and reciting Amitabha Buddha's name in previous life. 24) Kiếp Nầy Trường Thọ Cũng Nhờ Kiếp Trước Hay Phóng Sanh Lợi Vật: Enjoying longevity in this life is the consequence of setting free animals as well doing good deeds to other people in previous life. 25) Kiếp Nầy Tướng Mạo Khôi Ngô Cũng Nhờ Kiếp Trước Hay Thành Tâm Dâng Hoa Cúng Phật: Being so beautiful and dignified in outer aspects in this life is the consequence of sincere offerings flowers to the Buddha (statue or image) in previous life. 26) Kiếp Nầy Vinh Hiển Làm Quan Cũng Vì Tiền Kiếp Đắp Vàng Tượng Phật: Holding the position of high ranking officer in this life is the consequence of one's decorating the statue of the Buddha with gold leaf in his previous life. 27) Kiếp Nầy Vu Oan Giá Họa Cho Người, Kiếp Sau Sẽ Bị Người Vu Oan Giá Họa Để Hãm Hại: To bring harm to others by spreading false rumours, will be harmed by false rumours in the next life.

kiếp phong

2816指世界壞滅時所起三災之一。壞劫時起大風,稱為僧伽多。此風起時,第三禪天以下皆不能免。(參閱「壞劫」6653) ; The wind in the kalpa of destruction. ; (劫風) ..... Tai nạn gió. Khi thế giới hoại diệt thì có 3 tai nạn xảy ra, Kiếp phong là 1 trong 3 tai nạn ấy. Vào thời kiếp Hoại, gió mạnh thổi lên gọi là Tăng già đa, thổi tan thế giới từ cõi trời Tam thiền trở xuống. (xt. Hoại Kiếp).

kiếp phù sinh

Ephemeral life.

Kiếp phả 劫跛

[ja] コウハ kōha ||| See 劫波. =>Xem mục từ Kiếp-ba劫波.

kiếp sau

Samparāya (S), Abhisamparāya (S), Abhisamparāya (P), After life ; Next life; state after death. ; Future life.

kiếp sơ

thuở ban sơ, kiếp sơ khai lúc mới hình thành của một thế giới. ; 2814梵語 kalpāgra。指成劫之初。即欲界有情世界成立之初。依俱舍論卷十二載,劫初時,人皆如色界,肢體圓滿,諸根具足無缺,形色端嚴,身帶光明,能騰空自在,飲食享樂,得長壽久住。至地味漸生,其味甘美,諸人競食,稱初受段食。其後,身漸堅重,光明隱沒,乃生日月眾星。次有地餅、林藤出現。復生男女根,形相殊異,以宿習力而生非理作意,人中欲鬼即初發於此時。〔增一阿含經卷三十四、大樓炭經卷六、起世經卷九、大毘婆沙論卷一三四、彰所知論卷上、法華經文句卷四下〕 ; The beginning of the kalpa of formation; the kalpa of formation. ; Thời kỳ đầu của Thành Kiếp hay lúc mới hình thành của thế giới—The beginning of the kalpa of formation. ; (劫初) Phạm:Kalpàpa. Chỉ cho lúc ban đầu của kiếp Thành. Tức lúc mới thành lập thế giới hữu tình của cõi Dục. Theo luận Câu xá quyển 12, thì lúc kiếp sơ, con người đều giống như ở cõi Sắc, thân thể đầy đặn, các căn trọn đủ, hình sắc xinh đẹp, thân có ánh sáng, bay đi trên không một cách tự tại, ăn uống hưởng lạc và được sống lâu. Đến khi đất đai dần dần sinh ra mùi vị ngon ngọt, mọi người tranh nhau ăn, gọi là Sơ thụ đoàn thực. Về sau, thân thể trở nên nặng nề, ánh sáng mất đi, mới sinh ra mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Kế đến, xuất hiện địa bính(lớp bánh mỏng sinh ra trên mặt đất), rừng cây; lại sinh nam căn, nữ căn, hình tướng khác nhau, rồi do tập khí đời trước, dục vọng của con người ở thời kì này bắt đầu phát sinh. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.34; kinh Đại lâu thán Q.6; kinh Khởi thế Q.9; luận Đại tì bà sa Q.134; luận Chương sở tri Q.thượng; Pháp hoa kinh văn cú Q.4 phần cuối].

Kiếp tai

劫災; C: jiézāi; J: kōsai;|Kiếp hoả.

kiếp tai

The calamity of fire, wind, and water during the kalpa of destruction. ; Những thời kỳ tai họa của lửa, gió, nước trong thời hoại kiếp (sau thành kiếp là hoại kiếp, cuối hoại kiếp có ba tai nạn hỏa tai, phong tai, và thủy tai lan tràn phá hoại hết thế giới)—The calamity of fire, wind and water during the kalpa of destruction.

Kiếp tai 劫災

[ja] コウサイ kōsai ||| See 劫火. =>Xem mục từ Kiếp hỏa劫火..

kiếp thiêu

Xem kiếp hỏa. ; See Kiếp Hỏa.

kiếp thuỷ

2814世界壞滅時所起大三災之一。彼時,水由地下水輪湧出,注大洪雨,雨滴甚粗,或如車軸,或如杵,歷多年而不止,第二禪天以下,盡為浸沒而敗壞。〔長阿含卷二十一世記經三災品、觀無量壽經〕

kiếp thụ

Xem kiếp ba thụ.

kiếp thủy

Flood at the end of the period of cosmic change. ; The flood in the kalpa of destruction. ; Đại thủy tai sanh ra vào thời hoại kiếp, một trong tam đại tai—The flood in the kalpa of destruction, one of the three great calamities.

kiếp trước

Past life.

kiếp trược

Kalpa-kaṣāyaḥ (S). ; (劫濁) ..... Phạm: Kalpa-kawaya. Thời đại xấu ác, làm cho thế giới hỗn loạn, con người ô trược. Một trong 5 trược. Trong kiếp giảm, những tai họa như: Đói kém, tật bệnh, chiến tranh, v.v... nổ ra, những nhu cầu của đời sống như áo mặc, thức ăn uống, v.v... đều suy tổn, đó là Kiếp trược. (xt. Ngũ Trược).

Kiếp trược 劫濁

[ja] コウジャク kōjaku ||| An age of impurity; and impure eon. One of five kinds of impurity. 五濁 〔 T 1579.30.538a7〕 => Thời kỳ hỗn loạn; thời kỳ vẫn đục. Một trong Ngũ trược. Theo Du-già luận 瑜伽論.

Kiếp trọc

劫濁; C: jiézhuó; J: kōjaku;|Thời kì hỗn loạn; thời kì vẫn đục. Một trong Ngũ trọc (五濁, theo Du-già luận 瑜伽論).

kiếp trọc

2816梵語 kalpa-kaṣāya。為五濁之一。謂時節之濁亂。於減劫中,饑饉、疾病、刀兵等劫生起,衣食等資具衰損,是為劫濁。(參閱「五濁」1201) ; Kalpa-kasàya (S). The impure, or turbid kalpa, when the age of life is decreasing and all kind of diseases afflict men

kiếp tân na

Kapphiṇa (S), Kapphilla, Kapina, Kapila Một vị A la hán đệ tử Phật, đệ nhất về tinh tú. ; Kapphina (S). ; Kapphina (skt)—Kiếp Thí Na—Kiếp Tỷ Na—Kiếp Tỳ Nô—Một đệ tử của Phật Thích Ca, tên trong Tăng đoàn là Đại Kiếp Tân Na. Ngài rất giỏi về tinh tú, sau nầy sẽ thành Phật danh hiệu Phổ Minh Như Lai—A disciple of Sakyamuni, whose monastic name was Mahakappina. He was very good at astronomy and constellations. He is to be reborn as Samantaprabhasa Buddha.

kiếp tất la dạ xoa

2816劫畢羅,梵名 Kapila。又作劫比羅夜叉、劫比攞夜叉。意譯黃色夜叉。為密教二十八夜叉中東方四夜叉之一。據大孔雀咒王經卷中載,劫畢羅與長大夜叉地㗚伽、妙目夜叉蘇泥怛攞、圓滿夜叉晡 ; (劫畢羅夜叉) .............. Kiếp tất la, Phạm:Kapila. Cũng gọi Kiếp tỉ la dạ xoa. Hán dịch: Hoàng sắc dạ xoa. Một trong 4 Dạ xoa ở phương đông trong 28 Thần Dạ xoa của Mật giáo. Cứ theo kinh Đại khổng tước chú vương quyển trung, thì có 4 vị Dạ xoa: Kiếp tất la, Địa lật già, Tô nê đát la và Bô luật noa, ở tại phương đông, che chở cho tất cả chúng sinh ở phương này xa lìa mọi nỗi lo khổ. [X. kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q.trung; Chuyển pháp luân bồ tát tồi ma oán địch pháp]. KIẾP THỦY Tai họa về nước xảy ra vào kiếp Hoại, 1 trong 3 tai nạn lớn nổi lên khi thế giới hoại diệt. Vào thời kì này, nước từ lớp thủy luân dưới lòng đất vọt lên, cộng với những trận mưa dữ dội như thác đổ, những hạt mưa rất to, hoặc như trục bánh xe, hoặc như cái chày, mưa suốt nhiều năm không ngớt, khí thế giới từ từng trời Nhị thiền trở xuống đều bị tràn ngập và phá hoại. [X. phẩm Tam tai kinh Thế kí trong Trường a hàm Q.21; kinh Quán vô lượng thọ].

Kiếp tận

劫盡; C: jiéjìn; J: kōjin;|Tận cùng của kiếp nầy. Sự hoại diệt của chu kì thế giới hiện tại (s: kalpa-anta, yuga-anta).

Kiếp tận hoả

劫盡火; C: jiéjìnhuǒ; J: kōjinka;|Tai hoạ lớn vào thời kì cuối cùng, thiêu cháy sạch toàn vũ trụ. Như Kiếp hoả (劫火).

kiếp tận hỏa

See Kiếp Hỏa.

Kiếp tận hỏa 刧盡火

[ja] コウジンカ kōjinka ||| The conflagration at the end of the age. (yuga-anta-agni). => Lửa thiêu ở vào thời kỳ cuối cùng của vũ trụ (s: yuga-anta-agni).

Kiếp tận 劫盡

[ja] コウジン kōjin ||| The end of this age (eon, kalpa). The extinction of the present world cycle (kalpa-anta, yuga-anta) => Tận cùng của kiếp nầy (eon, kalpa). Sự hoại diệt của chu kỳ thế giới hiện tại (s: kalpa-anta, yuga-anta).

kiếp tỉ nã vương

2811古代印度國王。據玄應音義卷二十三載,劫比拏王為南憍薩羅國之王,與佛陀之因緣極深廣;佛陀嘗為調伏劫比拏王,而變現無量轉輪王。〔佛地經論卷一〕 ; (劫比拏王) Vị vua ở Ấn độ đời xưa. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 23, Kiếp tỉ noa vương là vua nước Nam Kiều tát la, có nhân duyên rất sâu đậm với đức Phật, Phật từng biến hiện ra vô lượng Chuyển luân vương để điều phục ông vua này. [X. Phật địa kinh luận Q.1].

kiếp tỳ la

Kapila (skt). 1) Hoàng xích: Màu vàng đỏ hay nâu—Brown. 2) Vị Thánh Kiếp Tỳ La, người sáng lập ra Số Luận và trường phái Số Luận: The sage Kapila, founder of the classical Samkhya philosophy and the school of that name.

kiếp tỳ la phạt thốt đổ

Kapilavastu (skt)—Nước Kiếp Tỳ La Phạt Thốt Đô hay Kiếp Tỳ La Quốc, trước kia là Ca Tỳ La Vệ hay Ca La, đây là xứ sở của vua cha Tịnh Phạn của Đức Phật Thích Ca. Đất nước nầy bị tiêu diệt ngay khi Đức Phật còn tại thế. Theo truyền thuyết thì xứ nầy khoảng 100 dậm về phía Bắc của thành Ba La Nại, tây bắc của Gorakhpur bây giờ—Capital of the principality occupied by the Sakya clan; destroyed during Sakyamuni's life, according to legend; about 100 miles due north of Benares, northwest of present Gorakhpur.

kiếp tỳ la thiên

Tên của một loại chư thiên hay một loại quỷ—Deva or demon, called Kapila, or Kumbhira, or Kubera.

kiếp tỳ tha

Kapittha (skt). 1) Tăng Khư Thi: Một vương quốc cổ ở Trung Ấn—An ancient kingdom of Central India. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là một vị Bà La Môn đối xử tệ với Phật tử, sau đó tái sanh làm một loài cá, và cuối cùng được Đức Thích Ca chuyển hóa: According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is a Brahman of Vrji who ill-treated the Budhists of his time, was reborn as a fish, and was finally converted by Sakyamuni.

kiếp tỳ xá dã

Nơi mà bây giờ người ta gọi là Kashmir—Said to be presently Kashmir.

kiếp độc

Kiếp bất tịnh, khi mà tuổi thọ giảm và bệnh hoạn hoành hành chúng sanh—The impure or turbid kalpa, when the age of life is decreasing and all kinds of diseases afflict men.

Kiếp 刧

[ja] コウ、キョウ kō, kyō ||| (1) A kalpa, era, eon. (kalpa). The longest duration of time in the ancient Indian world-view. The time of the existence of the universe. Infinite or limitless time. Cosmic time. (2) To plunder, to rob openly. (3) A calamity. => Có các nghĩa sau: 1. Một kiếp, một kỷ nguyên, một niên kỷ (s: kalpa). Thời gian dài nhất trong thế giới quan cổ đại Ấn độ. Thời gian tồn tại của vũ trụ. Thời gian vô tận, không hạn lượng. Thời gian vũ trụ. 2. Cưỡng đoạt, cướp đoạt công khai. 3. Tai họa. ; [ja] コウ、キョウ kō, kyō ||| (1) A kalpa, era, eon. (kalpa). The longest duration of time in the ancient Indian world-view. The time of the existence of the universe. Infinite or limitless time. Cosmic time. (2) To plunder, to rob openly. (3) A calamity. => Có các nghĩa sau: 1. Một kiếp, một kỷ nguyên, một niên kỷ (s: kalpa). Thời gian dài nhất trong thế giới quan cổ đại Ấn độ. Thời gian tồn tại của vũ trụ. Thời gian vô tận, không hạn lượng. Thời gian vũ trụ. 2. Cưỡng đoạt, cướp đoạt công khai. 3. Tai họa.

Kiếp 劫

[ja] コウ kō ||| An abbreviation of the transcription 劫波, for the Sanskrit kalpa and Pali kappa. The longest period of time in the Indian cosmology. An age--the life cycle of a world, or a universe. An unimaginably long period of time. An eternity. => Viết tắt chữ Kiếp-ba, phiên âm chữ kalpa từ tiếng Sanskrit và kappa từ tiếng Pali. Là thời gian dài nhất trong vũ trụ quan Ấn Độ. Một kiếp--là 1 chu kỳ tồn tại của thế giới hoặc của vũ trụ. Là thời gian không thể tưởng tượng được. Là thời gian vĩnh hằng.

Kiếp-ba

劫波; C: jiébō; J: kōhi;|Kiếp (劫).

Kiếp-ba 劫波

[ja] コウパ kōhi ||| See => Xem mục từ Kiếp劫.

Kiếp-bá

劫簸; C: jiébǒ; J: kōha;|Kiếp-ba (劫波).

Kiếp-bả

劫跛; C: jiébǒ; J: kōha;|Kiếp-ba (劫波).

Kiếp-phỉ-na

劫庀那; C: jiépǐnà; J: kōhina; S: kapphiṇa.|Một trong những môn đệ trực tiếp của Phật Thích-ca Mâu-ni. Kiếp-tân-na (劫賓那).

Kiếp-tân-na

劫賓那; C: jiébīnnà; J: kōhinna; S: kapphi-ṇa.|Một trong những Đại đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni, nổi tiếng là nhà chiêm tinh (theo kinh Pháp Hoa 法華經).

Kiếp-tân-na 劫賓那Kiếp-phỉ-na 劫庀那 Kiếp-tỉ-na 劫譬那

[ja] コウヒンナ Kōhinna ||| Kapphiṇa, a prominent disciple of Śākyamuni from Kosala, who was known for his skills as an astrologer. 〔法華經 T 262.9.1c25〕 => (s: Kapphiṇa) Một trong các đệ tử lớn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nổi tiếng là nhà chiêm tinh. Theo Kinh Phàp Hoa.

Kiếp-tỉ-na

劫譬那; C: jiépìnà; J: kōhina; S: kapphiṇa.|Một trong các đệ tử chính của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Kiếp-tân-na (劫賓那).

Kiếp-tỳ-la

xem Ca-tỳ-la.

kiết

1) Da dê—Deer-skin. 2) Thiến: To castrate. 3) Tốt: Sri (skt)—Auspicious—Lucky—Fortunate.

kiết bàn trà

Kumbhāṇda (S)Cưu bàn trà, Yểm mị quỷLoài quỉ dữ và sức lực lớn. Một loại chúng sanh, một trong 8 loại quỉ: Càn thát bà, Đảm tinh quỉ, Cưu bàn trà, Ngạ quỉ, Chư long, Phú đơn na, Dạ xoa, La sát. ; Xem Cưu bàn trà.

kiết bệnh

See Kết Bệnh.

kiết bố la

Karpura (skt)—Long não—Dragon-brain scent—Camphor.

kiết già

Sitting in lotus posture, cross-legged. ; Padmasana (skt)—Thế ngồi hoa sen, theo kiểu ngồi của Phật Tổ Thích Ca, hai chân tréo nhau, bàn chân ngửa lên—The Buddha's sitting posture with legs crossed and soles upward—To sit cross-legged. a) Hàng Ma Kiết Già: Chân trái tréo lên chân phải—The left leg is over right, the left hand is over the right hand for being subduing of demons. b) Cát Tường Kiết Già: Chân phải tréo lên chân trái, bàn tay phải đặt trên bàn tay trái—The right leg is over left for blessing, the right hand is being placed over the left one.

kiết già bà sa

Khadga-visana (skt)—Kiết Già Tỳ Sa Nã—Sừng tê giác—A rhinoceros' horn.

kiết già phu tọa

Kekka-fusa (J). ; See Kiết Già.

kiết giới

1) Kết thành giới luật để hộ trì—Bound by the commandments. 2) Bàn thờ Phật được đặt tại một nơi cố định, hay một vùng cố định trong tự viện: A fixed place, or territory; a definite area; to fix a place for a monastery, or an altar; 3) Một số nhất định cho buổi họp chúng Tăng: A determined number, e.g. for an assembly of monks. 4) Kiết Giới Ngũ Tướng: It is a term specially used by the esoteric sects for an altar and its area, altar being of five different shapes. • Phương Tướng: A square shape. • Viên Tướng: A round shape. • Cổ Tướng: Rectangular shape. • Bán Nguyệt Tướng: Semi-circle. • Tam Giác: Triangle.

kiết giới ngũ tướng

The five different shapes of an altar—See Kiết Giới (4).

kiết giới nhị bất định

Aniyata (skt)—Hai giới quan hệ tới vấn đề tình dục, nhưng sự vi phạm lại mơ hồ không rõ—Two offences which are connected with activities of sex, but the violation is not clear—See Nhị Bất Định Giới.

kiết giới thập tam tăng tàn

Sanghadisesa (skt)—Mười ba giới Tổn Hại Tăng Tàn khiến cho Tăng Ni phạm phải bị tạm thời trục xuất khỏi giáo đoàn—Thirteen offences which entail upon a monk temporary expulsion from the Order—See Thập Tam Giới Tăng Tàn.

kiết giới tứ ba la di

Parajika (skt)—See Tứ Đọa.

kiết hà

Xem Cát hà. ; A river of bondage (suffering or illusion).

kiết hạ

Theo giới luật, tỳ kheo mỗi năm đều phải nhập hạ ba tháng, từ 15 tháng 4 đến 15 tháng 7, cấm túc không được đi ra ngoài, gọi là kiết hạ. Khi mản hạ phải cử hành một cuộc tự kiểm thảo liên tiếp ba ngày. ; Theo giới luật, Tỳ kheo mỗi năm phải nhập hạ ba tháng, từ 15 tháng 4 đến 15 tháng 7, cấm túc không được đi ra ngoài, gọi là kiết hạ. Khi mãn hạ phải cử hành một cuộc tự kiểm thảo liên tiếp ba ngày. Mỗi vị Tỳ kheo phải đứng ra hỏi đại chúng về kiến, văn, nghi. Về kiến nghĩa là “Có thấy tôi phạm giới?” Về văn nghĩa là “có nghe tôi phạm giới?” Về nghi nghĩa là “Không thấy, không nghe, nhưng có lý do nghi tôi phạm giới?”. Ấy gọi là mãn hạ tự tứ. ; Chấm dứt kỳ an cư kiết hạ—The end of the summer retreat.

kiết hữu

Śrīmitra (S)Thi lê mạt đa laĐầu thế kỷ thứ IV, nhà sư Ấn độ đầu tiên truyền dạy Mật tông ở Trung quốc.

kiết kinh

Chấm dứt bài—The end of a sutra.

kiết la nã tô phạt lạt na

Karnasuvarna (skt)—See Yết La Nã Tô Phạt Lạt Na.

kiết lật đà

Grdhra (skt)—Linh thứu (kênh kênh)—Vulture.

kiết lợi la

Một trong những vị Thế Tôn trong nhóm Kim Cang giới—One of the honourable ones in the Vajra-dhatu groups.

kiết lợi vương

Kaliraja (skt)—Tiền kiếp của Kiều Trần Như, khi còn làm quốc vương ông đã cắt tay chân của Ksanti-rsi vì những thê thiếp của ông đã lạc vào thiền thất của vị nầy. Do sự tự tại của vị ẩn sĩ nầy mà ông đã cải đổi và người ta đoán rằng về sau nầy ông sẽ là đệ tử của Phật Thích Ca—A former incarnation of Kaundinya, when as king he cut off the hands and feet of Ksanti-rsi because his concubines had strayed to the hermit hut. He was converted by the hermit's indifference, it was predicted that he would become a disciple of Buddha.

kiết ma

Karumandāna (S)Xem Karmadana Xem Yết ma ; Karma (skt)—See Yết Ma.

kiết ma đà na

Xem Yết ma.

kiết ma-yết ma

Karmadana (S).

kiết mã ba tự sinh kim cương

Karmapa Rantchung Dorje (S).

kiết nghiệp

See Kết Nghiệp.

kiết nhật

A good or an auspicious day.

kiết ni ca

Kanaka (skt). 1) Tên của một vài loại cây màu vàng: Name of several yellow plants. 2) Táo gai: Thorn apple. 3) Một loại đàn hương: A species of sandalwood.

kiết nô bộc

Kanabhuj or Kanada (skt)—Người sáng lập trường phái Triết Lý Ấn Độ Vaisasika—Founder of Vaisesika school of Indian philosophy.

kiết phược

See Kết Phược.

kiết sanh thức

Rebirth-linking consciousness.

kiết sử

Xem ách phược. Xem Hệ phược. ; Fetters. 1) Kiết và sử, hai tên gọi khác nhau của phiền não, kiết là trói buộc thân tâm kết thành quả khổ, sử là theo đuổi và sai sử chúng sanh—The bondage and instigators of the passions, two other names for afflictions. 2) Theo Thanh Tịnh Đạo, kiết sử là mười pháp khởi từ sắc tham; gọi là kiết sử vì chúng trói buộc các uẩn trong đời nầy với các uẩn đời kế tiếp, hoặc trói buộc nghiệp với quả, hoặc trói buộc hữu tình vào đau khổ. Vì bao lâu cái nầy còn hiện hữu thì cái kia không chấm dứt: The fetters are the ten states beginning with greed for the fine-material, so called because they fetter aggregates in this life to aggregates of the next, or karma to its fruit, or beings to suffering. For as so long the ones exist there is no cessation of the others—See Ngũ Hạ Phần Kết, and Ngũ Thượng Phần Kết in Vietnamese-English Section. ** For more information, please see Sử (3).

kiết thán

See Kết Thán.

Kiết thân

(孑身): đơn thân, độc thân, thân một mình. Như trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục (淨土聖賢錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1549) quyển 9, phần Vãng Sanh Tạp Lưu (往生雜流) thứ 8, Ngô Kiêu Chúc (吳澆燭), có câu: “Kiết thân vô ngẫu, trường trai trú dạ niệm Phật (孑身無偶、長齋晝夜念佛, ông sống một mình không có bạn đời, trường trai đêm ngày niệm Phật).” Hay trong Thành Duy Thức Luận Tục Thuyên (成唯識論俗詮, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 50, No. 820) quyển 1 lại có đoạn: “Duy pháp sư bất khuất, kiết thân độc mại, biến lịch gian tân (唯法師不屈、孑身獨邁、遍歷艱辛, chỉ có pháp sư không chịu khuất phục, một mình đi xa, trãi qua gian khổ).”

kiết thất

Retreats.

kiết thất định kỳ

Periodic retreats.

kiết tra bố đảm na

See Yết Tra Bố Đảm Na.

kiết tường

Svastika (S), Śrīvadlakṣaṇa (S)1- Cũng là tên một người phát cỏ mà đức Phật xin 8 bó để lót làm bồ đoàn ngồi và chứng quả Phật trên bồ đoàn ấy. 2- Chữ vạn trong nhà Phật: gọi là chữ kiết tường, vì sức lành rộng sâu như biển, cao lớn như mây, tượng trưng điều may mắn, phước đức. ; Xem Cát tường. ; See Cát Tường.

kiết tường bồ tát

Buddha-śrynana (S)Tên một vị Bồ tát.

kiết tường kinh

Xem Kinh Hạnh phúc.

kiết tường đế giác

Surendrabodhi (S).

kiết tạng

Ekwan (C)Tên một nhà sư Cao ly truyền dạy Thành Thật Tông sang Nhật vào thế kỷ thứ 7 cùng với sư Khuyến Lặc.

kiết tập

The collecting and fixing of the Buddhist canon. The first assembly was presided by Kasyapa (Ca Diếp), Ananda for the Sutras (Kinh) and the Adhidharma , and Upali for the Vinaya (Luật)—See Kết Tập.

kiết tặc

See Kết Tặc.

kiết xác

Very poor.

kiết đông

Thiền tông ngoài kiết hạ (mùa hạ) còn có kiết đông (mùa đông), để cho hành giả tham thiền tập trung đả thiền thất suốt mùa đông.

kiết địa lạc ca

Khadiraka (skt)—Vòng thứ ba trong bảy vòng quanh núi Tu-Di—The third of the seven circles or concentric mountains around Meru (Sumeru).

kiết ấn

Phép truyền trao của Mật Giáo (người nhận Kết Ấn phải phát Bồ Đề Tâm và phải thụ nhận phép quán đảnh)—A binding agreement sealed as a contract, employed by the esoteric sects.

kiếu hoán

See Khiếu Hoán.

kiềm chuỳ

Kiềm: Cái kềm để nhổ đinh. Chùy: Cái búa để tháo chốt. Kiềm chùy là công cụ để tháo nhổ những dính mắc của sự vật, Thiền tông dùng kiềm chùy để chỉ cho những phương tiện chỉ dạy dẫn dắt của thiền sư. [i]Bích Nham lục[/i] q. 1 ghi: »雲 門 尋 常 接 人、 多 用 睦 州 手 段、 只 是 難 爲 湊 泊、 有 抽 釘 拔 楔 底 鉗 錘。 – [i]Lúc bình thường Vân Môn tiếp người phần nhiều dùng thủ đoạn của Mục Châu, nhưng rất khó khế hợp. Cả đời, sư dùng kiềm chùy để nhổ đinh tháo chốt cho người[/i]«. ; 5686鉗,鐵鋏;鎚,鐵鎚。兩者均爲鍛鍊金屬所必使用之器具。禪宗用以比喻師家教導弟子之嚴格。大慧普覺禪師語錄卷二十七答張提刑(大四七‧九二八中):「師家於逆、順境中示以本分鉗鎚。」碧巖錄卷五第四十二則載述「洞山無寒暑」之垂示(大四八‧一八○上):「要明向鉗鎚,須是作家爐覸。」此外碧巖錄卷五第四十五則錄有趙州萬法歸一之垂示(大四八‧一八一下):「疾焰過風,奔流度刃。拈起向上鉗鎚,未免亡鋒結舌。」〔碧巖錄卷一第六則、嘉泰普燈錄卷二十七〕 ; (鉗錘) Kiềm là cái kìm sắt; Chùy là cái dùi sắt, cả hai được dùng để rèn kim loại. Thiền tông dùng từ này để ví dụ sự dạy dỗ, rèn luyện người học một cách nghiêm khắc. Đại tuệ Phổ giác thiền sư ngữ lục quyển 27 (Đại 47, 928 trung), nói: Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù thuận hay nghịch, vị thầy cũng phải tỏ rõ bổn phận kiềm chùy. [X. Tắc 6 trong Bích nham lục Q.1; Gia thái phổ đăng lục Q.7].

Kiềm chùy

鉗鎚; J: kentsui; nghĩa là »Kềm và chày táng«;|Một cách diễn tả phương pháp giáo hoá »thô bạo« của các vị Thiền sư, như dùng gậy, tát vào mặt, vặn mũi, hét (Hát) được thuật lại trong các Ngữ lục, Công án.|Mặc dù nhìn qua thì thấy thô bạo, quái gở nhưng nó chính là biểu hiện của lòng từ bi vô lượng của các vị Thiền sư. Các vị dùng phương pháp kiềm chùy để giúp đệ tử phá bỏ tất cả những thành kiến, đánh thức tất cả những năng lượng tiềm tàng trong đệ tử và tiến xa như có thể trên con đường tu tập, chứng ngộ chân lí. Ðối nghịch với Kiềm chùy thiền là Lão bà thiền.

kiềm chùy

Kentsui (J).

kiềm chế

To subdue—To master one's passions—To overcome.

kiềm chế dục vọng

To dominate one's passions.

kiềm hãm

To check—To control.

kiềm kiện

Chiếc chìa khoá, hàm ý nghĩa khải phát, khải ngộ. Tiết Bảo Ninh Nhân Dũng thiền sư trong NĐHN q. 19 ghi: »聞 楊 歧 移 雲 蓋、 能 鈐 鍵 學 者、 直 造 其 室、 一 語 未 及、 頓 明 心 印。 – [i]Nghe Dương Kì dời qua Vân Cái để có thể khải phát người học, liền cất thất, một lời chưa kịp nói lập tức sáng tỏ tâm ấn[/i]«.

kiềm nam hội đăng lục

Đăng lục, 8 quyển, do vị tăng Thiện Nhất Như Thuần soạn vào niên hiệu Khang Hi thứ 41 đời Thanh (1702), được xếp vào [i]Tục Tạng kinh[/i] tập 145 trang 739. Sách này thuộc về đăng lục địa phương, gom chép các sách vở của tỉnh Quý Châu hoặc các quan hệ về truyền thừa, tóm lược về cuộc đời, cơ duyên ngữ cú và các trứ tác linh tinh. Thiền tông vùng Quý Châu hưng thịnh vào cuối đời Minh, năm tông lúc ấy chỉ còn Lâm Tế và Tào Động, đất Kiềm (Quý Châu) lấy tông Lâm Tế làm chính nên sách này đa số thu thập lược sử của các vị tăng tông Lâm Tế và vài vị thuộc tông Tào Động mà thôi. ; 6374凡八卷。清代善一如純輯。收於卍續藏第一四五冊。內容係收錄明清時代川、滇諸地之禪家語要。黔,指四川黔江縣。計收錄一一六位禪師之上堂、小參、示眾、機緣、拈頌、法語等。 本書卷首有清康熙四十一年(1702)十二月程春翔之序、翌年八月杜臻之序及自序、凡例、目錄。卷尾續補編者之機緣、語要,更追補破山海明之法孫續燈寂常、無瑕性玉及壁林門之法嗣竺崖心性;此卷尾之續補乃後人所添加。總之,本書所收錄之禪家,以臨濟宗天童圓悟之法嗣破山海明之法系最多,並含相同之臨濟宗漢月法藏之法系、曹洞宗雲門之法系及不詳法系者若干名。以上諸家以四川人居多,亦兼及雲南省及其他地方之人士。〔明季滇黔佛教考(陳垣)〕

kiềm tỏa

To restrain—To bind.

kiềm-ma-sắt-đàm

Kammassadhamma (P).

kiền

A gelded bull, an ox; a creature half man half leopard.

kiền bất nam

An eunuch by castration.

kiền dữ

Vinataka (S)Tỳ na đa ca, Chướng ngạiMột trong 8 núi lớn bao quanh núi Tu di. Núi này cao 600 do tuần.

kiền thành phái vận động

4317十二世紀印度教改革運動之一。先驅者為吠檀多派哲學家羅摩拏遮(梵 Rāmānuja)。發生於南印度,後在北印度廣為發展。本派反對偶像崇拜、種姓分離及繁瑣禮儀等,主張各種姓在神前一律平等,凡虔誠者皆可獲得解脫,被視為印度教之異端。其後之繼起者有羅摩難陀(Rāmānanda)、喀比爾(Kabīr)、查伊塔尼亞、達度等。本派曾以各種方言與民間俗語翻譯梵文之古典著作,並創作通俗詩歌、祈禱文形式之故事集。

kiền trùy

Xem Linh. ; Ghantà (S). Small bell.

kiền trĩ

5521梵語 ghaṇṭā,巴利語同。又作揵遲、揵槌、揵抵。爲寺院中敲打用之報時器具。據五分律卷十八與大比丘三千威儀卷下所載,或於布薩,或於誦經,或於集會眾僧飯食等諸時皆可敲鳴犍稚,一如今世寺院中之打板。然據諸經所譯,或作板,或作鐘、磬、寶鈴、鐸等,所用名稱不一。其敲打之法,據四分律疏飾宗記卷八本之說,初敲時輕緩,其後漸急漸重;將欲收音時,亦須漸細漸沒。如是而鳴擊之,稱爲一通;前後凡三通。後通於聲沒之次,大打三下,或二,或一,以表聲絕,即完成犍稚敲打之法。〔增一阿含經卷十四、大智度論卷二、玄應音義卷一〕(參閱「鐘」6839) ; 4957梵語 ghaṇṭā,巴利語同。又作揵槌、揵遲、犍稚、揵植、揵鎚、犍地。為報時之器具。意譯作鈴、鼓、鐸。本為木製,後世多為銅製。敲打揵稚之規則,稱為鼓儀。依五分律卷十八載,諸比丘布薩時,若到時不集,荒廢坐禪行道,佛乃唱「時至」,敲打揵稚,或擊鼓、吹螺集眾。〔增一阿含經卷十四、自誓三昧經、四分律卷三十五、敕修百丈清規卷下東序知事條、玄應音義卷一〕(參閱「犍稚」5521) ; (揵稚) Phạm,Pàli:Ghaịỉà. Cũng gọi: Kiền trì, Kiền trùy, Kiền để. Khí cụ dùng để đánh báo giờ trong các chùa viện. Theo luật Ngũ phần quyển 18 và Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển hạ, vào những giờ như Bố tát, tụng kinh, hoặc tập họp chúng tăng thụ trai, v.v... đều có thể đánh kiền trĩ, giống như việc đánh bảng trong các tự viện ngày nay. Chữ Ghaịỉà, trong các kinh dịch không giống nhau, hoặc dịch là bảng, hoặc là chuông, khánh, linh báu, mõ, v.v... Về cách đánh kiền trĩ, theo Tứ phần luật sớ sức tông kí quyển 8 phần đầu, thì lúc đầu đánh nhẹ và khoan thai, sau nhanh và mạnh dần, khi đổ hồi cũng phải nhỏ dần cho đến khi dứt hẳn. Thông thường đánh 3 hồi 3 tiếng. Ba tiếng sau cùng đánh mạnh để báo đã kết thúc. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.14; luận Đại trí độ Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.1]. (xt. Chung).

kiền trĩ phạn tán

Gandistotragāthā (S)Tên một bộ luận kinh do Mã Minh Bồ tát biên soạn.

kiền trắc

5520梵名 Kaṇṭhaka, Kanthaka,巴利名 Kanthaka。又作犍德、乾陟、騫特、迦磋迦。釋尊出迦毘羅王宮向苦行林時所乘之馬名。據佛本行集經卷二十載,釋尊出家,乾陟既還國城,受淨飯王苦切呵責,意甚憂愁,生大熱惱,不久命盡,生三十三天。後知太子成道,由彼天沒,下生中天竺那波城,爲一婆羅門子,漸長,至如來處,如來知彼往昔爲馬身,命終生天,即爲彼說與該馬之因緣;彼聞法後,漏盡解脫,入般涅槃。古代印度佛傳雕刻中,描繪出家踰城時,刻犍陟者甚多。其中,以阿摩羅婆提(梵 Amarāvatī,巴同)所存欄楯之浮雕爲最古。又加爾各答博物館藏有犍馱羅(梵 Gandhāra,巴同)地方所出土者,上繪四天捧持犍陟之四足,帝釋執蓋披馬上之太子,有數位天人恭敬隨從。我國大同靈巖窟寺第二洞亦存有此類構圖。〔過去現在因果經卷二、修行本起經卷下、六度集經卷七〕 ; Kaṅthaka (S)Tên con ngựa Thái tử Tất đạt đa dùng trốn khỏi hoàng thành để xuất gia. ; Kanthaka (S). Name of the steed on which Sàkyamuni rode away from home. ; Kanthaka (skt & p)—Tên con ngựa mà Đức Phật đã dùng để cỡi khi Ngài rời bỏ cung điện để đi xuất gia—The name of the steed (horse) on which Sakyamuni Buddha was mounted when he left his palace to renounce the world (rode away from home). ; (犍陟) Phạm: Kaịỉhaka, Kanthaka. Pàli:Kanthaka. Cũng gọi: Kiền đức, Càn trắc, Kiển đặc, Ca tha ca. Tên con ngựa mà thái tử Tất đạt đa cỡi khi vượt thành xuất gia. Cứ theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 20, sau khi đưa Thái tử đi xuất gia, Kiền trắc trở về thành, bị vua Tịnh phạn trách mắng nặng nề, trong lòng buồn bã, không bao lâu mệnh chung, sinh lên cõi trời Đao lợi. Về sau, biết Thái tử đã thành đạo. Kiền trắc(bây giờ là người cõi trời)bỏ mệnh, sinh xuống thành Na ba ở nước Trung thiên trúc, làm con của 1 người Bà la môn, lớn lên, người con Bà la môn ấy đến chỗ đức Phật nghe Ngài thuyết pháp, được giải thoát và vào Niết bàn. Trong những bức tranh khắc nổi miêu tả Thái tử cỡi ngựa Kiền trắc vượt thành xuất gia, thì bức khắc ở trên lan can của Đại tháp A ma la bà đề (Phạm:Amaràvatì) hiện còn là xưa nhất. Còn tại viện bảo tàng Calcutta có bức tranh khắc nổi đào được ở vùng Kiện đà la (Pàli, Phạm:Gandhàra) trong đó khắc 4 vị trời nâng 4 chân Kiền trắc, trời Đế thích cầm lọng che cho Thái tử đang ngồi trên lưng ngựa, có những người trời cung kính theo sau. Trong động thứ 2 của Linh nham quật tự tại Đại đồng, Trung quốc, cũng còn những bức khắc nổi loại này. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.2; kinh Tu hành bản khởi Q.hạ; kinh Lục độ tập Q.7].

Kiền trắc 犍陟

[ja] コンチョク konchoku ||| Kaṇṭhaka. The name of the horse that Buddha rode when he left his home to renouce the world. => s: Kaṇṭhaka. Tên con ngựa mà Đức Phật cỡi khi ngài xuất gia.

kiền đà

A kind of demon.

kiền đà la

Gandharvas (S). Xem Càn thát bà.

kiền đà la nghệ thuật

5522乃印度佛教藝術之一派。又稱犍陀羅藝術、希臘佛教藝術。以印度西北部犍馱羅(巴 Gandhāra,約今西巴基斯坦白夏瓦)地方爲中心而發展,即亞歷山大侵入印度後至貴霜王朝滅亡,盛行於印度河與喀布爾河會合區域之佛教藝術。其藝術之表現,主要爲宮殿寺廟之建築、佛菩薩像之雕刻、繪畫,其內容大多以佛教題材爲主,而採用希臘系統之表現方法,歷史性價值極大,影響廣及印度、中亞、我國、日本等處。蓋以印度傳統藝術,吸收希臘、波斯、大夏、羅馬之風格,鎔爲一爐而自成一派。 佛像造立之起源及年代不得其詳,部分學者推測爲紀元前後始行於犍馱羅地方,然依史實難以確認。依道行般若經卷九、卷十載,可知西元二世紀中葉以前,犍馱羅地方已盛行造立佛像;又從法顯、惠生、玄奘等之著作中,對於那揭羅曷國之佛影及布路沙布邏城之雀離浮圖等之遺蹟皆有描述。 建築方面,以佛教之伽藍、塔爲主,式樣以印度傳統建築爲基準,佛塔沿襲中印度古覆鉢形式,然由其柱頭可見所受羅馬、希臘之影響。佛塔塔身極高大,伽藍則大致呈方形之高牆,內有中庭,四周有房室並立,建材均以石塊拼成,而不使用磚。至於雕刻方面,其題材頗多,有佛、菩薩,或取自佛傳、本生譚,數量極多,乃犍馱羅藝術之中樞,多以浮雕表現,少有圓雕之作品,背面削平,身體比例不夠勻稱。其式樣模仿希臘人之骨相,一反中印之螺髮,而呈現波狀髮紋,面貌亦不同於印度人,高額、尖鼻、薄唇、人中短、衣褶厚重。繼承此風之雕刻爲現今北印度及土耳其斯坦(俄屬中亞)。 犍馱羅藝術越過北方葱嶺進入現今新疆地方,傳至中原,影響北魏佛教藝術,又經由朝鮮傳入日本,顯著影響飛鳥時代之建築、雕刻。另一派則傳及緬甸、暹羅、交趾等地。第五世紀中葉,印度受嚈噠族之侵略,犍馱羅藝術亦因之衰頹。〔大唐西域記卷二、高僧法顯傳、洛陽伽藍記卷五、佛教之美術及歷史、西域文明史概論、Le Coq: Die Buddhistische Spätantike in Mittelasien, Bd.Ⅰ〕(參閱「犍馱羅國」5522) ; (犍馱羅藝術) Cũng gọi: Hi lạp Phật giáo nghệ thuật. Trường phái nghệ thuật Phật giáo Ấn độ lấy khu vực Kiền đà la ở miền Tây bắc Ấn độ làm trung tâm phát triển, thịnh hành từ khoảng sau cuộc xâm lăng Ấn độ của Alexandre Đại đế cho đến khi vương triều Quí sương diệt vong. Sự biểu hiện của nền nghệ thuật Kiền đà la gồm có các kiến trúc cung điện, chùa miếu, các điêu khắc, hội họa tượng Phật Bồ tát, có giá trị lịch sử rất lớn, ảnh hưởng lan rộng đến các nước Ấn độ, Trung á, Trung quốc, Nhật bản, v.v... Vốn là nghệ thuật truyền thống của Ấn độ hấp thu phong cách của Hi lạp, Ba tư, Đại hạ, La mã, dung hòa làm một rồi phát triển thành trường phái riêng. Về phương diện kiến trúc thì lấy chùa, tháp của Phật giáo làm chính, về hình thức thì lấy kiến trúc truyền thống của Ấn độ làm mực thước, tháp Phật thì theo kiểu bát úp của Trung Ấn độ, nhưng ở phần đầu các cây cột ta có thể thấy ảnh hưởng của La mã, Hi lạp. Thân của tháp Phật rất cao lớn, chùa nói chung đều có tường cao hình vuông, bên trong có sân, chung quanh có phòng ốc liền nhau, vật liệu kiến trúc toàn bằng đá. Về phương diện điêu khắc thì có rất nhiều đề tài, như Phật, Bồ tát hoặc các câu truyện lấy từ truyện Phật, Bản sinh đàm, số lượng rất nhiều, phần lớn được biểu hiện bằng các bức khắc nổi, ít có tác phẩm khắc tròn; lưng tượng Phật được khắc bằng phẳng, tỉ lệ thân thể không được cân xứng lắm. Hình dáng phỏng theo thân tướng của người Hi lạp, tóc có dáng gợn như sóng, khác hẳn với kiểu tóc hình trôn ốc của người Trung Ấn độ; khuôn mặt cũng không giống người Ấn độ, trán cao, mũi nhọn, môi mỏng, nhân trung ngắn, nếp áo dày và nặng. Những nơi kế thừa phong cách điêu khắc này là Bắc Ấn độ và Turkistan (tức vùng Trung á) hiện nay. Nghệ thuật Kiền đà la vượt qua dãy núi Thông lĩnh ở phía bắc mà tiến vào khu vực Tân cương của Trung quốc hiện nay, từ đó truyền đến Trung nguyên, ảnh hưởng đến nền nghệ thuật Phật giáo của thời Bắc Ngụy, rồi từ Triều tiên truyền vào Nhật bản, ảnh hưởng rõ nét trong kiến trúc và điêu khắc của thời đại Phi điểu. Một chi phái khác của nền nghệ thuật này được du nhập Miến điện, Thái lan và Việt nam (Giao châu). Đến giữa thế kỉ V, quân Áp thát xâm lăng Ấn độ, nền nghệ thuật Kiền đà la cũng nhân đó mà suy vi. [X. Đại đường tây vực kí Q.2; Cao tăng Pháp hiển truyện; Lạc dương già lam kí Q.5; Phật giáo chi mĩ thuật cập lịch sử; Tây vực văn minh sử khái luận; Le Coq: Die Buddhistische Sptantike in Mittelasien, Bd.I]. (xt. Kiền Đà La Quốc).

kiền đà la quốc

5521犍馱羅,梵名 Gandhāra, Gāndhāra, Gandha-vati,巴利名 Gandhāra, Gāndhāra。印度古國名。又作健陀羅、犍陀越、乾陀越、乾陀衛、乾陀羅、揵陀、犍陀呵、健馱羅、乾陀婆那、乹陁婆那或業波羅(梵 Gopāla)。意譯香地、香潔、妙香、持地。位於今西北印度喀布爾河(Kabul)下游,五河流域之北。此國領域時有變遷,亞歷山大東征(西元前四世紀)時,都城在布色羯邏伐底(梵 Puṣkarāvatī),約今白夏瓦(Peshawar)東北十九點六公里之處。西元一世紀時,貴霜王朝(梵 Kushan)興起於北方,漸次擴張版圖,併有喀布爾河一帶。至迦膩色迦王即位時,定都布路沙布邏(梵 Puruṣapura),即今之白夏瓦。王歿後,國勢日衰,至寄多羅王,遂西遷薄羅城,而以其子留守東方,是即小月氏。 據大唐西域記卷二載,此國東西千餘里,南北八百餘里,東臨信度河,都城名布路沙布邏,王族絕嗣,隸屬迦畢試國,邑里空荒,人煙稀少。準此可知,西元八世紀時,此國已多荒廢,且臣屬於迦畢試國。於佛典中有關此國之記載不少,如巴利文本生(Jātaka)、阿育王傳卷三駒那羅本緣等皆記載其首府呾叉始羅城;大方等大集經卷五十五並舉出乾陀羅國、富樓沙富羅國之名;大悲經卷二持正法品、大莊嚴論經卷一、卷四別出乾陀羅國、得叉尸羅城、富迦羅跋帝城之名;佛母大孔雀明王經卷中列舉健陀羅、得叉尸羅、乾陀羅三名等。 佛教曾盛行於此國,阿育王派遣傳道師至此,是爲其發端。善見律毘婆沙卷二、島史第八章、大史第十二章等,均記載阿育王即位十七年第三次結集法藏後,爲於邊地興立佛法,乃派遣大德末闡提(巴 Majjhantika)往罽賓、犍陀羅國,爲人民講說犢譬喻經(巴 Ātivisopama-sutta),使八萬人獲得道果,一千眾出家。其後,中印度佛教分裂爲上座、大眾二部,此地原爲上座部,尤其是說一切有部之中心,然此國僧徒又吸收大眾部之學風,大乘思想亦風行。大毘婆沙論中屢見西方師、外國師之稱,即指此國之學人,含有異端者之意味。另依道行般若經卷九及大毘婆沙論卷一七八載,般若經夙行於此國。至迦膩色迦王興,保護佛教,於布路沙布邏城創建雀離浮圖、迦膩色迦僧伽藍等,前者在城東南七、八里處,由高僧法顯傳、洛陽伽藍記卷五、大唐西域記卷二之記載,可知其規模之宏麗,後者在雀離浮圖西方,有重閣、累榭、層臺、洞戶,惟至玄奘西行時已成廢墟,其他尚有千餘伽藍、窣堵波,然皆頹圯。於迦膩色迦王護持之下,無著、世親、法救、脅尊者等名僧輩出,大乘佛教因此大興。然自西元第六世紀以後,佛教失去王室之護持,後雖有突厥王一時再興,然入第十世紀又爲回教徒所迫,佛教終於絕跡。近代於此地發掘不少遺蹟,頗雜有希臘美術之風格,遂成特殊之犍馱羅藝術。〔希麟音義卷三、宋高僧傳卷二十九慧日傳、翻譯名義集卷三、慧苑音義卷下、慧超往五天竺傳箋釋、A. Cunningham: Ancient Geography of India;V.A. Smith: Early History of India; T. Watters: On Yuan Chwang, vol.Ⅰ〕 ; (犍馱羅國) Kiền đà la, Phạm:Gandhàra, Gàndhàra, Gandha-vati. Pàli:Gandhàra, Gàndhàsa. Cũng gọi: Kiền đà việt, Càn đà việt, Càn đà vệ, Càn đà la, Kiền đà, Kiền đà ha, Càn đà ba na hoặc Nghiệp ba la (Phạm:Gopàla). Dịch ý: Hương địa, Hương khiết, Diệu hương, Trì địa. Tên một nước nhỏ thuộc Ấn độ thời xưa, nằm về phía bắc lưu vực Ngũ hà, hạ du sông Kabul, thuộc Tây bắc Ấn độ hiện nay. Lãnh thổ nước này thường thay đổi, khi Á lịch sơn Đại đế (Alexander the Great) Đông chinh (thế kỉ IV trước TL.) thì kinh đô ở Bố sắc yết la phạt để (Phạm:Puwkaràvatì) nằm về phía đông bắc cách Bạch hạ ngõa (Phạm: Peshawar) hiện nay khoảng 19,6 km. Vào thế kỉ thứ I, vương triều Quí sương (Phạm:Kushan) nổi dậy ở phương bắc, dần dần mở rộng biên cương, thôn tính vùng Kabul, đến khi vua Ca nị sắc ca lên ngôi thì đóng đô ở Bố lộ sa bố la (Phạm:Puruwapura), tức Peshawar hiện nay. Sau khi vua băng, thế nước mỗi ngày một suy, đến thời vua Kí đa la thì dời thành Bạc la về phía tây, để con ở lại giữ phía đông, đó chính là Tiểu nguyệt chi. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, thì nước này chiều ngang đông tây hơn 1000 dặm, chiều dọc nam bắc hơn 800 dặm, phía đông tới sông Tín độ (Phạm: Sindhu), đô thành là Bố lộ sa bố la, Vương tộc tuyệt tự, lệ thuộc nước Ca tất thí, làng ấp hoang vắng, dân cư thưa thớt. Cứ đó mà suy thì vào thế kỉ thứ VIII nước này đã suy tàn. Trong các kinh điển Phật giáo như Bản sinh (Pàli: Jàtaka), Câu na la bản duyên trong truyện A dục vương quyển 3, kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 55, phẩm Trì chính pháp trong kinh Đại bi quyển 2, Đại trang nghiêm kinh luận quyển 1 và quyển 4, kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương, v.v... đều có nói đến nước Kiện đà la. Theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2, chương 8 trong Đảo sử và chương 12 trong Đại sử, thì sau Đại hội kết tập kinh điển lần thứ 3, vì muốn truyền bá Phật pháp ở vùng biên địa, nên vua A dục đã phái đại đức Mạt xiển đề (Pàli:Majjhantika) đến các nước Kế tân, Kiện đà la giảng nói kinh Độc thí dụ (Pàli:Àtivisopama-sutta) cho dân chúng nghe; nghe xong, có 80.000 người đắc quả, 1000 người xuất gia. Kiền đà la vốn là trung tâm của Thuyết nhất thiết hữu bộ, nhưng tăng chúng nước này lại chịu ảnh hưởng của Đại chúng bộ và hấp thu tư tưởng Đại thừa. Cứ theo kinh Đạo hành bát nhã quyển 9 và luận Đại tì bà sa quyển 178, thì kinh Bát nhã đã được lưu hành ở nước này rất sớm. Dưới triều đại vua Ca nị sắc ca, có rất nhiều vị cao tăng ra đời như các ngài: Vô trước, Thế thân, Pháp cứu, Hiếp tôn giả, v.v... Đại thừa Phật giáo nhờ đó mà phát triển mạnh. Nhưng từ thế kỉ VI về sau, Phật giáo không còn được nhà vua hộ trì, nên rơi vào tình trạng suy đồi; về sau, tuy có vua Đột quyết khôi phục lại một thời gian, nhưng đến thế kỉ X lại bị tín đồ Hồi giáo bách hại, nên Phật giáo ở Kiện đà la cuối cũng đã bị tuyệt tích. [X. Hi lân âm nghĩa Q.3; Tuệ nhật truyện trong Tống cao tăng truyện Q.29; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Tuệ siêu vãng ngũ thiên trúc truyện tiên thích; A. Cunningham: Ancient Geography of India; V.A. Smith: Early History of India; T. Watters: On Yuan Chwang, vol. I].

kiền đà la đồ bồ tát

Xem Hương Vương Bồ tát.

kiền đà lợi chú

5520爲大法炬陀羅尼經卷十三所說三種惡咒之一。與「瞿梨咒」、「摩登祇咒」同爲世尊所禁斷之咒術。欲修成此等惡咒,須經十二年方能成業;然一旦持此邪咒法,乃至一句之咒,命終之後,必墮地獄、畜生、餓鬼或閻魔界。 ; (犍陀利咒) Chú Kiền đà lợi, 1 trong 3 loại ác chú nói trong kinhĐại pháp cự đà la ni quyển 13. Chú này cùng với chú Cù lê, chú Ma đăng kì, đều là những chú thuật mà đức Phật cấm chỉ đệ tử không được hành trì; tu luyện các ác chú này phải mất 12 năm mới thành tựu. Nhưng khi trì tụng những tà chú này, dù chỉ 1 câu, sau khi mệnh chung, cũng sẽ rơi vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ hoặc cõi Diêm ma.

kiền đà quốc vương kinh

5520全一卷。後漢安世高譯。收於大正藏第十四冊。本經敘述犍陀王因牛語而悟知不可暴戾殘忍,遂捨婆羅門教而歸依佛。佛並說牛與王乃宿世拘那含牟尼佛時爲兄弟之本生譚。 ; (犍陀國王經) Kinh, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại chuyện vua nước Kiền đà do nghe con bò nói mà tỉnh ngộ, dứt tâm bạo ác, tàn nhẫn, bỏ Bà la môn giáo mà qui y Phật. Đức Phật nhân đó mà nói cho nhà vua biết là ở thời Phật Câu na hàm mâu ni, bò và nhà vua là anh em.

kiền đạt bà

Càn Thát Bà—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

kiền để

5520梵名 Ghaṇtin。佛世時,舍衛國波斯匿王兄之子。容貌端正,心性和善,王之大夫人見之生染心,私呼之,欲使從己,犍坻不聽。夫人懷恨,讒於王,王大怒,將犍坻節節解體,棄於塚間。命未絕頃,佛到其邊,光明照身,平復如故。佛爲說法,即得第三果。自言(大二五‧一二○上):「我身已破棄,佛續我身,今當盡此形壽,以身布施於佛及比丘僧。」即來祇洹,終身侍奉佛。〔大智度論卷八〕 ; (犍坻) Phạm: Ghaịtin. Con người anh của vua Ba tư nặc nước Xá vệ ở thời đức Phật còn tại thế. Kiền để có dung mạo đẹp đẽ, tính tình hiền hòa, Hoàng hậu thấy thế, sinh tà tâm, lén gọi Kiền để đến và bảo thuận theo ý muốn của mình, nhưng Kiền để không bằng lòng. Hoàng hậu ôm lòng oán hận, sàm tấu với vua, nhà vua nổi cơn thịnh nộ, chặt đứt tay chân Kiền để rồi vứt vào bãi tha ma. Lúc Kiền để sắp chết thì đức Phật đến bên cạnh, ánh sáng của Phật chiếu vào thân, Kiền để liền bình phục như cũ. Đức Phật nói pháp cho nghe, nghe xong, Kiền để chứng quả A na hàm. Rồi tự nói rằng (Đại 25, 120 thượng): Thân ta đã bị chặt đứt và vứt bỏ, nhờ Phật phục hồi mệnh sống, nay ta nguyện trọn đời bố thí thân này cho Phật và tỉ khưu tăng. Từ đó, Kiền để đến tinh xá Kì hoàn hầu hạ đức Phật. [X. luận Đại trí độ Q.8].

kiền độ

5520梵語 skandha,巴利語 khandhaka 之音譯。又作揵度、建陀、建圖、乾度、塞建陀、娑犍圖。意指蘊、聚、眾、分段。即分類編集,而將同類之法聚集一處之謂。相當於品或節。係有關受戒、布薩、安居等僧團內之儀式作法,與日常生活之規定條文,經由分類整理而成者。據巴利語律典所記載,共有二十二犍度(漢譯四分律則僅有二十犍度):(一)規定出家受具足戒法之受戒犍度,又稱大犍度。(二)說明布薩規定之布薩犍度。(三)說明安居規定之安居犍度。(四)說明自恣規定之自恣犍度。(五)說明持用皮革製品之皮革犍度。(六)說明有關食物、藥物等制定之藥犍度。(七)說明有關迦絺那衣(巴 kaṭhinadussa)規定之迦絺那衣犍度。(八)說明有關比丘著衣之衣犍度。(九)說明釋尊居於瞻波時所制定有關眾僧會議方法之瞻波犍度。(十)說明在拘睒彌所發生教團內部紛爭之拘睒彌犍度。上述十項稱大品,其次則爲十二小品所組成有關刑罰之規定。其中,末兩項即爲有關王舍城之第一結集與毘舍梨的第二結集之規定,然漢譯四分律無此部。〔四分律卷三十一、摩訶止觀卷五上、玄應音義卷五、卷十八、卷二十四〕(參閱「二十犍度」181) ; Skandhaka (S)Phần nói về thủ tục chấp hành của Tạng Luận. Xem Luật Thiên. ; Càn độ. Khanda (S). A piece, fragment, portion, section, chapter; the rules, monastic rules; also used for skhanda. ; Dịch là tụ, uẩn, kết… một kiền độ tức là một bài, một chương, một phẩm, hoặc một đoạn. ; (犍度) Phạm: Skandha Pàli: Khandhaka. Cũng gọi Kiến đà, Kiến đồ, Càn độ, Tắc kiến đà, Sa kiền đồ. Dịch ý: Uẩn, Tụ, Chúng, Phân đoạn. Phân loại, biên tập, sắp xếp, qui tụ những pháp cùng loại vào 1 chỗ, tương đương với phẩm hoặc tiết. Những nghi thức tác pháp trong Tăng đoàn như thụ giới, bố tát, an cư và những điều văn qui định sự sinh hoạt hàng ngày, do phân loại chỉnh lí mà thành: Đó là Kiền độ. Trong các bộ luậtPàli, có ghi 22 Kiền độ: 1. Thụ giới kiền độ(cũng gọi Đại kiền độ): Qui định phép tắc xuất gia thụ giới Cụ túc. 2. Bố tát kiền độ: Qui định phép tắc bố tát. 3. An cư kiền độ: Qui định phép tắc an cư. 4. Tự tứ kiền độ: Qui định phép tắc tự tứ. 5. Bì cách kiền độ: Qui định phép tắc sử dụng đồ dùng làm bằng da thuộc. 6. Dược kiền độ: Qui định phép tắc ăn uống, thuốc thang... 7. Ca hi na y kiền độ: Qui định phép tắc thụ lãnh áo Ca hi na (Pàli: Kaỉhinadussa). 8. Y kiền độ: Qui định phép tắc tỉ khưu mặc áo. 9. Chiêm ba kiền độ: Nói về việc khi đức Thế tôn ở nước Chiêm ba có qui định phương pháp hội nghị của chúng tăng. 10. Câu thiệm di kiền độ: Nói về sự rạn nứt trong nội bộ giáo đoàn xảy ra tại nước Câu thiệm di. Mười Kiền độ trên đây gọi là Đại phẩm, còn 12 Kiền độ kế tiếp gọi là Tiểu phẩm. Mười hai Tiểu phẩm này là những qui định liên quan đến hình phạt. Trong đó, 2 Tiểu phẩm cuối là những qui định liên quan đến cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất ở thành Vương xá và lần thứ 2 ở thành Tì xá li. Nhưng trong luật Tứ phần Hán dịch không có 2 Tiểu phẩm này. [X. luật Tứ phần Q.31; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng; Huyền ứng âm nghĩa Q.5, Q.18, Q.24]. (xt. Nhị Thập Kiền Độ).

kiền độ kinh

Khaṇḍaka (P)Bộ giới bản qui định về một số nghi thức của Tăng già.

kiền-thát-bà

xem càn-thát-bà.

Kiền-thát-bà 犍闥婆

[ja] コンダツバ kondatsuba ||| A transcription of the Sanskrit term gandharva. See 乾闥婆. => Phiên âm chữ Gandharva từ tiếng Sanskrit. Xem Càn-thát-bà 乾闥婆.

Kiền-đà-la

xem Kế Tân.

Kiền-đà-la quốc 犍駄羅國

[ja] コンダラコク kendarakoku ||| Gandhāra. An ancient state in Northern India, located north of Punjab and East of Kashmir. => s: Gandhāra. Một quốc gia cổ ở miền Bắc Ấn Độ, nằm về phía Bắc của Punjab và phía Đông của Kashmir.

kiều

1) Cầu: Bridge—Cross-beam. 2) Kiều Diễm: Beautiful.

kiều diễm

Charming—Graceful.

kiều lưu thuỷ bất lưu

6248禪林用語。形容超越一般常識見解之境界。蓋以常識之立場而言,應是「水流橋不流」;今則藉「橋流水不流」之轉語形容轉換常識為意識以前之境界,亦即超越一己之分別知覺,而非可思惟之境界。與「東山水上行」、「青山常運步」等語同義。景德傳燈錄卷二十七(大五一‧四三○中):「空手把鋤頭,步行騎水牛,人從橋上過,橋流水不流。」〔楞伽師資記〕 ; (橋流水不流) Đồng nghĩa: Đông sơn thủy thượng hành. Thanh sơn thường vận bộ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cầu trôi nước không trôi. Trong Thiền lâm, câu nói này được dùng để diễn tả cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 27 (Đại 51, 430 trung), nói: Tay không cầm cán bừa Ngồi lưng trâu thả bộ Người đi qua trên cầu Cầu trôi nước không trôi. [X. Lăng già sư tư kí].

kiều lương

6248謂以橋梁之受人踐踏,比喻謙恭卑下而忍受他人之侮慢。注維摩詰經卷七(大三八‧三九一上):「示行憍慢,而於眾生,猶如橋梁。(中略)言其謙下,為物所凌踐,忍受無慢,猶如橋梁。」 ; Nhẫn nại—A bridge, trampled on by all but patiently bearing them, a synonym for patience, or endurance. ; (橋梁) Cái cầu. Cầu thường bị người ta giẫm đạp lên để đi qua, được dùng để ví dụ người có đức khiêm cung nhẫn chịu sự khinh nhờn của người khác đối với mình. Chú duy ma cật kinh quyển 7 (Đại 38, 391 thượng), ghi: Nói lời khiêm nhường, bị người lăng nhục, dày đạp, nhẫn chịu không sân, giống như cái cầu.

kiều lập ba

Xem Hữu thắng biện.

kiều mỵ

Beautiful.

kiều nhi

Beloved daughter.

kiều nữ

See Kiều Nhi.

Kiều Phạm Ba Đề

(s: Gavāṃpati, p: Gavaṃpati, 憍梵波提): còn gọi là Kiều Phạm Bạt Đề (憍梵跋提), Cấp Phòng Bát Để (笈房鉢底), Già Bà Bạt Đế (伽婆跋帝), Già Phạm Ba Đề (伽梵波提), Kiều Hằng Bát (憍恆鉢), Phòng Bát Để (房鉢底); ý dịch là Ngưu Tích (牛跡), Ngưu Ha (牛呵), Ngưu Ty (牛司), Ngưu Chủ (牛主), Ngưu Vương (牛王), Ngưu Tướng (牛相), từng được Trưởng Lão Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) chỉ đạo. Tương truyền vào thời quá khứ ông từng ngắt một cọng lúa, làm rơi hạt lúa xuống đất, nên bị đọa làm thân con bò trong 500 kiếp, vì vậy khi làm thân người, ông vẫn còn tánh khí của con trâu, ăn xong thường ợ hơi ra, nhai lại. Hơn nữa, do ông tạo ác nghiệp khinh thường Sa Môn nên hiện đời phải thọ quả báo miệng thường há và ngáp như loài bò (牛呵), hay móng chân ông giống như chân bò. Chuyện kể rằng trong 500 kiếp đời quá khứ, ông là một chú Sa Di nhỏ, thấy một vị Tỳ Kheo già có hàm răng lung lay, rụng gần hết, nên mỗi khi ăn uống rất khó khăn, ông thấy vậy mà cười chế nhạo rằng: “Xem kìa, ông kia ăn cơm như bò nhai cỏ vậy.” Vị kia nghe vậy khuyên rằng: “Này chú Sa Di kia ! Chớ có nói lời như vậy. Tôi là bậc La Hán, chú hủy báng như vậy sẽ bị đọa địa ngục. Hãy nên phát tâm sám hối lời nói của mình đi !” Sau khi làm đệ tử của Đức Phật và chứng đạo rồi nhưng dư báo ấy vẫn không trị được. Thấy ông thường bị mọi người khinh khi hủy báng, đức Phật cho ông lên sống trên Thi Lợi Sa Viên (尸利沙園) của cung Trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利) để tu tập Thiền định. Sau khi Đức Phật nhập diệt, lúc Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) cùng với các Trưởng Lão khác kết tập kinh điển lần đầu tiên, họ sai người lên cung trời đón ông, lúc đó ông mới biết là đức Phật và Tôn Giả Xá Lợi Phất đã nhập diệt, cho nên tương truyền ông cũng tự đốt thân mình và nhập diệt. Ông được xem như là người Giải Luật Đệ Nhất.

kiều phạm ba đề

Gavamipati (S)Ngưu Thi, Ngưu Vương, Ngưu Tướng, Ngưu chủ, Ngưu tướng, Ngưu thi, Ca phạm ba đề, Gia bà bạt đếMột vị đại Thanh văn, đại La hán, đại đệ tử của Phật. Ông có tên như vậy vì ông có giọng nói giống như bò rống. ; Gavampati (skt)—See Kiêu Phạm Ba Đề.

Kiều Phạm 憍梵

[ja] キョウボン kyōbon ||| Gavāṃpati; see 憍梵波提. => (s: Gavāṃpati); Xem Kiều-phạm-ba-đề憍梵波提.

kiều thi ca

Kauśika (S)Xem Đế Thích thiên. - Tiền thân của Phật Di đà. Thuở Phật Thế Tự Tại vương, vua Kiều thi ca nghe pháp giác ngộ mà xuất gia, tu thành Phật hiệu là A di đà. - Còn là tên riêng của đức Đế Thích, thiên chủ 33 cảnh trời Đế thích, danh hiệu là Thích Ca Đế hoàn Nhân đà la (Sakra Devas Indra).

kiều thi ca-đế thích

Kausika (S). Family name of Indra.

kiều thiểm tỳ

Kosambī (S)Câu thường di, Kiều thường diTên một quốc gia thời xưa.

kiều thương di

Kausambi (S). Name of a city in India.

kiều thường di

Xem Kiều Thiểm Tỳ. Xem Câu đàm di.

kiều thường tất

4917(Dharmananda kosambi, 1871~1947)印度佛教學者。年少時即篤志佛學,曾多次前往錫蘭、緬甸研習佛法。一九○二年於錫蘭受沙彌戒,並至智增佛學院學習巴利文,後於緬甸修禪定多年。一九○六年起先後任教於加爾各答大學、浦那弗格森學院、古吉拉特大學等,從事佛學研究及教授巴利文。曾以天城體梵文刊行清淨道論,並以巴利文註釋之。著有佛陀、本生經故事、三摩地道路、印度文化與非暴力、耆那教第二十三祖近主之四禁戒法等,多以古吉拉特文及馬拉提文寫成。 ; (喬嘗必) (1871-1947) Dharmananda Kosambi. Học giả Phật giáo Ấn độ. Thủa nhỏ, ông đã dốc chí học Phật, từng nhiều lần đến Tích lan, Miến điện nghiên cứu và học tập giáo pháp. Năm 1902, ông thụ giới Sa di ở Tích lan, rồi đến viện Phật học Trí tăng học tiếngPàli, sau đó ông tu tập Thiền định ở Miến điện nhiều năm. Năm 1906, ông bắt đầu giảng dạy tại các Đại học Calcutta, Đại học Cổ cát lạp đặc, Học viện Phố na phất cách sâm và nghiên cứu Phật học. Ông từng dùng tiếng Phạm viết theo thể chữ Deva-nagari, để in luận Thanh tịnh đạo và chú thích bằng tiếngPàli. Các tác phẩm của ông có: Phật đà, Bản sinh kinh cố sự, Tam ma địa đạo lộ, Ấn độ văn hóa dữ phi bạo lực, Kì na giáo đệ nhị thập tam tổ cận chủ chi tứ cấm giới pháp.

Kiều Thưởng Di

(s: Kauśāmbī, p: Kosambī, 憍賞彌): tên của một vương quốc cổ của Ấn Độ ngày xưa, thuộc một trong 16 quốc gia lớn đương thời, cũng là tên gọi của một trong 6 đô thị lớn, còn gọi là Kiều Hướng Di Quốc (憍餉彌國), Kiều Thiểm Tỳ Quốc (憍閃毘國), Câu Viêm Di Quốc (倶睒彌國), Câu Tham Tỳ Quốc (倶參毘國), Câu Xá Di (倶舍彌), Cự Thưởng Di (巨賞彌), Kiều Viêm Di (憍睒彌), Kiều Thưởng Di (憍賞彌), Kiều Thưởng Di Quốc (憍賞彌國), Kiều Thiểm Di (憍閃彌), Câu Diệm Di (拘剡彌), Câu Thâm Thành (拘深城), Câu Xá Di (拘舍彌), v.v. Quốc gia này có chu vi khoảng hơn 6 ngàn dặm, đất đai màu mỡ, khí hậu nóng bức, có hơn 10 ngôi già lam; tăng chúng đều tu tập theo truyền thống Nguyên Thủy. Trong thành đô có 10 ngôi tinh xá lớn, trong đó có tượng Phật do quốc vương Ưu Điền (s, p: Udayana, 優填) tạo dựng. Lúc đức Phật còn tại thế, quốc gia này đối lập với Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛), uy danh chấn động bốn phương. Trong thành lại có khu vườn cũ của trưởng giả Câu Sử La (p: Ghosita, 具史羅), là nơi tương truyền Thế Thân (s: Vasubandhu, 世親) đã từng soạn Duy Thức Luận (s: Vijñānamātrasiddhi-śāstra, 唯識論), và cũng là di tích xưa kia Vô Trước (s: Asaṅga, 無著) từng hiển dương thánh giáo luận. Căn cứ vào tác phẩm Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記), học giả A. Cunningham suy định vị trí của thành này nằm ở thôn Kosām, phía tây bắc Jumna, thuộc Allahabad.

kiều trần như

Ajāta Kauṇḍinya (S), Kondanna (P), Annata Kondanna (P), Kondanna (P), Annata Kondanna (P)A nhã câu lân, A nhã Kiều trần nhưMột đạo sĩ Bà la môn trẻ tuổi, lúc đức Phật mới được hạ sanh, đạo sĩ này đã tiên đoán rằng về sau Thái tử sẽ đắc quả Phật. Ông cũng là đệ tử đầu tiên của đức Phật sau khi đắc đạo, đắc quả A la hán và cũng là tỳ kheo cao hạ nhất trong tăng đoàn. Ông là một trong năm người Bà la môn cùng khu khổ hạnh với đức Phật: Bạc đề (Bhaddiya), Thập Lực Ca Diếp (Vappa), Ma ha Nam (Mahanama) và ác Bệ (Assaji). ; Kaundinya (skt). 1) Ajnata-Kaundinya (skt)—Kondanna (p)—Tên của một trong năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật. Ông là người trẻ tuổi nhất trong tám vị Bà La Môn được vua Tịnh Phạn thỉnh đến lễ quán đảnh Thái Tử sơ sinh. Ông nguyên là thái tử xứ Ma Kiệt Đà, là cậu của Đức Phật, và cũng là bạn cùng tu khổ hạnh với Đức Phật khi Ngài mới xuất gia (Nhóm ông Kiều Trần Như có năm người, trước kia theo làm bạn tu khổ hạnh với Đức Phật. Sau khi thấy Đức Phật thọ nhận bát sữa của nàng Mục Nữ cúng dường, cho rằng Đức Phật đã thối tâm trên đường tìm đạo giải thoát nên họ đã ly khai với Phật. Sau khi Đức Phật thành đạo, năm vị nầy lại gặp Đức Phật tại vườn Lộc Uyển/Mrgadava trong thành Ba La Nại/Varanasi, được Phật thuyết giảng về Tứ Diệu Đế để độ họ trở thành những vị Tỳ Kheo đầu tiên. Đây là năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật)—Name a prince of Magadha, uncle and one of the first five disciples of Sakyamuni. He was the youngest and cleverst of the eight brahmins who were summoned by King Suddhodana to name the infant prince. He used to practise ascetic practices with Prince Siddhartha when he just left home. 2) Vyakarana-Kaundinya (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, thì Vyakarana-Kaundinya là vị tôn giả, xuất thân từ một gia đình Bà La Môn giàu có trong thành Ca Tỳ La Vệ, sanh ra trước Đức Phật. Người đã được Đức Phật bảo rằng một Đức Phật quả là quá thiêng liêng để mà để lại bất cứ xá lợi nào trên trần thế nầy—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vyakarana-Kaundinya, son of a very wealthy Brahman family near Kapilavastu, and was born before the Buddha. He was the one, who was told by the Buddha that a Buddha is too spiritual to leave any relics behind.

kiều trần như-a nhã

Kaundinya Ajnàta (S). One of the five first disciples of Buddha.

kiều tát la

Kośala (P), Kausala (S), Kosala (P)Câu tát la.(1)- Xá vệ thành. (2) Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili. ; Kosala (skt)—Còn gọi là Câu Sa La, Câu Tát La, hay Cư Tát La. 1) Bắc Kiều Tát La: Uttarakosala (skt)—Một vương quốc cổ mà bây giờ là vùng Oude, nằm về miền Trung Ấn Độ (theo Truyện Pháp Hiển, Bắc Kiều Tát La là tên một vương quốc cổ ở miền Trung Ấn, khác với nước Nam Kiều Tát La. Đây là một trong 16 vương quốc lớn thời Đức Phật còn tại thế, thủ phủ là thành Xá Vệ, nơi Đức Phật đã lưu trú trong một thời kỳ dài)—Northern Kosala—An ancient kingdom in Central India, the modern Oude. Its capital is Sravasti, where the Buddha and his order stayed for a long period of time—See Xá Vệ Quốc. 2) Nam Kiều Tát La: Daksinakosala (skt)—Vương quốc cổ mà bây giờ thuộc về các tỉnh trung tâm Ấn Độ (theo Tây Vực Ký thì ngài Huyền Trang cho rằng vùng nầy là vùng Trung Ấn. Theo Truyện Pháp Hiển, đây là nước Đạt Thân hay Nam Kiều Tát La, để phân biệt với Bắc Kiều Tát La, còn gọi là Đại Kiều Tát La. Đây là nơi mà ngài Long Thọ đã từng lưu trú, được vua Sa Đa Bà Ha rất kính trọng. Nhà vua đã cho xây một ngôi chùa lớn năm tầng tại Bạt La Vị La. Vị trí thủ phủ của nước nầy ngày nay chưa ai định rõ)—Southern Kosala—An ancient kingdom, also in Central India, part of the present Central Provinces.

kiều tất la

Kausala (S)Nước Kiều tất la, có thủ đô là thành Xá vệ. ; Kosala (S). Name of place. Also Câu thất la.

kiều đàm di

Gautami (S). The aunt of the Buddha.

kiều đàm ni

Gautami (skt)—See Ma Ha Ba Xà Ba Đề in Vietnamese-English Section.

kiều đáp ma-cồ đàm

Gautama (S), Gotama (P).

Kiều-phạm-ba-đề 憍梵波提

[ja] キョウボンハダイ Kyōbonhadai ||| Gavāṃpati; A monk mentioned in the Mahāprajñāpāramitā-sūtra and Lotus Sutra. In a previous lifetime he held an arrogant attitude toward a monk, and as a punishment, was reborn with a condition of constant movement of the mouth. He became a follower of the Buddha as an attempt to overcome this condition. 〔大智度論 T 1509.25.57c-756b; 法華經 T 262.9.1c25〕 => (j:Kyōbonhadai; s: Gavāṃpati). Một tăng sĩ được đề cập trong kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật-đa và kinh Pháp Hoa. Trong đời trước, ngài có thái độ ngạo mạn với một vị tăng, quả báo là khi thọ thân người, miệng ngài phải thường nhai lại. Ngài trở thành đệ tử Phật để nỗ lực giải trừ nghiệp nầy. .

Kiều-thi-ca

một trong các tên riêng của đức Đế-thích.

kiều-thi-ca

Kaucika (S)Tiền thân của Phật A-di-đà.

Kiều-thi-ca 憍尸迦

[ja] キョウシカ Kyōshika ||| A transliteration of the Sanskrit Kauśika, Indra's name when he was a human being. => (j: Kyōshika; s: Kauśika). Phiên âm chữ Kauśika từ tiếng Sanskrit, tên của Nhân-đà-la (s: Indra 因陀羅), khi thọ thân người.

Kiều-thưởng-di

xem Câu-thiểm-di.

Kiều-trần-như

xem A-nhã Kiều-trần-như.

Kiều-trần-như 憍陳如

[ja] キョウチンニョ Kyōchinnyo ||| Kauṇḍinya. One the five bhikṣus 五比丘 who was also one of Śākyamuni's original disciples. See . (s: Kauṇḍinya). => Một trong 5 vị Tỷ-khưu và cũng là 5 vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Xem mục từ A-nhã Kiều-trần-như阿若憍陳如.

Kiều-tát-la

phiên âm từ Phạn ngữ là Kosala, cũng đọc là Câu-tát-la, Câu-tát-di-la, là một nước lớn ở Ấn Độ vào thời đức Phật, kinh thành là Xá-vệ.

Kiều-tát-la quốc 憍薩羅 國

[ja] キョウサツラコク Kyōsatsura koku ||| Kosala, an ancient state in central India where Śākyamuni lived, traveled and taught. (s: Kosala) => Một quốc gia cổ ở Trung Ấn, nơi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni thị hiện và giáo hoá.

Kiều-đáp-ma 喬答摩

[ja] コウトウマ Kōtōma ||| A way of transcribing the Buddha's original surname, Gautama, more commonly transcribed as 瞿曇. 〔瑜伽論 T 1579.30.623c24〕 => Một cách phiên âm dòng họ của Đức Phật, Gautama, thường được phiên âm là Cù-đàm.

kiểm

To check—To revise.

kiểm cử

Kiểm sát, vạch trần. Chương »Thiền Môn Quy Thức« trong CĐTĐL q. 6 ghi: »或 有 假 號 竊 形 混 于 清 眾。 并 別 致 喧 撓 之 事。 即 堂 維 那 檢 舉 抽 下 本 住 掛 塔。 擯 令 出 院 者。 貴 安 清 眾 也。 – [i]Hoặc có kẻ trộm hình giả hiệu trà trộn vào thanh chúng, lại còn gây ồn ào náo loạn liền bị Duy na vạch trần, không cho tạm trú, đuổi ra khỏi thiền viện khiến thanh chúng được an ổn[/i]«.

kiểm duyệt

To censor—Censorship.

kiểm hiệu

6227即於事點撿典校而監察之。又作檢校、撿挍。初唐時,為一種官職名稱,其後僧侶中亦有採用此職稱者,如大周刊定眾經目錄卷十五(大五五‧四七五上):「都檢校刊定目錄及經真偽佛授記寺大德僧明佺。」 日本亦沿用此職稱,於寺社中監督一切寺務之職者,或為一寺之上首監督眾僧者,皆稱為撿校。〔四分律卷五十八、金石萃編卷七十三、河洛上都龍門之陽大盧舍那佛像龕記〕 ; (撿校) Tên một chức quan ở đầu đời Đường, Trung quốc, có trách nhiệm kiểm điểm, xem xét các việc. Về sau, giới Tăng sĩ cũng dùng chức danh này để chỉ cho vị Giám tự hoặc Đô tự. Đại chu san định chúng kinh mục lục quyển 15 (Đại 55, 475 thượng), nói: Ngài Minh thuyên ở chùa Phật thụ kí giữ chức Đô kiểm hiệu để san định lại mục lục và kiểm điểm xem kinh nào là thật kinh nào là giả. [X. luật Tứ phần Q.58; Kim thạch tụy biên Q.73; Hà lạc thượng đô Long môn chi dương Đại lô xá na Phật tượng khám kí].

Kiểm Phi Vi Sứ

(檢非違使, Kebiishi): tên gọi một chức quan được đặt ra từ đầu thời Bình An để kiểm soát những việc làm phi pháp, sai phạm trong kinh đô, thi hành bắt bớ, tố tụng cũng như hành hình tội nhân. Hiện tại, chức này kiêm cả với Kiểm Sát Viên và Cảnh Sát Viên, có quyền hạn rất lớn. Sau này, chức quan này được đặt ở các tiểu quốc, quận huyện, cũng như ở Y Thế Thần Cung (伊勢神宮, Ise-jingū), Lộc Nhi Đảo Thần Cung (鹿兒島神宮, Kagoshima-jingū), v.v.

kiểm soát

Samyama or Sannama (p)—Control—Restraint—Self-control.

kiểm soát các căn

Samyatendriyah (p)—Control of senses.

kiểm soát tâm chặt chẽ

Tapo (S).

kiểm soát và quân bình

Checks and balances

kiểm tra

To examine—To inspect.

kiểm trách

Kiểm sát, trách móc. Tiết Đại Đồng Tế Thiền sư trong NĐHN q. 5 ghi: »鬻 飯 底 僧 一 任 檢 責。 – [i]Tăng cháo cơm mặc cho trách móc[/i]«.

Kiểm điểm

檢點; C: jiăndiăn; J: kenten; |Xem xét trình độ thâm nhập Phật pháp của một người.

kiểm điểm

X. Điểm kiểm.

Kiểm điểm 檢點

[ja] ケンテン kenten ||| "Checkpoint." Examining the level of one's attainment in the Buddha-dharma. => Xem xét trình độ thâm nhập Phật pháp của một người.

kiển đồ

6521梵語 khaṇḍa。意譯為砂糖、白糖。據大日經疏卷七載,蹇荼之色甚鮮白,觸之即碎。唐朝玄奘旅印時,於犍馱羅國見甘蔗可製成砂糖,歸朝後告知唐太宗,帝乃詔招通曉其法者,其後於益州(四川)製造。〔大日經卷二具緣品、大日經義疏卷五、大唐西域記卷二、增廣本草綱目卷十五〕 ; (蹇荼) Phạm: Khaịđa. Hán dịch: Sa đường, Bạch đường. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 7, Kiển đồ rất trắng và mịn, hễ chạm vào thì tan liền. Vào đời Đường, khi ngài Huyền trang sang Ấn độ, ngài thấy ở nước Kiện đà la người ta dùng mía chế biến thành đường cát. Sau khi về nước ngài tâu với vua Đường Thái tông về việc đó. Vua ban lệnh triệu người biết phương pháp làm đường đến, sau đó, đường được sản xuất tại Ích châu (Tứ xuyên). [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh nghĩa sớ Q.5; Đại đường tây vực kí Q.1; Tăng quảng bản thảo cương mục Q.15].

kiển-đà-la

xem càn-thát-bà.

kiểu nhiên

4741唐代僧。長城人,俗姓謝。字清晝。生卒年不詳。師之交遊廣闊,與武丘山之元浩、會稽之靈徹,以及朝中之于頔、權德輿等人皆相交甚善,並曾多次為初期禪宗諸祖師撰碑文,所撰碑文計有達摩大師法門義讚、二宗禪師讚、能秀二祖讚、誌公讚、大通和尚法門義讚、鶴林和尚法門義讚、湖州佛川寺故大師塔銘并序等,皆收於全唐文卷九一七、卷九一八。著有杼山集十卷傳世。〔全唐文卷九一九唐湘州杼山皎然傳、宋高僧傳卷二十九、釋門正統卷三〕 ; (皎然) ..... Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Trường thành, họ Tạ, tự Thanh trú. Sư giao du rộng rãi với các ông Nguyên hạo ở núi Vũ khâu, Linh triệt ở Cối kê và kết bạn rất thân với các ông Vu địch, Quyền đức dư ở trong triều. Sư từng nhiều lần soạn văn bia cho các Tổ sư Thiền tông thời kì đầu, như: Đạt ma đại sư pháp môn nghĩa tán, Nhị tông thiền sư tán, Năng tú nhị tổ tán, Chí công tán, Đại thông hòa thượng pháp môn nghĩa tán, Hạc lâm hòa thượng pháp môn nghĩa tán, Hồ châu Phật xuyên tự cố đại sư tháp minh tinh tự, v.v... tất cả đều được đưa vào Toàn đường văn quyển 917, quyển 918. Tác phẩm: Trữ sơn tập 10 quyển. [X. truyện Đường Hồ châu Trữ sơn Kiểu nhiên trong Toàn đường văn Q.919; Tống cao tăng truyện Q.29; Thích môn chính thống Q.3].

kiện

Sturdy, strong, hard, bold; unwearied. ; 1) Bò thiến: A gelded bull, an ox. 2) Chốt khóa hay chốt bánh xe: The bolt of a lock. 3) Khóa lại: To lock. 4) Kiện cáo: To sue—To have a law-suit against someone. 5) Mạnh mẽ: Strong—Sturdy—Hard—Unwearied. 6) Một loại động vật nửa người nửa báo: A creature half man, half leopard.

kiện chi

4376即應量器內三個小鉢中,最小之鉢。又稱鍵 ; (健支) Cũng gọi Kiện tư, Kiến tư, Kiền tì. Loại bát nhỏ nhất trong 3 cái bát nhỏ của chư tăng. Ba cái bát này gọi chung là Bôn tử. [X. Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Bôn Tử).

kiện cáo

Law suit—Case.

kiện dũng tọa

The heroic posture of the Buddha, with his feet and his thighs soles upward. ; Cách ngồi kiết già của Đức Phật, hai bàn chân tréo lên hai đùi—The heoric posture of the Buddha with his feet on his thighs soles upward.

kiện hoàng môn

Cung điện của quan thái giám—Palace eunuchs.

kiện khang

To be in good health—See Kiện (4).

kiện nam

6524梵語 ghana,巴利語同。又作伽訶那、健男、健南、羯南、蹇南。意譯堅、堅厚、凝厚,或硬肉。胎內五位之第四。即自託胎後,至第四個七日,胎兒漸趨堅厚之位。〔雜阿含經卷四十九、集異門論卷九、瑜伽師地論略纂卷一、玄應音義卷二十三〕(參閱「胎內五位」3933) ; Ghana (S) A mass; a hard, solid lump, the human embryo formed from the fourth to the seventh day. ; 1) Người bị thiến: Pandaka (skt)—A eunuch by castration (deprive of testes, or ovaries; render impotent). 2) Thời kỳ thứ tư trong năm thời kỳ của bào thai, tức là 47 ngày sau khi thọ thai (thời kỳ kiên hậu): Ghana (skt)—The fourth in the five periods of a foetus, a foetus of forty-seven days. 3) Vững chắc: Solid—Compact—Firm. ; (鍵南) Phạm,Pàli:Ghana. Cũng gọi: Già ha na, Kiện nam, Yết nam, Kiển nam. Dịch ý: Kiên, kiên hậu, ngưng hậu, ngạnh nhục. Vị thứ 4 trong 5 vị ở trong thai, nghĩa là từ khi gá vào thai đến tuần thứ 4, thai nhi dần dần hình thành 1 khối ngưng đặc. [X. kinh Tạp a hàm Q.49; luận Tập dị môn Q.9; Du già sư địa luận lược toản Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. (xt. Thai Nội Ngũ Vị).

kiện từ

Kiến Chi—Kiến Từ—Kiền Từ—Thiển Thiết Bát hay chiếc bát cạn bằng sắt, loại bát sắt nhỏ, một trong 8 vật cần có của một vị Tỳ Kheo—A bowl, small almsbowl, one of the eight requisites of monks and nuns (attha-parikkhara). ** For more information, please see Tám Món Cần Dùng Của Phật.

kiện đà hộc tử ca sa

4376指以健陀色(乾陀羅色)之薄絹所作之袈裟。又作健陀穀子袈裟、乾陀穀子。縠子,即薄絹。日僧空海來唐時,曾從青龍寺惠果和尚學得此制之袈裟,將之傳入日本。(參閱「乾陀羅色」4369) ; (健陀縠子袈裟) Cũng gọi Kiện đà cốc tử sa ca, Càn đà cốc tử. Áo ca sa may bằng lụa mỏng (hộc tử) mầu kiền đà (vàng sẫm)¡. Khi sư Không hải người Nhật bản đến Trung quốc đã học được cách may áo ca sa này từ hòa thượng Huệ quả ở chùa Thanh long, rồi truyền về Nhật bản. (xt. Càn Đà La Sắc).

kiện đà la

Gandhàra (S). Name of place. ; Gandhara (skt)—Tên vương quốc cổ Kiện Đà La ở vùng bắc Ấn Độ—Name of an ancient kingdom, north of India.

kiện đà lê

4376梵語 gāndhāri,巴利語 gandhārī。為俱舍論卷二十七所說之咒術名。論中並謂,持此咒能騰空自在,即具有「三示導」中「神變示導」之神通力。關於此一名稱,據俱舍論光記卷二十七載,有二說,一以此咒術源出健馱國,故稱健馱棃 ;一以此咒術乃女天健馱棃所說,故從其名。健馱國即指健馱羅國,女天健馱棃則與東方持國天之妃同名。〔玄應音義卷二十三〕 ; Gandhari (S). ; Gandhara (skt)—Loại mật chú cho ta khả năng bay được—A spell that gives power to fly. ; (健馱梨) Phạm:Gàndhàri. Pàli:Gandhàri. Một loại chú thuật được nói trong luận Câu xá quyển 27. Người trì chú này được sức Thần biến thị đạo trong Tam thị đạo, có khả năng đi trong hư không một cách tự tại. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 27, về tên Kiện đà lê có 2 thuyết: 1. Chú thuật này có nguồn gốc từ nước Kiện đà, nên gọi là Kiện đà lê. 2. Chú thuật này do Thiên nữ Kiện đà lê nói ra, nên gọi là Kiện đà lê. Nước Kiện đà tức là Kiện đà la, còn Thiên nữ Kiện đà lê thì trùng tên với vợ Thiên vương Trì quốc ở phương đông. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.23].

kiện đạt

Gandha (skt). 1) Hương thơm: Smell—Scent. 2) Một loại cây làm nhang thơm: A tree producing incense.

Kiện đạt phược 健達縛

[ja] ケンダツバ kendatsuba ||| A transcription of the Sanskrit term gandharva. See 乾闥婆. => Phiên âm từ Gandharva trong tiếng Sanskrit. Xem Càn-thát-bà.

kiện địa

Khanda (skt)—See Kiện Độ.

kiện độ

Khanda (skt). 1) Một miếng, một mảnh, một phần, một chương sách—A piece, a fragment, a portion, a section, a chapter. 2) Quy luật tự viện: Monastic rules.

kiện đức

See Kiền Trắc.

Kiện-đạt-phọc

健達縛; C: jiàndáfú; J: kendatsuba;|Phiên âm từ Gandharva trong tiếng Phạn (sanskrit). Xem Càn-thát-bà (乾闥婆).

kiệt

1) Đơn vị tương đương với một phần 32.000 do tuần—A unit equivalent to the 32,000th part of a yojana. 2) Kiệt sức: Exhausted—Used up—Finished. 3) Kiệt xuất: Utmost.

kiệt chi

Sanikakoka (S)áo che nách, vắt từ vai trái sang vai phải. ; See Tăng Kỳ Chi.

kiệt già

Xem Đao đại tuệ. ; Xem kiếm trí tuệ.

kiệt già tiên

5876竭伽,梵語 garga,巴利語 gagga。又作揭伽、揭瞿、伽瞿、竭羅伽。印度古仙人名。爲吠陀誦出者之一。據大孔雀咒王經卷下載,此仙人與其他諸仙皆爲古代之大仙,共造四明論(即四吠陀),擅長咒術。大日經卷五祕密漫荼羅品列其爲火天之眷屬,位於外金剛部院,然現圖曼荼羅中並無其形像。〔大日經疏卷十六、慧琳音義卷三十六〕 ; (竭伽仙) Kiệt già, Phạm:Garga,Pàli:Gagga. Cũng gọi Yết già, Yết cù, Kiệt la già. Vị tiên xưa ở Ấn độ. Là 1 trong các vị tiên tạo ra Phệ đà. Cứ theo kinh Đại khổng tước chú vương quyển hạ, thì vị tiên này và các vị tiên khác đều là những vị tiên lớn thời xưa, đã cùng tạo ra Tứ minh luận (tức 4 bộ Phệ đà), giỏi về chú thuật. Phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật quyển 5, xếp vị tiên này vào hàng quyến thuộc của Hỏa thiên, ngồi ở viện Ngoài của Kim cương bộ, nhưng trong Hiện đồ mạn đồ la không có hình tượng vị tiên này. [X. Đại nhật kinh sớ Q.16; Tuệ lâm âm nghĩa Q.36].

kiệt liệt

Very famous.

kiệt lực

To be exhausted.

kiệt quệ

Exhausted.

kiệt sát

3320(1118~1195)西藏佛教迦爾居派綽浦迦爾居支派之初祖。生於夏卜地方(日喀則與薩迦之間)之拏氏家族。其母爲一小王之女,故稱杰擦(意謂王甥)。師事潑結木九巴,後返鄉傳法,建綽浦寺,創立該支派。

kiệt sức

To be burned out—To be worn out—To be exhausted.

kiệt thủ

5463梵語 vitasti。又作磔手。乃古代印度之尺數名。搩,張開之意。搩手,即張開拇指與中指之距離,故一搩手,相當於今之二十三公分。〔俱舍論卷二十二、玄應音義卷二十二、卷二十五、翻譯名義集卷八〕(參閱「一磔手」78〕

kiệt tác

Masterpiece.

kiệt xoa

Một nơi trên núi Karakoram mà theo ngài Pháp Hiền, nơi đây các vương triều đã từng tổ chức những cuộc cúng dường Trai Tăng hay những chúng hội thật vĩ đại. Theo Eitel trong trung Anh Phật Học Từ Điển, thì đây là vùng Khasa, nơi trú ngụ của một bộ tộc cổ Kasioi trong vùng Paropamisus; trong khi những học giả khác thì cho rằng đây có lẽ là những vùng bây giờ là Kashmir, Iskardu, hay Kartchou—A place said to be in Karakoram mountains, where according to Fa-Hsien formerly great assemblies were held under royal patronage and with royal treatment. Eitel, in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, gives it as Khasa, and says an ancient tribe on the Paropamisus, the Kasioi of Plotemy; others give different places, i.e. Kashmir, Iskardu, Kartchou.

kiệt xoa quốc

5876請參閱 稱讚淨土佛攝受經係帕米爾高原中之古國。據高僧法顯傳所載,此國每五年舉行無遮大會,會時四方沙門皆來雲集,王及群臣如法供養,或一月、二月,或三月,多在春時舉行。其後,王復勸諸群臣設供供養,或一日、二日、三日、五日,乃至七日。供養畢,王以所乘之馬匹令重臣騎乘,具足種種珍寶與沙門所需物,共諸群臣發願布施眾僧,布施之後,還從僧處贖回。此國因山高天寒,不生餘穀,唯麥能熟。國中有石製佛唾壺,色似佛鉢;另有佛齒一枚,特建塔供養之。又僧徒千餘人,盡修學小乘。 ; (竭叉國) Tên một nước xưa nằm ở giữa cao nguyên Phạ mễ nhĩ (Pamir) thuộc Ấn độ. Cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện, thì cứ 5 năm nước này mở Đại hội Vô già một lần vào mùa xuân, các vị sa môn từ khắp nơi về tham dự rất đông, vua và các quan cúng dường đúng như pháp. Đại hội kéo dài trong 1 tháng, 2 tháng hoặc 3 tháng, sau đó, vua lại khuyên các quan thiết trai cúng dường, hoặc 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, 5 ngày, cho đến 7 ngày. Cúng dường xong, vua sai các quan chuyên trở các đồ trân bảo và những vật mà các vị sa môn cần dùng đến, rồi vua cùng với quần thần phát nguyện bố thí chúng tăng, sau khi bố thí lại xin chuộc về. Vì nước này có nhiều núi cao và thời tiết giá rét nên các thứ lúa khác không trồng được, chỉ có lúa mạch chịu được khí hậu ở đây. Nước này có hơn 1.000 vị tăng, tất cả tu học theo Tiểu thừa. Ngoài ra, ở xứ này còn có 1 cái ống nhổ bằng đá của đức Phật, mầu sắc giống như bát Phật và 1 tòa tháp thờ răng Phật.

kiệt xuất

Outstanding

kiệt đà la

Khadira or Karavira (skt)—Loại gỗ cứng—Hard wood.

kiệt đấu

5848禪林用語。又作竭斗、磔斗、傑斗。其義有二:(一)比喻黠慧、狡猾之徒的倔傲爭鬥。碣,爲特立之石。黠慧狡猾之徒,爲貫徹其說而倔傲巧辯,如碣石之特立,故有此喻。又不肯認輸反妄加強辯者,亦稱爲碣斗。淨心誡觀法卷下誡觀晚出家人心行法第二十五(大四五‧八二九下)「夫晚出家者有十種罪過,一者健鬥,世言竭斗,俗氣成性,我心自在,意凌徒眾,不受呵責。」 (二)指出類拔萃之人物。恕中無慍禪師語錄卷三(卍續一二三‧四二一下):「玄沙不出飛鳶嶺,攪吵叢林事萬端,只此未爲真傑斗,靈雲猶且被他瞞。」〔虛堂智愚禪師語錄卷六佛事條、景德傳燈錄卷二十三大梵圓條、五燈會元卷十五〕 ; (碣鬥) Cũng gọi Trách đẩu. Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Kiệt Đẩu. Chỉ cho những người tinh khôn, giảo hoạt, không biết phục thiện, không sẵn sàng thừa nhận khuyết điểm của mình, trái lại, cố tìm cách quỉ biện hòng lấn lướt người khác. Phần Giới quán vãn xuất gia nhân tâm hành pháp thứ 25 trong bộ Tịnh tâm giới quán pháp quyển hạ (Đại 45, 829 hạ), nói: Những người về già mới xuất gia có 10 lỗi: Lỗi thứ nhất là tâm tranh hơn mạnh mẽ, thói tục chưa bỏ, nói lời thô bạo để lấn lướt (kiệt đẩu)người, ý muốn hiếp đáp đồ chúng, không chịu ai quở trách. II. Kiệt Đẩu. Người lỗi lạc xuất chúng. Thứ trung Vô uẩn thiền sư ngữ lục quyển 3 (Vạn tục 123, 421 hạ), nói: Huyền sa chưa chịu lên non Thứu Quấy rối tùng lâm lắm chuyện rồi Chỉ bởi đây chưa là Kiệt đẩu (người xuất chúng) Linh vân mãi bị dối lừa thôi. [X. điều Phật sự trong Hư đường Trí ngu thiền sư ngữ lục Q.6; điều Đại phạm viên trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.23; Ngũ đăng hội nguyên Q.15].

Kiệt 竭

[ja] ケツ ketsu ||| (1) To give up, indicate defeat. (2) To exhaust, complete. Exhaustively, completely. Die out, disappear, use up. => 1. Miệt mài, thủ tiêu tận gốc. 2. Làm kiệt quệ; làm cho trọn vẹn. Thấu đáo, tường tận; trọn vẹn. Biến mất, tắt ngấm; biến đi; cạn hết.

Kiệt-xà

xem Ma-kiệt-đà.

kiệu phan

6707指抬轎之僕人。又作轎從。轎者,肩輿;番者,更遞之意,即謂輪流抬轎。敕修百丈清規卷二迎侍尊宿條(大四八‧一一二二中):「方丈執局及參頭領眾行者、人僕、轎番,以次參拜。」 ; (轎番) Cũng gọi Kiệu tòng. Phu khiêng kiệu, thay phiên nhau. Điều Nghinh thị tôn túc trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1122 trung), nói: Các Phương trượng hành giả, Chấp cục hành giả, Tham đầu và Lãnh chúng hành giả, người hầu, Kiệu phiên, lần lượt tham bái.

Ku-chi-pa

S: kucipa; »Du-già sư mang bướu«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử của Long Thụ (Ma-ha Tất-đạt). Huyền sử nói rằng ông sống 700 năm.|Ông là nông dân, bị mọc một cục bướu nơi cổ rất đau nhức. Ông rút lui độc cư và gặp Long Thụ. Ông cầu khẩn xin Long Thụ chỉ cách đối trị cục bướu thì Long Thụ cho ông nhập môn Bí mật tập hội tan-tra (s: guhyasamāja-tantra), khuyên ông nên quán niệm về cục bướu ngày càng lớn. Ðó là phép quán niệm để chứng sức mạnh của tư duy. Quả nhiên cục bướu chóng lớn, càng thêm đau nhức. Ông đau khổ báo cho Long Thụ biết, lần này vị Ðạo sư chỉ ông quán niệm cục bướu ngày càng nhỏ. Cục bướu nhỏ đi thật và biến mất. Long Thụ kết luận:|Ðau đớn hay hoan lạc,|do chấp nhận, chối bỏ.|Bỏ những cực đoan đó!|Vì chúng đâu khác nhau.|Hãy chứng thật tính Không,|trong tất cả tình huống.|Ku-chi-pa quán lời thầy và chứng thánh quả Tất-địa. Chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Sa-ha-ja tuyệt đối,|sẽ sinh ra đau đớn,|Du-già sư lo sợ,|nhanh chóng và kích động|như mắt một thớt voi.|Nếu sợ hãi tan biến,|Du-già sư nhập định,|tự tại trước tham cầu.|Dưới lời dạy trong sáng,|ta mất hai thái cực,|của chấp nhận chối từ,|và thật tại mong manh,|đã biến thành tối hậu.|Với nhận thức tối hậu,|ta chứng đạt Thật tại.

Kuk-ku-ri-pa

S: kukkuripa; »Du-già sư nuôi chó«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, là thầy dạy của Mã-nhĩ-ba (t: marpa), sống đầu thế kỉ thứ 11. Một nữ đệ tử ngộ đạo của ông cũng được nhắc đến, đó là Ma-ni Ba-đra.|Ông là người theo đạo Bà-la-môn nhưng sau trở thành một Khất sĩ. Ngày nọ ông bắt gặp một con chó đói gần chết. Ông mang về nuôi dưỡng. Sau 12 năm tu tập, ông đạt Tất-địa. Nhờ thần thông, ông viếng thăm cõi trời Tam thập tam (Ba thế giới) và được các vị thiên nhân chiêu đãi nồng hậu. Thế nhưng ông không quên con chó. Về lại động, ông vừa rờ đến con chó thì nó biến thành một vị Không hành nữ (s: ḍākinī) và nói:|Lành thay, thật lành thay!|Ngươi chứng tỏ giá trị!|Ngươi vượt qua cám dỗ.|Ngươi trở về sẽ được,|nhận năng lực tối thượng.|Quyền lực của thiên nhân,|đó chỉ là mê vọng,|vì họ còn cái Ngã,|và hoan lạc sẽ dứt,|chúng chỉ là hữu hạn.|Không hành nữ của ngươi,|cho tri kiến tối thượng,|và an lạc vô nhiễm,|không có chút tì vết.||H 37: Kuk-ku-ri-pa (kukkuripa) vì chúng sinh trở về luân hồi|Sau đó Không hành nữ truyền cho ông tri kiến tối thượng. Người đời gọi ông là Kúc-ku-ri-pa, »Du-già sư nuôi chó.« Chứng đạo ca của ông như sau:|Thật hết sức vô ích,|khi cầu khẩn đức Phật.|Chỗ có sự theo đuổi,|nơi đó không có Phật.|Chỉ chứng thật phép lành,|của Ðạo sư đích thật,|nơi đó Phật hiện tiền.|Nhưng liệu ai thấy được?

Kum-ba-ri-pa

S: kumbharipa; »Thợ gốm«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống lúc nào.|Ông là thợ gốm sống tại thành Jô-ma-na Sư-ri (s: jomanaśrī). Ông nhàm chán công việc hàng ngày, chỉ mong có dịp thay đổi. Ngày nọ có vị Du-già sư khất thực đi ngang, ông bèn cúng dường và kể lại sự tình. Vị này giảng cho ông nghe về tính chất Vô thường của cuộc đời, sau đó cho ông nhập môn và dạy cho ông phép quán tưởng:|Sứ của mọi đam mê,|và tất cả vọng tưởng,|làm bằng đất vô minh.|Trên tấm đĩa quay tròn,|tham lam và dục vọng,|trở thành sáu chủng loại,|làm bằng đất sét đó.|Hãy đốt chúng tiêu rụi,|trong tri giác thuần tịnh.|Người thợ gốm hiểu ý nghĩa lời khai thị này và chỉ sau sáu tháng quán tưởng, mọi ô nhiễm trong tâm biến mất. Sau đó ông chỉ cần ngồi thiền định mà đĩa tự quay tròn và vật dụng từ đất sét tự hiện thành hình. Người đời gọi ông là Du-già sư làm đồ sứ. Bài ca chứng đạo của ông như sau:|Thói quen như đĩa quay,|sản sinh hiện tượng sống;|Lửa tri kiến thuần tịnh,|đốt cháy mọi nhiễm ô.

kém

Less.

kém quan trọng

Of less importance.

kén chọn

To choose—To select.

kén ăn

To be fastidious about one's food.

1) Con gà: Kukkuta (skt)—A cock—A fowl—Chicken—Hen. 2) Kê cứu: To investigate. 3) Kê đầu kỉnh lễ: To prostrate oneself.

kê cẩu giới

6643雞戒與狗戒。印度外道苦行之一。外道以苦行為出離解脫之道,持雞戒者,終日一足而立;持狗戒者,食人糞便。〔止觀輔行傳弘決卷十之一〕(參閱「苦行外道」3944) ; Ngoại đạo vùng Bắc Ấn, có loại trí thủ kê giới, cẩu giới, kê thì suốt ngày đứng một chân, cẩu thì ăn phân nhơ bẩn—Heterodox sects in northern India follow cock or dog discipline, e.g. standing on a leg all day, or eating ordure, like certain ascetics. ; (雞狗戒) Giới gà và giới chó. Một trong các lối tu khổ hạnh của ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Ngoại đạo này cho rằng khổ hạnh là con đường đưa đến giải thoát, cho nên người giữ giới gà thì đứng một chân suốt ngày; kẻ giữ giới chó thì ăn phân người. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.10 phần 1]. (xt. Khổ Hạnh Ngoại Đạo).

kê dẫn bộ

Kurkutika (S, P), Kaukkutikah (P, S); Gaukulika (S); Gokulika (S, P); Kukkutika (P, S)Khôi sơn Trụ bộ, Quật Cư bộ, Câu Câu la bộ.Một trong 9 bộ phái trong Đại chúng bộ. ; Kukkutika (S). Buddhist sect. Also Khôi sơn trụ bộ. ; Gokulikas, Kukkulikas, Kukkutikas, or Kaukkutikas (skt)—Một trong 20 bộ của Tiểu Thừa, còn gọi là Khôi Sơn Trụ Bộ, Quật Cự Bộ, Cao Câu Lê Ca Bộ, một trong 20 bộ của Tiểu Thừa, thành lập khoảng 200 năm sau ngày Phật nhập diệt và biến mất ngay sau đó—One of the twenty Hinayana branches, a branch of the Mahasanghikas which established around 200 years after the Buddha's nirvana and early disappeared.

kê dận bộ

6643梵名 Kurkutika, Kaukkuṭika, Gaukulika, Gokulika,巴利名 Kukkuṭika, Gokulika。為小乘二十部派之一。又作憍矩胝部、高拘梨訶部、拘拘羅部、究究羅部。又稱窟居部、灰山住部。傳說創始人為雞的後代,故有此稱。乃佛陀入滅後二百年頃,自大眾部中分出者。該部派主張「過未無體論」,且其於三藏之中,僅以論為主;而謂經律乃佛陀為應各種機類所立之方便教,故不加重視。於小乘六宗之中,該部派屬於「法無去來宗」。〔異部宗輪論述記〕 ; (雞胤部) Phạm: Kurkutika, Kaukkuỉika, Gaukulika, Gokulika. Pàli: Kukkuỉika, Gokulika. Cũng gọi Kiểu củ chi bộ, Cao câu lê ha bộ, Câu câu la bộ, Cứu cứu la bộ, Quật cư bộ, Khôi sơn trụ bộ. Bộ phái Phật giáo từ Đại chúng bộ tách ra vào khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt. Là 1 trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Truyền thuyết cho rằng người sáng lập ra bộ phái này là hậu duệ của giòng dõi Kê nên mới có tên gọi như thế. Phái này chủ trương quá khứ, vị lai không có thực thể; trong 3 tạng thì coi trọng tạng Luận, còn Kinh, Luật chỉ là các giáo pháp phương tiện mà đức Phật thành lập để thích ứng với mọi căn cơ, cho nên được xem như thứ yếu. Trong 6 tông của Tiểu thừa, bộ phái này thuộc về Pháp vô khứ lai tông. [X. Dị bộ tông luân luận thuật kí].

kê khai

To enumerate—To make a list.

kê khang

Hsi K'ang (C), Xi Kang (C)Thi sĩ và là nhạc sĩ (224-263), trong nhóm Trúc Lâm thất hiền.

kê khương na

Kikana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Kê Khương Na là một dân tộc ở A Phú Hãn, trú ngụ khoảng giữa miền đông Kandhar và miền nam Ghazna, vào khoảng những năm 630 sau Tây Lịch được cai trị bởi những vị lãnh chúa độc lập, có lẽ theo niên kỷ của Ả Rập đây là dân tộc Kykanan—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kikana is a people in Afghanistan, east of Kandahar, south of Ghazna, ruled 630 A.D. by independent chieftains, perhaps identical with the Kykanan of Arabic chroniclers.

kê khương na quốc

6117稽薑那,梵名 Kikāṇa。為西印度之古國。位於伐剌拏國之西。此國地處大山川間,立大君長為主。以盛產羊馬馳名,馬形殊大,為諸國之稀種。伐剌拏,即今之班奴(Pannu);稽薑那,即位於其西邊之瓦茲里斯敦(Waziristan)。一說在今阿富汗尼斯坦東部山中,有稱為奇康之種族,該族產良馬,即為稽薑那國後裔。〔大唐西域記卷十一〕 ; (稽姜那國) Kê khương na, Phạm: Kikàịa. Tên một nước xưa ở Tây Ấn độ, nằm về mạn tây nước Phạt lạt noa, giữa núi cao sông rộng, theo chế độ Quân chủ, nhờ nuôi nhiều dê và ngựa mà nổi tiếng. Ngựa ở đây có thân hình to lớn, là giống ngựa quí hiếm. Nước Phạt noa tức nay là Pannu (Ban nô); còn nước Kê khương na tức là vùng đất nằm về mạn tây Waziristan. Có thuyết cho rằng chủng tộc Kì khang ở dẫy núi phía đông nước Afghanistan, ngày nay sản xuất nhiều ngựa tốt, chính là dòng dõi của nước Kê khương na. [X. Đại đường tây vực kí Q.12].

kê lâm tinh xá

Kukkuṭarama (S)Tên một ngôi chùa.

kê lâu cổ

6643又作奚樓子、雞婁子。為鼓之一種。以皮革製成,其形如甕,體正而圓,兩端可拍擊,通常自頭部懸於腋下而拍擊。為龜茲、疏勒、高昌等地之樂器。〔文獻通考卷一三六〕 ; (雞婁鼓) Cũng gọi Hề lâu tử, Kê lâu tử. Một loại trống bưng bằng da thuộc, hình dáng tròn trĩnh giống như cái vò (hũ), khi sử dụng thường đeo ở trước ngực và vỗ vào 2 đầu giống như trống cơm. Đây là nhạc khí của các nước Cưu tư, Sớ lặc, Cao xương, v.v... [X. Văn hiến thông khảo Q.136].

kê minh tự

6643位於江蘇南京雞籠山之東。寺向東遙對鍾山,西隔谿接雞籠山之北極閣,南俯瞰南京,北擁玄武湖,佔形勢之勝,蔚為南京遊覽勝地之一,於每年觀音誕辰,進香者絡繹不絕。 相傳該寺原創於西晉永康年間(300~301)。又於劉宋之時,廬山慧遠之在家弟子雷次宗嘗於山中開館授徒,後人就其遺址立寺,名雞籠山寺。元代,唯存小宇,規模卑隘,不足入叢林之列。明洪武十八年(1385),太祖命崇山侯撤故宇,重新創建,造五級塔,其內埋藏梁寶誌之法函,並遣官祭祀。寺東南隅設施食臺,以滅妖氣。明正統十年(1445),英宗賜大藏經。清康熙四十四年(1705),聖祖賜寺額。乾隆十六年(1751),高宗南巡,曾御書匾額對聯。 現今之寺門題為古同泰寺,然據金陵梵剎志載,梁代同泰寺已被列入廢寺,別於本寺;且清代陳作霖在南朝佛寺志亦無有關兩寺同異之論,由此推測,或因本寺與同泰寺之舊址接近,致有此訛傳。 道光年間(1821~1850),本寺殿宇多毀於太平軍火,事平復興,迄今仍存,然其建築式樣,雜採西洋款式,不復昔日大剎之威勢。今寺域內有「古雞鳴寺」牌坊一座。〔釋氏稽古略續集卷二、金陵梵剎志卷二、大清一統志卷五十二、遊雞鳴寺記(清代李懿曾)、金陵古蹟圖考〕

kê quý

1) Người Tây Trúc gọi nước Cao Ly là Câu Câu Tra-Y Thiết La (Câu Câu Tra là kê, Y Thiết La là quý)—Indian people called Korea by Kukkutesvara. 2) Tôn quý loài gà: Honouring or reverencing the cock.

kê quý quốc

6643雞貴,梵名 Kurkuṭa-īśvara ,音譯俱俱吒醫設羅。為高麗國之別名。俱俱吒,譯作雞;醫設羅,譯作貴。此國人民敬雞如神,首戴雞羽而為表飾。〔南海寄歸內法傳卷一〕 ; (雞貴國) Kê quí, Phạm: Kurkuỉa-izvara. Dịch âm: Câu câu tra ế thiết la. Tên khác của nước Cao li. Câu câu tra nghĩa là gà(kê), Ế thiết la nghĩa là quí. Nhân dân nước này quí kính gà như thần, đầu đội lông gà làm vật trang điểm. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1].

kê thủ

Phủ phục—To make obeisance by prostration.

Kê thức 稽式

[ja] ケイシキ keishiki ||| Model, pattern, role, example [法則]. => Kiểu mẫu, mô hình, vai trò, gương mẫu (pháp tắc 法則).

kê tác la

Kesara (skt). 1) Tóc hay lông: Hair. 2) Lông bờm của sư tử: Mane of a lion. 3) Lông quắn: Curly hair. 4) Tên một loại bảo châu: Name of a gem.

kê túc sơn

6641<一>梵名 Kukkuṭapāda-giri, Kurkuṭapāda-giri,巴利名 Kukkuṭapada-giri, Kurkuṭapada-giri。又作雞腳山、尊足山、狼足山、狼跡山。位於中印度摩揭陀國,乃摩訶迦葉入寂之地。大唐西域記卷九(大五一‧九一九中):「高巒萝無極,深壑洞無涯。山麓谿澗,喬林羅谷。岡岑嶺嶂,繁草被巖。峻起三峰,傍挺絕崿。(中略)其後尊者大迦葉波居中寂滅,不敢指言,故云尊足。」其位置相當於今伽耶(梵 Gayā)之北北東二十五餘公里處,佛陀伽耶(梵 Buddha-Gayā)之東北三十二公里之處。〔增一阿含經卷四十四、阿育王經卷七、高僧法顯傳〕 <二>位於雲南賓川縣西北五十餘公里處。據大清一統志卷三七八之山川條載,雞足山位於賓川州西北一百里,太和縣與鄧川州之接界處。明一統志中有九曲山之稱,位於洱河之東百餘里。峰巒起伏,如蓮之九盤,故又稱九重岩山。山中有石洞,然不能通行。李元陽之遊記謂,葉榆水之東,陸行八十里,有一山聳出,平頂向南;餘三方各有山一支,如頂上之三足,故稱雞足山。山頂有一迦葉石門洞天,相傳係佛陀大弟子摩訶迦葉於此守護佛衣以待彌勒之地,故該山亦被視為摩訶迦葉之道場,為雲南教界之中心地,聚於此地之僧徒甚眾。三國時建有小庵,唐代擴建,盛時有大小寺院百餘座,其中最大者計有五所,即石淙、悉檀、大覺、華嚴、傳衣。此外,寂光、祝聖等亦頗具規模。〔滇釋紀卷一、小方壺齋輿地叢鈔第四帙、滇南碑傳集卷三十二、明季滇黔佛教考(陳垣)〕 ; Kukkuṭapādagiri (S), Kurkuta-padagiri (P), Kukkuṭapada (S), Gradhakuta (S)Tôn Túc sơnNúi hình giò gà, sơ tổ Ca Diếp sau khi truyền y bát cho nhị tổ A Nan thì vào núi Kê túc mà tịch diệt. Nay cách Gaya khoảng 25km về Đông Bắc, hay cách Buddha Gaya 32 km về phía Đông Bắc Xem Linh thứu sơn. ; Kukkutapàdagiri (S). Cock's foot mountain. Also Lang tích sơn. ; Kukkutapada (skt). 1) Núi Chân Gà, nơi tôn giả Ca Diếp nhập diệt ở xứ Ma Kiệt Đà, nhưng người ta tin ngài hãy còn sống: Cock's foot mountain, in Magadha, on which Kasyapa entered into nirvana, but where he is still supposed to be living. 2) Còn gọi là núi Lang Tích (dấu chó sói): Also called the Wolf-Track. 3) Tôn Túc Sơn: Gurupada (skt)—Buddha's Foot Mountain. ; (雞足山) I. Kê Túc Sơn. Phạm:Kukkuỉapàda-giri, Kurkuỉrapàda -giri. Pàli: Kukkuỉapada-giri, Kurkuỉapadagiri. Cũng gọi Kê cước sơn, Tôn túc sơn, Lang túc sơn, Lang tích sơn. Núi ở nước Ma kiệt đà thuộc Trung Ấn độ, là nơi ngài Ma ha ca diếp nhập tịch. Vị trí núi này cách Già da (Phạm:Gayà) hiện nay khoảng hơn 25 cây số về mạn bắc đông bắc và cách Phật đà già da (Phạm:Buddha-Gayà) về phía đông bắc 32 cây số. Đại đường tây vực kí quyển 9 (Đại 51, 919 trung) nói: Núi non cao chót vót, hang động sâu thăm thẳm, dòng suối uốn quanh co, cây cối mọc um tùm, che kín cả cửa động, ba ngọn cao sừng sững như lẫn trong mây (...). Tôn giả Đại Ca diếp nhập tịch nơi này, người đời tỏ lòng tôn kính nên gọi núi này là Tôn túc sơn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.44; kinh A dục vương Q.7; Cao tăng Pháp hiển truyện]. II. Kê Túc Sơn. Núi ở huyện Tân xuyên, tỉnh Vân nam, Trung quốc, về phía tây bắc khoảng hơn 50 cây số. Cứ theo điều Sơn xuyên trong Đại thanh nhất thống chí quyển 378, thì núi Kê túc nằm về mạn tây bắc cách châu Tân xuyên 100 dặm, là chỗ giáp ranh giữa huyện Thái hòa và châu Đặng xuyên. Còn trong Đại minh nhất thống chí thì có nói đến núi Cửu khúc nằm về phía đông Nhĩ hà hơn 100 dặm, núi non trùng điệp xếp thành hình như 9 mâm hoa sen nên gọi là Cửu trùng nham sơn. Trong núi có động đá nhưng không thể đi vào được. Trong Du kí của ông Lí nguyên dương nói: Phía đông sông Diệp du, đi đường bộ 80 dặm, có một dẫy núi cao chót vót, hướng nam của đỉnh núi bằng phẳng; còn 3 hướng kia có 3 ngọn nhỏ như 3 cái chân trên đỉnh núi, nên gọi là Kê túc sơn(núi chân gà). Trên đỉnh núi có một động đá, tương truyền là nơi ngài Ma ha ca diếp nhập định, đợi ngài Di lặc ra đời để trao lại áo của Phật Thích ca, vì thế núi này cũng được coi là đạo tràng của ngài Ma ha ca diếp và là trung tâm của Phật giáo tỉnh Vân nam, rất đông tăng chúng trụ ở đây. Ở thời Tam quốc chỉ có một ngôi am nhỏ, đến đời Đường được mở rộng và vào thời hưng thịnh có tới hơn 100 chùa viện lớn nhỏ, trong đó có 5 ngôi lớn nhất là các chùa: Thạch tông, Tất đàn, Đại giác, Hoa nghiêm và Truyền y. [X. Điền thích kí Q.1; Tiểu phương hồ trai dư địa tùng sao, pho thứ 4; Điền nam bi truyện tập Q.32; Minh quí điền kiềm Phật giáo khảo (Trần viên)].

kê tử diện

6641雞子,即雞蛋。雞子面,指呈雞子形之菩薩面相。據造像量度經續補載,雞子面之髮攢高八指,頂尖寶嚴二指,面形似鳥卵,具喜悅慈愛之容。目長三指,寬一指,如蓮華瓣。耳長四指,兩脾距樞之外邊相有十九指。作天男之相而無髭。 ; (雞子面) Chỉ cho tượng của Bồ tát có gương mặt hình dáng như quả trứng. Cứ theo phần Tục bổ trong kinh Tạo tượng lượng đạc, thì búi tóc trên đỉnh đầu Ngài cao 8 ngón tay, đỉnh nhọn cao 2 ngón, mặt hình trứng hiền từ vui vẻ. Mắt dài 3 ngón tay, rộng một ngón tay, giống như cánh hoa sen. Tai dài 4 ngón tay : hình tướng đàn ông nhưng không có râu mép.

kê viên

Kukkutàràmà (S). Rooster pagoda. ; Kukkutarama (skt)—Theo Tây Vực Ký, Kukkutarama còn gọi là Kê Đầu Ma Tự hay Kê Tước Tự, một ngôi chùa trên núi Kê Đầu do vua A Dục xây (ở phía đông nam cổ thành có ngôi già lam Quật Quật Tra A Lạm Ma mà đời Đường gọi là Kê Viên, do vua Vô Ưu xây dựng. Vua Vô Ưu tín ngưỡng Phật pháp, kính cẩn dựng chùa, chăm làm việc thiện, chiêu tập hàng ngàn Tăng chúng)—According to The Great T'ang Chronicles of the Western World, Kukkutarama, a monastery on the Kukkuta Mountain, built by Asoka.

kê viên tự

6643位於中印度摩揭陀國波吒釐子城(梵 Pāṭaliputra)。又作雞園(梵 Kukkuṭārāma, Kurkuṭārāma,巴 Kukkuṭāma,音譯為屈屈吒阿濫摩)、雞寺、雞雀寺、雞林精舍、雞雀精舍、雞頭末寺、雞摩寺、雞園僧伽藍。係阿育王所建。據大毘婆沙論卷九十九載,大天曾於此寺出家,後於布薩時昇高座,因說五事之妄言,致聖凡兩眾終夜鬥諍,逮王詣寺,始制止其諍,上座與大眾二部分裂即肇始於此。阿育王嘗召集千僧、聖凡兩眾,於此行四事供養。又迎目揵連子帝須(巴 Moggaliputta-tissa)行結集。王以後經數代,至沸沙蜜多羅王(梵 Puṣyamitra)時,不信佛法,破壞此寺,殺害僧眾,唯留佛圖傳世。〔雜阿含經卷二十五、中阿含卷六十「八城經」、善見律毘婆沙卷二、大唐西域記卷八〕 ; Kukkuṭavinara (S)Tên một ngôi chùa. ; (雞園寺) Phạm: Kukkuỉàrma, Kurkuỉàràma. Pàli: Kukkuỉàràma. Hán âm: Khuất khuất tra a lạm ma. Hán dịch: Kê tự, Kê tước tự, Kê lâm tinh xá, Kê tước tinh xá, Kê đầu mạt tự, Kê ma tự, Tước viên tăng già lam. Ngôi chùa ở thành Ba tra li tử (Phạm: Pàỉaliputra), nước Ma kiệt đà thuộc Trung Ấn độ, do vua A dục xây dựng. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 99, thì tỉ khưu Đại thiên xuất gia ở chùa này. Về sau, một hôm sư thăng tòa bố tát, nhân nói về 5 việc mà gây ra cuộc tranh cãi suốt đêm giữa 2 chúng Thánh, phàm, khi vua đến chùa thì sự tranh cãi mới chấm dứt. Từ đó mới bắt đầu phân chia ra 2 bộ phái là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Vua A dục từng triệu tập cả nghìn vị tăng thuộc 2 chúng Thánh, phàm ở nơi này để cúng dường tứ sự, thỉnh ngài Mục kiền liên tử đế tu (Pàli:Moggaliputta-tissa) kết tập kinh điển. Nhưng đến thời vua Phất sa mật đa la (Phạm: Puwyamitra) thì chùa bị phá hoại. [X. kinh Tạp a hàm Q.25; kinh Bát thành trong Trung a hàm Q.60; Thiện kiến luật tì bà sa Q.2; Đại đường tây vực kí Q.8].

kê độc

6642梵名 Sindhu。與賢豆、身毒等同義。皆指天竺,即今之印度。(參閱「天竺」1350) ; Thân Độc—India—Hindu. ; (雞毒) Phạm: Sindhu. Cũng gọi Hiền đậu, Thân độc. Chỉ cho Thiên trúc, tức Ấn độ ngày nay. (xt. Thiên Trúc).

Kê 稽

[ja] ケイ kei ||| (1) To think [考]. (2) To calculate, assay. (3) To compare. (4) To reach. (5) To stop, be stopped. Stop over. => 1. Cứu xét , tra xét (khảo考). 2. Tra cứu, xét nghiệm. 3. Đối chiếu. 4. Với tay, vói lấy. 5. Dừng lại, bị đình chỉ. Ngừng lại, đỗ lại.

kêu ca

To complain.

kêu cứu

To call (cry) for help.

kêu la

To yell—To shout.

kêu na

To beseech.

kêu oan

To claim one's innocence.

kêu rêu

To backbite.

kêu van

See Kêu nài.

kêu án

To convict—To sentence—To condemn.

kì bà

4286梵名 Jīvaka。又作耆婆伽、祇婆、時婆、耆域、時縛迦。為佛陀時代之名醫。曾至希臘殖民地附近之德叉尸羅國(梵 Takṣaśilā)學醫,後返王舍城(梵 Rājagṛha),為頻婆娑羅王與阿闍世王之御醫。虔誠信仰佛教,屢次治癒佛弟子之病。曾引導弒父之阿闍世王至佛陀面前懺悔。其名聲可媲美我國戰國時代之扁鵲。〔長阿含卷二十世紀經、㮈女祇域因緣經、善見律毘婆沙卷十七〕(參閱「佛教醫術」2711)

kì bà kì bà điểu

4287梵語 jīvajīva, jīvajīvaka, jīvaṃjīva, jīvaṃjīvaka。巴利語同。又作耆婆耆婆迦鳥、時婆時婆迦鳥。意譯作命命鳥、共命鳥、生生鳥、鳳。或為鷓鴣的一種。產於印度北方尼波羅國(尼泊爾),由鳴聲而得名,為一身兩頭之鳥。北本涅槃經卷一作「命命鳥」,勝天王般若經作「生生鳥」,阿彌陀經作「共命鳥」。〔慧琳音義卷四、翻譯名義集卷六〕

kì bà thiên

4286意為命天,即長命之天。此天為帝釋天左右之侍衛。西域諸國風俗,皆事長命天神,子生三歲,即謁此天之廟,以求長命百歲。〔楞嚴經卷二〕

kì bà thảo

4287有三種:(一)梵語 jīva。產於印度。(二)梵語 jīvaka。印度所傳八種要藥之一。(三)學名 Ruta。即芸香。產於南歐,專供藥用,能治瘡疥、避惡蟲。

kì bà tịnh xá

Jivakàràma (S)

kì bà-kì bạt-kì vực

Jìvaka (S).

kì bàn thiên phật động

5054位於新疆葉城縣城西南。為我國最西部千佛洞之一。開鑿於西遼時代,計有十窟,各窟分開,僅有一室,呈長方形。窟最大者,長四點四公尺,寬三點九公尺;最小者僅二平方公尺,洞內遺物不多,最高之兩窟,殘存有部分壁畫,但已模糊不清,僅能見到佛像面部之背光和樹景等殘部。附近曾出土有鐫刻漢文與阿拉伯文之銅幣、單耳罐、雙耳紅陶罐、石磨盤等。

kì chiếu tự diệu

3076表示諸佛如來與歷來祖師境界不可思議之語。出自宋代曹洞宗宏智正覺(1091~1157)禪師之坐禪箴中。照,謂諸佛如來與歷來祖師如實知見事物真實相之作用;妙,謂其作用超越言語、文字、思量而不可思議。一般凡夫之人對宇宙、生死、迷悟等之認識,大都局囿於境,不得解脫,然諸佛如來與歷來已證果之祖師,其所認識、證悟之境界則雖處於境而絲毫不爲之所礙,自由自在,任運自如,妙不可言。〔宏智禪師廣錄卷八〕

kì chủ

5048結制期間之施主。指禪林結制修行期間,營備必需品以供養僧眾之信心長者。黃檗清規節序章(大八二‧七七三上):「凡遇結制時,有信心長者欲充期主,先白堂頭及都寺,次知客引至庫司納淨貲,營備一期中所需之物。」

kì cựu

4287又作長老、老宿、耆宿。即年老德高,道行深湛之老者。集異門足論卷四,謂有生年之尊長耆舊,稱為生年上座。毘尼母經則謂法臘過五十以上,且為國王、長者、出家人所尊重者稱為耆舊長宿。又敕修百丈清規大眾章日用規範條(大四八‧一一四五下):「古云:『衩袒登溷,草履遊山,莫踐法堂,回互耆舊。』」〔敕修百丈清規住持章遷化祭次條、禪林象器箋稱呼門〕

kì dạ

3918梵語 geya,巴利語 geyya 之音譯。乃九部經之一,十二部經之一。又作岐夜、祇夜經。其意爲詩歌、歌詠。舊譯爲重頌、重頌偈。新譯爲應頌。意指在經典前段以散文體敘說之後,再以韻文附加於後段者。因其內容與經文相同,故稱重頌、重頌偈或應頌(與經文相應之頌)。〔南本涅槃經卷十四、瑜伽師地論卷八十一、大智度論卷三十三〕(參閱「偈」4383) ; Geya (S). Singing; preceding prose repeated in verse; odes in honour of the saints.

kì dạ đa

3920梵名 Jeyata。又作祇夜多。北印度罽賓國之阿羅漢。依雜寶藏經卷七載,祈夜多出世於佛陀入滅七百年後之罽賓國,月氏國王栴檀罽尼吒欲見之,便躬與臣從往訪,然祈夜多靜默端坐不迎,王見其威德,倍生敬信,後得其(大四‧四八四中)「王來時道好,去如來時」之教誡而還其國。付法藏因緣傳卷五(大五○‧三一六上):「王昔曾於勝道而來,今可還從本路而去。」此乃王過去植種種功德,今方得享有王位,若現在重修功德,則來世亦當受福德之意。祈夜多有神力,曾降伏罽賓國之惡龍王阿利那。又嘗於往昔毘婆尸佛入滅後,爲一長者子。亦曾五百世投胎爲狗,故常爲飢渴所惱。此等記事與付法藏因緣傳卷五所載之達摩蜜多傳符合。又多羅那多(梵 Tāranātha)之印度佛教史第十二章記載,迦濕彌羅國有師子王,出家名爲善見(梵 Sudarśana)證得阿羅漢果而說法;時有 Jālaṅdhara(梵 Gandhāra,健陀羅)國之迦膩色迦王(梵 Kaniṣka)聞其德,往迦濕彌羅聞其法,供養法塔及僧伽。此亦可視爲同一事實之記載。由是推知,祈夜多、達摩蜜多、善見恐係異名同人,而曾爲迦膩色迦王之師。

kì hoàn tinh xá

3919<一>即祇樹給孤獨園。(參閱「祇樹給孤獨園」3920)  <二>清末民初佛教大德楊文會,受錫蘭摩訶菩提會會長達磨波羅之啟發,所設立之佛教團體。於清光緒三十三年(1907)設於南京金陵刻經處。該團體以復興印度佛教並弘傳於世界爲目標,招集緇素青年十數人,研究佛學及漢學。課程除佛學、國文外,並授英文,以爲進修梵文、巴利文之基礎。楊氏自講楞嚴經、大乘起信論,蘇曼殊教英文,諦閑講天台教觀。當時入學緇素有梅光羲、歐陽竟無、邱虛明、仁山、太虛、智光、觀同等人。後因經費短絀,不二年即告停辦。〔中國佛教史卷四(蔣維喬)、支那佛教近世史の研究(水野梅曉)〕 ; Jetavana-vihara (S). Xem Kì thụ Cấp cô độc viên.

kì lâm

3918唐代禪僧。籍貫、俗姓、生卒年均不詳。出家後參謁永泰靈湍,其後嗣其法,於湖南一帶弘闡禪風。師平居常持木劍一柄,自言降魔,每叱文殊、普賢皆爲精魅,有僧來參,便揮劍云(卍續一三八‧七三上)「魔來也!魔來也!」如是十二年,叢林中稱其禪旨爲「祇林揮劍」。〔五燈會元卷四、禪苑蒙求卷中〕

kì lâm tự

3919位於韓國慶尚北道含月山。相傳係梵摩羅國之光有聖人所創,時稱林井寺。新羅善德女王十二年(643),元曉重創,改稱今名。李朝宣祖十二年(1578),竺禪再創。其後二度毀於兵火。顯宗九年(1668),雙聖重修,懶澤亦大整堂宇。李王純宗降熙二年(1908),全寺百餘堂遇災而毀,後有度河和尚重創。今存大寂光殿、琉璃殿、應真殿、骨窟庵等。〔東國輿地勝覽卷二十一〕

kì lạp

4288謂高年之僧。僧家不言歲而言臘。臘,乃歲末之意,以之計算出家得度之年數,然在古代則以受具足戒之年為始。如謂僧臘若干,即謂為僧幾年或受戒幾年之意,故以耆臘特稱出家年歲長久而高齡之比丘(尼)。

kì na

4283梵名 Jina。意譯為勝者。<一>佛之尊稱。佛本行集經卷一(大三‧六五五上):「如來住於佛行,無復煩惱,故名耆那。得一切智,行一切智,知一切智,住於天行,住於梵行,住於聖行,心得自在。」 <二>於釋迦牟尼佛前後出世說教之仙人,即後世所謂耆那教之教祖,故耆那又為教派之名稱。〔玄應音義卷十九〕(參閱「耆那教」4283)

kì na giáo

4283梵名 Jaina。為印度宗教之一。於西元前五、六世紀左右,約與佛教同時興起,自稱為最古之宗教,今亦擁有百餘萬信徒。奉十二支為經典。基本教義為業報輪迴、靈魂解脫、非暴力及苦行主義等。該教之開祖為尼乾陀若提子(梵 Nirgrantha-jñātaputra),又稱大雄(梵 Mahāvīra)、筏馱摩那(梵 Vardhamāna)、勝者(梵 Jina),乃與佛陀同時代之人。然於尼乾陀若提子之前,傳說尚有二十三位祖師,故後世又以尼乾陀若提子為第二十四祖,或稱之為耆那教中興之祖。相傳此二十四祖依次為:勒舍波提婆(梵 Ṛṣabhadeva)、或阿底那陀(梵 Ādinātha)、阿耆達那陀(梵 Ajitanātha)、桑波伐那陀(梵 Sambhavanātha)、阿毘難陀那(梵 Abhinandana)、蘇摩底那陀(梵 Sumatinātha)、巴特摩巴羅波(梵 Padmaprabha)、蘇巴爾斯伐那陀(梵 Suparśvanātha)、旃陀羅巴羅波(梵 Candraprabha)、蘇毘提那陀(梵 Suvidhinātha)、悉達羅那陀(梵 Śitalanātha)、溼勒耶舍那陀(梵 Śreyāmśanātha)、伐蘇布羯(梵 Vasupujya)、毘摩羅那陀(梵 Vimalanātha)、阿難達那陀(梵 Anantanātha)、達摩那陀(梵 Dharmanātha)、商底那陀(梵 Śantinātha)、貢突那陀(梵 Kunthunātha)、阿羅那陀(梵 Aranātha)、摩利那陀(梵 Mallinātha)、牟尼蘇巴羅達(梵 Munisubrata)、那密那陀(梵 Naminātha)、內密那陀(梵 Neminātha)或阿利溼達內彌(梵 Ariṣṭanemi)、巴溼伐那陀(梵 Pārśvanātha),及第二十四祖尼乾陀若提子。其中巴溼伐那陀及尼乾陀若提子為歷史上可徵實之人物,其餘諸祖恐皆為傳說中人物。尼乾陀若提子主張無神論,將其前二十三位祖師之教理加以改革並集其大成。 教理上,將宇宙之構成要素分為靈魂(梵 jīva)與非靈魂(梵 ajīva),後者包括運動因(梵 dharma)、靜止因(梵 adharma)、虛空、物質四種,再加上靈魂則為五個實在體。物質由原子組成,含有下降性,靈魂則含有上昇性之一切知,其自身無障礙,故得自由;物質之形成,乃由於業而有所繫縛,此即為輪迴之因。若欲脫離輪迴則須嚴守不傷害、不妄語、不偷盜、不淫、無所得(梵 anupalabhya)等五戒(五大誓)之苦行生活。由是,則能令業消失,發揮靈魂之本性,到達止滅,即得解脫,稱為涅槃。靈魂、非靈魂、善業、惡業、漏入、繫縛、制御、止滅、解脫等稱為九諦。另又主張判斷的相對性之不定主義(梵 Syādvāda)與主張批判性的觀察法之觀點論(梵 Naya),此即耆那教之特色。 此教團在其教祖之時代已很興盛,後分裂為寬容主義之白衣派(梵 śvetāmbara)與嚴格主義之空衣派(裸體派,梵 Digambara)。前者之聖典通稱為悉檀多(梵 Siddhānta),以阿達磨嘎地語(梵 Ardhamāgadhī)書寫,共有四十五部,約成立於西元前三世紀至西元六世紀左右。後者之聖典稱為四吠陀(梵 Veda),成立於西元九世紀。重要聖典另有康達康達(梵 Kundakunda,五世紀頃)所著之教理精要、五原理精要,以及烏麻斯伐梯(梵 Umāsvāti)之「諦義證得書」,該書被認為係白衣、空衣兩派之正統說。其時亦有許多優秀學者輩出。十二世紀,由於回教徒之侵入受到極大的打擊。十七世紀後,該教中產生改革運動,主張以人道主義、博愛等觀點解釋耆那教之古老教義。其代表有動地皮歐(Dhundibia)領導之郎迦派(Lonkas)運動、十八世紀維拉吉(Vīrajī)所領導之斯特那迦瓦西派(Sthānakavāsī)運動。教徒雖屬有限,然至今仍為一民族宗教,堅持嚴格之戒律生活,尤於工商業階層中,擁有眾多信徒。〔W. Schubring: Die Lehre der Jainas, 1935、耆那教聖典(鈴木重信)〕(參閱「尼乾子外道」1889、「尼乾陀若提子」1890) ; Jaina, Nirgranta (S). Jainism.

kì na giáo thánh điển

4283耆那教,梵名 Jaina。耆那教聖典,又作阿笈摩(梵 Āgama)、悉檀多(梵 Siddhānta),係印度耆那教根本經典。西元前三百年頃,首次於華氏城(梵 Pāṭaliputra)以阿達磨嘎地語(梵 Ardhamāgadhī)結集成書。教祖大雄(梵 Mahāvīra)歿後九八○年,又於伐拉彼(梵 Valabhī)第二次結集,始呈今日之面目。計四十六種,略分六類,即:(一)十一種鴦伽(梵 Aṅga,意譯「支」),其第十二支已佚失。包含大雄之垂示、出家生活規範、諸聖故事、五戒、善業果與惡業果之實例等。(二)十二種烏凡伽(梵 Uvaṅga),包含解脫之行止與涅槃之次第、生類區分法、中央世界(梵 Jambudvīpa)、日月天體、頻婆娑羅王(梵 Bimbisāra)與阿闍世王(梵 Ajātaśatru)之因緣等。(三)十種般那(梵 Paiṇṇa),包含死、病、人之食量、胎內之狀態、身體之構造、諸天界等。(四)七種佉耶蘇多(Cheyasutta),包含出家在家之正邪行為與心態、犯戒、懺悔等。(五)四種摩拉蘇多(Mūlasutta),包含信仰、垂示、教理等之雜著,及日常宗教儀式、修行等。(六)二種經(Sutta),由四方面解說耆那教之一般教理、知識等。 由耆那教之聖典綜觀其教理特徵,概屬於一種出家解脫主義之宗教,蓋此類思想早已流行於雅利安人入侵以前之印度,而與佛教同出一源,然其後之教理發展迥異於佛教者乃在承認「自我為永遠之存在者」,佛教則不僅否認自我之存在,更反對「永遠存在」之概念。此外,耆那教以斷食等之苦行為解脫輪迴之要法,承認微細生類之生命意義,從而強調徹底的不殺與「無所得」之觀念,遂形成一極端之出家主義,此亦異於佛教之中道思想。有關本書之著作有康達康達(梵 Kundakunda)之教理精要、五原理精要,及烏麻斯伐梯(梵 Umāsvāti)之「諦義證得書」等。本書屬耆那教白衣派(梵 Śvetāmbara)之教義,至於空衣派(梵 Digambara)所依用之經典,係後人加入吠檀多派及婆羅門思想之新作,原典已於三、四世紀頃散佚。〔Suttāgame(Aṅga and Upāṅga of Jaina) 2 vols. Bombay 1954; W. Schubring: Die Lehre der Jainas, nach den alten Quellen dargestellt, GIAPhAⅢ 7 Berlin 1935〕

kì na-thắng

Jina (S). The Victorious, The Triumphant of Desires.

kì nguyện sở

3922日本佛教用語。日本天皇爲祈御體安康、天下太平而建立之官寺。又稱祈願寺、御願寺。如天武天皇時,爲祈求皇后御體康泰而造藥師寺。又聖武天皇時,爲鎮護國家而造國分寺。凡此皆稱祈願所。降至幕府時代,幕府亦模仿建造,如北朝曆應二年(1339),足利直義於諸國設立安國寺,以祈武運長久,家門繁榮,此爲最著之例。後爲區別武家之祈願所,將朝廷之祈願寺特陞爲御祈願所,稱爲勅願所、勅願寺。

kì phụng hành

3921日本鎌倉、室町兩幕府之時,所設置專事祈禱之職位。亦有在水旱、疫病等事變之際,臨時而設者。從評定眾、引付眾等選拔陰陽師,或命僧侶作祈禱,均稱爲祈奉行。

kì quang như lai

3136又稱光明王如來。爲出現於阿含經中唯一之他方世界現在佛。據增一阿含經卷二十九「六重品」所載,目連承佛陀之旨,往詣東方七恆河沙之佛土,有佛名爲奇光如來至真等正覺,出現彼土。 蓋小乘教義僅說過去、未來諸佛,並未承認釋尊以外之現在佛,現在佛之說係大乘教義;增一阿含說有東方奇光如來,異於一般小乘教義,故頗受近代研究大小二乘關係的學者所重視。或有認爲出現於東方之奇光如來乃過去尸棄佛之現在化身,而尸棄佛與梵天之間本具密切關係,乃推論大乘之現在多佛說包含了梵天思想。然此經之說不見於南傳巴利文經典;又大寶積經卷十密迹金剛力士會雖有相同說法,謂光明王如來出現西方,但卻無梵天之事。故僅依增一阿含之文,以推斷過去尸棄佛與奇光如來之關係,未可確信。〔大乘佛教史論、馬鳴菩薩論〕

kì thệ

3921先於心中立誓,然後祈求神佛之庇祐。或證所祈之誓是否靈驗。後人亦稱之「詛」。

Kì thọ

(琪樹): có mấy nghĩa. (1) Chỉ cây ngọc nơi cảnh tiên. Như trong bài thơ Khốc Lý Thương Ẩn (哭李商隱) của Thôi Giác (崔玨, ?-?) nhà Đường có câu: “Ưng du vật ngoại phàn kì thọ, tiện trước nghê y thướng ngọc đàn (應遊物外攀琪樹、便著霓衣上玉壇, rong chơi tự tại vin cây ngọc, mặc áo nghê thường lên ngọc đàn).” Hay trong bài thơ Tương Du Mao Sơn (將游茅山) của Tát Đô Lạt (薩都剌, khoảng 1272-1355) nhà Nguyên lại có câu: “Thác kỵ bạch hạc phỏng Mao quân, kì thọ thu thanh cách dạ văn (錯騎白鶴訪茅君、琪樹秋聲隔夜聞, lỡ cỡi hạc trắng thăm Mao quân, cây ngọc đêm thu vẳng tiếng vang).” (2) Tên một loại cây. Như trong bài Kim Tùng Phú (金松賦) của Lý Đức Dụ (李德裕, 787-849) nhà Đường có câu: “Kì thọ dĩ thùy châu nhi thiện danh, kim tùng dĩ tiềm quýnh nhi mạc địch (琪樹以垂珠而擅名、金松以潛熲而莫覿, cây Kì nhờ rũ ngọc mà nổi danh, tùng vàng nhờ giấu lửa mà chớ gặp).” Hay trong Lục Triều Sự Tích (六朝事跡), phần Bảo Lâm Tự (寶林寺), của Trương Quách Di (張敦頤, 1772-1818) nhà Tống, cũng có câu: “Bảo Lâm Tự hữu Kì thọ, tại Pháp Đường tiền (寶林寺有琪樹、在法堂前, Bảo Lâm Tự có cây Kì, ở trước Pháp Đường).”

kì thụ cấp cô độc viên

3920梵名 Jetavana-anāthapiṇḍasyārāma。印度佛教聖地之一,位於中印度憍薩羅國舍衛城之南。略稱祇園或祇樹、祇園精舍、祇洹精舍、祇陀林、逝多林。意爲松林、勝林。祇樹乃祇陀太子所有樹林之略稱;給孤獨即舍衛城長者須達(梵 Sudatta)之異稱,因長者夙憐孤獨,好布施,故得此名。蓋此園乃須達長者爲佛陀及其教團所建之僧坊,精舍建於祇陀太子之林苑,以二人共同成就此一功德,故稱祇樹給孤獨園。佛陀曾多次在此說法,爲最著名之遺蹟,與王舍城之竹林精舍並稱爲佛教最早之兩大精舍。園林之地平正,約有八十頃,內有經行處、講堂、溫室、食堂、廚房、浴舍、病室、蓮池、諸房舍。園林中央爲香室(梵 gandha-kuṭī,相當於今之佛殿),周圍有八十小房。精舍之左右池流清淨,樹林茂盛,眾花異色,蔚然成觀。圍繞精舍之外,另有十八僧伽藍。又精舍本爲七層之建築,然玄奘於七世紀參訪此地時,該精舍業已荒廢。其位置約當於現今拉布提河(Rapti)南岸所存塞赫特馬赫特(Sahet-mahet)之遺跡。〔北本涅槃經卷二十九、五分律卷二十五、大唐西域記卷六室羅伐悉底國條、高僧法顯傳、釋氏要覽卷下〕(參閱「給孤獨園」5194) ; Kỳ viên. Jetavana (S). A park near Sràvasti, said to have been obtained from prince Jeta by the elder Anàthapindika, in which monasterial buildings were erected, the favorite resort of Sakyàmuni.

kì tích

3137請參閱 奇特佛頂經 佛教將奇蹟稱爲神通(梵 abhijñā,巴 abhiññā)、神變(梵 ṛddhi,巴 iddhi)。古印度宗教上,德行高深者常能顯現神通力;佛教將此類神通力歸爲六通、三明。六通即神足通、天眼通、天耳通、他心通、宿命通、漏盡通等,其中天眼、宿命、漏盡等三者稱爲三明。凡此皆來自精神之安定(定)與智慧(慧)力。佛弟子中,最具足神通者爲大目犍連(巴 Mahā-moggallāna,即目連),稱爲「神通第一」。然於諸種神通中,釋尊所認可者僅漏盡通一種。善宿(巴 Sunakkhatta)曾對絲毫不顯神通之佛陀表示不平,佛陀答說:無論有否顯現超人之法(神通),我所說之法,皆能引導修行者,達到滅除痛苦之目的。 神變可分三種:神通神變(梵 ṛddhi-prātihārya,巴 iddhi-pāṭihāriya)、記心神變(梵 ādeśana-prātihārya,巴 ādesanā-pāṭihāriya)、教誡神變(梵 anuśāsana-prātihāryā,巴 anusāsana-pāṭihāriya)等。據巴利本長部經十一載,佛陀視神通、記心前二種神變如同幻化(māyā-sahadhamma-rūpam viya),故須摒卻,僅認可教誡神變。所謂教誡神變,係一種行爲規範與道德律,必須於現實人間精勤修行,方能完成。總之,神通僅爲修行過程中之副作用,如鏡花水月,不可執取;若以其爲目的而執取之,非但不易進境,且常有墮落爲魔術(梵 māyā,巴同)之危險。(參閱「三種示導」650、「示現」2144)

Kì viên

祇園; S, P: jetavana;|Ðạo trường tại Xá-vệ (s: śrāvastī), do Cấp Cô Ðộc (s, p: anāthapiṇḍika), một thương nhân giàu có, tặng cho Phật Thích-ca. Ðây cũng là nơi Ngài lưu trú 19 mùa mưa. Ngôi chùa cổ nhất của Trung Quốc là Bạch Mã tự cũng được xây theo kiểu đạo trường này

kì viên hội

3920日本佛教行事。祇園御靈會之略稱。又作祇園祭、天王祭。爲日本京都東山區八坂神社(祇園感應院)之祭禮。爲鎮壓疫病神、惡靈,而祭祀牛頭天王之法會。

kì viên tự

3919<一>位於江蘇南京。劉宋武帝永初元年(420),車騎范泰爲高僧慧義於居宅之西所建之寺。慧義喜其清信至誠,指授儀則,時人見之,乃以范泰比須達長者,而稱祇園寺。時有僧苞以學識聞於世,亦受請至本寺講經。元嘉七年(430),罽賓之三藏求那跋摩來中土,奉勅住金陵,亦駐錫本寺,開講法華經及十地經論,聽眾雲集。其後,曇摩密多又留止本寺,譯出經典頗多,見於經錄。後有僧筌、道照等亦來住此,披覽群典,致力教化,聲聞於當世,然後世多不聞。明末所成之金陵梵剎志仍列於廢寺中。 <二>位於安徽青陽西南九華山化城寺東。原名祇樹庵、祇園。始建於明嘉靖年間(1522~1566),清代幾經重修和增建,其規模之大,冠全九華山。清嘉慶年間,隆山於此開壇傳戒,香火日盛,擴建殿宇,遂成爲十方叢林。

kì vũ

3921旱災發生時,乞求降雨之修法。又稱雨乞、請雨、乞雨。在密教中,依大雲輪請雨經、大孔雀咒王經等謂,祈雨之修法有請雨法、祈雨法、雨乞法。依請雨經之修法,稱請雨經法,一般使用請雨經曼荼羅。另據金剛光焰止風雨陀羅尼經、不動使者陀羅尼祕密法等載,止雨法與止風雨法可以止霖雨、大雨、暴風雨之降。

kì vực

4285<一>佛在世時之名醫耆婆之異稱。(參閱「耆婆」4286)  <二>為西晉時代之咒法僧。天竺人。於晉惠帝末年,抵達洛陽,時有衡陽太守滕永文,因病寄居滿水寺,經年不癒,兩腳彎曲,不能起行。耆域即以楊柳拂淨水,以手搦起永文兩足,即時病癒,復得步行。其餘應病與藥,或以咒願治病,或令枯樹回生等靈異不計其數。後還西域,不知所終。〔梁高僧傳卷九、法苑珠林卷六十一〕

kì xà lục tông

4287南朝陳代耆闍寺安廩法師所判之六宗:(一)因緣宗,指小乘之薩婆多部。(二)假名宗,指小乘之經部。(三)不真宗,通諸大乘經說諸法如幻化之理。(四)真宗,謂說諸法真空之理。(五)常宗,謂真理常恆而具恆沙功德。(六)圓宗,謂法界自在,緣起無礙,德用圓備,乃指華嚴法門。〔華嚴五教章卷上、法華經玄義卷十上〕

kì xà quật

Grdhrakùta (S). Vulture peak mount.

kì xà quật sơn

4287 梵名 Gṛdhrakūṭa,巴利名 Gijjha-kūṭa。又作祇闍崛山、耆闍多山、崛山。意譯作靈鷲山、鷲頭、靈山。位於中印度摩羯陀國首都王舍城之東北側,為著名的佛陀說法之地。其山名之由來,一說以山頂形狀類於鷲鳥,另說因山頂棲有眾多鷲鳥,故稱之。梵語 gṛdhra 本為「貪食者」之意,其後轉指兀鷲;此類鷲鳥羽翼略黑,頭部灰白少毛,好食死屍,棲於林野。 英國考古學家康林罕(A. Cunningham)據大唐西域記與高僧法顯傳之記載,推定其位置即今之貝哈爾州(Behar)拉查基爾(Rajgir)東南之塞拉吉里(Saila-giri)。另據近時之探查,則謂新舊王舍城之間有一向東綿延之山峽,山峽之北聳立一海拔千尺之秀峰,其南面之中腹大約二二四公尺處有一巖臺,稱為查塔吉里(Chata-giri),其處乃佛陀多次演說妙法之耆闍崛山。 與佛陀同時代之摩羯陀國頻婆娑羅王(梵 Bimbisāra)為聞法之故,曾大興工程,自山腰至山頂,跨谷凌巖,編石為階,廣十餘步,長約三公里。山頂有一佛陀昔日之說法臺,然迄今僅存紅磚牆基。此外,復有佛教古蹟多處,如提婆達多投石擊佛處、佛陀與舍利弗等諸聲聞入定之石室、阿難遭受魔王嬈亂之處、佛陀宣說法華經、大品般若經、金光明最勝王經、無量壽經等處。〔大智度論卷三、大唐西域記卷九、法華經文句卷一上、玄應音義卷六〕

kì đảo

3922仰求佛菩薩之冥助以祈得除災增福之意。又作祈願、祈念、祈請、心願等。印度自吠陀時代起,爲除災治療而行咒術祈禱之法頗盛,我國自古亦有祈禱天神地祇之風。佛教本未實行此法,然誓願、本願之思想與造塔、誦經之功德、回向等均有所關連,而爲求取佛力之加護,遂有功德之說與除災之說。我國自西晉太康年間,竺法護譯出海龍王經,其後,僧伽婆羅、玄奘、實叉難陀、菩提流志等相繼譯出密教諸經,持咒祈禱之法漸盛。唐太宗之時,勅令京城沙門於每年正月、七月祈禱秋收,又於每月二十七日轉讀仁王經以祈求國福。至此,歷代朝野益加重視祈禱之修法。宋代以後,大規模舉行祈雨、祈晴、祈雪、祈疫、祈日月蝕之修法不乏其例。又密教之祈禱以與本尊之三密相應爲要法,即祈禱之時,口誦諸尊之密咒,手結印契,心凝瑜祇之觀,如是即能令行者滿願,此類修法適用於天變、地妖、寇賊、疾病等各種災變。〔宋高僧傳卷一、大唐西域記卷二、佛祖統紀卷五十二、禪林象器箋報禱門〕

kì đảo bích

3922爲西藏佛教僧人祈禱時所用之法器。以木板鐫刻六字真言,懸掛於壁上,方便念誦祈禱,故有此稱。

kì đảo chủ

3922梵名 Bṛhaspati, Brahmaṇaspati。婆羅門教崇拜之抽象神。梨俱吠陀謂,其爲仙人之子,或係祭壇之神格化,無此祈禱主,則祭祀不能成功。被描繪爲頭戴銳角,手持鐵斧及以秩序(rta)作弦之弓,乘坐秩序之車,與羅剎大戰。與因陀羅有密切關係。 至往世書(梵 Purāṇa,即富蘭那聖典群,約成書於西元前一世紀至十世紀間)時代,此神則僅與祭祀有關。於後來之印度教中,成爲木星之神,乘金車,御八馬。

kì đặc phật đỉnh kinh

3137凡三卷。又稱奇特經、一字奇特佛頂經。唐代不空(705~774)譯。收於大正藏第十九冊。內容敘述一字奇特佛頂明王之修法,此明王之威力甚大,能制伏其他之修法;本經即以驅除爲障者毘那夜迦,來滿足修法者之意願爲主題。又本經立於純密教與雜部密教之間,乃在家之修法,尤其適用於王公貴族。

kì đặc tối thắng kim luân phật đỉnh niệm tụng nghi quỹ pháp yếu

3137全一卷。譯者不詳。收於大正藏第十九冊。內容敘述一字頂輪王之修法,其行法次第爲:澡浴、佛部心、蓮華部心、金剛部心、甲冑護身、辦事、閼伽、普供養、讚、佛眼、本尊根本印明、大慈普護、正念誦等,卷末附錄水壇法。

kình du bát

6439比喻持守正念猶如執持油鉢,務必盡心堅持,乃至不潑灑一滴油。大智度論卷十五(大二五‧一七三下):「菩薩欲脫生老病死,亦欲度脫眾生,常應精進,一心不放逸,如人擎油鉢行大眾中。」〔雜阿含經卷二十四、北本涅槃經卷二十二〕 ; (擎油鉢) Bưng bát dầu. Ví dụ việc giữ gìn chính niệm, cũng như người bưng bát dầu đầy, phải hết sức cẩn thận, không để rớt ra một giọt. Luận Đại trí độ quyển 15 (Đại 25, 173 hạ), nói: Bồ tát mong cầu thoát khỏi sinh lão bệnh tử và muốn cứu độ chúng sinh, phải thường tinh tiến một lòng chính niệm, không buông lung, như người bưng bát dầu đi giữa chỗ đông người. [X. kinh Tạp a hàm Q.24; kinh Niết bàn Q.22 (bản Bắc)].

kình âm

6731比喻梵鐘之聲。祖庭事苑卷四(卍續一一三‧六○下):「物類相感志云:海岸有獸曰蒲牢,而性畏鯨魚,食於海畔。鯨或躍,蒲牢則鳴,聲如鐘。今人多狀蒲牢獸形施於鐘上,斲撞為鯨而擊之;鯨本無聲,因鯨躍而蒲牢鳴,故曰鯨音。」 ; (鯨音) ..... Tiếng cá kình, dụ cho tiếng đại hồng chung. Tổ đình sự uyển quyển 4 (Vạn tục 113, 60 hạ), ghi: Vật loại tương cảm chí nói: Ở bờ biển có con thú tên là bồ lao, nó rất sợ cá kình, chỉ kiếm ăn ở ven bờ biển. Mỗi khi cá kình nhảy thì bồ lao liền kêu, tiếng kêu giống như tiếng chuông, vì thế người đời nay thường chạm hình con bồ lao trên chuông và đẽo dùi hình cá kình để đánh. Cá kình vốn không có tiếng kêu, nhưng vì khi cá kình nhảy thì bồ lao kêu nên gọi là Kình âm.

既; C: jì; J: ki, ke;|1. Từ khi, khi; đã rồi, trước đây, thực ra, rồi, chẳng còn… nữa; 2. Dùng hết, xong.

4319<一>標識。  <二>授記之簡稱,一一分別記說之意。為九部經之一,十二部經之一。即佛陀對修行中之弟子一一預言其將來證果之內容。如由佛陀給予記別,則稱為授記;而受記別者,稱為受記。(參閱「授記」4587) <三>記錄、記述。預言將來之事,稱懸記,又稱未來記、識記。 <四>凡經論之注解,或私人之札記,亦稱記。

kí chạt

4498世人為護持孩兒,乃令服僧衣,稱為寄褐。據釋氏要覽卷下所載,唐中宗孝和皇帝初生時,甚為端正奇特,神光滿院,號為佛光王,即受三歸,被袈裟服,至滿月請法師剃髮。此即為寄褐之始。〔開元釋教錄卷八〕

kí chủ

4320即注釋經律論之作者,亦為後世讚揚其人注釋一宗典籍之美稱。例如天台宗之湛然,畢生撰著數十部之疏記,及注解天台三大部,故後人以天台記主譽之。另如華嚴宗之法藏、律宗之元照等人,古來亦以其宗之記主稱之。

Kí dĩ

既已; C: jìyĭ; J: kii;|1. Trước đây đã rồi, thực ra, rồi, chẳng còn… nữa; 2. Dùng hết, xong.

kí hiển

4498不直接顯示某種意義,而寄其義於他方面以解說之。又作寄齊、寄在、寄說。華嚴宗多用此法,如寄別教一乘位之順序於終教,再由此顯出其教門淺深之差別。於此,特稱為寄位。於天台教義,則借別教以顯示圓教之位次。 華嚴經探玄記卷十(大三五‧二九九上):「約方便寄法,顯地差別,如下文初二三地宮同世間,四五六地同二乘等。又寄禪支道品諸諦緣生,以顯地別,令眾因此表解地義。」蓋以菩薩十地甚深,難知其分齊,故寄世、出世等三世間及五乘等法,以顯示其義相。又如大乘起信論義記卷三則寄生、住、異、滅四相之粗細,以顯不覺、相似、隨分、究竟四覺之分齊。〔華嚴五教章卷上、華嚴經疏卷三十一、五教章通路記卷六〕

kí hiển tứ tướng

4498寓託生、住、異、滅四相,由粗(滅、異、住)至細(生),以顯示始覺斷惑之四位。即大乘起信論義記卷三所載之寄生、住、異、滅四相之粗細(生相為細,其他三相為粗),以顯示不覺、相似、隨分、究竟四覺之分齊。十信位中之凡夫,就三細六粗中之起業相,乃覺知前念之起惡,止息後念之惡業不起,稱為覺知滅相,然就惡業而言,尚不覺知無明惑之一分,故此位仍稱不覺;二乘三賢之人覺知計名字相、執取相,即指覺知異相,雖覺知無明不覺之一分,然尚為地前比觀之位,故稱相似覺;地上菩薩覺知住相,雖未斷離微細業相,既覺知二障,故稱隨分覺;覺知第一之業相,即覺知生相,此乃覺知最極微細之惑,故稱為究竟覺。此蓋以四相寄顯四位,以免與剎那四相(生、住、異、滅四相剎那剎那於諸法相續)混同。

kí hoa ngũ tịnh

4497即以花寄於第四禪之五淨天。蓋第四禪以上無三災之壞,以其無風災,故花於此處便不枯萎。安樂集卷上(大四七‧七中):「寄花五淨,風日不萎;附水靈河,世旱不竭。」

kí khố

4497即於生前預先焚紙錢、作佛事,寄託冥官,以冀死後取用。此時所焚之紙錢,即稱為寄庫錢。佛祖統紀卷三十三(大四九‧三二○下):「鄂渚王媼,常買紙錢作寄庫。」龍舒增廣淨土文卷五(大四七‧二六五中):「予遍覽藏經,即無陰府寄庫之說。奉勸世人,以寄庫所費,請僧為西方之供;一心西方,則必得往生。若不為此,而為陰府寄庫,則是志在陰府,死必入陰府矣!」〔禪林象器箋錢財門〕

kí mộc tạo

4496日本佛教藝術用語。「一木造」之對稱。即造佛像時,使用數根木材接合之方法。日本自平安中期之定朝(為日本造佛師之祖)起,各部之寸法與接法因流派而異,然仍有一定之規則。由於大木難得,加之以小木節省時間,效率增高,木心不易腐壞等原因,故盛行寄木造之方法造佛像。

kí phụ

4497又作寄付、寄進。謂捐贈財物於僧寺,以供應三寶之用。乃為祈求天下太平、家門繁昌,或超薦祖先等。優婆塞戒經卷三(大二四‧一○四八下):「財物不應寄付四處,一者老人,二者遠處,三者惡人,四者大力。如是四處不應寄付。」〔中阿含經卷四十七、大乘本生心地觀經卷四〕

kí thuyết

Veyyàkarana (P). One who knows grammar or how to explain.

Kí thành

既成; C: jì chéng; J: kijō;|Khi đã hoàn thành.

Kí thị nhậm ma

既是恁麼; C: jìshì rèn mó; J: kize inmo; |Đã như vậy rồi.

kí tâm luân

4320又作意輪、憶念輪。三輪之一。即指如來鑑察眾生根機意樂種種差別,隨宜說法而無錯謬之輪相。記心輪之相差別可分為六種:(一)記有纏有隨眠、離纏離隨眠之心。(二)記有染邪願、無染正願之心。(三)記劣、中、勝之三界、五趣之心。(四)知三受相應之心。(五)以一記一、以一記多之心。(六)諸佛菩薩記諸有情之勝劣,種種勝解,種種界行。〔大乘法苑義林章卷六末〕(參閱「三輪」679)

kí tăng danh

4498我國天津一帶風俗,為父母者懼其子女多病或夭殤,乃往廟中禱祝,求僧人為其子起一名,稱為寄僧名。〔中華全國風俗志直隸天津小兒跳牆之風俗條〕

kí vị ngũ tướng

4497華嚴宗以寄位顯示教門深淺之差別,如寄別教一乘位之順序於終教等。據華嚴經隨疏演義鈔舉出華嚴經入法界品中之寄位五相,即:(一)寄位修行相,謂善財童子初參文殊菩薩,為寄十信之位,乃由智明生信,發菩提心起淨行,而南行參諸善知識以修圓頓自性,是為寄位修行相。(二)會緣入實相,緣,即一切事法;實,即一真之理。謂善財童子由參摩耶夫人至參彌勒菩薩,為寄等覺之位,乃現大願身而遍滿虛空,含攝一切眾生,三世諸佛皆各住自法而安住不動,融會諸眾事緣以歸於實理,是為會緣入實相。(三)攝德成因相,德,即果德;因,即修因。謂善財童子參德雲比丘至參瞿波女,為寄三賢十聖之位,乃顯示不可思議攝三世聖賢事行之德,而成一念皆具之因,是為攝德成因相。(四)智照無二相,智,即實智;照,即照了。謂善財童子初參文殊菩薩,後歷參五十三善知識,於復參文殊菩薩時,仍不變初心,始終不二,智理相合,是為智照無二相。(五)顯因廣大相,謂善財童子於如來前,見普賢菩薩身上一一毛孔皆示現無邊光明雲,普賢菩薩摩其頂而為其解說諸法,善財即得一切佛剎微塵數三昧門,與諸佛所證同等,是為顯因廣大相。(參閱「五十三參」1048、「寄顯」4498)

kí xướng

4498指於唱賣亡僧衣物時,順便附賣眾人或常住衣物。禪苑清規卷七(卍續一一一‧四五七下):「亦不得寄唱眾人及常住衣物,恐涉嫌疑,如常住或堂頭入眾唱衣,即許人寄唱。」

kích bác

To criticize—To find fault with.

kích dương

Kích phát thiền cơ, xiển dương tông chỉ. Tiết Thiên Đồng Đàm Hoa Thiền sư trong NĐHN q. 20 ghi: »年 十 七、 於 東 禪 去 發、 首 依 水 南 遂 禪 師、 染 指 法 味。 因 遍 曆 江 湖、 與 諸 老 激 揚、 無 不 契 者。 – [i]Năm 17 tuổi, sư xuất gia ở Đông Thiền, ban đầu nương Thiền sư Thuỷ Nam Toại, nếm được chút ít pháp vị. Sư dạo khắp các nơi, cùng chư lão túc kích dương, không ai không khế hợp[/i]«.

kích dương thù xướng

Kích dương: Kích phát thiền cơ và xiển dương tông chỉ. Thù xướng: Dùng cơ ngữ đối đáp qua lại. Tiết Biện nịnh của Hoà thượng Quy Vân Bản trong TLBH q. 2 ghi: »如 楊 大 年 侍 郎、李 和 文 都 尉 見 廣 慧 璉 石 門 聰 并 慈 明 諸 大 老。激 揚 酬 唱。班 班 見 諸 禪 書。 – [i]Như Thị lang Dương Đại Niên, Đô uý Lí Hoà Văn được thấy các vị thiền sư như: Quảng Huệ Liễn, Thạch Môn Thông và Từ Minh. Việc khích lệ thiền cơ, xiển dương tông chỉ và dùng cơ ngữ đối đáp qua lại. Các việc này còn thấy chép trong các sách thiền[/i]«.

kích dục

Kàmachanda (S). Excitement of sensual pleasure.

kích huấn

Khải phát, giáo dục. [i]Hoằng Nhẫn truyện[/i] trong TCTT q. 8 ghi: »(道 信 禪 師) 具 告 所 親, 喻 之 出 家 。 父 母 忻 然, 乃 曰 ﹕ 禪 師 佛 法 大 龍, 光 被 遠 邇, 輜 門 俊 秀, 歸 者 如 雲 。 豈 伊 ( 指 少 年 弘 忍 ) 小 呆, 那 堪 擊 訓 ? 若 垂 虛 受, 固 無 留 吝 。– [i]Thiền sư Đạo Tín bày tỏ với cha mẹ sư xin cho xuất gia. Cha mẹ sư vui mừng nói: Thiền sư Phật pháp cao thâm, tiếng tăm khắp gần xa, là bậc tuấn tú trong cửa thiền, người quy y nhiều vô số. Con tôi (chỉ Hoằng Nhẫn lúc thiếu niên) còn nhỏ dại ngu si chắc khó giáo dục? Nếu ngài xót thương thu nhận thì cố nhiên chúng tôi không tiếc rẻ giữ lại[/i]«.

kích ngang

Kích phát thiền cơ, xiển dương tông chỉ. Tiết Pháp Luân Ứng Đoan Thiền sư trong NĐHN q. 18 ghi: »至 雲 居、會 靈 源 分 座、 爲 眾 激 昂。 – [i]Sư đến Vân Cư, gặp lúc Linh Nguyên phân toà, vì chúng kích phát thiền cơ, xiển dương tông chỉ[/i]«.

Kích thiết

(激切): rất mãnh liệt, ngôn luận hùng hồn, mãnh liệt. Cổ Sơn Truyện (賈山傳) có đoạn rằng: “Kỳ ngôn đa kích thiết, thiện chỉ sự ý (其言多激切、善指事意, lời của vị ấy rất hùng hồn, chỉ rõ việc làm và tâm ý của ông).”

kích thích

Chanda (S). Impulse, Excitement.

kích thạch hoả

Lửa nháng. Lửa này do đập 2 viên đá vào nhau chỉ lóe lên rồi mất rất nhanh. Thiền tông dùng từ này để chỉ cho trong khoảng thời gian rất ngắn (sát-na) diệt được tư lự phân biệt, tức chỉ cho người căn cơ rất lanh lợi. Tắc 5, [i]Bích Nham lục[/i] (Đại 48, 145 trung) ghi: »牛 頭 沒 (閃 電 相 似、 蹉 過 了 也)。馬 頭 回 (如 擊 石 火)。 曹 溪 鏡 裏 絕 塵 埃 。 – [i]Đầu trâu mất (Dường như điện chớp, trượt qua mất rồi). Đầu ngựa về (Như lửa nháng), gương Tào Khê trong suốt chẳng nhơ[/i]«. ; 6439禪林用語。形容極短暫之時間,亦比喻異常機敏。蓋擊石發火,火花瞬間即逝,故禪家用此語比喻於剎那間滅絕思慮分別。碧巖錄第五則(大四八‧一四五中):「牛頭沒(閃電相似,蹉過了也),馬頭回(如擊石火),曹溪鏡裏絕塵埃。」〔碧巖錄第三十九則〕 ; (擊石火) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tia lửa bắn ra khi người ta dùng búa đập vào hòn đá. Từ ngữ này được dùng để hình dung khoảng thời gian cực ngắn, hoặc để ví dụ căn cơ lanh lợi nhạy bén. Thiền tông dùng kích thạch hỏa để dụ cho người học trong khoảng nháy mắt đã dứt bặt mọi tư duy phân biệt. Tắc 5 Bích nham lục (Đại 48, 145 trung), nói: Đầu trâu biến mất(như ánh chớp, thoáng qua rồi), đầu ngựa quay về(như tia lửa bắn ra từ viên đá), gương Tào khê trong sáng dính bụi. [X. Tắc 39 Bích nham lục].

Kích Tiết Lục

(擊節錄, Gekisetsuroku): tức Viên Ngộ Kích Tiết Lục (圜悟擊節錄, Engogekisetsuroku), 2 quyển, do Thái Thuần Tông Cổ (太淳宗古) hiệu đính, san hành vào năm thứ 3 (1738) niên hiệu Nguyên Văn (元文). Nguyên bản là Tuyết Đậu Trùng Hiển Niêm Cổ Viên Ngộ Khắc Cần Kích Tiết (雪竇重顯拈古圜悟克勤節錄, Secchōjūkennenkoengokokugongekisetsu). Đây là tác phẩm Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤) thêm lời bình xướng, trước ngữ cho những niêm cổ của Tuyết Đậu Trùng Hiển (雪竇重顯). Bản san hành cũ (tức bản Minh Lịch) có khá nhiều sai nhầm, cho nên Thái Thuần Tông Cổ đã hiệu đính lại rất công phu, thêm vào lời tựa của Đại Thọ (大樹) và cho san hành. Thêm vào đó, Thái Thuần còn viết sách chú thích Kích Tiết Lục Dư Âm (擊節錄餘音) nữa.

kích tiết lục

Còn gọi: Phật Quả Kích Tiết lục, Viên Ngộ Kích Tiết lục. Lục, 2 quyển, do Tuyết Đậu Trọng Hiển niêm cổ vào đời Tống, Viên Ngộ Khắc Cần kích tiết, được xếp vào [i]Tục Tạng kinh[/i] tập 117, trang 449. Nội dung chính là Viên Ngộ bình xướng về 100 cổ tắc đã được Tuyết Đậu Trọng Hiển niêm đề trước đó, hình thức của nó giống như [i]Bích Nham lục[/i]. Chỗ gọi rằng Kích Tiết, tức nói đối lại với Niêm Cổ, nghĩa là trong lúc kích tiết (gõ nhịp) thì khiến cho người ta bất giác múa tay huơ chân. ; 6439凡二卷。宋代雪竇重顯(980~1052)拈古,圜悟克勤(1063~1135)擊節;即雪竇重顯拈提百則古則,圜悟克勤對之一一著語評唱。又稱佛果擊節錄、圜悟擊節錄。今收於卍續藏第一一七冊。其形式類於碧巖錄(為圜悟克勤所編)。所謂擊節,即相對於拈古而言,謂擊節其間,使人不覺手舞足蹈。全書有百則古則,卷上凡有三十七則:德山示眾、雪峰普請、百丈拂子、崇壽指凳、永嘉遶錫、仰山指雪、香嚴垂語、魯祖喫飯、雪峰古澗、西堂爛卻、欽山豎拳、睦州苕菷、棗樹漢國、趙州偷筍、保壽開堂、無業妄想、德山作麽、保福簽瓜、南泉示眾、馬祖圖相、興化罰錢、長慶淘金、大梅無意、臨濟蒿枝、師祖珠藏、鏡清問僧、雲門法身、三聖金鱗、伏牛馳書、玄沙過患、報慈問僧、船子絲綸、投子一言、祖師六塵、本生拄杖、安國伊蘭、玄沙見虎。卷下有六十三則:洞山三頓、大慈示眾、黃檗閉門、鏡清方便、香林衲衣、本仁示眾、國師三喚、投子抑逼、雲門示眾、智門草鞋、雪峰五棒、徑山一點、睦州擔板、巴陵示眾、則川摘茶、雲門裂破、睦州鉢囊、雪峰三下、南泉出世、欽山恁麽、玄沙問僧、長慶羚羊、圓明示眾、南院諸聖、雪峰相見、國師淨瓶、茱萸看箭、臨濟赴齋、三角示眾、巖頭跨門、太原顧視、雲門三病、鼓山示眾、睦州毛端、仰山坐次、智門般若、烏臼參堂、雪峰天使、大隨普賢、雲門新羅、北禪資福、睦州示眾、玄沙圓相、南泉賣身、茱萸一橛、夾山生死、保福羚羊、巴陵祖意、趙州答話、耽源辭師、溈仰田中、雪峰覆船、保福扶犁、大梅鼯鼠、趙州般若、德山托鉢、雪峰古鏡、洞山衣鉢、投子三星、洛浦伏膺、香嚴仙陀、風穴離微、古德沙水。〔禪籍志卷上、禪學要鑑、禪學思想史卷下(忽滑谷快天)、禪宗編年史(白石芳留)〕 ; (擊節錄) Cũng gọi Phật quả kích tiết lục, Viên ngộ kích tiết lục. Tác phẩm, 2 quyển, do thiền sư Viên ngộ Khắc cần (1063-1135) soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 117. Nội dung chia ra phần Niêm đề, gồm 100 tắc công án xưa của ngài Tuyết đậu Trùng hiển (980-1052) và phần Kích tiết (lời bình xướng)của ngài Viên ngộ Khắc cần. Một trăm tắc công án được chia như sau: Quyển thượng: Gồm 37 tắc: Đức sơn thị chúng, Tuyết phong phổ thỉnh, Bách trượng phất tử, Sùng thọ chỉ đặng, Vĩnh gia nhiễu tích, Ngưỡng sơn chi tuyết, Hương nghiêm thùy ngữ, Lỗ tổ khiết phạn, Tuyết phong cổ giản, Tây đường lạn khước, Khâm sơn thụ quyền, Mục châu thiều chửu, Tảo thụ hán quốc, Triệu châu thâu duẩn, Bảo thọ khai đường, Vô nghiệp vọng tưởng, Đức sơn tác ma, Bảo phúc thiêm qua, Nam tuyền thị chúng, Mã tổ đồ tướng, Hưng hóa phạt tiền, Trường khánh đào kim, Đại mai vô ý, Lâm tế hao chi, Sư tổ châu tàng, Kính thanh vấn tăng. Vân môn pháp thân, Tam thánh kim lân, Phục ngưu trì thư, Huyền diệu quá hoạn, Báo từ vấn tăng, Thuyền tử ti luân, Đầu tử nhất ngôn, Tổ sư lục trần, Bảnsính trụ trượng, An quốc y lan, Huyền sa kiến hổ. Quyển hạ: Gồm có 63 tắc: Động sơn tam đốn, Đại từ thị chúng, Hoàng bá bế môn, Kính thanh phương tiện, Hương lâm nạp y, Bản nhân thị chúng, Quốc sư tam hoán, Đầu tử ức bức, Vân môn thị chúng, Trí môn thảo hài, Tuyết phong ngũ bổng, Kính sơn nhất điểm, Mục châu đảm bản, Ba lăng thị chúng, Tắc xuyên trích trà, Vân môn liệt phá, Mục châu bát nang, Tuyết phong tam hạ, Nam tuyền xuất thế, Khâm sơn chẩm ma, Huyền sa vấn tăng, Trường khánh linh dương, Viên minh thị chúng, Nam viện chư thánh, Tuyết phong tương kiến, Quốc sư tịnh bình, Thù du khán tiễn, Lâm tế phó trai, Tam dác thị chúng, Nham đầu khoa môn, Thái nguyên cố thị, Vân môn tam bệnh, Cổ sơn thị chúng, Mục châu mao đoan, Ngưỡng sơn tọa thứ, Trí môn bát nhã, Ô cậu tham đường, Tuyết phong thiên sứ, Đại tùy phổ hiền, Vân môn tân la, Bắc thiền tư phúc, Mục châu thị chúng, Huyền sa viên tướng, Nam tuyền mại thân, Thù du nhất quyết, Giáp sơn sinh tử, Bảo phúc linh dương, Ba lăng tổ ý, Triệu châu đáp thoại, Đam nguyên từ sư, Qui sơn điền trung, Tuyết phong phúc thuyền, Bảo phúc phù lê, Đại mai ngô thử, Triệu châu bát nhã, Đức sơn thác bát, Tuyết phong cổ kính, Động sơn y bát, Đầu tử tam tinh, Lạc phố phục ưng, Hương nghiêm tiên đà, Phong huyệt li vi, Cổ đức sa thủy. [X. Thiền tịch chí Q.thượng; Thiền học yếu giám; Thiền học tư tưởng sư Q.hạ (Hốt hoạt cốc khoái thiên); Thiền tông biên niên sử]. (Bạch thạch phương lưu)].

kín

Secret.

kính

6710梵語 darpaṇa。為鑑照面容之具。據摩訶僧祇律卷三十三載,比丘不得隨意以鏡照面,然於病癒、新剃頭或頭面生瘡時則允許使用。後亦用作佛堂或光背之莊嚴具。於密教中,又稱懸鏡、壇鏡、寶鏡。如陀羅尼集經卷三所列二十一種供養具之中,即載有寶鏡一項。同經卷十二亦載其為嚴飾道場之具。或以鏡面鐫刻佛像,懸掛於佛前供養之。 經典中常以明鏡表示清淨法身之德;於五智中,相當於大圓鏡智。禪宗亦常以「鏡」或「明鏡」比喻人人本具之佛性,蓋因人之本心清淨明白,猶如鏡之玲瓏明晰。禪林象器箋器物門引四分律行事鈔資持記卷下二之文,謂坐禪處多懸明鏡,以助心行。 ; Ādarśa (S), Mirror Ảnh. ; Reverence, respect. ; (鏡) Phạm: Darpaịa. Gương dùng để soi. Theo luật Ma ha tăng kỳ quyển 23, thì bình thường tỉ khưu không được dùng gương soi mặt, nhưng khi mới khỏi bệnh, vừa cạo tóc, hoặc khi trên đầu hay mặt có mụn nhọt, lở lói, thì được phép soi gương. Về sau, gương cũng được dùng để trang nghiêm Phật đường hoặc Quang bối(vòng hào quang sau lưng tượng Phật). Trong Mật giáo, gương còn được gọi là Huyền kính(gương treo), Đàn kính(gương bày trên đàn), Bảo kính (gương báu), v.v... Trong kinh điển, minh kính (gương sáng) thường được dùng để biểu thị cho đức Pháp thân thanh tịnh; trong Ngũ trí, kính tương đương với Đại viên kính trí. Thiền tông cũng thường dùng kính hoặc minh kính để ví dụ ai ai cũng có sẵn Phật tính, bởi vì tâm của người ta vốn trong sạch sáng láng, cũng như tấm gương vậy. Trong tùng lâm, ở chỗ ngồi Thiền, thường treo tấm gương sáng để giúp cho việc quán tâm.

kính am

6711(1900~ )福建人,俗姓李。法名日初。民國四年(1915),於福州慶城寺依常悟法師出家。七年,於鼓山受具足戒,並入鼓山佛學院就讀。曾任中國佛教會福建省分會常務理事、中國佛教會福建省分會代理事長,為福建法海中學、福建佛教醫院、吉隆坡佛教大廈創辦人之一。現任吉隆坡觀音亭住持、觀音亭福利基金會主席。

kính cốc

6710鏡,鏡像之意,謂影像之映現於鏡中;谷,谷響之意,謂聲響之回應於山谷中。鏡中所現之像,實不可得;谷中之聲響亦非實有。故鏡谷乃譬喻萬法假有而無實體之意。 ; (鏡穀) Kính nghĩa là hình bóng phản ánh trong tấm gương; Cốc nghĩa là tiếng vang dội lại trong hang núi. Hình bóng trong gương vốn không nắm bắt được, mà tiếng vang trong hốc núi cũng chẳng phải có thật. Cho nên Kính cốc là ví dụ cho muôn pháp chỉ là giả hữu, không có thực thể.

kính lễ

5465梵語 vandana,巴利語同。音譯末捺南、末儞弟、和南、婆南。恭敬禮拜之意。又作禮、禮敬。即起恭敬心禮拜三寶。大乘法苑義林章卷四(大四五‧三一六中):「言敬禮者,虔恭曰敬,軌儀稱禮。諦發殷誠,屈儀褒讚,申虔恭之道,標敬禮之名,又起殷淨心,策殊勝業,申誠歸仰,故名敬禮。」〔梵語雜名、玄應音義卷十八〕(參閱「和南」3125、「禮」6582) ; Apacāyāna (S), Worship Thờ phượng Xem Đảnh lễ. ; Vandanì (S). Paying reverence, worship ; (敬禮) .... . Phạm,Pàli:Vandana. Hán âm: Mạt nại man, Mạt nễ đệ, Hòa nam, Bà nam. Cũng gọi Lễ, Lễ kính. Cung kính, lễ bái Tam bảo. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương (Đại 45, 316 trung), nói: Kính lễ có nghĩa là bày tỏ lòng thành là Kính, giữ phép tắc lễ nghi là Lễ. Dốc lòng thành khẩn, cúi đầu tán thán, gọi là Kính lễ. Khởi tâm thanh tịnh, tạo nghiệp thù thắng, chân thành qui ngưỡng, gọi là Kính lễ. [X. Tạp ngữ tạp danh; Huyền ứng âm nghĩa Q.18]. (xt. Hòa Nam, Lễ).

kính lễ đức thế tôn

, Ngài là bậc Giải thoát, đấng Giác ngộ hoàn toàn Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammā Sambuddhassa (S).

kính lễ đức thế tôn, ngài là bậc giải thoát, giác ngộ hoàn toàn

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammà Sambuddhasa (S). Formula of homage to the Buddha.

kính ngưỡng thần thánh

Para-bhakti (S), Supreme love of God.

kính ngưỡng thầy

GurŪ-bhakti (S), surrender to the guru.

kính pháp tôn pháp

Gurudhamma (P), GurŪdharma (S), Sacred dharma. ; Gurùdharma (S). Eight rules of the respect. Also cổ lâu đạt ma, lữ lô đạt ma.

kính sơn

4102位於浙江餘杭西北約二十九公里處。高約九六○公尺,周圍約二十九公里,在天目山之東北峰,因以小徑通於天目山而得名。四面七峰為凌霄、御愛、天顯、堆珠等,如手指高聳,登至頂上,浙江勝景集於一眸,實為天下奇景。山麓之興聖萬壽禪寺,乃我國五山之一,為臨濟巨剎。唐代天寶元年(742),牛頭宗之道欽(法欽)禪師入此山結庵,學者輻輳。大曆四年(769),代宗慕其為人,賜「國一禪師」之號,下詔,即於其庵址建「徑山寺」。其後,鑑宗、洪諲皆住此。至宋代,圜悟克勤、維林、了一等高僧亦住此山。高宗紹興七年(1137),圜悟之門人大慧禪師來住此寺,弟子來集者多達一千七百餘人。顯仁皇后(高宗之母)、高宗皇帝皆常行幸於此,孝宗皇帝親書「興聖萬壽禪寺」,並賜圓覺經解。其後又有無準師範、虛堂智愚等臨濟龍象住此,可謂歷代皆有名德住之,為天下叢林之冠。〔宋高僧傳卷九、景德傳燈錄卷四、卷十、卷十一、徑山志、大明一統志卷六十八、大清一統志卷二一六〕 ; (徑山) Núi ở cách huyện Dư hàng, tỉnh Chiết giang về mạn tây bắc khoảng 29 cây số, cao khoảng 960 mét, chu vi khoảng 29 cây số, là ngọn ở phía đông bắc núi Thiên mục, vì từ đây có 1 con đường tắt (kính...) nhỏ dẫn đến núi Thiên mục nên gọi là Kính sơn. Bảy ngọn núi ở 4 phía là Lăng tiêu, Ngự ái, Thiên hiển, Đôi châu, v.v... như những ngón tay chĩa lên trời và đứng trên đỉnh núi này có thể thấy toàn bộ thắng cảnh tỉnh Chiết giang. Thật là cảnh đẹp kỳ lạ. Trong núi có nhiều chùa cổ, như chùa Hưng thánh vạn thọ thiền ở chân núi, là 1 trong Ngũ sơn tại Trung quốc, là ngôi chùa lớn thuộc tông Lâm tế. Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742), thiền sư Đạo khâm (Pháp khâm) thuộc tông Ngưu đầu, đến đây cất am tu hành, người về theo học đạo rất đông. Năm Đại lịch thứ 4 (769), vua Đường Đại tông cảm mến đức độ của ngài nên ban cho ngài danh hiệu Quốc Nhất Thiền Sư và cho xây chùa Kính sơn ở trên nền am tranh của ngài. Về sau, các ngài Giám tông, Hồng nhân đến trụ ở chùa này. Vào đời Tống, các thiền sư Viên ngộ, Khắc cần, Duy lâm, Liễu nhất, v.v... cũng ở núi này. Năm Thiệu hưng thứ 7 (1137), đệ tử của ngài Viên ngộ là thiền sư Đại tuệ đến trụ chùa Kính sơn, người học theo về đến hơn 1.700 người. Hoàng thái hậu Hiển nhân (mẹ vua Cao tông) và hoàng đế Cao tông thường đến chùa này lễ Phật. Hoàng đế Hiếu tông tự tay viết các chữ: Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự để ban cho chùa cùng với bản chú giải kinh Viên giác. Về sau, các bậc long tượng của tông Lâm tế, như các ngài Vô chuẩn Sư phạm, Hư đường Trí ngu, v.v... cũng trụ chùa này, có thể nói đây là nơi tùng lâm bậc nhất trong nước. [X. Tống cao tăng truyện Q.9; Cảnh đức truyền đăng lục Q4, Q.10, Q.11; Kính sơn chí; Đại minh nhất thống chí Q.68; Đại thanh nhất thống chí Q.126].

kính sơn chí

4103凡十四卷。明代宋奎光撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。徑山位於浙江天目山之東北峰,因有小徑通於天目山,故稱為徑山。唐天寶元年(742),國一禪師隱居於此,並行開山。經宋、元、明歷代高僧經營,佛教史蹟林立,其較著者有接待寺、大安禪寺、萬壽禪寺、徑山寺、安樂寺、法華寺、萬壽正續寺、廣化禪寺、順慶禪寺、妙濟禪寺等十餘座。明天啟初年(1621~1627),宋奎光撰著「徑山志」十四卷,分門十八:列祖、法侶、制敕、序文、塔銘、碑記、遊記、書啟、偈咏、名什、外護、殿宇、靜室、名勝、下院、古蹟、寺產、紀事。條理井然,搜羅完備,集明代天啟以前徑山佛教史蹟之大成。 ; (徑山志) Tác phẩm, 14 quyển, do ông Tống khuê quang soạn vào đời Minh, được thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vậng san, tập 1. Kính sơn là ngọn núi ở phía đông bắc núi Thiên mục thuộc tỉnh Chiết giang, Trung quốc, vì có con đường tắt(kính)nhỏ ăn thông với núi Thiên mục, nên gọi là Kính sơn. Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742) đời Đường, thiền sư Quốc nhất vào đây khai sơn. Về sau, các bậc cao tăng các đời Tống, Nguyên, Minh tiếp tục mở mang núi này thành nơi đạo tràng hoằng dương Phật pháp nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Trung quốc. Nội dung bộ sách này sưu tập đầy đủ các nhân vật, danh thắng, sử tích Phật giáo... ở Kính sơn. Toàn núi có hơn 10 ngôi chùa trứ danh như: Chùa Tiếp đãi, chùa Đại an thiền, chùa Vạn thọ thiền, chùa Kính sơn, chùa An lạc, chùa Pháp hoa, chùa Vạn thọ chính tục, chùa Quảng hóa thiền, chùa Thuận khánh thiền, chùa Diệu tế thiền, v.v... Sách được chia làm 18 môn: Liệt tổ, Pháp lữ, Chế sắc, Tự văn, Tháp minh, Bi kí, Du kí, Thư khải, Kệ vịnh, Danh thập, Ngoại hộ, Điện vũ, Tĩnh thất, Danh thắng, Hạ viện, Cổ tích, Tự sản, Kỉ sự... Đây là bộ Sơn chí tập đại thành những sử tích Phật giáo ở Kính sơn từ năm Thiên khải (1621-1627) đời Minh trở về trước.

Kính Sơn Hồng Nhân

(徑山洪諲, Keizan Kōin, ?-901): vị Thiền tăng thuộc dòng Nam Nhạc, môn hạ của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐), xuất thân Ngô Hưng (呉興, Ngô Hưng, Tỉnh Triết Giang), họ Ngô (呉). Năm 19 tuổi, ông theo xuất gia với Vô Thượng Đại Sư (無上大師) ở Khai Nguyên Tự (開元寺); đến năm 22 tuổi, ông lên Tung Sơn (嵩山, Huyện Đăng Phong, Tỉnh Hà Nam) thọ Cụ Túc giới. Tiếp theo, ông đến tham yết Vân Nham (雲巖), nhưng không khế ngộ cơ duyên, cuối cùng trở về tham học với Quy Sơn và đại ngộ. Vào năm thứ 7 (866) niên hiệu Hàm Thông (咸通), gặp lúc Thầy viên tịch, thể theo lời cung thỉnh của đại chúng, ông kế thế Thầy làm trú trì đời thứ 3 của Kính Sơn (徑山). Ông được Ngô Việt Vương (呉越王) cũng như Võ Túc Vương (武肅王) hộ trì tối đa và được ban cho hiệu là Pháp Tế Đại Sư (法濟大師). Bên cạnh đó, Hoàng Đế Hy Tông (僖宗) còn ban sắc ngạch cho chùa. Ông thị tịch vào ngày 28 tháng 9 năm thứ 4 (901) niên hiệu Quang Hóa (光化).

Kính Sơn Pháp Khâm

(徑山法欽, Keizan Hōkin, 714-792): vị tăng của Ngưu Đầu Tông (牛頭宗) Trung Quốc, xuất thân Côn Sơn (崑山), Quận Ngô (呉郡, Tỉnh Triết Giang), còn gọi là Đạo Khâm (道欽), họ Chu (朱). Năm 28 tuổi, trên đường đi lên kinh đô, ông ghé qua tham yết Hạc Lâm Huyền Tố (鶴林玄素), rồi xuất gia ngay trong ngày ấy và về sau kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông đến sống tại Tây Sơn (西山, tức Kính Sơn [徑山]) thuộc Dư Hàng (餘杭, Tỉnh Triết Giang) và trở thành sơ tổ của Phái Kính Sơn. Đến năm thứ 3 (768) niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông vào cung nội, thuyết pháp cho vua Đại Tông, cho nên ông được ban tặng hiệu Quốc Nhất Đại Sư (國一大師) và tên chùa Kính Sơn Tự (徑山寺). Các vị Tướng Công Thôi Hoán (崔渙), Bùi Tấn Công Độ (裴晉公度), Đệ Ngũ Kỳ (第五琦), Trần Thiếu Du (陳少遊), v.v., đã từng bái ông làm thầy. Ngay chính như những nhân vật nổi tiếng của Nam Tông Thiền như Tây Đường Trí Tàng (西堂智藏), Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟), Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然), v.v., cũng đã từng đến tham vấn với ông. Vào năm thứ 6 (790) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông chuyển đến trú tại Tịnh Độ Viện (淨土院) của Long Hưng Tự (龍興寺) và đến tháng 12 năm thứ 8 (792) thì thị tịch, hưởng thọ 79 tuổi đời và 50 hạ lạp. Vua Đức Tông ban cho thụy hiệu là Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師); Lý Cát Phụ (李吉甫) soạn ra Hàng Châu Kính Sơn Tự Đại Giác Thiền Sư Bi Minh Tinh Tự (杭州徑山寺大覺禪師碑銘幷序).

kính sơn phật giám

4103(1178~1249)宋代僧。四川梓潼人,俗姓雍。名師範,號無準。年九歲就陰平道欽出家,於紹熙五年(1194)受具足戒,慶元元年(1196)於成都正法寺坐夏。年二十投育王山秀巖師瑞,時育王山有佛照德光居東庵,宗叟宗印任分座,法席人物之盛,為東南第一。師貧,無剃髮之資,時人常以烏頭子稱之。後至杭州靈隱寺,參謁松源崇嶽,往來南山,棲止六年。時聞破庵祖先住蘇州西華秀峰,往依之。未幾,又至常州華藏寺師事遯庵宗演,居三年,復還靈隱。侍郎張鎡新開創廣惠寺,請破庵住之,師亦往侍三年,又隨登徑山。破庵示寂之時,以其師咸傑之法衣頂相付之。紹定五年(1232)奉敕住徑山。翌年四月堂舍罹大火,七月奉召入大內修成殿,陞慈明殿說法,帝深感之,賜「佛鑑禪師」之號,且賜銀絹,充徑山寺之營繕。淳祐九年三月十五日,集弟子囑後事,書遺表十數種,言笑諧謔如平時,十八日示寂,世壽七十二。有無準師範禪師語錄五卷、無準和尚奏對語錄一卷行世。〔釋氏稽古略卷四、大明高僧傳卷八、續傳燈錄卷三十五〕 ; (徑山佛鑒) (1178-1249) Vị Thiền tăng Trung quốc sống vào đời Tống, thuộc tông Lâm tế, người Tử đồng, tỉnh Tứ xuyên, họ Ung, tên Sư Phạm, hiệu Vô chuẩn. Năm lên 9 tuổi, sư theo ngài Đạo khâm xuất gia ở Âm bình và năm Thiệu hi thứ 5 (1194) sư thụ giới Cụ túc, 2 năm sau, hạ an cư ở chùa Chính pháp tại Thành đô. Năm 20 tuổi, sư vào cửa ngài Tú nham Sư thụy ở núi Dục vương, một pháp tòa nổi tiếng ở vùng Đông nam. Sư nghèo không có tiền cạo tóc, người đương thời gọi là Ô đầu tử (chú đầu đen). Về sau, sư đến chùa Linh ẩn ở Hàng châu, tham yết ngài Tùng nguyên Sùng nhạc, rồi đến Nam sơn ở 6 năm. Bấy giờ sư nghe tin ngài Phá am Tổ tiên đang ở Tây hoa Tú phong tại Tô châu, sư liền đến đó xin y chỉ. Chưa bao lâu, sư lại đến chùa Hoa tạng ở Thường châu, theo học ngài Độn am Tông diễn, ít lâu sau, sư lại trở về chùa Linh ẩn. Lúc bấy giờ, quan Thị lang là Trương tư sáng lập chùa Quảng huệ, thỉnh ngài Phá am Tổ tiên trụ trì, sư cũng đến thị giả ngài 3 năm, rồi lại theo ngài Phá am lên Kính sơn. Lúc sắp tịch, ngài Phá am đem pháp y đính tướng của thầy mình là ngài Hàm kiệt truyền trao cho sư. Năm Thiệu định thứ 5 (1232), sư vâng sắc chỉ trụ trì chùa Kính sơn. Năm sau, sư phụng chiếu vào cung thuyết pháp, vua thâm cảm và ban cho sư danh hiệu Phật Giám Thiền Sư và vàng bạc châu báu để trùng tu chùa Kính sơn. Ngày 15 tháng 3 năm Thuần hựu thứ 9 (1249), sư họp đệ tử để dặn dò hậu sư, đến ngày 18 sư thị tịch, thọ 72 tuổi. Sư có tác phẩm: Vô chuẩn Sư phạm thiền sư ngữ lục, 5 quyển, Vô chuẩn hòa thượng tấu đối ngữ lục, 1 quyển. [X. Thích thị kê cổ lược Q.4; Đại minh cao tăng truyện Q.8; Tục truyền đăng lục Q.35].

Kính Sơn 徑山

[ja] ケイサン Keisan ||| A monastery at Ling-an Hsien, Chekiang. => Một tu viện ở Ling-an Hsien, tỉnh Chiết Giang.

Kính Thanh Ðạo Phó

鏡清道怤; C: jìngqīng dàofù; J: kyōsei dōfu; 863-937; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ nối pháp của Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư có 5 Pháp tự và Bích nham lục có nhắc đến Sư trong các Công án 16, 23 và 46.

Kính Thanh Đạo Phó

(鏡清道怤, Kyōsei Dōfu, 868-937): người Vĩnh Gia (永嘉), Ôn Châu (溫州, Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Ông xuất gia từ lúc còn nhỏ, rồi đến Mân Châu (閩州) tham yết Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến trú tại Kính Thanh Tự (鏡清寺), rồi Thiên Long Tự (天龍寺) cũng như Long Sách Tự (龍冊寺) ở Hàng Châu (杭州). Ông thị tịch vào năm thứ 2 niên hiệu Thiên Phước (天福) đời vua Cao Tổ nhà Hậu Tần, và được ban cho thụy hiệu là Thuận Đức Đại Sư (順德大師).

kính thanh đạo phó

Kyōsei Dōfu (J)Tên một vị sư.

kính thiên tự

5464請參閱 呆菴莊禪師語錄 位於韓國京畿道豐郡扶蘇山中。創於高麗睿宗八年(1113)九月,曾得睿宗、仁宗先後臨幸,寺風大振。後堂宇頹廢,今僅存一座十三層之塔,此塔係造於高麗忠穆王四年(1348),相傳係依丞相脫脫之祈願而造;以灰色大理石造成,至今塔形完備,頗爲秀麗。所雕刻之佛像人物,具有各種形態,迄今無絲毫毀損,線條極爲鮮明;其製作之精巧,堪稱全國之冠。〔東國輿地勝覽卷十三、高麗史卷十三、卷十四、卷十六、韓國建築調查報告、東洋建築〕 ; (敬天寺) Chùa ở trong núi Phù tô, quận Đạo phong, gần kinh đô Hàn quốc; được sáng lập vào năm Duệ tông thứ 8 (1113). Chùa được các vua Duệ tông, Nhân tông giúp đỡ nên rất hưng thịnh một thời. Về sau, điện đường suy đồi đổ nát dần, đến nay chỉ còn lại ngôi tháp 13 tầng, được xây cất vào năm Trung mục vương thứ 4 (1348). Tương truyền, tháp này được kiến tạo theo sự cầu nguyện của Thừa tướng Thoát thoát. Tháp xây bằng đá Đại lí (đá hoa), màu tro, đến nay vẫn còn nguyên vẹn và rất đẹp. Những hình tượng Phật, người, vật được chạm trổ trên tháp có nhiều hình thái khác nhau, đường nét rất rõ ràng, tinh xảo, có thể liệt vào hàng bậc nhất ở Hàn quốc. [X. Đông quốc dư địa thắng lãm Q.13, 14, 16; Hàn quốc kiến trúc điều tra báo cáo; Đông dương kiến trúc].

Kính thuận 敬順

[ja] キョウジュン kyōjun ||| To respect and obey. => Tôn kính và vâng lời.

kính thượng từ hạ

5464謂恭敬供養父母尊長,慈愍憐念一切眾生。觀無量壽經卷上(大一二‧三四一下):「孝養父母,奉事師長,慈心不殺,修十善業。」孝養父母、奉事師長即敬上之行,慈心不殺爲慈下之行。〔觀無量壽佛經疏卷二(善導)、觀無量壽經義疏卷上(慧遠)〕 ; (敬上慈下) ........... Trên cung kính cúng dường cha mẹ, tôn trưởng, dưới từ bi thương xót tất cả chúng sinh. Kinh Quán vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 341 hạ), nói: Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự Sư trưởng, lòng thương không giết hại chúng sinh, tu tập 10 nghiệp thiện. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự Sư trưởng là hạnh Kính thượng, lòng thương không giết hại chúng sinh là hạnh Từ hạ. [X. Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.2 (Thiện đạo); Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn)].

kính thạch trích nhũ tập

4104凡五卷。清代僧山鐸真在編,石源機雲續編,康熙二十一年(1682)刊行。收於卍續藏第一一七冊。係臨濟宗無準師範之道脈傳統之叢傳。自無準師範,及其法嗣第一世徑山淨慈寺之斷橋妙倫至第十七世,除去別收於語錄之九人外,共計二三八人,記述其本錄及語要。真在示寂後,由門人機雲續成此集。 ; (徑石滴乳集) Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Sơn đạc Châu tại soạn vào đời Thanh, ngài Thạch nguyên Cơ vân biên tiếp, ấn hành vào năm Khang hi 21 (1682), được thu vào Vạn tục tạng tập 117. Nội dung trình bày về hệ thống truyền thừa của ngài Vô chuẩn Sư phạm, tông Lâm tế. Bắt đầu từ ngài Vô chuẩn Sư phạm và đệ tử nối pháp đời thứ nhất là ngài Đoạn kiều Diệu luân, chùa Tịnh từ tại Kính sơn, cho đến đời thứ 17. Ngoài 9 vị đã được thu chép riêng trong ngữ lục ra, còn lại 238 vị được ghi thuật trong Bản lục và Ngữ yếu.

kính trọng

PŪjya (S), Respect PŪjā (P). ; Pùjya (S). Honoured.

kính tượng

6710梵語 ādarśa,pratibimba。鏡中之影像。般若經十喻之一。以諸法之見有而實無,譬喻鏡中之影像。大智度論卷六(大二五‧一○四下):「諸法如鏡中像,復次如鏡中像,實空不生不滅,誑惑凡人眼。一切諸法亦復如是。空無實不生不滅,誑惑凡夫人眼。(中略)諸法從因緣生,無自性,如鏡中像。」(參閱「十喻」470) ; (鏡像) Phạm: Àdarza, Pratibimba. Bóng dáng trong gương, 1 trong 10 thí dụ trong kinh Bát nhã. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 26, 104 hạ), nói: Tất cả các pháp do nhân duyên sinh, không có tự tính, như bóng trong gương. (xt. Thập Dụ).

kính tượng viên dung

6710天台宗以鏡像為譬喻,顯示空、假、中等三諦圓融無礙之義。摩訶止觀卷一下(大四六‧九上):「譬如明鏡,明喻『即空』,像喻『即假』,鏡喻『即中』,不合不散,合散宛然,不一二三,二三無妨。此一念心,不縱不橫,不可思議,非但己爾,佛及眾生亦復如是。」 日本天台宗之祖最澄亦依準此說,而以之喻顯三身三德之圓融無礙;即以明比喻「法身」,以像比喻「應身」,以體比喻「報身」。其後,此類以鏡像來喻顯圓融無礙之譬喻,成為日本天台宗所重視之口傳法門;即以鏡比喻凡聖本具一實之理性,以像比喻此理性中所圓具之三千諸法,而謂一念即具三千三諦,猶如鏡之映照萬象而圓融無礙。〔註金剛錍論、止觀微旨掌中譜〕 ; (鏡像圓融) Gương, bóng viên dung. Tông Thiên thai dùng từ ngữ này để ví dụ hiển bày nghĩa 3 đế Không, Giả, Trung viên dung vô ngại. Ma ha chỉ quán quyển 1 hạ (Đại 46, 9 thượng), nói: Ví như gương sáng, sáng dụ cho Tức không, bóng dụ cho Tức giả, gương dụ cho Tức trung, không hợp không tan, hợp tan tự nhiên, chẳng 1, 2, 3; 2, 3 không trở ngại. Tâm nhất niệm này, không dọc không ngang, không thể nghĩ bàn, chẳng những mình như thế, mà chư Phật và tất cả chúng sinh cũng đều như thế. [X. Chú kim cương ti luận; Chỉ quán vi chỉ chưởng trung phổ].

kính ái

Reverence and love.

kính ái pháp

5465敬愛,梵語 vaśīkaraṇa。音譯作皤施迦羅拏、嚩誐羯囉拏、嚩始迦魯拏、伐施迦囉拏。密教修法之一。又稱慶愛法、敬意法、愛敬法。爲自身及他人欲得佛菩薩愛護,或欲得君王眾人敬愛之祈禱法。爲四種壇法之一。即祈禱和合親睦之法。其中,祈伏悖己者,令其隨順,稱信伏敬愛;祈求令世間夫婦互相敬愛,稱和合敬愛;鉤召不隨順己心者,令生敬愛,稱鉤召敬愛。至於令違逆本覺之三惡趣者之無明畢竟歸入本覺佛果,稱悉地敬愛。諸法所修之本尊各異,如愛染明王法即其中一種。敬愛法通於念誦法、護摩法,係自息災、增益、調伏等三種法之增益法分離發展而出者。修此法時,宜始於後夜寅刻之時,蓋以此刻爲陰陽和合相應之時。行者須著赤衣,面向西方,一切供具法器概用赤色。法壇與護摩爐(稱作敬愛爐)均採赤色之蓮花形。赤色係表和合敬愛之色,此法屬三部、五部中之蓮華部。〔七俱胝佛母准提大明陀羅尼經、金剛頂瑜伽護摩儀軌〕 ; Vasikarana (S), Kyoaiho (J)Tên một bộ kinh. Pháp cầu nguyện cho mình và người được chư Phật và Bồ tát che. ; (敬愛法) Kính ái, Phạm: Vazìkaraịa. Hán âm: Bà thi ca la noa, Phạ nga yết na noa, Phạ thủy ca lỗ noa, Phạt thi ca ra noa. Cũng gọi Khánh ái pháp, Kính ý pháp, Ái kính pháp. Pháp tu cầu nguyện cho chính mình và người khác được Phật, Bồ tát xót thương che chở, hoặc muốn được vua chúa và mọi người kính mến. Là 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Đây là 1 trong 4 loại Đàn pháp, tức là pháp cầu nguyện cho sự hòa hợp thân thiện, gồm có: - Tín phục kính ái: Pháp tu cầu nguyện cho người chống trái trở lại tùy thuận với mình. - Hòa hợp kính ái: Pháp tu cầu nguyện cho vợ chồng ở thế gian hòa thuận thương kính lẫn nhau. - Câu triệu kính ái: Pháp cầu nguyện cho người không thuận theo mình, khiến cho họ sinh lòng kính mến. - Tất địa kính ái: Pháp cầu nguyện cho chúng sinh vì vô minh mà trái ngược với bản giác, đi theo 3 đường ác, cuối cùng, trở về với bản giác Phật quả. Bản tôn của các pháp tu Kính ái đều khác nhau. Pháp Kính ái chung cho cả pháp Niệm tụng, pháp Hộ ma và được chia ra từ pháp Tăng ích trong 3 pháp Tức tai, Tăng ích và Điều phục. Khi tu pháp Kính ái nên bắt đầu vào giờ Dần, vì giờ này là lúc âm dương hòa hợp. Hành giả phải mặc áo đỏ, mặt hướng về phía tây, tất cả vật cúng, pháp cụ đều dùng màu đỏ. Pháp đàn và lò Hộ ma(gọi là lò Kính ái) đều dùng hình hoa sen và màu đỏ, vì màu đỏ là màu tượng trưng cho sự hòa hợp kính ái. Pháp này thuộc về Liên hoa bộ trong 3 bộ, 5 bộ. [X. kinh Thất câu chi Phật mẫu chuẩn đề đại minh đà la ni; Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ].

kính điền

5464指八福田中之佛田、聖人田、僧田。由恭敬而生功德猶如田生穀物,故稱敬田。即對於佛、法、僧三寶恭敬供養,可生無量之福分。優婆塞戒經卷三稱之爲「功德田」,爲三福田之一。摩訶止觀卷十下(大四六‧一三八上):「上不見經佛敬田,(中略)下不見親恩之德。」〔像法決疑 g、華嚴經探玄記卷八〕 ; The field of reverence, i.e. worship and support of the Buddha, Dharma, and Samgha as a means to obtain blessings. ; (敬田) Chỉ cho ruộng Phật, ruộng Thánh, ruộng Tăng trong 8 thứ ruộng phúc. Do cung kính mà sinh ra các công đức, giống như do ruộng tốt mà sinh ra ngũ cốc, cho nên gọi là Kính điền. Theo kinh Ưu bà tắc giới quyển 3, thì Kính điền là ruộng công đức, 1 trong 3 loại ruộng phúc. Ma ha chỉ quán quyển 10, hạ (Đại 46, 138 thượng), nói: Trên không thấy Kính điền của kinh và Phật, dưới không thấy ân đức của người thân. [X. kinh Tượng pháp quyết nghi; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.8].

kính đường giác viên

6710(1244~1306)宋末元初臨濟宗僧。西蜀(四川崇慶)人。號鏡堂。元世祖至元十六年(1279,日本弘安二年),與無學祖元同赴日本,應北條時宗之請,住鎌倉諸寺,後復移住京都建仁寺。德治元年九月示寂,世壽六十三。敕諡「大圓禪師」之號。其法系稱鏡堂派(又稱靈光門徒),為日本禪宗二十四流之一。著有四會語錄三卷。

Kính 敬

[ja] キョウ kyō ||| (1) Respect, honor, revere, venerate (gaurava). (2) To warn, to advise against. (3) To believe in; devotion (bhakti). (3) Abstain, refrain. Admonish, warn, prohibit. => 1. Kính trọng, tôn kính, sùng kính, tôn trọng (s: gaurava). 2. Răn, khuyến cáo. 3. Tin vào, thành tâm (s: bhakti). 4. Tiết chế, kiềm chế. Khiển trách, cánh cáo, ngăn cấm.

Kô-ki-li-pa

S: kokilipa; »Thẩm mĩ gia tự phụ«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là vua của nước Cham-bạt-na (s: campārṇa), sống xa hoa trong cung điện. Ngày nọ, lúc ông đang vui chơi thì một Du-già sư (yogin) đến xin khất thực. Ông cho vào và hỏi với giọng tự hào là đời sống ai có giá trị hơn. Vị Du-già sư liền bảo rằng, trẻ con mới cho rằng vua sướng, nhưng đối với bậc hiền nhân thì đời sống của vua là độc dược. Sau khi nghe vị này giáo hoá, nhà vua xin quy y, truyền ngôi cho con và xin được theo học. Vị này truyền cho ông năng lực của Cha-kra sam-va-ra tan-tra và dạy phép quán tưởng. Biết vua hay ngắm trời mây, lưu luyến tiếng chim Kô-ki-la (s: kokilā) và vườn xoài trong cung điện, Du-già sư nói:|Mây đen kéo đầy trời,|mưa tưới nuôi cây cối.|Tai ham mê tiếng hót,|tâm chạy theo khái niệm.|Thụ tưởng đầy chất độc,|sẽ kéo theo tức thì.|Ðó là đạo người điên.|Từ Tự tính của Tâm,|trống rỗng tựa không gian,|vang lên Âm và Không,|hai thứ không hề lìa.|Tâm dấy lên lạc thụ,|như mây kéo vô tận,|mây đó biến thành mưa,|tưới Tự tính sáng rực.|Rồi Năm trí kết thành,|chỉ đợi ngày hái quả.|Ðó là đạo người trí.|Nhà vua nghe lời giáo hoá và quán tưởng thiền định. Chỉ sáu tháng sau, ông đạt thánh quả. Người đời gọi ông là Kô-ki-li-pa, tên của loài chim mà ông dùng tiếng chim để quán tưởng. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Không làm: lời khai thị,|Không dính: chứng thật đó.|Không trụ: phép thiền định|Không chứng: đích cao cả.

Kô-ta-li-pa

S: koṭālipa; »Ðạo sư nhà nông«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử của San-ti-pa (s: śāntipa), sống khoảng cuối thế kỉ thứ 11.|Kô-ta-li-pa là một nông phu. Lần nọ, lúc cuốc đất trên sườn núi thì gặp San-ti-pa trên đường từ Tích Lan (s: śrī laṅkā) về lại Ấn Ðộ. San-ti-pa khuyên ông lúc cày cuốc đất đai đừng quên »cày cuốc tâm thức với tri kiến sáng rực«, bởi vì:|Hạnh phúc hay đau khổ,|đều do tâm tạo tác.|Cày bừa miếng đất tâm,|bằng lời khai thị này.|Ngươi cày suốt cả đời,|miếng đất sỏi đá này.|Thế nhưng không bao giờ,|biết Tự tính, Ðại lạc.|Kô-ta-li-pa nghe lời, tu tập thiền định suốt 12 năm và đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Khổ đau hay vui sướng,|đều sinh trưởng trong tâm.|Hãy nghe lời Ðạo sư,|cày xới lên Tự tính.|Trên sườn núi cát sỏi,|dù con người minh triết,|cũng không chứng được gì,|không bao giờ giải thoát.|Chỉ khi chứng được tâm,|Sáu thức thành dòng thác,|Dâng tràn đầy Ðại lạc.|Tất cả mọi ngôn từ,|đều chỉ gây sợ hãi.|Vì thế hãy hoà tan,|trong quán tưởng thiền định,|trong thanh tịnh hoàn toàn.

(記) . I. Ký. Ký hiệu. II. Ký. Gọi đủ: Thụ ký. Một thể tài văn kinh, nội dung nói về việc đức Phật thụ kí cho các đệ tử tu hành chứng quả trong tương lai. Là một trong 9 thể tài kinh, 1 trong 12 thể tài kinh. (xt. Thụ Ký). III. Ký. Cũng gọi Huyền ký, Vị lai ký, Thức ký. Lời dự đoán những việc sẽ xảy ra trong tương lai. IV. Ký. Ghi chú, giải thích kinh luận.

ký biệt

Xem Thọ ký.

ký chạt

(寄褐) ..... Người thế gian cho hài nhi mặc áo tăng lữ để giữ gìn, che chở cho đứa trẻ. Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển hạ, thì vua Trung tông nhà Đường tức hoàng đế Hiếu hòa, lúc mới sinh ra thân tướng xinh đẹp lạ thường, hào quang rực sáng khắp cung điện nên đặt tên là Phật Quang vương và được thụ pháp Tam qui, mặc áo cà sa, đến khi đầy tháng, thỉnh pháp sư đến cạo tóc. Đây là nguồn gốc của phong tục Ký hạt tại Trung quốc.

ký chủ

(記主) ..... Tiếng tôn xưng các vị chú thích kinh, luật, luận. Chẳng hạn như ngài Trạm nhiên của tông Thiên thai, ngài Pháp tạng của tông Hoa nghiêm, ngài Nguyên chiếu của Luật tông... đều được tôn xưng là Ký chủ.

Ký dĩ 既已

[ja] キイ kii ||| Previously, already, actually, yet, any longer. (2) To use up; to finish. => 1. Trước đây, đã rồi, thực ra, rồi, chẳng còn... nữa. 2. Dùng hết, xong.

ký hiển

(寄顯) Cũng gọi là Ký tề, Ký tại, Ký thuyết. Không trực tiếp hiển bày 1 ý nghĩa nào đó mà gửi(ký) ý nghĩa ấy vào một sự việc khác để giải nói. Như tông Hoa nghiêm gửi thứ tự giai vị của Nhất thừa Biệt giáo vào Chung giáo, để rồi từ đó hiển bày sự sai biệt sâu cạn của giáo môn. Đặc biệt sự gửi gắm này được gọi là Ký vị. Giáo nghĩa tông Thiên thai thì mượn giai vị để hiển bày vị thứ của Viên giáo. Hoa nghiêm kinh thám huyền ký quyển 10 (Đại 35, 299 thượng), nói: Dựa vào phương tiện gửi nghĩa pháp để nêu rõ sự sai khác của các Địa, như: Sơ địa, Nhị địa, Tam địa đồng với thế gian, còn Tứ địa, Ngũ địa, Lục địa thì đồng với Nhị thừa. Ngoài ra cũng kí thác vào Thiền chi, Đạo phẩm và các đế duyên sinh để nêu bày sự khác biệt về các Địa, nhờ đó mọi người sẽ hiểu rõ nghĩa các Địa. Sự chứng quả của hàng Bồ tát Thập địa rất sâu xa, khó có thể phân biệt được, vì vậy phải mượn các pháp thế và xuất thế gian của 3 thế gian và 5 thừa để làm sáng tỏ cái tướng của nghĩa ấy. Lại Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển 3 thì mượn sự thô tế của 4 tướng: Sinh, Trụ, Dị, Diệt để phân biệt 4 giác là Bất giác, Tương tự giác, Tùy phần giác và Cứu cánh giác. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.thượng; Hoa nghiêm kinh sớ Q.31; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.6].

ký hiển tứ tướng

(寄顯四相) Mượn 4 tướng: Sinh, Trụ, Dị, Diệt từ thô(diệt, dị, trụ) đến đế(sinh) để nói rõ 4 giai vị đoạn hoặc của thủy giác. Tức Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển 3, mượn sự thô tế của 4 tướng: Sinh (tế), Trụ, Dị, Diệt(thô) để nêu rõ sự khác nhau của Bất giác, Tương tự giác, Tùy phần giác và Cứu cánh giác. Hàng phàm phu trong giai vị Thập tín, nếu đứng về phương diện khởi nghiệp tướng trong tam tế và lục thô mà nói, thì họ đã biết được niệm trước khởi ác, nên chặn đứng được ác nghiệp, không để cho khởi lên ở niệm sau, như thế gọi là biết tướng Diệt. Nhưng, nếu đứng về phương diện ác nghiệp mà nói, thì giai vị này vẫn chưa biết được 1 phần hoặc Vô minh, cho nên vẫn còn gọi là Bất giác. Hàng Nhị thừa, Tam hiền đã biết được Kế danh tự tướng, Chấp thủ tướng, tức mới biết được tướng Dị, tuy đã biết 1 phần vô minh bất giác, nhưng vẫn còn ở giai vị Tỉ quán trước Thập địa, cho nên gọi là Tương tự giác. Bồ tát từ Sơ địa trở lên đã biết được tướng Trụ, tuy chưa dứt lìa được nghiệp tướng vi tế, nhưng đã biết rõ 2 chướng(Phiền não chướng và Sở tri chướng), cho nên gọi là Tùy phần giác. Bậc đã biết Nghiệp tướng, tức là biết tướng Sinh và như vậy đã biết được hoặc nghiệp cực kì nhỏ nhiệm, nên gọi là Cứu cánh giác. Ở đây mượn 4 tướng hiển bày 4 vị để khỏi lẫn lộn với 4 tướng sát na(4 tướng Sinh, Trụ, Dị, Diệt nối nhau từng sát na trong các pháp).

ký hoa ngũ tịnh

(寄花五淨) Gửi hoa nơi cõi trời Ngũ tịnh thuộc Tứ thiền. Từ cõi Tứ thiền trở lên không bị tam tai phá hoại, vì không có phong tai(nạn gió bão)nên hoa ở đây không bị khô héo. An lạc tập quyển thượng (Đại 47, 7 trung), nói: Gửi hoa nơi cõi trời Ngũ tịnh không bị nắng gió làm cho khô héo, gần nước sông Linh, hạn hán nơi thế gian không làm khô cạn được.

ký khố

(寄庫) ..... Lúc còn sống đốt giấy tiền gửi xuống âm phủ trước để mong sau khi chết sinh xuống đó có tiền tiêu dùng. Những loại giấy tiền đốt trong đời này, gọi là Ký khố tiền(tiền gửi vào kho). Long thư tăng quảng tịnh độ văn quyển 5 (Đại 47, 265 trang), nói: Ta xem khắp trong tạng kinh mà không thấy có chỗ nào nói về việc kí khố ở âm phủ. Vậy kính khuyên người đời hãy đem những khoản tiêu phí cho việc ký khố này thỉnh chư tăng cúng dường hồi hướng về Tây phương, vì nhất tâm hướng về cõi Tây phương thì chắc chắn sẽ được vãng sinh. Nếu không làm như thế, mà chỉ lo chuyện Ký khố âm phủ thì sau khi chết chắc chắn vào âm phủ!. [X. môn Tiền tài trong Thiền lâm tượng khí tiên].

ký mộc tạo

(寄木造) Đối lại với Nhất mộc tạo. Tiếng dùng trong nghệ thuật Phật giáo Nhật bản. Tức khi tạc tượng Phật, nhiều mảnh gỗ được dùng để ráp nối với nhau mà thành tượng. Nghệ thuật này bắt đầu từ ngày Định triều(Tổ sư nghề tạc tượng Phật ở Nhật bản) sống vào giữa thời kì Bình an. Các bộ phận và phương pháp ráp nối trong Ký mộc tạo tùy theo các tông phái mà có khác, nhưng vẫn có một quy tắc nhất định. Lí do tại sao có nghệ thuật Ký mộc tạo là vì loại gỗ lớn rất hiếm, vả lại dùng loại gỗ nhỏ vừa tiết kiệm thời gian, vừa đạt hiệu suất cao, cho nên phương pháp tạc tượng Phật theo nghệ thuật Ký mộc tạo mới thịnh hành.

ký phụ

(寄附) Cũng gọi là Ký phó, Ký tiến. Quyên tặng tài vật cho chùa, chi dùng vào việc cúng dường Tam bảo để cầu cho đất nước thanh bình, nhân dân an lạc, gia đình phồn vinh, hoặc cầu cho vong linh tiên tổ được siêu thoát. Kinh Ưu bà tắc giới quyển 3 (Đại 24, 1048 hạ), nói: Của cải không nên giao gửi (ký phụ) vào 4 chỗ: người già, nơi xa xôi, người xấu ác và người có thế lực. [X. kinh Trung a hàm Q.47; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.4].

Ký thành 既成

[ja] キジョウ kijō ||| When it was completed. => Khi đã hoàn thành.

Ký thị nhậm ma 既是恁麼

[ja] キゼインモ kize inmo ||| Already like this. => Đã như vậy rồi.

ký tâm luân

(記心輪) Cũng gọi Ý luân, Ức niệm luân. Tức là đức Phật dùng luân tướng soi xét căn cơ và ý muốn khác nhau của chúng sinh để tùy nghi nói pháp cho khỏi lầm lẫn. Là một trong 3 luân. Ký tâm luân gồm có 6 tướng sai biệt: 1. Tâm biết có triền phược, có tùy miên, lìa triền phược, lìa tùy miên. 2. Tâm biết tà nguyện có nhiễm, chính nguyện vô nhiễm. 3. Tâm biết 3 cõi, 5 đường có liệt, trung, thắng 4. Tâm biết 3 thụ ứng nhau. 5. Tâm dùng 1 biết 1, dùng 1 biết nhiều 6. Chư Phật, Bồ tát biết căn cơ thắng liệt của loài hữu tình, những thứ thắng giải và những thứ giới hạnh. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6 phần cuối]. (xt. Tam luân).

ký tăng danh

(寄僧名) ........ Sau khi vào chùa lễ bái cầu phúc, cha mẹ xin vị tăng đặt tên cho con của họ để mong con họ thoát khỏi bệnh hoạn hoặc chết yểu, gọi là Ký tăngdanh(gửi tên nơi vị tăng). Phong tục này thịnh hành ở vùng Thiên tân, Trung quốc. [X. điều Trực lệ Thiên tân tiểu nhi khiêu tường chi phong tục trong Trung hoa toàn quốc phong tục chí].

ký vị ngũ tướng

(寄位五相) Năm tướng kí vị trong phẩm Nhập pháp giới của kinh Hoa nghiêm. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao, thì 5 tướng kí vị là: 1. Kí vị tu hành tướng: Đồng tử Thiện tài đầu tiên đến tham vấn bồ tát Văn thù là gửi giai vị Thập tín, là do trí tuệ sáng suốt sinh ra niềm tin, phát tâm bồ đề, khởi tu tịnh hạnh, rồi đi về phương nam tham vấn các bậc thiện tri thứ để tu pháp tự tính viên đốn. 2. Hội duyên nhập thực tướng: Duyên là tất cả sự pháp; Thực là lí Nhất chân. Nghĩa là đồng tử Thiện tài đi tham vấn từ phu nhân Ma da đến bồ tát Di lặc là gửi vào đó giai vị Đẳng giác, là hiện thân đại nguyện đầy khắp hư không, hàm nhiếp tất cả chúng sinh, chư Phật ba đời đều an trụ không lay động trong pháp của các Ngài, dung hội các sự duyên để qui về thực lí. 3. Nhiếp đức thành nhân tướng: Đức là quả đức; Nhân là tu nhân. Nghĩa là khi đồng tử Thiện tài tham vấn từ kỉ khưu Đức vân đến Cù ba nữ là gửi vào đó giai vị Tam hiền Thập thánh, là hiển bày đức tướng bất khả tư nghị, hàm nhiếp công hạnh của hết thảy Thánh hiền trong 3 đời, thành tựu nhân của 1 niệm mà đầy đủ tất cả. 4. Trí chiếu vô nhị tướng: Trí là thực trí; chiếu là soi tỏ. Nghĩa là đồng tử Thiện tài mới đầu tham vấn bồ tát Văn thù, sau đó, lần lượt tham vấn khắp 53 vị Thiện tri thức, cho đến khi trở lại tham vấn bồ tát Văn thù mà tâm nguyện lúc ban đầu vẫn không thay đổi, trước sau như một, lí trí hợp nhau. 5. Hiển nhân quảng đại tướng: Đồng tử Thiện tài ở trước đức Như lai, thấy các lỗ chân lông trên thân bồ tát Phổ hiền đều thị hiện những áng mây ánh sáng vô biên, bồ tát Phổ hiền đưa tay xoa đỉnh đầu của Đồng tử Thiện tài và giảng giải các pháp, đồng tử Thiện tài liền chứng được Nhất thiết Phật sát vi trần số Tam muội môn, sự chứng ngộ này đồng với chư Phật. (xt. Ngũ Thập Tam Tham, Kí Hiển).

Ký vị 寄位

[ja] キイ ki-i ||| (1) To teach according to the level of the practice of the bodhisattva. (2) To show the differences in depth and shallowness of the teachings through the use of the various stages, such as the bhūmi of the bodhisattvas. (3) To assume a rank or position. => 1. Sự giáo hoá tuỳ theo mức độ tu hành của hàng Bồ-tát. 2. Chỉ bày sự khác biệt sâu cạn của các giáo lý thông qua việc vận dụng các giai vị, như địa (s: bhūmi) của hàng Bồ-tát.

ký xướng

(寄唱) Trong khi rao bán(xướng) các vật dụng như y phục... của vị tăng đã viên tịch, nhân tiện gửi(ký) bán kèm những vật của người khác hoặc của thường trụ. Thiền uyển thanh qui quyển 7 (Vạn tục 111, 457 hạ), nói: ... cũng không được tự tiện rao bán kèm(ký xướng) những y vật của mọi người và y vật của thường trụ, sợ người ta ngờ vực. Nếu như có vị Thường trụ hoặc Đường đầu nào trong chúng rao bán y, thì cho phép được ký xướng!.

ký đắc

Aggidatta (S)Cha của Câu lưu tôn Phật lúc chưa xuất gia.

Ký 既

[ja] キ、ケ ki, ke ||| Since, when; already, previously, actually, yet, any longer. (2) To use up; to finish. => 1. Từ khi, khi; đã rồi, trước đây, thực ra, rồi, chẳng còn... nữa. 2. Dùng hết, xong.

Kātyāyana

(khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên): âm dịch là Ca Chiên Diên (迦旃延), nhà văn pháp học Sanskrit, nhà toán học và là tu sĩ Phệ Đà (s, p: Veda, 吠陀), sống ở Ấn Độ ngày xưa, khoảng thời đại của vương quốc Greco-Bactrian. Ông nổi tiếng với 2 tác phẩm: Varttika và Sulba Sūtra. Varttika là bản giải thích tỉ mỉ về văn phạm của Pāṇini. Cùng với tác phẩm Mahābhāsya của Patañjali, Varttika trở thành một phần trung tâm của điển tịch vyākarana (văn phạm). Đây là một trong 6 bộ Vedanga, hình thành nền giáo dục bắt buộc đối với các học sinh Bà La Môn trong 12 thế kỷ qua. Bên cạnh đó, ông còn sáng tác một trong các bộ Sulba Sūtra, một loạt gồm 9 tác phẩm về hình học của cấu trúc bàn thờ, đề cập đến hình chữ nhật, hình tam giác, hình thoi, v.v. Quan điểm của Kātyāyana về sự liên quan nghĩa từ có xu hướng hướng về tính tự nhiên. Giống như Plato, Kātyāyana tin rằng mối quan hệ nghĩa từ không phải là kết quả của tập quán con người. Với ông, sự quan hệ nghĩa từ là siddha (vĩnh hằng). Mặc dầu đối tượng của từ đề cập đến không vĩnh hằng, nhưng giống như một thỏi vàng được dùng để làm các đồ trang sức khác nhau mà vẫn còn nguyên là vàng, bản chất ý nghĩa của từ ấy là thường hằng. Kātyāyana thuộc về trường phái các nhà văn pháp học Aindra và có thể sống ở phía Tây Bắc tiểu lục địa Ấn Độ.

kĩ nghệ thiên

2159又稱伎藝天女。乃化身自大自在天髮際之天女。容顏端正,長於伎藝。身著天衣,以瓔珞嚴身,兩手腕上各有鐶釧,左手持一盛花之器皿,右手向下作捻裙狀。如欲祈求福德,則必修伎藝天女法。日本古來從事伎藝者多祈念之。日本秋篠寺之伎藝天雕像,其頭部為天平時代所作,其胴部則為鎌倉時代之運慶所作。〔圖像抄卷九、伎藝天女念誦法〕

Kĩ nhi

伎兒; C: jìér; J: gini;|Ca sĩ, con hát, nữ ca sĩ (s: nata).

kĩ nhạc

2159<一>梵語 vādya。又作妓樂。音樂之義。長阿含卷十一善生經舉出伎樂有六失,即:求歌、求舞、求琴瑟、波內卑、多羅槃、首呵那。然法華經卷一序品、無量壽經卷下載,以香華、伎樂作為供養。此即禁止以娛樂為目的之伎樂,而許以供養為目的之伎樂。〔大唐西域記卷一〕 <二>為日本雅樂之一種。又作吳樂。三國時代自吳國經朝鮮傳入日本,故稱吳樂。〔日本書紀卷二十二、卷二十九、聖德太子傳曆卷下〕

kẻ cướp

Robber .

kẻ cầu nguyện

Those who pray by dedicating of merit or by merit transference, or sharing one's own merits and virtues with others.

kẻ lừa đảo

Swindler.

kẻ thù

Adversary—Enemy.

kẻ trộm

Burglar—Thief

kẻ vạch

To get someone into trouble

kẻ xấu xa

Demon—Devil—Mara.

kẻ yếu hèn

The weak.

kẻ ăn mày

Beggar.

kẻ đào thoát

An escapist.

kẽ tóc chân tơ

In detail.

kế

3953請參閱 別尊雜記 請參閱 諸佛要集經 計度之意。即以自己之妄心分別來推度判斷事物之理。成唯識論述記卷三本謂,計爲分別心之異名。部派佛教時代,各部派自有其本部之正統見解,此稱「本計」,若違越於自宗者即稱「異計」。此外,虛妄計度,稱爲妄計、邪計;週遍計度,稱爲遍計。〔顯揚聖教論卷六、唐譯攝大乘論釋卷四、卷八〕 ; 1) Búi tóc: Topknot—Tuft—The hair coil on top. 2) Cỏ gai: A thistle. 3) Kế bên: Annex. 4) Kế thừa: To inherit—To adopt. 5) Kế tục: Tiếp tục hay tương tục—To continue. 6) Kế toán: Accounting—To reckon. ; (計) So đo tính toán, tức là dùng vọng tâm phân biệt của mình để suy tính phán đoán lí nghĩa của sự vật. Thành duy thức luận thuật kí quyển 3 phần đầu cho rằng Kế là tên khác của tâm phân biệt. Ở thời đại Phật giáo bộ phái, mỗi bộ phái đều có kiến giải chính thống của bộ mình, gọi là Bản kế; quan điểm trái với tông phái của mình, gọi là Dị kế. Ngoài ra, chấp trước hư vọng, gọi là Vọng kế, Tà kế; so đo tính toán đối với tất cả pháp, gọi là Biến kế. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.6; Nhiếp đại thừa luận thích Q.4, Q.8 (bản dịch đời Đường)].

kế bảo

6371請參閱 大乘金剛髻珠菩薩修行分經指輪王髻中之寶珠,比喻一乘實理。慈恩寺三藏法師傳序(大五○‧二二○下):「解其髻寶,示以衣珠,借一以破三,攝末歸本者也。」〔釋氏六帖卷七〕(參閱「髻珠喻」6371) ; Theo Kinh Pháp Hoa, “Kế Bảo” là hạt ngọc báu quý nhất cài trên mái tóc của vị quốc vương (theo Kinh Pháp Hoa thì có một người có công to, nhà vua bèn cởi viên minh châu cài trên tóc ban cho, để ví với việc Đức Phật giảng thuyết Kinh Pháp Hoa cho hạng người đã ra khỏi sinh tử phân đoạn, mà tinh tấn để lìa hẳn sinh tử biến dịch)—According to The Lotus Sutra, this is the precious stone worn in the coiled hair on top of the king's head. It is the king's most prized possession. ; (髻寶) Viên ngọc quí trong búi tóc của Luân vương, dụ cho lí chân thực Nhất thừa. Bài tựa trong Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện (Đại 50, 220 hạ), nói: Dùng viên ngọc quí trong búi tóc(Kế bảo) của Luân vương để chỉ bày hạt châu trong chéo áo, mượn 1 phá 3, gom ngọn về gốc. [X. Thích thị lục thiếp Q.7]. (xt. Kế Châu Dụ).

kế châu

See Kế Bảo.

kế châu dụ

6370為法華經安樂行品所說七種譬喻之一。又作頂珠喻。髻珠,指輪王髻中之珠。於此喻之中,以輪王比喻如來,以髻比喻二乘權教,以珠比喻一乘實理。珠在髻中之時,猶如實理之隱於權教。此謂如來於法華會上開權顯實,授記二乘,謂彼等已出離分段生死皆得作佛;猶如輪王解髻中之珠,授與功臣。(參閱「法華七喻」3394) ; (髻珠喻) Cũng gọi Đính châu dụ. Ví dụ về viên ngọc quí trong búi tóc của Luân vương. Là 1 trong 7 ví dụ nói trong phẩm An lạc hạnh, kinh Pháp hoa. Trong thí dụ này, Luân vương dụ cho Như lai, búi tóc dụ quyền giáo Nhị thừa, viên ngọc dụ thực lí Nhất thừa. Khi viên ngọc còn trong búi tóc giống như lí chân thực còn ẩn trong quyền giáo. Nghĩa là trên hội Pháp hoa đức Như lai khai quyền hiển thực, thụ kí cho hàng Nhị thừa trong vị lai đều được thành Phật, giống như Luân vương lấy viên ngọc quí trong búi tóc ra ban cho các công thần. (xt. Pháp Hoa Thất Dụ).

kế danh tự tướng

Theo Đại Thừa Khởi Tín Luận, đây là sự y vào vọng chấp mà lập ra danh từ hư giả (chỉ sự suy tính so đo giữa vật nầy với vật nọ)—According to The Awakening of Faith, this is the stage of giving names (to seeming things, etc.).

kế hoạch

Plan.

Kế Khởi Hoằng Trữ

(繼起弘儲, Keiki Kōcho, 1605-1672): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Kế Khởi (繼起), hiệu Thối Ông (退翁), xuất thân Thông Châu (通州), Giang Nam (江南, Tỉnh Giang Tô), họ Lý (李). Năm 25 tuổi, ông xuống tóc xuất gia với Hán Nguyệt Pháp Tạng (漢月法藏). Khi Pháp Tạng khai đường giáo hóa ở An Ổn Tự (安穏寺), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), ông triệt để khai ngộ được vấn đề muôn kiếp lâu xa vẫn chưa sáng tỏ, nên ở lại hầu thầy được 3 năm và cuối cùng được phó chúc đại pháp. Từ đó trở đi, ông bắt đầu hoạt động giáo hóa tại Tường Phủ Tự (祥府寺), Phu Tiêu (夫椒), Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), rồi đến trú trì Thiên Thai Sơn Quốc Thanh Tự (天台山國清寺). Sau đó, ông cũng từng sống qua một số ngôi danh sát khác như Linh Nham Sơn Sùng Báo Tự (靈巖山崇報寺), Nghiêu Phong Bảo Vân Tự (堯封寳雲寺), Hổ Kheo Sơn Vân Nham Tự (虎丘山雲巖寺) ở Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô), Kim Túc Quảng Huệ Tự (金粟廣慧寺) ở Tú Châu (秀州, Tỉnh Triết Giang), Phước Nghiêm Tự (福嚴寺) ở Nam Nhạc (南岳), Hành Châu (衡州, Tỉnh Hồ Nam), Hoa Dược Tự (花藥寺), Cao Phong Lý Sơn Tự (高峰理山寺), Đông Nham Tự (東巖寺) ở Võ Xương (武昌, Tỉnh Hồ Bắc), Đại Biệt Sơn Hưng Quốc Tự (大別山興國寺) ở Hán Dương (漢陽, Tỉnh Hồ Bắc), v.v. Đến ngày 27 tháng 9 năm thứ 11 (1672) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi. Tháp của ông được an trí tại Nghiêu Phong Sơn (堯峰山) với tên gọi là Đại Quang Minh Tàng (大光明藏). Pháp từ của ông có hơn 70 người và trước tác cũng khá nhiều, đuợc lưu hành trên đời như Thối Ông Hoằng Trữ Thiền Sư Quảng Lục (退翁弘儲禪師廣錄) 60 quyển, Thối Ông Hoằng Trữ Thiền Sư Dư Lục (退翁弘儲禪師餘錄) 30 quyển, Giáp Thìn Lục (甲辰錄), Thọ Tuyền Tập (樹泉集), Báo Từ Lục (報慈錄), mỗi thứ 10 quyển. Hiện tồn có Nam Nhạc Kế Khởi Hòa Thượng Ngữ Lục (南嶽繼起和尚語錄) 10 quyển, Nam Nhạc Đơn Truyền Ký (南嶽單傳記) 5 quyển, Nam Nhạc Lặc Cổ (南嶽勒古) 1 quyển, Linh Nham Ký Lược (靈巖記略) 1 quyển.

kế la đa tộc

6491罽羅多,梵名 Kirāta。為住於印度西北部山中之種族。一說為希臘人之吉拉德族(Kirrhadae),於摩奴法典中則與震旦人、葉婆那人、塞人等並舉,摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata,大敘事詩)則稱為吉拉塔珍尼亞族(梵 Kirātārjuniya);由此推之,似指西漢初期侵入北印度,征服罽賓之塞種族。大唐西域記卷三迦濕彌羅國條所載之訖利多族,與此種族同。或與毘羅多族(梵 Virāṭa)為同種。

kế lí cát la kim cương nữ

3953計里吉羅,梵名 Kelikila。爲密教金剛界曼荼羅理趣會十七尊之一,金剛薩埵四明妃之一。又作髻利吉羅金剛女、髻黎吉羅金剛女、計里計羅金剛女、觸金剛女、春金剛女。略稱觸女。意譯爲適悅金剛女。此尊位於金剛薩埵右後隅。以其修春金剛瑜伽三摩地,故得清淨莊嚴之菩薩位。理趣釋卷下(大一九‧六一七上):「欲等調世間,令得淨除故,有頂及惡趣調伏盡諸有者,此是金剛髻梨吉羅明妃三摩地行,大淨慮義攝也。」此菩薩在金剛薩埵五種三摩地中表大定。關於其形像,大樂金剛薩埵修行成就儀軌作白色,抱金剛薩埵。金剛界七集卷下則作金色而持花鬘。另據十七聖大曼荼羅義述所載,謂其能以菩提之覺華,起供養之雲海,亦以方便授與眾生作功德之利。此尊持華作爲印契,種子爲???(jaḥ)或???(jra)。〔佛說最上根本大樂金剛不空三昧大教王經卷三、理趣經文句愚草卷一、金剛界曼荼羅尊位現圖抄私卷三〕 ; (計裏吉羅金剛女) Kế lí cát la, Phạm:Kelikila. Dịch ý: Thích duyệt kim cương nữ. Cũng gọi Kế lợi cát la kim cương nữ, Kế lê kế la kim cương nữ, Kế lí kế la kim cương nữ, Xúc kim cương nữ, Xuân kim cương nữ. Gọi tắt: Xúc nữ. Vị tôn này ngồi ở góc phía sau, bên phải của Kim cương tát đỏa, là 1 trong 17 vị tôn trong hội Lí thú mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, 1 trong 4 vị minh phi của Kim cương tát đỏa. Lí thú thích quyển hạ (Đại 19, 617 thượng), nói: Vì muốn bình đẳng điều phục, khiến cho thế gian được thanh tịnh, nên vị tôn này điều phục từ cõi trời Hữu đính cho đến các đường ác trong tất cả các cõi, đây là hạnh Tam ma địa của minh phi Kim cương kế lê cát la, thuộc về nghĩa Đại tĩnh lự. Vị Bồ tát này biểu thị đại định trong 5 loại Tam ma địa của Kim cương tát đỏa. Về hình tượng của vị tôn này có nhiều chỗ nói khác nhau. Theo Đại lạc kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ, thì hình tượng vị tôn này mầu trắng, ôm Kim cương tát đỏa, còn theo Kim cương giới thất tập quyển hạ, thì hình tượng vị tôn này mầu vàng và cầm tràng hoa. Ngoài ra, cứ theo Thập thất thánh đại mạn đồ la nghĩa thuật, thì vị tôn này dùng hoa giác Bồ đề để cúng dường khắp 10 phương, đó cũng là dùng phương tiện trao cho chúng sinh khiến họ làm các công đức lợi ích. Ngài cầm hoa làm ấn khế, chủng tử là (ja#) hoặc (jra). [X. kinh Phật thuyết tối thượng căn bản đại lạc kim cương bất không tam muội đại giáo vương Q.3; Lí phú kinh văn cú ngu thảo Q.1; Kim cương giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao tư Q.3].

kế lý cát la kim cang nữ

Xem Kế Lị Cát La Bồ tát.

kế lị cát la bồ tát

Kelikila (S)Kế Lý Cát La Kim Cang nữ, Thích Duyệt Kim Cang nữ, Xúc Kim Cang nữ, Xuân Kim Cang nữ, Kế La Cát La Kim Cang nữ, Kế Lỵ Cát La Kim Cang nữ, Kim Cang Hỷ DuyệtTên một vị Bồ tát.

kế lợi cát la

6370梵名 Kelikila。乃髻利吉羅金剛之略稱。又作計里吉羅、計利枳攞。意譯作金剛喜悅、觸金剛。乃密教金剛界曼荼羅理趣會十七尊之一,位列中尊金剛薩埵之右方。梵語 kelikila 意譯為觸,乃男女相觸著之義。據般若經義述之說,此尊以不捨眾生,欲令眾生皆得解脫之故, 遂明示觸性即菩提。其形像呈抱持之相,二臂相交於胸前,手執三股杵,全身白色,頭戴五佛寶冠。〔大樂金剛薩埵修行成就儀軌、理趣釋卷上〕 ; Kelikila (skt)—Kế Lợi Tích La—Kế Lý Kế La—Tên của một vị Kim Cang Thủ Bồ Tát—The attendant of a deva, one of the Vajrapanis. ; (髻利吉羅) Phạm:Kelikila. Dịch ý: Kim cương hỉ duyệt, Xúc kim cương. Gọi đủ: Kế lị cát la kim cương. Cũng gọi Kế lí cát la, Kế lị chỉ la. Vị tôn này ngồi ở bên phải của Kim cương tát đỏa, là một trong 17 vị tôn của hội Lí thú mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Tiếng PhạmKelikiladịch ý là xúc, nghĩa là nam nữ đụng chạm nhau. Cứ theo Bát nhã kinh nghĩa thuật, thì vì muốn cho chúng sinh đều được giải thoát nên vị tôn này chỉ dạy rõ rằng tính xúc chạm tức là Bồ đề. Hình tượng của vị tôn này toàn thân mầu trắng, đầu đội mũ báu Ngũ Phật, 2 tay tréo nhau để ở trước ngực, tay cầm chày 3 chĩa. [X. Đại lạc Kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ; Lí thú thích Q.thượng].

kế lợi da

Surya (skt). 1) Mặt Trời: The sun. 2) Thần mặt trời: The sun-god.

kế lợi sa bàn

6490梵語 kārṣāpaṇa,巴利語 kahāpaṇa。為古印度之貨幣名,或為重量單位。又作羯利沙鉢拏、迦利沙鉢那、迦哩沙槃拏、罽利沙槃,罽利沙股那。翻梵語卷一解釋罽利沙槃謂(大五四‧九八七下):「應云罽利沙股那,譯曰錢數。」〔四分律疏飾宗義記卷四本、經律異相卷二十八〕(參閱「迦利沙鉢那」3959) ; (罽利沙盤) Phạm:Kàrwàpaịa. Pàli: Kahàpaịa. Cũng gọi Cát lợi sa bát noa, Ca lợi sa bát na, Ca lí sa bàn noa, Kế lợi sa bàn, Kế lợi sa cổ na. Tên một loại tiền tệ của Ấn độ thời xưa, hoặc là đơn vị trọng lượng. Phiên Phạm ngữ quyển 1 giải thích rằng (Đại 54, 987 hạ): Kế lợi sa bàn đáng lẽ phải nói Kế lợi sa cổ na mới đúng, dịch là số tiền. [X. Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.4 phần đầu; Kinh luật dị tướng Q.28]. (xt. Ca Lợi Sa Bát Na).

kế mẫu

Stepmother.

kế na thi khí phật

6490梵名 Ratnaśikhi。為釋迦牟尼佛於過去世修菩薩行,至最初阿僧祇劫滿時所奉事供養之佛。又作剌那尸棄佛。意譯寶髻佛、寶積佛、寶頂佛。大智度論卷四(大二五‧八七上):「從過去釋迦文佛到罽那尸棄佛,為初阿僧祇,是中菩薩永離女人身。從罽那尸棄佛至燃燈佛,為二阿僧祇,(中略)是時燃燈佛便授其記,『汝當來世作佛,名釋迦牟尼。』」〔優婆塞戒經卷一、大毘婆沙論卷一七七、俱,舍論卷十八〕 ; Xem Bảo cát Phật. ; (罽那尸弃佛) Phạm: Ratnazikhi. Dịch ý: Bảo kế Phật, Bảo tích Phật, Bảo đính Phật. Cũng gọi Lạt na thi khí Phật. Danh hiệu của một đức Phật ở thời quá khứ. Luận Đại trí độ quyển 4 (Đại 25, 87 thượng), nói: Trong thời quá khứ từ đức Phật Thích ca văn đến Phật Kế na thi khí, là kiếp a tăng kì đầu tiên, lúc ấy Bồ tát không còn mang thân người nữ. Từ đức Phật Kế na thi khí đến Phật Nhiên đăng, là kiếp a tăng kì thứ 2, (...) bấy giờ Phật Nhiên đăng thụ kí cho Bồ tát rằng: Trong đời vị lai ông sẽ thành Phật, hiệu là Thích ca mâu ni. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.1; luận Đại tì bà sa Q.177; luận Câu xá Q.18].

kế nghiệp

6778北宋入竺僧。陝西耀縣人,俗姓王。居洛陽天壽院。乾德二年(964),宋太祖詔沙門三百人入天竺求舍利及貝多葉書,其時,師亦受薦入竺,歷十三年,於開寶九年(976)歸國,將所得之梵經、舍利等進呈太宗。太宗詔擇名山修習,乃於四川峨眉山牛心築庵居住,稱牛心寺。師西域之行程,分見於該寺所藏涅槃經一函四十二卷各卷之末,其記事雖不詳,然在地理方面仍屬珍貴之資料。世壽八十四。其生卒年不詳。 ; (繼業) Vị tăng Trung quốc sống vào đời Bắc Tống, người huyện Diệu, tỉnh Thiểm tây, họ Vương, ở tại viện Thiên thọ, Lạc dương. Vào năm Càn đức thứ 2 (964), vua Tống Thái tổ ban sắc cho 300 vị sa môn trong đó có ngài Kế nghiệp đến Thiên trúc thỉnh xá lợi Phật và kinh điển. Vào năm Khai bảo thứ 9 (976), sư trở về nước, đem kinh điển và xá lợi đã thỉnh được dâng lên vua Thái tông, vua cho phép sư được chọn nơi danh sơn để tu tập, sư bèn cất am Ngưu tâm trên núi Nga mi thuộc tỉnh Tứ xuyên để ở, gọi là chùa Ngưu tâm. Cuộc hành trình đến Tây vực của sư ghi chép từng phần ở cuối mỗi quyển trong hòm kinh Niết bàn (42 quyển) được cất giữ ở chùa này. Những kí sự của sư tuy không rõ ràng, nhưng vẫn là tư liệu quí báu về mặt địa lí.

kế ngã thực hữu tông

Kế Ngã Luận—Một trong 16 tông phái ngoại đạo. Tông nầy vọng chấp vào ngã ly uẩn và phi ngã phi ly uẩn (cho rằng cái ta là có thực, là thường nhất; do chấp có ta nên chấp có cuộc sống, từ đó mà sanh ra 5 cơ quan cảm giác)—The sect that reckons on, or advocates, the reality of personality, one of the sixteen heterodox sects.

kế nhiêu di quốc

6491罽饒夷,梵名 Kanyakubja。為中印度之古國。又作羯若鞠闍國、葛那及國。意譯曲女城、妙童女城。即今印度西北殑伽河支流迦利河(Kālī)東岸之卡娜齊(Kanauji)。此國都城原稱拘蘇磨補羅(梵 Kusumapura,意譯華宮),於梵授王(梵 Brahma-datta,巴同)時觸怒一仙人,以惡咒使九十九婇女一時腰曲,故有曲女之名。 續高僧傳卷二達磨笈多傳中又作鞬拏究撥闍(梵 Karṇakubja),意譯為耳出城。七世紀頃,玄奘留印時,嘗參與戒日王(梵 Śīlāditya)於曲女城所設之無遮大會。又大唐西域記卷五羯若鞠闍國條敘述該國經濟富庶,人民信仰邪正二道者各半,有伽藍百餘所,僧徒萬餘人,兼習大小二乘;另有天祠二百餘所,異道數千餘人。〔八大靈塔名號經、高僧法顯傳〕 ; (罽饒夷國) Kế nhiêu di, Phạm: Kanyakubja. Dịch ý: Khúc nữ thành, Diệu đồng nữ thành. Cũng gọi Yết nhã cúc xà quốc, Cát na cập quốc. Tên một nước xưa ở Trung Ấn độ, tức nay là vùngKanaujiở phía đông bờ sông Kàlì, một chi nhánh của sông Hằng, tây bắc Ấn độ. Đô thành nước này vốn có tên là Câu tô ma bổ la (Phạm: Kusumapura, dịch ý là Hoa cung). Vào đời vua Phạm thụ (Phạm, Pàli:Brahma-datta), nhà vua đã xúc phạm một vị tiên nhân, nên vị tiên ấy đã dùng ác chú làm cho 99 cung nữ bị còng lưng, vì thế thành này có tên là Khúc nữ (con gái còng lưng). Truyện Đạt ma cấp đa trong Tục cao tăng truyện quyển 2 cho biết, nước này có tên là Kiện noa cứu bát xà (Phạm: Karịakubja, Hán dịch: Nhĩ xuất thành). Vào khoảng thế kỉ thứ VII, khi ngài Huyền trang ở Ấn độ đã đến dự Đại hội Vô già do vua Giới nhật (Phạm:Zìlàditya) tổ chức tại thành Khúc nữ. Ngoài ra, theo điều Yết nhã cúc xà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 5, thì kinh tế nước này dồi dào, nhân dân tin cả chính lẫn tà, có hơn 100 ngôi chùa với trên một vạn tăng chúng, tu học cả Đại thừa và Tiểu thừa. Có hơn 200 đền thờ trời và dị đạo hơn vài nghìn người. [X. kinh Bát đại linh tháp danh hiệu; Cao tăng Pháp hiển truyện].

kế sa la hoa

3954計娑羅,梵語 kesara。又作計薩囉華、雞薩羅華。意譯作蘂、花蕊。即指學名爲 Rottleria tinctoria 或 Mimusops elengi 或 Mesua ferrea 等植物所開之花。然八十華嚴經卷七十六則謂是寶玉之名。又慧苑音義卷下謂爲獅子身毛之旋紋。又產於馬來西亞之鐵刀木、鐵棱等樹木之花,亦稱計娑羅華。 ; (計娑羅華) Kế sa la, Phạm:Kesara. Dịch ý: Nhị, Hoa nhị. Cũng gọi Kế tát la hoa, Kê tát la hoa. Tên khoa học: Rottleria tinctoria hoặc Mimusops elengi hoặc Mesua ferrea. Tên một loại hoa. Nhưng kinh Hoa nghiêm quyển 76 (bản 80 quyển) thì cho rằng Kế sa la là tên của một loại ngọc báu, còn Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ thì cho là vằn lông xoáy tròn trên mình sư tử. Ngoài ra, hoa của cây Thiết đao, Thiết lăng sinh sản ở vùng Mã lai á cũng gọi là Kế sa la.

kế sinh nhai

Means of living.

kế thành

6777宋代臨濟宗僧。生卒年不詳。江西宜春人,俗姓劉。字蹣菴。崇寧年間(1102~1106)參禮仰山普得度,不久,又參禮雲蓋智本。嗣開封智海禪院普融道平之法。宣和六年(1124)春,奉詔住右街顯忠寺。宋高宗潛邸時,嘗書扇面下賜。建炎初年(1127),入天台山華頂峰;紹興年間(1131~1162),入福建秀峰。師嘗受徽宗之皈依,賜號「佛慈禪師」。〔嘉泰普燈錄卷十二、五燈會元卷十二、釋氏稽古略卷四〕

kế thừa

To inherit something from someone.

kế tiếp

To succeed.

kế trung

6777(1012~1082)北宋天台宗山家派僧。浙江永嘉人,俗姓丘。字法臣,號扶宗。八歲於開元寺剃髮。稍長,習經律,後因勞苦得疾,虔修觀音懺而癒。不久,入南湖延慶寺就廣智尚賢受法,深受器重,常代講席,雪竇見而歎賞。後往杭州天竺寺禮觀音,豁然心開,洞徹所學,於寺講法華經。其後歷住開元、妙果、慧安諸寺,復退隱於江心寺,研習禪觀。又住永嘉法明院。 師形貌魁偉,聲如洪鐘,說法不喜文飾,而貫穿經論,辯才無礙。每年正月八日授菩薩戒,常有數萬人來集。又修法華、光明、彌陀、觀音諸三昧不輟,誦咒救苦,神驗無方。若入市中,坐者避席,行者讓路,時人尊稱為戒師。世壽七十一,法臘六十四。受其教化之弟子數百人,以從義、處元為著。著有扶宗集五十卷、二師口義十五卷。又嘗編纂十諫書、指迷、抉膜、扶宗記、十門析難、解謗書等。〔釋門正統卷六、佛祖統紀卷十三、卷二十五、釋氏稽古略卷四〕 ; (繼忠) (1012-1082) Danh tăng Trung quốc thuộc phái Sơn gia, tông Thiên thai, sống vào thời Bắc Tống, người huyện Vĩnh gia, tỉnh Chiết giang, họ Khâu, tự là Pháp thần, hiệu Phù tông. Năm 8 tuổi, sư xuất gia ở chùa Khai nguyên, khi lớn lên, sư học kinh luật. Sau, sư lâm bệnh, nhờ thành tâm tu sám Quan âm mà qua khỏi. Không bao lâu, sư đến chùa Diên khánh ở Nam hồ thụ pháp nơi ngài Quảng trí Thượng hiền, rất được ngài Quảng trí coi trọng, sư thường thay thế ngài giảng kinh, ngài Tuyết đậu thấy thế cũng khen ngợi. Sau, sư đến chùa Thiên trúc ở Hàng châu lễ bồ tát Quan âm, bỗng nhiên tỏ ngộ, thấu suốt lí nghĩa kinh điển. Sư lưu lại chùa này giảng kinh Pháp hoa trong một thời gian.Về sau, sư lần lượt trụ ở chùa Khai nguyên, Diệu quả, Tuệ an, rồi lại lui về ẩn cư tại chùa Giang tâm, tu tập Thiền quán, sau lại trụ tại viện Pháp minh ở Vĩnh gia. Sư có thân hình cao lớn, khỏe mạnh, tiếng nói vang như chuông, thuyết pháp không chuộng lời văn bóng bảy, chỉ cần rõ suốt kinh luận, biện tài thao thao vô ngại. Hàng năm, vào ngày mùng 8 tháng giêng sư mở đàn truyền giới Bồ tát, số giới tử thường tới vài vạn. Sư tu Tam muội Pháp hoa, Quang minh, Di đà, Quan âm không ngừng nghỉ, tụng chú cứu khổ rất linh nghiệm. Khi sư vào trong phố, hễ ngồi thì người nhường chỗ, đi thì người tránh đường, người thời bấy giờ tôn xưng sư là Giới sư. Năm 1082 sư thị tịch, thọ 71 tuổi, pháp lạp 64. Đệ tử của sư có tới mấy trăm người, trong đó, các vị Tòng nghĩa, Xử nguyên là nổi tiếng hơn cả. Sư có các tác phẩm: Phù tông tập 50 quyển, Nhị sư khẩu nghĩa 15 quyển, Thập gián thư, Chỉ mê, Quyết mạc, Phù tông kí, Thập môn tích nạn, Giải báng thư. [X. Thích môn chính thống Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.13, Q.25; Thích thị kê cổ lược Q.4].

kế tát la

Kesara (skt)—Tóc—Hair—Filament.

Kế Tân

tên nước, phiên âm từ Phạn ngữ là Gndhra, cũng phiên âm là Kiền-đà-la, là một nước thuộc Ấn Độ thời cổ, nằm ở phía bắc lưu vực Ngũ Hà, vùng hạ lưu sông Kabul, thuộc tây bắc Ấn Độ ngày nay.

kế tân

Kasmir (S)CashmirXứ Chasmir ngày nay gần Afghanistan. ; Xem Ca thấp di la. ; Vương quốc cổ Kế Tân, bây giờ là Kashmir, nằm về phía tây bắc Ấn Độ—Ancient Kashmir kingdom, situated in the north-east of India—See Kashmir in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

kế tân quốc

6491又作癝賓國、劫賓國、羯賓國。為漢朝時之西域國名。位於印度北部。即今喀什米爾一帶之地。有關其國名,諸書之記載不一,貞元新定釋教目錄卷十七謂為迦畢試國(梵 Kapiśa)之訛稱,梵語雜名謂為劫比舍也(梵 Karpiśaya)之略音,雷穆沙(A. Rémusat)謂為喀布爾河(Kabul)之古名喀菲斯(Kophes)之譯音,萊維(S. Lévi)及沙畹(E. Chavannes)謂為迦濕彌羅國(梵 Kaśmīra)之古稱。蓋此國名自古即見載於我國正史,又頻見於佛典中,依時代之不同,所指之地亦有差異。大抵言之,罽賓為迦濕彌羅國之古稱。〔洛陽伽藍記卷五、大唐西域記卷一迦畢試國條、漢書西域傳第六十六上罽賓國條、隋書西域列傳第四十八、唐書西域列傳第一四六上罽賓國條、S. Lévi, E. Chavannes: L' Itinéraire d'Ou-K'oung(Jou rnal Asiatique, 1895)〕(參閱「迦濕彌羅國」3978) ; (罽賓國) Cũng gọi Kiếp tân quốc, Yết tân quốc. Tên một nước xưa ở tây bắc Ấn độ, nay là vùng đấtKashmir. Về tên gọi của nước này, có nhiều thuyết khác nhau: Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 17 cho rằng Kế tân là tên gọi lầm của nước Ca tất thí (Phạm: Kapiza). Phạm ngữ tạp danh thì cho Kế tân là tên gọi tắt của Kiếp tỉ xá dã (Phạm:Karpizaya). Ông A. Rémusat thì bảo Kế tân là Hán âm của Kophes, tên cổ xưa của Kabul. Còn các ông S. Lévi và E. Chavannes thì cho rằng Kế tân là tên xưa của nước Ca thấp di la (Phạm:Kazmìra). Vì tên nước này từ xưa (thời nhà Hán) đã được ghi trong chính sử của Trung quốc, lại thường thấy trong kinh điển Phật giáo, theo thời đại bất đồng nên miền đất được chỉ ra cũng khác nhau. Nhưng đại khái thì Kế tân là tên cổ xưa của nước Ca thấp di la. [X. Lạc dương già lam kí Q.5; điều Ca tất thí quốc trong Đại đường tây vực kí Q.1; Tùy thư Tây vực liệt truyện 48; điều Kế tân quốc trong Đường thư Tây vực liệt truyện 146 thượng; S. Lévi, E. Chavannes: L’ Itinéraire d’ Ou-K’ oung (Journal Asiatique, 1895)]. (xt. Ca Thấp Di La Quốc).

kế tân quốc long trì

6491據大唐西域記卷三迦濕彌羅國條、善見律毘婆沙卷二載,昔罽賓國有阿羅婆樓龍王(梵 Aravāḍa)降大雨,淹流禾稻,使成為大池。至阿育王時,有阿難弟子末田底迦(梵 Madhyantika),得六神通,具八解脫,遊化至此,宴坐於林中,現大神力;龍王見之信服,請資所欲,末田底迦遂令其以神力使水盡池空,奉施土地。末田底迦既得其地,乃運大神通力,建立五百伽藍;並為諸人民闡說譬喻經,使八萬眾生得道,千人出家。此地即後世之迦濕彌羅國。 ; (罽賓國龍池) Ao rồng ở nước Kế tân. Thủa xưa ở nước Kế tân có vua rồng A la bà lâu (Phạm:Aravàđa) làm mưa to gió lớn khiến ruộng lúa biến thành ao nước mênh mông. Đến thời vua A dục có đệ tử của ngài A nan là Mạt điền để ca (Phạm: Madhyantika) chứng được 6 thần thông, đầy đủ 8 giải thoát, đến nơi ấy hóa đạo, tĩnh tọa trong rừng, hiện thần lực lớn, vua rồng thấy thế tín phục, hỏi Ngài cần điều gì xin làm theo ý muốn. Ngài Mạt điền để ca liền bảo vua rồng dùng sức thần rút hết nước trong ao ra, vua rồng liền làm theo rồi hiến đất cho Ngài. Sau đó, ngài Mạt điền để ca vận dụng sức đại thần thông xây dựng 500 ngôi chùa tại đây và giảng kinh Thí dụ khiến 8 vạn chúng sinh đắc đạo, hàng nghìn người xuất gia. Vùng đất ấy đến đời sau trở thành nước Ca thấp di la. [X. điều Ca thấp di la quốc trong Đại đường tây vực kí Q.3; Thiện kiến luật tì bà sa Q.2].

Kế tân quốc 罽賓國

[ja] ケイヒンコク Keihinkoku ||| Kaśmīra (Kashmir); an ancient state in north India. In and after the Tang period it referred to Gandhāra or the present Kabul. Kyebinguk (k); Keihinkoku (j); Kaśmīra (s); (Kashmir) (e); => Một quốc gia thời xưa ở Ấn Độ. Khoảng vào và sau đời Đường Trung Hoa, nước nầy có tên là Gandhāra hay là Kabul ngày nay.

kế tân vương tí đoạ

6490傳說罽賓國王殺害師子尊者,其臂墮地。據景德傳燈錄卷二載,禪宗相承系譜西天二十八祖中之第二十四祖師子尊者,遊化至罽賓國,其時,彼國王名彌羅崛,邪見熾盛,毀壞塔寺,殺害眾僧,並以利劍斬殺師子尊者,尊者頭中無血,唯涌出白乳,高達數尺,而王之右臂亦隨之墮地,七日之後命終。〔付法藏因緣傳卷六、佛祖統紀卷五〕(參閱「師子」4090) ; (罽賓王臂墮) Truyền thuyết về cánh tay vua nước Kế tân rơi xuống đất khi nhà vua giết hại tôn giả Sư tử. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 2, tôn giả Sư tử, vị Tổ thứ 24 trong 28 vị Tổ của Thiền tông Ấn độ, đến nước Kế tân hóa đạo, bấy giờ vua nước ấy tên là Di la quật, tà kiến sâu nặng, hủy hoại các chùa tháp, sát hại chúng tăng. Di la quật dùng kiếm chém đầu tôn giả Sư tử, nhưng từ nơi cổ của Ngài không có máu chảy ra mà chỉ thấy một dòng sữa trắng vọt lên đến mấy thước, cùng lúc đó cánh tay phải của nhà vua cũng theo dòng sữa ấy mà rơi xuống đất, 7 ngày sau vua qua đời. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.5]. (xt. Sư Tử).

kế tục

To continue—To follow.

kế viên tự

Kukkhutarama (S)Tên một vị sư.

kế vị

To succeed to the throne.

kế đô

Ketu (skt). 1) Sao kế đô, tên của hai chòm sao nằm bên trái và phải của chòm sao Aquila: A comet, name of two constellations to the left and right of Aquila—See Cửu Diệu. 2) Bất cứ vẻ sáng rực nào: Any bright appearance.

Kế Đăng Lục

(繼燈錄, Keitōroku): 6 quyển, do Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢) nhà Minh trước tác, san hành vào năm thứ 8 (1651) niên hiệu Thuận Trị (順治). Nguyên Hiền biên thuật bộ này vào năm thứ 2 (1648), thứ 4 (1650) niên hiệu Vĩnh Lịch (永曆), và đặt tên là Kế Đăng Lục với ý nghĩa là tập thâu lục các Truyền Đăng Lục tiếp theo Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元). Chủ yếu tập trung vào hai tông Tào Động và Lâm Tế, thư tịch này thâu lục Tào Động Tông 41 người tính từ đời thứ 16 trở xuống thuộc môn hạ Thanh Nguyên (青原), Lâm Tế Tông 216 người kể từ đời thứ 18 trở xuống thuộc môn hạ Nam Nhạc (南岳), ngoài ra còn có 7 người khác, tổng cọng là 264 người. Vào năm thứ 5 (1692) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), bộ này được tái san hành.

kế đăng lục

6778凡六卷,另有目錄一卷。明代僧永覺元賢(1578~1657)著,清順治八年(1651)刊行。收於卍續藏第一四七冊。元賢廣蒐博採諸方文獻,繼五燈會元、五燈會元續略等諸種傳燈錄,編集曹洞宗自青原行思之系統中第十六世天童如淨以下之四十一人,以及臨濟宗自南嶽懷讓之系統中第十八世淨慈悟明以下之二一六人,又附錄溈山太初等法系不詳者七人,計輯錄二六四位禪林耆宿之機緣略傳、宗乘法語等。 元賢另著有「補燈錄」一書,然其傳本所在不明。據禪籍志所抄錄永覺元賢之補燈錄自序略文記載,該書共載錄禪僧一八○人之傳記。 ; (繼燈錄) Tác phẩm, 7 quyển, trong đó có 1 quyển Mục lục, do ngài Vĩnh giác Nguyên hiền (1578-1657) soạn vào đời Minh, Trung quốc, ấn hành vào năm Thuận trị thứ 8 (1651) đời Thanh, thu vào Vạn tục tạng tập 147. Ngài Nguyên hiền đã sưu tập các loại văn hiến và tham khảo các bộ Truyền đăng lục như: Ngũ đăng hội nguyên, Ngũ đăng hội nguyên tục lược, v.v... mà biên soạn thành sách này. Nội dung gồm cơ duyên lược truyện, pháp ngữ tông thừa của 264 vị lão túc trong Thiền lâm, trong đó gồm 41 vị thuộc tông Tào động từ ngài Thiên đồng Như tịnh đời thứ 16 trở xuống trong pháp hệ của ngài Thanh nguyên Hành tư, 216 vị thuộc tông Lâm tế từ ngài Tịnh từ Ngộ minh đời thứ 18 trở xuống trong pháp hệ của ngài Nam nhạc Hoài nhượng và 7 vị phụ lục không rõ pháp hệ như ngài Qui sơn Thái sơ...

kế đạc

Abhinirùpanà-viklpa (S). Fixation of the thought in the discrimination.

kế đạc phân biệt

AbhinirŪpaṇā-vikalpa (S), Fixation of the thought in the discrimination.

kế đạo

Xem Châu lỵ bàn đà già.

kế độ

Tarka or Vitarka (skt)—Tính toán—Phân biệt—To calculate—To differentiate—To reckon.

kế độ mạt để sơn vương

Ketumatī(-girirāja) (S)Tràng Huệ Sơn vương.

kế độ phân biệt

3954梵語 abhinirūpaṇā-vikalpa。意即分別計量推度。三分別之一。又作推度分別、分別思惟。謂於所緣之境計量推度,係與意識相應的散慧之分別作用。阿毘達磨俱舍論卷二(大二九‧八中):「散,謂非定。意識相應散慧,名爲計度分別。」〔大毘婆沙論卷四十二、大乘阿毘達磨雜集論卷二〕(參閱「三分別」531) ; (計度分別) Phạm:Abhinirùpaịà-vikalpa. Cũng gọi Suy đạc phân biệt, Phân biệt tư duy. Phân biệt, so lường, suy tính. Một trong 3 thứ phân biệt. Nghĩa là sự tính toán so lường đối với cảnh sở duyên, là tác dụng của tán tuệ tương ứng với ý thức. Luận A tì đạt ma câu xá quyển 2 (Đại 29, 8 trung), nói: Tán nghĩa là chẳng phải định. Tán tuệ tương ứng với ý thức gọi là Kế đạc phân biệt. [X. luận Đại tì bà sa Q.42; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2]. (xt. Tam Phân Biệt).

kết

5179<一>梵語 bandhana 或 saṃyojana。又作結使。即使煩惱。結,為繫縛之義;蓋煩惱繫縛眾生於迷境,令不出離生死之苦,故有此異稱。諸經論所說結之類別有多種,略舉如下: (一)二結。據中阿含經卷三十三載,結有慳、嫉二種。 (二)三結。(1)增一阿含經卷十七舉出身邪結(又作身見結)、戒盜結(又作戒禁取見結)、疑結等三結。五見與疑等六煩惱,亦包含於此三結之中。(2)阿毘曇甘露味論、俱舍論卷二十一等謂,愛、恚、無明三者稱為三結。若斷滅此三結,則可得預流果,能斷一切見惑。(3)光讚般若經卷二則舉出貪身、狐疑、毀戒等三者為三結。 (三)四結。(1)增一阿含經卷二十舉出欲結、瞋結、癡結、利養結等四種。(2)又作四身結、四縛。即成實論卷十、鞞婆沙論卷二、大乘義章卷五本等所列舉之貪嫉身結、瞋恚身結、戒取身結、貪著是實取身結(又作見取身結)。 (四)五結。(1)中阿含經卷五十六、阿毘達磨發智論卷三、集異門足論卷十二、俱舍論卷二十一等所說之五結。分為五下分結與五上分結兩種。五下分結,係將眾生結縛於欲界之五種煩惱,即:有身見結、戒禁取見結、疑結、欲貪結、瞋恚結等五結。五上分結,係將眾生結縛於色界、無色界之五種煩惱,即:色貪結、無色貪結、掉舉結、慢結、無明結等五結。(2)總攝上記欲界、色界、無色界等之五結為貪結、瞋結、慢結、嫉結、慳結等五項。 (五)九結。雜阿含經卷十八、阿毘達磨發智論卷三、辯中邊論卷上等列舉愛、恚、慢、無明、見、取、疑、嫉、慳等九種煩惱為九結。此係六種根本煩惱(將「見」分身、邊、邪三見,稱為見結;見取見與戒禁取見合併為取結)加上嫉結、慳結,而成九結。大毘婆沙論卷五十說九結之體(自性)共有一百種。〔雜阿含經卷三十二、大毘婆沙論卷四十六、卷四十九、成實論卷十雜煩惱品、大乘阿毘達磨雜集論卷六〕(參閱「九結」148、「四結」1779) <二>梵語 nigamana。因明用語。為古因明所立五支作法中之第五支。即全部論式之結論,亦即宗支(命題)經過論據之肯定後再次加以複述。印度自古即普遍流行因明之法,其時係以宗、因、喻、合、結等五部分組成一論式,至六世紀之陳那銳意改革古因明之缺點後,後人稱為新因明。陳那以為結支為多餘者,遂將之刪除;蓋其作用,歸攝於宗支即可,而因明組織之嚴密,至此更趨完備。(參閱「五支作法」1069) ; Bandhana (S), Samyojana (P), Binding, PhượcSự trói buộc. ; (A) Nghĩa của “Kết”—The meanings of “Bond” • Trói buộc: To tie a knot—Bound—Tie—Knot—Settle—Wind up—To form. • Trói buộc của luân hồi sanh tử: The bond of transmigration. (B) Phân loại “Kết”—Categories of “bonds” 1) Tam Kết: Three bonds—See Tam Kết. 2) Ngũ Kết: Five bonds to mortality—See Ngũ Kết. 3) Ngũ Hạ Phần Kết: The five bonds in the lower desire-realms or the lower fetters—See Ngũ Hạ Phần Kết. 4) Ngũ Thượng Phần Kết: The five higher bonds of desire still exist in the upper realms of form and formlessness—See Ngũ Thượng Phần Kết. 5) Cửu Kết: The nine bonds that bind men to mortality—See Cửu Kết. ; (結) I. Kết. Phạm: Bandhana hoặc Saôyojana. Cũng gọi Kết sử. Trói buộc, chỉ cho phiền não. Vì phiền não trói buộc chúng sinh vào cảnh mê, khiến cho không thể thoát khỏi cái khổ sinh tử, nên gọi là Kết(trói buộc). Kết có nhiều loại: 1. Nhị Kết: Theo kinh Trung a hàm quyển 33, thì Kết có 2 loại là Khan (bỏn sẻn) và Tật(ghen ghét). 2. Tam Kết. - Kinh Tăng nhất a hàm quyển 17 nêu 3 loại kết là: Thân tà kết(cũng gọi Thân kiến kết), Giới đạo kết(cũng gọi Giới cấm thủ kiến kết) và Nghi kết. Sáu phiền não: 5 kiến và nghi cũng bao hàm 3 kết này. - Luận A tì đàm cam lộ vị và luận Câu xá quyển 31 thì gọi 3 thứ Ái, Khuể, Vô minh là Tam kết. Nếu dứt trừ 3 kết này thì đoạn được tất cả Kiến hoặc mà chứng quả Dự lưu. - Kinh Quang tán bát nhã quyển 2 thì gọi 3 thứ Tham thân, Hồ nghi và Hủy giới là Tam kết. 3. Tứ kết. - Kinh Tăng nhất a hàm quyển 20 nêu 4 loại Kết: Dục kết, Sân kết, Si kết và Lợi dưỡng kết. - Luận thành thực quyển 10, luận Đại tì bà sa quyển 2 và Đại thừa nghĩa chương quyển 5 phần đầu, nêu ra 4 loại thân kết: Tham tật thân kết, Sân khuể thân kết, Giới thủ thân kết và Tham trước thị thực thủ thân kết(cũng gọi Kiến thủ thân kết). 4. Ngũ kết. - Kinh Trung a hàm quyển 56, luận A tì đạt ma phát trí quyển 3, luận Tập dị môn túc quyển 12 và luận Câu xá quyển 21, chia Ngũ kết thành 2 loại: Ngũ hạ phần kết và Ngũ thượng phần kết. a) Ngũ hạ phần kết là 5 loại phiền não trói buộc chúng sinh trong cõi Dục, đó là: Hữu thân kiến kết, Giới cấm thủ kiến kết, Nghi kết, Dục tham kết và Sân khuể kết. b) Ngũ thượng phần kết là 5 loại phiền não trói buộc chúng sinh ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, đó là: Sắc tham kết, Vô sắc tham kết, Điệu cử kết, Mạn kết và Vô minh kết. - Thu tóm cả 5 kết của cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc nói trên là 5 món: Tham kết, Sân kết, Mạn kết, Tật kết và Khan kết. 5. Cửu kết. Kinh Tạp a hàm quyển 18, luận A tì đạt ma phát trí quyển 3 và luận Biện trung biên quyển thượng liệt kê 9 loại phiền não là Ái, Khuể, Mạn, Vô minh, Kiến, Thủ, Nghi, Tật và Khan. Cửu kết này là do 6 phiền não căn bản(chia Ác kiến thành 3 kiến: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, gọi là Kiến kết và gom chung 2 kiến: Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến, gọi là Thủ kết) rồi thêm vào Tật kết, Khan kết mà thành. Luận Đại tì bà sa quyển 50 nói rằng thể (tự tính) của 9 kết gồm có 100 loại. [X. kinh Tạp a hàm Q.32; luận Đại tì bà sa Q.46, Q.49; phẩm Tạp phiền não trong luận Thành thực Q.10; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.6]. (xt. Cửu Kết, Tứ Kết). II. Kết. Phạm: Nigamana. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chi thứ 5 trong Ngũ chi tác pháp do Cổ nhân minh thành lập, tức kết luận toàn bộ luận thức, cũng tức là chi Tông(mệnh đề) được trình bày lại một lần nữa sau khi đã được khẳng định bằng luận cứ. Từ xưa, ở Ấn độ, luận lí Nhân minh đã được lưu hành một cách phổ biến. Thời bấy giờ một luận thức được tạo thành bởi 5 phần: Tông, Nhân, Dụ, Hợp và Kết. Đây gọi là Cổ nhân minh. Thí dụ: Tông: Âm thanh là vô thường Nhân: Vì là do sự tác động mà có ra. Dụ: Ví như cái bình, vân vân... Hợp: Cái bình là do sự tác động mà có ra, là vô thường; âm thanh cũng do sự tác động mà có ra, nên âm thanh cũng là vô thường. Kết: Vì thế nên biết được rằng âm thanh là vô thường. Trong 5 phần của luận thức Cổ nhân minh trên đây, ta nhận thấy chỉ có 3 phần đầu Tông, Nhân, Dụ là cần thiết mà thôi, còn 2 phần sau chẳng qua là lập lại nên không cần lắm. Vì vậy, đến thế kỉ VI Tây lịch, ngài Trần na mới bỏ 2 phần ấy của Cổ nhân minh ra và sửa đổi lại phần Nhân, Dụ mà biến thành Tân nhân minh. Bây giờ ta đem một luận thức của Tân nhân minh so sánh với luận thức trên để thấy sự khác nhau giữa Tân và Cổ: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là do sự tác động mà có ra. Dụ: Những gì do sự tác động mà có ra đều là vô thường, ví như cái bình, vân vân... Ta thấy luận thức của Tân nhân minh chỉ còn có 3 phần, so với luận thức 5 phần của Cổ nhân minh, tuy là giản lược và vắn tắt hơn, nhưng lại rõ ràng và chính xác hơn nhiều. Đó là một đặc sắc lớn của Tân nhân minh. (xt. Ngũ Chi Tác Pháp).

kết (kiết) già phu tọa

Padmàsana (S). Cross legged sitting. Sitting in lotus posture.

kết bạn

To make friends.

kết bệnh

Bệnh của sự trói buộc vào dục vọng và sanh tử luân hồi—The disease of bondage to the passions and reincarnation.

kết cuộc

The end.

kết cống thô trì tăng cách

5186(1144~1204)西藏佛教迦爾居派潑結迦爾居支派修色迦爾居派創始人。西藏雅隆地方人,昌珠巴王族後裔。南宋紹興二十二年(1152),從潑結木九巴學法。淳熙八年(1181),於涅浦地方建修色寺,創立該派。

kết duyên

5189謂今生之修行雖無法獲得解脫,然亦可作為他日得果之機緣。摩訶止觀卷六下即有(大四六‧八○上):「和光同塵,結緣之始」一語。於天台宗,結緣係廣通於藏、通、別、圓四教。如法華玄義(會本)卷六下所說,若作三藏教之結緣,則宣說生滅之法;若作通教之結緣,則宣說無生之法;若作別教之結緣,則宣說不生生恆沙之佛法;若作圓教之結緣,則宣說不生不生一實相法。 天台宗又依眾生根機之利鈍或業障之輕重等類別,而將結緣分為汎爾結緣與下種結緣二種。眾生之類別有四:(一)根鈍障重者,此類人縱聞圓乘教法,然不能悟解,故屬於汎爾結緣。(二)根鈍障輕者,此類人先聞權乘教法,悟解其義而結緣。(三)根利障重者與(四)根利障輕者,此二類人聽聞圓乘教法而發圓解,佛種乃薰於本識。其中,以佛種薰於本識者稱為下種結緣,聞教而不能悟解者稱為汎爾結緣。 又一般為造立寺塔、刻印經書等,而喜捨金錢財物以結法緣之情形,亦稱結緣。另如在一會座之中,共同聽聞佛法之大眾,則稱結緣眾。後世教界中廣用此語,其涵義亦廣,要之,為彼此交結善緣之意。此外,日本佛教有所謂之「結緣五重」,即結緣灌頂、結緣八講、結緣經、結緣供養、結緣授戒等五種法會之總稱。〔大日經疏卷四、法華文句卷二下、止觀輔行傳弘決卷六之三〕 ; To form a cause or basis, to form a connection, e.g. for future salvation. ; Kết duyên (với Phật Pháp) để được độ sau nầy. Căn bản 84.000 kiếp qua mà Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai đã dạy trong Kinh Pháp Hoa cho 16 vị đệ tử để trở thành 16 vị Phật, mà Phật Thích Ca là lần tái sanh thứ 16—To form a cause or basis, to form a connection, e.g. for future salvation. The basis or condition laid 84,000 kalpas ago by Mahabhijna-jnanabhibhu in his teaching of the Lotus Sutra to 16 disciples who became incarnate as 16 Buddhas, for the subsequent teaching of the Lotus scriptures by Sakyamuni, the last of the 16 incarnations, to his disciples. ; (結緣) Đời này tu hành tuy chưa được giải thoát nhưng đó là cơ duyên để đắc quả ở kiếp sau. Ma ha chỉ quán quyển 6 phần cuối (Đại 46, 80 thượng), nói: Hòa đồng với trần tục là đầu mối của sự kết duyên. Theo tông Thiên thai, kết duyên được ứng dụng chung cho cả Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6, hạ(hội bản), cho rằng nếu kết duyên với Tạng giáo thì nói pháp sinh diệt; nếu kết duyên với Thông giáo thì nói pháp vô sinh; nếu kết duyên với Biệt giáo thì tuyên thuyết Phật pháp bất sinh sinh hằng sa; nếu kết duyên với Viên giáo thì tuyên dương pháp bất sinh bất sinh nhất thực tướng. Tông Thiên thai còn căn cứ vào căn cơ lợi độn của chúng sinh mà chia kết duyên làm 2 loại: Phiếm nhĩ kết duyên và Hạ chủng kết duyên. a) Phiếm nhĩ kết duyên, có 2 loại: 1. Kết duyên với hạng chúng sinh căn cơ chậm lụt, nghiệp chướng sâu nặng, tuy nghe giáo pháp Viên đốn nhưng không giải ngộ được. 2. Kết duyên với hạng chúng sinh có căn cơ chậm lụt, nhưng nghiệp chướng nhẹ, nghe giáo pháp quyền thừa có thể ngộ giải được. b) Hạ chủng kết duyên, cũng có 2 loại: 1. Kết duyên với hạng chúng sinh căn cơ lanh lợi nhưngnghiệp chướng còn nặng nề. 2. Kết duyên với hạng chúng sinh căn cơ lanh lợi, nghiệp chướng cũng nhẹ nhàng. Hai hạng chúng sinh này nghe giáo pháp Viên đốn có thể giải ngộ được, hạt giống Phật được huân vào bản thức. Ngoài ra, bỏ tiền bạc tài vật dùng vào việc xây dựng chùa tháp, tạo tượng đúc chuông, in ấn kinh sách, v.v... cũng gọi là Kết duyên. Về sau, giới Phật giáo thường dùng từ ngữ này để chỉ cho nghĩa kết duyên lành với nhau. Còn Phật giáo Nhật bản thì dùng nhóm từ Kết duyên ngũ trùng để chỉ cho 5 loại pháp hội là: Kết duyên quán đính, Kết duyên bát giảng, Kết duyên kinh, Kết duyên cúng dường và Kết duyên thụ giới. [X. Đại nhật kinh sớ Q.4; Pháp hoa văn cú Q.2 phần cuối; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6 phần 3].

kết duyên chúng

5190為聽法四眾之一。謂現世得見佛聞法,雖由宿世因淺,未能得證悟之益,然有未來得度之因緣,能值佛而見佛聞法者。〔法華文句卷二下、大明三藏法數卷十五〕(參閱「四眾」1763) ; The company or multitude of those who now become Buddhists in the hope of improved karma in the future. ; Một trong Tứ Chúng, do duyên kiếp trước còn nông cạn, chưa được độ nên kết nhân duyên đắc đạo sau nầy, với hy vọng cải thiện nghiệp chướng trong tương lai—The company or multitude of those who noe become Budhists in the hope of improved karma in the future, one of the four groups of disciples. ** For more information, please see Tứ Chúng (B) (4). ; (結緣衆) Chỉ cho thính chúng đời này thấy Phật nghe pháp, tuy chưa chứng ngộ nhưng đã kết duyên lành để được độ ở đời sau. Là 1 trong 4 chúng nghe pháp. [X. Pháp hoa văn cú Q.2 phần cuối; Đại minh tam tạng pháp số Q.15]. (xt. Tứ Chúng).

kết duyên quán đỉnh

5190指為廣結佛緣而舉行之密教灌頂。又作投華三昧耶。乃三灌頂之一,五種三昧耶之第二。即不分是器非器、持戒破戒或無戒等,僅為結緣而引受者入灌頂壇,授一印一明,稱為結緣灌頂。其儀式頗簡單,即阿闍梨先以覆面(遮目之淨帛)覆蓋受者之面,授印明,執印之端引入壇中,越過香象而趣大壇,於印端插一花,投於壇上所鋪之「敷曼荼羅」上,依其花所著之尊,而得不同之佛。於是阿闍梨除去受者之覆面,受者視其得佛之所在,次唱得佛之尊號,三度以瓶水灌受者之頂,後授予其所得佛之一印一明。受者依佛之加持力,不墮三惡趣,滅除一切罪障,得無量功德。唐玄宗天寶五年(746),不空三藏由師子國返還,未久,受詔入內,建壇為帝灌頂,為我國行此法之濫觴。〔金剛頂經卷三、諸佛境界攝真實經卷一、不空羂索神變真言經卷十五、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、大日經疏卷四、宋高僧傳卷一〕(參閱「灌頂」6853) ; (結緣灌頂) Cũng gọi Đầu hoa tam muội da (Tam muội da tung hoa). Nghi thức quán đính của Mật giáo được cử hành để kết duyên với Phật pháp. Là 1 trong 3 pháp quán đính, Tam muội da thứ 2 trong 5 loại Tam muội da. Pháp quán đính này được truyền trao cho mọi người không phân biệt độn căn, lợi căn, giữ giới, phá giới, không giới, v.v... Nghi thức cử hành rất giản đơn, tức trước tiên, vị A xà lê dùng 1 mảnh lụa sạch phủ lên mặt người thụ pháp, trao cho ấn và chú, rồi cầm đầu ấn có cắm 1 bông hoa dẫn người ấy bước qua lư hương đi vào trong Đại đàn, tung bông hoa vào Mạn đồ la trải trên đàn, tùy theo chỗ hoa rơi mà chọn được vị Bản tôn của mình. Bấy giờ vị A xà lê lấy mảnh lụa phủ mặt người thụ pháp ra, người ấy thấy được chỗ vị Bản tôn của mình đã chọn; kế đến là xướng tôn hiệu của Bản tôn, rồi lấy nước trong bình rưới lên đỉnh đầu người thụ 3 lần và trao cho ấn và chú của vị Bản tôn. Người thụ nhờ sức gia hộ của Bản tôn mà không rơi vào 3 đường ác, diệt trừ tất cả tội chướng, được vô lượng công đức. Vào năm Thiên bảo thứ 5 (764), ngài Tam tạng Bất không từ nước Sư tử trở lại Trung quốc, vua Đường Huyền tông ban sắc triệu ngài Bất không vào cung lập đàn truyền pháp quán đính cho vua, đây là nghi thức quán đính kết duyên đầu tiên được cử hành tại Trung quốc. [X. kinh Kim cương đính Q.3; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.1; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.15; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.4; Tống cao tăng truyện Q.1]. (xt. Quán Đính).

kết duyên đậu

5190古時寺院於法會時,煮豆施大眾,其豆稱結緣豆。即於陰曆十二月八日(一說四月八日),若有舉行施豆之佛事,則先於夜間,跪在佛前,每捻一豆,念佛一聲,待次晨施與大眾,以結善緣,稱為結緣豆。〔津門雜記卷上歲時風俗條〕 ; (結緣豆) Nấu đậu cúng dường đại chúng để kết duyên lành. Tức vào ngày mùng 8 tháng 12(có thuyết nói ngày mùng 8 tháng 4) âm lịch, các chùa viện thời xưa thường nấu đậu cúng dường đại chúng. Nghi thức được cử hành như sau: Buổi tối, đại chúng mang đậu lên chính điện đặt trước Phật, quì xuống nhặt đậu; mỗi lần nhặt một hạt đậu thì niệm Phật 1 tiếng. Khi nhặt xong, đậu được đem đi nấu; sáng hôm sau, dâng đậu ấy cúng dường đại chúng để kết thiện duyên, gọi là đậu kết duyên. [X. điều Tuế thời phong tục trong Tân môn tạp kí Q.thượng].

kết giao

Làm bạn với ai—To form a friendship with someone.

kết già

nói đủ là kết già phu tọa, Phạn ngữ là nyaṣỵdat-paryaṅkam bhujya, là cách ngồi theo tư thế tréo chân, vững chãi như hoa sen, nên cũng gọi là dũng kiện tọa hay liên hoa tọa. Dân gian quen gọi là ngồi xếp bằng. Đây là cách ngồi được áp dụng trong tất cả các pháp môn của đạo Phật, dù là Tiểu thừa hay Đại thừa, Tịnh độ hay Thiền tông, khi hạ thủ công phu trước hết đều phải dùng đến cách ngồi an ổn này. Nếu cả hai chân đều giao nhau thì là toàn già tọa; nếu chân này gác trên chân kia thì gọi là bán già tọa. Có hai cách áp dụng phổ biến: 1. Trước hết đặt chân phải trên đùi trái, sau đó đặt chân trái trên đùi phải, hai lòng bàn chân ngửa lên, nằm trên hai bắp vế, lòng bàn tay cũng ngửa lên, tay trái đặt trên tay phải. Cách ngồi này gọi là Hàng ma tọa. Các tông Thiên Thai, Thiền tông... và đa số các tông Hiển giáo đều theo cách ngồi này. 2. Trước hết đặt chân trái trên đùi phải, sau đó đặt chân phải trên đùi trái, lòng bàn tay phải đặt trên lòng bàn tay trái, tất cả bàn tay và bàn chân đều ngửa lên. Cách ngồi này gọi là Cát tường tọa. Mật tông gọi là Liên hoa tọa.

Kết già phu toạ

結跏趺坐; S: padmāsana; J: kekka-fusa; cũng được gọi là Liên hoa toạ (蓮花坐);|Tại Ðông, Ðông nam á, Kết già phu toạ được xem là cách ngồi thích hợp nhất để Toạ thiền. Phật và các vị Bồ Tát thường được trình bày dưới dạng Kết già phu toạ trong tranh tượng.|Theo thế ngồi này, hai chân chéo nhau, chân phải nằm trên bắp vế trái, chân trái nằm trên bắp vế phải. Lưng đứng thẳng và hai bàn tay nằm chồng ngửa lên nhau trên gót chân. Khác với phần lớn các tông phái khác, trong Thiền tông, người ta thường đặt bàn tay trái (tĩnh, thế bị động) nằm trên bàn tay phải (động, thế chủ động), một biểu hiện của quan niệm »dĩ tĩnh chế động« của trường phái này.

kết già phu toạ

5186梵語 nyaṣīdat-paryaṅkam ābhujya。坐法之一。又作結加趺坐、結跏跗坐、跏趺正坐、跏趺坐、加趺坐、跏坐、結坐。即互交二足,結跏安坐。白傘蓋大佛頂念誦法要之「勇健坐」,即同於此。諸坐法中,結伽趺坐最安穩而不易疲倦。又稱交一足為半跏趺坐、半跏坐、半跏、賢坐;稱交二足為全跏坐、本跏坐、全跏、大坐、蓮華坐。此為圓滿安坐之相,諸佛皆依此法而坐,故又稱如來坐、佛坐。 其坐法即雙膝彎曲,兩足掌向上之形式,可分為降魔、吉祥二種:(一)先以右足壓左股,後以左足壓右股,二足掌仰於二股之上,手亦左手居上,稱為降魔坐。天台、禪宗等顯教諸宗多傳此坐。(二)先以左足壓右股,後以右足壓左股,手亦右手壓左手,稱為吉祥坐。密宗亦稱之為蓮花坐。如來於菩提樹下成正覺時,身安吉祥之坐,手作降魔印。此多於密教中行之,蓋以右足表示佛界,左足表示眾生界。以右足壓左足,乃佛界攝取眾生界,眾生界歸佛界之意,即表示生佛不二之義。多用於修法中之增益法或息災法。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、不空羂索經卷九、金剛頂瑜伽護摩儀軌、無量壽如來修觀行供養儀軌、大智度論卷七、大乘起信論疏記卷六、敕修百丈清規卷五坐禪儀條、慧琳音義卷八、禪林象器箋禮則門〕(參閱「吉祥坐」2239) ; (結跏趺坐) Phạm: Nyawìdat-paryaíkam àbhujya. Cũng gọi Kết gia phu tọa, Kết già phụ tọa, Già phu chính tọa, Già phu tọa, Gia phu tọa, Già tọa, Kết tọa, Dũng kiện tọa. Tư thế ngồi xếp bằng, tréo 2 chân, 2 bàn chân ngửa lên đặt trên 2 bắp vế, là cách ngồi vững chãi và an ổn nhất. Được chia làm 2 loại là Hàng ma tọa và Cát tường tọa. 1. Hàng ma tọa: Trước đặt chân phải đè lên đùi trái, sau đó đặt chân trái đè lên đùi phải, 2 bàn chân ngửa lên, tay trái để trên tay phải. Thiên thai tông, Thiền tông, v.v... thường ngồi theo tư thế này. 2. Cát tường tọa: Trước đặt chân trái đè lên đùi phải, sau đó đặt chân phải đè lên đùi trái, tay phải đặt trên tay trái. Chân phải biểu thị Phật giới, chân trái biểu thị chúng sinh giới. Chân phải đè lên chân trái là tượng trưng chân Phật giới thu lấy chúng sinh giới và chúng sinh giới trở về với Phật giới, tức là biểu thị ý nghĩa chúng sinh và Phật không hai. Khi thành đạo dưới gốc cây Bồ đề, đức Như lai đã ngồi trong tư thế này, Mật giáo gọi là Liên hoa tọa và thường sử dụng cách ngồi này trong các pháp tu Tăng ích hoặc Tức tai. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; kinh Bất không quyên sách Q.9; Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ; Vô lượng thọ Như lai tu quán hạnh nghi quĩ; luận Đại trí độ Q.7; Đại thừa khởi tín luận sớ kí Q.6; điều Tọa thiền nghi trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5; Tuệ lâm âm nghĩa Q.8; môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Cát Tường Tọa).

kết giải

Bondage and release; release from bondage. ; 1) Trói buộc và giải thoát: Bị phiền não trói buộc và giải thoát tự tại—Bondage and release. 2) Giải thoát khỏi sự trói buộc: Giác ngộ được lý mà giải thoát—Release from bondage.

kết giảng

Kết thúc một bài thuyết trình trong buổi bế mạc (kỳ an cư kiết hạ hay buổi nhóm họp chư Tăng Ni)—Concluding an address, or the address, i.e. the final day of an assembly.

Kết giới

(s: sīmā-bandha, bandhaya-sīman, 結界): âm dịch là Bạn Đà Dã Tử Mạn (畔陀也死曼), tức nương vào tác pháp mà quy hoạch một khu vực nhất định nào đó; hay y cứ vào pháp gọi là Bạch Nhị Yết Ma (白二羯磨), tùy nơi chỗ mà hoạch định giới vức để giúp cho tăng chúng không vi phạm lỗi biệt chúng (別眾, tách khỏi chúng), ly túc (離宿, lìa xa 3 y và nghĩ lại qua đêm ở một nơi nào đó), túc chử (宿煮, ở lại qua đêm và nấu ăn), v.v. Về phạm vi kết giới, các bộ Luật đều thuyết khác nhau; nay theo Tứ Phần Luật (四分律) thì đại thể có 3 loại: Nhiếp Tăng Giới (攝僧界), Nhiếp Y Giới (攝衣界) và Nhiếp Thực Giới (攝食界). (1) Nhiếp Tăng Giới nghĩa là chư Tỳ Kheo tập trung tại một nơi để tiến hành Bố Tát (s: poṣadha, upavasatha, upoṣadha, upavāsa; p: uposatha, posatha, 布薩), v.v.; được phân thành Tự Nhiên Giới (自然界) và Tác Pháp Giới (作法界). Tự Nhiên Giới, còn gọi là Bất Tác Pháp Giới (不作法界), là khu vực không cần phải quy định đặc biệt nào, mà chỉ căn cứ vào địa hình để hoạch định. Trong Tự Nhiên Giới lại được chia thành 4 loại là: (a) Tụ Lạc Giới (聚落界, khu vực làng xóm, tụ lạc), tụ lạc (làng xóm) ở đây có hai loại là tụ lạc có thể phân biệt và tụ lạc không thể phân biệt. Theo thuyết của Thập Tụng Luật (十誦律), trường hợp tụ lạc có thể phân biệt thì lấy một tụ lạc làm giới vức. Trong khi đó, theo thuyết của Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律), trường hợp tụ lạc không thể phân biệt thì lấy 63 bộ (một bộ là 6 thước) làm giới vức. (b) Lan Nhã Giới (蘭若界). Nếu không có người mắng pháp phản đối, thì đây là giới vức của nơi nhàn tĩnh, yên lắng; cách cự ly với tụ lạc là một Câu Lô Xá (s: krośa, p: kosa, 拘盧舍, có thuyết cho là tương đương với 600 bộ; Tạp Bảo Tạng Kinh [雜寶藏經] cho là 5 dặm). Trường hợp nếu có người mắng pháp phản đối, thì giới hạn trong vòng 58 bộ (Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa [善見律毘婆沙] cho là tương đương với 7 Bàn Đà [槃陀, đơn vị đo lường của Ấn Độ, một Bàn Đà tương đương 28 khuỷu tay]). Những người phản đối thì tự tác pháp Yết Ma ngoài phạm vi này. (c) Đạo Hành Giới (道行界), khi vị tỳ kheo đi du hành, có thể tùy theo nơi mình ở mà lấy ngang dọc một Câu Lô Xá làm giới vức. Trong phạm vi này thì không được ăn riêng, Bố Tát riêng. (d) Thủy Giới (水界), tức là kết giới trên tàu thuyền khi rời khỏi đất liền. Tác Pháp Giới thì được phân thành 3 loại: (a) Đại Giới (大界), có các trường hợp người và pháp cùng nhau, pháp và thức ăn cùng nhau, pháp giống mà thức ăn khác. Trong đó, trường hợp người và pháp cùng nhau làm chủ, còn hai loại kia tùy duyên mà khai mở riêng. Người cùng nhau nghĩa là cùng chung một trú xứ, cùng chung một khu vực thuyết giới. Pháp cùng nhau nghĩa là mỗi nữa tháng cùng nhau tập trung tại một trú xứ để tiến hành pháp Bố Tát, thuyết giới. Phạm vi của Đại Giới lấy ngoại giới của một ngôi già lam nào đó làm giới hạn nhỏ nhất, rộng đến 10 dặm cho đến 100 dặm. Kết Đại Giới này với mục đích vào lúc chư tăng thuyết giới, v.v., khiến cho tăng chúng trong một khu vực rộng lớn tập trung lại, không ai trái phạm. Phàm Đại Giới nên lấy những sự vật có thể thấy rõ ở địa phương đó như núi, sông, cây cối, v.v., làm ranh giới; đó gọi là giới tướng (界相). Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙, Taishō Vol. 24, No. 1462) quyển 17 có nêu ra 8 loại giới tướng là sơn tướng (山相, hình dạng núi), thạch tướng (石相, hình dạng tảng đá), lâm tướng (林相, hình dạng khu rừng), thọ tướng (樹相, hình dạng cây), lộ tướng (路相, hình dạng con đường), giang tướng (江相, hình dạng dòng sông), nghị phong tướng (蟻封相, hình dạng ranh giới đàn kiến), thủy tướng (水相, hình dạng dòng nước). Về hình trạng của Đại Giới, các bộ Luật thuyết bất đồng. Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa quyển 17 lấy 5 loại hình vuông, hình tròn, hình trống, hình bán nguyệt và hình tam giác làm 5 tướng kết giới. Ngoài ra, khi kết Đại Giới, sau khi chúng tăng tập trung trong phạm vi giới tướng, vị tăng sống lâu tại đó nên tuyên xướng giới tướng của bốn phương mà tuyên bố rằng: “Đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới để làm kết giới.” Nghi thức này được gọi là xướng giới tướng. (b) Giới Trường (戒塲), trường hợp trong tăng chúng có người phạm giới, tiến hành pháp sám hối, hay thọ giới, v.v., cần phải hợp đủ chúng 4 người cho đến 20 người; để tránh làm cho tăng mệt mỏi, đặc biệt kết Giới Trường hình 4 phương, gọi là tứ phương giới tướng (四方界相, giới tướng bốn phương). Giới Trường này có thể chứa tối thiểu 20 người. Theo Giới Trường của Ấn Độ, nguyên là nơi vùng đất trống; trong phạm vi ấy không được lập phòng tăng, nhưng có thể dựng điện Phật cũng như cây Bồ Đề. Hơn nữa, vì Giới Trường là nơi truyền trao giới pháp, nên chủ yếu cần phải thô sơ, đơn giản. Ban đầu, Giới Trường được kết ở ngoài Đại Giới, về sau, do vì nạn cướp bóc, nên được phép kết trong phạm vi Đại Giới. Về thứ tự kết giới, trước kết Giới Trường, sau kết Đại Giới. Nếu như đã kết Đại Giới rồi, thì phải giải bỏ Đại Giới, kết lại Giới Trường, rồi mới kết Đại Giới. Nếu Đại Giới và Giới Trường cùng kết, khi giải giới thì phải trước giải Đại Giới rồi kế đến Giới Trường; không được đảo lộn thứ tự. (c) Tiểu Giới (小界), sợ các Tỳ Kheo ác ở trong gây trở ngại mà rút lui, phế bỏ pháp sự, nên đặc biệt giới hạn trong thời gian nào đó, kết một giới vức tạm thời. Loại này được chia thành 3 tùy theo trường hợp thọ giới, thuyết giới, Tự Tứ. Bên cạnh đó, Tiểu Giới còn được kết tạm thời khi gặp già nạn, không có giới hạn về phạm vi, hình trạng, v.v. Cho nên, không giống như tác pháp lâu dài của Đại Giới và Giới Trường, mà khi việc hoàn thành thì tiến hành giải giới ngay. Nói chung, trong phần Tự Nhiên Giới của Nhiếp Tăng Giới, tùy theo xứ sở mà nói, có 4 loại bất đồng; tùy theo phạm vi lớn nhỏ mà nói, có 6 loại khác nhau. Đại Giới, Tiểu Giới trong Tác Pháp Giới đều có 3 loại, lại cọng thêm Giới Trường, thành 7 giới. (2) Nhiếp Y Giới, còn gọi là Bất Thất Y Giới (不失衣界), Bất Ly Y Túc Giới (不離衣宿界); tức là hoạch định một phạm vi nào đó để tránh cho các Tỳ Kheo vi phạm sai lầm về việc ly túc (離宿). Ly túc ở đây có nghĩa là chỉ việc Tỳ Kheo xa lìa 3 y của mình mà trú qua đêm ở nơi khác. Nếu đã hoạch định một phạm vi nào đó, trong phạm vi ấy vị Tỳ Kheo có thể khôn cần phải mang theo 3 y thường xuyên. Điều thứ 2 trong 30 pháp Xả Đọa (s: naiḥsargika-prāyaścittika,p: nissaggiya pācittiya, 捨墮, âm dịch là Ni Tát Kì Ba Dạ Đề [尼薩耆波夜提]) của Ba La Đề Mộc Xoa (s: prātimokṣa, pratimokṣa,p: pātimokkha, pāṭimokkha, 波羅提木叉, ý dịch là Tùy Thuận Giải Thoát [隨順解脫], Xứ Xứ Giải Thoát [處處解脫], v.v.) có quy định về việc ly túc này. Loại Nhiếp Y Giới này cũng được phần thành 2 loại là Tự Nhiên Giới và Tác Pháp Giới. (3) Nhiếp Thực Giới, tức quy định kết giới nơi cất chứa thức ăn, là giới vức có thể nấu nướng thức ăn, giúp cho vị Tỳ Kheo không phạm phải lỗi gọi là túc chử. Vùng đất được quy định được gọi là tịnh địa (淨地), hay tịnh trù (淨廚). Nếu trong phạm vi này mà nấu nướng thì không phạm tội này. Thực tế tác pháp của Nhiếp Thực Giới được chia thành hai loại là Thông Kết (通結, kết giới chung) và Biệt Kết (別結, kết giới riêng). Như muốn giải trừ kết giới nói trên, thì khi kết giới, cũng phải nên trãi qua tác pháp gọi là Bạch Nhị Yết Ma (s: jñaptidvitiyā-karmavacanā, 白二羯磨, tức một lần thưa bạch và một lần Yết Ma) rồi mới có thể giải trừ. Tứ Phần Luật Hành Sự Sao Tư Trì Ký (四分律行事鈔資持記, Taishō Vol. 40, No. 1805) quyển Thượng giải thích rằng: “Y Giới giả, nhiếp y dĩ thuộc nhân, linh vô ly túc tội; Thực Giới giả, nhiếp thực dĩ chướng tăng, linh vô túc chử tội; Tăng Giới giả, nhiếp nhân dĩ đồng xứ, linh vô biệt chúng tội (衣界者、攝衣以屬人、令無離宿罪、食界者、攝食以障僧、令無宿煮罪、僧界者、攝人以同處、令無別眾罪, Nhiếp Y Giới là giữ gìn y luôn đi theo bên người, khiến cho không phạm tội ly túc; Nhiếp Thực Giới là giữ gìn thức ăn để ngăn chận chư tăng [khỏi sai phạm], khiến cho không phạm tội túc chử; Nhiếp Tăng Giới là giữ gìn mọi người cùng một trú xứ, khiến cho không phạm tội biệt chúng).” Trong Luật Học Phát Nhận (律學發軔, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1125) quyển Trung, phần Kết Giới (結界), có đoạn: “Tỳ Kheo trú xứ, tiên đương kết giới, cái Yết Ma, thuyết giới, thọ giới, trị tội đẳng sự, tất y giới lập; nhược vô giới, tắc chư pháp giai bất năng thành tựu dã (比丘住處、先當結界、蓋羯磨、說戒、授戒、治罪等事、悉依界立、若無界、則諸法皆不能成就也, trú xứ của Tỳ Kheo, trước phải kết giới, phàm các việc như Yết Ma, thuyết giới, truyền trao giới, trị tội, v.v., đều nương vào giới vức mà lập; nếu không giới vức, thì các pháp đều không thể thành tựu vậy).” Bên cạnh đó, kết giới còn có nghĩa là nữ nhân kết giới (女人結界), tức cấm chỉ người nữ ra vào khu vực quy định. Kết giới cũng chỉ cho phạm vi nội trận (內陣, bộ phận chính giữa an trí tượng Phật) và ngoại trận (外陣, chỉ chu vi của nội trận, hay phần bên ngoài khu vực tham bái) trong Chánh Điện thờ Phật. Ngoài ra, đây cũng chỉ cho pháp kết giới của Mật Giáo. Đối với Mật Giáo, khi tu pháp, để phòng ngừa ma chướng xâm nhập, một địa khu được hoạch định để bảo vệ cho đạo tràng và hành giả; đó gọi là kết giới hay kết hộ (結護, ý là kết giới hộ thân). Pháp kết giới của Mật Giáo có nhiều loại khác nhau. Theo Bất Không Quyên Sách Thần Biến Chơn Ngôn Kinh (不空罥索神變眞言經, Taishō Vol. 20, No. 1092) quyển 2, Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 1, v.v., có thể lấy hạt cải trắng, rãi bốn phương trên dưới để kết giới. Tô Tất Địa Yết La Kinh (蘇悉地羯羅經, Taishō Vol. 18, No. 893b) quyển Hạ, Phẩm Cúng Dường (供養品), thì lấy giới vức địa phương, hư không, tường Kim Cang, thành Kim Cang, v.v., mà kết giới chơn ngôn. Thông thường, kết giới thường dùng của pháp tu Mật Giáo phần lớn y cứ chuẩn vào thuyết của Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 3, Cam Lộ Quân Trà Lợi Bồ Tát Cúng Dường Niệm Tụng Thành Tựu Nghi Quỹ (甘露軍荼利菩薩供養念誦成就儀軌, Taishō Vol. 21, No. 1211), v.v., được phân thành 5 loại như sau: (1) Địa Kết (地結), còn gọi là Kim Cang Quyết (金剛橛), tức là dựng một cây cọc nơi đại địa, gốc cọc đó hoặc bảo là đến tận cùng Kim Luân (s: kāñcana-maṇḍala, 金輪), hay đến tận cùng Thủy Luân (s: jala-maṇḍala, 水輪), v.v., là pháp thứ 6 trong 18 đạo Khế Ấn (契印). (2) Tứ Phương Kết (四方結), còn gọi là Kim Cang Tường (金剛牆), tức lấy bốn phương làm giới vức để kết giới, là pháp thứ 7 trong 18 đạo Khế Ấn. (3) Hư Thất Võng (虛室網), còn gọi là Kim Cang Võng (金剛網); tức lấy lưới Kim Cang giăng ra giữa hư không, mép lưới rũ lên đàn Kim Cang, là pháp thứ 14 trong 18 đạo Khế Ấn. (4) Hỏa Viện (火院), còn gọi là Kim Cang Viêm (金剛炎), lấy lửa cháy rực xoay nhiễu quanh bốn góc hư không, có thể giúp đuổi lui chướng nạn của ma Ba Tuần (s: Māra-pāpman, 波旬), là pháp thứ 15 trong 18 đạo Khế Ấn. (5) Đại Tam Muội Da (大三昧耶), là tổng kết giới ngoại trừ Hỏa Viện vừa nêu trên.

kết giới

5181梵語 sīmā-bandha,或 bandhaya-sīman(音譯畔陀也死曼)。依作法而區劃一定之地域。<一>乃依「白二羯磨」之法,隨處劃定一定之界區,以免僧眾動輒違犯別眾、離宿、宿煮等過失。有關結界之範圍、方法等,諸律所說頗有出入,今依四分律所整理者,大別為攝僧界、攝衣界、攝食界等三種。 (一)攝僧界,即此丘集聚一處,為便利布薩(共住而行說戒懺悔之儀式)等行事,避免境域太廣而疲於奔馳所設之地區。分為自然界與作法界二類。自然界,又稱不作法界,係指不須特別加以建立,而依天然地形所劃定之地區。略分四種:(1)聚落界,有可分別聚落與不可分別聚落兩種。可分別聚落,依準十誦律之說,係指以一聚落為界。不可分別聚落,依準摩訶僧祇律之說,係以六十三步(六尺為一步)為界。(2)蘭若界,有二種,若無訶法之人,則於距離聚落一拘盧舍(一說相當於六百步,雜寶藏經謂五里)之空靜處為界;其中若有訶法之人反對之,則得以五十八餘步為限(善見律毘婆沙謂七槃陀之量),彼等反對者則於此範圍之外自行作羯磨等法。(3)道行界,比丘遊行時,可隨所住之處以縱橫一拘盧舍為界;於此範圍內,則不得有別食、別布薩之情形。(4)水界,即於離開陸地之船結界。上記四界之中,由於聚落界及蘭若界各有二種情形,故凡有六相之不同。 作法界分為三種,即:(1)大界,有人法二同、法食二同、法同食別(又稱單法同)。其中以「人法二同」為主,其餘二種隨緣別開。所謂「人同」,係指於同一住處、同一說戒之界區內,僧眾和合共住;所謂「法同」,係指每半月集合,行布薩說戒之法。大界之範圍,以一伽藍地之外界為最小極限,廣至十里,乃至百里。結此大界,為欲令說戒等僧事時,使一聚之僧和集,無一人乖隔。又大界宜以其地明顯可見之山、河、樹林等為界畔,稱為界相。四分律卷三十五舉出樹下、空處、山、谷、村界等十九種界相;善見律毘婆沙卷十七列舉山相、石相、林相、樹相、路相、江相、蟻封相、水相等八種界相。大界之形狀,諸律所說亦不一,善見律毘婆沙卷十七以方形、圓形、鼓形、半月形、三角形等五種為「結界五相」。此外,結大界時,界相內眾僧會集後,久住之僧須宣唱四方之界相(山或石等),而作「同一住處、同一說戒以為結界」之告白,此即稱唱相。(2)戒場,僧中有犯戒之事端,為行懺罪,或行受戒等之法,須會同四人眾乃至二十人眾,為避免僧之疲極,特結四方形之戒場,稱為四方界相。此戒場最少要容二十一人。按印度之戒場,原是露地,其內不得建僧房,但得以置佛殿及菩提樹;又因戒場僅係秉受戒法之處所,故以揀擇精粗為主。起初戒場結於大界之外,後因賊難而聽許在大界內結。結界之次第為先結戒場,後結大界;若已先結大界,必須解去大界,再結戒場,次結大界。 結界圖(出自四分律刪繁補闕行事鈔)於大界內結戒場,必先豎立三重之標相(見圖)。即戒場四周,以自然之空地圍住,大界以自然界圍起,外部四週之黑格為大牆,內部之黑格為小牆,最內部之長方形為戒場,內部之東北兩面以小牆為標相,即小牆之下上(下即牆際,上謂地面)為自然界之體;南西兩面之大牆內,若無標相,距大牆一尺八寸之遠,以戒場之東南、西南、西北之三角形以繩連起為戒場之界。小牆之外,大牆之內,稱為大界。以小牆內院及繩標結戒場,稱為「戒場外相自然界內標」;以小牆及大牆結大界,稱為「自然界外大界內相標」;大牆四周,稱為「大界外相標」。又若大界與戒場並結,則於解界時,須先解大界,次解戒場,次第不得顛倒。(3)小界,恐因惡比丘等之從中作梗而退廢法事,故特限於某時所結之暫時界區。亦分三種,即為受戒、說戒、自恣等三種情形而結者。據四分律刪繁補闕行事鈔卷上二(大四○‧一四中):「明小界者,此並因難事,恐廢法事,佛隨前緣,故開結之。並無正量,隨人坐處即為界相。一為受戒,開結小界,舊準戒場身外有界,今依文取義,全無外相,如正加中。二為說戒事,下至四人直坐。三為自恣事,下至五人圓坐。此三無外量者,由是難開,隨人多少,若限約外量,終非遮難。故文云,今有爾許比丘集者,止取現集之僧,坐處有地,依地結之,若事作已,即制令解,不同前二以久固作法,人所依止。」亦即為遮難而臨時所結之界,稱為小界,無範圍、形狀等之限制,又非如大界及戒場之久固作法,完成所作之事即行解界。其羯磨結法,亦準前可知。總之,攝僧界之自然界中,就處所而言,有四種不同;就範圍大小而言,有六種差別。作法界中之大界、小界各有三種,再加上戒場,即成七界。 (二)攝衣界,又作不失衣界、不離衣宿界。即劃定一範圍,避免比丘動輒違犯離宿之過;然亦可視為以此特定範圍限制比丘不可違犯此過。離宿,意指比丘離其三衣而宿;若劃定一特定範圍,則於此範圍內即可不須時時攜其三衣,而免除不必要之羈絆。波羅提木叉三十捨墮法第二條即為離宿之規定。亦分自然界與作法界二種。 (三)攝食界,即規定結界食物之貯藏所、許可烹煮食物之界區,使比丘不犯宿煮之罪。所指定之地,稱為淨地(或稱淨廚);於此區域內煮食,即不犯此過。其實際作法,分為通結與別結兩種。如欲解除上述之結界,則如結界時,亦須經白二羯磨之作法方可解除。 四分律行事鈔資持記卷上二之一(大四○‧二○二下):「衣界者,攝衣以屬人,令無離宿罪;食界者,攝食以障僧,令無宿煮罪;僧界者,攝人以同處,令無別眾罪。」〔毘尼母經卷二、卷七、卷八、摩訶僧祇律卷八、五分律卷十八、根本薩婆多部律攝卷一、四分律卷四十三、四分律刪補隨機羯磨卷上、四分律刪繁補闕行事鈔卷上一、卷上二、卷中二、卷下一、卷下二、四分律刪補隨機羯磨疏卷二、釋氏要覽卷下〕(參閱「五種結界相」1187) <二>指「女人結界」,即禁止女性出入之場所。 <三>佛堂內之內陣(係安置佛像之中央部分)與外陣(指內陣之周圍,或一般參拜席位之外側),此兩陣之地區,以欄杆圈圍,亦稱結界。 <四>指密教之結界法。密教於修法時,為防止魔障侵入,劃一定之地區,以保護道場與行者,稱為結界、結護(結界護身之意)。其結界之法有多種,據不空羂索經卷二、陀羅尼集經卷一等載,可加持白芥子,並散之於四方上下以為結界。蘇悉地經卷下供養品謂,以地方界、空界、金剛牆、金剛城等真言結界之。 一般密教修法常用之結界,多依準陀羅尼集經卷三、軍荼利儀軌等之說,而行下列之五種結界,即:(一)地結,又作金剛橛,立橛於大地。其橛之根或謂至金輪際,或謂至水輪際等,為十八道契印之第六。(二)四方結,又作金剛牆,若無四方之牆,則以三胡牆為牆,為十八道契印之第七。(三)虛室網,又作金剛網,以金剛網張於虛空,網端垂於金剛壇上,為十八道契印之第十四。(四)火院,又作金剛炎,以火炎旋遶於彼空網四周,可退除天魔波旬之障難,為十八道契印之第十五。(五)大三昧耶,為前火院以外之總結界。此大三昧耶,於十八道契印法及如意輪軌均未記載。 上記五種結界,於修法時各依三部、五部之別而結誦該部部主明王之印明,即佛部時用不動明王之印明,蓮華部時用馬頭明王(或大威德明王)之印明,金剛部用降三世明王之印明,寶部用軍荼利明王之印明,羯磨部則用無能勝明王(或金剛夜叉)之印明。 結界區域之廣狹,依經軌之說,極大者可至一千由旬,其次九百、七百、五百、三百、一百,乃至一由旬,小者或七肘、五肘、三肘、一肘等之量,乃至一手掌、一指甲之量。要之,皆以行者自心之廣狹而建立壇場之界區;然實際修法時,常局限於修法壇之四周,或以道場之殿堂為結界之域。 結界之形狀,多依所修之法而異,若修息災法,採用圓相,修增益法用方相,修降伏法用三角相,修敬愛法用蓮花相。又密教之結界亦以事、理而別為二種,如上記所說劃定區域、結誦印明等之實際作法即屬於「事結界」;若行者僅以觀想之法完成結界,則屬於「理結界」。〔守護國界主陀羅尼經卷九、准提大明陀羅尼經、大日經疏卷十、祕藏記鈔卷六、十八道鈔卷上〕(參閱「十八契印」354、「十八道」359) ; 5180其義有二:(一)受戒法後而護持之。大智度論卷二十二(大二五‧二二五上):「眾僧大海水,結戒為畔際,若有破戒者,終不在僧數。譬如大海水,不共死屍宿。」(二)制定戒法之意。五分律卷一(大二二‧三中):「以十利故,為諸比丘結戒。」〔維摩詰所說經卷下〕 ; Bound by the commandments. ; See Kiết Giới. ; (結戒) I. Kết Giới. Giữ gìn giới pháp sau khi đã thụ trì. Luận Đại trí độ quyển 22 (Đại 25, 225 thượng), nói: Chúng tăng như nước biển Kết giới làm bờ mé Nếu có người phá giới Không được ở trong tăng Ví như nước biển lớn Không dung chứa tử thi. II. Kết Giới. Đặt ra giới pháp. Luật Ngũ phần quyển 1 (Đại 22, 3 trung), nói: Vì có 10 điều lợi ích, nên kết giới cho các tỉ khưu. [X. kinh Duy ma cật sở thuyết Q.hạ]. ; (結界) Phạm: Sìma-bandha hoặc Bandhayasìman. Dịch âm: Bạn đà dã tử man. Theo đúng tác pháp mà phân định một khu vực riêng biệt. I. Theo pháp Bạch nhị yết ma. Vạch ra một khu vực nhất định ở bất cứ chỗ nào để chúng tăng khỏi vi phạm các lỗi lầm như: Biệt chúng, Li túc(lìa áo pháp cách đêm), Túc chử(nấu ăn trong chỗ ở), v.v... Về phạm vi và phương pháp kết giới, các luật đều nói khác nhau. Theo luật Tứ phần thì kết giới có 3 loại: Nhiếp tăng giới, Nhiếp y giới và Nhiếp thực giới. 1. Nhiếp tăng giới: Khu vực được hoạch định để các tỉ khưu nhóm họp một chỗ, tiện lợi cho các việc làm như Bố tát(nghi thức ở chung mà thực hành thuyết giới sám hối), v.v... khỏi phải vất vả đi xa. Nhiếp tăng giới được chia ra làm 2 loại là Tự nhiên giới và Tác pháp giới. - Tự nhiên giới cũng gọi là Bất tác pháp giới, là khu đất có ranh giới tự nhiên mà không cần phải ấn định qua tác pháp yết ma. Có 4 loại: a) Tụ lạc giới: Chỉ cho những xóm làng, thị trấn. Có 2 hình thái khác nhau: Nếu xóm làng có ranh giới rõ ràng thì lấy xóm làng làm giới hạn; còn nếu những làng xóm liên tiếp nối nhau không phân biệt được phạm vi của làng xóm này với làng xóm khác, thì lấy mỗi bề 36 bộ(1 bộ: 6 thước tàu) làm giới hạn. b) Lan nhã giới: Chỉ cho những khu rừng vắng vẻ không có dân ở. Ranh giới A lan nhã cũng có 2 hình thái. - Nơi nguy hiểm vì có các loài thú dữ, v.v... thì giới hạn được ấn định trong vòng 58 bộ(khoảng 84m). - Nơi không nguy hiểm thì giới hạn được ấn định rộng một câu lô xá(600 bộ: 1.800m). c) Đạo hành giới: Ranh giới tự nhiên lúc đi đường, tùy theo chỗ ở, lấy phạm vi dọc ngang một câu lô xá làm giới hạn. Trong phạm vi này, không được ăn riêng, bố tát riêng. d) Thủy giới: Tức kết giới trên sông nước khi đi thuyền. - Tác pháp giới chia làm 3 loại: a) Đại giới: Có 3 loại: Nhân pháp nhị đồng, Pháp thực nhị đồng và Pháp đồng thực biệt(cũng gọi Đơn pháp đồng). Trong đó, Nhân pháp nhị đồng là chính, còn 2 loại kia là tùy duyên mà lập. Nhân đồng chỉ cho các tỉ khưu cùng sống chung(đồng nhất trú xứ) và cùng thuyết giới chung(đồng nhất thuyết giới) trong một giới khu. Pháp đồng chỉ cho mỗi nửa tháng các tỉ khưu tụ tập để làm lễ Bố tát thuyết giới. Phạm vi của Đại giới là lấy ngoại giới của một ngôi chùa làm giới hạn nhỏ nhất, rộng từ 10 dặm cho đến 100 dặm. Kết Đại giới là tạo ra một khu vực rộng lớn để cho chúng tăng nhóm họp trong hòa hợp hầu làm tăng sự như thuyết giới, v.v... Phạm vi Đại giới phải lấy những vật có thể trông thấy rõ ràng như núi, sông, rừng cây, v.v... làm ranh giới, gọi là Giới tướng. Về hình tướng của Đại giới, các luật đều nói khác nhau. Theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 17 thì hình vuông, hình tròn, hình quả trống, hình bán nguyệt và hình tam giác là 5 loại hình được dùng để kết Đại giới. Ngoài ra, lúc kết Đại giới, sau khi chúng tăng ở trong giới tướng đã nhóm họp đông đủ, thì vị tăng biết rõ địa hình ranh giới phải xướng giới tướng của 4 phương và thông báo rằng lấy đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới làm kết giới. b) Giới tràng: Là khu vực nhỏ nằm trong phạm vi Đại giới, có thể dung chứa ít nhất 21 vị tỉ khưu, được dành riêng cho việc cử hành các nghi thức sám hối hoặc thụ giới, v.v... Hình thức Giới tràng 4 bề vuông vức, gọi là Tứ phương giới tướng. Giới tràng tại Ấn độ vốn là khu đất trống, trong đó không được xây cất phòng tăng, chỉ được thiết lập điện Phật và trồng cây Bồ đề. Ban đầu, Giới tràng được kết ở ngoài phạm vi của Đại giới, nhưng sau vì nạn trộm cướp nên được phép kết bên trong Đại giới. Thứ tự kết giới như sau: Trước kết Giới tràng, sau kết Đại giới. Nếu trước đó đã kết Đại giới rồi, thì phải giải Đại giới để kết Giới tràng, sau mới kết Đại giới. Muốn kết Giới tràng trong phạm vi của Đại giới, trước hết phải lập 3 lớp tiêu tướng(xem hình vẽ). Tức là phía chung quanh Giới tràng lấy khoảng đất trống tự nhiên làm vòng khép kín, Đại giới lấy giới tự nhiên làm vòng bao bọc, ô vuông đen bên ngoài là bức tường lớn, ô vuông đen bên trong là bức tường nhỏ, hình chữ nhật ở trong cùng là Giới tràng. Hai mặt đông bắc ở phía trong lấy bức tường nhỏ làm tiêu tướng, tức chân tường và mặt đất là thể của tự nhiên giới; trong bức tường lớn của 2 mặt Nam, Tây nếu không có tiêu tướng thì cách bức tường lớn 1 thước 8 tấc (Tàu), lấy dây giăng 3 góc Đông nam, Tây nam và Tây bắc của Giới tràng để làm ranh giới của Giới tràng. Phía ngoài bức tường nhỏ và phía trong bức tường lớn là Đại giới. Dùng đường viền trong bức tường nhỏ và dây làm nêu để kết Giới tràng, gọi là tướng ngoài của Giới tràng là tiêu tướng bên trong của giới tự nhiên; dùng bức tường nhỏ và bức tường lớn để kết Đại giới, gọi là phía ngoài của giới tự nhiên là tiêu tướng bên trong của Đại giới; chung quanh bức tường lớn, gọi là tiêu tướng bên ngoài Đại giới. Nếu kết cả Đại giới và Giới tràng thì khi giải giới phải giải Đại giới trước, sau đó mới giải giới tràng, không được đảo lộn thứ tự. c) Tiểu giới: Khu vực được kết giới tạm thời vào một lúc nào đó dành cho những việc bất thường xẩy ra, như: Thụ giới, Thuyết giới, Tự tứ, v.v... Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 2 (Đại 40, 14 trung) ghi: Trong lúc nguy cấp, sợ bỏ pháp sự, nên đức Phật tùy duyên, cho phép kết Tiểu giới, nhưng không có hạn lượng nhất định, chỉ tùy theo chỗ người ngồi tức là giới tướng. Có 3 lí do kết Tiểu giới. Một là thụ giới, trường hợp này phải theo Giới tràng, nhưng không có tướng ngoài. Hai là thuyết giới, chỉ cần đủ chỗ cho 4 người ngồi. Ba là tự tứ, cần đủ chỗ cho 5 người ngồi. Đây là những trường hợp lâm nạn mà phương tiện cho phép, không có hạn lượng nhất định, chỉ căn cứ vào số người nhiều hay ít mà kết giới, xong việc liền giải giới. Tóm lại, trong tự nhiên giới của Nhiếp tăng giới, nói về nơi chỗ thì có 4 loại bất đồng; nói về phạm vi lớn nhỏ thì có 6 loại khác nhau. Đại giới và Tiểu giới trong Tác pháp giới mỗi thứ giới đều có 3 loại, cộng thêm Giới tràng thành 7 loại giới. 2. Nhiếp y giới(cũng gọi Bất thất y giới, Bất li y túc giới): Tức là vạch ra một phạm vi nhất định để tránh cho các tỉ khưu khỏi phạm tội Li túc(Cách đêm). Theo luật định, các tì khưu đi đến đâu cũng mang theo 3 tấm áo pháp bên mình, nếu tì khưu lìa áo một đêm (li túc) thì phạm tội Xả đọa. Nhưng vì nhiều trường hợp không thể mang theo áo bên mình, nên phải vạch ra một phạm vi nhất định (kết giới nhiếp y) và nội trong phạm vi ấy, các tỉ khưu được phép nghỉ cách đêm mà không cần mang theo 3 áo. Giới thứ 2 trong 30 pháp Xả đọa của Ba la đề mộc xoa chính là qui định về việc này. Nhiếp y giới cũng chia làm 2 loại là: Tự nhiên giới và Tác pháp giới. 3. Nhiếp thực giới: Kết giới qui định chỗ cất chứa các thức ăn và khu vực cho phép các tỉ khưu nấu nướng để khỏi phạm tội nấu ăn trong chỗ ở. Nơi được chỉ định gọi là Tịnh địa(hoặc Tịnh trù). Nấu nướng trong khu vực này thì không phạm tội. Về tác pháp thực hành được chia làm 2 loại: Thông kết và Biệt kết. Muốn giải Nhiếp thực giới, phải tác pháp bạch nhị yết ma cũng như lúc kết giới. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển thượng phần 2 đoạn 1 (Đại 40, 202 hạ), nói: Y giới(Nhiếp y giới) là thu nhiếp áo để áo thuộc về người, khiến không phạm tội lìa áo cách đêm; Thực giới(Nhiếp thực giới) là thu nhiếp thực vật để ngăn cách thức ăn với chúng tăng, khiến không phạm tội nấu nướng trong chỗ ở; Tăng giới(Nhiếp tăng giới) là thu nhiếp chúng tăng để tăng ở chung, khiến không phạm tội ở riêng. [X. kinh Tì ni mẫu Q.2, Q.7, Q.8; luật Ma ha tăng kì Q.8; luật Ngũ phần Q.18; Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.1; luật Tứ phần Q.43; Tứ phần luật san bổ tuy cơ yết ma Q. thượng phần 1, Q. thượng phần 2, Q. trung phần 2, Q. hạ phần 1, Q. hạ phần 2; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.2; Thích thị yếu lãm Q. hạ]. (xt. Ngũ Chủng Kết Giới Tướng). II. Chỉ cho nữ nhân kết giới: Tức là nơi ngăn cấm đàn bà không được ra vào. III. Nội trận, Ngoại trận. Nội trận: Phần chính giữa tôn trí tượng Phật. Ngoại trận: Khu vực chung quanh nội trận hoặc bên ngoài, nơi dành cho việc lễ bái. Thông thường 2 khu vực này có lan can bao quanh nên cũng gọi là Kết giới. IV. Phép kết giới của Mật giáo. Tức là một khu vực được hoạch định để phòng ngừa ma chướng xâm nhập trong khi tu pháp hầu bảo hộ đạo tràng và người tu hành. Khu vực này được gọi là Kết giới, Kết hộ(nghĩa là kết giới để hộ thân). Phép kết giới này có nhiều loại. Cứ theo kinh Bất không quyên sách quyển 2 và kinh Đà la ni tập quyển 1, thì có thể chú nguyện vào hạt cải trắng rồi đem rải khắp 4 phương, trên, dưới để kết giới. Còn theo phẩm cúng dường trong kinh Tô tất địa quyển hạ, thì dùng các chân ngôn: Địa phương giới, Không giới, tường Kim cương, thành Kim cương, v.v... để kết giới. Nói chung, Mật giáo thường căn cứ vào ý nghĩa trong kinh Đà la ni tập quyển 3 và Quân đồ lợi nghi quĩ, v.v... mà thực hành 5 loại kết giới sau đây: 1. Địa kết, cũng gọi Kim cương quyết (cọc kim cương), dựng cọc trên mặt đất, chân của cọc này có chỗ nói là đến mé Kim luân, có chỗ nói đến mé thủy luân, v.v... Là ấn thứ 6 trong 18 đạo khế ấn. 2. Tứ phương kết, cũng gọi Kim cương tường(bức tường kim cương). Nếu ở 4 phía không có tường thì dùng tam hồ làm tường. Đây là ấn thứ 7 trong 18 đạo khế ấn. 3. Hư không võng, cũng gọi Kim cương võng. Giăng lưới kim cương trong hư không, đầu lưới phủ trên đàn kim cương. Là ấn thứ 14 trong 18 đạo khế ấn. 4. Hỏa viện, cũng gọi Kim cương viêm. Dùng lửa bao vây chung quanh lưới hư không ấy thì diệt trừ được chướng nạn thiên ma Ba tuần. Là ấn thứ 15 trong 18 đạo khế ấn. 5. Đại tam muội da: Là tổng kết giới bên ngoài Hỏa viện nói ở trên. Đại tam muội da này, trong 18 đạo khế ấn và Như ý luân quĩ đều không thấy nói đến. Khi tu pháp, thì 5 loại kết giới trên đây mỗi loại đều tùy theo sự khác nhau của 3 bộ, 5 bộ mà kết tụng ấn tướng và chân ngôn của vị Minh vương chủ bộ bộ ấy. Tức là khi tu pháp Phật bộ thì dùng khế ấn và chân ngôn của Minh vương Bất động, tu pháp Liên hoa bộ thì dùng khế ấn và chân ngôn của Minh vương Mã đầu (hoặc Minh vương Đại uy đức); tu pháp Kim cương bộ thì dùng khế ấn và chân ngôn của Minh vương Hàng tam thế, tu pháp Bảo bộ thì dùng khế ấn và chân ngôn của Minh vương Quân đồ lợi và tu pháp Yết ma bộ thì dùng khế ấn và chân ngôn của Minh vương Vô năng thắng (hoặc Kim cương Dạ xoa). Còn về diện tích của khu vực kết giới, theo các kinh quĩ, thì lớn nhất có thể đến 1.000 do tuần, kế là 900, 700, 500, 300, 100, cho đến 1 do tuần; nhỏ nhất là 7 khỉu tay, 5 khỉu tay, 3 khỉu tay, 1 khỉu tay, cho đến 1 bàn tay, 1 móng tay. Tóm lại, tất cả đều căn cứ vào sự rộng hẹp của tự tâm hành giả mà kiến lập khu vực đạo tràng. Nhưng trên thực tế, lúc tu pháp, thường giới hạn ở chu vi của đàn tu pháp, hoặc lấy điện đường của đạo tràng làm khu vực kết giới. Về hình dáng kết giới thường căn cứ vào pháp sở tu mà có khác, nếu tu pháp Tức tai thì dùng hình tròn, tu pháp Tăng ích thì dùng hình vuông, tu pháp Hàng phục dùng hình tam giác, tu pháp Kính ái dùng hình hoa sen. Ngoài ra, Mật giáo cũng nương vào sự, lí mà chia kết giới làm 2 loại; như tác pháp cụ thể hoạch định khu vực, kết ấn tướng, tụng chân ngôn, v.v... như đã nói ở trên là thuộc về Sự kết giới; còn nếu hành giả chỉ dùng pháp quán tưởng mà hoàn thành kết giới, thì thuộc về Lí kết giới. [X. kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; kinh Chuẩn đề đại minh đà la ni; Đại nhật kinh sớ Q.10; Bí tạng kí sao Q.6; Thập bát đạo sao Q.thượng]. (xt. Thập Bát Ấn, Thập Bát Đạo).

kết giới căn bản tội

5184又作四重禁。指殺生、偷盜、邪淫、妄語四罪。此四罪為結界中最重之罪。因其必招感墮地獄之果報,故又稱極重感墮罪。 ; (結界根本罪) Cũng gọi Tứ trọng cấm. Chỉ cho 4 tội nặng: Giết hại, trộm cướp, dan dâm và nói dối. Bốn tội này là những tội nặng nhất trong kết giới, vì chắc chắn chúng sẽ mang lại quả báo đọa địa ngục nên cũng gọi là Cực trọng cảm đọa tội.

kết giới thạch

5181標示結界相之石。<一>指攝僧界中結大界而標示其外相之石牓。據四分律刪繁補闕行事鈔卷上二(大四○‧一六上):「最外一重,大界外相標。」又據同書卷上二(大四○‧一五上):「結已,即須牓示顯處,令後來者,主客俱委,無有濫疑。」蓋此石標內,表示攝僧大界。又於石上書「大界外相」或「攝僧大界」。(參閱「結界」5181) <二>為禁止葷酒等入門內之石牓。又作禁牌石、葷酒牌。即禁止葷酒等入結界內,以令僧眾道業精進。黃檗清規老人預囑語條(大八二‧七八○下):「本山及諸山,凡稱黃檗法屬者,概不許葷酒入山門,破佛重戒。」又同書附錄之法具圖中已有石標之雛形,石標高六、七尺,廣一尺二寸,上刻「不許葷酒入山門」,立於山門外。現今日本黃檗、曹洞等禪院門前多立此碑,想係沿傳黃檗宗祖隱元隆琦之遺風。 ; (結界石) I. Kết Giới Thạch. Chỉ cho tấm đá đánh dấu tướng bên ngoài của Đại giới thuộc Nhiếp tăng giới. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 2 (Đại 40, 16 thượng), nói: Lớp ngoài cùng là ngoại tướng của Đại giới. Cũng trong quyển thượng phần 2 của sách trên (Đại 40, 15 thượng) ghi: Kết giới xong, phải dựng Kết giới thạch để chỉ rõ chỗ ấy, khiến người đến sau thấy được, chủ khách đều biết, không còn hồ nghi. Trên tấm đá này có ghi Đại giới ngoại tướng hoặc Nhiếp tăng Đại giới. (xt. Kết Giới). II. Kết Giới Thạch. Cũng gọi Cấm bài thạch, Huân tửu bài. Tấm bảng đá khắc hàng chữ cấm người uống rượu, ăn thịt không được vào trong khu vực đã được kết giới để giúp cho tăng chúng tinh tiến đạo nghiệp. Điều Lão nhân dự chúc ngữ trong Hoàng bá thanh qui (Đại 82, 780 hạ), nói: Bản sơn và các Thiền viện thuộc pháp hệ Hoàng bá đều không cho những người ăn thịt, uống rượu vào cửa chùa phá trọng giới của Phật. Trong hình vẽ các pháp cụ ở hình phụ lục của sách đã dẫn có hình tấm bảng đá cao 7 thước, rộng 1 thước 2 tấc (Tàu), trên khắc hàng chữ Bất hứa huân tửu nhập sơn môn (Cấm mang rượu thịt vào cổng chùa)dựng ở ngoài cửa Tam quan. Hiện nay, trước cửa các Thiền viện thuộc tông Hoàng bá, Tào động, v.v... ở Nhật bản cũng có dựng bảng đá này, có lẽ là noi theo truyền thống của ngài Ẩn nguyên Long kì, Tổ của tông Hoàng bá.

kết hà

The river of bondage, i.e. of suffering or illusion. ; Dòng sông trói buộc của khổ đau hay phiền não—The river of bondage, i.e. of suffering or illusion.

kết hạ

Varsà, varsàna (S). Retreat season of monks. The end of the summer retreat. ; See Kiết Hạ.

kết hỏa

Xem phiền não.

kết hộ

5191結界護身之意。即密教之行者入壇修法時,為辟除惡魔等之障難,先行護身,次結界之作法。有關結護之法有三種、五種、七種等異說。於大毘盧遮那佛說要略念誦經舉出祕密三昧耶、清淨法身、金剛法輪、金剛甲冑、法界清淨、除障大護、不動威怒等七種祕密結護法。據蘇悉地軌卷上載,以大三昧耶為護身結界之印明,降三世五重結護以降三世明王之印言為結護。然密教金剛、胎藏兩部諸種經軌次第中,採用不動威怒法(即辟除結護)之印明為最多,通於一切之結護。即入於修禪三昧,結不動明王之劍印並誦慈救咒;而首先將印左轉辟除,次右轉結界,表示外辟除惡魔,內護持自身。此辟除結護威力能擁護十方大界,又能護身、淨除處所,行者心念咒、印所及之處,能使種種異類及難調魍魎之屬皆見金剛威怒熾然,猶如大火聚週遍。〔蘇悉地羯羅經卷下供養品、念誦結護法普通諸部、蘇悉地羯羅經略疏卷六〕 ; (結護) Tác pháp hộ thân kết giới của hành giả Mật giáo, để dẹp trừ chướng nạn ác ma trước khi vào đàn tu pháp. Pháp kết hộ có nhiều loại khác nhau. Kinh Đại tì lô giá na Phật thuyết yếu lược niệm tụng, nêu ra 7 pháp kết hộ bí mật là: Bí mật tam muội da, Thanh tịnh pháp thân, Kim cương pháp luân, Kim cương giáp trụ, Pháp giới thanh tịnh, Trừ chướng đại hộ và Bất động uy nộ. Tô tất địa quĩ quyển thượng dùng Đại tam muội da làm ấn minh của pháp kết giới hộ thân; Hàng tam thế ngũ trùng kết hộ lấy ấn ngôn của Hàng tam thế minh vương làm kết hộ. Nhưng trong các kinh quĩ của Kim cương bộ và Thai tạng bộ Mật giáo thì sử dụng ấn minh của pháp Bất động uy nộ(tức kết hộ tịch trừ) nhiều nhất, ấn minh này cũng dùng chung cho tất cả các loại kết hộ. Tức khi tu Tam muội, kết ấn kiếm của Bất động minh vương và tụng chú Từ cứu; trước hết, chuyển ấn qua bên trái để dẹp trừ, kế đến, chuyển qua bên phải để kết giới , biểu thị ý nghĩa ngoài dẹp trừ ác ma, trong hộ trì tự thân. Uy lực của pháp kết hộ dẹp trừ này có khả năng bảo vệ Đại giới ở 10 phương, lại có năng lực hộ thân, làm sạch chỗ ở, hành giả tâm niệm chú và ấn, đi đến đâu cũng có năng lực khiến cho các loài khác và quyến thuộc của quỉ vọng lượng thấy uy lực mạnh mẽ của Kim cương giống như đống lửa lớn trùm khắp. [X. phẩm Cúng dường trong kinh Tô tất địa yết la Q. hạ; Niệm tụng kết hộ pháp phổ thông chư bộ; Tô tất địa yết la kinh lược sớ Q.6].

kết hợp

To associate—To unite—To combine.

kết kinh

5189指於本經之後,更述要旨所演之經。為「開經」之對稱。如天台宗以無量義經為法華經之開經,以普賢觀經為結經。又法華玄義釋籤卷十下以像法決疑經為涅槃經之結經。〔法華文句記卷八之四〕(參閱「開經」5310) ; The end of a sùtra; also its continuation. ; See Kiết Kinh. ; (結經) Đối lại: Khai kinh. Đoạn kinh ở sau bộ kinh lớn thuật lại yếu chỉ của toàn bộ kinh đã nói ở trước. Như tông Thiên thai dùng kinh Vô lượng nghĩa làm kinh mở đầu cho kinh Pháp hoa và dùng kinh Phổ hiền quán làm kinh Kết thúc. Còn Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 10 phần cuối thì dùng kinh Tượng pháp quyết nghi làm kết kinh cho kinh Niết bàn. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.8 phần 4]. (xt. Khai Kinh).

kết liên

To League—To unite—To ally.

kết liễu

To finish—To conclude—To close—To end.

kết luận

To end—To conclude—To come to a conclusion (an end)—Conclusion.

kết lậu

Bondage and reincarnation because of the passions. ; Kết và lậu là tên gọi khác của phiền não. Trói buộc và luân hồi sanh tử là do bởi dục vọng—Bondage and reincarnation because of the passions.

kết nghiệp

The karma resulting from the bondage to passions, or delusion. ; Sự trói buộc của nghiệp, hay nghiệp là kết quả của sự trói buộc của dục vọng—The bond of karma, the karma resulting from the bondage to passions or delusions.

kết nghĩa

To make friends—To be friends with someone.

kết nguyện

5191<一>即立下誓願。灌頂經卷十二(大二一‧五三六上):「若四輩弟子誦持此經,令所結願,無求不得。」 <二>為「開白」之對稱。係於修法或法會之最後一日所行祈願圓滿之作法。亦指法會之最後一日。於日本,特重此類儀式作法。 ; Concluding the vows, the last day of an assembly. ; 1) Kết thúc hay hoàn thành lời nguyện: To conclude a vow. 2) Ngày bế mạc đại hội an cư kiết hạ: The last day of an assembly (of a summer retreat). ; (結願) I. Kết Nguyện. Lập thệ nguyện. Kinh Quán đính quyển 12 (Đại 21, 536 thượng), nói: Nếu bốn chúng đệ tử tụng trì kinh này thì những điều kết nguyện đều được như ý. II. Kết Nguyện. Đối lại: Khai bạch. Tác pháp cầu nguyện viên mãn cử hành vào ngày cuối cùng của pháp tu hoặc ngày cuối cũng của pháp hội. Nhật bản đặc biệt coi trọng nghi thức tác pháp này.

kết nạp

To admit.

kết oán

To breed emnity; to contract hatred; to incur hostility. ; To create enemies.

kết phát

5191為密教之修行者於澡浴之後,結頂髮之法。又作結頂髮、結頂髻。蘇悉地羯羅經卷上持戒品(大一八‧六○七上):「澡浴既了,(中略)應結頂髮,誦真言之經七遍,當頂作髮。若是出家,應以右手為拳,置於頂上,如前遍數同結頂髮。頂髮真言曰『唵 蘇悉地羯哩莎訶』。」又日本之應永本蘇悉地經載,其印相為舒右手拳印之拇指,和食指相捻成圓形。密教行者結髻髮乃通於出家、在家之法。〔蘇悉地羯羅供養法卷上、諸儀軌稟承錄卷二、蘇悉地羯羅經略疏卷二〕(參閱「周羅髮」3122) ; (結髮) Cũng gọi Kết đính pháp, Kết đính kế. Phép tết tóc trên đỉnh đầu của hành giả Mật giáo sau khi tắm gọi. Phẩm Trì giới trong kinh Tô tất địa yết la quyển thượng (Đại 18, 607 thượng), nói: Tắm gội xong, (...) nếu là tại gia thì tết tóc trên đỉnh đầu, tụng 7 biến chân ngôn trong lúc đang tết tóc. Nếu là xuất gia thì nắm tay phải lại, để lên đỉnh đầu, tụng 7 biến chân ngôn: Án, tô tất địa yết lí sa ha. Theo kinh Tô tất địa bản Ứng vĩnh của Nhật bản thì ấn tướng kết phát là: Đầu ngón cái của quyền ấn tay phải bấm vào đầu ngón trỏ làm thành hình vòng tròn. [X. Tô tất địa yết la cúng dường pháp Q. thượng; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.2; Tô tất địa yết la kinh lược sớ Q.2]. (xt. Chu La Phát).

kết phược

To tie and knot. ; Tên khác của phiền não, dục vọng hay phiền não trói buộc thân tâm—To tie and knot, i.e. in the bondage of the passions, or delusion.

kết quả của nghiệp

Karmic results—The natural reward or retribution for a deed, brought about by the law of karma.

kết sanh

Sự trói buộc vào tái sanh hay thân trung hữu chết đi để thác sanh vào thai mẹ (theo Câu Xá Luận: “lúc lâm chung thì trung hữu đối với hai tâm niệm trái ngược nhau là yêu và ghét sẽ hiện khởi, đến khi nhập thai thì đẩy bỏ cái tâm ghét chỉ chừa lại cái tâm yêu, bảo đây là của mình, rồi từ đó sinh vui mừng, nên các uẩn lớn thêm lên, thân trung hữu liền mất đi và sinh hữu hay kết sanh đã thành)—The bond of rebirth.

kết sinh

5179梵語 pratisaṃdhi。於輪迴轉生之間,指由中有而托生於母胎。其相,通於大小乘,凡諸因緣具備,男女各於異性之父母起愛著而生。俱舍論卷九(大二九‧四六下):「中有為至所生,先起倒心,馳趣欲境,彼由業力所起眼根,雖住遠方,能見生處父母交會而起倒心,若男緣母起於男欲,若女緣父起於女欲,翻此緣二俱起瞋心。(中略)彼由起此二種倒心,便謂己身與所愛合,所憎不淨泄至胎時,謂是已有,便生喜慰,從茲蘊厚,中有便沒,生有起已,名已結生。」蓋生此倒想者唯凡夫,若菩薩則不然;菩薩入母胎時,心不顛倒,於父為父想,於母為母想,俱相親愛,無有異心。〔大毘婆沙論卷六十、瑜伽師地論卷一、卷六十六、大乘阿毘達磨雜集論卷五、成唯識論演祕卷三末〕(參閱「中有」1017) ; The bond of rebirth. ; (結生) Phạm: Pratisaôdhi. Chỉ cho thân Trung hữu gá sinh vào thai mẹ. Luận Câu xá quyển 9 (Đại 29, 46 hạ), nói: Thân trung hữu muốn đến chỗ thụ sinh, trước hết là khởi tâm điên đảo rồi hướng tới chỗ nào có hành dâm, nhờ nghiệp lực mà khởi nhãn căn, tuy ở một nơi nào đó thật xa, nhưng thân trung hữu cũng thấy được chỗ cha mẹ đang giao hội mà khởi tâm điên đảo. Nếu là thân trung hữu nam thì duyên theo mẹ mà khởi tâm dâm dục của người nam; nếu là thân trung hữu nữ thì duyên theo cha mà khởi tâm dâm dục của người nữ. Nếu trái với duyên này thì cả hai đều khởi lên tâm tức giận. (...) Do khởi hai tâm điên đảo ấy nên thân trung hữu cho rằng thân mình hợp với người mình yêu thích, khi chất dơ bẩn đáng ghét lọt vào thai thì cho là đã có, nên sinh tâm vui mừng, từ đấy thân ngũ uẩn thành hình, thân trung hữu liền mất, thân sinh hữu đã bắt đầu, gọi là đã kết sinh. Trên đây là nói về phàm phu kết sinh, vì chỉ có phàm phu mới sinh tâm điên đảo ấy, chứ Bồ tát thì không như thế. Khi Bồ tát vào thai mẹ, tâm không điên đảo, đối với cha thì biết là cha, đối với mẹ thì biết là mẹ, đều yêu mến như nhau, không có tâm phân biệt sai khác. [X. luận Đại tì bà sa Q.60; luận Du già sư địa Q.1, Q.66; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.5; Thành duy thức luận diễn bí Q.3 phần cuối]. (xt. Trung Hữu).

Kết sử

結使; S, P: saṃyojana;|Trói buộc, Cái triền

kết sử

(結使, Phạn ngữ: saṃyojana): chỉ những sự trói buộc, ngăn trở người tu tập trên đường đạt đến sự giải thoát. Vì có sức trói buộc thân tâm, nên gọi là kết (thắt buộc, trói buộc). Vì có sức sai khiến, xúi giục người ta hành động sai trái, nên gọi là sử (sai khiến). Có 10 kết sử được kể ra là: 1. Thân kiến (身見; Phạn ngữ: satkya-dṛṣṭi; Pli: sakkyadiṭṭhi), chấp rằng có một bản ngã hình thành nơi thân thể; 2. Nghi (疑; Phạn ngữ: vicikits; Pli: vicikicc); 3. Giới cấm thủ (戒禁取; Phạn ngữ: ỵlavrata-parmarśa; Pli: sỵlabbata-parmsa) cố chấp vào giới luật một cách không chính đáng; 4. Dục tham (欲貪; Phạn ngữ: kma-rga); 5. Sân khuể (sân hận) (瞋恚; Phạn ngữ: vypda); 6. Sắc tham (色貪; Phạn ngữ: rpa-rga); 7. Vô sắc tham (無色貪; Phạn ngữ: arpa-rga); 8. Mạn (kiêu mạn) (慢; Phạn ngữ: mna); 9. Trạo cử (hồi hộp không yên) (掉舉; Phạn ngữ: auddhatyauddhacca); 10. Vô minh (無明; Phạn ngữ: avidyavijj). Cũng có cách phân loại cửu kết, thập sử, lại chia ra ngũ lợi sử và ngũ độn sử. Trong một số bản kinh luận, đôi khi cũng thấy đề cập đến thất sử bao gồm: dục ái, sân khuể, hữu ái, kiêu mạn, vô minh, tà kiến và nghi. Vì thế, nói một cách tổng quát nhất thì kết sử có thể xem như cách gọi tên khác của phiền não. ; 5180煩惱之異稱。諸煩惱纏縛眾生,不使出離生死,故稱結;驅役而惱亂眾生,故稱使。結有九種,使有十種,稱為九結十使。大智度論卷一(大二五‧五八下):「一切眾生為結使病所煩惱,無始生死已來,無人能治此病者。」〔大智度論卷五、大乘義章卷五本〕(參閱「九結」148、「五利使」1096、「五鈍使」1164) ; Samyojana (S). The bondage and instigator of the passions. Fetters. ; See Kiết Sử. ; (結使) Tên khác của phiền não. Kết là các phiền não trói buộc chúng sinh, khiến cho không ra khỏi được sinh tử; Sử là các phiền não sai khiến làm não loạn chúng sinh. Kết có 9 thứ, Sử có 10 thứ, gọi là 9 kết 10 sử. Luận Đại trí độ quyển 1 (Đại 25, 58 hạ), nói: Tất cả chúng sinh bị bệnh kết sử làm cho phiền não, từ vô thủy sinh tử đến nay, không ai có thể chữa được bệnh này. [X. luận Đại trí độ Q.5; Đại thừa nghĩa chương Q.5 phần đầu]. (xt. Cửu Kết).

kết thai ngũ vị

5185指人在胎位中之五種相狀。即:(一)揭邏藍,即雜穢之義。人於胎位中之初七日內受質之相,狀如凝酥,稱為揭邏藍。(二)頞部曇,即疱、胞胎之義。人於胎位中之二七日內形成之相,狀如瘡疱,稱為頞部曇。(三)閉尸,即凝結之義。人於胎位中之三七日內形成之相,狀如厚肉,稱為閉尸。(四)健南,即凝厚之義。人於胎位中之四七日內形成之相,狀漸堅硬,稱為健南。(五)鉢羅賒佉,即形位之義。人於胎位中之五七日後,四肢及諸根具足,稱為鉢羅賒佉。〔增一阿含經卷三十、北本大般涅槃經卷三十八、俱舍論卷九、慧琳音義卷十四、卷二十六、玄應音義卷二十三〕 ; (結胎五位) Năm trạng thái của con người khi ở trong thai. Đó là: 1. Yết la lam: Nhơ nhớp lẫn lộn, nghĩa là 7 ngày đầu khi mới vào thai, tinh huyết mới kết đọng. 2. Át bộ đàm: Tức là bào thai, nghĩa là trong khoảng 14 ngày sau khi vào thai, thai trạng như sữa đặc 3. Bế thi: Tức ngưng kết lại, nghĩa là trong khoảng 21 ngày vào thai, thai nhi mới thành hình, thịt đã bắt đầu sinh và còn mềm. 4. Kiện nam: Tức là trong khoảng 28 ngày, khối thịt ngưng tụ và đã hơi cứng. 5. Bát la xa khư: Tức sau 35 ngày thai nhi đã hiện đủ các tướng chân tay và đầu. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.30; kinh Đại bát Niết bàn Q.38 (bản Bắc); luận Câu xá Q.9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.14, Q.26; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].

kết thành lệnh văn

5185(1902~ )日本佛教學者,文學博士。兵庫縣人。西元一九二九年畢業於東京大學文學部印度哲學科。曾任東方文化學院東京研究所研究員、東京大學教授。而於一九六三年退休。其後即任本願寺派本願寺傳道院長、東洋大學講師。主要著作有:唯識思想史、唯識思想と歷史、世親唯識の研究、唯識學典籍志、人間性の探究、劍禪一如、淨土真宗、淨土について等書。 ; (結城令聞) (1902- ?) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Binh khố. Năm 1929, ông tốt nghiệp ngành Triết học Ấn độ thuộc Văn khoa Đại học Tokyo. Ông từng là nghiên cứu viên của sở Nghiên cứu thuộc học viện văn hóa Đông phương ở Tokyo và là giáo sư Đại học Tokyo. Năm 1963, ông về hưu. Sau, ông giữ chức Viện trưởng viện Truyền đạo chùa Bản nguyện thuộc phái Bản nguyện tự, Giảng sư Đại học Đông phương. Những tác phẩm quan trọng của ông gồm có: Duy thức tư tưởng sử, Duy thức tư tưởng dữ lịch sử, Thế thân duy thức chi nghiên cứu, Duy thức học điển tịch chí, Nhân gian tính chi thám cứu, Kiếm thiền nhất thư, Tịnh độ chân tông.

kết thán

Tán thán phần kết của bài kinh hay đoạn kinh—A sigh of praise at the close of a passage of a sutra.

kết thân

To join by marriage.

kết thúc

See Kết luận.

Kết thảo hàm hoàn

(結草含[銜]環): hay hàm hoàn kết thảo (含環結草、銜環結草), nghĩa là kết cỏ ngậm vành. Kết thảo (結草, kết cỏ) vốn phát xuất từ câu chuyện trong Tả Truyện (左傳), phần Tuyên Công Thập Ngũ Niên (宣公十五年). Ngụy Võ Tử (魏武子) là quan Đại Phu nhà Tần, có một người vợ lẽ rất đẹp. Tục lệ nước Tần, hễ chồng chết thì phải chôn người thiếp chết theo. Lúc bình thường, Ngụy Võ Tử dặn con trưởng Ngụy Khỏa (魏顆) rằng khi ông chết thì đừng chôn người thiếp đó theo, mà hãy tìm nơi tử tế gả nàng. Nhưng sau đó, khi Ngụy Võ Tử đau gần chết thì lại dặn con là chôn người thiếp ấy theo. Đến khi Ngụy Võ Tử chết, Ngụy Khỏa không chôn người thiếp của cha, sau đó lại tìm người tử tế gả nàng để nương nhờ tấm thân. Có người thắc mắc, Ngụy Khỏa đáp rằng: “Tật bệnh tắc loạn, ngô tùng kỳ trị dã (疾病則亂、吾從其治也, khi bị tật bệnh thì không sáng suốt, ta cứ theo lời dặn trước đây của người vậy).” Về sau, Ngụy Khỏa lên làm tướng nước Tần, đánh nhau với tướng của nước Tấn là Đỗ Hồi (杜回) rất vũ dũng, ít ai thắng nổi, Ngụy Khỏa thường thua. Có một hôm, Ngụy Khỏa và Đỗ Hồi ra trận, đánh nhau trên một bãi cỏ, Ngụy Khỏa thấy mường tượng như có một ông già đang cúi xuống kết cỏ thành từng vòng dưới chân ngựa của Đỗ Hồi, khiến cho ngựa của Đỗ Hồi vướng cỏ ngã lăn ra, Đỗ Hồi cũng ngã theo, bị Ngụy Khỏa bắt đem về, thắng trận vẻ vang. Đêm hôm ấy, Ngụy Khỏa mộng thấy ông già kết cỏ về bảo rằng: “Dư, nhi sở giá phụ nhân chi phụ dã, nhĩ dụng tiên nhân chi trị mệnh, dư thị dĩ báo (余、而所嫁婦人之父也、爾用先人之治命、余是以報, tôi là cha của người thiếp do ông đã gả chồng, ông biết theo lời dặn sáng suốt của tiền nhân để gả chồng cho con gái tôi, tôi lấy việc đó để báo ơn ông).” Do điển tích này, từ ngữ kết thảo thường được dùng để chỉ việc đền ơn đáp nghĩa. Từ hàm hoàn (銜環, 含環, ngậm vành) có xuất xứ từ câu chuyện trong Hậu Hán Thư (後漢書) quyển 54, Truyện Dương Chấn (楊震傳) có chú dẫn Tục Tề Hài Ký (續齊諧記) của Ngô Quân (吳均, 469-520) nhà Lương thời Nam Triều. Chuyện kể rằng vào thời nhà Hán, có Dương Bảo (楊寶), lúc 9 tuổi, đi chơi đến phía bắc núi Hoa Âm (華陰), thấy một con chim sẻ vàng bị con chim cú đánh rơi xuống gốc cây, lại bị kiến lửa bu đốt. Dương Bảo lấy làm thương hại, bắt đem về nhà chăm sóc, nuôi cho đến khi chim sẻ khỏe mạnh, lông mọc đầy đủ mới thả cho bay đi. Đêm hôm ấy, Dương Bảo bỗng thấy một đứa bé mặc áo vàng ngậm một vòng ngọc, chạy vào trướng, đến trước mặt Dương Bảo nói: “Ngã Tây Vương Mẫu Sứ Giả, quân nhân ái cứu chửng, thật cảm thành tế (我西王母使者、君仁愛救拯、實感成濟, tôi là Sứ Giả của Tây Vương Mẫu, ông nhân ái cứu sống tôi, thực cảm đội ơn cứu mạng).” Rồi lấy bốn chiếc vòng ngọc trắng trao cho Dương Bảo và nói tiếp: “Linh quân tử tôn khiết bạch, vị đăng Tam Sự, đương như thử hoàn (令君子孫潔白、位登三事、當如此環矣, mong cho con cháu của ông luôn trong trắng, liêm khiết, sau này hiển đạt lên Tam Công [Thái Úy, Tư Đồ, Tư Không], giống như mấy chiếc vòng này).” Nói xong, cậu bé áo vàng để lại vòng ngọc, từ tạ bay mất. Thuật ngữ “kết thảo hàm hoàn” trở thành thông dụng và rất phổ biến trong văn học dân gian. Như trong tác phẩm Hôi Lan Ký (灰闌記) phần 1 của Lý Hành Đạo (李行道, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Đa tạ đại nương tử, tiểu nhân kết thảo hoàn hàm, thử ân tất đương trọng báo (多謝大娘子、小人結草銜環、此恩必當重報, xin đa tạ đại nương tử, kẻ tiểu nhân kết cỏ ngậm vành, ơn này tất sẽ báo đáp).” Hay trong Tây Du Ký (西遊記), hồi 37 lại có đoạn: “Kim lai chí tâm bái khẩn, thiên khất đáo ngã quốc trung, chưởng trụ yêu ma, biện minh tà chánh, Trẫm đương kết thảo hàm hoàn, báo thù sư ân dã (今來志心拜懇、千乞到我國中、拿住妖魔、辨明邪正、朕當結草銜環、報酬師恩也, nay đến đây thành tâm lạy khẩn thiết, ngàn lần cầu xin Người đến nước tôi, dẹp trừ yêu ma, làm rõ chánh tà, Trẫm sẽ kết cỏ ngậm vành, báo đáp ơn của Đại Sư).” Ngay như trong Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820) cũng có câu: “Rằng tôi bèo bọt chút thân, lạc đàn mang lấy nợ nần yến oanh, dám nhờ cốt nhục tử sinh, còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau.”

kết toà

5186原指總結一座之說法,故法會終了時之說法即稱為結座,此外亦指法會之最後一天。又法會最後一日常舉行結納與會者所祈願望之行事,故亦稱結願。敕修百丈清規卷二住持日用條(大四八‧一一一九下):「提綱、敘謝,委曲詳盡,然後舉古結座。」(參閱「結願」5191) ; (結座) Kết thúc thời thuyết giảng trong pháp hội. Ngoài ra, Kết tòa cũng chỉ cho ngày cuối cùng của pháp hội. Ngày cuối cùng của pháp hội thường cử hành nghi thức kết nạp những nguyện vọng của người tham dự pháp hội, nên cũng gọi là ngày kết nguyện. Điều Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1119 hạ), nói: Nêu lên những yếu ngữ của chư Tổ, giải thích tường tận những chỗ khó hiểu, nói lời cảm tạ rồi mới kết tòa. (xt. Kết Nguyện).

kết trụ

5185密教金剛界修法之際,為速疾成就悉地,辟除諸魔,披著金剛甲冑,於甲冑各處,結誦堅固印明之作法。據金剛頂蓮華部心念誦儀軌載,真言行者於有情眾生當興起大悲心,恆於無盡生死中披大誓之甲冑,降伏諸天魔,以成正覺,故披如來之甲冑。其結印之法,二手作金剛拳,各舒展食指,手臂稍曲,置於胸前,觀想右手食指端有???(oṃ,唵)字,左手食指端有???(ṭuṃ,砧)字,又觀想由此二字流出青色之組紐,加持心、背、右膝、左膝、臍、腰後、右肩、左肩、喉、頸後、額前、頂後等十二處,各旋繞三次,然後徐徐下垂於前方。散印之時,先自右手小指、左手小指開始。如此結冑,即能護持一切,諸天魔不能破壞。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷三、瑜伽蓮華部念誦法,金剛頂瑜伽三摩地法、金剛頂經蓮華部心念誦次第〕 ; Làm dấu kim cang ái trụ, như dấu hiệu của Đức Tỳ Lô Giá Na để kiểm soát quỷ thần—Đây là một phương pháp của Mật Tông—To make the sign of the Vajra armour and helmet, i.e. of Vairocana, in order to control the spirits—A method of the esoteric sects. ; (結胄) Tác pháp kết tụng khế ấn và chân ngôn Kiên cố chú nguyện vào giáp trụ kim cương khi tu pháp Kim cương giới của Mật giáo, để dẹp trừ các ma, mau chóng thành tựu Tất địa. Cứ theo Kim cương đính Liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ, thì hành giả Chân ngôn đối với chúng sinh hữu tình nên khởi tâm đại bi, thường mặc giáp trụ(áo và mũ của người chiến sĩ mặc khi ra trận) Đại nguyện của Như lai vào trong sinh tử vô tận hàng phục Thiên ma. Về cách kết ấn, 2 tay nắm lại thành kim cương quyền, mỗi tay duỗi ngón trỏ, cánh tay hơi co, đặt ở trước ngực, quán tưởng ở đầu ngón trỏ của tay phải có chữ (oô), đầu ngón trỏ của tay trái có chữ (ỉuô), lại quán tưởng từ 2 chữ này hiện ra 1 cái vòng dây mầu xanh, dùng vòng dây này gia trì ở 12 chỗ: Tim, lưng, đầu, gối phải, đầu gối trái, rốn, cạnh sườn, vai phải, vai trái, yết hầu, ót, trán và đỉnh đầu mỗi chỗ xoay 3 vòng, rồi từ từ buông xuống phía trước. Khi giải ấn, bắt đầu duỗi lần lượt từ ngón út tay phải, ngón út tay trái, v.v... Kết trụ như thế, có năng lực hộ trì tất cả, các Thiên ma không thể phá loại. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; Du già Liên hoa bộ niệm tụng pháp; Kim cương đính du già tam ma địa pháp; Kim cương đính kinh Liên hoa bộ tâm niệm tụng thứ đệ].

kết tuyến

5190密教為調伏而修六字經法時,捻合十四條白絲,並誦真言,祈願將怨敵、惡病等結縛之而不令生起的一種咒法。祈願成就後,即行解線之法。然亦有為避免怨念再生起,故不行解線。 ; (結綫) Một loại chú pháp được sử dụng khi tu pháp Lục tự kinh của Mật giáo. Khi thực hành, tay cầm một nhúm 14 sợi tơ trắng, miệng tụng chân ngôn để cầu nguyện mong trói buộc được các oán địch và tai họa nguy hiểm, v.v... không cho sinh khởi. Sau khi cầu nguyện thành tựu thì thực hành pháp giải tuyến(cởi dây). Nhưng cũng có trường hợp phải đề phòng, không để cho oán địch phát sinh trở lại nên không thực hành pháp giải tuyến.

kết tán

5191於讀經之最後,以諷誦佛德之讚歎文作結束,稱為結讚。黃檗清規諷誦章(大八二‧七七二中):「詣靈前,舉三寶讚、彌陀經(或大悲咒)、心經、往生咒、變食真言、結讚、回向。」 ; (結贊) Sau khi tụng kinh, đọc bài kệ tán thán công đức của Phật để kết thúc thời khóa. Chương phúng tụng trong Hoàng bá thanh qui (Đại 82, 772 trung) ghi: Đến trước bàn thờ vong linh, xướng kệ khen ngợi Tam bảo, tụng kinh Di đà(hoặc chú Đại bi), Tâm kinh, chú Vãng sinh, Chân ngôn biến thực, Kết tán, Hồi hướng.

kết tóc xe tơ

To get married.

Kết tập

結集; S, P: saṅgīti;|Có bốn lần kết tập trong lịch sử phát triển đạo Phật. Lần kết tập thứ nhất được tổ chức tại Vương xá (s: rājagṛha) ngay sau khi Phật diệt độ. Lần kết tập thứ hai được tổ chức tại Vệ-xá-li (s: vaiśālī), khoảng 100 năm sau Vương xá, tức là khoảng năm 386 trước Công nguyên. Lần thứ ba được tổ chức tại Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra), ngày nay là Pat-na, trong thế kỉ thứ hai sau ngày Phật nhập Niết-bàn. Lần kết tập này không được Thượng toạ bộ (p: theravāda) công nhận. Thượng toạ bộ theo truyền thống riêng và xem lần kết tập thứ ba này được thực hiện qua trường phái Pāli trong thời gian A-dục vương (s: aśoka) trị vì. Lần kết tập thứ tư được tổ chức tại Kashmir, ý kiến về lần này cũng khác nhau. Có người cho rằng đó là lần kết tập toàn thể do vua Ca-nị-sắc-ca (s: ka-niṣka) tổ chức, có người cho rằng đó chỉ là kết tập của phái Nhất thiết hữu (s: sarvās-tivāda).|Mục đích các lần kết tập là giải quyết các ý kiến, quan niệm bất đồng trong tăng hội, thuyết minh các vấn đề và xác lập các kinh sách cơ bản.|Kết tập lần thứ nhất: Lần kết tập này được tường thuật trong Luật tạng (s, p: vinaya-piṭaka). Ðại hội này do Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa) triệu tập, là người nhận thấy sau khi Phật diệt độ có nhiều khuynh hướng thoái hoá trong Tăng-già. Có 500 Tỉ-khâu – tất cả đều là A-la-hán – tham dự đại hội, khoảng năm 408 trước Công nguyên. Hội này được tổ chức tại Vương xá. Ca-diếp yêu cầu Ưu-ba-li (s, p: upāli) trình bày về giới luật và A-nan-đà (ānanda) về giáo pháp. Dựa trên trình bày của hai vị đó mà Luật tạng và Kinh tạng thành hình. Sau đó, các bản kinh được đại hội nhất trí được tụng đọc.|Tương truyền trong lần kết tập này, A-nan-đà bị Ca-diếp phê bình nặng nề vì lúc bắt đầu đại hội, Tôn giả vẫn chưa đạt quả A-la-hán và chính trong thời gian đó (đêm trước buổi kết tập), A-nan-đà đạt thánh quả này. Trong đại hội, A-nan-đà cũng bị chê trách là »quên« hỏi Phật một cách chính xác vài chuyện trước khi Ngài nhập Niết-bàn. Một điểm khác mà A-nan-đà cũng bị chê trách là thái độ đồng tình khi Phật cho phép lập ni đoàn. Tuy nhiên, A-nan-đà bị chê trách nhất là đã không xin Phật trì hoãn việc nhập Niết-bàn. Ngày nay nhiều học giả phân vân không biết kết tập lần thứ nhất đúng như đã lưu truyền hay không, nhưng nhiều người đều nhất trí việc thống nhất kinh bản đã xảy ra rất sớm.|Kết tập lần thứ hai: lần này được tài liệu ghi rõ hơn lần thứ nhất nhiều và xem như một sự thật lịch sử. Lí do kết tập trong khoảng năm 386 trước Công nguyên là vì những khác biệt về giới luật. Lần đó, các tỉ-khâu ở Vệ-xá-li đã đi ngược giới luật, nhận vàng bạc cúng dường của Phật tử. Ðồng thời, một đệ tử của A-nan-đà là Da-xá (s: yaśa) chê trách các vị này phạm giới luật như ăn không đúng thời, rượu chè… Da-xá vì vậy mà bị trục xuất khỏi Tăng-già. Vị này cầu cứu các vị tăng khác. Cuối cùng một đại hội với 700 tỉ-khâu được triệu tập, bầu một hội đồng gồm mỗi vùng Ðông Tây bốn vị, lên án các vị tăng phạm luật ở Vệ-xá-li. Các vị tăng này cũng nhận lỗi. Biên bản đại hội này đã được ghi lại trong Luật tạng, bằng văn hệ Pā-li cũng như Phạn ngữ (sanskrit). Về sau, một số vị trưởng lão theo truyền thống Tích Lan cho rằng lần kết tập này đã dẫn đến sự chia rẽ giữa Trưởng lão bộ (s: sthavira) và Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika). Các vị này cho rằng các tăng sĩ Vệ-xá-li đã thực hiện một kết tập khác để thành lập Ðại chúng bộ.|Kết tập lần thứ ba: Trong Luật tạng không có tài liệu về lần kết tập này. Các biên bản về lần kết tập này khác nhau nhiều, nhưng phần lớn nguồn tài liệu cho rằng, lí do lần kết tập này là bàn bạc về tính chất một A-la-hán. Một tỉ-khâu tại Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) tên là Ðại Thiên (s, p: mahādeva) nêu lên năm điểm: 1. Dư sở dụ: A-la-hán còn có thể bị tham Ái chi phối bởi vì còn nhục thân, vấn đề sinh lí chưa đoạn nên khi thuỵ miên còn có thể lậu hoặc; 2. Vô tri: A-la-hán chưa hoàn toàn thoát khỏi Vô minh; 3. Do dự: A-la-hán chưa đoạn diệt nghi ngờ; 4. Tha linh nhập: A-la-hán còn cần trợ lực bên ngoài mới biết mình đạt Bồ-đề; 5. Ðạo nhân thanh cố khởi (Ðạo nương vào âm thanh mà sinh): A-la-hán cần những thanh âm đặc biệt để đạt Ðịnh, và ngộ chân lí.|Năm thuyết này của Ðại Thiên đã chia Tăng-già ra làm hai phái. Lần kết tập này có mục đích giảng hoà hai bên, nhưng cuối cùng chỉ còn xác nhận sự phân cực đó. Nhóm tăng sĩ ủng hộ lập trường của Ðại Thiên thuộc đa số và tự nhận mình là »Ðại chúng bộ«, trong lúc đó nhóm trưởng lão, đạo cao đức trọng, tự xác nhận mình là »Trưởng lão« (s: sthavira; p: theravāda). Trường phái Pā-li của Tích Lan (śrī laṅkā) không thừa nhận lần kết tập thứ ba này. Ðối với họ, kết tập lần thứ ba là đại hội của trường phái Pā-li tại Hoa Thị thành dưới thời vua A-dục, khoảng năm 244 trước Công nguyên. Nguyên nhân kết tập lần này lại cũng là sự tranh cãi ai là tu sĩ Phật giáo »đích thật«, ai chỉ là mạo danh để hưởng quyền lợi của Tăng-già. Theo lệnh của vua A-dục, một vị cao tăng tên Mục-kiền-liên Tử-đế-tu (p: moggaliputta tissa) triệu tập đại hội và mỗi vị tỉ-khâu đều được »phỏng vấn«. Vị nào không đạt yêu cầu, đáp ứng mâu thuẫn với những quan niệm chính mình, đều bị trục xuất ra khỏi Tăng-già. Trong tác phẩm Luận sử (p: kathāvatthu), Mục-kiền-liên Tử-đế-tu phản đối những quan niệm Sư cho là ngoại đạo, không thể dung hoà được lần này. Trong lần kết tập này, toàn bộ kinh sách đều được sử dụng và lần này trở thành cơ sở thành lập của Thượng toạ bộ (p: theravāda).|Kết tập lần thứ tư: Có lẽ cũng chỉ là một đại hội của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) chứ không phải của toàn thể giáo hội. Lần này đại hội được triệu tập dưới thời vua Ca-nị-sắc-ca, nhằm mục đích luận giảng lại A-tì-đạt-ma (s: abhidharma), trong đó người ta thấy những quan điểm phóng khoáng hơn. Theo nhiều tư liệu thì lần này có khoảng 500 vị A-la-hán và nhiều Bồ Tát tham dự. Trong đại hội này, Thế Hữu (s: vasumitra) đóng một vai trò quan trọng với một tác phẩm mang tên Dị bộ tông luân luận (s: samayabheda-vyūhacakra-śāstra) nói về các bộ phái thời kì này. Về sau Nhất thiết hữu bộ có ảnh hưởng lớn nên lần kết tập này cũng được sự thừa nhận chung.

kết tập

5186梵語 saṃgīti,巴利語同。又作集法、集法藏、結經、經典結集。乃合誦之意。即諸比丘聚集誦出佛陀之遺法。佛陀在世時,直接由佛陀為弟子們釋疑、指導、依止等,至佛陀入滅後,即有必要將佛陀之說法共同誦出,一方面為防止佛陀遺教散佚,一方面為教權之確立,故佛弟子們集會於一處,將口口相傳之教法整理編集,稱為結集。玆列舉如下: 第一次結集:於佛陀入滅之年,在阿闍世王之保護下,五百阿羅漢會聚於摩揭陀國王舍城郊外之七葉窟中,以摩訶迦葉為上首,舉行第一次結集,故稱為五百結集、五百集法、五百出。此次結集,據五分律卷三十、摩訶僧祇律卷三十二等載,係由阿難誦經(修多羅或法藏)、優婆離誦律(毘尼藏),再由諸長老將所誦出之經、律檢討修訂,編輯而成。此一說法,為史學界所普遍認為較可信者。此外,另有以下諸種說法:(一)結集經、律、論三藏。依四分律卷五十四、十誦律卷六十、大智度論卷二等所舉,阿難誦經、論(阿毘曇藏)、優婆離誦律。又付法藏因緣傳卷一謂阿難誦經、優婆離誦律、迦葉誦論。然據迦葉結經、撰集三藏及雜藏傳等書所舉,則稱三藏皆由阿難誦出。(二)結集經、律、論、雜集、禁咒五藏。據大唐西域記卷九、部執異論疏等載,迦葉召集五百阿羅漢舉行第一次結集之時,尚有數百千人以婆師婆為首,而另行結集五藏,稱為窟外結集、大眾部結集,以別於迦葉之窟內結集、上座部結集。然學者之間對此說之看法不一,或謂此說恐係諸部分裂之後,上座部之徒所虛構之說法,而予以否定。(三)大乘經結集。據菩薩處胎經卷七出經品所載,迦葉命阿難誦出菩薩、聲聞、戒律諸藏,共集出八藏,即:胎化藏、中陰藏、摩訶衍方等藏、戒律藏、十住菩薩藏、雜藏、金剛藏、佛藏。此外,據大智度論卷一○○、金剛仙論卷一等載,迦葉於耆闍崛山結集小乘三藏之同時,文殊、彌勒等於鐵圍山,與阿難共同結集大乘經典,此稱鐵圍山大乘結集。然此說疑係大乘佛教興起後之傳說。 第二次結集:於佛陀入滅後一百年左右,印度東部跋耆族比丘對戒律發生異議,提出十條戒律新主張。為此,七百比丘會於毘舍離城,以耶舍為上首,舉行第二次結集,稱為七百結集、七百集法、第二集法藏、第二集。此次結集以律藏為主,訂定跋耆族比丘所行之十事為非法。 第三次結集:於佛陀入滅後二百三十六年,在阿育王之護持下,一千比丘會於摩揭陀國華氏城,以目犍連子帝須為上首,舉行第三次結集。此次結集以經、律、論三藏為主。目犍連子帝須並自撰「論事」,對當時外道之各種異議邪說加以批駁;結集後,選派一批比丘至恆河流域以外之地區,及印度境外弘布佛教。第一、二次結集之說,北方與南方佛教皆有流傳,第三次結集之說則只流傳於南方。 第四次結集:有北傳、南傅二說。(一)北傳佛教有二種記載:(1)據婆藪槃豆法師傳載,佛陀入滅後五百年,說一切有部僧迦旃延子往印度西北之罽賓國,召集五百阿羅漢及五百菩薩進行結集,馬鳴菩薩筆之為文,撰成說一切有部阿毘達磨毘婆沙(即大毘婆沙論)百萬頌。(2)依大唐西域記卷三所載,佛陀入滅後四百年,於迦膩色迦王(梵 Kaniṣka)護持之下,以脅尊者(梵 Pārśva)、世友(梵 Vasumitra)為上首,聚集迦濕彌羅國(梵 Kaśmir,即罽賓)之比丘五百人造論解釋三藏,先作鄔波第鑠論十萬頌,解釋素呾纜(經)藏;次造毘奈耶毘婆沙論十萬頌,解釋毘奈耶(律)藏;後作阿毘達磨毘婆沙論十萬頌,解釋阿毘達磨(論)藏;凡三十萬頌、九百六十萬言,迦膩色迦王以赤銅為鍱,鏤寫論文,石函緘封,建塔藏於其中。此二說以後者較為可信。但在南傳佛教中被認為值得懷疑。(二)南傳上座部佛教據「大史」等之記載,謂第四次結集係於錫蘭國王婆他伽馬尼(巴 Vaṭṭagāmaṇi)統治期間,於馬特列村之阿盧迦洞(阿盧寺)舉行,羅希多大上座主持,五百比丘參加。會中誦上座部佛教三藏,修訂三藏注釋,重新安排經典次序,寫成第一部巴利文三藏及僧伽羅文注釋。 第五次結集:據巴利「教史」第六章、緬甸史等之記載,西元一八七一年,緬甸國王敏東(Mindon, 1853~1878 在位)召集二四○○位高僧,於首都曼德勒舉行第五次三藏結集,國王為護法人。此次結集以律藏為中心,考訂校對聖典原文之同異,共同合誦,經過五個月完成。更將結集三藏文字,分別鐫刻於七二九塊方形大理石上,豎立於曼德勒山麓拘他陀塔寺(Kuthodaw)中,外有四十五座佛塔圍繞,今尚存於曼德勒古都。 第六次結集:西元一九五四年五月十七日「衛塞節」(Visākha Day,世界佛陀日),緬甸佛教於國家贊助下,舉行第六次結集。此次結集之意義,在於團結佛教徒,增進上座部佛教之隆盛,提高緬甸獨立國之地位。結集地點位於仰光北郊藝固山崗上,建築仿傚印度第一次結集時之七葉窟。此次結集以第五次結集所鐫刻之七二九塊大理石刻文為依據,並廣採錫蘭、泰國、高棉、倫敦巴利聖典協會,以及緬甸各種巴利文版本,作詳細考訂。結集完成,印刷流通。此次結集並邀請南傳各國比丘參加,北傳國家比丘亦受邀觀禮,費時二年多,至一九五六年(佛曆二五○○年)之衛塞節完成。〔佛般泥洹經卷下、福蓋正行所集經卷三、高僧法顯傳、大乘法苑義林章卷二本、四分律行事鈔資持記卷中一之二、原始佛教聖典之集成(印順)、初期大乘佛教之起源與開展(印順)、阿毘達磨論の研究〕(參閱「十事非法」442) ; 5186指煩惱習氣。結,煩惱;習,習氣。據維摩詰所說經卷中載,天女於維摩詰之室,以天花散諸菩薩,花皆墮落,至大弟子,便著而不墮。以結習未盡,故花著身;若結習已盡,則花不著身。後秦僧肇之注維摩詰經卷六(大三八,三八七下):「有二種習:一結習,二佛法中愛習。得生法忍時,結習都盡,而未斷佛法愛習。」 ; Saṇgīti (P), Abhyaśa (S), Samgīti (S), Sangīti (P), Chanting together, rehearsal, Repitition, Đại hội kết tậpTừ Samgiti nghĩa là 'đọc lại từng câu một và toàn hội nghị tụng câu ấy lại'. Cuộc nhóm họp lớn lao để kết tập kinh điển. - Kết tập lần thứ nhất: vào tháng 8 sau khi Phật nhập diệt (543 BC), do vua A xà thế bảo trợ, có 500 A la hán dự, tại thành Vương xá, trong hang Thất Diệp, ngài A Nan thuyết kinh, ngài Ưu bà ly đọc luật, ngài Ca Diếp làm thượng thủ tụng luận. Tam tạng kinh ghi trên lá buông mà truyền bá. - Kết tập lần thứ nhì: 100 năm sau khi Phật nhập diệt (443 BC), gồm 700 La hán tại thành Tỳ xá ly (Vesali) do ngài Revata làm thượng thủ, vua Kalasoka bảo trợ. - Kết tập lần thứ ba: 200 năm sau khi Phật nhập diệt, vào năm 309 BC, 1.000 La hán nhóm họp tại thành Hoa thị (Pataliputta), do vua Dhammasoka bảo trợ, ngài Tissa con của Moggali làm thượng thủ. - Kết tập lần thứ tư: năm 150, gần thành Tra lan đức cáp (Jalandhara) dưới sự ủng hộ của vua Ca nhị sắc ca (Kanishka), tổ thứ 9 là Buddhamitra triệu tập 500 vị cao tăng và làm thuợng tọa hội nghị này. ; Samgìti (S). The collection and fixing of the Buddhist canon. Council of Buddhist clergy. Synod. ; (結集) Kết là phiền não, Tập là tập khí. Kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung ghi, ở nơi tịnh thất của cư sĩ Duy ma cật, Thiên nữ đem hoa trời rải trên các vị Bồ tát, hoa đều rơi xuống, đến khi rải trên các Đại đệ tử Thanh văn thì hoa dính chặt không rơi. Do kết tập chưa hết nên hoa dính thân, nếu kết tập hết rồi thì hoa không dính thân. Chú Duy na cật kinh quyển 6 của ngài Tăng triệu đời Hậu Tần (Đại 38, 387 hạ), nói: Có hai loại tập khí: Một là kết tập, hai là ái tập. Khi được vô sinh pháp nhẫn thì kết tập đều hết, nhưng chưa đoạn trừ ái tập Phật pháp. ; (結習) Phạm,Pàli: Saôgìti. Cũng gọi Tập pháp, Tập pháp tạng, Kết kinh, Kinh điển kết tập, Hợp tụng. Tức là các vị tỉ khưu cùng tụ họp ở một nơi để đọc tụng, chỉnh lí và biên tập những lời dạy của đức Phật sau khi Ngài nhập diệt, nhằm xác định giáo quyền và phòng ngừa giáo pháp lâu ngày bị tán thất, gọi là Kết tập. Nội dung các cuộc kết tập như sau: I. Kết tập lần thứ nhất. Cũng gọi Ngũ bách kết tập, Ngũ bách tập pháp, Ngũ bách xuất. Vào năm đức Phật nhập diệt, dưới sự bảo hộ của vua A xà thế, 500 vị A la hán tập họp trong hang Thất diệp ở vùng ngoại ô thành Vương xá nước Ma kiệt đà, tôn ngài Ma ha Ca diếp làm Thượng thủ, cử hành kết tập kinh điển lần thứ nhất. Cứ theo luật Ngũ phần quyển 30 và luật Ma ha tăng kì quyển 32, thì trong lần kết tập này ngài A nan tụng kinh(Tu đa la hay Pháp tạng), ngài Ưu ba li tụng luật(Tì ni tạng), sau đó, các bậc Trưởng lão xem xét chỉnh lí rồi biên tập thành các kinh, luật Thuyết này được các nhà sử học cho là tương đối đáng tin. Ngoài ra còn có các thuyết như sau: 1. Kết tập 3 tạng: Kinh, Luật, Luận. Theo luận Tứ phần quyển thứ 54, luật Thập tụng quyển 60 và luận Đại trí độ quyển 2, thì ngài A nan tụng Kinh, Luận (A tì đàm tạng) ngài Ưu ba li tụng Luật. Còn Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 1 thì cho rằng ngài A nan tụng kinh, ngài Ưu ba li tụng Luật, ngài Ca diếp tụng Luận. Nhưng theo các bộ Ca diếp kết kinh, Soạn tập tam tạng và Tạp tạng truyện, v.v... thì nói 3 tạng đều do ngài A nan tụng ra. 2. Kết tập 5 tạng: Kinh, Luật, Luận, Tạp tập, Cấm chú. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9 và Bộ chấp dị luận sớ, thì khi ngài Ca diếp triệu tập 500 vị A la hán cử hành kết tập lần thứ nhất, còn có vài trăm ngàn người suy tôn ngài Bà sư ba làm Thượng thủ, cử hành kết tập 5 tạng, gọi là Quật ngoại kết tập, Đại chúng bộ kết tập để phân biệt với Quật nội kết tập, Thượng tọa bộ kết tập của ngài Ca diếp. Nhưng đối với thuyết này, ý kiến giữa các học giả không giống nhau. Có người cho rằng thuyết này có lẽ đã do chúng tăng Thượng tọa bộ hư cấu ra sau khi các bộ phái phân hóa, cho nên không thừa nhận. 3. Kết tập kinh Đại thừa. Theo phẩm Xuất kinh trong kinh Bồ tát xử thai quyển 7, thì tôn giả Ca diếp sai ngài A nan tụng các tạng Bồ tát, Thanh văn, Giới luật, v.v... gồm tất cả 8 tạng là: Thai hóa tạng, Trung ấm tạng, Ma ha diễn phương đẳng tạng, Giới luật tạng, Thập trụ bồ tát tạng, Tạp tạng, Kim cương tạng và Phật tạng. Ngoài ra, theo luận Đại trí độ quyển 100 và luận Kim cương tiên quyển 1, thì đồng thời với ngài Ca diếp kết tập 3 tạng Tiểu thừa ở núi Kì xà quật, các ngài Văn thù, Di lặc và A nan cũng cùng nhau kết tập kinh điển Đại thừa ở núi Thiết vi, gọi là Thiết vi sơn Đại thừa kết tập, nhưng đây có lẽ là truyền thuyết sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi. II. Kết tập lần thứ hai. Cũng gọi Thất bách kết tập, Thất bách tập pháp, Đệ nhị tập pháp tạng, Đệ nhị tập. Lần kết tập này lấy Luật tạng làm chính, xác định 10 việc mà các tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì thực hành là trái phép. III. Kết tập lần thứ ba. Sau khi đức Phật nhập diệt được 236 năm, dưới sự hộ trì của vua A dục, 1000 vị tỉ khưu nhóm họp ở thành Hoa thị nước Ma kiệt đà, tôn ngài Mục kiền liên tử đế tu làm Thượng thủ, cử hành kết tập lần thứ 3. Lần kết tập này lấy 3 tạng Kinh, Luật, Luận làm chính. Ngài Mục kiền liên tử đế tu tự soạn bộ Luận sư để phê bình và bác bỏ những dị nghị tà thuyết của ngoại đạo đương thời. Sau khi kết tập, một số vị tỉ khưu đã được Đại hội lựa chọn và phái đến những địa khu ngoài lưu vực sông Hằng và ngoài biên thùy Ấn độ để truyền bá Phật pháp. Cuộc kết tập lần thứ nhất và thứ hai đều được lưu truyền ở cả phương Bắc và phương Nam, nhưng cuộc kết tập thứ ba này chỉ được lưu truyền ở phương Nam mà thôi. IV. Kết tập lần thứ tư. Có 2 thuyết: Bắc truyền và Nam truyền. 1. Phật giáo Bắc truyền: Có 2 thuyết. a) Cứ theo Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện chép, thì sau đức Phật nhập diệt 500 năm, ngài Ca chiên diên thuộc Thuyết nhất thiết hữu bộ đến nước Kế tân ở Tây bắc Ấn độ, triệu tập 500 vị A la hán và 500 vị Bồ tát tiến hành kết tập, bồ tát Mã minh ghi chép và soạn thành Thuyết nhất thiết hữu bộ A tì đạt ma tì bà sa(tức luận Đại tì bà sa) gồm 100 vạn bài tụng. b) Theo Đại đường tây vực kí quyển 3, thì sau khi đức Phật nhập diệt 400 năm, dưới sự hộ trì của vua Ca nị sắcca (Phạm: Kaniwka), 500 vị tỉ khưu nhóm họp ở nước Ca thấp di la (Phạm:Kazmir, tức Kế đàn), suy tôn các ngài Hiếp tôn giả (Phạm: Parzva) và Thế hữu (Phạm: Vasumitra) làm Thượng thủ, tạo luận giải thích 3 tạng. Trước hết, tạo luận Ô ba đệ thước 10 vạn bài tụng, giải thích tạng Tố đát lãm(tạng Kinh); kế đến, tạo luận Tì nại da tì bà sa 10 vạn bài tụng giải thích Tì nại da(tạng Luật); sau cùng, tạo luận A tì đạt ma tì bà sa 10 vạn bài tụng, giải thích A tì đạt ma(tạng Luận). Tất cả gồm 30 vạn bài tụng, 960 vạn lời, vua Ca nị sắc ca cho đàn mỏng đồng đỏ thành từng lá để khắc các bộ luận nói trên, rồi cất trong hòm đá và xây tháp để thờ. Trong 2 thuyết trên đây, thuyết của Đại đường tây vực kí đáng tin hơn, tuy nhiên, Phật giáo Nam truyền thì hoài nghi. 2. Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền: Theo Đại sử, v.v... thì cuộc kết tập lần thứ 4 được cử hành trong động A lô ca (chùa A lô) ở thôn Mã đặc liệt tại nước Tích lan vào thời vua Bà tha già mã ni (Pàli: Vaỉỉagàmaịi), do Đại thượng tọa La hi đa chủ trì, có 500 vị tỉ khưu tham dự. Trong hội đã tụng 3 tạng của Phật giáo Thượng tọa bộ, sửa chữa các sách chú thích về 3 tạng, sắp đặt lại thứ tự các kinh điển, viết thành bộ Tam tạng đầu tiên bằng tiếngPàli và các bản chú thích bằng tiếng Tăng già la (Sinhalese = tiếng Tích lan). V. Kết tập lần thứ năm. Theo chương thứ 6 trong Giáo sử tiếng Pàli và lịch sử Miến điện... thì vào năm 1871, vua nước Miến điện là Mẫn đông (Mindon, ở ngôi 1853-1878) đã triệu tập 2400 vị Cao tăng, cử hành kết tập 3 tạng lần thứ 5 ở thủ đô Mạn đức lặc (Mandalay). Lần kết tập này lấy tạng Luật làm chủ yếu, hiệu đính đối chiếu chỗ đồng dị trong nguyên văn Thánh điển, cùng nhau hợp tụng suốt 5 tháng trời mới hoàn thành. Rồi đem toàn bộ văn tự của 3 tạng đã kết tập khắc trên 729 phiến đá hoa đại lí hình vuông, dựng trong chùa tháp Câu tha đà (Kuthodaw) ở chân núi Mạn đức lặc, phía ngoài có 45 ngôi tháp Phật vây quanh, hiện nay vẫn còn ở cố đô Mạn đức lặc. VI. Kết tập lần thứ sáu. Vào ngày 17 tháng 5 năm 1954, tức ngày lễ Phật đản(Visàkha Day, ngày Phật giáo thế giới), dưới sự giúp đỡ của nhà nước, Phật giáo Miến điện cử hành kết tập lần thứ 6. Ý nghĩa của cuộc kết tập lần này là đoàn kết Phật giáo đồ, đẩy mạnh sự phát triển Phật giáo Thượng tọa bộ, đề cao địa vị của nước Miến điện độc lập. Địa điểm kết tập là trên sườn núi Nghệ cố thuộc vùng ngoại ô phía bắc thủ đô Ngưỡng quang (Rangoon) của Miến điện, được kiến trúc phỏng theo hang Thất diệp nơi cử hành kết tập lần thứ nhất tại Ấn độ. Lần kết tập này lấy văn bản được khắc trên 729 phiến đá hoa đại lí của lần kết tập thứ 5 làm chỗ y cứ, đồng thời, sử dụng tất cả các loại bản in tiếngPàli của Hiệp hội Thánh điểnPàli ở Tích lan, Thái lan, Cao miên, Luân đôn và Miến điện để khảo đính một cách rõ ràng tỉ mỉ. Sau khi kết tập hoàn thành, toàn bộ văn bản được ấn hành để lưu thông. Lần kết tập này, ngoài các vị tỉ khưu thuộc các nước Phật giáo Nam truyền, các vị tỉ khưu của các nước Phật giáo Bắc truyền cũng được mời tham dự, ròng rã hơn 2 năm, đến ngày lễVisàkhanăm 1956 (Phật lịch 2500) mới hoàn thành. [X. kinh Phật ban nê hoàn Q.hạ; kinh Phúc cái chính hạnh sở tập Q.3; Cao tăng pháp hiển truyện; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần đầu; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung phần 1 đoạn 2; Nguyên thủy Phật giáo Thánh điển chi tập thành (Ấn thuận); A tì đạt ma luận nghiên cứu]. (xt. Thập Sự Phi Pháp).

kết tập kinh điển

Dharmma Compilation, Great Council of - Lần thứ I: Sau khi Phật nhập diệt, có 500 người, nhóm ở nước Ma kiệt đà, thành Vương xá,núi Kỳ xà Quật, ngài Ca Diếp làm chủ tịch. Ngài A Nan thuật lại kinh giáo, ngài Ưu ma Ly thuật lại giới luật (còn gọi là thời kỳ ngũ bách La hán kết tập). - Lần thứ II: Sau đó 100 năm, đại hội kiết tập có 700 người, nhóm tại thành Tỳ xá Ly, chỉ chuyên chú vào những nghi án trong giới luật. Kỳ kết tập này chưa có ghi chép kinh điển. Kỳ kết tập này cũng chưa có ghi chép kinh điển. - Lần thứ III: Sau 100 năm nữa, khi vua A dục tức vị, triệu tập Đại hội kết tập gồm 700 vị đại đức tỳ khưu ở thành Hoa thị, tổ chức biên tập thành giáo điển. Kỳ này ngài Mục kiền Liên làm chủ tịch. Bắt đầu dùng văn tự ghi chép. - Lần thứ IV: Sau khi Phật nhập diệt chừng 500 năm, vua Ca nị Sắc Tra triệu tập 500 vị Bồ tát, 500 vị tỳ khưu cùng 500 tại gia cư sĩ kết tập tại thành Ca thấp di la. Kỳ này ngài Hiếp tôn giả và ngài Thế Hữu làm chủ tịch. ; Đức Phật đã nhập diệt, nhưng giáo lý của Ngài vẫn còn lưu truyền đến ngày nay một cách trọn vẹn. Mặc dù giáo huấn của Đức Thế Tôn không được ghi chép ngay thời Ngài còn tại thế, các đệ tử của Ngài luôn luôn nhuần nhã nằm lòng và truyền khẩu từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Vào thời Đức Phật còn tại thế, biết chữ là đặc quyền của giới thượng lưu ở Ấn Độ, vì thế truyền khẩu giáo lý là một dấu hiệu cho thấy dân chủ được coi trọng trong truyền thống Phật giáo đến mức cách trình bày giáo pháp bằng văn chương đã bị bỏ quên. Nhiều người không biết chữ, cho nên truyền khẩu là phương tiện phổ thông và hữu hiệu nhứt để gìn giữ và phổ biến giáo pháp. Vì có nhiều khuynh hướng sai lạc về giáo pháp nên ba tháng sau ngày Đức Thế Tôn nhập diệt, các đệ tử của Ngài đã triệu tập Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Phật Giáo để đọc lại di ngôn của Phật. Lịch sử phát triển Phật giáo có nhiều Hội Nghị kết tập kinh điển với những hoàn cảnh vẫn có phần chưa rõ. Lúc đầu các hội nghị nầy có thể là những hội nghị địa phương chỉ tập hợp vài cộng đồng tu sĩ. Sau đó mới có những nghị hội chung—The Buddha has passed away, but His sublime teaching still exists in its complete form. Although the Buddha's Teachings were not recorded during His time, his disciples preserved them, by committing to memory and transmitted them orally from generation to generation. At the time of the Buddha, literacy was a privilege of the elite in India, and this another indication of the premium placed on democracy within the Buddhist tradition that literary formulation of the teaching was neglected for so long. Many people were not literate, so word of mouth was the universal medium for preservation and dissemination of the Dharma. Three months after the Buddha's Parinirvana, there were some tendencies to misinterpret or attempts were being made to pollute His Pure Teaching; therefore, his disciples convened Councils for gathering Buddha's sutras, or the collection and fixing of the Buddhist canon. In the development of Buddhism, several councils are known, the history of which remains partially obscure. These Councils were originally probably localassemblies of individual monastic communities that were later reported by tradition as general councils. (I) Hội Nghị Kết Tập Lần Thứ Nhất—The First Council: Ba tháng sau ngày Đức Phật nhập diệt (vào khoảng năm 543 trước Tây Lịch), do nhận thấy có khuynh hướng diễn dịch sai lạc và xu hướng suy yếu về giới luật trong nội bộ Tăng Già sau khi Phật nhập diệt, nên Đại Hội kết tập kinh điển lần thứ nhất được vua A Xà Thế tổ chức tại hang Pippala, có sách lại ghi là hang Saptaparni, trong thành Vương Xá thuộc xứ Ma Kiệt Đà. Dù vị trí và tên của hang vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng không có gì nghi ngờ là Hội Nghị thứ nhất đã diễn ra tại thành Vương Xá. Các học giả đều thừa nhận rằng Hội Nghị Kết Tập lần thứ nhất nầy chỉ bàn về Kinh Tạng (Dharma) và Luật Tạng (Vinaya), phần Luận Tạng không được nói đến ở đây. Trong hội Nghị nầy có 500 vị Tỳ Kheo tham dự, trong đó có ngài Đại Ca Diếp, người được trọng vọng nhất và là bậc trưởng lão, và hai nhân vật quan trọng chuyên về hai lãnh vực khác nhau là Pháp và Luật là ngài A Nan và Ưu Ba Li đều có mặt. Chỉ hai phần Pháp và Luật là được trùng tụng lại tại Đại Hội lần thứ nhất. Tuy không có nhiều ý kiến dị biệt về Pháp, có một số thảo luận về Luật. Trước khi Đức Phật nhập diệt, Ngài có nói với ngài A Nan rằng nếu Tăng Đoàn muốn tu chính hay thay đổi một số luật thứ yếu cho hợp thời, họ có thể làm được. Tuy nhiên, vào lúc đó ngài A Nan vì quá lo lắng cho Đức Phật nên quên không hỏi những luật thứ yếu là những luật nào. Vì các thành viên trong Hội Nghị không đi đến thỏa thuận về những luật nào thuộc về thứ yếu nên ngài Ma Ha Ca Diếp quyết định không có luật lệ nào đã được đặt ra bởi Đức Phật có thể được thay đổi, và cũng không có luật lệ mới nào được đưa ra. Ngài Đại Ca Diếp nói: “Nếu ta thay đổi luật, người ta sẽ nói đệ tử của Đức Cồ Đàm thay đổi luật lệ trước khi ngọn lửa thiêu Ngài chưa tắt.” Trong Hội Nghị nầy, Pháp được chia làm hai phần và mỗi phần được trao cho một vị trưởng lão cùng với đệ tử của vị ấy ghi nhớ. Pháp được truyền khẩu từ thầy đến trò. Pháp được tụng niệm hằng ngày bởi một nhóm Tỳ Kheo và thường được phối kiểm lẫn nhau để bảo đảm không có sự thiếu sót cũng như không có gì thêm vào. Các sử gia đều đồng ý truyền thống truyền khẩu đáng tin cậy hơn văn bản của một người viết lại theo trí nhớ của mình vài năm sau hội nghị. Nhiều người nghi ngờ hiện thực lịch sử của Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển lần đầu nầy, nhưng có thể là việc biên soạn những văn bản Kinh Luật thiêng liêng đầu tiên diễn ra tương đối sớm. Vào lúc Đại Hội sắp kết thúc, có vị Tăng tên là Purana được những người tổ chức mời tham gia vào giai đoạn bế mạc của Đại Hội, Purana đã khước từ và nói rằng ông chỉ thích nhớ lại những lời dạy của Đức Phật như ông đã từng nghe từ chính kim khẩu của Đức Phật. Sự kiện nầy cho thấy tự do tư tưởng đã hiện hữu từ thời khai mở của cộng đồng Phật giáo—Three months after the passing of the Buddha (in about 543 B.C.), detecting tendencies within the Sangha toward loss of discipline, as well as misinterpreting His Pure Teaching, the First Council was organized by King Ajatasatru, and held at the Pippala cave, some said near the Saptaparni cave, at Rajagriha in Magadha. Even though the site and name of the cave have not yet been definitely identified. Nonetheless, there is no dispute about the fact that it is at Rajagrha that the First Council met. It is accepted by critical scholars that the First Council settled the Dharma and the Vinaya, and there is no ground for the view that Abhidharma formed part of the canon adopted at the First Council. In this Council, there were 500 Bhiksus, among them Maha-Kasyapa was the most respected and elderly monk, and two very important persons who specialized in the two different areas which are sutras and vinaya were present. One was Ananda and the other was Upali. Only these two sections, the Dharma and the Vinaya, were recited at the First Council. Though there were no differences of opinion on the Dharma, there was some discussion about the Vinaya rules. Before the Buddha's Parinirvana, he had told Ananda that if the Sangha wished to amend or modify some minor rules, they could do so. However, on that occasion Ananda was so overpowered with grief because the Buddha was about to pass away, he forgot to ask the Master what the minor rules were. As the members of the Council were unable to agree as to what constituted the minor rules, Maha-Kasyapa finally ruled that no disciplinary rule laid down by the Buddha should be changed, and no new ones should be introduced. Maha-Kasyapa said: “If we changed the rules, people will say that the Buddha's disciples changed the rules even before his funeral fire has ceased burning.” At the Council, the Dharma was divided into various parts and each part was assigned to an Elder and his pupils to commit to memory. The Dharma was then passed on from teacher to pupil orally. The Dharma was recited daily by groups of people who often cross check with each other to ensure that no omissions or additions were made. Historians agree that the oral tradition is more reliable that a report written by one person from his memory several years after the event. The historicity of this Council is doubted by many. Nevertheless, it is likely that the first collection of writings took place relatively early. At the end of the First Council, a monk named Purana was invited by the organizers to participate in the closing phases of the council, but he declined, saying that he would prefer to remember the teachings of the Buddha as he had heard it from the Buddha himself. This fact indicates the freedom of thought existed at the time of the beginning of Buddhist community. a) Ngài Đại Ca Diếp, người được mọi người trọng vọng nhất mà cũng là bậc trưởng lão, là chủ tịch Hội Nghị—Maha Kasyapa, the most respected and elderly monk, presided at the First Council. b) Kế đó, ngài Đại Đức Ưu Ba Li/Upali trùng tụng lại những giới luật của Phật bao gồm luật cho cả Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni. Ngài Ưu Ba Li đã tụng đọc 80 lần các văn luật trong 90 ngày mới hoàn tất nên còn gọi là “80 tụng luật.” Đây cũng là giới luật căn bản cho Phật giáo về sau nầy bao gồm những văn bản sau đây—Then, Venerable Upali remembered and recited all the rules set forth by the Buddha (rules of the Order), including all rules for monks and nuns. Venerable Upali recited eighty times all these rules in 90 days. These rules include: • Luật Thập Tụng: Sarvastivada-Vinaya. • Luật Tăng Kỳ: Samghika-Vinaya. • Luật Tứ Phần: Dharmagupta-Vinaya. • Luật Ngũ Phần: Mahissasaka-Vinaya. c) Kế đó nữa là ngài A Nan, người đệ tử thân cận nhất của Phật trong suốt 25 năm, thiên phú với một trí nhớ xuất sắc. Lúc đầu đã không được xếp vào thành viên Hội Nghị. Theo Kinh Tiểu Phẩm, sau đó vì có sự phản đối của các Tỳ Kheo quyết liệt bênh vực cho A Nan, mặc dù ông nầy chưa đắc quả A La Hán, bởi vì ông có phẩm chất đạo đức cao và cũng vì ông đã được học kinh tạng và luật tạng từ chính Đức Bổn Sư. Sau cùng A Nan đã được Đại Ca Diếp chấp nhận vào Hội Nghị. A Nan đã trùng tụng lại tất cả những gì mà Đức Phật nói, gồm những bộ kinh sau đây—Then, Venerable Ananda, the closest disciple and the attendant of the Buddha for 25 years. He was endowed with a remarkable memory. First Ananda was not admitted to the First Council. According to the Cullavagga, later other Bhikhus objected the decision. They strongly interceded for Ananda, though he had not attained Arhathood, because of the high moral standard he had reached and also because he had learnt the Dharma and vinaya from the Buddha himself. Ananda was eventually accepted by Mahakasyapa into the Council, and was able to recite what was spoken by the Buddha (sutras and doctrines), including the following sutras: d) Năm bộ kinh A Hàm, còn gọi là A Kiệt Ma—Five Agamas. • Trường A Hàm: Dirghagama Sutra (skt)—Ghi lại những bài pháp dài—Collection of Long Discourses. • Trung A Hàm: Madhyamaga Sutra (skt)—Ghi lại những bài pháp dài bậc trung—Collection of Middle-Length Discourses. • Tăng Nhất A Hàm: Anguttara-agama Sutra (skt)—Ghi lại những bài pháp sắp xếp theo số—Collection of Gradual Sayings. • Tạp A Hàm: Samyuktagama Sutra (skt)—Ghi lại những câu kinh tương tự nhau—Collection of Kindred Sayings. • Tiểu A Hàm: Khuddaka-agama (skt)—Ghi lại những câu kệ ngắn—Smaller Collection. *** For more information, please see A Nan Đà in Vietnamese-English Section. (II) Đại Hội Kết Tập Lần Hai—The Second Council: (A) Đại hội kết tập kinh điển lần thứ hai được tổ chức tại thành Xá Vệ (Tỳ Xá Ly), 100 năm sau ngày Phật nhập diệt. Đại Hội nầy được tổ chức để bàn luận về một số giới luật (có sự không thống nhứt về giới luật). Không cần thiết phải thay đổi những giới luật ba tháng sau ngày Đức Phật nhập diệt vì lẽ không có gì thay đổi nhiều về chính trị, kinh tế và xã hội trong khoảng thời gian ngắn ngủi nầy. Nhưng 100 năm sau, một số chư Tăng (theo giáo lý nguyên thủy) nhận thấy cần phải có sự thay đổi một số giới luật thứ yếu. Các nhà sư thuộc phái Vaisali đã chấp nhận vàng và bạc của thí chủ cúng dường. Yasha, một môn đồ của A Nan, còn đưa ra chín điều trách cứ đối với các thành viên của cộng đồng Vaisali, nhứt là việc ăn uống vào những thời điểm bị cấm, về việc dùng rượu, về việc các nhà sư cùng một cộng đồng lại làm lễ Bố Tát một cách phân tán, vân vân. Hội Nghị lần thứ hai được mô tả cụ thể hơn nhiều trong các văn bản, nói chung được thừa nhận vững chắc về mặt lịch sử—The Second Council was held at Vaisali 100 years after the passing of the Buddha. This Council was held to discuss some Vinaya rules (there was some disunity concerning matter of discipline). There was no need to change the rules three months after the Buddha's Parinirvana because little or no political, economic or social changes took place during that short interval. But 100 years later, some monks saw the need to change certain minor rules One hundred years after the First Council, the Second Council was held to discuss some Vinaya rules. There was no need to change the rules three months after the Parinirvana of the Buddha bcause little or no political, economic or social changes took place during that short interval. But 100 years later, some monks saw the need to change certain minor rules. The Second Council is considerably better documented in the texts that the first and is generally recognized as a historical event. The Vaisali monks had accepted gold and silver from lay adherents in violation of the Vinaya rules. Moreover, they were accused by Yasha, a student of Ananda's, of nine further violations, including taking food at the wrong time, separate observance of the Uposatha by monks of a community, and drinking alcoholic beverages. (B) Những nhà sư chính thống cho rằng không có gì nên thay đổi, trong khi những vị khác thuộc phái Bạt Kỳ ở Tỳ Xá Ly (Vaisali) đã khai trừ trưởng lão Da Xá (Yasha) ra khỏi cộng đồng với nhiều lời buộc tội ngài. Họ đã đề nghị mười điểm thay đổi như sau—The orthodox monks said that nothing should be changed, while the monks of the Vajji from Vaisali expelled Yasha from the community because of his accusations. They insisted on modifying some rules as follows: 1) Cho phép đựng muối trong sừng trâu hay các đồ chứa bằng sừng: Singilonakappa (p)—Gián tiếp cho phép sát sanh để lấy sừng, trong khi phái chính thống cho rằng việc mang muối đựng trong cái sừng rỗng bị coi như phạm giới cấm Ba Dật Đề thứ 38, về việc cấm tồn trữ thực phẩm và giới sát sanh—Allowing monks and nuns to store salt in buffalo's horns, while the orthodox monks considered carrying salt in a hollowed horn. This practice is contrary to Pacittiya 38, which prohibits (forbids) the storage of food and killing. 2) Buổi trưa khi mặt trời đã qua bóng hai ngón tay vẫn ăn được: Dvangulakappa (p)—Vẫn được phép ăn sau giờ ngọ. Việc nầy coi như bị cấm trong Ba Dật Đề thứ 37 về giới không được ăn sau giờ ngọ—Allowing monks and nuns to eat in the afternoon: The practice of taking meals when the shadow is two fingers broad. This practice against Pacittiya 37 which forbids the taking of food after midday. 3) Được đi qua một làng khác ăn lần thứ hai: Gamantarakappa (p)—Sau khi ăn rồi, đi đến nơi khác vẫn ăn lại được trong cùng một ngày. Việc làm nầy coi như bị cấm trong Ba Dật Đề thứ 35 về giới cấm ăn quá nhiều—Allowing monks and nuns to eat the second time in a day: The practice of going to another village and taking the second meal there on the same day. This practice forbids in Pacittiya 35 which forbids over-eating. 4) Cho Bố tát ở riêng trong một khu: Avasakappa (p & skt)—Thực hiện nghi thức Bố Tát (Uposatha) tại nhiều nơi trong cùng một giáo khu. Điều nầy trái với các giới luật Mahavagga về sự cư trú trong một giáo khu—Allow retreats for spiritual refreshment in a private place: The observance of the Uposatha ceremonies in various places in the same parish. This practice contravenes the Mahavagga rules of residence in a parish (sima). 5) Được phép hội nghị với thiểu số: Anumatikappa (p). a) Dù không đủ số quy định như tam sư thất chứng, hội nghị vẫn có hiệu lực như thường—Allowing ordination to proceed even though there are not enough three superior monks and seven witnesses (see Tam Sư Thất Chứng). b) Được phép yêu cầu chấp nhận một hành động sau khi đã làm. Đây là vi phạm kỹ luật—Obtaining sanction for a deed after it is done. This also amounts to a breach of monastic discipline. 6) Cho làm theo các tập quán trước: Acinakappa (p)—Đây cũng là vi phạm kỹ luật—Allowing monks and nuns to follow their customs and habits (customary practices and precedents): This is also opposed to the rules. 7) Cho uống các loại sữa sau bữa ăn: Amathitakappa (p)—Cho phép uống các loại sữa dù chưa được lọc. Điều nầy trái với Ba Dật Đề thứ 35 về luật ăn uống quá độ—Allowing monks and nuns to drink unrefined milk after the meal. This practice is in contravention of Pacittiya 35 which prohibits over-eating. 8) Được uống rượu mạnh hòa với đường và nước nóng: Jalogim-patum (p)—Việc làm nầy trái với Ba Dật Đề thứ 51, cấm uống các chất độc hại—Allow monks and nuns to drink the drinking of toddy. This practice is opposed to Pacittiya 51 which forbids the drinking of intoxicants. 9) Được ngồi tự do khắp nơi: Adasakam-nisidanam (p) a) Được phép ngồi các chỗ rộng lớn, không cần phải theo quy định ngày trước của Đức Phật—Allowing monks and nuns to sit down wherever they like to, not to follow rules set forth by the Buddha before. b) Được dùng tọa cụ không có viền tua. Việc nầy trái với Ba Dật Đề thứ 89, cấm dùng tọa cụ không có viền—Allow using a rug which has no fringe. This is contrary to Pacittiya 89 which prohibits the use of borderless sheets. 10) Được giữ vàng bạc: Jataruparajatam (p)—Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni được phép cất giữ vàng bạc, cũng như được nhận vàng bạc từ đàn na tín thí. Điều nầy trái với giới luật thứ 18 trong Nissaggiya-pacittiya—Allowing monks and nuns to store gold and silver, and they are allowed to accept gold and silver. This practice is forbidden by rule 18 of the Nissaggiya-pacittiya. (C) Đại Đức Da Xá công khai tuyên bố những việc làm nầy là phi pháp. Sau khi nghe phái Bạt Kỳ phán xử khai trừ mình ra khỏi Tăng Đoàn, Da Xá (Yasha) liền đi đến Kausambi để tìm kiếm sự bảo hộ của các nhà sư có thế lực trong các vùng mà Phật giáo bắt đầu phát triển (Avanti ở phía tây và ở miền nam). Da Xá mời họ họp lại và quyết định để ngăn chận sự bành trướng của việc chà đạp đạo giáo và bảo đảm việc duy trì luật tạng. Sau đó Da Xá đi đến núi A Phù, nơi trưởng lão Tam Phù Đà đang sống để trình lên trưởng lão mười điều đề xướng của các tu sĩ Bạt Kỳ. Da Xá yêu cầu trưởng lão Tam Phù Đà xem xét tánh cách nghiêm trọng của vấn đề. Trong khoảng thời gian nầy có sáu mươi vị A La Hán từ phương Tây đến và họp lại tại núi A Phù, cũng như tám mươi tám vị khác từ Avanti và miền Nam cũng gia nhập với họ. Các vị nầy tuyên bố đây là vấn đề khó khăn và tế nhị. Họ cũng nghĩ đến trưởng lão Ly Bà Đa ở Soreyya, vốn là người nổi tiếng uyên bác và từ tâm. Nên họ quyết định cùng nhau đến gặp trưởng lão để xin sự hỗ trợ của ngài—The Venerable Yasha openly declared these practice to be unlawful. After the sentence of excommunication had been passed on him, he then went to Kausambi to seek support from influential monks in all areas to which Buddhism had spread (the western country of Avanti and of the southern country). He invited them to assemble and decide the question in order to stop the growth of irreligion and ensure the preservation of the Vinaya. Next, he proceeded to Mount Ahoganga where Sambhuta Sanavasi dwelt to show him the ten thesis advocated by the Vajjian monks. He asked the venerable to examine the question in earnest. About the same time, some sixty Arhats from the Western Country and eighty-eight from Avanti and the Southern Country came to assemble on Mount Ahoganga. These monks declared the question to be hard and subtle. They thought of the Venerable Revata who was at Soreyya and was celebrated for his learning and piety. So they proposed to met him and enlist his support. After a good deal of travelling they met the Venerable Revata at Sahajati. On the advice of Venerable Sambuta Sanavasi, Yasha approached the Venerable Revata and explained the issue to him. One by one, Bhikshu Yasha brought up the ten points and asked for his opinion. Each one of them was declared to be invalid by the Venerable Revata. (D) Trong khi đó, các tu sĩ Bạt Kỳ cũng chẳng ngồi yên. Họ cũng đến Câu Xá Di để xin được trưởng lão Ly Bà Đa ủng hộ. Họ dâng cho ông nhiều lễ vật hậu hỷ nhưng đều bị ông từ chối. Họ lại dụ dỗ được đệ tử của ông là Đạt Ma thỉnh cầu dùm họ, nhưng trưởng lão vẫn một mực chối từ. Trưởng lão Ly Bà Đa khuyên họ nên trở về Tỳ Xá Ly là nơi xuất phát vấn đề để mở ra cuộc tranh luận: Meanwhile, the Vajjian monks were not idle. They also went to Sahajati in order to enlist the support of the Venerable Revata. They offered him a lot of presents, but he refused with thanks. They also induced his disciple, Uttara, to take up their cause, but he failed. At the suggestion of Revata, the monks proceeded to Vaisali in order to settle the dispute at the place of its origin. (E) Cuối cùng, nghị hội Vaisali tập hợp 700 nhà sư, tất cả đều là A La Hán, còn gọi là hội nghị các trưởng lão. Tỳ Kheo A Dật Đa được chỉ định làm người tổ chức. Trưởng lão Sabbakhami được bầu làm chủ tịch ủy ban. Từng điểm một của mười điều cho phép của phái Bạt Kỳ được xem xét kỹ càng. Vì thấy 10 điều thay đổi trên hoàn toàn vô lý nên một phán quyết của hội nghị đồng thanh tuyên bố việc làm của các nhà sư Bạt Kỳ là phi pháp. Kết quả là các nhà sư Bạt kỳ ở Tỳ Xá Ly (Vaisali) đã bị một ủy ban gồm bốn nhà sư thuộc cộng đồng phương tây và bốn vị thuộc cộng đồng phương đông coi là có tội. Họ đều chấp nhận sự phán quyết mà không phản kháng. Những thầy tu vi phạm giới luật coi như đã không tôn trọng luật chính thống và đã bị khiển trách tùy theo lỗi lầm. Do đó giới luật trong lần kết tập nầy hầu như không thay đổi. Trong văn bản tiếng Pali và Sanskrit của Luật Tạng đều có kể lại hội nghị nầy: Finally a council composed of 700 monks, all arhats, also called the Council of the Theras. Bhikshu Ajita was appointed the seatregulator. The Venerable Sabbakami was elected president. The ten points were examined carefully one by one. After seeing these above ten changes were so unreasonable. The unanimous verdict of the assembly declared the conduct of the Vajjian monks to be unlawful. As a result, they (Vajjian monks of Vaisali) were found guilty by a committee composed of four monks from eastern and four from western regions, respectively. The Vaisali monks accepted this judgment without any opposition. The erring monks were declared in violation of the orthodox code of discipline and censured accordingly. Thus, in this council, rules of monastic discipline have remained virtually unchanged. Records of this council are found in both the Pali and Sanskrit versions of the Vinaya-Pitaka. (F) Nghị Hội lần thứ hai đánh dấu sự phân phái giữa phe bảo thủ và phe tự do. Người ta kể lại, nhóm sư Bạt Kỳ đã triệu tập một Hội Nghị khác có mười ngàn tu sĩ tham dự với tên là Đại Chúng Bộ. Vào thời đó, dù được gọi là Đại Chúng Bộ, nhưng chưa được biết là Đại Thừa: The Second Council marked a division between the conservative and the liberal. It is said that Vajjian monks of Vaisali held another Council which was attended by ten thousand monks. It was called The Great Council (Mahasangiti). Even though it was called Mahasanghika, it was not yet known as Mahayana at that time). (III) Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Lần Thứ Ba—The Third Council: Hội nghị thứ ba được tổ chức tại thành Hoa Thị dưới sự bảo trợ của vua A Dục, một Phật tử tại gia nổi tiếng—The Third Council was held at Pataliputra, sponsored by King Asoka, a celebrated Buddhist layman. (A) Nguyên nhân đưa đến Hội Nghị—Reasons for the Third Concil: a) Một nhà sư thuộc thành Hoa Thị tên là Đại Thiên đưa ra luận điểm cho rằng một vị A La Hán có thể để cho mình bị cám dỗ, nghĩa là có những sự xuất tinh ban đêm và không trừ bỏ được sự ngu si cũng như những nghi ngờ về giáo thuyết. Cuối cùng A La Hán có thể tiến bước theo con đường giải thoát, theo Đại Thiên, nhờ ở một sự giúp đở bên ngoài và nhờ gia tăng khả năng tập trung, do đó những cơ may cứu rỗi của người đó là nhờ ở việc lặp đi lặp lai một số âm thanh. Những ý kiến khác nhau về những luận điểm ấy dẫn tới sự phân chia các sư thành hai phe: A monk from Pataliputra, Mahadeva, put forward the following position: An arhat is still subject to temptation, that is, he can have nocturnal emissions. He is not yet free from ignorance. In addition, he is still subject to doubts concerning the teaching. Moreover, according to according to Mahadeva's view, an arhat can make progress on the path to enlightenment through the helpof others and, through the utterance of certain sounds, he can further his concentration and thus advance on the path. Differing views on these points led to division of the monks into two camps. b) Tự cho mình đông hơn, những người bảo vệ những luận điểm của Đại Thiên tự gọi mình bằng cái tên Mahasanghika hay cộng đồng lớn, còn những đối thủ của họ, do những người “Cũ” đại diện, đó là những vị nổi bậc về đại trí và đại đức, thì tự gọi mình là “Sthavira”: Those who affirmed these points of Mahadeva's, and who believed themselves to be in the majority, called themselves Mahasanghika or Great Community. Their opponents, represented by the “elders,” who were distinguished by outstanding wisdom and virtue, called themselves Sthavira. c) Với việc vua A Dục đi theo đạo Phật, nhiều tu viện nhanh chóng phát triển về mặt vật chất và các tu sĩ có một đời sống đầy đủ dễ chịu hơn. Nhiều nhóm dị giáo đã bị mất nguồn thu nhập nên ngã theo Phật giáo. Tuy nhiên, dù theo đạo Phật, nhưng họ vẫn giữ tín ngưỡng, cách hành trì, cũng như thuyết giảng giáo lý của họ thay vì giáo lý đạo Phật. Điều nầy khiến cho trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu đau buồn vô cùng, nên ông lui về ở ẩn một nơi hẻo lánh trong núi A Phù suốt bảy năm. Số người dị giáo và tu sĩ giả hiệu ngày một đông hơn những tín đồ chân chánh. Kết quả là trong suốt bảy năm chẳng có một tự viện nào tổ chức lễ Bố Tát hay tự tứ. Cộng đồng tu sĩ sùng đạo từ chối không chịu làm lễ nầy với những người dị giáo. Vua A Dục rất lo lắng về sự xao lãng nầy của Tăng chúng nên phải ra lệnh thực hiện lễ Bố Tát. Tuy nhiên, vị đại thần được nhà vua giao phó nhiệm vụ nầy đã gây ra một vụ thảm sát đau lòng. Ông ta hiểu sai mệnh lệnh nhà vua nên đã chặt đầu những tu sĩ không chịu thực hiện lệnh vua. Hay tin nầy, vua rất đau lòng. Ngài đã cho thỉnh trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu về để tổ chức hội nghị: With the conversion of King Asoka, the material prosperity of the monasteries grew by leaps and bounds and the monks lived in ease and comfort. The heretics who had lost their income were attracted by these prospects to enter the Buddhist Order. They continued, however, to adhere to their old faiths and practices and preached their doctrines instead of the doctrines of the Buddha. This caused extreme distress to Thera Moggaliputta-Tissa who retired to a secluded retreat on Mount Ahoganga and stayed there for seven years. The number of heretics and false monks became far larger than that of the true believers. The result was that for seven years no Uposatha or retreat (Pavarana) ceremony was held in any of the monasteries. The community of the faithful monks refused to observed these festivals with the heretics. King Asoka was filled with distress at this failure of the Sangha and sent commands for the observance of the Uposatha. However, a grievous blunder was committed by the Minister who was entrusted with this task. His misunderstood the command and beheaded several monks for their refusal to carry out the King's order. When this sad news reported to Asoka, he was seized with grief and apologized for this misdeed. He then invited Maggaliputta Tissa to hold the Third Council. d) Do đó mà Hội Nghị thứ ba được tiến hành với nhu cầu thanh khiết hóa Phật pháp đang lâm nguy do sự xuất hiện của nhiều hệ phái khác nhau với những luận điệu, giáo lý và cách hành trì đối nghịch nhau: Thus the Third Council was held by the need to establish the purity of the Canon which had been imperilled by the rise of different sects and their rival claims, teachings and practices. (B) Thấy thế vua A Dục cho tổ chức Đại Hội kết tập kinh điển lần thứ ba tại thành Ba Tra Lợi Phất (Hoa Thị Thành, thủ đô cổ của Tích Lan), khoảng vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch. Vua A Dục đã đích thân chọn 60.000 vị Tỳ Kheo tham dự Hội Nghị. Trong khi đó trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu đã phụng mệnh vua A Dục chọn ra một ngàn vị Tăng tinh thông tam tạng kinh điển kết tập chánh pháp. Hội nghị đã bàn thảo trong chín tháng về những ý kiến dị biệt giữa những Tỳ Kheo của nhiều phái khác nhau. Tại Đại Hội nầy, sự khác biệt không chỉ hạn hẹp trong Giới Luật, mà cũng liên quan đến Giáo Pháp nữa. Đây không phải là một hội nghị toàn thể mà chỉ là một cuộc nhóm họp nhỏ thôi. Lúc kết thúc Hội Nghị, ngài Mục Kiền Liên Tư Đế Tu (see Mục Kiền Liên Tư Đế Tu), đã tổng hợp vào một cuốn sách gọi là Thuyết Sự Luận (Kathavatthupakarana), bác bỏ những quan điểm và lý thuyết dị giáo cũng như những sai lầm của một số giáo phái. Giáo lý được phê chuẩn và chấp thuận bởi Đại Hội được biết là Theravada hay Nguyên Thủy. Vi Diệu Pháp được bao gồm trong Đại Hội nầy—Seeing this division, King Asoka organized the Third Council (in the Third Century B.C.) at Pataliputra, the old capital of Ceylon. King Asoka himself assigned 60,000 monks to participate in this Council. To obey the order of king Asoka, Thera Tissa thereafter elected a thousand monks who were well versed in the three Pitakas to make a compilation of the true doctrine. The Council lasted for nine months to discuss the different opinion among the Bhiksus of different sects. At this Council the differences were not confined to the Vinaya but also connected with the Dharma. This was not a general Council, but rather a party meeting. At the end of this Council, the President of the Council, Moggaliputtra-Tissa, compiled a book called the Kathavatthu refuting the heretical, false views and theories held by some sects. The teaching approved and accepted by this Council was known as Theravada. The Abhidharma Pitaka was included at this Council. • Bố Tát Thuyết Giới: Upavasatha-Sila. • Kết Tập Tam Tạng Kinh, Luật, Luận: Tripitaka, Sutra, Vinaya, and Abhidharma. (C) Một trong những thành quả quan trọng của Hội Nghị lần thứ ba là nhiều phái đoàn truyền giáo đã được gởi đi khắp các xứ để hoằng dương Phật pháp. Sau Đại Hội kết tập lần thứ ba, người con của Vua A Dục, ngài Hòa Thượng Mahinda,và người con gái tên Tăng Già Mật Đa, đã mang Tam Tạng Kinh Điển đến Sri-Lanka, cùng với những lời bình luận của Hội Nghị nầy. Họ đã đạt được thành công rực rỡ tại đảo quốc nầy. Những kinh điển được mang về Sri-Lanka vẫn được giữ gìn cho đến ngày nay không mất một trang nào. Những kinh điển nầy được viết bằng chữ Pali, căn cứ vào ngôn ngữ của xứ Ma Kiệt Đà là ngôn ngữ của Đức Phật. Chưa có gì gọi là Đại Thừa vào thời bấy giờ. Ngoài ra, qua những chỉ dụ của vua A Dục, chúng ta được biết thêm về những phái đoàn truyền giáo Phật giáo được nhà vua cử đi đến các nước xa xôi ở Á Châu, Phi Châu và Âu Châu. Phật giáo đã trở thành một tôn giáo quan trọng của nhân loại phần lớn là nhờ ở các hoạt động của phái đoàn nầy—One of the important results of thei Council was the dispatch of missionaries to different countries of the world for the propagation of Buddhism. After the Third Council, Asoka's son, Venerable Mahinda, and the king's daughter, Sanghamitta, brought the Tripitaka to Sri-Lanka, along with the commentaries that were recited at the Third Council. They were extraordinarily successful in this island. The texts brought to Sri-Lanka were preserved until today without losing a page. The text were written in Pali which was based on the Magadhi language spoken by the Buddha. There was nothing known as Mahayana at that time. Besides, from the edicts of king Asoka, we know of various Buddhist missions he sent to far-off countries in Asia, Afirca, and Europe. It is to a large extent due to these missionary activities that Buddhism became one of the most important religions of mankind. (D) Sự xuất hiện của Đại Thừa—Coming of Mahayana: Giữa thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch và thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch, hai từ Đại Thừa và Tiểu Thừa xuất hiện trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Vào thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch, Đại Thừa được định nghĩa rõ ràng. Ngài Long Thọ triển khai triết học “Tánh Không” của Đại Thừa và chứng minh tất cả mọi thứ đều là “Không” trong một bộ luận ngắn gọi là Trung Quán Luận. Vào khoảng thế kỷ thứ tư sau Tây Lịch, hai ngài Vô Trước và Thế Thân viết nhiều tác phẩm về Đại Thừa. Sau thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch, những nhà Phật giáo Đại Thừa giữ vững lập trường rõ ràng nầy, từ đó hai từ Đại Thừa và Tiểu Thừa được nói đến. Chúng ta không nên lẫn lộn Tiểu Thừa với Nguyên Thủy, vì hai từ nầy hoàn toàn khác nhau. Nguyên Thủy Phật Giáo nhập vào Sri-Lanka vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch, lúc chưa có Đại Thừa xuất hiện. Phái Tiểu Thừa xuất hiện tại Ấn Độ, có một bộ phận độc lập với dạng thức Phật Giáo tại Sri-Lanka—Between the First Century B.C. to the First Century A.D., the two terms Mahayna and Hinayana appeared in the Saddharma Pundarika Sutra or the Sutra of the Lotus of Good Law. About the Second Century A.D. Mahayana became clearly defined. Nagajuna developed the Mahayana philosophy of Sunyata and proved that everything is void in a small text called Madhyamika-karika. About the Fourth Century, there were As

kết tập sử

5187巴利名 Saṅgītivaṃsa。泰國伐奈那親王(Somdej Phra Vanarat)著。書成於西元一七八九年。一九二三年拉瑪六世(Rama VI)敕令出版。總結南傳上座部佛教之九次結集,內載頭三次結集於印度舉行,第四至第七次在錫蘭舉行,後兩次則於泰國舉行。據考證,其第一次至第五次結集之內容與錫蘭之大史等所載一致,後四次結集並未得其他南傳上座部佛教國家之承認。 ; (結集史) Pàli: Saígìtivaôsa. Tác phẩm, do Thân vương Somadej Phra Vanarat người Thái lan soạn, hoàn thành năm 1789. Năm 1923, vua Rama VI ban sắc lệnh xuất bản. Tác phẩm này tổng kết 9 lần kết tập của Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền. Trong đó ghi chép 3 lần kết tập đầu được tổ chức tại Ấn độ, lần kết tập thứ 4 đến thứ 7 cử hành ở Tích lan, lần thứ 8, thứ 9 thì diễn ra ở Thái lan. Theo sự khảo chứng, nội dung của lần kết tập thứ nhất đến thứ 5 hoàn toàn phù hợp với những sự kiện được ghi trong Đại sử, v.v... của Tích lan, còn 4 lần kết tập sau vẫn chưa được các nước thuộc Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền thừa nhận.

kết tặc

Binders and robbers, the passion, or delusion. ; Những kẻ trói buộc hay những tên giặc, ý nói dục vọng và phiền não—Binders and robbers, the passions, or delusion.

kết yếu phó chúc

5185又作結要四句、結要付囑。謂歸結教法最重要之部分,而將其傳付於人。法華經卷六如來神力品謂,釋尊將如來一切法、如來一切自在神力、如來一切祕藏、如來一切甚深之事,托付於上行菩薩等,付囑其留傳於後世。智顗之法華文句卷十下亦言,一切法、一切力、一切祕藏、一切甚深事等四句,表示法華經最殊勝之名、用(作用)、體(本質)、宗(目的),乃為一經之宗用(結要四句)。然日本日蓮認為四句要法之中,最重要者亦為「妙法蓮華經」五字(結要五字),而自認為是受佛陀付囑之上行菩薩之再生,故令末法之惡德眾生念此五字經名。 ; (結要付屬) Cũng gọi kết yếu tứ cú. Qui kết phần quan trọng nhất của giáo pháp và truyền trao cho người. Phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa quyển 6 nói rằng, đức Thích tôn đem tất cả pháp của Như lai, tất cả sức thần tự tại của Như lai, tất cả bí tàng của Như lai, tất cả việc sâu xa của Như lai phó thác cho bồ tát Thượng hạnh, v.v... dặn dò các Bồ tát này lưu truyền cho đời sau. Pháp hoa văn cú kí quyển hạ của ngài Trí khải cho rằng 4 câu Tất cả pháp, tất cả lực, tất cả bí tạng và tất cả việc sâu xa là biểu thị danh dụng(tác dụng), thể(bản chất) và tông(mục đích) thù thắng nhất của kinh Pháp hoa, cũng là tông chỉ(4 câu kết yếu) của 1 bộ kinh. Nhưng ngài Nhật liên người Nhật bản thì chủ trương trong 4 câu pháp yếu, quan trọng nhất cũng là 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh(5 chữ kết yếu) và tự nhận mình là bồ tát Thượng hạnh tái sinh, người được đức Phật phó chúc. Bởi thế ngài Nhật liên mới dạy chúng sinh trong thời mạt pháp chuyên niệm 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh này.

kết án

To condemn—To sentence—To convict.

kết ấn

5180即以二手十指之曲折屈伸來標幟如來內證之本誓。密教最重其法,結印契須就師親承稟受,而不為他人所見,且必用塗香。據一字奇特佛頂經卷上載,若不遵法而結印,諸魅及毘那夜迦等作諸障難,死必墮地獄。又於未灌頂者或不發菩提心者前,不應結印。〔蘇婆呼童子經卷上、陀羅尼集經卷五、大日經疏卷十三〕 ; A binding agreement sealed as a contract, employed by the esoteric sects. ; (結印) Tức là 2 bàn tay và 10 ngón kết thành một hình tướng nào đó theo qui tắc để tiêu biểu cho bản thệ nội chứng của đức Như lai, là nghi thức rất quan trọng của Mật giáo. Kết ấn là sự khế hợp, phải do Thầy đích thân truyền trao, không để người khác thấy được. Theo kinh Nhất tự kì đặc Phật đính quyển thượng, nếu kết ấn không đúng pháp thì ma quỉ và Tì na dạ ca, v.v... sẽ gây các chướng nạn, khi chết ắt rơi vào địa ngục. Ngoài ra, đứng trước những người chưa thụ quán đính hoặc chưa phát tâm bồ đề thì không nên kết ấn. [X. kinh Tô bà hô đồng tử Q.thượng; kinh Đà la ni tập Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.13].

kết-kiết

Samyojana (S) Knot, tie, bond; settle, wind up; to form. The bond of transmigration.

kềm chế

To refrain.

kềnh càng

Bulky.

kể

To count—To mention—To enumerate.

kể truyện

To tell story—To relate.

kể trên

Above-mentioned.

Kệ

偈; C: jié; J: ge, kei, ketsu; S, P: gāthā; gọi đầy đủ là kệ-đà, cũng được gọi là kệ tụng, tụng;|1. Là những bài ca, bài thơ chứng đạo của những Tỉ-khâu, những Thiền sư, những Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha), thố lộ cảm giác sung sướng, nhẹ nhàng khi đã vượt qua ải trần lao, đã hoàn thành những công việc mà con người phải làm. Trong những tập công án như Bích nham lục và Vô môn quan, những bài kệ của những vị biên soạn chính là cái tinh hoa, là cái then cửa để thiền sinh có thể mở được những công án khó chinh phục. Những bài kệ này có thể xem là tuyệt đỉnh của nền văn học Trung Quốc nói chung – không chỉ giới hạn trong thiền đạo. Kệ tụng sau đây của Thiền sư Vô Môn Huệ Khai ghi lại trong tác phẩm Vô môn quan, công án 19, cho hậu thế nếm vị của tịch tịnh (Trần Tuấn Mẫn dịch):|春有百花秋有月。夏有涼風冬有雪|若無閑事挂心頭。便是人間好時節|Xuân hữu bách hoa, thu hữu nguyệt|Hạ hữu lương phong, đông hữu tuyết|Nhược vô nhàn sự quải tâm đầu|Tiện thị nhân gian hảo thời tiết.|*Xuân có trăm hoa, thu có trăng|Hạ về gió mát, tuyết đông giăng|Ví lòng thanh thản không lo nghĩ|Ấy buổi êm đềm chốn thế gian.|2. Nhanh chóng, vội vã; |3. Dũng cảm, hùng dũng.

kệ

4382有廣狹二義,廣義之偈,包括十二部教中之伽陀(梵 gāthā)與祇夜(梵 geya),兩者均為偈頌之體,然兩者之意義互異:偈前無散文(長行),而直接以韻文記錄之教說,稱為孤起偈,即伽陀;偈前有散文,而尚以韻文重複其義者,稱為重頌偈,即祇夜。然諸經論中或有混用此二者之情形。狹義之偈則單指梵語之 gāthā。音譯伽陀、伽他、偈陀、偈他。意譯諷誦、偈頌、造頌、孤起頌、不重頌偈、頌、歌謠。為九部教之一,十二部經之一。此文體之語句,則稱偈語。梵文文獻中由特定音節數與長短組成之韻文,通用於佛教經律論。偈之種類極多,佛典中最常用者為兩行十六音節(兩句八音節)所組成,稱首盧迦(梵 śloka),又稱通偈。另一種為兩行二十二至二十四音節(兩句十一至十二音節)所組成,稱為 triṣṭubh(音律之一種)。此外,不限音節數者為兩行八句(四個短音量有七句與一音節)所組成,稱為āryā(音律之一種)。 以下為一行首盧迦之例:ǎnīty⑵ bǎtǎ sāṃsk⑵r⑵, ūtp⑵dāvyǎyǎ-dhārmǐṇǎḥ(﹀記號為短音節,─記號為長音節)。此一偈之漢譯有四字與五字各兩句兩行,自外形觀之,如同漢詩,但無韻律。長偈中未必為一頌二行,而每有一至四行者,原典中偈之音節數與漢譯後之偈句,其字數並無直接關係。此外,一般首盧迦不限制音節之長短。另有為表示散文之長度,而將各段散文逐一分別為三十二音節者。例如漢譯大般若經最初四百卷相當於四百卷之梵本,稱作十萬頌般若。 漢譯經典中,多處提及偈頌,然各經所說不一,順正理論卷四十四謂,偈有二、三、四、五、六句等。大智度論卷三十三謂,一切之偈,稱為祇夜,亦稱伽陀,有三句、五句、六句等。成實論卷一謂,祇夜(偈)有伽陀、路伽兩種,路伽又分順煩惱、不順煩惱兩種,十二部經中之伽陀即屬不順煩惱之類。百論疏卷上謂,偈有兩種,一種稱通偈,即首盧迦,為梵文三十二音節構成;一種稱別偈,由四言、五言、六言、七言,皆以四句而成。又佛教之詩文稱為偈莂;偈即作詩,莂為作文之意。〔顯揚聖教論卷六、大毘婆沙論卷一二六、玄應音義卷二十四、大乘法苑義林章卷二本〕(參閱「十二部經」344、「孤起偈」3142、「祇夜」3918) ; Ceya (S), Gātha (S), VerseCòn gọi là trùng tụng. Lối văn này dùng thuật lại ý nghĩa của lối trường hàng (văn xuôi), hay kinh, lấy đúng 8 chữ làm một câu, 4 câu làm một bài gọi là bài kệ. Có khi dùng 5 chữ, 7 chữ một câu. Xem phúng tụng. ; Gàthà (S). Metrical hymn or chant. Stanza, verse. ; Gatha (skt)—Già Đà—Già Tha—Phúng Tụng (gồm bốn câu với số chữ nhứt định trong mỗi câu)—Chant—Metrical hymn or chant—Poem—Stanza—Verse. ; (偈) Thể văn vần được dùng trong kinh điển Phật giáo. Có 2 loại là Già đà (Phạm:Gàthà) và Kì da (Phạm:Geya). Hai loại này đều là Kệ tụng, nhưng ý nghĩa của chúng thì khác nhau. Già đà: Cũng gọi Cô khởi kệ, tức là phần văn vần trực tiếp chuyên chở ý nghĩa của giáo pháp, trước nó không có văn xuôi (Trường hàng), mà nếu có thì ý nghĩa cũng không liên quan gì đến phần văn vần này. Kì dạ: Cũng gọi Trùng tụng kệ, tức là phần văn vần lập lại ý nghĩa đã được trình bày trong đoạn văn xuôi ở trước. Trên đây là nói theo nghĩa rộng, nhưng trong các kinh luận cũng có những trường hợp dùng lẫn lộn 2 loại kệ tụng này. Còn nói theo nghĩa hẹp, thì Kệ là chỉ riêng cho tiếng PhạmGàthà, dịch âm là già đà, già tha, kệ đà, kệ tha; dịch ý là phúng tụng, kệ tụng, tạo tụng, cô khởi tụng, bất trùng tụng kệ, tụng, ca dao. Là 1 trong 9 thể tài, 1 trong 12 thể tài kinh điển. Ngữ cú của thể văn này gọi là Kệ ngữ. Kệ có rất nhiều loại, loại thường được dùng nhất trong kinh Phật gồm 2 hàng, 16 âm tiết(2 câu, mỗi câu 8 âm tiết), gọi là Thủ lô ca (Phạm:Zloka) hoặc gọi là Thông kệ. Một loại kệ khác thì có 2 hàng từ 22 đến 24 âm tiết(2 câu, mỗi câu 11 đến 12 âm tiết), gọi làTriwỉubh(một loại âm luật). Ngoài ra, còn có loại kệ không hạn định số âm tiết, gọi làÀryà(một loại âm luật). Dưới đây là thí dụ loại kệ Thủ lô ca, 1 hàng: Anityà bata sàmskàrà, ùtpàdàvyaya-dhàrmiịa (kí hiệuV là âm tiết ngắn, kí hiệu– là âm tiết dài). Bài kệ trên đây được dịch ra tiếng Hán có loại 4 chữ, có loại 5 chữ, mỗi loại đều có 2 câu, 2 hàng; nhìn trên hình thức thì giống như bài thơ chữ Hán, nhưng không có vận luật. Trong bài kệ dài, không hẳn là một bài kệ 2 hàng, mà thường có 1 đến 4 hàng; số âm tiết của bài kệ tiếng Phạm không quan hệ trực tiếp với số chữ trong câu kệ sau khi được dịch sang Hán văn. Ngoài ra, loại kệ Thủ lô ca thường không hạn chế sự dài ngắn của âm tiết. Còn có 1 loại kệ nữa đem chia các đoạn văn xuôi thành từng nhóm 32 âm tiết để chỉ rõ độ dài của bài văn. Chẳng hạn như 400 quyển đầu của kinh Đại bát nhã bản Hán dịch tương đương với 400 quyển của bản tiếng Phạm, gọi làThập vạn tụng Bát nhã. Trong kinh điển Hán dịch, có nhiều chỗ đề cập đến kệ tụng, nhưng đều nói khác nhau. Luận Thuận chính lí quyển 44 bảo rằng kệ có 2, 3, 4, 5, 6 câu. Luận Đại trí độ quyển 33 thì nói tất cả các loại kệ đều gọi là Kì dạ, cũng gọi là già đà, có 3, 5, 6 câu, v.v... Luận Thành thực quyển 1 cho rằng Kì dạ (kệ) có 2 loại già đà và lộ già, lộ già lại được chia làm 2 thứ là thuận phiền não và bất thuận phiền não. Già đà trong 12 thể tài kinh là thuộc về loại bất thuận phiền não. Bách luận sớ quyển thượng thì cho rằng Kệ có 2 loại, một là thông kệ, tức Thủ lô ca, gồm 32 âm tiết tiếng Phạm; hai là biệt kệ, gồm 4 câu, mỗi câu 4, 5, 6, 7 chữ. Ngoài ra, thơ và văn trong Phật giáo được gọi là Kệ biệt; Kệ là thơ, biệt là văn. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.6; luận Đại tì bà sa Q.126; Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần đầu]. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh, Cô Khởi Kệ, Kì Dạ).

kệ huệ năng

The verse of Hui Neng. Bồ đề vốn không cây, Gương sáng cũng chẳng đài, Xưa nay không một vật, Chỗ nào dính bụi bặm? Originally Bodhi has no tree, The bright mirror has no stand. Originally there is not a single thing, Where can dust alight?

kệ khai kinh

Verse for opening a Sutra. • Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp (Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu) The unsurpassed, deep, profound, subtle wonderful Dharma. • Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ (Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu) In a hundred thousand million eons, it is difficult to encounter. • Ngã kim kiến văn đắc thọ trì (Con nay nghe được xin trì tụng) Now that I have come to receive and hold it, within my sight and hearing. • Nguyện giải Như Lai chân thiệt nghĩa (Nguyện rõ Như Lai nghĩa nhiệm mầu) I vow to fathom the Thus Come One's true and actual meaning.

kệ ngôn

Xem phúng tụng.

Kệ Phá Địa Ngục

(破地獄偈): Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo (若人欲了知、三世一切佛、應觀法界性、一切惟[唯]心造, nếu người muốn thông suốt, ba đời tất cả Phật, nên quán tánh pháp giới, hết thảy do tâm tạo). Bài kệ này chủ yếu được tìm thấy trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279, tức Bát Thập Hoa Nghiêm [八十華嚴]) quyển 19, phẩm Dạ Ma Cung Trung Kệ Tán (夜摩宮中偈讚品) thứ 20, do Bồ Tát Giác Lâm (覺林) tụng. Ngoài ra, vì áo nghĩa của kệ này rất thâm sâu, vi diệu, nên xuất hiện trong khá nhiều thư tịch khác như Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474), Phật Tổ Cương Mục (佛祖綱目, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1594) quyển 11, Thành Duy Thức Luận Diễn Bí (成唯識論演祕, Taishō Vol. 43, No. 1833) quyển 1, Thiên Trúc Biệt Tập (天竺別集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 57, No. 951) quyển Trung, Thích Môn Chánh Thống (釋門正統, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1513) quyển 3, Tử Bá Tôn Giả Biệt Tập (紫柏尊者別集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1453) quyển 4, Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 2, Truy Môn Cảnh Huấn (緇門警訓, Taishō Vol. 48, No. 2023) quyển 4, Tịnh Độ Thánh Hiền Tư Lương Toàn Tập (淨土資糧全集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1162) quyển 3, Trạm Nhiên Viên Trừng Thiền Sư Ngữ Lục (湛然圓澄禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1444) quyển 3, v.v. Bài này có công năng phá cửa Địa Ngục để cho các vong hồn được siêu thoát về thế giới an lành; cho nên được thâu lục trong Mông Sơn Thí Thực Văn (蒙山施食文) thuộc Công Phu Chiều của Thiền Môn Nhật Tụng (禪門日誦, như bản hiện hành tại Huế, ghi ngày Rằm tháng 10 năm 1898 [Thành Thái thứ 10]). Tuy nhiên, nội dung bài kệ có khác so với bản trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 9, No. 278, tức Lục Thập Hoa Nghiêm [六十華嚴]), quyển 10, Phẩm Dạ Ma Thiên Cung Bồ Tát Thuyết Kệ (夜摩天宮菩薩說偈品), do Bồ Tát Như Lai Lâm (如來林) thuyết: “Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng đương như thị quán, tâm tạo chư Như Lai (若人欲了知、三世一切佛、應當如是觀、心造諸如來, nếu người muốn thông suốt, ba đời tất cả Phật, phải nên như vậy quán, tâm tạo các Như Lai).” Về uy lực không thể nghĩ bàn của bài Phá Địa Ngục Kệ này, trong Địa Tạng Bồ Tát Tượng Linh Nghiệm Ký (地藏菩薩像靈驗記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1638), phần Kinh Sư Nhân Tăng Tuấn Địa Tạng Cảm Ứng Ký (京師人僧俊地藏感應記) thứ 5, có ghi lại câu chuyện của Thích Tăng Tuấn (釋僧俊). Sư người vùng Kinh Sư (京師), họ Vương (王), sống dưới thời nhà Tống. Sau khi xuất gia, sư không giữ giới luật, cũng chưa từng tu nhân thiện. Cuối cùng, vì đau bệnh nhẹ mà qua đời. Chết được ba ngày thì xảy ra một điều kỳ lạ: sư bỗng nhiên sống lại. Sư khóc lóc thảm thiết, dập đầu xuống đất sám hối. Sư kể lại rằng ngay khi vừa mới tắt thở, có hai vị quan Minh Phủ, đuổi sư chạy đến trước một cổng thành lớn. Chợt có một vị tăng bảo rằng: “Ta là Địa Tạng Bồ Tát đây ! Nhà ngươi khi tại Kinh Thành, đã từng vẽ hình tượng ta, nhưng chẳng bày lễ cúng, rồi lại đem bỏ sau chùa. Ta muốn báo đáp công đức vẽ tranh tượng đó. Nhân ông là tu sĩ Hoa Nghiêm, nên ta sẽ chỉ cho ông một bài kệ.” Bèn đọc bài kệ rằng: “Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng đương như thị quán, tâm tạo chư Như Lai (若人欲了、知三世一切佛、應當如是觀、心造諸如來, nếu người muốn thông suốt, ba đời tất cả Phật, phải nên như vậy quán, tâm tạo các Như Lai).” Bồ Tát Địa Tạng đọc cho sư nghe bài kệ này xong, bảo rằng: “Nếu ông tụng được bài kệ này thì có thể đóng cửa Địa Ngục, mở ra con đường đến cõi Tịnh Độ và có thể thông được vận mạng.” Sau khi tụng được bài kệ này, Tăng Tuấn đi vào trong thành, diện kiến vua Diêm Ma. Vua hỏi: “Ngươi lúc còn sống làm việc công đức gì ?” Sư đáp: “Tôi ngu muội, phóng túng, không chịu tu thiện, lại chẳng giữ giới, mà chỉ thọ trì một hàng bốn câu kệ này.” Vua lại hỏi: “Nay ngươi tụng được không ?” Đáp: “Ghi nhớ lời tụng, tụng đủ kệ trên, tiếng vang đến nơi, người đang chịu khổ, đều được giải thoát.” Đến đây, nhà vua chợt bảo: “Thôi dừng lại ! Khỏi cần nói nữa.” Bèn cho thả sư trở về lại nhân gian. Nhờ nhân duyên được sống lại như vậy, sư bảo Sa Môn Nghĩa Học (義學), Pháp Sư về Hoa Nghiêm, kiểm tra lại bài kệ trên, mới biết rằng bài này vốn có trong Kinh Hoa Nghiêm. Sư kể lại câu chuyện cho chúng tăng nghe, ai cũng đều phát tâm, tin tưởng và thọ trì kinh này.

kệ phá địa ngục

Stanza that destroys hell: Nhược nhơn dục liễu tri. If people want to really know. Tam thế nhứt thiết Phật All Buddhas of all times. Ưng quán pháp giới tánh They should contemplate the nature of the cosmos. Nhứt thiết duy tâm tạo All is but mental construction (Everything is made from mind).

kệ sám hối

Verse of Repentance: Từ vô thỉ con tạo bao nghiệp ác From beginningless, I had done so many vicious deeds Do bởi tham, sân, si, Only because of Greed, Anger and Stupidity, Từ thân, khẩu, ý mà sanh ra They are coming from body, mouth and mind Nay con xin thành tâm sám hối tất cả. Now I sincerely ask for forgiveness in my repentance.

kệ tha

See Kệ.

kệ thần tú

The verse of Shen Hsiu. Thân là cội Bồ đề, Tâm như đài gương sáng. Luôn luôn phải lau chùi, Chớ để dính bụi bặm. The body is a Bodhi tree, The mind like a bright mirror stand. Time and again brush it clean, And let no dust alight.

kệ tán

4383以偈句讚歎佛菩薩等諸尊或他人之功德。大日經義釋演密鈔卷五(卍續三七‧五八下):「復以金剛偈讚,稱歎諸尊。」 ; To sing in verse the praise of the object adored. ; Dùng câu kệ tán thán công đức của người khác—To sing in verse the praises of the object adored. ; (偈贊) Dùng kệ tụng khen ngợi công đức của chư Phật, Bồ tát hoặc của người khác. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 5 (Vạn tục 37, 58 hạ), nói: Lại dùng kệ tán kim cương để khen ngợi chư tôn.

Kệ tụng

偈頌; C: jié sòng; J: geju;|Có các nghĩa sau: 1. Bài kệ tán thán công đức của đức Phật. Thể thơ trong Kinh văn, khác với thể văn xuôi (trường hàng); 2. Trong luận giải kinh Viên Giác, sư Tông Mật đề ra 4 loại kệ tụng: a. A-nậu-đô-bà tụng (阿耨都婆頌): không kể văn trường hàng ở trước, bài kệ gồm 12 âm tiết; b. Già-đà tụng (伽陀頌), còn gọi là Phúng tụng (諷頌) và Trực tụng (直頌), giảng giải giáo pháp bằng thơ mà không cần phải lặp lại văn trường hàng trong đoạn trước; c. Kì-dạ tụng (祇夜頌): còn gọi là Ứng tụng (應頌); d. Tập thí tụng (集施頌): ngắn gọn với ý nghĩa nhiều nhất chỉ gồm trong vài chữ. Một trong 12 thể loại trong kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經).

kệ tụng

Geju (J). ; Hymn. chant. ; Kệ đà—Hymn—Chant.

Kệ tụng 偈頌

[ja] ゲジュ geju ||| (gāthā) (1) A verse praising the merit of the Buddha. The poetry of the sutras, as contrasted to narrative: 長行). (2) In his commentary to the Sutra of Perfect Enlightenment (圓覺經), Zongmi describes four types of gāthā: (a) 阿耨 都婆頌 which does not ask questions about the prior prose and which is composed of verses of 32 ideographs; (b) qietuosong 伽陀頌 which is also called fengsong 諷頌 and zhisong 直頌 and which explains the dharma in verse without necessarily explaining the prior prose text; (c) qiyesong 祇夜頌which is also called yingsong 應頌 and (d) jishisong 集施頌 which indicates that much meaning is contained in few words (Z vol. 9, 351c). One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Có các nghĩa sau: 1. Bài kệ tán thán công đức của Đức Phật. Thể thơ trong kinh văn, khác với thể văn xuôi (trường hàng). 2. Trong Luận giải Kinh Viên Giác, Ngài Tông Mật đề ra bốn loại kệ tụng: a. A-nậu-đô-bà tụng阿耨 都婆頌 : không kể văn trường hàng ở trước, bài kệ gồm 12 âm tiết. b. Già-đà tụng 伽陀頌: còn gọi là Phúng tụng 諷頌 và Trực tụng 直頌 , giảng giải giáo pháp bằng thơ mà không cần phải lặp lại văn trường hàng trong đoạn trước. c. Kỳ-dạ tụng 祇夜頌 : còn gọi là ứng tụng應頌. d. Tạp thí tụng 集施頌: ngắn gọn với ý nghĩa nhiều nhất chỉ gồm trong vài chữ. Một trong 12 thể loại trong kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh).

kệ tứ liệu giản của đại sư vĩnh minh

Four options or choices from Yung Ming Master: Có Thiền có Tịnh, như cọp mọc sừng, đời nầy làm thầy người, đời sau làm Phật. To practice bothe Zen and the Pure Land, one is like a tiger with horns, in the present life the cultivator is a teacher of man, in the future he will be a Buddha or a patriarch. Có Thiền không Tịnh, mười tu chín lạc đường To practice Zen without the Pure Land, nine out of ten seekers of the way will take the wrong road. Không Thiền có Tịnh, vạn tu vạn chứng. To practice the Pure Land without the Zen, ten thousand practice, ten thousand will go to the right way.

kệ tự tánh của lục tổ huệ năng

The verse on the Self-Nature of the Sixth Patriarch Hui neng. Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt, Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ, Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động, Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp. How unexpected! The self-nature is pure in itself. The self-nature is orginally neither produced nor destroyed. The self-nature is originally complete in itself. The self-nature is originally without movement, The self-nature can produce the ten thousand dharmas.

kệ vô tướng của lục tổ huệ năng

No-Mark Stanza from Hui-Neng Patriarch—Lục tổ muốn nhắc nhở người tu không nên tìm lỗi người, vì càng dùng thời gian để tìm lỗi người chúng ta càng xa đạo—Patriarch Hui-neng wanted to remind the cultivators try not to see anybody's faults, but our own because the more time we spend to find other people's faults the farther we are away from the Path: • Nhược kiến tha nhơn phi (nếu là bậc chân tu, chúng ta không bao giờ thấy lỗi đời) He who treads the path in earnest, see not the mistake of the world. • Tự phi khước thị tả (Nếu như thấy lỗi người, mình chê thì mình cũng là kém dỡ) If we find faults with others, we ourselves are also in the wrong. • Tha phi ngã bất phi (Người quấy ta đừng quấy). When other people are in the wrong, we should ignore it. • Ngã phi tự hữu quá (Nếu chê là tự ta đã có lỗi). For it is wrong for us to find faults. • Đản tự khước phi tâm. By getting rid of the habit of fault-finding, • Đả trừ phiền não phá (Muốn phá tan phiền não). We cut of a source of defilement. • Tắng ái bất quan tâm (Thương ghét chẳng để lòng). When neither hatred nor love disturb our mind. • Trường thân lưỡng cước ngọa (Nằm thẳng đôi chân nghỉ). Serenely we sleep.

kệ đà

Xem phúng tụng. ; Hymn—Chant—To hymn.

Kệ 偈

[ja] ゲ ge, kei, ketsu ||| (1) gāthā, the poetic verses of the scriptures, as opposed to the prose. (2) Fast, quick, hasty. (3) Brave, martial. Có các nghĩa sau: => 1. (s: gāthā). Thể thơ của kinh văn, khác với thể văn xuôi (trường hàng). 2. Nhanh chóng, vội vã. 3. Dũng cảm, hùng dũng.

Kệ-đà

xem Già-đà.

kỉ chứng

957又作自證。即指自己所證見之見解、境界,為他人所難以窺知者。又指對一般傳承之說,有其獨到之見解。由此等自證之見解所開示之法,則稱己證法門。止觀輔行傳弘決卷三之二(大四六‧二二五下):「五百比丘無非正說,各說己證,名隨自意。」成實論卷一(大三二‧二四四中):「佛法可自證知,不可以己所證傳與他人。」〔法華玄義卷五上〕(參閱「內證」1239、「自證」2536)

kỉ cương

3925<一>叢林中,統轄全寺寺務之職稱。乃監寺、執事之別名。故監寺寮、執事寮又稱紀綱寮。〔禪林象器箋殿堂門〕 <二>綱紀之意。即叢林中,掌管僧團規矩之職稱。爲三綱之一。乃維那之異稱,故又以維那所居之寮房,稱紀綱寮。〔禪林象器箋殿堂門〕

kỉ dã nhất nghĩa

3925(1922~ )日本佛教學者,山口縣人。一九四八年畢業於東京大學文學部印度哲學科。歷任真如會總幹事、寶仙學園短期大學教授。曾獲得第一回佛教傳道文化獎。著有:「法華經の探求」、「大乘佛教の倫理」、「禪─現代に生きるもの」、「いのちの風光─現代に生きる佛教」、「譯註般若心經、金剛般若經、淨土三部經」等書。

kỉ giới

956(一)即佛界對眾生界自謂己身為己界。此係為別於眾生煩惱生死之染法及佛解脫涅槃之淨法而方便說示之語。(二)指心法,而與「法界」、「眾生界」共成三法,表示生(眾生)佛(諸佛)一如、等無差別之意。觀無量壽佛經疏妙宗鈔卷一(大三七‧二○一上):「己界及法界、眾生界同等;己界即心法,法界即佛法,佛以法界而為體故,對眾生界即成三法,心生在因,佛法在果,三無差別,故云一界無別界也。」

kỉ hành

3925即記載參訪經過之文字。如大品般若經卷二十七中,常啼菩薩往東方眾香城求般若波羅蜜。華嚴經入法界品中,善財童子歷訪五十五善知識,亦於普賢處求行願。又如我國東晉法顯之佛國記(高僧法顯傳)、北魏惠生之使西域記、唐朝悟空之入竺記等均屬之。

kỉ tâm di đà

956又作己心淨土、自性彌陀、唯心彌陀。指阿彌陀佛與極樂淨土俱在自己心中。六祖大師法寶壇經(大四八‧三五二中):「佛向性中作,莫向身外求。」即依萬法唯心、十界互具之理,彌陀存於一己心中,以觀我心而顯自性之彌陀。亦即一般所謂凝視自心,以開悟佛性而成佛之意。通常與「唯心淨土」並列為聯句,即「己心彌陀,唯心淨土」,為天台宗、華嚴宗、密宗、禪宗等聖道諸宗所盛談。唯淨土教之信仰與之有異,而主張淨土係在己心之外。〔觀無量壽佛經疏妙宗鈔卷一、宗鏡錄卷二十九〕(參閱「唯心淨土」4422)

kỉ tâm pháp môn

956即於一己心中所修得之法門。摩訶止觀卷一上(大四六‧一中):「此之止觀,天台智者說己心中所行法門。」此自己心中實感實證之法門,即稱為己心中所行法門。

kị lư mịch lư

6650猶言「騎牛覓牛」。比喻凡夫不見自心之佛性而向外覓求,猶如騎驢覓驢,不知自己座下即為所求之驢。〔從容錄第五十七則、通玄鈔〕

kị nguyệt

2885<一>即指陰曆正月、五月、九月等三長齋月。據法苑珠林卷八十八載,於此三月內,帝釋天、四天王等鑑察人間之善惡,故世人應特別守戒行善,持每日過午不食之戒。〔梵網經卷下、四分律行事鈔資持記卷下三之四〕(參閱「三長齋月」575) <二>指人死之月,即亡者每年忌日之月。俗稱祥月。(參閱「祥月」4755)

kị ngưu quy gia

6650積修行之功,因而覺悟,歸返自己本來之面目,稱為騎牛歸家。乃廓庵所撰「十牛圖頌」之第六。頌云(卍續一一三‧四六○上):「騎牛迤邐欲還家,羌笛聲聲送晚霞,一拍一歌無限意,知音何必鼓唇牙。」此乃形容得悟後之風貌。

kị nhật

2885即忌憚日,指故人之死期。又作諱日、命日、忌辰、諱辰。於是日行追弔之禮,避免遊樂嬉戲,以誦經、法會等慎重行事為死者追福。又人死之後次月之忌日,特稱月忌;三十五日稱小練忌;四十九日稱大練忌;每年卒月之忌日,稱正忌日,或稱祥月、祥月命日;對正忌之當日而謂其前日為宿忌;滿周年之正忌日,稱小祥忌、一周忌;二周年之正忌日,稱大祥忌、三回忌。此外,每七日設齋會,至七七日(四十九日)為止,稱為中陰法要;滿百日設齋會,稱為百日。 忌日誦經營齋之法,自古行之,佛典多有記載,如梵網經卷下謂父母兄弟、和尚、阿闍梨之歿日,及三七日(二十一日)乃至七七日中,應讀誦大乘經律即是。又前述小祥、大祥之名稱,在禮記中已有之,蓋百日、大小祥忌,係託儒家之喪制而修出世之法者。 有關忌日之名詞甚多,如達磨忌(十月五日)、百丈忌(一月十七日)等。日本另有十三回忌、三十三回忌、五十回忌、百回忌等,且各宗派開祖、祖師等之忌日亦各有不同之名稱,如曹洞宗開祖之正忌日稱為高祖忌、永平忌,真言宗稱御影供,日蓮宗稱御會式、御命講等。禪宗則有二祖三佛忌(二祖忌指達磨忌、百丈忌,三佛忌指釋尊之涅槃忌、降誕會、成道會)、開山忌等稱,各於其時修法事。〔大佛頂首楞嚴經卷一、佛祖統紀卷三十三、釋門正統卷四、釋氏要覽卷下、傳法正宗記卷五、敕修百丈清規卷二百丈忌條、禮記禮問傳、魏志卷四齊王紀、晉書列傳第六十九桓玄傳、僧堂清規卷四〕

kị từ

2886日本神道教用語。係為避開不吉所採之代用語詞,盛行於平安朝以後。主要用於伊勢之「齋宮」,其使用之忌詞中,與佛教相關者有:「中子」代「佛」、「染紙」代「經」、「阿良良岐」代「塔」、「瓦葺」代「寺」、「髮長」代「僧」、「女髮長」代「尼」、「片膳」代「齋」,此即為內(佛教)七言。又以「香燃」代「堂」、「角筈」代「優婆塞」等,皆為其例。〔延喜式卷五齋宮條〕

kịp

3887禪林用語。又作洎乎、洎合。幾乎、大體之意。趙州真際禪師語錄卷上(卍續一一八‧一五四下):「師云:『賴遇老僧,洎合玄殺這屢生。』」

kỳ bà

Jivaka (S)Thú Bác Ca1- Tên một Phật tử cúng dường vườn xoài cho đức Phật. 2- Thú bác Cá: Một trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp. ; (耆婆) Phạm: Jìvaka Cũng gọi Kỳ bà già, Thì bà, Kỳ vực, Thì phược ca. Nhà danh y Ấn độ ở thời đại đức Phật. Ông từng đến nước Đức xoa thi la (Phạm: Takwazilà) học ngành Y, sau khi trở về thành Vương xá, ông được vua Tần bà sa la và vua A xà thế tuyển làm Ngự y. Ông rất kính tin Phật giáo và thường chữa bệnh cho các đệ tử Phật. Chính ông đã đưa vua A xà thế đến trước đức Phật cầu xin sám hối về tội giết cha. Tiếng tăm của ông có thể sánh ngang với Biển thước của Trung hoa ở thời đại Chiến quốc. [X. kinh Thế kỉ trong Trường a hàm Q.20; kinh Nại nữ kì vực nhân duyên; Thiện kiến luật tì bà sa Q.17]. (xt. Phật Giáo Y Thuật).

kỳ bà kỳ bà điểu

(耆婆耆婆鳥) Phạm, Pàli: Jìvajìva, Jìvajìvaka, Jìvaôjìva, Jìvaôjìvaka. Cũng gọi Kỳ bà kỳ bà ca điểu, Thì bà thì bà ca điểu Hán dịch: Mệnh mệnh điểu, Cộng mệnh điểu, Sinh sinh điểu, Phượng. Một giống chim chá cô có 2 đầu, sinh sản ở Nepal, Bắc Ấn độ, dựa vào tiếng hót của nó mà đặt tên. Kinh Niết bàn quyển 1 (bản Bắc) gọi loài chim này là Mệnh mệnh, kinh Thắng thiên vương bát nhã gọi là Sinh sinh điểu, còn kinh A di đà thì gọi là Cộng mệnh điểu. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6].

kỳ bà thiên

(耆婆天) Vị trời sống lâu, hầu cận 2 bên trời Đế thích. Các nước Tây vực đều có miếu thờ Kỳ bà thiên. Theo phong tục các nước này, khi con lên 3 tuổi, cha mẹ đưa con đến miếu thờ vị trời này để cầu cho con sống lâu 100 tuổi. [X. kinh Lăng nghiêm Q.2].

kỳ bà thảo

(耆婆草) Loại cỏ, có 3 thứ: 1. Tiếng Phạm:Jìva. Loại cỏ mọc ở Ấn độ. 2. Tiếng Phạm:Jìvaka. Một trong 8 loại thuốc quí ở Ấn độ. 3. Tên khoa học: Ruta, tức Vân hương (cây màn tưới), mọc ở Nam âu, chuyên dùng làm thuốc, trị các chứng ghẻ lác, ngăn tránh trùng độc.

kỳ bà tịnh xá

Jīvakārāma (S)Tên một ngôi chùa.

kỳ bàn thiên phật động

(棋盤千佛洞) Quần thể hang động ở phía Tây nam huyện Diệp thành, Tân cương, là 1 trong những động Thiên Phật ở vùng cực tây Trung quốc được tạo lập vào thời Tây Liêu. Tất cả gồm có 10 hang, mỗi hang chỉ mở một căn nhà hình chữ nhật. Hang lớn nhất dài 4,4 mét; rộng 3,9 mét; hang nhỏ nhất chỉ có 2 mét vuông. Trong động, những vật còn sót lại không nhiều, 2 hang cao nhất còn lại phần bích họa, nhưng đã mờ nhạt, chỉ có thể thấy phần hào quang và bóng cây ở phần tượng Phật. Ở vùng phụ cận những hang động này, người ta từng đào được những đồng tiền bằng đồng có khắc chữ Hán và chữ Ả rập, lọ 1 quai, lọ sành da lươn 2 quai, ...

kỳ chiếu tự diệu

(其照自妙) Từ ngữ biểu thị cảnh giới bất khả tư nghị của chư Phật Như lại và chư vị Tổ sư. Nhóm từ này có xuất xứ từ bài Tọa thiền châm của thiền sư Hoành trí Chính giác (1091- 1157) thuộc tông Tào động đời Tống. Chiếu là tác dụng thấy biết chân tướng của sự vật đúng như thực; Diệu là tác dụng ấy bất khả tư nghị, vượt ra ngoài vòng ngôn ngữ, văn tự và suy tư. Nói chung, người phàm phu đối với sự nhận thức về vũ trụ, sinh tử, mê ngộ,... hầu hết đều bị hạn cuộc nơi cảnh, không được giải thoát; nhưng đối với chư Phật Như lai và các vị Tổ sư đã chứng quả thì cảnh giới mà các Ngài nhận thức, chứng ngộ, tuy ở nơi cảnh, nhưng không mảy may bị cảnh làm chướng ngại, mà tự do tự tại, nhậm vận tự như, mầu nhiệm không thể diễn tả bằng lời. [X. Hoành trí thiền sư quảng lục Q.8].

kỳ chủ

(期主) ..... Chỉ cho vị thí chủ tín tâm chuẩn bị đầy đủ các phẩm vật để cúng dường chúng tăng trong thời gian kết hạ an cư. Chương Tiết tự trong Hoàng bá thanh qui (Đại 82, 773 thượng) nói: Phàm gặp thời gian kết chế, trưởng giả có lòng tin muốn làm vị Kỳ chủ, trước hết bạch vị Đường đầu và Đô tự, sau đó Tri khách dẫn đến vị Khố ti giao nạp tịnh tài, mua sắm đầy đủ những phẩm vật cần dùng để cúng dường.

kỳ cựu

(耆舊) Cũng gọi Trưởng lão, Lão túc, Kỳ túc. Bậc trưởng lão đạo đức cao thâm. Luận Dị môn túc quyển 4 cho rằng bậc Tôn trưởng kỳ cựu tuổi tác cao, gọi là Thượng tọa. Kinh Tì ni mẫu, thì nói bậc có 50 tuổi pháp trở lên, được quốc vương, trưởng giả và giới xuất gia tôn trọng, thì gọi là Kỳ cựu trưởng túc. [X. điều Thiên hóa tế thứ, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].

kỳ diệu

AbbhŪta (P), Wonderful.

kỳ dạ

Xem Ứng tụng. ; (祇夜) Phạm: Geya. Pàli:Geyya. Cũng gọi Kỳ dạ kinh. Dịch cũ (Hán): Trùng tụng, Trùng tụng kệ. Dịch mới: Ứng tụng Chỉ cho phần kệ thơ nhắc lại ý nghĩa đã được trình bày trong đoạn văn xuôi ở trước. Một trong 9 thể tài, 1 trong 12 thể tài của kinh điển Phật. [X. kinh Niết bàn Q.14 (bản Nam); luận Đại trí độ Q.33].(xt. Kệ).

kỳ dạ đa

(祈夜多) Phạm:Jeyata. Vị A la hán, người nước Kế tân miền Bắc Ấn độ. Theo kinh Tạp bảo tạng quyển 7 chép, thì ngài Kỳ dạ đa ra đời ở nước Kế tân khoảng 700 năm sau đức Phật nhập diệt. Vua nước Nguyệt thị (chi) nghe danh đức của Ngài nên cùng với các quan và đoàn tùy tùng đến thăm ngài, nhưng Kỳ dạ đa ngồi lặng thinh không đón rước, vua thấy uy đức của Ngài càng thêm kính tin bội phần, sau được Ngài chỉ dạy (Đại 50, 316 thượng): Trước đây nhà vua đã từ con đường thù thắng mà đến, nay trở về cũng nên theo đường ấy mà đi! Nghĩa là ở đời quá khứ vua đã gieo trồng nhiều phúc đức nên nay mới được làm vua; nếu đời hiện tại vua tiếp tục tu tập thiện nghiệp thì đời sau vua cũng sẽ được hưởng phúc lành. Nghe xong, nhà vua vui vẻ trở về nước. Ngài Kỳ dạ đa có thần thông, từng hàng phục rồng dữ A lợi na ở nước Kế tân. Trong kinh còn ghi rằng: Vào thời quá khứ lâu xa, sau khi đức Phật Tì bà thi nhập diệt, Kỳ dạ đa là con 1 trưởng giả lại cũng đã từng 500 kiếp đầu thai làm chó nên thường bị khổ não vì đói khát. Những sự kiện trên đây rất phù hợp với truyện ngài Đạt ma mật đa trong Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5. Lại theo Ấn độ Phật giáo sử chương 12 của Đa la na tha (Phạm: Tàranàtha), thì nước Ca thấp di la có vua Sư tử xuất gia tên là Thiện kiến (Phạm:Sudarzana), chứng quả A la hán; bấy giờ có vua Ca nị sắc ca (Phạm:Kaniwka) nướcJàlaídhara(Phạm: Gandhàra, Kiện đà la) nghe danh đức của ngài bèn đến Ca thấp di la dự nghe Ngài thuyết pháp rồi cúng dường tháp pháp và chúng tăng. Căn cứ vào những ghi chép trên đây, ta có thể suy biết Kỳ dạ đa, Đạt ma mật đa, Thiện kiến có lẽ cùng là một người nhưng khác tên và từng là thầy của vua Ca nị sắc ca.

Kỳ dạ 祇夜

[ja] ギヤ giya ||| Transcription of Sanskrit geya and Pali geyya. Verses contained in the scriptures which repeat the substance of the prose discourses. Also translated into Chinese 應頌 and 重頌. One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Phiên âm chữ geya từ tiếng Sanskrit và chữ geyya từ tiếng Pali. Là phần kệ trong kinh văn để lập lại ý chính của đoạn văn đã giảng ở trước. Còn được dịch là Ứng tụng應頌 và Trùng tụng重頌. Là một trong 12 thể loại trong kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh十二部經) [ja] ギジュギッコドクオン Gijugikkodokuon ||| See above 祇園精舎Qiyuanjingshe.

Kỳ Hoàn Tinh Xá

(p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍): còn gọi là Kỳ Viên Tinh Xá (祇園精舍), tên gọi của tinh xá nằm ở Thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛城), kinh đô của nước Kiều Tát La (s: Kauśala, p: Kosala, 憍薩羅) vào thời Ấn Độ cổ đại. Lúc bấy giờ, trưởng giả Tu Đạt (p: Sudatta, 須達, còn có tên là Cấp Cô Độc [給孤獨]) của Thành Xá Vệ mua khu rừng của Thái Tử Kỳ Đà (s, p: Jeta, 祇陀) để xây dựng tu viện cho giáo đoàn đức Phật. Tên gọi Kỳ Viên vốn phát xuất từ truyền thuyết này. Trưởng giả Tu Đạt là người thường bố thí vật phẩm ăn uống cho những người cô độc, nghèo nàn, cho nên nơi đây còn được gọi là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên (祇樹給孤獨園). Đức Phật đã trãi qua hơn 20 năm vào cuối đời ngài ở tại đây, và khoảng 7, 8 phần kinh điển hiện tại đều được ngài thuyết giảng tại nơi này. Tuy nhiên, ngay sau khi đức Phật diệt độ thì tinh xá này bị suy tàn. Về sau, khi Pháp Hiển (法顯, 340?-?) và Huyền Trang (玄奘, 602-664) sang du hành ở Ấn Độ, tinh xá này đã hoàn toàn hoang phế. Hiện tại nó chỉ còn là di tích rất rộng lớn ở phía Nam vùng Saheṭh-Maheth thuộc tiểu bang Uttar Pradesh. Trong Phật Thuyết Văn Thù Sư Lợi Bát Niết Bàn Kinh (佛說文殊師利般涅槃經, Taishō No. 463) do Cư Sĩ Nhiếp Đạo Chơn (聶道眞) nhà Tây Tấn dịch có đoạn: “Nhĩ thời, Thế Tôn tùng Tam Muội khởi, tức tiện vi tiếu, hữu ngũ sắc quang tùng Phật khẩu xuất, thử quang xuất thời, Kỳ Hoàn Tinh Xá biến thành Lưu Ly (爾時、世尊從三昧起、卽便微笑、有五色光從佛口出、此光出時、祇洹精舍變成琉璃, lúc bấy giờ đức thế tôn từ trong Tam Muội đứng dậy, bèn mĩm cười, có ánh sáng năm sắc từ trong miệng Phật phóng ra, khi ánh sáng này phóng ra, Kỳ Hoàn Tinh Xá biến thành ngọc Lưu Ly).” Hay như trong Trung Thiên Trúc Xá Vệ Quốc Kỳ Hoàn Tự Đồ Kinh (中天竺舍衛國祇洹寺圖經, Taishō No. 1899), phần Trung Thiên Trúc Xá Vệ Quốc Kỳ Hoàn Tự Đồ Kinh Tự (中天竺舍衛國祇洹寺圖經序) lại có đoạn đề cập đến Kỳ Viên Tinh Xá như sau: “Vãng giả Thích Tôn tại Đao Lợi Thiên, thử tượng tại điện vi chư Tỳ Kheo giáo giới thuyết pháp, nãi chí chư vương chi bất kiến Phật tư mộ Thích Ca, thử tượng vi vương tam độ thuyết pháp; Kỳ Viên sơ lập giới đàn, thành thời thử tượng lãnh tiền đồ chúng, chí giới đàn sở nhiễu tam tráp dĩ, bộ bộ giai sanh kim sắc thiên diệp Liên Hoa; mỗi thọ giới thời hoa tự nhiên khai, trung hữu thiên đồng tấu ư thiên nhạc (徃者釋尊在忉利天、此像在殿爲諸比丘敎戒說法、乃至諸王之不見佛思慕釋迦、此像爲王三度說法、祇園初立戒壇、成時此像領前徒眾、至戒壇所遶三匝已、步步皆生金色千葉蓮花、每受戒時花自然開、中有天童奏於天樂, xưa kia khi đức Thích Tôn tại Trời Đao Lợi, tượng này tại chánh điện vì các Tỳ Kheo mà dạy bảo, thuyết pháp, cho đến các vua không thấy được Phật, nhớ nghĩ đến Thích Ca, tượng này cũng vì vua thuyết pháp ba lần; lúc ban đầu, Kỳ Viên Tinh Xá mới lập giới đàn, khi hình thành, tượng này dẫn các đồ chúng trước đây, đến giới đàn đi nhiễu quanh ba vòng xong, từng bước đều sanh hoa sen ngàn cánh có màu vàng kim; mỗi khi thọ giới, hoa ấy tự nhiên nở ra, bên trong có thiên đồng tấu khúc nhạc trời).”

kỳ hoàn tinh xá

Xem Kỳ Thọ Tịnh xá. ; (祇洹精舍) I. Kỳ Hoàn Tinh Xá. Tức tinh xá Kỳ hoàn ở vườn ông Cấp cô độc, rừng cây của thái tử Kỳ đà. (xt. Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên). II. Kỳ Hoàn Tinh Xá. Đoàn thể Phật giáo Trung quốc do cư sĩ Dương văn hội sáng lập vào cuối đời Thanh đầu đời Dân quốc theo sự đề xướng của cư sĩ Đạt ma ba la (Dhammapàla), Hội trưởng hội Ma ha bồ đề (Màha-Bodhi Society) ở Tích lan. Đoàn thể này lấy việc phục hưng Phật giáo Ấn độ và truyền bá giáo pháp trên toàn thế giới làm mục tiêu, tuyển chọn một số thanh niên tăng tục học tập và nghiên cứu Phật học, Hán học. Về chương trình giảng dạy, ngoài hai môn chính là Phật học và Hán học ra, còn dạy Anh văn để làm nền tảng cho việc học tiếng Phạm vàPàli. Ban giáo thụ gồm cư sĩ Dương văn hội giảng kinh Lăng nghiêm, luận Đại thừa khởi tín, ngài Tô mạn thù dạy Anh văn, ngài Đế nhàn dạy Thiên thai giáo quán. Những học viên lúc bấy giờ gồm có: Mai quang hi, Âu dương Cánh vô, Khâu hư minh, Nhân sơn, Thái hư, Trí quang, Quán đồng,... Sau vì thiếu hụt kinh phí, nên chưa đầy 2 năm, khóa học phải tạm ngưng. [X. Trung quốc Phật giáo sử Q.4 (Tưởng duy kiều); China Phật giáo cận thế sử nghiên cứu (Thủy dã Mai hiểu)].

kỳ kiếp

Kalpa (S), Aeon Kappa (P)1- Một tiểu kiếp là một khoảng thời gian 16.800.000 năm, gồm 3 tiểu kỳ kiếp (để thọ mạng con người tăng từ 10 năm lên 80.000 năm tuổi (một tiểu kỳ kiếp tăng), từ 80.000 năm tuổi giảm xuống còn 10 tuổi (một tiểu kỳ kiếp giảm), rồi từ 10 năm tuổi tăng lên 80.000 năm tuổi (một tiểu kỳ kiếp tăng nữa). Cứ 100 năm thọ mạng mới tăng hay giảm một năm tuổi). 2- Kha lạt ba luận trong Vệ đà.

kỳ kiếp khác

Kalpantara (S), Another kalpa.

kỳ lâm tự

(祇林寺) Chùa ở núi Hàm nguyệt, tỉnh Khánh thượng bắc, Hàn quốc, tương truyền do Quan hữu Thánh nhân nước Phạm ma la sáng lập, đặt tên là chùa Lâm tỉnh. Năm Tân la Thiện đức Nữ vương 12 (643), ngài Nguyên hiểu xây cất lại, đổi tên là chùa Kỳ lâm. Năm Tuyên tổ 12 (1578) triều Lí, ngài Trúc thiền làm lại một lần nữa. Về sau, 2 lần chùa bị phá hủy vì chiến tranh. Năm Hiển tông thứ 9 (1668), ngài Song thánh trùng tu và ngài Lại trạch sửa sang toàn bộ điện đường. Năm Giáng hi thứ 2 (1908) đời vua Thuần tông nhà Lí, toàn bộ hơn 100 gian nhà của chùa đều bị cháy trong một trận đại hỏa hoạn, sau đó, hòa thượng Độ hà xây dựng lại. Hiện nay còn điện Tịch quang, điện Lưu li, điện Ứng chân, ... [X. Đông quốc dư địa thắng lãm Q.21].

kỳ lạp

(耆臘) Kỳ nghĩa là già, Lạp nghĩa là tuổi của tăng sĩ. Kỳ lạp nghĩa là vị tăng sĩ đã cao tuổi. Thiền gia dùng chữ Lạp để tính tuổi của người xuất gia được độ, nhưng thời xưa thì tính tuổi bắt đầu từ năm thụ giới Cụ túc, chứ không tính từ năm xuất gia được độ. Cho nên, Kỳ lạp là đặc biệt gọi vị tỉ khưu (hoặc tỉ khưu ni) đã xuất gia và thụ giới Cụ túc lâu năm.

kỳ na

Xem Thiền na Phật. ; (耆那) Phạm:Jina. Hán dịch: Thắng giả. I. Kỳ Na. Danh từ tôn xưng đức Phật. Kinh Phật bản hạnh tập quyển 1 (Đại 3, 655 thượng), nói: Như lai trụ nơi hạnh Phật; không còn phiền não, nên gọi Kỳ na. Ngài đạt được Nhất thiết trí, trụ nơi thiên hạnh, trụ nơi phạm hạnh, trụ nơi Thánh hạnh, tâm được tự tại. II. Kỳ Na. Vị giáo tổ của Kỳ na giáo sống vào thời đại đức Phật. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.19]. (xt. Kỳ Na Giáo)

kỳ na giáo

Jaina (S), Jainism Xà y na giáoMột tông phái ở Ấn độ vào thế kỷ 6 BC do ngài Ni Càn đề Nhã đề tử (Nirgrantha Jĩataputra) khai sáng, chủ trương khổ hạnh phi bạo lực. ; (耆那教) Phạm:Jaina. Một giáo phái ở Ấn độ, do ngài Ni càn đà nhã đề tử (Phạm: Nirgranthajĩàtaputra), cũng gọi Đại hùng (Phạm: Mahàvìra) sáng lập vào khoảng thế kỉ V, IV trước Tây lịch, chủ trương khổ hạnh, phi bạo lực. Giáo nghĩa căn bản là nghiệp báo luân hồi, linh hồn giải thoát. Tương truyền, trước ngài Ni càn đà nhã đề tử, còn có 23 vị Tổ sư, cho nên đời sau cho ngài là vị Tổ thứ 24 trung hưng Kỳ na giáo. Trong 24 vị Tổ thì chỉ có ngài Ba thấp phạt na đà (Phạm:Parzvanàtha) và Ni càn đà nhã đề tử là nhân vật có thật trong lịch sử, còn các vị Tổ khác e rằng đều là những nhân vật trong truyền thuyết. Ngài Ni càn đà nhã để tử chủ trương thuyết Vô thần, cải cách và tập đại thành giáo lí của 23 vị Tổ sư trước. Về phương diện giáo lí, ngài chia những yếu tố cấu thành vũ trụ làm 2 phần là Linh hồn (Phạm:Jìva) và Phi linh hồn (Phạm:Ajìva). Yếu tố Phi linh hồn bao gồm 4 thứ: Vận động nhân (Phạm: Dharma), Chỉ tĩnh nhân (Phạm: Adharma), hư không, vật chất, cộng thêm Linh hồn thành 5 cá thể thực tại. Vật chất do nguyên tử cấu tạo thành, có tính chìm xuống, còn Linh hồn là nhất thiết tri(biết tất cả)có tính bay lên, tự nó không có chướng ngại, vì thế được tự do. Còn sự hình thành vật chất là do nơi nghiệp, nên bị trói buộc, đây chính là nhân của sự luân hồi. Nếu muốn thoát khỏi luân hồi thì phải sống khổ hạnh và giữ gìn nghiêm ngặt 5 điều răn (5 thệ nguyện lớn)là: Không giết hại, không nói dối, không trộm cắp, không dâm dục, không sở đắc (Phạm:Anupalabhya). Nếu sống theo đúng 5 điều răn này, thì có thể tiêu trừ nghiệp lực, phát huy bản tính của linh hồn, đạt đến tịch diệt, tức được giải thoát, gọi là Niết bàn. Linh hồn, phi linh hồn, thiện nghiệp, ác nghiệp, lậu nhập, hệ phược, chế ngự, chỉ diệt, giải thoát... gọi là Cửu đế. Ngoài ra, Kỳ na giáo còn chủ trương chủ nghĩa Bất định (Phạm:Syàdvàda) tương đối có tính phán đoán và chủ trương Quan điểm luận (Phạm: Naya) quan sát mang tính phê phán, đây chính là đặc sắc của Kỳ na giáo. Thánh điển chủ yếu của Kỳ na giáo có 2 loại: Tất đàn đa (Phạm:Siddhanta), có 45 bộ, được thành lập vào khoảng từ thế kỉ thứ III trước Tây lịch đến thế kỉ thứ VI Tây lịch; Tứ phệ đà (Phạm:Veda), được thành lập vào thế kỉ thứ IX Tây lịch. Ngoài ra còn có Giáo lí tinh yếu và Ngũ nguyên lí tinh yếu do ông Khang đạt Khang đạt (Phạm:Kundakunda) soạn vào thế kỉ V và Đế nghĩa chứng đắc thư do ông Ô ma tư phạt thê (Phạm:Umàsvàti) sáng tác. Vào thời đại vị Giáo tổ, giáo đoàn kỳ na rất hưng thịnh, nhưng sau phân hóa làm phái Bạch y (Phạm:Zvetàmbara) theo chủ nghĩa khoan dung và phái Không y (Phạm: Digambara) theo chủ nghĩa nghiêm khắc. Phái Bạch y căn cứ theo Thánh điển Tất đàn đa, còn phái Không y thì căn cứ theo Thánh điển Tứ phệ đà. Đến thế kỉ thứ XII, tín đồ Hồi giáo xâm nhập Ấn độ và công kích Kỳ na giáo rất kịch liệt. Sau thế kỉ XVII, trong giáo đoàn phát sinh cuộc vận động cải cách, chủ trương dùng chủ nghĩa nhân đạo và quan điểm bác ái để giải thích giáo nghĩa cổ xưa của Kỳ na giáo. Đại biểu cho chủ trương cải cách có ông Động địa bì âu (Dhundibia) lãnh đạo cuộc vận động của phái Lang ca (Lokas), thế kỉ XVIII, có ông Duy lạp cát (Vìraji) lãnh đạo cuộc vận động của phái Tư đặc na ca ngõa tây (Sthànakavàsì). Đến nay, số tín đồ tuy không đông, nhưng họ vẫn giữ gìn giới luật rất nghiêm khắc trong sinh hoạt hàng ngày. [X. W. Schubring: Die Lehre der Jainas, 1935; Kỳ na giáo Thánh điển (Linh mộc Trọng tín)].(xt. Ni Càn Tử Ngoại Đạo, Ni Càn Đà Nhã Đề Tử).

kỳ na giáo thánh điển

(耆那教聖典) Kỳ na giáo, Phạm:Jaina. Kỳ na giáo Thánh điển, cũng gọi A cấp ma (Phạm: Àgama), Tất đàn đà (Phạm: Siddhànta). Kinh điển căn bản của Kỳ na giáo Ấn độ được kết tập lần đầu tiên vào khoảng 300 năm trước Tây lịch ở thành Hoa thị (Phạm: Pàỉaliputra), được viết bằng tiếng A đạt ma kiệt địa (Phạm: Ardharmàgadhi). Sau khi Giáo tổ Đại hùng (Phạm: Mahàvìra) qua đời được 980 năm, thì cuộc kết tập lần 2 được thực hiện tại Phạt lạp bỉ (Phạm: Valabhì) mới có nội dung như ngày nay. Tất cả có 46 thứ được chia làm 6 loại, đó là: 1. Mười một thứ Ương già (Phạm: Aíga), Hán dịch: Chi,(chi thứ 12 nay đã thất lạc). Nội dung gồm những lời chỉ dạy của Giáo tổ Đại hùng, phép tắc sinh hoạt của người xuất gia, sự tích của các Thánh nhân, 5 giới, những sự thực về quả thiện, quả ác ... 2. Mười hai thứ Ô phàm già (Phạm: Uvaíga): Nội dung bao gồm hành chỉ giải thoát và thứ tự Niết bàn, phương pháp phân biệt các loài chúng sinh, thế giới trung ương (Phạm: Jambudvìpa), Nhật nguyệt thiên thể, các nhân duyên về vua Tần bà sa la (Phạm:Bimbisàra) và vua A xà thế (Phạm: Ajàtazatru),... 3. Mười thứ Bát na (Phạm:Paiịịa): Bao gồm chết, bệnh, lượng thức ăn của người, trạng thái ở trong thai, sự cấu tạo của thân thể, các cõi trời ... 4. Bảy thứ Khư da tô đa (Cheyasutta): Bao hàm các hành vi chính tà, trạng thái của tâm, sự phạm giới, việc sám hối của người xuất gia, tại gia ... 5. Bốn thứ Ma lạp tô đa (Mùlasutta): Bao gồm những trứ tác về giáo lí, tín ngưỡng, lời dạy của chư Tổ và những nghi thức tông giáo cùng với việc tu hành hàng ngày ... 6. Hai thứ kinh (Sutta): Đứng về 4 phương diện để giải thích giáo lí, tri thức thông thường của Kỳ na giáo. Những trứ tác có quan hệ với bộ kinh điển căn bản này của Kỳ na giáo là: Giáo lí tinh yếu, Ngũ nguyên lí tinh yếu của Khang đạt Khang đạt (Phạm:Kundakunda) và Đế nghĩa chứng đắc thư của Ô ma tư phạt thê (Phạm:Umàsvàti). Bộ kinh này(A cấp ma hoặc Tất đàn đa) thuộc giáo nghĩa của phái Bạch y (Phạm: Zvetàmbara), còn đối với kinh điển mà phái Không y (Phạm: Digambara) sử dụng làm chỗ căn cứ thì người đời sau đã thêm vào những tác phẩm mới của phái Phệ đàn đa và tư tưởng của Bà la môn, còn nguyên tác thì đã bị thất lạc vào khoảng thế kỉ III, IV. [X. Suttàgame (Aíga and Upàíga of Jaina) 2 vols. Bombay 1954; W. Schubring: Die Lehre der Jainas, nach den alten Quellen dargestelst, GIAPHA III 7 Berlin 1935].

kỳ nguyện sở

(祈願所) Cũng gọi là Kỳ nguyện tự, Ngự nguyện tự. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chùa viện do Thiên hoàng Nhật bản xây dựng để cầu cho Hoàng gia được an ổn và thiên hạ thái bình. Như Thiên hoàng Thiên vũ kiến tạo chùa Dược sư cầu nguyện cho hoàng hậu khỏe mạnh. Còn Thiên hoàng Thánh vũ thì lập chùa Quốc phận để cầu cho quốc gia được bền vững. Những ngôi chùa thuộc loại này đều được gọi là Kỳ nguyện sở. Đến thời đại Mạc phủ, các Lãnh chúa cũng bắt chước việc làm này. Như năm Lịch ứng thứ 2 (1339) thời Bắc triều, Túc lợi Trực nghĩa lập chùa An quốc ở các nước để cầu vận mệnh nhà Võ được lâu dài, nhà cửa phồn vinh. Sau, để phân biệt với Kỳ nguyện sở của nhà Võ, nên gọi Kỳ nguyện sở của triều đình là Sắc nguyện sở, Sắc nguyện tự.

kỳ phụng hành

(祈奉行) Chức vụ chuyên phụ trách việc cầu nguyện được đặt ra trong 2 triều đại Mạc phủ Liêm thương và Thất đinh ở Nhật bản. Hoặc là chức vụ tạm thời được đặt ra để lo việc cúng tế khi xảy ra thiên tai, hạn hán, dịch bệnh... trong nước.

kỳ quang như lai

(奇光如來) Cũng gọi là Quang minh vương Như lai. Vị Phật hiện tại ở thế giới phương khác duy nhất được nói đến trong kinh A hàm. Cứ theo phẩm Lục trọng trong kinh Tăng nhất a hàm, thì tôn giả Mục liên vâng lời chỉ dạy của đức Phật đi đến một cõi Phật cách đây 7 hằng hà sa số thế giới, ở đó hiện có đức Phật hiệu là Kỳ quang Như lai, Chí chân đẳng chính giác. Giáo nghĩa của Tiểu thừa chỉ nói về chư Phật quá khứ và vị lai, chứ không thừa nhận có Phật hiện tại ngoài đức Thế tôn Thích ca, còn thuyết chư Phật hiện tại là chủ trương của Đại thừa. Nhưng kinh Tăng nhất a hàm lại nói ở phương Đông hiện có đức Kỳ quang Như lai, thì điều này khác hẳn với giáo nghĩa chung của Tiểu thừa, cho nên rất được các học giả cận đại nghiên cứu về sự quan hệ giữa Tiểu thừa và Đại thừa xem trọng. Có thuyết cho rằng đức Kỳ quang Như lai xuất hiện ở phương Đông là hóa thân hiện tại của Phật Thi khí ở quá khứ, mà giữa PhậtThi khí và Phạm thiên lại vốn có mối quan hệ mật thiết, cho nên suy luận rằng trong thuyết hiện tại có nhiều Phật của Đại thừa đã bao hàm tư tưởng Phạm thiên. Nhưng thuyết trong Tăng nhất a hàm (Hán dịch) không thấy được nói đến trong kinh điểnPàli Nam truyền. Hơn nữa, trong hội Mật tích Kim cương lực sĩ của kinh Đại bảo tích quyển 10 cũng nói Quang minh vương Như lai xuất hiện ở phương Tây, luận thuyết tuy giống nhau, nhưng không đề cập gì đến Phạm thiên. Bởi thế, nếu chỉ dựa vào kinh Tăng nhất a hàm để suy đoán về mối quan hệ giữa Phật Thi khí đời quá khứ và Kỳ quang Như lai thì chưa thể tin được. [X. Đại thừa Phật giáo sử luận; Mã minh bồ tát luận].

kỳ thệ

(祈誓) Trước hết lập thệ nguyện trong tâm, rồi sau mới cầu xin Thần Phật che chở, giúp đỡ, hoặc chứng cho lời thệ nguyện của mình có linh nghiệm hay không. Người đời sau gọi là trở (nguyện ước).

kỳ thọ

, vườn Jeta Grove Nơi Phật giảng kinh Bát nhã Ba la mật.

kỳ thọ chủ thần

Brahmanaspati (S)Vị thần tạo vũ trũ (trong kinh Phệ đà, Ấn giáo).

kỳ thọ cấp cô độc

Xem Kỳ Đà tinh xá.

Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên

(祇樹給孤獨園): xem Kỳ Hoàn Tinh Xá(p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍) bên trên.

Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên

xem Tinh xá Kỳ-hoàn.

kỳ thọ thái tử

Jeta (S)Kỳ Đà Thái tử. Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi IsigiliNgười dâng cúng vườn cây ở Kỳ Viên cho đức Phật.

kỳ thọ tịnh xá

Jetavana-vihāra (S), Jetavanarama (P), Jetavanna Grove Kỳ hoàn tịnh xá, Kỳ đà lâm, Thệ đa lâm, Kỳ viên tịnh xá, Kỳ thọ Cấp cô độc, Kỳ viên, Kỳ thọ tịnh xáTinh xá trong vườn hoa thái tử Kỳ đà (Jeta), thành Xá vệ (Sravasti), nước Cấu tát la (Kosala)do ông Cấp cô độc mua mà cúng dường đức Phật. Kỳ Đà Lâm Đại phái: tên một bộ phái Phật giáo ở Tích Lan vào thế kỷ IV.

kỳ thụ cấp cô độc viên

(祇樹給孤獨園) Phạm:Jetavana-anàthapiịđasyàràma. Gọi tắt: Kỳ viên, Kỳ thụ, Kỳ viên tinh xá, Kỳ hoàn tinh xá, Kỳ đà lâm, Thệ đa lâm (nghĩa là rừng Tùng, rừng Thắng). Kỳ thụ là gọi tắt rừng cây của thái tử Kỳ đà; Cấp cô độc là tên khác của trưởng giả Tu đạt (Phạm: Sudatta) ở thành Xá vệ, vì ông thường giúp đỡ những người cô độc không nơi nương tựa, nên người đời gọi ông là Cấp cô độc. Vì trưởng giả Tu đạt xây cất tinh xá trong khu rừng của thái tử Kỳ đà rồi cả hai người cùng dâng cúng đức Phật, cho nên gọi là Kỳ thụ cấp cô độc viên. Đất trong khu rừng bằng phẳng, rộng khoảng 80 khoảnh (8.000 mẫu), trong đó có các kiến trúc như: Hương thất (Phạm: Gandha-kuỉi, tương đương với điện Phật ngày nay) ở chính giữa khu vườn, chung quanh có 80 phòng nhỏ, nhà giảng, nhà sưởi, nhà ăn, nhà bếp, nhà tắm, nhà dưỡng bệnh, các phòng xá, ao sen, chỗ đi kinh hành,... Hai bên tinh xá có ao nước trong mát, rừng cây xanh tốt, sum xuê, màu hoa rực rỡ. Vòng ngoài tinh xá có 18 tăng già lam. Còn chính tòa tinh xá vốn là một kiến trúc 7 tầng, nhưng vào thế kỉ thứ VII, khi ngài Huyền trang đến đây tham bái, thì vùng này đã hoang phế. Vị trí tinh xá ước chừng tương đương với khu di tích Tái hách đặc mã hách đặc (Sahet-mahet) còn lại ở bên bờ Nam sông Lạp bố đề (Rapti) hiện nay. [X. kinh Niết bàn Q.29 (bản Bắc); luận Ngũ phần Q.25; điều Thất la phạt tất để quốc trong Đại đường tây vực kí Q.6; Cao tăng Pháp hiển truyện; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. (xt. Cấp Cô Độc Viên).

kỳ tích

(奇迹) Trong Phật giáo, Kỳ tích(dấu vết lạ lùng) được gọi là Thần thông (Phạm: Abhijĩà, Pàli:Abhiĩĩà), Thần biến (Phạm:Fddhi, Pàli: Iddhi). Là sức tinh thần siêu việt, bất khả tư nghị do tu Thiền định mà đạt được. Phật giáo xếp loại thần thông này vào 6 thông, 3 minh. Sáu thông là: Thần túc thông, Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mệnh thông và Lậu tận thông. Trong đó, Thiên nhãn thông, Túc mệnh thông và Lậu tận thông gọi là Tam minh. Trong các đệ tử Phật, vị thần thông bậc nhất là tôn giả Mục kiền liên (Pàli: Mahà-moggallàna). Nhưng trong các thứ thần thông, đức Phật chỉ coi trọng Lậu tận thông. Có lần, tôn giả Thiện túc (Pàli: Sunakkhatta) bày tỏ sự bất bình đối với đức Phật vì Ngài không bao giờ hiển hiện thần thông, đức Phật trả lời rằng: Bất luận có thần thông hay không đều không quan trọng, nhưng điều quan trọng là phải nhận thức rằng giáo pháp mà ta chỉ dạy là để giúp mọi người đạt đến mục đích diệt trừ thống khổ. Thần thông có thể chia làm 3 loại: 1. Thần thông thần biến (Phạm:Fddhipràtihàrya,Pàli:Iddhi-pàỉihàriya). 2. Ký tâm thần biến(Phạm: Adezanapràtihàrya,Pàli:Àdesana-pàỉihàriya). 3. Giáo giới thần biến (Anuzasanapràtihàrya, Pàli: Anusàsanapàỉihàriya). Cứ theo kinh Trường bộ 11 tiếngPàli, thì đức Phật cho rằng Thần thông thần biến và Ký tâm thần biến giống như huyễn hóa (màyà-sahadhamma-rùpam viya), nên cần phải trừ bỏ, chỉ chấp nhận Giáo giới thần biến. Vì Giáo giới thần biến là 1 việc làm đúng với phép tắc và đạo đức, cần phải tinh tiến tu hành thực tiễn mới có thể đạt được. Tóm lại, thần thông chỉ là tác dụng phụ trong quá trình tu hành, như bóng trong gương, trăng dưới nước, không nắm bắt được. Nếu lấy thần thông làm mục đích tu hành, thì chẳng những khó tiến lên cảnh giới giải thoát mà còn thường có nguy cơ rơi vào ma thuật (Phạm:Màyà). (xt. Tam Chủng Thị Đạo, Thị Hiện).

Kỳ Viên

xem Tinh xá Kỳ-hoàn.

kỳ viên

Xem Kỳ Thọ Tịnh xá.

kỳ viên hội

(祇園會) Gọi đủ: Kỳ viên ngự linh hội. Cũng gọi: Lỳ viên tế, Thiên vương tế. Nghi thức cúng tế của Phật giáo Nhật bản. Tức là lễ cúng tế Thiên vương đầu bò để cầu trấn áp thần bệnh dịch và các ác thần tinh mị khác, được cử hành ở viện Kỳ viên cảm ứng, tại Đông sơn, Kinh đô (Kyoto) Nhật bản.

kỳ viên tinh xá

Jetavana Vihāra (S)Tên một ngôi chùa Xem Kỳ Thọ Tịnh xá.

Kỳ viên tinh xá 祇園精舎

[ja] ギオンショウジャ Gionshōja ||| Jetavana Anāthapindada-ārāma, in Śrāvastī. The site of the preaching of the Śrīmālā-sūtra, as well as a number of other of the Buddha's Mahāyāna sermons. One of the early Buddhist monasteries in India. Prince Jeta laid out the grove which was the first permanent center of Buddhism. The Buddha called the monastery Jetavana in honor of the prince, and called the place Anāthapindada in honor of the elder go-between Sudatta (須達), whose nickname Anāthapindada means "he who gives alms to the helpless." Alternate transliterations/translations of the Sanskrit include 祇陀樹林給孤獨園 (Bodhiruci, Paramārtha), 行勝林中無親搏施 (Dharmagupta) and 戰勝林施孤獨園 (I-ching) => (s: Jetavana Anāthapindada-ārāma), Ở thành Śrāvastī. Nơi Đức Phật đã giảng kinh Thắng Man (s: ) cũng như nhiều kinh Đại thừa khác. Là một trong những tu viện Phật giáo đầu tiên ở Ấn Độ. Thài tử Ky-đà (s: ) đã kiến tạo khu rừng thành trú xứ cố định của tăng đoàn Phật giáo. Đức Phật gọi Kỳ viên tinh xá để vinh danh Thái tử, và gọi vườn Cấp Cô Độc ( ) để vinh danh Trưởng giả Tu-đạt (Sudatta 須達), là tên hiệu của Cấp Cô Độc, nghĩa là 'người thường cứu giúp kẻ khác'. Tên gọi khác từ các bản dịch tiếng Sanskrit là Kỳ-đà thọ lâm Cấp Cô Độc viên 祇陀樹林給孤獨園 ( Bồ-đề Lưu-chi –Bodhiruci, Chân Đế–Paramārtha), Hạnh thắng lâm trung Vô thân bác thí行勝林中無親搏施 (Đạt-ma Cấp-đa–Dharmagupta), và Chiến thắng lâm Thí cô độc viên ( Nghĩa tịnh–I-ching)

kỳ viên tự

(祇園寺) I. Kỳ Viên Tự. Chùa ở Nam kinh, tỉnh Giang tô, do tướng quân Phạm thái sáng lập vào niên hiệu Vĩnh sơ năm đầu (420) đời Vũ đế nhà Lưu Tống, để cúng dường cao tăng Tuệ nghĩa. Ngài Tuệ nghĩa hoan hỉ vì lòng tin chí thành thanh tịnh của cư sĩ Phạm thái, nên chỉ dạy các phép tắc, người đương thời thấy tướng quân Phạm thái kính tin Phật pháp giống như trưởng giả Tu đạt thủa xưa nên gọi chùa là Kỳ viên. Chùa là 1 đạo tràng nổi tiếng về dịch kinh hoằng pháp và rất nhiều vị cao tăng thạc học đã từng chú tích nơi đây, như: Ngài Tam tạng Cầu na bạt ma từ nước Kế tân đến Trung quốc vào năm Nguyên gia thứ 7 (430) và phụng sắc chỉ trụ ở chùa này giảng kinh Pháp hoa và Thập địa kinh luận; ngài Đàm ma mật đa ở đây dịch rất nhiều kinh điển. Về sau có các ngài Tăng thuyên, Đạo chiếu,... cũng lần lượt đến trụ chùa này, nghiên cứu kinh điển, hoằng dương giáo pháp, nổi tiếng một thời. Chùa hiện nay đã bị hoang phế. II. Kỳ Viên Tự. Chùa ở phía Đông chùa Hóa thành, núi Cửu hoa, mạn tây nam huyện Thanh dương, tỉnh An huy, Trung quốc, được sáng lập vào khoảng năm Gia tĩnh (1522-1566) đời Minh, tên là Kỳ thụ am, Kỳ viên. Vào đời Thanh, qua nhiều lần trùng tu và mở rộng thêm nên chùa có quy mô rất lớn, đứng đầu các chùa trong toàn núi Cửu hoa. Khoảng năm Gia khánh đời Thanh, ngài Long sơn mở đàn truyền giới ở đây, môn phong ngày càng thịnh, xây dựng thêm điện đường, bèn trở thành tùng lâm thập phương.

kỳ vũ

(祈雨) Cũng gọi Vũ khất, Thỉnh vũ, Khất vũ. Cầu mưa. Pháp tu cầu mưa khi trời hạn hán. Theo kinh Đại vân luân thỉnh vũ và kinh Đại khổng tước chú vương của Mật giáo, thì pháp tu cầu mưa có: Thỉnh vũ pháp, Kỳ vũ pháp, Khất vũ pháp. Nếu tu theo pháp của kinh Thỉnh vũ thì gọi là Thỉnh vũ kinh pháp, thông thường dùng Mạn đồ la của kinh Thỉnh vũ.

kỳ vực

(耆域) I. Kỳ Vực. Tên khác của ông Kỳ bà, một danh y người Ấn độ ở thời đại đức Phật còn tại thế. (xt. Kỳ Bà). II. Kỳ Vực. Cao tăng Ấn độ đến Trung quốc vào thời Tây Tấn. Ngài rất giỏi về Mật chú, vào năm cuối đời Huệ đế nhà Tấn, ngài đến Lã dương, lúc ấy gặp quan thái thú Đằng vĩnh văn ở Hoành dương, bị bệnh nên đến chùa Mãn thủy để chữa, nhưng mãi không khỏi, đến nỗi hai chân co rút lại, không đi được. Ngài đến thăm, dùng cành dương liễu rảy tịnh thủy, rồi xoa bóp hai chân, Đằng vĩnh văn liền khỏi bệnh. Ngài còn tùy bệnh cho thuốc hoặc chú nguyện để chữa trị, hoặc làm cho cây khô sống lại... và nhiều việc linh dị khác không thể kể hết. Sau ngài trở về Tây vực, không biết tịch lúc nào. [X. Lương cao tăng truyện Q.9; Pháp uyển châu lâm Q.61].

kỳ xà lục tông

(耆闍六宗) Sáu tông do pháp sư An lẫm chùa Kỳ xà phán định vào đời Trần thuộc Nam triều để phân biệt và giải thích giáo pháp của đức Phật. 1. Nhân duyên tông: Chỉ cho Tát bà đa bộ của Tiểu thừa. 2. Giả danh tông: Chỉ cho Kinh bộ của Tiểu thừa. 3. Bất chân tông: Chỉ chung cho các kinh Đại thừa nói về lí các pháp như huyễn như hóa. 4. Chân tông: Nói về lí chân không của các pháp. 5. Thường tông: Nói về chân lí thường hằng và đầy đủ hằng sa công đức. 6. Viên tông: Chỉ cho pháp môn Hoa nghiêm, pháp giới tự tại, duyên khởi vô ngại, đức dụng tròn đủ. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10 thượng].

kỳ xà quật

Gṛdhrakuta (S)Tên một ngọn núi gần thành Vương xá nước Ma kiệt đà, gọi là Linh thứu Sơn, nơi Phật giảng Diệu Pháp Liên Hoa Kinh và nhiều Kinh khác.

kỳ xà quật sơn

Xem Linh thứu sơn. ; (耆闍崛山) Phạm:Gfdhrakùỉa. Pàli:Gijjha-kùỉa. Cũng gọi là Kỳ xà đa sơn, Quật sơn. Hán dịch: Linh thứu sơn, Thứu đầu, Linh sơn. Núi ở phía đông bắc thành Vương xá, thủ đô nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, là nơi đức Phật thường thuyết pháp rất nổi tiếng. Về nguyên do tên nước, có thuyết cho rằng vì đỉnh núi có hình giống con chim Thứu, lại có thuyết cho rằng vì trên đỉnh núi có rất nhiều chim Thứu đến đậu, nên gọi như thế. Chữ Phạm Gfdhra nguyên nghĩa là kẻ tham ăn, sau được dùng để chỉ cho chim Thứu. Loài chim này cánh hơi đen, đầu có mầu tro, ít lông, thích ăn xác chết, đậu nơi rừng hoang. Nhà khảo cổ học người Anh là ông A. Cunningham căn cứ vào những ghi chép trong Đại đường tây vực kí và Cao tăng Pháp hiển truyện mà đoán định vị trí núi này nằm ở Tái lạp cát lí(Saila-giri) phía đông nam Lạp tra cơ nhĩ (Rajgir) thuộc Tiểu bang Bối cáp nhĩ (Behar). Theo sự khảo sát thời gần đây cho biết, thì ở giữa khoảng thành Vương xá mới và thành Vương xá cũ có một dãy núi chạy dài theo hướng đông, phía bắc dãy núi này có một ngọn núi cao vút hơn nghìn thước, ở lưng chừng mặt nam ngọn núi này có một khoảng đất rộng độ 224 mét, trên đó có một cái nền nham thạch gọi là Tra tháp cát lí (Chata-giri), đây chính là núi Kỳ xà quật, nơi mà đức Phật đã nhiều lần diễn nói diệu pháp. Vua Tần bà sa la (Phạm: Bimbisàra) nước Ma yết đà, sống đồng thời với đức Phật, vì muốn nghe đức Phật nói pháp nên ông đã thực hiện một công trình to lớn, làm con đường từ sườn núi lên đến đỉnh núi, lấp các hang hốc, xếp đá làm thành bậc, rộng hơn 10 bước, dài khoảng 3 cây số, đi lại rất dễ dàng. Trên đỉnh núi có một cái đài mà thủa xưa đức Phật ngồi để thuyết pháp, nhưng đến nay chỉ còn nền móng tường gạch màu hồng. Ngoài ra, còn có nhiều di tích, như chỗ ông Đề bà đạt đa lăn đá hại Phật, thạch thất, là nơi đức Phật và ngài Xá lợi phất cùng các vị Thanh văn nhập định, nơi ngài A nan bị ma vương sách nhiễu, nơi đức Phật tuyên thuyết kinh Pháp hoa, kinh Đại phẩm bát nhã, kinh Kim quang minh tối thắng vương, kinh Vô lượng thọ ... [X. luận Đại trí độ Q.3; Đại đường tây vực kí Q.9; Pháp hoa kinh văn cú Q.1 thượng; Huyền ứng âm nghĩa Q.6].

kỳ đa lâm tự phái

(kỳ đa lâm tự phái ) Pàli:Jetavanàràma. Cũng gọi Kỳ viên tự phái (Pàli: Jetavana). Một trong những bộ phái Phật giáo Đại thừa có sớm nhất tại Tích lan. Ngưới sáng lập ra bộ phái này là Trưởng lão Tát ca lợi (Pàli:Sàgalithera, dịch là Hải), tin thờ giáo nghĩa của Đại thừa Phương đẳng bộ. Vì lấy chùa Kỳ đa lâm do vua Ma ha tư na (Pàli: Mahàsena, ở ngôi 334-362) dâng cúng làm trung tâm, cho nên có tên gọi như trên. Ngoài ra, tên vị Trưởng lão sáng lập phái này được dịch là Hải, nên cũng gọi là Hải phái, Hải bộ (Pàli:Sàgaliya). Phái này vốn từ phái Vô úy sơn tự tách riêng ra vào giữa thế kỉ IV, đến năm 1165, bị vua Ba lạc la ma bà ha đời thứ I (Pàli: ParakkamabàhuI) cấm chỉ nên đã rơi vào tình huống suy đồi.

kỳ đa mật

(祇多蜜) Phạm: Gìtamitra. Cũng gọi: Cát đa mật, Kỳ mật đa. Hán dịch: Ha hữu, Ca hữu. Nhà dịch kinh người Tây vực, đến Trung quốc vào đời Đông Tấn. Ngài bản tinh thông minh, am hiểu nội điển, chuyên tâm vào việc hoằng hóa, có chí viễn du. Ngài dịch các kinh: Kinh Bồ tát thập trụ, kinh Bảo Như lai tam muội, ... Về số lượng kinh do ngài dịch, theo Xuất tam tạng kí tập quyển 2 chỉ ghi có 1 bộ 1 quyển, còn Khai nguyên thích giáo lục thì ghi những 23 bộ 45 quyển. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.7; Đại đường nội điển lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.5].

kỳ đà lâm

Xem Kỳ Đà tinh xá.

kỳ đà thái tử

Xem Kỳ Thọ Thái tử. ; (祇陀太子) Phạm,Pàli:Jeta. Cũng gọi Kỳ đa thái tử, Thệ đa thái tử, Chế đa thái tử. Hán dịch: Thắng thái tử, Chiến thắng thái tử. Hoàng thái tử con vua Ba tư nặc (Phạm: Prasenajit) nước Xá vệ (Phạm:Sràvasti), Trung Ấn độ. Thái tử là người dâng cúng rừng cây ở Kỳ viên cho đức Phật, là nơi trưởng giả Tu đạt đã kiến lập tinh xá Kỳ viên rất nổi tiếng. Về sau, Thái tử bị vua Tì lưu li (Phạm: Virùđhaka), là em khác mẹ, giết chết. [X. kinh Giáo hóa bệnh trong Trung a hàm Q.28; kinh Tăng nhất a hàm Q.26; kinh Pháp cú thí dụ Q.1].

kỳ đà tự

Gida-ji (J)Tên một ngôi chùa.

Kỳ Đà Đại Trí

(祇陀大智, Gida Daichi, 1290-1366): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, xuất thân Trường Khi (長崎, Nagasaki), Vũ Thổ Quận (宇土郡, Udo-gun), Phì Hậu (肥後, Higo), biệt danh là Tổ Kế (祖繼, tuy nhiên cũng có thuyết cho rằng đây là nhân vật khác), sinh vào năm thứ 3 (1290) niên hiệu Chánh Ứng (正應). Năm lên 7 tuổi, ông xuống tóc xuất gia với Hàn Nham Nghĩa Duẫn (寒巖義尹) ở Đại Từ Tự (大慈寺, Daiji-ji), và được thầy đặt cho tên là Tiểu Trí (小智), nhưng ông lại tự đổi thành Đại Trí (大智). Sau khi Hàn Nham qua đời, ông đến tham học với Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明), Thích Vận (釋運), v.v. ở Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), rồi lại chuyển đến làm môn hạ của Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾) ở Đại Thừa Tự (大乘寺, Daishō-ji) vùng Gia Hạ (加賀, Kaga, thuộc Ishikawa-ken [石川縣]). Nỗ lực tu tập trong vòng 7 năm, ông lãnh hội được yếu chỉ của thầy. Đến năm thứ 4 (1311) niên hiệu Diên Khánh (延慶), ông lại đến tham yết Đông Minh Huệ Nhật (東明慧日) khi vị này ở tại Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) vùng Tương Mô (相模, Sagami). Sau đó, ông sang Trung Quốc, tham học với một số vị tôn túc khác như Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂), Vân Ngoại Vân Tụ (雲外雲岫), Trung Phong Minh Bổn (中峰明本), Vô Kiến Tiên Đỗ (無見先覩), v.v. Khi hồi hương, theo chiếu chỉ của vua Anh Tông, ông được đưa về nước bằng thuyền Trung Quốc. Nhân đó, ông làm bài kệ “vạn lý Bắc triều tuyên ngọc chiếu, Tam Sơn Đông Hải tống quy thuyền, hoàng ân chí hậu tương hà báo, nhất chú tâm hương chúc vạn niên (萬里北傳宣玉詔、三山東海送歸船、皇恩至厚將何報、一炷心香祝萬年, ngàn dặm Bắc triều tuyên chiếu ngọc, Tam Sơn Đông Hải tiễn thuyền về, ơn vua quá nặng làm sao đáp, một nén hương lòng chúc vạn năm)” để bái tạ thâm ân của nhà vua. Khi về nước, ông liền đến tham yết Oánh Sơn ngay, và cuối cùng trở thành pháp từ của Trung Phong Tố Triết (中峰素哲). Về sau, ông làm ngôi thảo am ở Làng Cát Dã (吉野郷), vùng Gia Hạ, không bao lâu thì trở thành ngôi phạm vũ với tên gọi là Sư Tử Sơn Kỳ Đà Tự (獅子山祇陀寺). Đến cuối đời, ông trở về vùng Phì Hậu (肥後, Higo, thuộc Kumamoto-ken [熊本縣]), sống tại Phụng Nghi Sơn Thánh Hộ Tự (鳳儀山聖護寺). Đến ngày mồng 10 tháng 12 năm thứ 21 (1366) niên hiệu Chánh Bình (正平, tức năm thứ 5 niên hiệu Trinh Trị [貞治]), ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi. Ông có để lại tác phẩm Đại Trí Thiền Sư Kệ Tụng (大智禪師偈頌) 1 quyển.

kỳ đảo

(祈禱) Cũng gọi Kỳ nguyện, Kỳ niệm, Kỳ thỉnh, Tâm nguyện. Cầu xin chư Phật, Bồ tát thầm gia hộ để tránh khỏi tai nạn tăng thêm phúc đức. Ở Ấn độ, bắt đầu từ thời đại Phệ đà, việc dùng chú thuật để cầu nguyện tiêu trừ tai ách, chữa khỏi tật bệnh đã rất thịnh hành. Tại Trung quốc từ xưa cũng có phong tục cầu xin Thiên thần, Địa kì phù hộ. Phật giáo tuy không thực hành pháp này, nhưng tư tưởng thệ nguyện, bản nguyện và công đức dựng tháp, tụng kinh, hồi hướng,... đều có ý nghĩa tương tự, vì có cầu xin Phật lực gia hộ mới có các thuyết công đức và thuyết tiêu tai. Khoảng năm Thái khang đời Tây Tấn, ngài Trúc pháp hộ dịch kinh Hải long vương; về sau, các ngài Tăng già bà la, Huyền trang, Thực xoa nan đà, Bồ đề lưu chí,... nối tiếp nhau phiên dịch các kinh Mật giáo, thì việc trì chú, cầu nguyện dần dần hưng thịnh. Thời Đường Thái tông, vua ban sắc lệnh cho sa môn ở kinh thành vào tháng giêng, tháng 7 mỗi năm thì làm lễ cầu nguyện cho vụ lúa thu, vào ngày 27 hàng tháng thì tổ chức tụng kinh Nhân vương để cầu nguyện cho quốc thái dân an. Đến đây thì khắp trong nước từ vua quan đến dân chúng càng coi trọng pháp cầu nguyện. Từ đời Tống trở đi thì pháp cầu nguyện lại càng thịnh hành với các pháp tu cầu mưa, cầu tạnh, cầu tuyết, cầu trừ bệnh dịch, cầu nhật thực, nguyệt thực,... với quy mô lớn. Hơn nữa, sự cầu nguyện trong Mật giáo lấy Tam mật (thân, miệng, ý)tương ứng với Bản tôn làm pháp yếu, nghĩa là khi cầu nguyện thì miệng tụng chân ngôn của chư Tôn, tay kết ấn khế, tâm lóng lặng quán Du kỳ. Pháp tu này khiến cho hành giả được mãn nguyện và thích hợp cho đủ loại tai biến. [X. Tống cao tăng truyện Q.1; Đại đường tây vực kí Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.52; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].

kỳ đảo bích

(祈禱壁) Tấm bản gỗ có khắc 6 chữ chân ngôn Án ma ni bát di hồng treo trên vách (bích) để tiện việc niệm tụng cầu nguyện. Đây là pháp khí của chư tăng Tây tạng sử dụng khi cầu nguyện.

kỳ đảo chủ

(祈禱主) Phạm: Bfhaspati, Brahmaịaspati. Vị thần trừu tượng được Bà la môn giáo sùng bái. Lê câu phệ đà bảo rằng vị thần này là con của người tiên, hoặc là thần cách hóa của đàn tế lễ, nếu không có vị Kỳ đảo chủ này, thì việc cúng tế không thể thành công. Hình tượng vị thần này đầu có sừng nhọn, tay cầm búa sắt và cung, ngồi trên xe Trật tự (rta) đại chiến với La sát. Vị thần này có quan hệ mật thiết với Nhân đà la. Đến thời đại Vãng thế thư (Phạm:Puràịa, tức Thánh điển Phú lan đa, được soạn thành từ khoảng thế kỉ I đến thế kỉ X tr. TL), vị thần này chỉ có liên quan đến việc cúng tế mà thôi. Về sau, trong Ấn độ giáo, vị thần này trở thành thần Mộc tinh ngồi xe vàng 8 ngựa.

Kỳ đặc pháp 奇特法

[ja] キドクホウ kidokuhō ||| Never before experienced; unprecedented (adbhuta); see 未曾有. 〔華嚴經 T 278.9.441a10〕 (s: kidokuhō) => Điều chưa từng trải qua, chưa từng xảy ra (s: adbhuta); xem Vị tằng hữu 未曾有.

kỳ đặc phật đỉnh kinh

(奇特佛頂經) Cũng gọi Kỳ đặc kinh, Nhất tự kỳ đặc Phật đính kinh. Kinh, 3 quyển, do ngài Bất không (705 – 774) dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này nói về pháp tu của ngài Minh vương Nhất tự kỳ đặc Phật đính; uy lực của vị Minh vương này rất lớn, có thể chế phục các pháp tu khác. Kinh này lấy việc xua đuổi kẻ gây chướng ngại là Tì na dạ ca để thỏa mãn ý nguyện của người tu pháp làm chủ đề. Kinh này ở khoảng giữa thuần Mật giáo và tạp bộ Mật giáo, là pháp tu của người tại gia, đặc biệt thích hợp cho hàng vua chúa quí tộc.

kỳ đặc tối thắng kim luân phật đỉnh niệm tụng nghi quỹ pháp yếu

(奇特最勝金輪佛頂念誦儀軌法要) Nghi quĩ, 1 quyển, không rõ dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung nói về pháp tu của Nhất tự đính luân vương. Thứ tự của pháp tu này như sau: Tắm gội, Phật bộ tâm, Liên hoa bộ tâm, Kim cương bộ tâm, Giáp trụ hộ thân, Biệt sự, Át già, Phổ cúng dường, Tán, Phật nhãn, Bản tôn căn bản ấn minh, Đại từ phổ hộ, Chính niệm tụng,... Ở cuối quyển có phụ thêm Thủy đàn pháp.

Kỳ 祈

[ja] キ ki ||| To pray, to beseech, to request. => 1. Cầu nguyện, cầu khẩn, thỉnh cầu.

Kỳ-bà

phiên âm từ Phạn ngữ là Jỵvaka, cũng đọc là Kỳ-vực, Kỳ-bà-già, là lương y nổi danh đương thời. Theo Phật thuyết Nại nữ Kỳ-bà kinh (Đại Chánh tạng quyển 12, kinh số 554) do ngài An Thế Cao dịch vào thời Hậu Hán thì Kỳ-bà là anh trai cùng cha khác mẹ với vua A-xà-thế, là con (không chính thức) của vua Tần-bà-sa-la (Bình Sa vương) với một người kỹ nữ. Ông theo học y thuật tinh thông, thường trị bệnh cho chúng tăng và là người am hiểu cũng như chí thành tin sâu Phật pháp.

Kỳ-bà 耆婆

[ja] キバ kiba ||| Jivaka. A famous physician of ancient India. 〔涅槃經 T 374.12〕 => Jivaka (s); Y sĩ nổi danh thời cổ Ấn Độ.

Kỳ-bà-già

xem Kỳ-bà.

Kỳ-dạ

phiên âm từ Phạn ngữ là Geya, dịch nghĩa là trùng tụng, ứng tụng. Sau khi Phật thuyết giảng phần Khế kinh xong thì dùng những kệ tụng này để trùng tuyên, nói lại những nghĩa đã thuyết giảng, nên gọi là Trùng tụng. Xem thêm Mười hai bộ kinh.

Kỳ-vực

xem Kỳ-bà.

Kỳ-xà-quật sơn 耆闍崛山

[ja] ギシャクッセン Gishakussen ||| Gṛdhrakūṭa mountain near Rājagraha in Central India. Its name literally means "Vulture Peak." It is the reputed site of many of Śākyamuni's lectures. Also translated as 靈鷲山. 〔法華經 T 262.9.45b18〕 =>Kisagulsan (k); Gishakussen (j); Gṛdhrakūṭa (s); Núi Kỳ-xà-quật, gần thành Vương Xá, vùng Trung Ấn Độ. Có nghĩa là 'Đỉnh chim kên kên'. Địa danh được biết đến do Đức Phật đã giảng pháp nhiều lần ở đó. Còn được dịch là Linh thứu sơn 靈鷲山.

Kỳ-đà thái tử 祇陀太子

[ja] ギタタイシ Gita taishi ||| Also written 祇多太子. Prince Jeta, the son of King Prasenajit, both of whom were devout followers of Śākyamuni. Jeta, together with Sudatta 須達, provided the land for one of the earliest Buddhist temples. => Còn viết Kỳ-đa thái tử祇多太子. Là con của vua Ba-tư-nặc, cả 2 cha con đều là đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Thái tử Kỳ-đà cung với Trưởng giả Tu-đạt, đã cúng dường đất để xây dựng một tu viện Phật giáo sớm nhất.

kỵ lư mịch lư

(騎驢覓驢) ........... Cỡi lừa tìm lừa. Đồng nghĩa với Kỵ ngưu mịch ngưu (cỡi trâu tìm trâu). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ví dụ người phàm phu không thấy được tính Phật nơi tâm mình, cứ rong ruổi tìm cầu bên ngoài, giống như người cỡi lừa đi tìm lừa, không biết rằng con lừa mình đang cỡi chính là con lừa mình muốn tìm. [X. Tắc 75 Thung dung lục, Thông huyền sao].

kỵ nguyệt

(忌月) I. Kỵ Nguyệt. Chỉ cho 3 tháng trường trai là tháng giêng, tháng 5 và tháng 9. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 88, thì trong 3 tháng này, trời Đế thích và Tứ thiên vương... thường xem xét thiện ác của nhân gian, bởi thế người đời phải giữ giới làm lành, không ăn sau giờ ngọ. [X. kinh Phạm võng Q.hạ; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 4]. (xt. Tam Trường Trai Nguyệt). II. Kỵ Nguyệt. Tục gọi: Tường nguyệt. Chỉ cho tháng có ngày giỗ (kỵ). (xt. Tường Nguyệt).

kỵ ngưu quy gia

(騎牛歸家) Cõi trâu về nhà. Ví dụ người đã giác ngộ trở về với bản lai diện mục của chính mình, giống như mục đồng cỡi trâu về nhà. Đây là tên của bài tụng thứ 6 trong 10 bài tụng đề bức tranh Chăn trâu do ngài Khuếch am soạn, đã nói lên cái phong thái thung dung của người đạt đạo. Tụng rằng (Vạn tục 113, 460 thượng): Cỡi trâu lững thững trở về nhà, Tiếng địch chiều thu tiễn ráng xa Bát ngát bốn bề hương trầm tỏa Tri âm nào biết cõi lòng ta.

kỵ nhật

(忌日) Cũng gọi là Húy nhật, Mệnh nhật, Kỵ thần, Húy thần. Ngày tưởng nhớ người đã qua đời, tức ngày giỗ, ngày kị. Vào ngày này, thân nhân thường tránh các cuộc vui chơi, mà tổ chức pháp hội để tụng kinh làm những việc phúc thiện như bố thí, phóng sinh để cầu cho chân linh của người quá cố được siêu thoát. Ngày kị 1 tháng sau khi người chết gọi là Nguyệt nghị; sau 35 ngày gọi là Tiểu luyện kị; 49 ngày gọi là Đại luyện kị; ngày kị đúng tháng người chết hàng năm gọi là Chính kị, hoặc gọi là Tường nguyệt, Tường nguyệt mệnh nhật; ngày hôm trước của ngày Chính kị gọi là Túc kị; ngày Chính kị tròn một năm gọi là Tiểu tường kị; Nhất chu kị. Ngày chính kị tròn 2 năm gọi là Đại tường kị, Tam hồi kị. Ngoài ra, mỗi 7 ngày đặt trai hội, đến 49 ngày gọi là Trung ấm pháp yếu, đủ 100 ngày thiết trai hội gọi là Bách nhật. Nghi thức thiết trai tụng kinh vào ngày kị đã có từ thời xưa, trong kinh Phật ghi chép nhiều về pháp hội này. Như kinh Phạm võng quyển hạ nói, khi cha mẹ, anh em, Hòa thượng, A xà lê chết, trong vòng 21 ngày đến 49 ngày nên đọc tụng kinh luật Đại thừa. Danh từ Tiểu tường, Đại tường đã được ghi trong sách Lễ kí. Bởi vì Bách nhật và Đại, Tiểu tường kị, v.v... đều được Thiền gia mượn từ nghi lễ tang chế của Nho gia. Chẳng hạn như Đạt ma kị, Bách trượng kị, v.v... cũng có nghĩa là Kị nhật... [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.33; Thích môn chính thống Q.4; Thích thị yếu lãm Q.hạ; Truyền pháp chính tông kí Q.5; điều Bách trượng kị trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Lễ ký lễ vấn truyện; Tề vương kỉ trong Ngụy chí Q.4; Hoàn huyền truyện trong Tấn thư liệt truyện thứ 69; Tăng đường thanh qui Q.4].

kỷ chứng

(己證) Cũng gọi là Tự chứng. Kiến giải hoặc cảnh giới mà mình tự chứng được và người khác khó có thể biết, pháp được mở bày từ kiến giải tự chứng này, gọi là Kỷ chứng pháp môn. Chỉ quán phụ hành quyền hoằng quyết quyển 3 phần 2 (Đại 46, 225 hạ), nói: Năm trăm vị tỉ kheo đều nói đúng chính pháp, mỗi vị đều nói lời tự chứng, lời nào cũng thuận theo ý mình. Luận Thành thực quyển 1 (Đại 32, 244 trung), nói: Phật pháp có thể tự chứng biết, nhưng không thể đem diều tự chứng biết ấy truyền cho người khác. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5 phần trên]. (xt. Nội Chứng, Tự Chứng).

kỷ cương

(紀綱) I. Kỷ Cương. Cũng gọi Giám tự, Chấp sự. Chức vụ của vị tăng có trách nhiệm trông nom, xem xét tất cả các việc trong chùa. Phòng liêu của vị này gọi là liêu Kỷ cương. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. II. Kỷ Cương. Giềng mối, tức chức vụ của vị tăng nắm giữ kỷ cương, phép tắc trong tùng lâm. Là 1 trong tam cương. Ngoài ra, Kỷ cương còn là tên gọi khác của vị Duy na, cho nên liêu phòng của Duy na cũng gọi là liêu Kỷ cương. [X. môn điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên].

kỷ dã nhất nghĩa

(紀野一義) (1922 - ) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Sơn khẩu. Năm 1948, ông tốt nghiệp môn Triết học Ấn độ tại Đại học Văn khoa Đông kinh. Ông từng giữ chức Tổng cán sự của hội Chân như, giáo sư Đại học Bảo tiên học viện. Ông được tặng bằng khen về việc truyền bá văn hóa Phật giáo. Ông có các tác phẩm: Pháp hoa kinh chi thám cầu, Đại thừa Phật giáo chi luân lí. Ngoài ra, ông còn dịch và chú thích Bát nhã tâm kinh, Kim cương bát nhã kinh và 3 bộ kinh Tịnh độ.

kỷ giới

(己界) I. Kỷ Giới. Đối lại với Chúng sinh giới. Chỉ cho Phật giới. Nghĩa là đối với chúng sinh, chư Phật cho mình là Kỷ giới. Đây là lời nói phương tiện tạm đặt ra để phân biệt giữa pháp nhiễm ô phiền não sinh tử của chúng sinh với pháp thanh tịnh giải thoát Niết bàn của chư Phật. II. Kỷ Giới. Chỉ cho tâm pháp. Kỷ giới cùng với pháp giới, chúng sinh giới hợp thành 3 pháp, hiển bày ý nghĩa Sinh(chúng sinh), Phật(chư Phật) là nhất như, bình đẳng không sai biệt. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao quyển 1 (Đại 37, 201 thượng), nói: Kỷ giới, pháp giới và chúng sinh giới bình đẳng. Kỷ giới tức là tâm pháp, pháp giới tức là Phật pháp, vì Phật lấy pháp giới làm thể cho nên đối với chúng sinh giới thành tựu 3 pháp. Tâm và chúng sinh ở tại nhân, còn Phật pháp ở tại quả, cả 3 không sai khác nên gọi là Nhất giới vô sai biệt giới(chỉ có 1 giới duy nhất không có giới nào khác).

Kỷ Hoà 己和

[ja] キワ Kiwa ||| Kihwa; the posthumous name of the Chosŏn dynasty Korean monk Hamhŏ Tŭkt'ong 涵虚得通. => (k: Kihwa); thuỵ hiệu của Hàm Hư Đắc Thông (k: Hamhŏ Tŭkt'ong 涵虚得通) Tăng sĩ vào thời kỳ đầu của Phật giáo Triều Tiên.

kỷ hành

(紀行) Những đoạn kinh hoặc đoạn văn ghi chép về quá trình đi tham vấn, học đạo. Như trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 27, đoạn ghi chép về cuộc hành trình của bồ tát Thường đề đến thành Chúng hương ở phương đông để cầu pháp Bát nhã ba la mật; phẩm Nhập pháp giới trong kinhHoa nghiêm đoạn nói về cuộc du hành của đồng tử Thiện tài đi tham vấn 53 vị thiện tri thức; bộ Phật quốc kí (Cao tăng Pháp hiển truyện) của ngài Pháp hiển, Sứ Tây vực ký của ngài Huệ sinh đời Bắc Ngụy, Nhập trúc kí của ngài Ngộ không đời Đường... đều thuộc về loại Kỷ hành.

kỷ tâm di đà

(己心彌陀) Cũng gọi Kỷ tâm tịnh độ, Tự tính di đà, Duy tâm di đà. Nghĩa là đức Phật A di đà và cõi Tịnh độ cực lạc của Ngài ở ngay trong tâm mình. Kinh Pháp bảo đàn (Đại 48, 352 trang) nói: Muốn làm Phật thì hướng vào tâm, chứ đừng tìm cầu bên ngoài. Đây là căn cứ vào lí Vạn pháp duy tâm, thập giới hỗ cụ để quán xét tâm mình mà hiển hiện được tự tính Di đà. Thông thường, nhóm từ này được dùng liền với Duy tâm Tịnh độ tức là: Kỷ tâm Di đà, duy tâm Tịnh độ(tâm mình là Di đà, chỉ có tâm là Tịnh độ). Đây là yếu lí mà các tông Thánh đạo như Thiên thai, Hoa nghiêm, Mật tông, Thiền tông... thường bàn luận. Nhưng quan điểm của Tịnh độ tông thì khác, đặt nặng về sự mà chủ trương Tịnh độ ở ngoài tâm. [X. Quán vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao Q.1; Tông kính lục Q.29]. (xt. Duy Tâm Tịnh Độ).

kỷ tâm pháp môn

(己心法門) Pháp môn tu chứng trong tâm mình. Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên (Đại 46, 1 trung), nói: Pháp Chỉ quán này là pháp môn tu hành trong tâm mình do ngài Thiên thai Trí giả nói ra. Pháp môn mà chính mình thực sự cảm nhận được, thực sự chứng được nơi tâm mình, gọi là Kỷ tâm trung sở hành pháp môn.

kỷ đà ba đồ

Xem Hỷ Tiếu thiên

Kỷ 己

[ja] コ ki ||| (1) Self, personal, private. I, me. => 1. Bản thân nình, riêng, cái tôi. Tôi, của tôi

Kỷ 幾

[ja] キ ki ||| (1) How many, how much, how long, however. (2) A particular case, an individual situation, especially in the Chan sect. Synonymous with 機 (ji). (3) Somewhat, partly, to some extent, in some way. Almost, nearly, about. (4) In compliance with; concomitant with. (5) Subtle, recondite, hidden. => 1. Bao nhiêu, bao lâu, bằng cách nào. . . mà. 2. Trường hợp cá biệt, tình trạng độc đáo, đặc biệt là trong Thiền tông. Đồng nghĩa với Cơ (c: ji機 ). 3. Hơi có phần, đến chừng mực nào đó, chừng mực nào đó, cách nào đó. Hầu như , gần như, khoảng chừng. 4. Sự làm đúng theo, cùng xảy ra. 5. Vi tế, bí hiểm, ẩn mật.

kỹ nghệ thiên

(伎藝天) Cũng gọi là Kỹ nghệ thiên nữ. Vị Thiên nữ hóa thân từ chân tóc của trời Đại tự tại. Thiên nữ này giỏi về kỹ nghệ, hình tướng xinh đẹp, mặc áo trời, trang sức chuỗi ngọc anh lạc, 2 cổ tay đều đeo vòng xuyến, tay trái cầm 1 lẵng đầy hoa, tay phải đưa xuống làm như dáng nâng áo. Nếu người muốn cầu phúc đức thì phải tu pháp kỹ nghệ thiên nữ. Tại Nhật bản, từ xưa đến nay phần nhiều những người theo kỹ nghệ đều thờ cúng vị Thiên nữ này. Tượng Kỹ nghệ thiên ở chùa Thu tiểu tại Nhật bản, phần đầu được khắc vào thời đại Thiên bình, còn phần thân thì do Vận khánh làm vào thời Liêm thương. [X. Đồ tượng sao Q.9; Kỹ nghệ thiên nữ niệm tụng pháp].

kỹ nhạc

(伎樂) I. Kỹ Nhạc. Phạm:Vùdya. Âm nhạc. Kinh Thiệnsinh trong Trường a hàm quyển 11 cho rằng Kỹ nhạc có 6 điều lỗi, đó là: Cầu ca(thích hát), cầu vũ(ham múa), cầu cầm sắt(ưa gảy đàn), ba nội ti, đa la bàn, thủ ha na. Nhưng phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa quyển 1 và kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì nói: Đem hương hoa, kỹ nhạc cúng dường. Như vậy, nếu kỹ nhạc được dùng với mục đích vui chơi giải trí, thì bị cấm chỉ, nhưng nếu dùng vào việc cúng dường thì được phép. [X. Đại đường tây vực kí Q.1]. II. Kỹ Nhạc. Cũng gọi Ngô nhạc. Một thứ nhã nhạc của Nhật bản. Vào thời đại Tam quốc, loại nhạc này từ nước Ngô được truyền qua Triều tiên rồi vào Nhật bản, vì thế gọi là Ngô nhạc. [X. Nhật bản thư kỉ Q.22, 29; Thánh đức thái tử truyện lịch Q.hạ]

la

6919悉曇字???(la)。悉曇五十字門之一,四十二字門之一。又作羅、攞、囉、砢、呵。大品般若經卷五廣乘品、佛本行集經卷十一習學技藝品等經,以梵語 latā(枝)之語首有邏字,故均以邏字為愛支之義,即唱邏字時,斷一切生死愛枝之纏繞。華嚴經四十二字觀門亦舉出,若稱攞字時,入無垢般若波羅蜜門,悟一切法,出世間,愛支因緣永不現。又大智度論卷四十八解大品般若經載,以梵語 laghu(音譯邏求,輕之義)之語首有邏字,故轉釋作輕之義,即聞邏字時,知一切法離輕重之相。又瑜伽金剛頂經釋字母品、大日經卷二具緣品等則以梵語 lakṣaṇa(音譯邏吃灑,形相之義)之語首有邏字,而謂邏字為相之義,即邏字門為一切諸法、一切相不可得。 此外,依南本大般涅槃經卷八文字品謂,羅者名聲聞乘,動轉不住,大乘安固,無有傾動;捨離聲聞乘,而精勤修習無上大乘之法。〔光讚般若經卷七觀品、文殊師利問經卷上字母品、大日經疏卷七〕(參閱「悉曇五十字門」4573) ; 6891梵語 ḷa。悉曇五十字門之一。悉曇字缺。又作羅、 ; 6890悉曇字???(ra)。悉曇五十字門之一,四十二字門之一。又作羅、洛、喇。據瑜伽金剛頂經釋字母品載,為一切法離諸塵染之義;據大品般若經卷五廣乘品載,為一切法離垢之義;據大智度論卷四十八載,為隨義知一切法離垢相,羅闍,秦言垢。 大日經疏卷七(大三九‧六五五上):「囉字門,一切諸法離一切塵染故者。梵云囉逝,是塵染義,塵是妄情所行處,故說眼等六情行色等六塵。若見囉字門,則知一切可見聞觸知法,皆是塵相,猶如淨衣為塵垢所染,亦如遊塵紛動,使太虛昏濁、日月不明,是為字相。」 此外,依南本大般涅槃經卷八文字品謂,囉能壞貪欲、瞋恚、愚癡三毒,而說真實之法;依方廣大莊嚴經卷四示書品謂,為厭離生死、欣第一義諦聲。〔放光般若經卷四、文殊師利問經卷上字母品〕 ; A net (for catching birds), gauze, openwork; sieve; to arrange in order. ; 1) Lưới bắt chim: A net for catching birds. 2) Sắp xếp theo thứ tự: To arrange in order. a) Nam La: Lara, Lata, or Lada (skt)—in Gujarat. b) Bắc La: Lara or Valabhi (skt)—On the western coast of Gujarat. 3) Chủng tử “Vô Úy Thí”: The seed of giving of “fearlessness.” 4) Bàn chuyện: To chatter. ; (邏) Cũng gọi Ha. Là chữ (la) trong 50 hoặc 42 chữ cái của tự mẫu Tất đàm. Phẩm Quảng thừa trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 và phẩm Học tập kĩ nghệ trong kinh Phật Bản Hạnh Tập quyển 11, cho rằng chữ La trong tiếng Phạm latà có nghĩa là ái (yêu thương); khi hành giả Chân ngôn đọc chữ La này có thể dứt tất cả sự trói buộc của ân ái sinh tử. Tứ thập nhị tự quán môn trong kinh Hoa nghiêm cũng nói, khi xướng chữ La thì vào cửa Bát Nhã Ba La Mật thanh tịnh, giác ngộ tất cả pháp, ra khỏi thế gian, nhân duyên ái nhiễm không còn hiện khởi. Luận Đại trí độ quyển 48, giải thích chữ La trong tiếng Phạm Laghu nghĩa là khinh (nhẹ); tức là khi nghe chữ La thì biết tất cả pháp xa lìa tướng khinh trọng. Còn phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du Già Kim Cương Quán Đính và phẩm Cụ duyên trong kinh Đại Nhật quyển 2, thì cho rằng chữ La trong tiếng Phạm Laksana có nghĩa là hình tướng, tức là tất cả pháp, tất cả tướng đều bất khả đắc. Ngoài ra, phẩm Văn tự trong kinh Đại Bát Niết Bàn quyển 8 (Bản Nam) thì nói, La là Thanh văn thừa, chuyển động không ngừng, Đại thừa an định bất động, xả bỏ Thanh văn thừa mà tinh tiến tu tập pháp Đại thừa vô thượng. [X. phẩm Quán trong kinh Quang Tán Bát Nhã Q.7; phẩm Tự mẫu trong kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Q.thượng; Đại Nhật Kinh Sớ Q.7]. (xt. Tất Đàm Ngũ Thập Tự Môn). ; (攞) Phạm: La. Cũng gọi Trà. Là 1 trong 50 chữ cái của mẫu tự Tất đàm. Phẩm Tự mẫu trong kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Quyển thượng (Đại 14, 498 trung), nói: La là chữ cuối cùng trong 50 chữ cái Tất đàm, sau chữ này thì các pháp không thể diễn tả được nữa. Kinh Đại Bát Niết Bàn quyển 8 (bản Nam) (Đại 12, 655 thượng), nói: La nghĩa là ma, vì vô lượng ác ma không thể phá hủy kho tàng bí mật của Như Lai nên gọi là La. Lại nữa, vì thị hiện tùy thuận thế gian mà có cha mẹ, vợ con nên gọi là La. Chữ màra, trong tiếng Phạm không có chữ La, nhưng trong kinh Phệ đà thì dùng chữ La, có khi biến hóa thành La. Chữ La này chính là từ ra (trong màra) chuyển hóa mà thành. ; (囉) Cũng gọi: Lạc, Lạt. Chữ Tất đàm (ra), 1 trong 50 hoặc 42 chữ cái Tất đàm. Cứ theo phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính và phẩm Quảng thừa kinh Đại phẩm Bát Nhã quyển 5, thì chữ La nghĩa là tất cả pháp xa lìa nhiễm ô, trần cấu. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 655 thượng), nói: Chữ La nghĩa là tất cả pháp lìa tất cả trần nhiễm. Tiếng Phạm La thệ nghĩa là trần nhiễm (bụi nhơ); trần là chỗ tạo tác của vọng tình, tức là sáu tình mắt, tai, v.v... tạo tác sáu trần sắc, thanh, v.v... Hễ thấy chữ La thì biết hết thảy pháp có thể thấy, nghe, chạm, biết đều là tướng trần, cũng như áo sạch bị bụi bặm làm bẩn. Như bụi trần lăng xăng dấy động, làm cho khoảng không mờ mịt, mặt trời, mặt trăng không sáng tỏ, đó là tướng của chữ La. Ngoài ra, theo phẩm Văn tự trong kinh Đại Bát Niết bàn quyển 8 (bản Nam), thì La có thể phá trừ 3 độc tham dục, sân hận và ngu si mà nói pháp chân thực. Lại theo phẩm Thị thư trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4, thì La là tiếng nhàm chán sinh tử, ưa thích Đệ nhất nghĩa đế. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.4; phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng].

la bà

6678梵語 lava。又作臘縛、羅預、羅予。為印度計量時間之單位。據俱舍論卷十二載,一二○剎那(梵 kṣaṇa)為一怛剎那(tat-kṣaṇa),六十怛剎那為一羅婆,三十羅婆為一須臾(梵 muhūrta),三十須臾為一晝夜。〔摩訶僧祇律卷十七〕 ; Lava (S)Một đơn vị thời gian. 60 sát na = 1 hơi thở. 10 hơi thở = 1 la bà. ; Lava (skt)—Lạp Phược La Dự—Một khoảng thời gian ngắn (60 sát na bằng một hơi thở, 10 hơi thở bằng một la bà)—A division of time, an instant (60 ksanas are equivalent to a breath, 10 breaths are equal to one lava). ** For more information, please see Sát Na. ; (羅婆) Phạm: Lava. Cũng gọi Lạp phược, La dự, La dư. Đơn vị tính thời gian của Ấn độ. Cứ theo luận Câu xá quyển 12, thì 120 sát na (Phạm:Ksana) là 1 đát sát na (tatksana), 60 đát sát na là 1 La bà, 30 la bà là 1 Tu du (muhùrta), 30 tu du là 1 ngày đêm. [X. luật Ma ha tăng kì Q.17].

la bà hề đà thụ

6679印度古代之樹名。據四分律卷十二載,佛陀曾禁止比丘炒食羅婆醯陀之種子,若犯者,即得突吉羅罪(輕垢罪)。上記四分律雖舉出羅婆醯陀之名,然迄今未能確定係指何樹。智首於四分律疏卷九則謂,羅婆醯陀即是貝多樹。 ; (羅婆醯陀樹) Tên cây ở Ấn độ đời xưa. Cứ theo luật Tứ phần quyển 12, thì đức Phật đã từng ngăn cấm các tỉ khưu rang hột của cây La Bà Hê Đà để ăn, nếu ăn thì phạm tội Đột Cát La (tội nhẹ). Tuy luật Tứ phần nêu tên La Bà Hê Đà như trên, nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa xác định được nó là loại cây gì. Trong Tứ Phần Luật sớ quyển 9, ngài Trí Thủ cho rằng La Bà Hê Đà tức là cây Bối Đa.

la bà na

Ravana (S). ; Ravana (skt)—Vua của xứ Tích Lan trước đây, cai trị loài la sát, sau bị Ramacandra chế ngự—King of Ceylon and ruler of the Raksasas, overcome by Ramacandra.

la bị na

Ravana (skt)—Đòi hỏi—Demanding—Clamorous.

la bố lâm sá

6673位於西藏拉薩西郊拉薩河北岸。羅布,藏語意為寶貝;林卡,意為林園;羅布林卡,意即寶貝園,又譯為珍珠苑。清乾隆二十年(1755),達賴七世建立此園,作為夏季休憩之所,後迭經擴建,成為歷代達賴喇嘛之夏宮。其庭園建築之面積達三十六萬平方公尺,內有達旦明久頗章(新宮)、湖心宮等。達賴喇嘛常於新宮內登座講經。 ; (羅布林卡) Khu vườn ở bắc ngạn sông Lạp tát, ngoại ô thành phố Lhasa, thủ đô của Tây tạng. La bố, tiếng Tây tạng có nghĩa là bảo bối; Lâm ca nghĩa là vườn rừng. La bối lâm ca tức là vườn Bảo bối; cũng được dịch là Trân châu uyển(vườn châu báu). Năm Càn Long 20 (1755) đời Thanh, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 7 thiết lập khu vườn này làm nơi nghỉ ngơi trong mùa hạ. Về sau, khu vườn được mở mang rộng thêm và trở thành Hạ cung của các vị Đạt lai Lạt ma. Diện tích của khu vườn này là khoảng 360.000 mét vuông, bên trong có Tân cung, là nơi các vị Đạt lai Lạt ma giảng kinh.

la bốc tạng cát lặc tạng gia mục thố

6672(1708~1758)西藏名 Skal-bzaṅ-rgya-mtsho。又譯作格桑嘉穆錯。即達賴七世之名。清聖祖康熙四十五年(1706),達賴六世入寂,時諸部爭權,和碩特部拉藏汗與青海諸台吉相持不下。康熙五十九年(1720),聖祖遠征西藏,亂平後敕封為達賴七世。(參閱「羅卜藏仁清策養嘉穆錯」6672)

la bốc tạng nhân thanh sách dưỡng gia mục thố

6672(1683~1706)西藏名 Tshaṅs-dbyaṅs-rgya-mtsho。又譯作阿旺伊什嘉穆錯、倉央嘉穆錯。即達賴六世之名。自幼聰慧超人,於達賴五世入寂後,為和碩特部拉藏汗所擁立,然專斷奢侈、耽於酒色,造成西藏內鬨,為拉薩眾喇嘛及青海諸台吉所不服,又招致準噶爾兵入寇西藏,一時情勢動盪,抗爭激烈。清聖祖為平息西陲之亂,乃敕促第巴桑結深入探查,復率軍親征準噶爾。其後,拉藏汗誅第巴桑結,並奏廢達賴六世,聖祖詔諭送京,拉藏汗乃執之赴京,然方出西藏即客死青海,時為聖祖康熙四十五年(一說四十六年)。〔蒙古喇嘛教史、康熙東華錄卷十四至卷一○五〕

la ca lăng

6675籍貫、生卒年不詳。上海著名英商哈同之夫人。由於受康有為、章太炎、狄楚卿等人之影響,致力興辦佛教事業。曾獨資聘請宗仰法師主持排印頻伽藏,耗時四年,為自龍藏以後,我國以活字排版之第一部藏經。又於其所居之哈同花園,經宗仰法師擘劃,設計成阿彌陀經等所說之極樂世界,蔚為上海之佛教勝地;並迎請月霞法師於園中創辦華嚴大學,後雖因故停辦,然亦開風氣之先。 ; (羅迦陵) Người phụ nữ nổi tiếng ở Thượng Hải, Trung Quốc. Do chịu ảnh hưởng của các ông Khang Hữu Vi, Chương Thái Viêm, Địch Sở Khanh, v.v..., bà đã dốc sức làm việc Phật. Bà thỉnh Pháp sư Tông Ngưỡng chủ trì việc sắp chữ in tạng kinh Tần Già, lần đầu tiên ở Trung Quốc, Đại tạng kinh được in bằng lối sắp chữ, hết 4 năm công việc mới được hoàn thành. Sau đó, bà lại xin Pháp sư thiết kế kiến tạo thế giới Cực lạc trong vườn hoa Cáp Đồng đúng như thế giới Cực lạc được miêu tả trong kinh A Di Đà. Đây là một thắng cảnh của Phật giáo ở Thượng Hải. Rồi bà thỉnh Pháp sư Nguyệt Hà mở Đại học Hoa Nghiêm tại khu vườn này, tuy hoạt động không được bao lâu, nhưng là trường Đại học Phật giáo đầu tiên ở Thượng Hải.

la ca nạp

Xem Na Tiên Tỳ kheo.

la cà

To loiter—To loaf.

la cầu

Laghu (skt)—Ánh sáng—Light.

la da thuỵ hi

6675(Roerich, Georg Nicolas; 1902~1960)蘇俄籍東方學學者、西藏學學者。嘗於倫敦、巴黎等地研究東方學。一九二三年末至一九二五年初,停滯錫金,習得藏語。後出發探險,調查中亞,歷時三年。一九二八年五月返印,創立 Urusvati Himalayan Research Institute,爾後迄一九五七年返俄,鼓吹當地之佛學、西藏學之研究不遺餘力。 氏於西藏學之研究範圍極廣,兼及美術、考古、歷史、語言、敘事詩、宗教等各方面。最初研究美術,出版有 Tibetan Paintings(Paris, 1925), The Animal Style among the nomad tribes of Northern Tibet (Prague, 1930)等著作。後專意研究西藏方言,嘗發表有關拉夫爾(Lahul)方言之論文,更進而研究阿母度、西藏中部之方言,發表之論著以 Le parler de l'Amdo, Roma, 1958 及 Textbook of Colloquial Tibetan, The Government of West Bengal Education Dept., Education Bureau, 1957 二書為菕C氏又將西藏佛教史上著名之「青冊」(藏 Deb-ther snoṅ-po, Gshon-nu-dpal, 1392~1481)翻譯成 The Blue Annals, pt. I, Calcutta, 1949 pt. Ⅱ, 1953,此舉乃其畢生重要之貢獻,予西藏佛教研究極大之便利。一九三一年,復與喇嘛僧共同計劃編纂藏語、梵語、英語對照之大辭典,於一九三四年始告完成,惜因其去世而未能出版。著作除上述之外,並有 Trails to Inmost Asia, New-Haven-London, 1931; Sur les pistes de l'Asie Centrale, Paris, 1933 等專書及論文約三十種。〔Indo-Iranian Journal, vol. V, Nr. 2, 1961〕

la duyệt

Rajagrha (skt)—La Việt—La Duyệt Kỳ Ca La—La Duyệt Yết Lê Hê—La Nha Ngật Bí Tư—Kinh đô Vương Xá của xứ Ma Kiệt Đà, nơi tổ chức Đại Hội Kết Tập Kinh Điển đầu tiên—The capital of Magadha, at the foot of the Grdhrakuta mountain, first metropolis of Buddhism and seat of the first synod. ** For more information, please see Vương Xá

la duyệt kỳ ca la

Rajagrha (skt)—See La Duyệt and Vương Xá.

la duyệt yết hê

Rajagrha (skt)—See La Duyệt and Vương Xá.

la dạ na

Maudgalyayana (skt)—See Ma Ha Mục Kiền Liên.

la hán

Rakan (J). ; Arhat (S). Worthy, worshipful, the saint, or perfect man of Hìnayàna. ; Arhan, arhat (skt)—A La Hán, quả vị cao nhất của Tiểu Thừa—Worthy, worshipful, an arhat, the saint, or perfect man of Hinayana. ** For more information, please see Arhat.

la hán giảng

6680請參閱 賴吒和羅經 即讚歎羅漢之德,舉行供養之法會。又作羅漢供、羅漢會、羅漢拜。為四座講之一。供養羅漢之緣起,依佛祖統紀卷三十三載,佛陀入滅時曾付囑十六阿羅漢,與諸施主作真福田。阿羅漢承佛旨意,以神通力自延壽量。若施主迎請四方僧,廣設無遮施,或於住處,或詣寺中;此諸尊者及諸眷屬即分散往赴,蔽隱聖儀,密受供具,使諸施主得勝果報。中國自古多流行於禪家,如唐代翠微無學供養羅漢即為其例。日本於鎌倉時代以後,諸寺盛行之,如曹洞宗即於每月初一、十五兩日舉行此種供養法會。〔景德傳燈錄卷十四翠微無學條、密菴咸傑禪師語錄卷上臨安府徑山興聖萬壽禪寺語錄建會上堂、禪林象器箋祭供門〕 ; (羅漢講) Cũng gọi La hán cúng, La hán hội, La hán bái. Pháp hội cúng dường, tán thán công đức của bậc La hán. Một trong 4 Tòa giảng. Cứ theo Phật Tổ Thống Kỉ quyển 33, thì lúc vào Niết bàn, đức Phật từng dặn dò 16 vị A la hán làm ruộng phúc cho các thí chủ. Các bậc A la hán ấy vâng lời đức Phật dạy, dùng thần thông kéo dài tuổi thọ. Nếu có thí chủ cung thỉnh chư tăng 4 phương mở hội Vô già nơi mình ở hoặc ở trong chùa, các bậc La hán cùng các quyến thuộc chia nhau đến tham dự, nhưng che giấu Thánh nghi, kín đáo nhận của cúng dường, khiến các thí chủ được quả báo thù thắng. Đây là nguồn gốc của pháp hội cúng dường La hán. Pháp hội này từ xưa đã lưu hành rộng rãi ở các chùa tại Trung Quốc. Như trường hợp Thiền sư Thúy Vi Vô Học đời Đường đã cử hành pháp hội Cúng dường La hán. Tại Nhật Bản, từ thời đại Liêm thương về sau, mỗi tháng, vào ngày Mồng 1 và Rằm đều có cử hành pháp hội cúng dường La Hán trong các chùa thuộc Tông Tào động. [X. Điều Thúy vi Vô học trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục Q.14; Lâm an phủ Kính sơn Hưng thánh vạn thọ thiền tự ngữ lục kiến hội thướng đường trong Mật am Hàm kiệt Thiền Sư Ngữ Lục Q.thượng; môn Cúng tế trong Thiền lâm tượng khí tiên].

la hán hài

6680僧鞋之一種。即僧眾所穿之鞋,以麻、草、布、化學皮等編結或縫綴而成,鞋面除腳尖部分外,皆縫綴為若干方孔,顏色有黑、灰、黃、褐等色。亦有鞋面全部無孔,僅在前端縫一硬樑者,與一般之便鞋無異。 在佛世時,已允許僧眾著鞋。據央掘魔羅經卷四載,比丘可以受持死牛之皮所做之革屣。據釋門歸敬儀卷下載,於印度,僧眾參謁上尊時,須脫鞋行禮。另據四分律刪繁補闕行事鈔卷中四載,鞋、襪等為比丘百一物之一。 僧眾於僧鞋外,亦著僧襪。依釋氏要覽卷上襪條所載,比丘因天寒而得著襪,襪亦屬於衣。我國之僧襪,即長筒形之古裝布襪,一般多稱羅漢襪,以灰色為主。〔五分律卷十六、四分律卷十六、敕修百丈清規卷五裝包條、卷六日用軌範條、禪林象器箋服章門〕 ; (羅漢鞋) Loại giày của chúng tăng sử dụng. Có nhiều loại: Hoặc bện bằng cỏ, hoặc may bằng vải, hoặc khâu bằng da, mặt giày trừ phần mũi ra, còn đều có lỗ vuông, cũng có khi không để lỗ. Về màu sắc thì có màu đen, màu xám tro, màu vàng, màu hạt dẻ, v.v... Khi đức Phật còn tại thế, Ngài đã cho phép chúng tăng mang giày. Cứ theo kinh Ương Quật Ma La quyển 4, tỉ khưu có thể mang giày làm bằng da bò. Cứ theo Thích Môn Qui Kính Nghi quyển hạ, tại Ấn Độ, khi chúng tăng vào tham yết bậc tôn trưởng, phải cởi giày để làm lễ. Ngoài giày ra, chúng tăng cũng được phép mang bí tất khi trời lạnh. [X. Luật Ngũ Phần Q.16; Luật Tứ Phần Q.16; Điều Trang bao trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Qui Q.5; điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách Trượng Thanh Qui Q.6; môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên].

La Hán Quế Sâm

(羅漢桂琛, Rakan Keichin, 867-928): tức Hòa Thượng Địa Tạng (地藏, Chizō), người vùng Thường Sơn (常山, Tỉnh Triết Giang), họ là Lý (李). Ông theo hầu Vô Tướng Đại Sư (無相大師) ở Thường Sơn Vạn Tuế Tự (常山萬歳寺), rồi sau đó có đến tham học Vân Cư Đạo Ưng (雲居道膺) và Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Nghĩa Tồn. Về sau, ông đến trú tại Địa Tạng Viện (地藏院) ở Tây Thạch Sơn (西石山), rồi sau chuyển đến La Hán Viện (羅漢院) ở Chương Châu (漳州, Tỉnh Phúc Kiến) và cử xướng Thiền phong của mình mạnh mẽ nơi đây. Chính vì vậy ông được gọi là La Hán Quế Sâm. Vào mùa thu năm thứ 3 (928) niên hiệu Thiên Thành (天成), ông thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi đời và 40 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Chơn Ứng Thiền Sư (眞應禪師).

la hán quế sâm

Rakan Keijin (J)Tên một vị sư.

la hán quế thâm

Lo-han Kuei-Ch'en (C), Luohan Guichen (C), Rakan Keijin (J)(867/869-928) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Huyền Sa Sư Bị.

la hán đường

6679指安置十六羅漢或五百羅漢之堂宇。中國自北宋始,即盛行於禪、天台諸宗。據釋氏稽古略卷四載,北宋熙寧十年(1077),將安置於相國寺山門五百羅漢中之第十三尊,迎入宮中供養。日本亦設有此種羅漢堂,或別設堂宇,置之山門。 ; Arhats Hall. ; (羅漢堂) Ngôi nhà thờ 16 hoặc 500 vị La hán. Bắt đầu từ thời Bắc Tống ở Trung Quốc, trong các chùa Thiền tông, Thiên thai tông đều có thiết lập La hán đường. Cứ theo Thích Thị Kê Cổ Lược quyển 4, vào năm Hi Ninh thứ 10 (1077) đời Bắc Tống, tượng của vị La hán thứ 13 trong 500 vị La hán thờ ở Sơn môn (cửa Tam quan) chùa Tướng Quốc được rước vào cung vua để cúng dường. Tại Nhật Bản cũng rất thịnh hành La hán đường.

la hầu

Ràhu (S). Demon, king of asuras.

la hầu (sao)

Rahu (skt)—La Hộ—La Hỗ—Tên của một ngôi sao che lấp mặt trời mặt trăng gây nên nhật thực và nguyệt thực—Name of a star, or a spirit (demon) that is supposed to seize the sun and moon and thus causes eclipses.

la hầu a tu la

RāhulaśŪra (S)Một trong 4 A tu la vương. ; Ràhu Atula (S). A demon. ; Rahu-asura (skt)—La Hầu La A Tu La—Một loại A Tu La Vương hay đánh nhau với Trời Đế Thích để tranh giành và che lấp ánh sáng của mặt trời và mặt trăng, gây ra cảnh nhật thực và nguyệt thực—The asura who in fighting with Indra can seize sun an moon, i.e. cause eclipses.

La Hầu La

(s, p: Rāhula, 羅睺羅): âm dịch là La Hỗ La (羅怙羅), La Hộ La (羅護羅), La Hống La (羅吼羅), Hạt La Hỗ La (曷羅怙羅), La Vân (羅雲,羅云), La Hầu (羅睺), v.v.; ý dịch là Phú Chướng (覆障), Chướng Nguyệt (障月), Chấp Nhật (執日), là con ruột của Đức Phật trước khi chưa xuất gia, một trong 10 vị đại đệ tử của Phật. Khi ông anh ra gặp lúc La Hầu La A Tu La Vương (羅睺羅阿修羅王) che đậy ăn mặt trăng và nhân vì ông ở trong bào thai mẹ 6 năm trường nên có tên là Chướng Nguyệt, Phú Chướng như vậy. Về mẫu thân của La Hầu La, các kinh điển đề cập không thống nhất với nhau, có kinh cho là Cù Di (瞿夷), hoặc có kinh cho là Da Du Đà La (s: Yaśodharā, p: Yasodharā, 耶輸陀羅). Theo Vị Tằng Hữu Nhân Duyên Kinh (未曾有因緣經) quyển thượng, sau khi thành đạo, Đức Phật trở về thành Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), viếng thăm dòng họ Thích Ca. Lúc ấy, La Hầu La theo xuất gia, thọ giới, trở thành Sa Di, tôn Trưởng Lão Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) làm Hòa Thượng dẫn dắt, Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連) là A Xà Lê. Ông được xem như là vị Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌) đầu tiên của Phật Giáo. Khi đang tu tập với tư cách là Sa Di, cũng có xảy ra vài việc không đúng pháp, ông được Phật giáo huấn, chỉ bảo nên sau đó tuân thủ nghiêm mật, không sai phạm, tinh tấn tu tập và chứng quả A La Hán, được mọi người xưng tán là Mật Hạnh Đệ Nhất. Theo Đại A La Hán Nan Đề Mật Đa La Sở Thuyết Pháp Trú Ký (大阿羅漢難提蜜多羅所說法住記, bản Hán ngữ là Pháp Trú Ký), ông được liệt vào hàng thứ 11 trong 16 vị La Hán, cùng với 1.100 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Tất Lợi Dương Cù Châu (s: Priyaṅgu, 畢利颺瞿洲) để hộ trì chánh pháp và làm lợi ích cho chúng hữu tình.

la hầu la

6681<一>梵名 Rāhula。佛陀十大弟子之一。係佛陀出家前之子。又作羅護羅、羅怙羅、羅吼羅、曷羅怙羅、羅云、羅雲。意譯作覆障、障月、執日。以其生於羅睺羅阿修羅王障蝕月時,又因六年處於母胎中,為胎所覆,故有障月、覆障之名。關於羅睺羅之生母,諸經論中說法不一,或謂瞿夷,或謂耶輸陀羅。 據未曾有因緣經卷上載,佛陀成道後六年始還迦毘羅城,令羅睺羅出家受戒,以舍利弗為和尚、目犍連為阿闍梨,此即佛教有沙彌之始。其為沙彌時,有種種不如法,受佛訓誡,後嚴守制戒,精進修道,得阿羅漢果,自古譽稱「密行第一」。另據大阿羅漢難提蜜多羅所說法住記載,師列為十六阿羅漢之第十一,與眷屬一千一百阿羅漢共住畢利颺瞿洲(梵 Priyaṅgu),護持正法,饒益有情。〔雜阿含經卷一、卷八、佛本行集經卷五十五、十二遊經、四分律卷十一、註維摩詰經卷三、法華玄贊卷一〕 <二>付法藏第十六祖羅睺羅跋陀羅之略稱。(參閱「羅睺羅跋陀羅」6682) ; Rāhula (S)Ra hầu la1-Tên con ruột của Thái tử Sĩ đạt ta, chữ Rahula nghĩa là "trói buộc". Vì khi Rahula được sinh ra, nghe tin, Ngài than rằng:"Lại thêm những trở ngại, lại thêm một dây trói buộc". Vua Tịnh Phạn nhân đấy đặt tên cho cháu là Rahula. Khi xuất gia, Ngài trở thành một trong những đệ tử có mật hạnh bậc nhất. Trong hội Pháp Hoa, đức Phật có thọ ký cho Rahula sau này thành Phật hiệu là Đạo Thất Bảo Hoa Phật. 2- La hỗ la: Một trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp. ; Ràhula (S). Son and one of the ten great disciples of the Buddha. ; Rahula (skt)—Còn gọi là La Vân, La Hống La, La Hầu, Hạt La Đỗ La, Hà La Hỗ La, hay La Hỗ La—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, La Hầu La là đứa con duy nhất của Đức Phật và công chúa Da Du Đà La. Người ta nói La Hầu La ở trong thai mẹ đến 6 năm, và được hạ sanh trong đêm Đức Phật thành đạo (ngày 8 tháng chạp âm lịch). Cha của ngài không thấy mặt ngài cho đến khi ngài được 6 tuổi. Lúc mới xuất gia ngài theo Tiểu Thừa, nhưng sau khi nghe Đức Phật thuyết tối thượng thừa pháp trong pháp hội Pháp Hoa, ngài đã theo Đại Thừa. Ngài luôn tái sanh làm con lớn của các vị Phật. Có chỗ cho rằng La Hầu La sanh ra trước khi Đức Phật xuất gia và sau nầy trở thành một trong mười đại đệ tử của Đức Phật—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Rahula was the only son of Sakyamuni and Yasodhara. He is supposed to have been in the womb for six years and born when his father attained Buddhahood; also said to have been born during an eclipse, and thus acquired his name, though it is defined in other ways; his father did not see him till he was six years old. He became a disciple of the Hinayana, but is said to have become a Mahayanist when his father preached this final perfect doctrine, a statement gainsaid by his being recognized as founder of the Vaibhasika school. He is to be reborn as the eldest son of every Buddha, hence is sometimes called the son of Ananda. Another source said that Rahula was born before the Buddha's renunciation of the world. Later he became one of the ten great disciples of the Buddha. ** For more information, please see Rahula in English-Vietnamese Section, Rahula in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Xuất Gia in Vietnamese-English Section. ; (羅睺羅) I. La Hầu La. Phạm: Ràhula. Cũng gọi La hộ la, La hỗ la, La hống la, Hạt la hỗ la, La vân. Hán dịch: Phú Chướng (ngăn che), Chướng Nguyệt (che mặt trăng), Chấp Nhật (nắm giữ mặt trời). Vị A La Hán mật hạnh đệ nhất, là 1 trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật. Thân phụ Ngài là Thái tử Tất Đạt Đa (tức là đức Phật khi chưa xuất gia), thân mẫu là Da Du Đà La. Khi sinh Ngài nhằm lúc La Hầu La, A Tu La vương lấy tay che mặt trăng, nên đặt tên là Chướng nguyệt; lại vì ở trong thai mẹ 6 năm, bị thai mẹ che lấp, nên có tên là Chướng nguyệt, Phú chướng. Còn về người sinh ra Ngài thì các kinh nói cũng khác nhau, có thuyết cho là bà Cù Di, có thuyết cho là bà Da Du Đà La. Cứ theo kinh Vị Tằng Hữu Nhân Duyên quyển thượng, thì đức Phật thành đạo sau 6 năm mới trở về thành Ca Tì La Vệ độ cho La Hầu La xuất gia thụ giới, y vào tôn giả Xá Lợi Phất làm Hòa thượng và tôn giả Mục Kiền Liên làm A xà lê. Ngài là vị Sa di đầu tiên trong giáo đoàn của đức Phật. Lúc còn là Sa di, Ngài làm nhiều điều không đúng pháp, được đức Phật răn dạy, phải nghiêm giữ giới luật, tinh tiến tu hành, sau Ngài chứng được quả A la hán. Cứ theo Đại A La Hán Nan Đề Mật Đa La Sở Thuyết Pháp trụ kí, thì Ngài được liệt vào vị trí thứ 11 trong 16 vị A la hán, cùng với 1100 vị A la hán quyến thuộc cùng ở tại châu Tất Lợi Dương Cù (Phạm: Priyaígu), giữ gìn chính pháp, làm lợi ích hữu tình. [X. kinh Tạp a hàm Q.1, 8; kinh Phật bản hạnh tập Q.55; kinh Thập nhị du; luật Tứ phần Q.11; Chú duy ma cật kinh Q.3; Pháp hoa huyền tán Q.1]. II. La Hầu La. Gọi đủ: La hầu la bạt đà la. Tổ phó pháp thứ 16 của Thiền tông Ấn Độ. (xt. La Hầu La Bạt Đà La).

la hầu la a tu la

6681梵名 Rāhuasura。略稱羅睺阿修羅。四種阿修羅王之一。羅睺羅意為障月,以此阿修羅王與帝釋作戰時,手能執日月,障蔽其光,故有此名。正法念處經卷十八至卷二十一,詳述四大阿修羅王之住處、宮殿、園林、侍者、婇女、業因及壽命等。據載,此王住海底地下第一層(二萬一千由旬),身量廣大,如須彌山王。所住光明城縱廣八千由旬,園林房舍皆以寶莊嚴。舉手障日光輪,即形成日蝕;以手障月,形成月蝕。論其業因,謂王過去為婆羅門時,見火燒塔,遂滅火而令塔不壞,欲以救塔之福德為因,願得大身。然雖作此願,猶不信正法,不正思惟,常愛鬥戰,不修正業,故死後墮入阿修羅道。〔起世經卷五阿修羅品〕 ; Rahu-asura (skt)—See La Hầu A Tu La. ; (羅睺羅阿修羅) Phạm: Ràhuasura. Gọi tắt: La hầu a tu la. Hán dịch: Chướng nguyệt; Chấp nhật. Khi đánh nhau với trời Đế thích, A tu la vương dùng tay che ánh sáng của mặt trời mặt trăng, cho nên có tên là Chướng nguyệt. Là 1 trong 4 loại A tu la vương. Kinh Chính Pháp Niệm Xứ quyển 18 đến quyển 21 có nói rõ chỗ ở, cung điện, vườn hoa, người hầu, thể nữ, nghiệp nhân và thọ mệnh của 4 Đại A tu la vương. Theo đó, thì La hầu la A tu la vương này ở trong thành Quang Minh, tầng đất thứ 1 dưới đáy biển, thân hình to lớn bằng Tu di sơn vương. Thành Quang Minh rộng 8.000 do tuần, vườn rừng phòng xá đều được trang hoàng bằng các thứ báu. Khi A tu la vương đưa tay che ánh sáng mặt trời thì thành nhật thực, che ánh sáng mặt trăng thì thành nguyệt thực. Còn về nghiệp nhân, trong đời quá khứ, khi còn là 1 người Bà la môn, trông thấy tòa tháp bị cháy liền dập tắt lửa vì thế tòa tháp không bị hư hại, nhờ phúc đức ấy mà được quả báo thân hình to lớn. Nhưng vì không tin chính pháp, chẳng chính tư duy, chẳng tu chính nghiệp, thường thích đánh nhau cho nên sau khi chết bị rơi vào đường A tu la. [X. phẩm A tu la kinh Khởi thế Q.5].

la hầu la bạt đà la

6682梵名 Rāhulabhadra。略稱羅睺羅多、羅睺羅。為付法藏第十六祖。印度迦毘羅國人,姓梵摩。與龍樹為同時代人。早年入那爛陀寺,從尊者黑者(藏 Nag-po)受具足戒,學聲聞乘。又依無分別者(藏 Rnam-par mi-rtog-pa)廣學大乘及祕密乘,並弘通中觀之宗義。隨侍十五祖迦那提婆,證皆空之理,於那爛陀寺教化僧徒。提婆示寂之際,受其心隨之教說(藏 sñiṅ-pohi don-gyi bstan-pa)。又據付法藏因緣傳卷六載,師從提婆受婆羅門所造之鬼名書,後以種種方便教化眾生,付法予僧伽難提。〔中觀論疏卷三本、景德傳燈錄卷二、寶林傳卷三、印度哲學研究卷一〕 ; Rāhulabhadrā (S)La-hầu-la-đaTổ thứ 16 thiền tông Ấn. ; (羅睺羅跋陀羅) Phạm: Ràhulabhadra. Gọi tắt: La hầu la đa, La hầu la. Sư là người nước Ca tì la thuộc Ấn Độ, họ Phạm ma, sống đồng thời với ngài Long Thụ, là Tổ phó pháp thứ 16 của Thiền tông Ấn Độ. Tuổi niên thiếu, sư xuất gia ở chùa Na lan đà, y vào ngài Hắc giả (Tạng: Nag-po) thụ giới Cụ túc, học Thanh văn thừa. Sau, sư theo ngài Vô phân biệt giả (Tạng: Rnampar mi rtog-pa) học Đại thừa và Mật thừa, đồng thời, thông suốt tông nghĩa Trung quán. Sư thị giả tổ thứ 15 là Ca na đề bà, chứng được lí giai không và được truyền tâm ấn. Sau khi tổ Đề bà viên tịch, sư kế thừa Pháp tọa của Ngài, giáo hóa tăng chúng ở chùa Na lan đà. Sau, sư phó pháp cho ngài Tăng già nan đề. [X. Trung quán luận sớ Q.3 phần đầu; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Bảo lâm truyện Q.3; Ấn Độ triết học nghiên cứu Q.1].

la hầu la da

Bahulata (S)La hầu la đaTổ thứ 16, một trong 28 vị tổ Phật giáo ở Ấn độ.

la hầu la tôn giả

Ràhulabhadra (S). 16th Indian patriarch.

la hầu la đa

Xem La hầu la da. ; Rahulata (skt)—La Hầu La Đa của thành Kapila, là vị tổ thứ 15, người đã tự di chuyển một cách kỳ diệu đến vương quốc Sravasti, nơi đó ngài đã thấy bóng năm vị Phật trên đỉnh Hiranyavati—Rahulata of Kapila, the sixteenth patriarch, who miraculously transported himself to the kingdom of Sravasti, where he saw on the Hiranyavati the shadow of five Buddhas.

la hầu tự

6680位於山西五臺山臺懷鎮顯通寺東隅。為喇嘛廟,供奉文殊菩薩。初建於唐朝,明弘治五年(1492)重建。清康熙、雍正、乾隆三帝均崇奉佛法,尤信仰喇嘛教,曾多次朝禮五臺山,修飾本寺。每年農曆六月十四日,傳為文殊菩薩誕辰,寺僧奇裝異服,戴鬼怪面具,隨鑼鼓節拍滿寺蹦跳,自朝至暮,遊人爭相觀賞。寺後有西方殿,內設木製圓形佛壇,中央置木製大蓮花座,彫有方形佛龕,四方佛分坐其中,並設有中軸、輪盤、繩索牽制,可以旋轉,轉時花朵綻開,即見阿彌陀佛、觀世音、大勢至等佛菩薩,稱為花開見佛。

la hầu vương

Rahu (S)Sao La HầuMột vị vua rong loài thần A tu la.

la hống la

Rahula (skt)—See La Hầu La.

La Hồ Dã Lục

(羅湖野錄, Ragoyaroku): 2 quyển, do Trọng Ôn Hiểu Oánh (仲溫曉瑩) nhà Tống biên tập. Dựa trên tiêu chuẩn của bộ Tông Môn Võ Khố (宗門武庫) của thầy mình Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), Hiểu Oánh thâu tập những cơ duyên nhập đạo của chư vị tiên đức tông sư và các giai thoại, hành trạng của những bậc hiền sĩ để hình thành nên tác phẩm này. Quyển thượng thâu lục 43 vị và quyển hạ 48 vị. Bộ này có lời tựa ghi năm thứ 25 (1155) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), kèm theo lời bạt của Vô Trước Ni Diệu Tổng Trưởng Lão (無著尼妙總長老).

la hồ dã lục

6679凡二卷。宋代僧曉瑩撰。收於卍續藏第一四二冊。師為大慧宗杲之法嗣,壯年歷遊叢林,晚年歸憩江西臨川之羅湖,結湖隱堂,後集錄叢林見聞、諸方尊宿提唱之語、友朋談說議論之言,或得於殘碑蠹簡有關典謨之說等,而成本書,總計近百篇。書中詳錄當時禪門公案及機鋒語句、緇徒故實,頗具歷史之真實性。自古為叢林必讀,被列為禪門七部書之一,誠為禪徒修道所不可或缺之指南。〔佛祖歷代通載卷二十、大明高僧傳卷八、續傳燈錄卷三十二〕 ; (羅湖野錄) Tác phẩm, 2 quyển, do sư Hiểu Oánh soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn Tục Tạng tập 142. Nội dung sách này gồm có gần 100 thiên, ghi chép các công án Thiền môn đương thời và những cơ phong ngữ cú của sư gia, cùng những câu chuyện có thực của các vị tăng tục nên rất có giá trị lịch sử. Từ xưa, bộ sách này rất quan trọng trong chốn tùng lâm, là kim chỉ nam cho những người học. Nó được liệt vào 1 trong 7 bộ sách quí của Thiền môn. Sư Hiểu Oánh là đệ tử nối pháp của ngài Đại tuệ Tông cảo, sư từng đi tham vấn khắp các tùng lâm. Lúc về già, sư ẩn cư tại La Hồ, Lâm Xuyên, tỉnh Giang Tây để soạn bộ sách này, vì thế nên tác phẩm mang tên La Hồ Dã Lục. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Đại minh cao tăng truyện Q.8; Tục truyền đăng lục Q.32].

la hỗ

Rahu (skt)—See La Hầu.

la hộ

Rahu (skt)—See La Hầu.

la hộc

6686<一>指絲織之羅布與縐紗,為天人作衣之材料;轉喻微細煩惱。[1] <二>謂菩薩之見佛性,猶如隔羅縠見物,雖極細薄,然猶有所隔。祖庭事苑卷一(卍續一一三‧三下):「華嚴疏云:『菩薩智與如來智,如明眼人隔輕縠睹眾色像。』此言菩薩與佛見性不同。」林間錄卷上(卍續一四八‧二九八上):「只如十地聖人說法,如雲如雨,猶被佛呵見性如隔羅縠。」 ; (羅縠) Một thứ vải lụa mà ta thường gọi là sa, the, rất mỏng. Trong Phật giáo, nó được dùng để ví dụ cho phiền não rất nhỏ nhiệm, tinh vi. Tổ Đình Sự Uyển quyển 1 (Vạn tục 113, 3 hạ), chép: Hoa Nghiêm kinh sớ nói: Trí của Bồ tát khác với trí của Phật, như người mắt sáng nhìn thấy cảnh tượng qua lớp the mỏng. Nghĩa là sự thấy tính của Bồ tát và Phật không giống nhau. Lâm Quang Lục quyển thượng (Vạn tục 148, 298 thượng), nói: Đến như bậc Thánh Thập địa thuyết pháp như mây, như mưa mà còn bị Phật quở trách là thấy tính còn cách 1 lớp the mỏng (la hộc).

la khất sái

See La Ngật Sái. ; (邏乞洒) Phạm: Laksana. Cũng gọi La khất tiêm noa. Hán dịch: Tướng(hình tướng của sự vật), đặc trưng. Đại Nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 655 thượng), ghi: Tiếng Phạm: La cật sái, Hán dịch là Tướng. (...) Các pháp tuy vô thường, vô ngã, nhưng mỗi mỗi đều có tướng. Như đất thì cứng chắc, nước thì ẩm ướt, lửa thì nóng, gió thì động, v.v... Xả là tướng của sự bố thí, không hối hận, không phiền não là tướng của sự trì giới. (...) Không tạo tác là tướng của Niết bàn.

la ma

6682梵名 Rāma。<一>係古印度大敘事詩羅摩耶那(梵 Rāmāyaṇa)之主角。為憍薩羅國(梵 Kauśala)國王達薩拉塔(梵 Daśaratha)之長子,為遵守父王之諾言,放遂南印度森林中十四年,隨行之妃子私多(梵 Śītā)為魔王所劫掠,因而引起戰爭。後得猴神哈奴曼(梵 Hanumat)之幫助,夫妻團聚,返憍薩羅國為王。此於雜寶藏經卷一之十奢王緣及六度集經卷五均有記述。 據傳羅摩為毘濕奴神之第七次化身,因受諸神之託,乃誕生地界以降伏惡鬼。其與愛妃私多共同展開絢爛、勇武之生涯,充分顯現印度古代浪漫、倫理之理想,遂成為廣受膜拜之人格化神。羅摩尤成為王族、勇士、武夫之最高典型,而普遍受到印度民眾狂熱之尊敬。 蓋印度人視羅摩為民族英雄,亦即視為毘濕奴神之化身而加以崇拜,為常住之最高「梵」,因而形成印度教中之一派,稱為羅摩派。此派教理之確立,約肇始於西元十三、十四世紀頃之阿底亞特瑪羅摩耶那(梵 Adhyātmarāmāyaṇa)一書。此書係為解決羅摩耶那史詩中新古兩部分間之矛盾而作,採取吠檀多學派不二一元說,兼性力派(梵 Śakti)所說,主張私多為羅摩永遠之配偶神,只要對羅摩有絕對歸依之熱誠,必定能得解脫。此書後來被譯為各種方言,該派主要盛行於南印度,後由羅摩難陀將之流布北方。〔大乘入楞伽經卷七、佛本行集經卷七〕 <二>印度教神名。為婆羅門出身之勇士,使一柄大斧,稱為持斧羅摩(梵 Paraśurāma),傳為毘濕奴之第六次化身。 <三>為吉栗瑟拏(黑天)之兄,以耕田之犁作武器,稱為大力羅摩(梵 Balarāma)。 ; Rama (skt). 1) Hỷ hay hỷ lạc: Delightful—Joyful. 2) Tên của một loài cây nhỏ: Name of a grove. ; (羅摩) Phạm: Ràma. I. La Ma. Nhân vật chủ chốt trong thiên Anh hùng ca La Ma Da Na (Phạm: Ràmàyaịa) của Ấn Độ thời xưa, là con trưởng của Quốc vương Đạt Tát Lạp Tháp (Phạm: Dazaratha) nước Kiêu Tát La (Phạm:Kauzala), bị đuổi vào rừng trong 14 năm, vợ là Tư Đa (Phạm: Zìtà) đi theo, giữa đường bị ma vương bắt mất, do đó đưa đến chiến tranh. Sau nhờ sự giúp đỡ của thần khỉ (Phạm: Hanumat) vợ chồng mới được đoàn tụ và trở về làm vua nước Kiêu Tát La. Cứ theo truyền thuyết, La Ma là hóa thân lần thứ 7 của thần Tì Thấp Nô, do nhận sự ủy thác của các thần, sinh xuống nhân gian để hàng phục ác quỉ. La Ma cùng với Tư Đa mở ra cuộc sống oai hùng xán lạn ở nhân gian, thể hiện tư tưởng vừa có tính luân lí lại vừa có tính lãng mạn của Ấn Độ cổ đại. Sau, La Ma trở thành một nhân vật điển hình cao nhất được toàn thể dân tộc Ấn Độ, nhất là giới Vương tộc, Vũ sĩ, sùng bái như vị thần được nhân cách hóa. Bởi vì người Ấn Độ coi La Ma là 1 vị anh hùng dân tộc cũng coi đó là hóa thân của thần Tì Thấp Nô, là đấng Phạm tối cao thường trụ, cho nên lại càng tôn kính để rồi sau đã hình thành 1 phái trong Ấn Độ giáo, gọi là phái La Ma. Giáo lí của phái này được xác lập vào khoảng thế kỉ XIII, XIV Tây lịch dựa trên bộ sách Adhyàtmaràmàyaịa. Phái này chủ yếu thịnh hành ở miền Nam Ấn Độ, sau do La Ma Nan Đà truyền bá ở miền Bắc. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.1; kinh Lục Độ Tập Q.5; kinh Đại Thừa Nhập Lăng Già Q.7; kinh Phật Bản Hạnh tập Q.7]. II. La Ma. Tên vị thần trong Ấn Độ giáo. Là một dũng sĩ xuất thân từ dòng Bà la môn, chuyên cầm một cây búa lớn nên gọi là Trì phủ La Ma (Phạm: Parazuràma, La ma cầm búa). Tương truyền, vị thần này là hóa thân lần thứ 6 của Tì Thấp Nô (Phạm:Visnu). III. La Ma. Anh của vị trời Cát Lật Sắt Noa (Phạm: Krsna, Hắc thiên), vị trời này thường dùng lưỡi cày làm vũ khí nên gọi là Đại Lực La Ma (Phạm: Balaràma).

la ma biệt truyện

6684(Rāmcaritmānas)又作羅摩功行錄、羅摩王子英雄傳之湖。係印度近代宗教改革家杜西達斯(Tulsī Dās),於一五八四年頃以興第語所作之敘事詩。取材自西元前五至三世紀頃,瓦勒米奇(梵 Vālmīki)所編之大敘事詩羅摩耶那(梵 Rāmāyaṇa)。內分七篇,敘述毘濕奴神之化身羅摩(梵 Rāma)在人間之種種善行;肯定羅摩與毘濕奴之一體觀,而奉之為救世主;並頌揚對羅摩之絕對歸依,謂此種歸依能令人成就至上之幸福,乃至解脫。本書普受民間喜愛,被稱為北印度之聖書,杜西達斯被稱為近代之瓦勒米奇。〔Sir George Grierson: Notes on TulsīDās、トゥルシ|‧ダ|スにおける絕對者と神格觀の變遷の問題(大類純)〕 ; Xem La Ma Công hạnh lục.

la ma công hạnh lục

Ramacaritmanas (S)La Ma biệt truyệnTự sự thi tiếng Hindu thuộc Ấn giáo, gồm 7 thiên, biên soạn năm 1584.

la ma da na

6685梵名 Rāmāyaṇa。又作羅摩衍那。意譯羅摩遊記、羅摩傳、羅摩平生、羅摩所行傳。為印度古代之梵文大敘事詩。與摩訶婆羅多並稱為印度兩大史詩,為印度教經典之一。原為民間口頭創作,在長期流傳中屢經增刪。西元前五至三世紀頃,由詩人瓦勒米奇(梵 Vālmīki)利用傳奇題材編成,被稱為「最初之詩」,瓦勒米奇則有「詩祖」之譽。全書共七篇,二萬四千頌,精校本一萬九千多頌。每頌兩行,每行十六個音節。其中第一、第七兩篇可能為二世紀頃所附加之偽作。內容較摩訶婆羅多集中,主要敘述憍薩羅國(梵 Kauśala)王子羅摩(梵 Rāma)受王后之嫉而被放逐十四年,因而展開其冒險英勇之生涯;以羅摩與其妃私多(梵 Sītā)之愛情為中心,襯以其弟羅什曼那(梵 Lakṣmaṇa)之情誼、靈猿哈奴曼(梵 Hanumat)之忠順、魔王羅伐拏(梵 Rāvaṇa)之暴行等,充滿神話與傳奇色彩。其文體華麗典雅,文字洗練,成為後世古典期美文體(梵 kāvya)作品之濫觴。 由於此詩,羅摩遂成為印度國民崇拜之英雄,尤受毘濕奴教之特別尊崇,被視為護持神毘濕奴之化身。此詩流傳於恆河乃至南印度,更遠及錫蘭島,對文學、藝術均有很大影響。又近代印度方言文學、東南亞各地之民族文學興起,均為同類故事與敘事詩,形成所謂「羅摩文學」,足證其影響之鉅。〔H. Jacobi: Das Rāmāyaṇa, 1893; Baumgartner: Das Rāmāyaṇa und die Rāmaliteratur der Inder, 1894; V. Fausböll: Indian mythology, 1902; E.W. Hopkins: Epic mythology, 1915〕 ; Xem Ma Ma du ký. ; (羅摩耶那) Phạm:Ràmàyaịa. Cũng gọi La ma diễn na. Hán dịch: La ma du kí, La ma truyện, La ma bình sinh, La ma sở hành truyện. Đại tự sự thi tiếng Phạm của Ấn Độ đời xưa, do thi nhân Ngõa Lặc Mễ Kì (Phạm: Vàlmìki), phỏng theo những đề tài thần thoại, truyền kì mà biên soạn thành vào khoảng thế kỉ V đến thế kỉ III trước Tây lịch. Toàn bộ sách có 7 thiên, 24.000 bài tụng, nhưng bản đã được hiệu đính kĩ lưỡng thì chỉ còn trên 19.000 bài tụng. Mỗi bài tụng có 2 hàng, mỗi hàng có 16 âm tiết. Trong 7 thiên thì thiên thứ 1 và thứ 7 có lẽ là ngụy tác được phụ thêm vào khoảng thế kỉ II Tây lịch. Nội dung viết về cuộc đời Vương tử La Ma nước Kiêu Tát La, vì Vương hậu ghen ghét nên bị đuổi đi suốt 14 năm, do đó mà mở ra cuộc sống anh dũng, mạo hiểm. Lấy tình yêu giữa La Ma và vợ là Tư Đa làm trung tâm, cùng với tình bạn của người em là La Thập Mạn Na (Phạm: Lakwmaịa), sự trung thành của thần khỉ Cáp Nô Man và hành động hung bạo của Ma vương La Phạt Noa (Phạm:Ràvaịa), v.v... đã tạo thành một sắc thái thần thoại và truyền kì rất sâu đậm. Nhờ thi phẩm này mà La Ma đã được toàn dân Ấn Độ sùng bái như 1 vị anh hùng dân tộc, đặc biệt được giáo phái Tì Thấp Nô cung kính, coi như hóa thân của thần Tì Thấp Nô. Sử thi này được lưu truyền ở lưu vực sông Hằng, Nam Ấn Độ, đến đảo Tích Lan, có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học, nghệ thuật Ấn Độ và vùng Đông Nam Á. [X. H. Jacobi: Das Ràmàyaịa, 1893; Baumgartner: Das Ràmàyaịa und die Ràmaliteratur der Inder, 1894; V. Fausbôll: Indian mythology, 1902; E.W. Hopkins: Epic mythology, 1915].

la ma diễn na

Xem Ma Ma du ký.

la ma già

6682請參閱 羅摩別傳 意譯入法界。即華嚴經入法界品之梵語音譯。羅,遠離垢染之義;摩,轉變之義;伽,一合之義。謂遠離垢染,轉向淨法界,一合即入。另有羅摩伽經,凡三卷;西晉聖堅譯,為華嚴經入法界品之別譯。〔華嚴玄談卷八〕 ; Nhập pháp giới (phẩm Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm)—Entering the realm of the law. ; (羅摩伽) Hán dịch: Nhập pháp giới. Là dịch âm tiếng Phạm của phẩm Nhập Pháp Giới trong kinh Hoa Nghiêm. La, nghĩa là xa lìa sự cáu bẩn; Ma, nghĩa là chuyển biến; Già, nghĩa là hợp nhất. Tức là xa lìa cáu bẩn, hướng đến thế giới trong sạch. Còn hợp nhất nghĩa là nhập (vào). Ngoài ra, kinh La Ma Già (3 quyển) do ngài Thánh Kiên dịch vào đời Tây Tấn là bản dịch khác của phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm. [X. Hoa Nghiêm Huyền Đàm Q.8].

la ma khắc lợi tu na

6683(Ramakrishna Paramahansa, 1834~1886)又作拉摩克利須那。本名 Gadādhar Chatterji, Cattopādhyāya。近代印度宗教改革家。生於孟加拉貧窮之婆羅門家庭。氏對伽梨女神(梵 Kālī)有熱烈之信仰,將之奉為宇宙與母親,而融入生活中。曾於森林中修行,凡十二年,體證與神冥合之三昧,又修習瑜伽,遂脫離現世,更名為羅摩克利須那(意指學識淵博而超俗者)。 氏嘗取回教、基督教思想與近代西歐思想相較,結論是殊途同歸。並認為所有宗教之最高旨趣均為真理,均臻達同一神,僅形式、名稱及選擇之道路不同。故若能立於包容、宥和之立場,自無我無差別之人格發出愛與光,將能獲得更多民眾信仰。在印度教基礎上提出「人類宗教」之主張,其教說主要有如下六點:(一)一切宗教均為真與善。(二)神為非人格、不可知、非理論者,遍於宇宙一切,人類之靈魂即為真正神聖者。(三)偶像崇拜為一種健全精神形式之崇拜。(四)印度教之各要素均有其價值,不可輕率倡言改革。(五)印度國民繼承最古老之精神文化遺產,超越現今西歐之無理性,不久將可領導全世界之精神文明。(六)歐美物欲、利己之文明使人墮落,印度人民應維護自己之宗教與文明,同時廣泛吸收西歐之教育與文物制度,共躋於現代世界之林。 氏盡畢生精力於印度教之確立與實踐運動,後始由其門弟集錄其生平言行,作「羅摩克利須那語錄」四篇。其高徒維威卡難達(Vivekānanda)承繼師志,於一八九七年創設羅摩克利須那傳道會(The Ramakrishna Mission),又稱羅摩克利須那教會,總部設於加爾各答。該會旨在宣揚羅摩克利須那之遺訓,與印度其他教派建立親密之情誼,以實現世界宗教之崇高理想。 ; (羅摩克利須那) (1834-1886) Phạm: Ramakrishna Paramahansa. Cũng gọi Lạp khắc lợi tu na. Vốn tên là Gadàdhar Chatterji, Cattopàdhyàya. Nhà cải cách tông giáo của Ấn Độ thời cận đại, Ông xuất thân trong 1 gia đình Bà la môn nghèo ở vùng Bengal, có niềm tin rất nhiệt thành đối với nữ thần Già Lê (Phạm: Kàlì). Ông từng tu hành trong rừng rậm 12 năm, thể chứng tam muội khế hợp với Thần. Ông còn tu Du già, thoát li trần tục, đổi tên là La Ma Khắc Lợi Tu Na (người học thức sâu rộng, vượt ra ngoài thế tục). Ông từng so sánh tư tưởng Hồi giáo, Cơ đốc giáo với tư tưởng Âu tây cận đại, rồi kết luận rằng: Tất cả chỉ là khác đường nhưng cùng đi đến 1 mục đích. Nghĩa là tôn chỉ tối cao của tông giáo đều là chân lí, đều đạt đến chỗ hợp nhất với thần, nếu có khác nhau thì chỉ là hình thức, tên gọi, sự lựa chọn và con đường đi tới mà thôi. Từ lập trường bao dung này ông chủ trương Tông giáo nhân loại và đề xuất 6 đặc điểm sau đây: 1. Tất cả tông giáo đều là chân và thiện. 2. Thần là phi nhân cách, không thể biết, phi lí luận, trùm khắp vũ trụ; linh hồn của nhân loại tức là thần thánh chân chính. 3. Sùng bái hình tượng là 1 hình thức sùng bái tinh thần toàn thiện. 4. Mỗi yếu tố của Ấn Độ giáo đều có giá trị của nó, không thể sửa đổi một cách khinh suất được. 5. Dân tộc Ấn Độ kế thừa di sản văn hóa tinh thần cổ xưa nhất, vượt cả thuyết vô lí tính của Âu tây hiện nay và không bao lâu sẽ lãnh đạo văn hóa tinh thần của toàn thế giới. 6. Nền văn minh vật dục lợi kỉ của Âu Mĩ khiến con người sa đọa, dân tộc Ấn độ nên giữ gìn nền văn hóa và tông giáo của mình, đồng thời tiếp thu rộng rãi văn hóa và giáo dục của Âu tây có chắt lọc để cùng đưa thế giới đến lí tưởng đại đồng. Sau khi ông qua đời, đệ tử của ông gom chép những lời dạy của ông mà biên tập thành bộ La Ma Khắc Lợi Tu Na Ngữ Lục gồm 4 thiên. Về sau, người đệ tử lớn của ông là Vivekànanda thừa kế chí của thầy mình, vào năm 1897 sáng lập Hội truyền đạo La Ma Khắc Lợi Tu Na (The Ramakrishna Mission), nhằm thực hiện được lí tưởng Tông giáo nhân loại của ông.

la ma khắc lợi tu na ngữ lục

6683請參閱 羅摩克利須那語錄(Sayings of Sria Rmakrishna)又稱羅摩克利須那福音。係近代印度宗教改革家羅摩克利須那(1834~1886)之言行錄。由羅摩克利須那傳道會(The Ramakrishna Mission)編輯刊行,為研究克利須那根本思想之唯一文獻。分為四篇:人類與世界、人類之向上、人類與神格、箴言與譬喻,共計一一二○項,闡述其宗教體驗與教理信條。其思想頗受吠檀多哲學、毘濕奴派諸聖典之影響。特別值得注意者有二:(一)反對現實世界僅是摩耶(梵 mayā,幻像)之說法,而認為透過個人心靈之自我修煉亦可導致普遍之「精神完善」。(二)以信仰(梵 bhakti ,即對神之絕對歸依)為契機,導引印度教趨於一神教之發展;而歸於一神之途徑則為知識(梵 jñāna)、信仰、行為(梵 karma)等三種實踐方式。〔Mahendranath Gupta: The Gospel of Sri Ramakrishna(in Bengali)1912; Max Müller: Ramakrishna, his Life and Sayings〕 ; (羅摩克利須那語錄) Sayings of Sri Ramakrishna Cũng gọi La Ma Khắc Lợi Tu Na Phúc Âm. Ngữ lục của ông Ramakrishna do Hội truyền đạo La Ma Khắc Lợi Tu Na biên tập và ấn hành, là tư liệu duy nhất để nghiên cứu tư tưởng của Khắc Lợi Tu Na. Nội dung gồm 1120 hạng mục được chia làm 4 thiên: Nhân loại và thế giới, Hướng đi lên của nhân loại, Nhân loại và Thần cách, Châm ngôn và Thí dụ. [X. Mahendranath Gupta: The Gospel of Sri Ramakrishna (in Bengali) 1912; Max Müller: Ramakrishna, his Life and Sayings].

la ma nan đà

6685梵名 Rāmānanda。近世印度教虔誠派領袖。為羅摩拏遮之繼承人。相傳生於阿拉哈巴,流浪於印度各地,約於一四三○年後定居北印貝那拉斯(Benares,即今瓦拉那西)。當十三、四世紀頃,崇拜羅摩(梵 Rāma)之羅摩派於南印盛行時,氏於北印鼓吹羅摩與其妃私多(梵 Sītā)為至上神,應絕對歸依,樹立羅摩派在北印之發展,形成羅摩難陀派。氏反對傳統保守之陋習,否定種姓制度,推行以方言、俗語布教,影響範圍至廣。其合理化、近代化之思想被後世改革印度教者奉為圭臬,於近代印度教之發展,扮演極重要之角色。 羅摩難陀派屬印度教毘濕奴派,信奉羅摩、私多及其眷屬,主張歸依此最高神即得解脫。然並不排斥偶像崇拜,亦不背離印度教之神界,而於其中取得圓滿之妥協。

la ma nã già

6684(1055~1137)梵名 Rāmānuja。印度吠檀多學派之哲學家,印度教虔誠派之先驅者。生於南印度馬德拉斯。先受吠檀多學派不一不異說(梵 Bhedābheda),後因受史利伐依斯那伐派(梵 Śrīvaiṣṇava)之影響,遂融合奧義書主張「梵我一如」之哲學思想,與印度教絕對歸依毘濕奴神之宗教思想,發展為羅摩拏遮派。該教派提倡制限不二說(梵 Viśiṣṭādvaita),認為神、世界及我(個體靈魂)皆為真實,世界及我皆依存於神,並為神之身體,神即是永恆且完善之「梵」。神之人格化表現或化身為毘濕奴。宗教之解脫並非與「梵」合一,而係對毘濕奴之崇信,神之化身顯示神之仁愛。其理論為毘濕奴教提供哲學基礎,對近代印度教諸派均有相當之影響。代表作為注釋梵書之 Srī-bhāṣya,另著有吠陀聖典綱要(梵 Vedārtha-saṃgraha)。

la ma quốc

Ramagrama (S)A ma la quốc.

la ma ấn độ

Sông La Ma phát nguồn từ A Phú Hãn—Helmend, a river rising in Afghanistan.

la môn

See Brahmana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

la mạn na phái

6678巴利名 Rāmañña-nikāya。又稱藍曼匿派、蒙族派。為錫蘭三大佛教派別之一,屬南傳上座部佛教。一八六四年自下緬甸傳入,約有二千多名比丘。創始者為阿摩羅普羅派比丘阿般格訶梵多印陀沙婆(Ambagahawatta indasabha),因不滿對比丘受戒實行種姓限制,遂於緬甸羅曼那地區創建本派。其主要寺院在今斯里蘭卡之卡盧塔拉附近。設有大長老主席一人,統領全國派下之僧人,副主席四人,下分事務議會及僧伽議會。本派僧人熱衷研究學問,故學者輩出。 本派規定,比丘終身出家,不實行短期出家制度,且出家無種族之差別,全派團結和合一致。戒律較嚴,外出須持多羅葉以遮陽;不得進入印度教寺廟及參與其儀式;不得至坎底佛牙寺朝聖;不得向其他教派比丘布施;不信奉釋迦牟尼佛以外之其他神靈等。其後分裂為阿古勒沙(Akuressa)、菴爾羯利瓦(Elgiriva)、可倫坡(Colombo)三派。 ; Ramannanikāya (P)Một trong ba tông phái lớn ở Tích Lan. Tông phái này do Tỳ kheo Ambagahawatta sáng lập ở Miến điện vào giữa thế kỷ 19. ; (羅曼那派) Pàli: Ràmaĩĩa-nikàya. Cũng gọi Lam man nặc phái, Mông tộc phái. Tông phái Phật giáo thuộc Nam truyền Thượng tọa bộ ở Tích Lan do Ambagahawatta indasabha, thuộc phái A Ma La Phổ La sáng lập. Là 1 trong 3 tông phái lớn của Phật giáo Tích Lan. Vì bất mãn với sự hạn chế về chủng tính trong việc thụ giới trong giáo đoàn, nên tỉ khưu Ambagahawatta indasabha mới đến vùng La Mạn Na của Miến Điện sáng lập ra phái này. Năm 1864, phái này từ hạ Miến Điện truyền vào Sri Lanka, có khoảng hơn 2000 tỉ khưu. Chùa viện chủ yếu của phái này hiện nay ở vùng phụ cận Ca Lô Tháp Lạp ở Sri Lanka. Hệ thống tổ chức của phái này là trên hết có 1 vị Đại trưởng lão làm chủ tịch, thống lãnh chúng tăng bản phái trong toàn quốc, dưới có 4 vị phó chủ tịch, kế đó chia làm 2 ban: Sự vụ nghị hội và Tăng già nghị hội. Phái này qui định tỉ khưu xuất gia trọn đời, không thực hành chế độ xuất gia trong thời gian ngắn, hơn nữa, người xuất gia không phân biệt chủng tộc, hòa hợp đoàn kết, giới luật tinh nghiêm; khi đi ra phải cầm lá đa la(lá bối)để che nắng; không được đi vào đền thờ của người Ấn Độ giáo và tham dự nghi lễ của họ; không được đến lễ bái chùa Phật nha (chùa thờ răng của đức Phật)ở thành phố Khảm Để (Kandy); không được bố thí cho các tỉ khưu thuộc giáo phái khác, không tin thờ bất cứ vị thần linh nào khác ngoài đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tăng chúng phái này rất sùng thượng học vấn nên đã sản sinh khá nhiều bậc thạc học. Về sau, phái này chia ra làm 3 chi phái là: A Lặc Sa (Akuresa), Am Nhĩ Yết Lợi Ngõa (Elgiriva) và Khả Luân Pha (Colombo).

la mắng

To rebuke—To scold.

la ngạ

Raga (skt)—Tham dục—Desire—Covetousness.

la ngật sái

6920梵語 lakṣaṇa 之音譯。又作邏乞洒、攞乞尖拏。意譯為相(即事物之諸相)、特徵。大日經疏卷七(大三九‧六五五上):「梵云邏吃灑,此翻為相。(中略)諸法雖無常、無我,而有各各相,如地堅、水濕、火熱、風動等,捨為施相,不悔不惱為持戒相,(中略)無織為涅槃相等。」 ; Laksana (skt)—Tướng trạng của sự vật—A distinguishing mark, sign, or characteristic.

la ngộ không

6676(1442~1527)為明清時代民間宗教無為教之開祖,其後我國東南一帶之齋教龍華派亦推之為開祖。山東即墨牢山(嶗山)人。又名羅因、羅清、羅靜、羅清庵。字懷清、愛泉。號無為居士、靜卿、孟鴻、一清道人。法號普仁。自幼孤苦,三歲喪父,七歲喪母,賴其叔羅奎撫育,以採樵為生,備嚐人世酸楚。十四歲時,代其叔赴密雲衛從軍。嘗隨軍征伐巫人之亂。退伍還鄉後,有出世之志,遂皈依佛教。初入淨土法門,念佛八年,自覺不契,乃轉學自力教,鑽研金剛般若科儀,並四處參訪。後至池州府九華山白雲洞禮臨濟宗系統之李頭陀為師,並日夜勤修坐禪。李師乃賜法名為真慧,號悟空。至羅氏四十一歲時(一說五十二歲,或謂六十七歲),自覺徹悟心地法門,透視宇宙實相。 羅氏根據金剛般若經之思想,力說無為解脫之無為法,弘傳個人主義傾向之勤學清修宗風,當時之禪僧及學法居士追隨者極眾。羅氏著有苦功悟道卷、嘆世無為卷、破邪顯正鑰匙卷(上下兩冊)、正信除疑自在卷、巍巍不動泰山深根結果寶卷等,稱為「五部六冊」,開始無為教之弘傳。初赴北京度化劉木通等人,法緣甚盛。曾蒙明武宗敕封為「齊天大德護國真人」,而於金鑾殿上說法。未久因信眾過於踴躍,為人進讒於官府,被捕入獄數年。出獄後,在北京建立白衣道場。嘉靖六年歿。 羅氏所創無為教之末流至清代演成江南一帶之羅教,傾向祕密傳教之性質,常被視為與白蓮教同類之邪教而受查禁。然大抵而言,清代之羅教結社僅以羅悟空為信仰上之開祖,而其組織與結社性質實已異於羅氏所創之無為教。又除上記之外,羅氏另著有悟道行腳記等文。(參閱「無為教」5113) ; (羅悟空) (1442-1527) Cũng gọi: La Nhân, La Thanh, La Tĩnh, La Thanh Am, tự Hoài Thanh, Ái Tuyền, hiệu Vô Vi Cư Sĩ, Tĩnh Khanh, Mạnh Hồng, Nhất Thanh đạo nhân, pháp hiệu Phổ Nhân, người Lao Sơn, Tức Mặc, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Là vị Khai tổ của Vô Vi Giáo, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh. Sư mồ côi từ thủa nhỏ, 3 tuổi cha qua đời, 7 tuổi mất mẹ, nhờ được chú là La khuê nuôi nấng, đốn củi mưu sinh, nếm đủ mùi đắng cay nhân thế. Năm 14 tuổi sư thay thế cho chú đi theo quân dẹp loạn người Vu ở Vân vệ. Sau khi xuất ngũ về làng, có chí xuất thế, liền qui y Phật pháp. Mới đầu, sư tu theo pháp môn Tịnh độ, niệm Phật 8 năm, tự cảm thấy không khế hợp, bèn chuyển sang nghiên cứu khoa nghi Kim cương bát nhã và đi tham vấn khắp nơi. Sau, sư đến động Bạch Vân ở núi Cửu Hoa tại phủ Trì Châu lễ ngài Lí Đầu Đà thuộc tông Lâm Tế làm thầy, được ban cho pháp danh là Chân Tuệ, hiệu Ngộ Không. Từ đó, ngày đêm sư chuyên tâm tinh tiến tọa thiền. Năm 41 tuổi (có thuyết nói 52 tuổi, hoặc 67 tuổi)sư thấu suốt pháp môn tâm địa, tỏ ngộ được thực tướng các pháp. Sau, sư căn cứ vào tư tưởng kinh Kim Cương Bát Nhã tuyên dương pháp vô vi giải thoát, hoằng truyền tông phong tự học thanh tu, có khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa. Đầu tiên, sư đến Bắc Kinh hóa độ nhóm các ông Lưu Mộc Thông, v.v... pháp duyên rất thịnh, từng được vua Vũ Tông nhà Minh ban hiệu là Tề Thiên Đại Đức Hộ Quốc Chân Nhân và được thỉnh thuyết pháp ở điện Kim loan. Không bao lâu, vì số người tin theo sư quá đông, bị ghen ghét và sàm tấu, nên sư bị bắt giam mấy năm. Sau khi ra tù, sư đến Bắc Kinh kiến lập đạo tràng bạch y. Sư mất vào năm Gia Tĩnh thứ 6. Sư có các tác phẩm: Khổ Công Ngộ Đạo, Thán Thế Vô Vi, Phá Tà Hiển Chính Thược Thỉ, Chính Tín Trừ Nghi Tự Tại, Ngộ Đạo Hành Cước Kí.

la nha ngật bí tư

Rajagrha (skt)—See La Duyệt and Vương Xá.

la nhã

Raja (skt)—Quốc vương—A king.

la phù sơn

6678位於廣東廣州東方博羅縣西北之羅浮山脈中。長二八○餘公里,高峰四百餘座,為嶺南名勝,寺院道觀頗多。此山以瑰奇靈秀著稱。自漢代以降,史不絕書。據太平御覽卷四十一所引載,此山為羅、浮二山之合體,晉代葛洪於此山得仙術,文人謝靈運作羅浮山賦,為世所知。 在佛教史上,相傳東晉敦煌沙門單道開為最初入羅浮山者。其後僧徒往來漸多,如支法防、僧景、道漸、慧遠、慧持諸師均曾入山。南朝劉宋時代,酒泉僧慧覽住此山天宮寺;梁代智藥亦創建寶積寺。此外並有延祥、南樓、龍華、資福、華首、華嚴、大慈、延慶諸寺,歷代名僧如希遷、惟儼、大顛、行明等均曾留錫於此。又據清代宋廣業輯羅浮山志會編卷二載,其中寶積、龍華、資福、東林、南樓五寺,已於明洪武二十五年(1392)併入延慶寺。〔羅浮志(明代陳璉撰,清代陳伯陶增補)〕 ; (羅浮山) Núi ở phía tây bắc huyện Bác la, phía đông Quảng châu, tỉnh Quảng đông, Trung quốc. Núi này dài hơn 280 cây số, có hơn 400 ngọn, thắng cảnh ở vùng Lĩnh nam, nổi tiếng thiêng liêng linh dị. Trong núi có rất nhiều chùa viện Phật giáo và nhà thờ của Đạo giáo. Cứ theo Thái bình ngự lãm quyển 41, thì La phù là tên gọi chung 2 núi La sơn và Phù sơn, chính nơi đây ông Cát hồng đời Tấn đã được đạo tiên và nhà văn Tạ linh vận làm bài phú La phù sơn rất nổi tiếng. Về phương diện lịch sử Phật giáo, tương truyền, vào đời Đông Tấn, sa môn Đơn đạo khai ở Đôn hoàng là người đầu tiên đến núi La phù. Về sau, chư tăng đến đây ngày càng đông, như các ngài: Chi pháp phòng, Tăng cảnh, Đạo tiệm, Tuệ viễn, Tuệ trì, v.v... Đời Lưu Tống thuộc Nam triều, có ngài Tuệ lãm trụ trì chùa Thiên cung, đời Lương, ngài Trí dược sáng lập chùa Bảo tích ở núi này. Ngoài ra còn có các chùa Diên tường, Nam lâu, Long hoa, Tư phúc, Hoa thủ, Hoa nghiêm, Đại từ, Diên khánh, v.v... và các vị danh tăng các đời như: Hi thiên, Duy nghiễm, Đại điên, Hạnh minh, v.v...đều đã từng chú tích núi này. [X. La phù chí (do Trần liễn soạn vào đời Minh, Trần bá đào đời Thanh bổ sung thêm)].

la quí

Trưởng lão La Quí (852-936)—Senior Venerable La Quí (852-936)—Trưởng lão La Quí sanh năm 852 tại An Chân, Bắc Việt, pháp tử đời thứ mười dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư quê ở An Châu. Thuở nhỏ sư đi du phương tìm thầy học thiền. Sau sư gặp Thiền Sư Thông Thiện và trở thành một trong những đệ tử nổi tiếng của thiền sư Thông Thiện tại chùa Thiền Chúng. Sau khi Thầy thị tịch, sư dời về chùa Song Lâm ở Thiên Đức tiếp tục hoằng hóa đến khi thị tịch vào năm 936 sau Tây Lịch—Senior Venerable La Quí was born in 852 in An Chân, North Vietnam, the the Dharma heir of the tenth lineage of the Vinitaruci Sect, a Vietnamese monk from An Chân. He wandered to seek good and famous zen masters since he was young. Later he met Zen master Thông Thiện at Thiền Chúng Temple and became one of his most outstanding disciples. After his master passed away, he moved to stay at Song Lâm Temple in Phù Ninh, Thiên Đức to expand Buddhism until he died in 936 A.D.

La Quý An

羅貴安; 852-936|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 10. Sư nối pháp Thiền sư Thông Thiện. Môn đệ kế thừa của Sư là Thiền Ông Ðạo Giả.|Sử sách chẳng viết nhiều về Sư, chỉ biết Sư họ Ðinh, tham vấn nhiều nơi nhưng không khế hợp. Sau, Sư đến Thiền sư Thông Thiện tại chùa Thiền Chúng và nơi đây nhân một câu của Thông Thiện ngộ đạo.|Thông Thiện sắp tịch gọi Sư đến dạy: »Thầy ta là Ðịnh Không từng dặn dò rằng: ›Con khéo giữ gìn pháp của ta, gặp người họ Ðinh hãy truyền‹. Ngươi gắng đảm đang lấy, nay ta đi«|Sau khi đắc pháp, Sư chu du tuỳ duyên giáo hoá và theo lời dạy của Thông Thiện hành đạo.|Niên hiệu Thanh Thái thứ 3 đời nhà Ðường, sau khi phó chúc cho đệ tử là Thiền Ông xong, Sư an nhiên thị tịch, thọ 85 tuổi.

la sát

6673梵語 rākṣasa。惡鬼之名。又作羅剎娑(羅剎婆為誤寫)、羅叉娑、羅乞察娑、阿落剎娑。意譯為可畏、速疾鬼、護者。女則稱羅剎女、羅叉私(梵 rākṣasī,又作羅剎斯)。乃印度神話中之惡魔,最早見於梨俱吠陀。相傳原為印度土著民族之名稱,雅利安人征服印度後,遂成為惡人之代名詞,演變為惡鬼之總名。男羅剎為黑身、朱髮、綠眼,女羅剎則如絕美婦人,富有魅人之力,專食人之血肉。相傳在楞伽島(即錫蘭)中,即有羅剎女國,此於佛本行集經卷四十九、有部毘奈耶卷四十七、慧琳音義卷七等均有記載。又羅剎具神通力,可於空際疾飛,或速行地面,為暴惡可畏之鬼。 此外,羅剎亦為地獄之獄卒,職司呵責罪人。又稱阿傍、阿傍羅剎、阿防、旁。其形狀有多種,或牛頭人手,或具有牛蹄,力氣甚大,或為鹿頭、羊頭、兔頭等。 以上各類惡鬼性質之羅剎,於諸經中,偶亦轉變成佛教之守護神,稱為羅剎天,乃十二天之一。彼等呈神王形,身披甲冑,手上持刀,跨騎白獅。又如十羅剎女即法華經陀羅尼品所說之守護神。 在密教,於阿闍梨所傳曼荼羅中,有羅剎眾及女羅剎;於胎藏現圖曼荼羅之外院西南隅有羅剎天,左右共有四童子,右側二位為羅剎童男、羅剎童女。〔金光明最勝王經卷六、大智度論卷十六、慧琳音義卷二十五、慧苑音義卷下、大唐西域記卷十一〕 ; Rakṣasa (S), Rākkhasa (P)1- Bạo ác quỷ. Một trong 8 loại quỉ: Càn thát bà, Đảm tinh quỉ, Cưu bàn trà, Ngạ quỉ, Chư long, Phú đơn na, Dạ xoa, La sát. 2- La Sát thiên: vị trời góc Tây nam Ngoại viện Kim Cang bộ, thuộc Mạn đà la Thai tạng giới và Kim Cang giới, là một trong những vị trời trấn ở tám phương. ; Ràksasas, ràksasi (S). Malignant spirits, malevolent demons. ; Rakshas or Raksasa (skt). 1) Ma quỷ trông khiếp đảm, có thân hình đen ngòm, tóc đỏ, mắt xanh. La sát nổi tiếng sát hại sát hại con người—A terrifying ghost or demon with black body, red hair, and green eyes. Rakshas are reputed to be devoured of humans. 2) Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms: a) La Sát là tên chỉ chung các loài ác quỷ hung bạo; có lúc kém hơn Dạ Xoa, có lúc tương tự—Raksasa means harm, injury, maglinant spirits, demons; sometimes considered inferior to Yaksas, sometimes similar. b) La Sát là tên của một dân tộc man rợ thời cổ ở Ấn Độ: A barbarian race of ancient India. ; (羅刹) Phạm: Ràkwasa. Cũng gọi La sát sa, La xoa sa, La khất sát sa, A lạc sát sa. Hán dịch: Khả úy, Tốc tật quỉ, Hộ giả. Nữ tính thì gọi: La sát nữ, La xoa tư (Phạm: Ràkwasìcũng gọi La sát tư). Loại ác quỉ trong thần thoại Ấn độ, thấy được ghi sớm nhất trong Lê câu phệ đà. Tương truyền, La sát vốn là tên gọi thổ dân Ấn độ, sau khi người Nhã lợi an (Aryan) chinh phục Ấn độ, La sát bèn trở thành 1 đại danh từ chỉ cho kẻ ác, diễn biến dần dần được dùng làm tên gọi chung cho loài ác quỉ. Nam La sát có thân hình màu đen, tóc đỏ, mắt xanh, nữ La sát thì giống như người đàn bà tuyệt đẹp, đầy sức quyến rũ, chuyên ăn máu thịt loài người. Tương truyền, ở trong đảo Lăng già (tức Tích lan), có cõi nước của nữ La sát. Loài quỉ này được ghi trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 49, Hữu bộ tì nại da quyển 47 và Tuệ lâm âm nghĩa quyển 7, v.v... Quỉ La sát có sức thần thông có thể bay nhanh ở trong hư không hoặc lướt nhanh trên mặt đất, hung ác đáng sợ. La sát cũng còn chỉ cho loại ngục tốt ở địa ngục, phụ trách việc trừng phạt tội nhân. Cũng gọi là A bàng, A bàng la sát, A phòng, Bàng. Hình dáng của loài quỉ này, hoặc là đầu trâu tay người, hoặc có móng chân trâu, hoặc là người đầu nai, đầu dê, đầu thỏ, v.v... Ngoài các loại ác La sát nói trên, trong các kinh còn ghi 1 loại La sát là thần thủ hộ của Phật giáo, gọi là La sát thiên, là 1 trong 12 vị trời. Những La sát này có hình dáng Thần vương, mình mặc áo giáp, đầu đội mũ sắt, tay cầm dao, cỡi sư tử trắng. Lại như 10 nữ La sát được nói trong phẩm Đà la ni kinh Pháp hoa cũng đều là thần Thủ hộ... [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.6; luận Đại trí độ Q.16; Tuệ lâm âm nghĩa Q.25; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Đại đường tây vực kí Q.11].

la sát la

Aksara (skt)—Chữ—A syllable, word, letter.

la sát nhật

6674為凶日之名。謂若於是日舉作百事,必有殃禍。據宿曜經卷下載,羅剎日有七,即:(一)太陽直日,於此日,月與「冒」合。(二)太陰直日,於此日,月與「鬼」合。(三)火曜直日,於此日,月與「翼」合。(四)水曜直日,於此日,月與「參」合。(五)木曜直日,於此日,月與「底」合。(六)金曜直日,於此日,月與「奎」合。(七)土曜直日,於此日,月與「柳」合。 ; (羅刹日) Chỉ cho các ngày xấu. Nếu làm bất cứ việc gì vào những ngày đó cũng đều gặp trở ngại, khó thành tựu được. Theo kinh Tú diệu quyển hạ, có 7 ngày La sát là: 1. Thái dương trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Mạo. 2. Thái âm trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Quỉ. 3. Hỏa diệu trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Dực. 4. Thủy diệu trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Sâm. 5. Mộc diệu trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Để. 6. Kim diệu trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Khuê. 7. Thổ diệu trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Liễu.

la sát nữ

Rakṣasī (S). ; Raksasi (skt)—La Sát Tư—La Xoa Tư—Loại nữ quỷ. Đảo Tích Lan trước kia là nơi trú ngụ của 500 La Sát Nữ—Female demons. Lanka in Ceylon was the abode of 500 female demons.

la sát quốc

6675梵名 Rākṣasī-dvīpa。為食人羅剎所居之處。法華經普門品(大九‧五六下):「入於大海,假使黑風吹其船舫,飄墮羅剎鬼國。」又慧琳音義卷七亦謂海島中有羅剎女國。據有部毘奈耶卷四十七、大唐西域記卷十一僧伽羅國條所載,羅剎女國即指錫蘭島(又稱楞伽島)。蓋錫蘭為羅剎住處之說,係源於古印度史詩羅摩耶那(梵 Rāmāyaṇa),謂羅摩(梵 Rāma)為救回其妃私多(梵 Śītā),攻陷楞伽島,殺羅剎鬼王邏伐拏(梵 Rāvaṇa)之故事而來。〔佛本行集經卷四十九「五百比丘因緣品」、大毘婆沙論卷七十八〕 ; Một hòn đảo trong Ấn Độ Dương, người ta nói là đảo Tích Lan—An island in the Indian Ocean, supposed to be Ceylon. ; (羅刹國) Phạm:Ràkwasì-dvìpa. Chỗ ở của quỉ La sát ăn thịt người. Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa (Đại 9, 56 hạ), nói: Nếu có người đi vào biển lớn, giả sử cuồng phong thổi thuyền bè của người ấy trôi giạt vào nước quỉ La sát... Còn Hữu bộ tì nại da quyển 47 và điều Tăng già la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 11, thì cho rằng nước nữ La sát tức chỉ cho đảo Tích lan(cũng gọi đảo Lăng già). Thuyết cho đảo Tích lan là chỗ ở của La sát được bắt nguồn từ sự tích trong thiên Anh hùng ca Ràmàyaịa của Ấn độ xưa, trong đó kể rằng, để cứu vợ mình là Tư đa (Phạm: Zìtà) Thái tử La ma (Phạm: Ràma) đánh phá đảo Lăng già, giết chết quỉ vương La sát là La phạt noa (Phạm:Ràvaịa). [X. phẩm Ngũ bách tỉ khưu nhân duyên trong kinh Phật bản hạnh tập Q.49; luận Đại tì bà sa Q.78].

la sát ta

La Sát Nam—A male deomn—See La Sát.

la sát thiên

6673羅剎,梵名 Rākṣasa,一作 Nairṛtī,音譯作涅哩底、涅哩帝、禰哩底。即密教之羅剎主天,鬼王之名。屬八方天之一,十二天之一,係西南方之護方天。位列胎藏界及金剛界曼荼羅外金剛部西南隅。 在胎藏界曼荼羅中,羅剎天身呈赤肉色,瞋目著鎧,左臂向外,以拇指捻小指、無名指,立食指、中指,表示刀印。右手執劍,置於腰側,坐於圓座上。其左右兩邊各有二位童子,左側前方之童子左手捧鉢,右手作添加狀;後方之童子身呈肉色,左手作拳,右手執棒,豎左膝交坐。右側後方為羅剎童男,身呈肉色,右手執棒,左手作拳,舉至耳邊;前方為羅剎童女,手作拳,安於腰前。又十二天供儀軌載其形像為身著甲冑,右手持刀,乘坐白獅子。此外,羅剎天掌管西南方,故西南方又稱涅哩底方。〔大日經疏卷五、卷十、卷十四、供養護世八天法〕 ; Rakṣamalavata (S) Tên một vị thiên ; Vị Trời kiểm soát hết thảy các La Sát, trấn giữ góc tây nam—The deva controlling these demons, who has his abode in the southwest corner of the heaven. ; (羅刹天) La sát, Phạm: Ràkwasa,Nairftì. Hán âm: Niết lí để, Niết lí đế, Nễ lí để. Vị trời ngồi ở góc tây nam của Kim cương bộ ngoài trên Mạn đồ la Thai tạng giới và Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong các vị trời trấn giữ ở 8 phương, cũng là 1 trong 12 vị trời. Trong Mạn đồ la Thai tạng giới, thân hình La sát thiên có màu đỏ, ngồi trên tòa tròn, mặc áo giáp, mắt có vẻ giận dữ, cánh tay trái hướng ra ngoài, ngón cái bấm lấy ngón út và ngón vô danh, còn ngón trỏ và ngón giữa dựng đứng, tượng trưng cho Đao ấn(ấn dao); tayphảicầm thanh kiếm, để ở cạnh sườn, mũi kiếm dựng đứng. Hai bên, mỗi bên có 2 vị đồng tử. Bên trái La sát thiên, vị đồng tử phía trước tay trái bưng bát, tay phải đặt ở miệng bát, vị đồng tử phía sau mình màu da người, tay trái nắm lại thành quyền, tay phải cầm cây gậy, ngồi tréo chân, đầu gối bên trái dựng đứng. Bên phải La sát thiên, phía trước là đồng nữ La sát, tay nắm lại đặt ở trước eo; phía sau là đồng nam La sát, thân màu da người, tay phải cầm cây gậy, tay trái nắm lại thành quyền, đưa lên ngang tai. Lại theo Thập nhị thiên cúng nghi quĩ, thì hình tượng vị trời này mình mặc giáp trụ, tay phải cầm dao, cỡi sư tử trắng. Ngoài ra, La sát thiên cai quản phương tây nam, vì thế nên phương tây nam cũng được gọi là phương Niết lí để. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5, 10, 14; Cúng dường hộ thế bát thiên pháp].

la sát tư

See La Sát and La Sát Nữ.

la sính

6679(1733~1799)清代畫家。揚州人(一說歙縣)。字遯夫,號兩峰,別號「花之寺僧」。為揚州八怪之一。幼年喪父,讀書自勵,博聞強記,通畫學十三科,讀奇書五千卷,弱冠之年,已為青年詩畫家。嘗夢作老僧狀,入花之寺,該寺方丈往勘之,因悟其前生,遂名花之寺僧。潛心參究禪道,終得省悟。 氏從金冬心學畫,工人物、佛像,兼擅花果、梅竹,亦作山水,尤善畫鬼,所繪「鬼趣圖」寓含諷世意味,見稱於當時。所繪鬼魅多小頭銳面,如鬼趣圖第六圖中有一鬼,其頭與身之比例,約十比一,較之現代漫畫,尤為誇張,此種極富想像之創作,乃我國畫壇所罕見者。相傳氏之雙目呈碧色,白晝能見鬼物,生平所睹非一,故所繪亦不止一本。此外,氏著有香葉草堂詩。嘉慶四年逝世,享年六十七。其妻方婉儀,號稱白蓮居士,亦擅畫梅竹蘭石。〔清史卷五○三、清畫家詩史丁下〕

la sơn

Loshan (C).

La Sơn Ðạo Nhàn

羅山道閑; C: luóshān dàoxián; J: rasan dōkan; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc dòng Thanh Nguyên Hành Tư, môn đệ của Thiền sư Nham Ðầu Toàn Hoát. Môn đệ của Sư có Minh Chiêu Ðức Khiêm xuất sắc nhất.

la sơn đạo nhân

Rasan Dōkan (S)Tên một vị sư.

la tang khước tiếp

6677(1567~1662)西藏名 Blo-bzaṅ chos-kyi rgyal-mtshan。意譯善慧法幢。又譯作羅桑卻吉堅贊、羅桑瓊結。即班禪四世之名。生於後藏拉甲爾地方。明隆慶四年(1570)被迎入札什倫布寺坐牀。萬曆二十八年(1600)任札什倫布寺堪布(住持),並往前藏與達賴四世會面,執弟子禮,從受時輪、金剛鬘教法,並受具足戒。復至賽舉寺從佛海學曼殊金剛、紅黑兩種大威德、三派能怖威德等無上瑜伽部法、金剛界、吉祥等瑜伽部法,及毘盧遮那成佛、金剛手灌頂等行部法,又立三三昧耶、尊勝摧壞、大白傘蓋、光明天女等事部法,共有四部密法之三十餘種灌頂及多種修法。 迨達賴四世示寂(1616),迦爾瑪迦爾居派倚恃藏巴汗之勢力,壓迫格魯派,師周旋其間,力撐危局,兼任色拉、哲蚌二寺堪布,並主持達賴五世之尋認、授戒、坐牀諸事。及達賴稍長,師遂聯合和碩特蒙古固始汗入藏,推翻藏巴汗,自此達賴居前藏,班禪居後藏。崇德七年(1642)遣使赴京,朝覲清太宗,進貢方物。清順治二年(1645),和碩特蒙古固始汗授予「班禪博克多」(意為大學者、睿智英武者)之稱號,是為班禪名號之始。順治四年,世祖復授以「金剛上師」之號。康熙元年於札什倫布寺示寂,世壽九十六。 師之學問修證極為高深,其著述皆屬發揮經論深義、利益時機之言教,現存四函,包括傳記類十五種、上師瑜伽類四種、顯密教授類十八種、密法類三十五種、最密法類十種、密法附傳類十五種、雜法類八種。

la tang ích tây

6677(1663~1737)西藏名 Blo-bzaṅ ye-śes。即班禪五世之名。轉生於後藏托布結珠倉地方。清康熙六年(1667)被迎至札什倫布寺坐牀,師事達賴五世。二十一年,達賴五世示寂,主持達賴六世之尋認、授戒諸事。迨拉藏汗與第巴桑結交惡,達賴六世被廢,於奉清聖祖之詔赴京途中,示寂於青海。其後,羅桑益西又為拉藏汗所立之伊西嘉穆錯授戒、命名;至達賴七世羅卜藏噶勒藏嘉穆錯進藏,復主持其坐牀大典。康熙五十二年(1713),清廷特旨加封「額爾德尼」,並賜金冊、金印、莊田、人戶,以作香燈之費,遂確立黃教第二大活佛系統。乾隆二年示寂,世壽七十五。

la thập

Kumàrajìva (S). Famous Indian monk, translator of sùtras. ; See Kumarajiva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

la thập mạn na

6672梵名 Lakṣmaṇa。又作羅奇曼。即印度史詩羅摩耶那主角羅摩(梵 Rāma)之弟,為印度教羅摩派崇拜之英雄人物之一。曾跟隨羅摩及其妃私多(梵 Śītā)流放;後因私多遭邏伐拏(梵 Rāvaṇa)所奪,羅什乃協助羅摩救回私多。

la thập pháp sư

Xem Ngài Cưu Ma la thập.

la thập tháp

6672又稱倒影塔。位於甘肅武威城內。相傳係前秦苻堅之國師鳩摩羅什往中原時,途經武威之譯經處,羅什前後在此宣揚佛法十七年。今僅存孤塔一座,傳聞葬有羅什之舌。 ; (羅什塔) Tháp thờ ngài Cưu ma la thập. Cũng gọi Đảo ảnh tháp. Tháp ở trong thành Vũ uy, tỉnh Cam túc, Trung quốc. Thành Vũ uy là nơi ngài Cưu ma la thập ở dịch kinh, tuyên dương Phật pháp trong 17 năm trước khi ngài được thỉnh về Trường an vào thời Tiền Tần. Tương truyền, trong tháp có chôn cái lưỡi của ngài Cưu ma la La Sát Thiên thập.

la thệ

Rajni (skt)—Hoàng hâu00Ạ queen—A princess—See La Nhã.

la thời hiến

6676(1914~ )廣東順德人。畢業於中山大學中國語言文學系(1939)及研究院中國語言文學部(1941)。歷任中山大學哲學系講師、副教授,及廣東國民大學與廣州法學院教授。先後主講大乘及小乘佛學、佛典翻譯文學等科目。 羅氏少從寶靜法師聽講,後皈依太虛大師,廣習天台、唯識、中觀之學。早年著作有大乘掌中論略疏、唯識學之源流、唐五代之法難與中國佛教。一九四九年抵香港,除教學外,更在香海蓮社、三輪佛學社、香港大學及香港中文大學校外進修部等機構宣講成唯識論、解深密經、金剛經、因明入正理論,及佛學專題等,達數十年之久,對佛法在香港之流布,貢獻極大。一九六二年,應金剛乘學會之邀,主編佛經選要。一九六五年,創立法相學會,出版法相學會集刊。著作除上記外,另有能斷金剛般若波羅蜜多經纂釋、成唯識論述記刪注等。

la trai

6686禪林用語。又作囉齋、邏齋。即巡遊四方行乞,接受施主齋食之供養。為托鉢、行乞、乞食之異稱。羅同邏,巡邏之義,即次第行乞;又有網羅之義,即乞食於四方而無遺餘。月江正印禪師語錄卷下羅漢贊(卍續一二三‧一四一下):「不為自己邏齋供,只要眾生破吝慳。」〔禪林象器箋飲啖門〕 ; Lapatra (S)Bình bát đi khất thực. ; To collect contributions of food, an almsbowl. ; (羅齋) Cũng gọi Thác bát, Hành khất, Khất thực. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lần lượt đến từng nhà để xin thức ăn. La tức là khất thực theo thứ tự, không chọn nhà giàu bỏ nhà nghèo; hoặc cũng có nghĩa võng la, tức là đi khất thực khắp nơi, không bỏ sót nhà nào. La hán tán trong Nguyệt giang Chính ấn thiền sư ngữ lục quyển hạ (Vạn tục 123, 141 hạ), nói: Không phải chỉ xin thức ăn (la trai)cho chính mình, mà là muốn phá trừ tâm bỏn sẻn của chúng sinh. [X. môn Ẩm đạm trong Thiền lâm tượng khí tiên].

la tạo y

6673皂,即黑色,三種壞色之一;此黑色為淺赤深黑之色,或混雜青黑、紫黑、赤黑之不正色。指以黑色絲織品所作之禪衣。 ; (羅皂衣) Áo ca sa may bằng vải màu đen. Tạo là màu đen do màu đỏ lợt và đen thẫm hòa lẫn với nhau mà thành, chứ không phải màu đen thuần chính. Là 1 trong 3 thứ hoại sắc.

la việt

Rajagrha (skt)—See La Duyệt and Vương Xá.

la vân

6679<一>指羅睺羅。為佛陀十大弟子之一。(參閱「羅睺羅」6681)[1] <二>(542~616)隋代僧。荊州府松滋縣人,俗姓邢。兄弟五人皆剃度出家,長兄道顒,師為幼弟。師自上東明寺出家後,隨楊都興皇寺之法朗(師傳中誤作道朗)學大智度論、中論、百論、十二門論等四論。法朗示寂後,轉謁福緣寺之亘法師。未幾應萤禪寺陟禪師之請,歸鄉弘法,創建還鄉寺。後住龍泉寺達五十餘年,宣講四經、中論、百論、十二門論等,化導四方,嘗稱病婉辭煬帝之召請。大業十二年示寂,世壽七十五。弟子有慧成、道勝等十人。〔續高僧傳卷九〕 ; Rahula (skt)—See La Hầu La. ; (羅雲) I. La Vân. La hầu la, 1 trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật. (xt. La Hầu La). II. La Vân (542-616). Danh tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người huyện Tùng tư, phủ Kinh châu, họ Hình. Cả 5 anh em trong gia đình đều xuất gia. Người anh cả là Đạo ngung, còn sư là em út. Sau khi xuất gia ở chùa Đông minh thượng, sư theo ngài Pháp lãng ở chùa Hưng hoàng tại Dương đô, học luận Đại trí độ, luận Trung quán, Bách luận và Thập nhị môn luận. Sau khi ngài Pháp lãng thị tịch, sư đến theo học Cắng pháp sư ở chùa Phúc duyên. Không bao lâu, nhận lời thỉnh của Thiền sư Trắc chùa Di thiền, sư trở về hoằng pháp ở quê nhà và sáng lập chùa Hoàn hương. Về sau, sư trụ trì chùa Long tuyền hơn 50 năm, tuyên giảng Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận, v.v... giáo hóa chúng tăng khắp nơi. Đệ tử có 10 người như Tuệ thành, Đạo thắng, v.v... Năm Đại nghiệp 12 (616) sư tịch, thọ 75 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.9].

la võng

6682連綴眾寶珠所作之網。係仿佛土、天界等皆有眾寶莊嚴之羅網,故用以莊嚴佛殿或懸掛於佛像上。此名稱見於諸經典,如法華經卷二譬喻品(大九‧一四下):「真珠羅網,張施其上。」阿彌陀經亦謂極樂國土有七重欄楯、七重羅網、七重行樹,皆是四寶周匝圍繞。此外,顯密各宗之經、論、儀軌等,多以羅網表示莊嚴物或供養物。〔長阿含卷二十世記經、法華經卷四見寶塔品、陀羅尼集經卷三〕 ; (羅網) Chỉ cho mạng lưới. Ở các cõi Phật, cõi trời đều có những mạng lưới được đính kết bằng các thứ châu báu, vì thế, trong các chùa viện La võng thường được dùng để trang nghiêm điện Phật hoặc treo ở trên tượng Phật. Kinh A di đà nói ở cõi Tịnh độ cực lạc có 7 lớp lan can, 7 lớp la võng, 7 lớp hàng cây đều làm bằng 4 thứ báu bao bọc chung quanh. [X. kinh Thế kí trong Trường a hàm Q.20; phẩm Kiến bảo tháp kinh Pháp hoa Q.4; kinh Đà la ni tập Q.3].

la xa

Raja (skt)—Quốc vương—King.

la y

6911係薜蘿之衣,謂僧眾所著陋劣之破衣,或山林苦行者之衣。 ; Tiết La Y—Y phục của người tu khổ hạnh nơi rừng núi—Coarse garments worn by ascetics. ; (蘿衣) Áo Tiết la, tức là áo cũ rách của chúng tăng mặc, hoặc là áo của những người tu khổ hạnh trong núi rừng.

la ó

To jeer—To boo.

la đà na

Ratna (skt)—Bảo vật—Anything precious, a gem.

la đát na ba la mật bồ tát

Xem Bảo Ba la mật Bồ tát.

la đát na bạt chiết lệ bồ tát

Xem Bảo Ba la mật Bồ tát.

la đát na ma câu trác bồ tát

Xem Bảo tích Bồ tát.

la đát na nễ nhĩ

Xem Bảo Bức Bích chi Phật.

la đặc la

Rudra (S), (S, P), Mahākāla (S)Lô nại la, Hắc ThiênCũng còn là tên một vị thần sơn lam chướng khí. Thần bạo ác.

la đồ

6679梵名 Lāṭa。位於南印度。又稱羅羅。即今印度孟買轄區古加拉特(Gujarat)地方。據大唐西域記卷十一載,玄奘西遊時,此地分為南面之摩臘婆與北面之伐臘毘兩國,同屬南印度,且相互通婚。又西域求法高僧傳卷上玄照法師條載,玄照曾往西印度羅荼國,求取長年藥。此地自古與波斯、阿拉伯等地交通頻繁,後世回教徒入侵印度,即於此地得大優勢。

La 羅

[ja] ラ ra ||| (1) A net; bird's net. (2) To catch with a net. (3) To wrap up. (4) Link, join, put together, line up. (5) Used for translating the Sanskrit sound ra. => 1. Lưới, cái lưới bắt chim. 2. Đánh bắt bằng lưới. 3. Bị bao trùm trong. 4. Nối kết, liên kết, ráp vào vớí nhau, sắp thành hàng ngũ. 5. Để chuyển âm Ra trong tiếng Sanskrit.

La-bốc-tạng Gia-mục-thố, 5. Ðạt-lại Lạt-ma

T: losang gyatso [blobzaṅ rgya-mtsho]; S: suma-tisāgara; 22. 20. 1617 – 02. 04. 1682; Giáo chủ tông Cách-lỗ từ 1622-1682; giữ quyền cai trị Tây Tạng từ 03. 05. 1642 – 02. 04. 1682;|Có lẽ là vị Ðạt-lại Lạt-ma nổi danh nhất: Sư vẫn còn được dân Tây Tạng tôn trọng gọi là »Ðại sư thứ năm«. Sư là vị Ðạt-lai đầu tiên khởi xướng chế độ »Tăng lữ chính quyền« (僧侶政權; e: theocracy), nắm giữ quyền cai trị Tây Tạng. Kể từ đây, Ðạt-lại Lạt-ma là người lĩnh đạo tinh thần tôn giáo cũng như chính trị Tây Tạng.|Thời đại của Sư là một khúc ngoặt lớn trong lịch sử Tây Tạng. Chiến tranh đẫm máu với các bộ lạc miền Tây Mông Cổ là những dấu hiệu chung cho thời đại này. Qua những cuộc tranh chấp, tông phái của Sư giành thắng lợi và từ đây, địa vị của một Ðạt-lại Lạt-ma càng thêm vững chắc. Dưới sự chỉ huy của Sư, việc xây dựng điện Pô-ta-la lại Lha-sa được bắt đầu vào năm 1645. Từ 1650-52, Sư nhận lời mời của Hoàng đế sang Trung Quốc thuyết pháp. Trong những năm cuối đời, Sư lâm bệnh nặng. Cái chết của Sư được giữ bí mật 13 năm liền và sự việc này đã đem đến cho Tây Tạng rất nhiều hoạ nạn sau này.

La-hán

羅漢; S: arhat; C: luóhàn; J: rakan;|Là một Thánh nhân; cần phân biệt A-la-hán (arhat) của Phật giáo nguyên thuỷ và La-hán của Phật giáo Trung Quốc. Thật ra thì La-hán xuất phát từ A-la-hán, nhưng đến Trung Quốc, ý nghĩa của A-la-hán đã biến đổi. La-hán đóng một vai trò quan trọng tại đây, nhất là khi trở thành một khái niệm của Ðại thừa. Khái niệm La-hán đã du nhập Trung Quốc khoảng thế kỉ thứ 7, nhưng qua thế kỉ thứ 10, La-hán mới được Thiền tông phổ biến rộng rãi. Chính Thiền tông tìm thấy nơi La-hán tính người và sự từ chối mọi Tha lực, dùng Tự lực để đạt đạo nên La-hán rất phù hợp tinh thần Thiền.|Người ta cho rằng, nhờ trí huệ siêu việt, La-hán đạt nhiều thần thông (Lục thông). Trong nhiều tranh tượng, người ta hay vẽ các vị mặt mày dữ tợn, hình dạng siêu nhiên; tuy thế cũng có nhiều vị mặt mày hiền hậu. Trong nhiều chùa ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, ta tìm thấy tượng của năm trăm La-hán, hay nhóm 16 hay 18 vị, được vẽ trên vách tường của chính điện. Mỗi vị thường thường có một hình dáng và khuôn mặt đặc biệt.|Tượng 500 La-hán được sáng tạo là để nhớ lại lần Kết tập thứ nhất với sự có mặt của 500 vị thánh. Lần kết tập thứ tư tại Kashmir cũng có 500 vị A-la-hán tham dự. Có nhiều tương truyền về 500 vị La-hán này: đó là các vị sống trong 500 hang động của núi Côn Luân, là các vị được Phật đưa về đó theo lời mời của Long vương. Tại nhiều nơi ở Trung Quốc, người ta còn dựng lại hang động của 500 vị La-hán đó. Trong nhiều chùa, người ta hay xếp các vị La-hán thành từng nhóm 16 hay 18 vị. Ðiều này được truyền tụng như sau: Vị A-la-hán Nan-đề Mật-đà (s: nandimitra), 800 năm sau khi Phật nhập diệt, cho hay Phật đã truyền pháp lại cho 16 vị A-la-hán. Các vị này bất tử và sống với học trò tại nhiều miền trên thế giới, nơi các thánh địa và giữ gìn giáo pháp. Tới thời mạt pháp, lúc mà Phật pháp bị tiêu diệt hoàn toàn, các vị đó sẽ họp nhau lại, góp xương cốt Phật vào trong một Tháp, rồi nhập Niết-bàn, còn Tháp sẽ chìm dưới đại dương.|Trong thế kỉ thứ 10, số lượng 16 vị được nâng lên thành 18. Người ta kể tên cụ thể các vị đó nhưng các danh tự không đóng vai trò gì. Người ta chỉ nhớ đến các vị với những cử chỉ đặc biệt như: La-hán với hình Phật nơi trái tim, La-hán mi dài, La-hán gãi tai, La-hán hàng phục rồng, hổ.

La-hán Quế Sâm

羅漢桂琛; C: luóhàn guìchēn; J: rakan keijin; 867/69-928, cũng được gọi là Ðịa Tạng; |Thiền sư Trung Quốc, pháp tự của Thiền sư Huyền Sa Sư Bị và là thầy của Pháp Nhãn Văn Ích, Khai tổ của dòng thiền Pháp Nhãn.|Sư họ Lí, quê ở Thường Sơn, lúc nhỏ chỉ ăn mỗi ngày một bữa cơm chay. Sau xin cha mẹ xuất gia, chuyên học luật. Sư nghĩ »Giữ giới luật chưa phải là chân giải thoát, dựa vào văn sinh hiểu không thể phát thánh trí« và đến tham vấn các Thiền sư. Sư đến yết kiến Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn ở Vân Cư, chăm chỉ tu học nhưng không hội, sau đến Huyền Sa nghe một câu bỗng dưng đại ngộ.|Huyền Sa hỏi Sư: »Tam giới (Ba thế giới) duy tâm phát ra, ngươi hiểu sao?« Sư chỉ cái ghế dựa, hỏi: »Hoà Thượng kêu là cái gì?« Huyền Sa đáp: »Ghế dựa.« Sư thưa: »Hoà thượng không hội tam giới duy tâm.« Huyền Sa hỏi lại: »Ta gọi cái ấy là tre gỗ, ngươi kêu là gì?« Sư thưa: »Con cũng gọi ấy là tre gỗ.« Huyền Sa bảo: »Tận đại địa tìm một người hội Phật pháp cũng không có.«|Ðang cấy lúa, thấy tăng đến, Sư hỏi: »Ở đâu đến?« Tăng thưa: »Ở Nam Châu đến« Sư hỏi: »Nơi ấy Phật pháp thế nào?« Tăng thưa: »Bàn tán lăng xăng.« Sư bảo: »Ðâu có như ở đây, ta chỉ cấy lúa, nấu cơm ăn.« Tăng hỏi: »Thế nào là tam giới?« Sư hỏi lại: »Gọi gì là tam giới?«|Ðời Ðường niên hiệu Thiên Thành, năm thứ ba mùa thu, Sư có chút bệnh, tắm gội rồi từ giã chúng, ngồi thẳng viên tịch. Sư thọ 62 (60) tuổi, 40 tuổi hạ. Vua sắc phong là Chân Ứng Ðại sư.

La-hán điện 羅漢殿

[ja] ラカンテン rakanden ||| The hall of the 16 arhats 十六羅漢, found in Korean Buddhist temples. => Điện thờ 16 vị A-la-hán 十六羅漢 ở các ngôi chùa Phật giáo Triều Tiên.

la-hán đạo-hiền

Lo-han Tao-hsien (C), Rakan Dokan (J)(khoảng TK thứ 9). Đệ tử của Nham Đầu Toàn Hoát. ; Rakan Dokan (J).

La-hán 羅漢

[ja] ラカン rakan ||| luohan is the abbreviation of aluohan 阿羅漢, the Chinese transcription of the Sanskrit arhat, the name for those who achieve the highest realm of spiritual attainment in the practices of the so-called Lesser Vehicle (xiaosheng 小乘 ), tradition of Buddhism. Once this realm is reached, all vexation ceases, and one is released from the cycle of rebirth and enters nirvana. However, according to the Cheng weishi lun 成唯識論, a translation by the eminent monk Xuanzang 玄奘 (ca. 600-664) of the Vijñaptimātratā-siddhi-śāstra (659), the arhat has attained the realm of perfect understanding beyond learning reached in all three vehicles (Skt. yāna, Ch. sheng 乘): the śrāvaka (shengwen 聲聞), the pratyeka (pizhijia or yuanjue 縁覺), which comprise the Hinayana, and the Bodhisattva (pusa 菩薩), which comprises the Mahayana, the so-called Greater Vehicle (dasheng 大乘). Therefore, arhat is another name for Buddhahood as well as one of the ten appellations for the rulaifo (tathagata buddha 如來佛). [For Buddhist technical definitions, see under 阿羅漢] According to the earliest sutras, Śākyamuni originally had only four great arhats remain in the world to propagate the dharma, one for each of the four directions, east, west, north, and south, but later sutras gradually added to these until there were sixteen, most of whom still lacked specific names. It was not until the early Tang era when Xuanzang brought back sutras from India and translated the Nandimitrāvadāna (Fa zhuji 法住記) (654) that people first became acquainted with the names and exploits of the sixteen arhats. It was then that Chinese monks generally began to venerate the sixteen lohans 十六羅漢 and that pictures and statues representing them dressed in a wide variety of Chinese monks' attire appeared continuously and in great numbers all over China. For example, Wang Wei (701-761) is recorded to have painted forty-eight pictures of the sixteen lohans, and paintings of them by Lu Lengjia (active ca. 730-760) and others became famous throughout the Tang empire. Statues of the sixteen lohans made then for the Yanxiadong (Clouds and Mist Grotto) in Hangzhou were praised throughout subsequent ages. Beginning with the Song era, representations of the sixteen lohans gradually ceased to enjoy such popularity as a subject in Buddhist sculpture, but painters still often painted pictures of them through the end of the Ming era, including Li Gonglin (ca. 1049-1106), Liang Kai (early thirteenth century), Zhao Mengfu (1254-1322), and Chiu Ying (ca. 1494-ca. 1552). Beginning with the Five Dynasties era, veneration for lohans flourished, and in painting the number depicted increased to eighteen 十八羅漢. When Su Shi (1037-1101) was exiled to Hainan Island, he once saw a Shiba luohan tu (Picture of the Eighteen Lohans) by the Five Dynasties era painter Zhang Xuan (active ca. 890-930) of the Former Shu kingdom (907-925), which inspired him to compose a Shiba daluohan song (Hymn to the Eighteen Great Lohans). Later, at the Baolin si he saw another such painting, which prompted another composition, Zi Hainan gui guo Qingyuanxia Baolinsi jingzan Chanyue suohua shiba daluohan (Returning from Hainan, I Stopped by at Baolin Temple in the Qingyuan Gorge to Pay My Respects to The Eighteen Great Lohans¡¨ by the Monk Chanyue). Both of Su's compositions describe the appearance and provide the names of the eighteen lohans, with Qingyou 慶友 and Bintoulu 賓頭盧 the two additional figures. After this, the eighteen lohans became an increasingly popular subject in both sculpture and painting. At temples statues of them were placed on the east and west sides of Daxiong baodian where they served as guardians for figures of Śākyamuni or of the Past, Present, and Future Buddhas. Five Hundred Lohans 五百羅漢 is a collective name often mentioned in sutras, where it is sometimes identified with the five hundred bhikṣus (五百比丘) and the five hundred (shangshou). Many legends concerning the five hundred also exist, for example, in the Fahua jing Wubai dizi shoujipin (The Five Hundred Disciples Undergo vyākaraṇa 授記 [the Buddha's foretelling when each one shall Enter Nirvana]) section of the Fahuajing (Lotus Sutra), the Sheli fo wen jing, where it is told that after King Fushamiduolou destroys Buddhism, the Five Hundred Lohans reestablish it. The Fa zhuji records that each of the sixteen lohans is responsible for a certain territory of operations and that each has a staff of subordinates, five hundred lohans being the elementary unit. Also, it is said that after the parinirvāṇa of Śākyamuni, Mahākāśyapa 迦葉 together with five hundred lohans made the first collection of the scriptures at Rājagṛha 王舎城. At the time of King Aśoka, five hundred lohan monks and five hundred ordinary (凡夫, i. e. still unenlightened), monks assembled en masse to chant the Buddha's teachings. During the Fourth Council 第四結集 at the time of King Kaniṣka, five hundred lohans also assembled to compose the Da piposha lun 大毘婆沙論. "Five hundred" in such narratives surely stands for "several hundred" and does not signify a definite number. Also, none of these accounts provide individual names for the five hundred lohans. We know that it was during the Tang era that the five hundred lohans were first represented in China. According to the Wudai minghua buyi (Supplement to Famous Paintings of the Five Dynasties Era), the prominent Tang era sculptor Yang Huizhi made figures of the five hundred lohans for the Guang'ai si in Hunan prefecture, which is the earliest known occurrence of sculptures of the five hundred lohans in China. During the Five Dynasties era veneration of the five hundred lohans became very popular. For example, the King of the Wu-Yue state (907-978), Qian Liu, had bronze statutes of the five hundred lohans made for the Fangguang si on Mount Tiantai, and, in the first year of the Xiande era (954), Chan master Daoqian received permission from Qian Zhongyi, then King of Wu-Yue, to move sixteen statues of the Buddha¡'s disciples from the base of Thunder Peak Pagoda to the Jingci Temple and to have a Five Hundred Lohan Hall built there--both sites in Hangzhou, the Wu-Yue capital. In the second year of Yongxi era of the Northern Song (985?), statues of five hundred sixteen lohans were made and placed in the Shouchang Temple on Mount Tiantai. In fact, during the Northern Song era, veneration of the five hundred lohans became increasingly popular, and throughout China many temples had halls constructed to hold statues of them, sparing no expense. Grottos to contain groups of the five hundred also began to appear, for example, the one hundred sixty-eighth cave at Dazu, Sichuan, which comprises the Dafo an, where the central wall and two side walls had lohans carved all over them. However, these places where the five hundred lohans were represented all failed to provide names for them. According to an entry in the Baoke congbian, juan 15, in the guisi year of Dahe era (933?), Dade chongyi composed Wu Longxing si Chongfu yuan wubai luohan bei (Five Hundred Lohan Stele at the Longxing Temple, Chongfu Sub-temple, in Wu [Xuanzhou]), each identified with an individual name, but this stele did not survive. For a slightly later period, the Jinshixubian, juan 17, contains a copy of a stele inscribed in the fourth year of the Shaoxing era of the Southern Song (1134), which Gao Daosu, who was a yuanwailang in the gongbu, had composed by collecting all available Buddhist writings and abstracting from them the names of five hundred lohans. This stele was erected in the Qianming Temple at Jiangyin--the renowned Jiangyinjun Qianmingyuan luohan zunhao bei (Stone Inscription of the Venerable Names of Lohans at the Qianming Temple of Jiangyin Commandery). Although this is the earliest such record of the names of the lohans known in China, it is just a list of "venerable names" (zunhao)--no illustrations of the lohan figures themselves were engraved. However, from this time on, all temples that had five hundred lohan halls constructed and all painters who made pictures of them named the lohans according to this list. During the Chongzhen era of the Ming, Gao Chengyan had the Qianmingyuan luohan zunhao bei engraved again, and his son, Gao Youji, had it re-engraved a second time and copied into the Jiaxing zang, where it is contained in case (han) 43. However, it still only contains the names of the lohans. Still during the Southern Sung era, someone compiled a collection of illustrations and produced a wood block edition of a Luohan tulu (Catalogue of Pictures of Lohans)--the first known illustrated catalogue of the lohans. This work was reprinted from new wood blocks in the sixteenth year of the Chongzhen era (1643). Although no copies of this work now survive, it was reprinted again from a new set of wood blocks in the fifty-second year of the Qianlong era (1787)--the Qianming yuan wubaishiba aluohan tulu (Catalogue of Illustrations of the Five Hundred Eighteen Lohans From the Qianming Temple), under the direction of Abbot Dache, an eminent priest of the Qianlong era. The Qianming yuan or Luohan si is located in present-day Shifang district, Chongqing, Siquan. First built in the Song, it fell into disrepair during the Yuan and Ming era but was rebuilt in the seventeenth year of the Qianlong era (1752), and some time after that statues of the five hundred eighteen lohans were made, after the illustrations in the Ming edition of the Luohan tulu. The temple was destroyed during wartime Japanese air raids and was rebuilt in 1945, new statues filling the Lohan Hall once again. rahan (k); rakan (j); luohan (c); => Viết tắt chữ A-la-hán (c: aluohan 阿羅漢), phiên âm chữ Arhat từ tiếng Sanskrit. Chỉ cho những vị đã đạt đến mức độ tâm chứng cao nhất trong pháp tu tập của Tiểu thừa Phật giáo. Khi đạt đến cảnh giới nầy, mọi phiền não đều được tiêu trừ, không còn luân hồi sinh tử nữa. Tuy nhiên, theo Thành Duy thức luận (s: Vijñaptimātratā-siddhi-śāstra; c: Cheng weishi lun 成唯識論), do ngài Huyền Trang soạn năm 659, thì A-la-hán là bậc đã đạt được trí huệ viên mãn, vượt trên các hàng vô học trong Tam thừa: Thanh văn (s: śrāvaka; c: shengwen 聲聞), Bích chi (s: pratyeka; c: pizhijia) hoặc là Duyên giác (c: yuanjue 縁覺), thuộc Tiểu thừa; và Bồ-tát (s: Bodhisattva; c: pusa 菩薩), thuộc Đại thừa. Do vậy A-la-hán là một tên gọi khác của Phật quả cũng như là một trong 10 danh hiệu của Đức Phật (s: tathagata buddha; c: rulaifo ; Như Lai Phật 如來佛). Về chi tiết, xin xem mục từ A-la-hán 阿羅漢. Theo kinh điển nguyên thuỷ, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni vốn chỉ có bốn vị Đại A-la-hán phát nguyện lưu lại thế gian để hoằng truyền Phật pháp, mỗi vị ở mỗi phương: đông, tây, nam, bắc. Nhưng các kinh điển về sau dần dần thêm vào cho đến 16 vị, phần lớn các vị ấy vẫn không có tên. Mãi cho đến đời Đường, khi ngài Huyền Trang thỉnh kinh ở Ấn Độ về và dịch cuốn Pháp trụ ký (c: Fa zhuji 法住記) vào năm 654, mọi người mới biết đến có 16 vị A-la-hán và danh tánh của từng vị. Từ đó chư tăng Trung Hoa mới bắt đầu thờ phụng 16 vị A-la-hán và tranh tượng vẽ hình các vị với nhiều dáng dấp với nhiều kiểu trang phục của tăng sĩ Trung Hoa xuất hiện khắp nơi. Chẳng hạn, tương truyền Vương Duy (c: Wang Wei ; 701-761) đã vẽ 48 bức tranh về 16 vị A-la-hán, và những bức tranh của Lu Lengjia, sống vào khoảng năm 730-760, đã trở nên nổi tiếng trong suốt đời Đường. Tượng tạc 16 vị A-la-hán ở Động Vân Hà (c: Yanxiadong ; e: Clouds and Mist Grotto), Hàng Châu đã được đánh giá rất cao cho đến ngày nay. Bắt đầu đời Tống, biểu tượng 16 vị A-la-hán dần dần không còn được ưa chuộng như hình tượng Phật, nhưng các hoạ sĩ vẫn còn vẽ tượng La-hán mãi cho đến cuối đời Minh, như các hoạ sĩ Li Gonglin (1049-1106), Liang Kai (trước thế kỷ thứ XIII), Zhao Mengfu (1254-1322), và Chiu Ying (khoảng từ 1494-1552). Bắt đầu thời Ngũ đại, sự thờ phụng tượng A-la-hán lại thịnh hành, việc minh hoạ lại gia tăng đến 18 vị A-la-hán. Khi n nhạc sĩ Su Shi (1037-1101) bị lưu đày ra đảo Hải Nam, lần đầu ông ta thấy tượng A-la-hán Shiba (tượng 18 vị A-la-hán) của hoạ sĩ Zhang Xuan sống khoảng chừng vào năm (890-930) thuộc đời tiền Chu (Former Shu kingdom, 907-925), thời Ngũ đại, đã tạo cảm hứng cho ông sáng tác khúc tán ca về 18 vị A-la-hán. Sau đó, tại chùa Bảo Lâm, ông ta lại thấy một bức tranh khác giống như vậy, đã thúc đẩy ông soạn một ca khúc khác (Từ Hải Nam trở về, tôi dừng chân ở chùa Bảo Lâm ở núi Qingyuan để đảnh lễ tượng 18 vị Đại A-la-hán của sư Chanyue), Cả hai ca khúc của Su Shi đều mô tả hành dáng và nêu ra danh tánh của các vị, có thêm vào 2 vị Khánh Hữu (Qingyou 慶友) và Tân Đầu Lư (Bintoulu 賓頭盧) thành 18 vị. Sau đó, 18 vị A-la-hán trở nên được yêu thích hơn trong điêu khắc và hội hoạ. Trong các chùa, tượng các vị được đặt phía đông và phía tây của Đại hùng bửu điện, nơi mà các vị được thể hiện làm người hộ pháp cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hoặc là chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai. Năm trăm A-la-hán (Ngũ bách La-hán 五百羅漢) là một danh xưng tập hợp thường được đề cập trong kinh điển, có khi danh xưng nầy được đồng nhất với Năm trăm tỷ-khưu (Ngũ bách tỷ-khưu 五百比丘) và Năm trăm cư sĩ. Có nhiều truyền thuyết liên quan đến Năm trăm vị vẫn còn lưu truyền. Chẳng hạn, trong kinh Pháp Hoa, phẩm Ngũ bá đệ tử thọ ký, Đức Phật thọ ký cho 500 đệ tử sau khi họ nhập niết-bàn. Ttrong Sheli fo wen jing, có ghi lại rằng sau khi vua Fushamiduolou phá hoại Phật pháp, có 500 vị A-la-hán sẽ kiến lập lại. Cuốn Fa zhuji có ghi lại rằng cứ mỗi nhóm 16 vị A-la-hán sẽ chịu trách nhiệm ở một quốc độ, và mỗi nhóm đều có các đoàn tuỳ tùng, 500 A-la-hán trở nên một chỉnh thể cơ bản. Cũng vậy, tương truyền sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, ngài Ma-ha Ca-diếp cùng với 500 vị A-la-hán tổ chức kết tập lần đầu tại thành Vương Xá (Rājagṛha 王舎城). Vào thời vua A-dục (Aśoka), 500 vị tăng đã chứng A-la-hán và 500 vị tăng chưa chứng quả đã họp lại để trùng tuyên lại giáo lý của Đức Phật. Lần kết tập thứ tư vào thời Vua Kaniṣka để kết tập Đại Tỳ-bà-sa Luận (c: Da piposha lun 大毘婆沙論). Con số 'năm trăm' trong những chuyện như vậy chắc chắn là biểu tượng cho con số 'vài trăm' và không biểu thị cho con số nhất định. Cũng thế, không có chi tiết nào trong những câu chuyện trên đưa ra được tên của từng vị A-la-hán. Chúng ta biết rằng chính vào đời Đường, Năm trăm A-la-hán lần đầu tiên được đề cập đến ở Trung Hoa. Theo Ngũ đại danh hoạ bổ ký (c: Wudai minghua buyi; e: Supplement to Famous Paintings of the Five Dynasties Era), điêu khắc gia nổi tiếng đời Đường là Yang Huizhi đã tạc tượng 500 vị A-la-hán cho chùa Guang'ai si ở Hồ Nam, đó là sự kiện điêu khắc được biết sớm nhất về tượng 500 vị A-la-hán ở Trung Hoa. Đến thời Ngũ đại, sự thờ phụng 500 vị A-la-hán trở nên phổ biến. Chẳng hạn, vua Qian Liu của nước Wu-Yue (907-978), đã thếp vàng tượng 500 vị A-la-hán cúng dường cho chùa Fangguang si trên núi Thiên Thai, và vào năm đầu tiên của triều đại Xiande (954), Thiền sư Daoqian nhận sắc chỉ của Qian Zhongyi, lúc ấy là vua nước Wu-Yue, dời 16 tượng các vị đệ tử của Đức Phật từ chùa Lôi Đảnh (Thunder Peak Pagoda) đến chùa Jingci và cho xây xây dựng Ngũ bách La hán điện ở đó- cả hai ngôi chùa nầy đều ở Hàng Châu, kinh đô của triều đại Wu-Yue. Vào năm thứ hai triều đại Yongxi của Bắc Tống (985?), tượng 500 vị A-la-hán được tạc xong và an trí ở chùa Shouchang trên núi Thiên Thai. Thật vậy, vào thời Bắc Tống, sự thờ phụng 500 vị A-la-hán trở nên phổ biến, khắp lãnh thổ Trung Hoa nhiều chùa và sảnh đường đã được kiến trúc để thờ tượng. Các hang động dùng để cất giữ quần tượng 500 vị A-la-hán bắt đầu phát sinh, chẳng hạn, 168 động tại Dazu, Sichuan bao gồm cả tượng Đại Phật Ấn (Dafo an). Nơi đây, các bức tường trung tâm và hai bên đều có khắc hình tượng của 500 vị A-la-hán. Tuy vậy, những nơi trưng bày 500 tượng A-la-hán đều không biết được danh tánh của từng vị. Theo một đề mục trong Baoke congbian, juan 15, vào năm (933?) niên hiệu Dahe, có bia 500 vị A-la-hán tại chùa Longxing, chi nhánh của chùa Chongfu, ở Wu [Xuanzhou], mỗi bia đều có ghi rõ tên của từng vị, nhưng nay bia này không còn nữa. Vào ít lâu sau, thời kỳ Jinshixubian, juan 17, có được bản sao của một tấm bia khắc vào năm thứ 14 niên hiệu Shaoxing của triều đại Nam Tống (1134), trong đó, Gao Daosu, đã soạn ra bằng cách tập hợp lại những bản kinh Phật thông dụng và tóm tắt lại thành tên 500 vị A-la-hán. Bia nầy được dựng tại chùa Qianming ở Jiangyin. Mặc dù đây là ghi chép sớm nhất về tên của 500 vị A-la-hán ở Trung Hoa, nhưng đó chỉ là 'tôn hiệu' (zunhao)—chưa phải là sự minh hoạ theo hình dáng của chính từng vị như đã được khắc vẽ. Tuy vậy, từ đó trở đi, khi các chùa kiến trúc điện thờ tượng 500 vị A-la-hán, thì các hoạ sĩ đều khắc tên các vị theo danh sách trong bia nầy. Qua thơì kỳ Chongzhen của nhà Minh, Gao Chengyan lại thuê khắc bia ghi tên 500 vị A-la-hán dựng tại chùa Qianming ở Jiangyin, rồi Gao Youji, con trai ông ta, lại nhờ người khắc bia ấy lần thứ hai và chép sang Jiaxing zang, nơi đây bia còn giữ được nguyên trạng. Tuy nhiên, nay chỉ còn tên của các vị A-la-hán. Mãi cho đến thời Nam Tống, có vài người sưu tập các minh hoạ và cho ra đời bản in gỗ Bộ tranh tượng A-la-hán—đây là bộ minh hoạ các vị A-la-hán đầu tiên được biết đến. Công trình nầy được in lại từ bản gỗ mới vào thế kỷ thứ 16 thời kỳ Chongzhen (1643). Mặc dù nay không còn bản sao các tác phẩm nầy, nhưng nó lại được in lại vào năm thứ 52 thời Càn Long (Qianlong; 1787)–Bộ minh hoạ 518 vị A-la-hán chùa Qianming, dưới sự trông coi của sư trú trì Dache, một vị cao tăng vào thời Càn Long. La-hán tự hay là Qianming yuan được dựng lên ở Shifang, Chongqing, Siquan vẫn còn đến ngày nay. Chùa đầu tiên được xây vào đời Tống, bị đổ nát vào thời Nguyên và Minh rồi được trùng tu vào năm thứ 17 thời Càn Long (1752), và một thời gian sau, 518 tượng A-la-hán được tạc xong, và sau đó là Bộ minh hoạ vào đời Minh. Ngôi chùa bị phá huỷ vì bom của máy bay Nhật trong thời chiến tranh, sau đó lại được trùng tu năm 1945, các tượng A-la-hán mới một lần nữa lại hiện diện đầy đủ trong La-hán đường.

La-hầu

tức vị vua của loài a-tu-la, tên là La-hầu. Trong quyển 24 kinh này, Phật có dạy: “Như thân hình vị La-hầu, vua của loài a-tu-la là to lớn nhất trong các thân hình to lớn.” (trang 589, Tập IV)

La-hầu-la

羅睺羅; S, P: rāhula; Hán dịch là Phú Chướng;|Tên người con trai của Phật (Tất-đạt-đa). Mẹ của La-hầu-la là hoàng hậu Da-du Ða-la (s: yaśodharā). Tôn giả vừa được sinh ra thì đức Phật quyết định rời bỏ gia đình và đi tìm đạo Giác ngộ. La-hầu-la được Xá-lị-phất (s: śāri-putra) đưa vào Tăng-già từ lúc bảy tuổi và mất trước Phật, có lẽ còn rất trẻ. Tôn giả được xem là một trong Mười đại đệ tử của Phật. ; 羅睺羅; S: rāhula; »Kẻ cải lão hoàn đồng«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Trong lịch sử nước này có nhiều vị thánh tăng mang tên La-hầu-la, nên không rõ vị này sinh ở thời đại nào, có thể trong thời đại của Sa-ra-ha, thế kỉ thứ 8, 9.|Ông thuộc giai cấp thấp kém vùng Ka-ma-ru-pa (s: kāmarūpa). Ðến lúc già cả, ông không còn kiểm soát được các chức năng thân thể và khi bị bà con chê trách, ông rút lui sống trên một bãi thiêu xác. Một vị Du-già sư (yogin) đi ngang khuyên bảo: »Ngươi đã già; ba thác nước Sinh, Bệnh, Lão đã huỷ hoại ông và Tử, thác thứ tư đang chuẩn bị đón ông, vậy ông có muốn chuẩn bị cho cái chết không?« Ông bèn cầu xin giáo hoá. Vị Du-già sư bèn hướng dẫn:|Tự tính của tâm thức,|vốn không già không chết.|Lòng tin, thật sự quý,|không bao giờ thuyên giảm.|Muốn tu học diệu pháp,|hãy sẵn sàng theo ta.|Vị Du-già sư cho ông nhập môn và dạy cho ông một Nghi quỹ: quán tưởng chân âm A nằm trên đầu mình, từ đó phát ra mặt trăng. Quán tưởng mọi tư duy, khái niệm đều tan trong mặt trăng đó. Với phép quán tưởng này khái niệm về khách thể-chủ thể biến mất dần, nhường chỗ cho tâm Bất nhị chảy vào thân ông, biến thân ông già thành thiếu niên mười sáu tuổi. Ông đạt quả Ðại thủ ấn tất-địa và giáo hoá cho dân vùng này. Chứng đạo ca của ông như sau:|La-hầu, thần đầu rồng,|đã ăn hết ánh trăng.|La-hầu, phi nhị nguyên,|của mọi vô biên xứ,|ăn hết tâm phân biệt.|(La-hầu [s: rāhu] ở đây tượng trưng cho Pháp thân tỉnh giác, có hình đầu rồng, ăn mặt trăng mặt trời).

La-hầu-la 羅睺羅

[ja] ラゴラ Ragora ||| Rāhula, Śākyamuni's biological son, who later became one of his ten principal disciples 十大弟子, famous for his intensity of religious practice. Also transcribed as 羅怙羅. Rahura (k); Ragora (j); Rāhula (s); => Con trai của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau đó trở thành một trong 10 đại đệ tử của Phật, nổi tiếng về năng lực tu tập mãnh liệt và tinh cần. Còn được viết là La-hỗ-la 羅怙羅.

La-hầu-la-đa

羅睺羅多; S: rāhulabhadra|Tổ thứ 16 của Thiền tông Ấn Ðộ.

la-hầu-la-đa

Xem La hầu la Bạt đà la.

La-hỗ-la 羅怙羅

[ja] ラ*ラ Rahura ||| Rāhula, one of the sixteen arhats 十六羅漢 who vowed to stay in this world to ensure the transmission of the correct dharma. Also see 羅睺羅. => Rāhula (s); Một trong 16 vị A-la-hán (Thập lục A-la-hán 十六羅漢), phát nguyện ở tại thế gian nầy để hộ trì chính pháp. Xem La-hầu-la 羅睺羅

La-kha Min-ka-ra

S: lakṣmīṅkarā; »Công chúa điên«;|Một Du-già ni Ma-ha Tất-đạt (s: yoginī ma-hāsiddhā) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 8. Bà là em gái của nhà vua In-đra-bu-ti (s: indrabhūti), vị vua trị vì nước Ô-trượng-na.|Từ nhỏ bà đã nghe giáo pháp của Kam-ba-la (kambala) và thông hiểu nhiều loại Tan-tra. Bà được đính hôn với vua Ja-len-đra (s: jalendra), vua của Lan-ka-pu-ri (s: laṅkāpurī) và khi được đưa về nhà chồng, bà thấy chồng tương lai vừa đi săn về, trên vai mang xác hổ. Bà đau khổ ngất xỉu. Khi tỉnh dậy bà tự giam mình trong phòng, giả điên, nhưng thật tế bà chuyên tâm thiền quán không cho ai hay và mọi người nghĩ là bà mắc bệnh điên. Sau đó bà trốn khỏi cung điện, sống trên bãi thiêu xác, ăn đồ ăn dư thừa và thiền định không nghỉ. Sau bảy năm bà đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrā-siddhi). Bà giáo hoá cho một người chuyên lo cung cấp lương thực cho mình và vị này cũng đạt đạo.|Lần nọ chồng bà là vua Ja-len-đra lại đi săn, lạc đường và tình cờ đến động của bà. Ông tò mò nhìn vào thì thấy vợ mình toả hào quang, các vị nữ thần bao bọc xung quanh phục vụ và đỉnh lễ. Ngày hôm sau vua trở lên, xin thụ giáo, bà đọc câu kệ:|Tất cả loài hữu tình,|còn trong vòng Sinh tử,|đều phải chịu khổ đau.|Ngay cả loài cao cấp,|như chư Thiên, loài người,|cũng mang đầy khổ ải.|Còn các loài ác đạo,|khổ chính là bản chất,|ác thú ăn thịt nhau,|có loài khổ nóng lạnh.|Hỡi Hoàng thượng, thưa Ngài,|hãy tìm đạo giải thoát!|Và bà cho hay vua không phải đệ tử của bà. Ðạo sư của vua là một đệ tử của bà và vị này là người chuyên chùi thùng rác cho vua, cũng đã đạt thánh quả. Vua tìm ra vị này, đặt lên ngôi và phủ phục cầu pháp. Cuối cùng nhà vua cũng được truyền Nghi quỹ của nữ thần Kim cương Va-ra-hi (vajra vārāhī). La-kha Min-ka-ra và vị chùi thùng rác còn giáo hoá thêm cho nhiều người nữa. Bài kệ chứng đạo của bà có những câu sau:|Trước hết, người có trí,|tạo linh ảnh giác ngộ,|sau đó nhất tâm quán,|về Thật tại trống rỗng.|Làm như thế liên tục,|với chứng thật huyền diệu.|Tất cả chỉ cần là:|khiêm tốn và tinh tiến.|Bà có để lại một tác phẩm danh tiếng là Thành bất nhị luận (s: advayasiddhi), còn được lưu hành.

La-phược-noa thuyết cứu liệu tiểu nhi tật bệnh kinh 囉嚩拏説救療小兒疾病經

[ja] ラハクナセツキュウリョウショウジシツビョウキョウ Rabana setsu kuryō shōni shitsubyō kyō ||| The Luomona shuo jiuliao xiaoer jibing jing; Skt. Rāvaṇabhāṣitaṃ-cāragrahaśānti; (Rāvaṇa Explains the [Wandering Seizers'] Alleviation of Chīdren's Illnesses). 1 fasc. (T 1330.21.491-495), alt. Rāvaṇakumāra-tantra, Dvādaśagrahaśānti, abbreviated as [EA] Sutra on the Alleviation of Chīdren's Illnesses 救療小兒疾病經, trans. Faxian 法賢. Medical tantra; describes a method of treating the diseases of chīdren by appealing to the twelve matriarchs of the planets (grahamātṛkā 曜母鬼), who each govern a year in a chīd's growth. White calls this text "the classic work on Ayurvedic demonology" White (1997), and partly drawing on Filliozat (1937), states that it borrows from the Atharva-veda, Caraka-sam#hitā, Suśruta-sam#hitā, and Kriyākālaguṇottara-tantra. For a Sanskrit ed. and English translation see Bagchi (1941). BGBT4/150. => Skt. Rāvaṇabhāṣitaṃ-cāragrahaśānti. 1 quyển; tên gọi khác là Cứu liệu tiểu nhi tật bệnh kinhRāvaṇakumāra-tantra, Dvādaśagrahaśānti, Pháp Hiền dịch. Thần chú trị bệnh, mô tả phương pháp chữa bệnh cho trẻ em bằng cách cầu nguyện đến 12 nữ chúa của hành tinh ( Diệu mẫu quỷ 曜母鬼; s:grahamātṛkā ), mỗi vị cai quản một năm tuổi của đứa trẻ. White gọi kinh nầy là “tác phẩm cổ điển nghiên cứu về ma quỷ Ayurvedic ” và trích một phần từ tác phẩm của Filliozat (1937), xác định rằng kinh trên rút ra từ Atharva-veda, Caraka-sam#hitā, Suśruta-sam#hitā, và Kriyākālaguṇottara-tantra. Về bản chữ Sanskrit và bản dịch Anh ngữ, xem Bagchi (1941).

la-sát

Loài hung thần ác quỷ, dịch nghĩa là bạo ác, khả úy (đáng ghê sợ). Loài này hình tướng trông rất ghê sợ, thích ăn thịt, uống máu người.

La-sát 羅刹

[ja] ラセツ rasetsu ||| A rākṣasa--a kind of demon-spirit that resides in the heavenly realms, which has the power to penetrate and seduce humans, and then eat them. In the Mahāyāna texts, these demons are converted to Buddhism and serve as protectors of the dharma. Female rākṣasas are called rākṣasīs 羅刹女. In the Lotus Sutra, there are ten kinds 十羅刹女 that serve to protect the dharma. rākṣasa (s); => Tên của một loại quỷ thần sống ở cõi trời, có khả năng nhập vào và quyến rũ rồi ăn thịt người. Trong kinh điển Đại thừa, La-sát được Đức Phật chuyển hoá và phát nguyện làm hộ pháp. La-sát nữ được gọi là rākṣasīs 羅刹女. Trong kinh Pháp Hoa, có đến 10 loại La-sát nữ hộ trì Phật pháp. [

La-thập 羅什

[ja] ラジュウ Rajū ||| An abbreviation of Kumārajīva 鳩摩羅什. => Raship (k); Rajū (j); Viết tắt tên của ngài Cưu-ma-la-thập (s: Kumārajīva 鳩摩羅什).

Lai

來; C: lái; J: rai.|Có các nghĩa sau: 1. Đến, sự đến; đưa đến; mời đến. Đến đây (s: āgata, āgati, āya); 2. Từ, từ trước. Tương lai; 3. Khuyến khích bằng phần thưởng; 4. Khi đứng sau số từ, có nghĩa là »chừng hơn, trên, dư«; 5. Khách đến; 6. Rút lui, ẩn dật, lùi lại; 7. Từ quá khứ đến nay, từ trước đến nay; 8. Bổ ngữ dùng tăng thêm ý nghĩa cho từ khác.

lai

① Từ trước đến nay, Tiết Long Đàm Hoà thượng trong TĐT q. 5 ghi: »師 (問 尼 僧) 曰: 汝 作 尼 來 多 小 時? – [i]Sư hỏi ni cô: Ngươi làm ni cô từ trước đến nay bao lâu rồi?[/i]«. ② Đặt ở cuối câu, biểu thị hành vi động tác đã từng xuất hiện. [i]Mật Am ngữ lục[/i] ghi: »他 曾 見 保 寧 勇、 眞 净 倍 來。 – [i]Ông ta đã từng gặp Bảo Ninh Dũng, Chân Tịnh Bối rồi[/i]«. ③ Đặt ở cuối câu, biểu thị ngữ khí nghi vấn. Tiết Pháp Xúc Thượng toạ trong NĐHN q. 19 ghi: »師 曰: 某 祇 將 華 插 香 爐 中、 和 尚 自 疑 有 甚 麼 事 來? – [i]Sư nói: Ta chỉ đem hoa cắm vào lò hương, Hoà thượng nghi ngờ chuyện gì nhỉ?[/i]«. ; Agama (skt). 1) Đến: Coming. 2) Tương Lai: Future.

lai ba thiệm

4547西藏名 Ral-pa-can。即乞㗚徠巴贍、吃㗚徠巴贍。西藏護教三王(另外二人為棄宗弄瓚、吃㗚雙提贊)之一。又作熱巴中。徠巴贍為俗稱,本名為可黎可足(藏 Khri-gtsug lde-brtsan)。八一五至八三六(或八三八)年在位。即位之初,適與唐室關係緊張時期,嘗入寇中國邊境,其後唐藏和好結盟立碑,所立之甥舅聯盟碑(唐蕃會盟碑),今仍存於拉薩,碑文中曾有對三寶盟誓之記載,足徵王虔信佛教。據傳,王曾剪髮為坐具,以獻僧寶,「徠巴瞻」即含有「長髮」之意。 王鑒於歷來所譯經典未臻完美,乃遣使至印,廣事禮請延攬,並集藏土高僧從事協助。時印度學者有勝友(梵 Jina-mitra)、戒帝覺(梵 Surendra-bodhi)、施戒(梵 Dana-śīla)、覺友(梵 Bodhi-mitra)、吉祥帝覺(梵 Śrīndra-bodhi)、喜慶戒(梵 Anant-śīla)、金剛戒(梵 Vajra-śīla)等,西藏學者則有寶讚、法性戒、智軍等。彼等採用嚴格組織之譯場制度,先釐正譯語,審定譯語結構,悉使與文法吻合;此即著名之梵藏對照大辭彙翻譯名義大集(梵 Mahāvyutpatti)。現存西藏大藏經中之顯乘要籍,亦多於此時譯出,間有舊本,亦經校訂,遂締造西藏前傳期佛教之巔峰。(參閱「西藏佛教」2593) ; (徠巴贍) Tạng: Ral-pa-can. Tức là Khất lật lai ba thiệm. Cũng gọi Nhiệt ba trung. Vua nước Tây tạng, vốn tên là Khả lê khả túc (Tạng: Khri-gtsug lde-brtsan) ở ngôi từ năm 815 đến 836 (hoặc 838). Lúc vua mới lên ngôi, mối quan hệ giữa Tây tạng và nhà Đường đang ở thời kì căng thẳng và vua từng đưa quân cướp phá vùng biên giới Trung quốc. Về sau, 2 nước Đường Tạng giao hảo lập bia liên minh (Đường Phồn hội minh), trong văn bia có ghi chép việc vua 2 nước thệ ước trước Tam bảo. Nhà vua tin Phật rất kiền thành. Tương truyền, vua từng cắt tóc làm tọa cụ để dâng cúng chư tăng, tên gọi Lai ba thiệm hàm ý là tóc dài. Trong thời gian ở ngôi, vua nhận thấy những kinh điển Phật giáo đã được dịch ở Tây tạng từ trước đến giờ chưa được hoàn mĩ, nên sai sứ đến Ấn độ lễ thỉnh các bậc thạc học Phật giáo và tập họp các vị cao tăng Tây tạng để thực hiện việc phiên dịch. Bấy giờ, phía Ấn độ có các ngài như: Thắng hữu (Phạm: Jina-mitra), Giới đế giác (Phạm: Surendra-bodhi), Thí giới (Phạm: Dana-zìla), Giác hữu (Phạm: Bodhimitra), Cát tường đế giác (Phạm: Zrìndrabodhi), Hỉ khánh giới (Phạm: Anant-zìla), Kim cương giới (Phạm: Vajra-zìla), v.v... Về phía Tây tạng thì có các học giả: Bảo tán, Pháp tính giới, Trí quân, v.v... Những vị này tổ chức 1 dịch trường chặt chẽ. Trước hết, họ đặt ra nguyên tắc dùng từ ngữ phiên dịch, sau đó, định tiêu chuẩn thẩm xét sự cấu trúc của những từ ngữ ấy sao cho đúng với văn phạm. Với sự chuẩn bị chu đáo như vậy, các học giả ấy đã soạn ra bộ sách nổi tiếng là Phạm Tạng Đối Chiếu Đại Từ Vựng Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập (Phạm: Mahàvyutpatti). Phần lớn các kinh điển trọng yếu của Hiển thừa(giáo) trong Đại tạng kinh Tây tạng hiện còn, cũng đã được phiên dịch vào thời gian này. Đôi khi cũng có những bản dịch cũ được đem ra hiệu đính, làm cho Phật giáo Tây tạng ở thời kì đầu đạt đến điểm cao. (xt. Tây Tạng Phật Giáo).

lai cơ

Chỉ cho hàng học nhân đến tham học. Những người đến chỗ thiền sư tham lễ, căn cơ của họ có thượng, trung, hạ sai khác, vì thế Thiền sư cũng phải tùy theo căn cơ đó mà chỉ dạy giáo pháp không đồng. Cho nên riêng dùng chữ Lai Cơ để gọi học nhân. Lại nữa, học nhân không đồng căn cơ thì gọi là Lai cơ kính đình. Tắc 2, [i]Thung Dung lục[/i] (Đại 48, 228 hạ) ghi: »廓 然 無 聖、 來 機 逕 庭。 – [i]Rỗng rang không Thánh, căn cơ khác nhau[/i]«. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. ; 3051禪林用語。指來參學之學人。至師家門下參禮者,其根機有上、中、下等差異,而師家亦須依其根機,施以不同之接引教法。故特以來機稱學人、參學人等。又不同根機之學人,稱來機逕庭。從容錄第二則(大四八‧二二八下):「廓然無聖,來機逕庭。」〔寶鏡三昧〕 ; (來機) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho người đến tham học. Những người đến tham học, căn cơ có thượng, trung, hạ khác nhau, cho nên sư gia cũng phải căn cứ vào đó mà dùng phương pháp bất đồng để tiếp dẫn họ. Tắc 2, Thung dung lục (Đại 48, 228 hạ), nói: Rỗng lặng không Thánh, căn cơ (lai cơ) khác nhau. [X. Bảo kính tam muội].

lai do

Chỉ cho sự thể ngộ đối với thiền pháp. Chương Ngũ Tiết Hoà thượng trong TĐT q. 15 ghi: »大 師 云: 此 去 七 百 里、 有 一 禪 師 呯 爲 南 嶽 石 頭。 汝 若 到 彼 中、 必 有 來 由。 – [i]Đại sư nói: Cách đây bảy trăm dặm có một Thiền sư gọi là Nam Nhạc Thạch Đầu. Nếu ngươi đến đó ắt sẽ thể ngộ thiền pháp[/i]«.

lai duy

5256(Lévi, Sylvain; 1863~1935)法國之東方學者、印度學者。又譯烈維。誕生於巴黎。西元一八八四年即爲亞洲協會會員。曾從事有關印度所藏寫本之調查工作。西元一八八九年,任教於巴黎大學,教授梵語、印度學、語言學。復於尼泊爾發現爲數甚多之梵語寫本,並致力於梵書、敘事詩、印度希臘文化交流史、梵文學以及梵藏漢佛教文獻之比較工作。尤其對突厥語之研究,給予印歐比較文法學之貢獻甚大。西元一九一三年後,被派至俄國、巴基斯坦、美國等地從事研究工作。並於西元一九二一至一九二二年,應泰戈爾之邀請,至印度演講。 自印度歸國後,即任高等研究學院宗教學主任,陸續校訂出版梵文佛典。並曾以亞洲協會會長、日佛會館館長之身分,三度前往日本,與高楠順次郎博士共同編纂法文佛教辭典(法寶義林)。晚年則主持附屬於巴黎大學之印度文化研究所(Institut de Civilisation Indienne)。其主要著作有印度演劇、馬鳴之研究、梵書之祭祀教義、伯希和探險隊所發現突厥語文書之研究、大孔雀王咒中夜叉之地理目錄、唯識論體系研究資料、尼泊爾等。至於梵文校訂出版之著作有大乘莊嚴經論、敦煌梵本、稱友之俱舍論釋、唯識二十論與世親釋、唯識三十論之安慧釋(及其梵、巴、藏、漢、龜玆文)、法語譯之分別善惡報應經及其釋論。 ; (萊維) Lévi, Sylvain; 1863-1935. Cũng gọi Liệt duy. Nhà Đông phương học và Ấn độ học người Pháp, sinh ở Paris. Năm 1884, ông là hội viên của Hiệp hội Á châu, phụ trách việc điều tra về các bản sách cổ viết tay được tàng trữ ở Ấn độ. Năm 1889, ông nhận chức giáo sư tại Đại học Paris, dạy các môn tiếng Phạm, Ấn độ học, Ngôn ngữ học. Ông đã tìm được rất nhiều bản viết tay bằng tiếng Phạm ở Nepal, sau đó ông dốc sức vào công việc so sánh đối chiếu các Phạm thư, Tự sự thi, Lịch sử giao lưu văn hóa giữa Ấn độ và Hi lạp, văn học tiếng Phạm cho đến các văn hiến Phật giáo bằng tiếng Phạm, Tây tạng và Hán văn. Đặc biệt đối với việc nghiên cứu về tiếng Đột quyết, ông là người cống hiến rất lớn cho môn Tỉ giảo văn pháp học Ấn Âu. Sau năm 1913, ông được phái đến các nước Nga, Pakistan, Mĩ, v.v... để thực hiện công tác nghiên cứu. Vào những năm 1921-1922, nhận lời mời của ông Thái qua nhĩ (Rabindranath Tagore), ông lại đến Ấn độ diễn giảng. Sau khi từ Ấn độ trở về nước, ông nhận chức chủ nhiệm Học viện Cao đẳng nghiên cứu tông giáo học, lần lượt hiệu đính xuất bản các kinh Phật bằng tiếng Phạm. Ông cũng đã từng là Hội trưởng Hiệp hội Á châu, Hội trưởng Nhật Phật hội quán. Ông đã sang Nhật bản 3 lần để cùng với bác sĩ Cao nam Thuận thứ lang biên soạn từ điển Phật giáo bằng tiếng Pháp. Những năm cuối đời, ông làm chủ nhiệm Sở nghiên cứu Văn hóa Ấn độ (Iustitut de Civilisation Indienne) thuộc Đại học Paris. Năm 1935 ông qua đời, thọ 73 tuổi. Ông để lại các tác phẩm: Ấn độ diễn kịch, Mã minh chi nghiên cứu, Phạm thư chi tế tự giáo nghĩa, Đột quyết ngữ văn thư chi nghiên cứu, Dạ xoa chi địa lí mục lục (trong kinh Đại khổng tước vương chú), Duy thức luận thể hệ nghiên cứu tư liệu... Về các tác phẩm bằng tiếng Phạm được ông hiệu đính và xuất bản thì có: Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Đôn hoàng Phạm bản, Câu xá luận thích (Xứng hữu), Duy thức nhị thập luận, Duy thức tam thập luận (ngài An tuệ chú thích). Ngoài ra, ông còn dịch và giải thích kinh Phân biệt thiện ác báo ứng.

lai nghênh

3049謂發願往生淨土之人,臨終時佛菩薩及聖眾等前來接迎。又作來迎引接、聖眾來迎。此係源自阿彌陀佛四十八願中第十九願之思想,其願謂,發菩提心而願生彌陀淨土者,其人壽終時,彌陀必現前迎接。於日本發展出眾多之來迎圖,稱迎接曼陀羅。來迎圖中繪有阿彌陀佛、觀世音菩薩、大勢至菩薩等作來迎之相,稱爲來迎三尊。而對將臨終者行來迎之儀式,則稱迎接會、迎講。(參閱「聖眾來迎」5583) ; Những người tin và hành trì theo Phật, khi lâm chung sẽ được chư Phật và chư Bồ Tát từ cõi Cực lạc đến đón về Tịnh Độ—The coming of Buddhas to meet the dying believer and bid welcome to the Pure Land. ; (來迎) Cũng gọi Lai nghinh dẫn tiếp, Thánh chúng lai nghinh. Những người phát nguyện vãng sinh Tịnh độ, lúc lâm chung, Phật, Bồ tát và các Thánh chúng đến nghinh đón. Tại Nhật bản, loại tranh Lai nghinh rất phổ biến, gọi là Nghinh tiếp mạn đồ la. Trong tranh LAI NGHINH, Tranh Lai Nghinh vẽ đức Phật A di đà và 2 vị bồ tát Quan thế âm, Đại thế chí trong tư thái nghinh đón, gọi là Lai Nghinh Tam Tôn. (xt. Thánh Chúng Lai Nghinh).

lai nghênh dẫn tiếp nguyện

3049阿彌陀佛四十八願之第十九願。即願於眾生發菩提心,修諸功德,欲生極樂淨土而臨命終時,前來迎接其人往生彌陀淨土。又作修諸功德願、現前導生願、至心發願願、來迎願、臨終引接願、臨終現前願、聖眾來迎願、攝取修德欲生願、行者命終現前導生願。無量壽經卷上(大一二‧二六八上):「設我得佛,十方眾生發菩提心,修諸功德,至心發願欲生我國,臨壽終時,假令不與大眾圍遶現其人前者,不取正覺。」 此願名一般稱爲第十九願,然因無量壽經(魏譯)另有其他譯本,而於各本中願名之次第排列亦有所不同,如無量壽如來會(唐譯)與魏譯本同列爲第十九願;無量清淨平等覺經(漢譯)列爲第十八願;而於大阿彌陀經(吳譯)中以第六願、第七願兩願同屬此願,即第六願之修諸功德願、第七願之臨終迎接願,兩願合之,即相當於來迎引接願;無量壽莊嚴經(宋譯)則列爲第十三願,然其願文內容相當於魏譯本之第十八、第十九兩願。又上舉諸譯本所載之願文互有出入,惟各本皆以迎接淨業行者往生淨土爲願。〔無量壽經卷下、無量壽經鈔卷三〕 ; (來迎引接願) Cũng gọi: Tu chư công đức nguyện, Hiện tiền đạo sinh nguyện, Chí tâm phát nguyện nguyện, Lai nghinh nguyện, Lâm chung tiếp dẫn nguyện, Lâm chung hiện tiền nguyện, Thánh chúng lai nghinh nguyện, Nhiếp thụ tu đức dục sinh nguyện, Hành giả mệnh chung hiện tiền đạo sinh nguyện. Là lời nguyện thứ 19 trong 48 lời nguyện của đức Phật A di đà. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng), nói: Nếu ta được thành Phật, 10 phương chúng sinh phát tâm Bồ đề tu các công đức, dốc lòng phát nguyện muốn sinh về cõi nước của ta, tới lúc họ lâm chung, giả sử ta không cùng với đại chúng đến vây quanh trước mặt họ để đón rước, thì ta nguyện không lên ngôi Chính giác. Nguyện này thường được gọi là nguyện thứ 19 theo như sự sắp xếp thứ tự trong kinh Vô lượng thọ bản dịch đời Ngụy và Hội Vô lượng thọ Như lai bản dịch đời Đường, còn trong các bản dịch khác thì việc sắp xếp thứ tự của Nguyện này không giống nhau. Như: Kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác (bản Hán dịch) thì xếp vào hàng nguyện thứ 18, còn trong kinh Đại A di đà (bản dịch đời Ngô) thì hợp chung 2 nguyện: Tu chư công đức thứ 6 và Lâm chung lai nghinh thứ 7 thành nguyện Lai nghinh tiếp dẫn. Kinh Vô lượng thọ trang nghiêm (bản dịch đời Tống) thì xếp là nguyện thứ 13, nhưng nội dung của văn nguyện lại tương đương với 2 nguyện 18 và 19 trong bản dịch đời Ngụy. Lại nữa, tuy văn nguyện trong các bản dịch trên có hơi khác nhau, nhưng tất cả lời nguyện đều là đón rước người tu tịnh nghiệp sinh về Tịnh độ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Vô lượng thọ kinh sao Q.3].

lai nghênh mĩ thuật

3050隨淨土宗之盛行,由淨土變相逐漸演變成阿彌陀佛來迎引接之動態圖畫。於敦煌等地可見其遺品。於日本,奈良時代即描繪於當麻曼荼羅中,惟獨立之來迎圖自平安中期始流行。又日本最早之來迎佛像爲奈良法華寺所藏之阿彌陀三尊,次爲高野山之聖眾來迎圖、平等院鳳凰堂所畫之九品來迎圖、奈良興福院之聖眾來迎圖、知恩院之早來迎圖(迅雲來迎圖)、還來迎圖等。 ; (來迎美術) Nghệ thuật vẽ tranh đức Phật A di đà và Thánh chúng đến đón rước người niệm Phật vãng sinh về Tịnh độ Cực lạc. Nghệ thuật này được hình thành từ các bức tranh Tịnh độ biến tướng và dần dần phát triển theo đà hưng thịnh của tông Tịnh độ. Những di phẩm biến tướng của Tịnh độ được phát hiện ở Đôn hoàng. Tại Nhật bản, vào thời Nại lương, Lai nghinh được vẽ chung trong Đương ma mạn đồ la, đến giữa thời Bình an, tranh Lai nghinh độc lập mới bắt đầu được lưu hành. Tượng Phật Lai nghinh đầu tiên ở Nhật bản là tượng A Di Đà Tam Tôn được cất giữ tại chùa Pháp hoa ở Nại lương (Nara), kế đến là: Tranh Thánh Chúng Lai Nghinh ở núi Cao dã, tranh Cửu Phẩm Lai Nghinh hiện được tàng trữ ở Phượng hoàng đường Viện Bình đẳng; Tranh Thánh Chúng Lai Nghinh ở viện Hưng phúc tại Nại lương, tranh Tảo Lai Nghinh và tranh Hoàn Lai Nghinh ở viện Tri ân...

lai nghênh tam phật

Có ba vị Phật lai nghênh—The three special welcomers: 1) A Di Đà: Amitabha. 2) Quán Âm: Avalokitesvara. 3) Thế Chí: Mahasthamaprapta.

lai nghênh tam tôn

See Lai Nghênh Tam Phật.

lai nghênh trụ

3050須彌壇背後之壁多繪阿彌陀佛來迎圖,稱爲來迎壁,來迎壁兩脅之柱即來迎柱。 ; (來迎柱) Chỉ cho cây cột ở 2 bên bức vách vẽ tranh Lai nghinh. Trên bức vách phía sau đàn Tu di thường có vẽ tranh Phật A di đà lai nghinh, gọi là Lai nghinh bích; cây cột ở 2 bên Lai nghinh bích tức là Lai nghinh trụ.

lai nghênh ấn

3050爲表示阿彌陀佛前來迎接念佛行者之印相。據觀無量壽經「九品往生」之說,由於行者機類之不同,故往生極樂淨土亦有九品之異,依此而阿彌陀佛來迎之形亦有九品之分,以表九品往生之印,其中,下品上生印爲彌陀來迎之印,其印相爲彌陀之立像,兩掌向外,右手向上,左手向下,拇指與無名指指尖相合。稱爲來迎印。(參閱「九品印」136) ; (來迎印) Ấn tướng của đức Phật A di đà, biểu thị lúc đến đón rước người tu hành niệm Phật. Cứ theo Cửu phẩm vãng sinh trong kinh Quán vô lượng thọ, vì căn duyên của hành giả không giống nhau nên vãng sinh về cõi Tịnh độ cực lạc cũng có 9 phẩm khác nhau. Do đó, hình tượng và ấn tướng nghinh đón của đức Phật A di đà cũng được chia làm 9 phẩm bậc. Trong đó, ấn tướng Lai nghinh dùng để đón rước hàng Hạ phẩm thượng sinh là: Tượng Phật A di đà đứng, 2 tay đưa ra, tay phải đưa lên, tay trái duỗi xuống, đầu ngón cái và đầu ngón vô danh bấm vào nhau. (xt. Cửu Phẩm Ấn).

lai phục

(1319-1391) Thiền tăng sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh, họ Vương, tự Kiến Tâm, hiệu Bồ Am, Trúc Đàm Tẩu, người xứ Phong Thành (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc. Năm 1342, cạo tóc làm tăng, sư lễ thiền sư Nam Sở Sư Duyệt ở Song Kính làm thầy. Ít lâu sau sư được ấn chứng nối pháp Ngài, thuộc tông Lâm Tế. Sư từng trụ các chùa: Thiên Ninh ở huyện Ngân, chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu. Vào khoảng niên hiệu Hồng Võ đời Minh (1368-1398), sư 2 lần đến Nam Kinh, thuyết pháp tại cung đình. Hai vị Vương xứ Thục và xứ Tấn theo sư thưa hỏi tâm yếu, đều có chỗ khế hợp. Hàng công khanh tiếng tăm đều có theo học với sư. Tác phẩm: [i]Bồ Am tập[/i].

lai phức

3050(1319~1391)元代臨濟宗松源派禪僧。豫章豐城(位於江西)人,俗姓王。字見心,號蒲庵,世稱豫章來復。嗣法徑山之南楚師悅。元末因兵亂遷入會稽山,於定水院開始弘法。歷住鄞州天寧寺、杭州靈隱寺等,曾因有反叛之嫌而入獄。洪武二十四年示寂,世壽七十三。法嗣有日僧以亨得兼等。〔補續高僧傳卷二十五、增續傳燈錄卷六〕

lai quả

3048(1881~1953)民國禪宗大德。湖北黃岡人,俗姓劉。號淨如,法名妙樹。幼即不食葷肉,聰慧善默書。七歲,聞鄰僧誦讀心經至「無智亦無得」句,豁然省悟,有出家之念。年十八,割肝療父疾。十九歲奉父母之命結婚,與女同房三日而無染,乃各歸佛堂念佛。光緒三十一年(1905)至普陀山朝拜,遇五位苦行僧,遂私自出家,擬行頭陀苦行,十三天未進飲食。旋赴寶華山受戒,以不勝寺僧折磨而潛逃下山。多日未食,與野犬同臥,備嚐人情冷暖諸苦,欲投江自盡,爲京口彌陀寺僧所救。不久,至金山。以不嫻規矩,曾一日挨香板四百餘次,遂發心出外托鉢乞化。擬直抵中印度禮拜佛陀之聖蹟,其後行至五臺山,朝禮文殊塔,因遇來中國進香之喇嘛,聞知途中障礙甚多,不可妄行,乃改變心意。 光緒三十三年,師直抵金山,以悟爲期,不悟誓不出禪堂,單參「念佛者是誰」之話頭。至三十四年九月二十六日晚,於第六支香後,聞開靜聲響,猛然省悟。後往高旻寺,一任班首之後,遁居終南山湘子洞。民國四年(1915)始返寺,該寺長老月祖令住持明志擇期傳法於師。長老臨終之際,執其手,堅命其發願曰:「願畢生爲高旻盡職。」從此,師矢志恢復高旻舊制。欲修建寶塔、大殿、禪堂、延壽堂、如意寮等五大工程。曾派人往南洋募化,請得玉佛七十八尊、銅佛一尊。然受阻於中日之戰,僅完成寶塔基層。以素志未遂,不去鬢髮,用誌煢誠之思。每謂高旻乃專主禪宗,所有住眾,只許坐香,其他閉關、般舟行、念佛七、持午、講經、學社、學戒堂、大小經懺佛事,及燄口等悉行禁止。並整治叢林規矩,制定「高旻寺規約」,聲明任何人皆不可擅自更動。故有云:「天下叢林不止單,守禪制者,獨有高旻寺耳。」民國四十二年十一月示寂於上海,歸葬寺中,世壽七十三,僧臘四十九。有來果禪師語錄一冊傳世。〔來果禪師自行錄〕 ; (1881-1953) Thiền tăng hiện đại, họ Lưu, hiệu Tịnh Như, pháp danh Diệu Thọ, người xứ Hoàng Cương, Hồ Bắc, Trung Quốc. Năm 1905, sư đến núi Phổ Đà triều bái, tự mình xuất gia rồi đến núi Bảo Hoa thụ giới cụ túc. Năm 1907, sư đến chùa Kim Sơn tập tham thiền, lấy ngộ làm kì hạn, không ngộ thề không ra khỏi thiền đường. Sư tham câu »Người niệm Phật là ai?«. Buổi chiều ngày 26 tháng 9 năm 1907, sau cây hương thứ 6, sư nghe tiếng bảng xả thiền, bỗng tỉnh ngộ. Sau đó, sư trụ trì chùa Cao Mân. Sau thời gian làm Ban thủ, sư ẩn nơi động Tương Tử trong núi Chung Nam. Năm 1915 trở về chùa Cao Mân và được Trưởng lão Nguyệt Tổ truyền pháp, tiếp nối trụ trì. Sư chỉnh trị quy củ và chế định »Cao Mân tự quy ước«. ; Quả báo và điều kiện trong kiếp lai sanh được xem như là hậu quả của hiện tại—The fruit or condition of the next rebirth, regarded as the result of the present. ; (來果) (1881-1953) Vị Thiền tăng Trung hoa thời Dân quốc, người huyện Hoàng cương, tỉnh Hồ bắc, họ Lưu, hiệu Như tịnh, pháp danh Diệu thụ. Ngay từ nhỏ sư đã không ăn thịt cá, thông minh và nhớ giỏi. Năm lên 7, sư nghe vị tăng gần bên nhà tụng Bát nhã tâm kinh đến câu không trí cũng không đắc, thình lình tỉnh ngộ, liền có ý muốn xuất gia. Năm 18 tuổi, sư cắt gan chữa bệnh cho cha. Năm 19 tuổi, sư vâng mệnh song thân lấy vợ, cùng phòng nhưng không nhiễm dục vọng, thường cùng nhau đến Phật đường niệm Phật. Năm Quang tự 31 (1905), sư đến chiêm bái núi Phổ đà, gặp 5 vị tăng tu khổ hạnh, bèn tự ý xuất gia, bắt chước tu khổ hạnh, 13 ngày không ăn uống. Sau, sư đến núi Bảo hoa thụ giới, rồi về núi Ngũ đài lễ bái tháp bồ tát Văn thù. Năm Quang tự 33 (1907), sư đến Kim sơn, chuyên chú tham cứu câu thoại đầu Người niệm Phật là ai, lấy sự ngộ đạo làm hạn, nếu chẳng ngộ thề không ra khỏi Thiền đường. Đến chiều ngày 26 tháng 9 năm Quang tự 34 (1908) sau tuần hương thứ 6, khi nghe tiếng chuông khai tĩnh thì sư triệt ngộ. Sau đó, sư đến chùa Cao mân, giữ chức Ban thủ. Không bao lâu, sư vào ẩn cư trong động Tương tử, núi Chung nam, đến năm Dân quốc thứ 4 (1915) sư mới trở về chùa và được ngài Nguyệt tố, Trưởng lão của chùa Cao mân truyền pháp cho. Từ đó, sư ra sức khôi phục lại chùa Cao mân, xây dựng lại Bảo tháp, Đại điện, Thiền đường, Diên thọ đường, Như ý liêu, v.v... Sư từng phái người đến Nam dương khuyến hóa, thỉnh được pho tượng Phật bằng ngọc và 1 pho tượng đồng, nhờ đó, chùa Cao mân trở thành 1 trong những ngôi chùa qui củ nhất trong nước. Tháng 11 năm Dân quốc 42 (1953) sư tịch ở Thượng hải, thọ 73 tuổi, 49 tuổi đạo, di thể của sư được đưa về an táng trong vườn chùa Cao mân. Sư có tác phẩm: Lai quả thiền sư ngữ lục. [X. Lai quả thiền sư tự hành lục].

lai sanh

Kiếp tái sanh hay kiếp sau—Future rebirth—The future life.

Lai sinh

來生; C: láishēng; J: raishō.|Sinh mệnh kế tiếp của một chúng sinh; cuộc đời sắp tới, thật thể trong tương lai. Cuộc đời trong tương lai. Cũng như Lai thế (來世).

Lai sinh 來生

[ja] ライショウ raishō ||| One's next lifetime; lifetime to come, future life, future existence. Future world; future existence. Same as 來世. => Sinh mạng kế tiếp của một chúng sinh; cuộc đời sắp tới, thực thể trong tương lai. Cuộc đời trong tương lai. Cũng như 來世Lai thế.

Lai thế

來世; C: láishì; J: raise.|Cuộc đời sắp đến, cuộc sống kế theo sau. Sinh mệnh kế tiếp mà chúng sinh sẽ trải qua sau khi từ bỏ kiếp sống nầy (s: agāgatādhvan). Sinh mệnh ở đời vị lai, kiếp sống tiếp theo sau sinh mệnh nầy. Cũng gọi là Lai sinh (來生).

lai thế

3048意指死後將來之世。爲三世之一。全稱未來世。又作來生、後生、後世。據金剛經載,世尊於過去世得燃燈佛授記,並謂世尊於「來世」當得成佛。又法華經卷三藥草喻品有(大九‧一九中)「現世安隱,後生善處」之語。此外,直接將來之世,特稱順來生;將來之次世,稱來來生;永遠之未來,則稱未來永劫,略稱來劫。一般則指死後之未來。〔勝鬘經如來真實義功德章、大薩遮尼乾子所說經卷四〕 ; Kiếp tái sanh trong tương lai—Future world or rebirth. ; (來世) Gọi đủ: Vị lai thế. Cũng gọi: Lai sinh, Hậu sinh, Hậu thế. Chỉ cho đời sau khi đã từ bỏ thân hiện tại. Là 1 trong 3 đời. Cứ theo kinh Kim cương, vào thời quá khứ, đức Phật Nhiên đăng thụ kí cho đức Thích ca lai thế(đời sau)sẽ thành Phật. Trong phẩm Dược thảo dụ kinh Pháp hoa quyển 3 thì có câu (Đại 9, 19 trung): Đời nay an ổn, đời sau sinh nơi tốt lành. Ngoài ra, đời vị lai trực tiếp, gọi là Thuận lai sinh; Vị lai gián tiếp, gọi là Lai lai sinh; Vị lai vĩnh viễn thì gọi là Vị lai vĩnh kiếp, gọi tắt là Lai kiếp.Thông thường, chỉ cho vị lai sau khi chết. [X. chương Như lai chân thực nghĩa công đức trong kinh Thắng man; kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết Q.4].

Lai thế 來世

[ja] ライセ raise ||| The coming world, the next life. The next rebirth that one wil undergo after passing from this life (agāgatādhvan). A future life; a subsequent life. Also 來生. => Cuộc đời sắp đến, cuộc sống kế theo sau. Sinh mạng kế tiếp mà chúng sinh sẽ trải qua sau khi từ bỏ kiếp sống nầy (s: agāgatādhvan). Sinh mạng ở đời vị lai, kiếp sống tiếp theo sau sinh mạng nầy. Cũng gọi là Lai sinh來生.

lai vãng

Coming and going.

Lai ý

來意; C: láiyì; J: rai-i.|Điểm căn bản, thực chất, dàn ý chính của một bản văn. Bản tóm tắt.

Lai ý 來意

[ja] ライイ rai-i ||| The basic point; the gist; encapsulated summary of a text. An abstract. => Điểm căn bản, thực chất, dàn ý chính của một bản văn. Bản tóm tắt.

lai ứng

Đến theo lời câu nguyện—To come in response to an invitation—To answer prayer by a miracle.

Lai 來

[ja] ライ rai ||| (1) To come, coming; to cause to come; to invite. To come here (āgata, āgati, āya). (2) From; from before. The future. (3) To encourage by reward. (4) After a number it means "or more, odd, more than" etc. (5) A guest. (6) To fall back, retreat, retrogress. (7) Past tense, since. (8) An auxiliary word used to give force to another word. => Có các nghĩa sau: 1. Đến, sự đến; đưa đến; mời đến. Đến đây (s: āgata, āgati, āya). 2. Từ, từ trước. Tương lai. 3. Khuyến khích bằng phần thưởng. 4. Khi đứng sau số từ, có nghĩa là " chừng hơn, trên, dư". 5. Khách đến. 6. Rút lui, ẩn dật, lùi lại. 7. Từ quá khứ đến nay, từ trước đến nay. 8. Bổ ngữ dùng tăng thêm ý nghĩa cho từ khác.

lam

1) Dư thừa—Excess—Overflowing. 2) Màu lam: Màu chàm—Blue—Indigo. 3) Sương núi: Mountain mist or vapour.

lam ba

Lampaka (skt)—Quận Lam Ba, ở về phía bắc Ấn Độ—The district of Lamghan, northern India.

lam bà

6597梵名 Lambā。為法華經所說守護法華行者的十羅剎女之一。正法華經卷十總持品譯為結縛。其形如藥叉,著青衣,右手持獨股杵,左手持念珠。〔法華經卷七陀羅尼品、法華十羅剎法〕(參閱「十羅剎女」502) ; Alamba (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em. ; Tên của một loài La Sát Nữ—Name of a raksasi. ; (藍婆) Phạm: Lambà. Một trong 10 nữ La sát giữ gìn, che chở người tụng trì kinh Pháp hoa. Phẩm Tổng trì trong kinh Chính pháp hoa dịch là Kết phược. Hình tượng của Lam bà giống như Dược xoa, mặc áo màu xanh, tay phải cầm cây chày 1 chĩa, tay trái cầm xâu chuỗi. [X. phẩm Đà la ni kinh Pháp hoa Q.7; Pháp hoa thập la sát pháp]. (xt. Thập La Sát Nữ).

lam bà la sát nữ

Lamba (S)Hữu Kiết Phược La sát nữMột trong 10 vị nữ La sat thủ hộ hành giả thọ trì kinh Pháp Hoa.

lam bột la

Lambura or Lambhara (skt)—Ngọn núi nằm về phía bắc Kabul—A mountain north of Kabul.

lam cát phú

6595(1943~ )臺灣南投人。東海大學史學研究所畢業。歷任中興、東海、文化等大學歷史系講師、佛光山中國佛教研究院講席。創辦彌勒出版社,發行彌勒書訊。於佛教文獻學方面,極具素養。著有隋代佛教史述論、現代中國哲學等,其他論文散見於各佛刊。編有當代中國十位哲人及其文章、四大菩薩聖德叢書,「中國文化新論」宗教篇、現代佛學大系、世界佛學名著譯叢等。 ; (藍吉富) (1943-?) Ông là người Nam đầu, Đài loan, tốt nghiệp sở Nghiên cứu Sử học tại Đại học Đông hải, là giáo sư môn Lịch sử tại các Đại học Trung hưng, Đông hải, Văn hóa, v.v... Chủ giảng viện Nghiên cứu Phật giáo Trung quốc ở Phật quang sơn, sáng lập nhà Xuất bản Di lặc. Ông có các tác phẩm: Tùy đại Phật giáo sử thuật luận, Hiện đại Trung quốc triết học, Tứ đại Bồ tát Thánh đức tùng thư, Hiện đại Phật giáo đại hệ, Thế giới Phật giáo danh trứ dịch tùng...

lam hoa

Xem Mạn thù sa hoa.

lam ma

Rama or Ramagrama (skt)—Một vương quốc và thành phố cổ nằm về phía bắc Ấn Độ, giữa thành Ca Tỳ La Vệ và Câu Thi Na—An ancient kingdom and city Northern India between Kapilavastu and Kusinagara.

lam ma quốc

6597梵名 Rāmagrāma,巴利名 Rāmagāma。為位於中印度迦毘羅衛城東方之國。又稱羅摩村、羅摩伽國、阿羅摩國、藍莫國、羅摩聚落。高僧法顯傳謂佛陀入滅之後,此國分得佛陀之舍利,乃建塔供奉,名為藍摩塔。於塔邊之池中有龍,常守護供養此塔。後值阿育王治世,欲開印度國中供奉佛陀含利之八塔,分置於八萬四千塔。其中七塔既開,至藍摩國,守塔之龍現身阻其開塔,後此塔因而荒廢。 又依大唐西域記卷六所載,藍摩塔建於其國之東南;更東百餘里處,即悉達多太子決意出家時解寶衣、除瓔珞,命僕從持歸之地。關於藍摩國之位置,康林罕(A. Cunningham)謂在哥格拉河(Gogra)之支流科哈那河(Kohāna)與奧密河(Aumi)中間之德歐卡利(Deokali)。史密斯(V. Smith)則謂位於尼泊爾與哥拉克普(Gorakpur)中間之達摩里(Dharmaurī)。〔巴利文大史(Mahāvaṃsa, xxxi)、長阿含經卷四、十誦律卷六十、翻梵語卷八、A. Cunningham: Ancient Geography of India, V. Smith: Kusinārā, or Kuśinagara, and other Buddhist holy places〕 ; (藍摩國) Phạm: Ràmaràma. Pàli: Ràmagàma. Cũng gọi La ma thôn, La ma già quốc, A ma la quốc, Lam mạc quốc, La ma tụ lạc. Tên 1 nước xưa nằm về phía đông thành Ca tì la vệ, thuộc Trung Ấn độ. Theo Cao tăng Pháp hiển truyện, sau khi đức Phật nhập diệt, nước này được chia cho 1 phần xá lợi, xây tháp cúng dường gọi là tháp Lam ma. Trong cái ao ở bên cạnh tháp có rồng, thường giữ gìn tháp này. Khi vua A dục ra đời, muốn chia xá lợi của 8 tháp làm 84.000 tháp để thờ trên toàn cõi Ấn độ. Vua đã lấy xá lợi trong 7 tháp kia rồi, khi đến nước Lam ma thì rồng giữ tháp hiện lên cản trở việc mở tháp, từ đó tháp này trở thành hoang phế. Còn theo Đại đường tây vực kí quyển 6, tháp Lam ma được xây cất ở phía đông nước Lam ma. Cách tháp này hơn 100 dặm là nơi Thái tử Tất đạt đa quyết chí xuất gia và cởi bỏ y phục quí giá, vòng ngọc cho Xa nặc mang về cung. Theo A. Cunningham, vị trí nước La ma xưa là vùng Deokali ở giữa 2 con sông Kohàna và Aumi, chi nhánh của sông Gogra hiện nay. Nhưng theo ông V. Smith thì nó ở vùng Dharmaurì, khoảng giữa Nepal và Gorakpur hiện nay. [X. Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa, xxxi); kinh Trường a hàm Q.4; luật Thập tụng Q.60; Phiên Phạm ngữ Q.8; A. Cunningham: Ancient Geography of India; V. Smith: Kusinàrà, orKuzinagara, and other Buddhist holy places].

lam mẫu hán la y

6595(Rām Mohan Rai, 1772~1833)為印度近代宗教、社會改革者。屬婆羅門種姓,生於孟加拉一個篤信印度教之貴族家庭。早年曾於巴特拿(patna)學習阿拉伯文、波斯文,接觸伊斯蘭教教義及希臘古典哲學。後定居貝那拉斯(Benares),研習梵語、英語,增進對傳統印度文化之認識,並接受西歐近代思想之洗禮。曾遊歷波斯、阿拉伯、緬甸、中國等地。一八○四年至一八一五年擔任英屬東印度公司收稅人之職務,因見印度教現狀及社會停滯不前之情況,遂專志於改革運動。於宗教改革方面,極力排斥偶像崇拜,定「梵」為唯一神,宣揚奧義書之真髓,否定輪迴轉生,倡導回歸印度傳統之純粹一神教。於社會改革方面,則創立報刊及學校,否認階級差別,禁止一夫多妻及寡婦殉葬之習俗,並提高婦女之地位。又於一八二八年創立「梵教會」,為以後諸改革運動之先驅。其主要著作有 Tuḥfatul Muwaḥḥiddin, 1804; Vedānta-sūtras(Eng. and Bengālī), 1816~1819; The precepts of Jesus, the guide to peace and happiness, 1820 等。

lam phong

Very strong wind. ; Vairambhavata (skt)—Cơn bão dữ—A hostile or fierce storm.

lam sàm

Tướng mạo khó coi. Tiết Bảo Ninh Nhân Dũng Thiền sư trong NĐHN q. 19 ghi: »有 箇 漢、 怪 復 醜、 眼 直 鼻 藍 鑱、 面 南 看 北 斗。 – [i]Có một kẻ quái dị lại xấu xí, tướng mạo khó coi, mặt xoay hướng nam mà nhìn sao bắc đẩu[/i]«.

lam thái hòa

Lan Ts'ai-ko (C), Lan Caihe (C)Một trong Bát tiên.

lam tuấn đa kiệt

6595(1284~1339)西藏名 Raṅ-byuṅ rdo-rje,意譯為自生金剛。又作 Raṇ-byuṇ-ba。為迦爾瑪派第三祖。被視為迦爾瑪拔希(藏 Karma pajśi, 1204~1283)之轉生者。師研習諸法,精通喇嘛教教義。元文宗至順三年(1332),師應文宗之招請,抵王宮為王及王妃灌頂。元統二年(1334),於歸藏途中,曾巡錫五臺山,抵康州,鎮其地之不和。至元五年示寂,世壽五十六。著作有甚深內義(藏 Zab-mo naṅ-don)與甚深內義之注釋書,及關於天文、醫學、怛特羅等各種論書。〔蒙古喇嘛教史、L.A. Waddell: The Buddhism of Tibet; Deb-ther sṅon-po(The Blue Annals)〕

lam tân xứ

Kashmir (S).

lam tì ni viên

6596藍毘尼,梵名 Lumbinī,巴利名同。意譯為花果等勝妙事具足、樂勝圓光、解脫處、可愛、花香、斷、滅、鹽。位於中印度之林苑,地處古印度拘利與迦毘羅衛之間,乃善覺王(梵 Suprabuddha)為其夫人藍毘尼建造之花園。亦即佛陀誕生之聖地。又作嵐毘尼園、流彌尼園、林微尼園、龍彌儞園、留彌尼園、臘伐尼園、論民園、樓毘園、隆頻園、鄰鞞園、臨兒園。據經典記載,迦毘羅衛國淨飯王娶拘利國天臂城主之女摩耶為妻,摩耶夫人年四十五有孕,於藍毘尼園中無憂樹下,自右脅產悉達多太子。該園曾荒廢一時,直至阿育王石柱被發現後,始知其為佛陀之故蹟,乃悉心加以保護管理。藍毘尼位於今尼泊爾境內。今園址(東西約三十公尺、南北二十公尺)內有方形之浴池、塔址數個及赤甎之堂宇。堂宇稱為魯穆米迭祠堂,其內部正面之壁有摩耶夫人之石彫,為笈多王朝時代或其後之作品。〔巴利文本生經佛傳(Jātaka-nidāna)、雜阿含經卷二十三、長阿含經卷四、佛所行讚卷一生品、八大靈塔名號經、阿育王傳卷一、大唐西域記卷六劫比羅伐窣堵國條、東西交涉史の研究西域篇、V. Smith: Aśoka; S.N. Majumdar: Cunningham's Ancient Geography of India〕 ; (藍毗尼園) Lam tì ni, Phạm, Pàli: Lumbinì. Cũng gọi Lưu di ni viên, Lâm vi ni viên, Long di nễ viên, Lạp phạt ni viên, Luận dân viên, Lâu tì viên, Long tần viên, Lân tì viên, Lâm nhi viên. Hán dịch: Hoa quả đẳng thắng diệu sự cụ túc, Lạc thắng viên quang, Giải thoát xứ, Khả ái, Hoa hương, Đoạn, Diệt, Diêm. Khu vườn hoa nằm ở khoảng giữa Câu lợi và Ca tì la vệ thuộc Trung Ấn độ đời xưa, do vua Thiện giác (Phạm: Suprabuddha) kiến tạo, dành cho Hoàng hậu Lam tì ni, cũng là nơi đức Phật đản sinh. Vườn này từng đã 1 thời bị bỏ hoang, mãi sau khi trụ đá của vua A dục được phát hiện, người ta mới biết đây là Thánh địa nơi đức Phật đản sinh, từ đó mọi người hết lòng giữ gìn bảo vệ. Vườn Lam tì ni hiện nay nằm trên lãnh thổ nước Népal. Diện tích vườn chiều đông tây khoảng 30 mét, chiều Nam bắc 20 mét, trong đó có ao tắm hình vuông và ngôi nhà bằng gạch, có tên là nhà thờ Lỗ mục mễ điệt, vách bên trong mặt chính có khắc tượng phu nhân Ma da bằng đá, là tác phẩm của thời đại Vương triều Cấp đa (Phạm:Gupta) hoặc sau đó. [X. Bản sinh kinh Phật truyện (Pàli: Jàtaka-nidàna); kinh Tạp a hàm tập 23; kinh Trường a hàm Q.4; phẩm Sinh trong Phật sở hành tán Q.1; kinh Bát đại linh tháp danh hiệu; A dục vương truyện Q.1; điều Kiếp tỉ la phạt tốt đổ quốc trong Đại đường tây vực kí Q.6; thiên Tây vực trong Đông Tây giao thiệp sử chi nghiên cứu; V. Smith: Azoka; S. N. Majumdar: Cunningham’s Ancient Geography of India].

lam tải kính

6596(Nīl Darpan 或 The Indigo Planting Mirror)本書係印度人米特拉(Dīnabandhu Mitra, 1830~1873)以孟加拉方言所撰之戲曲,於一八六○年完成,時值英國直接統治印度二年後。米特拉透過戲劇反映史實,敘述英國東印度公司之商人,誘導孟加拉農民種植可作染料之植物―藍(俗稱靛青),再以欺騙壓榨之手段獲取暴利。其後,彼等竟致迫害農民之妻女、侵吞農民所賴以謀生之全部土地等;被害者向英國裁判官申訴,不但未得正義之支助,反而被迫一一趨向死亡之途。此劇曾廣泛激起印度人之民族獨立意識與對農民之深切同情,知識分子更要求刊行英語版,故本書曾一度遭禁。此書之英譯本為啟蒙主義者達塔(Māikel Madhu-sūdan Datta, 1824~1873)所譯。

lam tỳ ni

See Lâm Tỳ Ni.

lam vũ

6595猶言伽藍堂宇,即指佛寺。(參閱「伽藍」2769) ; Sangharama (skt)—Chùa—Monastery—Monastery-buildings. ; (藍宇) Nói đủ là già lam, đường vũ, tức chỉ cho chùa viện của Phật giáo. (xt. Già Lam).

Lam-bà 藍婆

[ja] ランバ ranba ||| (1) To be bound, trapped, ensnared. 結縛 (2) Lambā. One of the ten dharmaprotecting rākṣasī 羅刹女 in the Lotus Sutra. Her bodily shape is like a yakṣa; in her left hand she holds a type of vajramallet 獨股杵, and in her right hand, a rosary. 〔法華經 T 262.9.59a22〕 => 1. Bị trói buộc, bị ràng buộc, bị vướng mắc (kết phược 結縛). 2. Lam-bà (s: Lambā). Tên của một trong 10 vị nữ La-sát hộ pháp trong kinh Pháp Hoa. thân tướng vị nữ La-sát nầy giống như Dược xoa (s: yakṣa), tay phải cầm chuỗi hạt, tay trái cầm chuỳ độc cổ ( độc cổ chử 獨股杵 s: vajramallet).

Lam-dre

T: lam-’bras; S: mārga-phala; nguyên nghĩa »Ðạo và quả«; |Tên dùng cho một loạt tác phẩm của Kim cương thừa trong dòng Tát-ca (t: sakyapa) tại Tây Tạng. Khuynh hướng của Kim cương thừa là »Ðường đi chính là mục đích« được nêu ra rất rõ trong các tác phẩm này. Gốc nguồn của các loại sách này là một Tan-tra rất cổ, được một người tên là Drog-mi phiên dịch và đem sang Tây Tạng thế kỉ 11. Vị Tổ đầu tiên của dòng Tát-ca viết nhiều luận giải về Tantra này và sáng lập truyền thống Lam-dre tại Tây Tạng.|Vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) Vi-ru-pa (s: vi-rūpa) được xem là người sáng lập truyền thống Lam-dre. Ông truyền cho đệ tử là Nag-po-pa tác phẩm căn bản, được gọi là »Kim cương kệ.« Bản này rất ngắn và phải được khẩu thuyết thêm. Quan niệm chính của các Lam-dre là Niết-bàn và Luân hồi là một không hai. Muốn nhận thức được điều này, một Du-già sư (yogin) phải tu tập triệt để.|»Tâm« được mô tả như sau trong Lam-dre: 1. Trong sáng; 2. Không, trống rỗng và 3. Bao gồm cả hai tính chất 1. và 2.; khi Du-già sư chứng ngộ cả ba đặc tính này thì mới gọi là đạt giải thoát.

Lam-tì-ni

phiên âm từ Phạn ngữ là Lumbinỵ, là tên khu vườn nơi đức Phật Thích-ca Mâu-ni đản sanh. Trong bản Hán văn ngài Đàm-vô-sấm dùng林微尼(Lâm-tì-ni) để phiên âm tên khu vườn này. Hầu hết các kinh văn khác đều dùng藍毗尼(Lam-tì-ni). ; 藍 (嵐) 毗尼; S, P: lumbinī;|Một trong bốn thánh tích đạo Phật, nơi sinh của đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni. Lam-tì-ni ở gần kinh đô Ca-tì-la-vệ, thuộc tiểu quốc dòng họ Thích-ca, ngày nay thuộc nước Nepāl. Các thánh tích khác là Lộc uyển (s: mṛgadāva) ở Tiên uyển (s: ṛṣipatana) bây giờ được đổi tên là Sārnāth, nơi Phật bắt đầu giáo hoá, Giác Thành (bodhgayā), nơi Phật đắc đạo, và Câu-thi-na (kuṣinagara), nơi Phật nhập Niết-bàn.|Tại Lam-tì-ni còn một trụ đá của vua A-dục, được dựng lên lúc ông đi hành hương năm 249 trước Công nguyên. Trên trụ đá này được ghi »20 năm sau ngày lên ngôi, Thiên Ái Thiện Kiến vương (devānapiya piyadasi, tức vua A-dục) đã đến đây và tỏ bày lòng tôn kính, vì Phật, con người minh triết dòng họ Thích-ca đã được sinh nơi đây. Nhà vua cho xây một trụ đá để nhớ rằng bậc giác ngộ đã được sinh tại đây. Làng Lam-tì-ni được miễn đóng thuế và phần triều cống nông lâm sản được giảm xuống còn một phần tám (từ một phần tư).«

lan

Nhằm vào, hướng về. [i]Vô Môn Quan[/i] ghi: »路 逢 達 道 人、 不 將 語 默 對、 攔 腮 劈 面 拳、 直 下 會 便 會。– [i]Trên đường gặp người đạt đạo, chớ đem nói nín đáp. Nhằm vào mặt cho một đấm, ngay đó nếu hội liền hội[/i]«. ; 1) Hàng rào—A rail—Handrail. 2) Hoa Lan: The epidendrum—Orchid—Scented—Refined.

lan bồn hội

6864即盂蘭盆會。此行事源於盂蘭盆經。據經載,每年農曆七月十五日為佛歡喜日,亦為僧眾自恣之日,以盂蘭盆盛百味食物,供養十方僧眾,能救拔七世父母之墮餓鬼界,受倒懸之苦者;即以盆為器具名,法苑珠林卷六十二所引之大盆淨土經亦同此說。然依玄應音義卷十三載,盂蘭盆正言烏藍婆拏(梵 Ullambana),譯作倒懸,謂貯食之器者實為訛誤。(參閱「盂蘭盆」3454) ; Ullambana, or Lambana, or Avalamba (skt)—See Vu Lan Bồn in Vietnamese-English Section, and Ullambana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (蘭盆會) Tức là hội Vu lan bồn, hội này bắt nguồn từ kinh Vu lan bồn. Theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 13, Vu lan bồn, tiếng Phạm là:Ullambana, Hán dịch: đảo huyền, nghĩa là treo ngược. Hội Vu lan bồn được tổ chức vào ngày rằm tháng 7 hàng năm. (xt. Vu Lan Bồn).

Lan cao

(蘭膏): có hai nghĩa. (1) Một thứ dầu được người xưa tinh chế từ hương hoa Lan, có thể dùng để đốt đèn, thắp sáng. Như trong Sở Từ (楚辭), phần Chiêu Hồn (招魂), có câu: “Lan cao minh chúc, hoa dung bị ta (蘭膏明燭、華容僃些, dầu thơm tỏ nến, dáng hoa sẵn rồi).” Vương Dật (王逸, khoảng 89-158), nhà văn học thời Đông Hán, giải thích rằng: “Lan cao, dĩ Lan hương luyện cao dã (蘭膏、以蘭香煉膏也, Lan cao là loại lấy hương hoa Lan để luyện thành cao dầu).” (2) Chỉ một loại dầu thơm làm mướt tóc.

lan cúc

6864春蘭秋菊,各當其時而擅其美,比喻物之兩美,俱不可廢。法華文句卷一上(大三四‧二上):「分節經文,悉是人情,蘭菊各擅其美,後生不應是非。」〔續高僧傳卷十五神素傳、太平廣記卷一八五〕 ; 1) Hoa lan và hoa cúc—Orchid and chrysanthemum. 2) Lan mùa Xuân và cúc mùa Thu (thứ nào mùa ấy): Orchid in spring and chrysanthemum in autumn. 3) Tượng trưng cho sự đẹp đẽ: Emblems of beauty.

lan dương nhân ái chi gia

6864為高雄縣佛光山所屬之養老救濟機構。位於臺灣宜蘭礁溪鄉龍潭村。基督教董鴻烈先生創辦於民國五十二年(1963),後因故停辦,地方首長林才添先生敦請星雲接辦,擴大院舍,收容孤苦老人,改組董事會,並派遣依融、紹覺二法師前往負責院務。現有院民五十餘人,並兼辦幼稚園一所。依融、紹覺畢業於佛光山東方佛教學院第三屆,十餘年來,不僅在院務上推展迅速,更將佛法廣植於院民心中。民國七十年,二師榮膺全國好人好事代表,受到蔣故總統經國先生表揚。

Lan dịch

(蘭掖): nhà lan, chỉ nơi cư trú của các phi tần hậu cung. Như trong bài Phụng Hòa Thái Tử Nạp Phi Thái Bình Công Chúa Xuất Hàng (奉和太子納妃太平公主出降) của Quách Chánh Nhất (郭正一, ?-?) nhà Đường có câu: “Quế cung sơ phục miện, lan dịch tảo thăng kê (桂宮初服冕、蘭掖早升笄, cung quế mới đội miện, nhà lan sớm cài trâm).” Hay trong Cựu Đường Thư (舊唐書), chương Lễ Nghi Chí (禮儀志) 3 lại có câu: “Thiếp mậu xử tiêu vi, thao cư lan dịch (妾謬處椒闈、叨居蘭掖, thiếp lầm ở chốn hoàng cung, lạm sống nơi cao quý).”

Lan huệ

(蘭蕙): chỉ cho Lan và Huệ, đều thuộc loại cỏ thơm; phần lớn được dùng để dụ cho người hiền. Như trong Hán Thư (漢書), Truyện Dương Hùng (揚雄傳) có câu: “Bài ngọc hộ nhi dương kim phố hề, phát Lan Huệ dữ Khung Cùng (排玉戶而颺金鋪兮、發蘭蕙與穹窮, bỏ cửa ngọc mà bày tiệm vàng chừ, tốt Lan Huệ với Khung Cùng).” Hay trong bài thơ Bệnh Tà (疾邪) của Triệu Nhất (趙壹, ?-?) nhà Hán lại có câu: “Bị hạt hoài kim ngọc, lan huệ hóa vi sô (被褐懷金玉、蘭蕙化為芻, kẻ nghèo nhớ vàng ngọc, người hiền hóa thành rơm).” Hoặc trong bài thơ Tống Lý Sanh Nam Quy Ký Tải Lạp Vương Tích Xiển Nhị Cao Sĩ (送李生南歸寄戴笠王錫闡二高士) của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682) nhà Thanh cũng có câu: “Phong xuy Lan Huệ sắc, nhất dạ lạc Quan Trung (風吹蘭蕙色、一夜落關中, gió thổi màu Lan Huệ, một đêm xuống Quan Trung).”

lan hương

Orchid fragrance.

lan hương sao

6864又作蘭香梢。舊譯作阿梨樹枝。蘭香花開時,梢頭之花子分為七分,以此比喻鬼神碎罪人之頭為七分。慧琳音義卷三十五(大五四‧五四一下):「蘭香萧萧,此即如來譬喻說也。凡蘭香花出時,梢頭花子分為七分,罪人善神破其頭,破作七分,如彼蘭香頭。古譯云阿梨樹枝者,訛也,本無阿梨樹。」〔大孔雀咒王經卷上〕(參閱「阿梨樹枝」3663) ; (蘭香梢) Cũng gọi A lê thụ chi. Đầu búp hoa lan hương. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 35 (Đại 54, 541 hạ), nói: Khi hoa lan hương nở thì ở đầu nụ hoa chia ra làm 7 cánh, đức Phật dùng để ví dụ thiện thần đập đầu tội nhân vỡ làm 7 mảnh, giống như đầu hoa kia. Xưa dịch A lê thụ chi là sai, vì ở Ấn độ không có cây A lê. [X. kinh Đại khổng tước vương Q.thượng]. (xt. A Lê Thụ Chi).

Lan Khê Ðạo Long

蘭溪道隆; C: lánxī dàolóng; J: rankei dōryū; 1208-1268/ 1213-1278;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc nhánh Dương Kì, tông Lâm Tế.|Sư người Tây Thục, 13 tuổi xuất gia, sau tham học với nhiều Thiền sư danh tiếng ở Chiết Giang. Năm 33 tuổi (1246), Sư sang Nhật truyền pháp. Trong thời gian này, các tông phái cũ ở Nhật đã có những triệu chứng suy bại, chỉ lo chạy theo danh lợi và vì vậy, phong cách của Thiền gia chất phác, không cầu kì ham muốn, nhẫn nhục tu hành rất được kính trọng. Sư được mời đến Liêm Thương (j: kama-kura), lập chùa Kiến Trường (j: kenchō-ji) nơi đây.|Sư là một trong những Thiền sư góp phần quan trọng cho sự hưng thịnh của Thiền tông tại Nhật. Sư tịch tại chùa Kiến Trường, được ban hiệu là Ðại Giác Thiền sư. Ðây là lần đầu Nhật Bản có danh hiệu Thiền sư.

Lan Khê Đạo Long

(蘭溪道隆, Ranke Dōryū, 1213-1278): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, vị tổ của Phái Đại Giác thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, hiệu là Lan Khê (蘭溪), xuất thân người Phù Giang (涪江), Tây Thục (西蜀, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Nhiễm (冉). Năm 13 tuổi, ông đến xuất gia ở Đại Từ Tự (大慈寺) vùng Thành Đô (成都), sau đến tham học với Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範), Si Tuyệt Đạo Xung (癡絕道冲), Bắc Nhàn Cư Giản (北礀居簡), và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Vô Minh Huệ Tánh (無明慧性). Vào năm thứ 4 (1246) niên hiệu Khoan Nguyên (寬元), ông cùng với nhóm đệ tử Nghĩa Ông Thiệu Nhân (義翁紹仁), Long Giang Ứng Tuyên (龍江應宣) đến Thái Tể Phủ ở vùng Cửu Châu (九州, Kyūshū) Nhật Bản, được Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) quy y theo, và trú tại Thường Lạc Tự (常樂寺, Jōraku-ji). Vào năm thứ 5 (1253) niên hiệu Kiến Trường (建長), ông đến làm tổ khai sơn Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji). Thể theo sắc mệnh, vào năm thứ 2 (1265) niên hiệu Văn Vĩnh (文永), ông chuyển đến trú trì Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) ở kinh đô Kyoto, nhưng sau ba năm ông lại quay trở về Kiến Trường Tự, rồi làm tổ khai sơn của Thiền Hưng Tự (禪興寺, Zenkō-ji). Chính ông là người đã tạo nên cơ sở vững chắc cho Thiền Tông ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Sau ông bị lưu đày đến vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai, thuộc Yamanashi-ken [山梨縣]), rồi được tha tội, và đến sống ở Thọ Phước Tự (壽福寺). Vào năm đầu (1278) niên hiệu Hoằng An (弘安), ông trở về Kiến Trường Tự, và vào ngày 24 tháng 7 cùng năm đó, ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi. Quy Sơn Thượng Hoàng (龜山上皇, Kameyama Jōkō) ban tặng ông thụy hiệu là Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師), hiệu là Nhật Bản Thiền Sư (日本禪師); đây cũng được xem như là tước hiệu Thiền Sư đầu tiên của Nhật Bản. Ông có để lại Đại Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大覺禪師 語錄) 3 quyển.

lan khê đạo long

Rankei DōryŪ (J)Tên một vị sư.

lan nhã

Xem A luyện nhã. ; Tên tắt của A Lan Nhã hay Viện tu khổ hạnh (chỗ vắng vẻ, thanh tịnh, an nhàn, và tĩnh mịch)—Hermitage—Monastery.

lan quý đặc tân cách

6863(Ranjit Singh, 1780~1839)十八、九世紀印度錫克教政治與宗教領袖。執政期間積極整頓內政,創建正規軍,並加強對錫克教徒之控制,修復金寺和阿卡爾寺,自任錫克教徒大會主席。對外發動多次戰爭,鞏固並擴大錫克教徒在旁遮普地區所建立之獨立國家。歿後錫克教勢力迅速衰落,第二次錫克戰爭(1849)後,為英國所征服。

lan thuẫn

6852指附於建築物之欄杆,或指圍繞樹木之柵。詳言之,縱者為欄,橫者為楯。禪苑清規卷十(卍續一一一‧四六七下):「尊殿上只可焚香瞻禮,不可倚靠欄楯,聚頭語笑。」又阿彌陀經載,極樂國土有七重欄楯、七重羅網、七重行樹,皆是四寶周匝圍繞。 ; (欄楯) Lan là dọc, thuẫn là ngang, tức chỉ cho lan can quanh nhà, hoặc hàng rào bao bọc gốc cây. Thiền uyển thanh qui quyển 10 (Vạn tục 111, 467 hạ), nói: Nơi điện Phật tôn nghiêm để đốt hương, chiêm lễ, không được đứng dựa lan can, châu đầu nói, cười. Ngoài ra, kinh Di đà ghi, ở cõi nước Cực lạc, có 7 lớp lan thuẫn, 7 lớp lưới giăng, 7 lớp hàng cây, v.v...

lan thất

6863即佛寺、精舍之異稱。蘭,為阿蘭若之略稱,或取蘭草芬芳之義。大唐西域記張說序(大五一‧八六八上):「業光上首,擢秀檀林,德契中庸,騰芬蘭室。」 ; (蘭室) Tên gọi khác của chùa viện, tinh xá. Lan, hoặc là gọi tắt của A lan nhã, hoặc lấy nghĩa mùi thơm của hoa lan. Bài tựa của ông Trương thuyết trong Đại đường tây vực kí (Đại 51, 868 thượng), nói: Sự nghiệp của ngài cực kì xán lạn, hơn cả rừng chiên đàn, đức hạnh của ngài hợp với đạo trung dung, hương thơm ngào ngạt khắp lan thất.

lan xa

Một đặc ngữ của Mông Cổ hay Thổ Nhĩ Kỳ ám chỉ sự tán thán—A Mongol or Turkish word implying praise.

lan xa đãi

6864<一>胡語褒美之義。據朱子語錄載,東晉王導嘗謂胡僧曰蘭奢待,即胡語之褒譽。或謂蘭奢,即蘭若,梵語為空靜、閑寂之意;待,即候待之意。故蘭奢待即指於閑寂處候待之意。 <二>日本奈良東大寺正倉院所藏黃熟香之名稱。其意義不詳。此香於聖武天皇天平年中〔729~749)自百濟傳至日本。 ; (蘭奢待) I. Lan Xa Đãi. Tiếng Ấn độ, có nghĩa là khen ngợi. Theo Chu tử ngữ lục, ông Vương đạo đời Đông Tấn thường gọi các vị tăng Ấn độ là Lan xa đãi. Có thuyết cho rằng Lan xa tức là Lan nhã, nghĩa là yên tĩnh, vắng lặng; Đãi nghĩa là chờ đợi. Bởi thế, Lan xa đãi cũng có hàm ý hướng tới chỗ an tĩnh. II. La Xa Đãi. Tên của hương Hoàng thục được cất giữ ở viện Chính thương tại chùa Đông đại ở Nại lương, Nhật bản. Về ý nghĩa của loại hương này thì không được rõ. Chỉ biết nó đã từ Bách tế (Đại hàn) được truyền vào Nhật bản trong năm Thiên bình (729-749) đời Thiên hoàng Thánh vũ.

lang

ng chủ. [i]Lâm Tế ngữ lục[/i] ghi: »奴 郎 不 辨 賓 主 不 分。 – [i]Tớ chủ chẳng rõ, khách chủ chẳng phân[/i]«. ; 5443殿舍之間爲便於通行而設之建築物。又作細殿、渡殿。在柱與勾欄間通風之廊,以上無物覆之而可透見者,稱爲透廊。若設於殿堂四周而作橋形者,稱橋廊,又稱反渡廊。若有曲廊則稱臂折廊;曲折多而緜延甚長,則稱龍尾道。 ; 1) Chó sói—A wolf. 2) Dữ dằn: Fierce. ; (廊) Cũng gọi Tế điện, Độ điện. Tức là hành lang, một kiến trúc được thiết kế để tiện cho việc qua lại giữa các điện đường và phòng xá. Hành lang thông gió giữa các cây cột và câu lan, ở trên không có mái che, có thể thông suốt, gọi là Thấu lang. Nếu hành lang được thiết kế chung quanh điện đường và có hình cây cầu thì gọi là Kiều lang, hoặc Phản độ lang. Nếu hành lang uốn khúc quanh co, thì gọi là Tí chiết lang; nếu hành lang có nhiều khúc quanh liên tiếp nhau, thì gọi là Long vĩ đạo (đường đuôi rồng).

Lang Da Huệ Giác

(瑯琊慧覺, Rōya Ekaku, ?-?): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, nhân vật sống dưới thời nhà Tống. Cha là Thái Thú Hành Dương (衡陽, Tỉnh Hồ Nam), qua đời nơi vùng đất làm quan này, cho nên ông đến đem quan tài cha trở về quê hương mình, nhưng giữa đường ông lại ghé qua Dược Sơn (藥山) thuộc Lễ Dương (澧陽, Tỉnh Hồ Nam) và xuất gia tại chùa này. Về sau, ông đi ngao du khắp nơi tham vấn chư Thiền đức, cuối cùng kế thừa dòng pháp của Phần Dương Thiện Chiêu (汾陽善昭). Ông đến trú tại Lang Da Sơn (瑯琊山), thuộc Trừ Châu (滁州, Tỉnh An Huy) và nỗ lực cử xướng tông phong của Lâm Tế. Tuyết Đậu Trùng Hiển (雪竇重顯) là người đồng thời với ông, đã cùng nhau tuyên xướng Thiền đạo, vì vậy người đương thời gọi họ là Nhị Cam Lồ Môn (二甘露門, hai cửa cam lồ). Ông được sắc phong Quảng Chiếu Thiền Sư (廣照禪師). Đệ tử của ông có Định Tuệ Siêu Tín (定慧超信), Trường Thủy Tử Tuyền (長水子璿) là những nhân vật kiệt xuất đương thời.

lang da sơn giác hoà thượng ngữ lục

Gọi đủ: Trừ Châu Lang Da Sơn Giác Hoà thượng ngữ lục. Còn gọi: Lang Da Giác ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do Lang Da Huệ Giác soạn vào đời Tống, đệ tử là Nguyên Tụ biên tập, được xếp vào [i]Cổ Tôn Túc ngữ lục[/i] quyển 46 và [i]Tục Tạng kinh[/i] tập 118, trang 774. Nội dung gồm có những lời thị chúng, Thượng đường, Tiểu tham, Niêm cổ của ngài Huệ Giác. ; 5838全一卷。宋代臨濟宗僧瑯琊慧覺撰,門人元聚集,明永樂年間(1403~1424)刊行。全稱滁州瑯琊山覺和尚語錄。又作瑯琊覺語錄。收於卍續藏第一一八冊古尊宿語錄卷四十六。輯錄慧覺之示眾、上堂、小參、拈古等語。 ; (琅琊山覺和尚語錄) Cũng gọi Lang gia Giác ngữ lục. Gọi đủ: Trừ châu Lang gia Sơn giác hòa thượng ngữ lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Lang gia Tuệ giác thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Tống, do các môn nhân biên tập và được ấn hành vào khoảng năm Vĩnh lạc (1403-1424) đời Minh, được xếp vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 46 trong Vạn tục tạng tập 118. Nội dung thu chép lời khai thị đại chúng, thướng đường, tiểu tham, niêm cổ, v.v... của ngài Tuệ giác.

Lang hàm

(瑯函、琅函): có 2 nghĩa khác nhau. (1) Từ mỹ xưng của hòm thư, hộp thư. Như trong bài thơ Lý Thị Tiểu Trì Đình (李氏小池亭) của Vi Trang (韋莊, 836-910) nhà Tiền Thục có câu: “Gia tàng hà sở bảo, thanh vận mãn lang hàm (家藏何所寶、清韻滿瑯函, nhà chứa vật báu gì, văn chương khắp hòm thư).” (2) Chỉ cho thư tịch của Đạo Giáo. Như trong tác phẩm Nghệ Lâm Phạt Sơn (藝林伐山), phần Tiên Kinh (仙經) của Dương Thận (楊愼, 1488-1559) nhà Minh có giải thích rằng: “Quỳnh Văn, Tảo Cấp, Lâm Triện, Lang Hàm, giai chỉ Đạo thư dã (瓊文、藻笈、琳篆、瑯函、皆指道書也, Quỳnh Văn, Tảo Cấp, Lâm Triện, Lang Hàm đều chỉ cho các thư tịch của Đạo Giáo).” Trong Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474), phần Tùy Châu Đại Hồng Sơn Toại Thiền Sư Lễ Hoa Nghiêm Kinh Văn (隨州大洪山遂禪師禮華嚴經文), có đoạn: “Nam Mô Tỳ Lô Giáo Chủ, Hoa Tạng từ tôn, diễn bảo kệ chi kinh văn, bố lang hàm chi ngọc trục, trần trần hỗn nhập, sát sát viên dung (南無毗盧敎主、華藏慈尊、演寶偈之經文、布琅函之玉軸、塵塵混入、剎剎圓融, kính lạy đức Giáo Chủ Tỳ Lô, đấng từ tôn Hoa Tạng, tuyên diễn kinh văn kệ báu, bày khắp cuộn ngọc hòm thư, nơi nơi thâu nhập, chốn chốn viên dung).” Hay trong Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đơn Hà Thuần Thiền Sư Tụng Cổ Hư Đường Tập (林泉老人評唱丹霞淳禪師頌古虛堂集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1304) quyển 5 lại có đoạn: “Ngọc trục lang hàm nghĩ phá đề, Phật ma ninh miễn lập giai thê, chỉ đề hoàng diệp tằng vi dụ, hà tất khu khu thủ ngộ mê (玉軸琅函擬破題、佛魔寧免立階梯、止啼黃葉曾爲喻、何必區區守悟迷, cuộn ngọc hòm thư nghĩ phá đề, Phật ma sao khỏi bậc thứ khoe, dừng thốt lá vàng làm thí dụ, đâu cần khư khư giữ ngộ mê).”

lang mang

Vội lấy. [i]Vô Môn Quan[/i] ghi: »龍 潭 大 似 憐 兒 不 覺 醜、 見 他 有 些 子 火 種、 郎 忙 將 惡 水 驀 頭 一 澆 澆 殺 。 – [i]Long Đàm thực như người thương con không sợ dơ xấu, thấy kẻ kia có đôi chút lửa, vội lấy nước dơ dập tắt liền[/i]«.

lang mạc

Chức phó quan phụ trách về hành chính có liên quan đến việc quân sự. Tiết Bách Nham Minh Triết Thiền sư trong NĐHN q. 5 ghi: »洞 山 與 密 師 伯 到 參、 師 問: 二 上 座 甚 處 來? 山 曰: 湖 南。 師 曰: 觀 察 使 姓 甚 麼? 曰: 不 得 姓。 師 曰: 名 甚 麼? 曰: 不 得 名。 師 曰: 還 治 事 也 無? 曰: 自 有 郎 幕 在。 – [i]Động Sơn cùng Mật Sư Bá trở lại tham vấn thiền sư Minh Triết. Sư hỏi: Hai thượng toạ từ đâu đến? Sơn đáp: Hồ Nam. Sư bảo: Quan sát sứ họ gì? Đáp: Không có họ. Sư hỏi: Tên là gì? Đáp: Không có tên. Sư hỏi: Có giải quyết công việc được không? Đáp: Tự có phó quan rồi[/i]«.

lang phiếu

Chỉ cho chiếc gậy thiền tăng hay dùng. Lang phiếu là tên một loại gỗ có thể làm thành chiếc gậy. Tiết Tuyết Phong Đạo Viên Thiền sư trong NĐHN q. 17 ghi: »一 條 榔 票 任 縱 橫。 – [i]Một chiếc gậy mặc tình tung hoành[/i]«.

lang phiếu hoành đảm

Chỉ cho tăng nhân đi hành cước. Tiết Tây Thiền Thủ Tịnh Thiền sư trong NĐHN q. 20 ghi: »問: 古 佛 堂 前、 甚 麼 人 先 到? 師 曰: 無 眼 村 翁。 曰: 未 審 如 何 趣 向? 師 曰: 楖 栗 橫 擔。– [i]Hỏi: Trước cổ Phật đường người nào đến trước? Sư nói: Lão quê không có con mắt. Hỏi: Chẳng biết làm sao tiến tới? Sư nói: Hãy vác gậy hành cước đi![/i]«.

lang phiếu vị đảm

Chỉ cho trước khi đi hành cước. Tiết Thiên Đồng Phổ Giao Thiền sư trong NĐHN q. 18 ghi: »師 凡 見 僧 來、 必 叱 曰: 楖 栗 未 擔 時、 爲 汝 說 了 也。– [i]Hễ sư thấy tăng đến, ắt mắng rằng: Trước khi đi hành cước ta đã nói với ngươi rồi![/i]«.

Lang Tuyền Tự

(瀧泉寺, Ryūsen-ji): ngôi chùa của Thiên Thai Tông, hiện tọa lạc tại số 20-26 3 Chōme (三丁目), Shitameguro (下目黑), Meguro-ku (目黑區), Tokyo-to (東京都); hiệu núi là Thái Duệ Sơn (泰叡山); còn gọi là Mục Hắc Bất Động Tôn (目黑不動尊). Tượng thờ chính là Bất Động Minh Vương (不動明王). Tương truyền vào năm 808 (Đại Đồng [大同] 3), khi Viên Nhân (圓仁, Ennin) theo hầu thầy Quảng Trí (廣智) lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), giữa đường được Bất Động Minh Vương (不動明王) báo mộng; bèn cho đấng chí tôn của Nhật Bản là Bất Động Minh Vương và kiến lập chùa này. Vào năm 860 (Trinh Quán [貞觀] 2), Thanh Hòa Thiên Hoàng (清和天皇, Seiwa Tennō) ban sắc ngạch cho chùa; vào năm 1624 (Khoan Vĩnh [寬永] nguyên niên), Tướng Quân Đức Xuyên Gia Quang (德川家光, Tokugawa Iemitsu) đặt trận thế thả chim ưng, cho tạo dựng các ngôi đường xá của chùa. Trong khuôn viên chùa có Thác Độc Cô (獨鈷瀧) tương truyền do Viên Nhân đào nên, và rất nhiều tín đồ đến tham bái nơi đây.

lang tích sơn

4184雞足山之異名。為摩訶迦葉入定之山。〔摩訶摩耶經卷下、玄應音義卷八〕(參閱「雞足山」6642) ; Xem kê túc sơn. ; Tên khác của Kê Túc Sơn (nơi Ngài Ma Ha Ca Diếp nhập định)—Wolf track hill, another name for Cock-Leg Hill. ; (狼迹山) Tên khác của núi Kê túc (bên Ấn độ), là nơi ngài Ma ha Ca diếp nhập định. [X. kinh Ma ha ma da Q.hạ; Huyền ứng âm nghĩa Q.8]. (xt. Kê Túc Sơn).

lang đang

Nói năng lôi thôi, lải nhải. [i]Vô Môn Quan[/i] ghi: »達 磨 西 來、 不 執 文 字、 直 指 人 心、 見 性 成 佛、 說 箇 直 指、 已 是 迂 曲、 更 言 成 佛、 郎 當 不 少。 – [i]Đạt-ma từ phương Tây đến, chẳng chấp văn tự, chỉ thẳng tâm người, kiến tính thành Phật. Nói chỉ thẳng đã là quanh co rồi còn nói thành Phật thật là lải nhải chẳng ít[/i]«.

lanh lợi

Clever.

lanh trí

Quick mind—Quick wits.

Lao

勞; C: láo; J: rō;|Có các nghĩa sau: 1. Khó nhọc, khổ. Vất vả, nỗ lực; 2. Theo kinh Duy-ma-cật sở thuyết thì lao có nghĩa là »ô nhiễm«, hoặc »trần ai«.

lao

Lao nhọc—Toil—Labour.

lao khổ

Hard and miserable.

lao kết

Trần lao và kiết sử đều là những tên khác của phiền não—The troublers, or passions, those which hold one in bondage.

lao lữ

4857<一>指為煩惱所困擾、束縛之人。勞,塵勞,為煩惱之異稱。維摩詰所說經卷上弟子品(大一四‧五四○下):「為與眾魔共一手,作諸勞侶,汝與眾魔及諸塵勞,等無有異。」 <二>指從事勞役工作之人們,或指僕役之類。〔正法眼藏行持卷上〕 ; Người đồng hành gây nhiều trở ngại, ý nói dục vọng (lúc nào cũng ở bên mình và gây trở ngại cho chính mình)—Troublesome companions, e.g. the passions. ; (勞侶) I. Lao Lữ. Chỉ cho người bị phiền não trói buộc. Lao là trần lao, tên khác của phiền não. Phẩm Đệ tử trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển thượng (Đại 14, 540 hạ), nói: Vì cùng với bọn ma chung 1 tay, tạo các lao lữ, nên ngươi cùng với bọn ma và các trần, giống hệt như nhau. II. Lao Lữ. Chỉ cho những người làm công việc lao dịch, hoặc các nô bộc. [X. Chính pháp nhãn tạng hành trì Q.thượng].

Lao Nghi 牢宜

[ja] ロウギ Rōgi ||| Laoyi (d.u.), a Northern Wei monk who was a member of the northern branch of the Dilun school 地論宗, and who was a disciple of Daochong 道寵. => Tăng sĩ thời Bắc Ngụy, thành viên của Bác phái Địa luận tông (c: Dilun school 地論宗), là đệ tử của ngài Đạo Sủng ( 道寵 c: Daochong ).

lao oán

Nỗi oán hận của lao nhọc, hay lao nhọc và oán hận đều là những tên khác của phiền não—The annoyance or hatred of labour, or trouble, or the passions, or demons.

lao quan

2983請參閱堅固女經 堅牢之關門(課題、試驗)。即不能以思量分別通過到達之向上境地。景德傳燈錄卷十六(大五一‧三三一中):「末後一句始到牢關,鎖斷要津,不通凡聖。」 ; (牢關) Cửa ải kiên cố khó vượt qua, ví dụ cảnh giới hướng thượng không thể dùng tư duy phân biệt mà đạt đến được. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại 51, 331 trung), nói: Một câu cuối cùng mới đến lao quan, bít hết đường đi không thông phàm thánh.

lao sầu

Sorrowful—Dismal—Sad.

lao đao

Unsteady—Unstable.

Lao 勞

[ja] ロウ rō ||| (1) Difficulty, suffering. Toil, effort. (2) In the Vimalakīrti-sūtra (T 14, 540c) 'defilement,' or 'all defilement.' => Có các nghĩa sau: 1. Khó nhọc, khổ. Vất vả, nỗ lực. 2. Theo kinh Duy-ma-cật, có nghĩa là "ô nhiễm", hoặc "bụi trần".

len lỏi

To battle one's way through difficulties.

leng-kia-king

Xem Kinh Lăng già.

lenh đênh

Drifting—Floating.

leo lét

To burn unsteadily.

leo lẻo

Very limpid.

li bà đa

6717梵名 Revata。<一>又作離越多、隸婆哆、哩嚩帝、離婆、離曰、離越,或頡離伐多、褐麗筏多。意譯常作聲、所供養、金、室星、適時。佛弟子之一,為舍利弗之弟。常坐禪入定,心無錯亂。因其父母祈離婆多星而得,故取此名。曾遭雨而止宿神祠,至深夜見有二鬼爭屍而食,乃思人身之虛幻。復詣佛所,聞人身由四大假和合之理,遂出家入道。後遊行陀婆國,遇寒雪,因無著革屣,腳為之凍傷;佛讚其少欲知足,爾後聽許於寒地得著富羅(短靴)或革屣等。〔中阿含經卷八、增一阿含經卷三弟子品、佛本行集經卷四十七、五分律卷二十一、法華文句卷二、玄應音義卷六、卷二十二、慧琳音義卷八、卷二十三、卷二十六〕 <二>又作梨婆多、釐波多。為阿難之弟子。年壽甚高。精通律法,曾居止僧伽賒(巴 Saṅkassa)。約當釋尊入滅百年後,毘舍離國跋闍子比丘(巴 Vajjiputta)主張十事合法,耶舍長老(巴 Yasa)即赴僧伽賒,請離婆多長老共赴毘舍離國,決議十事非法。〔善見律毘婆沙卷一、四分律卷五十四、五分律卷三十、大唐西域記卷七〕(參閱「跋闍子」5287) ; Revata.

li bố uý như lai

6715梵名 Abhayaṃkara-tathāgata。施餓鬼會時,所供奉五本尊之一。依施諸餓鬼飲食及水法載,行者若稱念離怖畏等五如來之名,能令一切餓鬼滅除無量罪,而生無量福,所得飲食皆成甘露美妙之食。祕藏記以五如來配五佛,離怖畏如來即北方釋迦牟尼佛。離怖畏如來為成所作智之用,故為變化身,歷經六道四生界,為一切眾生作諸事業而令無怖畏;以其既得廣博之身,身心安樂,無所怖畏,故稱離怖畏如來。〔瑜伽集要燄口施食儀〕

li cái

6718蓋,指貪欲等五蓋(梵 pañca āvaraṇāni),即五種覆障心性之煩惱;或泛指諸煩惱。離蓋,即謂脫離煩惱而得清淨。〔無量壽經卷下、大毘婆沙論卷四十八〕

li cơ hiềm danh nguyện

6719阿彌陀佛四十八願中之第十六願。即願淨土無譏嫌惡名,故又稱無諸不善願。無量壽經卷上(大一二‧二六八上):「設我得佛,國中人天,乃至聞有不善名者,不取正覺。」

li cấu

6715梵語 vīta-mala,巴利語同。謂遠離煩惱之垢穢。一般慣稱「遠塵離垢」,係法眼(梵 dharma-cakṣu,巴 dhamma-cakkhu)之形容詞。四諦、緣起之理乃佛教正確之人生觀、世界觀,若能在理論上真實理解,即得照見真理之智慧眼(即法眼),而達初步聖者之須陀洹道(預流向)。以此法眼能遠離理論上之見惑,故稱遠塵離垢(梵 viraja vītamala,巴同)。在原始佛教之經典中,聞佛陀與佛弟子說法而得遠塵離垢之法眼者甚眾,如雜阿含經卷五之差摩比丘、長阿含經卷二之菴婆婆梨女等。其後大乘經典亦承此說,如維摩詰所說經卷一佛國品即有(大一四‧五三九上)「遠塵離垢,得法眼淨」之語。〔雜阿含經卷十五、有部律破僧事卷七、注維摩詰經卷一〕

li cấu nhãn

6716指遠離煩惱垢染,得見聖道之清淨法眼。法苑珠林卷八十六(大五三‧九一八下):「既見彼佛已,願得離垢眼;成無上菩提,普及於含識。」

li cấu thế giới

6716指舍利弗當來成佛之國名。據法華經譬喻品載,舍利弗於未來世過無量無邊不可思議劫,供養千萬億佛,奉持正法,具足菩薩所行之道,當得作佛,號華光如來,國名離垢。其土平正清淨,安隱豐樂,天人眾多,其時,華光如來亦以三乘教化眾生。

li cấu địa

6716梵語 vimalā-bhūmi,音譯維摩羅普。又作離垢、無垢地、淨地、具戒地。菩薩修行五十二階位中十地位之第二位。入於此地得守清淨戒行,遠離煩惱垢染。又以此地具足三聚淨戒故,亦稱具戒地。〔六十華嚴經卷二十三、成唯識論卷九〕

li diên kị

6714又作小練忌、小飯忌。係對亡者死後第五個七日之追善供養。親眷於此日為亡者行追善供養,以祈求冥福,滅除其罪業。此忌之名,見於日本之諸回向清規卷四追忌名數之次第。

li dục thoái

6717斷盡欲界九品之修惑而得不還果之聖者,再起欲界之煩惱而退墮者,稱為離欲退。〔俱舍論卷六、卷二十一〕

li dục địa

6717梵語 vīta-rāga-bhūmi。為菩薩修行階位之一,即三乘共十地之第六位。又稱離貪地、滅淫怒癡地。入於此地得斷除欲界之思惑,亦即遠離欲界煩惱之位。據摩訶般若波羅蜜經卷六發趣品載,菩薩住於第六地中,具足六波羅蜜;又有六種不應為之法:(一)不作聲聞辟支佛意,(二)布施不應生憂心,(三)見有所索心不沒,(四)所有物布施,(五)布施之後心不悔,(六)不疑深法。

li gián ngữ

6718梵語 paiśunya,巴利語 pisuṇā-vācā。又作兩舌。十惡業之一。即離間人與人之間親和之言語。瑜伽師地論卷八(大三○‧三一六上):「復次離間語者者,此是總句,若為破壞者,謂由破壞意樂故,聞彼語已向此宣說,聞此語已向彼宣說者。」〔集異門論卷二、俱舍論卷十六〕(參閱「兩舌」3070)

li hí luận bồ tát

6718請參閱 辯中邊論離戲論,梵名 Niṣprapañca,音譯儞瑟波羅半左。又稱住無戲論菩薩。位於密教現圖胎藏界曼荼羅金剛手院最外列右側第五位。此菩薩能離一切妄想戲論,顯一實真知。密號真行金剛,種子為???(hūṃ),三昧耶形為獨股杵。其形像身呈肉色,右手豎拳當胸,食指豎立,掌心向外;左手握拳下覆,執獨股杵上方,杵之下端抵座蓮;豎右膝,右足掌覆於左足掌上,坐於赤蓮花座上。真言為大日經卷二普通真言藏品所舉之一切持金剛真言。〔大日經卷一住心品、卷五祕密漫荼羅品、玄法寺儀軌卷二、青龍寺儀軌卷中〕

li hệ

6718梵語 vi-saṃyoga,巴利語同。又作離滅。指擇滅無為,與解脫之義同。謂由斷除煩惱而遠離有漏法之繫縛。擇滅無為者,乃斷煩惱所顯之寂滅無為涅槃之理,依此故稱離繫。俱舍論卷一(大二九‧一下):「擇滅即以離繫為性,諸有漏法遠離繫縛,證得解脫,名為擇滅。」〔大毘婆沙論卷三十一、順正理論卷六〕(參閱「擇滅」6225)

li hệ quả

6719梵語 visaṃyoga-phala。又作解脫果。五果之一。由慧之簡擇力而斷諸煩惱,遠離有漏法之繫縛,證得擇滅無為之涅槃果位,稱為離繫果。俱舍論卷六(大二九‧三五中):「由慧盡法,名離繫果;滅故名盡,擇故名慧,即說擇滅名離繫果。」〔大毘婆沙論卷一二一、入阿毘達磨論卷下、順正理論卷十八〕

li hệ tử

6718梵名 Nirgrantha-śrāvaka。又作尼虔子。即裸形外道,主張離一切繫縛而修苦行。本師稱「離繫」,「子」指其門徒。因其裸形,故被稱為無慚外道。〔唯識述記卷一本、大慈恩寺三藏法師傳卷四〕(參閱「尼乾子外道」1889)

li hệ đắc

6719即得離繫果。於有部宗指擇滅無為,以無漏慧簡擇四諦之理,而得涅槃法,稱離繫得。如俱舍論卷六載,離繫亦意謂斷、解脫等,指涅槃法;得,為不相應心所之名。又擇滅者,擇乃簡擇之因,滅乃所得之離繫果。其次,依成唯識論卷八載,離繫謂斷除無漏道之障所證得之善無為法;此法乃遠離惑之繫縛而證得者,故稱離繫果;以離繫而證得之,故稱離繫得。〔俱舍論卷十、顯揚聖教論卷十八〕

li hỉ diệu lạc địa

6717三界九地之一。即色界第三禪天。於此地,已離二禪天粗動之喜受,而心悅安靜住於勝妙之樂受。〔大毘婆沙論卷三十一、卷一四一、俱舍論卷二十八〕

li mị võng lưỡng

6885魑魅、魍魎均為鬼神之名。如法華經譬喻品(大九‧一四上):「其舍恐怖,變狀如是,處處皆有,魑魅魍魎。」大乘理趣六波羅蜜多經卷二陀羅尼護持國界品、瑜伽集要焰口施食儀等,均載其名稱。 吉藏於法華義疏卷六對此加以解說(大三四‧五三五中):「張平子西京賦注解云,山神為魑,虎形也;宅神為魅,豬頭人形,身有尾;木石夭怪為魍魎。春秋第十卷云,鑄蒇像物故有百獸之形,使人入山川不逢魑魅魍魎。注云,魑是山神,獸形;魅為怪物,魍魎者水神。」 魑魅魍魎實係見於我國古代典籍之鬼神名,佛典乃借而用之,在法華經之梵本等,並無相當於此四字之原語。〔大般若經卷五○一、卷五四○、大乘理趣六波羅蜜多經卷一、安宅神咒經、施餓鬼甘露味大陀羅尼經、灌頂經卷十二、順正理論卷十二、卷六十七、治禪病祕要法卷下、法華文句記卷六下、法華玄贊卷六本、慧琳音義卷二十七、希麟音義卷一〕

li ngôn chân như

6714又作絕言真如。二真如之一。為「依言真如」之對稱。指真如之法體,即自真如絕言語、絕思惟之立場而言。大乘起信論(大三二‧五七六上):「一切法從本已來,離言說相,離名字相,離心緣相;畢竟平等,無有變異,不可破壞,唯是一心,故名真如。」 蓋言說、名字等,皆依妄念而成差別,若離妄念則無名字、言說等,亦無一切差別之境界相,如此始得住於畢竟不可得之境界;故以一切法不可說、不可念即是真如,亦即離言真如。〔大乘起信論義記卷中〕

li ngôn trung đạo

6714為「言詮中道」之對稱。法相宗立二重中道之說,其中,就言詮而論中道之旨者,稱為言詮中道,亦即於世俗門中論法之或有或無;反之,於勝義諦中以斷絕思慮言詮為非有非無之中道者,則稱為離言中道。(參閱「二重中道」205)

li nhiễm

6716梵語 virāga。又作離貪、離欲。遠離貪染之意。據大毘婆沙論卷二十八之解釋,狹義言之,離染指遠離貪欲;廣義言之,則泛指遠離煩惱,係以離染總攝一切有為之善法。於同書卷一二九、俱舍論卷十五、卷二十八等亦作廣義之說。〔雜阿含經卷一至卷三、法華經普門品、四十二章經、發智論卷一、俱舍論卷二十三〕

li nhiễm phục

6716為袈裟之異稱。意謂遠離煩惱雜染之衣。據心地觀經卷五載,袈裟堅如甲冑,能令如利箭之煩惱無法穿透。又據金剛般若疏卷二載,袈裟亦稱離塵服,以壞色所成,故著之不起貪心;亦稱消瘦衣,以著此衣則煩惱折落之故。〔釋氏要覽卷上〕

li nhiễm đắc

6716為「受生得」、「加行得」之對稱。染,指煩惱。謂離煩惱時所得者,如出離下地煩惱時,即得上地之定。此乃顯示淨定、無漏定、味定之初所起之差別。又滅盡定乃加行得,而非離染得。俱舍論卷二十八(大二九‧一四八上):「淨由離染生,無漏由離染,染由生及退。」〔俱舍論卷五〕

li nhị biên phân biệt chỉ

6712又作息二邊分別止、息二邊止。天台宗針對空、假、中三觀所立三種止行之一。離二邊分別止,乃對中觀而立,謂不分別有無、迷悟等二邊之相。(參閱「三止」535)

li sinh

6713即永離三界之生。三乘之人,入於見道,了見諦理,斷盡見惑,永離三界之生,稱為正性離生。而此類聖者出離生死之正性,稱為正性離生性,略稱離生性。俱舍論卷二十三(大二九‧一二○下):「得世第一法,雖住異生位,而能趣入正性離生。」〔萬善同歸集卷六〕(參閱「正性離生」1991)

li sinh hỉ lạc địa

6713為三界九地之一。即色界之初禪天。蓋三界共分九地,即欲界一地,色界與無色界各四地;故色界之初禪天即為九地中之第二地。於初禪天,已遠離欲界之欲、惡不善法,而生喜樂,故稱離生喜樂地。雜阿含經卷十七(大二‧一二三上):「謂比丘離欲、離惡不善法,有覺有觀,離生喜樂,初禪具足住。」〔集異門論卷五、俱舍論卷十二、俱舍頌疏卷十〕(參閱「九地」132)

li tham tâm

6717為「有貪心」之對稱。指遠離貪欲煩惱之善心。俱舍論卷二十六(大二九‧一三五下):「離貪心者,謂治貪心;若貪不相應,名離貪心者。(中略)聚心者謂善心,此於所緣不馳散故。」

li thân hành

6714謂斷除欲界煩惱,得色界之四禪果而遠離色身。成實論卷二(大三二‧二五三中):「離身行者,除欲界結,得四禪,故名離身行。」

li ti

Very small.

li trung tri

6713為「合中知」之對稱。眼、耳、意三根唯取不至之境,不直接與對象接觸,能於遠離之某種對象發生作用,謂之離中知。眼能見遠處之色,而對於眼中之藥等則不能睹;耳能聞遠處音聲,逼近耳根者則不能聞。反之,根與境須直接接觸,才能產生知覺,稱為合中知。如鼻根之於香境,待香微接於鼻根,始能知覺;舌、身二根亦然。(參閱「合中知」2265)

li tác nghiệp quán đỉnh

6713指離事業作法之灌頂。即三種灌頂中之印法、以心等二灌頂。與之相對之修法,則稱作業灌頂,或事業灌頂、具支灌頂。大日經卷五祕密漫荼羅品共舉出具支、印法、以心等三灌頂,其中,具支灌頂係擇土地行七日造壇之作法,亦即行造壇、畫曼荼羅、投花得佛等之事業作法;印法灌頂係對誠心慇重而資力不足成辦各種事業作法之弟子,授以手印、真言之灌頂;以心灌頂乃對通達之行者,以心傳心,不須一切形式之作法;後二者均屬無形式無作法之修法。 或謂行印法灌頂時,弟子仍須備辦少量供物以供養三寶。又印法灌頂雖屬離作業灌頂,然依經典,皆載有阿闍棃引導弟子入壇投花、授秘密道具等之事,故知所謂離作業灌頂未必指無作法,而宜解為不舉行如具支灌頂之完全儀式。〔大日經疏卷十五〕

li tác pháp

6713梵語 vyatireka。因明用語。「合作法」之對稱。又作離、遮遣。即於因明論式中,就異喻所為離異簡濫之作法。其規則為「先宗後因」;即先說與宗(命題)之賓詞相反之屬性,後說與因(理由)相反之屬性,表示異品中全無因之屬性。因明入正理論疏卷下末(大四四‧一三七上):「離者,不相屬著義。言諸無常者,即離常宗,見彼質礙,離無礙因,將彼質礙屬著無常,返顯無礙屬著常宗。」其意概謂,舉異喻時,使宗異品及因異品從宗與因隔離,令不屬著;蓋用異喻作離作法時的「先宗後因」之規定,即是以因屬著宗之作法,令知無宗處定無因,無因處定有宗。例如聲論師對勝論師立「聲是常(宗),無質礙故(因)」之論式,其離作法為「見諸無常者皆是質礙性,譬如瓶等(異喻)」,即以「質礙」之因,令屬著「無常」之宗,而反顯「無質礙」所屬著之「常」宗,如是則得以成立聲無質礙必為常住之理。然若不用此作法,而說:「如瓶無常性、質礙性」,則無喻體之屬著,因此不能成立「聲常」之宗,如是即犯不離之過;或違反先宗後因之法則,而說:「見非所作者是常,如瓶等」,則以「非所作」之因成立「常」之宗,不能返顯「所作」之因,固不濫於「常」之宗,亦不能成立「無常」之宗,如是即犯倒離之過失。〔因明論疏明燈抄卷六本、因明論疏瑞源記卷七〕

li tính vô biệt phật

6715謂性即是佛。性,有體、因、不變等諸義。大智度論卷三十一載,性謂法爾自有者。黃檗斷際禪師宛陵錄(大四八‧三八七上):「天真自性本無迷悟,盡十方虛空界,元來是我一心體。」故頓悟入道要門論卷下說,離心之外,即無有佛。達磨大師血脈論(卍續一一○‧四○五下):「一切時中,一切處所,皆是汝本心,皆是汝本佛。」〔六祖壇經〕

li tướng giới

6716為「隨相戒」之對稱。又作無相戒。謂持戒者心無執著,視諸戒猶如虛空,而遠離持、犯之相。〔大方廣佛華嚴經疏卷五〕

li tạng

6732朝鮮高麗王朝所開版之大藏經。又稱高麗本、高麗藏、麗本、鮮本。分為:(一)初雕本,相傳係高麗顯宗二年(1011)所開版。(二)高麗續藏本,宣宗七年(1090),於興王寺開版。(三)再雕本,即海印寺版。係高麗高宗二十三年至三十八年(1236~1251)為防禦蒙古入侵,乃再度開版。(四)高麗契丹藏仿刻本,文宗十三年(1063)開雕。(參閱「中文大藏經」1001)

li vi

6718法性之體,離諸相而寂滅無餘,謂之離;法性之用,微妙不可思議,謂之微。寶藏論離微體淨品(大四五‧一四七上):「無眼無耳謂之離,有見有聞謂之微;無我無造謂之離,有智有用謂之微;無心無意謂之離,有通有達謂之微。又離者涅槃,微者般若;般若故興大用,涅槃故寂滅無餘;無餘故煩惱永盡,大用故聖化無窮。」〔宗鏡錄卷九十二、無門關〕

li xa tì

6715梵名 Licchavi, Lecchavi,巴利名同。為中印度毘舍離城(梵 Vaiśāli)之剎帝利種族,乃跋祇族(梵 Vṛji)之一部。又作離車、栗呫婆、離車子、利車、黎昌、隨舍利、律車、麗掣、理家、㗚磋。意譯為薄皮、同皮、仙族王、邊地主。據善見律毘婆沙卷十載,往昔婆羅捺國之夫人產一肉胞,因其異常而以為恥,乃投入江中。為一道士攜歸,置之一處,過半月,一肉分為二 片,又經半月,一片為男,一片為女,道士因慈力之故,手指自然出乳,入於子腹,腹即內外明徹,道士遂稱兒為離車子(意謂薄皮)。二子長至十六歲,以牧牛為生,並共立宅舍,以女嫁男,拜男為王,女為夫人。後多生王子,以三次開廣舍宅之故,稱為毘舍離(意謂廣嚴)。 據長阿含經卷四載,佛涅槃後,離車民眾亦分得佛舍利八分之一,起塔供養。或謂該族原為西藏之同種,於佛世時,行共和之制,國富民榮,與南方之摩揭陀相對抗,其後勢力漸衰。直至孔雀王朝之祖旃陀羅笈多(梵 Candra-gupta),與該族族女締婚,其勢復漸起。〔中阿含卷四師子經、大法鼓經卷下、般泥洹經卷下、說無垢稱經卷一序品、四分律卷四十二、大智度論卷十八、大唐西域記卷七、慧琳音義卷五、卷二十九〕

Li-la-pa

S: līlapa; »Nhà vua biết thưởng thức«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong cuối thế kỉ thứ 9, có người cho là một đệ tử của Long Thụ.|Li-la-pa là một nhà vua, quen sống nếp sống vương giả. Một hôm, ông tiếp một Du-già sư trong cung điện, thấy hoàn cảnh cơ hàn của vị này ông thấy tội, bèn nói: »Ông khổ quá, chẳng có tài sản gì, phải sống lang thang đây đó.« Vị Du-già sư liền đáp: »Tôi chẳng khổ chút nào, ông mới là một người đáng thương.« Li-la-pa hỏi một cách ngạc nhiên: »Tại sao ông nói như thế?« Ðạo sư trả lời: »Ông lúc nào cũng nơm nớp lo sợ vương quốc bị xâm chiếm, lúc nào cũng sợ quân thần phản bội và vì vậy ông khổ! Về phần tôi, ngay khi nhảy vào lửa tôi cũng không bị lửa thiêu, ăn chất độc cũng không chết. Tôi đã thoát khỏi sự trói buộc của sinh, già, bệnh, chết.« Nghe đây, nhà vua chợt tỉnh và khởi lòng tin vị Du-già sư, bảo: »Trong hoàn cảnh này Ta không thể nào đi lang thang học đạo như ông được, nếu ông có cách nào chỉ ta tu tập trong cung điện, ta sẽ tuân theo«.|Vị Du-già sư dạy phép quán đặc biệt dành cho Li-la-pa là phép thiền định chú tâm quán chiếc nhẫn trên bàn tay mặt của ông. Khi đã Nhất tâm quán nó, Li-la-pa cứ tưởng tượng thần Hô kim cương (s: hevajra) nằm trong nhẫn, xung quanh gồm có quần thần bao bọc. Sau khi đã thuần thục phép quán đó thì từ tình trạng nhất tâm đại định sẽ sinh ra tri kiến trực tiếp. Sau khi thực hiện những lời dạy này, Li-la-pa đạt năng lực và ý chỉ huyền diệu của phép Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) cùng chung với các thần thông khác. Bài thánh ca của Li-la-pa như sau:|Trong Bốn vô lượng tâm,|nhà vua đang trị vì,|như một sư tử chúa.|Vương miện năm bờm xanh,|là năm trí chư Phật.|Như mười móng sư tử,|rỉa xương thịt con bò,|Mười hạnh Du-già sư|chặt năng lực tối tăm|Ðó là tri kiến đưa,|Li-la-pa tự tại.

lia lịa

Rapidly and continuously.

lim dim

Half-closed eyes.

linh

5691<一>梵語 ghaṇṭā。指在佛前誦經時,所鳴打之一種法器。係用青銅、紫銅等所製,呈鉢形,直徑約十公分。禪宗最早使用。密教稱此爲金鋺。 <二>又作金剛鈴、金鈴。呈鐘形,內繫銅珠,頂端有柄,形狀不一。密教修法之時,爲驚覺諸尊,或使其歡喜,即振鈴發聲。鈴有驚覺、歡喜、說法三義。鳴鈴以供養諸尊,稱爲振鈴。又以其柄係採用金剛杵之一部,故稱金剛鈴。鈴有獨鈷鈴、三鈷鈴、五鈷鈴、寶鈴、塔鈴(率都婆鈴)等五類,稱爲五種鈴,通常與五種杵共置於大壇上之固定位置。「五」乃象徵五智五佛,鈴即表說法。金剛杵爲三十七尊中之第一尊金剛薩埵之三昧耶形;金剛鈴則爲最後一尊金剛鈴菩薩之三昧耶形。 <三>懸於寶帳及佛堂前椽之莊嚴具,呈鐘形,內繫銅珠,能因風發聲。彌勒上生經(大一四‧四一九中):「時十方面百千梵王,各各持一梵天妙寶,以爲寶鈴,懸寶帳上。」 ; Ghaṇṭā (S), Small bell (S, P)Kiền trùy. ; Spirit—Spiritual—Clever. ; (鈴) I. Linh. Phạm: Ghaịỉà. Loại chuông đẩu nhỏ bằng đồng, hình cái chén, đường kính khoảng 10 phân tây, dùng để đánh trong các thời khóa tụng niệm. Thiền tông dùng loại pháp khí này đầu tiên. Còn Mật giáo gọi nó là Kim uyển. II. Linh. Cũng gọi Kim cương linh, Kim linh. Pháp khí bằng đồng, hình cái chuông, bên trong có quả lắc, trên có cán cầm. Trong Mật giáo, khi tu pháp, lắc linh để đánh thức các vị tôn hoặc làm cho các Ngài hoan hỉ. Linh có 3 nghĩa: Thức tỉnh, hoan hỉ, và thuyết pháp. Lắc linh để cúng dường chư tôn, gọi là Chấn linh. Lại vì cán linh là dùng một phần chày kim cương, cho nên gọi là Kim cương linh. Tùy theo hình dáng của cán cầm mà linh được chia làm 5 loại: Linh 1 chĩa, linh 3 chĩa, linh 5 chĩa, linh báu, linh tháp (linh suất đô bà)... Thông thường 5 loại linh và 5 loại chày kim cương được đặt ở những vị trí cố định trên đại đàn tu pháp. Số 5 là tượng trưng cho 5 trí 5 Phật, linh tiêu biểu cho thuyết pháp. Chày kim cương là hình Tam muội da của Kim cương tát đóa, vị tôn thứ nhất, 1 trong 37 vị tôn; còn Kim cương linh là hình Tam muội da của bồ tát Kim cương linh, là vị tôn cuối cùng. III. Linh. Loại chuông nhỏ, bên trong có con lắc, được treo trên màn báu hoặc trang nghiêm trên tàu mái trước điện Phật, mỗi khi gió thổi làm lay động thì linh phát ra âm thanh như trỗi nhạc. Kinh Di lặc thướng sinh (Đại 14, 419 trung), nói: Bấy giờ, trăm nghìn vị Phạm vương ở 10 phương, mỗi vị đều cầm một vật báu nhiệm mầu của Phạm thiên, lấy đó làm linh báu, treo trên bảo trướng.

linh biện

6943(477~522)北魏僧。太原晉陽(位於山西)人。自幼出家,常讀大乘經,有注釋華嚴經之志。後入五臺山清涼寺,於熙平元年(516)起草華嚴論,翌年移住玄兌山嵩巖寺;神龜三年(520),完成華嚴論一百卷,前後費時五年。孝明帝嘗召入大內講述大品般若等經論。正光三年於融覺寺示寂,世壽四十六。所著華嚴論,今僅存如來光明覺品之釋第十卷。〔華嚴經傳記卷一、大方廣佛華嚴經感應傳、古清涼傳卷上〕 ; (靈辯) (477-522) Danh tăng Trung quốc, sống vào thời Bắc Ngụy, người Tấn dương, Thái nguyên (thuộc tỉnh Sơn tây). Sư xuất gia từ thủa nhỏ, thường đọc kinh Đại thừa và có chí nguyện chú thích kinh Hoa nghiêm. Sau, sư đến chùa Thanh lương trên núi Ngũ đài, niên hiệu Hi bình năm đầu (516) sư bắt đầu viết luận Hoa nghiêm, năm sau sư dời đến chùa Tung nham tại núi Huyền đoài; đến năm Thần qui thứ 3 (520) sư hoàn thành bộ luận Hoa nghiêm 100 quyển. Vua Hiếu minh đế thường thỉnh sư vào đại nội giảng kinh Đại phẩm bát nhã. Năm Chính quang thứ 3 (522) sư tịch ở chùa Dung giác, hưởng dương 46 tuổi. Luận Hoa nghiêm do sư soạn nay chỉ còn quyển thứ 10 là chú thích phẩm Như lai quang minh giác. [X. Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1; Đại phương quảng Hoa nghiêm kinh cảm ứng truyện; Cổ thanh lương truyện Q.thượng].

linh bình

(linh bình ) Dáng đi thất thểu. Phẩm Tín giải kinh Pháp hoa (Đại 9, 17 trung), nói: Linh bình tân khổ ngũ thập dư niên (Đắng cay thất thểu hơn 50 năm).

linh bạc

6943即記載每日禮拜之佛菩薩及亡者名之簿冊。又稱過去帳、靈名簿、靈會簿、著鬼簿、鬼簿、常樂記、奠香錄。初唐戒禪師奉天子命,將一月之三十日每日配一佛名,朔日以定光佛為首,晦日以釋迦如來為終,每日禮拜佛菩薩名,為修人天之福報。後世之靈簿記載每日佛名,即依此而來。 ; (靈簿) Cũng gọi Quá khứ trướng, Linh danh bạ, Linh hội bạ, Trước quỉ bạ, Quỉ bạ, Thường lạc kí, Điện hương lục. Quyển sổ ghi chép danh hiệu Phật, Bồ tát để lễ bái và tên người chết để cầu nguyện hàng ngày. Đầu đời Đường, Giới thiền sư vâng mệnh vua đem phối hợp mỗi ngày trong 30 ngày của 1 tháng với danh hiệu của 1 vị Phật, ngày mùng 1 là Phật Định quang, cho đến ngày 30 là Phật Thích ca. Hàng ngày lễ bái danh hiệu Phật, Bồ tát là tu phúc báo nhân thiên. Người đời sau lập Linh bạ ghi chép danh hiệu Phật, Bồ tát để lễ bái, cúng dường hàng ngày, chính là đã bắt nguồn từ đó.

linh bảo kinh

Ling-Pao ching (C), Lingbao Jing (C)Nhờ những bình giải của Tống Văn Minh vào giữa thế kỷ thứ 6 mà Linh Bảo Kinh trở thành một văn bản căn bản của Đạo giáo.

linh bảo thiên tôn

Ling-pao T'ien-tsun (C).

linh bảo đạo

Ling-pao pai (C).

linh chi

6936(1048~1116)指北宋律僧元照。餘杭(浙江杭縣)人,俗姓唐。晚年主杭州靈芝寺三十年,世稱靈芝尊者。(參閱「元照」1228) ; Một loại cây tượng trưng cho điềm lành và trường thọ—The auspicious plant, emblem of good luck and long life. ; (靈芝) (1048-1116) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Tống, người Dư hàng (huyện Hàng, tỉnh Chiết giang), họ Đường, sư vốn tên là Nguyên chiếu, nhưng trụ trì chùa Linh chi ở Hàng châu trong 30 năm, nên người đời gọi là Linh chi tôn giả. (xt. Nguyên Chiếu).

Linh Chi Nguyên Chiếu

(靈芝元照, Reishi Genshō, 1048-1116): vị tăng của Luật Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, người vùng Dư Hàng (餘杭, Huyện Hàng, Triết Giang), họ Đường (唐), tự là Trạm Nhiên (湛然), hiệu An Nhẫn Tử (安忍子). Lúc còn thiếu niên ông đã xa lánh thế tục, đến năm 18 tuổi thì xuất gia, theo Thần Ngộ Xử Khiêm (神悟處謙) học giáo lý Thiên Thai, nhưng chí ông lại thích về Luật. Về sau, ông thọ Bồ Tát giới với Quảng Từ (廣慈). Trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Phong (元豐, 1078-1085), ông làm trú trì Chiêu Khánh Tự (昭慶寺), chuyên tâm truyền bá Luật tông và truyền giới. Đến cuối đời, ông chuyển về vùng Linh Chi (靈芝), dừng chân tại đây trong vòng 30 năm, cho nên người đời thường gọi ông là Linh Chi Tôn Giả (靈芝尊者). Vào tháng 9 năm thứ 6 (1116) niên hiệu Chính Hòa (政和), ông thị tịch, được ban thụy hiệu Đại Trí Luật Sư (大智律師). Trước tác của ông có sách chú thích của các kinh Vô Lượng Thọ và A Di Đà cũng như một số tác phẩm khác.

linh chiếu

6940<一>唐代襄州龐蘊居士之女。龐居士語錄卷上(卍續一二○‧三一下):「居士將入滅,謂靈照曰:『視日早晚,及午以報。』照遽報:『日已中矣!而有蝕也。』士出戶觀次,照即登父座,合掌坐亡。士笑曰:『我女鋒捷矣!』」後人亦以靈照一名轉用為女兒之代稱。〔佛祖統紀卷四十〕 <二>(870~947)五代高麗僧。遊閩(福建)越(浙江),參禮雪峰義存,嗣其法。師恬澹自持,居唯一衲,服勤眾務,閩中稱之為「照布衲」。歷住於婺州齊雲山、越州鏡清院、報慈院,禪眾雲集。後忠獻王錢氏於杭州建龍華寺,供奉金華傅大士之靈骨,敕師住持。天福十二年示寂,世壽七十八。諡號「真覺大師」。〔祖堂集卷十一、景德傳燈錄卷十八、聯燈會要卷二十四〕 ; (靈照) I. Linh Chiếu. Nữ cư sĩ Phật giáo Trung quốc, là con gái của Bàng uẩn ở Tương châu. Bàng cư sĩ ngữ lục quyển thượng (Vạn tục 120, 31 hạ), ghi: Cư sĩ sắp nhập tịch, bảo Linh chiếu rằng: Hãy xem chừng mặt trời, hễ đến giờ ngọ thì báo cho ta biết. Linh chiếu liền thưa: Mặt trời đã đúng ngọ rồi, nhưng bị nhật thực. Cư sĩ vừa bước ra cửa để xem, Linh chiếu liền lên chỗ ngồi của cha, ngồi chắp tay mà hóa. Cư sĩ cười bảo: Con gái của ta nhanh thật!. Người sau dùng tên Linh chiếu để gọi chung cho các cô gái. [X. Phật tổ thống kỉ Q.40]. II. Linh Chiếu (870-947). Thiền sư Cao li, đến Trung quốc vào thời Ngũ đại. Đầu tiên, sư đến Mân (Phúc kiến), Việt (Chiết giang) tham lễ ngài Tuyết phong Nghĩa tồn và được nối pháp. Tính sư điềm đạm, sống đơn giản, chỉ giữ 1 áo nạp (áo vá), siêng làm mọi việc, người vùng Mân gọi sư là Chiếu Bá Nạp (Linh chiếu áo vải). Sư lần lượt ở núi Tề vân tại Vụ châu, viện Kính thanh ở Việt châu, viện Báo từ, người đến theo học rất đông. Sau, Trung hiến vương họ Tiền xây chùa Long hoa ở Hàng châu, thờ linh cốt của Phó Đại sĩ Kim hoa, ban sắc cho sư làm trụ trì. Năm Thiên phúc 12 (947) sư tịch, thọ 78 tuổi, thụy hiệu là Chân Giác Đại Sư. [X. Tổ đường tập Q.11; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Liên đăng hội yếu Q.24].

linh chú

Siddhavidyā (S)Khi đọc câu chú này thì mọi ước nguyện đều thành.

linh cung

6936指供於亡者靈牌前之齋食。即人死後四十九日間,設中陰壇,陳列供物。蓋人於死後七七日內,尚未投生他界,稱為中陰身,又稱健達縛,意譯為尋香,即尋香而食,故為進食物之香氣於死者而供齋食;若少福者食惡香,多福者則食好香。〔俱舍論卷九、四分律刪繁補闕行事鈔卷上〕 ; (靈供) Cúng thức ăn chay trước bài vị của người chết. Trong vòng 49 ngày sau khi chết, người chết vẫn chưa đầu thai qua thế giới khác, còn là thân Trung ấm, cũng gọi Kiện đạt phược, Hán dịch là Tầm hương, tức là tìm mùi thơm mà ăn, bởi thế đặt cúng các thức ăn chay cho người chết hưởng mùi hương của thực vật. Nếu người phúc ít thì hưởng mùi hôi, người phúc nhiều thì hưởng mùi thơm. [X. luận Câu xá Q.9; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng].

linh cúng

Cúng vong linh người chết trong vòng 49 ngày (bảy thất đầu)—Offerings to the spirits who are about the dead during the forty-nine days of masses.

linh căn

6937請參閱 蕅益大師宗論 [1](1915~ )湖南郴縣人。民國二十年(1931)依得一和尚出家,同年受具足戒。旋遊南嶽,畢業於南嶽佛學院。後入華嚴研究社一年。四十年來臺灣,曾執教於新竹靈隱寺二年。後入臺北松山寺任知客,為該寺住持道安法師之得力助手。繼道安之後,為該寺住持,並兼任獅子吼雜誌發行人。

linh cốc tự

6935南京名剎之一。位於江蘇南京之東北,鍾山之陽。本名為道林寺。南朝劉宋時,寶誌禪師所建。梁武帝時,建寶誌塔於玩珠峰前,改名為開善寺,智藏曾於此宣講成實論。宋時稱為太平興國寺,後改稱蔣山寺。山門有「第一禪林」之匾額。明洪武年間移於東麓,賜名靈谷寺。 本寺規模及殿宇極為宏偉,由山門至大殿相距約三公里,沿途殿宇充盈,號稱金陵第一名剎。後遇太平天國之亂,毀於兵火,僅存無樑殿,為明代初期建築。民國十七年(1928)北伐成功後,政府建革命陣亡將士紀念塔於此,又稱靈谷寺塔。寺內有奉祀玄奘頭蓋骨之舍利塔,並收藏取自雷峰塔之一切如來心祕密全身舍利寶篋印陀羅尼經、唐人寫經真跡等佛教文物。〔金陵梵剎志卷三、大明一統志卷六〕 ; (靈穀寺) Chùa ở phía nam Chung sơn, đông bắc thành phố Nam kinh, tỉnh Giang tô, Trung quốc, do thiền sư Bảo chí sáng lập vào thời Lưu Tống thuộc Nam triều, có tên là chùa Bảo lâm. Thời Lương vũ đế, chùa được đổi tên là Khai thiện, đến đời Tống gọi là chùa Thái bình hưng quốc, sau lại đổi là chùa Tưởng sơn, cửa sơn môn (Tam quan) có tấm biển đề dòng chữ: Đệ Nhất Thiền Lâm. Khoảng năm Hồng vũ (1368-1398) đời Minh, chùa được dời đến chân núi phía đông, được vua ban hiệu là chùa Linh cốc. Chùa này có qui mô rất lớn, từ sơn môn (Tam quan) đến Đại điện cách nhau khoảng 3 cây số, dọc đường nhà điện san sát, được xem là ngôi chùa nổi tiếng bậc nhất ở Kim lăng. Về sau, chùa bị giặc Thái bình thiên quốc phá hủy, chỉ còn lại Đại điện là kiến trúc đầu đời Minh. Năm Dân quốc 17 (1928), sau cuộc Bắc phạt, chính phủ có xây tháp để kỉ niệm các chiến sĩ trận vong ở chùa này và đặt tên là Linh cốc tự tháp. Hiện nay, trong chùa có tháp xá lợi thờ xương đầu của ngài Huyền trang và tàng trữ các di vật văn hóa Phật giáo được tìm thấy trong tháp Lôi phong như: Kinh Nhất thiết Như lai tâm bí mật toàn thân xá lợi bảo khiếp ấn đà la ni, di tích chép kinh của người đời Đường, v.v... [X. Kim lăng phạm sát chí Q.3; Đại minh nhất thống chí Q.6].

linh cốt

6938梵語 śarīra。音譯舍利。又作骨身。通常指佛之遺骨,亦即佛舍利。又尊稱死者之遺骨,亦稱靈骨。敕修百丈清規卷三有「靈骨入塔」一項,即指將亡僧荼毘後之遺骨送入塔所。〔翻譯名義集卷五〕 ; (靈骨) Phạm:Zarìra Hán âm: Xá lợi. Cũng gọi Cốt thân. Thông thường chỉ cho di cốt của Phật, tức là xá lợi Phật. Ngoài ra di cốt của người chết cũng được tôn xưng là Linh cốt. Trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3, có mục Linh cốt nhập tháp, tức nói về việc đưa di cốt của vị tăng quá cố vào tháp sau khi thiêu. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].

linh cữu

Coffin.

linh diệu

6935指人智無法測知之神妙不可思議之事。禪源諸詮集都序卷下之一(大四八‧四○九上):「但以此心,靈妙自在;不守自性,故隨迷悟之緣,造業受報,遂名眾生;修道證真,遂名諸佛。」 ; Mysterious—Abstruse—Clever. ; (靈妙) Thiêng liêng mầu nhiệm. Chỉ cho việc vi diệu bất khả tư nghị mà trí của con người không lường biết được. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển hạ phần 1 (Đại 48, 409 thượng), nói: Chỉ vì tâm ấy vốn linh diệu tự tại, nhưng Kinh Nhất thiết Như lai bí mật toàn thân xá lợi bảo khiếp ấn đà la ni và di bản chép kinh vào đời Đường được cất giữ ở chùa Linh cốc không giữ được tự tính, nên theo duyên mê ngộ, tạo nghiệp chịu báo thì gọi là chúng sinh, còn nếu tu đạo chứng được chân lí thì gọi là Phật.

linh dương quải giác

4771禪林用語。又作羚羊挂角。比喻大悟之人泯絕迷執之蹤跡,猶如羚羊眠時,角掛樹枝,腳不觸地,完全不留痕跡。比喻沒蹤跡、無罣礙之情形。景德傳燈錄卷十六(大五一‧三二八中):「我若東道西道,汝則尋言逐句;我若羚羊掛角,汝向什麼處捫摸?」 ; (羚羊掛角) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Dê rừng treo sừng mà ngủ. Thiền gia dùng nhóm từ này để ví dụ người đại ngộ, dứt bặt sự mê chấp, giống như con dê rừng khi ngủ treo sừng lên cành cây, chân không chạm đất, hoàn toàn không để lại dấu vết gì. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại 51, 328 trung), nói: Nếu ta nói đông nói tây, thì ông đuổi theo lời nói, còn nếu ta như linh dương quải dác thì ông tìm bắt chỗ nào?

linh dược

Effective drug

linh dụ

6938請參閱 日本靈異記(518~605)隋代僧。定州曲陽(河北)人,俗姓趙。十八歲出家於趙郡應覺寺。二十一歲從道憑學地論,三年後歸定州,受具足戒。二十六歲從隱公學四分律,並由嵩、林二師學成實,安、遊、榮三師學雜心,亦曾從學於大統法上(495~580),自此專業華嚴、涅槃、地論、律部。並通世典儒籍,揚名鄴下。其為學每博尋舊解,穿鑿新異;其講說則意存綱領,不在章句。由是傾動七眾,皆號為「裕菩薩」。 北周毀法之際,師率同侶二十餘人居於聚落,晝讀俗書,夜談佛理,又著卜書一卷,出外卜占,以充糧資。後隋代興教,遊化燕、趙等地。開皇十年(590),入洛州靈通寺,翌年住相州大慈寺,又奉敕住長安興善寺。帝欲授以國統,師固辭不就,歸住相州演空寺,以講說為務。大業元年示寂,世壽八十八。撰有十地、維摩、般若等疏,及大乘義章、聖迹記、佛法東行記、安民論、滅法論、齊世三寶記等。〔續高僧傳卷九、華嚴經傳記卷二、釋氏六帖卷十、新脩科分六學僧傳卷十三、新編諸宗教藏總錄卷二、舊唐書經籍志第二十七〕 ; (靈裕) (518-605) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy, người huyện Khúc dương, Định châu (tỉnh Hà bắc), họ Triệu. Năm 18 tuổi, sư xuất gia ở chùa Ứng giác tại quận Triệu. Năm 22 tuổi, sư theo ngài Đạo bằng học Địa luận, 3 năm sau, trở về Định châu, thụ giới Cụ túc. Năm 26 tuổi, sư theo ngài Ẩn công học luật Tứ phần, theo 2 ngài Tung, Lâm học luận Thành thực, theo 3 ngài An, Du, Vinh học luận Tạp a tì đàm tâm. Sau, sư theo học ngài Đại thống Pháp thượng (495-580), từ đó sư chuyên học Hoa nghiêm, Niết bàn, Địa luận, Luật bộ. Sư còn thông suốt cả ngoại điển, nổi tiếng ở đất nghiệp. Lúc học hỏi, sư thường tìm hiểu sâu rộng những cách giải thích xưa và phát hiện những điều mới lạ. Khi giảng thuyết thì sư chỉ nói về cương lĩnh, chứ không giảng từng câu từng chữ, do đó 7 chúng đều cảm phục, tôn sư là Dụ Bồ Tát. Khi Vũ đế nhà Bắc Chu hủy diệt Phật pháp, sư hướng dẫn hơn 20 vị tăng đồng học vào ở trong xóm làng vắng vẻ, ban ngày đọc sách đời, ban đêm bàn Phật lí. Đến đời Tùy giáo pháp được phục hưng, sư đi du hóa các vùng Yên, Triệu v.v... Năm Khai hoàng thứ 10 (590) sư đến chùa Linh thông ở Lạc châu, năm sau sư trụ ở chùa Đại từ tại Tương châu, rồi vâng sắc trụ ở chùa Hưng thiện tại Trường an. Vua muốn trao chức Quốc thống cho sư, nhưng sư nhất định chối từ, rồi trở về trụ ở chùa Diễn không tại Tương châu, chuyên việc thuyết giảng. Niên hiệu Đại nghiệp năm đầu (605) sư tịch, thọ 88 tuổi. Sư có các tác phẩm: Thập địa kinh sớ, Duy ma kinh sớ, Bát nhã kinh sớ, Đại thừa nghĩa chương, Thánh tích kí, Phật pháp đông hành kí, An dân luận, Diệt pháp luận, Tế thế tam bảo kí. [X. Tục cao tăng truyện Q.9; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.2; Thích thị lục thiếp Q.hạ; Tân tu khoa phân lục học tăng truyện Q.13; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.2; Cựu đường thư kinh tịch chí thứ 27].

linh giác

6943謂眾生本具靈妙覺悟之佛性。或指靈妙不可思議之智慧。又眾生本具之佛性與佛之智慧無異,稱為靈覺不二。 ; (靈覺) Chỉ cho tính Phật giác ngộ sẵn có trong chúng sinh, hoặc chỉ cho trí tuệ linh diệu không thể nghĩ bàn. Ngoài ra, tính Phật sẵn có của chúng sinh với trí tuệ của Phật không khác, gọi là Linh giác bất nhị.

linh giới

6937指亡靈所住之幽冥世界。焰羅王供行法次第(大二一‧三七六上):「謹以香潔飲食及錢財幣帛等,先奉獻十方諸佛,(中略)一切冥官、冥道、僧、尼、靈界五百餓鬼眾。」 ; The realm of departed spirits. ; (靈界) Chỉ cho thế giới tối tăm của vong linh. Diệm la vương cúng hành pháp thứ đệ (Đại 21, 376 thượng), nói: Với lòng kính cẩn, đem hương thơm, thức ăn uống, tiền của, vải vóc, v.v... trước dâng cúng chư Phật mười phương (...) tất cả Minh quan, Minh đạo, Tăng, Ni, 500 quỉ đói ở Linh giới.

linh hoạt

Lively—Vivid.

linh hà

6936指龍所住之河川。又作龍泉。以龍之大力,故雖逢天旱,而河水仍不涸竭。安樂集卷上(大四七‧七中):「譬如寄花五淨,風日不萎,附水靈河,世旱無竭。」 ; (靈河) Cũng gọi Long tuyền. Sông có loài rồng ở. Nhờ sức của rồng, dù có hạn hán, nước sông vẫn không khô cạn. An lập tập quyển thượng (Đại 47, 7 trung nói: Gửi hoa nơi Ngũ tịnh, nắng gió không sợ héo; gửi nước nơi Linh hà, trời hạn không làm cạn.

linh hồn

6940一般被認為是人類生活之要素,能主宰人類之知覺與活動。據近代考古學家、人類學家之研究,推測距今二萬五千年至五萬年前之人類,已具有靈魂之觀念,或人死後靈魂繼續生活之觀念。然大抵而言,原始人所具有的簡單古樸之靈魂觀念,往往含有強烈的物質性格。直至宗教、哲學漸次發達之後,人類之靈魂觀始趨向非物質化之「精神統一體」。例如某些宗教、哲學相信靈魂可以獨存於肉體死亡以後,進而視之為不朽的精神實體。 蓋承認靈魂存在,雖為許多宗教、哲學、社會學所主張,然論及其特質、本源、究極,則有極大之分野。有主張其與精神或心意等同義者,如靈魂生活(soul-life)一語,殆與精神生活、心意生活等義無有分別。而主張靈魂說(Soul Theory)者,若自其所說之身、心關係而言,則立足於二元論;若自精神之體、用關係而言,則立足於實體論。近世哲學出現現象論、現實論、唯物論等學說,則大抵反對靈魂存在而否定其為實有。 佛教本不說靈肉二元觀、靈魂不滅論等。因釋尊對靈魂與肉體之同異並不予以作答(即無記),亦即否定靈魂與肉體可截然劃分為二之想法。佛教係由實踐之主體而重視心的存在;此一存在論,係徹底立於心、物二者相關之立場,並不視一方為不滅之實體,另一方為生滅之假相,而認為心、物二者皆空,無自性可得。而當輪迴轉生之說被佛教採納後,有關輪迴主體之問題卻引起佛教史上之重大論爭,如南北朝時之「神滅不滅論爭」等;其結果則致使輪迴主體呈現出一種猶如靈魂之色彩。(參閱「神滅不滅論爭」4257) ; Spirit. ; Soul—See Thần Thức. ; (靈魂) Thông thường, linh hồn được xem là yếu tố làm chủ tể các hoạt động và tri giác của con người. Theo sự nghiên cứu của các nhà khảo cổ học và nhân loại học cận đại, cách đây 50.000 năm về trước con người đã có quan niệm về linh hồn và cho rằng sau khi chết linh hồn vẫn tiếp tục tồn tại. Nhưng nói chung thì quan niệm về linh hồn của người nguyên thủy rất đơn giản, chất phác, thường mang tính cách vật chất mạnh mẽ. Mãi đến sau khi tông giáo, triết học dần dần phát triển, thì quan niệm linh hồn của nhân loại mới hướng tới tinh thần thống nhất phi vật chất hóa. Chẳng hạn có những tông giáo, triết học tin rằng linh hồn có thể tồn tại độc lập sau khi nhục thể tan rã, rồi tiến bước nữa mà cho rằng linh hồn là thực thể tinh thần bất diệt. Tuy có nhiều tông giáo, triết học chủ trương linh hồn tồn tại, nhưng bàn về đặc tính, nguồn gốc, cứu cánh của linh hồn là gì thì lại có rất nhiều quan điểm khác nhau. Có thuyết chủ trương linh hồn đồng nghĩa với tinh thần hoặc tâm ý. Gần đây, trong triết học, người ta thấy xuất hiện những học thuyết như: Hiện tượng luận, Hiện thực luận, Duy vật luận v.v... đại khái đều phản đối thuyết linh hồn tồn tại, không thừa nhận nó là 1 thực thể. Phật giáo vốn không chủ trương Linh nhục nhị nguyên quan, Linh hồn bất diệt luận. Đối với vấn đề đồng, dị giữa linh hồn và nhục thể, đức Phật không giải đáp. Nghĩa là đức Phật đã không trả lời câu hỏi như linh hồn và thể xác là 1 hay khác nhau, mà Ngài cũng không thừa nhận linh hồn và thể xác là 2 cái hoàn toàn tách biệt hẳn nhau. Đức Phật vốn chủ trương thực tiễn, nên coi trọng sự tồn tại của tâm và triệt để đứng trên lập trường tâm, vật tương quan, chẳng coi cái nào là thực thể bất diệt, cũng chẳng coi cái nào là giả tướng sinh diệt, mà thừa nhận tâm, vật đều là không, không có tự tính. Nhưng, từ sau khi thuyết luân hồi chuyển sinh được Phật giáo sử dụng, thì vấn đề chủ thể của luân hồi đã dẫn đến cuộc tranh luận trọng đại trong Phật giáo, như Thần diệt bất diệt luận tranh ở thời Nam Bắc triều v.v... kết quả là chủ thể của luân hồi mang sắc thái giống như linh hồn. (xt. Thần Diệt Bất Diệt Luận Tranh).

linh hữu hội

6934請參閱 徹翁和尚語錄 [1]日本日蓮宗系新興宗派之一。由日蓮宗信徒久保角太郎(1892~1944)創立。氏自幼受國柱會純正日蓮主義與法華行者西田俊藏「佛所護念」教法之影響甚深。大正九年(1920),與戶次貞雄等人共組「靈友會」,十四年,與其兄小谷安吉、嫂小谷喜美再組「大日本靈友會」。 所謂「靈友」,意謂連結自己之靈與第三界之萬靈,將法華經之信仰與祭祖之習俗相結合,並謂體現佛智之「菩薩之法」即教人供養祖先;供養祖先之靈,亦即供養三界萬靈,使「神、佛、靈」三者合一,藉虔誠之信仰,三者相互感應而產生靈驗。該會係以信奉法華、供養祖先為其基礎教義。第二次世界大戰前後,自該會分出之新興教團頗多。 ; (靈友會) Một giáo phái thuộc tông Nhật liên, Nhật bản, do ông Cửu bảo dác thái lang (1892- 1944) sáng lập. Linh hữu nghĩa là liên kết linh hồn của chính mình với vạn linh trong vũ trụ. Phái này chủ trương kết hợp tín ngưỡng kinh Pháp hoa với tập tục tế tổ và cho rằng thể hiện pháp Bồ tát của trí Phật là dạy người cúng dường tổ tiên; mà cúng dường linh hồn của tổ tiên cũng tức là cúng dường vạn linh trong vũ trụ, khiến cho Thần, Phật, Linh hợp làm một; nhờ lòng tin thành kính ấy mà Thần, Phật, Linh cảm ứng lẫn nhau rồi phát sinh linh nghiệm. Hội này lấy tín ngưỡng kinh Pháp hoa và cúng dường tổ tiên làm giáo nghĩa nền tảng. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, hội này lại chia ra nhiều giáo phái khác.

Linh Hựu

靈祐|Quy Sơn Linh Hựu

Linh Không

(靈空, Reikū, 1652-1739): vị Tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào đầu và giữa thời đại Giang Hộ, Tổ của Dòng An Lạc Viện (安樂院流); húy là Quang Khiêm (光謙), tự Linh Không (靈空), hiệu Huyễn Huyễn Am (幻幻庵), xuất thân vùng Phước Cương (福岡, Fukuoka), Trúc Tiền (筑前, Chikuzen, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]), họ Cương Thôn (岡村, Okamura). Vào năm 1665, ông xuất gia tại Tùng Nguyên Am (松源庵) ở vùng Trúc Tiền, đến năm 1668 thì lên tu học trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Năm 1678, ông thọ 10 điều cấm giới trong Phạm Võng Kinh (梵綱經), rồi năm sau thì thọ tiếp 48 giới khinh từ Diệu Lập (妙立, Myōryū). Đến năm 1689, ông viết cuốn Tịch Tà Biên (闢邪編) để bài xích pháp môn truyền khẩu gọi là Huyền Chỉ Quy Mạng Đàn (玄指歸命壇). Vào năm 1693, ông nhận lệnh của Công Biện (公辯) đến trú trì An Lạc Viện (安樂院), rồi chỉnh bị chỉnh bị nơi đây thành đạo tràng truyền bá Luật Tông, biến thành cứ địa của Phái An Lạc Luật (安樂律派), chuyên kiêm học cả Phạn Cương Đại Giới (梵綱大戒) và Tứ Phần Luật (四分律). Ông chuyển Tịnh Danh Viện (淨名院) ở Khoan Vĩnh Tự (寬永寺) vùng Giang Hộ (江戸, Edo) thành Luật Viện, kiến lập Hưng Vân Viện (興雲院) ở vùng Nhật Quang (日光, Nikkō), v.v., và tận lực phục hưng Thiên Thai Giáo Quán. Trước tác của ông có Tịch Tà Biên 1 quyển, Pháp Hoa Hoằng Truyền (法華弘傳) 2 quyển, Thập Bất Nhị Môn Chỉ Yếu Sao Tường Giải Ngạn Thuyên (十不二門指要抄詳解諺詮) 3 quyển, Tức Tâm Niệm Phật An Tâm Quyết Định Đàm Nghĩa Bổn (卽心念佛安心決定談義本) 1 quyển, v.v.

linh kiệu

6941唐代洪州宗僧。籍貫、生卒年均不詳。受馬祖道一印可。後隱居於鼓山(福建閩縣)前巖,即今鼓山白雲峰山麓之湧泉寺。傳該地原係深潭,內有毒龍,為害居民,唐建中四年(783),郡從事裴冑請師制伏,師於潭畔誦華嚴經,龍遂離去。眾深感師之德,就潭址建寺,迎師住錫,帝敕賜「華嚴」之匾額,稱為華嚴寺,大弘法化,後不知所終。〔增訂佛祖道影卷二(虛雲)〕 ; (靈嶠) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Đường, là đệ tử của Ngài Mã tổ Đạo nhất. Sư từng ở ẩn trong hang động trước núi Cổ sơn ở huyện Mân, tỉnh Phúc kiến, tức nay là chùa Dũng tuyền ở chân ngọn núi Bạch vân thuộc Cổ sơn. Tương truyền, vùng đất này vốn là cái đầm sâu, trong đầm có con rồng độc, thường làm hại dân cư. Năm Kiến trung thứ 4 (783) đời Đường, viên quan ở quận này là Bùi trụ thỉnh sư chế phục rồng; sư đến bên bờ đầm tụng kinh Hoa nghiêm, rồng bèn bỏ đi. Dân chúng thâm cảm uy đức của sư, nên xây cất một ngôi chùa ở đầm này và thỉnh sư trụ trì, được vua ban tấm biển Hoa Nghiêm, gọi là chùa Hoa nghiêm. Sư ở đây hoằng pháp rất thịnh. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].

linh lung sơn

3888位於浙江臨安縣西五公里之處。兩峰屹立,盤曲九折,有石磴道直通山頂。山麓有一方巨石橫置路邊,鐫有「醉眠石」三字,傳蘇東坡嘗醉眠於此,故有此稱。有小溪流經石傍,其上另有九折、送瀑二岩,岩上多摩崖題刻。再上爲臥龍寺,寺內有大雄寶殿、天王殿、觀音堂等。寺東有琴操墓。據傳,琴操本爲杭州名妓,因受蘇東坡之指點,出家爲尼。山頂有望江石,可遠眺富春江。寺西之三休亭,遍植古松,其中最古者稱學士松,山中景色絕佳。

linh lão tự

6937請參閱 觀經義疏正觀記 [1]越南著名之佛教建築。位於順化。阮潢王子於一六○一年所建。十七至十八世紀,在內戰中受到嚴重破壞。一八一五年重修。一八四四年於寺前修建七層之福緣塔,以紀念七世諸佛。該寺有一自內部發出回音之巨鐘,為越南國寶之一。

linh miếu

Caitya (S). Sepulchral monument, shrine.

linh mặc

6942(747~818)唐代禪僧。江蘇毘陵人,俗姓宣。參馬祖道一,得契玄機。出家受具足戒。後又參石頭希遷,豁然省悟,隨任侍者二十年。貞元初年(785),住天台山白沙道場,二年後,住浦陽,後移住婺州(浙江)五洩山,四方學眾雲集。元和十三年示寂,世壽七十二,法臘四十一。志閑為撰碑文。〔宋高僧傳卷十、祖堂集卷十五、景德傳燈錄卷七〕

Linh Mộc Chánh Tam

(鈴木正三, Suzuki Shōsan, 1579-1655): vị Thiền Tăng sống vào đầu thời kỳ Giang Hộ; húy là Chánh Tam (正三), Xương Tam (昌三), Thánh Tam (聖三), hay Trùng Tam (重三); thông xưng là Cửu Thái Phu (九太夫); hiệu Huyền Huyền Hiên (玄玄軒), Thạch Bình Đạo Nhân (石平道人); xuất thân vùng Túc Trợ (足助, Asuke), Tam Hà (三河, Mikawa, thuộc Aichi-ken [愛知縣]); trưởng nam của Linh Mộc Trùng Thứ (鈴木重次, Suzuki Shigetsugi), anh của Linh Mộc Trùng Thành (鈴木重成, Suzuki Shigenari). Ông đã từng phục vụ cho hai Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) và Đức Xuyên Tú Trung (德川秀忠, Tokugawa Hidetada), lập nhiều chiến công trong trận chiến Sekigahara (關ヶ原) cũng như trận công kích Thành Osaka; nhưng đến năm 42 tuổi, ông xuất gia. Ông từng đến tham Thiền học đạo với chư vị cao tăng của Lâm Tế Tông cũng như Tào Động Tông. Đến năm 1624, ông sáng lập Ân Chơn Tự (恩眞寺) ở vùng Tam Hà. Vào năm 1641, sau vụ Loạn Đảo Nguyên (島原の亂, Shimabara-no-ran), ông đến vùng Thiên Thảo (天草, Amakusa), viết cuốn Phá Cát Lợi Chi Đan (破吉利支丹) và nổ lực bài trừ Thiên Chúa Giáo. Đến cuối đời, ông chuyên tâm giáo hóa chúng đạo tục, khuyến khích hành Thiền ở Liễu Tâm Am (了心庵) vùng Thiển Thảo (淺草, Asakusa), Giang Hộ. Trước tác của ông có rất nhiều như Lô Án Kiều (驢案橋) 3 quyển, Nhị Nhân Tỳ Kheo Ni (二人比丘尼) 2 quyển, Vạn Dân Đức Dụng (萬民德用) 1 quyển, Manh An Trượng (盲安杖) 1 quyển, Phá Cát Lợi Chi Đan (破吉利支丹) 1 quyển, Niệm Phật Thảo Chỉ (念佛草紙) 2 quyển, Linh Mộc Chánh Tam Đạo Nhân Toàn Tập (鈴木正三道人全集) 1 quyển, Phản Cố Tập (反故集), Nhân Quả Vật Ngữ (因果物語), v.v.

linh mộc học thuật tài đoàn

5693爲二次大戰以後,日本財經界與佛教界聯合成立之學術研究財團。創立宗旨爲「研究、解明、闡述東方思想與世界宗教」。主要領導者有鈴木大拙、金倉圓照、塚本善隆、山口益、長尾雅人、中村元、久松真一、大類純等國際知名佛教學者,此外又網羅各方面之一流學者、各宗派之領袖爲會員、研究員、評議員,故成立以來,被譽爲當今佛教文化界最高級之學術研究團體。會長爲鈴木大拙,副會長爲久松真一。鈴木大拙逝世後,會長闕如。 創立以來,除成立各種獎助金資助學者研究之外,又出版多種大部叢書、各類佛教原典及有關之專題研究論書。較重要者,如多羅那他(梵 Tāranātha)「印度佛教史」之藏文原典及德文譯本、布頓(藏 Bu-ston)之佛教史及英譯本、中邊分別論釋疏、梵文中邊分別世親釋論、梵藏英般若經典辭典、藏和對照究竟一乘寶性論研究、梵和大辭典,及望月佛教大辭典之增訂出版。 另一項重要業績乃北京版西藏大藏經之影印刊行,自一九五五年開刊。北京版西藏大藏經雕版於康熙年間,爲各種藏文藏經中最完整之版本,然其版木於光緒年間燬於兵火,舉世僅存兩部,分藏於法國巴黎與日本京都大谷大學。基於東方學與佛教文獻學之研究須要,鈴木財團乃進行此一影印全藏一六八卷之工作,於一九六一年完成,俾益佛教學術界甚大。此外,自一九六四年開始,一年發行一次「研究年報」,每期篇幅皆極長,所收均爲該團文化委員所著之專門論文,多爲有關梵文、藏文文獻之研究報告,且每期均附有十餘篇內容嚴謹之書評,洵爲當代佛教學研究之眼目。〔近代日本佛學研究的發展(林傳芳)〕 ; (鈴木學術財團) Một tổ chức nghiên cứu học thuật do giới Phật giáo và giới kinh tế tài chính Nhật bản liên kết thành lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 với mục đích nghiên cứu tư tưởng Đông phương và tông giáo thế giới. Những vị lãnh đạo chủ chốt trong đoàn thể này gồm những học giả Phật giáo nổi tiếng quốc tế như: Linh mộc đại chuyết, Kim thương viên chiếu, Trủng bản thiện long, Sơn khẩu ích, Trường vĩ nhã nhân, Trung thôn nguyên, Cửu tùng chân nhất, v.v... Ngoài ra còn có 1 số các học giả, lãnh tụ các tông phái làm hội viên, nghiên cứu viên, bình luận viên, v.v... cho nên từ khi thành lập đến nay, tổ chức này được khen ngợi là đoàn thể nghiên cứu học thuật cao nhất trong giới văn hóa Phật giáo hiện nay. Hội trưởng là ông Linh mộc đại chuyết, Phó hội trưởng là ông Cửu tùng chân nhất. Sau khi ông Linh mộc đại chuyết qua đời thì chức vụ Hội trưởng bỏ trống. Từ ngày thành lập đến nay, ngoài việc đặt ra các khoản tiền khen thưởng để giúp đỡ các học giả nghiên cứu, Tài đoàn này còn xuất bản nhiều bộ sách lớn, các loại kinh điển nguyên bản của Phật giáo và các sách nghiên cứu chuyên đề. Trong đó, quan trọng nhất gồm các bộ: Ấn độ Phật giáo sử (nguyên văn Tây tạng, được dịch ra tiếng Đức) của Đa la na tha (Phạm: Tàranàtha), Phật giáo sử (bản dịnh tiếng Anh) của Bố đốn (Tạng: Bu-ston), Trung biên phân biệt luận thích sớ, Trung biên phân biệt Thế thân thích luận (bản tiếng Phạm), Phạm tạng Anh Bát nhã kinh điển từ điển, Tạng Hòa đối chiếu cứu cánh Nhất thừa bảo tính luận nghiên cứu, Phạm Hòa đại từ điển, Vọng nguyệt Phật giáo đại từ điển (bản tăng đính). Ngoài ra, tổ chức này còn in chụp bộ Đại tạng kinh Tây tạng bản Bắc kinh, gồm 168 quyển, bắt đầu in vào năm 1955 và hoàn thành vào năm 1961. Rồi từ năm 1964, mỗi năm Tài đoàn phát hành 1 kì Niên báo nghiên cứu, gồm những luận văn chuyên môn do các ủy viên văn hóa của Tài đoàn soạn, phần nhiều là việc báo cáo về việc nghiên cứu các văn hiến tiếng Phạm, Tây tạng và có phụ thêm hơn 10 bài phê bình sách với nội dung nghiêm túc, đều rất cần thiết cho việc nghiên cứu Phật giáo học đương đại. [X. Cận đại Nhật bản Phật giáo nghiên cứu đích phát triển (Lâm truyền phương)].

Linh Mộc Trùng Thành

(鈴木重成, Suzuki Shigenari, 1588-1653): quan chức vào đầu thời Giang Hộ, con trai thứ 3 của Linh Mộc Trùng Thứ (鈴木重次, Suzuki Shigetsugi); anh của Thiền tăng Linh Mộc Chánh Tam (鈴木正三, Suzuki Shōsan); thông xưng là Tam Lang Cửu Lang (三郎九郎). Ông từng phục vụ cho hai Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) và Đức Xuyên Tú Trung (德川秀忠, Tokugawa Hidetada). Trong vụ Loạn Đảo Nguyên (島原の亂, Shimabara-no-ran) bộc phát vào năm 1637 (Khoan Vĩnh [寛永] 14), ông đi theo Tùng Bình Tín Cương (松平信綱, Matsudaira Nobutsuna), lao vào chiến địa, tham gia công kích thành. Sau chiến loạn, vào năm 1641 (Khoan Vĩnh 18), ông được bổ nhiệm làm quan đại diện cho vùng Thiên Thảo (天草, Amakusa). Tại đây, ông đã tận lực cải cách cuộc sống người dân, đặc biệt kiến nghị lên chính quyền Mạc Phủ về chính sách giảm bớt cống nạp hằng năm; nhưng chẳng ai lắng nghe ông cả. Cuối cùng, vì quá bất mãn và đau xót trước thực trạng như vậy, ông để lại bức Tố Trạng và dùng đao tự vẫn tại tư gia của ông vào năm 1563 (Thừa Ứng [承應] 2), hưởng thọ 66 tuổi. Chính quyền Mạc Phủ vô cùng kinh ngạc trước việc làm của Trùng Thành, nên đã kiểm thảo lại tất cả và tiến hành cho miễn giảm cống nạp hằng năm. Người dân vùng Thiên Thảo tưởng nhớ đến ân đức ấy, đã lập đền thờ phụng ông.

linh mộc đại chuyết

5692(1870~1966)日本臨濟宗學者。擅長英文,以英文撰述之禪書多達數十部,對於東方思想及禪之傳入歐美,貢獻卓越。本名貞太郎。五歲喪父。二十一歲入東京專門學校(東京早稻田大學之前身)攻讀英文學。其後於鎌倉圓覺寺隨今北洪川學禪。次年,今北洪川示寂,轉就宗演參禪,專志修行,並博覽有關禪與佛學、西洋哲學等書。其間,陸續從事英譯工作,任雜誌主編達十一年。三十歲峙,繼翻譯「佛陀之福音」後,又完成「大乘起信論」(Aśvaghosha's Discourse on the Awakening of Faith in the Mahāyāna)之英譯。三十五歲,從宗演巡迴講演於美洲東部各地。三十七歲,出版英文本「大乘佛教概論」(Outlines of Mahāyāna Buddhism)。 其後遊學歐洲,足跡遍歷英、德、法、瑞士等國。返國後歷任東京帝國大學、大谷大學教授及「禪道」雜誌編輯;另與佐佐木月樵從事真宗教義之英譯工作。四十一歲結婚。昭和八年(1933),六十三歲以「楞伽經之研究」獲文學博士學位。次年,遊歷朝鮮、中國各地,遍尋佛蹟。後曾數度赴美講學。嘗於大谷大學設立「東方佛教徒協會」,創刊英文雜誌,前後續刊達二十年之久,又於鎌倉東慶寺設立松家岡文庫。七十九歲,被推薦爲日本學士院會員,並受文化勳章。其後,曾出席夏威夷大學主辦之第二、三屆東西哲學家大會。 八十五歲,組織西藏大藏經研究會,自任會長,刊行影印北京版西藏大藏經,凡一五一卷(甘珠爾四十五卷、丹珠爾一○五卷、目錄部一卷);並參與「望月佛教大辭典」之編纂。九十一歲,又刊行北京版西藏大藏經續篇(宗喀巴全書、章嘉全書)十三卷,及西藏大藏經總目錄、索引四卷。九十二歲,改組研究會爲鈴木學術財團。次年,完成「望月佛教大辭典」補遺二卷。其對於佛教學、西藏學、東方思想之研究,貢獻至鉅。昭和四十一年逝世,世壽九十七。畢生著作繁富,有鈴木大拙選集、鈴木大拙全集行世。〔鈴木大拙的生平與思想(秋月龍珉)〕 ; (鈴木大拙) (1870-1966) Học giả Phật giáo Nhật bản, thuộc tông Lâm tế. Ông giỏi Anh văn, các sách Thiền viết bằng tiếng Anh của ông có tới vài mươi bộ. Ông có công rất lớn đối với việc truyền bá tư tưởng Đông phương và Thiền học sang các nước Âu Mĩ. Năm lên 5 tuổi, cha mất. Năm 21 tuổi ông vào trường chuyên môn ở Đông kinh (tiền thân của đại học Tảo đạo điền ở Đông kinh) để học Anh văn. Về sau, ông theo ngài Kim bắc Hồng xuyên học Thiền ở chùa Viên giác tại Liêm thương. Năm sau, ngài Kim bắc Hồng xuyên thị tịch, ông đến ngài Tông diễn tham thiền, chuyên tâm tu hành và đọc rất nhiều sách nói về Thiền, Phật học, triết học Tây phương, v.v... Trong thời gian này, ông liên tục phiên dịch các sách tiếng Anh và làm chủ biên tạp chí trong 11 năm. Năm 30 tuổi sau khi phiên dịch cuốn Phật Đà Chi Phúc Âm (The Buddha’s Gospel), ông lại hoàn thành bản dịch tiếng Anh bộ luận Đại Thừa Khởi Tín của ngài Mã minh (Azvaghowa’s Discourse on the Awakening of Faith in the Mahàyàna). Năm 35 tuổi, ông theo ngài Tông diễn đi giảng diễn ở các vùng thuộc miền Đông châu Mĩ. Năm 37 tuổi, ông cho ra đời cuốn Đại Thừa Phật Giáo Khái Luận (Out lines of Mahàyàna Buddhism) bằng tiếng Anh. Sau đó, ông du học ở các nước Anh, Đức, Pháp, Thụy sĩ... Sau khi về nước, ông làm giáo sư ở các trường Đại học Đế quốc ở Đông kinh, Đại học Đại cốc và chủ biên tạp chí Thiền Đạo. Ông lại cộng tác với ông Tá tá mộc nguyệt tiều phiên dịch các sách nói về giáo nghĩa Chân tông ra tiếng Anh. Năm 41 tuổi, ông kết hôn. Năm Chiêu hòa thứ 8 (1933), lúc đó ông đã 63 tuổi, đạt được học vị Tiến sĩ văn học qua luận án Nghiên cứu kinh Lăng già. Năm sau ông đến các nước Triều tiên, Trung quốc... tìm các di tích Phật giáo. Ông đã nhiều lần sang Mĩ dạy học và giảng diễn. Ông từng thành lập Hiệp hội tín đồ Phật giáo Đông phương ở trường Đại học Đại cốc, xuất bản tạp chí bằng tiếng Anh, phát hành liên tục trong 20 năm. Ông thiết lập văn khố Tùng Gia Cương ở chùa Đông khánh tại Liêm thương. Năm 79 tuổi, ông được tiến cử làm hội viên của viện Học sĩ Nhật bản và được tặng huân chương văn hóa. Ông từng tham dự Đại hội các nhà Triết học Đông Tây lần thứ 2, thứ 3 do trường Đại học Hạ uy di tổ chức. Năm 85 tuổi, ông thành lập và làm Hội trưởng hội Nghiên cứu Đại tạng kinh Tây tạng, xúc tiến việc in chụp Đại tạng kinh Tây tạng bản Bắc kinh, gồm 151 quyển (Cam châu nhĩ 45 quyển, Đan châu nhĩ 105 quyển, Mục lục bộ 1 quyển) và tham gia biên soạn Vọng Nguyệt Phật Giáo Đại Từ Điển. Năm 91 tuổi, ông lại ấn hành Tây Tạng Đại Tạng Kinh Tục Thiên bản Bắc kinh (Tông khách toàn thư, Chương gia toàn thư) gồm 13 quyển, Tây Tạng Đại Tạng Kinh Tổng Mục Lục và Sách Dẫn 4 quyển. Năm 92 tuổi, ông cải tổ hội Nghiên cứu thành Linh Mộc Học Thuật Tài Đoàn. Năm sau, ông hoàn thành Vọng nguyệt Phật giáo đại từ điển bổ di 2 quyển. Năm Chiêu hòa 41 (1966) ông qua đời, thọ 97 tuổi. Ông có các tác phẩm: Linh mộc đại chuyết tuyển tập, Linh mộc đại chuyết toàn tập. [X. Linh mộc đại chuyết đích sinh bình dữ tư tưởng (Thu nguyệt Long mân)].

linh mộc đại chuyết tuyển tập

5692凡二十六卷。日本鈴木大拙(1870~1966)撰。爲鈴木大拙著作中較具通俗性而易爲一般讀者所接受之著作選集。內容可分爲:(一)論禪,包含禪思想、禪への道(入禪之道)、禪經驗の研究(禪經驗之研究)、臨濟の基本思想(臨濟之基本思想)、禪と日本文化(禪與日本文化)、禪によゐ生活(依禪之生活)、禪堂生活の近代的意義(禪堂生活之近代意義)等論著,闡述禪之意義、行爲、意識等。(二)論淨土宗,包含宗教經驗の事實(宗教經驗之事實)、妙好人、淨土系思想論等論著,闡述淨土宗之人情味、基督教與淨土宗之比較。(三)論佛教,包含キリスト教と仏教(基督教與佛教)、佛教の大意(佛教之大意)、日本佛教、極東文化史上における仏教思想の役割(佛教思想於遠東文化史上之角色)、佛教生活と受動性(佛教生活與被動性)等論著,闡述基督教與佛教文化之差異、大智、大悲之意義、業之教義等佛教宗教經驗、東方思想之特質等。(四)綜論,包含宗教と現代人(宗教與現代人)、東洋と西洋(東洋與西洋)、宗教入門、日本的靈性、宗教の文化否定性(宗教之文化否定性)、青年に與ふ(給青年們)等論著,闡論宗教與科學本質上之比較、日本宗教思想史、對共產主義的錯綜感情之批判、戰後日本人宗教之覺醒等。〔鈴木大拙の人と學問(古田紹欽)〕 ; (鈴木大拙選集) Tác phẩm, 26 quyển, do ông Linh mộc đại chuyết (1870-1966), người Nhật bản soạn. Trong các tác phẩm của Linh mộc đại chuyết, tuyển tập này là bộ sách tương đối phổ thông, dễ hiểu, mọi người đều có thể tiếp thu được. Nội dung sách này chia làm 4 phần: 1. Về Thiền, gồm các bộ luận: Tư tưởng thiền, Con đường vào thiền, Nghiên cứu kinh nghiệm thiền, Tư tưởng cơ bản của ngài Lâm tế, Thiền và văn hóa Nhật bản, Sinh hoạt thiền, Ý nghĩa sinh hoạt Thiền đường thời cận đại, v.v... 2. Về Tịnh độ, gồm các bộ luận nói về sự thực thể nghiệm tông giáo, về người cực tốt, về hệ thống tư tưởng Tịnh độ, v.v... 3. Về Phật giáo, gồm các luận nói về Phật giáo và Cơ đốc giáo, Đại ý của Phật giáo, Phật giáo Nhật bản, Điểm nổi bật của tư tưởng Phật giáo trên lịch sử văn hóa Viễn đông, Sinh hoạt Phật giáo, và tính bị động. 4. Tổng luận, gồm các luận nói về tông giáo với con người hiện đại, Đông phương và Tây phương, Tông giáo nhập môn, Linh tính Nhật bản, Tính phủ định văn hóa của tông giáo, Nói với thanh niên. [X. Linh mộc đại chuyết đích nhân dữ học vấn (Cổ điền Thiệu khâm)].

linh mộng

6940指不可思議之夢。一般民間相信夢乃諸天、神佛等予人之預示,依吉、凶、正、逆之夢兆,可占卜現實之吉凶,故不論夢中出現者為神佛或祖先,倘夢境與日後實際狀況相符,則稱之為靈夢。對此,小乘說一切有部指為實有,大乘則斥為妄見。佛典中有關靈夢之記述甚多,如修行本起經卷上、過去現在因果經卷一等記載釋尊托胎時白象之靈夢;大品般若經卷十八、般舟三昧經卷上等亦有夢中觀見阿彌陀佛而受感應者。此外,中、日高僧傳中有關靈夢之故事亦極多。〔大智度論卷六〕(參閱「夢」5774、「夢經」5778) ; (靈夢) Giấc mộng linh nghiệm, không thể tưởng tượng. Thông thường, dân gian tin rằng mộng là do chư thiên, thần, Phật báo trước một việc gì sắp xảy ra, căn cứ vào điềm mộng lành, dữ, chính, tà có thể đoán được việc lành, dữ sắp xảy ra trong hiện thực, cho nên bất luận người báo mộng là thần, Phật hoặc tổ tiên, nếu như cảnh trong mộng đúng với hoàn cảnh thực tế ngày sau, thì gọi là Linh mộng. Thuyết nhất thiết hữu bộ của Tiểu thừa cho linh mộng là có thật, nhưng Đại thừa thì bác bỏ và cho đó là vọng kiến. Trong kinh điển Phật có rất nhiều chỗ ghi chép về linh mộng, như kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1, v.v... có ghi linh mộng bạch tượng gá thai, kinh Đại phẩm bát nhã, kinh Bát chu tam muội quyển thượng, v.v... cũng có nói việc trong mộng quán thấy Phật A di đà và được cảm ứng. Ngoài ra, trong các bộ Cao tăng truyện Trung quốc, Nhật bản cũng có rất nhiều sự tích về linh mộng. [X. luận Đại trí độ Q.6]. (xt. Mộng, Mộng Kinh).

linh mụ tự

(靈媽寺) Chùa ở thành phố Huế, tỉnh Thừa thiên thuộc miền Trung Việt nam, do chúa Nguyễn hoàng sáng lập vào năm 1601, đây là ngôi chùa nổi tiếng của Việt nam. Trong cuộc nội chiến thế kỉ XVII, XVIII, chùa đã bị phá hủy nghiêm trọng. Năm 1815 chùa được sửa lại. Năm 1844, ngôi tháp Phúc duyên được xây cất trước chùa để ghi nhớ lại chư Phật 7 đời. Trong chùa có một quả chuông lớn, tiếng rất trầm hùng, là 1 trong những thứ Quốc bảo Việt nam.

linh mục

Catholic priest.

linh nghiệm

6945謂靈妙不可思議之效驗。又作靈應、靈感、威驗。略稱驗。即祈求諸佛菩薩,或由於受持讀誦經典,而獲得不可思議之證驗。如高僧法顯傳載,昔時,阿育王於佛所化之寶階上起精舍,精舍後立石柱,柱上作獅子。有外道論師與一沙門互諍住處,沙門理屈,於是共立誓言謂,若是沙門住處,當有驗。其時柱頭獅子乃大鳴吼而顯現靈驗,外道遂屈服退卻。其他各種顯密經典中亦常見佛菩薩或金剛等諸尊顯現靈驗之事蹟。大日經疏卷九(大三九‧六七九中):「持金剛者,大力威猛所不敢隱弊,謂此尊有靈驗故,所作善事皆成。」此外,集錄靈驗之書,稱為感應傳、靈驗記。〔盂蘭盆經疏卷下、景德傳燈錄卷十八〕 ; (靈驗) Cũng gọi Linh ứng, Linh cảm, Uy nghiệm. Gọi tắt: Nghiệm. Sự hiệu nghiệm mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, do nguyện cầu chư Phật, Bồ tát hoặc do thụ trì đọc tụng kinh điển mà có được. Theo Cao tăng Pháp hiển truyện, thủa xưa, vua A dục cất tinh xá trên thềm báu nơi đức Phật giáo hóa, ở phía sau tinh xá có dựng cột đá, trên đầu cột tạc tượng sư tử. Có 1 luận sư ngoại đạo tranh giành chỗ ở với 1 vị sa môn, vị sa môn viện lí lẽ để tự bênh vực, bấy giờ cùng nhau lập thệ rằng, nếu đây là chỗ ở của sa môn thì xin có ứng nghiệm. Lúc đó, tượng sư tử trên đầu cột rống lên một tiếng thật to để hiển hiện sự linh nghiệm, ngoại đạo kia liền rút lui. Trong các kinh điển Hiển giáo, Mật giáo cũng thường thấy những sự tích chư Phật, Bồ tát hoặc các vị Kim cương v.v... hiển hiện sự linh nghiệm. Đại nhật kinh sớ quyển 9 (Đại 39, 679 trung), nói: Nếu người trì Kim cương, thì những uy lực mạnh mẽ không dám cản trở, vì vị tôn này có sự linh nghiệm, nên hành giả làm các việc thiện đều được thành tựu. Ngoài ra, những bộ sách ghi chép các việc linh nghiệm, gọi là Cảm ứng truyện, Linh nghiệm kí. [X. Vu lan bồn kinh sớ Q.hạ; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18].

linh nghiệm kí

6945係記述有關神佛靈妙、應驗利益事例之書籍。又稱驗記、感應傳。佛教之靈驗記,見於晉代之小說類者,如王琰之冥祥記、于寶之搜神記等。唐代道宣之集神州三寶感通錄三卷、宋代非濁之三寶感應要略錄三卷,皆屬之。專指某一經之靈驗記,則有唐代段成式之金剛經鳩異一卷、宋代宗曉之法華經顯應錄二卷、明代袾宏之華嚴經感應略記一卷等。 ; (靈驗記) Cũng gọi Nghiệm kí, Cảm ứng truyện. Những bộ sách ghi chép những câu chuyện nói về sự linh nghiệm của thần, Phật, Bồ tát. Linh nghiệm kí trong Phật giáo được viết dưới dạng tiểu thuyết, thì như ở đời Tấn có: Minh tường kí của ông Vương diễm, Sưu thần kí của ông Vu bảo, v.v... Rồi đến: Tập thần châu Tam bảo cảm thông lục 3 quyển của ngài Đạo tuyên đời Đường, Tam bảo cảm ứng yếu lược lục 3 quyển của ngài Phi trược đời Tống, v.v... đều thuộc loại Linh nghiệm kí. Còn Linh nghiệm kí chỉ riêng cho 1 bộ kinh nào đó, thì có: Kim cương kinh cưu dị 1 quyển của Đoàn thành thức đời Đường, Pháp hoa kinh hiển ứng lục 2 quyển của ngài Tông hiểu đời Tống, Hoa nghiêm kinh cảm ứng lược kí 1 quyển của ngài Châu hoành đời Minh, v.v...

Linh nguyên

(鴒原): vốn phát xuất từ trong Thi Kinh (詩經), Chương Tiểu Nhã (小雅), Đường Lệ (棠棣): “Tích linh tại nguyên, huynh đệ cấp nạn (鶺鴒在原、兄弟急難, chim chìa vôi ở đồng, anh em có hoạn nạn cùng cứu nhau).” Về sau, người ta thường dùng từ “tích linh tại nguyên (鶺鴒在原)” hay “tích linh nguyên (鶺鴒原)” “linh nguyên” để chỉ ví dụ tình cảm thương yêu đùm bọc của anh em ruột thịt. Như trong bài thơ Nhập Hạp Ký Đệ (入峽寄弟) của Mạnh Hạo Nhiên (孟浩然, 689-740) nhà Đường có câu: “Lệ triêm minh nguyệt hạp, tâm đoạn tích linh nguyên (淚沾明月峽、心斷鶺鴒原, lệ tuôn trăng sáng núi, tâm dứt tình anh em).” Hay như trong bài thơ Tống Tạ Võ Tuyển Thiếu An Khao Sư Cố Nguyên Nhân Hoàn Thục Hội Huynh Táng (送謝武選少安犒師固原因還蜀會兄葬) của Tạ Chăn (謝榛, 1495-1575) nhà Minh cũng có câu: “Nhất đối Bì Đồng trường dục đoạn, tích linh nguyên thượng thảo tiêu tiêu (一對郫筒腸欲斷、鶺鴒原上草蕭蕭, khi đến Bì Đồng ruột muốn đứt, anh em chia cách cỏ tiêu điều).” Trong bài Cát Tiên Ông Chước Đài (葛仙翁釣臺) của Hoa Trấn (華鎮, 1051-?) lại có câu: “Văn thuyết phong lưu tạ khách nhi, linh nguyên tương ứng nhật minh phi, tiên ông di tích vân thâm xứ, huề thủ hành ngâm tống lạc huy (聞說風流謝客兒、鴒原相應日鳴飛、仙翁遺跡雲深處、携手行吟送落暉, nghe bảo phong lưu tạ khách hay, anh em cùng ứng ngày xa bay, tiên ông lưu dấu mây cùng chốn, tay thỏng ngâm nga tiễn chiều về).” ; (靈源): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho căn nguyên của tất cả, tức Phật tâm, Phật tánh, chân như bình đẳng tuyệt đối. Như trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 12 có đoạn: “Nhân căn hữu lợi độn, đạo vô Nam Bắc tổ, linh nguyên minh kiểu khiết, chi phái ám lưu chú, chấp sự nguyên thị mê, khế lý diệc phi ngộ (人根有利鈍、道無南北祖、靈源明皎潔、枝派暗流注、執事原是迷、契理亦非悟, căn người có bén lụt, đạo không Nam Bắc tổ, Phật tâm sáng trong suốt, dòng phái tối chảy vào, chấp chặt nguyên là mê, khế lý cũng chẳng ngộ).” Hay trong Vĩnh Minh Trí Giác Thiền Sư Duy Tâm Quyết (永明智覺禪師唯心訣, Taishō Vol. 48, No. 2018) lại có đoạn: “Tam Thừa chi chánh triệt, nhập đạo chi yếu tân, Bát Nhã chi linh nguyên, Niết Bàn chi quật trạch (三乘之正轍、入道之要津、般若之靈源、涅槃之窟宅, Ba Thừa ấy lối chính, vào đạo ấy bến bờ, Bát Nhã ấy nguồn chơn, Niết Bàn ấy nhà động).” Hoặc trong Chứng Đạo Ca Chú (證道歌註, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1293) cũng có đoạn: “Nguyên phù linh nguyên trạm tịch, pháp hải uyên thâm, bổn vô danh tướng chi thù, an hữu thánh phàm chi dị (原夫靈源湛寂、法海淵深、本無名相之殊、安有聖凡之異, nguyên lai nguồn linh vẳng lặng, biển pháp uyên thâm, vốn không danh tướng chia sai, sao có thánh phàm tạo khác).”

linh nguyên

6939請參閱 見桃錄 <一>謂一切之根源。意指絕對平等之佛心、佛性、真如等。參同契(大五一‧四五九中):「靈源明皎潔,枝派暗流注;執事元是迷,契理亦非悟。」 <二>(1902~1988)浙江臨海人,俗姓傅。自幼多病,以得母教,誠念觀世音菩薩名號,而頑疾得癒。民國二十一年(1932),捨父母妻子,赴福建鼓山湧泉寺出家。禮謁禪宗名德虛雲和尚,蒙收為徒孫。次年春,受具足戒。未久,隨其戒師應慈法師至天寧寺結夏安居,並學梵網經。其後,回鼓山入法界學院,從慈舟法師學華嚴及四分律。此後數年皆四處參學,並朝禮各大名山。三十四年於上海慈修庵講大乘起信論。大陸淪陷前,應虛雲和尚之函招,往住雲門寺。三十八年徙居香港,四十三年轉來臺灣,乃創建十方大覺禪寺。五十三年創辦大覺佛學院,開講梵網經、起信論、八識規矩頌等書;近年則專修淨業。著有淨業綱要、梵網經集義句解等。 ; Ling yuan (C). ; (靈源) I. Linh Nguyên. Nguồn thiêng, chỉ cho Phật tâm, Phật tính, chân như, v.v... Tham đồng khế (Đại 51, 459 trung), nói: Linh nguyên vốn sáng trong, Vẩn đục bởi chia dòng. Chấp sự thành mê tối.Khế lí cũng chẳng thông. II. Linh Nguyên (1902-1988). Danh tăng Trung quốc, người huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang, họ Truyền. Lúc nhỏ, sư thường đau yếu, nhưng được mẹ chỉ dạy, sư dốc lòng niệm danh hiệu bồ tát Quán thế âm, nhờ thế mà hết bệnh. Năm Dân quốc 11 (1932), sư từ giã cha mẹ, vợ con đến chùa Dũng tuyền, núi Cổ sơn, tỉnh Phúc kiến, xuất gia. Sư bái yết Hòa thượng Hư vân và xin được làm đệ tử. Mùa xuân năm sau, sư thụ giới Cụ túc, sau đó, sư theo giới sư của mình là pháp sư Ứng từ đến chùa Thiên minh kết hạ an cư và học kinh Phạm võng. Sau, sư trở về Cổ sơn, vào học viện Pháp giới, theo pháp sư Từ chu học kinh Hoa nghiêm và luật Tứ phần. Nhiều năm sau đó, sư tham học khắp nơi và tham bái các đại danh sơn. Năm Dân quốc 34 (1945), sư giảng luận Đại thừa khởi tín ở am Từ tu tại Thượng hải. Sau đó, vâng lời chỉ dạy của Hòa thượng Hư vân, sư đến trụ ở chùa Vân môn. Năm Dân quốc 38 (1949), sư dời đến Hương cảng; năm Dân quốc 43 (1954), sư ra Đài loan, sáng lập Thập phương Đại giác thiền tự. Năm Dân quốc 53 (1964), sư sáng lập Phật học viện Đại giác, khai giảng kinh Phạm võng, luận Khởi tín, Bát thức qui củ tụng, v.v... Những năm về già sư chuyên tu tịnh nghiệp. Sư có các tác phẩm: Tịnh nghiệp cương yếu, Phạm võng kinh tập nghĩa cú giải.

Linh Nguyên Duy Thanh

(靈源惟清, Reigen Isei, ?-1117): vị tăng của Phái Hoàng Long (黃龍派) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Giác Thiên (覺天), hiệu là Linh Nguyên Tẩu (靈源叟), người Võ Ninh (武寧) thuộc Nam Xương (南昌, Tỉnh Giang Tây), họ là Trần (陳). Ngay từ nhỏ ông đã có tư chất thông mẫn, ban đầu học về giới luật, đến năm lên 17 tuổi, ông đến tham học với Pháp An (法安) ở Diên Tư Viện (延思院). Sau đó, ông đến tham yết Hối Đường Tổ Tâm (晦堂祖心) ở Hoàng Long Sơn (黃龍山) thuộc Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đã từng giao du với rất nhiều văn nhân nổi tiếng đương thời như Hoàng Đình Kiên (黃庭堅). Theo lời thỉnh cầu, ông đến trú trì Thái Bình Thiền Viện (太平禪院) ở Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), sau trở về Hoàng Long Sơn và lập nên Sùng Ân Tự (崇恩院). Nhân vì bệnh, ông đến sống tại Chiêu Mặc Đường (昭黙堂) trãi qua 15 năm. Vào ngày mồng 10 tháng 9 năm thứ 7 (1117) niên hiệu Chính Hòa (政和), ông bắt đầu viết cuốn Vô Sanh Thường Trú Chơn Quy Cáo Minh (無生常住眞歸告銘) và đến ngày 18 thì thị tịch. Ông được ban cho hiệu là Phật Thọ Thiền Sư (佛壽禪師). Trước tác của ông có Linh Nguyên Thanh Thiền Sư Ngữ Yếu (靈源清禪師語要) 1 quyển.

linh ngạc

6938唐代僧。籍貫、生卒年均不詳。高宗乾封(666~668)年間,住西明寺,後往終南山參謁道宣,研習律法。其後並謁文綱、大慈等師。嘗輯錄道宣平日之法語,作四分律行事鈔記、四分律輕重訣等書,今散佚不傳。〔宋高僧傳卷十四、卷十五〕

linh nham sơn tự

6943位於江蘇吳縣。相傳係東晉末年,司空陸玩捐宅第改建而成。於梁武帝天監年間(502~519),將之擴充為秀峰寺。據傳為大哀經(竺法護譯)中所述之智積菩薩應化之道場。唐玄宗天寶年間(742~755),天台宗中興之祖道遵曾在此地修法華三昧。宋初,一度為律宗寺院,元豐年間(1078~1085)改為禪院。 寺內有一座九層塔,據傳係宋太平興國年間(976~983),孫承祐所建。明神宗萬曆二十八年(1600)夏,其木造部分因雷擊而焚毀,現僅存磚砌塔身。清咸豐十年(1860),由於太平天國之兵火,寺內建築,除九層塔外,大半焚毀。宣統三年(1911),真達住持本寺,與妙真協力大舉復興堂舍,殿宇漸全,躍為江南名剎。 民國二十年(1931)中日戰爭後,我國當代淨土宗高僧印光大師常住於本寺,更於二十六年冬定居於此,遠近緇素一時蔚集。印光參照百丈清規以來各類叢林規約,制定靈巖山寺共住規約、念佛堂規約、僧值規約等各項修行念佛之嚴格規定,而使本寺成為我國第一座嚴禁講經、傳戒、傳法、收徒、經懺等事,而專修稱名念佛之淨業叢林。二十九年,印光示寂於此,荼毘後得五色舍利,奉置寺中。今有印公紀念堂。中共佔據大陸後,本寺以妙真為住持,仍維持印光手定規約與念佛修行、不涉世事之型態。〔中國佛教發展史(中村元)〕 ; (靈岩山寺) Chùa ở huyện Ngô, tỉnh Giang tô, Trung quốc, tương truyền vốn là tư dinh của quan Tư không tên là Lục ngoạn đời Đông Tấn hiến cúng. Khoảng năm Thiên giám (502-519) đời Vũ đế nhà Lương, chùa được mở rộng và đặt tên là chùa Tứ phong. Theo truyền thuyết, chùa này là đạo tràng ứng hóa của bồ tát Trí tích nói trong kinh Đại ai (do ngài Trúc pháp hộ dịch). Khoảng năm Thiên bảo (742-755) đời vua Huyền tông nhà Đường, tổ Trung hưng tông Thiên thai là ngài Đạo tuân từng tu Pháp hoa tam muội tại đây. Đầu đời Tống, chùa này là tự viện của Luật tông. Khoảng năm Nguyên phong (1078-1085) được đổi thành Thiền viện. Trong chùa có một tòa tháp 9 tầng, do ông Tôn thừa hữu xây dựng vào khoảng năm Thái bình hưng quốc (976-983) đời Tống. Năm Vạn lịch 28 (1600) đời Minh, vì bị sét đánh nên bộ phận làm bằng gỗ của tháp đã đổ nát, nay chỉ còn thân tháp bằng gạch. Năm Hàm phong thứ 10 (1860) đời Thanh, trừ ngôi tháp 9 tầng còn quá nửa các kiến trúc trong chùa đã bị quân giặc Thái bình thiên quốc thiêu hủy. Năm Tuyên thống thứ 3 (1911), ngài Chân đạt trụ trì chùa này, cùng với sự giúp sức của ngài Diệu chân, bắt đầu xây cất lại các phòng xá, điện đường, trở thành ngôi chùa nổi tiếng ở Giang nam. Năm Dân quốc 20 (1931), sau chiến tranh giữa Trung quốc và Nhật bản, vị cao tăng thuộc tông Tịnh độ Trung quốc đương thời là Đại sư Ấn quang thường trụ ở chùa này, kẻ tăng người tục xa gần đều tụ về rất đông. Ngài Ấn quang tham khảo, đối chiếu các loại qui ước của tùng lâm từ bộ Bách trượng thanh qui về sau, rồi lập ra các qui định nghiêm khắc về tu hành niệm Phật như: Linh nham sơn tự cộng trụ qui ước, Niệm Phật đường qui ước, Tăng trị qui ước v.v... Từ đó chùa này trở thành ngôi tùng lâm chuyên tu tịnh nghiệp vào bậc nhất của Trung quốc, hàng ngày chỉ xưng niệm danh hiệu Phật, mà không làm các Phật sự khác như giảng kinh, truyền giới, truyền pháp, thu nhận đồ chúng, kinh sám, v.v... Năm Dân quốc 29 (1940), ngài Ấn quang thị tịch, sau khi hỏa thiêu các đệ tử thu được xá lợi 5 màu và xây tháp tôn thờ. Hiện nay có nhà kỉ niệm Đại sư Ấn quang. Từ năm 1949 về sau, ngài Diệu chân làm Trụ trì, vẫn duy trì và tuân thủ các qui ước do ngài Ấn quang đặt ra. [X. Trung quốc Phật giáo phát triển sử (Trung thôn nguyên)].

linh nham tự

6944位於山東長清縣東南方山之下。北魏正光年間,法定創建。其地本為後趙佛圖澄立錫杖湧出清泉之處,亦為天竺僧朗說法之故址。隋開皇年間,慧蕭來此,修行習業,未久,奉文帝之命,興建華陽王伽藍,寺運大興,道因、道辯皆曾住此。唐初,慧崇將寺域西移,並移建千佛殿,天寶年間又添建辟支佛塔。元和年間,道鑒結廬於此。宋景德年間,敕賜「景德靈巖寺」之額,布施田園。景祐年間更創建五花殿(今已不存),擴建千佛殿。嘉祐年間重修辟支佛塔,立千佛殿記碑,寺觀一新,熙寧三年(1070),改為十方叢林。與潤州棲霞寺、台州國清寺、荊州玉泉寺,共稱天下四絕。〔佛祖統紀卷三十九、泰山志卷十五至卷十八、山東通志卷二十、古今圖書集成神異典第一○八、山川典第十三、第十五、第十七〕 ; (靈岩寺) Chùa ở chân núi Phương sơn, mạn đông nam huyện Trường thanh, tỉnh Sơn đông, Trung quốc, do ngài Pháp định sáng lập vào khoảng năm Chính quang đời Bắc Ngụy. Đất này vốn là nơi mà ngài Phật đồ trừng đời Hậu Triệu dộng tích trượng và ngay đó có dòng suối trong phun lên, cũng chính là nơi ngài Tăng lãng người Thiên trúc thuyết pháp khi xưa. Khoảng năm Khai hoàng đời Tùy, ngài Tuệ tiêu đến đây tu hành, không bao lâu vâng mệnh vua Văn đế, xây dựng chùa Hoa dương vương, rất hưng thịnh, các ngài Đạo nhân, Đạo biện đều đã từng trụ ở chùa này. Vào đầu đời Đường, ngài Tuệ sùng kiến tạo điện Thiên Phật, rồi khoảng năm Thiên bảo lại xây thêm tháp Bích chi phật. Khoảng năm Cảnh đức đời Tống, vua ban tấm biển Cảnh Đức Linh Nham Tự và ban cho ruộng vườn. Vào khoảng năm Thiên hựu, điện Ngũ hoa (nay không còn) được sáng lập, điện Thiên Phật được mở rộng thêm. Khoảng năm Gia hựu, tháp Bích chi phật được trùng tu, dựng bia kí điện Thiên Phật, cảnh quan chùa hoàn toàn mới. Khoảng năm Hi ninh thứ 3 (1070), chùa được đổi làm Thập Phương Tùng Lâm. Chùa này cùng với các chùa: Thê hà ở Nhuận châu, Quốc thanh ở Thai châu, Ngọc tuyền ở Kinh châu được gọi chung là Thiên Hạ Tứ Tuyệt. [X. Phật tổ thống kí Q.39; Thái sơn chí Q.15-18; Sơn đông thông chí Q.20; Cổ kim đồ thư tập thánh thần dị điển thứ 108; Sơn xuyên điển thứ 13, 15, 17].

linh nhuận

6941唐代僧。河東虞卿(山西永濟)人,俗姓梁。生卒年不詳。少從大興善寺靈璨出家。後聽道奘講攝大乘論,受具足戒。大業元年(605),忽染風疾,乃生厭俗歸閑之心,遂往玉山習頭陀行。大業中,以煬帝禁僧離寺之令,返大興善寺西院,講涅槃等經。十年,奉召入鴻臚館教授三韓僧徒。不久亂起,走避藍田之化感寺,潛隱十五年。貞觀八年(634),敕入弘福寺任譯席證義,翻譯新典。後有他僧因事奉敕還俗,師及諸大德聯名求免,帝怒,貶於南裔之地。未幾,復召還弘福寺,後不知所終。師前後講涅槃經七十餘遍、攝大乘論三十餘遍,並各著有義疏等。〔續高僧傳卷十五〕

linh phinh

4273又作伶俜。步行踉蹌之謂。法華經信解品(大九‧一七中):「瑷竮辛苦五十餘年。」

linh phong phái

6937請參閱 蕅益大師宗論 [1]清代淨土宗之一派。澫益大師智旭(1599~1655)所創,以住杭州靈峰,故稱靈峰派。師承紫柏真可、雲棲袾宏、憨山德清等性相融會、禪淨一致之說,主張三學一源,禪宗、教宗(包括天台、華嚴等各家)、律宗應相互為用,不當分河飲水,認為禪是佛心,教是佛語,律是佛行。尤將禪、教、律統攝於淨土一門,以念佛三昧論完成其三學一源之思想體系。天啟元年(1621),師發四十八願求生淨土,晚年更選定淨土十要,提倡念佛往生。 淨土十要為智旭教學之重要著作,其弟子堅密成時於師示寂後集錄遺作為十卷,即靈峰蕅益大師宗論。堅密之後,省庵思齊大振法道,此派臻於極盛。清代中葉以降,佛教由三學一源更演為儒佛一致,遂有居士佛教之盛興。清初錢謙益(1582~1664)著大佛頂首楞嚴經解蒙鈔十卷、般若心經略疏少鈔二卷等,堪稱清代居士佛教之先驅。〔有學集卷四十、卷五十、淨土全書、靈峰志(周慶雲)、靈峰一禪師語錄、新續高僧傳卷九、卷十、卷四十五、中國佛教史卷四(蔣維喬)、蕅益大師的淨土思想(聖嚴)〕(參閱「智旭」5019) ; (靈峰派) Một trong các phái thụôc tông Tịnh độ ở đời Minh, Trung quốc, do Đại sư Ngẫu ích Trí húc (1599-1655) sáng lập. Vì phái này trụ ở núi Linh phong tại Hàng châu nên gọi là Linh phong phái. Phái này thừa kế thuyết Tính Tướng dung hội, Thiền Tịnh nhất trí của ngài Tử bá Chân khả, Vân thê Châu hoành, Hàm sơn Đức thanh, v.v..., chủ trương Tam học (giới định tuệ) 1 nguồn, Thiền tông, Giáo tông (các tông Thiên thai, Hoa nghiêm v.v...) và Luật tông phải kết hợp với nhau, không nên phân biệt và cho rằng Thiền là tâm Phật, Giáo là lời Phật, Luật là hạnh Phật. Đặc biệt phái này đem Thiền, Giáo, Luật thu nhiếp vào môn Tịnh độ, hoàn thành hệ thống tư tưởng Tam học 1 nguồn bằng luận Niệm Phật tam muội. Niên hiệu Thiên khải năm đầu (1621), ngài Ngẫu ích phát 48 nguyện cầu sinh Tịnh độ, về già, ngài soạn Tịnh độthập yếu, đề xướng việc niệm Phật vãng sinh. Tịnh độ thập yếu là tác phẩm quan trọng về giáo học của ngài Trí húc. Sau khi ngài tịch, đệ tử là Kiên mật Thành thời thu chép các tác phẩm của ngài để lại thành 10 quyển, tức là bộ Linh phong Ngẫu ích Đại sư tông luận. Sau sư Kiên mật, có sư Tỉnh am Tư tề phát triển đạo pháp khiến cho phái này cực thịnh. Từ giữa đời Minh trở đi, Phật giáo Trung quốc từ Tam học 1 nguồn lại diễn biến thành Nho Phật 1 mối, bèn có tổ chức Phật giáo cư sĩ ra đời và hưng thịnh. Tiền khiêm ích (1582-1664) có soạn Đại Phật đính thủ lăng nghiêm giải mông sao 10 quyển, Bát nhã tâm kinh lược sớ thiểu sao 2 quyển... có thể nói đã mở đường cho Phật giáo cư sĩ đời Minh. [X. Hữu học tập Q.40,50; Tịnh độ toàn thư; Linh phong chí (Chu khánh vân); Linh phong nhất thiền sư ngữ lục; Tân tục cao tăng truyện Q.9,10,45; Trung quốc Phật giáo sử Q.4 (Tưởng duy kiều); Ngẫu ích đại sư đích tịnh độ tư tưởng (Thánh nghiêm)]. (xt. Trí Húc).

linh pháp cửu trụ

(令法久住) Làm cho chính pháp của đức Phật được lưu truyền lâu dài ở thế gian. Giữ giới là nhân chủ yếu khiến cho chính pháp cửu trụ. Trong 10 điều lợi ích của việc kết giới nói trong luật Ngũ phần quyển 1, điều thứ 9 ghi là: Làm cho chính pháp được tồn tại lâu dài. Ngoài ra, Linh pháp cửu trụ pháp là 1 trong những pháp Văn thù thuộc sự tướng Mật giáo, tức là pháp tu bí mật căn cứ vào pháp Văn thù nhất tự. Pháp Vô danh của Đông tự ở Nhật bản chính là pháp tu này. [X. kinh Tạp a hàm Q.41; phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa Q.4; phẩm Phó chúc kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.10; chương Thập thụ kinh Thắng man; A sa phược sao Q.102].

linh phù

Xem man trà la.

Linh quang

(靈光): ánh sáng, hào quang linh hiển; mọi người đều có Phật tánh, linh thiêng chiếu tỏ, thanh tịnh không ô nhiễm, thường phóng ra ánh sáng soi rọi. Như trong Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư Ngữ Lục (百丈懷海禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1322) có đoạn: “Linh quang độc diệu, huýnh thoát căn trần, thể lộ chơn thường, bất cẩu văn tự, tâm tánh vô nhiễm, bổn tự viên thành, đản ly vọng duyên, tức như như Phật (靈光獨耀、迥脫根塵、體露眞常、不拘文字、心性無染、本自圓成、但離妄緣、卽如如佛, linh quang sáng tỏ, thoát xa căn trần, thể bày chơn thường, chẳng kẹt chữ nghĩa, tâm tánh không nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ lìa giả duyên, là như như Phật).” Hay trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 35 cũng có đoạn: “Cổ điện vô Phật Phạm âm hà lai, mộng trung hoán tỉnh lâu các môn khai, linh quang nhất điểm tuyệt trần ai, diệu cổ đằng kim biến cửu cai (古殿無佛梵音何來、夢中喚省樓閣門開、靈光一點絕塵埃、耀古騰今遍九垓, cổ điện không Phật Phạm âm từ đâu, trong mộng chợt tỉnh lầu gác cửa bày, linh quang một điểm dứt bụi trần, sáng xưa chiếu nay biến khắp nơi).” Hoặc trong Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chú Giải (銷釋金剛經科儀會要註解, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 7 lại có đoạn: “Nhất điểm linh quang tắc thái hư, dã phi Thiền giáo dã phi Nho, đả thành nhất phiến thùy nhân hội, cụ nhãn hoàn tha đại trượng phu (一點靈光塞太虛、也非禪敎也非儒、打成一片誰人會、具眼還他大丈夫, một điểm linh quang khắp hư không, chẳng phải Thiền giáo cũng chẳng Nho, đánh thành một mảnh ai hiểu được, thấy rõ hoàn ra đại trượng phu).”

linh quang

6935指眾生本具之佛性,清淨無染,靈照而放光明。五燈會元卷三百丈章(卍續一三八‧四四下):「靈光獨耀,迥脫根塵,體露真常,不拘文字。心性無染,本自真成,但離妄緣,即如如佛。」 ; Clear light, Prabhasvara (S), sel (T). ; (靈光) Ánh sáng linh thiêng, thanh tịnh vô nhiễm, chiếu soi mầu nhiệm, tức là Phật tính sẵn có của chúng sinh. Chương Bách trượng trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 3 (Vạn tục 138, 44 hạ), nói: Linh quang độc chiếu, lìa khỏi căn trần, hiển lộ chân thường, không chấp văn tự, tâm tính không nhiễm, vốn tự thành tựu, chỉ lìa vọng duyên, tức Như như Phật.

linh quang tự

6935北平名剎之一。位於覺山(今翠微山)東麓。唐大曆年間(766~779)創建,初名龍泉寺;金世宗大定二年(1162)重修,稱覺山寺;復經明成化十四年(1478)重修,改稱今名。本寺殿宇弘敞,傍有水池,池上有亭榭,頗為幽緻。其旁有歸來庵,寺後原有韜光庵,毀於火災。 本寺原有招仙塔,為遼道宗咸雍七年(1071)所建,毀於八國聯軍,僅剩塔基。民國四十七年(1958)至五十三年春,於塔基中發現十一世紀之釋迦佛牙舍利,遂於寺內新建一座高十五公尺、八角形十三層檐之佛牙舍利塔及附屬殿堂。 ; 1) Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Chùa được xây vào thời nhà Lý (1010-1224). Đến đời nhà Lê, tương truyền Chúa Trịnh cho đào đất đắp thành Thăng Long, thấy một pho tượng người nữ bằng đá, mới đem vào trước chùa để thờ. Tượng đá rất thiêng, vì thế mới đặt tên là chùa Bà Đá. Tượng nầy hiện nay không còn nữa. Đây là Tổ Đình của Thiền phái Lâm Tế miền Bắc—Name of an ancient temple, located in Hoàn Kiếm quarter, Hanoi City, North Vietnam. The temple was built in the Lý dynasty (1010-1224). It was said that in the Lê dynasty, when Lord trịnh had the ground dug to build Thăng Long citadel, a stone statue was discovered. He then decided to place the statue in the front yard of the temple for worshipping. The stone statue is very sacred, that's why the temple is called Bà Đá Temple, or Lady Stone. The stone statue was lost. The temple is the Patriarch House of the North Lin-Chi Sect. 2) Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa Linh Quang là do hợp nhất hai chùa Linh Giác và Viên Quang. Chùa Viên Quang vốn được thiết lập tại địa điểm nầy vào năm 1841 do Hòa Thượng Liễu Triệt Từ Minh khai sơn. Chùa được xây dựng bằng vật liệu đơn giản, nên sau năm 1882, Hòa Thượng viên tịch, chùa trở thành hoang phế. Năm 1885, đề đốc Tôn Thất Đính cùng một vài tín chủ khác đã quyên tiền để trùng tu chùa, nhưng cuộc binh biến tại kinh thành nên công trình dang dở. Trong khi chùa Linh Giác được quan Chưởng Vệ Hồ Công Thập cùng một số quan lại xây dựng có lẽ cũng cùng thời với chùa Viên Quang. Đầu đời vua Thành Thái, Thái Hoàng Thái Hậu Trang Ý Thuận Hiếu đã ban ý chỉ cho trùng tu hợp nhất hai ngôi chùa nầy. Bà lại sắc chỉ tháo gở cột kèo chùa Linh Giác đem về chùa Viên Quang tái thiết; phía trước là Linh Giác quán, phía sau là Viên Quang đường, gọi tên là chùa Linh Quang. Dưới thời Hòa Thượng Mật Nguyện, năm 1962, chùa được tái thiết kiên cố, gồm một tòa nhà vuông mỗi bề 20 mét, có tiền đường chính cao rộng, thoáng đãng. Phía ngoài vẫn giữ nguyên đường nết kiến trúc cổ kính. Phía sau cách 8 mét là nhà Tổ, vẫn còn mang bảng 'Viên Quang Đường.' Vào năm 1975, tại mặt tiền chánh điện đã thiết trí tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng đồng cao hơn 2 mét, được chuyển từ chùa Quán Thế Âm sang—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple is a combination of the two temples of Linh Giác and Viên Quang. Viên Quang temple was built in 1841 by Most Venerable Liễu Triệt Từ Minh. The temple was built with rudimentary construction materials. Therefore, after the headmonk' death in 1882, it began to fall apart. In 1885, Admiral Tôn Thất Đính along with some other lay Buddhists, raised funds for reconstruction. Their plan, however, was incomplete because of the crisis in the same year in Huế. While Linh Giác temple was built by Head of Eunuchs Hồ Công Thập and a number of other courtiers, probably at the same time with Viên Quang temple. After Hồ Công Thập's death, the temple deteriorated. During the early years of king Thành Thái's reign, the king's grandmother, Trang Ý Thuận Hiếu, gave order for reconstruction of the two temples, combined two temples into one with the name Linh Quang. She ordered Admiral Tôn Thất Đính to take apart the support frame of Linh Giác and moved to Viên Quang for a new combined temple, with Linh Giác Pavillion in front and Viên Quang qorship house in the back. During the Venerable Mật Nguyện's presidency, in 1962, the temple was solidly rebuilt, with a square house of the style 'two houses on a floor.' With its side 20 meters long, the house consists of a high and spacious main hall and antechambre. The outside shape still retaining its ancient architectural form. The back house located 8 meters back from the front, is dedicated to the temple's founder. It still keeps the panel with the name 'Viên Quang Đường.' In 1975, a bronze two-meter-high statue of Avalokitesvara Bodhisattva which was transferred fro Quán Thế Âm Tự, was installed in front of the main hall. ; (靈光寺) Chùa ở chân núi phía đông núi Giác sơn (nay là núi Thúy vi) tại Bắc bình, được sáng lập vào khoảng năm Đại lịch (766-779) đời Đường. Mới đầu chùa có tên là chùa Long tuyền; năm Đại định thứ 2 (1162) đời Kim, chùa được trùng tu, gọi là chùa Giác sơn. Mãi đến năm Thành hóa 14 (1478) đời Minh, chùa mới lại được trùng tu và đổi tên là chùa Linh quang như hiện nay. Điện đường chùa này cao rộng, cạnh chùa có ao nước, trên ao có nhà ngồi ngắm cảnh, rất yên tĩnh vắng vẻ. Bên hông chùa có am Qui lai, phía sau chùa vốn có am Thao quang, nhưng đã bị cháy trong hỏa hoạn. Chùa này vốn có tháp Chiêu tiên, được xây cất vào năm Hàm ung thứ 7 (1071) đời vua Đạo tông nhà Liêu, nhưng đã bị quân đội của 8 nước phá hủy, nay chỉ còn nền tháp. Từ năm 1958 đến mùa xuân năm 1964, người ta phát hiện được xá lợi răng của đức Phật Thích ca trong nền của ngôi tháp này, cho nên một tòa tháp mới hình bát giác, 13 tầng, cao 15 mét đã được xây cất trong khuôn viên của chùa để thờ xá lợi.

linh quán

6946<一>唐代僧。為黃檗希運之法嗣,住福州烏石山。生卒年不詳。師性喜獨處,人罕見之。僅有一信士依時供食,師亦僅於此時始開戶。世稱老觀和尚。 師有「老觀閉戶」之公案傳世,內容係師與雪峰禪師間之機緣對話。禪苑蒙求卷上(卍續一四八‧一○八下):「靈觀禪師尋常扃戶,人罕見之,唯一信士每至食時送供方開。一日,雪峰伺便扣門,師開門,峰驀胸搊住,曰:『是凡?是聖?』師唾曰:『這野狐精!』便推出,閉卻門。峰曰:『也祇要識老兄。』」由此公案中,顯示師歇止一切問答等言詮思辨之脫俗風格。〔景德傳燈錄卷十二〕 <二>(1485~1571)李氏朝鮮時代僧。嶺南晉州(慶尚南道)人。號隱庵。又稱蓮船道人。所居之處稱芙蓉堂。十七歲出家於德異山。遊學教禪,兼通老莊百家之學,於金剛山彌勒峰內院默坐九年而省悟。其後參謁智異山之碧松智嚴,並嗣其法。智嚴示寂後,乃代之領眾,蔚為嶺湖以南之大宗師。宣祖四年示寂,世壽八十七。門人有西山休靜、浮休善修,李朝中期以降之朝鮮禪教,大半出於彼等之法系。〔芙蓉堂行績(收於休靜之清虛堂集)、朝鮮佛教通史中編(李能和)、李朝佛教(高橋亨)、朝鮮禪教史(忽滑谷快天)〕 ; (靈觀) I. Linh Quán (?-?). Thiền sư Trung quốc, sống với đời Đường, là đệ tử nối pháp của ngài Hoàng bá Hi vận. Sư trụ ở núi Ô thạch tại Phúc châu, thích sống ở nơi vắng vẻ, thường ở một mình trong phòng nên ít người được gặp mặt, chỉ đến giờ ngọ trai sư mới mở cửa phòng để một tín sĩ dâng cơm mà thôi. Người đời gọi sư là Lão quán hòa thượng. Sư có công án Lão quán bế hộ (Lão quán đóng cửa)truyền ở đời, nội dung là cơ duyên vấn đáp giữa sư và ngài Tuyết phong. Thiền uyển mông cầu quyển thượng (Vạn tục 148,108 hạ), nói: Thiền sư Linh quán thường đóng cửa, nên ít người được gặp mặt. Một hôm, ngài Tuyết phong đến gõ cửa, sư mở cửa, ngài Tuyết phong chụp ngay lấy ngực áo, nói: Là phàm hay Thánh. Sư mắng rằng: Đồ con chồn thô lỗ! Rồi đẩy ra, đóng cửa lại. Ngài Tuyết phong nói: Chỉ cần biết lão huynh vậy thôi. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.12]. II. Linh Quán (1485-1571). Cũng gọi Liên thuyền đạo nhân. Thiền sư Triều tiên, sống vào đời Lí, người Tấn châu, Lĩnh nam (tỉnh Khánh thượng nam), hiệu Ẩn am. Năm 17 tuổi, sư đến núi Đức dị xuất gia, học giáo thiền khắp nơi, thông cả học thuyết Lão-Trang. Sư ở nội viện tại ngọn Di lặc, núi Kim cương, tham thiền trong 9 năm và được tỉnh ngộ. Sau, sư đến tham yết ngài Bích tùng Trí nghiêm ở núi Trí dị và được nối pháp. Sau khi ngài Trí nghiêm thị tịch, sư kế thừa pháp tọa, trở thành bậc Đại tông sư ở vùng phía nam Lĩnh hồ. Năm Tuyên tổ thứ 4 (1571) sư tịch, thọ 87 tuổi.[X. Phù dung đường hành tích (được thu vào Thanh hư đường tập của ngài Hữu tỉnh); Triều tiên Phật giáo thông sử trung biên (Lí năng hòa); Lí triều Phật giáo (Cao kiều hanh); Triều tiên thiền giáo sử (Hốt hoạt cốc khoái thiên)].

Linh Sơn

(靈山): tiếng gọi tắt của Linh Thứu Sơn (靈鷲山), hay còn gọi là Thứu Phong (鷲峰), Thứu Lãnh (鷲嶺), tiếng phiên âm của nguyên ngữ Sanskrit là Kỳ Xà Quật Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 耆闍崛山), tên ngọn núi nằm ở phía Đông Bắc Thành Vương Xá thuộc nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), hiện tại nằm ở phía Đông Rajgir của Ấn Độ. Đây là một trong những thánh địa của Phật Giáo, là nơi đức Phật đã từng thuyết pháp; cho nên người ta cho rằng phần lớn các kinh điển Đại Thừa như Pháp Hoa, Bát Nhã, Đại Bảo Tích, Vô Lượng Thọ, v.v., và cũng như câu chuyện Niêm Hoa Vi Tiếu của Thiền Tông đều phát xuất từ đây. Trong bộ Long Hưng Phật Giáo Biên Niên Thông Luận (隆興佛敎編年通論) quyển 12 do Thạch Thất Sa Môn Tổ Tú (石室沙門祖琇) ở Phủ Long Hưng (隆興府) soạn, có đoạn: “Huyền Trang … sưu dương Tam Tạng tận Long Cung chi sở trữ, nghiên cứu Nhất Thừa cùng Thứu Lãnh chi di chỉ, tinh dĩ tải ư Bạch Mã hoàn hiến Tử Thần, tầm mông hạ chiếu sắc sứ phiên dịch (玄奘…搜揚三藏盡龍宮之所儲、研究一乘窮鷲嶺之遺旨、並已載於白馬還獻紫宸、尋蒙下詔敕使翻譯, Huyền Trang … tìm tòi Tam Tạng kinh điển tận chốn Long Cung tàng trữ, nghiên cứu giáo lý Nhất Thừa soi rõ yếu chỉ của Thứu Lãnh, cùng bỏ lên Bạch Mã mang về dâng Hoàng triều, mong trên hạ chiếu cho người phiên dịch).” Trong bài thơ Linh Ẩn Tự (靈隱寺) của thi sĩ Tống Chi Vấn (宋之問, khoảng 656-712) đầu thời nhà Đường có câu trứ danh là: “Thứu Lãnh uất thiều nghiêu, Long Cung tỏa tịch liêu, lâu quán thương hải nhật, môn đối Triết Giang triều, quế tử nguyệt trung lạc, thiên hương vân ngoại phiêu (鷲嶺鬱岧嶢、龍宮鎖寂寥、樓觀滄海日、門對浙江潮、桂子月中落、天香雲外飄, Thứu Lãnh rậm vút cao, Long Cung mờ tịch liêu, trên lầu biển xanh ngắm, cửa tựa Triết Giang triều, hàng quế trăng thầm rụng, hương trời mây trắng bay).” Hoặc trong bài Hòa Vương Ký Thất Tùng Triệu Vương Xuân Nhật Du Đà Sơn Tự (和王記室從趙王春日遊陀山寺) của Lạc Tân Vương (駱賓王, khoảng 619-687) nhà Đường cũng có câu: “Điểu dư bồi phỏng đạo, Thứu Lãnh hiệp thê chơn, Tứ Thiền minh tĩnh nghiệp, Tam Không quảng thắng nhân, tường hà sơ điệp giản, huệ nhật kiểu trùng luân, diệp ám Long Cung mật, hoa minh Lộc Uyển xuân (鳥旟陪訪道、鷲嶺狎棲眞、四禪明靜業、三空廣勝因、祥河疏疊澗、慧日皎重輪、葉暗龍宮密、花明鹿苑春, cờ xí lên vấn đạo, Thứu Lãnh dưỡng nuôi chơn, Bốn Thiền sáng nghiệp lắng, Ba Không rõ duyên nhân, sông từ trong khe mát, trời tuệ tỏ thế nhân, lá che Long Cung thẳm, hoa tươi Lộc Uyển xuân).”

linh sơn

Xem Linh thứu sơn. ; Xem Linh thứu sơn. ; 1) Linh Thứu Sơn: Grdhrakuta (skt)—See Thứu Sơn in Vietnamese-English Section, and Grdhrakuta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng ở quận nhất, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây từ năm 1840, kiến trúc hiện nay là do đợt trùng tu năm 1968. Ngày 26 tháng 8 năm 1931, Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học ra đời đặt trụ sở tại chùa. Đầu năm 1932, hội bắt đầu ra tạp chí Từ Bi Âm. Hiện nay bộ sưu tập tạp chí nầy vẫn còn được lưu giữ trong chùa. Trong Chánh điện có tượng Bồ Tát Quán Âm nghìn tay nghìn mắt, được tạc vào năm 1963—Name of a famous ancient pagoda, located in the first district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in 1840, and the present structure was from the rebuilding in 1960. On August 26, 1931, the South Vietnam Association of Buddhist Studies was established and the pagoda was served as its office. Since the beginning of 1932, the Từ Bi Âm Magazine had been issued by the association. Presently, the magazine collection has still been conserved in the pagoda. In the Main Hall stands the statue of One-Thousand-Arm and One-Thousand-Eye Avalokitesvara Bodhisattva, cast in 1963. 3) Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng trong thành phố Vũng Tàu. Theo viện Bảo tàng Bà Rịa thì chùa được xây vào hậu bán thế kỷ thứ 19. Trong chùa có một pho tượng Phật Thích Ca bằng đá cũng được tạc vào thời nầy để lễ bái. Chùa được trùng tu năm 1959—Name of a famous ancient pagoda located in Vũng Tàu City, South Vietnam. According to the records conserved by Bà Rịa Museum, Vũng Tàu province, the pagoda was built in the second half of the nineteenth century. Since that time, the stone statue of Sakyamuni Buddha has been worshipped in the pagoda. It was rebuilt in 1959.

linh sơn hội thượng

6934即釋尊在靈鷲山說法度生時之會座。有二種說法:(一)指演說法華經之會座。法華經科註(卍續四八‧三五五下):「靈山會上玅法華經,昔日世尊金口宣暢。」(二)指拈花付法之會座。據大梵天王問佛決疑經載,釋迦昔於靈山會上,手拈一花示眾,迦葉見之,破顏微笑,世尊遂付以正法眼藏。世尊拈花付法之會座乃後世禪門付法之根本會座,其典故迄今猶廣為流傳。 ; (靈山會上) Trên hội Linh sơn. Tức pháp hội trên núi Linh thứu khi đức Thích tôn thuyết pháp độ chúng đệ tử. Có 2 thuyết: 1. Chỉ cho pháp hội lúc đức Phật diễn nói kinh Pháp hoa: Pháp hoa kinh khoa chú (Vạn tục 48, 355 hạ) nói: Thủa xưa, đức Thế tôn đã tuyên thuyết kinh Diệu pháp liên hoa trên hội Linh sơn. 2. Chỉ cho hội niêm hoa phó pháp: Cứ theo kinh Đại phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi, thủa xưa, trên hội Linh sơn, đức Thích ca cầm một hoa sen đưa lên trước đại chúng, Tôn giả Ca diếp nhìn và mỉm cười, đức Thế tôn liền đem Chính pháp nhãn tạng phó chúc cho Ngài.

linh sơn tiên thạch

Tên của một ngôi chùa cổ nổi tiếng, trên độ cao cách chân núi chừng 600 mét, trên núi Bà Đen, chùa cách thị xã Tây Ninh chừng 7 dậm. Đây là ngôi chùa do Tổ Thiện Hiếu, dòng Lâm tế thứ 38, đã dựng lên vào thế kỷ thứ 18. Theo sách Gia Định Thành Thông Chí, “Núi Bà Đen cao rộng, có cây cối xanh tươi, có suối nước ngọt, trên có chùa Linh Sơn, dưới có ao hồ, cảnh trí thật là u nhã.” Chùa được trùng tu năm 1960—Name of a famous ancient pagoda located on Mount Bà Đen, 600 meters from the fot of the mountain, about 7 miles from Tây Ninh town. The old pagoda was established in the eighteenth century by Patriarch Thiện Hiếu who belonged to the thirty-eighth line of the Lin-Chi Sect. According to “Gia Định Thành Thông Chí,” Mount Bà Đen is high, surrounded by fresh green trees and fresh ater springs. On the top of the mountain stands Linh Sơn Pagoda. At the bottom lie ponds and lakes. The scenery is really peaceful and quiet.” The pagoda was rebuilt in 1960 and is a beautiful landscape of Tây Ninh.

linh sơn tịnh độ

6934靈山,全稱靈鷲山,為釋尊說法華經之會處。即謂靈鷲山為釋尊報身常住之淨土。據法華經卷五如來壽量品載,釋尊為度化眾生,故方便示現涅槃,而實無滅度,常住靈鷲山說法;劫末火災起時,世界悉皆燒盡,唯此淨土不毀壞,常住安穩,天人充滿。〔金光明最勝王經卷一如來壽量品、觀普賢菩薩行法經、妙法蓮華經憂波提舍卷下、法華玄論卷九、法華文句卷十上〕 ; (靈山淨土) Linh sơn, gọi đủ là Linh thứu sơn, là nơi xưa kia đức Thế tôn Thích ca nói kinh Pháp hoa. Tức núi Linh thứu là Tịnh độ của báo thân đức Thích tôn thường cư trụ. Cứ theo phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa quyển 5, vì hóa độ chúng sinh nên đức Thích tôn phương tiện thị hiện Niết bàn, chứ thực ra Ngài không diệt độ mà thường ở trên núi Linh thứu nói pháp. Khi hỏa tai ở kiếp mạt nổi lên, thế giới đều bị thiêu rụi, chỉ có Tịnh độ Linh sơn là không hề hấn gì, vẫn thường trụ an ổn, người, trời đông đảo. [X. phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1; kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp; Diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá Q.hạ; Pháp hoa huyền luận Q.9; Pháp hoa văn cú Q.10 phần trên].

linh sơn tự

6933<一>位於浙江錢塘。隋開皇年中創建,初名南天竺寺,唐時更名後天竺靈山寺,為天台宗之道場。宋天禧四年(1020),復改稱天竺寺。南宋立為台教五山之一,元末毀於兵火,明代慧日大師重興。至清代,又遭太平軍焚毀,今存之殿宇,乃亂後新建者。本寺今為臨濟宗之道場。(參閱「天竺寺」1351) <二>位於河南宜陽縣城西八公里鳳凰山北麓。又稱鳳凰寺、報忠寺、報恩寺。前臨洛水,依山而建。寺東之塔林,列有明清以來磚造墓塔十餘座。據宜陽縣誌報恩寺圖所示,主要之建築有山門、前殿、毘盧殿、大雄寶殿、藏經樓及左右配殿等,保有金代建築風格。大雄寶殿有三尊明代之佛像,為現今河南最早之泥塑作品。寺內碑刻林立,為研究書法藝術之珍貴資料。 <三>位於廣東潮陽。石頭希遷之法嗣大顛寶通創建於唐貞元七年(791)。長慶二年(822)受賜「護國禪院」寺額。元和十四年(819)大顛與潮州刺史韓愈相會,韓愈留衣而別,現存有留衣亭、碑記、大顛祖師塔等。 <四>位於臺灣臺中。清光緒十六年(1890),林允卿於霧峰青桐岩設觀音廟,民國三年(1914),德新、德欽二師重建,改為靈山寺。三十五年,大殿被山洪沖毀,乃重建於臺中,德真法師任開山住持。三十八年,設念佛會,聘請李炳南居士定期講經。又先後設置靈山學苑與霧峰分院。七十年,新建宮殿式三層樓,莊嚴宏偉。

Linh sảng

(靈爽): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ tinh khí. Như trong bài Giang Phú (江賦) của Quách Phác (郭璞, 276-324), học giả trứ danh nhà Đông Tấn, có câu: “Kỳ tướng đắc đạo nhi Trạch Thần, nãi hiệp linh sảng ư Tương Nga (奇相得道而宅神、乃協靈爽於湘娥, tướng lạ đắc đạo như Thần Nhà, bèn hợp tinh khí nơi Tương Phi [con gái thứ hai của vua Nghiêu]).” Hay trong tác phẩm Hoàng Tai Đối (隍災對) của Từ Vị (徐渭, 1521-1593) nhà Minh có đoạn: “Thổ mộc, thần chi thác dã, tiện dã; linh sảng, thần chi chân dã, quý dã (土木、神之托也、賤也;靈爽、神之眞也、貴也, đất cây là nơi thần mượn tạm, thì bình thường; tinh khí, là cái chân thật của thần, mới quý).” (2) Chỉ khí mây tự nhiên. Như trong bài thơ Tặng Trịnh Mạn Quý (贈鄭曼季) của Lục Vân (陸雲, 262-303) nhà Tấn có câu: “Huyền trạch trụy nhuận, linh sảng yên uân (玄澤墜潤、靈爽煙熅, ơn thánh thấm nhuần, khí mây khói tỏa).” (3) Chỉ thần linh, thần minh, linh thiêng. Như trong Hậu Hán Kỷ (後漢紀), chương Hiến Đế Kỷ (獻帝紀) 3, của Viên Hoành (袁宏, 328-376) nhà Tấn có đoạn: “Trẫm tao gian nan, việt tại Tây Đô, cảm duy tông miếu linh sảng, hà nhật bất thán (朕遭艱難、越在西都、感惟宗廟靈爽、何日不歎, trẫm gặp gian nan, qua đến Tây Đô, cảm kích nghĩ đến chư vị thần linh của tông miếu, ngày nào mà không than thở).” Hay trong tác phẩm Lý Viên Tùng Thoại (履園叢話), phần Mộng Huyễn (夢幻), Tần Cối Thiết Tượng (秦檜鐵像), của Tiền Vịnh (錢泳, 1759-1844) nhà Thanh, lại có đoạn: “Thiết niệm Nhạc Vương linh sảng tại thiên, nghịch Cối trầm luân Địa Ngục cửu hỉ (竊念岳王靈爽在天、逆檜沉淪地獄久矣, thiết nghĩ thần linh của Nhạc Vương ở trên trời, còn phản nghịch Tần Cối thì bị chìm dắm dưới Địa Ngục lâu rồi).” Trong Quan Âm Kinh Trì Nghiệm Ký (觀音經持驗記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1542) lại có câu: “Thỉ ngộ Bồ Tát linh sảng, tiền mộng bất hư, cạnh chí Phật tiền phu bái (始悟菩薩靈爽、前夢不虛、競至佛前臚拜, mới biết Bồ Tát linh thiêng, giấc mơ trước kia không dối, tranh nhau đến trước Phật vái lạy).”

linh thao

Ling tao (C). ; Ling-T'ao—Một Thiền sư nổi tiếng, đệ tử của Lặc Đàm Hoài Trừng Tổ Sư—A noted monk, a disciple of Le-T'an-Huai-Têng—Một hôm tổ hỏi ông hiểu sao về Tổ Đạt Ma đến từ phương Tây, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Linh Thao bày tỏ rằng không hiểu. Lặc Đàm nói: Trước khi xuất gia ông làm gì?” Linh Thao trả lời: “Chăn trâu.” Lặc Đàm hỏi: “Chăn như thế nào?” Linh Thao đáp: “Sáng sớm cưỡi đi, chiều tối cưỡi về.” Tổ nhận xét: “Ông thiệt ngu si quá đỗi.” Nhờ đó mà sư đại ngộ, và bày giải như sau: “Phóng khước ngưu thằng tiện xuất gia Thế trừ tu phát trước ca sa Hữu nhân vấn ngã Tây lai ý Trụ trượng hoành khiêu la lí la (Vứt bỏ giây chăn rồi xuất gia Cạo râu cạo tóc khóaa Ca sa Có ai hỏi ý từ Tây đến Vác gậy quơ ngang la lí la). When the master asked him what was the idea of the Patriarch, who, coming from the West, is said to have transmitted one single mind-seal, which, pointing directly to the human nature, makes one attain Buddhahood. Ling-T'ao confessed ignorance. Le-T'an said: “What were you before you became a monk?” Ling-T'ao said: “I used to be a cowherd.” Le-T'an asked: “How do you look after the cattle?” Ling-T'ao said: “I go out with them early in the morning and come home when it grows dark.” Le-T'an said: “Splendid is your ignorance.” This remark at once brought Ling-T'ao's mind to a state of enlightenment which was expressed thus: “Throwing up the tether I am a homeless monk, The head is shaved, so is the face, and the body wrapped in the kasaya. If someone asks, “What is the Patriarch's idea of coming from the West? Carrying the staff crosswise I sing out, La li la!”

linh thiêng

To have supernatural power.

Linh thông

(靈通): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Sự cảm ứng tương thông giữa người với thần linh. Như trong bản bút ký Túy Ông Đàm Lục (醉翁談錄), phần Vương Khôi Phụ Tâm Quế Anh Tử Báo (王魁負心桂英死報), của La Hoa (羅燁, ?-?) nhà Tống, có đoạn: “Khôi kim cô ân phụ ước, thần khởi bất tri ? Ký hữu linh thông, thần đương dữ Anh quyết đoán thử sự (魁今辜恩負約、神豈不知、旣有靈通、神當與英決斷此事, Vương Khôi phụ ơn bội ước, thần há chẳng biết sao ? Đã có cảm ứng, thần sẽ cùng với Quế Anh quyết định việc này).” (2) Lung linh, hoạt bát, cơ mẫn, lanh lợi.

Linh Thạch Như Chi

(靈石如芝, Rinshii Nyoshi, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Nguyên, thuộc Phái Dương Kì của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Linh Thạch (靈石), pháp từ của Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚). Ông khai mở đạo tràng bố giáo ở Hưng Thánh Tự (興聖寺) thuộc Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang), rồi chuyển đến Dũng Tuyền Tự (湧泉寺) ở Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang) cũng như Bổn Giác Tự (本覺寺) ở Phủ Gia Hưng.

Linh thần

(靈神): có hai nghĩa. (1) Thần linh. Như trong Tống Sử (宋史), chương Nhạc Chí (樂志) 12 có câu: “Linh thần tuấn mật, tự sự dần cung (靈神峻密、祀事寅恭, thần linh nghiêm mật, cúng tế cung kính).” (2) Linh nghiệm, linh ứng. Như trong tác phẩm văn nghệ Bạch Mao Nữ (白毛女) có đoạn: “Mục Nhân Trí dã thuyết quá: 'Bạch Mao tiên cô hữu linh thần, tứ phương lê dân mạc hồ hành' (穆仁智也說過、白毛仙姑有靈神、四方黎民莫胡行, Mục Nhân Trí cũng bảo rằng: 'Bạch Mao tiên cô có linh ứng, lê dân bốn phương chớ làm xằng bậy').”

linh thần

The spirit—Soul.

linh thọ như mẫn

Ling shu Ju men (C).

linh thụ, ưu đàm

Udumbara (S). The glomarous fig tree.

linh thụ-ưu đàm

Udumbara (S). The glomarous fig tree.

linh thụy

, cây Udumbara tree.

linh thụy hoa

Udumbara (S)Xem Hoa Ưu đàmXem Hoa ưu đàm.

linh thụy hoa, ưu đàm bát hoa

Udumbara (S)

linh thụy hoa-ưu đàm bát hoa

Udumbara (S)

linh thứu hội

Vulture Peak Assembly.

Linh Thứu sơn

靈鷲山; S: gṛdhrakūṭa; P: gijjhakūṭa; dịch theo âm là Kì-xà-quật, có nghĩa là »núi Kên Kên«;

linh thứu sơn

6945<一>靈鷲,梵名 Gṛdhrakūṭa,巴利名 Gijjha-kūṭa,音譯耆闍崛。位於中印度摩揭陀國王舍城東北。簡稱靈山,或稱鷲峰、靈嶽。山形似鷲頭,又以山中多鷲,故名。如來嘗講法華等大乘經於此,遂成為佛教勝地。我國諸山之號稱靈鷲或靈山者,皆沿襲其名。如福建福清之北有鷲峰、浙江杭縣之飛來峰亦名靈鷲山等。(參閱「耆闍崛山」4287) <二>位於山西省五臺山中臺之東南。又稱菩薩頂。峰有真容院,黃教喇嘛札薩克居此。(參閱「五臺山」1192) ; GṛdhrakŪta (S), GijjhakŪṭa (P), Vulture Peak Kỳ xà quật sơn, Kê túc sơn, Linh sơn, Thứu phong sơn, Tôn túc sơnNúi Linh Thứu, nơi Phật thuyết Pháp Hoa. Cũng là nơi bị Đề Bà Đạt Đa lăn đá. Núi ở Sailagiri, đông nam Rajgir thuộc Behar ngày nay. Ngài Ca Diếp khi biết mình sắp nhập diệt đã vào núi này mà tịchKỳ xà quật. ; Grdhrakuta (skt)—Gijjhakuta (p)—Núi Linh Thứu, gần thành Vương Xá ở miền Đông Bắc Ấn Độ, là nơi dùng làm an cư kiết hạ cho Phật và tăng già— Vulture Peak—A hill near Rajagriha in north east India which was one of the many Retreats given to the Buddha for the use of the Sangha. ** For more information, please see Thứu Sơn in Vietnamese-English Section, and Grdhrakuta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (靈鷲山) I. Linh Thứu Sơn. Linh thứu, Phạm: Gfdhrakùỉa. Pàli:Gijjha kùỉa. Hán âm: Kì xà quật. Gọi tắt: Linh sơn, Thứu phong, Linh nhạc. Núi ở phía đông bắc thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Vì hình dáng núi này giống như đầu con chim thứu (kên kên) và trong núi cũng có nhiều chim thứu, nên đặt tên là Linh thứu. Đức Như lai từng tuyên thuyết các kinh Đại thừa như kinh Pháp hoa, v.v... ở đây, cho nên núi này đã trở thành Thánh địa của Phật giáo. Các núi Linh thứu hoặc Linh sơn ở Trung quốc đều được gọi theo tên của núi này. Như ngọn Thứu phong ở phía bắc huyện Phúc thanh, tỉnh Phúc kiến, hoặc ngọn Phi lai ở huyện Hàng, tỉnh Chiết giang cũng gọi là Linh thứu sơn, v.v... (xt. Kì Xà Quật Sơn). II. Linh Thứu Sơn. Cũng gọi Bồ tát đính. Núi ở phía đông nam Trung đài, thuộc núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Trên núi này có viện Chân dung, là chỗ ở của vị Lạt ma Trát tát khắc thuộc Hoàng giáo. (xt. Ngũ Đài Sơn).

linh thứu sơn, kỳ xà quật, xà quật, kỳ sơn

Grdhrakùta (S). Vulture peak mount.

linh thứu sơn-kỳ xà quật-xà quật-kỳ sơn

Grdhrakùta (S). Vulture peak mount.

linh thứu sắc tứ tự

Tên của một ngôi chùa tọa lạc gần chợ Xoài Một trong huyện Châu Thành tỉnh Long An, Nam Việt Nam. Trong Đại Nam Nhất Thống Chí chùa Linh Thứu được diễn tả như sau: “Chùa nằm trong địa phận xã Thạnh Phú, huyện Kiến Hưng, chùa nầy là một ngôi già lam tối cổ mà lại còn có nhiều danh lam thắng cảnh. Năm Gia Long thứ 10 tức năm 1811, chùa được đổi tên là Long Tuyền Tự. Năm Thiệu Trị nguyên niên, chùa lại được đổi lại là Linh Thứu Tự.” Đến khoảng giữa thế kỷ thứ 18, Hòa Thượng Nguyệt Hiện trụ trì đã xây lại ngôi chùa tôn nghiêm, chùa được trùng tu nhiều lần, đáng kể nhất là vào thời Hòa Thượng Chánh Hậu trụ trì từ năm 1880 đến năm 1897, và các thời Sư Bà Thích Nữ Như Nghĩa, Thông Huệ, và Chơn Như trụ trì từ năm 1945 đến nay—Name of a pagoda located near Xoài Một market in Châu Thành district, Mỹ Tho province, South Vietnam. Linh Thứu Pagoda was described in Đại Nam Nhất Thống Chí as follows: “The temple located in the area of Thạnh Phú village, Kiến Hưng district, the pagoda is very old; however, it has many beautiful sceneries. In the tenth Gia Long year (1811), it was renamed Long Tuyền. In the first Thiệu trị year (1841), it was renamed Linh Thứu. In the middle of the middle of the eighteenth century, Most Veneable Nguyệt Hiện, Head of the pagoda, had it rebuilt solemnly. Since then, it has ben reconstructed many times, especially in the periods of heading of Most Venerable Chánh Hậu from 1880 to 1897, and Most Venerable Bikkhuni Như Nghĩa, Thông Huệ and Như Chơn from 1945 up to now. In the Main Hall, there is a statue of Amitabha Buddha, made of marble, 1 meter 6 high. The lotus pedestal is 0.6 meter high.

linh thứu tự

6945<一>位於山西五臺山靈鷲峰下。東漢明帝時所建。北魏孝文帝時置十二院,易名為花園寺。唐代重建,其莊嚴宏敞,倍於舊時,改稱大華嚴寺。迨後遼、金、元、明,均曾重修,明萬曆年中,復更名為顯通寺,為五臺山之最大叢林,五臺僧官駐錫其中,故稱首寺。寺中有無量殿,其頂無樑,亦稱無樑殿;又有銅殿,金銅造成,殿前有銅塔五座,仿五臺山,分置東、西、南、北、中。 <二>位於杭州西湖側。又稱靈隱寺。(參閱「靈隱寺」6942) ; See Linh Thứu Sắc Tứ Tự. ; (靈鷲寺) Chùa ở dưới ngọn Linh thứu thuộc núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được sáng lập vào thời Minh đế nhà Đông Hán. Đời Bắc Ngụy, vua Hiếu văn đế đặt 12 viện, đổi tên là chùa Hoa viên. Đến đời Đường chùa được xây cất lại, trang nghiêm hoành tráng hơn xưa và được đổi tên là chùa Hoa nghiêm, qua các đời Hậu Liêu, Kim, Nguyên, Minh, chùa đều được trùng tu, trong năm Vạn lịch đời Minh, chùa lại được đổi tên là Hiển thông, là ngôi tùng lâm lớn nhất ở núi Ngũ đài. Vì vị tăng quan cai quản núi Ngũ đài trụ ở chùa này, nên gọi là Thủ tự, trong chùa có điện Vô lượng, trên nóc điện không có xà, vì thế cũng gọi là điện Vô lương ( ), còn có điện Đồng (được làm bằng đồng), phía trước điện có 5 ngôi tháp bằng đồng, tượng trưng 5 ngọn núi Ngũ đài, sắp xếp theo vị trí Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung. II. Linh Thứu Tự. Chùa ở bên cạnh Tây hồ tại Hàng châu, cũng gọi Linh ẩn tự. (xt. Linh Ẩn Tự).

linh tinh

Miscellaneous.

Linh tiêu

(靈霄): có 3 nghĩa. (1) Chỉ tiên cảnh. Như trong thư tịch Chơn Cáo (真誥), Vận Tượng Thiên (運象篇) của Phái Thượng Thanh (上清派) thuộc Đạo Giáo, do Đào Hoằng Cảnh (陶弘景, 456-536) nhà Lương thời Nam Triều biên tập, có câu: “Lương đức phi hà chiếu, toại cảm linh tiêu nhân (良德飛霞照、遂感靈霄人, đức cả ráng chiều tỏ, bèn cảm người cõi tiên).” (2) Chỉ trời cao. (3) Tên cung điện của Ngọc Đế trong truyền thuyết thần thoại. Như trong hồi thứ 80 của Thuyết Nhạc Toàn Truyện (說岳全傳) có đoạn: “Nhất nhật, giá tọa Linh Tiêu bảo điện, lưỡng bàng liệt trước tứ đại thiên sư, văn võ thánh chúng (一日,駕坐靈宵寶殿,兩傍列着四大天師,文武聖眾, một hôm, đức vua ngồi tại điện báu Linh Tiêu, hai bên có bốn đại thiên sư, văn võ thánh chúng).”

linh tri bất muội

6936謂靈妙之識知,明白不闇。澄觀、宗密各為華嚴宗之四祖、五祖,然亦皆屬荷澤禪之系統。其中澄觀於所著華嚴心要法門中,依禪之體驗而開示華嚴思想,「無住心體靈知不昧」即為彼體驗禪旨之極致表現,「靈知不昧」表示佛道與心之究極自覺之狀態;宗密釋之為瑩淨之理。蓋所謂靈知不昧,其本體乃眾生之如來藏心;此「知」共通於凡聖,故與聖智有所區別。又此「知」並非妄相分別之知,乃無念之真知。北宋天台之山外派即好用此「靈知」二字,而有靈知心性、真淨靈知、靈知一念等用語。〔華嚴經疏卷十五(澄觀)、禪源諸詮集都序卷上二、景德傳燈錄卷二十八、卷三十〕 ; (靈知不昧) Cái biết linh hoạt, mầu nhiệm, sáng suốt, không mờ tối. Trong Hoa nghiêm tâm yếu pháp môn, ngài Trừng quán dựa vào sự thể nghiệm Thiền mà mở bày tư tưởng Hoa nghiêm, trong đó Vô trụ tâm thể linh tri bất muội, là sự biểu hiện cùng tột về việc thể nghiệm ý chỉ Thiền. Linh tri bất muội biểu thị trạng thái tự giác cùng cực về Phật đạo và tâm; còn ngài Tông mật thì giải thích Linh tri bất muội là lí trong sáng thanh tịnh. Bản thể của linh tri bất muội là Như lai tạng tâm của chúng sinh; chữ tri này là chung cho cả phàm và Thánh, vì thế có sự sai khác với Thánh trí. Lại nữa, tri này chẳng phải là cái tri vọng tưởng phân biệt mà là chân tri vô niệm. Các sư phái Sơn ngoại thuộc tông Thiên thai đời Bắc Tống thích dùng 2 chữ Linh tri, do đó mà có các dụng ngữ như: Linh tri tâm tính, Chân tịnh linh tri, Linh tri nhất niệm, v.v... [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.15 (Trừng quán); Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q.thượng phần 2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.28, 30].

Linh Triệt

(靈澈, Reitetsu, 746-816): họ Thang (湯), tự Trừng Nguyên (澄源), xuất thân vùng Cối Kê (會稽, Tỉnh Triết Giang), đệ tử của Thần Ung (神邕), nổi tiếng với tư cách là thi tăng, vị tăng đại biểu cho sự giao bộ giữa Thiền và Luật. Ông thị tịch vào năm thứ 11 niên hiệu Nguyên Hòa (元和), hưởng thọ 71 tuổi. Ông có mối thân giao bằng hữu với Liễu Tông Nguyên và Lưu Vũ Tích qua cuộc Cách Tân Vĩnh Trinh (永貞革新), và cũng có giao lưu với Kiểu Nhiên (皎然) cũng như Quyền Đức Hưng (權德興). Người ta cho rằng có thể ông cùng tên với Linh Triệt (靈徹), người viết lời tựa cho Bảo Lâm Truyện (寳林傳).

linh trí học phật hội

Buddhist Theoso-phical Society.

linh trường

6938指具有靈驗之神佛道場。又指鬼神之壇祠。如我國普陀山向以觀世音菩薩顯靈之道場著稱,故道俗多前往巡拜。廣弘明集卷十九齊竟陵王發講疏(大五二‧二三二下):「靈場絢采,正水興漣,乘茲上果,永導芳緣。」

linh tuyền thiền tự

6937位於臺灣基隆東郊月眉山。為臺灣佛教發祥地之一。清光緒二十四年(1898),由福建鼓山湧泉禪寺善智、妙密、善慧三師相繼營建而成。凡佛殿、禪堂、天王殿、開山堂、靈塔等,均次第竣工,略備叢林梵剎之規模。佛殿供奉釋迦佛及十八羅漢、四大天王等聖像,係國內名匠林起鳳所塑造。寺內並有自印度迎回之佛陀舍利與緬甸白玉佛像多尊。又藏有大陸名山之古版經書、山誌等物。該寺以安僧弘法為主旨,特重文教工作,創辦有佛學禪林、佛教學院,培育僧材。其法脈及所開建之分支寺院,遍布全臺。

linh tuyền viện

Ling chuan Yuan (C).

linh tuân

6940後魏僧。生卒年不詳。漁陽(位於河北)人,俗姓傅。少年入道,研學成實論及涅槃經。博覽群籍,文筆華美,工於書畫。曾遊歷燕、趙等地,教化四方。初為國都,後魏末年為并州僧統。北齊初年示寂,世壽六十九。著有成實論注釋、維摩經疏記等。〔續高僧傳卷八〕 ; (靈詢) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Hậu Ngụy, người Ngư dương (thuộc tỉnh Hà bắc) họ Phó. Sư xuất gia lúc còn niên thiếu, lớn lên chuyên nghiên cứu luận Thành thực và kinh Niết bàn. Sư đọc khắp các sách; văn chương bóng bảy, giỏi cả thư pháp và hội họa. Sư từng đến các vùng Yên, Triệu để giáo hóa. Mới đầu sư làm Quốc đô, vào những năm cuối đời Hậu Ngụy, sư giữ chức Tăng thống Tinh châu. Sư tịch vào năm đầu thời Bắc Tề (khoảng 550) thọ 69 tuổi. Sư có tác phẩm: Thành thực luận chú thích, Duy ma kinh sớ kí. [X. Tục cao tăng truyện Q.8].

linh tượng

6940雕刻或繪畫佛菩薩、伽藍神等形像,以其具有靈驗之徵,故稱為靈像。釋門歸敬儀卷上(大四五‧八五九下):「諦惟形聚,但見塵叢,舉目澄睛,無非靈像。」 ; Tượng Phật—Spirit-image, that of a Buddha. ; (靈像) Những hình tượng Phật, Bồ tát, thần già lam, được khắc hay vẽ, vì có ứng hiện sự linh nghiệm nên gọi là Linh tượng. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 859 hạ), nói: Tư duy hình ảnh, chỉ thấy bụi dày, nhướng mắt định thần, đều thấy linh tượng.

linh tạng

6942(519~586)隋代僧。雍州(陝西長安)人,俗姓王。少依潁律師出家。文帝敕住京師大興善寺,與文帝為布衣之交。帝嘗手敕曰(大五○‧六一○中):「弟子是俗人天子,律師為道人天子,有樂離俗者,任師度之。」由是前後度人達數萬之多。開皇六年示寂,世壽六十八。〔續高僧傳卷二十一〕 ; (靈藏) (519-586) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy, người Ung châu (huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây), họ Vương. Sư y vào Luật sư Dĩnh xuất gia từ thủa nhỏ, chuyên học tạng Luật. Vua Văn đế nhà Tùy nghe danh sư, ban sắc triệu sư về ở chùa Đại hưng thiện tại kinh đô Trường an. Sư và nhà vua kết giao rất thân. Văn đế từng viết sắc rằng (Đại 50, 610 trung): Đệ tử là vua của tục nhân, Luật sư là vua của đạo nhân, nếu có người muốn xa lìa thế tục, thì sư được tùy ý độ cho họ, do đó mà sư đã độ được mấy vạn người. Năm Khai hoàng thứ 6 (586) sư tịch, thọ 68 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.21].

linh từ

6938靈,謂靈驗。靈祠有二意:(二)又作仁祠。為佛寺之異名。(二)謂祭拜土地神等之祠。 ; (靈祠) Đền miếu linh nghiệm. Chỉ cho chùa hật, hoặc đền miếu thờ cúng thổ thần...

linh vân

6939唐代僧。福建長溪人。即福州靈雲山志勤禪師。生卒年不詳。嗣法於長慶大安。初住大溈山,因睹桃花而悟道,禪林稱為「靈雲見桃明心」、「靈雲桃華悟道」。有偈云(大五一‧二八五上):「三十年來尋劍客,幾回落葉又抽枝;自從一見桃華後,直至如今更不疑。」溈山靈祐覽偈,詰其所悟,與之符契,乃云:「從緣悟達,永無退失,善自護持。」〔祖堂集卷十九、景德傳燈錄卷十一、五燈會元卷四、釋氏稽古略卷三〕 ; Linh yun (C). ; (靈雲) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người Trường khê, tỉnh Phúc kiến; tức là Thiền sư Chí cần ở núi Linh vân thuộc Phúc châu, là đệ tử nối pháp của ngài Trường khánh Đại an. Mới đầu, sư trụ ở núi Đại qui, nhân thấy hoa đào nở mà ngộ đạo. Sư làm bài kệ rằng (Đại 51, 285 thượng): Kiếm tìm ba chục năm qua, Cành trơ lá rụng phôi pha bấy chày; Hoa đào chợt thấy từ ngày, Đến nay vẫn chẳng mảy may nghi ngờ. Ngài Qui sơn Linh hựu xem kệ, gạn hỏi về điều sư ngộ, thấy khế hợp, ngài bèn nói: Từ duyên mà đạt ngộ, không bao giờ mà lui mất nữa, hãy tự giữ gìn cho khéo. [X. Tổ đường tập Q.19; Cảnh đức truyền đăng lục Q.11; Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Thích thị kê cổ lược Q.3].

Linh Vân Chí Cần

(靈雲志勤[懃], Reiun Shikon, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Trường Khê (長溪), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến). Ông đã từng theo tham học với Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐), nhân thấy hoa đào mà ngộ đạo, nên ông trình câu kệ đạt ngộ của mình cho thầy nghe. Ông đã từng sống tại Đại Quy Sơn (大潙山), thuộc Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam), Linh Vân Sơn (靈雲山) thuộc Phúc Châu. ; 靈雲志勤; C: língyún zhìqín; J: reiun shigon; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu. Sư nổi tiếng với một bài kệ tụng, tả lại lúc triệt ngộ khi ngắm hoa Ðào nở. Bài kệ như sau (Thích Phước Hảo, Thích Thông Phương dịch):|三十年來尋劍客。幾回落葉幾抽枝|自從一見桃花後。直到如今不更疑|Tam thập niên lai tầm Kiếm khách*|Kỉ hồi lạc diệp kỉ trừu chi|Tự tòng nhất kiến đào hoa hậu|Trực đáo như kim bất cánh nghi.|*Ba chục năm qua tầm kiếm khách|Bao lần lá rụng với cành trô|Từ khi được thấy hoa đào nở|Cho đến ngày nay chẳng chút ngờ.|*Xem chú giải »Kiếm khách« dưới bài kệ Hữu cú vô cú ở Trần Nhân Tông.

linh vân chí cần

Reiun (J), Lingyun (C), Reiun (J), Reiun shigon (J)Tên một vị sư.

Linh văn

(靈文): văn chương linh nghiệm, linh thiêng. Như Đạo Giáo có Ngũ Thiên Linh Văn (五篇靈文) gồm: Ngọc Dịch Chương (玉液章, Chương Dịch Ngọc), Sản Dược Chương (產藥章, Chương Trồng Thuốc), Thái Dược Chương (採藥章, Chương Hái Thuốc), Đắc Dược Chương (得藥章, Chương Có Thuốc) và Ôn Dưỡng Chương (溫養章, Chương Dưỡng Ấm). Câu “thư triển linh văn, đốc khởi hiếu từ chi chí (舒展靈文、篤起孝慈之志)” có nghĩa là thong thả diễn bày lời văn linh thiêng để dốc hết lòng phát khởi chí nguyện hiếu từ của người con. ; (靈文): có 2 nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho kinh văn của tôn giáo. Như tác phẩm Nghệ Văn Loại Tụ (藝文類聚) quyển 77 có dẫn bài Nam Cung Thượng Quật Đắc Từ Giác Tự Chung Khải (東宮上掘得慈覺寺鍾啟) của Giản Văn Đế (簡文帝, tại vị 549-551) nhà Lương thời Nam Triều, trong đó có câu: “Khải di chung ư thù lí, ký linh văn ư phước địa (啟彝鐘於殊裡、記靈文於福地, mở chuông thiêng nơi sâu thẳm, ghi linh văn chốn đất phước).” (2) Chỉ cho những thư tịch hay văn tự trân quý nhưng hiếm có được truyền lại từ thời xa xưa. Như trong bài Kỷ Hợi Tạp Thi (己亥雜詩) của Củng Tự Trân (龔自珍, 1792-1841) nhà Thanh có đoạn: “Cổ nhân chế tự quỷ dạ khấp, hậu nhân thức tự bách ưu tập, ngã bất úy quỷ phục bất ưu, linh văn dạ bổ thu đăng bích (古人製字鬼夜泣、後人識字百憂集、我不畏鬼復不憂、靈文夜補秋燈碧, người xưa chế chữ quỷ đêm khóc, người sau biết chữ ưu buồn chất, ta chẳng sợ quỷ lại chẳng buồn, linh văn đêm thu đèn sáng tỏ).” Trong Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn Thích Yếu (大乘止觀法門釋要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 55, No. 905) có câu: “Mục bất đỗ Tam Tạng chi linh văn, nhã bất văn Ngũ Tông chi huyền chỉ (目不睹三藏之靈文、耳不聞五宗之玄旨, mắt chẳng thấy Ba Tạng ấy linh văn, tai không nghe Năm Tông ấy huyền chỉ).” Hay trong Nam Thạch Văn Tú Thiền Sư Ngữ Lục (南石文琇禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1422) quyển 4, bài Ký Linh Nguyên Giảng Chủ (寄靈源講主), lại có đoạn: “Lão lai vạn sự dĩ đô vong, nhật nguyệt thăng trầm nhất nhậm mang, khiết phạn trước y tùy phận quá, liễu vô tâm niệm tưởng Tây phương, thất trục linh văn nhất triện yên, nhàn phòng tiêu tận thế gian duyên, dạ thâm đăng ám thử trùng xuất, phiên lạc trà phiêu ngọa sáp tiền (老來萬事已都忘、日月昇沉一任忙、喫飯著衣隨分過、了無心念想西方、七軸靈文一篆煙、閑房消盡世間緣、夜深燈暗鼠虫出、翻落茶瓢臥榻前, già đến muôn điều thảy hết quên, ngày tháng thăng trầm bận liên miên, mặc áo ăn cơm theo bổn phận, ngộ vô tâm niệm nhớ Tây phương, bảy cuộn linh văn khói tỏa trên, trong phòng rũ sạch thế gian duyên, đêm về đèn tối chuột sâu hiện, một chén trà thơm trước giường Thiền).”

linh xán

6942(549~618?)隋代僧。懷州(河南)人。性情平易,人樂親近。師事淨影寺慧遠,精通涅槃經、十地經論。後從慧遠入長安,住大興善寺。慧遠示寂後,開皇十七年(597)任五眾眾主,於淨影寺大宏佛法,其眾不減,和合如前。仁壽年間,師奉敕護送佛舍利於懷州長壽寺,有各種瑞相示現。仁壽末年,復於慧遠出身地澤州古賢谷之景淨寺起塔,並將佛舍利供奉於此。晚年止住大禪定寺,義寧二年示寂,世壽七十餘。〔續高僧傳卷十〕

linh đoan hoa

Hoa Ưu đàm, một loài hoa ba ngàn năm mới nở một lần, là một biểu tượng của Đức Phật—Udumbara flower, which appears but once in 3,000 years, a symbol of Buddha. ** For more information, please see Ưu Đàm Ba La Hoa.

linh đình

Magnificient (of banquet).

linh đơn

Medicine of fairy

linh đường

6938謂有靈異之神佛殿堂。又指祭奠死者遺體之室。 ; (靈堂) Điện đường thờ thần Phật có sự linh thiêng kì lạ, hoặc chỉ căn nhà cúng tế di thể người chết.

linh độ tự

6938位於香港新界元朗廈村西側之靈渡山(大頭山)上,與杯渡山相對。創建年代不詳,僅知宋、明兩代嘗加修建,清道光二十年(1840)遷至現址重建,咸豐十一年(1861)改建,民國十一年(1922)重修。 據廣東考古輯要「釋老篇」及寶安縣志「人物略」載,於南北朝宋文帝元嘉初年,杯渡禪師以杯渡海,駐錫屯門山(即杯渡山),後遷駐屯門山數里外之小山,稱為靈渡山,山中有寺,即靈渡寺。 靈渡山之地形頗似猛虎踞地,本寺即位居虎頭處。寺旁之林壑,地湧清泉,稱為杯渡井,甘冽醇郁,千年未枯竭。寺境有古鐘一口,造於道光年間。 ; (靈渡寺) Chùa ở núi Linh độ (núi Đại đầu), phía tây thôn Nguyên lãng hạ tại Tân giới, Hương cảng, đối diện với núi Bôi độ. Cứ theo thiên Thích lão trong Quảng đông khảo cổ tập yếu và mục Nhân vật lược trong Bảo an huyện chí, thì vào đầu năm Nguyên gia (424?) đời vua Văn đế nhà Lưu Tống thuộc Nam triều, Thiền sư Bôi độ đến trụ ở núi Đồn môn (tức núi Bôi độ), sau dời đến trụ ở 1 ngọn núi nhỏ cách phía ngoài núi Đồn môn vài dặm, gọi là núi Linh độ, trong núi có chùa, tức là chùa Linh độ. Hình dáng núi Linh độ giống như con mãnh hổ ngồi trên mặt đất, còn chùa này được xây dựng trên đầu con hổ. Bên cạnh chùa là cây rừng, hang đá, có dòng suối trong mát, gọi là giếng Bôi độ, nước ngọt, trong vắt, không bao giờ cạn. Trong chùa có một quả chuông được đúc vào khoảng năm Đạo quang. Chùa này không rõ được sáng lập bao giờ, chỉ biết là vào đời Tống và Minh chùa được trùng tu. Năm Đạo quang 20 (1840) đời Thanh, chùa được dời đến địa chỉ hiện nay, năm Hàm phong 11 (1861) chùa được xây dựng lại và năm Dân quốc 11 (1922) được trùng tu.

linh động

Lively—Lifelike—Full of life

linh ẩn sơn

6942位於浙江杭州西湖畔。又稱武林山、靈苑、仙居。為我國佛教五山之一。據寰宇記載,許由、葛洪等名士皆曾隱居於此山之西。有北高峰,為靈隱最高處,與南高峰相埒,號稱「雙峰插雲」,為西湖十景之一。山麓有靈隱寺,為著名之古剎。 ; (靈隱山) Cũng gọi Vũ lâm sơn, Linh uyển, Tiên cư. Tên núi, ở gần Tây hồ, Hàng châu, tỉnh Chiết giang, là 1 trong 5 núi nổi tiếng của Phật giáo Trung quốc. Cứ theo Hoàn vũ kí thì các danh sĩ Hứa do, Cát hồng v.v... đều ẩn cư tại phía tây núi này. Núi có ngọn Bắc cao phong là cao nhất. Cùng với Nam cao phong gọi là Song phong sáp vân (2 ngọn núi cắm vào mây), là một trong 10 thắng cảnh ở Tây hồ. Dưới chân núi có chùa Linh ẩn, là ngôi chùa cổ nổi tiếng.

Linh Ẩn Tự

(靈隱寺, Rinnin-ji, Reiin-ji): hiện tọa lạc tại Linh Ẩn Sơn (靈隱山), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), gọi đủ là Bắc Sơn Cảnh Đức Linh Ẩn Tự (北山景德靈隱寺). Ban đầu vị tăng Huệ Lý (慧理) dựng am tu tập và dịch kinh. Sau đó, Ngô Việt Vương (呉越王) cho xây dựng Ngũ Bách La Hán Đường (五百羅漢堂), chỉnh trang lại các đường vũ, cung thỉnh Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽) đến khai đường thuyết giáo. Dưới thời nhà Tống, chùa được liệt vào hàng thứ 2 trong Ngũ Sơn. Minh Giáo Khế Tung (明敎契嵩), Phật Hải Huệ Viễn (佛海慧遠), Phật Chiếu Đức Quang (佛照德光), Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳), v.v., đã từng chấn tích giáo hóa tại đây. Hơn nữa, dưới thời Nam Tống, Đại Xuyên Phổ Tế (大川普濟) đã từng soạn bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元) tại chùa này. Đến thời nhà Thanh, chùa được đổi tên thành Vân Lâm Tự (雲林寺). Trong Sơn Môn có các thắng địa như Phi Lai Phong (飛來峰, tức Tiểu Đóa Phong [小朶峰]), Trực Chỉ Đường (直指堂), Lãnh Tuyền Đình (冷泉亭), Bắc Cao Phong (北高峰), Hô Viên Động (呼猿洞, hay Bạch Viên Động [白猿洞]), Thạch Liên Phong (石蓮峰), Hợp Giản Kiều (合澗橋), Thứu Lãnh (鷲嶺), Cửu Lý Tùng Kính (九里松徑), Hác Lôi Đình (壑雷亭), Liên Phong Đường (蓮峰堂), Chiên Đàn Lâm (栴檀林), v.v.

linh ẩn tự

6942位於浙江杭州西湖靈隱山麓飛來峰前。又稱靈鷲寺。東晉咸和元年(326),印度沙門慧理至此,見飛來峰,歎曰(大四九‧三三九下):「此天竺靈鷲峰一小嶺,不知何年飛來?佛在世日,多為仙靈所隱。」遂面山建寺,名靈隱。唐大曆六年(771)曾修整,會昌年中寺毀。五代吳越忠懿王重建,全寺有九樓十八閣,七十三殿,房舍一千三百餘間,僧眾三千人,極盛一時。宋景德四年(1007)改稱景德靈隱禪寺。建炎末年,毀於胡亂,紹興年中始得復舊,慧遠禪師主丈席,教化大行。元至正十九年(1359)毀。明洪武年間再建,改今名。清康熙年間,賜名雲林禪寺,而民間仍稱舊名。 該寺自創建以來,歷一千六百餘年,曾十四度因兵亂、天災而遭摧毀,今日所見大抵為近世重建。大雄寶殿前兩座八角九層石塔、天王殿前兩座石經幢,皆五代吳越國時之遺物。寺前飛來峰岩石棱層奇秀,中多洞窟。山崖壁及石洞內外有五代及宋、元之石刻佛像三三八尊,中以元代造像最多,又因元代造像之人信奉喇嘛教,故多作密宗佛像。〔宋高僧傳卷十四、卷十五、佛祖統紀卷二十六、卷三十六、大明一統志卷三十八、古今圖書集成神異典第一一○、山川典第一○五〕 ; (靈隱寺) Cũng gọi Linh thứu tự. Chùa ở phía trước ngọn Phi lai, chân núi Linh ẩn ở Tây hồ, Hàng châu, tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Vào niên hiệu Hàm hòa năm đầu (326) đời Đông Tấn, có vị sa môn người Ấn độ tên là Tuệ lí đến đây, trông thấy ngọn Phi lai, khen rằng (Đại 49, 339 hạ): Ngọn núi nhỏ của Linh thứu ở Thiên trúc không biết đã bay đến đây bao giờ? Ngày đức Phật còn tại thế, có nhiều vị tiên linh ẩn cư tại núi này. Ngài bèn trụ lại đây và xây chùa, đặt tên là Linh ẩn. Năm Đại lịch thứ 6 (771) đời Đường, chùa được trùng tu, đến niên hiệu Hội xương (841-846), chùa bị phá hủy. Vào thời Ngũ đại, vua Trung ý nước Ngô việt xây dựng lại, toàn chùa có 9 lầu, 18 gác, 73 điện, hơn 1.300 gian phòng, 3.000 chư tăng, cực thịnh một thời. Năm Cảnh đức thứ 4 (1007) đời Tống, chùa được đổi tên là Cảnh đức Linh ẩn thiền tự. Cuối năm Kiến viêm (1127-1130), chùa bị giặc Hồ phá hủy, đến khoảng năm Thiệu hưng (1131-1162) mới khôi phục lại được cảnh chùa như xưa, Thiền sư Tuệ viễn trụ trì, giáo hóa rất thịnh. Năm Chí chính 19 (1359) đời Nguyên, chùa bị phá hủy. Khoảng năm Hồng vũ (1368- 1398) đời Minh, chùa được tái thiết, đổi tên chùa là Linh ẩn như hiện nay. Khoảng năm Khang hi (1662-1722) đời Thanh, chùa được ban hiệu là Vân Lâm Thiền Tự, nhưng dân gian vẫn gọi theo tên cũ. Từ khi được sáng lập đến nay, chùa Linh ẩn đã trải qua hơn 1.600 năm, từng bị phá hủy 14 lần bởi chiến tranh, thiên tai. Những kiến trúc trong chùa mà ta thấy ngày nay phần lớn là do người đời sau xây cất lại, riêng 2 tòa tháp đá 8 góc 9 tầng trước Đại Hùng Bảo Điện và 2 cột đá khắc kinh trước điện Thiên vương đều là những di vật của thời Ngũ đại, do nước Ngô việt kiến tạo. Những nham thạch của ngọn Phi lai trước chùa đã do tạo hóa xếp đặt thành tầng thành lớp, đẹp một cách kì lạ, ở trong có nhiều hang động. Trên vách núi và trong, ngoài các hang động, có 338 pho tượng Phậtđược khắc vào các thời Ngũ đại, Tống và Nguyên. Trong đó, các tượng được khắc vào đời Nguyên là nhiều hơn cả, lại vì do thợ tạo tượng đời Nguyên đều sùng tín Lạt ma giáo, cho nên các tượng phần nhiều mang hình dáng tượng của Mật tông. [X. Tống cao tăng truyện Q.14, 15; Phật tổ thống kí Q.26, 36; Đại minh nhất thống chí Q.38; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển thứ 110; Sơn xuyên điển thứ 105].

Linh Ẩn Văn Thắng

(靈隱文勝, Rinnin Bunshō, ?-1026?): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, thông xưng là Từ Tế Thiền Sư (慈濟禪師), xuất thân vùng Vụ Châu (婺州, Tỉnh Triết Giang), họ là Lưu (劉). Ông xuất gia thọ giới lúc còn nhỏ, rồi đến tham học với Đạo Tề (道齊) ở Vân Cư Sơn (雲居山), Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông đến trú tại Nam Viện (南院) của Linh Ẩn Sơn (靈隱山) thuộc Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), nhưng sau ông lui về ẩn cư tại Hưng Khánh Am (興慶庵), Hàng Châu. Đến năm thứ 4 (1026) niên hiệu Thiên Thánh (天聖), ngôi thảo am này được sắc phong là Từ Hiếu Tự (慈孝寺). Đến cuối đời ông ngã bệnh và thị tịch tại Sở Châu (楚州, Tỉnh An Huy).

linh ứng

Efficacious.

linh ứng hoa

Xem Hoa ưu đàmXem Ưu đà diên vương.

linh, kiền trùy

Ghantà (S). Small bell.

linh-kiền trùy

Ghantà (S). Small bell.

liêm

Câu liêm (lưỡi hái)—A sickle.

liêm chính

Honest and just.

liêm khiết

Upright—Honest—Uncorrupted.

liêm sĩ

Sense of shame.

liêm thương đại phật

6630日本最古之阿彌陀佛坐像。座落於鎌倉長谷高德院(淨土宗)。大佛曾多次改鑄,初為八丈餘木像,遭大風損毀,復改鑄金銅八丈佛像,相好圓滿,充分表現出鎌倉時代優異之造像技術,堪稱稀世之作。一四九五年,大佛殿遭海浪衝擊流失,遂成露天大佛,至今猶存。 ; (鐮倉大佛) Tượng Phật A di đà ngồi, xưa nhất, ở viện Cao đức, Trường cốc, Liêm thương, Nhật bản. Pho tượng Phật to lớn này đã được đúc lại nhiều lần, ban đầu là tượng bằng gỗ cao hơn 8 trượng (khoảng 25 mét), bị trận cuồng phong làm hư hại, nên được đúc lại bằng đồng cao 8 trượng (khoảng hơn 23 mét), đầy đủ tướng hảo, kĩ thuật đúc tượng tinh xảo, nổi bật những nét khác lạ của thời đại Liêm thương, có thể nói xứng đáng là một tác phẩm nghệ thuật hiếm có. N ă m 1495, điện Đại Phật bị 1 đợt sóng lớn đánh mạnh vào cuốn trôi đi mất, từ đó đến nay chỉ còn tượng Đại Phật lộ thiên.

Liêm tiêm 廉纖

[ja] レンセン rensen ||| (1) Subtle, fine, minute, detailed. (2) Subtle defilements. => 1. Vi tế, nhỏ mịn, tỉ mỉ, chi tiết. 2. Phiền não vi tế.

liêm trực

Honest and righteous.

liêm tử

See Liêm.

liêm điền mậu hùng

6630(1927~ )日本佛教學者。鎌倉市人。一九五五年於東京大學專攻印度哲學。一九七二年任東京大學東洋文化研究所教授。曾發表佛教思想對道教教理的影響、華嚴與道教、中國佛教的發展與東亞佛教圈的形成等。著有中國華嚴思想史之研究、中國佛教思想史研究、無限之世界觀、原人論、宗密教學之思想史研究—中國華嚴思想史、中國佛教史等,另編有中國佛教史辭典等書。 ; (鐮田茂雄) (1927- ) Học giả Phật giáo Nhật bản, người thành phố Liêm thương. Năm 1955, ông chuyên nghiên cứu Triết học Ấn độ tại trường Đại học Đông kinh (Tokyo). Năm 1972, ông giữ chức giáo sư của Sở nghiên cứu Văn hóa Đông dương thuộc trường Đại học Đông kinh. Ông từng trình bày về ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với giáo lí của Đạo giáo, về Hoa nghiêm và Đạo giáo, về sự phát triển của Phật giáo Trung quốc và sự hình thành phạm vi Phật giáo Đông á, v.v... Ông có các tác phẩm: Trung quốc Hoa nghiêm tư tưởng sử chi nghiên cứu, Trung quốc Phật giáo tư tưởng sử nghiên cứu, Vô hạn chi thế giới quan, Nguyên nhân luận, Tông mật giáo học chi tư tưởng sử nghiên cứu, Trung quốc Hoa nghiêm tư tưởng sử, Trung quốc Phật giáo sử, Trung quốc Phật giáo sử từ điển.

liên

Xem hoa sen. ; Pundarika (S). The lotus, especially the white lotus Nymphoea alna; Padma (S). Especially the Nelumbium speciosum; Utpala (S). The Nymphoea coerulca, the blue lotus; Kumuda (S). Nymphoea esculenta, white lotus, or N. rubra, red lotus; Nilotpala (S). N. cyanea, a blue lotus. The first four are called white, red, blue, and yellow lotuses. ; 1) Bông sen: Pundarika (skt)—The lotus—See Liên Hoa. 2) Liên hệ: To connect. 3) Liên tục: To continue. 4) Thương xót: Pity—Sympathize—Comiserate—Charitable.

Liên Bang

(蓮邦): gọi đủ là Liên Hoa chi bang (蓮華之邦), nghĩa là quốc độ, đất nước hoa sen. Đây là tên gọi khác của thế giới Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂), vì tất cả chúng sanh trên cõi Cực Lạc đều an trú trong hoa sen. Như trong Phổ Năng Tung Thiền Sư Tịnh Độ Thi (普能嵩禪師淨土詩, CBETA No. 1215) có bài thơ rằng: “Đài đầu tận thị Hoàng Kim điện, cử nhãn vô phi Bạch Ngọc đường, Thất Bảo Diêu Trì phu hạm đạm, Bát Công Đức Thủy hý uyên ương, chư quân chơn đáo Liên Bang quốc, tiện thỉnh tri âm hòa nhất chương, thanh thanh Phật hiệu hữu vô trúng chỉ yếu hành nhân tín nguyện sung (抬頭盡是黃金殿、舉眼無非白玉堂、七寶瑤池敷菡萏、八功德水戲鴛鴦、諸君真到蓮邦國、便請知音和一章、聲聲佛號有無中、只要行人信願充, ngẩng đầu lên ấy vàng ròng điện, mở mắt nào hay ngọc trắng đường, bảy báu Diêu Trì phô sen nở, Tám Công Đức Nước giỡn uyên ương, mọi người đã đến Liên Bang cõi, xin thỉnh tri âm hòa một chương, mỗi danh hiệu Phật có không thảy, chỉ cần hành giả tín nguyện tròn).” Hay như trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, CBETA No. 1204) quyển 3 cũng có câu: “Ngũ lậu thân thành chướng cấu đa, vi nhi vi nữ khổ bôn ba, kim triêu phương thức trần trung huyễn, hàm tiếu liên bang thổ bích hà (五陋身成障垢多、爲兒爲女苦奔波、今朝方識塵中幻、含笑蓮邦吐碧荷, xấu xí thân hình tội chướng đa, làm thân người nữ khổ bôn ba, sáng nay mới biết trong trần huyễn, cười mĩm Liên Bang nở sen hoa).”

liên bang

6144請參閱 御文章 極樂世界之別稱,指西方淨土。因彼土眾生化生於蓮花中,故稱蓮邦。又作蓮剎。雲棲袾宏之阿彌陀經疏鈔卷二(卍續三三‧二○三下):「蓮華者,乃卸凡殼之玄宮,安慧命之神宅,往詣之國,號曰蓮邦。」 ; The lotus land, the Pure Land of Amitàbha. ; Một tên khác của cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà (người ở cõi nầy lấy hoa sen làm nơi ở nên gọi là Liên Bang)—The Lotus Land—Another name for the Pure Land of Amitabha. ; (蓮邦) Cũng gọi Liên sát, Cực lạc thế giới. Chỉ cho cõi Tịnh độ ở phương Tây. Vì chúng sinh ở cõi ấy từ trong hoa sen hóa sinh ra, cho nên gọi là Liên bang (nước hoa sen). A di đà kinh sớ sao quyển 2 của ngài Vân thê Châu hoành (Vạn tục 33, 203 hạ), nói: Hoa sen là cung điện huyền diệu trong đó đã trút bỏ xác phàm, nơi an dưỡng của tuệ mệnh, là cõi nước dành cho người vãng sinh, gọi là Liên bang.

liên bát

4809托鉢之際,非挨家挨戶誦經乞食,乃邊走邊誦經乞食,稱為連鉢。「軒鉢」之對稱。(參閱「軒鉢」4325) ; (連鉢) Đối lại với Hiên bát. Phép khất thực vừa đi vừa đọc kinh. (xt. Hiên Bát).

liên can

Involved—Connected.

liên cung

Padmavimàna (S). Lotus-palace, the Pure Land of the Sambhogakàya; also the eight-leaved lotus of the heart. ; Padmavimana (skt)—Lotus palace—The Pure Land of Sambhogakaya—The eight-leaved lotus of the heart.

liên du

Đứng trên Pháp Tòa Sen và bay đi khắp mười phương—To stand on the dharma lotus flower and fly in all ten directions.

Liên Giáo

(蓮敎, Renkyō, 1451-1492): vị tăng của Phái Hưng Chánh (興正派) thuộc Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, vị Tổ đời thứ 4 của Hưng Chánh Tự (興正寺), húy là Nghiêu Viên (堯圓), Kinh Hào (經豪), Liên Giáo (蓮敎), thụy hiệu là Nguyện Thừa Viện (願乘院); con trai đầu của Tánh Thiện (性善), vị tổ đời thứ 12 của Phật Quang Tự (佛光寺, Bukkō-ji). Năm 1469, ông kế thừa chức trú trì Phật Quang Tự và năm sau thì được bổ nhiệm làm chức Quyền Đại Tăng Đô. Năm 1482, ông nương cậy vào Liên Như (蓮如, Rennyo) ở Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), rồi cùng với chúng môn đồ bỏ chùa, đi theo Phái Bổn Nguyện Tự (本願寺派). Từ đó, ông được Liên Như đặt cho tên là Liên Giáo, rồi kết hôn với trưởng nữ của Liên Giác (蓮覺, Renkaku) ở Thường Lạc Đài; kế tiếp ông kế thừa Phật Quang Tự ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina) và phục hưng đổi tên chùa thành Hưng Chánh Tự. Ông sáng tác bản Niệm Phật Hòa Tán (念佛和讚) để thay thế cho nghi thức Lục Thời Hòa Tán (六時和讚). Trước tác của ông có Chánh Tín Kệ Văn Thư (正信偈文書) 2 quyển.

liên hiệp

Tu unite—To ally.

Liên Hoa

(蓮花 hay 蓮華, renge): hoa sen. Ở Trung Quốc và Nhật Bản, người ta thường cho loại hoa sen mà có rễ (củ sen) là hoa sen, nhưng ở Ấn Độ còn có thêm một loại sen nước (thủy liên) khác nữa ngoài hai thứ trên, và khi nói đến hoa sen người ta thường ám chỉ loại sen nước này nhiều hơn. Tại Ấn Độ có nhiều loại hoa sen, nhưng trong kinh điển Phật Giáo có đề cập đến 5 loại. Đó là hoa sen trắng (s, p: puṇḍarīka, âm dịch là Phân Đà Lợi Ca [分陀利迦], 白蓮), hoa sen xanh (s: utpala, p: uppala, âm dịch là Ưu Bát La [優鉢羅], 青蓮), hoa sen hồng (s: padma, p: paduma, âm dịch là Bát Đầu Ma [鉢頭摩], 紅蓮), hoa sen vàng (s, p: kumuda, âm dịch là Câu Vật Đầu [拘物頭], 黃蓮), và loại hoa sen xanh khác (s, p: nīlotpala, 青蓮). Nhưng trên thực tế thì trừ loại hoa sen trắng (puṇḍarīka) ra, loại nào cũng có màu trắng và hồng cả. Từ ngàn xưa ở Ấn Độ người ta rất yêu chuộng loại hoa sen này. Trong đạo Bà La Môn có thần thoại cho rằng từ trong lỗ rún của thần Vishnu sinh ra hoa sen, trong hoa sen có Phạm Thiên là người sáng tạo ra vạn vật. Hoa sen vốn mọc trong bùn, nhưng trồi ra khỏi bùn để sống, không bị nhiễm mùi hôi tanh của bùn nhơ, mà còn có mùi thơm trong sạch, cho nên nó được ví như là Phật tâm vốn có cũng như chư Phật và Bồ Tát thanh tịnh. Một trong những kinh điển tiêu biểu của Đại Thừa nói về hoa sen là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka, 妙法蓮華經), ví diệu pháp của Phật như là hoa sen trắng lớn. Thế giới của Kinh Pháp Hoa là Liên Hoa Tạng Thế Giới (蓮華藏世界) hay nói cho đúng là Liên Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải (s: Kusumatalagarbha-vyūhālaṃkāra-lokadhātu-samudra, 蓮華藏莊嚴世界海). Cổ Côn Pháp Sư (古崑法師) nhà Thanh có câu thơ rằng: “Nhất thanh Phật hiệu vi vi tụng, thất bảo Liên Hoa đại đại khai (一聲佛號微微誦、七寶蓮花大大開, một tiếng niệm Phật nhỏ nhỏ tụng, hoa sen bảy báu nở lớn dần).” Hay như tại Cửu Phong Thiền Tự (九峰禪寺) ở Vĩnh Gia (永嘉), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối như sau: “Hoàng kim địa thượng bảo thọ trùng trùng tận thị tu hành giả chủng, bạch ngọc trì trung Liên Hoa đóa đóa vô phi niệm Phật nhân tài (黃金地上寶樹重重盡是修行者種、白玉池中蓮花朵朵無非念佛人栽, trên đất vàng ròng cây báu hàng hàng thảy do người tu hành trồng, trong hồ ngọc trắng hoa sen đóa đóa đều là người niệm Phật gieo).”

liên hoa

6146又作蓮花。為生於沼澤之宿根草本植物。蓮,學名 Nelumbo nucifera。通常於夏季開花,味香色美,生於污泥之中,而開潔淨之花。印度古來即珍視此花。據印度史詩摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)所述,天地開闢之始,毘濕笯(梵 Viṣṇu)之臍中生出蓮華,華中有梵天,結跏趺坐,創造萬物;又毘濕笯及其配偶神皆以蓮華為表徵,或以蓮華為多聞天(梵 Kubera)之七寶之一。佛教亦珍視之,如佛及菩薩大多以蓮華為座。據入大乘論卷下載,十地之菩薩係生於摩醯首羅天王宮,坐於寶蓮華王座而成佛。觀無量壽經載,阿彌陀佛及觀音、勢至二菩薩等,皆坐於寶蓮華上;眾生臨終時,彼佛等持蓮臺來迎九品往生之人。又後世佛、菩薩等像,大多安置於蓮華臺上;蓮華亦常作為供養佛、菩薩之具。 在印度,稱蓮華者,可大別為二種。(一)鉢頭摩華,梵語 padma,巴利語同。學名 Nymphaea alba。即蓮華。又作鉢曇摩華、鉢特摩華、般頭摩華、鉢弩摩華、波曇華、波慕華。譯為赤蓮華、赤蓮、紅蓮華、赤黃蓮華、黃蓮華。有赤、白二色,是否實有黃色則不詳。通常鉢頭摩華即指赤蓮華而言;八寒地獄之中,有鉢頭摩地獄、摩訶鉢頭摩地獄,即譯為紅蓮地獄、大紅蓮地獄。此乃因地獄之眾生,由於寒冷,故身體凍成紅色,皮破而呈血赤之色。 (二)優鉢華,梵語 utpala,巴利語 uppala。即睡蓮。學名 Nymphaea tetragona。又作優鉢華、烏怛鉢羅華、優盋羅華。譯為青蓮華、黛華、紅蓮華。有青色、赤色、白色等。其中以青色者為最著名,即尼羅烏鉢羅華(梵 nīlotpala),又作泥盧鉢羅華,譯為青蓮華。在經典中,形容佛眼之微妙,即以其葉為喻;口氣之香潔則以其花為喻。青蓮華為千手觀音四十手中之右一手所持物,此手即稱青蓮華手。又八寒地獄之第六為優鉢羅地獄,八大龍王之一為優鉢羅龍王。前者因冰混同水色而呈青色,或因寒氣而使皮膚凍成青色,故稱優鉢羅地獄。後者因龍王所住之處即優鉢羅華所生長之池,故以之為名。 此外,拘勿頭華,梵語 kumuda。又作拘牟頭華、俱物頭華、句文羅華。譯為白蓮華、地喜花,即白或紅之睡蓮,亦有黃、青二色,此恐係指赤、白優鉢羅華而言。又須乾提華,梵語 saugandhika,又作搔揵提迦華,好香華之意。華之色有黑色與赤色,傳說此華恐為白色之拘勿頭華,然其形色不相似。另有分陀利華,梵語 puṇḍarīka,學名 Nelumbo nucifera。又作分陀利迦華、分荼利迦華、奔荼利華、本拏哩迦華;譯為白蓮華,又稱百葉華、妙好華。亦為白色睡蓮之一種。不被煩惱污染之清淨無垢佛,其法性即喻為分陀利華。悲華經及妙法蓮華經即以此華為經題。又千葉蓮華,乃有千枚花瓣之蓮華,係供養佛陀所用,即為佛所坐之華臺。又大日經疏卷十五列舉五種西方之蓮華,即鉢頭摩華、優鉢羅華、泥盧鉢羅華、拘勿頭華、芬荼利迦華。 又據梁譯攝大乘論釋卷十五記載,蓮花有香、淨、柔軟、可愛等四德,而以之比喻法界真如之常、樂、我、淨四德。於華嚴經、梵網經等有蓮華藏世界之說。於密教有以八葉蓮華為胎藏界曼荼羅之中臺,又以比喻人之心臟(梵 hṛd,音譯汗栗馱,意為肉團心),並表示眾生本有之心蓮。〔中阿含經卷二十三、華手經卷一、大日經卷五、大智度論卷九、法華經玄義卷七下、大日經疏卷五、宗鏡錄卷二十八、佛教美術研究、曼荼羅之研究、L.A. Waddell: The Buddhism of Tibet〕(參閱「譬喻」6809) ; Padmavati (S)Tên của Hoàng hậu Vua A-dụcXem hoa sen. ; Padma (S). The lotus flower. Also hoa sen. ; Bông sen, có bốn loại—Lotus flower, there are four kinds: 1) Ưu Bát La Hoa: Utpala (skt)—Sen xanh—The blue lotus. 2) Câu Vật Đầu Hoa: Kumuda (skt)—Sen vàng—Yellow lotus. 3) Ba Đầu Ma Hoa: Padma (skt)—Sen hồng—Red lotus. 4) Phân Đà Lợi Hoa: Pundarika (skt)—Sen trắng—White lotus. ; (蓮華) Tên khoa học: Nelumbo nucifera. Hoa sen, thực vật thuộc loại túc căn thảo (loại cỏ nảy mầm từ củ của năm trước) mọc ở các đầm lầy hoặc ao hồ, mùi hoa thơm, thường nở vào mùa hạ, màu sắc rất đẹp. Tuy sinh trong bùn nhơ nhưng hoa rất thanh khiết. Từ ngàn xưa, người Ấn độ rất quý hoa này. Cứ theo Sử thi Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) của Ấn độ, khi trời đất mới mở, thì ngay rốn của Tì thấp nô (Phạm: Viwịu) mọc lên 1 hoa sen, giữa hoa có Phạm thiên ngồi kết già (xếp bằng), sáng tạo ra muôn vật. Tì thấp nô và vị thần phối ngẫu của mình đều dùng hoa sen làm biểu tượng; hoặc có thuyết cho hoa sen là 1 trong 7 thứ báu của trời Đa văn (Phạm: Kubera). Phật giáo cũng quí hoa sen, như Phật và Bồ tát phần nhiều dùng hoa sen làm tòa. Cứ theo luận Nhập Đại thừa quyển hạ, thì Bồ tát Thập địa sinh ở cung trời Ma hê thủ la ngồi trên tòa Bảo liên hoa vương mà thành Phật. Kinh Quán vô lượng thọ thì chép, đức Phật A di đà, các bồ tát Quan âm và Thế chí đều ngồi trên tòa hoa sen báu; chúng sinh nào được sinh về Tịnh độ phương Tây, khi lâm chung, đức Phật A di đà và các Bồ tát cầm đài sen đến đón. Tại Ấn độ, hoa sen được chia làm hai loại chính: 1. Hoa bát đầu ma (Phạm, Pàli: Padma), cũng gọi Bát đàm ma hoa, Bát đặc ma hoa, Bát nỗ ma hoa, Ba đàm hoa, Ba mộ hoa. Tên khoa học: Nymphaea alba. Tức hoa sen đỏ (Hồng liên hoa). 2. Hoa ưu bát la (Phạm:Utpala, Pàli: Uppala), cũng gọi Ưu bát hoa, Ô đát bát la hoa, Ưu bạt la hoa. Tên khoa học: Nymphaea tetragona. Tức hoa sen xanh (Thanh liên hoa). Cứ theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 15 (bản dịch đời Lương), thì hoa sen có 4 đặc tính là: Thơm, sạch, mềm mại, dễ thương, được dùng để ví dụ 4 đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của pháp giới chân như. Trong Mật giáo, hoa sen được dụ cho trái tim (nhục đoàn tâm) của con người, để biểu thị ý nghĩa chúng sinh vốn có tâm trong sạch như hoa sen, tức là tịnh Bồ đề tâm. [X. kinh Trung a hàm Q.23; kinh Hoa thủ Q.1; kinh Đại nhật Q.5; luận Đại trí độ Q.9; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.7 phần cuối; Đại nhật kinh sớ Q.5; Tông kính lục Q.28; Phật giáo mĩ thuật nghiên cứu; Mạn đồ la chi nghiên cứu; The Buddhism of Tibet (L.A Waddell)]. (xt. Thí Dụ).

liên hoa bộ

6151為密教胎藏界三部之一,金剛界五部之一。又稱觀音部、法部。略稱蓮部。此部表眾生本具淨菩提心之理德,又表示如來大悲三昧之德。蓋眾生本存自性清淨之心,雖於六道四生、迷妄界等生死泥中流轉,而其本有之淨菩提心亦不染不垢,猶如蓮華之出污泥而不染,故稱蓮華部。大日經疏卷五(大三九‧六三二上):「右方是如來大悲三昧,能滋榮萬善,故名蓮華部。」此謂蓮華部表示滋潤萬善之如來大悲三昧門之部族。又蓮華部亦指胎藏界曼荼羅右方第一重之觀音院。 於胎藏界曼荼羅,十三大院中右方之觀音院、地藏院諸尊皆屬此部;蓋以馬頭觀音為部主,白衣觀音為部母,故蓮華部又稱觀音院。又於金剛界曼荼羅,蓮華部以西方阿彌陀如來為部主,法波羅蜜菩薩為部母,法、利、因、語等四親近菩薩及四攝中之金剛鏁菩薩等皆屬此部;表示妙觀察智說法之德,以此部之尊司此說法之德,故蓮華部又稱法部。又阿彌陀如來與觀音菩薩其果位與因位雖異,然其德則同。 此部之種子,於胎藏界三部為???(sa,娑);於金剛界五部為???(hrīḥ,紇哩)。三昧耶形為蓮華。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、蘇悉地羯囉經卷上、兩部曼荼羅義記卷二〕 ; (蓮華部) Gọi tắt: Liên bộ. Cũng gọi: Quan âm bộ, Pháp bộ. Là 1 trong 3 bộ Thai tạng giới và 1 trong 5 bộ Kim cương giới của Mật giáo. Bộ này biểu thị lí nghĩa tâm bồ đề thanh tịnh sẵn có của chúng sinh, cũng biểu thị Tam muội đại bi của Như lai. Bởi vì chúng sinh tuy bị lưu chuyển trong bùn lầy sinh tử nhưng tâm bồ đề thanh tịnh sẵn có vẫn không nhiễm ô, cũng như hoa sen tuy mọc giữa bùn nhơ nhưng không hôi tanh mùi bùn, cho nên gọi là Liên hoa bộ. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 632 thượng), nói: Tam muội đại bi của Như lai có năng lực nhuần thấm muôn gốc lành, cho nên gọi là Liên hoa bộ. Ngoài ra, Liên hoa bộ cũng chỉ cho viện Quan âm ở lớp thứ 2 bên phải trong Mạn đồ la Thai tạng giới. Các vị tôn của viện Quan âm và viện Địa tạng đều thuộc bộ này. Vì Mã đầu Quan âm là chủ bộ và Bạch y Quan âm là bộ mẫu, cho nên Liên hoa bộ cũng được gọi là viện Quan âm. Ngoài ra, Liên hoa bộ của Mạn đồ la Kim cương giới lấy đức A di đà ở phương Tây làm chủ bộ, bồ tát Pháp ba la mật làm bộ mẫu, 4 vị Bồ tát thân cận là Pháp, Lợi, Nhân, Ngữ và bồ tát Kim cương tỏa trong 4 Nhiếp bồ tát, v.v... đều thuộc bộ này. Chư tôn của bộ này chủ về đức thuyết pháp của trí Diệu quán sát, vì thế, bộ Liên hoa còn được gọi là Pháp bộ. Lại nữa, quả vị và nhân vị của Phật A di đà và bồ tát Quan âm tuy khác nhau, nhưng đức của các Ngài thì giống nhau. Chủng tử của bộ này, ở 3 bộ Thai tạng giới là (sa), ở 5 bộ Kim cương giới là (hrì#), hình Tam muội da là hoa sen. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; kinh Tô tất địa yết la Q.thượng; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.2].

liên hoa diện kinh

6151凡二卷。隋代那連提耶舍(490~589)譯。收於大正藏第十二冊。本經敘述佛陀預言於其入滅後,佛教僧徒將墮落,佛法轉移入罽賓國,並於該國興盛;後破佛王出現,毀破佛鉢等種種佛教興衰之情形。經名「蓮華面」,係取自破佛王之前生名為蓮華面(富蘭那教徒)。又我國末法思想係形成於南北朝至隋代之間,而本經譯於隋代開皇四年(585),與那連提耶舍之另一譯經「大集月藏經」,對於當時人心皆有莫大影響。〔歷代三寶紀卷十二、古今譯經圖紀卷四、開元釋教錄卷七、貞元新定釋教目錄卷十、大唐內典錄卷五〕 ; (蓮華面經) Kinh, 2 quyển, do ngài Na liên đề da xá (490-589) dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung kinh này ghi lại những lời dự đoán của đức Phật về việc sau khi Ngài nhập diệt, tăng đồ Phật giáo sẽ đọa lạc, Phật pháp sẽ di chuyển vào nước Kế tân và hưng thịnh ở nước ấy. Về sau, lại có ông vua phá Phật xuất hiện và hủy diệt Phật giáo. Tên kinh Liên hoa diện là tên đời trước của ông vua phá Phật (giáo đồ Phú lan na). Điều đáng chú ý là tư tưởng mạt pháp đã được lưu hành ở Trung quốc ở khoảng thời Nam Bắc triều đến đời Tùy, mà kinh Liên hoa diện được dịch vào năm Khai hoàng thứ 4 (585) đời Tùy, cùng với kinh Đại tập nguyệt tạng (cũng do ngài Na liên đề da xá dịch) nên đã có ảnh hưởng rất lớn đối với lòng người đương thời. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.12, Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.10; Đại đường nội điển lục Q.5].

Liên hoa diện kinh 蓮華面經

[ja] レンゲメンキョウ Rengemen kyō ||| Lianhuamian jing; 1 fasc., trans. Narendrayaśas 那連提耶舎. T 386.12.1070b1077c. => (j: Rengemen kyō; c: Lianhuamian jing); 1 quyển, Na-liên-đề-da-xá (s: Narendrayaśas 那連提耶舎) dịch.

liên hoa giới

6150梵名 Kamalaśīla。八世紀頃,印度中觀派之學僧。生卒年不詳。為寂護(梵 Śānta-rakṣita)之弟子,曾於那爛陀寺教授怛特羅,後繼寂護應西藏國王吃㗚雙提贊王(藏 Khri-sroṅ lde-btsan, 742~797)之請入西藏,與我國之大乘和尚(Mahāyāna Hvo-śaṅ)論戰於宮廷,後大乘和尚敗退出藏,因此我國佛教系統諸派頓止,此即西藏佛教史上著名的「拉薩論爭」。其後中觀思想一支獨盛,且奠定了以後西藏佛教之基礎,其影響表現在黃派開祖宗喀巴所著之「菩提道次第論」一書中最為顯著。著書有般若波羅蜜多七百頌廣注、金剛般若廣注、一切法無自性成就、修習次第(三篇)、正理滴前品攝等。〔カマラシ|ラの修習次第(芳村修基,仏教裇研究第八‧九)、古代チベット史研究下(佐藤長)、E. Obermiller: History of Buddhism by Bu-ston, 1931~1932; S.C. Das:Indian Pandits in Tibet; S. Yoshmura: Tibetan Buddhistology, 1953〕 ; Xem Ca Ma La Thập La. ; (蓮華戒) Phạm: Kammalazìla. Danh tăng Ấn độ thuộc phái Trung quán, sống vào khoảng thế kỉ thứ VIII, là đệ tử của ngài Tịch hộ (Phạm:Sànta-rakwita). Sư từng là giáo thụ Đát đặc la ở chùa Na lan đà tại Trung Ấn độ. Sau, nhận lời mời của vua Khất lật song đề tán (Tạng: Khri-sroí lde-btsan, 742-797), sư đến nước Tây tạng. Ở đây, sư đã từng cùng với Hòa thượng Đại thừa (Mahàyàna Hvozaí), người Trung quốc, tranh luận tại cung đình, sau Hòa thượng Đại thừa bị thua, phải rời khỏi Tây tạng. Cuộc tranh luận này được mệnh danh là Lạp tát luận tranh (Tranh luận ở cung Lha-sa) rất nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Tây tạng. Từ đó, hệ thống các phái Phật giáo Trung quốc bị suy tàn, tư tưởng Trung quán thịnh hành và đặt nền tảng cho Phật giáo Tây tạng sau này. Ảnh hưởng của tư tưởng Trung quán được biểu hiện rõ rệt nhất trong luận Bồ đề đạo thứ đệ của ngài Tông khách ba – Tổ khai sáng của phái Hoàng giáo. Sư có các tác phẩm: Bát nhã ba la mật đa thất bách tụng quảng chú, Kim cương bát nhã quảng chú, Nhất thiết pháp vô tự tính thành tựu, Tu tập thứ đệ (3 thiên), Chính lí trích tiền phẩm nhiếp. [X. History of Buddhism by Bu-ston, 1931, 1932 (E. Obermiller); Indian Pandits in Tibet (S.C.Das); Tibetan Buddhistology, 1953 (S.Yoshimura)].

liên hoa hàng phục vương

Xem Mã Đầu vương.

liên hoa kinh

Saddharma-pundarìka-sùtra (S). Lotus sùtra. Also Kinh Pháp hoa, kinh Diệu pháp Liên hoa.

Liên hoa kinh 蓮華經

[ja] レンゲキョウ Rengekyō ||| The Lotus Sutra See Miaofa lianhua jing 妙法連華經. => (j: Rengekyō; e: Lotus Sutra). Xem Diệu pháp liên hoa kinh (c: Miaofa lianhua jing 妙法連華經).

liên hoa ngũ cổ ấn

6148指密教金剛界五部之一的蓮華部之五股印,故稱蓮華五股印。又作蓮華杵印、二重五股印、五股重杵印、補陀洛山印、補陀洛山九峰印、九品淨土印。蓮華部念誦法稱此印為部心根本印。印相為二手作蓮華合掌,二食指與二無名指之指端相交,二拇指與二小指開立。又千手軌中稱為千手根本印,印母為金剛合掌,手背微曲,令掌相離。二中指開立如蓮葉形,與二拇指、二小指合為五股,二食指與二無名指亦有四股,故稱為二重五股印,又稱五股重杵印。復因二重五股表金剛、胎藏兩部之五佛,五佛為諸尊之根本,故此印為兩部諸尊之總印。二中指立合,表兩部大日理智冥合之意。又二中指與其餘八指成九峰之形,故稱九峰印、補陀洛山印。九峰亦表九品淨土。〔烏樞瑟摩明王經卷下〕 ; (蓮華五股印) Cũng gọi Liên hoa chử ấn, Nhị trùng ngũ cổ ấn, Ngũ cổ trùng chử ấn, Bổ đà lạc sơn ấn, Bổ đà lạc sơn cửu phong ấn, Cửu phẩm tịnh độ ấn. Chỉ cho ấn Năm chĩa của Liên hoa bộ trong 5 bộ Kim cương giới Mật giáo. Theo Liên hoa bộ niệm tụng pháp thì ấn này là ấn Bộ tâm căn bản. Ấn tướng là 2 tay chắp lại kiểu hoa sen, đầu 2 ngón trỏ và 2 ngón áp út giao nhau, 2 ngón cái và 2 ngón út mở ra và dựng đứng. Trong Thiên thủ quĩ, ấn này được gọi là Thiên thủ căn bản ấn, ấn mẫu là Kim cương hợp chưởng, lòng bàn tay để rỗng, 2 ngón giữa mở ra và dựng đứng như hình cánh sen, cùng với 2 ngón cái và 2 ngón út hợp làm 5 chĩa, 2 ngón trỏ và 2 ngón vô danh cũng thành 4 chĩa, vì thế gọi là Nhị trùng ngũ cổ ấn (ấn 5 chĩa 2 lớp), cũng gọi Ngũ cổ trùng chử ấn. Lại vì Nhị trùng ngũ cổ là biểu trưng Ngũ Phật của Kim cương bộ và Thai tạng bộ, mà Ngũ Phật là căn bản của các tôn vị, cho nên ấn này là ấn chung cho chư tôn của cả 2 bộ. Ngoài ra, 2 ngón giữa dựng đứng và hợp nhau là biểu thị ý nghĩa Lí và Trí Đại nhật của 2 bộ thầm hợp nhau. Lại 2 ngón giữa và 8 ngón kia tạo thành hình 9 ngọn núi, nên gọi là Cửu phong ấn, Bổ đà lạc sơn ấn. Cửu phong cũng tượng trưng cho Cửu phẩm Tịnh độ. [X. kinh Ô xu sắt ma minh vương Q.hạ].

liên hoa nhãn

Thanh Liên Hoa Nhãn hay mật hiệu của Đức Quán Thế Âm (nhãn tướng của Đức Quán Thế Âm có hình hoa sen xanh từ bi)—The blue-lotus eyes of Kuan-Yin.

Liên hoa nhãn đà-la-ni kinh 蓮華眼陀羅尼經

[ja] レンケゲンダラニキョウ Renge gen daranikyō ||| The Lianhua yan tuoluonijing; Tib. phyag dang bstod pa dang byin rlabs dang mchod pa'i sprin 'byung pa dang mchod pa dang bsnyen gnas dang phyag byas par 'gyur ba dan ring po che brdar ba'i gzungs padma'i spyan pa'i gzungs [To.539/866]; (Dhāraṇī of the Lotus Eye). 1 fasc. (T 1411.21.926), trans. Dānapāla 施護. => (j: Renge gen daranikyō; c: Lianhua yan tuoluonijing; t: phyag dang bstod pa dang byin rlabs dang mchod pa'i sprin 'byung pa dang mchod pa dang bsnyen gnas dang phyag byas par 'gyur ba dan ring po che brdar ba'i gzungs padma'i spyan pa'i gzungs; e: Dhāraṇī of the Lotus Eye). 1 quyển. Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch.

liên hoa quyền

6151為密教六種拳印之一。又稱胎藏拳(略稱胎拳)、如來拳。乃常見於胎藏界曼荼羅之拳印。其結印之樣式,類似於世稱之握拳,即五指自然合之為拳,然拇指直豎於食指之外側,用表五大法性之理塔。〔大日經疏卷十三〕(參閱「六種拳印」1304) ; (蓮華拳) Cũng gọi Thai tạng quyền, Thai quyền, Như lai quyền. Ấn tướng thường được thấy trong Mạn đà la Thai tạng giới, 1 trong 6 loại Quyền ấn của Mật giáo. Cách thức kết ấn này là bàn tay nắm lại thành nắm tay, nhưng ngón cái dựng thẳng bên ngoài, cạnh ngón trỏ, biểu thị cho pháp tính của 5 đại. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Lục Chủng Quyền Ấn).

liên hoa quốc

The pure-land of every Buddha, the land of his enjoyment. ; Cõi Tịnh Độ của mỗi vị Phật, cõi cực lạc miên viễn—The pure land of every Buddha, the land of his eternal enjoyment.

liên hoa sanh

Padmasaṁbhāva (S), rinchen jungnī (T).

Liên Hoa Sinh

蓮華生; S: padmasambhava hoặc padmakā-ra;|Ðại sư Ấn Ðộ, sống cùng thời vua Tây Tạng Tri-song Det-sen (755-797; Hán Việt: Ngật-lật-sang Ðề-tán). Sư truyền Phật giáo sang Tây Tạng và sáng lập tông Ninh-mã (t: nyingmapa), một trong bốn tông phái lớn của Tây Tạng và được các đệ tử gọi là »Phật thứ hai.« Sư hay sử dụng thần thông, nhiếp phục ma quái và thiên tai. Cách tu hành của Sư rất đa dạng, từ cách sử dụng đao truỷ thủ (Phurbu) đến tu tập các phép thiền định theo hệ thống Ðại cứu kính (t: dzogchen). Sư thuộc dòng của các vị Ma-ha Tất-đạt (s: ma-hāsiddha), để lại rất nhiều chuyện thần thoại cho đời sau và ở các nước vùng Hi-mã-lạp sơn, người ta tôn thờ gọi Sư là »Ðạo sư quý báu« (guru rimpoche).||H 39: Liên Hoa Sinh dưới dạng Nhật Quang Ðạo sư (s: sūryaraśmi-guru) đang mỉm cười. Trên đầu, Sư mang vương miện được kết với sáu sọ người. Sư ngồi trên một tấm lông nai (như phần lớn các vị Ma-ha Tất-đạt được trình bày trong tranh tượng), tay phải cầm cây gậy thần (s: khaṭvaṅga), ngón trỏ của tay trái đang giữ một tia nắng mặt trời. Sư mang tên Nhật Quang vì sau khi tu luyện năm năm nơi thiêu xác, Sư đạt Tất-địa (s: siddhi), có thể xoè tay bắt ánh sáng mặt trời.|Tương truyền rằng, Liên Hoa Sinh sinh ra trong một hoa sen, tại Tây Bắc Kashmir, sớm thông tất cả kinh sách, nhất là Mật giáo (Tan-tra). Trong thế kỉ thứ 8, Sư đến Tây Tạng, một nước còn nằm dưới ảnh hưởng của các tôn giáo thiên nhiên. Sư đến đây chinh phục ma quỷ, thiên tai và ảnh hưởng của giáo phái Bôn (t: bon). Sư cũng cho xây tu viện Tang-duyên (t: samye) năm 775 và thời gian hoạt động tại Tây Tạng xem như chấm dứt tại đó. Có nhiều tài liệu cho rằng Sư hoằng hoá ở Tây Tạng lâu hơn, truyền giáo cho 25 đệ tử, trong đó có nhà vua Tây Tạng và giáo thuyết quan trọng nhất là »Tám tuyên giáo«. Ngoài ra, Sư còn để lại nhiều bài dạy được dấu trong rừng núi (Ter-ma), chỉ được khám phá ra vào một thời điểm nhất định. Một trong những bài dạy đó là bộ Tử thư. Ðệ tử quan trọng và là người viết lại tiểu sử của Sư là bà Ye-she Tsog-yel.|Sư có nhiều bài dạy đệ tử tu tập theo con đường ngắn nhất, trực tiếp đến Giác ngộ. Những bài khuyên dạy thường xoay quanh sáu điểm cụ thể như sau:|1. Ðọc thật nhiều kinh sách, lắng tai nghe các vị Ðại sư dạy bảo để nhập tâm rồi sau đó ứng dụng để tự thấy hiệu quả, sai trái;|2. Chọn một trong tất cả học thuyết này và chú tâm vào nó, tất cả những thuyết khác đều phải bỏ qua, ví như con diều hâu săn từ trên cao, chỉ chọn một con mồi duy nhất;|3. Sống khiêm tốn cần kiệm, không bao giờ tự nâng mình, đưa mình ra trước, bỏ ý muốn đạt danh vọng, quyền uy trong thế gian. Sau cái bề ngoài vô nghĩa này thì lại đưa tâm thức lên cao vút, vượt qua tất cả các danh hiệu chói lọi của tục thế;|4. Giữ lòng Xả (s: upekṣā) đối với tất cả. Ăn uống như một con heo, con chó, không chọn lựa, có gì ăn nấy. Không được cố gắng để đạt hoặc né tránh bất cứ một cái gì. Chấp nhận mọi việc như chúng đến, giàu sang phú quý hay cơ hàn, lời chê bai hay tán thán. Không phân biệt giữa đúng sai, thiện ác, thành bại. Không hối tiếc và cũng không hãnh diện, vui mừng về bất cứ việc gì đã làm (Bát phong);|5. Với tâm vô tư, không thiên vị mà nghe và quán sát tất cả những hành động lời nói của mọi người. Cứ nghĩ rằng, nhân gian là như thế, người này như vậy, người kia thế đó. Quán sát thế gian như một người đứng trên đỉnh núi nhìn xuống;|6. Cấp này không thể trình bày diễn tả. Nó tương ưng với sự trực giác tính Không, tương ưng với Không (s: śūnyatā).|Dòng Ninh-mã xem ngày 10 mỗi tháng là ngày vía của Liên Hoa Sinh và mỗi tháng có một ý nghĩa khác nhau. Ngày 10 tháng giêng là ngày xuất gia và quán tử thi, ngày 10 tháng 2 là ngày thụ giới, ngày 10 tháng 3 là ngày chuyển hoá lửa thành nước v.v… Bài dạy cầu Liên Hoa Sinh được ghi thành 7 dòng như sau:|Nơi miền Tây bắc Ô-trượng-na|Trong một đoá hoa sen|Ngài đã đạt Vô thượng bồ-đề|Ngài là Liên Hoa Sinh|Với nhiều nữ thần hộ vệ xung quanh|Con nguyện theo Ngài|Hãy đến đây độ trì cho đệ tử.

liên hoa sinh

6149梵名 Padma-saṃbhava(音譯巴特瑪薩木巴瓦),Guru-padma, Urgyan-padma,西藏名 Padma-ḥbyuṅ-gnas, Rin-po-che。為西藏紅教之開祖。八世紀頃北印度烏仗那國(今巴基斯坦境內)人。初住那爛陀寺,博通大小乘,稟性機警,善巧方便。 玄宗天寶六年(747),應西藏王吃㗚雙提贊王(藏 Khri-sroṅ lde-btsan, 742~797)之請,與寂護(梵 Śanta-rakṣita)、蓮華戒(梵 Kamalaśīla)二人一同入西藏,王為之於拉薩東南方創建桑耶寺(藏 Sam-yas),經十數年乃成。師遂宣傳瑜伽祕密法門,翻譯經咒,又現種種神變奇蹟,禳除鬼神妖怪等,為藏人所歸向。師始傳密教於西藏,相對於宗喀巴之黃教(新派),而稱為紅教(祕密古派),即無上祕密乘,係以大喜樂禪定之瑜伽觀法為最上法,弘宣佛教。西藏特有之喇嘛教因之大成。師之高徒二十五人從事梵漢佛典之譯述,編成西藏大藏經甘珠爾。又有關師之著作,收在西藏大藏經丹珠爾中,如五種三摩耶、聖金剛手青衣成就法優波提舍廣釋註、金剛摧破陀羅尼釋金剛燈、吉祥世間尊空行成就法、祕密書狀等諸書。〔彰所知論卷上、聖武記卷五國朝撫安綏西藏記上、L.A. Waddell: The Buddhism of Tibet〕 ; Padma-Sambhava (S) ; (蓮華生) Phạm: Padma-saôbhava, Gurupadma, Urgyan-padma. Tạng: Padma-#byuí-gnas, Rin-poche. Hán âm: Ba đặc mã tát mộc ba ngõa. Tổ khai sáng của phái Hồng giáo Tây tạng, sống vào khoảng thế kỉ VIII, người nước Ô trượng na, Bắc Ấn độ (thuộc Pakistan ngày nay). Ban đầu sư trụ ở chùa Na lan đà, học thông kinh điển Đại Tiểu thừa. Sư bẩm tính cẩn trọng, khéo dùng các phương tiện trong việc giáo hóa. Năm 747, nhận lời thỉnh của vua Khất lật song đề tán (Tạng: Khri-sroí lde btsan, 742-797), sư cùng với các ngài Tịch hộ (Phạm: Zànta-rakwita) và Liên hoa giới (Phạm: Kamalasìla) cùng đến Tây tạng. Vua Tây tạng liền xây chùa Tang da (Tạng: Samyas) ở phía đông nam thủ đô Lạp tát (Lha-sa) để các ngài ở. Sư truyền bá pháp môn Du già bí mật ở Tây tạng, phiên dịch kinh chú, đồng thời thị hiện các kì tích thần bí để thu phục sự qui hướng của người Tây tạng. Pháp môn Du già bí mật là pháp quán đạt đến Thiền định Đại hỉ lạc. Sư là người đầu tiên truyền Mật giáo vào Tây tạng. Sư có 25 đệ tử chuyên việc phiên dịch kinh điển Phật từ Phạm, Hán sang tiếng Tây tạng, biên tập thành Đại tạng kinh Cam châu nhĩ của Tây tạng. Sư có các tác phẩm: Ngũ chủng tam ma da, Thánh kim cương thủ thanh y thành tựu pháp ưu ba đề xá quảng thích chú, Kim cương tồi phá đà la ni thích kim cương đăng, Cát tường thế gian tôn không hành thành tựu pháp, Bí mật thư trạng. [X. luận Chương sở tri Q.thượng; The Buddhism of Tibet (L.A. Waddell)].

liên hoa sắc

6149梵名 Utpalavarṇā,巴利名 Uppalavaṇṇā。意譯作蓮華鮮、專華色、華色。或梵漢並舉,譯作優鉢羅華色、優鉢華色。即蓮華色比丘尼。在佛弟子比丘尼中被譽為神足第一。又作青蓮華尼、蓮華色尼、蓮華色女、蓮華婬女、蓮華女、嗢羅苾芻尼。未出家前,原為王舍城人,初嫁鬱禪國人,婚後曾生一女。因發現其夫與其母私通,故離家至波羅捺城,另嫁一長者。日後長者至鬱禪國經商,娶一少女歸波羅捺國,後方知彼乃蓮華色之女。蓮華色深感命運悲涼,前則與母共夫,今則與女共夫,因而自暴自棄,遂至毘舍離城過婬女生活。一日,聽聞目犍連說法而歸信佛教,乃依摩訶波闍波提比丘尼出家,後得六神通,證阿羅漢果。 據雜阿含經卷二十三、增一阿含經卷二十八等載,佛陀昇忉利天為母說法,歸返人間時,蓮華色曾化作轉輪聖王之身迎接佛陀,是後又恢復本形禮佛。後提婆達多叛逆,欲加害佛陀,蓮華色呵斥之,提婆達多怒擊其頭頂而致死。〔雜阿含經卷四十五、增一阿含經卷三、卷四、毘尼母經卷五、義足經卷下、別譯雜阿含經卷十二、阿羅漢具德經、大寶積經卷一、四分律卷六、卷十二、有部毘奈耶卷十、卷三十、薩婆多部律攝卷十四、大智度論卷十三、卷十四、大唐西域記卷四、W.W. Rockhill: The Life of the Buddha〕 ; Lotus Flower Color. ; (蓮華色) Phạm: Utpalavarịà. Pàli: Uppalavaịịà. Cũng gọi Thanh liên hoa ni, Liên hoa sắc ni, Liên hoa sắc nữ, Liên hoa dâm nữ, Liên hoa nữ, Ôn la bật sô ni, Liên hoa tiên, Chuyên hoa sắc, Hoa sắc, Ưu bát la hoa sắc, Ưu bát hoa sắc. Vị tỉ khưu ni được khen ngợi là đệ nhất thần túc trong hàng ngũ tỉ khưu ni đệ tử của đức Phật. Trước khi xuất gia, Liên hoa sắc vốn là người ở thành Vương xá, có chồng là người nước Uất thiền, sinh được 1 con gái. Vì biết được chồng tư thông với mẹ, nên nàng bỏ nhà đến thành Ba la nại, lấy chồng khác là 1 Trưởng giả. Về sau, Trưởng giả đến nước Uất thiền buôn bán, lấy 1 thiếu nữ mang về thành Ba la nại, sau đó mới biết thiếu nữ ấy chính là con gái của nàng. Liên hoa sắc thâm cảm số phận bi đát của mình, trước kia chung chồng với mẹ, bây giờ lại chung chồng với con; nàng vô cùng đau khổ, chán ngán cuộc đời, tự vứt bỏ mình bằng cách đến thành Tì xá li làm nghề bán dâm. Một ngày kia, được nghe tôn giả Mục kiền kiên nói pháp, Liên hoa sắc cảm thấy sung sướng, bèn qui kính đức Phật, rồi cầu xin tỉ khưu ni Ma ha ba xà ba đề xuất gia và được chấp nhận. Về sau bà chứng quả A la hán, được 6 thần thông. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 23 và kinh Tăng nhất a hàm quyển 28, đức Phật lên cung trời Đao lợi thuyết pháp cho mẫu hậu nghe, khi trở lại nhân gian, Liên hoa sắc đã hóa làm thân Chuyển luân Thánh vương để đón rước đức Phật. Sau đó, Liên hoa sắc hiện nguyên hình đính lễ Ngài. Đến khi Đề bà đạt đa phản nghịch muốn làm hại đức Phật, Liên hoa sắc liền trách mắng, nên bị Đề bà đạt đa nổi giận, đánh vào đầu mà chết. [X. kinh Tạp a hàm Q.45; kinh Tăng nhất a hàm Q.3,4; kinh Tì ni mẫu Q.5; kinh Nghĩa túc Q.hạ; kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.12; kinh A la hán cụ đức; kinh Đại bảo tích Q.1; luật Tứ phần Q.6,12; Hữu bộ tì nại da Q.10, 30; Tát bà đa bộ luật nhiếp Q.14; luận Đại trí độ Q.13, 14; Đại đường tây vực kí Q.4; The Life of The Buddha (W.W. Rockhill)].

liên hoa tam dụ

6147又作蓮花三喻、跡本三喻。天台宗為明法華開顯之旨,遂就經題之「蓮華」於本門、迹門各立三喻。此乃佛所說甚深「妙法」,難以語言闡釋,故取蓮華為喻;即以蓮華之花果同時,比喻權、實一體之妙法,遂於本、迹二門各立三喻,如表所示: 即以蓮比喻實與本,以華比喻權與迹。於迹門顯施、開、廢之趣;於本門則顯垂、開、廢之相,以成妙法之權、實一體。 (一)就迹門之三喻而論:(1)為蓮故華,比喻為實施權,以蓮比喻實,以華比喻權。謂佛為顯一乘之實義,而施設三乘之權教。亦即佛以方便力示現種種道,其實為一佛乘,欲令眾生知第一寂滅故。(2)華開蓮現,比喻開權顯實,以華開比喻開權,蓮現比喻顯實。謂如來於法華會座,開三乘之權方便,以顯一乘之實義。亦即開方便門,以示真實之相。(3)華落蓮成,比喻廢權立實,以華落比喻廢權,蓮成比喻立實。謂一乘之實教既顯,則三乘之權教自廢,即「正直捨方便,但說無上道。」以上三喻為法華經前十四品之意。 (二)就本門之三喻而論:(1)為蓮故華,比喻從本垂迹,以蓮比喻本,以華比喻迹。從本垂迹者,係以本判迹,即垂迹門八相之化,以顯久遠實成之本地。謂如來久遠以來實已成佛(本),但為教化眾生而示現少年出家、得三菩提之化迹(迹)。(2)華開蓮現,比喻開迹顯本,以華開比喻開迹,蓮現比喻顯本。謂開除以如來為伽耶近成垂迹示現的權佛之情執,以顯久遠成佛之本。(3)華落蓮成,比喻廢迹立本,以華落比喻廢迹,以蓮成比喻立本。謂諸佛如來之法,為度眾生皆實而不虛,故伽耶成道之化迹日久自廢,而立久遠成佛之本。以上三喻為法華經後十四品之意。〔法華玄義卷一、天台四教儀集註卷上、玄義釋籤講述卷一〕(參閱「本迹二門」1965) ; (蓮華三喻) Cũng gọi Tích bản tam dụ. Ba ví dụ về hoa sen nhằm nói rõ ý chỉ Khai hiển trong kinh Pháp hoa theo thuyết của tông Thiên thai. Vì muốn trình bày rõ ý chỉ Khai hiển của kinh Pháp hoa, nên tông Thiên thai căn cứ vào Liên Hoa trong đề kinh, đối với Bản môn và Tích môn, mà thành lập mỗi môn 3 dụ. I. Ba dụ của Tích môn. 1. Vị liên cố hoa (Vì hạt mà có hoa): Ví dụ vì thực(chân thực) mà lập quyền (tạm thời), dùng liên ví dụ cho thực, dùng hoa ví dụ cho quyền. Nghĩa là để hiển bày nghĩa chân thực của Nhất thừa nên đức Phật mới tạm thời lập ra quyền giáo (giáo pháp phương tiện). Tức là đức Phật dùng sức phương tiện thị hiện nhiều pháp môn, chứ kì thực chỉ muốn chúng sinh qua các giáo pháp phương tiện ấy mà biết rõ đệ nhất tịch diệt của Nhất Phật thừa mà thôi. 2. Hoa khai liên hiện (Hoa nở hạt bày): Ví dụ khai quyền để hiển thực, dùng hoa khai ví dụ khai quyền (mở ra giáo pháp phương tiện tạm thời), dùng liên hiện ví dụ hiển thực (hiển bày giáo pháp Nhất thừa chân thực). Nghĩa là trên hội Pháp hoa, đức Như lai đã khai quyền phương tiện Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) để hiển bày thực nghĩa Nhất thừa (một Phật thừa), tức là mở cửa phương tiện để hiển tướng chân thực. 3. Hoa lạc liên thành (Hoa rụng hạt thành): Ví dụ việc bỏ quyền lập thực, dùng hoa lạc ví dụ phế bỏ quyền, dùng liên thành ví dụ thiết lập thực. Nghĩa là khi thực giáo Nhất thừa đã hiển bày, thì quyền giáo Tam thừa tự phế bỏ, tức là bỏ ngay phương tiện, chỉ nói đạo Vô thượng. Ba ví dụ trên là ý trong 14 phẩm đầu của kinh Pháp hoa. II. Ba dụ của Bản môn. Vị liên cố hoa (Vì hạt có hoa): Ví dụ từ Bản mà thùy Tích, dùng liên ví dụ Bản (bản địa của đức Phật), dùng hoa ví dụ Tích (Hóa thân của đức Phật). Từ Bản thùy tích nghĩa là dùng Bản xét định Tích, tức là xét sự hóa hiện 8 tướng (thành đạo) của Tích môn để hiển bày Bản địa đã thành từ lâu xa. Nghĩa là Như lai đã thành Phật từ lâu xa lắm rồi, nhưng muốn giáo hóa chúng sinh mà thị hiện hóa tích (Tích) thiếu niên xuất gia, thành Đẳng chánh giác. Hoa khai liên hiện (Hoa nở hạt bày): Ví dụ khai Tích hiển Bản, dùng hoa khai ví dụ khai Tích, dùng liên hiện ví dụ hiển Bản. Nghĩa là trừ bỏ cái tình chấp của chúng sinh cho rằng Như lai mới thành Phật ở Bồ đề đạo tràng gần đây, chứ không biết rằng đó chỉ là Hóa thân Phật thị hiện thùy Tích để cứu độ chúng sinh, mà hiển bày Bản địa đã thành Phật từ lâu xa rồi. Hoa lạc liên thành (Hoa rụng hạt thành): Ví dụ phế Tích lập Bản, dùng hoa lạc ví dụ việc phế bỏ Tích, dùng liên thành ví dụ việc thiết lập Bản. Nghĩa là đức Phật thuyết pháp độ chúng sinh trước sau đều chân thực, không hư dối, cho nên hóa Tích mới thành Phật ở Bồ đề đạo tràng bấy lâu nay tự nhiên phế bỏ mà lập Bản địa thành Phật từ lâu xa. Ba ví dụ trên là ý trong 14 phẩm sau của kinh Pháp hoa. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Huyền nghĩa thích tiêm giảng thuật Q.1]. (xt. Bản Tích Nhị Môn).

Liên hoa tam muội 蓮華三昧

[ja]レンゲザンマイ renge zanmai ||| The lotussamādhi. In Esoteric Buddhism this state of meditation, wherein the bodhi is free from all stain, is presented with the metaphor of the lotus flower. 〔大方等無想經 387.12.1086c7〕 => Phép thiền định nầy, theo Mật tông Phật giáo, trong đó trí huệ ví như hoa sen, không vướng mọi nhiễm ô.

liên hoa thập dụ

6146請參閱 妙法蓮華三昧祕密三摩耶經據除蓋障菩薩所問經卷九載,蓮華出污泥而不染,妙香廣布,令見者喜悅、吉祥,故以蓮華比喻菩薩所修之十種善法。即: (一)離諸染污,謂菩薩修行,能以智慧觀察諸境,而不生貪愛,雖處五濁生死流中亦無所染,譬如蓮花之出污泥而不染。(二)不與惡俱,菩薩修行滅惡生善,為守護身、口、意三業之清淨,而不與絲毫之惡共俱,譬如蓮花雖微滴之水而不停留。(三)戒香充滿,菩薩修行,堅持諸戒律而無犯,以此戒能滅身口之惡,猶如香能除糞穢之氣,譬如蓮花妙香廣布,遐邇皆聞。(四)本體清淨,菩薩雖處五濁之中,然因持戒,得使身心清淨無染著,譬如蓮花雖處污泥中,然其體自然潔淨而無染。(五)面相熙怡,菩薩心常禪悅,諸相圓滿,使見者心生歡喜,譬如蓮花開時,令諸見者心生喜悅。(六)柔軟不澀,菩薩修慈善之行,然於諸法亦無所滯礙,故體常清淨,柔軟細妙而不粗澀,譬如蓮花體性柔軟潤澤。(七)見者皆吉,菩薩善行成就,形相莊嚴美妙,見者皆獲吉祥,譬如蓮花芬馥美妙,見者及夢見者皆吉祥。(八)開敷具足,菩薩修行功成,智慧福德莊嚴具足,譬如蓮花開敷,花果具足。(九)成熟清淨,菩薩妙果圓熟而慧光發現,能使一切見聞者,皆得六根清淨,譬如蓮花成熟,若眼睹其色,鼻聞其香,則諸根亦得清淨。(十)生已有想,菩薩初生時,諸天人皆悅樂護持,以其必能修習善行,證菩提果,譬如蓮花初生時,雖未見花,然諸眾人皆生已有蓮花之想。 ; (蓮華十喻) Mười ví dụ về hoa sen. Cứ theo kinh Trừ cái chướng bồ tát sở vấn quyển 9, hoa sen sinh ra từ bùn nhơ, nhưng không nhiễm mùi bùn mà lại có mùi thơm vi diệu lan tỏa, khiến người thấy sinh tâm vui mừng, nên dùng để ví dụ cho 10 thiện pháp tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Lìa tất cả ô nhiễm: Bồ tát tu hành, thường dùng trí tuệ quán xét các cảnh, chẳng sinh tâm tham đắm, tuy ở trong dòng sinh tử vẩn đục mà không bị nhiễm ô, ví như hoa sen mọc trong bùn nhơ mà chẳng dính bùn. 2. Không chung đụng với những pháp xấu ác: Bồ tát tu hành diệt ác sinh thiện, giữ gìn 3 nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh, không cùng chung với bất cứ điều xấu ác nào, ví như hoa sen chẳng hề dính một giọt nước bùn nhơ. 3. Giới hương đầy đủ: Bồ tát tu hành, kiên trì giới luật, có thể diệt trừ nghiệp ác của thân, khẩu, cũng giống hương thơm có thể đánh tan khí hôi thối, ví như mùi thơm vi diệu của hoa sen lan tỏa, khắp nơi đều nghe biết. 4. Bản thể trong sạch: Bồ tát tuy sống trong 5 cõi trọc ác, nhưng nhờ giữ giới, nên thân tâm được thanh tịnh, ví như hoa sen tuy sinh trong bùn nhơ mà thể tính tự nhiên thanh khiết. 5. Nét mặt tươi tắn, vui vẻ: Tâm của Bồ tát thường vui với thiền định, các tướng tròn đầy, khiến cho người thấy sinh tâm hoan hỉ, ví như hoa sen khi nở, ai thấy cũng đẹp lòng. 6. Mềm mại mịn màng: Bồ tát tu hạnh từ thiện, nhưng đối với các pháp cũng không trệ ngại, cho nên thể thường thanh tịnh, nhu hòa, không thô rít, ví như hoa sen mềm mại, trơn láng. 7. Người thấy đều an lành: Bồ tát thành tựu thiện hạnh, hình tướng trang nghiêm vi diệu, người thấy đều được tốt lành, ví như hoa sen đẹp đẽ, thơm ngát, người thấy hoặc nằm mộng thấy đều được an lành. 8. Hoa nở tròn đủ: Bồ tát tu hành viên mãn, công đức đầy đủ, phúc trí trang nghiêm, ví như hoa sen khi nở bày cả gương và hạt. 9. Thành thục thanh tịnh: Diệu quả của Bồ tát viên mãn thành thục, nên trí tuệ phát sáng, có thể khiến cho 6 căn của người thấy nghe đều được thanh tịnh, ví như hoa sen đã nở rộ, nếu mắt thấy màu hoa, mũi ngửi hương hoa, thì các căn khác cũng đều được thanh tịnh. 10. Mới sinh ra đã được nghĩ tưởng đến: Bồ tát mới sinh ra, trời, người đều vui vẻ hộ trì, vì biết chắc Bồ tát có khả năng tu tập thiện hạnh, chứng quả bồ đề, ví như hoa sen khi mới mọc lên, tuy chưa thấy hoa, nhưng mọi người đều nghĩ rằng sẽ có hoa sen.

liên hoa thủ

Padmapāni(-bodhisattva) (S)Tên một vị Bồ tát.

liên hoa thủ bồ tát

Padmapàni (S). Quán âm holding a lotus flower. ; Padmapani (skt)—Tên khác của Quán Thế Âm Bồ Tát tay cầm bông sen—Another name for Kuan-Yin or Avalokitesvara Bodhisattva who is holding a lotus flower.

liên hoa tinh tiến

6152唐代僧。龜茲國(新疆庫車)人。又稱勿提提犀魚。住於屈支城西門外之蓮華寺,除西域諸國之語言外,兼通梵、漢語言。唐貞元(785~804)初年,長安章敬寺悟空從印度歸來,途經此地而留止年餘,請師翻譯其所帶回之梵文十力經,貞元六年,悟空返長安,將該經與佛牙等奉獻朝廷。其餘事蹟不詳。〔宋高僧傳卷三、貞元新定釋教目錄卷十七〕 ; (蓮華精進) Cũng gọi Vật đề đề tê ngư. Danh tăng Tây vực, sống vào đời Đường, người nước Cưu tư (Khố xa, Tân cương). Sư trụ trì chùa Liên hoa ngoài cửa tây thành Khuất chi. Ngoài ngôn ngữ của các nước Tây vực, sư còn thông thạo cả 2 thứ tiếng Phạm và Hán. Đầu năm Trinh nguyên (785-804), sư Ngộ không vốn ở chùa Chương kính tại Trường an, từng đi Ấn độ thỉnh kinh, khi từ Ấn độ trở về, sư có lưu lại thành Khuất chi hơn 1 năm, trong thời gian này, sư thỉnh ngài Liên hoa Tinh tiến phiên dịch bộ kinh Thập lực bằng tiếng Phạm mà sư mang về từ Ấn độ. Năm Trinh nguyên thứ 6 (786), sư Ngộ không về tới Trường an, đem bộ kinh Thập lực và răng Phật dâng lên triều đình. [X. Tống cao tăng truyện Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.17].

liên hoa trí

Liên Hoa hay mật trí của Phật A Di Đà, một trong ngũ trí—The lotus or mystic wisdom of Amitabha, one of the five wisdoms. ** For more information, please see Ngũ Trí.

liên hoa tôn như lai

Padmottara (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.

liên hoa tạng thế giới

6152梵語 kusuma-tala garbha-vyūhālaṃkāraloka-dhātu-samudra 或 padma-garbha-loka-dhātu。即自蓮花出生之世界,或指含藏於蓮花中之功德無量、廣大莊嚴之世界。又作蓮華國。華嚴經與梵網經對於蓮華藏世界之相狀,說法有異。 (一)華嚴經所說之華藏莊嚴世界海。又作華藏莊嚴嚴具世界海、妙華布地胎藏莊嚴世界、蓮華藏莊嚴世界海、華藏世界海、華藏世界、華藏界、十蓮華藏莊嚴世界海、十蓮華藏世界、十華藏。此世界係毘盧遮那如來於過去發願修菩薩行所成就之清淨莊嚴世界。即有關十佛教化之境界。其莊嚴及構造,在新譯華嚴經卷八華藏世界品中有詳細記載。此世界為須彌山微塵數之風輪所持,其最底之風輪稱為平等住,最上之風輪,稱為殊勝威光藏。最上之風輪能持香水海,其中有一大蓮華,稱為種種光明蘂香幢。蓮華藏世界即在此大蓮華之中,周圍有金剛輪山圍繞,其內大地皆由金剛所成,堅固不壞,清淨平坦,無有高下,尚有世界海微塵數之莊嚴。又此大地中亦有不可說微塵數之香水海,一一香水海之周圍有四天下,及微塵數之香水河,諸河中間之地,悉以妙寶莊嚴,分布如天帝網。一一香水海中亦有不可說微塵數之世界種,一一世界種復有不可說微塵數之世界。蓮華藏世界中央之香水海稱為無邊妙華光,由海中出大蓮華,其上有稱為普照十方之世界種。其中有二十重不可說微塵數之世界布列於其間。以此中央世界種為中心,共有一一一個世界種,羅列成如網之圍罩,而構成世界網;各皆以眾寶莊嚴,佛則出現於其中,眾生亦充滿其間。由此可窺其構造之莊嚴,及其廣大無邊。 蓮華藏世界之說,導源於印度史詩摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)之天地開闢說,如大悲經卷三、大智度論卷八、外道小乘涅槃論等所載,謂由毘濕笯(梵 Viṣṇu)之臍中生出蓮華,華中有梵天王,由其心創造天地、人民。此說與華嚴經之華藏莊嚴世界說比較,雖二者廣狹大小、構造莊嚴等均有大異,然有風輪持水輪,由水中生出蓮華,由蓮華而成立天地萬物,皆為二者共通之處。又華藏世界為由具有光明遍照之義的毘盧遮那如來之行願所嚴淨者;而具有無量光明之梵天王,為萬物之創造主;二者對照,得知蓮華藏世界之說與毘濕笯派之天地開闢說有密切之關係。 又華嚴經所述之蓮華藏世界,為實蓮花所形成之華藏世界,然梁譯之攝大乘論釋卷十五則以蓮花喻顯大乘法界真如,而非實蓮花。 (二)梵網經所說之蓮華臺藏世界海。又作蓮華海藏世界、蓮華臺藏世界。指千葉大蓮華中所含藏之世界。係由千葉之大蓮華所形成,每一葉為一世界,各有百億之須彌山、百億之四天下,及百億之南閻浮提等。盧舍那佛是此世界之本源,趺坐於華臺之上,並將自身變化為千體之釋迦,各據坐於一葉之上;而千釋迦復一一變化為百億之菩薩釋迦,各坐於南閻浮提菩提樹下,宣說菩薩之心地法門。其中,一草即一個大千世界,中有百億之須彌四天下,一個四天下之世界,為一尊菩薩釋迦之所化,百億之四天下即一個大千世界,為大釋迦之所化,一千大千世界係由盧舍那佛所主領,即十萬億個四天下之世界,稱為蓮華臺藏世界。 蓋此說與華嚴經之華藏莊嚴世界,構造有異,而將其稱為蓮華臺藏世界,且為盧舍那佛之住處;此雖係基於華嚴經而來,然此世界之蓮花為千葉所成,盧舍那佛趺坐其臺上;而毘濕笯派之說,謂梵天王趺坐於千葉金色之蓮花上,二說一致。故可見此應係直接承自摩訶婆羅多之說。 此外,華嚴五教章卷三載,十佛之境界可大別為國土海(果分不可說)與世界海(因分可說)。世界海即十佛攝化之諸種世界,又可分為蓮華藏莊嚴世界海、三千界外十重世界海、無量雜類世界海。眾生之根性不同,其所感見之國土亦不同,而「證入生」之位所感見者,即為蓮華藏世界。 又華嚴經探玄記卷三載,對蓮華藏莊嚴世界海,立有蓮華臺藏世界(梵網經之說)、遍法界之華藏、樹形等雜類世界等三種。前一係同教一乘之說,後二乃別教之說。另於澄觀之華嚴經疏卷十一,則就眾生與佛之二因來解說蓮華藏世界。 淨土教之說,乃根據世親之淨土論,謂阿彌陀佛之極樂世界即蓮華藏世界。又日本東密之說,係以彌陀報身之淨土為加持身之蓮華藏世界;大日如來法身之住處為本地身之蓮華藏世界;眾生之汗栗馱(肉團心)為行者身之蓮華藏世界。 其後,隨華嚴信仰之弘揚,而蓮華藏世界之圖畫亦頗盛行。我國唐代咸亨三年(672),在龍門奉先寺大盧舍那佛像蓮座周匝之三層蓮瓣上,皆一一刻有釋迦佛像,以表示蓮華臺藏世界。又日本東大寺大佛之蓮瓣即刻有千釋迦、百億小釋迦,此係據梵網經之說而來。〔雜譬喻經、舊華嚴經卷二至卷四、卷二十三、卷二十六、卷二十七、梵網經卷下、大乘瑜伽金剛性海曼殊室利千臂千鉢大教王經卷九、華嚴經孔目章卷四、華嚴經探玄記卷二、新華嚴經論卷六、華嚴經行願品疏鈔卷六、梵網經菩薩戒本疏卷一、佛祖統紀卷三十一、卷四十二〕 ; Xem Cực lạc thế giới. ; The lotus world or universe of each Buddha for his sambhogakàya. ; Cõi Tịnh Độ báo thân của mỗi vị Phật do hoa sen báu tạo thành (của Đức Phật A Di Đà là Tây Phương Tịnh Độ, của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na là Mật Nghiêm Quốc)—The Lotus world or universe of each Buddha for his sambhogakaya. ; (蓮華藏世界) Phạm: Kusuma-tala garbhavyùhàlaôkàraloka-dhàtu-samudra, hoặc Padma-garbha-loka-dhàtu. Cũng gọi Liên hoa quốc. Chỉ cho thế giới hàm chứa vô lượng công đức trang nghiêm rộng lớn từ trong hoa sen sinh ra. Về tướng trạng của thế giới Liên hoa tạng này, trong các kinh đều nói khác nhau. 1. Theo kinh Hoa nghiêm, Liên hoa tạng thế giới còn được gọi là Hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Hoa tạng trang nghiêm cụ thế giới hải, Diệu hoa bố địa thai tạng trang nghiêm thế giới, Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Hoa tạng thế giới hải, Hoa tạng thế giới, Hoa tạng giới, Thập liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Thập liên hoa tạng thế giới, Thập hoa tạng. Thế giới này là thế giới trang nghiêm thanh tịnh do hạnh nguyện tu hành của đức Tì lô giá na Như lai ở vô lượng kiếp quá khứ mà thành tựu. Thế giới này được cấu tạo bởi vô số phong luân nhiều như bụi nhỏ, phong luân dưới cùng gọi là Bình đẳng trụ, phong luân trên cùng gọi là Thù thắng uy quang tạng. Phong luân trên cùng này có khả năng nâng đỡ biển Hương thủy, trong biển này có 1 hoa sen lớn gọi là Chủng chủng quang minh nhụy hương chàng; thế giới Liên hoa tạng nằm ở trong hoa sen lớn này, chung quanh có núi Kim cương luân bao bọc, mặt đất đều do kim cương tạo thành, bằng phẳng bền chắc, cực kì thanh tịnh trang nghiêm. Trong thế giới này cũng có các biển Hương thủy nhiều như bụi nhỏ không thể kể xiết, chung quanh mỗi biển Hương thủy có 4 Đại châu và vô lượng vô số sông Hương thủy. Trong mỗi biển Hương thủy cũng có bất khả thuyết vi trần số thế giới chủng; trong mỗi thế giới chủng lại có bất khả thuyết vi trần số thế giới. Biển Hương thủy ở chính giữa thế giới Liên hoa tạng gọi là Vô biên diệu hoa quang; từ trong biển Hương Thủy này mọc lên 1 hoa sen lớn, trong đó có 20 lớp bất khả thuyết vi trần số thế giới phân bố khắp 10 phương. Lấy thế giới chủng ở chính giữa này làm trung tâm, có tất cả 111 thế giới chủng nằm la liệt, tạo thành mạng lưới thế giới, đều được trang nghiêm bằng các thứ báu bao bọc chung quanh, trong đó có hiện cả chư Phật và chúng sinh. Thuyết thế giới Liên hoa tạng có nguồn gốc từ thuyết Thiên địa khai tịch (Trời đất hình thành) trong Sử thi Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) của Ấn độ. Như kinh Đại bi quyển 3, luận Đại trí độ quyển 8, luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn, v.v... đều cho rằng từ nơi rốn của thần Tì thấp nô (Phạm:Viwịu) mọc lên hoa sen, trong hoa sen có Phạm thiên vương, từ trong tâm, Phạm thiên vương sáng tạo ra trời đất, con người và muôn vật. So sánh thuyết này với thuyết Thế giới Hoa tạng trang nghiêm trong kinh Hoa nghiêm, tuy khác nhau rất nhiều về phạm vi rộng hẹp lớn nhỏ, sự cấu tạo trang nghiêm, nhưng giống nhau ở điểm có phong luân nâng đỡ thủy luân, hoa sen từ trong nước mọc lên và từ hoa sen ấy, trời đất muôn vật được thành lập. Lại nữa, thế giới Hoa tạng là do hạnh nguyện của đức Tì lô giá na mà được trang nghiêm thanh tịnh, ánh sáng chiếu khắp; còn Phạm thiên vương cũng có vô lượng quang minh, là đấng chúa tể sáng tạo muôn vật. Đem đối chiếu 2 thuyết này, ta thấy giữa thuyết Thế giới Liên hoa tạng và thuyết Thiên địa khai tịch của phái Tì thấp nô có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ngoài ra, thế giới Liên hoa tạng trong kinh Hoa nghiêm là thế giới Hoa tạng được hình thành bởi hoa sen thật, nhưng Nhiếp Đại thừa luận thích quyển 15 (bản dịch đời Lương) lại cho rằng hoa sen là ví dụ để hiển bày pháp giới chân như của Đại thừa, chứ không phải là hoa sen thật. 2. Theo kinh Phạm võng, thế giới Liên hoa tạng cũng gọi là Liên hoa đài tạng thế giới hải, Liên hoa hải tạng thế giới, Liên hoa đài tạng thế giới. Chỉ cho thế giới được chứa đựng trong hoa sen lớn nghìn cánh, mỗi cánh sen là 1 thế giới, mỗi thế giới có trăm ức núi Tu di, trăm ức 4 đại châu và trăm ức cõi Nam diêm phù đề. Đức Phật Lô xá na là nguồn gốc của thế giới này, Ngài ngồi kết già trên đài sen, tự biến hóa ra nghìn Phật Thích ca, mỗi Phật Thích ca ngồi trên một cánh sen; rồi mỗi mỗi trong nghìn Phật Thích ca lại biến hóa ra trăm ức bồ tát Thích ca, mỗi bồ tát Thích ca đều ngồi dưới gốc cây bồ đề ở cõi Nam diêm phù đề, tuyên thuyết pháp môn tâm địa của Bồ tát. Trong đó mỗi cọng cỏ là một đại thiên thế giới, có trăm ức núi Tu di và 4 đại châu, mỗi 1 thế giới 4 đại châu là chỗ giáo hóa của 1 vị bồ tát Thích ca; trăm ức 4 đại châu là 1 đại thiên thế giới, là chỗ giáo hóa của1bồ tát Đại Thích ca, 1 nghìn đại thiên thế giới là do đức Phật Lô xá na chủ lãnh, 10 vạn ức thế giới 4 đại châu, gọi là Thế giới liên hoa đài tạng. Về sự cấu tạo thế giới của thuyết này (tức kinh Phạm võng), có khác với cách cấu tạo thế giới Hoa tạng trang nghiêm trong kinh Hoa nghiêm và gọi là Liên hoa đài tạng thế giới, cũng là trú xứ của Phật Lô xá na. Thuyết này căn cứ vào kinh Hoa nghiêm mà có, nhưng hoa sen của thế giới này lại do 1 nghìn cánh hợp thành và đức Phật Lô xá na ngồi kết già trên đài hoa ấy. Còn thuyết của Tì thấp nô thì cho rằng Phạm thiên vương ngồi kết già trên hoa sen màu vàng nghìn cánh, như vậy 2 thuyết ăn khớp nhau. Cho nên, ta có thể nói mà không sợ sai lầm rằng, thuyết Liên hoa đài tạng thế giới trong kinh Phạm võng đã trực tiếp kế thừa từ thuyết Thiên địa khai tịch trong Sử thi Ma ha bà la đa (Phạm:Mahàbhàrata). Ngoài ra, Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 3 nói, cảnh giới của 10 đức Phật có thể chia làm Quốc độ hải (quả phần bất khả thuyết) và Thế giới hải (nhân phần bất khả thuyết). Thế giới hải là các loại thế giới của 10 đức Phật nhiếp hóa, lại có thể chia làm Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Tam thiên giới ngoại thập trùng thế giới hải và Vô lượng tạp loại thế giới hải. Vì căn tính của chúng sinh khác nhau nên quốc độ mà họ cảm thấy được cũng bất đồng; quốc độ mà giai vị Chứng nhập sinh cảm được tức là Liên hoa tạng thế giới. Còn Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3 thì, đối lại với Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, lập ra 3 loại thế giới là: Liên hoa đài tạng thế giới (thuyết của kinh Phạm võng), Hoa tạng biến pháp giới và Thụ hình đẳng tạp loại thế giới. Loại trước là thuyết của Đồng giáo Nhất thừa, 2 loại sau là thuyết của Biệt giáo. Ngoài ra, Hoa nghiêm kinh sớ quyển 11 của ngài Trừng quán thì căn cứ vào 2 nhân chúng sinh và Phật mà giải nói về Liên hoa tạng thế giới. Thuyết của tông Tịnh độ thì căn cứ vào luận Tịnh độ của ngài Thế thân mà chủ trương rằng thế giới Cực lạc của đức Phật A di đà tức là Liên hoa tạng thế giới. Còn thuyết của tông Đông mật ở Nhật bản thì lấy Tịnh độ của Báo thân Phật A di đà làm thế giới Liên hoa tạng của thân Gia trì, lấy trú xứ của Pháp thân Đại nhật Như lai làm thế giới Liên hoa tạng của thân Bản địa, lấy Hãn lật đà (nhục đoàn tâm, tức trái tim) của chúng sinh làm thế giới Liên hoa tạng của thân hành giả. Về sau, theo đà mở rộng tín ngưỡng Hoa nghiêm mà bản đồ thế giới Liên hoa tạng cũng rất phổ biến. Tại Trung quốc, vào năm Hàm hanh thứ 3 (672) đời Đường, trên 3 lớp cánh sen chung quanh tòa sen của tượng Phật Lô xá na ở chùa Phụng tiên tại Long môn, đều có khắc tượng Phật Thích ca trên mỗi cánh để tượng trưng thế giới Liên hoa tạng. Lại nữa, trên các cánh sen của Đại Phật ở chùa Đông đại, Nhật bản, có khắc nghìn Phật Thích ca, trăm ức tiểu Thích ca, theo thuyết của kinh Phạm võng. [X. kinh Tạp thí dụ; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.2-4; Q.23, 26, 27; kinh Phạm võng Q.hạ; kinh Đại thừa du già kim cương tính hải mạn thù thất lợi thiên tí thiên bát đại giáo vương Q.9; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2; Tân hoa nghiêm kinh luận Q.6; Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm sớ sao Q.6; Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.31, 42].

liên hoa tọa

Padmāsana (S)Kiết già phu tọa, ngồi kiết già. ; Padmàsana (S). To sit with crossed legs; also a lotus throne. ; Padmasana (skt). 1) Ngồi kiểu Kiết Già: To sit with crossed legs. 2) Đài Hoa Sen (chư Phật thường lấy hoa sen làm chỗ ngồi): A lotus throne (on which Buddhas always take as a seat).

liên hoa tứ chủng

Four kinds of lotus flower—See Liên Hoa.

liên hoa tử

Đệ tử của Liên Hoa Bộ—Disciples or followers shown in the mandalas.

liên hoa vương

Kumuda-pati—Lotus lord.

liên hoa y

6150又作蓮花衣、蓮華服。乃袈裟之美稱,取其清淨無染之義。釋氏要覽卷上(大五四‧二六八中):「袈裟名離染服,(中略)又名蓮華衣,謂不為欲泥染故。」〔翻譯名義集卷七〕 ; Liên Hoa Phục—Áo cà sa của chư Tăng Ni, lấy nghĩa hoa sen thanh tịnh để gọi tên—The lotus garment, or robe of purity, the robe of the monk or nun. ; (蓮華衣) Cũng gọi Liên hoa phục. Chỉ cho ca sa, nghĩa là chiếc áo thanh tịnh không nhiễm ô. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 268 trung), nói: Ca sa là áo lìa nhiễm ô (...), cũng gọi là Liên hoa y, nghĩa là không bị bùn nhơ của dục vọng làm ô uế. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].

liên hoa đài

Liên đài để hình tượng Phật hay Bồ Tát—Lotus throne for images of Buddhas or Bodhisattvas.

liên hoa động

6150位於山東肥城縣北。乃鑿五峰山懸崖所成之佛龕,洞口左方巖壁列有「大□□清元年□□修造」等字,另於造佛銘文中記載,北齊乾明元年(560),比丘慧承等奉旨於此造彌勒像之事;故此洞之開鑿,可推知非為北齊以後之事。〔支那文化史蹟解說卷十一〕

liên hoàn

Linked together.

liên hà

Nairanjanà (S). Name of river. Also Ni liên thiền, Ni liên hà. ; Nairanjana (skt)—Sông Ni Liên Thiền—The Nairanjana River—See Ni Liên Thiền.

liên hàng

6145(1924~ )江蘇東臺人,俗姓徐。民國二十七年(1938),於大悲庵依止果根法師出家。民國三十年,於棲霞山受具足戒。畢業於棲霞山律學院、焦山佛學院。大陸淪陷後來臺,曾為臺灣佛教講習會教師主任、佛教青年雜誌發行人、南山雜誌發行人、慈航幼稚園創辦人。現任臺北中和南勢角南山放生寺、高雄棲霞精舍住持。長於書法、梵唄。

liên hương hải

Sea of Perfume.

liên hệ

To be connected with—Family ties.

liên hữu

Mutual protectors, or helpers of the Lotus-sect, i.e. members.

liên hựu

Hộ niệm viên trong Liên Hoa Tông—Mutual protectors or helpers of the Lotus sect, i.e. members.

liên khê tự

6152位於湖北武漢大東門外七點五公里之龍山上。為武漢四大叢林之一。創建於明代,清康熙年間法融重建,咸豐、同治年間遭毀,光緒十五年(1889)道明重修。宣統三年(1911),奏請藏經。又本寺之樓閣,宏麗壯觀,金碧輝煌,極負盛名。周圍古木參天,里人號稱林章。民國初年曾在此辦過一期華嚴大學。現仍存有祖堂、禪堂、彌陀殿、大雄寶殿,藏經樓等建築。

liên kinh

6154指法華經。酉陽雜俎:「大興善寺素和尚,轉法華經三萬七千部,有一僧為其題詩:『三萬蓮經三十春,半生不踏院門塵。』唐代齊己禪師詩有「蓮經七軸六萬九千字,日日夜夜終復始」之語。 ; The Lotus Sutra—See Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. ; (蓮經) Chỉ cho kinh Pháp hoa. Sách Dậu dương tạp trở ghi rằng, Hòa thượng Tố ở chùa Đại hưng thiện đã tụng 37.000 bộ kinh Pháp hoa, có 1 vị tăng làm thơ tặng Hòa thượng như sau: Tam vạn Liên kinh tam thập xuân. Bán sinh bất đạp viện môn trần. (Ba mươi năm ba vạn kinh sen. Nửa đời chẳng dính bụi bon chen).

liên kết

Visaṃdhi (S), Intermediate point.

liên kết với

To be associated with

liên lý

Mật giáo về niềm tin vãng sanh Liên Hoa—The mystic doctrine of the Lotus faith.

liên lạc

To communicate—Connected—Linked.

liên miên

Continuous—Unbroken—Unceasing.

liên môn

The Lotus-sect. ; The Lotus sect—See Liên Tông.

liên mẫn

Thương xót—To pity—To comiserate.

liên mục tướng

6143為佛及轉輪聖王之應化身所具足三十二相之一。又作真青眼相(梵 abhinīla-netra)。佛眼紺青,猶如青蓮花,故以蓮喻之。又至後世,凡能洞見正邪之眼目,亦稱為蓮目。 ; (蓮目相) Cũng gọi Chân thanh nhãn tướng. Tướng mắt xanh biếc như hoa sen, 1 trong 32 tướng tốt của đức Phật và Chuyển luân Thánh vương. Vì mắt Phật xanh biếc như hoa sen xanh nên gọi là Liên mục. Đến đời sau, hễ mắt người nào thấy suốt chánh tà, cũng gọi là Liên mục.

Liên Nhãn

(蓮眼): mắt hoa sen, chỉ con mắt của chư Phật, Bồ Tát, một trong 32 tướng tốt của đức Phật, tức là mắt trong xanh (s: abhinīla-netta, 眞青眼) như hoa sen xanh (s: utpala, p: uppala, 青蓮, âm dịch là Ưu Bát La [優鉢羅], thanh liên). Các ngài thường có tâm từ bi, nhu hòa, lắng trong, thanh tịnh, nên con mắt của các ngài như hoa sen xanh. Vì vậy từ này thường dùng để chỉ cho Phật nhãn hay bản thân đức Phật. Trong Phẩm Phật Quốc (佛國品) của Duy Ma Kinh (s: Vimalakīrti-nideśa, 維摩經) có diễn tả về con mắt của chư Phật, Bồ Tát như sau: “Mục tịnh tu quảng như thanh liên, tâm tịnh dĩ độ chư Thiền định, cửu tích tịnh nghiệp xưng vô lượng, đạo chúng dĩ tịch cố khể thủ, kí kiến Đại Thánh dĩ thần biến, phổ hiện thập phương vô lượng độ (目淨脩廣如青蓮、心淨已度諸禪定、久積淨業稱無量、導眾以寂故稽首、旣見大聖以神變、普現十方無量國度, mắt sạch dài rộng như hoa sen xanh, tâm sạch chứng khắp các Thiền định, tích tập lâu vô lượng các tịnh nghiệp, dẫn dắt mọi loài giải thoát nên con cúi lạy, đã thấy Đại Thánh dùng thần biến, hiện khắp mười phương vô lượng cõi nước).” Trong Tánh Linh Tập (性靈集) quyển 8, Chiều Đề Tự Đát Sấn Văn (招提寺噠嚫文) có câu: “Nhĩ nãi vạn đức khai từ bi chi liên nhãn, nhất xa huy trí tuệ chi đao nhận (爾乃萬德開慈悲之蓮眼、一車揮智慧之刀刃, Người lấy vạn đức mở mắt sen từ bi, một xe rung lưỡi đao trí tuệ).” Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 大方廣佛華嚴經, Taishō No. 293) quyển 25 lại có câu: “Phật khai quảng đại thanh liên nhãn, diệu tướng trang nghiêm công đức thân, nhân thiên cọng tán bất năng lường, thí nhược vạn lưu quy đại hải (佛開廣大青蓮眼、妙相莊嚴功德身、人天共讚不能量、譬若萬流歸大海, Phật mở mắt sen xanh rộng lớn, tướng mầu trang nghiêm công đức thân, trời người xưng tán không thể lường, giống như muôn dòng về biển cả).” Hay trong Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh (大乘入楞伽經, Taishō No. 672) quyển 7 cũng có câu: “Thế gian đọa nhị biên, chư kiến sở mê hoặc, duy nguyện thanh liên nhãn, thuyết chư địa thứ đệ (世間墮二邊、諸見所迷惑、惟願青蓮眼、說諸地次第, thế gian rơi hai bên, chỗ thấy bị mê hoặc, xin nguyện đấng mắt sen, nói cảnh giới giải thoát).”

liên nhãn

6145指佛菩薩之眼。謂佛菩薩慈悲柔和、晴朗澄澈,其眼妙如青蓮花。維摩經佛國品(大一四‧五三七下):「目淨脩廣如青蓮,心淨已度諸禪定,久積淨業稱無量,導眾以寂故稽首,既見大聖以神變,普現十方無量土。」性靈集卷八招提寺噠嚫文:「爾乃萬德開慈悲之蓮眼,一車揮智慧之刀刃。」 ; The eye of the blue lotus, i.e. the wonderful eye of Buddha. ; 1) Mắt của liên hoa xanh—The eye of the blue lotus. 2) Diệu Nhãn của Phật: The wonderful eye of Buddha. ; (蓮眼) Chỉ cho mắt của Phật và Bồ tát. Phật và Bồ tát từ bi nhu hòa, mắt của các Ngài sáng trong, vi diệu như hoa sen xanh, nên gọi là Liên mục. Phẩm Phật quốc kinh Duy ma (Đại 14, 537 hạ), nói: Mắt trong dài rộng như sen xanh. Tâm sạch đã qua các thiền định. Chứa góp tịnh nghiệp không kể xiết. Tịch lặng độ chúng con cúi đầu. Đã thấy Thế tôn dùng thần biến. Mười phương cõi nước đều hiện tiền.

Liên Như

(蓮如, Rennyo, 1415-1499): con đầu của Tồn Như (存如, Zonnyo) đời thứ 7 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), húy là Kiêm Thọ (兼壽), hiệu là Tín Chứng Viện (信証院). Sống trong khoảng thời kỳ Bổn Nguyện Tự đang bị suy vi và trưởng thành lên trong khổ nạn, ông đã theo cha tận lực giáo hóa ở các địa phương phía Nam vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Đến năm 1457, ông kế thừa cha mình và trở thành vị tổ đời thứ 8 của Bổn Nguyện Tự. Do vì đứng trên truyền thống của Tịnh Độ Chơn Tông mà tiến hành cải cách, nên vào năm 1471 ông bị đồ chúng của Tỷ Duệ Sơn phá tan Đại Cốc Bổn Nguyện Tự ở vùng Đại Cốc (大谷, Ōtani); khiến ông phải lánh nạn đến biệt sở phía Nam của Tam Tỉnh Tự (三井寺) vùng Đại Tân (大津), rồi xây dựng nhà riêng ở Cát Khi (吉崎, Yoshizaki) thuộc vùng Việt Tiền (越前, Echizen, thuộc Fukui-ken [福井縣]) và chuyển đến đó ở. Ông đã tác thành rất nhiều văn bản, cho xuất bản các bài Hòa Tán cũng như Chánh Tín Kệ (正信偈) của Thân Loan, và tiến hành những hoạt động giáo hóa khắp nơi từ vùng Bắc Lục (北陸, Hokuriku) cho đến Đông Hải (東海, Tōkai), Đông Quốc (東國, Tōgoku) và Áo Châu (奥州, Ōshu). Tuy nhiên, do vì sự đối lập trong mối quan hệ lợi hại phát sanh giữa các môn đồ thọ nhận sự giáo hóa của ông với những lãnh chúa địa phương, nên ông lại phải rời khỏi địa phương Cát Khi và đến bố giáo ở các vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu), Hà Nội (河內, Kawauchi), Hòa Tuyền (和泉, Izumi) thuộc Osaka (大阪) ngày nay. Vào năm 1480, ông bắt đầu tái kiến Bổn Nguyện Tự ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina), mở rộng giáo hóa, cho nên người ta quy y theo phái ông nhiều hơn các phái khác. Vào độ tuổi 75, ông nhường lại mọi hậu sự cho người con trai thứ 5 là Thật Như (實如, Jitsunyo) và sống ẩn cư; nhưng sau đó ông vẫn tiếp tục bố giáo. Đến năm 1496, ông lại xây dựng nhà riêng ở vùng Thạch Sơn (石山, Ishiyama), Osaka và tiếp tục hoạt động truyền giáo cho đến 85 tuổi thì qua đời.

liên như

6144(1415~1499)日本京都人。本願寺第八世。親鸞之十世孫。諱稱兼壽。童名布袋丸、幸亭丸。十五歲即慨然有再興一宗之志。十七歲,依青蓮院尊應剃度,未久,至大谷研究宗義,並巡禮親鸞之遺蹟。其後,致力教化,每以平常語宣揚其宗旨,真宗教團因而擴展。後因大谷本山被延曆寺僧徒所燒,而逃至大津近松寺,另建山科本願寺,並營造大阪石別院,完成本願寺之中興。明應八年示寂,世壽八十五。敕諡「慧燈大師」之號。著有正信偈大意一卷、御文五帖、真宗領解文一通等。〔蓮如上人傳記、大谷本願寺通紀卷二〕 ; (蓮如) (1415-1499) Cao tăng Nhật bản, người Kinh đô (Kyoto), Tổ đời thứ 8 của phái chùa Bản nguyện thuộc Tịnh độ chân tông, tên Bố đại hoàn, Hạnh đình hoàn, húy Kiêm thọ. Năm 15 tuổi, sư bỗng có chí muốn trùng hưng tông phái. Năm 17 tuổi, sư y vào ngài Tôn ứng ở viện Thanh liên xuất gia. Không bao lâu, sư đến Đại cốc nghiên cứu tông nghĩa và lễ bái di tích của ngài Thân loan. Về sau, sư tận lực giáo hóa, thường dùng lời nói bình dị giảng diễn tông chỉ, nhờ thế giáo đoàn Chân tông phát triển rộng. Sau vì bản sơn Đại cốc bị tăng đồ chùa Diên lịch thiêu hủy, nên sư phải lánh đến chùa Cận tùng ở Đại tân. Sư lập riêng chùa Bản nguyện ở Sơn khoa, làm Thạch biệt viện ở Đại phản, hoàn thành chí nguyện trung hưng phái Bản nguyện tự. Năm Minh ứng thứ 8 (1499) sư tịch, thọ 85 tuổi. Vua ban thụy hiệu Tuệ Đăng Đại Sư. Sư có các tác phẩm: Chính tín kệ đại ý, 1 quyển, Ngự văn ngũ thiếp, Chân tông lĩnh giải văn nhất thông. [X. Liên như thượng nhân truyện kí; Đại cốc Bản nguyện tự thông kỉ Q.2].

liên niệm

Sympathetic thoughts.

liên phong tự

6145位於臺灣高雄大崗山山麓。永貴法師創建於民國前三年(1909)。初僅茅蓬數間,民國三年(1914)興建大雄寶殿,三十五年重新整修,此後陸續增建客廳、禪房、齋堂等。民國六十年,心聽法師接任住持後,斥資興修道路及講堂,交通便利,深得信眾稱道與護持,並獲省政府褒獎。

liên phái tự

Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Chùa thuộc phái Lâm Tế do vị Lâm Giác Thượng Sĩ sáng lập vào năm 1726, dưới triều vua Lê Dụ Tông. Lâm Giác Thượng Sĩ tên là Trịnh Thập, con trai Tần Quang Vương, cháu nội Trịnh Căn, lấy con gái thứ tư vua Lê Hy Tông. Khi sai người đào gò ở sau nhà để xây bể cạn thì tìm thấy trong lòng đất cái ngó sen. Phò mã cho mình có duyên với đạo Phật nên đi tu, trở thành vị Tổ đầu tiên của chùa Liên Tông. Đến đời Tự Đức, chùa được đổi thành Liên Phái để tránh kỵ húy. Tháp Diệu Quang ở bên sau cổng chùa, hình lục lăng cao 10 tầng, xây vào khoảng thế kỷ thứ 19, trong đó đặt hài cốt tổ Diệu Quang cùng 5 vị sư khác—Name of an ancient temple, located in Hai Bà Trưng district, Hanoi City, North Vietnam. The temple belonged to the Lin-Chi sect, was founded by Master Lâm Giác Thượng Sĩ in 1726, under Emperor Lê Dụ Tông. Master Lâm Giác, so-called Trịnh Thập, is tần Quang Vương's son and Lord Trịnh Cán's grandson (1682-1709). He married to the fourth daughter of King Lê Hy Tông. When he had the ground of the heap dug to make a pond in the back yard of his house, he saw a lotus shoot underground. The prince consort thought that he had a fate with Buddhism, so he decided to enter the monkhood and later became the first patriarch of the temple named Liên Tông. During the Emperor Tự Đức, the name of the temple was changed into Liên Phái to taboo the royal family's name. In the backyard stands Diệu Quang stupa, an octagonal ten-storeyed one built in the nineteenth century. There stored the relics of Patriarch Diệu Quang and five other masters.

Liên phòng

(蓮房): có hai nghĩa chính:(1) Đài sen. Vì bên trong đài sen có hạt sen, mỗi hạt đều cách nhau bởi một lỗ hổng, nên gọi là “liên phòng (蓮房, phòng của đài sen).” Trong bài thơ Thu Hứng (秋興) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Lộ lãnh liên phòng trụy phấn hồng (露冷蓮房墜粉紅, hơi sương lạnh đài sen rơi phấn hồng).” Trong bài Thái Liên Phú (採蓮賦) của Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường lại có câu: “Thính lăng ca hề kỉ khúc, thị liên phòng hề kỉ chu (聽菱歌兮幾曲、視蓮房兮幾株, nghe bài ca hái ấu chừ mấy khúc, nhìn đóa sen chừ được mấy gốc).” Trong Tây Phương Phát Nguyện Văn Chú (西方發願文註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1161) có giải thích rõ rằng: “Kim Cang Đài, tức Liên Hoa Tòa, kỳ tòa Kim Cang sở thành, cố danh Kim Cang Đài; hựu hoa nội liên phòng, diệc danh vi đài, Thượng Phẩm Thượng Sanh, nãi hữu thử đài (金剛臺、卽蓮華座、其座金剛所成、故名金剛臺、又華內蓮房、亦名爲臺、上品上生、乃有此臺, Đài Kim Cang tức là Tòa Hoa Sen, tòa này do Kim Cang mà thành, nên có tên là Đài Kim Cang; lại trong hoa có liên phòng, cũng gọi là đài; hàng Thượng Phẩm Thượng Sanh sẽ có đài này).” Sau này, người ta thường dùng một số câu để chúc mừng sanh con nói chung, hay sanh con trai nói riêng như tử chủng liên phòng (子種蓮房, hạt gieo trong đài sen), liên phòng đắc tử đa (蓮房得子多, đài sen được nhiều hạt), v.v. (2) Chỉ cho phòng ở của chư tăng. Vì Phật Giáo lấy tượng trưng cho sự trong sạch, không nhiễm của hoa sen để ví dụ cho phòng ở của chư tăng. Như trong Tây Quy Trực Chỉ (西歸直指, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1173) quyển 2 có đoạn: “Bỉ tắc chất thác liên phòng, an tọa diệu hương cung điện, ký bất thọ bào thai chi ô uế, phục bất lụy mẫu thị chi cù lao (彼則質托蓮房、安坐妙香宮殿、旣不受胞胎之汙穢、復不累母氏之劬勞, vị ấy sẽ sinh ra nơi phòng sen, an tọa trên cung điệu hương thơm, đã không bị sự ô uế của bào thai, lại chẳng phải chịu sự nuôi nấng cực khổ của người mẹ).”

liên quan

Interrelated.

liên quan thế tục

Worldly concerns

liên quan đến

To refer to

liên quang tự

6143位於臺灣宜蘭頭城鎮。舊稱靜養堂。初為在家居士共修之處,由陳定修居士獻地,馬高玄等居士出資建築,落成於民國二十七年(1938)。五十八年,該堂管理人馬淑娥居士將佛堂獻給佛教,改稱蓮光寺,敦請殊度法師為住持。殊度就任後,旋即展開整建工作,未幾,寺宇煥然一新,五十九年恭請成一法師主持佛像開光盛典。

liên sát

Lotus-ksetra, or lotus-land, the paradise of Amitàbha. ; Cõi Tịnh Độ Tây Phương lấy hoa sen làm nơi ký thác vãng sanh—Lotus ksetra—Lotus land—The paradise of Amitabha.

liên thai

6154指佛、菩薩所坐之蓮華臺座而言。或單指阿彌陀佛所坐之蓮華臺座。又稱蓮華臺、華臺、蓮華座、華座。蓋由蓮花出污泥而不染之德,故佛、菩薩之臺座係表示其居穢國而得離塵清淨、神力自在之意。 大智度論卷八,列舉佛菩薩不坐床而坐蓮花之原因:(一)因床為白衣之坐法。(二)欲示現神力,以蓮花之軟淨,坐其上而令花不壞。(三)能莊嚴妙法座。(四)諸花皆小,獨此花香淨廣大。同書又謂蓮花之大小有種種差別,如人中之蓮花大不過尺;而曼陀吉尼池及阿那婆達多池等之蓮花大如車蓋;天上之寶蓮花更大,可容結跏趺坐;佛所坐之花則勝此百千萬倍,嚴淨香妙,故堪為佛之臺座。以下就梵網經、觀無量壽經說明蓮臺之差異。 (一)梵網經之說:盧舍那佛坐於蓮華臺上,周匝千葉之上,復現千尊之釋迦,一花有百億國,一國有一尊釋迦,各坐於菩提樹下,皆成佛道。據華嚴宗三祖法藏之梵網經疏卷一之闡釋,就事而言,菩薩所坐之花有千葉以上,佛所坐者則無所限量,一一花葉周遍法界。訧理而言,係依佛之智身的真如之理。就理事無礙而言,謂佛果圓融,而理事互通,依正無礙而相即自在。 (二)觀無量壽經之說:文中述及第七華座觀,謂於七寶地上,作蓮花之想,一一花葉令作百寶色,有八萬四千之脈,猶如天畫。釋迦以毘楞伽寶為其臺,此蓮華臺以八萬之金剛甄叔迦寶、梵摩尼寶、妙真珠網等交相嚴飾。又依九品往生說,往生之人所乘者,即七寶蓮華。其華座,如天親之淨土論謂(大二六‧二三一上):「無量大寶王,微妙淨花臺。」故發願往生淨土之念佛行人,臨終時,佛、菩薩即手持蓮臺來迎。又形容蓮花臺之清淨,而有「淨花臺」之稱。〔往生要集卷上〕(參閱「來迎」3049) ; 6145又作蓮花胎。念佛往生彌陀淨土之人,皆在蓮花內化生,喻如母胎,故稱蓮胎。蓮宗寶鑑卷八(大四七‧三三九下):「當生淨土,入彼蓮胎,受諸快樂。」元照之觀經義疏卷下(大三七‧二九五下):「當知今日想佛之心,相好果德,悉已具足,蓮胎孕質,即是此心,是證菩提,不從他得矣!」 ; The Lotus-womb in which the believers of Amitàbha are born into his paradise. ; Người nào tin vào niệm Phật vãng sanh nơi cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà đều sanh ra từ trong hoa sen, giống như trong thai mẹ—The Lotus-womb in which the believers of Amitabha are born into his paradise. It is also described as the believer's heart in embryo. ; (蓮胎) Cũng gọi Liên hoa thai. Bào thai hoa sen. Những người niệm Phật vãng sinh Tịnh độ đều từ trong hoa sen hóa sinh, giống như trong thai mẹ, cho nên gọi là Liên thai. Liên tông bảo giám quyển 8 (Đại 47, 339 hạ), nói: Khi vãng sinh Tịnh độ, vào liên thai kia, hưởng thụ sự vui sướng. Quán kinh sớ quyển hạ của ngài Nguyên chiếu (Đại 37, 295 hạ) nói: Nên biết tâm tưởng Phật ngày nay, quả đức, tướng tốt ắt đã đầy đủ, liên thai nhen nhúm tức là tâm ấy, tự chứng bồ đề, chứ không do người khác mà được.

liên thắng vương

King of Successive Victories.

liên tiếp

Consecutive—Successive—Continuous.

Liên Trì

(蓮池): có ba nghĩa chính. (1) Chỉ hồ có trồng hoa sen. Như trong bài Vịnh Trì Biên Đào (詠池邊桃) của Nhiệm Phưởng (任昉, 460-508) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Liêu phùng thưởng giả ái, thê chỉ bàng liên trì (聊逢賞者愛、棲趾傍蓮池, nhờ gặp muốn thưởng thức, dừng chân bên hồ sen).” Hay như trong Pháp Hoa Kinh Đại Ý (法華經大意, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 31, No. 609) có câu: “Nê ngưu phụ dạ đáo liên trì, mộc mã đà xuân lai liễu ngạn (泥牛負夜到蓮池、木馬馱春來柳岸, trâu bùn vác đêm đến hồ sen, ngựa gỗ cõng xuân về bờ liễu).” (2) Chỉ cho Liên Trì Đại Sư (蓮池大師), tức Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615), tự là Phật Tuệ (佛慧), hiệu Liên Trì (蓮池); từng sống tại Vân Thê Tự (雲棲寺) thuộc Ngũ Vân Sơn (五雲山), Hàng Châu (杭州), Tỉnh Triết Giang (浙江省); xuất thân Phủ Nhân Hòa (仁和府), Hàng Châu, họ là Thẩm (沉). (3) Chỉ cho đất Phật, tức Cực Lạc Tịnh Độ. Như trong chương Đầu Am (投庵) của tác phẩm Ngọc Trâm Ký (玉簪記) do Cao Liêm (高濂, 1573-1620) nhà Minh sáng tác có câu: “Bất thị tam niên tằng hữu ước, thùy giáo kim nhật hội Liên Trì (不是三年曾有約、誰敎今日會蓮池, chẳng phải ba năm từng hẹn ước, ai bảo hôm nay gặp Liên Trì).” Hay trong chương Cùng Sĩ Phù Kê (窮士扶乩) của bộ tiểu thuyết Hài Đạc (諧鐸) do Thẩm Khởi Phụng (沉起鳳, 1741-?) nhà Thanh sáng tác, cũng có câu: “Niên lai thuyết pháp thành không tướng, nguyện chú Liên Trì hóa tửu bôi (年來說法成空相、願咒蓮池化酒杯, năm sau thuyết pháp thành không tướng, mong biến Liên Trì chén rượu thành).” Trong Thiền môn có bài Tán Liên Trì (蓮池讚) rất thông dụng: “Liên Trì hải hội, Di Đà Như Lai, Quan Âm Thế Chí tọa liên đài, tiếp dẫn thượng kim giai, đại thệ hoằng khai, phổ nguyện ly trần ai (蓮池海會、彌陀如來、觀音勢至坐蓮臺、接引上金階、大誓弘開、普願離塵埃, Liên Trì biển hội, Di Đà Như Lai, Quan Âm Thế Chí ngồi sen đài, tiếp dẫn lên vàng ngai, thệ nguyện rộng bày, khắp nguyện lìa trần ai).”

liên trì

Lotus pond.

liên trì hải hội

Liên trì hải hội tiêu biểu cho sự tập hợp của Phật A Di Đà, chư Bồ tát, các bậc thức giả, Thánh chúng, cùng các thượng thiện nhân câu hội nơi Tây Phương Cực Lạc. Gọi là Liên trì Hải Hội vì số người tham dự là vô số, trải dài ra như đại dương trong pháp giới—Ocean-Wide Lotus Assembly—Lotus assembly represents the gathering of Buddha Amitabha, the Bodhisattvas, the sages and saints and all other superior beings in the Land of Ultimate Bliss. This Assembly is called Ocean-Wide as the participants infinite in number, spreading as far and wide as the multitude of oceans in the Dharma Realm.

liên tòa, tòa sen

The lotus throne on which are seated the images; Buddha-throne.

liên tòa-tòa sen

The lotus throne on which are seated the images; Buddha-throne.

Liên Tông

(蓮宗): còn gọi là Liên Môn (蓮門), là tông môn tôn thờ ý chỉ của Liên Xã (蓮社) và nguyện cầu vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà, tức Liên Bang (蓮邦); là tên gọi khác của Tịnh Độ Tông (淨土宗). Tông phái này vốn phát khởi từ việc Huệ Viễn (慧遠, 334-416) nhà Đông Tấn, sáng lập ra Bạch Liên Xã (白蓮社) ở Đông Lâm Tự (東林寺), Lô Sơn (廬山), phát nguyện vãng sanh Tây phương Tịnh Độ. Tác phẩm (廬山蓮宗寶鑑, Taishō Vol. 47, No. 1973) quyển 1 do Ưu Đàm Phổ Độ (優曇普度) biên tập, cho biết rằng: “Đông Tấn Viễn Công Tổ sư, nhân thính Di Thiên Pháp sư giảng Bát Nhã Kinh, hoát nhiên đại ngộ, nhập ư vô lượng thậm thâm Tam Muội, du chỉ Lô Sơn, dữ cao tăng triều sĩ kết duyên tu hành; cố vân chư giáo Tam Muội kỳ danh thậm chúng, công cao dị tấn, niệm Phật vi tiên, nhân dĩ bạch liên danh kỳ xã yên (東晉遠公祖師、因聽彌天法師講般若經、豁然大悟、入於無量甚深三昧、遊止廬山、與高僧朝士結緣修行、故云諸敎三昧其名甚眾、功高易進、念佛爲先、因以白蓮名其社焉, Tổ sư Huệ Viễn nhà Đông Tấn, nhân nghe Pháp sư Di Thiên giảng Kinh Bát Nhã mà hoát nhiên đại ngộ, nhập vào vô lượng Tam Muội [Định] thâm sâu, đến dừng chân tại Lô Sơn, cùng với các cao tăng, nhân sĩ triều đình kết duyên tu hành; nên mới bảo rằng Tam Muội của các giáo phái tên gọi rất nhiều, [trong đó] công phu cao mà dễ tiến triển, chính niệm Phật là trên hết; nhân đó lấy hoa sen trắng đặt tên cho xã này vậy).” Hơn nữa, hoa sen là tượng trưng cho y báo của Cực Lạc, chúng sanh của quốc độ ấy đều lấy hoa sen làm nơi cư trú, lấy đài sen để nguyện sanh vào đó; cho nên có tên Liên Tông. Trong Tịnh Độ Tư Lượng Toàn Tập (淨土資糧全集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1162) quyển 6 có đoạn rằng: “Thiền Tông mích tâm vô xứ, tức đăng Tổ vị; Liên Tông tâm Phật lưỡng vong, diệc tê Thượng Phẩm, dĩ thử chứng chi (禪宗覓心無處、卽登祖位、蓮宗心佛兩忘、亦躋上品、以此證之, Thiền Tông tìm tâm không nơi chỗ, liền chứng quả vị Tổ; Liên Tông thì tâm và Phật đều quên, cũng lên Thượng Phẩm, lấy đây làm chứng vậy).”

liên tông

6144即淨土宗。願求往生阿彌陀佛淨土(蓮邦)之宗派。起於東晉慧遠於廬山東林寺創建白蓮社,發願往生西方淨土。又稱蓮門。依優曇普度所著蓮宗寶鑑之自敘(大四七‧三○四上):「東晉遠公祖師,因聽彌天法師講般若經,豁然大悟,入於無量甚深三昧。遊止廬山,與高僧朝士結緣修行。故云諸教三昧其名甚眾,功高易進,念佛為先,因以白蓮名其社焉。」蓋以蓮花為極樂依報之象徵,彼土之眾總以蓮花為居所,並以蓮臺來迎願生者,故以蓮宗稱之。〔蓮宗九祖傳略、阿彌陀經疏鈔卷二、蓮宗諸戒儀〕(參閱「淨土宗」4684) ; The Lotus-sect founded by Hui-yuan Huệ Viễn. ; Liên Hoa Tông được ngài Huệ Viễn khai sáng vào khoảng năm 300 sau Tây Lịch tại tự viện Bạch Liên Trì của ngài. Tông phái nầy không có liên hệ gì đến Bạch Liên Mật Xã khởi lên thời nhà Nguyên Mông. Ngài Huệ Viễn thời Đông Tấn nhân đọc (có sách nói ngài nghe pháp sư Di Thiên giảng) kinh Bát Nhã mà bỗng nhiên đại ngộ. Sau đó ngài chú tâm vào việc niệm Phật để được cứu độ. Tông phái của ngài trở thành Tịnh Độ Tông, mà những năm về sau nầy lan truyền rộng rãi khắp vùng viễn đông—The Lotus sect founded by Hui-Yuan around 300 AD. at his monastery, in which was a white lotus pond. It has no connection with the White Lily Secret Society which arose during the Mongol or Yuan dynasty. The Lotus sect is traced to the awakening of Hui-Yuan by the reading of the Prajnaparamita Sutra. He then turned his attention to calling on the name of Buddha to obtain salvation direct to his Pure Land. Th school became that of the Amitabha or Pure Land sect, which in later year developed into the principal Buddhist cult in the Far-East. ; (蓮宗) Cũng gọi Liên môn. Tức là tông Tịnh độ. Tông này bắt nguồn từ Bạch liên xã (hội Sen trắng) do ngài Tuệ viễn sáng lập ở chùa Đông lâm, Lô sơn, Trung quốc. Bài tựa trong Liên tông bảo giám của ngài Ưu đàm Phổ độ (Đại 47, 304 thượng), nói: Tổ Tuệ viễn đời Đông Tấn đến Lô sơn kết duyên tu hành cùng với các vị cao tăng và danh sĩ triều đình. Ngài nói rằng có rất nhiều tên của Tam muội trong các pháp môn, nhưng công hạnh cao mà dễ tiến thì chỉ có pháp môn niệm Phật là đứng đầu, vì thế mà ngài lập ra Bạch liên xã, chuyên niệm Phật cầu vãng sinh. Hoa sen tượng trưng cho y báo của cõi Cực lạc Tịnh độ, vì thế tông Tịnh độ cũng còn có tên là Liên tông. [X. Liên tông cửu tổ truyện lược; A di đà kinh sớ sao Q.2; Liên tông chư giới nghi]. (xt. Tịnh Độ Tông).

liên tông bảo giám

6145凡十卷。元代廬山東林寺之優曇普度撰。又稱廬山蓮宗寶鑑、廬山優曇寶鑑、廬山蓮宗寶鑑念佛正因、念佛寶鑑。普度自稱為東晉廬山慧遠白蓮社念佛之正系,基於南宋慈照子元白蓮宗之教旨,編集有關念佛三昧之經說、史傳等。蓋因慨嘆當時稱蓮宗者多,然不能基於初祖慧遠之意,不能了悟開祖子元之本旨,更為邪說謬解所惑,為救此流弊,遂集諸書之善言加以增刪或潤色而成此書。元成宗大德九年(1305)撰集,至大元年(1308)白蓮宗被禁行,普度針對情勢,上進本書,此書遂得御覽刊行。本書廣述念佛要旨,其綱目與章數依次為:念佛正因十四章、念佛正教十九章、念佛正宗八章、念佛正派二十二章、念佛正信六章、念佛正行十四章、念佛正願七章、念佛往生正訣十二章、念佛正報五章、念佛正論二十五章。每卷初置總說,以下則接經論要文、古德行狀、教語等。〔大明三藏聖教北藏目錄卷四、大清三藏聖教目錄卷五、元史卷二十二〕 ; (蓮宗寶鑒) Cũng gọi Lô sơn liên tông bảo giám, Lô sơn liên tông bảo giám niệm Phật chính nhân, Niệm Phật bảo giám. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Ưu đàm Phổ độ soạn ở chùa Đông lâm, Lô sơn, vào đời Nguyên, Trung quốc. Ngài Ưu đàm Phổ độ cảm thương vì thời bấy giờ nhiều người gọi là Liên tông, nhưng không hiểu được ý chỉ của Sơ tổ Tuệ viễn, lại bị các tà thuyết mê hoặc, cho nên biên tập các lời nói trong các kinh sách rồi thêm bớt hoặc nhuận sắc mà thành sách này, để hoằng dương yếu chỉ niệm Phật chân chính hầu cứu vãn thời tệ. Nội dung chia làm nhiều chương và cương mục, thứ tự sau: niệm phật chính nhân 14 chương; niệm phật chính giáo 19 chương; niệm phật chính tông 8 chương; niệm phật chính phái 22 chương; niệm phật chính tín 6 chương; niệm phật chính hạnh 14 chương; niệm phật chính nguyện 7 chương; niệm phật vãng sinh chính quyết 12 chương; niệm phật chính báo 5 chương; niệm phật chính luận 25 chương. trong 10 quyển, đầu mỗi quyển là phần tổng thuyết, tiếp theo là chính văn của các kinh luận, hành trạng của các bậc cổ đức, giáo ngữ... [x. đại minh tam tạng thánh giáo bắc tạng mục lục q.4; đại thanh tam tạng thánh giáo mục lục q.5; nguyên sử q.22].

liên tông cửu tổ

6144自東晉慧遠創立蓮社於廬山東林寺,始有蓮宗之名,由晉迄清,共有九祖,皆是提倡念佛之一脈相承者。其名如下:初祖廬山東林慧遠,二祖長安光明善導,三祖衡山般舟承遠,四祖衡州雲峰法照,五祖新定烏龍少康,六祖杭州永明延壽,七祖武林昭慶省常,八祖古杭雲棲袾宏,九祖鳳山梵天省庵。〔蓮宗九祖傳略〕 ; (蓮宗九祖) Chín vị Tổ của Liên tông. Từ khi ngài Tuệ viễn sáng lập Liên xã ở chùa Đông lâm trên núi Lô sơn, vào thời Đông Tấn, mới có tên Liên tông. Kể từ đó cho đến đời nhà Thanh, có tất cả chín vị Tổ tiếp nối đề xướng và truyền thừa pháp môn niệm Phật. Danh sách của các Ngài như sau: sơ tổ đông lâm tuệ viễn ở lô sơn; nhị tổ quang minh thiện đạo ở trường an; tam tổ bát chu thừa viễn ở hoành sơn; tứ tổ vân phong pháp chiếu ở hành châu; ngũ tổ ô long thiếu khang ở tân định; lục tổ vĩnh minh diên thọ ở hàng châu; thất tổ chiêu khánh tỉnh thường ở vũ lâm; bát tổ vân thê châu hoành ở cổ hàng; cửu tổ phạm thiên tỉnh an ở phượng sơn. [x. liên tông cửu tổ truyện lược.]

liên tông phái

6144越南禪宗與淨土宗相結合之佛教教派。又稱竹林蓮宗。十七世紀中期竹林禪派名僧白梅麟角創於昇龍婆 ; (蓮宗派) Cũng gọi Trúc lâm liên tông. Một tông phái của Việt nam, do ngài Bạch mai Lân giác sáng lập ở chùa Bà đá tại Thăng long vào khoảng thế kỷ thứ XVII. Tông phái này bắt nguồn từ Bạch liên tông do ngài Từ chiếu Tử nguyên đời Nam Tống, Trung quốc, đề xướng, chủ trương Thiền Tịnh một mối, cho giáo là mắt Phật, Thiền là tâm Phật, lấy việc niệm Phật A di đà làm công án Thiền, pháp tu thực tiễn là chuyên niệm danh hiệu Di đà. Tông này thịnh hành ở miền Bắc Việt nam; các chùa chủ yếu của Tông này là chùa Hàm long ở Bắc ninh, chùa Nhật quang ở Kiến an, chùa Liên tông ở Hà nội, v.v...

liên tưởng

To hover over.

Liên tọa

(蓮座): tòa sen. Như trong bài thơ Quán Phật Tích Tự (觀佛迹寺) của Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường có câu: “Liên tọa thần dung nghiễm, tùng nhai Thánh tích dư (蓮座神容儼、松崖聖迹餘, tòa sen dung tướng uy nghiêm, cây tùng vách núi cõi Thiền còn đây).” Hay trong thiền lâm sớ ngữ khảo chứng (禪林疏語考證, 卍 Xuzangjing Vol. 63, No. 1252) quyển 2, phần Hỏa Hậu Hoàn Nguyện (火後還愿), có đoạn: “Phục nguyện nguy nguy liên tọa hiện nguyệt minh thủy thượng chi quang, vĩnh vĩnh bồng cư tuyệt yên diệt hôi phi chi huyễn (伏願巍巍蓮座現月明水上之光。永永蓬居絕煙滅灰飛之幻, cúi mong nguy nga tòa sen hiện trăng sáng trên nước hào quang, mãi mãi an cư dứt khói tuyệt tro bay giả huyễn).”

liên tọa

1) Đài sen hay tòa sen để đặt tượng Phật—The lotus throne on which are seated the images of the Buddha. 2) Tòa Phật: Buddha-throne.

liên tỏa bồ tát

Xem Kim Cang Tỏa Bồ tát.

liên tục

See Liên Tiếp.

liên tử

Lotus seeds. ; Lotus seeds.

Liên Vĩnh Tự

(蓮永寺, Renei-ji): ngôi tự viện có liên quan đến Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại Aoi-ku (葵區), Shizuoka-shi (靜岡市), Shizuoka-shi (靜岡市); hiệu là Trinh Tùng Sơn (貞松山). Vào năm 1274 (Văn Vĩnh [文永] 11, có thuyết cho là 1275), khi Nhật Liên vào trong núi Thân Diên (身延), Tùng Dã Lục Lang Tả Vệ Môn (松野六郎左衛門), người đã từng quy y theo Thánh Nhân, mới xây dựng một ngôi chùa nhỏ, lấy hiệu là Tùng Vinh Sơn Phương Thọ Viện (松榮山芳樹院); và người đệ tử trực truyền của Nhật Liên là Nhật Trì (日持) làm Tổ khai sáng chùa. Về sau, do vì binh hỏa, chùa bị đốt cháy toàn bộ; nhưng vào năm 1615 (Nguyên Hòa [元和] nguyên niên), người vợ thứ của Tuớng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) là Dưỡng Châu Viện (養珠院) cho dời chùa về vị trí hiện tại và tái kiến lại toàn bộ như cũ. Sau đó, bà cung thỉnh Nhật Càn Thượng Nhân (日乾上人) ở Cửu Viễn Tự (久遠寺), Thân Diên Sơn đến làm Tổ khai sơn thời Trung Hưng của chùa, và chùa được đổi tên thành Trinh Tùng Sơn Liên Hoa Viện Liên Vĩnh Tự (貞松山蓮華院蓮永寺). Sau đó, vào năm 1774 (An Vĩnh [安永] 3), chùa lại bị cháy lần nữa, rồi cũng được xây dựng lại cho đến ngày nay. Chính đây là ngôi chùa có liên quan đến bà Dưỡng Châu Viện, nên vẫn còn lưu giữ những di phẩm của bà như hộp đựng con ấn đỏ, trạng châu ấn cũng như nghiên mực, v.v. Trong khuôn viên chùa có ngôi tháp cúng dường do bà dựng lên trong lúc sinh tiền để cầu nguyện sau khi qua đời được siêu độ.

Liên Xã

(蓮社): tức Bạch Liên Xã (白蓮社), là đoàn thể tu pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ, do Huệ Viễn (慧遠, 334-416) ở Lô Sơn (廬山) đời Đông Tấn sáng lập ra vào năm 402 với một nhóm đồng chí 123 người. Cho nên Liên Xã còn có nghĩa là Tịnh Độ (淨土), thế giới của đức Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀).

liên xã

Bạch Liên Tông—The White Lotus Sect—See Liên Tông.

liên xã, bạch liên xã

The white lotus sect, idem Liên tông.

liên xã-bạch liên xã

The white lotus sect, idem Liên tông.

liên ái

To pity—To love—To care for.

liên đoàn

Syndicate—League.

liên đài

Buddha's throne. ; (蓮臺) Cũng gọi Liên hoa đài, Hoa đài, Liên hoa tòa, Hoa tòa. Chỉ cho tòa ngồi bằng hoa sen của đức Phật, Bồ tát, hoặc chỉ riêng tòa sen của Phật A di đà. Bởi vì đặc tính của hoa sen là mọc trong bùn nhơ mà không nhiễm mùi bùn. Cho nên, tòa sen của Phật, Bồ tát biểu thị ý nghĩa các Ngài ở trong cõi nước ô uế mà xa lìa trần cấu, được thanh tịnh, thần lực tự tại. Theo luận Đại trí độ quyển 8, đức Phật và Bồ tát không ngồi trên giường mà ngồi trên hoa sen là vì những lí do sau đây: 1. Vì giường là chỗ ngồi của người bạch y (người thế tục). 2. Phật và Bồ tát muốn thị hiện thần lực, ngồi trên hoa sen mềm mại thơm sạch mà không tổn hại đến hoa. 3. Để trang nghiêm tòa diệu pháp. 4. Các hoa khác đều nhỏ, riêng hoa này to lớn, có mùi thơm thanh khiết. Luận đã dẫn còn cho rằng các loại hoa sen có lớn nhỏ khác nhau, như hoa sen ở cõi người thì to không quá 1 thước, còn hoa sen ở ao Mạn đà cát ni và ao A na bà đạt đa thì to bằng cái bánh xe và cái lọng; nhưng hoa sen báu trên cõi trời thì to hơn nhiều, có thể ngồi kết già trên đó. Tuy nhiên, so với các loại hoa sen nói trên, thì tòa sen của đức Phật còn trang nghiêm thanh tịnh và to lớn hơn gấp trăm nghìn vạn ức lần. [X. Vãng sinh yếu tập Q.thượng]. (xt. Lai Nghinh).

Liên Đăng Hội Yếu

(聯燈會要, Rentōeyō): xem Tông Môn Liên Đăng Hội Yếu (宗門聯燈會要, Shūmonrentōeyō) bên dưới.

liên đăng hội yếu

6493凡三十卷。南宋晦翁悟明撰。又稱禪宗聯燈錄。收於卍續藏第一三六冊。列舉過去七佛至天童正覺之法嗣等禪宗五家之傳燈法系,並依序集錄其重要之機緣問答。 本書撰於孝宗淳熙十年(1183),卷首有淳熙十六年淡齊李泳之序、元至元二十八年(1291)思忠之重刊序,及淳熙十年之自序。其撰述年代另有異說,佛祖歷代通載卷三十二謂撰於寧宗嘉定十三年(1220),釋氏稽古略卷四則說寧宗嘉定十年,此二說俱不正確。〔重刻五燈會元序、續傳燈錄卷三十五悟明傳、禪籍志卷上〕 ; (聯燈會要) Cũng gọi Thiền tông liên đăng lục. Tác phẩm, 30 quyển, do ngài Hối ông Ngộ minh soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 136. Nội dung sách này nói về 7 đức Phật quá khứ, pháp hệ truyền thừa của Ngũ gia Thiền tông cho đến dòng phái của ngài Thiên đồng Chính giác, đồng thời, theo thứ tự thu chép những cơ duyên vấn đáp quan trọng của các tông. Sách này được soạn vào năm Thuần hi thứ 10 (1183) đời vua Hiếu tông nhà Nam Tống, đầu quyển có bài tựa của Đạm tề Lí vịnh viết vào năm Thuần hi 16 (1189), bài tựa cho lần in lại của Tư trung soạn vào năm Chí nguyên 28 (1291) đời Nguyên và bài tựa của soạn giả viết vào năm Thuần hi thứ 10 (1183). Về niên đại soạn thuật sách này, còn có nhiều thuyết khác nhau: Phật tổ lịch đại thông tải quyển 32 cho rằng sách này được soạn vào năm Gia định 13 (1220) đời vua Ninh tông; Thích thị kê cổ lược thì nói nó được soạn vào năm Gia định thứ 10 (1227), v.v...Nhưng cả 2 thuyết này đều không chính xác. [X. Bài tựa trong Ngũ đăng hội nguyên (bản khắc lại); truyện Ngộ minh trong Tục truyền đăng lục Q.35; Thiền tịch chí Q.thượng].

liên đường thảo

6145指由手織成之草紋圖;即「唐草」上處處散有蓮花之圖案。日本飛鳥時代自唐輸入後,即長期流行。

liên đới

Jointly responsible—Liable.

liêu

Phòng—A hut—A study—A room.

liêu chủ

5974係禪剎中輔佐寮元辦事之職稱。又稱直寮。負責守護眾僧之衣鉢。此職係依入寮時間之先後,次第輪請,或任一月,或任半月,或任十日,諸寺之規定不同。寮主與副寮日夜不離眾寮,眾僧坐禪時,與寮元同坐於佛前。勅修百丈清規卷四列職雜務條,記載其職務甚詳(大四八‧一一三三上):「寮主、副寮,凡安眾處,寮元照戒次,自下而上,請充之,寫定名字,預貼牌上,十日一替,佐寮元辦事。旦暮僧眾歸堂,巡視經案,或有遺忘什物者,眼同收拾付還;及交點本寮什物,提調香燈茶湯,毋容外人止宿及寄賣物件。」〔禪苑清規卷四〕(參閱「寮元」5974) ; Liêu Nguyên—Liêu Trưởng—Vị sư trụ trì tự viện—The head, or manager of a monastery. ; (寮主) Cũng gọi Trực liêu. Chức vụ phụ tá cho vị Liêu nguyên trong Thiền lâm, có trách nhiệm giữ gìn áo bát cho chúng tăng. Chức vụ này y theo thời gian vào liêu trước sau mà lần lượt nhận lãnh, có người làm 1 tháng, có người làm nửa tháng, cũng có người làm 10 ngày, tùy theo qui định khác nhau của các chùa. Liêu chủ và Liêu phó ngày đêm không rời khỏi các liêu, lúc chư tăng ngồi thiền, thì Liêu chủ, Liêu phó và Liêu nguyên cùng ngồi trước bàn Phật. Điều Liệt chức tạp vụ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1133 thượng), nói: Liêu chủ, Liêu phó có phận sự xếp đặt chỗ ở cho chúng tăng, vị Liêu nguyên chiếu theo thứ bậc giới lạp, từ dưới lên trên mà thỉnh cử để sung vào 2 chức vụ trên, tên của 2 vị này được niêm yết trên bảng, 10 ngày thay 1 lần để giúp việc cho Liêu nguyên. Liêu chủ, Liêu phó trông coi chúng tăng sớm tối đi về tăng đường, soát trên các án kinh, xem có ai bỏ quên vật gì thì thu lấy để trả lại cho người ấy, để ý những vật lặt vặt trong liêu, trông coi việc hương đèn trà nước, chớ để cho người ngoài ngủ nhờ hoặc gửi các đồ vật buôn bán trong liêu. [X. Thiền uyển thanh qui Q.4]. (xt. Liêu Nguyên).

liêu nguyên

5974<一>係禪剎中司掌眾寮事務之僧職。爲六頭首之一。又稱坐元、座元、寮首座、第一座。該職掌理眾寮之經文物品、茶湯柴炭、請給供需、灑掃浣濯等,其下設有寮長、寮主、副寮、望寮等輔佐其職務。由於熟悉寺中諸事,故凡點檢寮中眾僧閱讀經文、告誡違規違例者、調和內部之爭論、予新到寺者教誡規矩等,亦須負責處理。此外,寮元所住之處,稱爲寮元寮。〔勅修百丈清規卷四列職雜務、僧堂清規卷五、禪林象器箋職位門〕(參閱「眾寮」4753) <二>近代禪剎叢林中,每設有雲水堂(上客堂),寮元即主司雲水堂中諸事者。 ; See Liêu Chủ. ; (寮元) I. Liêu Nguyên. Cũng gọi Tọa nguyên, Tòa nguyên, Liêu thủ tòa, Đệ nhất tòa. Chức vụ trông coi công việc các liêu trong Thiền lâm, 1 trong 6 vị Đầu thủ. Chức vụ này có trách nhiệm trông coi về kinh sách, phẩm vật, trà nước, củi than, quét tước, dọn dẹp và xin cấp nhu yếu phẩm cho các liêu. Dưới chức này, còn có Liêu trưởng, Liêu phó, Phó liêu, Vọng liêu v.v... giúp việc cho Liêu nguyên. Vì am hiểu các việc trong chùa, cho nên Liêu nguyên quán xuyến mọi việc như: Xem xét chúng tăng trong liêu xem kinh, đọc kinh, răn nhắc việc trái phạm luật lệ, dàn xếp việc tranh cãi nội bộ, hướng dẫn qui củ cho những người mới đến chùa, tóm lại, phải phụ trách xử lý tất cả các việc. Chỗ Liêu nguyên ở, gọi là Liêu nguyên liêu.[X. điều Liệt chức tạp vụ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Tăng đường thanh qui Q.5, môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Chúng Liêu). II. Liêu Nguyên. Thời cận đại, các tùng lâm Thiền tông có đặt Vân thủy đường (nhà Thượng khách), Liêu nguyên là chức vụ trông coi các việc trong Vân thủy đường này.

liêu quốc phật giáo

5975寮國(Laos)爲中南半島內陸國,古稱老撾。北接雲南,東鄰越南,南連高棉,西南臨緬甸,並依湄公河與泰國爲界。種族繁多,主要有寮、卡(Khas)、苗三族。寮族源出我國西南邊區,自唐代至元代,其間六百餘年,頗受中、印文化影響,曾盛行信奉佛教,惟重祭鬼神,兼含濃厚之民族色彩;其後漸南移而在寮國定居,占人口的三分之二。 寮國史上明確記載有佛教信仰,係始於法蓣王(Fia Ngoun, 1353~1373 在位)創建南掌國(Lang Chang)之後。法蓣王幼年曾隨父流亡高棉,受摩訶波沙曼多長老(Mahāpasamanta)教養;王后爲高棉王之女,係虔誠之佛教徒,法蓣王受其影響,遂恭請高僧、鑄造佛像、建立波沙曼寺(Pasamanarama),寮民亦漸轉信佛教。明永樂二年(1404),南掌獲中國承認,封爲「老撾宣慰司」,時值拍耶三成泰王在位,曾建立摩那蘭寺(Wat Manorom),並提倡佛學。維蘇王(Visoun, 1501~1520 在位)時,建立有名之維蘇寺以供奉佛舍利。至悉達提拉王(Sethathirath),更於都城永珍北邊創建寮國最偉大之建築物「大舍利塔」(Dhātu Luang,寮語謂之塔鑾)。 十七世紀中葉,寮國成爲東南亞佛教中心。其後,陷入長期分裂狀況,十九世紀初,永珍甚且成爲泰國之一省。至中葉,以泰、越對立,寮國方得安定,惟以後法人勢力入侵,一八九三年終成法國之保護國。 法屬時期,佛教失去傳統之國家保護與支持,甚難發展,所幸人民絕大多數仍虔信佛教。過去之舊式教育係以佛寺爲中心,法國統領下雖曾將教育權收歸政府,然由於國民教育不普及,佛寺仍爲高深知識與佛法研究之重鎮,法人無法強加禁止。二十世紀初,佛教施行分層級之機構組織,國家之下爲州縣,次爲鄉村,鄉村各佛寺均有僧人專職管理。與泰、緬、高棉相同,寮國亦盛行男子一度出家之俗,至於時間長短或係終生爲之,則隨個人意願。 獨立後(1954)至內戰爆發前(1960),佛教蓬勃發展,古都琅勃拉邦市郊之富士寺爲佛教中心,寺中供有鑄於十五世紀,重達四百餘公斤之金佛像。古都北面二十公里處有北墟洞,洞中佛像不計其數,故有萬佛洞之稱。僧侶教育獲國家完全支持,分小學、中學、佛教高級教育(相當於高中)三級,後者由教育部負責,畢業者加「摩訶」(梵 Mahā)之尊稱。華僑佛教徒於永珍創有「中寮佛教社」,越僑亦多信大乘佛教,建有「邦廊寺」(Wat Banglong),弘揚佛法。 關於寮國所信奉之佛教,與緬甸、泰國等相同,皆屬南傳巴利佛教,如王家圖書館中即藏有貝葉本巴利文、泰文等各種佛教經典。然與其他南傳國家不同者,如佛教教育及僧團戒律等,不及他國嚴格,比丘得與在家人共同進食飲酒,可直接自婦女手中接受供物,且可與婦女共事。又比丘受人民之恭敬供養則與他國無異,人民多行布施,喜入寺聽僧眾說法及受持齋戒。〔寮國佛教史(淨海)、ERE. vol. 7 Laos; M. Bode:The Pali Literature of Burma, London 1909〕 ; (寮國佛教) Phật giáo nước Liêu (Lào). Liêu, xưa gọi là Lão qua, là 1 nước nhỏ nằm sâu trong lục địa của bán đảo Trung nam, Bắc giáp Trung quốc, Đông giáp Việt nam, Tây giáp Miến điện, Nam giáp Cao miên. Trong nước có nhiều chủng tộc, nhưng quan trọng thì có 3 chủng tộc: Lào, Kha và Mèo. Chủng tộc Lào vốn có nguồn gốc từ vùng Tây nam Trung quốc, từ đời Đường đến đời Nguyên khoảng hơn 600 năm, chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung quốc và Ấn độ,từng tin thờ Phật giáo, nhưng cũng xem trọng việc cúng tế quỉ thần và mang nặng sắc thái dân tộc. Về sau, chủng tộc này dần dần tiến xuống phía nam rồi định cư ở nước Lào, chiếm 2/3dân số nước này. Phật giáo bắt đầu được truyền vào nước Lào từ sau khi vua Pháp ngang (Fia Nguon, ở ngôi 1353-1373) sáng lập nước Nam chưởng (Lang chang). Vua Pháp ngang thủa nhỏ từng theo cha lưu vong đến Cao miên, được Trưởng lão Ma ha ba sa mạn đa (Mahàpasamanta) dạy dỗ; Vương hậu là con gái của vua Cao miên, là tín đồ thuần thành của Phật giáo, vua Pháp ngang chịu ảnh hưởng của Vương hậu, liền cung thỉnh cao tăng, đúc tượng Phật, làm chùa Ba sa mạn (Pasamanarma), dân chúng Lào cũng dần dần chuyển sang tín ngưỡng Phật giáo. Vào năm Vĩnh lạc thứ 2 (1404) đời Minh, nước Nam chưởng được Trung quốc thừa nhận, phong là Lão Qua Tuyên Úy Ti, Bấy giờ nhằm đời vua Phạ du tam thành thái đang tại vị, vua từng làm chùa Ma na lan (Wat Manorom) và đề cao Phật học. Vua Duy tô (Visoun, ở ngôi 1501-1520) xây chùa Duy tô nổi tiếng để thờ xá lợi Phật. Đến đời vua Tất đạt đề lạp (Sethathirath) lại dựng tháp Đại xá lợi (Dhàtu Luang) lớn nhấtnước Lào ở phía bắc thủ đô Vĩnh trân (Viêng chăn). Giữa thế kỉ XVII, Lào trở thành trung tâm Phật giáo Đông nam á. Về sau bị rơi vào trạng huống phân chia lâu dài, đến đầu thế kỉ XIX thì Viêng chăn trở thành 1 tỉnh của Thái lan. Đến giữa thế kỉ XIX, nhờ Thái lan và Việt nam kèn cựa nhau nên Lào mới được an định, nhưng sau đó bị thế lực người Pháp xâm nhập, cuối cùng, vào năm 1893, Lào trở thành nước bảo hộ của Pháp. Thời kì Pháp thuộc, Phật giáo không còn được nhà nước hộ trì nữa nên rất khó phát triển, nhưng điều may mắn là tuyệt đại đa số nhân dân vẫn kính tin Phật giáo. Nền giáo dục cũ ở quá khứ lấy các chùa làm trung tâm; bây giờ dưới sự thống trị của người Pháp, chính phủ nắm quyền giáo dục. Nhưng vì nền giáo dục quốc dân không được phổ cập, nên chùa Phật vẫn là nơi quan trọng cho hàng trí thức cao thâm và những nhà nghiên cứu Phật giáo mà người Pháp không cách nào ngăn cấm được. Đầu thế kỉ XX, Phật giáo Lào thi hành tổ chức cơ cấu phân chia tầng cấp, dưới nhà nước là châu huyện, dưới châu huyện là xã thôn, các chùa Phật ở xã thôn đều có chư tăng cai quản. Cũng giống như Thái lan, Miến điện và Cao miên. Lào cũng thịnh hành tục lệ người con trai xuất gia 1 lần, tùy theo chí nguyện của mỗi người, hoặc tu 1 thời gian hoặc tu trọn đời. Sau ngày độc lập (1954) đến trước khi nội chiến bùng nổ (1960), Phật giáo Lào phát triển mạnh mẽ, chùa Phú sĩ ở cố đô Luang Brabang là trung tâm Phật giáo, trong chùa thờ pho tượng Phật bằng vàng, nặng hơn 400 ký, được đúc vào thế kỉ XV. Cách cố đô về mạn bắc khoảng 20 cây số, có động Bắc khư, trong động có vô số tượng Phật, được gọi là động Vạn Phật. Sự giáo dục của chư tăng hoàn toàn được nhà nước nâng đỡ, chia làm 3 cấp: Tiểu học, Trung học và giáo dục Phật giáo cao cấp (tương đương với Cao trung). Phật giáo cao cấp do bộ Giáo dục phụ trách, người tốt nghiệp được tôn xưng thêm 2 chữ Ma Ha (Phạm: Mahà). Tín đồ Phật giáo Hoa kiều ở Viêng chăn sáng lập Trung Lào Phật giáo xã. Việt kiều đa số tin theo Phật giáo Đại thừa, có cất chùa Bàng long (Wat Banglong) để hoằng dương Phật pháp. Nền Phật giáo mà người Lào tin thờ cũng giống như Phật giáo ở Miến điện và Thái lan, nghĩa là đều thuộc Phật giáo Nam truyền, dùng tiếng Pàli, như trong thư viện Hoàng gia tàng trữ các kinh điển viết bằng tiếng Pàli trên lá bối, cũng có nhiều loại viết bằng tiếng Thái lan. Nhưng không giống với các nước Nam truyền khác ở chỗ giáo dục Phật giáo và giới luật của tăng đoàn Lào không nghiêm khắc bằng các nước kia, như tỉ khưu được ngồi ăn cơm, uống rượu chung với người tại gia, được nhận đồ trực tiếp do người nữ trao tay và được làm việc chung với người nữ. Nhưng việc tỉ khưu được nhân dân tôn kính cúng dường thì cũng hệt như các nước khác. Nhân dân thường làm việc bố thí, thích vào chùa nghe chư tăng nói pháp và thụ trì trai giới. [X. Liêu quốc Phật giáo sử (Tịnh hải); ERE. Vol.7 Laos; The Pàli Literature of Burma, London, 1909 (M. Bode)].

liêu trưởng

See Liêu Chủ.

liêu tịch

Distant and deserted.

liêu đạo tông

6320(1032~1101)遼第八代皇帝。姓耶律,名洪基。二十四歲即位,在位(1055~1100)時期,國內外雖仍有若干紛爭,然已較為平和。帝承繼前代,繼續推行漢化政策。帝為遼第一位崇佛之皇帝,尤精於華嚴學,著有華嚴經贊。據傳,帝之崇佛,曾有「一歲飯僧三十六萬,一日祝髮三千」之美談。帝又廣建堂塔伽藍,其中尤以奉福寺大殿堂之規模,允稱遼國第一。又於清寧年中(1055~1064)建造錦州大皇濟寺之白塔,今猶殘存。〔釋氏稽古略卷四〕 ; (遼道宗) (1032-1101) Vị Hoàng đế đời thứ 8 của nhà Liêu, Trung quốc, họ Da luật, tên Hồng cơ, ở ngôi 1055-1100. Ông lên ngôi năm 24 tuổi, trong và ngoài nước tuy còn một vài cuộc phân tranh, nhưng nói chung thì tương đối đã hòa bình. Ông thừa kế chính sách của đời trước, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc Hán hóa. Ông là vị Hoàng đế sùng tín Phật giáo bậc nhất của đời Liêu, rất tinh thông học thuyết Hoa nghiêm. Tương truyền, mỗi năm vua thỉnh 3 vạn 6 nghìn vị sa môn để cúng dường trai tăng, mỗi ngày có3 nghìn người xuất gia. Vua còn xây cất nhiều chùa tháp điện đường, trong đó qui mô nhất là Đại điện đường của chùa Phụng phúc, được coi là bậc nhất ở nước Liêu. Trong năm Thanh ninh (1055-1064) vua còn kiến tạo Bạch tháp ở chùa Đại hoàng tế tại Cẩm châu, hiện nay vẫn còn. Tác phẩm: Hoa nghiêm kinh tán. [X. Thích thị kê cổ lược Q.4].

Liễu Am Huệ Minh

(了庵慧明, Ryōan Emyō, 1337-1411): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, vị Tổ đời thứ 16 của Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji), người sáng lập ra Phái Liễu Am (了庵派), húy Huệ Minh (慧明), đạo hiệu Liễu Am (了庵), xuất thân vùng Tương Mô (相模, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]), người dòng họ Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara). Ông đắc độ với Khế Văn (契聞) ở Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), sau kế thừa dòng pháp của Tịch Linh (寂靈) ở Vĩnh Trạch Tự (永澤寺) vùng Đơn Ba (丹波, Tamba, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]), và theo học với Thiều Thạc (韶碩) ở Tổng Trì Tự. Về sau ông đã từng sống qua một số chùa như Tổng Trì Tự (總持寺), Vĩnh Trạch Tự (永澤寺), Tổng Ninh Tự (總寧寺), Long Tuyền Tự (龍泉寺), v.v. Đến năm 1394, ông được dòng họ Thái Điền (太田) quy y theo, nên sáng lập ra Tối Thừa Tự (最乘寺) ở vùng Tương Mô. Dòng pháp từ của ông có Thiều Dương Dĩ Viễn (韶陽以遠), Đại Dương Minh Trung (大陽明中), Đại Cương Minh Tông (大綱明宗), v.v. Trước tác của ông có Thiên Đồng Tiểu Tham Sao Điểm Phá (天童小參抄点破), Chư Nhạc Nhị Đại Nga Sơn Hòa Thượng Hành Thật (諸岳二大峨山和尚行實), Liễu Am Huệ Minh Thiền Sư Ngữ Lục (了庵慧明禪師語錄), Liễu Am Huệ Minh Thiền Sư Pháp Ngữ (了庵慧明禪師法語).

liếc

To glance—To look askance.

liếc trộm

To glance furtively.

liến thoắng

Very fast.

liền tiền

Successive—Continuous.

liều

To risk—To venture.

liều chết

To risk one's life.

liều lĩnh

Venturesome—Foolishly bold.

liều mạng

To risk one's life.

Liễu

了; C: liǎo; J: ryō;|1. Biết, nhận biết, hiểu biết (s: upalabdhi, pratipatti, adhimokṣa); 2. Kiến giải, quan điểm (s: dṛṣṭi); 3. Thức tỉnh về một sự việc nào đó, thông hiểu (s: avabodha); 4. Chấm dứt, kết thúc, chung cuộc, cuối cùng.

liễu

To end, see through, understand, thoroughly know, make clear, thoroughly, completely, final. ; 1) Cây liễu: A willow. 2) Kết thúc: To end. 3) Liễu tri: Parijanati (p)—Parijna (skt)—Hiểu rõ hay biết chắc chắn—To ascertain—To comprehend—To know exactly—To perceive clearly—To recognize—To understand thoroughly or completely.

liễu am quế ngộ

165(1425~1514)即佛日禪師,屬臨濟宗。日本伊勢(三重縣)人。嘗住於東福寺、南禪寺,除精內典外,尚通周易及莊子,故公卿、學者歸依者眾多。曾以幕府使者身分奉派至我國(明朝)。住育王山,與大儒王陽明曾相過從。永正十一年示寂,享年九十。著有語錄二卷、壬申入明記。〔本朝高僧傳卷四十三〕 ; (了庵桂悟) (1425-1514) Thiền sư Nhật bản, thuộc tông Lâm tế, người Y thế, huyện Tam trọng, hiệu Phật nhật thiền sư. Sư từng trụ trì chùa Đông phúc, chùa Nam thiền. Ngoài nội điển ra, sư còn tinh thông Chu dịch và Trang tử, cho nên hàng công khanh, học giả theo qui y rất đông. Sư đã từng là sứ giả của Mạc phủ phái đến Trung quốc (đời Minh). Khi ở núi Dục vương, sư từng giao thiệp với danh Nho Vương dương minh. Năm Vĩnh chính 11 (1514) sư tịch, thọ 90 tuổi. Sư có các tác phẩm: Ngữ lục, 1 quyển, Nhâm thân nhập minh kí.

Liễu Am Thanh Dục

(了庵清欲, Ryōan Seiyoku, 1288-1363): vị tăng của Phái Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Liễu Am (了庵), biệt hiệu Nam Đường (南堂), xuất thân Lâm Hải (臨海), Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang). Ông vốn là pháp từ của Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂), đã từng sống qua một số chùa như Khai Phước Tự (開福寺) vùng Lật Thủy (溧水, Tỉnh Giang Tô), Bổn Giác Tự (本覺寺) vùng Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang), Linh Nham Tự (靈巖寺) Tô Châu (蘇州). Ông được ban tặng hiệu là Từ Vân Phổ Tế Thiền Sư (慈雲普濟禪師). Vào ngày 25 tháng 8 năm thứ 23 niên hiệu Chí Chánh (至正), ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi. Ông có để lại bộ Liễu Am Hòa Thượng Ngữ Lục (了庵和尚語錄) 9 quyển. Tống Liêm (宋濂) soạn ra Hành Đạo Ký (行道記), viết về hành trạng của ông.

Liễu biệt

了別; C: liǎobié; J: ryōbetsu;|1. Biết, nhận biết, nhận thức; hiểu biết sự vật một cách phân biệt; 2. Cho thấy, làm cho biết, diễn tả, hiện hành (s: vijñapti; t: rnam par rig ba); 3. Thấy, nhận biết (s: dṛṣṭi).

liễu biệt

Understanding and discrimination.

liễu biệt chân như

Xem Duy thức chân như.

liễu bản sinh tử kinh

163全一卷。吳‧支謙譯。收於大正藏第十六冊。本經之同本異譯經有佛說稻芉經、慈氏菩薩所說大乘緣生稻 ; (了本生死經) Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 6, ngài Đạo an soạn bài tựa kinh Liễu bản sinh tử cho rằng yếu chỉ của kinh này là Tứ đế tứ tín được đức Phật nói trong lần chuyển pháp luân đầu tiên. Nội dung bao gồm: 1. Lấy nội duyên và ngoại duyên làm yếu tố duyên khởi. 2. Chỉ bày rõ nhân tướng phược và duyên tướng phược. 3. Qui nạp sự sinh khởi của nội duyên, ngoại duyên đều phải đợi sự sinh khởi của 5 việc: Chẳng phải thường, chẳng phải đoạn, chẳng tiến, hạt giống không hư mất, tướng dáng của sự vật... 4. Nói về 12 nhân duyên. Kinh này còn các bản dịch khác là: Phật thuyết đạo cán kinh, Từ thị bồ tát sở thuyết Đại thừa duyên sinh đạo cán dụ kinh, Đại thừa xá lê sa đảm ma kinh, Phật thuyết Đại thừa đạo cán kinh. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Dịch kinh đồ kỉ Q.1].

liễu bản tế

Xem Kiều trần như.

liễu chi

Nhành dương liễu, dùng để rãi nước cam lộ trong các nghi lễ trừ ma quỷ—Willow branches put in clean water to keep away evil spirits.

liễu cải

164(1335~1421)明代曹洞宗僧。嵩陽(河南登封)人,俗姓任。字凝然,世稱凝然了改禪師。自幼即繫念於空宗,乃於少林寺出家,二十始納僧服,遊學諸方,初參月印於香山,久而未契,遂往天慶寺謁松庭子嚴,得其法,歸隱於二祖菴。洪武二十三年(1390)應眾之請繼主少林,弘法度迷,四眾皈敬,王侯景仰,時周蜀伊三藩王皆登山供養,不敢輕言召請。永樂十九年說偈而示寂,世壽八十七。〔續指月錄卷十三、五燈會元續略卷一〕

liễu giáo

Tên của một đệ tử Phật nổi tiếng là Ajnata-Kaundinya, là thái tử của xứ Ma Kiệt Đà, và là cậu của Phật Thích Ca Mau Ni. Ông cũng tái sanh thành Phật dưới tên Samanta-Prabhasa—A famous disciple named Ajnata-Kaundinya, a prince of Magadha, a maternal uncle of Sakyamuni. He is to be reborn as Buddha under the name of Samanta-Prabhasa.

liễu giải

To understand clearly.

liễu huệ

166(1198~1262)宋代臨濟宗僧。四川蓬州(蓬安)人,俗姓羅。號西巖。從玉掌山安國寺僧祖燈出家,十九歲剃髮,於成都習性宗之經論。先後謁昭覺寺壞菴照、徑山浙翁如琰、高原祖泉、無準師範等,後於師範處大悟,為知藏第二座。景定三年示寂,世壽六十五。門人修義等為編語錄二卷,物初大觀為撰行狀。〔增續傳燈錄卷四、續燈存稾卷四、五燈嚴統卷二十一〕

liễu kiến

Toàn kiến đạt được khi thân hoàn toàn yên nghĩ and tâm giải thoát khỏi mọi phiền toái hay quấy nhiễu hiện tượng nữa—Complete vision obtained when the body is in complete rest and the mind freed from phenomenal disturbance.

liễu kết

Kết liễu—To end—To finish.

liễu liễu kiến

The complete vision obtained when the body is in complete rest and the mind freed from phenomenal disturbance.

liễu minh

164(?~1165)宋代僧。秀州(浙江嘉興)人,俗姓陸。初名近禮。身長八尺,腹大數圍,人稱大禪。依大慧杲參究,性率真剛毅,眾欽敬之。會杲師謫梅陽,師護翼甚勤,十餘年如一日。後出主投子、長蘆、徑山諸剎,法緣頗勝。世傳其為布袋和尚後身,晚歲頗有異行。孝宗乾道元年示寂,享壽不詳。人皆圖像供之,號大禪佛。〔五燈會元補遺了明傳、有才傳〕

Liễu nghĩa

了義; C: liǎoyì; J: ryōgi;|Một sự việc hoặc một nguyên tắc mà ý nghĩa của nó được hiểu trọn vẹn.

liễu nghĩa

165<一>梵語 nītārtha。乃直接顯了法義。與不了義合稱二義。凡直接、完全顯了述盡佛法道理之教,稱為了義教,如諸大乘經說生死、涅槃無異者。宣說此道理之經典,即稱了義經,為佛所說。而若順應眾生理解之程度,不直接顯了法義,而漸次以方便教相引導,則稱不了義教(未了義教),如諸經宣說厭背生死、欣樂涅槃者。而說此不了義教之經典即稱不了義經(未了義經),乃菩薩因人之所說。了義教與不了義教,合稱二了。「依了義經,不依不了義經」即為四依之一。但所謂不了義,乃大乘教所言,謂小乘教較大乘教為劣,故謂不了義。然依小乘大眾部之主張,外道之說即屬不了義。依成實論之說,無法見經典之意,而拘泥於文字之解釋者,即為不了義。又瑜伽師地論卷六十四稱,契經、應誦、記別等世尊略說,其義未了,故為不了義教;與此相違者稱為了義教。〔觀無量壽佛經疏散善義、圓覺經略疏卷一、大乘法苑義林章卷一本、華嚴經探玄記卷一〕(參閱「三時教」596) <二>(1265~1334)元代僧。湖州(浙江)德清人,俗姓楊。號斷崖。十七歲謁高峰於天目山,給侍左右,名為從一。因見松上雪墜有省,作頌呈高峰,高峰棒之,疑甚猛參,豁然悟入,高峰為印可。乃入上栢山奉母隱居。久之,高峰召出為剃髮。泰定三年(1326),住錫杭州天目山正宗寺。元統二年示寂,世壽七十。諡號「佛慧圓明正覺普度大師」。〔五燈會元續略卷六、五燈全書卷五十一〕 ; Nita-artha (S), Nita-attha (P)Nghĩa giải rõ, đủ điều, chứa đủ pháp tánh. ; Revelation of the whole meaning. Bất liễu nghĩa is partial reveletion adapted (phương tiện) to the capacity of the hearers. ; Revelation of the whole meaning or truth—Complete understanding. ; (了義) Phạm:Nìtàrtha. Nghĩa của các pháp được trực tiếp hiển bày một cách rõ ràng. Giáo lí của đức Phật được trực tiếp trình bày một cách rõ ràng, tường tận, gọi là Liễu nghĩa giáo. Như các kinh Đại thừa nói sinh tử, Niết bàn không hai, không khác. Những kinh điển nói đạo lí này, gọi là kinh Liễu nghĩa, do đức Phật nói. Còn nếu thuận theo căn cơ, trình độ của chúng sinh, không trực tiếp hiển bày pháp nghĩa, mà dùng giáo tướng phương tiện dẫn dắt dần dần, thì gọi là Bất liễu nghĩa giáo (giáo chưa rõ nghĩa), như các kinh nói nhàm chán sinh tử, ưa thích Niết bàn. Những kinh điển nói về bất liễu nghĩa giáo này, gọi là Bất liễu nghĩa kinh (kinh chưa rõ nghĩa), do Bồ tát nói. Cũng như Liễu nghĩa và Bất liễu nghĩa, gọi chung là Nhị liễu. Y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh là một trong Tứ y. Nhưng, điều gọi là bất liễu nghĩa là do Đại thừa nói về Tiểu thừa, cho rằng so với Đại thừa thì Tiểu thừa kém cỏi hơn, cho nên gọi là Bất liễu nghĩa. Nhưng, theo chủ trương của Đại chúng bộ thuộc Tiểu thừa, thì học thuyết của các ngoại đạo là bất liễu nghĩa. Còn theo luận Thành thực, không thấy rõ ý trong kinh điển mà chỉ chấp vào mặt chữ để giải thích, thì là bất liễu nghĩa. Ngoài ra, theo luận Du già sư địa quyển 60, thì đức Thế tôn nói sơ lược về Khế kinh, Ứng tụng, Kí biệt v.v... nghĩa lí chưa được rốt ráo, cho nên gọi là bất liễu nghĩa, trái lại thì gọi là Liễu nghĩa giáo. [X. Quán vô lượng thọ kinh sớ tán thiện nghĩa; Viên giác kinh lược sớ Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt. Tam Thời Giáo).

liễu nghĩa giáo

Teaching of the whole truth.

Liễu nghĩa kinh

了義經; C: liǎoyì jīng; J: ryōgi kyō;|1. Kinh nói rõ ý nghĩa hoặc trình bày toàn vẹn. Chỉ một bộ kinh Đại thừa nêu ra và luận giải tất cả những khía cạnh của Phật pháp mà không nghiêng vào bên này hoặc bên kia như Đốn ngộ hoặc Tiệm ngộ, Trung quán hoặc Duy thức v.v… 2. Biểu thị này thường được dùng ám chỉ kinh Viên Giác (圓覺經).

liễu nghĩa kinh

The sùtras containing the whole truth. ; The sutras containing the whole truth.

liễu nghĩa đăng

165凡七卷(或十三卷)。全稱成唯識論了義燈。又稱唯識了義燈、義燈。唐代惠沼述。收於大正藏第四十三冊。本書為唯識三疏之一,係詳釋成唯識論(十卷)及成唯識論述記(二十卷)中難解文句與義理之作。〔新編諸宗教藏總錄卷三〕 ; (了義燈) Gọi đủ: Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng. Cũng gọi: Duy thức liễu nghĩa đăng, Nghĩa đăng. Tác phẩm gồm 7 quyển (hoặc 13 quyển) do ngài Huệ chiểu soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 43. Sách này là 1 trong 3 bộ Chú sớ về Duy thức nổi tiếng, giải thích những câu văn và nghĩa lí khó hiểu trong bộ luận Thành duy thức (10 quyển) và bộ Thành duy thức luận thuật kí (20 quyển). [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3].

Liễu Nguyên

(了源, Ryōgen, 1295-1336): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 7 của Phật Quang Tự (佛光寺, Bukkō-ji), thuộc Phái Phật Quang Tự (佛光寺派), vị tổ đời thứ 7 của Hưng Chánh Tự (興正寺, Kōshō-ji) thuộc Phái Hưng Chánh (興正派), húy là Liễu Nguyên (了源), tục danh là Di Tam Lang (彌三郎), hiệu là Không Tánh (空性), húy là Quang Sơn Viện (光山院); con của Liễu Hải (了海), vị Tổ đời thứ 4 của Phật Quang Tự. Năm 1320, ông lên kinh đô, làm môn đệ của Giác Như (覺如, Kakunyo) ở Bổn Nguyên Tự (本願寺, Hongan-ji), nhưng lại trực tiếp theo hầu hạ Tồn Giác (存覺, Zonkaku). Vào năm 1324, ông kiến lập nên Hưng Chánh Tự (興正寺, ) ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina) thuộc Sơn Thành (山城, Yamashiro), rồi sau đó chuyển ngôi chùa này đến vùng Sáp Cốc (澀谷, Shibuya) thuộc Đông Sơn, và đổi tên thành Phật Quang Tự (佛光寺, Bukkō-ji). Ông đã nỗ lực giáo hóa khắp các địa phương như Cận Kỳ (近畿, Kinki), Tam Hà (三河, Mikawa), Vĩ Trương (尾張, Owari), v.v., và trở thành vị tổ thời Trung Hưng của Phái Phật Quang Tự. Tác phẩm của ông để lại có Nhất Lưu Tương Truyền Đồ (一流相傳圖) 1 bức, Sơn Khoa Sáng Tự Mộ Duyên Sớ (山科創寺募緣疏) 1 quyển, Toán Đầu Lục (算頭錄).

liễu nguyên

162(1032~1098)宋代僧。江西浮梁人,俗姓林。號佛印,故又稱佛印了元。字覺老。二歲學論語,長從寶積寺日用出家,受具足戒,遍參諸師。十九歲,入廬山開先寺,列善暹之法席,又參圓通之居訥。長於書法,能詩文,尤善言辯。二十八歲,住江州承天寺,凡歷坐道場九所,道化不止。當時名士蘇東坡、黃山谷等均與之交善,以章句相酬酢。神宗欽其道風,特賜高麗磨衲、金鉢,贈號「佛印禪師」。元符元年正月示寂,世壽六十七,法臘五十二。有語錄行世。〔續傳燈錄卷五、佛祖歷代通載卷十九、釋氏稽古略卷四、禪林僧寶傳卷二十九〕 ; 165(1291~1338)即空性,乃日本真宗佛光寺派中興之祖。第四代了海之子。二十二歲時承繼法燈,移寺至京都東山汁谷(澀谷)。至此醍醐天皇賜該寺號「佛光」。於巡遊東海途中橫死,享年四十八,諡為「光山院」。〔了源上人傳〕 ; (了元) (1032-1098) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Tống, người Phù lương, tỉnh Giang tây, hiệu Phật ấn, tự Giác lão. Sư xuất gia ở chùa Bảo tích, sau khi thụ giới Cụ túc, sư đi tham học khắp các vị tôn túc. Năm 19 tuổi, sư theo ngài Thiện xiêm ở chùa Khai tiên tại Lô sơn, rồi lại tham học ngài Cư nột ở Viên thông. Sư có tài về thơ và biện luận. Năm 28 tuổi, sư ở chùa Thừa thiên tại Giang châu, qua đạo tràng nào sư cũng tận lực giáo hóa. Các danh sĩ đương thời như Tô đông pha, Hoàng sơn cốc, v.v... đều kết thân với sư và xướng họa thi ca. Vua Thần tông rất kính phục đạo phong của sư, ban cho sư áo Cao li, bình bát và hiệu là Phật Ấn Thiền Sư. Tháng giêng niên hiệu Nguyên phù năm đầu (1098) sư tịch, thọ 67 tuổi, pháp lạp 52, có ngữ lục để lại đời sau. [X. Tục truyền đăng lục Q.5; Phật tổ lịch đại thông tải Q.29; Thích thị kê cổ lược Q.4; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.29].

liễu ngộ

164<一>乃指對諸法實相、宇宙真理之明了覺悟。  <二>宋代僧。生卒年不詳。姑蘇(江蘇吳縣)人。號笑菴。密菴咸傑之法嗣。屬臨濟宗虎丘派。住杭州靈隱寺。有笑菴悟禪師語要一卷行世。〔續古尊宿語要卷四、增續傳燈錄卷二〕 ; Complete enlightenment, or clear apprehension. ; Anna (p)—Ajna or Ajnati (skt). • Hiễu rõ: To apprehend, perceive or understand clearly. • Sự hiểu rõ: Thorough enlightenment— Clear apprehension—Clear knowledge or understanding—Perfect knowledge—Complete enlightenment. ; (了悟) I. Liễu Ngộ. Chỉ cho sự giác ngộ thực tướng của các pháp, chân lí của vũ trụ. II. Liễu Ngộ(?-?). Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người Cô tô (huyện Ngô, tỉnh Giang tô), hiệu là Tiếu am, đệ tử nối pháp của ngài Mật am Hàm kiệt, thuộc phái Hổ khâu, tông Lâm tế, trụ trì chùa Linh ẩn tại Hàng châu. Sư có tác phẩm: Tiếu am Ngộ thiền sư ngữ yếu 1 quyển. [X. Cổ tôn túc ngữ yếu Q.4, Tăng tục truyền đăng lục Q.2].

liễu nhiên

165(1077~1141)宋代僧。臨海(浙江臨海)人,俗姓薛。號志涌。世稱虎溪尊者。七歲出家,師事祥符道中。十六歲受具足戒,學台教於安國慧。慧歿,更依延慶立,立接以殊禮。初居廣嚴,後遷台州白蓮,居二十四年,學者爭歸。紹興十一年示寂。世壽六十五。有止觀圓宗記、解十不二門樞要、虎溪前後集等。〔佛祖統紀卷十五、釋門正統卷七〕 ; (了然) (1077-1141) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang, họ Tiết, hiệu Chí dũng, đời gọi là Hổ khê Tôn giả. Sư xuất gia năm 7 tuổi, thờ ngài Tường phù Đạo trung làm thầy. Năm 16 tuổi, sư thụ giới Cụ túc, học giáo pháp Thiên thai nơi ngài An quốc tuệ. Sau khi ngài An quốc tuệ tịch, sư đến theo học ngài Diên khánh lập, được ngài Diên khánh lập dùng lễ tiếp đón rất trọng hậu. Lúc đầu sư ở Quảng nghiêm, sau dời đến Bạch liên tại Thai châu, ở đó 24 năm, người đến tham học rất đông. Năm Thiệu hưng 11 (1141) sư tịch, thọ 65 tuổi. Sư có các tác phẩm: Chỉ quán viên tông kí, Giải thập bất nhị môn xu yếu, Hổ khê tiền hậu tập... [X. Phật tổ thống kỉ Q.15; Thích môn chính thống Q.7].

Liễu nhân

了因; C: liǎoyīn; J: yōin;|»Nguyên nhân của sự nhận biết« (s: jñāpaka-hetu). Một sự nhận thức dẫn đến một kết quả ví như sự giác ngộ, đối nghịch với nguyên nhân phát sinh (sinh nhân 生因); 2. Nguyên nhân của một lí thuyết đối nghịch; 3. Hiểu, nhận thức khởi đầu.

liễu nhân

163因明用語。在三支作法中屬因支,為六因之一,與「生因」對稱。了者了悟或明了之意,如燈光照物,可令人明了一切。譬如論者立「聲是無常」宗(命題),以「所作性故」為因(理由),證明聲乃無常不能決定常住,令敵者(問難者)聽後能了知「聲是無常」為正理。此於立者(立論者)而言,藉之以啟發敵者之正智,故稱為「生因」;於敵者而言,以此而了悟正理,故稱「了因」。了因因其功用不同,又可分三項:(一)智了因,此指敵者之智慧與知識。智慧與知識乃了悟之資本,若無此二資糧,即便立者給予再好之生因,敵者亦無從了悟,故稱之智了因。(二)言了因,即指前述例句中立者所言之「所作性故」一語而言。敵者之了悟,除須備具智慧與知識外,必須倚賴立者言語之刺激,方能發揮了悟之作用,言語乃智了因之因,故稱為言了因。(三)義了因,即指前述例句中「所作性故」一語所涵之義理,與其所指之對象。敵者能了悟,除前項二因外,亦是因著立者所舉之意義,義亦是智了因之因,故稱義了因。依上可知:言、義二了因是智了因之因,智了因則是言、義二了因之果;言了因是義了因之因,義了因是言了因之果。〔因明入正理論悟他門淺釋〕(參閱「六因」1256) ; A revealing cause. Sinh nhân: a producing or direct cause, e.g. a seed; Liễu nhân: a revealing cause, e.g. a light, as indicating the effect; knowledge or wisdom. ; A revealing cause. ; (了因) Đối lại: Sinh nhân. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong tác pháp 3 phần của Nhân minh, Liễu nhân thuộc về phần Nhân, là phần hiểu thấu được chủ trương của người lập luận, là 1 trong 6 Nhân. Chủ trương của người lập luận có thể làm phát sinh sự hiểu biết của người vấn nạn (địch luận), gọi là Sinh nhân, còn trí tuệ của người vấn nạn có thể lĩnh hội, liễu giải được chủ trương của người lập luận, thì gọi là Liễu nhân. Trong phần Nhân phải có đầy đủ hai điều kiện này. Vì thế, đứng về phương diện người lập luận, Sinh nhân có 3 thứ: 1. Trí sinh nhân: Trí tuệ của người lập luận. 2. Nghĩa sinh nhân: Nghĩa lí do trí tuệ ấy sinh ra. 3. Ngôn sinh nhân: Chủ trương ngôn luận để trình bày nghĩa lí ấy. Đứng về phương diện người vấn nạn (địch luận), đối với Liễu nhân, dĩ nhiên cũng phải như thế: Muốn hiểu rõ lập luận của người kia, thì cần phải có trí lực, trí lực ấy hiểu được nghĩa lí, mà biết được nghĩa lí là do ngôn luận. Do đó, Liễu nhân cũng có 3 thứ: 1. Ngôn liễu nhân: Hiểu rõ ngôn luận của người lập luận. 2. Nghĩa liễu nhân: Hiểu rõ nghĩa lí của ngôn luận ấy. 3. Trí liễu nhân: Trí tuệ để hiểu được nghĩa lí ấy. Đứng về cả 2 phương diện người lập luận và địch luận mà nói chung lại thì gồm có 6 Nhân. Nhưng thực ra không phải có 6 Nhân sai khác nhau, vì ngôn luận của người lập gọi là Ngôn sinh nhân, mà địch luận hiểu được là Ngôn liễu nhân; nghĩa lí của ngôn luận gọi là Nghĩa sinh nhân, mà địch luận hiểu được nghĩa ấy là Nghĩa liễu nhân; trí tuệ của người nêu ra nghĩa ấy là Trí sinh nhân, mà địch luận hiểu được tông nghĩa của trí ấy là Trí liễu nhân. Một bên làm cho phát sinh ra, một bên tiếp thu lấy, vì thế mà có sáu. Tóm lại, đứng trên lập trường Nhân minh, chỉ cần Ngôn sinh nhân và Trí liễu nhân là đủ. Vì Ngôn sinh nhân trực tiếp nói rõ ý tưởng của mình cho đối phương, còn Trí liễu nhân của đối phương hiểu được Ngôn sinh nhân ấy, thế là đủ. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích; Đông phương luận lí học (Nhất hanh)]. (xt. Lục Nhân).

liễu nhân phật tánh

Tánh thứ nhì trong tam Phật tánh, hai tánh kia là Chánh nhân Phật tánh và Duyên nhân Phật tánh—The second of the three Buddha-nature (the revealing or lightening causes, associated with the Buddha-wisdom). The other two are: Chánh nhân Phật tánh (The direct cause of attaining the perfect Buddha-nature) and Duyên nhân Phật tánh (the environing cause, his goodness or merits which result in deliverance or salvation).

liễu nhân phật tính

163三因佛性(三佛性)之一。即指顯發照了眾生本具正性之觀智。金光明經玄義卷上(智顗著)謂,覺智(佛)非常非無常(性),理智相應,如人善知金藏,此智不可破壞,稱為了因佛性。〔北本大般涅槃經卷二十八、法華經文句卷九下、法華經玄義卷五下〕(參閱「三佛性」552) ; The second of the three Buddha-nature "causes", i.e. Chính nhân Phật tính is the Chân như as direct cause of attaining the perfect Buddha-nature, associated with the pháp thân; Liễu nhân Phật tính is the revealing or enlightening cause, associated ăith the Buddha-wisdom; Duyên nhân Phật tính is the environment cause, e.g. his goodness and merits which result in deliverance, or salvation. ; (了因佛性) Chỉ cho quán trí soi rọi thấy rõ và hiển bày được chính tính sẵn có của chúng sinh, là 1 trong 3 tính Phật. Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng, do ngài Trí khải soạn, cho rằng giác trí (Phật) chẳng phải thường, chẳng phải vô thường (tính), lí trí tương ứng, như người khéo biết kho vàng, trí này không thể bị phá hoại, nên gọi là Liễu nhân Phật tính. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.28 (bản Bắc); Pháp hoa văn cú Q.9 phần cuối; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần cuối]. (xt. Tam Phật Tính).

liễu nhứ

3847(1922~ )浙江永嘉人。上海音專肄業,安徽大學畢業,歷任中學教員、大專教授。民國五十八年(1969)印行佛教聖歌專集,並籌組慈光合唱團,以音樂引渡眾生。七十一年應大華晚報邀約,撰寫半僧齋隨筆,文字弘法擴及教外報章。著有金剛經簡註、日用佛經簡註、圓覺經簡註、法華經新解新註等。 ; (柳絮) (1922- ) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Vĩnh gia, tỉnh Chiết giang. Ông tốt nghiệp trường Đại học An huy. Năm 1969, ông ấn hành tập Phật giáo thánh ca và tổ chức đoàn hợp xướng Từ quang, dùng âm nhạc đưa người vào đạo. Ông có các trứ tác: Kim cương kinh giản chú, Nhật dụng Phật kinh giản chú, Viên giác kinh giản chú, Pháp hoa kinh tân giải tân chú...

Liễu Quán

了觀; 1667-1742|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 35. Sư nối pháp Thiền sư Tử Dung Minh Hoằng, góp công rất nhiều cho việc truyền bá dòng Thiền này tại miền Trung và Nam.|Sư tên Lê Thiệt Diệu, quê huyện Ðồng Xuân tỉnh Phú Yên (Sông Cầu). Lúc sáu tuổi Sư mồ côi mẹ, cha đem đến chùa Hội Tôn học với Hoà Thượng Tế Viên. Bảy năm sau Sư ra Thuận Hoá (Huế) học với Giác Phong Lão Tổ ở chùa Báo Quốc.|Năm 1702, Sư đến Hoà thượng Tử Dung tham thiền. Hoà thượng dạy Sư tham câu »Muôn pháp về một, một về chỗ nào?« (萬法歸一一歸何處; Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ). Sau bảy tám năm tham cứu chưa lĩnh hội, Sư ngầm hổ thẹn. Một ngày nọ, nhân lúc đọc Truyền đăng lục có câu »Chỉ vật truyền tâm mà người chẳng biết« (Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ), Sư hoát nhiên tỉnh ngộ và trở lại xin gặp Hoà thượng Tử Dung trình sở đắc. Sau khi được Ấn chứng, Sư hay vào ra Huế – Phú Yên giáo hoá. Năm 1733, 1734, 1735 Sư dự bốn lễ Ðại giới đàn tại Huế. Năm 1740, Sư về am ở núi Thiên Thai, dựng chùa Thuyền Tôn.|Mùa xuân 1742, Sư lại dự Ðại giới đàn ở chùa Viên Thông. Ðến mùa thu, Sư gọi đệ tử báo »Nhân duyên ta đã hết, ta sắp đi đây.« Cuối tháng hai năm 1743, Sư viết bài kệ:|七十餘年世界中。空空色色亦融通|今朝願滿還家裏。何必奔縵問祖宗|Thất thập dư niên thế giới trung,|Không không sắc sắc diệc dung thông|Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lí|Hà tất bôn man vấn tổ tông.|*Hơn bảy mươi năm ở cõi này,|Không không sắc sắc thảy dung thông.|Hôm nay nguyện mãn về quê cũ.|Nào phải bôn ba hỏi Tổ tông.|Ðến ngày 22 buổi sáng sau khi dùng trà, Sư hỏi giờ gì, đồ đệ đáp »giờ Mùi.« Sư liền an nhiên thị tịch. Vua sắc ban bia kí và tứ hiệu Ðạo Hạnh, thuỵ Chính Giác Viên Ngộ Hoà Thượng.|Sư là Tổ khai sơn chùa Thiên Thai Thuyền Tôn tại Huế, sau chùa còn tháp thờ Sư. Nhánh Thiền Lâm Tế tại miền Nam và Trung sau này được gọi theo tên Sư là Liễu Quán.

liễu quán

166(?~1743)越南佛教了觀禪派創始人。又稱實妙了觀。越南中部扶安省人,俗名黎實妙。曾於靈姥寺從我國禪僧石廉修習禪觀,住龍山慈曇寺。後於承天省天台山禪宗寺綜合我國臨濟宗與元紹禪派之教義,創建了觀禪派,特重領悟真心及以般若為心印等。此派廣泛流傳於越南南方。示寂後,朝廷追諡「正覺圓悟和尚」。 ; Thiền Sư Liễu Quán (?-1743)—Zen Master Liễu Quán—Thiền sư Việt Nam, quê ở Song Cầu, Phú Yên. He was born in Song Cầu town, Phú Yên province. He moved to Thuận Hóa vào cuối thế kỷ thứ 17. Vào lúc sáu tuổi ngài đã mồ côi mẹ, cha ngài đem ngài đến chùa Hội Tôn làm đệ tử của Hòa Thượng Tế Viên. Bảy năm sau, Hòa Thượng Tế Viên thị tịch, ngài đến chùa Bảo Quốc xin làm đệ tử Hòa Thượng Giác Phong Lão Tổ. Vào năm 1691, ngài trở về nhà để phụng dưỡng cha già. Năm 1695, ngài đi Thuận Hóa thọ giới Sa Di với Thiền Sư Thạch Liêm. Năm 1697, ngài thọ giới cụ túc với Hòa Thượng Từ Lâm tại chùa Từ Lâm. Năm 1699 ngài học thiền với Thiền sư Tử Dung. Ngài là Pháp tử đời thứ 35 dòng Thiền Lâm Tế. Chúa Nguyễn rất mến trọng đạo đức của ngài nên thường thỉnh ngài vào cung giảng đạo. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài đã chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Trung Việt. Ngài là vị khai sơn chùa Bảo Tịnh tại Phú Yên vào cuối thế kỷ thứ 17. Sau lần trở lại Huế lần thứ hai để cầu đạo, ngài đã khai sơn chùa Viên Thông vào khoảng năm 1697. Năm 1741, ngài đã mở đại giới đàn tại chùa Viên Thông. Ngài thị tịch năm 1743. Trước khi thị tịch, ngài để lại một bài kệ truyền thừa cho các đệ tử về sau nầy kế tiếp tuần tự theo đó mà đặt tên Pháp. Thật tế đại đạo, tánh hải thanh trừng Tâm nguyên quảng nhuận, đức bổn từ phong Giới định phước huệ, thể dụng viên thông Vĩnh siêu trí quả, mật khế thành công Truyền kỳ diệu lý, diễn sướng chánh tông Hạnh giải tương ưng, đạt ngộ chơn không. A Vietnamese Zen Master from Song Cầu, Phú Yên. He was born in Song Cầu town, Phú Yên province. His family moved to Thuận Hóa province in the late seventeenth century. When he lost his mother at the age of six, his father brought him to Hội Tôn Temple to become a disciple of Most Venerable Tế Viên. Seven years later, Tế Viên passed away. He went to Bảo Quốc Temple to study with Most Venerable Giác Phong Lão Tổ. In 1691 he returned home to take care of his old father. In 1695, he went to Thuận Hóa to receive Samanera's precepts with Most Venerable Thạch Liêm. In 1697, he receive complete precepts with Most Venerable Từ Lâm at Từ Lâm Temple. In 1699, he studied meditation with Most Venerable Tử Dung. He was the Dharma heir of the thirty-fifth generation of the Linn-Chih Zen Sect. Lord Nguyễn Vương greatly appreciated his virtues and often invited him to preach Dharma in the Royal Palace. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in Central Vietnam. He was the founder of Bảo Tịnh Temple in Phú Yên in the late seventeenth century. During the time when he came to Huế for the second time to seek the truth, he built Viên Thông temple in 1697. In 1741, he held a Vinaya-affirming ceremony at Viên Thông temple. He passed away in 1743. Before his death, he left a versified text to his Dharma offsprings to give the first word of the religious name. ; (了觀) (1670-1743) Thiền sư Việt nam, người làng Bạch mã, huyện Đồng xuân, tỉnh Phú yên, họ Lê, húy Thực diệu, tổ khai sáng môn phái Liễu quán. Sư từng tu tập thiền quán với ngài Thạch liêm ở chùa Linh mụ. Sau, sư đến trụ ở chùa Thiền tôn, núi Thiên thai, tỉnh Thừa thiên. Sư tông hợp giáo nghĩa tông Lâm tế với Thiền phái Nguyên thiều mà sáng lập ra môn phái Liễu quán, đặc biệt coi trọng việc lãnh ngộ chân tâm và lấy Bát nhã làm tâm ấn. Môn phái này lưu hành rất rộng ở miền Trung Việt nam. Sau khi sư tịch, triều đình ban thụy hiệu Chính Giác Viên Ngộ Hòa Thượng.

liễu sanh thoát tưû

To end the cycle of birth and death.

liễu tham

164浙江省人,曾奉太虛大師指示,與光宗、白慧等留學錫蘭,英文造詣佳,譯有南傳法句經。

Liễu Thật

(了實, Ryōjitsu, 1303-1386): vị tăng của Phái Bạch Kỳ (白旗派) thuộc Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Liêm Thương và Nam Bắc Triều, húy Liễu Thật (了實), hiệu là Thạnh Liên Xã (盛蓮社), Thành A (成阿). Lúc trẻ, ông theo xuất gia với Liên Thắng (蓮勝) ở Pháp Nhiên Tự (法然寺) vùng Thường Lục (常陸, Hitachi). Đến năm 1330 ông thọ Viên Đốn Giới với Định Huệ (定慧) ở Quang Minh Tự (光明寺) vùng Liêm Thương. Trong khoảng niên hiệu Diên Nguyên (延元, 1336-1340), ông được vị Thành chủ Tá Trúc Nghĩa Đôn (佐竹義敦, Satake Yoshiatsu) quy y theo, nên kiến lập ra Thường Phước Tự (常福寺) ở vùng Qua Liên (瓜連, Urizura), và nới đây đã trở thành cứ điểm phát triển giáo đoàn của Tịnh Độ Tông vùng Quan Đông. Môn đệ của ông có Thánh Quynh (聖冏), Lương Hựu (良祐), Liên Không (蓮空), v.v.

Liễu tri

了知; C: liǎozhī; J: ryōchi;|Hiểu trọn vẹn, rõ ràng; nhận thức đầy đủ, nhận biết; thấu hiểu (s: parijñāna, parijñā).

liễu tri

Parijāna (S), Full comprehension Thấu triệt, quán triệtBiết đến tận cùng. ; Parijnà (S). Thorough knowledge. Full understanding. ; Parijna (skt)—Thorough knowledge.

liễu trung

162(1932~ )江蘇泰縣人。九歲出家,民國三十六年(1947)於南京古林寺受比丘戒。先後遊學於泰縣光孝佛學院、南京棲霞佛學院、上海靜安佛學院。大陸淪陷後來臺,親炙於汐止彌勒內院慈航法師。民國五十年,負笈東瀛,入東京立正大學留學。五十六年,以 u竺道生研究」論文得碩士學位。修畢博士課程後,乃返國弘法。嘗任教於太虛佛學院。五十九年,在臺北創辦法藏佛學院。六十六年,出任中國佛教會祕書長,於強化中國佛教會之組織功能方面,頗為致力。

liễu tuyên

164(?~1201)宋代僧。四明(浙江奉化)人,俗姓潘。嘗學於明州寶林寺。精究三觀十乘之旨。修法華懺法達二十七年。與善榮相善,偕同寫經、畫觀音像施人,共誓往生。每說法則諄諄勸人求安養,從之念佛者眾。宋嘉泰元年,與榮預告歸期,集眾告別,命誦經念佛,端坐書偈,合掌而逝。〔佛祖統紀卷十七、新續高僧傳卷三〕

liễu tính

164(1271~1321)元代僧。俗姓武。字大林。少出家,性剛毅清亮,聰慧力學,戒行嚴峻,為眾所欽。初從南陽慈公修賢首之教,繼謁壠坻真覺求圓頓禪法,得其心印,乃嗣之。至大年間(1308~1311),出主五臺山普寧寺,綱紀大振。至治元年入寂,世壽五十一。〔明高僧傳卷二〕

liễu tôn nguyên

Liu Tsung yuan (C).

Liễu Tông Nguyên

(柳宗元, 773-819): văn nhân và là chính trị gia sống dưới thời nhà Đường, một trong 8 nhân vật nổi tiếng của Đường Tống, xuất thân Hà Đông (河東), Tỉnh Sơn Tây (山西省), tự là Tử Hậu (子厚). Ông đã từng làm đến chức Giám Sát Ngự Sử, nhưng do vì liên lụy đến sự kiện Vương Thúc Văn (王叔文), ông bị chuyển sang làm Tư Mã của Vĩnh Châu (永州), rồi sắc sứ của Liễu Châu (柳州). Chính ông đã cùng với Hàn Dũ (韓愈) đề xướng phục hưng nền cổ văn. Trước tác của ông có Liễu Hà Đông Tập (柳河東集).

liễu tông nguyên

3847(773~819)唐代河東(山西永濟)人,字子厚。世稱柳河東。自幼精敏絕倫,博通能文,登第進士後三年,任藍田尉。歷任監察御史裏行、監察御史、禮部員外郎。永貞元年(805)九月因王叔文失勢受牽連,貶爲邵州刺史。赴任途中,又貶爲永州司馬。流竄僻地,又自放於荒癘悠悠山澤間,從此深寄其心於佛教,交遊諸禪師,胸中慮慨悉化爲文,以貞符一篇最著名,一時南方諸大德之碑銘多出其手。又嘗作東海若解一卷,闡釋淨土法門。元和十年(815)被召還京師。三月出任柳州刺史,後改任連州,在任三年,民皆喜悅。元和十四年十一月故世,享年四十七。著有柳河東集四十五卷、外集二卷。〔居士傳卷十九〕 ; (柳宗元) (773-819) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Đường, người Hà đông (Vĩnh tế, Sơn tây), tự Tử hậu, người đời thường gọi ông là Liễu hà đông. Thủa nhỏ ông rất thông minh, có tài văn chương quán tuyệt. Sau khi đỗ Tiến sĩ 3 năm, ông giữ chức Giám điều úy. Về sau, ông lần lượt được thăng các chức như: Giám sát ngự sử lí hành, Giám sát ngự sử, Lễ bộ viên ngoại lang, v.v... Niên hiệu Vĩnh trinh năm đầu (805), nhân việc Vương thúc văn thất thế, ông bị liên lụy và giáng chức làm Thứ sử Thiệu châu. Nhưng đang trên đường đi đến nhiệm sở thì lại bị biếm làm Tư mã Vĩnh châu. Bị lưu đày ở vùng đất xa xôi, ông thường đến chỗ núi rừng hoang vắng, trời đất bao la, ông cảm thấy lòng thanh thản, lâng lâng và tự nhiên hướng tâm về Phật pháp. Từ đó ông thường giao du với các vị Thiền sư, những niềm cảm khái trong lòng bỗng tuôn trào ra thành một áng văn chương nổi tiếng, đó là thiên Trinh phù, rồi từ đó những văn bia của các vị Đại đức ở miền Nam đều do ông soạn. Năm Nguyên hòa thứ 10 (815), ông được triệu về kinh đô, tháng 3 năm đó, ông ra làm Thứ sử Liễu châu, sau đổi đến Liên châu, ông làm quan ở đây được 3 năm, nhân dân đều vui mừng, năm Nguyên hòa 14, ông qua đời hưởng dương 47 tuổi. Ông có các tác phẩm: Đông hải nhược giải 1 quyển; Liễu hà đông tập 45 quyển, Ngoại tập 2 quyển, Trinh phù 1 thiên. [X. Cư sĩ truyện Q.19].

liễu vi thiền định

The mastery of abstract contemplation.

liễu điền thánh sơn

3846(1922~ )日本佛教學者。滋賀縣人。一九四七年畢業於大谷大學真宗學科。歷任花園大學教授、京都大學人文科學研究所教授。著有:初期禪宗史書の研究、初期の禪史,楞伽師資記、禪思想、禪の山河、達磨語錄、一休、佛教の思想─「無」の探求、臨濟錄等。 ; (柳田聖山) (1922- ) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Tư hạ. Năm 1947, ông tốt nghiệp khoa Chân tông học tại trường Đại học Đại cốc. Sau đó, ông từng giảng dạy tại trường Đại học Hoa viên, Sở nghiên cứu Khoa học nhân văn thuộc trường Đại học Kinh đô (Kyoto). Ông có các tác phẩm: Nghiên cứu các sử liệu Thiền tông thời kì đầu, Lịch sử thiền thời kì đầu, Lăng già sư tư kí, Tư tưởng thiền, Thiền đích sơn hà, Đạt ma ngữ lục, Nhất hưu, Tư tưởng Phật giáo, Tìm hiểu nghĩa Không, Lâm tế lục...

Liễu đạt

了達; C: liǎodá; J: ryōdatsu; S: adhigama, adhi-mukti, avatāra|1. Tỉnh thức, giác ngộ; 2. Kết thúc, chấm dứt, hoàn tất.

liễu đạt

166徹底理解之意。即對一切事理皆能了悟通達。法華經提婆達多品(大九‧三五中):「深入禪定,了達 悛k。」八十華嚴卷三十七(大一○‧一九五中):「了達三界依心有,十二因緣亦復然。」 ; Thorough penetration, clear undersstanding. ; Clear understanding—Thorough penetration. ; (了達) Hiểu thấu mọi việc, sự lí đều thông suốt. Phẩm Đề ba đạt đa kinh Pháp hoa (Đại 9, 35 trung), nói: Thâm nhập thiền định liễu đạt chư pháp(vào sâu thiền định, thông suốt các pháp). Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 37 (Đại 10, 195 trung), nói: Liễu đạt tam giới y tâm hữu, Thập nhị nhân duyên diệc phục nhiên (Thấu suốt 3 cõi nương nơi tâm mà có, 12 nhân duyên cũng như thế).

liễu đạt thiệt thành

Thiền Sư Liễu Đạt Thiệt Thành (?-1823)—Vị sư Việt Nam vào thế kỷ thứ 19. Quê quán của ngài không rõ ở đâu. Ngài là Pháp tử đời thứ 35 dòng Thiền Lâm Tế, là đệ tử của Hòa Thượng Minh Vật Nhất Tri. Từ năm 1744 đến năm 1821, ngài trụ tại chùa Từ Ân. Năm 1816, vua Gia Long gửi sắc chỉ triệu hồi ngài về kinh đô Huế để thuyết pháp cho nhà vua và hoàng gia. Ngài trở về Nam năm 1823 và thị tịch trong cùng năm ấy—A Vietnamese monk in the nineteenth century. His origin was unknown. He was the dharma heir of the thirty-fifth generation of the Linn-Chih Zen Sect, a disciple of Most Venerable Minh Vật Nhất Tri. From 1744 to 1821, he stayed at Từ Ân Temple. In 1816, King Gia Long sent an Imperial Order to summon him to Huế Capital to preach to the king anf the royal family. He went back to the South in 1823 and passed away in the same year.

liệm chung

6442斂,收之意。斂鐘,謂撞鐘終了之收音。禪苑清規卷二念誦(卍續一一一‧四四三下):「鳴鐘集眾,(中略)知事以下上間立,首座以下下間立,維那歛(疑作斂)鐘念誦。」 ; (斂鍾) Thu chuông. Điều Niệm tụng trong Thiền uyển thanh qui quyển 2 (Vạn tục 111, 443 hạ): Đánh chuông triệu tập chúng tăng (...) từ vị Tri sự trở xuống đứng ở trên, từ vị Thủ tọa trở xuống đứng ở dưới, vị Duy na thu chuông (liễm chung) rồi tụng niệm.

liệm y

6442「提衣」之對稱。禪林住持入院時,披搭由開山所傳之袈裟,稱為提衣;若收回袈裟,即稱斂衣。如淨錄卷上(大四八‧一二一下):「斂衣就座。」 ; (斂衣) Đối lại với Đề y. Xếp áo ca sa lại. Trong Thiền lâm, khi vị Trụ trì làm lễ nhập tự, đắp áo ca sa do vị tổ khai sơn truyền lại, gọi là Đề y. Nếu thu hồi và xếp ca sa lại thì gọi là Liễm y. Như tịnh lục quyển thượng (Đại 48, 121 hạ), nói: Liễm y tựu tòa(xếp ca sa rồi lại đến chỗ ngồi).

liệp sư

6574比喻破戒之僧。即指無僧戒而著僧衣者。此類人破壞僧團戒法,並以邪見撓亂正法,雖身著法衣,猶如獵師。南本大般涅槃經卷七邪正品(大一二,六四三中):「佛告迦葉:『我般涅槃七百歲後,是魔波旬漸當壞亂我之正法,譬如獵師,身服法服。』」〔南本大般涅槃經卷四「四相品」〕 ; (獵師) Thợ săn, ví dụ vị tăng phá giới. Nghĩa là người không có giới hạnh của 1 vị tăng mà lạm mặc áo tăng, phá hoại giới pháp của tăng đoàn và dùng tà kiến làm rối loạn chính pháp. Phẩm Tà chính trong kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 7 (Đại 12, 643 trung), nói: Phật bảo tôn giả Ca diếp: Sau khi ta vào Niết bàn 700 năm, bọn ma Ba tuần dần dần phá hoại chính pháp của ta, giống như tên thợ săn mặc áo pháp. [X. phẩm Tứ tướng trong kinh Đại bát niết bàn Q.4].

liệt

1) Đốt nóng: Burning. 2) Hạ liệt: Inferior—Vicious. 3) Xé rách: To rip—To split—To crack.

liệt cường

The great powers.

liệt huệ

2201全稱有漏無染劣慧。指塵沙惑之體。蓋此惑之體為不染污無知,故為有漏;非潤生之煩惱,故為無染;於化他法不能堪任,又於一切事不勤求了解,故稱劣慧。此外,據佛地經論卷一所舉,下劣之智慧,稱為劣智。〔摩訶止觀卷三下、法華玄義講述卷三(大寶)〕(參閱「三惑」624) ; (劣慧) Gọi đủ: Hữu lậu vô nhiễm liệt tuệ. Chỉ cho thể của trần sa hoặc. Vì thể của hoặc này là bất nhiễm ô vô tri, nên là hữu lậu, chẳng phải phiền não nhuận sinh, nên là vô nhiễm; không kham được việc độ người, cũng không siêng năng cầu sự hiểu biết, cho nên gọi là Liệt tuệ (trí tuệ kém cỏi). Ngoài ra, cứ theo Phật địa kinh luận quyển 1, thì trí tuệ yếu kém gọi là Liệt trí. [X. Ma ha chỉ quán Q.3 phần cuối; Pháp hoa huyền nghĩa giảng thuật Q.3 (Đại bảo)].

liệt kê

To enumerate.

liệt phụ

Woman of virtue.

liệt sĩ trì

Tyagiharada or Jivakahrada (skt)—Hồ của bậc đại sĩ, gần Mrgadava—The lake of the renouncer, or of the hero, near to the Mrgadava.

liệt thường

Chiếc áo cà sa rách, truyện vua Tần Bà Sa La nằm mộng thấy chiếc áo cà sa bị xé làm 18 mảnh, điềm cho rằng sau khi Phật nhập diệt, Tiểu Thừa sẽ phân làm 18 phái—The torn robe, i.e. King Bimbisara's dream of Buddhism split into eighteen pieces, like the Hinayana sects.

liệt thường kim trượng

5269佛嘗以金杖與裂裳,懸記小乘十八部之分派。據俱舍頌疏註記載,頻毘娑羅王,夢見一岁裂爲十八片,一金杖斬爲十八段,怖而問佛。佛言,我滅度一百餘年後有阿輸迦王,威加贍部,時諸苾芻,教分十八,趣解脫門,此即其分派之先兆。〔南海寄歸內法傳卷一〕 ; (裂裳金杖) Chỉ cho tấm áo rách (liệt thường) và cây gậy vàng (kim trượng). Đức Phật dùng hình tượng này để dự đoán việc Phật giáo Ấn độ bị phân hóa thành 18 bộ phái. Cứ theo Câu xá tụng sớ chú ghi chép, một hôm, vua Tần bà sa la mộng thấy 1 chiếc mền rách làm 18 mảnh, 1 cây gậy vàng gãy làm 18 khúc, nhà vua cảm thấy lo sợ, bèn đến thưa hỏi Phật, đức Phật nói: Sau khi ta diệt độ hơn 100 năm, có vua A du ca ra đời, uy danh lừng lẫy khắp châu Nam thiệm bộ, bấy giờ bật sô chia thành 18 bộ phái, nhưng đều hướng tới cửa giải thoát. Đây là điềm báo trước cho sự phân phái ấy. [ X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1].

liệt trí

Trí tuệ thấp kém—Inferior mind—Harmful wisdom.

liệt tổ đề cương lục

2200凡四十二卷。清代僧呆翁行悅(1619~1684)編。收於卍續藏第一一二冊。係行悅二十年間雲遊四方,廣收博錄諸祖師耆宿之殊言異行,或以事集言,或因言立事,隨見隨記,而無古今、尊卑、世次、宗派之分。集錄臨濟、曹洞、溈仰、雲門、法眼等五家之前的諸正傳、旁出,計四百餘人之法語,內容自祝釐、報本、尊祖、上堂、小參,乃至節臘、元旦、法器等,皆依敕修百丈清規之住持日用諸事,各列科條,詳加闡示,計三百餘種叢林事要,三千餘則宗祖提綱。令學人明了祖師之提撕,得修道之指針。 ; (列祖提綱錄) Tác phẩm 42 quyển, do ngài Ngốc ông Hành duyệt (1619-1684) soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 112. Tác phẩm này là kết quả của hơn 20 năm vân du khắp 4 phương của ngài Hành duyệt. Trong sách ghi chép lời dạy và đức hạnh của các bậc Tổ sư, hoặc theo việc mà viết thành văn, hoặc theo lời kể mà ghi thành việc, tùy theo chỗ thấy biết mà ghi chép, không phân biệt xưa nay, tôn ti, tông phái hay thứ tự các thế hệ. Nội dung thu chép pháp ngữ của hơn 400 vị Thiền sư chính thống và bàng hệ từ thời Ngũ gia tông phái (Lâm tế, Tào động, Qui ngưỡng, Vân môn, Pháp nhãn) trở về trước, với hơn 3.000 tắc Tông tổ đề cương và hơn 300 việc trọng yếu trong chốn tùng lâm, như: Chúc li, báo bản, tôn tổ, thướng đường, tiểu tham, tiết lạp, nguyên đán, pháp khí, v.v... tất cả đều căn cứ theo chương Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui mà giải thích rất rõ ràng. Bộ sách này là kim chỉ nam cho người tu đạo.

liệt tử

2200<一>戰國時鄭人。姓列,名禦寇。生卒年及事蹟皆不詳。約後於老子,先於莊子,即西元前四世紀時。著有列子一書,崇奉道家之言,今證實此書大多為後人之假託偽作,至於其人之有無,則尚待考證。然在我國思想體系與文學影響上,則將其與莊周並列。世稱老、莊、關(尹子)、列為道家四子,或稱四經。 <二>凡八卷。又稱列子沖虛真經、沖虛至德真經。舊題周列禦寇撰。晉張湛注。本書以至虛無極為宇宙之本體,萬物即由此而生化無已;並提倡輪迴轉生說,認為生死乃本體之變化。至於最高之理想,則為無為自然的生活,超脫於世間之毀譽褒貶、利害得失,而與博大精深、玄妙至極之宇宙本體相冥合。書中多寓言、重言,經考據有合於莊子者,有後人薈萃而成者;今多公認此書係魏晉間王弼之徒所偽作。 ; Lieh-tzu (C), Lie-tsu (C), Liezi (C)Nhà triết học Đạo giáo thời Chiến quốc. ; (列子) I. Liệt Tử (?-?). Danh nhân Trung hoa, sống vào thời Chiến quốc, người nước Trịnh, họ Liệt, tên Ngự khấu. Ông sinh sau Lão tử, trước Trang tử, tức khoảng thế kỉ thứ IV trước Tây lịch. Ông có soạn bộ sách Liệt tử. Nội dung bàn về tư tưởng của Đạo gia. Nhưng ngày nay đã chứng minh được rằng bộ sách này là do người đời sau ngụy tạo, ngay cả đến việc Liệt tử có là nhân vật thực hay không còn phải đợi khảo chứng. Tuy nhiên, về mặt tư tưởng và ảnh hưởng đối với văn học Trung quốc thì ông được xếp ngang hàng với Trang chu. Người đời gọi Lão tử, Trang tử, Quan tử, và Liệt tử là Đạo gia tứ tử, hoặc gọi là Tứ kinh. II. Liệt Tử. Cũng gọi Liệt tử xung hư chân kinh, Xung hư chí đức chân kinh. Kinh của Đạo giáo, 8 quyển, do Liệt ngự khấu soạn vào đời Chu, Trung quốc, Trương trạm chú giải vào đời Tấn. Nội dung tư tưởng trong sách này cho rằng chí hư vô cực là bản thể của vũ trụ, muôn vật từ đó mà sinh hóa không ngừng, đồng thời đề xướng thuyết luân hồi chuyển sinh, cho rằng sinh tử là sự biến hóa của bản thể. Về lí tưởng tối cao là đời sống vô vi tự nhiên, vượt ra ngoài sự khen chê, được mất của thế gian, mà dung hợp với bản thể vũ trụ rộng lớn sâu xa, mầu nhiệm tột bực. Trong sách có dùng nhiều ngụ ngôn, trùng ngôn. Qua khảo cứu, có người cho rằng nội dung sách này là phù hợp với thuyết của Trang tử, có nhiều chỗ do người đời sau góp nhặt lại mà thành. Nhưng hiện nay, nhiều học giả cho rằng sách này đã do học trò của Vương bật ngụy tạo vào thời Ngụy Tấn.

liệt vị

Gentlemen.

liệt ứng thân

2201天台宗將凡夫二乘及地前菩薩所見佛之應身,分別為勝、劣二種。劣應身者,即藏教之教主,示現丈六之相,居四土中之凡聖同居土,故又稱丈六身佛、劣應丈六身佛。天台四教儀(大四六‧七七五上):「示從兜率降下,託摩耶胎,住胎、出胎、納妃、生子,出家苦行六年已後,木菩提樹下以草為座,成劣應身。」此外,據天台四教儀集註卷上所舉,劣應身乃大乘「勝應身」之對稱,其本非劣。又小乘教以釋尊亦為實業所生之身,故稱劣應身。(參閱「三身」555、「應身」6432) ; (劣應身) Cũng gọi Trượng lục thân Phật, Liệt ứng trượng lục thân Phật. Thân 1 trượng 6 mà đức Phật thị hiện, ứng hóa cho hàng phàm phu, Nhị thừa và Bồ tát trước Thập địa thấy được, là 1 trong 2 ứng thân ở cõi Phàm thánh đồng cư, do tông Thiên thai lập ra. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 775 thượng), nói: Thị hiện từ cung trời Đâu suất giáng trần, gá thai nơi Hoàng hậu Ma da, rồi sinh, lớn lên, cưới vợ, sinh con, xuất gia, 6 năm tu khổ hạnh, ngồi trên tòa cỏ, thành đạo dưới gốc Bồ đề, đó là Liệt ứng thân. Ngoài ra, Thiên thai Tứ giáo nghi tập chú quyển Thượng cho rằng, Liệt ứng thân là đối lại với Thắng ứng thân của Đại thừa, chứ Liệt không phải là kém. Lại nữa, Tiểu thừa cho rằng thân của đức Thích tôn cũng do nghiệp sinh ra, cho nên gọi là Liệt ứng thân. (xt. Tam Thân, Ứng Thân).

liệu

1) Trị liệu—To heal—To cure. 2) Trù liệu: To measure—To calculate. 3) Vật liệu: Materials.

liệu bệnh

See Liệu.

liệu chước

To find a means.

liệu cách

To manage—To find a means to do something.

liệu duy hoà

5797(1914~ )臺灣基隆人。號文傳。十七歲皈依靈泉寺德玄法師,十八歲於福建鼓山湧泉寺受菩薩戒。嘗親炙虛雲、善慧二和尚,受學經典,潛究佛理。數十年來,講經不輟,受學弟子逾千人。民國五十五年(1966)發起於基隆中正公園內募建佛教圖書館;六十二年復於臺北市松山區創建大明寺。現任佛教圖書館館長、大明寺及汐止拱北殿住持。 拱北殿,創建於清光緒二十七年(1901),經數次整建,始有現觀。全寺構築宏偉,畫棟雕樑,精工華美,亭臺樓閣,古色古香,設有登山車道及停車場,爲臺灣北部聞名觀光勝地之一。

liệu giản

4117又作料揀、了簡、量簡、量見、料見。指善能分別選擇正法。蓋此語散見於諸家之章疏中,但用法、含義則不同。 <一>以種種觀點來論究之意,即以問答方式作精密之議論。 <二>為臨濟義玄為導學人悟入之方法,有奪人不奪境、奪境不奪人、人境俱奪、人境俱不奪等四料簡之說。此時,此四料簡為真如實相之四種範疇之意。 <三>日本天台宗用語。由於經文間有彼此矛盾相反者,故設法為之調和而解釋說明,稱為料簡。 <四>一般乃轉指理解、寬宥之意。 ; 1) Giải thích hay giảng giải nghĩa lý: To expound, explain, comment upopn. 2) Tông Thiên Thai dùng từ nầy để chỉ vấn đáp trong nhà thiền: T'ien-T'ai used the term for question and answer. ; (料簡) Cũng gọi Liễu giản, Lượng giản, Lượng kiến, Liệu kiến. Khéo phân biệt, lựa chọn chính pháp. Từ ngữ này thấy rải rác trong các bộ chương sớ của các tông phái, nhưng cách dùng và ý nghĩa lại không giống nhau. 1. Nêu ra mọi quan điểm để làm sáng tỏ vấn đề, hoặc dùng phương thức vấn đáp để bàn luận một cách sâu sát, gọi là Liệu giản. 2. Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền đưa ra 4 phương pháp tiếp hóa người học gọi là Tứ liệu giản: a. Đoạt nhân bất đoạt cảnh (đoạt người chứ không đoạt cảnh). b. Đoạt cảnh bất đoạt nhân (đoạt cảnh chứ không đoạt người). c. Nhân cảnh câu đoạt (người và cảnh đều đoạt). d. Nhân cảnh câu bất đoạt (người và cảnh đều chẳng đoạt). Ở đây Tứ liệu giản mang ý nghĩa 4 phạm trù của chân như thực tướng. 1. Tiếng dùng của tông Thiên thai Nhật bản.Vì trong văn kinh có những chỗ mâu thuẫn trái ngược nhau, nên phải đặt phương pháp để điều hòa và giải thích rõ ràng những mâu thuẫn ấy, gọi là Liệu giản. 2. Thông thường chỉ cho sự lí giải một cách rộng rãi, sâu xa.

Liệu giản 料簡

[ja] リョウカン ryōkan ||| (1) Idea, thought, intention, motive, decision. (2) To consider, think about, analyze, discern. => 1. Ý niệm, tư tưởng, ý định, động cơ, sự quyết định. 2. Suy xét, suy nghĩ, phân tích, nhận thức. [ja] シンシャク shinshaku ||| (1) To act appropriately to the situation. To due as the circumstance demand. 〔二障義 HPC 1.814b〕(2) To serve food and drinks.=> Châm chước斟酌 1. Xử sự thích ứng với hoàn cảnh. Đúng như yêu cầu của tình thế.

liệu hồn

Be careful!

liệu lời

To weigh one's words.

liệu sức

To estimate one's strength.

liệu thế

See Liệu Cách.

Liệu trĩ bệnh kinh 療痔病經

[ja] リョウジビョウキョウ Ryō jibyō kyō ||| The Liao zhibing jing; Skt. Arśapraśamana-sūtra; Tib. gshan 'brum rab tu shi bar byed pa'i mdo [To.621/1020]; (Sutra on Relieving Piles). 1 fasc. (T 1325.21.490), trans. Yijing 義淨. => (c: Liao zhibing jing; s: Arśapraśamana-sūtra; t: gshan 'brum rab tu shi bar byed pa'i mdo; e: Sutra on Relieving Piles). 1 quyển, Nghĩa Tịnh (c: Yijing 義淨) dịch.

liệu trước

To take precautions against something.

liệu đế sính

5797(1827~1893)清代民間宗教真空教之祖師。江西尋鄔人。中年修道,研讀羅祖之五部六冊,於同治(1862~1874)年間創立真空教。以復本還原,歸一歸空爲主旨,藉靜坐、靜悟之修行以達到自身與本體真空之融合境界。並採靜坐法爲人治病、戒鴉片煙。信徒遍及江西、廣東、福建諸省。後更傳入東南亞。著有報空、無相、報恩、三教等諸經。 ; (廖帝聘) (1827-1893) Tổ sư của Chân không giáo, 1 tôn giáo dân gian do ông sáng lập vào khoảng năm Đồng trị (1862-1874) đời Thanh, người Tầm ô, Giang tây. Ông bắt đầu tu đạo ở tuổi trung niên, nghiên cứu Ngũ bộ lục sách của La tổ, lấy việc trở về nguồn gốc, về 1, về không làm tông chỉ, tu hành bằng phương pháp tĩnh tọa, tĩnh ngộ để đạt đến cảnh giới dung hợp giữa tự thân và bản thể chân không, chữa bệnh cho người bằng pháp tĩnh tọa, cấm hút thuốc phiện. Tín đồ của tông giáo này ở rải rác khắp các tỉnh Giang tây, Quảng đông, Phúc kiến, v.v... về sau còn được truyền đến vùng Đông Nam Á. Ông có các tác phẩm: Báo không, Vô tướng, Báo ân, Tam giáo.

lo liệu

To make arrangements.

lo lót

Bribery.

lo lắng

Anxious—Worried.

lo nghĩ

To worry.

lo ngại cho ai

To be concerned about someone.

lo sợ quá đáng

Unduly worrying

lo xa

Worry about the future.

lo âu

Kukrtya (S). Worry. ; 1) (a): To be disturbed—Worried. 2) (n): Disturbance—Worry.

loa

1) Con ốc: A snail—A conch—Spiral. 2) Đinh ốc: Screw.

loa kế

Búi tóc hình xoắn ốc trên đầu của Phạm Thiên vương—Tuft of hair on Brahma's head resembling a conch.

loa kế phạm chí

Tên của Phạm Vương và của Đức Phật—A name for Brahma, and for the Buddha—See Loa Kế Tiên Nhân.

loa kế phạm vương

6514梵天王頂髻作螺形,故稱螺髻梵王,或螺髻梵。曾於維摩會上與舍利弗問答。淨心誡觀法卷上(大四五‧八二三上):「德如螺髻梵,去處見西方。」〔維摩經佛國品〕 ; Brahma Sikhin (S). ; (螺髻梵王) Cũng gọi Loa kế phạm. Vị Phạm vương có búi tóc hình xoắn ốc trên đỉnh đầu. Trên pháp hội Duy ma, vị Phạm vương này từng vấn đáp với ngài Xá lợi phất. Tịnh tâm giới quán pháp quyển thượng (Đại 45, 823 thượng) nói: Đức như Loa kế phạm vương, đi đâu cũng thấy Tây phương. [X. phẩm Phật quốc, kinh Duy ma].

loa kế tiên nhân

6513指釋迦牟尼之前身。據大智度論卷十七載,釋迦昔時為仙人,名尚闍梨。因髮結生於頂,形如螺,故稱螺髻仙人。常行第四禪,出入息斷,在一樹下坐,兀然不動。鳥見之以為木,遂於髻中生卵。後此仙人由定起,欲行,知頂上有鳥卵,即自思惟,若起而走動,母鳥必不復來,卵將盡壞,故還入定,至雛鳥飛去方起。〔觀音玄記卷下〕 ; Trong tiền kiếp, Đức Phật là một vị Loa Kế Tiên Nhân tên là Thượng Xà Lê, trong khi ngài thiền định dài hạn, chim đã đến làm tổ trên búi tóc của ngài—A former incarnation of the Buddha, when a bird built its nest in his hair during his prolonged meditation. ; (螺髻仙人) Tiền thân của đức Phật Thích ca mâu ni. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 17, thủa xưa, đức Thích ca là vị tiên tên Thượng xà lê, vì có búi tóc hình trôn ốc trên đỉnh đầu nên gọi là Loa kế tiên nhân. Vị tiên này thường vào đệ tứ thiền, hơi thở ra vào đã dứt bặt, ngồi dưới gốc cây sừng sững bất động, chim trông thấy tưởng là khúc gỗ, liền làm tổ và đẻ trứng trong búi tóc. Sau đó, vị tiên này xuất định, muốn bước đi, nhưng biết trên đầu mình có ổ trứng chim đang ấp, liền tự nghĩ: Nếu ta đứng dậy bước đi, gây động, chim mẹ sẽ bay mất, trứng sẽ hư hết, nghĩ xong, ông vào định trở lại, đợi đến khi trứng nở, chim con bay đi ông mới đứng dậy. [X. Quan âm huyền kí Q.hạ].

loa phát

6513又作羅髮、蠡髮。謂頭髮收歛右旋呈螺文狀。佛三十二相之一,八十種隨形好之一。生身釋迦佛之髮細軟潤澤,右旋轉呈螺文,故後世釋尊像多見此造型,與肉髻同為佛像頭部雕塑之特徵。印度現存佛像中,於中印度發現者多呈螺髮形;北印度犍馱羅之遺物則不然,僅略呈波狀。我國、朝鮮、日本等國,顯密二宗之釋迦佛、彌陀佛一般均作螺髮形,又密教之阿閦(寶幢)、寶生(開敷華)如來等亦呈此形。菩薩頭部則是部分頭髮成束下垂,稱為垂髮。〔僧伽羅剎所集經卷中、大般若經卷三八一、觀佛三昧海經卷一、祖庭事苑卷四〕 ; Tóc xoắn trên đỉnh đầu của Đức Phật, một trong 32 tướng hảo—The curly hair of the Buddha, one of the 32 good marks or characteristics. ** For more information, please see Tam Thập Nhị Hảo Tướng Của Phật. ; (螺發) Cũng gọi là La phát, Lê phát. Tóc trên đầu xoắn lại xoay về bên phải giống như trôn ốc, là 1 trong 32 tướng tốt, 1 trong 80 vẻ đẹp của đức Phật. Tóc của đức Phật Thích ca bóng mượt, mềm mịn, xoay về bên phải giống như hình trôn ốc, cho nên tượng đức Thích tôn ở đời sau phần nhiều được tạo theo hình dạng này, cùng với Nhục kế ở trên đỉnh đầu đều là đặc trưng của tượng Phật. Trong những tượng Phật hiện còn ở Ấn độ, tượng được tìm thấy ở Trung Ấn độ phần nhiều có hình tóc xoắn. Nhưng, các tượng Phật được phát hiện ở Kiện đà la thuộc Bắc Ấn độ thì không có hình tóc xoắn, mà là hình gợn sóng. Tượng Phật Thích ca và tượng Phật Di đà của 2 tông Hiển giáo, Mật giáo ở Trung quốc, Triều tiên, Nhật bản, v.v... thông thường là hình xoắn ốc. Phật A súc (Bảo chàng),Phật Bảo sinh (Khai phu hoa) của Mật giáo cũng mang hình tóc xoắn này. [X. kinh Tăng già la sát sở tập Q.trung; kinh Đại bát nhã Q.381; kinh Quán Phật tam muội hải Q.1; Tổ đình sự uyển Q.4].

Loan phòng

(鸞房): phòng loan của người vợ. Trong bài kinh Huyền Thiên Thượng Đế Bách Tự Thánh Hiệu (玄天上帝百字聖號) của Đạo Giáo có quẻ xăm thứ 19, Đại Cát, tên Vân Hành Vũ Thí (雲行雨施), phần Hôn Nhân có đoạn: “Quy gia tiện bả loan phòng chỉnh, hảo thính minh cầm hữu phụng thanh, thiên phó nhân duyên cánh hòa hợp, y kim bất tát vấn tiền trình (歸家便把鸞房整、好聽鳴琴有鳳聲、天付姻綠更和合、伊今不必問前程, về nhà bèn chỉnh phòng loan tốt, khéo nghe đàn cầm có phụng reo, trời ban nhân duyên cho hòa hợp, hôm nay bất tất hỏi ngày mai).”

loanh quanh

To go around—To be undecided.

loay quay

To be busy with something.

Long

(s, p: nāga, 龍): rồng, âm dịch là Nẵng Nga (曩誐), Na Già (那伽), tên gọi của một trong 8 bộ chúng hộ trì Phật pháp. Trong thần thoại Ấn Độ, đây là động vật không tưởng thần cách hóa loài rắn; loại có uy đức gọi là Long Vương (龍王) hay Long Thần (龍神). Tương truyền loài này sống trong biển lớn, có ma lực có thể kêu mây và làm mưa gió. Trong thánh điển Phật Giáo có đề cập nhiều đến loài này, tỷ dụ như trong Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương Kinh (佛母大孔雀明王經) có nêu lên hơn 160 tên loài rồng này. Trong truyền thuyết về đức Phật kể lại chuyện khi ngài giáng sanh, có hai con rồng rưới nước thanh tịnh lên mình ngài; khi thành đạo thì con rồng đã bảo vệ, che chở thân ngài trong 7 ngày mưa bão; đức Phật đã từng chữa bệnh cho con rồng mù và hàng phục loài độc long, v.v. Trong Pháp Hoa Kinh (法華經) cho biết rằng 8 vị Long Vương lớn đến nghe đức Phật thuyết pháp; hay như trong Phẩm Đề Bà Đạt Đa (提婆達多品) của kinh này có câu chuyện vị long nữ 8 tuổi thành Phật. Trú xứ của rồng được gọi là Long Cung (龍宮), nằm sâu dưới lòng đáy biển, được trang hoàng lộng lẫy và của báu chất đầy như núi. Nó là vị hộ pháp của Đại Thừa Phật Giáo. Đối với Mật Giáo, đồ hình Thai Tạng Mạn Trà La (胎藏曼茶羅) có 2 vị Long Vương đại diện cho Nan Đà (難陀) và Ô Ba Nan Đà (烏波難陀), có quan hệ rất sâu với pháp cầu mưa. Câu chuyện Thiện Nữ Long Vương (善女龍王) xuất hiện trong khi Không Hải (空海, Kūkai) đang tu luyện pháp tại Thần Tuyền Uyển (神泉苑) là rất nổi tiếng. ; 龍; S: nāga;|Loài rồng, một loại thú linh, mùa xuân cất cánh bay cao, mùa đông ngủ trong lòng đất. Rồng mang lại mưa và bảo vệ bầu trời. Rồng hay Ðại long hay được dùng để biểu tượng đức Phật hay một Bồ Tát hạ sinh. Loài Thuỷ long được xem là vua của sông nước, biển cả. Trong Phật giáo Tây Tạng, người ta tin rằng Thuỷ long cất giữ các bộ kinh ở thuỷ cung và trao lại cho người một khi Nhân duyên đầy đủ.

long

6374梵語 nāga,巴利語同。音譯那伽、曩誐。八部眾之一。群龍之首,稱為龍王或龍神。一般謂龍為住於水中之蛇形鬼類(或謂屬畜生趣),具有呼雲喚雨之神力,亦為守護佛法之異類。經典中有關龍之故事甚多,並繪有種種龍王像。梵語 nāga為蛇之神格化,在印度神話中,乃人面蛇尾之半神,種族有一千,為迦葉波(梵 Kaśyapa)之妻歌頭(梵 Kadru)所生,住於地下或地下龍宮(梵 Pātāla)。又印度自古以來即有稱為那伽之種族,其種族有多數之種別,非屬於雅利安人種,散居於現今印度東北阿薩密(Assam)地方及緬甸西北部等地,崇拜龍蛇。又龍城(梵 Nāgapura)之名,今仍存於各地。關於龍王教化等之故事,或意味那伽種族之歸依佛教。 據正法念處經卷十八畜生品載,龍王攝屬於畜生趣,乃愚癡、瞋恚之人所受之果報,其住所稱為戲樂城,分為法行龍王、非法行龍王二種。法行龍王有七頭,如象面、婆修吉、得叉迦、跋陀羅等諸龍王,瞋恚之心薄,憶念福德,隨順法行,故不受熱沙之苦,以善心依時降雨,令世間五穀成熟。非法行龍王有波羅摩梯、毘謀林婆、迦羅等龍王,不順法行,行不善法,不敬沙門、婆羅門之故,常受熱沙之苦,以惡心起惡雲雨,令一切五穀皆悉弊惡。又長阿含經卷十九龍鳥品載,龍有卵、胎、濕、化生等之別,為卵、胎、濕、化生等四種金翅鳥所吞食。 據佛母大孔雀明王經卷上載,龍王或行於地上,或常居於空中,或恆依妙高山,或住於水中。或一首、二頭乃至多頭之龍王。或無足、二足、四足乃至多足之龍王等。此外,亦有守護佛法之八大龍王,及「龍女成佛」之記載。 至於中國古代所信仰之龍,則指一般所謂「長鱗動物」,於春分之際登天,秋分之際入地。有鱗者,稱為蛟龍;有翼者,稱為應龍;有角者,稱為虬龍;無角者,稱為螭龍;不昇天者,稱為蟠龍。至如比喻天子為龍者,則有所謂「龍顏」、「龍座」之說。〔中阿含卷二十九龍象經、過去現在因果經卷一、普曜經卷二、修行本起經卷上、佛本行集經卷一、大智度論卷三、卷十四、卷三十、大唐西域記卷三、卷八、慧琳音義卷九〕 ; Nāga (S), Dragon, lu (T)Rồng, Na giàMột trong bát bộ. Gồm: Thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu na, khẩn na la, ma hầu la già Một loại chúng sanh. ; Nàga (S). Dragon, dragon-like, imperial. (Nàga: snake, serpent, elephant.) ; Naga (skt). 1) Loài rồng, loài bán chư Thiên, có thân dài không có chân, thuộc loài rắn dài, là một trong tám bộ chúng, có thần lực biến hóa mây mưa. Loài rồng nầy vào mùa xuân thì bay lên cõi trời, và về mùa đông thì ẩn sâu dưới đất—Dragons, a beneficent half-divine being, dragon-like, which means snake, serpent, one of the eight groups of demons with supernatural powers which can create clouds and rains. In the spring the Naga climbs into heaven and in winter lives deep in the earth—See Na Già and Thiên Long Bát Bộ. 2) Long hay Đại Long thường được dùng đồng nghĩa với Phật hay những vị Thánh đã vượt thoát khỏi luân hồi sanh tử—Naga or Maha-naga is often used as a synonym for the Buddha or for the sages who have matured beyond rebirth. 3) Theo nhiều truyền thống Phật giáo, rồng là chư Thiên hộ trì kinh pháp từ những cung điện nơi biển cả, như Kinh Hoa Nghiêm chẳng hạn, đã được chư Long Thần hộ trì vì lúc ấy thời cơ chưa chín muồi cho chúng sanh thu nhiếp lý kinh—In many Buddhist traditions the nagas are water deities who in their sea palaces guard Buddhist scriptures, the Avatamsaka Sutra, for example, has been placed in their care because humanity, at the time, has not yet ripe for their reception. ; (龍) Phạm, Pàli:Nàga. Hán âm: Na già, Nẵng nga. Loài rồng, 1 trong 8 bộ chúng hộ trì Phật pháp. Rồng đứng đầu trong loài rồng, gọi là Long vương hay Long thần. Thông thường, rồng là loại quỉ (có thuyết cho là súc sinh) có thân hình giống rắn sống ở trong nước, có sức thần gọi gió kêu mưa. Trong thần thoại Ấn độ, rồng là một thứ nửa thần có mặt người, đuôi rắn, gồm 1.000 giống, do vợ của Ca diếp ba (Phạm: Kazyapa) là Ca đầu (Phạm: Kadru) sinh ra, ở trên đất hoặc dưới cung rồng (Phạm:Pàtàla). Theo phẩm Súc sinh trong kinh Chính pháp niệm xứ quyển 18, thì Long vương thuộc loài súc sinh, là quả báo của người ngu si, nóng giận, chỗ ở của rồng gọi là Hí lạc thành. Rồng có 2 loại: Pháp hành long vương và Phi pháp hành long vương. 1. Pháp hành long vương có 7 đầu, như các long vương Tượng diện, Bà tu cát, Đắc xoa ca, Bạt đà la, v.v... là loài ít sân si, hay làm việc phúc đức, cho nên không bị cái khổ cát nóng, do tâm tốt nên làm mưa đúng thời vụ, giúp cho ngũ cốc ở thế gian được mùa. 2. Phi pháp hành Long vương gồm có Ba la ma thê, Tì mưu lâm bà, Ca la, v.v... loài này thường làm những việc bất thiện, không kính Sa môn, Bà la môn, nên thường chịu cái khổ cát nóng, do tâm ác nên làm mưa to gió dữ, khiến ngũ cốc hư hại. Theo phẩm Long điểu trong kinh Trường a hàm quyển 19, thì rồng có 4 loại: Đẻ trứng, đẻ bọc, sinh nơi ẩm ướt và tự nhiên hóa sinh, thường bị 4 loại đại bang (chim cánh vàng) đẻ trứng, đẻ bọc, đẻ nơi ẩm ướt và tự nhiên hóa sinh nuốt ăn. Theo kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển thượng, thì Long vương có loài đi trên mặt đất, hoặc thường ở trong hư không, hoặc trên núi Diệu cao, hoặc ở dưới nước. Có loại Long vương 1 đầu, 2 đầu, cho đến nhiều đầu; hoặc Long vương không chân, 2 chân, 4 chân cho đến nhiều chân, v.v... Còn trong tín ngưỡng của Trung quốc đời xưa, thì Long là chỉ cho loài động vật có vảy mình dài nói chung, vào tiết xuân phân thì lên trời, đến tiết thu phân thì xuống đất. Loài có vảy thì gọi là Giao long, loại có cánh gọi là Ứng long, loại có sừng gọi Cầu long, loại không sừng gọi Li long, loại không bay được gọi là Bàn long. [X. kinh Long tượng trong Trung a hàm Q29; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q1; kinh Phổ diệu Q 2; kinh Tu hành bản khởi Q thượng; kinh Phật bản hạnh tập Q1; luận Đại trí độ Q3, 14, 30; Đại đường tây vực kí Q3, 8; Tuệ lâm âm nghĩa Q.9].

long bát

Bát khất thực của một vị Tăng sĩ, để nhận nước mưa (loài rồng giáng vào cái bát ấy)—A begging-bowl formerly used by a certain monk for obtaining rain, the dragon descending into his bowl.

Long Bổn Lương Đức

(隆本良德, Ryūpon Ryōtoku, ?-?): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống giữa vào hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, húy là Lương Đức (良德), tự là Long Bổn (隆本), hiệu là Pháp Liên Xã (法蓮社). Ông theo học Tịnh Độ Giáo với Lương Vinh (良榮) ở Viên Thông Tự (圓通寺) vùng Hạ Dã (下野, Shimotsuke), rồi kế thừa dòng pháp của vị này và làm vị Tổ đời thứ 3 của chùa. Môn hạ của ông có Lương Hiến (良憲), Lương Điều (良調).

long châu

6386指龍頷下之珠瓔。根據四分律含注戒本疏行宗記卷五載,昔有螺髻梵志居於恆河邊,為龍所阻撓,佛令其乞龍頸下之珠瓔,龍即不再出現。 ; Dragon-pearl; pearl below the dragon's jaw. ; Loại ngọc dưới hàm rồng—Dragon pearls; pearls below the dragon's jaws; the sun or moon associated with the dragon and spring. ; (龍珠) Hạt châu ở dưới cằm con rồng. Cứ theo Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ hành tông kí quyển 5, xưa kia có Phạm chí Loa kế sống ở bờ sông Hằng, thường bị rồng quấy nhiễu, đức Phật bảo vị Phạm chí hãy xin hạt châu ở dưới cổ con rồng thì nó sẽ không đến quấy nhiễu nữa.

long châu tự

6386韓國三十一本山之一。位於京畿道華城郡花山。由廉居創建於新羅文聖王十六年(854),原名葛陽寺。建寺以降,歷經擴建修葺。正祖王十四年(1790)重修,落成當日,王夢見龍銜如意寶珠昇天而去,故改寺名為龍珠寺。今有大雄寶殿、冥府殿、護聖殿、天保樓、極樂大圓寶殿、普信閣、曼殊室利那由陀寮十方七燈閣等,並監管七長、青龍、普光等四十八寺。寺塔所供奉之佛舍利二枚、甘露寶瓶及五色蒲團等,均傳自中國。〔朝鮮寺剎史料卷上、朝鮮佛教通史、李朝佛教、朝鮮寺剎三十一本山寫真帖〕 ; (龍珠寺) Chùa ở núi Hoa sơn, quận Hoa thành, tỉnh Kinh kì, Hàn quốc, do ngài Liêm cư sáng lập vào năm Văn thánh vương 16 (854). Ban đầu, chùa có tên là chùa Cát dương. Năm Chính tổ vương 14 (1790) chùa được trùng tu, vào ngày khánh thành, nhà vua nằm mộng thấy con rồng ngậm viên ngọc báu như ý bay lên trời, vua bèn ban sắc đổi tên chùa là Long châu. Hiện nay, chùa có các kiến trúc như: Đại hùng bảo điện, điện Minh phủ, điện Hộ thánh, lầu Thiên bảo, Cực lạc đại viên bảo điện, gác Phổ tín, v.v... Trong tháp thờ 2 viên xá lợi của Phật, bình báu cam lộ và bồ đoàn 5 sắc, v.v... các báu vật báu này đều từ Trung quốc truyền sang. Ngày nay, Long châu là 1 trong 31 bản sơn của Phật giáo Hàn quốc, có 48 chùa phụ thuộc như chùa Thất trường, chùa Thanh long, chùa Phổ quang, v.v... [X. Triều tiên tự sát sử liệu Q.thượng; Triều tiên Phật giáo thông sử, Lí triều Phật giáo; Triều tiên tự sát tam thập nhất bản sơn tả chân thiếp].

long chương

6387指經卷。以經卷之梵文,形若龍蛇之蟠旋,故稱龍章。 ; Dragon books, i.e. the sùtras, so called because the Sanskrit writings seemed to resemble the forms of snakes and dragons. ; Long Thư hay kinh điển, được gọi như vậy vì chữ Phạn giống với chữ Hán như hình thù của loài rắn hay rồng—Dragon books, i.e. the sutras, so called because the Sanskrit writing seemed to the Chinese to resemble the forms of snakes and dragons. ; (龍章) Chỉ cho kinh điển. Vì kinh tiếng Phạm, chữ viết cuộn tròn như hình rồng rắn, nên gọi là Long chương.

long chủ tiên

6379指念誦羂索而成就者。謂行者依聖迦抳金剛童子軌之法,於舍利塔前誦持真言六十萬遍,然後以補沙鐵作羂索,念誦而得成就者,稱為龍主仙。即於諸龍中得自在者。〔聖迦抳金剛童子軌卷上〕 ; (龍主仙) Tiên làm chủ loài rồng. Nghĩa là hành giả y theo pháp Thánh ca ni kim cương đồng tử quĩ, trí tụng 60 vạn biến chân ngôn trước tháp xá lợi, sau đó, dùng bổ sa thiết làm sợi dây niệm tụng, thì thành Long chủ tiên. [X. Thánh ca ni kim cương đồng tử quĩ Q.thượng].

long chủng thượng trí tôn vương phật

6393為文殊菩薩之本地名。又稱龍種淨智尊王佛、龍種上佛、龍種尊、龍尊王、龍尊。異稱甚多。〔觀藥王藥上二菩薩經、心地觀經卷三、大智度論卷二十九〕(參閱「文殊菩薩」1426、「本地」1955) ; (龍種上智尊王佛) Cũng gọi Long chủng tịnh trí tôn vương Phật, Long chủng thượng Phật, Long chủng tôn, Long tôn vương, Long tôn. Tên bản địa của bồ tát Văn thù, còn có rất nhiều tên khác nữa. [X. kinh Quán dược vương dược thượng nhị bồ tát; kinh Tâm địa quán Q.3; luận Đại trí độ Q.29]. (xt. Văn Thù Bồ Tát, Bản Địa).

long chủng thượng tôn vương phật

The Buddha of the race of honourable dragon-kings, a title of Manjusri. ; 1) Long Chủng Thượng Như Lai: Theo Trí Độ Luận, đây là Long Chủng Trí Tôn Vương Phật—According to the Maha-Prajna-Sastra, this is the Buddha of the race of honourable dragon kings. 2) Danh hiệu của Ngài Văn Thù Sư Lợi: A title of Manjusri.

long cung

6385為龍王或龍神之住處。又稱龍戶。據傳在大海之底,龍王以神力化作宮殿,為現世佛法隱沒時龍王護持財寶、經卷之所在。蓋印度守財寶之蛇為那伽(梵 nāga),即眼鏡蛇,亦譯作龍。但據印度古傳,那伽為人面蛇尾之半神,住於地下龍宮(梵 pātāla),以和修吉(梵 Vāsuki)為諸那伽之王。 據長阿含經卷十九載,大海水之底有娑竭龍王之宮殿;須彌山與佉陀羅山間有難陀、跋難陀二龍王之宮殿。大方等大集經卷四十三日藏分送使品載,此世界諸地中,各有龍王,於龍宮中護持地、水、風、樹、花、果等諸物。 又正法念處經卷十八畜生品載,大海中有名為戲樂之城,其中住有二種龍王,即:世界之守護者,稱為法行龍王;世界之破壞者,稱為非法行龍王。 另據海龍王經卷三請佛品載,海龍王詣靈鷲山,聞佛陀說法,得信心歡喜,欲請佛至海中龍宮供養之,遂以神力化作宮殿。據蓮華面經卷下載,閻浮提及十方所有佛鉢及佛舍利,皆在婆伽羅龍王之宮中。又據菩薩處胎經卷七、摩訶摩耶經卷下、龍樹菩薩傳、賢首華嚴傳卷一等載,龍宮中藏有勝妙之經典。〔大寶積經卷八十六、樓炭經卷一、新華嚴經卷四十三、起世因本經卷二、施設論卷六、大智度論卷三、卷十四、瑜伽師地論卷二、止觀輔行傳弘決卷一、付法藏傳卷五〕 ; Dragon Palace. ; Dragon palace, palace of the dragon-kings. ; 1) Cung điện của Long Vương ở đáy biển (do thần lực của Long Vương biến hóa ra): The dragon palace; palaces of the dragon kings. 2) Long cung nơi Ngài Long Thọ Bồ Tát viết Kinh Hoa Nghiêm: The dragon palace in which Nagarjuna recited the Hua-Yen Ching. ; (龍宮) Cũng gọi Long hộ. Chỗ ở của Long vương hoặc Long thần. Theo truyền thuyết, dưới đáy biển lớn, Long vương dùng sức thần hóa ra cung điện làm nơi giữ gìn của báu, kinh điển khi Phật pháp ẩn mất ở thế gian. Bởi vì con rắn giữ gìn của báu ở Ấn độ là Na già (Phạm: Nàga), tức là rắn mắt gương, còn được dịch là rồng. Nhưng theo truyện cổ Ấn độ, Na già là nửa thần mặt người đuôi rắn ở chốn Long cung (Phạm: Pàtàla) dưới mặt đất, mà Hòa tu cát (Phạm:Vàsuki) là vua các Na già. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 19, dưới đáy biển lớn có cung điện của Long vương Sa kiệt, giữa khoảng núi Tu di và núi Khư đà la có cung điện của 2 vị Long vương Nan đà và Bạt nan đà. Theo phẩm Nhật tạng phân tống sứ trong kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 43, thì khắp nơi trên thế giới này đều có Long vương, ở trong Long cung giữ gìn các vật: Đất, nước, lửa, gió, cây, hoa, quả. Theo phẩm Thỉnh Phật trong kinh Hải long vương quyển 3, Hải long vương đến núi Linh thứu, nghe đức Phật thuyết pháp, được lòng tin vui mừng, muốn thỉnh Phật đến Long cung trong biển để cúng dường, bèn dùng sức thần hóa làm cung điện. Kinh Liên hoa diện quyển hạ chép, tất cả bát Phật và xá lợi Phật, trong 10 phương của cõi Diêm phù đề đều cất giữ trong cung điện của Long vương Bà già la. Còn theo các kinh truyện như: kinh Bồ tát xử thai quyển 7, kinh Ma ha ma da quyển hạ, Long thụ bồ tát truyện, Hiền thủ Hoa nghiêm truyện quyển 1, v.v... thì trong Long cung có kinh điển thắng diệu. [X. kinh Đại bảo tích Q.86; kinh Lâu thán Q.1; kinh Hoa nghiêm Q.43 (bản dịch mới); kinh Khởi thế nhân bản Q.2; luận Thi thiết Q.6; luận Đại trí độ Q.3, 14; luận Du già sư địa Q.2; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1; Phó pháp tạng truyện Q.5].

long cung bảo tạng

Tàng kinh các nơi Long Cung của ngài Long Thọ Bồ Tát—A library of the sutras in the Dragon palace in the Nagarjuna's palace.

long cung chung

6385傳說為古代印度修多羅院之石鐘。據祖庭事苑卷四載,色如青碧玉,能容十斛。鼻有諸天像,周匝作十方諸佛成道像。每至日出,有諸化佛演說十二部經,舍衛城之童男童女皆前來聞法證聖。擊之則百億世界悉聞百千釋迦佛說修多羅經。傳係拘留秦佛所造,彼佛入滅後,為娑竭龍王收去。至釋迦佛出,始重現。迄佛入滅後,復為娑竭龍王收去。 ; (龍宮鍾) Quả chuông bằng đá ở viện Tu đa la tại Ấn độ. Cứ theo Tổ đình sự uyển quyển 4, thì chuông này rất lớn, có màu ngọc bích. Chung quanh chuông khắc tượng Phật thành đạo trong 10 phương và tượng chư Thiên. Mỗi buổi sáng có các hóa Phật diễn nói 12 bộ kinh, các đồng nam, đồng nữ trong thành Xá vệ đều đến nghe pháp và chứng Thánh quả. Khi tiếng chuông được gióng lên thì trăm ức thế giới đều nghe trăm nghìn Phật Thích ca tuyên thuyết Tu đa la (kinh). Theo truyền thuyết, chuông này do đức Phật Câu lưu tôn tạo ra, sau khi Ngài nhập diệt, thì Long vương Sa kiệt thu giữ. Đến khi đức Thích ca ra đời, chuông mới xuất hiện trở lại, sau khi Phật Thích ca nhập diệt, Long vương Sa kiệt lại thu giữ ở Long cung.

long căn

5319(1921~ )江蘇泰縣人,俗姓呂。於泰北廣濟庵從智祥法師出家。先後遊學於上海佛學院、武昌佛學院。其後歷任香港無盡燈、臺灣海潮音、馬來西亞無盡燈雜誌主編,及星馬佛教總會弘法主任。又曾旅臺任善導寺監院。現居星加坡,主持星加坡南洋佛學書局及靈峰般若講堂,一生致力於推廣星、馬地區之佛教文化。著有佛教評議集、玄奘大師生年之研究、聖僧掌故、佛學通解、善生經講記等書。 ; (隆根) (1921- ) Danh tăng Trung quốc, sống vào thời Dân quốc, người huyện Thái, tỉnh Giang tô, họ Lữ. Sư theo ngài Trí tường ở am Quảng tế, Bắc thái, xuất gia, lần lượt tham học tại các Phật học viện Thượng hải, Vũ xương. Về sau, sư làm chủ biên các tạp chí Vô tận đăng ở Hương cảng, Hải triều âm ở Đài loan, Vô tận đăng ở Mã lai á; chủ nhiệm hoằng pháp của Tổng hội Phật giáo Tân gia ba - Mã lai á; sư cũng từng làm Giám viện chùa Thiện đạo ở Đài loan. Hiện nay sư đang chủ trì nhà xuất bản Phật giáo Nam dương và giảng đường Linh phong bát nhã tại Tân gia ba. Sư có các tác phẩm: Phật giáo bình nghị tập, Huyền trang Đại sư sinh niên chi nghiên cứu, Thánh tăng chưởng cố, Phật học thông giải, Thiện sinh kinh giảng kí.

long cư sĩ

P'ang-chu shih (C), Pangjushi (C)Bàng Uẩn.

long cốc đại học

6380位於日本京都下京區。為日本淨土真宗本願寺派所創立之大學。龍谷之名,係由本願寺第十四代寂如懸掛於本廟佛殿上的本山之山號。寬永十六年(1639),良如宗主於本願寺境內創立學寮為其濫觴。大正十一年(1922),改稱龍谷大學。鈴木法琛為第一任校長,設有研究部、文學部、大學預科,專門部。昭和二十四年(1949),改為新制大學。後陸續增設短期大學、大學院修士課程、博士課程等,藏書甚富。〔龍谷大學三百年史、學林沿革史、學寮造立事付以後法論次第〕 ; (龍谷大學) Trường Đại học ở khu Hạ kinh tại Kinh đô (Kyoto) Nhật bản, do phái Bản nguyện tự thuộc Tịnh độ Chân tông sáng lập. Long cốc (hang rồng) là tấm bảng tên núi (tên bản sơn) do vị Tổ đời thứ 14 của chùa Bản nguyện là ngài Tịch như treo trước điện Phật của chùa này. Năm Khoan vĩnh 16 (1639), ngài Lương như Tông chủ sáng lập Học liêu(tiền thân của Đại học Long cốc) trong khuôn viên chùa Bản nguyện. Năm Đại chính 11 (1922), Học liêu được đổi tên là Đại học Long cốc, do ngài Linh mộc Pháp sâm làm Hiệu trưởng đầu tiên, đặt ra bộ Nghiên cứu, bộ Văn học, khoa Dự bị Đại học và bộ Chuyên môn. Năm Chiêu hòa 24 (1949), đổi theo chế độ Đại học mới và mở thêm Đại học ngắn hạn, chương trình Tiến sĩ, v.v... Ở đây lưu trữ rất nhiều sách vở. [X. Long cốc đại học tam bách niên sử; Học lâm diên cách sử; Học liêu tạo lập sự phó dĩ hậu pháp luận thứ đệ].

Long Hoa

(龍華): từ gọi tắt của Long Hoa Tam Hội (龍華三會), Long Hoa Hội (龍華會), Long Hoa Tam Đình (龍華三庭), Di Lặc Tam Hội (彌勒三會), Từ Tôn Tam Hội (慈尊三會), xem chi tiết ở Long Hoa chi hội bên dưới.

long hoa

The Dragon and the Flower.

Long Hoa chi hội

(龍華之會): hay Long Hoa Hội (龍華會), Long Hoa Tam Hội (龍華三會), Long Hoa Tam Đình (龍華三庭), Di Lặc Tam Hội (彌勒三會), Từ Tôn Tam Hội (慈尊三會), Long Hoa (龍華), tức chỉ ba hội thuyết pháp của Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) sau khi thành đạo. Sau khi đức Phật diệt độ khoảng 56 ức 7 ngàn vạn năm (có thuyết cho là 57 ức 6 ngàn vạn năm), từ trên cung trời, Bồ Tát Di Lặc hạ sanh xuống nhân gian, xuất gia học đạo, ngồi thành chánh giác dưới gốc cây Long Hoa (s: nāga-puṣpa, 龍華樹, Mesuna roxburghii Wigh, Mesuna ferrea) trong vườn Hoa Lâm (華林), Thành Xí Đầu (翅頭城), và thuyết pháp trước sau 3 lần. Theo Tam Thế Đẳng Phẩm (三世等品) của Bồ Tát Xử Thai Kinh (菩薩處胎經) cho biết rằng trong 3 hội Long Hoa, hội thứ nhất Ngài thuyết pháp độ được 96 ức chúng sanh và truyền thọ Năm Giới của đức Thích Tôn; hội thứ hai độ được 94 ức và mọi người đều thọ trì ba pháp Quy Y; hội thứ ba độ được 92 ức và hết thảy đều niệm Nam Mô Phật. Tín ngưỡng đức Phật Di Lặc xuất thế vốn thịnh hành từ xưa cho đến nay, ai ai cũng khát ngưỡng chờ đợi sự xuất hiện của ngài để được dự vào pháp hội Long Hoa. Như trong Xuất Tam Tạng Ký Tập (出三藏記集) quyển 12, Nguyên Thủy Tập Mục Lục Tự (原始集目錄序) của Pháp Uyển Tạp Lục (法苑雜錄) có đề cập bản Tống Minh Hoàng Đế Sơ Tạo Long Hoa Thệ Nguyện Văn (宋明皇帝初造龍華誓願文), Kinh Sư Chư ấp Tạo Di Lặc Tượng Tam Hội Ký (京師諸邑造彌勒像三會記), Tề Cánh Lăng Văn Tuyên Vương Long Hoa Hội Ký (齊竟陵文宣王龍華會記), v.v. Hơn nữa, nơi bài minh sau lưng bức tượng Di Lặc do Tỳ Kheo Tăng Hân (僧欣) tạo lập vào tháng 12 năm thứ 23 (499) niên hiệu Thái Hòa (太和) nhà Bắc Ngụy có ghi lại lúc đức Phật Di Lặc xuất hiện; nguyện vọng của ông là được tái sanh làm người và trở thành vương tộc để tham dự vào hội thuyết pháp Long Hoa. Ngoài ra, pháp hội cúng dường Phật Di Lặc và Quán Phật Hội (灌佛會, Hội Tắm Phật) cũng được gọi là Long Hoa Hội. Từ xa xưa, Long Hoa Hội đã là một lễ hội rất thịnh hành được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch từ trong hoàng cung ra đến ngoài dân dã để kỷ niệm ngày Bồ Tát Di Lặc hạ sanh. Như trong Kinh Sở Tuế Thời Ký (荊楚歲時記), Điều Long Hoa Hội (龍華會條) của Lương Tông Lẫm (梁宗懍, ?-?) thời Nam Triều có ghi lại rằng: “Tứ nguyệt bát nhật, chư tự các thiết hương thang dục Phật, cọng tác Long Hoa hội, dĩ vi Di Lặc hạ sanh chi chưng (四月八日、諸寺各設香湯浴佛、共作龍華會、以爲彌勒下生之徵, vào ngày mồng tám tháng tư, các chùa đều thiết hương, nước nóng tắm Phật, và tổ chức Hội Long Hoa để làm chứng cớ cho việc Bồ Tát Di Lặc hạ sanh).” Hay trong bài thơ Bồi Nguyên Thị Ngự Du Chi Hình Sơn Tự (陪元侍御遊支硎山寺) của Lưu Trường Khanh (劉長卿, ?-786?) nhà Đường có câu: “Chi công khữ dĩ cửu, tịch mịch Long Hoa Hội (支公去已久、寂寞龍華會, Ông Chi đi đã lâu, Hội Long Hoa vắng lặng).” Bên cạnh đó, trong Suy Bi Đồ (推碑圖) của Lưu Bá Ôn (劉伯溫, 1311-1375) nhà Minh cũng có câu: “Ngưu đầu thử vĩ triệt hạ tai, triêu bệnh mộ tử thậm bi ai, hữu nhân thâu đắc thiên Phật bảo, Long Hoa hộ hựu kiến đương lai (牛頭鼠尾撒下災、朝病暮死甚悲哀、有人收得天佛寶、龍華護佑見當來, đầu trâu đuôi chuột hết hung tai, sáng bệnh chiều chết quá bi ai, có người thu được báu trời Phật, Long Hoa phò hộ thấy tương lai).” Khi pháp môn sám hối thịnh hành, xuất hiện bộ Đắc Ngộ Long Hoa Tu Chứng Sám Nghi (得遇龍華修證懺儀, 4 quyển) do Sa Môn Như Tinh (如惺) của Từ Vân Tự (慈雲寺) trên Thiên Thai Sơn (天台山) soạn. Tại Thiên Vương Điện (天王殿) của Linh Ẩn Tự (靈隱寺), Hàng Châu (杭州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có hai câu đối về đức Phật Di Lặc rằng: “Bố Đại vô song phá nhan thùy tiếu nhĩ đẳng mạc đãi Long Hoa Tam Hội, pháp môn bất nhị đại phục năng dung lai nhân toàn bằng niệm Phật nhất tâm (布袋無雙破顔垂笑爾等莫待龍華三會、法門不二大腹能容來人全憑念佛一心, Bố Đại vô song tươi cười thương chúng các người chớ đợi Long Hoa Ba Hội, pháp môn chẳng khác bụng lớn chứa trùm kẻ đến đều nương niệm Phật nhất tâm).” Ngoài ra, tín ngưỡng Long Hoa còn được tìm thấy trong Đạo Giáo qua Tam Kỳ Phổ Độ Long Hoa Kinh (三期普度龍華經); như trong bài Hoàn Kinh Tán (完經讚) có câu: “Thiên Hoàng Ngọc Đế, phổ độ chúng sinh, Long Hoa Kinh Sám dĩ xiển minh, tín thọ nhi phụng hành, vạn sự hàm hanh, độ kiếp đắc thái bình (天皇玉帝、普度眾生、龍華經懺已闡明、信受而奉行、萬事咸亨、度劫得太平, Thiên Hoàng Ngọc Đế, độ khắp chúng sinh, Long Hoa Kinh Sám đã rõ rành, tin nhận đem tu hành, vạn sự thông hanh, vạn kiếp được thái bình).”

long hoa hội

The assembly of Maitreya Buddha for preaching the Buddha-truth. ; Chúng hội của Đức Bồ Tát Di Lặc trong nội viện của cõi trời Đâu Suất (trong năm mươi sáu ức bảy nghìn vạn năm Đức Di Lặc sẽ ra đời ở cõi nầy). Ngài Di Lặc sẽ ngồi dưới gốc cây Long Thọ, nơi vười Hoa Lâm mà mở Pháp Hội để phổ độ cho cõi trời và cõi người. Vào ngày mồng tám tháng tư các tự viện hay thiết trai lấy nước ngũ hương tắm Phật, tổ chức hội Long Hoa, tượng trưng cho việc Đức Di Lặc hạ sanh—The assembly of Maitreya to whom he preached the Buddha-truth. The eighth of the fourth moon, an occasion when the images are washed with fragrant water, in connection with the expected Messiah.

long hoa phái

6390臺灣民間宗教齋教三派之一。源自明代嘉靖年間山東人羅因(1442~1527,一稱羅祖,法號普仁)所創立之無為教以及無為教之末流羅教(又稱羅祖教)。羅教傳予其女時稱羅廣女教,其後又稱機留女教。二祖殷繼南(法號普能),三祖名姚文(法號普善),與羅因並稱龍華派三祖,又稱三公。傳至清雍正年間,有第十祖陳普同設堂於福建興化,成為大本山。至第十六祖盧普濤始至臺灣臺南宣教六年,至其弟子普爵乃創設德善堂於臺南。然在此之前,即乾隆末年之白蓮教教徒起亂,天下齋堂多數被毀,時有龍華派之楊仔林避遷臺灣,於臺南培養書院聚徒授經。此為龍華派最早入臺之弘傳活動。 本派祭佛儀式與佛教不同。正堂奉祀觀世音菩薩,長案下案奉三公之座位,稱為三公椅。門徒階級可分空空、太空、清虛、四偈、大引、小引、三乘、大乘、小乘等九品。初入門者稱為小乘,其後逐漸進級,並有嚴格之進級儀式;空空為最上級,可任該派傳燈掌教。臺灣目下無空空級位,概由太空級代掌。又有「過公場」、「坐法船」等儀式,規模大而莊嚴。又開辦祭佛法會,稱為「辦供」,其儀式係據「龍華正教科儀」舉行。信徒平時修行禪法,配合道家神仙術,以修煉精氣神為宗旨。又本派於齋教三派之中最具社會色彩,持戒較緩,不禁婚娶,素食亦有一定之時日,稱為持「花齋」,故易為群眾接受,齋友在三派中亦最多。 龍華派依據之主要經典有:羅祖之「五部六冊」、五部經補註開心法要、明宗孝義經、龍華之會性命門教、龍華正教科儀等。〔臺灣的齋教由來(庭嘉,現代佛教學術叢刊(87))〕(參閱「無為教」5113、「齋教」6549、「羅悟空」6676) ; (龍華派) Phái Long hoa, 1 trong 3 phái Trai giáo thuộc tông giáo dân gian ở Đài loan. Phái này có nguồn gốc từ Vô vi giáo (cũng gọi La tổ giáo) do ông La nhân(cũng gọi La tổ 1442-1527) pháp hiệu Phổ nhân, người Sơn đông sáng lập vào khoảng năm Gia tĩnh đời Minh. Khi La tổ truyền cho con gái thì gọi là La quảng nữ giáo, về sau cũng gọi là Cơ lưu nữ giáo. Nhị tổ Ân kế nam (pháp hiệu Phổ năng), Tam tổ Diêu văn (pháp hiệu Phổ thiện) cùng với La nhân gọi chung là Tam tổ phái Long hoa, cũng gọi Tam công. Đến khoảng năm Ung chính đời Thanh, có tổ thứ 10 là Trần phổ đồng thiết lập Giảng đường ở huyện Hưng hóa, tỉnh Phúc kiến làm Đại bản sơn. Đến tổ thứ 16 là Lư phổ đào mới đến huyện Đài nam, tỉnh Đài loan truyền giáo trong 6 năm, đến đệ tử của ông là Phổ tước mới sáng lập Đức thiện đường ở Đài nam, là hoạt động truyền giáo sớm nhất của phái Long hoa tại Đài loan. Nghi thức thờ phụng của phái này khác với Phật giáo. Chính đường thờ tượng bồ tát Quan thế âm, dưới thờ Tam công. Môn đồ phái này được chia làm 9 cấp bậc: Không không, Thái không, Thanh hư, Tứ kệ, Đại dẫn, Tiểu dẫn, Tam thừa, Đại thừa, Tiểu thừa. Người mới nhập môn gọi là Tiểu thừa, về sau dần dần lên cấp, nghi thức lên cấp rất chặt chẽ. Không không là cấp cao nhất, có thể đảm nhiệm chức Chưởng giáo truyền đăng của phái. Ở Đài loan hiện nay không có cấp Không không, mà chỉ do cấp Thái không thay quyền chưởng quản. Các nghi thức Quá công trường, Tọa pháp thuyền được tổ chức rất qui mô và trang nghiêm. Ngoài ra còn có pháp hội tế Phật, gọi là Biện cúng, được cử hành theo nghi thức ghi trong Long hoa chính giáo khoa nghi. Tín đồ thường ngày tu hành pháp thiền, phối hợp với thuật thần tiên của Đạo giáo, lấy việc tu luyện tinh, khí, thần làm căn bản. Trong 3 phái Trai giáo, phái này mang đậm màu sắc xã hội hơn cả, giới luật không nghiêm lắm, không cấm việc hôn nhân, ăn chay có định kì, gọi là hoa trai, cho nên tín đồ của phái này đông nhất trong 3 phái. Những kinh điển chủ yếu mà phái Long hoa y cứ gồm có: Ngũ bộ lục sách của La tổ, Ngũ bộ kinh bổ chú khai tâm pháp yếu, Minh tông hiếu nghĩa kinh, Long hoa hội tính mệnh môn giáo, Long hoa chính giáo khoa nghi... [X. Đài loan đích trai giáo do lai (Đình gia, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 87)]. (xt. Vô Vi Giáo, Trai Giáo, La Ngộ Không).

long hoa sám nghi

6391凡四卷。全稱「得遇龍華修證懺儀」。明代如惺撰。收於卍續藏第一二九冊。本經敘說祈念彌勒菩薩,懺悔罪障之作法。共分為:開發正信、廣求良友、嚴持戒律、發菩提心、明結壇儀、禮請三寶、懺悔往罪、專誦法華、三寶福田、總觀兜率、別觀龍華、念一實相等十二品。 ; (龍華懺儀) Gọi đủ: Đắc ngộ long hoa tu chứng sám nghi.Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Như tỉnh soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 129. Nội dung sách này nói về nghi thức cầu nguyện bồ tát Di lặc, sám hối tội chướng. Gồm 12 phẩm: Khai phát chính tín, Quảng cầu lương hữu, Nghiêm trì giới luật, Phát bồ đề tâm, Minh kết đàn nghi, Lễ thỉnh Tam bảo, Sám hối vãng tội, Chuyên tụng Pháp hoa, Tam bảo phúc điền, Tổng quán Đâu suất, Biệt quán Long hoa và Niệm nhất thực tướng.

long hoa tam hội

6389指彌勒菩薩於龍華樹下成道之三會說法。又稱龍華會、龍華三庭、彌勒三會、慈尊三會。略稱龍華。乃佛陀入滅後五十六億七千萬年(另有說五十七億六千萬歲、五十六億萬歲者),彌勒菩薩自兜率天下生人間,出家學道,坐於翅頭城華林園中龍華樹下成正等覺,前後三次說法。於昔時釋迦牟尼佛之教法下未曾得道者,至此會時,以上中下三根之別,悉可得道。 據菩薩處胎經卷二「三世等品」所載,龍華三會中,第一會說法度眾九十六億,乃受釋尊之五戒者;第二會度眾九十四億,乃受持三歸者;第三會度眾九十二億,乃一稱南無佛者。然於賢愚經卷十二波婆梨品、大智度論卷三等所載之三會度眾人數則略有出入。 古來即盛行願於彌勒佛出世時再生人間、逢遇三會之說法,如出三藏記集卷十二法苑雜緣原始集目錄序舉出宋明皇帝初造龍華誓願文、京師諸邑造彌勒像三會記、齊竟陵文宣王龍華會記等。又北魏太和二十三年(499)十二月比丘僧欣造立之彌勒像光背銘,即記載彌勒出現之時,其願再生人間成為王侯、參預龍華之說法;具此種造像銘之佛像,後世亦留傳不少。 此外,供養彌勒佛之法會及灌佛會,亦稱為龍華會。據荊楚歲時記龍華會條載,四月八日諸寺備辦種種齋食,以五香水浴佛作龍華會,以象徵彌勒之下生。〔彌勒下生經、彌勒大成佛經、觀彌勒上生經、一切智光明仙人慈心因緣不食肉經、大毘婆沙論卷一三五〕 ; (龍華三會) Cũng gọi Long hoa hội, Long hoa tam đình, Di lặc tam hội, Từ tôn tam hội. Gọi tắt: Long hoa. Ba hội thuyết pháp của bồ tát Di lặc sau khi Ngài thành Phật dưới gốc cây Long hoa. Sau khi đức Phật Thích ca nhập diệt 56 ức 7 nghìn vạn năm (có thuyết nói 57 ức 6 nghìn vạn năm, 56 ức vạn năm), bồ tát Di lặc từ cõi trời Đâu suất hạ sinh xuống nhân gian, xuất gia học đạo, ngồi dưới gốc cây Long hoa, trong vườn Hoa lâm ở thành Sí đầu, thành bậc Chính đẳng chính giác, trước sau thuyết pháp 3 lần. Những người trong giáo pháp của đức Phật Thích ca mâu ni thủa xưa, tu hành chưa giác ngộ thì đến hội của đức Phật Di lặc, tất cả đều đắc đạo. Cứ theo phẩm Tam thế đẳng trong kinh Bồ tát xử thai quyển 2, trong Long hoa tam hội, hội thứ 1 thuyết pháp độ 96 ức người thành đạo quả, hội thứ 2 độ 94 ức người và hội thứ 3 độ 92 ức người. Nhưng trong phẩm Ba bà lê kinh Hiền ngu quyển 12 và luận Đại trí độ quyển 3, nói số người được độ trong 3 hội có hơi khác. Từ xưa đến nay rất nhiều người lập thệ nguyện sinh lại trong nhân gian khi đức Phật Di lặc ra đời, để được gặp Long hoa tam hội. Vì, như đã nói ở trên, những người trong giáo pháp của đức Phật Thích ca tu hành chưa đắc đạo, thì đến hội Long hoa của đức Di lặc đều được giác ngộ thành Phật.[X. kinh Di lặc hạ sinh, kinh Di lặc đại thành Phật; kinh Quán Di lặc thướng sinh; kinh Nhất thiết trí quang minh tiên nhân từ tâm nhân duyên bất thực nhục; luận Đại tì bà sa Q.135].

long hoa thụ

6390龍華,梵語 nāga-puṣpa。指彌勒成道時之菩提樹。又稱那伽樹、龍華菩提樹。略稱龍華。屬金絲桃科喬木。學名 Mesuna roxburghii Wigh,或 Mesuna ferrea L.彌勒菩薩現居於兜率天,於佛陀入滅後五十七億六千萬年(一說五十六億七千萬年),自兜率天下生於人間,於龍華樹下成道,為眾生三度說法。此說法之會座即稱龍華會。 龍華樹之樹幹類似鐵刀木,平滑直立。葉為長橢圓形,先端尖而下垂,花瓣純白,果實大如胡桃。或謂其花枝如龍頭,樹枝如寶龍,故稱龍華樹。產於孟加拉、印度半島東西兩側及安達曼群島等地。〔增一阿含經卷四十四、彌勒下生經、彌勒成佛經、十住毘婆沙論卷五易行品、法苑珠林卷二十四〕 ; Puṣpanāga (S)Cây Long hoaTên của cây mà đức Di Lặc sẽ ngồi khi thành đạo. ; Nàga-puspa (S). The dragon-flower-tree, which will be the bodhi-tree of Maitreya Buddha Phật Di lặc. ; Naga-puspa or puspanaga (skt)—Bôn Già Na—Loại cây bông rồng, là cây Bồ Đề mà Ngài Di Lặc ngồi dưới gốc khi thành đạo—The dragon-flower tree, which will be the bodhi-tree of Maitreya, the Buddhist Messiah, when he comes to earth. ; (龍華樹) Long hoa, Phạm: Nàga-puwpa. Cũng gọi Na già thụ, Long hoa bồ đề thụ. Gọi tắt: Long hoa. Tên khoa học: Mesuna roxburghü Wigh, hoặc Mesuna ferrea L. Cây Long hoa, nơi bồ tát Di lặc thành Phật.Cây Long hoa thuộc loại kiều mộc (cây cao, cành cong), họ cây đào, thân cây giống như cây Thiết đao (dao sắt), thẳng đứng, da cây bóng láng. Lá hình trứng và dài, đầu lá nhọn rủ xuống, cánh hoa màu trắng, quả to bằng quả hồ đào. Hoặc có thuyết cho rằng chùm hoa giống như đầu rồng, cành cây giống như mình rồng, vì thế gọi là cây Long hoa. Loại cây này thường mọc nhiều ở vùng Bengal, hoặc 2 bên bờ đông tây bán đảo Ấn độ và quần đảo An đạt mạn v.v... [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.44; kinh Di lặc hạ sinh; kinh Di lặc thành Phật; phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa Q.5; Pháp uyển châu lâm Q.24].

long hoa tăng chủ

The Dragon and the Flower Chief Monk.

long hoa tự

6389位於上海西南郊。據傳建於三國吳赤烏五年(242),為康僧會之駐錫地,吳主孫權為祀奉佛舍利而建寺塔,賜名「龍華寺」。十年,七級之塔竣成。上記之說應屬傳聞,因上海靜安寺亦有相同之傳說,而梁高僧傳卷一康僧會傳中並未見此說。又唐乾符二年(875)黃巢作亂,龍華塔毀於兵火;此說雖見於各種上海縣志,然亦不出傳說之範圍。 據紹熙雲間志、至元嘉禾志等所載,本寺乃張仁泰請忠懿王錢弘俶所建,舊稱龍華寺,至宋英宗治平元年(1064)改稱空相寺。又嘉靖上海縣志載,僧筠(法雲普筠)為龍華寺之開山祖。該寺經宋、元,至明永樂年間重修,復自空相寺改名龍華寺。其後多次毀於戰火,復經歷代之重修,規模猶備。今有大雄寶殿、方丈室樓房、金剛殿、三聖殿、祖師殿等,為江南著名大寺院之一。 寺中龍華塔為上海唯一之佛塔,建於宋太平興國二年(977),為七層八角形之木塔,高約四十一公尺。塔之內部為磚心,磚心內部又有方形小室,外部為木造走廊,其結構與形式為宋代建築樣式。由於塔為八邊形,而塔心之方室則為四邊形,其方向每層調換四十五度,因而各層塔面之位置亦隨之變換,使壁體與重量分布較為平均;而外觀又參差錯落,面面俱到。同時塔之磚栱額枋及鴛鴦交叉手栱等之設計,亦為宋代建築之特徵。〔瀛壖雜志(王韜)、龍華講話、龍華寺史、龍華寺藏經考、龍華寺略誌(湯義方編)〕 ; (龍華寺) Chùa ở ngoại ô phía tây nam thành phố Thượng hải, do Ngô tôn quyền thời Tam quốc sáng lập vào năm Xích ô thứ 5 (242) đặt tên là chùa Long hoa. Đến năm Xích ô thứ 10 (247) tòa tháp 7 tầng thờ xá lợi Phật được hoàn thành. Ngài Khang tăng hội đã từng trụ ở chùa này. Trên đây chỉ là truyền thuyết, không biết thực hư thế nào, bởi vì chùa Tĩnh an ở Thượng hải cũng có truyền thuyết hệt như vậy. Mà truyện Khang tăng hội trong Lương cao tăng truyện quyển 1 cũng không thấy nói đến việc này. Lại nữa, theo Thượng hải huyện chí, thì vào năm Càn phù thứ 2 (875) đời Đường, Hoàng sào làm loạn, tháp Long hoa đã bị thiêu hủy trong binh lửa, nhưng đây cũng chỉ là truyền thuyết, không hơn không kém. Cứ theo Thiệu hi vân gian chí và Chí nguyên gia hòa chí, thì chùa này là do ông Trương nhân thái xin vua Trung ý Tiền hoằng thúc xây dựng, xưa gọi là chùa Long hoa, đến niên hiệu Trị bình năm đầu (1064) đời vua Anh tông nhà Tống, được đổi tên là chùa Không tướng. Theo Gia tĩnh thượng hải huyện chí, ngài Tăng quân (Pháp vân Phổ quân) là Tổ khai sơn chùa Long hoa. Qua các đời Tống, Nguyên, Minh đều có trùng tu và từ chùa Không tướng lại được đổi thành chùa Long hoa. Về sau, nhiều lần chùa bị phá hủy trong chiến tranh, rồi lại được trùng tu và qui mô vẫn như trước. Hiện nay, chùa có các kiến trúc như: Đại hùng bảo điện, Phương trượng thất lâu phòng, Kim cương điện, Tam thánh điện, Tổ sư điện v.v... là 1 trong những tự viện nổi tiếng ở Giang nam. Tháp chùa Long hoa bằng gỗ, hình bát giác, 7 tầng, cao khoảng 41 mét, là tòa pháp Phật duy nhất ở Thượng hải được kiến trúc vào năm Thái bình hưng quốc thứ 2 (977). Ruột tháp bằng gạch, chung quanh nền tháp là hồi lang bằng gỗ, tất cả kết cấu cũng như hình thức đều là kiểu kiến trúc đời Tống. [X. Doanh nhuyên tạp chí (Vương thao); Long hoa giảng thoại, Long hoa tự sử; Long hoa tự tàng kinh khảo; Long hoa tự lược chí (Thang nghĩa phương)].

long huê

Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong quận Gò Vấp, thành phố Sài gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây từ thế kỷ thứ 18 bởi Tổ Nguyên Quán (pháp hiệu Đạo Thông, người xã Đại Hội, tỉnh Quảng Nam). Lúc đầu chùa chỉ là một cái am nhỏ làm nơi ở và tu hành cho tổ. Chùa được vua Gia Long ban tặng bản “Sắc Tứ Long Huê Tự.” Chùa còn có nhiều tên hiệu khác như “Sắc Tứ Huệ Long Tự,” và “Ngự Tứ Quan Long Tự.” Dưới triều vua Thành Thái, chùa được trùng tu lại khang trang rộng rãi. Kiến trúc chùa hiện nay là mô hình trùng tu năm 1966. Hiện chùa vẫn còn giữ bản “Sắc Tứ Long Huê Tự” đời Gia Long và một dấu triện bằng ngà voi có khắc chữ “Tự Đức năm thứ 24”—Name of an ancient pagoda, located in Gò Vấp district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in the eighteenth century by Patriarch Nguyên Quán (his Dharma name is Đạo Thông; he was from Đại Hội village, Quảng Nam province). At first, the pagoda was only a small temple where the Patriarch stayed and worshipped the Buddha. It was offered the “Royal Recognized Long Huê Pagoda” Board by King Gia Long. Its other name are “Royal Recognized Huệ Long Tự,” and “Ngự Tứ Quan Long Tự.” Under King Thành Thái's reign, Long Huê Pagoda was rebuilt spaciously. The present structure results from the rebuilding in 1966. It still has conserved the “Royal Recognized Long Huê Pagoda” Board and an ivory sealon which are carved the words "T“enty-fourth year of King Tự Đức's reign.”

long hà

6380為尼連禪河(梵 Nairañjanā,巴 Nerañjarā)之異稱。係恆河支流,距世尊成道之金剛座東面不遠,以河中住伽陵伽龍而得名。南海寄歸內法傳卷四(大五四‧二二九下):「拾遺珠於鷲嶺,時得其真;擇散寶於龍河,頗逢其妙。」〔破僧事卷五〕(參閱「尼連禪河」1891) ; Tên khác của sông Ni Liên Thiền—Another name for the river Nairanjana. ; (龍河) Cũng gọi Ni liên thiền hà. Phạm:Nairaĩjanà. Pàli:Neraĩjarà. Chỉ cho sông Ni liên thiền, 1 chi nhánh của sông Hằng, cách nơi đức Phật thành đạo về phía đông không xa. Vì trong sông này có con rồng Già lăng già nên gọi là Long hà. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 229 hạ), nói: Nhặt ngọc châu trên Thứu sơn thì được điều chân thực, chọn của báu dưới Long hà thì gặp sự kì diệu. [X. Phá tăng sự Q.5]. (xt. Ni Liên Thiền Hà).

long hòa

Tên của một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong ấp An Thạnh, xã An Ngãi, huyện Long Đất, Vũng Tàu Bà Rịa, Nam Việt Nam. Theo tài liệu của chùa thì chùa được xây dựng vào năm 1797, cùng thời với đình Thần Long Thạnh. Chùa đã trải qua các đời truyền thừa: Tổ Tâm Thông Huệ Liễu, tổ Hải Hội Chánh Niệm (1834-1905), tổ Thanh Kế Huệ Đăng (1873-1953). Chùa được tổ Huệ Đăng trùng tu vào năm 1929. Sau đó các vị trụ trì thuộc phái Lâm Tế—Name of a famous ancient pagoda located in An Thạnh hamlet, An Ngãi village, Long Đất district, Bà Rịa Vũng Tàu, South Vietnam. According to the documents of the pagoda, it was built in 1797, at the same time with the communal house of Long Thạnh village. It came through generations: Patriarch Tâm Thông Huệ Liễu, Patriarch Hải Hội Chánh Niệm (1834-1905), Patriarch Thanh Kế Huệ Đăng (1873-1953). It was rebuilt by Patriarch Huệ Đăng in 1929, then headed by the successive patriarchs of the Lin-Chi Sect.

long hưng

1) Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng ở vùng Sông Bé, chùa tọa lạc trong xã Hòa Định, huyện Bến Cát, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Đạo Trung Thiện Hiếu dựng lên vào thế kỷ thứ 18. Hồi xưa chùa chỉ là một cái am tranh nhỏ. Đến năm 1794 được nhân dân địa phương xây thành ngôi chùa lớn, thường gọi là Chùa Tổ. Tổ Thiện Hiếu còn được gọi là “Tổ Đỉa.” Theo lời truyền thì sư trị được đỉa trong vùng “Bưng Đỉa” để dân địa phương xuống bưng làm ruộng, biến vùng đất bỏ hoang thành ruộng lúa trù phú—Name of a famous ancient pagoda, located in Hòa Định village, Bến Cát district, South Vietnam. Long Hưng pagoda was founded by Patriarch Đạo Trung Thiện Hiếu in the eighteenth century. Formerly it was a thatched temple then turned into a big pagoda by the local people in 1794. At that time people called it Patriarch Pagoda, and gave Patriarch Thiện Hiếu a nickname that is “Patriarch Leech.” It was said that Patriarch knew how to treat the leeches from the leech swamp in order to help the local people go to the leech swamp for tilling. The uncultivated land, therefore, was changed into the fetile rice fields. 2) Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong xã Long Sơn, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, chùa cách thị xã Long Xuyên chừng 54 dậm. Chùa còn có tên là chùa Giồng Thành. Chùa được Hòa Thượng Minh Lý xây dựng vào năm 1875 và đã được trùng tu nhiều lần để thành ngôi chùa khang trang rộng lớn như hôm nay. Chùa được xây theo chữ “Song Hỷ” gồm 3 gian: Chánh Điện, Giảng Đường và Hậu Tổ—Name of a temple, located in Long Sơn village, Phú Tân district, An Giang province, about 54 miles from Long Xuyên town. It is also called Giồng Thành Temple. It was first built by Most Venerable Minh Lý in 1875 and has been rebuilt many times before it became a magnificient and splendid one seen nowadays. The temple has its structure in “Song Hỷ” style, comprising three buildings: the Main Hall, the Auditorium or Lecture Hall, and the Patriarch Hall.

long hưng phật giáo biên niên thông luận

5320凡二十九卷。南宋祖琇撰於隆興二年(1164)。又作隆興編年通論、編年通論。收於卍續藏第一三○冊。係以編年體輯錄佛教傳播之史實,記述東漢明帝至南宋孝宗(65~1163)期間有關釋門之事項。並就各時代之大德及其事業敘其始末,此點與釋氏稽古略稍類似。本文爲二十八卷,另附錄宋太宗、真宗、仁宗、徽宗等之御製序一卷。 ; (隆興佛教編年通論) Cũng gọi Long hưng biên niên thông luận, Biên niên thông luận. Tác phẩm 29 quyển, do ngài Tổ tú soạn vào năm Long hưng thứ 2 (1164) đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 130. Nội dung sách này viết theo thể biên niên, nói về lịch sử truyền bá Phật giáo Trung quốc trong khoảng thời gian từ vua Minh đế (năm 65) nhà Đông Hán đến vua Hiếu tông (năm 1163) nhà Nam Tống. Đồng thời, tường thuật về cuộc đời và sự nghiệp của các bậc cao tăng qua các thời đại. Văn chính của sách này là 28 quyển, còn phụ thêm 1 quyển phần tựa do các vua: Thái tông, Chân tông, Nhân tông, Huy tông v.v... đời Tống ngự chế.

long hưng tường phù giới đàn tự chí

6397凡十二卷。清代張大昌撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。龍興祥符戒壇寺位於浙江仁和縣,創於蕭梁之初(503~520),原稱發心寺,後改名眾善寺,又改中興寺,至唐神龍初改中興為龍興;吳越於此立戒壇院,乃有戒壇之名;宋祥符初年改名大中祥符寺,乃有祥符之名。其後屢廢屢興,至清光緒時,已分為龍興、祥符、戒壇三寺,因同出一源,亦同處一隅,乃合稱為「龍興祥符戒壇寺」。光緒年間,張大昌編纂寺志,未及付梓而卒,俞樾為之作序。內容共分九門:建置、寺宇、古蹟、金石、僧迦著述、僧伽表、僧伽列傳、雜述、題詠。光緒十九年(1893),錢塘嘉惠堂丁氏乃為之刊行。

long hưng tự

6396<一>位於河北正定縣東。初名龍藏寺,俗稱大佛寺。隋開皇六年(586)恆州刺史王孝 ; 5320位於河北正定縣境內。俗稱正定大佛寺、大佛寺。隋代開皇六年(586),恆州刺史鄂國公王孝

long hồ am

6388位於臺灣高雄阿蓮鄉大崗山麓。民國前四年(1908),由永定法師領眾創建。寺內環境清幽,寺宇宏偉,善信絡繹不絕。抗日戰爭時,寶剎盡毀,光復後,開會尼師重建,壯麗宏偉,尤勝於前。六十三年,開會示寂後,由圓志尼師繼任住持。

long hồ nham

6387位於臺灣臺南六甲鄉龍湖村。與烏山頭水庫相毗鄰,背山面水,有「龍湖八景」之稱。康熙四年(1665),鄭成功部將陳永華所建,時以參徹禪師為開山之祖。寺內奉有由浙江普陀山漂海來臺之石座觀世音菩薩。為臺灣南部之古剎。民國四十四年(1955)、六十四年均曾重建。

long hổ

Dragon and tiger.

long hỗ sơn

Lang-hu-shan (C).

long hộ

6377即龍宮,謂龍之住處。南海寄歸內法傳卷一(大五四‧二○五上):「律顯則過亡;且如恚損輕枝,現生龍戶。」 ; (龍戶) Long cung, nơi ở của loài rồng. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 205 thượng), nói: Luật hiển rõ thì tội lỗi tiêu mất; nếu như sân hận giảm thì phiền não nhẹ, sinh vào Long hộ.

long hữu

Nāgamitra (S)Em ngài Long Hộ.

Long Khoan

(隆寛, Ryūkan, 1148-1227): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng đầu thời đại Liêm Thương, húy là Long Khoan (隆寛) vị Tổ của Đa Niệm Nghĩa (多念義) thuộc Dòng Trường Lạc Tự (長樂寺流), tên tục là Sơn Viễn Lý (山遠里, tên khi bị lưu đày), hiệu là Giai Không Phòng (皆空房), Vô Ngã (無我), Già Đà Ba La Ma (伽陀婆羅摩, ?), xuất thân vùng Kyoto, con trai thứ 3 của vị quan Thiếu Nạp Ngôn Đằng Nguyên Tư Long (少納言藤原資隆). Ông theo người chú Hoàng Viên (皇圓) và Phạm Nguyên (範源) ở trên Tỷ Duệ Sơn học Thiên Thai Tông, sau đó thì theo hầu Nguyên Không (源空), và đến năm 1204 thì được cho biên chép bộ Tuyển Trạch Tập (選擇集). Ông đến sống ở Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) thuộc vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), chủ trương về Đa Niệm Nghĩa, và đã từng cùng với Định Chiếu (定照) ở Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) luận tranh về Tuyển Trạch Tập. Vào năm 1227, ông bị đày tội và xử trảm. Trước tác của ông để lại có Di Đà Bổn Nguyện Nghĩa (彌陀本願義) 4 quyển, Nhất Niệm Đa Niệm Phân Biệt Sự (一念多念分別事) 1 quyển, Cụ Tam Tâm Nghĩa (具三心義) 2 quyển, Cực Lạc Tịnh Độ Tông Nghĩa (極樂淨土宗義) 2 quyển, Diệt Tội Kiếp Số Nghĩa (滅罪刼數義) 1 quyển, v.v.

long khám

6399指置放賢聖遺骸之棺槨。以賢聖之威德猶龍,故稱龍龕。景德傳燈錄卷一馬鳴大士章(大五一‧二○九下):「付法已,(中略)然後示滅,四眾以真體藏之龍龕。」 ; Dragon coffins, i.e those for monks. ; (龍龕) Chỉ cho cỗ quan tài đặt di hài của bậc hiền thánh. Vì uy đức của bậc hiền thánh cũng như rồng, cho nên gọi là Long khám. Chương Mã minh đại sĩ trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 (Đại 51, 209 hạ), nói: Truyền pháp xong (...) sau đó thị tịch, bốn chúng đặt chân thể của Đại sĩ vào long khám.

long khám thủ giám

6399凡四卷。又稱龍龕手鏡。遼僧行均撰。內容解釋經論中之文字,屬於經音義之一。取偏旁分部,各部首及各部之字,依四聲判其前後順序,詳明各字之古今字形、反切、字義等,並注釋其音義。書成於遼聖宗統和十五年(997),計收錄二六四三○餘字,注一六三一七○餘字。本書未收入大藏經中,故知者不多。民國二十三年(1934),上海商務印書館重新影印,收於四部叢刊續編經部。除四卷本外,另有八卷本,收隋唐通用之俗字和異字,或謂此八卷本係在韓國完成。〔經籍訪古志卷二〕 ; (龍龕手鑒) Cũng gọi Long khám thủ kính. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Hành quân soạn vào đời Liêu, Trung quốc, được thu vào Tứ bộ tùng san tục biên kinh bộ. Nội dung sách này giải thích văn tự trong kinh luận, lấy bộ thủ và chữ của các bộ rồi theo 4 thanh mà xếp thứ tự trước sau, nói rõ hình chữ xưa và nay của các chữ cũng như phản thiết, tự nghĩa và chú thích âm nghĩa của từng chữ. Sách được hoàn thành vào năm Thống hòa 15 (997) đời vua Thánh tông nhà Liêu, gồm 26.430 chữ, chú giải 163.170 chữ. Vì sách này chưa được đưa vào Đại tạng kinh nên ít người biết đến. Năm Dân quốc 23 (1934), Thương vụ ấn thư quán ở Thượng hải xuất bản. Ngoài bản 4 quyển, còn có bản 8 quyển, được thu vào sách Tục Tự Hòa Dị Tự, thông dụng ở đời Tùy, Đường. Có thuyết cho rằng bản 8 quyển này được hoàn thành tại Triều tiên. [X. Kinh tịch phỏng cổ chí Q.2].

long khám.dragon coffins, i.e

those for monks.

long kim cang

Vajranāga (S)Tên một vị thiên.

long kì

5319(1592~1673)日本黃檗宗之祖。明代福建福州人,俗姓林。號隱元。年二十三至普陀山禮觀世音菩薩,投潮音洞主座下爲茶頭執事。泰昌元年(1620),訪黃檗山,就鑑源壽剃髮。後遍參諸方,至嘉興興善寺學法華,至峽石山碧雲寺學楞嚴經,天啟四年(1624),受密雲圓悟心印。崇禎六年(1633),任黃檗山西堂,十年,應請補黃檗之席,大振祖風,復興古道,營建殿宇。清代順治十一年(1654),應日僧逸然之請,赴日本入住長崎興福寺。日紀寬文元年(1661,即順治十八年),創建黃檗山萬福寺,拈唱祖道,舉揚黃檗禪風。後並設戒壇授禪門大戒。日皇特賜號「大光普照國師」。嗣法門人有無得性寧、慧門如沛、即非性一、慧林性機等二十三人。著有普照國師語錄三卷、普照國師法語二卷、松堂集二卷、太和集二卷等。〔五燈全書卷七十、正源略集卷五、普照國師年譜〕 ; (隆琦) (1592-1673) Tổ khai sáng tông Hoàng bá Nhật bản, sống vào đời Minh, người Phúc châu, tỉnh Phúc kiến, họ Lâm, hiệu Ẩn nguyên. Năm 23 tuổi, sư đến núi Phổ đà lễ bồ tát Quán thế âm, rồi đến đạo tràng của Triều âm Động chủ giữ chức Trà đầu(người hầu trà). Niên hiệu Thái xương năm đầu (1620), sư đến núi Hoàng bá, y vào ngài Giám nguyên thọ xuất gia. Sau, sư đến chùa Hưng thiện ở huyện Gia hưng học kinh Pháp hoa, rồi đến chùa Bích vân ở núi Giáp thạch học kinh Lăng nghiêm. Năm Thiên khải thứ 4 (1624), sư được ngài Mật vân Viên ngộ truyền tâm ấn. Năm Sùng trinh thứ 6 (1633), sư nhận chức Tây đường ở núi Hoàng bá. Năm Sùng trinh thứ 10 (1637), sư kế thừa pháp tịch Hoàng bá, phát huy tông phong, phục hưng tổ đạo. Năm Thuận trị 11 (1654), đời Thanh, nhận lời mời của sư Dật nhiên, người Nhật, sư sang Nhật bản, trụ ở chùa Hưng phúc tại Trường kì (Nagasaki). Năm 1661, sư sáng lập chùa Vạn phúc ở núi Hoàng bá để xiển dương Thiền phong Hoàng bá. Sau, sư mở đàn truyền Đại giới. Sư được Nhật hoàng ban hiệu Đại Quang Phổ Chiếu Quốc Sư. Đệ tử nối pháp có 23 vị, như Vô đắc Tính ninh, Tuệ môn Tính bái, Tức phi Tính nhất, Tuệ lâm Tính cơ, v.v... Sư có các tác phẩm: Phổ chiếu quốc sư ngữ lục 3 quyển, Phổ chiếu quốc sư pháp ngữ 2 quyển, Tùng đường tập 2 quyển, Thái hòa tập 2 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.70; Chính nguyên lược tập Q.5; Phổ chiếu quốc sư niên phổ].

long lực bất khả tư nghị

6375五不可思議之一。謂龍力能起雲降雨,以一滴水而潤澤於四天下,故稱龍力不可思議。〔大智度論卷三十、往生論註卷下〕(參閱「五不可思議」1064) ; (龍力不可思議) Năng lực không thể nghĩ bàn của loài rồng, 1 trong 5 bất khả tư nghị. Nghĩa là rồng có khả năng nổi mây làm mưa và thấm nhuần cả 4 thiên hạ bằng 1 giọt nước, cho nên gọi là Long lực bất khả tư nghị. [X. luận Đại trí độ Q.30; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Ngũ Bất Khả Tư Nghị).

long mãnh

Xem Long Thọ Bồ tát. ; Xem Long thụ. ; See Nagarjuna.

long mãnh tổ sư

Xem Long Thọ Bồ tát.

Long Môn

龍門; C: lóngmén;|Hang động nổi tiếng tại Trung Quốc, thuộc Lạc Dương, tỉnh Hồ Nam. Cùng với Vân Cương và Ðôn Hoàng, Long Môn là một trong ba hang động có rất nhiều thánh tích Phật giáo. Năm 494 người ta đã bắt đầu xây dựng tại đây, sau khi dời đô về Lạc Dương. Long Môn có tổng cộng 2100 hang, 750 cốc với khoảng 40 ngôi chùa và 100.000 tượng. Các tượng trình bày Phật A-di-đà, Thích-ca Mâu-ni, các vị Bồ Tát Quán Thế Âm, Di-lặc, Ðịa Tạng và nhiều vị Phật, Bồ Tát khác. Phần lớn tượng A-di-đà được khắc tạc vào đời Ðường, là lúc mà tông Tịnh độ thịnh hành nhất.

long môn

6381位於山西平陽河津與陝西西安韓城縣境之黃河中流。其處山嶽對峙,形成門闕之狀,為一天然險要之所。相傳夏禹導河至此,鑿以通流。又自古傳說,河中魚龞之類,若能游渡此處,即可化為龍,故一般多引申為立身出世之關門,或作為高名碩望之比喻,謂凡得其接引者必增長聲價,俗語乃有「一登龍門,聲譽百倍」之說。 於禪林中,轉指聲望鼎盛而機法險峻之優秀師家,謂學法之衲子若能入於此等優秀師家之門,將來必可成佛作祖。〔祖庭事苑卷二雪竇拈古、大明一統志卷二十、大清一統志卷九十九、讀史方輿紀要卷四十一〕 ; Lung-men (C)Một địa danh nổI tiếng bên Tàu có nhiều tượng Phật đục thẳng vào núi. ; (龍門) Cửa rồng, nơi thiên nhiên hiểm yếu, do những ngọn núi đứng đối nhau tạo thành hình dáng cái cổng, nằm giữa dòng sông Hoàng hà thuộc địa phận huyện Tây an, tỉnh Thiểm tây và bờ sông Bình dương, thuộc tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Tương truyền, khi trị thủy, vua Vũ nhà Hạ đã cho đục dãy núi ở đây để nước sông Hoàng hà chảy qua. Lại theo truyền thuyết từ xưa, các loại cá hoặc ba ba trong sông, nếu có thể vượt qua được chỗ này thì sẽ hóa thành rồng, cho nên từ ngữ Long môn còn mang ý nghĩa là cửa lập thân xuất thế, hoặc được dùng để ví dụ danh vọng cao sang. Bởi thế tục ngữ đã có câu: Vượt được cửa rồng, danh dự gấp trăm. Trong Thiền lâm, Long môn được sử dụng để chỉ cho bậc thầy ưu việt, danh vọng lẫy lừng với cơ pháp hiểm yếu; nếu người học đạo có khả năng vào được cửa của bậc thầy này, thì tương lai chắc chắn sẽ thành Phật, làm Tổ. [X. phần Tuyết đậu niêm cổ trong Tổ đình sự uyển Q.2; Đại minh nhất thống chí Q.20; Đại thanh nhất thống chí Q.99; Độc sử phương dư kỉ yếu Q.41].

long môn thanh viễn

Thiền sư Long Môn Thanh Viễn Phật Nhãn (?-1120)—Zen master Lung-Men-Ch'ing-Yuan-Fo-Yen. • Thiền sư Trung Hoa, trước theo học luật; về sau, nhân đọc kinh Pháp Hoa đến đoạn “Thị pháp phi tư lương phân biệt chi sở năng giải (pháp nầy vượt ngoài lãnh vực của tư duy và phân biệt).” Điều nầy gây xúc động ở sư, nên sư kiếm giảng sư của mình và hỏi pháp siêu việt tri thức đó là gì. Giảng sư không soi sáng nổi cho sư, sư mới thấy rằng nghĩa học và danh tướng không phải là duyên cớ để giải quyết việc lớn sinh tử—Chinese Zen master who was first a student of Vinaya; later, when reading the Lotus Sutra, he came across the passage, “This Dharma is something that goes beyond the realm of thought and discrimination.' This impressed him, so he came to his teacher and asked what was this Dharma transcending intelligence. The teacher failed to enlighten him, who then saw that mere learning and scholarship could not solve the ultimate problem of this existence subject to birth and death. • Rồi sau đó Phật Nhãn du hành sang Nam để tham kiến Pháp Diễn (see Pháp Diễn Thiền Sư). Nhân khi đi xin ăn ngang qua xứ Lư Châu, trợt chân té nhào xuống. Trong cơn đau đớn, thoảng nghe hai người chữi lộn nhau, người đứng can bảo, “Vậy là tôi thấy hai ông vẫn còn ôm ấp những phiền não.” Tức thì sư tỉnh ngộ. Nhưng hễ khi sư có điều gì muốn hỏi Pháp Diễn thì Pháp Diễn cứ trả lời: “Ta không thể hơn ngươi; cứ tự mình mà hiểu lấy.” Có khi Pháp Diễn bảo: “Ta không hiểu; Ta không thể hơn ngươi.” Lối nhận xét ấy càng khiến cho Thanh Viễn muốn biết về Thiền. Sư nhất định nhờ Nguyên Lễ thủ tòa giải quyết vấn đề, nhưng Nguyên Lễ kéo tai sư vừa đi quanh lò lửa vừa báo 'tốt hơn hết là ông cứ tự hiểu lấy.' Thanh Viễn gằng giọng: “Nếu thật có Thiền sao không khui bí mật ra cho tôi? Thế mà ông lại lấy làm trò đùa sao?” Tuy nhiên, Lễ bảo sư: “Mai sau ông sẽ tỏ ngộ mới hay cái quanh co nầy.”—Fo-Yen now travelled south in order to see Fa-Yen of T'ai-P'ing. While begging through the country of Lu, he stumbled and fell on the ground. While suffering pain, he overheard two men railing at each other, when a third one who interceded remarked, 'So I see the pasions stil cherished b both of you.' He then had a kind of enlightenment. But to whatever questions he asked Fa-Yen, the answer was, 'I cannot surpass you; the thing is to understand all by yourself.' Sometimes Fa-Yen said, 'I do not understand myself, and I cannot surpass you.' This kind of remark incited Ch'ing-Yuan's desire all the more to know about Zen. He decided get the matter settled by his senior monk Yuan-Li, but Li pulled him by the ear and going around the fire place kept on saying, 'The best thing is to understand all by yourself.' Ch'ing-Yuan insisted: 'If there is really such a a thing as Zen, why not uncover the secret for me? Otherwise, I shall say it is all a trick.' Li, however, told him: 'Some day you will come to realize all that has been going on today between you and me.' • Khi Pháp Diễn rời khỏi Thái Bình, Thanh Viễn từ giả ngài, và trải qua mùa kiết hạ ở Tương Sơn, ở đây sư kết bạn thâm giao với Linh Nguyên Thiền Sư. Bấy giờ Thanh Viễn xin chỉ giáo rằng: “Gần đây, tôi có biết một vị tôn túc ở đô thành, những lời của ngài hình như hợp với tri thức của tôi rất nhiều.” Nhưng Linh Nguyên khuyên sư hãy đến với Pháp Diễn, ngài vốn là vị tôn sư bậc nhất trong thiên hạ, và nói thêm rằng những ai mà lời nói nghe ra như dễ hiểu, họ chỉ là ông thầy tri giải chớ không phải là những Thiền sư thật sự—When Fa-Yen moved away from T'ai-P'ing, Ch'ing-Yuan left him, and spent the summer at Ching-Shan, where he got very well acquainted with Ling-Yuan. Ch'ing-Yuan now asked his advice, saying, 'Lately, I have come to know of a master in the city whose sayings seem to suit my intelligence much better.' But Ling-Yuan persuaded him to go to Fa-Yen who was the best of Zen masters of the day, adding that those whose words he seemed to understand best were merely teachers of philosophy and not real Zen masters. • Thanh Viễn theo lời khuyên của bạn, trở về với thầy cũ. Vào một đêm lạnh, sư ngồi một mình và cố khêu sáng đống tro trong lò lửa thử xem có còn lại một chút than đỏ nào không, sư thấy tận dưới đống tro có một cục than nhỏ xíu bằng hạt đậu. Sư tự nhủ rằng lý của Thiền cũng tự khơi mở y như đào sâu xuống tảng đá của tâm thức. Sư đặt quyển sử Thiền gọi là Truyền Đăng Lục trên bàn, mở mắt nhìn vào tiểu sử của Phá Táo Đọa, bỗng dưng tâm trí khai thông mà được chứng ngộ—Ch'ing-Yuan followed his friend's advice, and came back to is former master. One cold night he was sitting alone and tried to clear away the ashes in the fire-place to see if there were any piece of live charcoal left. One tiny piece as large as a pea happened to be discovered way down in the ashes. He then reflected the truth of Zen would also reveal itself as one dug down the rock-bed of consciousness. He took up the history of Zen known as the Transmission of the Lamp from his desk, and his eye fell upon the story of the P'o-Tsao-To (broken range), which unexpectedly opened his mind to a state of enlightenment. • Sau khi đại ngộ, sư làm một bài kệ như sau—After this great enlightenment, he composed the below verse: Chim rừng hót líu lo Khoát áo ngồi đêm thâu Khơi lửa, bình sinh tỏ Quẩn trí thành bếp đổ. Việc sáng nhưng người mù Khúc nhạc ai hòa ca Nghĩ đến khăng khăng nhớ Cửa mở, ít người qua. (Điêu điêu lâm điểu đề Phi y chung dạ tọa Bát hỏa ngộ bình sinh Sự hạo nhân tự mê Khúc đạm tùy năng họa Niệm chi vĩnh bất vong Môn khai thiểu nhân quá). The birds are too-tooing in the woods, with the garment covered up I sit alone all night. A tiny piece of live charcoal deeply buried in the ashes tells the secret of life: The cooking range is broken to pieces when the spirit knows where to return. Revealed everywhere shines the truth, but men see it not, confused is the mind; Simple though the melody is, who can appreciate it? Thinking of it, long will its memory abide with me; Wide open is the gate, but how lonely the scene! Sư thị tịch năm 1120—He passed away in 1120.

long môn thạch quật

6381位於河南洛陽南方十四公里處之伊河入口兩岸之龍門山(西山)和香山(東山)。為伊河東西兩岸的石窟群之一。龍門山岩屬大理石,堅硬細密,極難雕琢,但不易風化。因山谷成門闕狀,因而古時稱其為伊闕石窟。係將岩石開鑿為洞窟,在窟內刻龕及佛像,故又稱龍門龕、伊闕佛龕。與莫高窟、雲岡石窟並稱我國古代佛教石窟之藝術三大寶庫。北魏初期,首於大同雲岡石窟大事雕刻,至太和十八年(494),自大同遷都洛陽後,為追念先帝之遺緒,石窟之建造自然由雲岡轉移至龍門,乃於龍門大興土木,營造石像。 歷經東魏、西魏、北周、北齊、隋、唐,及五代、北宋、金,直至清末,先後營造達一千多年,造像作品中,北魏佔百分之三十,唐代佔百分之六十,分布於東、西兩山之崖壁上。洞窟較大者有三十餘處,且大部分在西山。現存窟龕二千一百多個,造像十萬餘尊,題記碑碣二千七百多塊,並有佛塔四十多座。其中,以唐開元(713~741)前,尤其武則天時期之作品為最多,然目前唐代之石窟,只剩下七處。 又多數之石窟均與帝王之祈求冥福有關,茲分別概述西山、東山之石窟群。西山以創設於北魏太和年間之古陽洞年代最古。又稱老君洞。係由一批支持北魏孝文帝遷都之王公貴族及高級將領所開龕鑿像之集中地。廣約七公尺,高、深各約十公尺,洞之後方呈半圓狀。左壁有一刻於太和十九年之彌勒像龕,其中之刻銘,為龍門現存最古之銘文。 賓陽洞,係北魏宣武帝為其父母孝文帝、文昭皇太后而營造者。廣約十二公尺,深約十一公尺。後壁之本尊釋迦坐像,面帶微笑,相好威儀,背光呈圭形,並以忍冬、蓮花、天人及火炎莊嚴之,日本法隆寺金堂所安置之釋迦佛像,即與本尊近似;另外,金堂天蓋之垂帳,亦與本洞天井周緣之寶帳吻合。中壁之內壁雕有釋迦五尊坐像、三尊立像,洞頂飾有蓮花紋、飛天神像,地面亦刻有蓮花紋、龜甲紋,其前壁上雕刻皇妃祭祀行列圖等,規模宏大,雕飾壯麗,不愧為豪華之皇室建築。又入口外壁左右之仁王像,氣象雄偉。 伊闕洞,俗稱蓮花洞,廣約六公尺,深約十公尺,後方亦如古陽洞之呈半圓形。其天井中央有六飛天環繞之大蓮花,手法精麗,蓮花洞即由此而得名。 奉先寺,為今規模最壯大之無蓋石窟,分內、外二陣,內陣廣約三十八公尺,深約二十三公尺;外陣廣約三十六公尺,深約十四公尺,為唐代石窟中規模最大、藝術精美,且具代表性之重要石窟。其後壁中央鐫刻盧舍那佛坐像,高約十六公尺,相好莊嚴,軀幹雄偉,頭髮成波狀,衣紋細膩,然今兩手已失,兩足亦破損;臺座並列三重蓮花,蓮瓣各刻有小佛,表示蓮花藏世界;背後中央之蓮花,周緣為化佛、飛天及唐草、火炎等陽刻,極其豐麗;為龍門最大、最優之佛像。侍立於大佛兩旁之菩薩、迦葉、阿難,高十一公尺餘,又菩薩之寶冠、瓔珞等,豐美纖巧。左右兩壁有高約十公尺之金剛力士,又有高達十一公尺之兩神王,雄渾豪宕,氣宇橫溢,頗富真實性。綜言上記諸窟之風格特點,乃窟形單純、變化少,題材趨向於簡明集中以突出主題。 除上述諸窟之外,尚有藥方洞、敬善寺洞、大洞、破洞、塔洞、永隆洞(萬佛洞)、南極洞等窟。東山諸窟中,以石窟寺較為著名,分左、右二窟。左窟廣約九公尺,深約六公尺餘;右窟廣約七公尺,深約六公尺。均屬唐代之作品。此外,東山之北半部,尚有著名之香山寺,白居易曾在此住過。 蓋龍門屬堅緻之大理石岩質,適宜細工,加上傾斜約三十度,致難以掘成大窟,故天井均作穹窿狀造像形式,乃受印度犍陀羅、笈多之影響,而融以中國風尚。如北朝之石窟主要佛像為釋迦牟尼佛、彌勒佛,及釋迦與多寶如來並坐像,三世佛和七佛;佛像大抵魁偉,厚唇、高鼻,雖表現拓跋氏之風貌,然已較大同石窟傾向漢人形貌。隋唐時,坐像多為阿彌陀佛、彌勒佛、盧舍那佛、藥師佛等,反映唐代淨土宗之興起與石窟造像藝術世俗化之趨向;同時散於各窟中之大量碑碣石銘,為我國書體演變之重要資料,亦為一部石窟資料之編年史;此期之佛像面貌豐麗,衣紋細膩,佛髮多作渦狀,甚少波形;又本尊像之脅侍,多為二羅漢、二菩薩;凡此,均可見隋唐雕刻之特色。又北魏以迄唐代中期,佛教藝術對日本佛教美術亦有很大之影響。 近代因遭受帝國主義破壞,加上無智之人貪利而盜像賣予外人;致小型佛像十之八九均失去頭部,賓陽洞中著名之兩塊北魏「帝后禮佛圖」浮雕,亦被竊走。〔佛祖統紀卷三十九、卷四十四、卷五十三、洛陽伽藍記卷五、廣弘明集卷二、古今圖書集成神異典第六十一、支那佛教史蹟卷二、佛教藝術論集(現代佛教學術叢刊(20))〕 ; (龍門石窟) Quần thể hang động núi Long môn. Những hang động này nằm ở núi Long môn(núi Tây)và núi Hòa hương(núi Đông) trên 2 bờ cửa sông Y hà, cách huyện Lạc dương, tỉnh Hà nam, Trung quốc, 14 cây số về phía nam. Đá núi Long môn thuộc loại đá hoa Đại lí, vì cửa hang núi có hình dáng giống như cái cổng nên từ xưa đã được gọi là Y khuyết thạch quật. Núi Long môn được xoi đục thành những hang động, trong hang động có khắc những cỗ khám và tượng Phật, cho nên cũng gọi là Long môn khám, Y khuyết Phật khám. Quần thể hang động này cùng với hang động Mạc cao, hang động Vân cương được gọi là 3 kho báu lớn về nghệ thuật hang động của Phật giáo Trung quốc đời xưa. Sự nghiệp xoi đục hang động trước tiên được bắt đầu ở núi Vân cương tại Đại đồng vào đầu đời Bắc Ngụy, đến năm Thái hòa 18 (494), sau khi Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy dời đô từ Đại đồng về Lạc dương và, để truy niệm công tích của Tiên đế, việc kiến tạo hang động cũng được dời từ Vân cương đến Long môn, từ đó, công tác khai mở hang động và tạc tượng Phật lại được bắt đầu tại núi Long môn. Trải qua các triều đại Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu, Bắc Tề, Tùy, Đường, Ngũ đại, Bắc Tống, Kim, cho mãi đến cuối đời Thanh, trước sau hơn 1.000 năm, trong các tác phẩm tượng đá được khắc tạo thì: Bắc Ngụy chiếm 30%, Đường chiếm 60%, được phân bố trên vách đá của 2 núi Đông và Tây. Có hơn 30 hang động lớn và phần nhiều nằm ở núi Tây, hiện còn 2.100 cỗ khám thờ Phật, hơn 10 vạn tượng Phật, 2.700 tấm bia và trên 40 tòa tháp Phật. Trong đó, tác phẩm đời Đường, nhất là thời Vũ tắc thiên, là nhiều nhất. Đa số các hang động ở đây đều có liên quan đến việc cầu phúc của các Đế vương. Như động Cổ dương (cũng gọi là động Lão quân) ở núi Tây, là hang động xưa nhất, được khai tạo vào khoảng năm Thái hòa đời Bắc Ngụy, là nơi tập trung công việc khai khám tạc tượng của các Vương công quí tộc và tướng lãnh cao cấp. Động này (Cổ dương) rộng khoảng 7 mét, cao, sâu khoảng 10 mét, phía sau động nửa hình tròn (demi-cercle). Trên vách bên trái có cỗ khám thờ tượng đức Di lặc được khắc vào năm Thái hòa 19 (495), bên trong khám có khắc bài minh, là bài văn khắc vào đá xưa nhất hiện còn tại Long môn. Động Tân dương do vua Tuyên vũ đế nhà Bắc Ngụy khai tạo để hồi hướng công đức cho cha mẹ là vua Hiếu văn đế và Hoàng thái hậu Văn chiêu. Động này rộng khoảng 12 mét, sâu khoảng 11 mét, tượng đức Bản tôn Thích ca ngồi ở vách phía sau, nét mặt mỉm cười, tướng hảo uy nghi, vòng hào quang sau lưng có hình viên ngọc khuê và được trang nghiêm bằng hoa sen với các ngọn lửa. Trên mặt bức vách giữa động khắc 5 tượng Phật Thích ca ngồi, 3 tượng đứng, trên nóc động trang trí hoa văn hình hoa sen, tượng thiên thần bay, trên mặt đất cũng khắc hoa văn hình hoa sen, hình vằn rùa; trên vách phía trước khắc các bức tranh các Hoàng phi đứng xếp hàng lễ bái, nét chạm trổ rất sống động. Trên vách 2 bên cửa động có khắc tượng Nhân vương (vua nhân từ) khí thế rất hùng vĩ. Động Y khuyết (cũng gọi động Liên hoa) rộng khoảng 6 mét, sâu 10 mét, phía sau cũng nửa hình tròn giống như động Cổ dương. Ở giữa vòm nóc động khắc 1 hoa sen lớn, có 6 thiên thần bay vòng quanh, nét khắc rất tinh xảo đẹp đẽ, chính vì thế mà động này được gọi là động Liên hoa. Chùa Phụng tiên là hang đá lộ thiên, qui mô hoành tráng, chia làm 2 khu trong và ngoài. Khu trong rộng khoảng 38 mét, sâu 23 mét; khu ngoài rộng khoảng 36 mét, sâu 14 mét, là hang đá có qui mô lớn nhất, tiêu biểu cho nghệ thuật hang đá đời Đường. Ở chính giữa bức vách phía sau khắc tượng đức Phật Lô xá na ngồi, cao khoảng 16 mét, tướng hảo trang nghiêm, thân hình to lớn, tóc dợn sóng, nếp áo mềm mại, nhưng hiện nay 2 tay không còn, 2 chân cũng bị phá hại. Đài tòa gồm 3 tầng hoa sen, trên mỗi cánh sen có khắc tượng Phật nhỏ, tượng trưng cho Liên hoa tạng thế giới. Phía sau tầng hoa sen ở giữa, chung quanh có khắc hình nổi hóa Phật, phi thiên, hỏa viêm, cực kì tráng lệ, đây là pho tượng Phật đẹp nhất, lớn nhất ở Long môn. Hai vị Bồ tát, Ca diếp, A nan đứng hầu 2 bên Đại Phật cao hơn 11 mét, mũ báu, chuỗi ngọc của các vị Bồ tát rất tinh xảo. Trên 2 vách ở 2 bên cửa vào có tượng Kim cương lực sĩ cao khoảng 10 mét và tượng 2 thần vương cao khoảng 11 mét, khí tượng hùng hồn, oanh liệt, trông giống như thật. Nói tóm lại, đặc điểm phong cách của các hang động trên đây, hình dạng thì đơn thuần, ít biến hóa, đề tài cũng đơn giản sáng sủa, tập trung vào chủ đề đột xuất. Ngoài những hang động nêu ở trên, còn có động Dược phương, động chùa Kính thiện, Đại động, Phá động, Tháp động, động Vĩnh long (động Vạn Phật), động Nam cực, v.v... Trong các động ở núi Đông, nổi tiếng nhất là Thạch quật tự, có động bên trái và động bên phải. Động bên trái rộng khoảng 9 mét, sâu hơn 6 mét; động bên phải rộng độ 7 mét, sâu 6 mét, đều là tác phẩm đời Đường. Ngoài ra, ở phía bắc núi Đông còn có chùa Hương sơn rất nổi tiếng, thi hào Bạch cư dị từng đã trụ ở chùa này. Đá Long môn thuộc loại đá hoa cứng, nhẵn, lại nghiêng khoảng 30 độ, nên rất khó đục thành những hang động lớn, vì thế vòm nóc (thiên tỉnh: giếng trời) đều được tạo hình dáng khum khum. Hình thức tạo dựng chịu ảnh hưởng của Kiện đà la và Cấp đa của Ấn độ, được dung hòa với phong cách Trung quốc. Chẳng hạn như tượng Phật trong các hang động thời Bắc triều, chủ yếu là tượng Phật Thích ca, Phật Di lặc và tượng Phật Thích ca ngồi ngang hàng với Phật Đa bảo, Phật Tam thế và 7 Phật quá khứ. Tượng Phật nói chung, thân hình đều to lớn, môi dày, mũi cao, tuy biểu hiện phong cách họ Thác bạt, nhưng đã có khuynh hướng tạo hình dáng người Hán hơn là các tượng ở hang đá Đại đồng. Thời Tùy, Đường, tượng Phật ngồi phần nhiều là tượng A di đà, tượng Di lặc, tượng Lô xá na, tượng Dược sư, v.v... phảnánh sự hưng khởi của tông Tịnh độ đời Đường và xu hướng thông tục hóa nghệ thuật tạo tượng hang động. Vẻ mặt tượng Phật ởthời kì này rất đẹp, nếp áo mềm mại; tóc Phật phần nhiều là hình dáng nước xoáy, rất ít dợn sóng. Còn tượng đứng hầu 2 bên tượng Bản tôn, phần nhiều là 2 vị La hán, 2 vị Bồ tát đây là đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc ở thời Tùy, Đường. Nghệ thuật Phật giáo Trung quốc từ thời Bắc Ngụy đến giữa đời Đường cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với mĩ thuật Phật giáo Nhật bản. Ngoài ra, những bài minh được khắc trên những tấm bia đá rải rác trong các hang động là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu chữ viết của Trung quốc, đồng thời cũng là 1 bộ biên niên sử về tư liệu hang động. [X. Phật tổ thống kỉ Q.39, 44, 53; Lạc dương già lam kí Q.5; Quảng hoằng minh tập Q.2; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển thứ 61; Chi na Phật giáo sử tích Q.2; Phật giáo nghệ thuật luận tập (Hiện đại Phật giáo học thuật tuần san 20)].

long môn tự

6381<一>位於韓國京畿道楊平郡龍門面。為新羅時代善德女王三年(634)元曉大師所開創。李朝世祖王(1456~1468)昭憲王后薨,即以此寺為祈祝冥福之所,廣造佛像,遂成名剎。迨至二十世紀初日俄戰後,訂立朴資茅斯條約,日本進佔朝鮮時,韓人即以此為抗爭據點,遂令此寺化為廢墟,後雖經重建,然於一九五○年北韓入侵,重遭破壞。寺內有一千一百餘年之銀杏神木,相傳係新羅最後之敬順王麻衣王子嘆國之亡,遁入金剛山途中所植;一說義湘插杖生根而成。雖累遭兵災,猶屹立如故,俗呼天王木。 <二>位於日本兵庫縣姬路市。屬臨濟宗妙心寺派。山號天德山。寬文元年(1661),盤珪永琢所創建。以十一面觀音為本尊,寺內珍藏平安期之釋迦如來、觀音像。此外,福島縣有青岑珠鷹創於明德三年(1392)之禪勝山龍門寺;福井縣武生市有悅岩崇禪創於正安元年(1299)之群玉山龍門寺;及位於山形市之登麟山龍門寺。以上三者皆係日本曹洞宗之道場。奈良縣吉野郡有相傳為義淵開創之龍門寺,今已廢。

long nha

6378<一>(835~923)唐代僧。撫州南城(江西)人,俗姓郭。世稱龍牙居遁禪師。十四歲,於吉州(江西)滿田寺出家。復於嵩嶽受戒,後遊歷諸方。初參謁翠微無學與臨濟義玄,復謁德山,後禮謁洞山良价,並嗣其法。其後受湖南馬氏之禮請,住持龍牙山妙濟禪苑。號「證空大師」。五代後梁龍德三年示寂,世壽八十九。〔五燈會元卷十三、景德傳燈錄卷十七、祖堂集卷八〕 <二>指龍之牙。 ; Lung-ya (C), Longya (C), Ryuge (J)Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Động Sơn Lương Giới (834/836 - 920/923).

long nha cư tuần

Lung ya Chu tun (C), RyŪge Konton (J)Tên một vị sư.

Long Nha Cư Độn

(龍牙居遁, Ryūge Kodon, 835-923): xuất thân vùng Nam Thành (南城), Phủ Châu (撫州, Tỉnh Giang Tây), họ là Quách (郭). Năm lên 14 tuổi, ông xuất gia ở Mãn Điền Tự (滿田寺), Cát Châu (吉州, Tỉnh Giang Tây). Sau đó, ông đến Tung Nhạc (嵩岳) thọ giới và đi tham quan các nơi. Ông đã từng đến tham vấn Thúy Vi (翠微), Đức Sơn (德山), sau đó đến tham vấn Động Sơn Lương Giới (洞山良价) và kế thừa dòng pháp của vị này. Thể theo lời thỉnh cầu của nhà họ Mã, ông đến sống tại Diệu Tế Thiền Uyển (妙濟禪苑) thuộc Long Nha Sơn, và được ban hiệu là Chứng Không Đại Sư (証空大師). Vào ngày 13 tháng 9 năm thứ 3 (923) niên hiệu Long Đức (龍德) nhà Lương, ông thị tịch, hưởng thọ 89 tuổi.

Long Nha Cư Độn

龍牙居遁; C: lóngyō jūxún; J: ryūge koton; 834/835-920/ 923;|Thiền sư Trung Quốc, pháp tự của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới. Môn đệ của Sư có 5 người đắc pháp.|Sư quê ở Giang Tây, xuất gia lúc còn nhỏ. Sau, Sư chu du đây đó, học hỏi các vị Thiền sư danh tiếng đương thời như Thuý Vi Vô Học, Ðức Sơn Tuyên Giám, Lâm Tế Nghĩa Huyền và cuối cùng dừng nơi Ðộng Sơn. Một hôm, Sư hỏi Ðộng Sơn: »Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?« Ðộng Sơn bảo: »Ðể khi nước suối Ðộng Sơn chảy ngược ta sẽ nói cho ngươi nghe.« Nhân câu này, Sư ngộ đại ý. |Sau khi dao du tám năm, Sư đến Long Nha trụ trì, môn đệ không dưới 500.

long nha tây lai ý

6378禪宗公案名。為唐代僧龍牙居遁向翠微無學與臨濟義玄請問西來意因緣之公案。又作龍牙過板。碧巖錄第二十則載,龍牙問翠微(大四八‧一六○上):「如何是祖師西來意?」微云:「與我過禪板來。」牙過禪板與翠微,微接得便打。牙云:「打即任打,要且無祖師西來意。」牙又問臨濟:「如何是祖師西來意?」濟云:「與我過蒲團來。」牙取蒲團過與臨濟,濟接得便打。牙云:「打即任打,要且無祖師西來意。」翠微、臨濟之打,謂祖師西來意乃佛法嫡傳之大意,為不落言詮之絕對真實,須待親證方得。龍牙任打而云皆無祖師西來意,表祖師西來意固不可問,然亦不在翠微與臨濟一打之中,即舉揚自家安心立命之心態。〔從容錄第八十則〕 ; (龍牙西來意) Cũng gọi Long nha quá bản. Tên công án trong Thiền lâm. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa các ngài Long nha Cư độn, Thúy vi Vô học và Lâm tế Nghĩa huyền đời Đường. Tắc 20 Bích nham lục nói, ngài Long nha hỏi ngài Thúy vi (Đại 48, 160 thượng): Ý của Tổ sư từ phương Tây đến là thế nào? Ngài Thúy vi đáp: Đưa Thiền bản lại đây cho ta. Long nha đưa Thiền bản cho Thúy vi, Thúy vi cầm Thiền bản liền đánh. Long nha nói:Đánh thì cứ đánh, nhưng chẳng có ý Tổ sư từ phương Tây đến. Long nha lại hỏi Thiền sư Lâm tế: Thế nào là ý của Tổ sư từ phương Tây đến? Ngài Lâm tế nói: Đưa bồ đoàn lại đây cho ta. Long nha đưa bồ đoàn cho Lâm tế, Lâm tế cầm bồ đoàn liền đánh. Long nha nói: Đánh thì cứ đánh, nhưng không có ý của Tổ sư từ phương Tây đến. [X. Tắc 80, Thung dung lục].

long nhiễu

Tên một ngôi chùa tọa lạc trong thị trấn Thủ Đức, huyện Thủ Đức, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được khai sơn từ cuối thế kỷ thứ 19, là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng của thành phố Sài Gòn. Kiến trúc chùa hiện nay là được xây vào năm 1968. Trong chùa có nhiều tượng cổ, trong đó có tượng Hộ Pháp cao 1 mét 7—Name of a temple located in Thủ Đức town, Thủ Đức district, Sài Gòn City, South Vietnam. Long Nhiễu Pagoda was founded in the late nineteenth century. It is one of the famous ancient pagoda of Saigon City. It has still kept a lot of old statues. The present architecture results from the construction in 1968. There are many old statues, including the statue of Dharma Guardian, 1.7 meters high.

long não bát vu

6392指以龍腦樹材所製成之鉢。後轉指僧人持律謹嚴。據東坡集卷三十三宸奎閣碑載,宋代禪僧懷璉(1009~1090)一向持律甚嚴,仁宗曾賞賜龍腦鉢盂,懷璉即於使者之前焚毀鉢盂;並謂出家人依法著壞色衣,以瓦、鐵等為鉢,龍腦鉢不如法,故焚之。使者乃歸朝稟奏,仁宗極為欽重。是為僧人持律嚴謹之典。 ; (龍腦鉢盂) Vốn là cái bát được làm bằng gỗ cây long não, sau, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho vị tăng giữ gìn giới luật nghiêm cẩn. Cứ theo Thần khuê các bi trong Đông pha tập 33, Thiền sư Hoài liễn (1009-1090) đời Tống, giữ giới rất nghiêm, vua Nhân tông ban cho sư 1 chiếc bát bằng gỗ long não, sư đem đốt ngay chiếc bát ấy trước mặt sứ giả và nói rằng: Người xuất gia mặc áo hoại sắc, dùng bát sắt, bát sành, bát long não không đúng pháp, vì thế phải đốt đi. Sứ giả về triều tâu lại, vua Nhân tông rất mực kính trọng sư. Từ đó, Long não bát vu được dùng để chỉ cho vị tăng giữ gìn giới luật một cách nghiêm cẩn.

long não hương

6392梵語 karpūra,巴利語 kappūra。音譯羯布羅、劫布羅。又作片腦。五種香之一。為樟腦之一種。由龍腦樹採製而成,產於蘇門答臘、印度南方、東南半島及我國南方。龍腦樹,學名為 Dryobalanops camphora,或 Shorea camphorifera。為常綠大喬木,高達四十至六十公尺。葉互生,呈卵圓形,先端尖。花白色,具芳香。由樹幹可採製結晶龍腦,供藥用,以其產量少,故價甚高,樹幹亦可作建材。 大唐西域記卷十秣羅矩吒國條載,羯布羅樹類似松而葉異,其香名龍腦香,狀若雲母,色如冰雪。其絕妙者稱梅花龍腦。慧沼之金光明最勝王經疏卷五本謂,婆律膏香即龍腦香脂。〔金光明最勝王經卷七、蘇悉地羯囉經卷上、瑜伽師地論卷三、增廣本草綱目卷三十四龍腦香條、覺禪鈔香藥抄〕(參閱「五香」1126) ; (龍腦香) Phạm:Karpùra. Pàli:Kappùra. Hán âm: Yết bố la, Kiếp bố la. Cũng gọi Phiến não. Tên khoa học: Dryobalanops camphora, hoặc Shorea camphorifera. Một loại hương liệu được chế từ cây long não. Loại cây này sinh sản ở miền Nam Ấn độ, Sumatra, bán đảo Đông nam và miền Nam Trung quốc. Long não thuộc loại cây cao từ 40 đến 60 mét, lá xanh quanh năm, hình tròn quả trứng, mọc cặp đôi, đầu lá nhọn, hoa màu trắng rất thơm. Điều Mạt la củ tra quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 10, cho rằng cây Yết bố la giống như cây tùng nhưng lá thì khác, mùi thơm của nó gọi là Long não hương, dáng như vân mẫu (mica), màu trắng như tuyết. Loại tuyệt diệu gọi là Mai hoa long não. Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ quyển 5 phần đầu của ngài Tuệ chiểu nói: Bà luật cao hương tức là dầu hương long não. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.7; kinh Tô tất địa yết ra Q.thượng; luận Du già sư địa Q.3; điều Long não hương trong Tăng quảng bản thảo cương mục Q.34; Giác thiền sao hương dược sao]. (xt. Ngũ Hương).

Long nữ

(龍女): nguyên là con gái của Long Vương Bà Kiệt La (s: Sāgara, 娑竭羅), là thị giả cho Bồ Tát Quán Thế Âm, thường xuyên hầu hạ hai bên Bồ Tát với Thiện Tài Đồng Tử. Trong Phẩm Đề Bà Đạt Đa (提婆達多品) thứ 12 của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 4 cho biết rằng năm lên 8 tuổi Long Nữ đã thành thục căn lành, lên Linh Thứu Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 靈鷲山), dâng hạt châu báu cúng dường đức Phật, trãi qua mọi chất vấn của Tôn Giả Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) và hiện tướng thành Phật tại Hội Pháp Hoa. Long Nữ thể hiện tánh từ bi của Phật Giáo, thường phụ tá Bồ Tát Quán Thế Âm cứu độ chúng sanh trong Sáu Đường; thị hiện thân tiểu đồng nữ, giống như Thiện Tài. Dân gian cho rằng Long Nữ là rắn hóa thành rồng, nhưng thật sự không phải như vậy. Trong đồ hình Quán Âm, có hình tiên nữ tuyệt đẹp đứng hầu bên Bồ Tát, chính là Long Nữ. Thiện Tài Đồng Tử và Long Nữ được gọi chung là Kim Đồng Ngọc Nữ (金童玉女). Trong Hoa Nghiêm Kinh Hợp Luận Giản Yếu (華嚴經合論簡要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 4, No. 225) quyển 2 có câu rằng: “Tiệm tiệm dẫn chí Long Nữ Thiện Tài, nhất niệm chi trung đắc thành Phật giả (漸漸引至龍女善財、一念之中得成佛者, dần dần dẫn đến Long Nữ Thiện Tài, chỉ trong một niệm chứng đắc thành Phật).” Hay trong Pháp Hoa Kinh Đại Ý (法華經大意, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 31, No. 609) quyển 1 lại có đoạn: “Đốn kiến cổ Phật toàn thân, quán Long Nữ chi hiến châu, tật vãng Vô Cấu thế giới, hà sa chi giới bất cách (頓見古佛全身、觀龍女之獻珠、疾往無垢世界、河沙之界不隔, chợt thấy cổ Phật toàn than, quán thấy Long Nữ dâng châu, nhanh qua thế giới Vô Cấu, hà sa cõi nước không cách).”

long nữ

Nàgakanyà (S), A naga-maiden. ; Nagakanya (skt)—Người con gái của Long Vương Sa Kiệt La dưới đáy biển; Long Nữ được Đức Phật nói đến trong Kinh Pháp Hoa, dù là nữ và mới có 8 tuổi, nàng đã thành Phật—Dragon-maid—A naga maiden, daughter of sagar-nagaraja, the dragon king at the bottom of the ocean; she is presented in the Lotus sutra, though a female and only eight years old, as instantly becoming a Buddha, under the tuition of Manjusri.

long nữ hiến châu

6376謂龍女以寶珠獻佛,表己證圓果。據法華經卷四提婆達多品載,龍女有一寶珠,價值三千大千世界,持以供佛,佛即納受。龍女謂智積菩薩與尊者舍利弗言(大九‧三五下):「我獻寶珠,世尊納受,是事疾不?」答曰:「甚疾。」龍女言:「以汝神力觀我成佛,復速於此。」 ; (龍女獻珠) Long nữ dâng viên bảo châu cúng đức Phật, biểu thị việc chứng quả viên mãn. Cứ theo phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa quyển 4, thì Long nữ có 1 viên ngọc báu, giá trị bằng 3 nghìn đại thiên thế giới, dâng lên cúng dường đức Phật, Phật liền nhận. Long nữ nói với bồ tát Trí tích và tôn giả Xá lợi phất rằng (Đại 9, 35 hạ): Tôi dâng cúng viên ngọc báu, đức Thế tôn nhận, việc ấy có mau không? Đáp: Mau lắm. Long nữ nói: Các ngài hãy dùng sức thần xem tôi thành Phật còn mau hơn việc ấy.

long nữ thành phật

6375指八歲之龍女由於受持法華經之功德而即身成佛。據法華經卷四提婆達多品載,龍女即娑竭羅龍王之女,年甫八歲,智慧猛利,諸佛所說甚深祕藏悉能受持,乃於剎那之頃,發菩提心,得不退轉。復以一寶珠獻佛,以此功德願力,忽轉女成男,具足菩薩行。剎那頃住於南方無垢世界,坐寶蓮華中,成正等覺,具足三十二相、八十種好,廣為人天說法,娑婆世界之菩薩、聲聞、天龍八部、人、非人等皆遙見而歡喜敬禮。 蓋古印度之女人地位甚低,小乘佛教認為女身垢穢,不能成佛,此與大乘佛教所言眾生皆可成佛之思想衝突,故佛典中乃有女人可轉變為男身成佛之說。「龍女成佛」之說明示大乘佛教在修行理論方面之發展。〔須摩提菩薩經、海龍王經卷三女寶錦受決品、菩薩處胎經卷七「八賢聖齋品」、法華經玄義卷五上、法華經文句卷八下〕(參閱「女人往生」916) ; A Naga maiden becomes a Buddha—See Long Nữ. ; (龍女成佛) Chỉ cho Long nữ 8 tuổi nhờ công đức thụ trì kinh Pháp hoa mà thành Phật. Cứ theo phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa quyển 4, thì Long nữ là con gái của vua rồng Sa kiệt la, mới có 8 tuổi mà trí tuệ sắc bén, có khả năng thụ trì bí tạng sâu xa của Phật, trong khoảng giây lát phát tâm bồ đề, liền được bất thoái chuyển (không sụt lui). Long nữ lại dâng cúng đức Phật 1 viên ngọc quí, nhờ công đức ấyliền được chuyển thân nữ thành thân nam, đầy đủ hạnh Bồ tát. Trong khoảng sát na, trụ ở thế giới Vô cấu tại phương Nam, ngồi trên hoa sen báu, thành Đẳng chính giác, đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, nói pháp cho tất cả trời người. Bồ tát, Thanh văn, Thiên long bát bộ, nhân, phi nhân, v.v... ở thế giới Sa bà, từ xa trông thấy Ngài đều vui mừng kính lễ. Ở Ấn độ cổ đại, địa vị của người phụ nữ rất thấp. Phật giáo Tiểu thừa cho rằng thân người phụ nữ nhơ nhớp, không thể thành Phật, nhưng Phật giáo Đại thừa thì chủ trương tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, cho nên trong kinh nói người phụ nữ có thể chuyển thành thân nam mà thành Phật. Bởi thế, về phương diện lí luận tu hành, thuyết Long nữ thành Phật đã cho thấy rõ sự phát triển của Phật giáo Đại thừa. [X. kinh Tu ma đề bồ tát; phẩm Nữ bảo cẩm thụ quyết trong kinh Hải long vươngQ.3; phẩm Bát hiền thánh trai trong kinh Bồ tát xử thai Q.7; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần đầu; Pháp hoa kinh văn cú Q.8 phần cuối]. (xt. Nữ Nhân Vãng Sinh).

long phúc tự

5320北平市名剎之一。位於東城大市街之西北,其地稱隆福寺街。爲明代景帝允太監興安之請而建,耗費數十萬,歷經四年餘始落成。殿宇計有五重,中有毘盧閣,高五層。下爲大法堂,四周有石欄,爲當時廟內翔鳳殿舊物,今均已頹敗。惟廟市尚盛,每逢一、二、九、十等日,百貨具陳,遊客如織。

long phương

6378有二義,即:(一)指北方。以五行中北方為水,故稱龍方。(二)為西方之異稱。於密教中,西方之護方天為水天,水天為龍趣之首領,故稱西方(即水天方)為龍方。大日經卷一(大一八‧八上):「西方諸地神,辯才及毘紐,(中略)是等依龍方,畫之勿遺謬。」 ; The dragon-quarter. ; (龍方) Long phương (phương rồng) có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho phương Bắc, vì trong Ngũ hành, phương Bắc thuộc về thủy, cho nên được gọi là Long phương. 2. Tên khác của phương Tây. Trong Mật giáo, vị trời giữ gìn, che chở phương Tây là Thủy thiên, Thủy thiên là thủ lãnh của loài rồng, cho nên phương Tây (tức phương Thủy thiên) được gọi là Long phương. Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 8 thượng), nói: Các Đại thần, Biện tài và Tì nữu (...) đều ở Long phương (phương Tây), khi vẽ không được bỏ sót và lầm lẫn.

long phấn tấn tam muội

6393指能如龍之奮迅,現勇猛威勢之三昧。景德傳燈錄卷一馬鳴大士章(大五一‧二○九下):「付法已,即入龍奮迅三昧。」 ; A samàdhi powerful like the dragon; abstract meditation which results in great spiritual power. ; Phép tam muội long phấn tấn. Sức của tam muội nầy mau lẹ, dũng mãnh như sức mạnh của loài rồng, hiện ra uy lực rất dũng mãnh—A samadhi powerful like the dragon; abstract meditation which results in great spiritual power. ; (龍奮迅三昧) Chỉ cho tam muội (chính định) hiện ra uy lực dũng mãnh, thần tốc như loài rồng. Chương Mã minh đại sĩ trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 (Đại 51, 209 hạ) nói: Truyền trao pháp xong, Ngài liền vào Long phấn tấn tam muội.

long quang thuỵ tượng

6380指龍光寺所供奉印度優填王以栴檀所作釋迦之像,瑞相圓滿。相傳鳩摩羅琰自印度負像欲至中土,途經四國,皆留本圖寫。後羈留龜茲,生子羅什。羅什東遊時,齎像至中土,後迎至江南龍光寺,故稱龍光瑞像。隋時奉置於長樂寺。以後歷經各代,元仁宗延祐三年(1316),遷奉於燕京大聖萬安寺栴檀瑞像殿。今已不知其下落。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷下二、四分律行事鈔資持記卷下三、釋氏稽古略卷四〕(參閱「旃檀瑞像」4120、「龍光寺」6380) ; (龍光瑞像) Tượng hiếm có thờ ở chùa Long quang. Chỉ cho pho tượng Phật Thích ca bằng gỗ chiên đàn, do vua Ưu điền, người Ấn độ, sai thợ tạc, được thờ ở chùa Long quang tại Trung quốc. Tương truyền, ngài Cưu ma la diễm, thân phụ của ngài Cưu ma la thập, muốn mang tượng nàytừ Ấn độđến Trung quốc, dọc đường đến nước Cưu tư thì sinh ra ngài La thập. Về sau, tượng này được ngài La thập mang đến Trung quốc, thờ ở chùa Long quang tại Giang nam, vì thế gọi là Long quang thụy tượng. Đến đời Tùy, tượng được rước về chùa Trường lạc. Về sau, trải qua nhiều đời, đến năm Diên hựu thứ 3 (1316) đời vua Nhân tông nhà Nguyên, tượng được cung nghinh về thờ ở điện Chiên Đàn Thụy Tượng của chùa Đại thánh vạn an tại Yên kinh. Hiện nay, không biết tượng được yên trí ở đâu. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ phần 2; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 3; Thích thị kê cổ lược Q.4]. (xt. Chiên Đàn Thụy Tượng, Long Quang Tự).

long quang tự

6379位於江蘇南京覆舟山麓。為東晉恭思皇后褚氏所創。原稱青園寺。義熙五年(409)竺道生自長安返建康,被延請入住本寺。劉宋景平元年(423),與慧嚴共請佛陀什,譯出彌沙塞五分律等。文帝深重道生,時賢王弘、范泰、顏延之等皆來問道;僧瑾亦從其受業。其後,道生倡闡提成佛之說,遭守舊之徒擯斥,遂離寺他去。是年夏,佛殿大震,一龍昇天,其光映西壁,遂改寺名,號龍光寺。唐咸通二年(861),敕賜「龍光院」之額。相傳本寺供奉之栴檀釋迦瑞像,乃東晉義熙十一年劉裕出征長安時所得。〔佛祖統紀卷十五、卷三十六、梁高僧傳卷三、卷七、卷十、卷十三、卷十四、續高僧傳卷六、卷七、卷九、出三藏記集卷二、金陵梵剎志卷四十八〕 ; (龍光寺) Chùa ở chân núi Phúc chu, thuộc Nam kinh, tỉnh Giang tô, Trung quốc, do Hoàng hậu Cung tư sáng lập vào đời Đông Tấn. Mới đầu, chùa có tên là Thanh viên. Năm Nghĩa hi thứ 5 (409), ngài Trúc đạo sinh từ Trường an trở về Kiến khang, được mời trụ ở chùa này. Niên hiệu Cảnh bình năm đầu (423) đời Lưu Tống, ngài Trúc đạo sinh và ngài Tuệ nghiêm thỉnh ngài Phật đà thập dịch Sa di tắc Ngũ phần luật. Vua Văn đế rất kính trọng ngài Đạo sinh, các nhà hiền sĩ như Vương hoằng, Phạm thái, Nhan diên chi, v.v... đều đến hỏi đạo. Về sau, ngài Đạo sinh đề xướng thuyết Xiển đề thành Phật, bị những tăng sĩ thủ cựu bài bác, nên ngài phải bỏ chùa mà đi. Mùa hạ năm ấy, điện Phật chấn động mạnh, có 1 con rồng bay lên trời, ánh sáng của rồng chiếu rọi vào bức vách phía Tây, từ đó chùa được đổi tên là Long quang. Năm Hàm thông thứ 2 (861), đời Đường, vua ban tấm biển chùa là Long Quang Viện. Tương truyền, pho tượng Phật Thích ca tạc bằng gỗ chiên đàn, đầu tiên do ngài Cưu ma la thập đưa đến Trung quốc, đến năm Nghĩa hi 11 (415), đời Đông Tấn, Lưu dụ tiến đánh Trường an lấy được và đem về thờ ở chùa này. [X. Phật tổ thống kỉ Q.15, 36; Lương cao tăng truyện Q.3, 7, 10, 13, 14; Tục cao tăng truyện Q.6,7,9; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Kim lăng phạm sát chí Q.48].

long quang vương phật

6379為過去久遠前之佛。據仁王護國般若波羅蜜多經卷上載,於過去十千劫龍光王佛之世,舍衛國波斯匿王已於此佛所,為四地菩薩,釋尊為八地菩薩。 ; (龍光王佛) Phật Long quang vương ở quá khứ rất lâu xa. Cứ theo kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật quyển thượng, cách nay 10.000 kiếp vào thời đức Phật Long quang vương ở quá khứ, vua Ba tư nặc nước Xá vệ đã là Bồ tát Tứ địa và đức Thích tôn là Bồ tát Bát địa trong Chính pháp của đức Phật này.

Long Quân

龍軍; S, P: nāgasena;|Tên dịch nghĩa của Na-tiên tỉ-khâu.

long quân

Xem Na Tiên Tỳ kheo. ; Na tiên. Nàgasena (S) ; See Nagasena in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

long súc

6386即龍。龍屬於六趣中之畜生趣,故稱龍畜。金師子章序(大四五‧六六七中):「設以龍畜身兮悟道者,其數一萬否?」 ; (龍畜) Chỉ cho loài rồng, thuộc loài súc sinh trong 6 đường nên gọi là Long súc. Bài tựa trong Kim sư tử chương (Đại 45, 667 trung), nói: Giả sử những người mang thân long súc mà ngộ đạo thì con số ấy có được 1 vạn chăng?

long sơn tự

6376位於臺灣臺北市。創建於清乾隆三年(1738),由福建省泉州府屬晉江、南安、惠安三縣移居來臺之百姓,為祈禱航海平安及事業發展,乃將素所信仰之觀音菩薩,從晉江安海龍山寺迎來現址,建寺奉祀。二百多年來,本寺曾數度改建。目前之建築為民國八年所建。殿宇雄偉,雕刻精緻,為臺北市佛教名剎,信眾頗多;惟其中兼祀有媽祖、註生娘娘等神道信仰,與純粹佛教寺院不同。此外,臺北縣淡水鎮、彰化縣鹿港鎮及臺南市等,均有龍山寺,其建寺之來源,大致與臺北龍山寺屬同一時期,自同一地區之移民,供奉同一寺院之神祀,且為同一信仰類型之群眾。

long thang

6388取人、畜之糞尿所成之藥。又作黃龍湯、大黃湯、黃湯。為陳棄藥之一。南海寄歸內法傳卷三(大五四‧二二五上):「自有方處鄙俗久行,病發即服大便、小便,疾起便用豬糞、貓糞,或堈盛磙貯,號曰龍湯。」〔南山羯磨疏卷三下〕(參閱「陳棄藥」4823) ; Dragon soup, a purgative concocted of human and animal urine and excrement. ; Hoàng Long Thang—Súp rồng, một vị thuốc chế ra từ phân và nước tiểu của người và gia súc, dùng cho cả Tăng lẫn tục—Dragon soup, a purgative concocted of human and animal urine and excrement. ; (龍湯) Cũng gọi Hoàng long thang, Đại hoàng thang, Hoàng thang. Loại thuốc làm bằng phân người, phân súc vật, là 1 trong các loại trần khí dược (thuốc người ta đã vứt bỏ). Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 (Đại54, 225 thượng), nói: Có nơi phong tục bỉ lậu, lưu hành đã lâu đời, hễ bị bệnh thì uống phân, nước tiểu; thân thể không được khỏe thì ăn phân lợn (heo), phân mèo đựng trong vò, hoặc trong hũ, gọi là Long thang. [X. Nam sơn yết ma sớ Q.3 hạ]. (xt. Trần Khí Dược).

long thiên

6377<一>為過去世之佛名。無量壽經卷上(大一二‧二六六下):「佛告阿難:『乃往過去久遠無量不可思議無央數劫,(中略)有如來名曰光遠,(中略)次名龍天。』」 <二>指八部眾中之龍眾及天眾。即龍神諸天,為擁護佛法之善神,故有「龍天護法善神」之稱。〔千手觀音經〕 <三>龍樹、天親(世親)二菩薩,合稱為龍天。 ; Dragon-kings and devas; also Nàgàrjuna and Vasubandhu. ; 1) Rồng và Trời hay Long chúng và Thiên chúng: Dragon king and Devas—See Thiên Long Bát Bộ. 2) Long Thọ Bồ Tát: Nagarjuna Bodhisattva. 3) Thiên Thân Bồ Tát: Vasubandhu Bodhisattva. ; (龍天) I. Long Thiên. Danh hiệu của 1 đức Phật ở đời quá khứ. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ), chép: Đức Phật bảo tôn giả A nan: Thủa xưa, cách nay vô lượng số kiếp không thể nghĩ bàn (...) có đức Như lai tên là Quang viễn (...), đức Như lai kế tiếp hiệu là Long thiên. II. Long Thiên. Chỉ cho Long chúng và Thiên chúng trong 8 bộ chúng, là những vị thiện thần hộ trì Phật pháp. [X. kinh Thiên thủ Quan âm]. III. Long Thiên. Từ gọi chung 2 bồ tát Long thụ và Thiên thân (Thế thân).

long thiên bát bộ

Nàgas, devas, raksasas, gandharvas, asuras, garudas, kinnaras, and maho-ragas. ; See Thiên Long Bát Bộ.

long thiền

Tên một ngôi cổ tự, tọa lạc bên bờ sông Đồng Nai, thuộc ấp Tân Bình, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, Nam Việt Nam. Chùa được dựng lên từ năm 1664. Theo bộ “Thiền Sư Việt Nam” của Hòa Thượng Thiền Sư Thích Thanh Từ, chùa được xây dựng vào cuối thế kỷ thứ 17, do Hòa Thượng Thành Nhạc Ẩn Sơn (đời thứ 34 phái Lâm Tế). Hiện tại vị trụ trì là Hòa Thượng Thích Huệ Thành, nguyên là Tăng Thống Phật Giáo Truyền Thống Việt Nam—Name of a famous ancient pagoda, located on the bank of Đồng Nai River, in Bửu Hòa quarter, Biên Hòa City, South Vietnam. The pagoda was built in 1664. According to “Thiền Sư Việt Nam” composed by Ch'an Master Thích Thanh Từ, the pagoda was built in the late 17 century by disciple of Most Venerable Thành Nhạc Ấn Sơn (from the 34th generation of the Lin-Chi Sect). Presently Most Venerable Thích Huệ Thành is Head of Long Thiền Pagoda. He was the Chairman of Vietnamese Traditional Buddhism.

long thí bồ tát bản khởi kinh

6384請參閱 龍施菩薩本起經 [1]全一卷。西晉竺法護譯。收於大正藏第十四冊。又作龍施經、龍施女經、龍施本起經。本經記載龍施菩薩於佛陀前敘述龍施女過去行大乘捨身以求法之因緣。(參閱「龍施女經」6384) ; (龍施菩薩本起經) Cũng gọi Long thí kinh, Long thí nữ kinh, Long thí bản khởi kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này ghi chép việc bồ tát Long thí ở trước đức Phật thuật lại nhân duyên tiền kiếp của mình là nàng Long thí đã xả thân để cầu pháp Đại thừa. (xt. Long Thí Nữ Kinh).

long thí nữ kinh

6383全一卷。吳‧支謙譯。收於大正藏第十四冊。本經敘述佛陀遊維耶離奈氏樹園,須福長者之女龍施,遙見佛之相好,因發菩提心,修菩薩行。魔遂化形其父,誘修小乘羅漢,龍施不為所動。魔復教云:菩薩行者,當不貪世間、不惜壽命,若能從樓上自投於地者,後可成佛。龍施便縱身自投樓下,然未及至地,旋變男子身。後得父母允許,隨佛出家修行。開元釋教錄卷二載,本經與龍施菩薩本起經為同本。〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷五〕 ; (龍施女經) Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật đi đến vườn cây Nại thị ở thành Tì xá li, người con gái của Trưởng giả Tu phúc là nàng Long thí vừa thấy tướng hảo của đức Phật liền phát tâm bồ đề, tu hạnh Bồ tát. Lúc ấy, ma liền hóa làm cha nàng dụ dỗ tu theo Tiểu thừa, nhưng nàng không hề lay động. Ma lại nói: Người tu hạnh Bồ tát không được tham đắm thế gian, không tiếc thân mệnh, nếu có thể nhảy từ lầu cao xuống đất thì được thành Phật. Nàng Long thí liền nhảy từ trên lầu xuống, nhưng chưa chạm đất thì đã biến thành thân con trai. Về sau, được cha mẹ cho phép theo Phật xuất gia tu hành. Theo Khai nguyên thích giáo lục quyển 2, kinh này là bản dịch khác của kinh Long thí bồ tát bản khởi. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.5].

long thơ tịnh độ

Lung-Shu Jing-Tu—Long Thơ Tịnh Độ (được viết bởi Vương Nhật Hưu) khuyên dạy về phép tu Niệm Phật. Đây là một trong những quyển sách quan trọng nhất về hoằng dương Tịnh Độ—Pureland Dragon Poetry (written by Wang-Jih-Hsiu) which taught and advised others the cultivated pathof Buddha Recitation. This Buddhist text was one of the most important books in propagating Pureland Buddhism—See Vương Nhật Hưu.

long thư tịnh độ văn

6389凡十二卷。收於大正藏第四十七冊。係南宋紹興三十年(1160)龍舒(安徽舒城)人王日休(?~1173)撰。係集錄有關往生西方淨土之經論、傳記等。其中,王日休之原著僅十卷,即:淨土起信、淨土總要、普勸修持、修持法門、感應事蹟、特為勸喻、指迷歸要、現世感應、助修上品、淨濁如一等十章(一卷為一章)。各章初敘大意,次分為數篇乃至數十篇,收載有關之事蹟。後人增廣為十一卷或十三卷,然嘉禾僧巹改為十二卷,即今現行之龍舒增廣淨土文。 此外,德人哈克曼(H. Hackmann, 1864~1935)之 Laien-Buddhismus in China(1924)一書,即為本書之德譯本,並加以評解。〔佛祖統紀卷二十八、卷四十七、樂邦文類卷三、淨土依憑經論章疏目錄、淨土真宗教典志卷三、扶桑藏外現存目錄〕 ; (龍舒淨土文) Tác phẩm, 12 quyển, do cư sĩ Vương nhật hưu người đất Long thư (An huy, Thư thành) soạn vào năm Thiệu hưng 30 (1160) đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này thu chép các kinh luận, truyện, kí, v.v... có liên quan đến việc vãng sinh Tây phương Tịnh độ. Trong đó, nguyên tác của ông Vương nhật hưu chỉ có 10 quyển, tức 10 chương: Tịnh độ khởi tín, Tịnh độ tổng yếu, Phổ khuyến tu trì, Tu trì pháp môn; Cảm ứng sự tích, Đặc vị khuyến dụ, Chỉ mê qui yếu, Hiện thế cảm ứng, Trợ tu thượng phẩm và Tịnh trược như nhất. Đầu mỗi chương trình bày đại ý, sau đó chia thành các thiên để ghi chép những sự tích hữu quan. Người đời sau tăng thêm làm 11 quyển hoặc 13 quyển, tức là bộ Long thư tăng quảng tịnh độ văn lưu hành hiện nay. Ngoài ra, sách này còn có bản dịch tiếng Đức nhan đề là Laien Buddhismus in China (1924) của ông H. Hackmann (1864-1935). [X. Phật tổ thống kỉ Q.28,47; Lạc bang văn loại Q.3; Tịnh độ y bằng kinh luận chương sớ mục lục; Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.3; Phù tang tạng ngoại hiện tồn mục lục].

long thạnh

Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc tại quận Bình Chánh, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Trí Nghiêm xây vào thế kỷ thứ 18. Trước năm 1945, chùa bị hoàn toàn sụp đổ. Đến năm 1959, Hòa Thượng Bửu Ý xây cất lại trên một khuôn viên nhỏ hơn. Trong Chánh điện có tượng Phật A Di Đà bằng gỗ mít, cao một thước ba, tòa sen cao 33 phân. Trong chùa còn có đại hồng chung cao một thước, đường kính nửa thước, được đúc dưới thời Tổ Từ Nhượng—Name of an ancient pagoda located in Bình Chánh district, Saigon City, South Vietnam. It was established in the eighteenth century by Most Venerable Trí Tâm. It was completely destroyed by 1945. In 1959, Most Venerable Bửu Ý rebuilt in a small scale. In the Main Hall, there is a statue of Amitabha Buddha, made of jacktree wood, 1.3 meters high, the lotus pedestal is .33 meter high. There is also a great bell, 1 meter high, 0.5 meter in diameter, cast in the Patriarch Từ Nhượng's period.

Long Thần

(s, p: nāga, 龍神): còn gọi là Long Vương (龍王), một trong 8 bộ chúng, thủ lãnh của rồng. Thông thường người ta cho rằng rồng sống dưới nước, có hình dáng con rắn, thuộc loại quỷ (hay có thuyết cho là thuộc loại súc sanh), có thần lực kêu mây làm mưa, cũng là hộ pháp đắc lực cho Phật pháp. Trong kinh điển Phật Giáo có khá nhiều câu chuyện liên quan đến rồng và có đủ loại hình tượng Long Vương khác nhau. Phạn ngữ nāga là từ thần cách hóa của loài rắn (mãng xà).

long thần

6386八部眾之一。又作龍眾。因其具有神力,故稱龍神。或指龍王而言。法華經卷一(大九‧三下):「諸天、龍神、人及非人,香華伎樂,常以供養。」 ; A dragon-god, or spirit. ; Long chúng, một trong tám bộ chúng—A dragon-god or spirit—Dragon Deity, one of the eight groups of demons. ** For more information, please see Thiên Long Bát Bộ. ; (龍神) Cũng gọi Long chúng. Thần rồng, 1 trong 8 bộ chúng, vì có đủ thần lực nên gọi là Long thần, hoặc gọi là Long vương (vua rồng). Kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 3 hạ) nói: Chư thiên, long thần, nhân và phi nhân thường đem hương hoa, kĩ nhạc cúng dường.

long thần hộ pháp

Dragon of Buddhism—Any Buddhist or protector or Buddhism.

long thần tam nhiệt

6386據傳除阿耨達池之龍王外,閻浮提之一切龍眷屬俱受三種熱惱之苦。此三種熱惱又稱三患、三熱。即:(一)受熱風熱沙吹襲之苦。(二)惡風暴起時,其飾身寶衣自然而失,受龍身自現之苦。(三)畏怖金翅大鳥搏食宮中龍子之苦。〔長阿含經卷十八閻浮提洲品〕 ; (龍神三熱) Ba thứ khổ nhiệt não mà tất cả quyến thuộc của loài rồng ở cõi Diêm phù đề đều phải chịu, ngoại trừ Long vương của ao A nậu đạt. Ba thứ nhiệt não này cũng gọi là Tam hoạn, Tam nhiệt. Đó là: 1. Chịu cái khổ gió nóng, cát nóng thổi ập vào thân. 2. Chịu cái khổ cuồng phong thổi mạnh, áo báu trên mình tự nhiên biến mất, để lộ thân rồng. 3. Lo sợ chim cánh vàng (chim đại bàng) ăn thịt rồng con trong cung. [X. phẩm Diêm phù đề châu trong kinh Trường a hàm Q.18].

long thọ

Nāgārjuna (S)Tên một vị sư. ; Nagarjuna (skt). 1) Cây Long Thọ: The dragon-arjuna tree. 2) Long Thọ Bồ Tát: Theo truyền thuyết thì vào thế kỷ thứ ba, ngài Long Thọ du hành xuống Long cung để chép kinh Hoa Nghiêm. Theo một truyền thuyết khác thì Ngài đã tìm thấy kinh nầy trong một tu viện bỏ hoang. Ngài là tổ thứ 14 của dòng Thiền Ấn Độ, là sơ tổ của phái Trung Quán hay Tam Luận và Tịnh Độ tông—According to one legend, in the 3rd century, Nagarjuna travelled to the sea dragon's palace beneath the ocean to retrieve the Avatamsaka Sutra. According to another legend, he discovered the sutra in an abandoned monastery. Nagarjuna was the fourteenth patriarch of Indian Zen. He was the founder and first patriarch of the Madhyamika (Middle Way) school, also the founder of the Pure Land Sect (Salvation School)—See Nagarjuna, and Bát Bất Trung Đạo.

long thọ bồ tát

Nāgārjuna (S), ludrup (T)Long Mãnh, Long Thụ; Na già yên lạt thọ naTổ thứ 14 trong 28 tổ Phật giáo Ấn độ, người Nam Ấn, sanh vào năm 160. Nhờ sự gia hộ của Đức Đại Nhật Như Lai ngài mở được tháp bằng sắt, vào bên trong và đảnh lễ Ngài Kim Cang Tát Đoả rồi được ban lễ quán đảnh và tiếp nhận hai bộ Đại Kinh. Các kinh ngài ghi chép lại có: Na Tiên Tỳ kheo Kinh, Trung Luận, Thập nhị môn luận,... Ngài thọ khoảng 60 tuổi, truyền y bát cho tổ Ca na đề bà (Kanadeva). ; Bodhisattva Nagarjuna—See Nagarjuna.

Long Thụ

龍樹; S: nāgārjuna; »Triết gia và nhà giả kim«; Long Thụ của hệ thống 84 vị Ma-ha Tất-đạt Ấn Ðộ;|Là thầy của Thánh Thiên (s: āryadeva) và Sa-va-ri-pa (s: śavaripa). Long Thụ thuộc dòng Bà-la-môn, nhưng Sư đến Na-lan-đà để thụ giới trở thành một Tỉ-khâu. Sau đó Sư đến Vương xá (s: rājagṛha) tu luyện tại đó mười hai năm và đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Trên đường du phương, Sư gặp một đứa trẻ chăn cừu giúp ông qua sông và vì đền ơn, Sư thi triển thần thông giúp đứa trẻ làm vua. Về sau khi Phạm Thiên xin đầu, Sư dùng ngọn cỏ cắt đầu hiến dâng. Người ta nói rằng thân của Long Thụ còn nằm tại chỗ mất đầu, đợi Phật Di-lặc hạ sinh sẽ sống lại giúp Ngài.|Như Long Thụ của thế kỉ thứ 2, tranh tượng của vị Long Thụ này cũng có hình rắn phủ quanh đầu. Chứng đạo kệ của Long Thụ có những dòng sau:|Ví như kẻ mê muội,|tự xưng là Tất-đạt,|thì như tên giặc cỏ,|đòi cướp giật ngôi vua.|Ví một bậc hiền nhân,|còn kẹt sự dại khờ,|thì như một thớt voi|còn bị đắm trong bùn.|Lịch sử của Tan-tra, nhất là Tan-tra tại Tây Tạng cho rằng Long Thụ này chính là Long Thụ của thế kỉ thứ hai, Luận sư nổi tiếng của Trung quán tông (s: mādhyamika) mặc dù giáo pháp của Mật tông được thành lập và phát triển sau này. Các Lạt-ma Tây Tạng cho rằng cả hai Long Thụ (và đương nhiên cùng với môn đệ là Thánh Thiên) đều là biểu hiện của một Tuyệt đối duy nhất, được nối tiếp bằng một sợi chỉ vô hình siêu thời gian và không gian, hoặc được nối tiếp qua các dòng tái sinh Chu-cô (t: tulku). ; 龍樹; S: nāgārjuna; dịch âm là Na-già Át-thụ-na (那伽閼樹那), tk. 1-2;|Một trong những luận sư vĩ đại nhất của lịch sử Phật giáo. Người ta xem sự xuất hiện của Sư là lần chuyển pháp luân thứ hai của Phật giáo (lần thứ nhất do Phật Thích-ca, lần thứ ba là sự xuất hiện của giáo pháp Tan-tra). Ðại thừa Ấn Ðộ xếp Sư vào »Sáu Bảo Trang của Ấn Ðộ« (năm vị khác là Thánh Thiên [s: āryadeva], Vô Trước [s: asaṅga], Thế Thân [s: vasubandhu], Trần-na [s: diṅnāga, dignā-ga], Pháp Xứng [s: dharmakīrti]), và trong tranh tượng, Sư là vị duy nhất sau đức Phật được trình bày với chóp trên đỉnh đầu (肉髻; nhục kế; s: uṣnīṣa), một dấu hiệu của một Ðại nhân (s: mahāpuruṣa). Sư là người sáng lập Trung quán tông (s: mādhyamika), sống trong thế kỉ thứ 1-2. Có rất nhiều tác phẩm mang danh của Sư nhưng có lẽ được nhiều tác giả khác biên soạn. Những trứ tác được xem là quan trọng nhất và đích thân Sư viết soạn gồm có (Căn bản) Trung quán luận tụng, gồm 27 chương với 400 câu kệ, Thập nhị môn luận, Ðại trí độ luận. Sư cũng là Tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Ðộ. Truyền thống Tan-tra cũng xếp Sư vào 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha).||H 40: Long Thụ (Lạt-ma Anāgārika Gô-vin-đa phóng hoạ).|Công lớn của Sư là hệ thống hoá các tư tưởng được nêu lên trong Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh (s: pnajñāpāramitā-sūtra) và đào sâu các tư tưởng đó. Sư phát triển một phương pháp biện chứng (e: dialectic) rất đặc biệt, siêu phàm và nương vào đây chỉ rõ những nhược điểm, những điểm sơ xuất không thống nhất trong một lí thuyết mà chính đối thủ đưa ra. Từ sự nhận thức rằng, một sự thật chỉ tồn tại bởi sự hiện diện của cái đối nghịch, Sư luận rằng mọi sự đều tương đối, không có gì bất biến trường tồn nằm sau sự vật, tất cả đều là Không (s: śūn-yatā). Sư từ chối mọi quan điểm cực đoan và đây chính là điểm xuất phát của tư tưởng Trung đạo (s: mādhyamāpradipadā), giáo lí căn bản của Trung quán tông. Quan điểm Trung quán này được biểu hiện bằng kệ tụng Bát bất (tám phủ nhận) đầu bản Trung quán luận:|不生亦不滅。不常亦不斷|不一亦不異。不來亦不出|Bất sinh diệc bất diệt|Bất thường diệc bất đoạn|Bất nhất diệc bất dị|Bất lai diệc bất xuất.|*Không phải sinh cũng không phải diệt,|Không phải thường cũng không phải đoạn,|Không phải một cũng không phải khác,|Không phải đi cũng không phải đến.|Sư là người đầu tiên trong lịch sử Phật giáo tạo dựng một »hệ thống« triết học hẳn hoi, trong đó Sư tìm cách minh chứng thế giới hiện tượng không thật hiện hữu. Ðó thật ra là kiến giải xuất phát từ kinh nghiệm tu hành – theo kinh Bát-nhã. Với những thành tựu to lớn, Sư đã đặt nền tảng đầu tiên cho Trung quán tông và cũng gây nhiều ảnh hưởng trong nền triết lí của các tông phái Phật giáo khác ra đời sau.|Long Thụ lấy thuyết Mười hai nhân duyên làm khởi điểm, vì đối với Sư, đó là quy luật nói lên bản chất của thế giới. Sư xem bản chất đó là Không – vì trong đó không có thành hay hoại, vô thường hay trường cửu.|Tính chất trống không của thế gian được Long Thụ chỉ rõ bằng sự tương đối của khái niệm. Các khái niệm chỉ dựa lên nhau mà có, không có khái niệm nào tồn tại độc lập. Từ đó Sư suy ra, sự vật cũng không có thật vì mỗi sự vật đều phải dựa lên trên những sự vật khác mà hiện hữu. Ðây là một trong những lí luận tối trọng về tính Không chính là Vô ngã.|Sư trình bày quan điểm của mình trong tác phẩm Hồi tránh luận (迴諍論; s: vigraha-vyāvartanī hoặc vigraha-vyāvartanīkārikā), thông qua một ví dụ – »Hai cha con«: |»Nếu đứa con được sinh thành bởi người cha, và người cha chỉ mới sinh thành với sự hiện diện của chính đứa con này – hãy nói thử xem ai sinh ra ai? Nói thử xem: Ai trong hai người này là cha, ai là con? Cả hai đều mang dấu hiệu của cha và dấu hiệu của một người con«. |Như thế thì, trước khi đứa »con« ra đời, người ta không thể nói đến một người »cha«. Và như vậy thì – theo Sư – trong đứa con phải có một cái gì đó dẫn khởi sự xuất hiện của một người cha – có thể gọi là một đặc tính trợ giúp một người nào đó trở thành một người cha. Trường hợp cũng tương tự như thế quy về đứa con. Trong bản chú giải bài luận này, Sư bảo rằng, cả hai – cha cũng như con – đều mang những đặc tướng của cái »thành tạo« và cái »được thành tạo.« Và như vậy có nghĩa rằng, người ta chỉ nói về một sự vật nào đó quy về một sự vật khác nào đó, trong mối quan hệ với một sự vật khác và trong »một sự vật nào đó« đã có »sự vật khác nào đó.« Nói một cách khác, không có một nguyên nhân cơ bản mà chỉ có nhưng mối kết cấu, một mạng lưới duyên khởi. Và nếu chỉ có thể nói về một mạng lưới duyên khởi thì cũng không thể nào tìm thấy được một cách tồn tại độc lập, tự sinh, tự khởi. Và như vậy người ta có thể kết luận là: Tất cả đều trống không (s: śūnya) cách tuyệt một tự tính (s: svabhāva), không có một tự tính nào cả.|Theo Sư, mọi hiện hữu đều vô ngã vì nếu chúng có tự tính (s: svabhāva), tự ngã, chúng phải trường tồn bất biến, một điều kiện mà chúng không đạt được. Thế giới hiện tượng chỉ gồm những sự vật chịu dưới sự hoại diệt nên thế giới đó chỉ có thể là Không.|Ðối với Sư, tính Không có nghĩa là thiếu vắng một cái ngã, không phải là không tồn tại như là một trình hiện (có thể nói: »Tất cả là ảo ảnh không thật, nhưng có những trình hiện có vẻ như thật«). Vì vậy, nếu nói sự vật có hay không là đặt vấn đề sai. Sự thật nằm ở giữa hai khái niệm đó, trong tính Không (s: śūnyatā). Thế giới hiện tượng cũng phải được xem là sự thật, ta gọi là sự thật tương đối (Chân lí quy ước; s: saṃvṛti-satya), nó không phải là sự thật cuối cùng (Chân lí tuyệt đối; s: paramārtha-satya). Trong chân lí quy ước thì thế giới này và cả Phật pháp có giá trị. Theo chân lí tuyệt đối, tất cả chúng đều không có thật, chúng chỉ là những trình hiện. Theo Sư, thế giới hiện tượng xuất phát từ cái dụng thiên hình vạn trạng (đa dạng; s: prapañca), trên đó con người »tưởng tượng« ra và từ đó ta tưởng nhầm có một thế giới bên ngoài thật. Trong chân lí tuyệt đối thì lại vắng bóng cái dụng thiên hình vạn trạng đó. Ðộc lập với cái dụng đó thì chính là Niết-bàn. Trong Niết-bàn vắng hẳn sự đa nguyên của vạn sự, không còn quy luật nhân duyên nữa. Niết-bàn là niềm an vui tự tại (s: sahajānanda). Ðối với Long Thụ – như kinh Bát-nhã chỉ rõ – Niết-bàn và thế giới hiện tượng thật tế chỉ là một, là hai mặt của một cái duy nhất. Niết-bàn không phải là một pháp có thể chứng đắc được; chỉ cần nhận chân ra thể tính của mọi sự, trong đó cái dụng thiên hình vạn trạng nọ trở lại yên nghỉ, đó là Niết-bàn.|Tên của Long Thụ gồm từ Long (rồng, s: nāga) và Thụ (một loại cây; s: arjuna). Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn (s: brāhmaṇa) ở Trung Ấn (s: vidarbha) và xuất gia lúc còn trẻ tuổi. Ðến Na-lan-đà (s: nālandā), một trung tâm Phật học danh tiếng thuộc thành Vương xá (s: rājagṛha), Sư tu tập nghiên cứu kinh điển dưới sự hướng dẫn của La-hầu-la Bạt-đà-la (s: rāhulabhadra). Sau đó Sư trở thành Pháp sư tại ngôi chùa vĩ đại này và tương truyền rằng, trong thời gian này Sư được Long vương đem về thuỷ cung giáo hoá. Vì vậy nghệ thuật Bắc Ấn và Tây Tạng thường vẽ những con rồng trong hào quang của Sư. Khi tuổi đã cao, Sư trở về quê hương ở Trung Ấn, sống trên núi Phạm thiên (s: brahmagiri) trên cao nguyên Śrīparvata, gần sông Kṛṣṇā. Ngọn đồi với ngôi chùa bây giờ vẫn còn và được mang tên của Sư »Ðồi Long Thụ« (s: nāgārjunakoṇḍa). Các nhà nghiên cứu lịch sử sau này đã xác định được khoảng thời gian Sư hoằng hoá vì người ta biết rằng vị vua có quan hệ với Sư ngự trị từ năm 106-130 (Vua xứ Śāta-vāhana, tên Gautamīputra Śatakarṇin, được dịch âm Hán Việt là Kiều-đạt-di Phổ-đặc-la Khả-nhĩ-ni). Sư đã viết thơ khuyên vị vua này và những lời khuyên đó còn được lưu truyền trong tập Khuyến giới vương tụng.|Các tác phẩm còn được lưu lại dưới tên Sư (trích): 1. Căn bản trung quán luận tụng ([mūla-] madhyama-ka-kārikā), cũng được gọi là Trung quán luận tụng, hoặc Trung quán luận (madhyamaka-śāstra); 2. Căn bản trung quán luận thích vô uý chú (mūlamā-dhyamikavṛtti-akutobhayā), được gọi tắt là Vô uý chú, chỉ còn bản Tạng ngữ; 3. Ðại trí độ luận (mahāprajñāpāramitā-śāstra, mahāprajñāpāramito-padeśa), 100 quyển, Cưu-ma-la-thập dịch; 4. Thập nhị môn luận (dvādaśa-nikāya-śāstra, dvā-daśadvāra-śāstra), Cưu-ma-la-thập dịch; 5. Nhân duyên tâm luận tụng (pratītya-samutpāda-hṛdaya-kārikā), không biết người dịch; 6. Ðại thừa nhị thập tụng (mahāyāna-viṃśikā), Thí Hộ dịch; 7. Bảo hành vương chính luận (rājaparikathā-ratnāvalī, cũng được gọi là ratnāvalī, là Vòng bảo châu), 1 quyển, Chân Ðế (paramārtha) dịch; 8. Thất thập không tính luận (śūnyatā-saptati), bản Tạng ngữ vẫn còn; 9. Thất thập không tính luận thích (śūnyatā-saptativṛtti), chú giải Thất thập không tính luận (śūnyatā-saptati), Nguyệt Xứng (candrakīrti) và Parahita cũng có soạn một tác phẩm dưới tên này; 10. Phương tiện tâm luận (upāya-hṛdaya), một tác phẩm về Luận lí học (nhân minh) được xem là của Sư, bản dịch Hán vẫn còn do Cát-ca-dạ dịch; 11. Tập kinh luận (sūtrasamuccaya); có hai tập dưới tên này: một tác phẩm có lẽ đã thất truyền của Tịch Thiên (śāntideva) và một tác phẩm được xem là của Sư; 12. Hồi tránh luận (vigraha-vyāvartanī, vigra-havyāvartanīkārikā), Tì-mục Trí Tiên và Cù-đàm Lưu-chi dịch chung; 13. Hồi tránh luận thích (vigraha-vyāvartanī-vṛtti); 14. Long Thụ Bồ Tát khuyến giới vương tụng (ārya-nāgārjuna-bodhisattva-suhṛllekha), Nghĩa Tịnh dịch; 15. Quảng phá kinh (vaidalya-sūtra?), Quảng phá luận (vaidalyaprakaraṇa?), bản dịch Hán và Tạng ngữ vẫn còn; 16. Lục thập tụng như lí luận (yukti-ṣaṣṭhikā), Thí Hộ dịch, cũng có bản Tạng ngữ; 17. Thập trụ tì-bà-sa luận (daśabhūmi-vibhāṣā-śāstra), 17 quyển, Cưu-ma-la-thập dịch; 18. Bồ-đề tâm li tướng luận (lakṣaṇavimukta-bodhihṛdaya-śāstra), 1 quyển, Thí Hộ dịch; 19. Ðại thừa phá hữu luận (mahāyāna-bhavabheda-śāstra), 1 quyển, Ðạt-ma Cấp-đa (dharmagupta) dịch; 20. Tán Pháp giới tụng (dharmadhātu-stotra), 1 quyển, Thí Hộ dịch; 21. Bồ-đề tư lương luận (bodhisaṃbhāraka), 6 quyển, Ðạt-ma Cấp-đa (dharmagupta) dịch.

long thụ

6393梵名 Nāgārjuna。音譯那伽閼剌樹那、那伽阿周陀那。為印度大乘佛教中觀學派之創始人。又稱龍猛、龍勝。二、三世紀頃,為南印度婆羅門種姓出身。自幼穎悟,學四吠陀、天文、地理、圖緯祕藏,及諸道術等,無不通曉。曾與契友三人修得隱身之術,遂隱身至王宮侵凌女眷。其事敗露,三友人為王所斬,僅師一人身免。以此事緣,師感悟愛欲乃眾苦之本,即入山詣佛塔,並出家受戒。 出家後,廣習三藏,然未能饜足。復至雪山(喜馬拉雅山),遇一老比丘授以大乘經典,惟以雖知實義,末能通利。又以曾摧破外道論師之義,故生起邪慢之心,而自立新戒、著新衣,靜處於一水晶房中。其時,有大龍菩薩,見而愍之,遂引入龍宮,授以無量之大乘經典,師遂體得教理。其時南天竺王信奉婆羅門教,攻擊佛法。師遂前往教化,使放棄婆羅門教信仰。此後大力弘法,又廣造大乘經典之注釋書,樹立大乘教學之體系,使大乘般若性空學說廣為傳布全印度。晚年住於南印度之黑峰山,門弟子有提婆等。 西藏所傳龍樹之事蹟與上記所述相異之處頗多,例如多羅那他之西藏文「七高僧書」謂,師曾習得無量壽陀羅尼,成就大孔雀女、九夜叉等種種悉地;令德叉迦龍王之女及其眷屬建立寺院、支提;後與諸夜叉女共於吉祥山修怛特羅等;另有謂師曾以白芥子七粒開南印度之鐵塔,得金剛頂經。凡上種種紀傳,頗具密教色彩,概為後世之傳說。 有關師出世之時代,諸說有異。如:(一)僧叡之大智度論序、廬山慧遠之大智論抄序(收於出三藏記集卷十)等載,師生於佛陀入滅後九百年頃。(二)百論疏卷上載,師生於佛陀入滅後五百三十年頃。(三)依三論遊意義、道安之二教論、龍樹菩薩傳等所說,師生於佛陀入滅後八百八十年頃,即西元四世紀末。現代學者,如印順法師等,多採用第三說。 關於師之入寂,據龍樹菩薩傳載,有一小乘法師,以嫉恨之故,不願師久住於世,師知曉後,即入靜室,行蟬蛻而去。另據大唐西域記卷十憍薩羅國條載,該國國王娑多婆訶歸依師,師以妙藥贈之,二人俱長壽不衰。王子欲早登王位,故乞請師自盡,師即以乾茅葉刎頸,王因哀愁之故,不久亦命終。至於師之年壽,依十二門論宗致義記卷上、法苑珠林卷五十三等所說,皆謂師之年壽達於數百,其說實難採信;然若依南海寄歸內法傳卷一朝嚼齒木條及其他諸書所說師擅長藥術之言,推測其年壽亦應在百歲以上。 師之著作極豐,如:中論頌、十二門論、空七十論、迴諍論、六十頌如理論、大乘破有論、大智度論、十住毘婆沙論、大乘二十頌論、菩提資糧論、寶行王正論、因緣心論頌、菩提心離相論、福蓋正行所集經、讚法界頌、廣大發願頌等;造論之多,世所罕見,遂有「千部論主」之美稱。後世基於師所著中論而宣揚空觀之學派,稱為中觀派,並尊師為中觀派之祖。此外,師又被尊為付法藏第十三祖,且於我國、日本,古來亦被尊為八宗之祖。 關於師之梵名與譯名,依龍樹菩薩傳、大唐西域記卷八、十二門論宗致義記卷上等之說,其梵名為 Nāgārjuna。又梵文菩提行經、月稱之中論釋、師子賢之般若釋等,亦皆舉出 Nāgārjuna 之名;然於梵文入楞伽經則以師之梵名為 Nāgāhvaya,應譯為龍叫、龍名、龍猛;多羅那他之印度佛教史第十七章則謂龍樹與龍叫為不同之二人,龍叫與龍樹之弟子提婆為同時代之人,住於那爛陀寺。印順法師即依準上記說法,於所著「空之探究」第四章之一,謂龍叫(或龍猛)並非龍樹,其年代遲於龍樹,活躍於西元三二○年以後之旃陀羅笈多王之時代。〔入楞伽經卷九、大乘玄論卷五、華嚴經傳記卷五、付法藏因緣傳卷五、傳法正宗記卷三、佛祖統紀卷五、法苑珠林卷三十八、M. Walleser: The Life of Nāgārjuna from Tibetan and Chinese Sources〕 ; Xem Long Thọ Bồ tát. ; (龍樹) Phạm: Nàgàrjuna. Hán âm: Na già ứ lạt thụ na, Na già a chu đà na. Cũng gọi Long mãnh, Long thắng. Tổ khai sáng của học phái Trung quán thuộc Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ, sinh vào khoảng thế kỉ thứ II, thứ III, thuộc dòng dõi Bà la môn, Nam Ấn độ. Từ nhỏ ngài đã thông minh dĩnh ngộ, học 4 Phệ đà, thiên văn, địa lí, sấm vĩ, bí tạng và các đạo thuật đều thông suốt. Ngài từng cùng với 3 người bạn thân học phép tàng hình, lén vào cung vua chơi bời. Việc bại lộ, 3 người bạn bị vua chém đầu, riêng ngài thoát khỏi. Do việc này, ngài cảm ngộ ái dục là gốc của sự đau khổ, liền vào núi đến trước tháp Phật xuất gia thụ giới. Sau khi xuất gia, ngài nghiên cứu tam tạng, nhưng thấy chưa đủ, lại đến núi Hi mã lạp sơn, gặp 1 vị lão tỉ khưu trao cho kinh điển Đại thừa, mặc dầu biết thực nghĩa nhưng chưa thể thông suốt. Lại vì ngài từng phá giáo nghĩa của luận sư ngoại đạo, nên sinh tâm tà mạn, tự đặt ra giới mới, mặc áo mới, ở riêng trong căn phòng thủy tinh tĩnh mịch. Bấy giờ có bồ tát Đại long, thấy vậy thương xót, bèn dẫn ngài vào Long cung trao cho vô lượng kinh điển Đại thừa, ngài thấu hiểu hết giáo lí. Bấy giờ, vua Nam Thiên trúc tin theo Bà la môn giáo, công kích Phật giáo, ngài đến đó giáo hóa, khiến vua bỏ tín ngưỡng Bà la môn giáo mà qui y Phật giáo. Từ đó về sau, ngài tận lực hoằng pháp, soạn các sách để chú thích kinh điển Đại thừa, thiết lập hệ thống giáo học Đại thừa, khiến cho học thuyết Bát nhã tính không được truyền bá rộng khắp trên toàn cõi Ấn độ. Về già, ngài trụ ở núi Hắc phong thuộc miền Nam Ấn độ, có người đệ tử tên là Đề bà. Sự tích về ngài Long thụ theo Tây tạng truyền có nhiều chỗ khác nhau với những điều được trình bày ở trên. Chẳng hạn như trong quyển Thất Cao tăng (7 vị cao tăng) tiếng Tây tạng, tác giả Đa la na tha nói rằng, ngài Long thụ từng tu tập các loại Thành tựu (Tất địa) như: Vô lượng thọ đà la ni, Thành tựu đại khổng tước nữ, Cửu dạ xoa, v.v... khiến cho con gái của Long vương Đức xoa ca và quyến thuộc xây dựng chùa, tháp... Về sau, ngài và các nữ Dạ xoa ở núi Cát tường cùng tu Đát đặc la, v.v... Còn có thuyết cho rằng ngài từng dùng 7 hạt cải trắng mở tháp sắt ở Nam Ấn độ, lấy được kinh Kim cương đính. Đại khái những truyện trên đây đều là truyền thuyết của đời sau mang nặng sắc thái Mật giáo. Về niên đại xuất thế của ngài cũng có các thuyết khác nhau: 1. Theo bài tựa luận Đại trí độ của ngài Tăng duệ và các bài tựa Đại trí luận sao của ngài Lô sơn Tuệ viễn (chép trong Xuất tam tạng kí tập quyển 10), thì ngài ra đời khoảng 900 năm sau khi đức Phật nhập diệt. 2. Theo Bách luận sớ quyển thượng, ngài sinh vào khoảng 530 năm sau khi đức Phật nhập diệt. 3. Theo Tam luận du ý nghĩa, Nhị giáo luận của ngài Đạo an, Long thụ bồ tát truyện, v.v... thì ngài ra đời vào khoảng 880 năm sau khi đức Phật nhập diệt, tức là vào cuối thế kỉ thứ IV Tây lịch. Các học giả hiện đại như Pháp sư Ấn thuận, v.v... phần nhiều theo thuyết thứ 3. Còn về sự nhập diệt của ngài, theo Long thụ bồ tát truyện, có 1 pháp sư Tiểu thừa, vì ganh ghét, không muốn thấy ngài sống lâu, ngài biết được điều ấy liền vào tịnh thất thoát xác mà đi. Theo điều Kiêu tát la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 10, thì vua nước này là Sa đa bà ha qui y ngài, ngài đem diệu dược tặng cho, 2 người cùng sống lâu không suy yếu. Con vua muốn lên ngôi sớm, nên thỉnh ngài tự tận, ngài dùng lá cỏ tranh khô tự cắt cổ chết, vua quá buồn sầu thương tiếc, nên không bao lâu cũng chết theo. Về tuổi thọ của ngài, theo Thập nhị môn luận tông trí nghĩa kí quyển thượng và Pháp uyển châu lâm quyển 53, thì ngài thọ đến 100 tuổi, thuyết này khó tin. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào điều Triêu tước xỉ mộc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 và các sách khác nói về việc ngài chuyên về thuật trường sinh mà suy đoán, thì tuổi thọ của ngài cũng có thể ở mức 100 trở lên. Về tên tiếng Phạm và tên dịch của ngài, theo Long thụ bồ tát truyện, Đại đường tây vực kí quyển 8, Thập nhị môn luận tông trí nghĩa kí quyển thượng, kinh Bồ đề hạnh, Trung luận thích của ngài Nguyệt xứng, Bát nhã thích của ngài Sư tử hiền, v.v... đều ghi tên Phạm của ngài là Nàgàrjuna. Nhưng kinh Nhập lăng già bằng tiếng Phạm thì ghi tên Phạm của ngài là Nàgàhvaya, phải dịch là Long khiếu, Long mãnh, Long danh. Nhưng chương 17 trong Ấn độ Phật giáo sử của Đa la na tha thì cho rằng Long thụ và Long khiếu là 2 người khác. Long khiếu và Đề bà (đệ tử của ngài Long thụ) là người đồng thời đại, trụ ở chùa Na lan đà. Trong tác phẩm Không Chi Thám Cứu, chương 4, phần 1, Pháp sư Ấn thuận căn cứ vào thuyết trên, cho rằng Long khiếu (hoặc Long mãnh) không phải là Long thụ, niên đại muộn hơn so với niên đại ngài Long thụ, có thể vào thời đại vua Chiên đà la cấp đa (từ 320 sau Tây lịch). Ngoài ra, ngài còn là Tổ phó pháp tạng thứ 13 của Thiền tông Ấn độ, đồng thời, tại Trung quốc và Nhật bản xưa nay ngài cũng được suy tôn làm Tổ của 8 tông. Ngài có các tác phẩm: Trung luận tụng, Thập nhị môn luận, Không thất thập luận, Lục thập tụng như lí luận, Đại thừa phá hữu luận, Đại trí độ luận, Thập trụ tì bà sa luận, Đại thừa nhị thập tụng luận, Bồ đề tư lương luận, Bảo hành vương chính luận, Nhân duyên tâm luận tụng, Bồ đề tâm li tướng luận, Phúc cái chính hành sở tập kinh, Tán pháp giới tụng, Quảng đại phát nguyện tụng. [X. kinh Nhập lăng già Q.9; Đại thừa huyền luận Q.5, Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.5; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.5; Truyền pháp chính tông kí Q.3, Phật tổ thống kỉ Q.5; Pháp uyển châu lâm Q.38; The Life of Nàgàrjuna from Tibetan and Chinese Sources (M.Walleser)].

long thụ (thọ), long mãnh

Nàgàrjuna (S). 14th ndian patriarch.

long thụ (thọ)-long mãnh

Nàgàrjuna (S). 14th ndian patriarch.

long thụ bản tích

6395本迹,又作本地垂迹。本,謂久成之本地;迹,謂近成之垂迹。即指實體與其影現。龍樹本迹,即指龍樹之本地與垂迹。謂龍樹菩薩之本地,乃過去之妙雲相佛,或稱妙雲自在王如來;今為現跡之身,乃位登初歡喜地之菩薩。三寶感應要略錄卷下(大五一‧八五六上):「此二菩薩不相離俱行轉,出現本跡,利益眾生。(中略)馬鳴過去成佛,號大光明佛;龍樹名妙雲相佛。」〔八宗綱要卷上〕 ; (龍樹本迹) Chỉ cho bản địa và thùy tích của ngài Long thụ. Bản, nghĩa là bản địa đã thành từ lâu; Tích, nghĩa là dấu tích ứng hiện mới thành gần đây. Tức là thực thể và ảnh hiện của nó. Bản địa của bồ tát Long thụ là đức Phật Diệu vân tướng ở đời quá khứ, hoặc gọi là Diệu vân tự tại vương Như lai; còn ứng thân thùy tích hiện tại của ngài là Bồ tát Hoan hỉ địa. Tam bảo cảm ứng yếu lục quyển hạ (Đại 51, 856 thượng) nói: Hai vị bồ tát Mã minh và Long thụ cùng thị hiện bản tích lợi ích chúng sinh (...), ngài Mã minh thời quá khứ đã thành Phật hiệu là Đại quang minh Phật, ngài Long thụ cũng đã thành Phật hiệu là Diệu vân tướng Phật. [X. Bát tông cương yếu Q.thượng].

long thụ bồ tát khuyến giới vương tụng

6396梵名 Suhṛl-lekha,西藏名 Bśes-paḥi spriṅ-yig。全一卷。唐代義淨譯。收於大正藏第三十二冊。此係龍樹訓誡南印度國王之書函。乃五言四句或七言四句之偈頌,共一二六頌半。其中初三頌說明撰述之意,次四十一頌半說明六波羅蜜、八支聖戒、少欲等,次十三頌論述五蓋、五最勝法、三結、三學等,次五十頌敘述無常、地獄等六趣之苦,次十三頌說明七菩提分、十二緣起、八聖道、四聖諦等,最後六頌舉出觀自在菩薩及阿彌陀佛之名;綜觀全文,旨在勸說修道。受此書函之王,義淨譯為親友乘土國王,劉宋求那跋摩譯作禪陀迦王,劉宋僧伽跋摩譯作明勝功德王,南海寄歸內法傳卷四譯號為娑多婆漢那,名為市寅得迦。西藏譯為德西歐得王(藏 Bde-spyod)。〔開元釋教錄卷九、E. Obermiller: History of Buddhism by Bu-ston〕 ; (龍樹菩薩勸誡王頌) Phạm:Suhfl-lekha. Tạng:Bzes-pa#i sprií-yig. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Đây là tác phẩm của ngài Long thụ nhằm khuyên răn vị Quốc vương ở Nam Ấn độ. Nội dung gồm 126 bài kệ tụng, theo thể 5 chữ 4 câu. Trong đó, 3 bài tụng đầu tiên nói rõ mục đích soạn thuật, 41 bài kế tiếp là nói về 6 Ba la mật, 8 chi Thánh giới, thiểu dục v.v..., 13 bài tiếp theo bàn về 5 Cái (phiền não), 5 pháp tối thắng, 3 kết, 3 học, v.v..., 50 bài tiếp theo nói về vô thường và những nỗi khổ não trong 6 đường như địa ngục, quỉ đói, v.v..., 13 bài tiếp đó là thuyết minh về 7 phần Bồ đề, 12 duyên khởi, 8 Thánh đạo, 4 Thánh đế, v.v..., 6 bài cuối cùng nêu danh hiệu của đức Phật A di đà và bồ tát Quán tự tại. Vị vua được nói đến trong sách này, ngài Nghĩa tịnh dịch là Thân Hữu Thừa Thổ Quốc Vương, ngài Cầu na bạt ma đời Lưu Tống dịch là Thiền Đà Ca Vương, ngài Tăng già bạt ma đời Lưu Tống dịch là Minh Thắng Công Đức Vương, Tây tạng dịch là Đức Tây Âu Đắc Vương (Tạng: Bde-spyod), Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 dịch hiệu là Sa Na Bà Hán Na, tên là Thị Dần Đắc Ca. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; History of Buddhism by Bu-ston (E. Obermiller)].

long thụ bồ tát truyện

6396全一卷。後秦鳩摩羅什譯。收於大正藏第五十冊。本書記載古代印度大乘佛教「中觀學派」創始人龍樹之生平事蹟。從出生於南印度婆羅門種起,至龍樹名之由來,共分七段。內容及字句與元魏吉迦夜、曇曜共譯之付法藏因緣傳卷五龍樹傳相同,故或謂本書乃摘自該書而成。至於譯者為鳩摩羅什,尚有可疑之處。蓋以鳩摩羅什翻譯本傳之記載,出於隋代之歷代三寶紀卷八及法經錄卷六西域聖賢傳記之鳩摩羅什條;然梁代之出三藏記集卷二及梁高僧傳卷二鳩摩羅什條均未記載。〔開元釋教錄卷四、M. Walleser: The Life of Nāgārjuna from Tibetan and Chinese Sources(Asia Major, Introductory Volume)〕 ; (龍樹菩薩傳) Truyện kí, 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Sách này ghi chép sự tích của ngài Long thụ, người sáng lập học phái Trung quán thuộc Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ đời xưa. Nội dung chia ra 7 đoạn, nói rõ dòng dõi xuất thân cho đến hành trạng và nguyên do tại sao đặt tên là Long thụ; câu văn giống với truyện Long thụ trong Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5 do 2 ngài Cát ca dạ và Đàm diệu cùng dịch vào đời Nguyên Ngụy. Vì vậy, có thuyết cho rằng quyển sách này được trích từ Phó pháp tạng nhân duyên truyện mà thành. Về dịch giả, nếu cho rằng sách này do ngài Cưu ma la thập dịch thì còn có chỗ đáng ngờ. Bởi vì, Lịch đại Tam bảo kỉ quyển 8 và điều Cưu ma la thập trong Tây vực Thánh hiền truyện kí trong Pháp kinh lục quyển 6 đời Tùy, cho rằng Long thụ bồ tát truyện do ngài Cưu ma la thập phiên dịch. Nhưng, Xuất tam tạng kí tập quyển 2 và điều Cưu ma la thập trong Lương cao tăng truyện quyển 2 đời Lương đều không thấy nói đến việc này. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.4; The Life of Nàgàrjuna from Tibetant and Chinese Sources (Asia Major, Introductory Volume by M.Walleser)].

long thụ sơn

6393梵名 Nāgārjunikondā。指南印度基斯特那河(Kistna)中游右岸之臺狀丘。龍樹山之稱謂可上溯至十四世紀。西元一九二六年,於丘之東南麓發現為數頗豐而業已荒廢之塔及僧院,其重要性堪與阿摩羅婆提(梵 Amarāvatī)地方之佛教遺蹟相提並論。由碑銘可知其地乃伊克修瓦克朝(梵 Ikṣvāku)首都毘加雅布里(梵 Vijayapurī)之遺址,興隆於三世紀,存有多聞、化地、西山等各部派寺院,彫刻與寺塔均為三世紀之作。學者達特(N. Dutt)認為此遺蹟與怛特羅派(梵 Tantra)之龍樹有關,或與中觀派之祖龍樹亦有關連,故稱龍樹山。 ; (龍樹山) Phạm: Nàgàrjunikondà. Chỉ cho cái gò đất cao có hình dáng giống như cái đài nằm bên hữu ngạn khoảng giữa con sông Kistna ở miền Nam Ấn độ. Đến khoảng thế kỉ thứ XIV, gò đất này mới được gọi là Long thụ sơn(núi Long thụ). Năm 1926, ở chân núi phía đông nam, người ta đã phát hiện rất nhiều tháp và tăng viện trong tình trạng hoang phế, có thể sánh ngang với các di tích Phật giáo ở khu vực A la ma đề bà (Phạm: Amaràvati). Do bài minh khắc trên tấm bia đá mà người ta có thể biết nơi đây chính là nền cũ của thủ đô Tì gia nhã bố lí (Phạm:Vijayapurì), thuộc triều đại Y khắc tu ngõa khắc (Phạm: Ikwvàku) hưng thịnh vào thế kỉ thứ III. Các tăng viện hoang phế còn lại ở đây là các tự viện của các bộ phái Phật giáo Tiểu thừa như: Đa văn, Hóa địa, Tây sơn, v.v... Nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc chùa tháp đều được thực hiện vào thế kỉ thứ III. Học giả N. Dutt cho rằng di tích này có liên quan với phái Long thụ Đát đặc la (Phạm: Tantra) hoặc có liên quan với chính Ngài vì thế gọi là Long thụ sơn.

long thụ tông

6395龍樹雖為八宗之祖,然若單稱龍樹宗,則特指三論宗。蓋龍樹乃印度佛教開始唱導「諸法皆空」之大乘論師,其所揭示「八不中道」之旨,在我國,由三論宗加以闡揚並集大成,故在我國,龍樹宗乃特指三論宗;然在印度,則指與彌勒之瑜伽宗並行而俱屬大乘之空宗系統,如提婆、清辨、智光等論師均為此系統之代表人物。〔南海寄歸內法傳卷一〕(參閱「三論宗」676、「空有論爭」3473) ; (龍樹宗) Chỉ riêng cho tông Tam luận ở Trung quốc. Ngài Long thụ là vị Luận sư đầu tiên chủ xướng tư tưởng các phái đều không qua thuyết Bát bất trung đạo. Tại Trung quốc, tông Tam luận được thành lập và phát triển trên nền tảng của sự tập đại thành tông chỉ của ngài Long thụ, vì thế nên tông Tam luận cũng được gọi là tông Long thụ. Còn ở Ấn độ thì tông này là hệ thống Không tông thuộc Phật giáo Đại thừa, lưu hành song song với tông Du gia của ngài Di lặc. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1]. (xt. Tam Luận Tông, Không Hữu Luận Tranh).

long thụ tứ giáo

6395謂龍樹以有門、空門、亦有亦空門、非有非空門等四門判釋經論。即:(一)有門,謂四阿含經等,說一切因果之法,悉皆實有。(二)空門,謂般若經等,說真空實相之理,去除眾生之情執。(三)亦有亦空門,謂深密等諸大乘經,說性空相有,互相無礙。(四)非有非空門,謂中論等說一切法皆即空之有是非有,即有之空是非空,互泯互融,乃第一義。〔華嚴經疏鈔卷六〕 ; (龍樹四教) Bốn giáo môn ngài Long thụ dùng để phán thích kinh luận. hữu môn: nói về các pháp nhân quả đều là có thật, như kinh a hàm; không môn: nói về lí chân không thực tướng, như kinh bát nhã; diệc hữu diệc không môn: nói cũng có cũng không như kinh giải thâm mật, v.v...; phi hữu phi không môn: nói tất cả pháp đều chẳng có chẳng không, đây là đệ nhất nghĩa, như trung luận. [x. hoa nghiêm kinh sớ sao q.6].

long toạ

6380為修金翅鳥法所用坐法之一,坐相不明。或指屈膝而坐。文殊師利根本大教王經金翅鳥王品(大二一‧三二六上):「於一切有情起大慈心,作龍座而坐(貼膝坐也)。」 ; (龍坐) Cách ngồi được sử dụng khi tu pháp Kim sí điểu. Kiểu ngồi như thế nào không được rõ, có thuyết cho là kiểu ngồi bó gối. Phẩm Kim sí điểu vương trong kinh Văn thù sư lợi căn bản đại giáo vương (Đại 21, 326 thượng) nói: Đối với tất cả hữu tình khởi tâm đại từ, ngồi theo pháp long tọa.

long trân vương

6385為阿彌陀佛於過去世出家為法藏比丘前之俗名。據無量壽經記卷上載,龍珍王入山修道,號法藏,住於山南;有二女緣波那(又作祿波那)、洗澤河隨行,住於山北。龍珍王即得道之彌陀,緣波那即觀世音菩薩,洗澤河即大勢至菩薩。然上記所說之根本典據不詳。〔無量壽經鈔記(了慧)〕 ; (龍珍王) Tên đức Phật A di đà ở đời quá khứ lúc còn làm vua, trước khi xuất gia làm tỉ khưu Pháp tạng. Cứ theo Vô lượng thọ kinh kí quyển thượng, Long trân vương vào núi tu đạo, hiệu là Pháp tạng, trụ ở phía nam núi; có 2 cô con gái tên Duyên ba na (cũng gọi Lộc ba na) và Tẩy trạch hà đi theo, trụ ở phía bắc núi. Long trân vương sau này đắc đạo là Phật A di đà, Duyên ba na tức là bồ tát Quan thế âm, Tẩy trạch hà tức là bồ tát Đại thế chí. Nhưng điển cứ căn bản của thuyết trên không được rõ. [X. Vô lượng thọ kinh sao kí (Liễu tuệ)].

Long Trí

龍智; S: nāgabodhi; »Kẻ trộm mọc sừng đỏ«; |Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử và truyền nhân của Long Thụ (s: nāgārjuna), sống trong thế kỉ thứ 9. |Ông thuộc dòng dõi Bà-la-môn và chuyên nghề ăn trộm. Khi Long Thụ ở Tinh xá Su-va-na (suvarṇa vihāra) thì ông đến rình xem. Thấy Long Thụ ăn bằng dĩa vàng, ông muốn trộm chiếc dĩa. Long Thụ nhờ tha tâm thông đọc được ý đó, ném cho ông chiếc dĩa. Ông ngạc nhiên và cảm phục, xin được theo tu học. Long Thụ Quán đỉnh, cho ông nhập môn Bí mật tập hội tan-tra (s: guhyasamāja-tantra) và dạy ông tự giải thoát khỏi lòng thèm khát:|Ðừng nghĩ phải làm gì,|hãy nhất tâm quán tưởng,|những gì ngươi thèm khát,|biến thành sừng màu đỏ,|mọc ở trên đỉnh đầu.|Long Thụ nói xong, cố ý để lại nhiều châu báu trong động rồi ra đi. Ông ở lại, ngồi quán tưởng thiền định. Nhưng lòng thèm khát của ông vẫn còn nên quả nhiên sau 12 năm đầu ông mọc một cái sừng trên đầu rất khó chịu. Sau 12 năm, Long Thụ trở lại, nói:|Sừng của lòng thèm khát,|làm ngươi thật khổ thân.|Vì dính mắc vật dụng,|mà con người khổ đau.|Sự vật con người biết,|chẳng có tự tính gì,|cũng thế Sinh, Già, Chết,|như đám mây trôi nổi,|tương can gì đến ta?|Cũng thế, Tâm thanh tịnh,|không biến thành tốt xấu,|khi người biết, vật biết,|cả hai đều không thật?|Cả hai, thật không sai,|đều trống không tất cả.||H 41: Long Trí (nāgabodhi) đang tu tập tại núi Śrī Parvata.|Long Trí nhân đây ngộ được tính Không là tự tính mọi sự. Sáu tháng liên tục, ông an trú trong chính niệm, chứng sự nhất thể giữa Niết-bàn và Sinh tử, đạt thánh quả. Long Thụ ấn chứng, nhận ông làm truyền nhân của mình. Kệ chứng đạo của ông như sau:|Vui thay cho tất cả,|được sống trên địa cầu.|Từ đáy sâu đại dương,|thoát khỏi cảnh nghèo khổ;|Niềm vui cao cả nhất,|được vung kiếm trí huệ.|Bạn bè ta gặp nhau,|tâm không chút sở cầu.

long trí

6387梵名 Nāgabodhi,西藏名 Kluḥi byaṅ-chub。南印度人。依密教之傳說,曾向龍猛(龍樹)學密教,為密教付法之第四祖。神力難思,德被五天,名播十方,上天入地皆自在無礙。或住南印度,弘法度眾生;或遊師子國,度化有緣。傳說曾住世數百年之久,八世紀初葉,傳法與金剛智(梵 Vajra-bodhi)。另據西藏所傳多羅那他之印度佛教史載,師生於東方芒哥拉(梵 Bhaṅgala)之婆羅門族,家貧,夙受龍樹之救恤,遂依龍樹出家。於三年間,通達教法。龍樹示寂後,住於吉祥山。關於師之生平,異說紛紜。 於西藏大藏經中,師之著作有吉祥祕密集會曼荼羅儀軌二十卷(藏 Dpal-gsaṅ-ba-ḥdus-paḥi dkyil-ḥkhor-gyi cho-ga ñi-su-pa shes-bya-ba)、五次第義作明(藏 Rim-pa lṅaḥi don gsal-bar-byed-pa shes-bya-ba)、供物莊嚴(藏 Gtor-maḥi rgyan)、阿底瑜伽修習法(藏 A-ti rnal-ḥbyor-gyi sgom-paḥithabs shes-bya-ba)等。〔金剛頂瑜伽三十七尊出生義、宋高僧傳卷一不空傳、卷二善無畏傳、大慈恩寺三藏法師傳卷二、貞元新定釋教目錄卷十四、祕密漫荼羅教付法傳卷一(空海)、密教發達志卷一、卷三、新龍樹傳の研究〕 ; Nàgabodhi (S). ; (龍智) Phạm:Nàgabodhi. Tạng: Klu#i byaí-chub. Cao tăng Ấn độ, là Tổ phó pháp thứ 4 của Mật giáo. Cứ theo Ấn độ Phật giáo sử của Đa la na tha do Tây tạng truyền, thì sư thuộc dòng Bà la môn, ở phía đông nước Mang ca lạp (Phạm: Bhaígala), nhà nghèo, được ngài Long thụ độ cho xuất gia. Chỉ trong 3 năm, sư đã thông suốt giáo pháp. Sau khi ngài Long thụ thị tịch, sư trụ ở núi Cát tường. Về cuộc đời của sư có rất nhiều thuyết khác nhau. Theo truyền thuyết của Mật giáo, thì sư từng học Mật giáo ở nơi ngài Long mãnh (Long thụ), thần lực khó lường, danh đức trùm khắp 5 cõi Ấn độ. Hoặc ở miền Nam Ấn độ hoằng pháp, hoặc sang nước Sư tử hóa độ chúng sinh. Truyền thuyết nói rằng sư trụ thế đến mấy trăm năm, vào đầu thế kỉ thứ VIII, sư truyền pháp cho sư Kim cương trí (Phạm:Vajra-bodhi). Sư có các tác phẩm: Cát tường bí mật tập hội mạn đồ la nghi quĩ 20 quyển (Tạng: Dpal-gsaí-ba-#dus-pa#i dkyil-#khorgyi cho-ga ĩi-su-pa shes-bya-ba), Ngũ thứ đệ nghĩa tác minh (Tạng: Rim-pa lía#i don gsal-bar-byed-pa shes-byaba),Cúng vật trang nghiêm (Tạng: Gtorma#i rgyan), A để du già tu tập pháp (Tạng: A-ti nnal-#byor-gyi sgom-pa#i thabs shes-bya-ba). [X. Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa; Bất không truyện trong Tống cao tăng truyện Q.1; Thiên vô úy truyện trong Tống cao tăng truyện Q.2; Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.2; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Bí mật mạn đồ la giáo phó pháp truyện Q.1 (Không hải); Bí mật phát đạt chí Q.1, 3; Tân Long thụ truyện chi nghiên cứu].

long trí bồ tát

Nāgabodhi (S)Đại Đệ tử của Ngài Long Thọ Bồ tát. Đạo đức vang khắp Nam Ấn, Ngài có đến Tích Lan truyền dạy Mật giáo với danh hiệu Pháp Mật và Phổ Hiền. Ngài là tổ thứ 4 Mật Tông, thọ 700 tuổi. Ngài truyền pháp cho đệ tử là Kim Cang Trí (Vajrabodhi).

Long Trạch Tự

(龍澤寺, Ryūtaku-ji): ngôi chùa của Tông Tào Động, hiệu núi là Bình Điền Sơn (平田山), hiện tọa lạc tại Kanazu-chō (金津町), Sakai-gun (坂井郡), Fukui-ken (福井縣). Chùa được kiến lập vào năm 1382 (Vĩnh Đức [永德] 2), và vị Tổ khai sơn là Mai Sơn Văn Bổn (梅山聞本). Vị thí chủ Tiểu Bố Thí Chánh Thọ (小布施正壽) kiến lập các đường vũ của chùa để cầu nguyện cho ái thiếp của ông được siêu độ, rồi cung thỉnh Mai Thọ đến trú trì chùa này. Xưa kia, nơi đây có 7 ngôi đường vũ được hoàn thành rất trang nghiêm, nhưng chùa đã phải trải qua 3 lần bị binh hỏa vào năm 1428 (Văn Minh [文明] 14), 1504 (Vĩnh Chánh [永正] nguyên niên) và 1575 (Thiên Chánh [天正] 3), sau đó đất đai của chùa cũng bị thâu hồi luôn. Gần đây chùa mới được tái kiến lại. Tại Chánh Điện có an trí tôn tượng Quan Thế Âm Bồ Tát.

long trọng

Solemnly.

long tu thằng

6399請參閱 大燈國師語錄 [1]謂取龍鬚草作繩縛身,入水則轉緊轉痛;比喻求道之人若求取利養,則必轉增身心之苦,蓋以利養能毀損戒、定、慧之故。〔摩訶止觀卷五〕 ; (龍須繩) Dây long tu, tức lấy cỏ râu rồng làm dây buộc vào mình, khi xuống nước thì dây xiết chặt lại, rất đau đớn. Trong Phật giáo, nhóm từ này được sử dụng để ví dụ cho người cầu đạo nếu vì lợi dưỡng thì chỉ thêm khổ cho thân tâm, vì lợi dưỡng hủy hoại giới, định, tuệ. [X. Ma ha chỉ quán Q.5].

long tuyền

6384請參閱 龍施菩薩本起經 <一>龍所住之泉池。以龍力不可思議,故泉水永不涸竭。大智度論卷七(大二五‧一一四上):「譬如龍泉,龍力故,水不竭。」 <二>(?~1365)日本臨濟宗僧。名冷淬。為後醍醐天皇之皇子。幼投京都濟北庵之虎關師鍊。建武元年(1334),敕召入宮中演說法要。虎關師鍊示寂後,移居海藏庵。歷住楞伽、圓通、承天、萬壽等寺。貞治四年示寂,世壽不詳。著有松山集、海藏和尚紀年錄。〔延寶傳燈錄卷十二、本朝高僧傳卷三十一〕 ; (龍泉) I. Long Tuyền. Suối có rồng ở. Luận Đại trí độ quyển 7 (Đại 25, 114 thượng), nói: Ví như long tuyền, do sức của rồng nên nước không khô cạn. II. Long Tuyền (?-1365). Danh tăng Nhật bản, thuộc tông Lâm tế, tên Lãnh thốt, là con của Thiên hoàng Hậu Đề hồ. Thủa nhỏ, sư theo học ngài Hổ quan Sư luyện ở am Tế bắc tại Kinh đô (Kyoto). Niên hiệu Kiến vũ năm đầu (1334), sư được triệu vào cung giảng pháp yếu. Sau khi ngài Hổ quanSư luyện thị tịch, sư dời đến ở am Hải tạng. Sau, sư lần lượt trụ ở các chùa Lăng già, Viên thông, Thừa thiên, Vạn thọ, v.v... Năm Trinh trị thứ 4 (1365) sư tịch. Sư có tác phẩm: Tùng sơn tập, Hải tạng hòa thượng kỉ niên lục. [X. Diên bảo truyền đăng lục Q.12; Bản triều cao tăng truyện Q.31].

long tuyền thiền tự

6384位於臺灣高雄鼓山區。創建於民國十二年(1923)。首任住持為日僧東海宜誠。三十四年,隆道法師接任住持,陸續增建,次第完成舍利殿、山門、祖堂、般若講堂、齋堂、功德堂、客堂、慈壽塔、圓通寶殿等。慈壽塔占地二百五十坪,高五層,可安祀靈骨四萬餘。圓通寶殿內供奉百萬年前自然形成之觀世音菩薩石像一尊。六十九年,曾樹立法幢,啟建千佛三壇大戒,傳授戒法。

long tâm

6377為凡夫妄心六十心之第十七。與龍趣之心相同;乃多貪無厭之心。對治之道應思惟少欲知足、無常等。大日經卷一住心品(大一八‧二下):「云何龍心?謂思念廣大資財。」〔大日經疏卷二〕(參閱「六十心」1242) ; (龍心) Đồng nghĩa: Long thú tâm (tâm loài rồng). Tâm nhiều tham muốn, không biết nhàm chán, là tâm thứ 17 trong 60 vọng tâm của phàm phu. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 3 hạ), nói: Thế nào là Long tâm? Nghĩa là tâm mong cầu nhiều của cải. Về cách đối trị tâm này, nên tư duy thiểu dục, tri túc, vô thường, v.v... [X. Đại nhật kinh sớ Q.2]. (xt. Lục Thập Tâm).

Long Tôn

(隆尊, Ryūson, 702-760): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương, húy là Long Tôn (隆尊). Ông theo Nghĩa Uyên (義淵, Gien) ở Đại Hòa Cương Tự (大和岡寺) học về Pháp Tướng, Duy Thức và Hoa Nghiêm; sau thể theo lời cung thỉnh của đại chúng, ông đến trú tại Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) và năm 746 thì chuyển đến Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji). Vào năm 752, ông làm chủ lễ cho Lễ Cúng Dường Khai Nhãn Tượng Đại Phật tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Thể hiện nguyện vọng tha thiết muốn tổ chức thọ giới chính thức với Thập Sư như pháp, ông kiến nghị lên Xá Nhân Thân Vương (舍人親王) cho phép Vinh Duệ (榮叡, Yōei) và Phổ Tịch (普寂, Fujaku) sang nhà Đường, từ đó tạo nhân duyên cho Giám Chơn (鑑眞, Ganjin) qua Nhật.

long tôn

6387<一>龍種上智尊王佛之略稱。為文殊菩薩之本地名。(參閱「本地」1955)[1] <二>為諸大龍王之尊稱。大日經疏卷二(大三九‧五九五中):「龍尊是諸大龍,俱吠囉等,皆世所宗奉大天。」〔大日經卷一住心品〕 ; (龍尊) I. Long Tôn. Tiếng gọi tắt danh hiệu đức Phật Long chủng thượng trí tôn vương, là tên bản địa của bồ tát Văn thù sư lợi. (xt. Bản Địa). II. Long Tôn. Tiếng tôn xưng các Đại long vương. Đại nhật kinh sớ quyển 2 (Đại 39, 595 trung) nói: Long tôn là các vị Đại long, Câu phệ ra, v.v... đều là các vị Đại thiên mà thế gian tôn thờ. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1].

long tượng

Long tượng: con voi khỏe nhất trong loài voi, chỉ bậc kiệt xuất, vượt trội hơn cả. Như ngựa hay được gọi là long mã, con voi chúa trong loài voi cũng gọi là long tượng. Trong kinh Phật thường ví các vị Bồ Tát, A-la-hán là bậc long tượng, vì các vị là kiệt xuất, vượt trội hơn cả trong muôn loài chúng sanh. ; 6391原指象中之殊勝者,比喻菩薩之威猛能力。維摩經卷中不思議品(大一四‧五四七上):「譬如龍象蹴踏,非驢所堪。」而僧肇之注解謂(大三八‧三八三中):「能、不能為喻,象之上者名龍象。」吉藏之維摩經義疏卷四謂,稱為龍象,非有二物,如好馬名龍馬,故好象稱龍象。 北本涅槃經卷二載,斷除諸結漏之菩薩,稱為大龍象菩薩摩訶薩。舊譯華嚴經卷七中以龍象比喻菩薩之威儀妙好無比。此外,龍之梵語為 nāga,又譯為象,意指龍、象各為水上、陸上之最有力者。後引申作美稱最勝之禪定力用,及具足此力用之有德高僧為龍象。〔中阿含卷二十九龍象經、悲華經卷五、大智度論卷三〕 ; Dragon elephant, or dragon and elephant, i.e. great saints, bodhisattvas, Buddhas. ; Naga (skt). 1) Loài rồng và loài voi: Để chỉ sự dũng mãnh và đại lực của các vị đại Thánh, chư Bồ Tát hay chư Phật—Dragon-elephant, or dragon and elephant, i.e. great saints, Buddhas, Bodhisattvas. 2) Loài voi to lớn: A large elephant is called a dragon elephant. 3) Sự kính trọng dành cho một vị Tăng: A respect applied to a monk. ; (龍象) Nguyên chỉ cho những con voi khỏe mạnh nhất trong loài voi. Từ ngữ này được dùng để ví dụ người có năng lực mạnh mẽ. Phẩm Bất tư nghị trong kinh Duy ma quyển trung (Đại 14, 547 thượng), nói: Ví như bước đi của long tượng, con lừa không thể kham được. Trong Duy ma kinh nghĩa sớ quyển 4 của ngài Cát tạng nói, gọi long tượng chẳng phải là 2 con vật, mà như ngựa hay thì gọi là long mã, voi giỏi thì gọi là long tượng. Theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản Bắc) thì Bồ tát dứt trừ các kết lậu, gọi là Đại long tượng bồ tát ma ha tát. Kinh Hoa nghiêm quyển 7 (bản dịch cũ), đem long tượng ví dụ uy nghi của Bồ tát mạnh mẽ tốt đẹp không gì sánh bằng. Ngoài ra, tiếng Phạm của Long (rồng) là Nàga, cũng dịch là Tượng (voi), ý nói long, tượng đều là loài vật có sức mạnh lớn trên biển, trên đất liền. Về sau, danh từ Long tượng được dùng để chỉ cho vị Cao tăng có đầy đủ uy đức và Thiền định. [X. kinh Long tượng trong Trung a hàm Q.29; kinh Bi hoa Q.5; luận Đại trí độ Q.3].

long tượng chúng

6392<一>四眾之一。於阿育王時代,佛法之大眾可分龍象眾、邊鄙眾、多聞眾、大德眾等四類眾,龍象眾,又作大國眾。異部宗輪論述記一書載有三說:(一)指「大天」之類,即引發論諍者。(二)指嚴持戒律者,即「鄔波離」之徒。(三)指僧團中喜歡論諍者,而為破戒僧之所依,惡人之援伴。〔異部宗輪論、部執異論〕(參閱「四眾」1763) <二>指有識見、能力之佛道修行者。景德傳燈錄卷二十三奉先深章(大五一‧三九○下):「維那白搥曰:『法筵龍象眾,當觀第一義。』師便云:『果然不識,鈍置殺人。』」 ; (龍象衆) I. Long Tượng Chúng. Chúng Long tượng, 1 trong 4 chúng đệ tử Phật. Vào thời đại vua A dục của Ấn độ, đại chúng trong Phật pháp được chia làm 4 loại: Long tượng chúng (cũng gọi Đại quốc chúng), Biên bỉ chúng, Đa văn chúng và Đại đức chúng. Theo Dị bộ tông luân luận thuật kí, Long tượng chúng có 3 thuyết: 1. Chỉ cho Đại thiên, tức người đã gây ra sự tranh luận. 2. Chỉ cho những người nghiêm trì giới luật, tức đồ chúng của Ưu ba li. 3. Chỉ cho những kẻ thích tranh cãi trong tăng đoàn, làm chỗ nương tựa cho tăng phá giới, hỗ trợ cho những người xấu ác. [X. luận Dị bộ tông luân; luận Bộ chấp dị]. (xt. Tứ Chúng). II. Long Tượng Chúng. Chỉ cho người tu hành Phật đạo có kiến thức, năng lực. Chương Phụng tiên thâm trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 23 (Đại 51, 390 hạ) nói: Duy na bạch kiền chùy: Chúng long tượng trong pháp hội, nên quán đệ nhất nghĩa. Sư liền nói: Quả nhiên không biết, chậm lụt chết người.

long tượng kinh

6392為中阿含經卷二十九中之一經。收於大正藏第一冊。本經敘說佛乃唯一之大龍象,弟子烏陀夷作「龍相應頌」讚歎之。 ; (龍象經) Tên 1 bài kinh trong Trung a hàm quyển 29, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này tường thuật việc vị đệ tử Phật là Ô đà di đã làm bài kệ tụng Long tướng để khen ngợi đức Phật là bậc Đại long tượng.

long tạng

6398<一>指大乘經典。傳說佛陀入滅後,大乘經典藏於龍宮,故有此稱。如菩薩處胎經卷七、摩訶摩耶經卷下等載,龍宮中藏有勝妙之經典。景德傳燈錄卷二十三妙勝臻章(大五一‧三九○下):「僧問:『如何是妙勝境?』師曰:『龍藏開時,貝葉分明。』」〔龍樹菩薩傳、賢首華嚴傳卷一、廣弘明集卷十九內典序(沈約)〕 <二>即乾隆版大藏經,亦簡稱清藏。(參閱「清藏」4675) ; The dragon-treasury or library. ; Long Tạng Các (thư viện), trước kia ở chùa Long Hưng tại Trường An, Trung Quốc—The Dragon treasury or library, formerly in the Lung-Hsing monastery at Ch'ang-An, China. ; (龍藏) I. Long Tạng. Chỉ cho kinh điển Đại thừa. Tương truyền, sau khi đức Phật nhập diệt, kinh điển Đại thừa được cất giữ tại Long cung nên có tên là Long tạng. Kinh Bồ tát xử thai quyển 7, kinh Ma ha ma da quyển hạ, đều nói kinh điển thắng diệu được tàng trữ ở Long cung. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 23 (Đại 51, 390 hạ), ghi: Tăng hỏi: Thế nào là cảnh giới thắng diệu? Sư đáp: Khi Long tạng mở, kinh điển phân minh. [X. Long thụ bồ tát truyện; Hiền thủ Hoa nghiêm truyện Q.1; Quảng hoằng minh tập Q.19]. II. Long Tạng. Cũng gọi Thanh tạng. Tức là Đại tạng kinh bản khắc vào năm Càn long, đời Thanh. (xt. Thanh Tạng).

long tạng tự

6398<一>位於浙江嵊縣之北。南朝梁天監二年(503)所建,號龍宮院。宋大中祥符元年(1008)敕賜今名。 <二>位於河北正定縣東。又稱隆興寺、龍興寺、大佛寺、正定大佛寺。隋開皇六年(586)建立。寺內有著名之「龍藏寺碑」,高二點一公尺,寬零點九公尺,碑文三十行,每行五十字,碑額題「恆州刺史鄂國公為國勸造龍藏寺碑」等十五字。係由恆州刺史王孝

long tế thiệu tu thiền sư

Zen master Long-Ji-Shao-Xiu—See Thiệu Tu Long Tế Thiền Sư.

long tỉnh kiến văn lục

6376凡十卷。清代汪孟鋗撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。龍井寺,位於浙江杭縣,以龍神著稱,其地山水幽邃,復以龍井茶聞名。於北宋高僧元淨住持之時,稱為壽聖院,因以揚名。元淨交遊當代名賢,與趙抃、蘇軾等相唱和。元代僧以仁曾撰「龍井志」,以志久失傳,故實遺缺。清乾隆年間(1736~1795),浙江秀水汪孟鋗,因詳覈地志,旁及正史文集二五二種,纂次為「龍井見聞錄」十卷,分為十門,即:山水、古蹟、名僧、鄉寓人物、物產、碑刻書畫、詩、文、軼聞、餘論。復以其事不牽涉龍井而有關元淨者,另纂「宋僧元淨外傳」二卷附之。此錄實為龍井寺而作,故先纂輯名僧,後志鄉寓人物,諸卷先後,以準此例,故列為佛寺史志之一。

long tử

6376指海龍之子。據海龍王經卷四金翅鳥品載,海龍之子,常為金翅鳥所食,龍王祈請於佛陀,佛即脫卸身著之皂衣,分與諸龍王,皆令周遍。故凡於海中得皂衣之一縷者,皆免於難。 ; (龍子) Rồng con. Cứ theo phẩm Kim sí điểu trong kinh Hải long vương quyển 4, thì rồng con thường bị loài chim cánh vàng ăn thịt, nên vua rồng thỉnh cầu đức Phật cứu giúp, Phật liền cởi chiếc áo màu hoại sắc đang mặc trên mình, chia cho các vua rồng, vị nào cũng được một phần. Từ đó, nhờ có mảnh áo nhỏ ấy mà các rồng con trong Long cung đều thoát nạn.

long uyên tự

6387位於四川成都。相傳創建於漢代。東晉隆安三年(399),慧持入住本寺,大弘佛法。至齊時,曇憑擅於讀經,聲韻優美,遠近聞名。後鑄一銅鐘,為蜀地鑄造銅鐘之始。梁代時,武陵王鎮蜀,迎請慧韶至本寺,感見一神,遂大張講筵,寶彖、保該、智空等皆集座下。王即賜錢十萬,分贍學徒,命掌僧都,然慧韶堅辭不受,天監七年(508)於本寺摩訶堂示寂。北周武成年間,闍那崛多被迎請入寺,任益州僧主,其後,崛多譯出妙法蓮華經普門品重誦偈、種種雜咒經、佛語經各一卷。至唐代,改寺名為空慧寺,慧熙住此,未久仍復龍淵之舊名。宋大中祥符(1008~1016)年間,又改稱聖壽寺。本寺殿前有秦太守李冰鑿造之石犀,故俗稱石牛寺。四川總志第二十四載:「殿中有井,相傳通海,故謂龍淵。」〔梁高僧傳卷六、卷十三、歷代三寶紀卷十一、續高僧傳卷二、卷六、卷九、卷二十、古今圖書集成神異典第一一一、職方典第五九一〕

long vu

6380即降龍鉢。又作龍鉢。那提迦葉(梵 Nadī-kāśyapa)歸依釋尊以前,屬事火外道。適遇釋尊求宿,迦葉納釋尊於於大龍石窟,至夜半,龍吐火欲害釋尊,釋尊起慈心,現三昧火,火龍避之而投身於釋尊之鉢中,那提迦葉遂率弟子五百人歸依釋尊。又晉代亦有涉公祈雨,於行加持祈禱之際,降伏一龍,使龍入鉢之傳說。〔梁高僧傳卷十涉公章〕 ; (龍盂) Cũng gọi Long bát. Chiếc bát hàng phục rồng. Trước khi qui y theo đức Phật, tôn giả Na đề ca diếp (Phạm: Nadì-kàzyapa) thuộc ngoại đạo thờ lửa. Một hôm, đức Phật đến xin ngủ nhờ, Na đề đưa Ngài vào hang đá Đại long. Đến nửa đêm, Na đề cho rồng khạc lửa ra để hại đức Phật, Ngài khởi lòng thương xót, hiện ra lửa Tam muội, con rồng lửa chui vào trong bát của đức Phật để trốn. Na đề ca diếp thấy thế đem lòng cảm phục, bèn dẫn 500 đệ tử qui y đức Phật. Ngoài ra, còn có truyền thuyết về ngài Thiệp công đời Tấn cầu mưa, lúc gia trì kì đảo, ngài đã hàng phục 1 con rồng, khiến nó chui vào trong cái bát. [X. chương Thiệp công trong Lương cao tăng truyện Q.10].

long vân tự

6392位於臺灣臺北市。清光緒十三年(1887)破土,十七年落成。二十五年重修,民國五年(1916)再次重建,寺宇規模具備,環境為之一新。三十四年起由賢頓法師接任住持。

Long Vương

(s: nāgarājaḥ, 龍王): âm dịch là Na Già La Nhã (那伽羅惹), là vị có uy đức nhất trong loài rồng. Tương truyền rằng khi đức Phật đản sanh, có 2 vị Long Vương tên Nan Đà (s: Nanda, 難陀) và Bạt Nan Đà (s: Upananda, 跋難陀) xuất hiện rưới nước thanh tịnh tắm cho ngài. Trong Phẩm Tựa của Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) có đề cập 8 vị Long Vương lớn đến nghe đức Phật thuyết pháp như Nan Đà (s: Nanda, 難陀), Bạt Nan Đà (s: Upananda, 跋難陀), Ta Già La (s: Sāgara, 娑伽羅), Hòa Tu Cát (s: Vāsuki, 和修吉), Đức Xoa Ca (s: Takṣaka, 德叉迦), A Na Bà Đạt Đa (s: Anavatapta, 阿那婆達多), Ma Na Tư (s: Manasvin, 摩那斯), Ưu Bát La (s: Utpalaka, 優鉢羅). Quyển 1 của Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經) thì nêu tên 7 vị Long Vương. Các vị này thường có thể làm cho mây nỗi và ban mưa, khiến cho chúng sanh tiêu tan sự nóng bức. Ngoài ra, theo Tăng Hộ Kinh (僧護經) cho biết rằng Hải Long Vương (海龍王) đã từng biến thành thân người nữ, xuất gia tu hành, nhưng trong khi ngủ không thể ẩn thân được nên hiện nguyên hình rồng; cho nên đức Phật dạy rằng con rồng lúc mới sanh ra, khi chết, giao cấu, sân hận, ngủ nghĩ thì vẫn giữ nguyên hình của nó, không thể biến hóa thành loài khác được. Đối với Long Vương có 3 điều lo âu: (1) nỗi khổ bị thiêu đốt bởi gió nóng và cát nóng; (2) nỗi lo sợ khi luồng gió ác thổi đến chỗ ở làm cuốn bay cả của báu và xiêm y; (3) nỗi lo sợ bị loài Kim Xí Điểu (金翅鳥, tức Ca Lâu La [s: garuḍa, 迦樓羅]) ăn thịt. Tuy nhiên, loại Long Vương sống trong hồ A Nậu Đạt (阿耨達) thì không có những nỗi khổ này. Ngoài ra, Long Vương còn là tên gọi của một vị thần trong Đạo Giáo Trung Quốc, một trong Tứ Linh, nguyên lai phát xuất từ việc sùng bái Long Thần (龍神) kết hợp với tín ngưỡng Hải Thần (海神). Đại Long Vương có 4 vị, được gọi là Tứ Hải Long Vương (四海龍王), gồm: Nam Hải Quảng Lợi Vương (南海廣利王, hay Nam Hải Long Vương Ngao Khâm [南海龍王敖欽]), Đông Hải Quảng Đức Vương (東海廣德王, hay Đông Hải Long Vương Ngao Quảng [東海龍王敖廣]), Bắc Hải Quảng Trạch Vương (北海廣澤王, hay Bắc Hải Long Vương Ngao Thuận [北海龍王敖順]) và Tây Hải Quảng Thuận Vương (西海廣順王, hay Tây Hải Long Vương Ngao Nhuận [西海龍王敖閏]). Trong đó, Đông Hải Long Vương là tối tôn. Trong Thái Thượng Động Uyên Thần Chú Kinh (太上洞淵神咒經) của Đạo Giáo có Phẩm Long Vương (龍王品), tùy theo phương vị mà gọi là Ngũ Đế Long Vương (五帝龍王), hay theo sông biển mà có tên là Tứ Hải Long Vương, theo thiên địa vạn vật mà nêu ra 54 tên Long Vương. Dưới thời vua Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756) nhà Đường, nhà vua có hạ chiếu thờ Long Trì (龍池), lập đàn cúng tế, lấy nghi thức tế mưa để cúng tế Long Vương. Đến thời vua Thái Tổ (太祖, tại vị 960-976) nhà Tống lại dùng quy chế nghi cúng tế Ngũ Long của nhà Đường. Vào năm thứ 2 (1108) niên hiệu Đại Quán (大觀) đời vua Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) nhà Tống, có chiếu chỉ phong tước vương cho Ngũ Long. Thanh Long Thần (青龍神) là Quảng Nhân Vương (廣仁王), Xích Long Thần (赤龍神) là Gia Trạch Vương (嘉澤王), Hoàng Long Thần (黃龍神) là Phu Ứng Vương (孚應王), Bạch Long Thần (白龍神) là Nghĩa Tế Vương (義濟王), Hắc Long Thần (黑龍神) là Linh Trạch Vương (靈澤王). Đến năm thứ 2 (1863) niên hiệu Đồng Trị (同治, 1862-1874) nhà Thanh, nhà vua lại phong cho Vận Hà Long Thần (運河龍神) là Diên Hưu Hiển Ứng Phân Thủy Long Vương Chi Thần (延庥顯應分水龍王之神) và hạ lệnh cho Tổng Đốc quản lý về sông nước lo việc cúng tế. Về chức năng, Long Thần chuyên trách về việc tạo mây ban mưa, làm cho con người được mát mẻ, tiêu trừ nóng bức, phiền não. Theo các sử liệu cho biết, ngày cúng tế Long Thần khác nhau tùy theo truyền thuyết dân gian các nơi. Xưa kia, phần lớn những ngôi đền thờ Long Vương đồng dạng với đền thờ của Thành Hoàng (城隍), Thổ Địa (土地). Mỗi khi gặp gió mưa không thuận hòa, hạn hán kéo dài, hay mưa lâu mà không dứt, người dân thường đến miếu thờ Long Vương dâng hương, cầu nguyện để được phong điều vũ thuận. Trong Bác Dị Ký (博异志), phần Hứa Hán Dương (許漢陽) của (谷神子) nhà Đường có đoạn: “Tác dạ Hải Long Vương chư nữ, cập di muội lục thất nhân quá quy Động Đình (昨夜海龍王諸女、及姨妹六七人過歸洞庭, đêm hôm qua các nữ nhân của Hải Long Vương cùng với chị em sáu, bảy người đi ngang về Động Đình).”

long vương

6378梵語 nāgarājaḥ。音譯那伽羅惹。為龍中威德特勝者,係對其眷屬而稱為王。傳說釋尊誕生時,有難陀、跋難陀二龍王為其灌沐。又法華經卷一序品舉出難陀、跋難陀、娑伽羅、和修吉、德叉迦、阿那婆達多、摩那斯、優鉢羅等八大龍王,金光明最勝王經卷一則舉出七龍王。諸龍王能興雲布雨,令諸眾生之熱惱消滅。 此外,據僧護經載,海龍王變為人形而出家修行,然於睡眠中不能隱形而現龍身,故佛為此而說龍於初生、臨終、交媾、瞋怒、睡眠等時,必為本形,不能化為異類之身。〔新華嚴經卷四十三、大集經卷五十八須彌藏分〕(參閱「龍」6375) ; Nāgarāja (S)Có 8 loại Long vương: - Nanda: Nan đà Long vương - Āpananda: Bạt nan đà - Vasuki: Hoà tu cát - Takasaka: Đức soa ca - Anavatapta: A na bà đạt đa - Manasla: Ma na tư - Utpalaka: Ưu bát la. ; Nàgaràja (S). Dragon king, a title for the tutelary deity of a lake, river, sea and other places. ; Nagaraja (skt)—Vị vua rồng, ngự trị nơi sông, hồ, biển cả—Dragon king, a title for the tutelary deity of a lake, river, sea, and other places—See Long. ; (龍王) Phạm: Nàgaràja. Hán âm: Na già la nhạ. Vua rồng, vì có uy đức hơn hết trong loài rồng nên gọi Long vương. Tương truyền, khi đức Phật Thích ca đản sinh, có 2 vua rồng Nan đà và Bạt nan đà phun nước tắm gội cho Ngài. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 nêu tên 8 vị Đại long vương là: Nan đà, Bạt nan đà, Sa già la, Hòa tu cát, Đức xoa ca, A na bà đạt đa, Ma na tư và Ưu bát la. Còn k i n h Kim quang minh tối thắng vương quyển 1 thì nêu 7 vị Long vương. Ngoài ra, theo kinh Tăng hộ, Hải long vương biến thành hình người, xuất gia tu hành, nhưng trong khi ngủ thì lộ thân rồng, cho nên đức Phật dạy: Khi mới sanh, lúc lâm chung, giao cấu, tức giận, ngủ, v.v... thì rồng trở lại thân rồng, chứ không thể hóa làm thân loài khác. [X. kinh Hoa nghiêm Q.43 (bản dịch mới); phần Tu di tạng trong kinh Đại tập Q.58]. (xt. Long).

long vương chi hỉ

6378梵名 Nāgānanda。乃印度戒日王第二世(梵 Harṣa)於西元六○六至六四八年間所作之佛教劇,共五幕。前三幕敘述韋第雅達拉族(梵 Vidyādhara,喜馬拉雅山中之半神族)之王子雲乘(梵 Jīmūtavāhana),與希達族(梵 Siddha,溼婆之眷屬)之公主馬拉雅法狄(梵 Malaya-vatī)相戀,因得女神高麗(梵 Gaurī)允許而成婚。後二幕則敘述雲乘為了救助龍王之危難,自願為金翅鳥所吞食,後經高麗相救而再生;顯示菩薩捨己為人之精神。此劇取材自佛教傳說,並加入印度教性力派(梵 Śakta)思想。唐代義淨所著南海寄歸內法傳卷四云(大五四‧二二八上):「戒日王取雲乘菩薩以身代龍之事,緝為歌詠,奏諧絃管,令人作樂,舞之、蹈之,流布於代。」由此可知此劇在當時受歡迎之盛況。〔龍王の喜び(高楠順次郎譯)〕 ; (龍王之喜) Phạm: Nàgànanda. Kịch bản Phật giáo do vua Giới nhật đệ nhị (Phạm: Harwa II), người Ấn độ soạn vào khoảng năm 606 đến năm 648. Nội dung vở kịch này gồm 5 màn, 3 màn trước trình bày về việc Vương tử của chủng tộc Vi đệ nhã đạt lạp (Phạm: Vidyàdhara,chủng tộc nửa thần trong núi Hi mã lạp sơn) tên là Vân thừa (Phạm: Jìmùtavàhana) và Công chúa Mã lạp nhã pháp địch (Phạm: Malayavatì) của chủng tộc Hi đạt (Phạm: Siddha, quyến thuộc của thần Thấp bà) thương yêu nhau, nhờ được nữ thần Cao li (Phạm: Gaurì) chấp nhận nên thành hôn. Còn 2 màn sau thì nói về việc Vương tử Vân thừa, vì muốn cứu Long vương thoát khỏi tai nạn nên đã tự nguyện để cho chim cánh vàng (Kim sí điểu) ăn thịt, sau nhờ nữ thần Cao li cứu giúp nên được tái sinh. Vở kịch này nói lên tinh thần vị tha, xả thân cứu giúp người của Bồ tát, bắt nguồn từ truyền thuyết Phật giáo, thêm vào tư tưởng của phái Tính lực (Phạm:Zakta) thuộc Ấn độ giáo. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 228 thượng) nói: Vua Giới nhật lấy câu chuyện bồ tát Vân thừa chết thay cho rồng, biên soạn thành ca kịch, hòa tấu đàn sáo, sai người viết nhạc, điệu múa để trình diễn, lưu truyền. Như vậy có thể biết vở kịch này rất được hoan nghinh ở đương thời. [X. Long vương chi hỉ (Cao nam Thuận thứ lang dịch)].

long vương chi hỷ

Nāgabnanga (S).

long vương huynh đệ kinh

6379梵名 Nandopananda-nāga-rāja-dhamana-sūtra。全一卷。又作難龍王經、降龍王經。吳‧支謙譯。收於大正藏第十五冊。本經凡八百餘字,敘述目連尊者降伏難頭、和難二惡龍,使歸從佛教,受持五戒之事。〔歷代三寶紀卷五、大唐內典錄卷二〕 ; Nando-parananda-nāgarajā-dhamama-sŪtra (S)Nan Long vương kinh, Hàng Long vương KinhTên một bộ kinh. ; (龍王兄弟經) Phạm: Nandopananda-nàga-ràjadhamana-sùtra. Cũng gọi Nan long vương kinh, Hàng long vương kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này gồm hơn 800 chữ, nói về việc tôn giả Mục kiền liên hàng phục 2 con rồng dữ là Nan đầu và Hòa nam. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.5; Đại đường nội điển lục Q.2].

long vương hải

Xem biển.

long vương hống bồ tát

6379五大力菩薩之一。此菩薩專守護未來世諸國土中,建立正法,護持三寶者。形像呈忿怒形。舊譯仁王經卷下受持品,謂其手執金輪燈。不空新譯之仁王經卷下奉持品,則稱之為南方金剛寶菩薩,手持金剛摩尼。(參閱「五大力菩薩」1057) ; (龍王吼菩薩) Vị Bồ tát hiện tướng phẫn nộ chuyên giữ gìn che chở các quốc độ ở đời vị lai, kiến lập Chính pháp, thủ hộ Tam bảo, 1 trong 5 vị Đại lực bồ tát. Theo phẩm Thụ trì trong kinh Nhân vương quyển hạ (bản dịch cũ) thì tay vị Bồ tát này cầm đèn Kim luân. Còn phẩm Thụ trì trong kinh Nhân vương quyển hạ (bản dịch mới của ngài Bất không), thì gọi vị Bồ tát này là Nam phương Kim cương bảo bồ tát, tay cầm hạt ma ni (ngọc) kim cương. (xt. Ngũ Đại Lực Bồ Tát).

long vị

Holy tablet.

long vị thờ chư tổ

The Holy Tablet of the Patriarchs.

long xương tự

5318位於江蘇句容寶華山。寺係古剎,明代初年復興,建築全部用磚壘砌成,無用寸木,其裝飾亦以磚雕製成。萬曆年間,更立銅殿祀觀音聖像,國有大事則遣官祈請。古銅殿兩側,有左右兩幢無梁殿,均係樓閣式,殿頂重檐九層,內部爲磚壘砌之拱捲,外部爲仿木結構殿堂形式之磚雕,屋檐之出檐很短,屋角起翹亦不高,形式上類似北平北海之無梁殿,而藝術造型及雕刻則更佳。宏光年間,三昧律師入主丈席,遂改爲律寺。三昧示寂後,見月繼之,遂大昌盛,戒子遍天下,言律者,莫不宗之。康熙年間改今名。

Long Ðàm Sùng Tín

龍潭崇信; C: lóngtán chóngxìn; J: ryūta sōshin; tk. 8/9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Thiên hoàng Ðạo Ngộ. Môn đệ lừng danh của Sư là Ðức Sơn Tuyên Giám.|Sư con nhà bán bánh, mỗi ngày đem bánh đến cúng dường Thiền sư Ðạo Ngộ. Mỗi lần nhận bánh, Ðạo Ngộ lại để lại một cái cho Sư, nói: »Ta cho ngươi để ân huệ cho con cháu.« và cứ thế một thời gian. Sư thấy lạ hỏi thì được trả lời: »Bánh của ngươi đem đến, ta cho lại ngươi có lỗi gì?« Sư nghe hiểu diệu ý liền xin xuất gia. Ðạo Ngộ vì thấy Sư có hảo tâm cúng dường, ban pháp danh Sùng Tín.|Một hôm Sư thưa: »Từ ngày con đến đây chưa được thầy chỉ dạy tâm yếu.« Ðạo Ngộ đáp: »Từ ngày ngươi đến đây, ta chưa từng chẳng dạy ngươi.« Sư hỏi lại: »Chỉ dạy ở chỗ nào?« Ðạo Ngộ bảo: »Ngươi dâng trà, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi xá lui, ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?« Sư nghe đây hội được đôi chút, lại hỏi thêm: »Làm sao gìn giữ?« Ðạo Ngô bảo: »Mặc tính tiêu dao, tuỳ duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm, chẳng có thánh giải khác.« Sư nhân câu này triệt ngộ. Sau Sư đến trụ tại Long Ðàm, dạy môn đệ.|Có một vị ni đến hỏi: »Làm sao tu để thành Tăng?« Sư không đáp, hỏi: »Làm ni đã bao lâu?« Ni hỏi nữa: »Lại có khi làm tăng chăng?« Sư bảo: »Hiện nay ngươi là gì?« Ni đáp: »Hiện nay là ni ai chẳng biết!« Sư đáp: »Ai biết ngươi?«|Không biết Sư mất năm nào.

Long Đàm Sùng Tín

(龍潭崇信, Ryūtan Sōshin, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Đường. Ông xuất gia với Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟) và ngộ được huyền chỉ. Sau ông đến vùng Long Đàm (龍潭), Lễ Châu (澧州, thuộc Tỉnh Hồ Nam), dựng am tranh tu tập. Môn hạ của ông có Đức Sơn Tuyên Giám (德山宣鑑).

long đàm sùng tín

Lung-tan Shung-hsin (C), Lung tan Ch'ung hsin (C), Lung-t'an Ch'ung-hsin (C), Longtan Chongzin (C), Ryutan Shoshin (J)(giữa TK thứ 8 và 9). Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Thiên Hoàng Đạo ngộ vào thế kỷ thứ 9, thầy của Đức Sơn Tuyên Giám.

long đạo

5319(1906~1987)臺灣臺中人,俗姓林。二十六歲皈依三寶,民國二十六年(1937),於臺中寶善寺出家。三十四歲任高雄鼓山龍泉寺監院,後又晉任住持,並兼任屏東東山寺住持。師熱心於促進中日佛教文化之交流,曾二度率團赴日本考察訪問。此外,對於賑災濟貧之慈善事業亦甚熱心。曾任中國佛教會常務理事、臺灣省佛教分會理事長、高雄市佛教支會理事長等職。

long đầu

6398指梵鐘最上端以供懸掛用之鉤紐。又作龍首。又韓國鐘之龍頭旁側,設有圓筒(旗插)通於內部。周禮、周禮疏稱為鐘縣、旋蟲、鐘旋,孟子註則稱鐘紐。或謂龍形係蒲牢獸形之誤。蒲牢,乃住於海岸之獸,性畏鯨魚,每受鯨魚襲擊,輒大鳴;鐘頂作蒲牢形狀,以鯨形撞木擊之,鐘鳴如蒲牢。後世謂梵鐘之聲為鯨聲,即由此典故而來。 ; (龍頭) Cũng gọi Long thủ. Đầu rồng, chỉ cho cái quai để treo chuông. Sách Chu lễ và Chu lễ sớ gọi là Chung huyền, Toàn trùng, Chung toàn. Sách Mạnh tử chú thì gọi là Chung nữu. Hoặc có thuyết cho rằng gọi Long đầu là vì nhận lầm hình con bồ lao là hình con rồng. Bồ lao là con vật sống ở bờ biển, rất sợ cá kình, mỗi khi bị cá kình tấn công thì nó kêu lên inh ỏi. Đỉnh chuông được đúc giống hình con bồ lao, dùng chày gỗ hình cá kình để đánh, chuông kêu như bồ lao. Đời sau gọi tiếng chuông là kình thanh, là do điển tích này.

long đầu quan âm

6398觀音攝化自在而示現之三十三觀音之一。因駕乘龍頭,故稱龍頭觀音。相當於法華經普門品(大九‧五七中)「應以天龍、夜叉(中略)等身得度者,即皆現之而為說法」之觀音化身。蓋以龍為獸中之王,比喻觀音之威神。一般流布之像皆為跏坐或站立於龍頭上。〔佛像圖彙卷二〕(參閱「三十三觀音」514) ; (龍頭觀音) Bồ tát Quan âm ngồi trên đầu con rồng, là 1 trong 33 hóa thân Quan âm. Phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 57 trung) nói: Nếu cần dùng thân trời, rồng, dạ xoa (...) để độ thì liền hiện những thân ấy mà nói pháp. Vì rồng là vua trong các loài thú nên được dùng để ví dụ cho uy thần của bồ tát Quan thế âm. [X. Phật tượng đồ vậng Q.2; (xt. Tam Thập Tam Quan Âm).

long đổ lạt ma toàn thư

5321請參閱 隆興佛教編年通論凡三十一帙。格魯派僧人隆睹喇嘛著。內容主要爲對於顯宗、密宗及大小五明諸類名詞之注釋。 ; (隆睹喇嘛全書) Tác phẩm, 31 quyển, do Lạt ma Long đổ thuộc phái Cách lỗ soạn. Nội dung chủ yếu là chú thích các loại danh từ của Hiển tông, Mật tông và Ngũ minh của Đại thừa, Tiểu thừa.

long ứng

6398觀音三十二應之一。謂諸龍中若有樂脫龍身者,觀世音菩薩即現龍身為其說法而成就之。楞嚴經卷六(大一九‧一二九上):「若有諸龍樂出龍倫,我現龍身而為說法,令其成就。」(參閱「三十二應」511) ; (龍應) Ứng hiện thân rồng, 1 trong 32 tướng ứng thân của bồ tát Quan âm. Kinh Lăng nghiêm quyển 6 (Đại 19, 129 thượng), nói: Nếu có các rồng muốn ra khỏi kiếp rồng, ta sẽ hiện thân rồng để nói pháp khiến được toại nguyện. (xt. Tam Thập Nhị Ứng).

Long-chen-pa

T: kloṅ-chen-pa; 1308-1364;|Ðại sư Tây Tạng phái Ninh-mã (t: nying-mapa), được tặng danh hiệu »Nhất thiết trí giả.« Sư đóng một vai trò quan trọng trong giáo pháp Ðại cứu kính (t: dzogchen) vì đã phối hợp được nhánh của Liên Hoa Sinh (padmasambhava) với nhánh Tì-ma-la Mật-đa (vimalamitra), đưa vào một hệ thống chung. Trong một cuộc đời tương đối ngắn, Sư đã viết 270 tác phẩm mà những tác phẩm quan trọng nhất được gọi là »bảy món quý«. Ðặc điểm của các tác phẩm của Sư là chiều sâu của tư tưởng và tính chất rõ rệt, chính xác. Những tác phẩm này vẫn còn tác động trong dòng Ninh-mã.|Lên 11 tuổi, Sư đã được gia nhập giáo hội và sau đó chú tâm học tập. Ngoài trường phái mình, Sư còn học thêm giáo pháp của các phái Tát-ca (t: sakyapa) và là đệ tử của Cát-mã-ba (t: karmapa) thứ ba (1284-1339). Sau đó hai biến cố lớn xảy ra cho Sư: sau khi chứng được linh ảnh của Liên Hoa Sinh và đệ tử là Ye-she Tsog-yel, Sư có quan hệ trực tiếp các Không hành nữ (s: ḍākinī), được truyền thụ giáo pháp Ðại cứu kính và có trách nhiệm ghi lại thành văn bản chôn dấu (Ter-ma). Sau đó Sư lại gặp Tì-ma-la Mật-đa (s: vimala-mitra), được chân truyền phép Ðại cứu kính và tổng hợp hai dòng Ðại cứu kính nói trên thành một hệ thống duy nhất.|Long-chen-pa là vị trụ trì chùa Tang-duyên (t: samye) tại Trung Tây Tạng. Tuy thế phần lớn thì giờ, Sư vẫn hay đi vân du và sống viễn li. Sư cũng là người sửa chữa lại nhiều chùa, nhất là những chùa tại Bhutan trong thời gian Sư phải biệt xứ tại đó hàng chục năm. Ðời sau, có Jig-me Ling-pa (1730-1798) nghiên cứu rõ về Sư và đưa Sư lên hàng Ðại sư của dòng Ri-mê (rime)

loài chim trên trời

Gaganacara (S), Birds in the sky.

loài người

Mānuṣa (S), Human-being, Mānusa (P), Manussa (P), Mānuṣī (S)Ma nao xá, Mạt nô xa, Ma nao xá nam; Cõi người, Nhân. ; Humanity—Mankind—The human beings—The human race.

loài vật đáng thương

Poor animals.

loáng thoáng

Vaguely.

loã hình ngoại đạo

5598裸形,梵語 acelaka。又作露形外道、無衣外道。古代印度二十種外道之一。爲尼乾子外道二分派之一,即空衣派,提倡以大空爲衣之裸體生活,以裸形爲正行,又稱無慚外道。提婆菩薩所舉二十種外道之第六,即裸形外道論師。寒天裸形,趨拜佛神,爲裸形外道之遺風,佛門無之。新華嚴經卷二十五(大一○‧一三六中):「願一切眾生,得慚愧衣以覆其身,捨離邪道露形惡法。」〔長阿含卷十六喰形梵志經、外道小乘涅槃論、大唐西域記卷九摩揭陀國條〕

loã hình tượng

5598裸形之佛像。又稱裸佛。即不披袈裟之裸體像。佛誕生像古來雕畫裸形者不少。此外,日本亦有裸形之阿彌陀佛、地藏菩薩等像。

loã đầu

5912僧人將頭包起之行裝,稱爲裹頭。佛陀住世時,即有以帽裹頭之制。據四分律卷四十載,若遇頭部冷痛時,比丘可作劫貝(綿)帽覆頭。除此之外,一般禁止比丘包頭。裹頭亦指高僧所用之風帽,蓋源於隋代煬帝爲晉王時,請天台大師授菩薩戒,時遇嚴寒,帝解其縹袖,裹大師之頭。日本僧人以袈裟裹頭而擔任警衛工作者,稱裹頭眾。〔顯密威儀便覽卷下、貞文雜記卷二、東寺塔供養記〕

loăng quăng

See Loanh quanh.

loại

Class—Species—To classify.

loại bỏ

To get rid of—To disqualify—To eliminate.

loại suy

Upamana (skt)—Upamanam (p)—Giải thích bằng cách so sánh sự giống nhau giữa vật nây với vật khác—Analogy or resemblance.

loại trí

6726梵語 anvaya-jñāna。又作未知智、無生智。觀察色界、無色界諸行之四諦,而斷其煩惱之無漏智慧。為十智之一,十一智之一。因觀察欲界四諦之智稱為法智,故以觀察上二界四諦之智為類智,意謂二者同類。〔集異門論卷七、俱舍論卷二十三〕(參閱「十智」472) ; Anvaya-jāna (S). ; Trí tuệ quán xét Tứ Đế của Dục giới gọi là Pháp Trí, ví với trí tục hay loại trí quán xét tứ đế của hai giới cao hơn là Sắc giới và Vô sắc giới—Knowledge which is of the same order, e.g. the four fundamental dogmas applicable on earth which are also extended to the higher realms of form and non-form. ; (類智) Phạm: Anvaya-jĩàna. Cũng gọi Vị tri trí, Vô sinh trí. Trí vô lậu quán xét Tứ đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, là 1 trong 10 trí, 1 trong 11 trí. Trí này đồng loại với Pháp trí, là trí quán xét Tứ đế ở cõi Dục. [X. luận Tập dị môn Q.7; luận Câu xá Q.23]. (xt. Thập Trí).

Loạn

亂; C: luàn; J: ran;|1. Không trật tự, rối loạn, thiếu thận trọng. sự mất trật tự, sự quấy rầy, sự bối rối, cuộc cách mạng; 2. Mất trật tự, lúng túng, khích động, bối rối, bừa bãi; 3. Tâm tán loạn, phản nghĩa với Tập trung hoặc Định.

loạn

Disturb, perturb, confusion, disorder, rebellion. ; To be in disorder—To disturb—Perturb—Confusion—Rebelion.

loạn dâm

Incestuous.

loạn hạnh

Disorderly conduct. ; Disorderly conduct.

loạn luân

See Loạn dâm.

loạn lạc

Troubled times.

loạn thiện

5385請參閱 叢林校定清規總要請參閱 雪竇頌古直註 指欲界眾生以散亂心所作之禮佛誦經等善行。釋門歸敬儀卷上(大四五‧八六一上):「且如欲有亂善,體封下界。」 ; To disturb the good; confound goodness of those who worship, etc with divides mind. ; Chúng sanh trong cõi dục giới đem tâm tán loạn làm thiện căn lễ Phật, tụng kinh—To disturb the good—The confused goodness of those who worship, etc., with divided mind. ; (亂善) Các hạnh lành như lễ Phật, tụng kinh được thể hiện bằng tâm tán loạn. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 861 thượng), nói: Loạn thiện cõi Dục, khiến chúng sinh bị trói buộc ở hạ giới.

loạn thuyết

Foolish talk.

Loạn thức

亂識; C: luànshì; J: ranjiki;|Thức phân biệt hư vọng (s: bhrānti-vijñāna). (Theo Trung biên phân biệt luận 中邊分別論).

loạn trí

To be deranged—Derangement of mind—To be mad.

loạn tâm

A perturbed or confused mind, to disturb or unsettle the mind. ; Tâm niệm tán loạn, không trụ một nơi—A perturbed or confused mind—To disturb or unsettle the mind.

loạn tăng

A disorderly monk. ; A disorderly monk.

loạn tưởng

5386謂散亂放逸之想,即指一切之煩惱。楞嚴經卷七(大一九‧一三八下):「和合氣成八萬四千飛沈亂想。」增一阿含經卷一(大二‧五五二下):「去眾亂想,逮沙門果。」又凡夫多有散亂之想念,故稱散亂粗動之凡夫。 ; To think confusedly, or improperly. ; Tư tưởng rối loạn, không định tĩnh—To think confusedly or improperly. ; (亂想) Tâm tưởng tán loạn, buông thả, tức chỉ cho tất cả phiền não. Kinh Lăng nghiêm quyển 7 (Đại 19, 138 hạ), nói: Hòa hợp với khí thành tám vạn bốn nghìn loạn tưởng bay lặn. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 1 (Đại 2, 552 hạ), nói: Diệt trừ các loạn tưởng để chứng quả Sa môn.

loạn động

Pamada—Loạn động trái ngược với chánh niệm—Heedlessness—Disturbance—Distraction—Mental sloth as opposite of right mindfulness—Filth of the precepts in which intoxicating drinks are prescribed as tending to lead to pamada.

Loạn Ứng Nhân

(應仁の亂, Ōnin-no-ran): vụ đại loạn kéo dài 10 năm, từ năm thứ nhất (1467) niên hiệu Ứng Nhân (應仁) cho đến năm thứ 9 (1477) niên hiệu Văn Minh (文明), xảy ra dưới thời cầm quyền của Tướng Quân đời thứ 8 của thời đại Thất Đinh là Túc Lợi Nghĩa Chính (足利義政, Ashikaga Yoshimasa). Từ nguyên nhân cuộc phân tranh giành giựt kéo dài liên tục giữa hai dòng họ của Tướng Quân Túc Lợi (足利, Asikaga) và dòng họ Tư Ba (斯波, Shiba), quan Quản Lãnh vùng Cối Sơn (畠山, Hatakeyama), Đông Quân Tổng Đại Tướng Tế Xuyên Thắng Nguyên (細川勝元, Hosokawa Katsumoto) và Tây Quân Tổng Đại Tướng Sơn Danh Tông Toàn (山名宗全, Yamana Sōzen) mỗi người thống lãnh các Đại Danh, lấy vùng Tế Xuyên (細川, Hosokawa) ở kinh đô Kyoto làm trung tâm cho cuộc kháng tranh.

loạng choạng

To stagger—To totter.

loằng ngoằng

In zigzags

lu mờ

To be on the decline—To eclipse.

lu thần

Bhadrāgata (S)Khi cần điều gì, chỉ cần cho tay vào là được.

Lu-chi-ka-pa

S: lucikapa; »Kẻ lánh đời«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống thời đại nào.|Ông thuộc dòng Bà-la-môn, nhàm chán cảnh sinh tử, rút lui sống ẩn. Ngày nọ, có một Du-già sư đi ngang, ông cầu khẩn xin được theo học. Vị này cho ông bước vào Chakra samva-ra tan-tra và truyền cho ông các phép quán tưởng. Sau mười hai năm tu học, ông đạt thánh quả và bày tỏ như sau:|Niết-bàn và Sinh tử,|là hai mặt không đồng,|nhưng ta không thấy khác.|Giải thoát là Ðại lạc;|còn dính mắc điều gì,|nhất định không thể thoát.|Còn có những câu:|Ðã từ kiếp vô thuỷ,|lang thang khắp mọi nơi.|Chỉ có bậc Ðạo sư,|như con thuyền vượt sóng.|Hãy dám bước lên đường,|đi đến nơi Tự tại – ngay tức khắc!

Lu-i-pa

S: lūipa; »Người ăn ruột cá«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Lu-i-pa là đệ tử của Sa-va-ri-pa (s: śavaripa), được xem là sống trong đầu thế kỉ thứ 9.|Ông là một vị hoàng tử đã nối ngôi vua cha, nhưng từ ngôi sống cuộc đời không nhà. Nhờ dung mạo đẹp đẽ, Lu-i-pa luôn luôn được nhiều thức ăn cúng dường. Ngày nọ, ông gặp hoá thân của một Không hành nữ (s: ḍākinī). Vị này nhìn được tâm ông và nói rằng: »Ngươi đã tu sắp thành đạt, nhưng trong tâm vẫn còn một chút kiêu mạn« và cúng dường thức ăn hư thối cho ông. Lu-i-pa vứt bỏ thì vị nữ thần lại nói: »Làm sao ngươi vượt được nhị nguyên, đạt Niết-bàn nếu ngươi còn phân biệt thức ăn ngon dở?«.|Tỉnh ngộ, ông tu tập, hành trì một Nghi quỹ mười hai năm liên tục nhằm đối trị sự kiêu mạn, từ bỏ mọi giá trị thế gian, chỉ biết ăn ruột cá và cuối cùng đạt được diệu nghĩa Ðại thủ ấn. Lu-i-pa có nghĩa »người ăn ruột cá«, được kể là người đầu tiên trong 84 vị Tất-đạt. Bài ca ngộ đạo của Lu-i-pa như sau:|Như một con chó điên,|bị bôi mật vào mũi,|có gì ngấu nghiến đó.|Cho kẻ khùng thế gian,|nghe bí mật Ðạo sư,|nó đốt cháy tâm thức|và cả dòng truyền thừa.|Cho một kẻ nhạy cảm,|biết Thật tại bất sinh,|thì chỉ một thoáng nhìn,|nơi linh ảnh Ðạo sư,|về ánh sáng thanh tịnh,|đủ phá tan ảo giác;|như một con voi say,|xông vào hàng ngũ địch,|mang gươm báu trên vòi

lui

To move back—To step back—To draw back.

lui lại

See Lui.

lui tới

To frequent.

lui về

To go back—To return.

lum khum

Curved back due to old age.

lung

Cái lồng—A cage.

lung sơn

6903日本佛教用語。謂籠居於山中修行。入山修行之僧,稱為籠山比丘、籠山僧。劃定籠山區域之界限,與外界隔離,稱為籠山結界。此係日僧最澄所制定,主張天台學僧必須入比叡山十二年,其間不出山門,修習止觀、遮那兩業。其制定十二年,蓋源於蘇悉地羯囉經卷中(大一八‧六八○中):「若作時念誦者,經十二年,縱有重罪亦皆成就。」 ; (籠山) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Ẩn tu trong chốn núi rừng. Vị tăng vào núi tu hành gọi là Lung sơn tỉ khưu, Lung sơn tăng. Phân định giới hạn của khu vực lung sơn để cách li với bên ngoài, gọi là Lung sơn kết giới. Qui định này là do ngài Tối trừng, Tổ của tông Thiên thai Nhật bản đặt ra, chủ trương các học tăng thuộc tông Thiên thai phải vào ở trong núi Tỉ duệ 12 năm để tu tập Chỉ quán và Già na. Trong thời gian này không được bước ra khỏi cổng chùa. Qui định 12 năm là căn cứ vào kinh Tô tất địa yết ra quyển trung, trong đó có nói (Đại 18, 680 trung): Nếu người định thời gian tụng niệm, trải qua 12 năm, thì dù tội nặng đến đâu cũng đều thành tựu.

lung tung

In confusion—In disorder.

lung đầu

Bộ giàn trùm ln đầu ngựa (dùng để điều khiển và chế ngự con ngựa)—Blinkers for a horse's head.

Lung 聾

[ja] ロウ rō ||| (1) Deaf; deaf person. (2) Obscure, unclear. => 1. Điếc, người điếc. 2. Tối nghĩa, khuynh hướng rõ ràng; không minh bạch.

Lung-gôm

T: lunggom [rLung-sgom]; nghĩa là »kiểm soát những dòng năng lượng trong cơ thể.« |Phương pháp Du-già (yoga) của Phật giáo Tây Tạng nhằm kiểm soát năng lực. Ðây là một phép tu có gắn liền với sự kiểm soát hơi thở của hệ thống Du-già (s: prāṇāyāma) và Bốn niệm xứ (s: smṛtyupashāna) của Phật giáo nguyên thuỷ. Người tu tập Lung-gôm kiểm soát yếu tố »gió« trong các Trung khu khí lực (s: cakra). Tương tự như thế, phép tu Nội nhiệt (Na-rô lục pháp; t: nāro chodrug) dạy hành giả kiểm soát yếu tố »lửa«. Trong thuật ngữ của Kim cương thừa thì »gió« (tiếng Tây Tạng: lung) tượng trưng cho một số năng lực luân lưu trong thân thể. Trong một số nơi thuộc Tây Tạng, phương pháp Lung-gôm được áp dụng để vượt qua những khoảng cách lớn trong một thời gian ngắn.

Luy liệt 羸劣

[ja] ルイレツ ruiretsu ||| (1) Weak, lacking power; disabled, crippled, energyless (durbalatva). 〔成實論 T 1646.32.277b22〕(2) Thin, emaciated (kṛśa). => 1. Yếu, bất lực, không có năng lực, tàn tật, tê liệt (s: durbalatva). 2. Gầy yếu, hốc hác (kṛśa).

Luy Lâu

羸樓|Trung tâm phát triển Phật giáo đầu tiên tại Việt Nam, nay là tỉnh Bắc Ninh. Luy Lâu là một trong ba trung tâm Phật giáo thời thế kỉ thứ 1, 2 bên cạnh Lạc Dương và Bành Thành, hai trung tâm thuộc Trung Quốc. Theo một số nhà nghiên cứu, Luy Lâu được hình thành trước cả hai trung tâm kia, thậm chí là nơi xuất phát của Lạc Dương và Bành Thành. Luy Lâu là nơi các tăng sĩ Ấn Ðộ đến bằng đường biển trước khi họ vào Trung Quốc nên giả thuyết nói trên có thể đứng vững. Ðây là một cứ điểm quan trọng cho thấy Phật giáo Việt Nam ban đầu được du nhập trực tiếp từ Ấn Ðộ chứ không phải chỉ từ Trung Quốc truyền xuống.

Luy 羸

[ja] ルイ rui ||| Weak, powerless, energyless. To be incapacitated by affliction (Skt. daurbalya, abala; Pali dubbalya). 〔瑜伽論 T 1579.30.410a10〕(2) To become thin, weak. => 1. Yếu, bất lực, không có năng lực. Mất hết năng lực do phiền não (Skt. daurbalya, abala; Pali dubbalya). 2. Trở nên gầy mòn, yếu đuối.

luyến

To be fond of, hanker after—To cleave to.

luyến mộ

See Luyến.

Luyến mộ 戀慕

[ja] レンボ renbo ||| Thoughts of yearning; feelings of longing (tṛṣṇā). 〔法華經 T 262.9.53c18〕 => Tâm trạng khao khát, cảm giác ham muốn (tṛṣṇā).

luyến trước

6911謂戀慕於可稱意之外境,而執著不肯捨離。如貪婪女色,乃生死之枷鎖,而凡夫戀著,不能自拔。法華經譬喻品(大九‧一二中):「諸子幼稚,未有所識,戀著戲處。」 ; (戀著) Luyến mộ cảnh thích ý, chấp trước không lìa bỏ. Như tham lam nữ sắc chính là gông cùm của sinh tử, phàm phu bám dính vào, không gỡ ra được. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 12 trung), nói: Các con còn nhỏ dại chưa có sự hiểu biết, nên luyến trước vào cảnh vui chơi của thế gian.

luyến ái

Vatsalya (S), Tender love Tình cảm yêu mến của cha mẹ với con cái. ; Ái mộ—Tham luyến—Trong Tứ Thánh Đế, Phật Thích Ca đã dạy rằng luyến ái là căn cội của khổ đau. Từ luyến ái nẩy mầm sầu khổ và sợ hãi. Người nào thoát khỏi luyến ái thì sẽ không còn sầu khổ sợ hãi nữa. Càng luyến ái thì càng khổ đau—Attachment—In the Four Noble Truths, Buddha Sakyamuni taught that attachment to self is the root cause of suffering. From attachment (craving) springs grief and fear. For him who is wholly free from attachment, there is no grief and much less fear—The more attachments one has, the more one suffers.

luyến ái-ái dục-dục vọng

Trsnà (S), Tanhà (P). Craving, thirst, lust.

luyện

Huấn luyện—To drill—To exercise—To practice—To train.

luyện căn

6119指在加行位中之修行者,調練其根性,使成勝根。與轉根、增進根(梵 indriya-vivṛddhi)同義。即藉由道力之故,令根相續,或捨下而得中,或捨中而得上,漸次增勝,稱為練根。依阿毘達磨順正理論卷七十之意,遮遣見、修所斷之惑所引發之不染污無知之現行,以成勝根,稱為練根。其中,在學位者,以一加行、一無間、一解脫道,正遮見惑所發之無知;在無學位者,以一加行、九無間、九解脫道,除遣修惑所發之無知,以此轉根。異生及信解、無學六種性中之前五種性,皆修練根,然見道及不還果之人之「欲界經生」者等,則無練根之義。此因見道係速疾而不修加行,故不須修練根;而「欲界經生」之聖者等既已究極其根性而熟習,故亦不修練根。又據瑜伽師地論卷五十七之說,謂獨覺及菩薩,其性利根,故不修練根。〔阿毘達磨順正理論卷五十六、大毘婆沙論卷六十七、卷六十八、俱舍論卷二十一、卷二十四、大乘阿毘達磨雜集論卷十三〕(參閱「轉根」6621) ; (練根) Đồng nghĩa: Chuyển căn, Tăng tiến căn (Phạm:Indriya-vivfdhi). Tu luyện và điều hòa căn tính. Chỉ cho người tu hành ở giai vị Gia hạnh, điều luyện căn tính từ bậc hạ lên bậc trung, hoặc bỏ qua bậc trung mà lên thẳng bậc thượng, làm cho căn tính ngày càng thù thắng hơn. Theo luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 7, thì Luyện căn là ngăn chặn sự hiện hành của Bất nhiễm ô vô tri do Kiến hoặc và Tư hoặc dẫn khởi, khiến cho các căn trở nên thù thắng hơn. Trong đó, hành giả còn ở địa vị Hữu học dùng 1 gia hạnh, 1 vô gián và 1 giải thoát đạo để trừ bỏ cái vô tri do Kiến hoặc dẫn khởi; còn hành giả ở địa vị Vô học thì dùng 1 gia hạnh, 9 vô gián và 9 giải thoát đạo để trừ bỏ cái vô tri do Tư hoặc dẫn khởi để chuyển các căn. Năm chủng tính trước trong 6 chủng tính thuộc hàng phàm phu (dị sinh), Tín giải và Vô học đều tu luyện căn, nhưng hành giả Dục giới kinh sinh (sống trong cõi Dục) ở giai vị Kiến đạo và quả Bất hoàn thì không có Luyện căn. Là vì thời gian Kiến đạo hết sức nhanh chóng, không tu gia hạnh, nên không cần phải luyện căn. Còn bậc Thánh thuộc Dục giới kinh sinh thì căn tính đã rất thuần thục, nên cũng không cần tu luyện căn. Ngoài ra, cứ theo luận Du già sư địa quyển 57, thì hàng Độc giác và Bồ tát vốn có lợi căn, nên không cần tu luyện căn. [X. luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.56; luận Câu xá Q.21, 24; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.13]. (xt. Chuyển Căn).

luyện hành

Tu hành bằng giới luật của tôn giáo—Religious training or discipline.

luyện ma

Mài dũa—Ba điều kiện để duy trì sự tiến bộ của Bồ Tát—To drill and grind. Three Bodhisattva conditions for maintaining progress: 1) Theo học và lắng nghe những vị đã đạt được giác ngộ: The fixing of attention on those who have attained enlightenment. 2) Luôn luôn theo dõi hay quán sát mục tiêu của chính mình: Examination of one's own purpose. 3) Nhận thức được khả năng của người để luôn giữ được tánh khiêm cung từ tốn: To be humble by the realization of the power or ability at work in others.

luyện nhã

Aranya (skt)—Tên gọi tắt của từ A Luyện Nhã—Hermitage—See A Luyện Nhã.

luyện thiền

6524又作練禪、九次第定。為觀、鍊、薰、修等四種禪之第二。即指四禪定、四無色定、滅盡定等九種禪定。修觀禪可得色、無色八定,入鍊禪時,此八定仍殘存垢滓,故須由淺入深,次第澄清垢滓,以除其穢;此種修鍊有漏定與無漏定以除其間穢之禪,即是鍊禪。〔釋禪波羅蜜次第法門卷十〕(參閱「九次第定」134) ; (煉禪) Cũng gọi Cửu thứ đệ định. Chỉ cho loại thiền định thứ 2 trong 4 loại thiền định: Quán, Luyện, Huân, Tu. Tu Quán thiền thì được 8 thứ định của cõi Sắc và cõi Vô sắc, khi vào Luyện thiền thì 8 thứ định trên vẫn còn cặn bã nhơ nhớp sót lại, cho nên phải đi từ cạn đến sâu, lần lượt gạn lọc cho hết cặn bã để trừ bỏ cái nhơ. Tu hữu lậu định và vô lậu định để trừ bỏ cái nhơ đó gọi là Luyện thiền. [X. Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.hạ]. (xt. Cửu Thứ Đệ Định].

luyện điển

Luyện điển là lối tu luyện của tà đạo—To practice the “Balancing of body energy currents.” This is the way of heterodex practice.

Luyện 煉

=> Luyện kim; thiêu huỷ các tạp chất trong lò lửa. Dụ cho sự thanh tịnh hoá thân tâm của con người.

luân

Chakra (P), Wheel. ; Cakra (S). Wheel, disc, rotation, to revolve. The three wheels are Hoặc Nghiệp Khổ illusion, karma, suffering, in constant revolution. The five are earth, water, fire, wind and space; the earth rests on revolving spheres of water, fire, wind and space. The nine are seen on the tops of pagodas. ; Cakra (skt)—Tra Yết La—Bánh xe—Wheel—Disc—Rotation—To revolve (v). ** For more information, please see Tam Luân, Ngũ Luân and Cửu Luân.

luân bảo

6187梵語 cakra-ratna,巴利語 cakka-ratana。為古代印度帝王之標幟;亦為佛教經典之理想君王,即轉輪聖王(梵 cakravarti-rāja)所感得七寶之一,使王之行處所向無敵,而可制伏四方,統一宇內。起世經卷二轉輪聖王品(大一‧三一七上):「轉輪聖王出閻浮洲,以水灌頂作剎利主,於十五日月盛圓滿受齋之晨,洗沐清淨,(中略)親屬群臣前後圍遶,是時王前有金輪寶忽然來應,輪徑七肘,千輻轂輞眾相滿足,自然成就,非工匠造。」蓋輪寶有金、銀、銅、鐵四種,稱金輪寶、銀輪寶、銅輪寶、鐵輪寶。又因國土之廣狹,而有金輪王、銀輪王、銅輪王、鐵輪王四種。 此外,釋尊成就正覺,破除無明煩惱,放正義知識之光輝,故佛之說法,稱為轉法輪。一般亦將輪寶視為佛陀之教說或法之象徵而加以崇拜。又輪相有八輻輪、十二輻輪等,分別表示八正道、十二因緣。佛陀之手足、齒等,亦有千輻輪之相。另於密教之諸尊中,亦有以金輪為名號者;又一字金輪、最勝佛頂、金剛輪持金剛菩薩、轉法輪菩薩等,皆以金輪為三昧耶形;另如准胝佛母、如意輪觀音、大隨求菩薩等,均持有金輪。又千手觀音四十手中,持有金輪之一手,稱為金輪手。〔雜阿含經卷二十七、中阿含卷十四大善見王經、卷十五轉輪王經、長阿含卷六轉輪聖王修行經、卷十八轉輪聖王品、增一阿含經卷三十三、卷四十八、大樓炭經卷一轉輪王品、仁王護國般若波羅蜜經、俱舍論卷十一、卷十二〕 ; A cakravartin's wheel, i.e. either gold, silver, copper or iron manifesting his rank and power. ; Bánh xe báu của Chuyển Luân Thánh Vương, giúp ngài du hành các nơi để hàng phục chúng sanh. Có bốn loại bằng vàng, bạc, đồng và sắt—A Cakravatin's wheel, either gold, silver, copper or iron, manifesting his rank and power: 1) Kim Luân Vương: Cakravatin's Gold Wheel. 2) Ngân Luân Vương: Cakravatin's Silver Wheel. 3) Đồng Luân Vương: Cakravatin's Copper Wheel. 4) Thiết Luân Vương: Cakravatin's Iron Wheel. ; (輪寶) Phạm: Cakra-ratna. Pàli: Cakka-ratana. Bánh xe báu, 1 trong 7 thứ báu của vua Chuyển luân Thánh vương. Phẩm Chuyển luân Thánh vương trong kinh Khởi thế quyển 2 (Đại 1, 317 thượng), nói: Vua Chuyển luân Thánh vương xuất hiện ở châu Diêm phù (...) vào ngày trăng tròn, quần thần vây chung quanh vua, lúc ấy trước mặt vua, có bảo luân hốt nhiên xuất hiện, đầy đủ 1.000 nan hoa, tự nhiên thành tựu, không do thợ tạo tác. Bảo luân có 4 loại: Kim luân bảo (bánh xe bằng vàng), Ngân luân bảo (bánh xe bằng bạc), Đồng luân bảo (bằng đồng) và Thiết luân bảo (bằng sắt). Ngoài ra, giáo pháp của đức Phật nói ra có thể phá tan vô minh phiền não, các điều xấu ác và tà kiến của ngoại đạo, cho nên giáo pháp ấy được ví như bánh xe của Luân vương đánh dẹp quân địch ở 4 phương và khi đức Phật thuyết pháp gọi là Chuyển pháp luân. Bánh xe có 8 nan hoa hoặc 12 nan hoa, tượng trưng cho 8 chính đạo và 12 nhân duyên. Ngoài ra, trong các vị tôn của Mật giáo, cũng có vị dùng Kim luân làm danh hiệu. Lại như Nhất tự kim luân, Tối thắng Phật đính, Kim cương luân trì Kim cương bồ tát, Chuyển pháp luân bồ tát, v.v... đều dùng Kim luân làm hình Tam muội da. Còn như Chuẩn đề Phật mẫu, Như ý luân Quan âm, Đại tùy cầu bồ tát, v.v... đều cầm Kim luân. Lại nữa, trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm, thì tay cầm Kim luân được gọi là Kim luân thủ. [X. Tạp a hàm Q.27; kinh Đại thiện kiến vương trong Trung a hàm Q.14; kinh Chuyển luân vương trong Trung a hàm Q.15; kinh Chuyển luân Thánh vương tu hành trong Trường a hàm Q.7; phẩm Chuyển luân Thánh vương trong Trường a hàm Q.18; kinh Tăng nhất a hàm Q.33, 48; phẩm Chuyển luân vương trong kinh Đại lâu thán Q.1; kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật; luận Câu xá Q.11, 12].

luân chuyển

Samsàra (S). The turning of the wheel, to revolve, i.e. transmigration in the six ways, the wheel of transmigration; the round of existence. ; 1) Xoay vòng: To rotate. 2) Luân Chuyển trong Ba Cõi Sáu Đường: Samsara (skt)—The turning of the wheel—Transmigration in the three realms and six ways. 3) Bánh Xe Luân Hồi: The wheel of transmigration. 4) Vòng sanh Tử: The round of existence.

luân duyên

See Luân Mãn.

luân giới

Chakrasaṃvara (S), korlo dompa (T), khor lo bde mchog (T).

luân hoàn

To turn around.

luân hoán chủ thần giáo

6187即十九世紀著名比較宗教學者穆勒(Müller, Friedrich Max; 1823~1900)所說之交代神教(Kathenotheism)、交替主神教。指主神係逐漸顯現而尚未固定化之多神教而言,亦可視為「單一神教」(Henotheism)之一種。以其主神常在不同時期、不同地域或集團間交替輪換,故稱輪換主神教。蓋多神教之通例,恆有一至尊之主神,而諸神之從屬者,不必在禮拜之列。此教則於某一時,僅以尊事某神為主,而淡忘其他諸神;於另一時,則又以他神代之,而淡忘其前所最尊事之神。穆勒始以此名施諸印度之吠陀,其意殆與單一神教之語有相同之解釋。此現象在印度教(梵天、濕婆、毘濕奴間)和古代希臘宗教(宙斯、雅典娜、阿波羅間)均有出現。 ; (輪換主神教) Chỉ cho tông giáo chỉ thờ 1 vị thần linh làm chủ trong một thời kì nào đó rồi thay đổi để tôn thờ vị thần linh khác. Chẳng hạn như Đa thần giáo thường ở 1 thời kì nào đó, tôn thờ 1 vị chí tôn làm chủ, mà quên các thần khác. Rồi đến 1 thời kì nào đó, lại bỏ vị thần chí tôn này mà thay thế 1 vị chí tôn khác làm chủ, cho nên được gọi là Luân hoán chủ thần giáo. Hiện tượng này đã xuất hiện ở Cổ Ấn độ(như Phạm thiên, Thấp bà, Tì thấp nô) cũng như ở Cổ Hi lạp (như Trụ tư, Nhã điển na, A ba la), v.v...

luân hỏa

Alàtacakra (S). Xem hỏa luân.

Luân hồi

輪迴; S, P: saṃsāra; T: 'khor ba; nguyên nghĩa Phạn ngữ là »Lang thang, trôi nổi«; có khi được gọi là Vòng sinh tử, hoặc Sinh tử (生死);|Chỉ những đời sống tiếp nối nhau, trạng thái bị luân chuyển của một loài Hữu tình khi chưa đạt giải thoát, chứng ngộ Niết-bàn. Nguyên nhân trói buộc trong luân hồi là các pháp Bất thiện (s: akuśala), gồm có Ái (s: tṛṣṇā), sân (s: dveśa) và Si (s: moha) hay Vô minh (s: avidyā). Nghiệp (s: karma) là động cơ tác động lên cơ chế của sự tái sinh. Trong Ðại thừa, luân hồi được xem là thế giới của hiện tượng và thể tính của nó chính là thể tính của Niết-bàn.|Cội nguồn của luân hồi từ đâu, Hữu tình có từ bao giờ…, những câu hỏi này đã được nhiều người nêu lên nhưng Phật tuyệt đối không trả lời những sự thắc mắc vô bổ này vì theo Ngài, chúng chẳng giúp ít gì trên con đường tu tập. Niết-bàn, sự giải thoát khỏi luân hồi chỉ có thể thực hiện trong kiếp làm người; trong tất cả con đường tái sinh khác chúng sinh không thể đạt Bồ-đề vì không có đủ khả năng nhận thức được yếu tố chính của luân hồi, đó là tham và vô minh.

luân hồi

6185梵語 saṃsāra。音譯僧娑洛。謂眾生由惑業之因(貪、瞋、癡三毒)而招感三界、六道之生死輪轉,恰如車輪之迴轉,永無止盡,故稱輪迴。又作生死、生死輪迴、生死相續、輪迴轉生、淪迴、流轉、輪轉。本為古印度婆羅門教主要教義之一,佛教沿襲之並加以發展,注入自己之教義。婆羅門教認為四大種姓及賤民於輪迴中生生世世永襲不變。佛教則主張業報之前,眾生平等,下等種姓今生若修善德,來世可生為上等種姓,甚至可生至天界;而上等種姓今生若有惡行,來世則將生於下等種姓,乃至下地獄,並由此說明人間不平等之原因。 蓋欲滅六道輪迴之苦,則必先斷其苦因(三毒),謂三毒猶如種子之能生芽,故眾生流轉三有(即欲界、色界、無色界)不得出離,若斷滅我執及貪、瞋、癡,則諸苦亦斷。〔過去現在因果經卷二、分別善惡業報經卷上、觀佛三昧海經卷六觀無量心品、法華經卷一、正法念處經卷四十一、南本涅槃經卷十六、大智度論卷三十、卷七十七、成唯識論卷四〕 ; Rinne (J), Saṃsāra (S, P), Birth-and-death, khor wa (T), Rinne (J). ; Samsàra (S). Transmigration of souls; metempsychosis. Round of rebirths. ; Samsara—To revolve—To turn around the wheel of life. ; (輪回) Phạm: Saôsarà. Hán âm: Tăng sa lạc. Cũng gọi Sinh tử, Sinh tử luân hồi, Sinh tử tương tục, Luân hồi chuyển sinh, Lưu chuyển, Luân chuyển. Bánh xe quay vòng. Chúng sinh do hoặc nghiệp (tham sân si) chết trong kiếp này, rồi lại sinh vào kiếp khác, hệt như cái bánh xe, cứ quay vòng mãi mãi trong 3 cõi. Đây là 1 trong những giáo nghĩa chủ yếu của Bà la môn giáo ở Ấn độ cổ đại, Phật giáo dùng theo và phát triển thêm thành giáo nghĩa Phật giáo. Nhưng có điểm khác nhau là: Bà la môn giáo cho rằng 4 giai cấp và tiện dân, trong quá trình luân hồi, đời đời kiếp kiếp vẫn y theo giai cấp ấy, không có gì thay đổi. Còn Phật giáo thì chủ trương rằng: Trước khi có nghiệp báo thì chúng sinh đều bình đẳng, nếu ở hạ đẳng mà kiếp này tu thiện đức, thì kiếp tới có thể sinh làm thượng đẳng, thậm chí có thể sinh lên cõi trời. Còn nếu kẻ ở thượng đẳng mà kiếp này làm ác, thì kiếp sau có thể sinh vào hạ đẳng, thậm chí sinh xuống địa ngục. Đây chính là nguyên nhân của sự bất bình đẳng ở nhân gian. Nếu muốn diệt cái khổ luân hồi trong 6 đường, thì trước hết phải tiêu trừ nhân tham, sân, si, vì đó chính là cái mầm mống khiến cho chúng sinh mãi mãi lưu chuyển trong 3 cõi. Nếu cắt đứt được ngã chấp và tham sân si, thì cái khổ luân hồi cũng sẽ chấm dứt. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.2; kinh Phân biệt nghiệp báo Q.thượng; phẩm Quán vô lượng tâm trong kinh Quán Phật tam muội hải Q.6; kinh Pháp hoa Q.1; kinh Chính pháp niệm xứ Q.41; kinh Niết bàn Q.16 (bản Nam); luận Đại trí độ Q.30, Q.77; luận Thành duy thức Q.4].

luân hồi là niết bàn, niết bàn là luân hồi

Reincarnation. • Luân là bánh xe hay cái vòng, hồi là trở lại; luân hồi là cái vòng quanh quẩn cứ xoay vần: Reincarnation means going around as the wheel turns around. • Thế giới nầy là Ta bà hay Niết bàn là hoàn toàn tùy thuộc vào trạng thái tâm. Nếu tâm giác ngộ thì thế giới nầy là Niết bàn. Nếu tâm mê mờ thì lập tức thế giới nầy biến thành Ta Bà—Whether the world is Samsara or Nirvana depends entirely on our state of mind. If our mind is enlightened, then this world is Nirvana; if our mind is unenlightened, then this world is Samsara. • Với những ai biết tu thì ta bà là Niết Bàn, và Niết Bàn là ta bà: For those who strive to cultivate, samsara is Nirvana, Nirvana is samsara.

luân hồi ngũ đạo

Five different paths of saṃsāra.

luân hồi sanh tử

Saṃsāra (S, P), Cycle of living-death ; Samsara (p & skt)— The cycle of births and deaths (birth, deah, and rebirth)—Luân hồi sanh tử trong đó chúng sanh cứ lập đi lập lại sanh tử tử sanh tùy theo nghiệp lực của mình—The state of transmigration or samsara, where beings repeat cycles of birth and death according to the law of karma.

luân lí tông giáo

4052(Nithi Dharma or Ethical Religion)印度聖雄甘地(Mohandas Karamchand Gandhi, 1869~1948)以古加拉特(Gujarat)方言所撰。甘地有感於世人漸罔顧宗教之本質,且偽善與不誠實橫行,故撰本書闡述其對宗教、道德等之見解。內容包括:道德之義務、最高道德、道德之定義、超越萬法之法則、道德與普遍之善等項目。甘地指出:不斷的真誠內省,乃人之所以為人的第一義務。無所希求之自發性善行,才是最高之善行。道德一如太陽,具有超越時空、人種之普遍價值性。又主張宗教與道德之間並無明顯界分;期勉世人辨別真理與偽善,並認同達爾文之進化論,以為最後適存於世界者必為道德之適應者。其結論為:唯有堅持不為自我污染之真性、實踐絕對奉獻之生活,才得享受真正之幸福。〔B.R. Nanda: Mahatma Gandhi, A Biography, 1958)

luân lý

Moral.

luân lý phật

The Buddha moral code

luân lý tông giáo

(倫理宗教) Nithi Dharma, Ethical Religion. Tác phẩm, do ngài Mohandas Karamchand Gandhi (1869-1948) người Ấn độ soạn theo phương ngôn Gujarat. Nội dung sách bao gồm những hạng mục như: Nghĩa vụ đạo đức, Đạo đức tối cao, Định nghĩa đạo đức, Pháp tắc siêu việt vạn pháp, Đạo đức và điều thiện phổ biến v.v... Ngài Gandhi đã nêu vấn đề: Không ngừng phản tỉnh nội tâm một cách chân thành, đó là nghĩa vụ hàng đầu của mỗi người. Những việc làm thiện tự phát không mong cầu gì cả, mới chính là hành vi thiện cao cả nhất. Ngài cho rằng đạo đức giống như mặt trời, siêu việt thời, không và nhân chủng. Ngài cũng chủ trương giữa tông giáo và đạo đức không có ranh giới rõ rệt, hi vọng người đời phân biệt rõ ràng giữa chân lí và cái thiện giả dối. Cuối cùng, ngài kết luận rằng chỉ có kiên trì giữ tính chân thật, không để cho tư ngã làm ô nhiễm, cống hiến trọn vẹn cho cuộc sống thực tiễn, mới có thể hưởng được hạnh phúc chân chính. [X. Mahatma Gandhi, A Biography, 1958 (B.R. Nanda)].

luân lưu

In turn—By turns.

luân mãn

Luân Duyên—Vành xe hay vỏ xe—A felly or tire.

luân phiên

In turn—By turns—Alternate—To take turns (a rotation of duties).

luân phúc

Căm xe—Wheel-spokes.

luân sa

Xem Luân.

luân sai

6186又作輪番。指相互交替輪值管理寺院之職僧。禪林象器箋雜行門:「自上位差,次第到下位,復還及上位,若車輪環轉,故云輪差。」又依戒臘高低,順次記入僧籍簿,稱為輪差僧簿。敕修百丈清規卷一聖節條(大四八‧一一一三上):「輪差僧簿,依戒次各書雙字名。」 ; (輪差) Cũng gọi Luân phiên. Thay phiên nhau làm việc như bánh xe quay vòng. Môn Tạp hành trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Từ thượng vị lần lượt đến hạ vị, hết lượt lại bắt đầu từ thượng vị, như bánh xe quay vòng, cho nên gọi là Luân sai. Ngoài ra, còn có danh từ Luân sai tăng bạ là quyển sổ ghi tên của chư tăng theo thứ tự giới lạp. [X. điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1].

luân thường

Morals.

luân tướng

6186<一>指塔頂上之輪盤形建築。又作相輪、承露盤、輪蓋。在日本,相輪通常有九層,故又稱九輪。經律中又有金剎、露盤等名稱。南海寄歸內法傳卷四(大五四‧二二六下):「制底如小棗,上置輪相,竿若細針。」〔翻譯名義集卷七〕(參閱「承露盤」3254) <二>為佛三十二相之一。謂佛足蹠如千輻輪之印紋。佛陀經常遊履各地弘宣妙法,一如國王之乘寶車巡治國內,故有「佛舉足時,足下千輻輪相」之語。 ; Vầng lọng trên đỉnh tháp, hoặc dưới chân của Chuyển Luân Thánh Vương hay Phật (vòng lộng thường có chín tầng gọi là cửu luân)—The wheel sign, on the top of a pagoda, or on the feet of a cakravartin or Buddha. ** For more information, please see Cửu Luân. ; (輪相) I. Luân Tướng. Cũng gọi Tướng luân, Thừa lộ bàn, Luân cái. Bộ phận kiến trúc hình cái lọng trên đỉnh tháp. Ở Nhật bản bộ phận này thường là 9 lớp nên gọi Cửu luân. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 226 hạ) nói: Đáy phẳng nhỏ bằng quả táo, trên đặt luân tướng, ngọn nhỏ như cây kim. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Thừa Lộ Bàn). II. Luân tướng. Dưới bàn chân của đức Phật có những vằn xoáy ốc như nghìn chiếc bánh xe, là 1 trong 32 tướng tốt của Phật. Đức Phật thường đi các nơi để hoằng dương diệu pháp, cũng như Quốc vương ngồi xe tuần du trong nước, vì thế có câu: Mỗi khi đức Phật bước đi, thì dưới chân Ngài có tướng nghìn bánh xe hiện lên.

luân tạng

6187將藏經樓中所使用之書架,設置機輪便於旋轉,稱為輪藏。又作轉輪藏、轉關經藏。亦即於收藏大藏經之庫房中,將藏經之搭棚,作成八角形,於其下安置車輪,中央立一支柱,以便迴轉搭棚,得以自在檢出所需之經卷。 輪藏創始於梁代善慧大士傅翕。釋門正統卷三塔廟志(卍續一三○‧三九六上):「初梁朝善慧大士(傅翕玄風)愍諸世人,雖於此道頗知信向,然於贖命法寶,或有男女生來不識字者,或識字而為他緣逼迫不暇披閱者。大士為是之故,特設便方,創成轉輪之藏,令信心者推之一匝,則與看讀同功。」 至唐代,輪藏之構造,每於其上復安置佛龕、彩畫、懸鏡等,並環藏敷座,形制更為精美。〔全唐文卷六七六〕(參閱「經藏」5557) ; Luân Tạng được xây giữa tầng tháp lớn với một cái trụ mở ra tám mặt, treo tất cả các bộ kinh lên đó, và làm bánh xe xoay vòng xung quanh, mỗi vòng quay là có công đức như đọc kinh (đây là phát kiến của Phó Đại Sĩ đời nhà Lương)—Revolving scriptures—A revolving stand with eight faces, representing the sacred canon—A praying wheel, the revolving of which brings as much merit to the operator as if he had read the whole scriptures. ; (輪藏) Cũng gọi Chuyển luân tạng, Chuyển quan kinh tạng. Cái giá sách để kinh trong lầu Đại tạng kinh. Cái giá này có hình dáng cái thạp 8 góc, chính giữa có 1 cái trục, ở dưới có bánh xe để dễ xoay chuyển, giúp người đứng ở một chỗ quay vòng cái giá mà có thể tìm ra quyển kinh mà mình cần ở trên đó. Mục Tháp miếu chí trong Thích môn chính thống quyển 3 (Vạn tục 130, 396 thượng), nói: Đầu đời Lương, Đại sĩ Thiện tuệ (Phó hấp, Huyền phong) thương xót người đời, tuy biết tin đạo, nhưng đối với Pháp bảo thì có người không biết chữ, hoặc biết chữ mà bận rộn nhiều việc, không có giờ rảnh để xem. Vì lẽ ấy, Đại sĩ dùng phương tiện, sáng chế ra tạng Chuyển luân, khiến cho người có lòng tin, xoay một vòng thì công đức cũng giống như người đọc kinh vậy. Đến đời Đường, hình thức Luân tạng được cải tiến đẹp đẽ hơn, có thiết trí khám thờ Phật, trang hoàng màu sắc, treo những tấm gương v.v..., khi quay vòng trông rất đẹp mắt. [X. Toàn đường văn Q.676]. (xt. Kinh Tạng).

luân tề

Trục hay trung tâm bánh xe—The navel or hub of a wheel.

luân tọa

Chỗ ngồi của vị Chuyển Luân Thánh Vương hay Phật—The throne of a Cakravatin or a Buddha.

luân vi sơn

Cakravala (skt)—Hai vòng núi đồng tâm tạo nên chu vi của thế giới—The double concentric circles of mountains forming the periphery of a world.

luân vi sơn vương

Xem Chước Ca La Sơn vương.

luân viên cụ túc

Mạn Đồ La như chiếc bánh xe (có đầy đủ vành, trục, nan hoa, tròn trịa đầy đủ), nói về công đức viên mãn của chư Phật không một chút khiếm khuyết (tập trung tất cả công đức chư Phật vào Mạn Đồ La để cho chúng sanh bước vào Phổ Môn)—A complete Mandala showing the Buddhas and others, symbolizing their works—A magic circle.

luân vương

Cakravartin (S). A ruler the wheels of whose chariot roll everywhere without obstruction; an emperor, a sovereign ofvthe world, a supreme ruler. ; Cakravartin (skt). 1) Tiếng Phạn là Chước Ca La Đại Cức Để Hạt La Xà hay Giá Ca Việt La—C(h)akravartin (skt). 2) Vị Chuyển Luân Vương vận chuyển luân bảo đi khắp nơi không trở ngại để hàng phục bốn phương—A ruler of the wheels of whose chariot roll everywhere without obstruction. 3) Vị quốc vương tối thượng cai trị thế giới—An emperor, a sovereign of the world, a supreme ruler. 4) Đức Phật với giáo thuyết phổ cập và pháp giới của Ngài—A Buddha whose truth and realm are universal (Buddha as universal spiritual king). 5) Dấu hiệu của Luân Vương là một cái dĩa gồm bốn thứ theo thứ tự—The symbol is the cakra or disc, which is of four kinds indicating the rank: • Kim Luân Vương: Gold cakra. • Ngân Luân Vương: Silver cakra. • Đồng Luân Vương: Copper cakra. • Thiết Luân Vương: Iron cakra. **For more information, please see Luân Bảo.

luân vương tự

6185<一>位於日本訤木縣日光市。為日本天台宗之門跡寺。山號為日光山,係奈良時代勝道所創建。自空海登山之後,把二荒山改為日光山;而圓仁登山後,即改宗。其後大為繁興,僧坊計有三百,為僅次於延曆寺之大寺。然自豐臣秀吉奪取此寺後,則日漸衰敗,直至天海始又中興,更創建東照宮,後因守澄法親王繼為門主,故賜名為「輪王寺宮」,而稱門跡,並兼攝理上野寬永寺。至明治時代,因神佛分離,始分出東照宮、二荒山神社與輪王寺。 <二>日本上野寬永寺於明治元年(1868)十一月廢止輪王寺門跡之號,十六年,復歸門跡號後,即成為別寺。

luân đa lợi hoa

1) Một loại ngọc quí thanh tịnh: A precious pearl that purifies. 2) Một loại hoa Luân Đa Lợi có mùi thơm: A specially fragrant flower.

luân đoá

6186為佛八十種好之第四十二。即指相好莊嚴之圓輪耳埵。大般若波羅蜜多經卷三八一(大六‧九六八中):「世尊耳厚,廣大脩長,輪埵成就。」 ; (輪埵) Chỉ cho vành tai tròn trịa đẹp đẽ của đức Phật, là tướng thứ 42 trong 80 tướng tốt. Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 381 (Đại 6, 968 trung), nói: Đức Thế tôn có vành tai dày, lớn và dài chấm vai, luân đóa thành tựu.

luân đóa

Vành tai tròn đầy, một trong những tướng hảo của Phật—Ears round and full, a mark of a Buddha. ** For more information, please see Tam Thập Nhị Hảo Tướng Của Phật.

Luận

論; S: śāstra;|Luận giải về giáo pháp đạo Phật, do các Luận sư Ðại thừa trình bày. Phần lớn các luận giải thích các Kinh (s: sūtra). Về mặt tính chất, luận khác kinh ở chỗ rất có tính lí luận đúng sai. Luận là một thành phần cơ bản trong Tam tạng của Phật giáo Trung Quốc.

luận

6168<一>梵語 śāstra 或 abhidharma,巴利語 abhidhamma。為論藏之略稱。係三藏之一。音譯阿毘達磨、阿毘曇、毘曇。意譯對法。即明示教法之意。將經典所說之要義,加以分別、整理,或解說,稱為論。例如大智度論即為解釋大品般若經而作者。於漢譯大藏經中有一五八部,西藏譯本之大藏經(北京版)中有八一七部之多。(參閱「阿毘達磨」3641) <二>指論議、論義。即藉往復問答以顯揚教義。據瑜伽師地論卷十五載,有六種論,即:(一)言論,指言語之論議。(二)尚論,指尊重之論議。(三)諍論,指發忿之論議。(四)毀謗論,指惡口之論議。(五)順正論,指順正確論理之論議。(六)教導論,為教導眾人之論議。其中後二論為真實之論。(參閱「論義」6171) <三>指印度婆羅門之學問書。可分:(一)式叉論(梵 Śikṣā),為聲音學之書。(二)毘伽羅論(梵 Vyākaraṇa),為文法學之書。(三)劫波論(梵 Kalpa),為祭祀儀禮之書。(四)樹底論(梵 Jyotiṣa),為天文、地理、算數等書。(五)闡陀論(梵 Chandas),為韻律學之書。(六)尼祿多論(梵 Nirukta),為語言學之書。以上合稱六論。 ; Prākāraṇa (S), Commentary. ; Sàstra, abhidharma, upadesa (S). To discourse upon, discuss, reason over; discourses, discussions, or treatises on dogma, philosophy, discipline, etc. ; 1) (v)—To comment—To discuss—To discourse upon—To reason over. 2) (n)—Sastra (skt)—Abhidharma—Upadesa—Discourses—Treatises on dogma—Philosophy—Discussions—Commentaries. 3) Luận Tạng: See Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá in Vietnamese-English Section, and Abhdharma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (論) I. Luận. Gọi đủ: Luận tạng. Phạm: Zàstra, Abhidharma. Pàli: Abhidhamma. Hán âm: A tì đạt ma, A tì đàm, Tì đàm. Hán dịch: Đối pháp. Phân biệt, chỉnh lí hoặc giải thuyết để chỉ rõ yếu nghĩa được nói trong kinh điển, là 1 trong 3 tạng. Trong Đại tạng kinh Hán dịch có 158 bộ luận, còn trong Đại tạng kinh Tây tạng (bản Bắc kinh) thì có tới 817 bộ. (xt. A Tì Đạt Ma). II. Luận. Chỉ cho Luận nghị, Luận nghĩa. Tức nhờ vào sự hỏi đáp qua lại mà nêu tỏ giáo nghĩa. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 15 thì Luận có 6 loại: 1. Ngôn luận: Dùng lời nói để luận bàn. 2. Thượng luận: Tôn trọng sự luận bàn. 3. Tranh luận: Chỉ sự luận bàn với thái độ nóng nảy. 4. Hủy báng luận: Luận bàn bằng lời lẽ thô bỉ. 5. Thuận chính lí luận: Chỉ cho sự luận bàn thuận theo lí luận chính xác. 6. Giáo đạo luận: Luận bàn với mục đích chỉ bảo chúng sinh. Trong 6 loại trên, 2 loại chót là luận chân thực. III. Luận. Chỉ cho các sách của Bà la môn Ấn độ học tập. Có 6 loại: 1. Thức xoa luận (Phạm: Zikwà): Sách dạy về âm thanh học. 2. Tì già la luận (Phạm: Vyàkaraịa): Sách dạy về văn pháp học. 3. Kiếp ba luận (Phạm: Kalpa): Sách dạy môn nghi lễ cúng tế. 4. Thụ để luận (Phạm: Jyotiwa): Sách dạy về các môn thiên văn, địa lí, toán số v.v... 5. Xiển đà luận (Phạm: Chandas): Sách dạy về môn vận luật học. 6. Ni lục đa luận (Phạm: Nirukta): Sách dạy về môn ngôn ngữ học.

luận a tỳ đạt ma câu xaù

Abhidharmakosa-Bhasya-Sastra—Bộ Luận “Kho Tàng Pháp Bảo” được Ngài Thế Thân soạn vào thế kỷ thứ năm sau Tây lịch. Đây là bộ luận quan trọng nhất, giải thích đầy đủ về tông phái Nhất Thiết Hữu Bộ của Phật giáo Tiểu Thừa, được Ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ—The sastra of “Treasure Chamber of the Abhidharma” composed by Vasubandhu in the fifth century AD. This is the most important compilation of the Sarvastivada (Hinayana) teaching. It was translated into Chinese by Hsuan-Tsang.

luận biện trung biên

Madhyantavibhaga Sastra—Bộ Luận được Ngài Thế Thân soạn về Đức Phật Di Lặc—The sastra was composed by Vasubandhu on the Coming Buddha, Maitreya.

luận bàn

To discuss—To comment.

luận bản mẫu

6168巴利語 abhidhamma-mātikā。為上座部佛教所採用的諸法分類之準則。南傳佛教七大論書之一之法集(巴 Dhamma-saṅgaṇi),書中之卷首部分即揭出一二二門,稱為論本母或本母(巴 mātikā),以之為了別諸法之基準。一二二門可大別為三聚(巴 tika)二十二門與二聚(巴 duka)百門兩類。三聚二十二門如下:(一)善法、不善法、無記法。(二)樂受相應法、苦受相應法、不苦不樂受相應法。(三)異熟法、異熟法法、非異熟非異熟法法。(四)已取當取法、不已取當取法、不已取不當取法。(五)已染當染法、不已染當染法、不已染不當染法。(六)有尋有伺法、無尋唯伺法、無尋無伺法。(七)喜俱行法、樂俱行法、捨俱行法。(八)見所斷法、修所斷法、非見非修所斷法。(九)見所斷因法、修所斷因法、非見非修所斷因法。(十)流轉法、還滅法、非流轉非還滅法。(十一)有學法、無學法、非有學非無學法。(十二)小法、大法、無量法。(十三)小所緣法、大所緣法、無量所緣法。(十四)劣法、中法、勝法。(十五)邪定法、正定法、不定法。(十六)道所緣法、道因法、道增上法。(十七)已生法、不已生法、當生法。(十八)過去法、未來法、現在法。(十九)過去所緣法、未來所緣法、現在所緣法。(廿)內法、外法、內外法。(廿一)內所緣法、外所緣法、內外所緣法。(廿二)有見有對法、無見有對法、無見無對法。 其次,二聚百門可細別為十三類,即:(一)因類六門,(二)小中二聚七門,(三)漏類六門,(四)結類六門,(五)繫類六門,(六)暴流類六門,(七)軛類六門,(八)蓋類六門,(九)取著類五門,(十)大中二聚十四門,(十一)取類六門,(十二)染類八門,(十三)餘二聚十八門。 以上一二二門中,二聚之大中二聚的內法、外法,餘二聚之見所斷法、修所斷法、見所斷因法、修所斷因法、喜俱行法、樂俱行法及捨俱行法等九法,與三聚中之同法重複。 要之,論本母乃分類諸法之準則,巴利諸論書大多採用此一準則以分別闡說諸法,如上記所舉法集(論)之本文,於第一心生起品及第二色品係基於一二二門之第一善、不善、無記等三法為基礎,以此說明心、心所及色,於第三總說品及第四義釋品,係依一二二門全體為基礎來解說一切法;又其後之諸論亦一貫適用此分類法門,如分別論(巴 Vibhaṅga)之各品末所存在的問難(巴 Pañha-pucchā),及界論(巴 Dhātukathā)之各品末置該品所論之名目,皆以一二二門來分別;發趣論(巴 Paṭṭhāna)則說明一二二門與二十四緣相互間之關係。〔南方上座部論書解說、B.C. Law: A History of Pāli Literature, vol. Ⅱ〕(參閱「經本母」5550) ; (論本母) Pàli: Abhidhamma-màtikà. Cũng gọi Bản mẫu (Pàli:Màtikà). Tên bộ luận nằm ở đầu quyển của luận Pháp tập (Pàli: Dhamma-saígaịi), 1 trong 7 bộ luận lớn của Phật giáo Nam truyền. Nội dung Luận bản mẫu gồm 122 môn làm tiêu chuẩn cơ bản cho việc phân biệt các pháp, đại để có thể chia làm 2 loại: A. Tam tụ, có 22 môn: thiện pháp, bất thiện pháp, vô kí pháp; lạc thụ tương ứng pháp, khổ thụ tương ứng pháp, bất khổ bất lạc thụ tương ứng pháp.; dị thục pháp, dị thục pháp pháp, phi dị thục phi dị thục pháp pháp; dĩ thủ đương thủ pháp, bất dĩ thủ đương thủ pháp, bất dĩ thủ bất đương thủ pháp; dĩ nhiễm đương nhiễm pháp, bất dĩ nhiễm đương nhiễm pháp, bất dĩ nhiễm bất đương nhiễm pháp; hữu tầm hữu tứ pháp, vô tầm duy tứ pháp, vô tầm vô tứ pháp; hỉ câu hành pháp, lạc câu hành pháp, xả câu hành pháp; kiến sở đoạn pháp, tu sở đoạn pháp, phi kiến phi tu sở đoạn pháp; kiến sở đoạn nhân pháp, tu sở đoạn nhân pháp, phi kiến phi tu sở đoạn nhân pháp; lưu chuyển pháp, hoàn diệt pháp, phi lưu chuyển phi hoàn diệt pháp; hữu học pháp, vô học pháp, phi hữu phi vô học pháp; tiểu pháp, đại pháp, vô lượng pháp; tiểu sở duyên pháp, đại sở duyên pháp, vô lượng sở duyên pháp; liệt pháp, trung pháp, thắng pháp; tà định pháp, chính định pháp, bất định pháp; đạo sở duyên pháp, đạo nhân pháp, đạo tăng thượng pháp; dĩ sinh pháp, bất dĩ sinh pháp, đương dĩ sinh pháp; quá khứ pháp, vị lai pháp, hiện tại pháp; quá khứ sở duyên pháp, vị lai sở duyên pháp, hiện tại sở duyên pháp; nội pháp, ngoại pháp, nội ngoại pháp; nội sở duyên pháp, ngoại sở duyên pháp, nội ngoại sở duyên pháp; hữu kiến hữu đối pháp, vô kiến hữu đối pháp, vô kiến vô đối pháp. b. Nhị tụ, có 100 môn, có thể chia làm 13 loại: nhân: có 6 môn; tiểu và trung: có 7 môn; lậu: 6 môn; kết: 6 môn; hệ: 6 môn; bạo lưu: 6 môn; ách: 6 môn; cái: 5 môn; thủ trước: 5 môn; đại và trung: 14 môn; thủ: 6 môn; nhiễm: 8 môn; các nhị tụ khác: 18 môn. trong 122 môn nêu trên, nội pháp và ngoại pháp của 2 tụ đại và trung cùng 9 pháp của các nhị tụ khác là: kiến sở đoạn pháp, tu sở đoạn pháp, kiến sở đoạn nhân pháp, tu sở đoạn nhân pháp, hỉ câu hành pháp, lạc câu hành pháp và xả câu hành pháp, trùng lắp với các pháp trong tam tụ. tóm lại, luận bản mẫu là qui tắc làm tiêu chuẩn cho việc phân loại các pháp. các luận thư pàli phần nhiều dùng qui tắc này để phân biệt và giải thuyết các pháp. như phẩm tâm sinh khởi (phẩm 1) và phẩm sắc (phẩm 2) trong luận pháp tập đã căn cứ vào 3 pháp của môn thứ 1 trong 122 môn là: thiện, bất thiện và vô kí làm nền tảng để thuyết minh tâm, tâm sở và sắc. còn phẩm tổng thuyết (phẩm 3) và phẩm nghĩa thích (phẩm 4) thì dựa vào toàn bộ 122 môn làm cơ sở để giải thích tất cả pháp. các bộ luận về sau cũng áp dụng cách phân loại này. như các vấn nạn (pàli: paĩha-pucchà) trong các phẩm cuối của luận phân biệt (pàli:vibhaíga) và các danh mục được bàn đến trong các phẩm cuối của giới luận (pàli:dhàtukathà) cũng đều dùng 122 môn để phân biệt. luận phát thú (pàli:paỉỉhàna) thì nói rõ về mối quan hệ hỗ tương giữa 122 môn và 24 duyên. [x. nam phương thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; a history of pàli literature, vol. ii (b.c.law)]. (xt. kinh bản mẫu).

luận bảo hành vương chánh

Ratnāvalī (S)Do Bố tát Long Thọ trước tác.

luận bổn

Sataka (S)Tán.

luận chủ

6168指論之作者。或稱論師(通達論藏之義者)。印度天親菩薩有「千部論主」之稱,百論疏序(大四二‧二三四下):「天親本小乘學,造五百部小乘論。(中略)於是造大乘五百部論,時人呼為千部論主。」(參閱「阿毘曇師」3650) ; (論主) Cũng gọi Luận sư. Chỉ cho tác giả của 1 bộ luận, là người thông suốt ý nghĩa của tạng Luận. Bài tựa trong Bách luận sớ (Đại 42, 234 hạ), nói: Ngài Thiên thân trước học Tiểu thừa, làm 500 bộ luận. (...) Sau chuyển sang Đại thừa,ngài lại tạo 500 bộ luận Đại thừa, cho nên người đương thời gọi ngài là Thiên bộ luận chủ(tác giả của1.000 bộ luận). (xt. A Tì Đàm Sư).

luận câu xá

Abhidharma Kosasastra.

luận cứu cánh nhất thừa bảo tánh luận

Ratnagotravibhagamahayanottara sastra—Bộ Luận Do Nặc Na Ma Đề soạn về Như Lai tạng trong Phật giáo Đại Thừa—The sastra was composed by Ratnamati on the Tathagatagarbha in Mahayana Buddhism.

luận du già sư địa

Yogacarabhumi Sastra—Bộ Luận được Ngài Di Lặc thuyết giảng và Ngài Huyền Trang dịch, nói về giáo lý căn bản của phái Du Già hay Duy Thức—The sastra was expounded by Maitreya and translated into Chinese by Hsuan-Tsang, about the doctrine of the Yogacara or Vijnanavada.

luận duy thức nhị thập

Vimsatika Sastra—Bộ Luận được Ngài Thế Thân soạn về Giáo Lý Duy Thức—The sastra was composed by Vasubandhu on the General Teaching of Consciousness.

luận duy thức tam thập tụng

Trimsika Sastra—Bộ Luận được Ngài Thế Thân soạn về 30 câu kệ của giáo lý Duy Thức—The sastra was composed by Vasubandhu on the thirty stanzas of the Teaching of Consciousness.

luận gia

6170<一>作論解釋佛經深義者。即指著論書以宣揚教義之印度學者,如龍樹、天親等菩薩。〔金光明文句卷四〕 <二>指成實宗之論師。又稱成論人、成論師、論人、論師。智顗之摩訶止觀卷八下(大四六‧一一二上):「數家明報得鴿雀身是報果,多婬是習果。論家鴿身及多婬俱是報果,婬由貪起,貪是習果。」日僧凝然之維摩經疏菴羅記卷十六所載,天台大師智顗、嘉祥大師吉藏等宗祖於著作中,常列有數家、論家、地師、攝師等古師,其中「論家」即為成實論宗師。又摩訶止觀卷六上、卷八上、卷八下、卷九上、吉藏之法華玄論卷十、法華義疏卷一、卷七等有稱「成論人」之例;智顗之法華玄義卷十上、摩訶止觀卷三上、法華義疏卷四、卷六等載有「成論師」之例;摩訶止觀卷五上有「論人」、法華玄義卷十上有「論師」之用例。(參閱「成實宗」2932) ; Xem luận sư. ; Sastra-writers—Interpreters—Philosophers. ; (論家) I. Luận gia. Người sáng tác luận, như các bồ tát Long thụ, Thiên thân v.v... soạn những bộ luận để tuyên dương giáo pháp của đức Phật. [X. Kim quang minh văn cú Q.4]. II. Luận Gia. Cũng gọi Thành luận nhân, Thành luận sư, Luận nhân, Luận sư. Chỉ cho Luận sư của tông Thành thực. Ma ha chỉ quán quyển 8 phần cuối của ngài Trí khải (Đại 46, 112 thượng), nói: Số luận sư cho rằng làm thân bồ câu, chim sẻ là báo quả, còn nhiều dâm dục là tập quả. Nhưng Luận gia thì nói thân bồ câu và dâm dục đều là báo quả, dâm dục do tham phát khởi, tham là tập quả. Theo Duy ma kinh sớ am la kí quyển 16 của ngài Ngưng nhiên, người Nhật bản, trong các tác phẩm của các Tông tổ như Đại sư Trí khải, Đại sư Cát tạng v.v... thường đề cập đến các bậc thầy đời xưa như Số gia, Luận gia, Địa sư, Nhiếp sư v.v..., trong đó, Luận gia tức là Luận sư của tông Thành thực. Ngoài ra, Ma ha chỉ quán quyển 6 thượng, 8 thượng, hạ, 9 thượng, Pháp hoa huyền luận quyển 10, Pháp hoa nghĩa sớ quyển 1, 7 v.v... có dùng từ Thành luận nhân, còn Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 thượng, Ma ha chỉ quán quyển 3 thượng, Pháp hoa nghĩa sớ quyển 4,6 thì dùng từ Thành luận sư; Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng dùng từ Luận nhân, Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 thượng thì dùng từ Luận sư. (xt. Thành Thực Tông).

luận giải

Arthakathā (S), Comment Bình luận. ; Arthakarthà (S). Explanation, commentary. Also bình luận. ; To comment and explain.

luận khởi tín đại thừa

The treatise on the Awakening of Faith.

luận kim cang châm

Vajrasuci Sastra—Luận được soạn bởi Ngài Pháp Xứng, phê phán nghiêm khắc kinh Vệ Đà và địa vị tối thượng của Phạm Thiên—The sastra was composed by Dharmakirti, seriously criticized about the Veda sutra and the supreme position of Braham in Hinduism.

luận kinh

Abhidharma (S), Abhidhamma (P), Tangyur (P), ch ngn pa (T), Commentary Collection, Canon of Analytic Doctrine A tỳ đạt ma, A tỳ đàm, Vi diệu phápMột cách gọi tắt của Abhidhamma-pitaka Sưu tập Luận Kinh được dịch ra tiếng Tây tạng.

luận kiết tường duyệt ý

Sumangalavilasini (S)Trường Bộ kinh chúTên một bộ luận kinh.

luận lục thập tụng như ý

Yuktiśātīka (S)Tên một bộ luận kinh do Tổ Long Thọ biên soạn.

luận lực ngoại đạo

6168釋尊在世時之一外道。其傳不詳。據大智度論卷十八載,彼輒以論議之力自詡,故自稱論力。後知釋尊正行教化,遂以己為恥而一心歸佛。止觀輔行傳弘決卷十之二(大四六‧四四○中):「佛問論力:『眾多道中誰為第一?』論力云:『鹿頭第一。』佛言:『其若為第一,云何捨其道為我弟子、入我道中?』論力見已,慚愧低頭,歸依入道。」 ; (論力外道) Tên 1 phái ngoại đạo ở thời đại đức Phật còn tại thế. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 18 thì ngoại đạo này thường tự khoe khoang về sức nghị luận của mình, cho nên tự xưng là Luận lực. Về sau, biết được đức Phật dùng chính hạnh giáo hóa nên cảm thấy xấu hổ mà dốc lòng qui y Phật. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 10, phần 2 (Đại 46, 440 trung) nói: Đức Phật hỏi ngoại đạo Luận lực: –Những người trong đạo của các ông ai là bậc nhất? Đáp: Lộc đầu là bậc nhất. Phật nói: Ông ấy là bậc nhất, tại sao lại bỏ đạo mà theo làm đệ tử ta? Ngoại đạo Luận lực nghe vậy, hổ thẹn cúi đầu, qui y theo Phật.

luận mãn túc hy cần

Manorathapurani (S).

luận nghĩa

6171請參閱 往生論註指藉問答以顯揚教義。又作論議、講論、法問、問答。其目的在顯明真理俾使對方了解論理,其論義方式一般用因明法,即於立者(立論者)、敵者(問難者)之間,論諍所立之宗義,並論判決擇是非。如世親之論軌、論式,陳那之因明正理門論,商羯羅主之因明入正理論等,皆有規定其論式。據大毘婆沙論卷一載,世尊以種種論議方法為諸有情闡說阿毘達磨,佛陀入滅後諸弟子間即舉行問答論議,阿毘達磨之學風因此發達,釋難決擇之風頓然勃興,同時亦與外道論師(佛教以外之學派)間頻有正邪之論諍。中國自東晉支遁講說維摩經,以許詢為都講(發問者)行論義以來,諸寺之講會亦多採行之,亦兼有與道儒二教之論戰。 在日本,始自維摩會等之敕會,設諸大寺法會之論義漸形儀式化,同時亦有與他宗異教間交換宗論之情事。其種類,依目的而分,有法樂論義、勸學論義等;依場所而分,有內論義(殿上論義)、仙洞論義、武家論義等;依形式而分,有番論義(問者、講師各一人為一組)、向問答(講師、問者互相交替問答)等。此外,試論義者,稱為豎義;輪讀經論而問答,並接受講者之批判,稱為會讀。又論義之題目,稱為論題;論義之參考書,稱為論義冊子、論義策子、論草。禪宗藉問答之方式,以令學人遠離分別,證入菩提,則稱禪問答。〔大智度論卷一、卷三十三、瑜伽師地論卷十五、卷八十八、梁高僧傳卷四、佛祖統紀卷六、日本書紀卷二十五〕(參閱「因明」2276) ; Xem Luận nghĩa. ; (論義) Cũng gọi Luận nghị, Giảng luận, Pháp vấn, Vấn đáp. Mượn lối hỏi đáp để nêu rõ giáo nghĩa, hiển bày chân lí khiến cho đối phương hiểu rõ nghĩa lí. Phương thức luận nghĩa thông thường là dùng pháp Nhân minh, tức là giữa người lập luận và người vấn nạn tranh luận về nghĩa của tông chỉ đã được lập để phán quyết đúng sai. Như Luận quĩ, Luận thức của ngài Thế thân, Nhân minh chính lí môn luận của ngài Trần na, Nhân minh nhập chính lí luận của ngài Thương yết la chủ v.v... đều có qui định về luận thức này. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 1, đức Thế tôn dùng các phương pháp luận nghị để nói rõ A tì đạt ma cho các hữu tình. Sau khi đức Phật nhập diệt, giữa các đệ tử thực hành luận nghị, vấn đáp, phong trào học tập, nghiên cứu A tì đạt ma do đó mà được phát triển, phong trào giải thích và quyết định những điều còn nghi ngờ bỗng nhiên bộc phát. Đồng thời, các đệ tử của Phật cũng tranh luận với các luận sư ngoại đạo để làm sáng tỏ chính tà. Tại Trung quốc, từ thời Đông Tấn, ngài Chi độn giảng thuyết kinh Duy ma, cử ông Hứa tuân làm Đô giảng (người nêu câu hỏi) để luận nghĩa, thì giảng hội của các chùa phần nhiều cũng áp dụng phương thức này, có khi tranh luận cả với Nho giáo và Đạo giáo. Ở Nhật bản, bắt đầu từ hội Duy ma do vua ban sắc tổ chức, thì các pháp hội luận nghĩa được thiết lập ở các chùa lớn cũng dần dần được hình thức hóa, đồng thời cũng có sự trao đổi luận nghĩa giữa các tông và các phái khác. Về chủng loại, căn cứ vào mục đích có thể chia làm 2 loại là: Pháp lạc luận nghĩa và Khuyến học luận nghĩa, căn cứ vào trường sở thì có thể chia ra 3 loại là: Nội luận nghĩa (Điện thượng luận nghĩa); Tiên động luận nghĩa và Vũ gia luận nghĩa; còn dựa theo hình thức thì có thể chia làm 2 loại là: Phiên luận nghĩa (người hỏi và giảng sư mỗi người là một tổ) và Hướng vấn đáp(giảng sư và người hỏi thay nhau vấn đáp) v.v... Ngoài ra, người thi luận nghĩa, gọi là Thụ nghĩa. Thay phiên đọc kinh luận mà hỏi đáp và tiếp nhận sự phê bình của người giảng, gọi là Hội độc. Đề mục của luận nghĩa gọi là Luận đề; sách tham khảo luận nghĩa gọi là Luận nghĩa sách tử, Luận thảo. Thiền tông dùng phương thức vấn đáp để khiến người học xa lìa phân biệt, chứng nhập bồ đề, thì gọi là Thiền vấn đáp. [X. luận Đại trí độ Q.1, 33; luận Du già sư địa Q.15, 88; Lương cao tăng truyện Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.6; Nhật bản thư kỉ Q.25]. (xt. Nhân Minh).

luận nghị

6172<一>即論義。指藉往復問答以闡明法門之義理。(參閱「論義」6171)[1] <二>梵名 Upadeśa。論議經之略稱。為十二部經之一。音譯優婆提舍、優波提舍、優波替舍。意譯法義、說義、法說。為佛陀與弟子間之論議、分別,以解明經義、辨別法相之一種經典形式。又佛自論議問答而辨理者,或佛弟子論佛語、議法相與佛相應者,亦稱論議。瑜伽師地論卷二十五(大三○‧四一九上):「云何論議?所謂一切摩呾履迦阿毘達磨,研究甚深素呾纜義,宣暢一切契經宗要,是名論議。」(參閱「優波提舍」6404) ; Upadeśa (S)Trung Hỷ tỳ kheo, Ưu ba nan đà tỳ kheo, Ưu ba đề xá1- Lối văn có tính vấn đáp và biện luận cho rõ các lẽ chánh tà. 2- Bộ kinh tạng gồm 12 vạn bài kệ giải thích Tạng kinh, thành quả đại hội kiết tập kinh điển đầu công nguyên, luận nghị thể tánh các pháp, làm sáng tỏ ý nghĩa. ; Upadesa (skt)—Luận về bộ kinh thứ 12 trong số 12 bộ kinh Phật—Dogmatic treatises, the twelve and the last section of the canon. ; (論議) I. Luận Nghị. Mượn sự hỏi đáp qua lại để bàn rõ về nghĩa lí của pháp môn. (xt. Luận Nghĩa). II. Luận Nghị. Phạm: Upadeza. Hán âm: Ưu bà đề xá, Ưu ba đề xá, Ưu ba thế da. Gọi đủ: Luận nghị kinh. Hán dịch: Pháp nghĩa, Thuyết nghĩa, Pháp thuyết. Sự luận bàn, phân biệt giữa đức Phật và các vị đệ tử để làm rõ nghĩa kinh, là 1 trong 12 thể tài kinh của kinh. Ngoài ra, đức Phật tự bàn luận, hỏi đáp để biện lí, hoặc các vị đệ tử bàn luận về lời đức Phật dạy, hoặc bàn về pháp tướng tương ứng với Phật, cũng gọi là Luận nghị. Luận Du già sư địa quyển 25 (Đại 30, 419 thượng) nói: Thế nào là luận nghị? Nghĩa là hết thảy A tì đạt ma (luận) nghiên cứu nghĩa sâu xa của Tố đát lãm (kinh), tuyên dương tất cả tông chỉ cốt yếu của khế kinh, đó gọi là Luận nghị. (xt. Ưu Ba Đề Xá).

luận nghị kinh

Upadesa (S). Dogmatic treatises, the twelfth and last section of the Canon. Also ưu bà đề xá.

luận ngữ

Lun-yu (C)3.000 đệ tử của Khổng Tử đã ghi lại lời giảng của ngài trong quyển Luận ngữ này.

luận nhiếp đại thừa

Mahayanasamgraha Sastra—Bộ Luận được Ngài Vô Trước soạn về Phật Giáo Đại Thừa—The sastra was composed by Asanga on the Mahayana Buddhism.

luận nhơn minh nhập chánh lý

Nyayapravesa Sastra—Bộ Luận được Ngài Do Thương Kiết La Chủ soạn, nói về Luận Lý học—The sastra was composed by Sankarasvamin, written on “Introduction to Logic.”

luận nhứt

Vinayaikottara (S)Một trong hai phần Phụ lục của Tạng Luận.

luận phát trí

Jānaprasṭhāna śāstra (S).

luận phát trí độ

Nanodaya (S).

luận phật cốt biểu

6168為唐代文學家韓愈(768~824)進呈憲宗之陳請書。以憲宗欲將安置於鳳翔(陝西)法門寺護國身塔之佛舍利迎請入宮中供養,而韓愈則立於儒教之立場強烈反對,於元和十四年(819)進呈論佛骨表。憲宗以其忤逆,欲處死罪,因諸臣哀請,遂貶為潮州(廣東)刺史。其奏書主張佛教為夷狄宗教,違反中國之倫理道德,且人骨為不潔之物,不應置於宮中;又我國歷代帝王在位期間皆頗長久,而佛法入傳之後禍事頻傳,故不應信奉佛教。 ; (論佛骨表) Thư trần thỉnh của nhà văn học Hàn dũ đời Đường, Trung quốc, dâng lên vua Hiến tông. Năm Nguyên hòa 14 (819), vua Hiến tông muốn rước xá lợi của đức Phật đang thờ ở tháp Hộ quốc, chùa Pháp môn tại Phượng tường (tỉnh Thiểm tây) vào cung để cúng dường. Hàn dũ đứng trên lập trường của Nho giáo cực lực phản đối. Ông dâng Luận Phật cốt biểu (thư bàn về xương của Phật) lên vua Hiến tông. Vua cho rằng ông phạm tội khi quân, toan xử tử, nhưng nhờ các quan Đại thần xin tha tội cho ông, nên vua mới giáng chức và đày Hàn dũ đi làm Thứ sử Triều châu (Quảng đông). Trong thư tâu vua, Hàn dũ cho Phật giáo là tông giáo mọi rợ, trái với luân lí, đạo đức của Trung quốc. Vả lại, xương cốt là vật dơ bẩn, không nên để ở trong cung. Hơn nữa, thời kì ở ngôi của các vị Hoàng đế Trung quốc vốn lâu dài, nhưng sau khi đạo Phật được truyền vào thì tai họa cũng thường xảy đến, bởi thế không nên tin thờ Phật giáo.

luận phật địa kinh

Buddhabhumisutra-sastra—Bộ Luận chú giải về Kinh Phật Địa, được Ngài Thân Quang Đẳng soạn và Ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ—The sastra explained the Buddhabhumi Sutra, composed by Bandhuprabha. It was translated into Chinese by Hsuan-Tsang.

luận sa môn bất kính vương giả

Ordained Buddhists do not have to honor royalty—Thời vua An Đế nhà Tấn, vua xa giá từ Giang Lăng đến Giang Tây, quan Trấn Nam là Hà Vô Kỵ yêu cầu Đại Sư Huệ Viễn đích thân xuống núi nghinh tiếp đức vua. Đại sư lấy cớ đau yếu, khước từ không bái yết. Đến năm Nguyên Hưng thứ hai, quan Phụ Chánh Hoàn Huyền lại gởi cho Đại sư Huệ Viễn một văn thơ, trong đó có nhiều lý luận bắt buộc hàng Sa Môn phải lễ bái quốc vương. Đại sư soạn văn thư phúc đáp và quyển “Sa Môn Bất Kinh Vương Giả Luận” gồm 5 thiên được thành hình để hồi âm. Triều đình xem xong rất lấy làm nể trọng và phải chấp nhận quan điểm của ngài—During the time of Emperor An Đế, the emperor traveled from the Giang Lăng region to Jiang-Tsi; the Great General of the North named Hà-Vô-Kỵ requested the Great Master to descend the mountain to welcome the Emperor. The Great Master used the excuse he was ill and weak to decline this request. Then the second year of Nguyên Hưng reign period, Magistrate Hoàn Huyền once again sent the Greta Master another document. In it this magistrate gave many reasons why Buddhist Monks must bow and prostrate to the emperor. In response, the Great Master wrote a letter and the book with five volumes titled “Ordained Buddhists Do Not Have To Honor Royalty.” After the imperial court reviewed his writing, they highly repsected im and had no choice but to honor his views. **For more information, please see Huệ Viễn.

Luận sư

論師; S: ābhidharmika; P: ābhidhammika;|Chỉ một Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni chuyên nghiên cứu A-tì-đạt-ma. Ðiều đó không có nghĩa rằng, họ không học Kinh và Luật của Tam tạng. Theo truyền thống, Phật Thích-ca được xem là Luận sư đầu tiên mặc dù Luận tạng được Kết tập sau khi Phật nhập Niết-bàn.|Danh từ Luận sư được dịch theo cách dịch nghĩa của A-tì-đạt-ma là Luận, Luận tạng. Như thế người chuyên học Kinh tạng là một Pháp sư và vị chuyên học Luật tạng là một Luật sư.|Trong thời Phật giáo nguyên thuỷ (Thượng toạ bộ), các vị Luận sư thường có nhiều uy tín hơn các vị tăng sĩ khác. Trong chuyến hành hương Ấn Ðộ, Pháp Hiển có kể lại về một Bảo Tháp chỉ được xây dựng nhằm tán thán A-tì-đạt-ma và được các Luận sư hành lễ trong những ngày nhất định.|Dần dần, danh từ Luận sư được dùng chỉ những Cao tăng với những bài luận giải (s: śāstra), đóng góp lớn cho sự phát triển của tư tưởng Phật giáo. Các vị như Long Thụ, Thế Thân, Vô Trước… đều được gọi là Ðại luận sư.

luận sư

6171<一>為梵語 ābhidhārmika 之意譯。即阿毘曇師。指通達三藏中之論藏者。根本說一切有部毘奈耶卷十三舉出經師、律師、論師之別。據大唐西域記卷四秣菟羅國條所載,阿毘達磨眾供養舍利子。此即說明於三藏中特重論藏,而對論藏作解說者,稱為論師,或稱阿毘達磨眾。後成為造論闡揚佛法者之稱,主要指大乘之行人,如造成唯識論疏之十大論師即是。(參閱「阿毘曇師」3650) <二>專指成實宗之論師。又稱論家。(參閱「論家」6171) ; Abhidharmika (S), Abhidhammika (P), Abhidharma master, A tỳ đàm sư. ; Sàstra-writer. or interpreters, philosophers. ; See Luận Gia. ; (論師) Luận Sư. Phạm:Àbhidhàrmika. Hán âm: A tì đàm sư. Chỉ cho người thông suốt tạng Luận trong 3 tạng. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 13 có nêu ra sự khác biệt giữa Kinh sư, Luật sư và Luận sư. Điều Mạt thố la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 4 nói, chúng A tì đạt ma cúng dường ngài Xá lợi phất. Ở đây ý nói trong 3 tạng đặc biệt chú trọng tạng Luận và người giải thuyết tạng Luận được gọi là Luận sư hay A tì đàm chúng. Về sau, danh từ Luận sư cũng được dùng để chỉ cho những người sáng tác luận để xiển dương Phật pháp, chủ yếu chỉ cho các hành giả Đại thừa, như 10 vị Đại luận sư soạn Thành duy thức luận sớ. (xt. A Tì Đàm Sư). II. Luận Sư. Cũng gọi Luận gia. Chuyên chỉ cho các vị Luận sư của tông Thành thực. (xt. Luận Gia).

luận sư chú

Kathavatthuppakaranāttha-katha (S)Do ngài Phật Âm biên soạn.

luận sớ

Phần giảng giải và phê bình Luận Tạng—Sastras with commentary.

luận sự

6170巴利名 Kathā-vatthu。音譯迦他跋偷。又作論事說(巴 Kathāvatthu-ppakaraṇa)。係以錫蘭大寺派之立場評破諸部派異執之著作。為巴利七論之一。相傳乃佛教第三次結集之主持者目犍連子帝須(巴 Moggaliputta-tissa)所著。凡二十三品二一七論,各品末皆有攝頌。敘說前三世紀僧團中之各種論爭,批駁大眾部、說一切有部等派別之二一九種見解,而主張:(一)過去、未來法無實體,(二)並非一切法皆為實有,(三)四諦可以頓得現觀,(四)沒有「中有」,(五)證得阿羅漢則得不退轉,(六)沒有真實之補特伽羅(梵 pudgala,包括人、個人、我、靈魂、有情等諸義),(七)佛與二乘修道不同等。綜觀上述,知本書為研究部派佛教之重要典籍。本書所破之部派名稱並未載於本文之中,然可由佛音(巴 Buddhaghosa)之論事注(巴 Kathā-vatthu-ppakaraṇa-aṭṭhakathā)所傳加以補入。據此,則有犢子部、正量部、說一切有部等十六部派,其中以案達派揭出之次數最頻繁。彌蘭王所問經(巴 Milinda-pañha)之所說與本書之關係密切。 本書現有原文出版(P.T.S. 1894~1897)及英譯(Points of Controversy, 1915)、日譯(南傳大藏經第五七、五八卷)。佛音之論事注收於其所著之五論注中,論事注之一部分有閔那耶夫(Minayeff)之原文出版(Journal of P.T.S. 1889),與論事合編的有佐藤密雄與佐藤良智兩氏之日譯(論事附佛音注)。〔Rhys Davids: Question discussed in the Kathāvatthu(Journal of R.A.S. 1892); Mrs. Rhys Davids: Buddhist Psychology; B.C. Law; A History of Pāli Literature; G.P. Malalasekera: Dictionary of Pāli Proper Names〕 ; (論事) Pàli:Kathà-vatthu. Hán âm: Ca tha bạt thâu. Cũng gọi Luận sự thuyết (Pàli: Kathàvatthu-ppakaraịa). Tác phẩm theo lập trường của phái Đại tự ở Tích lan để đả phá các bộ phái dị chấp, tương truyền do ngài Mục kiền liên tử đế tu (Pàli: Moggaliputta-tissa), người chủ trì cuộc kết tập kinh điển lần thứ 3 soạn. Là 1 trong 7 bộ luận tiếng Pàli. Sách gồm 23 phẩm, 217 luận, cuối mỗi phẩm đều có phần Nhiếp tụng. Nội dung trình bày các cuộc tranh luận xảy ra trong tăng đoàn 3 thế kỉ trước (thời đại Phật giáo bộ phái), phê phán và bác bỏ 219 kiến giải của Đại chúng bộ, Thuyết nhất thiết hữu bộ v.v... mà chủ trương 7 quan điểm sau đây: 1. Quá khứ và vị lai không có thực thể. 2. Chẳng phải tất cả các pháp đều có thực. 3. Tứ đế có thể đạt được hiện quán nhanh chóng. 4. Không có Trung hữu. 5. Chứng đắc A la hán thì được Bất thoái chuyển. 6. Không có Bổ đặc già la (pudgala, cái ta) chân thực. 7. Sự tu đạo của Phật và hàng Nhị thừa có khác nhau. Tóm lại, đây là tác phẩm quan trọng cho việc nghiên cứu Phật giáo bộ phái. Tên các bộ phái bị đả phá không được trực tiếp ghi trong sách này, nhưng được ghi bổ xung trong Luận sự chú (Pàli:Kathàvatthuppakaraịa-aỉỉhakathà) của ngài Phật âm (Pàli: Buddhaghosa), nhờ đó ta biết được có 16 bộ phái như Độc tử bộ, Chính lượng bộ, Thuyết nhất thiết hữu bộ v.v..., trong đó, phái Án đạt được đề cập đến nhiều nhất. Những điều được nói trong kinh Di lan vương sở vấn (Pàli: Milinda-paĩha) có liên quan mật thiết với sách này. Sách này hiện nay có xuất bản nguyên văn ( P.T.S. 1894-1897) bản dịch tiếng Anh (Points of Controversy, 1915), bản dịch tiếng Nhật (quyển 57, 58 trong Đại tạng kinh Nam truyền). Luận sự chú của ngài Phật âm được thu vào trong 5 bộ luận chú do chính ngài soạn. Một phần nguyên văn của Luận sự chú được ông Minayeff xuất bản (Journal of P.T.S. 1889). Luận sự hợp biên cũng được các ông Tá đằng Mật hùng và Tá đằng Lương trí dịch sang tiếng Nhật (Luận sự phụ Phật âm chú). [X. Rhys Davids: Question discussed in the Kathàvatthu (Journal of R.A.S. 1892); Mrs. Rhys Davids: Buddhist Psychology; B.C.Law: A History of Pàli Literature; G.P. Malalasekera: Dictionary of Pàli Proper names].

luận thuyết

Argumentation.

luận thành duy thức

Vijnaptimatratasddhi-sastra—Bộ Luận do Ngài Hộ Pháp Đẳng soạn về Tông phái Du Già và A Lại Da Thức—The sastra was composed by Dharmapala on the explanation about Yogacara and Alaya Consciousness.

luận thù thắng nghĩa

Xem Pháp tụ luận chú.

luận thập trụ tỳ bà sa

Dasabhumika-Vibhasa-Sastra—Bộ Luận bàn về Thập Địa Phẩm, một chương quan trọng nhất trong Kinh Hoa Nghiêm, nói về hai giai đoạn đầu của quả vị Bồ Tát, đã tạo ảnh hưởng rất lớn với sự phát triển của các trường phái Tịnh Độ Trung Hoa. Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ—The sastra was composed by Nagarjuna, discussed and explained the course of the development (ten stages) of a bodhisattva, one of the most important chapter in Avatamsaka Sutra, was the doctrinal basic of the early Chinese Pure Land schools. It was translated into Chinese by Kumarajiva.

luận trung quán

Madhyamaka Sastra (skt)— The Treatise on the Middle way or the Guide-Book of the School of the Middle Way—Bộ Trung Luận do Bồ Tát Long Thọ soạn, nhấn mạnh vào giáo lý Trung Đạo, giáo lý căn bản của trường phái Trung Quán của Phật giáo Đại thừa Ấn Độ. Theo Trung Quán, nghĩa chân thật của Tánh Không là Phi Hữu hay không thực chất—The sastra was composed by Nagarjuna. It stressed on the teaching of the Middle Way, the basic teaching of the Madhyamika school of the Indian Mahayana Buddhism. According to the Madhyamaka Sastra, the true meaning of Emptiness (Sunyata) is non-existence, or the nonsubstantiveness.

luận tránh

6171據傳佛陀入滅後,教團中即有論諍產生。未參加第一次經典結集之富蘭那(巴 Purāṇa),即不承認結集之結果。佛陀入滅後一百年頃,毘舍離城之跋耆比丘(巴 Vajjiputtaka)等,與上座部耶舍長老(梵 Yasa)等,為「十事非法」之問題,而引發論諍,遂導致第二次之結集。其後,說一切有部之迦濕彌羅派與健馱邏派;中觀派中之佛護與清辨;瑜伽派之月官(梵 Candragomin)與中觀派之月稱(梵 Candrakīrti);瑜伽派之戒賢與中觀派之智光等,均曾有所論諍。 此外,於錫蘭,大寺之上座部與無畏山寺之法喜部,亦曾產生論諍。至於西藏,於乞㗚雙提贊王(藏 Khri-sroṅ-lde-brtsan)時代之蓮華戒(梵 Kamala-śīla)與唐朝之大乘和尚,亦有一場著名之論諍。在緬甸,相傳於十八世紀,偏袒派(巴 Ekaṃsika)與通肩派(巴 Pārupaṇa)等之間,亦有直接或間接之論諍。 在中國,唐代四分律宗之東塔宗之懷素與相部宗之定賓有新舊兩疏之對立,法相宗之慧沼與圓測,南宗禪與北宗禪,北宋時代天台宗之山家派與山外派,四分律宗允堪之會正宗與元照之資持宗,明末楊岐宗之虎丘派與三峰派等,均起佛教內部之論諍。 此外,三國時代亦發生儒、釋、道三教間之論諍,而西晉之釋道二教論諍,道教常遭論破,遂有道士王浮偽撰老子化胡經之事;東晉時代亦有關於因果報應、神識不滅、沙門不敬王者等之論諍;另如北魏、北周、唐等之破佛毀佛事件,亦常因釋道二教或儒釋道三教之論諍所引發。唐末之後,三教之論諍漸次形式化,其後雖亦有論諍,然三教融合之說漸佔優勢。至明代,基督教勢力東來之時,智旭等人亦曾撰文對基督教有所論駁。 在日本,最澄、源空、日蓮等各宗宗祖與傳統教團間皆有論諍;真言宗之「新義」與「古義」,日蓮宗之「不受不施」,天台宗之「安樂律」等均曾引發教團內部之論諍。另於教外論諍方面,如佛教傳入之初,即與神道產生論諍,至平安朝末期之「神佛習合」,始相容而不悖;然至江戶時代,神道家與儒家皆興起排佛之議,遂造成明治時代之神佛分離。此外,明治以後之佛教界亦常有學術上之論諍等。 ; (論諍) Sự tranh luận trong nội bộ Phật giáo. Theo truyền thuyết, sau khi đức Phật nhập diệt, trong giáo đoàn đã phát sinh các cuộc tranh luận. Ngay từ cuộc kết tập kinh điển lần thứ 1(trong năm đức Phật nhập diệt), Phú lan na (Pàli:Puràịa) không tham dự nên đã phủ nhận kết quả của cuộc kết tập này. Sau đức Phật nhập diệt khoảng 100 năm, các tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì (Pàli: Vajjipttaka) tự đặt ra và thực hành Mười việc trái phép (Thập sự phi pháp) nên đã gây ra cuộc tranh luận với các vị Trưởng lão Da xá (Phạm: Yasa) v.v... thuộc Thượng tọa bộ, kết quả đã đưa đến cuộc kết tập lần thứ 2 để kiện toàn Luật tạng. Về sau, giữa phái Ca thấp di la và phái Kiện đà la thuộc Thuyết nhất thiết hữu bộ; giữa các ngài Phật hộ và Thanh biện trong phái Trung quán; giữa ngài Nguyệt quan (Phạm: Chandragomin) và ngài Giới hiền thuộc phái Du già và các ngài Nguyệt xứng (Phạm: Chandrakìrti) và Trí quang của phái Trung quán, đều đã có sự tranh luận. Ngoài ra, tại Tích lan, giữa Thượng tọa bộ thuộc phái Đại tự và Pháp hỉ bộ thuộc phái Vô úy sơn tự, cũng từng xảy ra tranh luận. Tại Miến điện, vào thế kỉ 18, giữa phái Thiên đản (Pàli: Ekaôsika, phái đắp y để trật 1 bên vai) và phái Thông y (Pàli: Pàrupaịa, phái đắp y phủ kín 2 vai) cũng đã trực tiếp hoặc gián tiếp tranh luận. Tại Trung quốc, giữa phái Đông tháp với phái Tướng bộ thuộc Tứ phần luật tông đời Đường, giữa ngài Tuệ chiểu và ngài Viên trắc thuộc tông Pháp tướng; Nam tông thiền và Bắc tông thiền; giữa phái Sơn gia và phái. Sơn ngoại thuộc tông Thiên thai đời Bắc Tống; giữa phái Hổ khâu và phái Tam phong thuộc tông Dương kì cuối đời Minh v.v... tất cả đều đã có sự tranh luận nội bộ của Phật giáo. Vào thời đại Tam quốc, giữa Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo cũng xảy ra các cuộc tranh luận. Vào thời Tây Tấn, khi tranh luận với Phật giáo, Đạo giáo thường bị thua, cho nên đạo sĩ Vương phù đã ngụy tạo Lão tử hóa hồ kinh nhằm hạ uy tín Phật giáo. Rồi sang đời Đông Tấn thì nảy sinh các cuộc tranh luận liên quan đến những vấn đề trọng yếu như: Nhân quả báo ứng, Thần thức bất diệt, Sa môn bất kính vương giả v.v... Lại như những sự kiện phá hủy Phật giáo ở các thời Bắc Ngụy, Bắc Chu, Đường v.v... thường cũng do các cuộc tranh luận giữa Phật giáo, Đạo giáo hoặc Nho giáo dẫn đến, nhưng chủ trương Tam giáo dung hợp dần dần đã chiếm ưu thế. Tại Nhật bản, giữa các vị Tông tổ của các tông như các ngài Tối trừng, Nguyên không, Nhật liên v.v... cũng có sự tranh luận nội bộ. Còn về phương diện tranh luận với ngoại giáo, thì lúc Phật giáo mới truyền vào Nhật bản, đã va chạm với Thần đạo của bản xứ, đến cuối thời Bình an thì Thần Phật dung hợp. Nhưng đến thời đại Giang hộ thì những người Thần đạo và Nho gia đều có chủ trương bài Phật, nên thường xảy ra các cuộc tranh luận, để rồi đưa đến cuộc Thần Phật phân li, vào thời đại Minh trị.

luận trí độ

The Perfection of Wisdom Treatise.

luận tông

6170指據論而立之宗派。據經而立之宗派則稱為經宗。據日僧覺譽之大原談義選要鈔卷上載,於宗派有經、論、釋三宗,經宗即真言宗、華嚴宗等;論宗即俱舍宗、成實宗、法相宗、三論宗等;釋宗如天台宗。對經宗、釋宗而言,論宗指依論而立宗旨者,以俱舍宗、成實宗、三論宗為其代表。 ; The Madhyamaka school of the Tam luận; also the Abhidharma or Sàstra school. ; Tông phái Tam Luận—The Madhyamaka school of the San-Lun (Sanron)—The Abhidharma or sastra school. ; (論宗) Tông phái căn cứ vào Luận mà được thành lập. Cứ theo Đại nguyên đàm nghĩa tuyển yếu sao quyển thượng của sư Giác dự người Nhật bản, thì tông phái có 3 tông là Kinh, Luận và Thích; Kinh tông tức là tông Chân ngôn, kinh Hoa nghiêm v.v...; Luận tông tức là tông Câu xá, tông Thành thực, tông Pháp tướng, tông Tam luận v.v...; còn Thích tông thì như tông Thiên thai.

Luận tạng

論藏; S: abhidharma-piṭaka; P: abhidhamma-piṭaka;|Tên dịch ý của tạng thứ ba trong Tam tạng, dịch âm là A-tì-đạt-ma.

luận tạng

Śāstra-piṭāka (S), Abhidharma-piṭāka, Abhidhamma-pitaka (P)3 tạng kinh: - Kinh tạng - Luật tạng - Luận tạng. ; Abhidharma-pitaka (S). Thesaurus of discussions or discourses. The basket of philosophical treatises. ; Abhidharma-Pitaka (skt)—A Tỳ Đạt Ma Tạng—Ưu Bà Đề Xá Tạng (Upadesa)—Luận Tạng là một trong ba tạng kinh điển. Luận Tạng bao gồm phần giải thích và biện luận kinh điển hay những lời Phật dạy. Luận Tạng đầu tiên được mọi người công nhận là của ngài Đại Ca Diếp, một đệ tử của Phật biên soạn, nhưng mãi về sau nầy mới hoàn thành. Bộ Luận tạng Hoa Ngữ gồm ba phần—Thesaurus of discussions or discourses, one of the three divisions of the Tripitaka. It comprises the philosophical works. The first compilation is accredited to Maha-Kasyapa, disciple of Buddha, but the work is of a later period. The Chinese version is in three sections: 1) Đại Thừa Luận: The Mahayana Philosophy. 2) Tiểu Thừa Luận: The Hinayana Philosophy. 3) Tống Nguyên Tục Nhập Tạng Chư Luận (960-1368 sau Tây Lịch): The Sung and Yuan Addenda (960-1368 AD).

luận tỳ già la

Vyākaraṇa śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.

luận vãng sanh

Rebirth Treatise—Commentary on the Longer Amitabha Sutra—Treatise on the Pure Land.

luận án

Dissertation—Thesis.

luận điểm phật pháp

From the view point (point of view) of the Dharma.

luận đàm

To converse.

luận đại thừa khởi tín luận

Mahayana-Sraddhotpada-Sastra, được Bồ tát Mã Minh soạn về lý thuyết và thực hành tinh yếu trong trường phái Đại Thừa—The sastra was composed by Asvaghosa, basic doctrines and practices in Mahayana.

luận đại thừa thành nghiệp

Karmasiddhiprakarana sastra—Bộ Luận được Ngài Thế Thân soạn về những hành vi của nhân loại—The sastra was composed by Vasubandhu on human beings' deeds.

luận đại thừa trang nghiêm

Mahayana-sutra-lamkara—Bộ Luận được Ngài Vô Trước soạn về những câu kệ của Ngài Di Lặc—The sastra was composed by Asanga on Maitreya's gatha (metrical hymn).

luận đại thừa tập bồ tát học

Siksasamuccaya Sastra—Bộ luận nói về giáo lý để tu tập Bồ Tát, được Ngài Pháp Xứng soạn—The sastra was composed by Dharmakirti about the doctrine and practices for Bodhisattvas.

luật

3789梵語 vinaya。音譯爲毘奈耶、毘那耶、鼻奈耶。又作毘尼、比尼。含有調伏、滅、離行、善治等義。乃制伏滅除諸多過惡之意。此乃佛陀所制定,而爲比丘、比丘尼所須遵守的有關生活規範之禁戒。即於修道生活中,針對實際、具體上之需要而定之規範,此謂隨犯隨制(隨緣制戒)。佛弟子之出家眾如犯惡行,佛陀則必教誡:今後同樣之行爲不可再犯,如再犯,則處罰。後乃成爲僧伽之規定,故律必附有處罰之規定。律乃爲應出家眾而制定者,是被動者,故與戒應有所區別,然後世常將其混同使用。 律爲三藏之一,稱爲律藏,或調伏藏、毘尼藏,係記錄教團規定之典籍。律藏有南傳之律藏(巴 Vinaya-piṭaka)及漢譯之四分律、五分律、十誦律、摩訶僧祇律,並西藏譯之律藏等,均由諸部派所傳承,然重心大體上相同,部分略異,而禁戒之條數,多少亦有增減。其中,法藏部之四分律、有部之十誦律、化地部之五分律、飲光部之律(亦稱解脫律,未傳,戒本爲解脫戒經)、大眾部之摩訶僧祇律等五部,稱爲五部律。此係小乘二十部中,最具代表性之五部派。 律藏之內容,通常分爲二部:(一)波羅提木叉,即教團之罰則。乃比丘、比丘尼應守之禁止條文,以及禁止之由來因緣,並對犯者所犯罪之輕重之詳解。(二)犍度,係有關教團之儀式、作法及僧眾之生活禮儀、起居動作等,具體詳解諸種規範。此外,巴利律更於後世附加附隨事項(波利婆羅,即後編),故共有三部。如此詳細說明之律,稱爲廣律;對此,記載第(一)部分之禁條,則稱戒本(波羅提木叉)。波羅提木叉,梵語 prātimokṣa 之音譯,又作波羅提目叉、鉢喇底木叉,意譯爲從解脫、隨順解脫、別別解脫、別解脫、處處解脫、保解脫、最勝或無等學。由於持戒可防止身口之過非,漸次解脫諸煩惱之束縳,故教團制定僧眾生活之規制,即屬於此等戒條。其每一條目,即是律之學處(梵 śikṣā-pada),乃學習根據之意。此外,列舉禁戒條目之數者,則有波羅夷、僧殘等類別,此即指戒本,故又稱波羅提木叉。 律藏中所說戒條之數目,四分律列有比丘二百五十戒,比丘尼三百四十八戒。此種比丘戒(僧戒)、比丘尼戒(尼戒),稱爲具足戒。又波羅提木叉依罪之輕重,有諸多類別,表解於後。 (一)波羅夷:梵語 pārājika。又作波羅闍已迦、波羅市迦。含有他勝、他勝處、極惡、惡、重、重禁、極重感墮、墮不如意處、斷頭、無餘、棄等義。又稱根本罪、邊罪。此係最重之罪,犯此罪者,如人之斷頭,必喪失比丘、比丘尼之資格,而被教團舉逐出,稱爲破門。故犯此罪者,又稱斷頭者、佛法死人。在比丘,有婬、盜、殺、妄等四波羅夷,亦稱四重禁戒。即:(1)非梵行,又作不淨行、大婬,即遂行情欲。(2)不與取,又作大盜。即懷抱盜心,盜五錢(梵 māṣa)以上。(3)殺斷人命,又作大殺。即親手殺,或令他人殺,或自殺非命,爲殺生中之大罪,異於殺畜生之單墮罪(小殺)。(4)上人法,又作妄說過人法、大妄語,略稱妄語。乃實際未證得卻妄言已證得宗教體驗(超人間之境界)。以下四者則爲有關比丘尼之戒法,即:(5)摩觸罪,比丘尼以愛欲心而觸摩男子腋以下,膝以上者。(6)八事成重,又作八事。以愛欲心,任由男子握手等犯八事者。(7)覆比丘尼重罪,又作覆藏。即知其他比丘尼犯波羅夷罪而爲之隱藏者。(8)隨順被舉比丘違尼僧三諫,又作隨舉。即追隨受僧眾彈劾之比丘,經其他比丘尼三度勸說亦不接受者。以上合稱爲八波羅夷,又作八棄戒。在大乘戒另有十、八、六、四等諸種波羅夷之說。 (二)僧殘:梵語 sa卩ghāvaśeṣa。音譯爲僧伽婆尸沙、僧伽胝施沙。意即眾餘、眾決斷、僧初殘。此罪次於波羅夷,被列入重罪。犯此罪者,即被處罰別住之刑,並依教團作法,受六夜摩那埵(梵 mānāpya,巴 mānatta,即悅眾意、意喜之意)之滅罪法,洗淨殘餘之罪垢,始可恢復僧尼之資格,故稱僧殘。六夜摩那埵,即六夜間被褫奪種種權利,另外住宿之意,與所謂禁足同義。如再掩飾其罪垢不肯坦白,即加罰相當日數之波利婆沙(梵 parivāsa,意即重別住),後再受六夜摩那埵。僧殘罪在教團屬於重罪,故其作法甚爲嚴肅莊重。初被告被傳至眾僧之前受警誡,令其自覺後,告訴其所犯之罪名與事實,如能坦白吐露並悔過,則僅處以六夜摩那埵。教團對於摩那埵之被告,必依一白三羯磨之作法,三度提出動議,徵詢眾僧之同意。六夜摩那埵結束後,被告須在比丘二十人以上(比丘尼則須有比丘、比丘尼各二十人以上)之大眾前告白懺悔,教團亦依法作完儀式,令其復位。僧殘罪在比丘有故意失精等十三種,比丘尼有婚姻媒妁等十七種,其中七種係僧尼共通者。 (三)不定:梵語 aniyata。僅限比丘所犯之罪有二種,稱爲二不定。(1)於極度隱蔽之處,(2)或於雖非最隱蔽,然亦屬眾人所不易注意之場所,與婦人單獨對座、交談等,若由優婆夷目擊而報告之,則可視其情形定波羅夷、僧殘、單墮之罪;屬未定之罪者。 (四)捨墮:梵語 naiḥsargika-prāyaścittika。音譯爲尼薩耆波逸提、尼薩耆波夜提、泥薩衹波逸底迦。略稱尼薩耆。意即盡捨提、棄墮。乃波逸提之一種,係沒收、懺悔之輕罪。即超過應有衣鉢之數量,或以不法行爲所得之物,歸還物主或由僧伽沒收(捨之意),該比丘且須於四人以上之僧前懺悔。犯此罪者,若不懺悔,則死後必墮三惡道(墮之意)。比丘、比丘尼各有三十捨墮;其中,僅有第十八捨墮爲比丘及比丘尼共通者。 (五)單墮:梵語 śuddha-prāyaścittika。乃波逸提之一。又稱單提。輕罪之一,指對別人懺悔,即可得清淨之罪。亦即犯說謊(小妄語)及殺畜生等罪,於布薩僧中懺悔者,即可得清淨。比丘有九十單墮,比丘尼則有一百七十八單墮;其中有六十九項係共通者。 (六)波羅提提舍尼:梵語 pratideśanīya。又作波胝提舍尼、鉢喇底提舍那、波羅提舍尼,略稱提舍尼。意即對他說、向彼悔、各對應說。亦作悔過法、可呵法。係對一人告白懺悔之輕罪。乃有關食事不相應之問題。比丘有四提舍尼,比丘尼有八提舍尼;二者無共通者。 (七)眾學:即學習許多規定戒則。全稱眾多學法(梵 saṃbahulāḥ śaikṣa-dharmāḥ)。又稱眾學戒法、眾學法。此外,又稱式叉迦羅尼(梵 śikṣā-karaṇīya)、尸沙迦羅尼、尸叉罽賴尼、尸叉吉利。含有應當學、應學作、守戒等義。乃有關食事、服裝、說法及其他禮儀細則之規定,若違犯之,則犯突吉羅之輕罪。故意犯此罪者,須向上座比丘懺悔(對首法懺悔);非故意犯此罪者,於自己內心懺悔(心念法懺悔)。此戒共有百眾學,比丘與比丘尼之內容稍異。 (八)滅諍:梵語 adhikaraṇa-śamatha。爲止諍之意。係鎮制教團內起紛諍之方法規定,共有七滅諍。以此法亦無法鎮制紛諍者,上座則犯突吉羅之罪。 (九)偷蘭遮:梵語 sthūlātyaya,巴利語 thullaccaya 之音譯。又作偷蘭遮耶、偷羅遮、土羅遮、窣吐羅底也。意即大罪、重罪、粗罪、粗惡、粗過。欲犯波羅夷、僧殘之未遂罪或預備罪之意,一般乃爲五篇所不攝之罪過,係指除突吉羅輕罪以外之一切重罪。未遂罪亦稱從生偷蘭(方便偷蘭);完遂偷蘭遮罪者,則謂自性偷蘭(獨頭偷蘭、根本偷蘭)。此外,另有次於僧殘重罪之偷蘭遮,以及次於提舍尼輕罪之偷蘭遮等兩種。犯此罪者,在結界內必向一切僧眾,或四人,或僅一人懺悔。 (十)突吉羅:梵語 duṣkṛta 之音譯。又作突膝吉栗多、突瑟幾理多。意譯惡作。又作小過、輕垢、失意、越毘尼、應當學。屬輕罪之一。狹義指屬於身體(即身業)之罪(惡作);而屬於言語(口業)之罪,則稱惡說。廣義言之,則包含惡作、惡說。亦即所犯輕罪之總稱。具體而言,百眾學與七滅諍罪,或加二不定罪;或違反百眾學與五篇中前四篇之未遂罪,及犍度品所規定者,均稱突吉羅。故意犯罪者,則須於一人比丘前懺悔;非故意者,可於自心內懺悔。在大乘戒中,除殺生等重禁(波羅夷)外之諸罪,均稱突吉羅(輕垢罪)。 上述乃律所規定破壞生活規條者之治罪法,計有訶責、擯出、依止、遮不至白衣家、不見舉(不見擯)、不懺舉(不作擯)、惡見不捨擯(惡邪不除擯)等七種擯罪。若再加惡馬、默擯(梵檀),則爲九種治罪法。 此外,具足廣律條件之律藏,除於前編詳說上述之五篇七聚之戒條目外,於後編則敘述有關受戒及布薩、安居、教團等之儀式行事,並規定僧尼之衣、食、住等生活禮儀,及有關起居之規定。此係將諸種行持法分類聚集而論,爲犍度品之內容。犍度,梵語 skandhaka,巴利語 khandhaka 之音譯。又作蹇陀、建圖、建陀、塞建陀、沙犍圖。爲蘊、聚之義。亦即聚集同類法之意。四分律卷三十一以下,即舉有二十種犍度,稱爲二十犍度。即:(一)受戒犍度,又作受具足戒法、大犍度,乃進入出家教團之作法。(二)說戒犍度,又作布薩法、布薩犍度。(三)安居犍度。(四)自恣犍度。(五)皮革犍度,乃有關革製之用具。(六)衣犍度。(七)藥犍度,即醫藥法。(八)迦絺那衣犍度。(九)拘睒彌犍度,又作俱舍彌法。詳說比丘等相和同住,或諍或分裂等情形規定。(十)瞻波犍度,意爲羯磨,即說作法之不正。(十一)呵責犍度,又作羯磨犍度、般荼盧伽法。乃針對好鬥爭、聚惡黨之方法。(十二)人犍度,又作僧殘悔法、別住法、別住犍度,爲犯僧殘罪者之治罪法。(十三)覆藏犍度,又作聚集犍度,乃隱藏犯罪之治罪法。(十四)遮犍度,又作遮布薩法,即犯罪之比丘不可參加布薩。(十五)破僧犍度,又作調達事,乃提婆達多之反逆事件之處置方法。(十六)滅諍犍度,又作諍事法,鎮制紛諍方法之七滅諍說。(十七)比丘尼犍度,有關女眾出家受戒等之說。(十八)法犍度,又作威儀法,即諸種禮儀作法。(十九)房舍犍度,又作臥具法,有關房舍臥具等事。(廿)雜犍度,即道具及諸雜事。 蓋戒本係說明戒律之隨相,犍度則捨惡行善,表意欲思願,係明示戒律之受體與隨行。此外,戒本僅消極之禁止條文,故稱爲止持戒;而犍度乃積極之行爲,故稱爲作持戒。 又依各地風俗、習慣、氣候、風土等差異,而增刪適宜之戒律規定,稱爲隨方毘尼。小乘律藏及其所述之規定,稱爲小乘律;而梵網經等大乘律典,及其所述之規定,稱爲大乘律(菩薩毘尼、菩薩律藏)。違犯律者,則稱越毘尼罪,略稱爲越罪。至於通達律,且能記誦不忘者,或能讀誦者,則稱爲持律、持律者、持比尼、知律、律師,此係「持經」一詞之對稱。「持律者」一語,凡律師以外持律之人均屬之,而律師爲僧綱稱號之一。根據律藏,以實踐爲主之教派,即稱律宗。我國根據四分律,而以南山律宗最負盛名。此宗派亦傳至日本。日本除獨立之律宗外,尚有屬於各宗派之天台律(圓頓戒)、真言律、淨土律、法華律(日蓮律)等。(參閱「戒」2896) ; 'dul ba (T), Vinaya (S, P), 'dul ba (T), Book of Discipline for the monks, Tì ni, Luật tạng, Tỳ nại daBộ Luật tạng gồm 12 vạn bài tụng. ; Vinaya, pratimoksa, sìla, upalaksa (S). The discipline, monastic rules. ; Vinaya or Uparaksa (skt)—Tiếng Phạn là Ưu Bà La Xoa hay Tỳ Ni, dịch là “luật” hay “giới luật.” Tên khác của Ba La Đề Mộc Xoa, tức là những quy luật của cuộc sống trong tự viện. Đây cũng là một trong ba tạng kinh điển. Người ta nói Ngài Ưu Ba Ly đã kết tập đầu tiên—Disciplines—Law—Rule—Other name for Pratimoksa, sila, and upalaksa. The discipline, or monastic rules; one of the three divisions of the Canon, or Tripitaka, and said to have been compiled by Upali—See Pratimoksa, and Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (律) Phạm: Vinaya. Hán âm: Tì nại da, Tì na da, Tị nại da. Cũng gọi: Tì ni, Tỉ ni. Hán dịch: Điều phục, diệt, li hạnh, thiện trị. Những qui luật do đức Phật chế định có liên quan đến đời sống đạo mà các tỉ khưu, tỉ khưu ni phải tuân thủ. Đệ tử Phật nếu phạm các điều ác thì Phật phải răn dạy, không được tái phạm nếu tái phạm thì phải bị xử phạt. Cho nên luật tất nhiên phải có thêm qui định xử phạt. Luật hay Giới tuy tên có khác nhau, nhưng cùng chung một thể, vì thế Luật thường được dùng chung với Giới mà gọi là Giới luật. (xt. Giới).

luật biến đổi

The law of transformation.

luật bộ ngũ luận

3801小乘五部戒律之論書。即:(一)毘尼母經,八卷,譯於前後秦,譯者不詳。(二)毘尼摩得勒伽經,十卷,劉宋僧伽跋摩譯。(三)善見律毘婆沙,十八卷,南齊僧伽跋陀羅譯。(四)薩婆多毘尼毘婆沙,九卷,譯於前後秦,譯者不詳。(五)律二十二明了論,一卷,南朝陳‧真諦譯。 ; (律部五論) Năm bộ luận về giới luật của Tiểu thừa. 1. Kinh Tì ni mẫu, 8 quyển, được dịch vào khoảng đời Tần, không rõ dịch giả. 2. Kinh Tì ni ma đắc lặc già, 10 quyển, do ngài Tăng già bạt ma dịch vào đời Lưu Tống. 3. Thiện kiến luật tì bà sa, 18 quyển, do ngài Tăng già bạt đà la dịch vào đời Nam Tề. 4. Tát bà đa tì ni tì bà sa, 9 quyển, được dịch vào khoảng đời Tần, không rõ dịch giả. 5. Luận Luật nhị thập nhị minh liễu, 1 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần thuộc Nam triều.

luật duyên sinh

Law of interdependence.

luật hàng

3801(1887~1960)安徽亳縣人,俗姓黃。名臚初。未冠舉秀才,後入保定陸軍學堂,辛亥革命後,入陸軍大學深造。歷任軍長、山西省防空司令等職。平素篤信佛法,民國三十八年(1949)依慈航法師剃度出家,專習淨土法門。四十六年任慈善寺住持,四十九年示寂。

luật hành

3789對戒律之奉行。維摩詰所說經方便品(大一四‧五三九上):「雖爲白衣,奉持沙門清淨律行。」 ; Sự thi hành giới luật—The discipline in practice, to act according to the rules. ; (律行) Phụng hành giới luật. Phẩm Phương tiện kinh Duy ma cật sở thuyết (Đại 14, 539 thượng), nói: Tuy là tại gia, nhưng vẫn vâng giữ luật hạnh thanh tịnh của bậc sa môn xuất gia.

luật hạnh

The discipline in practice, to act according to the rules.

luật hổ

3800指博通律藏者。隋代住大興國寺之高僧法願,精通律部典籍,詞辯高邁,時人莫敢當其鋒銳,因號其爲律虎。又五代頃,南京相國寺之澄楚,亦因博通律藏,而被稱爲律虎。其後,凡律門之法將,皆譽稱律虎。〔續高僧傳卷二十一、釋氏要覽卷中〕 ; (律虎) Chỉ cho người thông hiểu tạng Luật. Cao tăng Pháp nguyện ở chùa Đại hưng quốc vào đời Tùy, tinh thông Luật bộ, lời lẽ biện bác cao xa, người thời bấy giờ không ai dám đương đầu với sự biện luận sắc bén của ngài, do đó gọi ngài là Luật hổ. Lại nữa, khoảng thời Ngũ đại, ngài Trừng sở trụ trì chùa Tướng quốc tại Nam kinh, cũng do thông suốt tạng Luật mà được gọi là Luật hổ. [X. Tục cao tăng truyện Q.21; Thích thị yếu lãm Q.trung].

luật kinh căn bản thích

3801西藏名 Ḥdul-bamdo-rtsa-baḥi rnam-bśad ñi-maḥi ḥod-zerlegs-bśad luṅ-girgya-mtsho shes-bya-ba。又作太陽的光明善釋阿含之海。慧賢(藏 Śes-rab bzaṅ-po)著。本書爲西藏律經之根本要典,係小乘有部派德光(藏 Yon-tan ḥod,六世紀頃)所著之律經(藏 Ḥdul-baḥi mdo)之註釋書。本書爲研究西藏、蒙古佛教戒律之重要典籍。 ; (律經根本釋) Cũng gọi: Thái dương đích quang minh thiện thích A hàm chi hải. Tác phẩm, do ngài Tuệ hiền (Tạng: Zesrab bzaí-po) soạn. Nội dung sách này là chú thích bộ Luật kinh (Tạng:Fdul-bai mdo) của ngài Đức quang (Tạng: Yon-tan od, sống vào khoảng thế kỉ VI), thuộc phái Hữu bộ của Tiểu thừa. Đây là bộ sách trọng yếu để nghiên cứu giới luật của Phật giáo Tây tạng và Mông cổ.

luật lệ

Rules and regulations.

luật lữ

3794調正音聲之器。截竹爲筒,陰陽各分爲六。筒有長短,故生清濁高下之音。陽爲律,分爲六,稱六律;陰爲呂,分爲六,稱六呂。二者合稱十二律,以之爲準則,可用於調定音聲。又以律呂一詞引申指音樂,又作呂律。即讚唄、奏樂等音律之基準或爲音聲之高低、強弱、粗軟等相對之調子。音樂之調子整然而不亂,則稱律呂不差。(參閱「十二律」342) ; (律呂) Dụng cụ điều chỉnh âm thanh. Cắt những ống trúc chia làm âm, dương, mỗi thứ 6 ống. Ống có dài, có ngắn. Do đó, khi phát ra âm thanh có trong, đục, trầm, bổng khác nhau. Ống dương là Luật, chia làm 6, gọi là Lục luật; ống âm là Lữ, cũng chia làm 6, gọi là Lục lữ, hợp chung lại gọi là 12 luật, được dùng làm qui tắc tiêu chuẩn để điều chỉnh âm thanh cho đúng. Ngoài ra, Luật lữ cũng được chỉ cho âm nhạc, còn gọi là Lữ luật. Tức là âm luật tiêu chuẩn cơ bản cho việc đọc canh (Phạm bái) và tấu nhạc. Khi âm điệu chuẩn mực, không rối loạn, thì gọi là Luật lữ bất sai. (xt. Thập Nhị Luật).

luật nghi

Xem Cấm giới. ; Rules and ceremonies, an intuitive apprehension of which, both written and unwritten, enable the individual to act properly under all circumstances. ; Luật pháp và quy tắc cho phép người Phật tử thuần thành hành động đúng trong mọi hoàn cảnh (pháp điều tiết thân tâm để ngăn ngừa cái ác gọi là luật, pháp giúp thích ứng với phép tác chân chính bên ngoài gọi là nghi)—Rules and ceremonies, an intuitive apprehension of which, both written and unwritten, enables devotees to practice and act properly under all circumstances.

luật nghi giới

The first of the three Tụ giới, i.e. to avoid evil by keeping to the discipline. ; Phần đầu trong Tam Tụ Tịnh Giới—The first of the three collections of pure precepts—See Tam Tụ Tịnh Giới (1).

Luật nghi 律儀

[ja] リツギ ritsugi ||| To control, restrain, suppress, prevent, ward off, resist. To suppress evil and do good action. => Điều phục, ngăn giữ, cấm chế, ngăn ngừa, phòng ngừa, chống lại. Để ngăn ngừa việc ác và làm việc lành.

luật nhân quả

Law of Cause and Effect.

luật nhân quả hiển nhiên không thể nghi ngờ hay nghĩ bàn

The truth of the law of Cause and Effect is self-evident, beyond doubt and inconceivable.

luật nhơn quả

Karma law—The law of causality—Law of Cause and Effect.

luật phái

Trường phái Luật tông—The discipline branch or school—See Luật Tông.

luật pháp

The laws or methods of the discipline; rules and laws. ; The laws or methods of the discipline; rules and laws.

luật sa di

Precepts for a novice.

luật sám

Repentance and penance according to the rules. ; Phép sám hối mà giới luật đã trình bày—Repentance and penance according to the rules.

Luật sư

律師|Chỉ người chuyên tu học Luật tạng của Phật giáo. Danh hiệu này được sử dụng nhiều trong Phật giáo Trung Quốc khi Luật tông ra đời.

luật sư

3800<一>梵語 vinaya-dhara。又作持律師、律者。即專門研究、解釋、讀誦律之人。如北魏慧光、唐朝法礪、道宣、懷素等皆稱律師,以嫺四分律見稱。後則指通達律之人而言,與經師、論師、法師、禪師等相對。據寶雲經卷五載,菩薩以十法,得名爲律師,即(大一六‧二三三下):「善解毘尼所起因緣、善解毘尼甚深之處、善解毘尼微細之事、善解毘尼此事得彼事不得、善解毘尼性重戒、善解毘尼制重戒、善解毘尼制起因緣、善解聲聞毘尼、善解辟支佛毘尼、善解菩薩毘尼。」〔北本涅槃經卷三金剛身品、十誦律卷四、有部毘奈耶卷十三〕(參閱「律師三法」3801) <二>日本僧綱之一,與僧正、僧都合稱三綱。乃統領僧尼之官職,分爲大、中、小三階位,後廢除之而設立「權律師」。西元一二八五年,律師被准爲「五位殿上人」,至明治維新後乃廢除。〔日本書紀卷二十九、弘安禮節〕 ; Tu sĩ thông suốt giới luật của nhà Phật gọi là Luật sư. ; Master and teacher of the rules of the discipline. ; Tu sĩ thông suốt giới luật của nhà Phật, gọi là Luật sư (chẳng phải là luật sư ngoài đời). ; Vị thầy giỏi giải thích về giới luật, nghĩa là biết được sự hành trì của luật, khéo giải thích khiến người nghe dễ hiểu và hành trì theo—Master and teacher of the rules of the discipline. ; (律師) I. Luật Sư. Phạm: Vinaya-dhara. Cũng gọi Trì luật sư, Luật giả. Người chuyên nghiên cứu, giải thích và đọc tụng môn Luật. Như các ngài Tuệ quang đời Bắc Ngụy, ngài Pháp lệ, Đạo tuyên, Hoài tố đời Đường... đều được gọi là Luật sư. Cứ theo kinh Bảo vân quyển 5 (Đại 16, 233 hạ), Bồ tát hội đủ 10 pháp được gọi là Luật sư, đó là: - Hiểu rõ nhân duyên sinh khởi Tì ni (Luật). - Hiểu rõ chỗ sâu xa của Tì ni. - Hiểu rõ những việc nhỏ nhiệm của Tì ni. - Hiểu rõ Tì ni việc này được, việc kia không được. - Hiểu rõ các giới có tính nghiêm trọng trong Tì ni. - Hiểu rõ nguyên do chế trọng giới trong Tì ni. - Hiểu rõ nhân duyên chế Tì ni. - Hiểu rõ Tì ni của Thanh văn. - Hiểu rõ Tì ni của Bích chi phật. - Hiểu rõ Tì ni của Bồ tát. [X. phẩm Kim cương thân trong kinh Niết bàn Q.3 (bản Bắc); luật Thập tụng Q.4; Hữu bộ tì nại da Q.13]. (xt. Luật Sư Tam Pháp). II. Luật Sư. Chức quan tăng lãnh đạo đoàn thể tăng ni. Về sau, chức này bị bãi bỏ để thiết lập Quyền Luật sư, là 1 trong các vị Tăng cương của Phật giáo Nhật bản. Luật sư, Tăng chính và Tăng đô gọi chung là Tam cương. Năm 1285, Luật sư được chuẩn nhận là Ngũ vị điện thượng nhân, từ sau thời Minh trị Duy tân thì được bãi bỏ. [X. Nhật bản thư kỉ Q.29; Hoằng an lễ tiết].

luật sư tam pháp

3800據善見律毘婆沙卷六舉出律師者應行下列三法,方不愧稱爲律師。即:(一)本毘尼藏,毘尼,律之義。謂爲律師者應本於律藏而諷誦通利,辯習句義、文字,而後教授於人。(二)堅持不雜,謂爲律師者當懷謙下,堅持法律,於毘尼藏之所有文句義疏悉皆通達,且於問者次第而答,不相雜亂。(三)受持不忘,謂爲律師者應於毘尼藏之師師相承,舉凡授受之因緣、次第傳承之名字等,受持而不忘。(參閱「律師」3800) ; (律師三法) Ba pháp mà vị Luật sư phải thực hành. Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 6, thì 3 pháp ấy là: 1. Thực hành tạng Tì ni: Vị Luật sư phải thực hành luật, đọc tụng thông thạo, hiểu rõ văn nghĩa để sau dạy bảo người khác. 2. Kiên trì không lẫn lộn: Vị Luật sư phải giữ tâm khiêm tốn, kiên trì pháp luật, thông suốt tạng Tì ni và giải đáp cho người đúng theo thứ lớp, không được lẫn lộn. 3. Thụ trì không quên: Vị Luật sư phải ghi nhớ kĩ về tạng Tì ni đã được truyền thừa, nhân duyên trao truyền và pháp danh của những vị truyền nối theo thứ lớp v.v... (xt. Luật Sư).

Luật sư 律師

[ja] リッシ risshi ||| (1) A preceptor; a monk well-versed in the precepts. (2) The third of the three ranks of controllers of the clergy; see 僧綱. [Dictionary References]Naka1420a ZGD1267d Iwa827 ZD178 ZGo6-P132 FKS3800 DFB [Credit] cmuller(entry) => 1. Vị tăng chuyên hành trì và thông thạo giới luật. Người dạy x luật 2. Giáo phẩm thứ ba trong ba bậc đạo sư điều hành sinh hoạt Tăng chúng. Xem Tăng cương僧綱. Luật tông 律宗 [ja] リッシュウ Risshū ||| The Vinaya school of East Asian Buddhism, one of the early thirteen schools 十三宗 in China. This school, based on the Mahāyāna vinaya, was founded by Daoxuan 道宣, who taught that the observance of the precepts was the best path to liberation. In Korea, it was more commonly known as the Kyeyul chong 戒律宗, and Japan, by the name Risshū, where it was one of the original six Nara schools, and one of the thirteen Japanese schools. => Luật tông trong Phật giáo Đông Nam Á, một trong 13 tông phái Phật giáo Trung Hoa trước đây. Tông nầy, căn cứ vào giới luật Đại thừa, do ngài Đạo Tuyên (c: Daoxuan 道宣) thành lập, cho rằng sự tuân thủ giới pháp là con đường tốt nhất để đến giác ngộ. ở Cao Ly, tông nầy được biết rrộng rãi với tên Giới luật tông (k: Kyeyul chong 戒律宗), ở Nhật Bản, tông nầy mang tên là Risshū, là một trong sáu tông phái chính của Phật giáo thời Nại Lương, và là một trong 13 tông phái của Phật giáo Nhật Bản.

luật thiên

Vinaya-vastu (S)Kiền độMột phần trong Luật tạng của Căn bản Hữu bộ.

luật thiên nhiên

Natural Law.

luật thiền

Hai tông phái Luật tông và Thiên tông—The two schools of Discipline and Intuition.

luật thiện kiến tỳ bà sa

Samantapasadika-Vinaya—Bộ Luật nói về những giới luật cho các Tăng sĩ thuộc phái Thượng Tọa Bộ, được Ngài Tăng Già Bạt Đà La dịch ra Hán tự—The Vinaya-Pitaka stressed on moral codes for the monks and nuns in the Theravada. It was translated into Chinese by Samghabhadra.

luật thừa

Cỗ xe giới luật, hay tông phái của giới luật. Giáo thuyết dạy về tu hành giải thoát bằng cách hành trì giới luật, hay nương theo tạng luật để tu hành giải thoát—The Vinaya-vehicle, the teaching which emphasizes the discipline.

luật thừa (thặng)

The Vinaya-vehicle, the teaching which emphasizes the discipline.

Luật Tông

(律宗, Ris-shū): học phái chuyên nhấn mạnh về sự tu tập và nghiên cứu giới luật, do Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường thành lập nên ở Trung Hoa, lấy việc thọ trì Tứ Phần Luật (四分律) cũng như Tam Tụ Tịnh Giới (三聚淨戒) của Bồ Tát làm yếu nhân để thành Phật. Giới luật do đức Phật chế ra được thâu tập thành Luật Tạng; nhưng khi giáo đoàn phân liệt thì giới luật được truyền thừa khác nhau theo 20 bộ phái. Tại Trung Hoa, 4 bộ luật gồm Thập Tụng Luật (十頌律), Tứ Phần Luật (四分律), Tăng Kỳ Luật (僧祇律) và Ngũ Phần Luật (五分律) được lưu truyền. Trong đó, chỉ có Tứ Phần Luật là được phổ biến nhất, từ đó phân phái thành Tướng Bộ Tông (相部宗) của pháp Lệ (法礪, 560-635), Nam Sơn Tông (南山宗) của Đạo Tuyên (道宣, 596-667), Đông Tháp Tông (東塔宗) của Hoài Tố (懷素, 624-697). Học phái này cũng được truyền sang Nhật, và trở thành một trong 6 tông phái lớn vùng Nam Đô. Vào năm 754 (năm thứ 6 niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寳]), Giám Chơn (鑑眞, Ganjin)—cao đệ của Hằng Cảnh (恒景, Kōkei), đệ tử của Đạo Tuyên, đã từ Trung Quốc sang và truyền thừa tông này vào Nhật. Sau đó, ông thành lập 3 giới đàn tại Đông Tự (東寺, Tō-ji), Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji), Quan Thế Âm Tự (觀世音寺, Kanzeon-ji) và khai sáng Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺, Tōshōdai-ji) làm đạo tràng căn bản để nghiên cứu về giới luật cũng như làm ngôi chùa trung tâm chính cho tông phái này. Về sau, tông phái này trãi qua một thời suy vong, nhưng rồi được phục hưng lại nhờ nhóm Thật Phạm (實範, Jitsuhan), Giác Thạnh (覺盛, Kakujō) và Duệ Tôn (叡尊, Eison). Hơn nữa, nhóm Tuấn Nhưng (俊芿, Shunjō), Đàm Chiếu (曇照, Donshō) sang nhà Đường cầu pháp, rồi truyền giới luật vào Nhật và xác lập nên Bắc Kinh Luật (北京律) ở trung tâm Tuyền Dũng Tự (泉涌寺, Senjū-ji), đối lập với Nam Kinh Luật (南京律) của Giác Thạnh. Hiện tại, bên cạnh ngôi chùa Tổng Bản Sơn của Luật Tông là Đường Chiêu Đề Tự, còn có sự hiện hữu của giáo đoàn Chơn Ngôn Luật Tông (眞言律宗), lấy Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) làm Tổng Bản Sơn.

Luật tông

律宗; C: lǜzōng; J: ritsu-shū;|Tông phái Phật giáo Trung Quốc do Ðạo Tuyên (596-667) thành lập. Giáo pháp của phái này dựa trên Luật tạng của Pháp Tạng bộ (s: dharmaguptaka), được ghi lại với tên Tứ phần luật. Chủ trương của giáo pháp này là giữ giới luật một cách nghiêm ngặt. Những quy luật này bao gồm 250 quy định cho tăng và 348 cho ni giới. Mặc dù các bộ Luật xuất phát từ Tiểu thừa, nhưng Ðại thừa Trung Quốc cũng đều tuân thủ nghiêm túc. Tông này được truyền qua Nhật năm 745.|Theo Ðạo Tuyên, việc giữ giới luật là một yếu tố quan trọng trong tu học. Sư nhấn mạnh đến tính quan trọng của việc quy y thế phát và ghi rõ các quy định của đời sống xuất gia.|Luật tông (j: ritsu-shū) Nhật Bản, xuất phát từ Luật tông Trung Quốc, được Giám Chân (鑒真; j: ganjin) Luật sư truyền qua Nhật năm 745. Ngày nay, Luật tông Nhật Bản vẫn còn tồn tại, nhưng không có ảnh hưởng tư tưởng nhiều trong nền Phật giáo tại đây.

luật tông

3794依五部律中之四分律以弘通戒律之大乘宗派。爲我國十三宗之一,日本八宗之一。其宗旨係奉持四分律之淨戒,而以一乘圓頓之妙理爲旨歸。 佛陀入滅後,弟子優婆離尊者結集律法,分八十次誦出,是即八十誦律,其後將之傳於五大尊者。其中,優婆毱多復有五弟子,各就其根性於八十誦律中採集相近者各成一部,此即五部律。五部律中之曇無德部以隨說隨止而爲一分,前後四度說竟,故稱四分律。一般所說之律宗,即指弘傳四分律之四分律宗,以曇無德爲開祖,由唐代道宣(596~667)集其大成。除四分律外,傳入我國者尚有薩婆多部之十誦律、大眾部之摩訶僧祇律、彌沙塞部之五分律,迦葉遺部則僅傳戒本,廣律則始終未譯就。蓋佛教傳入我國後,初譯皆小乘經典,至鳩摩羅什始漸出大乘經論,並於姚秦弘始六年(404)與弗若多羅三藏共譯薩婆多部之十誦律,事半未就;得曇摩流支及卑摩羅叉續成之,共六十一卷,爲我國有廣律之始。弘始十二年(410),佛陀耶舍、竺佛念等又將曇無德部之四分律分五次譯出,共六十卷。至東晉安帝義熙十四年(418),由佛陀跋陀羅與法顯共譯摩訶僧祇律,得四十卷。劉宋景平元年(423),罽賓佛陀什和智勝共譯彌沙塞部之五分律,亦成三十卷。由之,五部律中,於劉宋前傳來我國者即有三部。當時諸律雖均在我國弘揚,然光大而昌行於後代者,則唯四分律。 魏文帝黃初三年(222),曇摩迦羅(梵 Dharmakāla)至洛陽,以我國僧眾僅剃除鬚髮、身著縵衣,而無律法之行持,乃誓弘律法,至魏少帝嘉平二年(250),方譯出僧祇戒本一卷,敦請十位梵僧立羯磨法,首開以十大僧傳戒本之先例,此即我國傳授戒法之始。元魏孝文帝(471~499)時,有法聰者,原習僧祇律,其後精研四分律,並極力弘揚,然僅限於口授,而未有文字著作等之流傳。至道覆律師方才造疏釋文,唯亦不過以問答方式以資抉擇而已。慧光律師以後始有章疏,而開啟四分律藏疏釋之風。其時,以慧光略疏四卷、智首大疏二十卷、法礪中疏十卷,號稱三要疏,三要疏爲時人所習用,因之四分律宗之歷祖相承亦於焉產生,計有九祖:(一)法正尊者,即四分律主。(二)法時尊者,爲我國四分律宗之初祖。(三)法聰尊者,爲四分律第二祖。(四)道覆律師,作疏問答立義。(五)慧光律師,作四分章疏。(六)道雲律師。(七)道照律師。(八)智首律師,作廣疏二十卷。(九)道宣律師,作四分律行事鈔。 自第六祖道雲起,開始分出流派,其門下有洪遵、道洪。洪遵傳洪淵,洪淵傳法礪(569~635)。法礪居於相州,著四分律疏十卷,其系統稱「相部宗」。法礪再傳道成,道成傳滿意與懷素。滿意居西塔,弘揚法礪之「相部律」;懷素居東塔,弘揚「東塔律」。又第七祖道照傳智首,智首傳道宣,道宣久居終南山,而蔚成南山律宗。道宣雖爲第九祖,然後來律宗興盛流衍,道宣遂被尊爲南山律宗第一祖。道宣精通戒儀,博通法華、涅槃、楞伽、勝鬘等諸經之旨,著述極多,而以行事鈔、戒疏、業疏、拾毘尼義鈔、比丘尼鈔等,被後世尊爲南山律宗五大部,四分律亦由之而大成,而與相部律、東塔律成鼎足之勢。又與道宣同門之道世著有「四分毘尼討要」一書,奉持其學說之人,稱爲「要家」;對此,奉持道宣四分律行事鈔之人,則稱爲「鈔家」。 懷素曾撰四分律開宗記,以破法礪之十六大義。法礪所著之四分律疏稱爲「舊疏」,對此,懷素之開宗記則稱爲「新疏」。滿意之門人定賓亦作破迷執記一卷,以反駁懷素之說。滿意又授法大亮,大亮傳曇一。曇一宣講四分律凡三十五遍,兼弘相部律及南山律,復於道宣之行事鈔,撰作發正記,以闡揚其義理,使南山律宗大顯於後世,荊溪湛然、清涼澄觀皆曾從其門習律。我國初傳律法,係四律雜弘,無一中心準則,至道宣繼承智首之系統,專弘四分律,樹立佛徒之生活規範,四分律乃成我國律法之中心。而道宣所著之行事鈔,後人爲之作註解者竟達一百餘家之多。 於唐代時,律宗三家論諍不絕,其教義根本相異處在「戒體」。戒體者,受戒法時受者所發得,而領納於心中之法體。四分律宗本依成實論,故以戒體爲非色非心之不相應行法,法礪之相部宗依此說,提倡「非色非心法戒體論」;懷素之東塔宗以戒體爲無表色,依俱舍論等而提倡「色法戒體論」;道宣之南山宗係依準成實論而立,故亦提倡「非色非心法戒體論」,唯道宣以唯識宗義解釋四分,主張四分律本位雖係小乘,然與薩婆多律等不同,分通大乘,前二宗則皆主張四分律唯是小乘。相部、東塔二宗於唐後即日漸衰微,此後,所謂律宗實即指南山律宗。 道宣弟子甚多,有周、大慈、文綱、名恪、秀、靈 ; Luzong (C), Lu tsung (C), Vinaya School, School of Discipline, Ritsu-shŪ (J)Một tông phái ở Tàu hồi thế kỷ thứ 7 do ngài Đạo Tuyên Nam Sơn thành lập. Luật tông truyền qua Nhật vào năm 753, rất được hoan nghênh và còn thịnh hành đến ngày nay. ; The Vinaya school, emphasizing the monastic discipline, founded in China by Đạo Tuyên of the Đường dynasty. ; Vinayisme (skt)—The Vinaya school—Luật Tông là một nhánh Phật Giáo thoát thai từ phái Hóa Địa Bộ (Mahishasaka) và trở thành một bộ phận lớn của nhóm Sthavira, được sư Dharmagupta, người Tích Lan thành lập. Tuy nhiên, có nhiều người cho rằng người đầu tiên sáng lập ra Luật Tông tại Ấn Độ chính là ngài Ưu Ba Ly, một trong mười đệ tử lớn của Đức Phật. Ngài nổi tiếng với tác phẩm Luật Tứ Phần. Luật tông phát triển nhiều nhất ở miền nam Ấn Độ. Luật Tông là trường phái mà chủ thuyết dựa vào luật nghi tu hành của cuộc sống trong tự viện, một trường phái Phật giáo lớn của Trung Quốc và Nhật, nhấn mạnh đặc biệt việc tuân thủ nghiêm ngặt các qui tắc được Luật tạng đề ra. Tại Trung Quốc, Luật tông được ngài Đạo Tuyên sáng lập vào đời nhà Đường (theo tông nầy thì người ta chỉ cần tinh chuyên hành trì giới luật là được giải thoát, vì giữ giới trì luật mà sanh định, nhờ định mà sanh huệ). Văn bản chính yếu của phái nầy là “Tứ Phần Luật” —Vinaya school, or Discipline school, or Dhammaguttika literally means “protector of the teaching;” Buddhist school belonging to the larger grouping of Sthaviras. Developed out of the Mahishasaka school. It was founded by the Sinhalese monk Dhammagupta and was prevalent primarily in Southern India. However, Buddhist scholars believe that the founder of the school was Upali, one of the ten great disciples of the Buddha. He is known as the author of the “The Discipline of Four Divisions.” Vinaya School emphasizes the monastic discipline, a major school of Buddhism in China and Japan that primarily stresses strict observance of the rules laid down in the Vinaya-pitaka. The school was founded in China by T'ao-Hsuan of the T'ang dynasty. The main text of this school is the Four Parts of “Vinaya-Pitaka.”—See Luật Tứ Phần. ; (律宗) Tên một tông phái Đại thừa, y cứ vào bộ luật Tứ phần để truyền bá giới luật, lấy ngài Đàm vô đức (Ấn độ) làm khai tổ, do ngài Đạo tuyên (596-667) tập đại thành vào đời Đường, Trung quốc, lấy việc giữ giới thanh tịnh và diệu lí Nhất thừa viên đốn làm tông chỉ. Là 1 trong 13 tông của Phật giáo Trung quốc và 1 trong 8 tông của Phật giáo Nhật bản. Sau khi đức Phật nhập diệt, tôn giả Ưu ba li kết luật pháp, tụng 80 lần, gọi là Bát thập tụng luật. Sau đó, bộ Luật này được truyền cho 5 vị Đại tôn giả, trong đó, đến đời ngài Ưu bà cúc đa lại có 5 vị đệ tử, 5 vị này theo sự hiểu riêng của mình, rồi từ trong luật Thập tụng, mỗi vị rút ra những điều tương cận mà biên tập thành một bộ, đó chính là Ngũ bộ luật. Trong Ngũ bộ luật, bộ luật của ngài Đàm vô đức được gọi là Tứ phần luật. Thông thường nói đến Luật tông tức là chỉ cho Tứ phần luật tông, chuyên hoằng truyền luật Tứ phần, do ngài Đàm vô đức là Khai tổ, ngài Đạo tuyên đời Đường tập đại thành. Ngoại trừ Tứ phần luật, các bộ luật khác được truyền vào Trung quốc, còn có Thập tụng luật của Tát bà đa bộ, Ma ha tăng kì luật của Đại chúng bộ, Ngũ phần luật của Di sa tắc bộ, Ca diếp di bộ, chỉ truyền Giới bản, chứ Quảng luật thì chưa được dịch ra. Bởi vì, sau khi Phật giáo được truyền vào Trung quốc, lúc đầu chỉ có các kinh điển Tiểu thừa được phiên dịch, đến ngài Cưu ma la thập, các kinh luận Đại thừa mới dần dần được dịch ra. Vào năm Hoằng thủy thứ 6 (404), ngài Cưu ma la thập và Tam tạng Phất nhã đa la cùng dịch luật Thập tụng của Tát bà đa bộ, nhưng mới được phân nửa; về sau, các ngài Đàm ma lưu chi và Ti ma la xoa tiếp tục hoàn thành, gồm 61 quyển. Đây là bộ Quảng luật đầu tiên được phiên dịch tại Trung quốc. Năm Hoằng thủy 12 (410), các ngài Phật đà da xá và Trúc phật niệm lại dịch luật Tứ phần của bộ Đàm vô đức, gồm 60 quyển. Đến năm Nghĩa hi 14 (418) đời vua An đế nhà Đông Tấn, các ngài Phật đà bạt đà la và Pháp hiển cùng dịch luật Ma ha tăng kì, gồm 40 quyển. Niên hiệu Cảnh bình năm đầu (423) đời Lưu Tống, ngài Phật đà thập (người Kế tân) và ngài Trí thắng (người Trung quốc) cùng dịch luật Ngũ phần của bộ Di sa tắc, gồm 30 quyển. Như vậy, trong 5 bộ luật, thì trước đời Lưu Tống, 3 bộ đã được truyền đến Trung quốc. Thời ấy các bộ luật tuy đều được hoằng dương ở Trung quốc, nhưng chỉ có luật Tứ phần là thịnh hành hơn cả. Năm Hoằng sơ thứ 2 (222) đời vua Văn đế nhà Ngụy, ngài Đàm ma ca la (Phạm: Dharmakàla) đặt chân đến Lạc dương vì thấy chư tăng Trung quốc chỉ cạo râu tóc, mặc áo thông thường, chứ không hành trì luật pháp, nên ngài phát nguyện hoằng dương luật pháp. Đến năm Gia bình thứ 2 (250) đời vua Thiếu đế nhà Ngụy, ngài mới dịch 1 quyển Tăng kì giới bản, cung thỉnh 10 vị Phạm tăng lập pháp yết ma truyền giới bản. Đây là hình thức truyền thụ giới pháp lần đầu tiên tại Trung quốc. Thời Hiếu văn đế (471-499) nhà Nguyên Ngụy, có ngài Pháp thông, mới đầu học luật Tăng kì, về sau nghiên cứu luật Tứ phần và tận lực hoằng dương, nhưng mới chỉ giới hạn ở việc truyền miệng, chứ chưa viết thành văn tự sách vở để lưu truyền. Đến Luật sư Đạo phú mới soạn sớ giải, nhưng cũng chỉ dùng phương thức vấn đáp mà thôi. Từ Luật sư Tuệ quang về sau mới có chương sớ, mở đầu việc sớ thích Tứ phần luật tạng. Lúc bấy giờ, các bộ Lược sớ (4 quyển) của ngài Tuệ quang, Đại sớ (20 quyển) của ngài Trí thủ và Trung sớ (10 quyển) của ngài Pháp lệ, được gọi là Tam yếu sớ. Tam yếu sớ vào thời ấy rất được phổ biến, nên từ đó hệ thống truyền thừa của Tứ phần luật tông cũng được hình thành và gồm có 9 vị tổ là: 1. Pháp chính tôn giả, tức Tứ phần luật chủ. 2. Pháp thời tôn giả, Sơ tổ của Tứ phần luật tông Trung quốc. 3. Pháp thông tôn giả, Nhị tổ của Tứ phần luật tông. 4. Đạo phú luật sư, soạn sớ vấn đáp lập nghĩa. 5. Tuệ quang luật sư, soạn Tứ phần chương sớ. 6. Đạo vân luật sư. 7. Đạo chiếu luật sư. 8. Trí thủ luật sư, soạn Quảng sớ 20 quyển. 9. Đạo tuyên luật sư, soạn Tứ phần luật hành sự sao. Từ Tổ thứ 6 là ngài Đạo vân bắt đầu có sự phân phái. Đệ tử của ngài có các sư Hồng tuân, Đạo hồng. Hồng tuân truyền cho Hồng uyên, Hồng uyên truyền cho Pháp lệ (569-635). Sư Pháp lệ ở Tướng châu, soạn Tứ phần luật sớ, 10 quyển, hệ thống của sư gọi là Tướng bộ tông. Pháp lệ lại truyền cho Đạo thành, Đạo thành truyền cho Mãn ý và Hoài tố. Sư Mãn ý ở Tây tháp, hoằng dương luật Tướng bộ của sư Pháp lệ; sư Hoài tố thì trụ ở Đông tháp hoằng dương luật Đông tháp. Còn tổ Đạo chiếu thứ 7 thì truyền cho sư Trí thủ, Trí thủ truyền cho Đạo tuyên, Đạo tuyên ở lâu tại Nam sơn, lập thành Nam sơn Luật tông. Ngài Đạo tuyên tuy là Tổ thứ 9, nhưng sau này Luật tông được hưng thịnh là nhờ các tác phẩm của ngài, nên ngài được tôn là tổ thứ 1 của Nam sơn Luật tông. Ngài soạn thuật rất nhiều, trong số các trước tác của ngài, 5 bộ Hành sự sao, Giới sớ, Nghiệp sớ, Thập tì ni nghĩa sao và Tỉ khưu ni sao, được đời sau tôn là 5 đại bộ của Nam sơn Luật tông. Bộ Tứ phần cũng do ngài soạn nên, gọi là tập đại thành. Ngài lại cùng với ngài Đạo thế soạn 1 quyển Tứ phần tì ni thảo yếu. Người phụng trì Tứ phần tì ni thảo yếu, gọi là Yếu gia, còn người phụng trì Tứ phần luật hành sự sao thì gọi là Sao gia. Sư Hoài tố từng soạn Tứ phần luật khai tông kí để phá 16 đại nghĩa của sư Pháp lệ. Tứ phần luật sớ do sư Pháp lệ soạn được gọi là Cựu sớ, còn Khai tông kí của sư Hoài tố thì gọi là Tân sớ. Đệ tử của ngài Mãn ý là sư Định tân cũng soạn 1 quyển Phá mê chấp kí để phản bác thuyết của sư Hoài tổ. Ngài Mãn ý lại trao pháp cho sư Đại lượng, sư Đại lượng truyền cho Đàm nhất. Sư Đàm nhất giảng luật Tứ phần được 35 lượt, đồng thời, hoằng dương Tướng bộ luật và Nam sơn luật. Sư còn soạn Phát chính kí để xiển dương nghĩa lí trong bộ Hành sự sao của ngài Đạo tuyên, nhờ thế mà Nam sơn Luật tông càng nổi tiếng. Lúc luật tạng mới được truyền vào Trung quốc, thì 4 bộ luật đều được hoằng dương, chứ không nhất định riêng 1 bộ nào, đến khi ngài Đạo tuyên thừa kế hệ thống của ngài Trí thủ, chỉ hoằng truyền luật Tứ phần, thiết lập qui phạm sinh hoạt đồ chúng, thì luật Tứ phần trở thành luật pháp trung tâm của Phật giáo Trung quốc và bộ Hành sự sao của ngài Đạo tuyên về sau có tới hơn trăm nhà soạn chú giải. Ở đời Đường có 3 tông phái Luật tông là Tướng bộ tông của ngài Pháp lệ, Đông tháp tông của ngài Hoài tố và Nam sơn tông của ngài Đạo tuyên, tạo thành thế chân vạc và cùng nỗ lực hoằng truyền giới luật. Nhưng giữa 3 tông này có sự bất đồng căn bản về vấn đề Giới thể. Giới thể do người thụ giới phát được ở trong tâm khi nhận lãnh giới pháp. Tướng bộ tông của ngài Pháp lệ theo thuyết của luận Thành thực mà chủ trương rằng Giới thể là phi sắc phi tâm; Đông tháp tông của ngài Hoài tố thì y cứ vào luận Câu xá mà cho rằng Giới thể là vô biểu sắc; còn Nam sơn tông của ngài Đạo tuyên cũng theo thuyết luận Thành thực nên chủ trương Giới thể phi sắc phi tâm. Duy có điều khác với 2 tông trên chủ trương luật Tứ phần chỉ là Tiểu thừa, ngài Đạo tuyên dùng nghĩa Duy thức để giải thích luật Tứ phần và cho rằng luật Tứ phần tuy gốc Tiểu thừa, nhưng cũng có phần thông cả Đại thừa. Từ sau đời Đường, tông Tướng bộ và tông Đông tháp dần dần suy vi, chỉ còn Nam sơn Luật tông là thịnh hành. Và từ đó về sau, khi nói đến Luật tông tức là chỉ cho Nam sơn Luật tông. Khoảng năm Khai nguyên (713-741), sư Vinh duệ và sư Phổ chiếu người Nhật bản đến Trung quốc thỉnh Luật sư Giám chân (hàng chắt của ngài Đạo tuyên) sang Nhật hoằng truyền luật pháp, được tôn là Tổ của Luật tông Nhật bản. Đệ tử của ngài Đạo tuyên là Chu luật sư (hoặc Tú luật sư) là Tổ thứ 2 của Nam sơn Luật tông. Từ đó về sau, các Tổ truyền thừa qua các đời: Ngũ đại, Tống, Nguyên, Minh, Thanh... đều có soạn chương sớ hoằng truyền, nên Nam sơn Luật tông lưu hành rất lâu. Tại Hàn quốc, phong trào học tập, nghiên cứu và hành trì luật pháp cũng phát triển rất sớm. Năm Trinh quán 11 (637), ngài Từ tạng đến Trung quốc, dừng ở chùa Vân tế tại Nam sơn. Khi trở về nước, ngài lập giới đàn ở chùa Thông độ hoằng truyền luật pháp. Ngoài ra, theo Luật sư Pháp bảo đời Đường cho biết, thì bộ Thập tì ni nghĩa sao do ngài Đạo tuyên soạn đã bị thất lạc hơn 200 năm. Mãi đến năm Hội xương thứ 5 (845) đời Đường, bộ sách này mới được tìm thấy tại nước Tân la. Luật tông tuy đã được truyền vào Hàn quốc từ đời Đường, nhưng đến năm Cao li Thái tổ 18 (935), chùa Khai quốc mới được xây dựng ở Khai thành để làm chùa chính của tông Nam sơn. Vào năm Nguyên phong thứ 8 (1085) đời vua Thần tông nhà Tống (Trung quốc), Vương tử của vua Cao li Văn tông là Nghĩa thiên đến Trung quốc, theo ngài Nguyên chiếu học luật, sau khi trở về nước, khai giảng bộ Hành sự sao. Đến năm Triều tiên Thái tông thứ 7 (1407), tông Nam sơn và tông Tổng trì (Chân ngôn) gọi chung là Tổng Nam tông. Năm Thế tông thứ 6 (1424), các tông bị xóa bỏ, chỉ còn lại Thiền tông và Giáo tông, Tổng Nam tông được đặt vào trong Thiền tông. Khoảng năm Hiến tông tại vị (1835-1849), Luật sư Đại ẩn Lãng ngũ được người đời khen là Đạo tuyên tái thế, cùng với đệ tử Thảo y là những bậc Luật sư danh tiếng cuối cùng của Triều tiên. Tại Nhật bản, như trên đã nói, ngài Giám chân đã truyền Nam sơn Luật tông vào. Năm Thiên bảo 13 (754) đời vua Đường Huyền tông, ngài Giám chân đến Nhật bản, sáng lập giới đàn ở chùa Đông đại để truyền trao giới pháp và thiết lập đạo tràng nghiên cứu giới luật ở chùa Đường chiêu đề, từ đó, Luật tông Nhật bản dần dần hưng thịnh. Chùa Dược sư ở Quan đông và chùa Quan âm ở Trúc tử cũng nối nhau thiết lập giới đàn, tăng ni Nhật bản phần nhiều đã thụ giới Cụ túc ở 3 chùa nói trên. Cũng như các tông phái khác, Luật tông Nhật bản cũng trải qua nhiều thăng trầm, lúc thịnh lúc suy, đến thời Minh trị có ngài Vân chiếu v.v... đã tận lực phục hưng giới luật. Hiện nay có 2 phái Luật tông, 1 lấy chùa Đường chiêu đề làm trung tâm, 1 lấy chùa Tây đại tự làm trung tâm. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 1; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.3; Luật tông quỳnh giám chương Q.6; Truyền luật đồ nguyên giải tập Q.thượng; Thích thị kê cổ lược Q.3; điều Nam sơn Luật tông trong Bách trượng thanh qui Q.7 phần hạ; Tống cao tăng truyện Q.14-16; Phật tổ thống kỉ Q.29, 53; Luật uyển tăng bảo truyện Q.4-15; Triều tiên Phật giáo thông sử trung biên, hạ biên; Lí triều Phật giáo]. (xt. Tứ Phần Luật, Giới, Đông Tháp Tông, Nam Sơn Tông, Tướng Bộ Tông, Đạo Tuyên, Giám Chân).

luật tông cương yếu

3795凡二卷。日僧凝然撰。收於大正藏第七十四冊。本書係以問答體詳述律宗教義及其傳承。初論會釋三聚淨戒之典據並諸教所說之同異,及四十八輕戒與八萬四千威儀等之關係。次釋律宗之教旨、道宣之教判,並舉所依之經典。復明如來制三聚淨戒之由、道宣所立之性空、相空、唯識等三觀教門。最末敘載律宗與律藏於印度、中國、日本三國弘傳之經過。 ; (律宗綱要) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Ngưng nhiên, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 74. Sách này dùng thể văn vấn đáp mà trình bày về giáo nghĩa và sự truyền thừa của Luật tông. Nội dung gồm 4 phần: 1. Luận về các điển cứ giải thích Tam tụ tịnh giới, mối quan hệ giữa 48 giới nhẹ và 84.000 uy nghi. 2. Giải thích tôn chỉ của Luật tông và sự phán đoán của ngài Đạo tuyên, đồng thời, nêu những kinh điển trọng yếu mà Luật tông y cứ. 3. Trình bày nguyên do đức Như lai chế định Tam tụ tịnh giới và giáo môn Tính không, Tướng không, Duy thức do ngài Đạo Tuyên lập ra. 4. Tường thuật quá trình hoằng truyền Luật tông và Luật tạng ở Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản.

luật tướng

The discipline, or its characteristics. ; Pháp tướng của giới luật—The discipline or its characteristics.

Luật tạng

律藏; S, P: vinaya-piṭaka;|Là phần thứ ba của Tam tạng, quy định về việc sống tập thể của chư tăng, chư ni. Luật tạng có nhiều hệ khác nhau (như Luật tạng của Thượng toạ bộ, Pháp Tạng bộ, Nhất thiết hữu bộ).|Luật tạng gồm có 3 phần: 1. Các quy định dành cho Tỉ-khâu (s: bhikṣuvibhaṅga); 2. Các quy định dành cho Tỉ-khâu-ni (s: bhik-ṣuṇīvibhaṅga); 3. Các quy định trong đời sống hàng ngày (乾度; Kiền độ; khandhaka) như ăn uống, áo quần…|Chi tiết các quy định như sau:|1. Quy định dành cho tỉ-khâu gồm có 8 chương: |a) Ba-la-di (波羅夷; s, p: pārājika): bị trục xuất nếu phạm các tội giết, trộm cắp, hành dâm, nói dối là đã đạt Thánh quả; b) Tăng tàn (僧殘; s: saṅ-ghāvaśeṣa; p: saṅghādisesa): Tạm thời trục xuất nếu phạm một trong 13 tội như vu cáo, gây bất bình, tà dâm với phụ nữ…; c) Bất định (不定; s, p: aniyata): Quy định về các lỗi không được ghi ra trước; d) Xả đoạ (捨墮; s: naihsargika; p: nissag-gika): 30 lỗi cần phải từ bỏ về quần áo, ăn uống, thuốc men; e) Ba-dật-đề (波逸提; s: pātayantika; p: pācittiya): 90 lỗi nhẹ cần phạt như la lối, không nghe lời, dối trá; f) Hối quá (悔過; s: prati-deśanīya; p: pātidesanīya): 4 lỗi xung quanh việc ăn uống; g) Chúng học (眾學; s: śikṣākaranīya, p: sekhiya): Các quy định về giao tiếp, xử sự; h) Diệt tránh (滅諍; s: adhikaranaśamatha): Các quy định về hoà giải tranh chấp.|2. Quy định dành cho tỉ-khâu-ni (s: bhikṣuṇī-vi-bhaṅga) cũng có các chương đó nhưng cụ thể thì nghiêm khắc hơn nhiều.|3. Các quy định về đời sống hàng ngày (khan-dhaka) của tỉ-khâu, tỉ-khâu-ni cũng như trong các ngày đặc biệt trong tháng, hay trong mùa mưa, các quy định khi sống không nhà.|Trong Luật tạng cũng có phần đúc kết các quy định và đọc lên trong những ngày lễ cho mọi người cùng nghe, mỗi vị tỉ-khâu hoặc tỉ-khâu-ni đều có bản phận nhận lỗi công khai nếu vi phạm (Ba-la-đề mộc-xoa; s: prātimokṣa).

luật tạng

Dulva (T). ; Vinaya pitaka (S). Basket of discipline. Also tỳ nại da, tỳ ni (dịch cũ) ; Bộ tạng Luật, một phần trong ba bộ kinh điển—The Vinaya-pitaka, one of the three divisions of the Canon, or Tripitaka—See Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

luật tạp thiên

Vinayaksudrakavastu (S)Một phần trong Luật tạng của Căn bản Hữu bộ.

luật tứ phần

Dharmaguptaka-Vinaya—Bộ Luật Phật giáo, gồm 250 giới Tỳ Kheo và 348 giới Tỳ Kheo Ni. Bộ Luật được các Ngài Phật Da Xá và Trúc Phật Niệm dịch sang Hán tự—Buddhism vinaya contains 250rules for monks and 348 for nuns. It was translated into Chinese by Buddhayasas and Chu-Fo-Nien—See Luật Tông.

luật tỳ kheo

Luật dành riêng cho Tỳ Kheo trong tịnh xá, riêng biệt cho chư Tăng và chư Ni—Monastic disciplinary text included in the Vinaya and preserved in separate version for monks and nuns—For more information, please see Pratimoksa in Pali/Sanskrit Section.

luật tỳ kheo ni

See Pratimoksa in Pali/Sanskrit Section.

luật uyển sự quy

3800凡十卷。元代省悟編述,嗣良參訂。收於卍續藏第一○六冊。元泰定二年(1325)序刊。本書係依律藏詳說律宗僧侶之行事儀式。乃以律宗之南山及靈芝之著書爲基本,兼而參酌禪苑、校定、備用等清規編述而成。 ; (律苑事規) Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Tỉnh ngộ biên soạn vào đời Nguyên, ngài Tự lương hiệu đính, bài tựa in sách được viết vào năm Thái định thứ 2 (1325), thu vào Vạn tục tạng tập 106. Nội dung sách này dựa theo Luật tạng mà nói rõ nghi thức hành sự của chư tăng thuộc Luật tông, đồng thời, căn cứ vào những tác phẩm của các ngài Nam sơn, Linh chi và tham khảo các bộ Thanh qui Thiền uyển, Hiệu định, Bị dụng v.v... mà được biên soạn thành.

luật uyển tăng bảo truyện

3800凡十五卷。日本律僧慧堅撰。爲集錄我國及日本持律大德三百餘人之傳記。前九卷是我國諸師部分,從曹魏曇摩迦羅尊者,至明朝紫雲如是思律師等,凡二百二十餘人。後六卷爲日本諸師之部分,收南都招提寺鑑真大師,至大鳥山神鳳寺真政忍律師等,凡一百三十餘人。成書於貞享四年(1687)。 ; (律苑僧寶傳) Tác phẩm, 15 quyển, do ngài Tuệ kiên người Nhật bản soạn, hoàn thành vào năm Trinh hưởng thứ 2 (1678). Nội dung thu chép truyện kí của hơn 300 vị Đại đức trì luật ở Trung quốc và Nhật bản. Chín quyển trước nói về 220 vị tăng Trung quốc, từ tôn giả Đàm ma ca la đời Tào Ngụy đến Luật sư Tử vân Như thị tư đời Minh. Sáu quyển sau nói về 130 vị tăng Nhật bản, từ Đại sư Giám chân chùa Chiêu đề ở Nam đô, đến Luật sư Chân chính nhẫn chùa Thần phượng núi Đại điểu.

luật viện

3801又作律寺。專依準戒律,持律嚴謹者止住之寺院。我國自宋代後,禪、教、律三派並立,寺院亦分禪、教、律三者,屬於律者稱律院,與教院、禪院相對稱。〔宋高僧傳卷十五唐圓照條、勅修百丈清規卷下楊億之古清規序〕 ; (律院) Cũng gọi Luật tự. Nơi ở của những vị chuyên tu trì giới luật.Tại Trung quốc, từ sau đời Tống, 3 phái Thiền, Giáo, Luật cùng đứng ngang nhau, tự viện cũng được chia làm 3 loại Thiền, Giáo, Luật. Tự viện nào thuộc về Luật thì gọi là Luật viện. [X. điều Đường viên chiếu trong Tống cao tăng truyện Q.15; bài tựa Cổ thanh qui của Dương ức trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ].

luật ăn chai

Precepts of abstinence.

Luật 律

[ja] リツ ritsu ||| (1) Rule, law, precept, condition, norm. In Buddhism, the rules of discipline for the clergy vinaya. Also written 戒律. (2) To take as a model. (3) Musical scale. (4) A genre of Han poetry. (5) The Vinaya sect 戒律宗. => 1. Pháp tắc, quy luật, quy tắc, điều kiện, quy phạm. Trong Phật giáo, là giới luật của hàng tăng sĩ xuất gia. Còn viết là Giới luật戒律. 2. Xem như là mẫu mực. 3. Thang âm trong âm nhạc. 4. Thể loại của thi ca đời Hán. 5. Giới luật tông戒律宗.

luống tuổi

To be past the middle age.

luồng sinh khí

nadi (S), tsa (T), Prāṇa (S), lung (T), Subtle channels,

luồng thần lực

Xem khí.

luỵ

5607敘述死者生前德行之文體。明代徐師曾之文體明辨卷六十誄條云:「誄者,累也,累列其德行稱之。周禮大祝作六辭,其六曰誄,即此文體。」於佛教典籍中,例如廣弘明集卷二十三所標示之諸僧誄行狀,其中收錄有東晉丘道護之道士支曇諦誄、釋僧肇之鳩摩羅什法師誄、劉宋釋慧琳之武丘法綱法師誄、劉宋謝靈運之曇隆法師誄、謝靈運之廬山慧遠法師誄、劉宋張暢之若邪山敬法師誄、南齊釋慧林之新安寺釋玄運法師誄。其文體係初置序文,再敘述行誼傳歷等,終置「乃作誄曰」或「誄曰」等句,而揭以四言四句之韻文。其中如「鳩摩羅什法師誄」之序文,即爲推知其寂年之珍貴資料。 ; (誄) Điếu văn viếng người chết. Thể văn này, mở đầu là lời tựa, kế đến thuật lại hành trạng của người chết, sau cùng, đặt mấy chữ: Thương ôi! Thương thay! và kết thúc bằng 1 bài thơ kệ thể 4 chữ, 4 câu. Phần Chư tăng lụy hành trạng trong Quảng hoằng minh tập quyển 23, có thu chép những bài Lụy như: Đạo sĩ Chi đàm đế lụy của ngài Khưu đạo hộ soạn, Cưu ma la thập pháp sư lụy của ngài Thích Tăng triệu đời Đông Tấn, Vũ khưu Pháp cương pháp sư lụy của ngài Thích Tuệ lâm đời Lưu Tống, Đàm long pháp sư lụy và Lô sơn Tuệ viễn pháp sư lụy của ông Tạ linh vận đời Lưu Tống, Nhược tà sơn Kính pháp sư lụy của ông Trương sướng đời Lưu Tống và Tân an tự Thích Huyền vận pháp sư lụy của ngài Thích Tuệ lâm đời Nam Tề v.v... Trong đó, lời tựa trong bài Cưu ma la thập pháp sư lụy là tư liệu quí giá để suy biết năm ngài thị tịch.

Ly

(离): đồng nghĩa với Ly (離), tên gọi của quẻ Ly (☲) trong 8 hay 64 quẻ dịch, tượng trưng cho sự bảo vệ đức nhu thuận thì vạn vật đều thành.

ly

Li (C)Quẻ thứ sáu trong bát quái. ; To leave, part from, apart from, abandon. ; 1) Phân ly: To separate—To part—Apart from. 2) Phân Tây: Millimeter. 3) Phế bỏ: To abandon—To leave.

Ly Bà Đa

(s: Revata, 離婆多): là em của Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), âm dịch là Ly Việt Đa (離越多), Cát Lệ Phiệt Đa (褐麗筏多); ý dịch là Thường Tác Thanh (常作聲), Sở Cúng Dường (所供養), Thất Tinh (室星), Thích Thời (適時). Là một đệ tử của Phật, ông thường tọa Thiền nhập định, tâm không bị loạn động, nên được xem như là Người Không Bị Loạn Động Số Một. Cha mẹ ông thường cầu nguyện sao Ly Bà Đa và hạ sanh được ông, nên đặt cho ông tên như vậy. Tương truyền ông từng đi hành hóa, gặp cơn mưa lớn, vào trú trong một ngôi miếu thờ thần, đến nữa đêm thì thấy có 2 con quỷ tranh giành một thây chết mà ăn; nhân đó ông mới cảm nhận được sự hư huyễn, giả tạm của thân người này. Sau đó, ông đến chỗ Phật, nghe được giáo lý dạy rằng thân người này vốn được hình thành từ 4 yếu tố (Tứ Đại, đất, nước, gió và lửa), bèn phát tâm xuất gia tu tập. Đến cuối đời, trong khi du hóa tại nước Đà Bà (陀婆), gặp tuyết lạnh, vì không mang dép che chân, ông bị lạnh cóng tê cứng bàn chân. Thấy vậy, đức Phật tán thán hạnh Thiểu Dục Tri Túc của ông; và cũng từ đó về sau, Ngài cho phép chư tăng được mang loại dép cỏ để bảo vệ chân khi đi hành hóa đến các xứ lạnh.

ly bà đa

Renata (S)Đệ tử Phật, em ngài Xá lợi phất, đệ tử ngài A nan, có tuổi thọ rất cao Xem Ki bà đa. ; Revata. ; Revata (skt)—Ly Ba Đa—Ly Bách Lê Bà Đa—Ly Việt. 1) Một trong thập nhị bát tú, sao mà người Ấn cầu đảo để được con cái trong nhà—One of the twenty-eight Indian constellations, corresponding with the “house.” 2) Tên của một vị đệ tử Phật: Name of a disciple of Sakyamuni. 3) Tên của một vị Tăng đã lãnh đạo cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhì: Name of a monk who led the second synod. 4) Tên của một vị Tăng, thành viên trong lần kiết tập kinh điển thứ ba: Name of a monk, a member of the third synod. ; (離婆多) Phạm: Revata. I. Li Bà Đa. Cũng gọi Li việt đa, Lệ bà đá, Lí phạ đế, Li bà, Li viết, Li việt, Hiệt li phạt đa, Hạt li phiệt đa. Hán dịch: Thường tác thanh, Sở cúng dường, Kim, Thất tinh, Thích thời. Tên một vị đệ tử Phật, em của ngài Xá lợi phất. Tương truyền, cha mẹ Ngài cầu đảo sao Li bà đa mà sinh được Ngài, cho nên lấy vì sao này đặt tên cho Ngài. Có lần Ngài gặp mưa, ngủ lại trong miếu thờ thần, đến khuya thấy 2 con quỉ tranh giành nhau ăn xác chết, Ngài suy nghĩ về thân người hư huyễn. Hôm sau, Ngài đến chỗ đức Phật, được nghe đức Phật nói về thân người do 4 đại giả hòa hợp mà có, Ngài liền xuất gia vào đạo. Từ đó ngài thường ngồi thiền nhập định, tâm không tán loạn. Khi du hành đến nước Bà đà, Ngài gặp tuyết lạnh, vì không mang giày dép nên chân Ngài bị thương tổn, đức Phật khen Ngài là người thiểu dục tri túc. Nhân đó, về sau, đức Phật cho phép các vị tỉ khưu ở xứ lạnh được mang Phú la (giày ống) hoặc giày dép. [X. kinh Trung a hàm Q.8; phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.47; luật Ngũ phần Q.21; Pháp hoa văn cú Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.6, 22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.8, 23, 26]. II. Li Bà Đa. Cũng gọi Lê bà đa, Li ba đa. Đệ tử của ngài A nan, có tuổi thọ rất cao, tinh thông giới luật, Ngài từng ở Tăng già xa (Pàli:Saíkassa). Sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 100 năm, các thầy tỉ khưu Bạt xà tử (Pàli: Vajjiputta) ở nước Tì xá li đề xướng 10 điều trái với giới luật mà cho là hợp pháp. Bởi thế, Trưởng lão Da xá (Pàli:Yassa) mới đến Tăng già xa thỉnh ngài Li bà đa cùng đến nước Tì xá li để quyết nghị 10 điều ấy là phi pháp.[X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; luật Tứ phần Q.54; luật Ngũ phần Q.30; Đại đường tây vực kí Q.7]. (xt. Bạt Xà Tử).

ly bôi

Parting-cup.

ly bố uý như lai

Abhayaṃkarā-Tathāgata (S)Tên một vị Phật hay Như Lai. ; (離怖畏如來) Phạm: Abhayaôkara-tathàgata. Danh hiệu của 1 trong 5 đức Như lai được thờ cúng trong pháp hội Thí ngã quỉ. Theo Thí chư ngã quỉ ẩm thực cập thủy pháp, nếu hành giả xưng niệm danh hiệu của 5 đức Như lai, thì có thể khiến tất cả ngã quỉ diệt trừ Vô lượng tội mà sinh Vô lượng phúc, những thức ăn uống đều biến thành vị cam lộ vi diệu. Sách Bí tạng kí đem 5 đức Như lai phối hợp với 5 đức Phật, trong đó, Vô bố úy Như lai tức là đức Phật Thích ca ở phương Bắc. Li bố úy Như lai là dụng của trí Thành sở tác, cho nên là thân Biến hóa, hóa hiện khắp trong 6 ngả, 4 loài làm các phương tiện khiến cho tất cả chúng sinh đều được yên vui, không còn gì phải sợ hãi, cho nên Ngài được gọi là Vô bố úy Như lai. [X. Du già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi].

Ly bố úy

Bậc đã lìa khỏi mọi sự sợ sệt, cũng như Vô úy hay Vô sở úy, đều là những cách nói tôn xưng đức Phật.

ly chư phiền não

Klesakayavivarjita (skt)—Được thoát ly những phiền não—Liberated from the evil passions.

ly chư ác thú tam muội

Sarvasattva-papadjahana (S)Phép đại định mong tất cả chúng sanh thoát khỏi tội lỗi không bị đọa vào ác thú.

ly cách

Separated.

ly cái

To abandon the ngũ cái five obscurers, or hindrances to truth. ; Từ bỏ được năm thứ phiền não che mất chân tâm—To abandon the five obscures, or hindrances to truth. ** For more information, please see Ngũ Triền Cái. ; (離蓋) Lìa các phiền não mà được thanh tịnh. Cái, chỉ cho Ngũ cái (Phạm: Paĩca àvaraịàni) là 5 thứ phiền não ngăn che tâm tính, hoặc chỉ chung cho các phiền não.[X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.48].

ly cơ hiềm danh nguyện

(離譏嫌名願) Cũng gọi Vô chư bất thiện nguyện. Nguyện trong cõi Tịnh độ không có những lời chê cười dèm pha và những tiếng độc ác xấu xa, là nguyện thứ 16 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng), nói: Khi ta thành Phật, nhân dân trong đất nước của ta, nếu nghe đến một tiếng xấu, thì ta thề chẳng lên ngôi Chính giác.

ly cấu

Vita-mala (S)Xa lìa mọi nhơ bẩn phiền não Xem Viễn ly Xem như ý. ; To leave the impure, abandon the defiling influence of the passions, or illusion. ; Xa lìa nhiễm cấu của dục vọng phiền não—To leave the impure, abandon the defiling influence of the pasions or ilusion. ; (離垢) Phạm,Pàli:Vìta-mala. Cũng gọi Viễn trần li cấu. Xa lìa phiền não nhớp nhúa. Lí tứ đế và duyên khởi là nhân sinh quan, thế giới quan của Phật giáo.Nếu hiểu được tứ đế và duyên khởi một cách chính xác thì có thể thấy rõ chân lí, đạt được pháp nhãn, tức là đạt được đạo Tu đà hoàn (Dự lưu hướng). Có được pháp nhãn này thì xa lìa Kiến hoặc, cho nên gọi là Viễn li trần cấu (Phạm, Pàli:Viraja vìtamala, xa lìa bụi bẩn). Trong kinh điển của Phật giáo Nguyên thủy, có rất nhiều người nghe đức Phật và các vị đệ tử của Ngài nói pháp mà được pháp nhãn viễn li trần cấu, như tỉ khưu Sai ma trong kinh Tạp a hàm quyển 5, Am bà bà lê nữ trong kinh Trường a hàm quyển 2. Về sau, kinh điển của Đại thừa cũng sử dụng từ ngữ này, như phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển 1 (Đại 14, 539 thượng), nói: Viễn trần li cấu, được pháp nhãn thanh tịnh. [X. kinh Tạp a hàm Q.15; Hữu bộ luật phá tăng sự Q.7; Chú duy ma cật kinh Q.1].

ly cấu nhãn

To abandon the eye of imourity, or cantamination, and attain the eye which beholds truth and reality. ; Rời bỏ uế nhiễm nhãn để đạt được thanh tịnh nhãn nhìn thấu suốt được chân lý của vạn hữu—To abandon the eye of impurity, or contamination, and attain the eye which beholds truth and reality. ; (離垢眼) Chỉ cho pháp nhãn thanh tịnh, xa lìa phiền não cáu bẩn mà thấy được Thánh đạo. Pháp uyển châu lâm quyển 86 (Đại 53, 918 hạ), nói: Thấy được đức Phật rồi, nguyện đắc Li cấu nhãn, thành Bồ đề vô thượng, độ khắp cả chúng sinh.

ly cấu thanh tịnh

Đạt được thanh tịnh bằng phương cách xa rời uế nhiễm—Acquired purity through avoiding pollution.

ly cấu thế giới

The world free from impurity, the name of Sàriputra's Buddha-realm. ; 1) Thế giới không có cấu nhiễm: The word free from impurity. 2) Tên nước mà sau nầy Xá Lợi Phất được thành Phật: Name of Sariputra's Buddha-realm. ; (離垢世界) Thế giới thanh tịnh, xa lìa mọi cấu nhiễm, là cõi nước của ngài Xá lợi phất trong vị lai, khi Ngài thành Phật và làm giáo chủ trong thế giới ấy. Cứ theo phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa thì ngài Xá lợi phất, trong đời vị lai qua Vô lượng vô biên bất khả tư nghị kiếp, cúng dường nghìn muôn ức Phật, vâng giữ chính pháp, đầy đủ đạo hạnh Bồ tát, sẽ được thành Phật hiệu là Hoa quang Như lai, tên nước là Li cấu, mặt đất bằng phẳng thanh tịnh, yên ổn phong nhiêu, trời người đông đảo. Bấy giờ, đức Hoa quang Như lai dùng cả 3 thừa giáo hóa chúng sinh.

Ly cấu địa

xem Mười địa vị.

ly cấu địa

Vimala-bhŪmi (S), Immaculate Stage Xem vô cấu. ; The second of the ten bodhisattva stages in which he overcomes all passion and impurity ; See Thập Địa Phật Thừa (2). ; (離垢地) Phạm:Vimalà-bhùmi. Hán âm: Duy ma la phổ. Cũng gọi: Li cấu, Vô cấu địa, Tịnh địa, Cụ giới địa. Địa vị giữ gìn được giới hạnh thanh tịnh, xa lìa các phiền não nhơ nhớp, là địa thứ 2 của Thập địa trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát. Vì địa này đầy đủ 3 tụ tịnh giới nên cũng gọi là Cụ giới địa. [X. kinh Hoa nghiêm Q.23 (bản 60 quyển); luận Thành duy thức Q.9].

ly diên kị

(離延忌) Cũng gọi Tiểu luyện kị, Tiểu phạn kị. Lễ truy tiến cầu phúc cho người chết vào tuần thất thứ 5, theo nghi thức của Phật giáo Nhật bản. Theo điều Truy kị danh số thứ đệ trong Chư hồi hướng thanh qui quyển 4, vào ngày này, thân quyến vì người chết làm lễ Truy thiện, cúng dường để cầu phúc và diệt tội cho vong linh, gọi là Li diên kị.

ly diệt

Visamyogā (S)Ly hệ, Trạch diệt vô viĐoạn trừ phiền não, xa lìa sự trói buộc của tất cả các pháp hữu lậu.

ly dị

To divorce.

ly dục

Xem Ly nhiễm. ; To leave or be free from desire, or the passions. ; Từ bỏ dục vọng (của dục giới)—To leave or free from desire, or the passion.

ly dục thoái

(離欲退) Bậc Thánh đã dứt hết 9 phẩm Tu hoặc của cõi Dục, đạt được quả Bất hoàn, nhưng rồi lại khởi các phiền não ở cõi Dục mà thoái đọa (lui sụt), gọi là Li dục thoái. [X. luận Câu xá Q.6; Q.21].

ly dục địa

Vitarāga-bhŪmi (S)Ly Tham Địa, Diệt Dâm Nộ Si ĐịaMột trong Tam thừa cộng Thập địa ghi trong kinh Đại Bát nhã. ; (離欲地) Phạm:Vìta-ràga-bhùmi. Cũng gọi Li tham địa, Diệt dâm nộ si địa.Giai vị tu hành của Bồ tát, lìa tất cả tham dục, ô nhiễm, là địa thứ 6 trong Thập địa của Tam thừa. Bồ tát ở địa này có thể đoạn trừ Tư hoặc và xa lìa hết thảy phiền não của cõi Dục. Cứ theo phẩm Phát thú trong kinh Ma ha bát nhã ba la mật quyển 6, thì Bồ tát trụ ở địa thứ 6, đầy đủ lục Ba la mật, nhưng cũng còn có 6 pháp không nên làm. Đó là: 1. Không nên có ý muốn làm Thanh văn và Bích chi phật. 2. Khi bố thí, không nên sinh tâm lo buồn. 3. Khi có người đến cầu xin điều gì, không nên từ chối. 4. Không nên tích góp tài vật mà phải đem ra bố thí. 5. Không nên hối tiếc sau khi bố thí. 6. Không nên ngờ vực các pháp sâu xa.

ly gián

Schism.

ly gián ngữ

Pisunavaca (S)Lời nói gây chia rẻ, thù nghịch nhau. ; Talk which causes estrangement between friends; alienating words; one of the ten wicked things. ; Ly gián ngữ là một trong mười ác nghiệp, nói lời làm cho hai người phải xa lìa hay không thân hòa với nhau—Talk which causes estrangement between friends; alienating words; one of the ten wicked things. ** See Thập Ác Nghiệp in Vietnamese-English Section. ; (離間語) Phạm: Paizunya. Pàli:Pisuịà-vàcà. Cũng gọi Lưỡng thiệt (nói 2 lưỡi). Lời nói chia rẽ giữa người này và người kia, là 1 trong 10 nghiệp ác. Luận Du già sư địa quyển 8 (Đại 30, 316 thượng), ghi: Li gián ngữ là lời nói có ý phá hoại, nghĩa là đem lời người này nói với người kia, đem lời người kia nói với người này, làm cho họ ghét bỏ nhau. [X. luận Tập dị môn Q.2; luận Câu xá Q.16]. (xt. Lưỡng Thiệt).

ly hí luận bồ tát

(離戲論菩薩) Li hí luận, Phạm: Nisprapaĩca. Hán âm: Nễ sắt ba la bán tả. Cũng gọi Trụ vô hí luận bồ tát. Vị Bồ tát thứ 5 ngồi ở bên phải hàng ngoài cùng của viện Kim cương thủ trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo.Vị Bồ tát này xa lìa tất cả vọng tưởng hí luận, hiển bày Nhất thực chân tri. Mật hiệu là Chân hành kim cương, chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là chày 1 chĩa. Hình tượng của Ngài thân màu da người, ngồi trên tòa sen đỏ, tay phải nắm lại dựng đứng ngang ngực, ngón trỏ duỗi thẳng đứng, lòng bàn tay hướng ra ngoài; tay trái nắm lại úp xuống, cầm chày 1 chĩa hướng lên trên, đầu dưới cây chày chống trên tòa sen, đầu gối phải dựng đứng, bàn chân phải úp lên trên bàn chân trái. Chân ngôn của vị Bồ tát này là chân ngôn Nhất thiết trì kim cương trong phẩm Phổ thông chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật quyển 2. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1; phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.2; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung].

ly hý luận bồ tát

Nisprapanca (S)Trụ Vô Hý luận Bồ tátTên một vị Bồ tát.

ly hương

To leave one's native land.

ly hệ

Xem Ly diệt. ; (離系) Phạm,Pàli:Vi-saôyoga. Cũng gọi: Li diệt. Đồng nghĩa: Giải thoát. Chỉ cho Trạch diệt vô vi, nghĩa là do đoạn trừ phiền não mà xa lìa sự trói buộc của các pháp hữu lậu. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 hạ), nói: Trạch diệt lấy li hệ làm tính, xa lìa sự trói buộc của các pháp hữu lậu mà đạt được giải thoát, gọi là Trạch diệt. [X. luận Đại tì bà sa Q.31; luận Thuận chính lí Q.6]. (xt. Trạch Diệt).

ly hệ giả

Nirgrantha (S)Ni kiền tử, Ni kiền đà1- Người bỏ hết mọi sự trói buộc. 2- Tên gọi một phái tu ngoại đạo ở Ấn độ.

ly hệ quả

Visamyogā-phala (S)Một trong ngũ chủng quả (đẳng lưu, dị thục, ly hệ, sĩ dụng, tăng thượng quả). ; Visamyogaphala (S). ; Visamyoga-phala (skt)—Quả dựa vào đạo lực giải thoát của Niết Bàn mà chứng được, quả nầy tạo nên bởi lục nhân—Emanicipated effect produced by all the six causes—See Lục Nhân. ; (離系果) Phạm: Visaôyoga-phala. Cũng gọi Giải thoát quả. Do sức lựa chọn (giản trạch) của trí tuệ mà đoạn trừ các phiền não, xa lìa sự trói buộc (li hệ) của pháp hữu lậu, chứng được quả vị Niết bàn của Trạch diệt vô vi, gọi là Li hệ quả, là 1 trong 5 quả. Luận Câu xa quyển 6 (Đại 29, 35 trung), nói: Do trí tuệ đoạn trừ hết các pháp hữu lậu, nên gọi là Li hệ quả; Diệt nên gọi là Tận, Trạch nên gọi là Tuệ, tức Trạch diệt gọi là Li hệ quả. [X. luận Đại tì bà sa Q.121; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ; luận Thuận chính lí Q.18].

ly hệ tử

(離系子) Phạm: Nirgrantha-zràvaka. Cũng gọi Ni kiền tử, Vô tàm ngoại đạo. Ngoại đạo khỏa hình (ở truồng), chủ trương tu khổ hạnh, cởi bỏ tất cả mọi cái ràng buộc của thế gian. Li hệ chỉ cho thầy, Tử chỉ cho môn đồ. Vì chủ trương ở truồng, nên bị người đời gọi là Ngoại đạo không hổ thẹn (vô tàm). [X. Duy thức thuật kí Q.1 phần đầu; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4]. (xt. Ni Kiền Tử Ngoại Đạo).

ly hệ đắc

(離系得) Tức là được quả Li hệ. Tông Hữu bộ dùng từ Li hệ đắc để chỉ cho Trạch diệt vô vi. Nghĩa là dùng trí tuệ vô lậu giản trạch (chọn lựa) lí Tứ đế mà được pháp Niết bàn, gọi là Li hệ đắc. Theo luận Câu xá quyển 6, thì Li hệ cũng có nghĩa là đoạn, là giải thoát, chỉ cho Niết bàn; Đắc là tên của tâm sở bất tương ứng. Trạch là nhân lựa chọn, Diệt là quả Li hệ chứng được. Còn theo luận Thành duy thức quyển 8, thì Li hệ tức là pháp thiện vô vi nhờ đoạn trừ những pháp chướng ngại đạo vô lậu mà chứng được. Pháp này do xa lìa sự trói buộc (li hệ) của lậu hoặc mà chứng được, cho nên gọi là quả Li hệ; lại vì xa lìa sự trói buộc mà chứng được nên gọi là Li hệ đắc. [X. luận Câu xá Q.10; luận Hiển dương thánh giáo Q.18].

ly hỉ diệu lạc địa

(離喜妙樂地) Tức là cõi trời Thiền thứ 3 của Sắc giới, một trong 9 địa của Tam giới. Hành giả ở cõi trời Thiền thứ 3 này, đã xa lìa cảm thụ vui mừng thô động của cõi trời Thiền thứ 2, mà an trụ trong cảm thụ vui mừng tĩnh lặng, vi diệu, thù thắng. [X. luận Đại tì bà sa Q.31, 141; luận Câu xá Q.28].

ly hợp

Separation and reunion.

ly kiết la sát nữ

Xem Tỳ lam bà La sát nữ.

ly kỳ

Extraordinary—Strange.

Ly Lục Đường Tập

(離六堂集): bên cạnh các tác phẩm như Hùng Lục Đường Nhị Tập (雄六堂二集), Triều Hành Cận Thảo (潮行近草), Ly Lục Đường Cận Cảo (離六堂近稿), Hải Ngoại Kỷ Sự (海外紀事), bộ này cũng là Thi Văn Tập do Thiền tăng Đại Sán (大汕) trước tác, được thâu lục vào trong quyển thứ 99 của Thiền Tông Toàn Thư (禪宗全書), quyển thứ 7 của Thiền Môn Dật Thư (禪門逸書); nguyên san bản của Hoài Cổ Lâu (懷古樓) trong khoảng thời gian Khang Hy (康熙, 1661-1722). Vốn là pháp từ của Giác Lãng Đạo Thạnh (覺浪道盛, 1592-1659), vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Thanh, Đại Sán kế thừa tông phong của Thầy và làm cho phát triển. Tư tưởng Thiền học của Đạo Thạnh khá đặc dị, từng đưa ra các quan niệm lấy Tào Động Tông chỉnh hợp học thuyết Thiền Tông Ngũ Gia (禪宗五家) với Tam Giáo Nho, Đạo, Thích; từ đó đề xuất lý luận gọi là “tôn hỏa vi tông (尊火爲宗, tôn sùng lửa làm tông chỉ).” Hơn nữa, tư tưởng này còn liên quan đến chủ trương Ngũ Vị Quân Thần Quyết (五位君臣訣) của Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂, 840-901) cũng như quan niệm lấy Ngũ Vị phối hợp với 5 quẻ trong 64 quẻ của Chu Dịch (周易). Việc Đại Sán lấy tên Ly Lục (離六) đặt tên cho nhà ông ở, cho danh tập, cũng đều có liên quan đến tư tưởng nói trên. Có nghĩa là Tào Động Tông lấy phẩm vị Kiêm Trung Đáo (兼中到) trong Ngũ Vị để phối hợp với quẻ Trùng Ly (重離) của 64 quẻ dịch. Theo giải thích của Đại Sán, Ly Lục có nghĩa là “dĩ nhất quy ngũ (以一歸五, lấy một quy về năm)”; lấy 6 quy về 5 tức là đạt đến Kiêm Trung Đáo của Ngũ Vị, là cảnh giới sự lý viên dung vô ngại. Ly Lục nghĩa là lìa nước được lửa, và đó cũng là “lấy lửa làm tông khí, tạo nên pháp mạch của Tào Động”. Được hình thành với 12 tập, trong phần đầu có khá nhiều bài Tựa của các danh nhân đương thời như Tằng Xán (曾燦), Hùng Nhất Tiêu (熊一瀟), Khuất Đại Quân (屈大均), Cao Tằng Vân (高層雲), Từ Hoàn (徐釚), v.v. Trong 12 quyển ấy, có 1 quyển chuyên về Phú, thơ 1 quyển. Trước sách có đồ hình 32 bức, mỗi bức đều có đề tán của các danh nhân. Trong sách có thuật lại những phong tục, tập quán xã hội Lĩnh Nam (嶺南), tình hình xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, v.v.

Ly mị

(魑魅): thời xưa chỉ cho thế lực thần quái của núi sông có thể gây hại người; cũng chỉ cho quỷ quái, yêu tinh trong gỗ đá hiện ra. Như trong Văn Tuyển (文選), bài Đông Kinh Phú (東京賦) của Trương Hành (張衡, 78-139) nhà Đông Hán, có câu: “Sao ly mị, trác húc cuồng (捎魑魅、斮獝狂, trừ yêu quái, chém điên cuồng).” Hay trong Đường Phạn Phiên Đối Tự Âm Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (唐梵翻對字音般若波羅蜜多心經, Taishō Vol. 8, No. 256) cũng có đoạn: “Triêu hành tuyết hiến, mộ túc băng nhai, thọ quải viên nhu, cảnh đa ly mị (朝行雪巘、暮宿冰崖、樹掛猿猱、境多魑魅, sang đi đỉnh tuyết, tối ngủ bờ băng, khỉ vượn chuyền cây, cảnh nhiều quỷ quái).” Hoặc trong Lăng Nghiêm Kinh Thông Nghĩa (楞嚴經通議, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 12, No. 279) lại có đoạn: “Hoặc trước quỷ thần, hoặc tao ly mị, tâm trung bất minh, nhận tặc vi tử (或著鬼神、或遭魑魅、心中不明、認賊爲子, hoặc chấp quỷ thần, hoặc gặp yêu quái, trong tâm không sáng, nhận giặc làm con).”

ly ngôn

That which cannot be described in words, e.g. the bhùtatathatà, which is beyond definition. ; Chân như không thể nghĩ bàn, và không thể diễn tả được bằng lời, ngược lại với Y ngôn là chân như có thể diễn tả được---The bhutatathata in its inexpressible form—The bhutatathata is beyond definition, and cannot be described in words, in contrast with the bhutatathata in its expressible form (y ngôn).

ly ngôn chân như

Chân Như không diễn tả được bằng văn tự, phân biệt với Y Ngôn Chân Như hay chân như diễn tả được bằng văn tự—The bhutatathata in its inexpressible form, as distinguished from it as expressible. ** For more information, please see Nhị Chân Như. ; (離言真如) Cũng gọi: Tuyệt ngôn chân như. Đối lại: Y ngôn chân như. Pháp thể của chân như dứt tuyệt nói năng, suy nghĩ, là 1 trong 2 chân như. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 576 thượng), nói: Tất cả các pháp từ xưa đến nay, lìa tướng nói năng, lìa tướng văn chữ, lìa tướng tâm duyên; rốt ráo bình đẳng, không có biến đổi, không thể phá hoại, chỉ là nhất tâm, nên gọi chân như. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung].

ly ngôn thuyên

Không thể nắm bắt hay giải thích bằng lời—Beyong explanation.

ly ngôn trung đạo

(離言中道) Đối lại: Ngôn thuyên trung đạo. Chỉ cho Trung đạo chẳng phải có chẳng phải không, tức ở trong Thắng nghĩa để dứt tuyệt mọi sự nói năng, suy tính, là 1 trong Nhị trùng trung đạo do tông Pháp tướng lập ra. (xt. Nhị Trùng Trung Đạo).

ly nhiễm

Virāga (S), Dispassion Ly dục, Ly thamXem Đoạn hoặc. ; (離染) Phạm:Viràga. Cũng gọi Li tham, Li dục. Xa lìa tham nhiễm. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 28, nói theo nghĩa hẹp, Li nhiễm nghĩa là xa lìa tham dục, mà nói theo nghĩa rộng, thì là xa lìa phiền não, cho sự li nhiễm bao gồm tất cả thiện pháp hữu vi. [X. kinh Tạp a hàm Q.1, 2, 3; phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa; kinh Tứ thập nhị chương; luận Phát trí Q.1; luận Câu xá Q.23].

ly nhiễm phục

Áo cà sa của chư Tăng Ni—The monk's or nun's robe which separates him from contamination ; (離染服) Tên khác của áo ca sa, nghĩa là áo xa lìa phiền não tạp nhiễm. Theo kinh Tâm địa quán quyển 5, ca sa cứng chắc như áo giáp dù cho phiền não bén nhọn như mũi tên cũng không thể nào xuyên qua được. Còn theo Kim cương bát nhã sớ quyển 2, ca sa cũng gọi là Li trần phục (áo lìa bụi bặm), vì là hoại sắc (màu xấu xí) nên khi mặc vào không sinh lòng tham; cũng gọi là Tiêu sấu y (áo còm cõi), vì khi mặc áo này thì mọi phiền não đều tiêu tan hết. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng].

ly nhiễm đắc

(離染得) Đối lại: Thụ sinh đắc, Gia hạnh đắc. Nhiễm là chỉ cho phiền não. Khi người tu hành lìa khỏi các phiền não ở cõi dưới, thì chứng được định của cõi trên. Theo luận Câu xá quyển 28, thì Tịnh định, Vô lậu định và Vị định là do li nhiễm mà được. [X. luận Câu xá Q.5].

ly nhị biên phân biệt chỉ

(離二邊分別止) Cũng gọi Tức nhị biên phân biệt chỉ, Tức nhị biên chỉ. Pháp Chỉ hành chấm dứt mọi sự chấp trước phân biệt về 2 bên, là 1 trong 3 pháp Chỉ hành do tông Thiên thai lập ra. Tông Thiên thai dựa vào 3 pháp quán Không, Giả, Trung mà đặt ra 3 thứ Chỉ hành, trong đó, Li nhị biên phân biệt chỉ hành (lìa chấp trước 2 bên) là căn cứ vào pháp quán Trung đạo mà thành lập, tức là dứt hết các tướng phân biệt đối đãi 2 bên: Có, không; mê, ngộ; sinh tử, Niết bàn; v.v... (xt. Tam Chỉ).

ly phược tử

Ngoại đạo lõa thể Ni Kiền Đà hay Vô Hệ là phái đã lìa được sự trói buộc của mọi hệ phược—The Nirgrantha sect of naked devotees who abandon all ties and forms.

ly sanh

Lìa bỏ sống chết của luân hồi—To leave the chain of rebirth.

ly sanh hỷ lạc địa

Ngôi sơ thiền của cõi trời sắc giới. Đây là nơi đã lìa các phiền não xấu ác ở dục giới mà sanh vui mừng khi bước vào cõi sắc giới—The first dhyana heaven of form, where is experienced the joy of leaving the evils of life.

ly sanh tính

Chân tánh của bậc Thánh giả thoát lìa khỏi luân hồi sanh tử—The true nature of the holy man which leaves the round of mortality.

ly sinh

To leave the chain of rebirth. ; (離生) Vĩnh viễn thoát lìa sự đầu thai sinh ra trong 3 cõi. Người trong Tam thừa, khi vào được giai vị Kiến đạo, thấy rõ chân lí (Tứ đế), dứt hết Kiến hoặc, vĩnh viễn lìa sự thác sinh trong 3 cõi, gọi là Chính tính li sinh. Chính tính của các bậc Thánh thoát li sinh tử này, gọi là Chính tính li sinh tính, gọi tắt là Li sinh tính. Luận Câu xá quyển 23 (Đại 29, 120 hạ), nói: Người được pháp Thế đệ nhất, tuy trụ ở giai vị Dị sinh (phàm phu) tính, nhưng có thể tiến vào Chính tính li sinh. [X. Vạn thiện đồng qui tập Q.6]. (xt. Chính Tính Li Sinh).

ly sinh hỉ lạc địa

(離生喜樂地) Nơi tu hành của những người xa lìa phiền não ở cõi Dục, phát sinh cảm giác vui mừng, là địa thứ 2 trong 9 địa, tức là cõi Sơ thiền của Sắc giới. Kinh Tạp a hàm quyển 17 (Đại 2, 123 thượng), nói: Tỉ khưu lìa tham dục, lìa ác và các pháp bất thiện, có giác, có quán, lìa cõi Dục, phát sinh cảm nhận vui mừng, đầy đủ điều kiện trụ ở cõi Sơ thiền. [X. luận Tập dị môn Q.5; luận Câu xá Q.12; Câu xá tụng sớ Q.10]. (xt. Cửu Địa).

ly sinh hỷ lạc địa

The first dhyàna heaven, where is experienced the joy of leaving the evils of life.

ly sinh tính

The true nature of the holy man which leaves the round of mortality.

ly suy kỳ kiếp

Vinirbhoga (S)Oai Âm Vương Phật, Đức Phật thời quá khứ, kỳ kiếp của Ngài tên là Ly suy, cõi của Ngài là Đại thành, cũng là kỳ kiếp Thường Bất Khinh Bồ tát xuất hiện.

ly tham

Xem Ly nhiễm.

ly tham tâm

(離貪心) Đối lại: Hữu tham tâm. Tâm xa lìa phiền não tham dục. Luận Câu xá quyển 26 (Đại 29, 35 hạ), nói: Li tham tâm nghĩa là đối trị tâm tham. Nếu tâm không tương ứng với tham, thì gọi là Li tham tâm (tâm lìa tham).

ly tham địa

Xem Ly Dục Địa.

ly thân hành

(離身行) Đoạn trừ phiền não của cõi Dục, được quả Tứ thiền của cõi Sắc, thoát li khỏi sắc thân. Luận thành thực quyển 2 (Đại 32, 253 trung), nói: Dứt trừ phiền não ở cõi Dục, chứng được Tứ thiền ở cõi Sắc, gọi là Li thân hành.

ly tinh vô biệt phật

Rời tâm tánh sẽ không bao giờ thấy Phật, nghĩa là tâm tức Phật—Apart from mind, or the soul, there is no other Buddha, i.e. the mind is Buddha.

ly trung tri

(離中知) Đối lại: Hợp trung tri. Chỉ cho các căn (giác quan) không cần tiếp xúc sát với các cảnh(đối tượng) mà cũng nhận biết được, gọi là Li trung tri, nghĩa là cách xa mà biết, đó là: Mắt, tai, ý thức. Mắt có thể thấy màu sắc từ đàng xa, nhưng đối với thuốc nhỏ vào mắt thì không thấy được; tai có thể nghe những tiếng từ xa, nhưng nếu những âm thanh dội vào tai thì không nghe được. Trái lại, căn và cảnh phải tiếp xúc sát nhau mới có thể phát sinh nhận biết, thì gọi là Hợp trung tri, nghĩa là hợp lại mới biết. Như mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân chạm xúc, v.v... (xt. Hợp Trung Tri).

ly trần phục

Kasàya (S). The monk's robe, freed from the dusty world; i.e. free from the contamination of the senses. ; Kasaya (skt)—Áo cà sa của chư Tăng Ni, có nghĩa là áo mặc vào để nhắc mình nhớ để xa lìa lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)—The monk's robe or kasaya, freed from dusty world, i.e. free from contamination of the sense.

ly tác nghiệp quán đỉnh

(離作業灌頂) Đối lại: Tác nghiệp quán đính, Sự nghiệp quán đính, Cụ chi quán đính. Chỉ cho pháp Quán đính, khi tu, không cần phải thực hành các việc như: Lựa đất, đắp đàn, vẽ Mạn đồ la, tung hoa chọn Phật, v.v... tức là 2 pháp quán đính: Ấn pháp và Dĩ tâm trong 3 loại pháp Quán đính của Mật giáo. 1. Ấn pháp quán đính: Đối với các đệ tử có tâm thành tha thiết, nhưng không có khả năng thực hiện đầy đủ các loại sự nghiệp tác pháp, thì cho phép họ được thụ Quán đính bằng cách kết ấn và tụng chân ngôn để trao truyền. 2. Dĩ tâm quán đính: Đối với hành giả đã thông suốt, thì dùng tâm truyền tâm, mà không cần tất cả các tác pháp hình thức. Tuy nhiên, có thuyết cho rằng khi truyền trao Ấn pháp quán đính, người đệ tử vẫn cần sắm sửa chút ít lễ vật để cúng dường Tam bảo. Vả lại, Ấn pháp quán đính tuy là Li tác nghiệp quán đính, nhưng trong các kinh điển đều có ghi các việc như: Vị A xà lê hướng dẫn đệ tử vào trong đàn tung hoa, trao cho đạo cụ bí mật, v.v... Như vậy, Ấn pháp quán đính tuy được mệnh danh là Li tác pháp quán đính, nhưng trên thực tế, chưa hẳn đã không có tác pháp, mà nên hiểu là không được cử hành với đầy đủ các nghi thức như pháp Cụ chi quán đính mà thôi. [X. Đại nhật kinh sớ Q.15].

ly tác pháp

(離作法) Phạm: Vyatireka. Đối lại: Hợp tác pháp. Cũng gọi Li, Già khiển. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong Nhân minh, khi áp dụng Đồng dụ thì gọi là Hợp tác pháp, còn khi áp dụng Dị dụ thì gọi là Li tác pháp. Đồng dụ là dụ về Đồng phẩm, Dị dụ là dụ về Dị phẩm. Trong một luận thức, đã dùng Đồng dụ để chứng minh, lại đưa thêm Dị dụ ra nữa, thì nghĩa của Tông lại càng rõ ràng hơn, làm cho đối phương (người vấn nạn) không còn nói quanh được nữa. Ví dụ: Hợp tác pháp: - Tông: Âm thanh là vô thường. - Nhân: Vì do sự tác động mà có. - Dụ: Nhữnggì do sự tác động mà có đều là vô thường, ví như cái bình, v.v... (đồng dụ). Li tác pháp: - Tông: Âm thanh là vô thường. - Nhân: Vì do sự tác động mà có. - Dụ: Những gì không phải là vô thường đều không phải do sự tác động mà có, ví như hư không (dị dụ). Như vậy, ta thấy sự khác nhau giữa Hợp tác pháp và Li tác pháp là hoàn toàn ở phần Dụ. Về phần Đồng dụ, trước hết phải nói Nhân– nghĩa là nói: Tất cả những gì có cái Nhân ấy thì đều là có tính cách của danh từ Sau (hậu trần) trong Tông. Về phần Dị dụ, trước hết phải nói danh từ sau– nghĩa là nói: Tất cả những gì không có tính cách của danh từ sau ấy thì đều không có tính cách Nhân. Cho nên, Đồng dụ, vì trước phải nói Nhân, sau mới nói Tông, nên thuật ngữ Nhân minh gọi là Nhân trước, Tông sau; Dị dụ, vì trước phải nói đến Tông (Tông đây là chỉ cho danh từ sau) rồi sau mới nói Nhân, nên gọi là Tông trước, Nhân sau. Khác với Đồng dụ, Dị dụ nói Không tức là nếukhôngcó tính cách của Tông thì cũng không có tính cách của Nhân. Vì thế, về Đồng dụ phải dùng Đồng phẩm của Tông để ví dụ, về Dị dụ phải dùng Dị dụ. [X. Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.6 phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.7].

ly tâm bất khả đắc

Cittamatravinirmuktam-nopalabhyate (skt)—Ngoài cái tâm ra không có gì có thể được đạt, tức là ngoài tâm ra không có gì có thể hiểu được—Apart from mind nothing is attainable, that is, comprehensible.

ly tính vô biệt phật

Apart from mind there is no other Buddha, i.e. the tính is Buddha. ; (離性無別佛) Lìa tính không có Phật riêng, vì tính tức là Phật. Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục (Đại 48, 387 thượng), nói: Tự tính thiên chân vốn không mê ngộ, nó bao trùm tất cả 10 phương thế giới trong cõi hư không, từ xưa đến nay nó chính là tâm thể của chúng ta. Luận Đốn ngộ nhập đạo yếu môn quyển hạ, nói: Ngoài tâm ra, không có Phật. Luận Đạt ma đại sư huyết mạch (Vạn tục 110, 405 hạ), nói: Trong tất cả thời, ở tất cả chỗ, đều là tâm của ngươi, đều là Phật của ngươi. [X. Lục tổ đàn kinh].

ly tướng

Một trong tam tướng nói đến trong Kinh Pháp Hoa—One of the three forms or positions mentioned in the Lotus Sutra. ** For more information, please see Tam Tướng.

ly tướng giới

Vô Tướng Giới—Người giữ giới, tâm không bám víu, coi chư pháp cũng như hư không, hiểu rõ không có giữ giới và phạm giới, đối lại với Tùy Tướng Giới hay nghi thức lễ bái bên ngoài—The inner commands, or observance in the heart, in contrast with the external observance or rituals. ; (離相戒) Cũng gọi: Vô tướng giới. Đối lại: Tùy tướng giới. Người trì giới tâm không chấp trước, xem các giới cũng như hư không, xa lìa hết các tướng trì và phạm. [X. Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ Q.5].

ly tướng-ly tướng giới-vô tướng giới

The inner commands, or observance in the heart, in contrast with external observance or ritual.

ly tạng

(麗藏) Cũng gọi Cao li bản, Cao li tạng, Li bản, Tiên bản. Đại tạng kinh do Vương triều Cao li, Triều tiên khắc in chia làm 4 loại: 1. Sơ điêu bản: Bản đầu tiên, tương truyền được khắc vào năm Cao li Hiển tông thứ 2 (1011). 2. Cao li tục tạng bản: Được khắc ở chùa Hưng vương vào năm Tuyên tông thứ 7 (1090). 3. Tái điêu bản: Bản khắc lại, tức là bản của chùa Hải ấn, được khắc vào năm Cao li Cao tông năm 23 đến năm 38 (1236-1251) để phòng ngừa sự xâm lăng của Mông cổ. 4. Cao li Khất đan tạng phỏng khắc bản: Bản phỏng theo tạng Cao li Khất đan, được khắc vào năm Văn tông 12 (1063). (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).

ly vi

1) Xa lìa mọi thể tướng mà được tịch diệt gọi là “Ly,” tác dụng của pháp tính vi diệu, chẳng thể lường biết gọi là “Vi”—Apart from all the phenomenal, interpreted as spirit; “wei” as its subtle, mysterious functioning. 2) “Ly” là Niết Bàn, “Vi” là Bát Nhã: Ly means Nirvana, “Wei” means Pranja. ; (離微) Thể của pháp tính xa lìa các tướng, tịch diệt vô dư, gọi là Li; dụng của pháp tính vi diệu chẳng thể nghĩ bàn, gọi là Vi. Phẩm Li vi thể tịnh trong luận Bảo tạng (Đại 45, 147 thượng), nói: Không mắt, không tai gọi là Li, có thấy, có nghe gọi là Vi. Không có ta, không tạo tác gọi là Li, vẫn có trí, vẫn có dụng gọi là Vi. Không tâm, không ý gọi là Li, có thông, có đạt gọi là Vi. Li là Niết bàn, Vi là bát nhã. Vì là bát nhã nên khởi lên đại dụng; vì là Niết bàn nên tịch diệt vô dư. Vì là vô dư nên phiền não trừ sạch, vì là đại dụng nên thánh hóa vô cùng. [X. Tông kính lục Q.92; Vô môn quan].

ly vọng ngữ

MŪṣa-vadi-veramani (S)

ly xa

Licchavi (skt)—Lập Xướng—Lật Chiếm Bà—Lật Chiếm Tỳ—Lê Xa Tì—Lệ Xa—Lệ Xương—Luật Xa—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ly Xa là tên của người sáng lập xứ Cộng Hòa Tỳ Xá Lê thuộc dòng Sát, một trong những vị đệ tử tại gia đầu tiên của Phật—Đế Lợi According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Licchavi is the ksatriyas who formed the republic of Vaisali, and were among the earliest followers of Sakyamuni.

ly xa tì

(離車毘) Phạm,Pàli:Licchavi, Lecchavi. Cũng gọi Li xa, Lật chiếp bà, Li xa tử, Lợi xa, Lê xương, Tùy xá lợi, Luật xa, Li xiết, Lí gia, Lật sa. Hán dịch: Bạc bì, Đồng bì, Tiên tộc vương, Biên địa chủ. Chủng tộc Sát đế lợi ở thành Tì xá li (Phạm:Vaizàli) thuộc Trung Ấn độ, là 1 bộ phận của chủng tộc Bạt kì (Phạm:Vfji). Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 10, thủa xưa, phu nhân của nước Ba la nại sinh ra 1 bọc thịt, lấy làm xấu hổ vì nó khác thường nên cho người ném xuống sông. Bọc thịt ấy được 1 đạo sĩ vớt lên đem về để ở 1 chỗ, nửa tháng sau, bọc thịt tự nhiên chia làm 2 phần, nửa tháng sau nữa 1 phần biến thành con trai, 1 phần biến thành con gái, nhờ sức từ bi của đại sĩ, nên từ đầu ngón tay của ông tự nhiên chảy ra sữa để nuôi 2 đứa bé, khi chúng bú sữa này thì bụng của chúng trở nên trong suốt từ trong đến ngoài, đạo sĩ bèn đặt tên cho chúng là Li xa tử (nghĩa là da mỏng). Khi đến 16 tuổi, 2 đứa trẻ sống bằng nghề chăn bò, làm nhà ở chung, kết hôn với nhau, tôn đứa trai làm vua, bé gái là phu nhân. Về sau họ sinh ra nhiều vương tử và vì 3 lần xây nhà rộng thêm nên gọi là Tì xá li (nghĩa là rộng rãi trang nghiêm). Theo kinh Trường a hàm quyển 4, sau khi đức Phật vào Niết bàn, dân chúng Li xa cũng được chia 1 phần xá lợi Phật, xây tháp cúng dường. Có thuyết cho rằng chủng tộc này vốn đồng chủng với người Tây tạng, khi đức Phật còn tại thế, họ theo chế độ Cộng hòa, nước mạnh dân giầu, sánh ngang với nước Ma kiệt đà ở phía nam, về sau thế nước mỗi ngày một suy dần. Mãi đến khi ông Chiên đà la cấp đa (Phạm: Candragupta), người sáng lập Vương triều Khổng tước, kết hôn với các cô gái thuộc chủng tộc này từ đó thế lực của họ lại dần dần lớn mạnh trở lại. [X. kinh Sư tử trong Trung a hàm Q.4; kinh Đại pháp cổ Q.hạ; kinh Bát nê hoàn Q.hạ; phẩm Tựa kinh Thuyết vô cấu xưng; luật Tứ phần Q.42; luận Đại trí độ Q.18; Đại đường tây vực kí Q.7; Tuệ lâm âm nghĩa Q.5, 29].

ly ái luyến

Virāgata (S).

ly đàn

Separate altar.

Ly-xa

xem Lê-xa.

Lý Bột

(李渤, Ribotsu, 773-831): vị cư sĩ đã từng đến tham vấn Quy Tông Trí Thường (歸宗智常), tự là Tuấn Chi (濬之), em của Lý Thiệp (李渉). Trong khoảng niên hiệu Trinh Nguyên (貞元, 785-805), ông sáng lập ra Bạch Lộc Động (白鹿洞) dưới chân Ngũ Lão Phong (五老峰) trên Lô Sơn (廬山). Đến khoảng năm đầu niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806), theo lời khuyên của Hàn Thối Chi (韓退之), ông ra làm quan với chức Gián Nghị Đại Phu, rồi sau đó trãi qua một số chức tước khác. Trong khoảng thời gian niên hiệu Bảo Lịch (寳曆, 825-827), ông làm Sắc Sứ Giang Châu (江州, thuộc Tỉnh Giang Tây). Sau đó ông lại quay trở về Bạch Lộc Động và được người đời gọi là Bạch Lộc Tiên Sinh. Ông theo Quy Tông Trí Thường đến trú tại Thê Hiền Tự (棲賢寺) và hằng ngày vấn pháp. Bên cạnh đó, ông còn dâng sớ tâu lên triều đình xin ban tặng thụy hiệu Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師) cho Tây Đường Trí Tàng (西堂智藏). Ông qua đời vào năm thứ 5 (831) niên hiệu Thái Hòa (太和), hưởng thọ 59 tuổi.

làm

To do. 1) Làm Ác: To do evil. 2) Làm Ẩu: To do something in a careless way. 3) Làm Bạn: To make friends. 4) Làm Bậy: To do silly things. 5) Làm Bế Tắc: To obstruct-To block. 6) Làm Biếng: To idle—To loaf—To be lazy. 7) Làm Bộ: To pretend—To assume—To feign to do something. 8) Làm Bớt Đau: Soothing—To make less painful. 9) Làm Bớt Sợ: To still someone's fear. 10) Làm Càn: To do without thought of the possible results. 11) Làm Cao: To get on one's high horse. 12) Làm Cho Ai Can Đảm: To help give courage to someone. 13) Làm Chung: To collaborate—To work together with someone. 14) Làm Chứng: To witness—To be the witness. 15) Làm Duyên: To give oneself airs and graces. 16) Làm Đẹp: To beautify. 17) Làm Gan: To throw off one's shyness. 18) Làm Giàu: To enrich oneself. 19) Làm Giùm: To render—To do someone a service. 20) Làm Giúp: To give someone a hand. 21) Làm Gương: To set an example for. 22) Làm Hại: To harm. 23) Làm Khó: To make difficulties. 24) Làm Khổ: To torture. 25) Làm Khôn: To act as a wise man. 26) Làm Không: To work for nothing return. 27) Làm Lành: a) To make it up with someone. b) To perform good (wholesome) deeds. 28) Làm Lấy Có: To do something as a matter of form (for form's sake). 29) Làm Lén: To do something on the sly. 30) Làm Lễ: To celebrate—To start a ceremony. 31) Làm Lơ: To pretend not to know or see. 32) Làm Luật: To make laws. 33) Làm Mai: To arrange marriage. 34) Làm Mất: To lose. 35) Làm Mê: To bewitch—To fascinate. 36) Làm Mích Lòng: To hurt someone's feeling. 37) Làm Một Mình: To do by oneself. 38) Làm Ngã Lòng: To discourage—To dishearten. 39) Làm Nghiêm: To keep a straight face. 40) Làm Ngơ: To take no notice of one's wrong doing. 41) Làm Ngược: To do things in the wrong order—To start at the wrong end. 42) Làm Người: To behave like a human being—To be a man. 43) Làm Người Chính Đáng: To be a righteous person. 44) Làm Người Tốt: To be a good person. 45) Làm Nhẹ Đi: To alleviate. 46) Làm Nhục: To insult—To affront—To humiliate. 47) Làm Nhục Ai: To humiliate someone—To cause someone to feel ashamed or look foolish in front of other people. 48) Làm Ô Danh: To besmirch one's name. 49) Làm Ô Nhiễm: To pollute. 50) Làm Ồn: To make noise. 51) Làm Phách: To on airs. 52) Làm Phải: To do right. 53) Làm Phiền: To disturb—To trouble—To annoy. 54) Làm Quen: To make acquaintance with someone. 55) Làm Rộn: To disturb—To trouble. 56) Làm Tan: To dispel—To cause to disappear. 57) Làm Tắc Nghẽn: To obstruct—To block. 58) Làm Thăng Bằng: To stabilize. 59) Làm Thất Kinh: To terrify. 60) Làm Theo: To emulate. 61) Làm Thinh: To hold one's tongue—To keep silent—To be silent. 62) Làm Thịt: To kill animals for food. 63) Làm Tiền: To blackmail. 64) Làm Tỉnh: To keep a straight face (prevent oneself from laughing). 65) Làm Trở Ngại: To obstruct—To hinder. 66) Làm Trung Gian: To mediate—To intermediate. 67) Làm Việc Xây Dựng: To perform constructive works (good deeds). 68) Làm Vội: To something in a hurry.

làm chảy máu thân phật

To shed a Buddha's blood (one of the five grave sins).

làm chủ tâm mình

To gain control of one's own mind.

làm công đức

To perform merit.

làm không cầu phước

Deeds of no merit.

làm lành lánh dữ

To perform good deeds and avoid bad deeds (transgressions).

làm phúc

To do good—To give alms—To give charity.

làm phật

To become a Buddha.

làm phật sự

To perform Buddhist or dharma works.

làm thị giả

Làm người hầu hạ và giúp đở công việc hằng ngày cho một vị Tăng—To become an attendant to a monk and help him with his daily chores.

làm việc phước thiện

To practice charity.

làm vô biên phật sự

To accomplish countless Buddha deeds.

làm đường

To make or build a road—Trì Địa Bồ Tát (Road-Building Bodhisattva).

làng khứ-nậu-bà-đế

Khānumata (P).

lành

1) To heal up a wound—Intact—Unbroken—Untorn. 2) Good—Wholesome.

lành dữ

Good and bad.

lành lạnh

A little chilly.

lành mạnh

Healthy—Sound

lành thay

Xem Thiện tai.

lành thay!

Good deed!

lá bối

Tālapatra (S), Tālapaṇṇa (P).

lá sen

Lotus leaf.

lá thơm

Gandhadalā (S), Fraggrant leaves Gandhapattra (S), Gandhaparṇa (S).

lánh

To avoid, shun; to keep out of.

lánh mặt

To hide away from someone

lánh nạn

To shun danger.

lánh tục

Naiskramya (S). Giving up the world and leading a holy life. To avoid, shun the world; to live the life of a recluse, of a hermit.

lánh xa

To shun—To keep away.

láo lếu

Careless—Impertinent.

láo xược

Insolent—Impertinent

láu cá

Cunning—sharp.

lâm

3310<一>原爲樹木叢生之地;引申指行者修行之所。  <二>藏語之音譯。意譯爲洲、島。其後引申爲西藏佛教寺院、扎倉之名稱。例如具喜尊勝洲即甘丹寺,色拉大乘洲即色拉寺。 ; To regard with kindness; approach on the brink of, about to; whilst. Lâm chung. Approach the end, dying. ; 1) Đến hay tới gần: To approach—To be about to. 2) Khu rừng—A wood or grove. 3) Tưới nước: To drip—To sprinkle—To soak. ; (林) I. Lâm. Rừng. Rừng vốn là nơi cây cối um tùm, vắng vẻ, yên tĩnh, về sau thường được dùng để chỉ nơi tu hành. II. Lâm. Từ phiên âm tiếng Tây tạng, người Tàu dịch là Châu, đảo, sau được dùng làm tên gọi chung chùa viện của Phật giáo Tây tạng. Chẳng hạn như: Cụ hỉ tôn thắng châu tức là chùa Cam đan, Sắc lạp Đại thừa châu tức là chùa Sắc lạp...

lâm biến

Khi Đức Phật nhập Niết Bàn, sắc cây trong rừng Ta La biến thành màu trắng—The trees of the wood turned white when the Buddha died.

lâm bệnh

To fall ill.

Lâm Chung

(林鐘、林鍾): có hai nghĩa chính: (1) Tên gọi âm thứ 4 trong 6 âm thanh thuộc về Âm của 12 luật âm, tương đương với âm Hoàng Chung (黃鐘, ōshiki) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Sử Ký (史記), chương Luật Thư (律書) thứ 3 giải thích rằng: “Lâm Chung giả, ngôn vạn vật tựu tử, khí lâm lâm nhiên (林鍾者、言萬物就死、氣林林然, Lâm Chung nghĩa là vạn vật sắp chết, khí đông đúc như vậy).” Trong bài Đáp Lưu Bá Thằng Vấn Luật Lữ (答劉伯繩問律呂) của Hoàng Tông Hi (黃宗羲, 1610-1695) nhà Thanh có câu: “Lâm Chung trường lục thốn, tích tứ bách bát thập lục phân (林鍾長六寸、積四百八十六分, Lâm Chung dài 7 tấc, chứa 486 phân).” (2) Tên gọi khác của tháng 6 Âm Lịch. Như trong tác phẩm Bạch Hổ Thông (白虎通), chương Ngũ Hành (五行) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán có ghi rõ rằng: “Lục nguyệt vị chi Lâm Chung hà ? Lâm giả, chúng dã; vạn vật thành thục, chủng loại chúng đa (六月謂之林鍾何、林者、眾也、萬物成熟、種類眾多, tháng Sáu gọi là Lâm Chung, vì sao ? Lâm nghĩa là chúng [số nhiều]; vạn vật thành thục, chủng loại rất nhiều).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm về Lâm Chung rằng: “Mùi vi Lâm Chung, lục nguyệt chi thần danh Mùi; Mùi giả, vị dã; ngôn thời vật hướng thành, giai hữu khí vị, cố vị chi Mùi (未爲林鍾、六月之辰名未、未者、味也、言時物向成、皆有氣味、故謂之未, Mùi là Lâm Chung, chi của tháng Sáu tên Mùi; Mùi nghĩa là vị [mùi vị]; nghĩa là muôn vật đã trưởng thành, đều có khí vị, nên gọi nó là Mùi).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 còn giải thích rằng: “Lục nguyệt kiến Mùi viết Hiệp Hợp, hựu viết Lâm Chung, hựu hiệu xưng Thả Nguyệt, Hà Nguyệt (六月建未曰協洽、又曰林鍾、又號稱且月、荷月, tháng Sáu kiến Mùi, gọi là Hiệp Hợp, còn gọi là Lâm Chung, lại có tên là Thả Nguyệt, Hà Nguyệt).” Trong Kim Cang Kinh Đại Ý (金剛經大意, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 484) có câu “Lâm Chung nguyệt Đại Sĩ Thành Đạo nhật Vương Khởi Long cẩn thức (林鍾月大士成道日王起隆謹識, Vương Khởi Long kính ghi vào ngày Đại Sĩ Thành Đạo, tháng Sáu).”

lâm chung

6503指生命即將終結之時。即壽、煖、識三法將捨離之際。印度之祇洹精舍設有「無常院」,係安置僧眾中之重病者,使彼等於臨去現世時,能捨離對房舍、衣鉢、道具等之貪著。堂內供奉阿彌陀佛立像,其左手下垂,執五彩幡,臨終者握幡之一端,表示隨佛往生之意。後世之延壽堂、重病閣等,即採用無常院之範例。又臨終時,摒除雜念,正知無亂,專意於佛道,此稱臨終正念。淨土宗主張,藉平日稱念佛名坏德,於臨終時,住正念,不顛倒,即得往生淨土。〔俱舍論卷九、卷十〕 ; Sắp chết—To be about to die—In the hour of death—Approach the end—Dying. ; (臨終) Lúc hấp hối sắp chết. Trong tinh xá Kì hoàn tại Ấn độ có thiết lập viện Vô thường cho các vị tăng bị bệnh nặng không thể cứu chữa nằm an nghỉ, khiến họ lúc lâm chung xả bỏ tâm tham đắm đối với phòng xá, áo bát và các đồ dùng khác. Trong viện Vô thường thờ tượng Phật A di đà đứng, tay trái của Ngài rủ xuống, cầm lá phan 5 sắc, người lâm chung nắm lấy đầu lá phan, biểu thị ý nghĩa theo Phật vãng sinh. Nhà Diên thọ, gác Trọng bệnh, v.v... ở đời sau chính là phỏng theo mô thức viện Vô thường ngày xưa. Ngoài ra, lúc lâm chung, cần diệt trừ những ý niệm tạp nhạp mà chỉ chuyên chú niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ, đây gọi là Lâm chung chính niệm. [X. luận Câu xá Q.9, 10].

Lâm chung chánh niệm 臨終正念

[ja] リンシュウショウネン rinjūshōnen ||| To hold the proper state of mindfulness at the moment of death. To be free at the last moment from ignorance, attraction and aversion. The presence of these afflicted states at the very last moment will have significant influence on the circumstances of one's rebirth. => Giữ tâm niệm trong sáng vào lúc sắp chết. Tự tại trong giây phút trút hơi thở cuối cùng, không vướng bận bởi si mê, sân hận. Sự biểu hiện của những trạng thái đau buồn này vào lúc cận tử sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cảnh giới mà thần thức người chết sẽ tái sinh.

lâm chung chính niệm

6503謂臨命終時,修行佛道者不起貪、瞋、癡之邪念,唯專意於佛道之修持。淨土宗特別強調,臨命終時須不為死苦而心生顛倒,唯應求念佛命終而往生淨土。淨土宗大德善導於其所著之觀念法門一書中明示,若於臨命終時失去正念,則鬼神交亂,病人狂死,而墮於三惡道。又善導之臨終正念訣(大四七‧二八七中):「恐病來死至之時,心識散亂,仍慮他人惑動正念,忘失淨因。」皆廣示臨終正念之重要。 於日本,臨終之念佛,稱為臨終念佛;依此得往生淨土,則稱臨終業成。相對於此,往生淨土係賴平時之信願始確立者,稱為平生業成。但即使是臨終業成,其臨終之正念亦須仰賴平生之行業熏習,始能致之,而非一蹴可幾者。〔俱舍論卷九、龍舒淨土文卷四、樂邦文類卷一、阿彌陀經略記、太平記卷十六〕 ; (臨終正念) Người tu hành, lúc mệnh chung, xả bỏ tất cả tà niệm, chỉ chuyên tâm nhiếp ý vào việc tu trì Phật đạo. Tông Tịnh độ cho rằng lúc người ta hấp hối, không nên để cho cái khổ về chết làm cho tâm sinh điên đảo, mà chỉ một lòng niệm Phật cầu được sinh về cõi Tịnh độ. Trong Quán niệm pháp môn, ngài Thiện đạo thuộc tông Tịnh độ nói rằng: Nếu lúc lâm chung mà để mất chính niệm thì quỉ thần có cơ hội làm não loạn, người bệnh chết trong sự điên cuồng và bị rơi vào 3 đường ác. Tại Nhật bản, niệm Phật lúc lâm chung gọi là Lâm chung niệm Phật, nhờ đó mà được vãng sinh thì gọi là Lâm chung nghiệp thành. Trái lại, nếu sự vãng sinh Tịnh độ nhờ vào tín nguyện lúc bình sinh mà được xác lập, thì gọi là Bình sinh nghiệp thành. [X. luận Câu xá Q.9; Long thư tịnh độ văn Q.4; Lạc bang văn loại Q.1; A di đà kinh lược kí; Thái bình kí Q.16].

lâm chung chính niệm quyết

6504全一卷。唐代善導撰。又稱臨終要訣、臨終正念記、善導和尚臨終正念決。收於大正藏第四十七冊龍舒淨土文卷十二。本書記述知歸子與淨業和尚之四項問答,論臨終時須不失正念,一心念佛,若能如是修行,必得往生。四項問答即:(一)臨命終時,其用心如何。(二)求醫服藥,還可用否。(三)求神祈福如何。(四)平生未曾念佛,於臨命終時之念佛功果如何。 ; (臨終正念訣) Cũng gọi Lâm chung yếu quyết, Lâm chung chính niệm kí, Thiện đạo hòa thượng lâm chung chính niệm quyết. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thiện đạo soạn vào đời Đường được thu vào Long thư tịnh độ văn quyển 12 trong Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này nói rằng lúc lâm chung cần phải giữ chính niệm, một lòng chuyên niệm danh hiệu của Phật, thì chắc chắn sẽ được vãng sinh. Sách được chia thành 4 mục vấn đáp. 1. Lúc lâm chung phải dụng tâm như thế nào? 2. Tìm thầy uống thuốc có ích lợi gì không? 3. Cầu thần cầu phúc thì như thế nào? 4. Lúc bình thường trong cuộc đời không hề niệm Phật, đến lúc lâm chung mới niệm Phật thì công đức và quả báo ra sao?

lâm chung hiện tiền nguyện

6504為阿彌陀佛四十八願中之第十九願。又作臨終迎接願、攝取修德欲生願、來迎引接願、聖眾來迎願、現其人前願。即念佛行者發菩提心,修諸功德,願生西方淨土,於臨終時,彌陀如來願與諸聖眾共現其前而引接之。〔無量壽經卷上、觀念法門、無量壽經鈔卷三、淨土宗要集卷上(良忠)、淨土述門鈔〕(參閱「來迎引接願」3050) ; (臨終現前願) Cũng gọi Lâm chung nghinh tiếp nguyện, Nhiếp thủ tu đức dục sinh nguyện, Lai nghinh dẫn tiếp nguyện, Thánh chúng lai nghinh nguyện, Hiện kì nhân tiền nguyện. Nguyện thứ 19 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Tức hành giả niệm Phật, phát tâm bồ đề, tu các công đức, nguyện sinh về Tịnh độ phương Tây, lúc lâm chung, đức Phật A di đà và các Thánh chúng cùng đến trước tiếp dẫn. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Quán niệm pháp môn; Vô lượng thọ kinh sao Q.3; Tịnh độ tông yếu tập Q.thượng (Lương trung); Tịnh độ thuật môn sao]. (xt. Lai Nghinh Tiếp Dẫn Nguyện).

lâm chung nghiệp thành

6504謂至臨終時始成辦往生之業事。此語係出自日本長樂寺僧隆寬之「散善義問答」卷六。為日本淨土真宗所說「平生業成」之對稱。業成,為業事成辦、業道成辦之略稱。即相信臨終時,阿彌陀佛及諸菩薩顯現於前,接引往生淨土。蓋為求往生淨土,臨終之一念至為重要。修行者平生念佛相續,恆修不懈,堪為臨終業成之預備行為;其人雖未能成就往生之業因,但至最後之一念能相續勤修,則必臨終業成,見佛來迎,命終即往生淨土。〔觀經玄義分他筆鈔卷下、淨土述聞鈔、選擇本願念佛集祕鈔卷五〕 ; (臨終業成) Đối lại: Bình sinh nghiệp thành. Đến lúc lâm chung mới thành tựu sự nghiệp vãng sinh. Nghĩa là tin tưởng rằng đến lúc hấp hối, thì Phật A di đà và các Bồ tát hiện ra trước mắt, tiếp dẫn về cõi Tịnh độ. Từ ngữ Lâm chung nghiệp thành có xuất xứ từ tác phẩm Tán thiện nghĩa vấn đáp quyển 6 của ngài Long khoan ở chùa Trường lạc, Nhật bản. Nghiệp thành là nghiệp sự thành biện, nghiệp đạo thành biện, nghĩa là thành tựu sự nghiệp tu đạo. Bởi vì, đối với việc cầu vãng sinh Tịnh độ thì một niệm lúc lâm chung rất là quan trọng. Người tu hành, lúc bình sinh niệm Phật liên tục, không gián đoạn, đó là hành vi chuẩn bị cho việc lâm chung nghiệp thành, dẫu người ấy chưa thể thành tựu nghiệp nhân vãng sinh, nhưng vẫn tiếp tục siêng tu đến một niệm cuối cùng, thì chắc chắn cũng được lâm chung nghiệp thành. [X. Quán kinh huyền nghĩa phần tha bút sao Q.hạ; Tịnh độ thuật văn sao; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập bí sao Q.5].

Lâm chung 臨終

[ja] リンシュウ rinjū ||| To come to the end of one's life. To approach the moment of death. The final moment of life. => Lúc chấm dứt mạng sống của một người. Gần đến lúc chết.

lâm cẩm đông

3313(1924~1976)臺灣南投人。早年皈依日本臨濟宗妙心寺派宗務總長高林玄寶,旋赴日本京都臨濟學院,修習禪學。返國後,繼承臺中寶覺寺智性之法脈,主持該寺。氏於臺灣光復初期,曾發起組織臺灣省佛教會,並鼓勵教內興學及創辦慈善育幼事業。又設臺中佛學書院,舉辦佛教講習會及組團環島布教。並創辦覺生(後改稱新覺生)雜誌社及國際佛教文化出版社。曾任臺中市佛教支會理事長、臺灣省佛教分會理事長。民國六十五年逝世,享年五十三。一生於臺灣佛教之教育及文化事業,頗爲致力。

lâm gian lục

3312凡二卷。宋代覺範慧洪(1071~1128)撰。全稱石門洪覺範林間錄。收於卍續藏第一四八冊。本書爲寂音尊者覺範慧洪禪師之語錄。內容係慧洪與林間勝士抵掌清談有關尊宿之高行、叢林中各種遺訓、諸佛菩薩之微旨及賢士大夫之餘論等之語要共三百餘篇。爲參禪學道之指南,共三,古來即於禪林中廣爲流傳。 此外,慧洪另著有林間後錄一卷,又作林間錄後集、新編林間後錄。係其所撰之石門文字禪卷十七至卷二十之贊、銘並序等,亦收於卍續藏第一四八冊。〔禪籍志卷下〕 ; (林間錄) Gọi đủ: Thạch môn Hồng giác phạm lâm gian lục. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Giác phạm Tuệ hồng (1071-1128) soạn vào đời Tống, được xếp trong Vạn tục tạng tập 148. Nội dung sách này ghi lại các cuộc đàm luận của ngài Tuệ hồng với các bậc cao sĩ trong chốn tùng lâm về công hạnh của các bậc tôn túc, những di huấn trong tùng lâm, ý chỉ vi diệu của chư Phật, Bồ tát và những lời nghị luận của các bậc hiền sĩ, đại phu, v.v...tất cả gồm hơn 100 thiên yếu ngữ. Đây là bộ sách chỉ nam cho người tham thiền học đạo, xưa nay được lưu truyền rộng rãi trong các tùng lâm. Ngoài ra, ngài Tuệ hồng còn trứ tác Lâm gian hậu lục 1 quyển, cũng gọi Lâm gian lục hậu tập, Tân biên lâm gian hậu lục, cũng được thu vào Vạn tục tạng tập 148. [X. Thiền tịch chí Q.hạ].

lâm hãn

4678指夏季七月至九月三個月間之入浴。亦即以水沖汗。禪苑清規卷四浴主(卍續一一一‧四四八下):「燒湯至日,齋前掛開浴,或淋汗,或淨髮牌。」〔禪林象器箋文疏門〕 ; 1) Đổ mồ hôi: Dripping sweat. 2) Đổ nước lên mình để rửa sạch mồ hôi: To sprinkle or pour water on the body to cleanse sweat. ; (淋汗) Chỉ cho sự tắm gội trong khoảng 3 tháng mùa hạ, từ tháng 7 đến tháng 9. Điều Dục chủ trong Thiền uyển thanh qui quyển 4 (Vạn tục 111, 448 hạ), nói: Đến ngày tắm, đun nước nóng, treo bảng Khai dục (bảng báo giờ tắm gội) ở trước nhà Trai để thông báo cho đại chúng tắm rửa hoặc gội đầu. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

lâm hạ

3311林,指叢林、禪林;下,即於叢林中之意。又於日本,如受幕府統治之五山禪院,稱爲叢林;反之,不受統轄之地方禪院,即稱爲林下。〔祖堂集卷七夾山善會章〕 ; (林下) Lâm chỉ cho tùng lâm hay Thiền lâm, còn hạ tức là ở trong tùng lâm. Ngoài ra, tại Nhật bản, những Thiền viện thuộc Ngũ sơn nằm dưới quyền thống trị của Mạc phủ (bọn quân phiệt) được gọi là tùng lâm, còn những Thiền viện nằm ngoài phạm vi thống trị của Mạc phủ thì được gọi là Lâm hạ. [X. chương Giáp sơn Thiện hội trong Tổ đường tập Q.7].

Lâm La Sơn

(林羅山, Hayashi Razan, 1583-1657): Nho gia của phái Chu Tử Học, sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; Tổ của họ Lâm (林, Hayashi), Nho quan của chính quyền Mạc Phủ; tên là Tín Thắng (信勝); tăng hiệu là Đạo Xuân (道春); tự Tử Tín (子信); thông xưng là Hựu Tam Lang (又三郎); xuất thân kinh đô Kyoto. Ông từng xuất gia làm Tăng sĩ của Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji); nhưng đã sớm học Chu Tử Học và trở thành môn đồ của Đằng Nguyên Tinh Oa (藤原惺窩). Năm 1605 (Khánh Trường [慶長] 10), ông đến yết kiến Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu), được vị này tín nhiệm và cho đảm trách về văn thư của Mạc Phủ. Sau đó, ông từng phục vụ cho Tú Trung (秀忠, Hidetada), Gia Quang (家光, Iemitsu), Gia Cương (家綱, Ietsuna), chuyên trách về văn thư ngoại giao cũng như thảo các văn kiện quan trọng, và cống hiến to lớn cho việc chỉnh bị chính quyền Mạc Phủ. Vào năm 1630 (Khoan Vĩnh [寛永] 7), ông mở trường Tư Thục ở Giang Hộ; và sau này trở thành trung tâm học vấn. La Sơn thông cả các điển tịch cổ kim của Nhật Bản cũng như Trung Quốc, là người bác học, kiến thức cao rộng, đã để lại những dấu ấn to lớn trong việc xuấn bản các thư tịch Hán văn và giảng thuật Kinh Thư. Về mặt tư tưởng, khác với Đằng Nguyên Tinh Oa, để làm sáng tỏ lập trường của Chu Tử Học, ông phân biệt với Dương Minh Học và tận lực bài xích Phật Giáo; chủ trương tư tưởng Thần Nho Nhất Trí Luận (神儒一致論). Trước tác của ông có Bản Triều Thông Giám (本朝通鑑) 310 quyển, Bản Triều Thần Xã Khảo (本朝神社考) 6 quyển, La Sơn Văn Tập (羅山文集) 150 quyển, v.v.

lâm ly

Moving.

lâm lê quang

3313(1902~1945)福建廈門人。早年曾於廈門大學從法國漢學大師戴密微(Paul Damieville)研學梵文。廈大畢業後,赴北京大學任鋼和泰教授之助教,除助譯佛典外,並研習梵、藏文。民國二十二年(1933)赴法國巴黎大學東方語言學校擔任中文講師,並在巴黎從法國之印度學者萊維(S. Levi)與爾魯(L. Rerrou)兩位教授學梵文佛典。後得法國國家博士學位,未久即病逝於巴黎。 林氏病逝後,其遺著得其師戴密微之整理而陸續付梓,共四冊,由法國科學研究所及博物館出資印行。第一冊爲其博士論文,敘述諸法集要經與小乘教義之關係,並取與正法念處經等其他經典比較,且補充此經現存西藏譯本之殘闕及中譯本之錯漏。其二至四冊則以樸學方法爲該經二千五百頌作一詳細之研考及詮釋,並配列中、法、梵、藏等四種語文。此外,林氏於研究諸法集要經與正法念處經之餘,曾博覽中文大藏經中之二百餘部經典,細心搜求,並將經典中之文學及理論作比較研究。此等研究結果,具載於其論文中所附之諸經摘要及評注。戴密微對於林氏在此等評注中所含之特識頗爲讚歎。並對林氏之全部工作至爲推許,嘗譽之爲「不剃聖僧」。 ; (林藜光) (1902-1945) Học giả Phật giáo Trung quốc, người Hạ môn, tỉnh Phúc kiến. Lúc còn ít tuổi, ông theo giáo sư Paul Damieville, một nhà Hán học người Pháp, nghiên cứu tiếng Phạm ở Đại học Hạ môn. Sau khi tốt nghiệp, ông đến Đại học Bắc kinh làm trợ giáo cho giáo sư Cương hòa thái. Ngoài việc giúp phiên dịch kinh điển ra, ông còn nghiên cứu tiếng Phạm và tiếng Tây tạng. Năm 1933, ông sang Pháp, nhận chức Giảng sư môn Trung văn ở Đại học Ngôn ngữ Đông phương tại Paris. Ở đây, ông theo học kinh điển Phật bằng tiếng Phạm với 2 vị giáo sư Ấn độ học người Pháp là S. Levi và L. Rerrou. Sau đó, ông đạt được học vị Tiến sĩ Quốc gia nước Pháp. Công trình nghiên cứu của ông chủ yếu là kinh Chư pháp tập yếu và kinh Chính pháp niệm xứ. Ngoài ra, ông còn xem tới hơn 200 bộ kinh điển trong tạng kinh Trung văn, chuyên tâm nghiên cứu, tìm tòi và so sánh văn học, và lí luận trong kinh điển. Những kết quả của việc nghiên cứu này đều được ghi chép trong phần phụ lục của luận án Tiến sĩ của ông. Rất tiếc công trình nghiên cứu của ông đang được tiến hành, thì không may ông lâm bệnh nặng và qua đời tại Paris. Sau khi ông mất, các di phẩm của ông được giáo sư Paul Damieville sửa chữa và lần lượt cho xuất bản, tất cả có 4 tập, do sở nghiên cứu khoa học và viện Bảo tàng nước Pháp ấn hành. Tập 1 là luận án Tiến sĩ của ông, trình bày mối quan hệ giữa kinh Chư pháp tập yếu với giáo nghĩa Tiểu thừa, rồi so sánh với kinh Chính pháp niệm xứ và bổ sung những chỗ thiếu sót của kinh này trong bản dịch Tây tạng, cũng như những điểm sai lầm trong bản Hán dịch hiện còn. Tập 2 đến tập 4 thì nghiên cứu và giải thích một cách rất tỉ mỉ rõ ràng 2500 bài tụng trong kinh Chư pháp tập yếu, đối chiếu với 4 thứ ngữ văn là: Hán, Phạm, Tạng, Pháp. Công trình này của ông được giáo sư Paul Damieville hết lời khen ngợi là: Bất thế Thánh tăng (Thánh tăng để tóc).

Lâm môn 臨門

[ja] リンモン rinmon ||| "To face the gate, "to be at the gate." From the discussion in the Huayan wujiao zhang on the meaning of the parable of the burning house in the Lotus Sutra. => “Đối mặt với cánh cửa, ở ngay nơi cửa vào”. Xuất phát từ luận giải trong Hoa Nghiêm Ngũ giáo chương (c: Huayan wujiao zhang) từ ý nghĩa của ẩn dụ nhà lửa trong kinh Pháp Hoa.

lâm mạng chung thời

To approach the end of life.

Lâm Nga Phong

(林鵞峰, Hayashi Gahō, 1618-1680): Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Hựu Tam Lang (又三郎), Xuân Thắng (春勝), Thứ (恕); tự Tử Hòa (子和), Chi Đạo (之道); hiệu là Xuân Trai (春齋), Nga Phong (鵞峰), Hướng Dương Hiên (向陽軒), v.v.; thân phụ là Lâm La Sơn (林羅山). Ông theo hầu hạ Na Ba Hoạt Sở (那波活所), và sau đó cùng với phụ thân phục vụ cho chính quyền Mạc Phủ Giang Hộ. Vào năm 1657 (Minh Lịch [明曆] 3), ông kế thừa dòng họ Lâm và tham gia chính trị của Mạc Phủ. Đến năm 1663 (Khoan Văn [寬文] 3), ông giảng nghĩa Ngũ Kinh cho Đức Xuyên Gia Cương (德川家綱, Tokugawa Ietsuna), Tướng Quân đời thứ 4, được tặng cho danh hiệu Hoằng Văn Viện Học Sĩ (弘文院學士) và giao cho việc cơ mật ngoại giao của chính quyền Mạc Phủ cũng như quan hệ tố tụng. Là người rất tinh thông Nhật Bản Sử, ông cùng với phụ thân chủ đạo sự nghiệp biên tập các tác phẩm như Nhật Bản Vương Đại Nhất Lãm (日本王代一覽), Bản Triều Thông Giám (本朝通鑑), Khoan Vĩnh Chư Gia Hệ Đồ Truyện (寛永諸家系圖傳), v.v., và đã tạo ảnh hưởng to lớn cho Lịch Sử Học thời Cận Đại. Tổ chức trường học Tư Thục do Nga Phong chỉnh đốn thành hệ thống đã tạo thành cơ sở cho trung tâm học vấn Xương Bình Phản (昌平坂).

lâm nguy

To be in danger.

lâm ngạn minh

3311(1868~1945)日本淨土宗學僧。號香譽。字楳樹、歸堂。八歲得度,十九歲遊學東京,師事伊達靈堅、黑田真洞,入宗學本校研習諸學,其後又專攻唯識。二十七歲督掌淺草大秀寺,就任宗學本校教授,其後歷任第六教校校長、教學部長兼高等學院教授、總本山專修道場上首、京都帝國大學哲學科講師、大僧正、日華佛教研究會總幹事等。曾創辦扶宗公論、日華佛教研究會年報等刊物,致力於中日兩國佛教之交流。一生研究淨土宗學之奧義,奠定宗學研究之基礎,並通達唯識、因明等。昭和二十年逝世,享年七十八。著有轉識論之研究、新訂授菩薩戒儀、念佛法華論、乙亥訪華錄、己卯訪華錄、大乘起信論之新研究等書。〔楳樹追想、近代淨土宗僧英傳〕 ; (林彥明) (1868-1945) Danh tăng kiêm học giả Nhật bản thuộc tông Tịnh độ, hiệu Hương dự, tự là Mai thụ, Qui đường. Sư xuất gia năm lên 8 tuổi, 19 tuổi sư đến Đông kinh thờ các ngài Y đạt Linh kiên và Hắc điền Chân động làm thầy, theo học Phật pháp ở trường Phật học của tông Tịnh độ. Về sau, sư lại chuyên nghiên cứu Duy thức học. Năm 27 tuổi, sư trụ trì chùa Đại tú ở Thiển thảo và giữ các chức vụ như: Giáo thụ và Hiệu trưởng trường Tịnh độ tông, Chủ nhiệm giáo học kiên giáo sư học viện Cao đẳng, Thượng thủ Đạo tràng Tổng bản sơn chuyên tu, Giảng sư môn Triết học của trường Đại học Đế quốc tại Đông kinh, Đại tăng chính, Tổng thư kí hội Nghiên cứu Phật giáo Nhật hoa, v.v... Sư sáng lập các tạp chí Phù tông công luận, Nhật Hoa Phật giáo nghiên cứu hội, ra sức phát triển sự giao lưu Phật giáo giữa 2 nước Nhật Trung; suốt đời chuyên nghiên cứu tông học của Tịnh độ và đặt nền tảng vững chắc cho sự nghiên cứu này. Ngoài ra, sư cũng thông hiểu Duy thức và Nhân minh. Năm Chiêu hòa 20 (1945) sư tịch, thọ 78 tuổi. Sư có các trứ tác: Chuyển thức luận chi nghiên cứu, Tân đính thụ Bồ tát giới nghi. Niệm Phật Pháp hoa luận, Ất hợi phỏng Hoa lục, Kỉ mão phỏng Hoa lục, Đại thừa khởi tín luận tân nghiên cứu. [X. Mai thụ truy tưởng; Cận đại Tịnh độ tông tăng anh truyện].

lâm nhiệt bạch mã đa cát

3313(1128~1188)西藏佛教迦爾居派主巴迦爾居支派之始祖。爲後藏娘堆(江孜)地方下林家族人。年少出家,其後還俗。三十五歲投帕木竹巴門下,虔受密法口訣而得證悟。晚年居於占那浦寺,收徒傳法。享年六十一。其弟子藏巴嘉熱益希多吉(1161~1211)於拉薩河畔郎木地方建立主寺,形成主巴迦爾居派。

Lâm Nhàn Lục

(林閒錄, Rinkanroku): 2 quyển, do Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪) nhà Tống trước tác, Bổn Minh (本明) bút lục, san hành vào năm đầu (1107) niên hiệu Đại Quán (大觀). Tác giả là pháp từ của Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文), từng rong chơi trong làng văn chương, giao lưu với hàng sĩ phu thanh nhàn để luận đàm về đức hạnh cao vời của chư vị tôn túc, về những lời giáo huấn thâm uyên trong chốn tùng lâm, huyền chỉ của chư Phật, Bồ Tát, dư luận của hàng Sĩ Đại Phu. Trải qua trong vòng 10 năm trường, ông đã thâu lục lại hơn 300 sự việc qua những lần đàm luận, giao tế như vậy. Tạ Dật (謝逸) viết lời tựa cho tác phẩm này và cho san hành. Ngoài ra, còn có Lâm Nhàn Hậu Lục (林閒後錄) 1 quyển.

lâm nạn

To fall into calamity.

lâm sâm

3312(1868~1943)福建閩侯人。字子超,號天波,別署青芝老人。民國二十一年(1932)公選爲國民政府主席,經常出巡各省,以慈祥和藹之風度,撫慰軍民。林氏生活儉樸,性喜佛法,平生主張不殺生、素食,常與僧侶談論佛法,與當代名德太虛、慈航、圓瑛等皆有護持親炙之誼。民國十七、八年及二十年間,廟產興學,滿城風雨,江蘇教育廳長周佛海、中大教授邰爽秋等人欲謀奪寺產,毆打拘禁僧眾,林氏極力保護寺產及僧眾安全。民國二十一年,南京中山陵園前興建藏經樓,氏乃與太虛大師等人發起影印龍藏十五部,分贈國內各大學圖書館,對佛法之弘傳,貢獻極大。三十二年八月逝於重慶,享年七十五。 ; (林森) (1868-1943) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Mân hầu, tỉnh Phúc kiến, tự Tử siêu, hiệu Thiên ba, biệt hiệu Thanh chi lão nhân. Năm Dân quốc 21 (1932), ông được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Quốc dân. Ông thường kinh lí các tỉnh, đến đâu cũng tỏ thái độ hòa nhã và dùng lời từ ái an úy vỗ về quân dân. Ông sống cuộc đời giản dị, cần kiệm, hâm mộ Phật pháp, ăn chay, không sát sinh. Ông thường cùng chư tăng đàm luận Phật pháp, ủng hộ và giao hảo thân thiện với các bậc danh đức đương thời như các ngài Thái hư, Từ hàng, Viên anh, v.v... Ông tận lực can thiệp để giữ gìn tài sản của chùa chiền, bảo vệ chúng tăng trong phong trào Miếu sản hưng lọcm(tài sản của chùa chiền biến làm trường học) do nhóm Chu phật hải và Cáp sảng thu, v.v... ở tỉnh Giang tô chủ xướng. Năm Dân quốc 21 (1932), lầu chứa kinh được xây cất ở trong vườn lăng Tôn trung sơn tại Nam kinh, ông cùng Đại sư Thái hư vận động in 15 bộ Long tạng gửi tặng cho các thư viện của các trường Đại học trong nước. Đối với sự nghiệp truyền bá Phật pháp, ông đã có những cống hiến rất lớn. Năm Dân quốc 32 (1943) ông qua đời tại Trùng khánh, thọ 75 tuổi.

lâm sự

On the point of doing something.

lâm thu ngô

3312請參閱 虛堂集 (1903~1934)臺灣臺南人。法號證峰。日據時代之臺灣文化界名人及佛教改革運動倡導者。先後肄業於臺灣總督府國語學校師範部、廈門大學哲學系。返臺後,除參與臺灣之文化、社會改革運動外,並暗中聲援林獻堂、蔣渭水等人之各項民族與民權運動。後與臺南開元寺住持得圓法師過從甚密,乃以開元寺所遣留學生之身分,赴日本駒澤大學攻讀禪學。返臺後,出任臺灣南部臨濟宗佛教講習會講師及南瀛佛教會教師。並曾從事佛教改革運動,擬改革當時佛教界之迷信與腐化。惜英年早逝,三十二歲即因肺結核而病故。著有真心直說白話註解、佛說堅固女經講話等書。

lâm thê kỳ

Vanaprastha (S)Về già, giao hết tài sản cho vợ con, vào rừng tu. Một một trong bốn giai đoạn trong đời một người Bà la môn: Phạm hạnh kỳ, Gia trụ kỳ, Lâm thê kỳ, Tuần thế kỳ.

lâm thế mẫn

3311(1944~ )臺灣高雄人。法名慈捷。政治大學新聞系畢業。從事兒童文學創作,爲慈恩佛教兒童叢書之發行人,亦任高雄復華中學教師。著有佛教的精神與特色、林老師說故事、兒童詩歌、佛教寓言故事等書。

lâm thời

Provisional.

Lâm thời 臨時

[ja] リンジ rinji ||| Temporary, special, extraordinary, provisional. Tạm thời, đặc biệt, khác thường, nhất thời.

lâm trai

6510指午齋之時,或指接受檀越之供養。叢林校定清規總要卷上(卍續一一二‧一二下):「或久出歸時,就臨齋,俓入僧堂,伴眾食畢。」此外,於午齋之時,先為亡者誦經,稱為臨齋諷經。〔禪林象器箋諷唱門〕 ; (臨齋) Đến giờ ngọ trai, hay khi tiếp nhận sự cúng dường của tín đồ. Tùng lâm hiệu định thanh qui tổng yếu quyển thượng (Vạn tục 112, 12 hạ), ghi: Hoặc đi xa vừa về, gặp giờ ngọ trai, thì đi thẳng vào Tăng đường để cùng thụ trai với đại chúng. Ngoài ra, vào giờ ngọ trai, tụng kinh hồi hướng cho người chết, gọi là Lâm trai phúng kinh. [X. môn Phúng xướng trong Thiền lâm tượng khí tiên].

lâm truyện phương

3313(1931~ )臺灣苗栗人。早年曾任國內佛學院教師。後東渡日本留學。先後畢業於佛教、龍谷、京都等大學。後執教於日本龍谷、佛教、京都女子大學等校。氏精研西藏佛教史籍及中國佛教史。著有佛學概論、日本的佛學研究,及以日文撰述中國佛教史籍要說等書。

lâm tuyền

Forest and stream.

Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đơn Hà Thuần Thiền Sư Tụng Cổ Hư Đường Tập

(林泉老人評唱丹霞淳禪師頌古虛堂集, Rinsenrōjinhyōshōtankajunzenjijukokidōshū): xem Hư Đường Tập (虛堂集, Kidōshū) ở trên.

Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đầu Tử Thanh Hòa Thượng Tụng Cổ Không Cốc Tập

(林泉老人評唱投子清和尚頌古空谷集, Rinsenrōjinhyōshōtōsuseioshōjukokūkokushū): xem Không Cốc Tập (空谷集, Kūkokushū) ở trên.

Lâm Tuyền Tùng Luân

(林泉從倫, Rinsen Jūrin, ?-?): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, hiệu là Lâm Tuyền (林泉). Ông đến tham vấn Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀) ở Báo Ân Tự (報恩寺), Yến Kinh (燕京), có chỗ khế ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông khai đường giáo hóa ở Vạn Thọ Tự (萬壽寺), rồi kế thừa thầy mình trú trì Báo Ân Tự. Vào năm thứ 9 (1268) đời Thế Tổ nhà Nguyên, ông phụng chiếu vào cung nội cùng luận đạo với Đế Sư, phát huy áo nghĩa của Thiền học và giải thích tường tận lên triều đình bản Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập (禪源諸詮集) của Tông Mật (宗密). Đến năm thứ 18 đời vua Thế Tổ, khi Mẫn Trung Tự (憫忠寺) ở Đại Đô (大都) tiến hành thiêu hủy những ngụy kinh, chính ông là người được hạ lệnh châm ngòi lửa. Ông có viết trước ngữ cũng như lời bình xướng cho 100 tắc tụng cổ của Đầu Tử Nghĩa Thanh (投子義青) cùng 100 tắc tụng cổ của Đơn Hà Tử Thuần (丹霞子淳) và tạo thành Không Cốc Tập (空谷集), Hư Đường Tập (虛堂集).

lâm táng

3313又作野葬。印度所行四種葬法之一。即棄置屍體於林野,施與鳥獸噉食。此外,印度尚有水葬、火葬、土葬等。又現今居於印度之波斯教徒,別設高塔,將屍體放置其上,任鳥啄食之風氣,係由林葬演變而來。(參閱「四葬」1788) ; Tống táng bằng cách bỏ xác trong rừng, hay nơi hoang dã, một trong bốn loại tống táng—Buried in the forest, or burial by abandoning the corpse in the wilds, one of the four forms of burial—See Tứ Táng (4). ; (林葬) Cũng gọi Dã táng. Bỏ xác chết trong rừng cho chim, thú ăn thịt, là 1 trong 4 cách chôn cất của người Ấn độ. Hiện nay, tín đồ Ba tư giáo ở Ấn độ còn có phong tục xây tháp cao, đem xác chết để lên trên cho chim đến rỉa ăn, đây là biến tướng của Lâm táng. (xt. Tứ Táng).

Lâm Tế Nghĩa Huyền

(臨濟義玄, Rinzai Gigen, ?-866): vị tổ của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người Nam Hoa (南華) thuộc Tào Châu (曹州, tỉnh Sơn Đông ngày nay), họ là Hình (郉). Lúc còn nhỏ ông rất thông minh, và nỗi tiếng là có hiếu với cha mẹ. Ông vốn có chí xuất trần nên xuống tóc xuất gia, thọ cụ túc giới, thường có mặt trong các buổi thuyết giảng và chuyên nghiên cứu sâu về kinh luật luận. Sau đó, ông đến tham vấn Hy Vận (希運) ở Hoàng Bá Sơn (黃檗山), rồi lưu lại đây được 3 năm và rất nỗi tiếng với hạnh nghiệp thuần thục. Nhưng theo lời dạy của vị Thủ Tòa, ông đến hỏi Hy Vận về đại ý của Phật pháp và bị đánh ba lần. Về sau, ông lại đến tham yết Đại Ngu (大愚) ở Cao An Nạn Đầu (高安灘頭), rồi thấu triệt Thiền phong của Hy Vận, và cuối cùng được kế thừa dòng pháp của Thầy mình. Người ta cho rằng ông thường tự xưng là Đại Ngu. Ông lại đi lên phương Bắc, đến Trấn Châu (鎭州, tỉnh Hà Bắc ngày nay), rồi dựng lên một ngôi chùa nhỏ ở bên sông Hô Đà (滹沱), lấy tên là Lâm Tế Viện (臨濟院). Theo bài ký trong tháp của ông có ghi rằng ông đã từng rời khỏi chùa này để tránh nạn binh hỏa, nhờ có vị quan Thái Úy Mặc Quân Hòa (默君和) quy y theo nên ông đã dựng ở trong dinh cơ của vị này một ngôi Lâm Tế Viện, nhưng mà sự thật thì cần phải xác nhận lại. Ông cũng đã từng đến thuyết pháp cho vị Phủ chúa Phủ Hà Dương là Vương Thường Thị (王常侍), rồi lưu trú tại Đông Đường của Hưng Hóa Tự (興化寺), bàn đạo với Tam Thánh Huệ Nhiên (三聖慧然), và đến ngày 10 tháng 4 năm thứ 7 niên hiệu Hàm Thông (咸通, theo bài ký ở trong tháp thì ghi là ngày 10 tháng giêng năm sau) ông thị tịch, tuổi thọ và hạ lạp đều không rõ. Ông đuợc ban thụy hiệu là Huệ Chiếu Thiền Sư (慧照禪師), tháp có tên gọi là Trừng Linh (澄靈). Dòng pháp từ của ông ngoài Huệ Nhiên (慧然) ra còn có Hưng Hóa Tồn Tương (興化存獎), Ngụy Phủ Đại Giác (魏府大覺), Quán Khê Chí Nhàn (灌溪志閑), v.v. Lại nữa, còn có một số nhân vật kiệt xuất như Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗), Hạnh Sơn Giám Hồng (杏山鑑洪), Long Nha Cư Độn (龍牙居遁), Lạc Phố Nguyên An (洛浦元安), Ma Cốc Nhị Thế (麻谷二世), v.v.

lâm tì ni

Lumbini (S). Lumbini Park, birth place of Prince Siddhartha. ; Tên một hoa viên, gần kinh đô của thành Ca Tỳ La Vệ, nơi đản sanh của Thái Tử Tất Đạt Đa, cách nay hơn 2.600 năm về trước, người đã thành Phật. Vị trí bây giờ là Rummindei thuộc Nepal, khoảng 15 dậm về phía đông của thành Ca Tỳ La Vệ, gần biên giới Nepal và Ấn Độ. Vua A Dục của Ấn Độ (khoảng 273-232 trước Tây Lịch), đã đến viếng nơi nầy và cho dựng lên một trụ đá ghi lại kỷ niệm chuyến hành hương chiêm bái của ngài. Lâm Tỳ Ni là một trong tứ động tâm hay Phật tích trong lịch sử Phật giáo. Ba Phật tích kia là Bồ Đề Đạo Tràng, Vườn Lộc Uyển, và thành Câu Thi Na—Lumbini, name of a park, which is the Birthplace of Siddartha Gautama, who became the Buddha, over 2,600 years ago. It was near the capital of Kapilavastu of the Sakya tribe. The site is now known as Rummindei in Nepal, 15 miles east of Kapilavastu, near the border of Nepal and India. Asoka, king of ancient India (273-232 BC) came here on a pilgrimage in 250 B.C. He erected a stone pillar here in commemoration of his visit. Lumbini is one of the four Holy Places of Buddhism history. The three other sacred places are Buddha Gaya, Sarnath, and Kusinara. ** For more information, please see Lumbini in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

lâm tế

Lin-chi (C), Rinzai (J), Lin-chi (C)Tào Động và Lâm Tế là hai dòng thiền hiện còn hoạt động ở Nhật do ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền khai sáng ở Trung quốcMột hệ phái trong ngũ gia phái. Thiền tông do lục tổ Huệ Năng khai sáng, thạnh về phương nam, gọi là Nam tông, sau chia thành 5 chi phái, nhưngchỉ có phái Lâm tế là mạnh nhất. ; A monastery during the Đường dynasty, in Chân Định phủ, from which the founder of Lâm Tế school derived his title, his name was Nghĩa Huyền. ; 1) Trường phái Lâm Tế: Lin-Chi or Rinzai (Zen) school. Một trong những trường phái Thiền nổi tiếng của trung Quốc được Thiền sư Lâm Tế sáng lập. Lâm Tế là đại đệ tử của Hoàng Bá. Vào thời kỳ mà Phật giáo bị ngược đãi ở Trung Quốc khoảng từ năm 842 đến năm 845 thì thiền sư Lâm Tế sáng lập ra phái thiền Lâm Tế, mang tên ông. Trong những thế kỷ kế tiếp, tông Lâm Tế chẳng những nổi bậc về Thiền, mà còn là một tông phái thiết yếu cho Phật giáo Trung Hoa thời bấy giờ. Tông Lâm Tế mang đến cho Thiền tông một yếu tố mới: công án. Phái Thiền Lâm Tế nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự “Đốn Ngộ” và dùng những phương tiện bất bình thường như một tiếng hét, một cái tát, hay những cọng án khác. Phái Lâm Tế tu tập theo các công án có hệ thống đã được các bậc thầy sưu tập, và xem nhẹ việc đọc tụng kinh điển cũng như thờ phượng tượng Phật, tìm về Phật Tánh trực tiếp bằng những công án và tu tập sống thực—One of the most famous Chinese Ch'an founded by Ch'an Master Lin-Chi, a disciple of Huang-Po. At the time of the great persecution of Buddhists in China from 842 to 845, Lin-Chi founded the school named after him. The Lin-Chi school of Ch'an. During the next centuries, this was to be not only the most influential school of Ch'an, but also the most vital school of Buddhism in China. Lin-Chi brought the new element to Zen: the koan. The Lin-Chi School stresses the importance of “Sudden Enlightenment” and advocates unusual means of achieving it, such as shouts, slaps, and the uses of koans. The Lin-Chi uses collections of koans systematically in its temples and downplays the reading of sutras and veneration of Buddha images in favor of seeking the Buddha Nature directly through the use of koans and practical living. 2) Tên một tự viện trong Trấn Định Phủ, xây dưới thời nhà Đường, nơi Sư Nghĩa Huyền đã sáng lập ra phái Lâm Tế: Name of a monastery during the T'ang dynasty in Chên-T'ing-Fu, from which I-Hsuan founded the Lin-Chi school. ** For more information, please see Lâm Tế Nghĩa Huyền.

lâm tế chân nhân

6508禪宗公案名。臨濟錄(大四七‧四九六下):「上堂云:『赤肉團上有一無位真人,常從汝等諸人 面門出入,未證據者,看!看!』時有僧出問:『如何是無位真人?』師下禪床,把住云:『道!道!』其僧擬議,師托開云:『無位真人是什麼乾屎橛?』便歸方丈。」 佛教一般修行之次第,有十信、十住、十行、十回向、十地、等覺、妙覺等階位,無位真人即指不住於上述任何階位之自由人,亦即人人本具之佛性。然不知此理之僧尚出而問真人之所在,以其向外尋覓真人,故臨濟猛喝乾屎橛。此則公案之旨要,即欲令回光返照,以呈現真人之面目。〔景德傳燈錄卷十二、人天眼目卷上、從容錄第三十八則〕 ; (臨濟真人) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền với 1 vị tăng trong khi Ngài đang dạy chúng. Lâm tế lục (Đại 47, 496 hạ), ghi: Sư lên pháp đường nói: Trong khối thịt đỏ au có 1 Vô vị chân nhân thường ra vào nơi mặt mũi của các ông, người chưa được chứng thấy, thì hãy xem! Hãy xem! Lúc đó có 1 vị tăng bước ra hỏi: Thế nào là Vô vị chân nhân? Sư bước xuống giường Thiền, nắm lấy vị tăng bảo: Nói mau! Nói mau! Vị tăng suy nghĩ, sư xô ra, nói:Vô vị chân nhân là cái cục phân khô gì, rồi quay về phương trượng. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.12; Nhân thiên nhãn mục Q.thượng; tắc 38 trong Thung dung lục].

lâm tế hạt lư

6509請參閱 臨濟錄 [1] 禪宗公案名。係唐代臨濟義玄禪師示寂前與其弟子三聖慧然之問答。臨濟錄(大四七‧五○六下):「師臨遷化時,據坐云:『吾滅後,不得滅卻吾正法眼藏。』三聖出云:『爭敢滅卻和尚正法眼藏?』師云:『已後有人問爾,向他道什麼?』三聖便喝。師云:『誰知吾正法眼藏向這瞎驢邊滅卻!』言訖,端然示寂。」此公案中,臨濟將三聖比為愚鈍之瞎驢,然卻付囑其正法眼藏。蓋「瞎驢邊滅卻」之意旨如何,為本公案之要點;臨濟揶揄其正法眼藏為這瞎驢漢滅卻,於對三聖之貶抑中,實寓讚美之意,表示真正之付囑。〔景德傳燈錄卷十二、祖庭事苑卷二、五燈會元卷十一、從容錄第十三則〕 ; (臨濟瞎驢) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền lúc sắp thị tịch với vị đệ tử của Ngài là Tam thánh Tuệ nhiên. Lâm tế lục (Đại 47, 506 hạ), nói: Lúc sắp tịch, sư ngồi trên tòa, dặn sau khi ta diệt độ, không được làm mất chính pháp nhãn tạng của ta. Tam thánh bước ra thưa: –Đâu dám để mất chính pháp nhãn tạng của Hòa thượng. Sư nói: –Sau này, nếu có người hỏi thì ngươi sẽ trả lời họ thế nào? Tam thánh liền hét. Sư nói: –Ai ngờ chính pháp nhãn tạng của ta bị con lừa mù(hạt lư) này diệt mất! Nói xong, sư ngồi ngay thẳng thị tịch. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.12; Tổ đình sự uyển Q.2; Ngũ đăng hội nguyên Q.11; tắc 13 Thung dung lục].

lâm tế hạt đức sơn bổng

6508又作臨濟金剛王‧德山木上座。唐代臨濟義玄禪師教導學人多用喝,德山宣鑑禪師則多用棒,此語係並舉兩者相似之機鋒與銳利宗風之特色。中國禪之形成,此宗風居於重要地位,兩者於禪錄中經常被相提並論,堪為禪者之代表。碧巖錄第八十七則(大四八‧二一二上):「德山棒如雨點,臨濟喝似雷奔。」汾陽無德禪師語錄卷下廣智歌一十五家門風(大四七‧六二一中):「德山棒,臨際(疑作濟)喝,獨出乾坤解橫抹,從頭誰敢亂區分?多口阿師不能說。臨機縱,臨機奪,迅速鋒鋩如電掣,乾坤祇在掌中持,竹木精靈腦劈裂。或賓主,或料揀,大展禪宗辨正眼。」〔景德傳燈錄卷十五、中峰廣錄卷十二上、圜悟心要卷上、大慧法語語錄卷二十〕 ; (臨濟喝德山棒) Cũng gọi Lâm tế kim cương vương, Đức sơn mộc thượng tọa. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho tiếng hét(hát) của Thiền sư Lâm tế và cây gậy(bổng) của Thiền sư Đức sơn ở đời Đường. Khi tiếp dẫn người học, Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền thường dùng tiếng hét, còn Thiền sư Đức sơn Tuyên giám thì hay dùng cây gậy đánh để khai ngộ. Trong Thiền tông, 2 tông phong này có 1 địa vị trọng yếu và 2 ngài Lâm tế, Đức sơn được xem như ngang nhau, xứng đáng là đại biểu cho các Thiền sư. Tắc 87 Bích nham lục (Đại 48, 212 thượng), nói: Đức sơn gậy đánh như mưa đổ, Lâm tế hát vang tựa sấm rền. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Trung phong quảng lục Q.12 thượng; Viên ngộ tâm yếu Q.thượng; Đại tuệ pháp ngữ ngữ lục Q.20].

Lâm Tế Lục

(臨濟錄, Rinzairoku): bộ Ngữ Lục của Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄) nhà Đường, được xem như là do đệ tử ông là Huệ Nhiên Tam Thánh (慧然三聖) biên tập, nhưng bản hiện hành thì do Viên Giác Tông Diễn (圓覺宗演) nhà Tống tái biên và trùng san vào năm thứ 2 (1120) niên hiệu Tuyên Hòa (宣和). Lâm Tế Lục này được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc và Nhật Bản, thỉnh thoảng được khai bản và tôn trọng như là "vua của các Ngữ Lục". Với đầu quyển có lời tựa của Mã Phòng (馬防), toàn thể bộ này gồm có 4 phần chính: Thượng Đường Ngữ (上堂語), Thị Chúng (示眾), Kham Biện (勘辨), Hành Lục (行錄). Ngoài ra, bài Chơn Định Thập Phương Lâm Tế Huệ Chiếu Huyền Công Đại Tông Sư Đạo Hạnh Bi (眞定十方臨濟慧照玄公大宗師道行碑) và Lâm Tế Chánh Tông Bi Minh (臨濟正宗碑銘) cũng được thâu lục vào đây. Trong phần Thượng Đường Ngữ tập trung những lời giáo huấn cho chúng đệ tử và những câu vấn đáp lấy lời giáo huấn ấy làm khế cơ. Phần Thị Chúng là Ngữ Lục giảng nghĩa, với ngôn từ rất khẩn thiết nhắn nhủ chúng đệ tử. Phần Kham Biện là phần ký lục ghi lại những lời vấn đáp qua lại giữa các Thiền tăng có nêu tên như Triệu Châu (趙州), Ma Cốc (麻谷), v.v. Và phần Hành Lục là phần ghi lại nhân duyên vì sao ông đã đạt ngộ với Hoàng Bá, quá trình tu hành với vị này như thế nào, quá trình đi hành cước các nơi, cho đến khi qua đời. Dưới thời nhà Đường có nhiều Ngữ Lục xuất hiện, mỗi Ngữ Lục đều phản ánh cá tánh của Thiền giả và cho ta thấy được sự rộ nở của trăm hoa. Thế nhưng qua những ngữ cú tản mạn khắp nơi trong bộ Ngữ Lục này như "bậc chân nhân không giai vị", "đạo nhân không nương tựa", "vô sự là quý nhân", "nếu tùy nơi làm chủ thì nơi nào cũng là chơn cả", "gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ", "ba thừa mười hai phần giáo thảy đều giấy cũ để chùi đồ bất tịnh", v.v., ta có cảm giác như có mặt thật sự ngay lúc ấy với biểu hiện rất giản dị của Lâm Tế, và có thể nói đó là đỉnh điểm của tư tưởng Thiền. Qua ký lục của Tổ Đường Tập (祖堂集) 19 cũng như Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳) 12, ta có thể biết được rằng Ngữ Lục của Lâm Tế đã tồn tại từ rất xưa. Theo nghiên cứu gần đây cho thấy rằng lời của Lâm Tế được thâu lục vào trong Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄) 10-11. Sau lần trùng san của Tông Diễn, bản này cũng thỉnh thoảng được san hành, bản Tục Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (續古尊宿語要) 1 là san bản hiện tồn xưa nhất. Tại Nhật Bản cũng tồn tại rất nhiều bản như Bản Ngũ Sơn của năm thứ 2 (1320) niên hiệu Nguyên Ứng (元應), năm thứ 9 (1437) niên hiệu Vĩnh Hưởng (永享), năm thứ 3 (1491) niên hiệu Diên Đức (延德); Bản Cổ Hoạt Tự (古活字本) vào năm thứ 9 (1623) niên hiệu Nguyên Hòa (元和); bản năm thứ 2 (1625), 4 (1627), 9 (1632), 10 (1633), 14 (1637) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), v.v.

lâm tế lục

6509全一卷。全名鎮州臨濟慧照禪師語錄。又作臨濟義玄禪師語錄。唐代三聖慧然編集。為臨濟宗之祖臨濟義玄法語之集錄,臨濟宗奉為最重要之語錄。收於大正藏第四十七冊。本書內容分成語錄、勘辨、行錄等三部。語錄敘述四喝、四賓主、三玄三要、四料簡等,勘辨載其歷參諸方商量之語要,行錄則收其行狀及記傳。本書係臨濟示寂二五四年之後,於北宋宣和二年(1120)由福州鼓山圓覺宗演重刻。宣和二年以前之本錄內容與宣和二年之重刻本內容是否相同,則乏資料可證。現今所流行者為重刻本。本書內容較著名者為四料簡,即奪人不奪境、奪境不奪人、人境俱奪、人境俱不奪等。 ; Lin-chi-lu (C), Rinzai-roku (J)Tên một sưu tập công án thiền. ; (臨濟錄) Gọi đủ: Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục. Cũng gọi: Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tam thánh Tuệ nhiên biên tập vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này thu chép các pháp ngữ của Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền, được tông Lâm tế coi là bộ Ngữ lục quan trọng nhất. Sách này được chia làm 3 phần: Ngữ lục, Khám biện và Hành lục. Phần Ngữ lục trình bày về Tứ hát, Tứ tân chủ, Tam huyền tam yếu, Tứ liệu giản v.v...; phần Khám biện nói về cơ duyên vấn đáp với các bậc tôn túc khi Thiền sư Lâm tế du phương tham vấn các nơi; còn phần Hành lục thì nói về hành trạng và truyện kí của Ngài. Phần nổi tiếng nhất trong nội dung sách này là Tứ liệu giản, đó là: Đoạt nhân bất đoạt cảnh, Đoạt cảnh bất đoạt nhân, Nhân cảnh câu đoạt, Nhân cảnh câu bất đoạt... Sau khi Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền thị tịch được 254 năm, thì ngài Viên giác Tông diễn ở núi Cổ sơn thuộc Phúc châu mới khắc lại bộ Ngữ lục này vào năm Tuyên hòa thứ 2 (1120) đời Bắc Tống. Vấn đề nội dung bản Ngữ lục khắc lại này với bộ Ngữ lục trước năm Tuyên hòa thứ 2 có giống nhau hay không thì không thể khảo chứng được, vì thiếu tư liệu. Bản lưu hành hiện nay là bản khắc lại.

Lâm Tế lục 臨濟録

[ja] リンザイロク Rinzai roku ||| The Linji lu; the "Record of Linji." The compiled sayings of Linji Yixuan. 臨濟義玄, T 1985.47.496b-506c. One of the most popular texts in the Chan/Sŏn/Zen schools of East Asian Buddhism. => j: Rinzai roku; c: Linji lu; e: Record of Linji. Tập sách ghi lại những pháp ngữ của Lâm Tế Nghĩa Huyền. Đây là một trong những tài liệu quan trọng nhất của Thiền tông Phật giáo ở các nước Á đông

Lâm Tế Nghĩa Huyền

臨濟義玄: C: línjì yìxuán; J: rinzai gigen; ?-866/867; |Thiền sư Trung Quốc, là Tổ khai dòng thiền Lâm Tế. Sư là môn đệ xuất sắc nhất của Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận. Môn đệ danh tiếng đắc pháp của sư có Thiền sư Hưng Hoá Tồn Tưởng, Tam Thánh Huệ Nhiên, Ðịnh Thượng Toạ.|Sư khai sáng dòng thiền Lâm Tế trong thời gian Phật giáo Trung Quốc đang bị đàn áp (842-845) và chính dòng này đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt trong thời gian sau, trở thành môn phái quan trọng nhất của Phật giáo Trung Quốc. Song song với dòng Tào Ðộng, dòng thiền của Sư được truyền bá tại Nhật Bản cho đến ngày nay gần như dưới dạng nguyên thuỷ.|Sư tiếp nối truyền thống hoằng hoá của Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư bằng cách sử dụng tiếng hét (Hát; j: Katsu!), gậy đập (Trúc bề; j: shippei, kyosaku) và Phất tử (j: hossu).|Cách hướng dẫn môn đệ của Sư là sự phối hợp và hoàn chỉnh cách dạy của các vị tiền nhân kể từ Lục tổ Huệ Năng. Thành phần mới mà người ta có nói là xuất phát từ dòng thiền này là phép quán Công án, một phương pháp gần như dấu hiệu chính của thiền Lâm Tế và chính dòng thiền này đã giữ gìn truyền thống đó cho đến ngày hôm nay (Ðại Huệ Tông Cảo, Bích nham lục, Vô môn quan).|Sư họ Hình, quê ở Nam Hoa, Tào Châu. Sư mộ đạo từ nhỏ, nghiên cứu giới luật, kinh điển, nhưmg không hài lòng với cái đạt được, tự nhủ »Ðây chưa phải là yếu chỉ của giáo ngoại biệt truyền.« Sau đó, Sư đến Hoàng Bá (sau khi trải qua một chặng đường dài gần 2000 km!) cầu ngộ yếu chỉ.|Hoàng Bá vừa thấy Sư biết ngay là pháp khí thượng thặng nhưng vẫn để Sư học hỏi âm thầm trong ba năm. Thủ toạ (Mục Châu Trần Tôn Túc) thấy Sư chăm chỉ học liền khuyên đến thẳng Hoàng Bá hỏi đại ý Phật pháp. Sư ba lần đến hỏi, ba lần bị ăn gậy như bão táp nên thất vọng, muốn đi học nơi khác. Hoàng Bá khuyên Sư đến Thiền sư Ðại Ngu (nối pháp Quy Tông Trí Thường) ở Cao An.||H 38: Lâm Tế Nghĩa Huyền|Sư đến Ðại Ngu, Ðại Ngu hỏi: »Ở chỗ nào đến?« Sư thưa: »Ở Hoàng Bá đến.« Ðại Ngu hỏi: »Hoàng Bá dạy gì?« Sư thưa: »Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba phen đều bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi?« Ðại Ngu cười lớn nói: »Hoàng Bá vì ngươi nói chỗ tột cùng, lại đến hỏi lỗi hay không lỗi!« Ngay câu nói này, Sư thông suốt, thưa: »Phật pháp của Hoàng Bá chẳng có nhiều.« Ðại Ngu nắm lại: »Ðồ quỷ đái dưới sàng, vừa nói lỗi không lỗi bây giờ lại che Phật pháp Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo gì nói mau!« Sư liền cho Ðại Ngu ba thoi vào hông. Ðại Ngu buông Sư ra bảo: »Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng liên hệ gì với ta!« Từ giã Ðại Ngu, Sư về lại Hoàng Bá. Hoàng Bá thấy liền bảo: »Kẻ này đến đến đi đi, biết bao giờ liễu ngộ.« Sư thưa: »Chỉ vì tâm lão bà quá thiết tha nên nhân sự đã xong.« Nghe Sư thuật lại sự việc ở Ðại Ngu, Hoàng Bá bảo: »Lão Ðại Ngu đã buông lời, đợi đến đây ta cho ăn gậy.« Sư liền nói: »Ðợi làm gì, cho ăn ngay bây giờ«, và bước đến sau lưng Hoàng Bá tát một cái. Hoàng Bá cười to, bảo: »Có một gã điên dám vuốt râu cọp.«|Sau khi ngộ đại ý, Sư vẫn tiếp tục ở lại với Hoàng Bá và những cuộc Pháp chiến giữa Sư và Hoàng Bá vẫn còn vang vọng đến ngày nay.|Rời Hoàng Bá, Sư đến Hà Bắc, Trấn Châu, trụ trì thiền viện Lâm Tế. Sư bắt đầu thu nhận môn đệ và học giả đến ngày càng đông. Sách vở ít nhắc tới truyền nhân của Sư ngoài các vị đã nêu trên (có 21 vị đắc pháp), có lẽ vì lí do chính trị và xã hội tại miền Bắc Trung Quốc cuối đời Ðường không thuận lợi. Một trong những môn đệ của Sư là Am chủ Ðồng Phong, lên núi ẩn cư, không nhận học trò và vì vậy ít ai biết đến. Trong thời gian Phật giáo bị bức hại, Thiền tông là môn phái duy nhất không bị hao tổn bao nhiêu nhờ chủ trương »Dĩ tâm truyền tâm«, với lối sống thanh đạm, không coi trọng hình thức tổ chức nặng nề.|Những lời dạy của Sư được ghi lại trong Lâm Tế lục, một thiền ngữ quan trọng trong Thiền tông được lưu lại đến ngày nay. Qua đó người ta mường tượng được phong cách uy nghi dũng mãnh và cách dạy thần tốc của Sư.|Một vị tăng hỏi: »Thế nào là kiến giải chân chính?« Sư đáp: »Ngươi chỉ tất cả vào phàm vào thánh, vào nhiễm vào tịnh, ….Phật ra đời chuyển đại pháp luân lại nhập Niết-bàn, chẳng thấy có tướng mạo đi lại, tìm cái sinh tử của Ngài trọn không thể được, liền vào Pháp giới vô sinh; nơi nơi dạo qua các cõi nước, vào thế giới hoa tạng, trọn thấy các pháp không tướng, đều không Phật pháp, chỉ có đạo nhân vô y (không nơi nương tựa) nghe pháp. Ðó là mẹ chư Phật, bởi vì Phật từ vô y sinh. Nếu ngộ được vô y, Phật cũng không thể được. Nếu ngươi thấy được như thế, là kiến giải chân chính. Người học không hiểu chấp danh cú, bị danh phàm thánh làm ngại… Nếu các ngươi muốn trong sinh tử đi đứng tự do, tới lui tự tại thì hiện nay nên biết người đang nghe pháp này. Hắn không hình không tướng, không cội không gốc, không chỗ ở mà hoạt bát rõ ràng, ứng hiện muôn thứ hành động, chỗ dùng chỉ là không chỗ. Bởi thế, càng tìm càng xa, cầu đó thì trái, gọi đó là bí mật…«|Sư sắp tịch, bảo chúng: »Sau khi ta tịch, chẳng được diệt mất Chính pháp nhãn tạng của ta!« Tam Thánh Huệ Nhiên bước ra thưa: »Ðâu dám diệt mất Chính pháp nhãn tạng của Hoà thượng.« Sư bảo: »Về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào?« Tam Thánh liền hét. Sư bảo: »Ai biết, Chính pháp nhãn tạng của ta đến bên con lừa mù diệt mất« và làm bài kệ sau: |沿流不止問如何。真照無邊說似他|離相離名如不稟。吹毛用了急須磨。|Diên lưu bất chỉ vấn như hà|Chân chiếu vô biên thuyết tợ tha|Li tướng li danh như bất bẩm|Xuy mao dụng liễu cấp tu ma.|*Theo dòng chẳng dứt hỏi thế nào|Chân chiếu khôn ngằn nói giống ai|Lìa tướng lìa danh như chẳng nhận|Gươm bén dùng rồi gấp phải mài.|Nói xong, Sư viên tịch, nhằm ngày 10 tháng giêng năm Ðinh Hợi, niên hiệu Hàm Thông. Vua sắc thuỵ là Huệ Chiếu.

lâm tế nghĩa huyền

6509(?~867)臨濟宗之祖。唐代曹州(河南)南華人,俗姓邢。幼負出塵之志,及落髮受具足戒後,便慕禪宗,初到江西參黃蘗希運,又禮謁高安大愚、溈山靈祐等。後還黃蘗,受印可。宣宗大中八年(854),至河北鎮州住於臨濟院,設三玄三要、四料簡等機法接引徒眾,更以機鋒峭峻著名於世,別成一家,遂成臨濟宗。師接化學人,每以叱喝顯大機用,世有「德山棒、臨濟喝」之稱。其對參禪行者極為嚴苛,然學徒奔湊,門風興隆,為我國禪宗最盛行之一派。 咸通八年四月示寂,敕諡「慧照禪師」。其語要由門人慧然編成鎮州臨濟慧照禪師語錄一卷。嗣法者有興化存獎、三聖慧然、灌谿志閑等二十二人,皆為宣揚祖風之佼佼者。〔臨濟慧照禪師塔記、宋高僧傳卷十二、景德傳燈錄卷十二、傳法正宗記卷七〕 ; Linchi I hsuan (C), Rinzai Gigen (J)(Mất năm 866/867) Người sáng lập dòng thiền Lâm Tế, thế kỷ thứ 9, quê ở Nam Hoa, tỉnh Sơn đông. ; Lin-Chi-I-Hsuan—Lâm Tế là môn đệ của Hoàng Bá. Ông là một trong những thiền sư Trung Hoa nổi tiếng vào đời nhà Đường. Không ai biết ông sanh vào năm nào. Một tông phái Thiền đặc biệt đã được đặt dưới tên ông. Ông nổi tiếng vì các phương pháp mạnh bạo và lối nói chuyện sống động với môn sinh. Ngài không tán thành lối nói pháp quanh co, sở trường của các pháp sư thiếu nhiệt huyết. Có lẽ do sư thừa hưởng phép Thiền trực chỉ ấy từ sư phụ Hoàng Bá, trước kia đánh sư ba lần khi ba lần sư đến tham vấn về yếu chỉ của Phật pháp. Lâm Tế được coi như là người đầu tiên chủ xướng tiếng hét, nhưng trước đó đã có Mã Tổ là vị cao Tăng (see Mã Tổ) đã mở một kỷ nguyên mới cho Thiền sử, đã hét to khi Bách Trượng đến tái vấn Thiền, tiếng hét ấy chát chúa đến nỗi Bách Trượng phải bị điếc tai đến ba ngày. Nhưng chính do Lâm Tế mà tiếng hét được đắc dụng và có hiệu năng nhất, và sau nầy biến thành một ngón tuyệt kỹ của Lâm Tế Tông. Thật sự, về sau nầy các đệ tử của ngài quá lạm dụng về tiếng hét đến nỗi ngài phải thốt ra: “Tôi nghe quí ông toàn học hét. Thử hỏi quí ông ví như mái tây có người ra, mái đông có người ra, cả hai người cùng hét. Các ông có phân biệt được tiếng hét nào là khách, còn tiếng hét nào là chủ không? Nếu các ông không phân biệt được, từ đây cấm học tiếng hét của lão Tăng.” —Lin-Chi was a disciple of Huang-Po. He was one of the famed chinese Zen masters during the T'ang dynasty. His year of birth is unknown. In China a special Zen sect was named after him “Lin-Chi” of which doctrine was based on his teachings. He was famous for his vivid speech and forceful pedagogical methods, as well as direct treatment of his disciples. He never liked those roundabout dealings which generally characterized the methods of a lukewarm master. He must have got this directness from his own mastewr Huang-Po, by whom he was struck three times for asking the fundamental principle of Buddhism. Lin-Chi is regarded as the author of “Kwats!” even though Ma-Tsu was an epoch-maker in the history of Zen, uttered “Kwats!” to his disciple, Pai-Chang, when the latter came up to the master for a second time to be instructed in Zen. This “Kwats!” is said to have deafened Pai-Chang's ear for three days. But it was principally due to Lin-Chi that this particular cry was most effectively and systematically made use of and later came to be one of the special features of the Lin-Chi school in distinction to the other schools. In fact, the cry came to be so abused by his followers that he had to make the following remark: “You are so given up to learning my cry, but I want to ask you this: 'Suppose one man comes out from the eastern hall and another from the western hall, and suppose both give out the cry simultaneously; and yet I say to you that subject and predicate are clearly discernible in this. But how will you discern them?' If you are unable to discern them, you are forbidden hereafter to imitate my cry.” • Trước nhất sư đến hội Hoàng Bá. Ở đây sư oai nghi nghiêm chỉnh đức hạnh chu toàn. Thủ Tọa (Trần Tôn Túc) thấy khen rằng: “Tuy là hậu sanh cùng chúng chẳng giống.” Thủ Tọa bèn hỏi: “Thượng Tọa ở đây được bao lâu?” Sư thưa: “Ba năm.” Thủ Tọa hỏi: “Từng tham vấn chưa?” Sư thưa: “Chưa từng tham vấn, cũng chẳng biết tham vấn cái gì?” Thủ Tọa bảo: “Sao không đến hỏi Hòa Thượng Đường Đầu, thế nào là đại ý Phật Pháp?” Sư liền đến hỏi, chưa dứt lời. Hoàng Bá liền đánh. Sư trở xuống. Thủ Tọa hỏi: “Hỏi thế nào?” Sư thưa: “Tôi hỏi lời chưa dứt, Hòa Thượng liền đánh, tôi chẳng biết.” Thủ Tọa nói: “Nên đi hỏi nữa.” Sư lại đến hỏi. Hoàng Bá lại đánh. Như thế ba phen hỏi, bị đánh ba lần. Sư đến bạch Thủ Tọa: “Nhờ lòng từ bi của thầy dạy tôi đến thưa hỏi Hòa Thượng, ba phen hỏi bị ba lần đánh, tôi tự buồn chướng duyên che đậy không lãnh hội được thâm chỉ. Nay xin từ giã ra đi. Thủ Tọa lại bảo: “Khi thầy đi nên đến giã từ Hòa Thượng rồi sẽ đi.” Sư lễ bái xong trở về phòng. Thủ Tọa đến thất Hòa Thượng trước, thưa: “Người đến thưa hỏi ấy, thật là đúng pháp, khi người ấy đến từ giã, xin Hòa Thượng phương tiện tiếp y, về sau đục đẽo sẽ thành một gốc đại thọ che mát trong thiên hạ.” Sư đến từ giã. Hoàng Bá bảo: “Chẳng nên đi chỗ nào khác, ngươi đi thẳng đến Cao An chỗ Thiền Sư Đại Ngu, ông ấy sẽ vì ngươi nói tốt.”—From the beginning of his residence at Huang-Bo, Lin-Chi's performance of his duties was examplary. At that time, Mu-Chou T'ao-Ming served as head monk. Mu-Chou asked Lin-Chi: “How long have you been practicing here?” Lin-Chi said: “Three years.” Mu-Chou said: “Have you gone for an interview with the master or not?” Lin-Chi said: “I haven't done so. I don' know what to ask him.” Mu-Chou said: “Why not ask him, 'What is the essential meaning of Buddhism?'” So Lin-Chi went to see Huang-Bo, but before he could finish his question Huang-Bo struck him. Lin-Chi went out, and Mu-Chou asked him: “What happened when you asked him?” Lin-Chi said: “Before I could get the words out he hit me. I don't understand.” Mu-Chou said: “Go ask him again.” So Lin-Chi asked Huang-Bo again, and Huang-Bo once again hit him. Lin-Chi asked a third time, and Huang-Bo hit him again. Lin-Chi revealed this to Mu-Chou, saying: “Before you urgeme to ask about the Dharma, but all I got was a beating. Because of evil karmic hindrances. I'm not able to comprehend the essential mystery. So, today I'm going to leave here.” Mu-Chou said: “If you're going to leave, you must say good-bye to the master.” Lin-Chi bowed and went off. Mu-Chou then went to Huang-Bo and said: “That monk who asked you the questions—although he's young he's very extraordinary. If he come to say good-bye to you, please give him appropriate instruction. Later he'll become a great tree under which everyone on earth will find refreshing shade.” The next day when Lin-Chi came to say good-bye to Huang-Bo, Huang-Bo said: “You don't need to go somewhere else. Just go over to the Kao' Monastery and practice with T'a-Wu. He'll explain to you.” • Sư đến chỗ Đại Ngu. Đại Ngu hỏi: “Ở chỗ nào đến?” Sư thưa: “Ở Hoàng Bá đến.” Đại Ngu hỏi: “Hoàng Bá có dạy gì không?” Sư thưa: “Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi?” Đại Ngu nói: “Bà già Hoàng Bá đã vì ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến trong ấy hỏi có lỗi không lỗi?” Ngay câu nói ấy, sư đại ngộ, thưa: “Xưa nay Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều.” Đại Ngu nắm đứng lại, bảo: “Con quỷ đái dưới sàng, vừa nói có lỗi không lỗi, giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo lý gì, nói mau! Nói mau!” Sư liền cho vào hông Đại Ngu ba thoi. Đại Ngu buông ra, nói: “Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng can hệ gì việc của ta.” Sư từ tạ Đại Ngu trở về Hoàng Bá—When Lin-Chi reached T'a-Wu, T'a-Wu said: “Where have you come from?” Lin-Chi said: “From Huang-Bo.” T'a-Wu said: “What did Huang-Bo say?” Lin-Chi said: “Three times I asked him about the essential doctrine and three times I got hit. I don't know if I made some error or not.” T'a-Wu said: “Huang-Bo has old grandmotherly affection and endures all the difficulty for your sake—and here you are asking whether you've made some error or not!” Upon hearing these words Lin-Chi was awakened. Lin-Chi then said: “Actually, Huang-Bo's Dharma is not so great.” T'a-Wu grabbed him and said: “Why you little bed-wetter! You just came and said: you don't understand. But now you say there's not so much to Huang-Bo's teaching. What do you see? Speak! Speak!” Lin-Chi then hit T'a-Wu on his side three times. T'a-Wu let go of him, saying: “Your teacher is Huang-Bo. I've got nothing to do with it.” Lin-Chi then left T'a-Wu and returned to Huang-Bo. • Hoàng Bá thấy sư về, liền bảo: “Kẻ nầy đến đến đi đi, biết bao giờ liễu ngộ.” Sư thưa: “Chỉ vì tâm lão bà quá thiết tha, nên nhơn sự đã xong, đứng hầu.” Hoàng Bá hỏi: “Đến đâu về?” Sư thưa: “Hôm trước vâng lời dạy của Hòa Thượng đến tham vấn Đại Ngu trở về.” Hoàng Bá hỏi: “Đại Ngu có lời dạy gì?” Sư liền thuật lại việc trước. Hoàng Bá bảo: “Lão Đại Ngu nầy đã buông lời, đợi đến đây ta cho ăn đòn.” Sư tiếp: “Nói gì đợi đến, ngay bây giờ cho ăn.” Sư liền bước tới sau lưng Hoàng Bá tát một tát. Hoàng Bá bảo: “Gã phong điên nầy lại đến trong ấy nhổ râu cọp.” Sư liền hét. Hoàng Bá gọi: “Thị giả! Dẫn gã phong điên nầy lại nhà Thiền.”—Huang-Bo saw him and said: “This fellow who's coming and going. How can he ever stop?” Lin-Chi said: “Only through grandmotherly concern.” Lin-Chi then bowed and stood in front of Huang-Bo. Huang-Bo said: “Who has gone and returned?” Lin-Chi said: “Yesterday I received the master's compassionate instruction. Today I went and practiced at T'a-Wu's.” Huang-Bo said: “What did T'a-Wu say?” Lin-Chi then recounted his meeting with T'a-Wu. Huang-Bo said: “That old fellow T'a-Wu talks too much! Next time I see him I'll give him a painfuls whip!” Lin-Chi said: “Why wait until later, here's a swat right now!” Lin-Chi then hit Huang-Bo. Huang-Bo yelled: “This crazy fellow has come here and grabbed the tiger's whiskers!" Lin-Chi shouted. Huang-Bo then yelled to his attendant: “Take this crazy man to the practice hall!” • Một hôm sư ngồi trước trong Tăng đường, thấy Hoàng Bá đến, liền nhắm mắt lại. Hoàng Bá lấy tích trượng nện xuống sàn. Lâm Tế ngẫng đầu lên, thấy Hoàng Bá đứng đó, Lâm Tế bèn tiếp tục gục đầu xuống ngủ tiếp. Hoàng Bá làm thể sợ, liền trở về phương trượng. Sư theo đến phương trượng lễ tạ. Thủ Tọa đứng hầu ở đó, Hoàng Bá bảo: “Vị Tăng đây tuy là hậu sanh lại biết có việc này.” Thủ Tọa thưa: “Hòa Thượng già dưới gót chơn chẳng dính đất, lại chứng cứ kẻ hậu sanh.” Hoàng Bá liền vả trên miệng một cái. Thủ Tọa thưa: “Biết là được.”—One day, Lin-Chi was sleeping in the monk's hall. Huang-Bo came in and, seeing Lin-Chi lying there, struck the floor with his staff. Lin-Chi woke up and lifted his head. Seeing Huang-Bo standing there, he then put his head down and went back to sleep. Huang-Bo struck the floor again and walked to the upper section of the hall. Huang-Bo saw the head monk, who was sitting in meditation. Huang-Bo said: “There's someone down below who is sitting in meditation. What do you imagine you're doing?” The head monk said: “What's going on with this fellow ?” • Một hôm sư thượng đường thuyết pháp: “Trên đống thịt đỏ lòm có một vô vị chân nhân thường ra vô theo lối cửa mở trên mặt các ngươi. Thầy nào sơ tâm chưa chứng cứ được thì nhìn đây.” Có một thầy bước ra hỏi: “Vô vị chân nhân ấy là cái gì?” Lâm Tế vụt bước xuống thiền sàng, nắm cứng vị sư hét lớn, 'Nói đi! Nói đi!'” Vị sư đang lính quýnh thì Tổ buông ra, trề môi nói: “Vô vị chân nhân, ồ chỉ là một cục phân khô.” Nói xong ngài đi thẳng vào phương trượng—One day, Lin-Chi entered the hall to preach, saying: “Over a mass of reddish flesh there sits a true man who has no title; he is all the time coming in and out from your sense-organs. If you have not yet testified to the fact, look, look!” A monk came forward and asked: “Who is this true man of no title?” Lin-Chi came right down from his straw chair and taking hold of the monk exclaimed: “Speak! Speak!” The monk remained irresolute, not knowing what to say, whereupon the master, letting him go, remarked, “What worthless stuff is this true man of no title!” Lin-Ch the went straight back to his room. • Một hôm, Định Thượng Tọa hỏi Lâm Tế: “Thế nào là đại ý của pháp Phật?” Lâm Tế bước xuống tòa, nắm lấy Thượng Tọc, xán cho một bạt tai, rồi xô ra. Định Thượng Tọa đứng khựng. Ông Tăng đứng bên nhắc: “Định Thượng Tọa, sao không lạy Hòa Thượng đi!” Định Thượng Tọa toan lạy thì ngay lúc ấy hốt nhiên đại ngộ—One day, Venerable Ting asked Lin-Chi: “What is the ultimate principle of Buddhism?” He came right down from his seat, took hold of the monk, slapped him with his hand, and pushed him away. Venerable Ting stood stupified. A bystander monk suggested: “Why don't you make a bow?” Obeying the order, Venerable Ting was about to bow, when he abruptly awoke to the truth of Zen. • Vào năm 867 khi sắp mất, Lâm Tế ngồi ngay thẳng, nói: “Sau khi ta tịch chẳng được diệt mất Chánh Pháp Nhãn Tạng của ta.” Tam Thánh thưa: Đâu dám diệt mất Chánh Pháp Nhãn Tạng của Hòa Thượng.” Lâm Tế bảo: “Về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào?” Tam Thánh liền hét! Sư bảo: “Ai biết Chánh Pháp Nhãn Tạng của ta đến bên con lừa mù diệt mất.” Nói xong sư ngồi thẳng thị tịch—In 867 A.D. when Lin-Chi wa about to die he sat upright and said: “After I'm gone, my Treasury of the True Dharma Eye cannot be destroyed.” Lin-Chi's disciple, San-Sheng, said: “How could we dare destroy the Master's Treasury of the True Dharma Eye?” Lin-Chi said: “In the future if someone ask about my teaching, what will you say to them?” San-Sheng shouted! Lin-Chi said: “Who would have thought that my Treasury of the true Dharma Eye would be destroyed by this blind ass!” Upon saying these words Lin-Chi passed away, sitting upright. ; (臨濟義玄) (?-867) Thiền sư Trung quốc, Tổ khai sáng của tông Lâm tế, sống vào đời Đường, người Nam hoa, Tào châu (Hà nam), họ Hình. Sư xuất gia từ thủa nhỏ và rất hâm mộ Thiền tông. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư đến Giang tây tham yết ngài Hoàng bá Hi vận, sau đó, tham lễ ngài Cao an Đại ngu, ngài Qui sơn Linh hựu, v.v..., cuối cùng lại trở về Hoàng bá và được ấn khả. Năm Đại trung thứ 8 (854) đời vua Tuyên tông nhà Đường, sư đến trụ ở viện Lâm tế tại Trấn châu thuộc tỉnh Hà bắc, đặt ra cơ pháp Tam huyền tam yếu, Tứ liệu giản, v.v... để tiếp dắt người học. Khi hướng dẫn người học, sư thường dùng tiếng hét để hiển bày đại cơ đại dụng. Đối với hành giả tham Thiền, sư rất nghiêm khắc, nhưng người học lại theo về rất đông, môn phong hưng thịnh, gây thành 1 phái thiền Lâm tế nổi tiếng ở Trung quốc. Sư tịch vào năm 867 Tây lịch, không rõ tuổi thọ, vua ban thụy hiệu Tuệ Chiếu Thiền Sư. Đệ tử nối pháp gồm có 22 vị như: Hưng hóa Tồn tưởng, Tam thánh Tuệ nhiên, Quán khê Chí nhàn, v.v... đều là những bậc tông tượng trong Thiền lâm. [X. Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư tháp kí; Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức truyền đăng lục Q.12; Truyền pháp chính tông kí Q.7].

Lâm Tế Nghĩa Huyền 臨濟義玄

[ja] リンザイギゲン Rinzai Gigen ||| Linji Yixuan(d. 866-7) The ancestor of the so-called Linji school of Chan Buddhism. He was the student and dharma successor to the great master Huangbo xiyun 黄檗希運, and the teacher of Xinghua Congjiang. In the tradition of his dharma-grandfather Mazu Daoyi 馬祖道一, Linji made use of such famous soteriological methods as sudden shouts and blows with the staff. => (c: Linji Yixuan; j: Rinzai Gigen) (d. 866-7 ). Vị sáng lập tông phái thiền Phật giáo Trung Hoa mang tên ngài là Lâm Tế tông. Ngài là đệ tử nối pháp của Thiền sư Hoàng Bá Hy Vận (c: Huangbo xiyun 黄檗希運) và là thầy của Xinghua Congjiang. Trong dòng pháp của nội tổ của Ngài là Mã Tổ Đạo Nhất (c: Mazu Daoyi 馬祖道一), Lâm Tế đã dùng những phương pháp nổi tiếng để tiếp người như tiếng hét (hát) và đánh bằng gậy (bổng).

lâm tế phật pháp đại ý

6506禪宗公案名。又作定上座佇立、定上座問臨濟、臨濟托開、擒定上座。係唐代臨濟義玄禪師與定上座之問答。碧巖錄第三十二則(大四八‧一七一中):「定上座問臨濟;『如何是佛法大意?』濟下禪床,擒住,與一掌,便托開。定佇立,旁僧云:『定上座何不禮拜?』定方禮拜,忽然大悟。」此公案中,定上座為就佛法大意,苦心慘憺,真參實究之人,其向臨濟發問之際,恰如卵殼中成形之雛,由內部自啄而出。臨濟之作風,原就機鋒峻嚴,方法辛辣,此時突下禪床,抓其胸次,飛掌而擊,此即佛法大意當體現前之相,係臨濟慈悲之顯發,然定上座未能體會此一妙境,猶茫然佇立,經由旁僧之示意,始知問答已畢,禮拜之餘,頓然開悟;此因禮拜之一剎那,身心脫落,全然契會本分之事。〔鎮州臨濟慧照禪師語錄勘辨條、宏智禪師廣錄卷一、五燈會元卷十一〕 ; (臨濟佛法大意) Cũng gọi Định thượng tọa trừ lập, Định thượng tọa vấn Lâm tế, Lâm tế thác khai, Cầm Định thượng tọa. Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền và Thượng tọa Định. Tắc 32, Bích nham lục (Đại 48, 171 trung), chép: Thượng tọa Định hỏi ngài Lâm tế: Thế nào là đại ý Phật pháp? Ngài Lâm tế bước xuống giường thiền, nắm chặt lấy Thượng tọa Định, đánh 1 tát, rồi buông ra. Thượng tọa Định đứng lặng thinh, vị tăng bên cạnh nói: –Thượng tọa Định sao không lễ bái đi! Thương tọa Định liền lễ bái, bỗng nhiên đại ngộ. [X. điều Khám biện trong Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục; Hoành trí thiền sư quảng lục Q.1; Ngũ đăng hội nguyên Q.11].

lâm tế tam cú

6505禪宗公案名。為唐代臨濟義玄禪師接引學人之三種方法。即:(一)三要印開朱點側,未容擬議主賓分。(二)妙解豈容無著問,漚和爭負截流機。(三)看取棚頭弄傀儡,抽牽都來裏有人。其中,第一句指言語以前真實之意味。三要,指真佛;印開,即開顯佛心印。三要印開,指一念開悟,真佛具現,而至成佛。第二句則教示第一句真佛具現之絕對解了會得。此解了會得係屬絕對,不容有任何方便。漚和為梵語upāya(方便)之音譯,截流機指斷滅煩惱而得解脫;即以各種方便法而求絕對之解脫。此句即具體說明真佛具現之絕對。第三句係專對求道者中,不通第一句、第二句之鈍根而設之各種方便法門,有如傀儡師所現之各種神頭鬼面。〔鎮州臨濟慧照禪師語錄上堂條、人天眼目卷一〕 ; (臨濟三句) Tên công án trong Thiền tông. Ba câu nói rõ 3 phương pháp hướng dẫn người học của Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền đời Đường. Ba câu ấy là: 1. Tam yếu ấn khai chu điểm trắc, vị dung nghĩ nghị chủ tân phân (Tam yếu mở bày tâm ấn Phật, chưa kịp nghĩ bàn thì địa vị chủ và khách đã phân chia rõ). Tam yếu, chỉ cho Phật chân thực trước khi có lời nói; Ấn khai là mở bày tâm ấn Phật. Tam yếu ấn khai chỉ cho 1 niệm khai ngộ thì Phật chân thực hiện tiền, cho đến thành Phật. 2. Diệu giải khởi dung Vô trước vấn, âu hòa tranh phụ tiệt lưu cơ (Thấu suốt không cần Vô trước hỏi, phương tiện được dùng diệt não phiền). Câu thứ 2 này chỉ bày sự liễu ngộ Phật chân thực hiện tiền trong câu thứ 1. Sự liễu ngộ này thuộc về tuyệt đối, không thể hỏi đáp, không cần bất cứ thứ phương tiện nào. Âu hòa là dịch âm tiếng Phạm Upàya, nghĩa là phương tiện; tiệt lưu cơ là đoạn trừ phiền não, được giải thoát, tức là dùng các phương tiện để cầu giải thoát tuyệt đối. 3. Khán thủ bằng đầu lộng ổi lỗi, trừu khiên đô lai lí hữu nhân (Hãy xem con rối đùa trên gác, cử động đều do người điều khiển). Câu thứ 3 này là nói về các pháp môn phương tiện được bày đặt ra, dành riêng cho những người độn căn cầu đạo, không giống với câu thứ 1 và thứ 2, có những pháp môn phương tiện giống như những người gỗ đầu thần mặt quỉ do ổi lỗi sư (người chuyên làm các con rối) chế tạo ra. [X. điều Thướng đường trong Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục; Nhân thiên nhãn mục Q.1].

Lâm Tế Tông

(臨濟宗, Rinzai-shū): tông phái tôn Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄, Rinzai Gigen) làm tổ, một trong Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗) của Trung Quốc. Trải qua 11 đời từ vị sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨[摩]) cho đến Nghĩa Huyền, từ đó trải qua 7 đời truyền thừa và xuất hiện Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓). Môn hạ của Thạch Sương có Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) và Dương Kì Phương Hội (楊岐方會), từ đó phát sanh ra hai phái Hoàng Long (黃龍), Dương Kì (楊岐). Đối với Thiền Tông Trung Quốc, nếu thêm 2 phái này vào trong 5 tông phái Vân Môn (雲門), Pháp Nhãn (法眼), Tào Động (曹洞), Lâm Tế (臨濟), Quy Ngưỡng (溈仰) thì gọi là Ngũ Gia Thất Tông. Trừ Phái Hoàng Long của Minh Am Vinh Tây (明庵榮西) ra, Lâm Tế Tông đuợc truyền vào Nhật tất cả đều thuộc về hệ thống của Phái Dương Kì. Hàng cháu đời thứ 4 của Dương Kì Phương Hội có xuất hiện Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤); thế rồi từ môn hạ của Viên Ngộ có Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) và Hổ Kheo Thiệu Long (虎丘紹隆), từ đó ra đời hai phái Đại Huệ (大慧) và Hổ Kheo (虎丘). Hơn nữa, từ môn hạ của Mật Am Hàm Kiệt (密庵咸傑)—pháp hệ của Hổ Kheo—phát sinh dòng phái môn lưu của Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳), Phá Am Tổ Tiên (破庵祖先) và Tào Nguyên Đạo Sanh (曹源道生). Trước hết, người truyền thừa Thiền nhà Tống sang Nhật Bản đầu tiên là Duệ Sơn Giác A (叡山覺阿), vị tăng đã từng tham vấn Hạt Đường Huệ Viễn (瞎堂慧遠)—pháp từ của Viên Ngộ Khắc Cần. Tiếp theo đó là Minh Am Vinh Tây (明庵榮西), người đã sang nhà Tống lần thứ hai và kế thừa dòng pháp của Hư Am Hoài Sưởng (虛庵懷敞). Dòng pháp của Giác A bị dứt tuyệt; riêng Phái Hoàng Long (黃龍派) của Minh Am Vinh Tây vẫn kéo dài cho đến hiện tại thong qua hai chùa Thọ Phước Tự (壽福寺, Jufuku-ji) và Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji). Người đồng thời đại với Vinh Tây là Đại Nhật Năng Nhẫn (大日能忍) thì trú tại Tam Bảo Tự (三寶寺, Sampō-ji), Nhiếp Tân (攝津, Settsu), nhân đọc các thư tịch Thiền mà độc ngộ, tự xưng là Đạt Ma Tông (達磨宗) và mở rộng giáo hóa khắp nơi, nhưng ông lại bị phê phán là “không thầy ngộ một mình”. Từ đó, ông giao phó cho đệ tử đem chỗ sở ngộ của ông sang nhà Tống trình lên cho Chuyết Am Đức Quang (拙庵德光)—đệ tử của Đại Huệ Tông Cảo—để nhận ấn khả. Sau đó, môn lưu của ông được giáo đoàn của Vĩnh Bình Đạo Nguyên (永平道元, Eihei Dōgen) hấp thu rồi đi đến đoạn tuyệt. Thiên Hựu Tư Thuận (天祐思順), v.v., sang nhà Tống cầu pháp, trải qua 13 năm trường, rồi được ấn khả của Kính Tẩu Cư Giản (敬叟居簡)—đệ tử của Chuyết Am Đức Quang, đến trú trì Thắng Lâm Tự (勝林寺) vùng Thảo Hà (草河), nhưng môn lưu của ông chẳng phát triển được chút nào. Viên Nhĩ (圓爾)—người theo học môn lưu của Vinh Tây, sang nhà Tống cầu pháp và đến tham yết Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) thuộc Phái Phá Am—cũng trở về nước vào năm thứ 2 (1241) niên hiệu Nhân Trị (仁治), khai sáng Thừa Thiên Tự (承天寺, Shōten-ji) và Sùng Phước Tự (崇福寺, Sūfuku-ji) ở vùng Bác Đa (博多, Hakata), rồi kiến lập Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji) ở kinh đô Kyōto, được hàng công võ quy y theo và nỗ lực xây dựng cơ sở để phát triển một môn phái lớn. Đạo Hựu (道祐) ở Diệu Kiến Đường (妙見堂) vùng Lạc Bắc (洛北, Rakuhoku), Tánh Tài Pháp Thân (性才法身)—vị tổ khai sơn Viên Phước Tự (圓福寺) ở Tùng Đảo (松島, Matsushima), v.v., cũng là những người đồng môn của Viên Nhĩ. Kế đến, Vô Bổn Giác Tâm (無本覺心)—vị tổ khai sơn Tây Phương Tự (西方寺, Saihō-ji) ở Do Lương (由良), Kỷ Y (紀伊, Kii)—cũng đã từng được Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇), Đạo Nguyên (道元), Thiên Hựu Tư Thuận (天祐思順) động viên và sang nhà Tống cầu đạo, thọ pháp với Vô Môn Huệ Khai (無門慧開)—người thuộc dòng phái của Đạo Giả Đạo Ninh (道者道寧), nhân vật huynh đệ với Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤), và trở về nước. Một loạt những người như vậy đều xuất thân từ hai tông Hiển Mật, đã truyền vào Nhật tôn giáo mới của nhà Tống để bổ sung thêm cho Phật Giáo cũ, nhưng lại mai danh ẩn tích ở các địa phương chứ không xuất hiện nơi chốn đô hội, và ý thức khai sáng giáo đoàn mới cũng rất mong manh. Tiếp theo, xuất hiện những vị tăng do vì tránh tình hình bất an dưới thời nhà Tống đã vượt biển sang Nhật Bản để tìm lẽ sống. Tỷ dụ như trường hợp của Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) sang Nhật vào năm thứ 4 (1246) niên hiệu Khoan Nguyên (寬元). Sau khi sống qua Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) ở vùng Bác Đa và Tuyền Dũng Tự (泉涌寺, Senyū-ji) ở kinh đô Kyōto, Lan Khê xuống vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), được Tướng Quân Bắc Điều Thời Lại (北條時頼, Hōjō Tokiyori) quy y theo và làm tổ khai sơn Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji). Đó là cuộc truyền thừa Thiền thuần túy, thoát xác khỏi các tông Hiển Mật. Thêm vào đó, thông qua môi giới của Viên Nhĩ, có đồng môn Ngột Am Phổ Ninh (兀庵普寧) sang Nhật, nhờ sự hộ trì của Thời Lại; nhờ vậy Thiền lâm Nhật Bản dần dần được chỉnh đốn, sản sinh ra nhiều môn đệ và các vị tăng Nhật Bản sang nhà Tống cầu pháp tăng thêm nhiều. Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明) và Cự Sơn Chí Nguyên (巨山志源)—những người truyền thừa dòng pháp của Phái Tùng Nguyên (松源派) cùng trở về nước, rồi Đại Hưu Chánh Niệm (大休正念)—đồng hàng huynh đệ với Vô Tượng Tĩnh Chiếu (無象靜照) cũng thuộc Phái Tùng Nguyên—quy quốc, được Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) và anh em Tông Chính (宗政) quy y theo. Hơn nữa, đáp lời thỉnh cầu của Thời Tông, Tây Giản Tử Đàm (西礀子曇) cũng đáp thuyền sang Nhật; nhưng sau khi Lan Khê Đạo Long viên tịch, ông lại trở về nước. Sau đó, có Vô Học Tổ Nguyên (無學祖元) và Kính Đường Giác Viên (鏡堂覺圓) sang Nhật. Được Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông tín nhiệm và quy y theo, Vô Học trở thành tổ khai sơn của Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Giống như Vô Học và Kính Đường, có Tiều Cốc Duy Tiên (樵谷惟僊)—người thuộc Phái Tùng Nguyên—trở về nước và truyền trao dòng pháp mới. Trong khi đó, có vị tăng sang Nhật là Linh Sơn Đạo Ẩn (靈山道隱). Đến thời nhà Nguyên, có hai nhân vật làm sứ tiết hòa bình của hai triều Văn Vĩnh (文永), Hoằng An (弘安) và làm Thông Sự hướng dẫn cho Tây Giản Tử Đàm (西礀子曇), là Nhất Sơn Nhất Ninh (一山一寧) và Đông Lí Đức Hội (東里德會) của Phái Tào Nguyên (曹源派) cũng sang Nhật. Tiếp theo đó, có mấy người thuộc Phái Tào Nguyên lên thuyền sang Nhật như Thanh Chuyết Chánh Trừng (清拙正澄) theo lời thỉnh cầu của tướng quân Bắc Điều Cao Thời (北條高時, Hōjō Takatoki); Minh Cực Sở Tuấn (明極楚俊), Trúc Tiên Phạn Tiên (竺仙梵僊), v.v., theo lời mời của dòng họ Đại Hữu (大友) ở vùng Phong Hậu (豐後). Đồng môn với Trúc Tiên có Nguyệt Lâm Đạo Kiểu (月林道皎), Thạch Thất Thiện Cửu (石室善玖) thì sang nhà Tống cầu pháp và trở về nước. Trong hệ thống Thiền nhà Nguyên, tông phong của các vị tăng theo Thiền Niệm Phật rất thịnh hành; vì mến mộ tông phong của Trung Phong Minh Bổn (中峰明本) trên Thiên Mục Sơn (天目山), nên nhiều tăng sĩ Nhật Bản đã đến đây cầu pháp và trở về nước. Tỷ dụ như Viễn Khê Tổ Hùng (遠溪祖雄), Cổ Tiên Ấn Nguyên (古先印元), Phục Am Tông Kỷ (復庵宗己), Nghiệp Hải Bổn Tịnh (業海本淨), Minh Tẩu Tề Triết (明叟齊哲), Vô Ẩn Nguyên Hối (無隱元晦), Quan Tây Nghĩa Nam (關西義南), v.v. Bên cạnh đó, còn có mấy người kế thừa dòng pháp của Thiên Nham Nguyên Trường (千岩元長)—đệ tử của Trung Phong—như Đại Chuyết Tổ Năng (大拙祖能), Bích Nham Vi Xán (碧巖囗璨). Những người cùng dòng pháp của Vạn Phong Thời Úy (萬峰時蔚)—người đồng môn với Đại Chuyết và Bích Nham—có Ẩn Nguyên Long Kỷ (隱元隆琦) thuộc Phái Hoàng Bá (黃檗派). Tông phong mang tính ẩn dật chính là đặc trưng dưới thời đại này. Giống như những người kế thừa Thiền Niệm Phật, môn hạ của Phái Phá Am (破庵派) có Vô Văn Nguyên Tuyển (無文元選)—nhân vật kế thừa dòng pháp của Cổ Mai Chánh Hữu (古梅正友), hay Tịch Thất Nguyên Quang (寂室元光)—pháp tôn của Lan Khê Đạo Long. Họ thọ nhận tông phong phái này, trở về nước và truyền bá khắp các địa phương. Về Phái Đại Huệ, Trung Nham Viên Nguyệt (中巖圓月), Đông Truyền Chánh Tổ (東傳正祖), Vô Sơ Đức Thỉ (無初德始), v.v., truyền bá dòng pháp mới; riêng Ngu Trung Châu Cập (愚中周及) thì truyền thừa dòng pháp của Tức Hưu Khế Liễu (卽休契了) và hình thành nên một phái mới. Xưa nay, những người cầu pháp ở ngoại quốc có 24 dòng, 46 dòng hay 59 dòng; trong đó trừ 4 dòng của Tào Động Tông (曹洞宗, Sōtō-shū) ra, còn lại 55 dòng thuộc về Lâm Tế Tông. Trong số những nhà truyền pháp thuộc các dòng này, trừ những người bảo trì Thiền Niệm Phật mang tính ẩn dật ra, đại bộ phận các môn lưu đều được hàng công võ quy y theo, thường sống tại 5 ngôi danh sát lớn ở kinh đô Kyōto, Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) và hình thành nên Phái Ngũ Sơn (五山派) với giáo đoàn phức hợp, đa dạng. Đó là hai chùa Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) cũng như Thọ Phước Tự (壽福寺, Jufuku-ji) của Vinh Tây; Tịnh Diệu Tự (淨妙寺, Jōmyō-ji) của Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇); Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji) của Viên Nhĩ; Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) của Lan Khê Đạo Long; Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) của Vô Học Tổ Nguyên; Tịnh Trí Tự (淨智寺, Jōchi-ji) của Ngột Am Phổ Ninh (兀庵普寧) và Nam Châu Hoằng Hải (南洲宏海); Vạn Thọ Tự (萬壽寺, Manju-ji) của Đông Sơn Trạm Chiếu (東山湛照); Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji) của Vô Quan Huyền Ngộ (無關玄悟); Thiên Long Tự (天龍寺, Tenryū-ji) và Tướng Quốc Tự (相國寺, Sōkoku-ji) của Mộng Song Sơ Thạch (夢窻疎石), v.v. Ngoài Phái Ngũ Sơn chịu dưới sự quản chế của chính quyền Mạc Phủ, có xuất hiện Bạt Đội Đắc Thắng (拔隊得勝) và Từ Vân Diệu Ý (慈雲妙意)—pháp tôn của Vô Bổn Giác Tâm (無本覺心), người đi về bố giáo ở các địa phương ngay từ ban đầu. Bạt Đội sáng lập Hướng Nhạc Tự (向嶽寺, Kōgaku-ji) ở vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai); còn Từ Vân thì khai sáng Quốc Thái Tự (國泰寺, Kokutai-ji) ở Việt Trung (越中, Ecchū) và hình thành nên một dòng phái riêng. Ngoài ra, Vô Văn Nguyên Tuyển kiến lập Phương Quảng Tự (方廣寺, Hōkō-ji) ở Áo Sơn (奥山, Okuyama), Viễn Giang (遠江). Tịch Thất Nguyên Quang là hàng pháp tôn của Lan Khê Đạo Long, không có mối quan hệ gì với Phái Ngũ Sơn, chuyên tâm giáo hóa ở các địa phương và xây dựng Vĩnh Quang Tự (永光寺, Eikō-ji) ở vùng Cận Giang (近江). Những Thiền tăng tại các địa phương có Ngu Trung Châu Cập thoát ly khỏi Phái Mộng Song của Ngũ Sơn; ông khai sáng Phật Thông Tự (佛通寺, Buttsū-ji) ở An Nghệ (安芸), được sự ủng hộ đắc lực của dòng họ Tiểu Tảo Xuyên (小早川) và hình thành giáo đoàn nhỏ. Tại trưng ương kinh đô, trong số những người không chịu sự thống chế của chính quyền Mạc Phủ có Tông Phong Diệu Siêu (宗峰妙超)—môn hạ của Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明), vị tăng truyền dòng pháp của mình dưới thời đại Liêm Thương. Bên cạnh đó, còn xuất hiện đệ tử của Tông Phong là Quan Sơn Huệ Huyền (關山慧玄). Tông Phong thì khai sáng Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji) ở vùng Tử Dã (紫野, Murasakino); Quan Sơn thì kiến lập Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji) ở Hoa Viên (花園, Hanazono) và trở thành sơ tổ của chùa này.Cả hai thầy trò đều được Hoa Viên Pháp Hoàng (花園法皇, Hanazono Hōkō) thâm tín quy y theo. Đối với Thiền lâm Ngũ Sơn, những ngôi chùa Hướng nhạc, Quốc Thái, Phương Quảng, Vĩnh Nguyên, Phật Thông, Đại Đức, Diệu Tâm được gọi là Lâm Hạ Thiền Lâm (林下禪林), vẫn duy trì tông phong từ ngàn xưa, khắc kỷ, đạm bạc mà không hề nhận sự ủng hộ của chính quyền Mạc Phủ. Chính nhân tài của Ngũ Sơn cũng lưu nhập vào hệ thống này, làm cho hưng thạnh; cuối cùng nhờ những nhà Đại Danh thời Chiến Quốc (戰國, Sengoku) quy y theo, hơn nữa những ngôi chùa con ở các địa phương thuộc Phái Ngũ Sơn đã quy hướng về Phái Diệu Tâm Tự (妙心寺派) của Quan Sơn. Cuộc biến động cải cách vào cuối thời nhà Minh và đầu nhà Thanh đã đưa đẩy Ẩn Nguyên Long Kỷ (隱元隆琦), Đạo Giả Siêu Nguyên (道者超元), v.v., sang Nhật, đem lại ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với Thiền lâm trong nước. Từ các phái nhỏ xuất hiện Cổ Nguyệt Thiền Tài (古月禪才), Tuyệt Đồng Bất Nhị (絕同不二), v.v., những nhân vật thuộc Phái Linh Vân (靈雲派) trong Diệu Tâm Tây Phái (妙心西派); cho nên các Tăng Đường ở địa phương được phục hưng và làm cho hồi phục quy cũ tu hành của tập đoàn. Thêm vào đó, từ Phái Thánh Trạch (聖澤派) trong Diệu Tâm Tây Phái lại xuất hiện Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴)—người kế thừa dòng pháp của Đạo Kính Huệ Đoan (道鏡慧端); nhờ vậy đã quét sạch những tệ hại lâu năm và vãn hồi được tông phong. Vào năm thứ 7 (1874) niên hiệu Minh Trị (明治, Meiji), qua bản cáo bố của Bộ Tuyên Giáo, hai tông Lâm Tế và Tào Động được độc lập. Đến năm thứ 9 cùng niên hiệu trên, từ Lâm Tế Tông, môn hạ của Ẩn Nguyên Long Kỷ cũng được độc lập với tên gọi là Hoàng Bá Tông (黃檗宗, Ōbaku-shū), trở thành thế chân vạc ba phái Thiền Tông. Trong những Bản Sơn (本山, Honzan, ngôi chùa tổ) các phái của Lâm Tế Tông có 14 phái với các chùa như Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji), Thiên Long Tự (天龍寺, Tenryū-ji), Tướng Quốc Tự (相國寺, Sōkoku-ji), Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji), Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji), Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), Hướng Nhạc Tự (向嶽寺, Kōgaku-ji), Quốc Thái Tự (國泰寺, Kokutai-ji), Phương Quảng Tự (方廣寺, Hōkō-ji), Vĩnh Nguyên Tự (永源寺, Eigen-ji) và Phật Thông Tự (佛通寺, Buttsū-ji). Vị Quản Trưởng (管長, Kanchō) thống lãnh trong phái, đặt đạo tràng chuyên môn để đào tạo đàn hậu tấn.

Lâm Tế tông

臨濟宗; C: línjì-zōng; J: rinzai-shū;|Một dòng thiền được liệt vào Ngũ gia thất tông – tức là Thiền chính phái – được Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền sáng lập. Tông này ngày nay là một trong hai tông của Thiền vẫn còn tồn tại ở Nhật Bản song song với tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū). Khoảng vài mươi năm đến bây giờ, tông Lâm Tế được truyền bá rộng rãi đến phương Tây.|Ðứng đầu tông này là hình tượng và phong cách xuất chúng của vị Khai tổ Lâm Tế (?-866/867) đời Ðường. Trong đời Tống (960-1279), môn phong của tông này vọt hơn hẳn các tông khác trong Ngũ gia. Nhưng trong khoảng thời gian giữa hai thời kì này thì một vài thế hệ nằm trong u mờ, khi ẩn khi hiện. Thế hệ thứ nhất (Hưng Hoá Tồn Tưởng) đến thứ sáu (Thạch Sương Sở Viên) đều giữ phong cách như vị Khai tổ, sống ẩn dật, đơn giản. Tiếng hét và gậy đập (Bổng hát), hai phương tiện giáo hoá của sư Lâm Tế vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay và được xem là những sắc thái bề ngoài của tông này. Giáo lí và pháp ngữ của sư Lâm Tế được lưu lại trong Lâm Tế lục (j: rinzairoku). Trong thế kỉ thứ 10 và 11 thì bộ này được hai vị Phong Huyệt Diên Chiểu và Phần Dương Thiện Chiêu hiệu đính và được lưu truyền đến bây giờ dưới dạng này.|Về giáo lí của tông này thì một »công thức« được xem là quan trọng nhất, đó là Tứ liệu giản (四料簡; j: shiryōken) – có thể dịch là »bốn phân biệt và chọn lựa«. Tứ liệu giản được xem là công thức trình bày giáo lí quan trọng nhất của tông này. Chính sư Lâm Tế là người trình bày lí thuyết này trước đại chúng. Sư dạy:|有時奪人不奪境。有時奪境不奪人|有時人境俱奪。有時人境俱不奪|Hữu thời đoạt nhân bất đoạt cảnh|Hữu thời đoạt cảnh bất đoạt nhân|Hữu thời nhân cảnh câu đoạt|Hữu thời nhân cảnh câu bất đoạt.|*Có khi đoạt nhân không đoạt cảnh|Có khi đoạt cảnh không đoạt nhân|Có khi nhân cảnh đều đoạt|Có khi nhân cảnh đều không đoạt.|Tứ liệu giản trình bày từng cấp bậc nhận thức nhìn theo chủ thể và khách thể, tương đối giống hình thái của Tứ cú phân biệt (s: catuṣkoṭikā). Về phần nội dung thì công thức này tương ưng với thuyết Tứ pháp giới của tông Hoa Nghiêm. Trong hai cấp đầu tiên thì Ảo ảnh, Vô minh được vượt qua bằng hai phương cách: một là dựa vào chủ thể (e: subject) – ở đây được gọi là »nhân« và hai là nương theo khách thể (e: object), là »cảnh« là thế giới hiện hữu. Cấp thứ ba phủ nhận cả hai, cả chủ lẫn khách nhưng đặc biệt là sự khác biệt của hai vẫn còn tồn tại. Trạng thái phủ định này tương ưng với một tâm trạng tập trung tuyệt đối. Chỉ ở cấp thứ tư – khi tâm thức đã vượt qua thế giới nhị nguyên, chủ thể và khách thể không còn tồn tại – thì Chân như mới được nhận diện một cách tột cùng. Trong Lâm Tế lục, Lâm Tế giảng về Tứ liệu giản như sau (Như Hạnh dịch):|Tăng hỏi: »Thế nào là ›Ðoạt nhân không đoạt cảnh?‹« Sư đáp:|煦日發生鋪地錦。嬰孩垂髮白如絲|»Hú nhật phát sinh phô địa cẩm|Anh hài thuỳ phát bạch như ti«|*»Mặt trời ấm hiện phó gấm vóc|Trẻ thơ rũ tóc trắng như tơ«|Tăng hỏi: »Thế nào là ›Ðoạt cảnh không đoạt nhân?‹« Sư đáp:|王令已行遍天下。將軍塞外絕煙塵|»Vương lệnh dĩ hành biến thiên hạ|Tướng quân tái ngoại tuyệt yên trần«|*»Lệnh vua đã hành khắp thiên hạ|Tướng quân ngoài ải dứt khói bụi«.|Tăng hỏi: »Thế nào là ›Nhân cảnh đều đoạt?‹« Sư đáp:|並汾絕信。獨處一方|»Tịnh Phần tuyệt tín, độc xử nhất phương«|*»Tịnh Phần (tên của hai miền đất nằm xa nhau) bặt tin tức, một mình ở một nơi«.|Tăng hỏi: »Thế nào là ›Nhân cảnh đều không đoạt?‹« Sư đáp:|王登寶殿。野老謳歌|»Vương đăng bảo điện, dã lão âu ca«|*»Vua bước lên ngai, lão quê ca hát«.

lâm tế tông

6507略稱濟宗。禪宗五家七宗之一,日本十三宗之一。以唐代臨濟義玄(?~867)為宗祖。屬南宗南嶽法系。義玄先參黃蘗希運,未久又禮謁高安大愚、溈山靈祐等,後還黃蘗,受其印可。唐宣宗大中八年(854)住鎮州臨濟院,設三玄三要、四料簡等禪法接化徒眾,以機鋒峭峻著稱當世,遂成臨濟宗。中唐以後,此宗門風興隆,蔚成一大宗派。 「四賓主」、「四料簡」與「四照用」為本宗經常使用之傳教方法。「四賓主」乃通過師生(或賓主)問答之方法,衡量雙方悟境之深淺。「四料簡」、「四照用」則是針對悟境程度(對我、法之態度)不同之參學者進行說教之方式。接引學人之方法,單刀直入,機鋒峻烈。自義玄用棒喝,以至宗杲提倡看話(公案,即禪祖語錄),皆以迅速手段或警句使學人省悟。其機鋒銳利,與曹洞宗之「默照暗推」迥異,故頗受武人、俗士所好,將士、政客等亦多參此宗禪法。本宗即以禪風自由,至清代而成為我國禪宗之主流。 義玄之法嗣有興化存獎、三聖慧然、灌谿志閑等二十二人,存獎為其首座,慧然受義玄付囑,編集語錄。存獎之下,經寶應慧顒傳至風穴延沼,於後唐長興二年(931),住廣慧寺領眾;其法嗣首山省念常為頭陀行,法席之盛冠於天下,門人有葉縣歸省、廣慧元璉、谷隱蘊聰、汾陽善昭等十六人歸省門下有八人,其中,浮山法遠倡九帶、十六顯之說。善昭初歷參七十一善知識,後投首山契悟,住汾州太平寺,以三句四句、三訣、十八唱等機用接化學徒,號稱天下第一;其下俊秀頗多,有石霜楚圓、瑯琊慧覺、大愚守芝等。慧覺與雪竇重顯並稱二甘露門。楚圓以法令嚴肅、方法險絕稱名,其門人以黃龍慧南、楊岐方會最著,二人各創黃龍派、楊岐派,宋以後頗盛,與曹洞、雲門等宗並立。 十二世紀末,日僧明菴榮西入宋,謁黃龍七世法孫虛菴懷敞,傳黃龍派禪法;返日後,於京都創立建仁寺,為圓、密、禪三宗兼學之道場。此外,俊芿(1166~1227)亦入宋,受法於楊岐派下第七世之蒙菴元聰;返日後,於泉涌寺弘傳戒律與禪法。南宋末年我國禪僧渡日者甚眾,多傳楊岐派禪法。日本鎌倉時期(1192~1333)之禪宗二十四流派中,有二十流派屬於楊岐派系統,黃龍派則僅榮西一流。又明末清初之際,楊岐派下第二十四世隱元隆琦,於承應三年(1654)東渡日本,別立黃蘗宗。〔臨濟宗旨、五燈會元卷十一、卷十二、卷十七至卷二十、本朝僧寶傳、延寶傳燈錄、扶桑禪林僧寶傳〕 ; Rinzai shŪ (J), Lin-chi tsung (C)Do Lâm tế Nghĩa Huyền sáng lập, có đến 21 đời đệ tử truyền thừa giáo pháp, suy thoái dần từ thế kỳ thư 12, nhưng trước đó dòng thiền này đã du nhập qua Nhật bản và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay dưới tên gọi là Rinzai. ; Lin-Chi School—Một trong năm tông phái Thiền Phật Giáo của Trung Quốc được xiển dương bởi ngài Lâm Tế, pháp tử của Lục Tổ Huệ Năng—One of the five sects of Zen Buddhism in China, which was propagated by Lin-Chi, a Dharma heir of the Sixth Zen Patriarch Hui-Neng—See Lâm Tế. ; (臨濟宗) Gọi tắt: Tế tông. Tông Lâm tế, 1 trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc, do ngài Lâm tế Nghĩa huyền (?-867) thuộc pháp hệ ngài Nam nhạc Hoài nhượng sáng lập, cũng là 1 trong 13 tông phái của Phật giáo Nhật bản. Sau khi ngài Lâm tế Nghĩa huyền được Thiền sư Hoàng bá Hi vận ấn chứng, vào năm Đại trung thứ 8 (854) đời vua Tuyên tông nhà Đường, ngài đến trụ ở viện Lâm tế tại Trấn châu, đặt ra Tam huyền tam yếu, Tứ liệu giản, v.v... để tiếp dẫn đồ chúng, môn phong hưng thịnh và, từ thời Trung Đường về sau, đã phát triển thành 1 tông phái lớn, gọi là tông Lâm tế. Những phương pháp truyền giáo như: Tứ tân chủ, Tứ liệu giản, Tứ chiếu dụng, v.v... thường được tông này sử dụng. Tứ tân chủ là thông qua những câu vấn đáp giữa thầy và trò (hoặc chủ và khách) để so sánh, đánh giá sự sâu cạn về cảnh giới chứng ngộ của đôi bên, còn Tứ liệu giản, Tứ chiếu dụng là căn cứ vào trình độ liễu ngộ khác nhau của người học mà lập ra phương thức giáo hóa. Cơ phong của tông này rất bén nhạy và mạnh mẽ. Từ ngài Nghĩa huyền dùng phương pháp đánh hét, đến ngài Tông cảo đề xướng phương thức khán thoại đầu (tức tham cứu công án), đều dùng thủ đoạn thần tốc, mãnh liệt, hoặc những lời nói sắc bén, khiến người học ngay đó tỉnh ngộ. Nhờ có cơ phong thần tốc, mãnh liệt, cộng với phong cách tự do, nên Thiền pháp của tông Lâm tế rất được giới vũ sĩ, tướng quân và chính khách ưa thích và đến đời nhà Thanh thì tông này trở thành dòng phái chính yếu của Thiền tông Trung quốc. Các đệ tử nối pháp của ngài Nghĩa huyền có 22 vị, như các sư Hưng hóa Tồn tưởng, Tam thánh Tuệ nhiên, Quán khê Chí nhàn, v.v... Sư Tồn tưởng là Thủ tọa, sư Tuệ nhiên được ngài Nghĩa huyền phó chúc biên tập ngữ lục. Dưới sư Tồn tưởng, có sư Bảo ứng Tuệ ngung truyền đến sư Phong huyệt Diên chiểu. Năm Trường hưng thứ 2 (931) đời Hậu Đường, sư Phong huyệt Diên chiểu trụ ở chùa Quảng tuệ lãnh chúng tu học, đệ tử nối pháp là Thủ sơn Tỉnh niệm thường tu hạnh đầu đà. Môn phong của sư Thủ sơn rất hưng thịnh, lan ra khắp nước, đệ tử gồm có 16 người như: Diệp huyền Qui tỉnh, Quảng tuệ Nguyên liễu, Cốc ẩn Uẩn thông, Phần dương Thiện chiêu, v.v... Môn hạ của sư Qui tỉnh có 8 người, trong đó, Phù sơn Pháp viễn đề xướng thuyết Cửu đới, Thập lục hiển. Sư Thiện chiêu mới đầu, lần lược tham vấn 71 vị thiện tri thức, sau cùng, đến chỗ Thiền sư Thủ sơn Tỉnh niệm thì được khế ngộ, trụ chùa Thái bình ở Phần châu, dùng các cơ dụng như Tam cú tứ cú, Tam quyết, Thập bát xướng, v.v... để tiếp dẫn người học, được tôn xưng là Thiên Hạ Đệ Nhất, dưới cửa sư có rất nhiều nhân tài, như các vị: Thạch sương Sở viên, Lang da Tuệ giác, Đại ngu Thủ chi, v.v... Sư Tuệ giác và sư Tuyết đậu Trùng hiển được gọi chung là Nhị Cam Lộ Môn. Sư Sở viên nhờ dùng pháp lệnh nghiêm túc, cơ pháp hiểm hóc siêu tuyệt mà nổi tiếng, dưới cửa sư có các vị Hoàng long Tuệ nam và Dương kì Phương hội là nổi bật hơn cả; sư Tuệ nam sáng lập phái Hoàng long, còn sư Phương hội thì sáng lập phái Dương kì, từ đời Tống về sau 2 phái này rất thịnh, sánh ngang với các tông Tào động, Vân môn, v.v... Vào thời Tống, vị tăng Nhật bản là Minh am Vinh tây đến Trung quốc tham yết pháp tôn đời thứ 7 của ngài Hoàng long là sư Hư am Hoài sưởng và được truyền Thiền pháp phái Hoàng long. Sau khi về nước, sư Vinh tây sáng lập chùa Kiến nhân ở Kinh đô (Kyoto), gồm tu cả Viên tông, Mật tông và Thiền tông. Ngoài ra, sư Tuấn nhận (1166-1227) cũng đến Trung quốc vào đời Tống, thụ pháp nơi ngài Mông am Nguyên thông đời thứ 7 thuộc phái Dương kì; sau khi trở về Nhật bản, sư Tuấn nhận truyền bá giới luật và Thiền pháp ở chùa Tuyền dũng. Vào những năm cuối đời Nam Tống, Thiền sư Trung quốc sang Nhật rất đông, phần nhiều hoằng truyền Thiền pháp của phái Dương kì. Trong 24 dòng phái Thiền tông của thời kì Liêm thương (1192- 1333) tại Nhật bản, thì có tới 20 dòng phái thuộc hệ thống phái Dương kì, còn phái Hoàng long thì chỉ có một dòng của sư Vinh tây. Rồi đến cuối đời Minh đầu đời Thanh, ngài Ẩn nguyên Long kì là đời thứ 24 thuộc phái Dương kì, vào năm Thừa ứng thứ 3 (1654) vượt biển sang Nhật lập riêng tông Hoàng bá. [X. Lâm tế tông chỉ; Ngũ đăng hội nguyên Q.11, 12, 17-20; Bản triều tăng bảo truyện; Diên bảo truyền đăng lục; Phù tang thiền lâm tăng bảo truyện].

lâm tế tông chỉ

6507全一卷。宋代僧覺範慧洪(1071~1128)著。收於卍續藏第一一一冊。慧洪援引古德、尊宿之提唱,闡論三玄三要、十智同真、四賓主等法要,以導引學人悟得臨濟宗之特殊宗旨。 ; (臨濟宗旨) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Giác phạm Tuệ hồng (1071-1128) soạn vào đời Tống, được đưa vào Vạn tục tạng tập 111. Trong sách này, ngài Tuệ hồng viện dẫn những lời đề xướng của các bậc cổ đức, tôn túc mà bàn rõ về các pháp yếu: Tam huyền tam yếu, Thập trí đồng chân, Tứ tân chủ, v.v... để dắt dẫn người học ngộ được yếu chỉ đặc thù của tông Lâm tế.

Lâm tế tông 臨濟宗

[ja] リンザイシュウ Rinzai shū ||| The Linji zong school of Chinese Chan Buddhism, named after its founder Linji Yixuan 臨濟義玄. The Linji stream of Buddhism was one of the most prosperous in East Asia, enjoying strong popularity in China, Korea and Japan. One of the Five Houses of Chinese Chan, and one of the thirteen Japanese Buddhist sects. Although not surviving as a distinct tradition in Korea, it is Imje chong soteriology which ended up dominating the Korean sŏn tradition within the Chogye 曹溪 school. In Japan, the Rinzai school, along with the Sōtō 曹洞 school, became one of the two major streams of Zen which survive to the present. The Linji school in all three East Asian countries was often characterized by anti-scholarly, iconoclastic attitudes. => (j:Rinzai shū; c: Linji zong; k: Imje chong) Một phái của Thiền tông Phật giáo Trung Hoa, được mang tên của người sáng lập là Lâm Tế Nghĩa Huyền (c: Linji Yixuan 臨濟義玄). Tông phái thiền Phật giáo Lâm Tế là một trong những tông thịnh hành nhất ở Á đông, được hưởng ứng mạnh mẽ và sâu rộng ở Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản. Là một trong chi phái của thiền tông (Ngũ gia tông phái) Trung Hoa, là một trong 13 tông phải của Phật giáo Nhật Bản. Mặc dù không được tồn tại như là một truyền thống riêng biệt ở Triều Tiên, nhưng tông Lâm Tế sau cùng trở nên nổi bật trong thiền tông Triều Tiên mang tên Tào Khê tông (k: Chogye 曹溪). Ở Nhật Bản, tông Lâm Tế cùng với tông Tào Động, trở nên một trong hai dòng thiền chính còn lưu truyền đến ngày nay. Trong ba quốc gia Á đông nầy, tông Lâm Tế thường được đánh giá là chống lại lối tu tập thiên về học thuật và súng bái ngẫu tượng.

lâm tế tải tùng

6508禪宗公案名。為唐代黃蘗希運與臨濟義玄師徒間之問答。臨濟錄(大四七‧五○五上):「師栽松次,黃蘗問:『深山裏栽許多作什麼?』師云:『一與山門作境致,二與後人作標榜。』道了,將钁頭打地三下。黃蘗云:『雖然如是,子已喫吾三十棒了也。』師又以钁頭打地三下,作噓噓聲。黃蘗云:『吾宗到汝,大興於世。』」此則公案為黃蘗試驗臨濟之道念。 深山係表示本來成佛之義,黃蘗之問,意謂本來成佛,何故修行。對此,臨濟表示對自己之信心,故打地三回,並作噓噓聲,表示感謝之意。〔五燈會元卷十一〕 ; (臨濟栽松) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Hoàng bá Hi vận và ngài Lâm tế Nghĩa huyền đời Đường. Lâm tế lục (Đại 47, 505 thượng), chép: Một hôm, sư đang trồng tùng, ngài Hoàng bá hỏi: –Trong chốn núi sâu mà trồng nhiều tùng để làm gì? Sư đáp: –Một là để tạo cảnh đẹp cho chùa, hai là làm vật tiêu biểu cho người đời sau. Nói xong, sư dộng đầu cái mai xuống đất 3 cái. Thiền sư Hoàng bá nói: –Tuy nhiên như thế, nhưng ông đã ăn 30 gậy của ta rồi. Sư lại dộng đầu mai 3 cái nữa, miệng mấp máy: Hư, hư. Ngài Hoàng bá nói: –Tông của ta đến đời ông sẽ rất hưng thịnh. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.11].

lâm tế tứ hát

Bốn thứ tiếng hét của Lâm Tế—Four kinds of Lin-Chi's cry—Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, Lâm Tế phân biệt có bốn cách hét, tùy tiện mà dùng, gọi là 'Tứ Hát.”—According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, Lin-Chi distinguishes four kinds of "cry.” 1) Tiếng hét thứ nhất như gươm báu vua Kim Cang: The first cry is like the sacred sword of Vajraraja. 2) Tiếng hét thứ nhì như bốn vó sư tử vàng trụ bộ trên mặt đất: The second cry is like the golden-haired lion squatting on the ground. 3) Tiếng hét thứ ba như cần câu quơ bóng cỏ: The third cry is like the sounding rod or the grass used as a decoy. 4) Tiếng hét thứ tư không có tác dụng của tiếng hét: The fourth cry is the one that does not at all function as a “cry.”

lâm tế tứ hạt

6505禪宗公案名。為唐代臨濟義玄禪師以「喝」接引徒眾之四種方法。臨濟錄(大四七‧五○四上):「師問僧:『有時一喝如金剛王寶劍,有時一喝如踞地金毛師子,有時一喝如探竿影草,有時一喝不作一喝用。汝作麼生會?』僧擬議,師便喝。」 一喝有多種效用,臨濟此則公案有四種功效。第一喝為發大機之喝,於學人繫著知解情量,拘於名相言句時下之,其時有若寶劍截物一般。第二喝為大機大用之一喝,於修行者為測度師家,來呈小機小見時,震威一喝,如獅子哮吼時,野干腦裂。第三喝為師家勘驗學人之修行,或學人測試師家時所用,為勘驗之喝。第四喝即向上之一喝,雖不入前三喝之中,卻能將前三喝收攝在其中。 此公案中,臨濟以四喝示僧,僧尚不能會得,擬議論,因此臨濟再下一喝。〔人天眼目卷一、景德傳燈錄卷十二〕 ; (臨濟四喝) Tên công án trong Thiền tông. Bốn tác dụng của tiếng hét mà Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền sử dụng để tiếp dẫn người học. Lâm tế lục (Đại 47, 504 thượng), chép: Sư nói với 1 vị tăng: Có khi 1 tiếng hét như thanh kiếm báu Kim cương vương, có khi 1 tiếng hét như sư tử lông vàng ngồi chồm hổm trên đất, có khi 1 tiếng hét như cần câu lùa dưới bóng bè cỏ, có khi 1 tiếng hét không có tác dụng của tiếng hét. Ông có hiểu không? Vị tăng suy nghĩ, sư liền hét. Tiếng hét thứ nhất là tiếng hét phát ra đại cơ, khi đối với người học chấp trước vào sự hiểu biết, tính lường, mắc kẹt trong danh tướng, lời nói, câu văn, thì dùng tiếng hét này, lúc ấy tiếng hét giống như thanh bảo kiếm chặt đứt các vật. Tiếng hét thứ hai là tiếng hét đại cơ đại dụng, khi người học muốn thăm dò chỗ thấy biết của bậc thầy, mà bày tỏ cái kiến giải nhỏ hẹp, nông cạn của mình, thì bậc thầy hét tiếng hét này để dẹp trừ, như khi sư tử rống thì đầu cáo chồn bị vỡ. Tiếng hét thứ ba là tiếng hét dùng để trắc nghiệm sự tu hành của người học, hoặc người dùng tiếng hét này để trắc nghiệm sư gia. Tiếng hét thứ tư là tiếng hét hướng thượng, tuy không thuộc trong ba tiếng hét trước, nhưng lại có khả năng gồm thâu cả ba tiếng hét trước. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.12].

Lâm Tế Tứ Liệu Giản

(臨濟四料揀, Rinzaishiryōken) và Động Sơn Ngũ Vị (洞山五位, Dōzangoi): Tứ Liệu Giản là từ có thể tìm thấy trong phần Thị Chúng (示眾) của Lâm Tế Lục (臨濟錄) do Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄) trước tác, sau này đệ tử ông là Nam Viện Huệ Ngung (南院慧顒) mới lấy riêng phần này ra và được gọi tên như vậy. Trên lập trường 4 thị điểm về cách tiếp xúc trong khi thầy chỉ đạo cho đệ tử gồm Nhân (chủ quan đệ tử), Cảnh (khách quan), Đoạt (phủ định chăng) và Bất Đoạt (khẳng định chăng), nó được phân thành 4 loại. Cụ thể là: (1) Đoạt Nhân Bất Đoạt Cảnh (奪人不奪境, phủ định chủ quan và khẳng định khách quan), (2) Đoạt Cảnh Bất Đoạt Nhân (奪境不奪人, phủ định khách quan và khẳng định chủ quan), (3) Nhân Cảnh Câu Đoạt (人境倶奪, phủ định cả hai), (4) Nhân Cảnh Câu Bất Đoạt (人境倶不奪, khẳng định cả hai). Và trong Lâm Tế Lục chúng được biểu hiện qua các thi cú. Vì đây là thuyết của vị tông tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền, nên nó rất được xem trọng trong Lâm Tế Tông. Đối với Tứ Liệu Giản này, trong Tào Động Tông cũng thỉnh thoảng có đưa ra thuyết Ngũ Vị (五位). Trước hết, trong Ngũ Vị Hiển Quyết (五位顯訣) của Động Sơn Lương Giới (洞山良价) có thuyết minh về thế giới giác ngộ thông qua các yếu tố Chánh (正, bình đẳng­=vô sai biệt), Thiên (偏, sai biệt) và Kiêm (兼, sự tương tức của hai cái này). Sau này đệ tử ông là Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂) mới cải đổi rồi giải thích thêm vào và viết thành cuốn Chánh Thiên Ngũ Vị Tụng (正偏五位 頌, Shōhengoiju). Nội dung của nó gồm có 5 phần: (1) Chánh Trung Thiên (正中偏), (2) Thiên Trung Chánh (偏中正), (3) Chánh Trung Lai (正中來), (4) Thiên Trung Chí (偏中至), và (5) Kiêm Trung Đáo (兼中到). Mỗi phần như vậy được giải thích bằng các câu thơ, và nó được lưu bố rộng rãi do nhờ sự nỗ lực của Tào Sơn Huệ Hà (曹山慧霞, ?-?), đệ tử của Bổn Tịch. Ảnh hưởng của tư tưởng này rất to lớn, phần Thiên Trung Chí được cải biên thành Kiêm Trung Chí (兼中至), đến nỗi Phần Dương Thiện Chiêu (汾陽善昭, 947-1024), Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓, 986-1039), Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲, 1089-1163), v.v., của Lâm Tế Tông cũng đã từng dùng đến. Ngoài thuyết Ngũ Vị nêu trên, còn có Thiên Chánh Ngũ Vị tiêu biểu nhất, và 3 loại khác là Công Huân Ngũ Vị (功勲五位), Quân Thần Ngũ Vị (君臣五位) và Vương Tử Ngũ Vị (王子五位).

lâm tế tứ tân chủ

6505又作濟宗四賓主。唐代臨濟義玄禪師提出四句賓主,為臨濟根本思想之一;旨在以四句料簡提示禪機。即指導學人時,師家(指導者)與學人(修道者)之關係有四種:(一)賓看主(賓乃客之意),即學人透知師家之機略。(二)主看賓,即師家能透知學人之內心。(三)主看主,即具有禪機禪眼者相見。(四)賓看賓,即不具眼目之兩者相見。 其後,風穴延沼禪師將上記四語改稱為「賓中主、主中賓、主中主、賓中賓」,其義亦同。景德傳燈錄卷十三(大五一‧三○三下):「問:『如何是賓中主?』師曰:『入市雙瞳瞽。』曰:『如何是主中賓?』師曰:『迴鑾兩曜新。』曰:『如何是賓中賓?』師曰:『攢眉坐白雲。』曰:『如何是主中主?』師曰:『磨礱三尺刃,待斬不平人。』」〔宏智禪師廣錄卷八、投子義青語錄卷上、人天眼目卷一〕(參閱「四賓主」1827) ; (臨濟四賓主) Cũng gọi Tế tông tứ tân chủ. Bốn câu nói về khách và chủ (tức là mối quan hệ giữa bậc thầy và người học) do Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền đề ra để hướng dẫn người học, là 1 trong các tư tưởng căn bản của Thiền Lâm tế. Bốn câu ấy là: 1. Tân khán chủ: Người học biết suốt kiến giải của thầy. 2. Chủ khán tân: Bậc thầy thấy rõ nội tâm của người học. 3. Chủ khán chủ: Hai người có đủ đạo nhãn gặp nhau. 4. Tân khán tân: Hai người không có đạo nhãn gặp nhau. Về sau, Thiền sư Phong huyệt Diên chiểu đổi 4 câu trên thành là Khách trong chủ, chủ trong khách, chủ trong chủ, khách trong khách, nhưng vẫn cùng một ý nghĩa. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 13 (Đại 51, 303 hạ), chép: Hỏi: –Thế nào là khách trong chủ? Sư đáp: –Vào chợ 2 mắt mù. Hỏi: –Thế nào là chủ trong khách? Sư đáp: –Về cung mặt trời mặt trăng chiếu. Hỏi: –Thế nào là khách trong khách? Sư đáp: –Nhướng mày ngồi nhìn mây trắng. Hỏi: –Thế nào là chủ trong chủ? Sư đáp: –Mài dao trên cối đá, đợi chém người bất bình. [X. Hoành trí thiền sư quảng lục Q.8; Đầu tử nghĩa thanh ngữ lục Q.thượng; Nhân thiên nhãn mục Q.10]. (xt. Tứ Tân Chủ).

lâm tế tự

6506<一>位於河北正定。原稱臨濟院。創建於東魏孝靜帝興和二年(540)。唐宣宗大中年間(847~859),義玄住此,大振禪風,四方學侶雲集。據鎮州臨濟慧照禪師語錄載,本寺位於河北鎮州城東南隅,臨滹沱河側,因之遂得臨濟之名。咸通八年(867),義玄入寂,弟子建塔藏其衣鉢,稱為臨濟禪師塔。金、元之世,屢加重修。明英宗天順年間(1457~1464),添鑄梵鐘。現有大殿、塔、梵鐘等。塔稱清塔(又作青塔),為八角九層之塼塔,立於二重基壇之上,高約百尺。〔宋高僧傳卷十二、景德傳燈錄卷十、卷十二、佛祖歷代通載卷二十四、卷三十五〕 <二>位於臺灣臺北圓山。民國前三年(1909)創建,原為日本臨濟宗重要道場,民國三十四年由觀音山本圓法師接管。歷經盛滿、心悟、白聖等諸師住持,整建經營,始具規模。自七十一年起,為世界佛教僧伽會之永久會址。 ; (臨濟寺) I. Lâm Tế Tự. Chùa Lâm tế, ở huyện Chính định, tỉnh Hà bắc, Trung quốc. Vốn có tên là viện Lâm tế, được sáng lập vào năm Hưng hòa thứ 2 (540) đời Hiếu tĩnh đế nhà Đông Ngụy. Khoảng năm Đại trung (847-859) đời vua Tuyên tông nhà Đường, Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền về trụ chùa này, đại chấn Thiền phong, người học từ khắp nơi tụ về rất đông. Cứ theo Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục, thì chùa này ở góc Đông nam thành Trấn châu, tỉnh Hà bắc, mặt nhìn xuống (lâm) sông (tế) Hô đà, vì thế có tên là Lâm tế. Năm Hàm thông thứ 8 (867), ngài Nghĩa huyền thị tịch đệ tử xây tháp để thờ áo bát của Ngài, gọi là tháp Lâm Tế Thiền Sư. Đến các đời Kim, Nguyên, tháp được trùng tu nhiều lần. Khoảng năm Thiên thuận (1457-1464) đời vua Anh tông nhà Minh, có đúc thêm hồng chung. Hiện này chùa có Phật điện, tháp, hồng chung, v.v... Tháp được gọi là Thanh tháp, hình 8 góc, bằng gạch, 9 tầng, cao khoảng 100 thước. II. Lâm Tế Tự. Chùa ở núi Viên sơn, Đài bắc, Đài loan, được sáng lập vào năm 1909. Chùa này nguyên là đạo tràng trọng yếu của tông Lâm tế, Nhật bản. Năm Dân quốc 34 (1945), được pháp sư Bản viên ở núi Quan âm tiếp quản. Về sau, có các sư: Thịnh mãn, Tâm ngộ, Bạch thánh, v.v... lần lượt trụ trì, sửa sang, mở mang thêm mới có qui mô như ngày nay. Bắt đầu từ năm Dân quốc 71 (1982), chùa này là nơi họp hội nghị của Hội Tăng già Phật giáo Thế giới.

lâm tề

Gần giờ ngọ—Approaching the midday, or near noon.

Lâm Tỳ Ni

(s, p: Lumbinī, 藍毘尼): âm dịch là Lam Tỳ Ni (嵐毘尼), Lưu Tỳ Ni (流毘尼), Lưu Di Ni (流彌尼), Lâm Mâu Ni (林牟尼), Lưu Dân (流民), Luận Dân (論民), v.v., ý dịch là Lạc Thắng Viên Quang (樂勝圓光), Khả Ái (可愛), Hoa Hương (華香), Giải Thoát Xứ (解脫處), là khu rừng vườn nằm ở phía Đông thành Ca Tỳ La Vệ (迦毘羅衛城) thuộc miền Bắc, Trung Ấn Độ (hiện tại là Nepal). Đây là vùng đất nơi đức Thế Tôn đản sanh, là một trong bốn thánh địa lớn của Phật Giáo. Trong Cao Tăng Pháp Hiển Truyện (高僧法顯傳) có đoạn rằng: “cách 50 dặm về phía đông của thành Ca Tỳ La Vệ, có khu vườn của nhà vua, vườn tên là Luận Dân, Ma Da Phu Nhân đã vào tắm nơi hồ của khu rừng này, tắm rửa xong khi ra khỏi hồ, đi khoảng 20 bước trên bờ hồ, đưa tay vin lấy nhánh cây, mặt xoay về hướng Đông, hạ sanh thái tử Tất Đạt, khi thái tử bước xuống đất thì bước đi 7 bước”. Trong quyển 6 của Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) của ngài Huyền Trang (玄奘, 602-664) cũng có đoạn ký sự về khu vườn rừng này, trong đó kể rằng các tín đồ Phật Giáo đã đến đây chiêm bái không ngớt nhưng đời sau nó đã bị phế tuyệt và khu vực này không ai hề biết đến. Đến thời cận đại người ta đã phát hiện ra trụ đá của vua A Dục từ nơi khu vườn này và đã xác định được vùng đất này chính là di tích của vườn Lâm Tỳ Ni nhờ có bài minh khắc trên trụ đá. Di tích của khu vườn đã được khai quật, hồ tắm, đền tháp, v.v., phần nhiều đã được phát hiện và hiện tại đang được khôi phục lại như cũ.

lâm tỳ ni

Lumbinī (S)Nơi đản sinh đức Phật (nay là xã Rumnidhchi, hạt Aouth, phía tây nam Nepal), bên gốc cây Vô ưu (Asaka). Xưa thuộc nước Câu ly (Koli), thành Ca tỳ la vệ (Kapilavastu), quê của hoàng hậu Ma Da. ; See Lumbini in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Lâm Tì Ni in Vietnamese-English Section.

Lâm Xuân Trai

(林春齋, Hayashi Shunsai): xem Lâm Nga Phong (林鵞峰, Hayashi Gahō, 1618-1680) bên trên.

lâm đàn

6504謂僧尼登臨戒壇,舉行授戒之儀式。此等登壇授戒之僧尼,即稱為臨壇大德。臨壇大德之設置始於唐永泰元年(765),代宗命長安大興善寺建方等(大乘)戒壇,並敕京城僧尼各置臨壇大德十人,即三師七證。又會昌至大中年間(841~859),設有內臨壇(宮中戒壇)大德、外臨壇(一般寺內之戒壇)大德及內外臨壇大德。玄暢即為當時著名之內外臨壇大德。〔四分律行事鈔資持記卷上二、大宋僧史略卷下、宋高僧傳卷十六、卷十七〕 ; (臨壇) Các vị Trưởng lão tăng hoặc ni lên đàn để cử hành nghi thức truyền giới. Các vị này được gọi là Lâm đàn đại đức. Lâm đàn đại đức bắt đầu được đặt ra vào niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765) đời Đường, khi vua Đại tông ban sắc kiến lập giới đàn Phương đẳng (Đại thừa) ở chùa Đại hưng thiện tại Trường an, đồng thời, sắc lệnh cho tăng ni trong kinh thành mỗi bộ lập ra 10 vị Lâm đàn đại đức, tức là Tam sư thất chứng. Từ khoảng năm Hội xương đến năm Đại trung (841-859) lại chia ra Nội lâm đàn đại đức (những vị Đại đức đăng đàn truyền giới trong cung), Ngoại lâm đàn đại đức (những vị Đại đức đăng đàn truyền giới tại các chùa viện)và Nội ngoại lâm đàn đại đức. Ngài Huyền sướng là vị Đại đức nổi tiếng của Nội ngoại lâm đàn thời bấy giờ. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng phần 2; Đại Tống tăng sử lược Q.hạ; Tống cao tăng truyện Q.16, 17].

lâm đại canh

3311(1917~ ) 臺灣彰化人。性情純厚樸實,樂善好施。自民國三十五年(1946)接任主持彰化曇花佛堂後,致力整頓,並加修葺,使創建於清嘉慶二十五年(1820)之古剎,煥然一新。四十四年膺選彰化縣佛教支會第三屆理事長,連任至今,六十三年當選中國佛教會常務監事、中韓關係促進會委員。曾受彰化地方法院聘爲司法保護輔導員。多年來,致力各項社會慈濟事業,屢獲縣、省及中央嘉獎。

lâm đằng

Thức ăn của người kiếp sơ (không có thứ gì khác ngoài loại cây trong rừng “Lâm Đằng”)—Vegetable food, used by men at the beginning of a kalpa.

lâm ấp quốc

3311位於中南半島東部之古國名。又作臨邑國。約在今越南南部順化等處。此地原係占族(Cham)之根據地,西漢設爲日南郡象林縣,稱爲象林邑,略去象,故稱林邑。東漢末年,有名爲區連者,殺害縣令,自稱林邑國王。晉以後屢向中國朝貢。隋大業年間(605~616),隋將劉方征服之,設置林邑郡。唐至德年間(756~757)改稱環王。其後定都於占城(Chamthanh),故此地又稱占城、瞻波(Champa)、占婆、占波、摩訶瞻波、占不勞(Cham-pura)。北宋淳化二年(991),該國沙門淨戒來華,奉獻如意、金銅鈴杵、龍腦香。 此外,據日本南天竺婆羅門僧正碑、東大寺要錄卷二大安寺菩提傳來記等載,唐開元十八年(730),林邑國沙門佛哲(佛徹)偕同菩提僊那至日本,傳入菩薩舞、拔頭舞、林邑樂等。至明代,爲安南所滅。於清光緒十二年(1886)之中法條約中,成爲法國之保護國。佛教傳入之年代不詳,然據隋書南蠻列傳第四十七載,人民多信奉佛法,文字與天竺同;又舊唐書南蠻列傳第一四七載,人民特信佛法,出家者眾多。可知隋代以前其地即有佛教之信仰。另據南海寄歸內法傳卷一載,小乘佛教流傳於此,尤以正量部爲然。〔大唐西域記卷十、大唐西域求法高僧傳卷下、佛祖統紀卷四十三、梁書諸夷列傳第四十八〕 ; (林邑國) Tên một nước xưa nằm ở đông bộ bán đảo Trung nam, nay là vùng Trung và nam bộ Việt nam. Vùng đất này vốn là căn cứ địa của dân tộc Chàm. Nhà Tây Hán đặt huyện Tượng lâm, quận Nhật nam, gọi là Tượng lâm ấp, gọi tắt là Lâm ấp. Vào những năm cuối đời Đông Hán, có người tên là Khu liên, giết quan huyện, tự xưng là Lâm ấp quốc vương. Từ đời nhà Tấn về sau, Lâm ấp thường triều cống Trung quốc. Khoảng năm Đại nghiệp (605-616) đời Tùy, tướng nhà Tùy là Lưu phương đánh chiếm nước này đặt làm quận Lâm ấp. Khoảng năm Chí đức (756-757) đời Đường, đổi tên là Hoàn vương, đóng đô ở Chiêm thành (Chamthanh), vì thế Lâm ấp còn được gọi là Chiêm ba (Champa), Chiêm bà, Ma ha chiêm ba, Chiêm bất lao (Champura). Vào năm Thuần hóa thứ 2 (991) đời Bắc Tống, vị sa môn nước này tên là Tịnh giới đến Trung quốc dâng ngọc như ý, chuông đồng và hương long não. Ngoài ra, cứ theo văn bia Nhật bản Nam thiên trúc Bà la môn tăng chính và Đại an tự Bồ đề truyền lai kí trong Đông đại tự yếu lục quyển 2 ghi chép, thì vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, sa môn nước Lâm ấp tên là Phật triết (Phật triệt) cùng đi với ngài Bồ đề tiên na đến Nhật bản, truyền vào vũ điệu Bồ tát, Bạt đầu, nhạc Lâm ấp, v.v... Đến đời Minh, Chiêm thành bị Việt nam thôn tính. Vào năm Quang tự 12 (1886) thì trở thành thuộc địa của nước Pháp. Phật giáo được truyền vào Chiêm thành thời nào không được rõ. Nhưng theo Tùy thư Nam man liệt truyện thứ 47, thì phần đông nhân dân nước này tin theo Phật giáo, văn tự giống với văn tự Thiên trúc. Còn Cựu đường thư Nam man liệt truyện thứ 147 cũng cho biết, nhân dân đặc biệt tin Phật pháp và rất nhiều người xuất gia. Như vậy, ta có thể suy đoán trước đời Tùy, Phật giáo đã được truyền vào Chiêm thành rồi. Ngoài ra, cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1, thì tại Chiêm thành Phật giáo Tiểu thừa, đặc biệt là Kinh lượng bộ, rất thịnh hành. [X. Đại đường tây vực kí Q.10; Đại đường cầu pháp cao tăng truyện Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.43; Lương thư chư di liệt truyện thứ 48].

Lâm 臨

[ja] リン rin ||| (1) To approach. To go to a certain place. (2) To descend to; to come to; near to; on the point of. (3) To follow or copy a model; to imitate. (4) Face, confront, be on the verge of, come upon. => 1. Đến gần, lại gần. Đến một nơi nào đó. 2. Hạ cố; đến; gần đến; lúc đặc biệt, thời điểm đặc biệt. 3. Tuân thủ hay sao chép theo một mẫu mực; bắt chước. 4. Đương đầu, giáp mặt với, kề cận với, chợt bắt gặp, chợt thấy.

lân

1) Láng giềng: Neighbor—Neighbouring. 2) Lân cận: Adjacent—Near. 3) Con Lân: A female unicorn.

lân a già sắc

6194梵語 agha-sāmantaka。意謂接鄰阿伽之色。指虛空界之色。又作鄰礙色、鄰阿迦色。俱舍論卷一(大二九‧六下):「傳說竅隙即是明闇,非離明闇,竅隙可取,故說空界,明闇為體;應知此體不離晝夜,即此說名鄰阿伽色。傳說阿伽謂積集色,極能為礙,故名阿伽;此空界色,與彼相鄰,是故說名鄰阿伽色。有說阿伽即空界色,此中無礙,故名阿伽;即阿伽色,餘礙相鄰,是故說名鄰阿伽色。」 上引之中,共揭出三種說法,三說皆以鄰阿伽色為虛空界之色,然所含意義各異。(一)第一說,認為鄰阿伽即指以明、闇為其體之空隙,而空隙即是空界,故鄰阿伽色即為空界之色。(二)第二說,梵語之 agha(阿伽)為積集、障礙之義,指積集有形而粗雜之物質(色法),既會受其他物質所障礙,亦會對其他物質構成障礙。準此,則虛空界之色即與此種具有障礙性之物質(阿伽)相鄰接,故稱鄰阿伽色,意指「鄰於阿伽之色」。(三)第三說,以 agha 為無礙之義,指無形而微細的虛空界之色,此虛空界之色與其他具有障礙性之物質相緊鄰,故稱為鄰阿伽色,意指「鄰近有礙物質之阿伽色」。 此種虛空界之色,在漢文佛典中常譯為鄰阿伽色,或直譯為空界色,而未界定其義為三說中之任何一說,故後之論疏及音義書言及鄰阿伽色或空界色時,必廣作注解;而西藏譯之俱舍論則譯之為 thogs-medñe-ḥkhor(鄰無礙),即是採用第三說。〔俱舍釋論卷一、俱舍論光記卷一、俱舍論寶疏卷一下、玄應音義卷二十四〕(參閱「阿伽色」3616) ; (鄰阿伽色) Phạm: Agha-sàmantaka. Cũng gọi Lân ngại sắc, Lân a ca sắc. Màu sắc của hư không. Có 3 thuyết. 1. Thuyết thứ nhất: Chủ trương rằng Lân a già tức chỉ cho kẽ hở lấy sáng, tối làm thể của nó, mà kẽ hở thì tức là không giới, vì thế, Lân a già sắc tức là màu của hư không. 2. Thuyết thứ hai: A già (Phạm: Agha) chỉ cho sự tích tụ vật chất(sắc pháp) có hình tướng mà thô tạp; nó đã bị những vật chất khác làm trở ngại thì nó cũng sẽ làm cho những vật chất khác bị trở ngại. Cứ theo đó thì màu sắc của hư không gần kề với loại vật chất (A già) có tính chướng ngại, cho nên gọi là Lân a già sắc, nghĩa gần với màu sắc a già. 3. Thuyết thứ 3: A già (Phạm: Agha) nghĩa là không ngăn ngại, chỉ cho màu sắc của hư không vô hình nhỏ nhiệm, màu sắc này của hư không gần sát với những vật chất khác có tính chướng ngại, vì thế gọi là Lân a già sắc. Loại màu sắc hư không này, trong các kinh Phật chữ Hán thường được dịch là Lân a già sắc, hoặc dịch thẳng là Không giới sắc, nhưng chưa xác định nó thuộc nghĩa nào trong 3 nghĩa nêu trên, cho nên các bộ luận sớ hoặc các sách âm nghĩa đời sau, khi đề cập đến A già sắc hoặc Không giới sắc, thì cứ tự do chú giải. Nhưng luận Câu xá bản dịch Tây tạng thì dịch màu sắc a già là thogsmed-ĩe-#khor, nghĩa là Lân vô ngại, tức là dùng theo thuyết thứ ba. [X. Câu xá thích luận Q.1; Câu xá luận quang kí Q.1; Câu xá luận bảo sớ Q.1 phần dưới; Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. A Già Sắc).

Lân chỉ trình tường

(麟趾呈祥): Lân chỉ (麟趾) là chân của con lân. Kỳ Lân là một linh vật; như trong Lễ Ký (禮記) có câu: “Lân, Phụng, Quy, Long vị chi Tứ Linh (麟、鳳、龜、龍謂之四靈, Lân, Phụng, Rùa, Rồng được gọi là bốn linh vật).” Như vậy, Kỳ Lân là linh vật đứng đầu trong Tứ Linh. Trong Mao Thi Thảo Mộc Điểu Thú Trùng Ngư Sớ (毛詩草木鳥獸蟲魚疏) của Lục Cơ (陸機) có giải thích rằng: “Lân, quân thân, ngưu vĩ, mã túc, hoàng sắc, viên đề, nhất giác, giác đoan hữu nhục, âm trung chung lữ, hành trung quy củ, du tất trạch địa, bất lí sanh trùng, bất tiễn sanh thảo, bất quần cư, bất lữ hành, bất nhập hãm tịnh, bất duy la võng (麟、麕身、牛尾、馬足、黃色、圓蹄、一角、角端有肉、音中鐘呂、行中規矩、遊必擇地、不履生蟲、不踐生草、不群居、不侶行、不入陷阱、不罹羅網, Lân có thân con hươu, đuôi trâu, chân ngựa, màu vàng, gót chân tròn, một sừng, đầu sừng có thịt, tiếng vang như chuông, khi đi có quy củ, đi chơi có chốn, không đạp côn trùng sống, chẳng dẫm lên cỏ sống, không sống thành đàn, chẳng sánh bạn cùng đi, không vào hầm nguy hiểm, chẳng sa lưới giăng).” Bên cạnh đó, trong Thi Tập (詩輯) của Nghiêm Xán (嚴粲) có giải thích thêm như sau: “Hữu túc giả nghi đệ, duy lân chi túc, khả dĩ đệ nhi bất đệ; hữu ngạch giả nghi để, duy lân chi ngạch, khả dĩ để nhi bất để; hữu giác giả nghi xúc, duy lân chi giác, khả dĩ xúc nhi bất xúc; nhân giả chí nhân tắc xuất (有足者宜踶、唯麟之足、可以踶而不踶、有額者宜抵、唯麟之額、可以抵而不抵、有角者宜觸、唯麟之角、可以觸而不觸、王者至仁則出, Loài có chân thì đi được, chỉ có chân của lân có thể đi mà không đi; loài có trán thì chống cự được, chỉ có trán của lân có thể chống cự mà không chống cự; loài có sừng thì húc được, chỉ có sừng của lân có thể húc mà không húc; bậc vương giả có đức nhân lớn tất xuất hiện.” Như vậy, Lân là một linh vật được cấu thành bởi 4 loại động vật là hươu, trâu, ngựa và cá. Loại động vật này vốn không tồn tại mà chỉ do người xưa tưởng tượng và sáng tạo thành. Cuộc sống của nó rất thanh cao, từ tâm rộng lớn, không hề làm tổn thương muôn vật; cho nên, đó cũng là điềm lành xuất hiện đấng minh quân. “Lân chi chỉ (麟之趾)” hay “Lân chỉ” là ví dụ để tán tụng điều chí cao chí mỹ; được tìm thấy trong Thi Kinh (詩經), phần Chu Nam (周南): “Nhiên tắc quan thư lân chỉ chi hóa, vương giả chi phong, cố hệ chi Chu Công (然則關雎麟趾之化、王者之風、故系之周公, vì vậy Quan Thư hóa thành chân lân, phong cách của vương giả, cho nên có liên quan đến Chu Công)”. Câu “Lân chỉ trình tường” có nghĩa là chân của con kỳ lân báo hiệu điềm lành. Câu này vốn xuất xứ từ trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林) quyển 2, phần Tổ Tôn Phụ Tử (祖孫父子): “Xưng nhân hữu lịnh tử viết lân chỉ trình tường (稱人有令子曰麟趾呈祥, Ca tụng người có con quý gọi là lân chỉ trình tường)”; được dùng trong dịp hôn lễ để chúc tụng sanh được quý tử nhân hậu, hay ví dụ cho con cháu hưng thạnh, đông đúc. Bên cạnh đó, còn có một số câu chúc tụng khác liên quan đến con lân như: “Lân tử phụng sồ (麟子鳳雛, Lân con phụng con)” để ví dụ cho con cháu quý tộc, “Lân can phụng tủy (麟肝鳳髓, gan lân tủy phụng)” để ví cho loại thực phẩm vô cùng hy hữu, “Phụng mao lân giác (鳳毛麟角, lông phụng sừng lân)” để xưng tán loại vật phẩm trân quý, v.v. Câu “thừa gia lân chỉ trình tường (承家麟趾呈祥)” trong lòng văn sớ trên có nghĩa là kế thừa gia đình có con cháu hiền lương, đông đúc.

lân cận

Near—Next to—Neighboring—Approaching—Adjoining—Approximate.

lân cận thích

6193梵語 avyayī-bhāva。為梵語之不變化合成語。係六合釋之第五。乃二語以上所合成之副詞的複合詞,原語有「不變化」之義。其前節之語為副詞、關係詞等之不變化詞,後節之語為名詞之複合詞。然華嚴經隨疏演義鈔卷三十八解釋鄰近釋之義,則從鄰近而立名,如四念住之意義,本係以「慧」為體,即以慧觀察身、受、心、法;今言「念」者,即謂明記不忘,而慧則為揀擇照了。以念與慧,其義鄰近,故隱慧之名而言四念,此乃所謂隱己從他。又如「意」與「識」之類,亦皆如是,故稱鄰近釋。 鄰近釋又可分為依主鄰近、有財鄰近兩種。華嚴經隨疏演義鈔卷三十八(大三六‧二八八中):「一依主鄰近,如有人近長安住,有人問言:『為何處住?』答云:『長安住。』此人非長安,以近長安故,云長安住,以分取他名,復是依主鄰近。二有財鄰近,如問:『何處人?』答云:『長安。』以全取他處,以標人名,即是有財,以近長安,復名鄰近。」〔俱舍論光記卷一、大乘法苑義林章卷一總料簡語、六離合釋法式略解(智旭)〕(參閱「六合釋」1255) ; (鄰近釋) Phạm: Avyayì-bhàva. Hán dịch: Bất biến hóa. Từ được dùng để giải thích những danh từ kép trong Tiếng Phạm, là 1 trong 6 hợp thích (Lục hợp thích). Khi giải thích về nghĩa Lân cận thích, thì Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 38 theo nghĩa lân cận (ở gần kề) mà lập danh; chẳng hạn như Tứ niệm trụ vốn lấy Tuệ làm thể, tức là dùng trí tuệ quán xét thân, thụ, tâm, pháp. Nhưng ở đây lại dùng Niệm, có nghĩa ghi nhớ rõ ràng không quên, còn Tuệ thì có nghĩa soi rọi chọn lựa.Vì nghĩa của Niệm và Tuệ gần kề nhau (tương tự như nhau) nên giấu Tuệ đi mà nói Tứ niệm trụ thay vì Tứ tuệ trụ, cũng như Ý và Thức đều thuộc loại này, cho nên gọi là Lân cận thích. Lân cận thích lại được chia làm 2 loại là: Y chủ lân cận và Hữu tài lân cận. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 38 (Đại 36, 288 trung) nói: Thứ nhất là Y chủ lân cận, như có người ở gần Trường an, người ta hỏi ở đâu thì ông ta trả lời là ở Trường an, chỉ vì ở gần Trường an mà nói ở Trường an, bởi thế gọi là Y chủ lân cận. Thứ 2 là Hữu tài lân cận, như hỏi: Người ở đâu? Đáp: Trường an. Vì lấy toàn địa danh để gọi tên người nên là hữu tài, vì gần Trường an nên là lân cận. [X. Câu xá luận quang kí Q.1; Tổng liệu giản ngữ trong Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1; Lục li hợp thích pháp thức lược giải (Trí húc)]. (xt. Lục Hợp Thích).

lân cực

6195指鄰接極果之位者。如等覺位僅次於妙覺位(最高佛位),稱為鄰極。又佛陀大弟子舍利弗有「鄰極亞聖」之稱。〔三論玄義〕(參閱「等覺」5175) ; (鄰極) Giai vị gần kề cực quả, như Đẳng giác gần sát với giai vị Diệu giác (tức là Phật quả) nên gọi là Lân cực. Ngoài ra, vị Đại đệ tử của đức Phật là ngài Xá lợi phất còn có tên là Lân Cực Á Thánh. [X. Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Đẳng Giác).

lân già

6192梵語 liṅga 之音譯。又作林伽。指男性生殖器。為印度濕婆教與性力派之崇拜對象,其寺廟多聳立鄰伽石像,性力派教徒且佩戴鄰伽標幟。 ; (鄰伽) Phạm:Liíga. Cũng gọi Lâm già. Chỉ cho sinh thực khí của nam tính, là đối tượng sùng bái của phái Thấp bà và phái Tính lực ở Ấn độ. Các tín đồ của phái Tính lực thường đeo biểu tượng Lân già trong mình.

lân giác

1) Độc giác lân: Lân một sừng—The unicorn with its single horn. 2) Độc Giác Phật: Pratyeka-buddha.

lân giác dụ

如獨覺乘證得中說。

lân giác dụ độc giác

如獨覺習中說。二解如獨覺中說。 ; 6932又作麟角獨覺、麟喻獨覺。指獨居證悟之緣覺人。為「部行獨覺」之對稱。二種獨覺之一。獨覺,又譯作緣覺。據俱舍論卷十二、俱舍論光記卷十二記載,獨覺中麟角喻者,要修百大劫菩提之資糧,然後方成麟角喻獨覺。以獨居悟道,猶如麟之僅具一角,故稱麟角喻獨覺。(參閱「部行獨覺」4814、「緣覺」6132) ; (麟角喻獨覺) Cũng gọi: Lân giác độc giác, Lân dụ độc giác. Đối lại: Bộ hành độc giác. Chỉ cho bậc Duyên giác một mình tu hành chứng ngộ, là một trong 2 bậc Độc giác (Duyên giác). Cứ theo Câu xá luận quyển 12 và Câu xá luận quang kí quyển 12, thì bậc Lân giác dụ trong Độc giác cần phải tu 100 đại kiếp, tích tụ tư lương bồ đề mới thành Lân giác dụ độc giác. Vì ở 1 mình tu tập mà ngộ đạo, giống như con lân chỉ có 1 sừng, nên gọi là Lân giác dụ độc giác. (xt. Bộ Hành Độc Giác, Duyên Giác).

lân hư

1) Gần giống như hư không: Next to nothing. 2) Phần nhỏ nhất của vi trần hay nguyên tử: The minutest particle or an atom.

lân la

To get (come) near.

lân lý

Hamlet and village.

lân mẫn

See Liên Mẫn.

lân mẫn bồ tát

Kṛpalu (S)Hữu Bi Bồ tátTên một vị Bồ tát.

Lân mẫn 憐愍

[ja] レンビン renbin ||| (anukampā). Compassion, pity, mercy. 〔法華經 T 262.9.18c24〕 => (s: sanukampā). Lòng thương yêu, lòng trắc ẩn, lòng khoan dung.

lân trân

Hạt minh châu của nhà láng giềng không giúp ích gì được ta—A neighbour's pearl which is no aid to me.

lân trí

Gần giống như trí huệ của Phật—Similar to the last entry or the Buddha's wisdom.

lân viên

Gần đến chỗ toàn giác, giai đoạn trước giai đoạn toàn giác—Near to perfect enlightenment, the stage before it.

lân đan

6194在僧堂與眾寮中,與自己比鄰之左右單位。又稱鄰位、連單、鄰肩。敕修百丈清規卷六日用軌範條(大四八‧一一四五上):「喫食之法(中略)不得抓頭,恐風屑落鄰單鉢中。」〔禪林象器箋座位門〕(參閱「單」4910) ; (鄰單) Cũng gọi Lân vị, Liên đơn, Lân kiên. Chỉ chỗ ngồi hoặc chỗ nằm 2 bên phải và trái của mình trong Tăng đường và Chúng liêu. Điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6 (Đại 48, 1145 thượng), nói: Lúc ăn uống (...) không được gãi đầu, sợ gió làm bay gàu (vật dơ) vào trong bát của người ngồi bên cạnh(lân đơn). [X. môn Tọa vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Đơn).

lân đơn

Các vị sư chùa lân cận, ngồi bên phải hay bên trái thầy trụ trì mỗi khi có lễ—One's neighbouring monks, who seat in the right and left seats during a ceremony.

lâu

1) Thời gian dài: A long time—For a long stretch (span) of time—Long. 2) Nhà lầu: Storied building—Upper storey. 3) Một trong 18 địa ngục: One of the eighteen hells. 4) Xương sọ (cô lâu): Kapala (skt)—A skull.

lâu 100 kỳ kiếp

Kalpasata (S), As long as 100 kalpas.

lâu chí bồ tát

Ruckika (S)Tên một vị Bồ tát.

lâu chí phật

6094樓至,梵名 Rudita 或 Rucika。為賢劫千佛中之最後成佛者。又作盧遮佛、盧至佛、魯支佛、樓由佛。意譯愛樂佛、啼哭佛。依據慧琳音義卷十八載,此佛即執金剛神(金剛力士),然此說乃後世之誤傳。從容錄第七十七則(大四八‧二七六下):「梵語樓至,此云啼泣。賢劫千佛,為千王子,末後得籌,最後成佛,遂啼泣云:『我何薄祐,窮底得籌?』忽復笑云:『我當盡取九百九十九佛方便粧嚴。』今護法神執杵者是。」〔法苑珠林卷十、慧琳音義卷十一〕(參閱「賢劫千佛」6176) ; Rudita (S). ; Rucika (skt)—Lô Chí Phật—Lư Chí Phật—Lâu Do Phật—Vị Phật cuối cùng trong 1.000 vị Phật hiện kiếp—The last of the 1,000 Buddhas of the present kalpa. ; (樓至佛) Lâu chí, Phạm: Rudita, Rucika. Cũng gọi Lô già Phật, Lô chí Phật, Lỗ chi Phật, Lâu do Phật. Hán dịch: Ái nhạo Phật, Đề khốc Phật. Đức Phật ra đời sau cùng trong số 1.000 đức Phật thuộc kiếp Hiền. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 18, đức Phật này tức là thần Chấp kim cương (Lực sĩ Kim cương), nhưng thuyết này là do người đời sau truyền lầm. Thung dung lục tắc 77 (Đại 48, 276 hạ), ghi: Tiếng phạm là Lâu chí, Trung quốc dịch là Đề khấp. Một nghìn vị Phật ở kiếp Hiền là một nghìn vị Vương tử. Trong đó, vị Vương tử cuối cùng được thụ kí thành Phật là ngài Lâu chí, nên ngài khóc mà than rằng: Tại sao ta bạc phúc được thụ kí sau cùng? Nhưng rồi ngài bỗng cười mà nói: Ta sẽ được hưởng hết những phương tiện trang nghiêm của 999 vị Phật!. [X. Pháp uyển châu lâm Q.10; Tuệ lâm âm nghĩa Q.11]. (xt. Hiền Kiếp Thiên Phật).

lâu các

6095梵語 kūṭāgāra,巴利語同。為具有重層之建築物。或作為藏書、繪像、登眺遊覽景物之用。經典中常有此語,例如長阿含經卷二十(大一‧一三一上):「城有四門,門有欄楯,七重城上,皆有樓閣臺觀周匝圍遶。」阿彌陀經(大一二‧三四七上):「上有樓閣,亦以金、銀、琉璃、玻璃、硨磲、赤珠、碼碯而嚴飾之。」法華經卷三化城喻品(大九‧二七上):「重門高樓閣,男女皆充滿。」 ; (樓閣) Phạm,Pàli:Kùỉàgàra. Lầu gác, hoặc dùng để tàng trữ kinh sách, tranh tượng, hoặc làm chỗ đứng nhìn ra xa để thưởng ngoạn cảnh vật. Kinh Trường a hàm quyển 20 (Đại 1, 131 thượng), nói: Thành có 4 cửa, cửa có lan can, trên thành có lầu gác, đài quan bao bọc chung quanh. Kinh A di đà (Đại 12, 347 thượng), nói: ... Trên có lầu gác, đều được trang sức bằng vàng bạc, lưu li, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não...

lâu di cắng la phật

Lokesvararaja (skt)—Thế Tự Tại Vương Phật hay Phật Nhiêu Thế là vị cổ Phật tiếp nối Định Quang Phật—An ancient Buddha, successor to Ting-Kuang Buddha.

lâu do

See Lâu Chí Phật.

lâu do phật

Xem Lư Chí Phật.

lâu dài

Durable—Enduring—Lasting.

lâu hán

Rohana (S)Tên một nhà sư Ấn độ.

lâu khôi

Một cây cột than cháy, ví thế giới nầy như một đám cháy lớn vậy—A tower or a pile of charcoal, e.g. the world of conflagration.

lâu khôi kinh

Kinh nói về thế giới Ta Bà, đang bốc cháy thành tro than của chúng ta—The sutra mentioned about the Saha world, the world of conflagration.

lâu lê

Lưu ly—Lapis lazuli.

lâu man

Chuỗi đầu lâu được những người Lâu Man xâu lại và đội trên đầu—A chaplet or wreath of skulls, worn by Kapalikas, a Sivaitic sect; kapali is an epithet of Sivaas the skull-wearer.

lâu man ngoại đạo

6885外道之一。此類外道取人之髏骨為鬘而懸於頸項。又彼等通常棲隱於枯木、石堆、塚側等處。〔大慈恩寺三藏法師傳卷四〕 ; (髏鬘外道) Một trong các ngoại đạo ở Ấn độ. Loại ngoại đạo này dùng xương đầu lâu của người làm vòng đeo quanh cổ. Thông thường họ ở những nơi cây khô, đống đá, gò mả, v.v... [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4].

lâu thán kinh

6095凡六卷。全名大樓炭經。西晉法立、法炬共譯。收於大正藏第一冊。本經敘述世界之成壞情形。與長阿含之世記經同本。隋代闍那崛多譯之為「起世經」,隋代梵摩笈多譯之為「起世因本經」。 ; (樓炭經) Gọi đủ: Đại lâu thán kinh. Kinh, 6 quyển, do các ngài Pháp lập, Pháp cự cùng dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này nói về quá trình thành hoại của thế giới. Những bản dịch khác của kinh này còn có: Kinh Thế kí trong Trường a hàm, kinh Khởi thế, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, kinh Khởi thế nhân bản, do ngài Phạm ma cấp đa dịch vào đời Tùy.

lâu đà la

Rudra (skt)—Thần gió bão—The howler, or god of tempests.

lâu đời

A long time ago.

Lâu-đậu

xem A-na-luật.

lây lất

To live from day to day.

lã bất vi

Lu Pu-wei (C), Lu Buwei (C)(?-235 B.C.E.) Một thương nhân giàu có thời Chiến quốc, tác giả quyển Lã thị Xuân Thu.

lã thuần dương

Lu Ch'un yang (C)Một đệ tử đạo gia vào thế kỷ 12, phái Truyền Chân đạo.

lã thị xuân thu

Lu-shih ch'un-ch'iu (C)Một tác phẩm triết học Trung quốc cổ vào thế kỷ thứ 3 do Lã Bất Vi sưu tập.

lãm

6865悉曇字???(raṃ)。又作濫。乃???(羅字,為五大中火大之種子)加大空點而成,表示燒除塵垢,為淨除煩惱之慧火之種子。與???(鑁字,表智水)相對。故密教修法時,以覽字觀為清淨依正二報之諸法,結誦印明。加持香水時,以覽、鑁二字加持之。〔大日經疏卷八〕 ; 1) Nhìn: Thưởng lãm—To view—To look at. 2) Ôm vào lòng: To hold in the arms—To embrace. ; (覽) Cũng gọi Lạm. Là chữ (raô) Tất đàm. Chữ này được tạo thành bởi chữ (la) chủng tử của Hỏa đại trong 5 đại và thêm dấu chấm .(đại không), tượng trưng cho sự đốt cháy các bụi nhơ, là chủng tử của lửa trí tuệ diệt sạch các phiền não. Chữ này tương đối với chữ (Tông,biểu thị nước trí tuệ). Trong Mật giáo, khi tu pháp, hành giả dùng chữ Lãm quán tưởng các pháp y báo chính báo thanh tịnh, kết ấn, tụng chân ngôn Khi gia trì nước thơm thì dùng chữ Lãm, chữ Tông để gia trì. [X. Đại nhật kinh sớ Q.8].

lãm thật thành quyền

6933華嚴宗判教之用語。謂持真實教法而作權巧方便之教。為「泯權歸實」之對稱。華嚴宗智儼、法藏等,將如來一代之聖教大別為三乘與一乘,更於一乘之中分判同、別二教,而以法華經會三歸一之說判為「同教一乘」,華嚴經十十無盡之說判為「別教一乘」。法藏於華嚴五教章卷一釋同教一乘,設立分諸乘、融本末二門。融本末即謂同教之名義係以一乘為本,以三乘為末,融會三乘與一乘二者;其下復分泯權歸實、攬實成權二門。其中,泯權歸實即一乘,攬實成權即三乘。 ; (攬實成權) Đối lại: Dẫn quyền qui thực. Vận dụng chân thực thành tạm thời. Nghĩa là nắm giữ giáo pháp chân thực mà vận dụng thành phương tiện tạm thời một cách khéo léo. Đây là thuật ngữ phán giáo của tông Hoa nghiêm. Ngài Trí nghiễm, Pháp tạng, v.v... của tông Hoa nghiêm chia Thánh giáo Như lai nói trong 1 đời làm 2 loại là Tam thừa và Nhất thừa. Rồi trong Nhất thừa lại chia thành Đồng giáo và Biệt giáo, lấy thuyết Hội tam qui nhất (hội 3 về 1) của kinh Pháp hoa làm Đồng giáo nhất thừa, thuyết Thập thập vô tận của kinh Hoa nghiêm làm Biệt giáo nhất thừa. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, khi giải thích về Đồng giáo nhất thừa, ngài Pháp tạng chia làm 2 môn: Phân chư thừa môn và Dung bản mạt môn. Dung bản mạt tức là danh nghĩa của Đồng giáo là lấy Nhất thừa làm bản(gốc), lấy Tam thừa làm mạt(ngọn), rồi mới dung hợp Nhất thừa và Tam thừa. Kế đó lại chia làm 2 môn: Dẫn quyền qui thực (đưa tam thừa về chân thực) và Lãm thực thành quyền. Trong đó, Dẫn quyền qui thực tức là Nhất thừa, Lãm thực thành quyền tức là Tam thừa.

lãn

Lười biếng—Lazy—Negligent—Disinclined.

Lãn Am Đỉnh Nhu

(懶庵鼎需, Ranan Teiju, 1092-1153): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Lãn Am (懶庵), xuất thân vùng Trường Lạc (長樂, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Lâm (林). Ban đầu ông rất nổi tiếng là Tiến Sĩ, đến năm 25 tuổi nhân đọc Kinh Di Giáo, ông phát tâm xuất gia. Sau hơn 10 năm trường đi khắp nơi tìm thầy học đạo, đến khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (紹興, 1131-1162), ông đến tham yết Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) ở Dương Tự Am (洋嶼庵, Tỉnh Phúc Kiến) và được ấn khả. Về sau, ông sống nơi đây trong vòng 8 năm, đến cuối đời ông chuyển đến sống tại Đông Thiền Tự (東禪寺) và Tây Thiền Tự (西禪寺). Vào tháng 7 năm thứ 23 (1153) niên hiệu Thiệu Hưng, ông thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi đời và 37 hạ lạp. Ông có để lại cho hậu thế cuốn Lãn Am Nhu Thiền Sư Ngữ Yếu (懶庵需禪師語要) 1 quyển.

Lãn nạp

(懶衲): vị tu sĩ lười biếng (nghĩa đen). Từ nạp (衲) ở đây có nghĩa là áo được ghép lại từ nhiều mảnh vải vụn. Như trong bài Tặng Tăng Tự Viễn Thiền Sư (贈僧自遠禪師) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có câu: “Tự xuất gia lai trường tự tại, duyên thân nhất nạp nhất thằng hưu (自出家來長自在、緣身一衲一繩休, tự xuất gia nay luôn tự tại, suốt đời một dây một áo thôi).” Từ đó, áo của người tu sĩ được gọi là nạp y (衲衣). Như trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 4 có câu: “Nhất lãnh nạp y Đông hựu Hạ, nhiệt lai thoát khước lãnh lai xuyên (一領衲衣冬又夏、熱來脫卻冷來穿, một mảnh nạp y Đông lại Hạ, nóng thì cởi bỏ lạnh mặc vào).” Cho nên, nạp cũng là tiếng tự xưng của vị tu sĩ, có nghĩa là người thường mặc áo có ghép nhiều mảnh vải vụn. Một số từ thường dùng như lão nạp (老衲), nạp tăng (衲僧), nạp tử (衲子), bá nạp (百納), v.v. Như trong bài thơ Đề Hoành Sơn Tự (題橫山寺) của Đái Thúc Luân (戴叔倫, 732-789) nhà Đường có câu: “Lão nạp cúng trà oản, tà dương tống khách thuyền (老衲供茶碗、斜陽送客舟, lão nạp dâng trà chén, chiều tà tiễn khách thuyền).” Hay trong Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1553) quyển 23 có đoạn: “Cử túc hạ túc giai thị đạo tràng, động tĩnh khứ lai vô phi Phật sự, nhược ư nạp tăng môn hạ, nhất ngôn tương khế, thiên địa huyền thù (舉足下足皆是道塲、動靜去來無非佛事、若於衲僧門下、一言相契、天地懸殊, nâng chân hạ chân đều là đạo tràng, động tĩnh đến đi thảy là Phật sự, nếu trong môn hạ nạp tăng, một lời khế hợp, trời đất sai khác).” Trong bài thơ Thu Nhật Ức Lan Thượng Nhân (秋日憶暕上人) của Lý Đoan (李端, ?-?) nhà Đường lại có câu: “Vũ tiền phùng bá nạp, diệp hạ bế trùng quan (雨前縫百衲、葉下閉重關, trước mưa khâu bá nạp, dưới lá đóng cửa Thiền).” Hay trong Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異), chương Cái Tăng (丐僧) của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh có diễn tả rằng: “Tế Nam nhất tăng, bất tri hà hứa nhân, xích túc y bá nạp (濟南一僧、不知何許人、赤足衣百衲, có một vị tăng ở Tế Nam, chẳng biết người vùng nào, đi chân không và mang áo bá nạp).” Trong Truy Môn Cảnh Huấn (緇門警訓, Taishō Vol. 48, No. 2023) quyển 5 có câu: “Vi chủ giả thảng tồn nhân nghĩa, cảm thập phương nạp tử chi vân trăn, nhược nãi tư thọ nhân tình, chiêu thiên lí ố danh chi viễn bá (爲主者倘存仁義、感十方衲子之雲臻、若乃私受人情、招千里惡名之遠播, làm người chủ nếu còn nhân nghĩa, cảm mười phương tăng chúng thảy quay về, nếu thọ nhân tình riêng tư, mang ngàn dặm tiếng xấu đi truyền bá).” Như vậy, lãn nạp ở đây là từ tự xưng rất khiêm tốn; như Thiền Sư Nhất Hưu Tông Thuần (一休宗純, Ikkyū Sōjun, 1394-1481) của Nhật Bản có bút hiệu là Cuồng Vân Lãn Nạp (狂雲懶衲). Trong Lâm Gian Lục Hậu Tập (林間錄後集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1625) có câu: “Y phó tiểu nhi, đạo truyền lãn nạp, nãi nhĩ tương vi, cầu nhân vị pháp (衣付小兒、道傳懶衲、乃爾相違、求人爲法, y trao trẻ nhỏ, đạo truyền thầy lười, như vậy sai khác, tìm người vì đạo).” Hay trong Lô Sơn Thiên Nhiên Thiền Sư Ngữ Lục (廬山天然禪師語錄) quyển 15 có câu: “Vị liễu nhân duyên kim thượng tại, vô năng lãn nạp phó nhàn miên (未了因緣今尚在、無能懶衲付間眠, chưa rõ nhân duyên nay lại có, lão tăng phó mặc ngủ an nhàn).”

Lãn Toản

(懶瓚, Ransan, ?-?): tên gọi khác của Minh Toản (明瓚, Myōsan), tức ý muốn nói Hòa Thượng Minh Toản lười biếng, nhân vật sống dưới thời nhà Đường, vị tăng của Bắc Tông Thiền. Ông đến tham học với Tung Sơn Phổ Tịch (嵩山普寂) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến ẩn cư ở Nam Nhạc (南岳), Tỉnh Hồ Nam (湖南省), và do phát xuất từ phong cách sống rất lười biếng một cách thoát tục, nên người đời gọi ông là Lãn Toản (懶瓚) hay Lãn Tàn (嬾殘). Vào khoảng năm đầu (742) niên hiệu Thiên Bảo (天寳), ông đến ở tại Nam Nhạc Tự (南岳寺) suốt 20 năm ròng. Trong khoảng thời gian này ông có giao du với Lý Bí (李泌), vị Tướng Quốc nhà Nghiệp đang ẩn náu ở Nam Nhạc để lánh nạn Thôi Lý (崔李). Chính ông đã tiên đoán rằng 10 năm sau Lý Bí sẽ làm Tể Tướng. Sau khi qua đời, ông được ban cho thụy hiệu là Đại Minh Thiền Sư (大明禪師).

Lãn ông 懶翁

[ja] ランオウ Ran'ou ||| "Lazy old man." See 慧勤 Hyegŭn. => “Ông già lười”. Xem Huệ Cần (慧勤c: Hyegŭn).

lãn đọa

See Lãn.

lãng

Rỗng, uổng phí. [i]Duy Tắc ngữ lục[/i] q. 2 ghi: »忽 爾 三 寸 氣 斷、 眼 光 落 地、 百 骸 既 散、 萬 事 俱 休、 一 箇 游 魂、 隨 業 受 報、 豈 不 是 虛 生 浪 死、 甘 受 輪 回 者 哉? – [i]Chợt ba tấc hơi dứt, ánh mắt rơi xuống đất, xương cốt rã rời, mọi việc đều ngưng, một cái du hồn theo nghiệp thọ báo, há chẳng phải là sống rỗng chết uổng cam chịu luân hồi sao?[/i]«.

lãng mạn

Romantic.

Lãng nhiên

朗然; C: lăng rán; J: rōnen; |Rõ ràng, sáng sủa. Hiển nhiên, sáng tỏ.

Lãng nhiên 朗然

[ja] ロウネン rōnen ||| Clarity, brightness. Manifestly, clearly. => Rõ ràng, sáng sủa. Hiển nhiên, sáng tỏ. Vị lai 未來 [ja] ミライ mirai ||| (anāgata). A time not yet come; the future, the next generation, next age. => Vị lai 未來 (s: anāgata). Thời gian chưa đến; tương lai, thế hệ kế tiếp, thời đại tiếp theo.

lãng phí

To fritter away

lãng tai

The ears have lost their acuity.

Lãng Vịnh

(朗詠, Rōei): hình thức hát lớn tiếng các bài thi ca của Nhật, cũng là loại hình ca hát của Nhã Nhạc độc đáo của Nhật. Người ta thường chọn những bài Hán thi trong Hòa Hán Lãng Vịnh Tập (和漢朗詠集), Tân Soạn Lãng Vịnh Tập (新撰朗詠集), v.v., rồi đọc lên hòa với sự hợp tấu của các nhạc cụ như sáo Long Trúc (龍笛, Ryōteki), kèn loa Tất Lật (篳篥, Hichiriki) và kèn Sanh (笙, Shō), vài người chỉnh âm luật rồi độc xướng hay cùng xướng. Đặc trưng của nó là không có phách tiết và không cố định âm cao.

lãng đãng thập hoa châm

Lãng đãng là một loại thuốc độc, kẻ nào uống phải thì mắt nhìn thấy những ảo ảnh của kim và hoa, từ này dụ cho nhận giả làm thật, làm chuyện uổng công. Tiết Tịnh Từ Ngạn Sung Thiền sư trong NĐHN q. 20 ghi: »三 世 諸 佛、 無 中 說 有、 閬

lãng đạt ma vương

4621(836~841 在位,或謂 838~842 在位)西藏名 Glaṅ dar-ma)。又作朗達瑪王。以激烈彈壓佛教而聞名之西藏王。本名達磨(藏 Dar-ma),因其性殘如暴虐之牡牛(藏 glaṅ),故稱朗達磨。其兄徠巴贍因極力保護佛教,而遭棒教徒殺害。朗達磨嗣位後,與棒教徒聯合展開激烈之毀佛運動,下令禁止佛教,封閉寺院,勒令僧侶還俗結婚,更強迫成為獵戶及屠夫,凡不從命者均遭屠殺,復大肆焚毀佛教經典,幾將吃㗚雙提贊王百年來對西藏佛教之植根與草創,及徠巴贍王二十載之盛業毀於一旦。 相傳遇此迫害之際,經論多藏於拉薩岩中。唐武宗會昌元年(841),朗達磨為一喇嘛吉祥金剛(藏 Dpal-gyi rdo-rje)暗殺。其後因王位繼承問題,西藏發生內亂,經分裂而國力衰亡。〔Ch. Bell: The Religion of Tibet, 1931; G. Tucci:Tibetan Painted Scrolls, 1949〕(參閱「西藏佛教」2593) ; (朗達磨王) Tạng: Glaídar-ma. Cũng gọi Lãng đạt mã vương. Vua nước Tây tạng, ở ngôi năm 836-841 (hoặc 838-842). Ông vốn tên là Đạt ma (Tạng: Dar-ma), nhưng do tính tình tàn ác bạo ngược như con trâu mộng (Tạng:glaí) nên bị gọi là Lãng đạt ma(Đạt ma trâu mộng). Anh của ông là vua Lai ba thiệm vì hết sức bảo hộ Phật giáo nên bị tín đồ Bổng giáo giết hại. Sau khi lên nối ngôi, Lãng đạt ma liên kết với Bổng giáo đàn áp Phật giáo một cách khốc liệt. Ông ra lệnh cấm chỉ Phật giáo, đóng cửa chùa viện, bắt tăng ni hoàn tục, cưỡng bức họ trở thành thợ săn và đồ tể, ai không tuân lệnh đều bị giết chết; ông còn ra lệnh đốt hết toàn bộ kinh điển Phật giáo. Nền tảng của Phật giáo Tây tạng do vua Khất lật song đề tán xây dựng 100 năm qua và sự nghiệp 20 năm của vua Lai ba thiệm vun bồi làm cho hưng thịnh đều bị ông phá hủy. Tương truyền trong thời gian bị bách hại này, phần lớn kinh luận Phật giáo được chư tăng và tín đồ đem vào hang núi Lhasa cất giấu. Năm 841, vua Lãng đạt ma bị Lạt ma Cát tường Kim cương (Tạng: Dpal-gyi rdorje) ám sát. [X. Ch. Bell: The Religion of Tibet, 1931; G. Tucci: Tibetan Painted Scrolls, 1949]. (xt. Tây Tạng Phật Giáo).

lãnh

Lạnh—Cold.

lãnh giáo

To receive instructions.

lãnh giải

To understand clearly. ; (領解) Cũng gọi Lãnh ngộ, Giải hội, Lãnh lãm, Lãnh đắc. Hiểu rõ những điều người khác chỉ dạy mà được khai ngộ, gọi là Lãnh giải. Cứ theo Pháp hoa văn cú kí quyển 5 phần 1, thì lãnh là bên ngoài lãnh nghe lời Phật dạy; giải là bên trong ngộ được ý Phật. [X. kinh Giải thâm mật Q.2]. (xt. Giải).

lãnh hà

Sita (skt)—The cold river.

lãnh hội

To understand—To comprehend—To digest.

lãnh noãn

Lạnh và ấm—Cold and warm

lãnh noãn tự tri

2788又作冷熱自知。水之冷與暖,唯有飲者自知,而無法說明。以此而比喻悟之境界亦唯有悟者自身領受而無法告知他人。景德傳燈錄卷四蒙山道明條(大五一‧二三二上):「今蒙指授入處,如人飲水,冷暖自知。」 ; Ấm lạnh tự biết (thiền định tự biết chứ không ai biết dùm)—Only you yourself know cold and warm, i.e. only you know the progress of meditation. ; (冷暖自知) Cũng gọi Lãnh nhiệt tự tri. Nước nóng hay lạnh chỉ có người uống tự biết, chứ không có cách nào diễn tả cho người khác biết được. Trong Thiền tông, nhóm từ này được sử dụng để ví dụ cho cảnh giới đã đạt ngộ thì cũng chỉ có người tự đạt ngộ biết được mà thôi, ngoài ra, không thể giải thích cho người khác. Điều Mông sơn Đạo minh trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 4 (Đại 51, 232 thượng), nói: Nay nhờ sự chỉ dạy mà thấy được chỗ vào, như uống nước, lạnh nóng tự biết.

lãnh nạp

(領納) Thân tâm nhận lãnh những cảm giác vui hay buồn. Luận Thành duy thức quyển 3 (Đại 31, 11 hạ), nói: Thụ nghĩa là lãnh nạp những cảnh tượng thuận, nghịch, chẳng thuận, chẳng nghịch làm tính. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 1, tiết 3].

lãnh quang thần

Sitamarici—The spirits with cool rays.

lãnh thọ

To receive—To accept.

lãnh toạ

2788心不散亂,無所得、無所悟之正身端坐。亦即只管打坐之坐禪。從容錄第二則(大四八‧二二八下):「寥寥冷坐少林,默默全提正令。」 ; (冷坐) Thân ngồi ngay thẳng, tâm không tán loạn, không dính mắc vào điều mình được, chỗ mình ngộ, mà chỉ chuyên chú ngồi thiền. Tắc 2 trong Thung dung lục (Đại 48, 228 hạ), nói: Lặng lặng lãnh tọa Thiếu lâm, thầm thầm toàn đề chính lệnh.

Lãnh Trai Dạ Thoại

(冷齋夜話, Reisaiyawa): 10 quyển, do Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪) nhà Tống biên tập, được san hành dưới thời nhà Tống, là tác phẩm tạp ký về những điều mắt thấy tai nghe. Hơn nữa nội dung của nó là thi thoại. Ngoài san bản của Cấp Cổ Các (汲古閣), của Sơn Hải Tảo Diệp Sơn Phòng (山海掃葉山房), v.v., bộ này còn được thâu tập vào trong Thuyết Phu (說郛) 21, Bại Hải (稗海) 47-48, Tân Đãi Bí Thư (津逮祕書) 105, Học Tân Thảo Nguyên (學津討原) 141, v.v. Tại Nhật Bản, bên cạnh san bản dưới thời Nam Bắc Triều, bản dưới thời đại Thất Đinh, còn có bản cổ hoạt tự vào năm thứ 20 (1643) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永).

lãnh vực

Domain.

lãnh đạm

Indifferent—Cold—Apathy—Chilliness.

lãnh đạo

To guide—To conduct—To lead.

lãnh địa lí học khách thung

2788禪林用語。冷地,即寂靜、寂寥之境;客舂,指六祖慧能初時於黃梅山五祖弘忍座下之碓房搗米八個月之故事。冷地裡學客舂,意謂禪者處於空寂之境中,猶如碓房搗米之心境,僅依義理而修行。反之,禪者若不知依義理而修行,不去理會本分事,究明本來面目,而一心指望求得福慧,消除業障,則離真正之佛道尚遠。〔禪關策進前集〕

lãnh địa lý học khách thung

(冷地裏學客舂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lãnh địa (nơi thanh nhàn, lạnh lẽo): Chỉ cho cảnh giới yên tĩnh, vắng vẻ. Khách thung (người giã gạo): Chỉ cho Lục tổ Tuệ năng giã gạo trong 8 tháng lúc mới đến tham học Ngũ tổ Hoằng nhẫn ở núi Hoàng mai. Lãnh địa lí học khách thung, nghĩa là Thiền giả trong cảnh tĩnh lặng, nương theo nghĩa lí mà tu hành, giống như tâm cảnh lúc ngài Tuệ năng giã gạo. Trái lại, nếu Thiền giả không theo nghĩa lí mà tu hành, chẳng lí hội việc bổn phận, xét cho rõ bản lai diện mục, mà chỉ 1 lòng mong cầu được phúc tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng thì cách Phật đạo còn xa. [X. Thiền quan sách tiến tiền tập].

lão

2505梵語 jarā。唯識宗二十四不相應行法之一。色、心諸法相續變異,稱為老。生、老、住、無常稱為四相,老則相當於有部之異相。十二緣起之第十二支為老死。又生苦、老苦、病苦、死苦,稱為四苦。(參閱「十二因緣」337、「心不相應行」1396、「老死」2507) ; Jarā (S), Aging Dị1- Trong: sanh (jati), lão (jara), bệnh (vyadhi), tử (marana). 2- Dị: sự thay đổi biến hoại của sự vật. ; Jarà (S). Old, old age. ; Jara (skt)—Old—Aging—Old age—Decay. ; (老) Phạm:Jarà. Già suy, chỉ cho các pháp sắc, tâm liên tục đổi khác, 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành của tông Duy thức. Sinh, lão, trụ, vô thường gọi là Tứ tướng, trong đó, Lão tướng đương với Dị tướng của Hữu bộ. Chi thứ 12 trong 12 duyên khởi là Lão tử. Ngoài ra, sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, được gọi là Tứ khổ. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Tâm Bất Tương Ứng Hành, Lão Tử).

lão bà

2508於禪林中,指教導學人之態度親切,殷殷叮嚀者,其中寓有慈悲之意。又作婆子。一般以黃檗希運、大愚守芝等二師之教法懇切而不厭其煩,乃謂:「黃檗老婆,大愚饒舌。」臨濟錄行錄(大四七‧五○四下):「大愚云:『黃蘗與麼老婆,為汝得徹困。』」 此外,禪林對師家過度迫切、盡心之教法,稱為老婆心切。略稱婆心。〔臨濟錄勘辨、鐵笛倒吹第十一則〕 ; 1) Một bà già: An old woman. 2) Lão Phu Nhân: My wife. ; (老婆) Cũng gọi Bà tử. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho thái độ thân thiết ân cần của người thầy chỉ dạy học trò, với tâm từ bi như bà dạy cháu. Phổ thông cho rằng giáo pháp của 2 ngài Hoàng bá Hi vận và Đại ngu Thủ chi thân thiết mà không hiềm sự phiền toái, nên được gọi là: Hoàng bá lão bà, Đại ngu nhiều lời. Lâm tế lục hành lục (Đại 47, 504 hạ), chép: Ngài Đại ngu nói rằng: Hoàng bá với tâm lão bà đã vì ngươi mà quá mệt mỏi. Ngoài ra, đối với tấm lòng cực kì thiết tha chỉ dạy người học của bậc thầy, gọi là Lão bà tâm thiết, gọi tắt là Bà tâm. [X. Lâm tế lục khám biện; tắc 11 trong Thiết địch đảo xuy].

Lão bà thiền

老婆禪; J: rōba-zen;|Chỉ một cách giáo hoá chúng rất nhẹ nhàng, thân mật, ngược lại với phương pháp Kiềm chùy. Nhiều vị Thiền sư sử dụng phương pháp Lão bà thiền bởi vì nó thích hợp với những thiền sinh nào đó hơn là phương pháp kiềm chùy hoặc có thể là các vị này cũng không quen sử dụng phương pháp »thô bạo« mặc dù nhiều lúc nó cũng là một yếu tố, thành phần cần thiết trong việc giáo hoá.

lão bà thiền

2508禪林中,師家接引學人時,一再親切叮嚀之禪風。老婆禪一語,或有輕蔑之意,以師家當依學人根性,善巧接化;若一味說示,過分關切,恐有礙學人自行探索,開發智慧之機會,實有悖禪宗「不立文字,教外別傳」之宗旨。臨濟錄勘辨(大四七‧五○三中):「普化以手指云:『河陽新婦子,木塔老婆禪;臨濟小廝兒,卻具一隻眼。』」此外,元曲中亦有東坡夢言「葛藤接(截)斷老婆禪」之語。 ; Rōba-zen (J). ; (老婆禪) Chỉ cho thiền phong của bậc thầy dùng thái độ ân cần thân thiết trong khi chỉ dạy người học. Từ ngữ Lão bà thiền có hàm ý khinh miệt, bởi vì bậc thầy nên dựa theo căn tính của người học mà dùng phương tiện khéo léo để tiếp dắt, chứ nếu cứ 1 mặt ân cần thiết tha chỉ dạy thì trở ngại cho việc người học tự tìm tòi, tham cứu, sẽ mất đi cơ hội khai phát trí tuệ; như vậy thực trái với tông chỉ bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền của Thiền tông. Lâm tế lục khám biện (Đại 47, 503 trung), chép: Ngài Phổ hóa đưa tay chỉ và nói: Hà dương là nàng dâu mới, Mộc tháp là lão bà thiền, Lâm tế là đứa trẻ thơ nhưng lại có đủ con mắt.

lão bịnh

Sickness of old age.

lão cổ truy

Lão Cổ Chùy. 1) Con cú già—An old owl. 2) Thiền sư có kinh nghiệm giảng đạo sắc bén (một từ tôn xưng): An experienced and incisive teacher.

lão giáo

Đạo Lão Trung quốc, được Lão Tử sáng lập vài ngàn năm trước đây. Tôn giáo nầy dựa vào Đạo hay con đường thiên nhiên. Những người theo Lão giáo dụng công tu hành bất tử trường sinh, mà theo những thí dụ cổ điển Phật giáo là loại trừ những luyến ái uế trược trong thân tâm—Taoism—Chinese religion founded by Lao Tzu several thousand years ago. This religion based on Tao or way of nature. Taoist practitioners traditionally strive for immortality, which in Buddhism is a classic example of deluded attachment to the body and the mind. ** For more information, please see Lão Tử.

lão hồ

2507即指:(一)釋迦,(二)達摩。另有「胡種族」一語,乃指達摩之法孫,或泛指一般之佛教徒。大慧普覺禪師書卷二十五(大四七‧九一八下):「老胡云:『真如不守自性,隨緣成就一切事法。』」(參閱「胡種族」3939) ; Tên người bình dân gọi Đức Phật—Old Hun, a nickname for the Buddha. ; (老胡) Chỉ cho đức Phật Thích ca và Tổ Đạt ma. Ngoài ra còn có từ ngữ Hồ chủng tộc (dòng dõi Ấn độ) chỉ cho môn đệ của Tổ Đạt ma, hoặc chỉ chung cho hàng Phật tử. Đại tuệ Phổ giác thiền sư ngữ lục quyển 25 (Đại 47, 918 hạ), chép: Lão hồ nói rằng: Chân như không giữ tự tính, nhưng tùy theo nhân duyên mà thành tựu tất cả các pháp. (xt. Hồ Chủng Tộc).

lão khổ

2507梵語 jarā-duḥkha,巴利語 jarā-dukkha。四苦之一,八苦之一。指眾生衰老時所受之身心苦惱。瑜伽師地論卷六十一列舉老有五相,即:盛色衰退、氣力衰退、諸根衰退、受用之境界衰退、壽量衰退。於此五處衰退,故稱為苦。據中阿含卷七分別聖諦經載,眾生老時,頭白齒落,盛壯日衰,身曲腳戾,拄杖而行,肌縮皮弛,諸根遲鈍,顏色醜惡,身心皆受極大之苦楚,是為老苦。〔增一阿含經卷六、卷十八、修行本起經卷下、北本大般涅槃經卷十二、大毘婆沙論卷七十八、大乘義章卷三本〕(參閱「八苦」291、「四苦」1736) ; Jarā-duḥkha (S). ; One of the four sufferings, that of old age. ; (老苦) Phạm: Jarà-du#kha. Pàli: Jarà-dukkha. Những nỗi khổ não mà chúng sinh phải chịu khi thân thể đến lúc già suy. Là 1 trong 4 cái khổ, 1 trong 8 nỗi khổ. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 61, con người đến lúc già sẽ có 5 tướng suy thoái: Sắc đẹp, khí lực, các căn (mắt lòa, tai điếc, v.v...), cảnh giới thụ dụng (ít ăn, kém ngủ, v.v...) và thọ lượng (tuổi thọ giảm dần). Năm tướng suy thoái này gọi là Khổ. Cứ theo kinh Phân biệt Thánh đế trong Trung a hàm quyển 7, chúng sinh đến lúc già thì tóc bạc, răng rụng, sức khoẻ suy giảm, lưng gù, gối mỏi, đi lại phải chống gậy, bắp thịt teo dần, các căn chậm lụt, nhan sắc xấu xí, thân tâm chịu nhiều khổ sở. Đó là Lão khổ. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.6, 18; kinh Tu hành bản khởi Q.hạ; kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.78; Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần đầu]. (xt. Bát Khổ, Tứ Khổ).

lão nạp

2507為比丘之謙稱。衲,指衲衣。僧眾著衲衣而自稱老衲。類似之稱謂尚有:衲僧、衲子、野衲、布衲、小衲等。即老僧之意。圓悟佛果禪師語錄卷十四(大四七‧七七七下):「作箇骨律錐老衲,以自契所證,隨己力量受用。」 ; (老衲) Cũng gọi: Nạp tăng, Nạp tử, Dã nạp, Bố nạp, Tiểu nạp. Từ ngữ gọi chung các vị tỉ khưu, hàm ý nhún nhường. Nạp là áo vá, chúng tăng mặc áo vá nên tự xưng là Lão nạp. Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục quyển 14 (Đại 47, 777 hạ), nói: Lão nạp thường giữ gìn giới luật để tự khế hợp với điều mình chứng được, tùy theo sức mà thụ dụng.

lão quan trai giáo

2507明朝時流傳於福建等地羅教教派之一。由浙江一帶之羅教教主姚氏統轄。祖師姚文宇著有「三世因由」一書,託言係羅祖轉世,以初世姓羅,二世姓殷,三世姓姚,而世代相傳。該派傳教授徒之密令口訣,有小乘二十八偈語及大乘一百零八句偈語,另傳授坐功、運氣等三層功夫。教民吃素,稱為老官。盛行於福建、臺灣等地,多建有齋堂。明、清之際均曾集眾起事。(參閱「無為教」5113)

lão quân

Lao-chun (C), T'ai-shang Lao-chun (C)Cùng với Nguyên thủy Thiên tôn và Thái thượng Đạo quân, Thái thượng Lão quân là một trong những thần linh cao nhất của Đạo giáo.

Lão sư

老師; J: rōshi;|Danh hiệu dùng cho một vị Thiền sư tại Nhật. Thông thường, người ta tu học thiền dưới sự hướng dẫn của một Lão sư và vị này có thể là một cư sĩ (nam, nữ), không nhất thiết phải là một vị tăng. Nhiệm vụ của một Lão sư là hướng dẫn và khuyến khích thiền sinh trên con đường Giác ngộ, Kiến tính, với điều kiện là vị này cũng đã đạt một cấp bậc giác ngộ thâm sâu.|Thời xưa tại Nhật, danh hiệu Lão sư rất khó đạt được. Danh hiệu này được người đời ban cho – không phải tự xưng – người nào đã tự trực tiếp chứng ngộ được chân lí mà Phật đã thuyết giảng trong các bộ Kinh, sống một cuộc sống theo chân lí này và có khả năng hướng dẫn người khác đến kinh nghiệm chứng ngộ này. Ðiều kiện tối thiểu phải là một đức tính trong sạch, một nhân cách chững chạc. Ðể trở thành một Lão sư với đầy đủ tất cả những khả năng, thiền sinh phải tu học nhiều năm dưới sự hướng dẫn của một vị thầy, kiến tính và được vị này Ấn khả. Sau đó, thiền sinh phải trau dồi kinh nghiệm giác ngộ của mình với nhiều vị Thiền sư khác qua những cuộc Pháp chiến (j: hos-sen).|Ngày nay, vì các vị Lão sư chân chính tại Nhật không còn bao nhiêu nên thước đo cũng không còn khắc khe như xưa. Một điều rất đáng tiếc cho những vị Lão sư trong một hệ thống truyền thừa nghiêm ngặt, chính tông là rất nhiều vị tăng được gọi là »Lão sư« – chỉ vì họ đứng đầu một ngôi chùa lớn hoặc giữ một chức vị cao.

lão sư

Rōshi (J), Old-aged monk.

lão thiếu bất định

2506謂壽命不定。即先出生之長者未必先死,而後出生之少者未必長生,以此形容人類壽命、死期不定且無常。蓋世人多愚癡,在此老少不定、遷流變化之境,而存有千秋長壽之執見。 ; (老少不定) Tuổi thọ không nhất định. Nghĩa là người già sinh ra trước, chưa hẳn đã chết trước, mà người trẻ sinh sau chưa hẳn đã chết sau, đây là hình dung sự sống chết của con người là vô thường, bất định. Nhưng người ta ở đời phần nhiều không rõ chân lí ấy, nên trong cảnh già trẻ bất định, biến hóa đổi dời như vậy, mà cứ mong muốn mình sống lâu nghìn tuổi.

lão túc

Sthavira (S). An old man, virtuous elder; great scholar

lão tạng

2508(1601~1687)清代僧。燕京西山人,俗姓賈。世稱阿王老藏,或阿旺老藏。十歲時,入崇國寺為沙彌,十八歲受具足戒,究明瑜伽密法,秉性慧絕,漢藏經書,過目成誦。順治十六年(1657),奉詔主掌五臺山,總理漢藏經典,對舊時所譯者,多所訂正。康熙九年(1670),退居頤養。二十二年,聖祖幸臨所居,賜號「清涼老人」。二十六年三月入寂,世壽八十七。〔清涼山新志卷七〕

Lão Tử

老子; C: lǎozǐ; tk. 6 (?) trước Công nguyên, cũng được gọi là Lão Ðam;|Một trong hai vị hiền triết nổi danh nhất của Ðạo giáo song song với Trang Tử. Sử kí viết rằng, Lão Tử người nước Sở, huyện Khổ, làng Lệ, xóm Khúc Nhân (Hồ Nam bây giờ). Ông họ Lí, tên Nhĩ, tự Ðam. Trong tất cả những tác phẩm triết học người ta đều gọi ông là Lão Tử hoặc Lão Ðam.|Theo nguồn tài liệu trên thì Lão Ðam giữ kho sách của nhà Châu và trong thời gian này ông có dịp gặp Khổng Tử. Cuộc gặp gỡ này thường được nhắc lại nhưng không thể xem là một sự kiện lịch sử. Thấy nước Châu suy, ông bỏ ra đi. Ðến cửa quan phía Tây, vị quan coi cửa là Doãn Hỉ biết ông sắp ẩn tích bèn cầu xin chỉ dạy. Thế là ông viết một quyển sách với khoảng 5000 chữ nói về Ðạo và đức, sau được gọi là Ðạo đức kinh, và sau đó đi mất tích.|Theo truyền thống thì Lão Tử là tác giả của Ðạo đức kinh nhưng các nhà nghiên cứu sau này đều nhất trí rằng, quyển sách này không thể ra đời trước thế kỉ thứ 4, 3 trước Công nguyên và vì vậy không phải là tác phẩm từ tay Lão Tử.|Theo Tư Mã Thiên, tác giả của Sử kí, thì Lão Tử trau dồi đạo đức; học thuyết của ông cốt ở chỗ dấu mình, ẩn danh. Quan niệm này được nêu rõ trong cuộc gặp gỡ giữa ông và Khổng Tử (bản dịch của Nguyễn Duy Cần): »Khổng Tử đến Châu, hỏi Lễ. Lão Tử nói: ›Lời nói của ông là lời nói của những kẻ xương tàn cốt rụi. Vả, người quân tử đắc thời thì đi xe, không đắc thời thì tay vòn nón lá mà đi chân. Ta nghe rằng, kẻ buôn giỏi khéo giữ của quý như không có gì, người quân tử đức thạnh, dung mạo dường như kẻ ngu. Họ khác với cái kiêu khí và đa dục của ông, sắc thái và dâm chi ấy không ích gì cho thân ông cả. Tôi sở dĩ bảo chô ông biết có bấy nhiêu thôi.‹ Khổng Tử về bảo đệ tử: ›Chim, ta biết nó bay thế nào; cá, ta biết nó lội làm sao; thú ta biết nó chạy cách nào. Thú chạy thì ta có lưới bắt nó; cá lội thì ta có dây câu ví nó; chim bay thì ta có bẫy gài nó. Chí như con rồng, thì ta không biết nó theo mây theo gió mà bay lượn như thế nào. Nay ta thấy Lão Tử như con rồng!‹«|Các Lão gia sau này đã tôn thờ Lão Tử, gọi ông là Thái Thượng Lão Quân, Ðạo Ðức Thiên Tôn. Ông được xem là người sáng lập Ðạo giáo. Nhiều huyền thoại về ông cũng được lưu lại. Việc mất tích của ông được các Lão gia giảng rằng, ông sang Ấn Ðộ gặp đức Phật và thâu nhận Phật làm đệ tử. Thuyết này được các Lão gia nêu ra trong những cuộc tranh luận với các vị tăng nhà Phật sau này.|Ðạo đức kinh bao gồm 81 chương ngắn, trong đó 37 chương đầu nói về »Ðạo«, 44 chương sau nói về »Ðức.« Nội cung của quyển sách này cũng không nhất quán bởi vì nó cũng chứa đựng những quan niệm triết lí khác song song với triết lí Ðạo giáo. Quan niệm trung tâm của quyển sách này – ngoài đạo và đức nêu trên – là vô vi, tức là làm mà không có tác ý (Bất hành nhi hành). Tư tưởng của Lão Tử cũng được các vị Cao tăng Trung Quốc hấp thụ và giảng trình theo cách nhìn của nhà Phật.

Lão tử

老死; S, P: jarāmaraṇa;|Là già và chết, một thành phần của Mười hai nhân duyên (Tử).

lão tử

chỉ sự già chết, là một trong 12 nhân duyên, vốn sanh khởi do sự hiện hữu hòa hợp của các hành. Vì thế, nếu hành giả đạt đến cảnh giới “phá trừ hết thảy các hành” thì không còn có sự già chết. ; 2506梵語 jarā-maraṇa,巴利語同。老與死之並稱。又作老死支。十二因緣之一。指眾生衰變及滅壞之位。依三世兩重因果之說,生支、老死支為未來二果,於現在捨命後,正在形成新生命之一剎那間所集結之五蘊,稱為生支;相對於此,生起識之剎那以後,名色、六觸、受、愛漸增,乃至總異滅位,稱為老死支。其中,老,是色、心之衰變;死,為壽命盡而滅壞。 此外,大乘唯識家以二世一重因果配於十二因緣,謂生及老死為所生支,自愛、取、有等三支所生的異熟五蘊之衰變及身壞命終,方為老死支。另據成唯識論卷八載,於生、老、病、死等四者中,立生為一支,老與死合為一支;病則不列為支,以病非遍於一切眾生,且非定有。老雖非定有,然遍於一切,故立為支。〔雜阿含經卷十二、中阿含卷二十四大因經、長阿含卷十大緣方便經、大毘婆沙論卷二十三、俱舍論卷九、順正理論卷二十五、卷二十六〕(參閱「十二因緣」337) ; Jarā-maranam (P), Aging and Death Nhơn duyên thứ 12 trong thập nhị nhơn duyên. ; Jaràmarana (S). Decrepitude and death; one of the twelve nidànas. ; 1) Jaramarana (skt)—Decreptitude and death. 2) Một trong thập nhị nhơn duyên, là một giáo lý quan trọng trong Phật giáo, lão tử là sản phẩm tất nhiên của sự thành thục (chín mùi) của ngũ uẩn: One of the twelve nidanas, a primary dogma of Buddhism that decreptitude and death are the natural products of the maturity of the five skandhas. 3) Lao-Tzu—Mặc dù người ta thường xem Lão Tử là một hiền triết vĩ đại nhất của Trung Quốc, song ít ai biết về cuộc đời Lão Tử. Người ta nói rằng ông sanh vào khoảng năm 604 trước Tây Lịch và là tác giả của bộ Đạo Đức Kinh, tức là Thánh Kinh của Đạo Giáo, tôn giáo phát xuất từ bộ sách nói trên. Đạo được định nghĩa như là nền tảng của toàn bộ cuộc sinh tồn, hay là năng lực của vũ trụ—Though Lao-Tzu is commonly regarded as one of China's greatest sages, little is known about his actual life. He is said to have been born in about 604 B.C. and to be the author of the Tao-Teh-Ching (The way and Its Power), which is the bible of Taoism, as the religion which grew up around the above mentioned book. The Tao has been defined as the ground of all existence, or as the power of the universe. ** For more information, please see Lão Giáo. ; (老死) Phạm, Pàli: Jarà-maraịa. Cũng gọi Lão tử chi. Già và chết, chỉ chung cho sự suy biến hoại diệt của chúng sinh, là 1 trong 12 nhân duyên. Theo thuyết Tam thế lưỡng trùng nhân quả, trong 12 chi nhân duyên, thì chi sinh và chi lão tử là 2 quả vị lai; sau khi xả bỏ thân mệnh đời hiện tại, thì ngay trong 1 sát na đầu tiên 5 uẩn tu tập để hình thành sự sống mới, gọi là sinh; trái lại, những sát na sau khi thức sinh khởi, danh sắc, lục nhập, thụ, ái dần dần tăng trưởng cho đến dị diệt, gọi là lão tử. Trong đó, lão là sự suy biến của sắc và tâm, tử là sự hoại diệt của thọ mệnh. Ngoài ra, các nhà Duy thức đem phối hợp Nhị thế nhất trùng nhân quả với 12 nhân duyên, cho rằng sinh và lão tử thuộc về chi sinh, còn sự suy biến của 5 uẩn dị thục do 3 chi ái, thủ, hữu sinh ra, cho đến thân hoại mệnh chung mới là chi lão tử. Lại theo luận Thành duy thức quyển 8, thì trong 4 thứ sinh, lão, bệnh, tử, lập riêng sinh làm 1 chi; còn lão và tử hợp chung lại làm 1 chi; bệnh thì không thể lập làm 1 chi, bởi vì bệnh chẳng phải tất cả chúng sinh nhất định đều có, còn lão tuy chẳng phải nhất định đều có, nhưng mà phổ biến tất cả, nên lập làm 1 chi. [X. kinh Tạp a hàm Q.12; kinh Đại nhân trong kinh Trung a hàm Q.24; kinh Đại duyên phương tiện trong Trường a hàm Q.10; luận Đại tì bà sa Q.23; luận Câu xá Q.9; luận Thuận chính lí Q.25, 26]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên).

lão tử hoá hồ kinh

2505西晉惠帝末年,道士王浮所作。殘本今收於大正藏第五十四冊。王浮常與帛遠論爭道、佛二教,而道教常遭論破,王浮為此深感屈辱,故而偽作本經,欲將道教提昇於佛教之上。其書內容謂:老子赴西域,又至印度,轉生為釋迦而教化胡人。此經一出,首先有北周「笑道論」論難之,繼有唐代之破邪論、辯正論、集古今佛道論衡等先後批判之。唐高宗總章元年(668)本經被焚毀,中宗神龍元年(705)更遭到嚴禁,宋時雖曾一度流傳,然迄元代又遭禁止而告絕跡。 近年法國學者伯希和(P. Pelliot)自敦煌發現本書,全書十卷僅存第一卷與第十卷。敦煌本第一卷題為「老子西昇化胡經序說第一」,第十卷末尾題為「老子化胡經卷第十」。根據研究,大正藏所收本與王浮所作老子化胡經之內容大相逕庭,其理由如下:(一)王浮之化胡經僅有一卷,敦煌本則有十卷。(二)敦煌本題為「老子西昇化胡經序說第一」,王浮本則從未稱為「老子西昇化胡經」。(三)敦煌本含有濃厚之摩尼教思想,或可推知現存之敦煌本為唐代摩尼教傳入以後之著作,而非王浮所作之老子化胡經。 此外,敦煌殘卷與蔣斧所輯錄之佚文考、羅振玉補考、校勘記等,一併收入「敦煌石室遺書」中。〔法華三大部補注卷十三、歷代三寶紀卷十一、佛祖統紀卷三十九、出三藏記集卷十五法祖傳、道教の基礎的研究(福井康順)、支那に於ける佛教と儒教道教(常盤大定)〕 ; (老子化胡經) Kinh của Đạo giáo, do Đạo sĩ Vương phù soạn vào khoảng những năm cuối đời Huệ đế nhà Tây Tấn, bản hiện còn chỉ có 2 quyển được thu vào Đại chính tạng tập 54. Vương phù thường tranh luận với ngài Bạch viễn về Đạo giáo và Phật giáo, nhưng Đạo giáo thường bị luận phá, Vương phù cảm thấy rất nhục nhã nên ngụy tạo kinh này, ý muốn đưa Đạo giáo lên trên Phật giáo.Nội dung kinh này nói rằng Lão tử qua Tây vực, rồi đến Ấn độ, chuyển sinh làm Thích ca mà giáo hóa người Hồ (tức người Ấn độ). Khi kinh này vừa xuất hiện, thì đầu tiên có luận Tiếu đạo (cười Đạo giáo) của quan Ti lệ đại phu là Chân loan đời Bắc Chu bắt bẻ; kế đến có các luận Phá tà, Biện chính, Tập cổ kim Phật đạo luận hành, v.v... ở đời Đường lần lượt phê phán kinh này. Niên hiệu Tổng chương năm đầu (668) đời vua Cao tông nhà Đường, kinh này bị thiêu hủy. Đến niên hiệu Thần long năm đầu (705) đời vua Trung tông, kinh này lại bị nghiêm cấm. Qua đời Tống, tuy có 1 thời gian kinh này được lưu truyền, nhưng sang đời Nguyên lại bị cấm ngặt, cho đến tuyệt tích. Thời gần đây, ông Bá hi hòa (P. Pelliot), 1 học giả người Pháp, đã tìm thấy kinh này ở Đôn hoàng, toàn bộ có 10 quyển, nhưng chỉ còn quyển thứ 1 và quyển thứ 10. Quyển thứ 1 của bản Đôn hoàng đề là Lão Tử Tây Thăng Hóa Hồ Kinh Tự Thuyết Đệ Nhất, cuối quyển thứ 10 đề là Lão Tử Hóa Hồ Kinh Quyển Đệ Thập. Căn cứ vào sự nghiên cứu, thì nội dung của bản được xếp vào Đại chính tạng và nội dung của Lão Tử Hóa Hồ Kinh của Đạo sĩ Vương phù khác nhau rất xa, lí do như sau: 1. Hóa Hồ kinh của Vương phù chỉ có 1 quyển, nhưng bản Đôn hoàng lại có những 10 quyển. 2. Bản Đôn hoàng đề là: Lão tử tây thăng hóa Hồ kinh tự thuyết đệ nhất, nhưng bản của Vương phù thì không gọi là Lão tử tây thăng hóa Hồ kinh. 3. Bản Đôn hoàng có bao hàm tư tưởng Ma ni giáo khá sâu đậm, do đó, có thể suy đoán bản này được soạn sau khi Ma ni giáo đã được truyền vào Trung quốc ở đời Đường, chứ không phải Lão tử hóa Hồ kinh do Đạo sĩ Vương phù trứ tác. Ngoài ra, bản tìm thấy ở Đôn hoàng cùng với Dật văn khảo do Tưởng phủ thu chép, Bổ khảo và Hiệu khám kí của La chấn ngọc 4. Đều được đưa vào Đôn Hoàng Thạch Thất Di Thư. [X. Pháp hoa tam đại bộ bổ chú Q.13; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.11; Phật tổ thống kỉ Q.39; Pháp tổ truyện trong Xuất tam tạng kí tập Q.15; Đạo giáo chi cơ sở đích nghiên cứu (Phúc tỉnh Khang thuận)].

Lão Tử hoá Hồ kinh 老子化胡經

[ja] ロウシケコキョウ Rōshi keko kyō ||| Laozi Huahu jing (Sutra on the Conversion of the Barbarians); By Wang Fu 王浮. This text claimed that after his disappearance, Laozi went to India, converted people there, and became the Buddha. An early Chinese apocryphal sutra, written by a Taoist for the purpose of discrediting Buddhism and elevating Taoism. Texts such as this which were usually discovered by early Buddhist canonical catalogers and eventually rejected. [Dictionary Noja hwaho kyŏng (k); Rōshi keko kyō (j); Laozi Huahu jing (c); Sutra on the Conversion of the Barbarians (e); => Của Vương Phù (c: Wang Fu 王浮). Kinh nầy nói rằng, sau khi biến mất (ở Trung Hoa), Lão Tử sang Ấn Độ, giáo hoá dân ở xứ ấy, và thành Phật. Là kinh nguỵ tạo của Trung Hoa thời xưa, do các Đạo sĩ viết nhằm hạ thấp Phật giáo và đề cao Lão giáo. Những kinh như vậy thường được những nhà biên soạn mục lục kinh Phật thời xưa phát hiện và cuối cùng bị loại trừ.

lão tử hoá hồ thuyết

2505指老子西入印度教化佛陀,或老子轉生為佛陀之說,為佛教與道教兩派相爭時所產生之特異說法。據後漢書列傳第二十下襄楷傳載,老子入夷狄,為浮屠(佛陀);三國志魏書第三十裴注引魏略西戎傳,謂老子出關西去,過西域而入天竺,教化胡人,浮屠亦為其弟子。以上之記載雖未言化胡二字,然為有關化胡說之最早記錄,或因史記老莊申韓列傳謂老子出關,不知所終,令有心人得以借題發揮。老子化胡說之成因可能有二種:(一)道教徒欲提昇道教地位於佛教之上,而作此說。(二)佛教徒欲使此一外來宗教能在中國生根成長,而作此說。由此而有種種老子化胡經之著錄出現,其有關文獻,包括:三洞珠囊卷九西胡品之文始先生無上真人關令內傳與化胡經(道藏七八二)、猶龍傳卷四流沙八十一國九十六種外道(道藏五五五)、混元聖記卷四及卷五(道藏五五二)、敦煌本老子化胡經(大正藏第五十四冊)等。 老子化胡說起自六朝末年,經唐代、宋代,各有其不同之風貌。又可大別為二:(一)老子入胡地教化胡人說,謂老子曾至罽賓國、于闐國、條支國等地傳法。(二)老子轉生為佛陀說。〔廣弘明集卷一、法經錄卷二、辯正論卷五、笑道論卷下、釋氏通鑑卷一、敦煌石室遺書第三冊、鳴沙石室佚書續編、早稻田大學文學部編哲學年誌卷四〕 ; (老子化胡說) Thuyết nói về việc Lão tử sang Ấn độ giáo hóa đức Phật, hoặc Lão tử chuyển sinh làm Phật. Đây là 1 thuyết đặc biệt khác lạ phát sinh vào thời gian tương tranh giữa Phật giáo và Đạo giáo. Cứ theo truyện Tương khải trong Hậu Hán thư liệt truyện thứ 20 hạ, thì Lão tử đến Di địch (ám chỉ Ấn độ với ý khinh miệt, vì Di địch là mọi rợ) làm Phù đồ (Phật đà); còn theo truyện Bùi chú dẫn Ngụy lược Tây nhung trong Tam quốc chí Ngụy thư thứ 30, thì Lão tử ra biên ải đi về hướng tây, qua Tây vực đến Thiên trúc giáo hóa người Hồ (người Ấn), Phù đồ cũng là đệ tử của ông. Trong những truyện trích dẫn trên đây tuy không nói đến 2 chữ hóa hồ nhưng là những ghi chép sớm nhất về thuyết Hóa Hồ. Hoặc giả, truyện Lão Trang trong Sử kí có nói Lão tử ra khỏi biên ải, sau đó không biết chết ở đâu, rồi những người hiếu sự dựa vào đó mà bịa ra thuyết Lão tử hóa hồ chăng? Có 2 nguyên nhân hình thành thuyết Lão tử hóa hồ: 1. Tín đồ của Đạo giáo muốn nâng địa vị Đạo giáo lên trên Phật giáo mà bịa ra thuyết này. 2. Tín đồ Phật giáo muốn tông giáo ngoại lai của mình bắt rễ vững chắc tại Trung quốc để tồn tại và phát triển lâu dài nên tạo ra thuyết này. Từ 2 nguyên nhân trên mà có nhiều tác phẩm liên quan đến kinh Lão tử hóa hồ xuất hiện, như: Văn thủy tiên sinh vô thượng chân nhân quan lệnh nội truyện và Hóa hồ kinh trong phẩm Tây hồ, sách Tam động châu nang quyển 9 (Đạo tạng 782), Lưu sa bát thập nhất quốc cửu thập lục chủng ngoại đạo trong truyện Do long quyển 4 (Đạo tạng 555), Hỗn nguyên thánh kí quyển 4, 5 (Đạo tạng 552), kinh Lão tử hóa hồ bản Đôn hoàng (Đại chính tạng tập 54), v.v... Thuyết Lão tử hóa hồ khởi đầu từ những năm cuối đời Lục triều, qua các đời Đường, Tống đều có phong mạo khác nhau, có thể chia làm 2 thuyết chính là: 3. Thuyết Lão tử đến nước Hồ giáo hóa người Hồ, nghĩa là Lão tử có đến nước Kế tân, nước Vu điền, nước Điều chi, v.v... truyền pháp. 4. Thuyết Lão tử chuyển sinh làm Phật. [X. Quảng hoằng minh tập Q.1; Pháp kinh lục Q.2; luận Biện chính Q.5; luận Tiếu đạo Q.hạ; Thích thị thông giám Q.1; Đôn hoàng thạch thất di thư tập 3; Minh sa thạch thất dật thư tục biên; Tảo đạo điền đại học Văn học bộ biên triết học niên chí Q.4].

Lão Tử Hóa Hồ Kinh

(老子化胡經, Rōshikekokyō): do Đạo sĩ Vương Phù (王浮) trước tác vào khoảng năm cuối đời vua Huệ Đế nhà Tây Tấn, tàn bản hiện được thâu lục vào trong Taishō quyển 54. Vương Phù thường cùng với Bạch Viễn (帛遠) luận tranh về hai tôn giáo Phật và Đạo, tuy nhiên Đạo Giáo thường bị luận phá thất bại; trước sự thất bại nhục nhã sâu xa như vậy, Vương Phù bèn viết kinh này với mục đích đề cao Đạo Giáo trên Phật Giáo. Nội dung thư tịch này thuật lại chuyện Lão Tử (老子) đến Tây Vức, Ấn Độ, chuyển sanh thành Thích Ca hóa độ người Hồ. Vào năm đầu (668) niên hiệu Tổng Chương (總章) đời vua Cao Tông nhà Đường, kinh này bị thiêu hủy, đến năm đầu (705) niên hiệu Thần Long (神龍) đời vua Trung Tông lại bị nghiêm cấm không được dùng; vào thời nhà Tống nó được lưu truyền rộng rãi, nhưng đến thời nhà Nguyên lại bị cấm chỉ và tuyệt tích luôn. Gần đây P. Pelliot, học giả người Pháp, phát hiện ra bản kinh này trong các thư tịch Đôn Hoàng (敦煌), toàn bộ có 10 quyển nhưng chỉ còn lại quyển 1 và 10 mà thôi. Đầu đề quyển 1 bản Đôn Hoàng là Lão Tử Tây Thăng Hóa Hồ Kinh Tự Thuyết Đệ Nhất (老子西昇化胡經序說第一), đề phần cuối của quyển 10 là Lão Tử Hóa Hồ Kinh Đệ Thập (老子化胡經第十). Căn cứ vào nghiên cứu cho thấy rằng nội dung của bản Lão Tử Hóa Hồ Kinh thâu lục trong Taishō và bản do Vương Phù trước tác có quá nhiều điểm sai khác vì một số lý do như: bản do Vương Phù trước tác chỉ có 1 quyển, trong khi đó bản của Đôn Hoàng có 10 quyển; bản Đôn Hoàng có đề là Lão Tử Tây Thăng Hóa Hồ Kinh Tự Thuyết Đệ Nhất (老子西昇化胡經序說第一), còn bản của Vương Phù là Lão Tử Tây Thăng Hóa Hồ Kinh (老子西昇化胡經); bản Đôn Hoàng có tư tưởng sâu đậm của Ma Ni Giáo (摩尼敎), cho nên chúng ta có thể suy ra biết được rằng bản Đôn Hoàng hiện tồn là trước tác có sau khi Ma Ni Giáo được truyền nhập vào, vì thế bản này cũng có thể không phải là Lão Tử Hóa Hồ Kinh của Vương Phù.

Lão tử 老死

[ja] ロウシ rōshi ||| (jarā-maraṇa). Old age and death. The twelfth of the twelve limbs of conditioned origination. => rōshi (j); jarā-maraṇa (s); Già và chết. Chi thứ 12 trong Thập nhị nhân duyên.

lão đam

Lao Tan (C).

lão ấu

Old and young.

Lão 老

[ja] ロウ rō ||| (jarā). 'Old age', 'decay.' One of the four basic kinds of suffering 四苦. A provisionally established dharma in Consciousness-only theory. => (s: jarā). Già cả, suy thoái. Một trong 4 loại cơ bản của khổ (Tứ khổ 四苦). Một pháp giả lập trong giáo lý Duy thức tông.

lén

Secretly—Stealthily—Furtively—Surreptitious—To be afraid to be seen.

lén lút

See Lén.

lén vào

To sneak in.

lén đi

To sneak away.

Trái lê—Pear.

lê bà chi

Revati (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.

lê chúng

Common people.

lê câu phệ đà

5055梵名Ṛg-veda。意譯讚誦明論、作明實說。凡十卷。又作梨俱吠陀、荷力皮陀、億力毘陀。為印度最古之典籍,婆羅門教根本聖典四吠陀之一。梨俱,為光輝之義。所載多為雅利安族頌神之讚歌,非由一人所作,亦非一時所成。其中卷九乃收集蘇摩祭之讚歌而成。約完成於西元前一千四百年至前一千年左右,現存之梨俱吠陀約於前一千年至前八百年間形成。讚歌凡一○一七篇,後增補十一篇,合計一○二八篇,其總數為一○五八○首。本書為最早之吠陀本集,其他三吠陀中亦有引用本書或由本書改作者。(參閱「四吠陀」1695、「吠陀」2820) ; (棃 俱吠陀) Phạm: Fg-veda. Hán dịch: Tán tụng minh luận, Tác minh thực thuyết. Cũng gọi Hà lực bì đà, Ức lực tì đà. Kinh điển căn bản và xưa nhất của Bà la môn giáo Ấn độ, gồm 10 quyển, là 1 trong 4 bộ Thánh điển Phệ đà. Lê câu nghĩa là sáng sủa, rõ ràng. Nội dung sách này phần nhiều là những bài tán ca của dân tộc Aryan tán tụng thần thánh, không phải do 1 người làm, cũng chẳng phải làm trong 1 thời. Trong đó, quyển 9 Thu tập các tán ca của tế lễ Tô ma, được hoàn thành vào khoảng từ 1.400 năm đến khoảng 1.000 năm trước Tây lịch. Kinh Lê câu phệ đà hiện còn được hình thành vào khoảng 1.000 năm đến 800 năm trước Tây lịch. Những bài tán ca gồm 1017 thiên, sau tăng thêm 11 thiên, thành 1028 thiên, với tổng số 10580 bài. Đây là bản Phệ đà xuất hiện sớm nhất, trong 3 bản Phệ đà khác cũng có bản được trích dẫn từ bản này, hoặc do sửa đổi bản này mà ra. (xt. Tứ Phệ Đà, Phệ Đà).

lê câu phệ đà kinh

Ṛg-veda (S), Iruveda (P)Câu thi Vệ đà, Thi tụngVệ đà phái.

lê da

Arya (skt)—Bậc Thánh—The sage—Saints.

lê dân

See Lê chúng.

lê nô bạch cổ

6843禪林用語。黧奴,又作狸奴、貍奴,貓類。白牯,白牛。均係無知之動物。禪宗多用以比喻根機卑劣、不解佛法之人。景德傳燈錄卷十池州甘贄行者(大五一‧二七九中):「於南泉設粥云:『請和尚念誦。』南泉云:『甘贄行者設粥,請大眾為狸奴白牯念摩訶般若波羅蜜。』甘乃禮拜,便出去。」〔從容錄第六十九則〕 ; (黧奴白牯) Cũng gọi Li nô bạch cổ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lê nô là loài mèo đen, Bạch cổ là bò đực trắng, đều là động vật vô tri. Thiền tông dùng nhóm từ này để ví dụ những người căn cơ thấp kém, không hiểu Phật pháp. Điều Trì châu Cam chí hành giả trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại 51, 279 trung), ghi: Hành giả Cam chí sắp cháo cho ngài Nam tuyền xong, thưa: Thỉnh Hòa thượng niệm tụng. Ngài Nam tuyền nói: Hành giả Cam chí đã sắp cháo, mời đại chúng vì Li nô bạch cổ mà niệm Ma ha bát nhã ba la mật. Cam chí liền lễ bái rồi lui ra. [X. Thung dung lục tắc 69].

lê sư đạt đa phú na la

5055棃師達多,巴利名 Isidatta,意譯仙授、仙施、仙餘,意指從仙人處求得之子;富那羅,巴利名 Purāṇa,又作布囉拏、富蘭那,意譯宿舊、舊,為棃師達多之兄。此兄弟二人,係佛世中印度波斯匿王之大臣,為拘薩羅國之首富,然能於佛及四部眾等共與受用,而不計我所。據雜阿含經卷三十五載,富蘭那專修梵行,離欲清淨,不著香華,遠諸凡鄙,故以持戒為勝;梨師達多不專精梵行,然其智足達四聖諦,故以智慧為勝。其後命終,佛記莂二人一為持戒勝,一為智慧勝,於後世得斯陀含果,生於兜率天。又據具德經載,仙授與布囉拏同為佛之優婆塞弟子。〔雜阿含經卷三十〕 ; (棃 師達多富那羅) Lê sư đạt đa,Pàli:Isidatta. Hán dịch: Tiên thụ, Tiên thí, Tiên dư. Phú na la,Pàli:Puràịa. Cũng gọi Bố ra noa, Phú lan na. Hán dịch: Túc cựu, Cựu. Hai anh em quan đại thần của vua Ba tư nặc thời đức Phật còn tại thế, là những người giầu có nhất ở nước Câu tát la. Ông Phú lan na là anh của Lê sư đạt đa, cả hai anh em không kể gì đến tài sản sở hữu của mình, mà đem cúng dường đức Phật và 4 bộ chúng cùng thụ dụng. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 35, thì Phú lan na chuyên tu phạm hạnh, xa lìa dục lạc, không đeo hương hoa, không gần trần tục, lấy hạnh giữ giới làm đầu. Còn Lê sư đạt đa thì không chuyên tinh phạm hạnh, nhưng có đầy đủ trí tuệ, thông suốt Tứ thánh đế, cho nên lấy trí tuệ làm đầu. Sau khi họ mệnh chung, đức Phật thụ kí 1 người giỏi trì giới, 1 người giỏi trí tuệ, đều sẽ được quả Tư đà hàm ở đời sau và sinh lên cung trời Đâu suất. [X. kinh Tạp a hàm Q.30].

lê thê

Very long.

lê xa

Licchavi (skt)—Còn gọi là Ly Xa, một vương quốc cổ của Vaisali, dân ở đây là những đệ tử sớm nhất của Phật—The ancient republic of Vaisali, whose people were among the earliest followers of Sakyamuni.

Lê-bà-đa

梨波多; C: líbōduō; J: ribata; S: revata.|Li-bà-đa (離婆多).

Lê-bà-đa 梨波多

[ja] リバタ Ribata ||| Revata, see 離婆多. => (s: Revata), Xem Li-bà-đa 離婆多.

Lê-da

梨耶; C: lí yé; J: riya;|Viết tắt của A-lê-da (阿梨耶), một cách Phiên âm chữ ālaya từ tiếng Phạn. A-lại-da thức.

Lê-da thức.

梨耶識; C: líyéshì; J: riyashiki; |Viết tắt phiên âm chữ ālaya từ tiếng Phạn. A-lại-da thức (阿頼耶識).

Lê-da 梨耶, Lê-da thức 梨耶識

[ja] リヤシキ riyashiki ||| An abbreviated way of rendering ālaya-vijñāna; see 阿頼耶識. => Viết tắt phiên âm chữ ālaya từ tiếng Sanskrit. Xem A-lại-da thức.

Lê-xa

phiên âm từ Phạn ngữ là Liçavỵ, cũng đọc là Ly-xa, Lực-sĩ, là một dòng họ lớn thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, đang rất có thế lực ở thành Câu-thi-na và thành Duy-da-ly vào thời bấy giờ.

lên bổng xuống trầm

To go up and down.

lên giọng

To raise one's voice.

lên lão

To reach the age of seventy.

lên mặt

To assume a high-and-mighty manner.

lên ngôi

To throne.

lên thác xuống ghềnh

To go up hill and down dale

lên tiếng

To raise one's voice

lên tới trời

Gaganaliḥ (S), Reaching up to sky.

lên xe xuống ngựa

To live in luxury.

lên đường

To set out—To start on one's way—To start off

lênh láng

Watery.

lêu lỏng

To vegabondize—To go gaping about the streets.

lìa bỏ

Pravraj (S), Leave. ; Detachment—Leaving.

lìa bỏ dục lạc

Detachment from pleasure.

lìa trần

To pass away—To die.

lìa tướng

To detach from forms.

lìa tứ cú, tuyệt bách phi

Tứ cú là: có, không, chẳng có chẳng không, cũng có cũng không. Tất cả tứ tướng đều chẳng ngoài tứ cú này, nếu trụ thì chướng ngại sự dụng của bản thể tự tánh mà sanh ra bách phi (đủ thứ sai lầm), nếu lìa thì hiển bày đại dụng của tự tánh mà tuyệt bách phi.

4717<一>指道理。即一切事物之存在、變化所準據之法則。可分成四種:觀待道理、作用道理、證成道理、法爾道理。〔瑜伽師地論卷三十〕(參閱「道理」5646) <二>「事」之對稱。指萬象差別事法之本體。為平等一如之諦理。與「理體」、「理性」同義。「理」具有隨緣、不變二德,即隨緣而變化森羅差別之萬法,然其性則常住不變。以其超越凡夫之相對知識,故無法以言語、文字表現。各宗派對於「理」有不同之闡釋。又詳論此絕對性真如實相,稱為「理論」,為「事論」之對稱。〔景德傳燈錄卷二十二〕(參閱「事理」3043) ; 4071<一>悉曇字???(ṛ)。又作釐、魯、 ; 3035悉曇字???(li 或 ḷ)。悉曇五十字門之一。又作力、

lí bình sơn

2959(1185~1231)宋代北邊金國之佛教學者。弘州襄陰(河北陽原)人。名純甫,字之純,以號行世。舉經義進士,官尚書右司都事,性嗜酒,每飲必醉,輒談論風發,與新進少年遊而不厭。通曉莊子、列子、左氏春秋、戰國策。初抨擊佛教,後因窮讀首楞嚴、圓覺、維摩、華嚴諸經,體得佛教真義,遂歸信佛教,提倡儒佛道三教調和說。著作除鳴道集說為世所知外,並有老子集解、莊子集解、中庸集解、中國心學、楞嚴絕解、金剛經解(全佚)等。〔佛祖歷代通載卷三十一、中州集卷四、居士傳卷三十五、金史卷一二六、宋元學案卷一○○〕

lí bí mật giáo

4720請參閱 量理海論日本台密所立之教判。稱法華、華嚴、涅槃等法門之用語。又作理密教。以此等法門乃說世俗勝義圓融不二之秘密教理(理論),不說真言、密印之事(儀式),故稱理祕密教。與之相對為「事理俱密教」,又作理事俱密教,即說世俗勝義不二之理,亦說真言、密印之事。(參閱「事密理密」3042)

lí bính nam

2959(1889~1986)山東濟南人。名艷,字炳南,號雪廬。為衍聖公孔奉祀官府祕書長。初學唯識於梅光羲,於禪、淨、密等,皆曾修習,後歸依印光大師,專修淨土。此外,亦精中醫。抗日期間,氏隨孔奉祀官德成於重慶,並助太虛大師弘法。大陸淪陷後,卜居臺中。除仍任職孔奉祀官府外,並兼任中國醫藥學院及中興大學教授,業餘則致力於佛法之弘揚。於臺中講經說法數十年,以「李老師」之名著稱於臺灣佛教界。先後創辦臺中佛教蓮社、菩提樹雜誌社、慈光圖書館、慈光育幼院、菩提醫院、菩提救濟院等弘法及慈善機構。此外,所辦大專佛學講座亦接引甚多大專學生進入佛門。氏為人方正嚴謹,學行兼攝儒佛二家之精義,故為時人所敬重。民國七十五年四月十三日逝世,享年九十八。著有雪廬詩文集、佛學問答、阿彌陀經義蘊、佛學常識課本等行世。並作佛教歌曲數十首。

lí bột

2960(773~831)唐代歸宗智常之俗家弟子。字濬之。貞元年間(785~805),在廬山五老峰下創白鹿洞,後徙少室山。元和初年受韓愈勸請,出仕諫議大夫,並歷任諸職。寶曆年中(825~827)任江州(江西九江)刺史。後復至白鹿洞,世稱白鹿先生。智常住持棲賢寺時,李渤常前往問法。曾以「須彌入芥子」之問題向智常請示一塵法界、萬物相關之理,此即「李渤懷疑」之公案。又以氏之奏請,帝乃敕賜西堂智藏「大覺禪師」之諡號。逝於太和五年,享年五十九。〔景德傳燈錄卷七歸宗智常章、禪苑蒙求卷上、白鹿洞書院志卷四、廬山記卷二〕

lí cao

2962唐代之儒者,為藥山惟儼之俗家弟子。趙郡(河北寧普)人。字習之。生卒年不詳。歷任國子監博士兼國史修撰、戶部尚書、山南東道節度使。氏雖隨廢佛主義者韓愈學文,然卻有濃厚之佛教思想,曾重新詮釋「心性」之說,而以「復性書」見重於世。任朗州刺史時,初見惟儼禪師,此乃氏與禪門結緣之始。其後,常於官務之暇,參訪禪林尊宿,結交方外,而廣為禪界所知。有關之機緣語句,詳載於景德傳燈錄卷十四藥山惟儼章等諸錄中。曾以「如何是道」請示惟儼,惟儼答以「雲在青天水在瓶」,氏乃豁然開悟,此即「李翱問道」之公案。諡號「文」。其著作有論語筆解、五木經、李文公集等。〔五燈會元卷五刺史李翱章、舊唐書卷一六○、新唐書卷一七七〕

lí chí

2962(1527~1602)明代晉江(福建廈門)人。字卓吾。萬曆初年,為姚安知府。稟性孤峻,出入佛儒之間,而以空宗為歸。嘗與王龍谿、羅近谿等辯難,抉摘世儒情偽,發明本心。在姚安時,喜與僧遊,常住伽藍判事,後入雞足山閱藏不出,言官劾之,遂勒令解任。客居黃安、麻城期間,剃髮披緇,登座說法,風動一時,男女歸之者甚眾。然以專崇佛教,引致士夫不滿,詆為左道。後北遊通州,為給事中張問達所劾,聲其卑辱孔子。下詔獄,不服,自縊而死。享年七十六。著有藏書、九正易因等書。曾校閱獨菴道衍(俗名姚廣孝)所作道餘錄一書。〔明史卷二二一、明史稿卷二八四〕

lí chí thường

2958(?~1256)元代道士。道教全真派第七祖。字浩然,號真常子。乃長春真人丘處機之弟子,曾隨處機西遊,著有長春真人西遊記,成為研究當時地理之重要文獻。志常繼伊志平之後任教祖,六年任內積極擴展全真教,以至引起佛道二教之激烈對抗。憲宗五年(1255),處機、志常率眾占佛寺、毀佛像,並破壞儒教之孔廟等建築;復刊行太上混元上德皇帝明威化胡成佛經、老子八十一化圖等。少林寺福裕上奏,指出彼等為疑妄,憲宗遂令志常、福裕當面對論,志常不敵。翌年,志常之弟子再敗於福裕,志常亦於同年逝世。至元十八年(1281),除道德經之外,道藏及其印板悉遭焚毀,道教受到極大之打擊。〔辯偽錄卷三、甘水仙源錄卷四大宗師真常真人道行碑〕

lí chướng

4721二障之一。「事障」之對稱。指根本無明、邪見等理惑,能障礙正知見,使不達本覺真如。〔圓覺經卷下〕(參閱「二障」241)

lí công lân

2957(1049~1134)宋代安徽舒州人。字伯時,號龍眠居士。元祐(1086~1094)進士,元符年間(1098~1100),拜御史大夫。博學好古,長於詩,多識奇字,自夏商以來之鐘鼎尊开,皆能考定、辨別款式,尤善畫山水、佛像,人物得吳道子心法,山水似李思訓。晚年歸佛受戒,能通禪法,而雅好淨土,隱居龍眠山莊,時與高僧談論,並結社念佛。紹興四年預知時至,施財、書偈,念佛而化。享年八十六。遺墨傳世頗多,畫家奉為典則。

lí cương

2961(1083~1140)宋代邵武(位於福建)人。字伯紀,號梁谿。徽宗政和二年(1112)進士,歷任監察御史、兵部侍郎、樞密史等職。宋金對峙之時,因極力主戰而遭貶謫。宋室南遷後,高宗召為宰相。 氏博通儒學,能賦詩文,著有易傳內篇十卷、易傳外篇十二卷、論語詳說十卷等。亦虔信佛法,親近芙蓉道楷、大慧宗杲等禪師;尤好華嚴教法,嘗將周易與華嚴異同對比,欲探求兩者之一致觀點。因倡言儒佛二教一致論,而與主張排佛之朱熹(1093~1163)、張載等,時有論諍。〔佛祖統紀卷四十七、釋氏稽古略卷四〕

lí cụ sự tạo

4718理具,即本性,先天具有之如實本性,又作本具、理造、性具、性德;此本有之性,隨因緣顯現而造諸現象,則稱事造,又作變造、事用、修起、修德、修具。天台宗認為於一念之心,具有三千諸法,此即一念三千之說其本性圓滿具足萬有,稱為理具三千、理造三千、性具三千。此理具三千常隨緣成為現象界,有其森羅萬象之差別相,稱為事造三千、事用三千、變造三千、修具三千。以上合稱事理三千,又作兩重三千、兩種三千,依其順次而表示其體與用。然一一萬法均具本來三千諸法而無缺,理具與事造之名雖異,但兩者之體為一,故不合為六千之法。(參閱「事理三千」3044)

lí cụ thành phật

4718日本真言宗所立三種即身成佛之一。全稱理具即身成佛。即一切眾生自心中,具金剛、胎藏兩部曼荼羅之體,遠離因果,法然具足,稱為理具即身成佛。(參閱「即身成佛」3760)

lí giáo

4720<一>指天台宗所立化法四教中之通教及圓教。「事教」之對稱。依所詮釋事理之範圍,以欲、色、無色三界而分界內、界外。通教係談「因緣即空」之理,稱為界內理教;相對於此,藏教乃主說色心諸法之事相差別,稱為界內事教。圓教係說「圓滿融即」之理,稱為界外理教;相對於此,別教之詮釋恆沙無量事,稱為界外事教。 <二>我國教派之一。為明末進士楊澤(羊來如,山東即墨縣人)於清代初年所創。初稱為在理教。該教教義係融合儒釋道三家之義理而成。崇奉佛教觀世音菩薩,而尊之為聖宗古佛或老佛爺。主要教義為存天理、崇真理、敦倫理、實行忠孝大道。並以「淫盜煙妄酒」為信徒之五戒。該教自清初創教以來,迭有興衰,主要流行於我國北方,嘗被指為白蓮教而遭禁。民國三十八年,該教總領正(主持人)趙東書於臺灣復教,創立理教總公所、清心堂公所,及聖理學院等,積極復興該教。

lí hiến thành

2962為唐代不空之俗家弟子。生卒年不詳。嘗依不空受普賢法,並奉詔護持不空之譯經弘法事業。不空曾授予銀羯磨、金剛杵、輪等之密教法器。大曆六年至十年(771~775)頃,由於氏之奏請,代宗乃於大興善寺之施戒方等道場下賜糧米,又敕許不空所譯經典入藏(編入大藏經中),莊嚴不空之葬儀,並為之立塔寫影、賜諡號,在翻經院內建立不空之舍利塔,敕賜「文殊閣」之額,令天下僧尼讀誦尊勝陀羅尼等。大曆十二年,氏進獻表示佛教隆盛之祥瑞物怖鴿毛,翌年奉進金字法華經。〔不空表制集卷三至卷六〕

lí hoa

2960(715~766)唐代趙州贊皇(位於河北)人。字遐叔。為善無畏三藏之俗家弟子。於開元、天寶年間,任官於朝,屢為權佞所嫉。安祿山之亂時,其母在鄴,氏欲迎母共逃,然不幸被捕。亂平後被貶為杭州司戶參軍,遂屏居江南。其後又隱於山陽,教敕子弟力農安貧。晚年崇信佛法,師事善無畏。氏善文筆,所著弔古戰場文,為古來膾炙人口之作,並著李遐叔文集十卷。開元二十三年(735),善無畏三藏入寂,氏為之撰寫行狀及碑銘、序等。大曆元年逝世,享年五十二。〔舊唐書卷二○九、新唐書卷一二八〕

lí hoặc luận

4721全一卷,凡三十七章。東漢末年蒼梧太守牟子博(明本作牟融)撰於三世紀間。全稱牟子理惑論。又稱牟融辯惑。收於大正藏第五十二冊弘明集卷一。旨以融和儒釋道三教思想,為我國佛教初期文獻。本書採問答形式,論述佛教並不違背儒家與老莊思想,對後世影響頗大,於魏晉南北朝三教關係思想上,尤為研究者不可或缺之典籍。 本書為我國早期論證佛教教理者,亦為研究佛教傳入我國之初期歷史有參考價值之重要資料。有關作者及撰述年代,議論殊多,收於弘明集之理惑論,作者題為漢牟融撰,又加注「一云蒼梧太守牟子博傳」。或謂古本未題牟融,而牟融乃漢章帝時之儒者,依其身分、時代推之,應非本書作者,而東漢、曹魏年間之牟子博是否為本書作者,迄今尚無定論。又成書年代亦有疑議,就近代學者之考證,一般主張為東漢末年,如胡適、周叔迦、余嘉錫、伯希和等人;亦有認為乃晉、劉宋間之偽作,如梁啟超、常盤大定等。

lí mạn đồ la

4720指密教胎藏界曼荼羅。「智曼荼羅」之對稱。金剛、胎藏二部曼荼羅中,金剛界表示修生之智德,胎藏界表示本有之理德,故稱金剛界為智曼荼羅,稱胎藏界為理曼荼羅。

lí nguyên tông

2957(?~776)唐代不空三藏之俗家弟子。任京城寺觀修功德使、知軍事上柱國涼國公。天寶十三年(754),在甘肅武威從不空受五部灌頂、金剛界大曼荼羅,是日道場之地大動,不空歎異之。氏從不空受法三十餘年,曾往來河西、南海問道,在淨影、鴻臚兩寺躬親供養。又不空曾授予銀道具、五股金剛杵、三股獨股鈴等。大曆九年(774)六月,不空示寂,氏奉敕監護葬儀。同年七月,奉敕具奏不空弟子之功業,並擇地修建不空之塔;八月,於興善寺翻經院造舍利塔。大曆十一年十一月卒。於不空表制集卷五載有「故功德使涼國公李將軍挽歌詞二首」。〔不空表制集卷三、付法傳卷下〕

lí ngạn

3723 此處指與佛教有關而流行於俗間之俚語與諺語。出自佛典者有「貧者一燈」、「入寶山空手而歸」、「師子身中蟲」、「空花水月」等。對佛典之語略加變更者有「自繩自縛」、「無繩自縛」等。出自佛典之意者有「龍頭蛇尾」。出於外典而用於佛典者如「隔牆有耳」、「累卵之危」等。〔大乘本生心地觀經卷六、碧巖錄第十則、續傳燈錄卷八、禪林寶訓卷四〕(參閱「佛教諺語俚語」2710)

lí nhí

To speak indistinctly

lí nhập

4717二入之一。「行入」之對稱。即深信凡聖一如之理而不疑。據楞伽師資記菩提達摩章載,理入,謂藉教悟宗,深信眾生凡聖同一真性,但為客塵妄覆,不能顯了;若能捨妄歸真,凝住壁觀無自他,凡聖等一,堅住不移,更不隨於言教,此即與真理冥符,無有分別,寂然無名,稱為理入。又依此理入而起修行,稱為行入。〔金剛三昧經卷上〕(參閱「二入四行」167)

lí pháp giới

4719即萬有皆為同一理性,真如平等無差別。四法界之一。為華嚴宗修入無盡法界,依次有四種觀門,理法界次於事法界,為第二。依華嚴法界觀門所載,乃三重觀門中之真空觀,立有四句十門,即:會色歸空觀(四門)、明空即色觀(四門)、空色無礙觀、泯絕無寄觀。亦即泯絕有無之妄情,修入真空之理。〔華嚴經隨疏演義鈔卷一、華嚴法界玄鏡〕(參閱「三重觀門」592、「四法界」1717)

lí phúc đạt

2961明代正德、嘉靖年間(1506~1566)之民間宗教首領。祖孫數代均在山西、四川等地傳教,參與白蓮教之起事活動,更因而投靠武定侯郭勛,並引起朝廷一場內爭,造成「李福達之獄」。〔明史紀事本末卷五十六〕

lí sám sự sám

4723懺悔分事、理二種。「理懺」為「事懺」之對稱。又作觀察實相懺悔。即過去、現在所作之一切罪業皆由心起,故若了知自心本性空寂,則一切罪福之相亦皆空寂,如是觀察實相之理以滅其罪,稱為理懺。事懺,又作隨事分別懺悔,以身禮拜瞻敬,口則稱唱讚誦,意則存想聖容,披露過去、現在三業所作之罪。 釋禪波羅蜜次第法門卷二、維摩經文疏卷十五、金光明經文句記卷三等,依大小乘之說,分三種懺悔:(一)作法懺悔,(二)取相懺悔,(三)無生懺悔。其中,作法、取相懺悔屬事懺,無生懺悔則屬理懺。〔摩訶止觀卷二上〕(參閱「懺悔」6772)

lí sư chính

2959唐代上黨(山西長治)人。生卒年不詳。初為儒者,後學佛法,為濟法寺法琳之弟子。高祖武德年間(618~626),道士太史傅奕屢次上奏毀佛,引致道俗激烈之論諍。師政亦撰內德論一卷,以辯惑、通命、空有三篇,闡論佛法利於國政,並駁斥傅奕之妄謬。〔佛祖統紀卷三十九、廣弘明集卷十四、三教平心論卷上〕

lí sự vô ngại quán

4718理,一真法界之性;事,一切世間之相。即觀平等之理性與差別之事法炳然而存,二者能相徧、相成、相害、相即、相非而圓融無礙。為四法界中之理事無礙法界。據華嚴法界觀門所舉,於理事無礙觀開立有十門,即:(一)理徧於事門,謂能徧之理,其性無分限,所徧之事,則有分位差別,然一一事中,理皆全徧,無不圓足。(二)事徧於理門,謂理既徧於事,而事亦徧於理,事雖有差別,然理無分限,故一微塵亦周徧法界。(三)依理成事門,謂緣起之事法無別體,必依理而成立,此即事攬理成。(四)事能顯理門,謂事虛而理實,故事中之理挺然露現,此即理由事顯。(五)以理奪事門,謂事既攬理而成,遂令事相皆盡,而唯一之真理平等顯現。(六)事能隱理門,謂真理隨緣而成諸事法,致使事顯而理不現,如諸佛之法身流轉五道,而成眾生。(七)真理即事門,謂真理不在事法之外,理之全體皆是事。(八)事法即理門,謂緣起之事法必無自性,故事之全體即真性。(九)真理非事門,謂理為事之所依,而非是事,又理絕諸相,真妄有異,故真理非事。(十)事法非理門,謂事為能依,非是所依,又事有差別,性與理異,故事法非理。其中,初二門為事理相徧,三、四門為事理相成,五、六門為事理相害,七、八門為事理相即,九、十門為事理相非,即觀其義旨雖不同,然逆順自在無障無礙,為同時頓起之同一緣起法。〔註華嚴法界觀門、大方廣佛華嚴經疏卷二、華嚴經隨疏演義鈔卷十、華嚴法界玄鏡〕(參閱「三重觀門」592、「四法界」1717)

lí thiêm xuân

2959(1899~ )臺灣高雄人。早年東渡日本,畢業於駒澤大學佛教學科。返臺後曾任臺灣大學農業經濟學系教授、泰北中學校長、基隆佛教居士林林長、臺灣佛教雜誌主編等職。所撰佛學文章,散載於各佛教刊物。臺灣省通志稿卷二人民志宗教篇即為氏所著。

lí thiền sự thiền

4723理禪,即斷盡煩惱妄想之無漏禪定,又稱理定;反之,事禪即為有漏定。天台四教儀集解卷中(卍續一○二‧四二上):「須知大論三僧祇時六度滿者,但是事禪事智滿耳;若至樹下,亦須緣理禪智故也。若俱舍中因時已斷八地惑,竟然而有頂惑未斷也,所以只用有漏而已。」

lí thiện

4720即滅理惑之深妙善。「事善」之對稱。係以淺深相對而分事理。即如以滅事惡為淺近之善,稱為事善;滅理惑為深妙之善,稱為理善。據法華玄義卷五載,將藏、通、別、圓四教分為界內之事善、理善及界外之事善、理善;其中通教為界內理善,圓教為界外理善。(參閱「二善」213)

lí thuỵ sảng

2961(1931~ )吉林省吉林市人。法名覺朗,別號寂光。臺灣師範大學、日本國立東京大學畢業,並獲美國哈佛、加州二大學哲學博士學位。歷任美國密西根州立大學、麻州大學、加州大學舊金山分校等校教授。氏自幼歸依佛教,來臺後親近大醒法師,顯密雙修。留日時期,專攻印度哲學,並習空觀思想。於梵文及比較宗教學等,鑽研頗深。又潛心研究我國禪宗之興衰演變,在美執教期間,屢以「禪院生活與中國社會」為題介紹中國文化之層次。為美國科學思想學會會員。一九七一年,膺選美國符號邏輯學會卓越會員。著作有小乘涅槃之漢巴英諸譯、我所了解的叔本華、佛學真髓、禪院生活和中國社會、對百丈清規的一個現象學的研究等書。

Lí Thái Tổ

李太祖; 974-1028|Một vị vua lừng danh của đất Việt, là người sáng lập triều Lí khi bước lên ngôi năm 1010. Dưới thời Lí Thái Tổ, đạo Phật hưng thịnh, khoảng trên 300 ngôi chùa được xây. Ðời này là thời gian phát triển rực rỡ của Phật giáo, là thời kì mà các nhà vua coi trọng đạo pháp, xây cất chùa chiền. Trong thời gian này, các kinh quan trọng như Kim cương, Dược sư, Diệu pháp liên hoa được in và phổ biến rộng.|Ông tên là Lí Công Uẩn, người làng Cổ Pháp. Cha mất trước khi ông ra đời và ngay sau khi sinh ra ông thì người mẹ cũng mất theo. Ông được một vị tăng trong chùa nuôi lớn. Ðến 8, 9 tuổi, vị này gửi ông theo học với Thiền sư Vạn Hạnh.|Nhờ những điềm linh báo trước, Thiền sư Vạn Hạnh biết là ông sẽ lên ngôi vua thành lập nhà Lí và vì vậy hết lòng phò tá. Khi Lê Long Ðĩnh mất, ông được các vị quan trong triều tôn lên làm Hoàng đế. Ông thấy cố đô Hoa Lư chật hẹp bèn dời đô về La Thành. Theo truyền thuyết, khi đến La Thành, ông thấy một con rồng vàng bay lên nên vì vậy đổi tên thành Thăng Long thành – thủ đô Hà Nội bây giờ, đổi Hoa Lư thành phủ Tràng An và Cổ Pháp thành phủ Thiên Ðức.

Lí Thánh Tông

李聖宗; 1023-1072|Vua thứ ba đời nhà Lí, nổi danh với tấm lòng từ bi, yêu nước thương dân như con. Ông chính là người phát hiện tài năng của Thiền sư Thảo Ðường và cũng được xem là người cùng khai sáng thiền phái Thảo Ðường, dòng thiền thứ ba sau hai hệ phái khác là Tì-ni-đa Lưu-chi và Vô Ngôn Thông.|Mẹ của ông là Mai Thị, một hôm mơ thấy mặt trăng rơi vào bụng và biết rằng mình có mang. Ngày 25 tháng 2 năm Thuận Thiên thứ 14 (1023), Hoàng hậu sinh ông tại cung Long Ðức. |Thuở nhỏ ông đã tỏ ra là một người thông minh đĩnh ngộ, văn võ toàn tài. Vì cung Long Ðức được xây ở ngoại thành và đã sống ở đây 27 năm trước khi lên ngôi, ông thấu hiểu nỗi khổ của bần dân, cảnh đói rét, sự bất công ở các miền thôn dã. Hai câu chuyện sau thường được nhắc lại: |»Một lần ông tham dự một buổi xử kiện với công chúa Ðộng Tiên. Phạm nhân là một chàng trai trẻ, vì không hiểu biết luật pháp nên lỡ vi phạm. Vua gọi quan toà lại, chỉ vào con gái của mình nói: Ta yêu con ta cũng như các bậc cha mẹ yêu con cái của họ. Trăm họ không hay biết nên tự phạm vào luật pháp, ta rất thương xót. Từ nay, các tội bất kì nặng nhẹ cần răn dạy kĩ lưỡng và nhất nhất đều phải khoan giảm.|Lần khác, gặp ngày trời rất lạnh. Nghĩ đến dân, vua chạnh lòng với tả hữu: Ta ở trong thâm cung, sưởi lò than, mặc áo hồ cừu mà khí lạnh vẫn còn thế này huống hồ những kẻ bị giam trong ngục thất, xiềng xích khổ đau, ngay gian chưa định, bụng không cơm no, thân không áo ấm, một khi gặp cơn gió lạnh thổi há chẳng bị chết rét ư? Ta rất đỗi thương xót.|Nói xong, vua sai tả hữu đem chăn chiên trong kho ban cho tù nhân và mỗi ngày phát cho tù nhân hai bữa cơm. Và vua xuống chiếu miễn cho cả nước một nửa số thuế năm đó.« (trích Quỳnh Cư).|Ngoài những trách nhiệm đối với dân, nước, ông còn đặc biệt chú tâm đến đạo Phật, cho xây cất rất nhiều chùa chiền. Ông mời Thiền sư Thảo Ðường vào cung để hỏi về Thiền và kinh luận và phong cho Thảo Ðường danh hiệu Quốc sư. Tư tưởng thấm nhuần đạo lí của ông được ghi lại trong sử sách như sau:|»Khác với các triều đại trước, Lí Thánh Tông đem đạo vào đời, mà cuộc đời ấy, theo nhà vua, phải lấy việc phụng sự dân tộc, lấy sự đồng tâm nhất trí làm mục đích để tập trung vào hành động thiết thật, cứu thế bằng đức tin. Vua đã tìm thấy trong Phật học triết lí sinh thành dưỡng dục theo nghĩa dài lâu nối tiếp, là phương tiện dạy cho dân hiểu mình là ai, lấy ý chí tự cường để thắng số mệnh, phụng sự cho sự phồn vinh bền vững của quốc gia. Cũng do vậy, dân chúng Ðại Việt tìm thấy nguồn cảm hứng vừa sâu rộng vừa cao siêu của mình ở tình yêu hiện thật và đại đồng Phật giáo, ở lòng từ bi bác ái cứu khổ cứu nạn cứu vớt chúng sinh. Nhân dân đến với đạo không phải vì chán ngán cuộc đời mà vì muốn sống cuộc đời cao cả là đời sống tâm linh. Những nhà tu hành đời Lí không phải là những người chán đời đi ở ẩn mà là những người xuất thế để nhập thế, những người có học vấn để giúp đời và giúp người. Vì vậy, đời Lí người tu hành xuất hiện khắp nơi. Chùa và đình thất mọc lên khắp nước. Kiến trúc chùa chiền thời ấy rất giản dị, dịu mát ẩn dưới bóng đa linh thiêng và tôn kính.« (trích Quỳnh Cư).|Năm Nhâm Tí (1702), ông mất rất đột ngột, thọ 50 tuổi, trị vì được 17 năm.

Lí Thông Huyền

李通玄; C: lǐ tōngxuán; j: ri tsūgen; 635-730.|Cư sĩ học giả quan trọng của tông Hoa Nghiêm, cùng thời với Huyền Trang. Ban đầu chưa được công nhận, nhưng về sau được các Thiền sư tông Lâm Tế đánh giá cao. Các tác phẩm của ông, quan trọng nhất là luận giải Tân Hoa Nghiêm kinh luận (新華嚴經論), 42 cuốn, bản dịch của Thật-xoa-nan-đà (s: śikṣānanda), đã tạo nên ảnh hưởng sâu đậm cho Thiền tông và Hoa Nghiêm tông của Phật giáo Triều Tiên sau nầy; còn có một luận giải khá dài của Tri Nột về tác phẩm nầy. Còn có ảnh hưởng rất mạnh đến tông Hoa Nghiêm Nhật Bản.

lí thông huyền

2960(635~730)唐代華嚴學者。王族出身,或謂滄州(河北滄縣)人。天賦異稟,學無常師,洞精儒釋二典,入林泉,遠離城市之囂。開元七年(719),隱於太原府壽陽方山之土龕,參究新譯華嚴經。居山中數載,每日僅以棗顆、柏葉餅為食,世稱棗柏大士。開元十八年三月,於龕室坐化,享年九十六。宋徽宗賜號「顯教妙嚴長者」。所著有新華嚴經論四十卷、華嚴經會釋論十四卷、略釋新華嚴經修行次第決疑論四卷、略釋、釋解迷顯智成悲十明論各一卷、十玄六相、百門義海、普賢行門、華嚴觀及諸詩賦等。〔華嚴經決疑論序及後記、華嚴經合論卷首李長者事迹、華嚴論節要卷末行狀、宋高僧傳卷二十二、佛祖統紀卷四十、佛祖歷代通載卷十三、唐李長者通玄行蹟記、昭化寺帖、昭化寺李長者龕記(上三者為金石續編卷十七所收)〕

lí thú hội

4721位於密教金剛界九會曼荼羅之西北方。為一印曼荼羅之形式。一印曼荼羅,係為修一尊法者之曼荼羅。現證三昧大教王經卷八僅載金剛薩埵之一印會;而大日如來為果位之總德,金剛薩埵為因位之總德,兩者僅為因、果之不同,故九會曼荼羅中畫有兩者之一印曼荼羅。大日如來之一印曼荼羅,稱為一印會;金剛薩埵之一印曼荼羅,稱為理趣會,此會之中尊為金剛薩埵,配於四方之欲、觸、愛、慢等四菩薩及八供養、四攝,共為十七尊。〔十八會指歸〕

lí thú kinh

4721全一卷。唐代不空(梵 Amoghavajra)譯。全稱大樂金剛不空真實三麼耶經。又稱般若理趣經。收於大正藏第八冊。相當於般若經理趣分,即般若十六會中之第十會,大般若經第五七八卷。理趣即道理旨趣之意。乃智法身之大日如來為金剛薩埵(梵 Vajrasattva)所說之般若理趣清淨之理,內容共有十七章,說明密教之極意。智法身,為理法身之對語,即窮盡始覺之智,契合清淨本覺之理,而顯示身心一如之智。金剛薩埵表示大日如來之因位、眾生本具佛性之始發,即以初發菩提心之眾生,悉稱金剛薩埵。 本經異譯本有五本:唐代玄奘譯大般若波羅蜜多經第十會般若理趣分一卷、唐代菩提流志譯實相般若波羅蜜經一卷、唐代金剛智譯金剛頂瑜伽理趣般若經一卷、宋代施護譯遍照般若波羅蜜經一卷、宋代法賢譯最上根本大樂金剛不空三昧大教王經七卷。前四本大體與不空所譯本相同,而法賢所譯之文甚長。 本經亦有不少別生經,第一章之別生經有六部:大樂軌、略出軌、理趣會軌、普賢軌、普賢金剛薩埵念誦儀、金剛頂普賢瑜伽大教王經大樂不空金剛薩埵一切時方成就儀,皆以第一章所載十七清淨句作為菩薩,說其供養念誦順序。另有理趣經十七尊義述,亦以十七清淨句作為菩薩,說其本誓。第十七章之別生經有五祕密儀,以第一章所說之十七尊攝於金剛薩埵、欲、觸、愛、慢之五菩薩,而說修行念誦法。 本經於密教諸經軌中,特被尊重,不僅於迴向、諸願成就、例行法會中常讀誦,金剛界曼荼羅中並設理趣會,以十七清淨句為十七菩薩,列於會中。

lí thú kinh mạn đồ la

4722指圖繪理趣經各段法門之曼荼羅。又作理趣釋曼荼羅。即基於理趣釋而成之理趣經十七段曼荼羅,再加上說會,而為十八會之曼荼羅。

lí thú kinh pháp

4722基於理趣經之經意,以理趣經曼荼羅為本尊,係滅罪、息災、敬愛等所修之法。關於本尊,或謂五祕密,或謂段段之尊、般若菩薩、初段之大日能說之尊等多種說法。〔大樂金剛薩埵儀軌、祕鈔卷六〕

lí thú tam muội

4721於讀誦理趣經之儀式中,其心靜定而不散亂;如是一心不亂以行理趣經軌之精神靜定狀態,稱為理趣三昧。又行理趣三昧,係屬於禮懺(拜懺)之一種,故又作理趣禮懺。有顯、密二行之分,顯行即讀玄奘所譯之般若理趣分;密行即讀唐代不空所譯之理趣經。

lí thú thích kinh

4722請參閱 理趣釋經凡二卷。唐代不空譯。全稱大樂金剛不空真實三昧耶經般若波羅蜜多理趣釋。又稱大樂金剛理趣經、般若理趣釋、理趣釋。收於大正藏第十九冊。係解釋大樂金剛不空真實三麼耶經(理趣經)。理趣經文共分十七章,本書之上卷隨文解釋初二章,下卷解釋後十五章。蓋本書係通釋說金剛頂宗根源之理趣經,故於密教教理中,與相對於解釋胎藏法之大日經疏,皆為重要著作。〔貞元新定釋教目錄卷十五、卷二十九〕

lí thế kiệt

2958(1919~ )臺灣新竹人。中學畢業後即苦學自修,勤研佛教哲學。曾任職於臺灣大學圖書館,執教於中國文化學院(中國文化大學)哲學系。又先後在本省十餘處佛學院教授佛學課程。著述甚多,重點在於印度哲學及佛教哲學方面,並譯介日本現代佛學名著多種;有華嚴哲學要義、印度奧義書哲學概要、印度六派哲學、密宗的歷史與教理,及原始、部派、大乘佛教思想史等書行世。

lí trí

4721理乃所觀之道理,智乃能觀之智慧。真如之理與悟得此理之智慧相應,稱為理智相應。能觀之智與所觀之理一致者,稱為理智冥合。俱舍論卷十八列舉二種智,有漏諸智稱為事智,與之相對者為「理智」,即指無漏諸智。 ; 4720道理旨趣之意。於禪門,為師家接引學人之方法。為「機關」之對稱。即師家為接引學人,以開示經論道理之方法指導之;同於「如來禪」之依經教而修。〔法華遊意、圜悟心要〕

lí trường vi tông

4719不拘泥特定宗派之宗義,能自由運用殊勝之道理,以為自宗之批判者,稱為「理長為宗」。世親作俱舍論,即以說一切有部之說為主,兼採經量部之殊勝處,以闡明阿毘達磨之真義,此即是理長為宗之嚆矢。

lí tuân húc

2962(?~1038)宋代人。祖崇炬,父繼昌。字公武。舉進士,任都尉駙馬。參謁谷隱蘊聰問宗要,大悟,受其印可,作偈云(卍續一四七‧四四三上):「參禪須是鐵漢,著手心頭便判,直趣無上菩提,一切是非莫管。」多與禪者交往,天聖年間(1023~1030)集天聖廣燈錄三十卷進上,揭明禪宗傳燈系譜。寶元元年逝世,年壽不詳。著有閒宴集二十卷、外館芳題七卷。〔天聖廣燈錄序、聯燈會要卷十三、嘉泰普燈錄卷二十二、居士分燈錄卷上、宋史卷四六四〕

lí tâm

4717指眾生、佛一如之絕對平等心。係指相對於「心所」之心王。楞伽師資記求那跋陀羅章,將安心分類為背理心、向理心、入理心、理心四種,而以理心為安心之窮究極致。該書謂(大八五‧一二八四中):「四者理心,謂非理外理,非心外心,理即是心。心能平等,名之為理;理照能明,名之為心。心理平等,名之為佛心。會實性者,不見生死涅槃有別、凡聖為異,境智無二,理事俱融,真俗齊觀,染淨一如,佛與眾生,本來平等一際。」

lí tính

4718請參閱 因明正理門論 指始終不變之本具理體。性,乃不待其他因緣,無始以來,法爾存在之本具因種。如以無常、苦、空、無我等為一切法共通之理性。摩訶止觀卷五上,則以實性即為理性。〔大智度論卷三十一〕

lí tại tuyệt ngôn

4717謂真理超越言語思慮。或謂道理之存在,無法用言語說明。理,為相對於「事」者,指宇宙森羅差別之現象事法的本體,乃平等一相之理性真如。以其超越凡夫相對性知識,故無法以言語、文字表達。所謂「言語道斷,心行處滅」即同於此意。然離言語便無法說示,故假言說,以闡明其德性,故有所謂「依言真如」,乃相對於「離言真如」而稱。

lí tức phật

4719指雖本具佛性,因不能了知而輪迴生死之位。又作理即、理佛、素法身。天台所立圓教六即位之一。從凡至聖分為六位,理即為初位。所謂理即,以一切眾生皆具中道佛性為理,此理具之位與證得究竟之佛果相即不二是為即,如三惡道眾生,雖無一毫之善,然本具佛性,是為理即;故理即佛唯具法身之理體,而無功德之莊嚴。摩訶止觀卷一下(大四六‧一○中):「理即者,一念心即如來藏理,如故即空,藏故即假,理故即中,三智一心中,具不可思議。如上說,三諦一諦、非三非一、一色一香、一切法、一切心亦復如是,是名理即菩提心。」〔天台四教儀〕(參閱「六即佛」1276)

lí tử khoan

2957(1882~1973)湖北應城人。名基鴻。法名了空。為太虛大師之在家弟子。畢生於黨國貢獻甚大。民國三十五年(1946),膺選為國民大會代表。曾連任漢口佛教正信會會長十五年,並任武昌佛學院院護、漢藏教理院院董、世界佛學苑董事、中國佛教整理委員會常務委員等職,輔助太虛、章嘉二師整理佛教事務。 氏一生誓願弘深,對太虛大師之弘法護持最力。太虛大師入寂後,負責推動佛教文化社、海潮音雜誌、太虛大師全書之發行等工作。抵臺後,以臺北善導寺為其弘法事業之主要道場,並多方扶持中國佛教會,為民國四、五十年代之臺灣佛教界名人。著有聖揆錄、百年一夢記等書傳世。

lí viên tịnh

2961民國浙江人。名榮祥。法名圓淨。曾歸依諦閑法師,專修淨土。篤信觀世音菩薩。著有佛法導論、妙法蓮華經觀世音菩薩普門品釋、華嚴經疏科文表解等書。

lí vô siểm

2960唐代譯經婆羅門。北印度嵐波國人。識量聰敏,博通內外之學,並精曉唐梵語言。參與阿儞真那、菩提流志等之譯事。武后聖曆三年(700)庚子三月,由新羅國僧人明曉之請,於佛授記寺翻經院譯出不空羂索陀羅尼經一卷。其餘事蹟及生卒年均不詳。〔開元釋教錄卷九〕

lí vũ trung

2958(1919~ )江蘇臨川人。法名月池,別號三空。國立廈門大學教育系畢業,精通英文,長於文學評論。歷任臺北工專、中國文化大學等校教授。著作有梵巴文讀音示例、偉大的佛陀(中譯英)、人生真諦、幸福之基(英譯中)等。曾應佛教文化服務處星雲大師之請,負責編纂中英對照佛學叢書經典之部與教理之部。所撰評論性文章,散見於各佛教雜誌。

lí xu

2961五代後梁末帝(朱瑱)時之禮部員外郎。生卒年、本籍等皆不詳。龍德元年(921)三月,列表上奏管理僧尼條例,計有四項:(一)禁止私度僧尼。(二)限制敕頒僧眾師號、紫衣等。(三)願出家者,須比試經業。(四)願還俗者,無條件認可。末帝受其奏請,下詔改革教團。〔佛祖統紀卷四十二〕

lí độc tính độc

4719又作理性毒害。就天台智顗請觀音經疏中理毒之說是否為性毒,山家山外二派所起之諍論。智顗於經疏中解釋標題「消伏毒害陀羅尼」,謂法有體、用二義,消伏毒害乃闡明其力用,陀羅尼則說明其正體。消伏毒害之作用,有事、行、理三方面,事即虎狼刀劍,行即五住之煩惱,理即法界無閡無染而染,即理性之毒。對此,山外派智圓以理毒、性毒二者不同,認為真如以無明為緣而生起諸法,諸法乃無染而染,故稱為理毒。此毒非真如性德本具,故理毒可滅;性毒乃性惡,無法滅除,故不應以性惡即理毒。山家派知禮則以其說為別教之說,圓教則認為理毒即性毒。知禮係就理毒即性毒之「即」字而論,以為若所迷之法界不具三障之染,受熏變造而另有三障,此為別教之義,「即」之義不成立;所迷法界原具三障之染,故現三障,復還原本時,亦染毒宛然(即性毒),方合乎「即」之義,乃得契入圓旨。〔請觀音經疏闡義鈔卷一、四明尊者教行錄卷二釋請觀音疏中消伏三用、天台教學史〕

líu quíu

Embarrassed.

lò thiêu

Lò hỏa táng—Crematorium.

lòng

Heart—Mind—Soul.

lòng bi mẫn

Compassion.

lòng biết ơn

Gratitude.

lòng bàn chân

Soles of the feet.

lòng can đảm

Courage.

lòng chân thật

Frankness.

lòng dạ

Heart.

lòng dục

Lusts of the flesh.

lòng ghen

Jealousy.

lòng ham muốn

Desire—Wish.

lòng hiếu thảo

piety.

lòng hy sinh

Self-sacrifice.

lòng hăng hái

Enthusiasm.

lòng mê muội đảo điên

Topsyturvy.

lòng mộ đạo

Devotion.

lòng nhân

Charity.

lòng nhân từ

Humanity—Compassion.

lòng nhẫn nại

Patience.

lòng rộng rãi

Generosity.

lòng sông hằng

Gaṅgāmadhya (S), Bed of the Ganges.

lòng tham vi tế

Deep-seated (subtle or profound) greed.

lòng thành

Sincerity—Honesty.

lòng thương hại

Commiseration—Pity—Compassion.

lòng tin

Sràddhà (S). Faith, devotion.

lòng tin thanh tịnh

Pure faith.

lòng trung thành

Loyalty—Faithfulness.

lòng trung tín

See Lòng trung thành.

lòng trắc ẩn

Compassion—Pity.

lòng tốt

Kindness—Kind heart.

lòng từ

See Từ.

lòng tự ái

Pride—To hurt someone's pride—Chạm lòng tự ái của ai.

lòng vàng

Heart of gold.

lòng vị tha

Altruism

lòng ích kỷ tham dục

Selfish-craving.

lóng cóng

Trembling.

lóng lánh

To glint (in the water).

lóng ngóng

To be waiting for something.

lóng xuống

To settle down.

6652悉曇字???(?)。悉曇五十字門之一。又作梨、樓、盧、棃。據瑜伽金剛頂經釋字母品載,此字門含有「一切法沈沒不可得」之義,故古來稱此字為「沈沒之嚧字」,然其原語不詳。又據文殊師利問經卷上字母品載,唱此字時,能出三有染相之聲。三有,此處係指欲界、色界、無色界三界。〔北本大般涅槃經卷八如來性品、悉曇三密鈔卷上本〕 ; (嚧) Cũng gọi Lê, Lâu, Lư. Chữ Tất đàm ( ), 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Cứ theo phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính, thì chữ này có hàm nghĩa Tất cả pháp chìm mất chẳng thể được, cho nên xưa nay nó được gọi là chữ Lô chìm mất, nhưng chưa rõ nguyên ngữ của nó. Theo phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng, khi xướng tụng chữ Lô, hành giả có thể tránh khỏi những âm thanh ô nhiễm trong cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc. [X. phẩm Như lai tính trong kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); Tất đàm tam mật sao Q.thượng phần đầu].

lô ca da để ca, lộ già da đà

Loka-yatika (S). Name of a heretic sect.

lô ca da để ca-lộ già da đà

Loka-yatika (S). Name of a heretic sect.

lô ca na tha

Lokanàtha (S). Thế tôn.

lô ca phại

Lokavit (S). Thế gian giải.

lô chí

6270<一>為佛世時舍衛城中之長者。又作盧遮。世稱盧至長者、盧志長者或留志長者。原為慳貪之人,雖擁財萬貫,依然著弊衣,食糠菜,常為世人所笑。某日,城中有節會,人人皆嚴飾宅舍,飲食歡宴,盧至則開寶庫,僅取五錢購麨、酒及葱,至城外靜僻處,獨飲而醉,起而歌舞,並謂於此節慶會,縱酒大歡樂,逾過毘沙門,亦勝天帝釋。 時值天帝釋往詣佛所途中,遂以神通化作盧至,至其家開寶庫施與眾人。待盧至返家,竟遭驅逐,便至波斯匿王處請求相助,王亦無法分辨真假盧至,遂共往佛所。佛為說法度之,終於得道。〔盧至長者因緣經、法苑珠林卷七十七〕 <二>即樓至佛,為賢劫千佛中之最後佛。(參閱「樓至佛」6095) ; (盧至) I. Lô Chí. Cũng gọi Lô già, Lô chí trưởng giả, Lưu chí trưởng giả. Vị Trưởng giả ở thành Xá vệ vào thời đại đức Phật, ông này tính vốn tham lam, keo kiệt, tuy giàu có nứt đố đổ vách, nhưng vẫn mặc áo rách ăn cơm hẩm, thường bị người đời chê cười. Một hôm, trong thành có lễ hội, mọi người đều trang hoàng nhà cửa, ăn uống linh đình, Trưởng giả Lô chí mở kho báu, lấy ra 5 đồng tiền mua miến, rượu và hành, đưa đến 1 nơi vắng vẻ ngoài thành, ăn uống một mình, say sưa, rồi đứng dậy múa hát, tự cho rằng trong lễ hội này, mình no say vui sướng còn hơn cả Tì sa môn và Thiên đế thích! Lúc bấy giờ, trời Đế thích đang trên đường đi đến chỗ đức Phật, bèn dùng thần thông hóa làm Lô chí, đến nhà Lô chí mở cửa kho báu, lấy hết tiền của ban phát cho mọi người. Khi Lô chí trở về nhà thì bị Lô chí kia đuổi đi, Lô chí liền đến chỗ vua Ba tư nặc xin giúp đỡ, nhà vua không biết phân xử ra sao, vì chẳng biết Lô chí nào là thật, Lô chí nào là giả, bèn cùng nhau đến bạch đức Phật. Phật thuyết pháp độ cho, về sau đắc đạo. [X. kinh Lô chí trưởng giả nhân duyên; Pháp uyển châu lâm Q.77]. II. Lô Chí. Tức là Phật Lâu chí, đức Phật cuối cùng trong 1.000 đức Phật ở Hiền kiếp. (xt. Lâu Chí Phật).

lô chí trưởng giả kinh

6270全一卷。全稱盧至長者因緣經。譯者不詳。收於大正藏第十四冊。內容記述慳貪之盧至長者得道之因緣。〔開元釋教錄卷三、貞元新定釋教目錄卷五〕 ; (盧至長者經) Gọi đủ: Lô chí trưởng giả nhân duyên kinh.Kinh, 1 quyển, không rõ dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung nói về nhân duyên đắc đạo của Trưởng giả Lô chí. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.5].

lô cảnh dụ

6271(?~542)北魏人。字仲孺,小字白頭。專攻經學,撰有周易、尚書、孝經、論語、禮記等之注疏。曾遭高歡(北魏孝武帝之丞相)之軍隊逮捕入獄,於獄中默誦高王觀世音經一千遍,受斬刑不死,遂免死罪;以此緣由,該經遂流通於世。另於續高僧傳卷二十九僧明傳中亦述及此事,然以此事件之主角為定州募士孫敬德,而非盧景裕。〔魏書卷八十四〕

lô diệp đạt ma

6780由菩提達磨託身蘆葉渡揚子江之故事,而有所謂「蘆葉達磨」之繪圖。禪宗初祖菩提達磨於梁普通元年(520)來華,見梁武帝,不契機宜,遂於同年十一月十九日離梁境,託身蘆葉,以渡揚子江,抵達洛陽。至宋代,遂有以此一故事為主題之畫作產生。景德傳燈錄卷三(大五一‧二一九上):「帝又問:『如何是聖諦第一義?』師曰:『廓然無聖。』帝曰:『對朕者誰?』師曰:『不識。』帝不領悟,師知機不契,是月十九日朂迴江北。」〔碧巖錄第一則、祖庭事苑卷八〕 ; (蘆葉達磨) Tên bức tranh vẽ sự tích Tổ Bồ đề đạt ma đứng trên chiếc lá lau vượt qua sông Dương tử.Vào niên hiệu Đại thông năm đầu (527) đời Lương, Sơ tổ Thiền tông Bồ đề đạt ma đến Trung quốc, gặp vua Vũ đế nhà Lương, nhưng vua không khế hợp cơ nghi của Ngài, Tổ bèn rời đất Lương vào ngày 19 tháng 11 cùng năm, đứng trên 1 chiếc lá lau để qua sông Dương tử, đến Lạc dương. Sang đời Tống, giới hội họa thường dùng sự tích này làm đề tài vẽ tranh. [X. tắc 1 Bích nham lục; Tổ đình sự quyển Q.8].

lô già na

6271<一>梵名 Vairocana。為佛之報身或法身。又作毘盧遮那、盧舍那、流舍那、淨滿。各宗說法不一。如華嚴宗以盧舍那乃毘盧舍那之略稱,為報身佛,乃華嚴經所說蓮華藏世界之教主。另如天台宗則以毘盧遮那為法身佛,以盧舍那為報身佛,以釋迦為應身佛。(參閱「毘盧遮那」3858) <二>梵語 rocana。又作盧脂那。意譯狂亂、癡迷。屬於茄科(Solanaceae)之草本植物,學名 Datura metel, Linn。全株有毒,可作藥用,分布於西部喜馬拉雅山至德干半島西部。慧琳音義卷二十六(大五四‧四七二下):「盧脂那花,(中略)此云眼花也。」〔觀世音菩薩授記經〕

lô giá na

(盧遮那) I. Lô Giá Na. Phạm: Vairocana. Cũng gọi Tì lô giá na, Lô xá na, Lưu xá na, Tịnh mãn. Báo thân hoặc Pháp thân của Phật. heo tông Hoa nghiêm thì Lô xá na gọi đủ là Tì lô xá na, là Báo thân Phật, Giáo chủ của thế giới Liên hoa tạng. Còn tông Thiên thai thì cho Tì lô gia na là Pháp thân Phật, Lô xá na là Báo thân Phật, đức Thích ca là Ứng thân Phật. (xt. Tì Lô Giá Na). II. Lô Giá Na. Phạm: Rocana. Cũng gọi Lô chi na. Tên khoa học: Datura metel, Linn. Loại thực vật thân cỏ, thuộc họ cà (Solanaceae). Toàn gốc cây có chất độc, được dùng làm thuốc, mọc rải rác từ vùng núi Hi mã lạp sơn (Himalaya) ở phía tây đến miền tây bán đảo Đức can (Deccan). [X. kinh Quán thế âm bồ tát thụ kí].

lô hành giả

6270即禪宗第六祖慧能禪師。俗姓盧,初在蘄州(湖北)黃梅憑茂山五祖弘忍門下修道,稱為盧行者,或盧居士。行者,謂帶髮之修行者。景德傳燈錄卷三「五祖章」(大五一‧二二三上):「復問:『衣法誰得耶?』師曰:『能者得。』於是眾議盧行者名能,尋訪既失。」〔大慧普覺禪師書卷上〕 ; (盧行者) Tức là Thiền sư Tuệ năng, Tổ thứ 6 của Thiền tông. Sư họ Lô, mới đầu tu đạo dưới sự chỉ dạy của Ngũ tổ Hoằng nhẫn ở núi Bằng mậu, huyện Hoàng mai, Kì châu (Hồ bắc), nên được gọi là Lô hành giả, hoặc Lô cư sĩ. Hành giả nghĩa là người tu hành mà chưa cạo tóc. Chương Ngũ tổ trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51, 223 thượng) chép: Đại chúng hỏi: Ai được y bát? Tổ đáp: Người tên Năng được. Bấy giờ, mọi người bàn tán với nhau rằng Lô hành giả tên Năng, liền tìm kiếm nhưng người đã đi mất. [X. Đại tuệ Phổ giác thiền sư thư Q.thượng].

lô hê đa ca

(盧醯多迦) Phạm: Rohitaka. Cũng gọi: Lô hê đát ca. Gọi tắt: Lô hê đa. Nghĩa là màu đỏ. Như Lô hê đa long vương, dịch là Xích long. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.18; Hiển sắc thiên trong Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].

lô hề đa ca

6271梵語 rohitaka。略作盧醯多。又作盧醯呾迦。赤色之義。如盧醯多龍王,譯為赤龍。〔正法念處經卷十八、翻譯名義集卷三顯色篇〕

Lô Lăng mễ giá

(廬陵米價) Cũng gọi Thanh nguyên mễ giá. Tên công án trong Thiền tông. Giá gạo ở Lô lăng. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa 1 vị tăng và Thiền sư Thanh nguyên Hành tư. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 240 hạ) chép: Có 1 vị tăng hỏi Thiền sư Thanh nguyên Hành tư: Thế nào là đại ý Phật pháp? Thiền sư đáp: Gạo ở Lô lăng giá bao nhiêu? Đất Lô lăng ở tỉnh Giang tây, Trung quốc, là nơi sản xuất gạo ngon có tiếng. [X. tắc 5 trong Thung dung lục].

Lô Sơn

(廬山): ngọn đại hùng phong nổi tiếng nằm ở phía bắc Tỉnh Giang Tây (江西省), Trung Quốc; là chốn danh lam thắng cảnh đã được hàng ngàn bậc văn đàn cự tượng đến tham quan như Tư Mã Thiên (司馬遷), Đào Uyên Minh (陶淵明), Lý Bạch (李白), Bạch Cư Dị (白居易), Tô Thức (蘇軾), Vương An Thạch (王安石), Hoàng Đình Kiên (黃庭堅), Lục Du (陸游), Chu Hy (朱熹), Khang Hữu Vi (康有為), Hồ Thích (胡適), Quách Mạt Nhược (郭沫若), v.v.

lô sơn

Mt. Lu Nơi tổ Huệ Viễn của của Tịnh Đ Tông Trung Hoa lập Bạch Liên xã.

Lô Văn Chiêu

(盧文弨, 1717-1795): tự là Chiêu Cung (召弓), hiệu Ki Ngư (磯漁), Bão Kinh (抱經), xuất thân vùng Dư Diêu (餘姚), Triết Giang (浙江). Ông đỗ Tiến Sĩ thời nhà Thanh, làm quan đến chức Thị Độc Học Sĩ (侍讀學士). Trước tác của ông có Quần Thư Thập Bổ (群書拾補), Nghi Lễ Chú Sớ Tường Hiệu (儀禮注疏詳校), Bão Kinh Đường Văn Tập (抱經堂文集), v.v.

lô xá na kinh

6270為江南敏法師所立二教之一,與釋迦經相對。華嚴五教章卷一列舉十種對佛陀一代言教之判釋,第八項即敏法師之教判,係就能說之教主而言。盧舍那經,即指華嚴經,乃盧舍那佛隨順法性,自在而說之教。釋迦經,則指法華、涅槃等經,乃釋迦佛應眾生之機根所說權巧方便之教。 與敏法師之二教相關者,係唐代印法師所立之屈曲教與平道教,亦依釋迦佛、盧舍那佛之所說而判釋。此二教間有四種差別:(一)主異,謂教主各別,屈曲教係釋迦化身之所說,故亦稱釋迦經;平道教係盧舍那佛十身具足之所說,故亦稱盧舍那經。(二)處異,屈曲教係於娑婆世界之木樹下、草座上所說,平道教則於蓮華藏世界之寶樹下、金座上所說。(三)眾異,屈曲教係對聲聞與菩薩而說,平道教則對準菩薩與極位之大覺而說。(四)說異,屈曲教僅一方之所說,平道教則賅通十方同說。 據宋代華嚴宗僧道亭之考證,敏法師即唐代越州靜休寺之華嚴宗僧法敏,曾就六十華嚴經著有華嚴經疏七卷;印法師則係敏法師之弟子。〔華嚴經探玄記卷一、華嚴玄談卷四〕 ; (盧舍那經) Đối lại: Thích ca kinh. Chỉ cho kinh Hoa nghiêm, giáo pháp do đức Phật Lô xá na tuyên thuyết, là 1 trong 2 giáo pháp do Mẫn pháp sư ở Giang nam lập ra. Cứ theo Hoa nghiêm ngũ giáo chương, Mẫn pháp sư dựa theo Giáo chủ năng thuyết mà cho rằng kinh Lô xá na là kinh Hoa nghiêm, do đức Phật Lô xá na thuận theo pháp tính mà tuyên thuyết. Còn kinh Thích ca là các kinh Pháp hoa, Niết bàn, do đức Phật Thích ca tùy theo căn cơ của chúng sinh mà dùng phương tiện khéo léo để giảng nói. Hai giáo Lô xá na kinh và Thích ca kinh của pháp sư Mẫn có liên quan với Khuất khúc giáo và Bình đạo giáo, do pháp sư Ấn lập ra vào đời Đường. Giữa 2 giáo này có 4 điểm sai biệt: 1. Chủ dị: Nghĩa là Giáo chủ đều khác, Khuất khúc giáo do hóa thân của Phật Thích ca tuyên nói, vì thế cũng gọi là Thích ca kinh; Bình đạo giáo là do cả 10 thân của Phật Lô xá na tuyên thuyết, cho nên cũng gọi Lô xá na kinh. 2. Xứ dị: Khuất khúc giáo được tuyên thuyết dưới gốc cây Bồ đề, trên tòa cỏ ở thế giới Sa bà; còn Bình đạo giáo thì được tuyên thuyết dưới cây báu, trên tòa kim cương ở thế giới Liên hoa tạng. 3. Chúng dị: Khuất khúc giáo được nói cho hàng Thanh văn và Bồ tát; còn Bình đạo giáo thì được nói cho hàng Chuẩn bồ tát và bậc Đại giác cực vị. 4. Thuyết dị: Khuất khúc giáo chỉ nói ở 1 phương, còn Bình đạo giáo thì cả 10 phương cùng tuyên thuyết. Cứ theo sự khảo chứng của ngài Đạo đình thuộc tông Hoa nghiêm đời Tống, thì Mẫn pháp sư tức là ngài Pháp mẫn thuộc tông Hoa nghiêm đời Đường, ở chùa Tĩnh hưu tại Việt châu, tác giả bộ Hoa nghiêm kinh sớ 7 quyển (chú thích kinh Hoa nghiêm bản 60 quyển); còn Ấn pháp sư thì là đệ tử của ngài Pháp mẫn. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4].

lô đạt tư

6271(Lüders, Heinrich; 1869~1943)德國之東方學、印度學學者。生於盧比克(Lübeck)。專攻以馬鳴為中心之佛教文學史、印度佛教史、佛教梵語之研究,對印度文化史及文物習俗亦有很深之造詣。主要著作:Vyāsa-Cikshā, 1895; ]berdie Grantha-recension des Mahabharata, 1901; Varuna und die Wasser, 1951 等。

lô đầu

6775禪林中負責僧堂爐火之職稱。據禪苑清規卷四載,爐頭雖應維那之請,亦係與炭頭和會所選出,每年於十月一日開爐,至翌年二月一日閉爐。其職務為放參以前裝爐,粥前添炭,相度寒暖,隨時添減柴火。〔禪林象器箋職位門〕 ; (爐頭) Chức vụ trông coi việc sưởi ấm trong nhà Tăng của Thiền lâm. Cứ theo Thiền uyển thanh qui quyển 4, chức Lô đầu tuy do vị Duy na thỉnh cử, nhưng cũng qua sự tuyển chọn của vị Thán đầu (người phụ trách việc củi than). Hàng năm, mở lò sưởi(khai lô)vào ngày mồng 1 tháng 10 và đóng lò(bế lô) vào ngày mồng 1 tháng 2 năm sau. Nhiệm vụ của Lô đầu là trước giờ phóng tham (hết giờ ngồi thiền)phải chuẩn bị các lò sưởi để chúng tăng sưởi ấm sau khi phóng tham, tùy lúc thêm bớt củi lửa. [X. Chức vị môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Lô đầu 爐頭

[ja] ロジュウ rojū ||| Monk in charge of maintaining the fire during the winter meditation retreat. => Vị tăng có nhiệm vụ cung cấp củi lửa trong kỳ an cư mùa đông.

Lô-xá-na Phật 盧舎那佛

[ja] ロシャナブツ Roshanabutsu ||| Also written 盧遮那. An abbreviation of 毘盧舎那佛, Vairocana Buddha, the main buddha of the Huayan jing who is the teacher in the Lotus Flower Treasury Realm. => Còn viết là Lô-xá-na 盧遮那. Viết tắt của Tỳ-lô-giá-na Phật (毘盧舎那佛, Vairocana Buddha), là Đức Phật trung tâm trong kinh Hoa Nghiêm, là bậc đạo sư trong Hoa tạng thế giới.

lôi

Garjita (skt)—Thunder—Thundering.

lôi cuốn

To attract

lôi công

Lei-kung (C), Leigong (C), God of Thunder,

lôi phong tháp

5699位於浙江杭縣西湖。乃西湖勝景之一。塔係五代吳越國王妃黃氏爲藏祀佛陀螺髻髮,而於宋太祖開寶八年(975)所建之磚塔,故又稱黃妃塔。吳越王錢俶曾造八萬四千經卷,藏於塔中。塔之形狀,在我國名塔中獨具異趣,爲八方形,每方皆爲十八步,飛簷畫桷,金碧莊嚴。元明間塔基下陷,僅餘五層,共有八門,塔基以紅石砌成,上爲紅磚黃瓦,中柱爲菱形,孤標獨立,每當夕陽西下,塔影波光,相映成趣。民國十四年(1925)突然塌毀,發現塔磚中藏有寶篋印經,爲五代時所刻,字體精細,多爲名家所珍視。 ; (雷峰塔) Cũng gọi Hoàng phi tháp. Tòa tháp gạch ở Tây hồ, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, do Vương phi họ Hoàng nước Ngô Việt đời Ngũ đại xây dựng vào năm Khai bảo thứ 8 (975) đời vua Thái tổ nhà Tống, để thờ tóc của đức Phật, nên còn gọi là Hoàng phi tháp, trong tháp này có tàng trữ 84.000 quyển kinh do vua Ngô Việt khắc in. Trong các ngôi tháp danh tiếng tại Trung quốc, chỉ có tháp Lôi phong có hình dáng đặc biệt khác lạ, đó là hình 8 hướng có 8 cửa, mái cong, đắp vẽ rất tinh xảo, màu sắc rực rỡ; nền tháp xây bằng đá đỏ, thân tháp xây gạch màu vàng, cột giữa hình củ ấu, đứng một mình; mỗi buổi chiều tà, bóng tháp và mặt nước phảnánh lẫn nhau, tạo thành cảnh quan kì thú. Khoảng đời Nguyên, Minh, nền tháp bị lún, chỉ còn 5 tầng. Năm 1925, bỗng nhiên tháp sụp đổ, người ta phát hiện trong tháp có tàng trữ kinh Bảo khiếp ấn, được khắc vào thời Ngũ đại, nét chữ rất tinh vi, sắc xảo, được mọi người trân trọng.

lôi thôi

Untidy—Careless.

lôi thần

God of thunder.

lôi thứ tông

5699(386~448)南北朝劉宋豫章南昌人。字仲倫。少入廬山,師事慧遠大師,從之學三禮、毛詩,並修淨業。其後,立館於東林寺之東,爲東林十八賢之一。長樂隱退,篤志好學。元嘉十五年(438),宋文帝召至京師,令開館於雞籠山,聚徒百人教授。二十五年,帝復強徵至京師,爲築招隱館於鍾山西巖下。次宗不入公門,每自華林園東門入延賢堂爲太子諸王講經。是年無疾而卒於鍾山,世壽六十三。〔佛祖統紀卷二十六、宋書卷九十三、南史卷七十五〕 ; (雷次宗) (386-448) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào thời Lưu Tống, thuộc Nam Bắc triều, người Nam xương, Dự chương, tự Trọng luân, là 1 trong 18 vị Cao hiền chùa Đông lâm ở Lô sơn. Thủa nhỏ, ông vào núi Lô sơn, thờ Đại sư Tuệ viễn làm thầy, học Tam lễ, Mao thi và tu tịnh nghiệp. Về sau, ông dựng nhà học ở phía đông chùa Đông lâm để tu học. Năm Nguyên gia 15 (438), vua Văn đế nhà Tống triệu ông đến kinh đô, ban sắc cho ông mở nhà học ở núi Kê long, nhóm họp 100 đồ chúng để giảng dạy. Năm Nguyên gia 25 (448), vua lại ép ông về kinh đô lập Chiêu ẩn quán ở phía tây núi Chung sơn. Ông cũng được mời đến Diên hiền đường ở phía đông vườn Hoa lâm giảng kinh cho Thái tử và các Vương hầu nghe. Trong năm ấy, ông không bệnh mà qua đời ở núi Chung sơn, thọ 63 tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.26; Tống thư Q.93; Nam sử Q.75].

lôi tất hỉ nhiêu

5698宋代西藏譯經師。生於瑪氏家族。受阿里小王之命與仁欽桑波(寶賢)等同往迦濕彌羅(喀什米爾)學法,回藏後從事譯經,被稱爲洛窮(小譯師)。譯有量釋論頌、法稱自釋、釋迦慧疏等。並聚徒講授,其所譯者史稱舊因明。 ; (雷必喜饒) Danh tăng Tây tạng, sống vào khoảng đời Tống, Trung quốc, họ Mã. Sư vâng mệnh Tiểu vương A lí, cùng với sư Nhân khâm tang ba (Bảo hiền), v.v... đến Ca thấp di la học Phật pháp. Sau khi trở về Tây tạng, sư chuyên việc dịch kinh, được gọi là Lạc cùng (Tiểu dịch sư). Ngoài ra, sư còn nhóm hợp đồ chúng để giảng dạy kinh điển. Những sách do sư phiên dịch trong sử gọi là Cựu nhân minh. Sư có các dịch phẩm: Lượng thích luận tụng, Pháp xứng tự thích, Thích ca tuệ sớ.

lôi âm tự

5698位於臺灣宜蘭市北門。爲佛光山之宜蘭分院。乃蘭陽地區著名之百年古剎,始建於前清道光年間。民國四十一年(1952),居士李決和、林長清等以雷音寺爲共修場所,多方禮聘佛門大德道源長老及李炳南、孫張清揚等居士前往說法。四十二年正月,當時執教於新竹「臺灣佛教講習會」之星雲大師應請來寺駐錫,旋即籌組「宜蘭念佛會」,積極展開弘法度眾之工作,其後另行興建宜蘭念佛會講堂。四十四年三月講堂落成之後,組織佛教歌詠隊、弘法隊等,青年教友大增,遂由廣播弘法、學校講經、監獄布教等多方面展開弘法工作,並接辦蘭陽仁愛之家。 本寺於五十五年重建,六十六年五月竣工,寺觀一新。七十四年,依敏法師繼心平法師之後出任住持。寺中除設有圖書館、慈愛幼稚園外,附建幼教大樓,擁有現代化之幼教設備。並定期開辦各種弘法進修活動,及每年舉辦蘭陽地區之大型佛學講座,嘉惠地方信眾匪淺。

lôi đình

To be in a thundering rage.

Lông rùa sừng thỏ

Hán Việt: Quy mao thố giác (龜毛兔角); J: ki-mō-tokaku;|Chỉ một niềm tin mù quáng, một quan niệm sai lầm không thể có được. Ví dụ như cho rằng có một tự Ngã, các Pháp trường tồn là những quan niệm điên đảo và lời bình chỉ có thể là »Lông rùa sừng thỏ!«

lông rùa sừng thỏ

Tortoise (turtle's) hairs and rabbit horns (no such things really exist).

lông rùa, sừng thỏ

ví dụ rất thường dùng trong kinh điển, để chỉ những việc hoàn toàn không có thật, cũng như rùa chẳng hề có lông, thỏ chưa từng có sừng.

lõa

Trần truồng—Naked.

lõa hình ngoại đạo

Nirgrantha (skt)—Một trong 20 phái ngoại đạo ở Thiên Trúc trong thời Phật còn tại thế, khổ hạnh trần truồng—Naked ascetics, one of the twenty heretic (non-Buddhist) sects in India at the time of the Buddha. ; (裸形外道) Khỏa hình, Phạm: Nirgrantha, acelaka. Cũng gọi Lộ hình ngoại đạo, Vô y ngoại đạo, Vô tàm ngoại đạo. Ngoại đạo ở truồng, 1 trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ thời xưa. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 25 (Đại 10, 136 trung), nói: Nguyện cho tất cả chúng sinh, được áo hổ thẹn để che thân, lìa bỏ pháp xấu xa của tà đạo lộ hình. [X. kinh Khỏa hình phạm chí trong Trường a hàm Q.16; luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn; điều Ma kiệt đà quốc trong Đại đường tây vực kí Q.9].

lõa hình tượng

(裸形像) Cũng gọi khỏa Phật. Tượng không mặc áo, chỉ cho tượng đản sinh của đức Phật Thích ca xưa nay thường được điêu khắc hoặc đắp vẽ lộ hình. Ngoài ra, ở Nhật bản cũng có tượng Phật A di đà và tượng bồ tát Địa tạng lộ hình.

lõa đầu

(裹頭) Mũ đội đầu của chư tăng đời xưa. Cứ theo luật Tứ phần quyển 40, thì đức Phật cho phép các tỉ khưu được đội mũ để che đầu khi trời lạnh hoặc đau đầu, ngoài trường hợp này ra thì bị cấm. Tương truyền, Dượng đế nhà Tùy khi còn là Tấn vương, có thỉnh đại sư Trí khải trao giới Bồ tát cho ông, gặp lúc thời tiết giá rét, vua lấy tay áo trùm lên đầu Đại sư, gọi là Khỏa đầu. Tại Nhật bản, khi chư tăng đi tuần tra trong chùa thường dùng ca sa che đầu, gọi là Khỏa đầu chúng. [X. Hiển mật uy nghi tiện lãm Q.hạ; Trinh văn tạp kí Q.2; Đông tự tháp cúng dường kí].

lõi đời

Experienced in life.

lõm bõm

To know very little.

lùi

To step back—To draw back

Dull-brained.

lúc

Moment—When.

lúc đầu

At the beginning.

lúc ấy

At that moment (juncture).

lún

To subside—To sink—To fall in.

lúng túng

1) To embarrass—To perplex. 2) Awkward—Clumsy.

Lih (C). ; Siddhànta, hetu (S). Ruling principle, fundamental law, intrinsicality, universal basis, essential element; nidàna, reason; pramàna, to arrange, regulate, rule, rectify. ; 1) Làng: Village—Neighbourhood. 2) Dậm (Trung Quốc): Khoảng 1/3 dậm Anh: Chinese mile, third of an English mile. 3) Nguyên lý: Siddhanta (skt)—Ruling principle, fundamental law, intrinsicality, universal basis, essential element. 4) Lý do: Nidana (skt)—Reason. 5) Sắp đặt hay điều chỉnh cho đúng: Pramana (skt)—To regulate—To arrange—To rule—To rectify. 6) Theo đạo Phật, “lý” là nguyên lý, là cái toàn thể, cái nguyên khối, cái đại đồng, cái trừu tượng, vân vân: In Buddhism, “lý” means “a principle,” “reason,” “the whole,” “the all,” “totality,” “the universal,” “the abstract,” etc. ; (哩) Cũng gọi Lực, Lữ, Lô, Lâu, Lỗ. Chữ ( li hoặc ơ), 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 trung), nói: Chữ Lí nghĩa là tất cả các pháp nhơ nhớp đều bất khả đắc. Bởi vì khi các pháp dấy sinh, tuy có các tướng nhơ nhớp và không nhơ nhớp, nhưng khi nhập vào chữ A thì sự nhơ nhớp và trong sạch đều không sinh, cho nên tướng nhơ nhớp liền biết không nhơ nhớp, đó là nghĩa bất khả đắc. Xưa nay gọi chữ này là chữ Lí nhiễm. Nhưng nguyên ngữ của nó không được rõ. [X. phẩm Như lai tính trong kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; Tất đàm tự kí; Tất đàm tam mật sao Q.thượng, Q.hạ]. ; (理) I. Li. Chỉ đạo lí, tức cái phép tắc làm chỗ y chuẩn cho sự tồn tại và biến hóa của tất cả sự vật. Lí có thể chia làm 4 thứ: Quan đãi đạolí, Tác dụng đạo lí, Chứng thành đạo lí và Pháp nhĩ đạo lí. [X. luận Dugià sư địa Q.30]. (xt. Đạo Lí). II. Lí. Đối lại với Sự. Đồng nghĩa: Lí thể, Lí tính. Chỉ cho Lí chân thực, bình đẳng nhất như, là bản thể của muôn tượng sai biệt…………. Lí có 2 đức tính tùy duyên và bất biến, tức là tùy duyên mà biến hóa ra vạn pháp sai biệt, nhưng tính của nó thì thường trụ bất biến. Vì nó vượt ra ngoài phạm vi tri thức tương đối của phàm phu, nên không thể dùng ngôn ngữ văn tự để diễn bày. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.22]. (xt. Sự Lí). ; (哩) I. Lí. Chữ (f), một trong 50 chữ cái Tất đàm. Cũng gọi Li, Lỗ, Lữ, Hột lí. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 trung), nói: Chữ Lí nghĩa là tất cả pháp thần thông bất khả đắc. Chữ f (lí) là chữ đầu của tiếng Phạm fddhi (dịch ý là thần thông) cho nên được giải thích như trên. Từ xưa đến nay nó được gọi là chữ Lí thần thông. [X. phẩm Như lai tính trong Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng]. II. Lí. Chữ (), một trong 50 chữ cái Tất đàm. Cũng gọi Hột lê, li, lưu. Phẩm Tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 trung), nói: Chữ Lí nghĩa là tất cả pháp so sánh bất khả đắc. Từ xưa đến nay, chữ này được gọi là chữ Lí so sánh, nhưng nguyên ngữ của nó có hàm ý gì thì không được rõ. [X. phẩm Như lai tính trong Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc)].

lý bát nhã

The Prajan Truth.

lý bình sơn

(李屏山) (1185-1231) Học giả Phật giáo Trung quốc, người Tương âm Hoằng châu (Dương nguyên, Hà bắc), tên Thuần phủ, tự là Chi thuần, sống vào đời Tống, vốn người nước Kim. Ông thi đỗ Tiến sĩ, làm quan đến chức Thượng thư Hữu ti đô sự, tính ưa rượu, khi say thì bàn nói hoạt bát, lại thích giao du với bọn thiếu niên tân tiến. Ông thông hiểu Trang tử, Liệt tử, Tả thị xuân thu, Chiến quốc sách. Lúc đầu ông công kích Phật giáo, nhưng về sau, nhờ nghiên cứu và thấu suốt được nghĩa lí sâu xa của các bộ kinh Thủ lăng nghiêm, Viên giác, Duy ma, Hoa nghiêm, v.v... nên ông đem lòng kính tin Phật pháp, rồi đề xướng thuyết dung hòa tam giáo Nho, Phật, Đạo. Ông có các tác phẩm: Minh đạo tập thuyết, Lão tử tập giải, Trang tử tập giải, Trung dung tập giải, Trung quốc tâm học, Lăng nghiêm tuyệt giải, Kim cương kinh giải. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.35; Kim sử Q.126; Tống nguyên học án Q.100].

lý bí mật giáo

(理秘密教) Cũng gọi: Lí mật giáo. Đối lại: Sự lí câu mật giáo, Lí sự câu mật giáo.Giáo lí bí mật. Theo sự phán giáo của tông Thai mật Nhật bản, thì Lí bí mật giáo là tiếng dùng để chỉ cho pháp môn của Pháp hoa, Hoa nghiêm, Niết bàn... Vì những pháp môn này chỉ nói về lí bí mật của thế tục đế và thắng nghĩa đế là viên dung bất nhị, chứ không nói đến chân ngôn, mật ấn..., tức là Lí bí mật giáo chỉ nói về mặt lí, chứ không nói về mặt sự. Trái lại, Lí sự câu mật giáo thì nói cả lí lẫn sự đều là bí mật giáo. (xt. Sự Mật Lí Mật).

Lý Bỉnh Nam

(李炳南) (1889-1986) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Tế nam, Sơn đông, tên Diễm, tự Bính nam, hiệu Tuyết lư. Đầu tiên, ông học Duy thức với ông Mai quang hi, đối với Thiền, Tịnh, Mật đều từng tu tập, sau ông qui y Đại sư Ấn quang, chuyên tu Tịnh độ. Ông cũng giỏi về y học. Trong thời kháng chiến chống Nhật, ông làm Chánh thư kí cho Khổng phụng tự quan Đức thành tại Trùng khánh, đồng thời giúp đỡ Đại sư Thái hư trong công cuộc hoằng pháp. Sau khi Cộng sản Trung quốc chiếm toàn lục địa, ông dời ra Đài loan, làm giáo sư viện Y dược học Trung quốc và trường Đại học Trung hưng. Ngoài thì giờ dạy học, ông dốc sức vào việc hoằng dương Phật pháp. Ông giảng kinh thuyết pháp ở Đài trung mấy mươi năm và rất nổi tiếng trong giới Phật giáo Đài loan. Trước sau, ông sáng lập nhiều cơ quan hoằng pháp và từ thiện như: Đài trung Phật giáo liên xã, Bồ đề thụ tạp chí xã, Từ quang đồ thư quán, Từ quang dục ấu viện, Bồ đề y viện, Bồ đề cứu tế viện, v.v... Ngoài ra, ông còn mở các lớp Phật học chuyên khoa, giúp cho nhiều sinh viên Đại học học Phật. Ông là người ngay thẳng, nghiêm cẩn, thông hiểu tinh nghĩa của cả Nho và Phật một cách sâu sắc, cho nên rất được người đương thời kính trọng. Ngày 13 tháng 04 năm Dân quốc 75 (1986) ông qua đời, thọ 98 tuổi. Ông để lại các tác phẩm: Tuyết lư thi văn tập, Phật học vấn đáp, A di đà kinh nghĩa uẩn, Phật học thường thức khóa bản.

lý bột

(李渤) (773-831) Cư sĩ Phật giáo, đệ tử của ngài Qui tông Trí thường sống vào đời Đường, Trung quốc, tự là Tuấn chi. Khoảng năm Trinh nguyên (785-805), ông sáng lập động Bạch lộc(động Nai trắng) ở dưới ngọn Ngũ lão tại Lô sơn, sau dời đến núi Thiếu thất. Đầu năm Nguyên hòa, ông được Hàn dũ mời ra làm quan và giữ chức Gián nghị đại phu, về sau ông còn đảm nhiệm nhiều chức vụ khác. Trong năm Bảo lịch (825-827), ông làm Thứ sử Giang châu (Cửu giang, Giang tây). Ít lâu sau, ông lại trở về động Bạch lộc, người đời gọi ông là Bạch lộc tiên sinh. Khi ngài Trí thường trụ trì chùa Thê hiền, thì Lí bột thường đến hỏi về Phật pháp. Ông thường đem vấn đề Núi Tu di nằm trong hạt cải để hỏi ngài Trí thường về cái lí tương quan giữa một hạt bụi và muôn vật như thế nào. Đây chính là công án Lí bột hoài nghi. Năm Thái hòa thứ 5 (831) ông mất, hưởng dương 59 tuổi. [X. chương Qui tông Trí thường trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.7; Thiền uyển mông cầu Q.thượng; Bạch lộc động thư viện chí Q.4; Lô sơn chí Q.2].

lý cao

(李翱) Nho gia sống vào đời Đường, Trung quốc, đệ tử của Thiền sư Dược sơn Duy nghiễm, người quận Triệu (Ninh phổ, Hà bắc) hiệu là Tập chi. Ông từng làm quan đến các chức: Bác sĩ Quốc tử giám kiêm Quốc sử tu soạn, Hộ bộ thượng thư, Tiết độ sứ Đông đạo Sơn nam. Tuy học văn với ông Hàn dũ – người chủ trương bài Phật, nhưng Lí cao lại có tư tưởng Phật giáo rất sâu đậm, ông giải thích lại thuyết Tâm tính và nhờ bộ Phục tính thư mà ông được người đời kính trọng. Khi giữ chức Thứ sử Lãng châu, ông được gặp Thiền sư Duy nghiễm, đây là lần đầu tiên ông kết duyên với cửa Thiền. Từ đó, những lúc rảnh việc quan, ông thường đến tham phỏng các bậc tôn túc trong Thiền lâm, kết giao với chư tăng, cho nên trong Thiền giới rất nhiều người biết đến ông. Cứ theo chương Dược sơn Duy nghiễm trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14, thì có lần ông thưa hỏi ngài Duy nghiễm: Thế nào là đạo? Ngài Duy nghiễm đáp: Mây trên trời xanh, nước ở trong bình. Ông hoát nhiên khai ngộ. Đây chính là công án Lí cao vấn đạo. Sau khi tạ thế, ông được đặt thụy hiệu làVăn. Tác phẩm của ông gồm có: Luận ngữ bút giải, Ngũ mộc kinh, Lí văn công tập. [X. chương Thứ sử Lí cao trong Ngũ đăng hội nguyên Q.5; Cựu đường thư Q.160; Tân đường thư Q.177].

lý chí

(李贄) (1527-1602) Danh nhân Trung quốc, sống vào đời Minh, người Tấn giang (Hạ môn, Phúc kiến), tự là Trác ngô. Đầu năm Vạn lịch, ông làm quan Tri phủ Diêu an, bẩm tính cao thượng, thông hiểu cả Phật và Nho, nhưng lại hướng về Không tông, thường chất vấn các ông Vương long khê, La cận khê, v.v..., vạch ra chỗ tình chấp sai trái của các nhà Nho. Lúc ở Diêu an, ông thích giao du với các vị tăng và thường làm việc quan ở chùa, sau ông vào ẩn trong núi Kê túc để xem Đại tạng, không ra ngoài nữa, vì thế ông bị buộc phải giải nhiệm. Trong thời gian ở Hoàng an, Ma thành, ông cạo tóc xuất gia, lên tòa thuyết pháp, nổi tiếng một thời, rất nhiều người đến qui y. Nhưng vì ông chỉ sùng tín Phật giáo, nên bị sĩ phu đương thời bất mãn, vu cáo ông là tả đạo. Sau, ông lên miền Bắc, đến Thông châu, bị quan địa phương là Trương vấn đạt bắt tội, cho rằng ông làm nhục Khổng tử. Vua ra lệnh bắt ông giam vào ngục. Ông không khuất phục, tự thắt cổ chết, thọ 76 tuổi. Ông có các tác phẩm: Tạng thư, Cửu chính dịch nhân. [X. Minh sử Q.221; Minh sử cảo Q.284]. LÍ CHÍ THƯỜNG (?-1256) Đạo sĩ người Trung quốc, sống vào đời Nguyên, tổ thứ 7 của phái Toàn chân thuộc Đạo giáo, tự là Hạo nhiên, hiệu là Chân thường tử. Ông là đệ tử của Trường xuân Chân nhân Khưu xử cơ, từng theo thầy Tây du, tác phẩm Trường xuân Chân nhân Tây du kí của ông là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu về địa lí đương thời. Sau khi kế nghiệp Doãn chí bình làm giáo tổ, trong vòng 6 năm tại chức, Lí chí thường đã tích cực mở rộng phạm vi hoạt động của giáo phái Toàn chân đến nỗi đưa đến cuộc đối kháng kịch liệt giữa Phật giáo và Đạo giáo. Năm Hiến tông thứ 5 (1255), Khưu xử cơ và Lí chí thường cầm đầu đồ chúng đi chiếm chùa Phật, phá tượng Phật và hủy hoại cả Khổng miếu. Đồng thời, ấn hành kinh Thái thượng hỗn nguyên thượng đức hoàng đế minh uy hóa hồ thành Phật và Lão tử bát thập nhất hóa đồ. Ngài Phúc dụ, trụ trì chùa Thiếu lâm, dâng biểu tâu vua nói lên sự sai trái của nhóm Đạo sĩ này, vua Hiến tông liền ra lệnh cho Đạo sĩ Chí thường đối luận với ngài Phúc dụ, Chí thường bị đuối lí. Năm sau (1256), Chí thường qua đời. Năm Chí nguyên 18 (1281), chỉ trừ Đạo đức kinh, còn toàn bộ sách vở của Đạo giáo đều bị đốt hết. Đạo giáo thực sự gặp 1 đại nạn do chính những Đạo sĩ thiển cận gây nên. [X. Biện ngụy lục Q.3; Cam thủy tiên nguyên lục Q.4; Đại tông sư chân thường chân nhân đạo hạnh bi].

lý chướng

The hindrance caused by incorrect views of truth. ; Chướng ngại gây nên bởi căn bản vô minh hay có tà kiến về chân lý làm trở ngại cho chánh tri kiến, ngược lại với sự chướng—Hindrances to truth—Hindrance caused by incorrect views of truth—Noumenal hindrances, in contrast with phenomenal hindrances (sự chướng). ** For more information, please see Nhị Chướng. Lý Có Đốn Tiệm, Sự Chỉ Từng Bước Và Từ Từ: Although noumenon can be understood in a flash (suddenly) or gradually, cultivation should only be practiced step by step and little by little. ; (理障) Đối lại: Sự chướng. Một trong 2 chướng. Chỉ cho sự mê lí, như vô minh căn bản, tà kiến, v.v... hay làm chướng ngại sự thấy biết chân chính, nên không thông suốt được bản giác chân như. [X. kinh Viên giác Q.hạ]. (xt. Nhị Chướng).

Lý chướng 理障

[ja] リショウ rishō ||| The "hindrances of principle" or "noumenal hindrances," which, paired with the 事障, or "phenomenal hindrance" constitute one of the two main types of hindrance which impede liberation according to the Sutra of Perfect Enlightenment. The noumenal hindrance is defined as the obstruction to correct awareness, the Ina-Zbility to see things as they really are; thus an Ina-Zbility to perceive the emptiness, or suchness, of things. Compared to the "phenomenal hindrance," the noumenal hindrance is more subtle, and so is considered to be a problem for more advanced practitioners. This hindrance is analogous with the hindrance by the known 所知障, of the Consciousness-only school. See T 842.17.916b20ff.(圓覺經). => 'chướng ngại về lý' hoặc 'chướng ngại về thể', đi đôi với 'sự chướng 事障', hoặc là 'chướng ngại về sự', tạo thành một trong 2 loại chướng ngại chính làm ngăn cản sự giải thoát theo trong kinh Viên Giác. Lý chướng được định nghĩa là làm cản trở cho sự giác ngộ chân chính, Ina-Zbility nhìn thấy các pháp như chúng đang là; cũng như thế, Ina-Zbility nhận thức về Tính không hoặc chân như của các pháp. So với 'sự chướng', thì Lý chướng vi tế hơn, và thế nên nó được xem là vấn đề của những hành giả tiến bộ hơn. Lý chướng tương tự như Sở tri chướng 所知障trong Duy thức tông.

lý công lân

(李公麟) (1049-1134) Danh nhân Trung quốc, sống vào đời Tống, người Thư châu, tỉnh An huy, tự Bá thời, hiệu Long miên cư sĩ. Năm Nguyên hựu (1086-1094) ông đỗ Tiến sĩ, khoảng năm Nguyên phù (1098- 1100), ông được phong chức Ngự sử đại phu. Ông học rộng, thích khảo cổ, biết nhiều chữ lạ, giỏi thơ văn. Những đồ cổ như chuông, đỉnh từ đời Hạ, Thương đến nay, ông đều có thể khảo xét phân biệt rành rẽ. Ông cũng giỏi về hội họa, ông vẽ tranh sông núi, tượng Phật, người và vật rất sống động, có thể xem như đã đạt được tâm pháp của các nhà danh họa Ngô đạo tử, Lí tư huấn. Về già, ông qui y Phật, nguyện giữ giới, tu Thiền pháp và Tịnh độ, ẩn cư nơi Long miên sơn trang, ông thường đàm đạo với bậc cao tăng và kết đoàn niệm Phật. Năm Thiệu hưng (1134), biết trước giờ lâm chung, ông đem cho hết của cải, viết kệ xong, ngồi niệm Phật mà đi, thọ 86 tuổi. Ông để lại rất nhiều các bức tranh thủy mặc, được các họa gia đời sau xem là khuôn mẫu.

lý cương

(李綱) (1083-1140) Danh nhân Trung quốc, sống vào đời Tống, người Thiệu vũ (thuộc tỉnh Phúc kiến), tự Bá kỉ, hiệu Lương khê. Năm Chính hòa thứ 2 (1112), ông thi đỗ Tiến sĩ, sau làm quan đến các chức: Giám sát ngự sử, Binh bộ thị lang, Khu mật sử, v.v... Khi 2 nước Tống (Trung quốc) và Kim đối đầu, vì ông cực lực chủ chiến nên bị bãi chức và đày đi xa. Khi nhà Tống dời về phương Nam, thì vua Cao tông triệu ông về giữ chức Tể tướng. Ông là người thông suốt Nho học, giỏi văn chương thi phú, ông cũng rất kính tin Phật pháp, gần gũi các Thiền sư Phù dung Đạo khải, Đại tuệ Tông cảo, v.v..., ông đặc biệt hâm mộ giáo pháp Hoa nghiêm, từng so sánh Chu dịch với Hoa nghiêm mong tìm ra điểm tương đồng giữa 2 luồng tư tưởng. Vì ông có chủ trương hợp nhất Nho và Phật nên thường xảy ra sự tranh cãi giữa ông và các ông Chu hi (1093-1163), Trương tái là những người có tư tưởng bài Phật. Ông có các tác phẩm: Dịch truyện nội thiên 10 quyển, Dịch truyện ngoại thiên 12 quyển, Luận ngữ tường thuyết 10 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.47; Thích thị kê cổ lược Q.4].

lý cụ

Wholly noumenal, or all things as aspects of the absolute, a doctrine of the Thiên Thai "profounder" school, in contrast with the sự tạo of the "shallower" school, which considered all things to be phenomenally produced. ; Lý thể pháp tính của vạn hữu trong “Thâm Mật” Thiên Thai, đối lại với sự tạo của Thiên Thai Hiển Tông—Wholly noumenal, or all things as aspects of the absolute, a doctrine of the T'ien-T'ai “profounder” school, in contrast with the T'ien-T'ai “shallower” school, which considered all things to be phenomenally produced. ** For more information, please see Tánh Cụ.

lý cụ sự tạo

(理具事造) Lí cụ, chỉ cho bản tính như thực sẵn có trước trời đất, cũng gọi Bản cụ, Lí tạo, Tính cụ, Tính đức. Tính sẵn có này tùy theo nhân duyên hiển hiện mà tạo ra các hiện tượng, thì gọi là Sự tạo, cũng gọi là Biến tạo, Sự dụng, Tu khởi, Tu đức, Tu cụ. Tông Thiên thai cho rằng trong 1 tâm niệm có đủ 3 nghìn pháp, đây là thuyết Nhất niệm tam thiên. Bản tính của tâm viên mãn đầy đủ vạn hữu, gọi là Lí cụ tam thiên, Lí tạo tam thiên, Tính cụ tam thiên. Lí này thường tùy nhân duyên mà tạo thành thế giới hiện tượng với muôn vàn sự tướng sai biệt, gọi là Sự tạo tam thiên, Sự dụng tam thiên, Biến tạo tam thiên, Tu cụ tam thiên. Hợp chung cả lí và sự trên đây, thì gọi là Lí sự tam thiên, cũng gọi Lưỡng trùng tam thiên, Lưỡng chủng tam thiên. Sự lí này theo thứ tự biểu thị thể và dụng của các pháp. Nhưng trong tất cả các pháp đều có đủ 3 nghìn pháp, xưa nay không thiếu, cho nên Lí cụ và Sự tạo tên tuy khác nhau, nhưng cả 2 chỉ là 1 thể. (xt. Sự Lí Tam Thiên).

lý cụ tam thiên

Muôn vật đều có đủ tam thiên chư pháp, gọi là lý cụ tam thiên—The things of a great chiliocosm considered as noumenal throughout, or all dharmakaya.

lý cụ thành phật

(理具成佛) Gọi đủ: Lí cụ tức thân thành Phật. Ngay nơi tự tâm của tất cả chúng sinh đều có đầy đủ lí thể của Mạn đồ la thuộc 2 bộ Kim cương và Thai tạng. Lí thể này vượt ra ngoài nhân quả, tự nhiên đầy đủ, gọi là Lí cụ tức thân thành Phật, là 1 trong 2 loại Tức thân thành Phật do tông Chân ngôn Nhật bản thành lập. (xt. Tức Thân Thành Phật).

lý do

Xem nhân. ; Reason—Cause.

lý dẫn đến sự

Doctrine or theory leads to practice.

lý giáo

(理教) I. Lí Giáo. Đối lại với Sự giáo. Chỉ cho Thông giáo và Viên giáo trong 4 giáo Hóa pháp do tông Thiên thai thành lập.Tông Thiên thai dựa vào phạm vi giải thích về Sự và Lí mà chia tam giới (cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc) làm 2 phần là Giới nội và Giới ngoại. Thông giáo nói rõ lí Nhân duyên tức không nên gọi là Giới nội lí giáo; còn Viên giáo chủ trương lí Viên mãn dung tức nên gọi là Giới ngoại lí giáo. II. Lí Giáo. Một giáo phái ở Trung quốc do tiến sĩ Dương trạch sáng lập vào đầu đời Thanh. Mới đầu gọi là Tại lí giáo. Giáo nghĩa của giáo phái này do dung hợp nghĩa lí của 3 giáo Nho, Phật, Đạo mà thành, thờ bồ tát Quan thế âm của Phật giáo và tôn Ngài là Thánh tông cổ Phật hoặc Lão Phật gia. Giáo nghĩa chủ yếu là bảo tồn thiên lí (lí tự nhiên), phụng thờ chân lí, tôn sùng luân lí, thực hành đạo trung hiếu, tín đồ phải giữ 5 giới: Tà dâm, trộm cắp, hút thuốc, nói dối, uống rượu. Từ khi được sáng lập, giáo phái này đã từng trải qua những lúc hưng suy, chủ yếu lưu hành ở miền Bắc Trung quốc nhưng thường bị coi là Bạch liên giáo dưới hình thức khác, cho nên đã bị cấm. Năm Dân quốc 38 (1949), Tổng lãnh Chính (người chủ trì) của giáo phái này là ông Triệu đông thư khôi phục giáo này ở Đài loan, sáng lập Lí giáo tổng công sở, Thanh tâm đường công sở và Thánh lí học viện...

Lý giáo 理教

[ja] リキョウ rikyō ||| (1) The teaching of non-discrimination between principle and phenomena. (2) Non-discriminated true reality and provisional explanation. => 1. Giáo lý vô phân biệt giữa bản thể và hiện tượng. 2. Chân như vô phân biệt và sự giải thích giả tạm.

lý giới

Lý giới đối lại với trí giới—The realm of fundamental principles or law, in contrast with the realm of knowledge (Trí giới).

lý hiến thành

(李憲誠) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, đệ tử của ngài Bất không. Ông được ngài Bất không truyền trao pháp Phổ hiền và vâng mệnh vua hộ trì sự nghiệp dịch kinh hoằng pháp của Thầy. Ngài Bất không trao cho ông những pháp khí của Mật giáo như: Yết ma bằng bạc, chày Kim cương, bánh xe, v.v... Khoảng năm Đại lịch thứ 6 đến thứ 10 (771- 775), nhờ ông tâu xin nên vua Đại tông đã ban lương thực cho đạo tràng truyền giới Phương đẳng ở chùa Đại hưng thiện và ban sắc cho đưa vào tạng các kinh điển do ngài Bất không phiên dịch. Sau khi ngài Bất không nhập tịch, ông lo liệu việc an táng và xây tháp thờ xá lợi của Ngài ở viện dịch kinh. Vua ban thụy hiệu cho ngài Bất không và tấm biển Văn Thù Các cho viện này, đồng thời, ra lệnh cho tăng ni trong nước đọc tụng Tôn thắng đà la ni. Năm Đại lịch 12 (777) ông dâng biểu tâu vua rằng sự hưng thịnh của Phật giáo là điềm tốt lành cho đất nước và năm sau ông dâng kinh Pháp hoa chữ viết bằng kim nhũ. [X. Bất không biểu chế tập Q.3-6].

Lý Hoa

(李華, Rika, ?-766?): tự là Hà Thúc (遐叔), xuất thân vùng Tán Hoàng (贊皇), Triệu Châu (趙州, Tỉnh Hà Bắc). Ông đậu Tiến Sĩ vào năm thứ 23 (735) niên hiệu Khai Nguyên (開元), rồi trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Bảo (天寳, 742-755) ông làm Thị Ngự Sử và Lễ Sử Nhị Bộ Viên Ngoại Lang, và đến năm đầu (khoảng 766) niên hiệu Đại Lịch (大曆) thì qua đời. Trước tác của ông có Lý Hà Thúc Văn Tập (李遐叔文集). Ông có duyên sâu xa với Thiên Thai Học, thâm giao với nhiều vị cao tăng. Trong Tả Khê Đại Sư Bi (左溪大師碑) và Toàn Đường Văn (全唐文) 320, ông tự ghi mình là đệ tử của Ngưu Đầu Tông, môn hạ của Hạc Lâm Huyền Tố (鶴林玄素). Văn bia tháp ông viết có nhiều, hiện tồn rất ít như Nhuận Châu Hạc Lâm Tự Cố Kính Sơn Đại Sư Bi (潤州鶴林寺故徑山大師碑).

lý hoa

(李華) (715-766) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Đường, người Tán hoàng, Triệu châu (tỉnh Hà bắc), tự Hà thúc, là đệ tử của Tam tạng Thiện vô úy. Khoảng những năm Khai nguyên, Thiên bảo, ông làm quan trong triều, thường bị kẻ dua nịnh ghen ghét. Thời loạn An lộc sơn, mẹ ông đang ở đất Nghiệp, ông đưa mẹ đi lánh nạn, nhưng không may bị bắt. Hết loạn, ông bị giáng chức làm Ti hộ tham quân Hàng châu; sau ông về ẩn tại Sơn dương, bảo các con em an phận nghèo và nỗ lực cày cấy để sống. Về già, ông kính tin Phật pháp, thờ ngài Thiện vô úy làm thầy, Ông rất giỏi văn chương, là tác giả bài Điếu cổ chiến trường (Thăm trận địa chiến tranh thủa xưa), từng đã làm mủi lòng không biết bao nhiêu người qua nhiều thời đại. Năm Khai nguyên 23 (735) ngài Tam tạng Thiện vô úy nhập tịch, ông soạn văn bia nói về hành trạng của Ngài. Đến niên hiệu Đại lịch năm đầu (766) thì ông cũng qua đời, hưởng dương 52 tuổi. Ông để lại các tác phẩm: Điếu cổ chiến trường, Lí Hà thúc văn tập 10 quyển. [X. Cựu đường thư Q.209; Tân đường thư Q.128].

lý hoặc

Illusion in regard to fundamental truth, e.g. the reality of the ego and things; as sự hoặc is illusion in regard to things themselves. Also fundamental illusion; reality and illusion. ; Những kiến hoặc như ngã kiến hay mê hoặc trước chân lý (cái hoặc vô minh căn bản che lấp các lý trung đạo, làm cho nó không sáng tỏ được là lý hoặc; kiến hoặc hay tư hoặc, hay cái hoặc trần sa có thể ngăn cản sự tướng hóa đạo, gọi là sự hoặc) thì gọi là lý hoặc, đối lại với sự hoặc hay mê hoặc trước sự tướng của thế gian—Illusions connected with principles—Illusion in regard to fundamental truth, i.e. the reality of the ego and things, in contrast with illusion in regard to things themselves.

lý hoặc luận

(理惑論) Gọi đủ: Mâu tử Lí hoặc luận. Cũng gọi: Mâu dung biện hoặc. Tác phẩm, 1 quyển, do Mâu tử bác (bản in đời Minh gọi là Mâu dung) soạn vào khoảng cuối thế kỉ II đầu thế kỉ III, được thu vào Hoằng minh tập quyển 1 trong Đại chính tạng tập 52. Sách này được viết theo hình thức vấn đáp, nội dung tư tưởng nhằm luận chứng về giáo lí của Phật giáo và dung hòa Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sau và là tư liệu quan trọng trong việc nghiên cứu về mối quan hệ tư tưởng giữa 3 giáo Nho, Phật, Đạo ở thời đại Ngụy Tấn Nam Bắc triều, đồng thời, là tư liệu có giá trị tham khảo đối với công trình nghiên cứu lịch sử Phật giáo truyền vào Trung quốc ở thời kì đầu. Về tác giả và niên đại soạn thuật sách này có nhiều thuyết khác nhau. Sách này được thu vào bộ Hoằng minh tập của ngài Tăng hựu, tác giả đề là Hán Mâu Dung soạn, rồi lại chua thêm: Có thuyết cho là Thương ngô Thái thú Mâu tử bác truyện. Nhưng Mâu dung là một nhà Nho sống vào thời vua Chương đế nhà Hán, căn cứ vào thân phận và thời đại của ông mà suy đoán, thì ông không thể là tác giả của sách Lí hoặc luận. Đã đành vậy, nhưng còn Mâu tử bác sống vào khoảng Đông Hán, Tào Ngụy, có phải là tác giả của sách này không? Về vấn đề này, cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời dứt khoát. Còn về niên đại soạn thuật cũng có điểm ngờ. Theo sự khảo chứng của các học giả cận đại, như: Hồ thích, Chu thúc ca, Dư gia tích, Bá hi hòa (Pelliot), v.v... chủ trương sách này được soạn vào cuối đời Đông Hán (khoảng cuối thế kỉ II đầu thế kỉ III). Nhưng cũng có các học giả khác như: Lương khải siêu, Thường bàn Đại định, v.v... lại cho sách này là ngụy tác ở thời Tấn và Lưu Tống.

lý không

Sunyata-vada (skt)—The doctrine of emptiness.

Lý Kiêu

(李嶠, 644-713): thi nhân nhà Đường, tự là Cự Sơn (巨山), người vùng Tán Hoàng (贊皇), Triệu Châu (趙州, nay thuộc Hà Bắc [河北]). Năm lên 20 tuổi, ông thi đỗ Tiến Sĩ, đều làm quan suốt cả 4 triều Cao Tông (高宗, tại vị 649-683), Võ Tắc Thiên (武則天, tại vị 684-705), Trung Tông (中宗, tại vị 683-710), Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756) nhà Đường, làm đến chức quan Trung Thư Lệnh (中書令). Khi Tắc Thiên cho đúc trụ đồng có 8 góc, các sĩ thứ của triều đình đều dâng thơ lên, nhưng không ai có tài làm thơ như ông cả. Ông sánh ngang hàng với Tô Vị Đạo (蘇味道, 648-705), người bạn đồng hương, được gọi là Tô Lý (蘇李). Hơn nữa, ông cùng với Tô Vị Đạo, Thôi Dung (崔融, 653-706), Đỗ Thẩm Ngôn (杜審言, 648?-708), cả bốn người gọi là Văn Chương Tứ Hữu (文章四友). Thơ của ông được thâu lục vào trong bộ Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 60.

lý luận

Reasoning on, or discussion of, principles, or fundamental truth. ; Luận bàn sự bình đẳng của lý tính hay căn bản chân lý—Reasoning on, or Discussing of, principles, or fundamental truth. ** For more information, please see Sự Luận.

lý luận học

Logic.

lý luận nhị biên

Dualistic reasoning—Lý luận từ cái ta ý thức—Reasoning from I-consciousness.

lý môn

The philosophical teaching.

lý môn luận

Xem Nhân Minh Chánh lý môn luận bản.

Lý môn 理門

[ja] リモン rimon ||| A certain theoretical approach; a principle which has a certain aspect. 〔二障義HPC 1.793a〕 => Cách tiếp cận một lý thuyết, môn học nào đó; một nguyên lý có một khuynh hướng nào đó.

lý mạn đà la

Mạn Đà La của Thai Tạng Giới, làm hiển hiện cái đức của lý tính mà chúng sanh vốn có, đối lại với Trí Mạn Đà La là thuyết giảng trí tướng mới thành của Đức Như Lai—The noumenal mandala, i.e. the Garbhadhatuin contrast with the Vajradhatu mandala.

lý mạn đồ la

(理曼荼羅) Đối lại: Trí mạn đồ la. Chỉ cho Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Trong Mạn đồ la của 2 bộ Kim cương, Thai tạng, thì Mạn đồ la Kim cương giới biểu thị cho trí đức do tu hành mà phát sinh, còn Mạn đồ la Thai tạng giới thì biểu thị cho lí đức sẵn có, vì thế nên gọi Mạn đồ la Kim cương giới là Trí mạn đồ la, mà gọi Mạn đồ la Thai tạng giới là Lí mạn đồ la.

lý nguyên tông

(李元琮) (?-776) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Đường, đệ tử của Tam tạng Bất không. Ông làm quan đến các chức Quán tu công đức sứ, Tri quân sự thượng trụ quốc lương quốc công. Năm Thiên bảo 13 (754) tại Vũ uy, tỉnh Cam túc, ông được ngài Bất không truyền cho 5 bộ Quán đính, Kim cương giới đại mạn đồ la và trao cho các đạo cụ bằng bạc, chày Kim cương 5 chĩa, linh 3 chĩa, 1 chĩa, v.v... Ông theo học ngài Bất không hơn 30 năm, từng đến Hà tây, Nam hải hỏi đạo, đích thân cúng dường 2 chùa Tịnh ảnh và Hồng lô. Tháng 6 năm Đại lịch thứ 9 (774), ngài Bất không thị tịch, ông vâng mệnh vua trông coi việc an táng, rồi xây tháp thờ ngài Bất không tại viện dịch kinh chùa Hưng thiện. Tháng 11 năm Đại lịch 11 (776) ông mất. [X. Bất không biểu chế tập Q.3; Phó pháp truyện Q.hạ].

lý ngạn

(俚諺) Những tục ngữ và ngạn ngữ có quan hệ với Phật giáo được lưu hành trong dân gian. Có nhiều loại: - Các câu có xuất xứ từ kinh điển Phật giáo, như: Bần giả nhất đăng (một ngọn đèn của người nghèo), Nhập bảo sơn không thủ nhi qui (vào núi báu mà về tay không), Sư tử thân trung trùng (trùng trong mình sư tử), Không hoa thủy nguyệt (Hoa giữa hư không, trăng dưới đáy nước)... - Lấy lời nói trong kinh Phật rồi hơi thay đổi mà thành, như: Tự thằng tự phược (tự ràng tự buộc), Vô thằng tự phược (không dây mà tự trói mình)... - Những câu lấy ý từ kinh Phật, như: Long đầu xà vĩ (đầu rồng đuôi rắn)... - Những câu lấy từ sách ngoài làm câu của Phật giáo, như: Cách tường hữu nhĩ (cách vách có tai), Lũy noãn chi nguy (nguy như trứng chồng lên nhau), v.v... [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.6; Bích nham lục tắc 10; Tục truyền đăng lục Q.8; Thiền lâm bảo huấn Q.4]. (xt. Phật Giáo Ngạn Ngữ Lí Ngữ).

lý nhân duyên

Pratitya-samutpada (skt)—Đây là danh từ dùng cho Thập Nhị Nhân Duyên. Mọi vật trong thế giới hiện tượng, duyên khởi duyên sanh, là sự phối hợp của những nguyên nhân và điều kiện khác nhau (bởi Thập Nhị nhân duyên). Chúng hiện hữu tương đối và không có thực thể—Dependent Origination—A commonly accepted term for Twelve Nidanas—Interdependent origination—Dependent causation—Conditioned co-arising or co-production—All things in the phenomenal world are brought into being by the combination of various cause and conditions (Twelve links of Dependent Origination), they are relative and without substantially or self-entity.

lý nhập

Entry by the truth, or by means of the doctrine, as hạnh nhập is entry by conduct or practice. ; Một trong hai nhập tùy thuộc lẫn nhau. Đi vào giáo thuyết hay lý luận thì gọi là lý nhập, đối lại với dực vào lý mà tu hành (hành nhập)—Entry by the truth or by means of the doctrine, or reason, in contrast with entry by conduct or practice, one of the two kinds of entry which are depending on one another. ** For more information, please see Nhị Nhập. ; (理入) Đối lại: Hạnh nhập. Tin sâu lí phàm thánh nhất như, không hề nghi ngờ. Cứ theo chương Bồ đề đạt ma trong Lăng già sư tư kí, thì Lí nhập là nhờ giáo nghĩa mà ngộ được tâm tông, tin một cách sâu sắc rằng chúng sinh phàm thánh đều cùng 1 chân tính, nhưng vì khách trần phiền não ngăn che, nên không thể hiển ra được. Nếu có thể bỏ vọng về chân, lắng tâm quán xét, không thấy có mình, có người, phàm thánh đồng nhất, kiên cố không dời đổi, không theo ngôn giáo, văn tự, như vậy tức thầm hợp với chân lí, không còn phân biệt, vắng lặng vô vi, gọi là Lí nhập. [X. kinh Kim cương tam muội Q.thượng]. (xt. Nhị Thập Tứ Hạnh).